url
stringlengths
90
358
title
stringlengths
8
222
published_at
stringdate
1946-11-24 00:00:00
2026-12-31 00:00:00
abstract
stringlengths
41
25.5k
body_text
stringlengths
1k
241k
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/825600/cuoc-chien-dau-bao-ve-thanh-co-quang-tri-nam-1972---khat-vong-doc-lap%2C-tu-do-cua-dan-toc-viet-nam.aspx
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam
19-07-2022
Kiên cường chiến đấu với tương quan lực lượng chênh lệch
Các chiến sĩ giải phóng dũng cảm đánh phá đồn địch trên điểm cao 365 (huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)_Ảnh: TTXVN Là địa đầu của hai chiến tuyến, tỉnh Quảng Trị nói chung, thị xã Quảng Trị, đặc biệt là Thành cổ nói riêng trở thành nơi tập trung sự quan tâm đặc biệt cả về quân sự, chính trị và ngoại giao. Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị “với phương thức tác chiến phòng ngự, bảo vệ một mục tiêu có tính chất chiến lược trong thời điểm có tính nhạy cảm, với điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch chênh lệch nhau nhiều cả về số quân, trang bị vũ khí hiện đại, phương tiện vật chất trong một thời gian dài, là một thành công đặc biệt xuất sắc” (1) . Cuộc chiến đấu 81 ngày đêm giữ vững Thành cổ trở thành sự kiện quan trọng trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari, mở đường cho đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, khẳng định lòng yêu nước nhiệt thành, sự hy sinh cao cả cho chính nghĩa, vì sự nghiệp vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Kiên cường chiến đấu với tương quan lực lượng chênh lệch Sau khi để mất Quảng Trị, Tổng thống Mỹ Ních-xơn một mặt ra lệnh cho Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu phải chiếm lại tỉnh Quảng Trị, một mặt “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh để cứu vãn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đang có nguy cơ sụp đổ. Để ngăn chặn quân ta phát triển tiến công vào phía nam, chính quyền Sài Gòn lập tức tăng quân và hỏa lực, nhanh chóng củng cố tuyến phòng ngự phía nam sông Mỹ Chánh. Đồng thời, lập tuyến phòng ngự phía tây đường 12 để ngăn chặn quân ta tiến công vào Huế nhằm bảo toàn lực lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc phản công lại ở Quảng Trị. Với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, để chắc thắng, Nguyễn Văn Thiệu đã huy động lực lượng tham gia chiến dịch mạnh nhất. Lực lượng phản công gồm: 1 sư đoàn dù, 1 sư đoàn lính thuỷ đánh bộ, sư đoàn 1 bộ binh, trung đoàn 4 thuộc sư đoàn 2 bộ binh. “Tổng lực lượng gồm 13 trung đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 thiết đoàn và nhiều đơn vị công binh, không quân, hải quân của quân khu 1 hỗ trợ” (2) . Đặc biệt, Mỹ tăng gấp 2 lần số máy bay ném bom chiến lược B52, triển khai lại các lực lượng không quân và hải quân chi viện hỏa lực trực tiếp với mật độ cao và cường độ rất lớn cho cuộc phản công. Chính quyền Sài Gòn hy vọng sẽ nhanh chóng chiếm lại thị xã, cắm cờ lên Thành cổ trước ngày 10-7-1972. Đến ngày 27-6-1972, “địch đã chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt cho cuộc tiến công lớn ra vùng giải phóng nhằm chiếm mục tiêu trước mắt là thị xã và Thành cổ Quảng Trị” (3) . Trước hành động của địch, ngày 27-6-1972, Quân ủy Trung ương thông báo cho Bộ Tư lệnh chiến dịch các hoạt động khẩn trương chuẩn bị tiến công ra Quảng Trị của địch và chỉ thị biện pháp đánh địch của ta phối hợp với đấu tranh ngoại giao. Tối 28-6-1972, Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm: “Chuyển từ chiến dịch tiến công sang chiến dịch phản công nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giữ vững vùng giải phóng, đánh bại cuộc hành quân của địch và phát triển lúc thời cơ có lợi” (4) . Bộ Tư lệnh chiến dịch đã bố trí lực lượng gồm các Sư đoàn 308 (trung đoàn 36, 102, 66, Tiểu đoàn 2 độc lập); 304 (trung đoàn 24, 9, 88, Tiểu đoàn đặc công 35); 320B (trung đoàn 27, 64, 18, các tiểu đoàn 14, 47 địa phương) có nhiệm vụ ngăn chặn các hướng tiến công của địch; Trung đoàn 48, Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương và 3 tiểu đoàn phòng không có nhiệm vụ bảo vệ khu vực thị xã Quảng Trị, La Vang, Ái Tử. Cùng với việc tổ chức lực lượng ở các hướng chiến lược, việc tổ chức sơ tán cho nhân dân ra khỏi vùng có chiến sự ác liệt được thực hiện khẩn trương. Trong một thời gian ngắn, ta đã đưa được “8 vạn dân thị xã và hai huyện Thiệu Phong, Hải Lăng… đến các nơi an toàn” (5) . Trước khi bước vào trận chiến mới, mọi công tác chuẩn bị về lực lượng và thế trận chiến đấu của ta cơ bản hoàn thành. Tuy nhiên, thực tế lúc đó do ta chưa nắm chắc và chưa lường hết âm mưu, thủ đoạn và quyết tâm của địch là tái chiếm lại Quảng Trị, nên ta vẫn chưa có kế hoạch phòng ngự, giữ vững vùng giải phóng Quảng Trị. Do đó, lực lượng ban đầu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị do Trung đoàn 48 đảm nhiệm là chính. Tác chiến phòng ngự, bảo vệ một mục tiêu có tính chất chiến lược, trong một thời điểm chiến lược với điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch chênh lệch nhau khá lớn trong một thời gian dài, “là một thành công đặc biệt xuất sắc của các lực lượng vũ trang bảo vệ thị xã, Thành cổ và các lực lượng hiệp đồng tác chiến ở vòng ngoài” (6) . Vào thời điểm quân ta rút khỏi Thành cổ, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã điện khen: “Cán bộ, chiến sĩ ta rất dũng cảm, nhiệm vụ đã hoàn thành. Lịch sử chống ngoại xâm, giữ Thành lâu như thế, ông cha ta ít làm” (7) . Kiên cường bám trụ, bảo vệ từng tấc đất Thành cổ Với mục tiêu trước ngày 10-7-1972 cắm cờ lên Thành cổ để phục vụ ý đồ ép ta ở Hội nghị Pari, dự định họp lại vào ngày 13-7-1972 sau nhiều lần trì hoãn, địch điên cuồng đánh phá. Đây là cuộc hành binh đẫm máu, cực kỳ tàn bạo với đủ loại vũ khí hiện đại, từ bom phá, bom napan, bom lân tinh, bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiển bằng lade đến các loại pháo chơm, pháo khoan, chất độc hoá học và hơi ngạt… Nhằm mục đích hỗ trợ cho tinh thần quân ngụy, ngoài máy bay chiến thuật, chiến lược oanh tạc theo yêu cầu của bộ binh ở tiền duyên, Mỹ còn cho pháo hạm, pháo mặt đất tầm xa bắn tới hai vạn viên đạn suốt một ngày. Với chiến thuật “chậm chắc” mỗi khi gặp quân ta, quân địch dừng lại, đội bom, pháo vào rồi mới tổ chức tiến công tiếp. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc với các cựu chiến binh đến dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại Thành cổ Quảng trị_Ảnh: TTXVN Suốt 81 ngày đêm, ngày nào địch cũng tiến hành rất nhiều trận đánh bằng bom pháo, bằng bộ binh có xe tăng, xe thiết giáp, xe phun lửa yểm trợ cho lính dù, lính thuỷ đánh bộ, lính biệt động tiến công, chỉ xoay quanh một tòa thành không đầy 300.000m 2 , trong một thị xã với diện tích gần 4km 2 , nhà cửa đổ nát, không một bóng người… Trong khi đó, quân ta, trừ mấy tiểu đoàn của Tỉnh đội Quảng Trị, đại bộ phận đều chưa thông thạo địa hình, phải vừa đánh vừa quan sát hiệp đồng nhưng đã phát huy trí thông minh của từng cấp mà tạo ra cách đánh phù hợp, không chịu phòng thủ thụ động mà liên tục cải thiện thế phòng thủ, vừa giữ chốt vừa xuất kích phản kích, tập kích tìm địch mà đánh. Chính cách đánh sáng tạo của ta đã tạo ra “cái tốc độ rùa bò” (8) 81 ngày đêm từ sông Mỹ Chánh tới Thành cổ của những lực lượng cơ động chiến lược hàng đầu của địch. Trước sức mạnh tàn phá, huỷ diệt điên cuồng của địch, có ngày “địch đã trút vào mảnh đất nhỏ hẹp này 13.000 đạn pháo, hàng ngàn tấn bom… Tính bình quân, mỗi người dân phải chịu 250 quả đạn pháo” (9) . Tuy nhiên, quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị về ý nghĩa cuộc chiến đấu ở Quảng Trị là “trận quyết chiến có tầm quan trọng lớn về chính trị và về chiến lược” (10) , chúng ta đã kiên cường bám trụ, nhiều trận phản kích đẫm máu của bộ đội ta diễn ra dưới chân Thành cổ. Ngay từ những ngày đầu chiến dịch phòng ngự Thành cổ Quảng Trị, có thời điểm “các chiến sĩ Trung đoàn 48 đã chiến đấu kiên cường, dũng cảm “1 chọi 100” đánh quỵ Lữ đoàn 2 dù” (11) . Trong trận địa đang nghiêng ngả, chao đảo vì bom đạn của địch, bộ đội ta vẫn kiên cường đánh trả. Trong đó, “có ngày Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 3 đánh lui 13 đợt tiến công của địch. Chiến sĩ Phan Văn Ba (Tiểu đoàn 3) bị thương nát một bàn tay vẫn kiên quyết xin ở lại chiến đấu” (12) . Tình trạng thiếu thốn, khó khăn do tiếp tế vũ khí đạn dược, hậu cần gặp khó khăn như giai đoạn “đầu tháng 8, chiến sĩ ta phải sống bằng lương khô, nước lã, bắn dè xẻn từng viên đạn trong vòng vây địch” (13) cũng không làm nhụt ý chí, quyết tâm của bộ đội ta. Tuy nhiên, do hỏa lực của địch quá mạnh, phòng tuyến vòng ngoài của ta bị vỡ dần. Từ đầu tháng 9-1972, cuộc chiến đấu đã diễn ra vô cùng ác liệt trong lòng thị xã và Thành cổ Quảng Trị. Ta và địch giành nhau từng căn nhà, góc phố, từng mảng tường Thành cổ. Thời tiết lúc này không thuận lợi, áp thấp nhiệt đới liên tục xảy ra, nước sông Thạch Hãn dâng cao, cả thị xã chìm trong biển nước. Lợi dụng tình hình đó địch tăng cường bắn phá vào công sự của ta. Các chiến sĩ của ta vừa thay nhau tát nước chống ngập công sự, vừa chống trả địch, suốt ngày ngâm mình trong nước, ăn lương khô, uống nước lã nên sức khoẻ giảm sút, thương vong rất lớn. Trước tình thế đó, quân ta được lệnh rút lui sang sông Thạch Hãn vào 18 giờ, ngày 16-9-1972. Từ một thị xã nhỏ ít ai biết đến, Quảng Trị trở thành trung tâm thu hút sự chú ý của nhân dân cả nước và thế giới bởi sự hung bạo của kẻ thù và tinh thần anh dũng vô song của đồng bào, chiến sĩ ta. Địch đã huy động vào đây những sư đoàn thiện chiến nhất, những đơn vị binh chủng được trang bị tối tân, hiện đại nhất, được chi viện tối đa hỏa lực với khối lượng bom đạn tương đương “7 quả bom nguyên tử ném xuống Hirosima”. Nhưng quân ta đã làm chủ thị xã trong một thời gian dài, “diệt hơn 24.000 tên địch, phần lớn là quân dù và thuỷ quân lục chiến, bắn rơi 180 máy bay, phá huỷ 140 xe quân sự trong đó có 90 xe tăng, xe bọc thép, 20 khẩu pháo cùng nhiều đồ dùng quân sự khác. Riêng lực lượng vũ trang tỉnh từ 28-6-1972 đến 16-9-1972 đã đánh 642 trận…” (14) . Không có sự so sánh nào nói lên hết sự khốc liệt của chiến tranh nhưng “nếu đem so với tất cả các trận đánh phòng ngự đô thị đã diễn ra trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam thì đây là đợt tác chiến dài ngày nhất và cũng là quyết liệt nhất” (15) . Tất cả sự hy sinh ấy đều vì độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Sáng ngời chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Trải qua 81 ngày đêm chiến đấu (thời gian kéo dài gấp tám lần dự kiến ban đầu của Mỹ - ngụy), phải chịu đựng hàng trăm ngàn tấn bom đạn các loại, nhưng với ý chí “bộ đội còn, Quảng Trị còn”, nhiều trận đánh giáp lá cà để giành giật từng căn hầm, đoạn hào, điểm chốt với địch, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận Quảng Trị đã thực sự trở thành một tập thể anh hùng. Tinh thần, nghị lực, ý chí chiến đấu trong 81 ngày đêm dưới mưa bom, bão đạn khốc liệt của kẻ thù, các đơn vị bộ đội của ta đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, kiên cường bám trụ, chốt giữ và giành giật với địch từng mét chiến hào, từng đống đổ nát; mưu trí, linh hoạt, phát hiện và tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thậm chí tiêu diệt cả những bộ phận nhỏ, lẻ, bí mật lẻn vào bằng đường hầm nhằm cắm cờ trên Thành cổ. Qua gần 3 tháng chiến đấu anh dũng, kiên cường, các lực lượng hoàn thành nhiệm vụ chiến lược được giao, làm thất bại ý đồ nhanh chóng “tái chiếm Thành Cổ” của Mỹ - ngụy, phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ đấu tranh chính trị, ngoại giao. Hơn 4.000 anh hùng liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu và nằm lại nơi Thành cổ, tinh thần kiên cường chiến đấu và niềm tin quyết thắng của những người lính khi tuổi còn đôi mươi đã khẳng định ý chí sắt đá của con người trước bom đạn và điều kiện sống khắc nghiệt nhất của chiến tranh. Sự hy sinh của họ là câu trả lời ngắn gọn, rõ ràng nhất, cảm động nhất, thức tỉnh lương tri nhân loại về khát vọng cháy bỏng “độc lập, tự do, thống nhất” cho cả dân tộc. Sự hy sinh ấy đã làm sáng ngời chân lý: cái chết không làm chùn bước những người con yêu nước, vũ khí của kẻ thù dù có tối tân đến đâu cũng phải khuất phục trước những con người có ý chí thép gang và lòng quả cảm, sẵn sàng hy sinh vì độc tập, tự do là khát vọng của cả dân tộc và để có độc lập, tự do thì họ sẵn sàng đánh đổi tính mạng của mình, chấp nhận và khắc phục mọi khó khăn, trở ngại về điều kiện sống, như lời của Tổng Bí thư Lê Duẩn trong lần về thăm Thành cổ đã viết: “Chúng ta đã chịu đựng được không phải vì chúng ta là gang thép, vì gang thép cũng chảy với bom đạn của chúng. Mà chính chúng ta là những con người, những con người thật sự - những con người Việt Nam, với truyền thống 4.000 năm đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại” (16) . Chính tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập, tự do, thống nhất và một cuộc sống hoà bình, với ý thức về cội nguồn dân tộc đã khiến sức mạnh con người chiến thắng sự tàn phá của vũ khí, bom đạn ác liệt của kẻ thù. Giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc cho thế hệ trẻ (Trong ảnh: Các em học sinh tiểu học tham quan Di tích quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị)_Nguồn: vnexpress.net Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm oanh liệt đã góp phần quan trọng đánh bại những cố gắng cao nhất của Mỹ - ngụy, tác động trực tiếp đến Hội nghị Pari. Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari được ký kết, những hy sinh của quân và dân ta trong 81 ngày đêm ấy, cùng với những chiến công khác trong năm 1972 đã phần nào được hiện thực hoá trong Hiệp định. Tuy nhiên, nhân dân ta vẫn phải tiếp tục đấu tranh hai năm gian khổ, mất mát, hy sinh mới tới ngày toàn thắng năm 1975 và được sống trong nền độc lập, tự do mà cả dân tộc cùng đoàn kết đồng lòng, đánh đổi bằng rất nhiều máu xương để giành lại. Ý chí, khát vọng độc lập tự do của dân tộc được hiện thực hóa bằng sự hy sinh của quân và dân ta trong 81 ngày đêm kiên cường bám trụ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Đó cũng là ý chí chung của cả dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trường kỳ 21 năm. Sau ngày toàn thắng 30-4-1975, non sông thu về một mối, đất nước ta bắt tay vào khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại và xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. 81 ngày đêm “hoa lửa” bảo vệ Thành cổ Quảng Trị đã trở thành huyền thoại. Sự hy sinh, mất mát của quân dân cả nước nói chung, quân dân Quảng Trị nói riêng làm sáng ngời chân lý “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Từ trong bom đạn ấy, hàng nghìn tấm gương anh hùng liệt sĩ đã trở thành những bài học thực tiễn sinh động về lòng quả cảm, về chủ nghĩa yêu nước, về truyền thống anh hùng cách mạng. Trên cơ sở đó, chúng ta tiếp tục “giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên” (17) … để thế hệ trẻ hôm nay thêm tự hào, kính trọng, biết ơn lớp lớp cha anh đi trước, nguyện tiếp nối truyền thống quý báu ấy của dân tộc; đồng thời, thấm nhuần tư tưởng “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam” (18) để đóng góp sức mình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phát triển giàu mạnh, tự lực, tự cường./. ------------------------------ (1), (8), (16) Tỉnh ủy Quảng Trị - Bộ Quốc phòng: 40 năm giải phóng tỉnh Quảng Trị và chiến đấu bảo vệ Thành cổ (1972 - 2012 ), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 20, 191, 788 (2), (3), (4), (5), (6), (7), (15) Viện Lịch sử quân sự: Tổng kết tác chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị , Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 20, 22, 26, 29, 129, 128, 127 (9), (11), (12), (13), (14) Thường vụ Đảng ủy và Ban Chấp hành quân sự tỉnh Quảng Trị: Quảng Trị - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) , 1998, tr. 213, 211, 213, 214, 215 (10) Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014, t. 13, tr. 362 (17), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr. 143 (18) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 22
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/920002/chien-thang-dien-bien-phu---bai-hoc-lich-su-va-y-nghia-doi-voi-su-nghiep-doi-moi-hien-nay.aspx
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bài học lịch sử và ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay
06-05-2024
1- Tháng 1-1953, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ tư, phân tích một cách sâu sắc, khoa học hình thái chiến sự trên chiến trường Việt Nam và chiến trường toàn Đông Dương. Trung ương nhận định, do tình hình phát triển không đồng đều của lực lượng ta trên các chiến trường Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, nên đại bộ phận chủ lực của địch đã dần dần tập trung ở Bắc Bộ, trong lúc chúng còn nhiều sơ hở trên các chiến trường khác. Ở Bắc Bộ, lực lượng của chúng tập trung ở đồng bằng, còn ở chiến trường miền núi thì chúng tương đối yếu hơn, điều kiện địa hình ở đó lại có lợi cho ta, không có lợi cho địch.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp quyết định mở Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ (xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên cuối năm 1953)_Nguồn: hochiminh.vn 1- Tháng 1-1953, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ tư, phân tích một cách sâu sắc, khoa học hình thái chiến sự trên chiến trường Việt Nam và chiến trường toàn Đông Dương. Trung ương nhận định, do tình hình phát triển không đồng đều của lực lượng ta trên các chiến trường Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, nên đại bộ phận chủ lực của địch đã dần dần tập trung ở Bắc Bộ, trong lúc chúng còn nhiều sơ hở trên các chiến trường khác. Ở Bắc Bộ, lực lượng của chúng tập trung ở đồng bằng, còn ở chiến trường miền núi thì chúng tương đối yếu hơn, điều kiện địa hình ở đó lại có lợi cho ta, không có lợi cho địch. Từ phân tích sát tình hình, nắm vững tư tưởng tiêu diệt sinh lực địch là chính, Trung ương Đảng đã đề ra phương hướng chiến lược hết sức đúng đắn là: Tập trung lực lượng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch, giải phóng đất đai; đồng thời, buộc chúng phải bị động phân tán lực lượng đối phó với ta trên những địa điểm xung yếu mà chúng không thể bỏ; từ đó, do địch phải phân tán binh lực mà tạo ra cho ta những điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng. Nói một cách cụ thể hơn, trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ, trước mắt tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch, cũng có thể dùng một bộ phận chủ lực để đánh những trận nhỏ. Còn các chiến dịch lớn thì nên mở vào những hướng khác, làm như vậy cũng tức là dần dần tạo điều kiện để tiến tới giải phóng đồng bằng. Sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc với Hiệp định đình chiến (7-1953), chúng ta đã dự đoán âm mưu mới của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là ra sức tăng cường lực lượng và mở rộng chiến tranh xâm lược ở Đông Dương. Tình hình chiến sự vào mùa hè năm 1953 đã trở nên khẩn trương một cách rõ rệt, nhất là từ khi tướng H. Na-va được cử làm Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Song, nhân dân và quân đội ta không hề nao núng trước những âm mưu và thủ đoạn mới của địch. Nhiệm vụ của chúng ta là phải kiên quyết chiến đấu để phá tan kế hoạch Na-va (1) của địch. Đảng ta thấy rõ những nét chính của kế hoạch Na-va, nhưng âm mưu của địch vẫn chưa bộc lộ một cách cụ thể. Trung ương Đảng nghiên cứu và phân tích tình hình, tư tưởng và phương hướng chiến lược cơ bản đã được đề ra từ trước, đi tới xác định chủ trương tác chiến trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 là: Sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch và tích cực tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa phương, dân quân du kích các vùng tự do, để cho quân chủ lực có điều kiện tập trung làm nhiệm vụ. Vào thời điểm các cuộc tiến công Đông - Xuân của ta chuẩn bị bắt đầu, cục diện chiến sự có một sự biến chuyển mới. Địch phát hiện sự di chuyển của một bộ phận chủ lực ta lên hướng Tây Bắc. Ngày 20-11-1953, chúng đã dùng một bộ phận lực lượng cơ động, nhảy dù đánh chiếm Điện Biên Phủ. Chúng ta đã kịp thời nhận định tình huống mới: Địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, mặc dù ta không phán đoán được cụ thể về địa điểm và thời gian, nhưng cũng nằm trong phạm vi phán đoán trước của ta là nếu Tây Bắc bị uy hiếp thì địch sẽ tăng viện lên hướng đó. Như vậy là, trước sự uy hiếp của ta, địch đã phải bị động đối phó, phải phân tán một bộ phận lực lượng cơ động lên Điện Biên Phủ để yểm hộ cho Tây Bắc, che chở cho Thượng Lào. Căn cứ vào nhận định trên, các đơn vị chủ lực của ta đang tiến quân lên Tây Bắc nhận được mệnh lệnh gấp rút tiến công tiêu diệt địch ở Lai Châu; đồng thời, một cánh quân tiến nhanh về phía bắc Điện Biên Phủ cắt đường rút lui của quân địch ở Lai Châu về phía Điện Biên Phủ, ngăn chặn không cho quân địch ở Điện Biên Phủ tiến lên đón chúng; cùng lúc đó, ta tiến hành bám sát địch ở Điện Biên Phủ, bao vây Điện Biên Phủ và chuẩn bị chiến trường. Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn ở phía tây vùng rừng núi Tây Bắc. Cánh đồng Điện Biên Phủ có chiều dài khoảng 18km, chiều rộng từ 6km đến 8km. Đây là cánh đồng lớn nhất, giàu có nhất và dân cư đông đúc nhất ở Tây Bắc. Điện Biên Phủ ở gần biên giới Việt Nam - Lào, nằm trên ngã ba nhiều đường lớn và đường nhỏ quan trọng, phía đông bắc nối liền với Lai Châu, phía đông và đông nam nối liền với Tuần Giáo, Sơn La, Nà Sản, phía tây thông với Luông Prabăng, phía nam thông với Sầm Nưa (Lào). Đối với thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, Điện Biên Phủ là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, là một vị trí chiến lược cơ động ở giữa miền Bắc Việt Nam, vùng Thượng Lào và miền Tây Nam Trung Quốc, có thể trở thành một căn cứ lục quân và không quân có tác dụng rất lợi hại trong âm mưu xâm lược của chúng ở vùng Đông Nam Á. Lực lượng của địch ở Điện Biên Phủ được bố trí thành tập đoàn cứ điểm bao gồm 3 phân khu yểm hộ lẫn nhau, tất cả có 49 cứ điểm. Mỗi cứ điểm đều có khả năng phòng ngự; nhiều cứ điểm được tổ chức lại thành những cụm cứ điểm gọi là “trung tâm đề kháng theo kiểu phức tạp”, có lực lượng cơ động, hỏa lực mạnh, hệ thống công sự vững chắc, xung quanh có hào giao thông và hàng rào dây thép gai, có khả năng độc lập phòng ngự khá mạnh. Mỗi phân khu bao gồm nhiều trung tâm đề kháng kiên cố như vậy. Mỗi trung tâm đề kháng cũng như toàn bộ tập đoàn cứ điểm đều được bảo vệ bằng hệ thống công sự nằm chìm dưới mặt đất, bằng một hệ thống công sự phụ (hàng rào hoặc bãi dây thép gai, bãi mìn) và bằng một hệ thống hỏa lực rất mạnh. Điện Biên Phủ có hai sân bay. Ngoài sân bay chính ở Mường Thanh, còn có một sân bay dự bị ở Hồng Cúm, ngày ngày được nối liền với Hà Nội, Hải Phòng bằng một cầu hàng không, trung bình mỗi ngày có gần 100 lần chiếc máy bay vận tải tiếp tế khoảng từ 200 đến 300 tấn hàng và thả dù khoảng từ 100 đến 150 tấn. Với lực lượng hùng hậu và cơ cấu phòng ngự vững chắc, H. Na-va đã từng nhận định rằng, Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất chưa từng có ở Đông Dương, là một “pháo đài không thể công phá”. Từ nhận định chủ quan đó, địch đã phán đoán rằng quân ta ít có khả năng tiến công vào Điện Biên Phủ. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có đủ những yếu tố mạnh của mọi tập đoàn cứ điểm, lại có thêm những chỗ mạnh đặc biệt nữa. Mặc dù vậy, do vị trí của nó nằm cô lập ở giữa núi rừng trùng điệp và mênh mông của miền Tây Bắc Việt Nam và vùng Thượng Lào, rất xa những căn cứ hậu phương, nhất là những căn cứ không quân lớn của địch, mọi việc tăng viện hoặc tiếp tế đều hoàn toàn dựa vào đường không. Do đó, nếu đường hàng không bị hạn chế hay bị cắt đứt thì tập đoàn cứ điểm rất mạnh này sẽ ngày càng lộ rõ nhược điểm của mình, có thể mất dần sức chiến đấu và lâm vào thế bị động phòng ngự trong những điều kiện ngày càng khó khăn; trường hợp lâm nguy cũng khó lòng rút quân được toàn vẹn. Về phía ta, lực lượng ta có những đơn vị chủ lực tinh nhuệ có tinh thần chiến đấu cao, trình độ trang bị vũ khí, kỹ thuật có tiến bộ, hăng hái phấn khởi, quyết tâm tiêu diệt địch. Chúng ta có thể tập trung ưu thế binh lực, hỏa lực để đánh địch, lại đã có kinh nghiệm nhất định về đánh địch trong công sự vững chắc, đã bước đầu được huấn luyện để đánh tập đoàn cứ điểm, có khả năng khắc phục khó khăn, giải quyết những vấn đề cần thiết để tiêu diệt tập đoàn cứ điểm. Vấn đề tiếp tế lương thực và đạn dược cho một lực lượng lớn ở xa hậu phương trong một thời gian dài đứng trước những khó khăn rất lớn, nhưng ta lại có sức mạnh của một hậu phương rộng lớn, nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng tập trung toàn lực để chi viện tiền tuyến, bảo đảm lương thực, đạn dược cho quân đội làm tròn nhiệm vụ. Chúng ta cũng đã từng cân nhắc đến khả năng tăng viện của địch trong khi H. Na-va còn có sẵn trong tay một lực lượng cơ động lớn. Tuy nhiên, do những cuộc tiến công mùa đông của ta, khối cơ động đó đã bị phân tán rất nhiều. Chúng ta dự đoán, trong thời gian tới lực lượng địch có thể bị phân tán nhiều hơn nữa. Điều đó tạo điều kiện tốt cho chủ lực ta tiến công tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, hạn chế sự tăng viện của địch lên mặt trận Điện Biên Phủ. Xuất phát từ sự phân tích trên, nắm vững nguyên tắc tiêu diệt sinh lực địch và đánh chắc thắng, Trung ương Đảng ta đã hạ quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Trong khi H. Na-va chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với quân chủ lực ta thì chúng ta cũng chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với địch. Chúng ta hạ quyết tâm tập trung đại bộ phận chủ lực tinh nhuệ của ta lên mặt trận Điện Biên Phủ để tiêu diệt binh lực tinh nhuệ nhất của địch trong tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của chúng trên chiến trường Đông Dương. Quyết tâm rất lớn trên đây quán triệt phương châm tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt mà Trung ương đã đề ra khi chỉ đạo tác chiến trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954. Sau 56 ngày đêm chiến đấu liên tục, quân ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng vào ngày 7-5-1954 (2) . Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 của quân ta đã kết thúc bằng một chiến thắng vĩ đại. Chiến thắng Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tạo cơ sở căn bản và quyết định chấm dứt sự đô hộ của thực dân Pháp ở ba nước Đông Dương, là chiến thắng của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Đây cũng là chiến thắng của đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, của ý chí quyết chiến, quyết thắng, “dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng”; của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ra sức tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: “Chiều sâu của chiến thắng Điện Biên Phủ tiềm ẩn trong truyền thống quật cường, bất khuất mấy nghìn năm của dân tộc, từ khí phách huyền thoại của em bé làng Gióng mới lên ba tuổi đã đánh giặc nước mà đã cho là muộn, giận chín tầng trời còn thấp khi bay tận mây xanh. Chiều sâu ấy tiềm ẩn trong câu thơ: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” của Lý Thường Kiệt, từ Hịch Tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo... đến Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh” (3) . Các cựu chiến binh Điện Biên năm xưa gặp nhau trên đồi A1 (Tác giả ảnh: Dương Vân Anh)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn 2- Bảy mươi năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa lịch sử, tầm vóc thời đại và những bài học kinh nghiệm quý báu của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay. Chiến thắng Điện Biên Phủ là biểu tượng vĩ đại của lòng yêu nước, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam. Trận quyết chiến Điện Biên Phủ diễn ra ở địa hình rừng núi hiểm trở, xa hậu phương, có nhiều đèo cao, vực sâu, mạng lưới giao thông chiến lược hầu như chưa có. Trước tình hình đó, Đảng ta đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của cả hậu phương và tiền tuyến nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời mọi yêu cầu của bộ đội trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch. Với lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã ra sức thi đua xây dựng hậu phương vững chắc, đóng góp sức người, sức của phục vụ chiến dịch. Lần đầu tiên, ta tập trung gần 5 đại đoàn chủ lực vào một trận đánh, động viên các chiến trường trong cả nước và có hai nước bạn Lào, Căm-pu-chia chiến đấu phối hợp với chiến trường chính. Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, nhân dân các dân tộc khắc phục khó khăn, ngày đêm phục vụ chiến dịch. Hàng chục vạn đồng bào đã hăng hái đi dân công, thanh niên xung phong, tham gia làm đường, vận tải, phục vụ chiến trường, bảo đảm hậu cần cho một mặt trận xa hậu phương hàng trăm ki-lô mét, trong điều kiện đường sá khó khăn, phương tiện vận tải thô sơ, địch đánh phá ác liệt. Bên cạnh tinh thần đại đoàn kết và những đóng góp sức người, sức của to lớn cho chiến dịch Điện Biên Phủ, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam còn được thể hiện ở tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn thể dân tộc, đặc biệt là các chiến sĩ xung kích ngoài mặt trận, trực tiếp chiến đấu với quân thù. Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch dài ngày, nơi tập trung nỗ lực cao nhất của cả hai bên. Chính vì vậy, đây là cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ với nhiều mất mát, hy sinh. Nhưng dưới sự lãnh đạo, tổ chức, giáo dục và rèn luyện của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguồn sức mạnh tinh thần vô địch của dân tộc đã được khơi dậy, chuyển hóa thành sức mạnh vật chất để chiến thắng kẻ thù. Chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tạo cơ sở căn bản và quyết định đi đến ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ - đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 là chiến công lớn nhất, chói lọi nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954). Chiến thắng này góp phần quyết định đập tan hoàn toàn dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc chiến tranh ở Đông Dương. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn” (4) . Nắm chắc diễn biến trên chiến trường, nhận thức rõ ý nghĩa của Điện Biên Phủ đối với cục diện chiến tranh và đàm phán, đầu tháng 12-1953, Bộ Chính trị quyết định tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ, nhấn mạnh: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế” (5) . Ngày 26-4-1954, Hội nghị Giơ-ne-vơ chính thức khai mạc, trùng với thời gian Quân đội nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi chiến dịch tiến công đợt hai ở Điện Biên Phủ. Lúc này, địa danh Điện Biên Phủ với khói lửa ác liệt đang là tâm điểm chú ý của thế giới. Muốn giành lợi thế tại Giơ-ne-vơ, cần có những hành động quyết liệt - cả phía Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều quá thuộc bài học vỡ lòng đó (6) . Mục tiêu trên bàn đàm phán Hội nghị Giơ-ne-vơ đã biến Điện Biên Phủ thành một đấu trường khốc liệt, khi cả hai bên tham chiến đặt lên bàn cờ tất cả lực lượng dự trữ của mình. Với Việt Nam, hoạt động quân sự tại Điện Biên Phủ không còn đơn thuần là hoạt động quân sự, mà mang một ý nghĩa rộng lớn hơn - ý nghĩa chính trị - quân sự. Và 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, Quân đội nhân dân Việt Nam đánh chiếm Sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tướng Đờ Cát-xtơ-ri và toàn bộ bộ tham mưu bị bắt sống. Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi hoàn toàn một ngày trước khi Hội nghị Giơ-ne-vơ chính thức bàn về vấn đề Đông Dương đã tạo “thế” và “lực” mới cho ta trên bàn đàm phán, góp phần kết thúc chiến tranh ở Đông Dương. Việt Nam giành được sự công nhận và cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản, một nửa đất nước hoàn toàn được giải phóng. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh . Đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, ý chí chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Tháng 9-1953, Bộ Chính trị họp bàn nhiệm vụ quân sự Đông - Xuân 1953 - 1954, đề ra các nguyên tắc chỉ đạo chiến lược và tác chiến là chọn nơi địch sơ hở, nơi địch tương đối yếu để đánh, giữ vững thế chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng, không thể tập trung lực lượng cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị thông qua Phương án tác chiến mùa Xuân 1954 và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ; giao cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh chiến dịch. Trước khi ra mặt trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao toàn quyền quyết định cho Đại tướng và căn dặn: Chiến dịch này rất quan trọng cả về chính trị và quân sự, phải đánh thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh. Tháng 12-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư gửi cán bộ và chiến sĩ chiến dịch Điện Biên Phủ, động viên tinh thần chiến đấu, giữ vững quyết tâm giành thắng lợi. Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền xuôi, từ trẻ đến già đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng ra sức thi đua xây dựng hậu phương vững chắc, thi đua giết giặc lập công, đóng góp sức người, sức của bảo đảm mọi điều kiện cho chiến trường, tiếp thêm ý chí quyết chiến, quyết thắng cho các lực lượng vũ trang ngoài mặt trận. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, với ý chí “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, đồng bào các dân tộc trong cả nước, đặc biệt là đồng bào Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 đã đóng góp hơn 260 nghìn dân công (tính ra khoảng 14 triệu ngày công), 20.991 xe đạp thồ và hàng chục nghìn phương tiện vận chuyển thô sơ và nửa thô sơ. Về bảo đảm vật chất, đồng bào đã đóng góp cho chiến dịch 25.056 tấn lương thực, 907 tấn thịt và hàng nghìn tấn thực phẩm khác. Chỉ tính riêng số vật phẩm đã chuyển được ra mặt trận là hơn 20 nghìn tấn, trong đó có 14.950 tấn gạo, 266 tấn muối, 62,7 tấn đường, 577 tấn thịt và 565 tấn thức ăn khô (7) . Sự tham gia, đóng góp nhân lực, vật lực, tài lực to lớn đó của nhân dân là nhân tố quan trọng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ. Do sớm đề ra và tổ chức thực hiện thành công đường lối kháng chiến toàn dân gắn với toàn diện, Đảng ta đã khơi dậy, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, tính năng động, sáng tạo của nhân dân trên tất cả các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa; quy tụ, tập hợp được sức mạnh to lớn của nhân dân từ Bắc đến Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, từ vùng tự do đến vùng tạm bị chiếm; từ hậu phương đến tiền tuyến; phát huy được sức mạnh của các yếu tố nội lực, truyền thống và con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường của dân tộc. Mỗi người dân yêu nước trên từng cương vị của mình đều tích cực tham gia sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, đóng góp vào chiến dịch Điện Biên Phủ. Chiến thắng Điện Biên Phủ khẳng định sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội ta. Điện Biên Phủ là chiến dịch mà cả ta và địch đều tập trung sự nỗ lực, cùng sức mạnh lớn nhất để giành thắng lợi quyết định. Trong chiến dịch này, ta đã tập trung về đây những lực lượng mạnh nhất và tổ chức tác chiến hiệp đồng binh chủng, tạo sức mạnh đánh thắng kẻ thù. Phần lớn đại đoàn chủ lực, sử dụng nhiều trang bị hiện đại nhất của quân đội ta thời kỳ đó, như lựu pháo 105mm, cao xạ 37mm được đưa vào tác chiến. Đây là chiến dịch có quy mô sử dụng lực lượng lớn nhất của quân đội ta, với 4 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo, hàng vạn dân công làm đường và vận chuyển chi viện cho chiến dịch. Đó còn là chiến dịch có trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh dấu sự trưởng thành và lớn mạnh của quân đội ta. Cùng với tập trung lực lượng, cách đánh của chiến dịch cũng có bước phát triển rất quan trọng so với các chiến dịch tiến công trước đây. Cách đánh “đánh chắc, tiến chắc” (8) , chuẩn bị khi nào chắc thắng thì đánh, chưa chắc thắng thì chưa đánh đã khẳng định rõ sự chủ động tiến công địch trên chiến trường của bộ đội ta. Từ ngày 13-3-1954, tại mặt trận Điện Biên Phủ, quân ta đã tiêu diệt lần lượt từng cứ điểm, vây lấn địch từng mét hào và mở những đợt tiến công quyết định đi đến thắng lợi hoàn toàn. Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết tinh sức mạnh của dân tộc Việt Nam với sức mạnh thời đại. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, chiến thắng Điện Biên Phủ, “là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới” (9) . Cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam vì độc lập, hoà bình đã nhận được sự ủng hộ của nhân dân các nước yêu chuộng hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của thời đại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội được mở đầu từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam nhận được sự phối hợp chiến đấu của nhân dân hai nước bạn Lào và Căm-pu-chia; sự giúp đỡ quan trọng của Trung Quốc, Liên Xô và sự đồng tình ủng hộ của bạn bè quốc tế, kể cả nhân dân yêu chuộng hòa bình ở Pháp. Các dân tộc đều phải tự mình đấu tranh để giành độc lập, tự do, song sự xúc tác dây chuyền mà Điện Biên Phủ châm ngòi với sức mạnh tạo chấn động lớn, sự hỗ trợ của sức mạnh thời đại, tạo ra những yếu tố về thời cơ, về nguồn lực, sự phối hợp đấu tranh giữa các trào lưu tiến bộ, đã giúp nhiều dân tộc trên con đường đấu tranh cho độc lập, tự do giành thắng lợi. Khối nữ Lực lượng gìn giữ hòa bình của Quân đội nhân dân Việt Nam diễu hành trên đường phố Điện Biên_Nguồn: vnexpress.net 3- Tiếp nối chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, dân tộc ta đã viết tiếp bản anh hùng ca chói lọi trong thời đại Hồ Chí Minh, lập nên những chiến công hiển hách: Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972; chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Phát huy tinh thần chiến thắng Điện Biên Phủ, trải qua gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới của đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, góp phần làm cho “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay ” (10) . Tuy nhiên, trước những biến động nhanh chóng, khó dự báo của tình hình thế giới và khu vực, đòi hỏi chúng ta tiếp tục phát huy những bài học lịch sử quý báu từ chiến thắng Điện Biên Phủ trong điều kiện mới. Đó là bài học về giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Trong bối cảnh, điều kiện hiện nay, cần củng cố sức mạnh chính trị, sức mạnh tư tưởng và xây dựng tổ chức của Đảng. Phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực một cách hiệu quả. Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, “lợi ích nhóm”, các biểu hiện suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đó là bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới. Trong tình hình mới, Ðảng ta tiếp tục khẳng định: Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “ Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân ” (11) trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ðộng viên và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn gắn liền với yêu cầu mở rộng dân chủ và giữ vững kỷ cương phép nước trong đời sống xã hội. Để thực hiện thành công, thắng lợi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, cần tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí, nghị lực và sức sáng tạo của con người Việt Nam trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt, để phát huy vai trò là hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thì bản thân Đảng phải là tấm gương về đoàn kết, thống nhất. “Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng đoàn kết trong hệ thống chính trị, đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế” (12) . Đó là bài học về tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Bối cảnh mới hiện nay đặt ra yêu cầu hiểu đúng và nắm vững nội hàm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam. Nếu trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân, đế quốc, sức mạnh dân tộc được xác định là tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, ý chí quyết chiến, quyết thắng, thì hiện nay, Đảng ta nhấn mạnh đến yếu tố “sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc” với vấn đề căn cốt là đại đoàn kết toàn dân tộc - là sự tổng hòa tiềm lực của đất nước về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh được tạo nên bởi quy mô và chất lượng dân số cả nước, được thể hiện ở sự tổng hợp của cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần. Trong bối cảnh hiện nay, nguồn lực của sức mạnh thời đại hết sức đa dạng. Sức mạnh thời đại được cấu thành bởi các xu thế lớn, đặc biệt là xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển; trật tự thế giới đa cực, đa trung tâm, dân chủ, bình đẳng; sức mạnh của các lực lượng tiến bộ trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu hòa bình, sức mạnh của các quốc gia... Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào, là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Kỷ niệm 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, chúng ta càng thêm tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; tự hào về dân tộc Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng./. ----------------------------- (1) Kế hoạch Na-va là một kế hoạch chiến lược quy mô rộng lớn, nhằm mục đích trong vòng 18 tháng tiêu diệt phần lớn quân chủ lực của ta, giành lấy một thắng lợi chiến lược quyết định, buộc ta phải điều đình theo những điều kiện do Chính phủ Pháp đề ra, thực chất là nhằm biến Việt Nam vĩnh viễn thành một thuộc địa và căn cứ quân sự của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. (2) Tại Điện Biên Phủ, quân ta đã tiêu diệt và bắt làm tù binh trên 16.000 tên địch, trong đó có toàn bộ cơ quan chỉ huy của tập đoàn cứ điểm, có 1 tướng, 16 quan năm, 1.749 sĩ quan và hạ sĩ quan. Lực lượng của địch bị tiêu diệt bao gồm 17 tiểu đoàn bộ binh tinh nhuệ (trong đó có 7 tiểu đoàn dù), 3 tiểu đoàn pháo binh, gần 1 tiểu đoàn công binh, tổng cộng là 21 tiểu đoàn. Nhìn chung trên các chiến trường cả nước thì trong cuộc tiến công Đông - Xuân này, quân ta đã tiêu diệt 112.000 tên địch, tức là một phần tư lực lượng vũ trang của địch ở Đông Dương, trong số đó có 25 tiểu đoàn bị tiêu diệt hoàn toàn. Số máy bay oanh tạc, chiến đấu và vận tải, kể cả máy bay oanh tạc B.24 và máy bay vận tải hạng nặng C.119 của Mỹ bị bắn rơi và phá hủy ở Điện Biên Phủ là 62 chiếc, tính cả các chiến trường cả nước là 177 chiếc, tức là một bộ phận rất quan trọng lực lượng không quân của địch ở Đông Dương. Xem: Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 205 - 206 (3) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Sđd , tr. 359 (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 14, tr. 315 (5) Xem Hồ Chí Minh: Thư gửi Đại tướng Võ Nguyên Giáp , ngày 22-12-1953, tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (6) Xem Nguyễn Thị Mai Hoa: “Chiến thắng Điện Biên Phủ và sự ảnh hưởng đến Hội nghị Giơnevơ”, Tạp chí Cộng sản điện tử , ngày 26-4-2014, https://www.tapchicongsan.org.vn/xay-dung-ang2/-/2018/26989/chien-thang-dien-bien-phu-va-su-anh-huong-den-hoi-nghi-gio-ne-vo.aspx (7) Xem: Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh - trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 202 (8) Trong trận đánh quyết định này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao trọn niềm tin cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp và căn dặn: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Bởi vậy, tại mặt trận Điện Biên Phủ, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã chủ động, sáng tạo trong thay đổi phương châm tác chiến, chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Theo: Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ- Điểm hẹn lịch sử, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 66 Ngày 30-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có thư gửi báo cáo điều này với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh và Bộ Chính trị: “Chúng tôi nhận thấy đối với một kẻ địch đã tăng cường như ở Điện Biên Phủ thì phải dùng cách đánh tiêu diệt từng bước”. Kế hoạch “đánh chắc, tiến chắc” của Đảng ủy chiến dịch được Bộ Chính trị chấp thuận. Theo: Điện Biên Phủ - Hội nghị Giơnevơ, Văn kiện Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2014, tr. 214 – 221 (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 14, tr. 271 (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 25 (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd , t. I, tr. 50 (12) Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 139
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1217602/phat-huy-truyen-thong-quan-doi-nhan-dan-viet-nam-anh-hung-trong-giai-doan-phat-trien-moi.aspx
Phát huy truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng trong giai đoạn phát triển mới
22-02-2026
Phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới
Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân uỷ Trung ương chủ trì Hội nghị Quân uỷ Trung ương lần thứ 15_Ảnh: TTXVN Tự hào truyền thống vẻ vang Lịch sử vẻ vang, truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam được ghi dấu ngay từ những ngày đầu thành lập. Chỉ với 34 chiến sĩ và vũ khí thô sơ, nhưng Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã làm nên chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần, mở ra truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta. Chưa đầy một năm sau, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội đã làm nòng cốt, góp phần quan trọng cùng toàn dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, giành độc lập dân tộc, lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, dù gặp muôn vàn khó khăn, gian khổ, nhưng quân đội ta đã nỗ lực vượt qua và trưởng thành nhanh chóng, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong thế trận chiến tranh nhân dân, lần lượt tổ chức nhiều chiến dịch đánh bại quân địch, điển hình là cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân năm 1953 - 1954, giành thắng lợi quyết định trong Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Đặc biệt, khi phải đối đầu với đội quân xâm lược có sức mạnh hàng đầu là đế quốc Mỹ, quân đội ta đã thể hiện rõ ý chí “dám đánh, biết đánh và quyết đánh thắng”, cùng toàn dân tộc khẳng định sức mạnh Việt Nam. Với tinh thần đoàn kết, kiên cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân đội đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, thể hiện rõ bản lĩnh anh hùng cách mạng, vừa chiến đấu, vừa xây dựng, từng bước hình thành các binh chủng, quân chủng, quân đoàn chủ lực cơ động; đồng thời, phát triển nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam đến đỉnh cao, nhất là nghệ thuật tác chiến chiến dịch, chiến lược và sự chỉ đạo phối hợp tác chiến giữa các chiến trường. Nhờ đó, ở miền Bắc, quân đội tham gia cùng toàn dân xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh bại các cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc “hậu phương lớn”, chi viện đắc lực cho “tiền tuyến lớn” miền Nam. Trên chiến trường miền Nam, quân đội làm nòng cốt cùng toàn dân lần lượt đánh bại các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - ngụy, giành thắng lợi huy hoàng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, quân đội ta tiếp tục xung kích, đi đầu trong khắc phục hậu quả chiến tranh, tham gia phát triển kinh tế - xã hội; đấu tranh với âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; cùng toàn dân tộc tiến hành thắng lợi các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, quân đội ta đã nỗ lực phấn đấu xây dựng lực lượng “tinh, gọn, mạnh”, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định để đất nước phát triển. Đặc biệt, toàn quân thực hiện tốt nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình”, luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích giúp nhân dân phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn; tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, nhất là ở những địa bàn chiến lược, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Đảng bộ Quân đội và toàn quân là điển hình mẫu mực trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; luôn được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các địa phương và nhân dân tin tưởng, khen ngợi. Trong năm 2025, quân đội hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao trong tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 - 30-4-2025) và kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 - 2-9-2025); nhất là chủ trì, phối hợp thực hiện xuất sắc nhiệm vụ diễu binh, diễu hành, thể hiện rõ sự trưởng thành, lớn mạnh của lực lượng vũ trang. Qua đó, lan tỏa mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, tự tôn, tự lực, tự cường và hào khí dân tộc; góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế. Có thể khẳng định, hơn 81 năm qua, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn giữ vững và phát huy truyền thống, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất”, xứng đáng với lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” (1) . Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thăm khu trưng bày của Quân đội nhân dân Việt Nam trong khuôn khổ Triển lãm thành tựu đất nước nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9_Ảnh: mod.gov.vn Phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới Những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó đoán định. Cạnh tranh chiến lược, xung đột, chiến tranh, chạy đua vũ trang, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chiến tranh thương mại, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ quân sự… tiếp tục tác động nhiều mặt. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống diễn ra ngày càng gay gắt. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tiếp tục phát triển năng động, song đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới cả bên trong và bên ngoài; Biển Đông vẫn tiềm ẩn yếu tố mất ổn định… Nước ta sau 40 năm đổi mới đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới. Cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cùng với những quyết sách chiến lược đang mở ra cơ hội mang tính lịch sử, bước ngoặt cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trong kỷ nguyên mới. Quân đội ta, với sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc, đã cơ bản hoàn thành mục tiêu xây dựng lực lượng “tinh, gọn, mạnh”, có nhiều mặt bứt phá. Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Quân ủy Trung ương, khi phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 15 (nhiệm kỳ 2020 - 2025) đánh giá: Năm 2025, toàn quân đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, toàn quân luôn có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hoàn thành tốt các nhiệm vụ, trong đó có nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Kết quả đó là thuận lợi cơ bản để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới cũng đứng trước nhiều thử thách, đồng thời đặt ra những yêu cầu rất cao, đòi hỏi toàn quân phải tiếp tục nỗ lực phấn đấu; nhất là năm 2026, đất nước có nhiều sự kiện chính trị trọng đại: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, mở đầu kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Tự hào với lịch sử, truyền thống vẻ vang của quân đội ta và kế thừa những thành tựu, bài học kinh nghiệm quý đã được đúc rút, trong giai đoạn phát triển mới, toàn quân cần chủ động, đổi mới, sáng tạo, bứt phá, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII đã đề ra và quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng sắp tới, trong đó, tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ chủ yếu sau: Một là, thực hiện tốt chức năng tham mưu về quân sự, quốc phòng. Trước hết, trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết, chiến lược, đề án về quân sự, quốc phòng, an ninh, toàn quân luôn chủ động, nhạy bén, nâng cao hơn nữa năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược, đánh giá đúng tình hình; tích cực tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định chủ trương, sách lược, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về quân sự, quốc phòng, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Kịp thời tham mưu, phối hợp với các lực lượng xử lý kịp thời, linh hoạt, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, nhất là trong các vấn đề chiến lược, liên quan đến quốc phòng, an ninh. Chủ động nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, hiện đại hóa quân đội, nghệ thuật quân sự Việt Nam, nghệ thuật chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, ứng phó với các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến trong điều kiện mới. Hai là, phát huy hiệu quả vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành trung ương và địa phương chỉ đạo thực hiện tốt công tác quân sự, quốc phòng và giáo dục quốc phòng, an ninh; nâng cao chất lượng xây dựng, hoạt động của lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, cơ quan quân sự cấp xã, ban chỉ huy phòng thủ khu vực… phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Huy động hiệu quả các nguồn lực xây dựng phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ và hệ thống công trình phòng thủ, công trình chiến đấu liên hoàn, vững chắc. Triển khai hiệu quả các đề án, dự án về tăng cường quốc phòng kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần các nghị quyết, kết luận của Trung ương; phát triển các doanh nghiệp quân đội tiên phong trong các lĩnh vực trọng yếu, chiến lược. Phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Công an trong thực hiện Nghị định của Chính phủ về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng trên địa bàn cả nước… Ba là, quyết liệt nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội. Tập trung thực hiện tốt 3 đột phá đã được Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII xác định. Đẩy mạnh xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện và thúc đẩy thực hiện “Bộ tiêu chí xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại trong tình hình mới”. Tiếp tục điều chỉnh tổ chức lực lượng tinh, gọn, mạnh; nghiên cứu thành lập một số lực lượng mới; đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài và nghiên cứu, sản xuất, bảo đảm vũ khí, trang bị đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội hiện đại, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Toàn quân duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển, biên giới, nội địa, không gian mạng, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ. Coi trọng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, huấn luyện, diễn tập sát thực tế, trong điều kiện tác chiến hiện đại, ứng phó hiệu quả với chiến tranh công nghệ cao. Thực hiện tốt nhiệm vụ phòng thủ dân sự, chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Triển khai hiệu quả công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính, công nghiệp quốc phòng; đột phá về nghiên cứu phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phấn đấu làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, công nghệ số…, tạo cơ sở vững chắc để tự chủ xây dựng quân đội hiện đại, nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu. Khối xe tăng thiết giáp diễu binh trên phố Trần Phú (Hà Nội) trong sự chào đón nồng nhiệt của người dân và du khách trong dịp Đại lễ Quốc khánh 2-9_Ảnh: TTXVN Bốn là, triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng q uân đội vững mạnh về chính trị, Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh mẫu mực, tiêu biểu. Quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Trung ương, Quân ủy Trung ương và chỉ đạo của đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Quân ủy Trung ương về “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa” và “5 vững” (2) ; Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và toàn quân phải làm gương, làm mẫu, làm hiệu quả, làm thực chất, thể hiện vai trò tiên phong, dẫn dắt trong quán triệt, triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng. Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần vững chắc cho bộ đội; tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội, kịp thời định hướng tư tưởng, dư luận trước những vấn đề mới, phức tạp, nhạy cảm, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thực hiện nền nếp, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng, đẩy mạnh phong trào “Thi đua Quyết thắng” và việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực, sức khỏe, uy tín, tiên phong gương mẫu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới. Thực hiện chặt chẽ công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ an ninh. Nâng cao hiệu quả công tác dân vận, làm tốt công tác chính sách - xã hội, hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Chú trọng đổi mới, thực hiện tốt hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, tạo động lực thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ nỗ lực phấn đấu, phát huy cao độ phẩm chất, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Năm là, triển khai linh hoạt, mở rộng, nâng tầm công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo đúng chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước . Thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương, đa phương và tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc thực chất, hiệu quả, góp phần nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước, quân đội và bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Tăng cường hợp tác, tạo thế đan xen lợi ích, củng cố tin cậy chiến lược với các đối tác trên cơ sở kiên định chính sách quốc phòng “bốn không” (3) , đáp ứng mục tiêu chiến lược và lợi ích quốc gia - dân tộc. Tham gia có trách nhiệm vào các diễn đàn khu vực, quốc tế, các cơ chế hợp tác quốc phòng trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN giữ vai trò chủ đạo. Chủ động đề xuất sáng kiến, thể hiện vai trò dẫn dắt hoặc cùng dẫn dắt trong một số lĩnh vực có tiềm năng, thế mạnh. Đẩy mạnh hợp tác quốc phòng trong những lĩnh vực then chốt và hợp tác quốc tế khắc phục hậu quả chiến tranh, hợp tác song phương, đa phương trong lĩnh vực phòng thủ dân sự… Phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Ngoại giao theo quy chế đã được ký kết; tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước các chủ trương, đối sách xử lý hiệu quả các vấn đề quan hệ quốc tế, tạo lập thế cân bằng chiến lược trong quan hệ với các đối tác, nhất là các nước lớn, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc; luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân hết sức quan tâm, chăm lo, dành cho những tình cảm đặc biệt. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước và quân đội, toàn quân tự hào phát huy truyền thống “Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng”, tiếp tục phấn đấu, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đặc biệt, năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, khởi đầu nhiệm kỳ mới, kỷ nguyên mới, toàn quân càng phải nêu cao tinh thần đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực, chủ động, sáng tạo, quyết tâm cao hơn, đặc biệt là tạo bước đột phá về phát triển nhân lực, nghiên cứu, sản xuất vũ khí, trang bị tiên tiến, hiện đại, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, thịnh vượng./. ---------------------------- (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 14, tr. 435 (2) “2 kiên định” là: Kiên định đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; kiên định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, góp phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. “2 đẩy mạnh” là: Đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. “2 ngăn ngừa” là: Ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột; ngăn ngừa mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân. “5 vững” là: Chính trị vững - kỷ luật vững - công nghệ vững - nghệ thuật quân sự vững - đời sống bộ đội vững (3) Chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước khác; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1200504/suy-ngam-ve-%E2%80%9Cbat-bien%E2%80%9D-trong-phuong-cham-%E2%80%9Cdi-bat-bien-ung-van-bien%E2%80%9D-tu-tu-tuong-ngoai-giao-ho-chi-minh.aspx
Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
03-01-2026
“Bất biến” - mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn cách mạng
Ngày 31-5-1946, trước khi lên đường sang Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng - Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam): “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở cụ và anh em giải quyết cho. Mong cụ “dĩ bất biến ứng vạn biến”” (1) . Là người am hiểu sâu sắc triết học phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm trong lời căn dặn đó một số định hướng mang tầm chiến lược. Đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng - một nhà Nho thâm hiểu kinh điển, lời căn dặn được hiểu là trong hoàn cảnh khó khăn, phải kiên định nguyên tắc căn bản, lấy cái không đổi ứng phó với muôn sự thay đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa_Ảnh: Tư liệu “Dĩ bất biến ứng vạn biến” thường được hiểu là lấy cái không thay đổi để ứng phó với muôn sự biến động. Ở tầm chỉ đạo hành động, phương châm này hàm ý rằng, để ứng xử linh hoạt, trước hết phải xác định rõ đâu là “cái bất biến” và đâu là “cái vạn biến”. Xác định đúng “cái bất biến” giúp chủ động điều chỉnh “cái vạn biến”, mà vẫn giữ vững mục tiêu chiến lược. Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp giải thích phương châm này, song các nhà nghiên cứu thống nhất rằng “cái bất biến” chính là mục tiêu, nguyên tắc lớn của cách mạng Việt Nam (2) . Giữ vững nguyên tắc chính là điều kiện để thực hiện mục tiêu. Trong tư duy của Người, mục tiêu luôn là điểm khởi đầu, đồng thời là thước đo của mọi hành động cách mạng. Từ thực tiễn lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn 1945 - 1946 và tại Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “cái bất biến” là mục tiêu tối thượng của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, trong từng thời kỳ cụ thể, “bất biến” luôn được cụ thể hóa thành mục tiêu phù hợp với bối cảnh lịch sử và yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Đó là biểu hiện sinh động của trí tuệ, bản lĩnh và nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên tắc và linh hoạt - giữa “bất biến” và “vạn biến” - trong tư duy chiến lược và hành động thực tiễn của Người. “Bất biến” - mục tiêu đặt ra Quan niệm về mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét nhất trong việc lựa chọn tiêu ngữ quốc hiệu của nước Việt Nam. Tại Sắc lệnh số 50 ngày 9-10-1945, lần đầu tiên cụm từ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” xuất hiện dưới Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (3) . Ba thành tố này được đặt ngang hàng, song mang giá trị ý nghĩa ở những cấp độ khác nhau, phản ánh tư tưởng nhất quán của Người về mục tiêu tối thượng: độc lập dân tộc gắn liền với tự do và hạnh phúc của nhân dân. Ngày 17-10-1945, trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (4) . Như vậy, “hạnh phúc, tự do của nhân dân” là mục tiêu cuối cùng, còn “độc lập” là điều kiện trung tâm để đạt được mục tiêu đó. Tư tưởng này tiếp tục được Người khẳng định trong Thư gửi đồng bào tỉnh Lào Cai vào ngày 18-10-1945, khi kêu gọi: “Từ đây đồng bào ta phải đoàn kết chặt chẽ, tranh đấu đến kỳ cùng để mưu tự do, hạnh phúc cho dân tộc” và bày tỏ niềm tin: “Tất cả nhân dân Lào Cai,... cùng nhau hăng hái đứng lên phấn đấu để củng cố nền độc lập của nước nhà và xây dựng nền hạnh phúc tự do cho dân chúng” (5) . Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định quan niệm sâu sắc về “tự do” và “hạnh phúc”. Tháng 1-1946, trả lời các nhà báo nước ngoài, Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (6) . Trong khi khẳng định “hạnh phúc, tự do của nhân dân” là mục tiêu tối thượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời đề cao vai trò quyết định của độc lập dân tộc. Độc lập vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để đạt tới tự do và hạnh phúc của nhân dân. Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, chưa được quốc tế công nhận, nền độc lập còn “ngàn cân treo sợi tóc”, Người xác định rõ độc lập chính là “cái bất biến” cần được giữ vững trước mọi biến động. Ngày 6-10-1945, khi đề cập đến chính sách ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Với Pháp - rất đơn giản, Chính phủ buộc Pháp phải công nhận nền độc lập của nước ta. Được thế, các vấn đề khác cũng có thể giải quyết dễ dàng”. Ngày 28-11-1945, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Người nhấn mạnh: “Ngoại giao đối với Pháp: a) Nhất quyết đòi độc lập. b) Chỉ có thể nhượng bộ ít nhiều về kinh tế, văn hóa. c) Ngoại giao với Trung Hoa: Cùng một nguyên tắc là không nhượng bộ về vấn đề độc lập của Việt Nam (7) . Chủ tịch Hồ Chí Minh coi độc lập là “cái bất biến”, đồng thời xác định rõ “cái vạn biến” có thể linh hoạt điều chỉnh là kinh tế, văn hóa và các lĩnh vực khác. Đó là sự kết hợp biện chứng giữa kiên định mục tiêu và linh hoạt sách lược, thể hiện tầm vóc tư duy chiến lược của Người trong nghệ thuật lãnh đạo và đối ngoại cách mạng. “Bất biến” - mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn cách mạng Trong khi kiên định mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ mục tiêu cụ thể (mục tiêu trước mắt), phù hợp với bối cảnh từng giai đoạn cách mạng. Trong những năm 1945 - 1946, mục tiêu trước mắt là giữ vững chính quyền, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài. Tháng 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cụ Huỳnh Thúc Kháng khi đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã gặp Lư Hán (1895 - 1974), tướng lĩnh cao cấp của Quốc dân đảng Trung Quốc, Tư lệnh Tập đoàn quân số 1, kiêm Tổng chỉ huy lực lượng Trung Hoa Quốc dân đảng tại Bắc Đông Dương, được Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch (1887 - 1975) làm Chủ tịch ủy nhiệm sang Việt Nam tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật Bản theo thỏa thuận của Hội nghị Potsdam (8) . Theo quyết định của Hội nghị Postdam, quân đội Trung Hoa Dân Quốc được giao nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật ở khu vực phía Bắc vĩ tuyến 16, còn quân đội Anh phụ trách khu vực phía Nam vĩ tuyến 16. Mặc dù mang danh nghĩa “giải giáp quân đội Nhật”, song lực lượng do tướng Lư Hán chỉ huy - khoảng 20 vạn quân - đã có nhiều hoạt động vượt ra ngoài phạm vi được ủy nhiệm, tác động đáng kể đến tình hình chính trị ở miền Bắc Việt Nam. Trong bối cảnh phức tạp đó, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối diện với không ít sức ép từ bên ngoài, đòi hỏi nghệ thuật xử lý tình huống hết sức linh hoạt và tỉnh táo. Tại một cuộc tiếp xúc quan trọng, khi phía đối phương đưa ra nhiều yêu cầu gây khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ thái độ bình tĩnh, phân tích rõ tương quan lực lượng và xác định nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là giữ vững chính quyền, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng để chủ động ứng phó với những biến động tiếp theo. Việc xác định rõ mục tiêu cụ thể và kiên định thực hiện mục tiêu cho thấy trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các yếu tố khác - kể cả mục tiêu lâu dài - có thể được điều chỉnh linh hoạt khi cần thiết để bảo vệ “cái bất biến”. Quyết định ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 với Pháp là minh chứng tiêu biểu cho nghệ thuật đó. Mục tiêu tối thượng của Việt Nam là độc lập dân tộc, song với tương quan lực lượng lúc bấy giờ, chưa thể buộc Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam dù chỉ trên danh nghĩa. Trước đó, ngày 28-2-1946, Hiệp định Hoa - Pháp được ký kết, theo đó Pháp được quyền thay thế quân đội Trung Hoa Dân Quốc tại miền Bắc Đông Dương. Để việc chuyển quân diễn ra thuận lợi, phía Pháp mong muốn đạt được thỏa thuận với Việt Nam nhằm tránh xung đột không cần thiết. Trong bối cảnh tình hình chính trị trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, nguy cơ xung đột đa chiều đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một giải pháp mềm dẻo, vừa giữ vững nguyên tắc, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng tiếp tục phát triển. Đầu tháng 3-1946 (từ ngày 1 đến 3-3-1946), đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Cộng hòa Pháp tiến hành các cuộc đàm phán bí mật. Phía Việt Nam kiên trì lập trường yêu cầu Pháp công nhận quyền độc lập và thống nhất của Việt Nam, song hai bên còn những bất đồng. Trước đó, ngày 25-2-1946, trong cuộc gặp với Jean Sainteny - đại diện Chính phủ Pháp - Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ quan điểm của Việt Nam là “Độc lập và hợp tác” (9) . Tình hình lúc bấy giờ diễn biến hết sức căng thẳng. Ngày 5-3-1946, hạm đội Pháp xuất hiện tại vịnh Bắc Bộ; phía Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố nếu quân Pháp đổ bộ khi chưa có Hiệp định Việt - Pháp, sẽ nổ súng. Ở trong nước, nhân dân và lực lượng vũ trang sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, trong khi một số tổ chức chính trị tìm cách lợi dụng thời cơ để gây rối tình hình. Tối ngày 5-3-1946, đại diện quân đội Tưởng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và bày tỏ sẽ ủng hộ nếu Việt Nam đạt được thỏa thuận với Pháp. Ngay sau đó, đại diện Pháp cũng đến gặp, mong muốn tiến hành đàm phán và đi đến thống nhất ngay trong đêm cùng ngày. Cuộc trao đổi giữa hai bên kéo dài đến rạng sáng ngày 6-3-1946. Phía Việt Nam kiên trì đề nghị Pháp công nhận nền độc lập và thừa nhận kết quả trưng cầu ý dân về thống nhất ba kỳ, song phía Pháp vẫn giữ quan điểm khác biệt đối với vấn đề độc lập. Sáng ngày 6-3-1946, khi tàu chiến Pháp tiến vào Hải Phòng, xung đột vũ trang đã xảy ra giữa quân đội Pháp và một bộ phận quân đội Trung Hoa Dân Quốc. Tại Thủ đô Hà Nội, tình hình trở nên hết sức căng thẳng; phía Trung Hoa Dân Quốc liên tục thúc giục Việt Nam sớm đạt thỏa thuận với Pháp. Nếu không có giải pháp kịp thời, nguy cơ Pháp và Trung Hoa Dân Quốc thỏa hiệp, đẩy Việt Nam vào thế bất lợi, là điều khó tránh khỏi. Trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đề xuất sáng kiến ký “Hiệp định Sơ bộ” với điều kiện Pháp phải công nhận Việt Nam là “quốc gia tự do”. Phía Pháp chấp thuận. Chiều ngày 6-3-1946, vào lúc 16 giờ 30 phút, Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Jean Sainteny - đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp - ký kết Hiệp định Việt - Pháp. Hiệp định khẳng định “nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội, tài chính của mình” (10) . Ngày 7-3-1946, tại cuộc mít-tinh lớn của nhân dân thủ đô Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu làm rõ ý nghĩa của Hiệp định Sơ bộ: “Nước Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước tự do; tự do không phải là tự trị, nhiều hơn tự trị nhưng vẫn chưa là độc lập… Sau khi giành được tự do, chúng ta sẽ tiến tới giành độc lập, độc lập hoàn toàn” (11) . Lời khẳng định đó phản ánh rõ quan điểm chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: trong bối cảnh phức tạp, cần biết tạm thời chấp nhận bước đi thích hợp để giữ vững “cái bất biến” - mục tiêu độc lập dân tộc - đồng thời linh hoạt về sách lược nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh lâu dài. Việc xác định mục tiêu cụ thể tiếp tục được thể hiện rõ trong quá trình đàm phán tại Hội nghị Paris. Mục tiêu tối thượng của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước vẫn là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 (mở rộng), được thông qua và phổ biến sau đợt họp lần thứ hai vào tháng 7-1959, đã xác định rõ: “Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện dân tộc độc lập và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (12) . Trước đó, ngày 1-8-1956, trả lời phỏng vấn Báo Tuần lễ Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi sẽ kiên quyết phấn đấu để củng cố hòa bình, giành thống nhất, độc lập và dân chủ hoàn toàn cho đất nước” (13) . Những phát biểu và chủ trương này cho thấy sự nhất quán trong tư duy của Người: kiên định mục tiêu “bất biến” là độc lập, thống nhất Tổ quốc, đồng thời vận dụng linh hoạt sách lược “vạn biến” để đạt được mục tiêu trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể. Độc lập dân tộc là mục tiêu xuyên suốt, cần được kiên định trong mọi giai đoạn. Trong đàm phán Paris, nguyên tắc này càng có ý nghĩa đặc biệt, bởi Mỹ không tham gia ký kết Hiệp định Genève năm 1954 và không thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam. Mặc dù gặp thất bại trên chiến trường và rơi vào thế bất lợi trong đàm phán, song phía Mỹ vẫn cố duy trì lập trường này. Thậm chí, đến tháng 11-1972, Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger còn đề xuất không ghi cụm từ “Mỹ công nhận”, mà chỉ “các nước công nhận”, đồng thời tìm cách chuyển nội dung “công nhận các quyền cơ bản của Việt Nam” từ Chương I, Điều 1 xuống Chương IV nhằm làm giảm giá trị pháp lý của điều khoản đó (14) . Thống nhất đất nước là mục tiêu cuối cùng, song để đạt được mục tiêu đó, trong từng giai đoạn cần xác định rõ nhiệm vụ cụ thể. Trong đàm phán Paris, mục tiêu trước mắt được xác định là “quân đội Mỹ rút, quân ta ở lại”. Ngày 20-7-1968, trong Lời kêu gọi nhân kỷ niệm 14 năm ký kết Hiệp định Genève, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Lập trường của ta rất chính đáng, rõ ràng: Ngày nào đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược nước ta, chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, để dân ta tự do giải quyết công việc nội bộ của mình, thì ngày đó hòa bình sẽ lập lại ngay… Cách duy nhất để lập lại hòa bình là quân Mỹ và quân chư hầu phải rút hết về nước!” (15) . Lập trường đó thể hiện hai nội dung nhất quán: 1- Quân đội Mỹ và các lực lượng đồng minh phải rút hoàn toàn khỏi Việt Nam; 2- Các vấn đề nội bộ của Việt Nam phải do chính người Việt Nam tự quyết định, trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng chính trị - quân sự ở miền Nam. Đây chính là sự vận dụng linh hoạt tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến”: kiên định mục tiêu thống nhất và độc lập, đồng thời xác định bước đi chiến lược phù hợp để hiện thực hóa mục tiêu đó. Ngày 1-1-1969, trong Thư chúc mừng năm mới gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ: “Năm qua thắng lợi vẻ vang,/Năm nay tiền tuyền chắc càng thắng to./Vì độc lập, vì tự do,/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào./Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,/Bắc - Nam sum họp, Xuân nào vui hơn! (16) . Bài thơ đã khẳng định rõ mục tiêu cuối cùng là độc lập, tự do và thống nhất đất nước (“Bắc - Nam sum họp”), đồng thời chỉ ra mục tiêu cụ thể, trước mắt là “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Đây là sự kết hợp nhất quán giữa cái “bất biến” - mục tiêu chiến lược - với cái “vạn biến” - sách lược hành động phù hợp từng giai đoạn cách mạng. Đánh giá ý nghĩa của Hiệp định Paris, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định: “Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp định Paris không phải ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát… mà mấu chốt là quân Mỹ phải ra, còn quân ta thì ở lại” (17) . Như vậy, tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” tiếp tục được vận dụng sáng tạo, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất Tổ quốc. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của Hội nghị Paris (từ tháng 5 đến tháng 10-1968), Việt Nam chưa chấp nhận đàm phán với chính quyền Sài Gòn. Theo hồi ức của ông Nguyễn Đình Phương - phiên dịch tại hội nghị, trong một cuộc gặp bí mật giữa đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Xuân Thủy và phái đoàn Mỹ do Averell Harriman dẫn đầu, phía Mỹ yêu cầu có đại diện của chính quyền Sài Gòn tham dự. Ông Xuân Thủy thẳng thắn khẳng định: “Ngụy quyền Sài Gòn không phải là đại diện cho nhân dân miền Nam Việt Nam, chúng tôi không thừa nhận Thiệu - Kỳ” (18) . Đến tháng 10-1968, Mỹ tiếp tục đề nghị Việt Nam chấp thuận sự tham gia của chính quyền Sài Gòn như một điều kiện để chấm dứt ném bom miền Bắc. Việt Nam đồng ý, với điều kiện phía Mỹ phải thừa nhận sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đây là một bước đi thể hiện rõ nghệ thuật “dĩ bất biến ứng vạn biến”, vừa kiên định lập trường nguyên tắc, vừa linh hoạt trong sách lược. Cục diện đàm phán bốn bên tại Thủ đô Paris được mở ra, với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng - lực lượng chính trị, quân sự có uy tín và vị thế quốc tế ngày càng cao - tạo thuận lợi mới cho Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao, hướng tới mục tiêu độc lập, thống nhất đất nước. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư tham quan trưng bày ảnh về công tác đối ngoại nhân dân_Ảnh: TTXVN Xác định “cái bất biến” trong bối cảnh hiện nay Cách thức Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định mục tiêu trong từng giai đoạn cách mạng thể hiện giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thứ nhất , mục tiêu cuối cùng là “kim chỉ nam” cho hành động. Kiên định mục tiêu lâu dài giúp không chệch hướng, không sa vào chủ quan, giáo điều. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu, cần có những điều kiện cụ thể; nếu vận dụng cứng nhắc trong bối cảnh chưa chín muồi, sẽ khó xử lý hiệu quả các vấn đề phức tạp, trước mắt. Thứ hai , mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn là yếu tố quan trọng dẫn tới mục tiêu cuối cùng. Mục tiêu này phải phù hợp thực tiễn, khả thi và có tính định hướng, là “nấc thang” tiến dần tới thắng lợi toàn diện. Càng xác định rõ mục tiêu trước mắt, càng tạo được sự linh hoạt trong điều hành chiến lược và trong hành động. Thứ ba , mục tiêu cuối cùng và mục tiêu cụ thể có vai trò khác nhau nhưng thống nhất trong tổng thể. Mục tiêu cuối cùng giữ vai trò định hướng chiến lược, còn mục tiêu cụ thể là căn cứ xử lý những vấn đề cấp bách, thiết thực. Thứ tư , để xác định đúng “cái bất biến” trong từng giai đoạn, cần “biết người, biết mình, biết thời thế”. “Biết người” là hiểu rõ đối tác và bối cảnh; “biết mình” là nắm chắc năng lực, mục tiêu, phương cách hành động; “biết thời thế” là nhận diện đúng xu hướng vận động của thế giới và khu vực (19) . Khi hội đủ ba yếu tố này, việc xác định “cái bất biến” mới thực sự chính xác và khả thi. Ngày nay, sau hơn 80 năm giành được độc lập, “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” vẫn là mục tiêu tối thượng của dân tộc Việt Nam. “Cái bất biến” - với nghĩa là mục tiêu chiến lược - không thay đổi; song “cái bất biến” - với nghĩa là mục tiêu cụ thể - cần được xác định phù hợp bối cảnh mới. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) xác định: Đến năm 2030, Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao (20) . Đây là những mục tiêu chiến lược, thể hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mọi chính sách, trong đó có chính sách đối ngoại, đều phải phục vụ hiệu quả cho việc hiện thực hóa những mục tiêu này. Nói cách khác, mục tiêu phát triển quốc gia - “cái bất biến” - chi phối toàn bộ hoạt động đối ngoại, từ lựa chọn đối tác, lĩnh vực ưu tiên đến cách xử lý các vấn đề phát sinh - “cái vạn biến”. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cần tiếp tục xác định rõ nguyên tắc xử lý “cái bất biến” trong các tình huống cụ thể của quan hệ quốc tế. Từ nay đến năm 2030 và năm 2045, các mối quan hệ đa phương, song phương và khu vực đều có thể phát sinh những vấn đề phức tạp; nếu có nguyên tắc chung, sự đồng thuận và ứng phó sẽ chủ động, hiệu quả hơn. Vận dụng tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn. Một là, đánh giá kỹ tác động của từng vụ việc đối với mục tiêu cuối cùng và lợi ích cốt lõi của quốc gia - dân tộc. Phải tránh hai khuynh hướng: nghiêm trọng hóa dẫn đến cứng nhắc, làm vấn đề thêm phức tạp; hoặc đơn giản hóa, dẫn đến chủ quan, bỏ lỡ thời cơ hoặc gây hệ lụy lâu dài. Hai là, trên cơ sở đánh giá mức độ tác động, xác định mục tiêu cấp bách, trước mắt theo các tiêu chí phù hợp với mục tiêu cuối cùng, tối ưu và khả thi. Từ đó, xác định các biện pháp xử lý phù hợp, cả về phương thức và mức độ. Ba là, khi xác định được mục tiêu cụ thể (cái bất biến) và biện pháp xử lý (cái vạn biến), cần kiên định thực hiện, đồng thời chủ động hóa giải các hệ quả có thể phát sinh. Bài học từ lịch sử còn nguyên giá trị đến hôm nay. Ngày 7-3-1946, một ngày sau khi ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trước đồng bào Thủ đô: “Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt cuộc đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước” (21) . Lời khẳng định đó thể hiện bản lĩnh kiên định, niềm tin vững chắc và tinh thần bất khuất đối với “cái bất biến” - độc lập, chủ quyền và lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc. Tóm lại, phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” là một nội dung cốt lõi, thể hiện chiều sâu tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại. Vấn đề then chốt và cũng là khó nhất trong việc vận dụng đúng tinh thần ấy chính là xác định “cái bất biến” trong từng thời điểm, hoàn cảnh cụ thể. Kiên định “cái bất biến” là giữ vững mục tiêu chiến lược; linh hoạt trong “vạn biến” là nghệ thuật ứng xử sáng tạo để đạt tới mục tiêu đó. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hai yếu tố này không đối lập, mà bổ sung cho nhau, tạo nên bản lĩnh, trí tuệ và bản sắc ngoại giao Việt Nam. Trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi nhanh của thế giới hiện nay, tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến” theo tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là cẩm nang quý báu cho Việt Nam trong hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, vì lợi ích quốc gia - dân tộc; đồng thời, là kim chỉ nam trong xử lý linh hoạt, hiệu quả các vấn đề phức tạp nảy sinh trong quan hệ quốc tế hiện đại./. ---------------------------- (1), (4), (5), (6), (7), (9), (10), (21) Hồ Chí Minh: Biên niên sử (1945 - 1946), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t. 3, tr. 197, 44, 46, 119, 76, 139, 147, 149 (2) Xem: Nguyễn Văn Nguyên: ““Phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị chỉ đạo thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam (giai đoạn 1945 - 1946)”, Tạp chí điện tử Lý luận chính trị, ngày 10-7-2025, https://lyluanchinhtri.vn/phuong-cham-di-bat-bien-ung-van-bien-trong-tu-tuong-ho-chi-minh-va-gia-tri-chi-dao-thuc-tien-doi-voi-cach-mang-viet-nam-giai-doan-1945-1969-6997.html (3) Xem: Hà Minh Hồng: “Thêm nhận thức về 6 chữ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” trong Quốc hiệu Việt Nam”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 1-9-2020, https://baochinhphu.vn/them-nhan-thuc-ve-6-chu-doc-lap-tu-do-hanh-phuc-trong-quoc-hieu-viet-nam-102278396.htm (8) Hội nghị diễn ra tại thành phố Potsdam (Đức), từ ngày 17-7 đến 2-8-1945, giữa ba cường quốc Liên Xô, Mỹ và Anh (11) Bộ Ngoại giao: Bác Hồ và hoạt động ngoại giao: Một vài kỷ niệm về Bác, Nxb. Chính trị quốc gia , tr. 28 ( 1 2) Văn kiện Đảng toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, t. 20, tr. 81 (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 393 (14) Huỳnh Văn Trình: “Những nội dung cơ bản của Hiệp định Paris về Việt Nam” trong cuốn Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. tr. 176 (15), (16) Hồ Chí Minh: Biên niên sử (1967 - 1969), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t. 10, tr. 200, 253 (17) Bộ Ngoại giao: Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2007, tr. 18 (18) Nguyễn Đình Phương: “Về cuộc đàm phán bí mật”, Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. tr. 152 (19) Xem: Đặng Đình Quý: “Bàn về phương pháp tư duy Hồ Chí Minh: Vận dụng ngũ tri trong nghiên cứu đối ngoại”, Nghiên cứu quốc tế, số 2(93), tháng 6-2013, tr. 23 - 35 (20) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 36
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1226202/hop-tac-va-ket-noi-kinh-te%2C-ket-cau-ha-tang-giua-viet-nam---lao-trong-boi-canh-moi.aspx
Hợp tác và kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng giữa Việt Nam - Lào trong bối cảnh mới
13-03-2026
Một số cơ chế hợp tác và kết nối kinh tế, kết nối hạ tầng giữa Việt Nam - Lào
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone_Ảnh: baochinhphu.vn Một số cơ chế hợp tác và kết nối kinh tế, kết nối hạ tầng giữa Việt Nam - Lào Quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào là một trong những mối quan hệ đặc biệt, bền chặt và toàn diện nhất trong khu vực Đông Nam Á. Hai nước không chỉ là láng giềng gần gũi, mà còn có mối liên kết chính trị, lịch sử và văn hóa sâu sắc, được hình thành trong quá trình đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1962 và ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào (năm 1977), hợp tác giữa hai nước đã được nâng tầm từ quan hệ truyền thống sang quan hệ chiến lược toàn diện, thể hiện qua việc thể chế hóa hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, đến giáo dục, khoa học và phát triển vùng biên giới (1) . Trong đó, các cơ chế hợp tác và kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong những thành tựu hợp tác phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam - Lào. - Cơ quan điều phối chính: Cơ chế hợp tác kinh tế và kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào được điều phối chủ yếu thông qua Uỷ ban Liên Chính phủ về Hợp tác Song phương Việt Nam - Lào, thành lập năm 1978. Cơ chế này họp thường niên để đánh giá kết quả hợp tác và đề ra phương hướng phát triển trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, năng lượng và hạ tầng. Đây là cơ quan điều phối trung tâm, kết nối các bộ, ngành địa phương hai nước nhằm bảo đảm thực thi các cam kết hợp tác (2) . Hằng năm, hai bên tổ chức Kỳ họp Ủy ban Liên Chính phủ luân phiên tại Hà Nội hoặc Viêng Chăn để rà soát kết quả hợp tác và đề ra phương hướng cho giai đoạn tiếp theo. Ngoài ra, hai bên còn thành lập các tiểu ban chuyên ngành như Tiểu ban Hợp tác Kinh tế - Thương mại - Đầu tư, Tiểu ban Hợp tác Năng lượng và Khoáng sản, Tiểu ban Hợp tác tài chính - ngân hàng. Hệ thống điều phối này góp phần tăng cường tính hiệu quả trong việc triển khai các chương trình hợp tác và phản ánh mức độ tin cậy chính trị cao giữa hai Đảng và hai Nhà nước (3) . - Các hiệp định hợp tác quan trọng: Trong lĩnh vực thương mại, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Lào có hiệu lực từ tháng 4-2024 đã thay thế hiệp định năm 2015. Hiệp định cũng chú trọng tạo thuận lợi thương mại thông qua cải cách thủ tục hải quan, áp dụng cơ chế một cửa điện tử và tăng cường phối hợp phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại. Bên cạnh đó, hàng hóa có xuất xứ từ hai nước được hưởng mức thuế ưu đãi 0% hoặc giảm đáng kể, qua đó thúc đẩy trao đổi thương mại song phương (4) . Trong lĩnh vực đầu tư, hai văn kiện quan trọng là Hiệp định về Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư song phương giữa Việt Nam và Lào (năm 1996) và Hiệp định Tránh đánh thuế hai lần (năm 1996) đã tạo nền tảng pháp lý ổn định cho các doanh nghiệp hai nước (5) . Các hiệp định này quy định nguyên tắc đối xử công bằng, bảo đảm quyền chuyển vốn và lợi nhuận, cũng như thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng hoặc trọng tài quốc tế. Trong lĩnh vực giao thông, Hiệp định tạo thuận lợi cho phương tiện cơ giới đường bộ qua lại biên giới (năm 2009) đã đặt nền tảng pháp lý cho vận tải xuyên biên giới. Bên cạnh đó, Chiến lược hợp tác Việt Nam - Lào giai đoạn 2021 - 2030 xác định trọng tâm là tăng cường kết nối hạ tầng giao thông liên quốc gia, ba gồm các tuyến đường bộ, đường sắt và hành lang kinh tế xuyên biên giới (6) . Trong lĩnh vực năng lượng và khoáng sản, các thoả thuận hợp tác như Bản ghi nhớ giữa Bộ Công thương Việt Nam và Bộ Năng lượng và Mỏ Lào (năm 2016) và Hiệp định Hợp tác Hiệp định Hợp tác phát triển các công trình năng lượng điện và mỏ (năm 2019) đã tạo cơ sở cho việc phát triển các dự án thuỷ điện tại Lào và xuất khẩu điện sang Việt Nam. Cụ thể, Hiệp định Hợp tác năng lượng năm 2019 được ký nhằm thúc đẩy phát triển các công trình thủy điện và mỏ tại Lào để cung cấp điện năng cho Việt Nam, với mục tiêu đạt công suất xuất khẩu từ 3.000 đến 5.000MW (7) . Nhìn chung, cơ chế hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào có nền tảng pháp lý vững chắc, cơ cấu điều phối rõ ràng và tính ổn định cao, góp phần củng cố nền tảng liên kết thể chế và tăng cường tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế, được hỗ trợ bởi niềm tin chính trị đặc biệt giữa hai nước. Tuy nhiên, để thích ứng với bối cảnh hội nhập kinh tế mới, hai bên cần đổi mới cơ chế phối hợp, tăng tính minh bạch và thúc đẩy vai trò của khu vực tư nhân. Đặc biệt, trong giai đoạn 2025 - 2030, cần ưu tiên nâng cấp hạ tầng kết nối, số hóa thủ tục thương mại biên giới, mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo, kinh tế số và chuỗi cung ứng xanh. Ngoài hợp tác song phương, Việt Nam và Lào còn phối hợp trong nhiều cơ chế hợp tác tiểu vùng Mekong. Nổi bật là Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV - DTA), được thành lập năm 1999 nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cho các tỉnh biên giới của ba nước, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển và tăng cường liên kết nội khối trong khu vực. Cơ chế này hoạt động thông qua Hội nghị Cấp cao giữa ba Thủ tướng và các cơ quan điều phối liên ngành (8) . Bên cạnh đó, hai nước cũng tham gia các cơ chế hợp tác như Chương trình Hợp tác Kinh tế Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS), Khung Chiến lược hợp tác kinh tế Campuchia - Lào - Myanmar - Việt Nam (CLVM), Chiến lược hợp tác kinh Ayeyawady - Chao Phraya - Mekong (ACMECS). Về các hiệp định, trong khuôn khổ Chiến lược Hợp tác Kinh tế CLMV (CES), các quốc gia đã thông qua Chiến lược Hợp tác Kinh tế CLMV (năm 2003), tiếp đó là Chương trình Hành động CLMV 2016 - 2020 và 2021 - 2025, tập trung vào phát triển công nghiệp hỗ trợ, thương mại điện tử, năng lượng sạch, du lịch bền vững và giáo dục nghề (9) . Các văn kiện này khẳng định quyết tâm của CLMV trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Đối với Chiến lược Hợp tác Kinh tế Ayeyawady - Chao Phraya- Mekong (ACMECS), các mốc hợp tác quan trọng bao gồm Tuyên bố Bagan 2003 – văn kiện khởi đầu chiến lược hợp tác và Kế hoạch Tổng thể ACMECS 2019 - 2023, trong đó nhấn mạnh ba trụ cột hợp tác: kết nối hạ tầng và logistics; phát triển đồng đều và bền vững; và xây dựng khu vực Mekong có khả năng chống chịu cao trước khủng hoảng toàn cầu (10) . Những cơ chế này đóng vai trò bổ sung và mở rộng cho hợp tác Việt Nam và Lào trong lĩnh vực kinh tế và kết cấu hạ tầng, tạo nên mạng lưới hợp tác đa tầng và liên kết chặt chẽ hơn giữa các quốc gia trong lưu vực Mekong. Đồng thời, việc tham gia vào các cơ chế này giúp Việt Nam và Lào tranh thủ nguồn lực từ các đối tác phát triển như ADB, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, và các tổ chức quốc tế khác, qua đó khắc phục hạn chế về tài chính và năng lực thể chế nội khối (11) . Thực trạng hợp tác kinh tế và kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào Quan hệ hợp tác song phương giữa Việt Nam và Lào là một trong những trụ cột quan trọng trong chính sách đối ngoại và chiến lược phát triển khu vực của hai nước. Trong nhiều năm qua, hợp tác này đã không ngừng được mở rộng, đặc biệt trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư và năng lượng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống người dân vùng biên giới và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa hai quốc gia. Về thương mại, năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Lào đạt 2,3 tỷ USD, tăng 38,2% so với năm 2023. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam đến Lào đạt 755,2 triệu USD, tăng 41,6% và chiếm 0,2% tổng xuất khẩu của cả nước. Nhập khẩu của Việt Nam từ Lào đạt 1,5 tỷ USD, tăng 36,5% và chiếm 0,4% tổng nhập khẩu của cả nước. Nhập siêu của Việt Nam từ Lào đạt 741,8 triệu USD, tăng 31,7% so với năm 2023 (12) . Việt Nam xuất khẩu sang Lào chủ yếu là xăng dầu, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng và linh kiện máy móc, trong khi nhập khẩu từ Lào điện năng, khoáng sản, gỗ và nông sản. Sự tăng trưởng thương mại này được thúc đẩy nhờ các hiệp định song phương quan trọng như Hiệp định Thương mại Việt - Lào năm 2015 và Hiệp định Tránh đánh thuế hai lần năm 2016, giúp tạo khung pháp lý ổn định cho hoạt động thương mại giữa hai nước. Cùng với đó, việc hoàn thiện các tuyến giao thông chiến lược như Quốc lộ 8, Quốc lộ 9 và Hành lang Kinh tế Đông - Tây (EWEC) đã giúp rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa và tăng cường liên kết giữa các địa phương trong khu vực CLV (13) . Trong lĩnh vực đầu tư, hợp tác đầu tư Việt - Lào đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, cơ cấu và hình thức, phản ánh nỗ lực của hai Chính phủ trong việc thể chế hóa và cụ thể hóa quan hệ hợp tác toàn diện, bền vững và lâu dài. Tính đến cuối năm 2024, Việt Nam đầu tư vào Lào khoảng 28,8% vốn, tăng 62,2% so với năm 2023 (14) . Với con số này, Lào trở thành quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư lớn nhất của Việt Nam, khẳng định vị thế đặc biệt của quan hệ kinh tế song phương trong chiến lược phát triển khu vực của Việt Nam. Ở chiều ngược lại, Lào hiện có 18 dự án đầu tư đang triển khai ổn định tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt trên 110 triệu USD. Doanh nghiệp Lào được các cơ quan chức năng của Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình đầu tư, kinh doanh (15) . Đầu tư của Việt Nam sang Lào tập trung vào các lĩnh vực có tính bổ trợ cao và phù hợp với tiềm năng của Lào như năng lượng - thủy điện, nông lâm nghiệp, khai khoáng, viễn thông, ngân hàng, và hạ tầng du lịch. Khoảng 35 - 40% tổng vốn đầu tư tập trung trong ngành năng lượng và thủy điện, với các dự án tiêu biểu như Xekaman 1, Xekaman 3 và Xekong 3 A-B do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và PetroVietnam triển khai (16) . Bên cạnh đó, dự án viễn thông Unitel - liên doanh giữa Viettel và Lao Asia Telecom - đã trở thành nhà mạng lớn nhất tại Lào, đóng góp quan trọng cho quá trình chuyển đổi số và tạo việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương. Ngành nông - lâm nghiệp chiếm khoảng 25 - 30% tổng vốn đầu tư, với các dự án trồng cao su, mía đường, cà phê của Tập đoàn Cao su Việt Nam và Hoàng Anh Gia Lai. Lĩnh vực viễn thông cũng ghi nhận thành công nổi bật với thương hiệu Unitel (Viettel), hiện chiếm hơn 50% thị phần tại Lào và đóng góp hàng chục triệu USD mỗi năm cho ngân sách nước bạn (17) . Cùng với đó, các dự án trong lĩnh vực ngân hàng, dịch vụ, thương mại và du lịch đang dần mở rộng, góp phần hình thành các chuỗi giá trị song phương và kết nối kinh tế vùng biên giới giữa hai nước. Ngoài ra, hợp tác năng lượng cũng được xem là trụ cột chiến lược trong quan hệ Việt - Lào. Với tiềm năng thủy điện lớn, Lào được mệnh danh là “cục pin của Đông Nam Á” và Việt Nam là đối tác tiêu thụ điện hàng đầu của Lào. Trên cơ sở các thỏa thuận cấp cao như Hiệp định Hợp tác năng lượng Việt Nam - Lào năm 2006, Biên bản ghi nhớ giữa Bộ Công thương Việt Nam và Bộ Năng lượng và Mỏ Lào năm 2016, hai bên đã xác định mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam sẽ nhập khẩu khoảng 5.000MW điện từ Lào (18) . Đến năm 2024, Việt Nam đã ký kết 19 hợp đồng mua bán điện với 26 nhà máy thủy điện của Lào, với tổng công suất khoảng 2.689MW (19) . Các tuyến truyền tải chính hiện đang vận hành gồm đường dây 220kV Xekaman 1 - Pleiku 2, Xekaman 3 - Thừa Thiên Huế, Nam Kong 1 - Quảng Trị, cùng các dự án đang triển khai như tuyến 500kV Mường Phin - Hà Tĩnh. Nhiều dự án thủy điện lớn do doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Lào đã đi vào hoạt động như Xekaman 1 (290MW), Xekaman 3 (250MW), Xekaman 4 (32MW) và cụm dự án Nam Mo 1 - Nam Mo 2, góp phần quan trọng vào chiến lược phát triển năng lượng của cả hai quốc gia (20) . Ngoài thủy điện, Việt Nam và Lào đang mở rộng hợp tác sang các nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió và điện mặt trời, nhằm đáp ứng nhu cầu chuyển dịch năng lượng xanh và bảo đảm an ninh năng lượng khu vực. Tiêu biểu là dự án điện gió Savan1 tại tỉnh Savannakhet, do T&T Group của Việt Nam đầu tư với tổng công suất lắp đặt khoảng 495MW, tổng vốn đầu tư 768 triệu USD và dự kiến xuất khẩu điện về Việt Nam vào cuối năm 2025 (21) . Hợp tác này giúp Việt Nam đa dạng hóa nguồn cung và chuyển dịch sang năng lượng sạch, trong khi Lào đẩy mạnh xuất khẩu điện mặt hàng chiến lược trong mục tiêu trở thành “Bình điện của Đông Nam Á”. Việc kết nối lưới điện xuyên biên giới không chỉ giúp bảo đảm an ninh năng lượng cho Việt Nam mà còn mang lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho Lào. Dẫu vậy, vấn đề đánh giá tác động môi trường và xã hội của các dự án năng lượng, nhất là tại lưu vực sông Mekong, vẫn là thách thức cần được giải quyết. Lãnh đạo Công ty cổ phần Cao su Việt Lào thăm vườn giống tại huyện Bachiang, tỉnh Champasak, Lào_Ảnh: tuoitre.vn Để tăng cường hiệu quả hợp tác và kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng giữa Việt Nam - Lào Trong những năm gần đây, hợp tác giữa Việt Nam - Lào tiếp tục phát triển theo hướng đa tầng và đa chiều, bao gồm các cấp độ hợp tác song phương, đa phương tiểu vùng và đa phương mở rộng, phản ánh xu hướng chuyển dịch từ quan hệ hỗ trợ phát triển sang liên kết kinh tế thể chế hóa và định hướng bền vững. Ở cấp độ song phương, các cơ chế như Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam - Lào cùng với các hiệp định về thương mại, đầu tư, năng lượng và giao thông, đã tạo nền tảng pháp lý cho việc mở rộng hợp tác kinh tế biên giới. Việt Nam tiếp tục là nhà đầu tư và đối tác thương mại lớn hàng đầu của Lào, chiếm phần lớn giá trị đầu tư nội khối và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các khu kinh tế cửa khẩu song phương. Tuy nhiên, hợp tác song phương vẫn còn thiếu cân bằng, do chênh lệch năng lực phát triển và cơ chế chia sẻ lợi ích chưa thực sự hiệu quả. Ở cấp độ đa phương tiểu vùng, cơ chế Tam giác Phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV-DTA) đã được thể chế hóa tương đối hoàn chỉnh, với cấu trúc ba tầng gồm Hội nghị Cấp cao, Hội nghị Bộ trưởng, và Ủy ban Điều phối chung, cùng các Kế hoạch Hành động giai đoạn 2004 - 2010, 2011 - 2020 và 2021 - 2030. Cơ chế này đóng vai trò điều phối chính sách phát triển vùng biên, xúc tiến thương mại, đầu tư và kết nối hạ tầng giữa Việt Nam và Lào. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi vẫn còn hạn chế do CLV - DTA chưa có Cơ quan Thường trực điều phối, nguồn tài chính phụ thuộc nhiều vào các đối tác phát triển khu vực và quốc tế, và tiến độ thực hiện các dự án còn chậm. Đặc biệt, việc Campuchia rút khỏi cơ chế hợp tác Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV - DTA) đã gây nên gián đoạn cơ chế ba bên tập trung, làm mất đi nền tảng huy động nguồn lực chung cũng như rủi ro về an ninh biên giới và quản lý tài nguyên khu vực biên giới trở nên cao hơn. Ở cấp độ đa phương mở rộng, Việt Nam và Lào đã chủ động hội nhập vào các cơ chế lớn hơn như Chiến lược ACMECS, Chương trình GMS và trong phạm vi rộng hơn là ASEAN. Thông qua các khuôn khổ này, ba nước CLV được hưởng lợi từ nguồn vốn ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ xanh do các thể chế tài chính quốc tế cung cấp, đặc biệt là ADB, World Bank. Các dự án trong khuôn khổ GMS Chiến lược Hợp tác năng lượng 2023 - 2030 và Kế hoạch tổng thể ACMECS 2023 - 2030 đã hỗ trợ ba nước phát triển năng lượng tái tạo, thúc đẩy trao đổi điện xuyên biên giới và hướng tới mô hình tăng trưởng xanh. Dù hiệu quả thực tiễn bước đầu đã thể hiện rõ, hợp tác mở rộng này vẫn đối mặt với thách thức về năng lực thể chế, minh bạch dự án và khả năng hấp thụ vốn quốc tế. Tổng thể cho thấy, trên cả phương diện tổ chức và kết quả thực tiễn, hợp tác Việt Nam - Lào có cấu trúc hợp tác ba tầng rõ rệt: hợp tác song phương đóng vai trò nền tảng, hợp tác đa phương tiểu vùng là công cụ điều phối, trong khi hợp tác đa phương mở rộng là động lực hội nhập và phát triển bền vững. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả và tính tự chủ, Việt Nam và Lào cần xây dựng cơ chế điều phối chung có tính pháp lý cao hơn, thiết lập quỹ phát triển nội vùng, đồng thời đồng bộ hóa quy hoạch hạ tầng - thương mại - năng lượng nhằm hướng tới một mô hình hợp tác tiểu vùng năng động, tự cường và xanh hóa trong bối cảnh chuyển đổi phát triển của khu vực Mekong. Bối cảnh mới toàn cầu và khu vực tạo ra các cơ hội và thách thức đồng thời đối với hợp tác kinh tế, kết cấu hạ tầng Việt - Lào. Trên bình diện toàn cầu, sự trỗi dậy của Trung Quốc, việc hình thành khối BRICS, cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung, cùng với tiến trình Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đã tạo ra áp lực lớn, nhưng cũng đồng thời thúc đẩy các nước Việt Nam và Lào củng cố quan hệ song phương, nâng cao tính tự chủ kinh tế - chính trị và giảm phụ thuộc vào một đối tác duy nhất. Trên bình diện khu vực, sự ổn định và tăng trưởng của ASEAN, cùng với các cơ chế hợp tác đa phương, tạo môi trường thuận lợi để Việt Nam - Lào phát triển các dự án kinh tế, thương mại, năng lượng và hạ tầng biên giới, nhờ vào khung pháp lý minh bạch, tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ và cơ chế điều phối chính trị. Trong khi đó, hợp tác và kết nối kinh tế, kết nối hạ tầng Việt Nam - Lào phải đối mặt với các thách thức lớn. Môi trường kinh tế chính trị toàn cầu tiềm tàng nhiều bất ổn, tác động không tích cực đến triển vọng hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào. Bên cạnh đó, xung đột tiềm tàng tại các điểm nóng trong khu vực và thế giới nếu xảy ra sẽ làm gián đoạn các hoạt động thương mại và đầu tư các nước trong khu vực, từ đó tác động không tích cực đến hợp tác kinh tế, kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào. Ngoài ra, các thách thức toàn cầu và an ninh phi truyền thống ngày càng nghiêm trọng. Cạnh tranh giành ảnh hưởng giữa các nước lớn tại ASEAN khiến cho sức mạnh tổng thể, tính trung tâm của ASEAN bị ảnh hưởng đáng kể, từ đó tác động đến khả năng hợp tác giữa các thành viên, trong đó có hợp tác Việt Nam - Lào. Thêm vào đó, các dự án địa chiến lược của các nước lớn đối với khu vực tạo ra những thách thức mới đối với hợp tác và kết nối kinh tế, cơ sở hạ tầng Việt Nam - Lào. Để tăng cường tính hiệu quả trong hợp tác và kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng giữa Việt Nam - Lào, cần tập trung thực hiện một số nội dung: Thứ nhất, Việt Nam - Lào cần tiếp tục duy trì và mở rộng các liên kết song phương, đồng thời mời các đối tác thứ ba như Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, ADB hay WB tham gia vào các dự án ưu tiên, đặc biệt về hạ tầng, năng lượng tái tạo và thương mại biên giới. Điều này vừa giúp duy trì dòng vốn và công nghệ cho Việt Nam và Lào, vừa tạo động lực để Campuchia quay trở lại khuôn khổ hợp tác CLV khi điều kiện thuận lợi. Vì vậy, cần có cơ chế hiệu quả để tiếp tục huy động nguồn lực quốc tế và phối hợp hỗ trợ kỹ thuật, nhằm bảo đảm các dự án năng lượng tái tạo và hạ tầng xanh được triển khai bền vững. Thứ hai , Việt Nam cần khẳng định và phát huy vai trò “điều phối trung tâm” trong hợp tác Mekong, chủ động lồng ghép các ưu tiên của kết nối kinh tế, cơ sở hạ tầng Việt Nam - Lào vào khuôn khổ ACMECS, GMS và Chiến lược Hợp tác Mekong - Nhật Bản. Việt Nam có thể vận động các đối tác phát triển hỗ trợ mô hình “CLV mở rộng”, trong đó Việt Nam và Lào đóng vai trò hạt nhân, tạo điều kiện cho Campuchia quay trở lại khi điều kiện thuận lợi. Thứ ba, Việt Nam và Lào nên tập trung nâng cấp các hành lang kinh tế và kết nối logistic Việt Nam - Lào, đồng thời thúc đẩy các dự án tăng giá trị gia tăng trong nông nghiệp, chế biến, năng lượng sạch và du lịch sinh thái. Thứ tư, trong lĩnh vực năng lượng, Việt Nam cần tiếp tục phát huy vai trò trung tâm nhập khẩu và trung chuyển điện trong tiểu vùng, tập trung thúc đẩy hợp tác song phương Việt - Lào trong lĩnh vực thủy điện, năng lượng tái tạo và lưới điện liên kết. Bên cạnh đó, Việt Nam có thể mở rộng hợp tác năng lượng với Lào theo cơ chế ACMECS hoặc GMS để tận dụng các nguồn lực và sự hỗ trợ từ các tổ chức khu vực và quốc tế. Thứ năm , nhìn chung, cơ chế hợp tác kinh tế, kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào có nền tảng pháp lý vững chắc, cơ cấu điều phối rõ ràng và tính ổn định cao, góp phần củng cố nền tảng liên kết thể chế và tăng cường tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế, được hỗ trợ bởi niềm tin chính trị đặc biệt giữa hai nước. Tuy nhiên, để thích ứng với bối cảnh hội nhập kinh tế mới, hai bên cần đổi mới cơ chế phối hợp, tăng tính minh bạch và thúc đẩy vai trò của khu vực tư nhân. Đặc biệt, trong giai đoạn 2025 - 2030, cần ưu tiên nâng cấp hạ tầng kết nối, số hóa thủ tục thương mại biên giới, và mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo, kinh tế số và chuỗi cung ứng xanh. Trong bối cảnh hiện nay, việc thúc đẩy hợp tác và kết nối chiến lược giữa Việt Nam - Lào trong lĩnh vực kinh tế, kết cấu hạ tầng đang đứng trước cả những vận hội và thách thức mới. Cùng với nhu cầu, mong muốn tiếp tục thúc đẩy kết nối chiến lược, đổi mới và nâng cao tính hiệu quả của các cơ chế hợp tác từ hai phía, sự gia tăng các nguồn lực, nhất là từ phía Việt Nam cũng như kinh nghiệm rút ra trong hợp tác giữa hai nước và xu hướng kết nối về thể chế, kết cấu hạ tầng giữa các nước trong ASEAN, giữa các nước trong Tiểu vùng Mekong với các đối tác bên ngoài đang gia tăng cũng tạo ra cơ hội mới cho thúc đẩy kết nối chiến lược kinh tế, kết cấu hạ tầng Việt Nam - Lào. Chính vì vậy, sự đổi mới, nâng cao tính hiệu quả các cơ chế hợp tác, tăng cường các nguồn lực để kết nối kinh tế, kết cấu hạ tầng cần được nhận thức sâu sắc và có hành động cụ thể hơn./. -------------------- * Bài viết là sản phẩm khoa học của nhiệm vụ: “Xu hướng quan hệ của Thái Lan với Lào và Campuchia đến năm 2030, tầm nhìn 2045: Những vấn đề đặt ra và thích ứng chính sách của Việt Nam”, mã số: 506.01-2024.04 do TS Trương Quang Hoàn là Chủ nhiệm, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia NAFOSTED tài trợ. (1) VOV (2023), “New milestones in Vietnam-Laos comprehensive cooperative relations”, https://english.vov.vn/en/politics/new-milestones-in-vietnam-laos-comprehensive-cooperative-relations-post1033367.vov, truy cập ngày 10-9-2025 (2) Cổng thông tin điện tử Chính phủ: “Quyết định số 422/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về việc kiện toàn Ủy ban Hợp tác Việt Nam - Lào trong Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào”, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2017/04/422.signed.pdf (3) Tùng Linh (2024): “Kỳ họp lần thứ 46 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam - Lào”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, https://www.mpi.gov.vn/portal/Pages/2024-1-8/Ky-hop-lan-thu-46-Uy-ban-lien-Chinh-phu-ve-hop-tacu1uzyu.aspx, t ruy cập ngày 10-9-2025 (4) Bộ Công Thương (2024): “Chính thức ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Lào mới”, Vụ thị trường châu Á - châu Phi, https://moit.gov.vn/tin-tuc/hoat-dong/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo/chinh-thuc-ky-hiep-dinh-thuong-mai-viet-nam-lao-moi.html, truy cập ngày 10-9-2025 (5) “Hiệp định về Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (1996)”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Dau-tu/Hiep-dinh-khuyen-khich-bao-ho-dau-tu-giua-Viet-Nam-Lao-1996-81266.aspx ., truy cập ngày 15-9-2025 (6) Hà Văn (2023), “Thúc đẩy hợp tác Việt Nam - Lào ngày càng thực chất, hiệu quả”, Báo Chính phủ điện tử , https://baochinhphu.vn/thuc-day-hop-tac-viet-nam-lao-ngay-cang-thuc-chat-hieu-qua-102230405191918487.htm, t ruy cập ngày 17-9-2025 (7) Xinhua (2022), “Laos to expand energy trade with Vietnam”, http://www.xinhuanet.com/english/2019-08/22/c_138329111.htm, t ruy cập ngày 17-9-2025 (8) Vannarith Chheang (2018), “The Cambodia-Laos-Vietnam Development Triangle Area”, ISEAS Perspective, No. 30, https://www.iseas.edu.sg/wp-content/uploads/pdfs/ISEAS_Perspective_2018_30@50.pdf, truy cập ngày 17-9-2025 (9) Bộ Công Thương (2022), “CLMV Action Plan for 2023-2024 period adopted”, https://moit.gov.vn/en/news/ministerial-leaders-activities/clmv-action-plan-for-2023-2024-period-adopted.html#:~:text=The%20CLMV%20Action%20Plan%20for%20the%202023-2024%20period,Minister%20of%20Industry%20and%20Trade%20Nguyen%20Hong%20Dien, truy cập ngày 27-9-2025 (10) ACMECS Secretariat (2020): “ACMECS Master Plan 2019–2023”, Bangkok, https://image.mfa.go.th/mfa/0/mkKfL2iULZ/migrate_directory/information-20180618-142227-835103.pdf (11) Nguyen, T. M., & Pham, L. H (2021): Regional Cooperation in the Mekong Subregion: Trends and Challenges, Journal of Southeast Asian Studies , 52(3), 412–430 (12) Bộ Công Thương (2024): “Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2024”, Nhà xuất bản Công Thương, https://trungtamwto.vn/file/23903/bao-cao-xnk-vn-2024-1534_compressed.pdf (13) Asian Development Bank (ADB) (2022): “The Greater Mekong Subregion Economic Cooperation Program Strategic Framework 2030”, Manila: ADB, https://www.adb.org/sites/default/files/institutional-document/678631/gms-economic-cooperation-strategic-framework-2030.pdf (14) Bộ Tài chính (2024): “Báo cáo tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2024”, Cục Đầu tư nước ngoài, https://ipcs.mpi.gov.vn/bao-cao-tinh-hinh-thu-hut-dau-tu-nuoc-ngoai-tai-viet-nam-nam-2024 (15) Báo điện tử Chính phủ: “Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Lào đồng chủ trì Kỳ họp lần thứ 46 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác song phương”, https://baochinhphu.vn/thu-tuong-pham-minh-chinh-va-thu-tuong-lao-dong-chu-tri-ky-hop-lan-thu-46-uy-ban-lien-chinh-phu-ve-hop-tac-song-phuong-102240107115900978.htm, truy cập ngày 27-9-2025 (16) Báo điện tử Chính phủ: “Việt Nam - Lào đẩy mạnh kết nối kinh tế, sớm đạt mục tiêu 5 tỷ USD thương mại song phương”, https://baochinhphu.vn/viet-nam-lao-day-manh-ket-noi-kinh-te-som-dat-muc-tieu-5-ty-usd-thuong-mai-song-phuong-102250109105904898.htm, truy cập ngày 20-10-2025 (17) VietnamPlus: “Việt Nam - Lào: Tình hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện”, https://www.vietnamplus.vn/viet-nam-lao-tinh-huu-nghi-vi-dai-doan-ket-dac-biet-hop-tac-toan-dien-post1060053.vnp, t ruy cập ngày 20-10-2025 (18) Bộ Công Thương: “Năng lượng và mỏ là trụ cột hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào”, https://moit.gov.vn/tin-tuc/phat-trien-nang-luong/nang-luong-va-mo-la-tru-cot-hop-tac-kinh-te-viet-nam-lao.html, truy cập ngày 20-10-2025 (19) Tuổi trẻ và Pháp luật: “Việt Nam mua điện từ 26 nhà máy thủy điện tại Lào”, https://phapluat.tuoitrethudo.vn/viet-nam-mua-dien-tu-26-nha-may-thuy-dien-tai-lao-88126.html, t ruy cập ngày 20-10-2025 (20) “Việt Nam mua điện từ 26 nhà máy thủy điện tại Lào”, https://tuoitre.vn/viet-nam-mua-dien-tu-26-nha-may-thuy-dien-lao-20240107161515734.htm, truy cập ngày 20-10-2025 (21) “T&T Group's wind power project in Laos will export electricity to Vietnam by the end of 2025”, https://www.vietnam.vn/en/du-an-dien-gio-cua-tt-group-tai-lao-xuat-khau-dien-ve-viet-nam-cuoi-nam-2025, t ruy cập ngày 20-10-2025
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1207202/the-va-luc-cua-dat-nuoc-trong-tien-trinh-hoi-nhap-quoc-te-qua-40-nam-tien-hanh-cong-cuoc-doi-moi.aspx
Thế và lực của đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới
16-01-2026
Khẳng định thành tựu phát triển qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới
Tổng Bí thư Tô Lâm dự Lễ khởi công Nhà máy chế tạo chip bán dẫn công nghệ cao tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc, thành phố Hà Nội_Ảnh: TTXVN Khẳng định thành tựu phát triển qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Những thành tựu vĩ đại đạt được sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, giúp Việt Nam tích lũy thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo. Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực, có trách nhiệm trong nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm... Đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; hoàn thành về đích sớm các mục tiêu Thiên niên kỷ... ” (1) . “...Việt Nam đã trở thành một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô kinh tế tăng gần 100 lần so với năm 1986, thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD lên gần 5.000 USD” (2) . Chỉ số hạnh phúc năm 2025 của Việt Nam tăng 8 bậc so với năm 2024, xếp thứ 46/143 quốc gia. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có mối quan hệ biện chứng, tác động ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau, phát triển ngày càng vững chắc, trở thành trụ đỡ vững vàng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc, trên nền tảng là nhân dân: “dân là gốc”, “dân là chủ”, “dân là trung tâm”, dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nguồn lực cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ngày càng được hiện thực hóa. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Để thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đòi hỏi tiếp tục phải đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và xử lý hài hòa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ và phát huy vị trí, vai trò của từng nhân tố này trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (3) . “Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, nhân dân là chủ thể của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi công dân tích cực, chủ động tham gia vào công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật, có ý thức thượng tôn pháp luật thì sẽ tạo nên sức mạnh của cả hệ thống chính trị để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” (4) . Sức mạnh tổng hợp quốc gia ngày càng được củng cố, qua đó khẳng định nhất quán nguyên tắc độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong tiến trình hội nhập quốc tế suốt 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam luôn kiên định giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chiến lược: phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt; phát triển văn hóa và con người Việt Nam là nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Nhờ đó, Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa được bảo vệ vững chắc; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; an toàn thông tin được tăng cường; môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước được bảo đảm. Tiềm lực quốc phòng - an ninh tiếp tục được đầu tư, củng cố, nâng cao; khả năng xử lý tình huống chiến lược được thực hiện chủ động, linh hoạt, hiệu quả, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia. Sức mạnh chính trị, tinh thần, kinh tế, văn hóa, xã hội; sức mạnh quốc phòng, an ninh đều được tăng cường, tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa đất nước phát triển; đồng thời, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Mối quan hệ về quốc phòng, quân sự, an ninh được xây dựng, phát triển ở mức độ thích hợp trên cơ sở bảo đảm lợi ích cốt lõi của Việt Nam, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, vì lợi ích chung của khu vực và quốc tế. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế... tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào nâng cao chất lượng cuộc sống và năng lực cạnh tranh quốc gia. Công tác phát triển văn hóa, xã hội và con người đạt nhiều tiến bộ, từng bước định hình hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện rõ rệt. Năm 2024, tỷ lệ người lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 28,1%, tăng 1,3% so với năm 2023. Tiềm lực khoa học - công nghệ tiếp tục được củng cố, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hình thành và phát triển. Năm 2024, Việt Nam xếp thứ 56/119 về hệ sinh thái khởi nghiệp, tăng 2 bậc so với năm 2023; Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) tăng 4 bậc so với năm 2022, đứng thứ 44/132, cho thấy năng lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đang nâng lên một bước quan trọng. Định hướng xã hội chủ nghĩa trong chính sách xã hội ngày càng được nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn, thể hiện rõ ở việc gắn kết hài hòa giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội, giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Lĩnh vực an sinh và phúc lợi xã hội tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực; chính sách dân tộc, tôn giáo; chính sách đối với người có công và người Việt Nam ở nước ngoài được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng, hệ thống khám, chữa bệnh ngày càng tiếp cận rộng rãi hơn với kỹ thuật y khoa tiên tiến của thế giới; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 94,1% năm 2024. Công tác quản lý tài nguyên, đất đai được tăng cường; kiểm soát ô nhiễm môi trường có chuyển biến rõ nét; đồng thời, việc huy động nguồn lực để ứng phó với biến đổi khí hậu được đẩy mạnh. Chỉ số phát triển bền vững (SDGs) của Việt Nam năm 2024 xếp thứ 54/166, tăng một bậc so với năm 2023, phản ánh nỗ lực và tiến bộ đáng ghi nhận trong phát triển bền vững. Qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đường lối đối ngoại rộng mở và hội nhập quốc tế sâu rộng đã đưa Việt Nam trở thành “bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm” của cộng đồng quốc tế; đồng thời, khẳng định và nâng cao rõ rệt vị thế, uy tín quốc gia trên trường thế giới. Từ một đất nước từng bị bao vây, cô lập, hiện nay Việt Nam là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Việc tham gia các thỏa thuận hợp tác và liên kết kinh tế đa tầng nấc, đặc biệt là 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), đã kết nối Việt Nam với hơn 60 nền kinh tế chủ chốt, thúc đẩy tham gia sâu vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Nhờ đó, Việt Nam nằm trong nhóm 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; thuộc nhóm 20 nền kinh tế thu hút FDI nhiều nhất từ năm 2019 đến nay; đồng thời, là một trong 10 nước có lượng kiều hối lớn nhất thế giới (5) . Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là sự lựa chọn mang tính bước ngoặt, là sự nghiệp sáng tạo vĩ đại với ý nghĩa lịch sử sâu sắc, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Qua bốn thập niên đổi mới, Đảng ngày càng nhận thức rõ hơn yêu cầu bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trong đó mục tiêu phát triển được đặt ở vị trí trung tâm; vai trò của hội nhập quốc tế đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được đề cao; nhiệm vụ nâng cao vị thế và uy tín quốc gia trong cộng đồng quốc tế được nhấn mạnh như một động lực quan trọng của tiến trình phát triển đất nước. Trong quá trình hội nhập quốc tế, luôn quán triệt chủ trương của Đảng về bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Trên cơ sở đó, phương châm và định hướng lớn được quán triệt nhất quán: đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; coi trọng quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn; đồng thời, duy trì, củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống. Quá trình phát triển đường lối cho thấy định hướng hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn, chuyển mạnh từ tâm thế “quốc gia đi sau” sang vị thế “quốc gia chủ động, tích cực, tiên phong” trong nhiều lĩnh vực hợp tác mới. Trong triển khai hội nhập quốc tế, Đảng luôn nhấn mạnh yêu cầu xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa giữ vững độc lập, tự chủ và mở rộng quan hệ hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; đồng thời, khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường nội lực để hội nhập quốc tế đạt hiệu quả, bền vững. Đảng chỉ rõ việc tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, nâng cao khả năng thích ứng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đảng ta xác định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị. Hội nhập quốc tế phải được tiến hành trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, đồng thời tranh thủ hiệu quả nguồn lực bên ngoài; trong đó, hội nhập kinh tế là trọng tâm, các lĩnh vực khác được mở rộng theo lộ trình phù hợp. Việt Nam kiên trì thực hiện nghiêm cam kết quốc tế, đồng thời chủ động, tích cực tham gia xây dựng và định hình chuẩn mực chung nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Với các quan hệ đối tác đã được xác lập, Đảng chủ trương đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu và làm sâu sắc hơn, ngày càng gia tăng mức độ đan xen lợi ích, tăng cường lòng tin, mở rộng và nâng cao hiệu quả cơ chế hợp tác, nâng cấp quan hệ với các đối tác phù hợp với yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước. Đồng thời, nâng tầm đối ngoại đa phương, chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên hợp quốc, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công, trong vấn đề và cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể. Đối với công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, Đảng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu phản động của các thế lực thù địch, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của đất nước. Thành phố Hồ Chí Minh sau gần 40 năm đổi mới_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn Tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, “hội tụ” thế và lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới Thực tiễn hội nhập quốc tế qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới cho thấy, thế và lực của Việt Nam đạt được thành tựu to lớn, bên cạnh đó cũng còn hạn chế cần khắc phục. Về thành tựu , hội nhập quốc tế đã góp phần quan trọng vào việc duy trì và củng cố môi trường hòa bình, ổn định, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo nền tảng vững chắc để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Quá trình hội nhập quốc tế đã phá vỡ thế bị bao vây, cấm vận trước đây, đồng thời mở rộng không gian đối ngoại, đưa quan hệ của Việt Nam với các nước và đối tác đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững. Mạng lưới đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác toàn diện tiếp tục được thiết lập, củng cố và mở rộng, bao quát các đối tác có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Hội nhập quốc tế gắn với quốc phòng, an ninh đã góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”; đồng thời, giúp Việt Nam tham gia ngày càng tích cực, chủ động, có trách nhiệm vào các cơ chế hòa bình, hợp tác khu vực và toàn cầu, qua đó không ngừng nâng cao vị thế và uy tín quốc tế. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia; xây dựng quan hệ đối tác toàn diện trở lên với 42 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược hoặc đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới thuộc nhóm G20 (6) . Đảng Cộng sản Việt Nam duy trì quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia, bao gồm 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền và 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền hoặc tham chính. Quốc hội Việt Nam có quan hệ hợp tác với hơn 140 quốc hội và nghị viện trên thế giới. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng tăng cường hoạt động đối ngoại nhân dân với khoảng 1.200 tổ chức trên thế giới và đối tác nước ngoài. Hợp tác quốc tế và đối ngoại quốc phòng, đối ngoại chuyên ngành tiếp tục được mở rộng, trở thành bộ phận quan trọng góp phần tạo nên những thành tựu toàn diện của đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng, như ASEAN, Liên hợp quốc, Tiểu vùng sông Mê Công, APEC, Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á (AIPA), Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), các hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP), Diễn đàn cấp cao “Vành đai, con đường”... Việt Nam được bạn bè quốc tế tín nhiệm đề cử gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng trong cơ chế, diễn đàn đa phương, nhất là trong ASEAN và Liên hợp quốc, như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong hai nhiệm kỳ (nhiệm kỳ 2008 - 2009, nhiệm kỳ 2020 - 2021), Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 và nhiệm kỳ 2026 - 2028, Ủy ban liên chính phủ bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, Ủy ban Luật pháp quốc tế nhiệm kỳ 2023 - 2027... Về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đến giữa năm 2025, Việt Nam đã cử hơn 1.000 lượt sĩ quan quân đội, công an triển khai theo hình thức cá nhân và đơn vị đi làm nhiệm vụ tại châu Phi và trụ sở Liên hợp quốc ở Niu Óoc (Mỹ); cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn quốc tế tại Thổ Nhĩ Kỳ, Mi-an-ma. Hội nhập quốc tế đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đồng thời tạo chuyển biến tích cực trong xử lý vấn đề biên giới, lãnh thổ với các nước liên quan. Cùng với việc đàm phán và ký kết điều ước, thỏa thuận quốc tế, Việt Nam từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý, xây dựng khuôn khổ hợp tác và quản lý biên giới hiệu quả, qua đó củng cố môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và mở rộng không gian hợp tác đối ngoại. Đối với Trung Quốc, Việt Nam đã ký kết Hiệp định biên giới trên đất liền và hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc trên bộ; ký kết Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ; ký kết Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển. Hai bên tiếp tục thiết lập các hiệp định về quy chế quản lý biên giới và quản lý cửa khẩu trên đất liền, tạo khung pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ chủ quyền, phát triển đường biên giới hòa bình, hữu nghị. Trong khuôn khổ các nước ASEAN, Việt Nam đã có những nỗ lực trong việc mở rộng và tăng cường hợp tác giữa Việt Nam với các nước trong khu vực. Với Lào, hai nước đã hoàn thành dự án tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới trên toàn tuyến biên giới, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và củng cố đường biên giới hữu nghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào. Đối với Cam-pu-chia, hai bên đã hoàn thành phân giới, cắm mốc khoảng 84% chiều dài biên giới trên đất liền. Gắn với việc phân định, hợp tác và xử lý vùng chồng lấn trên biển, Việt Nam đã từng bước cùng các quốc gia liên quan giải quyết trên cơ sở bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã thiết lập và mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 quốc gia trên tất cả châu lục; chủ động, tích cực tham gia hơn 500 điều ước quốc tế song phương và đa phương trong nhiều lĩnh vực, qua đó thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng lớn và đa dạng. Công tác đối ngoại góp phần quan trọng làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế; tăng cường gắn kết và hợp tác kinh tế với nhiều đối tác chủ chốt, tạo nền tảng củng cố kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhờ đẩy mạnh xuất, nhập khẩu, thu hút hiệu quả nguồn lực bên ngoài, bao gồm FDI, viện trợ không hoàn lại (ODA), thành tựu khoa học - công nghệ, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về quy mô thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Trong đại dịch COVID-19, việc triển khai chủ động, quyết liệt đường lối đối ngoại, đặc biệt là ngoại giao vắc-xin, giúp Việt Nam tranh thủ được sự hỗ trợ quý báu, kịp thời của cộng đồng quốc tế để ứng phó, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, được bạn bè và đối tác quốc tế đánh giá cao. Triển khai đồng bộ, toàn diện công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong suốt 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đặc biệt từ sau khi Bộ Chính trị khóa IX ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 26-3-2004, “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” và Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 19-5-2015, “Về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới”, Đảng và Nhà nước nhất quán khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhờ đó, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đạt nhiều kết quả quan trọng. Đến cuối năm 2024, đồng bào ta ở nước ngoài đã đầu tư 422 dự án tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 1.725 tỷ USD; số lượng kiều hối chuyển về qua hệ thống ngân hàng đạt gần 250 tỷ USD, góp phần hỗ trợ gia đình, người thân và đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng củng cố, nâng cao ý thức tự hào dân tộc, lòng yêu nước, gắn bó với quê hương, đất nước, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, vươn lên trong cuộc sống, hội nhập vào xã hội sở tại. Công tác thông tin đối ngoại và ngoại giao văn hóa được đổi mới mạnh mẽ, triển khai ngày càng bài bản, hiệu quả, góp phần quảng bá sâu rộng hình ảnh đất nước và con người Việt Nam. Thông qua nhiều hình thức phong phú, thế giới hiểu rõ hơn về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Việt Nam đã đạt được; về truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc; về nền văn hóa phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc; về phẩm chất anh hùng, thủy chung, nghĩa tình và yêu chuộng hòa bình của con người Việt Nam; cũng như về một đất nước Việt Nam an toàn, thân thiện, ổn định, hội nhập và phát triển. Nhiều hoạt động truyền thông được tổ chức nhằm lan tỏa giá trị tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và danh nhân văn hóa Việt Nam được UNESCO vinh danh; đồng thời, tích cực vận động UNESCO công nhận di sản văn hóa và di sản thiên nhiên của Việt Nam. Công tác thông tin đối ngoại chủ động, kịp thời đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch, phản động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trong suốt 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, việc xây dựng và triển khai đường lối, chính sách đối ngoại đã góp phần hình thành nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, với ba trụ cột ngày càng được củng cố và phát triển: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Trong bối cảnh khoa học - công nghệ, toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, phương tiện và công cụ phục vụ công tác đối ngoại cũng không ngừng đổi mới, ngày càng đa dạng và hiệu quả hơn. Nhờ đó, hoạt động đối ngoại đã theo kịp xu thế thời đại, mở rộng về chủ thể tham gia, làm sâu sắc mạng lưới đối tác, đồng thời đổi mới mạnh mẽ về phương thức và công cụ triển khai. Về hạn chế , thế và lực mới của đất nước tuy đã được củng cố vững chắc, nhưng chưa thực sự phát huy tối đa để tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế. Quan hệ với một số đối tác vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và khuôn khổ hợp tác, nhất là trong lĩnh vực kinh tế khi vẫn thiếu vắng dự án mang tính chiến lược. Việc theo dõi, triển khai, đôn đốc thực hiện thỏa thuận, cam kết, khuôn khổ hợp tác quốc tế vẫn còn hạn chế, còn xuất hiện “điểm nghẽn” trong quan hệ với một số đối tác quan trọng. Cải cách thể chế trong một số lĩnh vực vẫn chưa theo kịp yêu cầu của tiến trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng để vừa hội nhập quốc tế sâu rộng, vừa bảo đảm yêu cầu bảo vệ đất nước, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Hiệu quả phối hợp giữa bộ, ngành và địa phương vẫn chưa thật sự chặt chẽ, đồng bộ, còn thiếu sự gắn kết. Công tác nghiên cứu chiến lược và dự báo biến chuyển của tình hình quốc tế còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu tham mưu trong bối cảnh mới. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới, đây cũng là thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập Nước. Sự biến chuyển có tính thời đại đem đến thời cơ, thuận lợi mới, đồng thời cũng có nhiều thách thức, trong đó mặt thách thức nổi trội hơn và thời cơ mới còn có thể xuất hiện trong khoảnh khắc giữa những thay đổi đột biến trong cục diện thế giới. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là trí tuệ nhân tạo và công nghệ số đem đến cơ hội mà những quốc gia đang phát triển, chậm phát triển có thể nắm bắt để đi trước đón đầu, phát triển vượt bậc. Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, khơi dậy ý chí tự lực, tự chủ, tự tin, tự cường, tự hào dân tộc, huy động sức mạnh toàn dân kết hợp với sức mạnh thời đại, con thuyền cách mạng Việt Nam sẽ đạt được những kỳ tích (kỳ tích về một nước dân chủ thuộc địa nửa phong kiến có thể chiến thắng hai đế quốc thực dân hùng mạnh; kỳ tích về một nước từ bị bao vây cấm vận thực hiện thành công công cuộc đổi mới với những thành tựu vĩ đại). Hiện nay là thời điểm ý Đảng hòa quyện với lòng dân trong khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sớm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, sánh vai với các cường quốc năm châu. Từ những vấn đề trên, có thể thấy, đây là thời điểm “hội tụ” tổng hòa các lợi thế, sức mạnh để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc tiếp sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới” (7) ./. ------------- * Bài viết là sản phẩm nghiên cứu của Đề tài cấp quốc gia, Mã số KX.06.03/21-30 (1) Xem: Tô Lâm: “Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Tạp chí Cộng sản điện tử , ngày 1-11-2024 (2) Tô Lâm: “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản, số 1059, tháng 4-2025, tr. 10 (3) Tô Lâm: “Phát huy tính đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 1049, tháng 11-2024, tr. 4 (4) Tô Lâm: “Phát huy tính đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tlđd (5) Xem: Tô Lâm: “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”, Tlđd (6) G-20 thường được biết đến với tên gọi: Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới, bao gồm 19 quốc gia và Liên minh châu Âu. Gần đây, Liên minh châu Phi (AU) đã trở thành thành viên mới nhất của G-20 (7) Tô Lâm: “Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Tlđd
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1224502/ngoai%C2%A0giao-khoa-hoc-trong-chien-luoc-doi-ngoai-%C2%A0tu%C2%A0kinh-nghiem-quoc-te-den-dinh-huong-chinh-sach%C2%A0cua-viet-nam.aspx
Ngoại giao khoa học trong chiến lược đối ngoại: Từ kinh nghiệm quốc tế đến định hướng chính sách của Việt Nam
09-03-2026
Ngoại giao khoa học trong kỷ nguyên phát triển mới
Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu các đại sứ, trưởng các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại nước ngoài ưu tiên cao độ triển khai hiệu quả ngoại giao khoa học - công nghệ_Ảnh: TTXVN Ngoại giao khoa học trong kỷ nguyên phát triển mới Bước sang kỷ nguyên mới, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố quyết định sự phát triển bền vững và cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế. Bối cảnh đó đặt ra những yêu cầu mới về tư duy và thực tiễn trong ngoại giao khoa học. Trong kỷ nguyên tri thức, đối ngoại đóng vai trò kiến tạo không gian hợp tác, tham gia xây dựng chuẩn mực và huy động nguồn lực tri thức, công nghệ phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn. Với Việt Nam, khoa học - công nghệ vừa là điều kiện then chốt để phát triển nhanh và bền vững, vừa là nền tảng của năng lực tự chủ trong hội nhập quốc tế. Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương quan trọng, thể hiện sự chuyển dịch tư duy trong ngoại giao khoa học. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” và Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế trong tình hình mới” khẳng định chiến lược xuyên suốt: phát triển dựa trên khoa học - công nghệ là nền tảng, hội nhập quốc tế là phương thức, đối ngoại kiến tạo là không gian để huy động, kết nối và chuyển hóa các nguồn lực thành năng lực nội sinh của quốc gia. Ngoại giao khoa học không chỉ thu hút sự quan tâm trong nghiên cứu và hoạch định chính sách đối ngoại mà đã đi vào thực tiễn điều hành, phát triển đất nước. Theo báo cáo của Royal Society và Hiệp hội vì sự tiến bộ của khoa học Hoa Kỳ (AAAS), ngoại giao khoa học là việc sử dụng hợp tác khoa học giữa các quốc gia nhằm giải quyết những vấn đề chung và xây dựng các quan hệ đối tác quốc tế mang tính xây dựng (1) . Ngoại giao khoa học bao gồm ba chiều cạnh gắn bó hữu cơ: khoa học phục vụ ngoại giao (science in diplomacy), ngoại giao phục vụ khoa học (diplomacy for science) và khoa học thúc đẩy quan hệ quốc tế (science for diplomacy). Với cách tiếp cận đó, ngoại giao khoa học không giới hạn trong hợp tác nghiên cứu, mà gắn trực tiếp với quá trình ra quyết định và triển khai chính sách đối ngoại. Về mặt lý thuyết, ngoại giao khoa học được đặt tại giao điểm của hai hướng tiếp cận chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện đại. Một là tiếp cận “quyền lực mềm”, khoa học là nguồn lực tạo uy tín và ảnh hưởng quốc tế. Hai là tiếp cận chính sách đối ngoại kiến tạo, ngoại giao khoa học là phương thức để thu hút nguồn lực tri thức và công nghệ phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn và tự chủ chiến lược. Cách tiếp cận này xác lập ngoại giao khoa học là chiến lược của chính sách đối ngoại trong kỷ nguyên tri thức. Ngoại giao khoa học phát huy giá trị khi được cụ thể hóa thông qua các mô hình thể chế, công cụ chính sách và lựa chọn chiến lược khác nhau của từng quốc gia. Thực tiễn triển khai ngoại giao khoa học ở một số nước điển hình trong những năm gần đây sẽ cung cấp những kinh nghiệm quý giá, làm rõ cách thức khoa học được tích hợp vào chính sách đối ngoại và cách các quốc gia sử dụng ngoại giao khoa học để gia tăng năng lực cạnh tranh và vị thế quốc tế. Kinh nghiệm quốc tế về ngoại giao khoa học Trong thực tiễn quốc tế, Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Nhật Bản là ba quốc gia tiêu biểu trong việc triển khai ngoại giao khoa học ở cấp chiến lược. Mỗi đất nước xây dựng mô hình khác nhau, phản ánh những lựa chọn thể chế, công cụ chính sách và cách tiếp cận riêng đối với mối quan hệ giữa khoa học và đối ngoại. Hoa Kỳ: Ngoại giao khoa học gắn với năng lực hoạch định chính sách và quyền lực chuẩn mực Điểm nổi bật trong chiến lược ngoại giao khoa học của Hoa Kỳ là mức độ thể chế hóa vai trò của tri thức khoa học trong quá trình ra quyết định đối ngoại. Bên cạnh việc xác định khoa học là một lĩnh vực hợp tác quốc tế, Hoa Kỳ xây dựng các cơ chế đưa nhà khoa học trực tiếp tham gia vào bộ máy chính sách đối ngoại (2) . Chương trình Jefferson Science Fellowship do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phối hợp với cộng đồng học thuật triển khai là một ví dụ điển hình, cho phép các nhà khoa học làm việc với vai trò cố vấn khoa học - công nghệ cho các đơn vị hoạch định chính sách trong thời gian dài hạn (3) . Cách tiếp cận này nhằm thu hẹp “khoảng cách tri thức” giữa khoa học và chính sách, qua đó nâng cao chất lượng quyết sách đối ngoại trong các lĩnh vực phức tạp như y tế toàn cầu, biến đổi khí hậu, công nghệ mới và an ninh sinh học. Về mặt chiến lược, ngoại giao khoa học của Hoa Kỳ thể hiện rõ mô hình “Science in diplomacy” và “Science for diplomacy”: khoa học vừa hỗ trợ hoạch định chính sách, vừa là công cụ mở rộng ảnh hưởng và định hình chương trình nghị sự quốc tế (4) . Thông qua các thiết chế như AAAS, Center for Science Diplomacy và sự tham gia của National Academies, Hoa Kỳ duy trì được lợi thế trong việc định nghĩa vấn đề, xây dựng chuẩn mực và dẫn dắt các mạng lưới tri thức toàn cầu (5) . Thành công của Hoa Kỳ nằm ở việc ngoại giao khoa học không vận hành như một lĩnh vực biệt lập, mà là một phần hữu cơ của quyền lực mềm và quyền lực chuẩn mực. Vương quốc Anh: Ngoại giao khoa học là công cụ chính sách đo lường và quản trị Với Vương quốc Anh, ngoại giao khoa học là phương thức triển khai chính sách quốc gia về đối ngoại , tiêu biểu là Quỹ Đối tác Khoa học Quốc tế (International Science Partnerships Fund - ISPF) (6) . Mục tiêu của quỹ là tài trợ cho hợp tác nghiên cứu, tăng cường quan hệ quốc tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và giải quyết các thách thức toàn cầu. Điểm khác biệt của mô hình này là áp dụng khung đánh giá và giám sát tác động cho ngoại giao khoa học, coi đây là lĩnh vực chính sách cần được quản trị bằng minh chứng (evidence-based policy) (7) . Các tiêu chí đánh giá gồm kết quả khoa học, tác động đối với quan hệ đối ngoại, năng lực đổi mới và vị thế khoa học quốc gia. Điều này giúp tránh tình trạng hợp tác khoa học phân tán, thiếu định hướng chiến lược, đồng thời bảo đảm sự liên kết giữa khoa học, phát triển và lợi ích đối ngoại. Mô hình của Vương quốc Anh thể hiện rõ sự kết hợp giữa “Diplomacy for science” và “Science for diplomacy”, trong đó khoa học là phương thức đối ngoại có mục tiêu, có đánh giá và có khả năng điều chỉnh chính sách theo thời gian (8) . Nhật Bản: Ngoại giao khoa học gắn với hội nhập công nghệ và hình ảnh quốc gia Nhật Bản triển khai ngoại giao khoa học gắn chặt với mục tiêu nâng cao năng lực đổi mới và hình ảnh quốc gia. Bộ Ngoại giao Nhật Bản xác định khoa học - công nghệ là nguồn lực để gia tăng “sức mạnh ngoại giao”, đồng thời là phương tiện việc giải quyết các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, thiên tai và phát triển bền vững (9) . Điểm mạnh của Nhật Bản nằm ở tính nhất quán chiến lược và khả năng điều phối hệ sinh thái nhà nước - viện nghiên cứu - doanh nghiệp. Ngoại giao khoa học không chỉ tập trung vào hợp tác nghiên cứu, mà còn hướng tới việc “quốc tế hóa” năng lực công nghệ, tham gia định hình tiêu chuẩn và chuẩn mực kỹ thuật khu vực và toàn cầu (10) . Nhờ đó, Nhật Bản duy trì vị thế là đối tác công nghệ tin cậy, đồng thời nâng cao ảnh hưởng quốc tế thông qua khoa học và đổi mới sáng tạo. Từ kinh nghiệm triển khai ngoại giao khoa học của một số quốc gia điển hình, có thể rút ra một số vấn đề với việc lựa chọn và tổ chức ngoại giao khoa học trong chiến lược đối ngoại hiện nay. Thứ nhất, về thể chế hóa. Ngoại giao khoa học chỉ phát huy hiệu quả khi được thể chế hóa trong cấu trúc chính sách đối ngoại, với bộ máy chuyên trách rõ ràng và cơ chế điều phối liên ngành đủ thẩm quyền. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc gắn khoa học trực tiếp với bộ máy đối ngoại giúp thu hẹp khoảng cách giữa tri thức và chính sách, đồng thời bảo đảm khoa học không bị “ngoại vi hóa” trong quá trình hoạch định chiến lược. Thứ hai, về công cụ chính sách . Thành công của ngoại giao khoa học không đến từ các sáng kiến đơn lẻ, mà từ việc thiết kế các công cụ chính sách cụ thể như chương trình, quỹ hợp tác, cơ chế chuyên gia và khung đánh giá tác động. Những công cụ này chuyển hóa hợp tác khoa học từ các dự án rời rạc thành một quá trình có mục tiêu, có đo lường và có khả năng điều chỉnh theo yêu cầu chiến lược. Thứ ba, về tự chủ tri thức . Điểm phân biệt căn bản giữa ngoại giao khoa học mang tính chiến lược và hợp tác khoa học thuần túy nằm ở mục tiêu tự chủ tri thức. Khi hợp tác khoa học gắn với nâng cao năng lực nội sinh, làm chủ công nghệ và tham gia định hình chuẩn mực, ngoại giao khoa học mới thực sự góp phần củng cố vị thế quốc gia và giảm thiểu rủi ro lệ thuộc trong hội nhập. Trong bối cảnh Việt Nam đặt khoa học - công nghệ làm trọng tâm phát triển và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, ngoại giao khoa học cần được xác lập là một chiến lược của chính sách đối ngoại, nhằm kết nối hiệu quả đổi mới sáng tạo trong nước với hội nhập tri thức toàn cầu, đồng thời củng cố năng lực tự chủ và nâng cao vị thế quốc gia. Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng dự Lễ trao Huân chương Bắc đẩu bội tinh bậc Sĩ quan – Huân chương cao quý nhất của nước Pháp - tặng vợ chồng GS Jean Trần Thanh Vân và GS Lê Kim Ngọc_Ảnh: tienphong.vn Ngoại giao khoa học trong chiến lược đối ngoại Việt Nam Thứ nhất, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng tái cấu trúc đối ngoại. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” xác lập khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là đột phá chiến lược hàng đầu không chỉ mang ý nghĩa định hướng cho mô hình phát triển trong nước, mà còn khẳng định phương hướng phát triển trong tư duy đối ngoại của Việt Nam. Khi tri thức, công nghệ và nhân lực chất lượng cao là nền tảng của sức mạnh quốc gia, khoa học trở thành một nguồn lực chiến lược cần được huy động, kết nối và gia tăng thông qua không gian đối ngoại. Như vậy, Nghị quyết số 57-NQ/TW đánh dấu sự dịch chuyển từ tư duy “ứng dụng và tiếp nhận” sang tư duy “làm chủ và sáng tạo”, đặt ra yêu cầu tổ chức các kênh đối ngoại phục vụ trực tiếp cho mục tiêu nâng cao năng lực tri thức quốc gia. Bên cạnh mở rộng quan hệ, thu hút nguồn lực truyền thống,ngoại giao trở thành công cụ kiến tạo và điều phối khoa học - công nghệ toàn cầu theo những ưu tiên chiến lược đã được xác lập. Đây là cơ sở chính trị - tư tưởng trực tiếp để hình thành và phát triển ngoại giao khoa học trong chiến lược đối ngoại Việt Nam thời kỳ mới. Thứ hai, hội nhập quốc tế là quá trình quản trị tri thức và tự chủ chiến lược. Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế trong tình hình mới” phản ánh bước phát triển quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng, khi hội nhập được đặt trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế dựa trên tri thức, công nghệ và khả năng định hình chuẩn mực. Khác với cách tiếp cận nhấn mạnh hội nhập là quá trình mở rộng quan hệ và tiếp nhận nguồn lực bên ngoài, Nghị quyết số 59-NQ/TW tiếp cận hội nhập là một công cụ chiến lược nhằm tạo lập năng lực phát triển, củng cố tự chủ và nâng cao vị thế quốc gia trong trật tự quốc tế đang chuyển dịch. Mấu chốt quan trọng của Nghị quyết số 59-NQ/TW nằm ở sự chuyển dịch từ tư duy “hội nhập theo chiều rộng” sang tư duy “tổ chức hội nhập theo chiều sâu”, trong đó chất lượng hội nhập và khả năng chuyển hóa hội nhập thành năng lực nội sinh trở thành tiêu chí trung tâm. Hội nhập trở thành không gian chính sách phức hợp, đan xen giữa hợp tác và cạnh tranh, đòi hỏi năng lực điều phối chiến lược ở tầm quốc gia. Nghị quyết số 59-NQ/TW đã tạo cơ sở chính trị để hội nhập khoa học là tiến trình quản trị, huyđộng nguồn lực tri thức, công nghệ cũng như xác lập chuẩn mực quốc tế. Ngoại giao khoa học trở thành phương thức hội nhập phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 59-NQ/TW, tạo cơ chế ưu tiên, lựa chọn đối tác và định vị Việt Nam trong mạng lưới khoa học - công nghệ khu vực và toàn cầu. Th ứ ba, đối ngoại đóng vai trò kiến tạo không gian phát triển và nâng cao năng lực ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên (11) , đặt đối ngoại vào vị trí trụ cột chiến lược của phát triển đất nước trong bối cảnh trật tự quốc tế chịu tác động ngày càng mạnh của khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điểm mới nằm ở cách tiếp cận đối ngoại là một thành tố cấu trúc của năng lực phát triển quốc gia, gắn chặt với yêu cầu nâng cao tự chủ, sức chống chịu và khả năng thích ứng trước các biến động toàn cầu. Sự tích hợp giữa các mục tiêu chính trị, kinh tế, khoa học - công nghệ và an ninh phi truyền thống trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cho thấy đối ngoại không chỉ là lĩnh vực hỗ trợ phát triển, mà trở thành không gian chủ động để kiến tạo nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tri thức. Việc nhấn mạnh các thách thức an ninh phi truyền thống như an ninh y tế, an ninh môi trường và an ninh năng lượng càng làm rõ vai trò trung tâm của khoa học - công nghệ trong quản trị rủi ro và phát triển bền vững. Như vậy, ngoại giao khoa học là công cụ thực thi trực tiếp tư duy đối ngoại kiến tạo mà Nghịquyết Đại hội XIV của Đảng đã xác lập. Đối với Việt Nam, việc đặt ngoại giao khoa học trong tổng thể đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa là yêu cầu tất yếu trong kỷ nguyên mới. Thông qua ngoại giao khoa học, Việt Nam vừa mở rộng hợp tác nghiên cứu, tiếp cận công nghệ, vừatham gia vào quá trình định hình các chuẩn mực, tiêu chuẩn và mạng lưới tri thức quốc tế, phù hợp với lợi ích và năng lực quốc gia. Đây là biểu hiện cụ thể của việc chuyển hóa khoa học và tri thức thành nguồn lực đối ngoại, góp phần nâng cao vị thế quốc gia một cách bền vững trong kỷ nguyên tri thức.Trong bối cảnh trật tự quốc tế đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng cạnh tranh dựa trên tri thức, khoa học - công nghệ không còn là lĩnh vực hỗ trợ, mà đã trở thành một trong những yếu tố then chốt của chính sách đối ngoại. Việc lựa chọn và tổ chức ngoại giao khoa học vì vậy không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật hay hợp tác chuyên ngành, mà phản ánh tầm nhìn chiến lược của quốc gia trong việc kết nối phát triển, hội nhập và tự chủ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, ngoại giao khoa học chỉ phát huy hiệu quả khi được thể chế hóa trong chính sách đối ngoại, được triển khai bằng các công cụ cụ thể và gắn chặt với mục tiêu nâng cao năng lực nội sinh, tự chủ tri thức. Trong điều kiện khoa học ngày càng bị chiến lược hóa và an ninh hóa, lựa chọn ngoại giao khoa học càng đòi hỏi tư duy chủ động, linh hoạt và có chiều sâu chiến lược. Vì vậy, ngoại giao khoa học cần được nhìn nhận là một trong những lựa chọn chiến lược của đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới, nhằm bổ sung và nâng cao năng lực đối ngoại, góp phần khẳng định vị thế quốc gia, bảo đảm lợi ích lâu dài và tham gia có trách nhiệm vào quản trị các vấn đề toàn cầu./. -------------------------- (1 ), (4), (8) Royal Society & American Association for the Advancement of Science (AAAS) : New Frontiers in Science Diplomacy (Tạm dịch: Những lĩnh vực mới trong ngoại giao khoa học), The Royal Society, London, 2010 ( 2 ) Vaughan C. Turekian & Paul M. Dabbar: Science diplomacy: The role of science in foreign policy (Tạm dịch: Ngoại giao khoa học: Vai trò của khoa học trong chính sách đối ngoại), Science & Diplomacy, Tập 1, số 1, 2012 ( 3 ) U.S. Department of State: Jefferson Science Fellowship Program (Tạm dịch: Chương trình Học bổng Khoa học Jefferson), Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Washington, D.C., https://www.state.gov/jefferson-science-fellowship/ ( 5 ) National Academies of Sciences, Engineering, and Medicine: Science Diplomacy: The Role of the National Academies (Tạm dịch: Ngoại giao Khoa học: Vai trò của các Viện Hàn lâm Quốc gia), National Academies Press, Washington, D.C., 2017 ( 6 ) Department for Science, Innovation and Technology (DSIT): International Science Partnerships Fund: Policy Framework (Tạm dịch: Quỹ Đối tác Khoa học Quốc tế: Khung Chính sách), London, 2023 ( 7 ) UK Government Office for Science: Realising the Potential of Science and Technology for UK Diplomacy (Tạm dịch: Hiện thực hóa t iềm năng của k hoa học và c ông nghệ cho ngoại giao Vương quốc Anh), London, 2022 ( 9 ) Ministry of Foreign Affairs of Japan (MOFA): Diplomatic Bluebook: Japan’s Foreign Policy and International Situation (Tạm dịch: Sách Xanh n goại giao: Chính sách đ ối ngoại của Nhật Bản và t ình hình q uốc tế), Tokyo, 2023 ( 10 ) Yamamoto, Shigeto: Japan’s Science and Technology Diplomacy in Asia (Tạm dịch: Ngoại giao k hoa học và c ông nghệ của Nhật Bản tại Châu Á), Asian Survey , tập 59, số 5, 2019, tr. 870–892 (11) Xem : Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tạp chí Cộng sản , https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1213702/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang.aspx
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/826103/cong-uoc-cua-lien-hop-quoc-ve-luat-bien-nam-1982--bon-muoi-nam-vi-hoa-binh%2C-phat-trien-ben-vung-bien-va-dai-duong.aspx
Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982: Bốn mươi năm vì hòa bình, phát triển bền vững biển và đại dương
04-11-2022
Cơ chế hòa bình giải quyết các tranh chấp biển
Tháng 8-1967, khởi đầu từ đề xuất của Đại sứ A-vi-đơ Pác-đô (Arvid Pardo), Trưởng phái đoàn Man-ta tại Liên hợp quốc, ý tưởng về một điều ước quốc tế điều chỉnh đáy biển và đại dương, phục vụ lợi ích chung của nhân loại đã ra đời. Năm 1973, Hội nghị Liên hợp quốc về Luật Biển lần thứ ba chính thức được tổ chức với sứ mệnh đàm phán một điều ước quốc tế toàn diện về các lĩnh vực quản lý biển và đại dương. Trải qua 9 năm đàm phán, dự thảo UNCLOS năm 1982 đã được thông qua vào ngày 30-4-1982 với 130 phiếu thuận (4 phiếu chống và 17 phiếu trắng) (1) . Ngay vào ngày mở ký chính thức (ngày 10-12-1982), 117 quốc gia đã tham gia ký kết Công ước. Ngày 16-11-1994, một năm kể từ khi có đủ 60 quốc gia thành viên phê chuẩn, UNCLOS năm 1982 đã chính thức có hiệu lực. Đến nay, UNCLOS năm 1982 đã có 168 quốc gia thành viên phê chuẩn (2) . Phiên họp toàn thể Hội nghị lần thứ 30 Các quốc gia thành viên Công ước Liên hợp quốc năm 1982 về Luật biển (UNCLOS)_Nguồn: baoquocte.vn Khuôn khổ pháp lý toàn diện và công bằng Trước UNCLOS năm 1982, năm 1958, Liên hợp quốc đã tổ chức Hội nghị Luật Biển lần thứ nhất và đạt được khuôn khổ pháp lý quốc tế đầu tiên điều chỉnh các vấn đề về biển và đại dương thông qua bốn Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải, thềm lục địa, biển cả, đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật của biển cả và một Nghị định thư về giải quyết tranh chấp (3) . Đây là một bước tiến lớn nhằm thiết lập một trật tự pháp lý quốc tế đầu tiên trên biển, điều hòa các lợi ích khác biệt giữa các quốc gia ven biển và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, các Công ước năm 1958 bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Thứ nhất, việc xác định ranh giới các vùng biển chưa hoàn tất do các quốc gia chưa thống nhất được về chiều rộng của lãnh hải và vùng đánh cá. Thứ hai, việc phân chia quyền và lợi ích trên biển thiên về bảo vệ lợi ích của các quốc gia phát triển, bỏ qua lợi ích của các quốc gia đang phát triển và gặp bất lợi về mặt địa lý (4) . Thứ ba, phần đáy biển quốc tế nằm ngoài giới hạn thềm lục địa của các quốc gia ven biển hoàn toàn bị bỏ ngỏ, chưa được điều chỉnh bởi các quy định pháp lý quốc tế. Thứ tư, nghị định thư về giải quyết tranh chấp bó hẹp lựa chọn bắt buộc giải quyết thông qua Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) nên không nhận được sự ủng hộ rộng rãi (5) . Thứ năm, mặc dù đã lường trước được vấn đề về suy thoái và ô nhiễm môi trường biển, việc chỉ quy định về bảo tồn tài nguyên sinh vật biển tại biển cả là chưa đầy đủ cả về các nguồn gây ô nhiễm, phạm vi xảy ra ô nhiễm và các biện pháp chế tài để xử lý vi phạm về ô nhiễm môi trường biển. UNCLOS năm 1982 đã khắc phục những điểm hạn chế của các Công ước năm 1958 và tạo dựng một khuôn khổ pháp lý công bằng, hài hòa lợi ích của các nhóm nước khác nhau như giữa những nước có biển và không có biển, hoặc gặp bất lợi về mặt địa lý giữa nước phát triển và các nước đang phát triển, kém phát triển. Cụ thể, lần đầu tiên UNCLOS năm 1982 đã hoàn chỉnh các quy định về xác định ranh giới các vùng biển từ nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, biển cả và Vùng (đáy biển quốc tế). Đặc biệt, chế độ vùng đặc quyền kinh tế ra đời là kết quả của việc bảo vệ các đặc quyền về kinh tế của các quốc gia đang phát triển và các quốc gia mới giành được độc lập trong phong trào giải phóng dân tộc vào những năm 60 của thế kỷ XX. Đây là chế định pháp lý lần đầu tiên được quy định có tính tới đặc thù phân bổ tự nhiên của các tài nguyên sinh vật biển trong phạm vi 200 hải lý (6) và thiết lập công bằng cho tất cả quốc gia, loại trừ các quy định dựa trên quyền đánh bắt cá truyền thống, lịch sử do các quốc gia có điều kiện khoa học - kỹ thuật phát triển thiết lập kể từ trước khi Công ước ra đời. Với thềm lục địa, UNCLOS năm 1982 quy định các tiêu chí xác định ranh giới thềm lục địa dựa trên các tiêu chí khách quan về mặt địa lý trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc đất thống trị biển. Theo đó, thềm lục địa là một khái niệm địa chất, là phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của các quốc gia ven biển. Vì vậy, tối thiểu các quốc gia có thể xác định chiều rộng vùng thềm lục địa pháp lý là 200 hải lý kể từ đường cơ sở. Các quốc gia có thềm lục địa tự nhiên rộng hơn 200 hải lý được phép xác định thềm lục địa pháp lý mở rộng (7) . Tuy nhiên, để bảo đảm yếu tố công bằng, khách quan, Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (CLCS) (8) của Liên hợp quốc sẽ có thẩm quyền xem xét phương pháp xác định thềm lục địa mở rộng của các quốc gia ven biển và chỉ những ranh giới thềm lục địa mở rộng nào được xác định phù hợp với khuyến nghị của (CLCS) mới có giá trị ràng buộc và nhận được sự công nhận từ các quốc gia khác. Quyền lợi của các quốc gia không có biển hoặc gặp bất lợi về mặt địa lý cũng được tính tới khi một loạt quy định về quá cảnh, khai thác lượng đánh bắt cá dư được quy định trong quy chế về vùng đặc quyền kinh tế (9) . Bên cạnh đó, đặc thù của các quốc gia quần đảo cũng lần đầu tiên được xem xét và pháp điển hóa thành quy chế pháp lý của quốc gia quần đảo (10) . Đặc biệt, bên cạnh việc kế thừa quy định tự do biển cả, UNCLOS năm 1982 lần đầu tiên xây dựng quy chế pháp lý về Vùng với đặc trưng là di sản chung của nhân loại. Trong đó, Cơ quan quyền lực đáy đại dương (ISA) được thành lập để xây dựng quy chế về khai thác tài nguyên tại Vùng và phân bổ lợi ích công bằng tới các quốc gia thành viên (11) . Hiệp định về thực hiện phần XI cũng đã được ký kết vào năm 1994 để bổ sung các quy định cụ thể về quản lý và khai thác Vùng cho UNCLOS năm 1982. Cơ chế hòa bình giải quyết các tranh chấp biển Hiến chương Liên hợp quốc đã quy định nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế. Theo đó, tranh chấp phải được giải quyết thông qua các biện pháp như đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án và các tổ chức khu vực và quốc tế hoặc bất kỳ biện pháp hòa bình nào khác do các bên tự lựa chọn (12) . UNCLOS năm 1982 đã tái khẳng định tinh thần của nguyên tắc này, đồng thời khéo léo kết hợp các biện pháp hòa bình để tạo ra một cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp với đặc thù của các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước. Theo đó, UNCLOS năm 1982 dành ưu tiên cho những thỏa thuận về các biện pháp giải quyết tranh chấp mà các bên đã thống nhất từ trước. Nếu không tồn tại thỏa thuận sẵn có về biện pháp giải quyết tranh chấp, UNCLOS năm 1982 yêu cầu các bên đàm phán trực tiếp thông qua quy định trao đổi quan điểm là một biện pháp bắt buộc. Bên cạnh đó, UNCLOS năm 1982 khuyến khích các bên sử dụng biện pháp hòa giải như là một lựa chọn tự nguyện nhằm tạo điều kiện cho đàm phán trực tiếp. Tuy nhiên, trao đổi quan điểm bắt buộc không có giá trị vô thời hạn. Công ước chỉ yêu cầu các bên có nghĩa vụ trao đổi quan điểm trong một khoảng thời gian hợp lý (13) . Quá thời hạn đó, nếu các bên không đạt được giải pháp để giải quyết tranh chấp, các cơ quan tài phán sẽ là lựa chọn tiếp theo. Để có thêm lựa chọn linh hoạt, UNCLOS năm 1982 quy định các bên có thể tuyên bố lựa chọn một trong bốn cơ quan tài phán, bao gồm: Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), Tòa Luật Biển quốc tế (ITLOS), Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII và Trọng tài thành lập theo Phụ lục VIII (14) . Trong đó, ngoài ICJ là tòa án được thành lập bên cạnh Liên hợp quốc từ năm 1945, các thể chế còn lại đều được thành lập mới theo quy định của UNCLOS năm 1982. Điểm đặc biệt là, UNCLOS năm 1982 tạo ra một cơ chế mặc định mang tính chất tự động. Theo đó, nếu các bên không đưa ra tuyên bố lựa chọn cơ quan tài phán, hoặc lựa chọn các cơ quan khác nhau thì Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII là cơ quan có thẩm quyền bắt buộc để giải quyết tranh chấp. Quy định cơ chế mặc định này vừa bảo đảm sự linh hoạt trong việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp, vừa bảo đảm hiệu quả khi một bên có thể sử dụng quyền đơn phương khởi kiện Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII để giải quyết các tranh chấp với một quốc gia thành viên khác về những bất đồng liên quan đến việc giải thích và thực thi UNCLOS năm 1982. Quyền đơn phương khởi kiện được quy định trên cơ sở UNCLOS năm 1982 là một Công ước cả gói, các quốc gia thành viên khi phê chuẩn Công ước không được phép bảo lưu bất kỳ điều khoản nào, và do vậy, đã tự nguyện ràng buộc với thẩm quyền bắt buộc của cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại Phần XV của Công ước. Tuy nhiên, để tạo thêm sự linh hoạt cho cơ chế giải quyết tranh chấp, và cũng là để khắc phục hạn chế về quy định cứng của Nghị định Giải quyết tranh chấp năm 1958 (dẫn tới việc nhiều quốc gia không phê chuẩn), UNCLOS năm 1982 quy định thêm những ngoại lệ và hạn chế. Theo đó, những tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng các quy định của Công ước về việc thi hành quyền thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển đương nhiên thuộc phạm vi loại trừ khỏi các cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của các cơ quan tài phán (15) . Các tranh chấp liên quan đến phân định biên giới, ranh giới biển, hoạt động quân sự của tàu thuyền, hoặc đang được Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc xem xét cũng thuộc phạm vi loại trừ theo lựa chọn khỏi các cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của các cơ quan tài phán (16) . Theo đó, nếu quốc gia thành viên ra tuyên bố loại trừ ba loại tranh chấp được lựa chọn này, các quốc gia khác không được phép khởi kiện các tranh chấp này ra các cơ quan tài phán theo quy định của Công ước. Mặc dù được loại trừ đương nhiên hoặc theo lựa chọn một số tranh chấp khỏi phạm vi giải quyết tranh chấp bắt buộc thông qua các cơ quan tài phán, các quốc gia thành viên vẫn có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình khác, trong đó có nghĩa vụ trao đổi quan điểm. Đặc biệt, UNCLOS năm 1982 quy định với những tranh chấp được loại trừ này, một bên có thể đơn phương yêu cầu áp dụng biện pháp hòa giải bắt buộc để đưa ra khuyến nghị về các biện pháp giải quyết tranh chấp. Có thể nói, với những quy định linh hoạt, sáng tạo, UNCLOS năm 1982 đã tạo ra một cơ chế giải quyết tranh chấp với nhiều tầng nấc, vừa bảo đảm sự linh hoạt, quyền tự do lựa chọn của các bên về biện pháp, cơ quan giải quyết tranh chấp, vừa tạo điều kiện thúc đẩy quá trình giải quyết tranh chấp của các bên. Đặc biệt, cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS năm 1982 là cơ chế đầu tiên tiên phong quy định quyền đơn phương khởi kiện của quốc gia thành viên ra một cơ quan tài phán quốc tế. Nhờ quy định này, nhiều tranh chấp giữa các quốc gia trên biển đã được giải quyết và thu hẹp bất đồng giữa các quốc gia. Kể từ khi UNCLOS năm 1982 ra đời, 29 tranh chấp biển đã được giải quyết thông qua ICJ, 18 tranh chấp đã được giải quyết thông qua ITLOS và 11 tranh chấp đã được giải quyết thông qua Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII. Giá trị bền vững, hướng tới tương lai Không chỉ tạo ra một khuôn khổ pháp lý toàn diện, phổ quát, một cơ chế giải quyết tranh chấp sáng tạo, thúc đẩy hòa bình, ổn định trên biển, UNCLOS năm 1982 còn có những quy định tiến bộ, gắn liền với định hướng quản trị biển và đại dương bền vững, hướng tới tương lai. Nghĩa vụ hợp tác là tâm điểm của Công ước khi được đề cập tới 60 lần tại 14 điều khoản khác nhau trong Công ước, trong đó có quy định về hợp tác trong lĩnh vực bảo vệ, gìn giữ môi trường biển, hợp tác nghiên cứu khoa học biển, hợp tác chuyển giao khoa học - kỹ thuật, hợp tác tại vùng biển nửa kín, hợp tác trong trấn áp tội phạm trên biển... Trong lĩnh vực bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, UNCLOS năm 1982 quy định xuyên suốt, quy trách nhiệm nghĩa vụ của quốc gia ven biển trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế; đồng thời, xác định nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia trong phạm vi biển cả. Đặc biệt Phần XII của UNCLOS năm 1982 được dành riêng để quy định về bảo vệ và bảo tồn môi trường biển với 11 mục. Ngoài mục 1 quy định về nghĩa vụ chung áp dụng với các quốc gia, Phần XII của UNCLOS năm 1982 có các quy định cụ thể về hợp tác ở cấp độ khu vực và quốc tế, trợ giúp kỹ thuật cho các quốc gia đang phát triển, đánh giá tác động của các nguồn ô nhiễm môi trường biển. Trong đó, để có thể xây dựng các quy định phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển ở cấp độ quốc gia và quốc tế và xác định trách nhiệm với các hành vi gây ô nhiễm môi trường biển, UNCLOS năm 1982 phân loại nguyên nhân gây ô nhiễm từ nguồn đất liền, từ các hoạt động khai thác tại Vùng, từ tàu thuyền, từ hoạt động nhận chìm, đổ thải ra biển, từ không khí và khí quyển. Bên cạnh đó, UNCLOS năm 1982 cũng có những quy định đặc thù cho các vùng biển bị băng bao phủ và xác định mối quan hệ với các điều ước quốc tế chuyên ngành trong lĩnh vực bảo vệ môi trường khác. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển, UNCLOS năm 1982 nhấn mạnh tới sự bảo đảm hài hòa giữa một bên là quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia ven biển và một bên là lợi ích của cộng đồng. Theo đó, Công ước quy định các quốc gia và tổ chức quốc tế phổ biến các thông tin và kiến thức là kết quả của công tác nghiên cứu khoa học biển. Đồng thời, Công ước cũng yêu cầu các quốc gia, tổ chức quốc tế hợp tác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi các dữ kiện, thông tin khoa học và cho việc chuyển giao các kiến thức thu được từ công tác nghiên cứu khoa học biển, nhất là cho các quốc gia đang phát triển cũng như cho việc tăng cường xây dựng năng lực cho các quốc gia đang phát triển trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển (17) . Đặc biệt, nhận thức được tầm quan trọng của khoa học - kỹ thuật, đồng thời, khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa các quốc gia trong lĩnh vực này, UNCLOS năm 1982 dành riêng Phần XIV để quy định về vấn đề chuyển giao kỹ thuật. Theo đó, Công ước xác định nguyên tắc các quốc gia hợp tác trực tiếp, hoặc thông qua các tổ chức quốc tế nhằm tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, chuyển giao khoa học - kỹ thuật biển theo các thể thức, điều kiện công bằng và hợp lý. Công ước đặc biệt chú trọng đến nhu cầu được hưởng hỗ trợ kỹ thuật của các quốc gia đang phát triển, quốc gia không có biển hay bất lợi về mặt địa lý, trong việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý các tài nguyên của biển, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển và các hoạt động khác nhằm tiến hành trong môi trường biển phù hợp để thúc đẩy tiến bộ xã hội và kinh tế của các quốc gia đang phát triển. Công ước cũng khuyến khích việc thành lập các trung tâm nghiên cứu khoa học - kỹ thuật biển của quốc gia và khu vực để động viên và xúc tiến việc nghiên cứu khoa học biển nhằm sử dụng và gìn giữ các tài nguyên biển cho mục đích phát triển bền vững. Để hướng tới các mục tiêu bảo tồn các nguồn gen biển quý nhằm phục vụ cho sự phát triển bền vững trong tương lai, hiện nay, các nước thành viên của Công ước đang tham gia quá trình đàm phán, ký kết một hiệp định về đa dạng sinh học tại vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia (18) . Đồng thời, cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ và các vấn đề mới nảy sinh, như tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tác động của dịch bệnh sẽ tiếp tục được các nước thành viên thảo luận để bổ sung cho các quy định của Công ước. Việt Nam - thành viên có trách nhiệmcủa UNCLOS năm 1982 Ngay sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam đã tích cực tham gia Hội nghị Luật Biển lần thứ ba của Liên hợp quốc; đồng thời, ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế, thềm lục địa vào ngày 12-5-1977 (19) . Mặc dù được công bố từ năm 1977, nhưng nội dung của Tuyên bố này hoàn toàn phù hợp với các quy định của UNCLOS được các quốc gia ký kết vào năm 1982. Năm 1994, Việt Nam là quốc gia thứ 63 phê chuẩn UNCLOS năm 1982, trước khi Công ước chính thức có hiệu lực vào tháng 12-1994. Nghị quyết của Quốc hội phê chuẩn UNCLOS năm 1982 đã khẳng định rõ, bằng việc phê chuẩn UNCLOS năm 1982, Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển (20) . Sau khi trở thành thành viên chính thức của UNCLOS năm 1982, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật trong nước để cụ thể hóa các quy định của Công ước trong nhiều lĩnh vực, như biên giới lãnh thổ, hàng hải, thủy sản, dầu khí, bảo vệ môi trường biển và hải đảo... Đặc biệt, năm 2012, Việt Nam đã ban hành Luật Biển Việt Nam với hầu hết các nội dung tương thích với UNCLOS năm 1982. Thực hiện nghĩa vụ quy định tại UNCLOS năm 1982, năm 2009, sau 15 năm trở thành thành viên của Công ước, Việt Nam đã đệ trình ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng khu vực phía Bắc lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc (21) . Bên cạnh đó, Việt Nam cũng hợp tác cùng Ma-lai-xi-a đệ trình lên CLCS ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng chung tại phía Nam Biển Đông, nơi hai nước có thềm lục địa chồng lấn, chưa phân định (22) . Với tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS năm 1982, Việt Nam đã phân định các vùng biển chồng lấn thành công với nhiều nước láng giềng. Song song với phân định biển, Việt Nam và Trung Quốc cũng đạt được thỏa thuận về hợp tác nghề cá tại Vịnh Bắc Bộ, qua đó xác lập khu vực hợp tác đánh bắt cá chung và tuần tra chung để ngăn ngừa tội phạm và các hành vi vi phạm trên biển (23) . Cho tới nay, các hiệp định phân định biển giữa Việt Nam và các nước láng giềng được thực hiện đúng nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS năm 1982, góp phần thúc đẩy quan hệ hòa bình, ổn định và phát triển giữa Việt Nam và các quốc gia láng giềng. Bên cạnh phân định biển, Việt Nam cũng đã đạt được thỏa thuận với Cam-pu-chia về vùng nước lịch sử tại khu vực biển chưa phân định giữa hai nước. Đồng thời, cùng với Ma-lai-xi-a, thiết lập khu vực khai thác dầu khí chung tại khu vực thềm lục địa chồng lấn chưa được phân định giữa hai nước. Tại các khu vực biển còn chống lấn, chưa được phân định, với các nước láng giềng như khu vực chồng lấn với Cam-pu-chia, khu vực chồng lấn ba bên giữa Việt Nam, Ma-lai-xi-a và Thái Lan, hoặc khu vực có khả năng chồng lấn giữa Việt Nam và Bru-nây, cũng như giữa Việt Nam và Phi-líp-pin (24) , Việt Nam luôn tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, trong khi thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản và lâu dài, Việt Nam ủng hộ việc duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Đặc biệt với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, một mặt, Việt Nam khẳng định có đầy đủ các bằng chứng lịch sử và pháp lý để minh chứng cho chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo này; mặt khác, Việt Nam xác định cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa với vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam căn cứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của UNCLOS năm 1982. Trên cơ sở đó, Việt Nam đã tham gia ký kết và thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), đồng thời đang tích cực cùng Trung Quốc và các quốc gia thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam trước giờ chào cờ trên đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa _Ảnh: Vũ Ngọc Hoàng Ngày 22-10-2018, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XII về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã được ban hành. Chiến lược xác định rõ “Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (25) . Bên cạnh các mục tiêu phát triển kinh tế biển xanh, bảo tồn đa dạng sinh học, giữ gìn, phát huy truyền thống lịch sử, văn hóa biển, kết hợp với tiếp thu khoa học - công nghệ, tiên tiến, hiện đại, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, Chiến lược xác định tầm nhìn tới năm 2045 là Việt Nam sẽ tham gia chủ động, có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế, khu vực về biển và đại dương. Thực hiện tinh thần này, năm 2021, Việt Nam đã cùng 11 nước sáng lập Nhóm bạn bè của UNCLOS năm 1982 nhằm tạo ra một diễn đàn cởi mở, thân thiện để các nước cùng trao đổi các vấn đề về biển và đại dương, qua đó đóng góp chung vào việc thực hiện đầy đủ UNCLOS (26) . Hiện nay, Việt Nam đang và sẽ tiếp tục chủ động, tích cực tham gia các diễn đàn đa phương, thảo luận về các vấn đề mới nổi lên của biển và đại dương như bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia, ứng phó với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu với biển và đại dương, quản trị các hoạt động trên biển trong điều kiện có các thách thức an ninh phi truyền thống mới, như đại dịch COVID-19, nạn buôn bán người, di cư trái phép... Thường được coi là một bản “Hiến pháp về đại dương”, việc ký kết UNCLOS cách đây 40 năm là một dấu mốc lịch sử trong quá trình phát triển của luật quốc tế, tạo ra một khung pháp lý toàn diện giúp quản trị biển hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia và sự phát triển bền vững biển và đại dương. Liên hợp quốc - tổ chức đa phương quy tụ nhiều thành viên nhất trên thế giới hiện nay - đã nhiều lần công nhận vai trò của UNCLOS năm 1982 và nhấn mạnh cần tuân thủ Công ước trong mọi hoạt động trên biển và đại dương (27) . ASEAN trong các tuyên bố cấp cao của mình cũng luôn nhấn mạnh giá trị phổ quát, tầm quan trọng của việc thực thi UNCLOS năm 1982 để duy trì hòa bình, ổn định và quản lý, giải quyết hòa bình các tranh chấp biển trong khu vực. Là một quốc gia ven biển, một thành viên tích cực và có trách nhiệm, Việt Nam luôn khẳng định UNCLOS năm 1982 là một trong những quy định của luật pháp quốc tế đóng vai trò then chốt trong việc quản lý, phát triển kinh tế biển quốc gia; đồng thời, là cơ sở để Việt Nam giải quyết hòa bình các tranh chấp biển với các quốc gia láng giềng, hướng tới việc quản trị Biển Đông hòa bình, bền vững./. ---------------------------- (1) Gabriele Goettsche-Wanli: “The United Nations Convention on the Law of the Sea: Multilateral Diplomacy at Work” (Tạm dịch: Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển: Ngoại giao đa phương tại Hội nghị), No. 3, Vol. LI, United Nations, tháng 12-2014, https://www.un.org/en/chronicle/article/united-nations-convention-law-sea-multilateral-diplomacy-work (2) Xem: Danh sách các quốc gia ký kết và phê chuẩn UNCLOS năm 1982, https://www.un.org/depts/los/reference_files/UNCLOS%20Status%20table_ENG.pdf (3) Toàn văn bốn Công ước và một Nghị định thư năm 1958 về Luật Biển, https://legal.un.org/avl/ha/gclos/gclos.html (4) Điều 2 của Công ước thềm lục địa quy định các quốc gia có thể xác định thềm lục địa tới ranh giới theo khả năng khai thác. Đây là tiêu chí hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học - kỹ thuật, thế mạnh của các quốc gia phát triển (5) Nghị định thư về giải quyết tranh chấp chỉ có 18 quốc gia phê chuẩn. Ngoài việc trao thẩm quyền bắt buộc cho ICJ, Nghị định thư cũng để ngỏ cho thẩm quyền của các tòa án và trọng tài khác nếu các quốc gia đạt được thỏa thuận chung. Tuy nhiên, mục tiêu cao nhất vẫn là thiết lập thẩm quyền bắt buộc của một cơ quan tài phán để giải quyết các tranh chấp biển. Xem: “Danh sách các quốc gia phê chuẩn”, https://treaties.un.org/Pages/showDetails.aspx?objid=08000002800332b0 (6) Trước khi có quy định của UNCLOS năm 1982, tại Tuyên bố Xan-ti-a-gô năm 1952, ba quốc gia khu vực Mỹ La-tinh, bao gồm: Chi-lê, Ê-cu-a-đo và Pê-ru, là những nước đầu tiên đưa ra yêu sách vùng đánh cá 200 hải lý với lập luận rằng đây thường là khu vực biển nông, nhiệt độ ấm, phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của các loài cá. Xem: S. N. Nandan: “The Exclusive Economic Zone: A Historical Perspective” (Tạm dịch: Vùng đặc quyền kinh tế: Một viễn cảnh lịch sử), https://www.fao.org/3/s5280T/s5280t0p.htm (7) Thềm lục địa mở rộng có thể có chiều rộng đúng bằng thềm lục địa tự nhiên, hoặc bằng 350 hải lý kể từ đường cơ sở hoặc 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2.500m. Chi tiết về các phương pháp xác định chiều rộng thềm lục địa pháp lý được quy định tại Điều 76 UNCLOS năm 1982 (8) Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (CLCS) là một trong ba cơ quan được thành lập theo UNCLOS năm 1982 nhằm xem xét bản đệ trình ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý của các nước. Ủy ban bao gồm 21 thành viên, đại diện cho 5 khu vực địa lý (9) Công ước dành riêng Phần X với 9 điều khoản từ Điều 124 - 132; hai điều khoản trong Quy chế của Vùng đặc quyền kinh tế (Điều 69, 70) và Điều 254 về nghiên cứu khoa học biển để quy định về quyền của các quốc gia gặp bất lợi về mặt địa lý và không có biển (10) Quốc gia quần đảo, do đặc thù cấu tạo chỉ bởi quần đảo, nhưng bị chia cắt về mặt địa lý giữa các đảo khác nhau, nên được áp dụng quy chế riêng, quy định tại Phần IV, từ Điều 46 - 54. Theo đó, quốc gia quần đảo được áp dụng phương pháp đường cơ sở quần đảo, nối liền các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá lúc chìm, lúc nổi của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước đó với đất, kể cả vành đai san hô, phải ở giữa tỷ lệ số 1/1 và 9/1. Ngoài ra, quốc gia quần đảo được áp dụng quy chế pháp lý đặc biệt với vùng nước quần đảo (vùng nước được bao bọc bởi đường cơ sở quần đảo) (11) Cơ quan quyền lực đáy đại dương là tổ chức có chức năng tổ chức và kiểm soát các hoạt động tiến hành trong Vùng nhằm mục đích quản lý các tài nguyên của Vùng vì mục tiêu di sản chung của nhân loại trên cơ sở Quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Cơ quan quyền lực đáy đại dương được quy định chi tiết tại Phần XI và Hiệp định thực thi Phần XI của UNCLOS năm 1982 (13) Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc (13) Nghĩa vụ trao đổi quan điểm được quy định tại Điều 283 UNCLOS năm 1982. Thời gian hợp lý được xác định theo hoàn cảnh của từng vụ, việc cụ thể (14) Quy định tại Điều 287 UNCLOS năm 1982. Trong đó, Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII và Trọng tài thành lập theo Phụ lục VIII đều là các trọng tài vụ việc (ad-hoc arbitration). Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII có thẩm quyền chung với mọi loại tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng UNCLOS năm 1982, còn Trọng tài thành lập theo Phụ lục VIII chỉ có thẩm quyền với các tranh chấp liên quan đến nghiên cứu khoa học biển (15), (16) Quy định tại Điều 297 UNCLOS năm 1982 (17) Điều 244 UNCLOS năm 1982 (18) Cho tới nay, quá trình đàm phán đã được tổ chức tại 5 phiên họp toàn thể liên chính phủ. Xem: https://www.un.org/bbnj/ (19) Toàn văn Tuyên bố được lưu tại cơ sở dữ liệu của Liên hợp quốc về yêu sách biển của các quốc gia, https://www.un.org/Depts/los/LEGISLATIONANDTREATIES/PDFFILES/VNM_1977_Statement.pdf (20) Điểm 2, Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 ngày 23-6-1994 (21) Việt Nam nộp đệ trình khu vực thềm lục địa mở rộng phía Bắc tới CLCS vào ngày 7-5-2009, https://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/submission_vnm_37_2009.htm (22) Đệ trình chung giữa Việt Nam và Ma-lai-xi-a về ranh giới thềm lục địa mở rộng được nộp vào ngày 6-5-2009, https://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/submission_mysvnm_33_2009.htm (23) Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, năm 2000, http://biengioilanhtho.gov.vn/medias/public/Archives/head/Cac%20nuoc%20bien%20gioi/UBBG.Viettrung09.pdf (24) Sau khi Việt Nam nộp đệ trình thềm lục địa mở rộng khu vực phía Bắc, Phi-líp-pin gửi Công hàm bày tỏ quan ngại thềm lục địa của Việt Nam có thể tạo ra chồng lấn với thềm lục địa của Phi-líp-pin. Tuy nhiên, cho tới nay, khu vực chồng lấn chưa được xác định cụ thể. Tương tự, thềm lục địa mở rộng của Việt Nam cũng có thể tạo ra khu vực chồng lấn với Bru-nây (25) Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2018, tr. 81 (26) Nhóm bạn bè UNCLOS là nhóm đầu tiên Việt Nam khởi xướng, đồng chủ trì vận động thành lập (cùng Đức) và tham gia nhóm nòng cốt (bao gồm 12 nước là Ác-hen-ti-na, Ca-na-đa, Đan Mạch, Đức, Gia-mai-ca, Kê-ny-a, Hà Lan, Niu Di-lân, Ô-man, Xê-nê-gan, Nam Phi và Việt Nam). Đến nay, tham gia Nhóm bạn bè của UNCLOS có 115 nước, đại diện cho tất cả các khu vực địa lý (27) Xem: Phát biểu của Chủ tịch Phiên họp lần thứ 76 của Đại hội đồng Liên hợp quốc Áp-đun-la Sa-hít (Abdulla Shahid), United Nations, ngày 29-4-2022, https://www.un.org/pga/76/2022/04/29/40th-anniversary-of-the-adoption-of-the-united-nations-convention-on-the-law-of-the-sea-unclos/
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/869602/hiep-dinh-paris-mo-duong-thong-nhat-dat-nuoc-va-bai-hoc-cho-hoat-dong-ngoai-giao-cua-viet-nam-hien-nay.aspx
Hiệp định Paris mở đường thống nhất đất nước và bài học cho hoạt động ngoại giao của Việt Nam hiện nay
06-01-2024
Tính chất bước ngoặt, mở đường của Hiệp định Paris
Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu tham quan trưng bày tư liệu và hình ảnh lịch sử tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam (27-1-1973 - 27-1-2023) _Ảnh: TTXVN Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam chính thức được ký kết ngày 27-1-1973 tại Paris (Pháp) mở ra bước ngoặt mới trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam; tạo thời cơ mới cho cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên giành những thắng lợi mới, mà đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Tính chất mở đường của Hiệp định Paris được thể hiện rõ nét, sinh động kể từ thời điểm có hiệu lực thi hành cho đến ngày toàn thắng 30-4-1975. Tính chất bước ngoặt, mở đường của Hiệp định Paris Nói đến tính chất mở đường của một văn kiện, một sự kiện là nói đến tính chất bước ngoặt mới, tạo ra những điều kiện thuận lợi để vạch kế hoạch tiến lên một giai đoạn mới, hoàn thành triệt để mục tiêu chiến lược. Hiệp định Paris về Việt Nam đã đưa cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam sang một cột mốc mới, thực hiện thành công việc “đánh cho Mỹ cút”. Đây là thắng lợi chiến lược tạo nên “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, tiếp sức mạnh mẽ cho nhân dân Việt Nam tiến lên “đánh cho ngụy nhào”, kết thúc thắng lợi cuộc trường kỳ kháng chiến. Kéo dài từ ngày 13-5-1968 đến ngày 27-1-1973, với hơn 200 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 1.000 cuộc phỏng vấn, hàng trăm cuộc mít tinh ủng hộ Việt Nam, có thể thấy, Hiệp định Paris là sản phẩm của quá trình kiên định, bền bỉ đấu tranh, vừa thể hiện quyết tâm sắt đá, vừa tỏ rõ thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam nhằm mở đường, tạo ra bước ngoặt mới có lợi để đi đến kết thúc cuộc chiến. Thứ nhất, Hiệp định Paris mở đường để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hoàn chỉnh kế hoạch chiến lược thần tốc thống nhất đất nước trong thời gian sớm nhất, đồng thời nhanh chóng chỉnh đốn những biểu hiện hữu khuynh sau Hiệp định Paris trong một bộ phận quân dân. Hiệp định Paris được ký kết đã làm cho hình thái chiến trường thay đổi theo hướng có lợi cho cách mạng. Với Hiệp định Paris, Mỹ phải rút, các lực lượng vũ trang của hai bên ở nguyên tại chỗ. Nhờ đó, ta đánh bại âm mưu “phân tuyến” của đối phương, bộ đội ta không phải “tập kết” ra một nơi (như thời kỳ Hiệp định Geneva năm 1954), mà ngược lại, ta duy trì trên chiến trường thế xen kẽ “da beo”, một thực trạng rất có lợi cho ta, bất lợi cho địch (1) . Đảng ta nhận định, sau Hiệp định Paris, chúng ta đã có những nhân tố thắng lợi và khả năng mới do Hiệp định Paris đưa lại, đó là chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng, vùng giải phóng, lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng trong vùng địch kiểm soát và những quyền cơ bản được Hiệp định thừa nhận. Do đó, phải tận dụng những nhân tố và khả năng ấy để “tiến lên hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước” (2) . Trong Kết luận đợt 1, Hội nghị Bộ Chính trị ngày 10-10-1974, Đảng ta nhận định, lúc này, chúng ta đang có thời cơ và nhấn mạnh “ngoài thời cơ này, không có thời cơ nào khác. Nếu để chậm mười, mười lăm năm nữa, bọn ngụy gượng dậy được, các thế lực xâm lược được hồi phục… thì hình hình sẽ phức tạp vô cùng” (3) ; từ đó, Hội nghị xác định: “Ngay từ giờ, phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong hai năm 1975 - 1976” (4) . Tuy nhiên, trước, trong và sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa vẫn tiến hành hàng loạt kế hoạch ngoan cố, dã tâm lấn chiếm, bình định, giành đất, giành dân. Việc bình định lấn chiếm trên thực địa của địch ngày càng trắng trợn, nhưng ở một số nơi, ta lại phản ứng chậm, nên đã để địch chiếm đất, giành dân. Khi Hiệp định Paris có hiệu lực, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu vẫn trắng trợn tuyên bố: Không thi hành Hiệp định Paris, không hòa hợp, chống hòa hợp với cộng sản; ra lệnh cho quân đội tiếp tục đánh tới, lấn đất, giành dân, cắm cờ, tràn ngập lãnh thổ. Trong khi đó, về phía ta, một bộ phận cán bộ, đảng viên, chiến sĩ vừa trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, nay có Hiệp định Paris đã nảy sinh tư tưởng hữu khuynh, mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Hơn nữa, trong chỉ đạo, lúc đầu, ta đã đánh giá không hết khả năng thực hiện âm mưu của địch, không dự kiến hết đế quốc Mỹ tuy thua nhưng vẫn rất ngoan cố, tìm mọi cách o bế quân đội Việt Nam Cộng hòa tiếp tục chiến tranh. Những tháng đầu năm 1973, trên một số chiến trường, địch đã giành được chủ động, thực hiện được phần nào chủ trương bình định của chúng, giành thêm một số dân, lấn thêm một số địa phương, bắt đầu lấn sâu vào các vùng giải phóng toàn B2. Trước tình hình đó, Khu ủy Khu 9 đã tiên phong mở đường chống phá bình định thành công(5). Bí thư Khu ủy 9 là đồng chí Võ Văn Kiệt, Tư lệnh là đồng chí Lê Đức Anh đã chủ động chỉ đạo, chỉ huy quân dân Khu 9 đánh trả quyết liệt các cuộc hành quân lấn chiếm của ngụy, bức rút nhiều đồn bốt địch, tiếp tục mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ dân và vùng lúa gạo có ý nghĩa chiến lược. Nhờ đó, Khu 9 đã giành nhiều thắng lợi nổi bật trong đấu tranh chống địch bình định lấn chiếm, trở thành lá cờ đầu nêu gương cho các đơn vị khác học tập. Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Khóa III (tháng 7-1973) kịp thời nhận diện bản chất tình hình, đề ra phương hướng hoạt động, với tinh thần chủ đạo là tiếp tục tiến công, giữ vững quan điểm cách mạng bạo lực. Ngày 15-10-1973, Bộ Tư lệnh Miền (6) ra mệnh lệnh: Kiên quyết đánh trả những hành động chiến tranh của chính quyền Sài Gòn; kiên quyết đánh trả bất cứ ở đâu, bằng các hình thức và lực lượng thích đáng. Mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Miền chỉ rõ quyền được đánh trả của lực lượng vũ trang cách mạng, tạo điều kiện cho ta đẩy mạnh các hoạt động quân sự giành lại thế chủ động trên toàn chiến trường (7) . Với đề xuất để chiến trường B2 (8) đi trước một bước, được Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tham mưu chấp thuận, trong mùa khô 1974 - 1975, Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo, chỉ huy chiến trường B2 thực hiện nhiều chiến dịch tiến công của chủ lực và chiến dịch tổng hợp ở đồng bằng sông Cửu Long, giành thắng lợi lớn trên đường 14 - Phước Long và ở Quân khu 9, cùng lúc đạt được nhiều ý nghĩa: Thử nghiệm phản ứng của chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa, nhất là của Mỹ; đo lường khả năng của chủ lực ta so với chủ lực quân đội Việt Nam Cộng hòa; đo lường khả năng của lực lượng vũ trang cách mạng có thể giải phóng được những vùng liên hoàn rộng lớn hay không. Thực tiễn chứng minh những mục đích ấy đều đạt được sau thắng lợi của các chiến dịch trong mùa khô 1974 - 1975, tiêu biểu là chiến thắng Đường 14 - Phước Long. Ngay sau chiến thắng Phước Long, Đảng đã kịp thời bổ sung kế hoạch tiến công giải phóng Sài Gòn. Đảng thống nhất sẽ tiến công giải phóng Sài Gòn vào tháng 4 vì sang tháng 5 đã vào đầu mùa mưa ở Nam Bộ, nên việc cơ động của ta, nhất là tăng, pháo và cơ giới sẽ khó khăn, nhất là hướng tây và tây nam Sài Gòn với vùng Long An mênh mông đồng nước, kênh rạch và sình lầy. Cùng với việc soạn thảo kế hoạch là xây dựng “Quyết tâm chiến đấu” với sơ đồ phác ra 5 hướng tiến công vào sào huyệt quân thù. Với tinh thần chủ động nắm lấy thời cơ, trong những ngày đầu tháng 4-1975, Bộ Tư lệnh Miền đã nhanh chóng vạch ra phương án chiến dịch giải phóng Sài Gòn trình lên Trung ương Cục miền Nam và được phê duyệt về cơ bản. Chính điều đó giúp Trung ương Đảng liên tục bổ sung quyết tâm chiến lược, bắt kịp sự thay đổi cực nhanh của chiến trường, tạo yếu tố bất ngờ, thay đổi quyết sách từ kế hoạch cơ bản giải phóng miền Nam trong vòng 2 đến 3 năm lúc đầu chuyển sang kế hoạch thời cơ rút xuống 1 năm, rồi đến cuối tháng 3, đầu tháng 4-1975, Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn trong tháng 4 của năm 1975. Như vậy, ở mỗi giai đoạn phát triển, nghệ thuật lãnh đạo của Đảng bao giờ cũng căn cứ vào tư duy biện chứng và thực tiễn khách quan của lịch sử. Đó là, một mặt , lợi dụng những thời kỳ phát triển tuần tự của cách mạng để động viên, tập hợp quần chúng đấu tranh theo tinh thần không có gì quý hơn độc lập, tự do; mặt khác , phải biết hướng toàn bộ công tác của mình vào việc tạo và nắm thời cơ giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi toàn diện, hoàn toàn. Đây thực sự là sáng tạo to lớn, làm giàu, phong phú và sinh động thêm kho tàng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Thứ hai, trên chiến trường, Hiệp định Paris đã mở đường, tạo nên bước chuyển chiến lược, tạo ra thế mạnh mới: (i) Ta đã giành được quyền chủ động trên khắp các chiến trường, trừng trị các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, giành lại dân và những vùng bị mất, mở rộng vùng giải phóng của ta; (ii) Đã củng cố và hoàn chỉnh thế chiến lược liên hoàn từ Bắc vào Nam, từ rừng núi Trị - Thiên đến Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long; (iii) Đã xây dựng và tăng cường các binh đoàn chủ lực cơ động ở vùng rừng núi; tập trung được nguồn dự trữ chiến lược trên những địa bàn quan trọng; (iv) Đã cải thiện được tình hình nông thôn - đồng bằng, tạo các bàn đạp ở vùng phụ cận thành thị lớn; (v) Đã phát động được phong trào đấu tranh chính trị dưới khẩu hiệu hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc; (vi) Ta tiếp tục tranh thủ thêm được sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới (9) . Có thể nói, Hiệp định Paris đi đúng kịch bản như Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định, khi hàng chục vạn quân viễn chinh Mỹ ồ ạt kéo vào miền Nam: Mỹ giàu nhưng sức Mỹ không phải là vô hạn, Mỹ hung hăng nhưng có chỗ yếu, ta biết đánh, biết thắng thì nhất định kháng chiến sẽ thành công(10). Hiệp định Paris thể hiện đúng nghệ thuật “biết thắng từng bước” để đi đến chiến thắng hoàn toàn của Đảng ta trong bối cảnh chênh lệch tương quan lực lượng. Bước vào mùa khô 1973 - 1974, các chiến trường đã phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng, chuyển lên thế chủ động tấn công địch; sức mạnh tổng hợp của ba mũi, ba thứ quân, ba vùng, giữa điểm với diện, cao điểm với thường xuyên được phát huy, tạo thế căng kìm địch trên diện rộng, làm thất bại kế hoạch bình định của địch, đẩy địch vào thế bị động, lúng túng. Như vậy, Hiệp định Paris năm 1973 đã mở ra cục diện chiến trường mới vô cùng có lợi cho ta, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta khi ta vẫn duy trì được toàn bộ lực lượng ở chiến trường miền Nam. Đây là cơ sở để toàn quân, toàn dân ta tiến lên “đánh cho nguỵ nhào”. Thứ ba, đối với nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, Hiệp định Paris mở đường cho việc giải quyết các xung đột quốc tế bằng con đường hòa bình, tác động sâu xa đến bước đường tiến lên của nhiều dân tộc, là niềm cổ vũ lớn lao của nhiều dân tộc có chung số phận và điểm xuất phát như nước ta trong việc bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản. Có thể thấy, từ Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946, Tạm ước ngày 14-9-1946, Hiệp định Geneva ngày 21-7-1954 và đỉnh cao là Hiệp định Paris ngày 27-1-1973 đã minh chứng sinh động cho chân lý: Muốn có hòa bình, dân tộc Việt Nam không chỉ biết nhân nhượng mà còn phải biết đấu tranh, không chỉ biết đấu tranh mà dân tộc Việt Nam còn không khi nào bỏ lỡ cơ hội tìm kiếm hòa bình dù là cơ hội mỏng manh nhất. Đó là biện chứng của chiến tranh cách mạng Việt Nam, của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara - một trong những người góp phần hoạch định chính sách Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam - rút ra 11 bài học từ “Tấn thảm kịch Việt Nam”, trong đó có bài học: “Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó...”; “phản ánh sự thiếu hiểu biết cơ bản của chúng ta về lịch sử văn hóa và chính trị của nhân dân trong vùng, và về nhân cách, thói quen của các nhà lãnh đạo” (11) . “Lý tưởng và các giá trị của nó” mà ông Robert S. McNamara nhắc đến, chính là các quyền dân tộc cơ bản - độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng kiên định. Hiệp định Paris năm 1973 là sản phẩm của quá trình đấu tranh của cả một dân tộc luôn hướng đến các quyền dân tộc cơ bản như Điều 1 của Hiệp định này đã trân trọng thừa nhận: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Geneva năm 1954 về Việt Nam đã công nhận”. Đồng chí Phạm Văn Đồng từng nói: “Quyết không thể có thỏa hiệp trái với những quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam ta, trái với đạo lý thông thường của mọi dân tộc trên thế giới” (12) . Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, ngày 27-1-1973, tại Trung tâm hội nghị quốc tế ở Thủ đô Paris (Pháp) _Ảnh: tư liệu TTXVN Một số bài học đối với hoạt động ngoại giao hiện nay Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nước; đánh dấu bước trưởng thành của nền ngoại giao cách mạng thời đại Hồ Chí Minh. Đây là sản phẩm của quá trình đấu tranh gay go, quyết liệt và phức tạp trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, đỉnh cao của nghệ thuật kết hợp “vừa đánh vừa đàm”. Đó còn là thành quả của tư duy mang đầy đủ tính cách mạng và khoa học; vừa đánh vừa hiểu địch, hiểu ta; vừa làm vừa tổng kết thực tiễn, từng bước bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh qua các giai đoạn kháng chiến. Hiệp định Paris thể hiện sâu sắc tinh thần dám đánh, dám thắng và năng lực biết đánh, biết thắng của dân tộc Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa sâu rộng hiện nay, ý nghĩa và tầm vóc của Hiệp định Paris để lại nhiều bài học quý giá đối với hoạt động ngoại giao của Việt Nam. Một là, luôn bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trong đó độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là cốt lõi. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là hệ giá trị thiêng liêng mà bất kỳ dân tộc nào, dù là dân tộc nhỏ bé, xuất phát điểm thấp đều có quyền được hưởng vì nó là những quyền cơ bản nhất, đồng thời cũng là cơ sở tối thiểu để bảo đảm cho một dân tộc tồn tại và phát triển bình thường. Sự kiên định, nhất quán của Đảng ta, nhân dân ta trong việc theo đuổi hệ giá trị ấy từ năm 1945 đến nay, nhất là trong Hiệp định Paris, mãi mãi là bài học quý giá, tấm gương sáng cho các dân tộc yêu chuộng hòa bình khắp năm châu. Hiệp định Paris năm 1973 là chiến thắng bước ngoặt, có tính mở đường, điều kiện cần để buộc Mỹ và đồng minh rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tạo tiền đề cho quân dân Việt Nam tiến hành kết thúc chiến tranh. Trong bối cảnh mới, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII khẳng định, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; thực hiện phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến. Hai là, mềm mại, khéo léo nhưng rất kiên định, quyết liệt. Cách ứng xử mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên định, quyết liệt của Đảng Lao động Việt Nam trong Hội nghị Paris 1973 là bài học quý‎ giá về nghệ thuật ngoại giao của cách mạng Việt Nam. Ngay nay, bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước bên cạnh mặt thuận lợi, thời cơ, cũng có không ít những khó khăn, nguy cơ, diễn biến khó lường, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Việt Nam tiếp tục phải kiên định, giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa đối tác và đối tượng, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong từng tình huống, hoàn cảnh. Hình ảnh “cây tre Việt Nam” với “ gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển , thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam” (13) như lời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chính là phương sách chủ yếu của đối ngoại Việt Nam hiện đại. Nhờ nghệ thuật kết hợp tài tình giữa linh hoạt, sáng tạo về sách lược với kiên định, kiên quyết, kiên trì về chiến lược mà từ một nước bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã “mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với 193 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt, 5 nước đối tác chiến lược toàn diện, 13 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện”(14), giúp tạo nên cục diện thuận lợi cho quá trình hiện thực hóa lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ba là, chủ động, tích cực phát huy sức mạnh tổng hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Phát huy sức mạnh tổng hợp luôn được Đảng xác định là một trong những yếu tố quan trọng đưa tới sự thành công của cách mạng. Đó là sức mạnh tổng hợp của nội lực và ngoại lực; sức mạnh của các lực lượng; sự phối kết hợp của các địa bàn, sức mạnh của kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại giao; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sự cân bằng quan hệ giữa các nước lớn, vừa đánh vừa đàm; sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, ý chí không có gì quý hơn độc lập, tự do… Do đó, góp phần quan trọng đưa tới thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hơn 50 năm trôi qua kể từ khi Hiệp định Paris được ký kết, thế giới có nhiều đổi thay nhưng ý nghĩa mở đường và tầm vóc thời đại đặc biệt của Hiệp định vẫn còn nguyên giá trị, thể hiện sâu sắc nền ngoại giao độc đáo Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Nhìn lại Hiệp định Paris, chúng ta càng thấy được giá trị của việc đánh giá, dự báo đúng đắn về cục diện và xu thế, tình hình thế giới, kiên định và ra sức hiện thực hóa mục tiêu phát triển của dân tộc, góp phần quan trọng cùng nhân loại tiến bộ tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ cho bình đẳng dân tộc, dân chủ xã hội và phát triển con người./. -------------------------------- (1) Theo Hiệp định Paris, hơn nửa triệu quân Mỹ và đồng minh sẽ rút khỏi Việt Nam. Trong khi đó, 13 sư đoàn chủ lực cách mạng vẫn đứng vững ở các địa bàn chiến lược của miền Nam cùng hàng vạn bộ đội địa phương và dân quân du kích. Dẫn theo: Bộ Quốc phòng, Quân khu 7: Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 485 (2) Văn kiện Đảng toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t. 35, tr. 186 (3) Văn kiện Đảng toàn tập , Sđd , tr. 177 (4) Văn kiện Đảng toàn tập , Sđd , tr. 183 (5) Khu 9 có mật danh là T3, bấy giờ gồm các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Rạch Giá, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau. Ngay từ đầu, Khu ủy Khu 9 đã có nhận thức đúng đắn, quyết giương cao ngọn cờ cách mạng tiến công bất chấp Trung ương chưa có lệnh. Dẫn theo: Bộ Quốc phòng, Quân khu 7: Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền, Sđd , tr. 508 - 509 (6) Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam (gọi tắt là Bộ Chỉ huy Miền, từ ngày 18-3-1971 gọi là Bộ Tư lệnh Miền), Bộ Chỉ huy Miền chấp hành sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam, tham mưu cho Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang (7) Bộ Quốc phòng, Quân khu 7: Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền , Sđd, tr. 530 (8) B2 gồm có 5 quân khu: Quân khu 6 (cực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên gồm các tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức, Quảng Đức và dải đồng bằng nhỏ hẹp thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy); Quân khu 7 (miền Đông Nam Bộ: Bình Long, Phước Long, Tây Ninh, Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy); Quân khu 8 (miền Trung Nam Bộ: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc và Bến Tre); Quân khu 9 (miền Tây Nam Bộ: Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng (thêm một phần tỉnh Bạc Liêu), Rạch Giá, Cà Mau (gồm một phần tỉnh Bạc Liêu và Hà Tiên); Quân khu Sài Gòn - Gia Định (9) Văn kiện Đảng t oàn tập , Sđd , tr. 187 (10) Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh (Trực thuộc Bộ Chính trị): Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 173 (11) Robert S. McNamara: Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 316 (12) Trần Nhâm: Cuộc đấu trí ở tầm cao của trí tuệ Việt Nam , Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005, tr. 270 (13) Nguyễn Phú Trọng: “Kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, quyết tâm xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam””, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ke-thua-phat-huy-truyen-thong-dan-toc-tu-tuong-ngoai-giao-ho-chi-minh-quyet-tam-xay-dung-va-phat-trien-nen-doi-ngoai-ngoai-giao-toan-dien-hien-dai-man , truy cập ngày 14-12-2023 (14) Nguyễn Phú Trọng: “Kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, quyết tâm xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”” , tlđd
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1219402/nhan-thuc%2C-tu-duy-moi-ve-an-ninh-trong-nghi-quyet-dai-hoi-xiv-cua-dang.aspx
Nhận thức, tư duy mới về an ninh trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
08-02-2026
Nhận thức, tư duy mới về an ninh quốc gia
Tổng Bí thư Tô Lâm thăm, làm việc tại Trung tâm Dữ liệu quốc gia số 1 (Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, thành phố Hà Nội)_Ảnh: TTXVN Nhận thức, tư duy mới về an ninh quốc gia Trong tổng thể tư duy phát triển mới, tư duy, nhận thức của Đảng về an ninh cũng có nhiều điểm mới mang tính đột phá, cụ thể như sau: Trong bối cảnh tình hình bên ngoài, bên trong gia tăng thách thức đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đại hội XIV của Đảng lần đầu tiên chính thức xác lập quan điểm an ninh toàn diện, đặt an ninh xuyên suốt mọi lĩnh vực phát triển đất nước . An ninh toàn diện là sự tự chủ về chiến lược, lấy phát triển cao về chính trị, kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường, con người và đối ngoại làm động lực duy trì sự ổn định đất nước trong kỷ nguyên mới, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện tiên quyết để phát triển đất nước. An ninh quốc gia trong giai đoạn mới không chỉ là an ninh biên giới, lãnh thổ, mà còn là an ninh chế độ, an ninh cầm quyền, an ninh văn hóa tư tưởng, an ninh kinh tế, an ninh tài chính, an ninh dữ liệu, an ninh môi trường, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh con người, an ninh số, an ninh hạt nhân, an ninh truyền dẫn, cáp quang, an ninh vệ tinh và an ninh không gian kinh tế tầm thấp… Trong đó, an ninh chế độ, an ninh cầm quyền là trọng yếu, bảo vệ sự lãnh đạo và vai trò cầm quyền của đảng cộng sản, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm việc thực hiện đúng đắn, thành công các chủ trương, mục tiêu chiến lược của Đảng; với yêu cầu cao hơn bảo vệ đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. An ninh văn hóa tư tưởng đặc biệt quan trọng nhằm tạo thống nhất cao về tư tưởng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm hành động thực hiện các chủ trương chiến lược của Đảng. An ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực là cơ sở; an ninh mạng, an ninh dữ liệu là trung tâm, là điều kiện tiên quyết để duy trì sức mạnh và sự tồn tại của quốc gia. Tập trung xây dựng bức tường an ninh mạng, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng Việt Nam, làm chủ công nghệ lõi, tạo nền tảng để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thật sự là động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. An ninh con người là mục đích, cùng với xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, bảo đảm cho người dân được hạnh phúc và an toàn; tăng cường bảo đảm an ninh các lĩnh vực mới nổi. “Tự chủ chiến lược về an ninh” là nhận thức, tư duy mới thể hiện xuyên suốt các văn kiện Đại hội XIV của Đảng . Trong đó, để thực hiện tự chủ chiến lược về an ninh, Đảng ta yêu cầu 5 trụ cột: (i) Chủ động nhận diện, ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm, từ xa các nguy cơ, rủi ro an ninh. (ii) Chủ động chuẩn bị nguồn lực quốc gia, nâng cao khả năng huy động, đáp ứng yêu cầu trong mọi tình huống quốc phòng, an ninh. (iii) Xây dựng và củng cố năng lực tự chủ, tự cường về công nghệ, nhân lực chất lượng cao trong bảo đảm an ninh. Trong đó, “ Tập trung nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học an ninh, thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại”, “Quan tâm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng vũ trang”. (iv) Tạo đột phá về phát triển công nghiệp an ninh tự lực, tự chủ, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại gắn với tăng cường đầu tư hợp lý nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền an ninh hiện đại, vững mạnh, đủ sức bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc trước mọi tình huống, nhất là chiến tranh công nghệ cao. (v) Chăm lo xây dựng thế trận lòng dân, vì “Thế trận lòng dân vững thì quốc phòng, an ninh vững”; đồng thời “ Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại... an ninh , tích cực tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm hoạ”. Mở rộng đối ngoại an ninh cân bằng, linh hoạt; kiến tạo mạng lưới đối tác an ninh rộng khắp, các cơ chế đối thoại, hợp tác song phương, đa phương vì hòa bình, hình thành mô hình an ninh tự lực kết hợp liên kết linh hoạt hiệu quả trong phát hiện, đẩy lùi từ xa mọi nguy cơ an ninh, tạo nền tảng cho phát triển bền vững. “Lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển nhanh, bền vững” là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt tư duy an ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới. Văn kiện nhiều kỳ đại hội đều nhấn mạnh quan điểm ổn định để phát triển, phát triển để ổn định. So với các nhiệm kỳ đại hội trước đây, Đại hội XIV của Đảng có bước phát triển đột phá về tư duy khi lần đầu tiên đưa thành tố “phát triển” lên trước “ổn định”; nội dung “ Lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển” được đề cập trong cả bài học kinh nghiệm, quan điểm chỉ đạo và nhiệm vụ, giải pháp. Qua đó, Đảng nhấn mạnh và đòi hỏi các cấp, các ngành phải ưu tiên việc “phát triển” để tiếp tục tạo dựng cơ đồ, tiềm lực, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước; lấy phát triển là phương thức để bảo đảm ổn định lâu dài; phát triển không chỉ là kết quả, mà là cách giữ vững nền tảng quốc gia trong một thời kỳ nhiều biến động. Phát triển tạo nền tảng vật chất cho ổn định; ổn định là điều kiện tiên quyết để phát triển chất lượng cao, phát triển bền vững. Phát triển là giải pháp căn cơ, gốc rễ để bảo đảm an ninh bền vững; đồng thời giữ vững an ninh là một trong những động lực quan trọng cho phát triển. Nhận thức, tư duy mới về bảo vệ an ninh quốc gia Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại, nhiều bất ổn, nhiều mâu thuẫn và rủi ro đan xen. Cộng đồng quốc tế, trong đó có Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức an ninh lớn nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ làm phát sinh nhiều rủi ro an ninh. Trong nước, ngoài bốn nguy cơ mà Đảng chỉ ra có mặt còn diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm sẽ triệt để lợi dụng việc triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, các chủ trương chiến lược của Đảng, nhất là những tư duy mới, đột phá để tiến hành hoạt động chống phá. Đất nước càng phát triển, thách thức đối với an ninh càng lớn, yêu cầu bảo vệ an ninh, củng cố ý thức hệ càng cao. Mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tạo tiền đề đưa đất nước vượt qua bẫy thu nhập trung bình, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu cũng đặt ra những yêu cầu mới về bảo vệ an ninh quốc gia. Từ đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng phát triển nhận thức, tư duy mới về bảo vệ an ninh quốc gia trên các nội hàm sau: Thứ nhất, về mục tiêu phát triển : Đại hội XIV của Đảng xác định “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Lần đầu tiên thành tố “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định” được đặt lên trước hết trong mục tiêu phát triển, thể hiện quan điểm mạnh mẽ của Đảng, trong bối cảnh tình hình có nhiều biến động, thách thức, việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, trong đó có giữ vững an ninh quốc gia là điều kiện tiên quyết, là động lực, nguồn lực, nền tảng để thực hiện thắng lợi các mục tiêu còn lại. Thứ hai , về mục tiêu quốc phòng, an ninh : Đại hội XIV của Đảng xác định “ Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ nền văn hóa, uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng; tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững và củng cố môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước”. So với Đại hội XIII của Đảng, “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc” không chỉ được nhấn mạnh trong cả quan điểm chỉ đạo, mục tiêu quốc phòng, an ninh và định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030, mà còn mở rộng yêu cầu “ Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc”; đồng thời lần đầu tiên Đảng ta xác định mục tiêu “ bảo vệ uy tín, vị thế quốc tế của đất nước” , “ phòng thủ chủ động” . Trong bối cảnh tình hình bên ngoài gia tăng khó khăn, thách thức; trong nước triển khai nhiều quyết sách đột phá để phát triển, Đảng yêu cầu phải thống nhất nhận thức, hành động của các cấp, các ngành về “ Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc” trong từng bước đi, từng nhiệm vụ cụ thể. Sau 40 năm đổi mới, “ uy tín, vị thế quốc tế của đất nước” ngày càng được nâng cao, trở thành nguồn lực, động lực quan trọng cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới, đòi hỏi phải triển khai các biện pháp bảo vệ cao nhất. Mục tiêu “phòng thủ chủ động” nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ “phòng thủ bị động” sang “phòng thủ chủ động”, mọi thách thức, nguy cơ an ninh mạng, an ninh dữ liệu phải được nhận diện và hóa giải từ sớm, từ xa; sẵn sàng các biện pháp phòng vệ tương xứng để ngăn ngừa, đẩy lùi các nguy cơ, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Thứ ba, về quan điểm: Để thực hiện mục tiêu phát triển đề ra, Đại hội XIV của Đảng xác định 5 quan điểm chỉ đạo đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải thống nhất nhận thức và quán triệt triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả. Trong đó, đi liền với bước phát triển lý luận có ý nghĩa lịch sử, tái cấu trúc căn bản tư duy phát triển bền vững khi xác định “ bảo vệ môi trường là trung tâm” , Đảng ta đồng thời nhấn mạnh “ Gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh ”. Việc gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa môi trường với an ninh không chỉ nhằm tạo ra nguồn lực, động lực mới cho phát triển; bảo đảm thống nhất giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa mục tiêu quốc gia với lợi ích chung của nhân loại, vì sự phát triển của các thế hệ tương lai, nâng cao hạnh phúc của nhân dân, mà còn tạo nền tảng quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững, ổn định và lâu dài của đất nước. Đại hội XIV của Đảng xác định “ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” là một trong những quan điểm chỉ đạo (các kỳ đại hội trước đây xác định đây là nhiệm vụ), khẳng định lập trường chính trị rõ ràng, nhất quán của Đảng kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, với quyết tâm chính trị cao, hành động mạnh mẽ, quyết liệt, hiệu quả, bền vững hơn, không vì bất cứ khó khăn nào mà “chùn” bước. Thứ tư, tư duy, phương pháp bảo vệ an ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới đó là “an ninh chủ động”, “an ninh bao trùm”, “an ninh kiến tạo” và “kỷ luật thực thi”. Tinh thần “an ninh chủ động” được Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh trên nhiều định hướng lớn như, “ Chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo đúng tình hình, xử lý kịp thời các tình huống về quốc phòng, an ninh, các vấn đề trật tự, an toàn xã hội…”; “ chủ động chuẩn bị nguồn lực…”; “phòng thủ chủ động ”. Về “an ninh bao trùm” , xuất phát từ quan điểm của Đảng “ phát triển bền vững và tự chủ chiến lược phải đặt trong tổng thể nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ cơ sở, từ nơi xuất phát” , mọi công tác phát triển bền vững và tự chủ chiến lược đều phải đặt trong tổng thể nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia. Đối với “ an ninh kiến tạo”, tư duy công tác bảo vệ an ninh, trật tự trong kỷ nguyên mới không chỉ là bảo vệ, phục vụ mà phải kiến tạo phát triển, tạo động lực trực tiếp và thuận lợi cao nhất cho phát triển. Qua công tác bảo vệ an ninh, trật tự, phải chủ động nhận diện, tranh thủ tối đa thời cơ, biến thách thức thành cơ hội cho phát triển đất nước. An ninh, trật tự phải tạo nền tảng cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược của Đảng. Về “kỷ luật thực thi” , Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu “Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật, bảo vệ chủ quyền quốc gia”; “Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường trách nhiệm, trật tự, kỷ cương xã hội; tăng cường đồng thuận xã hội gắn với đề cao ý thức trách nhiệm công dân, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, lợi dụng dân chủ chống phá Đảng, Nhà nước, làm mất ổn định chính trị, xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Kỷ luật thực thi bảo đảm mọi quyền lợi chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân đều được bảo vệ chặt chẽ, nghiêm ngặt, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải xử lý nghiêm minh, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật, tạo nền tảng xây dựng xã hội văn minh, phát triển. Thứ năm, tư duy của Đảng về xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh; an ninh con người tiếp tục được mở rộng và đặt các yêu cầu cụ thể, cao hơn, thể hiện nhất quán mục tiêu vì con người, “dân là gốc”, mọi đường lối, chính sách của Đảng, trong đó có đường lối, chính sách về an ninh đều hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Bên cạnh việc tiếp tục nhấn mạnh “xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh”, Đảng xác định “xây dựng xã hội kỷ cương, lành mạnh, văn minh, an ninh, an sinh, an toàn, phát triển”, bổ sung các vấn đề “văn minh, an sinh, phát triển” , đồng thời yêu cầu “ Phấn đấu giảm mạnh tội phạm, tiến đến xây dựng xã hội không có tội phạm, không có tai nạn, tệ nạn, không có tiêu cực; thực sự văn minh, hạnh phúc” . Đây là những yêu cầu rất mới, rất cao, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh, mở rộng nội dung an ninh con người “ Bảo đảm an ninh con người: Trật tự, an toàn xã hội, an toàn giao thông, an toàn thực phẩm; an toàn cháy nổ; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh; xây dựng không gian sống: xanh - sạch - an toàn ”. Vấn đề an ninh con người được gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, an ninh xã hội “ Người dân được tiếp cận, sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu có chất lượng, được khám sức khỏe miễn phí mỗi năm 1 lần”, “Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, chế độ dinh dưỡng cho người dân, nhất là các vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương. Tăng cường kiểm soát, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Hỗ trợ cho người lao động trong khu vực phi chính thức, người sau độ tuổi lao động ”. Tổng quát các chủ trương về vấn đề này khẳng định rõ nét quan điểm của Đảng, lấy an ninh con người là mục tiêu của an ninh quốc gia; mục tiêu cơ bản của an ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới là bảo vệ nhân dân, vì nhân dân và dựa vào nhân dân. Thứ sáu, tư duy về kết hợp giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại tiếp tục có bước phát triển khi Đại hội XIV nhấn mạnh “kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại để phát huy sức mạnh mềm Việt Nam góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước” . Như vậy, so với các kỳ đại hội trước đây chỉ yêu cầu “kết hợp chặt chẽ”, “kết hợp hiệu quả”; trong giai đoạn cách mạng mới, để góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu chiến lược 100 năm, Đảng yêu cầu việc “kết hợp” phải phát huy cao nhất sức mạnh mềm Việt Nam - truyền thống dân tộc, bản sắc văn hóa, vị thế, uy tín đất nước để tạo ra thế và lực mới cho phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thứ bảy, về tư duy xây dựng lực lượng công an nhân dân: Đại hội XIV của Đảng định hướng “Xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; bảo đảm sức chiến đấu cao, làm nòng cốt trong sự nghiệp an ninh” . Trong bối cảnh cách mạng khoa học, công nghệ phát triển như vũ bão, xây dựng công an nhân dân hiện đại là nội dung quan trọng để thực hiện tự chủ chiến lược về an ninh; đồng thời cũng là nội dung tiếp nối, hoàn thành thực hiện lộ trình mà Đại hội XIII đã đề ra về “phấn đấu năm 2030, xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Bên cạnh việc tiếp tục nhấn mạnh xây dựng lực lượng công an “tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng” và nguyên tắc “ Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc ”, Đại hội XIV yêu cầu “Giữ vững và phát huy truyền thống công an nhân dân “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”” ; đây chính là cội nguồn sức mạnh để công an nhân dân hoàn thành trách nhiệm vẻ vang mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó trong kỷ nguyên mới. Cùng với xây dựng lực lượng công an nhân dân, Đảng ta yêu cầu “Xây dựng lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở vững mạnh” , thật sự là “cánh tay nối dài” của lực lượng công an trong bảo vệ, phục vụ nhân dân. Đồng thời, Đại hội XIV lần đầu tiên xác lập vị trí, vai trò của “cựu công an nhân dân” và nhấn mạnh “ Phát huy vai trò của cựu công an nhân dân trong giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ, phát huy bản chất, truyền thống “người công an cách mệnh” . Đây là tư duy mới của Đảng nhằm huy động cao nhất sức mạnh, nhất là trí tuệ, kinh nghiệm, bản lĩnh của đội ngũ “cựu công an nhân dân” trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Thứ tám, tư duy mới của Đảng về phát triển công nghiệp an ninh và tiềm lực an ninh: Đại hội XIV của Đảng xác định “Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp an ninh, tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại” . So với các kỳ đại hội trước đây, lần đầu tiên công nghiệp an ninh có vị thế độc lập so với công nghiệp quốc phòng, đồng thời Đảng nhấn mạnh yêu cầu đột phá phát triển công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, vừa là điều kiện quan trọng để thực hiện tự chủ chiến lược về an ninh, vừa góp phần tích cực trong phát triển bền vững, chất lượng cao của đất nước và nâng cao tiềm lực, sức mạnh quốc gia. Đại hội XIV nhấn mạnh “Bảo đảm về mọi mặt để giữ vững ổn định chính trị, xã hội, không để xảy ra bạo loạn, khủng bố; ứng phó kịp thời, hiệu quả thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ”. Đây là yêu cầu rất cao và toàn diện; “ Bảo đảm về mọi mặt” là sự chủ động, bảo đảm về chính trị tư tưởng, xây dựng bản lĩnh, niềm tin, thống nhất ý chí, nhận thức và hành động cho đến sự chuẩn bị kỹ lưỡng về thế trận, phương án, nhân lực, nguồn lực, tiềm lực và mọi điều kiện cần thiết khác để chủ động ứng phó hiệu quả với mọi vấn đề an ninh. Thứ chín, tư duy mới về phát triển lý luận an ninh : Tiếp theo bước phát triển tư duy về lý luận an ninh tại Đại hội XIII của Đảng, Đại hội XIV nhấn mạnh “ Chú trọng tổng kết thực tiễn , bổ sung phát triển lý luận an ninh, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới”. Đi đôi với nhấn mạnh “ Chú trọng tổng kết thực tiễn” , lần đầu tiên vấn đề “ bảo đảm trật tự an toàn xã hội” được nâng tầm nghệ thuật, đặt ra yêu cầu cao về tổng kết thực tiễn bảo vệ an ninh quốc gia, nhất là những vấn đề mới, lĩnh vực mới để hình thành lý luận soi đường, góp phần giữ vững an ninh trên mọi lĩnh vực, trong mọi tình huống. Qua nhiều năm liên tục kéo giảm tội phạm và những đổi mới có tính đột phá trong phương pháp quản lý, quản trị nhà nước về an ninh, trật tự, biện pháp, đối sách bảo đảm trật tự an toàn xã hội cần được nâng tầm nghệ thuật góp phần xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, văn minh, phát triển, không để các vấn đề trật tự, an toàn xã hội chuyển hóa thành vấn đề an ninh quốc gia, tạo cơ sở xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa vào năm 2045. Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao phối hợp cùng Hiệp hội An ninh mạng quốc gia tổ chức chương trình Diễn tập An ninh mạng quốc gia năm 2025_Nguồn: TTXVN Nhiệm vụ, giải pháp triển khai nhận thức, tư duy mới về an ninh và bảo vệ an ninh quốc gia Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và phụ lục danh mục các nhiệm vụ, đề án, dự án, công trình quan trọng giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã chỉ rõ “chủ thể, lộ trình, nguồn lực, đích đến” để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV. Trong đó, Chương trình hành động xác định 9 nhóm nhiệm vụ triển khai các quan điểm, chủ trương về an ninh sau: (i) Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế an ninh. Thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, đường lối của Đảng về an ninh nhân dân; rà soát, đôn đốc triển khai thực hiện có hiệu quả các cam kết, thỏa thuận quốc tế trên lĩnh vực an ninh. Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển kinh tế kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển cho các đặc khu, đảo như Phú Quốc, Côn Đảo, Vân Đồn, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Hòn Khoai và các đảo tiền tiêu khác. (ii) Xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; tiến tới xây dựng nền an ninh hiện đại gắn với phát triển công nghiệp an ninh. (iii) Tăng cường xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với xây dựng thế trận lòng dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. (iv) Chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo đúng tình hình, xử lý kịp thời các tình huống về an ninh, các vấn đề trật tự, an toàn xã hội, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; ứng phó kịp thời, hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống. (v) Tăng cường đầu tư, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực an ninh. (vi) Xây dựng công nghiệp an ninh theo hướng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết chặt chẽ và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, có sức cạnh tranh quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. (vii) Bảo đảm an ninh số, an ninh mạng, an ninh, an toàn thông tin; bảo đảm an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bảo đảm chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng trong mọi tình huống và bảo đảm môi trường số an toàn, ổn định cho phát triển. (viii) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực an ninh. (ix) Tăng cường, mở rộng tiềm lực đối ngoại an ninh. Đồng thời, phụ lục danh mục các nhiệm vụ, đề án, dự án, công trình quan trọng giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định rõ 28 nhiệm vụ an ninh. Dưới ánh sáng soi đường của Đảng, với tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai”, với quyết tâm gấp mười lần và hành động gấp trăm lần, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, hoàn thành lời hứa trước lịch sử, trước nhân dân, hoàn thành tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đến năm 2045 xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1229202/nguyen-tac%2C-phuong-phap-kiem-tra%2C-giam-sat-cua-dang-doi-voi-viec-lanh-dao%2C-dinh-huong-quan-ly%2C-su-dung-dat-dai%2C-gop-phan-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-thuc-su-cua-nhan-dan%2C-do-nhan-dan%2C-vi-nhan-dan.aspx
Nguyên tắc, phương pháp kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, định hướng quản lý, sử dụng đất đai, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
28-03-2026
1- Vi phạm trong công tác lãnh đạo, định hướng của cấp ủy, như ban hành quy chế làm việc có nội dung lãnh đạo, chỉ đạo trong lĩnh vực đất đai chưa đúng thẩm quyền, không cụ thể, thiếu chặt chẽ, phân định nhiệm vụ, quyền hạn của tập thể, cá nhân chưa rõ ràng; không quy định hoặc quy định không cụ thể công việc ban thường vụ ủy quyền cho thường trực cấp ủy cho chủ trương đối với các lĩnh vực đất đai, dẫn đến thường trực cấp ủy vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, cho chủ trương trái thẩm quyền; hoặc ban thường vụ cấp ủy đồng ý chủ trương thực hiện dự án có sử dụng đất vượt thẩm quyền, không đúng với quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc chưa được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận theo quy định của pháp luật; không đưa ra họp bàn, thảo luận để cho chủ trương đối với vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn theo quy chế làm việc. Trong thực tiễn, có nhiều trường hợp cấp ủy đã bị xử lý kỷ luật khi cho chủ trương chỉ định nhà đầu tư thực hiện dự án, chỉ định thầu và quyết định về mức giá đất cụ thể trái quy định; hay thường trực cấp ủy kết luận, cho chủ trương đối với vấn đề về đất đai, khoáng sản thuộc thẩm quyền của ban thường vụ cấp ủy, không được ban thường vụ ủy quyền, không đưa ra tập thể ban thường vụ thảo luận, thống nhất, cho ý kiến; cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền không chủ động đề xuất, trao đổi trong thường trực cấp ủy vấn đề lớn, quan trọng liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai, khoáng sản để đưa ra cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy thảo luận, quyết định; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và người đứng đầu thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra vi phạm, khuyết điểm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên và môi trường; không quan tâm chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo quy định pháp luật.
Đoàn kiểm tra, giám sát số 11 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư do đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn làm Trưởng đoàn tổ chức Hội nghị công bố quyết định kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2026 đối với Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương_Ảnh: TTXVN Nguyên tắc kiểm tra, giám sát Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm đánh giá đúng ưu điểm của tổ chức đảng và đảng viên để phát huy, đồng thời phát hiện, làm rõ vi phạm, khuyết điểm để uốn nắn, khắc phục và xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm; kịp thời phát hiện sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung quy định cho phù hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên và môi trường; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Công tác kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo trong quản lý, sử dụng đất đai là một nội dung trọng yếu của việc bảo đảm hiệu quả công tác lãnh đạo của Đảng, hoạt động quản lý của Nhà nước. Đất đai là nguồn lực phát triển, nhưng cũng tạo ra nhiều thử thách bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ và cơ chế kiểm soát quyền lực. Vì vậy, việc kiểm tra, giám sát phải tuân thủ hệ thống nguyên tắc chính trị - pháp lý - đạo đức chặt chẽ, toàn diện và xuyên suốt. Cấp ủy các cấp, nhất là ban thường vụ, phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát không “khoán trắng” cho cơ quan chuyên môn. Mỗi cuộc kiểm tra, giám sát phải thể hiện được ý chí lãnh đạo, trách nhiệm chính trị và tính thống nhất trong định hướng của Đảng; phải bảo đảm bám sát các yêu cầu sau: Nguyên tắc chính trị, tổ chức: Kiểm tra, giám sát không chỉ để phát hiện sai phạm, mà còn nhằm đánh giá việc thực hiện nghị quyết của Đảng trong lĩnh vực đất đai, đặc biệt là chủ trương lớn, như Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 31-10-2012, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về “Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại”. Lần đầu tiên Đảng ta xác định đất đai là nguồn lực phát triển, đồng thời là đối tượng quản lý thống nhất của Nhà nước, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, vì vậy đặt ra yêu cầu kiểm soát quyền lực trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, gắn với trách nhiệm người đứng đầu. Đây là cơ sở để ủy ban kiểm tra các cấp lãnh đạo kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đất đai. Đến Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 16-6-2022, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII “Về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao”, Đảng ta tiếp tục định hướng rõ với yêu cầu phát huy nguồn lực đất đai trở thành động lực trung tâm của phát triển bền vững. Khẳng định phải kiểm soát chặt chẽ quyền lực, xử lý nghiêm “tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng đất”; đưa công khai, minh bạch, số hóa dữ liệu đất đai thành một nguyên tắc bắt buộc. Tạo căn cứ chính trị, pháp lý trực tiếp cho việc thiết kế mô hình kiểm tra, giám sát số, phân tích rủi ro chính trị, kinh tế, xã hội trong đất đai. Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị “Về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung” là điểm cân bằng giữa kiểm soát quyền lực và bảo vệ động lực đổi mới . Bên cạnh đó, cần xác định công tác kiểm tra, giám sát về đất đai phân biệt rõ giữa sai phạm vì vụ lợi và sai sót trong đột phá, đổi mới vì lợi ích chung. Gợi mở một nguyên tắc rất quan trọng: kiểm tra không nhằm “trói tay cán bộ”, mà nhằm bảo vệ người dám chịu trách nhiệm, dám hành động vì lợi ích đất nước. Đồng thời, tạo cơ sở để cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát nhân văn, công tâm hơn. Ngày 24-11-2025, Kết luận số 218 “Về quan điểm, chủ trương xử lý vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực”, của Bộ Chính trị, được ban hành với mục tiêu bảo đảm công bằng, khách quan trong xem xét xử lý kỷ luật và tìm rõ nguyên nhân vi phạm để điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn. Kết quả kiểm tra, giám sát vì thế phải phản ánh hiệu lực lãnh đạo của Đảng, giúp điều chỉnh chính sách, nâng cao năng lực thực thi, không chỉ dừng ở xử lý vi phạm. Nguyên tắc tập trung dân chủ là nền tảng tổ chức của Đảng, phải được bảo đảm trong toàn bộ quy trình kiểm tra: Quyết định tập thể, cá nhân phụ trách; kết luận dựa trên bằng chứng, không suy diễn; thảo luận dân chủ, thống nhất trên cơ sở hồ sơ, chứng cứ và pháp luật. Cùng với đó, cần minh bạch hóa thông tin, công khai kết quả trong phạm vi phù hợp, nhằm củng cố niềm tin và tạo sức răn đe, phòng ngừa. Nguyên tắc pháp lý, hành chính: Kiểm tra, giám sát của Đảng trong lĩnh vực đất đai phải dựa trên pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Luật Đất đai đã được Quốc hội thông qua ngày 18-1-2024 và có hiệu lực từ ngày 1-1-2025. Cơ quan kiểm tra cần nắm chắc quy định mới có liên quan: quy hoạch tích hợp, đấu giá công khai, giá đất thị trường, thu hồi, bồi thường, tái định cư, quyền sử dụng đất như tài sản giao dịch. Việc kiểm tra phải chỉ ra được mức độ tuân thủ pháp luật, phát hiện kịp thời “khoảng trống pháp lý” để kiến nghị bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách. Chủ trương “không có vùng cấm, không ngoại lệ” phải trở thành chuẩn mực thường trực. Mọi vi phạm về đất đai, dù ở cấp nào, đều phải được xử lý kiên quyết, song song với khuyến khích tự kiểm tra, tự phát hiện, tự khắc phục. Kết luận kiểm tra, giám sát phải rõ ràng: sai ở đâu, trách nhiệm thuộc về ai, kiến nghị biện pháp nào; phải bảo đảm quyền khiếu nại, giải trình hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan. Nguyên tắc đạo đức, trách nhiệm công vụ: Gắn kiểm tra với rèn luyện đạo đức, văn hóa công vụ đòi hỏi cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát đất đai thực sự liêm chính, dũng cảm, trung thực, khách quan, không bị chi phối bởi lợi ích hay quan hệ cá nhân. Mỗi cuộc kiểm tra, giám sát là phép thử về đạo đức chính trị và văn hóa quyền lực. Chỉ khi người cán bộ kiểm tra trong sạch, công tâm, thì kết quả kiểm tra mới khách quan, chính xác và có giá trị giáo dục, thuyết phục. Kết hợp kiểm tra định kỳ và giám sát thường xuyên: Nguyên tắc này bảo đảm tính chủ động, liên tục. Giám sát sớm giúp phát hiện vi phạm từ gốc, còn kiểm tra định kỳ giúp tổng kết, đánh giá toàn diện. Phải chuyển từ “xử lý hậu kiểm” sang “giám sát sớm, cảnh báo sớm, phòng ngừa từ xa”, sử dụng dữ liệu số, bản đồ đất đai và phản ánh của nhân dân làm công cụ cảnh báo tự động. Đề cao trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan quản lý đất đai khi để xảy ra vi phạm trong phạm vi quản lý. Nguyên tắc này làm rõ tính cá thể hóa trách nhiệm, chống “hòa cả làng”, đồng thời khuyến khích hình thành văn hóa nhận lỗi, khắc phục sớm. Phương pháp kiểm tra, giám sát Nếu “nguyên tắc” là nền tảng thì “phương pháp” là công cụ thực thi. Phương pháp kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực đất đai cần được vận dụng khoa học, hệ thống và thích ứng với thời đại số, để vừa bảo đảm tính chính trị, pháp lý, kỹ thuật, vừa nâng cao năng lực dự báo và phòng ngừa. Để thực hiện một cuộc kiểm tra, giám sát cần dựa trên một số phương pháp: Phương pháp tổ chức, quy trình: Trước hết, nắm tình hình, thu thập đầy đủ hồ sơ quy hoạch, bản đồ địa chính, quyết định giao, thuê, chuyển mục đích sử dụng đất, hồ sơ đấu giá, định giá, nghĩa vụ tài chính, phản ánh của nhân dân và báo chí... Ứng dụng dữ liệu số hóa, hệ thống quản lý đất đai điện tử, bản đồ địa chính GIS để xác định biến động, sai lệch, chồng lấn, chuyển mục đích bất thường. Thứ hai , phân tích dấu hiệu vi phạm từ dòng tiền, dữ liệu thuế, đăng ký doanh nghiệp và quy hoạch đô thị để phát hiện bất thường, như thay đổi nhanh quyền sử dụng, giá trị tài sản hoặc mối liên hệ giữa doanh nghiệp, cán bộ quản lý. Thứ ba , tập trung làm rõ việc chỉ đạo của cấp ủy; trách nhiệm của tổ chức đảng, người đứng đầu; quy trình ra quyết định có tuân thủ pháp luật và nghị quyết của Đảng hay không? Cần lập biên bản, đối thoại công khai, tránh báo cáo một chiều. Thứ tư , đối chiếu kết quả kiểm tra với quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả và trách nhiệm. Kiến nghị biện pháp xử lý, khắc phục, đồng thời lưu hồ sơ điện tử phục vụ theo dõi, giám sát việc thực hiện kết luận sau kiểm tra, giám sát. Phương pháp nghiệp vụ: Phân tích lợi ích nhóm và dòng lợi ích bằng việc truy vết toàn bộ chuỗi hành vi hành chính, quyết định hành chính liên quan đến đất đai để nhận diện dòng lợi ích: từ quy hoạch, giao đất, định giá, cấp phép. Phát hiện mối liên hệ bất thường giữa người có thẩm quyền và doanh nghiệp thụ hưởng; đây là dấu hiệu điển hình của xung đột lợi ích và thao túng chính sách. Sau đó, so sánh giá đất thị trường và khung giá Nhà nước áp dụng mô hình định giá kép, kết hợp dữ liệu giao dịch, giá địa phương và chỉ số giá đất quốc gia để lượng hóa thất thoát ngân sách. Hành vi sai phạm về quản lý, sử dụng đất đai thường gắn liền với biểu hiện tha hóa quyền lực, lợi dụng chức vụ để trục lợi. Vì vậy, cần đánh giá không chỉ hậu quả kinh tế, mà cả tác động chính trị, tư tưởng, niềm tin xã hội, qua đó đưa ra biện pháp phòng ngừa: công khai thông tin đất đai, luân chuyển cán bộ, kiểm soát tài sản, nâng cao văn hóa liêm chính của cán bộ, công chức. Phương pháp thẩm tra, xác minh: Thẩm tra, xác minh là phương pháp quan trọng nhất trong 5 phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, được hiểu là việc chủ thể kiểm tra tiến hành hoạt động phát hiện, tìm kiếm, thu thập, xem xét, tra cứu, thẩm định, đánh giá và sử dụng những chứng cứ, phân tích thông tin, tài liệu đã thu thập được liên quan đến vụ việc kiểm tra; phân tích mối liên hệ và sự phù hợp giữa thông tin với nhau và với vụ việc kiểm tra theo các nguyên tắc, phương pháp công tác đảng để tìm ra sự thật, chỉ đúng bản chất thông tin đó nhằm chứng minh đối tượng được kiểm tra có hay không có khuyết điểm hoặc vi phạm, giúp cho việc kết luận, xử lý bảo đảm công minh, chính xác, kịp thời. Thẩm tra, xác minh phải đánh giá khách quan, thận trọng, trung thực, chính xác đối với ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để có quyết định xử lý chính xác đối với vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên. Thông tin về dấu hiệu vi phạm trong lĩnh vực đất đai được phản ảnh từ nhiều nguồn và được biểu hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau với phạm vi, tính chất, mức độ cũng khác nhau. Một trong những nguồn thông tin quan trọng để phát hiện, xác định dấu hiệu vi phạm trong lĩnh vực đất đai là thông qua công tác giám sát thường xuyên và khai thác thêm từ tài liệu của cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra hoặc thông qua báo chí, dư luận xã hội, phản ánh, kiến nghị, tố cáo của công dân. Chúng ta cần làm tốt công tác phân tích, sàng lọc, phân loại, tổng hợp thông tin có đủ căn cứ, cơ sở, điều kiện xác định đó là dấu hiệu vi phạm. Từ đó, đối chiếu nội dung thông tin, tài liệu với quy định cụ thể của Đảng, Nhà nước, quy định của cơ quan, đơn vị được kiểm tra, giám sát để xác định dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên. Từ thực tế cho thấy, cấp ủy, ủy ban kiểm tra chủ động thực hiện giám sát thường xuyên, kết hợp với kênh thông tin khác thì sẽ xác định được dấu hiệu vi phạm, giúp cho việc lựa chọn, xác định chính xác nội dung, đối tượng để có quyết định kiểm tra, giám sát đúng, trúng. Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Được cùng đoàn công tác khảo sát, kiểm tra thực tế tại Trung tâm phục vụ hành chính công phường Bình Dương _Ảnh: TTXVN Cũng giống như lĩnh vực khác, thẩm tra, xác minh trong lĩnh vực đất đai cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của công tác thẩm tra, xác minh; phải được tiến hành trong suốt quá trình kiểm tra, giám sát, theo nguyên tắc và phương pháp công tác đảng, nhất là thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình... Trong thực tế, nắm chắc nguyên tắc, phương pháp trên khi thực hiện kiểm tra, giám sát thì việc phát hiện vi phạm, khuyết điểm hoặc sơ hở, vướng mắc trong cơ chế, chính sách rất dễ dàng. Căn cứ quy định của Đảng, Nhà nước về quản lý, sử dụng đất đai và qua thực tiễn kiểm tra, giám sát, có thể nhận dạng một số vi phạm điển hình sau: 1- Vi phạm trong công tác lãnh đạo, định hướng của cấp ủy, như ban hành quy chế làm việc có nội dung lãnh đạo, chỉ đạo trong lĩnh vực đất đai chưa đúng thẩm quyền, không cụ thể, thiếu chặt chẽ, phân định nhiệm vụ, quyền hạn của tập thể, cá nhân chưa rõ ràng; không quy định hoặc quy định không cụ thể công việc ban thường vụ ủy quyền cho thường trực cấp ủy cho chủ trương đối với các lĩnh vực đất đai, dẫn đến thường trực cấp ủy vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, cho chủ trương trái thẩm quyền; hoặc ban thường vụ cấp ủy đồng ý chủ trương thực hiện dự án có sử dụng đất vượt thẩm quyền, không đúng với quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc chưa được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận theo quy định của pháp luật; không đưa ra họp bàn, thảo luận để cho chủ trương đối với vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn theo quy chế làm việc. Trong thực tiễn, có nhiều trường hợp cấp ủy đã bị xử lý kỷ luật khi cho chủ trương chỉ định nhà đầu tư thực hiện dự án, chỉ định thầu và quyết định về mức giá đất cụ thể trái quy định; hay thường trực cấp ủy kết luận, cho chủ trương đối với vấn đề về đất đai, khoáng sản thuộc thẩm quyền của ban thường vụ cấp ủy, không được ban thường vụ ủy quyền, không đưa ra tập thể ban thường vụ thảo luận, thống nhất, cho ý kiến; cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền không chủ động đề xuất, trao đổi trong thường trực cấp ủy vấn đề lớn, quan trọng liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai, khoáng sản để đưa ra cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy thảo luận, quyết định; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và người đứng đầu thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra vi phạm, khuyết điểm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên và môi trường; không quan tâm chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo quy định pháp luật. 2- Vi phạm trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: vi phạm do không kịp thời lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định; không thống nhất giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương; không thực hiện đúng quy định về tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; không công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; không báo cáo thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; phê duyệt quy hoạch 1/500 không tuân thủ quy hoạch 1/2000 dẫn đến phá vỡ quy hoạch chung; điều chỉnh quy hoạch đất đai, đô thị không đúng quy định để “chạy theo” doanh nghiệp thực hiện dự án (tăng tầng, tăng diện tích, chia nhỏ diện tích, tăng mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất; giảm diện tích cây xanh công cộng, đất công trình hạ tầng kỹ thuật...); để chủ đầu tư tự ý thay đổi quy hoạch, triển khai dự án chậm nhằm giữ đất, trì hoãn bằng cách xin điều chỉnh quy hoạch, điều chỉnh chủ trương đầu tư để chờ khi có điều kiện mới thực hiện hoặc chuyển nhượng cho nhà đầu tư khác. 3- Vi phạm trong giao đất, cho thuê đất: Giao đất, cho thuê đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất theo quy định, nhất là đối với đất công sản, đất sạch; tổ chức đấu giá không có phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; lựa chọn nhà đầu tư để giao đất, cho thuê đất không bảo đảm trình tự, thủ tục, không đáp ứng điều kiện theo quy định; đồng ý thay đổi nhà đầu tư, cho chuyển nhượng dự án trái pháp luật; để đối tượng trục lợi núp bóng doanh nghiệp đứng ra thông thầu, ép giá, hạn chế các doanh nghiệp khác tham gia đấu thầu, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trên địa bàn; giao đất dự án khi chưa có quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; giao đất với thời hạn sử dụng lâu dài cho doanh nghiệp để thực hiện dự án; giao đất, cho thuê đất không đúng vị trí và diện tích đất trên thực địa; giao đất thuộc khu vực phòng thủ quốc gia; giao dự án có sử dụng đất trồng lúa khi chưa có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ (trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa trên từ 10ha) và nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về chuyển mục đích sử dụng đất; lợi dụng danh nghĩa của tổ chức để được mua, thuê cơ sở nhà, đất của Nhà nước ở vị trí thuận lợi về giao thương không thông qua đấu giá sau đó chuyển nhượng lại để hưởng chênh lệch; giao đất theo hình thức “đất ở không hình thành đơn vị ở” và triển khai một số loại hình bất động sản du lịch, nghỉ dưỡng chưa rõ về mô hình theo quy định của pháp luật dẫn đến sai phạm trong xác định nghĩa vụ tài chính, trình tự giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển nhượng, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, phát sinh tình trạng lợi ích nhóm, tiêu cực, tham nhũng. 4- Vi phạm trong chuyển mục đích sử dụng đất: Cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, nhưng không thẩm định điều kiện, nhu cầu sử dụng đất; không theo quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt và chưa được cấp có thẩm quyền cho phép. Doanh nghiệp chưa hoàn thành thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, đất sản xuất phi nông nghiệp sang đất ở, nhưng đã cho ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở. 5- Vi phạm trong xác định giá đất: Xác định giá đất, ban hành bảng giá đất không theo mục đích sử dụng và thời hạn sử dụng đất tại thời điểm định giá, không sát với giá thị trường; điều chỉnh quy hoạch dự án đầu tư, nhưng không xác định lại giá đất; xác định giá khởi điểm đối với trường hợp giao đất qua đấu giá thấp hơn giá đất tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành; xác định giá đất không đúng phương pháp theo quy định của pháp luật (phương pháp so sánh; phương pháp chiết trừ; phương pháp thu nhập; phương pháp thặng dư; phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất); giao đất, cho thuê đất, nhưng áp giá thấp hơn giá quy định; tính sai thời điểm giao đất khi xác định nghĩa vụ tài chính (giao đất năm nay nhưng tính tiền sử dụng theo giá đất của các năm trước); tính giá đất sản xuất, kinh doanh cho đất ở; quyết định cho miễn, giảm, chậm nộp chậm tiền sử dụng đất trái quy định pháp luật; cho chuyển nhượng dự án chưa xác định hoặc đã xác định, nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính. 6- Vi phạm về tiến độ: Dự án chậm tiến độ, không đúng cam kết, lãng phí đất đai, ảnh hưởng đến đời sống người dân, nhưng không thu hồi theo quy định; thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không đúng đối tượng, diện tích, mức bồi thường; làm sai lệch hồ sơ thu hồi đất; xác định sai vị trí và diện tích đất bị thu hồi trên thực địa. 7- Vi phạm về thủ tục: Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chậm, vi phạm về thời hạn giải quyết; in giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước khi hộ gia đình, cá nhân hoàn thành nghĩa vụ tài chính; cho chuyển mục đích sử dụng, mua bán, chuyển nhượng đất nhiều lần, nhưng không làm thủ tục; không theo dõi biến động và quản lý chặt chẽ về đất đai tại địa phương, để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất công; xây dựng không phép, trái phép; xây dựng nhà ở trên đất không phải là đất ở. 8- Không xây dựng phương án sử dụng đất trước khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; xây dựng, phê duyệt phương án không phù hợp với phương án sắp xếp xử lý nhà đất và quy hoạch sử dụng đất; khi thực hiện cổ phần hóa, không đưa giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp (lấy lý do là đất đang thuê của Nhà nước); sau khi mua được cổ phần chi phối, nhà đầu tư tiến hành thủ tục để thay đổi mục đích sử dụng đất, xin nộp tiền sử dụng đất một lần không đúng quy định của pháp luật, thấp hơn nhiều so với giá đất trên thị trường, gây thất thoát tài sản của Nhà nước. 9- Dùng quyền sử dụng đất để hợp tác, liên doanh, liên kết, góp vốn thành lập pháp nhân mới, sau đó thoái vốn (chuyển nhượng vốn, cổ phần) làm chuyển dịch tài sản nhà nước sang tài sản tư nhân hoặc chuyển mục đích sử dụng đất cho đối tượng không thuộc doanh nghiệp nhà nước và không thuộc đối tượng phải di dời do ô nhiễm môi trường, nhưng không thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định. 10- Giao đất để đổi lấy hạ tầng (dự án xây dựng - chuyển giao (BT)) không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất mà tính toán theo khung giá đất tại địa phương, định giá đất thấp hơn nhiều giá trị đất thực tế tại thời điểm bàn giao công trình, khiến cho việc thanh toán không bảo đảm nguyên tắc ngang giá, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước. Đối chiếu quy định của Đảng, Nhà nước và qua thực tiễn kiểm tra, giám sát, có thể thấy khi một cuộc kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc, phương pháp, tuân thủ đúng quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, quy định của Nhà nước thì vụ việc dù khó đến mấy cũng sẽ được xem xét, giải quyết./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/1229002/thuc-tien-trien-khai-chinh-sach-khoa-hoc---cong-nghe-cua-my-tu-nam-2017-den-nay-va-mot-so-van-de-dat-ra.aspx
Thực tiễn triển khai chính sách khoa học - công nghệ của Mỹ từ năm 2017 đến nay và một số vấn đề đặt ra
27-03-2026
Thực tiễn triển khai chính sách khoa học - công nghệ của Mỹ từ nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Donald Trump đến nay
Tổng thống Donald J. Trump và Đệ nhất phu nhân đã tổ chức một cuộc gặp gỡ đặc biệt với các nhà lãnh đạo ngành công nghệ tại Nhà Trắng để thảo luận về việc khai thác trí tuệ nhân tạo nhằm đưa Hoa Kỳ lên vị trí dẫn đầu về đổi mới toàn cầu, ngày 4-9-2025_Ảnh: whitehouse.gov Thực tiễn triển khai chính sách khoa học - công nghệ của Mỹ từ nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Donald Trump đến nay Mỹ là cường quốc hàng đầu thế giới về khoa học - công nghệ, với lịch sử gắn liền những phát minh, sáng chế có ảnh hưởng sâu rộng đến cách thức con người tư duy và vận hành thế giới qua nhiều thời kỳ. Hơn 250 năm trước, nhà khoa học người Mỹ Benjamin Franklin đã phát minh ra điện, mở ra một kỷ nguyên phát triển mới cho nhân loại. Ngày 1-1-1983, internet ra đời tại Mỹ, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong kết nối và chia sẻ thông tin toàn cầu. Đầu những năm 2000, điện thoại thông minh và các ứng dụng trực tuyến được phổ biến từ Mỹ, đến nay đã trở thành công cụ thiết yếu với khoảng 5 tỷ người sử dụng hằng ngày. Trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhiều công nghệ then chốt, như dữ liệu lớn (Big data), Internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI), tiếp tục được phát triển mạnh mẽ từ nền tảng khoa học - công nghệ Mỹ. Từ sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, chính sách khoa học - công nghệ của Mỹ chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất kéo dài từ sau năm 1945 đến thập niên 80 của thế kỷ XX; giai đoạn thứ hai bắt đầu từ thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay. Năm 1957, Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên mang tên Sputnik 1, tạo ra “cú sốc Sputnik”. Trước bối cảnh đó, Mỹ thành lập các cơ quan mới, như Cơ quan Hàng không và Vũ trụ quốc gia (NASA), Cơ quan Dự án nghiên cứu quốc phòng tiên tiến (DARPA), đồng thời tăng mạnh ngân sách cho nghiên cứu và phát triển (R&D). Trong thập niên 60 của thế kỷ XX, gần 70% kinh phí R&D ở Mỹ do chính phủ liên bang tài trợ. Nguồn đầu tư công quy mô lớn này đã tạo nền tảng để Mỹ duy trì vị thế dẫn đầu về khoa học - công nghệ, đồng thời là cơ sở cho việc điều chỉnh theo hướng phát triển khoa học - công nghệ mang tính tự do hơn trong những năm tiếp theo. Sau thập niên 80 của thế kỷ XX, R&D theo cơ chế thị trường tự do trở thành xu hướng chủ đạo trong lĩnh vực công nghệ của Mỹ. Một loạt đạo luật, như Đạo luật Bayh-Dole, Đạo luật Đổi mới công nghệ Stevenson-Wydler, Đạo luật Nghiên cứu đổi mới doanh nghiệp nhỏ,... được ban hành, hình thành hệ sinh thái công nghệ khuyến khích mô hình đối tác công - tư. Cũng từ thời điểm này, khu vực tư nhân, nhất là các doanh nghiệp công nghệ, dần trở thành lực lượng trung tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thay thế vai trò dẫn dắt trước đây của khu vực công. Từ thời kỳ chính quyền Tổng thống D. Trump đến nay, khoa học - công nghệ tiếp tục được Mỹ xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược nhằm nâng cao tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh, đồng thời củng cố vị thế cường quốc kinh tế hàng đầu và vai trò lãnh đạo toàn cầu. Điều này được thể hiện qua một số kết quả nổi bật sau: Một là, Mỹ liên tục ban hành nhiều chính sách và đạo luật nhằm khẳng định và thúc đẩy tiềm lực khoa học - công nghệ quốc gia. Đây là một trong những vấn đề nhận được sự đồng thuận rộng rãi giữa hai đảng chính trị lớn tại Mỹ. Trong nhiệm kỳ đầu, chính quyền Tổng thống D. Trump đã ban hành một loạt văn bản quan trọng, như Luật Sáng kiến lượng tử quốc gia (tháng 12-2018), Sắc lệnh hành pháp về bảo đảm vị thế lãnh đạo của Mỹ trong lĩnh vực AI (tháng 2-2019), Chiến lược quốc gia về an ninh mạng 5G (tháng 3-2020), Chiến lược quốc gia về công nghệ then chốt và mới nổi (tháng 10-2020), nhằm thúc đẩy phát triển công nghệ mới, khuyến khích đổi mới sáng tạo, đồng thời bảo vệ lợi ích công nghệ của Mỹ trên phạm vi toàn cầu. Chính sách này xuất phát từ quan ngại về nguy cơ rò rỉ công nghệ và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nhất là trong bối cảnh các doanh nghiệp Mỹ đầu tư hoặc hoạt động tại nước ngoài. Theo báo cáo của Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ năm 2017, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế Mỹ, ước tính từ 225 đến 600 tỷ USD/năm, cùng hàng nghìn việc làm bị ảnh hưởng (1) . Chính sách thúc đẩy khoa học - công nghệ tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh dưới thời kỳ chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden, thể hiện qua việc ban hành ba đạo luật quan trọng: Đạo luật kết cấu hạ tầng lưỡng đảng, Đạo luật CHIPS và khoa học, Đạo luật giảm lạm phát. Các đạo luật này hướng đến mục tiêu hiện đại hóa kết cấu hạ tầng, phát triển nền kinh tế năng lượng sạch và đưa hoạt động sản xuất trở lại Mỹ sau nhiều thập niên chuyển dịch ra nước ngoài. Đáng chú ý, Đạo luật CHIPS và khoa học ban đầu dự kiến phân bổ 52 tỷ USD, nhưng khi được thông qua, tổng số mức đầu tư ước tính lên tới gần 250 tỷ USD trong vòng 5 năm, tập trung vào R&D, sản xuất bán dẫn và một số lĩnh vực khoa học then chốt khác. Đây được xem là chương trình R&D lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ, thể hiện quyết tâm của chính quyền Tổng thống J. Biden trong việc củng cố và nâng cao năng lực khoa học - công nghệ quốc gia. Sau khi nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống D. Trump tiếp tục duy trì cách tiếp cận tương đối nhất quán với nhiệm kỳ đầu trong chính sách khoa học - công nghệ, đồng thời thực hiện một số điều chỉnh đáng chú ý: 1- Thành lập Hội đồng Cố vấn khoa học và công nghệ của Tổng thống Mỹ (PCAST) với nhiệm vụ tư vấn chính sách liên quan đến khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, bảo đảm Mỹ duy trì vị thế dẫn đầu trong lĩnh vực này; 2- Cơ cấu lại hệ thống nghiên cứu bằng cách cắt giảm nguồn nhân lực và tài trợ tại một số cơ quan nghiên cứu, thay đổi tiêu chuẩn cấp tài trợ, giảm mức độ can thiệp của chính phủ trong các chương trình khoa học; 3- Tăng cường hỗ trợ hạ tầng AI và thúc đẩy phát triển AI với mức độ điều tiết thấp hơn; 4- Ưu tiên thúc đẩy công nghệ tài chính kỹ thuật số, trong đó ban hành sắc lệnh hành pháp về việc “tăng cường vai trò lãnh đạo của Mỹ trong công nghệ tài chính kỹ thuật số”; 5- Triển khai Dự án Stargate, với tổng số mức đầu tư 500 tỷ USD nhằm mở rộng hạ tầng AI và năng lực điện toán; 6- Tập trung bảo vệ hạ tầng mạng, nâng cao năng lực phòng thủ mạng, giảm quy định và thúc đẩy ứng dụng AI trong lĩnh vực an ninh mạng. Hai là, tăng cường đầu tư ngân sách cho R&D, coi đây là công cụ quan trọng nhằm nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia về khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. T rong hơn một thập niên qua, nguồn ngân sách đầu tư cho R&D của Mỹ liên tục duy trì ở mức hàng đầu thế giới, với thị phần ổn định xung quanh mức 40%. Ước tính chung cả nguồn tài trợ từ chính phủ và khu vực tư nhân, Mỹ đã chi 923 tỷ USD cho hoạt động R&D trong năm 2022, chiếm khoảng 30% tổng số vốn đầu tư R&D toàn cầu; con số này tiếp tục tăng lên hơn 1.000 tỷ USD trong năm 2023. Đáng chú ý, khu vực tư nhân và doanh nghiệp đã trở thành “bệ đỡ” quan trọng cho khoa học - công nghệ của Mỹ, với 11 trong tổng số 20 tập đoàn công nghệ lớn nhất thế giới có trụ sở tại nước này. Xét về quy mô vốn hóa thị trường, 5 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới, bao gồm Apple, Amazon, Microsoft, Alphabet và Facebook đều là của Mỹ. Báo cáo của Ủy ban châu Âu công bố cuối năm 2023 cho thấy, tổng số chi phí R&D của 2.500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới trong năm 2022 đạt 1.360 tỷ USD, trong đó các doanh nghiệp Mỹ chiếm 42,1% (2) . Ba là, chú trọng phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và xây dựng chính sách đặc biệt về đổi mới sáng tạo. Trong thập niên qua, Mỹ liên tục giữ vị trí hàng đầu thế giới về năng lực đổi mới. Theo bảng xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố, năm 2024, Mỹ xếp thứ ba toàn cầu, sau Thụy Sĩ và Thụy Điển (3) . Chính sách đổi mới sáng tạo của Mỹ là một mô hình toàn diện, kết hợp giữa phát triển hạ tầng, thúc đẩy tính đa dạng, tăng cường hợp tác liên ngành và đầu tư đào tạo nguồn nhân lực. Cách tiếp cận đặc thù của Mỹ thể hiện ở một số điểm chính: 1- Phát triển hệ sinh thái đa dạng. Theo đó, Mỹ không chỉ tập trung vào các trung tâm như Thung lũng Silicon, mà còn thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại nhiều thành phố, tiểu bang, như New York, Detroit, Seattle, Denver, Houston, Arizona...; 2- Tăng cường hợp tác liên ngành; thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các trường đại học, tập đoàn công nghệ và trung tâm nghiên cứu giúp chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; 3- Đầu tư đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Hệ thống giáo dục Mỹ luôn gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, bảo đảm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, thích ứng với yêu cầu công nghệ mới; 4- Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư. Thông qua Quỹ Khoa học quốc gia, Viện Quốc gia về tiêu chuẩn và công nghệ (NIST), các quỹ đầu tư mạo hiểm…, Mỹ hỗ trợ tài chính cho các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và các nhà khoa học trẻ triển vọng. Đồng thời, áp dụng chính sách ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm khuyến khích đầu tư cho R&D; 5- Áp dụng chính sách ưu đãi đặc thù, giúp các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo phát triển mạnh. Đơn cử như, Tesla được hưởng lợi đáng kể từ khoản tín dụng thuế liên bang dành cho người tiêu dùng mua ô-tô điện, với tổng giá trị hỗ trợ ước tính khoảng 3 tỷ USD từ các cấp chính quyền kể từ khi thành lập. Trong nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống D. Trump đặc biệt chú trọng thúc đẩy quan hệ với các tập đoàn công nghệ lớn của Mỹ và những tỷ phú đứng đầu các tập đoàn này. Mối liên kết giữa giới công nghệ và chính trị gia đã trở thành yếu tố quan trọng trong quá trình hoạch định chính sách khoa học - công nghệ của Mỹ. Đáng chú ý, lĩnh vực quốc phòng đang trở thành hướng đầu tư hấp dẫn đối với các tỷ phú công nghệ và quỹ đầu tư mạo hiểm. Gần đây, Thung lũng Silicon đẩy mạnh đầu tư vào các doanh nghiệp công nghệ quốc phòng, như Anduril và Palantir - những doanh nghiệp ứng dụng AI, phân tích dữ liệu và tự động hóa để phát triển giải pháp quân sự hiện đại. Các tập đoàn công nghệ, như Google, Microsoft và Amazon, cũng đang cạnh tranh để giành hợp đồng điện toán đám mây chiến lược của Bộ Quốc phòng Mỹ, cho thấy xu hướng ngày càng sâu sắc giữa công nghệ dân sự và công nghệ quốc phòng. Bốn là, tập trung phát triển các ngành công nghệ mũi nhọn, tạo đòn bẩy nâng cao sức cạnh tranh và sức mạnh tổng hợp quốc gia. Năm 2023, Mỹ ban hành Chiến lược quốc gia về sản xuất tiên tiến, xác định 5 mục tiêu trọng tâm đến năm 2027, bao gồm (4) : phát triển sản xuất sạch, bền vững nhằm hỗ trợ quá trình khử carbon; đẩy mạnh đổi mới trong sản xuất vi điện tử và chất bán dẫn; ứng dụng công nghệ tiên tiến phục vụ kinh tế sinh học; phát triển vật liệu mới và công nghệ chế biến hiện đại; thúc đẩy sản xuất thông minh. Từ các mục tiêu trên, Mỹ xác định 18 lĩnh vực công nghệ quan trọng và mới nổi có ý nghĩa đặc biệt đối với an ninh quốc gia, bao gồm: AI; công nghệ sinh học; năng lượng sạch và lưu trữ năng lượng; bảo mật dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư và an ninh mạng; công nghệ động cơ tua-bin khí tiên tiến; máy tính hiệu năng cao; công nghệ siêu âm; các hệ thống tự động hóa cao, không người lái và robot; vật liệu kỹ thuật tiên tiến; cảm biến, quản lý dấu vết và kết nối mạng; năng lượng định hướng; công nghệ và hệ thống truyền thông, mạng tích hợp; công nghệ định vị và điều hướng; bán dẫn và vi mạch điện tử; công nghệ thông tin lượng tử và công nghệ hỗ trợ; không gian và hệ thống vũ trụ; giao diện người - máy; sản xuất tiên tiến. Năm là, đẩy mạnh cạnh tranh, phân tuyến, phân tách về khoa học - công nghệ với Trung Quốc. Trong thời gian qua, Mỹ luôn xác định Trung Quốc là đối thủ mang tính cơ cấu. Do vậy, chính quyền Tổng thống Mỹ J. Biden ưu tiên triển khai các biện pháp kiểm soát xuất khẩu, hạn chế Trung Quốc tiếp cận công nghệ cao, công nghệ nguồn và lĩnh vực hạ tầng chiến lược; đồng thời, tìm cách làm chậm quá trình phát triển các ngành công nghiệp, công nghệ mũi nhọn, giảm khả năng tự chủ khoa học - công nghệ của Trung Quốc (5) . Ngay từ nhiệm kỳ đầu của Tổng thống D. Trump, Bộ Thương mại Mỹ đã thiết lập “danh sách thực thể” nhằm ngăn chặn dòng chảy công nghệ sang Trung Quốc, đồng thời nhiều cơ quan, doanh nghiệp của Trung Quốc bị liệt kê vào “danh sách đen”. Chính quyền Tổng thống J. Biden tiếp tục kế thừa biện pháp này, thiết lập danh sách kiểm soát xuất khẩu công nghệ (D1-D3) nhằm hạn chế xuất khẩu chip AI, bán dẫn của Mỹ sang Trung Quốc và một số quốc gia khác. Bước vào nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống D. Trump, một trong những trụ cột quan trọng trong Chiến lược An ninh quốc gia của Mỹ là tăng cường các biện pháp nhằm kiềm chế ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc trong các lĩnh vực kinh tế và công nghệ . Mỹ đã triển khai một loạt chính sách toàn diện nhằm hạn chế vai trò công nghệ của Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu, với các biện pháp cụ thể, như: áp thuế cao đối với nhiều mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc; siết chặt kiểm soát xuất khẩu đối với các công nghệ nhạy cảm, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất chất bán dẫn; đồng thời, gia tăng áp lực tài chính đối với các tập đoàn công nghệ lớn của Trung Quốc, như Huawei, TikTok. Bên cạnh đó, Mỹ chủ động thúc đẩy quá trình tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu, hướng tới mục tiêu giảm thiểu sự phụ thuộc vào Trung Quốc trong các lĩnh vực chiến lược, như dược phẩm, thiết bị y tế và khoáng sản đất hiếm (6) . Quá trình này được thực hiện thông qua việc tăng cường hợp tác với các đối tác chiến lược trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, bao gồm Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia, góp phần củng cố vị thế và sức mạnh kinh tế - công nghệ của Mỹ trong bối cảnh cạnh tranh địa - chiến lược ngày càng phức tạp. Những vấn đề đặt ra đối với thế giới và Việt Nam Thứ nhất, xét trên tổng thể, mặc dù chính sách khoa học - công nghệ của Mỹ dưới thời kỳ Tổng thống D. Trump nhiệm kỳ đầu tiên có những điều chỉnh nhất định nhằm thích ứng với bối cảnh quốc tế và bảo đảm lợi ích cốt lõi của quốc gia, song có thể nhận thấy xu hướng nổi bật là chính quyền Mỹ đang từng bước xây dựng và triển khai một “đại chiến lược” khoa học - công nghệ toàn diện. Chiến lược này bao gồm một loạt biện pháp cụ thể, từ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đầu tư xây dựng hạ tầng khoa học - công nghệ, điều chỉnh chính sách thuế, tài trợ R&D, cho đến hoàn thiện các cơ chế quản lý và giám sát phù hợp với yêu cầu cạnh tranh trong kỷ nguyên đổi mới sáng tạo. Sự chuyển hướng này đánh dấu bước ngoặt đáng chú ý so với chính sách đổi mới khoa học - công nghệ mang tính tự do tương đối mà Mỹ theo đuổi từ thập niên 80 của thế kỷ XX. Theo đó, vai trò của chính phủ ngày càng được tăng cường, thể hiện rõ trong việc hoạch định chiến lược, điều phối nguồn lực và thúc đẩy phát triển các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, như AI, lượng tử, bán dẫn và năng lượng mới. Mục tiêu xuyên suốt của chiến lược này là duy trì và củng cố vai trò dẫn dắt toàn cầu của Mỹ trong lĩnh vực khoa học - công nghệ chiến lược, đồng thời thiết lập lợi thế cạnh tranh bền vững trước sự vươn lên mạnh mẽ của các quốc gia khác, nhất là Trung Quốc. Thứ hai, trong nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống D. Trump tiếp tục kiên định theo đuổi mục tiêu “đưa nước Mỹ vĩ đại trở lại”, với trọng tâm triển khai các chính sách ngắn hạn và dài hạn nhằm cấu trúc lại nền tảng sức mạnh tổng hợp quốc gia của Mỹ. Các ưu tiên chính của chính quyền Tổng thống D. Trump bao gồm phục hồi và phát triển các ngành sản xuất có giá trị chiến lược trong nước; thúc đẩy tạo việc làm cho người dân Mỹ; điều chỉnh chính sách thương mại nhằm giảm thâm hụt và nâng cao năng lực cạnh tranh; đồng thời, củng cố vai trò dẫn dắt toàn cầu của Mỹ trong các chuỗi giá trị chiến lược. Trên cơ sở đó, chính quyền Mỹ đánh giá rằng nhiều thách thức đang nổi lên ngày càng nghiêm trọng, đòi hỏi phải có những hành động quyết liệt và kịp thời. Đáng chú ý là tình trạng thâm hụt thương mại kéo dài (kể cả với các nước đồng minh của Mỹ), sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng bên ngoài trong các ngành thiết yếu, cùng với việc Trung Quốc khai thác hiệu quả hệ thống thương mại và công nghệ quốc tế để gia tăng ảnh hưởng. Các yếu tố này được đánh giá đang gây sức ép trực tiếp lên an ninh kinh tế và vị thế địa - chiến lược của Mỹ, qua đó thúc đẩy chính quyền đương nhiệm ưu tiên biện pháp nâng cao tính tự chủ về kinh tế và giảm thiểu rủi ro từ bên ngoài. Dưới thời chính quyền Tổng thống D. Trump đến nay, khoa học - công nghệ tiếp tục được Mỹ xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược nhằm nâng cao tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh, đồng thời củng cố vị thế cường quốc kinh tế hàng đầu và vai trò lãnh đạo toàn cầu_Ảnh: vneconomy.vn Trong bối cảnh đó, khoa học - công nghệ được xem là một trụ cột trọng yếu, vừa là động lực thúc đẩy tăng trưởng, vừa là lĩnh vực cần được bảo vệ và đầu tư có chọn lọc. Các chính sách được triển khai tập trung vào lĩnh vực công nghệ mới, như an ninh mạng, tiền điện tử, tài sản số, cùng với các công nghệ tiên tiến, bao gồm AI, chuỗi khối, điện toán đám mây, máy tính lượng tử và công nghệ sinh học. Tuy nhiên, việc cắt giảm ngân sách nghiên cứu, tinh giản đội ngũ khoa học và điều chỉnh một số chuẩn mực kỹ thuật đã tạo ra những ý kiến trái chiều trong giới học thuật, làm dấy lên quan ngại về khả năng duy trì vị thế cạnh tranh của Mỹ trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo mang tính đột phá. Thứ ba, mặc dù tiếp tục theo đuổi mục tiêu đầy tham vọng là duy trì vai trò dẫn đầu toàn cầu trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, song trên thực tế, Mỹ đang đối mặt với thách thức ngày càng lớn từ Trung Quốc - đối thủ được xác định là “cạnh tranh mang tính hệ thống”. Khoảng cách về sức mạnh công nghệ giữa hai bên đang dần bị thu hẹp; thậm chí, trong một số lĩnh vực, Trung Quốc đã vươn lên dẫn trước. Đơn cử như: Về số lượng bằng sáng chế (7) : Theo số liệu thống kê của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) năm 2024, trong giai đoạn 2014 - 2023, trên toàn cầu có hơn 50.000 hồ sơ xin cấp bằng sáng chế liên quan đến công nghệ AI tạo sinh. Tính riêng năm 2023, số lượng hồ sơ đăng ký chiếm tới 1/4 tổng số lượng hồ sơ của cả giai đoạn 2014 - 2023. Trung Quốc dẫn đầu với hơn 38.000 hồ sơ đăng ký. Trước đó, Mỹ từng giữ vị trí số một thế giới về số lượng bằng sáng chế cấp hằng năm, cho đến khi Trung Quốc lần đầu tiên vượt qua Mỹ năm 2019. Trong vòng 20 năm (2000 - 2020), tốc độ tăng trưởng đơn đăng ký cấp bằng sáng chế của Trung Quốc đã tăng gấp 200 lần. Về năng lực dẫn dắt trong nhiều ngành công nghệ chiến lược (8) : Năm 2023, Viện Chính sách chiến lược Australia (ASPI) công bố danh sách quốc gia dẫn đầu lĩnh vực công nghệ, đồng thời cảnh báo về mức độ rủi ro có thể dẫn đến độc quyền công nghệ. Trong 43 lĩnh vực được khảo sát, Trung Quốc giữ vị trí dẫn đầu trong toàn bộ 12 ngành thuộc lĩnh vực chế tạo và vật liệu tiên tiến (vật liệu nano, vật liệu thông minh...); 7/10 ngành trong nhóm AI, điện toán và truyền thông; toàn bộ 8 ngành liên quan đến năng lượng và môi trường; 3/4 ngành thuộc công nghệ lượng tử; 2/3 ngành thuộc công nghệ sinh học, công nghệ gene và vaccine; đồng thời, giữ vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực cảm biến và điều hướng. Về mức độ gia tăng chi tiêu cho R&D (9) : Với đà tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, trong những năm gần đây, đầu tư của Trung Quốc cho R&D không ngừng gia tăng. Năm 2024, Trung Quốc dành khoảng 52 tỷ USD cho R&D, tăng 10% so với năm 2023 - mức tăng theo tỷ lệ % cao nhất trong tất cả lĩnh vực, kể cả so với chi tiêu quốc phòng. Ngược lại, Mỹ đã cắt giảm 2,7% tổng số vốn đầu tư cho R&D trong năm 2024. Đáng chú ý, chi tiêu cho nghiên cứu ngoài lĩnh vực quốc phòng giảm sâu tới 11,3%; ngân sách cấp cho Quỹ Khoa học quốc gia (NSF) cũng bị điều chỉnh giảm 8%. Trong khi vào năm 1964 - thời kỳ đỉnh cao của cuộc chạy đua vào không gian - chi tiêu R&D của Mỹ đạt 1,9% tổng sản phẩm nội địa (GDP), thì hiện nay con số này đã giảm xuống dưới 0,7%. Xét trên bình diện toàn cầu, trong giai đoạn 2010 - 2019, tỷ trọng chi tiêu R&D của Mỹ trong tổng số chi tiêu nghiên cứu toàn cầu đã giảm từ 29% xuống còn 27%, trong khi tỷ trọng của Trung Quốc tăng từ 15% lên 22%, cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt về năng lực đầu tư và phát triển khoa học - công nghệ. Thứ tư, trong thời gian tới, Mỹ sẽ tiếp tục triển khai chính sách cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, tập trung vào ba nội dung chính: giảm thiểu nguy cơ doanh nghiệp Mỹ gặp phải rào cản mang tính phân biệt trong lĩnh vực này; duy trì chính sách kiểm soát xuất khẩu đối với một số doanh nghiệp Trung Quốc; củng cố vị thế dẫn đầu của Mỹ trong các ngành công nghệ then chốt. Trong bối cảnh đó, công nghệ tiếp tục được dự báo là một trong những mặt trận cạnh tranh chủ yếu giữa hai nền kinh tế hàng đầu thế giới, ít nhất là trong ngắn hạn. Hình thức cạnh tranh đang có xu hướng dịch chuyển từ đối đầu trực tiếp sang các biện pháp gián tiếp thông qua việc mở rộng liên kết, thiết lập chuẩn mực quốc tế và nâng cao năng lực nội tại. Tuy nhiên, một thách thức lớn mà Mỹ đang phải đối mặt là sự giằng co giữa xu hướng phân tách, định tuyến lại chuỗi cung ứng công nghệ với Trung Quốc và các đối thủ chiến lược, với thực tế khó có thể tách rời trong một hệ sinh thái kinh tế toàn cầu đang ngày càng phụ thuộc lẫn nhau. Chẳng hạn, khu vực Đài Loan (Trung Quốc) hiện nay chiếm tỷ trọng khá lớn trong nguồn cung chất bán dẫn cao cấp toàn cầu. Bất kỳ bất ổn nào xảy ra tại khu vực này đều có thể tác động trực tiếp đến các ngành công nghiệp mũi nhọn không chỉ của Mỹ, mà còn của nhiều quốc gia khác. Thứ năm, chính sách và xu hướng tập hợp lực lượng của Mỹ trong lĩnh vực khoa học - công nghệ đang đặt ra những cơ hội và thách thức đan xen đối với Việt Nam. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, đã xác định rõ định hướng: “Tập trung đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với các quốc gia có trình độ khoa học và công nghệ, chuyển đổi số phát triển, nhất là các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, bán dẫn, năng lượng nguyên tử và các công nghệ chiến lược khác. Có chính sách mua, chuyển giao công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam” (10) . Tháng 9-2023, Tuyên bố chung nâng cấp quan hệ hai nước lên đối tác chiến lược toàn diện, xác định: “ Việt Nam và Hoa Kỳ quyết định đẩy mạnh hợp tác về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực số, coi đây là đột phá mới của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” (11) . Trên tinh thần đó, Việt Nam cần tích cực, chủ động phát triển quan hệ hợp tác về khoa học - công nghệ với Mỹ để đẩy mạnh tiềm lực khoa học - công nghệ, sức mạnh đổi mới sáng tạo quốc gia, trên tinh thần bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với lợi ích đất nước và luật pháp quốc tế. Đồng thời, có chủ trương, đối sách phù hợp để vận động Mỹ đưa Việt Nam ra khỏi Danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược (D1-D3); có chính sách tổng thể về tiếp cận, tranh thủ thu hút, chuyển giao công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ lưỡng dụng từ Mỹ và các nước có trình độ tiên tiến trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, an ninh kinh tế, an ninh công nghệ, không bị cuốn vào các tập hợp lực lượng mang tính đối kháng, loại trừ lẫn nhau về khoa học - công nghệ./. -------------------------- (1) Xem: “Four-year review of actions taken in the section 301 investigation: China’s acts, policies, and practices related to technology transfer, intellectual property, and innovation” (Tạm dịch: Rà soát 4 năm thực hiện Điều tra 301: Các hành vi, chính sách và biện pháp của Trung Quốc liên quan đến chuyến giao công nghệ, sở hữu trí tuệ và đổi mớí sáng tạo), Office of the United States trade representative Executive office of the president, ngày 14-5-2024, https://ustr.gov/sites/default/files/USTR%20Report%20Four%20Year%20Review%20of%20China%20Tech%20Transfer%20Section%20301.pdf (2) Xem: “Trung Quốc đẩy mạnh chiến lược đầu tư cho R&D”, Tạp chí Kinh tế Sài Gòn điện tử, ngày 6-2-2024, https://thesaigontimes.vn/trung-quoc-day-manh-chien-luoc-dau-tu-cho-rd/ (3) “Global Innovation Index 2024 (GII)” (Tạm dịch: Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2024), Wipo, 2024, https://www.wipo.int/web-publications/global-innovation-index-2024/en/gii-2024-results.html (4) Xem: “National Strategy for Advanced Manufacturing” (Tạm dịch: (Chiến lược quốc gia về sản xuất tiên tiến), National Science and Technology Council, tháng 10-2022, https://www.energy.gov/sites/default/files/2024-03/National-Strategy-for-Advanced-Manufacturing-10072022.pdf; “Advanced Manufacturing: A New Narrative” (Tạm dịch: Lực lượng sản xuất mới: Một câu chuyện mới, World Economic Forum, tháng 10-2023, https://www3.weforum.org/docs/WEF_Advanced_Manufacturing_A_New_Narrative_2023.pdf (5) Trung Quốc được đánh giá là quốc gia có năng lượng vượt trội ở khâu công nghệ thấp trong chuỗi cung ứng; là nhà xuất bản ròng các thiết bị cơ bản. Tuy nhiên, Trung Quốc đang phải chịu thâm hụt thương mại lớn do là nước nhập khẩu ròng các loại chip tiên tiến, được sử dụng trong các sản phẩm tiêu dùng và thiết bị vốn. Theo tổ chức nghiên cứu Henry Jackson Society (Anh), Mỹ, Anh, Canada, Australia và New Zealand phụ thuộc chiến lược vào Trung Quốc trong 17 ngành, 184 lĩnh vực và 831 danh mục hàng hóa, trong đó Mỹ là 6 ngành, 102 lĩnh vực và 414 danh mục. Xem: James Rpgers - DR Andrew Foxall - Matthew Hendersen - Sam Armstrong: “Breaking the China supply Chain: How the ‘five eyes’ can decouple from strategic dependency” (Tạm dịch: Phá vỡ chuỗi cung ứng từ Trung Quốc: Cách thức mà liên minh “Ngũ Nhãn” có thể tách khỏi sự phụ thuộc chiến lược”, HJS, tháng 5-2020, https://henryjacksonsociety.org/wp-content/uploads/2020/05/Breaking-the-China-Chain.pdf (6) Mỹ khởi xướng Sáng kiến “Đối tác an ninh khoáng sản”, cơ chế đối thoại khoáng sản thiết yếu trong Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương vì thịnh vượng (IPEF); ký kết 3 thỏa thuận khoáng sản thiết yếu với Nhật Bản, Anh và Liên minh châu Âu (EU) (7), (8), (9) Gia Ngọc: “Cảnh báo với Mỹ: Khoa học công nghệ Trung Quốc đang tiến nhanh hơn bao giờ hết”, Hồ sơ Sự kiện điện tử, 2025, https://hssk.tapchicongsan.org.vn/bai-viet/chuyen-sau/canh-bao-voi-my-khoa-hoc-cong-nghe-trung-quoc-dang-tien-nhanh-hon-bao-gio-het-post1462.html (10) Xem: “Toàn văn Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 12-6-2025, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm (11) Xem: “Toàn văn Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ lên Đối tác chiến lược toàn diện”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 11-9-2023, https://baochinhphu.vn/toan-van-tuyen-bo-chung-ve-nang-cap-quan-he-viet-nam-hoa-ky-len-doi-tac-chien-luoc-toan-dien-102230911170243626.htm
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/1227402/doi-ngoai-nhan-dan-viet-nam---an-do--%E2%80%9Cdong-luc-mem%E2%80%9D-cho-hop-tac-chien-luoc-trong-giai-doan-tai-dinh-hinh-dia---chinh-tri-toan-cau.aspx
Đối ngoại nhân dân Việt Nam - Ấn Độ: “Động lực mềm” cho hợp tác chiến lược trong giai đoạn tái định hình địa - chính trị toàn cầu
16-03-2026
Đối ngoại nhân dân: "Động lực mềm" cho hợp tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ
Đối ngoại nhân dân: "Động lực mềm" cho hợp tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ Đối ngoại nhân dân (hay còn gọi là ngoại giao kênh 2) là một kênh ngoại giao ngoài nhà nước, được triển khai thông qua các tổ chức xã hội, đoàn thể chính trị - xã hội, giới học giả, thanh niên, tôn giáo, truyền thông và cá nhân có ảnh hưởng. Khác với ngoại giao nhà nước (ngoại giao kênh 1) vốn mang tính chính thức và do Chính phủ trực tiếp thực hiện, đối ngoại nhân dân nhấn mạnh sự kết nối từ dưới lên nhằm tạo dựng lòng tin, hiểu biết và sự đồng thuận xã hội giữa các quốc gia. Đối ngoại nhân dân là một hình thức đặc sắc của nền ngoại giao Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức và lãnh đạo ngay từ những ngày đầu cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân bao gồm các quan điểm lớn về lợi ích quốc gia - dân tộc, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, về độc lập, tự chủ, tự cường gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế, mở rộng quan hệ đối ngoại, “thêm bạn, bớt thù”, “ngoại giao tâm công”... (1) . Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (2) , vì vậy Người đã đặt nền móng, lãnh đạo và trực tiếp triển khai đối ngoại nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru, hai nhà lãnh đạo đặt nền móng cho quan hệ Việt Nam-Ấn Độ_Ảnh: TTXVN Trong bối cảnh toàn cầu hóa và số hóa hiện nay, đối ngoại nhân dân không chỉ là một “phụ trợ” cho ngoại giao nhà nước, mà còn ngày càng trở thành một “trụ cột mềm” trong tổng thể chiến lược đối ngoại của nhiều quốc gia, đặc biệt tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nơi văn hóa, tôn giáo và bản sắc dân tộc đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế. Đối ngoại nhân dân chính là một hình thức vận dụng “quyền lực mềm”, thông qua việc lan tỏa giá trị, thúc đẩy giao lưu văn hóa - học thuật, xây dựng lòng tin từ cộng đồng dân cư, góp phần tạo nên hình ảnh tích cực và tăng cường vị thế quốc tế của quốc gia. Trong bối cảnh chuyển dịch địa - chính trị, quyền lực mềm ngày càng được xem là công cụ chiến lược hỗ trợ mục tiêu lâu dài của chính sách đối ngoại. Khái niệm “quyền lực mềm” (soft power) được Giáo sư Joseph S. Nye định nghĩa là “khả năng đạt được kết quả mong muốn thông qua sự hấp dẫn thay vì cưỡng ép hay mua chuộc” (3) . Nói cách khác, đây là hình thức quyền lực mà trong đó, một quốc gia có thể gây ảnh hưởng lên hành vi và lựa chọn của quốc gia khác bằng việc tạo dựng hình ảnh tích cực, truyền cảm hứng và thiết lập lòng tin, thông qua ba nguồn lực chính: văn hóa, giá trị chính trị và chính sách đối ngoại có tính chính danh. Trong khi đó, thuật ngữ “động lực mềm” không phải là một khái niệm học thuật có tính cố định như “quyền lực mềm”, mà được sử dụng với các cách diễn đạt linh hoạt như “yếu tố mềm”, “công cụ mềm”. Trong phân tích chiến lược, thuật ngữ này được dùng để chỉ những yếu tố phi vật chất có khả năng thúc đẩy, khơi gợi hoặc làm gia tăng hiệu quả phát huy quyền lực mềm của một quốc gia trên trường quốc tế. Nếu quyền lực mềm là khả năng gây ảnh hưởng bằng sức hấp dẫn, thì động lực mềm được hiểu là yếu tố hay cơ chế tạo nên quyền lực mềm, đồng thời đóng vai trò tăng cường, củng cố và duy trì sức hấp dẫn đó. Nói cách khác, động lực mềm là “động cơ vận hành” phía sau quyền lực mềm. Trong bối cảnh này, đối ngoại nhân dân - với các hoạt động giao lưu văn hóa, trao đổi học thuật, kết nối xã hội dân sự, truyền thông nhân dân - chính là một động lực mềm chủ chốt, giúp hiện thực hóa quyền lực mềm trên thực tế. Một số yếu tố cấu thành “quyền lực mềm” bao gồm: 1- Văn hóa là phương tiện thể hiện bản sắc, giá trị quốc gia. Văn hóa truyền thống, nghệ thuật, ẩm thực, điện ảnh, âm nhạc, tôn giáo… đều có thể trở thành công cụ ngoại giao mềm (4) ; 2- Giáo dục và học thuật, bao gồm các chương trình trao đổi học giả, học bổng, hợp tác nghiên cứu góp phần hình thành thế hệ lãnh đạo và trí thức có thiện cảm với quốc gia đối tác. Đây là một trụ cột quan trọng trong đối ngoại nhân dân; 3- Ngoại giao công chúng và truyền thông với việc tiếp cận cộng đồng quốc tế thông qua báo chí, mạng xã hội, các chiến dịch quảng bá hình ảnh quốc gia giúp nâng cao uy tín và tạo sức hút mềm; 4- Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ, đây là kênh độc lập có khả năng xây dựng mạng lưới liên kết quốc tế linh hoạt và dễ tiếp cận hơn kênh ngoại giao chính thức. Ở cấp độ chiến lược, “động lực mềm” giúp các quốc gia thích ứng với môi trường cạnh tranh đa cực, nhất là trong bối cảnh Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nơi giao thoa lợi ích và ảnh hưởng giữa các cường quốc. Giai đoạn hiện nay chứng kiến những chuyển dịch sâu sắc của thế giới như sự trỗi dậy của các cường quốc, cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc, xung đột địa - chính trị tại một số khu vực, xu hướng phi toàn cầu hóa và chủ nghĩa dân tộc,… Những yếu tố này làm thay đổi môi trường chiến lược của Việt Nam và Ấn Độ, đặt ra yêu cầu tăng cường các trụ cột hợp tác theo hướng mềm, linh hoạt và bền vững hơn. Đồng thời, sự biến động này tác động trực tiếp đến các mô hình quan hệ quốc tế. Trong bối cảnh cạnh tranh quyền lực gia tăng, các quốc gia phải làm chủ chiến lược của mình để bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì ảnh hưởng. Những thay đổi này có thể dẫn đến liên minh chiến lược mới hoặc làm nảy sinh mâu thuẫn mới, nhất là tại khu vực chiến lược như Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nơi các nước lớn như Trung Quốc, Mỹ đang có sự cạnh tranh chiến lược gay gắt. Đối với Việt Nam và Ấn Độ, việc triển khai các yếu tố của “sức mạnh mềm” - đặc biệt là thông qua kênh đối ngoại nhân dân - là lựa chọn chiến lược nhằm tăng cường độ tin cậy, thúc đẩy đối tác toàn diện và duy trì vị thế ổn định trong trật tự khu vực đang chuyển đổi. Đối ngoại nhân dân Việt Nam - Ấn Độ: “Động lực mềm” trong quan hệ song phương Trong hơn nửa thế kỷ qua, quan hệ đối ngoại nhân dân giữa Việt Nam và Ấn Độ đã không ngừng được củng cố và phát triển, trở thành một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ song phương. Việt Nam và Ấn Độ đều xác định tầm quan trọng của việc nâng cao vai trò của kênh đối ngoại nhân dân như một phần trong chiến lược mở rộng ảnh hưởng mềm, tạo dựng lòng tin chiến lược và tăng cường hiểu biết giữa các tầng lớp nhân dân. Các sáng kiến như giao lưu thanh niên, hợp tác giáo dục - đào tạo, kết nối học giả, tổ chức các ngày văn hóa Việt Nam tại Ấn Độ và ngược lại, cũng như diễn đàn nhân dân song phương được thúc đẩy, phản ánh rõ chủ trương thúc đẩy đối ngoại nhân dân như một kênh bổ trợ chiến lược trong bối cảnh khu vực đang biến động nhanh chóng. Khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đang trở thành trung tâm chiến lược của thế giới với nhiều lợi ích đan xen giữa các cường quốc. Trong bối cảnh đó, việc phát triển đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước không chỉ mang ý nghĩa song phương, mà còn góp phần duy trì cân bằng chiến lược khu vực. Đối ngoại nhân dân đóng vai trò làm sâu sắc hơn sự gắn bó giữa hai quốc gia trên nền tảng lòng tin, hiểu biết và chia sẻ giá trị. Trên nền tảng truyền thống bền chặt, bắt nguồn từ tình hữu nghị giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru, được tiếp nối bởi mối quan hệ gắn bó giữa các tổ chức nhân dân hai nước trong suốt chiều dài lịch sử, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ (nâng cấp từ năm 2016), hoạt động đối ngoại nhân dân song phương đã có những bước tiến đáng ghi nhận. Trên phương diện thể chế , Việt Nam và Ấn Độ đã không ngừng mở rộng các kênh hợp tác nhân dân thông qua các cơ chế chính thức và không chính thức. Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO) và Hội hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ giữ vai trò nòng cốt trong thúc đẩy giao lưu nhân dân giữa hai nước, thông qua các hoạt động như trao đổi đoàn, hội thảo chuyên đề, triển lãm văn hóa,... Hai tổ chức này đã thiết lập và triển khai nhiều chương trình hợp tác với các đối tác Ấn Độ như Hội đồng văn hóa quan hệ Ấn Độ (ICCR), Tổ chức hòa bình và đoàn kết toàn Ấn Độ (All India Peace and Solidarity Organization), Hội hữu nghị và hợp tác văn hóa Ấn Độ (Indian Society for Cultural Cooperation and Friendship - ISCUF), Ủy ban đoàn kết Ấn Độ - Việt Nam (IVSC) và các tổ chức xã hội - văn hóa khác của Ấn Độ. Thông qua các cơ chế hợp tác đa dạng, nhiều hoạt động giao lưu văn hóa, hội thảo học thuật, kết nối doanh nghiệp và chương trình trao đổi sinh viên giữa hai nước đã được triển khai hiệu quả, góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau và củng cố nền tảng quan hệ bền vững. Không chỉ vậy, việc tăng cường kết nối nhân dân và giao lưu văn hóa là nội dung được đề cập trong các cuộc hội đàm cấp cao, thể hiện cam kết chung của lãnh đạo hai nước đối với việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ. Tháng 11-2018, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam, Tổng thống Ấn Độ Ram Nath Kovind đã khẳng định trong bài phát biểu tại Quốc hội Việt Nam: “Mạng lưới giao lưu nhân dân giữa Việt Nam và Ấn Độ là nền tảng và là tiền đề của quan hệ đối tác của chúng ta” (5) . H ợp tác văn hóa giữa Việt Nam và Ấn Độ là một yếu tố then chốt trong đối ngoại nhân dân của hai nước. Các chương trình giao lưu văn hóa, nhất là trong lĩnh vực nghệ thuật, âm nhạc, điện ảnh, không chỉ giúp thắt chặt tình hữu nghị, mà còn đóng góp vào việc lan tỏa giá trị văn hóa của mỗi quốc gia. Đặc biệt, Ấn Độ với nền văn hóa lâu đời đã trở thành đối tác quan trọng trong việc trao đổi các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại với Việt Nam. Năm 2022, nhân kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, lãnh đạo hai nước có các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc để thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ. Hai nước xúc tiến phối hợp tổ chức “Tuần văn hóa Việt Nam tại Ấn Độ” và “Tuần văn hóa Ấn Độ tại Việt Nam”, qua đó tăng cường thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực khảo cổ học, trùng tu, phục chế di sản văn hóa; hợp tác trong lĩnh vực điện ảnh. Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, chương trình trao đổi học giả và học bổng là kênh quan trọng để nâng cao hiểu biết giữa các tầng lớp trí thức. Các dự án hợp tác nghiên cứu giữa các trường đại học và viện nghiên cứu của hai nước mở ra cơ hội hợp tác khoa học và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực như công nghệ thông tin, nông nghiệp, y tế. Việt Nam là một trong những nước nhận được học bổng nhiều nhất của Chính phủ Ấn Độ thông qua Chương trình hợp tác kinh tế kỹ thuật (ITEC) và các chương trình học bổng dành cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh của Hội đồng quan hệ văn hóa Ấn Độ (ICCR), học bổng trong Khuôn khổ Ấn Độ - ASEAN (ASEAN - India Framework) và học bổng thuộc Kế hoạch Colombo (Colombo Plan). Có thể nói, trong thời gian qua, đối ngoại nhân dân đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng và củng cố lòng tin giữa hai quốc gia. Thông qua giao lưu văn hóa, hợp tác học thuật, trao đổi thanh niên và hoạt động đoàn thể, nhân dân hai nước có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về lịch sử, hệ giá trị, lợi ích và mục tiêu chiến lược của nhau. Chính nhận thức này góp phần tăng cường lòng tin và sự ủng hộ trong dư luận - yếu tố then chốt trong môi trường chính trị - ngoại giao đang ngày càng nhiều biến động. Không giống các thỏa thuận chính trị hay thương mại vốn có thể bị điều chỉnh bởi sự thay đổi của môi trường quốc tế, đối ngoại nhân dân góp phần hình thành các kết nối “mềm”, có tính chất ổn định lâu dài nhờ được xây dựng từ sự gắn kết về tình cảm, lịch sử và giao lưu trực tiếp giữa các cộng đồng xã hội. Những điểm tương đồng về giá trị văn hóa, đặc biệt là tinh thần yêu chuộng hòa bình, nền tảng Phật giáo là điều kiện lý tưởng để đối ngoại nhân dân phát triển thành “cầu nối chiến lược”, góp phần tăng cường sự tin cậy chính trị giữa Việt Nam và Ấn Độ. Thông qua hợp tác giữa các địa phương, trường đại học, doanh nghiệp trẻ và tổ chức xã hội, đối ngoại nhân dân góp phần hình thành các mạng lưới kết nối linh hoạt, giúp bổ sung cho các trục hợp tác kinh tế, quốc phòng, chính trị vốn đang được ưu tiên. Trong khi Ấn Độ đang nỗ lực hiện thực hóa chiến lược “Hành động hướng Đông” để gia tăng ảnh hưởng tại Đông Nam Á, thì Việt Nam cũng ngày càng tích cực tham gia các sáng kiến khu vực. Trong bối cảnh đó, đối ngoại nhân dân đóng vai trò như một kênh truyền tải thông điệp chiến lược mềm dẻo, giúp hai nước cùng lan tỏa giá trị về hòa bình, phát triển bền vững, hợp tác khu vực. Việc Việt Nam và Ấn Độ cùng đề cao chủ nghĩa đa phương, luật pháp quốc tế và tôn trọng chủ quyền là cơ sở để đối ngoại nhân dân trở thành công cụ chiến lược định hình không gian an ninh và phát triển chung, đồng thời phản ánh sự tương đồng về tầm nhìn chiến lược giữa hai quốc gia trong kỷ nguyên chuyển đổi địa - chính trị. Tuy nhiên, mặc dù đối ngoại nhân dân giữa Việt Nam và Ấn Độ có nền tảng vững chắc và tiềm năng phát triển đáng kể, song thực tế cho thấy còn tồn tại nhiều thách thức khiến cho kênh ngoại giao này chưa thực sự trở thành một “động lực mềm” với nội hàm sâu sắc, thực chất. Thứ nhất, hoạt động đối ngoại nhân dân hiện vẫn thiếu một chiến lược tổng thể cấp quốc gia và cơ chế phối hợp hiệu quả . Các hoạt động đối ngoại nhân dân hiện nay giữa hai nước chủ yếu do các tổ chức hữu nghị, hiệp hội văn hóa - học thuật đảm nhận, trong khi chưa có một chiến lược tổng thể cấp quốc gia về phát triển và khai thác hiệu quả kênh đối ngoại này. Sự thiếu thống nhất về mục tiêu, phân bổ nguồn lực và cơ chế phối hợp giữa các tổ chức nhà nước - phi nhà nước dẫn đến nhiều chương trình còn mang tính nhỏ lẻ, thiếu chiều sâu. Thứ hai, nguồn lực hạn chế và thiếu tính chuyên nghiệp. Các tổ chức đảm nhận công tác đối ngoại nhân dân thường gặp khó khăn về ngân sách, nhân lực chuyên môn, cũng như năng lực ứng dụng công nghệ số. Nhiều hoạt động mang tính hình thức, chưa thực sự gắn kết với nhu cầu thực tiễn của giới trẻ, doanh nghiệp, học giả, cộng đồng người Việt Nam ở Ấn Độ và cộng đồng người Ấn Độ ở Việt Nam. Điều này làm suy giảm tính hấp dẫn và bền vững của đối ngoại nhân dân như một công cụ sức mạnh mềm. Thứ ba, ảnh hưởng của khoảng cách văn hóa và nhận thức xã hội. Mặc dù Việt Nam và Ấn Độ đều chia sẻ giá trị lịch sử và mối quan hệ truyền thống, song nhận thức xã hội giữa hai cộng đồng dân cư vẫn còn một số hạn chế. Số lượng người dân, nhất là giới trẻ, hiểu biết sâu về văn hóa, chính trị, xã hội của nhau còn khiêm tốn. Thứ tư , tác động của bối cảnh biến động địa - chính trị khu vực và thế giới . Trước sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đối ngoại nhân dân dễ bị “chính trị hóa” hoặc rơi vào thế bị động nếu thiếu định hướng chiến lược rõ ràng. Đồng thời, sức ép cạnh tranh từ các chương trình tương tự do các nước lớn triển khai (như học bổng, viện văn hóa, trung tâm nghiên cứu) có thể làm cho các sáng kiến của Việt Nam và Ấn Độ dễ bị “lấn át” nếu không được xây dựng theo kế hoạch một cách bài bản và đầu tư có chiều sâu. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tại cuộc gặp gỡ báo chí hai nước nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ từ ngày 31-7 - 1-8-2024 theo lời mời của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi_Ảnh: TTXVN Có thể nói, nếu khắc phục được những hạn chế trên và tận dụng được các lợi thế công nghệ, xã hội và chiến lược mà bối cảnh khu vực đang mở ra, đối ngoại nhân dân Việt Nam - Ấn Độ đang đứng trước cơ hội lớn để chuyển mình từ tiềm năng sang thực chất. Một số hàm ý chính sách cho Việt Nam Trong bối cảnh thế giới ngày càng phân mảnh và cạnh tranh ảnh hưởng gia tăng, các quốc gia như Việt Nam hay cường quốc mới nổi như Ấn Độ cần chủ động định hình không gian ảnh hưởng mềm nhằm bảo vệ lợi ích chiến lược. Với vai trò là một công cụ “ngoại giao từ dưới lên”, đối ngoại nhân dân có khả năng kết nối sâu rộng với các tầng lớp xã hội, xây dựng “lực đẩy xã hội” cho quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (6) . Để tối ưu hóa tiềm năng của đối ngoại nhân dân Việt Nam - Ấn Độ trong thời gian tới, một số hàm ý chính sách được đề xuất: Một là, xây dựng chiến lược tổng thể về đối ngoại nhân dân trong quan hệ với Ấn Độ, với mục tiêu rõ ràng, phân bổ nguồn lực phù hợp và cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức nhà nước - phi nhà nước. Việt Nam cần xây dựng kế hoạch chiến lược riêng về đối ngoại nhân dân trong quan hệ với Ấn Độ, phù hợp với định hướng đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước. Chiến lược này cần xác định rõ các mục tiêu ưu tiên (như giáo dục, văn hóa, thanh niên, học thuật), lực lượng nòng cốt (VUFO, các hội hữu nghị, học viện, viện nghiên cứu) và cơ chế phối hợp giữa các bên (kênh 1 - kênh 2 - kênh 1,5). Hai là, tăng cường thể chế hóa và chuyên nghiệp hóa hoạt động đối ngoại nhân dân. Theo đó, cần củng cố vai trò của các tổ chức như Hội hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ, các trung tâm giao lưu văn hóa - giáo dục, đồng thời nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại nhân dân, đặc biệt là khả năng hoạch định, xây dựng chương trình, vận động tài trợ và hợp tác quốc tế. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu cơ chế liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức xã hội nhằm hình thành các mạng lưới đối ngoại nhân dân, giúp lan tỏa tri thức và thông điệp chính sách của Việt Nam ra khu vực Nam Á và ngược lại. Ba là, tăng cường đầu tư vào hạ tầng ngoại giao số, phát triển nền tảng trực tuyến phục vụ giao lưu nhân dân, học thuật, truyền thông và giáo dục xuyên quốc gia. Thế hệ trẻ đóng vai trò trung tâm trong việc xây dựng nền tảng quan hệ dài hạn và cũng là thế hệ có thể thích nghi nhanh chóng với những thay đổi của thời đại số. Do đó, cần phát triển các chương trình giao lưu thanh niên, học bổng liên kết, trại hè văn hóa, diễn đàn sinh viên, chương trình trao đổi giáo dục và nghiên cứu học thuật song phương giữa Việt Nam và Ấn Độ. Đồng thời, ứng dụng công nghệ số và truyền thông mới trong hoạt động đối ngoại nhân dân, như tổ chức các diễn đàn trực tuyến, sáng kiến podcast, bản tin song ngữ, triển lãm văn hóa kỹ thuật số... để tiếp cận rộng rãi và bền vững hơn đến cộng đồng hai nước. Trong kỷ nguyên công nghệ số, đối ngoại nhân dân đang chứng kiến sự thay đổi cả về phương thức lẫn không gian tác động. Việc sử dụng nền tảng trực tuyến, mạng xã hội và công nghệ truyền thông mới không chỉ giúp tiết kiệm chi phí, vượt qua rào cản địa lý, mà còn cho phép kết nối nhanh chóng, đa chiều và tương tác sâu rộng hơn giữa các cộng đồng Việt Nam - Ấn Độ. Các nền tảng số như Zoom, Facebook, YouTube, X (Twitter), Instagram… đang trở thành không gian đối ngoại nhân dân hiệu quả, đặc biệt trong lĩnh vực giao lưu văn hóa, hợp tác học thuật, diễn đàn thanh niên và khởi nghiệp. Chuyển đổi số còn mở ra khả năng xây dựng hệ sinh thái đối ngoại nhân dân số - nơi các tổ chức hữu nghị, thanh niên, học giả, doanh nghiệp nhỏ có thể chia sẻ sáng kiến, phối hợp hoạt động, xây dựng mạng lưới hợp tác bền vững thông qua nền tảng số hóa. Đây là điều kiện thuận lợi để phát huy sức mạnh mềm trong thời đại số khi hình ảnh quốc gia, giá trị văn hóa và chính sách đối ngoại có thể được lan tỏa nhanh chóng đến công chúng quốc tế. Bốn là, thúc đẩy vai trò của cộng đồng người Việt Nam tại Ấn Độ và cộng đồng người Ấn Độ tại Việt Nam như những sứ giả văn hóa và cầu nối giao lưu nhân dân. Việc xây dựng các “cầu nối mềm” thông qua bà con kiều bào Việt Nam tại Ấn Độ và cộng đồng học giả, nhà báo, doanh nhân Ấn Độ quan tâm đến Việt Nam là một kênh quan trọng để lan tỏa ảnh hưởng xã hội và văn hóa theo chiều sâu. Nhìn chung, trong kỷ nguyên biến động địa - chính trị sâu rộng hiện nay, việc mở rộng và làm sâu sắc các kênh ngoại giao, đặc biệt là đối ngoại nhân dân, trở thành một yêu cầu thiết yếu đối với cả Việt Nam và Ấn Độ nhằm củng cố quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Đối ngoại nhân dân không chỉ dừng lại ở các hoạt động giao lưu văn hóa hay trao đổi học thuật, mà còn đang trở thành động lực mềm cho quá trình hội tụ chiến lược giữa Việt Nam và Ấn Độ - hai quốc gia có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, giá trị và tầm nhìn khu vực. Với khả năng kết nối các cộng đồng xã hội, truyền bá giá trị tích cực và tạo dựng lòng tin từ dưới lên, đối ngoại nhân dân tiếp tục đóng vai trò nền tảng trong việc kiến tạo một không gian hợp tác chiến lược rộng mở, bền vững và linh hoạt giữa hai nước. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ngày càng gay gắt, Việt Nam cần nâng tầm đối ngoại nhân dân như một bộ phận cấu thành chiến lược đối ngoại tổng thể, có tầm nhìn dài hạn, gắn liền với lợi ích quốc gia - dân tộc./. -------------------------- * Bài viết là sản phẩm của nhiệm vụ cấp Bộ “Đối ngoại nhân dân giữa Việt Nam và Ấn Độ trong bối cảnh mới”, do TS Huỳnh Thanh Loan làm chủ nhiệm đề tài, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là cơ quan chủ trì nhiệm vụ (1) Nguyễn Thị Hoàng Vân: "Đối ngoại nhân dân phát huy vai trò trụ cột trong nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam", Tạp chí Cộng sản điện tử , ngày 19-5-2024, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/924502/doi-ngoai-nhan-dan-phat-huy-vai-tro-tru-cot-trong-nen-doi-ngoai%2C-ngoai-giao-viet-nam.aspx (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. 10, tr. 453 (3) Xem: Joseph S. Nye: Soft Power: The Means to Success in World Politics (Tạm dịch: Sức mạnh mềm: Phương tiện thành công trong chính trị thế giới), PublicAffairs , 2004, tr. 5 (4) Thussu Daya Kishan: Communicating India’s Soft Power: Buddha to Bollywood (Tạm dịch: Truyền tải sức mạnh mềm của Ấn Độ: Từ Đức Phật đến Bollywood), Palgrave Macmillan , 2013 (5) “Chủ tịch Quốc hội hội kiến Tổng thống Ấn Độ”, Báo Điện tử Chính phủ , ngày 20-11-20218, https://baochinhphu.vn/chu-tich-quoc-hoi-hoi-kien-tong-thong-an-do-102248107.htm (6) Kadir Jun Ayhan :“ A Typology of People-to-People Diplomacy, USC Center on Public Diplomacy” (Tạm dịch: Một loại hình ngoại giao nhân dân, Trung tâm ngoại giao công chúng USC), The Researchgate , 2020, https://www.researchgate.net/publication/340102803_A_Typology_of_People-to-People_Diplomacy
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/1227302/cung-co-su-menh-va-khang-dinh-vai-tro-cua-lien-hop-quoc-trong-the-gioi-%E2%80%9Cphan-manh%E2%80%9D.aspx
Củng cố sứ mệnh và khẳng định vai trò của Liên hợp quốc trong thế giới “phân mảnh”
17-03-2026
Hòa bình, phát triển, quyền con người - giá trị cốt lõi của Liên hợp quốc
Hòa bình, phát triển, quyền con người - giá trị cốt lõi của Liên hợp quốc Ngay từ khi thành lập (ngày 24-10-1945), Liên hợp quốc đã xác định mục tiêu cốt lõi là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế; thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, quyền dân tộc tự quyết; đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm giải quyết vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, nhân đạo; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền tự do cơ bản cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo; đồng thời, trở thành trung tâm điều hòa nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hòa bình, tiến bộ và công bằng (1) . Trên thực tế, sự ra đời của Liên hợp quốc là kết quả của quá trình thương lượng phức tạp giữa các cường quốc thắng trận sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhất là giữa Mỹ và Liên Xô. Từ Hội nghị Moscow (năm 1943), Hội nghị Tehran (năm 1943), Hội nghị Dumbarton Oaks (năm 1944) đến Hội nghị Yalta (năm 1945), các bên từng bước thống nhất “luật chơi”, xác định nội dung cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, cơ cấu tổ chức, thành phần Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, cũng như cơ chế bỏ phiếu và quyền phủ quyết của các thành viên thường trực. Kỳ họp thứ 80 của Đại hội đồng Liên hợp quốc (UNGA 80) là thời điểm quan trọng để các quốc gia tái khẳng định cam kết với chủ nghĩa đa phương, thúc đẩy cải cách thể chế toàn cầu và củng cố niềm tin vào một trật tự quốc tế dựa trên luật pháp_Ảnh: Tư liệu Trong tám thập niên phát triển, Liên hợp quốc đã trải qua cả những giai đoạn đối đầu, cạnh tranh lẫn thời kỳ thỏa hiệp, hợp tác giữa các cường quốc; đồng thời chứng kiến sự tham gia ngày càng chủ động, tích cực của các quốc gia vừa và nhỏ, đặc biệt là các nước đang phát triển. Chương trình nghị sự cùng hoạt động của các cơ quan chuyên môn liên tục được mở rộng, phản ánh lợi ích và nhu cầu đa dạng của cộng đồng thành viên. Tám mươi năm xây dựng và phát triển khẳng định những thành tựu to lớn, mang giá trị bền vững của Liên hợp quốc đối với hòa bình, hợp tác và tiến bộ toàn cầu. Về hợp tác phát triển, Liên hợp quốc vừa là nơi khởi thảo nhiều văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng, vừa là một trong những nguồn viện trợ phát triển (ODA) hàng đầu thế giới. Các Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về quyền của người khuyết tật; các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế; Công ước khung về biến đổi khí hậu; Công ước về đa dạng sinh học cùng nhiều điều ước về môi trường… đã tạo dựng khuôn khổ pháp lý nền tảng để thúc đẩy hợp tác toàn cầu và định hướng chính sách phát triển của các quốc gia. Đồng thời, các sáng kiến như Mục tiêu Thiên niên kỷ, Mục tiêu Phát triển bền vững và văn kiện “Vì tương lai” của Liên hợp quốc trở thành công cụ hữu hiệu giúp các nước đo lường và giám sát tiến độ thực hiện mục tiêu phát triển. Bên cạnh đó, Liên hợp quốc là một trong những cơ chế cung cấp và điều phối nguồn lực phát triển quan trọng, thông qua hệ thống quỹ, chương trình, tổ chức chuyên môn và định chế kinh tế - tài chính (2) . Những khoản hỗ trợ này chủ yếu dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc vay ưu đãi, có ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển, cũng như trong quá trình tái thiết sau xung đột, chuyển đổi kinh tế và ứng phó với thách thức nhân đạo. Đặc biệt, tính trung lập và uy tín của các nguồn tài trợ từ Liên hợp quốc tạo hiệu ứng lan tỏa, khuyến khích sự tham gia của các tổ chức quốc tế khác và khu vực tư nhân, từ đó gia tăng sức mạnh tổng hợp cho hợp tác phát triển. Về hòa bình - an ninh, Liên hợp quốc đã thúc đẩy tiến trình phi thực dân hóa sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đồng thời tham gia tìm kiếm giải pháp cho nhiều cuộc xung đột, giữ vai trò trung gian trong các tiến trình đàm phán hòa bình. Kể từ nghị quyết đầu tiên về năng lượng hạt nhân (3) của Đại Hội đồng Liên hợp quốc (ngày 10-1-1946), Liên hợp quốc đã xây dựng 15 công ước quốc tế về giải trừ quân bị (4) , hình thành khuôn khổ pháp lý ngăn chặn phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, góp phần hạn chế số lượng quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và thúc đẩy những bước tiến trong việc nghiêm cấm loại vũ khí này. Thông qua nhiều diễn đàn, Liên hợp quốc tiếp tục nỗ lực ngăn chặn sản xuất, sử dụng vũ khí hóa học, sinh học; hạn chế phổ biến súng nhỏ, vũ khí nhẹ (SALW) và cấm mìn sát thương. Trong tám thập niên qua, Liên hợp quốc giữ vai trò tích cực trong giải quyết xung đột và làm trung gian hòa giải, thể hiện qua cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba (năm 1962), chiến tranh Trung Đông (năm 1973), chiến tranh Iran - Iraq (năm 1988), chiến tranh Vùng Vịnh (5) . Các Tổng Thư ký Liên hợp quốc luôn thể hiện tinh thần sẵn sàng chủ động đề xuất sáng kiến hòa giải và đi đầu trong các hoạt động hỗ trợ nhân đạo (6) , góp phần mở ra cơ hội chấm dứt đối đầu, giảm thiểu tổn thất và khôi phục ổn định cho các khu vực xung đột. Đặc biệt, Liên hợp quốc khẳng định vai trò khác biệt so với nhiều tổ chức quốc tế khác khi có khả năng triển khai lực lượng gìn giữ hòa bình tại nhiều “điểm nóng” trên thế giới. Đến nay, Liên hợp quốc đã tiến hành hơn 60 hoạt động gìn giữ hòa bình, góp phần quan trọng trong lập lại hòa bình, chấm dứt xung đột và tái thiết sau xung đột tại nhiều quốc gia thành viên. Thực tiễn và nhiều nghiên cứu cho thấy, hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc là công cụ hiệu quả để củng cố an ninh toàn cầu, có tính bền vững và ít gây hệ lụy so với những biện pháp can thiệp quân sự đơn phương bên ngoài khuôn khổ Liên hợp quốc (7) . Về quyền con người, Liên hợp quốc là nơi khởi nguồn ý tưởng, xây dựng các văn kiện pháp lý quốc tế cùng những nguyên tắc, chuẩn mực quan trọng. Kể từ sau Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948, Liên hợp quốc đã thông qua hơn 80 điều ước và tuyên bố quốc tế liên quan, đồng thời không ngừng mở rộng, hoàn thiện hệ thống bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trên phạm vi toàn cầu. Hệ thống cơ chế của Liên hợp quốc về quyền con người thường xuyên được hoàn thiện và mở rộng. Bên cạnh Ủy ban 3 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc và Hội đồng Nhân quyền (tiền thân là Ủy ban Nhân quyền), còn có hàng loạt cơ chế giám sát, đưa ra khuyến nghị đối với các quốc gia. Nổi bật là Văn phòng Cao ủy Nhân quyền, khoảng 60 “thủ tục đặc biệt” (8) của Hội đồng Nhân quyền, Ủy ban Tư vấn cùng các ủy ban giám sát việc thực thi các công ước quốc tế về quyền con người. Đặc biệt, Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) được coi là điểm nhấn, tiến hành rà soát tình hình nhân quyền tại tất cả các quốc gia thành viên theo chu kỳ 4 năm, dựa trên nguyên tắc đối thoại, hợp tác, bình đẳng, khách quan, minh bạch và xây dựng, tránh đối đầu, chọn lọc hay chính trị hóa. Thông qua đối thoại, các quốc gia thành viên đưa ra khuyến nghị, còn quốc gia được rà soát tự nguyện quyết định việc chấp thuận và triển khai khuyến nghị phù hợp (9) . Nội dung về quyền con người tại Liên hợp quốc không ngừng được mở rộng. Từ quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, cùng với sự phát triển của tổ chức, các chuẩn mực mới đã liên tiếp được bổ sung. Điều này thể hiện qua các công ước quan trọng, như Công ước chống phân biệt chủng tộc, Công ước xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước về quyền trẻ em, Công ước chống tra tấn, Công ước về quyền của người lao động di trú và gia đình họ. Gần đây, Liên hợp quốc đã thông qua nhiều nghị quyết về quyền của người LGBT, quyền con người gắn với biến đổi khí hậu, đồng thời thúc đẩy xây dựng Công ước về quyền của người cao tuổi và Công ước về quyền phát triển. Những vấn đề đặt ra đối với Liên hợp quốc trong bối cảnh hiện nay Hiện nay, thế giới đang biến động nhanh theo xu thế đa cực, đa trung tâm và “phân mảnh”. Trong bối cảnh đó, Liên hợp quốc đứng trước những thách thức chưa từng có, vừa do sự điều chỉnh chính sách và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, vừa do những hạn chế tích tụ, điểm nghẽn kéo dài trong cơ chế vận hành của hệ thống. Thứ nhất, cạnh tranh và phân mảnh địa - chính trị đang kìm hãm đáng kể việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của Liên hợp quốc. Tương quan lực lượng giữa các cường quốc có sự thay đổi sâu sắc so với thời điểm Liên hợp quốc ra đời hay sau Chiến tranh lạnh. Thế giới mang tính đa cực, đa trung tâm, không còn chịu sự chi phối tuyệt đối của một hay hai cường quốc. Các tập hợp lực lượng mới tuy vẫn chịu tác động từ những nước lớn, nhưng vận động khá linh hoạt trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc và từng lĩnh vực cụ thể. Trong bối cảnh đó, luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc nhiều lần bị vi phạm, kể cả bởi chính các nước lớn. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng trên hầu hết lĩnh vực thuộc chương trình nghị sự, khiến các cơ chế của Liên hợp quốc khó đạt đồng thuận trong việc thông qua nghị quyết, tìm kiếm giải pháp đối với các cuộc xung đột, phát huy vai trò trung gian hòa giải cũng như thúc đẩy mục tiêu phát triển. Thứ hai, sự phân mảnh về kinh tế đặt ra thách thức nghiêm trọng đối với hệ thống Bretton Woods. Toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại hiện nay vấp phải lực cản lớn từ chủ nghĩa bảo hộ, các chính sách thương mại đơn phương, xu hướng dân túy và chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Cuộc cạnh tranh thương mại giữa các nước lớn, sự gia tăng thỏa thuận song phương thay vì thông qua Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), cùng với những đứt gãy trong chuỗi cung ứng toàn cầu, đã phản ánh rõ những chuyển dịch mạnh mẽ trong trật tự kinh tế - thương mại quốc tế. Điều đó đặt ra thách thức không nhỏ đối với vai trò của Liên hợp quốc, WTO và các tổ chức chuyên môn trong việc thúc đẩy quản trị kinh tế toàn cầu, duy trì một môi trường thương mại công bằng, ổn định và bền vững. Thứ ba, thế giới đang phải đối diện với nhiều vấn đề toàn cầu phức tạp, đòi hỏi cách tiếp cận mới, hiệu quả hơn. Các thách thức như biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, dịch bệnh, thiên tai, khủng hoảng kinh tế, tội phạm mạng, tội phạm công nghệ hay sự xuất hiện của các công nghệ mới nổi… đều cần đến sự phản ứng nhanh nhạy và hiệu quả từ Liên hợp quốc. Tuy nhiên, bộ máy của Liên hợp quốc được cho là đang bộc lộ không ít hạn chế, chậm thích ứng trước tình hình mới. Trong những năm qua, Liên hợp quốc đã tiến hành nhiều nỗ lực cải tổ, song kết quả còn khiêm tốn. Cải tổ Đại Hội đồng Liên hợp quốc và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc gần như rơi vào bế tắc; cải tổ hệ thống phát triển với sáng kiến “Thống nhất hành động” chưa đạt kỳ vọng. Hiện nay, Liên hợp quốc đang thúc đẩy Sáng kiến “UN80” trong bối cảnh khủng hoảng tài chính chưa từng có, buộc nhiều cơ quan và Ban Thư ký Liên hợp quốc phải cắt giảm nhân sự, điều chuyển cán bộ tới các nước đang phát triển, thu hẹp hoạt động. Theo giới chuyên gia, điều này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Liên hợp quốc trong thời gian tới. Thứ tư, Liên hợp quốc ngày càng đứng trước sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các cơ chế hợp tác đa phương khác trong quản trị toàn cầu. Những cơ chế mới, với hình thức vận hành linh hoạt, sự tham gia của nhiều chủ thể và nguồn lực đa dạng, đang từng bước mở rộng ảnh hưởng. Trong khi đó, bộ máy Liên hợp quốc với quy mô lớn thường xuyên gặp khó khăn về nguồn lực để triển khai các chương trình phát triển hay hoạt động gìn giữ hòa bình, đồng thời phải dành một phần đáng kể kinh phí cho vận hành. Ngược lại, các cơ chế tiểu đa phương, khu vực và liên khu vực theo lĩnh vực lại huy động được nhiều nguồn lực từ khu vực tư nhân và các nhà tài trợ, qua đó thực hiện hiệu quả những nhiệm vụ vốn trước đây chủ yếu do Liên hợp quốc đảm trách. Phát huy vai trò trung tâm của Liên hợp quốc trong quản trị toàn cầu Mặc dù đứng trước không ít thách thức, Liên hợp quốc vẫn hội tụ những yếu tố cần thiết để tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm trong quản trị toàn cầu. Một là, trong khi chủ nghĩa bảo hộ và dân túy đang có xu hướng gia tăng ở một số quốc gia, mở cửa, hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa vẫn là xu thế lớn của thời đại. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ tiếp tục thúc đẩy xu thế này, thông qua việc hiện đại hóa hạ tầng, mở rộng các phương thức kết nối giữa quốc gia, nền kinh tế, doanh nghiệp và cá nhân. Cơ hội tiếp cận thông tin, tri thức ngày càng rộng mở, vượt qua mọi ranh giới địa lý. Công nghệ thông tin, internet và các công nghệ mới vừa là động lực của toàn cầu hóa, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản trị toàn cầu. Trong bối cảnh đó, Liên hợp quốc vẫn giữ vai trò then chốt, với tư cách là cơ chế trung tâm trong quản trị toàn cầu. Hai là, trong bối cảnh thế giới biến động mạnh mẽ, Liên hợp quốc vẫn khẳng định vị thế là cơ chế quan trọng để các quốc gia bảo đảm lợi ích và thực thi chính sách đối ngoại. Nhiều quốc gia xem Liên hợp quốc là diễn đàn đa phương quốc tế hàng đầu để tham gia định hình khuôn khổ, “luật chơi” chung và thúc đẩy hợp tác đa phương trong giải quyết thách thức toàn cầu. Các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và hệ thống luật pháp quốc tế tiếp tục là nền tảng điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, cũng như giữa quốc gia với các chủ thể phi nhà nước. Đối với các nước lớn, Liên hợp quốc và cơ chế hợp tác đa phương là kênh quan trọng để mở rộng ảnh hưởng, đồng thời phát huy “sức mạnh mềm” bổ trợ cho “sức mạnh cứng”. Đối với các quốc gia vừa và nhỏ, Liên hợp quốc và các cơ chế hợp tác đa phương là diễn đàn để khẳng định tiếng nói, nâng cao vị thế, kiềm chế xu hướng chính trị cường quyền, đồng thời huy động nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Quân nhân bệnh viện dã chiến trồng cây cùng người dân bản địa tại Phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc ở Nam Sudan_Ảnh: TTXVN Ba là , mặc dù còn nhiều khó khăn, Liên hợp quốc vẫn là cơ chế có ưu thế vượt trội trong quản trị toàn cầu. Liên hợp quốc sở hữu hệ thống cơ quan bao quát hầu hết lĩnh vực, từ chính trị, hòa bình, an ninh, kinh tế, xã hội, đến quyền con người, nhân đạo và pháp lý quốc tế. Song song với đó là mạng lưới tổ chức chuyên môn về công nghệ, thông tin, lao động, môi trường, văn hóa, giáo dục, phụ nữ, trẻ em, dân số, di cư, phòng, chống tội phạm… Đặc biệt, với các phái bộ gìn giữ hòa bình cùng sự hiện diện tại nhiều khu vực và quốc gia, Liên hợp quốc có khả năng trực tiếp tham gia các hoạt động nhân đạo, duy trì hòa bình và hỗ trợ tái thiết hậu xung đột khi được giao phó; qua đó, giữ vững vị trí trung tâm trong hệ thống hợp tác đa phương toàn cầu. Các cơ chế hợp tác đa phương khu vực và quốc tế khác, mặc dù xuất hiện ngày càng nhiều và có ưu thế linh hoạt, song chỉ có thể đảm nhận vai trò bổ trợ, phát huy giá trị trong những lĩnh vực chuyên biệt. Bốn là, Liên hợp quốc đã khẳng định được vai trò, vị thế với bộ máy ổn định, uy tín và tính trung lập tương đối, qua đó nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ các quốc gia, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp và khu vực phi chính phủ. Dù còn bộc lộ không ít khiếm khuyết và quá trình cải tổ chưa đạt kết quả như mong muốn, nhưng trước xu thế vận động của tình hình thế giới và sức ép từ sự điều chỉnh chính sách của các nước lớn, tiến trình cải tổ Liên hợp quốc sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ hơn trong thời gian tới. Kết quả cải tổ sẽ góp phần giúp Liên hợp quốc duy trì vai trò, vị thế trung tâm, đặc biệt trong xây dựng khuôn khổ và luật lệ chung, tạo nền tảng cho quản trị toàn cầu cũng như phối hợp hành động ứng phó thách thức xuyên quốc gia. Các cơ chế hợp tác đa phương hay tiểu đa phương, dù có thể phát huy hiệu quả ở phạm vi chuyên ngành, khu vực hoặc liên khu vực, song không thể thay thế Liên hợp quốc. Thay vào đó, Liên hợp quốc và các cơ chế này sẽ bổ trợ cho nhau, qua đó thúc đẩy hợp tác và điều hòa những khác biệt trong vấn đề toàn cầu. Trải qua tám thập niên phát triển, Liên hợp quốc đã khẳng định uy tín và khả năng tập hợp nỗ lực của các quốc gia trong việc xây dựng các khuôn khổ và chuẩn mực chung. Trong tương lai, dù cục diện quốc tế có thể biến đổi, Liên hợp quốc vẫn sẽ tiếp tục là cơ chế quan trọng hàng đầu trong việc hình thành và củng cố luật pháp quốc tế, các khuôn khổ, chuẩn mực điều chỉnh quan hệ toàn cầu cũng như ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống. Đồng thời, Liên hợp quốc có khả năng đi đầu trong xây dựng các khuôn khổ toàn cầu đối với những vấn đề mới nổi và các công nghệ mới, điển hình như quá trình định hình các quy tắc về trí tuệ nhân tạo (AI) và nhiều công nghệ tiên tiến khác hiện nay. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, vai trò của Liên hợp quốc trong kiểm soát quan hệ giữa các cường quốc có thể chỉ ở mức hạn chế. Tuy nhiên, với “quyền lực tập hợp”, Liên hợp quốc vẫn là diễn đàn quan trọng để thúc đẩy thảo luận giải pháp hòa bình, ngăn ngừa xung đột và kiềm chế leo thang căng thẳng; đồng thời, tiếp tục giữ vị trí không thể thiếu trong kiểm soát xung đột, gìn giữ hòa bình và triển khai hỗ trợ nhân đạo cho dân thường chịu ảnh hưởng của chiến tranh, xung đột. Trong những lĩnh vực then chốt, không một tổ chức quốc tế hay phi chính phủ nào có đủ khả năng và uy tín như Liên hợp quốc. Các khu vực đang đối mặt với nạn đói, xung đột vẫn cần đến sự hiện diện kịp thời, hiệu quả của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) hay các lực lượng gìn giữ hòa bình. Tuy nhiên, đối với một số vấn đề chuyên sâu hoặc đòi hỏi phản ứng nhanh hơn, các cơ chế đa phương nhỏ và tập hợp lực lượng linh hoạt có thể phát huy vai trò bổ trợ, vừa khắc phục những hạn chế của Liên hợp quốc, vừa góp phần hình thành các phương thức và khuôn khổ mới cho quản trị toàn cầu. Liên hợp quốc sẽ tiếp tục giữ vai trò tích cực trong việc huy động nỗ lực quốc tế nhằm ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp. Đây là những vấn đề mang tính toàn cầu, vừa là lĩnh vực mà các nước lớn có nhu cầu hợp tác, vừa là yêu cầu bắt buộc đối với cộng đồng quốc tế, bởi không một quốc gia nào có thể tự giải quyết đơn lẻ. Tiêu biểu là ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an ninh năng lượng và xây dựng các chuẩn mực chung cho những vấn đề, công nghệ mới nổi. Tóm lại, trong một thế giới phân mảnh, Liên hợp quốc đang đứng trước sức ép cải tổ mạnh mẽ. Tiến trình cải tổ hiện nay tuy còn nhiều khó khăn, đòi hỏi sự tham vấn và đồng thuận giữa các quốc gia thành viên, nhưng những bước đi đầu tiên nhằm tối ưu hóa hoạt động, tinh giản bộ máy, tiết kiệm chi phí của Ban Thư ký và các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc đã được triển khai, đồng thời tiếp tục được thúc đẩy trong thời gian tới. Cải tổ không chỉ là yêu cầu khách quan, mà còn là cơ hội để Liên hợp quốc thích ứng, định vị lại và khẳng định “sức sống” trong bối cảnh mới. Với bề dày thành tựu, uy tín và những ưu thế nổi trội so với bất kỳ tổ chức quốc tế nào khác, Liên hợp quốc sẽ tiếp tục giữ vững vai trò trung tâm, không thể thay thế trong quản trị toàn cầu, từ duy trì hòa bình, bảo đảm an ninh, thúc đẩy hợp tác phát triển đến bảo vệ và thúc đẩy quyền con người./. ---------------------------- (1) Xem: United Nation: “United Nations Charter, Chapter I: Purposes and Principles” (Tạm dịch: Hiến chương Liên hợp quốc, Chương I: Mục đích và Nguyên tắc), https://www.un.org/en/about-us/un-charter/chapter-1 (2) Điển hình là Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF); Ngân hàng Thế giới (WB); Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO); Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học Liên hợp quốc (UNESCO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO); Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Chương trình Lương thực thế giới (WFP); Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP); Quỹ Đặc biệt về phát triển kinh tế; Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO); Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA); Chương trình Nhân cư Liên hợp quốc (UN-Habitat); Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO); Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP); Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD); Chương trình Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), Cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giới;… (3) Nghị quyết về việc thành lập Ủy ban Năng lượng hạt nhân đã xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có việc “kiểm soát năng lượng hạt nhân nhằm bảo đảm chỉ được sử dụng cho mục đích hòa bình” và “giải trừ quân bị đối với vũ khí hạt nhân cũng như các loại vũ khí hạng nặng khác có khả năng hủy diệt hàng loạt” (4) Trong đó có Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân (năm 1968), Hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện (năm 1996), Công ước cấm vũ khí hóa học (năm 1992), Công ước cấm vũ khí sinh học (năm 1972) và gần đây là Hiệp ước buôn bán vũ khí thông thường (ATT) và Hiệp ước cấm vũ khí hạt nhân (5) Alynna Lyon - Kendal Stiles - Alistair Edgar - Kurt Mills - Peter Romaniuk: “The 75th Anniversary of the United Nations” (Tạm dịch: Kỷ niệm 75 năm thành lập Liên hợp quốc) trong Global Governance 26(2) (Tạm dịch: Quản trị toàn cầu), Brill, ngày 11-6-2020, https://brill.com/view/journals/gg/26/2/article-p199_1.xml?language=en&srsltid=AfmBOoojt2EkoS-JZIeuc7wvUCq354H_0vRkB1P2FWOuHaBwvwcuOH0q (6) Council of Foreign Relations: “The Role of the UN Secretary-General” (Tạm dịch: Vai trò của Tổng Thư ký Liên hợp quốc), Council of Foreign Relations, ngày 29-8-2024, https://cfr.org/backgrounder/role-un-secretary-general (7) Corinne Barra and Lisa Hultman: “Just Different Hats? Comparing UN and Non-UN Peacekeeping” (Tạm dịch: Chỉ là những chiếc mũ khác nhau? So sánh hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và ngoài Liên hợp quốc) , International Peacekeeping Journal, No. 27, Vol. 3, 2020, tr. 341 - 368 (8) Xem: “Special Procedures of the Human Rights Council”, United Nations Human Rights Council, ngày 21-8-2025, https://www.ohchr.org/en/special-procedures-human-rights-council (9) Nghị quyết 5/1 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, https://ap.ohchr.org/documents/dpage_e.aspx?si=a/hrc/res/5/1
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/1226902/chinh-sach-ngoai-giao-kinh-te-chu-dong-cua-thai-lan-va-mot-so-goi-mo-doi-voi-viet-nam.aspx
Chính sách ngoại giao kinh tế chủ động của Thái Lan và một số gợi mở đối với Việt Nam
13-03-2026
Ngoại giao kinh tế chủ động của Thái Lan: Đòn bẩy để phát triển
Tầm nhìn chính sách Trong bối cảnh thế giới đang biến đổi nhanh chóng, Thái Lan - một nền kinh tế mới nổi ở Đông Nam Á - đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc định hình chính sách đối ngoại. Những năm gần đây, quốc gia này đã thể hiện sự linh hoạt đáng kể trong cách tiếp cận địa - chính trị và kinh tế, đặc biệt trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và cuộc cạnh tranh ngày càng diễn ra gay gắt giữa các cường quốc trong khu vực. Ngoại giao kinh tế đóng vai trò then chốt trong chính sách đối ngoại của Thái Lan, nhằm thúc đẩy lợi ích kinh tế quốc gia và tạo cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp trong nước. Khách du lịch tham quan tại Bangkok, Thái Lan_Ảnh: THX/TTXVN Tháng 9-2023, Thủ tướng Thái Lan khi đó là Srettha Thavisin đã vạch ra một tầm nhìn chính sách đối ngoại mới về “ngoại giao chủ động”. Tầm nhìn này được thiết kế để thúc đẩy triển vọng kinh tế và ảnh hưởng của Thái Lan trong một thế giới đầy biến động. Chính sách ngoại giao kinh tế chủ động của Thái Lan theo đó được triển khai. Đây là chính sách nhằm ứng phó với những thách thức nảy sinh trong bối cảnh cạnh tranh địa - chính trị và kinh tế đang diễn ra gay gắt trên phạm vi toàn cầu. Cụ thể: Thứ nhất , chính sách ngoại giao kinh tế chủ động nhằm đối phó với những thách thức hiện tại và tương lai, bao gồm cạnh tranh chiến lược và sự phân cực giữa các cường quốc về địa - chính trị, hiệu suất kinh tế và công nghệ. Sự đối đầu ngày càng gay gắt giữa các cường quốc trên thế giới dẫn đến áp lực “chọn phe” đối với nhiều quốc gia, làm gia tăng xu hướng phân mảnh và khu vực hóa kinh tế. Các khối kinh tế mới xuất hiện, làm thay đổi động lực thương mại và đầu tư toàn cầu. Các quốc gia đang phát triển đối mặt với khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn do tác động của khủng hoảng nợ và xu hướng phi đô la hóa, gây ảnh hưởng đến quá trình thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ dẫn đến cuộc chiến tranh giành quyền kiểm soát các nguyên liệu thô quan trọng cần thiết cho sản xuất chip, cáp quang và các linh kiện điện tử,... Các tiêu chuẩn môi trường khác biệt giữa các quốc gia ngày càng trở thành công cụ thương mại và đàm phán chính trị, có thể là yếu tố tạo ra căng thẳng trong hệ thống thương mại toàn cầu. Trong bối cảnh này, các quốc gia buộc phải định hướng chính sách ngoại giao kinh tế theo hướng linh hoạt nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo đảm tăng trưởng bền vững và tăng cường vị thế trên trường quốc tế. Thứ hai, Thái Lan theo đuổi chính sách ngoại giao kinh tế chủ động nhằm đa dạng hóa nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Thái Lan duy trì quan hệ chặt chẽ với các cường quốc như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, đồng thời mở rộng hợp tác với ASEAN, EU, Hàn Quốc, Australia và Trung Đông để bảo đảm thị trường xuất khẩu và thu hút đầu tư. Thái Lan đẩy mạnh đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt với EU và gia tăng hợp tác với Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) để nâng cao chuẩn mực kinh tế và thương mại. Ngoại giao Thái Lan tập trung vào các vấn đề như biến đổi khí hậu, hợp tác về môi trường tại khu vực sông Mekong và quản trị kinh tế xanh. Đồng thời, Chính phủ nước này cam kết đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng và thúc đẩy chiến lược phát triển bền vững. Thái Lan cũng mở rộng hợp tác theo các khuôn khổ do nước này khởi xướng, chẳng hạn như Đối thoại hợp tác châu Á (ACD), Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyawady - Chao Phraya - Mekong (ACMECS), Sáng kiến ​​Vịnh Bengal về hợp tác kỹ thuật và kinh tế đa ngành (BIMSTEC). Ở trong nước, Thái Lan tập trung vào việc phát triển nền kinh tế số, khuyến khích khởi nghiệp và đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất, giảm sự phụ thuộc vào các ngành kinh tế truyền thống. Các yếu tố như du lịch, văn hóa và di sản quốc gia được đẩy mạnh để nâng cao ảnh hưởng quốc tế. Chính sách “Thị thực đích đến Thái Lan” giúp thu hút đầu tư và du lịch, trong khi sáng kiến về hệ thống thị thực chung ASEAN đang được thúc đẩy nhằm tạo thuận lợi cho thương mại và dịch vụ. Dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Paetongtarn Shinawatra, chính sách ngoại giao kinh tế của Thái Lan không chỉ hướng tới tăng trưởng kinh tế, mà còn đặt con người vào vị trí trung tâm, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và gia tăng ảnh hưởng của Thái Lan trên trường quốc tế. Trong tuyên bố chính sách của Hội đồng Bộ trưởng dưới thời kỳ Thủ tướng Paetongtarn Shinawatra (1) , Chính phủ Thái Lan nhấn mạnh sẽ tiếp tục chính sách ngoại giao kinh tế chủ động và tăng cường “sức mạnh mềm” của đất nước. Để cụ thể hóa quan điểm trên, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Maris Sangiampongsa đã công bố tầm nhìn mới tập trung vào việc thúc đẩy chính sách đối ngoại của Thái Lan, nhấn mạnh “ngoại giao vì nhân dân” và “ngoại giao kinh tế chủ động” sẽ là những cách thức tiếp cận chủ chốt vì lợi ích của người dân và nền kinh tế Thái Lan trên mọi phương diện. Sau khi Thủ tướng Anutin Charnvirakul lên nắm quyền, chính phủ mới không thay đổi định hướng chiến lược cốt lõi, bởi ngoại giao kinh tế đã trở thành trụ cột chính sách đối ngoại của Thái Lan và chính sách này gắn trực tiếp với mục tiêu thoát "bẫy thu nhập trung bình" và nâng cao vị thế quốc gia. Chính phủ Thái Lan tiếp tục quan tâm đẩy nhanh tiến trình phê chuẩn các FTA quan trọng, đặc biệt là FTA giữa Thái Lan với Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) gồm Na Uy, Thụy Sĩ, Iceland và Liechtenstein. Điều này cho thấy, dưới thời Thủ tướng Anutin Charnvirakul, FTA vẫn được coi là một công cụ then chốt để mở rộng thị trường, thúc đẩy thương mại và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Thái Lan. Ngoại giao kinh tế chủ động của Thái Lan: Đòn bẩy để phát triển Chính sách ngoại giao kinh tế chủ động của Thái Lan đặt ra ba mục tiêu chính để thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng cường vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Các mục tiêu này không chỉ thúc đẩy sự phát triển của Thái Lan trong bối cảnh toàn cầu hóa, mà còn giúp quốc gia này khẳng định vị thế là một nền kinh tế dẫn đầu trong khu vực. Thứ nhất , cải thiện vị thế và năng lực đàm phán quốc tế. Thái Lan tập trung xây dựng năng lực đàm phán để bảo vệ lợi ích quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc ngày càng diễn ra gay gắt. Thái Lan kỳ vọng sử dụng ngoại giao kinh tế chủ động để tạo môi trường thuận lợi nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghệ cao, hạ tầng và đổi mới sáng tạo, đồng thời mở rộng hợp tác với các đối tác truyền thống (Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản) và các thị trường mới nổi (ASEAN, Trung Đông, EU). Theo đó, Thái Lan sẽ bảo đảm được ít nhất 1 nghìn tỷ baht (tương đương 28,8 tỷ USD) tổng vốn cam kết đầu tư vào nước này trong năm 2025, trong bối cảnh nước này đang tìm cách thu hút thêm nhiều nhà đầu tư để giúp thúc đẩy phát triển kinh tế. Trước đó, năm 2024, tổng vốn cam kết đầu tư vào Thái Lan đã tăng 35% so với cùng kỳ năm 2023, đạt mức 1,138 tỷ baht (tương đương 32,8 tỷ USD), mức cao nhất trong 10 năm qua (2) . Sự tăng trưởng này chủ yếu đến từ lĩnh vực công nghiệp số, với các khoản đầu tư lớn vào trung tâm dữ liệu và dịch vụ điện toán đám mây, do các công ty đến từ Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ. Điều này phản ánh nhận thức của Chính phủ Thái Lan về tầm quan trọng của việc tích hợp sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của quốc gia. Thứ hai , phát triển kinh tế bền vững và đa dạng hóa nền kinh tế. Thái Lan thúc đẩy các ngành công nghệ cao, kinh tế số và kinh tế xanh, giảm phụ thuộc vào ngành kinh tế truyền thống. Tiến hành chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đưa Thái Lan thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình” thông qua đổi mới sáng tạo và tăng cường chuỗi giá trị toàn cầu. Những nỗ lực này không chỉ tạo ra việc làm mới, mà còn giảm sự phụ thuộc vào các ngành kinh tế truyền thống, từ đó nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế Thái Lan trước các cú sốc bên ngoài. Đáng chú ý, chính sách ngoại giao kinh tế mới của Thái Lan không chỉ tập trung vào lợi ích kinh tế thuần túy, mà còn nhấn mạnh việc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về dân chủ, nhân quyền và bảo vệ môi trường. Thái Lan cam kết đạt được mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050 và đạt mức phát thải khí nhà kính bằng 0 vào năm 2065. Điều này cho thấy, Thái Lan đang nỗ lực xây dựng hình ảnh một quốc gia có trách nhiệm và tiến bộ trên trường quốc tế. Thứ ba , tăng cường vai trò và vị thế của Thái Lan trong khu vực và thế giới, hướng tới một ASEAN đoàn kết, vững mạnh, giữ vai trò trung tâm trong hợp tác khu vực. Thông qua hợp tác với các đối tác, Thái Lan tăng cường quảng bá văn hóa, du lịch và di sản quốc gia để nâng cao hình ảnh quốc gia. Các quốc gia được Thái Lan hướng tới chủ yếu là Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ - những nền kinh tế lớn có ảnh hưởng sâu rộng đến khu vực Đông Nam Á. Bên cạnh đó, Thái Lan chú trọng tăng cường hợp tác với các đối tác quan trọng khác như Hàn Quốc, Australia, EU, các nước thành viên ASEAN, Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ. Thái Lan tăng cường vai trò trong các sáng kiến như BIMSTEC, ACD và đàm phán các FTA chiến lược. Việc đa dạng hóa quan hệ đối tác giúp Thái Lan mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư và công nghệ tiên tiến từ nhiều nguồn khác nhau; phát triển vai trò dẫn dắt trong khu vực ASEAN và tham gia các khuôn khổ hợp tác đa phương như Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), ASEAN+3. Để cụ thể hóa mục tiêu trên, dưới thời kỳ Thủ tướng Srettha Thavisin, tiếp nối dưới thời Thủ tướng Anutin Charnvirakul, chính sách ngoại giao kinh tế chủ động của Thái Lan được xây dựng dựa trên năm giải pháp chủ yếu, phản ánh một chiến lược toàn diện nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế và vị thế quốc tế: Một là , triển khai chiến lược đa dạng hóa quan hệ đối ngoại và tăng cường hợp tác đa phương. Bên cạnh việc duy trì mối quan hệ bền chặt với các đối tác truyền thống như Mỹ, Nhật Bản và các nước ASEAN, Thái Lan mở rộng hợp tác với các đối tác như Trung Quốc và Ấn Độ. Đặc biệt, Thái Lan tích cực tham gia các diễn đàn đa phương như APEC, ASEAN+3 và Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS). Nổi bật trong chiến lược này là việc Thái Lan khởi xướng và thúc đẩy các sáng kiến hợp tác khu vực như ACD và ACMECS. Hai là, chú trọng đàm phán và ký kết các FTA. Việc mở rộng FTA, đặc biệt với EU, là chiến lược then chốt để Thái Lan mở rộng thị trường xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Hiện tại, Thái Lan đã ký kết nhiều FTA với các đối tác quan trọng như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Hàn Quốc. Trong đàm phán với EU, Thái Lan mong muốn tạo ra những cơ hội mới cho các ngành xuất khẩu chiến lược như nông sản và điện tử, đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận các tiêu chuẩn sản xuất và môi trường cao hơn từ EU. Ba là, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặt mục tiêu phát triển nền kinh tế số thông qua chính sách “Thailand 4.0”, nhằm chuyển đổi nền kinh tế từ mô hình dựa vào sản xuất sang mô hình dựa vào đổi mới sáng tạo. Cơ quan Đổi mới quốc gia Thái Lan (NIA) đã xây dựng một chiến lược mới nhằm hỗ trợ các công ty khởi nghiệp địa phương, tạo điều kiện cho các công ty này phát triển và theo kịp nhu cầu đổi mới trên thị trường toàn cầu. Mục tiêu của cơ quan này là tăng số lượng doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và đưa Thái Lan trở thành một trong 30 quốc gia dẫn đầu về đổi mới sáng tạo vào năm 2030 (3) . Đồng thời, Thái Lan đã thiết lập các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc tế, như Trung tâm Đổi mới sáng tạo kỹ thuật số Thái Lan - Nhật Bản nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh trong các ngành công nghệ cao. Bốn là , chú trọng phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu như một phần không thể tách rời trong chính sách ngoại giao kinh tế. Nước này cam kết đóng vai trò tích cực trong việc giải quyết các thách thức toàn cầu, đặc biệt là vấn đề môi trường. Thái Lan đặt mục tiêu giảm 30 - 40% lượng khí thải nhà kính vào năm 2030 và đạt được mức phát thải carbon ròng bằng 0 sớm hơn năm 2065 (4) . Năm là , tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan trong nước thông qua cơ chế “Đội Thái Lan” (Thailand Team). Bộ Ngoại giao đóng vai trò trung tâm trong việc điều phối các hoạt động ngoại giao kinh tế, tổ chức các cuộc họp định kỳ với đại diện ngoại giao và các cơ quan liên quan để xây dựng chiến lược chung. Cơ chế này giúp tăng cường sự nhất quán trong chính sách đối ngoại và nâng cao hiệu quả của các sáng kiến ngoại giao kinh tế. Đơn cử như, trong quá trình đàm phán FTA với EU, “Đội Thái Lan” đã tạo ra sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại và các hiệp hội doanh nghiệp, giúp Thái Lan xây dựng được lập trường đàm phán mạnh mẽ và thống nhất. Ngay sau khi nhậm chức, Thủ tướng Thái Lan Paetongtarn Shinawatra tiếp tục triển khai chính sách ngoại giao kinh tế chủ động thông qua một loạt biện pháp như tiến hành các cuộc gặp gỡ và điện đàm với lãnh đạo các quốc gia láng giềng và đối tác quan trọng. Chính phủ dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Thái Lan P. Shinawatra đã yêu cầu các cơ quan chính phủ đẩy nhanh giải ngân ngân sách đầu tư cho năm tài chính 2025 nhằm kích thích nền kinh tế. Việc giải ngân quỹ đầu tư trị giá 900 tỷ baht (tương đương gần 27 tỷ USD), chiếm 24,3% tổng chi tiêu (5) được kỳ vọng sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển và tăng chi tiêu, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng GDP. Thủ tướng Thái Lan P. Shinawatra tham dự các hội nghị quốc tế quan trọng như Hội nghị cấp cao APEC nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế và chính trị với các quốc gia thành viên. Một trong các yếu tố hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Thái Lan vừa qua là du lịch. Theo Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT), năm 2024, Thái Lan đã đón 35.047.501 lượt khách du lịch quốc tế, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong quá trình phục hồi ngành du lịch Thái Lan sau đại dịch COVID-19. Yếu tố then chốt dẫn đến thành công này là việc nới lỏng các yêu cầu nhập cảnh, bên cạnh đó là sự phát triển của ngành hàng không, sức hút từ sự trải nghiệm văn hóa độc đáo... TAT tuyên bố năm 2025 là “Năm du lịch và thể thao lớn của Thái Lan”. Thái Lan tiếp tục đổi mới và phát triển, nâng cao vị thế là một trung tâm du lịch toàn cầu, kỳ vọng trong năm 2025 sẽ chào đón từ 36 - 39 triệu khách du lịch quốc tế đến Thái Lan và thu về 1,98 - 2,23 nghìn tỷ baht doanh thu từ du lịch (6) . Nhìn chung, năm 2025, Thái Lan đứng trước các cơ hội để phục hồi nền kinh tế, bao gồm: phát triển Thái Lan thành “bếp ăn của thế giới”, thúc đẩy ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe và tăng giá trị kinh tế của Thái Lan thông qua thúc đẩy “sức mạnh mềm” (7) . Một số gợi mở đối với Việt Nam Tại Việt Nam, ngày 20-2-2023, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 21/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn 2022 - 2026 thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 10-8-2022, của Ban Bí thư, “Về công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển đất nước đến năm 2030”. Nghị quyết này đề ra các nhiệm vụ và giải pháp nhằm tận dụng ngoại giao kinh tế như một công cụ quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Nội dung Nghị quyết nhấn mạnh việc đẩy mạnh ngoại giao kinh tế tập trung vào các lĩnh vực chiến lược như thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, năng lượng và giáo dục. Đồng thời, Nghị quyết kêu gọi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để khai thác tối đa cơ hội từ các FTA thế hệ mới. Đại diện Bộ Công Thương, Đại sứ Thái Lan tại Việt Nam cùng các đại biểu trải nghiệm sản phẩm của các gian hàng trưng bày tại Tuần lễ sản phẩm Thái Lan 2026 “Thailand Week 2026” tổ chức tại Hà Nội, ngày 22-1-2026_Ảnh: mekongasean.vn Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang đứng trước cánh cửa lịch sử bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, ngoại giao kinh tế không chỉ là cầu nối giữa Việt Nam và thế giới, mà còn là công cụ chiến lược để thúc đẩy phát triển bền vững, bảo vệ lợi ích quốc gia và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Kinh nghiệm của Thái Lan gợi mở cho Việt Nam trong quá trình triển khai Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế trong tình hình mới”, trong đó nhấn mạnh yêu cầu hội nhập đồng bộ, toàn diện, sâu rộng, gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đổi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy chuyển đổi số. Từ góc độ đó, việc đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, nâng cao năng lực đàm phán quốc tế, cải thiện phối hợp liên ngành và phát huy sức mạnh mềm quốc gia là những hướng đi có giá trị tham khảo thiết thực đối với Việt Nam. Cụ thể là: Thứ nhất , đẩy mạnh đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối tác, tăng cường vai trò, vị thế trong ASEAN. Chính sách ngoại giao kinh tế chủ động cho thấy, Thái Lan đã khéo léo duy trì cân bằng trong quan hệ với các cường quốc như Mỹ và Trung Quốc, đồng thời mở rộng hợp tác với các thị trường như Trung Đông, ASEAN và EU. Việt Nam cần tăng cường xây dựng quan hệ với các đối tác chiến lược và mở rộng hợp tác với các thị trường tiềm năng khác ngoài những đối tác truyền thống nhằm giảm thiểu rủi ro từ sự phụ thuộc kinh tế. Ngoài ra, Thái Lan đóng vai trò chủ động trong các sáng kiến hợp tác khu vực như BIMSTEC và ACD. Việt Nam cần tận dụng các khung khổ hợp tác khu vực để thúc đẩy lợi thế cạnh tranh và củng cố vị thế trong ASEAN. Thứ hai, tăng cường năng lực đàm phán quốc tế và gia tăng “sức mạnh mềm”. Việc Thái Lan đẩy mạnh đàm phán các FTA với EU và các khu vực kinh tế mới nổi cho thấy tầm quan trọng của việc cải thiện kỹ năng đàm phán để bảo vệ lợi ích quốc gia. Việt Nam cần tận dụng tối đa các cơ hội từ FTA thế hệ mới để nâng cao khả năng cạnh tranh và gia tăng vị thế trong đàm phán. Đáng lưu ý, trong chính sách ngoại giao kinh tế chủ động, Thái Lan khai thác văn hóa, du lịch và giá trị truyền thống để nâng cao hình ảnh quốc gia. Việt Nam cũng có tiềm năng lớn trong các lĩnh vực này và cần đẩy mạnh quảng bá văn hóa, ẩm thực, kết hợp với ngoại giao công chúng để tăng cường thu hút sự quan tâm, chú ý từ quốc tế. Thứ ba , thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chú trọng phát triển kinh tế xanh, bền vững. Thái Lan đang đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như động lực mới cho phát triển kinh tế. Chiến lược Thái Lan 4.0 tập trung vào công nghệ và các ngành công nghiệp sáng tạo, đã mở ra triển vọng mới cho nền kinh tế. Với tiềm năng to lớn trong lĩnh vực công nghệ và khởi nghiệp, Việt Nam cần xây dựng chiến lược cụ thể để phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, Thái Lan đã chú trọng cải thiện môi trường kinh doanh và thúc đẩy phát triển bền vững như một phần quan trọng trong chiến lược ngoại giao kinh tế chủ động. Việc nâng cao chỉ số thuận lợi kinh doanh và cam kết bảo vệ môi trường đã giúp Thái Lan thu hút được nguồn vốn đầu tư chất lượng cao và xây dựng hình ảnh quốc gia thân thiện với nhà đầu tư. Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu thủ tục hành chính và bảo đảm tính minh bạch để thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài. Đồng thời, việc tích hợp các mục tiêu phát triển bền vững vào chiến lược ngoại giao kinh tế, khuyến khích các dự án đầu tư thân thiện với môi trường sẽ giúp Việt Nam nâng cao uy tín quốc tế và tạo đà phát triển bền vững. Thứ tư, tăng cường phối hợp liên ngành . Thái Lan đã xây dựng một mạng lưới ngoại giao kinh tế chuyên nghiệp, trong đó các cơ quan nhà nước và khu vực tư nhân phối hợp nhịp nhàng. Mô hình “Đội Thái Lan” đã chứng tỏ hiệu quả trong việc tạo sự gắn kết giữa các cơ quan ngoại giao, doanh nghiệp và chính phủ, tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư quốc tế. Việt Nam cần tăng cường phối hợp liên ngành, bảo đảm tính nhất quán trong các chính sách ngoại giao, thương mại, đầu tư và tài chính; đồng thời nâng cao năng lực ngoại giao kinh tế thông qua đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên sâu, tăng cường năng lực quản lý và điều phối liên ngành, tăng cường năng lực đàm phán và bảo vệ lợi ích quốc gia./. ------------------------ (1) Policy Statement of the Council of Ministers of Prime Minister Paetongtarn Shinawatra (Tạm dịch: Tuyên bố chính sách của Hội đồng Bộ trưởng dưới thời Thủ tướng Thái Lan Paetongtarn Shinawatra), Ministry of Foreign Affairs, Kingdom of Thailand , ngày 27-9-2024, https://www.mfa.go.th/ en/page/foreign-policy?menu= 5e1fd183c4281a00c95bd752 (2) Thailand expecting at least $29 bln in investment applications this year (Tạm dịch: Thái Lan kỳ vọng sẽ nhận được ít nhất 29 tỷ USD vốn đầu tư trong năm nay), Reuteur , ngày 13-1-2025, https://www.reuters.com/markets/asia/ thailands-investment-applications-up-35-10-year-high-2024-2025-01-13/?utm_source=chatgpt.com (3) Thailand’s unicorn factory (Tạm dịch: Nhà máy kỳ lân của Thái Lan), Bangkokpost , ngày 26-2-2024, https://www.bangkokpost.com/business/ general/2748489/thailands-unicorn-factory (4) “Thailand aims to achieve net zero carbon emissions ahead of schedule” (Tạm dịch: Thái Lan đặt mục tiêu đạt được mức phát thải carbon ròng bằng 0 trước thời hạn), The Nation , ngày 21-11-2024, https://www.nationthailand.com/sustaination/40043487 (5) “PM urges swift budget action” (Tạm dịch: Thủ tướng yêu cầu đẩy nhanh giải ngân ngân sách), Bangkokpost , ngày 5-11-2024, https://www.bangkokpost .com/thailand/general/2895912/pm-urges-swift-budget-action (6) “Thailand’s Tourism Boom: A Landmark Year and Ambitious Plans for 2025” (Tạm dịch: Sự bùng nổ du lịch của Thái Lan: Một năm mang tính bước ngoặt và những kế hoạch đầy tham vọng cho năm 2025), Goingglobal , ngày 8-1-2025, https://goingglobaltv.com/thailands-tourism-boom-a-landmark-year-and-ambitious-plans-for-2025/ (7) “Government Striving to Continue to Stimulate the Economy” (Tạm dịch: Chính phủ nỗ lực tiếp tục kích thích nền kinh tế), The Government Public Relation Department , ngày 25-11-2024, https://thailand.prd.go.th/en/content/ category/detail/id/48/iid/342262
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/2081/kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia---quan-niem-va-giai-phap-phat-trien.aspx
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : Quan niệm và giải pháp phát triển
22-01-2007
Lời Bộ Biên tập: Trong hai ngày 8 và 9-10-2003, tại Thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc), đã diễn ra Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc với chủ đề "Chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường - kinh nghiệm của Trung Quốc, kinh nghiệm của Việt Nam". Đây là một vấn đề lý luận cơ bản, quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
Lời Bộ Biên tập: Trong hai ngày 8 và 9-10-2003, tại Thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc), đã diễn ra Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc với chủ đề "Chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường - kinh nghiệm của Trung Quốc, kinh nghiệm của Việt Nam". Đây là một vấn đề lý luận cơ bản, quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, làm Trưởng đoàn và Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc do đồng chí Lưu Vân Sơn, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương, Trưởng Ban Tuyên truyền Trung ương, làm Trưởng đoàn. Hội thảo đã khẳng định tính khách quan, nhu cầu tất yếu và thành tựu to lớn của việc xây dựng và phát triển kinh tế thị trường phù hợp với điều kiện của mỗi nước trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; đồng thời, đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu phục vụ thiết thực cho sự nghiệp đổi mới, cải cách ở mỗi nước. Tạp chí Cộng sản xin trân trọng giới thiệu nội dung chính bản Báo cáo đề dẫn Hội thảo của đồng chí Nguyễn Phú Trọng và sẽ lần lượt giới thiệu một số nội dung cơ bản của cuộc Hội thảo quan trọng này. I - Vì sao Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ? 1- Như mọi người đã biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ảnh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Từ trước đến nay nó tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã biết lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiềm năng kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận, và một cách khách quan nó thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã đạt tới giai đoạn phát triển khá cao và phồn thịnh trong các nước tư bản phát triển. Tuy nhiên, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là vạn năng. Bên cạnh mặt tích cực nó còn có mặt trái, có khuyết tật từ trong bản chất của nó do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa chi phối. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, càng ngày mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản càng bộc lộ sâu sắc, không giải quyết được các vấn đề xã hội, làm tăng thêm tính bất công và bất ổn của xã hội, đào sâu thêm hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo. Hơn thế nữa, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, nó còn ràng buộc các nước kém phát triển trong quỹ đạo bị lệ thuộc và bị bóc lột theo quan hệ "trung tâm - ngoại vi". Có thể nói, nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa toàn cầu ngày nay là sự thống trị của một số ít nước lớn hay một số tập đoàn xuyên quốc gia đối với đa số các nước nghèo, làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước giàu và các nước nghèo. Chính vì thế mà, như C. Mác đã phân tích và dự báo, chủ nghĩa tư bản tất yếu phải nhường chỗ cho một phương thức sản xuất và chế độ mới văn minh hơn, nhân đạo hơn. Chủ nghĩa tư bản mặc dù đã và đang tìm mọi cách để tự điều chỉnh, tự thích nghi bằng cách phát triển "nền kinh tế thị trường hiện đại", "nền kinh tế thị trường xã hội", tạo ra "chủ nghĩa tư bản xã hội", "chủ nghĩa tư bản nhân dân", "nhà nước phúc lợi chung"..., tức là phải có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước và cũng phải chăm lo vấn đề xã hội nhiều hơn, nhưng do mâu thuẫn từ trong bản chất của nó, chủ nghĩa tư bản không thể tự giải quyết được, có chăng nó chỉ tạm thời xoa dịu được chừng nào mâu thuẫn mà thôi. Nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại đang ngày càng thể hiện xu hướng tự phủ định và tự tiến hóa để chuẩn bị chuyển sang giai đoạn hậu công nghiệp, theo xu hướng xã hội hóa. Đây là tất yếu khách quan, là quy luật phát triển của xã hội. Nhân loại muốn tiến lên, xã hội muốn phát triển thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. 2 - Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết là một kiểu tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế muốn sớm khắc phục những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản, muốn nhanh chóng xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn, một phương thức sản xuất văn minh, hiện đại hơn chủ nghĩa tư bản. Đó là một ý tưởng tốt đẹp, và trên thực tế suốt hơn 70 năm tồn tại, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu vĩ đại, làm thay đổi hẳn bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân Liên Xô. Nhưng có lẽ do nôn nóng, làm trái quy luật (muốn xóa bỏ ngay kinh tế hàng hóa, áp dụng ngay cơ chế kinh tế phi thị trường), không năng động, kịp thời điều chỉnh khi cần thiết cho nên rút cuộc đã không thành công. Thực ra, khi mới vận dụng học thuyết Mác vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lê-nin cũng đã từng chủ trương không áp dụng mô hình kinh tế thị trường mà thực hiện "chính sách cộng sản thời chiến". Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, Người đã phát hiện ra sai lầm, khắc phục sự nóng vội bằng cách đưa ra thực hiện "chính sách kinh tế mới" (NEP) mà nội dung cơ bản của nó là khuyến khích phát triển kinh tế hàng hóa, chấp nhận ở mức độ nhất định cơ chế thị trường. Theo V.I.Lê-nin, để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước còn tương đối lạc hậu về kinh tế như nước Nga, cần phải sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ và phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đặc biệt là sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước để phát triển lực lượng sản xuất. Tuy chỉ mới thực hiện trong thời gian ngắn nhưng NEP đã đem lại những kết quả tích cực cho nước Nga: hồi phục và phát triển nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, nhiều ngành kinh tế bắt đầu hoạt động năng động, nhộn nhịp hơn. Tiếc rằng, tư tưởng của V.I.Lê-nin về xây dựng chủ nghĩa xã hội với chính sách NEP đã không được tiếp tục thực hiện sau khi Người qua đời. Sự thành công và sự phát triển mạnh mẽ suốt một thời gian khá dài của Liên Xô trong công cuộc công nghiệp hóa đất nước bằng mô hình kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, kế hoạch hóa tập trung cao độ; phân phối thu nhập mang tính bình quân; kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường bị loại bỏ đã có sức hấp dẫn lớn đối với nhân loại và làm cho giới lý luận kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển tuyệt đối hóa, biến thành công thức để áp dụng cho tất cả các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Cũng cần nói thêm rằng, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, giới lý luận ở một số nước cũng cảm thấy có cái gì "chưa ổn", cũng đã đưa ra những kiến nghị, những đề xuất, đại loại như quan điểm "chủ nghĩa xã hội thị trường",... nhưng không được chấp nhận. Vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, những hạn chế, khuyết tật của mô hình kinh tế Xô-viết bộc lộ ra rất rõ cộng với sự yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý lúc bấy giờ đã làm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng. Một số người lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước Liên Xô lúc đó muốn thay đổi tình hình bằng công cuộc cải cách, cải tổ, nhưng với một "tư duy chính trị mới", họ đã phạm sai lầm nghiêm trọng cực đoan, phiến diện (ở đây chưa nói tới sự phản bội lý tưởng xã hội chủ nghĩa của họ và sự phá hoại thâm hiểm của các thế lực thù địch), dẫn tới sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác ở Đông Âu vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã làm lộ rõ những khuyết tật của mô hình kinh tế cứng nhắc phi thị trường, mặc dù những khuyết tật đó không phải là nguyên nhân tất yếu dẫn đến sự sụp đổ. 3 - Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế - kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưởng của những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào ? Đó là câu hỏi lớn và cực kỳ hệ trọng, muốn trả lời thật không đơn giản. Suốt một thời gian dài, Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đã áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết, mô hình kinh tế kế hoạch tập trung mang tính bao cấp. Mô hình này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau mô hình này bộc lộ những khuyết điểm; và trong công tác chỉ đạo cũng phạm phải một số sai lầm mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó là bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, không tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tế Việt Nam. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và thị trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về chính sách xã hội. Đại hội VI là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là kết quả của cả một quá trình tìm tòi, thử nghiệm, suy tư, đấu tranh tư tưởng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ và công sức của toàn Đảng, toàn dân trong nhiều năm. Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), khóa VI, phát triển thêm một bước, đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi "chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội". Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn chủ trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng khẳng định: "Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước". Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-1996) đưa ra một kết luận mới rất quan trọng: "Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng". Nhưng lúc đó cũng mới nói nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, chưa dùng khái niệm "kinh tế thị trường". Phải đến Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) mới chính thức đưa ra khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" . Đại hội khẳng định: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. II - Bản chất, đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội , mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay. Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của thời đại và sự khái quát, đúc rút từ kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường thế giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và ở Trung Quốc, để đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm sử dụng kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội . Đây là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Cũng có thể nói kinh tế thị trường là "cái phổ biến" , còn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là "cái đặc thù" của Việt Nam, phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của Việt Nam. Nói kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa đây không phải là kinh tế thị trường tự do theo kiểu tư bản chủ nghĩa, cũng không phải là kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập trung quan liêu; và cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, bởi vì như trên đã nói, Việt Nam đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vừa có vừa chưa có đầy đủ các yếu tố của chủ nghĩa xã hội. Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp thu có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích cực của kinh tế thị trường trong việc thúc đẩy phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật - công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều của cải, góp phần làm giàu cho xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; đồng thời phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốc liệt, bóc lột và phân hóa giàu nghèo quá đáng, ít quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội. Đây cũng là sự lựa chọn tự giác con đường và mô hình phát triển trên cơ sở quán triệt lý luận Mác - Lê-nin, nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý, và phân phối. Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên tiến. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, và bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế nhà nước; đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước. Cũng có thể nói, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chức kinh tế của một xã hội đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế còn ở trình độ thấp sang nền kinh tế ở trình độ cao hơn hướng tới chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Đây là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, được định hướng cao về mặt xã hội, hạn chế tối đa những khuyết tật của tính tự phát thị trường, nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích của đại đa số nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước. Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Có ý kiến cho rằng, không thể có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; rằng chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường không thể dung hợp với nhau, nếu đem "ghép" định hướng xã hội chủ nghĩa vào kinh tế thị trường thì chẳng khác nào trộn dầu vào nước, tạo ra một cơ thể "đầu Ngô mình Sở". Theo chúng tôi, ý kiến này không đúng. Không đúng là vì, hoặc ý kiến này muốn trì kéo Việt Nam trong quỹ đạo phát triển của chủ nghĩa tư bản, phủ nhận định hướng xã hội chủ nghĩa, không muốn Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là điều trái với quy luật khách quan, không thể chấp nhận. Hoặc ý kiến này không thoát ra được khỏi tư duy cũ, đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản, cho kinh tế thị trường là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản, từ đó "dị ứng" với kinh tế thị trường, không thấy hết những yếu tố mới, xu hướng mới của kinh tế thị trường trong điều kiện mới của thời đại, lặp lại sai lầm của một thời trước đây. Cũng có ý kiến nhấn mạnh một chiều những đặc trưng chung, những cái phổ biến của kinh tế thị trường, chưa thấy hết hoặc còn phân vân, nghi ngờ về những đặc điểm riêng, những cái đặc thù của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó chưa tin là kinh tế thị trường có thể phát triển trên cơ sở chế độ công hữu là nền tảng, kinh tế quốc doanh là chủ đạo; rằng trong kinh tế thị trường không thể có kế hoạch, không thể thực hiện được công bằng xã hội, không thể khắc phục được những tiêu cực, mặt trái của cơ chế thị trường, v.v.. Lại có ý kiến băn khoăn cho rằng, việc lựa chọn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là trở về với chủ nghĩa tư bản, có thêm định ngữ "định hướng xã hội chủ nghĩa" thì cũng chỉ là để cho yên lòng, cho có vẻ "giữ vững lập trường" mà thôi, trước sau gì thì cũng trượt sang con đường tư bản chủ nghĩa. Chúng tôi cho rằng, những băn khoăn này là dễ hiểu, bởi vì đây là những điều còn rất mới mẻ, chưa có tiền lệ, nếu không xác định rõ nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa và kiên trì vai trò quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường thì những điều đó rất dễ xảy ra. Chúng tôi còn phải vừa làm vừa tổng kết, rút kinh nghiệm. Nhưng có điều cần khẳng định là: trong điều kiện mới của thời đại ngày nay, nhất định không thể duy trì mãi mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, không thể đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản. Chính C.Mác đã phê phán sự lầm lẫn giữa kinh tế hàng hóa với kinh tế tư bản chủ nghĩa của phái kinh tế học tầm thường. C.Mác khẳng định rằng : "... sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa là những hiện tượng thuộc về nhiều phương thức sản xuất hết sức khác nhau, tuy rằng quy mô và tầm quan trọng của chúng không giống nhau... Chúng ta hoàn toàn chưa biết một tí gì về những đặc điểm riêng của những phương thức sản xuất ấy và chúng ta chưa thể nói gì về những phương thức ấy, nếu như chúng ta chỉ biết có những phạm trù trừu tượng của lưu thông hàng hóa, những phạm trù chung cho tất cả các phương thức ấy" (1) . Phải chăng việc nhận thức cho đúng và nói cho được những đặc điểm riêng của những phương thức sản xuất đặc thù ấy là trách nhiệm mà C.Mác giao cho và gửi gắm các thế hệ ngày nay? Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải đơn giản là sự trở về với phương thức chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, mà điều quan trọng có ý nghĩa quyết định là phải chuyển sang nền kinh tế hiện đại, văn minh nhằm mục tiêu từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn phù hợp với các quy luật phát triển và các điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại và của những nước đi sau, cho phép các nước này giảm thiểu được những đau khổ và rút ngắn được con đường đi của mình tới chủ nghĩa xã hội trên cơ sở sử dụng được ưu thế cũng như hạn chế được những khuyết điểm của hai cơ chế: kế hoạch và thị trường . Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kiểu tổ chức kinh tế đặc biệt, vừa tuân theo những nguyên tắc và quy luật của hệ thống kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính tính chất, đặc trưng cơ bản này chi phối và quyết định phương tiện, công cụ, động lực của nền kinh tế và con đường đạt tới mục tiêu, là sử dụng kinh tế thị trường, nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều tiết của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phát triển khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, mở cửa và hội nhập nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển rút ngắn để trong khoảng thời gian không dài có thể khắc phục tình trạng lạc hậu, đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. III - Làm thế nào để phát triển được kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ? Đây là một câu hỏi lớn mà muốn trả lời được đầy đủ và chính xác phải qua từng bước thử nghiệm, tổ chức thực hiện trong thực tế rồi đúc rút, bổ sung, hoàn chỉnh dần. Hơn 10 năm qua, kể từ khi Việt Nam bước vào thực hiện mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả và thành tựu đáng mừng, làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước. Kinh tế ra khỏi tình trạng khủng hoảng, hoạt động ngày càng năng động và có hiệu quả. Của cải xã hội ngày càng nhiều, hàng hóa ngày càng phong phú. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Đất nước chẳng những giữ vững được ổn định chính trị trước những chấn động lớn trên thế giới mà còn có bước phát triển đi lên. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân 7% /năm. Nông nghiệp phát triển liên tục, đặc biệt là về sản xuất lương thực, nuôi trồng và khai thác thủy sản. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,5%/năm. Hệ thống kết cấu hạ tầng được tăng cường. Các ngành dịch vụ, xuất khẩu và nhập khẩu phát triển. Quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế không ngừng được mở rộng,... Tuy nhiên, cũng có nhiều vấn đề mới đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết. Từ thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời gian qua và căn cứ vào yêu cầu phát triển trong thời gian tới, có thể xác định những phương hướng, nhiệm vụ cơ bản phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như sau: 1 - Phải tiếp tục thực hiện một cách nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, coi các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Không nên có thái độ định kiến và kỳ thị đối với bất cứ thành phần kinh tế nào. Kinh tế nhà nước phải phát huy được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là nhân tố mở đường cho sự phát triển kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật. Đẩy mạnh việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu của các doanh nghiệp nhà nước; đồng thời tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước theo hướng xóa bao cấp; doanh nghiệp thực sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm về sản xuất, kinh doanh; nộp đủ thuế và có lãi; thực hiện tốt quy chế dân chủ trong doanh nghiệp. Kinh tế tập thể gồm các hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Các hợp tác xã dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn; liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ nông thôn. Nhà nước giúp hợp tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học và công nghệ, thông tin, mở rộng thị trường, xây dựng các quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã. Kinh tế cá thể, tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ phát triển, bao gồm cả các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn. Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động; liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Xây dựng quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp và người lao động. Tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào các sản phẩm xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm. Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài. Phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước dưới dạng các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh tế. Chú trọng các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước và ngoài nước. Phát triển mạnh hình thức tổ chức kinh tế cổ phần nhằm huy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu tư xã hội. 2 - Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường; đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước. Nhìn chung, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mới được bắt đầu, trình độ còn thấp, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh chưa cao. Nhiều thị trường còn sơ khai, chưa đồng bộ. Vì vậy, phải đổi mới mạnh mẽ tư duy hơn nữa, đẩy mạnh việc hình thành các loại thị trường. Đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ, đáp ứng nhu cầu đa dạng và nâng cao sức mua của thị trường trong nước, cả ở thành thị và nông thôn, chú ý thị trường các vùng có nhiều khó khăn. Chủ động hội nhập thị trường quốc tế. Hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh. Mặt khác, phải đổi mới sâu rộng cơ chế quản lý kinh tế, phát huy những yếu tố tích cực của cơ chế thị trường, triệt để xóa bỏ bao cấp trong kinh doanh, tăng cường vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước, đấu tranh có hiệu quả chống các hành vi tham nhũng, lãng phí, gây phiền hà. Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển; bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách, kết hợp với sử dụng lực lượng vật chất của Nhà nước để định hướng phát triển kinh tế - xã hội, khai thác hợp lý các nguồn lực của đất nước, bảo đảm cân đối vĩ mô nền kinh tế, điều tiết thu nhập; kiểm tra, thanh tra mọi hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật, chống buôn lậu, làm hàng giả, gian lận thương mại. Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, trong đó đặc biệt coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ chế chính sách, luật pháp, đổi mới công tác kế hoạch hóa, nâng cao chất lượng công tác xây dựng các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường công tác thông tin kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế, công tác kế toán, thống kê; ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và công nghệ trong công tác dự báo, kiểm tra tình hình thực hiện ở cả cấp vĩ mô và doanh nghiệp. 3 - Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, hướng vào phát triển và lành mạnh hóa xã hội, thực hiện công bằng xã hội, coi đây là một nội dung rất quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội mới. Điều đó chẳng những tạo động lực mạnh mẽ nhằm phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động mà còn thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu chính đáng và hợp pháp, điều tiết các quan hệ xã hội. Trong tình hình cụ thể hiện nay ở Việt Nam, phải bằng nhiều giải pháp tạo ra nhiều việc làm mới. Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Từng bước mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội. Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm cho người lao động thất nghiệp. Cải cách cơ bản chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, khuyến khích người có tài, người làm việc giỏi, khắc phục tình trạng lương và trợ cấp bất hợp lý; tôn trọng thu nhập hợp pháp của người kinh doanh. Tiếp tục thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc những người có công với nước, thương binh, bệnh binh, cha mẹ, vợ con liệt sĩ, gia đình chính sách - một yêu cầu rất lớn đối với một đất nước phải chịu nhiều hậu quả sau 30 năm chiến tranh. Đồng thời đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự và kỷ cương xã hội, ngăn chặn và bài trừ các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma tuý, mại dâm, lối sống không lành mạnh, những hành vi trái pháp luật và đạo lý. Kiên quyết đấu tranh với tệ tham nhũng, hối lộ, làm giàu bất chính, kinh doanh không hợp pháp, gian lận thương mại... cùng với những tiêu cực khác do mặt trái của cơ chế thị trường gây ra. Kết quả cụ thể của cuộc đấu tranh này là thước đo bản lĩnh, trình độ và năng lực quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. 4 - Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc và là nhân tố quyết định nhất bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế thị trường, cũng như toàn bộ sự nghiệp phát triển của đất nước. Đây cũng là một trong những bài học lớn nhất được rút ra trong những năm đổi mới. Càng đi vào kinh tế thị trường, thực hiện dân chủ hóa xã hội, mở rộng hợp tác quốc tế càng phải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Thực tế ở một số nước cho thấy, chỉ cần một chút mơ hồ, buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng là lập tức tạo điều kiện cho các thế lực thù địch dấn tới phá rã sự lãnh đạo của Đảng, cướp chính quyền, đưa đất nước đi con đường khác. Hiện nay, có ý kiến cho rằng, đã chuyển sang kinh tế thị trường - tức là nền kinh tế vận động theo quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh... thì không cần phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sự lãnh đạo của Đảng nhiều khi cản trở, làm "vướng chân" sự vận hành của kinh tế (?). Ý kiến này không đúng và thậm chí rất sai lầm. Bởi vì như trên đã nói, Việt Nam chủ trương phát triển kinh tế thị trường nhưng không phải để cho nó vận động một cách tự phát, mù quáng mà phải có lãnh đạo, hướng dẫn, điều tiết, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, vì lợi ích của đại đa số nhân dân, vì một xã hội công bằng và văn minh. Người có khả năng và điều kiện làm được việc đó không thể ai khác ngoài Đảng Cộng sản - là đảng phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, thật sự đại diện và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng lãnh đạo có nghĩa là Đảng đề ra đường lối, chiến lược phát triển của đất nước nói chung, của lĩnh vực kinh tế nói riêng, bảo đảm tính chính trị, tính định hướng đúng đắn trong sự phát triển kinh tế, làm cho kinh tế chẳng những có tốc độ tăng trưởng và năng suất lao động cao, có lực lượng sản xuất không ngừng lớn mạnh mà còn đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là hạn chế được bất công, bóc lột, chăm lo và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân lao động. Trên cơ sở đường lối, chiến lược đó, Đảng lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị và guồng máy xã hội, trước hết là Nhà nước, tổ chức thực hiện bằng được phương hướng và nhiệm vụ đã đề ra. Đương nhiên, để có đủ trình độ, năng lực lãnh đạo, Đảng phải thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, được nhân dân tin cậy và ủng hộ. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng, có trí tuệ, có kiến thức, giữ gìn đạo đức cách mạng và lối sống lành mạnh, đấu tranh khắc phục có hiệu quả tệ tham nhũng và các hiện tượng thoái hóa, hư hỏng trong Đảng và trong bộ máy của Nhà nước. Tóm lại, sự hình thành tư duy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ đơn thuần là sự tìm tòi và phát kiến về mặt lý luận của chủ nghĩa xã hội, mà còn là sự lựa chọn và khẳng định con đường và mô hình phát triển trong thực tiễn mang tính cách mạng và sáng tạo của Việt Nam. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình tất yếu phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Tuy nhiên, đây là sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, bởi lẽ nó rất mới mẻ, chưa có tiền lệ, phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Riêng về mặt lý luận cũng còn không ít vấn đề phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu, tổng kết, làm sáng tỏ. Chẳng hạn như: các vấn đề về chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế; về lao động và bóc lột; về quản lý doanh nghiệp nhà nước ra sao để nó đóng được vai trò chủ đạo; làm thế nào để thực hiện được công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế còn thấp kém; vấn đề bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong điều kiện phát triển kinh tế nhiều thành phần; các giải pháp tăng cường sức mạnh và hiệu lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chống quan liêu, tham nhũng, v.v.. Với phương châm "Hãy bắt tay vào hành động, thực tiễn sẽ cho câu trả lời" , hy vọng rằng từng bước, từng bước, thực tiễn sẽ làm sáng tỏ được các vấn đề nêu trên, góp phần làm phong phú thêm lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện Việt Nam trong thời đại ngày nay. * GS, TS, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương (1) C.Mác và Ph.Ăng-ghen : Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, t 23, tr 175
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1053602/doi-moi-to-chuc-bo-may-cua-he-thong-chinh-tri-%E2%80%9Ctinh---gon---manh---hieu-nang---hieu-luc---hieu-qua%E2%80%9D-theo-tinh-than-dinh-huong-cua-dong-chi-gs%2C-ts%2C-tong-bi-thu-to-lam.aspx
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm
15-02-2025
Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là nhiệm vụ đột phá chiến lược đưa đất nước phát triển toàn diện
Tổng Bí thư Tô Lâm trao đổi với các đại biểu Quốc hội bên lề phiên thảo luận tổ tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khoá XV, ngày 13-2-2025_Nguồn: dantri.com.vn Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là nhiệm vụ đột phá chiến lược đưa đất nước phát triển toàn diện Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cơ sở bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Thực tiễn công cuộc đổi mới những năm qua cho thấy, hệ thống chính trị nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ chủ quyền quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho nhân dân. Có thể khẳng định, việc không ngừng đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là một trong những điều kiện cơ bản, quyết định đưa đất nước đạt được những thành tựu to lớn trong suốt chặng đường gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới vừa qua. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là một trong những nội dung trọng tâm của quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Nghị quyết số 06-NQ/HNTW, ngày 29-3-1989, Hội nghị Trung ương 6 khóa VI, về kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới và các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, XII, XIII đều nhấn mạnh nhiệm vụ tinh gọn tổ chức bộ máy, xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới. Ngày 25-10-2017, Ban Chấp hành trung ương đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 6 khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Nghị quyết số 18-NQ/TW đề ra mục tiêu: “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giảm chi thường xuyên và góp phần cải cách chính sách tiền lương” (1) . Để triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đã được sắp xếp, tinh gọn và đạt được một số kết quả nổi bật. Về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống hành chính nhà nước: Đối với tổ chức hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ: đã giảm được 17 tổng cục và tổ chức tương đương tổng cục, giảm 10 cục thuộc tổng cục và thuộc bộ, giảm 144 vụ/ban thuộc tổng cục và thuộc bộ, cơ bản giảm phòng trong vụ (không tính Bộ Công an và Bộ Quốc phòng). Đối với địa phương: đã giảm được 13 sở và tương đương, giảm 2.590 phòng và tương đương thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Về đơn vị sự nghiệp công lập: đến hết năm 2023 còn 46.540 đơn vị (giảm 8.149 đơn vị, tương ứng 15,13%). Về sắp xếp đơn vị hành chính : giai đoạn 2019 - 2021 có 45/45 tỉnh, thành phố thuộc diện sắp xếp đã giảm 8 đơn vị hành chính cấp huyện, 561 đơn vị hành chính cấp xã; giai đoạn 2023 - 2025, có 51/51 tỉnh, thành phố thuộc diện sắp xếp, đã thực hiện giảm 9 đơn vị hành chính cấp huyện, 563 đơn vị hành chính cấp xã. Bên cạnh kết quả đã đạt được, thực tiễn cho thấy việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị chưa thực sự quyết liệt, đồng bộ và tổng thể. Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, đầu mối; phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vẫn còn trùng lắp, chồng chéo; phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, thiếu hợp lý; việc sắp xếp chưa thực sự gắn với xác định vị trí việc làm, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Hạn chế, bất cập đó đã kìm hãm sự phát triển, giảm tính chủ động, sáng tạo, gây cản trở, thậm chí tạo điểm nghẽn, ảnh hưởng đến cơ hội phát triển của đất nước. Trước tình hình đó, Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài viết về xây dựng hệ thống chính trị với tiêu đề “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả”, trong đó nhấn mạnh cần khẩn trương thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị với một số nhiệm vụ trọng tâm như: Xây dựng, tổ chức thực hiện trong toàn hệ thống chính trị mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới; tập trung hoàn thiện thể chế theo tinh thần “vừa chạy, vừa xếp hàng” để nhanh chóng đưa chủ trương của Đảng vào thực tiễn cuộc sống; gắn tinh gọn tổ chức bộ máy với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, biên chế hợp lý, chuẩn hóa chức danh… Định hướng của đồng chí Tổng Bí thư vô cùng đúng đắn, tạo nên thay đổi về chất mang tính đột phá nhằm xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà phát biểu tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo về sắp xếp, tinh gọn bộ máy của Chính phủ_Ảnh: TTXVN Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả” Quan điểm “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả” do Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm đề ra đã trở thành kim chỉ nam quan trọng cho công cuộc đổi mới tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị. Để bảo đảm thực hiện quan điểm chỉ đạo đúng đắn đó, trong thời gian tới, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cần tập trung đổi mới nội dung cụ thể sau: Một là , đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, ít tầng cấp, ít đầu mối, không trùng lắp, không chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ. Thực hiện rà soát, tổ chức lại đơn vị có chức năng, nhiệm vụ trùng lặp, loại bỏ tầng nấc trung gian. Dự kiến tổ chức bộ máy Chính phủ khóa XV và khóa XVI (nhiệm kỳ 2026 - 2031) được tinh gọn còn 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ (giảm 4 bộ và 1 cơ quan ngang bộ); có 5 cơ quan thuộc Chính phủ (giảm 3 cơ quan thuộc Chính phủ). Đồng thời, giảm 13/13 tổng cục và tổ chức tương đương; dự kiến giảm 450 cục thuộc bộ, thuộc tổng cục và tương đương; 214 vụ thuộc bộ, cơ quan ngang bộ và thuộc tổng cục; 2.668 chi cục thuộc tổng cục, cục thuộc bộ; giảm 203 đơn vị sự nghiệp công lập của bộ, cơ quan ngang bộ. Bên cạnh việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, cần quy định cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan, bảo đảm “một cơ quan thực hiện nhiều việc, một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính; khắc phục triệt để chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ”, tránh tình trạng lạm quyền hoặc trốn tránh trách nhiệm. Xác định đúng chức năng, nhiệm vụ sẽ là cơ sở, điều kiện để xác định đúng cơ cấu tổ chức, số lượng biên chế, nguồn lực và chi phí hoạt động, từ đó bảo đảm hiệu năng, hiệu quả hoạt động, nguồn lực sẽ được phân bổ tối ưu, chính sách sẽ được triển khai đồng bộ và đạt hiệu quả thực chất hơn. Hai là, xây dựng cơ chế vận hành của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị bảo đảm thống nhất, thông suốt, nhanh nhạy, hiệu lực, hiệu quả. Các mối quan hệ ngang, dọc giữa các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, mối quan hệ lãnh đạo, quản lý giữa cấp trên và cấp dưới, giữa cá nhân người đứng đầu và tập thể, quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức cùng cấp,... phải được xác định hợp lý, ăn khớp, đồng bộ, nhịp nhàng. Chú trọng chuyển đổi quy trình nội bộ cũng như mối quan hệ giữa các cấp, cơ quan, tổ chức trong bộ máy trên cơ sở ứng dụng công nghệ số. Việc ứng dụng công nghệ số, xây dựng Chính phủ số, chính quyền số sẽ giúp thay đổi cơ bản cách thức quản lý, giúp cơ quan, tổ chức phản ứng nhanh với tình huống khẩn cấp, tăng cường mối quan hệ tương tác giữa chính quyền với người dân. Ba là, tăng cường, đổi mới cơ chế phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương theo hướng bảo đảm quản lý thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Phân cấp, phân quyền phải rành mạch, rõ việc, rõ địa chỉ, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm. Phân định nhiệm vụ phải gắn với thẩm quyền và trách nhiệm tương ứng, phù hợp với điều kiện, đặc điểm nông thôn, đô thị, vùng núi, hải đảo và với đặc thù của từng ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội. Phân cấp, phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương phải bảo đảm điều kiện cần thiết về nguồn lực tài chính - ngân sách, nguồn nhân lực và điều kiện cần thiết khác. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, nhưng phải gắn với cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Bốn là, tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, thực tài, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn không đơn thuần là cắt giảm số lượng, mà còn phải chú trọng cải thiện, nâng cao chất lượng đội ngũ, bảo đảm mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải có đủ trình độ chuyên môn, năng lực, kỹ năng đáp ứng yêu cầu công việc cũng như có đầy đủ phẩm chất đạo đức, tâm huyết, trách nhiệm. Cán bộ, công chức, viên chức phải thường xuyên tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ cũng như phải thực sự cầu thị, sẵn sàng học hỏi, tiếp thu kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm mới để có thể nâng cao chất lượng, kết quả thực thi nhiệm vụ, công vụ trong môi trường có nhiều thay đổi như hiện nay. Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy đòi hỏi phải xác định biên chế hợp lý, chuẩn hóa chức danh, xây dựng cơ chế đánh giá minh bạch, khoa học, dựa trên kết quả công việc cụ thể nhằm khích lệ người làm việc tốt, đồng thời loại bỏ cá nhân không đáp ứng yêu cầu, qua đó nâng cao hiệu suất công việc. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tham mưu xây dựng thể chế, chính sách có năng lực chuyên môn cao, có tầm nhìn và khả năng dự báo. Có cơ chế, chính sách hợp lý, đủ mạnh để thu hút, trọng dụng người có tài năng và có phẩm chất đạo đức tốt vào làm việc cho cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị. Năm là, đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị phải bảo đảm thu hút, mở rộng sự tham gia và vai trò giám sát của người dân; tăng cường, củng cố mối quan hệ mật thiết với nhân dân, phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Đảng lãnh đạ o h ệ th ố ng chính tr ị ph ụ c v ụ cho l ợ i ích c ủ a nhân dân và dân tộc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh… Củng cố niềm tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa” (2) . Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đặt quyền lợi của người dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối của mình với mục đích cuối cùng là người dân được thụ hưởng thành quả của sự nghiệp cách mạng. Chính vì vậy, cần thu hút được sự tham gia và giám sát rộng rãi, thực chất, cụ thể của người dân trong hoạt động xây dựng, thực thi chính sách, thể chế, chiến lược phát triển của đất nước cũng như của cả hệ thống chính trị, bảo đảm tính thực tiễn, tính khả thi, không quan liêu, mang lại lợi ích thiết thực và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và cả hệ thống chính trị. Các đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Bắc Giang bỏ phiếu bầu các chức danh lãnh đạo thành phố Bắc Giang sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện_Ảnh: TTXVN Giải pháp thực hiện đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả” Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo hướng “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả” theo tinh thần định hướng của Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm, cần chú trọng thực hiện tốt các giải pháp cụ thể sau: Thứ nhất, nghiêm túc quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, Hội nghị Trung ương 6 khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Những tư tưởng chỉ đạo trên phải được quán triệt đầy đủ, sâu rộng trong toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhằm tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động, lan tỏa mạnh mẽ trong cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương và toàn xã hội. Việc triển khai thực hiện phải luôn bám sát Cương lĩnh , Hiến pháp, Điều lệ Đảng và các văn kiện của Đảng trong việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Nghiêm túc thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo việc đổi mới, sắp xếp và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Thứ hai, tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cấp ủy, cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên trong hệ thống Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân về mô hình tổ chức bộ máy mới. Sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy là công việc khó khăn, nhạy cảm, phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi cán bộ, công chức, viên chức, nhất là trong việc đề xuất giải thể, sáp nhập một số cơ quan, tổ chức. Chính vì vậy, cần làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, công tác tuyên truyền trong toàn hệ thống chính trị và xã hội về yêu cầu, nhiệm vụ tinh gọn bộ máy đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Đồng thời, đề cao, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu như Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm đã yêu cầu: Trung ương phải gương mẫu, các ban của Đảng phải gương mẫu, Quốc hội gương mẫu, Chính phủ gương mẫu,… nhằm bảo đảm sự đoàn kết, quyết tâm cao, vì lợi ích chung của từng đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức trong toàn hệ thống chính trị. Thứ ba, hoàn thiện thể chế, quy định pháp luật nhằm bảo đảm thể chế hóa kịp thời chủ trương, chính sách của Đảng về đổi mới tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị trong thực tiễn. Rà soát toàn bộ hệ thống quy định, văn bản liên quan để sửa đổi, bổ sung phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới, kịp thời tháo gỡ điểm nghẽn, rào cản phát triển; huy động, khơi thông mọi nguồn lực bên trong, bên ngoài, nguồn lực trong dân, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Theo dõi, bám sát việc triển khai thực hiện thể chế, pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động của cơ quan, tổ chức được xây dựng theo mô hình tổ chức bộ máy mới, đánh giá kết quả hoạt động, từ đó có giải pháp điều chỉnh kịp thời, khắc phục hạn chế, bất cập để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức. Thứ tư , sắp xếp tổ chức bộ máy chắc chắn sẽ tác động đến tâm tư, tình cảm, quyền lợi của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị, do đó, phải thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động bị ảnh hưởng. Cơ chế, chính sách phải bảo đảm tính công bằng, hài hòa trong tổng tương quan chung giữa các đối tượng nhằm ổn định cuộc sống, quyền và lợi ích để không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy. Việc xây dựng chính sách phải gắn với trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong đánh giá, sàng lọc, lựa chọn đối tượng nghỉ gắn với tinh giản biên chế và cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ, đồng thời không để chảy máu chất xám, bảo đảm duy trì và giữ chân cán bộ, công chức, viên chức tốt, có năng lực, phẩm chất ngang tầm nhiệm vụ. Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát để phòng, chống việc lợi dụng chủ trương sắp xếp bộ máy để tiêu cực, tham nhũng. Xử lý nghiêm, kịp thời trường hợp lợi dụng việc sắp xếp tổ chức, gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và cơ quan, tổ chức. Phát huy và tạo điều kiện thuận lợi cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia công tác giám sát, kiểm tra việc xây dựng mô hình tổ chức bộ máy mới. Đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm đã quyết định lựa chọn thời điểm có ý nghĩa lịch sử để tiến hành cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, đó là thời điểm chuẩn bị cho đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng với quyết sách lớn cho đất nước, chuẩn bị chào mừng 95 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 50 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và 80 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là thời điểm cấp thiết và cấp bách hơn bao giờ hết để đất nước ta phát triển phù hợp với sự thay đổi của thời đại, bước vào kỷ nguyên mới với vị thế và tầm vóc mới trên trường quốc tế. Đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị không chỉ là cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, mà còn là cuộc cách mạng thay đổi tư duy với tầm nhìn và nhận thức mới. Chính bởi vậy, đây cũng là cuộc cách mạng đầy khó khăn, thách thức, phức tạp, cam go và có cả sự cản trở, đòi hỏi bản lĩnh, ý chí, trí tuệ, đoàn kết, thống nhất, sự dấn thân, dũng cảm và hy sinh của mỗi cán bộ, công chức, viên chức cũng như của cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu trong hệ thống chính trị để việc triển khai được tiến hành nhanh, tích cực và hiệu quả. Với tinh thần trách nhiệm và quyết tâm mạnh mẽ, chắc chắn công cuộc đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả” sẽ thành công, góp phần vì một đất nước Việt Nam hùng cường, nhân dân Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc…/. ----------------------- (1) Xem: Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, Hội nghị Trung ương 6 khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xii/nghi-quyet-so-18-nqtw-ngay-25102017-hoi-nghi-lan-thu-sau-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-mot-so-van-de-ve-tiep-568 (2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 199 - 200
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/1220202/chinh-sach-doi-ngoai-cua-chinh-quyen-tong-thong-my-donald-trump-trong-nhiem-ky-thu-hai--tiep-can-tu-goc-do-lich-su-va-van-hoa.aspx
Chính sách đối ngoại của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump trong nhiệm kỳ thứ hai: Tiếp cận từ góc độ lịch sử và văn hóa
26-02-2026
Sự tiếp nối và điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Mỹ
Sự tiếp nối và điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Mỹ Trong nhiệm kỳ đầu (2017 - 2021), chính quyền của Tổng thống Mỹ D. Trump triển khai học thuyết “Nước Mỹ trên hết” một cách nhất quán, đặt lợi ích và chủ quyền quốc gia - dân tộc lên trên các cam kết đa phương. Chính quyền của Tổng thống D. Trump đã rút khỏi hoặc xem xét lại một số thỏa thuận và cơ chế quốc tế được cho là không còn phù hợp với lợi ích cho Mỹ, như Hiệp ước Bầu trời mở (năm 2002), Thỏa thuận hạt nhân Iran (JCPOA, năm 2015), Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP, năm 2016; hiện nay là Hiệp định Đối tác và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP). Tổng thống Mỹ Donald Trum tại Phiên khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza tại Thủ đô Washington D.C., Hoa Kỳ_Ảnh: TTXVN Những động thái này phản ánh sự thay đổi rõ nét trong tư duy đối ngoại của Mỹ, từ định hướng chú trọng hợp tác và cam kết quốc tế sang ưu tiên bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và chủ quyền kinh tế. Cách tiếp cận đó cho thấy xu hướng thu hẹp vai trò của Mỹ trong các cơ chế đa phương, đồng thời nhấn mạnh yếu tố tự chủ trong hoạch định chính sách đối ngoại. Bên cạnh đó, chính quyền Tổng thống D. Trump theo đuổi chính sách thương mại mang tính bảo hộ cao, áp dụng thuế quan bổ sung đối với cả các đồng minh như Liên minh châu Âu (EU) và Canada, cũng như các đối tác cạnh tranh chiến lược. Chính sách này không chỉ làm gia tăng căng thẳng thương mại toàn cầu, mà còn đặt ra vấn đề về mức độ cam kết và vai trò lãnh đạo của Mỹ trong hệ thống kinh tế quốc tế hiện nay. Kể từ khi chính thức tuyên thệ nhậm chức vào ngày 20-1-2025, chính quyền của Tổng thống Mỹ D. Trump đã nhanh chóng khẳng định định hướng đối ngoại của nhiệm kỳ thứ hai trên cơ sở tiếp nối học thuyết “Nước Mỹ trên hết”, song với mức độ cứng rắn, chủ động và thực dụng hơn so với giai đoạn trước. Tháng 12-2025, Chiến lược An ninh quốc gia (NSS 2025) được công bố cho thấy tư duy đối ngoại của chính quyền Tổng thống D. Trump “phiên bản 2.0” vẫn đặt trọng tâm vào lợi ích quốc gia - dân tộc, thể hiện rõ qua một số ưu tiên chủ yếu, như: 1- Đẩy mạnh cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc; 2- Xem xét, điều chỉnh cam kết với các đồng minh truyền thống; 3- Đánh giá thận trọng hơn việc tham gia các sáng kiến toàn cầu nếu không mang lại lợi ích trực tiếp cho Mỹ. Về phương thức điều hành, chính quyền Tổng thống Mỹ D. Trump thể hiện xu hướng tăng cường tập trung quyền lực hành pháp, mở rộng phạm vi kiểm soát đối với các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại. Trong những tuần đầu nhiệm kỳ, Tổng thống Mỹ D. Trump đã tiến hành điều chỉnh đáng kể đội ngũ nhân sự cấp cao trong lĩnh vực an ninh - đối ngoại, cắt giảm quy mô bộ máy Hội đồng An ninh quốc gia, đồng thời đẩy mạnh cơ cấu lại Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) theo hướng sáp nhập vào Bộ Ngoại giao nhằm tăng cường tính thống nhất trong quản lý nguồn lực và phối hợp chính sách đối ngoại. Những điều chỉnh trên phản ánh nỗ lực củng cố vai trò trung tâm của Tổng thống Mỹ D. Trump trong hoạch định và điều phối chính sách, đồng thời cho thấy xu hướng tập trung hóa quyền lực, thu hẹp cơ chế giám sát nội bộ trong bộ máy hành pháp. Cách tiếp cận này thể hiện mô hình quản trị thiên về cá nhân lãnh đạo, đặt trọng tâm vào hiệu quả điều hành và khả năng kiểm soát trực tiếp các quyết sách chiến lược về an ninh - đối ngoại của Mỹ. Chính quyền Tổng thống Donald Trump dưới góc nhìn lịch sử - văn hóa chính trị Mỹ Chủ nghĩa Jacksonian - biểu hiện của tư tưởng dân túy trong tiến trình phát triển nước Mỹ Theo giới nghiên cứu, sự nổi lên của “hiện tượng Donald Trump” đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của xu hướng dân túy trong đời sống chính trị Mỹ. Hiện tượng này thể hiện qua sự thay đổi trong phong cách diễn ngôn, phương thức vận động, đồng thời tác động sâu sắc đến cấu trúc liên minh cử tri, bản sắc đảng phái và cơ chế vận hành của nền chính trị Mỹ. Chủ nghĩa dân túy (populism) - có nguồn gốc từ tiếng Latinh “populus” nghĩa là “nhân dân” - về bản chất là khuynh hướng chính trị đề cao vai trò, ý chí và nguyện vọng của nhân dân trong quá trình hoạch định và thực thi quyền lực. Ở góc độ khác, khái niệm “dân túy” thường được dùng để nói về những thủ đoạn chính trị mang tính mị dân, đánh vào tâm lý đám đông để lôi kéo, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận và nhân dân. Trong lịch sử, chủ nghĩa dân túy xuất hiện từ đầu thế kỷ XIX, gắn với các phong trào nông dân và trí thức phản ứng trước tình trạng bất bình đẳng kinh tế - xã hội trong bối cảnh công nghiệp hóa và tư bản hóa. Tại Mỹ, tư tưởng dân túy hình thành khi các tầng lớp nông dân và lao động kêu gọi cải cách về thuế khóa, quyền sở hữu đất đai và tăng cường vai trò điều tiết của nhà nước trong nền kinh tế. Đến cuối thế kỷ XIX, làn sóng dân túy phát triển mạnh trong các phong trào xã hội ở nông thôn, góp phần định hình cơ sở chính trị - xã hội cho quá trình phát triển của hệ thống đảng phái, đặc biệt là Đảng Dân chủ hiện đại. Kết quả của cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016 cho thấy sự nổi lên của xu hướng dân túy trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi xã hội sâu rộng. Dưới khẩu hiệu “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” (Make America Great Again - MAGA), Tổng thống D. Trump đã khai thác và phản ánh những mâu thuẫn tiềm ẩn trong xã hội Mỹ liên quan đến vấn đề kinh tế, nhập cư và biến đổi văn hóa. Xu hướng dân túy đương đại thể hiện qua việc định hình lại phong cách diễn ngôn chính trị, mô hình truyền thông và phương thức tương tác trực tiếp giữa giới lãnh đạo với người dân trong kỷ nguyên số. Nhiều học giả cho rằng, sự xuất hiện của “hiện tượng Donald Trump” có thể được xem như sự tiếp nối của truyền thống Jacksonian - một xu hướng dân túy mang tính dân tộc, gắn liền với Tổng thống Mỹ Andrew Jackson ở thế kỷ XIX. Về tư tưởng, chủ nghĩa Jacksonian nhấn mạnh khái niệm “nước Mỹ của người Mỹ”, coi trọng các giá trị văn hóa và niềm tin tôn giáo phổ biến trong xã hội, đề cao bảo vệ an ninh, phúc lợi và tự do của người dân trong phạm vi quốc gia, đồng thời giữ quan điểm thận trọng đối với các cam kết quốc tế. Trong lịch sử nước Mỹ, Tổng thống A. Jackson (1) được xem là biểu tượng của niềm tin vào năng lực tự quản của người dân, nhất là nông dân, công nhân và cư dân miền Tây, trong bối cảnh tiến trình dân chủ đang được mở rộng mạnh mẽ. Ở một số phương diện, Tổng thống Mỹ D. Trump được nhìn nhận như người kế thừa tinh thần đó trong thế kỷ XXI, thể hiện qua khả năng chuyển hóa tâm lý bất mãn của một bộ phận cử tri thành sức mạnh chính trị. Cả hai nhà lãnh đạo Mỹ đều hướng đến hình ảnh đại diện cho tầng lớp phổ thông và nhận được sự ủng hộ từ những nhóm cử tri cảm thấy bị thiệt thòi trong quá trình biến đổi kinh tế - xã hội. Phong cách chính trị của Tổng thống D. Trump cho thấy đặc trưng của xu hướng dân túy hiện đại, với diễn ngôn trực tiếp, chú trọng đối thoại với công chúng và xu hướng vượt ra ngoài khuôn khổ giao tiếp chính trị truyền thống. Những phát biểu mang tính thẳng thắn và khác biệt được xem là phương thức duy trì mối liên hệ trực tiếp với cử tri trong bối cảnh truyền thông kỹ thuật số phát triển mạnh mẽ. Xét trong tương quan lịch sử, tinh thần dân túy của hai thời kỳ có những điểm tương đồng nhất định, song được biểu hiện trong những điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thông khác nhau. Tổng thống A. Jackson hoạt động trong bối cảnh nước Mỹ còn dựa nhiều vào nông nghiệp, truyền thông chưa phát triển và nền dân chủ đang từng bước mở rộng; trong khi, Tổng thống D. Trump xuất hiện trong giai đoạn toàn cầu hóa sâu rộng, phân cực chính trị gia tăng và công nghệ truyền thông phát triển với tốc độ hết sức mạnh mẽ. Ở cả hai giai đoạn, có thể nhận thấy sự xuất hiện của những yếu tố có tính lặp lại trong đời sống chính trị Mỹ, như khủng hoảng niềm tin vào thể chế, tình trạng bất bình đẳng ngày càng rõ nét và nhu cầu khẳng định vai trò của các nhóm xã hội phổ thông trong tiến trình phát triển quốc gia. Từ góc nhìn lịch sử, “hiện tượng Donald Trump” có thể được nhận diện như một biểu hiện mới của xu hướng dân túy trong đời sống chính trị Mỹ, phản ánh tính chu kỳ và tính điều chỉnh nội tại của nền dân chủ Mỹ trong quá trình thích ứng với biến động của thời đại toàn cầu hóa. Chủ nghĩa hiện thực theo tư duy của Tổng thống Mỹ Richard Nixon Nhiều nhà phân tích cho rằng, Tổng thống Mỹ D. Trump có những điểm tương đồng với Tổng thống Mỹ Richard Nixon (nhiệm kỳ 1969 - 1974) trong cách tiếp cận chính trị và đối ngoại mang đậm màu sắc chủ nghĩa hiện thực (realism). Là người đề cao tư duy thực dụng, Tổng thống Mỹ R. Nixon luôn đặt lợi ích chiến lược của quốc gia - dân tộc vào vị trí trung tâm trong hoạch định chính sách, kể cả trong quan hệ với các quốc gia có khác biệt về ý thức hệ. Tổng thống Mỹ R. Nixon chủ trương duy trì đối thoại, sử dụng linh hoạt các công cụ ngoại giao, đồng thời cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và yêu cầu của trật tự quốc tế. Trong nhiều quyết sách, Tổng thống Mỹ D. Trump cũng thể hiện rõ khuynh hướng hiện thực khi ưu tiên lợi ích quốc gia - dân tộc, giảm sự phụ thuộc vào cam kết đa phương và đề cao hiệu quả thực tế hơn là các giá trị biểu tượng. Ở khía cạnh phong cách chính trị, một số học giả nhận định rằng Tổng thống D. Trump có sự tương đồng nhất định với tư duy mà Tổng thống Mỹ R. Nixon từng thể hiện thông qua “Học thuyết kẻ điên” (Madman Theory). Đây là chiến lược trong quan hệ quốc tế, trong đó nhà lãnh đạo chủ động tạo ra hình ảnh khó dự đoán nhằm gia tăng sức ép trong đàm phán và buộc đối phương thận trọng hơn trong ứng xử. Nếu Tổng thống R. Nixon từng vận dụng cách tiếp cận này trong bối cảnh Chiến tranh lạnh, thì Tổng thống D. Trump cho thấy xu hướng tương tự trong một số hoạt động đối ngoại, qua đó phản ánh phong cách lãnh đạo đề cao tính linh hoạt và yếu tố bất ngờ như công cụ tạo lợi thế trong thương lượng quốc tế. Bên cạnh đó, điểm tương đồng đáng chú ý giữa hai nhà lãnh đạo thể hiện ở việc cùng khai thác tâm lý của số đông cử tri “thầm lặng” (silent majority) ( 1 ) vốn gắn bó với các giá trị truyền thống, coi trọng trật tự và mong muốn ổn định xã hội. Trong bối cảnh cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, khi nước Mỹ trải qua những biến động xã hội sâu sắc, Tổng thống R. Nixon đã sử dụng khái niệm này để kêu gọi sự ủng hộ của những người dân ít bộc lộ quan điểm công khai nhưng vẫn mong muốn duy trì trật tự, luật pháp và các giá trị truyền thống. Gần nửa thế kỷ sau, Tổng thống Mỹ D. Trump vận dụng lại chiến lược này trong một bối cảnh khác. Ông hướng đến những cử tri cảm thấy bị gạt ra ngoài lề trong quá trình toàn cầu hóa và tự động hóa, nhất là tầng lớp lao động truyền thống chịu nhiều tác động từ chuyển dịch kinh tế. Chiến lược chính trị của Tổng thống D. Trump tạo ra hiệu ứng tập hợp cử tri, chuyển hóa tâm lý bất mãn thành động lực ủng hộ và tái cấu trúc trục đối lập trong đời sống chính trị Mỹ đương đại. Tuy nhiên, trong phương thức tiếp cận và phong cách lãnh đạo có sự khác biệt rõ nét, đặc biệt khi Tổng thống D. Trump thể hiện cách tiếp cận linh hoạt, thiên về sử dụng truyền thông đại chúng làm công cụ chính trị chủ đạo; đồng thời, mở rộng khái niệm “số đông thầm lặng” thành công cụ văn hóa chính trị, phản ánh xu hướng phản ứng trước những thay đổi giá trị trong xã hội Mỹ hiện đại. Từ góc nhìn chính trị và học thuật, có thể nhận thấy cả hai nhà lãnh đạo Mỹ đều đại diện cho một giai đoạn phát triển của tư duy hiện thực trong chính trị Mỹ, nơi lợi ích quốc gia, sức mạnh kinh tế và bản sắc dân tộc tiếp tục được đặt ở vị trí trung tâm của chính sách. Sự kế thừa và điều chỉnh này cho thấy chủ nghĩa hiện thực không chỉ là một học thuyết trong quan hệ quốc tế, mà còn là khuynh hướng tư duy linh hoạt, có khả năng thích ứng với biến động của môi trường toàn cầu. Sự khác biệt về sứ mệnh và giá trị theo tư duy của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan Xuất thân từ lĩnh vực ngoài chính trị, cùng sử dụng khẩu hiệu “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”, Tổng thống D. Trump và Tổng thống Ronald Reagan (nhiệm kỳ 1981 - 1989) đều nhấn mạnh vai trò của sức mạnh quốc gia. Dưới góc nhìn văn hóa chính trị, có thể nhận thấy giữa hai nhà lãnh đạo này tồn tại một số điểm tương đồng, như chú trọng tăng cường quốc phòng, giữ thái độ thận trọng đối với chủ nghĩa đa phương và mong muốn các đồng minh chia sẻ nhiều hơn trách nhiệm trong các vấn đề quốc tế. Tổng thống Ronald Reagan được xem là người có ảnh hưởng sâu sắc trong việc định hình lại tư tưởng bảo thủ của nước Mỹ sau thời kỳ khủng hoảng hậu Watergate. Ông đã quy tụ các khuynh hướng bảo thủ thành một liên minh chính trị thống nhất, tạo nên trật tự bảo thủ kéo dài trong nhiều thập niên. Về kinh tế, ông R. Reagan theo đuổi chính sách giảm thuế, nới lỏng điều tiết thị trường, thu hẹp vai trò nhà nước trong các lĩnh vực phi an ninh, đồng thời coi chính phủ là công cụ cần thiết để bảo đảm sức mạnh quốc phòng và duy trì vị thế quốc gia. Trên lĩnh vực xã hội, Tổng thống R. Reagan gắn liền với phong trào đề cao các giá trị đạo đức truyền thống, coi trọng vai trò của tôn giáo và gia đình, khuyến khích tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước. Về đối ngoại, Tổng thống R. Reagan được biết đến với cách tiếp cận kết hợp giữa sức mạnh và lý tưởng. Ông coi nước Mỹ là quốc gia có trách nhiệm duy trì hòa bình và trật tự quốc tế. Chính sách đối ngoại của ông R. Reagan vừa thể hiện lập trường kiên định về quốc phòng, vừa thúc đẩy đối thoại trong bối cảnh Chiến tranh lạnh đang dần khép lại. Đặt trong mối liên hệ so sánh với di sản của Tổng thống R. Reagan, một trong những điểm tương đồng rõ nét là việc sử dụng ngôn ngữ biểu tượng gắn với nước Mỹ. Khẩu hiệu “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” được Tổng thống D. Trump “hồi sinh” như một thông điệp kết nối cảm xúc với cử tri nhằm khơi dậy niềm tin và khát vọng phục hưng quốc gia, dù bối cảnh hai thời kỳ rất khác nhau. Tổng thống D. Trump cũng duy trì chính sách giảm thuế và cắt giảm quy định nhằm đề cao tự do kinh tế. Tuy nhiên, nếu Tổng thống R. Reagan hướng tới hình ảnh nhà lãnh đạo dung hòa, kêu gọi đoàn kết dân tộc, thì Tổng thống D. Trump nhấn mạnh bản sắc riêng và tính đối kháng trong diễn ngôn chính trị, phản ánh sự thay đổi trong môi trường chính trị và truyền thông Mỹ đương đại. Một điểm tương đồng khác là mối quan hệ với các nhóm cử tri Cơ đốc giáo bảo thủ. Cả hai nhà lãnh đạo đều nhận được sự ủng hộ từ nhóm này, song cách tiếp cận có sự khác biệt. Ông R. Reagan dựa trên thông điệp đạo đức và niềm tin tôn giáo, trong khi ông D. Trump tập trung vào các chính sách cụ thể, như bổ nhiệm thẩm phán và bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Từ góc nhìn lý luận, giới chuyên gia cho rằng, nếu Tổng thống R. Reagan biểu trưng cho giai đoạn nước Mỹ tự tin mở rộng ảnh hưởng, thì Tổng thống D. Trump phản ánh xu hướng bảo vệ lợi ích và bản sắc quốc gia trong thời kỳ toàn cầu hóa. Hai thời kỳ khác nhau, nhưng cùng thể hiện tính chu kỳ trong tư duy chính trị Mỹ - giữa khát vọng mở rộng và nhu cầu tự điều chỉnh để thích ứng với biến động của thời đại. Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump trong tiến trình vận động của hệ thống chính trị Mỹ Từ những phân tích trên có thể thấy, chính quyền của Tổng thống D. Trump vừa có sự kế thừa những dòng chảy tư tưởng truyền thống trong lịch sử chính trị Mỹ, vừa thể hiện những đặc điểm riêng mang dấu ấn cá nhân. Một số cách tiếp cận của chính quyền Tổng thống D. Trump, như chủ nghĩa dân tộc kinh tế, tâm lý hướng vào trong nước và quan điểm đề cao “sức mạnh cứng” đều có tiền lệ trong lịch sử Mỹ. Ngay cả khẩu hiệu “Nước Mỹ trên hết” cũng không phải là điều hoàn toàn mới, mà phản ánh sự tiếp nối của một khuynh hướng tư tưởng đã tồn tại lâu dài trong hệ thống chính trị Mỹ. Về phương diện văn hóa - tư tưởng, chính quyền của Tổng thống D. Trump phản ánh xu hướng quay trở lại với chủ nghĩa yêu nước truyền thống và ưu tiên giá trị nội tại của quốc gia hơn là vai trò “cảnh sát toàn cầu”. Điều này có sự tương đồng nhất định với tinh thần “Jacksonian” trong lịch sử chính trị Mỹ. Có thể xem chủ nghĩa dân túy đặc trưng của ông D. Trump là sự hồi sinh của một mạch tư tưởng vốn đã tồn tại lâu dài trong đời sống chính trị Mỹ, hơn là một trào lưu hoàn toàn mới. Ở một góc độ khác, chính quyền của Tổng thống D. Trump vừa là sản phẩm của văn hóa chính trị Mỹ, vừa là hiện tượng mang tính riêng biệt. Ông thể hiện ảnh hưởng của các truyền thống bảo thủ như tinh thần dân túy của Tổng thống A. Jackson, tính hiện thực và thực dụng của Tổng thống R. Nixon và tư duy sức mạnh quốc gia của Tổng thống R. Reagan. Tuy nhiên, cách thể hiện của ông D. Trump mang màu sắc cá nhân, phản ánh sự thay đổi của bối cảnh chính trị, truyền thông và dư luận xã hội trong thời kỳ toàn cầu hóa. Nếu Tổng thống R. Reagan đại diện cho xu hướng bảo thủ mang tính quốc tế, kết hợp giữa sức mạnh và lý tưởng, thì Tổng thống D. Trump nghiêng về bảo thủ mang màu sắc dân tộc, đặt lợi ích nước Mỹ lên hàng đầu. Tổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu về Thông điệp liên bang 2026, ngày 24-2-2026_Ảnh: AA/TTXVN Tổng thống D. Trump kế thừa nhiều giá trị cốt lõi của tư tưởng chính trị Mỹ, như lòng yêu nước, niềm tin vào chủ quyền quốc gia và vai trò trung tâm của sức mạnh kinh tế. Tuy nhiên, cách ông thể hiện những giá trị đó mang tính cá nhân hóa, phản ánh phong cách lãnh đạo đặc trưng của thời đại truyền thông và chính trị bản sắc. Điều này cho thấy cần phân biệt giữa những yếu tố mang tính cấu trúc (di sản văn hóa, lịch sử) mà ông D. Trump thừa hưởng và yếu tố hành vi (phong cách lãnh đạo cá nhân, cách thức tương tác chính trị). Sự trở lại của Tổng thống D. Trump trong hệ thống chính trị Mỹ giai đoạn sau năm 2024 đặt ra cả thách thức lý luận và thực tiễn. Về chính sách, có thể dự báo giai đoạn điều chỉnh vai trò toàn cầu của Mỹ, với trọng tâm hướng vào lợi ích quốc gia - dân tộc và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Về nghiên cứu, trường hợp Tổng thống D. Trump cho thấy tầm quan trọng của việc tiếp cận chính trị và đối ngoại Mỹ từ lăng kính văn hóa - lịch sử, thay vì chỉ xem xét hành vi chính trị đương thời. Có thể nói, Tổng thống D. Trump là hiện tượng vừa quen thuộc, vừa khác biệt trong dòng chảy chính trị Mỹ. Quen thuộc vì ông kế thừa những khuynh hướng đã hình thành từ lâu trong lịch sử; khác biệt vì ông thể hiện những khuynh hướng đó trong một bối cảnh mới, gắn liền với truyền thông số và sự biến đổi nhanh của đời sống chính trị hiện đại. Việc kết hợp lăng kính văn hóa - lịch sử với lăng kính hành vi lãnh đạo giúp nhìn nhận toàn diện hơn về vai trò của Tổng thống D. Trump trong tiến trình chính trị và đối ngoại của Mỹ đến năm 2030. Nhìn chung, sự vận động của chính trị và tư tưởng đối ngoại Mỹ cho thấy, mỗi giai đoạn chuyển giao quyền lực đều đi kèm với quá trình định hình lại nhận thức về vai trò, lợi ích và bản sắc quốc gia trong bối cảnh quốc tế không ngừng biến đổi. Ở tầng sâu hơn, đó là biểu hiện của quy luật thích ứng chiến lược, khi các nước lớn tìm cách điều chỉnh phương thức hành xử để duy trì tầm ảnh hưởng và cân bằng quyền lực trong trật tự toàn cầu đang dịch chuyển. Từ góc độ quan sát, những biến chuyển đó gợi mở cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam, về tầm quan trọng của tư duy linh hoạt nhưng kiên định, biết kết hợp giữa nội lực và bản sắc trong định hướng đối ngoại. Giữa một thế giới đang chuyển đổi nhanh và khó đoán định, khả năng thấu hiểu quy luật vận động của các nước lớn không chỉ mở rộng tầm nhìn so sánh và năng lực dự báo, mà còn góp phần củng cố nền tảng cho cách tiếp cận tự chủ, cân bằng và bền vững trong hoạch định chiến lược phát triển quốc gia./. ---------------------- (1) Andrew Jackson (1767 - 1845) là người đặt nền móng cho mô hình chính trị đại chúng hiện đại ở Mỹ. Ông mở rộng quyền bầu cử cho nam giới da trắng không sở hữu tài sản, phát triển hệ thống “bảo trợ chính trị” (spoils system) và hình thành mạng lưới tổ chức đảng chặt chẽ với sự tham gia sâu rộng của quần chúng…
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/959002/cach-mang-thang-tam-nam-1945---buoc-ngoat-vi-dai-cua-cach-mang-viet-nam-the-ky-xx.aspx
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX
19-08-2024
1- Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đập tan ách thống trị hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân, phát xít tàn bạo, chấm dứt sự tồn tại của chế độ phong kiến lỗi thời; thiết lập nền dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do, nhân dân lao động làm chủ đất nước. Sự ra đời của Nhà nước dân chủ nhân dân ở Việt Nam là bước nhảy vọt to lớn, là cuộc cải biến xã hội vĩ đại không chỉ của lịch sử dân tộc Việt Nam mà của cả lịch sử phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc trên thế giới.
Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập _Ảnh: Tư liệu 1- Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đập tan ách thống trị hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân, phát xít tàn bạo, chấm dứt sự tồn tại của chế độ phong kiến lỗi thời; thiết lập nền dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do, nhân dân lao động làm chủ đất nước. Sự ra đời của Nhà nước dân chủ nhân dân ở Việt Nam là bước nhảy vọt to lớn, là cuộc cải biến xã hội vĩ đại không chỉ của lịch sử dân tộc Việt Nam mà của cả lịch sử phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc trên thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thể hiện nhãn quan chính trị nhạy bén của Đảng khi nhận định những mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc, tay sai đã trở nên sâu sắc, từ đó yêu cầu độc lập dân tộc được đặt ra bức thiết, nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu. Đây không phải là nhận thức “ngẫu nhiên” mà là kết quả của cả một quá trình đúc rút kinh nghiệm của Đảng qua cao trào cách mạng 1930 - 1931, đỉnh cao là Xô-viết Nghệ - Tĩnh và cao trào cách mạng dân tộc dân chủ những năm 1936 - 1939, có sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp là cơ sở quan trọng để Đảng xác định đối tượng chính của cách mạng ở từng giai đoạn cụ thể, từ đó tổ chức lực lượng đánh bại kẻ thù, mở đường cho Cách mạng Tháng Tám đi đến thành công, bởi “Nhiệm vụ phản đế và nhiệm vụ phản phong kiến khăng khít với nhau là một vấn đề chiến lược cách mạng. Nếu tách hai nhiệm vụ đó ra thì có thể đưa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến chỗ thất bại. Tuy vậy, hai nhiệm vụ đó không tiến hành song song nhất loạt ngang nhau. Đó là một kinh nghiệm quan trọng về chỉ đạo chiến lược của Đảng ta” (2) . Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc vùng dậy và chiến đấu anh dũng của cả dân tộc, là đỉnh cao của ý chí quật cường, sức mạnh đoàn kết toàn dân, thể hiện tầm cao trí tuệ dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng vĩ đại nhất, là trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất. Với Cách mạng Tháng Tám, “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa” (3) . Cách mạng Tháng Tám làm nên “cuộc đổi đời” cho toàn dân tộc. Từ thân phận nô lệ, nhân dân ta trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Trong những ngày Cách mạng Tháng Tám (từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945), quần chúng nhân dân thông qua hình thức đấu tranh chính trị, như mít tinh, biểu tình, vận động binh lính,... có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, đã nhanh chóng giành thắng lợi. Có thể nhận thấy, Cách mạng Tháng Tám diễn ra chỉ với một khoảng thời gian ngắn, gánh chịu ít hy sinh, tổn thất là do sự nhạy bén, sáng tạo của Đảng trong việc đánh giá tình hình, chủ động nắm bắt thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa bằng phương pháp đấu tranh phù hợp. Trong bối cảnh phát xít Nhật ở Đông Dương tan rã, chính quyền tay sai tê liệt, quân đồng minh chưa tiến vào Việt Nam, lực lượng chính trị và vũ trang cách mạng được rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh..., Đảng ta đã phát động tổng khởi nghĩa, lãnh đạo quần chúng nhân dân giành chính quyền. Nhờ vậy, cách mạng đã tránh được sự đụng đầu với kẻ thù khi còn đang mạnh, đồng thời tạo nên thế hợp pháp, chính nghĩa của Chính phủ lâm thời khi đón tiếp quân đồng minh. Tổng kết về Cách mạng Tháng Tám, Nghị quyết Đại hội III của Đảng chỉ rõ: “Nếu Đảng ta trước đó không xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập những khu căn cứ rộng lớn để làm chỗ dựa cho lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh chính trị, và khi điều kiện đã chín muồi không mau lẹ phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang thì cách mạng cũng không thể mau chóng giành được thắng lợi” (4) . Sự đúng đắn, nhất quán của Đảng trong việc xác định phương hướng, mục tiêu, xây dựng lực lượng và phương pháp đấu tranh cách mạng, trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện thực tiễn của xã hội Việt Nam thuộc địa, nửa phong kiến, được kiểm nghiệm qua chặng đường 15 năm đấu tranh cách mạng, đã dẫn đến đỉnh cao thắng lợi là Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây là cơ sở vững chắc bác bỏ những luận điệu về “khoảng trống quyền lực” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và sự chuẩn bị của toàn dân cho cuộc tổng khởi nghĩa khi thời cơ khách quan thuận lợi xuất hiện. Nếu không có sự chuẩn bị kỹ càng, cụ thể về lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và chiến khu, căn cứ địa thì cho dù điều kiện khách quan có thuận lợi đến mấy cũng không thể tận dụng được để phát động toàn dân đứng lên giành chính quyền trên phạm vi cả nước trong một khoảng thời gian nhanh chóng như vậy. 2. Không chỉ có giá trị và ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 còn là sự kiện trọng đại của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX. Đó là đòn quyết định phá tung một mắt xích quan trọng và thúc đẩy sự tan rã nhanh chóng của hệ thống thuộc địa; mở đầu quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám góp phần làm giàu thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Nó chứng tỏ rằng, trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một nước thuộc địa, do toàn dân nổi dậy, dưới sự lãnh đạo của một đảng Mác - Lê-nin, có đường lối đúng đắn hoàn toàn có thể giành thắng lợi. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam; là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng ta gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là sự thể nghiệm thành công đầu tiên chủ nghĩa Mác - Lê-nin tại một nước thuộc địa ở châu Á. Đây còn là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc trải qua mấy nghìn năm phấn đấu gian khổ, hy sinh, là đỉnh cao của ý chí quật cường, sức mạnh cố kết cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc hòa quyện với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với xu thế của thời đại là hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Tám năm 1945: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc ” (5) . Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lần đầu tiên trong lịch sử, một Nhà nước dân chủ cộng hòa ra đời, gắn bó mật thiết với nhân dân - Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đó cũng là Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức ở các nước châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ La-tinh vùng dậy đấu tranh lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc. Đồng thời, góp phần tăng cường sức mạnh của lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới đấu tranh cho độc lập, tự do và tiến bộ xã hội; ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ hòa bình thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 sẽ tiếp tục được phát huy cao độ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, phấn đấu vì một nước Việt Nam giàu mạnh và hùng cường_Ảnh: Hoàng Hải Thịnh 3. Thành quả vĩ đại và những bài học lịch sử vô giá của Cách mạng Tháng Tám và việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở thành động lực và sức mạnh to lớn để nhân dân ta bước vào cuộc chiến tranh trường kỳ 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong những năm đầu sau ngày đất nước giành được độc lập, nước cộng hòa non trẻ phải đối mặt với “thù trong, giặc ngoài”. Vượt lên những khó khăn đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện sách lược tạm hòa hoãn với Pháp và Tưởng để duy trì hòa bình, củng cố chính quyền cách mạng, tiến hành diệt “giặc đói”, “giặc dốt” và chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” (6) , trên cơ sở đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, với phương châm: Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng; vừa kháng chiến, vừa củng cố hậu phương, và với phương pháp tác chiến thích hợp, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã lần lượt làm phá sản các chiến lược của kẻ thù. Sau chín năm trường kỳ kháng chiến, trải qua hơn 3.000 ngày đêm chiến đấu hy sinh, gian khổ, nhưng vô cùng anh dũng và tự hào, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải rút quân về nước và thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và các nước Đông Dương. Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, “lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới” (7) . Sau Hiệp định Geneva năm 1954, hòa bình được lập lại ở miền Bắc, nhưng tại miền Nam, đồng bào ta vẫn rên xiết dưới gót giày của đế quốc, tay sai. Trước tình hình đó, nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Thực hiện nhiệm vụ cao cả này, nhân dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến thần thánh đầy khó khăn, gian khổ nhưng với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (8) và với niềm tin sắt đá “dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn” (9) , dân tộc Việt Nam một lần nữa đứng lên đánh đuổi đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Trải qua 21 năm chiến đấu anh dũng, với đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh khoa học, linh hoạt của Đảng; với phương châm toàn dân đánh Mỹ, cả nước đánh Mỹ, “mỗi người dân là một dũng sĩ diệt Mỹ”; với sự chi viện của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân loại tiến bộ trên thế giới..., quân và dân ta đã đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975 đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả vĩ đại nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc; kết thúc cuộc đấu tranh suốt 30 năm, giành độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chấm dứt ách thống trị kéo dài hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc trên đất nước ta; mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi đó “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX” (10) . Trong những năm đầu sau khi đất nước thống nhất, chúng ta gặp nhiều khó khăn lớn. Một mặt, chúng ta phải giải quyết hậu quả 30 năm chiến tranh; mặt khác, phải tiến hành các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; trong bối cảnh bị bao vây, cấm vận. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân tộc quyết tâm đồng lòng vượt qua khó khăn, nhanh chóng khôi phục sản xuất, xây dựng, củng cố chính quyền trên phạm vi cả nước, ban hành Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, việc duy trì quá lâu cơ chế tập trung, bao cấp không còn phù hợp với thực tiễn đã làm bộc lộ những hạn chế, nhược điểm. Trong hoạch định và thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, có lúc, có nơi đã mắc sai lầm, khuyết điểm chủ quan, duy ý chí. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Mười năm cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975 - 1985), kể từ khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, là 10 năm Đảng ta tìm tòi con đường đổi mới. Đây cũng là thời kỳ tư duy mới được hình thành từng bước, bắt nguồn từ thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu và khuyết điểm trong mười năm ấy đã để lại những bài học quý giá cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong những năm tiếp theo. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và đổi mới mạnh mẽ tư duy, nhất là tư duy kinh tế, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã chính thức đề ra đường lối đổi mới đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Qua các kỳ đại hội, từ Đại hội VII đến Đại hội XIII, Đảng ta luôn khẳng định tiếp tục đổi mới đồng bộ, toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội với những bước đi, cách làm phù hợp, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Đảng ta không ngừng phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, lãnh đạo toàn dân thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế. Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đón chào năm mới_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn Qua thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước, Đại hội X của Đảng nhận định: “Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản” (11) . Đến Đại hội XIII, Đảng ta nêu rõ: “ Lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa” (12) . Cùng với những thành tựu về mặt lý luận, thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước gần 40 năm qua đã “ đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện ... Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay ” (13) . Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được duy trì ở mức khá cao; tiềm lực, quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, đạt nhiều kết quả tích cực. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí chuyển biến mạnh mẽ, có bước đột phá, được tiến hành quyết liệt, có hiệu quả, ngày càng đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Sự thống nhất, phối hợp đồng bộ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội được tăng cường. Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao (14) . Công cuộc đổi mới đã đáp ứng được những đòi hỏi bức thiết của tình hình đất nước, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại; có ý nghĩa như một cuộc cách mạng trong thời kỳ mới; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của lịch sử. Những thành tựu to lớn đạt được từ ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay chứng tỏ sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và dân tộc Việt Nam. Những bài học lịch sử quý báu từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 sẽ tiếp tục được phát huy cao độ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, phấn đấu vì một nước Việt Nam giàu mạnh và hùng cường./. ----------------------- ( 1 ) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.6 ( 2 ) Trường Chinh: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam , Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, t.II, tr. 494 ( 3 ) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 4, tr. 3 ( 4 ) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.21, tr.631 ( 5 ) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 21, tr. 631 ( 6 ) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 534 ( 7 ) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.410 ( 8 ) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.130 ( 9 ) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.618 ( 10 ) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.471 ( 11 ) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.17 ( 12 ) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr.25 ( 13 ) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.25 ( 14 ) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.77 - 78
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/826073/cang-thang-nga---ukraine--ban-chat%2C-nguyen-nhan-va-trien-vong.aspx
Căng thẳng Nga - Ukraine: Bản chất, nguyên nhân và triển vọng
03-03-2022
Bản chất và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky và Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Paris, tháng 12-2019_Ảnh: AFP/TTXVN Bản chất và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng Bản chất của cuộc khủng hoảng Vấn đề khủng hoảng Ukraine hiện nay bắt nguồn từ cuộc chính biến xảy vào đầu năm 2014 (1) , kéo dài đến nay đã 8 năm, vẫn chưa chấm dứt và ngày càng trở nên phức tạp. Đây không chỉ đơn giản là cuộc xung đột giữa lực lượng ly khai với sự hậu thuẫn của Nga và Chính phủ Ukraine ở miền Đông (Donbass) nước này, mà còn là cuộc xung đột giữa các nước lớn ở khu vực châu Âu - Đại Tây Dương, như Nga, Mỹ, NATO; thậm chí, liên quan tới các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Chiến sự giữa Nga và Ukraine năm 2022 có quy mô lớn hơn so với cuộc khủng hoảng năm 2014 và được xem là cuộc xung đột lớn nhất kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, xuất phát từ một số lý do: Một là , cục diện chung trên thế giới đã thay đổi, với việc Mỹ theo đuổi các chính sách “Nước Mỹ trên hết”, “Nước Mỹ trở lại”; Trung Quốc thực hiện chiến lược “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa”, trong khi Nga hiện chưa có một chiến lược mang tính toàn cầu. Hai là , trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, nước Nga dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Nga V. Putin đã triển khai thành công, có hiệu quả nhiều chính sách cả về đối nội và đối ngoại, qua đó ổn định được hệ thống chính trị nội bộ, củng cố vị thế, mở rộng ảnh hưởng quốc tế và gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; tuy nhiên, hiện nay, trong tam giác quan hệ Mỹ - Trung Quốc - Nga, sự phục hồi ảnh hưởng của Nga vẫn chưa thể làm thay đổi cục diện chính trị thế giới. Ba là , đây là thời khắc hết sức quan trọng, được xem là một trong những thử thách đối với Tổng thống Nga V. Putin, khi chỉ còn chưa đầy hai năm là tới cuộc bầu cử Tổng thống Nga năm 2024, để tiếp tục từng bước khôi phục vị thế đất nước, giành lại vị trí quan trọng trên vũ đài quốc tế, chuyển từ cường quốc khu vực hướng đến tầm cỡ cường quốc toàn cầu. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng Nguyên nhân sâu xa. Sau Chiến tranh lạnh, thế giới - nhất là khu vực châu Âu - Đại Tây Dương - tưởng chừng sẽ có được một nền hòa bình lâu dài và không còn đối đầu, nhưng ngược lại đã nhanh chóng chứng kiến những căng thẳng leo thang trong quan hệ giữa hai cường quốc quân sự hàng đầu thế giới là Mỹ và Nga, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Mối quan hệ cạnh tranh nhiều hơn hợp tác, đôi khi đứng trước bờ vực đối đầu này đã chi phối mạnh mẽ việc tập hợp lực lượng mới, đồng thời tác động không nhỏ đến chiều hướng quan hệ hợp tác quốc phòng - an ninh trên thế giới, nhất là các quốc gia tầm trung và có vị trí địa - chiến lược quan trọng như Ukraine. Bên cạnh đó, quan hệ giữa Nga và NATO cũng lâm vào khủng hoảng. Sau sự kiện Nga sáp nhập bán đảo Crimea (năm 2014) - nơi có quân cảng chiến lược Sevastopol - NATO đã đình chỉ quan hệ “đối tác vì hòa bình” với Nga, coi Nga là mối đe dọa đối với an ninh khu vực châu Âu. NATO cho rằng, Nga “vi phạm luật pháp quốc tế” khi trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ lực lượng ly khai ở Ukraine, sáp nhập lãnh thổ của một nước có chủ quyền vào Nga. NATO tăng cường trợ giúp Ukraine về huấn luyện và cung cấp các trang thiết bị vũ khí hiện đại; đe dọa thắt chặt các biện pháp cấm vận kinh tế ngặt nghèo đối với Nga trong trường hợp Nga tấn công Ukraine; đồng thời, kêu gọi Nga “xuống thang” và triển khai hàng loạt bước đi để ngăn chặn Nga tấn công Ukraine. Thế nhưng, điều bất ngờ nhất đối với NATO kể từ sau năm 2014 là Nga đã giành quyền chủ động hành động, cũng như ngày càng cảnh giác và quyết đoán hơn trước bất kỳ động thái nào của NATO. Nga coi việc “NATO Đông tiến” là đường lối lâu dài, là thách thức từ trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng Ukraine, đào sâu sự mất cân bằng chiến lược Nga - NATO. Nga quan ngại việc không có thành viên NATO nào phê chuẩn Hiệp ước về vũ khí thông thường châu Âu (CFE). Theo quan điểm của Nga, tình hình này còn tồi tệ hơn do Mỹ bố trí hệ thống tên lửa phòng thủ tại Ba Lan và Séc, vi phạm sự ổn định chiến lược. Nga quy kết NATO thúc đẩy cuộc “cách mạng màu” bên trong không gian hậu Xô-viết. Cuộc khủng hoảng Ukraine đã giáng một đòn mạnh vào hầu hết các cơ chế hợp tác giữa Nga và NATO, từ đấu tranh chống buôn lậu ma túy cho đến chống khủng bố... Các hoạt động quân sự (tập trận, tăng thêm quân, chiến tranh thông tin…) được Nga và NATO triển khai ở mức mạnh nhất, càng khoét sâu thêm căng thẳng giữa hai bên. Hai bên đều xem nhau như mối đe dọa đầu tiên và thi hành các biện pháp thích hợp. Các vụ va chạm trên không và trên biển, khả năng khó phá băng khủng hoảng tại vùng Donbass cùng nhiều vấn đề khác đã khiến mối quan hệ Nga - NATO tiếp tục leo thang căng thẳng kèm theo nhiều rủi ro xảy ra xung đột bùng phát tại chỗ (2) . Như vậy, có thể thấy nổi lên hai mâu thuẫn đối kháng khó giải quyết: Một là, mâu thuẫn giữa việc Nga sáp nhập bán đảo Crimea, kiểm soát cũng như khống chế các hoạt động quân sự và dân sự của Ukraine ở Biển Đen với việc Mỹ cùng đồng minh muốn ủng hộ Ukraine lấy lại bán đảo này, đẩy hạm đội Biển Đen của Nga ra khỏi Biển Đen. Hai là, mâu thuẫn giữa Nga và Mỹ cùng đồng minh NATO. Cụ thể, Nga muốn giành lại vị trí quan trọng trên vũ đài quốc tế, vươn lên tầm cường quốc toàn cầu, khiến thế giới phải thay đổi cách nhìn về vị thế quốc tế mới của Nga sau khi Liên Xô sụp đổ. Trong khi đó, Mỹ và NATO muốn đưa Ukraine vào quỹ đạo kiểm soát của họ và việc “phương Tây hóa Ukraine” sẽ có tác dụng giúp thúc đẩy “cách mạng màu” xảy ra bên trong chính nước Nga, góp phần làm suy giảm sức mạnh tổng hợp của Nga. Nguyên nhân trực tiếp. Thứ nhất, cuộc xung đột giữa chính quyền Ukraine và lực lượng ly khai Donbass (bao gồm DPR và LPR) do Nga hậu thuẫn gia tăng, nhất là sau tháng 10-2021, khiến tiến trình đàm phán hòa bình theo Thỏa thuận Minsk 2 - giải pháp duy nhất đối với cuộc khủng hoảng chính trị Ukraine - khó đạt được kết quả. Thứ hai, Mỹ và NATO không chỉ chuyển giao vũ khí cho Ukraine, nhất là sau giai đoạn Mỹ rút quân khỏi Afghanistan (tháng 9-2021), khi Mỹ và đồng minh còn dư nhiều vũ khí, đạn dược (được dự kiến chuyển giao cho chính quyền thân Mỹ ở Afghanistan), mà còn triển khai tên lửa tầm trung và lực lượng quân sự trên lãnh thổ NATO - Đông Âu hướng tới Nga. Thứ ba, đáp lại những động thái đó, Nga đã triển khai trên 100.000 quân dọc biên giới trên bộ giáp với Ukraine, khu vực bán đảo Crimea, đồng thời tập trung quân đội ở nước láng giềng Ukraine là Belarus với danh nghĩa tập trận chung, cũng như phái 6 tàu chiến hiện đại tiến vào Biển Đen. Thứ tư, Mỹ và đồng minh NATO không đáp ứng bản đề nghị an ninh gồm 8 điểm của Nga gửi tới Mỹ và NATO vào giữa tháng 12-2021, với bốn nội dung cốt lõi: 1- NATO không kết nạp Ukraine và các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG); 2- Loại bỏ vũ khí hạt nhân của Mỹ ra khỏi châu Âu; 3- NATO rút toàn bộ quân đội hoặc vũ khí được triển khai tới các quốc gia tham gia liên minh về thời điểm trước năm 1997, bao gồm các nước như Ba Lan, Estonia, Lithuania, Latvia; 4- Không tiến hành tập trận tại các nước gần lãnh thổ của Nga. Những điều này được cho là đã đẩy căng thẳng giữa Nga và Mỹ cùng đồng minh NATO lên đỉnh điểm thành cuộc xung đột quân sự mà chiến trường là Ukraine. Binh sĩ Ukraine tại khu vực giao tranh với lực lượng Nga ở thủ đô Kiev, ngày 26-2-2022_Ảnh: AFP/TTXVN Những toan tính của các bên Đối với Nga, “chiến dịch quân sự đặc biệt” năm 2022 được xem là “trận đánh chiến lược” của Tổng thống Nga V. Putin, do đó Nga chấp nhận đối mặt với nhiều vấn đề, bao gồm cả việc sẵn sàng chuẩn bị đối phó với các lệnh trừng phạt kinh tế ngặt nghèo, kéo dài của Mỹ và phương Tây. Nga cũng hiểu rất rõ, chiến tranh sẽ tạo thêm một gánh nặng mới đối với nền kinh tế Nga vốn bị ảnh hưởng nhiều do Nga là một trong những nước chịu tác động nặng nề nhất của đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, Chính phủ Nga đã đưa ra thông báo, Nga có đủ nguồn lực tài chính cho sự ổn định của hệ thống trước các lệnh trừng phạt và các mối đe dọa từ bên ngoài. Mục tiêu của Nga khi phát động chiến dịch quân sự lần này, bao gồm: 1- Ngăn chặn phương Tây giành lại bán đảo Crimea; 2- Tạo sức ép đối với phương Tây và Ukraine thực hiện Thỏa thuận Minsk 2 theo cách của Nga; 3- Cơ cấu lại an ninh khu vực châu Âu, trong đó an ninh của Nga phải được tôn trọng và bảo đảm; 4- Thúc đẩy Đức và Liên minh châu Âu (EU) phê chuẩn dự án “Dòng chảy phương Bắc 2”; 5- Củng cố nhà nước liên minh giữa Nga và Belarus vừa được khởi động sau 20 năm không có nhiều tiến triển. Theo đánh giá chung, hiện nay, Nga có nhiều thuận lợi trong việc mở chiến dịch quân sự: 1- Mặc dù bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây, song kinh tế Nga đã tăng cường được tính tự chủ, chủ động thích ứng, vượt qua thời điểm khó khăn nhất và đang trên đà hồi phục. Tính đến tháng 8-2021, Quỹ Tài sản quốc gia Nga có nguồn vốn vào khoảng 185 tỷ USD và dự trữ ngoại tệ ở mức 615 tỷ USD. Bên cạnh đó, Nga cũng được dự báo là quốc gia sẽ hồi phục nhanh hơn các nước lớn khác sau đại dịch COVID-19 do đã thích nghi tốt với tình trạng bị cấm vận, cô lập từ năm 2014 đến nay; 2- Căng thẳng leo thang đẩy giá dầu mỏ tăng cao, đang tạo lợi thế cho Nga; 3- Cán cân quyền lực và cục diện thế giới tiếp tục có sự dịch chuyển nhanh từ Tây sang Đông, nhất là cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ cùng với việc Nga đẩy mạnh chính sách đối ngoại ưu tiên hơn trong quan hệ với Trung Quốc, đã góp phần củng cố vị thế của Nga với vai trò là một trong những nhân tố “cân bằng chiến lược” quan trọng hàng đầu mà cả Mỹ và Trung Quốc đều cần tranh thủ; 4- Cuộc khủng hoảng Ukraine buộc các nước phải quay trở lại Thỏa thuận Minsk 2; 5- Cuộc khủng hoảng Ukraine cũng tiếp tục làm bộc lộ rõ những mâu thuẫn trong nội bộ NATO và EU hiện nay (3) ; đồng thời, tạo sức ép buộc Mỹ và phương Tây phải đàm phán với Nga về những vấn đề lớn hơn liên quan đến an ninh châu Âu. Trên cơ sở đó, Tổng thống Nga V. Putin đã triển khai được 5 bước đi lớn: 1- Gia tăng sự hiện diện quân sự tại Ukraine và gây ảnh hưởng lên các nước vùng Baltic; 2- Phô trương được sức mạnh quân sự cùng một lúc trên tất cả các mặt trận; 3- Cộng hưởng với Trung Quốc trong cuộc đua với Mỹ tiến tới vị trí trung tâm của vũ đài quốc tế; 4- Gửi tới Mỹ và NATO bản đề nghị an ninh gồm 8 điểm với các điều kiện tiên quyết, trong đó nêu rõ những quan ngại về an ninh của Nga; 5- Đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao con thoi để trao đổi với các nước. Những động thái này góp phần bảo vệ và củng cố thể chế của nước Nga, nhất là vị thế, uy tín của Tổng thống Nga V. Putin. Trong khi đó, thực tế cho thấy, các nước phương Tây và NATO thiếu sự quyết đoán khi đối mặt với những mối đe dọa hiện hữu. Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky (trái) và Tổng Thư ký Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) Jens Stoltenberg trong cuộc gặp tại Brussels (Bỉ), ngày 16-12-2021_Ảnh: Tư liệu Đối với Mỹ, chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden đang gặp không ít khó khăn, thách thức cả trong nước và ngoài nước. Ở trong nước, chính trị nội bộ Mỹ mâu thuẫn và chia rẽ sâu sắc, nhất là sau cuộc bạo loạn xảy ra ở tòa nhà Quốc hội vào ngày 6-1-2021 (4) . Bên cạnh đó, dịch bệnh COVID-19 tiếp tục kéo dài và diễn biến phức tạp, tác động đến mọi mặt đời sống của nước Mỹ. Ở ngoài nước, mặc dù vẫn là siêu cường số 1 thế giới với sức mạnh vượt trội song khoảng cách sức mạnh của Mỹ so với Trung Quốc đang tiếp tục bị thu hẹp. Nhiều lợi ích chiến lược của Mỹ đang bị thách thức. Hệ thống đồng minh, đối tác có sự rạn nứt nhất định sau nhiệm kỳ của chính quyền Tổng thống Mỹ Donal Trump khiến các nỗ lực của Mỹ trong xử lý những vấn đề toàn cầu gặp nhiều khó khăn… Tuy nhiên, việc thúc đẩy leo thang một cuộc khủng hoảng mới được cho là sẽ giúp Mỹ trở lại vị thế chi phối và vai trò lãnh đạo thế giới, ngăn chặn, đối phó với thách thức gia tăng từ các đối thủ chiến lược và các thách thức an ninh khác; khôi phục và củng cố hệ thống đồng minh, đối tác; định hình trật tự thế giới mới dựa trên các nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị chung. Mục tiêu của Mỹ trong cuộc khủng hoảng chính trị Ukraine là: 1- Làm suy giảm sức mạnh tổng hợp quốc gia của Nga; 2- “Phương Tây hóa Ukraine”, lôi kéo các nước có xu hướng thân Nga “đoạn tuyệt” với Nga và dựa hẳn vào Mỹ và phương Tây; 3- Củng cố mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương; 4- Tranh thủ cuộc khủng hoảng chính trị tại Ukraine leo thang để khiến các nước châu Âu phụ thuộc hơn nữa vào Mỹ về mặt quân sự, an ninh, kinh tế và năng lượng; 5- Có lý do chính đáng để ngăn chặn Đức phê duyệt dự án “Dòng chảy phương Bắc 2”. Đối với Ukraine, nước này vốn được coi là “nạn nhân” trong cuộc khủng hoảng chính trị hiện nay, nhưng lại mong muốn gia nhập NATO và EU. Ukraine cho rằng, việc gia nhập NATO “không gây ảnh hưởng đến an ninh của Nga”. Chính vì vậy, ngay sau khi lên nắm quyền, chính quyền của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky tiếp tục: 1- Khẳng định quyết tâm gia nhập NATO và đẩy mạnh cải cách lực lượng vũ trang theo tiêu chuẩn NATO; 2- Tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng - an ninh, với việc gia tăng chi phí và đẩy mạnh thử nghiệm các loại tên lửa mới (5) ; 3- Duy trì các cuộc tập trận quân sự chung với NATO nhằm nâng cao khả năng tác chiến hiệp đồng giữa quân đội Ukraine với quân đội các nước thành viên NATO; 4- Tiến hành sửa chữa, cải tiến và hiện đại hóa các loại vũ khí, khí tài cũ để trang bị cho lực lượng quân đội; 5- Mua vũ khí sát thương của các nước phương Tây. Trong khi đó, NATO lại tỏ ra khá thận trọng trước viễn cảnh Ukraine gia nhập tổ chức này. Theo Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg, Ukraine đã xin gia nhập NATO từ năm 2008 và NATO đang xem xét, chưa kết nạp Ukraine, với lý do theo Điều 6 Hiến chương NATO, về mặt kỹ thuật, Ukraine hiện chưa đủ điều kiện để gia nhập NATO (6) . Tuy nhiên, cũng như Mỹ và các nước phương Tây, NATO cho rằng, tất cả quốc gia độc lập, có chủ quyền như Ukraine, có thể xin gia nhập không chỉ NATO mà bất kỳ tổ chức kinh tế, chính trị, quân sự hay ngoại giao nào phù hợp với lợi ích quốc gia của Ukraine. Thế nhưng, theo Điều 5 Hiến chương NATO - một nguyên tắc sáng lập của NATO về phòng thủ tập thể - bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào nhằm vào một, hay một số thành viên của liên minh đều được coi là cuộc tấn công vào toàn bộ liên minh… Mỗi thành viên, với quyền tự vệ cá thể hay tập thể chính đáng theo Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc, sẽ hỗ trợ một bên hoặc các bên. Như vậy, nếu Ukraine trở thành một phần của NATO, các nước thành viên có nguy cơ phải tham gia đối đầu trực tiếp với Nga. Đây là điều mà dường như không một quốc gia nào trong NATO mong muốn. Triển khai chính sách đối ngoại thân phương Tây, Ukraine đặt mục tiêu có thể gia nhập NATO và EU, giúp Ukraine bảo toàn lãnh thổ, lấy lại bán đảo Crimea và các vùng ly khai ở khu vực Donbass. Tuy nhiên, cả Ukraine và phương Tây đều bất ngờ khi cho rằng, khả năng Nga sẽ tiến hành “một cuộc chiến tranh toàn diện” như hiện nay là không cao. Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky (giữa) cầm đơn xin gia nhập EU sau khi ký hôm 28-2-2022_ Ảnh: Facebook/Volodymyr Zelensky Dự báo chiều hướng của cuộc khủng hoảng Trước quan ngại Nga sẽ phát động “một cuộc chiến tranh tổng lực” tấn công, cuối tháng 10-2021, Ukraine đẩy mạnh triển khai một lực lượng lớn quân đội dọc khu vực giáp Donbass khiến Nga tin rằng Ukraine sắp mở cuộc tấn công quân sự chống lại lực lượng thân Nga tại khu vực này. Cùng với đó, phản hồi của Mỹ và NATO liên quan đến các đề xuất an ninh của Nga được Nga cho là không thỏa đáng và đang “bị xem nhẹ”, trở thành “giọt nước tràn ly” khiến Nga phản ứng quyết liệt hơn. Ngày 22-2-2022, Nga chính thức ra tuyên bố xác nhận biên giới của hai vùng lãnh thổ ly khai Ukraine, bao gồm DPR và LPR mà Nga đã công nhận độc lập trước đó. Tiếp đó, ngày 24-2-2022, Tổng thống Nga V. Putin tuyên bố bắt đầu một “chiến dịch quân sự đặc biệt” nhằm “phi quân sự hóa” Ukraine và bảo vệ người dân ở khu vực Donbass. Nga khẳng định chỉ nhắm mục tiêu vào kết cấu hạ tầng quân sự, không tấn công kết cấu hạ tầng dân cư, đồng thời cảnh báo NATO không can thiệp vào hành động của Nga. Tổng thống Nga V. Putin nhấn mạnh: “Tình thế khiến chúng tôi phải đưa ra những hành động quyết định và ngay lập tức” (7) . Hiện nay, nhiều nhà phân tích cho rằng, có khả năng Nga sẽ kiểm soát Thủ đô Kiev và thành lập một chính phủ thân Nga để điều hành đất nước Ukraine. Đồng thời, lực lượng gìn giữ hòa bình của Tổ chức Hiệp ước an ninh tập thể (CSTO) do Nga dẫn đầu sẽ được triển khai trên toàn lãnh thổ Ukraine để trợ giúp chính quyền mới của Ukraine. Đây sẽ là cơ sở để Nga có thể thiết lập một liên minh mới, bao gồm Nga, Belarus và Ukraine, hiện thực hóa một phần mục tiêu trở thành cường quốc trên thế giới, cũng như xác lập lại cấu trúc an ninh châu Âu vốn đang do Mỹ và phương Tây chi phối. Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng, để hiện thực hóa mục tiêu đó trong bối cảnh cán cân quyền lực và tình hình thế giới tiếp tục có sự dịch chuyển nhanh, phức tạp, khó dự báo như hiện nay, được cho là điều không dễ. Nhìn chung, những tham vọng chính trị, những ý đồ, tính toán từng bước của các bên được định hình rõ nét hơn trong chính bối cảnh cuộc xung đột Nga - Ukraine leo thang căng thẳng. Hơn bao giờ hết, đó là yếu tố khiến cuộc xung đột trở nên khó đoán định. Tuy nhiên, ngày 27-2-2020, việc Ukraine đồng ý tham gia đàm phán với Nga tại Belarus và các vòng đàm phán tiếp theo đã dấy lên tia hy vọng có thể sớm chấm dứt chiến dịch quân sự của Nga đang diễn ra căng thẳng trên đất nước này./. ----------------------- (1) Cuộc chính biến này gắn liền với cuộc “cách mạng nhân phẩm” (tháng 2-2014) đã làm Ukraine có sự dịch chuyển xa Nga hơn và hướng tới EU, NATO, Mỹ. Trong lúc đó, Nga đã tranh thủ sáp nhập bán đảo Crimea với căn cứ hải quân chiến lược ở Sevastopol của Hạm đội Biển Đen vào Nga. Đây có thể coi là thắng lợi lớn của Nga trong khu vực cả về mặt chiến lược và chiến thuật trước Ukraine và nhất là trước Mỹ và EU, khiến Ukraine ngày càng suy yếu và bất ổn. Tuy nhiên, về mặt chiến lược, Nga cũng phải chịu một tổn thất lớn, đó là đã mất Ukraine như một đối tác bền vững. (2) Xem: Nguyễn Hồng Quân: “Một số nét về quan hệ quốc phòng giữa Nga với Mỹ và NATO sau chiến tranh lạnh”, Tạp chí nghiên cứu quốc tế, tháng 6-2017. Ngày 20-1-2022, Mỹ đã tuyên bố cho phép ba quốc gia Baltic là Estonia, Lithuania và Latvia (thành viên của NATO) chuyển vũ khí chống tăng Javelin và hệ thống phòng không Stinger do Mỹ sản xuất tới Ukraine cho các lực lượng của Ukraine. (3) Đức, Italia, Pháp có xu hướng hòa dịu với Nga, trong khi Mỹ, các nước NATO Đông Âu kiên quyết phản đối Nga. (4) Phạm Huân: “Hỗn loạn tại Thủ đô Washington, Mỹ phong tỏa tòa nhà Quốc hội”, Trang tin điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam, https://vov.vn/the-gioi/hon-loan-tai-thu-do-washington-my-phong-toa-toa-nha-quoc-hoi-829140.vov, ngày 7-1-2021. (5) Về phát triển ngành công nghiệp quốc phòng, Ukraine tiếp tục thực hiện chương trình phát triển tên lửa quốc gia kể từ sau khi Tổng thống Ukraine V. Zelensky nhậm chức, đồng thời tiến hành nhiều cuộc thử nghiệm các loại tên lửa mới do ngành công nghiệp quốc phòng trong nước tự nghiên cứu chế tạo. Sau khi thử nghiệm thành công, Ukraine đã chính thức đưa vào biên chế của Bộ Quốc phòng 3 loại tên lửa mới, bao gồm: hệ thống tên lửa giàn “Olkha” có tầm bắn xa đến 120km, tên lửa hành trình đối hạm “Neptune” với tầm bắn xa 300km, tên lửa “Grom-2” với tầm bắn xa đến 450km; trang bị cho lực lượng hải quân Ukraine thêm 2 tàu tuần tiễu cao tốc “KENTAVR” có lượng giãn nước 50 tấn và 1 tàu hộ vệ cao tốc đa năng “GAYDUK” có lượng giãn nước 1.200 tấn. Đồng thời, cũng đưa vào biên chế hơn 300 đơn vị kỹ thuật sau khi sửa chữa, cải tiến và hiện đại hóa các loại vũ khí, khí tài cũ, như máy bay Su-27, Mi-8, xe tăng T-64, xe bọc thép BTR-4... (6) Theo Điều 6 Hiến chương NATO, các quốc gia đang có xung đột sắc tộc, tranh chấp lãnh thổ và một số vấn đề khác, phải giải quyết xong các vấn đề đó bằng biện pháp hòa bình trước khi được NATO xem xét và quyết định mời tham gia tổ chức này. Tuy nhiên, NATO đã từng có những lần phá lệ, như kết nạp Hy Lạp (năm 1952) khi nước này đang có tranh chấp với đảo Síp; Đức (năm 1955) khi nước này đang bị chia cắt thành Đông Đức và Tây Đức. Do đó, liệu có khả năng NATO sẽ tiếp tục phá lệ lần nữa đối với Ukraine hay không, đang là câu hỏi được bỏ ngỏ. (7) Văn Hiếu: “Nga mở chiến dịch quân sự đặc biệt ở miền Đông Ukraine”, Báo Quân đội Nhân dân điện tử, https://www.qdnd.vn/quoc-te/binh-luan/nga-mo-chien-dich-quan-su-dac-biet-o-mien-dong-ukraine-686904, ngày 25-12-2022.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/1226002/chinh-sach-thu-hut-va-trong-dung-nhan-tai-cua-trung-quoc-thoi-ky-tong-bi-thu%2C-chu-tich-nuoc-tap-can-binh.aspx
Chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài của Trung Quốc thời kỳ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình
12-03-2026
Quan điểm của Trung Quốc đối với vấn đề nhân tài và trọng dụng nhân tài
Quan điểm của Trung Quốc đối với vấn đề nhân tài và trọng dụng nhân tài Đặc điểm bao trùm trong chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài của Trung Quốc là tính hệ thống, chú trọng cả động lực về vật chất lẫn tinh thần, quán triệt việc mở các “luồng xanh” mang tính ưu tiên tuyệt đối trong việc đón nhân tài trong và ngoài nước tham gia vào sự nghiệp phát triển đất nước. Tháng 7-2010, đồng chí Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (khi đó là Phó Chủ tịch nước) một lần nữa nhấn mạnh, Ðảng và Nhà nước Trung Quốc rất tôn trọng và ủng hộ, trao quyền tự do nghiên cứu, đồng thời tạo mọi điều kiện làm việc và sinh sống thuận lợi cho các chuyên gia, nhất là các nhà khoa học hàng đầu có khả năng đột phá trong các lĩnh vực kỹ thuật then chốt, phát triển ngành công nghiệp kỹ thuật cao và những đề tài nghiên cứu mới. Để có một đội ngũ nhân tài hùng hậu trên nhiều lĩnh vực như hiện nay, là kết quả của một quá trình Trung Quốc luôn coi trọng công tác đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài trong nước cũng như nhân tài từ nước ngoài về. Lực lượng này đang ngày càng phát huy vai trò mạnh mẽ trong việc tạo nên các thành tựu tiên phong của Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có khoa học công nghệ. Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thăm khu triển lãm các thành tựu đổi mới sáng tạo khoa học - công nghệ tại Khu phát triển kinh tế công nghệ cao Bắc Kinh, ngày 9-2-2026_Ảnh: THX Trong Quy hoạch phát triển nhân tài trung và dài hạn quốc gia giai đoạn 2010 - 2020, nhân tài được Trung Quốc định nghĩa là những người có kiến thức chuyên ngành hoặc kỹ năng chuyên môn nhất định, tiến hành các lao động mang tính sáng tạo và cống hiến cho xã hội (1 ) . Trong mỗi chiến lược cụ thể, Trung Quốc lại đưa ra cách phân loại và định danh “nhân tài” khác nhau. Trong kế hoạch “vạn nhân tài” (2 ) , Trung Quốc chia khái niệm nhân tài làm 3 cấp bậc và 7 loại hình nhân tài, gồm: Bậc 1 : Nhân tài có khả năng giành giải Nobel hoặc nhân tài kiệt xuất có tiềm lực trở thành nhà khoa học đẳng cấp quốc tế; Bậc 2: Nhân tài dẫn đầu trong các ngành khoa học - kỹ thuật và sản xuất mà nhà nước đang rất cần, bao gồm những nhân tài dẫn đầu trong các ngành khoa học sáng tạo, khoa học khởi nghiệp, triết học khoa học xã hội, giáo viên xuất sắc trong giảng dạy và hàng trăm ngàn nhân tài trong các dự án nghiên cứu; Bậc 3 : Nhân tài là thanh niên dưới 35 tuổi có tiềm lực phát triển trong tương lai. Theo kế hoạch này, có 7 loại nhân tài chính cần bồi dưỡng và khích lệ, gồm: Nhân tài giành giải Nobel và người có tiềm năng trở thành nhà khoa học đẳng cấp thế giới, nhân tài về khoa học sáng tạo, nhân tài về khoa học khởi nghiệp, nhân tài triết học khoa học xã hội, giáo viên xuất sắc, các nhà nghiên cứu (trong các đề tài, dự án) và cuối cùng là nhân tài dưới 35 tuổi. Trong Biện pháp thực hiện chế độ visa cho nhân tài mang quốc tịch nước ngoài ban hành năm 2018, Trung Quốc quy định phân loại nhân tài nước ngoài thành ba loại A, B, C (3 ) . Trong đó, loại A là nhân tài kiệt xuất: Những nhân tài nước ngoài cao cấp như nhà khoa học, lãnh đạo khoa học và công nghệ, doanh nhân quốc tế và những nhân tài chuyên môn đang rất cần cho sự phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc, đáp ứng các ưu tiên và danh mục quốc gia về việc giới thiệu nhân tài nước ngoài. Loại này được chia cụ thể thành 6 loại lớn (4 ) , mỗi loại lớn lại có những tiêu chuẩn rất cụ thể. Tiếp đến là loại B - nhân tài chuyên nghiệp quốc tế : Những nhân tài phù hợp với mục lục chỉ đạo công tác người nước ngoài đến Trung Quốc làm việc và nhu cầu vị trí công việc, đang rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc . Loại C - nhân tài quốc tế phổ thông: Đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trong nước cần, phù hợp với quy định chính sách quốc gia. Có thể thấy, Trung Quốc đưa ra phân loại rất cụ thể về cách hiểu đối với nhân tài trong nước và nhân tài quốc tế. Có ba loại nhân tài Trung Quốc đặc biệt ưu tiên thu hút, gồm: Nhân tài kiệt xuất giành giải thưởng khoa học lớn hoặc nhà khoa học hàng đầu; nhân tài lãnh đạo tại các doanh nghiệp hàng đầu thế giới; nhân tài trẻ có những phát minh lớn. Đứng từ góc nhìn cạnh tranh với các cường quốc khác hay từ định hướng mới trong chiến lược phát triển quốc gia, Trung Quốc đều xác định nhân tài là tài nguyên thứ nhất, có vai trò quan trọng hàng đầu. Thứ nhất , nhân tài đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức mạnh toàn diện và sức cạnh tranh quốc tế của Trung Quốc. Ông Tập Cận Bình cho rằng, “sức mạnh cứng và sức mạnh mềm, xét cho cùng đều phụ thuộc vào sức mạnh của nhân tài. Toàn bộ lịch sử khoa học công nghệ thế giới đã chứng minh, ai sở hữu tài năng sáng tạo hàng đầu, sở hữu nhà khoa học hàng đầu thì sẽ giành lợi thế trong đổi mới khoa học và công nghệ” (5) . Cạnh tranh nhân tài trở thành nhân tố cốt lõi trong cạnh tranh sức mạnh toàn diện của các quốc gia. Ngày nay, nguồn lực nhân tài không còn là độc nhất của một quốc gia hay khu vực mà được chia sẻ rộng rãi trên toàn thế giới. Chính vì vậy, vấn đề nhân tài trở thành một nội dung quan trọng của chiến lược phát triển và an ninh quốc gia. Thứ hai , nhân tài là yếu tố tích cực và năng động nhất trong sáng tạo đổi mới đất nước của Trung Quốc. Mô hình phát triển chất lượng cao mà Trung Quốc đang nhấn mạnh trong những năm gần đây chính là mô hình phát triển của khoa học công nghệ và sáng tạo, đây chính là thành quả trí tuệ của nhân tài. Trung Quốc cho rằng những đột phá trong một số công nghệ lõi và sự phát triển của các ngành công nghiệp chiến lược mới nổi đều phụ thuộc vào việc mở rộng các nhóm nhân tài sáng tạo và việc phát huy hiệu năng của họ. Chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài của Trung Quốc từ năm 2012 đến nay Xây dựng bố cục tổng thể mang tính quốc gia về công tác nhân tài trong tầm nhìn trung và dài hạn Xây dựng bức tranh tổng thể đối với công tác nhân tài từ cấp độ quốc gia cho phép Trung Quốc đưa ra những mục tiêu, lĩnh vực và yêu cầu cụ thể đối với việc thu hút và trọng dụng nhân tài. Tháng 1-2013, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Giáo dục, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ An sinh xã hội và nguồn nhân lực Trung Quốc đã ban hành “Kế hoạch hỗ trợ đặc biệt cho nhân tài cấp cao quốc gia” (hay còn gọi là Kế hoạch vạn nhân tài) (6) . Kế hoạch đặt ra mục tiêu trong vòng 10 năm, lựa chọn và hỗ trợ khoảng 10.000 nhân tài xuất sắc trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, khoa học xã hội triết học, trong đó, hỗ trợ cho 100 nhân tài kiệt xuất; 8.000 nhân tài lãnh đạo, bao gồm các nhà lãnh đạo đổi mới khoa học - công nghệ, lãnh đạo khởi nghiệp khoa học - công nghệ, lãnh đạo triết học xã hội, giáo viên xuất sắc; 2.000 nhân tài trẻ xuất sắc dưới 35 tuổi… Theo kế hoạch này, các quỹ liên quan phối hợp hỗ trợ không quá 1 triệu NDT/người cho những nhân tài kiệt xuất nằm trong Kế hoạch, như nhân tài hàng đầu trong đổi mới khoa học - công nghệ, nhân tài hàng đầu trong khoa học xã hội triết học, nhân tài hàng đầu trong dự án “trăm - nghìn - vạn”, các nhà giáo nổi tiếng, để sử dụng cho các chủ đề nghiên cứu độc lập, đào tạo nhân tài, xây dựng đội nhóm… (7) . Về giải pháp chính sách : Tập trung vào 10 hệ thống chính sách lớn, trong đó có một số chính sách nổi bật liên quan đến việc thu hút nhân tài như: Chính sách ưu đãi về tài chính và thuế, chính sách hỗ trợ tinh thần khởi nghiệp của nhân tài, chính sách giúp cán bộ khoa học - công nghệ yên tâm tập trung vào nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, chính sách về bảo hộ sở hữu trí tuệ của nhân tài. Hình thành các chính sách ưu đãi cụ thể và chi tiết để bảo đảm động lực về vật chất và tinh thần trong quá trình thu hút nhân tài Để biến nguồn lực này thành động lực thực sự cho tăng trưởng và đổi mới, chính phủ Trung Quốc và các thành phố lớn, các đặc khu kinh tế, khu công nghệ cao đã không ngừng thiết kế, triển khai hàng loạt chính sách cụ thể nhằm thu hút, trọng dụng nhân tài, nhất là nhân tài chất lượng cao và nhân tài nước ngoài. Các chính sách chủ yếu tập trung vào các ưu đãi về lương, thưởng, tài trợ nghiên cứu kết hợp với các ưu đãi về hộ khẩu, nhà ở, chế độ visa (đối với chuyên gia nước ngoài). Tháng 2-2017, Văn phòng Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ra thông báo về “Biện pháp quốc gia về quản lý thu hút nhân tài cấp cao nước ngoài”, “Biện pháp quốc gia về quản lý hỗ trợ đặc biệt đối với nhân tài cấp cao” (8) . Trong thông báo, nhân tài cấp cao nước ngoài được đưa vào danh sách “Kế hoạch nghìn nhân tài, kế hoạch vạn nhân tài” sẽ được hưởng trợ cấp đặc biệt của chính phủ, được hưởng chi phí khởi nghiệp/phí sinh hoạt ban đầu lên đến 1 triệu NDT, đồng thời được hưởng chính sách thuế ưu đãi và hỗ trợ nhà ở, được ưu tiên nhập hộ khẩu, con cái được học trường tốt. Tại các khu thí điểm và đặc khu (như Thâm Quyến, Thượng Hải, Hải Nam), hỗ trợ tài chính cho nhân tài nước ngoài, thưởng từ 500.000 đến 1.000.000 NDT/người khi đạt yêu cầu, miễn/giảm thuế thu nhập cá nhân cho nhân tài kỹ thuật cao và chuyên gia nước ngoài, cho phép hưởng chính sách bảo hiểm, y tế, hưu trí tương đương công dân Trung Quốc. Với các nhà khoa học tham gia chương trình “Song Sáng” (Sáng lập + Sáng tạo), sẽ được hỗ trợ tài chính đến 5 triệu NDT/dự án nếu thành lập doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, được ưu tiên tiếp cận vốn đầu tư mạo hiểm nhà nước, miễn phí không gian làm việc trong các khu công nghệ cao, có thể được hưởng cổ phần, chia lợi nhuận từ kết quả nghiên cứu chuyển giao công nghệ. Đối với các chuyên gia nước ngoài, Trung Quốc còn xây dựng mô hình thí điểm về việc thực hiện Biện pháp thực thi chế độ visa cho nhân tài nước ngoài (9) , đưa ra những ưu tiên tuyệt đối trong việc mở luồng xanh đón nhân tài hải ngoại với loại visa R. Visa R hay còn gọi là visa nhân tài, là visa dành cho nhân tài nước ngoài hoặc những nhân tài chuyên môn mà Trung Quốc đang thiếu hụt và cần. Biện pháp này đưa ra “ bốn nhất” trong chế độ visa đối với nhân tài hải ngoại khi đến Trung Quốc gồm: (1) Có hiệu lực dài nhất: Hiệu lực visa có thể lên tới 5 năm hoặc 10 năm; (2) Thời gian lưu trú dài nhất : Thời gian lưu trú cho mỗi lần nhập cảnh có thể lên tới 180 ngày, (3) Thời gian xét duyệt visa ngắn nhất : 5 ngày hoàn thành thủ tục xét duyệt; (4) Chế độ ưu đãi nhất : Thực hiện chính sách không thu bất kỳ loại phí visa nào đối với nhân tài nước ngoài. Trên cơ sở định hướng chung từ các chính sách quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài, nhiều địa phương trên khắp Trung Quốc đã chủ động cụ thể hóa thành các chương trình hành động linh hoạt, phù hợp với đặc thù kinh tế - xã hội của từng vùng. Các đô thị phát triển như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thâm Quyến hay các khu công nghệ cao như Phúc Châu, Trùng Khánh… đã xây dựng hệ thống chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài với nội dung vừa kế thừa quy định của Trung ương, vừa có nhiều điểm đột phá trong thực tiễn. Chính tại cấp địa phương, các chính sách đãi ngộ, hỗ trợ khởi nghiệp, ưu đãi thuế, và an cư lạc nghiệp cho nhân tài được triển khai cụ thể, có vai trò then chốt trong việc biến chủ trương thành kết quả thực chất. Bên cạnh khung chính sách chung của chính phủ, mỗi một địa phương dựa vào đặc thù kinh tế - xã hội của mình lại tiếp tục cụ thể hoá thành chiến lược, kế hoạch cụ thể để thu hút, trọng dụng nhân tài phù hợp. Chính sách thu hút nhân tài của Khu công nghệ cao Phúc Châu (tỉnh Phúc Kiến), thể hiện rất rõ đặc thù này. Khu công nghệ cao Phúc Châu (Fuzhou High - Tech Zone - FHTZ), thành lập năm 1991, là một trong những khu công nghệ cao cấp quốc gia đầu tiên của Trung Quốc. Năm 2015, Phúc Châu được xếp hạng trong top 34 của 116 khu công nghệ cao cấp quốc gia (10) . Nhằm thu hút nhân tài nước ngoài, Khu công nghệ cao Phúc Châu đã áp dụng nhiều chính sách ưu đãi về thuế, giảm hoặc miễn thuế trong một thời gian nhất định, cung cấp nhà ở trong khu công nghệ, chi phí sinh hoạt cho nhân tài nước ngoài và gia đình họ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc định cư và làm việc lâu dài của người lao động. Tháng 4-2024, Cục An sinh xã hội và nguồn nhân lực Khu công nghệ cao Phúc Châu đã ban hành thông báo về “Một số biện pháp của Khu công nghệ cao Phúc Châu nhằm khuyến khích giới thiệu các tài năng đổi mới, sáng tạo, khởi nghiệp và các biện pháp hỗ trợ, khen thưởng” (11) , bao gồm các nội dung chính sau: (1) Đối với các chương trình nhân tài lớn cấp quốc gia được phê duyệt, các chuyên gia trong các chương trình nhân tài lớn cấp quốc gia sẽ được thưởng 500.000 NDT và công ty của họ sẽ được trợ cấp 2 triệu NDT. Các khoản trợ cấp trên sẽ được trả trong vòng 5 năm. (2) Đối với chuyên gia “Kế hoạch ngàn nhân tài” quốc gia được phê duyệt, sẽ thưởng 150.000 NDT cho chuyên gia và trợ cấp 600.000 NDT cho doanh nghiệp của họ. Các khoản trợ cấp trên sẽ được trả trong vòng 5 năm. (3) Đối với các chuyên gia thuộc “Kế hoạch trăm nhân tài” của tỉnh sẽ được thưởng 300.000 NDT, chuyên gia ở nước ngoài sẽ được thưởng 250.000 NDT, chuyên gia trong nước sẽ được thưởng 150.000 NDT, và các công ty nơi họ đóng trụ sở sẽ được trợ cấp lần lượt là 1,2 triệu NDT, 1 triệu NDT và 600.000 NDT. Các khoản trợ cấp trên sẽ được trả trong vòng 5 năm. (4) Đối với những người được xác định là tài năng trẻ chuyên môn kỹ thuật, mức trợ cấp sẽ được áp dụng theo mức 60% mức lương trước thuế do doanh nghiệp chi trả, mức tối đa hằng năm không quá 4 lần mức lương bình quân của người lao động tại các đơn vị thành thị của tỉnh Phúc Kiến trong năm trước. Tổng số tiền trợ cấp tích lũy cho một cá nhân không quá 3 năm. Sinh viên tốt nghiệp toàn thời gian từ các trường đại học nằm trong “Dự án 211” và nghiên cứu sinh sau tiến sĩ đã hoàn thành chương trình học sẽ nhận được khoản trợ cấp bằng 50% lương do công ty trả. Như vậy, ở cấp độ quốc gia và cấp độ địa phương, trong hơn hai thập kỷ, Chính phủ Trung Quốc, chính quyền các khu vực trọng điểm đều đã ban hành các chính sách cụ thể, nhằm thu hút, trọng dụng nhân tài, đặc biệt là nhân tài cấp cao, nhân tài nước ngoài. Xét về quy mô nhân tài, tính đến tháng 9-2024, tổng số nhân tài có tay nghề ở Trung Quốc đã đạt hơn 200 triệu người, số lượng nhân tài tay nghề cao vượt qua mức 60 triệu người, chiếm khoảng 30% tổng số nhân tài có tay nghề (12) . Ngoài ra, động lực từ sợi dây kết nối với gia đình, quê hương và hệ thống chính sách ưu đãi đối với nhân tài đã thúc đẩy số lượng các lưu học sinh Trung Quốc ở nước ngoài về nước ngày càng lớn. Theo số liệu từ Sách xanh việc làm cho lưu học sinh Trung Quốc về nước năm 2022, tỷ lệ lưu học sinh Trung Quốc về nước tìm việc làm đã tăng từ 54,8% (năm 2011) lên 82,5% (năm 2019) (13) , gia tăng tỷ lệ nguồn nhân lực chất lượng cao cho Trung Quốc. Thủ tướng Phạm Minh Chính chứng kiến ký văn kiện hợp tác giáo dục giữa Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc_Ảnh: TTXVN Một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam Có thể nói, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài của Trung Quốc đã được triển khai một cách hết sức toàn diện và thống nhất, từ đường hướng chính sách chung của chính quyền trung ương đến việc thực hiện ở cấp địa phương, từ việc xác định lĩnh vực khoa học và công nghệ ưu tiên đến chế độ đãi ngộ, bao gồm cả điều kiện về vật chất và tinh thần. Trên cơ sở kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc thu hút và trọng dụng nhân tài, trên cơ sở truyền thống coi “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” của Việt Nam, có thể gợi mở một số chính sách sau: Thứ nhất, biện pháp mang tính nền tảng là xây dựng xã hội học tập thực chất, thực việc và không giáo điều. Thực chất là không lấy tiêu chí điểm số sách vở, bằng cấp hay bài khoa học được công bố làm thước đo duy nhất đánh giá người học, người nghiên cứu khoa học; thực việc là chú trọng việc thực hành, năng lực và kỹ năng giải quyết những vấn đề có tính thực tế, không lý thuyết suông; không giáo điều là chấp nhận tính đa dạng, đa chiều trong quan điểm và nhận thức về học thuật và tranh luận khoa học. Bởi, nhân tài thường có lối đi riêng, có tư duy khác biệt, nếu bó hẹp họ trong một phạm vi không gian tuyến tính đơn nhất thì nhân tài cũng không thể phát huy được tất cả những phẩm chất thiên phú của họ. Mặt khác, nhân tài thực thụ thì khả năng tự học, tự trau dồi kiến thức của họ là rất cao, “tài không đợi tuổi”, vì thế có thể cân nhắc bỏ giới hạn tuổi, giới hạn thời gian đào tạo trong hệ thống giáo dục từ phổ thông đến các bậc cao hơn, cho phép thi sát hạch tín chứng chỉ vượt khung. Thứ hai , trọng dụng nhân tài không chỉ nên là nhận thức và chính sách của Nhà nước, mà cần phải là nhận thức và hành xử chung của toàn xã hội, là chính sách quốc gia có tính xuyên suốt và liên tục trong việc phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng và trọng dụng nhân tài. Trọng dụng nhân tài không chỉ có nghĩa là những đãi ngộ về vật chất (lương, thưởng, nhà ở, xe cộ, …) mà để trọng dụng họ một cách thực chất thì không gian và đời sống tinh thần mới là điều có tính chất quyết định hiệu quả đóng góp của nhân tài. Vậy nên, về phía Nhà nước, cần đặt đội ngũ nhân tài vào đúng môi trường có tính học thuật cao, sử dụng họ đúng trong lĩnh vực sở trường, có cơ chế trao đổi và phản biện về những góp ý hay phát hiện khoa học của họ và đặc biệt là tránh quy chụp về quan điểm. Về phía xã hội, cần tôn trọng đúng mức sự đóng góp của nhân tài và những công trình khoa học, nhất là trong khoa học xã hội và nhân văn, vốn không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Nhân tài trong khoa học xã hội rất quan trọng vì tính tương hỗ cao, nhất là trong những xã hội phát triển ở trình độ cao. Nhân tài cần được đánh giá công tâm và bình đẳng, tránh tư duy, “coi trọng người ngoài hơn người nhà”. Đã ở đẳng cấp quốc tế thì cần được đãi ngộ như nhau, bất kể đó là người Việt Nam hay chuyên gia/nhà khoa học nước ngoài. Thứ ba , nhân tài cũng cần được cọ sát thường xuyên trong môi trường khoa học để “ngọc sáng càng thêm sáng”, do vậy, cần phải tạo điều kiện tối đa cho họ trong việc được học tập, trao đổi chuyên môn với các đồng nghiệp trong và ngoài nước. Những quy định khắt khe trong hợp tác quốc tế của Nghị định số 80/2010/NĐ-CP, ngày 14-7-2010, của Chính phủ, “Quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực khoa học và công nghệ”, cần được tháo gỡ để tạo không gian cho các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam (cả khu vực công và tư) có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận với các đối tác quốc tế nhằm trau dồi học thuật và tiếp nhận chuyển giao công nghệ. Điều này cũng phù hợp với những chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về vấn đề hội nhập quốc tế trong khoa học và công nghệ, cũng như những định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị. Thứ tư , các nhà nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay đang phải đóng vai trò là những viên chức/công chức mà nhiều thời gian phải dành cho việc hoàn thiện các thủ tục hành chính, giấy tờ hay công tác tài chính liên quan đến việc giải trình kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học. Để hạn chế việc này, bên cạnh luật đấu thầu công trình khoa học và công nghệ, cần thực hiện chặt chẽ hai công đoạn: xét duyệt tính ưu trội của thuyết minh đầu vào và chất lượng của sản phẩm đầu ra của công trình khoa học - công nghệ; còn lại nên để quyền cho nhà khoa học quyết định. Việc trọng dụng nhân tài một cách thực chất đích cuối là phải mang lại đóng góp thực chất cho việc thúc đẩy tiến bộ xã hội, nâng cao vị thế và hình ảnh quốc gia, gia tăng sức cạnh tranh của quốc gia và mức sống của nhân dân./. ---------------------------------------- (1) Trang điện tử Chính phủ Trung Quốc: “Cương yếu quy hoạch phát triển nhân tài giai đoạn trung và dài hạn quốc gia”, ngày 6-6-2010 (2) Kế hoạch Vạn nhân tài được Trung Quốc đưa ra vào tháng 9-2012, với mục đích tuyển chọn và tài trợ cho 10.000 (một vạn) nhân tài cấp cao trong nước trong vòng 10 năm. Kế hoạch này là sự nối tiếp của kế hoạch “nghìn nhân tài” hải ngoại được thực hiện trong giai đoạn trước, nhưng tập trung vào nhân tài trong nước và được Văn phòng điều hành công tác nhân tài Trung ương phụ trách (3) “Tiêu chuẩn phân loại lao động nước ngoài đến Trung Quốc làm việc (thí điểm)”, ngày 15-4-2020, http://www.jlhr.com.cn/art/zcfg_sjzcwj/402880c281938e5c0181e1d74e430146.html (4) Sáu loại hình nhân tài kiệt xuất loại A gồm: (1) Nằm trong kế hoạch thu thút nhân tài quốc tế của nhà nước Trung Quốc, được Bộ Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bộ Bảo đảm nhân lực xã hội, Cục chuyên gia nước ngoài nhà nước hoặc phó chủ tịch tỉnh trở lên phê chuẩn; (2) Phù hợp tiêu chuẩn thành tựu chuyên nghiệp được quốc tế công nhận, đạt các giải thưởng Noel về lĩnh vực vật lý, hóa học, sinh học, y tế, kinh tế học, các viện sỹ, công trình sư…; (3) Lãnh đạo cấp cao hoặc chuyên gia trong những ngành mang tính dẫn dắt thị trường kinh tế, nằm trong các doanh nghiệp trung ương, Top 500 doanh nghiệp mạnh hoặc doanh nghiệp kỹ thuật công nghệ cao; (4) Nhân tài khởi nghiệp sáng tạo, có các phát minh công nghệ kỹ thuật lớn; (5) Nhân tài trẻ ưu tú, dưới 40 tuổi từ các đại học lớn của thế giới; (6) Đạt 85 điểm đánh giá trở lên (5) Tập Cận Bình: “Nỗ lực trở thành trung tâm khoa học và cao địa sáng tạo chủ yếu của thế giới”, Tạp chí Cầu Thị , kỳ 6 năm 2021 (6) Website Nhân tài Trung Quốc: “Kế hoạch hỗ trợ đặc biệt nhân tài cấp cao quốc gia”, ngày 29-1-2013, http://cpc.people.com.cn/big5/n/2013/0129/c355107-20361611.html?ivk_sa=1024320u (7) Nhật báo Khoa học công nghệ Trung Quốc: “Kế hoạch hỗ trợ đặc biệt nhân tài cấp cao quốc gia”, ngày 26-3-2015, https://digitalpaper.stdaily.com/http_www.kjrb.com/kjrb/html/2015-03/26/content_297746.htm (8) Trang điện tử Học viện Tam Giang: Văn kiện của Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, về “Biện pháp quản lý kế hoạch thu hút nhân tài cấp cao hải ngoại quốc gia” và “Biện pháp quản lý Kế hoạch hỗ trợ đặc biệt nhân tài cấp cao quốc gia”, ngày 24-2-2017, https://www.sju.edu.cn/_upload/article/files/8f/42/a8a042074b31b19091b53424ff69/42277a0a-ed48-4818-bea4-e7e44506539a.pdf (9) Trang điện tử Chính phủ Trung Quốc: Cục Chuyên gia nước ngoài - Bộ Ngoại giao, Bộ Công an thông báo về “Biện pháp thực hiện chế độ visa nhân tài nước ngoài”, ngày 28-11-2017, https://www.gov.cn/gongbao/content/2018/content_5296556.htm (10) Nhật báo Trung Quốc: Khu phát triển công nghiệp công nghệ cao quốc gia Phúc Châu, ngày 22-8-2018, https://www.chinadaily.com.cn/m/fujian/2018-08/22/content_36805298.htm (11) Trang điện tử Ban Quản lý Khu phát triển công nghiệp công nghệ cao Phúc Châu: “Một số biện pháp của Khu công nghệ cao Phúc Châu về Giải thưởng cổ vũ hỗ trợ nhân tài sáng tạo khởi nghiệp”, ngày 30-4-2024, https://fzgxq.fuzhou.gov.cn/zwgk/zcfg/202404/t20240430_4817682.htm (12) Trang điện tử Chính phủ Trung Quốc: “Tổng lượng nhân tài khoa học kỹ thuật của Trung Quốc vượt 200 triệu người”, ngày 29-9-2024, https://www.gov.cn/yaowen/liebiao/202409/content_6976840.htm (13) Trương Như, Trần Hân: “Những thành tựu và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong công tác phát triển nhân tài thời đại mới - Học tập bài phát biểu quan trọng của Tổng Bí thư Tập Cận Bình về công tác phát triển nhân tài hiệu quả trong thời đại mới” , Tạp chí Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội, số 3 năm 2024
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/825105/mot-so-ly-giai-ve-cuoc-xung-dot-nga---ukraine-hien-nay-va-tinh-toan-chien-luoc-cua-cac-ben.aspx
Một số lý giải về cuộc xung đột Nga - Ukraine hiện nay và tính toán chiến lược của các bên
14-03-2022
Về phía Nga, Tổng thống Nga V. Putin khẳng định với nước Nga và toàn thế giới rằng, Ukraine không chỉ là một đất nước láng giềng mà còn là một phần không thể tách rời của lịch sử, văn hóa và không gian tinh thần Nga. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc xung đột hiện nay là do phương Tây và Ukraine không nhìn thấy hết và đáp ứng các quan ngại của Nga về an ninh quốc gia, không thấu hiểu lợi ích chiến lược của nhau và lập trường của hai bên quá xa nhau về vấn đề Ukraine. Về sâu xa, tính toán và mục tiêu của nước Nga thông qua chiến dịch quân sự tại Ukraine lần này có thể thấy nổi lên mấy điểm chính sau:
Về cuộc xung đột Nga - Ukraine hiện nay Cuộc khủng hoảng chính trị Nga - Ukraine hiện nay bắt nguồn từ sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh đến nay, gần hơn là năm 2014 khi Nga sáp nhập bán đảo Crimea, tiếp theo là một số bất ổn ở khu vực Donbass, phía đông của Ukraine - nơi có hai nước Cộng hòa tự xưng là Donetsk (DPR) và Luhansk (LPR). Gần đây nhất là từ cuối năm 2021 đến nay, tình hình trở nên đặc biệt căng thẳng vào thời điểm tháng 12-2021, Nga gửi đến Mỹ và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) bản đề nghị an ninh gồm 8 điểm, trong đó nêu rõ các quan ngại về an ninh được coi như những “lằn ranh đỏ”, đó là: 1- Ukraine không thể trở thành thành viên của NATO; 2- NATO không tiếp tục mở rộng sang phía đông; 3- NATO quay trở lại điểm xuất phát năm 1997, nghĩa là trước khi mở rộng sang phía đông, kết nạp các nước Đông Âu và ba nước Cộng hòa Baltic làm thành viên mới mà Nga cho là đe dọa nghiêm trọng đến an ninh và lợi ích chiến lược của Nga. Sau khoảng 1 tháng rưỡi, Mỹ và NATO gửi lại bản phản hồi tới Nga kèm theo các đề nghị không được đáp ứng thỏa đáng. Theo Mỹ và NATO, tất cả quốc gia có chủ quyền như Ukraine nếu có yêu cầu về an ninh, có thể làm đơn xin gia nhập không chỉ NATO mà bất kỳ tổ chức nào khác phù hợp với lợi ích quốc gia của Ukraine. Bản phản hồi cũng nhấn mạnh, việc Nga yêu cầu NATO quay trở lại điểm xuất phát năm 1997 là không hợp lý. Điều này khiến Nga cho rằng, những đề nghị chính đáng của mình không được Mỹ và NATO coi trọng. Thứ trưởng Ngoại giao Nga Alexander Grushko (phải) và Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg (giữa) tham dự cuộc họp Hội đồng Nga - NATO diễn ra ở Brussels, Bỉ, ngày 12-1-2022_Ảnh: AFP/TTXVN Xoay quanh việc Nga triển khai lực lượng quân sự lớn tới khu vực giáp biên giới với Ukraine từ cuối tháng 11-2021, ngày 22-2-2022, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã công bố quyết định công nhận độc lập của hai nước DPR và LPR, đồng thời điều quân đến đây để thực hiện “nhiệm vụ gìn giữ hòa bình”. Trước nguy cơ an ninh ngày càng hiện hữu sau khi Ukraine dự kiến ký kết một hiệp định quân sự chiến lược với Anh và Ba Lan, vào ngày 24-2-2022, Tổng thống Nga V. Putin tiếp tục tuyên bố mở “chiến dịch quân sự đặc biệt” ở miền Đông Ukraine, nhằm đáp lại lời đề nghị hỗ trợ bảo đảm an ninh của lãnh đạo hai nước DPR và LPR. Một số lý giải Nhìn tổng quát, cuộc xung đột Nga - Ukraine hiện nay về cơ bản có thể được lý giải tiếp cận từ hai góc độ chính sau: Thứ nhất , từ góc độ chủ nghĩa hiện thực chính trị, khi tìm hiểu về quy luật vận động và đấu tranh của nền chính trị quốc tế. Nằm trên lục địa Âu - Á, Ukraine là “vùng đệm tự nhiên” giữa Đông và Tây. Cả Nga và phương Tây đều cho rằng, bên kia là mối nguy cơ an ninh, đe dọa sự tồn tại của mình. Theo Nga, việc Ukraine xin gia nhập NATO sẽ làm mất cân bằng cán cân quyền lực an ninh ở sườn phía tây của Nga, đe dọa đến không gian sinh tồn của nước Nga, mất vùng đệm chiến lược, suy giảm ảnh hưởng địa - chính trị từng có trong thời kỳ Liên Xô, do đó Nga phải hành động kịp thời để ngăn chặn mối nguy cơ an ninh này để duy trì “vùng đệm an ninh” sống còn, chống lại nỗ lực mở rộng ảnh hưởng về phía tây của NATO. Trong khi đó, Mỹ và phương Tây lý giải đó là việc họ cần làm để ngăn chặn Nga nổi lên ở khu vực. Điều này sẽ đe dọa đến an ninh châu Âu (khu vực ảnh hưởng truyền thống của Mỹ), đoàn kết nội khối NATO, vai trò lãnh đạo toàn cầu và một trật tự quốc tế có lợi cho Mỹ. Nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề Ukraine có thể kể đến cựu Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Zbigniew Brzezinski với cuốn sách “Bàn cờ lớn” (The Grand Chessboard) và học giả người Mỹ về quan hệ quốc tế John Mearsheimer với nhiều tác phẩm, như “Cân bằng khơi xa: Đại chiến lược ưu việt của Mỹ” (1) , “Đừng cung cấp vũ khí cho Ukraine” (2) ..., bày tỏ rõ quan điểm rằng khi Liên Xô sụp đổ, không còn một cường quốc chi phối khu vực nào khác tồn tại, Mỹ lẽ ra nên giảm dần sự hiện diện quân sự tại đây, xây dựng quan hệ thân thiện hơn với Nga và giao trả nhiệm vụ bảo vệ an ninh châu Âu cho người châu Âu. Thay vào đó, trên thực tế Mỹ lại mở rộng NATO và “phớt lờ” các lợi ích của Nga, góp phần châm ngòi cho cuộc khủng hoảng chính trị tại Ukraine và nhiều xung đột khác. Ở góc độ tiếp cận này, sẽ thấy rõ hai khung luận điểm chính, đó là: 1- Chủ nghĩa bá quyền toàn cầu/khu vực - chính trị cường quyền; 2- Sự trở lại rõ nét của tư duy địa - chính trị trong thế kỷ XXI, nhất là tư duy về vùng đệm, sân sau, biên giới, phên giậu. Thứ hai , từ góc độ chủ nghĩa kiến tạo và chủ nghĩa tự do - gốc rễ là sự xung đột không thể giải quyết giữa hai nền văn minh Anglo-Saxon và Slavo, là phản ứng trước sự bành trướng địa - chính trị của những người Anglo - Saxon dưới lớp vỏ lan rộng của toàn cầu hóa muốn thống trị toàn bộ châu Âu. Người Slavo cho rằng, đây là sự trở lại không gian lịch sử và vị trí của họ trên thế giới mà đại diện là Nga. Bên cạnh đó, có thể kể đến yếu tố chủ nghĩa dân tộc của Nga với lòng tự hào, tự tôn dân tộc rất cao. Đối với Nga, tình trạng suy giảm của kinh tế - trật tự xã hội trong nước và việc Nga phải từ bỏ ảnh hưởng tại nhiều khu vực trên toàn cầu chính là hậu quả của việc Liên Xô sụp đổ. Quá khứ hào hùng của nước Nga đã tạo nên tinh thần dân tộc cao độ. Mặc dù nước Nga chịu tổn thất nặng nề về người và của trong Chiến tranh thế giới thứ hai song những đóng góp quan trọng của Nga trong việc duy trì, bảo đảm hòa bình, an ninh thế giới chính là sự khẳng định vị thế của Nga trên trường quốc tế. Xét về góc độ lịch sử văn hóa, các nhà phân tích cho rằng xung đột quân sự Nga - Ukraine phần nào xuất phát từ tinh thần chủ nghĩa dân tộc cao ở Nga. Đồng thời, cuộc xung đột còn có thể được lý giải xuất phát từ sự bá quyền tự do của Mỹ, khiến Mỹ cam kết, xuất khẩu, phổ biến các giá trị dân chủ đến tận những nơi xa lạ, nghĩa là cần phải có lực lượng quân sự chiếm đóng đi cùng và phải luôn can thiệp vào các dàn xếp chính trị của các khu vực. Điều này thường gây ra sự chống đối của những người theo chủ nghĩa dân tộc. Nga coi việc Mỹ can thiệp và áp đặt các giá trị dân chủ, nhân quyền đối với Nga là nguy cơ gây mất ổn định chính trị nội bộ. Tính toán của các bên Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky_Ảnh: TTXVN Về phía Nga, Tổng thống Nga V. Putin khẳng định với nước Nga và toàn thế giới rằng, Ukraine không chỉ là một đất nước láng giềng mà còn là một phần không thể tách rời của lịch sử, văn hóa và không gian tinh thần Nga. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc xung đột hiện nay là do phương Tây và Ukraine không nhìn thấy hết và đáp ứng các quan ngại của Nga về an ninh quốc gia, không thấu hiểu lợi ích chiến lược của nhau và lập trường của hai bên quá xa nhau về vấn đề Ukraine. Về sâu xa, tính toán và mục tiêu của nước Nga thông qua chiến dịch quân sự tại Ukraine lần này có thể thấy nổi lên mấy điểm chính sau: Một là , về mặt lịch sử văn hóa, các quốc gia hiện đại ngày nay, như Nga, Ukraine và Belarus đều có nguồn gốc hình thành từ Nhà nước Kievan Rus. Đây từng là một đại công quốc giàu có, thịnh vượng, hùng mạnh và lừng lẫy trong suốt một quãng thời gian dài của lịch sử thế giới, tồn tại trong khoảng 500 năm từ thế kỷ thứ IX đến thế kỷ XIII. Trung tâm kinh tế - chính trị của nhà nước này đều được đặt tại vùng đất Thánh - Kiev (thủ đô hiện tại của Ukraine). Bên cạnh nước Nga Sa hoàng, Ukraine được gọi là “Tiểu Nga”, còn Belarus mang tên “Bạch Nga”. Ba quốc gia hiện đại Nga - Ukraine - Belarus hiện nay, trên thực tế là một khối khăng khít khó có thể tách rời trong suốt chiều dài lịch sử, ba “nhánh cây đâm chồi” từ một gốc Kievan Rus. Hai là , về mặt chính trị - an ninh - quân sự, chính quyền của Tổng thống Nga V. Putin cho rằng, hơn 30 năm qua kể từ khi Liên Xô sụp đổ, nước Nga đã bị Mỹ và các nước phương Tây đối xử không công bằng dưới nhiều hình thức, từ việc luôn mang tư tưởng thù địch với Nga, không đặt Nga ở một vị trí quan trọng trong cấu trúc an ninh mới của toàn châu Âu sau Chiến tranh lạnh, đến các vòng mở rộng NATO đe dọa không gian an ninh, phát triển của Nga, kích động các cuộc “cách mạng màu”, cấm vận Nga về kinh tế, công nghệ, tài chính…, đặc biệt là xóa bỏ nhận thức của châu Âu về công lao của Liên Xô giải phóng các dân tộc khỏi nạn diệt chủng phát-xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nga cho rằng, việc Ukraine triển khai chính sách đối ngoại thân phương Tây và gia nhập NATO sẽ khiến không gian sinh tồn của Nga ngày càng bị thu hẹp, thậm chí đe dọa sự tồn tại của Nga với tư cách là một cường quốc. Quyết định triển khai “chiến dịch quân sự đặc biệt” tại Ukraine có thể khiến uy tín của Tổng thống Nga V. Putin giảm sút trên trường quốc tế và đối diện với các lệnh trừng phạt nặng nề chưa từng có từ Mỹ và các nước phương Tây, tuy nhiên dường như Nga đã chuẩn bị sẵn tâm lý và các phương án ứng phó, vẫn quyết tâm thực hiện “chiến dịch quân sự đặc biệt” - điều góp phần mang lại yếu tố thuận lợi cho sự phát triển lâu dài của Nga, trong đó bảo đảm chắc chắn về một Ukraine trung lập, không thực hiện chính sách đối ngoại thân phương Tây. Mục tiêu sâu xa hơn của quyết định đó là đưa Ukraine trở lại phạm vi ảnh hưởng nhằm tạo sức mạnh đối trọng với NATO, tái thiết lập vùng đệm an ninh giữa Nga và phương Tây, như chiến lược trước đây Liên Xô từng theo đuổi, thiết kế lại bản đồ an ninh châu Âu và đưa Nga trở lại “bàn cờ” dành cho những siêu cường. Đồng thời, Nga muốn điều chỉnh lại những hệ quả an ninh sau cột mốc năm 1991 - thời điểm xảy ra sự kiện mà Tổng thống Nga V. Putin từng gọi là “bi kịch địa - chính trị lớn nhất thế kỷ XX”: Sự tan rã của Liên Xô. Tổng thống Mỹ Joe Biden áp đặt lệnh cấm nhập khẩu dầu và các loại năng lượng khác của Nga ngay lập tức nhằm đáp trả chiến dịch quân sự của nước này tại Ukraine, ngày 8-3-2022_Ảnh: Reuters Về phía Mỹ và phương Tây, kể từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, NATO luôn xem Nga là mối đe dọa an ninh số 1; còn Mỹ coi Nga và Trung Quốc là những “đối thủ cạnh tranh chiến lược” hàng đầu. Mỹ và phương Tây luôn muốn dập tắt những hy vọng của Nga trong việc phục hồi vị thế cường quốc toàn cầu của Liên Xô như trước đây thông qua quá trình “Đông tiến” của NATO. Mối quan hệ giữa Nga với Mỹ và phương Tây đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm giữa đối đầu và hòa hoãn, tuy khác nhau về mức độ nhưng bản chất vẫn là cạnh tranh chiến lược và đối kháng lợi ích, sự mở rộng ảnh hưởng của bên này, trong cách tiếp cận của bên còn lại, sẽ thu hẹp lợi ích của bên kia. Về tổng thể, Mỹ có mục tiêu chiến lược không đổi là duy trì vai trò lãnh đạo toàn cầu và một trật tự quốc tế có lợi cho Mỹ, kiềm chế và không để Nga nổi lên thách thức vị thế của Mỹ. Cụ thể, trong cuộc khủng hoảng chính trị Nga - Ukraine, trước khi xung đột nổ ra, Mỹ và phương Tây được cho là đều có tính toán trong việc thực hiện cuộc chiến tranh thông tin, đẩy thêm căng thẳng giữa Nga với Ukraine để dễ dàng hiện thực hóa kế hoạch “phương Tây hóa Ukraine”, lôi kéo các nước có xu hướng thân Nga dựa hẳn vào Mỹ và phương Tây… Khi chiến sự bùng nổ, Mỹ và phương Tây không trực tiếp tham chiến nhưng tăng cường trợ giúp Ukraine các trang thiết bị vũ khí hiện đại, áp đặt các biện pháp cấm vận kinh tế ngặt nghèo đối với Nga… Trong tính toán của Mỹ và phương Tây, căng thẳng giữa Nga và Ukraine leo thang còn giúp Mỹ và phương Tây có thể đạt được các mục tiêu lớn tiếp theo. Cụ thể, trong trường hợp Nga “sa lầy” vào cuộc chiến, đây sẽ là cơ hội để Mỹ và phương Tây tranh thủ tái thiết cục diện an ninh châu Âu và tạo dựng các cơ chế kinh tế không có sự tham gia của Nga theo hướng có lợi cho Mỹ và phương Tây; đồng thời, làm suy giảm sức mạnh tổng hợp quốc gia của Nga trên trường quốc tế. Đối với Mỹ, bất kể cuộc xung đột vũ trang nào cũng là cơ hội giúp Mỹ thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ từ việc buôn bán vũ khí cho các bên tham chiến và liên quan. Có một số ý kiến cho rằng, dường như Mỹ và phương Tây chưa thực sự muốn Ukraine gia nhập NATO, bởi vì khi Ukraine trở thành thành viên của NATO, Mỹ và NATO sẽ phải thực hiện nghĩa vụ hỗ trợ Ukraine - một đồng minh vốn không đem lại quá nhiều lợi ích thiết thân cho Mỹ và NATO. Chính vì vậy, NATO vẫn để ngỏ khả năng tổ chức này có thể kết nạp Ukraine vào thời điểm thích hợp. Tuy nhiên, đó dường như là một mũi tên trúng hai mục đích của Mỹ và phương Tây: thổi bùng thêm căng thẳng trong quan hệ Nga - Ukraine và làm suy giảm uy tín quốc tế cũng như sức mạnh tổng hợp quốc gia của Nga. Trong trường hợp trước áp lực mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế gây thiệt hại sâu sắc, toàn diện đối với Nga, Nga chủ động giảm căng thẳng, Mỹ có thể tạo dựng được uy tín trong vai trò hòa giải xung đột và Nga phải nhượng bộ Mỹ trong giải quyết các vấn đề quốc tế khác, nhất là vấn đề liên quan đến “chảo lửa” Trung Đông. Israel là đồng minh lâu năm của Mỹ và một thực tế là giới tài phiệt cũng như những chính trị gia gốc Do Thái - ở một góc độ nào đó - có vai trò hết sức quan trọng trên chính trường Mỹ. Hỗ trợ đồng minh Israel trong cuộc xung đột ở Trung Đông chính là một trong những cơ hội mà Tổng thống Mỹ Joe Biden cũng như Đảng Dân chủ cầm quyền muốn tận dụng để tranh thủ lá phiếu của cử tri gốc Do Thái trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ giữa nhiệm kỳ sắp tới. Bên cạnh đó, nếu như trước đây, nội bộ NATO và châu Âu có nhiều khác biệt trong ứng xử với Nga, thậm chí đã xuất hiện những rạn nứt nhất định xoay quanh quan điểm về Nga khi mà lợi ích giữa Nga và nhiều quốc gia trong NATO ràng buộc lẫn nhau (khoảng 40% nhập khẩu năng lượng của EU phụ thuộc vào Nga là một nhân tố không dễ bỏ qua), thì cuộc xung đột Nga - Ukraine vô hình trung đẩy Mỹ và châu Âu xích lại gần nhau với lập trường thống nhất về vấn đề Ukraine, cùng áp dụng các lệnh trừng phạt đối với Nga. Về phía Trung Quốc, vào thời điểm căng thẳng ở Ukraine và châu Âu lên cao, ngày 11-2-2022, chính quyền Tổng thống Mỹ J. Biden công bố Chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương an toàn và thịnh vượng” với 5 ưu tiên; đồng thời, công bố chương trình hành động - đây được xem là điểm mới so với trước - nghĩa là Mỹ không chỉ có ý chí chính trị mà còn dành các nguồn lực về kinh tế, ngoại giao, quốc phòng thích đáng để hỗ trợ cho chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương mới. Điều đó cho thấy, dù có những mối quan tâm ở châu Âu, nhưng khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương mới là ưu tiên của chính quyền Tổng thống Mỹ J. Biden. Cuộc xung đột Nga - Ukraine nổ ra đã đẩy căng thẳng quan hệ Mỹ - Nga lên cao, điều này phần nào giúp giảm nhiệt cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc trong giai đoạn ngắn và trung hạn. Tuy nhiên, Trung Quốc hiểu rõ rằng, Trung Quốc mới là đối thủ cạnh tranh chiến lược hàng đầu của Mỹ mà Mỹ đã nêu đích danh trong nhiều tuyên bố và văn bản chính thức. Đối với Ukraine, Trung Quốc không có bất kỳ trách nhiệm trực tiếp, ràng buộc nào và thể hiện quan điểm trung lập. Bản chất trong quan hệ Trung Quốc - Nga và một số liên hệ với tình hình nội tại Trung Quốc từ vấn đề Ukraine có thể thấy chính sách của Trung Quốc nổi lên một số điểm chính sau: Thứ nhất , việc ủng hộ các phong trào ly khai ở một quốc gia có chủ quyền - nhất là thông qua can thiệp quân sự - như Nga đang thực hiện đối với Ukraine, khiến Trung Quốc cảm thấy quan ngại, bởi điều này có thể đặt ra một tiền lệ tiêu cực gây ảnh hưởng đến lợi ích của Trung Quốc. Thứ hai , mặc dù được đặc trưng bởi trạng thái hợp tác cao chưa từng có tiền lệ, song Trung Quốc và Nga là những quốc gia riêng biệt với những lợi ích riêng biệt. Đối với Trung Quốc, vốn là mục tiêu gây áp lực chính của Mỹ và phương Tây trong những năm gần đây, việc Nga bất ngờ mở “chiến dịch quân sự đặc biệt” ở Ukraine sẽ khiến phương Tây chuyển sự chú ý sang châu Âu, tạo điều kiện giúp Trung Quốc có thêm không gian và thời gian để tăng cường ảnh hưởng và sức mạnh tổng hợp quốc gia, cũng như hoạch định, triển khai, thúc đẩy các kế hoạch hành động cụ thể tại khu vực. Tổng thống Nga V. Putin và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại cuộc gặp ở Bắc Kinh, Trung Quốc, ngày 4-2-2022_Ảnh: THX/TTXVN Thứ ba , lập trường 5 điểm của Trung Quốc đối với xung đột Nga - Ukraine (3) hiện nay có thể xuất phát từ những nguyên nhân: 1- Trung Quốc muốn bảo đảm một cường quốc quân sự khác, mà cụ thể là Nga, ủng hộ mình cả về ngoại giao và kinh tế, trước bối cảnh an ninh khu vực châu Á đang diễn ra cạnh tranh gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này đang tạo ra cho Trung Quốc những hạn chế nhất định trong việc gia tăng ảnh hưởng tại khu vực truyền thống cũng như triển khai các đại chiến lược; 2- Trung Quốc có thể vừa duy trì quan hệ, gắn kết ngày càng chặt chẽ, thậm chí nâng tầm quan hệ với Nga (4) thông qua các gói cứu trợ kinh tế, thỏa thuận thương mại song phương, vừa có thể “giữ” EU trong “quỹ đạo kinh tế” của mình và giảm thiểu rủi ro từ các lệnh trừng phạt của phương Tây, đồng thời, có thể duy trì, bảo vệ mối quan hệ thương mại đối với Ukraine - một đối tác thương mại quan trọng của Trung Quốc, với hơn 15 tỷ USD dòng chảy thương mại song phương vào năm 2020. Ukraine cũng là “cửa ngõ” quan trọng vào châu Âu, là đối tác chính thức trong sáng kiến Vành đai, Con đường (BRI) của Trung Quốc - một nỗ lực địa - chính trị quan trọng hàng đầu mà Trung Quốc đang hướng tới (5) . Các chuyên gia cho rằng, trong thời gian tới, nhiều khả năng, Trung Quốc sẽ tiếp tục duy trì lập trường hiện nay đối với “chiến dịch quân sự đặc biệt” của Nga tại Ukraine và theo dõi sát các diễn biến xoay quanh vấn đề này để tìm kiếm các cơ hội trong bối cảnh phức tạp hiện nay Có thể thấy, dường như cuộc xung đột Nga - Ukraine hiện chưa có dấu hiệu giảm nhiệt, trở thành yếu tố gia tăng sự phức tạp, rối ren và khó đoán định. Việc giảm căng thẳng tại Ukraine hiện nay là một nỗ lực rất cần thiết đòi hỏi sự quyết tâm chung của các bên liên quan và của cả cộng đồng quốc tế, nhằm hướng tới thúc đẩy xây dựng lòng tin cũng như xây dựng một cấu trúc an ninh mới phù hợp, mang lại lợi ích chung, hài hòa cho các nước một cách cân bằng, hữu hiệu và bền vững./. ---------------------- (1) Xem: John J. Mearsheimer and Stephen M. Walt: “The Case for Offshore Balancing: A Superior U.S. Grand Strategy” (Tạm dịch: “Cân bằng khơi xa: Đại chiến lược ưu việt của Mỹ”, Foreign Affairs, https://www.foreignaffairs.com/articles/united-states/2016-06-13/case-offshore-balancing, ngày 13-6-2016. (2) Xem: John J. Mearsheimer: “Don’t Arm Ukraine” (Tạm dịch: “Đừng cung cấp vũ khí cho Ukraine”), The New York Times, https://www.nytimes.com/2015/02/09/opinion/dont-arm-ukraine.html, ngày 8-2-2015. (3) Ngày 25-2-2022, cùng với Ấn Độ và Các Tiểu Vương quốc Arab Thống nhất (UAE), phái đoàn Trung Quốc tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc bỏ phiếu trắng đối với dự thảo nghị quyết cáo buộc Nga “tấn công Ukraine”. Ngày 26-2-2022, Trung Quốc chia sẻ lập trường 5 điểm về vấn đề Ukraine, trong đó có một số nội dung đáng chú ý, như: “Trong tình hình NATO liên tục 5 lần mở rộng về phía Đông, yêu cầu chính đáng về mặt an ninh của nước Nga lẽ ra phải được coi trọng và giải quyết ổn thỏa” và “Hành động mà Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc áp dụng nên hạ nhiệt tình hình căng thẳng chứ không nên làm cho tình hình leo thang, như thông qua vũ lực và áp đặt lệnh trừng phạt”. (4) Quan hệ Nga - Trung Quốc đã được cải thiện đều đặn trong hơn ba thập niên, với sự thống nhất chặt chẽ hơn về nhiều vấn đề, bao gồm hệ tư tưởng, an ninh, không gian mạng và quản trị toàn cầu. Quan hệ Nga - Trung Quốc đang có những dịch chuyển trong thời gian gần đây; hai bên đã có những thỏa thuận và tăng cường hợp tác với nhau về cung ứng năng lượng, nguyên liệu thô, hàng hóa, cùng chia sẻ áp lực và mối nguy cơ từ phía Mỹ và phương Tây áp đặt lên. Đáng chú ý, Trung Quốc đã dỡ bỏ toàn bộ lệnh cấm nhập khẩu đối với lúa mì từ Nga trong bối cảnh căng thẳng Nga - Ukraine leo thang, cho thấy mối quan hệ giữa Nga - Trung Quốc đang được thắt chặt khi Mỹ và các đồng minh áp đặt những lệnh trừng phạt mới. (5) Đầu năm 2022, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã gửi lời chào tới Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky và cho biết: “Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao cách đây 30 năm, quan hệ Trung Quốc - Ukraine luôn duy trì đà phát triển ổn định và phù hợp”.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/825809/tac-dong-cua-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-den-the-gioi%2C-khu-vuc-va-viet-nam.aspx
Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến thế giới, khu vực và Việt Nam
29-08-2022
(1) Xem: Báo điện tử Chính phủ: “Mỹ dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo”, http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/My-dan-dau-the-gioi-trong-linh-vuc-tri-tue-nhan-tao/420696.vgp , ngày 25-1-2021 (2) Lê Đình Tĩnh: “Quan hệ Mỹ - Trung thập niên 2011 - 2020, dự báo đến 2030: Tác động đến cục diện thế giới, khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Thế giới trong thập niên 2011 - 2020, dự báo đến năm 2030: Tác động đến Việt Nam và đề xuất chính sách” , Hội đồng Lý luận Trung ương phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức năm 2019 (3) Đặng Xuân Thanh: “Các vấn đề toàn cầu và tác động đến Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Thế giới trong thập niên 2011 - 2020, dự báo đến năm 2030: Tác động đến Việt Nam và đề xuất chính sách” , Tlđd (4) Các cuộc tấn công mạng được chia thành ba loại chính: 1- Tấn công mạng nhắm vào bộ máy chính phủ hoặc liên quan tới hoạt động tình báo, gián điệp chính trị; 2- Tấn công nhằm đánh cắp thông tin doanh nghiệp và các hồ sơ cá nhân; 3- Tấn công vào hệ thống tài chính, ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản. (5) Xem: “What’s the real value of AI for your business and how can you capitalise?”, https://www.pwc.com/gx/en/issues/analytics/assets/pwc-ai-analysis-sizing-the-prize-report.pdf , 2020 (6) Nguyễn Thắng: “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tác động đến Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Thế giới trong thập niên 2011 - 2020, dự báo đến năm 2030: Tác động đến Việt Nam và đề xuất chính sách” , Tlđd (7) Angus Deaton: Cuộc đào thoát vĩ đại , Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2016, tr. 156 (8) Xem: Huỳnh Nguyễn Tường Vy: “Tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao tại Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á”, https://tanbinh.hochiminhcity.gov.vn/web/neoportal/-/tinh-hinh-toi-pham-su-dung-cong-nghe-cao-tai-hiep-hoi-cac-qnoc-gia-ong-nam-a-viet-tat-asean-?inheritRedirect=true , ngày 1-6-2021 (9) ILO: “ASEAN in transformation: How Technology is Changing Jobs and Enterprises”, https://www.ilo.org/actemp/publications/WCMS_579553/lang--en/index.htm (10) Huyền Chi: “An ninh mạng - bài toán khó của ASEAN trong thời đại 4.0”, Báo Công an nhân dân điện tử, https://cand.com.vn/Van-de-hom-nay-thoi-su/ASEAN-muc-tieu-hang-dau-cua-hacker-i491408/ , ngày 15-9-2018 (11) Thạch Huê: “Đo lường tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến kinh tế Việt Nam”, Trang thông tin điện tử kinh tế của Thông tấn xã Việt Nam, https://bnews.vn/do-luong-tac-dong-cua-cach-mang-cong-nghiep-4-0-den-kinh-te-viet-nam/144534.html , ngày 8-1-2020 (12) Phan Thế Quyết và Ngô Mai Hương: “Chuyển đổi số với doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0”, Trang thông tin điện tử của Viện nghiên cứu chiến lược - chính sách công thương, http://vioit.org.vn/vn/chien-luoc-chinh-sach/chuyen-doi-so-voi-doanh-nghiep-viet-nam-trong-boi-canh-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-4-0-3112.4050.html (13) Nguyễn Thắng: “Tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và cách mạng công nghệ”, Trang thông tin điện tử Ban Kinh tế Trung ương, https://kinhtetrunguong.vn/ , ngày 28-11-2016
Ở cấp độ toàn cầu Tác động tới an ninh - chính trị Các công nghệ đột phá do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại đã tạo điều kiện để các quốc gia ứng phó và xử lý hiệu quả hơn với nhiều thách thức, rủi ro an ninh, như dịch bệnh, khủng bố quốc tế, thảm họa tự nhiên,... Trong cuộc chiến phòng, chống dịch bệnh COVID-19 thời gian qua, nhờ sự phát triển của lĩnh vực công nghệ sinh học mà thế giới đã nhanh chóng nghiên cứu, phát triển được các loại vắc-xin ngăn ngừa sự lây lan nhanh chóng của vi-rút cũng như các biến thể của vi-rút, hạn chế tối đa những bất ổn ảnh hưởng đối với an ninh - chính trị toàn cầu. Bên cạnh đó, những công nghệ đột phá trong lĩnh vực AI cùng với sự hỗ trợ của mạng 5G cũng góp phần tạo ra những công cụ hiệu quả để nhận diện và ứng phó với các rủi ro an ninh mạng toàn cầu, các thảm họa tự nhiên, như sóng thần, bão lũ, hạn hán,... cùng với các vấn đề xuyên quốc gia khác như nguy cơ khủng bố... Úng dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong lĩnh vực y tế_Nguồn: shutterstock.com Tuy nhiên, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tạo ra một cuộc tranh đua về công nghệ hết sức khốc liệt giữa các quốc gia, gây hệ lụy bất ổn đối với an ninh - chính trị toàn cầu và thúc đẩy cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc. Để có thể giành được vị trí dẫn đầu trong cuộc chiến công nghệ này, các quốc gia không chỉ cố gắng đưa ra các chiến lược, chính sách thúc đẩy khoa học - công nghệ, tăng cường đầu tư, hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước,... mà còn dùng mọi biện pháp để kiềm chế, kìm hãm sự vươn lên của các đối thủ trong cuộc tranh đua này. Cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc là một minh chứng. Trong gần một thập niên vừa qua, Trung Quốc đã vươn lên mạnh mẽ và thu hẹp khoảng cách về lĩnh vực khoa học - công nghệ so với Mỹ. Thậm chí, ở một số lĩnh vực, Trung Quốc được cho là đã bắt kịp và sẽ sớm vượt qua Mỹ như công nghệ AI (1) , nắm ưu thế dẫn đầu trong một số công nghệ như mạng 5G, công nghệ nhận diện khuôn mặt,... với sự phát triển mạnh mẽ của các tập đoàn công nghệ Trung Quốc như ZTE, Huawei, Alibaba, Tencent, Baidu,... (2) . Điều này khiến Trung Quốc trở thành thách thức chiến lược lớn nhất đối với Mỹ (3) . Ngoài ra, cuộc cạnh tranh này cũng tạo nên sức ép cho các quốc gia nhỏ hơn trong việc “chọn bên”. Rõ ràng, các hành động leo thang trong cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc về công nghệ đã tạo ra những rủi ro và bất ổn đối với an ninh - chính trị toàn cầu. Bên cạnh đó, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự gia tăng kết nối thông qua internet cũng đặt ra hàng loạt vấn đề về bảo đảm an ninh, an toàn mạng và bảo mật thông tin đối với các quốc gia và khu vực. Trong thời gian qua, vấn đề an ninh mạng trở thành một trong những thách thức nghiêm trọng khi mà các cuộc tấn công mạng ngày càng đa dạng về hình thức cũng như mức độ ảnh hưởng (4) . Theo báo cáo của Ủy ban châu Âu (EC), số lượng các cuộc tấn công mạng ở châu Âu tăng 75% (năm 2020), với 756 sự cố an ninh mạng đã được ghi nhận, chủ yếu nhằm vào hệ thống chăm sóc sức khỏe, tài chính, năng lượng và các kết cấu hạ tầng khác. Hay căng thẳng diễn ra giữa Mỹ và Tập đoàn Huawei khi Mỹ cho rằng, công nghệ mạng 5G của Trung Quốc có thể tạo ra nền tảng trợ giúp các hoạt động gián điệp. Vì thế, Mỹ đã cấm sử dụng thiết bị của Tập đoàn Huawei trong các mạng nội địa, đồng thời gây sức ép với các quốc gia đồng minh áp dụng các biện pháp tương tự để bảo đảm an ninh quốc gia... Có thể thấy, vấn đề an ninh mạng trong thời đại công nghệ 4.0 cũng là nguyên nhân khiến các mối quan hệ quốc tế trở nên căng thẳng. Một thách thức khác đối với an ninh - chính trị thế giới đó là khả năng xảy ra cuộc chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ mới và vũ khí sinh học. Trong thời gian gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đầu tư vào nghiên cứu, ứng dụng công nghệ AI trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, như chế tạo rô-bốt, tên lửa hành trình, tàu ngầm, máy bay không người lái,... Bên cạnh đó, sự phát triển của lĩnh vực công nghệ sinh học thời gian gần đây cũng tạo ra nhiều lợi thế cho những quốc gia đã ứng dụng thành công công nghệ này. Tuy nhiên, nếu không được kiểm soát chặt chẽ, các loại công nghệ này có nguy cơ trở thành thảm họa đối với nhân loại. Tác động tới kinh tế Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi nền tảng, thúc đẩy các nền kinh tế truyền thống chuyển đổi sang kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo. Thực tiễn cho thấy, các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trước đều góp phần quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo nghiên cứu của Công ty kiểm toán hàng đầu thế giới Pricewaterhouse Coopers (PwC), công nghệ AI có thể làm tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới tăng 14% (tương đương 15,7 nghìn tỷ USD) vào năm 2030 (5) . Bên cạnh đó, đổi mới công nghệ cũng làm gia tăng các yếu tố sản xuất - kinh doanh, kéo theo tăng thu nhập và dẫn đến sự gia tăng tiêu dùng dân cư, tăng đầu tư cho cả nền kinh tế và tăng năng suất lao động. Cùng với đó, nhờ ứng dụng công nghệ, chi phí giao thông vận tải và thông tin liên lạc sẽ giảm xuống, chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ trở nên hiệu quả hơn, các chi phí thương mại được giảm bớt. Tất cả những yếu tố trên góp phần mở rộng thị trường, thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư toàn cầu. Tuy nhiên, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa các quốc gia và định hình lại bản đồ kinh tế thế giới. Trong đó, các nền kinh tế phát triển dựa trên nền tảng công nghệ sẽ chiếm ưu thế, trong khi các nền kinh tế “thâm dụng” tài nguyên khoáng sản hay “thâm dụng” lao động thì dần trở nên mất lợi thế (6) . Nói cách khác, các quốc gia đang phát triển sẽ phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu khi mất đi những lợi thế cạnh tranh cũng như cơ hội mang lại từ cuộc chiến công nghệ này. Trong khi đó, các nền kinh tế phát triển vốn đã có lợi thế tài chính và nhân lực chất lượng cao, lại biết tận dụng tốt cơ hội sẽ phát triển ngày càng mạnh mẽ và ổn định hơn. Điều này khiến cục diện kinh tế thế giới ngày càng trở nên mất cân bằng và nhiều rủi ro hơn. Tác động tới xã hội Các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay đã tạo ra những xáo trộn và thay đổi về mặt xã hội trên quy mô toàn cầu, nhưng kết quả đều làm gia tăng năng suất lao động, của cải vật chất, cải thiện sức khỏe và đời sống tinh thần của mọi người dân,... hay nói cách khác, các cuộc cách mạng công nghiệp đều góp phần phát triển phúc lợi xã hội cho nhân loại. Trong lịch sử, các cuộc cách mạng công nghiệp đều tạo ra hàng loạt cải cách, điều chỉnh lớn về chính trị cũng như thể chế xã hội, như cách mạng dân chủ, quyền lợi công đoàn hay những thay đổi về luật thuế, an sinh xã hội... Đặc biệt, với những tiến bộ đột phá gần đây, thế giới đã có thể ứng phó tốt hơn với các thách thức toàn cầu, như trong lĩnh vực môi trường, công nghệ sinh học được ứng dụng vào xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái và sự cố môi trường... Trong lĩnh vực y dược, công nghệ sinh học cũng được ứng dụng để nghiên cứu, phát triển sản xuất các vắc-xin thiết yếu, vắc-xin thế hệ mới, chế phẩm chẩn đoán và thuốc chữa bệnh... Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, việc sản xuất nhanh chóng các loại vắc-xin phòng, chống dịch bệnh cho thấy rõ vai trò hết sức quan trọng của ngành công nghệ sinh học. Ngoài ra, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội, tạo ra những thay đổi về việc làm, cả về cơ cấu lẫn bản chất công việc với sự xuất hiện ngày càng đông đảo các tầng lớp sáng tạo trong các lĩnh vực khoa học, thiết kế, văn hóa, nghệ thuật, giải trí, truyền thông, giáo dục, y tế... Tuy nhiên, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội, nhất là vấn đề bất bình đẳng và chênh lệch phát triển,... Theo nhà kinh tế học En-gớt Đi-tơn (Angus Deaton), mọi cuộc cách mạng công nghiệp đều dẫn đến một giai đoạn phân kỳ, gia tăng khoảng cách phát triển rất lớn giữa các quốc gia (7) . Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thúc đẩy phân công lao động theo hướng các ngành, nghề đòi hỏi khả năng đổi mới sáng tạo cùng với đó, giảm thiểu các công việc chân tay có thu nhập thấp và các công việc có tính chất lặp đi, lặp lại. Nhiều lĩnh vực có khả năng tự động hóa cao, như chế tạo, điện thoại viên, người khai thuế, giám định bảo hiểm và một số ngành, nghề khác đã được thay thế một phần hoặc hoàn toàn. Trong một số công đoạn của ngành bảo hiểm có thể không cần sự can thiệp của con người, hầu hết truy vấn khách hàng đều được trả lời tự động... Đã có một số rô-bốt tư vấn xuất hiện trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng... Hệ quả là, một bộ phận người lao động đang làm các công việc này sẽ phải nghỉ việc hoặc tìm một công việc khác thay thế, có thể thất nghiệp trong một thời gian dài. Úng dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo_Nguồn: shutterstock.com Ở cấp độ khu vực Tác động về an ninh - chính trị Trong thời gian gần đây, việc ứng dụng các công nghệ đột phá do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại đã góp phần bảo đảm an ninh - chính trị của các quốc gia trong khu vực. Trong số các quốc gia này, Xin-ga-po được xem là quốc gia đi đầu trong phát triển khoa học - công nghệ nhằm bảo đảm an ninh quốc gia. Hiện nay, Cơ quan Khoa học và kỹ thuật công nghệ Bộ Nội vụ của Xin-ga-po (HTX) đang nghiên cứu phát triển ứng dụng AI trong sinh trắc học (thử nghiệm dấu vân tay nhằm xác định các yếu tố khác ngoài danh tính), phát triển công nghệ chó rô-bốt cứu nạn, phát triển phương tiện di động đối phó với thiết bị bay không người lái (drone),... Theo kế hoạch đến năm 2025, Xin-ga-po sẽ kiểm soát an ninh tại tất cả các trạm kiểm soát nhập cảnh thông qua tự động hóa hoàn toàn với công nghệ quét nhận dạng vân tay, nhận diện khuôn mặt và nhận diện mống mắt. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thời gian qua cũng dẫn tới sự gia tăng các hình thức và mức độ phức tạp của loại hình tội phạm công nghệ cao,... tác động không nhỏ tới an ninh khu vực Đông Nam Á, bởi đây là một trong những khu vực phát triển năng động và có tỷ lệ người sử dụng internet cao trên thế giới. Có thể kể tới một số phương thức lừa đảo qua internet, như lừa đảo qua thư điện tử doanh nghiệp, tấn công giả mạo, mã độc tống tiền, đánh cắp dữ liệu thương mại điện tử, mua bán các công cụ độc hại và lừa đảo trực tuyến,... Trong đó, hình thức mã độc tống tiền đã tăng mạnh trong thời gian gần đây. Theo thống kê của nhà sản xuất phần mềm bảo mật Kaspersky (Nga), có khoảng 2,7 triệu mã độc tống tiền xuất hiện ở khu vực Đông Nam Á trong ba quý đầu năm 2020, trong đó In-đô-nê-xi-a là quốc gia bị tấn công nhiều nhất với 1,3 triệu lượt (8) . Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, các đối tượng có xu hướng tăng cường tấn công các bệnh viện, trung tâm chăm sóc sức khỏe và các cơ quan hành chính. Bên cạnh đó, xu hướng đánh cắp tiền ảo cũng đang gia tăng tại Đông Nam Á khi các loại tiền ảo phát triển bùng nổ và thiếu sự kiểm soát của các cơ quan chức năng. Điều đáng nói là, do năng lực và trình độ phát triển công nghệ ở khu vực có sự chênh lệch lớn, các nước có trình độ khoa học chậm phát triển hơn dường như không thể có khả năng ứng phó với thách thức an ninh mạng một cách hiệu quả. Trong khi đó, chỉ cần một mắt xích yếu kém, vấn đề an ninh bảo mật của khu vực có thể sẽ bị rơi vào tình trạng nguy hiểm. Tác động về kinh tế Đông Nam Á là khu vực với đặc điểm dân số trẻ, tầng lớp trung lưu tăng lên nhanh chóng trong thời gian gần đây. Với sự nhanh nhạy và năng động trong việc áp dụng công nghệ, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được xem là cơ hội lớn để các nền kinh tế Đông Nam Á có thể bứt phá vươn lên nhờ chuyển đổi sang nền kinh tế số. In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Xin-ga-po, Thái Lan và Việt Nam là các quốc gia được đánh giá có sự phát triển kinh tế số mạnh mẽ thời gian qua. Năm 2019, nền kinh tế số của Đông Nam Á lần đầu tiên chạm ngưỡng 100 tỷ USD, tăng gấp ba lần trong giai đoạn 2016 - 2019. Đáng chú ý, Việt Nam và In-đô-nê-xi-a được đánh giá là hai quốc gia có tiềm năng lớn nhất để phát triển nền kinh tế số so với các quốc gia khác trong khu vực, với tốc độ tăng trưởng kinh tế số hơn 40%/năm. Tiếp đó là Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Xin-ga-po và Thái Lan, với mức tăng trưởng kinh tế số đạt trung bình 20% - 30%/năm. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, kinh tế số của Đông Nam Á có tiềm năng trở thành một trong năm nền kinh tế số hàng đầu thế giới với mức 300 tỷ USD vào năm 2025. Trong rất nhiều lĩnh vực có tiềm năng tăng trưởng nhờ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thương mại điện tử hiện là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất và tăng trưởng nhanh nhất. Giá trị của ngành thương mại điện tử ở Đông Nam Á đạt 62 tỷ USD năm 2020, tăng 63% so với năm 2019. Dự báo, quy mô ngành thương mại điện tử sẽ chạm mốc 172 tỷ USD vào năm 2025. Ngoài ra, chuyển đổi số cũng tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho những lĩnh vực mới như tài chính, y tế và giáo dục... Tuy nhiên, chuyển đổi sang kinh tế số trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tác động không nhỏ tới các nền kinh tế trong khu vực, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ (MSME). Quá trình chuyển đổi số đòi hỏi các doanh nghiệp áp dụng các mô hình, hệ thống, công nghệ mới cùng với hàng loạt điều chỉnh khác, trong khi đó, MSME thường rất khó để có thể đầu tư thay đổi công nghệ hiện đại. Phần lớn các doanh nghiệp ở Đông Nam Á đều là MSME nên gặp nhiều khó khăn khi chuyển đổi, thường khó bắt nhịp với những cơ hội đó. Điều này tạo ra áp lực cạnh tranh khốc liệt đối với các doanh nghiệp lớn trong khu vực hoặc doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi sang nền kinh tế số cũng đòi hỏi những điều chỉnh về thể chế, chính sách, quy định pháp lý mới, vấn đề cấp phép, thuế,... Điều này cũng tác động tới các cơ quan hành chính công và cả các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh tế số trong một giai đoạn nhất định. Tác động tới xã hội Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng đang tiềm ẩn không ít thách thức cho nền kinh tế khu vực. Các quốc gia trong khu vực như Cam-pu-chia, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Thái Lan và Việt Nam sẽ phải chuyển đổi khoảng 54% - 56% công việc hiện tại sang tự động hó#a. Đặc biệt, một số lĩnh vực sản xuất công nghiệp lớn và có tính lặp đi, lặp lại như lĩnh vực dệt may và da giày sẽ chịu nhiều tác động nhất. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), 2/3 trong số 9,2 triệu lao động ngành dệt may và da giày tại khu vực Đông Nam Á đang bị đe dọa, trong đó 88% lao động của Cam-pu-chia và 64% lao động In-đô-nê-xi-a trong ngành này sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề từ làn sóng tự động hóa, công nghiệp hóa (9) . Đối với Việt Nam Tác động tới an ninh - chính trị Việt Nam được cho là một trong những quốc gia có khả năng thích ứng tương đối tốt với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhờ sự chủ động tạo dựng môi trường phát triển công nghệ với nguồn nhân lực chất lượng cao về ngành công nghệ. Đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam chủ động khai thác các cơ hội mà cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại. Trong thời gian qua, tỷ lệ ứng dụng thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ngày càng gia tăng, nhiều sản phẩm được đưa vào trang bị trong các ngành, nghề. Tuy nhiên, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng đang tạo ra nhiều thách thức đối với việc bảo đảm an ninh - chính trị của Việt Nam. Sự tăng trưởng năng động của Việt Nam cùng với sự bùng nổ của các công nghệ hiện đại khiến tỷ lệ tham gia internet của các cơ quan chính phủ, tổ chức, doanh nghiệp và người dân ngày càng nhiều và trở thành mục tiêu của các cuộc tấn công mạng. Thời gian gần đây, số lượng các cuộc tấn công các trang mạng của các cơ quan chính phủ, hệ thống tài chính, ngân hàng, hạ tầng thông tin trọng yếu, doanh nghiệp tại Việt Nam... nhằm đánh cắp thông tin, bí mật nhà nước, đánh cắp thành tựu khoa học - công nghệ, sở hữu trí tuệ... ngày càng gia tăng. Theo thống kê của nhà sản xuất phần mềm bảo mật Kaspersky, Việt Nam có số lượng máy tính điều khiển hệ thống công nghiệp bị tấn công mạng nhiều nhất trên thế giới, với tỷ lệ gần 70% (10) . Trong khi đó, nền tảng kết cấu hạ tầng mạng của Việt Nam còn nhiều lỗ hổng bảo mật, chưa được kiểm tra, đánh giá thường xuyên. Thực trạng này không chỉ đặt ra thách thức đối với an toàn của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp mà còn tiềm ẩn các hoạt động lợi dụng không gian mạng để kích động biểu tình, phát tán thông tin xấu, độc, sai sự thật nhằm tiến hành các hoạt động khủng bố, tuyên truyền chống phá chế độ. Điều này tác động trực tiếp tới vấn đề ổn định chính trị - an ninh của Việt Nam. Trải nghiệm các thiết bị sử dụng 5G của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)_Ảnh: TTXVN Tác động tới kinh tế Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang mở ra nhiều cơ hội cho các nước trong khu vực, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Nhờ tiềm năng to lớn của chuyển đổi số và sự cải thiện đáng kể của các trụ cột chính để tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, như hạ tầng công nghệ thông tin, nguồn nhân lực và thể chế thời gian qua chính là điều kiện để Việt Nam có thể tận dụng tối đa các cơ hội mà cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại. Nhiều lĩnh vực sẽ được hưởng lợi từ cuộc cách mạng này nếu có chiến lược phát triển đúng hướng, như thương mại điện tử, du lịch, công nghệ thông tin, tài chính - ngân hàng, giáo dục, y tế, chính phủ điện tử... Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, với việc tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, quy mô lớn và chất lượng cao, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA),... sẽ tạo điều kiện tiếp cận thành tựu công nghệ sản xuất mới để tham gia hiệu quả chuỗi giá trị toàn cầu, tạo cơ sở để Việt Nam có thể đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động, góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và các nước trong khu vực và trên thế giới. Theo dự báo, tới năm 2030, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam từ 28,5 tỷ USD - 62,1 tỷ USD, tương đương 7% - 16% GDP (11) . Tuy nhiên, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tạo ra sức ép lớn đối với một số ngành, nhóm ngành, như năng lượng, công nghiệp chế tạo, dệt may, điện tử... trong trung hạn. Một số chuyên gia kinh tế nhận định, trong khi thế giới đang tiến vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn tương ứng với trình độ cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ hai với công nghệ lạc hậu, thâm dụng lao động và chủ yếu tham gia chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu ở một số khâu đơn giản, giá trị gia tăng thấp như gia công, lắp ráp... Bên cạnh đó, phần lớn doanh nghiệp của Việt Nam là các MSME phải đối mặt với nhiều rào cản trong quá trình chuyển đổi số. Trong báo cáo của Tập đoàn Cisco năm 2018 về chỉ số phát triển kỹ thuật số của doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực châu Á - Thái Bình Dương cho thấy, các rào cản của MSME Việt Nam bao gồm thiếu kỹ năng số và nhân lực (17%), thiếu nền tảng công nghệ thông tin đủ mạnh để cho phép chuyển đổi kỹ thuật số (16,7%), thiếu tư duy kỹ thuật số hoặc các thách thức về văn hóa kỹ thuật số trong doanh nghiệp (15,7%)... (12) . Tác động tới xã hội Đối với Việt Nam, 86% lao động trong các ngành dệt may và giày dép ở Việt Nam có nguy cơ cao mất việc làm dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Con số này sẽ còn lớn hơn vì dệt may và giày dép lại là các ngành đang tạo việc làm cho nhiều lao động nhất (ngành dệt may khoảng gần 2,3 triệu người, trong đó 78% là lao động nữ; ngành giày dép khoảng gần 0,98 triệu người, trong đó có khoảng 74% là lao động nữ). Trong số đó, có nhiều lao động ít kỹ năng (với 17% và 26% lao động trong ngành dệt may và giày dép chỉ có trình độ tiểu học) và một tỷ lệ đáng kể không còn trẻ, từ 36 tuổi trở lên: 35,84% đối với ngành dệt may và 25,37% đối với ngành giày dép (13) . Có thể thấy rằng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang mở ra nhiều cơ hội cho các nước, nhất là các quốc gia khu vực Đông Nam Á như Việt Nam nhờ vào chuyển đổi kinh tế số để có thể rút ngắn khoảng cách phát triển. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra nhiều thách thức cho Việt Nam, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Vì vậy, việc khéo léo lựa chọn con đường phát triển phù hợp là bước đi phù hợp để có thể vừa tránh được những rủi ro, vừa tận dụng tối đa các cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại./. --------------- (1) Xem: Báo điện tử Chính phủ: “Mỹ dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo”, http://baochinhphu.vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/My-dan-dau-the-gioi-trong-linh-vuc-tri-tue-nhan-tao/420696.vgp , ngày 25-1-2021 (2) Lê Đình Tĩnh: “Quan hệ Mỹ - Trung thập niên 2011 - 2020, dự báo đến 2030: Tác động đến cục diện thế giới, khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Thế giới trong thập niên 2011 - 2020, dự báo đến năm 2030: Tác động đến Việt Nam và đề xuất chính sách” , Hội đồng Lý luận Trung ương phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức năm 2019 (3) Đặng Xuân Thanh: “Các vấn đề toàn cầu và tác động đến Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Thế giới trong thập niên 2011 - 2020, dự báo đến năm 2030: Tác động đến Việt Nam và đề xuất chính sách” , Tlđd (4) Các cuộc tấn công mạng được chia thành ba loại chính: 1- Tấn công mạng nhắm vào bộ máy chính phủ hoặc liên quan tới hoạt động tình báo, gián điệp chính trị; 2- Tấn công nhằm đánh cắp thông tin doanh nghiệp và các hồ sơ cá nhân; 3- Tấn công vào hệ thống tài chính, ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản. (5) Xem: “What’s the real value of AI for your business and how can you capitalise?”, https://www.pwc.com/gx/en/issues/analytics/assets/pwc-ai-analysis-sizing-the-prize-report.pdf , 2020 (6) Nguyễn Thắng: “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tác động đến Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Thế giới trong thập niên 2011 - 2020, dự báo đến năm 2030: Tác động đến Việt Nam và đề xuất chính sách” , Tlđd (7) Angus Deaton: Cuộc đào thoát vĩ đại , Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2016, tr. 156 (8) Xem: Huỳnh Nguyễn Tường Vy: “Tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao tại Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á”, https://tanbinh.hochiminhcity.gov.vn/web/neoportal/-/tinh-hinh-toi-pham-su-dung-cong-nghe-cao-tai-hiep-hoi-cac-qnoc-gia-ong-nam-a-viet-tat-asean-?inheritRedirect=true , ngày 1-6-2021 (9) ILO: “ASEAN in transformation: How Technology is Changing Jobs and Enterprises”, https://www.ilo.org/actemp/publications/WCMS_579553/lang--en/index.htm (10) Huyền Chi: “An ninh mạng - bài toán khó của ASEAN trong thời đại 4.0”, Báo Công an nhân dân điện tử, https://cand.com.vn/Van-de-hom-nay-thoi-su/ASEAN-muc-tieu-hang-dau-cua-hacker-i491408/ , ngày 15-9-2018 (11) Thạch Huê: “Đo lường tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến kinh tế Việt Nam”, Trang thông tin điện tử kinh tế của Thông tấn xã Việt Nam, https://bnews.vn/do-luong-tac-dong-cua-cach-mang-cong-nghiep-4-0-den-kinh-te-viet-nam/144534.html , ngày 8-1-2020 (12) Phan Thế Quyết và Ngô Mai Hương: “Chuyển đổi số với doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0”, Trang thông tin điện tử của Viện nghiên cứu chiến lược - chính sách công thương, http://vioit.org.vn/vn/chien-luoc-chinh-sach/chuyen-doi-so-voi-doanh-nghiep-viet-nam-trong-boi-canh-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-4-0-3112.4050.html (13) Nguyễn Thắng: “Tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và cách mạng công nghệ”, Trang thông tin điện tử Ban Kinh tế Trung ương, https://kinhtetrunguong.vn/ , ngày 28-11-2016
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/1031502/an-do--huong-toi-cuong-quoc-kinh-te-va-tri-thuc-toan-cau-trong-nhiem-ky-thu-ba-cua-thu-tuong-na-ren-dra-mo-di.aspx
Ấn Độ: Hướng tới cường quốc kinh tế và tri thức toàn cầu trong nhiệm kỳ thứ ba của Thủ tướng Na-ren-đra Mô-đi
22-12-2024
Nhiệm kỳ thứ ba của Thủ tướng Mô-đi và kỳ vọng bứt phá
Liên minh Dân chủ quốc gia (NDA) do đảng Nhân dân Ấn Độ (BJP) của đương kim Thủ tướng Narendra Modi lãnh đạo giành chiến thắng trong cuộc trong cuộc tổng tuyển cử. Ngày 5-6-2024, NDA thông qua nghị quyết chọn ông Modi làm lãnh đạo liên minh, theo đó, Thủ tướng Modi sẽ ghi danh vào lịch sử Ấn Độ khi nắm giữ 3 nhiệm kỳ Thủ tướng liên tiếp_Ảnh: ANI/TTXVN Khát vọng hùng cường Là quốc gia có nền văn minh vĩ đại, có dân số đứng đầu thế giới và nằm ở vị trí địa lý thuận lợi ở giao lộ Nam Á, Trung Á và Ấn Độ Dương, nhưng vị thế là quốc gia lớn và có tầm ảnh hưởng không đến với Ấn Độ một cách tự nhiên. Theo Ross Munro, trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh, dù là quốc gia đi đầu cho phong trào phi thực dân hóa, ảnh hưởng của Ấn Độ với chính trị quốc tế tương đối hạn chế do thực lực kinh tế và quân sự yếu, quan hệ quốc tế bó hẹp bởi chính sách không liên kết (1) . Sau Chiến tranh lạnh, Ấn Độ thể hiện một vai trò tích cực, chủ động hơn. Tuy nhiên, đến thời kỳ chính quyền của Thủ tướng N. Mô-đi, khát vọng về việc nâng tầm ảnh hưởng của Ấn Độ được thể hiện rõ nét. Sau chiến thắng vang dội trong cuộc tổng tuyển cử năm 2014, Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi tuyên bố với cử tri: “Tôi cam đoan với các bạn, đất nước này [Ấn Độ] có vận mệnh”, đó là đóng vai trò lớn lao trong chính trị quốc tế (2) . Ấn Độ đã khẳng định vai trò “người đại diện tiếng nói” cho các nước phương Nam (các quốc gia đang phát triển ở châu Phi, Mỹ La-tinh, châu Á, châu Đại Dương). Trong nhiệm kỳ Chủ tịch G20 (3) năm 2023, Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi nhấn mạnh mục tiêu “nâng cao tiếng nói của các quốc gia ở Nam Bán cầu” và ưu tiên làm cho G20 “trở nên toàn diện và lấy con người làm trung tâm” (4) . Tại Hội nghị thượng đỉnh G7 mở rộng tổ chức ở I-ta-li-a (tháng 6-2024), Thủ tướng N. Mô-đi tiếp tục nhấn mạnh “Ấn Độ coi trách nhiệm của mình là đưa các ưu tiên và mối quan tâm của các nước Nam Bán cầu lên trường quốc tế” (5) . Bằng cách đề cập và ủng hộ các nước phương Nam tại diễn đàn này, Ấn Độ khẳng định vị thế một quốc gia có ảnh hưởng và đang nỗ lực đấu tranh cho một trật tự thế giới công bằng hơn. Với tầm nhìn Viksit Bharat 2047 , Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi khẳng định sẽ đưa Ấn Độ hướng tới một nền kinh tế phát triển vào năm 2047, khi nước này kỷ niệm 100 năm ngày Độc lập. Trong ngắn hạn, Ấn Độ nỗ lực đạt mục tiêu trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) danh nghĩa lên tới 6,69 nghìn tỷ USD vào năm 2030 (từ mức 3,51 nghìn tỷ USD năm 2024) (6) . Với xuất phát điểm hiện tại, để trở thành nền kinh tế phát triển vào năm 2047, ước tính Ấn Độ cần tăng trưởng ít nhất 7,6%/năm liên tục trong hơn hai thập niên tới. Kể từ thời điểm lên nắm quyền từ năm 2014, với tầm nhìn dài hạn, khát vọng mạnh mẽ và hành động quyết liệt, cùng với các thành viên Chính phủ, Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi đã tạo ra những thay đổi sâu sắc cho Ấn Độ. Khác với các nhà lãnh đạo tiền nhiệm, Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi thể hiện rõ mong muốn khẳng định vị thế của Ấn Độ thông qua xây dựng một nền kinh tế mạnh, cải thiện căn bản đời sống nhân dân, nâng cấp sức mạnh quốc phòng và phát huy ảnh hưởng quốc tế của Ấn Độ. Một thập niên chuyển mình Sau 10 năm (2014 - 2024) dưới sự dẫn dắt của Thủ tướng N. Mô-đi, Ấn Độ chứng kiến nhiều thay đổi to lớn. Về kinh tế, Ấn Độ tạo dựng được nền tảng và bước chạy đà quan trọng. Trong giai đoạn này, duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình ở mức cao, khoảng 5,6%/năm, nền kinh tế Ấn Độ vượt qua các nền kinh tế chủ chốt khác, như Anh, Pháp, I-ta-li-a và Nga, vươn lên vị trí thứ 5 toàn cầu. Từ năm 2014 đến năm 2022, GDP đầu người tính theo sức mua tương đương (PPP) tại Ấn Độ tăng từ 5.000 USD lên hơn 7.000 USD, mức tăng khoảng 40% (7) . Theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), tỷ lệ nghèo đói cùng cực giảm từ 18,7% năm 2015 xuống còn 12% trong năm 2021 (8) . Kết cấu hạ tầng và an sinh xã hội tại Ấn Độ cũng đã được cải thiện đáng kể. Trong vòng 9 năm (từ năm 2014 đến năm 2023), khoảng 50.000 km đường cao tốc đã được xây dựng; tỷ lệ dân số nông thôn kết nối với mạng lưới điện tăng từ 88% năm 2014 lên 99,6% năm 2020. Tỷ lệ người dân có tài khoản ngân hàng tăng từ 48,3% lên 71,1% trong cùng thời gian này (9) . Nền kinh tế Ấn Độ được cơ cấu lại và thúc đẩy bằng một loạt sáng kiến cải cách kinh tế quan trọng, như thiết lập hệ thống thuế hàng hóa, dịch vụ thống nhất (GST), phi tiền tệ hóa nhằm chống tham nhũng, Sản xuất ở Ấn Độ (Make in India), Ấn Độ tự chủ, kết nối sản xuất (PLI), Số hóa Ấn Độ (Digital India)... Về khoa học - công nghệ, Ấn Độ ghi nhận nhiều tiến bộ, đặc biệt là việc phóng thành công tàu Chandrayaan-3 trong sứ mệnh khám phá Mặt Trăng và tàu Aditya-L1 trong sứ mệnh quan sát Mặt Trời (10) . Bên cạnh đó, chính quyền của Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi triển khai nhiều biện pháp để tăng cường nội trị, quốc phòng - an ninh. Về nội trị, chính quyền của Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi theo đuổi chính sách cải cách nhằm chống tham nhũng, tăng cường quyền lực của chính quyền trung ương, bảo đảm an ninh nội địa và chống khủng bố, phát huy các giá trị dân tộc truyền thống. Về quốc phòng, Ấn Độ tăng cường hiện đại hóa quân đội thông qua triển khai 93 dự án hiện đại hóa với tổng trị giá khoảng 18,4 tỷ USD (11) . Chính phủ Ấn Độ ưu tiên sản xuất thiết bị quốc phòng trong nước trên cơ sở sáng kiến “Make in India” với thành tựu lớn nhất là tự đóng thành công tàu sân bay INS Vikrant (12) . Vị thế của Ấn Độ trên trường quốc tế cũng được nâng cao đáng kể. Năm 2023, Ấn Độ đồng thời giữ vai trò chủ tịch của hai tổ chức lớn là G20 và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), qua đó thể hiện vị thế kinh tế và năng lực ngoại giao quốc gia. Hội nghị G20 thành công với sự đồng thuận về Tuyên bố của các nhà lãnh đạo, nhấn mạnh vai trò của Ấn Độ trong quản trị toàn cầu trong bối cảnh thế giới bị chia rẽ nghiêm trọng. Cũng trong năm 2023, Ấn Độ hai lần tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Tiếng nói phương Nam, tập hợp hơn 120 quốc gia để thảo luận về những thách thức chung, thúc đẩy tiếng nói của các nước đang phát triển và nhấn mạnh nhu cầu cải cách quản trị toàn cầu (13) . Việc Liên minh châu Phi (AU) gia nhập nhóm G20 là một thành tựu đáng kể, nhấn mạnh vai trò của Ấn Độ trong việc đại diện và bảo vệ lợi ích của các quốc gia đang phát triển. Trên cơ sở chính sách “không chọn bên”, Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi tập trung vào việc phát triển, củng cố các quan hệ đối tác, thúc đẩy “đa liên kết”, can dự cân bằng với các nước lớn. Chỉ hai năm sau khi Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi lên nắm quyền, Mỹ công nhận Ấn Độ là “đối tác quốc phòng chủ chốt”. Chính quyền của Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi cũng ký kết nhiều thỏa thuận thương mại và quốc phòng quan trọng với Mỹ và Pháp, chẳng hạn như công nghệ quân sự tiên tiến và máy bay chiến đấu, qua đó tăng cường năng lực quân sự và quan hệ kinh tế của Ấn Độ. Nhập khẩu quốc phòng của Ấn Độ từ Mỹ, Pháp tăng đáng kể, phản ánh tầm quan trọng chiến lược của các đối tác này. Khi cuộc xung đột Nga - U-crai-na diễn ra vào tháng 2-2022, Ấn Độ kiên định lập trường trung lập, kêu gọi đối thoại hòa bình, tiếp tục cân bằng quan hệ giữa Nga và phương Tây. Bất chấp sự chỉ trích của Mỹ và phương Tây, Ấn Độ vẫn nhập khẩu dầu và duy trì quan hệ chiến lược với Nga. Trong cuốn sách “Phương cách Ấn Độ” (India Way) năm 2020, chuyên gia Giai-xhan-các đúc kết phương thức đối ngoại của Ấn Độ, đó là “trong một thế giới cạnh tranh, Ấn Độ sẽ khai thác cạnh tranh giữa các nước lớn để tối đa hóa lợi ích của mình, tránh bị ràng buộc vào bất kỳ bên nào. Đây là thời điểm Ấn Độ định hình lại quan hệ với Mỹ, quản lý quan hệ với Trung Quốc, vun đắp với Liên minh châu Âu, trấn an Nga, khuyến khích Nhật Bản tăng cường vai trò, củng cố quan hệ với các nước láng giềng...” (14) . Chủ trương chính sách “không chọn bên” đã được Ấn Độ phát triển từ thời kỳ chính quyền của Thủ tướng Ấn Độ G. Nê-ru. Dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng N. Mô-đi, Ấn Độ ngày càng trở nên chủ động hơn trong việc bảo vệ các lợi ích cốt lõi, tìm cách thích ứng một cách tích cực với biến chuyển diễn biến, cục diện quốc tế. Thay vì đặt quốc gia ở thế bị động, Ấn Độ tranh thủ môi trường cạnh tranh quốc tế để cùng lúc trở thành thành viên quan trọng của nhóm “Bộ tứ” (QUAD) do Mỹ dẫn dắt và SCO do Trung Quốc đóng vai trò quan trọng. Ấn Độ tham gia các cơ chế ba bên với Trung Quốc và Nga và Nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS). Trong bối cảnh an ninh thế giới bất ổn, việc gìn giữ quan hệ hài hòa với nhiều nước còn giúp Ấn Độ nâng cao vị thế trong vai trò trung gian hòa giải. Kể từ khi xảy ra cuộc xung đột Nga - U-crai-na, Ấn Độ duy trì quan điểm trung lập, với ưu tiên hàng đầu là sơ tán an toàn công dân nước này từ các điểm xung đột, đồng thời kêu gọi Nga và U-crai-na tìm kiếm giải pháp hòa bình. Trong cuộc điện đàm ngày 7-3-2022 với Tổng thống Nga Vla-đi-mia Pu-tin, Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi mong muốn Nga đàm phán trực tiếp với U-crai-na nhằm chấm dứt tình trạng căng thẳng. Việc tham gia với tư cách là trung gian hòa giải vào cuộc khủng hoảng ở U-crai-na cho thấy khả năng của Ấn Độ trong việc góp phần duy trì trật tự toàn cầu và nâng tầm vóc của Ấn Độ như là quốc gia có ảnh hưởng lớn trong hệ thống quốc tế. Chính quyền của Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi củng cố ảnh hưởng ở khu vực thông qua chính sách “Láng giềng trên hết” và “Hành động Hướng Đông”. Trong giai đoạn 2014 - 2023, chính quyền của Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi đã có hơn 50 chuyến thăm cấp cao và ký kết hơn 100 biên bản ghi nhớ (MOU) với các nước láng giềng Nam Á. Trong giai đoạn 2014 - 2022, kim ngạch thương mại của Ấn Độ với Băng-la-đét tăng 2,6 lần, với Nê-pan tăng gần 2 lần, với Bu-tan là gần 3 lần (15) . Chính sách “Hành động Hướng Đông” của Ấn Độ được tăng cường, tập trung vào việc làm sâu sắc hơn các mối quan hệ kinh tế, chiến lược và văn hóa với các quốc gia Đông Nam Á và Đông Á. Thương mại song phương giữa Ấn Độ và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã tăng lên 110 tỷ USD trong các năm 2020 - 2021 từ mức 80 tỷ USD trong năm 2014; ASEAN trở thành đối tác thương mại lớn thứ tư của Ấn Độ, chiếm khoảng 10,6% tổng thương mại của Ấn Độ (16) . Các dự án kết cấu hạ tầng quan trọng được đẩy mạnh dưới thời kỳ Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi, đặc biệt là tuyến đường cao tốc ba bên Ấn Độ - Mi-an-ma - Thái Lan, dài 1.360 km và dự án vận tải đa phương thức Ka-la-dan, kết nối Côn-ca-ta với cảng Sít-uy ở Mi-an-ma. Ấn Độ tham gia tích cực các thể chế đa phương quốc tế và khu vực, đặc biệt là Liên hợp quốc và các cơ chế cho ASEAN dẫn dắt như Diễn đàn An ninh khu vực (ARF), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS). Thông qua các cơ chế này, Ấn Độ thể hiện sự tích cực, chủ động đóng góp định hình luật chơi chung, duy trì trật tự dựa trên luật lệ quốc tế, đồng thời vận động để cải cách theo hướng mở rộng Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Bên cạnh đó, Ấn Độ tích cực tham gia các hợp tác tiểu đa phương và hợp tác nhóm trên các lĩnh vực cụ thể. Ấn Độ là thành viên của cả SCO, BRICS và QUAD. Trong khuôn khổ của QUAD, Ấn Độ hợp tác với Mỹ, Nhật Bản và Ô-xtrây-li-a hướng đến bảo đảm một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và mở, thúc đẩy hợp tác trong nhiều lĩnh vực trọng yếu, trong đó có an ninh mạng, an ninh hàng hải và phát triển kết cấu hạ tầng, công nghệ mới nổi (17) . Trong khuôn khổ của SCO, BRICS, thông qua cân bằng và đối trọng, Ấn Độ chủ động sử dụng mối quan hệ để làm đòn bẩy lẫn nhau, qua đó tối đa hóa lợi ích quốc gia. Để phát huy vai trò dẫn dắt và tập hợp lực lượng, Ấn Độ thúc đẩy nhiều sáng kiến mới, như Liên minh Năng lượng mặt trời (ISA), Liên minh hạ tầng bền vững chống thiên tai (CDRI), Sáng kiến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (IPOI) hay Liên minh nhiên liệu sinh học toàn cầu (GBA)... Chính sách đối ngoại của chính quyền Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi tập trung mạnh mẽ vào ngoại giao kinh tế, nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tăng cường quan hệ thương mại. Các sáng kiến, như “Make in India”, “Digital India”, “Production Link Initiative” đã được quảng bá trên toàn cầu để khuyến khích đầu tư. Dưới thời kỳ của chính quyền Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi, dòng vốn FDI của Ấn Độ đã đạt mức kỷ lục 81,72 tỷ USD trong năm tài chính 2020 - 2021, phản ánh niềm tin toàn cầu vào tiềm năng kinh tế của Ấn Độ và thành công của các cải cách kinh tế dưới thời kỳ của chính quyền Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi (18) . Về kinh tế, sự lãnh đạo của Thủ tướng N. Mô-đi đã đưa Ấn Độ trở thành nền kinh tế lớn thứ năm thế giới vào năm 2022. Cột mốc nhấn mạnh sự tăng trưởng kinh tế và tầm quan trọng ngày càng tăng của Ấn Độ. Thủ tướng Ấn Độ N. Modi đã sử dụng quan hệ đối ngoại để quảng bá văn hóa và bản sắc Hin-đu trên toàn cầu, tăng cường sử dụng “sức mạnh mềm” của Ấn Độ thông qua ngoại giao văn hóa, tập trung vào di sản văn hóa cổ xưa và những thành tựu văn hóa hiện đại. Ngay từ ngày đầu nhậm chức, Thủ tướng N. Mô-đi đã xác định Sanskriti evam Sabhayata (liên kết văn hóa và văn minh) là một trong năm trụ cột quan trọng hàng đầu của ngoại giao Ấn Độ (19) . Trụ cột này được liên kết với các mục tiêu chính trị và kinh tế rộng lớn hơn của Ấn Độ, đồng thời nhấn mạnh mối liên hệ văn hóa của Ấn Độ với các quốc gia khác để củng cố chiến lược quyền lực mềm của quốc gia này. Ngày Quốc tế Yoga do Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi khởi xướng, đã trở thành một sự kiện toàn cầu, nâng cao ảnh hưởng văn hóa của Ấn Độ (20) . Là nơi khởi nguồn của Phật giáo, Ấn Độ cũng tích cực triển khai quảng bá lịch sử và triết lý của Phật giáo, giúp xây dựng lòng tin và củng cố quan hệ nhân dân với các nước Đông Á. Cơ hội và thách thức Trên thực tế, sự phát triển của khái niệm “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” hơn một thập niên qua phản ánh tầm quan trọng của Ấn Độ và Ấn Độ Dương trên bàn cờ địa - chính trị thế giới. Là một cường quốc quân sự, được xếp hạng thứ tư toàn cầu theo bảng xếp hạng của GFP, Ấn Độ có đủ sức mạnh răn đe để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của mình. Về vị trí địa chiến lược, Ấn Độ nằm ở trung tâm Nam Á, nhìn ra Ấn Độ Dương và ở giao lộ kết nối châu Âu, Trung Đông với Đông Á. Nói cách khác, Ấn Độ có khả năng phát triển thành các trung tâm hàng không và hàng hải kết nối hai lục địa Á - Âu, án ngữ các tuyến vận tải biển quan trọng kết nối châu Âu, Trung Đông và Đông Á. Vị trí địa lý này cho phép Ấn Độ phát huy ảnh hưởng ở Trung Á, Trung Đông, Đông Nam Á và có khả năng kiểm soát Ấn Độ Dương. Không chỉ vậy, dư địa tăng trưởng và phát triển kinh tế của Ấn Độ là rất lớn. Là quốc gia đông dân nhất trên thế giới với 1,4 tỷ người, Ấn Độ có cơ cấu dân số trẻ (65% dân số ở độ tuổi dưới 35) và lực lượng lao động tiếp tục mở rộng. Ấn Độ là nước có lực lượng lao động trong các ngành, nghề chuyên môn có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh lớn nhất thế giới. Cộng đồng người Ấn Độ ở nước ngoài có hơn 30 triệu người trên khắp thế giới và tương đối thành đạt, giữ nhiều trọng trách lớn ở các chính phủ và các tập đoàn lớn (21) . Đáng chú ý, Ấn Độ đang đứng trước cơ hội rất lớn để phát triển và mở rộng từ góc độ quốc tế và khu vực. Cạnh tranh địa - chính trị gay gắt giữa Mỹ, phương Tây với Trung Quốc, Nga làm gia tăng “vị thế chiến lược” của Ấn Độ. Mỹ và phương Tây mong muốn một Ấn Độ thịnh vượng, mạnh mẽ và có ảnh hưởng lớn hơn ở châu Á. Ngược lại, Nga và Trung Quốc đều không muốn Ấn Độ ngả về phía Mỹ và phương Tây. Chiến tranh thương mại, xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và phân tán rủi ro khiến Ấn Độ trở nên hấp dẫn hơn đối với các nền kinh tế phát triển và các tập đoàn sản xuất lớn. Dự báo FDI và các dòng vốn gián tiếp đến Ấn Độ sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi, Ấn Độ phải đối mặt với khó khăn, thách thức. Môi trường an ninh khu vực tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, như tranh chấp biên giới dai dẳng, kéo dài giữa Ấn Độ - Pa-ki-xtan, sự gián đoạn trong quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc và gia tăng cạnh tranh địa - chính trị ở Nam Á. Dân số lớn và trẻ tuổi tạo ra áp lực về việc làm và tăng trưởng bền vững. Mặc dù thị trường nội địa lớn và còn nhiều dư địa mở rộng, Ấn Độ khó có thể phát triển nếu tiếp tục xu thế khép kín, ít liên thông với các thị trường lớn trên thế giới, như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản hay ASEAN. Hiện nay, tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ phụ thuộc phần lớn vào thị trường nội địa (70% GDP đến từ tiêu dùng trong nước) (22) . Bên cạnh đó, mặc dù là nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới, Ấn Độ đang ở mức xuất phát điểm khá thấp, GDP danh nghĩa tính theo đầu người năm 2023 chỉ khoảng 2.800 USD, chi phí cho lao động vẫn ở mức thấp trên thế giới. Nhu cầu vốn để phát triển kết cấu hạ tầng (giao thông đường bộ, điện, nước, thông tin và các công trình công cộng) là rất lớn do nhiều vùng của Ấn Độ nằm sâu trong nội địa, ít kết nối với các trung tâm kinh tế lớn. Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại cuộc gặp bên lề Hội nghị cấp cao BRICS ở Kazan, Nga, ngày 23-10-2024_Ảnh: ANI/TTXVN Nhiệm kỳ thứ ba của Thủ tướng Mô-đi và kỳ vọng bứt phá Ngày 9-6-2024, Thủ tướng đắc cử N. Mô-đi và nội các mới đã có lễ tuyên thệ nhậm chức trang trọng tại Thủ đô Niu Đê-li. Ngay sau khi nhậm chức, Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi đã tham dự Hội nghị Nhóm các nền công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) mở rộng tại Thủ đô Rôm (I-ta-li-a, tháng 6-2024), có buổi gặp gỡ các nhà lãnh đạo Mỹ, phương Tây; thực hiện cuộc hội đàm với Tổng thống Nga V. Pu-tin tại Thủ đô Mát-xcơ-va nhân chuyến thăm Nga (tháng 7-2027). Trong nội các mới của Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi, ông S. Giai-xhan-ca tiếp tục được tín nhiệm ở vị trí Bộ trưởng Ngoại giao. Những tín hiệu này cho thấy chính sách của chính quyền Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi sẽ tiếp tục là kim chỉ nam để Ấn Độ ứng xử với các mối quan hệ quốc tế, đồng thời Ấn Độ sẽ ưu tiên thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng cường sức mạnh quốc gia, hội nhập sâu hơn với thế giới trong khi duy trì tự chủ chiến lược và đóng vai trò chủ động, tích cực trong các vấn đề quốc tế và khu vực. Nhiệm kỳ thứ ba của Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi tiếp tục hướng đến chính sách “tự chủ chiến lược”. Theo nhận định của một số chuyên gia, Ấn Độ triển khai chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, năng động, nhấn mạnh lợi ích quốc gia - dân tộc. Cụ thể, Ấn Độ sẽ tiếp tục theo đuổi tư cách thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, ưu tiên đẩy mạnh vai trò tích cực của Ấn Độ trong các vấn đề quốc tế, tập trung vào xây dựng các quan hệ đối tác, trong đó tăng cường hợp tác với Mỹ và phương Tây, duy trì quan hệ với Nga, giữ vững lập trường trong quan hệ với Trung Quốc. Thủ tướng N. Mô-đi sẽ tiếp tục dẫn dắt Ấn Độ thêm một nhiệm kỳ năm năm. Đây là cơ hội để ông hiện thực hóa tầm nhìn đưa Ấn Độ trở thành một nền kinh tế phát triển với GDP kỳ vọng ở mức 30.000 USD vào năm 2047 (23) . Trong tương lai gần hơn, theo dự báo của nhiều chuyên gia, Ấn Độ sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới vào năm 2027. Do vậy, Ấn Độ cần chuyển đổi từ một nền kinh tế phần lớn dựa vào dịch vụ, nông nghiệp và nông thôn trở thành một trung tâm sản xuất toàn cầu, tạo ra đủ công ăn, việc làm cho lực lượng lao động khổng lồ, qua đó gia tăng năng suất lao động tổng hợp. Dân số đông, chi phí lao động thấp là điều kiện cần để Ấn Độ thúc đẩy sản xuất ở quy mô lớn. Để đạt được mục tiêu này, Ấn Độ cần triển khai một loạt cải cách để giảm rào cản hành chính, tiếp tục hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp dễ dàng mở rộng sản xuất, kinh doanh, mở rộng xuất khẩu. Cơ hội rộng mở, nhưng thách thức cũng nặng nề. Thách thức đặt ra cho Đảng BJP và Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi là khai thác được cơ hội, vượt qua thách thức để tạo ra tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững. Theo đó, nhiều khả năng chính quyền Thủ tướng N. Mô-đi sẽ giành ưu tiên cao hơn cho mở rộng kinh tế đối ngoại, coi trọng thu hút FDI, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, mở rộng quyền tiếp cận cho doanh nghiệp Ấn Độ thâm nhập các thị trường lớn, gia tăng hàm lượng nghiên cứu và phát triển trong các sản phẩm để đạt giá trị cao. Trên nền tảng “tự chủ chiến lược”, chính quyền của Thủ tướng N. Mô-đi sẽ tinh chỉnh theo hướng tập trung hơn vào ngoại giao kinh tế, thúc đẩy sớm hoàn tất đàm phán hiệp định thương mại tự do và hợp tác kinh tế với các đối tác lớn, như Anh, Ô-xtrây-li-a, Liên minh châu Âu (EU)... Đồng thời, Ấn Độ có thể tiếp cận thương mại quốc tế ở góc độ cởi mở hơn, giảm bớt hàng rào thuế quan và phi thuế quan, tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông xuyên biên giới, qua đó kích thích phân công lao động, sản xuất quy mô lớn, hiệu quả cao. Có thể thấy, sự vươn lên của Ấn Độ là khó có thể đảo ngược và xu thế này có tác động lớn đến môi trường an ninh khu vực và quan hệ song phương Việt Nam - Ấn Độ. Là nước lớn ủng hộ hành xử có trách nhiệm và tôn trọng luật pháp quốc tế, Ấn Độ tiếp tục đóng góp tích cực để ngăn chặn xu hướng chính trị cường quyền, thúc đẩy hợp tác đa phương và duy trì thượng tôn pháp luật ở khu vực và trên thế giới. Chia sẻ lợi ích và cách tiếp cận cơ bản đối với an ninh khu vực, Việt Nam và Ấn Độ tiếp tục củng cố và làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước. Đặc biệt, chuyến thăm cấp Nhà nước đến Ấn Độ (từ ngày 30-7 đến 1-8-2024) của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam theo lời mời của Thủ tướng Ấn Độ là thông điệp quan trọng về quan hệ đối tác truyền thống tốt đẹp giữa hai nước, đồng thời mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới, sâu sắc hơn với Kế hoạch Hành động thực hiện quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giai đoạn 2024 - 2026. Trên cơ sở phát huy thành tựu sau hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1972 - 2024), hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ tiếp tục mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia và góp phần vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực./. -------------------- * Bài viết là kết quả nghiên cứu của Đề tài “Cục diện thế giới giai đoạn 2025 - 2045: Dự báo và định hướng chính sách đối ngoại của Việt Nam”, Mã số: KX.04.35/21-25 (1) Ross, H. Munro: “The Loser: India in the Nineties” (Tạm dịch: Người thua cuộc: Ấn Độ trong thập niên 90), National Interest , No. 33, 1993, tr. 62 - 63 (2) Chris Ogden: “Thinking Big, Modi’s Foreign Policy Priorities for India” (Tạm dịch: Ưu tiên chính sách đối ngoại của Thủ tướng Ấn Độ Na-ren-đra Mô-đi), FPC Briefing , ngày 19-1-2018, https://fpc.org.uk/modi-foreign-policy/. (3) G20 thường được biết đến với tên gọi: Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới, bao gồm 19 quốc gia và Liên minh châu Âu. Gần đây, Liên minh châu Phi đã trở thành thành viên mới nhất của G20. (4) “Dấu ấn của Ấn Độ trong nhiệm kỳ Chủ tịch G20”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam , ngày 1-12-2023, https://dangcongsan.vn/the-gioi/tin-tuc/dau-an-cua-an-do-trong-nhiem-ky-chu-tich-g20-653919.html (5) Ajmal Abbas, “Global South suffers most from uncertainties around the world: PM at G7 Summit” (Tạm dịch: Thủ tướng Ấn Độ Na-ren-đra Mô-đi tại Hội nghị thượng đỉnh G7: Nam Bán cầu chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ những bất ổn trên toàn thế giới), India Today , ngày 15-6-2024, https://www.indiatoday.in/india/story/pm-modi-speech-at-g7-summit-global-south-suffers-most-from-uncertainties-around-the-world-2553404-2024-06-15 (6) Sarita Chaganti Singh: “Exclusive: Modi sets ambitious India economic goals for probable third term” (Tạm dịch: Độc quyền: Thủ tướng Ấn Độ Na-ren-đra Mô-đi đặt ra các mục tiêu kinh tế đầy tham vọng của Ấn Độ cho nhiệm kỳ thứ ba có thể xảy ra), Reuters , ngày 4-4-2024, https://www.reuters.com/world/india/ modi-sets-ambitious-india-economic-goals-probable-third-term-2024-04-04/ (7) Xem: Kunal Sen: “How India’s Economy Has Fared under Ten Years of Narendra Modi” (Tạm dịch: Nền kinh tế Ấn Độ đã phát triển như thế nào trong 10 năm cầm quyền của Thủ tường Na-ren-đra Mô-đi), United Nations University , ngày 7-5-2024, https://unu.edu/article/how-indias-economy-has-fared-under-ten-years-narendra-modi (8) Xem: Manoj Kumar: “One-tenth of India’s population escaped poverty in 5 years - government report” (Tạm dịch: Một phần mười dân số Ấn Độ thoát nghèo trong 5 năm - báo cáo của chính phủ), Reuters , ngày 17-7-2023, https://www.reuters.com/world/india/one-tenth-indias-population-escaped-poverty-5-years-government-report-2023-07-17/ (9) Kunal Sen: “How India’s Economy Has Fared under Ten Years of Narendra Modi” (Tạm dịch: Nền kinh tế Ấn Độ đã phát triển như thế nào trong 10 năm cầm quyền của Thủ tướng Na-ren-đra Mô-đi), Tlđd (10) Anil Chopra: “Space is the new frontier: Time for India to increase strategic focus” (Tạm dịch: Không gian là biên giới mới: Đã đến lúc Ấn Độ tăng cường tập trung chiến lược), Firstpost , ngày 1-1-2024, https://www.firstpost.com/opinion/space-is-the-new-frontier-time-for-india-to-increase-strategic-focus-13563432.html (11) Joe Saballa: “Indian Army has 93 modernisation projects in Progress: Report” (Tạm dịch: Quân đội Ấn Độ có 93 dự án hiện đại hóa đang được tiến hành: Báo cáo), The Defense Post , ngày 26-1-2022, https://www.thedefensepost.com/2022/01/26/indian-army-modernization/ (12) Rajat Pandi: “Army cracking up modernisation drive with focus on high-volume firepower, surveillance & night-fighting” (Tạm dịch: Quân đội đang đẩy mạnh chiến dịch hiện đại hóa tập trung vào hỏa lực mạnh, giám sát và chiến đấu ban đêm), The Times of India , ngày 26-1-2022, https://timesofindia.indiatimes.com/ india/army-cranking-up-modernisation-drive/articleshow/89125603.cms (13) Xem: Derek Grossman: “India Can Bridge the U.S. - Russia Divide over Ukraine” (Tạm dịch: Ấn Độ có thể hàn gắn sự chia rẽ Mỹ - Nga về Ukraine), RAND , ngày 20-3-2023, https://www.rand.org/pubs/ commentary/2023/03/india-can-bridge-the-us-russia-divide-over-ukraine.html (14) Subrahmanyam Jaishankar, “The India Way: Strategies for an Uncertain World” (Tạm dịch: Phương cách Ấn Độ: Chiến lược cho một thế giới bất định), HarperCollins , 2020 (15) Tổng hợp từ website của Bộ Ngoại giao Ấn Độ, https://www.mea.gov.in/index.htm (16) Syed Munir Khasru: “Can Modi’s third term bring India and ASEAN closer together?” (Tạm dịch: Liệu nhiệm kỳ thứ ba của Thủ tướng Na-ren-đra Mô-đi sẽ đưa Ấn Độ và ASEAN xích lại gần nhau), South China Morning Post , ngày 26-6-2024, https://www.scmp.com/opinion/asia-opinion/article/3266045/can-modis-third-term-bring-india-and-asean-closer-together (17) “Modi at the G7 outreach summit: A shift in India’s foreign policy” (Tạm dịch: Thủ tướng Ấn Độ Na-ren-đra Mô-đi tại Hội nghị G7: Chuyển biến trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ), The Diplomat , ngày 18-6-2024, https://thediplomat.com/2024/06/modi-at-the-g7-outreach-summit-a-shift-in-indias-foreign-policy/ ; “Indian Foreign Policy in an Election Year” (Tạm dịch: Chính sách đối ngoại Ấn Độ trong năm bầu cử), The Diplomat , ngày 18-1-2024, https://thediplomat.com/2024/01/indian-foreign-policy-in-an-election-year/ (18) “India attracted highest ever total FDI inflo of US$ 81.72 billion during 2020-21, 10% more than last financial year” (Tạm dịch: Ấn Độ thu hút dòng vốn FDI kỷ lục, 81,72 tỷ USD niên khóa 2020 - 2021, 10% cao hơn cùng kỳ năm trước), Ministry of Commerce and Industry , ngày 24-5-2021, https://www.pib.gov.in/PressReleasePage.aspx?PRID=1721268#:~:text=India%20attracted%20highest%20ever%20total,than%20the%20last%20financial%20year (19) Harsh Mahaseth: “Enhancing India’s soft power through the prism of Buddhism” (Tạm dịch: Tăng cường sức mạnh mềm của Ấn Độ thông qua lăng kính Phật giáo), Hindustan Times, ngày 12-5-2024, https://www.hindustantimes.com/ht-insight/international-affairs/enhancing-india-s-soft-power-through-the-prism-of-buddhism-101715428573968.html (20) How Modi has changed Indian Foreign Policy” (Tạm dịch: Thủ tướng Ấn Độ Na-ren-đra Mô-đi đã thay đổi chính sách đối ngoại của Ấn Độ như thế nào), The Diplomat , ngày 25-3-2024, https://thediplomat.com/2024/03/how-modi-has-changed-indian-foreign-policy/ (21) Xem: Shreya Challagalla: “The diaspora and India’s growth story” (Tạm dịch: Cộng đồng hải ngoại và câu chuyện tăng trưởng của Ấn Độ), ORF , ngày 20-8-2023, https://www.orfonline.org/research/the-diaspora-and-india-s-growth-story (22) Xem: Shariq Khan: “India will be a $4 trillion economy in 2024-25” (Tạm dịch: Ấn Độ sẽ là nền kinh tế trị giá 4 nghìn tỷ USD vào năm 2024 - 2025), The Economic Times , ngày 13-7-2023, https://economictimes.indiatimes.com/small-biz/sme-sector/india-will-be-a-4-trillion-economy-in-2024-25-phd-chamber/articleshow/101724441.cms?from=mdr (23) Xem: “PM Modi Oath Taking Ceremony Live Updates: Look forward to serving 140 crore Indians, says PM Modi” (Tạm dịch: Lễ tuyên thệ của Thủ tướng Ấn Độ Na-ren-đra Mô-đi: Mong được phục vụ 1.400 triệu người Ấn Độ), The Times of India , ngày 9-6-2024, https://timesofindia.indiatimes.com/india/india-pm-narendra-modi-swearing-in-oath-taking-ceremony-today-live-updates-date-time-venue-delhi-traffic-advisory-at-rashtrapati-bhavan-on-june-9/liveblog/110835425.cms
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/1228904/kinh-nghiem-cua-bhutan-trong-thuc-hien-muc-tieu-hanh-phuc-va-mot-so-goi-mo-doi-voi-viet-nam.aspx
Kinh nghiệm của Bhutan trong thực hiện mục tiêu hạnh phúc và một số gợi mở đối với Việt Nam
01-03-2026
Thực tiễn triển khai mục tiêu “hạnh phúc” của Bhutan
Đồng chí Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Chủ tịch nước và Quốc vương Bhutan duyệt đội danh dự tại Phủ Chủ tịch ngày 19-8-2025_Ảnh: vnexpress.net Đôi nét về đất nước Bhutan Bhutan là quốc gia không giáp biển thuộc khu vực Nam Á, theo chế độ quân chủ lập hiến, có diện tích khoảng 38.394km 2 , dân số hơn 770 nghìn người (năm 2023). Lãnh thổ Bhutan chủ yếu là núi cao và thung lũng hẹp, với độ cao trung bình trên 2.000m so với mực nước biển, địa hình phân cắt mạnh, nguồn tài nguyên thiên nhiên không phong phú, quỹ đất canh tác hạn chế, khí hậu phân hóa theo độ cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro thiên tai. Những điều kiện này làm gia tăng chi phí phát triển hạ tầng, hạn chế khả năng kết nối không gian kinh tế và thu hẹp dư địa tham gia các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Trong một thời gian dài, Bhutan gần như “đứng ngoài” làn sóng công nghiệp hóa, đô thị hóa và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. Nền kinh tế có quy mô nhỏ, thu nhập bình quân đầu người thấp, năng lực tích lũy trong nước hạn chế; xuất phát điểm phát triển thấp và đối mặt nhiều thách thức trong tiến trình hội nhập quốc tế. Nếu tiếp cận theo các tiêu chí phát triển truyền thống, Bhutan thuộc nhóm quốc gia có nhiều bất lợi về điều kiện phát triển. Tuy nhiên, thay vì lựa chọn con đường tăng trưởng nhanh nhằm khắc phục hạn chế về quy mô và nguồn lực, Bhutan chủ động định hình một mô hình phát triển thận trọng, lấy cân bằng giữa kinh tế - xã hội và môi trường làm nguyên tắc nền tảng, đồng thời đặt chất lượng cuộc sống của người dân làm mục tiêu xuyên suốt. Cách tiếp cận này phản ánh tư duy phát triển dựa trên tự hạn chế, tôn trọng các giới hạn sinh thái và đề cao tính bền vững dài hạn. Trong phần lớn thế kỷ XX, Bhutan thuộc nhóm quốc gia kém phát triển, với kết cấu hạ tầng yếu, sản xuất công nghiệp không đáng kể, nông nghiệp mang tính tự cung, tự cấp. Tuy nhiên, điểm đặc thù của Bhutan không nằm ở trình độ phát triển kinh tế, mà ở cách thức quốc gia này xác định lại mục tiêu phát triển. Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, Bhutan đưa ra quan điểm mang tính nền tảng, đó là sự thịnh vượng của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô sản lượng kinh tế, mà trước hết phải được phản ánh qua chất lượng cuộc sống, trạng thái tinh thần và mức độ hài lòng của người dân. Trên cơ sở đó, chỉ số GNH được xây dựng và thể chế hóa, trở thành công cụ định hướng và đánh giá các chính sách phát triển. Trong bối cảnh phần lớn các quốc gia coi tổng sản phẩm nội địa (GDP) là thước đo trung tâm của tăng trưởng và phát triển, việc Bhutan kiên định theo đuổi một chuẩn mực khác cho thấy tầm nhìn chiến lược và sự nhất quán trong quản trị quốc gia. Bhutan chấp nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn để bảo đảm hài hòa giữa các trụ cột kinh tế - xã hội, văn hóa và môi trường, qua đó duy trì nền tảng phát triển ổn định và bền vững. Từ một quốc gia ít được biết đến trên bản đồ kinh tế thế giới, Bhutan dần trở thành một trường hợp điển hình về mô hình phát triển lấy con người làm trung tâm. Giá trị của mô hình này không chỉ nằm ở phương diện tư tưởng, mà còn ở tính nhất quán trong quá trình chuyển hóa thành hệ thống thể chế, chính sách và thực tiễn quản trị quốc gia. Hệ thống GNH của Bhutan được vận hành trên bốn trụ cột cơ bản: bảo vệ môi trường, bảo đảm tự chủ kinh tế, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, cùng với xây dựng nền quản trị nhà nước hiệu quả theo nguyên tắc dân chủ. Trên nền tảng đó, Chính phủ Bhutan không đặt tăng trưởng kinh tế lên vị trí ưu tiên hàng đầu, mà coi công bằng xã hội, sự đồng thuận cộng đồng và hạnh phúc của người dân là mục tiêu cốt lõi của phát triển. Tháng 2-2016, tại Cộng đồng học thuật TED Talk, Thủ tướng Bhutan Tshering Tobgay từng nhấn mạnh, tăng trưởng kinh tế là cần thiết, song không thể đánh đổi bằng sự tổn hại, mai một bản sắc văn hóa hoặc môi trường tự nhiên nguyên sơ của đất nước. Nền văn hóa của Bhutan đang hưng thịnh và môi trường cũng vậy (1) . Thực tiễn triển khai mục tiêu “hạnh phúc” của Bhutan Thay vì chỉ GDP làm thước đo, Bhutan lấy hạnh phúc của nhân dân làm chuẩn mực phát triển_Ảnh: dantri.com.vn Việc đặt hạnh phúc làm mục tiêu trọng tâm được Bhutan thể chế hóa thành hệ thống chính sách bao trùm toàn bộ lĩnh vực kinh tế - xã hội. Trên nền tảng khung GNH, các chính sách được xây dựng và triển khai đồng bộ, từ bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, an sinh xã hội đến quản trị quốc gia, bảo đảm sự gắn kết giữa mục tiêu phát triển và chất lượng cuộc sống của người dân. (1) Môi trường trong sạch - nền tảng sinh thái của hạnh phúc. Bhutan gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường và duy trì cân bằng sinh thái. Hiến pháp Bhutan quy định tối thiểu 60% lãnh thổ quốc gia phải được bao phủ bởi rừng (2) , trong khi trên thực tế, tỷ lệ che phủ rừng hiện nay ở Bhutan luôn được duy trì trên 70% diện tích tự nhiên (3) , thể hiện tính ràng buộc pháp lý và kỷ luật chính sách cao trong bảo vệ nguồn tài nguyên rừng của nước này. Chính phủ Bhutan nghiêm cấm những hành động chặt phá rừng, hủy hoại môi trường. Các cánh rừng, động vật và môi trường đều nằm dưới sự bảo vệ nghiêm ngặt của Nhà nước Bhutan. Chính vì vậy, bất kỳ người dân Bhutan nào nhìn thấy một cành cây bị gãy cũng tự giác trồng thêm 3 cây non khác như một cách “bù đắp” cho mẹ tự nhiên. Việc giữ gìn và bảo vệ môi trường thiên nhiên đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Bhutan. Đối với người dân Bhutan, môi trường sống trong lành là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp họ cảm thấy hạnh phúc. Năm 2016, hành động trồng 108.000 cây xanh - biểu tượng của sự vĩnh cửu, vẻ đẹp, sức khỏe và thiện tâm, để chào đón hoàng tử bé của đất nước chào đời, cho thấy sự gắn bó chặt chẽ giữa bảo tồn thiên nhiên và đời sống tinh thần của người dân Bhutan. Trước đó, quốc gia này cũng đã nhiều lần tổ chức trồng cây trên quy mô lớn. Năm 2005, Bhutan đã lập kỷ lục thế giới khi trồng được 500.000 cây chỉ trong 1 tiếng đồng hồ (4) . Rừng tại Bhutan không chỉ được xem là nguồn lực kinh tế, mà còn là không gian sinh tồn của cộng đồng, nền tảng của cân bằng sinh thái, là trụ cột của đời sống văn hóa và tâm linh. Nhờ chính sách bảo vệ môi trường nghiêm ngặt, Bhutan trở thành một trong số rất ít quốc gia trên thế giới duy trì được sự đa dạng sinh học cao, hấp thụ lượng lớn khí CO₂ và sản xuất điện sạch vượt nhu cầu, xuất khẩu sang các nước láng giềng, giúp giảm khoảng 6 triệu tấn CO₂ mỗi năm. Bhutan cũng là quốc gia có lượng phát thải khí nhà kính âm, khi lượng CO₂thải ra thấp hơn đáng kể lượng hấp thụ (5) . Theo Ngân hàng Phát triển châu Á, thủy điện đóng góp 32,4% kim ngạch xuất khẩu và 8% tổng sản phẩm quốc nội của đất nước Bhutan (6) . Đặc biệt, Bhutan kiên quyết không đánh đổi rừng và hệ sinh thái lấy tăng trưởng ngắn hạn. Đây là sự lựa chọn chiến lược, thể hiện tư duy phát triển dựa trên tôn trọng giới hạn sinh thái và ưu tiên bền vững dài hạn. (2) Tự chủ kinh tế, phát triển có kiểm soát và giảm lệ thuộc. Khác với mô hình phát triển phổ biến ở nhiều quốc gia đang phát triển, Bhutan không theo đuổi công nghiệp hóa và đô thị hóa ồ ạt, mà lựa chọn phát triển trong giới hạn phù hợp với quy mô và năng lực của nền kinh tế. Quy hoạch đô thị được kiểm soát chặt chẽ, không hình thành siêu đô thị hay các khu công nghiệp quy mô lớn, qua đó hạn chế áp lực lên hạ tầng và môi trường. Cơ cấu kinh tế được định hướng dựa trên các lĩnh vực có lợi thế so sánh và ít gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái, như nông nghiệp sinh thái, thủy điện và du lịch bền vững. Trong đó, thủy điện sạch giữ vai trò trụ cột, vừa bảo đảm an ninh năng lượng trong nước, vừa tạo nguồn thu từ xuất khẩu. Nông nghiệp được tổ chức theo quy mô phù hợp, gắn với sinh thái và an ninh lương thực trong nước. Đặc biệt, Bhutan phát triển du lịch theo mô hình “du lịch giá trị cao, tác động thấp”, thông qua kiểm soát chặt chẽ số lượng khách du lịch, áp dụng mức phí cao, đồng thời yêu cầu tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường và tôn trọng văn hóa địa phương. Nhờ đó, Bhutan hạn chế được tình trạng quá tải hạ tầng, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, bảo vệ không gian văn hóa truyền thống và duy trì nguồn thu ổn định từ hoạt động du lịch trong dài hạn. Với định hướng phát triển có kiểm soát, nền kinh tế Bhutan tránh được tình trạng tăng trưởng nóng, ít chịu tác động từ các cú sốc bên ngoài và duy trì mức độ tự chủ tương đối. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nền kinh tế của Buhtan vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn thu thủy điện và thị trường bên ngoài, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đa dạng hóa cơ cấu kinh tế và cơ hội việc làm trong dài hạn. (3) Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa - trụ cột tinh thần của hạnh phúc. Văn hóa giữ vai trò nền tảng trong mô hình phát triển của Bhutan, với Phật giáo Kim Cương thừa là hệ giá trị cốt lõi chi phối đời sống xã hội. Những chuẩn mực như lối sống giản dị, tiết chế nhu cầu vật chất, tôn trọng tự nhiên và đề cao sự hài hòa cộng đồng được duy trì bền vững, góp phần định hình nhận thức và hành vi xã hội. Bhutan thực hiện hiện đại hóa gắn với bảo tồn bản sắc, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng và điều tiết. Trên cơ sở đó, các chính sách được triển khai đồng bộ nhằm duy trì và củng cố nền tảng văn hóa truyền thống, thể hiện qua việc bảo vệ ngôn ngữ, lễ nghi, tập quán, duy trì trang phục truyền thống, đồng thời kiểm soát các yếu tố có nguy cơ làm mai một bản sắc văn hóa. Do vậy, Bhutan hạn chế được xu hướng thương mại hóa và đồng nhất văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế, duy trì được mức độ gắn kết xã hội cao, củng cố nền tảng tinh thần và hạn chế các xung đột giá trị trong bối cảnh biến đổi nhanh của đời sống hiện đại. Văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần bảo tồn, mà trở thành trụ đỡ tinh thần, định hướng cho lựa chọn phát triển. Tuy nhiên, dưới tác động của toàn cầu hóa và sự phát triển của truyền thông hiện đại, văn hóa truyền thống Bhutan đang đứng trước nguy cơ bị pha trộn và suy giảm sức ảnh hưởng, đặc biệt trong giới trẻ. Điều này đặt ra yêu cầu cần có những chính sách thích ứng linh hoạt, vừa bảo tồn, vừa tạo không gian cho đổi mới và tiếp biến văn hóa. (4) Quản trị nhà nước hiệu quả theo nguyên tắc dân chủ - nền tảng thể chế của hạnh phúc. Bhutan xây dựng mô hình quản trị dựa trên sự tham gia và đồng thuận xã hội, coi trọng tính minh bạch, ổn định và nhất quán trong hoạch định chính sách. Phát triển không được thực hiện theo hướng áp đặt một chiều, mà gắn với tham vấn rộng rãi và sự đồng thuận của cộng đồng, qua đó nâng cao mức độ chấp nhận và hiệu quả thực thi chính sách. Năm 2008, việc Bhutan chuyển đổi sang mô hình quân chủ lập hiến - dân chủ nghị viện là một dấu mốc quan trọng, đặt nền tảng thể chế cho quản trị hiện đại. Trong khuôn khổ đó, chỉ số GNH được sử dụng như một công cụ đánh giá và điều chỉnh chính sách, dựa trên các tiêu chí về chất lượng môi trường sống, mức độ hài lòng của người dân và sự gắn kết xã hội. Hằng năm, hệ thống điều tra GNH được triển khai định kỳ trên phạm vi toàn quốc với mẫu khảo sát đại diện theo vùng, nhóm tuổi, giới tính và mức sống. Kết quả khảo sát trong nhiều năm liên tiếp cho thấy, hơn 90% người dân Bhutan tự đánh giá ở trạng thái “hạnh phúc” và “rất hạnh phúc”, trong đó tỷ lệ “rất hạnh phúc” thường dao động khoảng 40 - 45%, còn tỷ lệ chưa hài lòng chỉ chiếm khoảng 3 - 4% (7) . Năm 2023, 93,6% dân số Bhutan tự đánh giá là người hạnh phúc (8) . Đây là chỉ báo quan trọng phản ánh mức độ ổn định xã hội trong điều kiện quy mô kinh tế còn khiêm tốn. Cùng với đó, Chính phủ Bhutan chú trọng xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện. Trẻ em Bhutan đi học được miễn học phí, hỗ trợ sách vở và lương thực; đồng thời được giáo dục kỹ năng sống như làm nông nghiệp, tái chế, tiết kiệm và phát triển đời sống tinh thần thông qua thiền, âm nhạc, thơ ca. Đặc biệt, người dân ở khu vực nông thôn được cung cấp điện miễn phí nhằm giảm phụ thuộc vào nhiên liệu truyền thống. Bên cạnh đó, dịch vụ y tế cơ bản được cung cấp miễn phí cho cả người dân và khách du lịch. Những chính sách này góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, củng cố an sinh xã hội và duy trì sự ổn định của xã hội Bhutan. Bên cạnh những kết quả đạt được, mô hình GNH của Bhutan cũng bộc lộ những giới hạn nhất định. Trước hết, quy mô kinh tế nhỏ và sự phụ thuộc lớn vào thủy điện khiến khả năng chống chịu trước các biến động bên ngoài còn hạn chế. Bên cạnh đó, tốc độ phát triển còn tương đối chậm, trong khi các quy định bảo tồn văn hóa nghiêm ngặt, phần nào khiến một bộ phận giới trẻ cảm nhận sự hạn chế về cơ hội phát triển. Thực tế cho thấy, không ít người trẻ Bhutan lựa chọn du học và làm việc ở nước ngoài nhằm tìm kiếm môi trường phát triển rộng mở hơn, kéo theo nguy cơ chảy máu chất xám. Ngoài ra, hệ thống đo lường hạnh phúc vẫn mang tính chủ quan nhất định, chưa phản ánh đầy đủ các áp lực kinh tế - xã hội mới, nhất là nhu cầu nâng cao thu nhập, việc làm và điều kiện sống của người dân trong bối cảnh hiện đại. Những hạn chế này cho thấy, mô hình phát triển dựa trên GNH, dù mang giá trị nhân văn sâu sắc, vẫn cần tiếp tục được điều chỉnh và hoàn thiện để thích ứng với những biến đổi ngày càng phức tạp của đời sống kinh tế - xã hội. Một số gợi mở đối với Việt Nam Đối với Việt Nam, phát triển vì con người, hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân là quan điểm có tính kế thừa từ truyền thống tư tưởng dân tộc, được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển trong mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” và được Đảng ta quán triệt nhất quán trong đường lối phát triển đất nước. Cùng với quá trình đổi mới, nhận thức về phát triển ngày càng được hoàn thiện theo hướng toàn diện hơn, không chỉ chú trọng tăng trưởng kinh tế mà còn gắn với phát triển hài hòa giữa kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, nâng cao chất lượng sống và sự hài lòng của người dân. Trong giai đoạn hiện nay, các chủ trương, nghị quyết của Đảng về phát triển văn hóa tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng của phát triển bền vững, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng sống và hạnh phúc của nhân dân. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng (tháng 1-2026) nhấn mạnh “con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại (9) . Phát triển xã hội bền vững là phát triển cho con người, vì con người, vì hạnh phúc con người (10) . Tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội…, vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (11) . Nhìn lại 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới (1986 - 2026), Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, song cũng đang đối mặt với không ít thách thức mới tác động trực tiếp đến chất lượng sống và cảm nhận hạnh phúc của người dân. Trong bối cảnh đó, từ thực tiễn của Bhutan, có thể rút ra những gợi mở có giá trị tham chiếu đối với Việt Nam trong việc cụ thể hóa mục tiêu phát triển vì con người, hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân gắn với yêu cầu phát triển bền vững. Một là, tăng trưởng phải phục vụ hạnh phúc người dân. Giá trị cốt lõi của phát triển là đặt con người ở vị trí trung tâm. Tăng trưởng kinh tế không thể trở thành mục tiêu chi phối toàn bộ hệ thống ưu tiên chính sách, mà phải gắn với nâng cao chất lượng sống, mức độ hài lòng và đời sống tinh thần của người dân. Tăng trưởng chỉ thực sự có ý nghĩa khi không đánh đổi môi trường sinh thái, không làm xói mòn bản sắc văn hóa và không gây sức ép lên ổn định xã hội. Vì vậy, Việt Nam cần từng bước hoàn thiện hệ tiêu chí đánh giá phát triển theo hướng kết hợp giữa các chỉ số kinh tế với các chỉ số phản ánh chất lượng sống, an sinh xã hội và sức khỏe tinh thần. Đây là nền tảng để bảo đảm phát triển thực sự hướng tới người dân và vì người dân. Hai là, không đánh đổi hệ sinh thái lấy lợi ích ngắn hạn. Môi trường không chỉ là “tài nguyên khai thác” mà còn là “giới hạn sinh tồn” của quốc gia. Tôn trọng sức chịu tải sinh thái cần được thể hiện bằng các cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc khai thác tài nguyên, bảo vệ rừng và phát triển năng lượng sạch. Đối với Việt Nam, trong bối cảnh ô nhiễm không khí, suy thoái nguồn nước, sạt lở và biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa ngay từ đầu, tránh lặp lại mô hình tăng trưởng nóng kéo theo chi phí môi trường và xã hội kéo dài. Ba là, phát triển với quy mô hợp lý để nâng cao tự chủ và giảm lệ thuộc. Phát triển cần phù hợp với năng lực của nền kinh tế, tránh mở rộng công nghiệp hóa theo chiều rộng một cách ồ ạt hoặc phụ thuộc quá mức vào một số ngành, lĩnh vực hay thị trường nhất định. Do đó, yêu cầu đặt ra là điều chỉnh chất lượng tăng trưởng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, giảm phụ thuộc vào lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên và xuất khẩu thô. Đồng thời, chủ động nhận diện và kiểm soát các nguy cơ lệ thuộc, bảo đảm cân bằng dài hạn và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế. Bốn là, gìn giữ bản sắc như trụ đỡ tinh thần của phát triển. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời định hướng cho các lựa chọn phát triển. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và không gian số làm biến đổi mạnh mẽ lối sống, giá trị và thị hiếu xã hội, yêu cầu đặt ra là gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, củng cố đạo đức xã hội và hệ giá trị cộng đồng. Đây là nền tảng mềm nhưng giữ vai trò quyết định đối với sự bền vững của quá trình phát triển, như trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh, “phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, gắn với xây dựng thế trận an ninh văn hóa, an ninh con người, chủ quyền văn hóa số,…. góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia; thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống người dân; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao (12) . Năm là, xây dựng đồng thuận xã hội và hệ thống phúc lợi bền vững. Đồng thuận xã hội và niềm tin của người dân là nền tảng quan trọng của ổn định và phát triển. Do đó, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị theo hướng hiện đại, minh bạch, lấy người dân làm trung tâm và là chủ thể thụ hưởng của phát triển. Phúc lợi xã hội cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư chiến lược, góp phần nâng cao chất lượng sống, củng cố công bằng xã hội và tăng cường khả năng chống chịu của xã hội trước các biến động. Đồng thời, việc phát huy các cơ chế tham vấn, đối thoại và đo lường mức độ hài lòng của người dân sẽ tạo nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả điều hành và củng cố niềm tin xã hội. Kinh nghiệm của Bhutan cho thấy, hạnh phúc không phải là hệ quả tự nhiên của tăng trưởng, mà là kết quả của một tư duy phát triển có ý thức, trong đó con người được đặt ở vị trí trung tâm và các giới hạn sinh thái, văn hóa, xã hội được tôn trọng. Mô hình GNH không đưa ra một khuôn mẫu để sao chép, nhưng gợi mở một hệ giá trị phát triển giàu tính tham chiếu cho các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, nhất là trong bối cảnh thế giới đương đại đang phải đối mặt đồng thời với khủng hoảng môi trường, bất ổn xã hội và những thách thức ngày càng rõ nét trong đời sống tinh thần./. ------------------------- * Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp bộ trọng điểm “Thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, mã số: KHTCCS (2025)-06 (1) Xem: Tshering Tobgay: “This country isn't just carbon neutral -- it's carbon negative” (Tạm dịch: Đất nước này không chỉ trung hòa carbon, mà còn âm carbon”, TED, tháng 2-2016, https://www.ted.com/talks/tshering_tobgay_this_country_isn_t_just_carbon_neutral_it_s_carbon_negative/transcript (2) Xem: “Bhutan - quốc gia duy nhất có hiến pháp riêng bảo vệ các khu rừng”, VTV Online, ngày 28-12-2022, https://vtv.vn/the-gioi/bhutan-quoc-gia-duy-nhat-co-hien-phap-rieng-bao-ve-cac-khu-rung-20221128163358424.htm (3) Xem: Văn Việt: “Tham vọng phát triển cùng rừng của đất nước ‘hạnh phúc nhất thế giới’”, Báo Nông nghiệp và Môi trường, ngày 22-3-2023, https://nongnghiepmoitruong.vn/tham-vong-phat-trien-cung-rung-cua-dat-nuoc-hanh-phuc-nhat-the-gioi-d346561.html (4) Trồng 108.000 cây để chào đón tiểu hoàng tử ra đời”, VTV Online, ngày 21-2-2016, https://vtv.vn/doi-song/trong-108000-cay-de-chao-don-tieu-hoang-tu-ra-doi-2016032114371244.htm (5) Xem: Bảo Huy: “Bhutan: Nền kinh tế carbon âm tính duy nhất trên toàn cầu”, VnEconomy, ngày 14-8-2024, https://vneconomy.vn/bhutan-nen-kinh-te-carbon-am-tinh-duy-nhat-tren-toan-cau.htm (6) Xem: “Bhutan - quốc gia duy nhất có hiến pháp riêng bảo vệ các khu rừng”, Tlđd (7) Xem: Julie McCarthy: “The Birthplace Of “Gross National Happiness” Is Growing A Bit Cynical” (Tạm dịch: Cái nôi của ‘Tổng hạnh phúc quốc gia’ đang trở nên có phần hoài nghi hơn), Parallels, ngày 12-2-2018, https://www.npr.org/sections/parallels/2018/02/12/584481047/the-birthplace-of-gross-national-happiness-is-growing-a-bit-cynical (8) Xem: “Nỗi lo tụt hậu ở quốc gia “hạnh phúc nhất thế giới””, Báo điện tử Vnexpress, ngày 6-7-2024, https://vnexpress.net/noi-lo-tut-hau-o-quoc-gia-hanh-phuc-nhat-the-gioi-4766550.html (9), (10), (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb, Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 56, 62, 65 (12) Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 3-3-2026, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-trien-khai-thuc-hien-nghi-quyet-so-79-nq-tw-va-nghi-quyet-so-80-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-119260224174216181.htm
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/1214602/phat-trien-nong-nghiep-sinh-thai-gan-voi-xay-dung-nong-thon-moi--o-viet-nam-hien-nay.aspx
Phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay
10-02-2026
Phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam thời gian qua
Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ dân số nông thôn chiếm phần lớn, trong đó sản xuất nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội và phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, xét về tổng thể cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiện nay vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, gồm: Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán; hiệu quả sử dụng tài nguyên thấp; ứng dụng khoa học - công nghệ còn hạn chế; chuỗi giá trị chưa phát triển đồng bộ. Áp lực của đô thị hóa, biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường càng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng sinh thái, tuần hoàn và phát triển bền vững. Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa toàn diện và lâu dài. Trước yêu cầu đổi mới mô hình phát triển nền kinh tế - xã hội đất nước, việc phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới được xem là một hướng đi phù hợp, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh “Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, hướng tới mô hình nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh” ( 1 ) . Đồng thời, tôn trọng tự nhiên, phát triển hài hòa giữa con người và môi trường tiếp tục là nền tảng tư tưởng xuyên suốt trong định hướng xây dựng nông thôn mới theo hướng nhân văn và bền vững. Phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam thời gian qua Nông nghiệp sinh thái được hiểu là sự chuyển đổi toàn diện về tổ chức sản xuất, đề cao mối quan hệ hài hòa giữa con người, tài nguyên và môi trường. Các nguyên tắc cốt lõi của mô hình này gồm việc đa dạng sinh học, giảm đầu vào hóa học, bảo vệ sức khỏe đất và quản lý tài nguyên thiên nhiên . Khi được lồng ghép vào chương trình xây dựng nông thôn mới, nông nghiệp sinh thái góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, kiến tạo không gian sống hài hòa, gìn giữ bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự gắn kết cộng đồng. Thu hoạch tôm càng trên cánh đồng lúa - tôm ở tỉnh Cà Mau _Nguồn: vov.vn Thực tiễn triển khai nông nghiệp sinh thái tại nhiều địa phương cho thấy kết quả tích cực. Đơn cử như tại Cà Mau, mô hình lúa - tôm sinh thái có diện tích khoảng 40.000ha, trong đó riêng huyện Thới Bình (trước đây) chiếm hơn 19.000ha (2) . Việc kết hợp canh tác hai đối tượng này giúp giảm chi phí đầu vào, gia tăng thu nhập cho nông dân, góp phần duy trì hệ sinh thái nước lợ tự nhiên. Cà Mau đặt mục tiêu đến năm 2030, toàn bộ diện tích này sẽ đạt chứng nhận quốc tế về nông nghiệp sinh thái, mở rộng cơ hội xuất khẩu vào các thị trường cao cấp như châu Âu và Nhật Bản. Lâm Đồng (cũ) là địa phương có điều kiện sinh thái đa dạng và nền nông nghiệp công nghệ cao phát triển. Đến năm 2024, toàn tỉnh Lâm Đồng có 9 vùng nông nghiệp công nghệ cao và 14 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận; 36 điểm du lịch canh nông, trong đó có 4 điểm đạt tiêu chí quốc tế. Giá trị sản xuất trồng trọt bình quân đạt 245 triệu đồng/ha/năm, riêng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt bình quân hơn 495 triệu đồng/ha (rau đạt hơn 2 tỷ đồng, hoa đạt từ 3 đến 5 tỷ đồng/ha). Tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, thông minh chiếm 45% tổng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt . Ở khu vực miền núi phía Bắc, tỉnh Sơn La chú trọng phát triển hệ sinh thái nông nghiệp gắn với du lịch nông nghiệp, quy hoạch vùng sản xuất thuộc Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” OCOP và ứng dụng công nghệ cao. Những mô hình nuôi lươn không bùn, trồng rau muống thủy canh, xen canh chuối - cà phê giúp nâng cao năng suất, tạo cảnh quan thân thiện môi trường, thu hút khách du lịch nông thôn. Lai Châu - với lợi thế khí hậu mát mẻ và đất đai chưa bị ô nhiễm, đang hướng tới phát triển các sản phẩm hữu cơ như chè shan tuyết, cá nước lạnh, cây dược liệu quý; kết hợp giữa bảo tồn tri thức bản địa với khai thác sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc. Mặc dù đạt được kết quả đáng ghi nhận, song quá trình triển khai nông nghiệp sinh thái đối mặt với nhiều rào cản. Đó là, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ, hệ thống tiêu chí đánh giá còn thiếu thống nhất, chưa hình thành mạng lưới tư vấn kỹ thuật sâu rộng cho mô hình sinh thái. Bên cạnh đó, chi phí sản xuất còn cao trong khi thị trường tiêu thụ chưa phát triển ổn định, đặc biệt là ở khu vực nội địa. Nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã còn e ngại đầu tư do thiếu cơ chế khuyến khích, ưu đãi cụ thể. Một phần nguyên nhân xuất phát từ nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm sinh thái còn hạn chế, ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả đầu ra của sản phẩm. Ngoài ra, năng lực quản trị chuỗi giá trị, tổ chức sản xuất theo vùng và tính liên kết trong sản xuất còn thiếu đồng bộ, gây hạn chế cho sự phát triển. Việt Nam hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để thúc đẩy mạnh mẽ mô hình nông nghiệp sinh thái, trong đó phải kể đến hệ sinh thái phong phú, truyền thống canh tác gắn bó với thiên nhiên, lực lượng lao động nông thôn dồi dào, tư duy về sản xuất nông nghiệp sinh thái có sự chuyển biến tích cực. Xu hướng tiêu dùng xanh ngày càng trở nên phổ biến. Thị trường quốc tế ngày càng ưa chuộng các sản phẩm có truy xuất nguồn gốc, chứng nhận sinh thái và thân thiện môi trường. Đây là thời điểm để nông nghiệp Việt Nam chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, từ sản xuất đơn ngành sang mô hình liên ngành tích hợp nông nghiệp - môi trường - văn hóa - dịch vụ, góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu. Trong tiến trình này, vai trò của cộng đồng dân cư nông thôn cần được đặt ở vị trí trung tâm. Việc lựa chọn mô hình phát triển cần căn cứ vào điều kiện sinh thái, kinh tế và văn hóa của từng vùng, miền, bảo đảm tính thích nghi và bền vững lâu dài. Sự đồng thuận trong cộng đồng, năng lực tự quản và khả năng tiếp cận thông tin là những yếu tố quyết định mức độ thành công và khả năng nhân rộng của mô hình. Kinh nghiệm từ các địa phương cho thấy, khi người dân thực sự được trao quyền và khơi dậy nội lực, quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái không chỉ hiệu quả mà còn mang tính bền vững. Đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng đoàn công tác thăm Hợp tác xã Dịch vụ và du lịch nông nghiệp Bon Bon, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La_Ảnh: baosonla.vn Một số giải pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới Phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới là định hướng phù hợp với yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển bền vững đất nước. Việc kết hợp hai nội dung này không phải là sự lồng ghép hình thức giữa hai chương trình riêng biệt, mà là một tiến trình tích hợp có định hướng, hệ thống và mang tính chiến lược lâu dài. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần bảo đảm tính toàn diện và đồng bộ trong các giải pháp tổ chức thực hiện. Trong đó, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau: Một là, đẩy nhanh việc hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, bền vững. Trong tiến trình chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng sinh thái, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách không đơn thuần mang tính định hướng mà còn giữ vai trò động lực quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn. Thể chế đóng vai trò nền tảng, là khâu then chốt trong việc cụ thể hóa các mục tiêu phát triển dài hạn, thúc đẩy sự gắn kết hài hòa giữa sản xuất nông nghiệp, môi trường sinh thái và không gian sống nông thôn. Do đó, việc hoàn thiện thể chế cần được tiến hành khẩn trương, bài bản và có chiến lược lâu dài. Trọng tâm của giải pháp này là xây dựng một hệ thống chính sách toàn diện, định hướng rõ ràng, cụ thể và khả thi trong từng khâu của chuỗi giá trị nông nghiệp, từ sản xuất, chế biến cho đến tiêu thụ sản phẩm gắn với yếu tố sinh thái. Trong quá trình này, cần làm rõ các khái niệm cơ bản, xác lập hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể, lộ trình triển khai phù hợp và xác định trách nhiệm rõ ràng của các chủ thể liên quan. Đồng thời, chính sách phải đi kèm với các cơ chế ưu đãi thiết thực, như cung cấp tín dụng xanh, hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất sinh thái, bảo hiểm rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, chuyển giao kỹ thuật mới, mở rộng kênh tiếp cận thị trường nội địa và quốc tế. Đặc biệt, cần bảo đảm tính khả thi và tính tiếp cận cao của chính sách đối với đối tượng trực tiếp sản xuất, như nông dân và các hợp tác xã quy mô nhỏ trước các tác động của rủi ro sinh thái và biến đổi khí hậu. Quá trình hoàn thiện thể chế đòi hỏi phải có cách tiếp cận thực tiễn, linh hoạt và mang tính chủ động cao. Điều này đồng nghĩa với việc xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cấp, ngành, các địa phương, bảo đảm sự đồng bộ trong chỉ đạo và điều hành, đồng thời khuyến khích sự sáng tạo, linh hoạt trong cách thức triển khai tại cơ sở. Việc tích hợp các yêu cầu sinh thái vào hệ thống tiêu chí xây dựng nông thôn mới cũng cần được thực hiện một cách nghiêm túc, với bộ tiêu chí đánh giá rõ ràng, định lượng được và phản ánh đúng thực chất, tránh tình trạng chạy theo thành tích hoặc hình thức. Hai là, thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp sinh thái. Trong định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, khoa học và công nghệ giữ vai trò trung tâm trong việc kiến tạo một hệ thống sản xuất mới, góp phần hình thành nền tảng cấu trúc của mô hình canh tác bền vững. Khác với cách tiếp cận trong nông nghiệp truyền thống, vốn chú trọng vào việc sử dụng máy móc, thiết bị để mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao sản lượng, mô hình nông nghiệp sinh thái đề cao vai trò của công nghệ trong việc duy trì sự cân bằng tự nhiên, hạn chế tối đa việc can thiệp hóa học và tăng cường hiệu quả của quản lý hệ sinh thái nông nghiệp. Công nghệ được vận dụng để nâng cao năng lực thích ứng, phục hồi sinh thái và tạo lập giá trị gia tăng lâu dài, thay vì chỉ chạy theo mục tiêu sản lượng trong ngắn hạn. Các giải pháp công nghệ áp dụng trong nông nghiệp sinh thái cần phù hợp với điều kiện thực tế của các hộ nông dân, hợp tác xã, như hệ thống tưới nước tiết kiệm, xử lý phụ phẩm bằng chế phẩm sinh học, ứng dụng phần mềm trên điện thoại thông minh để giám sát mùa vụ, hay truy xuất nguồn gốc nông sản đều có hiệu quả thiết thực và khả năng nhân rộng cao. Cùng với đó, các mô hình canh tác tuần hoàn sử dụng phụ phẩm, chất thải để làm đầu vào cho chu trình sản xuất kế tiếp cần được xem là hướng đi ưu tiên để xây dựng nền nông nghiệp thân thiện với môi trường và giảm phát thải khí nhà kính. Để khoa học và công nghệ thực sự phát huy vai trò tại khu vực nông thôn, cần có sự liên kết đồng bộ và chặt chẽ giữa nhà khoa học, nhà quản lý và cư dân nông thôn thông qua các cơ chế hợp tác hiệu quả. Một trong những giải pháp là xây dựng các mô hình trung gian, như trạm dịch vụ kỹ thuật sinh thái, đội hỗ trợ công nghệ nông thôn - là cầu nối giữa nghiên cứu và thực tiễn sản xuất. Các mô hình này đóng vai trò cung cấp dịch vụ kỹ thuật, tập huấn chuyển giao công nghệ, đồng hành cùng nông dân trong quá trình áp dụng đổi mới kỹ thuật. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh đầu tư cho chuyển đổi số trong nông nghiệp cần được chú trọng với các hạng mục trọng điểm, như xây dựng bản đồ số các vùng sinh thái nông nghiệp, hệ thống giám sát và dự báo dịch hại, nền tảng quản lý mùa vụ trực tuyến, thương mại điện tử nông sản. Ba là, phát huy vai trò của cộng đồng cư dân nông thôn, hợp tác xã và chính quyền cơ sở trong tổ chức thực hiện nông nghiệp sinh thái. Trong quá trình chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng sinh thái, cộng đồng cư dân nông thôn đóng vai trò then chốt với tư cách là lực lượng trực tiếp sản xuất, đồng thời là chủ thể sáng tạo và gìn giữ môi trường sống bền vững. Phát huy hiệu quả vai trò của cộng đồng, hợp tác xã và chính quyền cơ sở là điều kiện tiên quyết nhằm bảo đảm tính ổn định và lâu dài cho mô hình nông nghiệp sinh thái. Đây không đơn thuần là việc thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn là quá trình chuyển hóa từ tư duy sản xuất cũ sang văn hóa sản xuất mới, gắn liền với lối sống hài hòa cùng thiên nhiên, nâng cao ý thức cộng đồng trong bảo vệ tài nguyên đất, nước, không khí và đa dạng sinh học. Trong đó, hợp tác xã giữ vị trí trung tâm trong việc tập hợp, tổ chức các hộ sản xuất thành khối thống nhất, có sự phân công hợp lý, liên kết chặt chẽ và khả năng áp dụng đồng bộ các tiêu chuẩn kỹ thuật sinh thái. Hợp tác xã hỗ trợ về kỹ thuật, giúp nông dân xây dựng chuỗi giá trị nông sản khép kín, nâng cao chất lượng sản phẩm và gia tăng lợi nhuận thông qua thương hiệu tập thể. Để làm được điều này, cần quan tâm nâng cao năng lực quản trị cho đội ngũ lãnh đạo hợp tác xã, cung cấp các nguồn lực tài chính linh hoạt, như vốn vay ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật xây dựng thương hiệu, thúc đẩy ứng dụng nền tảng công nghệ số vào quản lý và điều hành sản xuất. Việc chuyên nghiệp hóa hoạt động của hợp tác xã giúp tăng năng suất và năng lực cạnh tranh, hướng đến thị trường trong và ngoài nước. Chính quyền cơ sở giữ vai trò định hướng và tổ chức thực thi chính sách phát triển nông nghiệp sinh thái ở địa phương, từ việc xây dựng kế hoạch, hướng dẫn kỹ thuật đến hỗ trợ pháp lý và vận động cộng đồng tham gia. Đội ngũ cán bộ ở cơ sở cần được đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật nông nghiệp sinh thái, có khả năng tiếp cận và tư vấn cho nông dân một cách hiệu quả. Quan trọng hơn, cán bộ cơ sở phải gần gũi với cộng đồng, thấu hiểu thực tiễn và có tinh thần đồng hành trong quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất của người dân. Để tạo sự lan tỏa rộng rãi, các hoạt động tuyên truyền, đào tạo, hội thảo chuyên đề và các lớp học đồng ruộng cần được tổ chức thường xuyên, với nội dung thiết thực, dễ hiểu, gắn với điều kiện cụ thể của từng vùng sản xuất. Qua đó nâng cao nhận thức, xây dựng tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng và trách nhiệm xã hội trong bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp sinh thái một cách bền vững và toàn diện. Bốn là, phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp sinh thái. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Gắn kết chặt chẽ nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; sản xuất với bảo quản, chế biến, tiêu thụ, xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị nông sản trong các chuỗi giá trị. Thị trường là nơi đánh giá khách quan, công bằng về nỗ lực của người sản xuất trong việc gìn giữ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, phát triển nông thôn. Vì vậy, phát triển thị trường và thương hiệu cần được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển nông nghiệp sinh thái. Giá trị cạnh tranh của nông sản sinh thái không nằm ở mức giá rẻ hay sản lượng lớn, mà ở những đặc trưng riêng biệt, mang tính bản sắc như nguồn gốc địa lý, phương thức sản xuất thân thiện môi trường, hay câu chuyện gắn với cộng đồng sản xuất. Do đó, quá trình xây dựng thương hiệu cần bắt đầu từ việc định vị giá trị khác biệt của sản phẩm so với hàng hóa thông thường, làm nổi bật tính minh bạch, độ tin cậy và sự cam kết về chất lượng. Cần xây dựng đồng bộ hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình chứng nhận sản phẩm sinh thái, có giá trị pháp lý rõ ràng để tăng niềm tin từ người tiêu dùng, tạo thuận lợi trong công tác quản lý nhà nước. Đồng thời, cần khuyến khích phát triển thương hiệu tập thể dựa trên lợi thế đặc thù của từng vùng sản xuất, gắn liền với truyền thống văn hóa địa phương. Để mở rộng thị trường tiêu thụ, cần phát triển song song cả hai kênh trong nước và quốc tế. Ở thị trường nội địa , cần đẩy mạnh xây dựng và nhân rộng các mô hình phân phối chuyên biệt, như chợ sinh thái, chuỗi cửa hàng tiêu dùng xanh, các gian hàng riêng trong siêu thị, hoặc nền tảng thương mại điện tử dành cho nông sản sinh thái. Những mô hình này tạo ra không gian tiếp cận sản phẩm cho người tiêu dùng, giúp người sản xuất nắm bắt nhu cầu thị trường một cách trực tiếp, giảm sự phụ thuộc vào trung gian. Việc ứng dụng các công cụ tiếp thị số, bán hàng đa kênh, truyền thông trực tuyến cũng cần được đẩy mạnh để gia tăng khả năng tiếp cận khách hàng và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm. Với thị trường quốc tế , trọng tâm cần hướng đến các quốc gia, khu vực có yêu cầu cao về tiêu chuẩn xanh, như Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc…, tận dụng tối đa cơ hội do các hiệp định thương mại tự do mang lại. Ngoài ra, kết hợp phát triển du lịch nông nghiệp sinh thái với quảng bá và tiêu thụ sản phẩm đặc sản địa phương để mở rộng thị phần, gia tăng giá trị kinh tế và văn hóa cho nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam là lựa chọn chiến lược để hướng tới mô hình tăng trưởng xanh, bền vững, thiết thực, nâng cao chất lượng sống của cư dân nông thôn, đồng thời lan tỏa hình ảnh nông thôn Việt Nam văn minh, hiện đại và giàu bản sắc. Quá trình tổ chức thực hiện cần triển khai đồng bộ các giải pháp, gắn kết và phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, lực lượng cũng như mỗi cư dân nông thôn quá trình triển khai đạt hiệu quả cao nhất./. ------------------- (1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 124 (2) Gia Bách: Nông dân Cà Mau trúng đậm vụ lúa - tôm, Báo Thanh niên , ngày 30-12-2024, https://thanhnien.vn/nong-dan-ca-mau-trung-dam-vu-lua-tom-185241230174407286.htm
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/1220002/vu-khi-hoa-su-phu-thuoc-lan-nhau--truong-hop-dat-hiem-trong-canh-tranh-chien-luoc-my---trung.aspx
Vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau: Trường hợp đất hiếm trong cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung
24-02-2026
“Vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau” trong quan hệ quốc tế
“Vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau” trong quan hệ quốc tế Từ thế kỷ XIX, toàn cầu hóa đã trở thành xu thế phát triển khi các quốc gia tăng cường hội nhập quốc tế và trao đổi trên nhiều lĩnh vực. Toàn cầu hóa tạo ra các mạng lưới trao đổi về kinh tế, hàng hóa và thông tin, làm gia tăng tính liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước. Trong bối cảnh đó, một số quốc gia đã tận dụng sự bất cân xứng trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau để gây sức ép lên các quốc gia khác nhằm đạt được lợi ích riêng. Chính sách này được Henry Farrell và Abraham Newman lý thuyết hóa đầu tiên với thuật ngữ “vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau” (weaponized interdependence). Hai học giả định nghĩa: “vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau” là việc một số quốc gia tận dụng các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau nhằm cưỡng chế các quốc gia khác thông qua các cấu trúc mạng lưới bất cân xứng (1) . Một mỏ đất hiếm nằm ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc_Ảnh: VCG Trong định nghĩa trên, mạng lưới là một hệ thống bao gồm hai thành phần chính gồm các “nút” (nodes) tượng trưng cho các chủ thể hoặc vấn đề trong mạng lưới và các “liên kết” (ties) tượng trưng cho sự kết nối giữa các nút . Nếu một nút có càng nhiều liên kết thì nút đó càng quan trọng và có thể được coi là “nút trung tâm” (hub). Trong mạng lưới , một số quốc gia nắm giữ vị trí trung tâm và kiểm soát các nút trọng yếu, cho phép họ khai thác mạng lưới toàn cầu để gây sức ép lên các quốc gia khác. Theo đó, Farrell và Newman thách thức quan điểm tự do truyền thống cho rằng liên kết và phụ thuộc lẫn nhau dẫn đến hợp tác. Ngược lại, phụ thuộc lẫn nhau bất đối xứng có thể trở thành nguồn gốc của quyền lực và công cụ cưỡng ép trong chính trị quốc tế hiện đại. Đồng quan điểm với Farrell và Newman, Daniel W. Drezner định nghĩa “vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau” là “trạng thái mà trong đó một chủ thể có thể khai thác vị trí của mình trong một mạng lưới để giành lợi thế trước những chủ thể khác trong cùng hệ thống” (2) . Trong khi đó, Mark Leonard giải thích thuật ngữ này thông qua việc phân tách “sự phụ thuộc lẫn nhau”, cho rằng các quốc gia có chiến lược để đối thủ phụ thuộc vào mình nhiều hơn so với mức độ mình phụ thuộc vào họ, từ đó sử dụng sự phụ thuộc để thao túng hành vi của đối phương” (3) . Tổng hợp các quan điểm trên, có thể hiểu “vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau” là việc các quốc gia khai thác lợi thế bất cân xứng trong các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau nhằm gây sức ép và thao túng hành vi của các chủ thể khác trong cùng một mạng lưới để đạt được lợi ích chiến lược trên các lĩnh vực. Đáng chú ý, việc một quốc gia “vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau” có thể xảy ra khi có sự bất đối xứng toàn diện trong quan hệ song phương, nhưng cũng có thể xảy ra khi một nước bị phụ thuộc vào nước khác ở một số mặt hàng chiến lược mà hầu như không có lựa chọn thay thế. Một yếu tố cần phải suy xét khi phân tích quyền lực trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau là khả năng dễ bị tổn thương (vulnerability), tức là khả năng một chủ thể phải chịu chi phí hậu quả do các tác nhân bên ngoài gây ra ngay cả khi chủ thể này đã điều chỉnh chính sách (4) . Theo đó, trong trường hợp một quốc gia B phụ thuộc vào quốc gia A, nếu quốc gia B có càng ít lựa chọn thay thế và tốn kém khi điều chỉnh chính sách thì càng dễ bị tổn thương trước những thay đổi từ quốc gia A. Khi đó, quốc gia A sẽ nắm giữ nhiều quyền lực hơn để thao túng “đối tác”. Ở chiều ngược lại, nếu quốc gia A áp dụng chiến thuật “thao túng tính dễ tổn thương”, thì quốc gia B sẽ phải đối phó thông qua những điều chỉnh trong chính sách đối nội và đối ngoại, như: phát triển khả năng tự sản xuất trong nước; đa dạng hóa nguồn cung nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc... Tuy nhiên, ngay cả khi áp dụng các chính sách điều chỉnh, thì tính dễ tổn thương cũng chỉ giảm bớt, chứ rất khó “hóa giải” hoàn toàn, bởi: chi phí đắt đỏ hơn, cần nhiều thời gian hoặc không có lựa chọn thay thế. Trên thực tế, một phương án đối phó khả thi mà các quốc gia bị “thao túng” thường thực hiện để trả đũa hoặc gây sức ép ngược lại là “vũ khí hóa” mặt hàng hay các phương diện khác. Chẳng hạn, khi bị Liên minh châu Âu (EU) áp đặt các lệnh trừng phạt do hoạt động quân sự tại Ukraine, Nga đã tạm ngưng cung cấp khí đốt qua các đường ống chính như Nord Stream 1 và 2, gây ra tình trạng khan hiếm năng lượng với nhiều nước châu Âu. "Vũ khí hóa” đất hiếm trong cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Là một tập hợp 17 nguyên tố kim loại, bao gồm nhóm 15 nguyên tố có số hiệu nguyên tử từ 57 (Lanthanum) đến 71 (Lutetium) trên bảng tuần hoàn nguyên tố, cùng Yttrium và Scandium với tính chất hóa học tương tự, đất hiếm có các đặc tính quan trọng như tạo ra ánh sáng quang học, nam châm và chất xúc tác. Do vậy, đất hiếm đóng vai trò không thể thay thế trong quá trình sản xuất các trang thiết bị công nghệ điện tử và quốc phòng hiện đại - từ những thiết bị sử dụng trong đời sống hằng ngày như điện thoại, máy tính cho đến các thiết bị quân sự tiên tiến như hệ thống điều hướng tên lửa, laser, hệ thống radar. Thực tế, đất hiếm không thực sự “hiếm” mà tồn tại với trữ lượng khá lớn trong vỏ trái đất, nhưng thường phân bố với hàm lượng rất thấp trong các khoáng vật, dẫn đến khó khăn và chi phí đắt đỏ trong việc phát hiện, khai thác và tinh luyện. Ủy ban châu Âu ước tính, với mỗi tấn đất hiếm được sản xuất, quá trình tinh luyện sẽ phát thải khoảng 13kg bụi, 9.600 đến 12.000m 3 khí thải và gần 1 tấn chất thải phóng xạ (5) . Những thách thức về kinh tế, kỹ thuật khai thác và môi trường đã khiến chuỗi cung ứng đất hiếm toàn cầu phụ thuộc vào số ít các quốc gia có năng lực tinh luyện và kiểm soát tốt quy trình sản xuất đất hiếm, trong đó dẫn đầu là Trung Quốc. Theo Cục khảo sát địa chất Mỹ (USGS), Trung Quốc hiện sở hữu trữ lượng đất hiếm lớn nhất thế giới với 44 triệu tấn, gấp đôi so với nước đứng thứ hai là Brazil (khoảng 21 triệu tấn) và chiếm đến gần 50% tổng trữ lượng đất hiếm toàn cầu. Trung Quốc cũng là nước dẫn đầu về năng lực tinh luyện và sản xuất đất hiếm trong nhiều năm trở lại đây. Năm 2024, sản lượng đất hiếm của quốc gia này lên đến 270.000 tấn, bỏ xa các nước khác như Mỹ (45.000 tấn) hay Myanmar (31.000 tấn) và chiếm đến gần 70% tỷ trọng toàn cầu (6) . Khả năng sản xuất đất hiếm của Trung Quốc bỏ xa các nước còn lại trong chuỗi cung ứng do làm chủ hoàn toàn quy trình chiết xuất dung môi để tinh chế đất hiếm và kiểm soát gần như toàn bộ quy trình tinh chế các nguyên tố đất hiếm nặng như dysprosium và terbium, vốn được sử dụng để sản xuất các loại nam châm hiệu suất cao. Trung Quốc cũng đã xây dựng các quy chế pháp lý chặt chẽ để kiểm soát việc sản xuất và xuất khẩu đất hiếm, qua đó nắm giữ lợi thế gần như tuyệt đối về mặt hàng này trên phạm vi toàn cầu. Những yếu tố trên đã tạo điều kiện giúp Trung Quốc có khả năng “vũ khí hóa” đất hiếm, qua đó đạt được lợi ích chiến lược trên trường quốc tế. Dưới nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Mỹ Donald Trump, cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tiếp tục diễn biến phức tạp, trong đó kinh tế - thương mại vẫn là một trong những lĩnh vực cạnh tranh gay gắt nhất. Ngày 3-4-2025, Tổng thống Mỹ ký sắc lệnh áp thuế đối ứng với hàng chục nền kinh tế, trong đó Trung Quốc là một trong những quốc gia chịu mức thuế đối ứng cao nhất, tổng cộng 54%. Đây được xem là một động thái nhằm xóa bỏ thâm hụt thương mại song phương của Washington, tạo áp lực buộc đối tác có thặng dư cao hạ thuế và tăng nhập khẩu để cân bằng thương mại (7) . Trung Quốc đáp trả bằng cách áp thuế bổ sung 34% đối với tất cả hàng hóa Mỹ. Ngày 9-4-2025, căng thẳng lên đến đỉnh điểm khi Mỹ tuyên bố áp thuế tổng cộng 145% với hàng hóa Trung Quốc. Trung Quốc lập tức tăng mức thuế trả đũa lên 125% vào ngày 11-4-2025; đồng thời thực hiện hạn chế xuất khẩu 6 kim loại đất hiếm nặng cũng như nam châm đất hiếm, vốn được tinh chế gần như toàn bộ tại nước này (8) . Động thái này được xem như việc Trung Quốc sử dụng một “vũ khí” đáp trả mới trong bối cảnh căng thẳng thương mại với Mỹ leo thang. Ngay sau khi chính sách hạn chế xuất khẩu đất hiếm của Trung Quốc được đưa ra, chuỗi sản xuất của Mỹ, đặc biệt là sản xuất ô tô và thiết bị quốc phòng, nhanh chóng bị tác động nghiêm trọng. Thực tế cho thấy, Mỹ là một trong những quốc gia phụ thuộc nhiều nhất vào Trung Quốc về nguồn cung đất hiếm. Mặc dù không công bố số liệu, các nhà nghiên cứu của Trung tâm n ghiên cứu c hiến lược và q uốc tế (CSIS) cho rằng, hạn chế xuất khẩu đất hiếm mà Bắc Kinh đưa ra có thể làm gián đoạn nghiêm trọng tiến độ sản xuất của 15 công ty quốc phòng và hàng không vũ trụ Mỹ (9) . Đối với chuỗi sản xuất ô tô, vào cuối tháng 5-2025, hãng xe Ford của Mỹ buộc phải tạm dừng hoạt động một nhà máy ở Chicago chuyên sản xuất dòng xe thể thao đa dụng (SUV). Hiệp hội các nhà sản xuất động cơ và thiết bị cũng đã gửi thư khiếu nại lên Nhà Trắng, nêu rõ lo ngại về tình trạng đình trệ nghiêm trọng của chuỗi cung ứng linh kiện nếu Trung Quốc tiếp tục trì hoãn thủ tục cấp phép xuất khẩu đất hiếm (10) . Trước những “tổn thương” không nhỏ mà lệnh hạn chế xuất khẩu đất hiếm gây ra, phía Mỹ trên thực tế đã chủ động “xuống nước” để “đình chiến” thuế quan với Trung Quốc thông qua các vòng đàm phán song phương. Ngày 27-6-2025, hai bên tạm thời hạ nhiệt khi tuyên bố đạt được thỏa thuận khung về thương mại sau vòng đàm phán cấp cao tại London trước đó. Theo đó, Mỹ cam kết cho phép xuất khẩu phần mềm thiết kế chip cũng như ethane và động cơ máy bay đến Trung Quốc, với điều kiện Trung Quốc thực hiện cam kết đẩy nhanh phê chuẩn việc xuất khẩu đất hiếm (11) . Tuy nhiên, ngày 9-10-2025, Trung Quốc lại tiếp tục tuyên bố kế hoạch hạn chế xuất khẩu đất hiếm và các công nghệ tinh chế liên quan (12) , dẫn đến việc Mỹ đáp trả bằng cách áp thêm thuế nhập khẩu, khiến căng thẳng giữa hai bên leo thang trở lại. Nhìn chung, cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc vẫn sẽ diễn biến phức tạp và khó lường hơn trong thời gian tới. Xuyên suốt hầu hết các vòng đàm phán giữa hai bên, vấn đề xuất khẩu đất hiếm luôn là một trong những nội dung được Mỹ chú trọng nhất và là cơ sở để hai bên tiếp tục triển khai đàm phán về các vấn đề xoay quanh. Sau cuộc gặp giữa Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Busan, Hàn Quốc ngày 30-10-2025, hai bên đã đạt được thỏa thuận nhằm tạm thời hạ nhiệt căng thẳng thương mại. Theo đó, Mỹ sẽ giảm tổng mức thuế với hàng hóa Trung Quốc từ 57% xuống 47%, đồng thời gia hạn các miễn trừ thuế quan thêm một năm, tức là đến tháng 11-2026. Trung Quốc cam kết tạm dừng toàn bộ các mức thuế trả đũa và đồng ý tạm hoãn một năm việc thực thi các quy định kiểm soát xuất khẩu mới đối với đất hiếm và nam châm (13) . Về bản chất, thỏa thuận này có thể được xem là một bước lùi chiến lược của cả hai bên nhằm tạm thời chấm dứt vòng xoáy áp thuế trả đũa lẫn nhau, song chưa đạt được những đột phá cần thiết để giải quyết triệt để mâu thuẫn. “Thương chiến Mỹ - Trung” đang có một khoảng lặng tạm thời, trước khi quay trở lại cùng các hình thức mới và phức tạp hơn, trong đó đất hiếm vẫn sẽ là một trong những vấn đề then chốt. Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sau cuộc họp tại Busan, Hàn Quốc ngày 30-10-2025_Ảnh: X@SpoxCHN_MaoNing Kế hoạch ứng phó của Mỹ Thứ nhất, nỗ lực giảm thiểu phụ thuộc vào đất hiếm của Trung Quốc Việc Trung Quốc sử dụng đất hiếm như một vũ khí trong quan hệ với Mỹ hiện nay không hẳn là mới. Nhà Trắng từ lâu đã nhận thức rõ sự phụ thuộc lớn vào nguồn cung đất hiếm từ Trung Quốc, do đó từng bước thực hiện nhiều sự điều chỉnh trong chính sách đối nội và đối ngoại để ứng phó. Về đối nội, Mỹ thúc đẩy khả năng tự sản xuất và tinh luyện đất hiếm nội địa. Tháng 3-2024, bản Chiến lược c ông nghiệp q uốc phòng q uốc gia 2024 của Bộ Chiến tranh Mỹ đã đề ra kế hoạch “từ mỏ tới nam châm” (Mine-to-Magnet) nhằm thiết lập chuỗi cung ứng đất hiếm nội địa riêng biệt bên trong nước Mỹ, dự kiến đi vào hoạt động từ năm 2027 (14) . Tới nay, Mỹ đã hợp tác và đầu tư nhiều khoản tiền khổng lồ cho các công ty đất hiếm nội địa và nước ngoài đang hoạt động tại Mỹ, điển hình như MP Materials (hơn 1 tỷ USD), Lynas Rare Earth (288 triệu USD), E-VAC Magnetics (94 triệu USD), Noveon Magnetics (28,8 triệu USD) và TDA Magnetics (2,3 triệu USD) (15) . Ngoài ra, Mỹ cũng ban hành một số khuôn khổ pháp lý nhằm tạo thuận lợi cho sự phát triển của ngành công nghiệp đất hiếm nội địa. Tháng 3-2025, chính quyền của Tổng thống Donald Trump đã công bố sắc lệnh hành pháp “các biện pháp khẩn cấp nhằm gia tăng sản xuất khoáng sản của Mỹ” với mục tiêu khẩn trương thúc đẩy sản xuất đất hiếm trong nước (16) . Về đối ngoại, Mỹ đã và đang nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung đất hiếm trên thị trường quốc tế. Tháng 3-2023, Mỹ cùng Liên minh châu Âu đưa ra tuyên bố chung về việc nhất trí hợp tác xây dựng chuỗi cung ứng đất hiếm “vững mạnh, an toàn và linh hoạt”, đồng thời tiến tới một thỏa thuận khoáng sản nhằm thúc đẩy sản lượng đất hiếm, đa dạng hóa chuỗi cung ứng và giảm bớt sự phụ thuộc không mong muốn (17) . Với Australia - đối tác quan trọng nhất của Mỹ về đất hiếm - Mỹ đã thành lập Nhóm c huyên trách k hoáng sản t hiết yếu Mỹ - Australia nhằm giúp hai bên tăng cường hợp tác đầu tư vào các dự án khai thác đất hiếm (18) . Tháng 10-2025, Mỹ tiếp tục ký kết các thỏa thuận về khoáng sản chiến lược và đất hiếm với Australia và Nhật Bản, thành lập các n hóm ứ ng phó a n ninh n guồn cung k hoáng sản c hiến lược nhằm đảm bảo nguồn cung khoáng sản và đất hiếm trong tương lai (19) . Bên cạnh các đồng minh, Mỹ cũng chủ động mở rộng hợp tác khai thác đất hiếm với các đối tác khác như Malaysia, Canada, Arab Saudi... Đáng chú ý, tháng 4-2025, Mỹ đã đạt được đồng thuận với Ukraine về quyền được ưu tiên tiếp cận các loại khoáng sản đất hiếm tại quốc gia này, đổi lại bằng việc hỗ trợ quân sự trong cuộc xung đột với Nga (20) . Mỹ cũng mở rộng hợp tác về đất hiếm với các quốc gia khác thông qua vai trò dẫn dắt tại các cơ chế đa phương, cụ thể là Đối tác a n ninh k hoáng sản (Minerals Strategic Partnership - MSP). Từ năm 2023, Mỹ đã chủ trì nhiều hoạt động trong MSP, điển hình như các cuộc họp cấp cao tại London (10-2023) và Toronto (3-2024)... Tháng 3-2024, Nhà Trắng đã cùng chính phủ các quốc gia thành viên mở rộng quy mô và hoạt động của MSP thông qua việc thành lập Diễn đàn MSP (MSP Forum) - khuôn khổ hợp tác đầu tiên trên thế giới hướng tới việc thúc đẩy chuỗi cung ứng khoáng sản đa dạng và bền vững (21) . Tiếp đó, tháng 9-2024, Mạng lưới t ài chính MSP (MSP Finance Network) ra đời nhằm tăng cường hợp tác và trao đổi thông tin giữa các thành viên (22) . Tới tháng 9-2024, MSP đã có 32 dự án được công bố trải dài khắp các châu lục, trong đó có 10 dự án đất hiếm, cùng với đó là 7 dự án đang được triển khai đã đạt được các cột mốc quan trọng (23) . Thứ hai, củng cố “vũ khí” kinh tế, gây sức ép với Trung Quốc Trước sức ép từ Trung Quốc về vấn đề đất hiếm, Mỹ cũng đã có những động thái “vũ khí hóa” trả đũa, đặc biệt là với chip AI và chất bán dẫn - các mặt hàng mà Bắc Kinh chưa có khả năng tự chủ hoàn toàn và còn phụ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài. Dưới thời Tổng thống Joe Biden, các lệnh hạn chế tiếp cận chip và chất bán dẫn của Mỹ đối với Trung Quốc được ban hành vào năm 2022 và lần lượt mở rộng vào năm 2023, 2024. Dưới nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Donald Trump, các động thái “vũ khí hóa” này được tiếp tục đẩy mạnh. Tháng 5-2025, trong bối cảnh căng thẳng thương mại leo thang, Mỹ đã yêu cầu các công ty phát triển phần mềm thiết kế điện tử như Cadence, Synopsys và Siemens EDA tạm ngừng cung cấp công nghệ thiết kế chất bán dẫn cho Trung Quốc nhằm đáp trả lệnh hạn chế xuất khẩu đất hiếm từ Bắc Kinh (2 4 ) . Một tháng sau, chính quyền Tổng thống Donald Trump tiếp tục lên kế hoạch cấm các doanh nghiệp chip bán dẫn toàn cầu nhập máy móc và thiết bị của Mỹ cho các cơ sở sản xuất tại Trung Quốc (2 5 ) . Đặc biệt, ngày 10-10-2025, sau khi Trung Quốc tiếp tục siết chặt kiểm soát xuất khẩu đất hiếm và công nghệ tinh luyện, Tổng thống Trump đã đáp trả bằng việc hạn chế xuất khẩu các phần mềm thiết yếu đối với ngành khoa học công nghệ Trung Quốc (2 6 ) . Cùng ngày, Thượng viện Mỹ cũng thông qua dự luật hạn chế xuất khẩu chip AI của Nvidia và AMD sang Trung Quốc (2 7 ) . Đánh giá và triển vọng Việc Trung Quốc “vũ khí hóa” tài nguyên đất hiếm nhằm gây sức ép với Mỹ đã khiến cuộc cạnh tranh giữa hai cường quốc mở rộng sang lĩnh vực tài nguyên khoáng sản, qua đó ngày càng thể hiện rõ mức độ toàn diện, phức tạp và tính chiến lược của cuộc cạnh tranh. Xét tính hiệu quả trong việc “vũ khí hóa” đất hiếm của Trung Quốc và thực trạng ứng phó của Mỹ, có thể nhận định rằng Trung Quốc đang có phần chiếm ưu thế và sẽ tiếp tục tận dụng đất hiếm như một “con bài chiến lược” nhằm cạnh tranh với Mỹ trong tương lai. Trong tương lai trung hạn, nhiều khả năng Trung Quốc tiếp tục là nhà sản xuất lớn nhất trong thị trường đất hiếm toàn cầu, với trình độ công nghệ tinh luyện đất hiếm vượt trội cùng sự kiểm soát chặt chẽ đối với ngành công nghiệp đất hiếm nội địa. Theo đó, loại tài nguyên này vẫn sẽ là công cụ được Trung Quốc mở rộng triển khai, không chỉ gây sức ép với Mỹ và các đối thủ cạnh tranh khác, mà còn có thể để “tập hợp lực lượng” theo những kế hoạch chiến lược của Bắc Kinh. Trong thời gian tới, mặc dù vẫn phụ thuộc vào nguồn cung đất hiếm từ Trung Quốc, nhưng với những nỗ lực quyết liệt đang được triển khai, Mỹ sẽ ít bị ảnh hưởng và có lợi thế cạnh tranh tốt hơn với khả năng tự cung tự cấp cùng mạng lưới các đối tác vững mạnh trong lĩnh vực đất hiếm. Về diễn biến xoay quanh vấn đề đất hiếm trong căng thẳng thương mại Mỹ - Trung hiện nay, có thể đưa ra hai kịch bản: Kịch bản thứ nhất , trong bối cảnh cạnh tranh thương mại leo thang, Mỹ sẽ tiếp tục đáp trả Trung Quốc bằng việc “vũ khí hóa” trả đũa với các mặt hàng chip AI và chất bán dẫn. Tuy nhiên, dù có thể bị ảnh hưởng tiêu cực, Trung Quốc vẫn sẽ có khả năng chiếm lại ưu thế dựa vào sự bất cân xứng rõ rệt trong ngành công nghiệp đất hiếm giữa hai nước vì Mỹ vốn phụ thuộc lớn vào Trung Quốc về nguồn cung đất hiếm, trong khi Trung Quốc đã đạt được sự tự chủ nhất định trong phát triển công nghệ chip AI và chất bán dẫn. Kịch bản thứ hai , Mỹ chủ động nhượng bộ với Trung Quốc và hai bên tiến tới một thỏa thuận chung nhằm giảm căng thẳng trong cuộc cạnh tranh thương mại song phương. Theo đó, Trung Quốc sẽ nới lỏng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đất hiếm sang Mỹ, đổi lại, Washington sẽ giảm mức thuế quan và tạo điều kiện chuyển giao các mặt hàng công nghệ chip AI và chất bán dẫn cho các công ty của Bắc Kinh. Điều này tạo điều kiện cho cả hai bên thúc đẩy hợp tác kinh tế và khoa học công nghệ. Kịch bản này nhiều khả năng xảy ra hơn, với việc hai bên đã đạt được một thỏa thuận thương mại tạm thời sau cuộc gặp bên lề Hội nghị Cấp cao APEC 2025 tại Hàn Quốc, ngày 30-10-2025. Tuy nhiên, Trung Quốc rất có khả năng sẽ tiếp tục duy trì sử dụng đất hiếm như một công cụ “đòn bẩy” với Mỹ và sẵn sàng “vũ khí hóa” mặt hàng này trở lại nhằm gây áp lực với Washington trong trường hợp mâu thuẫn giữa hai bên phát sinh. Nhìn chung, dù kịch bản nào xảy ra, có thể nhận định rằng trong ngắn hạn, Trung Quốc vẫn sẽ chiếm ưu thế trước Mỹ nhờ vào công cụ đất hiếm - nhân tố quan trọng được Bắc Kinh tập trung phát triển trong nhiều thập kỷ qua. Mặt khác, Mỹ dù đã có rất nhiều nỗ lực đáng kể nhưng chưa thể chấm dứt sự phụ thuộc vào nguồn cung đất hiếm của Trung Quốc trong tương lai gần. Một số gợi ý đối với Việt Nam Theo Cục khảo sát địa chất Mỹ (USGS), tính đến năm 2024, Việt Nam sở hữu trữ lượng đất hiếm ước tính khoảng 3,5 triệu tấn, xếp thứ sáu thế giới. Phần lớn các mỏ đất hiếm của Việt Nam được tìm thấy ở khu vực phía Tây Bắc và bờ Đông gần biên giới với Trung Quốc, bao gồm một số mỏ lớn như mỏ Đông Pao (Lai Châu), mỏ Yên Phú (Lào Cai). Việt Nam có tiềm năng lớn trong tham gia vào chuỗi cung ứng đất hiếm toàn cầu, song chưa thể tận dụng triệt để do những hạn chế trong khai thác, tinh luyện đất hiếm nói riêng và trong trình độ khoa học - công nghệ nói chung. Trên thực tế, theo USGS, trong 2 năm gần đây, Việt Nam mới sản xuất được khoảng 300 tấn đất hiếm mỗi năm, chiếm tỷ trọng rất thấp so với sản lượng toàn cầu (khoảng 0,08%), mặc dù là một trong những quốc gia với trữ lượng đất hiếm lớn nhất. Xem xét thực trạng sản xuất đất hiếm trong nước, cũng như diễn biến cạnh tranh Mỹ - Trung xoay quanh loại khoáng sản chiến lược này, có thể đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam như sau: Một là, cần nỗ lực thúc đẩy chiến lược phát triển năng lực khai thác đất hiếm trong nước. Hiện tại, Chính phủ Việt Nam đã ban hành chủ trương, định hướng và mục tiêu mở rộng khai thác đất hiếm thông qua Quyết định số 866/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trên cơ sở này, cần tiếp tục triển khai các cơ chế, chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện cho các công ty, tập đoàn trong nước nâng cao trình độ sản xuất và khai thác đất hiếm, chẳng hạn như gia tăng vốn đầu tư công để phát triển công nghệ khai thác đất hiếm, hay xem xét loại bỏ một số thủ tục hành chính phức tạp và không cần thiết trong quá trình cung cấp đất hiếm phục vụ mục đích thí nghiệm. Hai là, tăng cường hợp tác công nghệ với các đối tác nước ngoài. Sự hạn chế đáng kể trong trình độ khoa học - công nghệ nhìn chung vẫn là trở ngại chính cho quá trình phát triển của ngành công nghiệp đất hiếm Việt Nam, vốn có rất nhiều tiềm năng nhưng chưa được phát huy triệt để. Do đó, trong bối cảnh Mỹ đang nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung đất hiếm, Việt Nam có thể tận dụng trữ lượng dồi dào của mình để tìm kiếm cơ hội hợp tác với các tập đoàn công nghệ lớn của Mỹ trong việc khai thác cũng như chuyển giao công nghệ phân tách đất hiếm. Bên cạnh Mỹ, một số quốc gia khác cũng quan tâm đến việc hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực này như công ty Blackstone Minerals của Australia. Hàn Quốc cũng đã ký kết Biên bản ghi nhớ (MoU) với Việt Nam về việc thành lập trung tâm chuỗi cung ứng cung cấp đất hiếm và các khoáng sản quan trọng khác. Trên cơ sở đó, cần tiếp tục mở rộng hợp tác với các doanh nghiệp và chuyên gia nước ngoài nhằm thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, gia tăng năng lực tự chủ, hiện thực hóa việc đưa Việt Nam tham gia vào chuỗi sản xuất đất hiếm trên phạm vi toàn cầu./. --------------- (1) Henry Farrell và Abraham L. Newman: Weaponized Interdependence: How Global Economic Networks Shape State Coercion (Tạm dịch: Vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau: Cách các mạng lưới kinh tế toàn cầu định hình quyền lực cưỡng ép giữa các quốc gia), International Security 4, số 1, 2019 (2) Daniel W. Drezner, Henry Farrell, Abraham L. Newman và các cộng sự: The Uses and Abuses of Weaponized Interdependence (Tạm dịch: Sử dụng và lạm dụng sự phụ thuộc lẫn nhau bị vũ khí hóa), Brookings Institution Press, 2021 (3) Mark Leonard: Connectivity Wars: Why Migration, Finance And Trade Are The Geo-Economic Battlegrounds Of The Future (Tạm dịch: Những cuộc chiến kết nối: Vì sao di cư, tài chính và thương mại là những chiến trường địa - kinh tế trong tương lai), European Council on Foreign Relations, 2016 (4) Robert O. Keohane và Joseph S. Nye: Power and Interdependence (Tạm dịch: Quyền lực và sự phụ thuộc lẫn nhau), ấn bản thứ tư, Longman, 2012 (5) Health and safety issues in REE mining and processing: An internal EURARE guidance report (Tạm dịch: Vấn đề sức khoẻ và an toàn trong khai thác và chế biến đất hiếm: Báo cáo hướng dẫn nội bộ của EURARE), EURARE, 2014, https://www.eurare.org/docs/internalGuidanceReport.pdf?ref=hir.harvard.edu (6) Mineral Commodity Summaries - Rare Earths (Tạm dịch: Tóm tắt thông tin về khoáng sản - Đất hiếm), USGS, 2025, https://pubs.usgs.gov/periodicals/mcs2025/mcs2025-rare-earths.pdf (7) TS Nguyễn Minh Phong và TS Dương Quốc Tuấn: Thuế đối ứng của Mỹ - tác động và giải pháp thích ứng , Nhân dân, ngày 4-4-2025, https://nhandan.vn/thue-doi-ung-cua-my-tac-dong-va-giai-phap-thich-ung-post870140.html (8) Du Lam: Trung Quốc tạm dừng xuất khẩu đất hiếm và nam châm , VietnamNet, ngày 14-4-2025, https://vietnamnet.vn/trung-quoc-tam-dung-xuat-khau-dat-hiem-va-nam-cham-2390888.html (9) Gracelin Baskaran và Meredith Schwartz: The Consequences of China's New Rare Earths Export Restrictions (Tạm dịch: Hệ quả của lệnh hạn chế xuất khẩu đất hiếm mới từ Trung Quốc), Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), ngày 8-4-2024, https://www.csis.org/analysis/consequences-chinas-new-rare-earths-export-restrictions (10) Vũ Thị Quỳnh Lan: Khi Mỹ - Trung cảm nhận rõ “vết thương” từ cuộc chiến thuế quan , Đại biểu Nhân dân, ngày 11-6-2025, https://daibieunhandan.vn/khi-my-trung-cam-nhan-ro-vet-thuong-tu-cuoc-chien-thue-quan-10375681.html (11) Động thái mới hạ nhiệt căng thẳng thương mại Mỹ - Trung , VietnamPlus, ngày 1-7-2025, https://www.vietnamplus.vn/dong-thai-moi-ha-nhiet-cang-thang-thuong-mai-my-trung-post1047770.vnp (12) Trung Quốc siết thêm xuất khẩu đất hiếm , VnExpress, ngày 9-10-2025, https://vnexpress.net/trung-quoc-siet-them-xuat-khau-dat-hiem-4949205.html (13) Trung Quốc tạm ngừng một số biện pháp kiểm soát xuất khẩu đất hiếm và vật liệu liên quan , VietnamPlus, ngày 7-11-2025, https://www.vietnamplus.vn/trung-quoc-tam-ngung-mot-so-bien-phap-kiem-soat-xuat-khau-dat-hiem-post1075689.vnp (14) Gracelin Baskaran và Meredith Schwartz: The Consequences of China’s New Rare Earths Export Restrictions (Tạm dịch: Hệ quả từ các biện pháp hạn chế xuất khẩu đất hiếm mới của Trung Quốc), Center for Strategic & International Studies, ngày 14-4-2025, https://www.csis.org/analysis/consequences-chinas-new-rare-earths-export-restrictions (15) C. Todd Lopez: DOD Looks to Establish “ Mine-to-Magnet ” Supply Chain for Rare Earth Materials (Tạm dịch: Bộ Quốc phòng Mỹ hướng tới xây dựng chuỗi cung ứng “từ mỏ tới nam châm” cho các vật liệu đất hiếm), U.S. Department of War, ngày 11-3-2024, https://www.war.gov/News/News-Stories/Article/Article/3700059/dod-looks-to-establish-mine-to-magnet-supply-chain-for-rare-earth-materials/ (16) Immediate Measures to Increase American Mineral Production (Tạm dịch: Các biện pháp khẩn cấp nhằm gia tăng sản xuất khoáng sản của Mỹ), The White House, ngày 20-3-2025, https://www.whitehouse.gov/presidential-actions/2025/03/immediate-measures-to-increase-american-mineral-production/ (17) Joint Statement by President Biden and President von der Leyen (Tạm dịch: Tuyên bố chung của Tổng thống Biden và Chủ tịch von der Leyen), The White House, ngày 10-3-2025, https://bidenwhitehouse.archives.gov/briefing-room/statements-releases/2023/03/10/joint-statement-by-president-biden-and-president-von-der-leyen-2/ (18) United States - Australia Joint Leaders’ Statement: Building an Innovation Alliance (Tuyên bố chung của các lãnh đạo Mỹ - Australia: Xây dựng một Liên minh Đổi mới), The White House, ngày 25-10-2023, https://bidenwhitehouse.archives.gov/briefing-room/statements-releases/2023/10/25/united-states-australia-joint-leaders-statementbuilding-an-innovation-alliance/ (19) United States - Australia Framework For Securing of Supply in the Mining and Processing of Critical Minerals and Rare Earths (Tạm dịch: Khuôn khổ Mỹ - Australia về bảo đảm nguồn cung trong khai thác và chế biến khoáng sản chiến lược và đất hiếm), The White House, ngày 20-10-2025, https://www.whitehouse.gov/briefings-statements/2025/10/united-states-australia-framework-for-securing-of-supply-in-the-mining-and-processing-of-critical-minerals-and-rare-earths/ United States - Japan Framework For Securing the Supply of Critical Minerals and Rare Earths through Mining and Processing (Tạm dịch: Khuôn khổ Mỹ - Nhật Bản về bảo đảm nguồn cung khoáng sản chiến lược và đất hiếm thông qua khai thác và chế biến), The White House, ngày 27-10-2025, https://www.whitehouse.gov/briefings-statements/2025/10/united-states-japan-framework-for-securing-the-supply-of-critical-minerals-and-rare-earths-through-mining-and-processing/ (20) Trung Hiếu: Ukraine được lợi như thế nào trong thỏa thuận khoáng sản vừa ký với Mỹ? , VOV, ngày 2-5-2025, https://vov.vn/the-gioi/quan-sat/ukraine-duoc-loi-nhu-the-nao-trong-thoa-thuan-khoang-san-vua-ky-voi-my-post1196535.vov (21) Minerals Security Partnership (Tạm dịch: Đối tác An ninh Khoáng sản), U.S. Department of State, https://2021-2025.state.gov/minerals-security-partnership/?safe=1 (22) Joint Statement on Establishment of the Minerals Security Partnership Finance Network (Tạm dịch: Tuyên bố chung về việc thành lập Mạng lưới Tài chính Đối tác An ninh Khoáng sản, U.S. Department of State, ngày 23-9-2024, https://2021-2025.state.gov/joint-statement-on-establishment-of-the-minerals-security-partnership-finance-network/ (23) Joint Statement of the Minerals Security Partnership Principals’ Meeting 2024 (Tạm dịch: Tuyên bố chung của cuộc họp các lãnh đạo đối tác nn ninh khoáng sản năm 2024), U.S. Department of State, ngày 27-9-2024, https://2021-2025.state.gov/joint-statement-of-the-minerals-security-partnership-principals-meeting-2024/?safe=1 Hyun Soo Cho và Jane Nakano: The Minerals Security Partnership Under the South Korean Leadership (Tạm dịch: Đối tác An ninh Khoáng sản dưới sự lãnh đạo của Hàn Quốc), Center for Strategic & International Studies, ngày 28-1-2025, https://www.csis.org/analysis/minerals-security-partnership-under-south-korean-leadership? (24) Mỹ tạm dừng xuất khẩu công nghệ máy bay và chất bán dẫn sang Trung Quốc , Nhân Dân, ngày 29-5-2025, https://nhandan.vn/my-tam-dung-xuat-khau-cong-nghe-may-bay-va-chat-ban-dan-sang-trung-quoc-post883315.html (25) Đoàn Hùng: Mỹ siết chặt kiểm soát xuất khẩu thiết bị chip bán dẫn vào Trung Quốc , Vietnamplus, ngày 24-6-2025, https://www.vietnamplus.vn/my-siet-chat-kiem-soat-xuat-khau-thiet-bi-chip-ban-dan-vao-trung-quoc-post1045954.vnp (26) Elis Gjevori và News Agencies: China slams Trump’s 100 percent tariff threat, defends rare earth curbs (Tạm dịch: Trung Quốc chỉ trích đe dọa áp thuế 100% của Trump và bảo vệ các biện pháp hạn chế đất hiếm), Al Jazeera, ngày 12-10-2025, https://www.aljazeera.com/news/2025/10/12/china-slams-trumps-100-percent-tariff-threat-defends-rare-earth-curbs (27) US Senate passes measure that limits Nvidia and AMD’s AI chip exports to China (Tạm dịch: Thượng viện Mỹ thông qua biện pháp hạn chế xuất khẩu chip AI của Nvidia và AMD sang Trung Quốc), South China Morning Post, ngày 10-10-2025, https://www.scmp.com/tech/tech-war/article/3328501/us-senate-passes-measure-limits-nvidia-and-amds-ai-chip-exports-china
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/1219502/ve-danh-gia-5-nam-thuc-hien-chien-luoc-phat-trien-kinh-te---xa-hoi-10-nam-%282021---2030%29-va-ke-hoach-phat-trien-kinh-te---xa-hoi-giai-doan-2026---2030.aspx
Về đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030
08-02-2026
Về 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030)
Về 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) Trong giai đoạn 2021 - 2025, đất nước phát triển trong bối cảnh có nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, trong đó chịu sự tác động của 4 yếu tố lớn: 1- Đại dịch COVID-19; 2- Xung đột vũ trang ở Ucraina và khu vực Trung Đông; sự điều chỉnh chính sách thuế của các nước lớn, chiến tranh thương mại làm suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu; 3- Thiên tai, bão lũ, sạt lở diễn ra với tần suất cao, cường độ mạnh; 4- Sự cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt. Đảng ta đã vững vàng, lãnh đạo đất nước tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện với nhiều điểm sáng nổi bật: 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của nhiệm kỳ đạt và vượt, trong đó toàn bộ các chỉ tiêu về xã hội, an sinh xã hội đều vượt kế hoạch; riêng năm 2024 và 2025 đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu đề ra. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã đánh giá toàn diện các kết quả đạt được theo 10 nhóm nội dung với một số kết quả nổi bật sau: Một là, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, nền kinh tế tăng trưởng ở mức khá cao so với các nước trong khu vực và thế giới; chất lượng tăng trưởng có chuyển biến tích cực. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 6,2%/năm (1) , trong đó, năm 2025 tăng 8,02%, thuộc nhóm các nền kinh tế có mức tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới. Kinh tế tăng trưởng cao và liên tục đã giúp cho quy mô GDP và GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng nhanh: quy mô GDP tăng từ hơn 346 tỷ USD (năm 2020) lên trên 514 tỷ USD (năm 2025), xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD (thu nhập quốc dân GNI bình quân đầu người 4.750 USD), đưa Việt Nam vào nhóm các nước có thu nhập trung bình cao (GNI 4.750/4.496-WB). Lạm phát được kiểm soát, tỷ trọng nợ công/GDP giảm và thấp hơn nhiều so với giới hạn cho phép, bội chi ngân sách giảm dưới mục tiêu của Quốc hội (2) . Quy mô thương mại tăng mạnh (từ 545,4 tỷ USD năm 2020 lên mức kỷ lục trên 930 tỷ USD năm 2025) xếp thứ 20 thế giới; xuất siêu thương mại lớn ( hơn 21 tỷ USD ). Niềm tin môi trường kinh doanh được cải thiện, nhất là sau khi Bộ Chính trị ban hành các nghị quyết chiến lược, đặc biệt là Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, “Về phát triển kinh tế tư nhân”. Kinh tế tăng trưởng ở mức cao cùng với chất lượng tăng trưởng đã có sự cải thiện tích cực thông qua các chỉ số như tăng năng suất lao động, tăng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) (3) , nâng hạng về chỉ số đổi mới sáng tạo quốc gia, tăng tỷ trọng kinh tế số (4) . Các tổ chức quốc tế đánh giá cao kết quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và nâng hạng tín nhiệm, triển vọng tăng trưởng của Việt Nam (5) . Hai là , công tác phòng, chống dịch COVID-19 được thực hiện quyết liệt, hiệu quả gắn với thực hiện các biện pháp phục hồi và phát triển kinh tế. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, quyết liệt với nhiều giải pháp khống chế, đẩy lùi dịch bệnh; thực hiện “mục tiêu kép”, vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh, vừa duy trì sản xuất, chống đứt gãy chuỗi cung ứng và dần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội (Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội đã hỗ trợ khoảng 105 nghìn tỷ đồng cho 1,4 triệu lượt người sử dụng lao động và 68,4 triệu lượt lao động. Với các giải pháp đó, tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2020 - 2021 vẫn đạt tăng trưởng dương ở mức 2,71%/năm; tăng trưởng năm 2022 đạt 8,54%, trở thành điểm sáng của kinh tế toàn cầu). Ba là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt kết quả tích cực; nền kinh tế bước đầu được cơ cấu lại theo hướng số hóa, xanh hóa, đa dạng hóa, tăng cường sức chống chịu, nâng cấp chuỗi giá trị dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đại biểu tham quan Triển lãm “Những thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế và văn hóa Việt Nam” tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, ngày 7-2-2026_Ảnh: TTXVN Cơ cấu GDP chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ từ 78,6% (năm 2020) lên 80,4% (năm 2025), trong khi khu vực nông nghiệp giảm từ 12,7% xuống 11,6%. Kinh tế số duy trì tốc độ tăng trưởng 9 - 10%/năm, chiếm khoảng trên 14% GDP. Bên cạnh đó, cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm của nền kinh tế như: đầu tư công; doanh nghiệp nhà nước; phát triển năng động khu vực kinh tế tư nhân theo hướng là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng bảo đảm hoạt động an toàn, từng bước áp dụng chuẩn mực quốc tế; đã hình thành một số ngành công nghiệp có quy mô lớn, cạnh tranh, từng bước hình thành năng lực tự chủ của nền kinh tế; nhiều ngành dịch vụ được tập trung phát triển, phát triển mạnh thương mại điện tử, du lịch phục hồi mạnh, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, tập trung cùng với các mô hình nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn (hoàn thiện thể chế về khắc phục đầu tư công dàn trải, phân tán, cơ chế, chính sách về đổi mới, sắp xếp lại và nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; cơ chế, chính sách về kinh tế tư nhân có bước đột phá mạnh … ). Bốn là, thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt nhiều kết quả tích cực, toàn diện và thực chất hơn. Hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với tư duy và phương pháp xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật được đổi mới theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30-4-2025, của Bộ Chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Hệ thống pháp luật được rà soát, sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện khung pháp lý của nền kinh tế thị trường, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, kiến tạo sự phát triển; tháo gỡ các điểm nghẽn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Phân cấp, phân quyền tiếp tục được đẩy mạnh gắn với tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đối với các lĩnh vực trọng yếu, dễ phát sinh tiêu cực. Phát triển nguồn nhân lực, giáo dục - đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam tiếp tục được quan tâm và đẩy mạnh với nhiều cơ chế, chính sách đột phá. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 64,5% (2020) lên 70% (năm 2025), trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 24,1% lên khoảng 29,2%. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo đạt kết quả tích cực, cơ chế, chính sách đột phá về phát triển giáo dục và đào tạo được ban hành theo Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Phát triển nhân lực chất lượng cao được chú trọng. Cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đổi mới căn bản, đột phá theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị. Phát triển chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số đạt kết quả tích cực. Vị trí, vai trò và tầm quan trọng của giá trị văn hóa, con người Việt Nam đối với phát triển bền vững đất nước được nâng lên. Về phát triển kết cấu hạ tầng, đây là giai đoạn bứt phá làm thay đổi diện mạo đất nước và mở ra không gian phát triển mới, trong đó hạ tầng giao thông, năng lượng, hạ tầng số, giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, hạ tầng đô thị, nông thôn được chú trọng đầu tư (với trên 3.335km đường bộ cao tốc được hoàn thành, hai cảng biển cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, Cái Mép - Thị Vải và các cảng hàng không trọng điểm, trong đó có Cảng hàng không quốc tế Long Thành (giai đoạn 1), được đầu tư đồng bộ. Hạ tầng điện, năng lượng, hạ tầng số và các công trình giáo dục, y tế, khoa học, văn hóa, nông thôn tiếp tục được đầu tư, tạo nền tảng cho phát triển bền vững). Năm là, phát triển kinh tế - xã hội các vùng và liên vùng được chú trọng; kinh tế biển được thúc đẩy, đạt nhiều kết quả tích cực; đô thị hóa, phát triển đô thị và xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả nổi bật. Nhiệm kỳ qua, Bộ Chính trị đã ban hành 6 nghị quyết vùng với các định hướng thúc đẩy hình thành các hành lang kinh tế, vùng động lực, cực tăng trưởng; nhiều dự án vùng được thực hiện. Hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế biển được quan tâm đầu tư; đã hình thành các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu du lịch gắn với chuỗi đô thị ven biển; đồng thời có chủ trương cho nghiên cứu xây dựng các khu thương mại tự do tại một số địa phương. Đô thị hóa trở thành động lực quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội; đến năm 2025, tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 45%, chất lượng đô thị được nâng lên, hình thành các cực tăng trưởng và trung tâm đổi mới sáng tạo tại các đô thị lớn. Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt kết quả nổi bật với khoảng 80% xã đạt chuẩn, 35% xã đạt chuẩn nâng cao và 10% xã đạt chuẩn kiểu mẫu. Sáu là, phát triển văn hóa , xã hội và con người đạt nhiều kết quả tiến bộ; đời sống vật chất, tinh thần của n hân dân được nâng cao. Theo đó, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam được tập trung xây dựng. Chỉ số phát triển con người tiếp tục được cải thiện, cao hơn nhiều so với các nước có cùng mức thu nhập; thứ hạng về thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững SDGs tăng lên (6) ; xếp hạng chỉ số hạnh phúc của Việt Nam tăng từ thứ 83 năm 2020 lên thứ 46 năm 2025. Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân được tăng cường. Tuổi thọ trung bình năm 2025 đạt 74,8 năm, số năm sống khoẻ khoảng 67 năm. Mạng lưới y tế phát triển rộng khắp, năng lực khám, chữa bệnh được nâng cao; y tế dự phòng, y tế cơ sở và mô hình bác sĩ gia đình được củng cố; Hệ thống trung tâm kiểm soát dịch bệnh được hình thành ở các cấp. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,2% năm 2020 lên 95,2% năm 2025. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống khoảng 1,3% năm 2025, đời sống nhân dân, nhất là ở vùng khó khăn, được cải thiện rõ rệt. Đề án xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội được đẩy mạnh triển khai; đến năm 2025 cơ bản xóa nhà tạm, nhà dột nát; chính sách dân tộc, tôn giáo; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Bảy là, công tác quản lý và sử dụng tài nguyên; bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai được quan tâm chỉ đạo và có chuyển biến tích cực. Công tác điều tra, quy hoạch, quản lý và khai thác tài nguyên, quan trắc, đánh giá, giám sát, kiểm soát chất lượng môi trường tiếp tục được tăng cường; hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường được đổi mới, hoàn thiện. Bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học; phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh được chú trọng. Công tác phòng, chống thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu, nhất là tại đồng bằng sông Cửu Long, được quan tâm chỉ đạo. Tám là, quốc phòng, an ninh quốc gia không ngừng được củng cố, tăng cường; giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Tiềm lực quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường toàn diện; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đạt nhiều kết quả quan trọng. Xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Chín là, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục đi vào chiều sâu, hiệu quả, đạt nhiều thành tựu quan trọng, nổi bật có ý nghĩa chiến lược, lâu dài. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 nước, trong đó quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 15 đối tác, trong đó có 5 nước là Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Ngoại giao kinh tế, khoa học, công nghệ được đẩy mạnh, đối ngoại đa phương chuyển từ tham gia sang chủ động đề xuất nhiều sáng kiến, giải pháp tại các cơ chế hợp tác quan trọng để giải quyết các vấn đề chung của thế giới. Mười là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, đạt nhiều kết quả đột phá. Theo đó, hệ thống pháp luật được tập trung rà soát, hoàn thiện theo hướng toàn diện, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận, phù hợp và khả thi. Cải cách thủ tục hành chính được thực hiện quyết liệt. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và thực hành tiết kiệm được đẩy mạnh; nhiều vụ việc được xử lý nghiêm, được nhân dân đồng tình, đánh giá cao. Bên cạnh các kết quả đạt được, sau 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030), Đại hội XIV của Đảng đã chỉ ra 7 nhóm hạn chế, yếu kém sau. Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế chưa đạt mục tiêu đề ra (6,2% so với 6,5 - 7%), ổn định kinh tế vĩ mô chưa thật sự vững chắc, chất lượng tăng trưởng chậm được cải thiện, cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng chưa có thay đổi đáng kể; năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng chống chịu, sức cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế chưa cao. Năng suất lao động còn thấp hơn nhiều nước trong khu vực (chỉ bằng 11,6 Singapore, 27% Hàn Quốc, 30,6% Nhật Bản, 66,9% Thái Lan, 56,8% Trung Quốc…) và cải thiện chậm. Thị trường tài chính - tiền tệ tiềm ẩn rủi ro; thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp chưa phát huy vai trò kênh huy động vốn trung, dài hạn cho doanh nghiệp, thị trường bất động sản còn khó khăn. Công nghiệp chủ yếu theo chiều rộng, gia công - lắp ráp chiếm tỷ trọng lớn; công nghiệp nền tảng, mũi nhọn và hỗ trợ phát triển chậm, liên kết FDI - nội địa yếu. Chất lượng dịch vụ chưa cao, sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế còn thấp. Nông nghiệp thiếu bền vững, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản chưa phát triển mạnh, nhất là ở khâu bảo quản và chế biến sâu. Đầu tư công chưa phát huy vai trò dẫn dắt; xử lý tổ chức tín dụng yếu kém còn khó khăn; cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước chậm; doanh nghiệp tư nhân trong nước quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, thiếu tập đoàn dẫn dắt. Thứ hai, kết quả thực hiện 3 đột phá chiến lược chưa như mong muốn. Thể chế phát triển vẫn là điểm nghẽn, chậm được hoàn thiện, còn bất cập, chưa thuận lợi để huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển . Tư duy xây dựng pháp luật chậm chuyển sang kiến tạo phát triển, nhất là với các mô hình kinh tế mới. Phân cấp, phân quyền chưa mạnh; thủ tục hành chính còn rườm rà, làm hạn chế huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực cải thiện chậm, thiếu nhân lực đáp ứng yêu cầu của các ngành mũi nhọn, công nghệ cao và kinh tế số; đào tạo chưa gắn với nhu cầu thị trường và xã hội. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa trở thành động lực quan trọng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thiếu nhân lực chất lượng cao cho khoa học, công nghệ. Kết cấu hạ tầng còn thiếu đồng bộ, hiện đại, hạ tầng giao thông, đô thị, hạ tầng số, hạ tầng điện, hạ tầng logistics còn chưa theo kịp yêu cầu phát triển; kết nối liên vùng còn yếu. Thứ ba, tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế của các vùng còn thấp so với mục tiêu đề ra; chưa khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng vùng và từng địa phương. Phát triển các ngành kinh tế biển và sử dụng không gian biển chưa hiệu quả, chưa hình thành các trung tâm kinh tế biển, khu kinh tế ven biển có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế. Tỷ lệ đô thị hóa còn thấp, tốc độ đô thị hóa chậm, chất lượng chưa cao, tác động lan tỏa của đô thị còn hạn chế. Thứ tư, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo chưa đồng bộ; văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh, động lực cho phát triển; cơ chế, chính sách phát triển văn h óa còn có điểm bất cập, thiếu đồng bộ; đầu tư cho văn h óa hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng yêu cầu nhiệm vụ. Thiếu cơ chế, chính sách cho thể thao chuyên nghiệp. Lao động phi chính thức còn lớn, thất nghiệp trong thanh niên còn cao. Bất bình đẳng tiếp cận dịch vụ xã hội giữa các vùng còn rõ nét. Dân số đối mặt mức sinh giảm, mất cân bằng giới tính khi sinh. Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm còn bất cập. Thứ năm, cơ chế, chính sách quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; tình trạng ngập lụt, ô nhiễm môi trường tại các đô thị lớn, các khu - cụm công nghiệp, lưu vực sông, làng nghề và môi trường biển chưa được kiểm soát hiệu quả. Chất lượng dự báo, cảnh báo thiên tai còn có mặt hạn chế; năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu chưa có bước cải thiện rõ rệt. Thứ sáu, tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực còn diễn biến phức tạp, nghiêm trọng, lãng phí còn khá phổ biến. Cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số còn chậm; nhiều dịch vụ công trực tuyến chưa thuận tiện. Thứ bảy, kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên một số lĩnh vực, địa bàn còn chưa đ ược chú trọng đúng mức; công tác xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, an ninh trên một số lĩnh vực, địa bàn có mặt còn hạn chế; việc triển khai các th ỏa thuận, cam kết quốc tế còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Mức độ tham gia, năng lực đóng góp và đề xuất sáng kiến của Việt Nam trong các khuôn khổ đa phương còn hạn chế, chưa đồng bộ giữa các lĩnh vực. Công tác nghiên cứu, tham mưu, dự báo chiến lược có mặt còn chưa theo kịp diễn biến nhanh, phức tạp của tình hình thế giới và khu vực. Sau 5 năm thực hiện Chiến lược 2021 - 2030, Đại hội XIV của Đảng đã nhìn nhận, đánh giá các nguyên nhân khách quan, chủ quan đối với cả thành tựu và hạn chế, yếu kém, trong đó xác định nguyên nhân chủ quan là chủ yếu; đồng thời rút ra 5 bài học kinh nghiệm cụ thể, sâu sắc để thực hiện tốt hơn trong giai đoạn tới. T hứ nhất , t iếp tục đường lối đổi mới , có tầm nhìn chiến lược, tư duy đột phá, tạo ra nguồn lực và động lực cho phát triển. Nêu cao tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái; phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng của cả hệ thống chính trị; phát huy hiệu quả sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại. Thứ hai, n hất quán, kiên định về chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; giữ bản lĩnh vững vàng; phân công, phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; nắm chắc tình hình, đề ra quyết sách linh hoạt, phù hợp, hiệu quả để lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả; tổ chức thực hiện bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ sản phẩm, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền. Thứ ba, tập trung nâng cao chất lượng thể chế phát triển , đáp ứng yêu cầu thực tiễn, tháo gỡ các điểm nghẽn cản trở phát triển. Bảo đảm tính nhất quán trong việc hiểu, áp dụng các quy định pháp luật. Tổ chức thực hiện pháp luật công bằng, nghiêm minh, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Thứ tư, mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng và hạnh phúc của n hân dân , bảo đảm công khai, minh bạch. Khơi dậy tinh thần cống hiến vì đất nước, phát huy ý chí tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, quyết liệt hành động và chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Thứ năm, thực hiện tốt công tác đối ngoại, hội nhập, tranh thủ mọi nguồn lực bên ngoài và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Nâng cao chất lượng công tác dự báo, kịp thời tổng kết thực tiễn, đưa ra các cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp, hiệu quả. Về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030 Thế giới đang có những thay đổi mang tính thời đại; tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức lớn đan xen. Trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính đột phá, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới cao hơn; đồng thời cũng là bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đề ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo trong xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó có nhiều nội dung mới, cụ thể như sau. Nhóm quan điểm thứ nhất , Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh 4 kiên định (kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định, kiên trì, kiên quyết các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng); đồng thời, lần đầu tiên có quan điểm mới “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước” và nêu yêu cầu về tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển. Nhóm quan điểm thứ hai, Nghị quyết xác định: đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế...; coi “Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”. Như vậy, lần đầu tiên, bảo vệ môi trường được coi là nhiệm vụ trung tâm cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời, công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đã được nâng tầm trở thành trọng yếu, thường xuyên. Nhóm quan điểm thứ ba xác định nhiều quan điểm mới, coi “phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển”; xác định yêu cầu “xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính và phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất”; phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; hoàn thiện thể chế phát triển gắn với thực hiện đồng bộ 4 chuyển đổi ( chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực) và đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới. Nhóm quan điểm thứ tư xác định: Phát huy sức mạnh, trí tuệ, bản lĩnh của con người Việt Nam và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. “ ... gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế... ” . Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc. Nhóm quan điểm thứ năm xác định các quan điểm về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Về mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển Mục tiêu chung được Nghị quyết Đại hội đề ra rất toàn diện, hướng đến thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó có các thành tố trọng tâm, đó là: (1) Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; (2) Phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; (3) Cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; (4) Tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể được Nghị quyết cấu trúc thành 3 nhóm: về kinh tế có 14 mục tiêu, chỉ tiêu; về xã hội có 6 mục tiêu, chỉ tiêu; về môi trường có 5 mục tiêu, chỉ tiêu. Từ các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội được Đại hội XIV của Đảng xác định như trong Nghị quyết cho thấy đây đều là những mục tiêu, chỉ tiêu thể hiện khát vọng phát triển rất lớn, đặt ra ở mức rất cao, khó khăn, thách thức, nhưng thể hiện khát vọng phát triển rất lớn, là yêu cầu khách quan, là thước đo bản lĩnh, ý chí và khát vọng của dân tộc; phải có quyết tâm đổi mới mạnh mẽ, bước đi vững chắc, biến khát vọng thành hành động, biến quyết tâm chính trị thành kết quả cụ thể như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh. Ví dụ về chỉ tiêu tăng trưởng GDP: Trong 40 năm đổi mới, Việt Nam chưa có giai đoạn nào đạt được tốc độ tăng trưởng GDP ở mức từ 10% trở lên. Nhưng tại Đại hội lần này, Đảng ta đã xác định mục tiêu, yêu cầu phải đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10% trở lên. Điều này thể hiện yêu cầu rất cao để Việt Nam tránh nguy cơ tụt hậu, tránh rơi vào "bẫy thu nhập trung bình", để cất cánh, phát triển, đạt mục tiêu đến năm 2024 là nước phát triển, có thu nhập cao. Để thực hiện thành công các mục tiêu, chỉ tiêu, bám sát các quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết Đại hội đã đề ra 12 định hướng; 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược, đồng thời có Chương trình hành động với các nhiệm vụ cụ thể, nhiệm vụ có thể triển khai thực hiện ngay, được khái quát theo một số nhóm vấn đề lớn sau, trọng tâm là về phát triển kinh tế - xã hội. Thứ nhất, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, tập trung xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững. Nghị quyết Đại hội xác định tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của nhân dân; tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước , trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là quan trọng, theo đó tập trung hoàn thiện thể chế ở các lĩnh vực sau: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, tạo đột phá để sớm hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa , dưới sự lãnh đạo của Đảng, có sự quản lý của Nhà nước . Xây dựng và hoàn thiện thể chế phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Có cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội để phát triển các mô hình kinh tế mới và các dự án trọng điểm, quy mô lớn (7) . Chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn để quản lý và tăng cường kiểm tra, giám sát. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch. Hoàn thiện thể chế để nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế và hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế. Xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bảo đảm phát triển văn h óa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị, về phát triển văn hóa Việt Nam. Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị; thể chế phát triển giáo dục và đào tạo, tập trung đột phá về phát triển con người, nguồn nhân lực chất lượng cao theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22-8-2025, của Bộ Chính trị. Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ thể chế quản lý phát triển xã hội hiện đại, bao trùm, bền vững , tăng cường sự tham gia của các chủ thể, sự giám sát của nhân dân; gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội; cùng với đó là hoàn thiện đồng bộ thể chế quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu. Xây dựng, hoàn thiện thể chế liên quan quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Thứ hai, về xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính. Nghị quyết Đại hội đề ra nhiệm vụ xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính ; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và chuyển đổi cơ cấu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tiếp tục phát huy các động lực tăng trưởng truyền thống (về huy động, triển khai hiệu quả các nguồn lực đầu tư; nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng từ xuất khẩu; khai thác hiệu quả động lực tăng trưởng từ tiêu dùng trong nước), lấy khoa học, công nghệ là trọng tâm để đổi mới các động lực tăng trưởng truyền thống; xác định các động lực tăng trưởng mới từ đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, từ phát triển các mô hình kinh tế mới, mô hình khu kinh tế chuyên biệt mới và từ các không gian kinh tế, các ngành kinh tế mới; hình thành các cực tăng trưởng, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, đặc khu kinh tế thế hệ mới phát triển ngang tầm khu vực, toàn cầu. Kỹ sư, công nhân ngành điện quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ _Ảnh: Tư liệu Thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng gắn với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế theo các khu vực kinh tế, ngành và các lĩnh vực trọng tâm (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đầu tư công, tài chính - ngân hàng, đầu tư công, kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, thu hút FDI,...). Theo đó, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của một số ngành công nghiệp nền tảng (8) ; từng bước làm chủ công nghệ sản xuất trong một số ngành công nghiệp mới nổi (9) ; xây dựng, phát triển công nghiệp ứng dụng năng lượng nguyên tử, công nghiệp không gian vũ trụ, công nghiệp lượng tử; xây dựng các cụm liên kết ngành, tổ hợp công nghiệp lớn, hiện đại trên phạm vi vùng và liên vùng. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn và theo chuỗi giá trị. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong nông nghiệp. Nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của khu vực dịch vụ, phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng cao. Xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do thế hệ mới, trung tâm logistics lớn gắn với các cảng biển, cảng hàng không; phát triển thương hiệu quốc gia về dịch vụ, du lịch. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đô thị hóa. Lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực, lấy hội nhập quốc tế làm phương thức để huy động nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nâng cao chất lượng đô thị hóa bảo đảm đồng bộ hài hòa giữa cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị với phát triển đô thị mới; mở rộng các loại hình nhà ở, ưu tiên phát triển nhà ở xã hội. Phát triển kinh tế biển toàn diện, gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên biển; Phát huy đầy đủ vai trò của các khu vực kinh tế, trong đó phát triển kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế theo Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng. Đẩy mạnh liên kết vùng và tổ chức lại không gian phát triển, phát huy vai trò các vùng động lực quốc gia, cực tăng trưởng và các đô thị lớn. Thứ ba, nhiệm vụ, giải pháp về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong nhóm nhiệm vụ và giải pháp này, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định, bổ sung, nhấn mạnh, làm rõ hơn những chủ trương, định hướng đã nêu tại Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Theo đó, yêu cầu phải “k hẩn trương, quyết liệt đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế; hoàn thiện cơ chế, chính sách vượt trội, phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo; tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trọng tâm là cơ chế quản lý, cơ chế đầu tư, cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ chiến lược” . Cùng với đó là nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo. Phát triển các thiết chế và hạ tầng đổi mới sáng tạo như trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao, quỹ đầu tư mạo hiểm… Tạo môi trường thuận lợi thu hút khu vực tư nhân và nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia phát triển công nghệ; đẩy mạnh hợp tác công - tư. Thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong toàn xã hội. Ưu tiên phát triển, làm chủ một số ngành công nghệ, các công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ số; chú trọng nghiên cứu cơ bản, gắn với định hướng ứng dụng. Thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia toàn diện, gắn với bảo đảm an ninh, an toàn. Phát triển công dân số và kỹ năng số cho người dân; xây dựng xã hội số, thúc đẩy kinh tế số. Xây dựng khung khổ pháp lý và chính sách thử nghiệm vượt trội cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn phù hợp quốc tế; phát triển thị trường khoa học và công nghệ; bảo vệ và khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ, tài nguyên số; tăng cường liên kết viện, trường và doanh nghiệp. Thứ tư, về quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Theo đó, tập trung vào các giải pháp sau: Hoàn thiện đồng bộ pháp luật, cơ chế, chính sách và quy hoạch về quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu . Phát triển và vận hành hiệu quả các thị trường liên quan đến tài nguyên và môi trường như bất động sản, quyền sử dụng đất, khoáng sản, năng lượng, tín chỉ các-bon; xây dựng, tích hợp cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu vào cơ sở dữ liệu quốc gia; đẩy mạnh xã hội hóa bảo vệ môi trường. Thực hiện đồng bộ các giải pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, chống lãng phí. Tăng cường hợp tác quốc tế và huy động nguồn lực cho chuyển đổi xanh, sử dụng hiệu quả các cơ chế ưu đãi quốc tế nhằm giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Chủ động phòng, chống và ứng phó thiên tai, đầu tư công trình bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu ; khắc phục ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại các đô thị lớn; thực hiện quy hoạch không gian biển quốc gia. Thứ năm, nhóm các nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng và phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa, con người Việt Nam; xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại; quản lý, phát triển xã hội bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân. Theo đó, tập trung vào các nhiệm vụ sau: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển ; đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đẩy mạnh phát triển đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa, đời sống văn hóa trong gia đình và xã hội. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về văn hóa. Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, có năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số. Về xây dựng nền giáo dục quốc dân và phát triển nguồn nhân lực: Nhất quán xác định giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc , xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế; tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược. Đổi mới phương thức đào tạo, chuyển từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, thể lực và phẩm chất; đào tạo nghề chất lượng cao và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số trong giáo dục. Về quản lý, phát triển xã hội bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội: Hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, bao trùm, bền vững . Xây dựng xã hội lành mạnh, kỷ cương, văn minh, an toàn, phát triển. Phát triển kinh tế gắn với đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, an ninh xã hội và an ninh con người. Xây dựng cơ cấu xã hội hợp lý dựa trên hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, bao phủ toàn dân, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản có chất lượng với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”; xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả, tiến tới khám sức khỏe miễn phí ít nhất 1 lần mỗi năm và miễn viện phí cho người dân. Đến năm 2030, cơ bản không còn hộ nghèo. Thứ sáu, tăng cường quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Quốc phòng, an ninh và đối ngoại được tăng cường, triển khai đồng bộ, gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, bảo vệ nền văn hóa; bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh trên các lĩnh vực truyền thống, phi truyền thống; tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và giữ vững, củng cố môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, tăng cường tiềm lực và sức mạnh tổng hợp quốc gia kết hợp với củng cố ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh, tranh thủ nguồn lực bên ngoài, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam, qua đó tạo thế và lực mới cho phát triển nhanh, bền vững đất nước trong tình hình mới. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định cụ thể 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược. Các nội dung cơ bản của 6 nhiệm vụ trong tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIV gồm: (1) Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước; (2) Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện ; tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, nhất là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; (3) Đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế; phát triển các thành phần, khu vực kinh tế; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; (4) Tập trung triển khai đột phá về khoa học , công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ; (5) Phát triển con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững ; (6) Xây dựng Q uân đội nhân dân, C ông an nhân dân cách mạng, tinh nhuệ, chính quy, hiện đại , bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; triển khai đồng bộ, hiệu quả, sáng tạo công tác đối ngoại. Ba đột phá chiến lược xác định trong trong Nghị quyết Đại hội XIV tập trung vào những nội dung then chốt sau đây: (1) Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ, kiến tạo phát triển; kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo; thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân; xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp mới; phát triển lực lượng sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới. (2) Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ. (3 ) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ phục vụ cho quá trình quản lý, quản trị và kiến tạo phát triển, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu./. --------------------------- (1) Nếu không tính năm 2021 do tác động nặng nề của dịch COVID-19 dẫn đến tăng trưởng GDP chỉ đạt 2,55% thì tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2022 - 2025 đạt khoảng 7,24 - 7,29%/năm, vượt mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2021 - 2025 (6,5 - 7%) (2) Các năm gần đây đều nằm dưới mục tiêu 4% - 4,5% của Quốc hội; nợ công giảm từ 44,3% GDP năm 2020 xuống còn khoảng 35 - 36% năm 2025 (giới hạn là 60% GDP); bội chi ngân sách nhà nước bình quân giảm từ 3,53% GDP giai đoạn 2016 - 2020 xuống 3,1 - 3,2% GDP giai đoạn 2021 - 2025 (3) Năng suất lao động (NSLĐ, giá hiện hành) tăng 3,2 lần từ 70,0 triệu đồng/lao động năm 2011 lên 245 triệu đồng/lao động năm 2025. Tốc độ tăng NSLĐ trung bình đạt 5,2%/năm giai đoạn 2021 - 2025. Đáng chú ý, Việt Nam vẫn thuộc nhóm các quốc gia duy trì được tốc độ tăng NSLĐ khá cao, chỉ sau Trung Quốc và cao hơn mức trung bình của ASEAN. Tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) được nâng lên đáng kể. Nhờ đó, đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP giai đoạn 2021- 2025 đạt bình quân 47% (giai đoạn 2016 - 2020 đạt bình quân 46,04%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 34,75% giai đoạn 2011 - 2015) (4) Chỉ số ĐMST toàn cầu (GII) của Việt Nam liên tục được cải thiện; xếp hạng chỉ số GII của Việt Nam tăng từ vị trí 71/132 quốc gia (năm 2010) lên vị trí 44/133 quốc gia (năm 2025), đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á. Kinh tế số được duy trì đóng góp vào tăng trưởng, năm 2025 tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020 (5) IMF đánh giá Việt Nam nằm top 10 nước tăng trưởng cao nhất thế giới; Standard Chartered dự báo Việt Nam thuộc nhóm 5 nước tăng trưởng nhanh nhất châu Á). Tổ chức quốc tế (FTSE) nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ cận biên lên mới nổi thứ cấp (6) Năm 2022 là 0,726, tăng 8 bậc so với năm 2021, đứng thứ 107 trên 193 quốc gia và vùng lãnh thổ; năm 2024 là 0,766, xếp thứ 93 trên 193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thứ hạng về thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững SDGs có sự cải thiện, đưa Việt Nam từ vị trí 88 vào năm 2016 lên vị trí 54 giữa các nước trên thế giới vào năm 2024 (7) Như: kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, các vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, đặc khu kinh tế, đặc khu công nghệ, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, trung tâm dữ liệu quốc gia; đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, điện hạt nhân, điện mặt trời, điện gió ngoài khơi... (8) Năng lượng, vật liệu mới, công nghệ số và sinh học… (9) Công nghiệp chip bán dẫn, năng lượng tái tạo…
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/1217502/ung-dung-khoa-hoc---cong-nghe-trong-quan-ly-ben-vung-tai-nguyen-bien-khanh-hoa--ket-qua-buoc-dau-va-yeu-cau-doi-moi.aspx
Ứng dụng khoa học - công nghệ trong quản lý bền vững tài nguyên biển Khánh Hòa: Kết quả bước đầu và yêu cầu đổi mới
20-02-2026
Hình thành khung chính sách về quản lý tổng hợp tài nguyên biển
Hình thành khung chính sách về quản lý tổng hợp tài nguyên biển Bối cảnh sau sắp xếp, hợp nhất với tỉnh Ninh Thuận mở ra cho Khánh Hòa không gian, dư địa phát triển rất lớn với hơn 490km đường bờ biển kéo dài, bao gồm các vịnh biển nổi tiếng cùng hơn 200 hòn đảo lớn nhỏ, nhiều đầm eo vịnh kín gió, các cảng nước sâu. Sở hữu lợi thế, tiềm năng vượt trội, Khánh Hòa được xác định là trung tâm kinh tế biển trọng điểm của cả nước, là hạt nhân trong định hướng phát triển “tỉnh trọng điểm kinh tế biển” và “trung tâm biển quốc gia” đến năm 2030. Quyết định số 318/QĐ-TTg, ngày 29-3-2023, của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Quy hoạch tỉnh Khánh Hòa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2030, Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương; trung tâm dịch vụ, du lịch biển quốc tế; một cực tăng trưởng, trung tâm của khu vực duyên hải Trung Bộ, Tây Nguyên và cả nước về kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo. Quan điểm phát triển cũng nhấn mạnh, xây dựng và phát triển tỉnh Khánh Hòa theo hướng đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế và trên cơ sở tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khai thác và phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế để phát triển với kinh tế biển là nền tảng; công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, dịch vụ logistics, công nghiệp năng lượng, kinh tế số là đột phá; du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển đột phá vùng ven biển (1) . Mô hình nuôi biển công nghệ cao đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ môi trường tại tỉnh khánh Hòa_Ảnh: baotintuc.vn Những mục tiêu và quan điểm phát triển được xác lập tại Quyết định số 318/QĐ-TTg tạo nền tảng quan trọng để Khánh Hòa đẩy mạnh hiện đại hóa công tác quản lý biển, trong đó đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ mới là một hướng đi then chốt. Theo đó, các kế hoạch hành động liên quan được ban hành của Khánh Hòa đều chú trọng đến việc ứng dụng khoa học - công nghệ mới trong quản lý bền vững tài nguyên biển. Trước đó, từ năm 2022, Quyết định số 3028/QĐ-UBND về Kế hoạch tổng thể phục hồi vịnh Nha Trang đến năm 2030 do tỉnh Khánh Hòa ban hành ngày 7-11-2022 đã có những nội dung, giải pháp cho thấy rõ phải ứng dụng khoa học - công nghệ trong giải quyết từng nhiệm vụ. Chẳng hạn, đối với nhiệm vụ và giải pháp khảo sát, phân vùng chức năng khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, phải “tiến hành phân vùng chức năng và lập bản đồ phân vùng theo tỷ lệ thích hợp”. Đối với nội dung đánh giá tình trạng rạn san hô ven bờ Khánh Hòa, phải điều tra sự phân bố, đánh giá độ phủ rạn san hô và tính đa dạng của san hô ven bờ Khánh Hòa; lập bản đồ phân bố rạn san hô cho toàn vùng điều tra và cho 2 khu vực biển trọng điểm theo tỷ lệ thích hợp. Đặc biệt, thử nghiệm tạo rạn nhân tạo ở vịnh Nha Trang, theo đó áp dụng giải pháp tạo rạn nhân tạo để bảo vệ các hệ sinh thái hiện hữu có nguy cơ bị tác động bất lợi gắn với thử nghiệm phát triển kinh tế bảo tồn trong vịnh Nha Trang (2) . Thời gian gần đây, yêu cầu ứng dụng khoa học - công nghệ trong quản lý tài nguyên biển càng được tỉnh Khánh Hòa chú trọng. Theo Quyết định số 709/QĐ-UBND, ngày 17-3-2025, tỉnh thành lập Chi cục Thủy sản, Biển và Hải đảo trực thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa để tập trung chức năng quản lý đối với nguồn lợi hải sản, tài nguyên biển và bảo vệ môi trường biển. Đây là bước cải cách hành chính nhằm tạo đầu mối quản lý chuyên sâu, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi các chính sách biển đảo. Triển khai thực hiện Nghị quyết số 37/NQ-CP, ngày 27-2-2025, của Chính phủ về Kế hoạch thực hiện Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa nhằm cụ thể hóa Quy hoạch không gian biển quốc gia được Quốc hội phê tại Nghị quyết số 139/2024/QH15 ngày 28-6-2024 vào điều kiện địa phương phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng - an ninh; đồng thời giải quyết các mâu thuẫn, chồng lấn về không gian khai thác, sử dụng tài nguyên biển; phát triển hạ tầng ven biển, đảo và thúc đẩy các ngành phát triển kinh tế biển, Kế hoạch số 4887/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhấn mạnh 1 trong 6 nhiệm vụ trọng tâm là phát triển khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực về biển đảo. Theo đó: (i) Thành lập Trung tâm nghiên cứu quốc gia về công nghệ đại dương áp dụng cơ chế đặc thù, nguồn nhân lực phù hợp, nghiên cứu, tiếp nhận và chuyển giao về công nghệ đại dương phục vụ phát triển kinh tế biển góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, chủ quyền biển đảo quốc gia; (ii) Nghiên cứu, phát triển các ngành kinh tế biển mới, nhiều tiềm năng; (iii) Nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp công nghệ về hải dương học đề phát triển kinh tế biển cho các vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh; (iv) Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến phục vụ ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với kết cấu hạ tầng ven biển ở tỉnh; đối với hệ sinh thái biển đặc trưng để phục vụ phát triển du lịch bền vững (3) . Gần đây nhất, Nghị quyết số 01-NQ/TU về tăng trưởng kinh tế 2 con số giai đoạn 2025 – 2030, ban hành ngày 14-7-2025, của Tỉnh ủy Khánh Hòa xác định yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng theo hướng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả khai thác các lợi thế chiến lược của tỉnh (4) . Trong bối cảnh Khánh Hòa là địa phương có không gian biển rộng, hệ sinh thái biển đa dạng và kinh tế biển giữ vai trò trụ cột, Nghị quyết đặt ra yêu cầu quản lý, khai thác tài nguyên biển theo hướng hiện đại, bền vững, dựa trên dữ liệu và công nghệ, nhằm vừa bảo vệ nguồn lực lâu dài, vừa tạo dư địa tăng trưởng mới. Điều này cho thấy ứng dụng khoa học - công nghệ trong quản lý tài nguyên biển không chỉ là yêu cầu quản lý nhà nước, mà đã trở thành một trong những điều kiện quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số của Khánh Hòa trong giai đoạn tới. Nhìn chung, cùng với hệ thống chính sách của Trung ương tạo nền tảng vững chắc cho phát triển công nghệ biển tại Việt Nam, các nghị quyết, quyết định và kế hoạch do tỉnh Khánh Hòa ban hành trong thời gian gần đây đã từng bước hình thành khung chính sách và định hướng quan trọng cho việc ứng dụng khoa học - công nghệ trong quản lý bền vững tài nguyên biển, tạo cơ sở để triển khai các nhiệm vụ cụ thể trên thực tiễn. Triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ trong quản lý tài nguyên biển Trên cơ sở khung chính sách nói trên, Khánh Hoà đã triển khai nhiều hoạt động ứng dụng khoa học - công nghệ trong quản lý tài nguyên biển, đạt được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận. Một là, bước đầu hình thành hệ thống giám sát tài nguyên biển dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại. Khánh Hòa triển khai theo dõi hệ sinh thái và dữ liệu biển bằng các công nghệ mới. Nhiều biện pháp khoa học - công nghệ được đưa vào giám sát môi trường biển, công nghệ viễn thám, hệ thống thông tin địa lý (GIS) và mạng cảm biến bước đầu hình thành ở một số dự án nghiên cứu và hợp tác quốc tế. Đáng chú ý, Viện Hải dương học Nha Trang phối hợp với Viện Khoa học biển Australia (AIMS) chuyển giao công nghệ ReefCloud và ReefScan (5) - hệ thống khảo sát và phân tích dữ liệu san hô tiên tiến, cho phép thu thập dữ liệu nhanh, chính xác và tự động ưu tiên khu vực cần bảo tồn. Nhờ các biện pháp giám sát này, độ che phủ san hô cứng tại Hòn Mun tăng nhẹ từ 6,2% năm 2022 lên 6,3% cuối năm 2023 (do đặc tính sinh học của san hô cứng tạo rạn chỉ tăng trưởng khoảng 1cm/năm) (6) . Tại khu vực Hòn Chồng, hệ sinh thái san hô đang phát triển tốt, độ phủ san hô tạo rạn trung bình toàn vùng là 32,4%. Các loài cá rạn cũng đã xuất hiện khá nhiều tại vùng biển này (7) . Trong công tác giám sát môi trường biển, Khánh Hòa triển khai nhiều hoạt động khảo sát, theo dõi hệ sinh thái rạn san hô gắn với thu thập dữ liệu phục vụ quản lý và bảo tồn. Sáu tháng đầu năm 2025, các đơn vị chức năng tổ chức tiến hành 14 đợt kiểm tra, giám sát hệ sinh thái rạn san hô tại vịnh Nha Trang (8) … Các hoạt động khảo sát này cung cấp dữ liệu thực địa quan trọng, làm cơ sở khoa học cho đánh giá hiện trạng môi trường và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ hệ sinh thái biển. Một số giải pháp giám sát qua mạng lưới cảm biến Internet vạn vật (IoT) cũng được áp dụng tại cảng biển và khu nuôi trồng thủy sản. Khánh Hòa tăng cường năng lực quan trắc môi trường, đặc biệt là tại các khu, cụm công nghiệp, nguồn nước thải và vùng ven biển. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa cũng chú trọng công tác quan trắc môi trường đột xuất, giúp phát hiện và ứng phó các tình huống ô nhiễm môi trường. Năm 2023, tỉnh Khánh Hòa tiến hành lắp đặt 29 hệ thống quan trắc môi trường tự động, bao gồm 14 trạm quan trắc nước thải, 5 trạm quan trắc khí thải, 1 trạm quan trắc nước mặt, 9 trạm quan trắc không khí, thông qua đó quản lý, giám sát được chất lượng khí thải tại các địa điểm lắp đặt, kịp thời phát hiện và xử lý khi nguồn thải có nguy cơ gây biến đổi môi trường sống xung quanh (9) . Bên cạnh đó, tỉnh ứng dụng công nghệ số vào kiểm soát, truy xuất nguồn gốc thủy sản, điền hình là ứng dụng hệ thống phần mềm truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử (eCDT). Tính đến đầu tháng 7-2025, toàn tỉnh có 1.295 tàu cá trên 15m đã thực hiện áp dụng eCDT (10) . Ngư dân cập cảng cá Hòn Rớ (Khánh Hòa) - điểm đầu tiên lắp màn hình ở cảng để kiểm soát hoạt động xuất nhập bến_Ảnh: giaoducthoidai.vn Ngoài ra, tỉnh đang nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích ảnh vệ tinh để theo dõi biến động đường bờ và hoạt động tàu thuyền. Việc giám sát và xác định sự thay đổi cũng như tốc độ thay đổi của đường bờ biển Nha Trang từ năm 2013 đến 2018 được thực hiện bởi các ứng dụng xử lý, phân tích GIS với tư liệu ảnh Landsat 8 kết hợp với ảnh Sentinel-2 cũng đã được triển khai. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính hiệu quả, độ tin cậy và khả năng ứng dụng của công nghệ viễn thám và GIS trong nghiên cứu bờ biển (11) . Hai là, Khánh Hòa tích cực ứng dụng công nghệ trong bảo tồn, phục hồi, tái tạo nguồn lợi biển và phục hồi sinh cảnh. Song song với giám sát, Khánh Hòa triển khai nhiều mô hình bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái dựa trên công nghệ. Đây là hướng tiếp cận mới, giúp gia tăng khả năng tái tạo hệ sinh thái biển vốn chịu tác động mạnh từ khai thác du lịch, suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu. Theo đó, tỉnh đẩy mạnh phục hồi sinh cảnh và tái tạo rạn san hô bằng kỹ thuật mới. Để tiếp tục thực hiện Kế hoạch tổng thể phục hồi vịnh Nha Trang, trong đó có phục hồi rạn san hô, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã giao Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức thẩm định nhiệm vụ “tạo vườn ươm cung cấp nguồn giống san hô tạo rạn để phục hồi và tái tạo hệ sinh thái rạn san hô ở vịnh Nha Trang”; tuyển chọn cá nhân, tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2024 đối với đề tài “Xây dựng thử nghiệm mô hình rạn nhân tạo để bảo tồn đa dạng sinh học hướng đến phát triển du lịch sinh thái biển trong khu vực thử nghiệm” (12) . Nhiều dự án nuôi trồng san hô phục vụ bảo vệ đa dạng sinh học được triển khai với các phương pháp như trồng san hô bằng giá thể, trồng chậu san hô (13) . Những biện pháp này, kết hợp giám sát khoa học, đang góp phần tạo điều kiện phục hồi cho hệ sinh thái rạn san hô đặc hữu của vịnh Nha Trang. Tỉnh cũng triển khai ứng dụng công nghệ cao trong tái tạo nguồn lợi thủy sản. Viện Hải dương học đã nhân giống thành công nhiều loài cá và hải sản quý hiếm, phục vụ thả bổ sung tái tạo nguồn lợi trong vịnh Nha Trang (14) . Các mô hình tái tạo nguồn lợi được thực hiện có kiểm soát, gắn với giám sát sinh thái, giúp nâng cao hiệu quả phục hồi, bảo tồn. Ba là, ứng dụng công nghệ trong phát triển kinh tế biển. Hiện nay, tỉnh đẩy mạnh ứng dụng công nghệ xanh vào kinh tế biển, vào các lĩnh vực như nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, phục hồi hệ sinh thái và phát triển du lịch sinh thái ven biển (15) . Là địa phương có nhiều lợi thế đặc biệt về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và tài nguyên biển để phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, mang đẳng cấp quốc tế, Khánh Hoà thúc đẩy du lịch sinh thái và chia sẻ thông tin, nâng tầm du lịch biển - đảo bằng cách ứng dụng công nghệ. Nhiều khu nghỉ dưỡng, resort cao cấp ở Khánh Hòa chủ động triển khai hệ thống du lịch thông minh, sử dụng chatbot AI và trợ lý ảo để hỗ trợ đặt phòng, giải đáp thắc mắc, gợi ý lịch trình, áp dụng công nghệ nhận diện khuôn mặt trong quá trình check-in, check-out và kiểm soát ra vào phòng (16) … Bên cạnh đó, thực hiện chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa - du lịch, Khánh Hòa đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số nhằm nâng cao trải nghiệm cho du khách tại các di tích, điểm đến nổi tiếng. Nhiều hình thức công nghệ như mã QR, thực tế ảo VR360 được đưa vào sử dụng, giúp du khách có thể tương tác, tra cứu và tìm hiểu thông tin ngay trên thiết bị di động (17) . Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ xanh vào kinh tế biển, Khánh Hòa tiên phong và triển khai thành công thí điểm mô hình nuôi biển công nghệ cao tại vùng biển mở (18) , phát triển công nghệ nuôi biển hiện đại nhằm giảm áp lực lên vùng bờ. Tỉnh đang triển khai Đề án Nuôi biển công nghệ cao, sử dụng lồng nhựa HDPE, hệ thống tạo vi khí hậu nhân tạo và thiết bị quan trắc nước tự động để hạn chế dịch bệnh và ô nhiễm. Theo đó, một số mô hình như nuôi hàu lưới treo, nuôi tảo xoắn đang được thử nghiệm để thay thế hình thức nuôi ven bờ truyền thống gây tác động xấu đến môi trường. Tỉnh Khánh Hòa đang từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ chuyển đổi lồng bè nuôi biển từ vật liệu truyền thống sang vật liệu mới như lồng nhựa HDPE, đồng thời triển khai bảo hiểm cho người nuôi trồng thủy sản. Một số doanh nghiệp, cá nhân cùng với Trường Đại học Nha Trang, Viện Hải dương học đã chủ động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và ứng dụng thiết bị hiện đại như hệ thống giám sát tự động, cảm biến môi trường vào nuôi biển công nghệ cao, góp phần nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững ngành thủy sản (19) . Hiện nay, Khánh Hòa là 1 trong 4 ngư trường trọng điểm cả nước. Kinh tế biển và ven biển hiện đóng góp 80% GRDP của tỉnh Khánh Hòa, với các trụ cột chính gồm du lịch biển, thủy sản, dịch vụ cảng biển - logistics và đóng tàu (20) . Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và Tỉnh ủy Khánh Hòa phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề: “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phấn đấu đưa Khánh Hòa trở thành cực tăng trưởng quốc gia, thành phố trực thuộc Trung ương, trung tâm kinh tế biển hiện đại”, ngày 5-1-2026_Ảnh: Tư liệu Một số hạn chế và yêu cầu đổi mới trong giai đoạn tới Những kết quả bước đầu cho thấy tính khả thi của các giải pháp ứng dụng khoa học - công nghệ. Song, quá trình ứng dụng khoa học - công nghệ vào quản lý tài nguyên biển của Khánh Hoà cũng cho thấy tồn tại một số hạn chế như thiếu hệ thống dữ liệu biển thống nhất, liên thông, liên kết dữ liệu và công nghệ chưa đồng bộ; các giải pháp công nghệ hiện mới dừng ở quy mô thí điểm, chưa tích hợp thông tin xuyên ngành. Bên cạnh đó, năng lực công nghệ và nhân lực còn hạn chế, trong khi đầu tư cho khoa học - công nghệ chưa tương xứng. Khánh Hòa mới thành lập Chi cục Thủy sản, Biển và Hải đảo nhưng chưa có đủ chuyên gia công nghệ biển chuyên sâu và thiết bị kỹ thuật hiện đại. Cơ sở nghiên cứu như Viện Hải dương học, dù có uy tín, nhưng cần tăng cường trang thiết bị và nhân lực đa ngành. Việc ứng dụng khoa học - công nghệ đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền, nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng, tuy nhiên, hợp tác liên ngành tại Khánh Hòa còn rời rạc. Cơ chế phối hợp liên kết giữa nghiên cứu - đào tạo - doanh nghiệp chưa chặt chẽ, chưa hình thành các liên minh nghiên cứu - doanh nghiệp - chính quyền, trong khi người dân vùng ven biển chưa thực sự quen với công nghệ hiện đại. Trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ và yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên biển, những hạn chế trên đòi hỏi Khánh Hòa tiếp tục đổi mới và nâng cao hơn nữa vai trò của khoa học - công nghệ trong quản lý bền vững tài nguyên biển. Thứ nhất, xây dựng Trung tâm Nghiên cứu công nghệ đại dương. Theo các chuyên gia, Khánh Hòa cần một trung tâm nghiên cứu công nghệ biển (thuộc Đại học hoặc Sở Khoa học và Công nghệ) quy tụ Nhà nước - doanh nghiệp - khoa học - cộng đồng. Trung tâm này sẽ thực hiện điều tra cơ bản biển, nghiên cứu công nghệ san hô, nuôi biển công nghệ cao, phát triển năng lượng biển và đào tạo chuyên gia. Ngoài ra, trung tâm sẽ ưu tiên nghiên cứu các nhóm công nghệ đại dương, như robot, công nghệ giám sát đại dương, quản lý và phân tích dữ liệu, mô hình hóa đại dương, bảo tồn biển xanh… Hiện nay, đề án thành lập Trung tâm Nghiên cứu công nghệ đại dương đang được Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa xem xét, hoàn thiện để trình Trung ương thẩm định trong thời gian tới (21) . Thứ hai, chuyển từ ứng dụng rời rạc sang quản lý dựa trên hệ thống và chuẩn dữ liệu thống nhất. Thực tiễn cho thấy, các ứng dụng khoa học - công nghệ trong quản lý tài nguyên biển ở Khánh Hòa thời gian qua chủ yếu được triển khai theo từng lĩnh vực, từng dự án hoặc từng cơ quan chuyên môn. Trong giai đoạn tới, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng phạm vi ứng dụng công nghệ, mà quan trọng hơn là thiết lập một cách tiếp cận quản lý dựa trên hệ thống, trong đó dữ liệu trở thành nền tảng trung tâm. Điều này đòi hỏi xây dựng các chuẩn chung về thu thập, chia sẻ và khai thác dữ liệu tài nguyên biển giữa các ngành, tránh tình trạng phân mảnh, trùng lặp và khó tích hợp trong quản lý tổng hợp không gian biển. Thứ ba, đổi mới tư duy giám sát từ theo dõi hiện trạng sang quản trị rủi ro và xung đột trong sử dụng không gian biển. Một hạn chế hiện nay là công tác giám sát tài nguyên và môi trường biển vẫn thiên về ghi nhận hiện trạng, trong khi các rủi ro về suy thoái hệ sinh thái, biến đổi khí hậu và xung đột trong khai thác, sử dụng không gian biển ngày càng gia tăng. Do đó, cần đổi mới tư duy giám sát theo hướng quản trị rủi ro, trong đó khoa học - công nghệ được sử dụng để nhận diện sớm các điểm nóng, khu vực nhạy cảm và xu hướng biến động dài hạn. Cách tiếp cận này giúp nâng cao vai trò của giám sát không chỉ như một công cụ kiểm tra, mà là cơ sở khoa học cho điều chỉnh quy hoạch, chính sách và quyết định phát triển kinh tế biển. Thứ tư, hoàn thiện thể chế và chính sách khuyến khích đổi mới, gắn ứng dụng khoa học - công nghệ với cơ chế điều phối liên ngành trong quản lý biển. Quản lý tài nguyên biển là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến nhiều ngành, như du lịch, thủy sản, giao thông hàng hải, môi trường và quốc phòng - an ninh. Vì vậy, giải pháp quan trọng là xây dựng cơ chế điều phối liên ngành dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ. Song song với đó, nhanh chóng sửa đổi, bổ sung các văn bản quản lý biển cho phù hợp với tình hình mới, đồng thời có cơ chế thu hút đầu tư và ứng dụng công nghệ như miễn giảm thuế cho dự án nuôi biển công nghệ cao, ưu đãi lãi suất vay cho doanh nghiệp nghiên cứu vật liệu sinh học dùng trong nuôi trồng. Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế và đào tạo nguồn nhân lực, qua đó chủ động tiếp cận, từng bước làm chủ công nghệ mới. Đồng thời, tuyên truyền, vận động cộng đồng tham gia chuyển đổi số, ứng dụng khoa học - công nghệ trong khai thác, quản lý tài nguyên biển, thông qua các hình thức như sử dụng điện thoại thông minh tham gia giám sát tài nguyên, bảo vệ rạn san hô, khoanh vùng bãi giống; thành lập các câu lạc bộ thủy sản xanh, du lịch xanh nhằm khuyến khích đổi mới sáng tạo tại địa phương… Trong bối cảnh Khánh Hòa đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, khoa học - công nghệ cần được nhìn nhận là chìa khóa để quản lý bền vững tài nguyên biển, bảo đảm cân bằng giữa khai thác và bảo tồn. Qua đó, tạo nền tảng vững chắc khai thác tối đa lợi thế biển đảo, thực hiện thành công chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển; đồng thời bảo tồn, phát huy tối đa tiềm năng biển trong dài hạn, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam./. ------------------------------------- (1) Xem: Quyết định số 318/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Quy hoạch tỉnh Khánh Hòa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, ngày 29-3-2023, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Xay-dung-Do-thi/Quyet-dinh-318-QD-TTg-2023-phe-duyet-Quy-hoach-tinh-Khanh-Hoa-thoi-ky-2021-2030-561074.aspx (2) Xem: Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Kế hoạch tổng thể phục hồi vịnh Nha Trang đến năm 2030, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-nguyen-Moi-truong/Quyet-dinh-3028-QD-UBND-2022-Ke-hoach-tong-the-phuc-hoi-vinh-Nha-Trang-Khanh-Hoa-544123.aspx (3) Xem: Kế hoạch Triển khai thực hiện Nghị quyết 37/NQ-CP ngày 27-02-2025 của Chính phủ về Kế hoạch thực hiện Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, https://congbaokhanhhoa.gov.vn/noi-dung-van-ban/vanbanid/22116 (4) Xem: Tỉnh ủy Khánh Hòa, Nghị quyết số 01-NQ/TU về tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2025 - 2030, ngày 16-7-2025, https://baokhanhhoa.vn/chinh-tri/202507/nghi-quyet-so-01-nqtu-cua-tinh-uy-khanh-hoa-ve-tang-truong-kinh-te-hai-con-so-giai-doan-2025-2030-f9c534e/ (5) Xem: Phan Sáu, Australia giúp Việt Nam giám sát và bảo vệ các rạn san hô trước biến đổi khí hậu, ngày 1-4-2024, https://www.vietnamplus.vn/australia-giup-viet-nam-giam-sat-va-bao-ve-cac-ran-san-ho-truoc-bien-doi-khi-hau-post937656.vnp (6) (8) Xem: Thái Thịnh, Bảo tồn, phát huy giá trị bền vững hệ sinh thái biển vịnh Nha Trang, ngày 20-9-2025, https://baokhanhhoa.vn/xa-hoi/202509/chaomungdai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tinh-khanh-hoa-lan-thu-i-nhiem-ky-2025-2030-bao-ton-phat-huy-gia-tri-ben-vung-he-sinh-thai-bienvinh-nha-trang-e4914ab/ (7) Xem: Thái Thịnh, Chung tay phục hồi vịnh Nha Trang, ngày 5-9-2025, https://baokhanhhoa.vn/chinh-tri/dua-nq09-vao-cuoc-song/202409/chung-tay-phuc-hoi-vinh-nha-trang-ky1tung-buoc-phuc-hoi-ran-san-ho-3a2121a/ (9) Xem: Triển khai nền tảng quản lý dữ liệu quan trắc môi trường, ngày 17-10-2023, https://ilotusland.com/giai-phap/quan-trac-so-tnmt-khanh-hoa/ (10) Xem: Thanh Xuân, Ứng dụng công nghệ số vào giám sát, truy xuất nguồn gốc thủy sản, ngày 17-7-2025, https://baokhanhhoa.vn/kinh-te/202507/ung-dung-cong-nghe-so-vao-giam-sat-truy-xuat-nguon-goc-thuy-san-7fa1850/ (11) Xem: Bùi Thị Kiên Trinh, Nguyễn Mạnh Cường, Phân tích biến động của đường bờ biển Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý, https://vjol.info.vn/index.php/DHTL/article/view/42691 (12) Xem: Hồng Hạnh, Nỗ lực phục hồi hệ sinh thái tại vịnh Nha Trang, ngày 13-10-2024, https://thiennhienmoitruong.vn/no-luc-phuc-hoi-he-sinh-thai-tai-vinh-nha-trang.html (13) Xem: Minh Chiến, Trồng san hô dưới đáy biển: những ‘thợ vườn’ của đại dương, https://tuoitre.vn/trong-san-ho-duoi-day-bien-nhung-tho-vuon-cua-dai-duong-20250201144023802.htm (14) Xem: Phạm Lương, Hơn 10.000 con cá giống được thả xuống vịnh Nha Trang, ngày 7-7-2023, https://vietnamnet.vn/hon-10-000-con-ca-giong-duoc-tha-xuong-vinh-nha-trang-2151200.html (15) Xem: Võ Trọng Thạch, Phát huy tiềm năng biển, đảo Khánh Hòa: Hướng tới phát triển kinh tế biển xanh, 6-6-2025, https://baokhanhhoa.vn/kinh-te/202506/phat-huytiem-nang-bien-dao-khanh-hoa-huong-toi-phat-trien-kinh-te-bien-xanh-7ee35d6/ (16) Xem: Minh Thuận, Khánh Hòa đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động du lịch, ngày 31-8-2025, https://thiennhienmoitruong.vn/khanh-hoa-day-manh-ung-dung-cong-nghe-so-trong-hoat-dong-du-lich.html (17) Xem: Khánh Hòa ứng dụng công nghệ số giúp du khách nâng cao trải nghiệm, ngày 10-10-2025, https://bvhttdl.gov.vn/khanh-hoa-ung-dung-cong-nghe-so-giup-du-khach-nang-cao-trai-nghiem-2025101010200916.htm (18) Xem: Hải Lăng, Thí điểm thành công nuôi biển công nghệ cao trên vùng biển mở xã Cam Lập, ngày 7-6-2025, https://baokhanhhoa.vn/kinh-te/202406/thi-diem-thanh-cong-nuoi-bien-cong-nghe-cao-tren-vung-bien-mo-xa-cam-lap-9084bf2/ (19) Xem: Vũ Tân - Nguyên Trung, Khánh Hòa tận dụng ưu thế, hướng tới mục tiêu trở thành Trung tâm kinh tế biển quốc gia, 22-10-2025, https://nhandan.vn/khanh-hoa-tan-dung-uu-the-huong-toi-muc-tieu-tro-thanh-trung-tam-kinh-te-bien-quoc-gia-post917027.html (20) Xem: VOV, Kinh tế biển Khánh Hòa: Chuyển biến từ hệ sinh thái đến công nghệ, ngày 8-6-2025, https://vov.vn/kinh-te/kinh-te-bien-khanh-hoa-chuyen-bien-tu-he-sinh-thai-den-cong-nghe-post1205559.vov (21) Xem: Trần Hoài, Đề xuất thành lập Trung tâm Nghiên cứu về công nghệ đại dương, ngày 1-10-2025, https://tuoitre.vn/de-xuat-thanh-lap-trung-tam-nghien-cuu-ve-cong-nghe-dai-duong-20251001160031509.htm
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/1229402/nang-cao-nang-luc-cong-tac-cua-doi-ngu-can-bo-kiem-tra-cua-dang-o-cap-xa%2C-phuong-trong-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap.aspx
Nâng cao năng lực công tác của đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng ở cấp xã, phường trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp
28-03-2026
Thực trạng đội ngũ cán bộ kiểm tra Đảng ở cấp xã, phường trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp
Thực trạng đội ngũ cán bộ kiểm tra Đảng ở cấp xã, phường trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp Mô hình hệ thống chính trị cấp xã, phường sau sáp nhập được tổ chức, sắp xếp theo hướng chuyên nghiệp, phát huy rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền và sự giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Về cơ cấu tổ chức và số lượng ủy viên của ủy ban kiểm tra (UBKT) đảng ủy xã, phường sau sáp nhập có từ 3 đến 7 ủy viên chuyên trách (do cấp ủy quyết định), phó bí thư hoặc ủy viên ban thường vụ đảng ủy làm chủ nhiệm; từ 1 đến 2 phó chủ nhiệm (trong đó 1 phó chủ nhiệm là cấp ủy viên). Đây là điểm mới và quan trọng trong hệ thống tổ chức bộ máy của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, vì trước đây (trước ngày 1-7-2025), UBKT cấp xã, phường hoạt động kiêm nhiệm, quy mô nhỏ, thẩm quyền hạn chế. UBKT cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp trở thành cấp kiểm tra nền tảng, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đối với các chi bộ, đảng viên, cán bộ, công chức thuộc diện ban chấp hành, ban thường vụ đảng ủy xã, phường quản lý trong thực thi công vụ, “vai trò kiểm tra, giám sát của Đảng ở cấp xã trở nên vô cùng quan trọng" (1) . Đồng chí Nguyễn Hoài Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa kiểm tra Trung tâm phục vụ hành chính công xã Mường Lát_Ảnh: giadinhonline.vn Có thể khẳng định, chức năng, nhiệm vụ của UBKT đảng ủy xã, phường trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp được hoàn thiện theo hướng đầy đủ, rõ về chức năng, nhiệm vụ. Nhiệm vụ mới của UBKT đảng ủy xã, phường thể hiện rõ tính hệ thống, đầy đủ trong tổ chức công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống kiểm tra của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Đặc biệt, cấp xã, phường mới là đơn vị hành chính gần dân, sát dân nhất, đồng thời phụ trách nhiều lĩnh vực công tác quan trọng, dễ phát sinh sai phạm, như kinh tế, đất đai, nông nghiệp, nông thôn, tài nguyên, môi trường…, do đó, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cần được thực hiện chặt chẽ, chủ động và nghiêm minh, tạo nền tảng vững chắc để mô hình chính quyền địa phương hai cấp tiếp tục vận hành nền nếp, thống nhất, hiệu quả. Điều này cũng đặt ra yêu cầu đối với việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ ngành kiểm tra của Đảng tại cấp xã, phường trong giai đoạn mới. Ngay sau mô hình chính quyền địa phương hai vận hành, đội ngũ cán bộ ngành kiểm tra của Đảng ở cấp xã, phường được quan tâm, tăng cường và cơ bản được bố trí phù hợp về số lượng, chất lượng, năng lực công tác, góp phần bảo đảm tính kế thừa, ổn định và hiệu quả trong thực thi nhiệm vụ. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, phạm vi, đối tượng và nội dung kiểm tra, giám sát được mở rộng, thực tiễn các lĩnh vực quản lý ở cơ sở ngày càng phức tạp, đa dạng đặt ra không ít thách thức đối với đội ngũ cán bộ kiểm tra, nhất là về khả năng nắm bắt tình hình, xử lý các vấn đề phát sinh, vận dụng hiệu quả các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong điều kiện mới. Sau gần 1 năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, các tỉnh, thành phố trên cả nước đã chủ động bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phù hợp, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ. Sau sáp nhập đơn vị hành chính, cả nước 3321 xã, phường, đặc khu, có 2.905/3.321 chủ nhiệm UBKT cấp xã và tương đương không phải người địa phương. Số lượng cán bộ cơ quan UBKT cấp xã và tương đương là 1.905 người. “Tuy nhiên, số lượng công chức chuyên môn, nghiệp vụ có trình độ không phù hợp với yêu cầu của vị trí làm việc được bố trí tại cấp xã hiện nay là 6.182 người/114.834 (2) . Đối với cán bộ ngành kiểm tra của Đảng, số lượng cán bộ chưa có kinh nghiệm trong công tác kiểm tra, giám sát là 11.968 đồng chí (chiếm 63,6%), cấp xã và tương đương là 11.035 đồng chí; số lượng cán bộ chưa được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra, giám sát là 11.197 đồng chí (chiếm 59,7%), cấp xã và tương đương là 10.285 đồng chí; có 932/3321 (28%) của các địa phương bố trí thiếu 1.738 đồng chí là ủy Ủy viên UBKT cấp xã (3) . Thực trạng trên dẫn đến đội ngũ cán bộ kiểm tra cấp xã, phường gặp khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, dễ phát sinh tâm lý thận trọng quá mức hoặc lúng túng trong xử lý các tình huống phức tạp, qua đó tác động trực tiếp đến tính chủ động, sắc bén và hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát ở cấp cơ sở. Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng ở cấp xã, phường trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp Đội ngũ cán bộ kiểm tra là lực lượng nòng cốt, nhân tố quyết định việc thực hiện nhiệm vụ của UBKT các cấp. Trong điều kiện vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, công tác kiểm tra của Đảng ở cấp xã, phường ngày càng giữ vai trò then chốt trong việc bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; vì vậy, đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra phải đáp ứng những yêu cầu mới, toàn diện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ nghiệp vụ và kỹ năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát ở cơ sở, cụ thể: Thứ nhất, về phẩm chất đạo đức cách mạng. Cán bộ kiểm tra của Đảng cấp xã, phường phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Với nhiệm vụ bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức đảng và đảng viên, yêu cầu cán bộ kiểm tra phải là người tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, gương mẫu chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Đây vừa là nhiệm vụ của đảng viên, vừa yêu cầu quan trọng đối với người cán bộ kiểm tra. Lòng trung thành, gương mẫu của cán bộ kiểm tra thể hiện ở bản lĩnh chính trị vững vàng, liêm chính, có dũng khí, có tính chiến đấu cao, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, thực sự trở thành tấm gương về đạo đức công vụ và đạo đức cách mạng ở cơ sở. Trong bối cảnh cấp xã, phường quản lý nhiều lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, cán bộ kiểm tra phải có lối sống giản dị, chân thành, khiêm tốn, trong sáng, không bị chi phối bởi lợi ích vật chất, không dao động, không bị tác động bởi “quan hệ thân hữu”, không bị cám dỗ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Thứ hai, về trình độ, năng lực. Cán bộ kiểm tra của Đảng cấp xã, phường phải có trình độ chuyên môn phù hợp với quy định, với vị trí công tác. Phải có kiến thức, hiểu biết sâu rộng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc biệt trong các lĩnh vực dễ xảy ra sai phạm, như công tác tư tưởng, cán bộ, tài chính - ngân sách, đất đai, đầu tư, xây dựng, quản lý doanh nghiệp nhà nước... Về trình độ lý luận chính trị, cán bộ kiểm tra phải nắm vững kiến thức trong công tác xây dựng Đảng, về nguyên tắc, quan điểm, nhiệm vụ, phương pháp cơ bản về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Phải có kiến thức nền tảng về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nhiệm vụ chính trị của Đảng; các quan điểm, nguyên tắc về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; phạm vi, trách nhiệm kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng. Bên cạnh đó, cán bộ kiểm tra phải có hiểu biết đầy đủ về nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát, nắm vững quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương pháp, quy trình cơ bản tiến hành kiểm tra, giám sát (lập kế hoạch, triển khai thực hiện kế hoạch, thẩm tra, xác minh, kỹ năng soạn thảo văn bản về công tác kiểm tra, giám sát; công tác tham mưu, thống kê, tổng hợp, lập và lưu trữ hồ sơ, tài liệu về công tác kiểm tra, giám sát…); phải có phương pháp làm việc khoa học (khả năng tư duy, phân tích, đánh giá tình huống, vụ việc…), sáng tạo; đúng quy trình, đúng nguyên tắc; tuyệt đối tránh chủ quan, duy ý chí, nóng vội hoặc cảm tính trong xử lý vụ việc. Thứ ba, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp gắn liền với quá trình chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số, quản trị hiện đại, minh bạch và hiệu quả. Đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số toàn diện, giúp cho việc đổi mới phương pháp, kỹ năng, quy trình công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, bảo đảm khách quan, dân chủ, đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ, khả thi (4) . Trong thời gian qua, ngành kiểm tra đảng đã nỗ lực, quyết liệt tổ chức triển khai chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động, xây dựng mô hình chuyển đổi số đáp ứng yêu cầu “giám sát trên dữ liệu, kiểm tra trên dữ liệu”. UBKT Trung ương đã ban hành nhiều kế hoạch, đề án nhằm chủ động nắm bắt tình hình, kết quả lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện đề án chuyển đổi số của ngành (5) . Đến nay, 100% UBKT các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương đã thể chế, xây dựng và ban hành kế hoạch chuyển đổi số của cơ quan, đơn vị bảo đảm thống nhất trong toàn ngành. Do đó, cán bộ cán bộ kiểm tra của Đảng ở cấp xã, phường phải có khả năng sử dụng thành thạo tin học văn phòng, hệ thống thông tin, và các công cụ phân tích dữ liệu, khai thác dữ liệu, sử dụng các phần mềm quản lý, hồ sơ điện tử; biết cách thu thập, phân tích và xử lý dữ liệu để có thể đưa ra được những kết luận chính xác phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát. Kiểm tra công tác cải cách hành chính ở Trung tâm phục vụ hành chính công xã Mường La, tỉnh Sơn La_Ảnh: baosonla.vn Một số giải pháp và kiến nghị Trước nhiệm vụ mới của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh chuyển đổi số, việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng cấp xã trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra thực sự bản lĩnh, liêm chính, chuyên nghiệp, “trong sáng như gương, sắc bén như gươm”, tuyệt đối trung thành với Đảng, kiên định trước mọi khó khăn, không chịu bất kỳ sức ép, tác động hay cám dỗ nào; cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng ở các cấp, nhất là ở các xã, phường” (6) . Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng cấp xã, phường góp phần giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong toàn Đảng, kiên quyết không để có “khoảng trống”, “vùng tối” mà công tác kiểm tra, giám sát của Đảng không vươn tới được, cần tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả một số giải pháp sau: Thứ nhất , tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp, trước hết là người đứng đầu cấp ủy về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải xác định rõ tầm quan trọng của công tác kiểm, tra, giám sát và kỷ luật đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, trọng tâm trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. “Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy đảng các cấp, nhất là ở cấp xã” (7) . Trên cơ sở đó, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường công tác phổ biến, học tập, quán triệt các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, trước hết là đối với người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động. Đổi mới phương thức học tập, quán triệt các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng thật sự hiệu quả. Đồng thời, chú trọng công tác thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho hệ thống chính trị cấp cơ sở và nhân dân về trách nhiệm tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên. Phát huy vai trò, trách nhiệm xây dựng Đảng của nhân dân trong thực hiện công tác kiểm tra, giám sát thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Cấp ủy, tổ chức đảng và UBKT xã, phường phải xây dựng phương hướng, chương trình công tác, kế hoạch kiểm tra toàn khóa, hằng năm gắn công tác kiểm tra, giám sát với kiểm soát quyền lực; đặt trọng tâm công tác kiểm tra, giám sát trong giai đoạn hiện nay là khâu giám sát, phòng ngừa, tăng cường, công tác nắm tình hình, cảnh báo phòng ngừa sai phạm ngay từ cơ sở. Thực hiện đồng bộ giữa kiểm tra, giám sát theo phương châm: “giám sát phải mở rộng”, “kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm”, trong đó coi trọng giám sát để phòng ngừa vi phạm, tăng cường công tác giám sát thường xuyên nhất là đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng ngay từ khi ban hành. Thực hiện nghiêm nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên vi phạm, song, cần dựa trên tinh thần nhân văn, “trị bệnh cứu người”, tình yêu thương đồng chí. Thứ hai , nhanh chóng kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan UBKT và tăng cường cán bộ kiểm tra cấp xã, phường phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Trước yêu cầu mới trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, cần sớm rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy UBKT cấp xã, phường theo hướng tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, trong đó chú trọng bổ sung ủy viên UBKT cấp xã theo đúng quy định của UBKT Trung ương. Việc bố trí cán bộ kiểm tra phải bảo đảm phù hợp về số lượng, cơ cấu, có sự cân đối giữa yêu cầu công tác và thực tiễn theo dõi địa bàn, lĩnh vực phụ trách. Tăng cường cán bộ có năng lực, kinh nghiệm từ cấp trên về cơ sở trong giai đoạn đầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp nhằm củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của UBKT cấp xã, phường nhất là ở những địa bàn phức tạp, nhạy cảm, phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến quản lý đất đai, tài chính, đầu tư công và thực hiện chính sách an sinh xã hội... Thứ ba , bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ kiểm tra, cấp xã, phường theo hướng giỏi lý luận, giỏi nghiệp vụ, giỏi thực tiễn. Cần đổi mới nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra theo hướng thiết thực, sát với yêu cầu nhiệm vụ ở cơ sở, chú trọng trang bị kiến thức về xây dựng Đảng, kỹ năng nghiệp vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, cũng như khả năng xử lý tình huống phát sinh trong thực tiễn. Bên cạnh đó, tăng cường bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác dữ liệu số, hồ sơ điện tử phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan Đảng hiện nay. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Quy định số 110-QĐ/TW, ngày 6-7-2023, của Ban Bí thư, “Về luân chuyển cán bộ trong ngành kiểm tra đảng” nhằm tăng cường cán bộ kiểm tra có năng lực, kinh nghiệm từ cấp trên về cấp xã, phường; đồng thời, tạo môi trường rèn luyện thực tiễn, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ kiểm tra. Thứ tư , tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ở cấp xã, phường. Tổ chức đảng và các cấp ủy cần quan tâm bố trí nguồn lực phù hợp để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, đặc biệt là các địa phương vùng sâu, vùng xa, biên giới, kinh tế khó khăn bảo đảm điều kiện cần thiết cho UBKT cấp xã, phường hoạt động hiệu quả. Trong đó, ưu tiên đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, các phần mềm quản lý, cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, từng bước hình thành môi trường làm việc số, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, kịp thời và chính xác trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Đảng, tiến tới “giám sát trên dữ liệu”, “kiểm tra trên dữ liệu”. Để các giải pháp trên được thực hiện hiệu quả, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định, hướng dẫn về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ và tiêu chuẩn, chức danh, bổ nhiệm ngạch kiểm tra đảng ở cấp xã, phường phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu phân cấp, phân quyền. Cần thống nhất chương trình, nội dung đào tạo tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ phù hợp với đội ngũ cán bộ kiểm tra đảng cấp xã, phường gắn với thực tiễn công tác theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung trong ngành kiểm tra đảng phù hợp, thống nhất với Quy định số 11-QĐ/UBKTTW, ngày 11-11-2025, của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, về “Quản lý, sử dụng phần mềm cơ sở dữ liệu thống kê ngành kiểm tra Đảng”. Các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện đối với công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; kịp thời cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương thành các chương trình hành động, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Đồng thời, khẩn trương rà soát, đánh giá toàn diện đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị của địa phương làm căn cứ để sắp xếp, bố trí đủ số lượng cán bộ kiểm tra và ủy viên UBKT cấp xã, phường theo quy định. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; nâng cao trình độ lý luận chính trị, tập trung đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ kiểm tra đảng cấp xã, phường đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo Quy định số 350-QĐ/TW, ngày 29-8-2025, của Ban Bí thư, “Về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị”. Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ kiểm tra đảng cấp xã, phường là yêu cầu tất yếu, khách quan, có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh Đảng ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp theo hướng tinh, gọn, mạnh hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Đây là nhiệm vụ quan trọng góp phần phát hiện, cảnh báo sớm các sai phạm, vi phạm, khuyết điểm ngay tại cơ sở, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong tình hình mới./. ------------------------------ (1) Xem: Hà Quốc Trị: “Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong bối cảnh tinh giản biên chế và thực hiện mô hình chính quyền 3 cấp hiện nay”, Tạp chí Cộng sản , số 1075 (tháng 12-2025), tr. 24 (2) Báo cáo về tình hình, kết quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp tháng 10-2025, của Ban Tổ chức Trung ương (3) Báo cáo kết quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII (4) Ngô Thị Thành An: “Chuyển đổi số trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng - Một bước tiến quan trọng”, Trang thông tin điện tử Ủy ban Kiểm tra Trung ương , ngày 9-5-2025, https://ubkttw.vn/danh-muc/nghien-cuu-trao-doi/chuyen-doi-so-trong-cong-tac-kiem-tra-giam-sat-thi-hanh-ky-luat-dang-mot-buoc-tien-quan-trong.html (5) Bao gồm: Kế hoạch số 222- KH/UBKTTW, ngày 24-3-2025, “Về chuyển đổi số ngành Kiểm tra Đảng”; Kế hoạch số 225-KH/UBKTTW, ngày 04-4-2025, của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, “Về giám sát, kiểm tra việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị và Quyết định số 204-QĐ/TW, ngày 29-11-2024, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, “Về phê duyệt đề án chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng” (6) Xem: “Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng năm 2025 và nhiệm kỳ Đại hội XIII”, Trang thông tin điện tử Ủy ban Kiểm tra Trung ương , ngày 25-11-2025, https://ubkttw.vn/danh-muc/tin-tuc-thoi-su/hoi-nghi-toan-quoc-tong-ket-cong-tac-kiem-tra-giam-sat-va-thi-hanh-ky-luat-cua-dang-nam-2025-va-nhiem-ky-dai-hoi-xiii.html (7) Xem: “Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng năm 2025 và nhiệm kỳ Đại hội XIII”, Tlđd
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/1227502/van-hoa-cong-an-nhan-dan-viet-nam--thanh-to-quan-trong-va-dong-luc-phat-trien-cua-nen-van-hoa-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi.aspx
Văn hóa Công an nhân dân Việt Nam: Thành tố quan trọng và động lực phát triển của nền văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
16-03-2026
Vai trò và nội hàm của văn hóa Công an nhân dân Việt Nam trong văn hóa dân tộc
Vai trò và nội hàm của văn hóa Công an nhân dân Việt Nam trong văn hóa dân tộc Văn hóa CAND được hiểu là hệ thống các giá trị, chuẩn mực, truyền thống tốt đẹp hình thành trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của lực lượng CAND. Những giá trị đó thấm nhuần lý tưởng cách mạng, cốt lõi là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân dựa trên phẩm chất kỷ luật, liêm chính và nhân văn. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa mang ý nghĩa phải soi đường cho quốc dân đi. Người đặc biệt quan tâm giáo dục lực lượng CAND về bản sắc văn hóa truyền thống của mình với phương châm “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”. Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang thăm, động viên và tặng quà các thương binh, bệnh binh tại Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Phú Thọ_Ảnh: TTXVN Chủ nghĩa Mác - Lê-nin nhìn nhận văn hóa như một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định bởi cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Trong xã hội có giai cấp, văn hóa mang tính giai cấp; đối với lực lượng vũ trang cách mạng, bản chất giai cấp công nhân chi phối trực tiếp văn hóa và hoạt động của lực lượng ấy. Các nhà kinh điển khẳng định sự ra đời, tồn tại của lực lượng vũ trang luôn gắn với nhà nước và phục vụ lợi ích giai cấp thống trị. Do đó, lực lượng CAND mang bản chất giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là yêu cầu xuyên suốt để xây dựng văn hóa CAND. Sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm cho văn hóa CAND luôn phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Văn kiện Đảng nhiều lần nhấn mạnh, phát triển văn hóa phải gắn chặt với xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trong đó có xây dựng văn hóa trong các tổ chức đảng, văn hóa công vụ và đạo đức công vụ. Gần đây nhất, Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị, “Về phát triển văn hóa Việt Nam” khẳng định: Các giá trị văn hoá phải được gắn kết chặt chẽ, hài hòa, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới. Đối với CAND, một lực lượng vũ trang trọng yếu, việc xây dựng văn hóa càng phải gắn liền với công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng về chính trị, tư tưởng đạo đức, tổ chức và cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: “Công an của ta là Công an nhân dân, vì dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc” (1) , làm công an không phải để làm “quan cách mạng” mà là “đầy tớ của nhân dân” . Nhiệm vụ của CAND trước hết là bảo vệ và phục vụ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền nhân dân . Vì vậy, CAND “thực sự trung thành, tôn kính, thương yêu dân”, luôn ghi nhớ “dân như nước, mình như cá” , phải biết “dựa vào dân, không được xa rời dân”. Trong “Thư gửi đồng chí Giám đốc Công an Khu XII” (tháng 3-1948), Người đã đề ra Sáu điều về tư cách người công an cách mệnh, trở thành chuẩn mực đạo đức định hướng cho văn hóa CAND: Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính. Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ. Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành. Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép. Đối với công việc, phải tận tuỵ. Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo ( 2 ) . Đây là di sản tinh thần vô giá, thể hiện tập trung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng CAND. Đảng ta luôn đề cao nhiệm vụ xây dựng “con người có nhân cách” và “môi trường văn hóa lành mạnh” trong toàn xã hội, trong đó nhấn mạnh văn hóa trong Đảng, trong hệ thống chính trị và văn hóa công vụ. Đối với lực lượng công an, Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an đã ban hành những văn bản chuyên biệt để lãnh đạo công tác này, như Nghị quyết số 05-NQ/ĐUCA, ngày 28-9-2021, về nâng cao chất lượng công tác văn hóa, văn nghệ đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng Công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; Chỉ thị số 14/CT-BCA, ngày 11-9-2014 của Bộ trưởng Bộ Công an về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác văn hóa, văn nghệ CAND trong thời kỳ mới, nhằm cụ thể hóa đường lối văn hóa của Đảng trong lĩnh vực công tác công an, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi mặt hoạt động của lực lượng. Có thể nói, văn hóa CAND là một biểu hiện sinh động của “nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong môi trường lực lượng vũ trang nhân dân. Biểu hiện và giá trị cốt lõi của văn hóa Công an nhân dân Việt Nam trong xây dựng lực lượng, bảo vệ an ninh quốc gia Trải qua thực tiễn hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu, lực lượng CAND đã hun đúc nên nhiều giá trị tốt đẹp cốt lõi của văn hóa CAND. Những giá trị này vừa là kết tinh truyền thống vẻ vang của lực lượng, vừa là phẩm chất cần có để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Thứ nhất, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Đây là yêu cầu bản chất và xuyên suốt, là giá trị cốt lõi tạo nên sức mạnh của CAND. Điều này xuất phát từ quan điểm của Mác - Lê-nin về tính giai cấp của lực lượng vũ trang và từ nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối lực lượng CAND (3) . Mỗi cán bộ, chiến sĩ công an luôn khắc sâu lý tưởng “chỉ biết còn Đảng thì còn mình” , xem sự sống còn của Đảng cũng là lẽ sống của chính mình. Lòng trung thành với Đảng hòa quyện với tinh thần phụng sự Tổ quốc, nhân dân, thể hiện qua lời thề sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Trong lịch sử, lực lượng CAND đã chứng minh phẩm chất trung thành vô hạn đó bằng biết bao chiến công và sự hy sinh anh dũng. Hơn 14.800 liệt sĩ và gần 6.000 thương binh, bệnh binh công an đã ngã xuống hoặc mang thương tật trong sự nghiệp giữ gìn an ninh Tổ quốc (4) . Những con số đó minh chứng rằng văn hóa trung thành, tận hiến vì lý tưởng cách mạng đã ăn sâu vào máu thịt của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ công an, tạo nên bản lĩnh chính trị vững vàng để lực lượng công an luôn “đứng mũi chịu sào” nơi trận tuyến thầm lặng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và cuộc sống bình yên của nhân dân. Thứ hai, tận tụy với công việc và liêm khiết trong đạo đức là những phẩm chất hàng đầu của người công an cách mạng. Ngay trong Sáu điều Bác Hồ dạy, điều đầu tiên đối với tự mình là “phải cần, kiệm, liêm, chính” , đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND luôn nêu cao tinh thần cần cù, gương mẫu, trách nhiệm, không ngừng rèn luyện đạo đức cách mạng, giữ mình trong sạch, không sa ngã trước mọi cám dỗ. Tính liêm chính còn thể hiện ở việc tuyệt đối không lạm dụng quyền lực được giao để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân. Bên cạnh đó, “vì nhân dân phục vụ” là phương châm hành động xuyên suốt, gắn liền với sự tận tụy. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở công an phải “gần dân, hiểu dân, kính trọng, lễ phép với nhân dân” , lấy sự hài lòng, tin yêu của nhân dân làm thước đo hiệu quả công tác. Người chỉ rõ: “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều… giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn” (5) . Thấm nhuần lời dạy đó, CAND luôn dựa vào dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, coi việc giữ gìn an ninh, trật tự cũng là sự nghiệp của toàn dân. Thứ ba, tinh thần nhân văn thấm đượm trong sứ mệnh của lực lượng CAND là bảo vệ cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Bản chất “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ” quy định lực lượng công an phải ứng xử nhân ái, giàu tình người trong quá trình công tác. Nhân văn, nhân ái trước hết thể hiện ở việc công an luôn xuất phát từ lợi ích của nhân dân khi tham mưu với Đảng, Nhà nước về các chủ trương, chính sách bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, “việc gì có lợi cho dân thì kiên quyết làm, việc gì có hại cho dân thì kiên quyết tránh” . Trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tinh thần nhân văn được thể hiện qua quan điểm nghiêm trị kẻ xấu, nhưng đồng thời khoan hồng, giáo dục cải tạo người lầm lỗi để họ có cơ hội hoàn lương. Chính sách xử lý tội phạm của lực lượng Công an nhân dân luôn quán triệt tính nhân văn sâu sắc, trừng trị để răn đe, cảnh tỉnh, nhưng mục đích cao nhất là cứu vớt, cảm hóa người vi phạm trở thành công dân lương thiện. CAND luôn là lực lượng tuyến đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, sẵn sàng dấn thân để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Chúng ta đã chứng kiến nhiều tấm gương cán bộ, chiến sĩ quên mình lao vào vùng lũ, biển lửa cứu dân; hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ xung phong chi viện vào tâm dịch COVID-19 giai đoạn 2021 - 2022, coi việc bảo vệ sức khỏe, an toàn của nhân dân là trên hết (6) . Thứ tư, CAND luôn đề cao văn hóa tôn trọng luật pháp và giữ gìn kỷ luật, kỷ cương nội bộ. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải gương mẫu chấp hành Hiến pháp, pháp luật và điều lệnh CAND, “ sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật ”. Văn hóa CAND đòi hỏi từng cá nhân có ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, chấp hành mệnh lệnh, phục tùng sự phân công để bảo đảm sức mạnh và hiệu quả hành động thống nhất. Như lời thề danh dự CAND đã ghi: “tuân nghiêm kỷ luật, giữ gìn bí mật quốc gia” . Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay, tinh thần thượng tôn pháp luật càng phải được quán triệt sâu sắc trong toàn lực lượng. Ngành công an kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện vi phạm kỷ luật, suy thoái đạo đức trong nội bộ, tăng cường giáo dục, rèn luyện, siết chặt kỷ cương, làm cho các giá trị liêm chính, kỷ luật thấm nhuần trong từng tổ chức và cá nhân, thực sự “trong sạch, vững mạnh” như mục tiêu Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-3-2022, “Về đẩy mạnh xây dựng lực lượng CAND thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới” mà Bộ Chính trị đề ra. Những vấn đề đặt ra đối với xây dựng văn hóa Công an nhân dân Việt Nam trong kỷ nguyên mới Bối cảnh kỷ nguyên mới hiện nay được đặc trưng bởi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực đời sống, trong đó có văn hóa và an ninh. Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị, “Về phát triển văn hóa Việt Nam” chỉ rõ, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, cùng với tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ đang làm thay đổi căn bản các chuẩn mực ứng xử và hệ giá trị văn hóa, đặt ra nhu cầu cấp thiết về định vị quốc gia trong trật tự thế giới mới. Đối với lực lượng CAND, kỷ nguyên số hóa và toàn cầu hóa vừa mở ra cơ hội để hiện đại hóa lực lượng, nâng cao hiệu quả công tác, vừa đặt ra những thách thức mới đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống. Trước hết, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ cao trong hoạt động của ngành công an đang diễn ra mạnh mẽ. Thực hiện chủ trương của Chính phủ về xây dựng Chính phủ số và quốc gia số, Bộ Công an đã ban hành Chương trình chuyển đổi số trong CAND đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 2612/QĐ-BCA, ngày 20-4-2021) để tiên phong áp dụng công nghệ trong các mặt công tác. Công an nhân dân đã trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong nhiều dự án trọng điểm, xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống căn cước công dân gắn chip, triển khai Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg) về ứng dụng dữ liệu dân cư phục vụ chuyển đổi số quốc gia. Việc đi đầu trong cuộc cách mạng số chính là biểu hiện của văn hóa đổi mới, sáng tạo trong CAND, một khía cạnh mới của văn hóa CAND thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Quá trình chuyển đổi số đặt ra yêu cầu về văn hóa công vụ trên không gian mạng, cán bộ, chiến sĩ công an khi làm việc trong môi trường số phải thích ứng với tư duy mới, phương pháp làm việc mới nhưng vẫn giữ chuẩn mực đạo đức, tác phong, ứng xử đúng mực. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế mang đến cả thời cơ lẫn thách thức cho văn hóa và an ninh. Các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng công nghệ cao, các phương tiện truyền thông xã hội để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tung các thông tin xấu độc, xuyên tạc nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của ta một cách tinh vi, nguy hiểm hơn. Trước tình hình đó, văn hóa CAND với tính kiên định, bản lĩnh càng phát huy vai trò như một “rào chắn tự miễn dịch” với các quan điểm sai trái, thù địch. Lực lượng công an đã và đang chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng, văn hóa của Đảng, bảo vệ an ninh văn hóa, tư tưởng, coi đây là một trong những trụ cột quan trọng của Chiến lược An ninh quốc gia thế kỷ XXI. Không những vậy, hội nhập quốc tế yêu cầu người chiến sĩ công an phải có tầm nhìn và hiểu biết rộng hơn về văn hóa, pháp luật quốc tế, phải giữ vững bản sắc, lập trường trong hợp tác đa phương. Thực tế cho thấy lực lượng CAND đã tích cực mở rộng giao lưu, hợp tác về văn hóa với công an, cảnh sát các nước; cử cán bộ tham gia các sứ mệnh quốc tế (như lực lượng gìn giữ hòa bình, phối hợp phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia). Trong quá trình hợp tác quốc tế, văn hóa CAND chính là nền tảng giúp mỗi cán bộ, chiến sĩ tự tin hội nhập với bạn bè quốc tế. Kỷ nguyên mới đặt ra những vấn đề mới về xây dựng lực lượng CAND. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dưới tác động mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập đã len lỏi vào một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ công an. Để phòng ngừa “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ, việc xây dựng văn hóa CAND càng cần được chú trọng như một giải pháp căn cơ. Văn hóa CAND với những giá trị chuẩn mực sẽ tạo nên “sức đề kháng” cho mỗi tổ chức, cá nhân trước cám dỗ và ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài. Đảng ủy Công an Trung ương đã xác định tiếp tục lấy học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy CAND làm kim chỉ nam, nội dung cốt lõi trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng và văn hóa CAND thời kỳ mới; kết hợp chặt chẽ việc xây dựng văn hóa CAND với các phong trào thi đua yêu nước, với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi trọng nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; người chiến sĩ CAND phải giữ vững “tâm trong, trí sáng”, có đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới. Giải pháp phát huy vai trò văn hóa Công an nhân dân Việt Nam trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện đại, đậm đà bản sắc Để văn hóa CAND thật sự trở thành một động lực phát triển của văn hóa dân tộc trong giai đoạn mới, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm giữ gìn, bồi đắp và lan toả hơn nữa những giá trị văn hóa tốt đẹp của lực lượng CAND. Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng bản lĩnh, lý tưởng và đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ công an. Đây là nhiệm vụ “then chốt của then chốt”, bảo đảm cho văn hóa CAND phát triển đúng hướng. Các cấp ủy, tổ chức đảng trong CAND quán triệt sâu sắc và thực hiện thường xuyên Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân Việt Nam như kim chỉ nam trong giáo dục, rèn luyện cán bộ. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn chặt với xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII và XIII và tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Thông qua đó, ngày càng bồi đắp ở mỗi cán bộ, chiến sĩ lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc, nhân dân; tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; ý thức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; sự trong sạch, tận tụy, “danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất”. Đây chính là nền tảng để văn hóa CAND bền vững và lan tỏa. Hai là, nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong xây dựng văn hóa CAND. Người đứng đầu đơn vị phải thật sự là tấm gương sáng về phẩm chất, lối sống, tinh thần trách nhiệm để cấp dưới noi theo. Thực tế cho thấy ở đơn vị nào lãnh đạo gương mẫu, đề cao văn hóa ứng xử thì ở đó kỷ luật, nền nếp tốt, nội bộ đoàn kết, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Do vậy, cấp ủy công an các đơn vị, địa phương cần xác định xây dựng văn hóa CAND vừa là nhiệm vụ tập thể, vừa là trách nhiệm cá nhân của từng đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt. Phát huy vai trò của chi bộ, tổ chức đoàn, hội trong giám sát, nhắc nhở việc tu dưỡng đạo đức, lối sống của hội viên, đoàn viên thanh niên. Kịp thời phát hiện, uốn nắn những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa, đồng thời biểu dương, nhân rộng gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến trong toàn lực lượng. Lực lượng Công an nhân dân bảo đảm an ninh trật tự, sẵn sàng cho ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031_Ảnh: TTXVN Ba là, hoàn thiện các thiết chế, quy tắc nhằm nâng cao văn hóa ứng xử và đạo đức công vụ trong CAND. Cần tiếp tục rà soát, bổ sung các quy định về quy tắc ứng xử, điều lệnh nội vụ phù hợp với tình hình mới, đặc biệt là quy tắc ứng xử của CAND trên môi trường số, các phương tiện truyền thông xã hội. Mỗi đơn vị cần cụ thể hóa các giá trị cốt lõi (trung thành, tận tụy, nhân văn, kỷ cương…) thành những tiêu chí thi đua, nội quy, chuẩn mực hành vi hằng ngày để cán bộ, chiến sĩ dễ nhớ, dễ thực hiện. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành kỷ luật, điều lệnh; kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm tư cách đạo đức, vi phạm kỷ luật để làm gương răn đe, tạo môi trường kỷ cương lành mạnh. Thưởng phạt nghiêm minh, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc về xây dựng đơn vị văn hóa, giữ vững kỷ luật. Các thiết chế văn hóa như nhà truyền thống công an, bảo tàng công an, phòng Hồ Chí Minh, câu lạc bộ, thư viện,… cần được đầu tư và phát huy hiệu quả để vừa phục vụ đời sống tinh thần cán bộ, chiến sĩ, vừa giáo dục truyền thống, bồi đắp lý tưởng cho thế hệ trẻ trong ngành. Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin kết hợp với đổi mới phương pháp giáo dục, tuyên truyền về văn hóa CAND. Trong thời đại số, có thể tận dụng các nền tảng công nghệ để lan tỏa thông điệp, giá trị văn hóa tốt đẹp. Tổ chức nhiều hơn các cuộc thi trực tuyến tìm hiểu lịch sử, truyền thống CAND để cán bộ, chiến sĩ trẻ hào hứng tham gia, vừa học vừa giải trí. Triển khai chuyển đổi số trong công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị, văn hóa ở các học viện, trường công an; ứng dụng E-learning, bài giảng điện tử, phim tài liệu,... giúp nội dung giáo dục truyền thống trở nên sinh động, hấp dẫn. Bên cạnh đó, cần tăng cường sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật về đề tài CAND. Thông qua hình ảnh người chiến sĩ công an trên phim ảnh, sân khấu, âm nhạc một cách chân thực và lay động, những phẩm chất cao đẹp của văn hóa CAND sẽ thấm sâu hơn vào lòng công chúng, nhất là thế hệ trẻ. Việc này góp phần xây dựng “thương hiệu văn hóa” của lực lượng CAND, tạo sự đồng thuận, ủng hộ trong xã hội đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự. Năm là, văn hóa CAND muốn bền vững cần được nuôi dưỡng trong lòng nhân dân và tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Do đó, cần không ngừng củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết của công an với nhân dân, thực hiện tốt phương châm “ở đâu khó, ở đó có công an”. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Khi người dân hiểu, tin yêu và tích cực ủng hộ lực lượng công an, chính họ sẽ trở thành chủ thể cùng xây dựng môi trường văn hóa an ninh, trật tự ngay từ cơ sở. Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập, cần chủ động học hỏi kinh nghiệm xây dựng văn hóa, đạo đức nghề nghiệp từ lực lượng cảnh sát, an ninh các nước tiên tiến, thông qua các chương trình giao lưu, đào tạo, hội thảo quốc tế; tăng cường cử cán bộ công an tham gia các diễn đàn quốc tế về thực thi pháp luật và nhân quyền, gìn giữ hòa bình,... để trau dồi kiến thức, kỹ năng và quảng bá hình ảnh Việt Nam. Chú trọng công tác ngoại giao văn hóa trong CAND. Sự tương tác, hòa nhập một cách tự tin, cầu thị nhưng giữ vững nguyên tắc sẽ giúp văn hóa CAND ngày càng phong phú, phù hợp với chuẩn mực chung nhưng vẫn mang đậm dấu ấn dân tộc. Sáu là, gắn việc phát huy văn hóa CAND với chiến lược xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Mục tiêu của xây dựng văn hóa CAND là đóng góp xây dựng con người và xã hội Việt Nam tốt đẹp hơn, như Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 và Kết luận số 76-KL/TW ngày 4-6-2020, của Bộ Chính trị. Lực lượng công an cần phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành trong hệ thống chính trị để triển khai các chương trình giáo dục pháp luật, đạo đức, lối sống lành mạnh trong cộng đồng. Thông qua hoạt động nghiệp vụ, công an chủ động phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi lệch chuẩn, sản phẩm văn hóa độc hại, tệ nạn xã hội làm băng hoại thuần phong mỹ tục. Tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương đưa tiêu chí an ninh, an toàn vào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, cơ quan, trường học. Khi an ninh, trật tự được bảo đảm, người dân yên tâm lao động, sáng tạo, từ đó các giá trị văn hóa tốt đẹp mới có môi trường thuận lợi để lan tỏa. Bằng chính việc thực hiện tốt chức năng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ gìn bình yên cho xã hội, lực lượng CAND đã góp phần kiến tạo không gian phát triển văn hóa - xã hội cho đất nước, đóng góp vào sự phát triển nền văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập. Như vậy, văn hóa CAND với những giá trị cốt lõi như trung thành, tận tụy, liêm chính, nhân văn, kỷ cương đã hòa quyện trong dòng chảy chung của văn hóa dựng nước, giữ nước của dân tộc. Bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa CAND tiếp tục được Đảng, Nhà nước xác định là động lực nội sinh đặc biệt quan trọng để xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Việc phát huy những giá trị của văn hóa CAND còn góp phần làm sâu sắc hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Văn hóa CAND sẽ tiếp tục là động lực nội sinh thôi thúc mỗi cán bộ, chiến sĩ phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng là “chỗ dựa bình yên” của nhân dân, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong kỷ nguyên mới./. ------------------------- (1), (2), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 498 -499; t. 7, tr. 270 (3) PGS. TS Vũ Trọng Lâm: “Phát huy vai trò của văn hóa trong xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” , Tạp chí Cộng sản điện tử , ngày 18-8-2023, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/828132/phat-huy-vai-tro-cua-van-hoa-trong-xay-dung-luc-luong-cong-an-nhan-dan-viet-nam-that-su-trong-sach%2C-vung-manh%2C-chinh-quy%2C-tinh-nhue%2C-hien-dai.aspx (4) “Công an nhân dân - “Thanh bảo kiếm”, “lá chắn thép” bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân: Bài 2: Dựa vào dân, vì bình yên, hạnh phúc của nhân dân”, Cổng Thông tin điện tử Công an thành phố Hải Phòng , ngày 13-8-2025, https://congan.haiphong.gov.vn/Tin-hoat-dong-cua-CATP/Vi-An-ninh-To-quoc/Cong-an-nhan-dan---Thanh-bao-kiem-la-chan-thep-bao-ve-Dang-Nha-nuoc-va-nhan-dan-Bai-2-Dua-vao-dan-vi-binh-yen-hanh-phuc-cua-nhan-dan-173646.html (6) Trung tướng, PGS. TS Trần Quốc Tỏ: “Xây dựng văn hóa Công an nhân dân theo Sáu điều Bác Hồ dạy về Tư cách người Công an cách mệnh” , Cổng Thông tin điện tử Đại học An ninh nhân dân, https://dhannd.bocongan.gov.vn/xay-dung-van-hoa-cong-an-nhan-dan-theo-sau-dieu-bac-ho-day-ve-tu-cach-nguoi-cong-an-cach-menh-a-1764
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1223402/he-gia-tri-co-ban-cua-van-hoa-viet-nam-va-goc-nhin-tu-ly-thuyet-he-thong-sinh-thai-phat-trien-con-nguoi.aspx
Hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam và góc nhìn từ lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người
04-03-2026
1- Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng ta về văn hóa và việc xây dựng hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam
Tổng Bí thư Tô Lâm với đại biểu và học sinh, sinh viên, thanh niên dân tộc thiểu số xuất sắc, tiêu biểu đại diện cho tuổi trẻ các dân tộc thiểu số trên khắp mọi miền Tổ quốc_Nguồn: nhandan.vn 1- Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng ta về văn hóa và việc xây dựng hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (1) . Năm 1945, ngay sau “ Tuyên ngôn độc lập ”, trong “ Thư gửi cho học sinh nhân ngày khai trường ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh việc xây dựng “một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em... Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (2) . Năm 1955, sau khi hòa bình vừa được lập lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư “ Gửi các em học sinh ” (ngày 24-10-1955), trong đó chỉ rõ yêu cầu giáo dục “thể, trí, mỹ, đức”: “Đối với các em, việc giáo dục gồm có: - Thể dục : Để làm cho thân thể mạnh khỏe, đồng thời cần giữ gìn vệ sinh riêng và vệ sinh chung. - Trí dục : Ôn lại những điều đã học, học thêm những tri thức mới. - Mỹ dục : Để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp. - Đức dục : Là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu trọng của công (5 cái yêu)” (3) . Quan điểm xuyên suốt của Đảng ta về văn hóa là xây dựng nền văn hóa mới với hệ giá trị cơ bản phản ánh nội dung, tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng. Đến năm 1976, Đảng ta chủ trương “xây dựng nền văn hóa mới” (4) , “con người xã hội chủ nghĩa” (5) , “xây dựng một bước nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong cả nước, đặt nền móng cho sự nghiệp công nghiệp hóa nước nhà” (6) . Chủ trương xây dựng nền văn hóa mới “quá trình xây dựng, vun đắp những tư tưởng đúng, những tình cảm lành mạnh, những phong tục, tập quán tốt đẹp; đồng thời là quá trình đấu tranh không khoan nhượng chống tư tưởng tư sản, phê phán tư tưởng tiểu tư sản, quét sạch ảnh hưởng của văn hóa thực dân, phong kiến, những nhân tố lạc lậu trong đời sống văn hóa của các hội ta” (7) . Năm 1982, hệ giá trị cơ bản của văn hóa mới, con người mới được xác định là một hệ thống kế thừa giá trị của văn hóa truyền thống, như yêu nước, dân chủ, bình đẳng “Thương nước - thương nhà, thương người - thương mình” và hình thành, phát triển giá trị “làm chủ tập thể” của văn hóa mới, hiện đại. Nghị quyết Đại hội VI (năm 1986) nhấn mạnh xây dựng hệ giá trị cơ bản bao gồm dân chủ, nhân đạo, chủ nghĩa anh hùng, kỷ cương pháp luật và nguyên tắc “mọi người sống và làm việc theo pháp luật”. Hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam được xây dựng trên cơ sở phát huy giá trị của văn hóa truyền thống dân tộc và tiếp biến giá trị tiến bộ của văn hóa thế giới. Báo cáo chính trị tại Đại hội VII (năm 1991) chủ trương “Tiếp tục xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa Việt Nam, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” (8) . Nghị quyết Đại hội VIII (năm 1996) đề ra quan điểm định hướng “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” (9) . Quan điểm nhấn mạnh: “Xây dựng văn hóa là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Có chính sách đầu tư thích đáng cho văn hóa, văn nghệ. Phát triển các hoạt động văn hóa, văn nghệ của Nhà nước, tập thể và cá nhân theo đường lối của Đảng và sự quản lý của Nhà nước” (10) . Mục tiêu là xây dựng hệ giá trị cơ bản của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hình thành giá trị mới phù hợp với văn hóa truyền thống và yêu cầu của thời đại. Cách thức là nâng cao mức sống văn hóa, mức hưởng thụ văn hóa; đồng thời, đấu tranh chống sự xâm nhập của sản phẩm văn hóa độc hại. Sau 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội (1991 - 2000) và 15 năm đổi mới, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đánh giá kinh tế, văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện và tình trạng đói nghèo căn bản được giảm bớt. Một trong những thành tựu cơ bản, quan trọng gắn với xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam được ghi nhận và đánh giá cao là việc cả nước hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học. Tuy nhiên, Nghị quyết nhận định: “Một số giá trị văn hóa và đạo đức xã hội suy giảm”. Đây có thể là hệ quả từ tác động mặt trái của cơ chế thị trường, của toàn cầu hóa, từ sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, miền, giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư tăng nhanh chóng; khuynh hướng “thương mại hóa” trong giáo dục, văn hóa... Trước tình hình này, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII tại Đại hội IX của Đảng định hướng “Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng - an ninh” (11) . Điều này tiếp tục đặt nền móng cho việc hình thành hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được nêu ra năm 1996, đến năm 2001 được tiếp tục xác định vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách với những giá trị cơ bản là tinh thần yêu nước, tự lực, tự cường trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm 2006, “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” được xác định là đặc trưng thứ tư trong tám đặc trưng của “xã hội xã hội chủ nghĩa” (12) mà nhân dân ta xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được xác định là “nền tảng tinh thần của xã hội”. Quan điểm định hướng của Đảng là tiếp tục “phát triển kinh tế đi liền với phát triển văn hóa - xã hội”; đồng thời, trước yêu cầu của phát triển và biến đổi xã hội, Đảng chủ trương tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự điều chỉnh, bổ sung giá trị văn hóa có thể thấy qua một số ví dụ cụ thể, như trường hợp điều chỉnh, bổ sung giá trị văn hóa gia đình Việt Nam: Mô hình gia đình Việt Nam với “xây dựng gia đình văn hóa mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình” năm 1986 được điều chỉnh thành mô hình gia đình với hai giá trị “ấm no, hạnh phúc” năm 1991; mô hình gia đình có bốn giá trị có tính kế thừa và phát triển mới là gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc” được xác định rõ trong Nghị quyết Đại hội VIII (năm 1996) và đến xây dựng mô hình gia đình với giá trị mới bao gồm “ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo” năm 2011. Năm 2011, Đại hội XI của Đảng chỉ rõ, cùng với những thành tựu to lớn đã đạt được trong kinh tế, văn hóa và xã hội, văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế; môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại; phân hóa xã hội tăng lên. Do vậy, cần đưa văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống, thể hiện cụ thể trong sinh hoạt, công tác, quan hệ hằng ngày của cộng đồng và từng con người, tạo sức “đề kháng” đối với sản phẩm văn hóa độc hại. Từ đây đặt ra vấn đề “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” (13) . Năm 2016, Đại hội XII của Đảng tiếp tục định hướng phải gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa. Đặc biệt, mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam được gắn với xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội cần được gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh cần được gắn kết chặt chẽ với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Năm 2021, Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ mới là tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa; bảo vệ và phát huy giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại; có kế hoạch, cơ chế và giải pháp xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa; xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng hiệu quả các giá trị và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới. Trao truyền các giá trị văn hóa cho thế hệ mai sau_Ảnh: Tư liệu 2- Sự phát triển hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam từ góc nhìn của lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người Giá trị chân - thiện - mỹ được nhiều nghiên cứu chỉ ra là đích đến của giá trị văn hóa. Về sự phát triển hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam, một số tác giả đưa ra các hệ “cặp” giá trị văn hóa Việt Nam phản ánh tác động của quá trình đổi mới, phát triển đất nước và biến đổi xã hội từ năm 1986 đến nay. Đó là các “cặp” giá trị văn hóa trong mối quan hệ văn hóa “cá nhân” và “xã hội”, bao gồm “dân chủ và pháp quyền”; “nhân ái và yêu nước”; “trung thực và bản lĩnh”; “trách nhiệm và hợp tác”. Một số tác giả đề xuất mô hình “Hệ năm giá trị văn hóa” thể hiện ở hành vi ứng xử của con người Việt Nam, bao gồm “yêu nước, trách nhiệm, kỷ luật, sáng tạo, trung thực” và thêm hai giá trị “đoàn kết, nhân ái” thành mô hình “Hệ bảy giá trị”, bao gồm “yêu nước, trách nhiệm, kỷ luật, sáng tạo, trung thực, đoàn kết, nhân ái”... Nhiều cách tiếp cận được đưa ra để làm rõ sự hình thành, biểu hiện và phát triển hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam, trong đó có lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người. Từ góc độ tiếp cận theo lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người (14) , hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam được định hình, thể hiện và phát triển trong mọi mặt đời sống của con người dưới tác động của các yếu tố thuộc dòng chảy phát triển và biến đổi xã hội trên các hệ thống từ cấp độ vi mô đến cấp độ vĩ mô (Hình 1). Từ góc độ nhìn nhận, phân tích trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái phát triển con người, việc hình thành hệ giá trị văn hóa Việt Nam cần được nghiên cứu toàn diện trên cả góc độ vĩ mô, trung mô, bên ngoài và vĩ mô. Cụ thể, có thể hình dung trên cấp độ cá nhân của sự phát triển con người, hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam chịu tác động của dòng phát triển tâm lý xã hội của mỗi cá nhân từ lứa tuổi dưới 16, lứa tuổi 16 - 60 và từ đủ 60 tuổi trở lên. Hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam có thể biểu hiện, hình thành và phát triển với đặc trưng, đặc thù phù hợp với từng lứa tuổi. Đồng thời, hệ giá trị cơ bản này chịu tác động từ điều kiện sinh sống của cá nhân trong hệ thống sinh thái vi mô dưới hình thức trực tiếp nhất là “gia đình”, cụ thể là văn hóa gia đình Việt Nam. Trước tác động của dòng chảy phát triển và biến đổi xã hội, mô hình gia đình Việt Nam từng bước được điều chỉnh, bổ sung giá trị mới, chuyển từ mô hình gia đình ấm no, hạnh phúc trước năm 1996 đến mô hình gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh hiện nay. Đồng thời, hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam chịu tác động của dòng chảy phát triển hệ thống sinh thái trung mô dưới hình thức trực tiếp nhất là trường học đối với trẻ em, nơi làm việc đối với người lớn và các tổ chức mà cá nhân tham gia với tư cách thành viên. Đối với trẻ em, thiếu niên và thanh niên đang đến trường, hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam chịu tác động của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và sự biến đổi, phát triển của các tổ chức mà học sinh, sinh viên là thành viên, bao gồm Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam, câu lạc bộ của học sinh, sinh viên. Biểu hiện rõ nhất của hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam đối với học sinh phổ thông trước tác động của dòng chảy phát triển và biến đổi xã hội trong lĩnh vực giáo dục là giá trị học vấn được nâng lên, giá trị công bằng về cơ hội giáo dục được mở rộng. Đối với học sinh phổ thông, từ năm 2013 đến 2018, theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, một trong những nhiệm vụ, giải pháp hàng đầu là đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề; tập trung vào giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Từ năm 2018 đến nay, chương trình giáo dục phổ thông đã đề cập phẩm chất (những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người) và năng lực cốt lõi (năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần có để sống, học tập và làm việc hiệu quả), yêu cầu cần đạt với “Năm phẩm chất chủ yếu” và “Mười năng lực cốt lõi” để hình thành, phát triển cho học sinh phổ thông. “Năm phẩm chất chủ yếu” là “yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm” và “Mười năng lực cốt lõi”, bao gồm ba năng lực chung là “năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo”. “Bảy năng lực đặc thù” là “năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất” (15) . Hệ thống “Năm phẩm chất chủ yếu” và “Mười năng lực cốt lõi” có thể trở thành mục tiêu của việc hình thành, phát triển hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam trong chương trình giáo dục mầm non, đồng thời có thể trở thành nền tảng cho việc hình thành, phát triển hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam trong chương trình giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Từ góc độ nghề nghiệp, giới, hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam cần được nghiên cứu dưới góc độ xây dựng chuẩn mực văn hóa trong từng giai cấp, giới, nhóm xã hội... Ví dụ, đối với hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bộ “Bốn giá trị”, bao gồm “tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” trở thành một bộ phận cấu thành của hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam. Hệ thống bên ngoài được hiểu là một hay hơn một môi trường, khung cảnh không thu hút sự tham gia tích cực của cá nhân, nhưng môi trường, khung cảnh đó có ảnh hưởng hay bị ảnh hưởng bởi khung cảnh bao chứa cá nhân đang phát triển. Ví dụ, một hệ thống bên ngoài của trẻ em có thể là nơi làm việc của cha mẹ hay lớp học của anh, chị của trẻ em đó hoặc hoạt động của cơ quan, tổ chức khác. Môi trường, khung cảnh này không trực tiếp có sự tham gia tích cực của trẻ em, nhưng thay đổi trong khung cảnh đó đều bị ảnh hưởng và có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em. Người lớn cũng có thể bị ảnh hưởng bởi hệ giá trị của văn hóa trong nước và thế giới với nhiều mức độ, tính chất khác nhau từ bên ngoài, nhất là từ mạng xã hội. Việc xây dựng văn hóa trong hệ thống bên ngoài tạo thành môi trường văn hóa lành mạnh cho việc hình thành, phát triển hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và biến đổi xã hội. Hệ thống vĩ mô từ góc nhìn lý thuyết các hệ thống sinh thái phát triển con người là hệ thống tổng hòa các hệ thống vi mô, hệ thống trung mô và hệ thống bên ngoài, thể hiện rõ nhất qua nội dung khái niệm “nền văn hóa”, “nền kinh tế”, “hệ thống giáo dục quốc dân” và hệ thống pháp luật, chính sách bao trùm mọi mặt đời sống xã hội của con người. Trên cấp độ vi mô , hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam chịu tác động của sự biến đổi hệ thống phân tầng xã hội, bao gồm các giai tầng xã hội, mối liên hệ, quan hệ xã hội giữa các giai tầng xã hội, tổ chức và cộng đồng xã hội. Ví dụ, cùng với sự phân hóa xã hội về mặt kinh tế là sự phân hóa xã hội về hệ giá trị cơ bản của văn hóa, trong đó xuất hiện giá trị mới theo hướng khuyến khích làm giàu chính đáng đi đôi với việc xóa đói, giảm nghèo, rõ nhất là vừa cạnh tranh, vừa hợp tác. Rõ ràng, trước yêu cầu của đổi mới đất nước từ nền kinh tế theo cơ chế tập trung, mệnh lệnh hành chính sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam cũng thích ứng, phù hợp với biến đổi kinh tế, xã hội, đồng thời được định hướng phát triển thông qua việc Nhà nước sử dụng thể chế, luật pháp, nguồn lực, công cụ điều tiết, chính sách phân phối và phân phối lại để phát triển văn hóa./. ---------------------- (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 458 (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd , t. 3, tr. 413 (3) Hồ Chí Minh: “Gửi các em học sinh (24-10-1955)”, Báo Nhân dân , số 600, ngày 24-10-1955, https://hochiminh.nhandan.vn/gui-cac-em-hoc-sinh-495.html (4), (5), (6), (7) Văn kiện Đảng toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t. 37, tr. 501, 501, 507, 501 (8) Văn kiện Đảng toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t. 51, tr. 113 (9) Văn kiện Đảng toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, t. 55, tr. 391 (10) Xem: Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-viii/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-vii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-viii-cua-dang-1549 (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 89 (12) Tám đặc trưng, đó là: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới” (13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 223 (14) Trong góc độ bài viết, hệ thống sinh thái phát triển con người là các hệ thống sinh thái vi mô, hệ thống trung mô, hệ thống bên ngoài và hệ thống vĩ mô phát triển con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập thế giới, chuyển đổi số (15) Xem: Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Chương trình giáo dục phổ thông: Chương trình tổng thể” (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26-12-2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), Hà Nội, 2018
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/xay-dung-ang2/-/2018/1227002/duoi-co-dang-quang-vinh%2C-vung-buoc-tien-manh-vao-ky-nguyen-moi.aspx
XÃ LUẬN: Dưới cờ Đảng quang vinh, vững bước tiến mạnh vào kỷ nguyên mới
16-03-2026
null
Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập, là một mốc son chói lọi, bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Mới ra đời, toàn Đảng chỉ có 565 đảng viên (1) , bị kẻ địch vây ráp, khủ ng bố, đàn áp hết sức dã man. Chúng tắm phong trào cách mạng trong bể máu. Từ năm 1931 đến năm 1942, bốn đồng chí Tổng Bí thư của Đảng lần lượt hy sinh anh dũng; rất nhiều đồng chí Ủy viên Trung ương, xứ ủy viên, hàng nghìn đảng viên bị địch bắt, tù đày, giết hại. Trong tình thế “nghìn cân treo sợi tóc”, lời căn dặn “giữ vững chí khí chiến đấu” (2) thôi thúc đồng chí, đồng bào bền gan quyết chí đấu tranh không ngừng. Những người đảng viên đã đặt lợi ích của Đảng, của giai cấp, của nhân dân lên trên hết, trước hết, tới hơi thở cuối cùng “vẫn một lòng tin tưởng ở thắng lợi vẻ vang của cách mạng” (3) . “Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay” (4) . Được trui rèn trong gian khổ, với lý tưởng cách mạng dẫn đường, ngay khi còn trong trứng nước, Đảng ta đã vượt qua muôn vàn thử thách khắc nghiệt, lãnh đạo các cao trào cách mạng, tích lũy nhiều bài học kinh nghiệm quý để sớm trưởng thành. Tổng Bí thư Tô Lâm cùng đoàn công tác trung ương thăm Khu Di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó (xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng)_Ảnh: TTXVN Mười lăm tuổi, chỉ với gần 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám long trời lở đất, để “lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc” (5) . Sự kiện trọng đại này đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nước ta từ “xứ thuộc địa”, dân ta từ thân phận “vong quốc nô” trở thành nước độc lập, nhân dân tự làm chủ vận mệnh của mình. Hai tư tuổi, Đảng lãnh đạo nhân dân “Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ, Tre đã thành chông, sông là sông lửa” (6) giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu” (7) - một trong những chiến công hiển hách nhất, vang dội nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, đồng thời gióng lên hồi chuông cáo chung chủ nghĩa thực dân cũ đã tồn tại hàng trăm năm trên phạm vi thế giới. Bốn lăm tuổi, với 1,5 triệu đảng viên, Đảng lãnh đạo “Cả Việt Nam tiến công, cả miền Nam nổi dậy, Dồn dập tim ta, trăm trận thắng bừng bừng” (8) , trường kỳ và gan góc đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược, kết thúc bằng Đại thắng mùa Xuân năm 1975 vĩ đại - đỉnh cao trí tuệ, sức mạnh và bản lĩnh của Đảng, của dân tộc - thu giang sơn về một mối, hoàn thành đại nghiệp giải phóng dân tộc, mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Sau ngày thống nhất, đất nước khó khăn mọi bề, yêu cầu cấp bách của thời đại đặt ra: “Đổi mới hay là chết”! Đảng đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, chỉ rõ những sai lầm về chủ trương, chính sách, chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện, từ đó khởi xướng công cuộc đổi mới. Quyết định mang tính bước ngoặt của lịch sử này thể hiện bản lĩnh chính trị, tinh thần cầu thị và năng lực tự cách mạng mạnh mẽ của Đảng cầm quyền. Cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô-viết sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, gây “cơn địa chấn chính trị” trên thế giới; đất nước ta bị bao vây, cấm vận. Đảng vẫn vững vàng trước cơn sóng dữ, luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lãnh đạo đất nước, nhân dân vượt qua khó khăn, thử thách. Bản lĩnh chính trị của Đảng trở thành yếu tố có ý nghĩa sống còn đối với việc giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tồn vong của chế độ vào thời điểm đó. “Kinh qua bao nhiêu cơn sóng gió, bao nhiêu bước khó khăn, càng nhiều gian nan, Đảng ta càng nhiều rèn luyện, càng thêm vững chắc và rộng lớn” (9) . Qua 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề để chúng ta đã đủ thế và lực, đã đủ ý chí và quyết tâm bước vào kỷ nguyên mới. “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”, được tôi luyện trong muôn vàn thử thách gian lao, với lý tưởng cách mạng dẫn đường, Đảng ngày càng trưởng thành, kết tinh và chung đúc những tố chất của một đảng vô sản kiểu mới, dạn dày kinh nghiệm để lãnh đạo con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh, phong ba bão táp. * Chín sáu mùa xuân ra đời, đồng hành cùng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam không quên sứ mệnh ban đầu từ ngày lập Đảng, một lòng, một dạ chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì tiến bộ của loài người. Mùa xuân thứ 96 Đảng ra đời, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cũng là mùa xuân ghi dấu Đại hội XIV của Đảng được tổ chức thành công rất tốt đẹp, đất nước chính thức bước vào kỷ nguyên mới. Đại hội là mốc son mở ra chương phát triển mới của dân tộc, vạch ra những quyết sách trọng đại để đất nước vươn lên, nhất là thực hiện thành công “hai mục tiêu 100 năm”. Đây không chỉ là những chỉ tiêu kinh tế thuần túy, mà là sự kết tinh của khát vọng phát triển dân tộc, là lời cam kết chính trị của Đảng trước nhân dân và trước lịch sử. Đại hội không chỉ dừng lại ở việc xác định mục tiêu cho một nhiệm kỳ, mà định hình tư duy phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới và kiến tạo nền tảng thể chế cho cả một chặng đường dài của dân tộc đến giữa thế kỷ XXI. Đại hội XIV của Đảng là đại hội của hành động. Văn kiện Đại hội XIV là bản thiết kế chiến lược cho tương lai phát triển của đất nước, là lời hiệu triệu giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc, là cam kết đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt và sâu rộng về tư duy phát triển, quản trị quốc gia, mô hình tăng trưởng và năng lực tổ chức thực hiện. Trong những thời điểm mang tính bước ngoặt, bản lĩnh, trí tuệ của Đảng một lần nữa phát huy cao độ để quyết định và chịu trách nhiệm với các quyết sách lớn đối với vận mệnh của đất nước, của dân tộc; nắm vững quy luật phát triển và vận dụng sáng tạo nghệ thuật nắm bắt thời cơ cách mạng. Thời cơ cách mạng đã đến! Nếu chậm trễ, để lỡ là có lỗi với đất nước, với nhân dân. Không được phép để sự yếu kém của bất kỳ tổ chức và con người nào làm chậm bước tiến của quốc gia; chậm trễ trong tổ chức thực hiện không chỉ làm lãng phí nguồn lực, mà còn làm giảm tốc và đánh mất thời cơ phát triển của đất nước. “Thu hẹp khoảng cách từ nghị quyết đến kết quả thực chất chính là thước đo bản lĩnh lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đó cũng là tiêu chuẩn để lịch sử đánh giá thế hệ cán bộ, đảng viên hôm nay bằng những thành tựu phát triển mà đất nước đạt được, bằng những giá trị thiết thực mà nhân dân được thụ hưởng và bằng niềm tin yêu của nhân dân đối với Đảng” (10) . Bối cảnh lịch sử dân tộc Việt Nam với yêu cầu giành độc lập dân tộc, dẫn dắt phong trào cách mạng đã dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, đến lượt mình, Đảng đáp lại yêu cầu của lịch sử dân tộc. Tiếng gọi của non sông, tiếng lòng mong mỏi của người dân thôi thúc Đảng ta, giục giã những người đảng viên quyết tâm lập nên những kỳ tích làm rạng rỡ đất nước trong thế kỷ XXI. * Chín sáu mùa xuân, với hơn 5,6 triệu đảng viên, lực lượng không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, Đảng ta vững mạnh và tự tin dẫn dắt dân tộc tiến vào kỷ nguyên mới, với tinh thần tiến công cách mạng mới. Đảng ta vững mạnh vì được vũ trang lý luận tiền phong, luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, đồng thời phù hợp với thực tiễn Việt Nam, với mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Năng lực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận ngày càng trưởng thành là thước đo phản ánh rõ nhất trình độ trí tuệ và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Việc tổng kết 100 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, hướng tới tầm nhìn 100 năm tiếp theo giúp Đảng ta tiếp tục đúc rút và làm rõ thêm các quy luật vận động, phát triển của cách mạng Việt Nam, làm sáng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; không ngừng nâng tầm và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Đảng ta vững mạnh vì mỗi bước phát triển của Đảng sống trong lòng dân tộc, với tư cách là “đứa con nòi” xuất thân từ giai cấp công nhân và nhân dân lao động, gắn bó mật thiết với nhân dân. “Dân là gốc” là thước đo cao nhất của mọi quyết sách. Đảng không có mục đích tự thân ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc. Đảng ra đời từ quá trình cách mạng của quần chúng và trưởng thành trong quá trình lãnh đạo nhân dân. Đảng sinh ra trong lòng nhân dân; nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là cơ sở chính trị - xã hội của Đảng cầm quyền, mà chính sợi dây gắn bó “máu thịt” với nhân dân còn là mạch nguồn nuôi dưỡng cho sự tồn tại của Đảng, sự trường tồn của chế độ chính trị. Mối quan hệ “máu thịt” giữa Đảng với nhân dân, niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ ta là cội nguồn sức mạnh, giá trị cốt lõi và động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam. Song, “niềm tin của nhân dân đối với Đảng không đến từ lời nói, mà đến từ việc làm, từ sự công tâm, liêm chính của cán bộ, từ hiệu quả của bộ máy, từ sự công bằng trong thụ hưởng, từ kết quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết kịp thời, thấu đáo những bức xúc chính đáng của người dân, doanh nghiệp”(11). Đối với một đảng mác-xít chân chính, “hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ” (12) . Nhân dân là người khai sơn, phá thạch, tạc nên dáng hình đất nước, làm nên lịch sử dân tộc, sức dân là sức mạnh vô địch. “Lòng dân là quốc bảo”, Đảng phải tuyệt đối giữ gìn! Đảng ta vững mạnh vì Đảng ta không ngừng tự cách mạng và tự chỉnh đốn, để Đảng là một thực thể chính trị hội tụ lương tâm, phẩm giá đạo đức trong sáng, ưu tú về trí tuệ, bản lĩnh, năng lực cầm quyền, xứng đáng với vai trò lãnh đạo trong kỷ nguyên mới. Đảng cần thực hành nền chính trị liêm khiết, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Tóm lại chính trị là: 1. Đoàn kết. 2. Thanh khiết từ to đến nhỏ” (13) . Ngăn chặn mối đe dọa đối với sự tồn vong của chế độ từ tình trạng tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, suy thoái, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đạo đức không phải tự nhiên mà có, mà phải do rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà nên, “như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Suốt đời rèn luyện đạo đức cách mạng là bài học cốt tử của Đảng cầm quyền, của mỗi đảng viên; trí tuệ sáng suốt phải có bệ đỡ của đạo đức trong sáng và ngược lại. Đảng ta “là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (14) vì Đảng biết hổ thẹn với lương tâm khi chưa làm tròn nhiệm vụ, biết xấu hổ khi dân còn khó khăn, nghèo đói, không giấu giếm khuyết điểm của mình, mà có gan thừa nhận, rồi nghiêm khắc sửa chữa, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình. Đảng ngăn chặn những nguy cơ của một đảng cầm quyền, nhất là nguy cơ chủ quan, tự mãn, “kiêu ngạo cộng sản”, quan liêu, xa dân. Mở rộng dân chủ trong Đảng là con đường đúng đắn nhất để mở rộng thực hành dân chủ trong xã hội ngày càng thực chất và rộng rãi. Đảng phải mở rộng lòng mình, thực sự là biểu tượng về dân chủ, mới lắng nghe và thấu tỏ lòng người bao la, mới thâu thái cho hết được trí tuệ rộng rãi của nhân dân, nhất là người tài trong và ngoài Đảng, trong và ngoài nước, cùng có lòng vun đắp xây Đảng ngày càng vững mạnh. * Chín sáu năm qua là bản hùng ca ngời sáng của trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng độc lập, tự do; là hành trình Đảng ta kiên định mục tiêu, lý tưởng, gắn bó “máu thịt” với nhân dân, tự đổi mới, tự chỉnh đốn, lãnh đạo dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Từ năm 1930 tới nay, Đảng xuất hiện, “đứng mũi chịu sào” trước lịch sử và gánh vác trọng trách nhân dân giao phó là hợp quy luật phát triển, hợp lòng dân và hợp với xu thế của thời đại. Thực tiễn đó đã khẳng định chân lý: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ năng lực, bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm và uy tín để lãnh đạo đất nước; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trên bước đường hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, như những giai đoạn cam go đã qua trong 96 năm lịch sử cách mạng Việt Nam, chúng ta sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức to lớn phía trước, từ cả bên trong và bên ngoài. Song, với một Đảng cách mạng chân chính, dạn dày kinh nghiệm lãnh đạo, thực sự “là đạo đức, là văn minh”, cả dân tộc “Vững bước dưới cờ Đảng”, “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”, những kỳ tích trong thế kỷ XXI đang chờ chúng ta phía trước. Tinh thần hành động quyết liệt, nói đi đôi với làm, làm đến nơi đến chốn của Đại hội XIV đang lan tỏa rộng rãi và thẩm thấu đến từng tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân. Cả hệ thống chính trị đang có những chuyển động mạnh mẽ, vận hành với tinh thần mới, vận tốc mới, nhằm tạo ra những động lực mới, hiệu năng mới, sinh lực mới, kết quả mới cho nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước. Sắc Xuân đã về trên mỗi góc phố, nẻo đường, mỗi ngôi nhà trên Tổ quốc thân yêu của chúng ta. Xuân cũng rạng ngời trên mỗi khuôn mặt người Việt Nam đang tự hào về đất nước bước vào kỷ nguyên mới, tự hào về Đảng ta quang vinh, vững niềm tin vào tương lai thịnh vượng, hạnh phúc của đất nước, của nhân dân./. TẠP CHÍ CỘNG SẢN ------------------- (1) Văn kiện Đảng toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, t.4, tr.409 (2) Lời nhắn gửi cuối cùng của đồng chí Tổng Bí thư Trần Phú trước lúc hy sinh (3) Lời nhắn gửi cuối cùng của đồng chí Tổng Bí thư Lê Hồng Phong trước lúc hy sinh (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t. 6, tr. 159 - 160 (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 26 (6) Câu thơ trong bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” của nhà thơ Tố Hữu (7) Câu thơ trong bài thơ “Ta đi tới” của nhà thơ Tố Hữu (8) Câu thơ trong bài thơ “Toàn thắng về ta” của nhà thơ Tố Hữu (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 6, tr. 5 (10) GS, TS Tô Lâm: “Thống nhất ý chí và hành động, chuyển hóa tinh thần và tầm vóc của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng thành hành động thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân”, Tạp chí Cộng sản , số 1078, tháng 1-2026, tr. 88 (11) GS, TS Tô Lâm, “Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử , ngày 20-1-2026, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/ V8hhp4dK31Gf/content/bao-cao-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-cua-dang-cong-san-viet-nam (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 12, tr. 402 (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 5, tr. 75 (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 5, tr. 301
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/821403/ngay-bac-ho-tro-ve-nuoc-%2828-1-1941%29---thoi-khac-lich-su-vo-cung-trong-dai-doi-voi-tien-trinh-lich-su-ve-vang-cua-dan-toc---sau-80-nam-nhin-lai.aspx
Ngày Bác Hồ trở về nước (28-1-1941) - Thời khắc lịch sử vô cùng trọng đại đối với tiến trình lịch sử vẻ vang của dân tộc - Sau 80 năm nhìn lại
28-01-2021
2 . Sự kiện Bác Hồ trở về Tổ quốc (1-1941) trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5-1941) cho thấy tầm nhìn chiến lược của vị lãnh tụ thiên tài, đã tạo ra bước ngoặt to lớn của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Trong những năm tháng đầy cam go, hiểm nguy, thử thách, với khát vọng cháy bỏng giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã về nước với những hoạt động khẩn trương, tích cực và đầy sáng tạo cùng với Trung ương Đảng đưa ra những quyết sách nhằm thúc đẩy bánh xe lịch sử của cách mạng Việt Nam phù hợp với xu thế tiến bộ của lịch sử. Như một tờ báo nước ngoài đã nhận định về Người: “Con người đó đã đóng một vai trò lịch sử vô cùng to lớn trong vòng hơn 50 năm nay. Người đã làm lay chuyển hệ thống thực dân. Người đã góp phần biến đổi bản đồ thế giới. Người đã đẩy bánh xe lịch sử theo hướng tiến bộ” (11) .
1. Từ những năm đầu của thế kỷ XX, khi đất nước đang chìm đắm trong đêm tối của chế độ thuộc địa, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã khát vọng cháy bỏng: “Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài” (1) , để tìm con đường cứu nước, cứu dân. Với nhiệt huyết cứu nước, trí tuệ thiên tài, nhãn quan chính trị sắc bén và được kế thừa các giá trị yêu nước truyền thống của dân tộc Việt Nam, sau gần 10 năm khi rời bến cảng Nhà Rồng tìm đường cứu nước (1920), Người đã đến được với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, khẳng định đi theo con đường cách mạng vô sản để giải phóng dân tộc, đưa lại hạnh phúc cho nhân Dân. Đó là sự kiện tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp (tháng 12-1920), Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế thứ ba (Quốc tế Cộng sản do Lê-nin thành lập). Đây cũng là sự kiện Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam, đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc, từ lập trường yêu nước chuyển sang lập trường cộng sản. Sự kiện đó cũng mở ra cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam một giai đoạn phát triển mới - “giai đoạn gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin” (2) . Từ đây, Người trăn trở tìm đường về nước để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin về Việt Nam. Do vậy, năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã viết Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, là: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” (3) . Đó là mục đích và khát vọng của Người khi ra đi tìm con đường cứu nước. Nhưng trên thực tế, những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đã bị chính quyền thực dân theo dõi, kiểm soát gắt gao, như trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “ Đã hai lần tôi cố gắng về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra vụ An Nam “Quốc dân Đảng” (4) ( Cuộc Khởi nghĩa Yên Bái của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng - TG )”. Ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí của mình vượt qua mốc 108 biên giới Việt Nam - Trung Quốc về đến Pác Bó (xã Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng)_Ảnh: TTXVN Dù tr ước sự kiềm tỏa, khống chế gắt gao của kẻ thù, nhưng trong quá trình hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vẫn luôn theo dõi sát sao tình hình trong nước để tìm thời điểm thích hợp trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Do vậy, sau khi thoát khỏi nhà tù Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc trở lại Mátxcơva và được Quốc tế Cộng sản bố trí công việc tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, thuộc Trường Đại học Phương Đông, nhưng trước tình hình chuyển biến của cách mạng Việt Nam, Người đã đề nghị Quốc tế Cộng sản bố trí công tác mới. Được sự đồng ý của Quốc tế Cộng sản, ngày 29-9-1938, đồng chí Nguyễn Ái Quốc rời Mátxcơva với nhiệm vụ “đến Trung Quốc để công tác trong Đảng Cộng sản Đông Dương” (5) . Đây chính là cơ hội để Người tìm cách trở về nước. Tại Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc vẫn tích cực hoạt động truyền đạt tinh thần các nghị quyết của Quốc tế Cộng sản, đặc biệt các chủ trương, chính sách trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ. Thông qua Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc với Chi bộ Vân Quý và Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng tại Côn Minh do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách. Trong buổi làm việc đầu tiên với Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng, sau khi nghe báo cáo về phong trào cách mạng trong nước và tình hình Việt kiều tại Vân Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ những công việc cần kíp nhất ở thời điểm này là tích cực chuẩn bị mọi điều kiện để về nước. Từ đó, Người đã xúc tiến tìm hiểu tình hình, nghiên cứu các phương án trở về Tổ quốc… Đến cuối tháng 10-1940, Người cùng một số cán bộ rời Côn Minh về Quế Lâm (Quảng Tây, Trung Quốc) và sau đó tiếp tục rời Quế Lâm đi xuống Tĩnh Tây (Quảng Tây) để tìm đường về nước. Thực hiện kế hoạch đã định, Người cùng các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng Văn Cáp và được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đường đã di chuyển xuống Nậm Quang ở sát biên giới Việt - Trung. Đến ngày 28-1-1941, sau 30 năm bôn ba nước ngoài đi tìm con đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về Tổ quốc. Đây là thời khắc vô cùng trọng đại đối với lịch sử cách mạng Việt Nam. Sự kiện đó đã đáp ứng đòi hỏi khách quan của phong trào cách mạng trong nước, sự phát triển của tiến trình lịch sử đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc Việt Nam và cả đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Trước hết là về thời điểm Bác lựa chọn để trở về Tổ quốc là lúc tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến chuyển mau chóng. Sự kiện Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức (tháng 6-1940) theo Người nhận định: “Là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng” (6) . Tình hình phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở trong nước đã phát triển mạnh mẽ và chuyển mạnh đấu tranh vũ trang. Tháng 9-1940, Nhật nhảy vào Đông Dương, nhân dân Đông Dương chịu ách áp bức “một cổ hai tròng” đã nổi dậy khởi nghĩa, như: khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ khởi nghĩa… Đặc biệt sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, thực dân Pháp đã đàn áp dã man phong trào cách mạng. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã bị địch bắt, nhiều đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng bị bắt, hệ thống tổ chức đảng bị địch phá vỡ. Tình thế lúc đó buộc Đảng đã phải thành lập ra Ban Trung ương lâm thời tại Hội nghị Trung ương vào tháng 11-1940 ở Đình Bảng, Bắc Ninh. Tình hình bức thiết ở trong nước đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền đặt ra yêu cầu khách quan cần kíp phải củng cố lại hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở để lãnh đạo trực tiếp các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Trước tình hình đó, đồng chí Hoàng Văn Thụ đại diện của Ban Thường vụ Trung ương Đảng được giao nhiệm vụ đi đón Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tháng 12-1940, đồng chí Hoàng Văn Thụ đã gặp Người tại Tĩnh Tây (Trung Quốc), báo cáo với Người về công tác chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Trong thời gian chuẩn bị về nước, Người còn tổ chức một lớp huấn luyện chính trị cho 40 thanh niên Cao Bằng yêu nước tại Nặm Quang, Ngàm Tảy (Trung Quốc), làm hạt nhân cho việc xây dựng phong trào cách mạng ở địa phương sau này. Về địa điểm đầu tiên Người trở về Tổ quốc , Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt qua mốc 108 (nay là cột mốc 675) biên giới Việt Nam - Trung Quốc về đến Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng - vùng đất “phên giậu” Đông Bắc của Tổ quốc , là nơi hội tụ đủ cả “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” để xây dựng căn cứ địa cách mạng của cả nước. Bởi vì: “ Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ” (7) . Sự lựa chọn nơi đặt chân đầu tiên khi trở về Tổ quốc của Người đã thể hiện tầm nhìn mang tính chiến lược, về nhận thức, đoán định được hiện tại và triển vọng tương lai của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Những ngày đầu về nước, Người ở tại nhà ông Lý Quốc Súng (Máy Lỳ), dân tộc Nùng, ở thôn Pác Bó - một cơ sở cách mạng. Từ ngày 8-2-1941, Người chuyển đến hang Cốc Bó ở thôn Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng để sống và làm việc. Triển lãm những hình ảnh, tài liệu, hiện vật gắn với hoạt động của Bác Hồ tại Cao Bằng, nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam_Ảnh: Vovlive.vn Chỉ 4 tháng sau khi về nước (từ ngày 10-5 đến ngày 19-5-1941), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 (khóa I) của Đảng tại Khuổi Nậm, Pác Bó, Cao Bằng. Tham gia Hội nghị có Quyền Tổng Bí thư Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, Hoàng Quốc Việt cùng một số đại biểu của Xứ ủy Bắc Kỳ, Trung Kỳ và đại biểu tổ chức đảng hoạt động ở nước ngoài. Dưới sự chủ trì của Người, Hội nghị đã kiện toàn cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương chính thức, Ban Thường vụ Trung ương, bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương; trên cơ sở đó kiện toàn các cấp bộ đảng từ Xứ ủy đến các cấp bộ đảng ở các địa phương - đây là nhân tố hàng đầu quyết định đường hướng của cách mạng Việt Nam. Đ ặc biệt, Hội nghị xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ cấp thiết, hàng đầu của cách mạng Việt Nam lúc này. Theo sáng kiến của Người, trên tinh thần dân tộc tự quyết, Hội nghị quyết định thành lập ở ba nước Đông Dương ba mặt trận riêng để tập hợp lực lượng giải quyết nhiệm vụ cách mạng trong phạm vi của dân tộc mình. Ở Việt Nam, thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, nhằm đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước trong Mặt trận Việt Minh. Tập hợp các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, “cốt thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước: 1. Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; 2. Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do” (8) . Đóng góp quan trọng nhất của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng (tháng 5-1941) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì là đã bổ sung, phát triển đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam - đường lối giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Trong đó, đặc biệt là việc xác định: Đặt lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia lên trên hết; xây dựng và củng cố hệ thống tổ chức Đảng; xúc tiến xây dựng căn cứ địa cách mạng, lực lượng chính trị, tập hợp lực lượng cho mặt trận Việt Minh, lực lượng vũ trang, cũng như các tổ chức chính trị khác như: Cứu quốc quân, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, tích cực chuẩn bị lực lượng đón thời cơ khởi nghĩa… Đây chính là quá trình hoàn thiện đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng, sự kế thừa, phát triển qua khảo nghiệm thực tiễn của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 có ý nghĩa to lớn trong tiến trình hoạch định đường lối và quá trình thực hiện cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang. Nghị quyết của Hội nghị đã thể hiện s ự thay đổi căn bản nhận thức về nhiệm vụ hiện thời của cách mạng Đông Dương. Đây chính là nền tảng để Đảng đặt ra những quyết sách lớn nhằm đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước trong Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng quần chúng cách mạng ở cả nông thôn và thành thị, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, tích cực chuẩn bị lực lượng đón thời cơ khởi nghĩa. Nghị quyết đúng đắn của Hội nghị đã được toàn Đảng và toàn dân thực hiện, dấy lên cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật, thúc đẩy toàn bộ tiến trình của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, góp phần lan tỏa, lan rộng các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc từ Bắc Kỳ, Trung Kỳ cho tới Nam Kỳ. Cao trào cách mạng của cả nước đã dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, đưa dân tộc Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ đây, Đảng trở thành đảng cầm quyền, ra hoạt động công khai lãnh đạo nhân dân Việt Nam trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Đối với quốc tế, quyết định của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi trở nước sau 3 thập kỷ bôn ba tìm đường cứu nước cũng là cơ sở quan trọng sau này để Việt Nam củng cố các mối quan hệ với các nước đồng minh chống lại chủ nghĩa phát xít, cũng như tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945. Thắng lợi đó đã làm thay đổi cả vận mệnh của dân tộc, thay đổi thân phận của người dân Việt Nam. Có thể tự hào nhắc lại lời của Bác: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc ” (9) . Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đưa Việt Nam bước sang một trang sử mới trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc. Đúng như, Gớt Hôn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ, đã từng nhận định : “Đồng chí Hồ Chí Minh là con người cần thiết xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu của lịch sử, với những tư tưởng và ý kiến đúng. Chính vì vậy mà đồng chí làm ra lịch sử… Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thế giới vào lúc lịch sử loài người đang ở bước ngoặt có tính chất cách mạng nhất” (10) . 2 . Sự kiện Bác Hồ trở về Tổ quốc (1-1941) trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5-1941) cho thấy tầm nhìn chiến lược của vị lãnh tụ thiên tài, đã tạo ra bước ngoặt to lớn của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Trong những năm tháng đầy cam go, hiểm nguy, thử thách, với khát vọng cháy bỏng giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã về nước với những hoạt động khẩn trương, tích cực và đầy sáng tạo cùng với Trung ương Đảng đưa ra những quyết sách nhằm thúc đẩy bánh xe lịch sử của cách mạng Việt Nam phù hợp với xu thế tiến bộ của lịch sử. Như một tờ báo nước ngoài đã nhận định về Người: “Con người đó đã đóng một vai trò lịch sử vô cùng to lớn trong vòng hơn 50 năm nay. Người đã làm lay chuyển hệ thống thực dân. Người đã góp phần biến đổi bản đồ thế giới. Người đã đẩy bánh xe lịch sử theo hướng tiến bộ” (11) . Không những thế, những sự kiện gắn liền với hoạt động của Người ngay sau khi trở về Tổ quốc đã để lại những bài học vô cùng quý giá. Trong đó, đặc biệt là bài học về công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trước yêu cầu, nhiệm vụ mới; bài học về xây dựng thế trận lòng dân, tuyệt đối trung thành, ủng hộ, bảo vệ Đảng và cách mạng thành công; bài học về tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Những bài học đó vẫn có giá trị và ý nghĩa đặc biệt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay. Mùa Xuân năm 2021, kỷ niệm sự kiện lịch sử 80 năm ngày Bác Hồ trở về nước, cũng là thời khắc diễn ra một sự kiện trọng đại có ý nghĩa lịch sử đối với dân tộc và đất nước ta: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, với phương châm: “ Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển ”. Đại hội đề ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2025, năm 2030, năm 2045, cũng như mục tiêu tổng quát là: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa (12) . Kỷ niệm 80 năm Ngày Bác Hồ trở về nước (28-1-1941 - 28-01-2021), trong không khí hào hùng, phấn khởi cả nước tưng bừng đón chào thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, là dịp để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiếp tục tôn vinh cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và những cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam, từ đó khẳng định ý nghĩa, giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay; quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” (13) , như sinh thời Bác Hồ hằng mong muốn./. ------------------------------- (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, 2011, t.1, tr. 416 (2) Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do tiến lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 8 (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 1, tr. 209 (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 3, tr. 13 (5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 6, tr. 55 (6) Vũ Anh: Bác Hồ về nước , Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, 1986, tr. 14-15 (7) Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử , Nxb. Chính trị quốc gia, 2010, tr. 37 (8) Văn kiện Đảng toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, 2000, t. 7, tr. 470 (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập , tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia, 2011, tr.25. (10) Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch , Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1970, t. 1, tr. 78. (11) Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch , Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1970, t. 3, tr. 115. (12) Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trình bày (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 15, tr. 131
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1220502/dang-bo%2C-chinh-quyen-va-nhan-dan-tinh-quang-ngai-hoc-tap%2C-lam-theo-tam-guong-dao-duc-cach-mang-cua-dong-chi-pham-van-dong.aspx
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi học tập, làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng
28-02-2026
Người cộng sản kiên trung, suốt đời vì sự nghiệp cách mạng
Người cộng sản kiên trung, suốt đời vì sự nghiệp cách mạng Đồng chí Phạm Văn Đồng người cộng sản kiên trung, mẫu mực; nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta; người con rất mực trung thành, suốt đời phấn đấu vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân; người bạn tin cậy của bạn bè quốc tế, nhà văn hóa lớn của dân tộc…”. Đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ngãi, đồng chí Phạm Văn Đồng không chỉ là nhà lãnh đạo cấp cao xuất sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, mà còn là người con ưu tú của quê hương núi Ấn - sông Trà, kết tinh những giá trị truyền thống tốt đẹp của đất và người Quảng Ngãi; hội tụ đầy đủ phẩm chất cao quý của người cách mạng: Trung với nước, hiếu với dân; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; gắn bó mật thiết với nhân dân, dân là gốc, tôn trọng, tin tưởng nhân dân, tận tụy phụng sự nhân dân; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; yêu thương con người, sống có tình có nghĩa… Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Phủ Chủ tịch (11-1968)_Ảnh: tapchilichsudang.vn Đồng chí Phạm Văn Đồng là người học trò xuất sắc và trung thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Suốt cả cuộc đời, đồng chí đã phấn đấu, học tập, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng theo tư tưởng, tấm gương của Người và được Người đặc biệt quan tâm, dìu dắt, trở thành nhà cách mạng mẫu mực phản chiếu những phẩm chất đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước hết, tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng thể hiện ở sự tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Đây là phẩm chất đạo đức cốt lõi, xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lớn ở triều đình đời vua Duy Tân, thời mà “cậu ấm con quan” thường đài các, xa dân, nhưng từ rất sớm, Phạm Văn Đồng đã giác ngộ và dấn thân vào con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Năm 1925 - 1926, khi đang học tại Trường Bưởi, đồng chí đã tham gia phong trào của học sinh, sinh viên Hà Nội đấu tranh chống Pháp và bị đuổi học. Ngay sau đó, đồng chí gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và sang Quảng Châu (Trung Quốc) tham dự lớp huấn luyện đào tạo cán bộ do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tổ chức và giảng dạy. Từ đây, đồng chí Phạm Văn Đồng đã tìm thấy lẽ sống, lý tưởng cao nhất của đời mình là đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong nhiều năm sống, làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh - từ chiến khu Việt Bắc và sau này về Thủ đô Hà Nội, đồng chí Phạm Văn Đồng đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Chủ tịch Hồ Chí Minh cả về tư tưởng, đạo đức và phong cách. Từ đó, nguyện suốt đời rèn luyện theo đạo đức cách mạng của Người. Theo đồng chí Phạm Văn Đồng: “Đời sống và những tư tưởng, những tình cảm lớn của Chủ tịch Hồ Chủ Minh thể hiện sáng tỏ phẩm chất của một chiến sĩ vô sản dũng cảm, kiên cường, triệt để, suốt đời hy sinh phấn đấu với khí phách của người chiến thắng, khí phách của Mác - Lê-nin, khí phách của những người mà sứ mạng lịch sử là đánh đổ xã hội cũ tư bản chủ nghĩa và xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa” ( [1] ) . Bởi vậy, cả cuộc đời của đồng chí Phạm Văn Đồng là cuộc đời tận trung với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là cuộc đời tận hiếu với nhân dân, không ngừng đấu tranh cho độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng lâu dài và đầy gian khổ, đồng chí Phạm Văn Đồng luôn thể hiện bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, không dao động trước bất kỳ thử thách, hy sinh hay hoàn cảnh phức tạp nào. Ngay cả trong những năm tháng bị thực dân Pháp bắt và giam cầm tại Côn Đảo (7-1929 – 7-1936), đồng chí đã biến lao tù thành trường học cách mạng, tranh thủ thời cơ nghiên cứu sâu lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, củng cố lập trường, rèn luyện bản lĩnh và ý chí của người cách mạng. Chính bản lĩnh đó đã giúp đồng chí Phạm Văn Đồng vượt qua muôn trùng khó khăn, thử thách, dù là hoạt động bí mật, hoạt động công khai sau khi ra tù, khi ở nước ngoài, khi làm cách mạng giành chính quyền, khi kháng chiến, cũng như xây dựng đất nước trong điều kiện có chiến tranh... Tấm gương đạo đức mẫu mực và tinh thần chí công vô tư Dù ở bất cứ vị trí, cương vị công tác nào, trước cách mạng Tháng Tám năm 1945; trong kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, hay trong giai đoạn lãnh đạo công cuộc xây dựng đất nước sau hòa bình, đồng chí đều hết lòng, hết sức với công việc, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc và nhân dân lên trên hết, trước hết, tuyệt đối không mưu cầu lợi ích cá nhân. Là người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng đã thể hiện sinh động phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phẩm chất ấy được thể hiện một cách nhất quán, bền bỉ trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đặc biệt trong hơn ba thập niên đồng chí giữ trọng trách Thủ tướng Chính phủ (1955 - 1987). Dù ở bất kỳ cương vị nào, đồng chí cũng luôn giữ lối sống giản dị, thanh bạch, khiêm nhường, không xa hoa, hình thức, không để quyền lực chi phối đạo đức và nhân cách. Tổng Bí thư Tô Lâm với thân nhân gia đình cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng_Ảnh: TTXVN Đồng chí luôn tự giác tu dưỡng, rèn luyện, nghiêm khắc với bản thân, đề cao kỷ luật, kỷ cương, coi đó là nền tảng để giữ vững phẩm chất người cán bộ cách mạng. Với cương vị là người đứng đầu Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng cho rằng, cần kiệm là lo cho cả một nền sản xuất, lo cho đời sống của cả một dân tộc. Trong lao động, sản xuất, đồng chí yêu cầu phải tính toán chi tiết từng loại vật liệu, phải tìm mọi giải pháp để không ngừng tăng năng suất lao động. Bên cạnh đó, đồng chí Phạm Văn Đồng còn yêu cầu phải tiết kiệm trong sinh hoạt, chi tiêu, thời gian. Tinh thần liêm chính, chí công vô tư của đồng chí thể hiện rõ trong phong cách lãnh đạo và điều hành công việc. Đồng chí xử lý công việc trên cơ sở nguyên tắc, công tâm, khách quan; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi. Không chỉ vậy, đồng chí còn yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức phải gương mẫu, tuyệt đối liêm chính, tuyệt đối làm đúng pháp luật, làm gương cho nhân dân, bởi đối với đồng chí, đạo đức không chỉ là phẩm chất cá nhân mà còn là yếu tố quyết định sức mạnh, uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng. Một yếu tố khác làm nên giá trị cao đẹp của tấm gương đạo đức Phạm Văn Đồng chính là sự thống nhất chặt chẽ giữa lời nói và việc làm. Đồng chí luôn nêu cao những chuẩn mực đạo đức trong lời nói, trong chỉ đạo, mà trước hết và trên hết, thể hiện bằng chính hành động, lối sống, tác phong làm việc hằng ngày. Chính sự gương mẫu ấy đã tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần giáo dục, cảm hóa và nâng cao ý thức đạo đức trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bên cạnh đó, tình yêu thương con người, yêu thương nhân dân sâu sắc, tinh thần gần gũi, tận tụy phục vụ nhân dân là nét nổi bật, làm nên chiều sâu nhân văn trong tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng. Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” và “gốc có vững thì cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”, đồng chí Phạm Văn Đồng luôn nhất quán quan điểm: Nhân dân là chủ thể của cách mạng, là mục tiêu cao nhất của mọi hoạt động cách mạng; mọi đường lối, chính sách nếu không xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân thì đều không có giá trị bền vững. Do vậy, suốt 75 năm hoạt động cách mạng, đặt biệt trong 32 năm làm Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng luôn dành sự quan tâm sâu sắc đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; coi trọng việc nắm bắt thực tiễn, lắng nghe ý kiến từ cơ sở, kết hợp chặt chẽ giữa tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn. Trong quá trình lãnh đạo, đồng chí Phạm Văn Đồng đặc biệt coi trọng việc nắm bắt thực tiễn, lắng nghe ý kiến từ cơ sở, từ cán bộ và nhân dân. Đồng chí nhiều lần nhấn mạnh, người lãnh đạo nếu xa rời thực tiễn, không hiểu đời sống nhân dân thì không thể đề ra chủ trương đúng đắn, càng không thể hoàn thành trách nhiệm trước Đảng và nhân dân. Phong cách làm việc của đồng chí Phạm Văn Đồng thể hiện rõ sự kết hợp hài hòa giữa tư duy lý luận sâu sắc và tổng kết thực tiễn sinh động. Đồng chí luôn coi trọng việc kiểm nghiệm chủ trương, chính sách bằng thực tiễn đời sống, kịp thời điều chỉnh những bất cập, hạn chế, bảo đảm các quyết sách phục vụ thiết thực lợi ích của nhân dân và sự phát triển của đất nước. Chính tinh thần tận tụy vì dân, sâu sát thực tiễn ấy đã làm nên giá trị đạo đức bền vững của đồng chí Phạm Văn Đồng; đồng thời đặt ra yêu cầu, trách nhiệm cao đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên hôm nay trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hồ Văn Niên tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng_Ảnh: baoquangngai.vn Tấm gương lớn cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quảng Ngãi Nhận thức sâu sắc giá trị to lớn từ tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xác định việc học tập và làm theo tấm gương đồng chí Phạm Văn Đồng là nhiệm vụ quan trọng, gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các quy định của Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Trên tinh thần đó, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Phạm Văn Đồng ở Quảng Ngãi trong nhiều năm qua được các cấp ủy, tổ chức đảng nghiêm túc triển khai, có nhiều cách làm sáng tạo, sát hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị. Các cấp, các ngành đã tập trung chỉ đạo, gắn việc học tập tấm gương đạo đức đồng chí Phạm Văn Đồng với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các phong trào thi đua yêu nước và thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, đơn vị. Bên cạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, nội dung học tập còn được cụ thể hóa thành quy định, yêu cầu từng tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, từng cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, trách nhiệm công vụ. Tập trung đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Các giá trị đạo đức tiêu biểu của đồng chí Phạm Văn Đồng được xem là chuẩn mực để cán bộ, đảng viên soi vào, tự kiểm điểm, tự điều chỉnh. Qua đó, nhiều cấp ủy cơ sở lựa chọn nội dung trọng tâm, trọng điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; lựa chọn những vấn đề bức xúc, nổi cộm trong nhân dân để chỉ đạo, giải quyết, vì thế nhiều vụ việc kéo dài đã được xử lý dứt điểm; công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số chuyển biến tích cực; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, từng bước tháo gỡ vướng mắc trong việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, tạo sự phấn khởi, tin tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tinh thần, thái độ làm việc của cán bộ, đảng viên từng bước được nâng lên, đã khắc phục nhiều mặt còn tồn tại, hạn chế qua các năm, thực hiện tốt hơn chức trách, nhiệm vụ được giao; xuất hiện ngày càng nhiều tập thể, cán bộ, đảng viên tận tụy với công việc, tận tâm với nhân dân; việc phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ được thực hiện thường xuyên; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu, từng bước khắc phục những hạn chế trong tác phong lãnh đạo, lề lối làm việc… góp phần xây dựng Đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Trong nhiều năm qua, Đảng bộ tỉnh tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, vừa có năng lực chuyên môn, tư duy đổi mới, khả năng giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn đặt ra và chính phong cách làm việc gần dân, sâu sát cơ sở, lắng nghe và tôn trọng nhân dân được xem là yêu cầu quan trọng đối với mỗi cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay. Không chỉ dừng lại trong phạm vi đội ngũ cán bộ, đảng viên, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng còn được triển khai sâu rộng trong toàn xã hội. Trong quá trình lãnh đạo, đồng chí Phạm Văn Đồng đặc biệt coi trọng lời nói đi đôi với việc làm, lý luận gắn chặt với thực tiễn. Nhận thức rõ vấn đề này, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo các cấp ủy, cơ quan, đơn vị triển khai, thực hiện những mô hình, việc làm cụ thể, thiết thực, thu hút sự hưởng ứng, tham gia của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, góp phần xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công tác an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường, cải cách hành chính, giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc của nhân dân... tạo niềm tin của nhân dân với Đảng, ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, các cấp, các ngành còn chú trọng giáo dục truyền thống lịch sử, cách mạng cho thế hệ trẻ, nhất là trong hệ thống trường học, về cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng - người con ưu tú của quê hương núi Ấn - sông Trà; xây dựng Khu tưởng niệm và phát huy giá trị các thiết chế văn hóa, lịch sử gắn với tên tuổi đồng chí Phạm Văn Đồng không chỉ để tri ân, tưởng nhớ, mà còn giáo dục về giá trị to lớn, bền vững của tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí, qua đó, bồi đắp lý tưởng cách mạng, khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ, tăng cường sự đồng thuận xã hội, tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn mới. Xuất phát từ yêu cầu công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong tỉnh trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng nhiệm vụ trong giai đoạn mới như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã đề ra, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi xác định việc tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho phát triển bền vững, tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: Một là, tiếp tục nghiên cứu đạo đức, nhân cách của đồng chí Phạm Văn Đồng một cách hệ thống, khoa học, đặt trong chỉnh thể tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để làm rõ những giá trị bền vững, có tính định hướng lâu dài đối với công tác xây dựng Đảng và giáo dục đạo đức cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn, làm rõ những nội dung cốt lõi trong tư tưởng, đạo đức, phong cách lãnh đạo, phong cách làm việc, phong cách ứng xử với nhân dân của đồng chí Phạm Văn Đồng; chỉ ra sự thống nhất giữa tư tưởng, đạo đức và hành động cách mạng của đồng chí. Đồng thời, tăng cường giáo dục đạo đức, phong cách của đồng chí Phạm Văn Đồng trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là tại các cơ sở đào tạo chính trị của tỉnh nhằm góp phần nâng cao nhận thức, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ và phong cách làm việc cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Hai là, đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của đồng chí Phạm Văn Đồng thành việc làm thường xuyên, gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu. Các cấp ủy, cơ quan, đơn vị tiếp tục cụ thể hóa nội dung học tập và làm theo đồng chí Phạm Văn Đồng thành những chuẩn mực đạo đức, tiêu chí, hành vi cụ thể, gắn với chức trách, nhiệm vụ của từng vị trí công tác. Việc nêu gương của người đứng đầu được xác định là khâu then chốt, có ý nghĩa quyết định trong việc tạo chuyển biến thực chất về đạo đức, lối sống và phong cách công tác trong cơ quan, đơn vị, địa phương. Học sinh nghe thuyết minh về cuộc đời, sự nghiệp cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thông qua các hiện vật tại Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng_Ảnh: TTXVN Ba là, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức tuyên truyền về tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng theo hướng thiết thực, sinh động, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Bên cạnh việc phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông, thiết chế văn hóa trong việc xây dựng các sản phẩm truyền thông có chiều sâu, có tính định hướng, cần quan tâm đẩy mạnh ứng dụng các phương tiện truyền thông xã hội, công nghệ số, nền tảng số trong công tác tuyên truyền để mở rộng phạm vi tiếp cận, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Nội dung tuyên truyền không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu, tôn vinh, mà cần gắn với những câu chuyện, bài học đạo đức cụ thể, gần gũi, tác động trực tiếp đến nhận thức và hành vi của người tiếp nhận, qua đó góp phần lan tỏa giá trị đạo đức cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng trong đời sống xã hội, tạo sự đồng thuận và hưởng ứng rộng rãi. Bốn là, gắn việc học tập đạo đức cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng với giải quyết các vấn đề thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị. Trọng tâm là đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính quyền phục vụ nhân dân, nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức gắn với kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, coi đây là yêu cầu tất yếu để giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, củng cố niềm tin của nhân dân. Gắn việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của đồng chí Phạm Văn Đồng với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là các đối tượng chính sách, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn. Tích cực, kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm mà nhân dân và doanh nghiệp quan tâm. Qua đó, làm cho việc học tập đạo đức cách mạng không chỉ nằm ở nhận thức, mà thực sự trở thành động lực tinh thần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh và tiến bộ xã hội trên địa bàn tỉnh. Năm là , tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm nêu gương, gắn kết quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức của đồng chí Phạm Văn Đồng với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Đồng thời, phát động phong trào mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự mình nêu gương về đạo đức; thực hành tiết kiệm; chuyên cần, sáng tạo, lời nói đi phải đôi với việc làm và đăng ký thực hiện ít nhất một việc làm cụ thể theo tấm gương đạo đức của đồng chí Phạm Văn Đồng nhằm tạo sự lan tỏa trong cộng đồng, xã hội để mọi người học và làm theo. Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng (1-3-1906 - 1-3-2026) là dịp để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi bày tỏ lòng tri ân sâu sắc, đồng thời tự soi, tự sửa, tự nâng cao trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng chính là tiếp tục làm giàu thêm truyền thống cách mạng của quê hương Quảng Ngãi, góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; xây dựng tỉnh Quảng Ngãi phát triển nhanh, bền vững, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân./. --------------------------- (1) Phạm Văn Đồng: Chủ tịch Hồ Chí Minh, tỉnh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại , Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1970, tr. 29-30
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1217002/quyen-lam-chu-cua-nhan-dan-va-tinh-chinh-dang-cua-nha-nuoc-viet-nam-moi.aspx
Quyền làm chủ của nhân dân và tính chính đáng của Nhà nước Việt Nam mới
19-02-2026
Sự ra đời của Nhà nước hợp hiến, hợp pháp
Sự ra đời của Nhà nước hợp hiến, hợp pháp Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, chấm dứt ách thống trị của thực dân, phong kiến. Tuy nhiên, nền độc lập non trẻ vừa giành được phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức chưa từng có: “thù trong, giặc ngoài” đe dọa trực tiếp sự tồn vong của chính quyền cách mạng, nền kinh tế kiệt quệ, nạn đói hoành hành, đời sống người dân hết sức khó khăn, trình độ dân trí thấp, bộ máy nhà nước chưa được thiết lập đầy đủ và thiếu cơ sở pháp lý vững chắc... Trong bối cảnh đó, yêu cầu cấp thiết là phải xây dựng một nhà nước hợp hiến, hợp pháp, dựa trên ý chí và quyền làm chủ của nhân dân, nhằm củng cố nền độc lập và bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước. Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giầu, nghèo, tôn giáo, dòng giống…” (1) . Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 đã diễn ra như một quyết định chính trị sáng suốt và mang tầm chiến lược, trở thành sự kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Sự kiện này thể hiện bước đi căn bản trong thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân, chuyển quyền lực cách mạng vừa giành được sang một hình thức quyền lực nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Với chế độ bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín, Tổng tuyển cử đã khẳng định rõ ràng rằng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mọi tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo đều có quyền tham gia quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước. Kết quả của Tổng tuyển cử đã hình thành Quốc hội khóa I - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của toàn thể nhân dân Việt Nam. Trên cơ sở đó, Quốc hội đã thực hiện những chức năng lập hiến, lập pháp đầu tiên, tiêu biểu là việc thông qua Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ, đặt nền móng cho hệ thống pháp luật và tổ chức bộ máy nhà nước của nước Việt Nam mới. Thông qua Tổng tuyển cử, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ được củng cố vững chắc về mặt pháp lý trong nước, mà còn từng bước khẳng định tính chính đáng trước nhân dân và dư luận quốc tế. Chính vì vậy, có thể khẳng định, Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 là sự kiện mở đầu cho chế độ dân chủ mới ở Việt Nam, tạo tiền đề quan trọng cho việc xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong suốt tiến trình cách mạng. Thông qua Tổng tuyển cử, quyền làm chủ của nhân dân được hiện thực hóa, khẳng định tính chính đáng của Nhà nước Việt Nam mới. Qua lá phiếu của mình, nhân dân không chỉ lựa chọn những người đại diện xứng đáng vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, mà còn là sự ủy thác quyền lực chính trị cho nhà nước cách mạng, biến ý chí của nhân dân thành nền tảng hợp hiến, hợp pháp của quyền lực nhà nước. Chính sự tham gia rộng rãi, bình đẳng và tự giác của nhân dân trong Tổng tuyển cử đã làm cho Nhà nước Việt Nam mới không chỉ ra đời từ thắng lợi của cách mạng, mà còn được khẳng định bằng sự thừa nhận và ủng hộ trực tiếp của nhân dân, tạo nên cơ sở chính trị - pháp lý bền vững cho sự tồn tại, củng cố và phát triển. Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước xem trưng bày ảnh tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam_Ảnh: TTXVN Quyền làm chủ của nhân dân - giá trị cốt lõi của Nhà nước Việt Nam mới Quyền làm chủ của nhân dân là giá trị chính trị cốt lõi và xuyên suốt trong tổ chức và vận hành của Nhà nước. Nhân dân, trước hết và trên hết, là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước; mọi quyền lực của Nhà nước đều phát xuất từ nhân dân và phải phục vụ lợi ích chính đáng của nhân dân. Nhà nước “của dân” là nhà nước thuộc về nhân dân, nơi nhân dân thực sự làm chủ; Nhà nước “do dân” là nhà nước được thành lập bởi nhân dân, thông qua các cơ chế dân chủ trực tiếp và đại diện; Nhà nước “vì dân” là nhà nước phục vụ lợi ích, nguyện vọng chính đáng và đặt tự do, hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu tối thượng. Trên cơ sở nhận thức này, việc bảo đảm và thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ của nhân dân, đặc biệt là quyền bầu cử và ứng cử, được xác định là phương thức cơ bản để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, đồng thời là nền tảng tư tưởng, lý luận cho việc xây dựng Nhà nước Việt Nam mới mang bản chất dân chủ, tiến bộ và nhân văn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định nhân dân là chủ thể tối cao, là nguồn gốc duy nhất và bền vững của quyền lực nhà nước. Người nhiều lần nhấn mạnh rằng “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân” (2) , khẳng định quyền lực nhà nước do nhân dân ủy quyền và trao gửi thông qua các hình thức dân chủ, Nhà nước là công cụ để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình; cán bộ, công chức nhà nước là “đày tớ”, “công bộc” của nhân dân, có trách nhiệm phục vụ và chịu sự giám sát của nhân dân. Chính nhận thức sâu sắc đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, trong đó mọi hoạt động của bộ máy nhà nước đều phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân, đồng thời tạo cơ sở lý luận vững chắc cho việc thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân trong Tổng tuyển cử và trong suốt quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam mới. Bầu cử phổ thông đầu phiếu là hình thức cơ bản, trực tiếp và quan trọng nhất để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình đối với Nhà nước và xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận thức rõ rằng quyền lực của nhân dân chỉ có ý nghĩa thực chất khi được thể chế hóa bằng những cơ chế dân chủ cụ thể, trong đó bầu cử giữ vai trò trung tâm, cho phép nhân dân trực tiếp lựa chọn những người đại diện xứng đáng thay mặt mình gánh vác công việc đất nước. Người nhấn mạnh các nguyên tắc dân chủ trong bầu cử như phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín, coi đó là điều kiện bảo đảm để mọi công dân, không phân biệt giai cấp, giới tính, dân tộc, tôn giáo, đều có quyền tham gia quyết định vận mệnh của đất nước. Chính quan niệm này đã được hiện thực hóa sinh động trong Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, qua đó khẳng định bầu cử phổ thông đầu phiếu không chỉ là quyền, mà còn là phương thức căn bản để nhân dân thực sự làm chủ quyền lực nhà nước. Hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân trong Tổng tuyển cử năm 1946. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam được trực tiếp lựa chọn đại biểu của mình: Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 đã hiện thực hóa một cách trực tiếp và sinh động quyền làm chủ của nhân dân, đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử khi lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân Việt Nam được tự mình lựa chọn những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Thông qua lá phiếu bầu, quyền lực chính trị không còn là đặc quyền của một thiểu số, mà được trao gửi công khai, bình đẳng, hợp pháp và rộng rãi từ nhân dân. Sự tham gia đông đảo, tự giác của các tầng lớp nhân dân trong cuộc Tổng tuyển cử đã thể hiện rõ khát vọng làm chủ vận mệnh quốc gia, đồng thời khẳng định vai trò trung tâm của nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước Việt Nam mới. Chính việc nhân dân trực tiếp lựa chọn đại biểu của mình đã tạo nên nền tảng dân chủ thực chất, làm cho Quốc hội khóa I thực sự trở thành thiết chế chính trị đại diện của toàn dân, qua đó củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với chính quyền cách mạng và chế độ mới. Thực tiễn cho thấy trong Tổng tuyển cử năm 1946, quyền làm chủ của nhân dân đã được hiện thực hóa khi lần đầu tiên nhân dân Việt Nam trực tiếp lựa chọn đại biểu của mình. Cụ thể, theo các Sắc lệnh số 14-SL (8-9-1945) (3) , 51-SL (17-10-1945) (4) và 71-SL (2-12-1945) (5) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công dân Việt Nam đủ 18 tuổi đều có quyền tự ứng cử hoặc đề cử người khác ra ứng cử, không qua bất kỳ sự chỉ định nào từ trên xuống. Trong thực tế, nhiều đại biểu Quốc hội khóa I không phải là cán bộ cách mạng chuyên nghiệp mà là trí thức, nhân sĩ, nhà yêu nước, đại diện các tôn giáo, dân tộc thiểu số, được cử tri trực tiếp tín nhiệm bầu ra tại địa phương. Tiêu biểu như việc nhiều địa phương bầu những người có uy tín lớn trong cộng đồng, phản ánh đúng nguyện vọng và niềm tin của nhân dân. Chính việc nhân dân trực tiếp cầm lá phiếu lựa chọn người đại diện cho mình đã tạo nên bước chuyển căn bản từ thân phận nô lệ sang vị thế làm chủ đất nước, đồng thời khẳng định Quốc hội khóa I thực sự là sản phẩm của ý chí và sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam. Tính dân chủ, tiến bộ của chế độ bầu cử (phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín): Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 đã thể hiện tính dân chủ và tiến bộ sâu sắc của chế độ bầu cử ở Việt Nam, qua đó hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân một cách thực chất. Việc áp dụng các nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã bảo đảm cho mọi công dân Việt Nam đủ điều kiện, không phân biệt giới tính, giai cấp, dân tộc, tôn giáo hay trình độ học vấn, đều có quyền ngang nhau trong việc tham gia quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước. Mỗi lá phiếu của người dân đều có giá trị như nhau, được thực hiện trực tiếp và kín, thể hiện sự tôn trọng tuyệt đối ý chí của cử tri. Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, những nguyên tắc bầu cử tiến bộ ấy không chỉ phản ánh tư duy dân chủ sớm và sâu sắc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn khẳng định bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam mới, tạo nền tảng chính trị - pháp lý vững chắc để nhân dân thực sự làm chủ quyền lực nhà nước. Ý nghĩa lịch sử của việc nhân dân tham gia quyết định vận mệnh đất nước: Nhân dân trực tiếp tham gia Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 mang ý nghĩa lịch sử đặc biệt sâu sắc trong việc quyết định vận mệnh đất nước, bởi lần đầu tiên quyền lực chính trị được xác lập bằng ý chí và sự lựa chọn công khai của toàn thể nhân dân. Thông qua lá phiếu bầu đại biểu Quốc hội, nhân dân đã trực tiếp tham gia quyết định mô hình tổ chức nhà nước, lựa chọn những người đại diện gánh vác trọng trách quốc gia và trao quyền lực hợp pháp cho chính quyền cách mạng non trẻ. Sự tham gia rộng rãi, tự giác và đầy trách nhiệm của nhân dân không chỉ tạo nên sức mạnh chính trị - tinh thần to lớn, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mà còn biến nền độc lập vừa giành được thành một nền độc lập có cơ sở dân chủ vững chắc. Chính từ đó, vận mệnh đất nước được đặt trong tay nhân dân, Nhà nước Việt Nam mới được xây dựng và phát triển trên nền tảng lòng dân, tạo tiền đề quyết định cho thắng lợi của cuộc kháng chiến, kiến quốc và toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam sau này. Tổng tuyển cử năm 1946 và việc xác lập tính chính đáng của Nhà nước Việt Nam mới Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 không chỉ hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân, mà còn củng cố tính chính đáng của Nhà nước Việt Nam mới, thể hiện quyền lực nhà nước xuất phát từ ý chí và sự ủy quyền hợp pháp của nhân dân, đồng thời nhấn mạnh rằng “Một thể chế gọi là dân chủ phải được nuôi dưỡng bởi một nền văn hóa dân chủ” (6) , nơi mỗi công dân ý thức trách nhiệm tham gia vào việc quyết định vận mệnh của đất nước. Tính chính đáng - cơ sở tồn tại và phát triển của một nhà nước cách mạng Tính chính đáng là sự thừa nhận và ủng hộ rộng rãi của xã hội đối với quyền lực nhà nước, thể hiện ở việc quyền lực ấy được hình thành, thực thi và bảo đảm phù hợp với ý chí, lợi ích của nhân dân và các chuẩn mực pháp lý, đạo lý chung. Đối với một nhà nước cách mạng, tính chính đáng không chỉ là điều kiện để khẳng định sự ra đời hợp pháp của chính quyền mới, mà còn là cơ sở căn bản bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của quyền lực nhà nước. Chỉ khi có tính chính đáng, quyền lực nhà nước mới có khả năng huy động sức mạnh xã hội, tạo dựng niềm tin của nhân dân, thiết lập trật tự, ổn định chính trị và tổ chức thực hiện hiệu quả các mục tiêu cách mạng. Ngược lại, nếu thiếu tính chính đáng, quyền lực nhà nước dễ rơi vào tình trạng bị nghi ngờ, suy giảm uy tín và khó có thể đứng vững trước những thách thức đan xen cả từ bên trong lẫn bên ngoài. Vì vậy, việc xây dựng và củng cố tính chính đáng luôn là yêu cầu sống còn đối với mọi nhà nước cách mạng, đặc biệt trong giai đoạn đầu hình thành chính quyền mới. Sự chuyển hóa từ chính đáng cách mạng đến chính đáng dân chủ - pháp lý: Trong quá trình hình thành và vận hành của một nhà nước cách mạng, tính chính đáng thường được xác lập trên hai bình diện gắn bó chặt chẽ, đó là chính đáng cách mạng và chính đáng dân chủ - pháp lý. Chính đáng cách mạng bắt nguồn từ thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, từ vai trò lãnh đạo của lực lượng cách mạng và sự ủng hộ, tin tưởng của nhân dân đối với mục tiêu độc lập, tự do. Tuy nhiên, chính đáng cách mạng mang tính lịch sử - chính trị, có ý nghĩa quyết định trong giai đoạn giành chính quyền nhưng chưa đủ để bảo đảm sự ổn định, phát triển lâu dài của Nhà nước. Trong khi đó, chính đáng dân chủ - pháp lý được xác lập thông qua các cơ chế thể chế hóa quyền lực nhà nước, đặc biệt là bầu cử, hiến pháp và pháp luật, phản ánh sự ủy quyền chính thức, công khai và hợp pháp của nhân dân. Sự chuyển hóa từ chính đáng cách mạng sang chính đáng dân chủ - pháp lý là bước phát triển tất yếu, làm cho quyền lực nhà nước không chỉ dựa trên thắng lợi cách mạng, mà còn được củng cố bằng nền tảng pháp lý vững chắc và sự thừa nhận rộng rãi của nhân dân, qua đó bảo đảm cho Nhà nước cách mạng tồn tại, phát triển bền vững và ngày càng hoàn thiện. Tổng tuyển cử - nền tảng pháp lý khẳng định tính chính đáng của Nhà nước Quốc hội khóa I - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân bầu ra: Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 đã tạo lập nền tảng pháp lý quan trọng để khẳng định tính chính đáng của Nhà nước Việt Nam mới, trước hết thông qua việc hình thành Quốc hội khóa I - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra. Với thành phần đại biểu đại diện cho các tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và lực lượng chính trị khác nhau, Quốc hội khóa I thực sự là kết tinh ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của toàn thể nhân dân Việt Nam. Việc Quốc hội được hình thành trên cơ sở bầu cử dân chủ, hợp pháp đã chuyển quyền lực cách mạng sang quyền lực nhà nước hợp hiến, hợp pháp, làm cho Nhà nước Việt Nam mới không chỉ tồn tại bằng uy tín cách mạng, mà còn được xác lập vững chắc bằng sự ủy quyền chính thức của nhân dân. Chính Quốc hội khóa I, với tư cách là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, đã trở thành trụ cột pháp lý - chính trị bảo đảm cho tính chính đáng của Nhà nước và mở ra giai đoạn xây dựng một Nhà nước dân chủ, hợp pháp và thống nhất trên phạm vi cả nước. Việc ban hành Hiến pháp năm 1946 - bước hoàn chỉnh tính chính đáng về mặt pháp lý: Trên cơ sở kết quả của Tổng tuyển cử và hoạt động của Quốc hội khóa I, việc ban hành Hiến pháp năm 1946 đã đánh dấu bước hoàn chỉnh quan trọng về mặt pháp lý trong việc xác lập tính chính đáng của Nhà nước Việt Nam mới. Là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Hiến pháp năm 1946 đã thể chế hóa một cách tập trung và toàn diện những nguyên tắc nền tảng của nhà nước dân chủ, khẳng định rõ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảo đảm các quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân và xác lập tổ chức bộ máy nhà nước theo tinh thần pháp quyền. Việc Hiến pháp được thông qua bởi Quốc hội do nhân dân bầu ra đã tạo nên sự thống nhất chặt chẽ giữa ý chí của nhân dân và trật tự pháp lý của Nhà nước, làm cho quyền lực nhà nước không chỉ có nguồn gốc cách mạng, mà còn được bảo đảm bằng cơ sở hiến định vững chắc. Qua đó, Hiến pháp năm 1946 trở thành nền tảng pháp lý tối cao, củng cố và nâng cao tính chính đáng của Nhà nước Việt Nam mới, tạo cơ sở lâu dài cho sự tồn tại, vận hành và phát triển của chế độ dân chủ ở Việt Nam. Một sự kiện đặc biệt, mang ý nghĩa biểu tượng và pháp lý rất sâu sắc thể hiện rõ nội dung này, đó là Kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I (từ ngày 28-10 đến 9-11-1946), tại đó Hiến pháp năm 1946 đã được Quốc hội chính thức thông qua vào ngày 9-11-1946. Điểm đặc biệt của sự kiện này nằm ở chỗ: Hiến pháp được xây dựng, thảo luận và thông qua trong điều kiện đất nước vô cùng cam go, thù trong giặc ngoài đe dọa trực tiếp sự tồn vong của chính quyền cách mạng, nhưng Quốc hội vẫn ưu tiên hoàn thiện nền tảng pháp lý tối cao của Nhà nước. Hiến pháp năm 1946 là kết quả của quá trình làm việc dân chủ, công khai của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân bầu ra. Việc Quốc hội thông qua Hiến pháp đã tạo nên một logic dân chủ: nhân dân bầu Quốc hội, Quốc hội ban hành Hiến pháp, Nhà nước hoạt động trên cơ sở Hiến pháp. Chính sự kiện này đã đánh dấu sự chuyển hóa đầy đủ từ chính đáng cách mạng sang chính đáng dân chủ - pháp lý, khẳng định Nhà nước Việt Nam mới không chỉ tồn tại bằng thắng lợi cách mạng, mà được đặt vững chắc trên nền tảng hiến định, hợp pháp và được nhân dân thừa nhận. Củng cố niềm tin của nhân dân và sự công nhận của quốc tế đối với Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 đã trở thành nền tảng pháp lý quan trọng góp phần củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân và nâng cao vị thế, sự công nhận của quốc tế đối với Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc chính quyền cách mạng được hình thành trên cơ sở bầu cử dân chủ, hợp pháp đã làm cho nhân dân tin tưởng rằng Nhà nước thực sự là đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của mình, từ đó sẵn sàng ủng hộ, bảo vệ và đồng hành cùng chính quyền trong những thời khắc cam go của đất nước. Đồng thời, Tổng tuyển cử và Quốc hội do nhân dân bầu ra đã tạo nên cơ sở pháp lý và chính trị quan trọng để Nhà nước Việt Nam mới khẳng định tính chính đáng trên trường quốc tế, chứng minh rằng đây là một nhà nước độc lập, có chủ quyền, được tổ chức và vận hành theo những nguyên tắc dân chủ tiến bộ. Chính yếu tố đó đã góp phần khẳng định và nâng cao uy tín của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của dư luận tiến bộ và bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp bảo vệ nền độc lập và chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia dân tộc. Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu dự Hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi cư trú với người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại phường Ba Đình, Hà Nội_Ảnh: hoidongbaucu.quochoi.vn Mối quan hệ biện chứng giữa quyền làm chủ của nhân dân và tính chính đáng của Nhà nước Quyền làm chủ của nhân dân là nguồn gốc sâu xa của tính chính đáng: Quyền làm chủ của nhân dân và tính chính đáng của Nhà nước có mối quan hệ biện chứng, gắn bó hữu cơ, trong đó quyền làm chủ của nhân dân chính là nguồn gốc sâu xa, quyết định của tính chính đáng. Quyền lực nhà nước chỉ thực sự chính đáng khi được hình thành từ ý chí, nguyện vọng và sự ủy quyền của nhân dân, thông qua những cơ chế dân chủ cụ thể như bầu cử, trưng cầu ý dân và sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước, xã hội. Khi nhân dân thực sự là chủ thể của quyền lực, Nhà nước không chỉ có cơ sở pháp lý để tồn tại, mà còn có nền tảng chính trị - xã hội vững chắc, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ và bảo vệ. Ngược lại, nếu quyền làm chủ của nhân dân không được bảo đảm hoặc bị hình thức hóa, thì tính chính đáng của Nhà nước sẽ suy giảm, quyền lực dễ bị xa rời nhân dân và mất đi điểm tựa căn bản. Thực tiễn Tổng tuyển cử năm 1946 cho thấy, việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân đã tạo nên cội nguồn bền vững của tính chính đáng, làm cho Nhà nước Việt Nam mới đứng vững và phát triển. Thứ nhất , sự tham gia đông đảo và tự giác của nhân dân trong Tổng tuyển cử là minh chứng trực tiếp nhất. Trong điều kiện đất nước còn vô cùng khó khăn, chiến tranh đe dọa, giao thông cách trở, nhưng hơn 90% số cử tri cả nước đã đi bỏ phiếu, thể hiện ý thức làm chủ và sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân đối với chính quyền cách mạng. Chính sự tham gia đó đã tạo ra nguồn chính đáng xã hội rộng lớn, làm cho Nhà nước Việt Nam mới là chính quyền do nhân dân lựa chọn và trao quyền. Thứ hai, sự đồng thuận và sẵn sàng hy sinh của nhân dân trong bảo vệ chính quyền non trẻ sau Tổng tuyển cử là minh chứng sinh động cho mối quan hệ này. Khi nhà Nước được xác lập trên nền tảng ý chí nhân dân, việc tích cực tham gia các phong trào “Tuần lễ vàng”, “Bình dân học vụ”, ủng hộ kháng chiến, bảo vệ chính quyền của nhân dân, cho thấy tính chính đáng không chỉ tồn tại trên giấy tờ pháp lý mà được củng cố bằng niềm tin và hành động thực tiễn của nhân dân. Thứ ba , uy tín và khả năng huy động sức mạnh toàn dân của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những năm đầu kháng chiến là kết quả trực tiếp của tính chính đáng bắt nguồn từ quyền làm chủ của nhân dân. Một nhà nước được nhân dân trao quyền thông qua bầu cử dân chủ đã có đủ cơ sở chính trị để kêu gọi toàn dân đứng lên bảo vệ độc lập, tổ chức kháng chiến và kiến quốc. Những minh chứng đó cho thấy, quyền làm chủ của nhân dân không chỉ là nguyên lý lý luận, mà chính là cội nguồn thực tiễn làm nên tính chính đáng, sức mạnh và sức sống của Nhà nước Việt Nam mới. Tính chính đáng là điều kiện để Nhà nước thực thi hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân: Trong mối quan hệ biện chứng giữa quyền làm chủ của nhân dân và tính chính đáng của Nhà nước, tính chính đáng không chỉ là kết quả, mà còn là điều kiện quan trọng để Nhà nước thực thi có hiệu lực, hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân. Khi nhà nước được xác lập trên cơ sở hợp hiến, hợp pháp và được nhân dân thừa nhận, quyền lực nhà nước mới có đủ uy tín, thẩm quyền và nguồn lực để tổ chức, bảo đảm và mở rộng các quyền dân chủ của nhân dân trong thực tiễn. Một nhà nước có tính chính đáng vững chắc sẽ tạo dựng được niềm tin xã hội, từ đó huy động được sự tham gia tích cực của nhân dân vào quản lý nhà nước và xã hội, bảo đảm cho các quyết sách phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân và được nhân dân tự giác chấp hành. Ngược lại, nếu thiếu tính chính đáng, quyền lực nhà nước sẽ khó được xã hội chấp nhận, các cơ chế thực thi quyền làm chủ của nhân dân dễ bị hình thức hóa, kém hiệu quả. Thực tiễn sau Tổng tuyển cử năm 1946 cho thấy, chính nhờ có tính chính đáng được xác lập vững chắc, Nhà nước Việt Nam mới đã từng bước tổ chức và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, biến quyền lực của nhân dân từ nguyên lý thành hiện thực sống động trong đời sống chính trị - xã hội. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, thông qua cuộc Tổng tuyển cử 6-1-1946 đã thể hiện đầy đủ, toàn diện quyền làm chủ của nhân dân; hợp hiến, hợp pháp và mang tính chính đáng cách mạng, tính chính đáng dân chủ - pháp lý. Tổng tuyển cử 6-1-1946 để lại ý nghĩa, bài học lịch sử có giá trị bền vững, mang tính thời đại đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, đó là phải luôn gắn chặt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân với việc củng cố và nâng cao tính chính đáng của Nhà nước. Thực tiễn lịch sử cho thấy, chỉ khi quyền lực nhà nước được hình thành và vận hành trên cơ sở ý chí, nguyện vọng và sự tham gia thực chất của nhân dân thì Nhà nước mới có nền tảng chính trị - xã hội vững chắc, đủ năng lực tổ chức và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong đời sống thực tiễn. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ là hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy nhà nước và nền quản trị quốc gia, mà còn phải không ngừng mở rộng và bảo đảm các cơ chế để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, giám sát quyền lực, thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện. Việc kế thừa tinh thần của Tổng tuyển cử 1946 chính là tiếp tục khẳng định nguyên lý nhân dân là chủ, Nhà nước là của nhân dân , qua đó củng cố tính chính đáng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới./. ------------------------ (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 7 (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t. 6, tr. 232 (3) Sắc lệnh số 14 của Chủ tịch nước: Sắc lệnh mở cuộc tổng tuyển cử để bầu Quốc dân Đại hội (4) Sắc lệnh số 51 của Chủ tịch nước: Sắc lệnh ấn định thể lệ cuộc tổng tuyển cử (5) Sắc lệnh số 71 của Chủ tịch nước: Sắc lệnh bổ khuyết Điều thứ 11 đạo Sắc lệnh ngày 17-10-45 về thể lệ tổng tuyển cử (6) Đỗ Thị Kim Hoa: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ , Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2022, tr. 13
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1219702/%E2%80%9Cdan-can%E2%80%9D---mot-thanh-to-quan-trong-trong-phat-huy-dan-chu-o-co-so-hien-nay.aspx
“Dân cần” - Một thành tố quan trọng trong phát huy dân chủ ở cơ sở hiện nay
25-02-2026
Cơ sở lý luận và thực tiễn của thành tố “Dân cần”
Trong tiến trình đổi mới đất nước, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được nêu ra từ Đại hội VI (năm 1986) và được bổ sung, hoàn thiện hơn thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” (1) tại Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã trở thành nền tảng quan trọng trong việc phát huy dân chủ ở cơ sở. Sáu thành tố này phản ánh một cách toàn diện quá trình nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, từ khâu tiếp nhận thông tin, tham gia bàn bạc, tổ chức thực hiện, đến việc kiểm tra, giám sát và cuối cùng là được thụ hưởng thành quả. Đây chính là mô hình dân chủ xã hội chủ nghĩa được cụ thể hóa trong đời sống hằng ngày của người dân ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và đặc biệt là sự phát triển của xã hội số, thực tiễn đang đặt ra những yêu cầu mới. Dân chủ ở cơ sở không chỉ dừng lại ở việc “dân được biết, dân được bàn” hay “dân được thụ hưởng”, mà còn phải xuất phát từ “những gì nhân dân thật sự cần”. Điều đó gợi mở một thành tố nên bổ sung là “dân cần” vào phương châm nói trên. Tổng Bí thư Tô Lâm mừng tuổi công nhân môi trường đô thị tại khu vực vườn hoa Lý Thái Tổ, Hà Nội_Ảnh: TTXVN Cơ sở lý luận và thực tiễn của thành tố “Dân cần” Thứ nhất, về cơ sở lý luận. Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin nhấn mạnh rằng, phải nhất định thiết lập “ nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản ” (2) , tức xác lập nhà nước xã hội chủ nghĩa, mà ở đó quyền lực thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, dân chủ với tính cách là chế độ nhà nước được thể hiện ra như là “ một trong những tính quy định, cụ thể là sự tự quy định của nhân dân” (3) . Nhà nước dân chủ thực sự là nhà nước “ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực , và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân. Chế độ nhà nước ở đây xuất hiện đúng chân tướng của nó, - tức là xuất hiện với tính cách là sản phẩm tự do của con người” (4) . Chủ nghĩa Mác - Lê-nin khẳng định rằng, quyền lực đó không thể thực chất nếu không bắt nguồn từ việc thỏa mãn lợi ích, nhu cầu của nhân dân. C. Mác nhấn mạnh: “Không thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái nhà nước, hay lấy cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần của con người, để giải thích những quan hệ và hình thái đó, mà trái lại, phải thấy rằng những quan hệ và hình thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất” (5) . Và “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định” (6) . Vì thế, thành tố “Dân cần” không phải là sự thêm thắt tùy tiện, mà là một sự bổ sung mang tính lý luận, gắn chặt với bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa. Kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác, V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Cần phải xây dựng ngay chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thực sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước” (7) . V.I. Lê-nin đã chỉ ra nguyên tắc cốt lõi trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa: phải gắn liền với nhân dân, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sức sáng tạo và sự tham gia thực chất của nhân dân. Đây không chỉ là điều kiện bảo đảm cho sự vững mạnh của nhà nước xã hội chủ nghĩa, mà còn là quy luật tất yếu để hiện thực hóa lý tưởng “Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước”. Nhà nước xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân, vì dân” chỉ tồn tại và phát triển khi nhân dân được trực tiếp tham gia vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, từ việc bầu cử, giám sát, phản biện xã hội, cho đến tham gia vào các quyết sách phát triển. Theo đó, quần chúng không chỉ là đối tượng thụ hưởng dân chủ, mà còn là chủ thể sáng tạo. Mọi chính sách, mọi mô hình tổ chức nhà nước chỉ bền vững khi xuất phát từ trí tuệ và nhu cầu thực sự của nhân dân. Ở đây, thành tố “Dân cần” thực sự quan trọng và cần thiết để các quyết sách sẽ có tính đồng thuận, tính khả thi cao, hạn chế tình trạng quan liêu, xa dân và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ chính trị. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân là gốc của nước, làm nên mọi thắng lợi cách mạng Việt Nam. Người từng khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (8) . Đặc biệt, lời dạy của Người dành cho đội ngũ cán bộ, đảng viên: “Việc gì có lợi cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức làm cho kỳ được. Điều gì có hại cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức trừ cho kỳ hết” (9) đã trở thành “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước ta. Điều đó có nghĩa là, dân chủ phải bắt đầu từ việc nhận biết và đáp ứng “những nhu cầu thiết thực của nhân dân”. Nếu dân cần cơm ăn, áo mặc, việc làm, học hành, chăm sóc sức khỏe, thì chính quyền phải có chính sách phù hợp để bảo đảm. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông” (10) . “Vì vậy, chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi” (11) . Từ đó, Người yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên “Phải thật thà quan tâm đến đời sống của nhân dân, tin và dựa vào lực lượng, sáng kiến của nhân dân” (12) . Văn kiện Đại hội VI của Đảng cũng thẳng thắn chỉ rõ, một trong những khuyết điểm của đội ngũ cán bộ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội sau khi nước nhà thống nhất là thiếu sự quan tâm đến nhu cầu của nhân dân; bởi vì, “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức quyền… đã sống xa dân, không quan tâm giải quyết những vấn đề bức thiết do quần chúng đặt ra…” (13) . Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội VI nhấn mạnh: “Phải đặc biệt chăm lo củng cố sự liên hệ giữa Đảng và nhân dân; tiến hành thường xuyên cuộc đấu tranh ngăn ngừa và khắc phục chủ nghĩa quan liêu. Mỗi đảng viên cộng sản phải thật sự vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, đi ngược lại lợi ích của nhân dân là làm suy yếu sức mạnh của Đảng” (14) . Có hiểu được nguyện vọng, mong muốn, nhu cầu hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chúng ta mới có thể có những chính sách đúng đắn, đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu của nhân dân; từ đó, Đảng với nhân dân mới đồng lòng, nhất trí thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới mà Đảng đã đề ra. Gần 40 năm sau, dù đạt nhiều thành tựu và có nhiều chuyển biến tốt trong việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu của nhân dân, nhưng Đảng ta vẫn thẳng thắn thừa nhận: “ Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu gương mẫu, chưa thực sự gần dân, tôn trọng dân, lắng nghe, kịp thời giải quyết những kiến nghị liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân” (15) . Chính vì vậy, hiểu điều người dân cần là tiền đề, là cơ sở quan trọng cho mọi chính sách có thể đi vào cuộc sống một cách khả thi và hiệu quả và Đảng luôn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải gần dân, trọng dân, lắng nghe dân. Thứ hai, về cơ sở thực tiễn. Ở nhiều địa phương, mặc dù Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 được ban hành, nhưng có lúc, có nơi, việc xác định nhu cầu thật sự của nhân dân chưa được coi trọng. Có khi chính quyền đưa ra chủ trương, dự án mà thiếu sự khảo sát, tham vấn, dẫn đến “cái chính quyền làm” chưa khớp với “cái dân cần”. Ví dụ: người dân cần hạ tầng y tế cơ sở, nhưng ngân sách lại ưu tiên cho các công trình không cấp bách hoặc chưa thực sự cần thiết; người dân cần môi trường trong sạch, nhưng vẫn có những dự án được phê duyệt phát triển gây ô nhiễm môi trường sống; người dân cần trường học để giảm tải, học sinh không phải đi xa, nhưng thay vào đó vẫn có những dự án đô thị, cao ốc, khách sạn được triển khai; rất nhiều người dân cần nhà ở xã hội, đồng thời cũng cần chỗ ở ổn định, bảo đảm an toàn, vệ sinh, phù hợp túi tiền. Tuy nhiên, giá đất, giá nhà ở Việt Nam đang ở mức cao so với thế giới và quá cao so với thu nhập của người lao động. Việc thực hiện giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất không theo quy hoạch mà chạy theo nhu cầu của nhà đầu tư; lợi dụng thẩm quyền để lập hoặc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng nhằm trục lợi của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý có thẩm quyền… Thực trạng trên đã ít nhiều làm suy giảm niềm tin và sự đồng thuận xã hội. Năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân được Quốc hội ban hành (Luật số 96/2015/QH13, ngày 25-11-2015) có ý nghĩa rất quan trọng cả về phương diện chính trị, pháp lý và xã hội. Luật đã thể chế hóa Hiến pháp 2013 (Điều 29, Điều 120), bảo đảm cho nhân dân có cơ chế thực thi quyền làm chủ, không chỉ thông qua đại biểu, mà còn trực tiếp bằng lá phiếu. Đây là một hình thức dân chủ trực tiếp, cho phép nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong những vấn đề hệ trọng của đất nước, là bước phát triển mới trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Luật tạo điều kiện cho Nhà nước “lắng nghe” và “làm theo” tiếng nói của người dân một cách chính thức; đồng thời, tạo cơ sở pháp lý cho việc huy động trí tuệ, ý chí và nguyện vọng của nhân dân, góp phần xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân vào Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn những băn khoăn, trăn trở để làm sao Luật này thực sự đi vào cuộc sống. Vùng 4 Hải quân phát động “Chiến dịch Quang Trung”- chiến dịch thần tốc nhằm giúp nhân dân tỉnh Khánh Hoà và Đắk Lắk xây dựng, sửa chữa nhà ở bị thiệt hại do mưa lũ, ổn định cuộc sống_Ảnh: baohaiquanvietnam.vn Nội hàm của thành tố “Dân cần” Như đã đề cập, “Dân cần” chính là việc nhận diện, lắng nghe, thấu hiểu và đáp ứng những nhu cầu chính đáng, hợp pháp, hợp đạo lý của nhân dân. “Dân cần” không chỉ dừng lại ở khía cạnh vật chất, mà bao hàm cả nhu cầu tinh thần, chính trị, xã hội. Có thể xem xét ở một số nội dung cụ thể sau: Dân cần thông tin minh bạch . Trong xã hội hiện đại, người dân cần thông tin minh bạch, vì quyền được tiếp cận thông tin là một nhu cầu thiết yếu gắn liền với quyền làm chủ của nhân dân. Khi nắm rõ các vấn đề liên quan đến quy hoạch, ngân sách hay dự án phát triển do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành, người dân mới có cơ sở để tham gia bàn bạc, đưa ra ý kiến đóng góp xác đáng và thực hiện quyền giám sát của mình đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. Ngược lại, nếu thiếu thông tin hoặc thông tin bị che giấu, quyền dân chủ sẽ chỉ tồn tại trên hình thức, dễ dẫn đến lãng phí, thất thoát và thậm chí là tham nhũng. Minh bạch thông tin không chỉ giúp Nhà nước củng cố niềm tin xã hội, mà còn huy động được trí tuệ, sự đồng thuận và trách nhiệm của toàn dân trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Dân cần được bảo đảm an sinh xã hội . Đây là nền tảng quan trọng nhất để bảo đảm quyền sống, quyền phát triển và quyền hạnh phúc của mỗi con người. Trong bất kỳ xã hội nào, các nhu cầu cơ bản, như chăm sóc y tế, tiếp cận giáo dục, có việc làm ổn định, được bảo đảm an ninh, trật tự và thụ hưởng các phúc lợi xã hội đều là những điều kiện thiết yếu để người dân yên tâm lao động, học tập và cống hiến. Nếu những nhu cầu này không được đáp ứng công bằng, kịp thời thì bất bình đẳng xã hội sẽ gia tăng, đời sống của người dân bị đe dọa, từ đó nảy sinh mâu thuẫn và gây mất ổn định xã hội. Ngược lại, khi Nhà nước coi an sinh xã hội là chính sách trụ cột, quan tâm đầu tư và thực hiện tốt, thì không chỉ đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, mà niềm tin vào chế độ chính trị cũng ngày càng vững chắc, tạo động lực cho phát triển bền vững đất nước. Dân cần cơ hội phát triển . Chúng ta biết rằng, an sinh xã hội mới chỉ bảo đảm cho con người những nhu cầu tối thiểu, trong khi sự phát triển lại đòi hỏi những điều kiện cao hơn để khẳng định giá trị và năng lực cá nhân. Người dân không chỉ cần được bảo vệ trước rủi ro trong cuộc sống, mà còn cần được mở ra những cánh cửa để sáng tạo, khởi nghiệp, làm giàu hợp pháp, đóng góp và hưởng lợi từ các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Nếu thiếu cơ hội, xã hội sẽ trì trệ, tài năng bị lãng phí, bất bình đẳng dễ gia tăng. Ngược lại, khi Nhà nước tạo môi trường minh bạch, công bằng, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và hỗ trợ những người yếu thế, thì mỗi công dân đều có thể phát huy hết khả năng của mình, từ đó vừa nâng cao đời sống cá nhân, vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của đất nước. Dân cần môi trường sống an toàn, bền vững . Đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sức khỏe, chất lượng cuộc sống và sự phát triển lâu dài của cộng đồng. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, thiên tai, dịch bệnh và ô nhiễm môi trường gia tăng, việc bảo vệ môi trường không còn là lựa chọn mà là một đòi hỏi cấp thiết. Người dân không thể sống yên ổn nếu nguồn nước bị ô nhiễm, không khí độc hại hay đất đai bạc màu,… Ngược lại, một môi trường trong lành, an toàn sẽ tạo nền tảng cho phát triển kinh tế xanh, nâng cao đời sống, giảm chi phí y tế và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Do đó, việc thực thi nghiêm ngặt các chính sách bảo vệ môi trường, phát triển năng lượng sạch, quản lý tài nguyên hợp lý và khuyến khích sự tham gia của toàn dân chính là cách thiết thực để bảo đảm một tương lai bền vững cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Dân cần được tôn trọng, lắng nghe. Nhu cầu tinh thần, nhân phẩm, quyền tham gia vào đời sống chính trị - xã hội là một giá trị không thể thiếu trong xã hội dân chủ. Người dân không chỉ sống bằng cơm áo, an sinh, mà còn cần được thừa nhận nhân phẩm, được đối thoại và tham gia vào đời sống chính trị - xã hội. Khi tiếng nói của nhân dân được lắng nghe, những chính sách ban hành sẽ gần gũi thực tiễn, phản ánh đúng nhu cầu và nguyện vọng của cộng đồng, từ đó tạo nên sự đồng thuận xã hội bền vững. Ngược lại, nếu ý kiến người dân bị xem nhẹ, không được coi trọng thì dễ nảy sinh tâm lý bất mãn, xa lánh chính quyền và làm suy giảm niềm tin vào thể chế. Chính vì vậy, tôn trọng và lắng nghe người dân không chỉ thể hiện bản chất “của dân, do dân, vì dân” của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà còn khơi dậy tinh thần trách nhiệm, sự chủ động và sáng tạo của Nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Như vậy, “Dân cần” là sự cụ thể hóa khía cạnh “lợi ích chính đáng, hợp pháp, hợp đạo lý của nhân dân”, bảo đảm rằng dân chủ ở cơ sở không bị trừu tượng hóa, mà gắn chặt với đời sống hằng ngày của người dân. Ngoài ra, “Dân cần” còn thể hiện tính nhân văn và đạo lý của dân chủ. Đáp ứng cái người dân cần là bảo đảm quyền lợi cho tất thảy mọi người, không thiên vị cho nhóm lợi ích nào. Chính điều đó khẳng định, dân chủ ở cơ sở không chỉ là thủ tục (bầu cử, họp bàn), mà còn là sự chăm lo, tôn trọng đời sống vật chất và tinh thần của từng con người. Vai trò của thành tố “Dân cần” trong phát huy dân chủ ở cơ sở hiện nay Một là, “Dân cần” bảo đảm tính thực chất của dân chủ . Nếu thực hiện dân chủ chỉ dừng lại ở việc thông tin, bàn bạc mà không xuất phát từ nhu cầu của nhân dân, nó dễ trở thành hình thức. “Dân cần” bảo đảm dân chủ gắn với cái cốt lõi, cái thiết thực. Có nghĩa rằng, dân chủ không chỉ là nguyên tắc chính trị chung chung, mà phải được hiện thực hóa qua việc bảo đảm lợi ích thiết thân, hợp pháp và hợp đạo lý của nhân dân. Những nhu cầu, như được sống an toàn, có việc làm, con cái được học hành, mọi người dân đều chăm sóc sức khỏe, được tham gia bàn bạc công việc chung của cộng đồng, của địa phương, của đất nước,... chính là những lợi ích chính đáng. Khi đáp ứng những cái “dân cần”, dân chủ mới thực sự có nội dung và giá trị thực tiễn. Bên cạnh đó, nếu chỉ nói “dân làm chủ” mà không xác định cụ thể dân cần gì, dân chủ dễ bị trừu tượng hóa, xa rời đời sống và “Dân cần” trở thành thước đo, là điểm nối giữa nguyên tắc chính trị với thực tế đời sống hằng ngày. Hai là, “Dân cần” sẽ tạo sự đồng thuận xã hội và sự ủng hộ của n hân dân . Khi cái “dân cần” được giải quyết, họ sẽ tích cực tham gia vào cái “dân làm, dân kiểm tra”. Khi Nhà nước và chính quyền quan tâm, đáp ứng những nhu cầu thiết thực của nhân dân, như an sinh, việc làm, y tế, giáo dục, môi trường sống…, người dân cảm nhận được sự lắng nghe và tôn trọng. Chính sự thỏa mãn nhu cầu căn bản ấy sẽ tạo ra niềm tin và đồng thuận xã hội, vì người dân thấy rằng lợi ích của mình gắn với lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội. Và rằng, “Dân cần” được quan tâm giải quyết thì “dân làm, dân kiểm tra” mới có sức sống thực tiễn. Nếu nhu cầu thiết yếu chưa được giải quyết, người dân khó nhiệt tình tham gia vào các công việc cộng đồng. Khi những cái dân cần được bảo đảm, người dân có động lực và trách nhiệm tích cực hơn trong việc bàn bạc, thực hiện, giám sát, từ đó nâng cao hiệu quả của dân chủ cơ sở. Hơn nữa, khi cái dân cần được đáp ứng, nhân dân nhất định sẽ ủng hộ các chủ trương, chính sách, giúp làm giảm mâu thuẫn xã hội, hạn chế xung đột tiềm tàng có thể xảy ra. Vì thế, có thể nói, “Dân cần” trở thành điểm xuất phát của đồng thuận xã hội, yếu tố góp phần tạo nên nền tảng cho ổn định chính trị. Ba là, “Dân cần” là điểm xuất phát của chính sách . Các chủ trương, kế hoạch phát triển ở địa phương phải lấy cái dân cần làm cơ sở. Nếu ngược lại, chính sách sẽ khó thực hiện và kém hiệu quả. Ở đây, “Dân cần” còn gắn dân chủ với thực tiễn quản lý nhà nước. Khi nắm được người dân cần gì, chính quyền mới có định hướng cụ thể để hoạch định chính sách mang tính khả thi và hiệu quả. Như vậy, “Dân cần” vừa là tiêu chí, vừa là cơ chế để kiểm nghiệm hiệu quả của dân chủ ở cơ sở. Bốn là, “Dân cần” góp phần củng cố niềm tin của n hân dân . Đáp ứng cái người dân cần chính là cách tốt nhất để nhân dân thấy rõ “Đảng và Nhà nước vì dân”, từ đó củng cố niềm tin vào chế độ, vào hệ thống chính trị. Nói cách khác, “Dân cần” chính là một trong những thước đo chân thực của niềm tin nhân dân. Người dân đánh giá Đảng và Nhà nước không chỉ qua những tuyên bố, mà chủ yếu qua việc giải quyết những vấn đề thiết thực trong đời sống hằng ngày. Sự quan tâm, đáp ứng “dân cần” cũng chính là thể hiện bản chất “vì dân” của Đảng và Nhà nước ta. Từ đó cho thấy, chủ trương “dân là gốc” sẽ trở nên cụ thể, sinh động khi gắn với việc thỏa mãn cái dân cần. Chính điều này chứng minh rằng, Đảng và Nhà nước không vì lợi ích riêng hay vì nhóm lợi ích, mà vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân. Những chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết chỉ trở nên có giá trị khi chạm tới đúng cái người dân mong muốn, trông đợi. Cái dân cần được thực thi, nhân dân cảm nhận sự tận tụy, tận tâm, tận hiến của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là con đường ngắn nhất, vững chắc nhất để tạo dựng và duy trì niềm tin ấy, biến sự gắn bó giữa Đảng - Nhà nước - nhân dân thành mối quan hệ bền chặt. Đề xuất giải pháp để thực hiện thành tố “Dân cần” Thứ nhất , nghiên cứu thể chế hóa và luật hóa thành tố “Dân cần” trong các văn bản quy phạm pháp luật, các quy chế dân chủ ở cơ sở, bảo đảm trách nhiệm giải trình của chính quyền trước nhu cầu, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Nghị quyết số 43-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII chỉ rõ: “Xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật phải xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, bảo đảm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và giải quyết hài hòa lợi ích trong xã hội”. Thứ hai , tăng cường các kênh đối thoại, lắng nghe nhân dân. Tổ chức đối thoại định kỳ giữa lãnh đạo chính quyền với nhân dân; ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội để khảo sát nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân; mở rộng hoạt động tiếp công dân của các cấp lãnh đạo, nhất là ở cấp tỉnh và cấp cơ sở. V.I. Lê-nin từng nhấn mạnh: “Quần chúng càng chủ động, càng có nhiều ý kiến, càng mạnh dạn và càng có tinh thần sáng tạo khi tiến hành công việc đó thì lại càng tốt ” (16) . Nghị quyết số 43-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII yêu cầu: “Thực hiện nghiêm chế độ người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp định kỳ tiếp xúc, đối thoại với Nhân dân, cử lãnh đạo làm việc với các tổ chức đại diện của Nhân dân; lắng nghe và giải quyết kịp thời những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề Nhân dân bức xúc, dư luận xã hội quan tâm”. Thứ ba , nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ cơ sở. Cán bộ phải gắn bó với nhân dân, gần dân, thật sự hiểu dân thì mới biết người dân cần gì. Lợi ích chính đáng của người dân phải trở thành tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Bác đã nói cán bộ là đày tớ của nhân dân, chỗ nào nhân dân cần đến mình là mình phải đến, bất kỳ chỗ nào cũng là Tổ quốc, là đất nước, cũng là cương vị công tác của cán bộ. Phải nhớ rằng Đảng, Chính phủ tin cậy vào cán bộ, nơi nào khó có cán bộ. Việc gì khó có cán bộ” (17) . Nghị quyết số 43-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII cũng đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phải tăng cường nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp, kịp thời giải quyết những tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của cử tri và nhân dân; đề cao trách nhiệm của cấp ủy, hệ thống chính trị ở cơ sở, cán bộ, đảng viên... thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Thứ tư , phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Đây là cầu nối quan trọng giúp tập hợp, phản ánh nhu cầu của người dân đến chính quyền. Thông qua mạng lưới rộng khắp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội nắm bắt sát sao tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của từng giai tầng trong xã hội, bảo đảm dòng chảy hai chiều: từ trên xuống (chính sách, chủ trương) và từ dưới lên (nguyện vọng, nhu cầu). Hơn nữa, tập hợp và phản biện xã hội là những chức năng quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; nhờ đó, “dân cần gì, dân muốn gì” mới được chuyển hóa thành kiến nghị chính sách. Thứ năm , khuyến khích người dân mạnh dạn bày tỏ nhu cầu. Trong lịch sử dân tộc, chúng ta đã được biết đến những truyền thống dân chủ ở cơ sở biểu hiện qua hoạt động của các thiết chế tự quản cộng đồng gắn chặt với đời sống sản xuất nông nghiệp và văn hóa làng xã. Trong bối cảnh xã hội hiện đại ngày nay, yêu cầu cấp thiết là cần phát huy truyền thống đó để xây dựng văn hóa dân chủ ở cơ sở, khích lệ người dân mạnh dạn, nhận rõ rằng, việc nói lên cái mình cần là quyền và trách nhiệm mà không sợ bị định kiến hoặc coi thường. Trong Nghị quyết số 43-NQ/TW, Đảng ta cũng nhấn mạnh yêu cầu: “Xây dựng cơ chế phù hợp để Nhân dân tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước, những vấn đề có liên quan mật thiết đến cuộc sống của người dân; nêu cao tinh thần cầu thị, tiếp thu, trách nhiệm thông tin, giải trình của các cơ quan nhà nước đối với những kiến nghị, đề xuất của Nhân dân theo quy định”. “Dân cần” không chỉ là một khái niệm bổ sung, mà là một “thành tố tất yếu” trong phát huy dân chủ ở cơ sở hiện nay. Nó phản ánh yêu cầu khách quan của việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, gắn bó với tư tưởng “dân là gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chỉ khi cái người dân cần được tôn trọng và giải quyết thỏa đáng, 6 thành tố còn lại của phương châm dân chủ “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” mới thực sự có sức sống, vận hành hiệu quả và toàn diện. Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới, hội nhập sâu rộng và chuyển đổi số mạnh mẽ, việc bổ sung và thực thi thành tố “Dân cần” không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn mang giá trị thực tiễn to lớn, góp phần nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, tạo sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân và từ đó, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân./. ------------------------------ (1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 96 (2) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 19, tr. 47 (3) , (4) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập , Sđd , t. 1, tr. 349 (5) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập , Sđd , t. 13, tr. 14 (6) C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập , Sđd , t. 19, tr. 36 (7) V.I. Lênin: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 31, tr. 337 (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 453 (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 11, tr. 487 (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 7, tr. 176 (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 9, tr. 518 (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 9, tr. 520 (13) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 47, tr. 792 (14) Văn kiện Đảng toàn tập , Sđd , t. 47, tr. 710 - 711 (15) Xem: Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-quyet-43-NQ-TW-2023-truyen-thong-dai-doan-ket-toan-dan-toc-xay-dung-dat-nuoc-phon-vinh-589018.aspx (16) V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd , t. 31, tr. 337 (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 12, tr. 212
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/1005802/xay-dung-giai-cap-cong-nhan-viet-nam-hien-dai%2C-lon-manh.aspx
Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh
23-11-2024
null
Đồng chí Nguyễn Đình Khang, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát biểu khai mạc hội thảo_Ảnh: Thu Thanh Hội thảo do các đồng chí: GS, TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; Nguyễn Đình Khang, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; GS, TS Tạ Ngọc Tấn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chủ trì. Phát biểu khai mạc hội thảo, đồng chí Nguyễn Đình Khang khẳng định: Xây dựng giai cấp công nhân nước ta lớn mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, của mỗi người công nhân và của toàn xã hội. Hội thảo nhận được 22 tham luận chuyên đề sâu của các chuyên gia, nhà khoa học. Hội thảo là dịp để Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, cùng với các cơ quan ở Trung ương, địa phương nhìn nhận dưới cả lăng kính lý luận và thực tiễn sinh động về những khía cạnh địa vị chính trị, địa vị pháp lý, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vấn đề tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh đó, đây là dịp để đánh giá kết quả thực hiện những chủ trương, định hướng, giải pháp lớn về lao động, việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển thị trường lao động; đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tay nghề chuyên môn, kỹ thuật; vấn đề tác phong, kỷ luật lao động, nâng cao năng suất lao động; hay vấn đề trí thức hóa công nhân… Các đồng chí chủ trì hội thảo_Ảnh: Thu Thanh Phát biểu đề dẫn hội thảo, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh: Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây là một chủ trương rất quan trọng, đúng đắn và kịp thời, phù hợp với yêu cầu, điều kiện phát triển mới của đất nước trong bối cảnh thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Các nhà kinh điển từng nêu ra nguyên lý giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra, nhưng thực tiễn cách mạng công nghiệp qua hơn một thế kỷ gần đây cho thấy, giai cấp công nhân còn là sản phẩm của cách thức mỗi quốc gia tham gia vào các cuộc cách mạng công nghiệp. Lịch sử ghi nhận rằng, đã có những quốc gia công nghiệp hóa mất hàng trăm năm nhưng các nước đi sau, do kế thừa thành quả và có cách làm riêng, đã rút ngắn lại còn 50 thậm chí 30 - 20 năm. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, những quốc gia tiến hành công nghiệp hóa thành công nhất thiết phải xây dựng được đội ngũ công nhân, người lao động có đủ năng lực, phẩm chất vận hành nền công nghiệp hiện đại. Để chủ động thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành các chủ trương, chính sách về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng giai cấp công nhân hiện đại trong điều kiện mới. Trong tư duy lý luận của Đảng, giai cấp công nhân hiện đại vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền sản xuất công nghiệp hiện đại gắn với những thành tựu khoa học - công nghệ mới nhất, lao động có năng suất, chất lượng cao, có khả năng hội nhập quốc tế, thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ; có tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, hệ tư tưởng khoa học, được tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại chính là khâu chuẩn bị nhân lực cho giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực phát triển. Sau gần 40 năm đổi mới, trong đó có hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW, ngày 28-1-2008, về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bốn năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, công tác xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh đạt được những kết quả quan trọng: Giai cấp công nhân Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng, chất lượng, bước đầu hình thành đội ngũ công nhân trí thức, có tay nghề, kỹ năng cao, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Cho đến nay, công nhân nước ta đã có hơn 15 triệu người, chiếm khoảng 15% dân số, 29% lực lượng lao động xã hội, tạo ra gần 70% giá trị tổng sản phẩm xã hội. Công nhân, lao động nước ta có trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng lao động, tác phong công nghiệp ngày càng cao. Đến năm 2023, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 27,2%, trong đó trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm khoảng 17%, chủ yếu làm việc trong các lĩnh vực công nghệ cao, như dầu khí, điện lực, điện tử viễn thông, công nghệ thông tin, tự động hóa, công nghệ hóa học, sinh học... Giai cấp công nhân Việt Nam đã phát huy vai trò tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nòng cốt trong liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới chính là đạt được hai mục tiêu chiến lược 100 năm: đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân Việt Nam đóng vai trò chủ thể trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới sáng tạo, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước. Đồng thời, với những lợi thế của mình, giai cấp công nhân Việt Nam đã đóng vai trò trung tâm, nòng cốt của khối liên minh, cùng hợp tác, giúp đỡ, phối hợp hành động với nông dân và trí thức trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Công đoàn Việt Nam có đóng góp tích cực vào công tác xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh. Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đại diện cho người lao động. Công đoàn cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động. Công đoàn trực tiếp tham gia xây dựng chính sách liên quan đến công nhân, lao động; tham gia tuyên truyền, vận động giai cấp công nhân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tham gia đào tạo, bồi dưỡng, chăm lo thiết thực đời sống công nhân, đồng hành cùng Chính phủ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phát triển bền vững đất nước. Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân Việt Nam phản ánh chính quá trình trưởng thành của công đoàn Việt Nam. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh còn những hạn chế, bất cập. Số lượng, chất lượng giai cấp công nhân, lao động nước ta chưa đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việc đào tạo, bồi dưỡng công nhân, người lao động còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Một bộ phận công nhân nước ta giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị còn thấp, không đồng đều; sự hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế; chưa thiết tha phấn đấu vào Đảng, bàng quan, thờ ơ trước các sự kiện chính trị - xã hội, vận mệnh của dân tộc. Mặc dù các nghị quyết của Đảng đã nêu những quan điểm, giải pháp lớn để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh nhưng chậm được thể chế hóa, cụ thể hoá, hoặc thực hiện chưa có hiệu quả, chưa thật sự đi vào cuộc sống. PGS, TS Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản phát biểu tại hội thảo_Ảnh: Thu Thanh Phát biểu tại hội thảo, PGS, TS Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản khẳng định, giai cấp công nhân là lực lượng kết tinh trí tuệ, sức mạnh, bản lĩnh, tinh thần yêu nước, yêu lao động của dân tộc Việt Nam thời đại mới; là cơ sở chính trị - xã hội trọng tâm của Đảng và Nhà nước; đội ngũ nòng cốt trong khối liên minh công - nông - tri thức và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; có trách nhiệm vận hành những cơ sở và phương tiện sản xuất hiện đại của xã hội; là lực lượng giữ vai trò tiên phong trong mọi chặng đường cách mạng của dân tộc. Trong bối cảnh mới, cần tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, ưu việt theo quan điểm, chỉ dẫn, tinh thần còn vẹn nguyên giá trị từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần “giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng”, phát triển Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng tươi đẹp, phồn vinh. Dự báo xu hướng biến đổi của giai cấp công nhân Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045, PGS, TS Dương Trung Ý, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, giai cấp công nhân Việt Nam sẽ có những thay đổi mạnh mẽ trong những năm tới, chủ yếu là nhờ vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi nền kinh tế. Tuy nhiên, việc duy trì sự công bằng xã hội, cải thiện chất lượng đời sống và bảo vệ quyền lợi của công nhân vẫn sẽ là thách thức lớn mà Việt Nam phải đối mặt trên con đường phát triển bền vững. Tầm nhìn đến năm 2045 là xây dựng một xã hội công bằng, hiện đại, nơi mà công nhân không chỉ đóng góp sức lực mà còn là lực lượng sáng tạo, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế tri thức. Để xây dựng một đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước phải liên tục đổi mới, sáng tạo và giải quyết những vấn đề mới phát sinh trong bối cảnh thời đại mới. Trong đó, việc chăm lo cho giai cấp công nhân, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường chính sách bảo vệ quyền lợi công nhân sẽ là những yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước. Kết luận Hội thảo, GS, TS Tạ Ngọc Tấn đánh giá: với tinh thần nghiêm túc, thẳng thắn, hội thảo khoa học “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh” đã hoàn thành tốt các nội dung, yêu cầu đề ra. Các phát biểu đã tập trung làm rõ những những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay, nhiều ý kiến thảo luận đã đưa ra một số giải pháp nhằm xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Cụ thể: Về lý luận, các ý kiến tham luận đều khẳng định, giai cấp công nhân là lực lượng kết tinh trí tuệ, sức mạnh, bản lĩnh, tinh thần yêu nước, yêu lao động của dân tộc Việt Nam thời đại mới; là cơ sở chính trị - xã hội trọng tâm của Đảng và Nhà nước; là đội ngũ nòng cốt trong khối liên minh công - nông - trí thức và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, cần tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, ưu việt theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra thuận lợi, thời cơ cũng như nhiều thách thức, làm thay đổi cơ bản về tư duy, cách suy nghĩ, cách làm, cách sống của giai cấp công nhân; tác động của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, những vấn đề an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống cũng có nhiều tác động đến giai cấp công nhân. Vấn đề về xây dựng giai cấp công nhân hiện nay phải giải quyết hài hòa cả lý luận và thực tiễn; cần phải tiếp tục làm rõ hơn, tư duy về một giai cấp hiện đại, mang tính chất của kỷ nguyên mới. Hiện đại về tư tưởng, tư duy, về phong cách lao động, về số lượng, chất lượng, cơ cấu hợp lý. Xây dựng giai cấp công nhân có giá trị toàn cầu nhưng vẫn mang bản sắc văn hóa Việt Nam; giải quyết tốt mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc; giữa giai cấp công nhân với Đảng và hệ thống chính trị (trong đó giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo thông qua Đảng tiền phong). Để xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh thì cần phải đặt trong mối tương quan với mục tiêu phát triển đất nước, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế. Về thực tiễn , nội dung các tham luận, đặc biệt là tham luận của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho thấy, sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và 10 năm thực hiện Kết luận số 79-KL/TW, ngày 25-12-2013. của Bộ Chính trị (khóa XI), về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW, đời sống vật chất, tinh thần của giai cấp công nhân từng bước được nâng cao; việc làm ổn định; tiền lương, thu nhập được cải thiện; môi trường làm việc bảo đảm an toàn, vệ sinh, lao động; quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, các cuộc tranh chấp lao động và ngừng việc tập thể giảm. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở ngày một tốt hơn; chế độ an sinh xã hội và phúc lợi xã hội phát triển… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tiễn cho thấy một số vấn đề tồn tại, cấp bách của công nhân lao động chưa giải quyết triệt để. Toàn cảnh Hội thảo khoa học quốc gia “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh”_Ảnh: Thu Thanh Về giải pháp, trước những hạn chế được nêu ra, các tham luận, ý kiến thảo luận thống nhất quan điểm, để xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh đáp ứng yêu cầu thực tiễn, các cấp, các ngành cần thực hiện một số giải pháp sau: Một là , tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện lý luận về giai cấp công nhân trong điều kiện mới. Hai là , nâng cao hiệu quả tham gia xây dựng và thực hiện cơ chế, chính sách đối với giai cấp công nhân; đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề; thực hiện tốt các chính sách, pháp luật và chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân; chú trọng đến chính sách việc làm, đầu tư vào sản xuất, kinh doanh để tạo ra nhiều việc làm mới, thu hút ngày càng nhiều lao động vào làm việc; khích lệ, tạo cơ hội, điều kiện vật chất, tinh thần cho công nhân học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, phát huy tài năng, trí tuệ, sự cần cù, tinh thần vượt khó, cống hiến; đẩy mạnh tiến độ thực hiện các đề án, dự án về nhà ở, các thiết chế văn hóa cho công nhân lao động các khu công nghiệp, khu chế xuất; quan tâm chăm lo lợi ích, đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân. Ba là , quan tâm bồi dưỡng ý thức chính trị, ý thức giai cấp, lòng tự hào, tự tôn dân tộc cho giai cấp công nhân; xây dựng, tổ chức tốt đời sống tinh thần, văn hóa cho công nhân; đầu tư thỏa đáng cho các hoạt động tuyên truyền, giáo dục cho công nhân lao động; đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm xây dựng và nâng cao ý thức chính trị cho công nhân; đổi mới tuyên truyền về hệ thống chính sách, pháp luật, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá cho giai cấp công nhân. Bốn là , tiếp tục đẩy mạnh trí thức hóa công nhân, đổi mới mạnh mẽ, hoàn thiện thể chế kinh tế, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, tăng sức cạnh tranh; tổ chức hệ thống thông tin thị trường lao động; hỗ trợ doanh nghiệp trong việc bảo đảm sản xuất kinh doanh, duy trì việc làm cho người lao động; đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng trong xã hội và trong mỗi doanh nghiệp để có hiểu biết thực chất về Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, về trí thức hóa công nhân,… Ngược lại, công nhân lao động cần chủ động, tích cực nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò tầm quan trọng của chính mình trong sự phát triển chung của doanh nghiệp cũng như của toàn xã hội, xác định phương châm học suốt đời, làm giàu tri thức và kỹ năng nghề nghiệp, chủ động tiếp thu, ứng dụng khoa học - công nghệ mới, đồng thời sẵn sàng thay đổi, sẵn sàng thích nghi với môi trường mới, công việc mới, yêu cầu mới. Năm là , nâng cao năng lực tiếp cận, làm chủ khoa học - công nghệ của giai cấp công nhân Việt Nam trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; xây dựng dự báo về nhu cầu nhân lực cho từng ngành nghề làm cơ sở cho xây dựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bố trí lao động trong tương lai dài, trung, ngắn hạn; cơ cấu lại ngành nghề đào tạo phù hợp với những ngành nghề ưu tiên phát triển; trong đào tạo đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn; trong đào tạo cần kết hợp đào tạo tại trường với đào tạo thực tiễn tại các doanh nghiệp; các doanh nghiệp phải có kế hoạch sử dụng lao động, bố trí lại lao động, đào tạo lại song song với việc xây dựng phương án đầu tư thiết bị, công nghệ mới; có các chính sách bảo đảm an ninh việc làm, an sinh xã hội cho người lao động yếu thế, trong số lao động phải dịch chuyển trong quá trình ứng dụng khoa học - công nghệ mới có những lao động nữ, lao động đã có tuổi, trình độ không đáp ứng được yêu cầu mới. Sáu là , đổi mới mạnh mẽ tổ chức và hoạt động Công đoàn Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 12-6-2021, của Bộ Chính trị… Đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn phù hợp với số lượng, cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của đoàn viên, người lao động và yêu cầu hội nhập quốc tế; mở rộng độ bao phủ của công đoàn trong các loại hình doanh nghiệp để tập hợp, phát triển đoàn viên; thu hút người lao động gia nhập tổ chức công đoàn từ hiệu quả của việc chăm lo lợi ích; xây dựng và củng cố niềm tin thông qua hoạt động chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng để đoàn viên, người lao động gắn bó với tổ chức công đoàn; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức công đoàn, vừa bảo đảm sự lãnh đạo xuyên suốt của Đảng, nhất là quan điểm phát triển Công đoàn Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Bảy là , tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm của Nhà nước đối với giai cấp công nhân; ban hành nghị quyết mới về xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh làm tiền đề để xây dựng Chiến lược phát triển giai cấp công nhân Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045, đặc biệt xây dựng đội ngũ công nhân trí thức; giữ vững, tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng phải đi đôi với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân; củng cố và tăng cường liên minh giai cấp công nhân - nông dân - trí thức; thúc đẩy mô hình quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ giữa người lao động với người sử dụng lao động, với tầng lớp thương nhân, giới chủ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; có giải pháp đấu tranh, phản bác những quan điểm sai lệch, phủ nhận vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1208602/dai-hoi-xiv--khoi-dau-ky-nguyen-phat-trien-moi-voi-mo-hinh-tang-truong-nhanh-va-ben-vung-dua-tren-khoa-hoc---cong-nghe%2C-doi-moi-sang-tao.aspx
Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo
22-01-2026
Dấu mốc lịch sử mở ra kỷ nguyên phát triển mới
Toàn cảnh phiên khai mạc Đại hội XIV của Đảng_Ảnh: TTXVN Dấu mốc lịch sử mở ra kỷ nguyên phát triển mới Đại hội XIV của Đảng được đặt trong bối cảnh lịch sử đặc biệt, khi đất nước đứng trước giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu, điều kiện và động lực hoàn toàn khác so với các chặng đường trước. Trong đó, “kỷ nguyên phát triển mới” không chỉ là giai đoạn tăng trưởng kinh tế về mặt số lượng, mà là sự chuyển biến về chất của mô hình phát triển quốc gia. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu” (1) . Đó là sự thay đổi căn bản về cách thức huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực; về động lực thúc đẩy tăng trưởng; về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển con người. “Kỷ nguyên phát triển mới” gắn liền với việc tái định hình toàn diện tư duy phát triển, chuyển từ mô hình dựa nhiều vào khai thác các yếu tố đầu vào hữu hình sang mô hình dựa trên tri thức, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Qua các giai đoạn lịch sử, tư duy phát triển của Việt Nam không ngừng đổi mới và hoàn thiện. Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, mô hình phát triển chủ yếu dựa vào việc phát huy lợi thế về lao động dồi dào, tài nguyên thiên nhiên và mở rộng sản xuất để giải quyết những nhu cầu cấp bách của nền kinh tế. Tiếp đó, trong các thập niên đầu của thế kỷ XXI, cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành động lực quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhanh, mở rộng quy mô nền kinh tế và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, khi những lợi thế về lao động giá rẻ và tài nguyên dần thu hẹp, dư địa tăng trưởng dựa vào vốn và mở rộng quy mô dần cạn kiệt, yêu cầu chuyển sang mô hình phát triển mới dựa trên tri thức, công nghệ và sáng tạo trở thành tất yếu. So với các giai đoạn trước, “kỷ nguyên phát triển mới” mà Đại hội XIV xác định không chỉ là sự kế tiếp về thời gian, mà là bước nhảy vọt về chất, thể hiện trình độ phát triển cao hơn của nền kinh tế và năng lực quản trị quốc gia. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng, từ đây, mọi người dân Việt Nam, hàng trăm triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng tâm hiệp lực, chung sức đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh” (2) . Những điều kiện hình thành kỷ nguyên phát triển mới của Việt Nam được tích lũy từ thực tiễn gần 40 năm đổi mới, tập trung vào một số yếu tố sau. Thứ nhất, hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và sáng tạo. Các cải cách về pháp luật, hành chính, phân cấp, phân quyền, cùng với nỗ lực xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển bền vững. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực của Việt Nam không ngừng được nâng cao về trình độ học vấn, kỹ năng và khả năng tiếp cận tri thức mới, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và tăng cường hợp tác quốc tế. Lực lượng trí thức, đội ngũ doanh nhân, nhà khoa học ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội. Thứ hai, hội nhập quốc tế sâu rộng là một điều kiện then chốt, giúp Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, tiếp cận công nghệ, tri thức và các chuẩn mực quản trị hiện đại. Vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng được nâng cao, thể hiện qua vai trò ngày càng tích cực trong các diễn đàn khu vực và quốc tế, qua đó mở ra những cơ hội mới cho phát triển dựa trên hợp tác, đổi mới và sáng tạo. Những thành tựu đó tạo nên nền tảng vững chắc để đất nước bước vào một kỷ nguyên phát triển mới với tầm nhìn dài hạn và mục tiêu cao hơn. Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra một số giới hạn của mô hình tăng trưởng cũ. Tốc độ tăng năng suất lao động còn chậm so với yêu cầu phát triển, chất lượng tăng trưởng chưa thực sự bền vững, hàm lượng khoa học - công nghệ trong sản phẩm và dịch vụ còn hạn chế. Nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” trở thành thách thức hiện hữu nếu Việt Nam không kịp thời đổi mới mô hình phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Những vấn đề về môi trường, chênh lệch phát triển giữa các vùng, áp lực an sinh xã hội cũng đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận phát triển theo hướng hài hòa, bao trùm và bền vững hơn. Chính từ những điều kiện và thách thức đó, yêu cầu chuyển sang mô hình phát triển dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành lựa chọn chiến lược mang tính tất yếu. Đại hội XIV được kỳ vọng là bước ngoặt lịch sử, đánh dấu sự chuyển đổi có tính quyết định từ mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào các yếu tố truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên tri thức và sáng tạo. Trong kỷ nguyên phát triển mới, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là công cụ hỗ trợ, mà trở thành động lực cốt lõi, dẫn dắt quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của đất nước. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn để khẳng định Đại hội XIV là dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển quốc gia, mở ra một kỷ nguyên mới hướng tới phát triển nhanh và bền vững. Dấu mốc chuyển đổi mô hình phát triển của Đại hội XIV Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước, khi lần đầu tiên yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển được đặt ra một cách toàn diện, nhất quán và mang tầm chiến lược dài hạn. Tổng Bí thư nêu rõ “chuyển đổi mô hình phát triển và xác lập mô hình tăng trưởng mới trước hết là chuyển đổi mạnh mẽ về tư duy: từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu; từ dựa vào tài ng uyên và lao động giản đơn sang dựa vào tri thức, công nghệ và năng suất; từ quản lý sang kiến tạo phát triển; từ Nhà nước “làm thay” sang “tạo điều kiện để xã hội và doanh nghiệp sáng tạo” (3) . Trọng tâm của sự chuyển đổi là dịch chuyển căn bản từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình phát triển dựa trên chất lượng, hiệu quả và bền vững. Trong tư duy phát triển mới, bên cạnh tăng trưởng GDP, cần gắn chặt với năng suất lao động, chất lượng thể chế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Đây là bước tiến quan trọng trong nhận thức, thể hiện sự trưởng thành của tư duy lý luận và thực tiễn phát triển của Đảng trong bối cảnh mới. Đổi mới tư duy phát triển bắt đầu từ việc nhận diện và đánh giá một cách hệ thống những động lực tăng trưởng truyền thống . Việc dựa chủ yếu vào mở rộng quy mô đầu tư, khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giá rẻ đã giúp nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao trong một giai đoạn dài, nhưng cũng bộc lộ một số hạn chế về năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh. Đại hội XIV đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm sang nâng cao năng suất lao động xã hội, trong đó, năng suất tổng hợp (TFP) được coi là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tăng trưởng và trình độ phát triển của nền kinh tế. Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao TFP, thông qua việc cải tiến quy trình sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản trị và tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” đã nêu rõ: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới” (4) . Đồng thời, phát triển bền vững về môi trường trở thành yêu cầu không thể tách rời, đòi hỏi các quyết định tăng trưởng phải được cân nhắc trên cơ sở hài hòa giữa lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái. Trong mô hình phát triển mới, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực trung tâm, dẫn dắt quá trình tăng trưởng và phát triển. Sự chuyển dịch này phản ánh xu thế chung của thế giới, đồng thời phù hợp với điều kiện và yêu cầu phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được Đảng ta nhận định là “yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc” (5) . Bên cạnh tiếp nhận và ứng dụng công nghệ từ bên ngoài, Việt Nam cần từng bước làm chủ công nghệ, tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đổi mới sáng tạo phải gắn chặt với doanh nghiệp, chủ thể trung tâm của nền kinh tế thị trường, được thúc đẩy bởi nhu cầu của thị trường, xã hội, thay vì chỉ dừng lại trong các viện nghiên cứu hay phòng thí nghiệm. Việc đặt doanh nghiệp vào trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Doanh nghiệp không chỉ là nơi ứng dụng kết quả nghiên cứu, mà còn là nguồn phát sinh các vấn đề thực tiễn, thúc đẩy nghiên cứu và sáng tạo. Trong đó, Đảng ta khẳng định: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng” (6) . Mối liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học sẽ tạo ra dòng chảy liên tục của tri thức và công nghệ, qua đó nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV xác định: “Xây dựng và triển khai các khung khổ pháp lý, cơ chế, chính sách thử nghiệm, thí điểm vượt trội trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Phát triển hạ tầng công nghệ quốc gia; xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia phù hợp với quốc tế; phát triển thị trường khoa học và công nghệ, liên thông với khu vực và thế giới. Bảo vệ và nâng cao hiệu quả khai thác tài sản trí tuệ, tài nguyên số. Tăng cường liên kết giữa các đơn vị nghiên cứu, các trường đại học với doanh nghiệp trong nghiên cứu, triển khai khoa học, công nghệ” (7) . Trên nền tảng đó, kinh tế số, kinh tế tri thức và kinh tế xanh được xác định là những trụ cột mới của mô hình tăng trưởng. Kinh tế số mở ra không gian phát triển mới dựa trên dữ liệu, nền tảng số và công nghệ số; kinh tế tri thức nhấn mạnh vai trò của tri thức, sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; trong khi kinh tế xanh hướng tới tăng trưởng gắn với bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và phát triển bền vững. Để khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng, yêu cầu mang tính quyết định là phải tạo dựng được một thể chế phát triển phù hợp, mang tính“đột phá của đột phá” trong kỷ nguyên mới. Thể chế không chỉ là khung khổ pháp lý, mà còn là hệ thống các cơ chế, chính sách, chuẩn mực và phương thức tổ chức, vận hành nền kinh tế - xã hội. Đại hội XIV đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế theo hướng khuyến khích sáng tạo, tôn trọng quy luật thị trường, đồng thời chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng các mô hình, công nghệ mới. Đây là điểm đổi mới quan trọng so với tư duy quản lý truyền thống, vốn thường thiên về an toàn, ngại rủi ro và chưa tạo đủ không gian sáng tạo. Bên cạnh đó, sự liên thông giữa thể chế kinh tế, thể chế khoa học - công nghệ và thể chế giáo dục - đào tạo giữ vai trò then chốt trong việc hình thành và phát triển nguồn lực cho kỷ nguyên mới. Nếu thể chế kinh tế tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh, thì thể chế khoa học - công nghệ và giáo dục - đào tạo sẽ cung cấp nguồn nhân lực, tri thức và công nghệ để phát triển. Sự thiếu đồng bộ giữa các lĩnh vực này sẽ làm suy giảm hiệu quả của quá trình chuyển đổi mô hình phát triển. Như vậy, Đại hội XIV không chỉ đánh dấu sự thay đổi về mục tiêu hay chỉ tiêu phát triển, mà quan trọng hơn là sự chuyển biến căn bản về mô hình và động lực phát triển quốc gia. Từ tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển dựa trên chất lượng và hiệu quả; từ vai trò hỗ trợ sang vai trò dẫn dắt của khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; từ cải cách đơn lẻ sang đột phá thể chế toàn diện, tạo ra bước ngoặt lịch sử, mở ra con đường phát triển mới cho đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới. Một bộ phận được thiết kế theo đơn đặt hàng của ngành hàng không, thuộc gian hàng của Khu công nghệ cao Hòa Lạc tại Triển lãm "Ứng dụng khoa học, công nghệ trong doanh nghiệp" ở Trung tâm Hội nghị quốc gia (Hà Nội)_Ảnh: vnexpress.net Tư duy phát triển nhanh v à bền vững của Đại hội XIV Phát triển nhanh đi đôi với bền vững là tư duy xuyên suốt, nhất quán và ngày càng được nhấn mạnh trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt được khẳng định rõ nét tại Đại hội XIV, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Nếu như ở nhiều giai đoạn trước, yêu cầu “phát triển nhanh” thường được đặt lên hàng đầu nhằm thu hẹp khoảng cách với các quốc gia phát triển, thì đến nay, thực tiễn phát triển và những thách thức mới đặt ra đòi hỏi phải gắn chặt tốc độ tăng trưởng với chất lượng, hiệu quả và bền vững trên cả ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. Đại hội XIV đã thể hiện bước tiến quan trọng trong tư duy phát triển, coi phát triển bền vững không phải là sự “đánh đổi” hay “giới hạn” của tăng trưởng, mà chính là điều kiện để tăng trưởng nhanh và lâu dài. Trên phương diện kinh tế - xã hội, phát triển nhanh chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Trong kỷ nguyên công nghệ, vai trò của khoa học - công nghệ ngày càng trở nên quan trọng trong việc mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cơ bản như giáo dục, y tế, an sinh xã hội và quản trị quốc gia. Chuyển đổi số trong khu vực công, phát triển chính phủ số, dịch vụ công trực tuyến không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm chi phí xã hội, mà còn tạo điều kiện để người dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, được tiếp cận các dịch vụ thiết yếu một cách thuận lợi và bình đẳng hơn. Trong giáo dục, công nghệ giúp mở rộng cơ hội học tập suốt đời, thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức giữa các vùng, các nhóm xã hội. Trong y tế, ứng dụng công nghệ số, y tế từ xa góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, giảm tải cho các cơ sở y tế tuyến trên và nâng cao năng lực của hệ thống y tế cơ sở. Dù mở ra nhiều cơ hội, công nghệ cũng đặt ra thách thức mới về nguy cơ gia tăng bất bình đẳng số . Khoảng cách về hạ tầng số, kỹ năng số và khả năng tiếp cận công nghệ giữa các vùng, các nhóm dân cư có thể dẫn tới sự phân hóa mới trong xã hội nếu không được nhận diện và xử lý kịp thời. Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu phát triển bao trùm, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Điều này đòi hỏi các chính sách phát triển phải đồng thời chú trọng đầu tư hạ tầng số, nâng cao năng lực số cho người dân và xây dựng các cơ chế hỗ trợ các nhóm yếu thế, qua đó đưa công nghệ thành công cụ góp phần thúc đẩy công bằng xã hội. Trên trụ cột môi trường, phát triển bền vững trong kỷ nguyên công nghệ gắn chặt với quá trình chuyển đổi xanh và xây dựng kinh tế tuần hoàn. Khoa học - công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc đổi mới mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và bảo vệ hệ sinh thái. Các công nghệ sạch, năng lượng tái tạo, vật liệu mới, công nghệ xử lý chất thải và tái chế góp phần tạo ra những ngành kinh tế mới, đồng thời giảm áp lực lên môi trường tự nhiên. Đại hội XIV khẳng định, việc lồng ghép mục tiêu bảo vệ môi trường vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là yếu tố không thể tách rời của tăng trưởng bền vững. Đặc biệt, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, đổi mới sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực thích ứng và khả năng chống chịu của nền kinh tế - xã hội, nhất là ở những vùng dễ bị tổn thương như đồng bằng ven biển, miền núi và khu vực thường xuyên chịu tác động của thiên tai. Ứng dụng công nghệ trong dự báo khí tượng thủy văn, quản lý tài nguyên nước, nông nghiệp thông minh, đô thị thông minh không chỉ giúp giảm thiểu thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra, mà còn mở ra hướng phát triển mới, bền vững cho các địa phương. Bên cạnh kinh tế và môi trường, phát triển bền vững về văn hóa, con người và hệ giá trị Việt Nam là nội dung có ý nghĩa nền tảng, được Đại hội XIV đặc biệt coi trọng. Trong kỷ nguyên công nghệ và toàn cầu hóa, văn hóa vừa đứng trước nhiều cơ hội lan tỏa, vừa đối mặt với nguy cơ bị pha loãng hoặc đồng nhất. Việc gắn công nghệ với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trở thành yêu cầu cấp thiết. Công nghệ số có thể trở thành công cụ hữu hiệu để số hóa, lưu giữ và quảng bá các giá trị văn hóa, lịch sử, góp phần đưa văn hóa Việt Nam tiếp cận rộng rãi hơn với công chúng trong nước và quốc tế. Mặt khác, con người được xác định vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của phát triển. Mọi chiến lược phát triển nhanh và bền vững cuối cùng đều hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống, phát huy toàn diện năng lực và phẩm chất con người Việt Nam. Đại hội XIV tiếp tục khẳng định quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm, coi đầu tư cho con người, văn hóa và hệ giá trị Việt Nam là nền tảng phát triển bền vững lâu dài của đất nước. Những định hướng từ Đại hội XIV đối với phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo Đại hội XIV của Đảng xác lập những định hướng lớn, mang tính chiến lược và dài hạn đối với phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, là động lực then chốt để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Những định hướng này không chỉ kế thừa quan điểm được khẳng định ở các kỳ đại hội Đảng trước, mà còn thể hiện bước phát triển mới về tư duy, cách tiếp cận toàn diện, hệ thống và gắn chặt với yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển quốc gia. Thứ nhất, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia được xác định là nhiệm vụ trung tâm, có ý nghĩa nền tảng đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh và sức sáng tạo của nền kinh tế . Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: “Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo. Xây dựng, nuôi dưỡng văn hóa đổi mới sáng tạo. Nâng cao chỉ số đổi mới sáng tạo quốc gia, địa phương, ngành. Thúc đẩy liên kết giữa hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, ngành, vùng gắn với các chuỗi giá trị, mạng lưới đổi mới sáng tạo khu vực và toàn cầu” (8) . Trong hệ sinh thái đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, xây dựng thể chế, chính sách và môi trường thuận lợi cho sáng tạo; doanh nghiệp là trung tâm của quá trình đổi mới, trực tiếp tổ chức sản xuất, kinh doanh và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu; các viện nghiên cứu và trường đại học là nơi tạo ra tri thức mới, đào tạo nguồn nhân lực và cung cấp các giải pháp khoa học - công nghệ cho thực tiễn phát triển. Tổng Bí thư chỉ rõ, “mô hình tăng trưởng của Việt Nam sẽ chuyển đổi căn bản dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo. Giai đoạn tới cần coi nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là điều kiện then chốt để vượt bẫy thu nhập trung bình và duy trì tăng trưởng cao, bền vững” (9) . Trong đó, các trung tâm đổi mới sáng tạo và khu công nghệ cao giữ vai trò “hạt nhân” thúc đẩy lan tỏa tri thức, công nghệ và tinh thần sáng tạo. Đây là không gian tập trung các nguồn lực về con người, tài chính, công nghệ và hạ tầng, tạo điều kiện cho các ý tưởng mới được thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa. Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện tiên quyết để khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển . Đại hội XIV đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng mở, sáng tạo và liên ngành, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế tri thức và xã hội số. Điều này đòi hỏi chuyển từ giáo dục truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực tư duy, khả năng sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề và học tập suốt đời. Sự gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục - đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động và chiến lược phát triển khoa học - công nghệ sẽ góp phần khắc phục tình trạng chênh lệch giữa đào tạo và sử dụng nhân lực. Cùng với đổi mới giáo dục trong nước, thu hút và trọng dụng nhân tài, đặc biệt là các chuyên gia, nhà khoa học trong các lĩnh vực then chốt, được xác định là giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực khoa học - công nghệ quốc gia. Yêu cầu xây dựng cơ chế, chính sách đủ sức hấp dẫn để thu hút nhân tài trong và ngoài nước, tạo môi trường làm việc thuận lợi, minh bạch và cạnh tranh lành mạnh, trong đó năng lực và đóng góp thực tiễn được coi trọng. Việc phát huy hiệu quả đội ngũ trí thức, nhà khoa học không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, mà còn tạo động lực lan tỏa tri thức, hình thành văn hóa sáng tạo trong toàn xã hội. Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện , tạo nền tảng quan trọng cho đổi mới sáng tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới. Chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và sản xuất, mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện phương thức hoạt động của Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội. Xây dựng chính phủ số nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Phát triển kinh tế số mở ra không gian tăng trưởng mới, dựa trên nền tảng số, thương mại điện tử, dịch vụ số và các mô hình kinh doanh sáng tạo. Đồng thời, xây dựng xã hội số góp phần nâng cao chất lượng đời sống, mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, dịch vụ và tham gia quản trị xã hội của người dân. Trong bối cảnh đó, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo là những tài nguyên phát triển mới, có vai trò ngày càng quan trọng trong nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh quốc gia. Khai thác hiệu quả dữ liệu lớn giúp cải thiện chất lượng ra quyết định, dự báo và quản lý trong nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, xã hội đến môi trường. Đại hội XIV đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung khổ pháp lý, hạ tầng và nguồn nhân lực để khai thác hiệu quả các công nghệ này, đồng thời bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và quyền lợi của người dân. Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của Đại hội XIV Đại hội XIV của Đảng mang ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại sâu sắc, không chỉ bởi những quyết sách quan trọng được thông qua, mà trước hết bởi tầm vóc tư duy phát triển được khẳng định và nâng lên một bước mới. Đại hội XIV đánh dấu sự trưởng thành về tư duy lý luận và thực tiễn của Đảng, từ tập trung tháo gỡ những rào cản của cơ chế cũ để giải phóng lực lượng sản xuất sang chủ động kiến tạo mô hình phát triển mới phù hợp với bối cảnh toàn cầu đầy biến động. Việc xác định khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực cốt lõi của tăng trưởng, phản ánh bước chuyển quan trọng từ tư duy “theo kịp” đến tư duy “bứt phá”, từ phát triển dựa nhiều vào lợi thế sẵn có sang phát triển dựa trên tri thức và sáng tạo. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Mỗi kỳ đại hội của Đảng đều là một dấu mốc rất quan trọng, nhưng với Đại hội XIV, ý nghĩa càng sâu sắc hơn, bởi chúng ta bước vào Đại hội trong một bối cảnh thế giới biến động rất nhanh, nhiều bất ổn, khó dự báo; trong khi đất nước sau nhiều thập niên đổi mới đã có cơ đồ, tiềm lực và vị thế mới, đồng thời cũng đứng trước những yêu cầu phát triển mới, cao hơn, quyết liệt hơn. Đây là lúc chúng ta cần nhìn thẳng vào thực tiễn, nhận diện đúng cơ hội và thách thức; tổng kết điều đã làm được, chỉ rõ điều còn vướng và quan trọng nhất là thống nhất ý chí, thống nhất hành động để đi tiếp cho vững vàng” (10) . Ý nghĩa thời đại của Đại hội XIV còn thể hiện ở việc định vị lại vai trò và vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược gay gắt và tái cấu trúc chuỗi cung ứng diễn ra mạnh mẽ, việc tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao trở thành điều kiện để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đại hội XIV đã gửi đi thông điệp rõ ràng về quyết tâm chuyển dịch từ vị thế Việt Nam chủ yếu là nơi gia công, lắp ráp sang vai trò chủ động trong sáng tạo, thiết kế, phát triển công nghệ và sản phẩm. Định hướng phát triển dựa trên tri thức và công nghệ không chỉ giúp Việt Nam nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, mà còn tạo điều kiện để đất nước tham gia bình đẳng hơn vào quá trình phân công lao động quốc tế, từng bước khẳng định vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đại hội XIV còn có giá trị đặc biệt trong việc củng cố niềm tin xã hội vào con đường phát triển nhanh, bền vững và tự chủ mà Đảng và Nhà nước đã lựa chọn. Việc nhất quán khẳng định mục tiêu phát triển gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và phát huy giá trị con người cho thấy sự phát triển không phải là mục tiêu tự thân, mà là phương tiện để nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tư duy phát triển mới được Đại hội XIV định hình đã tạo ra sự đồng thuận xã hội rộng rãi, khơi dậy khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới sáng tạo và ý chí tự cường dân tộc. Đại hội XIV không chỉ là một sự kiện chính trị quan trọng, mà còn là dấu mốc mang tính thời đại, khẳng định tầm nhìn và bản lĩnh của Đảng trong lãnh đạo phát triển quốc gia. Với việc xác lập rõ con đường phát triển dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, Đại hội XIV là một kỳ đại hội đặt nền móng cho một giai đoạn phát triển mới, trong đó Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và tự chủ, từng bước hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, phồn vinh và hạnh phúc. Những định hướng lớn mang tầm chiến lược của Đại hội XIV đã mở ra một kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và toàn diện. Đại hội XIV không chỉ là sự kế tiếp về mặt thời gian của các kỳ đại hội trước, mà là một dấu mốc quan trọng về chất trong tư duy phát triển quốc gia, phản ánh sự trưởng thành và bản lĩnh của Đảng trong lãnh đạo đất nước trước những biến động sâu sắc của thời đại. Việc đặt khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí trung tâm của mô hình phát triển mới thể hiện sự lựa chọn chiến lược đúng đắn và tất yếu. Trong bối cảnh các lợi thế truyền thống dần thu hẹp, chỉ có tri thức, công nghệ và sáng tạo mới có khả năng tạo ra động lực tăng trưởng bền vững, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, mà còn là nền tảng để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc, trong đó con người được đặt ở vị trí trung tâm của mọi chiến lược phát triển. Từ Đại hội XIV đến khát vọng Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc là một hành trình dài, đòi hỏi nỗ lực không ngừng và tầm nhìn chiến lược. Với nền tảng tư duy mới, động lực mới và quyết tâm chính trị mạnh mẽ, Đại hội XIV sẽ tạo tiền đề quan trọng để đất nước vững bước trên con đường phát triển nhanh, bền vững và tự chủ trong kỷ nguyên phát triển mới. ----------------------------- (1) Xem: Tổng Bí thư Tô Lâm: Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Tạp chí Cộng sản điện tử , ngày 1-11-2024, https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ky-nguyen-moi-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-ky-nguyen-phat-trien-giau-manh-duoi-su-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-cong-san-xay-dung-thanh-cong-nuoc-vie. (2) Tổng Bí thư Tô Lâm: Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Tạp chí Cộng sản điện tử , ngày 1-11-2024, https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ky-nguyen-moi-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-ky-nguyen-phat-trien-giau-manh-duoi-su-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-cong-san-xay-dung-thanh-cong-nuoc-vie (3) Vũ Tuân, Tổng Bí thư: Đổi mới mô hình phát triển phải đứng trên mảnh đất thực tiễn Việt Nam, VnExpress , 7-1-2026, https://vnexpress.net/tong-bi-thu-doi-moi-mo-hinh-phat-trien-phai-dung-tren-manh-dat-thuc-tien-viet-nam-5002903.html (4), (5) Xem: Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “V ề đ ột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-57-nqtw-ngay-22122024-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-11162 (6) Xem: Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, “Về phát triển kinh tế tư nhân”, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-68-nqtw-ngay-452025-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-11562 (7), (8) Xem: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, ngày 14-10-2025, tr. 31 (9) Vũ Tuân: Tổng Bí thư: Đổi mới mô hình phát triển phải đứng trên mảnh đất thực tiễn Việt Nam , VnExpress , ngày 7/1/2026, https://vnexpress.net/tong-bi-thu-doi-moi-mo-hinh-phat-trien-phai-dung-tren-manh-dat-thuc-tien-viet-nam-5002903.html. (10): Xem: Tổng Bí thư Tô Lâm: Phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới, Báo điện tử Chính phủ , ngày 31-12-2025, https://baochinhphu.vn/tong-bi-thu-to-lamphat-huy-tri-tue-va-ban-linh-viet-nam-vung-buoc-tien-manh-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi-102251231132355343.htm.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/1221303/dong-chi-pham-van-dong---nha-lanh-dao-kien-trung%2C-mau-muc-cua-dang-va-cach-mang-viet-nam%2C-nguoi-con-uu-tu-cua-que-huong-quang-ngai.aspx
Đồng chí Phạm Văn Đồng - Nhà lãnh đạo kiên trung, mẫu mực của Đảng và cách mạng Việt Nam, người con ưu tú của quê hương Quảng Ngãi
01-03-2026
null
Dự và chủ trì Hội thảo có các đồng chí: Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Bùi Thanh Sơn, Phó Thủ tướng Chính phủ. Cùng dự và chủ trì hội thảo có đồng chí Hồ Văn Niên, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi; Đinh Thị Mai, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Hoàng Phúc Lâm, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tham dự Hội thảo có các đồng chí đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành trung ương và tỉnh Quảng Ngãi, cùng đông đảo các chuyên gia, nhà khoa học. Các đồng chí chủ trì hội thảo_Ảnh: Thành Nam Hội thảo là dịp ôn lại cuộc đời hoạt động cách mạng cao đẹp, vẻ vang của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng - nhà lãnh đạo kiên trung, mẫu mực, đã phấn đấu, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; đồng thời, bày tỏ sự tri ân sâu sắc của các thế hệ hôm nay đối với những cống hiến của đồng chí cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng; góp phần giáo dục truyền thống, lý tưởng cách mạng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Đồng chí Phạm Văn Đồng sinh ngày 1-3-1906 trong một gia đình trí thức phong kiến tại xã Đức Tân, nay là xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi – một vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Tham gia hoạt động yêu nước từ năm 1925, trải qua nhiều cương vị công tác từ thời kỳ đầu thành lập và xây dựng Đảng cho đến khi đảm nhiệm trọng trách là Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng, rồi Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cuộc đời cách mạng của đồng chí gắn liền với những trang sử vẻ vang, oanh liệt của Đảng và cách mạng Việt Nam. Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn phát biểu khai mạc hội thảo_Ảnh: Thành Nam Phát biểu khai mạc hội thảo, Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn khẳng định, cuộc đời đồng chí Phạm Văn Đồng gắn liền với những trang sử vẻ vang, oanh liệt của Đảng, cách mạng Việt Nam. Đồng chí đã để lại dấu ấn sâu sắc về một nhà chính trị luôn tâm huyết kiến tạo một chính quyền thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; một nhà kinh tế quan tâm sâu sát cơ sở, trăn trở nghiên cứu các bước đi thích hợp, từng bước đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, góp phần phát triển đất nước và cải thiện đời sống người dân, đồng thời là một nhà văn hoá lớn của dân tộc, một nhà ngoại giao tài năng, có uy tín trên thế giới. Đặc biệt, là người được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp đào tạo, rèn luyện, đồng chí Phạm Văn Đồng đã không ngừng học tập, noi theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời cũng là người tiên phong trong nghiên cứu làm sáng tỏ, lan toả những giá trị vô cùng to lớn đó. Đồng chí Đoàn Minh Huấn, Uỷ viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phát biểu đề dẫn hội thảo_Ảnh: Thành Nam Phát biểu đề dẫn hội thảo, đồng chí Đoàn Minh Huấn, Uỷ viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đồng chí Phạm Văn Đồng là nhà lãnh đạo kiên trung, mẫu mực của Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam, người con ưu tú của quê hương Quảng Ngãi. Với 94 tuổi đời, 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, đảm nhiệm nhiều cương vị, trọng trách, trong đó có 41 năm là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm trên cương vị Thủ tướng Chính phủ, cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng gắn liền với những trang sử vẻ vang của Đảng và dân tộc Việt Nam, từ buổi đầu thời kỳ xây dựng đến thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước. Hội thảo là hoạt động thiết thực tưởng nhớ, tri ân cuộc đời và sự nghiệp cách mạng cao đẹp của đồng chí Phạm Văn Đồng, góp phần giáo dục lý tưởng, truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc cho các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân; là dịp để chúng ta khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, chung sức, đồng lòng quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, vì một Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Phát biểu tại hội thảo, Bí thư tỉnh uỷ Quảng Ngãi Hồ Văn Niên khẳng định, với quê hương Quảng Ngãi, đồng chí Phạm Văn Đồng luôn dành tình cảm thiêng liêng, sâu nặng, thường xuyên động viên Đảng bộ và nhân dân Quảng Ngãi phát huy truyền thống cách mạng, tự lực, tự cường, đoàn kết vươn lên. Thấm nhuần những lời căn dặn ấy, những năm qua, tỉnh Quảng Ngãi đã nỗ lực phấn đấu và đạt nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực. Năm 2025, tỉnh đã hoàn thành 24/24 chỉ tiêu chủ yếu, trong đó có 6 chỉ tiêu vượt kế hoạch. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 10,02%, xếp thứ 6 cả nước và dẫn đầu khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, đời sống nhân dân, nhất là ở miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được chú trọng; khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được tăng cường, tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp phát triển bền vững của địa phương. Tham luận tại hội thảo, GS, TS Lê Văn Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, đồng chí Phạm Văn Đồng luôn trăn trở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, xây dựng tiền đề, tạo lập và phát triển một chính quyền của dân, do dân, vì dân, xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa phù hợp với bản sắc của dân tộc Việt Nam. Theo đồng chí, cách mạng là sự nghiệp xây dựng những hệ giá trị mới, văn minh, chiến thắng cái cũ, cái lạc hậu. Đồng chí đặc biệt quan tâm xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền, coi đây là một nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình vận hành của bộ máy chính quyền nhà nước, đồng chí nhấn mạnh đến nguyên tắc tập trung, dân chủ và mối quan hệ giữa hai yếu tố này. Quang cảnh Hội thảo khoa học “Đồng chí Phạm Văn Đồng - Nhà lãnh đạo kiên trung, mẫu mực của Đảng và cách mạng Việt Nam, người con ưu tú của quê hương Quảng Ngãi”_Ảnh: Thành Nam TS Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nêu bật những đóng góp to lớn của đồng chí Phạm Văn Đồng trong công tác đối ngoại. Với nghệ thuật “kể câu chuyện Việt Nam với thế giới”, đồng chí Phạm Văn Đồng đã thuyết phục và tranh thủ được sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, tạo thành mặt trận quốc tế ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Điểm nổi bật trong tư duy đối ngoại của đồng chí là tư tưởng dùng ngoại giao để kết thúc chiến tranh, thể hiện tầm nhìn sâu sắc, chiến lược về vai trò của đối ngoại đóng góp vào mục tiêu chiến lược của đất nước. Đồng chí đã tham dự và đóng góp rất quan trọng tại các cuộc đàm phán lịch sử cũng như trong các quyết sách lớn, như liên minh chiến đấu ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia cùng những chủ trương lớn trong quá trình lãnh đạo cách mạng. PGS, TS Đỗ Xuân Tuất, Phó Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, trong giai đoạn đất nước gặp nhiều khó khăn, đồng chí Phạm Văn Đồng đã nỗ lực tìm tòi đường lối đổi mới, nhất là về đổi mới tư duy, mà trước hết là tư duy kinh tế, để từng bước đưa đất nước tiến lên, đặc biệt là giai đoạn 1981 - 1987, đồng chí đã tổ chức chỉ đạo xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội: kế hoạch 5 năm 1981 - 1985 và đến năm 1990. Đồng chí lãnh trọng trách cùng các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước “xoay chuyển vận nước”, dốc sức khắc phục những khó khăn chồng chất do khủng hoảng kinh tế - xã hội, duy trì sản xuất, bảo đảm đời sống nhân dân, tìm đường đổi mới trong những quyết sách ở thời điểm có tính lịch sử của cách mạng Việt Nam. PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ trình bày tham luận về cốt cách nhà văn hoá lớn Phạm Văn Đồng, khẳng định đồng chí đã có sự quan tâm đặc biệt tới đổi mới và phát triển văn hoá. Trong cuốn sách “Văn hóa và đổi mới”, đồng chí Phạm Văn Đồng nhấn mạnh, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo nhất thiết phải bắt đầu từ ngọn nguồn văn hóa. Đó là truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam kết hợp với tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đổi mới phải dựa trên một nền tảng văn hóa bền vững và tiến bộ; đổi mới vì con người, cho con người. “Chiến lược con người là sự kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, trong đó văn hóa, xã hội nhập vào kinh tế như một nhân tố bên trong, hơn thế nữa, như mục tiêu và động lực của tăng trưởng kinh tế. Sự kết hợp hữu cơ này là một nét truyền thống thể hiện bản sắc của dân tộc ta, một nội dung cơ bản trong định hướng xã hội chủ nghĩa của chế độ ta, phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại ngày nay”. Đồng chí Phạm Văn Đồng là tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng mà nhân dân Quảng Ngãi luôn noi theo, đó là khẳng định trong tham luận của TS Nguyễn Viết Vy, Hiệu trưởng trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi. Đối với quê hương Quảng Ngãi, sự quan tâm của đồng chí Phạm Văn Đồng không mang tính tình cảm đơn thuần, mà gắn chặt với trách nhiệm chính trị của một nhà lãnh đạo quốc gia. Từ những năm kháng chiến cho đến sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí luôn dành sự quan tâm đặc biệt: từ việc chỉ đạo xây dựng thủy lợi, phát triển sản xuất ở Liên khu V, đến những lời căn dặn ân cần khi về thăm quê, động viên cán bộ và nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới. Để bày tỏ lòng tôn kính, sự tri ân; đồng thời, là sự kính trọng, biết ơn chân thành của mình với một nhân cách lớn của đồng chí Phạm Văn Đồng. Năm 1970, đồng bào dân tộc Hrê ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi đã xin đồng chí Phạm Văn Đồng và tự nguyện đổi thành họ Phạm. Đó là một minh chứng cho sự tôn vinh xuất phát từ niềm tin và tình cảm, khẳng định giá trị đạo đức bền vững của đồng chí trong đời sống xã hội của người dân quê hương Quảng Ngãi. Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phát biểu bế mạc hội thảo_Ảnh: baochinhphu.vn Phát biểu bế mạc hội thảo, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương kết luận, sau thời gian làm việc nghiêm túc, tâm huyết và trách nhiệm, hội thảo đã hoàn thành toàn bộ chương trình để ra và đạt được những kết quả rất quan trọng, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Ban Tổ chức đã nhận được hơn 40 tham luận và ý kiến phát biểu trực tiếp, thể hiện sự chuẩn bị công phu, cách tiếp cận đa chiều, nghiêm túc, khách quan, trách nhiệm chính trị cao, cũng như tình cảm trân trọng, thành kính đối với đồng chí Phạm Văn Đồng - một nhà lãnh đạo kiên trung - một trí tuệ lớn - một nhân cách lớn và nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam. "Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử, việc tiếp tục nghiên cứu làm sâu sắc hơn những đóng góp của các đồng chí lãnh đạo tiền bối có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng”, đồng chí Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh. Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cũng đề nghị cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục học tập và noi gương đồng chí Phạm Văn Đồng, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết vượt qua khó khăn, thử thách, chung sức đồng lòng xây dựng quê hương Quảng Ngãi và đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/1223703/tong-ket-100-nam-dang-lanh-dao-cach-mang-viet-nam%2C-dinh-huong-lanh-dao-phat-trien-dat-nuoc-trong-100-nam-tiep-theo-va-tong-ket-40-nam-thuc-hien-cuong-linh.aspx
Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh
04-03-2026
null
Tham dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí Thường trực Ban Chỉ đạo và thành viên các tổ biên tập, các chuyên gia, nhà khoa học và các cơ quan liên quan. Đây là cuộc họp đầu tiên sau khi Ban Chỉ đạo tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thành lập, thể hiện tinh thần khẩn trương, nghiêm túc, khoa học, bắt tay ngay vào nhiệm vụ lớn của Đảng ta trong giai đoạn mới. Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc với các tổ biên tập, triển khai các nội dung nhiệm vụ tổng kết_Ảnh: TTXVN Tại cuộc làm việc, đại diện Ban Chỉ đạo đã báo cáo tóm tắt nội dung các đề án. Nhiều ý kiến trao đổi thẳng thắn, trách nhiệm, đi vào trọng tâm, đề xuất giải pháp cụ thể, làm rõ những vấn đề còn băn khoăn, góp ý để hoàn thiện phân công nhiệm vụ, kế hoạch, quy chế và đề cương tổng kết. Phát biểu kết luận làm việc, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ, kỷ niệm 100 năm đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không chỉ là thành quả, thành tựu mang tính thời gian, mà đó còn là chiều dài của một hành trình cách mạng đầy hy sinh, gian khổ, sáng tạo và phát triển. Tổng kết 100 năm nhìn lại toàn bộ chặng đường Đảng lãnh đạo dân tộc: Từ đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung đến công cuộc đổi mới toàn diện; từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh đánh giá một cách khoa học, toàn diện, khách quan việc hiện thực hóa những định hướng chiến lược của Đảng trong thời kỳ quá độ. Đây là cơ hội để làm rõ hơn mô hình phát triển, những thành tựu đạt được, những hạn chế, bất cập, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, hai nội dung tổng kết này gắn bó chặt chẽ với nhau. Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam phải cung cấp cái nhìn lịch sử toàn diện, đúc rút được những bài học mang tính quy luật của cách mạng Việt Nam (nhưng không phải là bản rút gọn của lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam) để định hướng lãnh đạo đất nước phát triển trong 100 năm tiếp theo. Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ giúp đi vào chiều sâu lý luận và thực tiễn của thời kỳ đổi mới - giai đoạn có ý nghĩa bước ngoặt đối với sự phát triển của đất nước; xác định được thời điểm kết thúc thời kỳ quá độ. Công việc này không chỉ phục vụ yêu cầu kỷ niệm mà quan trọng hơn là chuẩn bị cơ sở lý luận và thực tiễn cho các quyết sách chiến lược trong giai đoạn phát triển mới, hướng tới năm 2045 và xa hơn nữa, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước đến năm 2130. Bởi vậy, đây phải là một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, có sự tham gia tổng kết của toàn hệ thống chính trị, từ các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương cho đến các địa phương trong cả nước. Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu, Ban Chỉ đạo cần rà soát lại dự thảo phân công nhiệm vụ theo các nhóm tổng kết, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm; phù hợp với chức năng, năng lực, kinh nghiệm của từng thành viên; tránh chồng chéo, bỏ sót hoặc dàn trải, hình thức. Ban Chỉ đạo phải là trung tâm điều phối, định hướng, kiểm tra, giám sát toàn bộ quá trình tổng kết. Cùng với việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương, có thể nghiên cứu thành lập ban chỉ đạo tổng kết ở các địa phương và ở một số bộ, ngành. Tổng Bí thư Tô Lâm lưu ý, cần hoàn thiện đề cương các báo cáo tổng kết; xây dựng các hướng dẫn; xây dựng bộ khung phương pháp luận chung; đồng thời, phải có kế hoạch tổng thể cho cả giai đoạn; cần định rõ thời hạn hoàn thành của từng phần việc đã được phân kỳ thực hiện. Việc xác định rõ các mốc tiến độ không chỉ theo quý mà thậm chí phải theo tháng, trong giai đoạn nước rút thậm chí phải xác định theo tuần, theo từng ngày. Tất cả phải được thể hiện bằng kế hoạch cụ thể, khả thi, có cơ chế kiểm soát tiến độ, đầu ra. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại buổi làm việc_Ảnh: TTXVN Về dự thảo Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo, Tổng Bí thư đề nghị, quy chế làm việc là căn cứ quan trọng để bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Ban Chỉ đạo và các tổ biên tập, giữa các nhóm tổng kết, giữa Trung ương với địa phương..., bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân. Về tiếp tục hoàn thiện thuyết minh của hai đề án tổng kết, Tổng Bí thư gợi mở, hai đề án tổng kết là khung định hướng cho toàn bộ nội dung công việc. Do đó cần rà soát lại phạm vi, đối tượng, phương pháp tổng kết; làm rõ cấu trúc báo cáo; xác định các trục nội dung lớn; định hướng cách tiếp cận: lịch sử - logic; lý luận - thực tiễn; tổng kết - dự báo; xác định các sản phẩm đầu ra cuối cùng. Về thống nhất phương thức, cách thức làm việc, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ, phải xác định ngay từ đầu phương thức làm việc khoa học, hiện đại, hiệu quả: ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số; phân công - phối hợp các nhóm chuyên đề; tăng cường trao đổi học thuật; các nhóm tổng kết và nhóm tổng hợp thường xuyên trao đổi thông tin và tiến hành công việc tổng kết đồng thời chứ không đợi nhau; phát huy dân chủ nhưng có kỷ luật phát ngôn; bảo đảm tính bảo mật, chính xác của tài liệu... Nguyên tắc nghiêm túc, khoa học, khách quan, toàn diện, có phát hiện mới; kết hợp giữa sự chặt chẽ trong tổ chức với sự sáng tạo trong tư duy, giữa tính kế thừa và phát triển, giữa tổng kết quá khứ và định hướng tương lai. Hội đồng Lý luận là lực lượng nòng cốt tham gia tổng kết. Cùng với các thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương, cần huy động thêm các chuyên gia, nhà khoa học, nhà sử học... tham gia. Khối lượng công việc rất lớn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, khoa học giữa Ban Chỉ đạo và các tổ biên tập; giữa cơ quan thường trực với các cơ quan, ban, bộ, ngành, địa phương. Với truyền thống đoàn kết, trí tuệ và bản lĩnh của Đảng ta, Tổng Bí thư tin tưởng, Ban Chỉ đạo và hai tổ biên tập sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần chuẩn bị một công trình tổng kết có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc./. Hà Phương ( tổng hợp )
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/1223303/phat-huy-vai-tro-cua-khoa-hoc%2C-cong-nghe%2C-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-trong-thuc-hien-nghi-quyet-dai-hoi-xiv-cua-dang.aspx
Phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
04-03-2026
Thực tiễn phát triển của thế giới cho thấy, quốc gia nào nắm bắt, làm chủ và phát huy được vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, quốc gia đó sẽ nắm giữ lợi thế cạnh tranh; đưa đất nước phát triển hưng thịnh. Đối với Việt Nam, yêu cầu phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là lựa chọn, mà là con đường tất yếu để rút ngắn khoảng cách phát triển, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Tuy nhiên, việc phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng là một cuộc cách mạng cả trong tư duy, nhận thức và hành động, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều chủ thể, từ cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, nhà khoa học cho đến từng cán bộ, đảng viên và người dân. Trong quá trình thực hiện vẫn còn những rào cản, nút thắt, hạn chế, bất cập cần được giải quyết thấu đáo, kịp thời, cả về tư duy phát triển, thể chế chính sách, nguồn nhân lực, hạ tầng và văn hóa đổi mới sáng tạo.
Các đồng chí chủ trì hội thảo_Ảnh: Kim Sơn Chủ trì hội thảo có các đồng chí: Thượng tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Thành, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương; Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Hùng, Chính ủy Học viện Chính trị; PGS, TS Phạm Minh Tuấn, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Huy Hoàng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị. Phát biểu khai mạc hội thảo, Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Hùng, Chính ủy Học viện Chính trị cho biết, Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt trọng đại trong tiến trình phát triển của đất nước, mở ra kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam, với khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định rõ những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chiến lược nhằm phát huy tối đa nội lực, tranh thủ hiệu quả ngoại lực, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được khẳng định là động lực chính để thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững, là trụ cột trong chiến lược phát triển quốc gia, là yếu tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh, khẳng định vị thế, uy tín Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Hùng, Chính ủy Học viện Chính trị phát biểu khai mạc hội thảo_Ảnh: Tuấn Anh Phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng là đặt lĩnh vực này vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước, tạo động lực phát triển mới mang tính đột phá, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt. Đây là con đường căn bản để khắc phục những hạn chế của mô hình tăng trưởng cũ, chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, dựa chủ yếu vào tri thức, công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, hiện đại hóa hoạt động của hệ thống chính trị, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Góp phần củng cố niềm tin xã hội, tăng cường kỷ cương, minh bạch, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Mục đích cao nhất là hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, hùng cường, thịnh vượng, đặc biệt là hướng vào thực hiện thắng lợi hai mục tiêu 100 năm. Thực tiễn phát triển của thế giới cho thấy, quốc gia nào nắm bắt, làm chủ và phát huy được vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, quốc gia đó sẽ nắm giữ lợi thế cạnh tranh; đưa đất nước phát triển hưng thịnh. Đối với Việt Nam, yêu cầu phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là lựa chọn, mà là con đường tất yếu để rút ngắn khoảng cách phát triển, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Tuy nhiên, việc phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng là một cuộc cách mạng cả trong tư duy, nhận thức và hành động, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều chủ thể, từ cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, nhà khoa học cho đến từng cán bộ, đảng viên và người dân. Trong quá trình thực hiện vẫn còn những rào cản, nút thắt, hạn chế, bất cập cần được giải quyết thấu đáo, kịp thời, cả về tư duy phát triển, thể chế chính sách, nguồn nhân lực, hạ tầng và văn hóa đổi mới sáng tạo. PGS, TS Phạm Minh Tuấn, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản phát biểu đề dẫn hội thảo_Ảnh: Tuấn Anh Phát biểu đề dẫn hội thảo, PGS, TS Phạm Minh Tuấn, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản nhấn mạnh , khi đề cập đến vai trò của khoa học, công nghệ, chủ nghĩa Mác - Lê-nin khẳng định, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội, trong đó khoa học - công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nước nhà muốn phát triển, muốn tiến bộ thì phải phát triển khoa học - kỹ thuật; đồng thời, Người luôn nhấn mạnh đến vai trò của tri thức, của sáng kiến cải tiến kỹ thuật, coi đó là “chìa khóa” để nâng cao năng suất lao động, phát triển đất nước. Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng phát triển khoa học, công nghệ. Các kỳ Đại hội gần đây đều khẳng định: Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt của tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển khoa học, công nghệ, lấy khoa học, công nghệ là trọng tâm để thay thế, thúc đẩy, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống; thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số. Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về mô hình phát triển đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học và năng lượng tái tạo đang làm thay đổi sâu sắc mô hình sản xuất, quản trị và đời sống xã hội, tạo ra cả cơ hội và thách thức cho các quốc gia, dân tộc. Nhiều quốc gia, dân tộc đã trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, đầu tư mạnh vào nghiên cứu và phát triển. Hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, coi đây là động lực chính để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Chính phủ tập trung xây dựng hạ tầng số, phát triển kinh tế số, xã hội số; đồng thời, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong nước. Thực tiễn những năm qua cho thấy, các bộ, ngành, lĩnh vực từ Trung ương đến địa phương đã chủ động ứng dụng công nghệ số, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nhờ đó, tốc độ tăng trưởng cao, năng suất lao động cải thiện rõ rệt, chất lượng quản trị nâng lên. Nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đã làm chủ các công nghệ lõi, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, nhìn tổng thể, năng lực nghiên cứu - phát triển còn hạn chế; việc liên kết giữa các viện nghiên cứu, các trường đại học và doanh nghiệp chưa chặt chẽ; đầu tư cho khoa học công nghệ còn dàn trải; khoa học, công nghệ chưa thực sự là quốc sách hàng đầu, động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất mới; chuyển đổi số chưa đồng bộ; nguồn nhân lực chất lượng cao thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu. Khoảng cách công nghệ với các nước phát triển vẫn còn lớn. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu phải có cách tiếp cận mới, giải pháp đột phá để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực chủ yếu trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV. Các đại biểu dự hội thảo_Ảnh: Tuấn Anh Hội thảo đã lắng nghe nhiều ý kiến tâm huyết của các chuyên gia, nhà khoa học đề cập đến nhiều khía cạnh liên quan đến chủ đề hội thảo. Điển hình như vấn đề “Phát huy vai trò của trí thức, nhà khoa học trong đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia thực hiện các mục tiêu của kỷ nguyên mới ở Việt Nam” của PGS, TS Vũ Văn Phúc, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; việc “Ứng dụng chuyển đổi số vào đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường quân đội hiện nay” của Thiếu tướng, PGS, TS Lương Thanh Hân, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị; về “Phát huy mối quan hệ giữa nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp trong thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo vào sản xuất, kinh doanh trong kỷ nguyên phát triển mới” của PGS, TS Lê Minh Thông, nguyên Trợ lý Chủ tịch Quốc hội; về “Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần xây dựng Quân đội hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng” của Đại tá, TS Lê Đình Vũ, Phó Cục trưởng Cục Khoa học quân sự… Phát biểu Kết luận, Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Huy Hoàng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị khẳng định, về phương diện lý luận , Hội thảo đã góp phần hệ thống hóa và luận giải sâu sắc cơ sở khoa học của việc đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở vị trí trung tâm của mô hình phát triển trong giai đoạn mới. Các tham luận làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển lực lượng sản xuất hiện đại với hoàn thiện quan hệ sản xuất; giữa thể chế phát triển với chất lượng nguồn nhân lực và hạ tầng số; giữa năng lực đổi mới sáng tạo với yêu cầu tự chủ, tự cường của nền kinh tế. Qua đó, củng cố lập luận rằng, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là công cụ hỗ trợ mà là động lực nội sinh quyết định chất lượng tăng trưởng và vị thế quốc gia. Về phương diện thực tiễn , các tham luận đã đánh giá khách quan những thành tựu bước đầu trong phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đồng thời chỉ ra những hạn chế mang tính cấu trúc: thể chế, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu; hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng số, phát triển chưa tương xứng; năng lực nghiên cứu và phát triển còn yếu; chưa làm chủ được các công nghệ chiến lược; cơ chế thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn nhiều điểm nghẽn; thủ tục về sở hữu trí tuệ và giải ngân vốn đầu tư công còn phức tạp. Những tồn tại này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có giải pháp đột phá, đồng bộ và có trọng tâm. Quang cảnh hội thảo_Ảnh: Tuấn Anh Bên cạnh đó, các tham luận thống nhất định hướng và giải pháp trọng tâm nhằm phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong triển khai, tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, gồm: Một là, hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo phát triển được xác định là điều kiện tiên quyết. Cần tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa kết quả khoa học - công nghệ; tháo gỡ các “điểm nghẽn” về cơ chế; chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy phục vụ, hỗ trợ và dẫn dắt phát triển. Đây là nền tảng để xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hai là , phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nguồn nhân lực số và đội ngũ chuyên gia đầu ngành, phải được triển khai trên cơ sở cơ chế đãi ngộ cạnh tranh, minh bạch và gắn với hiệu quả đóng góp. Đồng thời, cần thúc đẩy liên kết công - tư, tăng cường hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo nhằm hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm của quá trình ứng dụng và thương mại hóa công nghệ. Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; phát triển hạ tầng số hiện đại, bảo đảm liên thông, an toàn và hiệu quả. Dữ liệu phải được xác định là nguồn lực chiến lược mới của phát triển; trên cơ sở đó, nâng cao năng lực quản trị quốc gia bằng công nghệ số và phân tích dữ liệu, hướng tới mô hình quản trị thông minh, minh bạch và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế có chọn lọc, gắn tiếp thu tri thức và chuyển giao công nghệ với xây dựng năng lực nội sinh, nâng cao vị thế và tự chủ công nghệ của quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Năm là, trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao, an ninh mạng, an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp, việc làm chủ công nghệ lõi, phát triển công nghiệp quốc phòng công nghệ cao, xây dựng lực lượng tác chiến không gian mạng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Các đại biểu tham dự hội thảo_Ảnh: Kim Sơn Các tham luận đã khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; trong nâng cao năng lực chỉ huy, quản lý, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; bảo đảm thông tin liên lạc; tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; đồng thời, đưa ra các giải pháp nhằm đấu tranh, phản bác với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm phủ nhận vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Ban Tổ chức tiếp thu đầy đủ các ý kiến, kiến nghị của các nhà khoa học và đại biểu để tổng hợp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền, làm cơ sở hoàn thiện chủ trương, chính sách trong thời gian tới. Từ kết quả đạt được của hội thảo, cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, hạ sĩ quan - binh sĩ của Học viện Chính trị; cán bộ của Tạp chí Cộng sản nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, có kiến thức và ứng dụng thành thạo khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong thực hiện nhiệm vụ theo chức trách được giao; góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên số./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1219202/mot-so-van-de-moi%2C-cot-loi-va-kinh-nghiem-40-nam-doi-moi-trong-van-kien-dai-hoi-xiv-cua-dang.aspx
Một số vấn đề mới, cốt lõi và kinh nghiệm 40 năm đổi mới trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
08-02-2026
Vai trò, ý nghĩa và thành công cơ bản của Đại hội XIV của Đảng
Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương giới thiệu chuyên đề tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng_Ảnh: TTXVN Vai trò, ý nghĩa và thành công cơ bản của Đại hội XIV của Đảng Trước hết, cần khẳng định một cách rõ ràng và nhất quán rằng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tầm vóc lịch sử đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là một kỳ Đại hội tổng kết nhiệm kỳ hay xác định mục tiêu 5 năm, mà là Đại hội định hình tư duy phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới và kiến tạo nền tảng thể chế cho cả một chặng đường dài của dân tộc đến giữa thế kỷ XXI. Đại hội XIV thực sự là Đại hội của bước ngoặt phát triển, của tầm nhìn chiến lược và của khát vọng vươn mình mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Có thể khẳng định một số trọng tâm sau: Một là, Đại hội của bước chuyển giai đoạn phát triển Nhìn lại chặng đường gần 40 năm đổi mới, có thể thấy rõ, giai đoạn vừa qua chủ yếu là quá trình thoát khỏi khủng hoảng, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập nền tảng thể chế và tích lũy tiềm lực phát triển. Nhờ đó, đất nước đã ra khỏi nhóm nước nghèo; trở thành nền kinh tế có quy mô ngày càng lớn; hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, khi quy mô phát triển đạt đến một mức nhất định, mô hình tăng trưởng cũ dần bộc lộ giới hạn, như: Dựa nhiều vào vốn, tài nguyên, lao động giá rẻ; năng suất lao động thấp; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thật sự là động lực chủ yếu; thể chế còn nhiều điểm nghẽn. Chính trong bối cảnh đó, Đại hội XIV đánh dấu bước chuyển sang giai đoạn “bứt phá phát triển”. “Bứt phá” ở đây không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn về số lượng, mà là chuyển đổi căn bản về chất lượng phát triển, thể hiện ở những yêu cầu: Đổi mới mô hình phát triển; thay đổi động lực tăng trưởng; nâng cao năng lực quản trị quốc gia; tạo thế và lực mới cho đất nước. Đó là bước chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu; từ dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ sang dựa vào tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; từ “theo kịp” sang “vươn lên cạnh tranh”; từ “ổn định để phát triển” sang tư duy biện chứng “phát triển để ổn định, ổn định để phát triển bền vững và cải thiện đời sống nhân dân”. Có thể nói, Đại hội XIV mở ra một tầm mức phát triển mới của đất nước - tầm mức phát triển dựa trên động lực nội sinh và năng lực sáng tạo của dân tộc. Hai là, Đại hội của tầm nhìn chiến lược dài hạn Một trong những điểm nổi bật của Đại hội XIV là tầm nhìn chiến lược dài hạn, vượt ra ngoài khuôn khổ một nhiệm kỳ. Đại hội xác lập rõ các mục tiêu chiến lược: Đến năm 2030, nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những mục tiêu ấy không chỉ là những chỉ tiêu kinh tế thuần túy, mà là sự kết tinh của khát vọng phát triển dân tộc, là lời cam kết chính trị của Đảng trước nhân dân và trước lịch sử. Điều quan trọng hơn là, để hiện thực hóa các mục tiêu ấy, Đại hội không dừng ở mong muốn hay khẩu hiệu, mà đồng thời thiết kế hệ giải pháp đồng bộ: Tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển; đột phá khoa học - công nghệ; phát triển kinh tế tư nhân; nâng tầm giáo dục và nguồn nhân lực; khơi dậy sức mạnh văn hóa - con người; mở rộng không gian đối ngoại và tự chủ chiến lược… Chính sự gắn kết giữa tầm nhìn - mục tiêu - giải pháp - tổ chức thực hiện đã tạo nên chiều sâu chiến lược và tính khả thi cho đường lối phát triển. Ba là, thành công nổi bật của Đại hội Có thể khái quát một số thành công cơ bản của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng trên ba phương diện: Thứ nhất , thành công về tư duy và nhận thức lý luận. Đại hội thể hiện rõ tinh thần khoa học, thực tiễn, dũng cảm “nhìn thẳng vào sự thật”, đánh giá khách quan cả thành tựu và hạn chế, chỉ rõ những “điểm nghẽn của phát triển” về thể chế, nguồn lực, quản trị, chất lượng tăng trưởng. Trên cơ sở đó, Đại hội đã bổ sung và phát triển nhiều nhận thức lý luận mới: Tự chủ chiến lược; thể chế phát triển; khoa học, công nghệ là động lực chủ yếu; kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất; văn hóa, con người là sức mạnh nội sinh… Đây là biểu hiện sinh động của bản lĩnh tự đổi mới và năng lực tổng kết thực tiễn của Đảng cầm quyền, là kết tinh của những bài học kinh nghiệm qua 40 năm đổi mới vừa qua. Thứ hai, thành công về định hướng chiến lược và thiết kế chính sách. Lần đầu tiên, một hệ quan điểm phát triển được xây dựng theo tư duy hệ thống, đa trụ cột, đa động lực, gắn chặt kinh tế với văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt, việc tích hợp ba báo cáo lớn thành một Báo cáo chính trị thống nhất là một thành công rất quan trọng cả về phương pháp luận và phương thức lãnh đạo. Sự tích hợp này mang nhiều ý nghĩa sâu sắc: Khắc phục tình trạng trùng lặp, phân tán, “mạnh ai nấy nói” giữa các văn kiện; bảo đảm sự thống nhất giữa đường lối chính trị, chiến lược kinh tế - xã hội và công tác xây dựng Đảng; tạo nên một chỉnh thể tư duy nhất quán, xuyên suốt. Quan trọng hơn, về mặt tổ chức thực tiễn giúp cán bộ, đảng viên dễ tiếp cận, dễ học tập, dễ quán triệt; tránh cách hiểu khác nhau giữa các báo cáo; giảm nguy cơ vận dụng rời rạc, cục bộ; tăng tính thống nhất ý chí và hành động trong toàn hệ thống chính trị. Có thể nói, tích hợp văn kiện chính là tích hợp tư duy, tích hợp nhận thức và tích hợp hành động, qua đó nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới. Đây không chỉ là đổi mới kỹ thuật biên soạn, mà là đổi mới phương thức lãnh đạo bằng văn kiện - từ “định hướng” sang “hành động”, từ “nói đúng” sang “làm được”. Thứ ba, thành công về khơi dậy niềm tin và khát vọng phát triển dân tộc. Nếu văn kiện chỉ dừng ở chính sách mà không tạo được niềm tin xã hội thì khó trở thành động lực phát triển. Đại hội XIV đã làm được điều quan trọng hơn: khơi dậy mạnh mẽ tinh thần tự tin, tự lực, tự cường, ý chí vươn lên của toàn dân tộc; kết nối khát vọng của Đảng với mong muốn của nhân dân; biến mục tiêu phát triển thành mệnh lệnh hành động chung. Đó chính là sức mạnh tinh thần, nguồn lực nội sinh to lớn nhất, nền tảng để biến mọi chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước thành hiện thực. Như vậy, Đại hội XIV của Đảng không chỉ là một sự kiện chính trị thông thường, mà là dấu mốc lịch sử mở ra kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, của dân tộc, kỷ nguyên bứt phá, sáng tạo và tự chủ . Vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Cách tiếp cận mới và những đổi mới trong xây dựng Văn kiện Đại hội XIV Đại hội XIV thể hiện sự đổi mới, sáng tạo trong phương thức tư duy và phương pháp lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được phản ánh ngay từ cách xây dựng văn kiện. Bởi lẽ, trong điều kiện Đảng cầm quyền, văn kiện Đại hội không chỉ là tài liệu chính trị, mà chính là “bản thiết kế chiến lược”, công cụ lãnh đạo tối cao của Đảng đối với toàn xã hội. Đổi mới văn kiện thực chất là đổi mới phương thức lãnh đạo và cầm quyền của Đảng. Một là, đổi mới cách tiếp cận: từ tổng kết nhiệm kỳ sang thiết kế chiến lược phát triển Ở các giai đoạn trước, văn kiện Đại hội thường thiên về tổng kết thành tựu, rút kinh nghiệm, đề ra mục tiêu và nhiệm vụ. Đại hội XIV đã vượt lên cách tiếp cận đó, chuyển mạnh sang tư duy thiết kế chiến lược phát triển dài hạn. Điều này thể hiện ở chỗ, cùng với tầm nhìn 5 năm, hướng tới kế hoạch đến 2030 và tầm nhìn đến 2045; không chỉ đặt mục tiêu, mà đồng thời xác lập mô hình phát triển, động lực phát triển, thể chế phát triển; không chỉ xác định nhiệm vụ, mà gắn chặt với chương trình hành động và tổ chức thực hiện. Như vậy, văn kiện không còn là “báo cáo tổng hợp” mà trở thành “bản đồ chiến lược” định hướng cho cả hệ thống chính trị vận hành trong một thời gian dài. Hai là, tư duy hệ thống, toàn diện: tích hợp các lĩnh vực trong một chỉnh thể thống nhất Một bước đột phá có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc là tích hợp ba báo cáo lớn thành một Báo cáo chính trị thống nhất. Sự đổi mới này phản ánh nhận thức mới: Trong điều kiện phát triển hiện đại chính trị không thể tách rời kinh tế; kinh tế không thể tách rời văn hóa - xã hội; sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước không thể tách rời xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Khắc phục tình trạng trước đây các báo cáo được trình bày riêng rẽ, dễ dẫn đến: Trùng lặp nội dung; phân tán trọng tâm; thậm chí cách diễn đạt khác nhau gây ra cách hiểu không thống nhất. Với việc tích hợp thành một Báo cáo chính trị duy nhất đã tạo nên một chỉnh thể tư duy liền mạch, nhất quán, xuyên suốt từ đường lối đến tổ chức thực hiện. Ý nghĩa thực tiễn rất rõ: Cán bộ, đảng viên dễ học tập, dễ nắm bắt trọng tâm; tránh cách hiểu khác nhau giữa các văn kiện; hạn chế vận dụng cục bộ theo “lĩnh vực mình phụ trách”; tăng cường sự thống nhất nhận thức và hành động trong toàn Đảng. Có thể nói, tích hợp văn kiện chính là tích hợp tư duy, tích hợp nhận thức, tích hợp hành động. Đây chính là một biểu hiện của phong cách lãnh đạo mới, khoa học, hiện đại, chuyên nghiệp hơn của Đảng cầm quyền. Ba là, chuyển từ “nghị quyết định hướng” sang “nghị quyết hành động” Lần đầu tiên, ngay trước và trong quá trình chuẩn bị Đại hội, Đảng ta đã đề ra một loạt quyết sách chiến lược về những lĩnh vực quan trọng có ý nghĩa to lớn đối với đất nước, như: Hoàn thiện hệ thống luật pháp; hội nhập quốc tế trong tình hình mới; phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; phát triển kinh tế tư nhân; phát triển nền văn hóa; chăm sóc y tế, sức khỏe cho nhân dân… Đó là một cách tiếp cận mới về phương pháp lãnh đạo của Đảng với tinh thần quyết liệt, khẩn trương - cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng đồng thời với quá trình hoạch định đường lối . Vừa qua, Đảng ta đã có tới 9 nghị quyết chiến lược, được triển khai thực hiện trước khi tổ chức Đại hội XIV của Đảng. Đây là thể hiện cách tiếp cận mới, tư duy mới và nhất là tư duy hành động, triển khai nghị quyết từ sớm để đạt tới mục tiêu là hiệu quả thực hiện nghị quyết. Cũng là lần đầu tiên, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết được gắn trực tiếp vào Báo cáo chính trị trình Đại hội. Điều đó thể hiện tinh thần rất mới: Nói đi đôi với làm, mục tiêu gắn với giải pháp, giải pháp gắn với trách nhiệm, trách nhiệm gắn với thời hạn và nguồn lực. Qua đó, khắc phục hạn chế đã tồn tại từ rất lâu: Nghị quyết đúng nhưng triển khai chậm; chủ trương rõ nhưng cụ thể hóa kéo dài. Đây chính là bước chuyển quan trọng: từ “tư duy chính sách” sang “tư duy quản trị thực thi” . Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh trong Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội: “Văn kiện lần này nhấn mạnh yêu cầu hành động; đề cao trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cán bộ; kiên quyết khắc phục tình trạng " nói nhiều làm ít " , "nói hay, làm dở" , thậm chí "nói không đi đôi với làm" ; thiếu kiểm tra, giám sát; đề ra mục tiêu cao nhưng triển khai chậm, hiệu quả thấp”. Vì vậy, có thể khẳng định, đổi mới công tác xây dựng Văn kiện Đại hội XIV không chỉ là đổi mới hình thức trình bày, mà là một biểu hiện cụ thể của đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới bảo đảm thiết thực hơn, hành động hơn và hiệu quả hơn. Do đó, hiểu được cách tiếp cận mới và những đổi mới trong xây dựng văn kiện là cơ sở phương pháp luận đầu tiên, quan trọng để chúng ta hiểu sâu sắc, đầy đủ nội dung của văn kiện, xác định đúng và trúng yêu cầu, phương pháp, cách thức tổ chức thực hiện thành công đường lối, chủ trương mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra. Các đại biểu dự hội nghị trực tuyến Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tại điểm cầu An Giang_Ảnh: TTXVN Những vấn đề cốt lõi trong Văn Kiện Đại hội XIV của Đảng Nếu coi Đại hội XIV là dấu mốc mở ra một kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, thì Văn kiện Đại hội chính là sự kết tinh cao nhất của trí tuệ, bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược của Đảng, phản ánh bước phát triển mới trong nhận thức lý luận và tư duy chỉ đạo thực tiễn. Điểm nổi bật của Văn kiện lần này không chỉ nằm ở những mục tiêu cụ thể, mà sâu xa hơn là những chuyển biến căn bản về tư duy phát triển, mô hình tăng trưởng và phương thức tổ chức đất nước trong kỷ nguyên mới. Có thể khái quát những vấn đề cốt lõi thành một số trụ cột chiến lược sau đây: Một là, bổ sung và phát triển “lý luận về đường lối đổi mới”, bước trưởng thành mới về tư duy lý luận của Đảng. Trước hết, phải khẳng định, một trong những điểm mới có ý nghĩa lịch sử của Đại hội XIV là việc bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” như một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Điều này thể hiện một chân lý sâu sắc: Đảng ta không giáo điều, không dập khuôn, mà luôn biết tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, dùng lý luận soi đường cho thực tiễn. Đây chính là những bài học quý của 40 năm đổi mới mà vừa qua chúng ta đã tổng kết. Công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong 40 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng không chỉ mang lại những thành tựu to lớn có tính lịch sử, tạo dựng nên cơ đồ, tiềm lực và vị thế quốc tế chưa từng có của đất nước, mà còn là minh chứng đầy sức thuyết phục cho bản lĩnh, sự sáng tạo của Đảng, niềm tin và sức mạnh vĩ đại của nhân dân. 40 năm đổi mới cũng đã cung cấp một kho tàng kinh nghiệm vô cùng phong phú: Chuyển đổi thành công từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội; hội nhập quốc tế sâu rộng nhưng vẫn giữ vững độc lập, tự chủ; đặt con người vào trung tâm của mọi chiến lược phát triển, con người là mục tiêu đồng thời là động lực của phát triển, hạnh phúc của nhân dân là mục đích tối thượng của Đảng, của chế độ; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân ngay từ hoạch định đường lối, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đến tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển. Những thành tựu đó không chỉ mang giá trị thực tiễn, mà đã được nâng lên thành nhận thức lý luận có tính hệ thống, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là phù hợp với quy luật phát triển và điều kiện lịch sử cụ thể của dân tộc ta. Việc bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” vì thế vừa củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, vừa tăng cường niềm tin khoa học vào con đường đã lựa chọn, vừa tạo cơ sở lý luận vững chắc cho hoạch định chính sách trong giai đoạn mới. Đây chính là biểu hiện sinh động của bản lĩnh trí tuệ và năng lực tự đổi mới của một Đảng cầm quyền cách mạng. Lý luận về đường lối đổi mới sẽ cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trở thành ngọn đèn soi sáng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta trong Kỷ nguyên phát triển mới. Hai là, xác lập tư duy “tự chủ chiến lược” - định vị mới của Việt Nam trong một thế giới đầy biến động. Trong bối cảnh thế giới ngày càng phân mảnh, cạnh tranh chiến lược gay gắt, phụ thuộc lẫn nhau nhưng cũng đầy rủi ro, Văn kiện Đại hội XIV lần đầu tiên nhấn mạnh một khái niệm có ý nghĩa rất sâu sắc: Đó là “Tự chủ chiến lược”. Đây là khái niệm mới có ý nghĩa rất sâu sắc. Nếu “độc lập, tự chủ” trước đây chủ yếu nhấn mạnh không lệ thuộc, thì “tự chủ chiến lược” được hiểu ở tầm cao hơn: Chủ động lựa chọn con đường phát triển; chủ động thiết kế quan hệ đối ngoại; chủ động làm chủ công nghệ và nguồn lực; chủ động ứng phó với các “cú sốc” bên ngoài. Đó là sự chuyển biến từ tư thế “thích ứng” sang tư thế “kiến tạo”. Tự chủ chiến lược không có nghĩa là khép kín, mà là mở cửa chủ động, hội nhập sâu rộng, nhưng không đánh mất lợi ích quốc gia, dân tộc. Chính tư duy này đã tạo ra không gian phát triển rộng lớn hơn cho đất nước trong kỷ nguyên toàn cầu hóa mới. Ba là, hoàn thiện thể chế phát triển, khâu đột phá chiến lược mang tính quyết định Một nhận thức rất rõ ràng trong Văn kiện cũng chính là điều đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh, thể chế chính là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, đồng thời cũng là “đòn bẩy của đòn bẩy”. Thực tiễn cho thấy, nguồn lực đất nước không hề thiếu, nhưng nhiều khi không được giải phóng do rào cản thể chế, thủ tục, cơ chế thực thi. Vì vậy, Đại hội XIV xác định, việc xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Điểm mới ở đây là cách tiếp cận “thể chế phát triển” như một hệ sinh thái tổng thể: pháp luật, cơ chế, chính sách, bộ máy, con người, văn hóa quản trị, kỷ luật thực thi. Một thể chế minh bạch, pháp quyền, hiệu lực, hiệu quả sẽ bảo đảm cho việc khơi thông nguồn lực, kích thích sáng tạo, giảm chi phí xã hội, tăng niềm tin thị trường, tăng niềm tin của nhân dân. Có thể nói, thể chế tốt chính là nền móng vững chắc nhất của phát triển bền vững. Khí thế lao động, sản xuất sôi nổi trong cả nước (Trong ảnh: Công nhân lắp đặt thiết bị thông tin trên tàu thủy)_Ảnh: nhandan.vn Bốn là, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là bước chuyển căn bản về động lực phát triển. Nếu trước đây, tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, tài nguyên, lao động giá rẻ; thì nay, những động lực đó đã dần tới hạn. Do đó, Đại hội XIV xác định rõ, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển của thời đại: quốc gia nào làm chủ tri thức và công nghệ, quốc gia đó làm chủ tương lai. Không chỉ coi đây là một lĩnh vực, Đại hội đặt khoa học và công nghệ vào vị trí trụ cột của mô hình phát triển, gắn chặt khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo, sản xuất, kinh doanh, quản trị quốc gia. Đây chính là chìa khóa để Việt Nam bứt phá, rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước tiên tiến. Năm là, phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộc: văn hóa, con người, giáo dục, đào tạo và kinh tế tư nhân. Một điểm rất sâu sắc trong Văn kiện là tư duy phát triển toàn diện, lấy con người làm trung tâm. Đại hội khẳng định: văn hóa là nền tảng tinh thần, con người là chủ thể sáng tạo, giáo dục là quốc sách hàng đầu, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất. Điều đó cho thấy, phát triển không chỉ là câu chuyện của tăng trưởng GDP, mà là nâng cao chất lượng sống, hạnh phúc và phẩm giá con người. Đây chính là bản chất nhân văn của định hướng xã hội chủ nghĩa. Như Bác Hồ đã từng nhắc nhở: “Chính sách của Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân . Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi”, và “Nếu độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Khi nguồn lực tinh thần và sức sáng tạo của hàng triệu con người được khơi dậy, đó sẽ là nguồn động lực nội sinh mạnh mẽ nhất, bền vững nhất của quốc gia, là khi “khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Sáu là, tăng cường quốc phòng, an ninh, phát triển đối ngoại tương xứng tầm vóc đất nước. Văn kiện cũng thể hiện tư duy quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở tầm cao mới: “Kiên quyết, kiên trì” bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân và bảo vệ chế độ, đồng thời phải bảo vệ hòa bình, bền vững Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; “hội nhập để phát triển”, đồng thời “đóng góp để kiến tạo hòa bình, ổn định và phát triển chung” của khu vực và thế giới. Điều này thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với quốc tế. Tăng cường quốc phòng, an ninh trong bối cảnh thế giới phức tạp hiện nay là điều kiện để xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc, phát huy tinh thần tự chủ, tự cường, hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả. Đối ngoại trở thành công cụ bảo vệ lợi ích quốc gia, phương thức mở rộng không gian phát triển, đồng thời là cách khẳng định bản sắc và “sức mạnh mềm” của Việt Nam trên trường quốc tế. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích dân tộc và trách nhiệm toàn cầu. Có thể thấy, Văn kiện Đại hội XIV đã xác lập một hệ thống tư duy phát triển mới: vững về lý luận, rõ về chiến lược, mạnh về động lực, sâu về nhân văn và hiện đại về quản trị. Chính hệ thống quan điểm ấy tạo nên nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong kỷ nguyên phát triển mới. Một số yêu cầu căn bản trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV Nếu Văn kiện Đại hội XIV được ví như bản thiết kế chiến lược cho tương lai phát triển của đất nước, thì tổ chức thực hiện chính là cầu nối từ tầm nhìn đến hiện thực. Thực tiễn nhiều nhiệm kỳ cho thấy một bài học rất sâu sắc, nghị quyết có thể rất đúng, rất hay, nhưng nếu tổ chức thực hiện không quyết liệt, không đồng bộ, thì nghị quyết vẫn chỉ dừng lại trên giấy. Vì vậy, hiện nay, yêu cầu rất lớn đặt ra không chỉ là “hiểu đúng nghị quyết”, mà phải biến nghị quyết thành hành động cụ thể, thành chuyển biến thực chất trong đời sống kinh tế, xã hội, thành niềm tin của toàn dân, toàn quân đối với Đảng, đối với chế độ, đối với tương lai phát triển của đất nước. Có thể khái quát một số yêu cầu và giải pháp căn bản sau: Một là, thống nhất cao về nhận thức, tạo đồng thuận xã hội, khơi dậy khát vọng phát triển. Trước hết, phải bắt đầu từ nhận thức. Bởi lẽ, mọi hành động đều bắt nguồn từ nhận thức; nhận thức không thống nhất thì hành động sẽ phân tán. Do đó, việc học tập, quán triệt Nghị quyết không thể làm hình thức, chiếu lệ, mà phải làm rõ tinh thần cốt lõi, làm rõ điểm mới, làm rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cán bộ. Cần chuyển mạnh từ cách học “đọc - chép - nghe báo cáo” sang thảo luận vấn đề, liên hệ thực tiễn địa phương, đơn vị mình, của tổ chức mình để xác định việc làm, lộ trình, giải pháp tổ chức thực hiện và các mục tiêu cụ thể. Quan trọng hơn, phải làm cho Nghị quyết không chỉ đi vào đầu óc cán bộ, mà đi vào trái tim nhân dân, nghĩa là phải làm cho nhân dân hiểu, đồng thuận, đồng tình, đồng lòng tham gia thực hiện. Bởi suy cho cùng, động lực lớn nhất của phát triển chính là: niềm tin xã hội, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên của mỗi con người Việt Nam. Khi nhân dân tin tưởng và đồng thuận, thì không khó khăn nào không thể vượt qua. Hai là, thể chế hóa nhanh, đầy đủ và đồng bộ, đây là khâu đột phá của tổ chức thực hiện. Một trong những “điểm nghẽn của điểm nghẽn” lâu nay chính là: Đường lối, chủ trương đúng nhưng chậm thể chế hóa. Chậm luật hóa, chậm ban hành cơ chế, chính sách cũng đồng nghĩa với chậm phát huy nguồn lực, chậm cơ hội phát triển. Vì vậy, yêu cầu cấp bách là: khẩn trương rà soát hệ thống pháp luật, sửa đổi những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, loại bỏ những “giấy phép con”, tháo gỡ các rào cản thủ tục. Đặc biệt, phải ưu tiên thể chế hóa các đột phá chiến lược: Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục và đào tạo, cơ chế thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, vận hành thông suốt hệ thống chính quyền địa phương hai cấp, nhất là cấp xã, phường, đặc khu. Vấn đề cấp bách trước mắt là phải nhanh chóng xây dựng, hoàn thiện, ban hành các văn bản, hoàn thiện hành lang pháp lý để các quyết sách chiến lược của Đảng đi vào thực tế, phát huy tác dụng, hiệu quả sớm nhất có thể. Thể chế càng minh bạch, hành lang pháp lý càng thông thoáng, thủ tục hành chính càng đơn giản, thuận tiện thì nguồn lực xã hội càng được giải phóng, động lực phát triển càng phát huy mạnh mẽ. Có thể nói, thể chế tốt chính là “đòn bẩy lớn nhất” để hiện thực hóa thành công khát vọng phát triển của Đại hội XIV. Do đó, việc triển khai Nghị quyết phụ thuộc trước tiên và một phần lớn vào việc thể chế hóa nhanh, đầy đủ và đồng bộ các quyết sách chiến lược của Đảng. Ba là, đổi mới phương thức tổ chức thực hiện theo tư duy quản trị hiện đại Một yêu cầu rất quan trọng là phải chuyển mạnh từ cách điều hành hành chính sang tư duy quản trị phát triển hiện đại. Nghị quyết không thể triển khai chung chung, mà phải được cụ thể hóa thành chương trình, đề án, dự án, sản phẩm và hiệu quả cụ thể. Mỗi việc phải rõ mục tiêu, rõ lộ trình, rõ nguồn lực, rõ người chịu trách nhiệm, rõ kết quả và hiệu quả. Lấy kết quả cuối cùng làm thước đo đánh giá năng lực, phẩm chất của cán bộ, không phải báo cáo hình thức. Cần áp dụng mạnh mẽ: quản trị theo dữ liệu, chuyển đổi số trong quản lý, đánh giá hiệu quả bằng chỉ số định lượng (KPI). Qua đó, bảo đảm: Nói ít, làm nhiều, làm đến nơi đến chốn, có sản phẩm cụ thể cho nhân dân thụ hưởng, lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo năng lực, phẩm chất của từng cán bộ, đảng viên, từng cơ quan trong hệ thống chính trị. Bốn là, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm phương thức hành động chủ đạo. Triển khai Nghị quyết trong thời đại số không chỉ là ứng dụng công nghệ, mà còn phải gắn liền với tái cấu trúc toàn bộ phương thức quản trị quốc gia: Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, dữ liệu số. Mọi hoạt động quản lý đầu tư, điều hành ngân sách, cung cấp dịch vụ công, giám sát cán bộ, đều cần và phải được số hóa, minh bạch hóa. Chúng ta đã thực hiện một cuộc cách mạng trong đổi mới hệ thống tổ chức bộ máy của toàn bộ hệ thống chính trị gắn liền với điều kiện phát triển công nghệ số. Vì thế, chuyển đổi số, ứng dụng số trong quản lý, quản trị điều hành của hệ thống chính trị, nhất là chính quyền địa phương hai cấp, là điều kiện cần và đủ cho hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó. Chỉ khi quản trị dựa trên dữ liệu và công nghệ, chúng ta mới giảm chi phí, tăng hiệu quả, phòng, chống tiêu cực, phục vụ nhân dân tốt hơn. Và như thế, hạnh phúc của nhân dân và sự hoàn thành nhiệm vụ của chính quyền các cấp sẽ bảo đảm được minh bạch, cụ thể và hiệu quả hơn rất nhiều. Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ - nhân tố quyết định của mọi quyết định Cuối cùng và quan trọng nhất vẫn là con người. Thực tiễn đã chứng minh, đường lối đúng đến đâu mà cán bộ yếu kém thì cũng không thành công; ngược lại, cán bộ tốt có thể biến chủ trương đúng đắn, hợp lý thành kỳ tích. Vì vậy, phải đặc biệt coi trọng việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm; thực hiện cơ chế “có vào có ra, có lên có xuống”. Cán bộ thời kỳ mới phải có tầm nhìn chiến lược, có năng lực quản trị hiện đại, có bản lĩnh đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Chỉ khi mỗi cán bộ thực sự là “hạt nhân hành động”, thì Nghị quyết mới đi vào cuộc sống thực sự. Sáu là, tinh thần xuyên suốt: hành động - quyết liệt - hiệu quả. Triển khai Nghị quyết Đại hội XIV đòi hỏi một tinh thần mới: nhanh hơn, quyết liệt hơn, sáng tạo hơn, hiệu quả hơn. Không chấp nhận: trì trệ, né tránh trách nhiệm, nói nhiều làm ít. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương phải tự hỏi: Mình đã làm gì cụ thể để hiện thực hóa mục tiêu Đại hội? Bởi thành công của Đại hội không được đo bằng lời nói, mà được đo bằng: sự tăng trưởng của nền kinh tế, chất lượng sống của nhân dân, niềm tin xã hội và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Có thể nói một cách khái quát, cô đọng như đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã tổng kết trong Báo cáo văn kiện trình Đại hội: “Khi thống nhất cao về tư tưởng; quyết liệt trong hành động; nghiêm minh trong kỷ luật; nhân dân thật sự là trung tâm, nhất định chúng ta sẽ biến khát vọng thành hiện thực; đưa đất nước tiến mạnh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội”./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/1225403/tong-bi-thu-to-lam-chu-tri-hoi-nghi-cong-bo-thanh-lap-hoi-dong-ly-luan-trung-uong-nhiem-ky-2026---2031.aspx
Hội nghị công bố thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2026 - 2031
10-03-2026
null
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại hội nghị_Ảnh: TTXVN Tham dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương Lê Minh Trí; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị; Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Phạm Gia Túc; Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Đoàn Minh Huấn. Tại hội nghị, đồng chí Hoàng Trung Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương công bố Quyết định của Bộ Chính trị về thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2026 - 2031; Quyết định của Ban Bí thư về thành phần Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2026 - 2031. Theo các quyết định trên, Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2026 - 2031 là cơ quan thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Thành phần Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2026 - 2031 gồm các đồng chí: Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2021 - 2026; Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương; Lê Văn Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng; Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội đồng. Hội đồng Lý luận Trung ương gồm 34 đồng chí ủy viên không chuyên trách. Tại hội nghị, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư Tô Lâm nhiệt liệt chúc mừng Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ mới, chúc hội đồng hoàn thành xuất sắc mọi trọng trách mà Đảng, Nhà nước, nhân dân tin tưởng giao phó. Nhân dịp này, Tổng Bí thư đánh giá cao, tri ân và cảm ơn những đóng góp rất quan trọng của Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2021 - 2026. Tổng Bí thư nhấn mạnh, trong những năm qua, Hội đồng Lý luận Trung ương đã có nhiều đóng góp rất quan trọng trong công tác nghiên cứu, phát triển lý luận của Đảng ta, đặc biệt là về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tiến hành những tổng kết lớn, đóng góp trực tiếp vào việc xây dựng, hoàn thiện các văn kiện quan trọng của Đảng, đặc biệt là các kỳ đại hội Đảng toàn quốc, định hướng con đường phát triển của đất nước trong thời gian dài. Tổng Bí thư nhấn mạnh, việc sớm kiện toàn và ra mắt Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2026 -2031 ngay sau Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện tinh thần chủ động, tích cực, khẩn trương hành động, đưa công tác lý luận đồng hành cùng với các nhiệm vụ lớn của Đảng và của đất nước. Hội đồng nhiệm kỳ mới được kiện toàn theo tinh thần đổi mới mạnh mẽ về tổ chức bộ máy, bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; đồng thời cũng thể hiện rõ chủ trương của Đảng về sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư vấn chiến lược. Hội đồng thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trung tâm quốc gia về đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý và nghiên cứu lý luận chính trị của Đảng, tạo điều kiện thuận lợi để gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, đào tạo cán bộ và phát triển tri thức khoa học chính trị. Thành phần của hội đồng nhiệm kỳ mới cũng có nhiều đổi mới quan trọng với sự tham gia của các nhà lý luận, các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành và nhiều nhà lãnh đạo, quản lý giàu kinh nghiệm thực tiễn. Tổng Bí thư Tô Lâm trao quyết định của Bộ Chính trị thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2026 - 2031_Ảnh: TTXVN Theo Tổng Bí thư, sự kết hợp giữa lực lượng kế cận của các nhà khoa học giàu kinh nghiệm thể hiện rõ tinh thần kế thừa và phát triển, bảo đảm tính liên tục, đồng thời cũng tạo động lực cho sự đổi mới sáng tạo trong hoạt động để Hội đồng Lý luận Trung ương thực sự trở thành nơi hội tụ, kết tinh trí tuệ của đội ngũ các nhà lý luận, các chuyên gia, các nhà hoạt động thực tiễn, là “túi khôn” của Đảng, là trung tâm nghiên cứu và tư vấn chiến lược những vấn đề lớn của đất nước. Trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, Hội đồng Lý luận Trung ương có những trọng trách hết sức quan trọng. Nhấn mạnh điều này, Tổng Bí thư nêu một số nhiệm vụ trọng tâm để các đồng chí trong hội đồng cùng suy nghĩ, tổ chức thực hiện đồng bộ, chất lượng, hiệu quả và kịp thời trong nhiệm kỳ mới. Theo đó, Hội đồng Lý luận Trung ương cần tiếp tục khẳng định và nâng tầm vai trò hạt nhân, nòng cốt trong công tác lý luận của Đảng. Trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, công tác lý luận càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi chính lý luận góp phần hình thành nên nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam trong hoạt động của Đảng với tầm nhìn chiến lược dài hạn, lộ trình, bước đi trong từng giai đoạn, từng thời kỳ để phát triển đất nước. Hội đồng cần phải phát huy mạnh mẽ, có hiệu quả vai trò tư vấn cho Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong việc xem xét, quyết định những vấn đề chiến lược và định hướng phát triển lớn của đất nước. Công tác lý luận phải thực sự đi trước một bước, góp phần soi sáng con đường phát triển của đất nước trong bối cảnh thế giới đang có nhiều biến động nhanh chóng và rất phức tạp. Vì vậy, Hội đồng cần chủ động nghiên cứu, phát hiện và luận giải những vấn đề lý luận mới nảy sinh từ thực tiễn phát sinh của đất nước cũng như từ những biến đổi sâu sắc của tình hình thế giới, chú trọng tham gia tích cực vào quá trình phản biện, thẩm định các đề án lớn của Đảng và Nhà nước, vừa góp phần nâng cao chất lượng hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa để công tác lý luận gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triển của đất nước. Hội đồng cần phát huy vai trò chủ đạo trong công tác tổng kết thực tiễn, nhất là tổng kết những chặng đường lịch sử quan trọng của cách mạng Việt Nam và tiếp tục phát triển hệ thống lý luận của Đảng. Trong thời gian tới, hội đồng có trách nhiệm đặc biệt quan trọng trong việc tham gia vào nhiệm vụ tổng kết 100 năm Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Thông qua quá trình tổng kết để nhìn nhận một cách toàn diện, sâu sắc và khoa học toàn bộ quá trình lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, làm rõ những thành tựu to lớn, những bài học kinh nghiệm quý báu, những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, từ thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam cần tiếp tục phát triển, hoàn thiện hệ thống lý luận của Đảng về lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong giai đoạn tới. Việc tổng kết những chặng đường lịch sử không chỉ nhằm nhìn lại quá khứ mà quan trọng hơn là để định hướng tương lai vì sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Hội đồng cần đóng góp tích cực, có trách nhiệm cao vào việc xây dựng các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XV của Đảng. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng của Hội đồng Lý luận Trung ương qua nhiều nhiệm kỳ đại hội. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận toàn diện và tổng kết thực tiễn sâu sắc, các văn kiện của đại hội không chỉ xác định mục tiêu, phương hướng và nhiệm vụ trong một nhiệm kỳ mà còn định hình tầm nhìn chiến lược cho sự lãnh đạo của Đảng, của sự phát triển của đất nước trong nhiều thập niên tới. Nêu những yêu cầu đặt ra trong thực hiện nhiệm vụ, Tổng Bí thư chỉ rõ, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn phục vụ xây dựng văn kiện đại hội phải thật sự bài bản, sâu sắc, bảo đảm chất lượng cao, phải suy nghĩ việc chuẩn bị các văn kiện cho đại hội tới phải bắt đầu ngay từ đầu nhiệm kỳ này và ngay trong mỗi bước thực hiện nghị quyết của đại hội này. Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đại biểu và thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2026 - 2031_Ảnh: TTXVN Trong nhiệm kỳ 2026 - 2031, hội đồng cần phối hợp chặt chẽ với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các cơ quan nghiên cứu trong cả nước triển khai thật tốt chương trình nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2026 - 2030 và nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận về đường lối đổi mới của Đảng trong kỷ nguyên mới. Thông qua đó, hội đồng và học viện có thể đóng góp những luận cứ khoa học quan trọng giúp cho các văn kiện của Đảng vừa có nền tảng lý luận vững chắc vừa phản ánh đúng yêu cầu của xu thế phát triển của đất nước trong bối cảnh mới. Tổng Bí thư nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn trong bối cảnh chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh chóng. Tổng Bí thư chỉ rõ, công tác nghiên cứu khoa học nói chung và công tác nghiên cứu lý luận của Đảng nói riêng cần được đổi mới mạnh mẽ cả về tư duy và phương pháp, đồng thời đề nghị hội đồng cần chủ động tiếp cận, sử dụng các phương pháp, công cụ nghiên cứu hiện đại, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận với dữ liệu thực tiễn, giữa phân tích khoa học với dự báo chiến lược. Việc ứng dụng các thành tựu của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, các công cụ phân tích hiện đại cần được đẩy mạnh nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu, tăng cường khả năng tổng hợp, phân tích và dự báo những xu hướng phát triển mới của thế giới cũng như những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam. Hội đồng phát huy vai trò là trung tâm tập hợp các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà hoạt động thực tiễn trong và ngoài nước, mở rộng mạng lưới trí thức, tăng cường kết nối với các trung tâm nghiên cứu, phát huy các hình thức hợp tác nghiên cứu liên ngành và liên kết quốc tế, tăng cường công tác đối ngoại về mặt lý luận, mở rộng các hoạt động trao đổi lý luận, đối thoại chính sách với các đảng cộng sản, các đảng cầm quyền, các tổ chức nghiên cứu trên thế giới. Thông qua đó, công tác lý luận của Đảng không chỉ tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại mà còn góp phần lan tỏa những giá trị lý luận thực tiễn của cách mạng Việt Nam ra thế giới, đóng góp tích cực vào những xu hướng, những phong trào tiến bộ, phong trào cộng sản, phong trào chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Để hoàn thành tốt những nhiệm vụ đó, thường trực hội đồng và các thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương cần phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh chính trị, trí tuệ khoa học và tâm huyết đối với sự nghiệp phát triển của đất nước; chủ động nghiên cứu, đóng góp nhiều công trình có giá trị lý luận và thực tiễn, góp phần làm cho công tác lý luận của Đảng ngày càng phát triển, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới. Tổng Bí thư Tô Lâm bày tỏ tin tưởng rằng, với truyền thống và kinh nghiệm quý báu đã được tích lũy trong nhiều nhiệm kỳ, cùng với sự đổi mới mạnh mẽ về tổ chức và phương thức hoạt động, Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2026 - 2031 sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần làm cho lý luận thực sự trở thành ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới của đất nước./. Trung Duy (tổng hợp)
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/961703/tong-ket-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-qua-40-nam-doi-moi-o-viet-nam.aspx
Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 40 năm đổi mới ở Việt Nam
23-08-2024
null
Dự Phiên họp có các đồng chí: Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tổng kết 40 năm đổi mới; Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng kết 40 năm đổi mới. Tham dự Phiên họp còn có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng là Thường trực, Ủy viên Ban Chỉ đạo Tổng kết 40 năm đổi mới. Trình bày tóm tắt Báo cáo kết quả triển khai tình hình thực hiện Đề án Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng cho biết, sau khi Bộ Chính trị có chủ trương tiến hành tổng kết 40 năm đổi mới và ban hành Quyết định về việc thành lập Ban Chỉ đạo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Tổng kết 40 năm đổi mới, Hội đồng Lý luận Trung ương với vai trò là Cơ quan Thường trực của Đề án Tổng kết 40 năm đổi mới đã phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Trung ương Đảng và các ban, bộ, ngành, địa phương liên quan tích cực, chủ động triển khai các hoạt động tổng kết. Sau cuộc họp Ban Chỉ đạo Tổng kết lần 3, các đồng chí trong Tổ Biên tập đã bám sát Đề cương, chủ động, tích cực làm việc, đến nay đã hoàn thành việc xây dựng Dự thảo Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 40 năm đổi mới ở Việt Nam. Trong quá trình xây dựng Dự thảo Báo cáo Tổng kết đã kịp thời chuyển giao, tích hợp và sử dụng các kết quả tổng kết vào việc xây dựng dự thảo Báo cáo chính trị, nhất là ở những nội dung quan trọng, như: Cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín đất nước sau 40 năm đổi mới; những bài học kinh nghiệm mang tầm lý luận và đường lối đổi mới; xác định hệ quan điểm chỉ đạo mục tiêu phát triển và các định hướng lớn trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, các đột phá chiến lược trong giai đoạn mới. Dự thảo Báo cáo gồm 5 phần lớn: (i) Bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước tác động đến quá trình đổi mới 40 năm; (ii) sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng qua 40 năm đổi mới; (iii) những thành tựu và hạn chế trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam; (iv) khái quát chung, vấn đề đặt ra và bài học kinh nghiệm; (v) dự báo tình hình, đề xuất, quan điểm, định hướng giải pháp tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Theo đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, quá trình triển khai thực hiện đã cơ bản đúng tiến độ, bám sát kế hoạch được Ban Chỉ đạo Tổng kết 40 năm đổi mới thông qua. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng kết 40 năm đổi mới phát biểu tại phiên họp_Ảnh: TTXVN Phát biểu tại phiên họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá, B áo cáo Tổng kết 40 năm đổi mới là đầu vào quan trọng cho việc xây dựng dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, trong đó có Báo cáo chính trị là báo cáo trung tâm. Xây dựng Dự thảo Báo cáo phải được thực hiện khẩn trương, khoa học với sự đầu tư lớn về công sức, trí tuệ để kịp thời chắt lọc đưa vào nội dung các văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá cao nội dung đã được tổng kết, hệ thống với các kết quả nổi bật: Đã hệ thống làm rõ sự phát triển lý luận của Đảng ta về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa qua 40 năm đổi mới; đ ánh giá, làm rõ thành tựu, hạn chế trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trên 4 nhóm vấn đề lớn (gồm: xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hóa, xã hội và con người; quốc phòng, an ninh và đối ngoại; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh). Chỉ ra một cách khái quát bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong đó có việc đề xuất xác định mô hình chủ nghĩa xã hội gồm 3 trụ cột (Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo); thành tựu có ý nghĩa lịch sử, những hạn chế, làm rõ những vấn đề đặt ra và bài học kinh nghiệm. Dự báo tương đối sát tình hình, đề xuất các mục tiêu, quan điểm, chỉ tiêu chủ yếu, định hướng nhiệm vụ giải pháp tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. Dự thảo báo cáo đã kiến nghị, đề xuất một số nội dung phục vụ xây dựng văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Tuy nhiên còn một số vấn đề cần cân nhắc, làm rõ thêm, như: Chưa chỉ rõ những hạn chế, nguyên nhân có tính chủ yếu, cốt lõi; nhiều nội dung chung chung, nhiều vấn đề chưa được chỉ ra cụ thể dẫn đến khó đạt hiệu quả cao trong tham mưu hoạch định chủ trương, đường lối về tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới trong những năm tiếp theo; nhiều nguyên nhân tương tự nhau ở các hạn chế, cân nhắc chỉ ra nguyên nhân của mọi nguyên nhân, từ đó chỉ ra giải pháp của mọi giải pháp; cân nhắc thêm trụ cột văn hóa trong mô hình chủ nghĩa xã hội. Trên từng lĩnh vực, cần chỉ ra được những chủ trương có sức sống từ thực tiễn triển khai trong những năm gần đây để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện trong thời gian tới. Báo cáo đã đề cập khá toàn diện cơ hội và thách thức đối với tiếp tục việc đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, song chưa chỉ ra được cơ hội lớn cần nắm bắt, thách thức lớn cần vượt qua. Toàn cảnh Phiên họp_Ảnh: Hà Phương Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, cần thống nhất nhận thức về bối cảnh mới đang mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ đó đổi mới mạnh mẽ hơn nữa về hình thức và nội dung báo cáo. Tinh thần là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá chính xác kết quả đạt được, thẳng thắn, khách quan chỉ ra những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm và nguyên nhân, nhất là những điểm nghẽn, nút thắt đối với sự phát triển của đất nước chưa được hoặc chậm được tháo gỡ, khắc phục; tiếp tục kiên định sự nghiệp đổi mới đất nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lưu ý, tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam là một công việc hệ trọng đối với công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước; đóng góp trực tiếp vào việc xây dựng dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng. Do đó, Báo cáo Tổng kết 40 năm đổi mới sẽ tiếp tục hoàn thiện để trình Bộ Chính trị cho ý kiến, sau đó trình Hội nghị Trung ương 10 khóa XIII./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/962502/bao-cao-chinh-tri-trinh-dai-hoi-xiv-cua-dang--can-xac-dinh-ro-quan-diem%2C-tam-nhin%2C-muc-tieu-va-dinh-huong-phat-trien%2C-nhiem-vu-trong-tam-va-dot-pha-chien-luoc-trong-giai-doan-moi.aspx
Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng: Cần xác định rõ quan điểm, tầm nhìn, mục tiêu và định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược trong giai đoạn mới
27-08-2024
null
Toàn cảnh cuộc họp_Ảnh: TTXVN Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Thường trực Ban Bí thư Lương Cường; các thành viên Tiểu ban Văn kiện, Thường trực Tổ Biên tập Văn kiện cùng tham dự. Tại cuộc họp, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Thường trực Tiểu ban, Tổ trưởng Tổ Biên tập Văn kiện trình bày tờ trình của Tổ Biên tập về dự thảo Báo cáo chính trị. Phát biểu kết luận cuộc họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương những nỗ lực của Tổ Biên tập Văn kiện đã làm việc với tinh thần chủ động, trách nhiệm để trình Thường trực Tiểu ban bản dự thảo Báo cáo chính trị lần thứ 6 sau nhiều lần chỉnh sửa, góp ý. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì họp Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng_Ảnh: TTXVN Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Báo cáo chính trị trình Bộ Chính trị xem xét, cho ý kiến, hoàn thiện trình Hội nghị Trung ương 10 khóa XIII đáp ứng yêu cầu cả về chất lượng và tiến độ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Báo cáo chính trị là báo cáo trung tâm nên nội dung báo cáo thể hiện ở tầm quan điểm, chủ trương; phải thống nhất nhận thức về khởi điểm lịch sử mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới; khơi dậy được sự tự hào, tự cường, tự lực và tự tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào đường lối đúng đắn, sáng suốt của Đảng, vào mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ kính yêu và toàn thể dân tộc ta đã lựa chọn. Do đó, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc những tư tưởng chỉ đạo của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đặc biệt là 3 nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng văn kiện: Kiên định và đổi mới; kế thừa và phát triển; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn với định hướng chính sách. Để Báo cáo chính trị thật sự là sản phẩm trí tuệ của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lưu ý, Tiểu ban, Tổ Biên tập phải phát huy dân chủ và trí tuệ tập thể. Trong quá trình thảo luận, bàn bạc, cần cầu thị, lắng nghe, tôn trọng ý kiến lẫn nhau, tạo sự thống nhất cao, nhất là đối với những vấn đề mới, vấn đề khó. Nghiên cứu kỹ các văn bản đã ban hành; tranh thủ sự tham gia đóng góp của các đồng chí nguyên lãnh đạo, của giới trí thức, các nhà nghiên cứu, quản lý; chú trọng khai thác kết quả nghiên cứu khoa học ở trong nước và quốc tế; những cách làm hay, mô hình mới trong thực tế, nhất là thực tiễn qua gần 40 năm đổi mới./. Hà Phương ( tổng hợp )
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/1197902/tong-ket-chuong-trinh-%E2%80%9Cnghien-cuu-khoa-hoc-ly-luan-chinh-tri-giai-doan-2021---2025%E2%80%9D-va-dinh-huong-chuong-trinh-%E2%80%9Cnghien-cuu-khoa-hoc-ly-luan-chinh-tri-giai-doan-2026---2030%E2%80%9D.aspx
Tổng kết Chương trình “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2021 - 2025” và định hướng Chương trình “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2026 - 2030”
27-12-2025
Hoàn thành toàn bộ mục tiêu, tạo ra hệ thống sản phẩm khoa học phong phú, có giá trị lý luận và thực tiễn cao
Hoàn thành toàn bộ mục tiêu, tạo ra hệ thống sản phẩm khoa học phong phú, có giá trị lý luận và thực tiễn cao Trình bày Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2021 - 2025" (KX.04/21-25) và định hướng Chương trình “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2026 - 2030”, GS, TS Nguyễn Quang Thuấn , Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Phó Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam cho biết, ngày 28-10-2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1810/QĐ-TTg, phê duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt cấp quốc gia “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2021 - 2025”; Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quyết định số 2722-QĐ/BKHCN, ngày 1-11-2021, về việc phê duyệt Chương trình khoa học công nghệ cấp quốc gia “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2021 - 2025” (Mã số KX.04/21-25). GS, TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Chủ nhiệm Chương trình KX.04/21-25 phát biểu tại Hội nghị_Ảnh: Nhị Hà Báo cáo nhấn mạnh, toàn bộ các đề tài thuộc Chương trình đã được nghiệm thu cấp quốc gia, đang hoàn chỉnh các văn bản, thủ tục hành chính để kết thúc hợp đồng và giao nộp đầy đủ các sản phẩm theo quy định. Ban Chủ nhiệm Chương trình đã và đang xây dựng Báo cáo tổng hợp kết quả Chương trình “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2021 - 2025” để trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Kết quả đánh giá cho thấy, trong tổng số 39 đề tài, có 28 đề tài được xếp loại xuất sắc; trong đó 23 đề tài hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cả về nội dung nghiên cứu và được khen thưởng. Chương trình đã tạo ra hệ thống sản phẩm khoa học phong phú, có giá trị lý luận và thực tiễn cao, gồm 55 sách chuyên khảo đã được xuất bản; 477 bài báo khoa học đăng trên các tạp chí uy tín trong nước; 42 bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế theo quy chuẩn; khoảng 200 báo cáo khoa học chắt lọc kết quả nghiên cứu và kiến nghị chính sách. Đồng thời, Chương trình đã đào tạo và tham gia đào tạo 82 nghiên cứu sinh tiến sĩ và 185 học viên cao học, góp phần quan trọng phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học lý luận chính trị. Về thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, Chương trình đã hoàn thành đầy đủ ba mục tiêu và các nhiệm vụ do Ban Bí thư giao, được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt. 100% số đề tài được triển khai và hoàn thành đúng yêu cầu theo hợp đồng đã ký kết, trong đó nhiều đề tài hoàn thành vượt yêu cầu. Các đề tài có cách tiếp cận mới, phương pháp nghiên cứu phù hợp, đa dạng, tập trung làm rõ những vấn đề cốt lõi của lý luận chính trị và những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra. Đáng chú ý, nhiều kết quả nghiên cứu đã được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và Ban Chỉ đạo Tổng kết 40 năm đổi mới tiếp nhận, sử dụng. Về nội dung, kết quả nghiên cứu của 39 đề tài đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ hoạch định đường lối, chiến lược xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045; làm sâu sắc hơn nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới; đánh giá bối cảnh trong nước và quốc tế, những xu thế lớn tác động đến Việt Nam trong thời gian tới, qua đó đề xuất các giải pháp phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Chương trình đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong nghiên cứu, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; kiểm soát và giám sát quyền lực; xây dựng mô hình tổng thể hệ thống chính trị; đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển các thành phần kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Bên cạnh đó, các đề tài đã nghiên cứu toàn diện các vấn đề văn hóa, xã hội, con người; xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; bảo đảm an sinh xã hội; củng cố quốc phòng, an ninh; mở rộng và nâng tầm đối ngoại trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động phức tạp. Những kết quả đạt được khẳng định Chương trình KX.04/21-25 là chương trình nghiên cứu khoa học lý luận chính trị có quy mô lớn, chất lượng cao, đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn, tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới. Tại hội nghị, các đại biểu đánh giá, kết quả nội dung nghiên cứu của 39 đề tài thuộc Chương trình KX.04/21-25 có những đóng góp mới, đó là: Góp phần làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn phục vụ hoạch định đường lối, chiến lược xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc đến năm 2030, tầm nhìn 2045; đánh giá những thành tựu phát triển lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới; hoàn thiện phương thức cầm quyền và nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới; tiếp tục nghiên cứu về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tập trung nghiên cứu sâu hơn về một số vấn đề lý luận, thực tiễn về văn hóa - xã hội - con người; nghiên cứu một số vấn đề lý luận - thực tiễn về quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Quang cảnh hội nghị_Ảnh: Nhị Hà Chương trình nghiên cứu khoa học lý luận chính trị có tính kế thừa rõ nét, có nhiều điểm mới, sáng tạo trong cách làm Phát biểu tại hội nghị, GS, TS Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh, Chương trình KX.04 giai đoạn 2021 - 2025 là chương trình nghiên cứu lý luận có quy mô lớn, tầm vóc quốc gia, phục vụ trực tiếp việc xây dựng dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, đồng thời góp phần tổng kết sâu sắc thực tiễn gần 40 năm đổi mới, làm rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, việc tổng kết Chương trình KX.04 giai đoạn 2021 - 2025 là nền tảng quan trọng để chuẩn bị cho nhiệm vụ nghiên cứu lý luận phục vụ xây dựng Văn kiện Đại hội XV của Đảng trong thời gian tới. GS, TS Nguyễn Xuân Thắng cho rằng, điểm nổi bật là Chương trình đã giữ vững và thực hiện tốt nguyên tắc kết hợp giữa kế thừa và phát triển trong nghiên cứu lý luận; luôn cập nhật, bổ sung kịp thời những tư tưởng, quan điểm mới của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn tiếp tục được chú trọng, thông qua việc thường xuyên tổng kết thực tiễn, đổi mới phương pháp nghiên cứu và cách thức tổ chức thực hiện. Chương trình có sự kết nối chặt chẽ với các nhiệm vụ do Bộ Chính trị giao cho Hội đồng Lý luận Trung ương, nhất là nhiệm vụ tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về đường lối đổi mới trong bối cảnh mới. Một điểm mới quan trọng của Chương trình là việc tổ chức các hội nghị quán triệt về nội dung, phương pháp và cách làm, tạo sự thống nhất cao ngay từ đầu trong triển khai các đề tài. Cùng với đó, công tác đôn đốc, kiểm tra được tăng cường, tạo động lực, áp lực tích cực để các đề tài duy trì quá trình nghiên cứu liên tục, thường xuyên bổ sung, hoàn thiện các báo cáo kiến nghị, kịp thời trao đổi, thảo luận, phản biện, nâng cao chất lượng nghiên cứu và khả năng ứng dụng kết quả vào thực tiễn. GS, TS Nguyễn Xuân Thắng chỉ rõ một số hạn chế cần nghiêm túc rút kinh nghiệm. Chất lượng nghiên cứu giữa các đề tài chưa thật sự đồng đều; một số nội dung chưa có nhiều phát hiện, đóng góp mới. Tiến độ thực hiện ở một số đề tài còn chậm; việc phối hợp giữa triển khai chuyên môn và quyết toán tài chính có thời điểm chưa thật sự đồng bộ. Đ ồng thời lưu ý trong giai đoạn tới cần tiếp tục thắt chặt mạng lưới kết nối các nhà khoa học và cơ quan nghiên cứu lý luận để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, đặc biệt là các nhiệm vụ lớn như tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước. Nhấn mạnh yêu cầu trong thời gian tới, với tư cách là cơ quan tư vấn của Bộ Chính trị, GS, TS Nguyễn Xuân Thắng mong muốn các thành viên Hội đồng, các nhà khoa học tiếp tục tham gia sâu hơn, trực tiếp hơn vào quá trình xây dựng Chương trình nghiên cứu lý luận chính trị giai đoạn mới, từ xác định mục tiêu, phương hướng đến đề xuất danh mục đề tài. Qua đó, bảo đảm Chương trình KX.04 giai đoạn tới tiếp tục đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác nghiên cứu lý luận, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. GS, TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương trao quyết định và tặng hoa chúc mừng PGS, TS Trần Quốc Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Điện Biên làm Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2021 - 2026 và là thành viên Tiểu ban Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại_Ảnh: Nhị Hà * Cùng ngày, Hội đồng Lý luận Trung ương đã công bố Quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác cán bộ. Bộ Chính trị quyết định bổ sung PGS, TS Trần Quốc Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Điện Biên tham gia làm Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2021 - 2026 và là thành viên Tiểu ban Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại. Ban Bí thư quyết định bổ nhiệm GS, TS Lê Văn Lợi, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giữ chức Phó Chủ tịch kiêm nhiệm Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2021 - 2026./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/1201702/phat-huy-vai-tro-cua-luc-luong-cong-an-nhan-dan-trong-dau-tranh-phong%2C-chong-tham-nhung%2C-lang-phi%2C-tieu-cuc%2C-gop-phan-xay-dung%2C-chinh-don-dang-va-he-thong-chinh-tri-that-su-trong-sach%2C-vung-manh.aspx
Phát huy vai trò của lực lượng công an nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh
26-12-2025
null
Các đồng chí chủ trì hội thảo_Ảnh: Thùy Linh Các đồng chí: PGS, TS Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; Trung tướng Phan Xuân Tuy, Giám đốc Học viện Chính trị Công an nhân dân dự và chủ trì hội thảo. Dự hội thảo còn có đại diện lãnh đạo các ban, ngành trung ương, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và hoạt động thực tiễn, cán bộ, giảng viên trong và ngoài lực lượng công an nhân dân... Hội thảo được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến 8 đầu cầu công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Phát biểu khai mạc và đề dẫn hội thảo, PGS, TS Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản khẳng định, trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng quản trị quốc gia, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và sự liêm chính của bộ máy công quyền, công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Đảng ta xác định là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với việc giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững đất nước. Trong tổng thể nhiệm vụ đó, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không chỉ là yêu cầu cấp bách trước mắt nhằm ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mà còn là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên, gắn chặt với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, tham nhũng, tiêu cực không chỉ gây thất thoát lớn về tài sản của Nhà nước, mà còn làm xói mòn kỷ cương, phép nước, làm suy giảm hiệu lực quản lý nhà nước, cản trở phát triển kinh tế - xã hội và làm tổn hại nghiêm trọng đến uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì quan điểm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật mọi hành vi vi phạm, dù người đó là ai, giữ cương vị nào. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực đấu tranh hết sức phức tạp, nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến quyền lực, lợi ích kinh tế và các mối quan hệ đan xen, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và sự tham gia đồng bộ, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Trong tổng thể đó, lực lượng công an nhân dân giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là lực lượng nòng cốt, xung kích trên tuyến đầu trong phát hiện, điều tra, xử lý các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, góp phần trực tiếp bảo vệ kỷ cương, phép nước và sự nghiêm minh của pháp luật. Với chức năng, nhiệm vụ được giao, Công an nhân dân không chỉ tham gia xử lý các vụ án tham nhũng, lãng phí, tiêu cực lớn, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, mà còn chủ động nắm chắc tình hình, nhận diện sớm nguy cơ, phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm tham nhũng; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, truy tố, xét xử để bảo đảm xử lý thống nhất, kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vai trò đó càng trở nên quan trọng trong bối cảnh yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt ra đòi hỏi ngày càng cao về tính thượng tôn pháp luật, kiểm soát quyền lực, phòng ngừa từ sớm, từ xa, không để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực “có đất sống”. Thực tiễn cũng khẳng định rằng, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chỉ đạt hiệu quả bền vững khi được triển khai một cách đồng bộ, quyết liệt, gắn kết chặt chẽ giữa phòng ngừa và đấu tranh, giữa xử lý nghiêm minh và hoàn thiện thể chế, giữa vai trò của các cơ quan chuyên trách với trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị. Trong tiến trình đó, lực lượng Công an nhân dân vừa là lực lượng trực tiếp đấu tranh trấn áp, vừa là “lá chắn” bảo vệ pháp luật, góp phần tạo dựng môi trường chính trị - xã hội trong sạch, minh bạch, kỷ cương, từ đó củng cố niềm tin của nhân dân, tạo nền tảng vững chắc cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hoàn thiện hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Với vị trí là lực lượng vũ trang trọng yếu, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, Công an nhân dân giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật. Trong những năm qua, quán triệt sâu sắc các chủ trương, quan điểm của Đảng về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lực lượng Công an nhân dân đã phát huy cao độ bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần trách nhiệm và ý chí đấu tranh không khoan nhượng với sai phạm; chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, khởi tố, điều tra, làm rõ nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực nhạy cảm, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Thông qua việc xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật các vụ án tham nhũng,lãng phí, tiêu cực, lực lượng Công an nhân dân đã góp phần quan trọng trong việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát; đồng thời tạo hiệu ứng răn đe, cảnh tỉnh mạnh mẽ đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là những người có chức, có quyền. Kết quả đó không chỉ khẳng định vai trò nòng cốt, xung kích của Công an nhân dân trên tuyến đầu đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, mà còn góp phần trực tiếp củng cố kỷ luật, kỷ cương của Đảng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, giữ vững niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiêm minh của pháp luật. Toàn cảnh hội thảo_Ảnh: Thùy Linh Tại hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ lãnh đạo, quản lý đề cập tới nhiều khía cạnh, góc nhìn, vấn đề lý luận, vấn đề thực tiễn về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, như: Trách nhiệm của lực lượng công an nhân dân trong việc bảo vệ cán bộ, người dân dám đấu tranh, dám nói thẳng, nói thật trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đánh giá các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến quyền của công an nhân dân trong điều tra tội phạm tham nhũng: một số vấn đề đặt ra để tiếp tục hoàn thiện; vai trò, trách nhiệm của công an nhân dân trong tham mưu, cảnh báo nguy cơ tham nhũng theo định hướng rủi ro cho các cơ quan quản lý nhà nước; Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong tình hình mới; vai trò của công an nhân dân trong cung cấp “căn cứ pháp lý” cho các quyết định kỷ luật Đảng: nghiên cứu tính đồng bộ giữa xử lý hình sự và xử lý kỷ luật đảng; kinh nghiệm phát hiện, điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng, tiêu cực, lãng phí của công an địa phương… Với hơn 60 tham luận được gửi đến hội thảo và gần 10 ý kiến phát biểu tại hội trường, các đại biểu đã tập trung thảo luận 3 nội dung chính, bao gồm: Một là , làm rõ ý nghĩa, giá trị lý luận, thực tiễn của vấn đề đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đánh giá quá trình thực hiện công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hệ thống chính trị nói chung và trong lực lượng Công an nhân dân nói riêng. Hai là , đánh giá quá trình thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong những năm qua ở Việt Nam với vai trò chủ đạo của lực lượng Công an nhân dân. Ba là , phuy những kinh nghiệm của quá trình đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của lực lượng Công an nhân dân thật góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn, xử lý nghiêm biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trung tướng, PGS, TS Phan Xuân Tuy, Giám đốc Học viện Chính trị Công an nhân dân phát biểu tổng kết hội thảo_Ảnh: Thùy Linh Tổng kết hội thảo, thừa ủy quyển của lãnh đạo Bộ Công an, đồng chí Trung tướng Phan Xuân Tuy, Giám đốc Học viện Công an nhân dân nhấn mạnh, hội thảo đã cung cấp luận cứ lý luận - thực tiễn, bổ sung, làm rõ và sâu sắc thêm một số nội dung từ quan điểm, chủ trương của Đảng đến thực tiễn đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và các biểu hiện của nó trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt, Hội thảo đã làm rõ hơn vai trò nòng cốt của lực lượng Công an nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong thời gian qua, những bài học kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn một số công an đơn vị, địa phương. Các ý kiến tham luận tại Hội thảo cũng chỉ ra những yêu cầu mới, những thuận lợi, khó khăn đang đặt ra đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ, thiết thực, hiệu quả để phát huy vai trò của lực lượng công an nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới. Ban Tổ chức Hội thảo đề nghị cơ quan thường trực tiếp thu đầy đủ các ý kiến tham luận để sớm hoàn thiện báo cáo tổng hợp, tham mưu triển khai thực hiện trong thời gian tới, tập trung vào một số nội dung trọng tâm: Thứ nhất , tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, lãnh đạo, nhất là người đứng đầu và mỗi đảng viên, cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân trong việc xác định công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, thường xuyên, liên tục, lâu dài, là “nhiệm vụ sống còn” của cả hệ thống chính trị nói chung, của lực lượng công an nhân dân nói riêng góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh. Thứ hai , vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; quán triệt sâu sắc các chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, các chỉ đạo của Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an về công tác xây dựng Đảng trong công an nhân dân, xây dựng lực lượng công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Thứ ba , lực lượng công an nhân dân tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua; đồng thời, chủ động nắm tình hình, nhận diện các biểu hiện và hành vi tham nhũng, tiêu cực trên tất cả các lĩnh vực như: đất đai, tài chính, ngân sách, y tế, giáo dục, đầu tư công,… để áp dụng các biện pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có hiệu quả hơn. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác công tác thể chế hoá các chủ trương, quan điểm về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong công an nhân dân; phát huy vai trò chuyên trách của lực lượng cảnh sát kinh tế; xây dựng mối quan hệ gắn bó “máu thịt” giữa công an nhân dân và nhân dân, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Thứ tư , trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lực lượng công an nhân dân cần tiếp tục phát huy tinh thần “gương mẫu đi đầu”, áp dụng nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; đặt lợi ích quốc gia - dân tộc và nhân dân lên trên hết. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kết hợp đồng bộ công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý các vụ việc, hành vi tham nhũng, tiêu cực; phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi móc nối, câu kết giữa số cán bộ thoái hóa, biến chất trong nội bộ với các thế lực thù địch, bảo vệ an ninh quốc gia; đồng thời có cơ chế, biện pháp bảo vệ người tố cáo, cán bộ thực hiện đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; kiên quyết xử lý đối tượng lợi dụng việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để chống phá. Thứ năm , thực hiện hiệu quả phong trào thi đua “Ba nhất” (Trung thành nhất, Kỷ luật nhất, Gần dân nhất) trong công an nhân dân; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng lực lượng công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, “vừa hồng”, “vừa chuyên”; đặt nền tảng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong mọi chương trình đào tạo, bồi dưỡng; giáo dục liêm chính, nâng cao trình độ lý luận chính trị, pháp luật, nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là lực lượng chuyên trách phòng, chống tham nhũng; minh bạch hóa các quy trình công tác và ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý, điều hành góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng lãng phí, tiêu cực./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/1219603/gioi-thieu-bo-sach-luat-duoc-thong-qua-tai-ky-hop-thu-10%2C-quoc-hoi-khoa-xv.aspx
Giới thiệu bộ sách luật được thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV
25-02-2026
null
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu chỉ đạo tại buổi Lễ giới thiệu bộ sách_Ảnh: Như Trang Đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội dự và phát biểu chỉ đạo. 80 năm qua, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật không chỉ ghi dấu trong lịch sử xuất bản cách mạng Việt Nam, mà còn trở thành một phần không thể tách rời trong lịch sử tư tưởng của Đảng và dân tộc, góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền tảng tư tưởng, lý luận, định hình hệ giá trị tinh thần và củng cố niềm tin xã hội vào con đường phát triển đất nước mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Đồng thời, lịch sử phát triển và các thành tựu của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật gắn liền với việc xuất bản và phát hành các sách luật. Phát biểu tại buổi lễ, PGS, TS Vũ Trọng Lâm, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật khẳng định, thời gian qua, bên cạnh việc phối hợp với các ban, bộ, ngành trung ương và các tỉnh, thành phố, trường đại học, viện nghiên cứu, các nhà khoa học, chuyên gia pháp luật xuất bản các đầu sách về pháp luật có giá trị, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các cơ quan của Quốc hội trong việc biên soạn, biên tập, xuất bản nhiều công trình có giá trị về hoạt động lập pháp và hoạt động của Quốc hội. Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật Vũ Trọng Lâm phát biểu tại buổi lễ_Ảnh: Như Trang Giới thiệu về bộ sách luật được thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, đồng chí Vũ Trọng Lâm cho biết, bao gồm 34 cuốn sách, bộ sách luật được xuất bản phản ánh sinh động quá trình thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng; cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); góp phần hoàn thiện, đồng bộ hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế sâu rộng. Bao quát hầu hết các lĩnh vực trọng yếu, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, bộ sách thực sự là nguồn tài liệu quan trọng phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và tổ chức thực hiện pháp luật; góp phần nâng cao nhận thức pháp lý, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và hiệu quả quản lý của Nhà nước. Phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ, đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ, trong những năm vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của đồng chí Tổng Bí thư , Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong công tác tổ chức biên soạn, biên tập, xuất bản các công trình có giá trị lý luận và thực tiễn; tổ chức nghiên cứu khoa học, tuyên truyền, giới thiệu các ấn phẩm về chính trị, lý luận, xã hội và pháp luật. Đồng chí Chủ tịch Quốc hội đánh giá cao sự hợp tác chặt chẽ, chủ động và đầy trách nhiệm giữa Văn phòng Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật; biểu dương sự nỗ lực, tận tâm, tinh thần làm việc trách nhiệm, cẩn trọng, chuyên nghiệp và khẩn trương của Nhà xuất bản trong việc hoàn thành công tác biên tập, xuất bản và phát hành bộ sách ngay sau khi các văn bản luật được Chủ tịch nước công bố. Sự đóng góp đó đã hiện thực hóa phương châm: “Pháp luật phải đi trước một bước, mở đường cho đổi mới sáng tạo, lấy cuộc sống và lợi ích của nhân dân làm thước đo của chính sách”. Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật Vũ Trọng Lâm trao tặng Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn sách của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật_Ảnh: Như Trang Nhấn mạnh năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, để đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động Nhà xuất bản cần tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, tinh thần cống hiến, phấn đấu đạt được các mục tiêu đề ra với chất lượng, hiệu quả cao nhất, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng và Nhà nước tin cậy giao phó . Theo đó, Nhà xuất bản cần triển khai và thực hiện tốt một số nội dung: Thứ nhất, tiếp tục tổ chức tốt công tác biên tập, xuất bản, tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; các luật, nghị quyết của Quốc hội đã ban hành; tài liệu phục vụ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, bảo đảm chính xác, thống nhất, kịp thời. Cần nhanh chóng triển khai việc biên soạn, xuất bản b ộ sách Văn kiện Quốc hội toàn tập lần thứ hai, có sửa chữa, bổ sung, cập nhật đầy đủ những thành tựu đổi mới về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, phấn đấu hoàn thành vào dịp kỷ niệm 85 năm Quốc hội Việt Nam. Thứ hai, tiếp tục phối hợp với Văn phòng Quốc hội cung cấp các ấn phẩm có giá trị của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật cho đại biểu Quốc hội tại mỗi kỳ họp; đại biểu được tiếp cận đầy đủ, kịp thời các tài liệu cần thiết phục vụ hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Thứ ba, đẩy mạnh và nâng tầm công tác nghiên cứu khoa học, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội, kịp thời tham mưu cho Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc hoàn thiện dự thảo các văn bản luật, pháp lệnh, phục vụ công cuộc phát triển đất nước. Thứ tư, tập trung tối đa nguồn lực, con người thực hiện chuyển đổi số hoạt động xuất bản. Xây dựng và thực hiện kế hoạch, lộ trình cho việc chuyển đổi số cụ thể cho từng giai đoạn, bảo đảm đồng bộ, hệ thống từ công tác quản lý, điều hành đến công tác tổ chức hoạt động; ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo trong công tác biên tập, xuất bản, phát hành. Thứ năm , phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội đổi mới mạnh mẽ công tác tuyên truyền, giới thiệu các ấn phẩm về lý luận, chính trị, pháp luật. Phát huy hiệu quả các kênh truyền thông hiện có, qua đó nâng cao trình độ, nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cùng các đại biểu tham quan khu trưng bày sách_Ảnh: Như Trang Cùng với bộ sách luật được thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, nhiều bộ sách, cuốn sách lớn do Nhà xuất bản ấn hành đã phục vụ sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đồng chí Chủ tịch Quốc hội tin tưởng, năm mới, với khí thế mới, tập thể cán bộ, viên chức, người lao động Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật sẽ phát huy truyền thống vẻ vang và những thành tựu trong hơn 80 năm xây dựng và phát triển, tiếp tục đoàn kết một lòng, giành được nhiều thắng lợi mới, cùng đất nước vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh và thịnh vượng của dân tộc./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/1229602/hoi-dong-ly-luan%2C-phe-binh-van-hoc%2C-nghe-thuat%C2%A0trung%C2%A0uong-tong-ket-cong%C2%A0tac-nhiem-ky%C2%A02021--%C2%A02026.aspx
Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổng kết công tác nhiệm kỳ 2021 - 2026
30-03-2026
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng khẳng định, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương ra đời cách đây gần 23 năm là một quyết định đúng đắn, kịp thời của Đảng, thể hiện sự nhạy bén, chủ động, sáng suốt đối với lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật, một bộ phận rất quan trọng của văn hóa dân tộc.
Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương phát biểu chỉ đạo tại hội nghị_Ảnh: Phúc Nguyên Tham dự hội nghị có các đồng chí: GS, TS Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2021 - 2026; PGS, TS Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương; GS, TS Tạ Ngọc Tấn, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng nhiệm kỳ 2021 - 2026; cùng các đồng chí Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Thường trực Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương qua các nhiệm kỳ; đại diện Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; các nhà nghiên cứu lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật tiêu biểu. Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng khẳng định, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương ra đời cách đây gần 23 năm là một quyết định đúng đắn, kịp thời của Đảng, thể hiện sự nhạy bén, chủ động, sáng suốt đối với lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật, một bộ phận rất quan trọng của văn hóa dân tộc. Nhìn lại nhiệm kỳ 2021 - 2025, đ ồ ng chí Nguyễn Xuân Thắng ghi nhận Hội đồng đã thể hiện tốt vai trò là cơ quan tư vấn chiến lược của Đảng và Nhà nước về lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật; góp phần quan trọng vào việc phát triển, bổ sung và hoàn thiện hệ thống lý luận văn hóa, nghệ thuật trong thời kỳ mới; định hướng tư tưởng, thẩm mỹ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mặt trận văn học, nghệ thuật; đồng thời kết nối đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, khơi dậy trách nhiệm xã hội và tinh thần cống hiến cho đất nước. Bên cạnh những thành tựu đạt được, đ ồ ng chí Nguyễn Xuân Thắng cũng chỉ ra một số bất cập, hạn chế cần nhìn nhận nghiêm túc. Đổi mới tư duy lý luận về văn học, nghệ thuật còn chậm, chưa bắt kịp sự vận động nhanh chóng của đời sống văn hóa và thực tiễn sáng tạo, đặc biệt trước những thách thức của thời đại số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Vai trò dẫn dắt, định hướng sáng tạo trên thực tế vẫn còn khiêm tốn; lý luận phê bình nhiều khi đi sau thực tiễn, nặng về mô tả, bình luận hơn là kiến tạo hệ chuẩn mực thẩm mỹ mới. Đội ngũ những người làm công tác lý luận phê bình còn mỏng, thiếu tính kế thừa và chuyên nghiệp; thiếu những công trình có tầm vóc, hệ thống và sức ảnh hưởng lớn, có khả năng định hình và tạo ảnh hưởng sâu rộng trong giới sáng tác và công chúng. Hướng tới giai đoạn mới, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh, để đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị, “Về phát triển văn hóa Việt Nam”, lý luận phê bình văn học, nghệ thuật phải thực sự trở thành một bộ phận hữu cơ của hệ thống lý luận phát triển quốc gia, dẫn dắt sáng tạo, định hướng tư tưởng thẩm mỹ và góp phần xây dựng hệ giá trị văn hóa, con người Việt Nam xứng tầm trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Quang cảnh tại hội nghị _Ảnh: Phúc Nguyên Báo cáo tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Thế Kỷ trình bày tổng kết các hoạt động của Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương nhiệm kỳ 2021 - 2025, đồng thời nhìn lại chặng đường 23 năm hình thành và phát triển. Trong công tác bồi dưỡng, Hội đồng đã tổ chức 8 hội nghị tập huấn tại cả hai miền Nam - Bắc, thu hút trung bình từ 300 đến 400 học viên mỗi kỳ; riêng các năm 2023 và 2024 đạt từ 450 đến 550 học viên tham dự. Bên cạnh đó, Hội đồng còn tổ chức 7 lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho các cây bút lý luận phê bình và văn nghệ sĩ trẻ, với tổng số 650 học viên tham gia. Nội dung tập huấn bám sát đường lối, nghị quyết của Đảng, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị và khả năng đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mặt trận văn hóa, văn nghệ cho đội ngũ cán bộ. Về công tác nghiên cứu khoa học, trong nhiệm kỳ, Hội đồng đã tổ chức 9 hội thảo khoa học cấp quốc gia và hàng chục hội thảo, tọa đàm khoa học cấp bộ với nhiều chủ đề có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Hội đồng cũng đã triển khai 7 đề tài nghiên cứu lý luận có tính ứng dụng cao, nhiều đề tài đạt kết quả xuất sắc và được xuất bản thành sách chuyên khảo, trực tiếp phục vụ yêu cầu tư vấn chuyên sâu cho Đảng và Nhà nước về văn học, nghệ thuật. Trong công tác tôn vinh và phát triển đội ngũ, hội đồng đã trao tặng thưởng cho 375 tác phẩm lý luận phê bình xuất sắc và hỗ trợ xuất bản 230 bản thảo chất lượng cao trong suốt nhiệm kỳ. Nhìn lại chặng đường 23 năm, đồng chí Nguyễn Thế Kỷ cho biết Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã tổ chức 23 hội thảo khoa học cấp quốc gia, 24 hội nghị tập huấn, xuất bản 15 cuốn sách chuyên khảo về văn học, nghệ thuật; đóng góp tích cực vào việc hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa, văn nghệ qua nhiều kỳ đại hội. Trong đó có 7 đồng chí là lãnh đạo và ủy viên của hội đồng được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và 25 đồng chí được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật, khoa học và công nghệ, khẳng định tầm vóc, uy tín của tổ chức trong đời sống văn hóa, văn nghệ nước nhà. Về phương hướng và kiến nghị đối với giai đoạn tiếp theo, đồng chí Nguyễn Thế Kỷ nhấn mạnh, dù bối cảnh có những thay đổi lớn, công tác lý luận phê bình văn học, nghệ thuật vẫn là lĩnh vực không thể thay thế trong đời sống tư tưởng, văn hóa. Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2026 - 2031 cần có hình thức tổ chức và nhân sự phù hợp, chuyên sâu cho lĩnh vực lý luận phê bình văn học, nghệ thuật, bảo đảm tính liên tục, kế thừa và hiệu quả của công tác. Đồng thời, Hội đồng mong muốn Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh sớm đưa nội dung văn học, nghệ thuật vào chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý để góp phần nâng cao nhận thức và năng lực lãnh đạo văn hóa, văn nghệ cho đội ngũ cán bộ trong toàn hệ thống chính trị. Các đại biểu tham dự hội nghị_Ảnh: Phúc Nguyên Tại hội nghị, các đại biểu đã dành nhiều thời gian thảo luận, chia sẻ, đưa ra các ý kiến tâm huyết, tập trung làm rõ những vấn đề tồn tại, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng công tác lý luận, phê bình văn, học nghệ thuật trong giai đoạn mới. Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng trân trọng cảm ơn và ghi nhận những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của các đại biểu, các nhà khoa học, văn nghệ sĩ, các đồng chí lãnh đạo và nguyên lãnh đạo hội đồng qua các nhiệm kỳ. Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng tin tưởng, với truyền thống 23 năm phát triển cùng đội ngũ các nhà khoa học, nhà lý luận, phê bình giàu tâm huyết, bản lĩnh, công tác lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật sẽ tiếp tục được kế thừa, phát huy và đạt được nhiều thành tựu xứng tầm trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinh-nghiem1/-/2018/1207102/doan-ket---ky-cuong---trach-nhiem---sang-tao---phat-trien%2C--phan-dau-dua-thanh-hoa-tro-thanh-tinh-giau-dep%2C-van-minh%2C-hanh-phuc.aspx
Đoàn kết - kỷ cương - trách nhiệm - sáng tạo - phát triển, phấn đấu đưa Thanh Hóa trở thành tỉnh giàu đẹp, văn minh, hạnh phúc
18-01-2026
Thành tựu năm 2025 và nhiệm kỳ 2020 - 2025 tạo tiền đề phát triển trong giai đoạn mới
Đồng chí Phạm Minh Chính , Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ dự và chỉ đạo Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025 - 2030_Ảnh: nhandan.vn Thành tựu năm 2025 và nhiệm kỳ 2020 - 2025 tạo tiền đề phát triển trong giai đoạn mới Khép lại năm 2025 - một năm có nhiều khó khăn, thách thức đối với cả nước nói chung, tỉnh Thanh Hóa nói riêng; được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa đã phát huy tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức, đạt được những kết quả tích cực, góp phần vào thành tựu chung của cả nhiệm kỳ 2020 - 2025, nổi bật là: (i) Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 ước đạt 8,27%, xếp thứ 15 cả nước; bình quân giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt 9,05%, đứng thứ 4 cả nước; quy mô GRDP ước đạt 334 nghìn tỷ đồng, đứng thứ 11 cả nước; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, chất lượng tăng trưởng được nâng lên; thu ngân sách nhà nước năm 2025 đạt trên 57 nghìn tỷ đồng, vượt 25,7% dự toán và đứng thứ 11 cả nước. (ii) Thực hiện quyết liệt các nghị quyết trụ cột, chiến lược của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Chính phủ; hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành thông suốt chính quyền địa phương 2 cấp theo đúng chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương. (iii) Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tập trung đầu tư theo hướng đồng bộ, hiện đại; diện mạo đô thị và nông thôn có nhiều khởi sắc; các công trình, dự án trọng điểm được quyết liệt triển khai, hoàn thành đạt và vượt tiến độ gắn với bảo đảm yêu cầu chất lượng, kỹ, mỹ thuật; tỉ lệ giải ngân vốn đầu công năm 2025 đạt 111,5% kế hoạch Trung ương giao, xếp thứ 3 cả nước. (iv) Văn hóa, xã hội tiếp tục chuyển biến tiến bộ, đời sống nhân dân không ngừng được nâng lên; GRDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt 3.505 USD, gấp 1,6 lần năm 2020; hoàn thành đúng thời gian Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát với 14.780 hộ gia đình được hỗ trợ; bên cạnh đó, đã kịp thời hỗ trợ cho 2.463 hộ gia đình khắc phục thiệt hại về nhà ở do các cơn bão số 5, số 10, số 11 và mưa lũ sau bão gây ra. (v) Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đạt kết quả quan trọng; đã tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025 - 2030; thực hiện điều động, sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và bố trí cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị, hạ tầng công nghệ thông tin và có cơ chế, chính sách hỗ trợ cho cán bộ, công chức cấp xã yên tâm công tác, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của chính quyền địa phương 2 cấp; nhiều khó khăn, vướng mắc được tập trung chỉ đạo giải quyết, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh những kết quả đạt được, sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn những khó khăn, vướng mắc, đó là: (i) Cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh có mặt còn hạn chế; một số “điểm nghẽn” đã được phát hiện (như: khan hiếm vật liệu xây dựng và giá vật liệu tăng cao; số lượng dự án tồn đọng kéo dài rất lớn...), song kết quả giải quyết đến nay chưa đạt như kỳ vọng; (ii) Hoạt động sản xuất, kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp còn khó khăn; (iii) Kết cấu hạ tầng, nhất là ở khu vực miền núi còn thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; (iv) Kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao; (v) Chất lượng một bộ phận cán bộ, công chức cấp xã chưa đáp ứng yêu cầu của chính quyền địa phương 2 cấp, nhất là trong các lĩnh vực: địa chính, xây dựng, giao thông, tài chính, công nghệ thông tin, y tế, giáo dục…; trụ sở, cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị phục vụ làm việc cho cấp xã còn nhiều khó khăn. Đồng chí Nguyễn Doãn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa kiểm tra, chỉ đạo xử lý các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện một số dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa_Ảnh: baothanhhoa.vn Quyết tâm hành động, tạo đột phá trong giai đoạn mới Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030 và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XX. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa quán triệt và thực hiện nghiêm, hiệu quả các nghị quyết, kết luận, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết trụ cột, chiến lược của Bộ Chính trị và các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn mới…; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, vượt qua khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra, trong đó tập trung: Một là, tập trung thực hiện 8 nhóm nhiệm vụ trọng tâm: (1) Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; nâng cao chất lượng, trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy, bố trí, sắp xếp lại và đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng công tác, kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ, công chức, trước hết là cán bộ, công chức cấp xã, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đổi mới tư duy, phương thức quản lý, điều hành của các cấp chính quyền theo hướng kiến tạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tạo chuyển biến rõ nét về nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng thiết thực, hiệu quả, khắc phục tình trạng hành chính hóa. Đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. (2) Tập trung quán triệt, triển khai thực hiện quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX; tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 58-NQ/TW của Bộ chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; các nghị quyết, kết luận của Trung ương mới ban hành, đặc biệt là những chủ trương, nghị quyết có tính đột phá, chiến lược. Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc tổ chức thực hiện, bảo đảm các chủ trương, nghị quyết của Đảng sớm đi vào cuộc sống, đạt được mục tiêu đề ra. (3) Phát huy mạnh mẽ vai trò các động lực tăng trưởng, nhất là các động lực tăng trưởng mới. Tiếp tục triển khai thực hiện sáng tạo, hiệu quả các giải pháp nâng cao tốc độ tăng trưởng . Đ ẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu; tập trung xây dựng, phát triển 4 trung tâm kinh tế động lực theo Quy hoạch tỉnh, 3 trụ cột phát triển (công nghiệp chế biến, chế tạo; nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao; du lịch), tạo sức lan tỏa thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực, các vùng, khu vực và cả tỉnh. (4) Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, lành mạnh, minh bạch, bình đẳng để khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế, đặc biệt là phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Bố trí, sử dụng hợp lý và nâng cao hiệu quả đầu tư công để phát huy vai trò dẫn dắt, thu hút các nguồn vốn đầu tư xã hội, tạo động lực cho phát triển kinh tế nhanh và bền vững, khẳng định vị thế là cực tăng trưởng ở khu vực Bắc Trung Bộ và Nam đồng bằng Bắc Bộ. (5) Tiếp tục đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng Khu kinh tế Nghi Sơn, trọng tâm là hạ tầng các khu công nghiệp, hoàn chỉnh hệ thống cảng biển Nghi Sơn; nghiên cứu, đề xuất quy hoạch cảng tổng hợp tại khu vực Đảo Mê; triển khai thực hiện các dự án điện khí (LNG); xúc tiến nhanh việc triển khai giai đoạn 2 Dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn; tạo thuận lợi, ưu tiên thu hút các dự án hóa dầu, tổng kho xăng dầu, các dự án công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp mới nổi, dịch vụ logistics, đưa Thanh Hóa thành trung tâm năng lượng, công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ logistics. (6) Lồng ghép, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả 5 chương trình mục tiêu quốc gia (Chương trình xây dựng nông thôn mới; Chương trình giảm nghèo bền vững; Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi, dân tộc; Chương trình phát triển văn hóa; Chương trình phòng, chống ma túy) nhằm phát triển hài hòa giữa đô thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền núi, giữa kinh tế với văn hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, “không để ai bị bỏ lại phía sau”. (7) Tập trung giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội bức xúc, nhân dân quan tâm (thừa, thiếu giáo viên; nghiện hút ma túy; khám, chữa bệnh; ô nhiễm môi trường; nợ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; nhà ở cho công nhân, người nghèo…); thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội; quản lý, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, văn minh; quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả, hợp lý tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường; chủ động phòng, tránh lũ quét, sạt lở đất ở khu vực miền núi, tích cực ứng phó với biến đổi khí hậu. (8) Củng cố, kiện toàn, xây dựng lực lượng vũ trang, dự bị động viên, dân quân tự vệ bảo đảm về số lượng và chất lượng, phù hợp với mô hình tổ chức mới; tăng cường bảo đảm quốc phòng - an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh đấu tranh trấn áp tội phạm, tệ nạn xã hội; giải quyết kịp thời, hiệu quả các vụ, việc phức tạp ngay tại cơ sở, tạo môi trường an toàn, lành mạnh, ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân. Khu vực bồn chứa nhiên liệu của Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn nằm trong Khu kinh tế Nghi Sơn, phường Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá_Ảnh: TTXVN Hai là, tập trung thực hiện 3 khâu đột phá. (1) Xây dựng, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, trọng tâm là hạ tầng giao thông; hạ tầng khu kinh tế, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; hạ tầng khu vực miền núi; hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu; hạ tầng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; hạ tầng du lịch. (2) Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên cơ sở 5 trụ cột là: cơ chế, chính sách, nhân lực, dữ liệu và công nghệ cao; xây dựng, nhân rộng các mô hình kinh tế mới (kinh tế chia sẻ, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn…); xây dựng chính quyền số, kinh tế số, xã hội số để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả trên các lĩnh vực; nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. (3) Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, uy tín, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự phát triển của tỉnh; đội ngũ doanh nhân có tâm, có tầm, tuân thủ pháp luật, có khát vọng làm giàu chính đáng, có trách nhiệm với xã hội; đội ngũ chuyên gia giỏi đầu ngành, công nhân lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành kinh tế trọng tâm, trọng điểm của tỉnh. Những thành tựu đạt được năm 2025 và nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã tạo ra thế và lực mới để Thanh Hóa tiếp tục tăng tốc, bứt phá trong giai đoạn mới. Với phương châm “Đoàn kết - kỷ cương - trách nhiệm - sáng tạo - phát triển”, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Thanh Hóa quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đưa Thanh Hóa đến năm 2030 trong nhóm các tỉnh dẫn đầu cả nước, đến năm 2045 trở thành tỉnh giàu đẹp, văn minh, hạnh phúc và có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinh-nghiem1/-/2018/1217702/tinh-lam-dong-nang-cao-chat-luong-quan-tri-dia-phuong-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi-phon-vinh%2C-hanh-phuc.aspx
Tỉnh Lâm Đồng nâng cao chất lượng quản trị địa phương trong kỷ nguyên phát triển mới phồn vinh, hạnh phúc
20-02-2026
Tồn tại, hạn chế và những thách thức đặt ra
Những kết quả tích cực Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” đề ra nhiệm vụ “Ðổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tập trung quản lý phát triển; bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân” (1) . Theo đó, chất lượng quản trị địa phương cần được đánh giá tổng thể trên các phương diện: quản lý phát triển; bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; nâng cao tính minh bạch; trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng Y Thanh Hà Niê Kđăm kiểm tra dự án Trường nội trú liên cấp xã Quảng Trực, tỉnh Lâm Đồng_Ảnh: baolamdong.vn Quán triệt Nghị quyết, tỉnh Lâm Đồng dựa trên cơ sở các chiến lược đã hoạch định của từng địa phương để triển khai ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường và phân bổ nguồn lực hiệu quả, tăng cường liên kết vùng, nâng cao chất lượng quản trị, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng. Nhờ vậy, tỉnh Lâm Đồng (cũ) có tốc độ tăng trưởng kinh tế GRDP đạt khá, giai đoạn 2021 - 2025, tăng trưởng bình quân đạt 6,57%, tỉnh Bình Thuận tăng 6,20% và tỉnh Đắk Nông đạt 6,86%. Tương ứng, GRDP bình quân đầu người tăng nhanh, năm 2020, tỉnh Lâm Đồng (cũ) đạt 62,9 triệu đồng/năm, tỉnh Bình Thuận là 69,2 triệu đồng/năm, tỉnh Đắk Nông đạt 48,14 triệu đồng, đến năm 2025, tương ứng lần tượt tăng lên 112,8 triệu đồng/năm, 114,2 triệu đồng/năm và 94,24 triệu đồng/năm (2) . Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phù hợp với Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Các văn bản của tỉnh đã được kiểm soát chặt chẽ, tuân thủ quy trình luật định. Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh Lâm Đồng ban hành 1.000 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó tỉnh Lâm Đồng (cũ) là 431 văn bản, tỉnh Đắk Nông là 271 văn bản và tỉnh Bình Thuận là 298 văn bản. Công tác kiểm tra, rà soát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật được tăng cường; chủ động, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương tham mưu Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh xử lý kịp thời những nội dung văn bản, quy định có dấu hiệu trái pháp luật, còn hạn chế, vướng mắc, không rõ ràng, cụ thể, khả thi. Tổ chức và vận hành bộ máy chính quyền địa phương theo đúng quy định của pháp luật. Bộ máy chính quyền địa phương tiếp tục được sắp xếp, kiện toàn tinh gọn, giảm đầu mối trung gian. Công tác phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước được chú trọng; tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức bảo đảm quy định; thực hiện tốt việc xây dựng đề án vị trí việc làm và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức; quan tâm đến công tác thu hút nguồn nhân lực, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức để nâng cao trình độ, chất lượng, năng lực thực hiện nhiệm vụ. Thực thi công vụ đúng pháp luật, vai trò, trách nhiệm, chất lượng; hiệu quả tham mưu, đề xuất giải quyết công việc của cơ quan, địa phương, đơn vị được nâng cao; phát huy tinh thần trách nhiệm, sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, góp phần giải quyết dứt điểm các khó khăn, vướng mắc, nhiệm vụ tồn đọng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Công tác thanh, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật được tăng cường, tiến hành có trọng tâm, trọng điểm. Thanh tra tỉnh đã thực hiện 15.223 cuộc thanh tra hành chính; thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, trong đó tỉnh Lâm Đồng (cũ) thực hiện 4.736 cuộc, tỉnh Bình Thuận thực hiện 9.610 cuộc, tỉnh Đắk Nông thực hiện 877 cuộc thanh tra hành chính; thanh tra, kiểm tra chuyên ngành (3) . Qua thanh tra, kiểm tra phát hiện sai phạm, kiến nghị xử lý theo quy định và chuyển cơ quan điều tra xử lý; góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và chấp hành chính sách, pháp luật trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội tại địa phương. Tỉnh Lâm Đồng luôn thực hiện minh bạch trong cung cấp thông tin công; lập và thực hiện ngân sách địa phương; đầu tư công và quản lý dự án; tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ; quy trình ra quyết định của chính quyền địa phương; giải quyết thủ tục hành chính. Điểm số công khai, minh bạch của tỉnh Lâm Đồng từ năm 2020 - 2024 cũng có những cải thiện nhất định, năm 2020 điểm số công khai, minh bạch là 4,9 (4) đến năm 2024 là 5,2 (5) . Chính quyền địa phương tỉnh Lâm Đồng đẩy mạnh trách nhiệm giải trình liên quan đến quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện theo quy định pháp luật; cả hệ thống chính trị vào cuộc; các cấp, các ngành đã cố gắng, nỗ lực triển khai thực hiện đạt được những kết quả quan trọng, tích cực. Tỉnh đã tổ chức tiếp 42.380 lượt công dân với 51.607 người được tiếp. Tổng số đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết là 4.703 đơn; đã giải quyết 4.539 đơn, đạt 96,5% (6) . Các vụ việc khiếu nại, tố cáo, đặc biệt các vụ việc tồn đọng, phức tạp, đông người, kéo dài được giải quyết, hạn chế phát sinh điểm nóng, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, giữ vững ổn định an ninh, trật tự, phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Sự tham gia của người dân vào quá trình quản trị địa phương ngày càng được đề cao. Đây không chỉ là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà còn là yêu cầu khách quan để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị, bảo đảm công bằng, minh bạch và phát triển bền vững. Tồn tại, hạn chế và những thách thức đặt ra Thứ nhất, vẫn còn một số văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ban hành chưa bảo đảm tính thống nhất với văn bản pháp luật của Trung ương. Kỷ luật, kỷ cương hành chính của một số cán bộ, công chức, viên chức chưa cao; cải cách thủ tục hành chính còn chậm; chưa quyết liệt trong chuyển đổi số... Thứ hai, có lúc, có nơi thông tin chưa được công khai kịp thời. Một số kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, danh mục dự án đầu tư công chậm được đăng tải trên cổng thông tin điện tử hoặc công bố chưa đúng quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Một số thông tin về quy hoạch đất đai chưa rõ ràng. Ở một số địa bàn, người dân phải thông qua nhiều cấp, nhiều khâu mới tiếp cận được bản đồ quy hoạch, một nguyên nhân gây ra tình trạng khiếu kiện về đền bù, giải phóng mặt bằng gia tăng. Điểm số trung bình về công khai, minh bạch của 3 tỉnh (trước khi sáp nhập) đều thấp hơn so với điểm trung bình cả nước. Thứ ba, công tác giải trình của cơ quan hành chính chưa đầy đủ. Một số quyết định hành chính quan trọng (về quy hoạch, phân bổ ngân sách, lựa chọn nhà đầu tư) chưa được thông tin rõ ràng với người dân trước khi ban hành. Điểm trách nhiệm giải trình với người dân giai đoạn 2020 - 2024 của tỉnh Lâm Đồng thấp hơn so với điểm trung bình của cả nước, trong đó tỉnh Lâm Đồng (cũ) là 4,45 điểm; tỉnh Đắk Nông là 4,32 điểm và tỉnh Bình Thuận là 4,43 điểm. Mức điểm lại theo hướng giảm điểm so với thời điểm ban đầu, phản ánh mức độ trách nhiệm giải trình chưa có cải thiện bền vững. Thứ tư, mặc dù tỉnh đã triển khai nhiều hoạt động nhằm mở rộng quyền tham gia của người dân vào quá trình quản trị, nhưng vẫn còn tồn tại các hạn chế chủ yếu như: Tỷ lệ người dân tham gia họp thôn/tổ dân phố còn thấp; tham gia xây dựng chính sách còn có phần hình thức; tiếp cận thông tin để tham gia còn khó khăn. Bên cạnh đó, việc quản trị địa phương ở tỉnh Lâm Đồng còn tồn tại những thách thức đặt ra: (i) Hệ thống văn bản, quy hoạch, chính sách của ba tỉnh cũ không đồng bộ, dẫn đến chồng chéo, kém hiệu quả; (ii) Các tỉnh có thế mạnh khác nhau: tỉnh Lâm Đồng (cũ) phát triển mạnh về nông nghiệp công nghệ cao và du lịch sinh thái; tỉnh Bình Thuận có lợi thế biển, công nghiệp năng lượng tái tạo; tỉnh Đắk Nông sở hữu tài nguyên bô-xít và tiềm năng thủy điện. Tuy nhiên, sự chênh lệch phát triển giữa ba vùng tạo ra nguy cơ thiếu cân đối trong phân bổ ngân sách, đầu tư và chính sách ưu tiên; (iii) Diện tích tỉnh Lâm Đồng lớn nhất cả nước, trải dài từ Tây Nguyên đến duyên hải Nam Trung Bộ. Đây là một địa bàn rộng lớn, đa dạng về địa hình, gây khó khăn cho việc điều phối dịch vụ công, phòng, chống thiên tai và kết nối hạ tầng; (iv) Sự khác biệt về bản sắc văn hóa giữa cư dân miền biển, miền núi và cao nguyên đòi hỏi chính sách quản trị phải linh hoạt và tôn trọng sự đa dạng. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn có tỷ lệ hộ nghèo cao, trong khi khu vực ven biển có cơ cấu dân cư đô thị hóa mạnh hơn. Điều này dễ tạo ra “khoảng cách phát triển xã hội” nếu không có chiến lược phân bổ nguồn lực hợp lý; (v) Đối diện với áp lực từ khai thác bô-xít, nạn phá rừng và ô nhiễm du lịch, công nghiệp nhiệt điện và nuôi trồng thủy sản ven biển, đòi hỏi mô hình quản trị môi trường liên vùng. Nếu không có cơ chế điều phối, nguy cơ xung đột môi trường sẽ gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát triển bền vững của tỉnh. Tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính của người dân, tổ chức tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Cam Ly - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng_Ảnh: baolamdong.vn Tiếp tục nâng cao chất lượng quản trị địa phương trong kỷ nguyên phát triển mới Tỉnh Lâm Đồng giữ vị trí địa chính trị quan trọng, với không gian trải dài từ cao nguyên đến biển, giàu tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh thái. Tỉnh có tiềm năng phát triển toàn diện trên cả ba trụ cột kinh tế: nông - lâm - thủy sản, công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ. Hạ tầng chiến lược gồm cảng biển, sân bay, cao tốc, quốc lộ tạo kết nối vùng và quốc gia. Tỉnh còn nổi bật với các khu du lịch quốc gia, di sản văn hóa phong phú, cùng lợi thế trong công nghiệp khai khoáng (bô-xít, ti-tan), năng lượng, nuôi trồng và chế biến hải sản, nông nghiệp công nghệ cao. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, để nâng cao chất lượng quản trị địa phương, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Một là, hoàn thiện thể chế quản trị để tạo ra bộ khung pháp lý thống nhất, đồng bộ. Có thể thành lập tổ công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật do Sở Tư pháp chủ trì, có sự tham gia của các sở, ngành, hội đồng nhân dân và mặt trận Tổ quốc các cấp. Quá trình rà soát nên phân loại văn bản thành bốn nhóm: tiếp tục áp dụng, sửa đổi bổ sung, hợp nhất hoặc bãi bỏ. Nghiên cứu, ban hành “Bộ quy tắc chuyển tiếp” để điều chỉnh khoảng trống pháp lý trong giai đoạn 12 - 18 tháng đầu sau sáp nhập. Quy tắc này cần xác định rõ nguyên tắc áp dụng văn bản cũ, ưu tiên quy định phù hợp nhất với pháp luật cấp trên và có lợi cho người dân, doanh nghiệp. Ngoài ra, tỉnh cần xây dựng Bộ chuẩn dịch vụ công thống nhất toàn tỉnh về mức phí, thời gian xử lý, quy trình thực hiện, bảo đảm công bằng và thuận lợi trong giải quyết thủ tục. Hai là, phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát, phù hợp điều kiện năng lực thực tế của từng địa phương, tránh tình trạng “trao quyền đồng loạt” dẫn đến quá tải. Theo đó, những địa phương có đủ nguồn lực và trình độ quản trị sẽ được trao quyền rộng hơn, còn những địa phương hạn chế cần được hỗ trợ nâng cao năng lực trước khi tiếp nhận thêm thẩm quyền. Cách tiếp cận thí điểm theo từng lĩnh vực (“làm thử - đánh giá - nhân rộng”) giúp kiểm chứng hiệu quả trước khi mở rộng toàn tỉnh. Để bảo đảm công bằng, cần đánh giá độc lập, khách quan từ bên ngoài. Quan trọng hơn, phân quyền phải đi đôi với kiểm soát quyền lực, cần thiết lập cơ chế minh bạch, gắn trách nhiệm giải trình với từng cấp chính quyền, đồng thời xây dựng hệ thống giám sát thường xuyên nhằm ngăn ngừa lạm quyền, cục bộ địa phương và tham nhũng. Ba là, cải cách thủ tục hành chính và dịch vụ công trên nguyên tắc đơn giản hóa, minh bạch và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Cần rà soát toàn bộ thủ tục hành chính hiện hành, loại bỏ thủ tục không cần thiết, gộp bỏ thủ tục trùng lặp, đồng thời chuẩn hóa biểu mẫu, hồ sơ, thời hạn giải quyết. Xây dựng Bộ chuẩn dịch vụ công áp dụng thống nhất toàn tỉnh, trong đó xác định rõ mức phí, thời gian xử lý, quy trình cho các thủ tục phổ biến như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép xây dựng, đăng ký kinh doanh. Đẩy mạnh số hóa, trực tuyến hóa các thủ tục ở mức độ 3, 4, triển khai cơ chế một cửa điện tử liên thông đến tận cấp xã, kết nối dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, cần thiết lập cơ chế giám sát xã hội đối với cải cách thủ tục hành chính. Công khai tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn, trễ hạn; phát triển đường dây nóng, chatbot, ứng dụng di động để người dân phản ánh trực tiếp tình trạng giải quyết thủ tục. Bốn là, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tỉnh cần tập trung triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” gắn với xây dựng khu công nghệ cao, phát triển các lĩnh vực trọng điểm như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, blockchain, tự động hóa. Chuyển đổi số phải được thực hiện toàn diện trên ba trụ cột: chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, trong đó ưu tiên phát triển nhân lực số và đào tạo kỹ năng số cho cán bộ, công chức. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp và phát triển thương hiệu sản phẩm đặc trưng của tỉnh. Quản trị địa phương trong kỷ nguyên số không chỉ dựa trên văn bản hành chính mà còn gắn với hệ thống dữ liệu mở, công cụ phân tích thông minh và ứng dụng công nghệ trong điều hành. Năm là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tránh trùng lặp, chồng chéo, đồng thời xác định rõ vị trí việc làm. Xây dựng khung năng lực cho từng nhóm cán bộ, từ đó triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về quản lý hiện đại, kỹ năng số, ngoại ngữ, phân tích dữ liệu và kỹ năng làm việc với cộng đồng dân tộc thiểu số. Thực hiện cơ chế luân chuyển, biệt phái để cán bộ có cơ hội rèn luyện thực tiễn. Đặc biệt, cần đổi mới cơ chế đánh giá thông qua hệ thống KPI, gắn trách nhiệm cá nhân với hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Đồng thời, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và liêm chính công vụ; xử lý nghiêm các trường hợp tham nhũng, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp. Sáu là, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Công khai toàn diện ngân sách, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các dự án đầu tư và chính sách mới ban hành trên cổng thông tin điện tử. Dữ liệu được cung cấp theo định dạng mở (open data) để thuận lợi cho tra cứu và phân tích. Trách nhiệm giải trình cần được thực hiện định kỳ và đột xuất. Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức họp báo hằng quý, đối thoại với các đối tượng cụ thể, trả lời chất vấn tại Hội đồng nhân dân, đồng thời công khai nội dung giải trình cho báo chí và người dân. Ứng dụng công nghệ số trong giám sát ngân sách, đầu tư công, sử dụng AI để phát hiện dấu hiệu bất thường. Cần thiết lập cơ chế bảo vệ người tố cáo, đồng thời khuyến khích phản hồi từ xã hội nhằm ngăn ngừa sai phạm và cải thiện chính sách. Bảy là, phát huy sự tham gia của người dân . Mở rộng kênh tham vấn trong quá trình hoạch định chính sách thông qua hội nghị, diễn đàn đối thoại, công khai dự thảo chính sách và lấy ý kiến trực tuyến. Trong giám sát, người dân có thể tham gia trực tiếp thông qua Ban giám sát cộng đồng ở thôn, tổ dân phố hoặc gián tiếp qua ứng dụng di động phản ánh về công trình, dịch vụ công, môi trường. Ngoài ra, tỉnh nên duy trì cơ chế họp dân định kỳ để báo cáo tình hình, tiếp thu phản ánh, đồng thời phát triển ứng dụng “Chính quyền lắng nghe” để người dân gửi kiến nghị, theo dõi trạng thái xử lý. Đây là cơ sở để quản trị địa phương trở nên minh bạch, dân chủ và gần gũi với cộng đồng./. -------------------------- (1) Xem: Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” (2) Tỉnh ủy Lâm Đồng: Báo cáo của Tỉnh ủy Lâm Đồng về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030 , tr. 2, 16 (3) Tỉnh ủy Lâm Đồng: Báo cáo của Tỉnh ủy Lâm Đồng về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, tr. 19 (4) Trong đó tỉnh Lâm Đồng (cũ) đạt 4,69; tỉnh Đắk Nông đạt 4,95; tỉnh Bình Thuận đạt 5,07 (5) Tỉnh Lâm Đồng (cũ), tỉnh Đắk Nông, tỉnh Bình Thuận lần lượt đạt 4,67, 4,71 và 6,23 (6) Tỉnh ủy Lâm Đồng: Báo cáo của Tỉnh ủy Lâm Đồng về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, tr. 1
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinh-nghiem1/-/2018/1225502/dang-bo-tinh-quang-ninh-lanh-dao-xay-dung-doi-ngu-can-bo%2C-cong-chuc-cap-xa-trong-boi-canh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap.aspx
Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp
11-03-2026
Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh tập trung lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Đội ngũ cán bộ cấp xã là lực lượng trực tiếp lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh. Thực tiễn cho thấy, chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã quyết định hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở. Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ là yêu cầu tất yếu, khách quan trong tiến trình đổi mới tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hiện nay. Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân phường Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tiếp công dân_Ảnh: baoquangninh.vn Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh tập trung lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về công tác cán bộ, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh luôn xác định xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên, mà còn là khâu đột phá chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng vận hành của hệ thống chính trị ở cơ sở. Quan điểm này được thể hiện xuyên suốt qua nhiều nhiệm kỳ đại hội, phản ánh sự nhất quán trong tư duy lãnh đạo: muốn đổi mới thực chất, bền vững thì phải bắt đầu từ đội ngũ cán bộ trực tiếp tổ chức thực thi chủ trương, chính sách ở cơ sở. Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV (nhiệm kỳ 2020 - 2025) nhấn mạnh yêu cầu: “Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, nghiên cứu, ban hành chính sách cho cán bộ cơ sở, nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho cán bộ nâng cao trình độ, yên tâm công tác” (1) . Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2025 - 2030) tiếp tục được phát triển theo chiều sâu định hướng này, gắn với bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới mô hình quản trị địa phương: “Tập trung cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ sau sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính cấp cơ sở; xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp cơ sở, có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới” (2) . Nếu như giai đoạn trước nhấn mạnh yêu cầu chuẩn hóa và ổn định đội ngũ, thì giai đoạn hiện nay chuyển mạnh sang mục tiêu nâng cao chất lượng tổng thể, bảo đảm tính thích ứng, năng lực quản trị hiện đại và khả năng xử lý các vấn đề liên ngành, liên cấp trong bối cảnh mới. Đây là sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy lãnh đạo về công tác cán bộ ở cơ sở. Để cụ thể hóa các định hướng chiến lược đó, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã ban hành hệ thống nghị quyết, chương trình, kế hoạch hành động có tính đồng bộ, tạo hành lang chính trị và pháp lý cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Nghị quyết số 15-NQ/TU, ngày 6-9-2014, “ Về đẩy mạnh cải cách hành chính và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đến năm 2020, tầm nhìn 2030” đặt ra các mục tiêu cụ thể: Đến năm 2015, 95% số cán bộ, công chức cấp xã đạt tiêu chuẩn chức danh; đến năm 2020, đạt 100%. Đây không chỉ là các chỉ tiêu kỹ thuật mà còn phản ánh quyết tâm chuẩn hóa đội ngũ theo hướng chuyên nghiệp hóa. Tiếp đó, Nghị quyết số 19-NQ/TU, ngày 3-3-2015, “Về đổi mới phương thức lãnh đạo, tinh giản bộ máy, biên chế, đã gắn xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã với yêu cầu cơ cấu lại tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả”, đặt ra những mục tiêu mang tính đột phá, như: Đến năm 2020, 70% số cán bộ cấp xã có trình độ đại học trở lên; 100% số cán bộ thôn, bản, khu phố được bồi dưỡng, tập huấn; đẩy mạnh mô hình kiêm nhiệm các chức danh chủ chốt và thí điểm nhân dân bầu trực tiếp chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã ở ít nhất 50% số đơn vị. Những chủ trương này cho thấy, tỉnh không chỉ quan tâm đến “đầu vào” của đội ngũ mà còn đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức quyền lực và trách nhiệm ở cơ sở. Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “ Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, Quảng Ninh tiếp tục thể hiện vai trò tiên phong thông qua Chương trình hành động số 21-CTr/TU, ngày 5-2-2018. Theo đó, tỉnh triển khai đồng bộ các giải pháp như: điều động, luân chuyển cán bộ cấp huyện có chuyên môn phù hợp về cơ sở; thực hiện khoán quỹ lương, tinh giản tối thiểu 10% số biên chế; khoán số lượng chức danh phụ cấp đối với lực lượng không chuyên trách. Điều đó thể hiện rõ việc không chỉ coi trọng xây dựng đội ngũ, mà còn gắn chặt với cải cách thể chế, tài chính công và quản trị công. Tiếp nối tinh thần đổi mới, Chương trình hành động số 19-CTr/TU, ngày 30-9-2022, “Về triển khai Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương” tiếp tục đặt ra các mục tiêu nâng cao năng lực chính trị và kỹ năng thực tiễn của cán bộ cơ sở. Cụ thể, đến năm 2025, trên 95% số đảng ủy viên cấp xã có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên; 100% số cấp ủy viên cơ sở được bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ ít nhất hai lần mỗi nhiệm kỳ. Điều này cho thấy tỉnh không chỉ chú trọng chuẩn hóa bằng cấp, mà còn coi trọng năng lực thực thi công vụ trong bối cảnh quản trị ngày càng phức tạp. Đặc biệt, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức đi vào vận hành, Tỉnh ủy chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 3489/QĐ-UBND, ngày 15-9-2025, “ Về điều chỉnh biên chế công chức và cán bộ, công chức cấp xã”, nhằm kịp thời thể chế hóa, bảo đảm sự đồng bộ giữa đổi mới mô hình tổ chức chính quyền với cơ cấu, chất lượng và phân bổ nguồn nhân lực ở cơ sở. Như vậy, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở Quảng Ninh được triển khai theo một chiến lược dài hạn, có lộ trình, có mục tiêu cụ thể, gắn chặt với cải cách thể chế và đổi mới mô hình quản trị địa phương. Đây chính là nền tảng quan trọng để tỉnh chủ động thích ứng với yêu cầu của mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời nâng cao năng lực thực thi, tính chuyên nghiệp và hiệu quả của hệ thống chính trị ở cơ sở. Đổi mới công tác đào tạo, tuyển dụng, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Xác định chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố then chốt quyết định hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền, Tỉnh ủy Quảng Ninh coi công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Trên cơ sở đó, hằng năm, Tỉnh ủy chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng và triển khai các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng theo hướng bám sát yêu cầu thực tiễn, gắn với nhiệm vụ chính trị và yêu cầu quản trị mới đặt ra đối với chính quyền địa phương. Công tác đào tạo, bồi dưỡng được đổi mới theo hướng đa dạng hóa nội dung, không còn bó hẹp trong các chương trình lý luận chính trị và quản lý nhà nước truyền thống. Trên cơ sở trang bị nền tảng lý luận và kiến thức quản lý, tỉnh chú trọng bổ sung các kỹ năng thực thi công vụ hiện đại như cải cách hành chính, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin và quản trị công, dân vận. Chương trình đào tạo được thiết kế gắn với vị trí việc làm và yêu cầu năng lực cụ thể. Nội dung bồi dưỡng được cấu trúc theo hướng tích hợp, gắn kết giữa công tác Đảng, quản lý nhà nước, cùng với các kỹ năng mềm như giao tiếp hành chính, xử lý tình huống, ứng dụng công nghệ thông tin. Cùng với đó, cơ chế hỗ trợ đào tạo từng bước được hoàn thiện, thông qua tăng cường đầu tư hạ tầng và công nghệ đào tạo trực tuyến, mở rộng khả năng tiếp cận cho cán bộ, công chức vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số. Công tác đào tạo, bồi dưỡng của tỉnh phản ánh rõ quan điểm lấy hiệu quả thực thi công vụ làm thước đo trung tâm, nhờ đó, đội ngũ cán bộ cấp xã từng bước chuyển biến theo hướng phát triển năng lực tổng hợp gắn với chuẩn hóa, đủ năng lực xử lý công việc tích hợp, liên thông và đây là đặc trưng quan trọng khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trong giai đoạn 2015 - 2020, Quảng Ninh tổ chức 702 lớp đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước, với 39.577 lượt học viên tham gia; trong đó, t ổng số cán bộ, công chức cấp xã được cử đi đào tạo, bồi dưỡng là 27.526 lượt với tổng kinh phí thực hiện đạt trên 261.951 triệu đồng (3) . Bước sang giai đoạn 2020 - 2024, quy mô và hiệu quả đào tạo tiếp tục được duy trì và mở rộng theo hướng thực chất hơn. Toàn tỉnh tổ chức 666 lớp đào tạo, bồi dưỡng trong nước với hơn 43.867 lượt học viên tham gia; trong đó, t ổng số cán bộ, công chức cấp xã được cử đi đào tạo, bồi dưỡng là 26.230 người, với tổng kinh phí bố trí khoảng 133 tỷ đồng (4) . Năm 2025, công tác này tiếp tục được đẩy mạnh thông qua Quyết định số 362/QĐ-UBND, ngày 12-2-2025, của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, với 62 lớp đào tạo, bồi dưỡng, tổng số 3.757 học viên tham gia, nhằm thực hiện mục tiêu xuyên suốt là chuẩn hóa đội ngũ và chủ động chuẩn bị nhân lực đáp ứng yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đây là giai đoạn đặt nền móng cho việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ theo hướng vừa bảo đảm tiêu chuẩn chính trị, vừa nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng thực thi công vụ, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương hai cấp trong giai đoạn mới. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã là nơi tiếp xúc trực tiếp với người dân và doanh nghiệp, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vì thế quyết định hiệu lực, hiệu quả quản trị cơ sở. Với nhận thức đó, Quảng Ninh thúc đẩy chuẩn hóa mạnh mẽ đội ngũ cả về số lượng, cơ cấu và trình độ. Trình độ chuyên môn và năng lực nền tảng của đội ngũ được nâng lên rõ rệt: Số cán bộ, công chức cấp xã có trình độ trên đại học là 449 người, chiếm 12,97%, tăng 5,3% so với năm 2020 (năm 2020, có 271 người chiếm 7,67%); trình độ đại học có 2.878 người, chiếm 83,13%, tăng 2,23% (năm 2020, có 2.855 người, chiếm 80,90%). Trình độ chính trị: có 3.211 người được đào tạo, bồi dưỡng, chiếm 92,74%, tăng 2,04% (năm 2020, có 3.201, chiếm 90,70%). Trình độ quản lý nhà nước: có 3.101 người qua đào tạo, bồi dưỡng, chiếm 89,57%, tăng 8,79% (năm 2020, có 2.851 người, chiếm 80,78%) (5) . Quảng Ninh hình thành một mặt bằng trình độ tương đối cao ở cấp xã. Đây là điều kiện quan trọng để cấp xã đảm đương yêu cầu mới của chính quyền địa phương hai cấp khi khối lượng công việc tăng, tính liên thông số liệu, dịch vụ công cao hơn, đòi hỏi cán bộ không chỉ đúng quy trình mà còn phải có năng lực xử lý tình huống, phối hợp đa ngành và đáp ứng chuẩn mực công vụ. Quảng Ninh xác định luân chuyển không chỉ là giải pháp bố trí nhân sự, mà còn là phương thức tạo nguồn, sàng lọc và thử thách năng lực lãnh đạo, quản lý trong môi trường công tác khó khăn, phức tạp. Giai đoạn 2020 - 2024, toàn tỉnh thực hiện 298 lượt luân chuyển, điều động cán bộ. Trong đó, 145 cán bộ cấp huyện được luân chuyển về xã nhằm tăng cường năng lực cho cơ sở; 98 cán bộ từ xã, phường, thị trấn được điều động lên huyện; 96 trường hợp luân chuyển ngang giữa các xã, phường, thị trấn (6) . Đồng thời, tỉnh thực hiện chủ trương 100% số bí thư cấp ủy và chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã không là người địa phương, qua đó góp phần nâng cao tính khách quan, kỷ cương và hiệu quả quản lý. Từ ngày 1-7-2025, khi chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Quảng Ninh tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, điều động cán bộ từ các sở, ban, ngành về cấp xã nhằm bảo đảm bộ máy mới hoạt động thông suốt, hiệu quả. Quá trình này được Ban Thường vụ Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc công khai, minh bạch, đúng tiêu chuẩn, đúng quy trình và gắn với yêu cầu cụ thể của từng vị trí việc làm, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng thực thi công vụ ở cơ sở. Theo đó, Tỉnh ủy đã chỉ định, giới thiệu 2.422 lượt cán bộ để bố trí đầy đủ các chức danh chủ chốt tại 54 xã, phường, đặc khu. Trong đó, có 1 ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy; 3 tỉnh ủy viên; 3 lãnh đạo sở; 2 lãnh đạo văn phòng, ban của Hội đồng nhân dân tỉnh; 5 lãnh đạo khối đảng, đoàn thể; 2 lãnh đạo phòng thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác tại xã, phường, đặc khu (7) . Trường Đào tạo cán bộ Nguyễn Văn Cừ làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh nhằm trao đổi, thống nhất phương án chuyển đổi số phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ_Ảnh: nguyenvancuqn.edu.vn Cơ cấu đội ngũ được bố trí theo hướng vừa bảo đảm tính kế thừa, vừa tăng cường tính chuyên môn hóa: 100% số bí thư đảng ủy xã, phường, đặc khu còn trên 5 năm công tác và không là người địa phương; toàn bộ cán bộ luân chuyển từ tỉnh, huyện về giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đều còn trên 10 năm công tác. Đặc biệt, 53/54 số xã, phường, đặc khu có ít nhất một lãnh đạo chủ chốt được đào tạo, có kinh nghiệm trong các lĩnh vực then chốt như tài chính, quy hoạch, đất đai, nông nghiệp, giao thông, xây dựng… - những lĩnh vực vốn là “điểm nghẽn” về năng lực ở cấp cơ sở. Trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cách làm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cấp xã không chỉ cần đội ngũ “hiểu dân, sát dân, đúng luật”, mà còn phải có năng lực điều hành, phối hợp liên ngành và chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả quản trị. Chính vì vậy, việc luân chuyển cán bộ ở Quảng Ninh không dừng lại ở sắp xếp tổ chức, mà trở thành một phương thức đào tạo trong thực tiễn, một cơ chế sàng lọc tự nhiên và một “đòn bẩy” nâng cao chất lượng quản trị ở cơ sở. Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ và khắc phục những hạn chế của mô hình tuyển dụng phân tán tại cấp huyện, tỉnh Quảng Ninh thực hiện bước đi đột phá khi chủ động đề xuất với Trung ương thí điểm tuyển dụng công chức cấp xã tập trung tại tỉnh với quy mô lớn, bảo đảm tính khách quan, công bằng, hiệu quả. Với yêu cầu về tiêu chuẩn và điều kiện cao hơn quy định chung. Được sự đồng ý của Trung ương, từ năm 2016, Quảng Ninh tổ chức thi tuyển dụng công chức cấp xã tập trung tại tỉnh. Đây là bước đi mang tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng đầu vào đội ngũ cán bộ cơ sở, đồng thời tạo cơ chế tuyển chọn công khai, cạnh tranh và minh bạch. Trong giai đoạn 2020 - 2025, tỉnh đã tổ chức 5 kỳ thi tuyển công chức cấp xã tập trung, với tổng số hơn 4.200 thí sinh dự tuyển. Qua đó tuyển chọn được 1.360 cán bộ, công chức cấp xã (8) . Đây là nguồn lực quan trọng góp phần bổ sung nguồn nhân lực có trình độ, năng lực cho hệ thống chính quyền cơ sở. Trong quá trình thi tuyển, các tiêu chuẩn tuyển dụng được nâng lên về trình độ chuyên môn (tối thiểu tốt nghiệp đại học; ưu tiên các ứng viên có trình độ sau đại học, chứng chỉ quản lý nhà nước), tiêu chí năng lực ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng phục vụ công việc. Đồng thời, đối tượng dự tuyển được mở rộng, không chỉ giới hạn người địa phương, trong tỉnh, mà còn thu hút ứng viên có kinh nghiệm từ các cơ quan, đơn vị, tỉnh khác đăng ký tham gia. Việc triển khai thi tuyển công khai đem lại nhiều hiệu quả tích cực rõ rệt: Tăng tính cạnh tranh lành mạnh, giúp lựa chọn đúng người, đúng việc; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã, đặc biệt ở những xã trọng điểm, vùng biên giới, khó khăn; tạo sự tin tưởng trong nhân dân đối với quy trình tuyển dụng cán bộ; góp phần củng cố nền tảng nhân lực cho mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Công tác cán bộ cấp xã tiếp tục được đổi mới theo hướng đồng bộ, bài bản và thực chất hơn Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở Quảng Ninh vẫn còn một số hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đặt ra trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp. Thứ nhất, chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã chưa đồng đều giữa các địa bàn. Mặc dù mặt bằng trình độ chung được nâng lên, song ở một số xã vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, đội ngũ cán bộ còn thiếu tính kế thừa, thiếu cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số. Những năng lực cần thiết trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp như cải cách hành chính, chuyển đổi số, quản lý hồ sơ điện tử hay khai thác dữ liệu phục vụ điều hành còn hạn chế. “Tỷ lệ giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính đúng và trước hạn tại các xã vùng khó khăn chỉ đạt khoảng 75 - 80%, trong khi mặt bằng chung toàn tỉnh đạt trên 90 - 95%. Ở một số lĩnh vực phát sinh nhiều thủ tục liên thông như đất đai, xây dựng, chính sách xã hội, thời gian xử lý hồ sơ tại các xã vùng khó khăn còn kéo dài hơn từ 1,3 đến 1,5 lần so với các xã khu vực đô thị và đồng bằng” (9) . Thứ hai, một bộ phận cán bộ cấp xã chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trong điều kiện khối lượng công việc tăng, tính liên thông giữa các lĩnh vực cao, vẫn còn một bộ phận cán bộ lúng túng trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt tại xã miền núi, hải đảo. Tỷ lệ hồ sơ được tiếp nhận và xử lý hoàn toàn trực tuyến tại nhiều xã miền núi, hải đảo mới đạt khoảng 30 - 40%, thấp hơn đáng kể so với mức 60 - 70% ở các địa bàn thuận lợi” (10) . Thứ ba , cơ chế, chính sách đối với cán bộ cấp xã chưa thực sự tạo động lực mạnh mẽ. Điều kiện làm việc, thu nhập và môi trường công tác ở cấp xã, nhất là tại các địa bàn khó khăn, chưa đủ sức thu hút và giữ chân cán bộ có trình độ, năng lực. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tính ổn định và chất lượng lâu dài của đội ngũ cán bộ cấp xã. Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó, chủ yếu là nhận thức và trách nhiệm của một số cấp ủy, người đứng đầu còn hạn chế; quá trình chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương hai cấp diễn ra nhanh, yêu cầu mới đặt ra cao, trong khi công tác chuẩn bị về con người chưa theo kịp. Đây là những vấn đề cần được tập trung khắc phục nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong thời gian tới. Trước yêu cầu ngày càng cao của mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cần được thực hiện một cách đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh. Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu trong công tác cán bộ cấp xã. Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã là nhiệm vụ then chốt trong xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, quyết định hiệu lực, hiệu quả của chính quyền địa phương hai cấp. Các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ; coi kết quả xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã là tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể và cá nhân lãnh đạo. Việc quán triệt, cụ thể hóa các nghị quyết của Trung ương và của tỉnh về công tác cán bộ cần được thực hiện nghiêm túc, thống nhất, tránh tình trạng hình thức, thiếu chiều sâu, dẫn đến lúng túng trong tổ chức thực hiện ở cơ sở. Hai là, thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các khâu trong công tác cán bộ, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo. Cần tiếp tục đổi mới công tác quy hoạch cán bộ cấp xã theo hướng mở, động, liên thông giữa các cấp, bảo đảm tính kế thừa và phát triển. Quy hoạch phải gắn chặt với đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển và bố trí sử dụng cán bộ; chú trọng phát hiện, tạo nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, nhất là ở địa bàn khó khăn. Đẩy mạnh luân chuyển cán bộ theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, lựa chọn đúng địa bàn, đúng vị trí để rèn luyện cán bộ trong thực tiễn. Việc đánh giá cán bộ cần dựa chủ yếu vào kết quả, sản phẩm cụ thể trong thực thi nhiệm vụ, mức độ chuyển biến của địa phương, lĩnh vực được phân công phụ trách, thay cho cách đánh giá nặng về hình thức, cảm tính. Ba là, đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã theo yêu cầu quản trị hiện đại. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã cần chuyển mạnh từ “bổ sung kiến thức” sang “nâng cao năng lực thực thi công vụ”. Nội dung bồi dưỡng phải bám sát yêu cầu của chính quyền địa phương hai cấp, tập trung vào kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành; kỹ năng xử lý tình huống phức tạp ở cơ sở; kỹ năng phối hợp liên ngành; năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và cải cách hành chính. Cần xây dựng chương trình bồi dưỡng chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ thực hiện nhất thể hóa chức danh, bảo đảm cán bộ vừa nắm vững công tác Đảng, vừa tinh thông quản lý nhà nước ở cơ sở. Đồng thời, tăng cường đào tạo tại chỗ, bồi dưỡng qua thực tiễn, qua mô hình tốt, cách làm hiệu quả ở cơ sở. Bốn là, hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho cán bộ cấp xã yên tâm công tác. Trong điều kiện yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với cán bộ cấp xã theo hướng tạo động lực làm việc, thu hút và giữ chân người có năng lực. Quan tâm cải thiện điều kiện làm việc, môi trường công tác; có chính sách khuyến khích, đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ công tác ở vùng khó khăn, miền núi, biên giới. Song song với đó, cần thực hiện nghiêm việc sàng lọc, thay thế những cán bộ không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, không theo kịp yêu cầu của chính quyền địa phương hai cấp, góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy chính quyền cơ sở. Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát, phát huy vai trò giám sát của nhân dân. Cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan Đảng, chính quyền đối với việc thực thi công vụ của cán bộ cấp xã; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những biểu hiện vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính. Đồng thời, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với đội ngũ cán bộ cấp xã. Việc tiếp thu, xử lý nghiêm túc ý kiến phản ánh, đánh giá của nhân dân không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, mà còn củng cố niềm tin của nhân dân đối với chính quyền cơ sở trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp. Như vậy, trong bối cảnh tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực, hiệu quả hệ thống chính trị ở cơ sở. Thực tiễn tại Quảng Ninh cho thấy, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng bộ tỉnh, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã có bước chuyển quan trọng, góp phần củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền và tăng cường niềm tin của nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của việc phân cấp, phân quyền và quản trị địa phương hiện đại, công tác cán bộ ở cấp xã cần tiếp tục được đổi mới theo hướng đồng bộ, bài bản và thực chất hơn. Việc kiên trì thực hiện quan điểm “công tác cán bộ là then chốt của then chốt”, gắn xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã với xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, là nhân tố quyết định bảo đảm sự vận hành hiệu quả của chính quyền địa phương hai cấp trong giai đoạn phát triển mới./. ------------------- (1) Tỉnh ủy Quảng Ninh: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 - 2025 (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10) Tỉnh ủy Quảng Ninh: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2025 - 2030
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinh-nghiem1/-/2018/1223502/nang-cao-nang-luc-quan-tri-khoa-hoc-va-cong-nghe%2C-doi-moi-sang-tao-o-khanh-hoa-trong-ky-nguyen-moi.aspx
Nâng cao năng lực quản trị khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo ở Khánh Hòa trong kỷ nguyên mới
04-03-2026
Thực trạng năng lực quản trị khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo của Khánh Hòa
Thực trạng năng lực quản trị khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo của Khánh Hòa Năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, theo đó, từ 1-7-2025, tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Khánh Hòa sáp nhập thành một đơn vị hành chính mới mang tên “tỉnh Khánh Hòa”. Đồng thời, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1667/NQ-UBTVQH15, sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp xã để hình thành 65 đơn vị cấp xã (48 xã, 16 phường và 1 đặc khu) của tỉnh Khánh Hòa mới. Việc sáp nhập hai tỉnh tạo ra một không gian phát triển ven biển Nam Trung Bộ liên thông, kết hợp: lợi thế biển sâu, cảng nước sâu, du lịch biển cao cấp của Khánh Hòa, lợi thế “thủ phủ nắng gió” và trung tâm năng lượng tái tạo của Ninh Thuận, bản sắc văn hóa đa dạng (Kinh - Chăm - Raglai…), cảnh quan biển - bán sa mạc độc đáo. Khánh Hòa mới bước vào một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới: không chỉ rộng hơn về địa lý, đông hơn về dân số, mà còn giàu hơn về tổ hợp lợi thế và kỳ vọng chiến lược. Năm 2024, chỉ số đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (PII) Khánh Hòa đạt 36,8 điểm, tăng nhẹ, lên hạng 25/63, đứng thứ 6 vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung. Năm 2025, tỉnh Khánh Hòa phấn đấu cải thiện, nâng cao điểm số tất cả các trụ cột của bộ Chỉ số PII nằm trong nhóm 30 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đứng đầu cả nước; phấn đấu xếp hạng Chỉ số PII Khánh Hòa đạt 20/63 tỉnh, thành phố [1] . Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản và Tỉnh ủy Khánh Hòa phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia: “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phấn đấu đưa Khánh Hòa trở thành cực tăng trưởng quốc gia, thành phố trực thuộc Trung ương, trung tâm kinh tế biển hiện đại”_Ảnh: baokhanhhoa.vn Để đạt mục tiêu đó, Khánh Hòa cần phải làm nhiều việc, đặc biệt nâng cao năng lực quản trị khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và huy động tổng thể nguồn lực và phối hợp của các biên liên quan trong và ngoài tỉnh. Hệ thống đổi mới quốc gia (NIS) là mạng lưới các tổ chức và thể chế tham gia tạo, phổ biến và sử dụng tri thức mới - trong đó chính sách, luật pháp, chuẩn mực giữ vai trò “luật chơi” chi phối động lực đổi mới. Trên cơ sở đó, hệ thống đổi mới vùng (RIS) được địa phương hóa, nhấn mạnh tới không gian vùng/tỉnh trong tổ chức hoạt động học hỏi, liên kết và đổi mới và vai trò của thể chế, chính quyền vùng trong điều phối các tiểu hệ thống: tri thức (đại học, viện, phòng R&D), doanh nghiệp (cụm ngành, tập đoàn, doanh nghiệp nhỏ và vừa) và tổ chức trung gian (vườn ươm, quỹ, trung tâm đổi mới sáng tạo). Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) đã phát triển Khung đánh giá và rà soát chính sách khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, áp dụng cho nhiều nước đang phát triển, tập trung vào 4 trụ cột chính [2] : (1) Quản trị và thể chế (governance & institutions): tầm nhìn, chiến lược, khung pháp lý, cơ chế điều phối; (2) Chính sách và công cụ (policies & instruments): tài trợ R&D, thuế, tín dụng, mua sắm công, hỗ trợ khởi nghiệp; (3) Năng lực khoa học và công nghệ (science & technology capabilities): hạ tầng nghiên cứu, nhân lực, liên kết với quốc tế; (4) Năng lực đổi mới của doanh nghiệp (firm-level innovation): khả năng hấp thụ công nghệ, đổi mới sản phẩm/quy trình, liên kết với viện trường. Những căn cứ nêu trên có thể áp dụng phù hợp cho Khánh Hòa để hoàn thiện thể chế và năng lực quản trị khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo để phát huy tối ưu những định hướng chiến lược, lợi thế của Khánh Hòa sau sáp nhập, cụ thể: - Lợi thế: biển - năng lượng - du lịch - nông nghiệp khô hạn. Đường bờ biển khoảng 475km, với nhiều vịnh, cảng biển nước sâu chiến lược (Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh, Vĩnh Hy, Cà Ná…), thuận lợi cho phát triển kinh tế biển, cảng biển, logistics, du lịch biển cao cấp, nuôi biển công nghiệp. - Hệ sinh thái du lịch biển – đảo – bán sa mạc – văn hóa Chăm, Raglai liên hoàn, tạo lợi thế cạnh tranh hiếm có cho du lịch trải nghiệm, du lịch xanh, du lịch thông minh. - Vùng “thủ phủ nắng gió” của cả nước: Ninh Thuận có bức xạ mặt trời cao nhất cả nước (1.780 - 2.015 kWh/m²/năm, 2.500 - 3.100 giờ nắng/năm) và tốc độ gió trung bình 7,1 m/s, với ít bão, thuận lợi phát triển điện mặt trời, điện gió quy mô lớn [3] . Tầm nhìn đến 2030 là xây dựng Ninh Thuận (nay thuộc Khánh Hòa) thành trung tâm năng lượng tái tạo bền vững, gắn với công nghiệp phụ trợ và chuỗi giá trị mới. Khánh Hòa (cũ) được định hướng trở thành trung tâm kinh tế biển quốc gia, đô thị thông minh, dịch vụ du lịch chất lượng cao. Thời gian qua, năng lực quản trị khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo của tỉnh Khánh Hòa đạt một số kết quả: Một là, thể chế và tổ chức thực thi Khánh Hòa đã ban hành Quyết định số 1567/QĐ-UBND, ngày 6-7-2023, về Chương trình phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo đến năm 2025, định hướng 2030, bám sát Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo quốc gia. Chương định xác định 5 phương hướng chính: (1) Bám sát các nội dung chỉ đạo trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa, Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 28-1-2022, của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045...(2) Tập trung các nguồn lực đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ. (3) Phát triển thị trường khoa học và công nghệ gắn với thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, khai thác sáng chế, ứng dụng và phát triển công nghệ, khuyến khích sáng tạo khoa học - công nghệ. (4) Khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp trong tỉnh thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp. Triển khai các biện pháp huy động nguồn vốn xã hội và nguồn vốn nước ngoài nhằm gia tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ thông qua hệ thống quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp và các dự án hợp tác công tư. (5) Tăng cường đẩy mạnh hợp tác, hội nhập quốc tế và truyền thông về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của tỉnh nhằm nâng cao khả năng tiếp thu, làm chủ thành tựu công nghệ tiên tiến, sáng tạo ra sản phẩm, dịch vụ, công nghệ mới. Hệ thống tổ chức hiện bao gồm: Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan tham mưu chính về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, trong đó các sở ngành khác (Tài chính, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường…) giữ vai trò triển khai trong ngành; các trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm khoa học và công nghệ là lực lượng nghiên cứu - đào tạo [4] . Tuy nhiên, ở Khánh Hòa, cơ chế Hội đồng Khoa học và công nghệ cấp tỉnh trước đây chủ yếu đóng vai trò tư vấn cho Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác khoa học và công nghệ, với thành phần nòng cốt là cán bộ quản lý nhà nước và nhà khoa học; chưa có thiết kế thể chế rõ ràng về sự tham gia thường trực của các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và đại diện doanh nghiệp công nghệ cao. Đến năm 2025, tỉnh mới bắt đầu thiết kế “Hội đồng tư vấn và Tổ chuyên gia về phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” với định hướng có sự tham gia của chuyên gia ở các bộ, ngành trung ương, nhà khoa học và các tập đoàn, doanh nghiệp mạnh về chuyển đổi số. Điều này cho thấy Khánh Hòa đang từng bước hoàn thiện mô hình hội đồng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo cấp tỉnh theo hướng đa tác nhân. Tuy nhiên, đây vẫn là thiết chế mới, chưa có đủ thời gian vận hành để trở thành một cơ chế “mạnh” về liên kết doanh nghiệp - đại học – hiệp hội ngành [5] . Cơ chế điều phối sau sáp nhập giữa hai hệ thống (Khánh Hòa cũ – Ninh Thuận cũ) về khoa học và công nghệ, quỹ, chương trình, nhân lực… còn đang trong quá trình kiện toàn, tiềm ẩn nguy cơ chồng chéo, phân tán nguồn lực [6] . Hai là, công cụ và tài chính cho khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo Khánh Hòa đang tận dụng nguồn lực của một số quỹ để phục vụ cho phát triển, trong đó có khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo. Chẳng hạn, Khánh Hòa được hưởng và đang sử dụng Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) theo Nghị định số 23/2014/NĐ-CP, quy định Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED), có hiệu lực từ ngày 1-6-2014. Khánh Hòa đang khuyến khích doanh nghiệp lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp theo Quyết định số 1567/QĐ-UBND, ngày 6-7-2023, phê duyệt “Chương trình phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tỉnh Khánh Hòa đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh có “Hướng dẫn sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp” (dựa trên Thông tư số 05/2022/TT-BKHCN), nêu chi tiết mục đích, nội dung chi, cơ chế trích lập quỹ trong doanh nghiệp [7] . Khánh Hòa có nỗ lực sử dụng các công cụ đa dạng (đề tài, dự án, hỗ trợ doanh nghiệp, khởi nghiệp). Khác với một số địa phương đã thành lập và vận hành quỹ phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, đến nay, qua rà soát các văn bản quy phạm pháp luật và công bố chính thức, Khánh Hòa chưa ban hành quyết định thành lập và điều lệ tổ chức, hoạt động của quỹ phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh. Quyết định số 17/2025/QĐ-UBND về chức năng, nhiệm vụ của Sở Khoa học và Công nghệ chỉ giao Sở nhiệm vụ “dự thảo quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh… (nếu có)”, cho thấy cơ chế quỹ cấp tỉnh vẫn đang ở giai đoạn nghiên cứu, chuẩn bị thể chế, chưa vận hành trên thực tế. Chi tiêu cho khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo ở cấp tỉnh chưa thật sự tương xứng với tham vọng trở thành trung tâm kinh tế biển và năng lượng. Cơ chế tài trợ còn thiên về “đề tài - dự án nhỏ lẻ”, ít chương trình quy mô lớn, dài hạn, gắn với ưu tiên chiến lược. Ba là, năng lực khoa học và công nghệ, đổi mới của doanh nghiệp Hiện nay, toàn tỉnh có 22 tổ chức khoa học và công nghệ công lập thuộc tỉnh, 24 tổ chức vngoài công lập; 9 tổ chức khoa học và công nghệ là các viện, trung tâm nghiên cứu thuộc các bộ, ngành đặt trụ sở nghiên cứu tại tỉnh Khánh Hòa; 5 trường đại học và 12 trường cao đẳng, trung cấp; 13 doanh nghiệp khoa học và công nghệ và 4 doanh nghiệp công nghệ số lớn. Nguồn nhân lực cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại tỉnh Khánh Hòa hơn 2.900 người. Năm 2025, Ủy ban nhân dân tỉnh đã bố trí dự toán chi khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số với số tiền 319,2 tỷ đồng, chiếm 1,35% tổng chi ngân sách địa phương. Tỷ lệ này sẽ tiếp tục được điều chỉnh tăng theo nhu cầu thực tế của tỉnh, bảo đảm được mục tiêu chiếm 3% tổng chi ngân sách địa phương theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị [8] . Tuy nhiên, Khánh Hòa vẫn đối mặt với nhiều hạn chế và bất cập trong quản trị khoa học và công nghệ, chuyển đổi số, cụ thể: (1) Số lượng và quy mô doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo còn quá nhỏ, ví dụ chỉ khoảng 11-13 doanh nghiệp khoa học và công nghệ trên hơn 10.000 doanh nghiệp đang hoạt động – tức là tỷ lệ doanh nghiệp có công nghệ lõi, sản phẩm dựa trên R&D rất thấp [9] , dẫn tới thúc đẩy hệ thống đổi mới sáng tạo doanh nghiệp còn ít; khả năng lan tỏa công nghệ, hình thành cụm liên kết – chuỗi giá trị dựa trên công nghệ mới còn hạn chế. (2) Nội lực khoa học và công nghệ bên trong doanh nghiệp còn yếu, kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ ở địa phương còn ít để chuyển giao, ít doanh nghiệp lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ, có bộ phận chuyên trách R&D hay chiến lược nghiên cứu – phát triển dài hạn. Nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm khoa học và công nghệ liên tục, thiếu liên kết hợp tác nên sản phẩm khoa học và công nghệ không hình thành chuỗi, không duy trì được lâu dài [10] . (3) Khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) chậm trong chuyển đổi số và đổi mới [11] . SME chiếm đa số doanh nghiệp của tỉnh, nhưng “tham gia chuyển đổi số còn chậm”. (4) Đóng góp của khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo vào tăng trưởng vẫn “chưa rõ nét” [12] . (5) Hệ sinh thái trung gian và tài chính cho đổi mới sáng tạo còn mỏng. Chương trình số 1567/QĐ-UBND phải đặt mục tiêu đến 2025 mới “hình thành ít nhất 2 tổ chức trung gian thị trường khoa học và công nghệ” (ươm tạo, sàn giao dịch, tư vấn…) [13] . Khánh Hòa có một số cơ sở nghiên cứu chủ lực trong các lĩnh vực hải dương học, thủy sản, du lịch, y tế…, nhưng năng lực nghiên cứu mũi nhọn về công nghệ biển, năng lượng tái tạo, công nghệ số vẫn cần được tăng cường [14] . Nhiều doanh nghiệp lớn hoạt động trong du lịch, bất động sản, cảng biển, năng lượng, chế biến thủy sản, nhưng bộ phận R&D nội bộ hoặc bộ phận đổi mới chưa thực sự phát triển. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo còn non trẻ, số lượng startup về biển – năng lượng – du lịch – nông nghiệp còn hạn chế. Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) thiếu nguồn lực và kỹ năng để hấp thụ công nghệ mới, dù nhu cầu chuyển đổi số, xanh hóa, nâng cao năng suất là rất lớn [15] . Định hướng nâng cao năng lực quản trị khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo ở Khánh Hòa Thứ nhất, hoàn thiện cấu trúc thể chế khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo Thiết lập cấu trúc thể chế liên thông, gồm 3 cấp độ bảo đảm việc vận hành hệ thống đổi mới hiệu quả. Cụ thể, cấp độ 1- Lãnh đạo chính trị và chiến lược gồm Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa giữ vai trò định hướng chiến lược và tổ chức ban chỉ đạo cấp tỉnh về phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bám sát Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 09-NQ/TW; cấp độ 2- Hội đồng Khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số liên ngành, có đại diện: Sở Khoa học và Công nghệ, Tài chính, Nội vụ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường...; các đại học, viện nghiên cứu; doanh nghiệp nòng cốt trong lĩnh vực biển – năng lượng – du lịch – nông nghiệp; đại diện các xã, đặc khu; cấp độ 3- Các tiểu hệ thống đổi mới theo cụm ngành/không gian, ví dụ kinh tế biển, năng lượng tái tạo, du lịch xanh, nông nghiệp thích ứng khí hậu được triển khai qua các cụm ngành và không gian kinh tế (khu kinh tế, khu công nghiệp, đô thị, vùng nguyên liệu). Đối với lợi thế của Khánh Hòa, cần các định ưu tiên phát triển: (1) Trung tâm kinh tế biển & logistics biển quốc gia -dựa trên hệ thống cảng nước sâu Vân Phong – Cam Ranh – Cà Ná, vị trí trên trục giao thương quốc tế; (2) Trung tâm năng lượng tái tạo & công nghiệp phụ trợ- Kế thừa vị thế “thủ phủ nắng gió” của Ninh Thuận, hướng đến chuỗi giá trị năng lượng và công nghiệp phụ trợ (thiết bị, dịch vụ kỹ thuật, logistics, lưu trữ năng lượng); (3) Du lịch biển –văn hóa – nông nghiệp xanh, thông minh - liên kết Nha Trang – Cam Ranh – Vân Phong – Phan Rang – Vĩnh Hy, kết hợp nghỉ dưỡng cao cấp, du lịch trải nghiệm, văn hóa Chăm, nông nghiệp đặc sản (nho, táo, tỏi, cừu...); (4) Nông nghiệp và đô thị thích ứng khí hậu vùng khô hạn ven biển - phát triển mô hình canh tác tiết kiệm nước, giống chịu hạn – mặn, đô thị thông minh ven biển; dùng tri thức KH&CN để biến “khắc nghiệt” thành lợi thế. Thứ hai, đổi mới công cụ chính sách và tài chính khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo Nên thành lập Quỹ Đổi mới sáng tạo và khoa học, công nghệ Khánh Hòa - hợp nhất các quỹ và chương trình của hai tỉnh cũ; thiết kế cơ chế tài trợ cạnh tranh, ưu tiên dự án gắn với ưu tiên mô hình chuyên môn hoá thông minh, gắn kết chiến lược khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo với đặc thù vùng trên cơ sở tối ưu hóa sử dụng quỹ R&D, đồng thời thúc đẩy kết nối cụm ngành với chính sách đổi mới phù hợp, có đồng tài trợ của doanh nghiệp. Thúc đẩy thị trường khoa học, công nghệ và bảo hộ sở hữu trí tuệ - xây dựng mạng lưới tư vấn sở hữu trí tuệ, hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu, sáng chế, chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm biển – năng lượng – nông nghiệp đặc sản; kết nối với các chương trình của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) với Bộ Khoa học và Công nghệ về hệ sinh thái tài sản trí tuệ và PII. Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới mở gắn với ưu tiên chiến lược. Khánh Hòa nên định vị khởi nghiệp và đổi mới mở như “phòng thí nghiệm sống” cho các giải pháp biển – năng lượng – du lịch – nông nghiệp: Thành lập trung tâm đổi mới sáng tạo biển – năng lượng – du lịch tại một đô thị hạt nhân (Nha Trang/Phan Rang), đóng vai trò vườn ươm, không gian thí điểm; thiết kế chương trình tăng tốc cho startup trong các lĩnh vực: Công nghệ biển (nuôi biển, log biển, giám sát môi trường); công nghệ năng lượng (IoT, lưu trữ, số hóa lưới); du lịch thông minh (app, dữ liệu, AI); nông nghiệp thông minh (IoT, truy xuất nguồn gốc). Khuyến khích các tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong tỉnh trở thành “đối tác đổi mới mở”: đưa ra bài toán, đồng tài trợ giải pháp, chia sẻ dữ liệu thử nghiệm... Thứ ba, nâng cao năng lực quản trị và điều phối đa cấp Khánh Hòa cần coi năng lực quản trị và điều phối khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo là một “năng lực cứng” của hệ thống chính quyền, với ba trục chính: (1) Năng lực chiến lược - khả năng nhìn dài hạn, tích hợp khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo vào quy hoạch, kế hoạch phát triển biển, năng lượng, du lịch, nông nghiệp; (2) Năng lực điều phối - điều phối giữa các cấp (tỉnh – xã) và giữa các ngành (Khoa học và Công nghệ, Tài chính, Nội vụ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường…); (3) Điều phối giữa Nhà nước – doanh nghiệp – viện, trường – cộng đồng, để chính sách không “một chiều”; (4) Năng lực thực thi chính sách, tổ chức thực hiện kịp thời, đồng bộ, hiệu quả. Để cụ thể hóa và thực hiện hiệu quả các định hướng trên, cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau: Một là , xây dựng cơ chế lãnh đạo và tư vấn cấp cao về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - củng cố Ban Chỉ đạo tỉnh về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, do lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh đứng đầu, thành viên gồm lãnh đạo các sở, xã/phường trọng điểm; thành lập và vận hành thực chất Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đồng thời, xác định rõ trách nhiệm điều phối theo từng cấp. Cấp tỉnh: định hướng chiến lược, xây dựng thể chế, điều phối nguồn lực lớn (ngân sách, quỹ, dự án trung ương, quốc tế). Cấp xã/phường: hiện thực hóa chiến lược khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo vào chương trình hành động địa phương; xây dựng các mô hình điểm (xã thông minh, vùng nuôi biển công nghệ cao, khu nông nghiệp thông minh…). Hai là, nâng cao năng lực chiến lược của đội ngũ quản lý khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo. Cần đào tạo theo đúng “nhu cầu chiến lược”, tập trung vào phân tích hệ thống đổi mới vùng; thiết kế chiến lược chuyên môn hóa thông minh; thiết kế và quản lý ma trận chính sách, điều phối hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo... Ba là, hoàn thiện cơ chế phối hợp với Trung ương và đối tác ngoài nhà nước. Trước hết, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, ngành, chủ động đề xuất thí điểm các cơ chế mới (quỹ đổi mới sáng tạo địa phương, sandbox cho công nghệ biển – năng lượng – du lịch thông minh, mua sắm công đổi mới) ngay khi khung pháp lý Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 193/2025/QH15 được cụ thể hóa. Cần phối hợp với doanh nghiệp, viện, trường, hiệp hội; được tham gia đồng tài trợ, đồng hành trong các dự án lớn (về biển, năng lượng, du lịch, nông nghiệp), chuyển giao công nghệ; đào tạo nhân lực; thí điểm mô hình sản xuất, dịch vụ mới. Người dân trải nghiệm công nghệ thực tế ảo trên nền tảng du lịch thông minh tại Ngày hội Công nghệ số Khánh Hòa 2025_Ảnh: TTXVN Thứ tư, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Hoàn thiện cấu trúc đầy đủ các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng sáng tạo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. - Nhà nước: Ủy ban nhân dân tỉnh, Khoa học và Công nghệ, Tài chính, Nội vụ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, các xã/phường – giữ vai trò kiến tạo, điều phối, ban hành “luật chơi” và cung cấp một phần nguồn lực đầu mối. - Doanh nghiệp: trung tâm của hệ sinh thái, động lực thúc đẩy đầu tư khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, đồng tài trợ, thử nghiệm và thương mại hóa công nghệ. - Viện nghiên cứu, trường đại học: Viện Hải dương học, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 3, Viện Pasteur Nha Trang, các trường đại học – là nguồn cung tri thức, công nghệ, nhân lực chất lượng cao. - Tổ chức hỗ trợ trung gian: trung tâm ươm tạo, không gian làm việc chung, tổ chức tư vấn sở hữu trí tuệ, đơn vị hỗ trợ chuyển đổi số, hiệp hội ngành nghề, tổ chức tín dụng, tài chính ngân hàng. Đó là chủ thể hỗ trợ biến tiềm năng thành vật chất, giá trị hiện hữu, ý tưởng trở thành sản phẩm thị trường, Hệ sinh thái tạo động lực tăng trưởng mới cho kinh tế tỉnh Khánh Hòa. Nhiều sản phẩm – dịch vụ mới xuất hiện: app du lịch, dịch vụ logistics thông minh, dịch vụ năng lượng, nông sản chế biến sâu, dịch vụ số cho du khách…Doanh nghiệp tăng năng suất nhờ ứng dụng công nghệ, tự động hóa, số hóa quản trị. Startup địa phương tạo việc làm chất lượng cao cho người trẻ – nhất là trong mảng số, dịch vụ biển, du lịch, năng lượng. Như vậy, GRDP không chỉ tăng nhờ đầu tư công và bất động sản, mà tăng nhờ năng suất, công nghệ và doanh nghiệp đổi mới. Đó là nền tăng trưởng dài hơi và bền vững hơn. Hơn nữa, hệ sinh thái góp phần làm tăng sức hút của Khánh Hòa với nhà đầu tư, nhân tài và du khách. Thu hút nhà đầu tư công nghệ, quỹ đầu tư (vì nhìn thấy cộng đồng startup, dự án, viện–trường, chính quyền cởi mở). Thu hút nhân lực chất lượng cao – chuyên gia biển, năng lượng tái tạo, du lịch thông minh, công nghệ số – muốn đến làm việc, sống, khởi nghiệp ở một nơi có môi trường biển sống tốt. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hỗ trợ mạnh cho mục tiêu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh của tỉnh. Biến lợi thế tự nhiên thành lợi thế công nghệ và tri thức. Đẩy nhanh chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhỏ và vừa: quản trị, bán hàng, logistics, marketing, tài chính. Thử nghiệm các mô hình kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải trong du lịch, cảng biển, nông nghiệp, đô thị. Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo - Thiết lập đầu mối điều phối hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo. Thành lập (hoặc giao nhiệm vụ rõ) một đơn vị đầu mối về hợp tác quốc tế – đổi mới sáng tạo, phối hợp chặt chẽ với Sở Ngoại vụ, Sở Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Hải quan... Xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về: các thỏa thuận MOA, MOU, dự án hợp tác khoa học và công nghệ đang triển khai; đối tác tiềm năng, chuyên gia quốc tế; các chương trình tài trợ, quỹ quốc tế có thể tham gia. - Nâng năng lực hội nhập quốc tế cho cán bộ và hoàn thiện khung pháp lý. Đào tạo chuyên sâu cho cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ, Tài chính, Ngoại vụ, Công Thương, lãnh đạo một số xã/phường về: thiết kế và quản lý dự án quốc tế; luật quốc tế về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, hợp đồng R&D; tiêu chuẩn – quy chuẩn quốc tế, hàng rào kỹ thuật. Rà soát, điều chỉnh các quy định cấp tỉnh để: đơn giản hóa thủ tục tham gia dự án, chương trình quốc tế; tạo điều kiện cho đơn vị sự nghiệp, viện, trường, doanh nghiệp chủ động ký kết, triển khai hợp tác trong khung pháp lý chung của Nhà nước. - Tăng cường hợp tác viện – trường – trung tâm nghiên cứu với đối tác quốc tế. Dựa trên nền tảng đã có (Đại học Thái Bình Dương, Đại học Khánh Hòa, hệ thống viện nghiên cứu, Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga, Viện Hải dương học, Viện Nuôi trồng thủy sản 3…), tỉnh cần khuyến khích xây dựng các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu liên kết quốc tế trong các mảng thế mạnh: biển, môi trường, du lịch bền vững, chuyển đổi số, AI, IoT trong nông nghiệp và năng lượng. Phát triển chương trình đồng hướng dẫn, đồng đào tạo cho học viên cao học, nghiên cứu sinh giữa các trường/viện tại Khánh Hòa với đối tác nước ngoài. Hỗ trợ cán bộ trẻ, sinh viên tham gia chương trình trao đổi, thực tập nghiên cứu tại các đối tác nước ngoài, gắn với đề tài/đồ án phục vụ trực tiếp nhu cầu tỉnh. Yêu cầu các đơn vị tham gia hợp tác quốc tế gắn nội dung chuyển giao thực chất, thử nghiệm tại Khánh Hòa (pilot ở vùng nuôi biển, khu du lịch, đô thị, vùng nông nghiệp khô hạn…) để tránh “hợp tác trên giấy”. - Thu hút dự án và nguồn lực quốc tế gắn với khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo. Kiến nghị lồng ghép mục tiêu khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo vào chiến lược thu hút FDI và ODA của tỉnh, như ưu tiên nhà đầu tư có trung tâm R&D, trung tâm dữ liệu, phòng thí nghiệm, chương trình đào tạo nhân lực tại chỗ; ưu tiên dự án FDI trong các lĩnh vực công nghệ cao, năng lượng tái tạo, hạ tầng số, logistics thông minh. Chủ động đề xuất dự án với WB, ADB, JICA, KOICA, EU, UNDP… trong các chủ đề: thành phố thông minh Nha Trang; mô hình “living lab” về du lịch bền vững; quản lý tổng hợp đới bờ, bảo tồn đa dạng sinh học biển; nông nghiệp thích ứng khí hậu, kinh tế tuần hoàn. - Hỗ trợ doanh nghiệp và startup tham gia mạng lưới đổi mới sáng tạo quốc tế. Phát huy vai trò của innokhanhhoa.vn như một cổng thông tin song ngữ (Việt - Anh) giới thiệu startup, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, nhu cầu hợp tác công nghệ của doanh nghiệp, dự án kêu gọi vốn, đồng thời kết nối với các mạng lưới, chợ công nghệ quốc gia và quốc tế. Tổ chức các đoàn doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp công nghệ tham dự Techfest quốc gia, sự kiện đổi mới sáng tạo ở Singapore, Hàn Quốc, châu Âu… thông qua các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo mà tỉnh đang triển khai. Tích cực truyền thông quốc tế về đổi mới sáng tạo của tỉnh. Hằng năm, tổ chức các diễn đàn/tuần lễ về: Công nghệ biển & kinh tế biển xanh; Du lịch thông minh & bền vững; Năng lượng tái tạo & chuyển đổi số. Tham gia tích cực vào các mạng lưới khu vực (ASEAN, APEC) về đổi mới sáng tạo, thành phố thông minh, kinh tế biển./. ------------------------ [1 ] Thực hiện 7 nhóm giải pháp nâng cao Chỉ số PII tỉnh Khánh Hòa. https://congbaokhanhhoa.gov.vn/noi-dung/id/4000/Thuc-hien-7-nhom-giai-phap-nang-cao-Chi-so-PII-tinh-Khanh-Hoa? [2] a framework for Science, Technology and Innovation Policy Reviews. https://unctad.org/system/files/official-document/dtlstict2019d4_en.pdf [3] Thủ phủ năng lượng sạch Quốc gia - Ninh Thuận hội đủ điện gió, mặt trời, thủy năng, hạt nhân và LNG. https://nangluongvietnam.vn/thu-phu-nang-luong-sach-quoc-gia-ninh-thuan-hoi-du-dien-gio-mat-troi-thuy-nang-hat-nhan-va-lng-33954.html [4] Nhìn lại sau 3 năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. https://tinhuykhanhhoa.vn/tin-bai/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/nhin-lai-sau-03-nam-thuc-hien-nghi-quyet-so-09-nqtw-cua-bo-chinh-tri-ve-xay-dung-phat-trien-tinh-kha-19836 [5] Sớm thành lập Hội đồng tư vấn và Tổ chuyên gia về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Khánh Hòa. https://baokhanhhoa.vn/chuyen-doi-so/202509/somthanh-lap-hoi-dong-tu-van-va-to-chuyen-gia-ve-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-tinh-khanh-hoa-5300337/ [6] https://baochinhphu.vn/cong-bo-cac-nghi-quyet-quyet-dinh-sap-nhap-thanh-lap-tinh-khanh-hoa-moi-102250630123702894.htm? [7] https://congbao.khanhhoa.gov.vn/vi-vn/noi-dung/id/1391/Huong-dan-su-dung-Quy-phat-trien-KH-CN-cua-doanh-nghiep? [8] Chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030: Ưu tiên phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. https://baokhanhhoa.vn/chuyen-doi-so/202509/chao-mung-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tinh-khanh-hoa-lan-thu-i-nhiem-ky-2025-2030-uu-tien-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-chuyen-doi-so-a9e51a3/ [9] https://nhanluckhanhhoa.vn/doanh-nghiep-khcn [10] Trợ lực cho doanh nghiệp khoa học công nghệ. https://baokhanhhoa.vn/kinh-te/202102/tro-luc-cho-doanh-nghiep-khoa-hoc-cong-nghe-8207979/ [11] Khánh Hòa: Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số. https://mst.gov.vn/khanh-hoa-ho-tro-doanh-nghiep-nho-va-vua-chuyen-doi-so-197157053.htm [12] Chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030: Ưu tiên phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. https://baokhanhhoa.vn/chuyen-doi-so/202509/chao-mung-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tinh-khanh-hoa-lan-thu-i-nhiem-ky-2025-2030-uu-tien-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-chuyen-doi-so-a9e51a3/ [13] Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 50% vào năm 2025. https://congbaokhanhhoa.gov.vn/noi-dung/id/2479/Ty-le-doanh-nghiep-co-hoat-dong-doi-moi-sang-tao-dat-tren-50--vao-nam-2025 [14] Nhìn lại sau 03 năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. https://tinhuykhanhhoa.vn/tin-bai/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/nhin-lai-sau-03-nam-thuc-hien-nghi-quyet-so-09-nqtw-cua-bo-chinh-tri-ve-xay-dung-phat-trien-tinh-kha-19836 [15] Nâng cao Chỉ số PCI để tạo sức hút đầu tư. https://baokhanhhoa.vn/kinh-te/202509/nang-cao-chi-so-pcidetao-suc-hut-dau-tu-e1b3b40/
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinh-nghiem1/-/2018/1198102/phat-huy-gia-tri-chu-viet-cac-dan-toc-thieu-so-trong-boi-canh-chuyen-doi-so-hien-nay---nhin-tu-thuc-tien-dak-lak.aspx
Phát huy giá trị chữ viết các dân tộc thiểu số trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay - nhìn từ thực tiễn Đắk Lắk
28-12-2025
Hành trình của chữ viết Ê-đê, từ di sản thuộc địa đến tài sản của cách mạng
Học sinh tiểu học ở Đắk Lắk trong giờ học tiếng Ê-đê_Ảnh: vietnamhoinhap.vn Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, sự đa dạng văn hóa đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Theo Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), trung bình, cứ hai tuần lại có một ngôn ngữ biến mất. Nhận thức rõ nguy cơ này, Liên hợp quốc đã tuyên bố giai đoạn 2022 - 2032 là Thập kỷ Quốc tế về Ngôn ngữ Bản địa (IDIL), kêu gọi các quốc gia hành động cấp bách để bảo tồn, hồi sinh và phát huy tiếng nói của các tộc người thiểu số, coi đây là vấn đề cốt lõi của quyền con người và sự phát triển bền vững. Ở Việt Nam, Đảng ta cũng luôn nhất quán quan điểm này, được cụ thể hóa trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” (1) . Trong đó, quyền bình đẳng về ngôn ngữ và chữ viết của đồng bào các dân tộc thiểu số được hiến định trong Hiến pháp, đồng thời được cụ thể hóa bằng những chính sách của Nhà nước, thể hiện bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong hệ thống quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, quyền bình đẳng về ngôn ngữ luôn giữ vị trí trung tâm. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi năm 2025) hiến định rõ: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng, Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách "đồng hóa" hay "xóa bỏ văn hóa" các dân tộc thiểu số (?!). Thực tiễn lịch sử hình thành và phát triển của chữ viết Ê-đê là minh chứng sống động nhất cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, văn hóa và chữ viết của các dân tộc không những không bị mai một, mà còn được bảo tồn, phát huy để trở thành một nguồn lực nội sinh mạnh mẽ. Hành trình của chữ viết Ê-đê, từ di sản thuộc địa đến tài sản của cách mạng Chữ viết Ê-đê đã có lịch sử hơn 100 năm, sự ra đời gắn liền với bối cảnh thuộc địa vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Ban đầu, bộ chữ cái La-tinh ghi âm tiếng Ê-đê được hình thành bởi các nhà cai trị thực dân và truyền giáo, với mục đích dùng chữ viết để tạo ra một tầng lớp nhằm quản lý “người Thượng” trong khuôn khổ "khu vực bảo tồn" dành riêng cho các tộc người ở vùng đất này, hạn chế người Việt và người Pháp lên lập đồn điền, khai khẩn đất đai. Tuy nhiên, quy luật vận động của văn hóa luôn vượt qua những toan tính chính trị áp đặt của các nhà cai trị thực dân. Cộng đồng người Ê-đê với sức sống văn hóa mãnh liệt, đã nhanh chóng "chiếm lĩnh" công cụ này. Thay vì chỉ dùng để phục vụ bộ máy cai trị, họ đã biến chữ viết thành tài sản riêng để ghi chép lại kho tàng luật tục, sử thi ( Khan ) đồ sộ và quan trọng hơn, để kết nối cộng đồng. Chữ viết từ chỗ là “công cụ cai trị”, đã chuyển hóa thành “công cụ tự vệ” văn hóa, giúp người Ê-đê lưu giữ bản sắc trước những biến động của thời cuộc. Bước ngoặt lớn nhất trong lịch sử chữ viết Ê-đê chính là sự gặp gỡ với lý tưởng cách mạng. Nếu như chế độ thực dân dùng chữ viết để chia rẽ các dân tộc, thì cách mạng Việt Nam dùng chữ viết để đoàn kết các dân tộc. Thế hệ trí thức người Ê-đê yêu nước đầu tiên, những người trưởng thành từ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đã thực hiện một sứ mệnh lịch sử: dùng chính chữ viết của dân tộc mình để truyền bá tư tưởng độc lập, tự do. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk đã ghi nhận những đóng góp của các nhân sĩ trí thức, như đồng chí Y Ngông Niê Kđăm (từng là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Đắk Lắk, sau này trở thành Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk), đồng chí Y Wang Mlô Duôn Du (từng là Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện M'đak, Đắk Lắk). Tháng 3-1945, trong những ngày sục sôi tiền khởi nghĩa, đồng chí Y Ngông Niê Kđăm và Y Wang Mlô Duôn Du đã dịch Điều lệ Mặt trận Việt Minh sang tiếng Ê-đê. Đặc biệt, đồng chí Y Ngông Niê Kđăm đã dịch bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếng Ê-đê. Đây là việc làm hết sức ý nghĩa, bởi lần đầu tiên trong lịch sử, những khái niệm chính trị hiện đại, như "độc lập", "tự do", "nhân quyền"… được gọi tên bằng ngôn ngữ của người Ê-đê. Chữ viết Ê-đê không còn giới hạn trong các bài giảng Kinh thánh hay trong văn bản hành chính của chế độ thực dân, mà đã trở thành ngôn ngữ của cách mạng. Những biểu ngữ, truyền đơn viết tay bằng tiếng Ê-đê xuất hiện khắp các buôn làng trong những ngày Tổng khởi nghĩa đã chứng minh rằng, cách mạng đã tôn trọng và nâng tầm chữ viết dân tộc, biến chữ viết Ê-đê thành vũ khí tư tưởng sắc bén của đồng bào. Trong hồi ký của mình, đồng chí Y Ngông Niê Kđăm đã viết: “Hầu hết các biểu ngữ viết bằng tiếng Ê-đê, viết bằng tay lên cót, lên liếp. Phụ nữ tham gia rất đông và tích cực. Ở quê tôi, phụ nữ có vai trò rất lớn, mẹ nói con nghe, vợ nói chồng nghe. Phụ nữ đi tuyên truyền rất lợi thế, dân nghe ngay và tin ngay. Họ còn tự đi viết khẩu hiệu, đi vận động bà con và đi căng biểu ngữ” (2) . Lịch sử đã chứng minh, các luận điệu xuyên tạc rằng chính quyền "kìm hãm" hay "xóa bỏ" tiếng nói dân tộc là hoàn toàn bịa đặt. Ngược lại, chính nhờ cách mạng, sự trân trọng của Đảng và Bác Hồ đối với văn hóa các dân tộc, chữ Ê-đê đã trở thành một phần của di sản văn hóa quốc gia. Trong lịch sử hình thành và phát triển hơn một thế kỷ, chữ viết Ê-đê đã trải qua một cuộc chuyển hóa sâu sắc về mặt chức năng xã hội. Từ chỗ là một công cụ ghi âm được khởi tạo trong bối cảnh thuộc địa, được cộng đồng tiếp nhận, bản địa hóa và trở thành "tài sản văn hóa" vô giá, là "cái vỏ vật chất" lưu giữ hồn cốt của tộc người. Trong giai đoạn hiện nay, giá trị của chữ viết Ê-đê không chỉ dừng lại ở chức năng giao tiếp hay ghi chép văn học dân gian, mà được nâng tầm thành một biểu tượng của sự công nhận và bình đẳng trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Điều này được thể hiện rõ nét qua quyết sách đưa tiếng Ê-đê vào không gian trưng bày chính quy tại Bảo tàng Đắk Lắk. Bảo tàng Đắk Lắk khánh thành hệ thống trưng bày mới vào năm 2011, là bảo tàng đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam hiện nay sử dụng tiếng Ê-đê làm ngôn ngữ thuyết minh chính thức, đặt trang trọng bên cạnh tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp. Đây không đơn thuần là một giải pháp kỹ thuật về bảo tàng học, mà là một quyết định mang tính chính trị - văn hóa sâu sắc, thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Đắk Lắk. Quyết sách này của Đảng bộ tỉnh đã chính thức xác lập chữ Ê-đê như một ngôn ngữ hành chính - văn hóa trong không gian công cộng, gửi đi thông điệp mạnh mẽ rằng, người Ê-đê là chủ thể văn hóa có quyền cất tiếng nói bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, trong ngôi nhà chung của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Quyết sách này cũng thể hiện sự “gặp gỡ” giữa chủ trương của Đảng với tinh thần nhân văn của ngành nhân học hiện đại, đó là tôn trọng “quan điểm của người trong cuộc”, trao quyền cho chủ thể văn hóa tự cất tiếng nói đại diện cho chính mình, thay vì bị diễn giải hay áp đặt bởi các định kiến từ bên ngoài (3) . Việc đặt chữ Ê-đê ở vị trí ngang hàng với ngôn ngữ quốc gia và quốc tế là sự cụ thể hóa sinh động quan điểm của Đảng về sự bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc. Trong không gian bảo tàng, nguyên tắc này được thực hiện triệt để thông qua quy trình làm việc cẩn trọng, cầu thị của đội ngũ cán bộ, coi các già làng là những người thầy để chuẩn hóa lại vốn từ vựng đang có nguy cơ mai một. Mỗi dòng chữ Ê-đê được sử dụng trong bảo tàng là sự kết tinh trí tuệ của cả cộng đồng, minh chứng cho sự tôn trọng tuyệt đối của Đảng, Nhà nước đối với hệ thống tri thức, văn hóa địa phương. Quyết sách đúng đắn này đã tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm của đồng bào, biến văn hóa thành sức mạnh "dân vận khéo". Khi đến tham quan, người dân tìm thấy mình trong lịch sử của tỉnh nhà, từ đó thêm tin tưởng vào sự ưu việt của Đảng, chế độ, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc rằng Nhà nước "xóa bỏ văn hóa" người Thượng. Chữ viết Ê-đê tại Bảo tàng Đắk Lắk đã vượt ra khỏi chức năng thông tin thuần túy, trở thành công cụ sắc bén góp phần củng cố thế trận lòng dân và bảo đảm an ninh văn hóa trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên. Chuyển đổi số văn hóa - hướng đi tất yếu để văn hóa thấm sâu vào đời sống Lê hội đua voi ở Đắk Lắk_Ảnh: nhiepanhdoisong.vn Nếu như việc đưa chữ Ê-đê vào Bảo tàng Đắk Lắk là sự khẳng định vị thế chính trị và lịch sử của tộc người trong không gian vật lý, thì việc đưa chữ viết này lên không gian mạng là bước đi tất yếu để hiện thực hóa chủ trương chuyển đổi số quốc gia trong lĩnh vực văn hóa. Thực tiễn tại Đắk Lắk cho thấy, chính cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ đã chủ động biến chữ viết của dân tộc mình thành nguồn tài nguyên số sống động, thể hiện sức mạnh nội sinh mạnh mẽ của văn hóa dân tộc trong kỷ nguyên số. Khác với các thế hệ trước thường tiếp cận chữ viết qua sách vở in, thế hệ thanh niên Ê-đê ngày nay đã nhanh chóng nắm bắt công nghệ để tạo ra các công cụ học tập và lưu trữ mới, biến chiếc điện thoại thông minh trở thành “trường học di động”. Khởi đầu từ bộ “Từ điển điện tử Việt - Ê-đê” do Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam khu vực Tây Nguyên thực hiện năm 2007 (5) , hàng loạt ứng dụng số hóa đã ra đời từ sự sáng tạo của giáo viên và học sinh địa phương, như trang “Từ điển Ê-đê - Việt” trực tuyến (ra mắt năm 2018, do Mai Công Thành và học sinh Trường Phan Bội Châu xây dựng) (6) , phần mềm “Từ điển đa năng Ê-đê - Việt” (sáng kiến của em Dương Thị Ngọc Anh, học sinh Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Đam San) (7) . Những sản phẩm này tuy xuất phát từ quy mô nhỏ, nhưng mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc. Đồng bào dân tộc thiểu số không đứng ngoài lề của cuộc cách mạng số, họ đang xây dựng những "kho dữ liệu số" cho ngôn ngữ của mình, chủ động hội nhập công nghệ để bảo vệ bản sắc dân tộc. Bên cạnh các công cụ học tập, các phương tiện truyền thông xã hội đang trở thành một "không gian sinh tồn" mới, nơi chữ Ê-đê được sử dụng với tần suất cao và độ tương tác lớn, vượt ra khỏi biên giới buôn làng. Thay vì những bài tuyên truyền khô cứng, cộng đồng mạng đang chứng kiến sự lan tỏa của các sản phẩm văn hóa số hấp dẫn, điển hình như các bài thánh ca, ca khúc mới do nhạc sĩ Y Chel Niê sáng tác và chia sẻ trên Youtube thu hút hơn 150.000 lượt xem (7) ; các trang Facebook như “ede yarns” chuyên giới thiệu tri thức bản địa song ngữ, các nhóm học tiếng Ê-đê online hoạt động sôi nổi (8) … Thực tế cho thấy, khi được hỗ trợ bởi công nghệ, chữ viết dân tộc thiểu số hoàn toàn có khả năng thoát khỏi nguy cơ mai một để trở thành ngôn ngữ giao tiếp thông dụng. Việc thế hệ trẻ tự tin sử dụng chữ Ê-đê để tương tác trên các phương tiện truyền thông xã hội chính là cách xác lập "chủ quyền văn hóa" trên không gian số, góp phần làm đa dạng hóa hệ sinh thái nội dung số của Việt Nam. Từ góc độ quản lý nhà nước, sự bùng nổ của chữ Ê-đê trên nền tảng số là một tín hiệu tích cực cho công tác an ninh tư tưởng - văn hóa. Trong bối cảnh các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng không gian mạng để phát tán các thông tin xấu độc, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết bằng tiếng dân tộc, thì việc lấp đầy không gian này bằng các nội dung văn hóa lành mạnh, các bài hát ca ngợi quê hương, các từ điển giáo dục do chính người dân tạo ra sẽ giúp xây dựng một “lá chắn mềm”, nhưng hiệu quả. Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và công cuộc chuyển đổi số hiện nay, công tác bảo tồn văn hóa nói chung, bảo tồn chữ viết của đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng đang đứng trước những yêu cầu mới. Vấn đề không chỉ dừng lại ở việc giữ gìn chữ viết trong sách vở, bảo tàng, mà phải làm sao để ngôn ngữ bản địa có khả năng lan tỏa trên không gian số, trở thành công cụ để đồng bào dân tộc thiểu số tự tin hội nhập. Để chữ viết của đồng bào thực sự trở thành động lực phát triển bền vững, cần thực hiện một số giải pháp sau: Thứ nhất, thẳng thắn nhận diện và khắc phục tình trạng hình thức hóa trong giáo dục tiếng dân tộc . Mặc dù chủ trương dạy tiếng Ê-đê trong trường học đã được triển khai từ lâu, nhưng hiệu quả thực tế chưa tương xứng với sự đầu tư. Trong các trường phổ thông hiện nay, môn tiếng Ê-đê thường được coi là môn phụ, với thời lượng giảng dạy ít, mục tiêu giảng dạy chưa thực sự chú trọng phát triển năng lực tư duy độc lập và cảm thụ văn hóa bằng tiếng mẹ đẻ. Phát triển và hoàn thiện tiếng mẹ đẻ cho học sinh người Ê-đê nói riêng và đồng bào dân tộc thiểu số nói chung cần được coi là một trong những định hướng căn bản trong giáo dục ở vùng dân tộc. Cần đổi mới căn bản tư duy giáo dục ngôn ngữ dân tộc, chuyển từ tư duy bảo tồn, dạy ngữ pháp khô khan sang tư duy thực hành văn hóa. Nghiên cứu nâng vị thế môn tiếng dân tộc, xây dựng chương trình học xuyên suốt đến hết cấp trung học phổ thông, gắn việc học tiếng, học chữ với các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, sáng tác văn học và ứng dụng công nghệ thông tin ngay trong nhà trường. Thứ hai , xây dựng cơ chế đặc thù hỗ trợ sáng tạo văn học - nghệ thuật bằng tiếng dân tộc thiểu số. Một nền văn hóa muốn có sức sống nội sinh thì không thể chỉ dựa vào vốn cổ (sử thi, luật tục) mà phải có những tác phẩm phản ánh hơi thở đương đại. Thực tế hiện nay cho thấy, văn học - nghệ thuật bằng tiếng Ê-đê đang có "khoảng trống" lớn, rất khó tìm được các cây bút trẻ sáng tác thơ, truyện ngắn bằng ngôn ngữ mẹ đẻ… Bởi vậy, Đảng và Nhà nước cần có chính sách đặt hàng, hỗ trợ sáng tác và xuất bản các tác phẩm văn học - nghệ thuật bằng tiếng dân tộc thiểu số. Các hội văn học nghệ thuật, các trại sáng tác cần có cơ chế khuyến khích đặc biệt cho các tác giả viết bằng bản ngữ… Thứ ba, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật số cho ngôn ngữ các dân tộc thiểu số. Chuyển đổi số văn hóa không thể thành công nếu thiếu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ. Thực tế cho thấy, việc sử dụng chữ Ê-đê trên máy tính và điện thoại vẫn gặp trở ngại do thiếu các bộ gõ chuẩn hóa và bảng mã thống nhất, khiến người dùng gặp khó khăn khi soạn thảo văn bản, làm gián đoạn mạch tư duy. Các giải pháp hiện nay chủ yếu mang tính tự phát từ cộng đồng hoặc các dự án nhỏ lẻ. Chính phủ cần chỉ đạo các bộ, ngành liên quan phối hợp xây dựng chiến lược "Số hóa ngôn ngữ các dân tộc thiểu số; đầu tư nghiên cứu, xây dựng các bộ công cụ nhập liệu (bộ gõ) chuẩn quốc gia, các kho dữ liệu số và ứng dụng dịch thuật tự động cho các ngôn ngữ dân tộc thiểu số chủ chốt. Đây là nền tảng hạ tầng thiết yếu để bảo đảm "chủ quyền số" cho văn hóa các dân tộc. Thứ tư, chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ vừa “hồng”, vừa “chuyên” về văn hóa dân tộc. Thành công của việc biên dịch tại Bảo tàng Đắk Lắk hay các ứng dụng từ điển số hóa đều bắt nguồn từ nhân tố con người - những trí thức, cán bộ người dân tộc thiểu số tâm huyết. Do đó, công tác cán bộ cần chú trọng phát hiện, đào tạo và quy hoạch đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số không chỉ am hiểu văn hóa, ngôn ngữ của dân tộc mình, mà còn phải làm chủ được công nghệ hiện đại. Họ chính là lực lượng nòng cốt để hiện thực hóa các nghị quyết của Đảng về văn hóa và dân tộc tại cơ sở. Việc giữ gìn và phát huy chữ viết dân tộc thiểu số trong bối cảnh mới không đơn thuần là bảo tồn vốn cổ, mà là nhiệm vụ kiến tạo một hệ sinh thái văn hóa mới, nơi truyền thống và công nghệ song hành, nơi bản sắc tộc người trở thành nguồn sức mạnh nội sinh củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây chính là cách thiết thực nhất để đưa tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, khẳng định bản lĩnh văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng trước dòng chảy toàn cầu hóa./. ------------------- (1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 115 - 116 (2) Bùi Thị Tân ghi: “Hồi ký của Y Ngông Niê Kdăm”, ngày 14-11-2009, https://dotchuoinon.com/2009/11/14/h%E1%BB%93i-ky-c%E1%BB%A7a-y-ngong-nie-kdam/ (3) Xem: Nguyễn Văn Sửu (Chủ biên): Nhân học: Ngành khoa học về con người , Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2020 (4) Hoàng Thị Mỹ Lệ, Phan Huy Khánh:“Giải pháp xây dựng kho ngữ liệu đa ngữ Việt - Ê-đêgán nhãn theo ngữ cảnh”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ , Đại học Đà Nẵng, 2014, số 1(74), quyển II, tr. 38 - 41 (5) Từ điển Ê-đê - Việt, http://edeviet.edu.vn/huong-dan-tra-cuu/ (6) Từ điển đa năng Ê-đê - Việt, https://edevietbuonho.edu.vn/edeviet/ (7) Tổng hợp những bản Thánh Ca Ê-đê mới nhất của Y Chel Niê: https://www.youtube.com/watch?v=Zgzjk78dwNs (8) Trang giới thiệu song ngữ Ê-đê - Việt về văn hóa và tri thức bản địa Ê-đê, https://www.facebook.com/edeyarns.vn/
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/1224602/nang-cao-chat-luong-dao-tao-nguon-nhan-luc-bao-chi%2C-gop-phan-phat-trien-nen-bao-chi-cach-mang-viet-nam-trong-ky-nguyen-so.aspx
Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực báo chí, góp phần phát triển nền báo chí cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên số
09-03-2026
Yêu cầu đặt ra đối với đào tạo nguồn nhân lực báo chí trong kỷ nguyên số
Yêu cầu đặt ra đối với đào tạo nguồn nhân lực báo chí trong kỷ nguyên số Trong thời đại công nghệ số phát triển, báo chí đang trải qua cuộc chuyển mình mạnh mẽ chưa từng có. Cùng với sự hỗ trợ của mạng internet, các phương tiện truyền thông xã hội và các thiết bị thông minh, báo chí có thể đưa tin tức đến hàng triệu người chỉ trong vài giây. Một sự kiện xảy ra ở một địa điểm nào đó trên thế giới có thể trở thành tiêu điểm toàn cầu trong chớp mắt. Tốc độ này không chỉ giúp công chúng nắm bắt thông tin kịp thời mà còn tạo ra sự tương tác liên tục giữa nhà báo và công chúng. Tuy nhiên, sức mạnh của báo chí trong thời đại số không chỉ nằm ở tốc độ lan truyền mà còn ở khả năng dẫn dắt và chọn lọc thông tin. Khi tin giả, thông tin sai lệch có thể dễ dàng phát tán trên các phương tiện truyền thông xã hội, vai trò kiểm chứng, phân tích và định hướng dư luận của báo chí càng trở nên quan trọng. Sự kết hợp giữa đạo đức nghề nghiệp, công nghệ hiện đại và khả năng sáng tạo nội dung giúp báo chí giữ vững vai trò là “người gác cổng thông tin”, góp phần xây dựng một xã hội minh bạch, dân chủ và tiến bộ. Tuy nhiên, thách thức về cạnh tranh với phương tiện truyền thông xã hội đòi hỏi thay đổi tư duy và phong cách hành nghề cũng như mô thức tổ chức tòa soạn; thách thức về kinh tế truyền thông khi thị phần và công chúng báo chí thu hẹp; thách thức về vai trò, vị thế và năng lực tác động xã hội,... Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu tham quan triển lãm ảnh, tư liệu, hiện vật lịch sử về truyền thống 100 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam_Ảnh: TTXVN Để thích ứng với bối cảnh mới, báo chí phải thay đổi không chỉ về phương thức hoạt động mà còn phải từ gốc rễ là công tác đào tạo nguồn nhân lực báo chí. Chỉ khi được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng và tư duy phù hợp, những nhà báo tương lai mới có thể bảo đảm vai trò của báo chí là cầu nối giữa sự thật và công chúng trong thời đại số đầy biến động. Trước thách thức của kỷ nguyên số, công tác đào tạo nguồn nhân lực báo chí cần đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung, phương pháp giảng dạy. Nhà báo không chỉ cần nắm vững kiến thức chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, mà còn phải thành thạo các công cụ công nghệ số, từ kỹ năng thu thập, xử lý dữ liệu đến sản xuất nội dung đa phương tiện. Việc đào tạo phải hướng đến xây dựng đội ngũ nhà báo có khả năng thích ứng nhanh, sáng tạo trong môi trường truyền thông số đa dạng và phức tạp. Các cơ sở đào tạo cần tích hợp kiến thức về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bảo mật thông tin và quản trị các phương tiện truyền thông xã hội vào chương trình giảng dạy. Đồng thời, phải chú trọng rèn luyện phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị vững vàng cho người làm báo, nhằm bảo đảm họ không chỉ giỏi nghiệp vụ mà còn đủ sức đấu tranh với các luồng thông tin xấu độc, giữ vững định hướng tuyên truyền của báo chí cách mạng trong môi trường số. Những trọng tâm đổi mới đào tạo nguồn nhân lực báo chí thích ứng với kỷ nguyên số Hiện nay, công tác đào tạo nguồn nhân lực báo chí cách mạng Việt Nam tập trung ở một số nội dung sau: Một là, đổi mới nội dung đào tạo phù hợp với công nghệ số. Công nghệ số làm thay đổi căn bản cách thức sản xuất và tiêu thụ thông tin. Thay vì tiếp cận tin tức qua báo in hay truyền hình truyền thống, công chúng ngày nay chủ yếu sử dụng các thiết bị thông minh, các nền tảng đa phương tiện và các phương tiện truyền thông xã hội để cập nhật thông tin. Báo chí truyền thống đang phải cạnh tranh với các nguồn tin “phi báo chí” nhưng lại có tốc độ lan tỏa nhanh chóng và khả năng cá nhân hóa nội dung cao. Trong bối cảnh đó, nhà báo không chỉ cần kỹ năng viết, tác nghiệp, mà còn phải biết sử dụng công nghệ số để phân tích dữ liệu, tối ưu hóa nội dung số và quản lý các kênh truyền thông số. Điều này đòi hỏi các cơ sở đào tạo báo chí phải đổi mới toàn diện về nội dung, phương pháp và công cụ giảng dạy. Hiện nay, các chương trình đào tạo báo chí đã được cập nhật, bổ sung nhiều kiến thức về công nghệ số, công cụ kỹ thuật số để sản xuất nội dung đa phương tiện và phân tích dữ liệu lớn. Các học phần về truyền thông đa phương tiện, kỹ thuật làm báo trên nền tảng số, sử dụng AI trong báo chí, phân tích dữ liệu, bảo mật thông tin, kỹ năng tác nghiệp trên phương tiện truyền thông xã hội… đã được ứng dụng sâu trong chương trình đào tạo. Hai là, ứng dụng công nghệ số vào giảng dạy và thực hành. Việc ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy và thực hành báo chí là yêu cầu cấp thiết nhằm đào tạo nguồn nhân lực báo chí hiện đại, chuyên nghiệp và có khả năng làm chủ công nghệ. Việc sử dụng công nghệ số trong đào tạo giúp sinh viên báo chí trải nghiệm thực tế nhiều hơn, tiếp cận các công cụ làm việc hiện đại như phần mềm chỉnh sửa video, hệ thống quản lý nội dung (CMS), AI để hỗ trợ phân tích và sản xuất tin, bài. Nhiều cơ sở đào tạo báo chí đã xây dựng phòng thu hiện đại, môi trường thực hành trực tuyến và mô phỏng mô hình tòa soạn báo chí hội tụ, giúp sinh viên làm quen với thực tế công việc. Các giảng viên sử dụng các nền tảng học trực tuyến, phần mềm mô phỏng tòa soạn ảo, phòng lab tích hợp công nghệ số, giúp sinh viên tiếp cận với thực tiễn nghề nghiệp ngay từ trên giảng đường. Trong thực hành, hiện nay sinh viên báo chí không chỉ học viết tin, bài, mà còn được đào tạo các kỹ năng mới, như sản xuất nội dung đa phương tiện (multimedia); làm video, podcast, thiết kế đồ họa thông tin (infographic); khai thác dữ liệu và thực hành báo chí dữ liệu (data journalism), sử dụng các công cụ kỹ thuật số và các phần mềm chuyên dụng để phân tích và trình bày thông tin từ dữ liệu; tối ưu hóa nội dung trên nền tảng số, biết cách sử dụng các công cụ SEO, phân tích lượt truy cập, tương tác trên các phương tiện truyền thông xã hội để tối ưu hóa hiệu quả truyền thông; sử dụng AI để hỗ trợ viết tin nhanh, phân tích xu hướng, thậm chí tạo nội dung tự động (AI-generated content) dưới sự giám sát của nhà báo. Mặc dù công nghệ số mở ra nhiều cơ hội, song cũng đặt ra không ít thách thức đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực báo chí. Việc đào tạo đội ngũ giảng viên đủ năng lực ứng dụng công nghệ mới, bảo đảm cơ sở vật chất và hệ thống hạ tầng công nghệ là những vấn đề cần được chú trọng. Bên cạnh đó, sinh viên cũng cần được định hướng để chú trọng phẩm chất, đạo đức nghề báo, không lệ thuộc quá mức vào công nghệ. Ba là, tăng cường kỹ năng phản biện, tư duy đa chiều và trách nhiệm chính trị - xã hội - đạo đức. Đào tạo nguồn nhân lực báo chí hiện nay phải hướng tới xây dựng tư duy báo chí toàn diện cho người học. Trong thời đại thông tin số, báo chí không chỉ đưa tin, mà còn góp phần làm thay đổi nhận thức xã hội theo chiều hướng tích cực. Đào tạo nguồn nhân lực báo chí cần được định hướng toàn diện, lấy việc giáo dục trách nhiệm chính trị - xã hội - đạo đức làm trụ cột, bởi “tính chuyên nghiệp của nhà báo thể hiện ở những phẩm chất chính trị - xã hội, đạo đức nghề nghiệp, ở phương pháp, cách thức hành nghề một cách khoa học, hiệu quả; ở sự hiểu biết sâu sắc về các mối quan hệ, cơ chế vận hành trong lĩnh vực báo chí; ở sự tinh thông, thuần thục các kỹ năng nghề nghiệp; ở khả năng sử dụng và thích nghi với các loại hình phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp” (1) . Chỉ khi mỗi nhà báo ý thức sâu sắc vai trò và trách nhiệm của mình, nền báo chí cách mạng mới thực sự trở thành lực lượng xung kích trong công cuộc phát triển bền vững đất nước. Bên cạnh đó, đào tạo nguồn nhân lực báo chí cách mạng còn phải chú trọng trang bị kiến thức, nhận thức sâu sắc về chính trị, nâng cao năng lực phản biện, phân tích và kiểm chứng thông tin cho người học. Kỹ năng phản biện giúp nhà báo không chỉ kiểm chứng độ tin cậy của nguồn tin mà còn phát hiện các “lỗ hổng” trong luận điểm, số liệu và thông tin được cung cấp. Việc trang bị kỹ năng phản biện trong các môn học của chương trình đào tạo báo chí sẽ giúp sinh viên không thụ động tiếp nhận thông tin mà chủ động kiểm tra, phân tích và đưa ra những góc nhìn sắc sảo, chính xác. Bên cạnh đó, tư duy đa chiều là nền tảng cho sự công bằng và toàn diện trong cách tiếp cận vấn đề của nhà báo. Báo chí là cầu nối giữa các luồng thông tin và các tầng lớp xã hội, tư duy đa chiều - khả năng nhìn nhận một vấn đề từ nhiều góc độ, nhiều chủ thể khác nhau - là yếu tố cốt lõi để xây dựng các bài viết khách quan, công bằng và toàn diện. Tư duy đa chiều giúp nhà báo tránh được cái nhìn phiến diện, định kiến từ đó tạo ra sự đa dạng trong phản ánh thông tin. Trong môi trường đào tạo báo chí, điều này cần được lồng ghép thông qua các phương pháp học tập mở, thảo luận nhóm, phân tích tình huống và đào sâu vào các vấn đề mang tính xã hội, văn hóa và chính trị. Bên cạnh năng lực nghề nghiệp, người làm báo cần được rèn luyện về đạo đức nghề nghiệp và ý thức trách nhiệm với xã hội, quốc gia và cộng đồng. Trách nhiệm chính trị - xã hội không chỉ gồm việc tuân thủ pháp luật hay quy tắc đạo đức báo chí, mà còn có sự tỉnh táo trong lựa chọn chủ đề, cách thức đưa tin và định hướng dư luận. Nhà báo có trách nhiệm là người luôn tự đặt câu hỏi: “Thông tin này có phục vụ lợi ích công cộng không?”, “Liệu bài viết này có gây tổn thương, kích động hay chia rẽ không?”. Nhà báo là người làm nhiệm vụ định hướng dư luận, phản ánh hiện thực xã hội và góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, do đó cần đặt trách nhiệm chính trị lên hàng đầu trong quá trình đào tạo. Việc giáo dục đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước giúp sinh viên báo chí hình thành nhận thức đúng đắn, có bản lĩnh trước những luồng thông tin đa chiều, tiêu cực và sai lệch. Giáo dục trách nhiệm chính trị là quá trình bồi dưỡng nhận thức sâu sắc về vai trò của báo chí trong công cuộc xây dựng đất nước, qua đó giúp sinh viên phát triển tư duy độc lập, tỉnh táo và gắn bó với sứ mệnh nghề nghiệp. Cùng với đó, nâng cao đạo đức nghề nghiệp là giá trị cốt lõi và lâu dài mà mỗi nhà báo cần thấm nhuần ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Đạo đức báo chí không chỉ là việc tránh đưa tin sai sự thật, mà còn là sự trung thực, công tâm, tôn trọng quyền con người và không lợi dụng nghề nghiệp để mưu cầu lợi ích cá nhân. Bốn là, mở rộng hợp tác quốc tế và giao lưu văn hóa. Hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực báo chí giúp tiếp cận với tri thức hiện đại, tạo cơ hội để chia sẻ kinh nghiệm, phương pháp đào tạo tiên tiến, và cập nhật những giá trị nghề nghiệp toàn cầu. Việc mời giảng viên, chuyên gia quốc tế tham gia giảng dạy, tổ chức các chương trình trao đổi sinh viên, hoặc liên kết đào tạo giữa các trường đại học sẽ giúp sinh viên báo chí được tiếp cận đa chiều với các mô hình báo chí truyền thông tiên tiến, hiện đại, từ đó hình thành tư duy toàn cầu trong xử lý thông tin. Để hội nhập và bắt kịp các xu hướng báo chí thế giới, nhiều cơ sở đào tạo đã tăng cường hợp tác quốc tế, mời chuyên gia nước ngoài giảng dạy, tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về báo chí số, trao đổi sinh viên và tham gia các dự án nghiên cứu chung. Điều này giúp sinh viên có cái nhìn đa chiều, năng động, sáng tạo, nâng cao tính chủ động và sẵn sàng thích ứng trong môi trường làm việc quốc tế. Ngoài ra, các hoạt động hợp tác nghiên cứu, tổ chức hội thảo quốc tế cũng là diễn đàn quan trọng để các nhà báo, giảng viên và sinh viên trao đổi quan điểm, học hỏi lẫn nhau, từ đó nâng cao năng lực chuyên môn và hiểu biết về những khác biệt văn hóa - một trong những yếu tố then chốt của báo chí hiện đại. Việc tổ chức các chương trình giao lưu sinh viên quốc tế, thực tập tại các cơ quan báo chí nước ngoài, tham gia các dự án truyền thông đa quốc gia sẽ giúp sinh viên báo chí có cơ hội trải nghiệm thực tiễn trong môi trường báo chí toàn cầu, đồng thời nâng cao kỹ năng làm việc nhóm, khả năng thích ứng và sáng tạo trong xử lý thông tin. Trong một thế giới đa dạng về văn hóa, nhà báo cần có sự nhạy cảm và hiểu biết sâu sắc về các giá trị, tập quán, niềm tin của các cộng đồng khác nhau. Giao lưu đa văn hóa giúp sinh viên báo chí mở rộng thế giới quan, rèn luyện kỹ năng giao tiếp xuyên văn hóa và khả năng đưa tin một cách toàn diện, tránh rơi vào định kiến, khuôn mẫu hoặc thiên lệch. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực báo chí trong kỷ nguyên mới Để xây dựng nền báo chí hiện đại, chuyên nghiệp, nhân văn và phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, cần chú trọng đầu tư cho việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực báo chí, theo đó, cần chú trọng một số giải pháp sau: Một là, cần thống nhất nhận thức về vai trò của đào tạo nguồn nhân lực báo chí cách mạng trong kỷ nguyên số. Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự thành công của báo chí trong kỷ nguyên số. Thực tế cho thấy, nhận thức về vai trò của công tác đào tạo nguồn nhân lực báo chí vẫn chưa đồng đều giữa các cấp, ngành và ở chính các cơ quan báo chí. Một số cơ quan báo chí vẫn xem nhẹ việc đào tạo lại, cập nhật kiến thức, kỹ năng mới cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên. Trong khi đó, một số cơ sở đào tạo báo chí chưa kịp thích nghi với yêu cầu chuyển đổi số, còn lúng túng trong đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy. Do đó, để đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới, cần có sự nhận thức đúng đắn, chiến lược dài hạn và sự chung tay của toàn hệ thống chính trị để xây dựng đội ngũ nhà báo vừa “hồng”, vừa “chuyên”, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Một nhà báo cách mạng vừa giỏi nghiệp vụ, vừa phải kiên định lập trường tư tưởng, có tinh thần trách nhiệm xã hội và ý thức phục vụ nhân dân. Hai là, phát triển đội ngũ giảng viên đào tạo báo chí đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số. Trong kỷ nguyên số, giảng viên báo chí - truyền thông không chỉ đơn thuần là người truyền đạt lý thuyết, mà còn cần là người hướng dẫn, dẫn dắt sinh viên tiếp cận các công nghệ báo chí - truyền thông mới, hiểu và thực hành các kỹ năng báo chí số, đồng thời phát triển tư duy phản biện, đạo đức nghề nghiệp. Phát triển đội ngũ giảng viên báo chí đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số là nhiệm vụ cấp thiết đối với các cơ sở đào tạo báo chí tại Việt Nam nhằm trang bị thêm kỹ năng công nghệ, đổi mới tư duy giáo dục, kết nối chặt chẽ giữa học thuật và thực tiễn. Đồng thời, chương trình đào tạo cần tiếp tục được cập nhật theo hướng tích hợp giữa lý luận báo chí cách mạng, đạo đức nghề nghiệp với kiến thức và kỹ năng số. Thực hiện hiệu quả điều đó sẽ góp phần đào tạo ra những nhà báo năng động, có trách nhiệm và đủ sức cạnh tranh trong môi trường truyền thông số. Học viện Báo chí và Tuyên truyền tổ chức Ngày hội tư vấn tuyển sinh - hướng nghiệp - việc làm_Ảnh: nhandan.vn Ba là, đầu tư nguồn lực xây dựng hạ tầng và công nghệ cho đào tạo báo chí số. Sự phát triển của công nghệ số đang đặt ra yêu cầu các cơ sở đào tạo báo chí phải đầu tư thích đáng vào kết cấu hạ tầng và công nghệ để thích ứng và dẫn dắt sinh viên bước vào kỷ nguyên số. Một cơ sở đào tạo báo chí hiện đại cần trang bị studio truyền hình - phát thanh tích hợp, hệ thống xử lý âm thanh - hình ảnh hiện đại, phòng lab công nghệ số để thực hành dựng tin, sản xuất podcast, video, thiết kế infographic, và phát triển nội dung trên nền tảng số. Không chỉ dừng lại ở phần cứng, các phần mềm hỗ trợ làm báo như Adobe Premiere, Photoshop, After Effects, phần mềm phân tích dữ liệu, công cụ đo lường tương tác mạng xã hội, AI trong biên tập và tổng hợp tin tức... cũng phải được đưa vào giảng dạy và thực hành. Tuy nhiên, việc đầu tư cho kết cấu hạ tầng và công nghệ cần đi đôi với đổi mới chương trình đào tạo, giúp sinh viên nhận thức việc làm báo trong kỷ nguyên số vừa cần sự nhanh nhạy, hấp dẫn và tính chính xác, nhân văn, đi vào chiều sâu vấn đề. Bốn là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học phục vụ đào tạo nguồn nhân lực báo chí. Đào tạo nguồn nhân lực báo chí cách mạng cần được đặt trong chiến lược đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao chất lượng đào tạo và định hướng phát triển báo chí cách mạng trong kỷ nguyên số. Nghiên cứu khoa học là cơ sở để phát triển hệ thống lý luận báo chí hiện đại, định hướng chương trình đào tạo, cập nhật nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu thực tiễn, đồng thời tạo nền tảng đổi mới sáng tạo, ứng dụng các công nghệ mới trong quy trình sản xuất, phân phối, tiêu thụ thông tin. Nguồn nhân lực báo chí hiện đại không chỉ cần kiến thức chuyên môn vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng mà còn phải được trang bị kỹ năng công nghệ, khả năng thích ứng nhanh với môi trường truyền thông đa nền tảng, biết khai thác và sử dụng hiệu quả các công cụ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong quá trình tác nghiệp. Việc đổi mới nội dung, phương pháp và mô hình đào tạo báo chí cần được đẩy mạnh theo hướng thực tiễn, liên ngành và hội nhập quốc tế./. ------------------ (1) Tạ Ngọc Tấn: “Nâng cao tính chuyên nghiệp trong đào tạo nhà báo”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý báo chí - xuất bản theo tư tưởng Hồ Chí Minh , Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2009, tr. 263
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/1220403/duoi-co-dang-ve-vang%2C-chung-suc%2C-dong-long-dung-xay-dat-nuoc-vung-buoc-di-len-chu-nghia-xa-hoi.aspx
Dưới cờ Đảng vẻ vang, chung sức, đồng lòng dựng xây đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội
27-02-2026
Một trong những quyết sách chiến lược, là trụ cột hành động quan trọng được xác lập trong các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng là việc “ xác lập mô hình tăng trưởng mới: Kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Phát triển nhanh nhưng phải bền vững” (1) . Không chỉ cụ thể hóa sâu hơn về mô hình tăng trưởng, Đại hội XIV của Đảng còn nhấn mạnh vấn đề tăng trưởng dựa trên năng suất và chất lượng, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực; yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ sang các mô hình kinh tế dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn… PGS, TS Trần Quốc Toản cho rằng, những nội dung về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường với xây dựng mô hình tăng trường mới, phát triển theo chiều sâu trên nền tảng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; về quản lý phát triển xã hội… thể hiện tư duy nền tảng của Đảng về đổi mới mô hình phát triển, phương thức phát triển, để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Đột phá và hành động Một trong những nội dung xuyên suốt và nổi bật của Đại hội XIV là sự kết hợp chặt chẽ giữa khát vọng phát triển đất nước với yêu cầu hành động quyết liệt. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV là “đột phá”, trong đó chỉ rõ “chủ thể, lộ trình, nguồn lực, đích đến” để triển khai thực hiện. Trong Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ 8 nội dung xuyên suốt, là tinh thần cốt lõi được cô đọng từ Báo cáo chính trị, Chương trình hành động của Đảng, thể hiện rõ yêu cầu “Lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả”; 3 đột phá chiến lược - những đòn bẩy quyết định để đất nước bứt phá, với yêu cầu “phải làm thật mạnh, làm thật nhanh, làm đến nơi đến chốn”. Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng_Ảnh: Tư liệu GS, TS Vũ Văn Hiền cho rằng, nếu Đại hội IV của Đảng có ý nghĩa lịch sử trong việc hoàn thành thắng lợi sự nghiệp thống nhất đất nước; Đại hội VI của Đảng mở ra con đường đổi mới và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì Đại hội XIV có sứ mệnh đưa đất nước bước vào một chặng đường phát triển mới, trên nền tảng 40 năm đổi mới và 50 năm thống nhất đất nước. Những mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội XIV của Đảng đề ra đáp ứng đúng mong mỏi, khát vọng tha thiết của nhân dân, và hiện nay, chúng ta có đầy đủ tiềm lực, cơ sở thực tiễn, có quyết tâm và bản lĩnh để hiện thực hóa những mục tiêu lớn đó. Vấn đề đặt ra là phải tổ chức thực hiện thật tốt, thật quyết liệt, để biến mục tiêu thành kết quả cụ thể, thiết thực trong đời sống của nhân dân và trong sự phát triển bền vững của đất nước. Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa khẳng định, không chỉ xác định mục tiêu, tầm nhìn, Đại hội XIV của Đảng còn định hình cách thức huy động và tổ chức nguồn lực quốc gia, củng cố niềm tin xã hội và tăng cường sức mạnh tổng hợp để phát triển nhanh, bền vững. “Nghị quyết Đại hội sẽ thật sự đi vào cuộc sống khi được chuyển hóa thành hệ giải pháp có mục tiêu rõ, công cụ thực thi cụ thể, cơ chế phối hợp chặt chẽ và thước đo đánh giá minh bạch”. Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Lấy thực thi làm thước đo. Việc hoàn thiện thể chế phát triển và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xác định là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu, khát vọng phát triển. Điểm mới quan trọng của Đại hội XIV của Đảng không chỉ nhấn mạnh vai trò của việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, mà còn là đặt ra yêu cầu khắc phục tình trạng tổ chức thực hiện là khâu yếu. Các văn kiện Đại hội XIV của Đảng coi thể chế vừa là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, vừa là “đột phá của đột phá”. Điều này phản ánh một nhận thức sâu sắc: Nếu không tháo gỡ được những rào cản thể chế, không khơi thông được các nguồn lực đang bị kìm hãm, thì mọi chiến lược phát triển, dù đúng đắn đến đâu, cũng khó đi vào cuộc sống. Phân tích nội dung này, GS, TS Trần Ngọc Đường nhấn mạnh, hoàn thiện thể chế vừa là yêu cầu khách quan của quá trình đổi mới, vừa là điều kiện quyết định để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. “Thể chế không chỉ là hệ thống luật pháp, mà là toàn bộ cơ chế vận hành quyền lực nhà nước, là cách thức Nhà nước tổ chức và quản lý xã hội, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân” . Điểm cốt lõi của đổi mới thể chế hiện nay là chuyển từ tư duy “ban hành quy định” sang tư duy “tạo điều kiện cho phát triển”, trong đó hiệu quả thực thi và trách nhiệm giải trình phải được coi là tiêu chí hàng đầu. Một hệ thống thể chế đồng bộ, minh bạch, ổn định và khả thi là nền tảng để khơi thông nguồn lực, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của xã hội, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội. Theo PGS, TS Trần Quốc Toản, nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng kế thừa những thành quả quan trọng của nhiệm kỳ Đại hội XIII và các nhiệm kỳ trước, đồng thời tiếp tục xây dựng đồng bộ thể chế phát triển trên nền tảng của tư duy mới, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ hội nhập quốc tế; từng bước nh ậ n diện và khắc phục các hạn chế, yếu kém, vượt qua các thách thức, góp phần tạo động lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững. Ở góc độ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu “văn minh trong quản trị”. Điều này đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ. Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa cho rằng, muốn hiện thực hóa nội dung này, cần đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn; nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với phân cấp, phân quyền hợp lý; đề cao trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước; xây dựng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp; chuyển mạnh từ “quản lý” sang “phục vụ”, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ; phát triển chính phủ số/chính quyền số, dữ liệu số và hạ tầng số; bảo đảm an toàn, an ninh mạng; ứng dụng dữ liệu trong điều hành và giám sát thực thi. Tăng cường phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn với xây dựng văn hóa liêm chính; xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật, đồng thời hoàn thiện cơ chế phòng ngừa… Theo TS Phạm Tất Thắng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải phát huy tính đảng, tính nhân dân; gắn với đột phá về thể chế và thực thi, đẩy mạnh cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền kiến tạo phát triển, phục vụ nhân dân, đặc biệt là lấy chất lượng, hiệu quả phục vụ nhân dân và doanh nghiệp làm thước đo. Đổi mới và tăng cường việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước kịp thời, hợp lòng dân; đồng thời, giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội, đây chính là cơ sở quan trọng để củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Có thể thấy, yêu cầu hoàn thiện thể chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng không chỉ dừng lại ở kỹ thuật lập pháp, trở thành chuẩn mực mới đánh giá năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng: thể chế phải thông suốt, bộ máy phải vận hành hiệu quả và mọi cải cách phải được kiểm chứng bằng kết quả thực tế và sự hài lòng của nhân dân. Xác lập mô hình tăng trưởng mới: phát triển nhanh nhưng phải bền vững. Một trong những quyết sách chiến lược, là trụ cột hành động quan trọng được xác lập trong các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng là việc “ xác lập mô hình tăng trưởng mới: Kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Phát triển nhanh nhưng phải bền vững” (1) . Không chỉ cụ thể hóa sâu hơn về mô hình tăng trưởng, Đại hội XIV của Đảng còn nhấn mạnh vấn đề tăng trưởng dựa trên năng suất và chất lượng, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực; yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ sang các mô hình kinh tế dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn… PGS, TS Trần Quốc Toản cho rằng, những nội dung về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường với xây dựng mô hình tăng trường mới, phát triển theo chiều sâu trên nền tảng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; về quản lý phát triển xã hội… thể hiện tư duy nền tảng của Đảng về đổi mới mô hình phát triển, phương thức phát triển, để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Ở bình diện quản trị phát triển, GS, TS Trần Ngọc Đường nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của công tác quy hoạch trong việc hiện thực hóa mô hình tăng trưởng mới. GS, TS Trần Ngọc Đường cho rằng, cần hoàn thiện đồng bộ quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành và quy hoạch địa phương, bảo đảm tính liên thông, tránh chồng chéo, manh mún. “Nếu quy hoạch thiếu tầm nhìn và thiếu kỷ luật thực hiện, thì rất khó triển khai mô hình tăng trưởng mới một cách hiệu quả”. Theo GS, TS Phạm Hồng Tung, chuyển đổi mô hình tăng trưởng không thể chỉ dừng ở định hướng, mà phải được cụ thể hóa bằng các tiêu chuẩn, chuẩn mực và cơ chế đo lường rõ ràng. GS, TS Phạm Hồng Tung cho rằng, “nếu không có tiêu chí đánh giá cụ thể về chất lượng tăng trưởng, thì rất dễ quay trở lại lối phát triển cũ, chạy theo số lượng và thành tích ngắn hạn”. Từ góc nhìn công bằng xã hội, TS Phạm Tất Thắng nhấn mạnh rằng mô hình tăng trưởng mới chỉ thực sự thành công khi người dân được thụ hưởng công bằng thành quả phát triển. Sự phát triển bền vững phải gắn với thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, bảo đảm an sinh xã hội và tạo cơ hội phát triển cho mọi người dân, mọi vùng miền, bảo đảm các nhóm yếu thế được tiếp cận đầy đủ dịch vụ xã hội cơ bản, “không để ai bị bỏ lại phía sau”… Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - động lực trung tâm của phát triển. Đại hội XIV của Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; là phương thức để tạo ra các mô hình kinh doanh mới, việc làm mới, giá trị gia tăng mới (2) . Theo đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được coi là nền tảng quyết định năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh, năng lực tự chủ và khả năng bứt phá của nền kinh tế và của cả hệ thống quản trị quốc gia. GS, TS Phạm Hồng Tung cho rằng, việc xác định đúng về mức độ, sự nghiêm trọng của nguy cơ tụt hậu - thực chất là tụt hậu về trình độ phát triển, về trình độ và năng lực đổi mới sáng tạo - có ý nghĩa mở đường cho những trụ cột chiến lược mang tính đột phá rất mạnh của Đảng ta, nhằm đưa đất nước bước vào một kỷ nguyên phát triển mới. Trong đó, một vấn đề cốt lõi là về lực lượng sản xuất quan trọng bậc nhất của thời đại hiện nay: khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ngay trước Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” được ban hành có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng. Nghị quyết này đã góp phần cởi trói, khơi thông các điểm nghẽn về thể chế, giải phóng các nguồn lực, để chúng ta có thể phát huy tối đa năng lực sáng tạo, tập trung tạo ra bước phát triển mạnh mẽ trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Theo ông, đây cũng là con đường duy nhất để Việt Nam có thể bước vào kỷ nguyên mới một cách bền vững và thành công. PGS, TS Trần Quốc Toản nhấn mạnh, việc Đảng ta quyết tâm đổi mới tư duy, định ra đường lối chiến lược phát triển theo chiều sâu dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới nhanh, bền vững là một nội dung quan trọng, mang tính đột phá. Yêu cầu phát triển theo chiều sâu, đột phá, bứt phá trên nền tảng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ quan điểm chỉ đạo, định hướng phát triển, đến xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển trong dự thảo các văn kiện của Đại hội XIV. Tuy nhiên, việc xây dựng, thực thi thể chế và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo… đều phải dựa vào vai trò chủ thể của nhân tố con người. Do đó, dự thảo các văn kiện nhấn rất đậm nét vào nhiệm vụ phát triển con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đặc biệt là phải hoàn thiện đồng bộ công tác cán bộ, làm nền tảng để đào tạo, sử dụng có hiệu quả cao đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp “thực đức - thực tài”; đào tạo đội ngũ chuyên gia khoa học, công nghệ trình độ cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong giai đoạn mới. Ở bình diện tự chủ quốc gia, Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa cho rằng, vấn đề tạo đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và nhân lực chất lượng cao là động lực then chốt để nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động. Từ góc độ quản trị quốc gia, GS, TS Trần Ngọc Đường khẳng định, chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ vào quản lý, mà phải trở thành phương thức tổ chức lại hoạt động của bộ máy nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Việc chuyển đổi số phải gắn chặt với cải cách thể chế, cải cách hành chính và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Phát triển văn hóa, con người - nền tảng tinh thần xã hội, nguồn lực nội sinh, động lực phát triển. Đại hội XIV của Đảng khẳng định, phát triển bền vững trước hết phải dựa vào con người và văn hóa. Theo đó, cần xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng vươn lên; nuôi dưỡng lòng nhân ái, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ luật; tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ, văn minh trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và trên không gian mạng. Chính sách xã hội phải hướng tới bao trùm, công bằng, hiệu quả, bền vững; bảo đảm an sinh xã hội; đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; phát triển y tế, chú trọng chăm sóc sức khỏe nhân dân; giảm nghèo bền vững; nâng cao chất lượng đời sống. Tăng trưởng kinh tế phải gắn kết chặt chẽ với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, để đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, để xã hội thực sự hài hòa, dân chủ, để người dân tin tưởng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (3) . GS, TS Phạm Hồng Tung đặc biệt tâm đắc với việc tại Đại hội XIV, Đảng đã làm rõ hơn mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và phát triển, khi khẳng định văn hóa không chỉ là kết quả, mà còn là điều kiện và động lực của phát triển. Một xã hội phát triển nhanh nhưng thiếu nền tảng văn hóa vững chắc sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro về đạo đức, lối sống, kỷ cương và niềm tin xã hội , từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của sự phát triển. Toàn cầu hóa là cơ hội để chúng ta tiếp cận các nguồn lực, tri thức và tinh hoa văn hóa của nhân loại, nhưng cũng mang đến nguy cơ làm xói mòn bản sắc dân tộc, khiến con người có thể mất phương hướng về bản sắc, về căn tính và cội nguồn của mình. Bước vào kỷ nguyên mới, cần có những giải pháp chiến lược mạnh mẽ và quyết liệt hơn để văn hóa có đóng góp ngày càng quan trọng việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng cường “sức mạnh mềm” của Việt Nam trên trường quốc tế, cũng như trao truyền, phát huy những giá trị truyền thống trong từng gia đình và trong toàn xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta, với truyền thống và bản lĩnh của mình, luôn chủ động hội nhập nhưng không hòa tan, và phải tỏa sáng bằng chính các giá trị văn hóa truyền thống cũng như sự sáng tạo mang bản sắc Việt. Ở chiều sâu phát triển xã hội, có thể thấy, văn hóa chính là “sức mạnh mềm” để bảo vệ sự ổn định xã hội bền vững. Khi các giá trị văn hóa và chuẩn mực xã hội được củng cố, xã hội sẽ có sức đề kháng tốt hơn trước những tác động tiêu cực từ mặt trái của toàn cầu hóa, kinh tế thị trường… Điều này càng trở nên quan trọng khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển cao hơn, với những thay đổi sâu sắc về cấu trúc xã hội và lối sống. Về phát triển con người, theo GS, TS Phạm Hồng Tung, phải chuẩn bị tốt nhất cho sự phát triển của con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ chủ nhân tương lai đất nước trên mọi phương diện, thông qua đổi mới giáo dục - đào tạo, chăm sóc y tế, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm sự kết nối, khối đoàn kết thống nhất của cộng đồng người Việt Nam ở trong nước với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài... Đây là giải pháp mang tính chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa cũng nhấn mạnh việc cần ưu tiên phát triển giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa; củng cố các dịch vụ xã hội cơ bản và nâng chất lượng đời sống nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hoàn thiện chính sách tiền lương, việc làm, nhà ở xã hội; phát triển thị trường lao động hiện đại; tăng cường bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, hướng tới bao phủ bền vững… Từ góc độ quản trị phát triển, PGS, TS Trần Quốc Toản cho rằng, để đáp ứng yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước trong giai đoạn mới, phải dựa trên động lực chủ yếu là nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát huy vai trò của nguồn lực con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao. Do đó, Đại hội XIV của Đảng nhấn rất đậm nét nhiệm vụ phát triển con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; đào tạo đội ngũ chuyên gia khoa học, công nghệ trình độ cao. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, văn minh là điều kiện quyết định mọi thắng lợi; công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”. Trong toàn bộ hệ thống các giải pháp hành động của Đại hội XIV, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, văn minh được Đảng xác định là điều kiện quyết định mọi thắng lợi . Đảng mạnh là vì có kỷ luật nghiêm, đạo đức cách mạng, tinh thần phụng sự. Từ đó, đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; kiên trì xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; đổi mới tổ chức bộ máy; đẩy mạnh kiểm soát quyền lực; kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ… Một nội dung rất quan trọng, tiếp tục được Đảng xác định là “then chốt của then chốt” tại Đại hội XIV là công tác cán bộ. Theo đó, phải chọn đúng người, giao đúng việc; đánh giá cán bộ bằng sản phẩm, bằng hiệu quả, bằng uy tín trong nhân dân. Thực hiện phương châm “có vào, có ra” , “có lên, có xuống” , kết hợp kỷ luật nghiêm minh với cơ chế bảo vệ hiệu quả cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; không để những phần tử “cơ hội” , “chạy chức, chạy quyền” len lỏi vào tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị. Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa cho rằng, cần đổi mới mạnh công tác cán bộ theo hướng thực chất, lựa chọn đúng người, bố trí đúng việc, kiểm soát quyền lực, chống chạy chức chạy quyền; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Tăng cường, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm; đồng thời, bảo vệ người năng động, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Quy định rõ trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm người đứng đầu gắn với kết quả đầu ra; có cơ chế đánh giá cán bộ đa chiều (tổ chức - nhân dân - chuyên gia); cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ; công khai, minh bạch quy trình; ứng dụng dữ liệu số để theo dõi hồ sơ, quá trình công tác và kết quả thực thi; tăng tính phòng ngừa, cảnh báo sớm; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân… PGS, TS Trần Quốc Toản đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện đồng bộ thể chế công tác cán bộ, làm nền tảng để đào tạo, sử dụng có hiệu quả cao đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp “thực đức - thực tài”. Đoàn kết và phát triển Trong các văn kiện trình Đại hội XIV, Đảng ta khẳng định, đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng sức mạnh quốc gia, hội tụ và phát huy cao nhất sức mạnh của nhân dân, tạo nên sức mạnh vô địch để đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách và vươn tới phát triển phồn vinh, hùng cường. Cần kiên trì thực hiện đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích; bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả phát triển; phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường trách nhiệm, trật tự, kỷ cương; nêu cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cộng đồng với quốc gia, dân tộc (4) . Lời hiệu triệu trong phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội XIV khẳng định yêu cầu hàng đầu, yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp cách mạng chính là phải thống nhất được ý chí và hành động, “ý Đảng” và “lòng dân”, “chung sức đồng lòng”, phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, tất cả vì nhân dân (5) . Đồng chí Hà Thị Khiết khẳng định, tất cả các mục tiêu mà Đại hội XIV của Đảng đề ra chỉ được thực hiện thành công khi có sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đoàn kết, đồng thuận của toàn dân tộc, sự đoàn kết hữu nghị của nhân dân Việt Nam với nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Theo Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa, “chung sức, đồng lòng” không phải là khẩu hiệu chung chung, mà là đòi hỏi của thực tiễn quản trị phát triển. Theo đó, mọi đột phá đều cần đồng thuận xã hội; mọi chương trình lớn đều cần kỷ luật thực thi; mọi chính sách đều cần được đo lường bằng kết quả nâng cao đời sống nhân dân. Nội hàm “đồng lòng” là sự thống nhất giữa mục tiêu đồng thuận lợi ích và đồng hành trách nhiệm, bao gồm: Đồng lòng trong Đảng , đồng thuận trong xã hội, đồng hành trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân . Chung sức, đồng lòng phải được đặt trên nền tảng dân chủ thực chất và niềm tin xã hội. Đồng thuận bằng thể chế minh bạch, đối thoại chân thành, tôn trọng quyền làm chủ và chăm lo lợi ích chính đáng của nhân dân. Từ góc độ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cần xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với sức mạnh thời đại; tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác quốc tế vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới, TS Phạm Tất Thắng cho rằng, “Phát huy dân chủ phải đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xã hội; tăng cường đồng thuận xã hội gắn với đề cao ý thức trách nhiệm của công dân; xử lý nghiêm hành vi lợi dụng dân chủ để chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Cùng với đó, cần tăng cường vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong tập hợp, vận động, đoàn kết nhân dân, trọng tâm là địa bàn cơ sở; đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, thực hành dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới và nguyện vọng chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân… Khẳng định vai trò quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, đồng chí Hà Thị Khiết cũng xác định những yêu cầu, nhiệm vụ đang đặt ra đối với các tổ chức này để góp phần tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo đúng tinh thần Đại hội XIV của Đảng, như: Hoàn thiện đồng bộ các cơ chế hoạt động, tham gia sâu rộng trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; cụ thể hóa các giải pháp, điều kiện để thực hiện, phát huy dân chủ ở cơ sở; xây dựng quy chế, quy định để góp phần thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đưa tinh thần mới của Văn kiện Đại hội XIV vào thực tiễn cuộc sống Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã diễn ra thành công rất tốt đẹp, đánh dấu một mốc son mới trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Đại hội XIV đã thông qua các văn kiện chính trị quan trọng để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Để đưa tinh thần mới của Văn kiện Đại hội vào thực tiễn cuộc sống, PGS, TS Dương Trung Ý, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản nhấn mạnh một số nội dung: Một là, tinh thần đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ và hiệu quả. Đại hội XIV đặt ra yêu cầu đổi mới không chỉ ở tầm chủ trương, quan điểm mà sâu xa hơn là đổi mới tư duy phát triển, phương thức lãnh đạo, quản lý và cách thức tổ chức thực hiện trong toàn bộ hệ thống chính trị. Trọng tâm là chuyển từ tư duy hành chính, mệnh lệnh sang tư duy kiến tạo phát triển, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo. Văn kiện Đại hội đã thể hiện rõ sự đổi mới mạnh mẽ tư duy của Đảng về phát triển, trong đó xác định: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm; thể chế hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng; phát triển xanh, bền vững, hiệu quả, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu bắt buộc; hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng suất lao động là thước đo chất lượng tăng trưởng. Hội thảo khoa học quốc gia “Những giải pháp đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống” được tổ chức ngay sau thành công của Đại hội XIV nhằm đề xuất các giải pháp đồng bộ và khoa học, góp phần đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống_Ảnh: Tư liệu Hai là, tinh thần lấy lợi ích quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất . Đại hội XIV coi đây là nguyên tắc xuyên suốt trong toàn bộ quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối phát triển đất nước. Mọi chủ trương, chính sách không chỉ được xem xét ở góc độ tăng trưởng kinh tế hay hiệu quả trước mắt, mà trước hết phải hướng tới nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, củng cố niềm tin xã hội, bảo đảm công bằng, tiến bộ và “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Lấy lợi ích quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất là bước chuyển lớn trong nhận thức và định hướng phát triển của Đảng. Đặt hạnh phúc, chất lượng sống và sự phát triển toàn diện của nhân dân vào vị trí trung tâm của mọi quyết sách; đồng thời gắn chặt phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, độc lập, chủ quyền, tạo nền tảng bền vững cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Ba là, tinh thần tự lực, tự cường, tự tin và tự hào dân tộc, nền tảng sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh mới. Qua từng chặng đường lịch sử, Việt Nam luôn phải đối mặt với những thế lực lớn mạnh hơn gấp nhiều lần, những biến động địa - chính trị phức tạp, những thử thách nội tại của quá trình phát triển. Điều kỳ diệu là dân tộc Việt Nam không chỉ đứng vững mà còn trưởng thành mạnh mẽ qua mỗi thử thách. Cội nguồn của sức sống mãnh liệt ấy chính là tinh thần tự lực, tự cường, được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử, là niềm tự tin vào bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc và là lòng tự hào dân tộc của mỗi người dân Việt Nam. Bốn là, tinh thần “tự chủ chiến lược” - bước phát triển mới trong tư duy lý luận và tầm nhìn kiến tạo quốc gia của Đảng. Quan điểm về “tự chủ chiến lược” chính sự là kế thừa và phát triển mạch nguồn tư tưởng xuyên suốt của Đảng về độc lập dân tộc, quyền tự quyết và ý chí tự lực, tự cường, được hun đúc từ truyền thống dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện sự chủ động lựa chọn mô hình, con đường phát triển, định vị quốc gia trong cấu trúc khu vực và toàn cầu, khẳng định bản lĩnh và sức mạnh của Việt Nam trước mọi biến động của thời đại. Năm là, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên . Trọng tâm của tinh thần này là đề cao bản lĩnh, trách nhiệm và khát vọng cống hiến của cán bộ, nhất là người đứng đầu, khuyến khích chủ động đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám hành động vì lợi ích chung, đồng thời khắc phục triệt để tâm lý sợ sai, né tránh, bệnh sợ và đùn đẩy trách nhiệm. Đại hội XIV khẳng định rõ, giá trị của nghị quyết không nằm ở câu chữ hay khẩu hiệu, mà được kiểm chứng bằng kết quả cụ thể trong thực tiễn; bằng những sản phẩm đo đếm được, hiệu quả nhìn thấy rõ và mức độ hài lòng ngày càng cao của nhân dân. Sáu là, tinh thần hành động quyết liệt, nói ít, làm nhiều và làm đến nơi, đến chốn, làm đến cùng. Các văn kiện Đại hội XIV của Đảng còn thể hiện nhiều nội dung tinh thần mới, quan trọng khác trên các lĩnh vực, trong đó có tinh thần mới trong khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, coi đây như một giá trị cốt lõi, xuyên suốt toàn bộ đường lối phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Theo PGS, TS Dương Trung Ý, Đại hội XIV của Đảng mở ra một chặng đường phát triển mới, với nhiều thời cơ lớn nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Đưa tinh thần mới của Văn kiện Đại hội XIV vào thực tiễn cuộc sống là trách nhiệm chính trị, là mệnh lệnh công tác, là thước đo và minh chứng sinh động, thiết thực nhất đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đồng thời là yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước./. ---------------------- (1) GS, TS Tô Lâm: “Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 20-1-2026, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/bao-cao-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-cua-dang-cong-san-viet-nam (2) , (3), (4) Xem: GS, TS Tô Lâm: “Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, Tlđd (5) “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chúng ta hãy chung sức đồng lòng, giữ vững niềm tin, nêu cao trách nhiệm, phát huy trí tuệ, khơi dậy khát vọng; làm cho mỗi năm, mỗi tháng, mỗi ngày sau Đại hội đều có kết quả cụ thể, có chuyển biến thực chất; để nhân dân thấy, nhân dân tin, nhân dân ủng hộ, nhân dân đồng hành và nhân dân thụ hưởng”. Xem: GS, TS Tô Lâm: “Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, Tlđd
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/1220402/duoi-co-dang-ve-vang%2C-chung-suc%2C-dong-long-dung-xay-dat-nuoc-vung-buoc-di-len-chu-nghia-xa-hoi.aspx
Dưới cờ Đảng vẻ vang, chung sức, đồng lòng dựng xây đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội
26-02-2026
Ý nghĩa chính trị đặc biệt trọng đại và tính chất “bản lề”, định hình tương lai lâu dài của quốc gia - dân tộc
Ý nghĩa chính trị đặc biệt trọng đại và tính chất “bản lề”, định hình tương lai lâu dài của quốc gia - dân tộc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong bối cảnh cục diện thế giới thay đổi nhanh, phức tạp, khó lường; cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt trên hầu hết các lĩnh vực; quá trình toàn cầu hóa, hội nhập, hợp tác quốc tế đang đứng trước những tác động ngược chiều nghiêm trọng; chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang trỗi dậy, luật pháp quốc tế, các thiết chế đa phương, song phương đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, đang tăng tốc mạng mẽ… đang tạo ra nhiều cơ hội lớn cho sự phát triển song hành không ít thách thức. Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chặng đường phát triển mới của đất nước_Ảnh: kinhtedothi.vn Ở trong nước, sau 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; tiềm lực, cơ đồ, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao hơn. Tuy nhiên, sự phát triển của nước ta còn khoảng cách không nhỏ so với các nước phát triển hơn trong khu vực; mô hình tăng trưởng kinh tế chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn nhiều mặt yếu kém; nguy cơ tụt hậu, rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” vẫn còn hiện hữu; thể chế phát triển vẫn đang là “điểm nghẽn của những điểm nghẽn”. Từ bối cảnh quốc tế và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Đại hội lần này là dịp trọng đại để Đảng đánh giá toàn diện về 40 năm đổi mới, nhất là nhiệm kỳ 2020 - 2025 và định hình quỹ đạo phát triển trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đề ra và lãnh đạo tổ chức thực hiện những quyết sách mang tính chiến lược, lâu dài, tác động sâu rộng đến tương lai đất nước, thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, năng lực tự đổi mới và tư duy cầm quyền ngày càng trưởng thành của Đảng. Phân tích sâu sắc bối cảnh quốc tế và trong nước, PGS, TS Trần Quốc Toản, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ đánh giá: “Việc xác định đường lối, chiến lược, quyết tâm để đưa đất nước bước bước vào kỷ nguyên phát triển mới - phát triền nhanh - bền vững, trở thành một nước phát triển vào năm 2045 là ý nghĩa lịch sử to lớn của Đại hội XIV của Đảng”. Đồng chí Hà Thị Khiết, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Dân vận Trung ương, khẳng định, trong bối cảnh Việt Nam đang đứng trước những thời cơ phát triển nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức gay gắt, đòi hỏi phải có tư duy chiến lược mới, bản lĩnh chính trị vững vàng và năng lực thích ứng linh hoạt. “Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là dấu mốc có ý nghĩa sâu sắc đối với vận mệnh và tương lai phát triển của đất nước; đưa ra những quyết sách mang tính đột phá, giải quyết tận gốc các điểm nghẽn phát triển, mở ra không gian phát triển mới, khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới sáng tạo của toàn xã hội, mở ra kỷ nguyên phát triển mới của đất nước chuyển từ giai đoạn “tăng trưởng tích lũy” sang giai đoạn phát triển bứt phá”. Bàn về ý nghĩa chính trị đặc biệt của Đại hội XIV, Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng khẳng định: “Trong bối cảnh thời cơ, thách thức đan xen, Đại hội XIV là dấu mốc để tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố niềm tin xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời, định vị rõ hơn mô hình phát triển gắn với kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển khu vực kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Tầm vóc lịch sử của Đại hội còn ở chỗ tạo ra xung lực cải cách mạnh mẽ, nhất là về thể chế, tổ chức bộ máy, kỷ luật, kỷ cương, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh để đủ năng lực dẫn dắt đất nước vượt qua thách thức, nắm bắt cơ hội và tiến nhanh hơn trên con đường phát triển”. Theo PGS, TS Nguyễn Văn Giang, nguyên Phó Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, “Đại hội XIV sẽ đi vào lịch sử với tầm vóc một bước ngặt, một dấu mốc lớn mở ra thời kỳ phát triển mới của cách mạng và dân tộc Việt Nam ”, “là dấu mốc mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh, cục diện mới, tiến tới hai mục tiêu chiến lược: 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và 100 năm thành lập nước, đưa đất nước phát triển hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc ta”. GS, TS Phạm Hồng Tung cho rằng, nếu như Đại hội VI của Đảng đã đưa dân tộc ta vượt qua cuộc khủng hoảng của mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ, của tư duy giáo điều, chủ quan, duy ý chí, của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, tiến hành đổi mới thành công, củng cố chế độ ngày càng vững chắc, thì Đại hội XIV “có sứ mệnh đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, trở thành một quốc gia phát triển, sánh vai với các nước hiện đại và thịnh vượng trên thế giới”. Đại hội XIV của Đảng thể hiện rõ việc đổi mới tư duy phát triển, chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển, nhấn mạnh tinh thần “hành động”, “vì dân”, khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của năng lực tổ chức, thực thi, đo lường hiệu quả bên cạnh việc đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, đủ tầm chiến lược… Nhấn mạnh yêu cầu “vì dân”, khơi dậy và quy tụ sức mạnh của nhân dân, TS Phạm Tất Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương khẳng định: “Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là cội nguồn sức mạnh nội sinh to lớn được khơi dậy, phát triển, định hướng đúng đắn, làm nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam”. Đại hội XIV của Đảng khẳng định ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta với tinh thần tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới. Xét về tầm vóc lịch sử, có thể nói, Đại hội XIV của Đảng là bước ngoặt lịch sử trong tiến trình cách mạng Việt Nam. GS, TS Vũ Văn Hiền khẳng định: “Điểm trung tâm và then chốt của Đại hội là xác lập tầm nhìn chiến lược mới, tạo cơ sở để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với những điều kiện và tiền đề đã được tích lũy tương đối đầy đủ”. Tinh thần làm nên sức sống và ý nghĩa chiến lược sâu sắc của Đại hội XIV là ở chỗ, “Đảng đã khéo léo gắn kết khát vọng phát triển của dân tộc với những điều kiện mới của thời đại, cụ thể hóa bằng các quyết sách rõ ràng, khả thi. Những định hướng, quyết sách của Đảng cho thấy quyết tâm đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển bứt phá, không chấp nhận tụt hậu, không để lỡ nhịp và nhất định phải vươn lên”. Những điểm mới, nội dung nổi bật và đột phá Tư duy định hình chiến lược phát triển dài hạn và tích hợp hệ thống Trong báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định yêu cầu: “Phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình; phải quyết tâm đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia; phải hành động mạnh mẽ, quyết liệt, đột phá, hiệu quả, vì một Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” (1) . Điều này phản ánh bước phát triển trong tư duy xây dựng văn kiện, phương pháp tiếp cận chính sách và cách thức thể hiện năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn phát triển mới; đồng thời, cũng chính là nền tảng để nhận diện những điểm mới, đột phá từ Đại hội XIV của Đảng. Các văn kiện trình Đại hội XIV (trong đó có Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 - 2025) và đề xuất, định hướng sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng XIV) thể hiện sự chuyển dịch rõ rệt sang tư duy chiến lược dài hạn, gắn các mục tiêu trước mắt với các mốc phát triển có ý nghĩa lịch sử đến năm 2030 và 2045. Đại hội không chỉ đề ra mục tiêu, nhiệm vụ cho nhiệm kỳ 2026 - 2030, mà còn quyết định những vấn đề mang tầm chiến lược đối với tương lai và vận mệnh của dân tộc ta trong nhiều thập niên tới. Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa cho rằng, những định hướng chiến lược của Đại hội XIV sẽ tạo ra “khung dẫn dắt phát triển” cho đất nước trong kỷ nguyên mới: vừa bám chắc nền tảng độc lập, tự chủ và mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội, vừa chủ động thích ứng với những biến động rất nhanh, rất phức tạp của tình hình thế giới và khu vực. Đây là các định hướng có tác động lâu dài vì không chỉ xác định mục tiêu, tầm nhìn, mà còn định hình cách thức huy động và tổ chức nguồn lực quốc gia, củng cố niềm tin xã hội và tăng cường sức mạnh tổng hợp để phát triển nhanh, bền vững. Cùng quan điểm đó, PGS, TS Nguyễn Văn Giang khẳng định, những định hướng chiến lược của Đại hội XIV có tầm vóc thời đại, “không chỉ đề ra mục tiêu, định hướng nhiệm vụ cho nhiệm kỳ 2026 - 2030, mà còn quyết định những vấn đề mang tầm chiến lược đối với tương lai và vận mệnh của dân tộc ta trong nhiều thập niên tới”, thể hiện bản lĩnh kiên định, ý chí quyết tâm và tinh thần đại đoàn kết của toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây cũng chính là “bản thiết kế vĩ đại” để đưa Việt Nam phát triển mạnh mẽ, thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”, hiện thực hóa “hai mục tiêu 100 năm”, để đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Cùng với việc xác lập tầm nhìn chiến lược dài hạn, các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng còn thể hiện tư duy hệ thống, nhất quán, xuyên suốt khi tích hợp đồng bộ các nội dung về chính trị, kinh tế - xã hội và xây dựng Đảng trong một chỉnh thể thống nhất . Theo đó, Báo cáo chính trị tích hợp đồng bộ 3 báo cáo (Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội và Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng), tạo thành một chỉnh thể thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm, “ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ triển khai”. Đây không chỉ là đổi mới về hình thức trình bày, mà phản ánh tư duy lãnh đạo mang tính hệ thống, là sự thay đổi trong cách tiếp cận tư duy chính sách: coi phát triển kinh tế, xây dựng Đảng và quản trị xã hội là những lĩnh vực gắn bó hữu cơ với nhau, không thể tách rời. Theo đồng chí Hà Thị Khiết, đây là một điểm mới rất đáng chú ý, thể hiện sự đổi mới tư duy mạnh mẽ của Đảng ta. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam của Bộ Chính trị, ngày 25-2-2026_Ảnh: TTXVN Tinh thần hành động xuyên suốt và yêu cầu đo lường kết quả thực thi Trong các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, một nội dung mang tính đột phá là tinh thần hành động xuyên suốt và yêu cầu đo lường kết quả tổ chức thực hiện. Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ, điểm yếu lớn nhất của chúng là nhiều chủ trương đúng nhưng tổ chức thực hiện chưa đạt yêu cầu. Vì vậy, các văn kiện của Đảng lần này nhấn mạnh phương châm hành động “Nói ít - làm nhiều - làm đến cùng”; đề cao trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cán bộ; kiên quyết khắc phục tình trạng “nói nhiều làm ít” , “nói hay, làm dở” , thậm chí “nói không đi đôi với làm” ; thiếu kiểm tra, giám sát; đề ra mục tiêu cao nhưng triển khai chậm, hiệu quả thấp. Từ đó, đồng chí nêu rõ 5 nhóm việc - hành động để biến quyết tâm thành kết quả, trong đó nhóm việc đầu tiên là “cụ thể hóa văn kiện thành chương trình, kế hoạch với mục tiêu rõ ràng, chỉ tiêu đo lường được, thời hạn và phân công trách nhiệm cụ thể; mọi việc phải có người chịu trách nhiệm đến cùng; không để tình trạng “cha chung không ai khóc”, “chuyền trách nhiệm cho nhau” ” (2) . Từ đây, có thể thấy yêu cầu năng lực lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn mới “phải được đo bằng kết quả thực thi, chứ không chỉ bằng tính đúng đắn của chủ trương” . Bởi vậy, Báo cáo chính trị xác định 12 định hướng lớn, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược. Chương trình hành động đã cụ thể hóa các nhiệm vụ có thể triển khai thực hiện ngay. Tinh thần cốt lõi được cô đọng trong 8 nội dung quan trọng, thể hiện rõ yêu cầu: “Lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả” (3) . Theo GS, TS Phạm Hồng Tung, có thể gọi Đại hội XIV của Đảng là “Đại hội của hành động”, “chỉ có hành động mới tạo ra kết quả, và có kết quả tốt mới tạo dựng được niềm tin của nhân dân. Đó cũng là cách để tăng cường, củng cố niềm tin của nhân dân, làm cho “ý Đảng” và “lòng dân” trở thành một khối thống nhất”. PGS, TS Trần Quốc Toản cũng khẳng định, việc Đảng xây dựng các văn kiện trình Đại hội XIV theo hướng tăng tính định hướng, chỉ đạo, tính hành động, nêu rõ định hướng các giải pháp để triển khai trong thực tiễn và xây dựng Chương trình hành động trên tất cả các lĩnh vực, trong đó xác định rõ “chủ thể, lộ trình, nguồn lực, đích đến” là một bước đổi mới đột phá quan trọng. Bổ sung thành tố mới vào nền tảng tư tưởng của Đảng và xác định nhiệm vụ xây dựng “Đảng văn minh” Trên lĩnh vực xây dựng Đảng, một điểm mới mang tính nền tảng tư tưởng được Đảng ta xác lập tại Đại hội XIV chính là việc bổ sung lý luận về đường lối đổi mới trong quan điểm “kiên định hệ quan điểm chỉ đạo mang tính nguyên tắc về sự lãnh đạo của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới, không ngừng bổ sung, hoàn thiện phù hợp với thực tiễn” (4) . Theo PGS, TS Nguyễn Văn Giang, đây là bước phát triển lý luận có ý nghĩa lịch sử, thể hiện sự trưởng thành về tư duy lý luận, năng lực tổng kết thực tiễn và bản lĩnh tự đổi mới của Đảng. Lý luận về đường lối đổi mới là thành quả to lớn của công tác lý luận qua 40 năm đổi mới, là sự vận dụng và phát triển sáng tạo, cụ thể hóa các nguyên tắc, các nguyên lý phổ quát của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đổi mới của Việt Nam. Đó là hệ thống lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về mô hình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển khoa học - công nghệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo; về xây dựng nền quốc phòng, an ninh và đối ngoại, hội nhập quốc tế; về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện… Cùng với đó, trong báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, văn minh là điều kiện quyết định mọi thắng lợi” (5) . Theo PGS, TS Nguyễn Văn Giang, đ iểm mới này phản ánh sự phát triển mang tính đột phá về lý luận và thực tiễn xây dựng Đảng. Đây không chỉ là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn thể hiện tinh thần cách mạng của Đảng, luôn tự đổi mới, tự nâng mình lên theo yêu cầu phát triển của cách mạng, của đất nước, của thời đại. “Đảng văn minh” là yêu cầu rất cao, là kết tinh của trí tuệ, đạo đức, tính cách mạng và khoa học của Đảng; là trình độ phát triển cao của “tính tiên phong” của Đảng. Xác lập mô hình tăng trưởng mới Trong các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, việc “xác lập mô hình tăng trưởng mới” là nội dung quan trọng được tập trung cụ thể hóa và làm sâu sắc hơn. Theo đó, “xác lập mô hình tăng trưởng mới: Kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn” ; phát triển nhanh nhưng phải bền vững; chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng phải được triển khai quyết liệt, bài bản, gắn với an ninh năng lượng, an ninh môi trường và yêu cầu cạnh tranh; phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế… (6) . Cùng với đó, tiếp tục tư tưởng của Đại hội XIII, việc xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển được Đại hội XIV của Đảng quán triệt đậm nét trong định hướng nhiệm vụ và giải pháp phát triển của tất cả các lĩnh vực; được xác định là một đột phá chiến lược trọng yếu trong giai đoạn mới. Bàn về vấn đề này, PGS, TS Trần Quốc Toản cho rằng, những định hướng chỉ đạo quan trọng, cơ bản nêu trong Văn kiện của Đại hội XIV, như về đổi mới và hoàn thiện thể chế chính trị, đặc biệt là tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý - quản trị - kiến tạo của nhà nước pháp quyền, trong đó có nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính quyền 3 cấp; về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường với xây dựng mô hình tăng trường mới, phát triển theo chiều sâu trên nền tảng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; về quản lý phát triển xã hội; về phát triển tất cả các lĩnh vực khác… đều thể hiện tư duy nền tảng về đổi mới mô hình phát triển, phương thức phát triển, để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, được mở đầu từ Đại hội XIV của Đảng. “Dân là gốc”: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển Một nội dung xuyên suốt trong các văn kiện Đại hội XIV của Đảng là việc khẳng định “Dân là gốc: thước đo cao nhất của mọi quyết sách” và “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển”. Theo đó, mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải hướng tới nâng cao mọi mặt đời sống và hạnh phúc của nhân dân, lấy sự hài lòng và niềm tin của nhân dân làm thước đo hiệu quả lãnh đạo; phải thấy được lợi ích của người dân, mong muốn của người dân, huy động sự tham gia của nhân dân. TS Phạm Tất Thắng khẳng định, quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”, phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ là nguồn lực quan trọng, động lực để phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới… Theo đồng chí Hà Thị Khiết, nhân dân là cội nguồn sức mạnh của Đảng ta, bởi vậy, việc phát huy sức mạnh nhân dân sẽ tạo ra nguồn lực to lớn về vật chất và tinh thần, là yếu tố then chốt thúc đẩy công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới. Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa cũng nhấn mạnh, khi Đảng giữ vững nguyên tắc, bám sát cuộc sống, phát huy dân chủ, tôn trọng và dựa vào nhân dân, thì sức mạnh “ý Đảng, lòng dân” sẽ được khơi dậy mạnh mẽ và chuyển hóa thành nguồn lực phát triển. Việc Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”, theo GS, TS Vũ Văn Hiền, cũng là minh chứng thể hiện sự “đồng điệu” giữa “ý Đảng” và “lòng dân”, đáp ứng được mong mỏi, khát vọng tha thiết của toàn thể nhân dân ta, bởi “Không gì quý hơn độc lập, tự do; và không có gì bảo đảm vững chắc hơn việc nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc”. Vai trò của chủ thể nhân dân, của nguồn lực con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao là một trong những nội dung trong các văn kiện của Đại hội XIV được PGS, TS Trần Quốc Toản đề cập và nhấn mạnh. Theo đồng chí, Đại hội XIV đã nhấn rất đậm nét các nhiệm vụ phát triển con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đặc biệt là phải hoàn thiện đồng bộ thể chế công tác cán bộ, làm nền tảng để đào tạo, sử dụng có hiệu quả cao đội ngũ cán bộ lãnh đạo - quản lý các cấp “thực đức - thực tài”; đào tạo đội ngũ chuyên gia khoa học, công nghệ trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh - bền vững trong giai đoạn mới. Có thể nói, sự đồng bộ về nguồn lực con người chất lượng cao, trình độ cao - thể chế phát triển phù hợp - công nghệ cao sẽ tạo nên “cỗ xe tam mã” tạo động lực mạnh mẽ, đưa đất nước phát triển bứt phá, nhanh - bền vững trong kỷ nguyên mới. Nội dung này cũng là điều được GS, TS Phạm Hồng Tung chia sẻ và đặc biệt tâm đắc ở Đại hội XIV của Đảng. Tư duy chiến lược mới về vị thế quốc gia, xác định “đối ngoại” là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên Tư duy chiến lược mới của Đảng về vị thế quốc gia được thể hiện rõ nét ngay trong báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV, khẳng định Đại hội lần này “là dấu mốc mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh, cục diện và mục tiêu mới; là đại hội của ý chí tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, của khát vọng vươn lên” (7) . Tinh thần “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin” được Đảng xác lập dựa trên cơ sở vững chắc của những thành tựu quan trọng mà đất nước đạt được sau 40 năm đổi mới. Cùng với đó, từ việc xác định giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, một điểm mới quan trọng tại Đại hội XIV của Đảng là việc xác định “đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên” cùng với tăng cường quốc phòng, an ninh. Về vấn đề này, Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa luận giải: “Sức mạnh tổng hợp quốc gia được bảo đảm bởi môi trường hòa bình, ổn định và năng lực xử lý kịp thời các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống. Trong bối cảnh thế giới biến động, cần kiên định lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời chủ động hội nhập để tranh thủ nguồn lực và nâng cao vị thế đất nước”. Việc các văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định yêu cầu “tự chủ chiến lược” và đặt quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong tổng thể nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên phản ánh bước phát triển mới trong tư duy về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, tạo nền tảng an toàn cho phát triển bền vững. GS, TS Vũ Văn Hiền cho rằng, việc nâng tầm đối ngoại trên cơ sở tự chủ chiến lược sẽ là “yếu tố làm thay đổi căn bản vị thế của đất nước, qua đó hỗ trợ mạnh mẽ cho quốc phòng, an ninh và cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội”. Trong buổi họp báo quốc tế sau Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Việt Nam xác định rõ trách nhiệm của mình đối với các vấn đề toàn cầu và quốc tế; chủ trương hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh của nhân loại. Với tư cách là một thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, Việt Nam cho rằng, các quốc gia dù lớn hay nhỏ đều có trách nhiệm chung đối với các vấn đề toàn cầu”. Hội nhập quốc tế không chỉ là động lực phát triển quan trọng mà còn là phương thức hàng đầu để thực hiện các mục tiêu chiến lược của đất nước. Xác định hội nhập kinh tế là trung tâm; hội nhập chính trị, quốc phòng, an ninh hướng tới mục tiêu nâng cao tiềm lực quốc gia, đi đôi với tăng cường tự chủ chiến lược; giải quyết các vấn đề tồn tại bằng biện pháp hòa bình, đối thoại trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, ứng phó hiệu quả, kịp thời với các thách thức an ninh phi truyền thống; hội nhập khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu; hội nhập trên các lĩnh vực cần gắn với việc khắc phục các điểm nghẽn, tiếp thu kinh nghiệm và các sáng kiến quốc tế (8) … Điều này phần nào phản ánh sự dịch chuyển tư duy của Đảng ta từ hội nhập sâu rộng sang hội nhập đầy đủ và sự chủ động trong hội nhập trên các lĩnh vực mới. Phân tích “thế và lực”, vị thế đối ngoại của Việt Nam sau 40 năm đổi mới, GS, TS Vũ Văn Hiền khẳng định, “Đảng ta có nhận thức rất sắc nét và sâu sắc về vai trò của đối ngoại trong giai đoạn hiện nay”. Bởi vậy, nếu như trước đây, đối ngoại thường được Đảng nhấn mạnh là lực lượng tiên phong trong việc mở rộng quan hệ quốc tế và góp phần bảo vệ Tổ quốc, thì nay, quốc phòng, an ninh và đối ngoại được Đảng nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ hữu cơ, khăng khít với nhau. Quốc phòng, an ninh góp phần làm cho đối ngoại mạnh mẽ hơn, vững chắc hơn, tạo thêm thế và lực cho đất nước. Ngược lại, đối ngoại giúp quốc phòng và an ninh có cái nhìn thấu đáo, toàn diện hơn về thế giới, về khu vực và về các nhiệm vụ đặt ra trong thời gian tới. Thông qua đối ngoại, chúng ta mở rộng hợp tác, thu hút các đối tác chiến lược, tiếp cận nguồn lực, khoa học - công nghệ tiên tiến, từ đó tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh. Có thể khẳng định, những nội dung nổi bật và đột phá trong các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng thể hiện sâu sắc sự đổi mới tư duy lý luận và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Từ việc đánh giá toàn diện chặng đường 40 năm đổi mới, nhận diện đầy đủ thời cơ, thách thức, đến việc xác lập tầm nhìn, mục tiêu và những định hướng chiến lược lớn cho giai đoạn phát triển tiếp theo, Đại hội XIV của Đảng đã thể hiện rõ bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm của Đảng trước dân tộc, mở ra giai đoạn phát triển mới của lịch sử dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trên cơ sở nhận thức, quán triệt sâu sắc tinh thần của Đại hội, điều quan trọng là làm sao để chuyển hóa những định hướng chiến lược của Đại hội vào thực tiễn một cách có hiệu quả, với những kết quả thực chất. /. (Tiếp theo kỳ 2) ---------------------------- (1) GS, TS Tô Lâm: “Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 20-1-2026, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/bao-cao-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-cua-dang-cong-san-viet-nam (2) , (3), (4), (5), (6), (7) GS, TS Tô Lâm: “Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, Tlđd (8) Xem: “Tổng Bí thư Tô Lâm trả lời câu hỏi của các phóng viên quốc tế tại họp báo sau Đại hội XIV”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 24-1-2026, https://nhandan.vn/tong-bi-thu-to-lam-tra-loi-cau-hoi-cua-cac-phong-vien-quoc-te-tai-hop-bao-sau-dai-hoi-xiv-post938905.html
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/825307/bai-hoc-ve-thoi-co-cua-cach-mang-thang-tam-nam-1945--va-su-van-dung-trong-dieu-kien-cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-hien-nay.aspx
Bài học về thời cơ của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự vận dụng trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay
28-04-2022
Quá trình nhận thức của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Quá trình nhận thức của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Ngay từ khi ra đời, trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về khởi nghĩa vũ trang, về chiến tranh đế quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bước đầu xác định: Chiến tranh đế quốc sẽ tạo thời cơ cho cách mạng giải phóng dân tộc. Năm 1930, trong cuốn “ Ngày quốc tế đỏ ”, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Trong xã hội tư bổn, sự chiến tranh là không thể tránh khỏi […]. Trong cái thời kỳ chiến tranh đế quốc và cách mạng toàn thế giới này, sự chiến tranh của vô sản chống tư bổn không thể tránh khỏi; sự chiến tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức cũng không thể tránh khỏi […]. Khi các nước đế quốc đánh nhau […] các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa phải nổi lên, đổi sự chiến tranh đế quốc ra làm sự chiến tranh giải phóng chống đế quốc chủ nghĩa” (1) . Đây là sự phát triển từ khẩu hiệu “biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng” của V.I. Lê-nin trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất giữa các nước đế quốc, vào hoàn cảnh thực tiễn ở các thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Ngày 1-11-1930, trong “ Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm Ngày Cách mạng Tháng Mười ở Liên Xô ”, Đảng ta khẳng định: “Nếu chủ nghĩa đế quốc tuyên bố chiến tranh, phải đứng lên làm cách mạng, phải biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh giải phóng” (2) . Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về khởi nghĩa vũ trang và tình thế cách mạng, trong tác phẩm Con đường giải phóng , Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên ba điều kiện của thời cơ khởi nghĩa: Một là , chính quyền thực dân đế quốc đã lung lay bối rối đến cao độ, chúng đã cảm thấy không thể nào ngồi yên giữ địa vị của chúng như trước. Hai là , quần chúng nhân dân đói khổ đã căm thù thực dân đế quốc đến cực điểm, đã thấy cần phải đồng tâm hiệp lực, nổi dậy lật đổ ách thống trị của đế quốc thực dân, vì mọi người hiểu rằng nếu ngồi yên cũng chết. Ba là , đã có một chính đảng cách mạng đủ sức tổ chức lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy khởi nghĩa theo một đường lối đúng đắn, một kế hoạch phù hợp, bảo đảm giành thắng lợi cho cuộc tổng khởi nghĩa (3) . Trước tình hình cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai ngày càng lan rộng và trở nên khốc liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nước, triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5-1941). Trung ương Đảng nhận định và dự đoán: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công” (4) . Đây là một bước cụ thể hóa thêm những dự đoán của Đảng ta về thời cơ của cách mạng Việt Nam. Sau khi phát xít Nhật đảo chính hất cẳng thực dân Pháp độc chiếm Đông Dương, trong Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta ” (ngày 12-3-1945), Trung ương Đảng đã nhận định sáng suốt rằng, bây giờ tình hình đã có nhiều thuận lợi mới, nhưng “điều kiện khởi nghĩa… hiện nay chưa thực chín muồi”. Đồng thời, Trung ương Đảng cũng dự kiến những hoàn cảnh thuận lợi để thực hiện tổng khởi nghĩa, như khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương đánh Nhật đã bám chắc, tiến sâu trên đất ta và quân Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồng minh, để phía sau lưng sơ hở thì đó là lúc phát động khởi nghĩa vô cùng thuận lợi. Hoặc cũng có thể là lúc “nếu cách mạng Nhật bùng nổ, và chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật thành lập hay nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940, và quân đội viễn chinh của Nhật mất tinh thần, thì khi ấy dù quân Đông minh chưa đổ bộ, cuộc tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi” (5) . Như vậy về cơ bản, cho đến trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, nhận thức của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về thời cơ cách mạng, thời cơ của tổng khởi nghĩa giành lại độc lập dân tộc đã được định hình và thể hiện rất cụ thể trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng. Nhưng vấn đề mấu chốt ở đây là, để có thể nhận thức đầy đủ những điều kiện, những thời cơ của cách mạng ấy, Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã phải trải qua một quá trình đấu tranh thực tiễn đầy gian khổ và tổng kết lý luận không ngừng, với sự hy sinh của biết bao chiến sĩ, đồng bào, trên cơ sở sự vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và truyền thống đấu tranh của dân tộc, từ đó mà xây dựng nên lý luận cách mạng Việt Nam. Đó là điều kiện quan trọng nhất để những nhận thức về thời cơ và những dự đoán về thời cơ cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn luôn phù hợp với thực tiễn, với xu thế phát triển của hiện thực khách quan. Những ngày Tháng Tám sôi sục ở Thủ đô Hà Nội_Ảnh: TTXVN Kiên quyết chớp thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Chớp đúng thời cơ khởi nghĩa là một vấn đề có ý nghĩa quyết định tới thắng lợi của mọi cuộc cách mạng. Nhận thức rõ tính chất quyết định, ý nghĩa chiến lược của thời cơ khởi nghĩa, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hành động kịp thời và kiên quyết trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Thời cơ của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chỉ xuất hiện khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện, hàng ngũ chỉ huy của Nhật ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm, quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần, bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ. Đồng thời, thời cơ cách mạng xuất hiện cũng là lúc mọi chuẩn bị của Đảng ta về lực lượng, đường lối, phương châm tác chiến đã hoàn thiện, khi mà cao trào cứu nước của toàn dân đã dâng lên tới đỉnh cao nhất. Các cuộc khởi nghĩa từng phần đã nổ ra và thắng lợi ở nhiều vùng. Khu giải phóng và căn cứ địa được lập ra trong cả nước, quân đội cách mạng đã được thành lập, chiến tranh du kích phát triển và lan rộng; “đội quân chính trị” của quần chúng nhân dân bao gồm hàng chục triệu người được tập hợp trong Mặt trận Việt Minh đã sẵn sàng chiến đấu. Nhưng thời cơ này không tồn tại vĩnh viễn, mà sẽ biến mất khi quân Đồng minh tiến vào nước ta để tước vũ khí của phát xít Nhật. Với bản chất thực dân đế quốc phản cách mạng, quân Đồng minh chắc chắn sẽ cấu kết với lực lượng phản cách mạng mà đàn áp lực lượng cách mạng trong cả nước, dựng ra một chính quyền tay sai bù nhìn trái với ý chí và nguyện vọng của dân tộc ta. Thực tế diễn ra ở Phi-líp-pin khi quân Mỹ đổ bộ đã chứng minh cho nhận định này. Hơn thế nữa, đế quốc Pháp dưới sự ủng hộ của Chính phủ Anh cũng đang lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương. Bọn phản động ở trong nước cũng đang tìm cách “thay thầy đổi chủ”, mong tìm cơ hội cho bản thân. Thời cơ cách mạng chỉ tồn tại từ khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh đến trước khi quân Đồng minh vào Việt Nam. Đó là lúc kẻ thù cũ đã đứng im, nhưng kẻ thù mới chưa kịp đến, tạo thành tình thế so sánh lực lượng có lợi nhất cho cách mạng: “Phát xít Nhật đã chết gục theo phát xít Đức, Ý. Quân đội Nhật đang bị tan rã và bị tước khí giới ở khắp các mặt trận. Quân Đồng minh sắp kéo vào Đông Dương. Giờ hành động quyết liệt đã đến” (6) . Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào quyết định phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Kiên quyết chớp thời cơ, Hội nghị chỉ rõ: “Tình thế vô cùng khẩn cấp. Tất cả mọi việc đều phải nhằm vào ba nguyên tắc: a) Tập trung - tập trung lực lượng vào những việc chính. b) Thống nhất - thống nhất về mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động và chỉ huy. c) Kịp thời - kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội” (7) . Ngày 16-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ” (8) . Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc Việt Nam nhất tề nổi dậy với tinh thần: Dù hy sinh tới đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập. Cách mạng Việt Nam nhanh chóng chuyển từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa. Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng lúc, đúng thời cơ, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành được thắng lợi “nhanh, gọn, ít đổ máu”. Đó là một điển hình thành công về nghệ thuật tạo thời cơ, dự đoán thời cơ, nhận định chính xác thời cơ; đồng thời, kiên quyết chớp thời cơ, phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Vận dụng sáng tạo bài học chớp thời cơ của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay Bài học mẫu mực về tận dụng thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã không ngừng được phát huy, phát triển trong các thời kỳ chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của toàn quân, toàn dân ta, lập nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” năm 1954 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975 mang tầm cao thời đại… Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, nhiều cơ hội được mở ra, không bỏ qua, nhưng cũng không chờ đợi bất cứ ai, bất cứ dân tộc nào, quốc gia nào. Quá trình toàn cầu hóa đang tạo ra những điều kiện chưa từng có cho các quốc gia xích lại gần nhau, tăng cường hội nhập, hợp tác, phát huy lợi thế cạnh tranh; xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội, đời sống quốc tế đang tạo hành lang rộng mở cho các chủ thể, các quốc gia khẳng định vai trò, vị trí của mình. Bài học chớp thời cơ của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn còn nguyên giá trị trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại cơ hội phát triển cho nhiều lĩnh vực, như kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục,… Về kinh tế, thị trường thương mại điện tử Việt Nam tăng trưởng đến 16%, đạt mốc 14 tỷ USD trong năm 2021. Dự báo đến năm 2025, quy mô thương mại điện tử Việt Nam có thể đạt 52 tỷ USD, trở thành nền kinh tế có thị trường thương mại điện tử đứng thứ 3 khu vực ASEAN (9) . Nhờ kết nối mạng internet, thương mại điện tử giúp người tiêu dùng có thể mua hàng hóa, dịch vụ ở khắp mọi nơi mà không phụ thuộc vào không gian, thời gian; nguồn hàng hóa đa dạng, phong phú, mang lại cho người mua nhiều sự lựa chọn; chất lượng sản phẩm được nâng cao, trong khi giá thành giảm nhờ việc áp dụng công nghệ cao (công nghệ nano, in 3D, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo,…). Nền tảng của công nghệ 4.0 cũng tạo cơ hội cho ngành du lịch, dịch vụ phát triển, cùng sự gia tăng của nền kinh tế trải nghiệm,… nhờ áp dụng công nghệ thực tế ảo, cá nhân hóa siêu dữ liệu… Về văn hóa - xã hội, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo sự liên kết, hỗ trợ rất lớn cho sự phát triển thông tin số, góp phần gìn giữ và bảo lưu, quảng bá các giá trị văn hóa của dân tộc. Ngành công nghiệp văn hóa phát triển, vừa mang lại giá trị tinh thần, giá trị truyền thống, góp phần giáo dục đạo đức nhân văn, vừa tạo nên các giá trị kinh tế đóng góp cho GDP của đất nước (10) . Ứng dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao_Ảnh: TTXVN Để có thể nắm bắt được những thời cơ và cơ hội mà Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại cho Việt Nam, đội ngũ trí thức cần phát huy vai trò tiên phong, từ việc nghiên cứu đến ứng dụng, chuyển giao công nghệ, góp phần tạo nên thành công trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Cần coi trọng và tận dụng những thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để đổi mới phương pháp dạy học, nội dung giảng dạy… nhằm xây dựng được đội ngũ nhân lực của Việt Nam có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng nâng cao, tiến tới chuẩn quốc tế. Thời gian gần đây, đại dịch COVID-19 đã và đang gây ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển của đất nước và đời sống của nhân dân. Nhờ áp dụng những sản phẩm của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, như tự động hóa để tránh tiếp xúc gần giữa mọi người, in 3D để sản xuất nhanh các thiết bị y tế, tư vấn hỗ trợ chữa bệnh từ xa, phần mềm truy vết Bluezone, Ncovid, Code QR…, nên chúng ta đã từng bước khống chế được dịch bệnh, chuyển sang giai đoạn thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19, “biến nguy thành cơ”, đẩy nhanh quá trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Mỗi thành tựu của Việt Nam trong công cuộc đổi mới đều có sự kế thừa và phát triển những bài học kinh nghiệm quý báu được đúc kết qua các thời kỳ cách mạng, trong đó, bài học kinh nghiệm về tạo dựng, nắm bắt và chớp thời cơ của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 luôn luôn có giá trị lâu bền và ý nghĩa thời đại, cần được thấm nhuần và vận dụng sáng tạo trong giai đoạn phát triển mới./. -------------------- (1) Văn kiện Đảng toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 2, tr. 50 - 51 (2) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd , t. 2, tr. 219 (3) Hoàng Minh Thảo: “Thế và thời trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945”, Tạp chí Lịch sử Đảng , số 8-2003, tr. 7 (4) Văn kiện Đảng toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 100 (5) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd , t. 7, tr. 373 (6) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd , t. 7, tr. 416 (7) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd , t. 7, tr. 425 (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 596 (9) Hữu Tuấn: “Thương mại điện tử năm 2022: Cuộc thư hùng trên bàn phím”, Báo Đầu tư online , https://baodautu.vn/thuong-mai-dien-tu-nam-2022-cuoc-thu-hung-tren-ban-phim-d159042.html , ngày 13-1-2022 (10) Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đề ra mục tiêu phấn đấu doanh thu của các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 3% GDP vào năm 2020 và 7% vào năm 2030 và tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/991402/chinh-sach%2C-phap-luat-cua-viet-nam-ve-bao-ve-chu-quyen-bien%2C-dao-va-dau-tranh-phan-bac-quan-diem-sai-trai%2C-thu-dich-ve-van-de-bien%2C-dao.aspx
Chính sách, pháp luật của Việt Nam về bảo vệ chủ quyền biển, đảo và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề biển, đảo
28-10-2024
Chính sách, pháp luật của Việt Nam về bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Việt Nam là quốc gia biển, giáp với Biển Đông trên 3 hướng: Đông, Nam và Tây Nam; có bờ biển dài trên 3.260km trải dài từ bắc xuống nam và hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ. Vùng biển của nước ta có diện tích gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tích Biển Đông. Án ngữ ở vị trí thuận lợi trên con đường hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương; giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực; là vùng biển giàu các loại tài nguyên, khoáng sản; phong phú, đa dạng các loài sinh vật biển,… Biển, đảo nước ta chiếm vị trí địa - chính trị, địa - kinh tế và địa - văn hóa trọng yếu trên bản đồ chiến lược khu vực và thế giới. Cùng với đó, những nhân tố gây mất ổn định, xâm phạm chủ quyền, an ninh vùng biển, đảo Việt Nam vẫn đang diễn ra gay gắt; nguy cơ xung đột vũ trang, tranh chấp trên biển, đảo diễn ra ngày càng phức tạp, khó lường. Nhận thức đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kế thừa và phát triển ý thức chủ quyền biển, đảo của ông cha trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Nhà nước ta đã xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Đảo Trường Sa (huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa) _Ảnh: Tư liệu Chính sách, pháp luật của Việt Nam về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Chính sách của Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo . Với quan điểm nhất quán “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền và các lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia trên biển, đồng thời chủ động, tích cực giải quyết, xử lý các tranh chấp, bất đồng trên Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS năm 1982); giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển” (1) , Đảng ta đã hoạch định đường lối chính trị về biển, đảo phù hợp với từng thời kỳ để các cơ quan nhà nước thể chế hóa thành chính sách, pháp luật về bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên biển, đảo. Những chính sách quan trọng nhất về biển, đảo của Việt Nam có thể kể đến, như “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” (năm 2007) và “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến 2030, tầm nhìn đến 2045” (năm 2018)... Với “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, lần đầu tiên, nước ta có một chiến lược biển toàn diện, có tầm nhìn chiến lược rộng, tính bao quát cao trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, hợp tác quốc tế, môi trường,... Chiến lược đặt mục tiêu: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo”. Trên cơ sở tổng kết và kế thừa “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, ngày 22-10-2018, Hội nghị Trung ương 8 khóa XII ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW, về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến 2030, tầm nhìn đến 2045” đề ra những mục tiêu mới với những giải pháp tổng thể cho từng giai đoạn. Cụ thể, nghị quyết xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2030 : Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng. Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển. Tầm nhìn đến năm 2045 : Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước, góp phần xây dựng nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương. Chiến lược đề ra 7 giải pháp quan trọng để thực hiện các mục tiêu đó. Bước vào giai đoạn phát triển mới, ngày 5-3-2020, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP, về “Ban hành kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22 tháng 10 năm 2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Tiếp theo, ngày 24-11-2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 31/CT-TTg, “Về đổi mới và tăng cường tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Trong đó, chỉ ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW. Trên cơ sở đó đặt ra yêu cầu cần phải đổi mới và tăng cường tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Pháp luật của Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo . Ngay sau khi đất nước thống nhất, ngày 12-5-1977, Chính phủ đã ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Tiếp đó, ngày 29-1-1980, Chính phủ ban hành Nghị định số 30/CP, về “Quy chế cho các tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; ngày 12-11-1982, Chính phủ ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Năm 1994, Việt Nam là quốc gia thứ 63 phê chuẩn UNCLOS năm 1982. Sau khi trở thành thành viên chính thức của UNCLOS năm 1982, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa các quy định của Công ước (2) . Đặc biệt, năm 2012, Luật Biển Việt Nam được ban hành với hầu hết các nội dung tương thích với UNCLOS năm 1982. Việt Nam ngày càng hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển, đảo (3) . Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời” (Điều 1); “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” (Điều 53). Luật Biển Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21-6-2012, có hiệu lực từ ngày 1-1-2013 là văn bản pháp lý quan trọng, quy định một cách tổng thể các vấn đề liên quan đến biển, đảo theo đúng tinh thần UNCLOS năm 1982. Với 7 chương và 55 điều, Luật Biển Việt Nam quy định các nội dung chủ yếu như: Nguyên tắc, chính sách quản lý và bảo vệ biển; phạm vi và chế độ pháp lý các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Việt Nam; các hoạt động trong vùng biển Việt Nam; tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ; bảo vệ tài nguyên và môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; phát triển kinh tế biển; tuần tra kiểm soát trên biển; hợp tác quốc tế về biển; xử lý vi phạm. Trong đó, có các điểm quan trọng cần chú ý như: 1- Tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; làm rõ thêm khái niệm về đảo, quần đảo, đá; quy định một cách đầy đủ hơn về việc xác định đường cơ sở phạm vi và chế độ pháp lý của các vùng biển, thềm lục địa Việt Nam; quy định rõ, hợp lý về quyền tự do hàng hải, hàng không trên vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam phù hợp với quy định trong UNCLOS năm 1982, bảo đảm quyền lợi biển của Việt Nam; 2- Các cơ quan, tổ chức và mọi công dân Việt Nam có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và thực hiện các biện pháp cần thiết bảo vệ chủ quyền biển, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phát triển kinh tế biển; 3- Dành một chương riêng về phát triển kinh tế biển, huy động mọi nguồn lực của Nhà nước, công dân, các tổ chức trong và ngoài nước, trên cơ sở nguyên tắc phát triển kinh tế biển phải gắn với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn trên biển; 4- Khẳng định Việt Nam chủ trương giải quyết các bất đồng, tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế. Các văn bản pháp luật trên là những cơ sở pháp lý quan trọng để phục vụ công cuộc phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Mặt khác, thông qua những quy định pháp luật, Việt Nam thể hiện sự tích cực, quyết tâm và cam kết đối với việc tôn trọng và thực thi các quy định của UNCLOS năm 1982; thể hiện Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, quyết tâm phấn đấu vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề biển, đảo Biển Đông với nhiều lợi thế phát triển, đã và đang trở thành tâm điểm của sự cạnh tranh lợi ích, quyền lực và tầm ảnh hưởng của các nước lớn, với nhiều diễn biến phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã ráo riết đưa ra những quan điểm sai trái, xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, các tờ báo, đài phát thanh phản động ở nước ngoài phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc các nội dung liên quan đến chủ quyền biển, đảo Việt Nam, tập trung vào một số nội dung: Một là, quy chụp, bịa đặt, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Luận điệu mà họ thường rêu rao là Đảng, Nhà nước Việt Nam “xem nhẹ”, “làm ngơ”, không có những động thái kiên quyết trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên Biển Đông;... Họ nêu những “đề xuất”, “kiến nghị” đòi thay đổi chính sách ngoại giao của Việt Nam về chủ quyền biển, đảo. Hai là, xuyên tạc, chống phá chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam. Họ cho rằng Việt Nam vì “đường lối ngoại giao cây tre” nên không dám dùng lực lượng hải quân, cảnh sát biển để giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển. Chỉ trích khả năng chiến đấu, sức mạnh của lực lượng vũ trang ta; rằng Việt Nam không sử dụng vũ lực thì sẽ “mất biển, mất đảo, thế nước lâm nguy”; kêu gọi quân đội phải “đáp trả bằng vũ lực” với các hành động của các nước khác. Ba là, lợi dụng diễn biến phức tạp, các vấn đề nhạy cảm trên Biển Đông để tuyên truyền, kích động dư luận xã hội chống phá Đảng, Nhà nước; kích động người dân tạo nên các phong trào “bài Trung”, “thoát Trung” hay “thân Mỹ”... Lợi dụng tinh thần yêu nước của quần chúng nhân dân để kêu gọi biểu tình, phản đối, bạo loạn, lật đổ, gây mất an ninh, trật tự,... Bốn là, xuyên tạc, phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch cho rằng, Việt Nam phải từ bỏ chính sách “bốn không” (4) , rằng Việt Nam sẽ không thể đứng vững "nếu không tiến hành liên minh quân sự với một cường quốc bên ngoài”; để bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam cần phải liên minh quân sự,… Cần khẳng định rằng, những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, xuyên tạc trắng trợn, phủ nhận những thành quả đạt được và quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Mục đích của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân; gây mất ổn định tình hình an ninh, chính trị đất nước; gây tâm lý bất an, hoài nghi, mất niền tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước để Việt Nam rơi vào tình trạng đối đầu, bị cô lập. Mưu đồ sâu xa của các thế lực thù địch, phản động là thông qua vấn đề biển, đảo để thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Luận cứ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong vấn đề biển, đảo Thứ nhất , Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay đều khẳng định rõ ràng, nhất quán quan điểm: Chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ là thiêng liêng, không thể để bị xâm phạm (5) ; Việt Nam “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển” (6) ; “Mọi hoạt động trên biển cần được tiến hành dựa trên cơ sở của UNCLOS năm 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia ven biển, tại các vùng biển được xác lập phù hợp với Công ước” (7) ... Những quan điểm này được Đảng, Nhà nước ta khẳng định nhiều lần, rõ ràng, công khai, minh bạch, không “làm ngơ”, hay “không kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo và lợi ích quốc gia trên biển”… như các đối tượng chống đối xuyên tạc, vu cáo. Thứ hai , trên thực tế, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông bị nước ngoài xâm phạm, Đảng và Nhà nước ta đều thể hiện quan điểm, thái độ kiên quyết phản đối những hành động xâm phạm, quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Mặt khác, Việt Nam luôn chủ động, tích cực và kiên trì giải quyết từng bước những bất đồng tồn tại về biển, đảo với các nước liên quan, nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hòa bình, an ninh khu vực. Thứ ba , là đất nước gánh chịu nhiều hậu quả đau thương, mất mát bởi chiến tranh, Việt Nam phản đối chiến tranh, xung đột dưới bất cứ hình thức nào. Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm giải quyết các tranh chấp, bất đồng, khác biệt trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với UNCLOS năm 1982, pháp luật quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn trên biển. Kiên trì mục tiêu không để nước ngoài lấn chiếm nhưng cũng không để xảy ra xung đột, kiên trì tìm kiếm giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan không có những hành động quá khích, cực đoan, làm phức tạp thêm tình hình, tuân thủ các cam kết đã ký kết, giải quyết mọi bất đồng trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Đồng thời, sẵn sàng về mọi mặt, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền biển, đảo. Đây là biện pháp thể hiện sự kiên quyết nhưng khôn khéo, mềm dẻo về sách lược, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm cụ thể để đạt được mục tiêu đề ra, không phải “không dám dùng vũ lực để bảo vệ chủ quyền” như những luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động, thù địch, phần tử cơ hội chính trị. Thứ tư , Đảng và Nhà nước ta luôn ưu tiên dành mọi nguồn lực tốt nhất cho nhiệm vụ giữ vững chủ quyền biển, đảo. Các lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo từng bước được xây dựng, phát triển ngày càng vững mạnh, trong đó Hải quân Việt Nam được Đảng, Nhà nước ưu tiên đầu tư tiến thẳng lên hiện đại, có sự trưởng thành, lớn mạnh vượt bậc, đủ sức làm nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Bên cạnh đó, Việt Nam phát triển chiến lược “chiến tranh nhân dân” trên biển, tạo điều kiện thuận lợi để ngư dân an tâm bám biển, phát triển kinh tế biển; làm giàu từ biển. Chúng ta chủ trương bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, trong đó, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại làm nòng cốt. Đây cũng là sự khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta để đập tan những luận điệu xuyên tạc về khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam và sức mạnh vô địch của thế trận quốc phòng toàn dân. Thứ năm , quan điểm cho rằng “Việt Nam cần liên minh quân sự với cường quốc bên ngoài để giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” là quan điểm sai lầm, thiếu cơ sở, “lợi bất cập hại”, đi ngược lại đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta. Bởi là một quốc gia có biển, nằm ở vị trí thuận lợi, nếu Việt Nam tiến hành liên minh quân sự với một cường quốc ngoài khu vực thì chắc chắn sẽ làm gia tăng bất ổn ở khu vực, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường an ninh và phát triển của đất nước. Mặt khác, cần nhận thức rõ rằng, trong bối cảnh các nước đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc thì không có một cường quốc nào lại sẵn sàng đối đầu với một cường quốc khác để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ cho một nước thứ ba. Cái giá phải trả cho việc lệ thuộc vào các nước lớn sẽ là rất lớn. Cần khẳng định rằng, sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam không xuất phát từ tham gia liên minh với một cường quốc nào mà là sức mạnh tổng hợp của đất nước, sức mạnh của toàn dân, của ý chí tự chủ, tự cường dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế. Thực tế minh chứng, nhờ nhất quán và thực hiện đúng đường lối đối ngoại này, Việt Nam đã tạo được sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đem lại lòng tin chiến lược - một nền tảng hết sức quan trọng cho các đối tác, các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Thứ sáu , thời gian qua, trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc đứng trước những khó khăn, thách thức lớn, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, quân và dân ta đã triển khai tích cực các hoạt động bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển. Chúng ta đã “Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp phù hợp, bảo vệ được chủ quyền biển, đảo, vùng trời và giữ được hòa bình, ổn định để phát triển đất nước” (8) , vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng lớn mạnh, “ đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay ” (9) . Thực tế đó là bằng chứng đanh thép đập tan những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Một số định hướng bảo vệ chủ quyền biển, đảo Để bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, thời gian tới cần chú trọng thực hiện tốt một số định hướng sau: Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước về bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Tập trung xây dựng tổ chức đảng trong các lực lượng tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo, các địa phương ven biển trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, đảo từ Trung ương đến địa phương bảo đảm hiện đại; xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, giữa Trung ương với địa phương về công tác biển, đảo. Tàu kiểm ngư tuần tra khu vực đảo An Bang, huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn Hai là, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới. Rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về biển, đảo theo hướng phát triển bền vững, bảo đảm tính khả thi, đồng bộ, thống nhất, phù hợp với chuẩn mực luật pháp và điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Tạo hành lang pháp lý vững chắc để bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Ba là, phát huy sức mạnh toàn dân tộc và thực hiện các biện pháp cần thiết cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân đối với chủ quyền biển, đảo. Củng cố niềm tin và tạo sự đồng thuận, nhất trí cao trong toàn hệ thống chính trị và nhân dân về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Chăm lo xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, trách nhiệm, sự cống hiến, sức sáng tạo của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo và thực thi pháp luật trên biển. Bốn là, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh; giữa khai thác và bảo vệ biển, đảo. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải quán triệt, cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Thực hiện thành công mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo. Năm là, chủ động, tích cực đấu tranh có hiệu quả đối với các luận điệu sai trái, thù địch về bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng về tình hình biển, đảo, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Tăng cường bảo đảm an ninh mạng và áp dụng các giải pháp kỹ thuật bóc gỡ, ngăn chặn những thông tin xấu, độc về tình hình Biển Đông nói chung và biển, đảo Việt Nam nói riêng. Đặc biệt, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải hết sức tỉnh táo, cảnh giác trước các chiêu trò xuyên tạc, suy diễn của các thế lực thù địch, phản động; tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Sáu là, chủ động tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, đảo. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, muốn bảo vệ chủ quyền biển, đảo, chúng ta phải phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đồng thời, phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; chủ động, nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền và các lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia trên biển. Cũng cần xác định rằng, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề khó khăn, lâu dài, không thể nóng vội, cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, không làm phức tạp thêm tình hình, bảo vệ lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS năm 1982. Tăng cường công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại quốc phòng với các nước đang có mâu thuẫn, tranh chấp trên biển để giảm bớt căng thẳng, không làm phức tạp hơn tình hình, từng bước xây dựng quan hệ thân thiện, giải quyết mâu thuẫn, hình thành môi trường thuận lợi cho bảo vệ chủ quyền biển, đảo./. ------------------------------ (1) Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XII , Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2018, tr. 104 - 105 (2) Bộ Luật Hàng hải năm 1991; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 1991; Luật Dầu khí năm 1993; Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng năm 1997; Pháp lệnh Lực lượng cảnh sát biển Việt Nam năm 1998; Luật Biên giới quốc gia năm 2003; Luật Thủy sản năm 2003;... (3) Luật Biên giới quốc gia 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Luật Bảo vệ môi trường năm 2022 (thay thế Luật Bảo vệ môi trường các năm 1993, 2005 và 2014); Luật Dầu khí năm 2023 (thay thế Luật Dầu khí năm 1993 sửa đổi các năm 2005, 2008); Luật Thủy sản năm 2017 (thay thế Luật Thủy sản năm 2003); Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 (thay thế BộlLuật Hàng hải Việt Nam năm 2005); Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015; Luật Quy hoạch năm 2017; Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018 (4) Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế (5) Điều 11, Hiến pháp năm 2013 (6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 157 (7) Hùng Cường: “ Việt Nam lên tiếng trước việc Trung Quốc đưa tàu sân bay đến Biển Đông ”, ngày 29-4-2021, https://vov.vn/chinh-tri/viet-nam-len-tieng-truoc-viec-trung-quoc-dua-tau-san-bay-den-bien-dong-853924.vov (8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 146 (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 25
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/827613/hoi-nhap-kinh-te-quoc-te-cua-viet-nam-giai-doan-2011---2022--nhin-tu-qua-trinh-trien-khai-doi-moi-tu-duy-cua-dang.aspx
Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2022: Nhìn từ quá trình triển khai đổi mới tư duy của Đảng
15-07-2023
Những yếu tố mới tác động đến quá trình Đảng lãnh đạo hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2022
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol chứng kiến lễ trao đổi các văn kiện hợp tác giữa hai nước Việt Nam - Hàn Quốc, ngày 23-6-2023_Ảnh: TTXVN Những yếu tố mới tác động đến quá trình Đảng lãnh đạo hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2022 Thế giới chứng kiến những biến động lớn về kinh tế. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 - 2009 đã dẫn tới sự suy thoái nền kinh tế của nhiều quốc gia, nhất là ở châu Âu, khiến tăng trưởng kinh tế và thương mại của nhiều nước giảm mạnh. Một trong những hệ quả của cuộc khủng hoảng này là tương quan sức mạnh kinh tế giữa các quốc gia cũng như trật tự kinh tế quốc tế, khu vực có nhiều thay đổi. Thời gian này, Trung Quốc trở thành động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế thế giới khi vượt Nhật Bản, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Năm 2020, thế giới chứng kiến đại dịch COVID-19 bùng phát mạnh mẽ, gây ra cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu chưa từng có trong lịch sử, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế của các quốc gia. Cuộc khủng hoảng này đã làm thay đổi sâu sắc xu thế phát triển và cơ cấu của nền kinh tế thế giới, đẩy nhanh quá trình số hóa nền kinh tế của các quốc gia và toàn cầu, làm đảo lộn các hoạt động thương mại và dòng chảy đầu tư quốc tế. Xu hướng tự do hóa thương mại tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Hội nhập kinh tế đa phương đang chững lại với sự bế tắc của Vòng đàm phán Doha. Điều đó đã dẫn đến sự nở rộ của các hiệp định thương mại tự do (FTA) trên nhiều tuyến và nhiều cấp độ, cũng như sự xuất hiện các FTA thế hệ mới, như: Hiệp định thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương giữa Mỹ và Liên minh châu Âu (TTIP), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)… Bên cạnh đó, hội nhập và bảo hộ tiếp tục là hai mặt của hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, vấn đề bảo hộ đang có những thay đổi, không còn mang tính chất bảo hộ “bằng mọi giá”, mà chuyển dần sang việc bảo hộ hiệu quả và bảo vệ nền kinh tế nhiều hơn. Bảo hộ hiện nay chủ yếu không phải là những hình thức bảo hộ cổ điển, áp dụng các rào cản thuế quan, mà là những rào cản hiện đại, rào cản phi thuế quan, nhất là ở các nước phát triển. Lợi ích quốc gia - dân tộc trở thành nhân tố chi phối quan hệ quốc tế. Nhiều vấn đề toàn cầu xuất hiện đòi hỏi các quốc gia phải cùng tham gia giải quyết. Lợi ích quốc gia - dân tộc trở thành nhân tố trung tâm, chi phối và dẫn dắt chính sách đối ngoại của các quốc gia, tác động đến mối quan hệ hợp tác - cạnh tranh giữa các quốc gia cũng như sự liên minh, liên kết và tập hợp lực lượng quốc tế trên thế giới hiện nay. Trong quan hệ quốc tế, chưa khi nào sự hợp tác và đấu tranh giữa các quốc gia vì lợi ích quốc gia - dân tộc lại chịu sự ràng buộc, tùy thuộc vào chế ước và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế như hiện nay. Dù giữa các quốc gia luôn có sự mâu thuẫn, đối kháng, song các nước cũng cần hợp tác trên những khía cạnh, vấn đề, thời điểm nhất định vì vận mệnh và lợi ích chung. Tình hình thế giới và khu vực diễn biến rất phức tạp, nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiềm ẩn những nhân tố gây bất ổn trên bình diện toàn cầu. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa kinh tế - chiến lược ngày càng quan trọng trên thế giới. Đồng thời, đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, gây ra nhiều bất ổn. Tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác, liên kết kinh tế trong khu vực, nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức cả bên trong lẫn bên ngoài. Với những thành tựu, kinh nghiệm của quá trình đổi mới, Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Những kết quả của tiến trình đổi mới đất nước đã tạo sức mạnh tổng hợp lớn hơn so với giai đoạn trước. Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi. Thế và lực của Việt Nam tiếp tục được củng cố, vị thế của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao đời sống của nhân dân. Công tác đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế được triển khai sâu rộng và hiệu quả, góp phần tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định và tăng thêm nguồn lực cho phát triển đất nước. Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011) đánh giá: “Nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ký kết hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương với một số đối tác quan trọng; mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác với các đối tác; góp phần quan trọng vào việc tạo dựng và mở rộng thị trường hàng hóa, dịch vụ và đầu tư của Việt Nam, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tranh thủ vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và các nguồn tài trợ quốc tế khác” (1) . Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng giai đoạn 2011 - 2022 Về phương hướng, trên cơ sở đánh giá các điều kiện trong nước sau 25 năm đổi mới và tình hình thế giới, khu vực, Đại hội XI của Đảng khẳng định Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (2) và chủ trương chuyển từ “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” (3) sang “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” (4) . Với chủ trương này, sự chủ động, tích cực hội nhập quốc tế không chỉ riêng trong lĩnh vực kinh tế và một số lĩnh vực khác, mà còn mở rộng với quy mô toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh... Đây là bước phát triển mới trong nhận thức và tư duy đối ngoại của Đảng, phản ánh những nhu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp cách mạng nước ta trong bối cảnh quốc tế mới. Chính vì vậy, trong quá trình hội nhập quốc tế, cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, của toàn xã hội. Đó là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh, với nhiều cơ hội đan xen thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập quốc tế tùy theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể. Ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW, “ Về hội nhập quốc tế” . Nghị quyết xác định trong quá trình hội nhập quốc tế, “hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế”. Năm 2016, Đại hội XII của Đảng bổ sung phương hướng hội nhập kinh tế quốc tế nhằm đáp ứng tình hình mới, đó là: “Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, xây dựng và triển khai chiến lược tham gia các khu vực mậu dịch tự do với các đối tác kinh tế thương mại quan trọng, ký kết và thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích của đất nước” (5) . Như vậy, có thể thấy, trong giai đoạn 2011 - 2022, từ định hướng hội nhập kinh tế là trọng tâm trong quá trình hội nhập quốc tế, phương hướng hội nhập kinh tế quốc tế có sự kế thừa, phát triển, được thể hiện ở một số điểm: Một là , phương thức hội nhập kinh tế quốc tế chủ đạo là tham gia các tiến trình đối thoại, hợp tác song phương, đa phương hoặc quốc tế; tham gia các tổ chức khu vực và quốc tế; tham gia các phong trào, các trào lưu chung của khu vực và quốc tế; hai là , chấp thuận và áp dụng, nội địa hóa các nguyên tắc, chuẩn mực chung quốc tế bao gồm các tập quán, chuẩn mực, thỏa thuận, công ước, điều ước khu vực, quốc tế; ba là , nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế theo hướng trở thành thành viên nòng cốt, dẫn dắt tại một số diễn đàn, tổ chức đa phương có tầm quan trọng chiến lược đối với đất nước, phù hợp với khả năng và điều kiện cụ thể. Về mục tiêu, Đại hội XI của Đảng xác định “xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến” (6) . Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh cần “đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế” (7) . Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới khi Việt Nam tham gia các FTA thế hệ mới, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 5-11-2016, “Về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”. Nghị quyết xác định mục tiêu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam là: “Thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội nhằm tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế” (8) . So với giai đoạn trước, mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế mà Nghị quyết số 06-NQ/TW đưa ra thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức, tư duy của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế. Trước đây, biện pháp đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế được sử dụng nhằm phá thế bao vây, cấm vận, tranh thủ nguồn lực quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu thì đến giai đoạn này, hội nhập kinh tế quốc tế có thêm nhiệm vụ nâng cao uy tín và vị thế của đất nước. Vì vậy, mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế đồng nghĩa với việc tăng cường tham gia và có tiếng nói tại các tổ chức khu vực, diễn đàn đa phương, nhất là các tổ chức, diễn đàn về kinh tế, thương mại, phát triển. Hội nhập kinh tế quốc tế là phương tiện tìm kiếm và thúc đẩy lợi ích, là việc chọn sân chơi và luật chơi phù hợp để Việt Nam tham gia. Về quan điểm chỉ đạo , Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ quan điểm phát triển của đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là: “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” (9) . Quan điểm này xuất phát từ bối cảnh thế giới đang phát triển trước xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ và các nước đang phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh chống nghèo nàn, lạc hậu, chống mọi sự can thiệp, áp đặt và xâm lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc. Do đó, độc lập, tự chủ trong bối cảnh hiện nay tập trung vào khía cạnh độc lập, tự chủ về kinh tế, bảo đảm nền kinh tế đủ sức đứng vững và ứng phó với các tình huống phức tạp, tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả các cam kết hội nhập quốc tế. Có thể thấy, trong giai đoạn 2011 - 2022, trong bối cảnh đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển mới, đặc biệt là khi tham gia nhiều FTA thế hệ mới, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng thể hiện ở một số điểm nổi bật sau: Một là, lợi ích quốc gia là mục tiêu tối thượng của hội nhập kinh tế quốc tế, phải xử lý linh hoạt, khôn khéo mối quan hệ đối tác và đối tượng; hợp tác và đấu tranh, bảo đảm độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia, dân tộc trong hội nhập trên mọi cấp độ song phương, đa phương, toàn cầu. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy tối đa nội lực, đi đôi với thu hút sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài, tạo thành sức mạnh tổng hợp của đất nước. Hai là, hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, văn hóa truyền thống và hiện đại, nên hội nhập nhưng không hòa tan, bảo đảm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Ba là, Nhà nước là chủ thể chính, có vai trò dẫn dắt xã hội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, song không phải là chủ thể duy nhất. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, do vậy, các tổ chức, các doanh nghiệp, các địa phương, cá nhân… cùng tham gia các hoạt động của hội nhập kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bốn là, hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm trong quá trình hội nhập quốc tế. Xuất phát từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều vấn đề đặt ra về chính trị, quốc phòng, an ninh, môi trường, khí hậu,… nên cần thiết phải hội nhập toàn diện vào đời sống kinh tế - xã hội thế giới, nhưng mục tiêu trọng tâm vẫn là hội nhập kinh tế. Sản xuất linh kiện điện tử xuất khẩu tại Khu công nghiệp Bờ Trái Sông Đà, tỉnh Hòa Bình_Ảnh: TTXVN Một số kết quả đạt được Đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa : Năm 2012, Việt Nam xuất khẩu 114,6 tỷ USD và nhập khẩu 114,3 tỷ USD và là năm đầu tiên Việt Nam đạt thặng dư trong lĩnh vực xuất khẩu. Đến năm 2014, thặng dư thương mại là 2,37 tỷ USD (10) . Trong giai đoạn 5 năm (2011 - 2015), tổng mức lưu chuyển ngoại thương hàng hóa, dịch vụ đạt 1.439,5 tỷ USD, gấp gần 2,1 lần giai đoạn 2006 - 2010 (11) . Nhìn chung, trong giai đoạn 2015 - 2019, hoạt động xuất nhập khẩu của cả nước luôn đạt mức tăng trưởng cao qua từng năm. Năm 2020 ghi dấu ấn đặc biệt đối với thương mại toàn cầu với sự bùng phát và diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19. Các biện pháp phong tỏa và đóng cửa biên giới để ngăn chặn dịch bệnh COVID-19, khiến thương mại toàn cầu đình trệ, chuỗi cung ứng đứt gãy, dẫn tới làn sóng phá sản nhiều doanh nghiệp trên toàn cầu. Vượt qua khó khăn, năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,54 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm 2020 (12) . Mặc dù tiếp tục bị ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh COVID-19 ở trong nước và tình hình kinh tế thế giới nhiều biến động, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2022 đạt mức kỷ lục 732,5 tỷ USD, trong đó xuất siêu 11,2 tỷ USD (13) . Ký kết và thực hiện các cam kết kinh tế quốc tế : Việt Nam đã phát triển quan hệ kinh tế với các tổ chức quốc tế, các công ty đa quốc gia. Một số hiệp định thương mại song phương của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới được ký kết, như: Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA, năm 2009), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Chile (VCFTA, năm 2011), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA, năm 2015), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU, năm 2016). Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta tiếp tục được thúc đẩy thông qua việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015, CPTPP (năm 2016), EVFTA (năm 2020), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP, năm 2020), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam, Anh và Bắc Ireland (UKVFTA, năm 2020). Đến đầu năm 2022, Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán 17 FTA, trong đó, có 15 FTA có hiệu lực và đang thực thi cam kết, 2 FTA đang đàm phán (FTA giữa Việt Nam và Khối thương mại tự do châu Âu (EFTA FTA), FTA Việt Nam - Israel) (14) . Có thể thấy, việc ký kết các FTA chứng tỏ vai trò của Việt Nam trong việc thúc đẩy thương mại tự do và hội nhập kinh tế, thương mại ở cả châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dương. Củng cố vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế: Vị thế của Việt Nam trên thế giới đã được củng cố toàn diện trong giai đoạn 2011 - 2022. Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ, đến năm 2020, Việt Nam có 30 đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện; có quan hệ ngoại giao với 189/193 nước, có quan hệ kinh tế với 160 nước và 70 vùng lãnh thổ (15) . Đến năm 2022, tổng số quan hệ kinh tế - thương mại của Việt Nam đã nâng lên thành 230 nước và vùng lãnh thổ (16) . Với việc thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện với trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế, vị thế của đất nước tiếp tục được cải thiện đáng kể. Có thể khẳng định, hội nhập kinh tế quốc tế đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ của nước ta với các đối tác đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trở thành một trong 20 nền thương mại lớn nhất thế giới: WTO ghi nhận việc Việt Nam trở thành một nền kinh tế có độ mở cao, tới 200% GDP và cải thiện cán cân thương mại hàng hóa, chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu trong giai đoạn 2016 - 2020. Theo Tổng cục Thống kê, từ năm 2016 đến năm 2022, cán cân thương mại của Việt Nam luôn đạt thặng dư với mức xuất siêu tăng dần qua các năm, từ 1,77 tỷ USD (năm 2016) lên 2,1 tỷ USD (năm 2017), 6,8 tỷ USD (năm 2018), 10,9 tỷ USD (năm 2019). Năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19, Việt Nam vẫn đạt mức xuất siêu gần 4 tỷ USD. Báo cáo rà soát thống kê thương mại thế giới năm 2020 của WTO ghi nhận trong số 50 quốc gia có nền thương mại hàng hóa lớn nhất thế giới, Việt Nam có mức tăng trưởng lớn nhất khi dịch chuyển từ vị trí thứ 39 vào năm 2009 lên vị trí thứ 23 vào năm 2019 và lọt vào tốp 20 năm 2021 (17) . Năm 2022, cán cân thương mại xuất siêu đạt 12,4 tỷ USD, là năm thứ 7 liên tiếp cán cân thương mại hàng hóa ở mức thặng dự mặc dù gặp nhiều khó khăn sau ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh COVID-19 (18) . Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) cải thiện mạnh : Trong năm 2019, trước khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát trên thế giới, Việt Nam được coi là quốc gia có nền kinh tế ổn định, tăng trưởng nhanh, đứng tốp đầu khu vực và thế giới, được Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đánh giá nằm trong số 20 nền kinh tế có đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng toàn cầu. Cũng trong năm 2019, Việt Nam lọt vào tốp 10/163 nước “đáng sống nhất thế giới” trong bảng xếp hạng của HSBC Expat; đứng thứ 83/128 nước trong xếp hạng các nước an toàn nhất; xếp thứ 94/156 nước trong Bảng xếp hạng quốc gia hạnh phúc. Năm 2020, quy mô tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đứng thứ 44 thế giới, đứng thứ 4 ở khu vực Đông Nam Á và bình quân GDP/đầu người đứng thứ 6 khu vực (19) . Đến năm 2022, tốc độ tăng GDP đạt 8,02% (cao nhất trong giai đoạn 2011 - 2022), GDP bình quân đầu người đạt 4.109 USD/người, tăng 392 USD so với năm 2021, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt (20) . Như vậy, trên cơ sở những kết quả đạt được giai đoạn 2011 - 2022, trong quá trình thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta thời gian tới, cần tiếp tục quán triệt những quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 06-NQ/TW nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, đó là: Thứ nhất, kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, nhất là mối quan hệ giữa tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; doanh nhân, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức là lực lượng đi đầu. Nhà nước cần tập trung khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam, nâng cao trình độ phát triển của nền kinh tế. Thứ ba, bảo đảm đồng bộ giữa đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Đẩy mạnh việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách; chủ động xử lý các vấn đề nảy sinh; giám sát chặt chẽ và quản lý hiệu quả quá trình thực hiện cam kết trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, nhất là trong những lĩnh vực, vấn đề liên quan đến ổn định chính trị - xã hội. Thứ tư, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình hội nhập quốc tế. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt là công đoàn, phù hợp với yêu cầu của tình hình mới. Có thể thấy, dưới sự lãnh đạo sát sao của Đảng ta đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm 2011 - 2022, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế, thị trường toàn cầu, là quốc gia nằm trong nhóm 30 nước, vùng lãnh thổ có giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa lớn nhất trên phạm vi toàn cầu. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động bên ngoài; chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế. Thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn” (21) . Tuy nhiên, trước bối cảnh phát triển mới, nước ta cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp về hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời nắm bắt xu thế phát triển của thế giới để tận dụng cơ hội, hạn chế thách thức nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước các trong giai đoạn tiếp theo./. ----------------------- (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (9) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, phần II (Đại hội X, XI, XII) , Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr. 381, 435, 123, 435, 691, 435, 661, 505 (8) Các nghị quyết của Trung ương Đảng 2016 - 2020, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 53 (21) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 135 (10) Nguyễn Chiến Thắng, Lý Hoàng Mai: “Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2019”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế , số tháng 11, 2019, tr. 14 - 24 (11) Phạm Bình Minh: “Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29: Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế - thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội XII của Đảng”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế , số 3, 2016, tr. 23 (12) “Vượt qua khó khăn, xuất, nhập khẩu năm 2021 về đích ngoại mục”, Trang thông tin điện tử Tổng cục Thống kê , ngày 17-1-2022, https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/01/vuot-qua-kho-khan-xuat-nhap-khau-nam-2021-ve-dich-ngoan-muc/ (13) “Nỗ lực phục hồi, xuất, nhập khẩu năm 2022 lập kỷ lục mới”, Trang thông tin điện tử Tổng cục Thống kê , ngày 30-1-2023, https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2023/01/no-luc-phuc-hoi-xuat-nhap-khau-nam-2022-lap-ky-luc-moi/ (14) “Bảng tổng hợp các FTA của Việt Nam tính đến tháng 1-2022”, Cổng thông tin cơ sở dữ liệu thương mại Việt Nam , ngày 10-2-2022, https://vntr.moit.gov.vn/vi/news/bang-tong-hop-cac-fta-cua-viet-nam-tinh-den-thang-012022 (15), (17), (19) “Dấu ấn tích cực trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam”, Báo Điện tử Đài Truyền hình Việt Nam , ngày 9-1-2022, https://vtv.vn/kinh-te/dau-an-tich-cuc-tren-hanh-trinh-doi-moi-va-hoi-nhap-quoc-te-cua-viet-nam-20220109165818713.htm (16) “Nhìn lại năm 2022: Khẳng định vị thế, uy tin Việt Nam”, Trang điện tử Thông tấn xã Việt Nam , ngày 25-12-2022, https://baotintuc.vn/thoi-su/nhin-lai-nam-2022-khang-dinh-vi-the-uy-tin-viet-nam-20221225103439544.htm (18), (20) Tổng cục Thống kê: Niên giám thống kê 2022, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2023, tr. 13, 10 - 11
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/1218102/xay-dung-mot-nuoc-viet-nam-giau-manh--tu-tu-tuong-cua-chu-tich-ho-chi-minh-den-y-nghia-trong-thuc-tien-hien-nay.aspx
Xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh: Từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ý nghĩa trong thực tiễn hiện nay
22-02-2026
Lý luận về thực hiện mục tiêu “giàu mạnh” của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Lý luận về thực hiện mục tiêu “giàu mạnh” của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Xây dựng một nước Việt Nam “giàu mạnh” trước hết, đó là xây dựng một nước Việt Nam có “dân giàu” và “nước mạnh”. Trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gô-ta..., C. Mác từng khẳng định đại ý, dưới xã hội cộng sản giai đoạn đầu, tức chủ nghĩa xã hội, vẫn không tránh khỏi người này giàu hơn người kia đó sao? Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C. Mác và Ph. Ăng-ghen nhấn mạnh: “chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái quyền chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác” (1) . Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, mục tiêu “dân giàu” có ý nghĩa đặc biệt. Làm cho nhân dân ngày càng giàu là một trong những mục tiêu quan trọng của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng cũng là thách thức to lớn. Không những “phải cải biến tình trạng kinh tế - xã hội kém phát triển” thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn phải vươn tới địa vị một nước phát triển, tiến tới hội đủ hai yếu tố bảo đảm dân giàu: một là, xã hội công bằng với những cơ chế cho phép mỗi cá nhân, mỗi cơ sở kinh tế được làm giàu một cách hợp pháp; hai là, có lực lượng sản xuất hiện đại dựa trên trình độ khoa học - công nghệ hiện đại, năng suất lao động xã hội cao, có tiềm lực về tài nguyên “chất xám”, có một nền kinh tế tri thức phát triển cao. Dân giàu đi đôi với công bằng xã hội là ước mơ ngàn đời của nhân dân ta, chỉ có thể được thực hiện dưới chủ nghĩa xã hội. “Nước mạnh” chỉ trở thành mục tiêu của chủ nghĩa xã hội khi “nước” là nước của nhân dân, do nhân dân làm chủ; khi nước mạnh là điều kiện để nhân dân được hưởng hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc. Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước thăm khu trưng bày tại Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia_Ảnh: TTXVN Đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, “nước mạnh” là một mục tiêu lớn, vô cùng quan trọng. “Nước mạnh” thể hiện ở ba sự bảo đảm sau đây: Một là, bảo đảm khả năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa với các nội dung “bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa” (2) . Hai là, bảo đảm khả năng tranh thủ tối đa những cơ hội phát triển thông qua mở rộng hợp tác quốc tế, khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia, lợi ích quốc gia - dân tộc trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong thế giới toàn cầu hóa. Ba là, bảo đảm nâng cao địa vị quốc tế của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới. Đối với nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, “nước mạnh” là điều kiện thuận lợi để phát huy chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; Việt Nam giàu mạnh là nhân tố tích cực của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. “Nước mạnh” theo tinh thần của chủ nghĩa quốc tế là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, “giàu mạnh” có nghĩa bao hàm rộng hơn “dân giàu” “nước mạnh”, không chỉ dân giàu, mà nước mạnh về mọi mặt (chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, con người, quốc phòng - an ninh, đối ngoại), đồng thời phải bảo đảm tính bền vững của sự phát triển. “Giàu mạnh” là giá trị và mục tiêu của phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu này phù hợp với nguyện vọng và mong muốn của mọi tầng lớp nhân dân. Đây là mục tiêu tốt đẹp, tập hợp trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, động viên nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát huy tính tích cực và tự giác của nhân dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trước hết, đó là một xã hội “dân giàu, nước mạnh”: Một mặt , là thể hiện sự tăng lên, đầy đủ, sung túc về vật chất, tiến bộ kinh tế, giảm đói nghèo trên phạm vi cả nước và mỗi cá nhân; mặt khác , biểu thị trạng thái hạnh phúc. Đây không đơn thuần là sự giàu có về vật chất, mà còn đi liền với khả năng phát triển thể chất, tâm lý và xã hội; tham dự vào đời sống xã hội của mỗi cá nhân. Khía cạnh xã hội và tâm lý của khái niệm “dân giàu, nước mạnh” quan trọng không kém so với khía cạnh vật chất. Bởi, bên cạnh những nhu cầu vật chất, con người cần có nhu cầu tinh thần, các mối quan hệ gia đình, bạn bè, cộng đồng và mục đích sống, góp ích cho xã hội và qua đó, góp phần xây dựng một xã hội đáng sống. Do đó, “dân giàu, nước mạnh” có nghĩa là đem lại đời sống vật chất dồi dào, đời sống tinh thần phong phú thực sự cho mỗi cá nhân và toàn xã hội. Dân có giàu thì nước mới mạnh và ngược lại. “Giàu mạnh” - tức là đời sống nhân dân giàu có, xã hội phát triển tốt đẹp, thực lực tổng hợp quốc gia lớn mạnh. Giá trị “giàu mạnh” yêu cầu lấy sự phát triển lực lượng sản xuất, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, ngày càng nâng cao mức sống của nhân dân trở thành mục tiêu quan trọng trong xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nội hàm của “giàu mạnh” bao gồm những đặc trưng cụ thể sau: - Giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất . Chủ nghĩa xã hội cần có lực lượng sản xuất phát triển, tạo điều kiện để nhân dân có đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao. Qua 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử to lớn, tạo tiền đề quan trọng vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. - Hướng tới sự giàu có của toàn thể nhân dân . Đây chính là điểm đặc sắc và là bản chất của chủ nghĩa xã hội. - Phát triển liên tục, hài hòa và lành mạnh . Cần khai thác các tiềm năng, thế mạnh, lợi thế quốc gia, khắc phục những điểm yếu, hạn chế để sự phát triển liên tục, hài hòa, tránh phát triển thiếu bền vững, đứt đoạn, nhất là trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế ở một số lĩnh vực chưa bền vững; còn có khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị, miền núi và miền xuôi; chưa giải quyết được hài hòa mục tiêu phát triển kinh tế với phát triển xã hội… - Sức mạnh tổng hợp quốc gia lớn mạnh. “Giàu mạnh” thể hiện sức mạnh tổng hợp quốc gia không ngừng lớn mạnh. Các nước trên thế giới lấy thực lực kinh tế làm cơ sở cạnh tranh sức mạnh tổng hợp, đồng thời gia tăng sức mạnh chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục; tăng cường cả “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm”, để đất nước hướng tới giàu mạnh toàn diện. Chúng ta cần đề ra chiến lược phát triển ưu tiên khoa học - kỹ thuật, thúc đẩy kinh tế phát triển theo chiều sâu, gắn đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; đổi mới thể chế văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa; bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, đẩy mạnh quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài; đề cao các giá trị đạo đức tốt đẹp; làm phong phú và phát triển chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, nâng cao vị thế đất nước và sức ảnh hưởng quốc tế. Tư tưởng Hồ Chí Minh và ý nghĩa của việc xây dựng một quốc gia “giàu mạnh” Xây dựng đất nước giàu mạnh là tư tưởng phấn đấu suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn độc lập dân tộc với tự do, hạnh phúc và sự giàu có của nhân dân. Theo Người, “1. Làm cho dân có ăn; 2. Làm cho dân có mặc; 3. Làm cho dân có chỗ ở; 4. Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là bốn điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập” (3) . Người còn nói, độc lập mà dân không đủ ăn, đủ mặc thì độc lập ấy không có nghĩa gì. Phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc ngày 10-1-1946, Người nhấn mạnh: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” (4) . Suốt cuộc đời Người phấn đấu cho độc lập dân tộc và hạnh phúc, ấm no của nhân dân: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” (5) . Trong diễn văn khai mạc Đại hội III của Đảng (từ ngày 5-9-1960 đến 10-9-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “làm cho miền Bắc nước ta có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa khoa học tiên tiến, làm cho nhân dân ta có một đời sống ngày thêm no ấm, vui tươi”… Người cũng chỉ rõ: “miền Bắc giàu mạnh sẽ là cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà”. Trong mọi lúc mọi nơi, tư tưởng này được gắn bó biện chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa chiến lược và sách lược cụ thể. Khi lãnh đạo đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước, trong các phát biểu, lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện sớm và sâu sắc các tư tưởng về đường lối đối ngoại mở rộng, đa phương hóa hữu nghị và hợp tác với các nước dân chủ… Các đường lối, chính sách ấy đã tạo điều kiện tốt nhất, hiệu quả nhất để khai thác ngoại lực nhằm xây dựng đất nước. Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tiến lên chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là làm cho “dân giàu, nước mạnh”. Ngày nay, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc chăm lo đời sống nhân dân và xây dựng đất nước giàu mạnh được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và nâng lên tầm cao mới cho phù hợp tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, bắt đầu từ đổi mới tư duy, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế là đúng đắn, sáng tạo. Theo đó, sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử , phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới” (6) , từng bước đạt tới mục tiêu “giàu mạnh”, điều này có những ý nghĩa quan trọng sau: Một là, khẳng định mục tiêu phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc của Đảng ta trên thực tế. Đảng ta không có mục đích nào khác là phục vụ sự nghiệp giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột, lầm than, đói khổ, bất công; phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc. Không chỉ giải phóng con người, giải phóng dân tộc, mà còn phải thực hiện mục tiêu giàu mạnh. Chỉ trên cơ sở thực hiện được mục tiêu giàu mạnh thì con người và dân tộc mới được giải phóng thực sự, triệt để trên thực tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” (7) . Chính vì vậy, Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải “làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ... Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội” (8) . Đồng thời, giành được độc lập, tự do rồi thì phải xây dựng một xã hội công bằng, hợp lý: “Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom” (9) . Nghĩa là thực hiện phương châm “Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con” (10) . Thực hiện được những nguyên tắc này là góp phần thực hiện được mục tiêu giàu mạnh. Nghĩa là khẳng định được mục tiêu phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc của Đảng ta trên thực tế. Hai là, khẳng định sự đúng đắn của đường lối chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của của Đảng. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng” (11) . Do vậy, khi hiện thực hóa được mục tiêu giàu mạnh trên thực tế sẽ chứng tỏ Cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta là đúng đắn. Khác với các tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng và các tư tưởng tôn giáo cũng mong cho con người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, một đất nước “giàu mạnh”, Đảng Cộng sản Việt Nam bằng chủ trương, đường lối lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lãnh đạo toàn thể dân tộc bằng các chương trình, chiến lược, kế hoạch, giải pháp để hiện thực hóa hệ mục tiêu “giàu mạnh” trên thực tế. Hiện thực hóa được hệ mục tiêu này là vì Cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta là đúng đắn. Nghĩa là, Cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, thực tiễn khu vực, quốc tế và có cơ sở khoa học, phản ánh đúng quy luật vận động khách quan của thực tiễn đất nước, khu vực và thời đại, phản ánh đúng nhu cầu thực tiễn của quần chúng nhân dân. Cũng chính vì vậy, bản thân mục tiêu này cũng như các giải pháp, con đường, cách thức hiện thực hóa mục tiêu này luôn có sự thống nhất, gắn bó mật thiết giữa cơ sở thực tiễn và cơ sở khoa học. Mặc dù có những lúc, chúng ta có sai lầm, khuyết điểm, nhưng với tinh thần thẳng thắn, khách quan, trung thực, Đảng ta đã sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, giữ vững bản lĩnh cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; trong đó, có sự lãnh đạo thực hiện mục tiêu “giàu mạnh”, là minh chứng sống động, thuyết phục khẳng định sự đúng đắn của đường lối chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của của Đảng. Ba là, khẳng định sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của mọi thắng lợi cách mạng, của mọi sự phát triển đất nước. Việc hiện thực hóa mục tiêu “giàu mạnh” thêm khẳng định sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của mọi thắng lợi, của mọi sự phát triển của đất nước. Đảng ta nhận thức rõ vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có hiện thực hóa mục tiêu “giàu mạnh”. Nhiều nhiệm kỳ đại hội của Đảng đều rút ra bài học “trong mọi công việc của Đảng phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa” (12) . Do vậy, Đảng ta đã phát huy, lôi cuốn được đông đảo nhân dân tham gia hiện thực hóa mục tiêu “giàu mạnh”. Như cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển” (13) . Nhân dân nhận thấy mục tiêu “giàu mạnh” phản ánh đúng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, đúng đắn, hợp lý của nhân dân. Do vậy, nhân dân tích cực tham gia hiện thực hóa mục tiêu này. Qua đó, khẳng định nhân dân là cội nguồn sức mạnh của mọi thắng lợi cách mạng, của mọi sự phát triển đất nước. Hoạt động sản xuất tại Tổng Công ty Cơ khí giao thông vận tải Sài Gòn (Samco) - Một trong bốn tổng công ty đảm nhiệm vai trò nòng cốt phát triển ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam_Ảnh: TTXVN Bốn là, khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trên thực tế. Hiện thực hóa được mục tiêu “giàu mạnh” sẽ khẳng định được tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trên thực tế. Mục tiêu “giàu mạnh” đã thể hiện được những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta hướng tới. Mục tiêu này thể hiện một xã hội “ thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người ” (14) ; “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (15) ; “ sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội ” (16) ;... Rõ ràng, hiện thực hóa được mục tiêu “giàu mạnh” cho thấy chủ nghĩa xã hội là xã hội ưu việt hơn tất cả các xã hội trước đó. Chủ nghĩa tư bản cũng đề ra các giá trị mà nó hướng tới và “chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước” (17) . Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Bởi lẽ: “Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó” (18) . Do vậy, việc hiện thực hóa mục tiêu “giàu mạnh” sẽ khẳng định được tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội so với các xã hội khác, nhất là chủ nghĩa tư bản trên thực tế. Năm là, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Hiện thực hoá được mục tiêu “giàu mạnh” là chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm xã hội công bằng, dân chủ cho nhân dân trên thực tế. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Niềm tin là sự tin tưởng, hy vọng vào điều có căn cứ, cơ sở khoa học, thực tiễn. Nhân dân chỉ tin tưởng vào Đảng khi Đảng mang lại cuộc sống thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc, dân chủ, công bằng cho nhân dân. Không phải ngẫu nhiên mà Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm quý báu: “Sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Chính Nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của Nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời Nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước” (19) . Hiện thực hóa mục tiêu “giàu mạnh” chính là xuất phát từ nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng chân chính, đúng đắn, hợp lý của nhân dân và thực hiện mục tiêu phục vụ nhân dân. Nhân dân ta một lòng, một dạ đi theo Đảng, bảo vệ Đảng khi có khó khăn, chia sẻ với Đảng khi cần bởi lẽ Đảng luôn chăm lo cho nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Niềm tin của nhân dân chỉ có thể được củng cố trên cơ sở nhiều yếu tố, nhiều điều kiện, nhưng trước hết và trên hết phụ thuộc vào chính hiệu quả hiện thực hóa mục tiêu “giàu mạnh”. Vì hiện thực hóa hệ mục tiêu này là trực tiếp hiện thực hóa những nhu cầu, lợi ích, mong muốn chính đáng, hợp lý, thiết thực của nhân dân. Rõ ràng yếu tố trực tiếp, hiện thực là Đảng làm gì cho nhân dân trên thực tế, thể hiện rõ hơn cả khi hiện thực hóa được mục tiêu “giàu mạnh”. Sáu là, nâng cao uy tín, vị thế của Đảng và đất nước trên trường quốc tế. Hiện thực hóa được mục tiêu “giàu mạnh”, về thực chất, là làm cho đời sống của nhân dân được giàu lên về vật chất, về tinh thần, văn hóa, có sức khỏe thể chất đáp ứng yêu cầu thực tiễn, có cuộc sống công bằng, dân chủ, văn minh. Từ một nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến, nhân dân đói khổ, đến nay, thu nhập bình quân của nhân dân ta đã tăng lên khoảng 5.000 USD/người/năm. Sau gần 40 năm đổi mới, thực hiện hệ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu, gồm: “Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố” (20) . Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 74,5 tuổi năm 2024. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Năm 2023, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao với chỉ số 0,766 - đứng thứ 93 trên tổng số 193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Có thể nói: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử , phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay ” (21) . Bảy là, góp phần thực hiện thành công Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” (22) . Di chúc được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta chưa kết thúc. Do vậy, Bác đã nhấn mạnh tới thành tố hòa bình, thống nhất, độc lập, đồng thời mong muốn đất nước ta phải dân chủ, giàu mạnh. Đất nước có dân chủ, giàu mạnh thì chúng ta mới góp phần xứng đáng được vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Do đó, việc hiện thực hóa mục tiêu “giàu mạnh” là góp phần trực tiếp vào thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ. Việt Nam cũng đóng góp ngày càng trách nhiệm và hiệu quả trong các vấn đề toàn cầu, hoạt động quốc tế, như cử được 5 bệnh viện dã chiến cấp 2 và 2 đội công binh làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Phái bộ Nam Sudan và Abyei; cử 2 đoàn công tác, gồm lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam và lực lượng Công an nhân dân Việt Nam tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ và Syria vào tháng 2-2023... Đây là biểu hiện rõ nét của việc thực hiện cam kết chính trị của Việt Nam với vai trò là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, sẵn sàng chung tay giải quyết các khó khăn, thách thức và duy trì môi trường hòa bình, ổn định, vì sự hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới. Điều đó góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới của Đảng và nhân dân ta theo Di chúc của Bác Hồ vĩ đại./. -------------------------------- (1) C. Mác - Ăng-ghen: Tuyển tập , Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, t. 1, tr. 562 (2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 108 (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 175 (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , tr. 175 (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , tr. 187 (6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 25 (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 175 (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 13, tr. 438 (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 11, tr. 404 (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 10, tr. 390 (11) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 35 - 36 (12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , Sđd , t. I, tr. 96 - 97 (13) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd , tr. 36 - 37 (14) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd , tr. 21 (15) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 70 (16) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd , tr. 21 (17) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd , tr. 18 - 19 (18) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd , tr. 20 (19) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội , Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 5 (20) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd , tr. 33 (21) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd , tr. 34 (22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 15, tr. 624
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/1220302/chinh-sach-hang-hai-cua-chinh-quyen-tong-thong-my-donald-trump-trong-nhiem-ky-thu-hai--su-dieu-chinh-va-tac-dong.aspx
Chính sách hàng hải của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump trong nhiệm kỳ thứ hai: Sự điều chỉnh và tác động
26-02-2026
Sự chuyển dịch trọng tâm hàng hải toàn cầu và điều chỉnh chiến lược của Mỹ
Sự chuyển dịch trọng tâm hàng hải toàn cầu và điều chỉnh chiến lược của Mỹ Trong khoảng hai thập niên gần đây, bản đồ hàng hải thế giới chứng kiến sự dịch chuyển trọng tâm từ khu vực Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương, phản ánh xu thế thay đổi sâu rộng trong cấu trúc thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Năm 2024, trong tổng số 20 cảng container có lưu lượng hàng hóa lớn nhất thế giới, có tới 14 cảng thuộc khu vực châu Á; riêng Trung Quốc chiếm 6/10 vị trí hàng đầu, trong đó thành phố Thượng Hải vượt mốc 50 triệu TEU (đơn vị container tiêu chuẩn). Sự nổi lên của các trung tâm cảng, như Singapore, Ninh Ba - Châu Sơn, Thâm Quyến (Trung Quốc), Busan (Hàn Quốc) cho thấy mạng lưới thương mại toàn cầu đang được “neo chặt” vào không gian kinh tế biển Đông Á - một biểu hiện của quá trình cấu trúc lại quyền lực kinh tế - công nghiệp trong kỷ nguyên mới (1) . Tổng thống Mỹ Donal Trump và Thông điệp Liên bang 2026 - thông điệp đầu tiên trong nhiệm kỳ lãnh đạo thứ hai (2025 - 2029)_Ảnh: AA/TTXVN Không chỉ diễn ra ở hệ thống cảng biển, cán cân chuỗi giá trị hàng hải toàn cầu cũng đang nghiêng về khu vực Đông Á. Năm 2024, Trung Quốc chiếm khoảng 70% tổng số đơn hàng đóng tàu thế giới (46,45 triệu CGT), Hàn Quốc khoảng 28% và Nhật Bản 15%. Đồng thời, Trung Quốc đã vượt Hy Lạp để trở thành quốc gia sở hữu đội tàu thương mại có tổng dung tích lớn nhất thế giới, với giá trị ước đạt 255 tỷ USD. Trung Quốc nổi lên như trung tâm sản xuất thiết bị cảng biển hàng đầu, chiếm khoảng 95% sản lượng container, 86% khung rơ-moóc liên vận và 70% thị phần cần cẩu bờ toàn cầu (do ZPMC dẫn đầu). Chuỗi công nghiệp hàng hải của Trung Quốc hiện đã hoàn chỉnh, bao trùm từ sản xuất linh kiện, động cơ, thép tấm đến hạ tầng cảng, tạo nên lợi thế vượt trội về quy mô, chi phí và tốc độ cung ứng mà ít quốc gia có thể cạnh tranh (2), (3) . Trước sự vươn lên của Đông Á, nhất là Trung Quốc, ngành công nghiệp hàng hải Mỹ bắt đầu suy giảm rõ nét kể từ cuối thế kỷ XX và đang trong quá trình điều chỉnh lại chiến lược để thích ứng. Quá trình tự do hóa thương mại và chuyển dịch sản xuất ra nước ngoài khiến nhiều nhà máy đóng tàu dân dụng của Mỹ phải thu hẹp hoặc ngừng hoạt động do chi phí cao và thiếu đầu tư công nghệ, trong khi các trung tâm công nghiệp châu Á, nhất là Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, vươn lên mạnh mẽ. Hiện nay, sản lượng đóng tàu của Mỹ chỉ chiếm dưới 1% tổng số sản lượng đóng tàu toàn cầu, tương đương khoảng 1/200 so với Trung Quốc (4) . Trong lĩnh vực vận tải biển, quy mô đội tàu mang cờ Mỹ cũng giảm rõ rệt. Theo đó, nếu năm 1970 Mỹ đứng thứ 6 thế giới, đến tháng 4-2025 chỉ xếp thứ 22, với 188 tàu, chiếm khoảng 0,4% thương mại hàng hóa toàn cầu (5) . Cùng với sự thu hẹp năng lực sản xuất, Mỹ phụ thuộc ở mức cao vào nguồn cung linh kiện và vật tư từ nước ngoài, trong đó Trung Quốc là nguồn cung chủ yếu. Tính đến năm 2024, khoảng 95% container, 86% khung rơ-moóc và gần 80% cần cẩu bờ tại các cảng lớn của Mỹ có xuất xứ từ Trung Quốc (6) . Thực trạng này đặt ra thách thức lớn cho mục tiêu xây dựng chuỗi cung ứng độc lập và tự chủ - một trong những yếu tố nền tảng trong chiến lược phục hồi công nghiệp mà chính quyền Tổng thống D. Trump nhiệm kỳ hai theo đuổi. Về phương diện cấu trúc, sức mạnh hàng hải của Mỹ chịu tác động từ hai xu hướng lớn. Thứ nhất, trong hơn ba thập niên qua, kinh tế Mỹ chuyển trọng tâm sang công nghệ số, tài chính và dịch vụ, trong khi các ngành công nghiệp nặng truyền thống - từng là trụ cột của sức mạnh vật chất quốc gia - dần thu hẹp. Hệ quả là, năng lực sản xuất cơ bản và đội ngũ lao động kỹ thuật suy giảm nghiêm trọng; tại nhiều bang ven biển, như Virginia, Alabama, Washington, số lao động trong ngành đóng tàu đã giảm hơn 70% so với thập niên 80 của thế kỷ XX. Thứ hai, về quân sự, hiện nay, Hải quân Trung Quốc (PLAN) là lực lượng có tổng số lượng tàu chiến lớn nhất thế giới, với hơn 370 tàu vào năm 2024, dự kiến đạt 435 tàu vào năm 2030 (7) . Trong khi Mỹ vẫn duy trì ưu thế về tàu sân bay, năng lực tác chiến xa bờ và kinh nghiệm triển khai toàn cầu, lợi thế về số lượng và tốc độ đóng mới lại nghiêng về phía Trung Quốc. Theo Báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ năm 2023, năng lực công nghiệp hàng hải hiện chưa đủ để đáp ứng nhu cầu đóng mới tàu chiến trong tình huống xung đột quy mô lớn xảy ra. Sự kết hợp giữa đội tàu thương mại quy mô lớn và lực lượng hải quân mở rộng nhanh chóng giúp Trung Quốc hình thành dạng “quyền lực biển kép”, kết nối chặt chẽ giữa năng lực hậu cần - thương mại và khả năng hiện diện quân sự. Trong bối cảnh đó, chính quyền Tổng thống D. Trump xác định khôi phục năng lực hàng hải là một trong những yêu cầu chiến lược cấp bách nhằm củng cố sức mạnh công nghiệp, bảo đảm chuỗi cung ứng và duy trì vị thế siêu cường biển của Mỹ. Theo giới chuyên gia, những điều chỉnh trong chính sách hàng hải của Mỹ mang ba hàm ý chính: Một là, thúc đẩy phục hồi công nghiệp hàng hải nội địa thông qua đầu tư hạ tầng, chính sách thuế ưu đãi và khuyến khích khu vực tư nhân tham gia chuỗi giá trị chiến lược; hai là, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, giảm phụ thuộc vào Trung Quốc bằng cách mở rộng hợp tác với các đối tác tin cậy, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và một số nước Đông Nam Á; ba là, tăng cường gắn kết giữa an ninh và kinh tế biển trong khuôn khổ Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, coi đây là công cụ để củng cố vai trò dẫn dắt của Mỹ trong cấu trúc khu vực đang định hình. Những điều chỉnh này dự báo sẽ tác động sâu rộng tới chuỗi cung ứng toàn cầu, thị trường vận tải xuyên Thái Bình Dương và cục diện cạnh tranh công nghiệp - thương mại biển quốc tế. Các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, có thể vừa phải đối diện thách thức từ sự tái cấu trúc chuỗi cung ứng, vừa có cơ hội thu hút đầu tư, hợp tác công nghiệp và phát triển hạ tầng hàng hải theo hướng bền vững, tự chủ hơn. Vì vậy, chính sách hàng hải của chính quyền Tổng thống D. Trump trong nhiệm kỳ thứ hai không chỉ mang ý nghĩa kinh tế - kỹ thuật, mà còn là phản ứng chiến lược trước sự chuyển dịch trọng tâm hàng hải toàn cầu. Đồng thời, đây là bước đi nhằm cấu trúc lại quyền lực biển và khôi phục vai trò dẫn dắt của Mỹ trong trật tự hàng hải thế giới đang định hình. Việc theo dõi, đánh giá và thích ứng linh hoạt với những biến động này sẽ là yêu cầu then chốt đối với các quốc gia trong khu vực nhằm bảo đảm lợi ích phát triển, duy trì môi trường hợp tác, ổn định và an ninh trên biển. Chiến lược hàng hải mới của Mỹ Trong tư duy chiến lược của Mỹ, biển luôn gắn liền với quyền lực và vị thế của một nước cường quốc hàng đầu. Từ cuối thế kỷ XIX, trong tác phẩm “ Ảnh hưởng của sức mạnh biển ” ( The Influence of Sea Power upon History ), Đô đốc Hải quân Mỹ Alfred Thayer Mahan, đã khẳng định: “Ai làm chủ biển cả sẽ kiểm soát thương mại; ai kiểm soát thương mại sẽ chi phối thế giới” (8) . Theo ông, sức mạnh biển (sea power) không chỉ bao gồm hải quân, mà còn là tổng thể năng lực công nghiệp, thương mại và hậu cần trên biển, từ xưởng đóng tàu, cảng biển đến các tuyến vận tải thương mại. Tư duy này đã đặt nền tảng cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành hàng hải Mỹ, giúp Mỹ giữ vai trò trung tâm trong hai cuộc chiến tranh thế giới và duy trì vị thế bá quyền trên biển trong suốt thế kỷ XX (9) . Tuy nhiên, trong hai thập niên gần đây, cùng với quá trình toàn cầu hóa sâu rộng và sự trỗi dậy của châu Á, sức mạnh biển của Mỹ có xu hướng suy giảm tương đối. Giới hoạch định chính sách ở Mỹ nhiều lần cảnh báo về những thách thức đến từ các đối thủ tiềm tàng, nhất là Trung Quốc - quốc gia đã đạt bước tiến nhanh trong năng lực đóng tàu, vận tải và phát triển hải quân. Tháng 1-2025, ngay trước khi Tổng thống Mỹ Joe Biden chính thức kết thúc nhiệm kỳ, Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) công bố báo cáo toàn diện về chính sách hàng hải của Trung Quốc, đặt nền tảng để chính quyền mới có cách tiếp cận chủ động và quyết đoán hơn. Ngay sau khi trở lại Nhà Trắng, Tổng thống D. Trump coi phục hồi ngành hàng hải là một trong những ưu tiên chiến lược hàng đầu. Trong thời gian ngắn, chính quyền Tổng thống D. Trump “phiên bản 2.0” xác lập tầm nhìn và chiến lược hàng hải toàn diện, dựa trên bốn trụ cột chính, bao gồm: phục hồi năng lực đóng tàu; mở rộng đội tàu vận tải mang cờ Mỹ; ưu tiên đội tàu Mỹ trong vận chuyển hàng hóa của Mỹ; sử dụng công cụ thuế, phí để điều tiết thị trường đóng tàu và vận tải biển. Ngày 4-3-2025, Tổng thống D. Trump tuyên bố thành lập Văn phòng Đóng tàu trực thuộc Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ nhằm ứng phó trước “sự thống trị của Trung Quốc trong ngành đóng tàu”. Tiếp đó, ngày 9-4-2025, ông ký Sắc lệnh “Khôi phục vị thế thống trị hàng hải của nước Mỹ”, giao Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ phối hợp các cơ quan hữu quan xây dựng Kế hoạch Hành động Hàng hải (Maritime Action Plan - MAP) trong vòng 210 ngày. Đây là kế hoạch liên ngành đầu tiên kể từ thập niên 80 của thế kỷ XX, hướng tới cấu trúc lại toàn diện năng lực hàng hải Mỹ với 18 nhóm giải pháp, bao gồm đầu tư hạ tầng cảng và nhà máy đóng tàu; chính sách tín dụng, thuế và mua sắm công; phát triển nhân lực kỹ thuật; đổi mới công nghệ; củng cố chuỗi cung ứng nội địa và phát triển các tuyến hàng hải mới, trong đó có tuyến qua Bắc Cực. Song song với biện pháp hành pháp, Quốc hội Mỹ thúc đẩy khung pháp lý nhằm bảo đảm đầu ra ổn định cho ngành đóng tàu trong nước. Ngày 9-6-2025, Hạ viện Mỹ thông qua Đạo luật H.R.2035 - “Hàng Mỹ cho tàu Mỹ” (American Cargo for American Ships Act), quy định 100% hàng hóa có nguồn gốc ngân sách liên bang phải được vận chuyển bằng tàu mang cờ Mỹ nếu có sẵn và mức giá phù hợp (trước đây tỷ lệ này là 50%). Đồng thời, Hạ viện Mỹ cũng thông qua Đạo luật H.R.2390 về an ninh chuỗi cung ứng hàng hải, sửa đổi Chương trình Phát triển hạ tầng cảng biển (PIDP) do Cục Hàng hải Mỹ quản lý, nhằm cung cấp ngân sách thay thế các cần cẩu có phần cứng hoặc phần mềm nguồn gốc Trung Quốc. Trước đó, ngày 30-4-2025, nhóm nghị sĩ lưỡng đảng đề xuất Đạo luật SHIPS for America nhằm phát triển đội tàu vận tải biển, nâng cao năng lực đóng tàu và đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật. Hiện nay, các dự thảo luật này đang được Thượng viện Mỹ xem xét (10), phản ánh quyết tâm chính trị của Quốc hội Mỹ trong việc tái thiết nền tảng công nghiệp hàng hải quốc gia. Mỹ cũng triển khai đồng bộ các biện pháp tài chính nhằm tạo đòn bẩy thị trường. Ngày 17-4-2025, Văn phòng Đại diện thương mại của Mỹ (USTR) công bố biểu phí cảng đặc biệt áp dụng đối với tàu do doanh nghiệp Trung Quốc vận hành hoặc được đóng tại Trung Quốc. Các tàu đóng tại Trung Quốc nhưng do doanh nghiệp nước khác vận hành chịu mức phí thấp hơn. Cùng với mức thuế 55% đánh vào hàng hóa Trung Quốc và 100% đối với cần cẩu có xuất xứ từ Trung Quốc, các biện pháp này cho thấy chính quyền Tổng thống D. Trump ưu tiên sử dụng công cụ tài chính (thay vì rào cản kỹ thuật) để định hướng hành vi thị trường, buộc các hãng tàu cân nhắc địa điểm đóng mới và cơ cấu lại đội tàu khai thác các tuyến đến Mỹ. Ngày 4-7-2025, sau khi được Quốc hội Mỹ thông qua, Tổng thống Mỹ D. Trump đã ký ban hành Đạo luật “One Big Beautiful Bill Act” (OBBBA), coi đây là bước đi quan trọng trong chiến lược phục hồi năng lực hàng hải quốc gia, với tổng ngân sách 29 tỷ USD dành cho chương trình đóng tàu quân sự và dân sự (11) . Ngoài ra, OBBBA phân bổ 750 triệu USD cho phát triển chuỗi cung ứng, 250 triệu USD cho đào tạo chuyên sâu, 500 triệu USD cho tích hợp AI, cùng hàng trăm triệu USD mở rộng nhà máy thép và sản xuất tuabin, động cơ. Mặc dù ưu tiên hiện đại hóa lực lượng hải quân, song các khoản đầu tư trong khuôn khổ OBBBA được kỳ vọng sẽ lan tỏa lợi ích sang toàn bộ ngành công nghiệp đóng tàu dân dụng, tạo hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, lao động và chuỗi giá trị công nghiệp biển. Trên bình diện đối ngoại, chính quyền Tổng thống D. Trump tăng cường các hành lang hàng hải chiến lược, gián tiếp thúc đẩy phục hồi ngành đóng tàu. Tháng 4-2025, Tổng thống D. Trump giao Ngoại trưởng Marco Rubio đàm phán quyền lưu thông tự do cho tàu quân sự và tàu thương mại Mỹ qua Kênh đào Panama, trong khi Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth tuyên bố sẽ “xóa bỏ ảnh hưởng của Trung Quốc” tại khu vực này (12) . Cùng thời điểm, Tập đoàn đầu tư BlackRock dẫn đầu liên danh quốc tế đàm phán mua quyền khai thác 43 cảng tại 23 quốc gia, trong đó có hai cảng ở hai đầu Kênh Panama, từ CK Hutchison với giá 22,8 tỷ USD (13) . Động thái được xem là bước đi nhằm mở rộng hiện diện của Mỹ trên các tuyến hàng hải trọng yếu toàn cầu. Nhìn tổng thể, chính quyền Tổng thống D. Trump nhiệm kỳ hai không chỉ hướng tới việc mở rộng đội tàu và khôi phục chuỗi hậu cần, mà còn kiến tạo lại nền tảng quyền lực quốc gia trên biển. Thông qua mạng lưới chính sách đồng bộ, từ Kế hoạch Hành động hàng hải (MAP), quy định ưu tiên hàng hóa quốc gia (Cargo Preference 100%), biểu phí cảng đặc biệt áp dụng cho tàu đóng tại Trung Quốc, đến các gói đầu tư công nghiệp và hạ tầng, Mỹ đang định hình lại toàn bộ hệ sinh thái vận tải biển và chuỗi cung ứng quốc gia. Mục tiêu không dừng ở phục hồi năng lực kinh tế - công nghiệp, mà là thiết lập lại quyền kiểm soát của Mỹ đối với các “huyết mạch” vận tải và chuỗi cung ứng toàn cầu. Chính sách hàng hải mới của Mỹ được xem như khởi đầu cho giai đoạn cạnh tranh quyết liệt hơn trong kiểm soát chuỗi giá trị đóng tàu, vận tải và các tuyến hàng hải chiến lược quốc tế. Tác động toàn cầu và sự định hình lại trật tự hàng hải thế giới Trong giai đoạn 2025 - 2030, lĩnh vực hàng hải được dự báo trở thành một trong những mặt trận chủ chốt của cạnh tranh địa - chiến lược và địa - kinh tế toàn cầu. Chính sách hàng hải của chính quyền Tổng thống D. Trump nhiệm kỳ hai được cho là khó có thể ngay lập tức thay đổi cán cân năng lực hàng hải quốc tế, song về dài hạn sẽ buộc các quốc gia và tập đoàn lớn phải điều chỉnh chính sách, định hình lại chuỗi cung ứng đóng tàu, thiết bị cảng biển và các tuyến vận tải toàn cầu. Cảng hàng hóa Los Angeles, bang California, Mỹ_Ảnh: THX/TTXVN Các biện pháp ưu đãi thuế, tín dụng cùng cải cách lao động và tiêu chuẩn kỹ thuật được kỳ vọng tạo “cú hích” phục hồi ngành công nghiệp đóng tàu Mỹ. Biểu phí cảng đặc biệt đối với tàu đóng tại Trung Quốc tạo áp lực tái cấu trúc thị trường, buộc doanh nghiệp điều chỉnh chuỗi cung ứng và kế hoạch đóng mới. Tuy vậy, các chuyên gia cho rằng, những chính sách này vẫn cần thời gian để phát huy tác dụng. Trong ngắn hạn, Mỹ được cho là khó có thể đảo ngược ưu thế vượt trội của Trung Quốc. Đến tháng 8-2025, Trung Quốc vẫn nắm khoảng 53% đơn hàng đóng tàu toàn cầu (theo S&P Global và CSIS). Tuy nhiên, một số tín hiệu điều chỉnh đã xuất hiện khi các hãng vận tải lớn như Maersk và MSC chuyển đơn hàng sang Hàn Quốc, Nhật Bản nhằm tránh rủi ro phí bổ sung khi cập cảng Mỹ. Trong trung hạn, chuỗi cung ứng đóng tàu có khả năng phân tầng theo mức độ rủi ro chính sách. Trung Quốc vẫn giữ vị thế dẫn đầu về sản lượng, trong khi Hàn Quốc và Nhật Bản củng cố ưu thế ở các phân khúc kỹ thuật cao như tàu LNG và tàu container thế hệ mới. Mỹ, dù chưa cạnh tranh được về chi phí, vẫn có thể giành lại một phần nhỏ thị phần nội địa, nhất là dòng tàu hỗ trợ và tàu phục vụ quốc phòng. Việc áp dụng phí cảng đặc biệt với tàu đóng tại Trung Quốc nhiều khả năng thúc đẩy tái cấu trúc vận tải biển. Các hãng có xu hướng tách đội tàu thành hai nhóm, bao gồm: nhóm phục vụ tuyến vào Mỹ và nhóm đảm nhiệm tuyến ngoài Mỹ. Với mức phí tăng thêm 18 USD/tấn ròng hoặc 120 USD/container, chi phí cập cảng Mỹ có thể đội thêm 1 - 1,5 triệu USD mỗi chuyến tàu container cỡ lớn, buộc doanh nghiệp tính toán lại mô hình khai thác (14) . Một “phụ phí chính sách” (policy premium) đang hình thành trên tuyến vận tải xuyên Thái Bình Dương. Theo báo Financial Times (tháng 9-2025), các hãng tàu đã điều chỉnh hợp đồng thuê và lịch trình vận hành để giảm rủi ro địa chính trị. Trong bối cảnh đó, các cảng trung chuyển ngoài Trung Quốc tại Hàn Quốc, Nhật Bản hoặc Đông Nam Á có thêm lợi thế, trở thành điểm trung gian chiến lược để gom hàng và đổi tàu đáp ứng tiêu chuẩn ưu tiên cập cảng Mỹ. Phục hồi công nghiệp biển tại Mỹ không chỉ góp phần củng cố sức mạnh hải quân, mà còn tăng cường năng lực hậu cần, từ sản lượng tàu phụ trợ đến tốc độ bảo trì, sửa chữa. Đây là yếu tố có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh Hải quân Trung Quốc (PLAN) đã trở thành lực lượng có quy mô tàu lớn nhất thế giới. Dự báo trong 5 - 10 năm tới, nếu bộ ba chính sách, bao gồm Kế hoạch Hành động Hàng hải (MAP), ưu đãi vận tải và phí cảng được triển khai hiệu quả, Mỹ có thể cải thiện đáng kể năng lực đóng tàu thương mại, qua đó rút ngắn khoảng cách công nghiệp - quân sự với Trung Quốc. Ngược lại, nếu chi phí sản xuất và tình trạng thiếu hụt lao động kỹ thuật không được khắc phục, ưu thế số lượng vẫn sẽ nghiêng về Trung Quốc, trong khi Mỹ duy trì lợi thế về chất lượng công nghệ và khả năng tác chiến hợp đồng liên binh chủng. Việc khôi phục chuỗi cung ứng hỗ trợ và đào tạo đội ngũ kỹ sư hàng hải mới sẽ tạo nền tảng nâng cao năng lực công nghiệp quốc phòng và củng cố sức mạnh răn đe dài hạn trên biển - thước đo phản ánh vị thế và khả năng duy trì ưu thế chiến lược của Mỹ trong trật tự hàng hải mới. Tuy nhiên, chính sách hàng hải của Mỹ vẫn đối diện nhiều rủi ro hiện hữu. Thứ nhất, các đánh giá độc lập cho thấy chi phí đóng tàu tại Mỹ cao gấp 3 - 5 lần so với Đông Á. Nếu không sớm khắc phục tình trạng thiếu hụt đội ngũ kỹ sư và lao động lành nghề, ngành đóng tàu Mỹ khó đạt mục tiêu sản lượng trước năm 2030. Thứ hai, việc áp phụ phí đối với tàu do Trung Quốc sản xuất hoặc vận hành có thể làm tăng chi phí vận tải, kéo theo giá hàng nhập khẩu cao hơn và gây áp lực lên lạm phát trong nước. Ngoài ra, quá trình thay thế hệ thống cần cẩu và phần mềm quản lý có nguồn gốc Trung Quốc dự kiến kéo dài từ 4 - 6 năm, khiến nguy cơ tắc nghẽn cảng trong giai đoạn chuyển tiếp là khó tránh khỏi. Ở chiều ngược lại, Trung Quốc và các quốc gia liên quan đẩy mạnh điều chỉnh chiến lược để ứng phó với chính sách hàng hải mới của Mỹ. Tháng 7-2025, Trung Quốc tiến hành sáp nhập Tập đoàn Đóng tàu Nhà nước (China State Shipbuilding Corporation - CSSC) và Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu Trung Quốc (China Shipbuilding Industry Corporation - CSIC), hình thành tổ hợp công nghiệp hàng hải tích hợp theo chiều dọc quy mô lớn nhất thế giới, kiểm soát phần lớn mạng lưới nhà máy đóng tàu từ cấp 1 đến cấp 3. Cấu trúc mới này giúp Trung Quốc củng cố năng lực nghiên cứu - sản xuất, tăng cường tự chủ chuỗi cung ứng và nâng cao hiệu quả điều phối công nghiệp (15) . Đồng thời, Trung Quốc mở rộng cung cấp tín dụng ưu đãi, thuê - mua tàu biển và bảo lãnh tài chính thông qua các ngân hàng chính sách, nhằm duy trì sức cạnh tranh về giá và bảo đảm thị phần toàn cầu trong bối cảnh môi trường thương mại phân tách ngày càng rõ nét. Trong khi đó, Nhật Bản và Hàn Quốc chủ động điều chỉnh chiến lược, mở rộng đầu tư và hợp tác tại Mỹ nhằm tận dụng các gói hỗ trợ công nghiệp, đồng thời duy trì thế cân bằng trong quan hệ kinh tế - thương mại song phương. Cách tiếp cận linh hoạt giúp Nhật Bản và Hàn Quốc vừa củng cố vị thế trong chuỗi giá trị đóng tàu toàn cầu, vừa bảo đảm khả năng điều tiết giữa hai cực cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc. Nhìn tổng thể, từ nay đến năm 2030, cục diện hàng hải toàn cầu sẽ biến đổi nhanh chóng khi các lĩnh vực quan trọng, như đóng tàu, vận tải biển và chuỗi hậu cần trở thành không gian cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc. Biển không chỉ là tuyến vận tải thương mại, mà còn là hạ tầng quyền lực, nơi các nước lớn định vị ảnh hưởng kinh tế, công nghệ và an ninh. Đối với các quốc gia đang phát triển, nhất là ở khu vực Đông Nam Á, xu thế này mang đến cả cơ hội và thách thức đan xen, đòi hỏi năng lực thích ứng linh hoạt và tư duy chính sách chủ động hơn. Một mặt, sự gia tăng cạnh tranh trên biển có thể khiến môi trường khu vực trở nên phức tạp, kéo theo chi phí logistics, thuế - phí hàng hải và bảo hiểm vận tải gia tăng, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu. Sự phân tách chuỗi cung ứng theo địa chính trị có thể khiến dòng vận tải, bảo trì, cung ứng linh kiện và thiết bị cảng biển bị gián đoạn. Những nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nguồn cung từ Trung Quốc sẽ chịu áp lực điều chỉnh đột ngột về chi phí, tiêu chuẩn kỹ thuật và năng lực vận hành, ảnh hưởng trực tiếp tới ổn định thương mại và năng lực dự báo chính sách kinh tế biển. Mặt khác, tiến trình tái cấu trúc chuỗi hàng hải toàn cầu lại mở ra không ít cơ hội mới cho các quốc gia có vị trí chiến lược và chính sách linh hoạt. Khu vực Đông Nam Á, với lợi thế nằm giữa các tuyến vận tải huyết mạch, có thể nổi lên như mắt xích trung gian quan trọng trong hệ thống logistics mới - nơi trung chuyển, bảo trì hoặc đóng mới tàu chuyên dụng, đồng thời thu hút các dòng vốn đầu tư và công nghệ từ những tập đoàn quốc tế đang tìm kiếm mạng lưới cung ứng ngoài Trung Quốc. Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi xanh và số hóa trong ngành hàng hải (tăng cường tàu thân thiện môi trường, cảng thông minh và quản trị dữ liệu vận tải) tạo cơ hội cho các nước đi sau áp dụng mô hình phát triển rút ngắn (leapfrogging), tận dụng công nghệ mới để rút ngắn khoảng cách phát triển công nghiệp biển. Nếu chủ động nâng cấp hạ tầng cảng biển, phát triển công nghiệp hỗ trợ, xây dựng chuỗi cung ứng nội khối và đầu tư đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao trong lĩnh vực hàng hải, logistics, trí tuệ nhân tạo (AI) và quản lý năng lượng, các quốc gia Đông Nam Á đang phát triển có thể vươn lên trở thành các trung tâm công nghiệp - dịch vụ biển thế hệ mới của khu vực, vừa phục vụ nội thương, vừa tham gia sâu hơn vào mạng lưới thương mại toàn cầu. Trong bối cảnh trật tự hàng hải quốc tế đang được định hình lại với tốc độ nhanh, năng lực thích ứng về chính sách, điều phối về thể chế và khả năng triển khai thực thi hiệu quả sẽ quyết định khả năng của các quốc gia trong việc giảm thiểu rủi ro, tận dụng cơ hội và xác lập vị thế mới trong cấu trúc quyền lực biển đang chuyển dịch. Việc gắn kết tư duy chiến lược biển với chính sách công nghiệp hiện đại và hợp tác khu vực sâu rộng sẽ là chìa khóa để các nền kinh tế đang phát triển chuyển hóa cạnh tranh toàn cầu trở thành động lực hội nhập quốc tế và tăng trưởng bền vững./. ------------------------------- (1) Anne Kerriou: “Containers: 2024 ranking of the world’s major ports” (Tạm dịch: Container: Bảng xếp hạng các cảng lớn nhất thế giới năm 2024”, Upply Market Insights, ngày 3-4-2025, https://market-insights.upply.com/en/containers-2024-ranking-of-the-worlds-major-ports (2) Sam Chambers: “China stretches lead over Greece as world’s largest shipowning nation” (Tạm dịch: Trung Quốc kéo giãn khoảng cách so với Hy Lạp để trở thành quốc gia sở hữu tàu lớn nhất thế giới), Splash, ngày 16-12-2024, https://splash247.com/china-stretches-lead-over-greece-as-worlds-largest-shipowning-nation/ (3) Xem: “Section 301 Investigation: Report on China’s Targeting of the Maritime, Logistics, and Shipbuilding Sectors for Dominace” (Tạm dịch: Điều tra theo Mục 301: Báo cáo về việc Trung Quốc nhắm tới các lĩnh vực hàng hải, hậu cần và đóng tàu nhằm đạt vị thế thống trị), Office of the U.S Trade Represenstative, ngày 16-1-2025, https://ustr.gov/sites/default/files/enforcement/301Investigations/USTRReportChinaTargetingMaritime.pdf (4) Cathalijne Adams: “China’s Dominance of Global Shipbuilding Warrants “Urgent Action”, USTR Finds” (Tạm dịch: Sự thống trị của Trung Quốc trong ngành đóng tàu toàn cầu đòi hỏi ‘hành động khẩn cấp’, theo đánh giá của USTR”, Alliance for American Manufacturing , tháng 1-2025, https://www.americanmanufacturing.org/blog/chinas-dominance-of-global-shipbuilding-warrants-urgent-action-ustr-finds (5) Xem: “U.S.-Flagged Fleet - Dashboard” (Tạm dịch: Thống kê đội tàu thương mại mang cờ Mỹ), Maritime Administration, U.S. Department of Transportation, tháng 4-2025, https://www.maritime.dot.gov/data-reports/us-flag-fleet-dashboard (6) Barry Parker: “US ports hit out at proposed 100% tariff on China-built ship-to-shore cranes” (Tạm dịch: Các cảng của Mỹ phản đối đề xuất áp thuế 100% đối với cần cẩu bốc dỡ hàng do Trung Quốc sản xuất), SeatradeMaritime, ngày 22-5-2025, https://www.seatrade-maritime.com/ports-logistics/us-ports-hit-out-at-proposed-100-tariff-on-china-built-ship-to-shore-cranes (7) “Military and Security Developments Involving The Peoples’s Republic of China 2024: Annual Report to Congress” (Tạm dịch: Phát triển quân sự và an ninh liên quan đến Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 2024: Báo cáo hàng năm gửi Quốc hội), U.S. Department of Defense, 2024, https://media.defense.gov/2024/Dec/18/2003615520/-1/-1/0/MILITARY-AND-SECURITY-DEVELOPMENTS-INVOLVING-THE-PEOPLES-REPUBLIC-OF-CHINA-2024.PDF (8) Alfred Tayer Mahan: “Influence of Sea Power, 1890” (Tạm dịch: Ảnh hưởng của sức mạnh biển, 1890), Ruhr-uni-bochum , https://www.ruhr-uni-bochum.de/gna/Quellensammlung/07/07_alfredtmahaninfluenceofseapower_1890.htm (9) Tim Colton - LaVar Huntzinger: “A Brief History of Shipbuilding” (Tạm dịch: Lịch sử ngành đóng tàu trong thời kỳ hiện đại), CNA, tháng 9-2002, https://www.cna.org/archive/CNA_Files/pdf/d0006988.a1.pdf (10) “S.1541 - SHIPS for America Act of 2025S.1541” (Tạm dịch: Đạo luật SHIPS for America năm 2025”, Congress.gov, ngày 30-4-2025, https://www.congress.gov/bill/119th-congress/senate-bill/1541/history (11) MI News Network: “One Big Beautiful Bill’ To Boost U.S. Shipbuilding With $29Bn Investment” (Tạm dịch: “Một dự luật lớn tuyệt vời” thúc đẩy đóng tàu Mỹ với khoản đầu tư 29 tỷ USD), Marine Insight, ngày 4-7 -2025, https://www.marineinsight.com/shipping-news/one-big-beautiful-bill-to-boost-u-s-shipbuilding-with-29bn- (12) Phil Stewart: “US to 'take back' Panama Canal from Chinese influence, visiting Pentagon chief says” (Tạm dịch: Mỹ sẽ “giành lại” Kênh đào Panama khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tuyên bố trong chuyến thăm), Reuters, ngày 9-4-2025, https://www.reuters.com/world/americas/pentagons-hegseth-visit-panama-canal-after-trump-threatens-take-it-back-2025-04-08/ (13) John Bradford - Isaac Kardon: “IP25026|American Consortium’s Purchase of Hong Kong-Owned Port Terminals Has Implications Far Beyond Panama” (Tạm dịch: Việc liên consortium Mỹ mua các cảng thuộc sở hữu Hồng Công có tác động vượt xa Panama), Rsis, ngày 10-3-2025, https://rsis.edu.sg/rsis-publication/idss/ip25026-american-consortiums-purchase-of-hong-kong-owned-port-terminals-has-implications-far-beyond-panama/ (14) Harry Dempsey: “Trump’s port fees will weaken China’s shipbuilding dominance, says shipping boss” (Tạm dịch: Phí cảng của Trăm sẽ làm suy yếu sự thống trị của Trung Quốc trong ngành đóng tàu), Financial Times, ngày 25-9-2025, https://www.ft.com/content/4000f841-58cd-4006-9b68-1d71bf5c0afd (15) Daniel Ren: “China’s 2 largest shipyards plan to merge to create the world’s biggest builder” (Tạm dịch: “Hai nhà máy đóng tàu lớn nhất Trung Quốc dự định sáp nhập để tạo ra nhà sản xuất lớn nhất thế giới), South China Morning Post, ngày 3-9-2024, https://www.scmp.com/business/china-business/article/3277066/chinas-two-largest-shipyards-plan-merge-create-worlds-biggest-builder
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1225803/nghien-cuu-co-ban-va-su-menh-phat-trien-nguon-nhan-luc-nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van-chat-luong-cao.aspx
Nghiên cứu cơ bản và sứ mệnh phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn chất lượng cao
10-03-2026
Thứ nhất, về vai trò của nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn.
Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan khu triển lãm thành tựu của ngành khoa học và công nghệ trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm 80 năm ngành bưu chính viễn thông, 66 năm ngành khoa học và công nghệ gắn với Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ I, ngày 29-9-2025_Ảnh: vjst.vn Thứ nhất, về vai trò của nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn. Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, nhu cầu về bằng chứng khoa học, phân tích chính sách dựa trên dữ liệu và hiểu biết sâu sắc về xã hội, văn hóa và con người ngày càng trở nên cấp thiết. Nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn chính là cơ sở khoa học quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách nhận diện xu thế, dự báo rủi ro và đưa ra các quyết sách phù hợp, hiệu quả và bền vững. Trong nhiều trường hợp, kết quả nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm, phân tích định tính, định lượng, giúp thiết kế các chương trình phát triển con người, cải cách thể chế, chuyển đổi số, văn hóa số, góp phần quan trọng để các cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách vừa có cơ sở khoa học, đồng thời bám sát thực tiễn trong quá trình tham mưu, xây dựng chính sách. Thời gian qua, hiệu quả đã được thể hiện khá rõ nét trong lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục, an sinh, phát triển bền vững… Bên cạnh đó, nghiên cứu cơ bản còn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực học thuật và phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu. Đây là môi trường đào tạo và rèn luyện thế hệ nhà khoa học mới, giúp hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, các trung tâm nghiên cứu liên ngành, đồng thời nâng cao chuẩn mực học thuật và đạo đức nghiên cứu trong toàn hệ thống khoa học xã hội và nhân văn. Không chỉ phục vụ phát triển trong nước, nghiên cứu cơ bản còn góp phần đưa tri thức và kinh nghiệm của Việt Nam ra thế giới, thể hiện ở các nghiên cứu về Việt Nam, từ lịch sử, văn hóa, xã hội đến chính sách công,…; từ phản biện và bổ sung lý thuyết quốc tế dưới góc nhìn Việt Nam và châu Á đến trực tiếp và gián tiếp tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, nhất là các vấn đề mang tính thời đại như phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, di cư, bất bình đẳng, biến động xã hội,… Những đóng góp này đã và đang nâng cao vị thế học thuật của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, từng bước khẳng định vai trò, vị thế, năng lực giải quyết các vấn đề toàn cầu của Việt Nam. Thứ hai, về tài trợ nghiên cứu cơ bản của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia NAFOSTED trong khoa học xã hội và nhân văn. Trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2025, NAFOSTED đã tài trợ cho 749 đề tài nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, trong đó, tập trung vào khu vực học và quốc tế học, tâm lý, giáo dục, triết học, chính trị học, xã hội học, kinh tế học, sử học, luật học,… Đến nay, 478 đề tài đã nghiệm thu. Thông qua các đề tài này, nhiều kết quả khoa học có giá trị đã được công bố cả trong nước và quốc tế. Trong 15 năm, đã có 441 bài báo quốc tế, hơn 1.500 bài báo quốc gia được công bố. Các đề tài cũng đã đào tạo khoảng 300 tiến sĩ và khoảng 500 thạc sĩ, góp phần hình thành lực lượng nghiên cứu kế cận cho đất nước. Số lượng đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn được NAFOSTED tài trợ giai đoạn 2011 - 2025 Nguồn: NAFOSTED Riêng trong giai đoạn 2024 - 2025, Quỹ đã nỗ lực đổi mới phương thức tổ chức tài trợ theo hướng minh bạch, cạnh tranh và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế. Việc áp dụng hệ thống quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ trực tuyến theo thời gian thực đã giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thủ tục hành chính và tạo thuận lợi cho các nhà khoa học trong quá trình triển khai đề tài. Tuy nhiên, thời gian qua, công tác nghiên cứu vẫn còn những thách thức, như sự chưa đồng đều về năng lực nghiên cứu giữa các cơ sở, hạn chế về công bố quốc tế và khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học với thực tiễn hoạch định chính sách... Đây là những vấn đề mà Quỹ xác định cần tiếp tục tập trung giải quyết trong thời gian tới. Thứ ba, về sứ mệnh và vai trò của NAFOSTED phát triển nguồn lực khoa học và công nghệ. Với vai trò là quỹ khoa học quốc gia, NAFOSTED không chỉ thực hiện chức năng cấp kinh phí, mà còn là một thiết chế chiến lược của Nhà nước trong việc phát triển nguồn lực khoa học và công nghệ. Quỹ có trách nhiệm tạo dựng môi trường nghiên cứu minh bạch, công bằng và cạnh tranh, bảo đảm thu hút nhân tài trong và ngoài nước. Phát triển đội ngũ nhà khoa học chất lượng cao. Trong thời gian gần đây, Quỹ đã triển khai nhiều hoạt động nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả tài trợ. Các đánh giá khoa học dần được chuẩn hóa theo chuẩn mực quốc tế (công bố ISI/Scopus, uy tín học thuật, tính minh bạch), các quyết định tài trợ được dựa trên đánh giá khoa học độc lập và khách quan… Việc xây dựng và ban hành các quy định mới theo tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025; việc phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai các thông tư hướng dẫn về quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ và hỗ trợ hoạt động nâng cao năng lực khoa học được triển khai nhanh, hiệu quả. Thứ tư, về định hướng chính sách tài trợ cho khoa học xã hội và nhân văn và một số hoạt động nổi bật trong thời gian tới. Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) tham gia triển lãm trưng bày các sản phẩm, giải pháp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo_Ảnh: nafosted.gov.vn Trong giai đoạn 2026 - 2030, NAFOSTED xác định: Một là, tiếp tục ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu cơ bản chất lượng cao, coi đây là nền tảng cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh tài trợ nghiên cứu cơ bản chất lượng cao; tăng số lượng và chất lượng đề tài nghiên cứu cơ bản lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Quỹ cũng đặc biệt chú trọng hỗ trợ các nhà khoa học trẻ, các nhóm nghiên cứu mạnh và các hoạt động nâng cao năng lực nghiên cứu, như hỗ trợ nghiên cứu sinh, thực tập nghiên cứu ngắn hạn ở nước ngoài, tổ chức hội thảo khoa học, kết nối mạng lưới nghiên cứu trong và ngoài nước. Đây là những hoạt động rất thiết thực nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. Thúc đẩy hội nhập quốc tế và hợp tác nghiên cứu được coi trọng với định hướng khuyến khích các hoạt động nâng cao năng lực khoa học và công nghệ của các tổ chức, cá nhân trong nước với nước ngoài thông qua tiếp tục mở rộng các chương trình tài trợ song phương, đa phương, đồng tài trợ đề tài và trao đổi học giả. Đây là hướng đi quan trọng nhằm nâng cao năng lực hội nhập và vị thế quốc tế của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam. Đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn được NAFOSTED tài trợ năm 2025 Nguồn: NAFOSTED Hai là, khuyến khích nghiên cứu liên ngành và đổi mới sáng tạo, gắn khoa học xã hội và nhân văn với các lĩnh vực công nghệ mới, như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và chuyển đổi số, nhằm mở rộng không gian nghiên cứu và tăng cường giá trị ứng dụng của tri thức khoa học. Ba là, đáp ứng yêu cầu bối cảnh chuyển đổi số, Quỹ tập trung đẩy mạnh chuyển đổi số, giảm thủ tục hành chính theo hướng lấy nhà khoa học làm trung tâm, lấy kết quả đầu ra làm thước đo. Cụ thể, Quỹ số hóa toàn diện quy trình quản lý nhiệm vụ khoa học, từ tiếp nhận hồ sơ, xét chọn, ký hợp đồng, theo dõi thực hiện đến nghiệm thu và quản lý sản phẩm nghiên cứu, bảo đảm toàn bộ quy trình được thực hiện trực tuyến, liên thông, hạn chế tối đa hồ sơ giấy. Quỹ đã từng bước xây dựng hệ sinh thái dữ liệu khoa học số về nhiệm vụ và sản phẩm nghiên cứu do Quỹ tài trợ. Công khai các kết quả nghiên cứu và kết nối để chia sẻ tri thức, phục vụ hoạch định chính sách khoa học. Quá trình này được thực hiện bảo đảm an toàn thông tin và quyền sở hữu trí tuệ. Quỹ cũng đã bước đầu xây dựng, chuẩn hóa dữ liệu nhà khoa học và tổ chức chủ trì theo nguyên tắc khai một lần - sử dụng nhiều lần. Đẩy mạnh ứng dụng chữ ký số, hợp đồng điện tử và thanh toán, quyết toán điện tử, kết nối đồng bộ với hệ thống tài chính - kho bạc nhằm rút ngắn thời gian giải ngân, nâng cao tính minh bạch và khả năng, hiệu quả giám sát. Phương thức đánh giá, xét chọn nhiệm vụ khoa học được đổi mới trên cơ sở ứng dụng nền tảng số. Quá trình phản biện và họp hội đồng được tổ chức trực tuyến, kết hợp với trực tiếp vừa góp phần tuyển chọn được các thành viên hội đồng có chất lượng cao, vừa giảm chi phí và tránh lãng phí thời gian cho cả cơ quan quản lý khoa học và nhà khoa học. Một trong những kết quả quan trọng thời gian qua là NAFOSTED đã bước đầu chuyển từ quản lý theo thủ tục, quy trình sang quản lý theo kết quả và sản phẩm đầu ra của nhà khoa học. Quyền tự chủ của chủ nhiệm đề tài được phát huy trong tổ chức thực hiện và sử dụng kinh phí. Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, xác định đầu tư cho nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn chính là đầu tư cho năng lực tư duy chiến lược, cho sự phát triển con người và cho nền tảng văn hóa - xã hội bền vững của đất nước. Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia NAFOSTED đã và đang đồng hành cùng cộng đồng khoa học, góp phần xây dựng năng lực tự chủ cho nền khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam, đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước, gia tăng vị thế, vai trò đất nước trên trường quốc tế./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1219302/phat-huy-suc-manh-dai-doan-ket-toan-dan-toc-trong-su-nghiep-xay-dung%2C-phat-trien-dat-nuoc-va-bao-ve-to-quoc-trong-ky-nguyen-moi.aspx
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới
08-02-2026
Những quan điểm của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư ấp Châu Thành, xã An Ninh, thành phố Cần Thơ_Ảnh: TTXVN Thấm nhuần lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò của quần chúng nhân dân là người sáng tạo nên lịch sử và tư tưởng “ Dân là gốc ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng, đưa dân tộc ta, đất nước ta làm nên những thắng lợi vĩ đại, từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, từ đại thắng Mùa Xuân năm 1975 đến công cuộc đổi mới đất nước. Mỗi bước ngoặt lịch sử đều in đậm dấu ấn của sự chung sức, đồng lòng của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội XIV của Đảng trên cơ sở đánh giá sâu sắc thành tựu của đất nước qua 40 năm đổi mới, nhất là thành tựu nhiệm kỳ XIII của Đảng, Đảng ta tiếp tục khẳng định rõ vai trò, sức mạnh của nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chính là sức mạnh của quốc gia và đề ra những chủ trương, quan điểm, nhiệm vụ để tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ sức mạnh nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện mục tiêu phát triển, xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, trong đó có 5 năm nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã trở thành nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao với định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò, vị thế và uy tín quốc tế của quốc gia được nâng cao; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, nâng lên rõ rệt; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc. Những thành tựu đó là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta và là minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới, phát triển đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn. Những kết quả, thành tựu phát triển đó cũng chính là kết quả của sự đóng góp công sức, trí tuệ, cống hiến của mọi tầng lớp nhân dân, của doanh nhân, trí thức, của các dân tộc, của chiến sĩ, đồng bào và kiều bào ta ở nước ngoài… Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm quý báu sau 40 năm đổi mới, trong đó bài học về phát huy sức mạnh của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được nêu rõ tại bài học thứ ba, đó là: “Quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”. Phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân. Tăng cường củng cố và phát huy hiệu quả sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp và hạnh phúc của nhân dân; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ” . Từ bài học kinh nghiệm trên, Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những quan điểm của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Bước sang giai đoạn phát triển mới của đất nước, trong bối cảnh tình hình thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, chuyển biến nhanh, khó lường, khó đoán định, đất nước ta bên cạnh những thuận lợi, mở ra những cơ hội lịch sử, bước ngoặt cho sự phát triển mạnh mẽ, song cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, có những mặt gay gắt, nặng nề hơn so với giai đoạn trước. Trước ảnh hưởng của toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; sự tác động đa chiều của thông tin, mạng xã hội và âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết từ các thế lực thù địch, thì việc củng cố và phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn vai trò trung tâm, vai trò chủ thể của nhân dân trong thực hiện mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 và khát vọng xây dựng đất nước ta hùng cường, thịnh vượng. Trong đó, quan điểm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, đó là: (1) Quan điểm “Dân là gốc”, dân là chủ thể, là trung tâm, là mục tiêu, là động lực của sự phát triển. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; lấy sự tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu. (2) Quan điểm “dân là chủ, dân làm chủ” Để bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, cần xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Thực hiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có cơ chế phù hợp, thuận lợi và tin cậy để nhân dân tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định đường lối, chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước; nêu cao trách nhiệm tiếp thu, trách nhiệm thông tin, giải trình của các cơ quan Đảng, Nhà nước đối với những kiến nghị, đề xuất của nhân dân. Thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở; chống các biểu hiện dân chủ hình thức. Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, trách nhiệm, đạo đức xã hội. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân trong đại diện thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường trách nhiệm, trật tự, kỷ cương xã hội; tăng cường đồng thuận xã hội gắn với đề cao ý thức trách nhiệm của công dân; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, lợi dụng dân chủ chống phá Đảng, Nhà nước, làm mất ổn định chính trị - xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức và cá nhân. (3) Quan điểm về củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc Thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích; bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả phát triển. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó: 1) Xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. 2) Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh về cả số lượng và chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giác ngộ giai cấp, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, thực sự là giai cấp lãnh đạo sự nghiệp cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Cho đến nay, công nhân nước ta đã có hơn 15 triệu người, chiếm khoảng 15% dân số, 29% lực lượng lao động xã hội, tạo ra gần 70% giá trị tổng sản phẩm xã hội (1) . Sau gần 40 năm đổi mới, trong đó có hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28-1-2008, về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giai cấp công nhân Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng, chất lượng, bước đầu hình thành đội ngũ công nhân trí thức, có tay nghề, kỹ năng cao, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. 3) Xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam văn minh, phát triển toàn diện, có ý chí, tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên; phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới”. Hiện nay, nông dân là lực lượng đông đảo trong xã hội, chiếm hơn 1/3 dân số cả nước và chiếm 49,17% số hộ ở nông thôn với hơn 9,1 triệu hộ nông dân (2) . Nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Xây dựng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh là mục tiêu phát triển trong thời kỳ mới. 4) Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam vững mạnh toàn diện, có cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, giàu lòng yêu nước và trách nhiệm công dân, có nhân cách và lý tưởng cách mạng, tiêu biểu cho trí tuệ Việt Nam. 5) Chăm lo xây dựng phụ nữ Việt Nam thời đại mới, phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh, trí tuệ và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của phụ nữ; tích cực xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ, văn minh, ấm no, hạnh phúc. Chiếm 50,2% dân số, 47,4% lực lượng lao động, phụ nữ ngày càng khẳng định tiềm năng, vai trò và vị thế quan trọng trong gia đình, xã hội, đóng góp xứng đáng vào tiến trình phát triển của đất nước (3) . 6) Xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam lớn mạnh, có tinh thần yêu nước, trách nhiệm xã hội, ý chí tự cường dân tộc, khát vọng cống hiến, thượng tôn pháp luật, năng lực hội nhập và cạnh tranh quốc tế, góp phần phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và tạo công ăn việc làm cho khoảng 82% tổng số lao động, là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống của nhân dân. 7) Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, ý chí, khát vọng cống hiến, nêu cao trách nhiệm đối với đất nước, xã hội. Với hơn 20 triệu người, thanh niên là lực lượng sung sức nhất về thể chất và tinh thần, trí tuệ, khát vọng, đam mê, cống hiến; là lực lượng có tiềm năng và sức mạnh lan tỏa to lớn, luôn khát khao vươn lên, khẳng định mình, đóng góp cho Tổ quốc, cho nhân dân. 8) Phát huy vai trò của cựu chiến binh, cựu công an nhân dân trong giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” và truyền thống “người công an cách mệnh”. 9) Phát huy trí tuệ, uy tín, kinh nghiệm của người cao tuổi trong gia đình, cộng đồng và xã hội; bảo vệ, chăm sóc người cao tuổi, nhất là trong điều kiện già hóa dân số nhanh. Năm 2023, dân số cao tuổi của Việt Nam đã vượt quá 16 triệu người, chiếm gần 17% số dân (4) . Quá trình già hóa ở nước ta đang diễn ra với nhịp độ ngày càng nhanh hơn, đặt ra những thách thức to lớn về phát triển và cơ cấu lại hệ thống an sinh xã hội để thích ứng. 10) Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ cùng phát triển. Thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội, vươn lên thoát nghèo và giảm nghèo đa chiều bền vững. Hiện nay, có 53 dân tộc thiểu số với dân số trên 14,4 triệu người, cư trú trên địa bàn chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước. Sau sắp xếp địa giới hành chính và tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp, cả nước có khoảng 1.516 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn các tỉnh, thành phố. Sau 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, đời sống đồng bào đã có nhiều cải thiện (5) . Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để phát triển kinh tế miền núi trong những năm qua, nhất là nhiệm kỳ Đại hội XIII, Nhà nước đã đầu tư phát triển hạ tầng nhằm kết nối các địa phương và trong địa phương tạo điều kiện để miền núi phát triển. Đặc biệt, vừa qua, Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo xây dựng 248 trường liên cấp, nội trú cho các cháu học sinh các tỉnh miền núi, biên giới. Theo đó phấn đấu đến tháng 8-2026 sẽ hoàn thành, để năm học mới 2026 - 2027, các học sinh miền núi, biên giới sẽ thực hiện được ước mơ học tại những ngôi trường mới khang trang, tươi đẹp, tạo ra nguồn nhân lực bền vững để xây dựng quê hương, đất nước. 11) Bảo đảm, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành sống “tốt đời, đẹp đạo”, đồng hành cùng dân tộc, tích cực tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước. Với 16 tôn giáo, gần 28 triệu tín đồ, các tôn giáo ở Việt Nam đã góp phần lưu giữ, bồi đắp và làm phong phú những giá trị truyền thống văn hóa, mang giá trị nhân văn, đạo đức, có ảnh hưởng tích cực trong đời sống xã hội. Những giá trị tốt đẹp, bác ái của các tôn giáo được cụ thể hóa thành những hành động thiết thực góp phần phát triển đất nước. 12) Đẩy mạnh vận động người Việt Nam ở nước ngoài , nhất là thế hệ trẻ, gắn bó với quê hương, giữ gìn bản sắc và văn hóa dân tộc; tăng cường bảo hộ công dân; hỗ trợ để người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, hội nhập xã hội, đóng góp tích cực cho nước sở tại và đất nước ta. Hơn 5 triệu đồng bào Việt Nam sinh sống, làm việc, học tập tại 130 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới là bộ phận không thể tách rời của dân tộc, luôn hướng về quê hương, đã, đang và sẽ tiếp tục đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gặp mặt, vinh danh tập thể, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài tiêu biểu năm 2025_Ảnh: TTXVN (4) Quan điểm tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; tập hợp, phát huy mọi nguồn lực, năng lực sáng tạo của nhân dân và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, truyền thống và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xác định cơ sở, nội dung cốt lõi, nguyên tắc và các hình thức, biện pháp liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân trong giai đoạn mới. Xây dựng và triển khai Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045. Nhằm cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, bám sát mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược, đồng thời bảo đảm phù hợp với tình hình trong nước, quốc tế và đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước, bảo vệ Tổ quốc giai đoạn 2026 - 2031, tầm nhìn đến năm 2045, Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã nêu rõ hệ thống các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đồng bộ, trong đó, để phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới, Đảng ta đã chỉ rõ 5 giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung triển khai thực hiện: Một là, xây dựng cơ chế, chính sách để thực hiện hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Hai là, xây dựng và thực hiện cơ chế, chính sách để bảo đảm quyền nhân dân được tham gia góp ý vào quá trình xây dựng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm trách nhiệm giải trình của cơ quan đảng, nhà nước trước nhân dân. Ba là, cụ thể hóa các giải pháp, điều kiện để thực hiện dân chủ ở cơ sở. Bốn là, xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xây dựng đối với các giai cấp, tầng lớp nhân dân; các chính sách về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng và người Việt Nam ở nước ngoài. Năm là, xây dựng tổ chức các đề án, đề tài nghiên cứu thực tiễn về thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời, tăng cường công tác dân vận, thắt chặt và làm sâu sắc hơn mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng: Thứ nhất, xây dựng và thực hiện các cơ chế để bảo đảm phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong xây dựng luật pháp, chính sách phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường tiếp xúc, đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân và kịp thời giải quyết kiến nghị chính đáng, hợp pháp của nhân dân; thực hiện nghiêm túc trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú. Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ theo mô hình tổ chức mới ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã, hướng mạnh về cơ sở. Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW về sắp xếp tổ chức bộ máy, ở Trung ương, Đảng đã quyết định thành lập Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương là một trong 6 đảng bộ trực thuộc Trung ương, có chức năng lãnh đạo toàn diện việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác tổ chức, cán bộ, công tác xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức và công tác quần chúng của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Sau một thời gian vận hành theo tổ chức bộ máy mới, vừa qua, Bộ Chính trị giao Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan sơ kết, tham mưu sửa đổi, bổ sung Quyết định số 304-QĐ/TW, ngày 10-6-2025, của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho phù hợp, sát thực tiễn, phát huy được hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và khắc phục những vấn đề bất cập, khó khăn. Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm của Đảng và cả hệ thống chính trị. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng đoàn kết trong hệ thống chính trị, đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội giữ vai trò nòng cốt chính trị trong tập hợp, đoàn kết, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, chúng ta sẽ tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, niềm tin, khát vọng cống hiến và quyết tâm xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./. -------------------------- (1) Số liệu theo Báo cáo của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tại Hội thảo khoa học quốc gia “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh”, xem: Thu Thanh: Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh, Tạp chí Cộng sản điện tử , ngày 22-11-2024, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/1005802/xay-dung-giai-cap-cong-nhan-viet-nam-hien-dai%2C-lon-manh.aspx (2) Theo Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khóa VII trình Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2023 - 2028 (3) Số liệu theo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa XII trình Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2022 - 2027 (4) Xem: Thu Thanh: Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức, Tạp chí Cộng sản điện tử , ngày 27-11-2024, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1019302/view_content (5) Theo Báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng nội dung giai đoạn 2026 - 2030, ngày 13-8-2025
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1224402/phat-huy-vai-tro-cua-bao-chi-trong-truyen-thong-ve-binh-dang-gioi-trong-linh-vuc-chinh-tri%2C-gop-phan-nang-cao-ty-le-nu-tham-gia-cac-vi-tri-lanh-dao%2C-quan-ly.aspx
Phát huy vai trò của báo chí trong truyền thông về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, góp phần nâng cao tỷ lệ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý
08-03-2026
Khung chính sách và bối cảnh bình đẳng giới ở Việt Nam
Các nữ đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng_Ảnh: TTXVN Khung chính sách và bối cảnh bình đẳng giới ở Việt Nam Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Quan điểm nam - nữ bình quyền được khẳng định từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (năm 1930) và tiếp tục được cụ thể hóa trong nhiều văn bản chính sách, pháp luật. Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27-4-2007, của Bộ Chính trị là dấu mốc quan trọng, nhấn mạnh yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò của phụ nữ trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hiến pháp năm 2013 quy định rõ nguyên tắc bình đẳng giới, cấm phân biệt đối xử trong mọi lĩnh vực, trong đó có chính trị. Luật Bình đẳng giới năm 2006, các chương trình quốc gia về bình đẳng giới (2011 - 2015, 2016 - 2020) và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (giai đoạn 2011 - 2020, 2021 - 2030) cũng đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy đảng, chính quyền, Quốc hội, hội đồng nhân dân cũng như các cơ quan hành chính nhà nước. Đáng chú ý, lần đầu tiên tỷ lệ giới được luật hóa trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân, quy định tỷ lệ tối thiểu 35% số phụ nữ trong danh sách ứng cử. Bên cạnh hệ thống pháp luật, các chỉ tiêu về tỷ lệ nữ được thể hiện trong các quy định, hướng dẫn về công tác cán bộ, trong đó quy định rõ về độ tuổi, cơ cấu, tiêu chuẩn nữ trong quy hoạch, bầu cử, bổ nhiệm… Trên bình diện quốc tế, Việt Nam là quốc gia sớm tham gia các cam kết, như: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước về quyền chính trị và dân sự, Công ước cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về bình đẳng , Tuyên bố Bắc Kinh năm 1995… Qua đó, Việt Nam khẳng định trách nhiệm trong việc tăng quyền năng cho phụ nữ và bảo đảm sự hiện diện của nữ giới trong các vị trí lãnh đạo, quản lý. Các cam kết quốc tế này được nội luật hóa thông qua hệ thống pháp luật trong nước, tạo nền tảng thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào quá trình ra quyết định và nắm giữ các vị trí lãnh đạo. Các nguyên tắc lồng ghép giới ngày càng được đề cao trong quy trình xây dựng chính sách và pháp luật. Khung chính sách ngày càng hoàn thiện là cơ sở quan trọng để báo chí phát huy vai trò truyền thông chính trị, thúc đẩy quá trình hiện thực hóa bình đẳng giới trong vị trí lãnh đạo, quản lý. Sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, quản lý Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả trong việc thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Nhờ những nỗ lực trong hoạch định và thực thi chính sách về bình đẳng giới, tỷ lệ phụ nữ trong hệ thống chính trị, cơ quan dân cử và bộ máy hành chính nhà nước ngày càng được cải thiện cả về số lượng và chất lượng. Nhiệm kỳ 2021 - 2026, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XV đạt 30,26%, cao nhất trong ba nhiệm kỳ gần đây, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có tỷ lệ nữ nghị sĩ cao trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương; tỷ lệ nữ đại biểu hội đồng nhân dân đạt 29% ở cấp tỉnh, 29,08% ở cấp huyện và 28,98% ở cấp xã (1) . Những con số này phản ánh nỗ lực của Việt Nam trong việc thúc đẩy bình đẳng giới trong cơ quan dân cử. Trong hệ thống tổ chức đảng, kết quả đại hội đảng bộ 34 tỉnh, thành phố trực thuộc T rung ương nhiệm kỳ 2025 - 2030 cho thấy: có 431 /2.303 đồng chí trong ban chấp hành là nữ (đạt 18,71%, tăng 2,98% so với nhiệm kỳ trước); ban thường vụ cấp ủy có 93/625 đồng chí nữ (đạt 14,88%, tăng 1,99% so với nhiệm kỳ trước) (2) . Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (tháng 1-2026) đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV gồm 200 đồng chí, trong đó 180 đồng chí Ủy viên chính thức và 20 đồng chí Ủy viên dự khuyết; trong 180 Ủy viên chính thức có 21 Ủy viên là nữ (3) . Ở khối hành chính, số lượng phụ nữ giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt cũng có xu hướng tăng. Tỷ lệ các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo chủ chốt là nữ đạt 31,8% (7/22); tỷ lệ nữ lãnh đạo trên tổng số lãnh đạo chủ chốt đạt 14,2% (18/127 người). Chính phủ hiện có 1 nữ Phó Thủ tướng, 3/22 bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là nữ (13,6%) và 14/107 thứ trưởng và cấp phó của người đứng đầu cơ quan thuộc Chính phủ là nữ (13,1%). Hiện có 15/34 tỉnh, thành phố có nữ phó chủ tịch ủy ban nhân dân (44%). Tổng cộng có 19/187 lãnh đạo ủy ban nhân dân cấp tỉnh là nữ (10,2%) (4) . Tuy nhiên, sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý chưa thực sự tương xứng với tỷ lệ nữ trong lực lượng lao động và đội ngũ cán bộ, công chức. Vẫn còn một số rào cản khiến tỷ lệ cán bộ nữ chưa được như mong muốn, đó là: Các chính sách hiện hành còn mang tính trung lập giới, chưa tính đến khác biệt giới trong quy hoạch, đào tạo, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ. Cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình trong thực hiện chỉ tiêu giới còn yếu, chưa có chế tài cụ thể đối với các trường hợp không đạt mục tiêu đề ra. Nhiều khái niệm trong công tác cán bộ còn thiếu rõ ràng (như khái niệm “lãnh đạo chủ chốt”), thiếu đồng bộ giữa các văn bản, chưa có quy định cụ thể về tỷ lệ nữ cho từng cấp, từng ngành. Chính sách luân chuyển chưa có quy định hỗ trợ phù hợp cho cán bộ nữ, còn thiếu các biện pháp hành chính tích cực để khuyến khích sự tham gia của phụ nữ… Trên thực tế, nữ giới thường tập trung ở các vị trí lãnh đạo cấp phó, ít nắm giữ các vị trí chủ chốt như bí thư cấp ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân. Nhiệm kỳ 2021 - 2026, tính đến tháng 6-2025, cả nước có 7 nữ bí thư tỉnh ủy đương nhiệm trong tổng số 63 bí thư tỉnh, thành uỷ, chiếm tỷ lệ 11,1% (các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Lai Châu, Tuyên Quang, Quảng Ngãi, Bình Phước, Phú Yên, Bến Tre ) (5) . Sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, không còn địa phương nào có nữ bí thư tỉnh, thành uỷ trong tổng số 34 tỉnh, thành phố. Khối các ngành kỹ thuật, tài chính, quốc phòng - an ninh, tỷ lệ nữ lãnh đạo còn rất thấp, nhiều nơi chưa đạt chỉ tiêu nữ trong cấp ủy. Công tác quy hoạch cán bộ nữ còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu, chưa gắn chặt với kế hoạch phát triển cán bộ dài hạn. Những số liệu trên cho thấy, dù đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, nhưng sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam vẫn cần thúc đẩy hơn nữa theo hướng bền vững, có hệ thống, gắn kết chặt chẽ giữa chính sách, tổ chức thực hiện và truyền thông xã hội. Trong đó, việc nâng cao hiệu quả của truyền thông chính trị, đặc biệt là báo chí, là điều kiện quan trọng để vừa tuyên truyền chủ trương, vừa giám sát xã hội, vừa tạo động lực hiện thực hóa bình đẳng giới một cách thực chất. Sự đồng hành của báo chí với chính sách bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý Trong kỷ nguyên thông tin và hội nhập, báo chí ngày càng khẳng định vai trò là một kênh truyền thông chính trị quan trọng. Báo chí không chỉ phản ánh mà còn tham gia định hình nhận thức xã hội, thúc đẩy tiến bộ và công bằng giới. Báo chí cách mạng Việt Nam từ lâu đã đồng hành cùng các phong trào phụ nữ, góp phần khẳng định vai trò, vị thế của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong bối cảnh mới, vai trò này càng trở nên cấp thiết và có ý nghĩa chiến lược, nhất là trong việc thúc đẩy tỷ lệ nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Thứ nhất, báo chí là kênh thông tin chủ lực phổ biến chủ trương, chính sách về bình đẳng giới và phát triển cán bộ nữ . Một trong những vai trò nền tảng và truyền thống của báo chí là tuyên truyền, phổ biến và cụ thể hóa các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân. Trong lĩnh vực bình đẳng giới, đặc biệt là bình đẳng giới trong chính trị và lãnh đạo, báo chí đóng vai trò trung gian truyền thông có tính định hướng mạnh mẽ, giúp các chính sách lớn, như Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị, Luật Bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới… được lan tỏa sâu rộng, thẩm thấu vào đời sống chính trị - xã hội. Thông qua các loại hình báo chí, sản phẩm báo chí xuất bản trên đa nền tảng, báo chí đã góp phần đưa nội dung bình đẳng giới trong lãnh đạo trở thành một chủ đề thường xuyên, lồng ghép trong dòng chảy thông tin thời sự, chính trị hằng ngày. Đây là điều kiện quan trọng để chính sách không chỉ được biết mà còn được hiểu, đồng thuận và thực hiện. Khi báo chí làm tốt vai trò diễn giải chính sách, đưa các quy định pháp lý khô khan trở thành thông tin dễ tiếp cận, dễ nhớ và gắn với lợi ích cụ thể của người dân (đặc biệt là phụ nữ và cán bộ nữ), thì khi đó, báo chí đang làm một công việc mang tính chính trị - xã hội sâu sắc: Xây dựng môi trường nhận thức thuận lợi để chính sách đi vào thực tiễn. Việc nâng cao hiểu biết về quyền tham chính của phụ nữ qua báo chí là tiền đề để phụ nữ tự tin hơn trong việc tham gia trong lĩnh vực chính trị, cũng như thúc đẩy xã hội ủng hộ sự hiện diện của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo, quản lý. Nhiều cơ quan báo chí trung ương và địa phương đã phát triển các chuyên trang, chuyên mục, như “Phụ nữ và chính trị”, “Tiến bộ phụ nữ”, “Giới và phát triển”…, qua đó phản ánh đều đặn các hoạt động liên quan đến xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, các mô hình, sáng kiến, điển hình trong phát triển lãnh đạo nữ. Đây là biểu hiện sinh động của chức năng tuyên truyền chính sách kết hợp với truyền cảm hứng xã hội mà báo chí đang thực hiện một cách tích cực. Trong vai trò là cầu nối giữa chính sách và thực tiễn, giữa nhà hoạch định và người thụ hưởng, báo chí giữ vị trí tiên phong trong việc lan tỏa thông điệp chính trị về bình đẳng giới trong lãnh đạo, từ đó từng bước góp phần thực hiện hiệu quả các chỉ tiêu giới trong hệ thống chính trị quốc gia. Thứ hai, báo chí góp phần kiến tạo hình ảnh phụ nữ lãnh đạo , thay đổi nhận thức xã hội và truyền cảm hứng . Nếu vai trò truyền thông chính sách là nền tảng định hướng, thì vai trò kiến tạo hình ảnh nữ lãnh đạo trên báo chí chính là yếu tố góp phần định hình văn hóa chính trị và chuẩn mực giới trong nhận thức xã hội. Thông qua việc lựa chọn nhân vật, cách tiếp cận nội dung và phương thức truyền tải, báo chí không chỉ đơn thuần đưa tin mà còn tạo dựng nên những hình mẫu nữ giới tiêu biểu trong chính trị và quản lý nhà nước, từ đó tác động mạnh mẽ đến thái độ, niềm tin và hành vi của công chúng đối với vấn đề bình đẳng giới trong lãnh đạo. Nhiều năm qua, báo chí Việt Nam đã phản ánh đa dạng các chân dung nữ lãnh đạo ở cả Trung ương và địa phương. Những bài viết, phóng sự, tọa đàm với các nữ Ủy viên Trung ương Đảng, nữ đại biểu Quốc hội, nữ bí thư tỉnh ủy, nữ chủ tịch hội đồng nhân dân tỉnh… không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận thành tích cá nhân mà còn nêu bật hành trình phấn đấu, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, và sự dấn thân trong môi trường lãnh đạo vốn còn định kiến giới. Các tuyến nội dung đã giúp khắc họa rõ nét hình ảnh người phụ nữ lãnh đạo làm chủ tri thức, có vị trí và vai trò quan trọng trong thiết kế tương lai xã hội. Vai trò truyền cảm hứng của báo chí thể hiện rõ qua việc nhấn mạnh yếu tố “phá vỡ khuôn mẫu giới”. Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, công chúng thường xuyên tiếp xúc với các hình mẫu nữ giới mạnh mẽ, tự tin, lãnh đạo hiệu quả, tư duy chiến lược, thì các định kiến như “phụ nữ thiếu quyết đoán”, “không phù hợp làm chính trị”, “lãnh đạo là công việc của nam giới” sẽ dần biến mất một cách tự nhiên. Báo chí vì thế trở thành công cụ văn hóa giúp thiết lập lại chuẩn mực giới theo hướng tiến bộ và bình đẳng. Những câu chuyện truyền thông tích cực về phụ nữ lãnh đạo còn có tác dụng cổ vũ thế hệ trẻ, đặc biệt là phụ nữ trẻ, dám đặt mục tiêu cao hơn cho bản thân trong lĩnh vực chính trị. Trong bối cảnh hiện nay, khi tầm ảnh hưởng của hình tượng cá nhân qua truyền thông ngày càng lớn, thì việc báo chí chú trọng phát hiện và lan tỏa những hình mẫu lãnh đạo nữ sẽ góp phần tạo động lực phát triển cá nhân, mở rộng vùng kỳ vọng của phụ nữ trong chính trị. Có thể nói, trong tiến trình thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, việc báo chí chủ động xây dựng hình ảnh nữ lãnh đạo với chiều sâu nội dung, sự tôn vinh đúng mức và tránh thương mại hóa hình tượng là một đóng góp quan trọng. Đó không chỉ là hành động truyền thông, mà còn là một phần của quá trình kiến tạo văn hóa chính trị hiện đại, nhân văn và bình đẳng. Thứ ba, báo chí thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội đối với các vấn đề giới trong công tác cán bộ . Đối với lĩnh vực bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý, vai trò này đặc biệt quan trọng nhằm phát hiện các khoảng trống giữa chủ trương và thực thi, kịp thời phản ánh bất cập, thúc đẩy trách nhiệm giải trình và điều chỉnh chính sách hiệu quả hơn. Không ít trường hợp, nhờ phản ánh từ báo chí, những rào cản vô hình và hữu hình đối với sự phát triển của cán bộ nữ đã được nhận diện. Đó là việc một số địa phương chưa thực hiện nghiêm túc chỉ tiêu giới trong quy hoạch cán bộ; là việc các tiêu chí luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ chưa thật sự lồng ghép yếu tố giới; hay tình trạng thực hiện chưa đầy đủ quan điểm về cán bộ nữ của Trung ương Đảng trong quy trình lựa chọn ứng cử viên nữ cho các vị trí chủ chốt, dù nữ cán bộ có năng lực không thua kém nam giới… Qua những tuyến bài điều tra, phân tích chính sách hoặc phỏng vấn chuyên gia, báo chí đã góp phần mở rộng không gian thảo luận công khai về các bất bình đẳng giới tiềm ẩn trong hệ thống chính trị. Điều này giúp hình thành áp lực xã hội tích cực để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quan tâm hơn đến công tác cán bộ nữ, không chỉ vì tuân thủ chỉ tiêu, mà từ nhận thức sâu sắc về giá trị mà sự tham gia của phụ nữ mang lại. Đặc biệt, trong bối cảnh các phương tiện truyền thông xã hội phát triển mạnh mẽ, báo chí càng cần thể hiện bản lĩnh phản biện một cách chuẩn xác, khách quan và có trách nhiệm. Bằng việc phản ánh những trường hợp bất cập cụ thể, đưa ra các phân tích dựa trên dữ liệu và pháp lý, báo chí tạo diễn đàn để các nhà hoạch định chính sách lắng nghe tiếng nói từ thực tiễn, từ đó điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới thực chất. Việc báo chí làm tốt vai trò giám sát còn giúp củng cố niềm tin của công chúng vào hiệu lực chính sách và khả năng cải thiện của hệ thống chính trị. Khi tiếng nói của người dân, đặc biệt là phụ nữ được phản ánh trên báo chí, họ có thêm niềm tin để tham gia vào đời sống chính trị và ứng cử vào các vị trí lãnh đạo. Trong tiến trình hướng tới một môi trường chính trị công bằng, minh bạch và bình đẳng giới, báo chí đóng vai trò quan trong trong việc bảo vệ quyền tiếp cận cơ hội lãnh đạo của phụ nữ một cách chính đáng và bình đẳng. Thứ tư, báo chí mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin và thúc đẩy bình đẳng giới qua truyền thông số . Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ truyền thông, báo chí không còn giới hạn trong các phương tiện truyền thống mà đang mở rộng ảnh hưởng qua các nền tảng số, như phương tiện truyền thông xã hội, ứng dụng di động và các kênh tương tác số. Xu hướng này đã tạo ra những cơ hội mới để báo chí phát huy vai trò trong việc nâng cao nhận thức xã hội về bình đẳng giới, đặc biệt ở các nhóm đối tượng dễ bị thiệt thòi, như phụ nữ nông thôn, dân tộc thiểu số, người khuyết tật, lao động di cư và phụ nữ trẻ. Việc truyền tải thông tin về chủ trương, chính sách, quyền tham chính và các hình mẫu phụ nữ lãnh đạo qua nền tảng số giúp gia tăng khả năng tiếp cận theo cả chiều rộng và chiều sâu. Những nội dung truyền thông được thiết kế dưới dạng ngắn gọn, trực quan, dễ hiểu như infographic, clip hoạt hình, podcast, video trực tuyến, livestream tương tác… có khả năng tiếp cận đối tượng đa dạng về độ tuổi, trình độ học vấn và điều kiện sống, vượt qua những rào cản truyền thống về địa lý, ngôn ngữ và kỹ năng đọc hiểu chính sách. Đặc biệt, trong điều kiện nhiều phụ nữ, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, ít có cơ hội tiếp cận các kênh thông tin chính thống, việc lan tỏa thông điệp bình đẳng giới thông qua điện thoại thông minh, phương tiện truyền thông xã hội và các hội nhóm trực tuyến đã mở ra không gian mới để phụ nữ tự trang bị kiến thức, chủ động nắm bắt thông tin, nâng cao nhận thức chính trị. Truyền thông số cũng tạo ra môi trường tương tác hai chiều, cho phép phụ nữ nói lên tiếng nói của mình, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, kết nối mạng lưới và thúc đẩy những thay đổi xã hội từ dưới lên. Đây là bước tiến quan trọng trong việc dân chủ hóa thông tin và gia tăng tính chủ động của phụ nữ trong tham gia đời sống chính trị. Để báo chí phát huy vai trò này, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan báo chí, tổ chức hội phụ nữ các cấp và chính quyền địa phương, cùng với việc nâng cao năng lực số cho đội ngũ người làm báo và người dùng cuối. Việc đầu tư cho sản phẩm truyền thông hướng tới phụ nữ yếu thế không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là biểu hiện cụ thể của cam kết chính trị trong thực hiện công bằng xã hội, để báo chí thực sự trở thành cầu nối chiến lược, góp phần thu hẹp khoảng cách giới, thúc đẩy bình đẳng giới theo hướng thực chất và toàn diện hơn. Phóng viên tác nghiệp tại Đại hội XIV của Đảng_Ảnh: TTXVN Để báo chí thực sự trở thành lực lượng đồng hành, thúc đẩy tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý Mặc dù báo chí đã có những đóng góp tích cực trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và hỗ trợ nâng cao tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, song trên thực tế vẫn còn nhiều hạn chế và thách thức từ phía hệ thống chính sách lẫn hoạt động truyền thông. Về mặt thể chế, nhiều chỉ tiêu về cán bộ nữ được nêu ra trong các chiến lược, nghị quyết có tính định hướng mạnh mẽ, nhưng lại thiếu cơ chế giám sát, đánh giá định lượng cụ thể, thiếu ràng buộc trách nhiệm cá nhân, tổ chức khi không đạt mục tiêu đề ra. Một số quy định vẫn mang tính trung lập giới, chưa xét đến những yếu tố đặc thù, hạn chế cơ hội tiếp cận vị trí lãnh đạo, quản lý của nữ giới, đặc biệt trong quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ. Hệ thống dữ liệu giới trong lĩnh vực chính trị - hành chính còn phân tán, thiếu tính cập nhật và không đồng bộ, ảnh hưởng đến việc theo dõi, phân tích và truyền thông của báo chí trong việc thực hiện chức năng phản biện chính sách về bình đẳng giới một cách sâu sắc, khách quan và có sức nặng khoa học. Từ góc độ báo chí, một bộ phận cơ quan báo chí và nhà báo chưa thực sự quan tâm đến việc lồng ghép vấn đề giới trong tuyên truyền. Nhiều sản phẩm truyền thông về phụ nữ lãnh đạo vẫn mang tính hình thức, nặng về khen ngợi cá nhân, chưa đi sâu phân tích cấu trúc, chính sách, hay điều kiện thúc đẩy hệ thống. Bên cạnh đó, hiện tượng tái hiện định kiến giới một cách vô thức trong cách viết, đặt tiêu đề, hình ảnh minh họa... vẫn còn hiện diện ở không ít sản phẩm truyền thông. Bối cảnh chuyển đổi số đang tạo ra nhiều cơ hội tiếp cận thông tin cho phụ nữ song cũng đặt ra những rào cản mới, như khoảng cách, năng lực số giữa các nhóm phụ nữ, nguy cơ lan truyền định kiến, thông tin sai lệch, tấn công giới trên không gian mạng... Trong khi đó, báo chí chưa có đủ nguồn lực để đầu tư các tuyến truyền thông chuyên sâu về bình đẳng giới trong chính trị. Sự phối hợp giữa báo chí với các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan quản lý nhà nước về giới chưa thực sự chặt chẽ và mang tính chiến lược. Thiếu sự đồng bộ trong chiến dịch truyền thông, thiếu nguồn lực tài chính và cơ chế đặt hàng báo chí về nội dung bình đẳng giới cũng đang là những rào cản trong việc nâng cao hiệu quả truyền thông chính trị về phát triển cán bộ nữ. Để báo chí thực sự trở thành lực lượng đồng hành, thúc đẩy tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, cần triển khai đồng bộ, hiệu quả một số giải pháp: Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách gắn với truyền thông chính trị về giới. Cần lồng ghép truyền thông báo chí vào quá trình xây dựng, thực thi và giám sát các chính sách về bình đẳng giới, đặc biệt trong công tác cán bộ. Các văn bản chiến lược, như Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, các kế hoạch phát triển nguồn nhân lực nữ nên quy định cụ thể vai trò của báo chí, cơ chế phối hợp liên ngành và nguồn lực truyền thông. Đồng thời, cần ban hành hướng dẫn thực hiện các chỉ tiêu giới có tính định lượng, có công cụ giám sát độc lập và trách nhiệm giải trình rõ ràng từ các cơ quan, tổ chức liên quan. Hai là, tăng cường truyền thông chính trị về bình đẳng giới trên nền tảng báo chí hiện đại. Cần phát triển các tuyến nội dung có lồng ghép vấn đề giới một cách bài bản, khoa học và có chiều sâu. Các cơ quan báo chí cần thiết lập chuyên mục thường kỳ, như “Phụ nữ và lãnh đạo”, “Bình đẳng giới trong chính trị”… gắn với các sự kiện chính trị - xã hội lớn để thu hút công chúng. Khuyến khích sử dụng các hình thức truyền thông số (podcast, livestream, video ngắn, phương tiện truyền thông xã hội...) để lan tỏa hình ảnh nữ lãnh đạo và thông điệp chính sách tới nhóm phụ nữ trẻ, phụ nữ vùng sâu, vùng xa. Ba là, xây dựng cơ chế đặt hàng truyền thông công và tăng cường phối hợp liên ngành. Nhà nước cần có cơ chế đặt hàng báo chí để truyền thông về các chủ trương, chính sách, mô hình điển hình và câu chuyện thành công của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý. Các tổ chức, như Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Bộ Nội vụ, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cần xây dựng các chương trình truyền thông chung về quyền tham chính của phụ nữ, có phân công vai trò cụ thể, bảo đảm tài chính ổn định để duy trì tính liên tục của thông điệp. Bốn là, nâng cao năng lực truyền thông chính trị và giới cho đội ngũ người làm báo. Tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo chuyên đề về lồng ghép giới trong tác nghiệp báo chí, đặc biệt là đối với nội dung liên quan đến lĩnh vực chính trị - hành chính. Cần xây dựng bộ công cụ kiểm tra định kiến giới trong nội dung báo chí, khuyến khích các tòa soạn áp dụng quy tắc biên tập vấn đề giới. Đồng thời, thúc đẩy các giải thưởng báo chí về bình đẳng giới nhằm tạo động lực cho phóng viên, biên tập viên sáng tạo các tuyến bài chất lượng cao. Năm là, phát triển hệ thống dữ liệu công khai và tiếp cận mở về cán bộ nữ. Thiết lập cơ sở dữ liệu thống kê giới trong hệ thống chính trị, được cập nhật định kỳ, có khả năng trích xuất phục vụ công tác truyền thông và nghiên cứu chính sách. Việc công khai dữ liệu về tỷ lệ nữ trong cấp ủy, Quốc hội, hội đồng nhân dân, lãnh đạo cơ quan nhà nước theo ngành, vùng, cấp... sẽ tạo điều kiện cho báo chí thực hiện chức năng giám sát và phản ánh thực trạng một cách khách quan, chính xác. Những giải pháp trên chỉ phát huy hiệu quả khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa báo chí, cơ quan quản lý, tổ chức chính trị - xã hội và sự ủng hộ từ cộng đồng. Báo chí không chỉ là phương tiện truyền tải mà cần được nhìn nhận như một tác nhân tích cực trong tiến trình hiện thực hóa việc xóa bỏ định kiến giới, vì một nền chính trị tiến bộ, công bằng./. --------------------- (1) Hà Thị Nga: “Kiến nghị chính sách ưu đãi nguồn nhân lực nữ chất lượng cao”, Tạp chí Cộng sản điện tử , ngày 11-7-2024, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/kien-nghi-chinh-sach-uu-dai-nguon-nhan-luc-nu-chat-luong-cao (2) Kết quả đại hội đảng bộ trực thuộc Trung ương; công tác chuẩn bị tổ chức và những vấn đề cần quan tâm trong tuyên truyền Đại hội XIV của Đảng (Phần 1), Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, ngày 18-11-2025, https://tuyenquang.dcs.vn/DetailView/149255/2/Ket-qua-dai-hoi-dang-bo-truc-thuoc-Trung-uong;-cong-tac-chuan-bi-to-chuc-va-nhung-van-de-can-quan-tam-trong-tuyen-truyen-Dai-hoi-XIV-cua-Dang-(Phan-1).html (3) “Danh sách 21 nữ Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV”, Trang thông tin Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng , https://daihoidang.vn/danh-sach-21-nu-uy-vien-trung-uong-dang-khoa-xiv-post6212.html (4) Phan Thị Thanh Huyền: “Tăng cường tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước và Lao động, ngày 23-12-2025, https://tcnnld.vn/news/detail/70897/Tang-cuong-ty-le-nu-lanh-dao-quan-ly-trong-co-quan-hanh-chinh-nha-nuoc-o-Viet-Nam.html (5) PV: “7 nữ Bí thư tỉnh/thành ủy đương nhiệm”, Báo Phụ nữ Việt Nam điện tử , ngày 11-6-2025, https://phunuvietnam.vn/7-nu-bi-thu-tinh-thanh-uy-duong-nhiem-20250611172257207.htm
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/826302/mot-so-quan-diem-cua-chu-tich-ho-chi-minh-ve-van-hoa-va-nang-tam-van-hoa-viet-nam.aspx
Một số quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa và nâng tầm văn hóa Việt Nam
14-11-2022
null
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc văn bia tại chùa Côn Sơn, tỉnh Hải Dương (tháng 2-1965)_Nguồn: hochiminh.vn Việt Nam là quốc gia có nền văn hóa lâu đời với lịch sử hàng nghìn năm văn hiến; là nơi sinh ra nhiều danh nhân văn hóa. Trong các danh nhân ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, nhà văn hóa vĩ đại nhất của Việt Nam trong thời đại ngày nay. Người là danh nhân văn hóa thế giới, có tầm ảnh hưởng sâu sắc không chỉ đối với sự phát triển của văn hóa dân tộc, mà còn đối với sự phát triển của nền văn hóa thế giới, văn hóa tương lai của nhân loại. Trong kho tàng tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm về văn hóa là viên ngọc sáng lấp lánh, có vị trí quan trọng, hàm chứa những giá trị to lớn đối với sự phát triển và nâng cao tầm vóc của nền văn hóa Việt Nam. Quan điểm về vị trí, vai trò của văn hóa Từ những cơ sở khách quan, khoa học, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sớm đưa ra khái niệm văn hóa, quan điểm xây dựng nền văn hóa dân tộc. Người đúc kết nội hàm khái niệm văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (1) . Khái niệm văn hóa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra đã khái quát nội dung rộng nhất của phạm trù văn hóa, bao hàm các hoạt động vật chất và tinh thần của con người cùng với các giá trị mà con người sáng tạo ra; đồng thời, khái niệm văn hóa của Người cũng chỉ ra nhu cầu sinh tồn của con người với tư cách chủ thể hoạt động của đời sống xã hội chính là nguồn gốc, động lực sâu xa của văn hóa. Về vị trí, vai trò của văn hóa, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa đứng ngang hàng với các lĩnh vực hoạt động khác của xã hội: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa” (2) . Quan trọng hơn nữa, Người đã chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa văn hóa với các lĩnh vực khác. Văn hóa không thể đứng ngoài “mà phải ở trong kinh tế và chính trị” và ngược lại kinh tế, chính trị cũng nằm “trong văn hóa”. Đời sống xã hội được xây dựng, kết cấu đan cài từ bốn lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; trong đó, văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội, là lĩnh vực thuộc về kiến trúc thượng tầng của xã hội. Từ đó, một trong những vấn đề cơ bản, hệ trọng đặt ra là phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lĩnh vực văn hóa với chính trị, kinh tế, xã hội. Về mối quan hệ giữa văn hóa với chính trị, xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: văn hóa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị và ở trong chính trị; chỉ khi chính trị, xã hội được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng; chính trị mở đường cho văn hóa phát triển, để văn hóa phát triển tự do, phải làm cách mạng chính trị trước. “Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy... dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị nô lệ, thì văn nghệ cũng bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được” (3) . Văn hóa phải tham gia vào nhiệm vụ chính trị tức là tham gia vào các hoạt động cách mạng, tham gia kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Văn hóa tham gia kháng chiến tức là văn hóa không đứng ngoài mà ở trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc và cuộc kháng chiến trở thành cuộc kháng chiến có văn hóa. Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hiện cách mạng trên lĩnh vực văn hóa là một nhiệm vụ rất quan trọng. Mặt trận văn hóa, văn nghệ không chỉ diễn ra trong chống giặc ngoại xâm, mà còn cả ở công cuộc rất khó khăn, phức tạp là chống giặc nội xâm, “giặc ở trong lòng”, chủ nghĩa cá nhân với những biểu hiện như tham ô, nhũng nhiễu, lãng phí, lười biếng, quan liêu,... Vì thế, mối quan hệ giữa chính trị và văn hóa trong cách mạng xã hội chủ nghĩa thể hiện càng sâu sắc hơn, hai lĩnh vực phải được tiến hành cùng lúc, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Đối với mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước” (4) . Quan điểm của Người chỉ rõ kinh tế chính là cơ sở của văn hóa; do đó, kinh tế phải đi trước một bước, phải chú trọng xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện xây dựng và phát triển văn hóa. Văn hóa thuộc kiến trúc thượng tầng, vì thế phải dựa trên sự kiến thiết, phát triển của cơ sở hạ tầng của xã hội thì mới kiến thiết được và có đủ điều kiện để phát triển văn hóa. Đồng thời, đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (5) . Quan điểm này của Người khẳng định rằng văn hóa có tính tích cực, chủ động, là động lực của kinh tế và chính trị, vì thế văn hóa phải ở trong kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. Những luận điểm toàn diện và sâu sắc này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng cho quan điểm hiện nay của Đảng ta; khẳng định xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đất nước, nhân dân, chủ trương của Đảng ta luôn nhất quán là: tăng trưởng kinh tế không phải là mục tiêu duy nhất, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của văn hóa dân tộc và giải quyết những vấn đề an sinh xã hội; văn hóa là nguồn lực, động lực của phát triển. “ Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước, xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thể hiện tính ưu việt của chế độ ta” (6) . Phát triển nền văn hóa lên tầm cao mới Quan điểm nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa là: Người đã khẳng định văn hóa là động lực, là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng. Người nêu rõ yêu cầu văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi; đem văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ,... Văn hóa tạo sức mạnh vật chất, tinh thần thắng ngoại xâm theo tinh thần văn minh thắng bạo tàn. Nếu kinh tế nâng cao đời sống vật chất, thì văn hóa có tác dụng nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Tổng Thư ký Liên hợp quốc António Guterres xem nhà thư pháp viết chữ tại đền Ngọc Sơn_Ảnh: Thống Nhất - TTXVN Cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phát triển, nâng tầm văn hóa Việt Nam còn thể hiện trong việc Người đưa ra quan điểm về xây dựng một nền văn hóa mới với 5 điểm lớn định hướng cho việc xây dựng nền văn hóa dân tộc: “1- Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường. 2- Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng. 3- Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội. 4- Xây dựng chính trị: dân quyền. 5- Xây dựng kinh tế” (7) . Để thay thế văn hóa nô dịch của chủ nghĩa thực dân, điều quan trọng nhất là phải xây dựng một nền văn hóa mới cách mạng. Nền văn hóa mới đó phát triển với ba tính chất: dân tộc, khoa học, đại chúng. Xây dựng nền văn hóa mới trên một số lĩnh vực cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một số yêu cầu nổi bật sau: Một là , về giáo dục , Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, việc xây dựng nền giáo dục mới phải được coi là nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, lâu dài, có tác dụng “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập” (8) . Do đó, điều quan trọng trước tiên ngay sau khi nước nhà vừa giành được độc lập là phải mở ngay chiến dịch chống “giặc dốt”. Người xác định mục tiêu của giáo dục là thực hiện ba chức năng của văn hóa bằng giáo dục: dạy và học để bồi dưỡng lý tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp; mở mang dân trí; bồi dưỡng những phẩm chất và phong cách tốt đẹp... Những quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục là định hướng cho việc xây dựng nền giáo dục mới phát triển đúng đắn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và góp phần quan trọng vào quá trình đấu tranh thống nhất nước nhà. Hai là, về văn hóa - văn nghệ , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra các quan điểm cơ bản định hướng cho việc xây dựng nền văn nghệ cách mạng: Văn hóa, văn nghệ là một mặt trận, người hoạt động văn hóa, nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng. Nội dung này là sự nhấn mạnh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khẳng định vai trò, vị trí của văn hóa, văn nghệ trong sự nghiệp cách mạng, coi mặt trận văn hóa cũng có tầm quan trọng như mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế. Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ những năm 20 thế kỷ XX và tiếp tục được phát triển qua các giai đoạn cách mạng sau này. Ý nghĩa của quan điểm về mặt trận văn hóa, chiến sĩ văn hóa là: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị” (9) . “Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân... Nói tóm tắt là phải đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết” (10) . Đối với mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và tự do của văn nghệ sĩ, Người luôn chỉ rõ: dân tộc bị áp bức thì văn nghệ sĩ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do phải tham gia cách mạng... Ba là, về đạo đức mới, lối sống mới, nếp sống mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, để xây dựng đời sống mới, thì phải xây dựng đạo đức mới, xây dựng lối sống văn minh, nếp sống mới. Trước hết cần “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH” (11) vì “Nêu cao và thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính tức là nhen lửa cho đời sống mới” (12) . Để xây dựng lối sống mới, cần phải sửa đổi “cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại”. Xây dựng nếp sống mới - nếp sống văn minh là quá trình làm cho lối sống mới dần dần trở thành thói quen; trong đó có sự kế thừa, phát triển những thuần phong mỹ tục, đồng thời cải tạo những phong tục, tập quán cũ, lạc hậu và bổ sung những cái mới, tiến bộ,... Trong xây dựng nền văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh quan điểm phải giữ gìn và phát huy bản sắc, giá trị văn hóa dân tộc; đồng thời, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Trong tác phẩm “Lịch sử nước ta” (năm 1942), Người đặt ra vấn đề quan trọng hàng đầu là: Dân ta phải biết sử ta. Những ngày đầu mới lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký và công bố Sắc lệnh số 65/SL, ngày 23-11-1945, về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam (bao gồm tất cả các di tích đình chùa, đền miếu, cung điện, thành quách, lăng mộ, bia ký, đồ vật, văn bằng, sách vở,...). Theo Người, việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần trong công cuộc kiến thiết nước Việt Nam. Một năm sau ký Sắc lệnh số 65/SL, khi đến dự Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất ở Hà Nội, ngày 24-11-1946, Người nói: “Văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại... Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam có tinh thần thuần túy Việt Nam, để hợp với tinh thần dân chủ ” và “Phát triển hết cái hay, cái đẹp của dân tộc, tức là ta cùng đi tới chỗ nhân loại” (13) . Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định việc kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp trong truyền thống dân tộc của văn hóa Việt Nam đồng thời với việc không ngừng tự làm phong phú qua việc tiếp thu, tiếp biến có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Hai quá trình này cùng diễn ra, làm cho nền văn hóa mới ở Việt Nam vừa mang những đặc trưng phản ánh cốt cách, bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, vừa phù hợp với trình độ văn minh tiên tiến, hiện đại của nhân loại. Hơn nữa, cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc khi được phát triển, phát huy hết mức sẽ đạt đến tầm cao nhân loại, trở thành giá trị chung của nhân loại. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (năm 1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những mục tiêu cơ bản mà cách mạng Việt Nam cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hóa: “Phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng” (14) . Đây là quan điểm bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc có chọn lọc của Hồ Chí Minh. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, ngày 19-9-1954, trên đường từ Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Phong Châu kính viếng các Vua Hùng, nói chuyện với đồng bào, chiến sĩ tại đền Giếng, Người căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Câu nói bất hủ của Người khái quát hai phạm trù dựng nước và giữ nước thành một cặp phạm trù tất yếu của lịch sử và văn hóa Việt Nam. Phát huy, phát triển văn hóa dân tộc phải dựa trên cơ sở giữ gìn, bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định quan điểm: gốc của văn hóa là dân tộc; không có cái gốc ấy thì không thể tiếp thu được tinh hoa của các nước mà cũng không đóng góp được gì cho văn hóa nhân loại. Người yêu cầu “phát huy vốn cũ quý báu của dân tộc ... và học tập văn hóa tiên tiến của các nước” và Người cũng rất tâm đắc với quan điểm của V.I Lê-nin: Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu thái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại (15) . Người khuyên văn, nghệ sĩ phải chú ý giữ gìn vốn cũ dân tộc, đồng thời phê phán những ai là người Việt Nam nhưng không hiểu biết rõ về lịch sử, đất nước, con người Việt Nam. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý đến việc giữ gìn thuần phong mỹ tục vốn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đối với vấn đề lễ hội ở các di tích, năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra ý kiến chỉ đạo có ý nghĩa phương pháp luận: “Nói là khôi phục vốn cũ, thì nên khôi phục cái gì tốt, cái gì không tốt thì loại dần ra ... Cái gì tốt, thì ta nên khôi phục và phát triển, còn cái xấu thì ta phải bỏ đi” (16) . Quan điểm này của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy thái độ khoa học, trân trọng tinh hoa thuần phong mỹ tục đối với lễ hội, không phục cổ mà nâng lên cho phù hợp nếp sống mới, văn hóa mới... Cùng với những tư tưởng sâu sắc về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một tấm gương mẫu mực về học tập, bảo tồn vốn cổ, bảo vệ văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Người rất trân trọng, gìn giữ và làm trong sáng tiếng nói dân tộc để nâng tầm văn hóa Việt Nam. Nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam (ngày 8-9-1962), Người nhấn mạnh: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp” (17) . Người cũng yêu cầu các nhà văn phải chú ý trân trọng và giúp đỡ những sáng tác của quần chúng, vì đó là những viên ngọc quý,... Trao truyền các giá trị văn hóa cho thế hệ mai sau_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn Như vậy, phát triển nâng tầm văn hóa dân tộc Việt Nam lên ngang tầm thời đại là một tư tưởng vô cùng đẹp đẽ, sâu sắc và cao rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với vai trò là người đứng đầu của một quốc gia - dân tộc; hơn thế, là đại diện về tư tưởng, trí tuệ, tinh thần, hồn cốt của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Những quan điểm, tư tưởng của Người về văn hóa, phát triển, nâng tầm văn hóa dân tộc không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, mà còn có giá trị sâu sắc trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những tư tưởng ấy chính là cơ sở, nền tảng cho Đảng xây dựng đường lối phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn hiện nay với các định hướng cơ bản, như xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại; xây dựng môi trường văn hóa thật sự trong sạch, lành mạnh, cải thiện điều kiện thụ hưởng văn hóa của nhân dân; bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam; gắn việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam với việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, xây dựng Việt Nam thành địa chỉ hấp dẫn về giao lưu văn hóa quốc tế; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, từng bước đưa văn hóa Việt Nam đến với thế giới;... (18) ./. ------------------------------- (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 458 (2) Hồ Chí Minh: Về văn hóa , Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1997, tr. 11 (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 9, tr. 231 (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 12, tr. 470 (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 10, tr. 458 - 459 (6) Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Tạp chí Cộng sản , số 979, tháng 12-2021, tr. 7 (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập , Sđd , t. 3, tr. 458 (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập , Sđd , t. 4, tr. 7 (9), (10) Hồ Chí Minh, Toàn tập , Sđd , t. 7, tr. 246 (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập , Sđd , t. 4, tr. 7 (12) Hồ Chí Minh, Toàn tập , Sđd , t. 5, tr. 128 (13) Hồ Chí Minh: Về công tác văn hóa văn nghệ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1971, tr. 71 (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 7, tr. 40 (15) Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập , Sđd , t. 6, tr. 357 (16) Đại học Quốc gia Hà Nội: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa Việt Nam , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1998, tr. 161 - 162 (17) Hồ Chí Minh, Toàn tập , Sđd , t. 13, tr. 465 (18) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021 t. I, tr. 143 - 147
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1019302/van-de-gia-hoa-dan-so-o-viet-nam--thach-thuc-va-giai-phap.aspx
Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam: Thách thức và giải pháp
27-11-2024
null
Người cao tuổi tham gia chương trình đồng diễn thể dục dưỡng sinh cho người cao tuổi, lan tỏa tinh thần “sống khỏe, sống thanh xuân” chào mừng ngày Quốc tế người cao tuổi (1-10) và hưởng ứng Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam_Ảnh: TTXVN Thực trạng và những thách thức Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sống được cải thiện, hệ thống y tế tốt hơn với nhiều công nghệ hiện đại đã góp phần kéo dài tuổi thọ của con người. Tỷ lệ sinh có xu hướng giảm trên thế giới đã làm cho số người cao tuổi ngày càng cao, dẫn đến hiện tượng già hóa dân số. Vấn đề già hóa dân số gây nhiều ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế trong dài hạn, làm giảm lực lượng và năng suất lao động, đòi hỏi đầu tư, chi tiêu xã hội nhiều hơn cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe, kết cấu hạ tầng và những vấn đề về xã hội cho người cao tuổi. Dân số Việt Nam đã vượt 100 triệu người, đưa Việt Nam trở thành quốc gia thứ 15 trên thế giới và là quốc gia thứ ba ở Đông Nam Á có dân số trên 100 triệu người. Cột mốc này tạo ra nhiều cơ hội song cũng đặt ra không ít thách thức, trong đó có vấn đề đáng lo ngại là tình trạng già hóa dân số đang gia tăng nhanh chóng. Từ năm 2011, Việt Nam bắt đầu quá trình già hóa dân số và là một trong số các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Theo cơ sở dữ liệu dân cư do Bộ Công an cung cấp, đến ngày 9-2-2023, cả nước có 16.179.824 công dân từ 60 tuổi trở lên, chiếm gần 17% số dân, trong đó từ 60 đến dưới 70 tuổi là 9.417.924 người, từ 70 đến dưới 80 tuổi là 4.189.640 người, từ 80 đến dưới 90 tuổi là 1.907.991 người, từ 90 đến dưới 100 tuổi là 623.221 người, từ 100 tuổi trở lên là 41.048 người. Giai đoạn 2009 - 2019, dân số tăng bình quân 1,14%/năm, trong khi dân số cao tuổi tăng bình quân 4,35%/năm, bình quân tăng 400.000 người cao tuổi/năm, nhưng các năm 2019 - 2021, bình quân tăng 600.000 người cao tuổi/năm. Chỉ số già hóa (số người cao tuổi trên 100 trẻ em dưới 15 tuổi) tăng nhanh từ 2009, xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng. Dự kiến, vào năm 2036, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số già, chuyển từ xã hội “già hóa” sang xã hội “già”. Đến năm 2038, nhóm dân số 60 tuổi trở lên ở Việt Nam chiếm 20% dân số; đến năm 2050, Việt Nam trở thành xã hội siêu già với tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 25% dân số (1) . Điểm cơ bản tạo ra các thách thức đối với Việt Nam là nước ta chỉ có trên 20 năm để chuyển từ xã hội già hóa dân số sang xã hội dân số già, trong khi Pháp là 115 năm, Thụy Điển 89 năm, Mỹ 69 năm... Như vậy, trong khi các nước có hàng trăm năm hoặc hơn nửa thế kỷ để từng bước thay đổi chính sách, ứng phó với sự già hóa dần, Việt Nam chỉ có khoảng 1/4 thế kỷ. Tổng tỷ suất sinh của Việt Nam đạt mức 6 vào đầu thập niên 60 của thế kỷ XX. Số lần sinh con trong đời, từ 6 đến 7 con trước đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, đã giảm xuống còn 2,09 vào năm 2006. Khi tỷ lệ sinh giảm và tuổi thọ tăng lên, tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam trong độ tuổi 15 - 64 đạt mức cao nhất vào năm 2013. Việt Nam hiện có tỷ lệ dân số trẻ cao nhất trong lịch sử đất nước, 21,1% tổng dân số là thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 10 đến 24. Thời kỳ “dân số vàng” của Việt Nam sẽ còn tiếp diễn đến năm 2039 với sự hiện diện của các nhóm dân số trẻ có năng suất lao động cao (2) . Theo Niên giám thống kê 2023, tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của người Việt đạt 74,5 tuổi, tăng gần 1 tuổi so với năm 2022. Liên tục từ năm 2019 đến 2022, tuổi thọ trung bình của người Việt dao động từ 73,6 - 73,7 tuổi. Thông tin về tình hình dân số, lao động việc làm quý IV-2023 và năm 2023 của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, tổng tỷ suất sinh năm 2023 của Việt Nam ước tính là 1,96 con/phụ nữ, cách xa mức 2,1 duy trì dân số thay thế. Tỷ trọng nhóm dân số trẻ từ 0 - 14 tuổi giảm từ 24,3% năm 2019 xuống khoảng 23,9% năm 2023; trong khi nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên tăng nhanh, từ 11,9% năm 2019 lên 13,9% vào năm 2023. Nhóm dân số trong độ tuổi 15 - 59 tuổi chiếm 63,8% năm 2019 giảm xuống còn 62,2% năm 2023. Sự thay đổi nhân khẩu học này mở ra những cơ hội nhưng cũng không ít thách thức đối với kinh tế - xã hội. Già hóa dân số có tác động ngày càng mạnh đối với phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta cả trong cả ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, già hóa dân số ảnh hưởng đến cơ cấu lực lượng lao động, từ đó, ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trong dài hạn, già hóa dân số tạo ra các tác động đa chiều, nhiều lĩnh vực từ kinh tế đến an sinh xã hội và văn hóa. Suy giảm nguồn cung lao động Quá trình già hóa dân số ở Việt Nam bắt đầu trong bối cảnh khi đất nước chưa hoàn thành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, do đó đặt ra nhiều thách thức đối với phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình già hóa dân số từng bước dẫn tới tình trạng thiếu hụt lao động cho phát triển kinh tế, đặc biệt đối với phát triển công nghiệp và dịch vụ và đây là thách thức khi đất nước chưa hoàn thành mục tiêu trở thành một nước công nghiệp phát triển. Tiềm năng tăng trưởng của một nền kinh tế phụ thuộc vào mức tăng năng suất lao động và tỷ lệ tăng trưởng nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực ở đây có thể được hiểu là quy mô nhóm dân số trong độ tuổi lao động. Khi một quốc gia có cơ cấu dân số trẻ, số người bước vào độ tuổi lao động thường lớn hơn nhiều so với số người bước ra khỏi độ tuổi lao động. Mức chênh lệch giữa hai nhóm này sẽ giảm dần khi các quốc gia bước vào thời kỳ già hóa dân số. Tỷ lệ giữa số lao động tăng thêm hằng năm so với quy mô dân số trong độ tuổi lao động là tỷ lệ tăng trưởng nguồn nhân lực. Khi tỷ lệ này xuống quá thấp hay dao động ở mức trên dưới 0,5% thì nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Một trong những điều kiện tốt nhất cho tăng trưởng của một nền kinh tế là khi tăng trưởng nguồn nhân lực hằng năm ở mức 2,0%. Con số này cũng có ý nghĩa là những quốc gia đang ở thời kỳ có tỷ lệ này ở mức 2,0% là các quốc gia ở thời điểm tốt nhất của thời kỳ có cơ cấu “dân số vàng”. Tại thời điểm này, tỷ trọng nhóm dân số trong độ tuổi lao động (15 - 64) đạt tới 67 - 70%, và tỷ trọng nhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc chỉ khoảng 30 - 33%. Kết quả phân tích các số liệu thống kê về biến đổi cấu trúc tuổi của dân số Việt Nam trong giai đoạn từ 2009 - 2029 cho thấy, với phương án tuổi lao động từ 15 - 64, tỷ lệ tăng trưởng nguồn nhân lực ở nước ta có xu hướng giảm nhanh. Tỷ lệ này sẽ giảm xuống ở mức khoảng 0,5% trong giai đoạn 2034 - 2039. Nếu như lấy mốc tuổi nghỉ hưu là 60 thì ngay từ năm 2029, tỷ lệ này có thể bắt đầu xuống dưới mức 0,5%. Từ năm 2040, khi nước ta sẽ có cấu trúc dân số già, yếu tố tăng trưởng nguồn nhân lực sẽ tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế. Thời kỳ từ sau năm 2040 cũng là thời kỳ mà Việt Nam không còn cơ hội “dân số vàng”. Thách thức với hệ thống an sinh xã hội Quá trình già hóa dân số hiện nay dẫn tới thực tế xã hội là tỷ trọng và quy mô số lượng người già ngày càng lớn. Chỉ số già hóa của Việt Nam cho thấy quá trình già hóa đang diễn ra với nhịp độ ngày càng nhanh hơn, đặt ra những thách thức to lớn về phát triển và cơ cấu lại hệ thống an sinh xã hội để thích ứng với cơ cấu dân số già từ sau năm 2040. Thách thức lớn nhất đặt ra đối với hệ thống an sinh xã hội trong giai đoạn từ sau năm 2040 là làm thế nào để thực hiện chăm sóc sức khỏe và bảo đảm sinh kế cho 15 - 20 triệu người già. Trong bối cảnh tỷ trọng cũng như số lượng người già tăng lên nhanh trong quá trình già hóa dân số hiện nay, vấn đề sinh kế của người già hay hộ gia đình người già cần được quan tâm một cách thỏa đáng. Những kết quả phân tích số liệu từ các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam cho thấy, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp và từ tiền công lao động là thu nhập chủ yếu của hộ gia đình người già. Những khoản thu nhập có tính bảo đảm cuộc sống cho người già khi không còn đủ sức lao động như tiết kiệm, hưu trí và các khoản bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội khác chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu nhập của hộ gia đình người già. Khi tuổi càng tăng lên, nguồn thu nhập từ sản xuất, kinh doanh của người già càng giảm do khả năng lao động ngày càng suy giảm theo. Các nguồn thu nhập có tính dự phòng như hưu trí hoặc trợ cấp xã hội quá thấp sẽ ảnh hưởng tới việc bảo đảm mức sống của nhóm dân số người già. Ước tính hiện nay mới có khoảng 25% số người già tham gia bảo hiểm xã hội và có lương hưu trí. Như vậy, nếu không nhanh chóng mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm xã hội đối với nhóm dân số đang trong độ tuổi lao động, trong vòng 20 năm tới có khoảng gần 10 triệu người già (từ 65 tuổi trở lên) nằm ngoài bảo hiểm xã hội. So sánh với các quốc gia khác trên thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam mới chỉ đạt mức trung bình thấp. Do đó, cần có các chính sách khuyến khích người già tham gia thị trường lao động phù hợp, để tạo thu nhập cũng như tạo việc làm có thu nhập cao cho nhóm dân số trong tuổi lao động nhằm chuẩn bị cho cuộc sống về già. Gánh nặng chi tiêu của ngân sách nhà nước sẽ rất lớn khi hàng chục triệu người già không có thu nhập bảo đảm mức sống. So sánh với các nhóm dân số khác (nhóm dân số lao động và nhóm trẻ em), nhóm người già có nhu cầu chăm sóc y tế lớn nhất. Ước tính chi phí chữa bệnh trung bình cho một người già cao hơn 7 - 8 lần so với trẻ em. Theo đó, hàng triệu người già ở nước ta trong tương lai gần sẽ đối mặt với thách thức về chi phí khám, chữa bệnh cao trong khi chỉ có mức thu nhập thấp. Đây là yếu tố tiềm tàng có thể dẫn tới mất ổn định xã hội. Đặt ra những thách thức to lớn đối với hệ thống an sinh xã hội, cũng như với hệ thống y tế ở nước ta, quá trình già hóa dân số chỉ kéo dài trên 20 năm - khoảng thời gian tương đối ngắn để đất nước có thể kịp chuyển đổi các cơ cấu về an sinh xã hội cũng như hệ thống y tế. Vấn đề này đòi hỏi cần chuyển đổi kịp thời mục tiêu của chính sách dân số từ dân số - kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển, góp phần làm chậm lại quá trình giảm sinh, dẫn tới làm chậm lại quá trình già hóa dân số, từ đó có thêm quỹ thời gian và nguồn lực giải quyết những vấn đề đang đặt ra. Người cao tuổi tham gia sản xuất mây tre đan truyền thống ở xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn Một số giải pháp Trước những thách thức của vấn đề già hóa dân số, Việt Nam cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau: Thứ nhất , cần nhìn nhận người cao tuổi, nhóm dân số già có vai trò, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là chỗ dựa cho các thế hệ trẻ, thay vì nhìn nhận là đối tượng phải chăm lo, hưởng trợ cấp xã hội. Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, vấn đề già hóa dân số cần phải có vai trò tương xứng với những ảnh hưởng của vấn đề này đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Già hóa dân số đang trở thành xu hướng chung không chỉ tại Việt Nam mà còn trên toàn cầu. Do vậy, trong phát triển kinh tế - xã hội cần tính đến cả thời cơ và thách thức mà già hóa dân số mang lại. Thứ hai , tăng cường xây dựng hệ thống an ninh lương hưu và cải thiện các tiêu chuẩn chi trả lương hưu. Ngày 10-11-2023, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 104/2023/QH15, về dự toán ngân sách nhà nước năm 2024. Theo đó, từ ngày 1-7-2024, thực hiện cải cách tổng thể chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 21-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII. Đồng thời, thực hiện điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công và một số chính sách an sinh xã hội đang gắn với lương cơ sở. Điều này đánh dấu sự khởi đầu của việc cải cách toàn diện chính sách tiền lương ở nước ta, không chỉ mang lại “luồng gió mới” cho hệ thống lương hưu, mà còn cả tới các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội và các chính sách an sinh xã hội khác, tất cả đều được điều chỉnh tăng lên. Những thay đổi này không chỉ phản ánh sự thích ứng với xu hướng già hóa dân số ở nước ta mà còn cho thấy nỗ lực của Chính phủ trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho người lao động sau khi họ hoàn thành quãng thời gian lao động, đóng góp cho xã hội. Song song đó, cần nghiên cứu, sửa đổi, đồng bộ hóa các quy định giữa Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bình đẳng giới, Luật Người cao tuổi... Đưa chỉ tiêu ứng phó với già hóa dân số là chỉ tiêu trong nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và tăng cường giám sát quá trình triển khai thực hiện. Giải quyết đồng bộ các chính sách tăng trưởng, phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội nhằm bảo đảm và cải thiện thu nhập của người cao tuổi từ lao động và hưu trí. Thứ ba , tăng cường đầu tư vào chăm sóc y tế và cải thiện tiêu chuẩn y tế. Xây dựng đồng bộ Đề án Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trong tổng thể của Chiến lược dân số Việt Nam và Chiến lược gia đình Việt Nam. Trong suốt chặng đường phát triển, công tác y tế cơ sở đã đạt được những kết quả quan trọng. Mạng lưới y tế cơ sở rộng khắp cả nước, từng bước được củng cố về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực; công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu được tăng cường, nhiều dịch bệnh nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi, phòng chống và quản lý bệnh không lây nhiễm, quản lý sức khỏe người dân bước đầu được triển khai tại tuyến xã; chất lượng dịch vụ y tế tuyến cơ sở từng bước được nâng cao, góp phần quan trọng trong việc cải thiện tình trạng sức khỏe của nhân dân. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng nhanh, từ 16,5% năm 2002 lên 92,04% năm 2022. Tuy nhiên, trước thực trạng già hóa dân số như ở nước ta như hiện nay, cần hoàn thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, mở rộng, nâng cao năng lực chăm sóc, khám, chữa bệnh cho người cao tuổi, xây dựng môi trường sống thân thiện với người cao tuổi. Cần bảo đảm môi trường phát triển để quá trình già hóa dân số diễn ra một cách năng động, với sự bảo đảm sức khỏe. Đồng thời, tăng cường đào tạo cán bộ chăm sóc, cán bộ chuyên môn y tế trong công tác chăm sóc người cao tuổi và có sự hỗ trợ hơn nữa cho những người chăm sóc người cao tuổi, bao gồm các thành viên trong gia đình, các cán bộ cộng đồng. Xã hội hóa, huy động các nguồn lực đa dạng để đáp ứng các nhu cầu về y tế, văn hóa ngày càng cao của nhóm người cao tuổi; đặc biệt trong việc tham gia vào xây dựng, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, hạ tầng y tế, văn hóa, xã hội cho người cao tuổi. Thứ tư , khuyến khích thanh niên tham gia xây dựng xã hội và cải thiện tính linh hoạt của thị trường lao động. Cần hướng đến chiến lược chuẩn bị đầy đủ tài chính và sức khỏe cho tuổi già “từ xa, từ sớm”, tăng cường vận động nhóm dân số trẻ đang hoạt động kinh tế tham gia bảo hiểm xã hội để chuẩn bị cho tuổi già đầy đủ hơn vì sẽ có lương hưu, không phải tất bật kiếm tiền và hài lòng với cuộc sống hơn. Bên cạnh đó, cần có nhiều biện pháp để cải thiện cuộc sống cho cả người trong độ tuổi và hết tuổi lao động, đặc biệt là những người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn giúp họ có cuộc sống tốt hơn nhằm chuẩn bị cho tuổi già tích cực trong bối cảnh cấu trúc tuổi dân số của Việt Nam đã và đang diễn ra theo xu hướng già hóa ngày càng nhanh ở hiện tại và tương lai. Tuyên truyền giáo dục cho thế hệ trẻ cần có lối sống lành mạnh, quan tâm nhiều đến sức khỏe để chuẩn bị cho tuổi già khỏe mạnh. Khuyến khích người cao tuổi tham gia hoạt động kinh tế, đặc biệt là những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, giảm thiểu thất nghiệp, góp phần giảm tỷ số phụ thuộc chung bao gồm cả phụ thuộc già. Đổi mới trong xây dựng cơ chế, chính sách để thu hút hiệu quả lực lượng lao động trong độ tuổi nghỉ hưu…, chú trọng phát triển các chính sách tạo việc làm phù hợp, cải thiện thu nhập cho người cao tuổi. Thực tế, có nhiều trường hợp người cao tuổi, đặc biệt là trong độ tuổi từ 60 đến 75, vẫn có sức khỏe, năng lực làm việc tốt, có kinh nghiệm, có nhiều khả năng đóng góp, cống hiến cho cộng đồng và xã hội. Các chính sách tạo việc làm, thu nhập cho người cao tuổi cần được thiết kế có tính đặc thù, tận dụng được tiềm năng, thế mạnh của họ, bao quát được nhiều đối tượng thụ hưởng. Có chiến lược quan tâm giải quyết việc làm cho người cao tuổi phù hợp với nhu cầu, sức khỏe và tuổi tác. Nhà nước cần có những chương trình hỗ trợ sinh kế phù hợp với nhu cầu, sức khỏe, tuổi tác của người cao tuổi để giúp họ vừa làm chủ được tài chính, vừa giảm được thời gian nghỉ ngơi ít vận động, từ đó làm tăng sự hài lòng của họ đối với cuộc sống. Nhìn chung, già hóa dân số của Việt Nam là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực chung của cả hệ thống chính trị và mọi thành phần xã hội để giải quyết. Chỉ có sự nỗ lực của toàn xã hội thì vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam mới được giải quyết một cách hiệu quả. Việc điều chỉnh chính sách dân số của Việt Nam là sự thay đổi mang tính chiến lược toàn diện. Đây không chỉ là vấn đề sinh sản mà còn liên quan đến kế hoạch phát triển chung của đất nước. Việt Nam đang nỗ lực tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề già hóa dân số và bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế./. ------------------------ (1) Xem: Hoa Bùi : Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số: Xây dựng Luật Dân số theo hướng thích ứng, báo Pháp Luật Việt Nam , ngày 11-8-2024, https://baophapluat.vn/viet-nam-buoc-vao-giai-doan-gia-hoa-dan-so-xay-dung-luat-dan-so-theo-huong-thich-ung-post521423.html (2) Xem: Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA): Dân số Việt Nam cán mốc 100 triệu vào năm 2023 - Một cột mốc quan trọng, ngày 17-3-2023, https://vietnam.unfpa.org/vi/news/dân-số-việt-nam-cán-mốc-100-triệu-vào-năm-2023
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/821701/chinh-sach-dan-toc-cua-viet-nam-qua-35-nam-doi-moi.aspx
Chính sách dân tộc của Việt Nam qua 35 năm đổi mới
03-04-2021
Nhận thức mới, tư duy mới về vấn đề dân tộc của Đảng
Nhận thức mới, tư duy mới về vấn đề dân tộc của Đảng Vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Có thể khẳng định, chính sách dân tộc của Đảng ta luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong suốt hơn 90 năm qua theo nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ trên tinh thần tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, hướng tới mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại xã Dur Kmăl, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk, năm 2018 _Ảnh: TTXVN Tìm hiểu chính sách dân tộc của Việt Nam trong hơn 90 năm qua, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, có thể thấy một số nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong tất cả các văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới đều xác định, vấn đề dân tộc “có vị trí chiến lược lớn’’, “luôn luôn có vị trí chiến lược’’, “có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta"... Việc xác định vị trí chiến lược lâu dài của công tác dân tộc chính là xuất phát từ đặc điểm của cộng đồng dân tộc ở nước ta. Bởi vì, vấn đề dân tộc vừa là vấn đề giai cấp, vừa là vấn đề quốc phòng - an ninh và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trong điều kiện của một quốc gia đa tộc người, đa dạng về văn hóa như ở Việt Nam. Đó là một đặc điểm lớn, là đặc trưng, diện mạo lịch sử, văn hóa của Việt Nam. Nếu các văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ II đến lần thứ V đều nhấn mạnh nguyên tắc “Đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc’’, thì từ lần thứ VI đến lần thứ XI, nguyên tắc này tiếp tục được khẳng định và bổ sung là: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau’’ (Đại hội VI, VII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’’ (Đại hội VIII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển’’ (Đại hội IX), “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ’’ (Đại hội X), “Bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” (Đại hội XI), “Bình đẳng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển” (Đại hội XII). Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định vị trí chiến lược của chính sách đoàn kết các dân tộc trên cơ sở “bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”. Đảng ta luôn quan tâm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là nhân tố quan trọng, có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Chính sách dân tộc của chúng ta là nhằm thực hiện sự bình đẳng, giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội” (1) . Chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta không chỉ hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, mà còn phát huy các giá trị truyền thống quý báu của từng dân tộc, của mỗi thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, tạo thành sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Đó là cơ sở để thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách dân tộc của Đảng, là động lực mạnh mẽ của tiến trình phát triển đất nước hiện nay. Thứ hai, bình đẳng giữa các dân tộc là quyền ngang nhau của các dân tộc, không phân biệt dân tộc đó là đa số hay thiểu số, trình độ văn hóa, dân trí cao hay thấp, là bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và được bảo đảm bằng pháp luật. Theo đó, bình đẳng giữa các dân tộc thể hiện trước hết ở sự bảo đảm và tạo mọi điều kiện để các dân tộc có cơ hội phát triển ngang nhau. Điều này được Đảng ta khẳng định nhất quán trong các văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới. Do đó, Đảng và Nhà nước ban hành nhiều đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội chung cho cả nước, đồng thời cũng ban hành những đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội đặc thù cho các dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số. Theo quan điểm của Đảng, thực hiện chính sách bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để bảo đảm công bằng xã hội giữa các dân tộc. Thực hiện chính sách bình đẳng giữa các dân tộc phải trải qua một quá trình lâu dài, còn thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc có thể đạt được trong một thời gian nhất định, bởi tiêu chí công bằng xã hội luôn gắn với từng giai đoạn lịch sử. Công bằng xã hội không có nghĩa là cào bằng, dàn đều, mà thể hiện ở khâu phân phối tư liệu sản xuất và phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người, mọi cộng đồng, dân tộc có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực, tiềm năng, thế mạnh của mình. Thứ ba, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc là quan điểm xuyên suốt của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Đại hội VI của Đảng khẳng định: “Trong việc phát triển kinh tế, xã hội ở những nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể” (2) . Với góc nhìn và tư duy mới, vấn đề dân tộc được đặt trong xây dựng quan hệ giữa các dân tộc và con đường phát triển của các dân tộc; chính sách dân tộc được gắn với đường lối chính trị, với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước, với các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm cũng như hằng năm. Để xây dựng quan hệ dân tộc theo những mục tiêu trên, đòi hỏi phải thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vì vậy, Đảng ta chủ trương: “Đầu tư thêm và tập trung sự cố gắng của các ngành, các cấp, kết hợp với động viên tinh thần tự lực, tự cường của nhân dân các dân tộc để khai thác, bảo vệ và phát triển thế mạnh về kinh tế ở các vùng có đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú. Đẩy mạnh công tác định canh, định cư, ổn định sản xuất và đời sống của đồng bào, trước hết ở các vùng cao, biên giới, các vùng căn cứ cũ của cách mạng và kháng chiến” (3) . Điều này thể hiện rõ mục tiêu trong chính sách dân tộc của Đảng ta là không ngừng nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị của từng dân tộc; làm cho mỗi dân tộc được phát triển một cách toàn diện và bền vững; đồng thời, qua đó, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết giữa các dân tộc. Nhờ có các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế dành cho đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước, nhiều mô hình kinh tế đã triển khai đem lại hiệu quả kinh tế cao, giúp đồng bào thoát nghèo và phát triển bền vững_Ảnh: TTXVN Thứ tư, chú trọng tính đặc thù của từng vùng, từng dân tộc. Tại Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng ta quan tâm cụ thể hơn vấn đề dân tộc, nhấn mạnh, sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải gắn với đặc điểm riêng của từng dân tộc và điều kiện, đặc điểm của từng vùng: “Có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm của từng vùng, từng dân tộc, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc thiểu số khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.” (4) . Cũng tại Đại hội VII, xuất phát từ tình hình thực tế của đồng bào người Hoa và đồng bào người Khmer, Đảng ta đã có quan điểm cụ thể về vấn đề này: “Bảo đảm cho người Hoa quyền và nghĩa vụ công dân, tôn trọng văn hoá, chữ viết, tạo điều kiện để bà con người Hoa yên tâm làm ăn, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam và vun đắp quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt - Trung. Tôn trọng văn hoá, tôn giáo của đồng bào dân tộc Khmer, có chính sách giúp đỡ bà con người Khmer về đời sống, nhất là ở những vùng đồng bào có nhiều khó khăn” (5) . Tại Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định nhất quán về chính sách dân tộc, đồng thời chỉ ra phương hướng, mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cụ thể hóa chủ trương này của Đại hội, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 đề ra quan điểm phát triển kinh tế - xã hội cũng như phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải căn cứ điều kiện và đặc điểm của từng vùng. Nhằm cụ thể hóa chính sách dân tộc của Đại hội IX, tại Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12-3-2003, “Về công tác dân tộc” . Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng ta về công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trên cơ sở đánh giá toàn diện về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và xuất phát từ yêu cầu của tình hình mới, Nghị quyết khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam”. Đây là luận điểm rất quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy đổi mới của Đảng trong bối cảnh, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều chuyển biến, thay đổi. Từ thực tế vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở nước ta, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển” (6) . Đại hội XIII, trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế trong thực hiện chính sách về dân tộc, Đảng ta đề ra chủ trương: “Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững” (7) . Việc áp dụng các chính sách cụ thể cho từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một bước tiến quan trọng, thể hiện sự đổi mới trong nhận thức của Đảng về sự công bằng trong phát triển giữa các dân tộc và các vùng, miền nói chung. Từ các tiêu chí phân chia vùng, miền (khu vực bước đầu phát triển, khu vực ổn định và khu vực khó khăn), Nhà nước đã có những chính sách đầu tư thích hợp cho mỗi nhóm đối tượng, theo đó, những khu vực khó khăn hơn sẽ nhận được những ưu đãi đặc biệt về quy mô đầu tư, để giúp cho những khu vực này nhanh chóng theo kịp trình độ phát triển chung của cả nước. Sản xuất sản phẩm gốm truyền thống của đồng bào Chăm ở tỉnh Ninh Thuận_Ảnh: Tư liệu Chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi Từ chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc, xác định rõ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gắn với những vấn đề đổi mới cơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất theo hướng chuyển sang sản xuất hàng hóa phù hợp với đặc điểm kinh tế của từng vùng, tiểu vùng, dân tộc; gắn phát triển kinh tế - xã hội với giải quyết vấn đề dân tộc và quốc phòng - an ninh. Với mục tiêu thu hẹp khoảng cách về phát triển giữa các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, phần lớn các chương trình của Nhà nước tập trung vào hỗ trợ sinh kế và tạo cơ hội xóa đói, giảm nghèo, như: Chương trình 143 (Chương trình xóa đói, giảm nghèo và tạo việc làm giai đoạn 2001 - 2005, được phê duyệt theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg, ngày 27-9-2001, của Thủ tướng Chính phủ); Chương trình 135 (Chương trình phát triển kinh tế - xã hội tại các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, được phê duyệt theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg, ngày 31-7-1998, của Thủ tướng Chính phủ); Chương trình 134 (một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn, theo Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg, ngày 20-7-2004, của Thủ tướng Chính phủ); Chương trình phân bổ đất rừng và trồng rừng; các chính sách về giáo dục, y tế,... Trong giai đoạn 2011 - 2018, có 205 chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi được ban hành. Tính riêng giai đoạn 2016 - 2018, theo Báo cáo số 426/BC-CP, ngày 4-10-2018, của Chính phủ, “ Đánh giá 3 năm thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi” , Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 41 chương trình, chính sách, trong đó có 15 chính sách trực tiếp cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số và 36 chính sách chung có ưu tiên cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nội dung các chính sách giai đoạn 2016 - 2018 tập trung chủ yếu vào lĩnh vực giảm nghèo; phát triển sản xuất trong nông, lâm nghiệp, thủy sản; phát triển giáo dục - đào tạo, văn hóa, như: Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, phát triển sản xuất và ổn định đời sống cho người dân tộc thiểu số nghèo, hộ nghèo vùng đặc biệt khó khăn; ổn định cuộc sống cho người dân tộc thiểu số di cư tự phát; phát triển kinh tế - xã hội cho các dân tộc thiểu số rất ít người; phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số, người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số; tuyên truyền và phổ biến, giáo dục pháp luật trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số… Tính đến tháng 10-2020, có 118 chính sách đang có hiệu lực triển khai thực hiện ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 54 chính sách trực tiếp cho các đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, 64 chính sách chung có ưu tiên cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Ngoài những chính sách tác động trực tiếp đến vùng dân tộc thiểu số và miền núi, hiện nay còn 21 chương trình mục tiêu có nội dung gián tiếp tác động đến vùng này. Có thể nói, cho đến nay, hệ thống chính sách dân tộc được ban hành khá đầy đủ, bao phủ toàn diện các lĩnh vực, nhằm hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững; phát triển giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa; phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh. Các chương trình đã đem lại những hiệu quả tích cực về đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số nước ta. Từ năm 2003 đến năm 2020, Nhà nước đã tập trung bố trí đầu tư, hỗ trợ kinh phí nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, với tổng kinh phí: giai đoạn 2003 - 2008 là khoảng 250.000 tỷ đồng, giai đoạn 2011 - 2015 là 690.000 tỷ đồng, giai đoạn 2016 - 2020 là 998.000 tỷ đồng. Nguồn lực đầu tư đó được tập trung vào xây dựng hàng vạn công trình kết cấu hạ tầng (đường giao thông, công trình thủy lợi, hệ thống điện, công trình nước sạch, trường học, lớp học, trạm y tế, nhà văn hóa, trung tâm cụm xã...); hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội cho dân tộc thiểu số rất ít người; hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất... cho hàng trăm nghìn hộ đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhờ vậy, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã có sự phát triển mạnh mẽ hơn, phong phú và đa dạng hơn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt so với trước thời kỳ đổi mới, trên tất cả các phương diện: ăn, ở, mặc, đi lại, học hành, chăm sóc sức khỏe, nghe, nhìn. Tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn giảm trung bình 3,5%/năm. Tuy nhiên, so với sự phát triển của đất nước nói chung, vùng đồng bào dân tộc thiếu số vẫn là vùng chậm phát triển nhất. Điều đó cho thấy, việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta vẫn còn những khó khăn, bất cập. Các nguyên nhân khách quan và chủ quan là: Một số chính sách thiếu tính cụ thể, khả thi, chưa phù hợp với thực tiễn. Bộ máy tổ chức thực hiện còn thiếu đồng bộ, đội ngũ cán bộ còn thiếu và yếu. Thực tế cho thấy, trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc không đồng đều nhau. Ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận và ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ nên đã bỏ lỡ nhiều cơ hội để vươn lên, chưa sử dụng hiệu quả vốn đầu tư. Chính sách dân tộc hiện nay vẫn chủ yếu là các chính sách hỗ trợ trực tiếp, chưa có nhiều chính sách đầu tư, hỗ trợ có điều kiện, với mục đích cung cấp kỹ năng, tự tạo sinh kế bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Bởi vậy, trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều người vẫn còn mang tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, không muốn vươn lên để thoát nghèo. Hệ thống chính sách dân tộc được ban hành khá đầy đủ, bao phủ toàn diện các lĩnh vực, nhằm hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững; phát triển giáo dục - đào tạo,..._Ảnh: Tư liệu Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng và thực thi chính sách dân tộc trong thời gian tới Từ nhu cầu thực tiễn của công tác dân tộc, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính sách về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc trong tình hình hiện nay. Để làm tốt nhiệm vụ này, cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau: Một là , tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, nhất là Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, “Về công tác dân tộc” ; Kết luận số 65-KL/TW, ngày 30-10-2019, của Bộ Chính trị, về “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới” và Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14-1-2011, của Chính phủ, “Về công tác dân tộc” . Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc thiểu số tích cực thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc. Đặc biệt động viên, khuyến khích đồng bào phát hiện những điểm chưa hợp lý, chưa phù hợp trong các chính sách dân tộc để kiến nghị với các cấp xây dựng và hoàn thiện các chính sách dân tộc. Hai là , hoàn thiện các văn bản pháp luật về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, trong đó sớm xây dựng và ban hành Luật Dân tộc. Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương; đào tạo, bố trí, sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác dân tộc ở các cấp. Ba là, xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc trưng văn hóa của từng vùng, miền, đặc điểm của từng dân tộc, từng địa phương. Trong tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc cần có sự phân loại cụ thể để thực hiện có trọng điểm, hiệu quả, dứt điểm, nhất là đối với những chính sách quan trọng, cấp bách, phù hợp với khả năng tiếp nhận và sự chuẩn bị ở mỗi dân tộc, mỗi địa phương, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Bốn là , nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách dân tộc là công việc quan trọng, cơ bản, thường xuyên, lâu dài, đòi hỏi phải được tiến hành có lộ trình, kiên trì, nhất quán và không ngừng đổi mới, hoàn thiện. Các chính sách dân tộc được xây dựng và ban hành phải là động lực trực tiếp thúc đẩy bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và phát huy vai trò, tiềm năng thật sự của mỗi dân tộc ./. ------------------------ (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.12, tr. 372 (2) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VIII, VIIII, IX, X, XI) , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, tr. 76 (3) Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập , sđd , tr.75 (4) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập , Sđd , tr. 204 (5) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập , Sđd , tr. 204 - 205 (6) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập , Sđd , tr. 741 (7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, t.1, tr. 170
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1217902/nang-cao-nhan-thuc%2C-xay-dung-va-hoan-thien-dong-bo-the-che-phat-trien-van-hoa-trong-giai-doan-moi.aspx
Nâng cao nhận thức, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển văn hóa trong giai đoạn mới
22-02-2026
Nhận thức chung về bản chất, đặc điểm của thể chế phát triển văn hóa
Nhận thức chung về bản chất, đặc điểm của thể chế phát triển văn hóa Thể chế phát triển văn hóa (gọi tắt là thể chế văn hóa) có những đặc điểm chung và đặc điểm riêng so với thể chế phát triển nói chung, thể chế phát triển các lĩnh vực khác. Trên thực tế, thể chế phát triển văn hóa là một bộ phận hợp thành hữu cơ (hay một thể chế thành phần) của thể chế phát triển tổng hợp chính trị - kinh tế - xã hội. Có thể hiểu, thể chế phát triển là phương thức vận hành (vận động) của một cấu trúc xã hội, trong đó các chủ thể hoạt động và tương tác với nhau theo những quy định (quy tắc) xác định, trong những môi trường cụ thể (một lĩnh vực cụ thể hay tổng hợp nhiều lĩnh vực), nhằm đưa cấu trúc xã hội đó vào một trạng thái - trình độ phát triển nào đó với những mục tiêu đặt ra. Như vậy, thể chế phát triển là một cấu trúc đồng bộ bởi 3 thành tố chính: (i) Các chủ thể tham gia (gọi là “người chơi”); (ii) Khung khổ pháp luật, cơ chế, chính sách để các chủ thể hoạt động (gọi là “luật chơi”); (iii) Nội dung và môi trường (lĩnh vực) mà các chủ thể hoạt động (gọi là “sân chơi”). Như vậy, thể chế là sự vận hành đồng bộ của một cấu trúc xã hội, trong đó bảo đảm sự thống nhất biện chứng giữa “người chơi”, “luật chơi” và “sân chơi”. Quan niệm đó cho phép nhìn nhận thể chế trong sự vận động, phát triển. Nội dung cốt lõi của thể chế phát triển là chế định đồng bộ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, lợi ích, trách nhiệm giải trình của tất cả các chủ thể liên quan phù hợp với từng lĩnh vực và trình độ phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Từ khái niệm chung về thể chế phát triển, có thể thấy, thể chế phát triển văn hóa cũng có cấu trúc cơ bản, gồm các chủ thể tham gia liên quan đến hoạt động văn hóa, khung pháp lý cho hoạt động của các chủ thể, cho sự vận hành các hoạt động văn hóa và nội dung (lĩnh vực) văn hóa, trong đó các chủ thể hoạt động theo khung pháp lý quy định. Cho đến nay, ở Việt Nam, chưa có quan niệm chính thức, thống nhất về thể chế phát triển văn hóa. Hiện nay, trong giới nghiên cứu khoa học và quản lý có đề cập nhiều đến thể chế phát triển văn hóa, tuy nhiên, đang có những quan niệm khác nhau. Có thể khái quát thành ba loại quan niệm chủ yếu sau: (1) Thể chế phát triển văn hóa là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về phát triển văn hóa; (2) Thể chế phát triển văn hóa là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về phát triển văn hóa và gắn với đó là hệ thống các tổ chức, đơn vị hoạt động văn hóa; (3) Đồng nhất thể chế văn hóa với hệ thống các thiết chế văn hóa. Rõ ràng, những quan niệm đó về thể chế phát triển văn hóa chưa đầy đủ (so với nội hàm khái niệm thể chế phát triển nêu trên). Có thể đưa ra khái niệm thể chế phát triển văn hóa (gọi tắt là thể chế văn hóa) như sau: Thể chế phát triển văn hóa là phương thức vận hành của một cấu trúc xã hội hữu cơ gồm hệ thống các chủ thể tham gia (liên quan) đến hoạt động văn hóa, trong đó các chủ thể hoạt động và tương tác với nhau theo những khung khổ pháp lý xác định, trong những môi trường (lĩnh vực) hoạt động văn hóa xác định, nhằm tạo được động lực phát triển văn hóa, đạt được những mục tiêu đặt ra . Quan niệm trên cho phép nhìn nhận thể chế văn hóa như một cấu trúc văn hóa - xã hội trong sự vận động, phát triển, trong đó sự tương tác hữu cơ giữa các chủ thể liên quan với nhau theo một hệ thống các quy định (quy tắc) xác định, nhằm đạt mục tiêu đặt ra. Chủ tịch nước Lương Cường và Phu nhân dâng hương và thả cá chép tiễn ông Công, ông Táo tại hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội_Ảnh: TTXVN Thể chế văn hóa có những đặc điểm chung của thể chế phát triển, đồng thời, do đặc điểm và tính chất của hoạt động văn hóa, thể chế văn hóa có những đặc điểm riêng sau: Một là , thể chế văn hóa liên quan trực tiếp đến lĩnh vực đời sống tinh thần, hoạt động xã hội và sản xuất của tất cả các chủ thể trong xã hội và toàn xã hội; chứa đựng những giá trị phát triển cốt lõi, tạo động lực nội sinh cho sự phát triển. Trọng tâm của thể chế văn hóa phải hướng tới, thúc đẩy phát triển, kích hoạt và phát huy cao các giá trị văn hóa, xã hội, con người, góp phần tạo động lực phát triển (của cá nhân, gia đình, tập thể, đơn vị, cộng đồng dân cư và của cả dân tộc) trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hai là , do liên quan trực tiếp đến phát huy năng lực sáng tạo, lan tỏa các giá trị trong hoạt động văn hóa, nên thể chế văn hóa phải tạo được không gian và môi trường tự do sáng tạo phù hợp trong hoạt động văn hóa của tất các chủ thể; đồng thời, phải hạn chế, khắc phục tác động tiêu cực trong các hoạt động văn hóa. Ba là , do liên quan đến phát huy trí tuệ sáng tạo của con người - lĩnh vực tinh thần, tư tưởng, đạo đức, nên thể chế văn hóa phải đề cao phát triển giá trị con người, giá trị sáng tạo, giá trị xã hội, giá trị cộng đồng, giá trị quốc gia - dân tộc, đặc biệt là những giá trị phát triển đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới. Bốn là , sức mạnh nội sinh của văn hóa được thể hiện không chỉ ở giá trị phát triển của từng chủ thể cụ thể, từng đơn vị cụ thể, mà còn được thể hiện ở sự liên kết - kết nối - tích hợp thành giá trị phát triển của cộng đồng, của của quốc gia - dân tộc. Do đó, thể chế văn hóa còn là cơ chế kết nối, tích hợp, nâng tầm các giá trị phát triển của các chủ thể thành giá trị phát triển chung. Năm là , sự phát triển văn hóa của một quốc gia trong mỗi giai đoạn đều luôn chứa đựng sự “tương tác”, “sự đấu tranh”, “sự chuyển hóa” giữa các giá trị truyền thống, các giá trị chủ đạo hiện tại với các giá trị mới (là nhân tố thúc đẩy sự phát triển đáp ứng với yêu cầu mới). Thể chế văn hóa phải tạo được cơ chế để phát huy cao, tích hợp được các mặt tích cực của các giá trị trên, phát triển mạnh, phù hợp, hiệu quả các giá trị mới, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển. Sáu là , văn hóa (các giá trị văn hóa) ngày càng trở thành một nhân tố hữu cơ, động lực bên trong góp phần điều tiết sự phát triển của tất cả các lĩnh vực trong xã hội; vì vậy, thể chế văn hóa không đơn thuần là thể chế về phát triển các lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật theo nghĩa hẹp; mà phải là một thể chế tổng hợp, kết nối sự phát triển giá trị văn hóa với các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường sinh thái… trong tất cả các lĩnh vực. Bảy là , trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, có hoạt động văn hóa vừa mang giá trị lợi ích chung của toàn xã hội (phúc lợi xã hội chung), có những hoạt động lại mang tính chất dịch vụ, hàng hóa. Thể chế văn hóa cũng chứa đựng những yếu tố của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, do liên quan trực tiếp đến giá trị con người, giá trị tinh thần, tư tưởng, đạo đức, truyền thống dân tộc, nên thể chế văn hóa không hoàn toàn tuân theo quy luật của thị trường như trong lĩnh vực kinh tế mà chứa đựng mối quan hệ đặc thù giữa Nhà nước, cơ chế thị trường và xã hội (các chủ thể tham gia hoạt động và thụ hưởng văn hóa). Tám là , để tạo động lực phát triển bền vững, thể chế văn hóa phải tạo được cơ chế gắn kết hài hòa các giá trị về tinh thần, tư tưởng, đạo đức, lối sống của tất cả các chủ thể với các giá trị lợi ích (lợi ích kinh tế và các lợi ích khác), sự chia sẻ về trách nhiệm và lợi ích giữa các chủ thể liên quan; giữa cá nhân với tập thể, đơn vị, cộng đồng và quốc gia - dân tộc. Chín là , trong điều kiện kinh tế thị trường, thể chế văn hóa không chỉ chứa đựng những nhân tố thuần túy về văn hóa, mà còn chứa đựng nhân tố về kinh tế như một thành tố hữu cơ (bên trong) của phát triển văn hóa, gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội (như phát triển công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa); tạo nên mối quan hệ đặc thù giữa văn hóa và kinh tế trong quá trình phát triển. Mười là , trong thể chế văn hóa, mỗi chủ thể có vai trò và chức năng khác nhau, trong đó Nhà nước là một chủ thể (người chơi) có vị trí đặc biệt về tư cách đa diện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong thể chế nhà nước pháp quyền, Nhà nước đồng thời “đóng nhiều tư cách” trong thể chế văn hóa: Người quyết định “luật chơi”, người quản lý - tổ chức thực thi “luật chơi”, người kiểm soát quá trình thực thi “luật chơi”, người đầu tư phát triển các nguồn lực văn hóa, là “người chơi” khi thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với các chủ thể khác và toàn xã hội trong thực thi các “luật chơi” về phát triển văn hóa. Mười một là , trong điều kiện kinh tế thị trường, xét theo mức độ tiếp cận cơ chế thị trường, các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa với nhiều cấp độ khác nhau: Hoàn toàn mang tính chất cộng đồng - xã hội, không vì lợi nhuận, “bán” vì lợi nhuận (không hoàn toàn theo cơ chế thị trường), vì lợi nhuận (hoàn toàn theo cơ chế thị trường). Thể chế văn hóa phải có cơ chế phù hợp bao quát đầy đủ các cấp độ này, để thúc đẩy phát triển hiệu quả các lĩnh vực, loại hình, chủ thể hoạt động văn hóa. Mười hai là, tính chất và trình độ của thể chế văn hóa phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm hoạt động văn hóa (chung và từng lĩnh vực), trình độ phát triển văn hóa và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, mức độ hội nhập quốc tế. Mười ba là, mục tiêu bao trùm của phát triển văn hóa là xây dựng một nền văn hóa “tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, “dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học”, góp phần tạo động lực nội sinh cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững. Vì vậy, thể chế văn hóa, về bản chất, phải là thể chế tạo động lực phát triển cả về giá trị con người, giá trị đạo đức - xã hội, giá trị kinh tế, giá trị môi trường sinh thái. Mười bốn là, thể chế phát triển văn hóa chứa đựng hai thành tố cơ bản, đó là: (i) Thể chế chính thức, bao gồm toàn bộ chủ trương, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa (các lĩnh vực văn hóa) của Nhà nước; các chế định này mang tính pháp lý mà tất cả các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa (trực tiếp hay gián tiếp, sáng tạo văn hóa hay thụ hưởng văn hóa) đều phải tuân theo. (ii) Các thể chế phi chính thức, bao gồm các “khế ước xã hội”, thỏa thuận xã hội, chuẩn mực xã hội, thể hiện ý chí chung của toàn thể cộng đồng, được toàn thể cộng đồng công nhận, coi đó là những giá trị điều tiết mọi hành vi, hoạt động, ứng xử chung của cộng đồng, của mỗi đơn vị, cá nhân. Trong văn hóa, thể chế phi chính thức thường tồn tại dưới dạng các giá trị đạo đức, ứng xử, hương ước, tập tục. Phần lớn các thể chế phi chính thức thường hướng tới bảo vệ các giá trị truyền thống; các giá trị này có thể mang yếu tố tích cực đối với quá trình phát triển, nhưng trong nhiều trường hợp cũng mang các yếu tố tiêu cực. Trong quá trình phát triển, thể chế chính thức và thể chế phi chính thức luôn có mối quan hệ, tương tác hữu cơ với nhau: Thể chế chính thức có vai trò “bảo vệ”, hỗ trợ cho thể chế phi chính thức khi các thể chế phi chính thức hướng tới thúc đẩy phát triển các giá trị tích cực; ngược lại, thể chế chính thức sẽ có vai trò hạn chế, triệt tiêu các tác động tiêu cực do thể chế phi chính thức tạo ra. Trong thực tiễn, để lan tỏa sâu rộng các giá trị văn hóa trong xã hội, tạo thành sức mạnh nội sinh, các thể chế chính thức cũng thường “kết nối” với các thể chế phi chính thức để tạo cơ chế phát triển sâu rộng và hiệu quả hơn. Mười lăm là, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, sự phát triển kinh tế và phát triển văn hóa không thể chỉ xem xét “độc lập tương đối” và “tương tác với nhau” của hai lĩnh vực này. Trên thực tế, phát triển kinh tế và phát triển văn hóa “thẩm thấu”, đan xen nhau, trở thành nội dung bản chất “của nhau” trong quá trình phát triển. Do đó, trong thể chế phát triển kinh tế sẽ phải bao hàm nội dung, mục tiêu và cơ chế phát triển các giá trị văn hóa; ngược lại, trong thể chế phát triển văn hóa phải bao hàm nội dung, mục tiêu và cơ chế phát triển các giá trị kinh tế (theo những yêu cầu và cấp độ khác nhau, tùy thuộc vào từng lĩnh vực văn hóa). Điều này được thể hiện rõ ở phát triển văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân, văn hóa sản xuất - kinh doanh, được thể hiện ở giá trị thương hiệu sản phẩm, dịch vụ đưa ra thị trường, thể hiện trong chất lượng sản phẩm, chữ tín, uy tín, lòng tin của xã hội đối với doanh nghiệp; cao hơn nữa còn thể hiện giá trị, uy tín, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, của cả quốc gia - dân tộc. Trong thể chế phát triển tổng hợp của một đất nước, thể chế văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện ở những phương diện chủ yếu sau: (1) Thể chế văn hóa xác định đường lối, chiến lược, mô hình, mục tiêu phát triển văn hóa phù hợp trong từng giai đoạn, trong từng lĩnh vực; hướng tới phát triển các giá trị con người, giá trị xã hội tốt đẹp, lành mạnh. (2) Thể chế văn hóa xác lập nền tảng pháp lý cho cấu trúc và vận hành của hệ thống tổ chức, các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa của một quốc gia; xác lập cơ chế phát triển, cơ chế lan tỏa, “thẩm thấu” trở thành động lực nội sinh trong tất cả các chủ thể, các lĩnh vực. (3) Thể chế văn hóa tạo cơ sở pháp lý, điều kiện và môi trường thúc đẩy phát triển tư duy và năng lực đổi mới sáng tạo trong phát triển văn hóa - hạt nhân cốt lõi tạo nên động lực phát triển văn hóa của tất cả các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa ở các cấp độ khác nhau (cá nhân, gia đình, đơn vị, cộng đồng, tập thể, lĩnh vực, quốc gia…). (4) Thể chế văn hóa xác lập địa vị, vai trò, trách nhiệm, quyền và lợi ích, trách nhiệm xã hội của các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa trong quá trình phát triển, nhất là vai trò của Nhà nước, các tổ chức, các cá nhân tham gia hoạt động văn hóa. Tạo lập khung pháp lý và điều kiện để kiến tạo và phát triển năng lực sáng tạo văn hóa của các chủ thể; liên kết các chủ thể, các nguồn lực, các yếu tố theo những mô hình phát triển văn hóa có hiệu quả. (5) Thể chế văn hóa tạo cơ sở pháp lý và cơ chế hiện thực hóa mối quan hệ mang tính đặc thù giữa Nhà nước - thị trường - các chủ thể hoạt động văn hóa (chung và trong từng lĩnh vực); phát huy hiệu quả vai trò của Nhà nước, vai trò của cơ chế thị trường, vai trò của các chủ thể hoạt động văn hóa và vai trò của xã hội để tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển văn hóa theo đúng định hướng. Tạo lập môi trường lành mạnh, bình đẳng, minh bạch, phù hợp, hiệu quả đối với các chủ thể hoạt động văn hóa trong từng lĩnh vực; thúc đẩy phát triển hiệu quả thị trường văn hóa, công nghiệp văn hóa. (6) Thể chế văn hóa xác lập đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên kết hữu cơ giữa phát triển văn hóa với phát triển các lĩnh vực khác của xã hội, nhất là trong kinh tế, chính trị, đạo đức, lối sống xã hội; góp phần tạo động lực phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững đất nước. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, kinh tế và văn hóa thẩm thấu vào nhau, thể chế phát triển tổng hợp hai lĩnh vực này có thể gọi là thể chế phát triển kinh tế - văn hóa, hoặc thể chế phát triển văn hóa - kinh tế, tùy theo lĩnh vực nào đóng vai trò chủ đạo chi phối trong quá trình phát triển. (7) Tạo lập cơ sở pháp lý, cơ chế, chính sách huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho sự phát triển văn hóa theo các mục tiêu đặt ra; thúc đẩy phát triển tiềm lực văn hóa; đặc biệt là thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao, trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. (8) Thể chế văn hóa tạo cơ sở pháp lý cho hội nhập và hợp tác quốc tế về văn hóa; tiếp thu có chọn lọc, phù hợp, sáng tạo, hiệu quả các giá trị văn hóa của nhân loại; đồng thời đưa văn hóa Việt Nam hội nhập với thế giới với bản sắc đặc trưng của mình; để văn hóa thực sự đóng vai trò quan trọng vào kiến tạo môi trường hòa bình, hợp tác; góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước nhanh, bền vững, nhất là trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tăng tốc. 9) Điều cốt lõi của thể chế văn hóa không đơn thuần là phát triển các hoạt động, các sản phẩm và dịch vụ văn hóa phục vụ mọi đối tượng trong xã hội (“văn hóa cho”); mà là thúc đẩy hình thành và phát triển các giá trị nội tại (“văn hóa của”), mang tính bản chất con người, giá trị sống, giá trị xã hội, giá trị phát triển lành mạnh của mọi chủ thể trong xã hội, tạo động lực nội sinh cho sự phát triển của tất cả các chủ thể, các tổ chức, cộng đồng dân cư và của toàn xã hội. (10) Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, thể chế văn hóa có vai trò tạo động lực phát triển các giá trị tinh thần, đạo đức, ý thức xã hội, ý thức công dân, ý thức dân tộc, trách nhiệm xã hội…, góp phần tạo nên “sức mạnh mềm” của quốc gia - dân tộc; trực tiếp tham gia vào phát triển “sức mạnh cứng” của đất nước thông qua quá trình phát triển công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa, nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cấu trúc và cơ chế tác động của thể chế văn hóa Thứ nhất, cấu trúc của thể chế văn hóa Cấu trúc của thể chế phát triển văn hóa có thể được xem xét theo hai cách tiếp cận: Cách tiếp cận về cơ cấu các thành tố tạo nên thể chế và cách tiếp cận theo chức năng của thể chế. Một là , cấu trúc thể chế văn hóa theo cách tiếp cận cơ cấu các thành tố tạo nên thể chế văn hóa. Có thể khái quát, xác định cấu trúc thể chế văn hóa bao gồm ba thành tố cấu thành chủ yếu: Các chủ thể tham gia vào lĩnh vực hoạt động văn hóa (“người chơi”); hệ thống quy tắc vận hành và tương tác giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động (“luật chơi”); nội dung (lĩnh vực) văn hóa mà các chủ thể tham gia hoạt động (“sân chơi”). Tuy nhiên gần đây, nhiều nghiên cứu và thực tiễn cho thấy, hệ thống “luật chơi” có thể được ban hành khá đầy đủ và phù hợp, nhưng thể chế vẫn không được vận hành hiệu quả, nếu trong đó thiếu các chế tài đủ mạnh để kiểm soát việc thực thi và buộc các chủ thể phải tuân thủ “luật chơi”. Về thực chất, đây cũng là một bộ phận của “luật chơi”, nhưng do yêu cầu khách quan nên có thể tách ra và nhấn mạnh thành chế tài thực thi thể chế . Như vậy về tổng thể, thể chế văn hóa bao gồm ba (hoặc bốn) thành tố cấu thành quan trọng, đó là: Các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa (“người chơi”), các quy định pháp lý làm cơ sở cho sự hoạt động của các chủ thể (“luật chơi”), nội dung hay lĩnh vực hoạt động văn hóa (“sân chơi”) và chế tài thực thi thể chế văn hóa. Khái niệm các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa được hiểu là tất cả các chủ thể liên quan đến lãnh đạo - quản lý phát triển văn hóa, các chủ thể trực tiếp hay gián tiếp tham gia các hoạt động văn hóa, các chủ thể “hưởng thụ” các sản phẩm văn hóa, dịch vụ văn hóa. Như vậy, xét về cấu trúc, các thành tố hợp thành tạo nên thể chế văn hóa cũng có cấu trúc phức tạp, không đơn nhất. Cần nhận thức rõ các cấu trúc này trong thể chế văn hóa. Hai là , về cấu trúc các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa. Các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa có thể được phân theo chức năng của từng loại chủ thể như sau: (i) Đảng (các cấp ủy) với vai trò lãnh đạo đường lối, chủ trương, định hướng phát triển văn hóa. (ii) Nhà nước với vai trò quản lý phát triển văn hóa. Trong nhà nước có các chủ thể (cơ quan, đơn vị, tổ chức) thực hiện các chức năng khác nhau: Các chủ thể có chức năng quyết định (ban hành) “luật chơi” (luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa); các chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo - quản lý thực thi luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa; các chủ thể kiểm tra, giám sát việc thực thi luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa; các chủ thể trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ hoạt động văn hóa. (iii) Các chủ thể hoạt động văn hóa, bao gồm các chủ thể sau: Các cá nhân hoạt động văn hóa (chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp); các đơn vị hoạt động văn hóa (chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp); các thiết chế văn hóa; các đơn vị, tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội; các tổ chức văn hóa - xã hội, cộng đồng dân cư; (iv) Các chủ thể hưởng thụ văn hóa (hay chịu tác động của hoạt động văn hóa), có thể bao gồm các chủ thể sau: Các cá nhân; gia đình; các tổ chức, đơn vị trong xã hội; cộng đồng dân cư… Việc phân định các loại chủ thể nêu trên cho thấy rõ chức năng của từng loại chủ thể trong hoạt động văn hóa. Trên thực tế, nhiều chủ thể vừa là chủ thể trực tiếp hoạt động văn hóa, đồng thời là chủ thể hưởng thụ văn hóa. Ba là, về cấu trúc hệ thống khung pháp lý (“luật chơi”) trong thể chế văn hóa. Khung pháp lý trong thể chế văn hóa không chỉ dừng lại ở các quy định chung về phát triển văn hóa mà cần phải có quy định pháp lý về hoạt động văn hóa tương ứng đối với từng loại chủ thể, loại hình văn hóa. Riêng đối với các chủ thể tham gia vào hoạt động văn hóa, có thể khái quát các quy định pháp lý sau: + Các quy định vai trò, chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, trách nhiệm giải trình của Đảng (các tổ chức đảng, các cấp ủy) về lãnh đạo phát triển văn hóa. + Các quy định pháp lý về vai trò, chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, trách nhiệm giải trình của Nhà nước (các tổ chức nhà nước) về quản lý phát triển văn hóa (về trách nhiệm quyết định hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa; về trách nhiệm chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển văn hóa; về trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định pháp lý và cơ chế, chính sách phát triển văn hóa…). + Hệ thống các quy định pháp lý phù hợp đối với các chủ thể hoạt động văn hóa trong các lĩnh vực văn hóa, gồm hệ thống các quy định pháp lý cho các chủ thể hoạt động văn hóa sau: Các đơn vị hoạt động văn hóa chuyên nghiệp (trong các lĩnh vực văn hóa); các cá nhân hoạt động văn hóa chuyên nghiệp; các thiết chế văn hóa; các tổ chức, đơn vị xã hội; các cộng đồng dân cư… + Các quy định pháp lý đối với các chủ thể hưởng thụ văn hóa, gồm: các cá nhân, gia đình, cộng đồng dân cư, các tổ chức, đơn vị trong xã hội… Vấn đề cốt lõi của hệ thống quy định pháp lý (“luật chơi”) là chế định đồng bộ về vai trò, trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ, lợi ích, trách nhiệm giải trình, trách nhiệm xã hội đối với từng loại chủ thể tham gia hoạt động trong lĩnh vực văn hóa phù hợp với bản chất, tính chất và hình thức thể hiện của văn hóa nói chung và phù hợp đối với từng loại hình văn hóa. Bốn là, về nội dung (lĩnh vực) văn hóa mà các chủ thể tham gia hoạt động (“sân chơi”). Trong thể chế văn hóa, việc xác định mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa, với các quy định pháp lý về các hoạt động văn hóa không thể chỉ dừng ở các quy định chung, mà còn phải được thể hiện phù hợp đối với từng nội dung (lĩnh vực) văn hóa (được gọi là “sân chơi”). Trong mỗi lĩnh vực văn hóa (văn hóa truyền thống với nhiều loại khác nhau, điện ảnh, sân khấu, văn học, hội họa, điêu khắc…) đều có nội dung, tính chất hoạt động, cơ chế sáng tạo và hình thức đi vào cuộc sống khác nhau. Điều này đòi hỏi phải chế định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm xã hội của các chủ thể, gắn liền với các quy định pháp lý hoạt động phù hợp đối với từng lĩnh vực văn hóa. Do đó, việc nhận thức rõ bản chất, nội dung, tính chất, tác động và cơ chế hoạt động của từng lĩnh vực văn hóa, để trên cơ sở đó chế định thể chế phát triển phù hợp, hiệu quả là một nhiệm vụ quan trọng. Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự thay đổi mô hình và phương thức sản xuất xã hội, trí tuệ nhân tạo, sự thay đổi cấu trúc xã hội… làm thay đổi sâu sắc “sân chơi” văn hóa; sẽ đưa đến yêu cầu và thực tiễn sự ra đời của nhiều hình thức, mô hình văn hóa mới, giá trị con người, giá trị văn hóa, giá trị xã hội mới (cả tích cực và không tích cực). Trong cơ chế thị trường, sự phát triển văn hóa gắn liền hữu cơ với sự phát triển của các lĩnh vực khác, đặc biệt là kinh tế. Văn hóa không chỉ “thẩm thấu” vào kinh tế, trở thành một yếu tố hữu cơ của phát triển kinh tế, nguồn lực phát triển kinh tế, làm cho kinh tế mang giá trị (“bộ mặt”) con người hơn; mà văn hóa còn trở thành một lĩnh vực kinh tế, kinh tế văn hóa, thị trường văn hóa. Đồng thời, kinh tế thị trường cũng thấm sâu vào văn hóa, trở thành nguồn lực phát triển văn hóa, hình thành các cơ chế phát triển kết hợp hữu cơ giữa kinh tế và văn hóa, văn hóa và kinh tế với những cấp độ và hình thức khác nhau tạo nên các giá trị phát triển tổng hợp về văn hóa - kinh tế - xã hội. Việc các giá trị đó đưa đến các tác động tích cực hay tiêu cực đối với sự phát triển phụ thuộc vào thể chế phát triển. Vì vậy, việc đổi mới và nâng cao nhận thức, năng lực về vị trí, vai trò, chức năng của tất cả các chủ thể liên quan đến hoạt động và phát triển văn hóa; gắn liền với đó là chế định đồng bộ hệ thống “luật chơi” phù hợp, hiệu quả để thúc đẩy phát triển văn hóa trở thành động lực nội sinh mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới là một yêu cầu, nhiệm vụ bức thiết, trọng yếu. Năm là, cấu trúc thể chế văn hóa theo cách tiếp cận chức năng thể chế. Theo cách tiếp cận chức năng, thể chế văn hóa có cấu trúc ngang - dọc, đan xen lẫn nhau, từ trên xuống dưới theo các chức năng khác nhau của thể chế, của từng lĩnh vực văn hóa. Các chức năng khác nhau của thể chế có thể được phân định theo các tiêu chí khác nhau theo các yếu tố tạo nên thể chế, bảo đảm thể chế vận hành có hiệu quả. Có thể khái quát như sau: Thể chế về xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, trách nhiệm giải trình của từng loại chủ thể tham gia hoạt động văn hóa nói chung, phù hợp đối với từng lĩnh vực văn hóa; thể chế tài chính cho phát triển văn hóa nói chung và cho phát triển từng lĩnh vực văn hóa (có sự khác nhau); thể chế về cơ chế thị trường trong phát triển văn hóa (các lĩnh vực văn hóa); thể chế thúc đẩy phát triển sáng tạo các lĩnh vực văn hóa cụ thể; thể chế về đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa; thể chế về cơ chế tự chủ của các đơn vị hoạt động văn hóa; thể chế về phát triển các trụ cột văn hóa, phát triển từng lĩnh vực văn hóa; thể chế về phát triển công nghiệp văn hóa; thể chế về phát triển văn hóa trong hệ thống chính trị (phát triển văn hóa lãnh đạo của Đảng; văn hóa nhà nước pháp quyền - kiến tạo - quản trị phát triển “của dân, do dân, vì dân”; thể chế phát triển văn hóa doanh nghiệp - văn hóa doanh nhân; thể chế về phát triển văn hóa trong cộng đồng dân cư, trong các tổ chức, đơn vị trong xã hội; thể chế về phát triển nguồn lực con người cho phát triển văn hóa; thể chế hội nhập quốc tế về văn hóa;…. Như vậy, nhìn nhận cấu trúc của thể chế văn hóa về mặt lý luận và thực tiễn đều phải có sự tổng hợp đồng bộ theo cách tiếp cận cấu trúc thành tố và theo cách tiếp cận chức năng trong quá trình xây dựng luật pháp, cơ chế, chính sách cũng như trong quá trình quản lý, tổ chức thực hiện. Lễ hội Cổ Loa xuân Bính Ngọ 2026_Ảnh: TTXVN Thứ hai, cơ chế tác động của thể chế văn hóa với các thể chế phát triển khác Cơ chế tác động của thể chế văn hóa được hiểu là cơ chế tương tác (chế định) lẫn nhau giữa thể chế văn hóa với tất cả các thể chế phát triển các lĩnh vực khác trong thể chế phát triển tổng hợp đất nước, trước hết là các thể chế cơ bản sau: Thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế xã hội (theo nghĩa rộng) và thể chế bảo vệ môi trường sinh thái. Trong đó: (i) Thể chế chính trị đóng vai trò xác định định hướng phát triển, mục tiêu phát triển, khung khổ pháp lý (luật pháp, cơ chế, chính sách) phát triển tất cả các lĩnh vực, trong đó có văn hóa. (ii) Thể chế kinh tế đóng vai trò xác định nội dung kinh tế, giá trị và lợi ích kinh tế trong tương quan với giá trị văn hóa, chế định hình thức và mức độ vận dụng cơ chế thị trường trong phát triển văn hóa (trong từng lĩnh vực văn hóa); đồng thời xác định cơ chế sử dụng (ứng dụng) và phát triển các giá trị văn hóa trong phát triển kinh tế, góp phần tạo động lực phát triển hiệu quả kinh tế. (iii) Thể chế xã hội (theo nghĩa rộng phát triển các lĩnh vực xã hội) đóng vai trò hình thành và định hướng các giá trị xã hội trong quá trình phát triển; đặt ra các yêu cầu đối với phát triển giá trị con người và văn hóa đáp ứng yêu cầuu phát triển xã hội trong mỗi giai đoạn; xác định các giá trị văn hóa trong quá trình phát triển xã hội theo yêu cầu mới. Đồng thời, hình thành đồng bộ thể chế phát triển xã hội để thúc đẩy việc phát huy các giá trị văn hóa, nhất là các giá trị mới; hạn chế các tác động tiêu cực của các giá trị văn hóa không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu phát triển. (iv) Thể chế môi trường sinh thái có chức năng cơ bản là tạo lập các giá trị sống của con người, của các chủ thể trong xã hội, của các cộng đồng dân cư, của nền sản xuất xã hội, sản xuất và tiêu dùng “xanh”, của toàn xã hội, gắn hài hòa với tự nhiên (thiên nhiên), không gây ảnh hưởng đến môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững cũng chứa đựng những giá trị con người, giá trị văn hóa, giá trị xã hội trong toàn bộ sự phát triển của các lĩnh vực; là những giá trị cao cả chung của nhân loại, đồng thời là giá trị đặc trưng của Việt Nam trong quá trình phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới. Thể chế văn hóa có chức năng cơ bản là tạo lập, bảo vệ, phát triển các giá trị con người, các giá trị văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Vừa bảo vệ, phát triển và hiện đại hóa các giá trị truyền thống tốt đẹp, vừa phát huy cao các giá trị đang đóng vai trò chủ đạo, nòng cốt đối với sự phát triển hiện nay, vừa đẩy mạnh hình thành các giá trị mới, góp phần tạo động lực phát triển mang tính bứt phá theo chiều sâu, dựa chủ yếu vào khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, nguồn lực con người chất lượng cao, trình độ cao ở mọi cấp độ trong mọi lĩnh vực, chủ thể, mục tiêu và động lực cốt lõi của quá trình phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới. Thể chế văn hóa chịu sự chế định, tương tác, gắn bó hữu cơ với tất cả các thể chế phát triển khác, nhất là các thể chế cơ bản trên. Một mặt , lấy các giá trị phát triển của các lĩnh vực khác để làm cơ sở hình thành và phát triển các giá trị con người, giá trị văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển; mặt khác , việc hình thành các giá trị văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển của giai đoạn mới (chung và trong lừng lĩnh vực) sẽ là cơ sở hình thành “động lực nội sinh, hệ điều tiết” trong sự phát triển của tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, sự phát triển và tương tác giữa các thể chế phát triển các lĩnh vực với nhau và với thể chế văn hóa không phải là một chiều; trên thực tế vừa là quá trình thẩm thấu, chuyển hóa lẫn nhau, tác động tương hỗ với nhau, hình thành các giá trị động lực thúc đẩy phát triển đất nước theo những mục tiêu chung “dân giàu, nước mạnh, hòa bình, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc”. Mặt khác còn là quá trình “đấu tranh” loại bỏ các giá trị không phù hợp, tác động tiêu cực, làm suy yếu động lực phát triển trong mỗi lĩnh vực và trong thể chế phát triển chung của các nước. Thứ ba, về cơ chế tác động nội tại của thể chế văn hóa Cơ chế tác động nội tại của thể chế văn hóa được thể hiện chủ yếu ở sự tương tác giữa các thành tố cơ bản: Sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển văn hóa; vai trò quản lý của Nhà nước đối với phát triển văn hóa; vai trò, chức năng của các chủ thể tham gia phát triển văn hóa; khung pháp lý cho các chủ thể và các hoạt động văn hóa; tương ứng với đó là nội dung (các lĩnh vực) văn hóa. Tính hiệu lực, hiệu quả của thể chế văn hóa được thể hiện ở sự đồng bộ, phù hợp giữa các thành tố cơ bản đó, phù hợp với bản chất, tính chất, đặc điểm của văn hóa nói chung và của từng lĩnh vực văn hóa. Trước hết về sự đồng bộ giữa nội dung, cơ chế hoạt động của các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa. Tham gia vào phát triển văn hóa gồm các chủ thể cơ bản sau: Đảng là chủ thể lãnh đạo đường lối, chủ trương, định hướng phát triển các giá trị văn hóa, con người; Nhà nước là chủ thể cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối, chủ trương phát triển văn hóa của Đảng thành mục tiêu, nhiệm vụ, luật pháp, cơ chế, chính sách phát triển văn hóa; lãnh đạo - chỉ đạo - tổ chức - quản lý triển khai thực hiện trong thực tiễn; các chủ thể hoạt động văn hóa (bao gồm tất cả chủ thể từ cá nhân, đến tổ chức hoạt động văn hóa chuyên nghiệp, không chuyên nghiệp; các thiết chế văn hóa; các đơn vị trong xã hội, cộng đồng dân cư, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội với tính cách là chủ thể hoạt động văn hóa); các chủ thể thụ hưởng giá trị văn hóa (không thụ động hoặc thụ động). Các chủ thể hoạt động văn hóa (chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp) và các nội dung, sản phẩm, dịch vụ văn hóa được tạo ra đều phải nằm trong các khung pháp lý xác định - KPL (thường được gọi là “luật chơi”) bao gồm các quy định pháp lý chính thức, cơ chế thị trường và quy định phi chính thức. Mức độ tham gia vào cơ chế thị trường của các hoạt động văn hóa, sản phẩm, dịch vụ văn hóa khác nhau, từ hoạt động của nhân dân mang tính tự nguyện không thu phí; đến dịch vụ công phục vụ miễn phí, dịch vụ công thu phí thấp, đến dịch vụ được cung cấp hoàn toàn theo cơ chế thị trường của tất cả chủ thể tham gia hoạt động văn hóa theo quy định của pháp luật. Các hoạt động văn hóa của tất cả chủ thể (dù khác nhau về hình thức) đều được thể hiện ở sản phẩm văn hóa đưa ra cho xã hội với nội dung và giá trị xác định. Cốt lõi chung của các sản phẩm văn hóa (hay hoạt động văn hóa) của tất cả các chủ thể là các giá trị văn hóa đưa lại cho xã hội, tạo động lực phát triển trong tất cả lĩnh vực với tính cách là động lực nội sinh. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, yếu tố thị trường, cơ chế thị trường trở thành một trong những động lực nội tại quan trọng của phát triển văn hóa (cùng với hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chính thức và các quy định phi chính thức trong xã hội). Như vậy, văn hóa không thể chỉ được xem là yếu tố “bên ngoài” tác động đến phát triển văn hóa; ngược lại, kinh tế không chỉ được xem là nguồn lực “vật chất” cho phát triển văn hóa. Kinh tế và văn hóa cần phải (trên thực tế) là những nội dung mang tính bản chất trong quá trình phát triển, tạo nên hợp lực phát triển nhanh, bền vững cả về kinh tế, văn hóa và xã hội. Các nội dung và hoạt động văn hóa, các sản phẩm, dịch vụ văn hóa dù dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng đều có một điểm chung nhất là tạo nên các giá trị tinh thần, đạo đức, vật chất, pháp lý, giá trị sống của mỗi con người, gia đình, cộng đồng dân cư, tất các tổ chức, đơn vị trong xã hội và quốc gia - dân tộc. Xét trên bình diện chung nhất, khái quát nhất , cấu trúc và cơ chế vận hành của thể chế văn hóa có thể được mô tả như hình dưới đây: Cơ chế vận hành của thể chế văn hóa_Nguồn: tác giả Mô hình trên thể hiện những mối quan hệ chủ yếu sau: Các chủ thể tham gia (trực tiếp hay gián tiếp) đến hoạt động văn hóa ở mọi cấp độ, cùng với khung pháp lý cho sự hoạt động của các chủ thể, tương thích với nội dung, hình thức của văn hóa nói chung (và từng lĩnh vực văn hóa nói riêng) tạo thành ba thành tố trụ cột cơ bản của thể chế văn hóa. Mỗi chủ thể tham gia có vai trò, chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, lợi ích (theo nghĩa rộng), trách nhiệm giải trình, trách nhiệm xã hội khác nhau, nhưng liên quan hữu cơ với nhau; được thể hiện ở khung pháp lý hoạt động (bao gồm các quy định chính thức; các quy định phi chính thức; cơ chế thị trường). Hoạt động của các chủ thể, khung pháp lý phải tương thích với nội dung và hình thức thể hiện không chỉ đối với lĩnh vực văn hóa nói chung, mà còn phải tương thích đối với từng lĩnh vực văn hóa trong điều kiện và trình độ phát triển cụ thể. Các hoạt động văn hóa và sản phẩm, dịch vụ văn hóa là kết quả tương tác giữa các chủ thể theo các mục tiêu, yêu cầu, khung pháp lý xác định, phù hợp đối với từng lĩnh vực văn hóa trong từng giai đoạn phát triển. Các chủ thể tham gia (đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, năng lực sáng tạo của các chủ thể hoạt động văn hóa) cùng với nền tảng pháp lý là cơ sở nền tảng để tạo động lực phát triển văn hóa (các lĩnh vực văn hóa). Tuy nhiên, sự phát triển văn hóa luôn mang tính động, gắn liền (và là hệ quả tác động trực tiếp) của sự phát triển thể chế kinh tế, thể chế chính trị, thể chế xã hội, của sự phát triển khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế. Vì vậy, nội dung, hình thức hoạt động văn hóa, sản phẩm và dịch vụ văn hóa không thể chỉ là “tĩnh tại, bất biến”, “luôn giữ vững truyền thống” một cách máy móc, siêu hình; mà luôn chứa đựng “tính động” theo nhịp độ, quy mô và trình độ phát triển của tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Khi các giá trị văn hóa mới được hình thành (hoặc đang hình thành) sẽ tác động trở lại các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa, từ đó đặt ra yêu cầu mới đối với việc thay đổi khung pháp lý (luật pháp, cơ chế, chính sách) phát triển văn hóa (gắn liền với các lĩnh vực khác); yêu cầu đổi mới, thay đổi, bổ sung, phát triển các nội dung và hình thức văn hóa mới trong các lĩnh vực. Các giá trị văn hóa sẽ thực hiện đóng vai trò “hệ điều tiết” đối với sự phát triển các lĩnh vực khác, mà trọng tâm là giữ gìn, phát triển, nâng cao, làm giàu thêm giá trị con người, giá trị xã hội, giá trị môi trường sinh thái trong quá trình phát triển. Trước yêu cầu bức thiết của sự phát triển nhanh, bền vững đất nước khi bước sang kỷ nguyên mới, việc nhận thức đúng đắn, rõ ràng cấu trúc và cơ chế vận hành của thể chế văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực nhằm xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế văn hóa, góp phần quan trọng tạo động lực nội sinh cho sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới là nhiệm vụ rất quan trọng./. -------------------------------- * Bài viết là sản phẩm của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước: “Hoàn thiện thế chế phát triển văn hóa góp phần tạo động lực phát triển nhanh và bền vững đất nước trong điều kiện mới”, mã số KX.05.07/21-30
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1211702/cao-bang---tam-nhin-va-su-lua-chon-chien-luoc-cua-chu-tich-ho-chi-minh-nam-1941-va-bai-hoc-doi-voi-su-nghiep-xay-dung%2C-bao-ve-to-quoc-hien-nay.aspx
Cao Bằng - tầm nhìn và sự lựa chọn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 và bài học đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay
27-01-2026
Quyết định lựa chọn Cao Bằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941: Hội tụ các yếu tố “thiên thời - địa lợi - nhân hòa”
Quyết định lựa chọn Cao Bằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941: Hội tụ các yếu tố “thiên thời - địa lợi - nhân hòa” Cách đây 85 năm, ngày 28-1-1941, sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đặt chân lên cột mốc 108 biên giới Việt Nam - Trung Quốc thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng ( 1 ) , trực tiếp về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Sự kiện này không chỉ đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, mà còn mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam - thời kỳ chuẩn bị trực tiếp về mọi mặt để tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong tiến trình lịch sử đó, việc Người lựa chọn Cao Bằng làm điểm đặt chân đầu tiên và xây dựng căn cứ địa cách mạng là quyết định mang tầm chiến lược, thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, sự am hiểu sâu sắc về thực tiễn trong nước và nghệ thuật vận dụng sáng tạo các điều kiện khách quan, chủ quan. Quyết định lựa chọn Cao Bằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 không phải ngẫu nhiên, mà là kết quả của quá trình tìm hiểu, đánh giá, cân nhắc dựa trên một hệ thống các tiêu chí chiến lược khắt khe, gồm “thiên thời - địa lợi - nhân hòa”. Yếu tố “thiên thời” là tổng thể bối cảnh quốc tế và trong nước vào cuối năm 1940 - đầu năm 1941, tạo điều kiện thuận lợi, đồng thời là đòi hỏi bức thiết đối với cách mạng Việt Nam. Thứ nhất, sự suy yếu và rối loạn của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương . Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ từ năm 1939 đã làm rung chuyển toàn bộ trật tự chính trị - kinh tế thế giới, đẩy mâu thuẫn giữa các nước đế quốc lên tới đỉnh cao. Đối với các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, chiến tranh vừa làm gia tăng sự áp bức, bóc lột, vừa tạo ra những khe hở và điều kiện thuận lợi cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển. Đến cuối năm 1940, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn ác liệt, bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương bị suy yếu, trong khi phong trào cách mạng trong nước đứng trước yêu cầu phải có sự chỉ đạo trực tiếp và thống nhất. Trong hoàn cảnh đó, việc lựa chọn địa điểm trở về và xây dựng căn cứ địa là một quyết định mang tính chiến lược, đòi hỏi sự cân nhắc toàn diện nhiều yếu tố. Tháng 6-1940, Pháp đầu hàng phát xít Đức, trở thành một nước bại trận. Uy tín và sức mạnh của thực dân Pháp ở Đông Dương bị suy giảm nghiêm trọng. Lợi dụng cơ hội đó, chính quyền phát xít Nhật tăng sức ép lên chính quyền Pháp tại Đông Dương nhằm thế chân Pháp. Ngày 18-6-1940, Nhật gửi cho Toàn quyền Catơru yêu cầu Pháp đóng cửa biên giới Việt Nam - Trung Quốc, đình chỉ việc vận chuyển xăng dầu, phương tiện chiến tranh cho Tưởng Giới Thạch theo đường Hải Phòng - Vân Nam. Tiếp đó, ngày 2-8-1940, Nhật yêu cầu Pháp cho Nhật vào Đông Dương, sử dụng các sân bay để tiến công miền Nam Trung Quốc, đặt nền kinh tế Đông Dương phục vụ cho guồng máy chiến tranh của Nhật. Ngày 30-8-1940, Pháp và Nhật ký Hiệp định chính trị Tokyo, trong đó Pháp chấp nhận hầu hết các yêu cầu của Nhật. Tiếp đó, ngày 22-9-1940, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương chấp nhận các điều khoản đã ký kết. Ngày 23-9-1940, quân Nhật vẫn vượt qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc đánh chiếm Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng, đổ bộ lên Đồ Sơn. Sau khi vào Đông Dương, Nhật liên tục ép Pháp nhượng bộ, ký kết các hiệp ước có lợi cho Nhật trên tất cả các mặt kinh tế, quân sự, văn hóa, trên cơ sở đó từng bước chi phối Đông Dương. Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng” ( 2 ) . Đây chính là “thời cơ vàng” do tình thế biến chuyển tạo ra. Trong suốt quá trình từ ngày 20-6-1940 đến tháng 1-1941 là giai đoạn chuẩn bị trực tiếp cho sự trở về Tổ quốc của Người. Thứ hai, yêu cầu cấp thiết về sự chỉ đạo trực tiếp và thống nhất của cách mạng trong nước . Sau cao trào cách mạng 1930 - 1931 và 1936 - 1939, phong trào cách mạng ở Việt Nam bị đàn áp dã man, nhiều tổ chức đảng bị phá vỡ, cán bộ trung ương phần bị bắt, phần phải rút vào hoạt động bí mật. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 khẳng định dứt khoát chủ trương “thay đổi chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu” ( 3 ) . Tuy nhiên, việc thiếu một trung tâm lãnh đạo có uy tín tuyệt đối và tầm nhìn chiến lược để trực tiếp chỉ huy, thống nhất các lực lượng, củng cố tổ chức đảng là một hạn chế lớn. Việc Nguyễn Ái Quốc - người có uy tín quốc tế và trong nước rất lớn trở về Việt Nam vào thời điểm này đáp ứng đúng yêu cầu khách quan của lịch sử. Thứ ba, sự điều chỉnh chiến lược linh hoạt trước biến cố bất ngờ . Kế hoạch ban đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh dự định về nước qua hướng Côn Minh - Lào Cai, con đường liên lạc truyền thống. Nhưng cầu Hồ Kiều - chiếc cầu lớn trên trên sông Nậm Thi, trên đó có tuyến đường sắt Việt - Điển nối hai nước, bị phá sập vào ngày 16-9-1940 đã chặn đứt lộ trình này ( 4 ) . Sự kiện này cho thấy “thiên thời” không phải lúc nào cũng là thuận lợi tuyệt đối, mà bao hàm cả những rủi ro, trở ngại. Thành công nằm ở khả năng chuyển “nguy” thành “an”, biến bị động thành chủ động. Trước tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và các đồng chí của mình đã tập trung phân tích kỹ lưỡng các phương án thay thế, trong đó Cao Bằng nổi lên với những ưu thế vượt trội so với các địa bàn biên giới khác. "Bác Hồ làm việc tại Pác Bó'' (Tranh sơn dầu của Trịnh Phòng)-Nguồn: laodong.vn Yếu tố “địa lợi” là tổng hòa các điều kiện về vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên thiên nhiên tạo nên lợi thế không gian cho các hoạt động cách mạng. Nếu “thiên thời” tạo ra thời cơ, “địa lợi” là không gian vật chất để hiện thực hóa thời cơ đó. Cao Bằng sở hữu một tổ hợp lợi thế địa lý - tự nhiên độc đáo, đáp ứng các yêu cầu của một căn cứ địa cách mạng trong giai đoạn khởi đầu đầy gian khó. Thứ nhất, Cao Bằng có vị trí địa chính trị và địa quân sự đặc biệt . Cao Bằng nằm ở cực Bắc, có đường biên giới dài trên 333km tiếp giáp với Trung Quốc. Vị trí này mang lại ba lợi thế chiến lược then chốt: (i) Lợi thế an toàn và linh hoạt tác chiến, tạo thế “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” (tiến có thể đánh, lui có thể giữ). Khi bị uy hiếp, lực lượng cách mạng có thể nhanh chóng rút sang biên giới để bảo toàn, né tránh sự truy quét của địch. Ngược lại, khi có thời cơ, có thể từ đây bí mật tỏa về các vùng xuôi. Hàng trăm đường mòn, lối nhỏ mà nhân dân quen thuộc trở thành những “huyết mạch” linh hoạt. (ii) Lợi thế liên lạc với bên ngoài: Đây là cửa ngõ quan trọng để tiếp nhận sự chỉ đạo từ Quốc tế Cộng sản (thông qua Đảng Cộng sản Trung Quốc), vận chuyển vũ khí, tài liệu và đón các cán bộ từ nước ngoài trở về. Pác Bó chỉ cách biên giới vài trăm mét, tạo điều kiện liên lạc cực kỳ thuận tiện. (iii) Lợi thế mở rộng và kết nối: Từ Cao Bằng, thông qua quốc lộ 3 và các đường mòn, có thể dễ dàng nối xuống Bắc Kạn, Thái Nguyên - trung tâm của vùng công nghiệp và nông nghiệp nhỏ, từ đó lan tỏa ảnh hưởng ra toàn quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn thấy rõ vị trí chiến lược của Cao Bằng. Người cho biết: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tấn công, lúc khó khăn có thể giữ” ( 5 ) . Thứ hai, địa hình hiểm trở, bị chia cắt mạnh, tạo thành “thành lũy thiên nhiên”. Hơn 90% diện tích Cao Bằng là đồi núi, chủ yếu là núi đá vôi và núi đất. Địa hình này tạo ra một không gian phòng thủ tự nhiên lý tưởng. Địa hình núi đá vôi tạo ra hệ thống hang động, hốc đá chằng chịt (như hang Cốc Bó, Ngườm Vừ, Slí Điếng) cung cấp nhiều địa điểm ẩn náu, hội họp, cất giấu tài liệu, in ấn bí mật mà kẻ địch khó lòng phát hiện. Hang Cốc Bó, nơi Bác ở, có cửa hang khuất sau khe đá, bên trong rộng rãi, khô ráo. Với đặc điểm địa hình bị cắt xẻ lớn bởi núi non, sông suối và rừng rậm, tạo nên một cấu trúc không gian khó kiểm soát đối với các lực lượng hành chính và quân sự từ bên ngoài, tạo thành “thành lũy” tự nhiên. Cùng với đó, đầu những năm 40 của thế kỷ XX, điều kiện giao thông ở Cao Bằng hết sức khó khăn, các tuyến đường chủ yếu là đường mòn, lối rừng, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và tri thức bản địa. Thông qua đặc điểm địa hình và tình trạng giao thông hạn chế là trở ngại, gây khó khăn cho các hoạt động tuần tra, càn quét của thực dân Pháp. Nhiều vùng sâu, vùng xa, địa hình phức tạp khiến cho bộ máy cai trị của Pháp không thể vươn tới, tạo điều kiện để xây dựng cơ sở, phát triển phong trào cách mạng. Ngoài ra, ở Cao Bằng lúc này có độ che phủ rừng lớn, tạo thành một “tấm màn xanh” khổng lồ, che chắn mọi hoạt động di chuyển, tập trung, liên lạc của lực lượng cách mạng. Rừng còn là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc men tại chỗ. Thứ ba, nguồn tài nguyên tại chỗ bảo đảm khả năng tự túc . Các thung lũng nhỏ hẹp (lòng chảo) như Hòa An, Nguyên Bình cho phép canh tác lúa, ngô, sắn. Nguồn lâm thổ sản phong phú từ rừng (măng, rau, thú, củi, thuốc nam) giúp bổ sung đáng kể nhu cầu sinh hoạt. Điều này cực kỳ quan trọng đối với một căn cứ bí mật, cần hạn chế tối đa việc tiếp tế từ bên ngoài dễ bị lộ. Như vậy, “địa lợi” của Cao Bằng không đơn thuần là địa hình hiểm trở, mà là một hệ sinh thái chiến lược hoàn chỉnh, gồm cả biên giới, núi cao - hang động, rừng rậm, sông suối, thung lũng…, tạo ra một không gian vừa khép kín về mặt an ninh, vừa mở về mặt chiến lược. Yếu tố “nhân hòa” là cơ sở chính trị, xã hội vững chắc và lòng dân hướng về cách mạng. Đây là yếu tố quan trọng nhất, là linh hồn của căn cứ địa. Thứ nhất, nhân dân Cao Bằng có truyền thống yêu nước, cách mạng . Cao Bằng là một trong những cái nôi của cách mạng miền núi phía Bắc. Cư dân Cao Bằng chủ yếu là người Tày, Nùng, ngoài ra còn có đồng bào Mông, Dao sinh sống ở vùng núi đá cao; đồng bào Sán Chay (Sán Chỉ), Sán Dìu, Ngái, Lô Lô… Các dân tộc với truyền thống tương thân tương ái, gắn bó chặt chẽ, có tinh thần tự tôn dân tộc cao. Điều kiện sống khắc nghiệt rèn luyện cho đồng bào ý chí kiên cường và khả năng sinh tồn. Dưới sự thống trị của thực dân Pháp và bọn chúa đất phong kiến tay sai, nhân dân Cao Bằng phải chịu sưu cao thuế nặng, lao dịch khổ sai, cướp bóc của thổ phỉ. Đặc biệt, công nhân các mỏ thiếc, sắt bị bóc lột dã man. Mâu thuẫn dân tộc và giai cấp ở đây vô cùng gay gắt, tạo nên lòng căm thù và khát vọng giải phóng mãnh liệt. Người dân Cao Bằng sớm giác ngộ cách mạng, cùng với lòng yêu nước truyền thống nhanh chóng được chuyển hóa thành ý thức cách mạng. Nhân dân không chỉ ủng hộ bằng tinh thần, mà bằng cả hành động thiết thực như che giấu cán bộ, nuôi dưỡng, dẫn đường, liên lạc, giữ bí mật tuyệt đối… Từ năm 1927, tại Cao Bằng đã xuất hiện nhiều cơ sở của Hội đánh Tây ở các tổng Tượng Yên, Nhượng Bạn, Hà Đàm (thuộc châu Hòa An). Sau đó, tổ chức yêu nước này còn phát triển lên Hà Quảng, lan sang Quảng Uyên và các châu khác trong tỉnh, đặc biệt là các khu vực đầu mối giao thông quan trọng và đông dân ( 6 ) . Nhiều thanh niên yêu nước Cao Bằng sớm tham gia hoạt động cách mạng, trong đó tiêu biểu có đồng chí Hoàng Đình Giong. Năm 1928 tại Bản Đáy (Quảng Tây) các hội viên Hoàng Đình Giong (Cao Bằng), Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri (Lạng Sơn) được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, trở thành lớp thanh niên dân tộc Tày đầu tiên đến với cách mạng . Thứ hai, tổ chức đảng ra đời sớm , góp phần thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng. Ngày 1-4-1930, chi bộ đảng đầu tiên của tỉnh được thành lập tại Nặm Lìn, xã Hoàng Tung, châu Hòa An do đồng chí Hoàng Văn Nọn (Nõn) làm Bí thư Chi bộ, đây là một trong những chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời sớm tại miền núi biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc ( 7 ) . Điều này chứng tỏ hạt giống cách mạng đã được gieo trồng và bén rễ từ rất sớm. Đến tháng 7-1933, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng được thành lập, do đồng chí Hoàng Văn Nọn làm Bí thư ( 8 ) . Từ năm 1931 đến năm 1935, dưới sự lãnh đạo của tổ chức đảng, phong trào quần chúng và đấu tranh cách mạng của nhân dân liên tục phát triển và được giữ vững qua nhiều cuộc khủng bố khốc liệt. Trong giai đoạn này, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng xúc tiến thành lập các tổ chức cách mạng quần chúng như: Cộng sản Đoàn, Công hội đỏ, Nông Hội đỏ… vận động nhân dân châu Hòa An, Nguyên Bình, Hà Quảng, thị xã… nhận nhiệm vụ làm giao thông liên lạc giữa các cơ sở đảng và giữa các cấp bộ đảng, đấu tranh chống bắt phu, đòi giảm thuế, đòi quyền tự do dân chủ ( 9 ) … Phong trào đấu tranh cách mạng từng bước phát triển dưới sự chỉ đạo của các châu ủy, giành được nhiều thắng lợi, góp phần động viên tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân. Còn ở Quảng Uyên, Thạch An, Phục Hòa tuy chưa có phong trào cách mạng mạnh mẽ nhưng bắt đầu gây dựng cơ sở quần chúng cách mạng bí mật giúp Đảng đưa đường cho cán bộ ra nước ngoài và đón cán bộ về nước chỉ đạo phong trào cách mạng. Đến năm 1940, Cao Bằng đã trở thành một trong những địa phương có phong trào cách mạng mạnh nhất toàn quốc. Một hệ thống cơ sở chính trị rộng khắp đã hình thành. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các đồng chí được giao nhiệm vụ: “Ta ở bí mật, nhưng không thể bí mật với quần chúng được, trái lại, phải lấy quần chúng làm bình phong che đậy cho mình, báo tin cho mình” ( 10 ) , và nhấn mạnh: “Nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị. Nói chính trị, quân sự đi đôi thì dễ, nhưng làm thì khó. Chúng ta trở về Tổ quốc, việc trước tiên là phải có chỗ đứng chân. Lúc đầu là một điểm nhỏ, sau mở rộng thành điểm to, rồi thành căn cứ. Chỗ đứng chân phải vững chắc. Vững chắc nhất là lòng dân” ( 11 ) . Rước nước qua suối Lê-nin tại Lễ hội về nguồn Pác Bó (Cao Bằng)_Ảnh: baocaobang.vn Thứ ba, tri thức bản địa và khả năng thích nghi cao . Đồng bào các dân tộc có vốn hiểu biết sâu sắc về địa hình, tập quán sinh tồn, đường mòn, đặc tính rừng núi. Tri thức này trở thành “vũ khí đặc biệt” giúp các cán bộ cách mạng, vốn phần lớn là người xuôi, nhanh chóng thích nghi, hòa nhập và hoạt động hiệu quả. Họ biết nơi nào có suối nước uống được, nơi nào có hang kín đáo, mùa nào đường nào đi được, cách nào để sống hòa hợp với rừng mà không bị lộ. Thứ tư, sự hòa nhập và phương pháp vận động quần chúng tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh . Bản thân Người chính là nhân tố then chốt hiện thực hóa và phát huy tối đa yếu tố “nhân hòa”, với lối sống giản dị, hòa mình với nhân dân, người mặc trang phục nâu chàm, nói tiếng địa phương, ăn ở sinh hoạt như một người dân bản xứ, leo núi, lội suối, đi thăm hỏi từng nhà. Từ cụ già đến em nhỏ đều yêu quý, tin tưởng và bảo vệ “ông Ké”, “già Thu”. Sự hòa nhập đó đã biến “lòng dân” thành “thành đồng vách sắt” bảo vệ an toàn tuyệt đối cho lãnh tụ và tổ chức cách mạng trong suốt thời gian hoạt động ở Pác Bó. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn Cao Bằng năm 1941 là một điển hình mẫu mực của sự kết hợp nhuần nhuyễn và sáng tạo ba yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Trong mối quan hệ tương hỗ, “thiên thời” tạo ra thời cơ, “địa lợi” cung cấp không gian vật chất, còn “nhân hòa” chính là lực lượng chủ thể, là động lực để biến thời cơ và không gian đó thành hiện thực cách mạng sống động. Sự hội tụ đầy đủ và hoàn hảo của ba yếu tố đã góp phần làm nên thành công của căn cứ địa Cao Bằng, đặt nền móng vững chắc cho mọi thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam sau này. Quyết định này còn khẳng định vai trò đặc biệt của Cao Bằng trong lịch sử dân tộc, biến một địa phương miền núi biên giới trở thành “đầu nguồn” của phong trào cách mạng cả nước. Cao Bằng không chỉ là nơi che chở, bảo vệ lãnh tụ và cán bộ cách mạng, mà còn là nơi hun đúc, lan tỏa những giá trị cốt lõi của cách mạng giải phóng dân tộc Bài học kinh nghiệm đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, bài học từ sự lựa chọn Cao Bằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thứ nhất, xây dựng căn cứ và chiến lược phát triển các vùng biên giới, hải đảo . Phát huy tối đa lợi thế vị trí để xây dựng các tỉnh biên giới thành những vùng kinh tế - quốc phòng - an ninh tổng hợp, linh hoạt. Đặc biệt, cần chú trọng phát triển kinh tế biên giới xanh, phát triển kinh tế kết hợp bảo vệ hệ sinh thái rừng đầu nguồn, cảnh quan với phát triển du lịch sinh thái - lịch sử - văn hóa cộng đồng chất lượng cao. Cần đầu tư hạ tầng giao thông, viễn thông, logistics tại các cửa khẩu và vùng sâu theo hướng lưỡng dụng, vừa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo đảm khả năng cơ động, hiệp đồng chiến đấu khi cần. Chú trọng phát triển các tỉnh biên giới trở thành hành lang liên kết kinh tế, thu hút đầu tư, tạo việc làm, từ đó tăng cường sức mạnh nội tại của địa bàn. Thứ hai, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc - yếu tố cốt lõi của “nhân hòa” trong thời đại mới. Bài học về sức mạnh của nhân dân từ thực tiễn Cao Bằng tiếp tục được khẳng định giá trị bền vững trong bối cảnh mới. “Lòng dân” chỉ được củng cố khi dựa trên đường lối, chính sách đúng đắn và sự nêu gương, liêm chính của đội ngũ cán bộ. Các chính sách dân tộc, an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững phải được triển khai thực chất, nhất là ở vùng sâu, vùng xa; cán bộ cơ sở cần gần dân, kịp thời giải quyết những bức xúc nảy sinh từ đời sống. Bên cạnh đó, cần phát huy hiệu quả vốn xã hội và tri thức bản địa, tôn trọng vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường và phát triển du lịch cộng đồng. Trên cơ sở đó, tiếp tục đổi mới công tác dân vận phù hợp với yêu cầu của kỷ nguyên số. Bên cạnh cách thức truyền thông truyền thống, cần sử dụng hiệu quả các phương tiện truyền thông xã hội, truyền thông đa phương tiện để tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách, kết nối và lắng nghe ý kiến nhân dân. Thứ ba, nâng cao tư duy chiến lược và khả năng thích ứng với bối cảnh biến động và phức tạp. Bối cảnh hiện nay với những biến động địa chính trị nhanh, khó lường đòi hỏi phải nắm bắt thời cơ, nâng cao năng lực dự báo chiến lược và phân tích rủi ro. Cần xây dựng các trung tâm nghiên cứu chiến lược đủ mạnh để phân tích các xu thế dài hạn, nhận diện cả cơ hội, nguy cơ từ những biến động toàn cầu để chủ động ứng phó. Bài học về khả năng tự túc của căn cứ Cao Bằng nhắc nhở về tầm quan trọng của an ninh lương thực, năng lượng, chuỗi cung ứng thiết yếu. Chúng ta cần xây dựng nền kinh tế tự chủ, có sức chống chịu cao. Phát triển kinh tế theo hướng đa dạng hóa thị trường, đối tác, nâng cao hàm lượng nội địa, giảm thiểu sự phụ thuộc đơn phương vào bất kỳ thị trường hay đối tác nào. Song song đó, cần chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong công tác đối ngoại, vừa kiên định nguyên tắc bảo vệ chủ quyền, vừa khéo léo, linh hoạt trong sách lược, biến những thách thức trong quan hệ quốc tế thành cơ hội để khẳng định vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Thứ tư, về mô hình lãnh đạo, quản trị gắn bó với nhân dân. Tư tưởng gắn bó với nhân dân, dựa vào nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học sâu sắc về đạo đức và phương pháp lãnh đạo. Hình ảnh Bác Hồ với lối sống giản dị, gắn bó, chia sẻ cùng nhân dân đã trở thành biểu tượng sinh động của “sức mạnh mềm” văn hóa, có sức thuyết phục lớn lao. Trong bối cảnh hiện nay, bài học đó đặt ra yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải thực sự phát huy vai trò nêu gương, nói đi đôi với làm, lấy đạo đức và lối sống trong sạch làm nền tảng xây dựng uy tín, tạo nên sức mạnh đoàn kết to lớn của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quyết định lựa chọn Cao Bằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1941 là kết quả của quá trình tư duy khoa học, toàn diện và biện chứng, nơi các yếu tố khách quan và chủ quan, tự nhiên và xã hội, thời cuộc và con người. Những bài học rút ra từ sự kiện lịch sử này vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự. Trong kỷ nguyên phát triển mới, việc vận dụng sáng tạo tinh thần cốt lõi của các bài học trên để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, vượt qua mọi thách thức, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng một đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc vẫn còn nguyên giá trị./. ------------------------ (1) Cột mốc số 108 được dựng theo Hiệp ước Pháp - Thanh cuối thế kỷ XIX. Theo Hiệp định biên giới Việt Nam - Trung Quốc năm 1999, tại sát vị trí cột mốc số 108 trước đây là cột mốc số 675, được xây dựng năm 2001 (2) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân , Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 24 (3) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam quyển 1 (1930-1945) (xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I , tr. 523 (4) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân , Sđd , tr. 25 (5) Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr. 37 (6) Đảng bộ tỉnh Cao Bằng: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (1930 - 2020), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, tr. 41 (7) Đảng bộ tỉnh Cao Bằng: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (1930 - 2020) , Sđd, tr. 44 - 45 (8) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam quyển 1 (1930-1945) , Sđd, tr. 226 (9) Trường Hà: Vì sao Bác chọn Cao Bằng là nơi trở về sau 30 năm đi tìm đường cứu nước?, Báo Quân đội nhân dân , ngày 4-6-2021, https://www.qdnd.vn/ky-niem-110-nam-ngay-bac-ho-ra-di-tim-duong-cuu-nuoc/chuyen-ve-nguoi/vi-sao-bac-chon-cao-bang-la-noi-tro-ve-sau-30-nam-di-tim-duong-cuu-nuoc-661504 (10) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân , Sđd , tr. 28 (11) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh , Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 255
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1001102/thuc-hien-chinh-sach-xa-hoi%2C-bao-dam-an-sinh-va-phuc-loi-xa-hoi-trong-tinh-hinh-moi.aspx
Thực hiện chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội trong tình hình mới
18-11-2024
Thực hiện chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội trong tình hình mới
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Lễ khai giảng năm học 2024 - 2025 tại Trường Phổ thông cơ sở Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội_Ảnh: TTXVN Thực hiện chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội trong tình hình mới Chính sách xã hội là một trong những chính sách quan trọng ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Chính sách xã hội nhằm trợ giúp các bộ phận dân cư dễ bị tổn thương về mặt xã hội. Chính sách xã hội triển khai hiệu quả trong đời sống nhân dân sẽ là động lực thúc đẩy sự tiến bộ và công bằng xã hội, tạo động lực cho phát triển bền vững. Trong thế kỷ XXI chính sách xã hội không chỉ bao gồm chức năng quản lý xã hội, mà còn thể hiện mong muốn của Nhà nước hướng đến một xã hội công bằng, tiến bộ, văn minh. Chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội có nội hàm rất rộng, được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khác nhau trong nhiều lĩnh vực, như bảo hiểm xã hội, việc làm, thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, chính sách với người có công, trợ giúp xã hội... Nhiều văn kiện của Đảng và Hiến pháp đã đề cập chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội. Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 23-5-2018, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội” xác định “Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân”. Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đã bổ sung, phát triển, làm rõ hơn nhận thức mới trong bối cảnh tình hình mới, yêu cầu, nhiệm vụ mới. Hội nghị đã ban hành Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023 “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”, trong đó tiếp tục khẳng định: Chính sách xã hội là chính sách đối với con người, vì con người. Quan điểm này của Đảng đã mở rộng ra toàn bộ chính sách xã hội khác. Việc giải quyết các vấn đề xã hội từ Nhà nước đóng vai trò nòng cốt và chủ yếu chuyển sang Nhà nước đóng vai trò chủ đạo đi đôi phát huy vai trò quan trọng của doanh nghiệp, thị trường, các tổ chức xã hội và ý chí tự lực, tự cường của người dân như lời phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “từ bảo đảm và ổn định sang ổn định và phát triển; gắn với quản lý phát triển xã hội bền vững, nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người, an ninh xã hội” (1) . Quyền được bảo đảm an sinh xã hội được hiến định tại Điều 34, Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành để cụ thể hóa Hiến pháp. Luật Bảo hiểm xã hội là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng trong lĩnh vực an sinh xã hội, ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội và có tác động trực tiếp tới mọi tầng lớp dân cư trong xã hội. Nhiều văn bản pháp luật khác liên quan đến chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội cũng cần được đề cập, như Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Người khuyết tật, Luật Việc làm, Luật Người cao tuổi, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Giáo dục nghề nghiệp... Thời gian qua, chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước về an sinh xã hội được triển khai và đi vào cuộc sống. Hiện nay, 63/63 tỉnh, thành phố đã kiện toàn ban chỉ đạo thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tới cấp xã (tương ứng với 10.595 xã đã thành lập ban chỉ đạo); 46/63 tỉnh, thành phố đưa chỉ tiêu về tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội, 60/63 tỉnh, thành phố đưa chỉ tiêu bao phủ bảo hiểm y tế vào chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; 22/63 tỉnh trích ngân sách hỗ trợ thêm cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; 62/63 tỉnh, thành phố trích ngân sách hỗ trợ cho người tham gia bảo hiểm y tế.. Kết quả cho thấy, Việt Nam đã thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách an sinh xã hội, bảo trợ xã hội; mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; điều chỉnh lương hưu, trợ cấp xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều theo chuẩn mới giảm từ 4,03% năm 2022 xuống 2,93% năm 2023. Việt Nam tiếp tục là điểm sáng trong thực hiện các mục tiêu phát triển của Liên hợp quốc. Chất lượng giáo dục, đào tạo tiếp tục được nâng cao. Tập trung xử lý các vướng mắc để thực hiện tốt hơn công tác phòng, chống dịch bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Tăng cường kết nối cung - cầu, phát triển thị trường lao động; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị thấp hơn mục tiêu đề ra (2) . Về độ bao phủ, tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội của cả nước đạt khoảng 39,25% so với lực lượng lao động trong độ tuổi với 18,26 triệu người (đạt mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, ngày 6-1-2023: Về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Dự toán ngân sách nhà nước và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2023). Trong đó, khoảng 3,92% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện (với gần 1,83 triệu người) - vượt 1,42% so với mục tiêu giai đoạn đến năm 2025 tại Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 23-5-2018, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội”. Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt gần 31,6% lực lượng lao động trong độ tuổi với 14,7 triệu người. Đặc biệt, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 93,35%, vượt 0,15% so với Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, với trên 93,3 triệu người tham gia, vượt mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 68/2022/QH15, ngày 10-11-2022, của Quốc hội “Về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2023”, tiệm cận mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân. Số tiền thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đạt 472.381 tỷ đồng, tăng 8,55% so với cùng kỳ năm 2022, đạt 101,41% dự toán Thủ tướng Chính phủ giao. Trong dịp Tết Giáp Thìn năm 2024, toàn quốc đã hỗ trợ, tặng quà Tết cho trên 13,9 triệu lượt đối tượng với tổng kinh phí gần 7.762 tỷ đồng. Trung ương và địa phương đã hỗ trợ khoảng 17.736 tấn gạo cho người dân trong cả nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã trích Quỹ “Vì người nghèo” và chủ trì, phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc vận động đơn vị, doanh nghiệp, nhà hảo tâm thăm, tặng quà Tết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, công nhân nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn với tổng số trên 8,84 triệu suất quà, trị giá trên 5.055 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2023 vận động được 5,37 triệu suất quà trị giá khoảng 2.389 tỷ đồng). Các cấp hội chữ thập đỏ đã trợ giúp trên 1,52 triệu lượt người nghèo, người dân có hoàn cảnh khó khăn với tổng trị giá gần 1.036 tỷ đồng. Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã trao 274.206 thẻ bảo hiểm y tế, 18.353 sổ bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người có hoàn cảnh khó khăn, người nghèo. Hiện nay, một số chính sách, quy định về bảo hiểm xã hội đang được nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện, cải thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp, giúp đỡ người lao động tiếp cận tốt hơn với việc làm, đặc biệt là trong thời kỳ có biến chuyển vĩ mô về năng lượng, dân số, công nghệ cũng như khủng hoảng toàn cầu thường xuyên, như đại dịch và chiến tranh... Chương trình nghị sự phát triển quốc tế hiện nay nhấn mạnh sự cần thiết chuyển trọng tâm từ tăng trưởng kinh tế sang tăng trưởng bao trùm, trong đó nhấn mạnh đến sự phân phối và khả năng các nhóm dễ bị tổn thương tham gia vào quá trình tăng trưởng. Vì thế, chính sách an sinh xã hội cần được thúc đẩy để bảo đảm các nhóm dễ bị tổn thương (người khuyết tật; người dân tộc thiểu số; người nghèo,...) được hưởng lợi từ các chương trình an sinh xã hội khác nhau, cũng như có cơ hội được hưởng lợi từ sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Việt Nam, với tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chính sách xã hội phải hướng tới toàn dân, bảo đảm toàn diện, công bằng, hiện đại, bao trùm, bền vững; an sinh xã hội phải được chú trọng hơn nữa và bảo đảm sự linh hoạt, thích ứng với các tình huống xấu xảy ra trên diện rộng (như dịch COVID-19), bảo vệ toàn dân, không để ai bị bỏ lại phía sau” (3) . Để vượt qua trở ngại, điều quan trọng hàng đầu là phải tăng đầu tư cho an sinh xã hội. Điều này không chỉ có nghĩa là chỉ tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước và địa phương, mà còn phải tăng số lượng người lao động và doanh nghiệp đóng góp và tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Bởi vì đó chính là cốt lõi của nền an sinh - toàn xã hội cùng nhau đóng góp, tập hợp nguồn lực và tài chính để giúp đỡ người cần sự hỗ trợ nhất. Nhìn lại mấy năm qua, trong quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội, Đảng và Nhà nước đã triển khai quyết liệt, đồng bộ, toàn diện các giải pháp phòng, chống dịch COVID-19; trong đó, đã thực hiện các giải pháp “chưa từng có” để khống chế, đẩy lùi dịch bệnh, chuyển hướng kịp thời chiến lược phòng, chống dịch. Đại dịch COVID-19 được kiểm soát hiệu quả, là nền tảng để phục hồi nền kinh tế, sản xuất, kinh doanh, đưa đời sống người dân trở lại trạng thái bình thường mới. Có thể thấy, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành, triển khai kịp thời, hiệu quả Nghị quyết số 68/NQ-CP, ngày 1-7-2021, của Chính phủ “Về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19”, Nghị quyết số 116/NQ-CP, ngày 24-9-2021, của Chính phủ “Về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp”, Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg, ngày 28-3-2022 “Quy định về việc thực hiện hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động” vượt qua khó khăn trong đại dịch. Tính đến ngày 30-6-2022, cả nước đã hỗ trợ cho 35.873.422 người lao động, người dân, 394.445 đơn vị sử dụng lao động và 508.391 hộ kinh doanh với tổng số tiền là 45.662,502 tỷ đồng; trong đó, Ngân hàng Chính sách xã hội đã giải ngân hơn 4.730 tỷ đồng cho gần 1,4 nghìn đơn vị sử dụng lao động để trả lương ngừng việc và trả lương phục hồi sản xuất cho hơn 1,2 triệu lượt người lao động. Chăm sóc trẻ sơ sinh bằng thiết bị y tế hiện đại tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương_Ảnh: TTXVN Một số giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới Năm 2023 có nhiều điểm sáng về ban hành và thực hiện chính sách an sinh xã hội. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 42/2023/NĐ-CP, ngày 29-6-2023 về “Điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng”. Theo đó, từ ngày 1-7-2023, tăng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng từ 12,5% đến 20,8% và tiếp tục điều chỉnh tăng thêm đối với người nghỉ hưu, hưởng bảo hiểm xã hội hằng tháng trước năm 1995 có mức hưởng dưới 3 triệu đồng/tháng. Nghị quyết số 42-NQ/TW đã cho thấy điểm mới về hướng tiếp cận (từ “bảo đảm và ổn định” sang “ổn định và phát triển”) và mở rộng phạm vi ra toàn bộ nhóm chính sách xã hội cho tất cả đối tượng trên nguyên tắc bảo đảm tính toàn dân, toàn diện (4) của chính sách xã hội. Bên cạnh đó là kết quả bước đầu chuyển đổi số trong hệ thống bảo hiểm xã hội thực hiện theo Quyết định số 06/QĐ-TTg, ngày 6-1-2022, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt “Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”. Qua triển khai thực hiện đề án, hiện nay, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang quản lý hơn 91,74 triệu người tham gia, trong đó đã xác thực và đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đạt tỷ lệ 94%; 100% cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế đã triển khai khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân gắn chip, đáp ứng yêu cầu tra cứu thông tin thẻ bảo hiểm y tế bằng số định danh cá nhân/căn cước công dân, với gần 50 triệu lượt tra cứu thông tin thẻ bảo hiểm y tế bằng số định danh cá nhân/căn cước công dân thành công phục vụ làm thủ tục khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Đồng thời, ngành bảo hiểm xã hội cũng tăng cường chi trả các chế độ bảo hiểm không dùng tiền mặt, đặc biệt là đã đưa vào triển khai ứng dụng “VssID - bảo hiểm xã hội số” trên nền tảng thiết bị di động. Hiện nay, có hơn 30 triệu tài khoản sử dụng ứng dụng, với hơn 4 triệu lượt sử dụng hình ảnh thẻ bảo hiểm y tế trên ứng dụng để đi khám chữa bệnh trên toàn quốc; các hoạt động tích hợp tài khoản VNeID với VssID; các dịch vụ công trực tuyến “Đăng ký tham gia đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện”; “Đăng ký đóng, cấp thẻ đối với người chỉ tham gia bảo hiểm y tế”; “Giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội số một lần” (thuộc nhóm áp dụng thí điểm xác thực chữ ký số được tích hợp trong ứng dụng trên thiết bị di động để phục vụ cung cấp dịch vụ công trực tuyến) nhằm đơn giản hóa thành phần hồ sơ, cắt giảm thời gian, chi phí, tạo thuận lợi tối đa phục vụ người dân, doanh nghiệp khi giao dịch với cơ quan bảo hiểm xã hội; tạo nhiều thuận lợi cho người dân khi thực hiện các thủ tục về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp;... Quá trình chuyển đổi số trong thực hiện chính sách an sinh xã hội này cũng giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tạo thuận lợi và bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người dân. Những năm qua, chính sách xã hội được xây dựng đã thực hiện khá hiệu quả việc ngăn chặn sự xuất hiện của các vấn đề xã hội (chức năng phòng ngừa), khắc phục các vấn đề xã hội (chức năng chữa bệnh) và thúc đẩy các hình thức phúc lợi (chức năng phát triển). Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng trong thực hiện thì hệ thống chính sách xã hội Việt Nam đang có một số thách thức lớn, như quá trình toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa, di dân tự do làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, như vấn đề việc làm, nhà ở, phân tầng xã hội, tỷ lệ giảm nghèo có nơi chưa bền vững, rủi ro do biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan, như bão, hạn hán, giông, lốc, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất..., tàn phá nghiêm trọng cây lương thực và tài sản của người dân; đồng thời, gây khó khăn trong quá trình trồng lúa và các cây lương thực, gia tăng chi phí cho cho sản xuất nông nghiệp, kéo theo hệ lụy về nghèo đói gia tăng. Năm 2023, nước ta đã xảy ra 1.135 trận thiên tai với 21/22 loại hình thiên tai; đã làm 166 người chết, mất tích, thiệt hại về kinh tế khoảng 8.228 tỷ đồng. Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo làm thay đổi phương thức sản xuất; vấn đề già hóa dân số nhanh đặt ra thách thức lớn trong bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi và nguồn cung lao động, tỷ lệ việc làm trong khu vực phi chính thức cao đang đòi hỏi chính sách lao động, việc làm, phát triển nguồn nhân lực toàn diện; vấn đề an ninh phi truyền thống đang tác động mạnh mẽ đến đời sống của người dân, làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, gia tăng tổn thương với nhóm yếu thế. Đồng thời, nhận thức về an sinh xã hội trong kỷ nguyên số của các cấp, các ngành còn hạn chế và mang tính hình thức. Trong xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, vai trò, vị trí của an sinh xã hội chưa được đặt ngang tầm với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng... Ngoài ra, mặc dù có những kết quả ban đầu, nhưng quá trình chuyển đổi số trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội vẫn còn một số hạn chế, như quá trình hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức thực hiện chính sách xã hội còn chậm, hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội, chăm sóc xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu về đổi mới theo hướng chuyên nghiệp hóa trong bối cảnh chuyển đổi số. Mặt khác, một bộ phận người hưởng chính sách an sinh xã hội chưa có điều kiện tiếp cận với quá trình chuyển đổi số (người cao tuổi, người nghèo ở vùng sâu, vùng xa, miền núi,...) Nghị quyết số 42-NQ/TW xác định tầm nhìn đến năm 2045: Hệ thống chính sách xã hội phát triển toàn diện, bền vững, tiến bộ và công bằng, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội cho nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đất nước và xây dựng con người Việt Nam toàn diện. Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có chỉ số phát triển con người (HDI) cao trên thế giới. Bối cảnh mới và thực tiễn quản lý phát triển xã hội đã đặt ra yêu cầu tiếp tục rà soát, hoàn thiện, xây dựng chính sách an sinh xã hội toàn diện hơn, đa tầng hơn, hiện đại hơn, bao trùm và bền vững hơn, bảo đảm an sinh, an ninh, an dân, nhất là trước những “cú sốc” và nỗ lực phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để tầm nhìn trở thành hiện thực, từ góc độ chính sách xã hội, an sinh xã hội cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục mọi tầng lớp dân cư tham gia bảo hiểm xã hội. Bởi vì, về bản chất, bảo hiểm xã hội là hệ thống được thiết kế với mục tiêu mang lại cho người dân sự hỗ trợ và bảo vệ trước những biến cố nhất định trong cuộc đời, như tuổi già, ốm đau hay thất nghiệp. Sự hỗ trợ đó đến từ cả hệ thống nói chung, bao gồm tất cả người tham gia đóng bảo hiểm xã hội. Đồng thời, cần mở rộng an sinh xã hội để bù đắp tác động kinh tế mà biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan có thể tác động đến những người dễ bị tổn thương nhất, cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách xã hội. Hoàn thiện pháp luật an sinh số, hành lang pháp lý, thúc đẩy mọi tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia vào phát triển an sinh xã hội. Thúc đẩy sự phát triển của công nghệ trong lĩnh vực an sinh như một giải pháp để phát triển hệ thống an sinh xã hội hiệu quả. Để bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cần tăng cường chăm sóc sức khỏe, xây dựng và mở rộng các dịch vụ chăm sóc người cao tuổi với sự tham gia tích cực, chủ động của mọi thành phần xã hội và nâng cao năng lực quốc gia về chăm sóc người cao tuổi. Cần cải cách hệ thống hưu trí theo một lộ trình nhất định nhằm bảo đảm sự công bằng, ổn định, phát triển quỹ và phù hợp với tình hình phát triển thị trường tài chính. Ngoài việc bảo đảm mối quan hệ đóng - hưởng sát thực hơn thì việc chuyển đổi cơ chế hoạt động của hệ thống hưu trí sẽ góp phần cải thiện cân bằng quỹ hưu trí một cách đáng kể, đặc biệt là việc đầu tư quỹ hưu trí được chú trọng và hiệu quả hơn. Đồng thời, trợ cấp xã hội cho nhóm người cao tuổi có điều kiện khó khăn cũng cần được mở rộng và tiến tới một hệ thống phổ cập cho mọi người cao tuổi, đặc biệt là cần chú trọng hỗ trợ người cao tuổi ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa và phụ nữ cao tuổi. Mức hưởng và cách thức trợ cấp cần được xem xét cho phù hợp với điều kiện sống và sức khỏe của người cao tuổi. Việc xác định đối tượng cần được cải cách để tránh sai sót trong lập hồ sơ và phê duyệt đối tượng được hưởng. Trong chính sách xã hội và an sinh xã hội cần hướng đến bảo đảm ngày càng tốt hơn bình đẳng giới, bởi phụ nữ thường làm việc chăm chỉ và có năng lực ngang bằng với nam giới, nhưng dường như vẫn có xu hướng bị trả lương thấp hơn. Tính trên toàn cầu, tiền lương cho phụ nữ chỉ bằng 77% so với nam giới. Do đó, các hệ thống an sinh xã hội bảo đảm khả năng tiếp cận công bằng cũng như hỗ trợ phụ nữ và trẻ em gái nghèo là vô cùng cần thiết. Đồng thời, chú# trọng giải pháp tài chính sáng tạo giúp phụ nữ và trẻ em gái thoát nghèo. Bảo đảm nguồn lực công được phân bổ và chi tiêu phù hợp với nhu cầu của phụ nữ và trẻ em gái có thể mang lại khoản hỗ trợ nhà ở cho khoảng 230.000 hộ nghèo ở khu vực nông thôn vào năm 2025 theo mụ#c tiêu đề ra. Một trong những yếu tố quan trọng nhất của bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là việc tạo ra cơ hội công bằng và bình đẳng cho mọi người. Điều này bao gồm việc xây dựng một hệ thống giáo dục và đào tạo chất lượng, cung cấp dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe đồng đều, bảo đảm việc làm và thu nhập ổn định cho mọi cá nhân. Bằng cách này, mỗi người dân đều có cơ hội để phát triển tiềm năng của mình và đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Công tác phòng ngừa tội phạm, bạo lực gia đình và bảo vệ quyền lợi của người lao động là các biện pháp quan trọng để bảo vệ an sinh và phúc lợi của cộng đồng. Chính sách quản lý xã hội trước hết phải nhằm mục đích tăng cường sự ổn định chính trị - xã hội, từ đó tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Chính sách an sinh xã hội là cho con người, vì con người, có vị trí, vai trò quan trọng trong đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội là tiền đề cho phát triển con người của quốc gia để thực hiện quan điểm xuyên suốt của Đảng, Nhà nước: Con người là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực, là nguồn lực phát triển. Do đó, trong mọi hoàn cảnh phải làm tốt công tác an sinh xã hội, nhất là thời điểm có nhiều tác động tới người nghèo, đối tượng yếu thế, người dân vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo./. ----------------------- (1) Xem: Nguyễn Phú Trọng: “Phát huy trí tuệ, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, thảo luận, hoàn thiện các báo cáo, đề án để xem xét, quyết định những vấn đề trọng đại, có ý nghĩa rất quan trọng của nhiệm kỳ Đại hội XIII”, Tạp chí Cộng sản số 1024, tháng 10-2023 (2) Xem: Báo cáo số 580/BC-CP, của Chính phủ, ngày 20-10-2023 “Về đánh giá giữa nhiệm kỳ tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 16/2021/QH15 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, Nghị quyết số 31/2021/QH15 về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021 - 2025” (3) Xem: Nguyễn Phú Trọng: “Nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm, phát huy kết quả đạt được từ đầu nhiệm kỳ, thực hiện thật tốt các nghị quyết của Hội nghị, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; chuẩn bị thật tốt đại hội đại biểu đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, Tạp chí Cộng sản số 1024, tháng 10-2023 (4) Bao gồm 5 nhóm đối tượng: 1- Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; 2- Chính sách lao động, việc làm, phát triển nguồn nhân lực; 3- Chính sách bảo đảm an sinh xã hội (trụ cột là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội, giảm nghèo); 4- Chính sách về nâng cao phúc lợi xã hội và bảo đảm tiếp cận dịch vụ xã hội (về y tế, giáo dục, nhà ở, văn hóa, nước sạch, vệ sinh môi trường, thông tin); 5- Chính sách đối với nhóm yếu thế, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người có hoàn cảnh khó khăn ở vùng sâu, vùng xa
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1207602/tang-cuong-moi-quan-he-mat-thiet-giua-dang-voi-nhan-dan-trong-ky-nguyen-moi.aspx
Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân trong kỷ nguyên mới
19-01-2026
Cơ sở lý luận và thực tiễn mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân
Tổng Bí thư Tô Lâm cùng nhân dân phương Thượng Cát, thành phố Hà Nội trong ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc_Nguồn: Tư liệu Cơ sở lý luận và thực tiễn mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân Chủ nghĩa Mác - Lê-nin xác định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chỉ rõ tầm quan trọng của mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Lê-nin chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân” (1) và Người cảnh báo: “Một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng” (2) . Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân, thường xuyên chăm lo xây dựng và củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (3) . Người căn dặn: “Cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại” (4) ; “kinh nghiệm làm cách mạng là phải gần gũi quần chúng. Nếu xa quần chúng thì không làm được việc gì” (5) . Người còn chỉ rõ: “Khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo” (6) . Đề cập mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, ngay từ Đại hội III của Đảng (năm 1960), Đảng ta đã khẳng định: “Sức mạnh của nhân dân là ở chỗ có Đảng tiên phong lãnh đạo; sức mạnh vô địch của Đảng là ở chỗ liên hệ mật thiết với quần chúng đông đảo” (7) . Đại hội XIII của Đảng đặt nhân dân ở vị trí trung tâm, là chủ thể trong chiến lược phát triển đất nước: “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa” (8) . Đại hội XIII của Đảng nêu rõ việc tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đồng thời, nhấn mạnh phương hướng: “Lãnh đạo thể chế hóa Hiến pháp về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nhằm phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Nghiên cứu ban hành cơ chế để nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ. Tích cực đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác dân vận” (9) . Quan hệ giữa Đảng với nhân dân được hình thành do đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng. Đây là mối quan hệ rất đặc biệt. Đảng vừa là người lãnh đạo, cầm quyền, vừa là người phục vụ nhân dân, còn nhân dân tự giác ủng hộ, đồng tình với sự lãnh đạo của Đảng, lại là chủ nhân đất nước. Sức mạnh của Đảng ở sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Phát huy truyền thống yêu nước, tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra quan điểm hết sức đúng đắn: “Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ” (10) . Quan điểm đó khẳng định vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Chính nhờ quán triệt sâu sắc, nhất quán quan điểm đó nên Đảng ta đã sáng suốt lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược và giành nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Bối cảnh, tình hình và một số giải pháp chủ yếu để tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân trong kỷ nguyên mới Bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực, trong nước có quan hệ rất chặt chẽ, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong kỷ nguyên mới. Đại hội XIII của Đảng đã dự báo khách quan, sâu sắc tình hình quốc tế, khu vực và trong nước tác động đến việc tổ chức thực hiện nghị quyết, trong đó có mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Tình hình thế giới tiếp tục có sự chuyển biến nhanh, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều thách thức mới. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ giữa một số nước còn quyết liệt, kéo dài và tiềm ẩn phức tạp, cùng các vấn đề an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống tác động trực tiếp và lâu dài đến hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư... cũng như đường lối chính trị, đời sống xã hội, cuộc sống của người dân ở nhiều quốc gia. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực, đến các giai tầng xã hội trên thế giới. Khoa học - công nghệ phát triển đột phá chưa từng có, góp phần tạo nên thành công, như trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (big data), điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối (blockchain), rô-bốt thông minh và tự động hóa,.... Xu thế chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng được nhiều quốc gia quan tâm thúc đẩy. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, song cũng là khu vực trọng điểm cạnh tranh giữa các nước lớn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp. Thách thức về biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên, kể cả nguồn nước, thiên tai, dịch bệnh,... hằng ngày, hằng giờ tác động đến cuộc sống của người dân. Tình hình trong nước có nhiều thuận lợi rất căn bản. Sau gần 40 năm Đảng ta lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã giành được nhiều thành tựu và uy tín quốc tế không ngừng được nâng lên. Kết quả này đã được đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định trong bài viết “Rạng rỡ Việt Nam” : “Đến nay, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đã đạt trên 470 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện nay chỉ còn 1,93% (theo chuẩn đa chiều) so với mức 60% năm 1986. Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng nâng cao” (11) . Cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và sắp xếp lại đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp bước đầu được triển khai hiệu quả. Tuy nhiên, đất nước vẫn còn khó khăn, thách thức mà Đảng đã chỉ rõ: “Các yếu tố nền tảng như thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghệ... còn thấp so với yêu cầu để đưa Việt Nam sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại... Các vấn đề xã hội áp lực lớn đến phát triển kinh tế - xã hội như già hóa dân số, chênh lệch giàu - nghèo và trình độ phát triển. Thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn ngày càng nhanh với cường độ mạnh, khó lường,...” (12) . Bối cảnh, tình hình trên đây sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến tư tưởng của các tầng lớp nhân dân, tác động đến kết quả, hiệu quả giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của người dân, xóa đói, giảm nghèo, đến sự biến động cơ cấu lao động xã hội, xử lý vấn đề về môi trường, vệ sinh, an toàn thực phẩm, việc học hành, khám, chữa bệnh cho nhân dân, việc bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh với việc xuyên tạc thành tựu của Việt Nam về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, hòng chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ mới để tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Một số giải pháp chủ yếu sau đây cần được triển khai đồng bộ: Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội để xây dựng, củng cố vững chắc mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đảng tiếp tục lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời quan điểm, đường lối của Đảng về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; trước hết là chính sách để thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Có kế hoạch, biện pháp triển khai tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục người dân nâng cao nhận thức về pháp luật, đồng thời tổ chức thực hiện hiệu quả các luật đã ban hành liên quan trực tiếp đến người dân, như Bộ luật Lao động, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo... Định kỳ tiếp công dân, đối thoại với công dân và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật đề xuất, kiến nghị chính đáng, hợp pháp của công dân, không để xảy ra “điểm nóng”, khiếu kiện phức tạp, đông người, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội... Cấp ủy tăng cường lãnh đạo, kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các nghị quyết, quyết định, quy định của Đảng trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; nhất là về những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương, chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc,... tạo sự chuyển biến thực sự về nhận thức, trách nhiệm và hành động của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu trước Đảng, trước nhân dân. Thông qua việc kiểm tra, giám sát thường xuyên để sớm phát hiện vướng mắc, khó khăn khi thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng nhằm nhanh chóng tháo gỡ, giải quyết cho cơ sở. Kịp thời biểu dương, khen thưởng tổ chức, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và phê bình, kỷ luật nơi không triển khai hoặc tổ chức thực hiện nghị quyết, quyết định, quy định của Đảng hiệu quả thấp... Cấp ủy tăng cường giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu ở các ngành, các cấp sống gương mẫu, có trách nhiệm với dân, “nói đi đôi với làm” để nhân dân tin tưởng noi theo. Tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, tạo sự chuyển biến trong cán bộ, đảng viên về phong cách “sâu sát cơ sở”, “gần gũi quần chúng”, có lối sống trong sáng, tận tụy, trách nhiệm với công việc, nắm bắt và góp phần tham gia giải quyết kịp thời, đúng pháp luật đề xuất, kiến nghị chính đáng của nhân dân,... Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở đánh giá, dự báo sát sao tình hình quốc tế, trong nước, nhất là nắm bắt vấn đề người dân quan tâm, liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân để định hướng đúng đắn các nhóm giải pháp lãnh đạo công tác dân vận. Quan tâm lãnh đạo xây dựng, củng cố tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu và trực tiếp thực hiện công tác dân vận; đồng thời, lãnh đạo bổ sung văn bản của Đảng, pháp luật của Nhà nước để phát huy vai trò, tính tích cực, chủ động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân... trong thực hiện nhiệm vụ được giao, nhất là công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên, nhân dân. Hai là, tăng cường công tác quản lý và điều hành của Nhà nước trong xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời chủ trương, đường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảng về công tác dân vận thành chính sách, pháp luật, chương trình, đề án, kế hoạch,... để tổ chức thực hiện. Tiếp tục đánh giá việc thể chế hóa năm quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3-6-2013, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI, “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để toàn dân thực hiện. Cụ thể hóa Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới”; Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”; Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, “Về phát triển kinh tế tư nhân”;... yêu cầu Nhà nước tiếp tục thể chế hóa thành chính sách, pháp luật để toàn Đảng, toàn dân thực hiện. Chính phủ và chính quyền các cấp huy động mọi nguồn lực để chỉ đạo, điều hành triển khai hiệu quả chủ trương, văn bản của Đảng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Bảo đảm nguồn lực để nâng cao tốc độ và chất lượng tăng trưởng, phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp nhân dân. Đây là giải pháp quan trọng nhất để củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Cơ quan nhà nước các cấp tiếp tục phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ rộng rãi, nhất là dân chủ trực tiếp. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân là tạo sự đồng thuận xã hội, tạo sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động tốt hơn mọi nguồn lực trong các tầng lớp nhân dân để thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Cơ quan nhà nước phải giải quyết kịp thời, đúng pháp luật đề xuất, kiến nghị chính đáng của công dân. Tuy nhiên, việc thực hành dân chủ phải luôn luôn gắn với “thượng tôn pháp luật”, đề cao kỷ luật, kỷ cương xã hội; kiên quyết đấu tranh với việc lợi dụng các quyền tự do dân chủ, đấu tranh với việc xuyên tạc kết quả thực hiện dân chủ nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ đầu năm 2025, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã hết sức quan tâm lãnh đạo việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, giảm tầng nấc trung gian, bảo đảm hiệu quả quản lý xã hội, kiến tạo phát triển, phục vụ nhân dân. Đặc biệt, từ ngày 1-7-2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức vận hành trên cả nước. Trên cơ sở đó, tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính phủ số, giải quyết nhanh gọn công việc liên quan đến nhân dân, thực hiện dân chủ ở cơ sở theo luật định. Gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái bảo đảm bền vững... Dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Phát huy quyền làm chủ, tôn trọng ý kiến, sáng kiến, đóng góp của nhân dân trước khi ban hành và trong thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật. Tiếp tục bổ sung các cơ chế để nhân dân tham gia giám sát việc tổ chức thực hiện đề án, dự án lớn, liên quan mật thiết đến đời sống, việc làm của người dân. Tạo điều kiện để nhân dân tham gia giám sát, góp ý cho cán bộ, đảng viên, nhất là trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và thực hành tiết kiệm. Bộ đội chuẩn bị đón xuân cùng đồng bào_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn Thứ ba, tăng cường trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động. Trong kỷ nguyên mới đòi hỏi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tổ chức hoạt động theo mô hình mới và chủ trương, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư vừa được ban hành như: Chỉ thị số 48-CT/TW, ngày 24-6-2025, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về lãnh đạo Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 - 2031”; Quy định số 301-QĐ/TW, ngày 9-6-2025, của Ban Bí thư “Quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp xã”;... Các đoàn thể nhân dân tiếp tục thực hiện tốt vai trò là người đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, hội viên. Tập trung hướng về cơ sở, đa dạng hóa hình thức vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân phù hợp với trình độ dân trí và đặc điểm tình hình cụ thể của từng vùng, miền, địa phương,... Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền nghị quyết, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư liên quan đến người dân, đồng thời làm tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Tổ chức, động viên đoàn viên, hội viên, người dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động, huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân,... Xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ “gần dân, hiểu dân, học dân, trọng dân, có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” và thực sự là “công bộc của nhân dân”. Kiện toàn, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận về lý luận chính trị, nắm bắt tình hình thực tiễn, nghiệp vụ, kỹ năng tập hợp, vận động quần chúng, đáp ứng yêu cầu tổ chức, bộ máy mới khi thực hiện cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cán bộ dân vận phải nắm bắt dư luận xã hội, tổng hợp vấn đề người dân quan tâm, liên quan đến quyền, lợi ích chính đáng của người dân, nhất là đề xuất, kiến nghị chính đáng của nhân dân để tham mưu cho cấp ủy, chính quyền xử lý, giải quyết kịp thời, tuyệt đối không để xảy ra khiếu kiện phức tạp hay “điểm nóng”. Sau khi sắp xếp, kiện toàn, tổ chức bộ máy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội theo mô hình mới phải tạo được sự đồng thuận cao, xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ mới. Thứ tư, tăng cường trách nhiệm của nhân dân về xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng. Để phát huy tốt nhất quyền làm chủ, người dân thường xuyên đóng góp ý kiến đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trên tinh thần xây dựng, vì lợi ích của Tổ quốc. Người dân, cử tri có trách nhiệm đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước về chủ trương, chính sách, pháp luật; tham gia góp ý kiến về hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, đại biểu dân cử do mình bầu ra, tham gia góp ý chương trình, đề án, dự án lớn liên quan đến đời sống của nhân dân; tham gia giám sát việc tổ chức thực hiện đề án, dự án cũng như giám sát phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo quy định của Đảng, Nhà nước. Chấp hành, thực hiện nghiêm chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghĩa vụ công dân, thể hiện trong từng hoạt động, hành vi cụ thể, như tham gia giao thông, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh, trật tự, phòng, chống cháy, nổ,... Mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật. Ngoài việc tự giác chấp hành, mỗi người dân phải có trách nhiệm tuyên truyền, động viên thành viên trong gia đình và cộng đồng dân cư cùng thực hiện; tham gia quản lý an ninh, trật tự, xây dựng nếp sống mới văn minh trên địa bàn dân cư; thực hiện quy chế, quy ước của cộng đồng vì lợi ích chung,... Tăng cường trách nhiệm, nghĩa vụ công dân trong lao động, phát triển sản xuất, kinh doanh để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho gia đình, cộng đồng, đóng góp ngân sách nhà nước. Kinh tế - xã hội phát triển nhanh, bền vững phụ thuộc vào sự nỗ lực của người dân thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình,... Với công cuộc sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” của Đảng ta; mỗi người dân, cơ quan, tổ chức phải đề cao trách nhiệm ủng hộ, đóng góp, xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh./. -------------------- (1) V.I. Lê-nin: Toàn tập , Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, t. 35, tr. 64 (2) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd , t. 44, tr. 426 (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.10, tr. 453 (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 5, tr. 326 (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 12, tr. 634 (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 3, tr. 168 (7) Văn kiện Đảng toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 21, tr. 695 (8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 96 - 97 (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 249 (10) Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3-6-2013, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI, “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” (11) GS. TS. Tô Lâm: “Rạng rỡ Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản , số 1.055 (tháng 2-2025), tr. 5 - 6 (12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd , t. II, tr. 92 - 93
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1228902/thuc-hien-muc-tieu-%E2%80%9Chanh-phuc%E2%80%9D-o-viet-nam-trong-ky-nguyen-phat-trien-cua-dat-nuoc.aspx
Thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển của đất nước
01-03-2026
Hạnh phúc - thước đo chất lượng phát triển và định hướng giá trị của quốc gia
Hạnh phúc - thước đo chất lượng phát triển và định hướng giá trị của quốc gia Hạnh phúc là một khái niệm có nhiều quan niệm khác nhau, khó xác định một cách tuyệt đối, bởi luôn chịu sự chi phối của bối cảnh văn hóa - xã hội, trình độ phát triển kinh tế, điều kiện sống và hệ giá trị của mỗi quốc gia. Do đó, cách hiểu về hạnh phúc luôn vận động, biến đổi theo tiến trình phát triển của xã hội loài người. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, khi các điều kiện vật chất, thiết chế xã hội và nhận thức của con người thay đổi, nội hàm “hạnh phúc” cũng được mở rộng, phản ánh những ưu tiên và kỳ vọng mới của con người đối với cuộc sống. Xuất phát từ khát vọng thường trực của con người về mưu cầu hạnh phúc, vấn đề này đã được tiếp cận từ nhiều phương diện, trong đó nổi bật là phương diện triết học. Với phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã tạo ra bước chuyển căn bản trong nhận thức lý luận về nội hàm “hạnh phúc”. Khác với các quan niệm mang tính thần bí, duy tâm của tôn giáo, triết học Mác khẳng định, con người cần được hạnh phúc trong thực tại. Đồng thời, vượt lên quan điểm cho rằng hạnh phúc là sự thụ hưởng mang tính cá nhân thuần túy, C. Mác nhấn mạnh tính xã hội của hạnh phúc khi cho rằng, người đem lại hạnh phúc cho nhiều người nhất thì đó là người hạnh phúc nhất. Cách tiếp cận này không chỉ khẳng định bản chất xã hội của nội hàm “hạnh phúc”, mà còn gắn hạnh phúc cá nhân với lợi ích cộng đồng và sự phát triển chung của xã hội. Trên bình diện nghiên cứu hiện đại, nhiều học giả phương Tây cho rằng, hạnh phúc thường được tiếp cận như sự thỏa mãn nhu cầu cá nhân trong một bối cảnh xã hội cụ thể, bao gồm cả nhu cầu vật chất, tinh thần và các điều kiện môi trường tự nhiên, xã hội. Theo đó, hạnh phúc gắn liền với mức độ con người cảm nhận và đánh giá tích cực về cuộc sống của mình trên cơ sở so sánh giữa những kết quả đạt được và kỳ vọng mong muốn. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, cách hiểu này đã mở rộng, không còn bị giới hạn trong sự thỏa mãn vật chất đơn thuần, mà bao hàm những giá trị rộng hơn như sự an toàn, sự gắn kết xã hội, cơ hội phát triển cá nhân, chất lượng môi trường sống và khả năng tự chủ. Điều này cho thấy, “hạnh phúc” ngày càng được nhìn nhận như một khái niệm đa chiều, phản ánh chất lượng tổng thể của đời sống con người trong một xã hội nhất định. Ở Việt Nam, nhận thức lý luận về nội hàm “hạnh phúc” ngày càng tiệm cận với các giá trị của nhân loại, song có sự tiếp thu có chọn lọc, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước, đặc biệt được xác định là một trong những giá trị cốt lõi trong hệ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối xuyên suốt của Đảng. Đây là sự phát triển nhận thức lý luận quan trọng, soi đường cho việc thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” trong thực tiễn. Theo đó, “hạnh phúc” được hiểu là mục tiêu đạt được trạng thái tích cực tương đối ổn định, trong đó cảm xúc tích cực chiếm ưu thế so với cảm xúc tiêu cực và được củng cố thông qua các trải nghiệm nhận thức của con người. Nói cách khác, “hạnh phúc” là mức độ hài lòng tổng thể của con người đối với cuộc sống, là sự kết hợp giữa yếu tố chủ quan (nhận thức, cảm xúc, kỳ vọng) và các điều kiện khách quan (thể chế, kinh tế, xã hội, môi trường). Từ những luận giải trên có thể thấy, “hạnh phúc” không chỉ là phạm trù mang tính triết học - xã hội mà đang ngày càng được xác định như một mục tiêu phát triển ở cấp độ quốc gia. Việc nâng cao mức độ hài lòng của người dân đối với cuộc sống trở thành một tiêu chí quan trọng phản ánh chất lượng và tính bền vững của quá trình phát triển. Điều này không chỉ thể hiện bước tiến trong tư duy phát triển, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản cách tiếp cận trong hoạch định chính sách thực hiện mục tiêu “hạnh phúc”, lấy con người làm trung tâm, bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường. Qua đó, hướng tới xây dựng một xã hội phát triển bền vững, nơi mọi người dân đều có điều kiện và cơ hội thực chất để mưu cầu và thụ hưởng hạnh phúc. Tổng Bí thư Tô Lâm dự Lễ khởi công, động thổ đồng loạt các trường nội trú liên cấp biên giới, tại điểm cầu Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Đồng Đăng, xã Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn_Ảnh: TTXVN Quá trình phát triển tư duy của Đảng về thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với hạnh phúc của nhân dân luôn là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt. Người khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (1) . Quan niệm đó không chỉ thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc, mà còn khẳng định rõ bản chất vì con người của con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội mà cách mạng Việt Nam đã lựa chọn. Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu “hạnh phúc” của nhân dân luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là đích đến cao nhất của sự phát triển. Cùng với sự vận động của thực tiễn và sự phát triển của tư duy lý luận, nhận thức của Đảng về thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện, từ chỗ gắn với yêu cầu bảo đảm những điều kiện sống cơ bản đến việc xác lập hạnh phúc như tiêu chí căn bản để đánh giá chất lượng phát triển và năng lực cầm quyền của Đảng. Ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất để bảo đảm cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tuy nhiên, trước thời kỳ đổi mới, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, mô hình phát triển và cơ chế quản lý kinh tế - xã hội bộc lộ những hạn chế, đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kéo dài, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy phát triển, tìm kiếm con đường phù hợp hơn nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu “hạnh phúc” của nhân dân. Đại hội VI (năm 1986) của Đảng - đại hội mở đầu công cuộc đổi mới - tiếp tục khẳng định quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn chỉ, lý tưởng của Đảng, đó là: “Đảng ta không có mục đích nào khác là đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân” (2) . Trên tinh thần đó, công cuộc đổi mới được tiến hành với phương châm “tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân”, đồng thời hạnh phúc của nhân dân cũng là cơ sở quan trọng để Đảng kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” được xác định là bảo đảm điều kiện tồn tại và phát triển tối thiểu của con người trong xã hội - tiền đề quan trọng cho những bước phát triển tiếp theo của quá trình đổi mới. Trong bối cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng, đứng trước sự sụp đổ, Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa xã hội mới mang lại cơm no áo ấm, hạnh phúc cho nhân dân và phồn vinh cho Tổ quốc” (3) . Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991) được thông qua tại Đại hội VII của Đảng nhấn mạnh mục tiêu xây dựng một xã hội, trong đó con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Ở giai đoạn này, việc thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” không chỉ gắn với cải thiện đời sống vật chất, mà còn gắn với yêu cầu giữ vững ổn định chính trị - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo lập môi trường an toàn để người dân yên tâm lao động, sản xuất và xây dựng cuộc sống lâu dài. Khi công cuộc đổi mới đạt được những kết quả bước đầu, đất nước từng bước vượt qua khủng hoảng, Đại hội VIII (năm 1996) và Đại hội IX (năm 2001) của Đảng phát triển nhận thức về mục tiêu “hạnh phúc” của nhân dân theo hướng toàn diện hơn. Trong mạch tư duy đó, hạnh phúc của nhân dân được mở rộng nội hàm, không chỉ là đáp ứng nhu cầu sinh tồn, mà còn là nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần, mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa và các dịch vụ xã hội cơ bản. Trên nền tảng đó, Đại hội X (năm 2006) của Đảng đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận, khẳng định hạnh phúc của nhân dân không thể được bảo đảm một cách bền vững nếu việc thực hiện mục tiêu này thiếu dân chủ và quyền làm chủ thực chất của người dân. Đến Đại hội XI (năm 2011), trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta làm sâu sắc hơn mục tiêu “hạnh phúc” của nhân dân, khi xác định xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội mà con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát triển toàn diện (4) . Đại hội XII (năm 2016) và Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng tiếp tục khẳng định việc đặt lợi ích và hạnh phúc của nhân dân ở vị trí trung tâm của quá trình đổi mới, “Lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu” (5) ; đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế phải gắn chặt với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng (tháng 1-2026) đã đề cập trực tiếp đến thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” của nhân dân, với yêu cầu “nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân” (6) . Đồng thời nhấn mạnh “Nhân dân là là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, và là nguồn lực của phát triển. Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân” (7) ; “… lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu (8) . Xuyên suốt tiến trình phát triển nhận thức qua các kỳ đại hội, có thể thấy quan điểm của Đảng về thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” của nhân dân ngày càng được khẳng định rõ hạnh phúc vừa là mục tiêu phát triển, vừa là động lực của đổi mới, đồng thời là thước đo chất lượng phát triển và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Qua đó, khẳng định định hướng lấy con người làm trung tâm và thể hiện rõ tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, tính nhân văn của con đường phát triển ở Việt Nam. Yêu cầu mới, tầm nhìn mới trong thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, tiến bộ xã hội và phát triển bền vững, việc thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” cần được hoạch định theo lộ trình phù hợp với từng chặng đường phát triển, bảo đảm tính kế thừa, liên tục và từng bước nâng cao. Giai đoạn 2026 - 2030 là thời kỳ Việt Nam đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng tới mục tiêu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Trong giai đoạn này, tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống vật chất tiếp tục giữ vai trò trọng tâm, bởi đây là nền tảng trực tiếp bảo đảm các điều kiện cần thiết để nâng cao mức độ thụ hưởng của người dân. Giai đoạn này phản ánh xu hướng vận động cơ bản của xã hội Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời với sự biến đổi của cơ cấu xã hội, hệ giá trị, lối sống và các chuẩn mực ứng xử. Trong quá trình đó, hạnh phúc của người dân có điều kiện được nâng lên thông qua cải thiện thu nhập, nâng cao tuổi thọ, mở rộng cơ hội phát triển và khẳng định vai trò, vị thế của cá nhân trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, chính quá trình chuyển đổi này cũng đặt ra nguy cơ suy giảm hoặc mai một các giá trị truyền thống tốt đẹp gắn với gia đình, cộng đồng và sự gắn kết xã hội. Vì vậy, thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” trong giai đoạn 2026 - 2030 cần được triển khai với các ưu tiên: một là , nâng cao hạnh phúc trong đời sống kinh tế - vật chất, tập trung vào việc làm, thu nhập, điều kiện sống và an ninh kinh tế; hai là , thúc đẩy các giá trị nhân văn mới của xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa, như quyền con người, bình đẳng, tự do, tôn trọng cá nhân và cơ hội phát triển; ba là , gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp, mang đặc trưng và bản sắc văn hóa dân tộc, nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và bền vững văn hóa. Giai đoạn 2030 - 2045 , mục tiêu phát triển được xác định trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội (9) . Trong giai đoạn này, trọng tâm của mục tiêu “hạnh phúc” không còn chỉ dừng ở việc nâng cao đời sống kinh tế - vật chất, mà chuyển mạnh sang bảo đảm chất lượng sống, mở rộng khả năng tự lựa chọn, tự thể hiện và phát triển toàn diện của con người. Sự chuyển dịch đó phản ánh sự phát triển của xã hội, đề cao ý nghĩa cuộc sống, giá trị tinh thần, quyền tự do cá nhân và nhu cầu khẳng định bản thân. Đồng thời, phát triển bền vững trở thành một nội dung cấu thành quan trọng của hạnh phúc. Vì vậy, thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” trong giai đoạn này nhằm: 1- Nâng cao chất lượng sống và mức độ hài lòng tổng thể của người dân trên các phương diện vật chất, tinh thần, sức khỏe, giáo dục và môi trường sống; 2- Mở rộng điều kiện để mỗi cá nhân được tự do lựa chọn, tự thể hiện, phát huy năng lực sáng tạo và phát triển toàn diện; 3- Bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, an ninh sinh thái và phát triển bền vững, qua đó tạo nền tảng lâu dài cho một xã hội phồn vinh, nhân văn và hạnh phúc. Nhìn tổng thể, các giai đoạn trên cho thấy việc thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” ở Việt Nam là một quá trình phát triển có tính kế thừa và phát triển: từ ưu tiên bảo đảm nền tảng kinh tế - vật chất sang chú trọng hơn đến chất lượng sống, hệ giá trị và phát triển bền vững; qua đó, từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển con người toàn diện trong một xã hội phồn vinh, văn minh và hạnh phúc. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần xác định rõ vai trò và sự tham gia đồng bộ của các chủ thể thực hiện. Trong đó, Đảng, Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo và bảo đảm thực hiện thông qua việc ban hành, hoàn thiện thể chế, chính sách. Với vai trò lãnh đạo toàn diện, Đảng nhất quán xác định hạnh phúc của nhân dân không chỉ là đích đến của phát triển, mà còn là thước đo quan trọng phản ánh chất lượng, hiệu quả của quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Theo đó, thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hay giá trị định tính, mà từng bước được thể chế hóa thành yêu cầu chính trị - pháp lý đối với hoạt động quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện của Nhà nước. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 xác định mục tiêu xây dựng một xã hội “phồn vinh, dân chủ, công bằng, văn minh, trật tự, kỷ cương, an toàn, bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân” là định hướng xuyên suốt. Trên cơ sở đó, trong thực hiện mục tiêu “hạnh phúc”, mỗi cá nhân là chủ thể trực tiếp, chủ động và đóng vai trò quyết định trong việc lựa chọn “thước đo hạnh phúc”, bởi hạnh phúc trước hết được cảm nhận, đánh giá và lựa chọn bởi chính chủ thể con người. Gia đình là nền tảng, chủ thể tích cực tham gia kiến tạo và duy trì các giá trị hạnh phúc. Chính sự vận hành đồng bộ của các chủ thể này quyết định khả năng thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” từ định hướng giá trị thành hiện thực phát triển. Định hướng thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” trong sự nghiệp phát triển đất nước Từ vai trò, vị trí của các chủ thể trong thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” có thể thấy, hiệu quả hiện thực hóa mục tiêu này phụ thuộc không chỉ vào năng lực của từng chủ thể, mà còn vào khả năng nhận diện đúng bối cảnh thực tiễn, tận dụng cơ hội và ứng phó hiệu quả với các thách thức đặt ra từ môi trường quốc tế và trong nước. Đây chính là cơ sở quan trọng để Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, hoàn thiện thể chế, chính sách; đồng thời để mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội chủ động tham gia kiến tạo các điều kiện của hạnh phúc gắn với phát triển nhanh và bền vững. Trên bình diện quốc tế, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là dòng chảy chủ đạo, tạo điều kiện để Việt Nam duy trì môi trường đối ngoại thuận lợi, mở rộng hội nhập và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài cho phát triển. Quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, đang mở ra cơ hội nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng dịch vụ công, mở rộng tiếp cận giáo dục, y tế và nâng cao chất lượng sống của người dân. Tuy nhiên, bối cảnh quốc tế cũng đang đặt ra nhiều thách thức mới đối với việc thực hiện mục tiêu “hạnh phúc”. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, xung đột và phân mảnh kinh tế diễn biến phức tạp, xu hướng bảo hộ và điều chỉnh chuỗi cung ứng có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng, việc làm và thu nhập, từ đó ảnh hưởng đến nền tảng vật chất của hạnh phúc. Đồng thời, các rủi ro toàn cầu, thách thức an ninh phi truyền thống và nguy cơ phân hóa xã hội trong kỷ nguyên số đặt ra yêu cầu phải bảo đảm công bằng xã hội, ổn định và củng cố niềm tin xã hội. Mục tiêu “hạnh phúc” chính là việc bảo đảm chất lượng sống, mở rộng khả năng tự lựa chọn, tự thể hiện và phát triển toàn diện của con người (Tác phẩm: Theo mẹ lên nương, tác giả: Nguyễn Tiến Dũng)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn Ở trong nước, những thành tựu sau 40 năm đổi mới đã tạo nền tảng quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho việc tiếp tục nâng cao chất lượng sống và hiện thực hóa mục tiêu “hạnh phúc”. Đặc biệt, sự nhất quán trong quan điểm của Đảng về phát triển lấy con người làm trung tâm, coi hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu và động lực của phát triển, là cơ sở chính trị quan trọng để Nhà nước tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và huy động sự tham gia của toàn xã hội. Quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế số, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo cũng mở ra dư địa mới để nâng cao hạnh phúc theo hướng toàn diện, bền vững hơn. Tuy nhiên, các thách thức nội tại vẫn hiện hữu như sự tăng trưởng kinh tế chưa thật sự bền vững, nguy cơ tụt hậu về khoa học - công nghệ, “bẫy thu nhập trung bình”,… tác động trực tiếp đến khả năng cải thiện thu nhập và chất lượng sống của người dân. Hạn chế về tư duy phát triển, thể chế và năng lực quản trị ở một số lĩnh vực làm giảm hiệu quả phân bổ nguồn lực và cơ hội tiếp cận công bằng giữa các nhóm xã hội. Bên cạnh đó, các vấn đề xã hội và môi trường như già hóa dân số, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, cùng với tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực còn diễn biến phức tạp, tác động đến niềm tin xã hội và cảm nhận an toàn của người dân. Ngoài ra, yêu cầu giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong bối cảnh xuất hiện nhiều rủi ro mới cũng đặt ra áp lực lớn đối với việc thực hiện mục tiêu “hạnh phúc”. Trên cơ sở nhận diện bối cảnh quốc tế và trong nước, có thể thấy thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” là một nhiệm vụ có tính chiến lược toàn diện và lâu dài. Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng trong việc cải thiện điều kiện sống, nâng cao phúc lợi xã hội và từng bước nâng cao mức độ hài lòng của người dân đối với cuộc sống, qua đó khẳng định sự chuyển biến tích cực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cũng như trong việc thực hiện mục tiêu phát triển vì con người trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những bất cập, hạn chế như nhận thức về mục tiêu “hạnh phúc” chưa thật sự thống nhất và đầy đủ ở các cấp, các ngành; năng lực tổ chức thực hiện và chất lượng quản trị ở một số cấp, ngành còn hạn chế; nguồn lực thực hiện mục tiêu hạnh phúc còn phân tán và chưa được phân bổ hợp lý… Từ thực tiễn trên, việc thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” trong giai đoạn phát triển mới cần được cụ thể hóa bằng những phương hướng đồng bộ và khả thi, bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, giữa phát triển vật chất với bồi đắp các giá trị tinh thần, hướng tới một mô hình phát triển nhanh, bền vững và lấy con người làm trung tâm. Để định hướng đó được chuyển hóa thành kết quả thực tế, trước hết, cần nâng cao năng lực của các chủ thể trong thực hiện mục tiêu “hạnh phúc”. Đối với Nhà nước và hệ thống chính trị, cần chuyển mạnh sang quản trị phục vụ, lấy con người và sự hài lòng của người dân làm trung tâm; xây dựng bộ máy công quyền liêm chính, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Đối với cá nhân, cần chú trọng nâng cao năng lực tự nhận thức, xác lập hệ giá trị đúng đắn, kỹ năng sống, kỹ năng thích ứng và tinh thần tự lực, chủ động kiến tạo cuộc sống. Đối với gia đình, cần củng cố vai trò là môi trường hình thành nhân cách, nuôi dưỡng sự yêu thương, chia sẻ, trách nhiệm và các giá trị văn hóa. Về nội dung thực hiện, cần tập trung vào các lĩnh vực tác động trực tiếp đến chất lượng sống của người dân. Cụ thể là: 1- Gắn phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng sống và bảo đảm an sinh xã hội. Tăng trưởng kinh tế chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành việc làm bền vững, thu nhập ổn định, điều kiện sống tốt hơn và hệ thống an sinh xã hội bao trùm, hiệu quả; 2- Coi trọng phát triển giáo dục, văn hóa và con người theo hướng toàn diện; 3- Bảo đảm quyền con người, phát huy dân chủ, tăng cường công bằng xã hội; 4- Gắn phát triển với bảo vệ môi trường, an ninh con người. Về phương thức thực hiện, cần chuyển mạnh sang quản trị theo kết quả, lấy mức độ hài lòng của người dân làm thước đo trọng tâm. Theo đó, mỗi chương trình, đề án liên quan đến mục tiêu “hạnh phúc” cần có mục tiêu rõ ràng, chỉ tiêu cụ thể, cơ chế giám sát và đánh giá minh bạch. Cùng với đó, cần chuẩn hóa phương pháp đo lường chỉ số hạnh phúc, tổ chức khảo sát định kỳ, công bố kết quả theo ngành, địa phương để phục vụ điều chỉnh chính sách (10) . Đồng thời, tăng cường cơ chế tham vấn, đối thoại, phản biện xã hội; đẩy mạnh điều phối liên ngành, liên vùng; bổ sung đánh giá tác động hạnh phúc đối với các chính sách lớn; đổi mới công tác truyền thông, giáo dục và nhân rộng các mô hình gia đình hạnh phúc, trường học hạnh phúc, nơi làm việc hạnh phúc. Để các phương hướng, nội dung và phương thức phát huy hiệu quả, cần đồng thời bảo đảm các điều kiện thực hiện: Một là , hệ thống thể chế, pháp luật phải minh bạch, đồng bộ, khả thi; bộ máy tổ chức phải liêm chính, chuyên nghiệp, vận hành hiệu quả; hai là , nguồn lực cần được phân bổ có trọng tâm, trọng điểm, gắn với kết quả đầu ra; ba là , hạ tầng dữ liệu và công nghệ phải đủ mạnh để phục vụ đo lường, dự báo và điều hành chính sách; bốn là , xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh và thiết lập cơ chế giám sát, phản hồi, trách nhiệm giải trình rõ ràng. Trên nền tảng các định hướng, phương thức và điều kiện thực hiện nêu trên, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp trọng tâm sau: Thứ nhất , kiên định mục tiêu phát triển vì con người, lấy nhân dân làm trung tâm. Đây là định hướng có tính nguyên tắc, xuyên suốt toàn bộ quá trình phát triển. Mọi chiến lược, quy hoạch, chính sách phải thực sự xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, hướng tới nâng cao chất lượng sống và mức độ hài lòng của người dân; đồng thời khắc phục tư duy phát triển thiên về tăng trưởng thuần túy, xem nhẹ tác động xã hội, mở rộng cơ chế để nhân dân tham gia hiệu quả vào quá trình xây dựng, thực thi và giám sát chính sách. Thứ hai , phát triển kinh tế nhanh và bền vững gắn với tiến bộ, công bằng xã hội. Theo đó, cần đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số; gắn tăng trưởng với tạo việc làm bền vững, nâng cao thu nhập thực chất và cải thiện điều kiện sống của người dân. Đồng thời, cần điều tiết các quan hệ lợi ích, thu hẹp chênh lệch giàu - nghèo và bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng, miền, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội thụ hưởng công bằng thành quả phát triển. Thứ ba , bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao phúc lợi toàn dân. Theo đó, cần hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội theo hướng bao trùm, bền vững, thích ứng với biến đổi dân số và thị trường lao động; nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là giáo dục, y tế, nhà ở, bảo hiểm xã hội. Cùng với đó, chuyển mạnh từ hỗ trợ sang tạo cơ hội phát triển, giúp người dân chủ động vươn lên và ổn định cuộc sống lâu dài. Thứ tư , xây dựng môi trường văn hóa, xã hội lành mạnh, an toàn. Hạnh phúc của con người chỉ có thể được nuôi dưỡng bền vững trong môi trường sống văn minh, nhân văn, kỷ cương và an toàn. Do đó, cần chú trọng phát triển văn hóa, bồi đắp hệ giá trị con người Việt Nam; củng cố và nâng cao hiệu quả của các thiết chế văn hóa cơ sở; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, tăng cường bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quyền sống trong môi trường trong lành, an toàn của người dân. Thứ năm , xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vì hạnh phúc của nhân dân. Một xã hội hạnh phúc phải được đặt trên nền tảng pháp quyền, kỷ cương và công bằng và quản trị hiệu quả. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý; đẩy mạnh cải cách hành chính; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng bộ máy công quyền liêm chính, chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân. Thứ sáu , giữ vững quốc phòng - an ninh, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Hòa bình, ổn định không chỉ tạo tiền đề cho tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, mà còn bảo đảm để người dân yên tâm lao động, sinh sống và thụ hưởng thành quả phát triển. Vì vậy, cần kiên định đường lối quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao hiệu quả đối ngoại, qua đó giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an toàn cho đất nước phát triển nhanh, bền vững. Tựu trung, thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” trong giai đoạn phát triển mới đặt ra yêu cầu tiếp tục kiên định đường lối đổi mới, phát triển kinh tế nhanh và bền vững gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao toàn diện đời sống của nhân dân, qua đó phát huy tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, đồng thời hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./. -------------------- * Bài viết là kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp Bộ trọng điểm “Thực hiện mục tiêu “hạnh phúc” trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; mã số: KHTCCS (2025)-06 (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 64 (2), (3) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 47, tr. 362, 764 (4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 65 (5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 28 (6), (7), (8), (9) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 81, 38 - 39, 121, 84 (10) Trên cơ sở tiếp cận khoa học về hạnh phúc và mục tiêu “hạnh phúc”, hệ tiêu chí xác định mục tiêu “hạnh phúc” có thể được phân thành hai nhóm cơ bản: 1- Nhóm tiêu chí tổng hợp (các chỉ số hạnh phúc thành phần có khả năng phản ánh khái quát mức độ hạnh phúc của cá nhân, cộng đồng hoặc quốc gia); 2- Nhóm tiêu chí cụ thể (các tiêu chí, chỉ báo đo lường các chỉ số hạnh phúc thành phần, phản ánh các khía cạnh cụ thể của đời sống vật chất, tinh thần và xã hội của con người)
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1228502/thong-cao-bao-chi-ve-ngay-lam-viec-thu-hai-hoi-nghi-trung-uong-dang-khoa-xiv.aspx
Thông cáo báo chí ngày làm việc thứ hai Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV
24-03-2026
null
Đại biểu dự Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV_Ảnh: TTXVN Buổi sáng, Trung ương và các đại biểu làm việc tại hội trường, thảo luận về các nội dung: (1) Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng. (2) Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. (3) Quy chế làm việc của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá XIV. (4) Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Sau đó, thời gian còn lại của buổi sáng và buổi chiều, Trung ương và các đại biểu làm việc tại tổ để thảo luận và cho ý kiến về các nội dung: (1) Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030; Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2026 - 2030; Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030; Kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026 - 2030. (2) Tờ trình về việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương. (3) Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá X về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. (4) Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí./. Trung Duy (tổng hợp)
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1223702/tong-ket-100-nam-dang-lanh-dao-cach-mang-viet-nam%2C-dinh-huong-lanh-dao-phat-trien-dat-nuoc-trong-100-nam-tiep-theo-va-tong-ket-40-nam-thuc-hien-cuong-linh.aspx
Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh
04-03-2026
null
Tham dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí Thường trực Ban Chỉ đạo và thành viên các tổ biên tập, các chuyên gia, nhà khoa học và các cơ quan liên quan. Đây là cuộc họp đầu tiên sau khi Ban Chỉ đạo tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thành lập, thể hiện tinh thần khẩn trương, nghiêm túc, khoa học, bắt tay ngay vào nhiệm vụ lớn của Đảng ta trong giai đoạn mới. Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc với các tổ biên tập, triển khai các nội dung nhiệm vụ tổng kết_Ảnh: TTXVN Tại cuộc làm việc, đại diện Ban Chỉ đạo đã báo cáo tóm tắt nội dung các đề án. Nhiều ý kiến trao đổi thẳng thắn, trách nhiệm, đi vào trọng tâm, đề xuất giải pháp cụ thể, làm rõ những vấn đề còn băn khoăn, góp ý để hoàn thiện phân công nhiệm vụ, kế hoạch, quy chế và đề cương tổng kết. Phát biểu kết luận làm việc, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ, kỷ niệm 100 năm đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không chỉ là thành quả, thành tựu mang tính thời gian, mà đó còn là chiều dài của một hành trình cách mạng đầy hy sinh, gian khổ, sáng tạo và phát triển. Tổng kết 100 năm nhìn lại toàn bộ chặng đường Đảng lãnh đạo dân tộc: Từ đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung đến công cuộc đổi mới toàn diện; từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh đánh giá một cách khoa học, toàn diện, khách quan việc hiện thực hóa những định hướng chiến lược của Đảng trong thời kỳ quá độ. Đây là cơ hội để làm rõ hơn mô hình phát triển, những thành tựu đạt được, những hạn chế, bất cập, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, hai nội dung tổng kết này gắn bó chặt chẽ với nhau. Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam phải cung cấp cái nhìn lịch sử toàn diện, đúc rút được những bài học mang tính quy luật của cách mạng Việt Nam (nhưng không phải là bản rút gọn của lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam) để định hướng lãnh đạo đất nước phát triển trong 100 năm tiếp theo. Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ giúp đi vào chiều sâu lý luận và thực tiễn của thời kỳ đổi mới - giai đoạn có ý nghĩa bước ngoặt đối với sự phát triển của đất nước; xác định được thời điểm kết thúc thời kỳ quá độ. Công việc này không chỉ phục vụ yêu cầu kỷ niệm mà quan trọng hơn là chuẩn bị cơ sở lý luận và thực tiễn cho các quyết sách chiến lược trong giai đoạn phát triển mới, hướng tới năm 2045 và xa hơn nữa, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước đến năm 2130. Bởi vậy, đây phải là một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, có sự tham gia tổng kết của toàn hệ thống chính trị, từ các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương cho đến các địa phương trong cả nước. Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu, Ban Chỉ đạo cần rà soát lại dự thảo phân công nhiệm vụ theo các nhóm tổng kết, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm; phù hợp với chức năng, năng lực, kinh nghiệm của từng thành viên; tránh chồng chéo, bỏ sót hoặc dàn trải, hình thức. Ban Chỉ đạo phải là trung tâm điều phối, định hướng, kiểm tra, giám sát toàn bộ quá trình tổng kết. Cùng với việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương, có thể nghiên cứu thành lập ban chỉ đạo tổng kết ở các địa phương và ở một số bộ, ngành. Tổng Bí thư Tô Lâm lưu ý, cần hoàn thiện đề cương các báo cáo tổng kết; xây dựng các hướng dẫn; xây dựng bộ khung phương pháp luận chung; đồng thời, phải có kế hoạch tổng thể cho cả giai đoạn; cần định rõ thời hạn hoàn thành của từng phần việc đã được phân kỳ thực hiện. Việc xác định rõ các mốc tiến độ không chỉ theo quý mà thậm chí phải theo tháng, trong giai đoạn nước rút thậm chí phải xác định theo tuần, theo từng ngày. Tất cả phải được thể hiện bằng kế hoạch cụ thể, khả thi, có cơ chế kiểm soát tiến độ, đầu ra. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại buổi làm việc_Ảnh: TTXVN Về dự thảo Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo, Tổng Bí thư đề nghị, quy chế làm việc là căn cứ quan trọng để bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Ban Chỉ đạo và các tổ biên tập, giữa các nhóm tổng kết, giữa Trung ương với địa phương..., bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân. Về tiếp tục hoàn thiện thuyết minh của hai đề án tổng kết, Tổng Bí thư gợi mở, hai đề án tổng kết là khung định hướng cho toàn bộ nội dung công việc. Do đó cần rà soát lại phạm vi, đối tượng, phương pháp tổng kết; làm rõ cấu trúc báo cáo; xác định các trục nội dung lớn; định hướng cách tiếp cận: lịch sử - logic; lý luận - thực tiễn; tổng kết - dự báo; xác định các sản phẩm đầu ra cuối cùng. Về thống nhất phương thức, cách thức làm việc, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ, phải xác định ngay từ đầu phương thức làm việc khoa học, hiện đại, hiệu quả: ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số; phân công - phối hợp các nhóm chuyên đề; tăng cường trao đổi học thuật; các nhóm tổng kết và nhóm tổng hợp thường xuyên trao đổi thông tin và tiến hành công việc tổng kết đồng thời chứ không đợi nhau; phát huy dân chủ nhưng có kỷ luật phát ngôn; bảo đảm tính bảo mật, chính xác của tài liệu... Nguyên tắc nghiêm túc, khoa học, khách quan, toàn diện, có phát hiện mới; kết hợp giữa sự chặt chẽ trong tổ chức với sự sáng tạo trong tư duy, giữa tính kế thừa và phát triển, giữa tổng kết quá khứ và định hướng tương lai. Hội đồng Lý luận là lực lượng nòng cốt tham gia tổng kết. Cùng với các thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương, cần huy động thêm các chuyên gia, nhà khoa học, nhà sử học... tham gia. Khối lượng công việc rất lớn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, khoa học giữa Ban Chỉ đạo và các tổ biên tập; giữa cơ quan thường trực với các cơ quan, ban, bộ, ngành, địa phương. Với truyền thống đoàn kết, trí tuệ và bản lĩnh của Đảng ta, Tổng Bí thư tin tưởng, Ban Chỉ đạo và hai tổ biên tập sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần chuẩn bị một công trình tổng kết có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc./. Hà Phương ( tổng hợp )
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1223302/phat-huy-vai-tro-cua-khoa-hoc%2C-cong-nghe%2C-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-trong-thuc-hien-nghi-quyet-dai-hoi-xiv-cua-dang.aspx
Phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng
04-03-2026
Thực tiễn phát triển của thế giới cho thấy, quốc gia nào nắm bắt, làm chủ và phát huy được vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, quốc gia đó sẽ nắm giữ lợi thế cạnh tranh; đưa đất nước phát triển hưng thịnh. Đối với Việt Nam, yêu cầu phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là lựa chọn, mà là con đường tất yếu để rút ngắn khoảng cách phát triển, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Tuy nhiên, việc phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng là một cuộc cách mạng cả trong tư duy, nhận thức và hành động, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều chủ thể, từ cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, nhà khoa học cho đến từng cán bộ, đảng viên và người dân. Trong quá trình thực hiện vẫn còn những rào cản, nút thắt, hạn chế, bất cập cần được giải quyết thấu đáo, kịp thời, cả về tư duy phát triển, thể chế chính sách, nguồn nhân lực, hạ tầng và văn hóa đổi mới sáng tạo.
Các đồng chí chủ trì hội thảo_Ảnh: Kim Sơn Chủ trì hội thảo có các đồng chí: Thượng tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Thành, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương; Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Hùng, Chính ủy Học viện Chính trị; PGS, TS Phạm Minh Tuấn, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Huy Hoàng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị. Phát biểu khai mạc hội thảo, Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Hùng, Chính ủy Học viện Chính trị cho biết, Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt trọng đại trong tiến trình phát triển của đất nước, mở ra kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam, với khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định rõ những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chiến lược nhằm phát huy tối đa nội lực, tranh thủ hiệu quả ngoại lực, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được khẳng định là động lực chính để thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững, là trụ cột trong chiến lược phát triển quốc gia, là yếu tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh, khẳng định vị thế, uy tín Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Hùng, Chính ủy Học viện Chính trị phát biểu khai mạc hội thảo_Ảnh: Tuấn Anh Phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng là đặt lĩnh vực này vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước, tạo động lực phát triển mới mang tính đột phá, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt. Đây là con đường căn bản để khắc phục những hạn chế của mô hình tăng trưởng cũ, chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, dựa chủ yếu vào tri thức, công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, hiện đại hóa hoạt động của hệ thống chính trị, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Góp phần củng cố niềm tin xã hội, tăng cường kỷ cương, minh bạch, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Mục đích cao nhất là hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, hùng cường, thịnh vượng, đặc biệt là hướng vào thực hiện thắng lợi hai mục tiêu 100 năm. Thực tiễn phát triển của thế giới cho thấy, quốc gia nào nắm bắt, làm chủ và phát huy được vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, quốc gia đó sẽ nắm giữ lợi thế cạnh tranh; đưa đất nước phát triển hưng thịnh. Đối với Việt Nam, yêu cầu phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là lựa chọn, mà là con đường tất yếu để rút ngắn khoảng cách phát triển, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Tuy nhiên, việc phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng là một cuộc cách mạng cả trong tư duy, nhận thức và hành động, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều chủ thể, từ cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, nhà khoa học cho đến từng cán bộ, đảng viên và người dân. Trong quá trình thực hiện vẫn còn những rào cản, nút thắt, hạn chế, bất cập cần được giải quyết thấu đáo, kịp thời, cả về tư duy phát triển, thể chế chính sách, nguồn nhân lực, hạ tầng và văn hóa đổi mới sáng tạo. PGS, TS Phạm Minh Tuấn, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản phát biểu đề dẫn hội thảo_Ảnh: Tuấn Anh Phát biểu đề dẫn hội thảo, PGS, TS Phạm Minh Tuấn, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản nhấn mạnh , khi đề cập đến vai trò của khoa học, công nghệ, chủ nghĩa Mác - Lê-nin khẳng định, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội, trong đó khoa học - công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nước nhà muốn phát triển, muốn tiến bộ thì phải phát triển khoa học - kỹ thuật; đồng thời, Người luôn nhấn mạnh đến vai trò của tri thức, của sáng kiến cải tiến kỹ thuật, coi đó là “chìa khóa” để nâng cao năng suất lao động, phát triển đất nước. Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng phát triển khoa học, công nghệ. Các kỳ Đại hội gần đây đều khẳng định: Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt của tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển khoa học, công nghệ, lấy khoa học, công nghệ là trọng tâm để thay thế, thúc đẩy, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống; thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số. Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về mô hình phát triển đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học và năng lượng tái tạo đang làm thay đổi sâu sắc mô hình sản xuất, quản trị và đời sống xã hội, tạo ra cả cơ hội và thách thức cho các quốc gia, dân tộc. Nhiều quốc gia, dân tộc đã trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, đầu tư mạnh vào nghiên cứu và phát triển. Hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, coi đây là động lực chính để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Chính phủ tập trung xây dựng hạ tầng số, phát triển kinh tế số, xã hội số; đồng thời, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong nước. Thực tiễn những năm qua cho thấy, các bộ, ngành, lĩnh vực từ Trung ương đến địa phương đã chủ động ứng dụng công nghệ số, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nhờ đó, tốc độ tăng trưởng cao, năng suất lao động cải thiện rõ rệt, chất lượng quản trị nâng lên. Nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đã làm chủ các công nghệ lõi, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, nhìn tổng thể, năng lực nghiên cứu - phát triển còn hạn chế; việc liên kết giữa các viện nghiên cứu, các trường đại học và doanh nghiệp chưa chặt chẽ; đầu tư cho khoa học công nghệ còn dàn trải; khoa học, công nghệ chưa thực sự là quốc sách hàng đầu, động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất mới; chuyển đổi số chưa đồng bộ; nguồn nhân lực chất lượng cao thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu. Khoảng cách công nghệ với các nước phát triển vẫn còn lớn. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu phải có cách tiếp cận mới, giải pháp đột phá để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực chủ yếu trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV. Các đại biểu dự hội thảo_Ảnh: Tuấn Anh Hội thảo đã lắng nghe nhiều ý kiến tâm huyết của các chuyên gia, nhà khoa học đề cập đến nhiều khía cạnh liên quan đến chủ đề hội thảo. Điển hình như vấn đề “Phát huy vai trò của trí thức, nhà khoa học trong đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia thực hiện các mục tiêu của kỷ nguyên mới ở Việt Nam” của PGS, TS Vũ Văn Phúc, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; việc “Ứng dụng chuyển đổi số vào đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường quân đội hiện nay” của Thiếu tướng, PGS, TS Lương Thanh Hân, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị; về “Phát huy mối quan hệ giữa nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp trong thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo vào sản xuất, kinh doanh trong kỷ nguyên phát triển mới” của PGS, TS Lê Minh Thông, nguyên Trợ lý Chủ tịch Quốc hội; về “Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần xây dựng Quân đội hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng” của Đại tá, TS Lê Đình Vũ, Phó Cục trưởng Cục Khoa học quân sự… Phát biểu Kết luận, Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Huy Hoàng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị khẳng định, về phương diện lý luận , Hội thảo đã góp phần hệ thống hóa và luận giải sâu sắc cơ sở khoa học của việc đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở vị trí trung tâm của mô hình phát triển trong giai đoạn mới. Các tham luận làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển lực lượng sản xuất hiện đại với hoàn thiện quan hệ sản xuất; giữa thể chế phát triển với chất lượng nguồn nhân lực và hạ tầng số; giữa năng lực đổi mới sáng tạo với yêu cầu tự chủ, tự cường của nền kinh tế. Qua đó, củng cố lập luận rằng, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là công cụ hỗ trợ mà là động lực nội sinh quyết định chất lượng tăng trưởng và vị thế quốc gia. Về phương diện thực tiễn , các tham luận đã đánh giá khách quan những thành tựu bước đầu trong phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đồng thời chỉ ra những hạn chế mang tính cấu trúc: thể chế, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu; hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng số, phát triển chưa tương xứng; năng lực nghiên cứu và phát triển còn yếu; chưa làm chủ được các công nghệ chiến lược; cơ chế thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn nhiều điểm nghẽn; thủ tục về sở hữu trí tuệ và giải ngân vốn đầu tư công còn phức tạp. Những tồn tại này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có giải pháp đột phá, đồng bộ và có trọng tâm. Quang cảnh hội thảo_Ảnh: Tuấn Anh Bên cạnh đó, các tham luận thống nhất định hướng và giải pháp trọng tâm nhằm phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong triển khai, tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, gồm: Một là, hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo phát triển được xác định là điều kiện tiên quyết. Cần tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa kết quả khoa học - công nghệ; tháo gỡ các “điểm nghẽn” về cơ chế; chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy phục vụ, hỗ trợ và dẫn dắt phát triển. Đây là nền tảng để xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hai là , phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nguồn nhân lực số và đội ngũ chuyên gia đầu ngành, phải được triển khai trên cơ sở cơ chế đãi ngộ cạnh tranh, minh bạch và gắn với hiệu quả đóng góp. Đồng thời, cần thúc đẩy liên kết công - tư, tăng cường hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo nhằm hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm của quá trình ứng dụng và thương mại hóa công nghệ. Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; phát triển hạ tầng số hiện đại, bảo đảm liên thông, an toàn và hiệu quả. Dữ liệu phải được xác định là nguồn lực chiến lược mới của phát triển; trên cơ sở đó, nâng cao năng lực quản trị quốc gia bằng công nghệ số và phân tích dữ liệu, hướng tới mô hình quản trị thông minh, minh bạch và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế có chọn lọc, gắn tiếp thu tri thức và chuyển giao công nghệ với xây dựng năng lực nội sinh, nâng cao vị thế và tự chủ công nghệ của quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Năm là, trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao, an ninh mạng, an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp, việc làm chủ công nghệ lõi, phát triển công nghiệp quốc phòng công nghệ cao, xây dựng lực lượng tác chiến không gian mạng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Các đại biểu tham dự hội thảo_Ảnh: Kim Sơn Các tham luận đã khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; trong nâng cao năng lực chỉ huy, quản lý, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; bảo đảm thông tin liên lạc; tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; đồng thời, đưa ra các giải pháp nhằm đấu tranh, phản bác với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm phủ nhận vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Ban Tổ chức tiếp thu đầy đủ các ý kiến, kiến nghị của các nhà khoa học và đại biểu để tổng hợp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền, làm cơ sở hoàn thiện chủ trương, chính sách trong thời gian tới. Từ kết quả đạt được của hội thảo, cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, hạ sĩ quan - binh sĩ của Học viện Chính trị; cán bộ của Tạp chí Cộng sản nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, có kiến thức và ứng dụng thành thạo khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong thực hiện nhiệm vụ theo chức trách được giao; góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên số./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1223902/chu-tich-quoc-hoi-tran-thanh-man-du-hoi-nghi-tiep-xuc-cu-tri-thanh-pho-ho-chi-minh.aspx
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự Hội nghị tiếp xúc cử tri Thành phố Hồ Chí Minh
04-03-2026
null
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tiếp xúc cử tri xã Bà Điểm, Thành phố Hồ Chí Minh_Ảnh: TTXVN Tại hội nghị, các cử tri đã được nghe giới thiệu tóm tắt tiểu sử của người ứng cử. Sau đó, các ứng cử viên đã lần lượt báo cáo về dự kiến chương trình hành động nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa XVI và lắng nghe các kiến nghị, mong muốn của cử tri. Cử tri đánh giá cao quá trình công tác và chương trình hành động của các ứng cử viên, mong muốn khi trúng cử, các đại biểu sẽ giữ đúng lời hứa với cử tri, sớm hiện thực hóa các cam kết, biến định hướng hành động thành việc làm cụ thể. Cử tri quan tâm đến các nội dung về đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi pháp luật; triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù của Thành phố Hồ Chí Minh, đẩy mạnh đầu tư hạ tầng giao thông, chuyển đổi số, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo nhằm phát triển Thành phố nhanh và bền vững. Cử tri kiến nghị, các đại biểu sau khi trúng cử cần tăng cường giám sát việc thực thi chính sách, các chương trình, dự án quan trọng của quốc gia và của địa phương; đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng giao thông liên xã, trường học, khu đô thị, các công trình dân sinh; quan tâm giải quyết căn cơ những vấn đề người dân đang quan tâm trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội… Thay mặt các ứng cử viên, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn trân trọng cảm ơn các ý kiến đóng góp tâm huyết, trách nhiệm của cử tri. Trả lời ý kiến cử tri liên quan đến lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, chăm lo cho người cao tuổi, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ: Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ rất quan tâm đến vấn đề này, đặc biệt là khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Theo đó, Bộ Chính trị đã quyết định đầu tư xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại 248 xã biên giới đất liền. Quốc hội thông qua chính sách miễn toàn bộ học phí từ mầm non đến trung học phổ thông từ năm học 2025 - 2026; quyết định trích 5% nguồn tiết kiệm chi thường xuyên để xóa nhà tạm, nhà dột nát cho người dân. Bên cạnh đó, Quốc hội sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm hoàn thiện chính sách bảo hiểm y tế, nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh ở cơ sở, thông qua chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm phát triển văn hóa, xã hội, việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Chủ tịch Quốc hội hoan nghênh Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã ban hành Nghị quyết, trong đó đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp. Nghị quyết xác định đến năm 2030, thành phố có 40% số trường mầm non, 45% số trường tiểu học, 50% số trường trung học phổ thông, 50% số trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia. Từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ miễn phí 1 năm/1 lần. Đến năm 2030, Thành phố không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo thành phố; giảm nhanh chênh lệch mức sống cư dân nông thôn với đô thị; chăm lo người có công; quan tâm người yếu thế, mở rộng các mô hình hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật… Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và đại biểu dự hội nghị tiếp xúc cử tri xã Bà Điểm, Thành phố Hồ Chí Minh_Ảnh: TTXVN Để phát huy cơ chế đặc thù của Thành phố Hồ Chí Minh, theo Chủ tịch Quốc hội, Quốc hội sẽ tiếp tục quan tâm hoàn thiện cơ chế về tài chính, đầu tư, quy hoạch, tăng quyền chủ động cho Thành phố trong quản lý đất đai, hạ tầng kỹ thuật số, tạo hành lang pháp lý để huy động nguồn lực xã hội... Việc quy hoạch phải gắn với triển khai thực hiện, không để xảy ra tình trạng quy hoạch treo, dự án treo, công trình khởi công rồi bỏ dở. Chia sẻ với những quan tâm của cử tri liên quan tới chức năng lập pháp của Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho biết, Quốc hội sẽ tiếp tục tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế để tạo động lực phát triển; bảo đảm kỷ cương, kỷ luật, chống tiêu cực trong xây dựng pháp luật, rà soát loại bỏ những quy định chồng chéo, không còn phù hợp đồng thời bảo đảm thi hành pháp luật nghiêm minh. Chủ tịch Quốc hội bày tỏ vui mừng khi cử tri tiếp tục quan tâm, theo dõi và ủng hộ hoạt động của Quốc hội; nhấn mạnh đại biểu Quốc hội phải thường xuyên tiếp xúc cử tri, lắng nghe ý kiến nhân dân, chịu sự giám sát của cử tri và nhân dân, đó là động lực để đại biểu Quốc hội quyết liệt hơn, trách nhiệm hơn. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nhưng quyền lực đó bắt nguồn từ nhân dân và phải phục vụ nhân dân. Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, các ý kiến, kiến nghị của cử tri ngắn gọn, thẳng thắn, chân thành, sâu sắc trên tinh thần xây dựng cao, lo cho địa phương, đất nước. Những vấn đề cử tri kiến nghị giải quyết như ngập nước, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, an ninh, trật tư, nhất là chăm lo đời sống nhân dân... đều rất chính đáng và các đại biểu sẽ nỗ lực giải quyết nếu được bầu./. Hà Phương ( tổng hợp )
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1228202/tong-bi-thu-to-lam--hoi-nghi-trung-uong-lan-thu-2-khoa-xiv-xem-xet%2C-quyet-dinh-nhieu-noi-dung-dac-biet-quan-trong%2C-co-y-nghia-nen-tang.aspx
Tổng Bí thư Tô Lâm: Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa XIV xem xét, quyết định nhiều nội dung đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa nền tảng
23-03-2026
null
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV_Ảnh: TTXVN Tại hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV sẽ xem xét, thảo luận và quyết định nhiều nội dung đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa nền tảng đối với nhiệm vụ triển khai thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trực tiếp liên quan đến chất lượng lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; liên quan đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị; liên quan đến sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn 2026 - 2031 và những năm tiếp theo. Phát biểu khai mạc, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: Những vấn đề được bàn và quyết nghị tại Hội nghị Trung ương 2 chính là những “hành lang pháp lý”, những “quy tắc vận hành”, những “nguyên tắc kỷ luật”, những “chuẩn mực hành động” để đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, tạo nền tảng vững chắc hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm của dân tộc. Tổng Bí thư nhấn mạnh, nội dung hội nghị cần giải quyết rất nhiều, rất rộng, rất khó, đều là những việc phải làm, cần làm ngay, không thể chậm trễ. Hội nghị sẽ thảo luận về Chương trình làm việc toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Quy định thi hành Điều lệ Đảng; Quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng; Tổng kết một số nghị quyết lớn của Trung ương về kiểm tra, giám sát, về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xem xét công tác nhân sự lãnh đạo các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ 2026 - 2031; cho ý kiến về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2031, kế hoạch tài chính quốc gia, kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026 - 2031 và một số vấn đề hệ trọng khác. Đây là những công việc của Đảng nhưng cũng là công việc của đất nước, của dân tộc, của nhân dân; là những quyết định liên quan đến chất lượng thể chế, chất lượng bộ máy, chất lượng cán bộ, chất lượng điều hành và chất lượng phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đại hội XIV đã xác định rất rõ, phải phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, phải nâng cao toàn diện đời sống nhân dân, củng cố tự chủ chiến lược, phấn đấu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Muốn vậy, Đảng phải mạnh hơn, tổ chức phải chặt chẽ hơn, kỷ luật phải nghiêm hơn, phương thức lãnh đạo phải đổi mới hơn, hành động phải quyết liệt hơn. Tổng Bí thư yêu cầu, hội nghị lần này phải nhận thức thật sâu sắc rằng đây là hội nghị đặt nền móng vận hành cho cả nhiệm kỳ. Chương trình làm việc toàn khóa, quy chế làm việc, quy định thi hành Điều lệ Đảng, các quy định về kiểm tra, giám sát, kỷ luật, về công tác tư tưởng, cơ chế phối hợp, nhân sự chủ chốt của bộ máy nhà nước... là “kết cấu” của tổ chức, là “mạch dẫn” của quyền lực, là “chuẩn mực” để giữ vững nguyên tắc, là “cơ chế” để kiểm soát quyền lực, là “công cụ” để phát huy dân chủ đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương. Tổng Bí thư đề nghị, phải quán triệt thật sâu sắc tinh thần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Đảng ta là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; sự lãnh đạo của Đảng là tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện. Chính vì vậy, phải không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo để sự lãnh đạo ngày càng đúng hơn, trúng hơn, khoa học hơn, hiệu quả hơn. Đổi mới phương thức lãnh đạo là để tăng cường năng lực cầm quyền, năng lực tổ chức thực hiện, sức chiến đấu và uy tín, vị thế của Đảng trong điều kiện mới. Tổng Bí thư chỉ rõ, phải “định vị” thật đúng vị trí của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đây không chỉ là công việc “giữ gìn nội bộ”, mà là vấn đề sống còn của Đảng, là điều kiện tiên quyết để giữ vững niềm tin của nhân dân, giữ vững kỷ luật, sự thống nhất trong toàn Đảng, bảo đảm cho đường lối đúng được thực hiện nghiêm, cho quyền lực được kiểm soát chặt chẽ, cho cán bộ được rèn luyện và sàng lọc thường xuyên. Tổng kết 20 năm thực hiện các nghị quyết về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải làm với tinh thần rất quyết liệt, thẳng thắn, rất khoa học, rất thực tiễn, nhân văn; thấy rõ cái được để phát huy, thấy rõ cái chưa được để sửa, thấy rõ khoảng trống thể chế, khoảng trống giám sát, khoảng trống trách nhiệm để kịp thời bổ sung, hoàn thiện. Tổng Bí thư lưu ý, phải gắn thật chặt công tác xây dựng Đảng với nhiệm vụ phát triển đất nước và nâng cao đời sống nhân dân. Mọi quy chế, quy định, mọi chủ trương, mọi quyết định của Trung ương phải hướng tới một đích đến: làm cho Đảng mạnh hơn, để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn; làm cho bộ máy hoàn thiện hơn để phục vụ nhân dân tốt hơn; làm cho cán bộ trong sạch, vững vàng hơn để dân tin hơn; làm cho cơ chế vận hành rõ hơn để địa phương chủ động hơn; làm cho nguồn lực được khơi thông mạnh hơn để nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn; làm cho các mục tiêu đến năm 2030 và 2045 có cơ sở hiện thực hơn. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2031, kế hoạch tài chính quốc gia, kế hoạch đầu tư công trung hạn lần này phải được xem xét không chỉ bằng tư duy quản lý thông thường, mà bằng tư duy chiến lược để tạo ra tự chủ chiến lược, tạo ra động năng, động lực trước yêu cầu phát triển đất nước trong môi trường quốc tế biến động sâu sắc. Tổng Bí thư đề nghị từng đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng phát huy cao nhất trí tuệ, bản lĩnh, trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, trước lịch sử; nghiên cứu thật kỹ tài liệu, phát biểu thật ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề, rõ chính kiến, rõ lập luận, rõ kiến nghị, rõ phương án lựa chọn để khi đã quyết thì thống nhất rất cao. Trung ương phải thật sự là trung tâm đoàn kết, là nơi hội tụ trí tuệ, đột phá về tư duy chiến lược, nghiêm về kỷ luật phát ngôn, về kỷ luật tổ chức, mạnh mẽ về tinh thần dám nghĩ, dám quyết, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng và nhân dân. Các đại biểu dự khai mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV_Ảnh: TTXVN Trong suốt quá trình hội nghị, Tổng Bí thư yêu cầu, phải giữ vững nguyên tắc, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, phát huy dân chủ đi đôi với đề cao trách nhiệm để các quyết định được thông qua phải thật sự là kết tinh của trí tuệ tập thể, của thực tiễn sinh động, của tầm nhìn chiến lược và của tinh thần đổi mới, mở đường cho phát triển, củng cố niềm tin, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và tạo thêm sức mạnh cho toàn hệ thống chính trị. Đại hội XIV của Đảng đã chỉ ra đường hướng phát triển mới của đất nước, Tổng Bí thư nhấn mạnh, Hội nghị Trung ương lần thứ 2 có trách nhiệm biến tinh thần, khát vọng, quyết tâm và phương hướng lớn của Đại hội XIV thành cơ chế vận hành, thành khuôn khổ tổ chức, thành nguyên tắc hành động, thành năng lực cầm quyền thực chất của Đảng trong toàn bộ nhiệm kỳ./. Trung Duy (tổng hợp)
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1225602/tong-bi-thu-to-lam-tham-gia-bau-cu-tai-phuong-ba-dinh%2C-thanh-pho-ha-noi.aspx
Tổng Bí thư Tô Lâm tham gia bầu cử tại phường Ba Đình, thành phố Hà Nội
15-03-2026
null
Cùng tham gia có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Trần Cẩm Tú, Thường trực Ban Bí thư; Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Lê Minh Trí, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương; Phạm Gia Túc, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Nguyễn Duy Ngọc, Bí thư Thành ủy Hà Nội; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, cùng đông đảo cử tri Thủ đô. Tổng Bí thư Tô Lâm và đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư bỏ phiếu bầu cử tại khu vực bỏ phiếu số 2 phường Ba Đình, thành phố Hà Nội_Ảnh: TTXVN Trong không khí trang nghiêm, phấn khởi trước sự kiện trọng đại của đất nước, Tổng Bí thư đến từ rất sớm để thực hiện quyền công dân của mình và thân mật nói chuyện với các cử tri, cùng vào hội trường dự khai mạc, nghe ban tổ chức phổ biến thể lệ bầu cử, nội quy phòng bỏ phiếu, kiểm tra hòm phiếu chính, hòm phiếu phụ trước sự chứng kiến của đại biểu, cử tri và tiến hành các thủ tục theo quy định. Ngay sau các nghi lễ trang trọng khai mạc cuộc bầu cử, Tổng Bí thư Tô Lâm, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các cơ quan trung ương, lãnh đạo thành phố cùng cử tri cao tuổi và cử tri trẻ tuổi đã bỏ những lá phiếu đầu tiên. Tiếp đó, đông đảo cử tri trên địa bàn đã lần lượt bỏ phiếu, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình. Ngay sau khi bỏ phiếu, trả lời phỏng vấn trước đông đảo phóng viên báo chí, Tổng Bí thư Tô Lâm bày tỏ phấn khởi tham gia quyền bầu cử và chứng kiến cử tri tập trung đông đủ; chia sẻ, cuộc bầu cử được chuẩn bị chu đáo, rất sớm ở tất cả các khâu, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho cử tri, trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng được thể hiện ý kiến của mình thông qua lá phiếu. Theo Tổng Bí thư, cuộc bầu cử được tổ chức sau thành công của Đại hội XIV của Đảng. Mọi chủ trương, chính sách, định hướng, tầm nhìn, phương hướng phát triển đất nước đã được nêu rõ, được nhân dân, cán bộ, đảng viên rất ủng hộ. Tổng Bí thư khẳng định, đây là ngày hội lớn của đất nước, thể hiện quyền tự do, quyền làm chủ của nhân dân một cách trực tiếp, để lựa chọn những người có đủ uy tín, tín nhiệm, gánh vác công việc chung của đất nước, của địa phương để đưa đất nước phát triển, bảo đảm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Tổ quốc mãi mãi bền vững. Tổng Bí thư nhấn mạnh, mục tiêu là hướng tới phát triển đất nước nhanh, bền vững, ổn định, nâng cao mọi mặt đời sống của người dân. Đây cũng là những nguyện vọng của nhân dân, nhân dân đã tin tưởng giao phó nhiệm vụ này cho các cấp lãnh đạo, những người xứng đáng là đại biểu của nhân dân. Tổng Bí thư Tô Lâm với cử tri tại khu vực bỏ phiếu số 2 phường Ba Đình, thành phố Hà Nội_Ảnh: TTXVN Nhân dịp này, Tổng Bí thư cũng gửi lời cảm ơn đến các cơ quan báo chí, truyền thông đã góp phần tuyên truyền, thông tin về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo khí thế phấn khởi trong ngày hội non sông bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp./. Nhật Vũ (tổng hợp)
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1225702/lanh-dao-dang%2C-nha-nuoc-cung-cu-tri-ca-nuoc-tham-gia-bau-cu-dai-bieu-quoc-hoi-khoa-xvi-va-dai-bieu-hoi-dong-nhan-dan-cac-cap-nhiem-ky-2026---2031.aspx
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng cử tri cả nước tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
15-03-2026
null
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, là dịp để cử tri cả nước phát huy quyền làm chủ, trực tiếp lựa chọn những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong các cơ quan quyền lực nhà nước. Theo báo cáo của 34/34 tỉnh, thành phố, cả nước có tổng số 78.928.647 cử tri đi bầu cử tại 72.195 khu vực bỏ phiếu. * Tại khu vực bỏ phiếu số 26, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Chủ tịch nước Lương Cường đã dự lễ khai mạc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; đồng thời bỏ phiếu bầu cử, lựa chọn đại biểu xứng đáng tham gia vào Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Chủ tịch nước Lương Cường bỏ lá phiếu đầu tiên bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026 - 2031 tại khu vực bỏ phiếu số 26, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội_Ảnh: vov.vn Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 có ý nghĩa rất quan trọng, được diễn ra ngay sau thành công của Đại hội XIV của Đảng, mở ra những định hướng lớn, tầm nhìn chiến lược cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng của đất nước, là dịp để cử tri cả nước, trong đó có cử tri phường Hoàn Kiếm phát huy quyền làm chủ, lựa chọn bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình trong Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới; góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các cử tri bày tỏ sự phấn khởi khi chứng kiến sự đổi thay của đất nước thời gian qua, tin tưởng những đại biểu được lựa chọn sẽ thực sự đủ tâm, đủ tầm, đủ đức và đủ tài để góp phần đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, sớm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các quyết sách quan trọng, chiến lược mà Trung ương đã đề ra. Khu vực bỏ phiếu số 26, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tại hội trường Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam có 807 cử tri của một số cơ quan, đơn vị quân đội. ** Tại Tổ bầu cử số 21 thuộc đơn vị bầu cử số 7, phường Tây Hồ, thành phố Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, bỏ phiếu lá đầu tiên lựa chọn những người xứng đáng nhất làm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, bỏ phiếu lựa chọn những người xứng đáng nhất làm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 _Ảnh: TTXVN Sau khi tìm hiểu danh sách các ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã tiến hành nhận phiếu và thực hiện quyền công dân của mình theo đúng quy định. Việc Thủ tướng Chính phủ tham gia bỏ phiếu cùng cử tri địa phương thể hiện tinh thần gương mẫu, trách nhiệm của người đứng đầu Chính phủ, đồng thời khẳng định ý nghĩa sâu sắc của cuộc bầu cử - một sinh hoạt chính trị quan trọng của đất nước, nơi ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện thông qua từng lá phiếu. Trò chuyện với cử tri Khu vực bỏ phiếu số 21, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính mong muốn cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì nhân dân; sáng suốt lựa chọn những người xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình vào Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; đóng góp vào xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới phát triển giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc, đời sống người dân ngày càng hạnh phúc, ấm no. *** Tại khu vực bỏ phiếu số 14, Trường Trung học cơ sở Đỗ Văn Dậy, xã Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia Trần Thanh Mẫn đã tham dự lễ khai mạc, thực hiện quyền bầu cử và kiểm tra công tác bầu cử. Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn bỏ phiếu bầu cử tại Khu vực bỏ phiếu số 14 Trường Trung học cơ sở Đỗ Văn Dậy, xã Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh_Ảnh: TTXVN Sau khi bỏ phiếu, trả lời phỏng vấn báo chí tại khu vực bỏ phiếu, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn bày tỏ sự vui mừng, vinh dự đến xã Hóc Môn trực tiếp bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. Chủ tịch Quốc hội cho biết, thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc với tinh thần khẩn trương, tích cực, khoa học, bài bản để chuẩn bị cho cuộc bầu cử. Hoan nghênh các thành viên Hội đồng Bầu cử quốc gia, các ủy ban bầu cử, các ban bầu cử, tổ bầu cử đã triển khai nghiêm túc các văn bản hướng dẫn của Trung ương, Chủ tịch Quốc hội đề nghị các đồng chí được phân công trong công tác bầu cử tiếp tục theo dõi sát sao, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn để cuộc bầu cử đạt kết quả tốt nhất. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn bày tỏ tin tưởng, cùng với sự nỗ lực, cố gắng của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, sự hưởng ứng, đồng thuận của cử tri cả nước, cuộc bầu cử nhất định sẽ thành công tốt đẹp. Chia sẻ thông điệp tới cử tri cả nước, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, đi bầu cử là quyền và trách nhiệm thiêng liêng của công dân cả nước. Cuộc bầu cử hôm nay càng có ý nghĩa hơn vì đánh dấu 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam. Chủ tịch Quốc hội tin tưởng cử tri cả nước đi bỏ phiếu đầy đủ, bầu đúng, bầu đủ, lựa chọn được những người có tài, có đức xứng đáng là đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 để đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng./. Nhật Vũ (tổng hợp)
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1228602/be-mac-hoi-nghi-lan-thu-2-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv--thong-nhat-cao-ve-nhung-van-de-lon%2C-he-trong.aspx
Bế mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: Thống nhất cao về những vấn đề lớn, hệ trọng
25-03-2026
null
Trung ương đã thống nhất rất cao đối với những vấn đề lớn, hệ trọng của Đảng và đất nước, đặc biệt là nhóm nội dung về công tác tổ chức, cán bộ và các quy định nền tảng của Đảng. Phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng, công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng trong giai đoạn mới cần tiếp tục được chú trọng, tăng cường, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao bản lĩnh, tính tiền phong, tính chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Toàn cảnh Phiên bế mạc_Ảnh: TTXVN Tổng Bí thư đề nghị cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện thật nghiêm túc, nhất quán “Bốn kiên định” về chính trị, tư tưởng. Đó là: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Về mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số”, Tổng Bí thư khẳng định, đây là đòi hỏi khách quan từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới và khát vọng vươn lên của cả dân tộc; không chấp nhận tăng trưởng thấp; phải kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất. Vì vậy, Tổng Bí thư yêu cầu, các ban, bộ, ngành, địa phương, người dân, doanh nghiệp cần quán triệt sâu sắc “bốn nguyên tắc” cốt lõi sau: Tăng trưởng thực chất, tức là không đánh đổi chất lượng, tính bền vững lấy tốc độ tăng trưởng đơn thuần; kiên định nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn, đây là điều kiện tiên quyết, trụ cột quyết định khả năng vận hành linh hoạt, an toàn và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế; tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực sẵn có, tập trung ưu tiên cho các dự án trọng điểm và thúc đẩy hợp tác công - tư, để gia tăng hiệu quả đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; tăng trưởng kinh tế cao phải đảm bảo phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội. Trên cơ sở “bốn nguyên tắc” cốt lõi này, việc triển khai mục tiêu tăng trưởng “hai con số” phải được tiến hành một cách nhất quán, đồng bộ và kiên định, với sự chỉ đạo tập trung cao của Trung ương, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, bộ, ngành, địa phương và toàn bộ hệ thống chính trị. Để tạo “động lực của động lực” cho phát triển, Trung ương cần sớm xây dựng nghị quyết về mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV xem xét, quyết định. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV_Ảnh: TTXVN Về phát huy thế mạnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Tổng Bí thư nhấn mạnh, mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay không chỉ là mô hình tổ chức hành chính mới, mà còn là “Phương thức quản trị địa phương mới”, nhằm bỏ tầng nấc trung gian để tổ chức vận hành bộ máy chính quyền cơ sở thông suốt, với nguồn lực được phân bổ hợp lý, công nghệ và dữ liệu được sử dụng hiệu quả, phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn. Tổng Bí thư chỉ rõ, phải xác định đây là một cuộc cải cách về quản trị, chứ không đơn thuần là sự điều chỉnh về tổ chức bộ máy; phải bảo đảm nguyên tắc cấp tỉnh mạnh về chiến lược, cấp xã mạnh về thực thi. Đồng thời phân quyền phải đi liền với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực và hoàn thiện công cụ kiểm soát. Cùng với đó việc điều hành hoạt động mô hình chính quyền địa phương 2 cấp phải được thực hiện với tư duy linh hoạt, khoa học, sát thực tiễn, chống rập khuôn, máy móc; phải lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo thực chất, là tiêu chí cuối cùng để đánh giá thành công của mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Về công tác kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực và đấu tranh phòng, chống tham nhũng lãng phí tiêu cực, Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị, kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn tới cần được đặt trong tổng thể yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước, với cách tiếp cận vừa mang tính hệ thống, vừa có chiều sâu chiến lược. Đó không chỉ là nhiệm vụ cấp bách thường xuyên nhằm làm trong sạch bộ máy, mà còn là điều kiện nền tảng để củng cố niềm tin của nhân dân, bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội và tạo lập môi trường lành mạnh cho phát triển. Trong bối cảnh đất nước đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, với hàng loạt công trình, dự án quy mô lớn và các cơ chế, chính sách mới theo hướng thông thoáng hơn, cởi mở hơn để khơi thông nguồn lực phát triển, thì nguy cơ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cũng gia tăng theo cả chiều rộng và mức độ tinh vi. Thực tiễn cho thấy, chính ở những lĩnh vực có nhiều ưu đãi, lại dễ trở thành điểm phát sinh rủi ro nếu thiếu cơ chế phòng ngừa, kiểm tra, kiểm soát hiệu quả. Do đó, Tổng Bí thư chỉ rõ, yêu cầu đặt ra là phải thiết kế, cải tiến thể chế đủ chặt chẽ để “không thể” tham nhũng, lãng phí, đồng thời xây dựng cơ chế giám sát đủ mạnh để “không dám” và “không muốn” tham nhũng. Công tác kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thời gian tới phải được triển khai với quyết tâm chính trị cao, hành động kiên quyết, kiên trì, thường xuyên và liên tục. Xử lý nghiêm minh mọi vi phạm, bảo đảm nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, nhưng đồng thời phải quán triệt sâu sắc tính nhân văn, thượng tôn pháp luật và mục tiêu phát triển. Trong đó, phải thiết lập và vận hành hiệu quả các cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phân định rõ ranh giới giữa sai phạm do động cơ vụ lợi với sai sót trong quá trình thử nghiệm, đổi mới. Các đại biểu tham dự Phiên bế mạc_Ảnh: TTXVN Về bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, Tổng Bí thư nêu rõ, thực tiễn từ diễn biến chính trị, kinh tế, quân sự trên thế giới cho thấy: Một đất nước muốn tăng trưởng nhanh, thu hút đầu tư lớn, mở rộng thị trường và hội nhập sâu rộng thì trước hết phải là một quốc gia có tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng, có sức đề kháng cao trước các cú sốc an ninh truyền thống và phi truyền thống. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong giai đoạn mới không chỉ là giữ vững chủ quyền quốc gia, biên giới, biển đảo, vùng trời, mà còn là giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ thể chế, bảo vệ lòng tin xã hội, bảo vệ không gian mạng, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ các mạch máu kinh tế và các lợi ích phát triển chiến lược của đất nước. Tổng Bí thư yêu cầu cần phải nhận thức đầy đủ đây là nhiệm vụ chiến lược thường xuyên, trọng yếu, cốt lõi, lâu dài, kiên trì của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế cần phải được đặt xuyên suốt trong mọi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và quyết sách phát triển. Bảo đảm cho phát triển đúng hướng, bền vững, có chủ quyền, có kiểm soát rủi ro và có khả năng tự vệ từ sớm, từ xa, chủ động “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Từ đó xây dựng cho được sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong thời bình, trong đó sức mạnh quân sự, sức mạnh an ninh, sức mạnh đối ngoại, sức mạnh kinh tế, sức mạnh khoa học công nghệ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, liên hoàn, hỗ trợ lẫn nhau. Bên cạnh đó, phải đặc biệt coi trọng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược, biên giới, biển đảo, đô thị lớn, trung tâm kinh tế, hạ tầng trọng yếu và không gian mạng. Đây chính là sự kết hợp giữa “thế” và “lực”, giữa phòng thủ quốc gia với phòng thủ xã hội, giữa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là phải gắn kết ngày càng chặt chẽ hơn giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ và phát triển, giữa ổn định và đổi mới. Để quốc phòng, an ninh, đối ngoại thực sự trở thành một “cấu phần của năng lực cạnh tranh quốc gia” và động lực trực tiếp của phát triển, đồng thời là chỗ dựa chiến lược để đất nước vững vàng đi lên trong kỷ nguyên mới. Với nền tảng đã được xác lập, với bản lĩnh, quyết tâm chính trị cao và sự đồng lòng, thống nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Tổng Bí thư tin tưởng các mục tiêu, khát vọng phát triển đất nước mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra sẽ sớm trở thành hiện thực, đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới nhanh hơn, bền vững hơn và toàn diện hơn. Tổng Bí thư mong muốn, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hãy hành động theo phương châm: Tự chủ chiến lược - Kiên định hai mục tiêu chiến lược 100 năm - Chung sức, đồng lòng, quyết tâm, quyết liệt vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân./. Hà Phương ( tổng hợp )
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1223602/tong-bi-thu-to-lam-lam-viec-voi-ban-tuyen-giao-va-dan-van-trung-uong.aspx
Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
04-03-2026
null
Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương_Ảnh: Hải Nguyễn Dự buổi làm việc có các đồng chí: Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương. Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng; đại diện lãnh đạo các ban Đảng Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Tổng Bí thư; các đồng chí phó trưởng ban và lãnh đạo các vụ, đơn vị chức năng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương. Tại buổi làm việc, thay mặt lãnh đạo ban, đồng chí Ngô Đông Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương báo cáo tóm tắt dự thảo đề án “Quy định công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng” (quy định). Trong đó nhấn mạnh, quy định có ý nghĩa rất quan trọng, lần đầu tiên được triển khai thực hiện. Việc ban hành quy định không chỉ nhằm bổ sung, mà còn từng bước hoàn thiện hệ thống thể chế về công tác chính trị, tư tưởng của Đảng, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống xã hội. Việc triển khai thực hiện nghiêm túc quy định này sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời khơi dậy động lực tinh thần mạnh mẽ để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng là quy định mới, chưa có tiền lệ. Bộ Chính trị khẳng định sự cần thiết phải ban hành quy định này nhằm thống nhất và cụ thể hóa các quan điểm của Đảng về xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức trong tình hình mới; thể chế hóa các yêu cầu, nguyên tắc, trách nhiệm của tổ chức đảng, đảng viên trong việc học tập, quán triệt, tuyên truyền, hành động theo nghị quyết của Đảng, tạo cơ sở thống nhất trong toàn Đảng. Thực hiện nhiệm vụ Bộ Chính trị giao, thời gian qua, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã khẩn trương, tích cực thực hiện đề án “Xây dựng Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng” báo cáo Bộ Chính trị khóa XIII (28-11-2025) và đã được Bộ Chính trị thông qua; hiện nay, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đang tiếp tục hoàn thiện để trình Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Việc xây dựng dự thảo quy định bám sát Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV. Cùng với thể chế hóa các quan điểm của Đảng thành những quy tắc mang tính bắt buộc nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu lý tưởng và ngăn chặn suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trọng tâm của việc ban hành quy định là bảo đảm vai trò “đi trước, dẫn dắt” của công tác chính trị, tư tưởng, lấy ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm phương thức đột phá trong kỷ nguyên mới; chuyển đổi công tác tư tưởng từ trạng thái “quản lý, giáo dục” sang “khơi thông, truyền cảm hứng”, tạo động lực cho cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám bứt phá vì lợi ích chung, giải quyết dứt điểm tình trạng “luật đúng nhưng làm khó” đang gây lãng phí nguồn lực. Việc xây dựng quy định cũng nhằm xác định rõ và phát huy cao độ vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng trong công tác chính trị, tư tưởng; chú trọng nâng cao nhận thức và điều chỉnh hành vi chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Dự thảo Quy định gồm 5 chương, 15 điều, tập trung thể chế hóa các nguyên tắc, nội dung, trách nhiệm của tổ chức đảng, đảng viên và chế độ kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật trong công tác chính trị, tư tưởng. Trong đó, quy định cụ thể trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác chính trị, tư tưởng và trách nhiệm xây dựng ý thức tổ chức, kỷ luật, kỷ cương đối với tổ chức đảng; trách nhiệm giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị; xây dựng ý thức kỷ luật; nghiên cứu, học tập và triển khai nghị quyết của Đảng; nghe, nói, viết và hành động theo nghị quyết đối với đảng viên... Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo và kết luận buổi làm việc_Ảnh: Hải Nguyễn Sau khi nghe các ý kiến đóng góp vào dự thảo quy định và việc triển khai thực hiện sau khi quy định được ban hành, phát biểu chỉ đạo và kết luận buổi làm việc, Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá cao sự chuẩn bị của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; đồng thời nhấn mạnh, các ý kiến phát biểu tâm huyết, sát với đòi hỏi thực tiễn tại buổi làm việc cần tiếp tục được tiếp thu, nghiên cứu trong quá trình hoàn thiện dự thảo quy định. Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị cần thống nhất quan điểm: Nếu kinh tế tạo ra nội lực vật chất để đất nước đi nhanh thì chính trị, tư tưởng, văn hóa tạo ra nội lực tinh thần để dân tộc đi xa và vững hơn trong bước phát triển mới. Theo Tổng Bí thư, dù điều kiện vật chất có thể có những khó khăn nhưng với tinh thần vững vàng, tư tưởng đoàn kết thống nhất cao, chúng ta vẫn vượt qua được mọi khó khăn, thách thức, vững vàng bước tiếp. Điều đó cho thấy vai trò rất quan trọng của công tác chính trị, tư tưởng, có thể tạo ra sức mạnh nội lực vô cùng to lớn cho đất nước - dân tộc. Định hướng một số vấn đề trọng tâm, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, công tác chính trị, tư tưởng phải thực sự đi trước một bước, mở đường, kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, lấy niềm tin của nhân dân làm thước đo cao nhất. Kết quả công tác tư tưởng phải trở thành tiêu chí đánh giá, xếp loại, xem xét công tác cán bộ và phải rà soát định kỳ. Đặc biệt, đặt mục tiêu giữ vững định hướng tư tưởng, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, đồng thuận trong xã hội để thực hiện khát vọng phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc và nâng cao đời sống của nhân dân. Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị, quy định phải cụ thể hóa được trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu; rõ những việc bắt buộc phải làm, chế độ phải thực hiện và có cơ chế phối hợp rõ ràng, dễ lượng hóa, dễ kiểm tra, khắc phục tình trạng nói không đi đôi với làm. Mỗi nội dung phải có thước đo bằng hiệu quả thực tế, bằng hành động thực tiễn, bằng chất lượng công việc. Phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung chu trình kiểm tra, giám sát chuyên sâu, từ khâu quán triệt đến kiểm tra định kỳ chuyên đề, quy định rõ đầu mối và có chế độ báo cáo; xây dựng quy trình nắm tình hình tư tưởng, định hướng dư luận; quy trình xử lý khủng hoảng truyền thông, bảo đảm không bị động, không để khoảng trống thông tin, đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân. Tiếp tục đổi mới phương thức học tập nghị quyết; chuyển trọng tâm từ tổ chức học tập sang chuyển hóa thành hành động; bí thư cấp ủy trực tiếp quán triệt, chịu trách nhiệm về chất lượng quán triệt. Tổng Bí thư yêu cầu khẩn trương hoàn thiện chiến lược công tác tư tưởng của Đảng trong bối cảnh chuyển đổi số; trọng tâm là chuyển từ bị động xử lý sang chủ động nắm bắt, định hướng, dẫn dắt tư tưởng, từ tuyên truyền một chiều sang đối thoại, thuyết phục, làm chủ không gian tư tưởng trên môi trường số; đồng thời chuẩn hóa hạ tầng dữ liệu số và nền tảng truyền thông với các yêu cầu mà chiến lược đề ra. Khẳng định công tác chính trị, tư tưởng là gốc của mọi thắng lợi, hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng gắn trực tiếp với chất lượng lãnh đạo, chất lượng cầm quyền của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu xây dựng quy định phải giữ được vị trí, vai trò đó của công tác chính trị, tư tưởng, đồng thời mở không gian để Đảng ta tiếp tục đổi mới, phát triển, đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới. Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tập trung tối đa nguồn lực, khẩn trương hoàn thiện dự thảo quy định đạt chất lượng cao nhất, rà soát kỹ từng điều khoản, bảo đảm tính chặt chẽ, tính khả thi và thống nhất với hệ thống các quy định hiện hành để báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét; đồng thời tiếp tục xin ý kiến các ban Đảng Trung ương và cơ quan liên quan. Tổng Bí thư Tô Lâm chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu_Ảnh: Hải Nguyễn “Việc nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng là điều kiện tiên quyết để Đảng tiếp tục đổi mới và phát triển. Ban Tuyên giáo và Ban Dân vận Trung ương cần tiếp thu đầy đủ các ý kiến, khẩn trương hoàn thiện dự thảo quy định theo tinh thần “ngắn gọn, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ lượng hóa” để khi ban hành có thể triển khai được ngay”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1214502/hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet%2C-trien-khai-thuc-hien-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang.aspx
Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
07-02-2026
Tư duy phát triển mới và yêu cầu hành động trong giai đoạn bứt phá
Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại điểm cầu Trung ương. Cùng dự có các đồng chí: Chủ tịch nước Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Trước khi tham dự hội nghị, tại điểm cầu chính nhà Quốc hội, các đại biểu đã tham quan triển lãm những thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế và văn hóa Việt Nam. Quang cảnh hội nghị_Ảnh: TTXVN Hội nghị dành thời lượng tập trung nghiên cứu, trao đổi và làm sáng tỏ các nội dung trọng yếu, những điểm nhấn mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thông qua hệ thống 10 chuyên đề chuyên sâu. Bốn chuyên đề đầu đi vào các vấn đề nền tảng gồm: Nhận diện những nội dung cốt lõi và bài học từ 40 năm đổi mới; cụ thể hóa việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV; tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII gắn với đánh giá 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 - 2025) và định hướng nhiệm kỳ mới; đánh giá kết quả triển khai Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030 trong 5 năm đầu và định hình kế hoạch phát triển giai đoạn 2026 - 2030. Các chuyên đề tiếp theo mở rộng sang những lĩnh vực chiến lược khác như củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh phát triển mới; cập nhật tư duy và nhận thức về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và an ninh quốc gia; định vị vai trò đối ngoại trong kỷ nguyên phát triển mới tương xứng với vị thế đất nước; xây dựng đề cương tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam gắn với định hướng phát triển dài hạn sau năm 2030 và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời đổi mới công tác kiểm tra, giám sát nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Tư duy phát triển mới và yêu cầu hành động trong giai đoạn bứt phá Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương giới thiệu Chuyên đề: “Một số vấn đề mới, cốt lõi và kinh nghiệm 40 năm đổi mới trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng”_ Ảnh: TTXVN Tại hội nghị, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương truyền đạt chuyên đề: “Một số vấn đề mới, cốt lõi và kinh nghiệm 40 năm đổi mới trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng”. Nội dung chuyên đề tập trung làm rõ bước chuyển tư duy phát triển và những yêu cầu hành động đặt ra trong giai đoạn mới. Đồng chí nhấn mạnh, Đại hội XIV diễn ra trong bối cảnh đất nước đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử sau gần 40 năm đổi mới, thoát khỏi nhóm nước nghèo, nâng cao vị thế quốc tế và hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế - chính trị toàn cầu. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ đã bộc lộ hạn chế, đòi hỏi chuyển đổi căn bản về chất lượng và động lực phát triển. Trên cơ sở đó, Đại hội xác lập tư duy phát triển mới: chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, từ “theo kịp” sang “vươn lên cạnh tranh”, lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực làm nền tảng thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững.triển. Cơ sở quan trọng đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững Cơ sở quan trọng đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững Thủ tướng Phạm Minh Chính giới thiệu Chuyên đề: "Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng"_Ảnh: TTXVN Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính truyền đạt chuyên đề “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng” . Thủ tướng nhấn mạnh, Chương trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc cụ thể hóa Nghị quyết, kết hợp tầm nhìn chiến lược với tính khả thi, góp phần đưa Nghị quyết sớm đi vào thực tiễn. Chương trình được xây dựng với 12 nhóm nhiệm vụ chủ yếu, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược, kèm hệ thống chỉ tiêu, đề án, dự án và công trình trọng điểm giai đoạn 2026 - 2030. Tinh thần xuyên suốt là đổi mới tư duy và cách làm, lấy nhân dân làm trung tâm, chuyển mạnh từ nhận thức sang hành động, từ nói sang làm; lấy hiệu quả thực thi và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo. Chương trình đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tổ chức thực hiện gắn với phân cấp, phân quyền, phân bổ nguồn lực và phân công theo nguyên tắc “6 rõ”, bảo đảm cơ chế giám sát và điều chỉnh linh hoạt. Nội dung các nhiệm vụ bao trùm toàn diện các lĩnh vực phát triển, trọng tâm là hoàn thiện thể chế phát triển nhanh, bền vững, xác lập mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và xây dựng Nhà nước pháp quyền, xây dựng Đảng. Để triển khai hiệu quả, Thủ tướng đề xuất 6 nhóm giải pháp trọng tâm về hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực, phát triển nhân lực, thúc đẩy khoa học - công nghệ và tăng cường tổ chức thực hiện, giám sát. Chương trình hành động thể hiện quyết tâm chính trị và tinh thần hành động mạnh mẽ, tạo nền tảng cho đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới. Để Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh Đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương trình bày Chuyên đề: “Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII và tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 - 2025); phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIV”_Ảnh: TTXVN Đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, truyền đạt chuyên đề về tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII và 15 năm thi hành Điều lệ Đảng, đồng thời định hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ Đại hội XIV. Đồng chí nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng tiếp tục giữ vai trò then chốt, được triển khai toàn diện cả xây dựng và chỉnh đốn, góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII. Việc thực hiện các nhiệm vụ về xây dựng Đảng đạt nhiều chuyển biến rõ rệt trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, trong đó việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy được coi là điểm đột phá, đồng thời thẳng thắn chỉ ra những hạn chế cần khắc phục. Bước sang nhiệm kỳ mới, mục tiêu trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và khả năng tự đổi mới của Đảng, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn trên nhiều lĩnh vực, gắn với kiểm soát quyền lực, giữ nghiêm kỷ luật, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV cụ thể hóa bằng hệ thống nhiệm vụ trọng tâm nhằm củng cố tổ chức cơ sở đảng, đổi mới công tác cán bộ, tăng cường dân vận và nâng cao hiệu lực kiểm tra, giám sát. Đối với tổng kết thi hành Điều lệ Đảng, đồng chí cho biết việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung sẽ được chuẩn bị từ sớm, làm cơ sở hoàn thiện văn kiện trình Đại hội XV, bảo đảm tính khoa học, thực tiễn và phù hợp yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Đổi mới mạnh mẽ, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương giới thiệu Chuyên đề: “Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026 - 2030”_Ảnh: TTXVN Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, truyền đạt chuyên đề “Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021–2030 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026–2030” . Đồng chí cho biết, dù đối mặt nhiều khó khăn, kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025 cơ bản phục hồi và đạt kết quả tích cực: kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng khá; an sinh xã hội bảo đảm; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng số hóa, xanh hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Ba đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực và hạ tầng được thúc đẩy; văn hóa, xã hội có tiến bộ; quốc phòng, an ninh giữ vững; đối ngoại và hội nhập quốc tế được mở rộng. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội XIV xác định các quan điểm phát triển và mục tiêu dài hạn đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại vào năm 2030, hướng tới quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Văn kiện Đại hội đề ra định hướng, nhiệm vụ và đột phá chiến lược nhằm hoàn thiện thể chế phát triển bền vững; đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; quản lý hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường; phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. Khẳng định nhân dân là chủ thể, giữ vai trò trung tâm Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu Chuyên đề: "Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới"_Ảnh: TTXVN Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, truyền đạt chuyên đề “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới” . Đồng chí nhấn mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu và đường lối chiến lược xuyên suốt của Đảng, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn đổi mới, Đại hội XIV tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm, chủ thể của nhân dân và bài học “dân là gốc”, yêu cầu mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, phát huy quyền làm chủ, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Trong bối cảnh phát triển mới, Nghị quyết Đại hội đề ra các nhiệm vụ, giải pháp nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trọng tâm là hoàn thiện cơ chế thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa; phát huy vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; xây dựng chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc và tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động theo hướng gần dân, sát dân, nâng cao hiệu quả tập hợp sức mạnh các tầng lớp nhân dân. Đổi mới tư duy về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là tất yếu Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trao đổi chuyên đề "Tư duy, nhận thức mới về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đại hội XIV"_Ảnh: TTXVN Trình bày chuyên đề, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Quan điểm về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là bộ phận quan trọng trong hệ thống quan điểm, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, là “kim chỉ nam” cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, tư duy và nhận thức của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc luôn được bổ sung, phát triển phù hợp với thực tiễn từng giai đoạn, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền và môi trường hòa bình cho phát triển đất nước. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và đánh giá xu thế thời đại, Đại hội XIV xác định nhiều chủ trương chiến lược mang tính đột phá, thể hiện quyết tâm tăng cường sức mạnh quốc phòng trong kỷ nguyên phát triển mới. Đường lối này tiếp tục vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước, gắn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc với giữ gìn hòa bình và xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, chính quy, hiện đại. Theo Đại tướng Phan Văn Giang, bối cảnh quốc tế biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gia tăng, chiến tranh và xung đột diễn biến phức tạp; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi phương thức tác chiến với sự xuất hiện của vũ khí công nghệ cao và không gian chiến tranh đa lĩnh vực. Trong nước, thế và lực quốc gia được nâng cao nhưng các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống vẫn hiện hữu, đòi hỏi tiếp tục củng cố tiềm lực quốc phòng, chủ động ứng phó và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Trước bối cảnh mới, Đại hội XIV xác định mục tiêu cao nhất là bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc; kiên định bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh quốc gia trên các lĩnh vực, trong đó nhấn mạnh an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước. Đại hội chủ trương tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động, ngăn ngừa nguy cơ mất ổn định từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển. So với các kỳ đại hội trước, nhận thức về bảo vệ Tổ quốc được kế thừa và phát triển toàn diện, với trọng tâm đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, gắn quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Đại hội tiếp tục khẳng định tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn hệ thống chính trị và toàn dân; xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại, thế trận phòng thủ chủ động; chuẩn bị tốt lực lượng, phương tiện, phương án trong mọi tình huống. Trọng tâm là xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; tổ chức tinh, gọn, mạnh; phát huy ba chức năng chiến đấu, công tác và lao động sản xuất; đồng thời xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, triển khai hiệu quả công tác quốc phòng ở các cấp. Đại hội cũng nhấn mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự lực, lưỡng dụng, làm chủ công nghệ lõi; đẩy mạnh hội nhập và đối ngoại quốc phòng, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Những quan điểm này thể hiện bước phát triển mới trong tư duy chiến lược về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quán triệt và triển khai nhiệm vụ giữ nước từ sớm, từ xa, bảo vệ vững chắc chủ quyền và môi trường ổn định cho phát triển đất nước trong tình hình mới. Giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển bền vững Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an giới thiệu chuyên đề: "Tư duy, nhận thức mới về an ninh trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng"_Ảnh: TTXVN Truyền đạt chuyên đề "Tư duy, nhận thức mới về an ninh quốc gia của Đại hội XIV", Đại tướng Lương Tam Quang nhấn mạnh, Văn kiện Đại hội XIV đặt yêu cầu tăng cường bảo đảm an ninh đối với các lĩnh vực mới nổi như an ninh sinh học, hạt nhân, truyền dẫn - cáp quang, vệ tinh và không gian vũ trụ, kinh tế không gian tầm thấp, không gian ngầm…, đồng thời xác lập tư duy tự chủ chiến lược về an ninh xuyên suốt trong hoạch định chính sách. Tinh thần chỉ đạo được khái quát bằng phương châm “lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển nhanh, bền vững”, trong đó lần đầu tiên yếu tố phát triển được đặt ở vị trí dẫn dắt nhằm tạo nền tảng ổn định lâu dài. Trên cơ sở đó, Đại hội XIV xác định mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định như điều kiện tiên quyết để phát triển; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ độc lập, chủ quyền, chế độ, thành quả đổi mới và uy tín quốc tế của đất nước; đồng thời củng cố quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động, gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Tư duy bảo vệ an ninh quốc gia được phát triển theo hướng chủ động, bao trùm, kiến tạo và kỷ luật thực thi, hướng tới xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, văn minh và vì con người. Để triển khai, Chương trình hành động của Trung ương đề ra các nhóm nhiệm vụ trọng tâm như hoàn thiện thể chế an ninh; xây dựng Công an nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; củng cố nền an ninh nhân dân; nâng cao năng lực dự báo, ứng phó thách thức phi truyền thống; phát triển khoa học - công nghệ và công nghiệp an ninh; bảo đảm an ninh số, chủ quyền dữ liệu; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và mở rộng hợp tác, đối ngoại an ninh. Phát triển đối ngoại tương xứng với tầm vóc, vị thế đất nước trong kỷ nguyên mới Đồng chí Lê Hoài Trung, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao giới thiệu Chuyên đề: "Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế đất nước"_Ảnh: TTXVN Trình bày báo cáo tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung nêu rõ yêu cầu phát triển đối ngoại toàn diện, hiện đại, góp phần giữ vững môi trường hòa bình và nâng cao vị thế quốc gia. Đồng chí Lê Hoài Trung cho biết chuyên đề tập trung làm rõ đường lối đối ngoại của Đại hội XIV, những yêu cầu phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới và các định hướng triển khai cụ thể. Đường lối đối ngoại được xác định là bộ phận hữu cơ trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, kế thừa truyền thống ngoại giao của dân tộc, đồng thời bổ sung nhiều nội dung đổi mới về tư duy để thích ứng với bối cảnh quốc tế biến động nhanh và phức tạp. Việt Nam tiếp tục kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng đầu trên cơ sở luật pháp quốc tế; triển khai đồng bộ ba trụ cột đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong giữ vững môi trường hòa bình và tranh thủ nguồn lực phục vụ phát triển. Những điểm nhấn mới gồm yêu cầu nâng tầm đối ngoại tương xứng vị thế đất nước, đề cao tự chủ chiến lược và tự cường, xác định đối ngoại - hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Trong kỷ nguyên mới, đối ngoại phải góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; mở rộng không gian phát triển, thu hút nguồn lực bên ngoài; đồng thời nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Trên cơ sở đó, đồng chí kiến nghị tập trung thể chế hóa đường lối, xây dựng chiến lược đối ngoại toàn diện trên cả ba trụ cột, mở rộng mạng lưới hợp tác, đẩy mạnh ngoại giao kinh tế - công nghệ, tăng cường nguồn lực, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, hiện đại và nâng cao phối hợp giữa các lực lượng trong toàn hệ thống chính trị, qua đó phát huy hiệu quả đóng góp của công tác đối ngoại đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và định hướng chiến lược phát triển đất nước Đồng chí Đoàn Minh Huấn, Uỷ viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh giới thiệu Chuyên đề: "Đề cương Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo Cách mạng Việt Nam (1930 - 2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030 - 2130) và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội"_Ảnh: TTXVN Tại hội nghị, đồng chí Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh báo cáo chuyên đề "Đề cương Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930 - 2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030 - 2130) và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991 - 2031)". Đồng chí nhấn mạnh đây là “cuộc đại tổng kết trăm năm có một”, nhằm đánh giá toàn diện, khách quan tiến trình lãnh đạo của Đảng trên tất cả lĩnh vực, đúc kết những bài học mang tính quy luật và hình thành nền tảng tri thức chiến lược phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Công tác tổng kết hướng tới nâng tầm các bài học lịch sử thành cơ sở hoạch định tầm nhìn và mô hình phát triển cho thế kỷ tiếp theo, đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu số hóa về lịch sử Đảng phục vụ giáo dục chính trị - tư tưởng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc triển khai phải bảo đảm tính khoa học, khách quan, toàn diện, bám sát định hướng chỉ đạo của Trung ương, tập trung làm rõ thành tựu, hạn chế và đề xuất kiến nghị chiến lược cho giai đoạn phát triển mới. Nội dung tổng kết bao gồm định hướng phát triển đất nước đến năm 2045 và tầm nhìn đến năm 2130; dự báo xu hướng tiến hóa của mô hình phát triển; xác định mục tiêu dài hạn và đề xuất cơ chế, phương thức hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược. Đồng thời, việc tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh nhằm đánh giá vai trò định hướng của văn kiện nền tảng này trong thiết kế mô hình phát triển và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn vận động của đất nước. Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát Đồng chí Trần Sỹ Thanh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương giới thiệu Chuyên đề: “Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng”_Ảnh: TTXVN Trình bày chuyên đề, đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương nêu rõ yêu cầu chuyển đổi số toàn diện, tăng cường giám sát thường xuyên và phòng ngừa vi phạm ngay từ cơ sở. Đồng chí nhấn mạnh, công tác kiểm tra, giám sát là phương thức lãnh đạo quan trọng, nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy, tổ chức đảng và phải được thực hiện chủ động, liên tục, lấy phòng ngừa làm chính. Việc triển khai nghị quyết vẫn là khâu còn yếu, do đó cần xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát toàn khóa và hằng năm, bảo đảm các chủ trương, nghị quyết được theo dõi ngay từ khi bắt đầu thực hiện. Công tác này phải tiến hành toàn diện, công khai, dân chủ, gắn với kiểm soát quyền lực, chuyển trọng tâm sang giám sát thường xuyên, “mở rộng giám sát, trọng tâm kiểm tra”, bảo đảm mọi đường lối của Đảng được thực thi nghiêm túc, hiệu quả. Trong thời gian tới, các cấp cần xây dựng cơ chế giám sát có khả năng cảnh báo sớm, tập trung vào các chủ trương lớn và vấn đề dư luận quan tâm; đẩy mạnh chuyển đổi số, từng bước thực hiện kiểm tra, giám sát dựa trên dữ liệu; hoàn thiện hệ thống quy định, quy trình đồng bộ, khoa học; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra; và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Công tác kiểm tra, giám sát phải được triển khai ngay từ cơ sở, phát hiện và xử lý vi phạm kịp thời với nguyên tắc không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Đồng chí khẳng định, với quyết tâm chính trị cao và sự vào cuộc đồng bộ của toàn hệ thống, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng sẽ tiếp tục được nâng cao hiệu lực, góp phần giữ vững kỷ cương, củng cố niềm tin của nhân dân và xây dựng Đảng, hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh. Quán triệt tư duy xuyên suốt là phải chuyển mạnh từ nói sang làm, đề cao tính hành động, trách nhiệm thực thi và kết quả thực chất Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo_Ảnh: TTXVN Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, để hiện thực hóa tinh thần và tầm vóc của Nghị quyết Đại hội XIV thành chương trình hành động thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, cần quán triệt sâu sắc bài học thực tiễn: mọi bước phát triển của đất nước đều gắn với những thời điểm chủ trương đúng đắn được triển khai quyết liệt, đồng bộ và đạt hiệu quả thực chất. Từ thực tiễn 80 năm xây dựng và phát triển quốc gia, đặc biệt qua 40 năm đổi mới, có thể khẳng định lựa chọn đổi mới của Đảng là bước ngoặt mang ý nghĩa lịch sử, phù hợp với yêu cầu của thời đại. Quyết định đó được hình thành từ tổng kết thực tiễn đất nước, thể hiện bản lĩnh của một Đảng cách mạng dám đối diện sự thật, chủ động điều chỉnh tư duy và hành động vì lợi ích của nhân dân và dân tộc. Theo Tổng Bí thư, trong bối cảnh hiện nay, nhiệm vụ không dừng lại ở việc tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của đường lối, mà trọng tâm là thúc đẩy đổi mới toàn diện và sâu sắc hơn về tư duy phát triển, mô hình tăng trưởng và đặc biệt là năng lực tổ chức thực thi. Điểm nghẽn chủ yếu không phải ở định hướng chiến lược, mà ở khả năng chuyển hóa định hướng đó thành kết quả cụ thể trong đời sống kinh tế - xã hội. Trước yêu cầu phát triển của giai đoạn mới, Tổng Bí thư đề nghị thống nhất nhận thức và hành động theo tinh thần xuyên suốt: chuyển mạnh từ lời nói sang hành động, từ nhận thức sang thực thi. Văn kiện Đại hội đã chỉ rõ cần kiên quyết khắc phục tình trạng hình thức, bệnh thành tích, nói nhiều làm ít hoặc không đi đôi với làm; đồng thời chấm dứt lề lối quan liêu. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên - nhất là người đứng đầu - phải đề cao trách nhiệm nêu gương, chủ động biến chủ trương thành kết quả cụ thể, đo đếm được trong thực tiễn. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã định hình được các mục tiêu phát triển chiến lược cho giai đoạn mới, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực chuyển hóa định hướng đó thành thành tựu cụ thể, có thể lượng hóa và mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Tinh thần cốt lõi không chỉ nằm ở hoạch định mục tiêu mà ở khả năng biến mục tiêu thành kết quả hiện hữu trong đời sống xã hội. Trên nền tảng ấy, Tổng Bí thư đề nghị tập trung vào năm nhiệm vụ trọng tâm mang tính quyết định đối với hiệu quả triển khai Nghị quyết. Trước hết, cần tăng cường năng lực thể chế hóa, bảo đảm các nội dung nghị quyết được cụ thể hóa kịp thời thành chính sách và khuôn khổ pháp luật khả thi. Cùng với đó là đổi mới phương thức tổ chức thực hiện và siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong quá trình thực thi. Việc đánh giá kết quả phải lấy hiệu quả phát triển và mức độ hài lòng của Nhân dân làm tiêu chí cao nhất. Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực triển khai nhiệm vụ, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Cuối cùng, việc thực hiện nghị quyết phải gắn chặt với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Tổng Bí thư nhấn mạnh yêu cầu phát huy đồng bộ vai trò của toàn bộ hệ thống chính trị trong triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Theo đó, các cơ quan đảng ở Trung ương phải giữ vị trí nòng cốt trong việc định hướng chiến lược và giám sát quá trình thực hiện trên phạm vi cả nước, bảo đảm sự thống nhất giữa tầm nhìn chiến lược, quá trình xây dựng chính sách và kết quả triển khai trong thực tiễn. Việc theo dõi, đánh giá cần được thực hiện chủ động, kịp thời nhận diện những khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn, giữa mục tiêu đặt ra với khả năng tổ chức thực hiện, từ đó điều chỉnh định hướng, tháo gỡ vướng mắc và chấn chỉnh các biểu hiện làm suy giảm hiệu quả lãnh đạo. Mỗi nghị quyết, vì vậy, phải gắn với cơ chế kiểm soát thực thi rõ ràng, xác định cụ thể mục tiêu cuối cùng, các mốc đánh giá bắt buộc cũng như trách nhiệm chính trị của từng cấp ủy và người đứng đầu. Đối với Quốc hội, Tổng Bí thư yêu cầu tiếp tục phát huy mạnh chức năng lập pháp và giám sát tối cao, bảo đảm các chủ trương lớn của Đảng được chuyển hóa kịp thời, đồng bộ và khả thi thành khuôn khổ pháp luật. Hệ thống luật pháp phải thực sự tạo điều kiện cho phát triển, tháo gỡ rào cản và huy động nguồn lực xã hội, tránh làm phát sinh thủ tục hoặc chi phí tuân thủ không cần thiết cho người dân và doanh nghiệp. Hoạt động xây dựng pháp luật cần bám sát yêu cầu phát triển của đất nước và thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội, đồng thời khắc phục cách tiếp cận thiên về quản lý hành chính, chuyển mạnh sang tư duy kiến tạo và phục vụ phát triển. Hoạt động giám sát của Quốc hội cần được triển khai theo hướng theo đuổi đến kết quả cuối cùng, gắn trực tiếp với trách nhiệm khắc phục và hiệu quả thực tế đạt được. Giám sát không chỉ dừng ở việc nhận diện hạn chế, bất cập, mà phải xác định rõ giải pháp điều chỉnh, thời hạn thực hiện và chủ thể chịu trách nhiệm chính. Những cơ quan hoặc lĩnh vực để tồn tại kéo dài các điểm nghẽn về thể chế, gây ách tắc nguồn lực phát triển và cản trở đổi mới sáng tạo phải được làm rõ trách nhiệm và xây dựng lộ trình xử lý cụ thể, tránh tình trạng kiến nghị lặp lại nhưng chuyển biến chậm. Đối với Chính phủ và các bộ, ngành, yêu cầu đặt ra là chuyển trọng tâm từ việc ban hành chính sách sang bảo đảm tổ chức thực thi hiệu quả, nhất quán đến cùng, coi kết quả phát triển thực chất là tiêu chí đánh giá năng lực quản trị và điều hành. Mặt trận Tổ quốc cùng các tổ chức chính trị - xã hội cần phát huy đầy đủ chức năng giám sát và phản biện xã hội, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của người dân và cộng đồng doanh nghiệp vào quá trình thực hiện và theo dõi nghị quyết ở mọi cấp, thông qua việc ứng dụng các nền tảng công nghệ. Công tác giám sát, phản biện phải hướng vào thực chất, tập trung vào các vấn đề thiết thân với đời sống xã hội, những vướng mắc trong triển khai chính sách và tác động cụ thể của nghị quyết. Trên cơ sở đó, kịp thời phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng và kiến nghị chính đáng của nhân dân, góp phần giúp Đảng và Nhà nước điều chỉnh chủ trương, chính sách sát hợp với thực tiễn. Nhấn mạnh yêu cầu đề cao kỷ cương và trách nhiệm trong giai đoạn mới Tổng Bí thư lưu ý cần đổi mới căn bản phương thức vận động và tập hợp quần chúng theo hướng gần dân, hiểu dân và gắn bó với dân, dựa trên dữ liệu, đối thoại trực tiếp và tương tác hai chiều; khắc phục tình trạng hành chính hóa, hình thức hóa trong hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Mỗi tổ chức phải thực sự trở thành cầu nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, qua đó củng cố niềm tin xã hội và tạo sự đồng thuận trong triển khai các quyết sách lớn. Khi nhân dân nhận thức đầy đủ, tin tưởng và tham gia trực tiếp vào quá trình thực hiện cũng như giám sát nghị quyết, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ được phát huy trọn vẹn, chuyển hóa thành nguồn động lực phát triển bền vững trong giai đoạn mới. Đối với chính quyền địa phương, yêu cầu đặt ra là phải đóng vai trò tuyến đầu trong tổ chức thực thi nghị quyết, trực tiếp đưa chủ trương của Đảng vào đời sống kinh tế - xã hội. Việc triển khai phải hướng tới hiệu quả thực chất, thể hiện qua tăng trưởng ổn định, nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân, cải thiện dịch vụ công và môi trường đầu tư - kinh doanh; tránh chạy theo chỉ tiêu hình thức hay tô đậm thành tích. Hiệu quả phát triển dài hạn cùng mức độ hài lòng của người dân phải trở thành thước đo năng lực điều hành. Tổng Bí thư yêu cầu các địa phương không trông chờ, ỷ lại hay sao chép máy móc mô hình bên ngoài, mà cần phát huy tính chủ động, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật và định hướng chung. Nơi nào chậm đổi mới, lãng phí nguồn lực hoặc bỏ lỡ cơ hội phát triển thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trước Đảng và nhân dân. Việc phát huy tốt vai trò tuyến đầu của chính quyền cơ sở sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách giữa nghị quyết và thực tiễn, bảo đảm sự thống nhất giữa chủ trương trung ương với đặc thù từng địa phương, từ đó tạo động lực phát triển đồng đều, bền vững trên phạm vi cả nước. Trong bối cảnh mới, Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu đặt kỷ luật trách nhiệm lên vị trí ưu tiên. Phân công nhiệm vụ phải đi đôi với cơ chế kiểm tra, đánh giá và xử lý minh bạch; tập thể không hoàn thành nhiệm vụ thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm, không thể né tránh bằng danh nghĩa tập thể. Cá nhân không đáp ứng yêu cầu phải chủ động rút lui; trường hợp cam kết mà không thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả cần được xem xét thay thế hoặc bố trí lại công việc. Không thể để xảy ra tình trạng chủ trương đúng nhưng khâu tổ chức yếu kém, trì trệ mà thiếu trách nhiệm cụ thể. Sự chậm trễ trong tổ chức thực hiện không chỉ làm lãng phí nguồn lực mà còn đánh mất cơ hội phát triển, bởi thời gian là nguồn lực không thể tái tạo. Tiến trình phát triển quốc gia phụ thuộc lớn vào tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh chính trị và năng lực hành động của từng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu. Trên cơ sở đó, Tổng Bí thư đề nghị ngay sau hội nghị, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV thành chương trình và kế hoạch hành động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tế; xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá, bảo đảm nói đi đôi với làm, làm quyết liệt và tạo ra kết quả cụ thể./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1229102/thong-cao-bao-chi-ve-ngay-lam-viec-thu-ba-va-be-mac-hoi-nghi-trung-uong-2-khoa-xiv.aspx
Thông cáo báo chí về ngày làm việc thứ ba và bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV
25-03-2026
1. Sáng ngày 25-3-2026, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV bước sang ngày làm việc thứ ba tại hội trường. Đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương thay mặt Bộ Chính trị điều hành nội dung thảo luận.
1. Sáng ngày 25-3-2026, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV bước sang ngày làm việc thứ ba tại hội trường. Đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương thay mặt Bộ Chính trị điều hành nội dung thảo luận. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV_Ảnh: TTXVN Trung ương và các đại biểu đã thảo luận, cho ý kiến về các nội dung sau: (1) Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030; Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2026 - 2030; Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030; Kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026 - 2030. (2) Về việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương. (3) Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá X về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. (4) Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Bộ Chính trị họp, cho ý kiến về các báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thảo luận của Trung ương từ đầu kỳ họp đến nay. 2. Buổi chiều, Trung ương và các đại biểu tiếp tục làm việc tại Hội trường để nghe Bộ Chính trị báo cáo tiếp thu, giải trình về các ý kiến Trung ương đã thảo luận đóng góp ý kiến. Đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội thay mặt Bộ Chính trị điều hành Hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư và đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương thay mặt Bộ Chính trị trình bày các báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của Trung ương thảo luận đóng góp ý kiến. Trung ương thảo luận, cho ý kiến về các nội dung trên và biểu quyết thông qua Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc hội nghị. 3 . Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; chung sức, đồng lòng, quyết tâm, quyết liệt vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân./. Hà Phương ( tổng hợp )
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1228402/thong-cao-bao-chi-ngay-lam-viec-thu-nhat-hoi-nghi-trung-uong-2-khoa-xiv.aspx
Thông cáo báo chí ngày làm việc thứ nhất Hội nghị Trung ương 2 khoá XIV
23-03-2026
null
Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng dự khai mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV_Ảnh: TTXVN 1. Buổi sáng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm việc tại hội trường. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu khai mạc và chủ trì hội nghị. Đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội thay mặt Bộ Chính trị điều hành hội nghị. Sau phần khai mạc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp riêng cho ý kiến công tác cán bộ về việc giới thiệu nhân sự các chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ 2026 - 2031; bầu bổ sung Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Sau đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm việc tại tổ để thảo luận, cho ý kiến về các nội dung: (1) Hoàn thiện mô hình quản lý các cơ quan truyền thông báo chí quốc gia, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội và Khoa học công nghệ phù hợp với yêu cầu trong tình hình mới. (2) Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khoá XIV. (3) Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. 2. Buổi chiều, Trung ương và các đại biểu làm việc tại hội trường để tiếp tục thảo luận và cho ý kiến về các nội dung: (1) Hoàn thiện mô hình quản lý các cơ quan truyền thông báo chí quốc gia, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội và Khoa học công nghệ phù hợp với yêu cầu trong tình hình mới. (2) Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khoá XIV. (3) Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. Sau đó, Trung ương và các đại biểu làm việc tại tổ, thảo luận về các nội dung: (1) Quy định thi hành Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2) Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (3) Quy chế làm việc của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá XIV. (4) Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng./. Trung Duy (tổng hợp)
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1229702/tong-ket-cong-tac-bau-cu-dai-bieu-quoc-hoi-khoa-xvi-va-dai-bieu-hoi-dong-nhan-dan-cac-cap-nhiem-ky-2026---2031.aspx
Tổng kết công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
31-03-2026
null
Toàn cảnh Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031_Ảnh: Phan Liên Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối 34 điểm cầu cấp tỉnh trên cả nước. Tham dự tại điểm cầu Hội trường Diên Hồng, nhà Quốc hội còn có: Chủ tịch nước Lương Cường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các Ủy viên Bộ Chính trị: Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia Bùi Thị Minh Hoài; Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Bầu cử quốc gia Đỗ Văn Chiến; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Ủy viên Hội đồng Bầu cử quốc gia Lê Minh Hưng; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Hội đồng Bầu cử quốc gia, Đại tướng Phan Văn Giang; Bộ trưởng Bộ Công an, Ủy viên Hội đồng Bầu cử quốc gia, Đại tướng Lương Tam Quang; Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ủy viên Hội đồng Bầu cử quốc gia Trần Sỹ Thanh; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Ủy viên Hội đồng Bầu cử quốc gia Trịnh Văn Quyết; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương Lê Minh Trí; Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Phạm Gia Túc; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị… Đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia phát biểu khai mạc hội nghị_Ảnh: Phan Liên Phát biểu khai mạc hội nghị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho biết, sau quá trình chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, chủ động, sáng tạo, với tinh thần trách nhiệm rất cao của Hội đồng Bầu cử quốc gia, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức, đoàn thể, các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương; dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, sát sao của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trực tiếp, thường xuyên của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ, chung sức, đồng lòng của đồng bào và cử tri cả nước, cuộc bầu cử thành công rất tốt đẹp, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là ngày hội lớn của toàn dân, được dư luận trong nước và nước ngoài đánh giá cao. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, đây là dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước ta, đang đẩy mạnh hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo vào mọi mặt của đời sống xã hội. Trình bày tóm tắt Báo cáo tổng kết công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Ủy viên Hội đồng Bầu cử quốc gia, Chánh Văn phòng Hội đồng Bầu cử quốc gia Lê Quang Mạnh nêu bật các đề xuất, kiến nghị: Đối với Quốc hội, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân theo hướng bổ sung nghĩa vụ của cử tri; hoàn thiện quy định về cơ cấu, thành phần, phân bổ đại biểu, đơn vị bầu cử; làm rõ thẩm quyền, quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo; hoàn thiện quy định về danh sách cử tri, bỏ phiếu nơi khác, thời gian ứng cử, hiệp thương, công bố danh sách; nghiên cứu điều chỉnh thời gian bỏ phiếu, kiểm phiếu linh hoạt. Đồng chí Lê Quang Mạnh, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Ủy viên Hội đồng Bầu cử quốc gia, Chánh Văn phòng Hội đồng Bầu cử quốc gia trình bày báo cáo_Ảnh: Phan Liên Đối với Chính phủ, cần chỉ đạo hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thống nhất, ổn định; chuẩn hóa biểu mẫu, hướng dẫn nghiệp vụ rõ ràng; điều chỉnh mốc thời gian, chế độ báo cáo phù hợp; nghiên cứu phân cấp hợp lý thẩm quyền trong tổ chức bầu cử; hoàn thiện quy định về tổ chức, hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử. Đối với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cần nghiên cứu đổi mới hình thức tiếp xúc cử tri, vận động bầu cử phù hợp thực tiễn; tăng cường, cụ thể hóa vai trò giám sát sau bầu cử, nâng cao trách nhiệm đại biểu dân cử. Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm phân tích rõ 5 thành công và 5 bài học kinh nghiệm của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Trong đó, 5 thành công của cuộc bầu cử là: Thứ nhất, cuộc bầu cử lần này có sự tham gia đông đảo, trách nhiệm và đầy niềm tin của cử tri cả nước. Theo báo cáo, có 76.198.214 cử tri đi bỏ phiếu, đạt tỷ lệ 99,7% - mức cao nhất được ghi nhận từ trước đến nay. Đặc biệt, không có đơn vị bầu cử nào phải bầu cử lại; 500 đại biểu Quốc hội được bầu đầy đủ; đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp xã trong cả nước cũng được bầu đủ theo quy định. Thứ hai, chất lượng, cơ cấu và tính đại diện của đại biểu tiếp tục được nâng lên. Tỷ lệ đại biểu Quốc hội dự kiến hoạt động chuyên trách đạt 40% - tỷ lệ cao nhất từ trước đến nay. Quốc hội khóa XVI có 150 đại biểu nữ, chiếm 30%; 76 đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 15,2%; 18 đại biểu ngoài đảng, chiếm 3,6%; 33 đại biểu dưới 40 tuổi, chiếm 6,6%. Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử Quốc hội nước ta có đại biểu người dân tộc Ơ-đu. Thứ ba, công tác chuẩn bị đã được triển khai sớm, bài bản, thống nhất và chặt chẽ từ Trung ương tới cơ sở. Trước ngày bầu cử, Hội đồng Bầu cử quốc gia đã ban hành đầy đủ 27 văn bản pháp lý theo luật định cùng 14 nghị quyết và văn bản hướng dẫn... Từ công tác hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, lập danh sách cử tri, tổ chức khu vực bỏ phiếu đến kiểm tra, giám sát, tuyên truyền, bảo đảm an ninh, trật tự đều được tiến hành theo đúng quy trình, đồng bộ và thống nhất. Thứ tư, bước tiến rõ rệt trong chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong cuộc bầu cử. Các nền tảng công nghệ được triển khai đồng bộ giúp thông tin về bầu cử được truyền tải nhanh chóng, chính xác và an toàn. Việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng VNeID trong quản lý cử tri đã góp phần nâng cao hiệu quả, độ chính xác và tính minh bạch của toàn bộ quy trình. Thứ năm, công tác an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững trong suốt quá trình bầu cử. Các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến bầu cử được tiếp nhận, xử lý kịp thời, đúng quy định, số lượng đơn thư thấp hơn nhiều so với các nhiệm kỳ trước, không phát sinh các vụ việc nghiêm trọng hay những tình huống bất thường ảnh hưởng đến kết quả bầu cử... Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo hội nghị_Ảnh: Phan Liên Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, từ những thành công trên, có thể rút ra 5 bài học kinh nghiệm quan trọng: Một là, phải bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, xuyên suốt, đồng thời phát huy cao độ trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Hai là , công tác nhân sự phải được chuẩn bị thật kỹ lưỡng, dân chủ, đúng pháp luật và thật sự vì lợi ích chung. Ba là , toàn bộ quá trình bầu cử phải lấy người dân làm trung tâm; tỷ lệ cử tri đi bầu cao nhất từ trước đến nay không phải chỉ nhờ tổ chức tốt, mà còn do cử tri thấy được mình được tôn trọng, được thông tin đầy đủ, được tạo điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền công dân. Bốn là , công tác thông tin tuyên truyền đi trước một bước, đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung lẫn phương thức. Năm là , thành công của một cuộc bầu cử chỉ thật sự trọn vẹn khi được chuyển hóa thành hiệu quả hoạt động của nhiệm kỳ mới. Lá phiếu của cử tri không dừng lại ở ngày bầu cử. Lá phiếu ấy phải được tiếp nối bằng chất lượng lập pháp, bằng hiệu quả giám sát, bằng những quyết sách đúng đắn, kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới... Phát biểu bế mạc hội nghị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn khẳng định, cả hệ thống chính trị, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cấp ủy , chính quyền, Mặt trận Tổ quốc sẽ quán triệt sâu sắc, nghiêm túc thực hiện đầy đủ các chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về yêu cầu, định hướng chiến lược đối với việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; những chỉ đạo xuyên suốt đối với hoạt động của Quốc hội khóa XVI và chính quyền địa phương các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Ngay sau Hội nghị, Chủ tịch Quốc hội đề nghị các cấp, các ngành khẩn trương hoàn thành các công việc còn lại sau bầu cử. Hội đồng bầu cử quốc gia sẽ có Báo cáo tổng kết bầu cử và kết quả xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội khóa XVI để báo cáo tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI sắp tới./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/an-ninh2/-/2018/812604/hoan-thien-phap-luat-ve-an-ninh-mang-trong-tinh-hinh-hien-nay.aspx
Hoàn thiện pháp luật về an ninh mạng trong tình hình hiện nay
25-09-2019
Những thách thức đặt ra cho vấn đề an ninh mạng hiện nay
Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông phát biểu tại Hội thảo và Triển lãm quốc tế về an toàn, an ninh mạng Việt Nam 2019_Nguồn: vietnamplus.vn Những thách thức đặt ra cho vấn đề an ninh mạng hiện nay Sự phát triển của không gian mạng cùng với Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang mang lại những lợi ích vô cùng to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, cũng như làm thay đổi nhận thức, hành vi và lối sống của con người. Song, bên cạnh những lợi ích mang lại, không gian mạng cũng đặt ra nhiều nguy cơ, thách thức, tác động trực tiếp đến chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Các cuộc tấn công mạng với động cơ chính trị vào hệ thống thông tin trọng yếu của các nước ngày càng gia tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, quốc phòng và an ninh. Tội phạm mạng ngày càng nguy hiểm với nhiều thủ đoạn tinh vi, kỹ thuật cao, sử dụng các loại mã độc ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tấn công, xâm nhập. Không gian mạng đang trở thành môi trường thuận lợi để các cơ quan đặc biệt nước ngoài, cá nhân, tổ chức khủng bố liên lạc, tuyển mộ lực lượng, gây quỹ, truyền bá tư tưởng chống đối cực đoan, kích động sự hận thù và bạo lực. Bảo vệ quyền, lợi ích và an ninh quốc gia trên không gian mạng và ứng phó với những nguy cơ mới từ không gian mạng đã trở thành vấn đề toàn cầu, được xác định là một nội dung cốt lõi, sống còn trong quá trình bảo vệ và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở đó, các nước đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật và thiết lập quy tắc ứng xử để điều chỉnh các hành vi, mối quan hệ xã hội trên không gian mạng, góp phần nâng cao năng lực bảo vệ an ninh mạng và phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Đến nay, có 138 quốc gia (trong đó có 95 nước đang phát triển) đã ban hành Luật An ninh mạng. Trong vòng 6 năm trở lại đây, có 23 quốc gia ban hành trên 40 văn bản luật và dưới luật về an ninh mạng. Điển hình là tháng 9-2018, Mỹ đã công bố Chiến lược An ninh mạng, trong đó xác định mối đe dọa về an ninh mạng là mối đe dọa hàng đầu đối với an ninh quốc gia; tuyên bố sẵn sàng đáp trả bằng các biện pháp quân sự nếu an ninh mạng quốc gia bị đe dọa, tấn công. Tháng 12-2018, Ô-xtrây-li-a ban hành Luật An ninh mạng, ngoài việc nhấn mạnh tầm quan trọng của an ninh mạng, Luật này còn cho phép cơ quan chức năng được truy cập vào các dữ liệu được mã hóa của các nhà mạng. Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ phát triển in-tơ-nét nhanh nhất thế giới, không gian mạng ở nước ta cũng xuất hiện nhiều nguy cơ, thách thức lớn tác động đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, cụ thể là: - Các thế lực thù địch, phản động tăng cường sử dụng không gian mạng để phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây mâu thuẫn dân tộc, kích động biểu tình, bạo loạn nhằm chuyển hóa thể chế chính trị tại Việt Nam. - Vấn nạn tin giả, thông tin sai sự thật, tin xấu, độc, làm tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân đang diễn ra nghiêm trọng(1). - Hệ thống mạng của nước ta nằm trong nhóm các quốc gia phải đối mặt với hoạt động tấn công mạng quy mô lớn, cường độ cao, tính chất nghiêm trọng và ngày càng nguy hiểm. Nước ta xếp thứ 20 trong các nước trên thế giới có hệ thống mạng bị tấn công bởi phần mềm độc hại, đứng thứ 8 trong số 10 quốc gia hàng đầu thế giới về tình trạng lây nhiễm mã độc cục bộ. Từ cuối năm 2015 đến nay, đã có 12.360 trang tin, cổng thông tin điện tử tên miền quốc gia (.vn) của Việt Nam bị tin tặc tấn công, thay đổi giao diện, trong đó có trên 400 trang tin, cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; có 9.763 trang tin bị tấn công bởi tin tặc nước ngoài và 2.597 trang tin bị tấn công bởi các đối tượng, nhóm tin tặc trong nước (chiếm 21%). - Tình hình chiếm đoạt thông tin, làm lộ bí mật nhà nước, lộ thông tin cá nhân của người dùng in-tơ-nét diễn ra đáng lo ngại. - Hoạt động tội phạm sử dụng công nghệ cao gia tăng về số vụ, thủ đoạn tinh vi, gây thiệt hại nghiêm trọng về nhiều mặt và hệ lụy lâu dài cho xã hội, trong đó có các hoạt động tội phạm, như lừa đảo, tổ chức đánh bạc trực tuyến(2). - Công tác quản lý nhà nước về không gian mạng đối mặt với nhiều thách thức trước những dịch vụ mới trên mạng, như thanh toán trực tuyến, thương mại điện tử, trò chơi trực tuyến, kinh doanh tiền ảo, kinh doanh đa cấp. Đồng thời, đặt ra một số vấn đề về an ninh quốc gia, nguy cơ mất an ninh thanh toán, an ninh thông tin mạng, như nguy cơ mất an ninh thông tin mạng tạo điều kiện cho đối phương tiến hành thu thập tin tức tình báo; nguy cơ thất thu thuế, mất chủ quyền không gian thanh toán; tình trạng cạnh tranh không bình đẳng giữa các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thanh toán, trung gian thanh toán trong và ngoài nước tạo môi trường lý tưởng cho tội phạm sử dụng công nghệ cao hoạt động phạm tội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự xã hội. - Công tác đào tạo chuyên gia an ninh mạng còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra. Do vậy, việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh mạng, cụ thể là Luật An ninh mạng, là yêu cầu hết sức cấp thiết. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hoạt động vi phạm pháp luật trên không gian mạng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; tạo hành lang pháp lý để nâng cao năng lực bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, góp phần bảo đảm chủ quyền, an ninh, trật tự và xây dựng môi trường an toàn, lành mạnh trên không gian mạng. Những nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng Đáp ứng yêu cầu thực tiễn trên, Luật An ninh mạng của Việt Nam đã được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 5, với tỷ lệ 86.86%, gồm 7 chương, 43 điều, quy định những nội dung cơ bản về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin an ninh quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng; triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng và quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cụ thể là: Thứ nhất, quy định các khái niệm cơ bản và chính sách của Nhà nước về an ninh mạng; nguyên tắc và biện pháp bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ không gian mạng quốc gia; hợp tác quốc tế về an ninh mạng; các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng; xử lý vi phạm pháp luật về an ninh mạng. Đây là cơ sở để xác định phạm vi đấu tranh, biện pháp áp dụng, các hành vi vi phạm và cách thức phòng ngừa, xử lý các hành vi này cũng như triển khai công tác nghiên cứu, hoàn thiện lý luận về an ninh mạng. Thứ hai, quy định đầy đủ các hoạt động bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Với các quy định về thẩm định, kiểm tra, đánh giá điều kiện, ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng được quy định tại Chương II, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được bảo vệ chặt chẽ từ bên trong. Với các biện pháp bảo vệ an ninh mạng, xử lý các hành vi tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, chiếm đoạt thông tin thuộc bí mật nhà nước, các hành vi chống, phá Nhà nước được quy định tại Chương I, Chương III, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được bảo vệ từ bên ngoài. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, thể hiện sự bảo vệ tương xứng với vai trò của hệ thống thông tin an ninh quốc gia. Thứ ba, đưa ra các quy định nhằm tạo nền tảng pháp lý trong phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức cá nhân trên không gian mạng, như soạn thảo, đăng tải thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng, làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; sử dụng không gian mạng để tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, chiếm đoạt bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trên không gian mạng; sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; tấn công mạng... Đây là hành lang pháp lý vững chắc để người dân có thể yên tâm kết bạn, trao đổi, buôn bán, kinh doanh hay hoạt động trên không gian mạng. Thứ tư, tập trung quy định về triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương, trọng tâm là các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị, quy định rõ các nội dung triển khai, hoạt động kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức này. Kết cấu hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế cũng là một trong những đối tượng được bảo vệ trọng điểm. Với các quy định chặt chẽ cùng sự tham gia đồng bộ của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân, việc sử dụng thông tin để vu khống, làm nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ bị xử lý nghiêm minh; hành vi xâm phạm an ninh mạng sẽ được phát hiện, cảnh báo kịp thời. Các hoạt động nghiên cứu, phát triển an ninh mạng, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng, nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng và bảo vệ trẻ em trên không gian mạng cũng được quy định chi tiết, là nền tảng pháp lý quan trọng triển khai công tác an ninh mạng hiện tại và tương lai. Thứ năm, tạo cơ sở pháp lý quan trọng thực thi chính sách của Nhà nước về bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu quốc gia trên không gian mạng. Để quản lý chặt chẽ, bảo vệ nghiêm ngặt dữ liệu của nước ta trên không gian mạng, Luật An ninh mạng đã quy định các doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng in-tơ-nét và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ Việt Nam. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đấu tranh phòng, chống tội phạm trước các diễn biến phức tạp của hoạt động cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, thương mại điện tử, kinh doanh tiền ảo, tiền điện tử thời gian qua. Thứ sáu, tạo cơ sở pháp lý cho công tác bảo đảm triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng, xây dựng và hình thành lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao. Chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về an ninh mạng cho cơ quan, tổ chức, cá nhân với mục tiêu tham gia không gian mạng an toàn, lành mạnh, hạn chế tối đa nguy cơ, tác động tiêu cực, phát huy tối đa hiệu quả. Thứ bảy, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động trên không gian mạng, tập trung vào việc xác định trách nhiệm của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Các nhóm biện pháp nhằm bảo vệ an ninh mạng Để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, Luật An ninh mạng đã quy định 4 nhóm biện pháp bảo vệ an ninh mạng, gồm nhóm biện pháp an ninh mạng; nhóm biện pháp hành chính; nhóm biện pháp điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự; và nhóm các biện pháp khác theo quy định của pháp luật. Cụ thể là: Thứ nhất, nhóm biện pháp an ninh mạng, gồm 7 biện pháp: - Thẩm định an ninh mạng là hoạt động xem xét, đánh giá những nội dung về an ninh mạng để làm cơ sở cho việc quyết định xây dựng hoặc nâng cấp hệ thống thông tin. - Đánh giá điều kiện an ninh mạng là hoạt động xem xét sự đáp ứng về an ninh mạng của hệ thống thông tin trước khi đưa vào vận hành, sử dụng. - Kiểm tra an ninh mạng là hoạt động xác định thực trạng an ninh mạng của hệ thống thông tin, kết cấu hạ tầng hệ thống thông tin hoặc thông tin được lưu trữ, xử lý, truyền đưa trong hệ thống thông tin nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý nguy cơ đe dọa an ninh mạng và đưa ra các phương án, biện pháp bảo đảm hoạt động bình thường của hệ thống thông tin. - Giám sát an ninh mạng là hoạt động thu thập, phân tích tình hình nhằm xác định nguy cơ đe dọa an ninh mạng, sự cố an ninh mạng, điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, mã độc, phần cứng độc hại để cảnh báo, khắc phục, xử lý. - Ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin là hoạt động phát hiện, xác định sự cố an ninh mạng; bảo vệ hiện trường, thu thập chứng cứ; phong tỏa, giới hạn phạm vi xảy ra sự cố an ninh mạng, hạn chế thiệt hại do sự cố an ninh mạng gây ra; xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi cần ứng cứu; xác minh, phân tích, đánh giá, phân loại sự cố an ninh mạng; triển khai phương án ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng; xác minh nguyên nhân và truy tìm nguồn gốc; điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. - Đấu tranh bảo vệ an ninh mạng là hoạt động có tổ chức do lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thực hiện trên không gian mạng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. - Sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin mạng là các biện pháp mã hóa bằng mật mã để bảo vệ thông tin mạng khi truyền đưa thông tin, tài liệu có nội dung thuộc bí mật nhà nước trên không gian mạng. Thứ hai , nhóm biện pháp hành chính, gồm 5 biện pháp: - Ngăn chặn, yêu cầu tạm ngừng, ngừng cung cấp thông tin mạng; - Đình chỉ, tạm đình chỉ các hoạt động thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng viễn thông, in-tơ-nét, thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến; - Yêu cầu xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật; - Phong tỏa, hạn chế hoạt động, đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động hệ thống thông tin; - Thu hồi tên miền. Thứ ba , nhóm biện pháp điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, gồm: - Hoạt động thu thập dữ liệu điện tử liên quan đến hành vi vi phạm; - Các quy trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Thứ tư , nhóm các biện pháp khác, gồm các biện pháp theo quy định của Luật An ninh quốc gia, như vận động nhân dân, ngoại giao, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, nghiệp vụ, vũ trang; các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, như xử phạt hành chính (cảnh cáo, phạt tiền), các hình phạt bổ sung (tước quyền sử dụng giấy phép, tịch thu tang vật vi phạm), các biện pháp khác (buộc ngừng hoạt động, đình chỉ, tạm đình chỉ, buộc khôi phục tình trạng cũ, buộc xóa bỏ, tháo gỡ, tiêu hủy thông tin, nội dung thông tin)./. ------------------------------------------- (1) Việt Nam hiện có 410 trang mạng xã hội được cấp phép hoạt động, Facebook và YouTube là hai mạng xã hội nước ngoài có ảnh hưởng nhất, trong đó Facebook có hơn 60 triệu người dùng tại Việt Nam. Tuy nhiên, hai mạng xã hội này cũng là nơi tán phát nhiều thông tin xấu, độc nhất hiện nay, với hàng loạt chuyên trang của các tổ chức phản động lưu vong, thù địch, chống đối, một số trang Facebook có số lượng lượt người theo dõi lên tới hàng trăm nghìn (2) Hiện nước ta có khoảng 500 trò chơi trên mạng được phê duyệt nội dung, với hơn 33 triệu người chơi, doanh thu đạt hơn 380 triệu USD/năm. Trong khi đó, có khoảng 40 trò chơi trực tuyến trái phép quy mô lớn, mô phỏng cờ bạc có dấu hiệu vi phạm pháp luật với hệ thống đại lý cấp 1 ở nhiều địa phương trên cả nước
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/an-ninh2/-/2018/810404/chong-%E2%80%9Cdien-bien-hoa-binh%E2%80%9D%2C-%E2%80%9Ctu-dien-bien%E2%80%9D%2C-%E2%80%9Ctu-chuyen-hoa%E2%80%9D-trong-noi-bo---mot-so-van-de-dat-ra-doi-voi-luc-luong-cong-an-nhan-dan-giai-doan-hien-nay.aspx
Chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ - Một số vấn đề đặt ra đối với lực lượng công an nhân dân giai đoạn hiện nay
10-09-2019
null
Lực lượng công an nhân dân tăng cường lực lượng bám địa bàn cơ sở và phải gần dân, gắn bó mật thiết với nhân dân_Ảnh: Trần Trọng Đô Hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Bước sang giai đoạn cách mạng mới, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi để phát triển, chúng ta cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, trong đó “bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng in-tơ-nét để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ...”(1). Thực tế cho thấy, những năm qua, các thế lực thù địch đã ra sức thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị - tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại, với trọng tâm là cổ xúy hệ tư tưởng tư sản, âm mưu xóa bỏ nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng ta - chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội... Mục tiêu cuối cùng mà các thế lực thù địch hướng tới là làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mặc dù âm mưu “diễn biến hòa bình” của chúng là nhất quán, nhưng trong bối cảnh mới, nó được thực hiện với những phương thức, thủ đoạn mới tinh vi, xảo quyệt hơn. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông và mạng in-tơ-nét để tiến hành các hoạt động chống phá ta, đồng thời thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thực chất là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, đi ngược với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trước hết trong cá nhân cán bộ, đảng viên và nếu không được ngăn chặn kịp thời, có thể dẫn đến sự suy thoái của tổ chức, và về lâu dài, sẽ dẫn đến chuyển hóa chế độ chính trị. Bởi vậy, Đảng ta xác định, cùng với âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng là nguy cơ không thể xem thường đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta chỉ ra 9 biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm cơ sở cho việc nhận diện và đề ra các giải pháp phù hợp để ngăn chặn, đẩy lùi. Có thể thấy, “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có mối liên hệ chặt chẽ, không tách rời nhau, trong đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vừa là thủ đoạn, vừa là mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Do đó, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không chỉ là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, mà còn là giải pháp quan trọng, chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Với vai trò là lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành của Đảng, “thanh kiếm và lá chắn” bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, Công an nhân dân có vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình, thời gian qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Chính phủ, được sự giúp đỡ của nhân dân, sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ của Quân đội nhân dân, các ban, ngành ở Trung ương và địa phương, lực lượng công an nhân dân đã thực hiện và hoàn thành tốt nhiều nhiệm vụ chính trị quan trọng. Đã chủ động, tích cực tham mưu cho Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự, góp phần hoàn thiện cơ sở chính trị, pháp lý cho việc triển khai các mặt công tác, chiến đấu của Công an nhân dân; chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và vô hiệu hóa nhiều âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập trong nước; tổ chức có hiệu quả công tác đấu tranh trên phương diện tư tưởng, lý luận, nhất là phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những quan điểm sai trái, thù địch, vạch trần âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Đồng thời, gương mẫu đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”... Việc lực lượng công an nhân dân tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những hạn chế cần khắc phục, nhất là công tác quản lý cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ còn bộc lộ sơ hở, để xảy ra một số vụ, việc cán bộ, chiến sĩ vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng, của ngành, làm giảm niềm tin trong nhân dân, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, truyền thống của lực lượng. Trong công tác và trong chiến đấu, một số cán bộ, chiến sĩ còn có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, thiếu ý chí rèn luyện, phấn đấu vươn lên, thậm chí có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống. Bởi vậy, cùng với việc thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, lực lượng công an nhân dân cần xác định việc tăng cường đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là một giải pháp quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng lực lượng công an nhân dân giai đoạn hiện nay. Trong thời gian tới, để xứng đáng là lực lượng tiên phong, gương mẫu đi đầu trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng, lực lượng công an nhân dân cần tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm sau: Một là , thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Công tác công an phải gắn chặt với đường lối chính trị của Đảng. Nếu thoát ly đường lối chính trị của Đảng, thì dù khéo mấy cũng không kết quả”(2), lực lượng công an nhân dân cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Công an nhân dân. Theo đó, phải tăng cường công tác đảng, công tác chính trị, tư tưởng trong Công an nhân dân, góp phần xây dựng lực lượng công an nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. “Nhanh chóng hoàn thiện cơ chế, đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy và tổ chức đảng trong công an các cấp, thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở; xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Đảng ủy Công an Trung ương với các tỉnh, thành ủy”(3). Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chống địch cài cắm; đề cao tinh thần cảnh giác, chủ động, nhạy bén, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mưu đồ của các thế lực thù địch nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng công an nhân dân. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, ngăn chặn mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần xây dựng hình ảnh đẹp của người cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân trong lòng nhân dân. Hai là , chủ động tham mưu với các cấp ủy, chính quyền trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự và tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân. Phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự, trọng tâm là các địa bàn chiến lược, vùng có đông đồng bào các tôn giáo, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” trên mọi địa bàn, mọi lĩnh vực; xây dựng và củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, gắn với nền quốc phòng toàn dân và thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc; kịp thời phát hiện những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị và đề xuất biện pháp xử lý phù hợp, không để các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng. Làm tốt hơn nữa vai trò tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc giải quyết dứt điểm các vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh, không để hình thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự. Ba là, tăng cường phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với Quân đội nhân dân, các ban, ngành ở Trung ương và địa phương trong việc chủ động nghiên cứu, nắm chắc tình hình, dự báo sát, đúng những tình huống phức tạp có thể xảy ra để kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước ban hành và chỉ đạo thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật, chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Lực lượng công an nhân dân cũng cần chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng trong phòng ngừa, đấu tranh, không để kẻ địch, phần tử xấu xâm nhập, lôi kéo, móc nối, tác động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; bảo đảm mọi chủ trương, đường lối của Đảng phải được thực hiện có hiệu quả trong thực tế. Đề cao cảnh giác, kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm thù địch, sai trái; vạch trần những âm mưu và hành động lợi dụng một số vụ án, vụ việc tiêu cực để làm tổn hại tới khối đại đoàn kết toàn dân, hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang nhân dân(4). Trong đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, cần quán triệt phương châm “Lấy chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính”; đồng thời phải tỏ rõ dũng khí của lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, với tinh thần “thượng tôn pháp luật”, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Bốn là , đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của cấp ủy các cấp trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự, đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Theo đó, Công an nhân dân cần tăng cường lực lượng bám địa bàn cơ sở và phải gần dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, “sống trong lòng nhân dân” để xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh, gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự ở địa bàn cơ sở. Mỗi cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân phải luôn thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về công tác dân vận, tiên phong trong tuyên truyền, vận động, giúp nhân dân nhận rõ âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, từ đó có biện pháp “tự bảo vệ mình” và tăng “sức đề kháng”, khả năng “tự miễn nhiễm” trước những thông tin, luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Bảo vệ và củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với Công an nhân dân trước âm mưu gây chia rẽ trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, lực lượng công an nhân dân phải trọng dân, lắng nghe nhân dân, vì nhân dân phục vụ, phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ, giúp đỡ... Năm là, phát huy vai trò của báo chí công an nhân dân trong tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Báo chí công an nhân dân cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí khác trong việc định hướng thông tin, tuyên truyền; phản ánh kịp thời, chính xác những vấn đề xã hội phức tạp; vạch trần âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ và đánh giá đúng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Báo chí công an nhân dân phải là kênh thông tin quan trọng, chính thống và tin cậy không chỉ với lực lượng công an nhân dân mà với toàn xã hội về các vấn đề chính trị, xã hội, đặc biệt là trong đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch và các loại tội phạm; là “điểm tựa” để nhiều cơ quan báo chí khác triển khai đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động. Để làm được điều đó, báo chí công an nhân dân phải không ngừng nâng cao chất lượng các bài viết phê phán những quan điểm sai trái và đổi mới phương thức truyền tải thông tin, nhằm thu hút sự quan tâm nhiều hơn của độc giả. Cơ quan quản lý báo chí và cơ quan báo chí công an nhân dân cần chú trọng xây dựng đội ngũ phóng viên, biên tập viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, am hiểu pháp luật, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Sáu là, mỗi cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân trên cương vị công tác của mình cần không ngừng rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, tăng cường khả năng tự bảo vệ mình trước tác động của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Theo đó, cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân phải là những người tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, với Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; không ngừng học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và “Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân”; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng; nêu cao tính tiền phong, gương mẫu trước Đảng, trước nhân dân; quyết tâm giữ mình trong sạch, không sa ngã trước những cám dỗ của các phần tử xấu, “lợi ích nhóm”, không để các thế lực thù địch lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, tác động, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; luôn tận tụy với công việc, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân./. ---------------------------------------------- (1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII , Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 68 (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 140 (3) Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 74 được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 3-1-2019 (4) Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 74 được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 3-1-2019
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-ao-uc-phong-cach-ho-chi-minh1/-/2018/1217203/van-dung-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-thuc-hanh-tiet-kiem-nham-tap-trung-nguon-luc-phat-trien-dat-nuoc-trong-ky-nguyen-moi.aspx
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm nhằm tập trung nguồn lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
20-02-2026
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm Thực hành tiết kiệm là một trong những giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của một quốc gia nông nghiệp, thường xuyên phải đối mặt với thiên tai, chiến tranh và thiếu thốn. Trong lịch sử, từ triết lý “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” đến lối sống “liệu cơm gắp mắm”, tinh thần tiết kiệm đã trở thành thói quen, nếp nghĩ và phương châm ứng xử của nhiều thế hệ người Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư duy nhạy bén và tầm nhìn chiến lược, đã tiếp thu, kế thừa và phát triển truyền thống quý báu ấy; đồng thời, bổ sung những yếu tố mới từ tinh hoa văn hóa nhân loại và kinh nghiệm thực tiễn của phong trào cách mạng thế giới. Từ môi trường hoạt động quốc tế phong phú và trải nghiệm trực tiếp trong phong trào công nhân, phong trào giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành quan niệm về thực hành tiết kiệm vừa mang tính phổ quát, vừa gắn chặt với yêu cầu của cách mạng Việt Nam. Bác Hồ tặng quà các chiến sĩ Đoàn không quân Sao Vàng Tết Đinh Mùi (9-2-1967) và nhắc nhở cán bộ, nhân dân phải thực hành tiết kiệm trong dịp Tết_Ảnh: Tư liệu Điểm xuất phát quan trọng để Chủ tịch Hồ Chí Minh hình thành tư tưởng về thực hành tiết kiệm là nhận thức sâu sắc về mối quan hệ giữa tiết kiệm và độc lập, tự chủ của dân tộc. Với Người, một đất nước muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và giữ vững chủ quyền thì trước hết phải biết quý trọng, bảo vệ và sử dụng hợp lý mọi nguồn lực hiện có. Bên cạnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm còn bắt nguồn từ chính quan niệm đạo đức cách mạng mà Người kiên trì vun đắp. Trong hệ thống đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, thực hành tiết kiệm luôn được đặt ở vị trí trung tâm, là cầu nối giữa “cần” và “liêm”, bảo đảm cho mỗi cá nhân giữ gìn phẩm chất trong sáng, tránh xa chủ nghĩa cá nhân, lối sống xa hoa, hưởng thụ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm được thể hiện trên những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất , về tính tất yếu phải thực hành tiết kiệm Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với hoàn cảnh đặc biệt khắc nghiệt: nạn đói cướp đi sinh mạng hơn 2 triệu người, hơn 90% dân số mù chữ, nguy cơ xâm lược từ bên ngoài luôn thường trực, trong khi ngân khố quốc gia gần như trống rỗng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn chỉ rõ thực trạng ấy: “trước khi rút chạy, thực dân Pháp đã để lại cho chúng tôi một di sản thảm hại: nạn đói, nghèo khổ, đổ nát điêu tàn, một số lượng lớn người thất nghiệp...” (1) , hay “Trong 80 năm, nước ta bị đế quốc Pháp rồi đến đế quốc Nhật vơ vét hết, vì vậy mà kinh tế của ta nghèo nàn, lạc hậu” (2) . Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, việc khôi phục và xây dựng một nền kinh tế độc lập không chỉ là yêu cầu phát triển, mà còn là vấn đề sống còn đối với vận mệnh quốc gia - dân tộc. Từ nhận thức sâu sắc về mối quan hệ hữu cơ giữa độc lập kinh tế và độc lập chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nay chúng ta cần phải có một nền kinh tế khá, để kháng chiến và kiến quốc” (3) . Nhưng để kiến thiết kinh tế cần phải có nguồn vốn - thứ mà đất nước đang hoàn toàn thiếu thốn. Người chỉ rõ, ở các nước tư bản thường tạo nguồn vốn bằng cách vay nợ, cướp bóc thuộc địa hoặc bóc lột công nhân, nông dân, song “những cách đó chúng ta đều không thể làm được” (4) . Việt Nam không thể đi theo con đường bất công, phi nhân đạo ấy, vì điều đó trái với bản chất cách mạng và mục tiêu nhân văn của dân tộc. Từ đó, Người chỉ ra con đường tất yếu: “Chúng ta chỉ có cách là một mặt tăng gia sản xuất, một mặt tiết kiệm để tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của ta” (5) . Thực hành tiết kiệm trong tư tưởng Hồ Chí Minh vì thế đã vượt ra khỏi phạm vi đạo đức cá nhân, trở thành chiến lược quốc gia, nhằm chủ động tạo dựng nguồn lực từ bên trong cho một nền kinh tế tự chủ, bền vững. Điểm đặc sắc trong tư tưởng của Người là không giới hạn thực hành tiết kiệm ở nghĩa “thắt lưng buộc bụng”, mà coi đó là nền tảng để mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nếu ta khéo tiết kiệm sức người, tiền của và thời giờ, thì với sức lao động, tiền tài của nước ta hiện nay, ta có thể tăng gia sản xuất gấp bội… Đó là một sự thực chắc chắn, chứ không phải lý luận cao xa” (6) . Ngay trong những năm kháng chiến gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn kiên định: “Nước ta đang kháng chiến, điều kiện khó khăn hơn. Nhưng chúng ta quyết tâm tăng gia và tiết kiệm, thì nhất định tăng gia được và tiết kiệm được” (7) . Thứ hai , về bản chất của thực hành tiết kiệm Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất của thực hành tiết kiệm trước hết nằm ở ý thức và thái độ sử dụng hợp lý mọi nguồn lực, nhằm phục vụ lợi ích chung. Ngày 27-1-1952, trong bài nói chuyện nhân dịp Tết Nhâm Thìn, Người đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Tiết kiệm là gì? Vì sao phải tiết kiệm? Tiết kiệm những gì? Ai cần phải tiết kiệm?” (8) . Đồng thời, Người đã giải thích cụ thể bản chất của tiết kiệm là “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi” (9) . Cùng với đó, Người còn chỉ rõ việc thực hành tiết kiệm “không phải là bủn xỉn” (10) , nó hoàn toàn đối lập với “hà tiện”, cắt giảm mọi khoản chi tiêu, kể cả những khoản cần thiết cho lợi ích chung. Thực hành tiết kiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là hạn chế phát triển, mà để bảo đảm chi tiêu và sử dụng nguồn lực một cách hợp lý, đúng mục đích. Tức là, “khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng” (11) . Đây chính là biểu hiện của lối sống văn minh, hiện đại, giàu tính nhân văn, có sự kết hợp hài hòa giữa tiết kiệm và đầu tư cho những việc có giá trị lâu dài, hướng tới hiệu quả thiết thực cho cộng đồng. Thứ ba , về nội dung thực hành tiết kiệm Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nội dung thực hành tiết kiệm phải toàn diện cả về sức lao động, thời gian, đến lời nói. Trong đó, thực hành tiết kiệm sức lao động là yêu cầu hàng đầu, bởi sức lao động chính là “vốn quý nhất” của quốc gia. Người nhấn mạnh: “Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta. Chúng ta cần hết lòng chăm sóc sức khỏe và sử dụng thật hợp lý sức lao động của nhân dân ta” (12) . Người nêu quan điểm: “Việc gì trước kia phải dùng 10 người, nay ta phải tổ chức sắp xếp cho khéo, phải nâng cao năng suất của mỗi người, nhờ vậy mà chỉ dùng 5 người cũng làm được” (13) . Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng thực hành tiết kiệm thời gian, bởi thời gian là “tài sản vô giá”, một khi đã trôi qua thì không thể lấy lại. Người phê phán gay gắt: “Ai đưa vàng bạc vứt đi, là người điên rồ. Thì ai đưa thời giờ vứt đi, là người ngu dại” (14) . Tiết kiệm thời gian đồng nghĩa với việc tổ chức công việc khoa học, đúng giờ, hiệu quả, đồng thời tôn trọng thời gian của người khác. Người căn dặn: “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân… Làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ, về sớm… Ai lười biếng tức là lừa gạt dân” (15) . Hơn thế, tiết kiệm thời gian phải gắn với cải tiến tổ chức và đổi mới phương pháp làm việc: “Việc gì trước kia phải làm 2 ngày, nay vì tổ chức sắp xếp khéo, năng suất cao, ta có thể làm xong trong 1 ngày” (16) . Cùng với thực hành tiết kiệm sức lao động và thời gian, việc thực hành tiết kiệm lời nói cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Bởi theo Người, nói thì phải đi đôi với làm, đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hành “Nói ít, bắt đầu bằng hành động (17) . Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn lời nói phải đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức, tránh phô trương, hình thức. Người cảnh báo tình trạng hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết rồi mà không làm, xem đây như một dạng lãng phí lời nói nghiêm trọng, kéo theo đó là sự lãng phí thời gian nghe của quần chúng nhân dân. Thứ tư , về chủ thể thực hành tiết kiệm Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiết kiệm là nghĩa vụ và trách nhiệm chung của toàn xã hội, không trừ bất kỳ ai, từ cán bộ lãnh đạo cao nhất đến từng người dân, từ cơ quan hành chính đến đơn vị sản xuất, từ chiến sĩ ngoài mặt trận đến công nhân, nông dân trong đời sống thường ngày. Người khẳng định dứt khoát: “Tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Trước nhất là các cơ quan, các bộ đội, các xí nghiệp” (18) . Trong đó, Người đặc biệt coi trọng tính nêu gương của cán bộ, đảng viên. Người chỉ rõ: “Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã” (19) . Điều này không chỉ là nguyên tắc đạo đức cách mạng, mà còn là phương thức thuyết phục hiệu quả nhất, bởi tấm gương của người lãnh đạo có sức lan tỏa mạnh mẽ, khơi dậy ý thức tự giác thực hành tiết kiệm trong toàn dân. Việc tiết kiệm cần được triển khai rộng khắp, “Cơ quan nào cũng cần và cũng có thể tiết kiệm” (20) , nhằm giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động phục vụ nhân dân. Cùng với đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm tới bảo vệ tài sản công, chỉ rõ đây là trách nhiệm trực tiếp của mỗi cán bộ, đảng viên và các cơ quan, đơn vị. Người căn dặn phải “vít kín các lỗ thủng, các kẽ hở, không để của cải dành dụm của chúng ta bị hao hụt, phân tán” (21) . Đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, tập trung nguồn lực phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới Trong quỹ đạo phát triển năng động của thế kỷ XXI, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới với nhiều vận hội, thách thức đan xen. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra không gian phát triển chưa từng có, nơi tri thức, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng. Song, cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, bất ổn kinh tế - tài chính toàn cầu, biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên và sự dịch chuyển nhanh chóng của các chuẩn mực phát triển bền vững... đặt ra không ít thách thức đối với nước ta. Ở trong nước, yêu cầu đầu tư cho hạ tầng chiến lược, củng cố quốc phòng - an ninh, bảo đảm an sinh xã hội và chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đòi hỏi nguồn lực rất lớn. Trong khi khả năng tích lũy của nền kinh tế vẫn còn hạn chế; tình trạng thất thoát, lãng phí, đầu tư dàn trải, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao vẫn tồn tại ở nhiều lĩnh vực. Khoảng cách giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng nguồn lực, nếu không được thu hẹp bằng những giải pháp căn cơ sẽ trở thành điểm nghẽn, trở lực đối với sự phát triển sức cạnh tranh quốc gia. Chính vì vậy, thực hành tiết kiệm vừa là yêu cầu cấp thiết, vừa là nguyên tắc phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Để hiện thực hóa điều này, cần thực hiện tốt một số giải pháp trọng tâm sau: Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế và cơ chế thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo nền tảng pháp lý vững chắc để đất nước phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới. Để đáp ứng yêu cầu quản trị hiệu quả nguồn lực quốc gia, nâng cao sức cạnh tranh và bảo đảm an ninh kinh tế đất nước trong kỷ nguyên mới, cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó, hoàn thiện thể chế và cơ chế thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là khâu đột phá, có tác dụng trực tiếp tạo ra “hành lang pháp lý” đủ mạnh để khuyến khích đổi mới sáng tạo và ngăn chặn kịp thời những biểu hiện tiêu cực, thất thoát, tham nhũng, sử dụng sai mục đích các nguồn lực công. Do đó, cần thường xuyên rà soát, kịp thời sửa đổi, bổ sung và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật về quản lý tài chính công, ngân sách nhà nước, tài sản công, đầu tư công, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Các quy định cần cụ thể hóa tiêu chuẩn, định mức, quy trình, cơ chế giám sát; xóa bỏ các “vùng trống” và “kẽ hở” dễ bị lợi dụng. Cơ chế kiểm tra, giám sát phải xuyên suốt từ khâu lập kế hoạch, phân bổ, triển khai đến quyết toán, bảo đảm mọi hoạt động minh bạch, có thể truy vết và giải trình trước nhân dân. Song song với hoàn thiện pháp luật, cần thúc đẩy áp dụng các mô hình quản trị tiên tiến và giải pháp công nghệ số để tối ưu hóa quy trình, giảm chi phí trung gian, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Việc tích hợp công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào quản lý tài chính công, đầu tư công và quản trị tài sản công không chỉ giúp kiểm soát chặt chẽ hơn, mà còn tạo điều kiện khai thác tối đa mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước, tạo động lực cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Hai là , đẩy mạnh thực hành tiết kiệm trong quản lý, phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước, nguồn vốn đầu tư công bảo đảm hiệu quả, công khai, minh bạch. Thủ tướng kiểm tra dự án giao thông trọng điểm tại Lạng Sơn và Cao Bằng, căn dặn công nhân lao động an toàn, tiết kiệm_Ảnh: TTXVN Ngân sách nhà nước và nguồn vốn đầu tư công là “mạch máu” của nền kinh tế, giữ vai trò quyết định trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển kết cấu hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng, cũng như củng cố niềm tin của nhân dân đối với bộ máy quản lý nhà nước. Chính vì vậy, cần đổi mới mạnh mẽ công tác lập dự toán ngân sách và kế hoạch đầu tư công theo hướng khoa học, sát thực tiễn, gắn chặt với các mục tiêu phát triển từng giai đoạn. Mọi khoản chi ngân sách phải dựa trên tiêu chí rõ ràng về hiệu quả đầu ra, mức độ cấp thiết và khả năng huy động nguồn lực xã hội. Đồng thời, phải tập trung tối đa nguồn lực cho các lĩnh vực có khả năng tạo ra tác động lan tỏa lớn như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục - đào tạo, y tế và an sinh xã hội. Quá trình tổ chức quản lý, phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước, nguồn vốn đầu tư công cần bảo đảm tính công khai, minh bạch trên các nền tảng số, cơ sở dữ liệu mở với toàn bộ quy trình, từ lập kế hoạch, phân bổ đến triển khai và quyết toán để người dân, báo chí, tổ chức xã hội và cơ quan giám sát có thể theo dõi, đánh giá độc lập. Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị cần gương mẫu sử dụng tiết kiệm điện, nước, văn phòng phẩm, phương tiện, thiết bị; kéo dài tuổi thọ tài sản; tái sử dụng hoặc luân chuyển hợp lý để giảm chi phí ngân sách. Việc mua sắm, bảo dưỡng và thanh lý tài sản công phải tuân thủ pháp luật, kết hợp ứng dụng công nghệ số để quản lý và theo dõi hiệu quả. Đặc biệt, cần duy trì cơ chế kiểm toán, thanh tra độc lập thường xuyên và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, cũng như nhân rộng các mô hình, sáng kiến tiết kiệm hiệu quả. Ba là , tăng cường thực hành tiết kiệm trong quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. Tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với an ninh kinh tế, an ninh năng lượng và định hướng phát triển bền vững đất nước. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, tốc độ cạn kiệt tài nguyên diễn ra nhanh chóng và áp lực từ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa gia tăng, việc thực hành tiết kiệm trong quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực tài nguyên thiên nhiên không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mà còn là vấn đề sống còn liên quan đến an ninh quốc gia và trách nhiệm với các thế hệ mai sau. Mỗi chính sách tiết kiệm, mỗi hành động quản lý hiệu quả tài nguyên thiên nhiên đều góp phần tăng cường khả năng tự chủ về nguồn lực. Từ đó, tạo lợi thế cho đất nước trong tiến trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững, đưa Việt Nam vững bước tiến lên trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu. Để tăng cường thực hành tiết kiệm trong quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, cần siết chặt kỷ cương trong quy hoạch, quản lý khai thác bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật, hạn chế tối đa thất thoát, lãng phí. Đối với tài nguyên không tái tạo như khoáng sản, dầu khí, việc khai thác phải gắn với ứng dụng công nghệ tiên tiến để tối ưu hóa hiệu suất thu hồi, giảm thiểu tổn thất và tác động tiêu cực đến môi trường. Nguồn thu từ khai thác tài nguyên cần được phân bổ hợp lý cho các mục tiêu dài hạn. Trong đó, ưu tiên đầu tư vào khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, hạ tầng xanh và chuyển dịch năng lượng. Đồng thời, cần quan tâm đẩy mạnh các biện pháp cụ thể nhằm duy trì khả năng tự tái tạo của thiên nhiên, bảo đảm cân bằng sinh thái và nâng cao chất lượng sống của nhân dân, như: trồng, phục hồi và quản lý rừng bền vững; bảo vệ đa dạng sinh học; kiểm soát chặt chẽ nguồn gây ô nhiễm không khí, nước và đất; phát triển hệ thống quan trắc môi trường hiện đại để cảnh báo sớm nguy cơ suy thoái các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên. Có thể thấy, thực hành tiết kiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là yêu cầu về mặt kinh tế, mà còn bao hàm các giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ quản lý ngân sách, đầu tư công, khai thác tài nguyên đến nếp sống. Trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện, cần thực hiện đồng bộ việc hoàn thiện thể chế, đổi mới quản trị, công khai minh bạch, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại và phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên để tạo thành phong trào và phương châm hành động rộng khắp, bảo đảm cho đất nước có đủ năng lực vượt qua thách thức, tận dụng thời cơ, hiện thực hóa khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc./. ------------------- (1), (21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 12, tr. 658, 467 (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (13), (16), (18), (20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 352, 352, 352, 352, 354, 355, 352, 352-353, 353, 353, 354 (9), (10), (11), (14), (19) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t. 6, tr. 122, 123, 123, 123, 16 (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 70 (15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 122
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-ao-uc-phong-cach-ho-chi-minh1/-/2018/1197703/sac-lenh-so-65-sl--thong-diep-thoi-dai-tu-mot-van-kien-van-hoa---phap-ly.aspx
Sắc lệnh số 65/SL: Thông điệp thời đại từ một văn kiện văn hóa - pháp lý
22-11-2025
Hình thành khung tư tưởng - pháp lý cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa
Hình thành khung tư tưởng - pháp lý cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa Mùa thu năm 1945, Việt Nam vừa giành lại độc lập sau gần một thế kỷ bị đô hộ. Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời giữa muôn vàn khó khăn: thù trong giặc ngoài, nạn đói và nạn dốt hoành hành, nền kinh tế kiệt quệ. Giữa hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, nhiều di tích lịch sử, đình chùa, thành quách, lăng tẩm bị tàn phá hoặc có nguy cơ bị mai một theo thời gian. Với tầm nhìn chiến lược và ý thức sâu sắc về vai trò của văn hóa trong công cuộc dựng nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời dành sự quan tâm đặc biệt cho việc bảo tồn di sản dân tộc. Với Sắc lệnh số 65/SL, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt viên gạch đầu tiên cho công tác bảo tồn di sản Việt Nam - một tầm nhìn vượt thời gian, hướng về tương lai của dân tộc. Có thể nói, Sắc lệnh số 65/SL là một quyết định thể hiện bản lĩnh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ nhưng đã biết trân trọng và bảo vệ “hồn cốt” của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học của công nhân Nhà máy 1-5 (Hà Nội), lá cờ đầu của phong trào bổ túc văn hóa ngành công nghiệp, ngày 19-12-1963_Ảnh tư liệu Sắc lệnh số 65/SL là một văn bản có cấu trúc chặt chẽ, phản ánh đầy đủ những nội dung cốt lõi của công tác bảo tồn di sản văn hóa. Từng điều khoản ngắn gọn cho thấy một hệ thống tư duy thống nhất: từ nhận thức về tầm quan trọng của di sản đến tổ chức bộ máy, thiết lập cơ sở pháp lý, bảo đảm nguồn lực và trách nhiệm thực thi. Ngay ở phần mở đầu, Sắc lệnh xác định rõ vị trí và ý nghĩa của công tác bảo tồn trong công cuộc kiến thiết quốc gia: “Xét rằng việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần trong công cuộc kiến thiết nước Việt Nam” (1) . Ở đây, “cổ tích” không mang nghĩa là một thể loại văn học dân gian, mà được hiểu theo phạm vi pháp lý đương thời là toàn bộ các di sản vật chất có giá trị lịch sử, tôn giáo, mỹ thuật và khảo cổ - tức là những dấu tích vật chất của nền văn hóa dân tộc cần được gìn giữ. Cụm từ “rất cần” thể hiện mức độ cấp thiết của việc bảo vệ tài sản do các thế hệ đi trước để lại. Trong bối cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời, việc đặt “bảo tồn cổ tích” song hành cùng các nhiệm vụ phục hưng đất nước cho thấy tầm nhìn chiến lược của Chính phủ lâm thời: coi di sản không chỉ là quá khứ, mà là nền tảng tinh thần của tương lai. Đây cũng là biểu hiện sớm của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa: văn hóa là hồn cốt dân tộc, là sức mạnh nội sinh của độc lập. Từ nhận thức đó, Sắc lệnh chuyển sang xác lập thiết chế chịu trách nhiệm thực thi. Điều 1 của Sắc lệnh quy định: “Đông phương Bác cổ học viện (Vietnam Oriental Institute) có nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam”. Điều 2 nhấn mạnh: “Đông phương Bác cổ học viện từ nay sẽ thay thế Pháp quốc Viễn đông Bác cổ học viện (Ecole Francaise d’ Extrême-Orient)” (2) . Hai điều khoản này không chỉ là quy định hành chính, mà còn là tuyên bố chủ quyền văn hóa đầu tiên của nhà nước cách mạng. Quyền nghiên cứu, bảo tồn và quản lý di sản chính thức trở lại trong tay người Việt Nam, thay cho cơ quan do thực dân Pháp lập ra trước đó. Như vậy, Sắc lệnh không chỉ đặt nền tảng pháp lý cho công tác bảo tồn, mà còn khẳng định chủ quyền dân tộc trong lĩnh vực tinh thần - văn hóa, mở đầu cho kỷ nguyên người Việt Nam làm chủ di sản của chính mình. Sau khi khẳng định chủ quyền, Sắc lệnh thể hiện rõ thái độ lập pháp chín chắn và thực tiễn khi không phủ nhận hoàn toàn nền pháp lý cũ. Điều 3 quy định: “Những luật lệ về việc bảo tồn cổ tích vẫn để nguyên như cũ” (3) . Đây là cách xử lý mềm dẻo, cho thấy tư duy kế thừa có chọn lọc của Chính phủ lâm thời. Trong khi xóa bỏ những yếu tố nô dịch của chế độ thực dân, Nhà nước vẫn giữ lại những quy phạm có giá trị khách quan để duy trì sự ổn định pháp lý. Cách làm này thể hiện một trình độ quản trị hiện đại, kế thừa để phát triển, chứ không đoạn tuyệt cực đoan với quá khứ. Sau bước khẳng định về thể chế và pháp lý, Sắc lệnh đi vào nội dung cốt lõi nhất: quy định bảo vệ di sản khỏi sự xâm hại và phá hủy. Điều 4 nêu rõ: “Cấm phá hủy những đình, chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác, những cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn. Cấm phá huỷ những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử chưa được bảo tồn” (4) . Nếu các điều trước mang tính tổ chức và quản lý, điều khoản 4 này mang giá trị tuyên ngôn. Ở đây, mệnh lệnh “cấm phá huỷ” không chỉ là yêu cầu hành chính mà còn là một chuẩn mực đạo đức, văn hóa. Với cách nhìn của một dân tộc vừa giành lại chủ quyền, bảo vệ di sản cũng chính là bảo vệ cốt cách của dân tộc, chống lại sự đứt gãy của lịch sử. Chính từ tinh thần ấy, có thể coi Điều 4 là tuyên ngôn đầu tiên về “quyền sống” của di sản văn hóa Việt Nam. Hội thảo khoa học quốc tế “Phát triển kinh tế di sản – Kinh nghiệm của Việt Nam và Lào” tại tỉnh Ninh Bình_Ảnh: vass.gov.vn Trên nền tảng nhận thức và quy phạm đó, Sắc lệnh tiếp tục đặt ra cơ chế để bảo đảm thực thi. Điều 5 quy định: “Chính phủ vẫn công nhận nguyên tắc những khoản trợ cấp hàng năm của toàn quốc, của mỗi kỳ, mỗi tỉnh cho Đông phương Bác cổ học viện” (5) . Trong điều kiện kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh, việc cam kết ngân sách cho công tác bảo tồn di sản thể hiện một bước tiến tư duy đáng kể: bảo tồn không chỉ là khẩu hiệu tinh thần, mà phải được bảo đảm bằng nguồn lực vật chất và cơ chế tài chính cụ thể. Điều này cho thấy tầm nhìn quản trị dài hạn của Nhà nước mới, đặt nền móng cho nguyên tắc đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển. Kết cấu của Sắc lệnh khép lại bằng một điều khoản thể hiện rõ tinh thần cộng đồng trách nhiệm của các bộ, ngành đối với công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Điều 6 viết: “Các ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ quốc gia giáo dục chiếu Sắc lệnh này thi hành” (6) . Sự phân công này phản ánh tư duy quản lý liên ngành ngay từ thời điểm sơ khai của Nhà nước Việt Nam mới: bảo tồn di sản không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành văn hóa, mà còn liên quan tới giáo dục, tài chính, an ninh, pháp luật và hành chính nhà nước. Từ đó, bảo tồn được nhìn nhận như một chính sách công tổng hợp, có ý nghĩa quốc gia, gắn liền với an ninh văn hóa và chủ quyền tinh thần của dân tộc. Có thể khẳng định, với 6 điều ngắn gọn nhưng bao quát, Sắc lệnh số 65/SL đã hình thành một khung tư tưởng - pháp lý cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa. Văn bản này vừa là sản phẩm của trí tuệ lập quốc, vừa là tuyên ngôn về bản lĩnh văn hóa dân tộc: giữa gian khổ của buổi đầu độc lập, dân tộc Việt Nam vẫn biết bắt đầu công cuộc kiến thiết từ việc giữ lấy hồn cốt của mình. Từ ý nghĩa tư tưởng, pháp lý đến giá trị thời đại Trước hết, về phương diện tư tưởng, Sắc lệnh số 65/SL thể hiện quan điểm có tính nền tảng: muốn xây dựng quốc gia vững mạnh, phải bắt đầu từ bản sắc văn hóa. Văn hóa không chỉ là phần trang sức tinh thần, mà là cội nguồn của độc lập dân tộc, là nền móng để một quốc gia tự khẳng định mình trong lịch sử. Khi khẳng định “việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần trong công cuộc kiến thiết nước Việt Nam”, Chính phủ lâm thời đã đặt văn hóa lên vị trí trung tâm của công cuộc phục hưng dân tộc. Bảo tồn di sản, vì thế, không phải là sự hoài niệm quá khứ mà là giữ cho dân tộc có gốc rễ, có linh hồn và có sức đề kháng trước mọi biến động của thời đại. Trong hoàn cảnh hậu thuộc địa, khi đất nước vừa thoát khỏi ách nô lệ về chính trị, tư tưởng đó càng trở nên sâu sắc: một dân tộc chỉ thật sự tự do khi giành được cả tự do về văn hóa. Đó là tư tưởng khai phóng, hiện đại và tiến bộ, vượt xa giới hạn của thời điểm năm 1945. Tiếp theo, về phương diện pháp lý, Sắc lệnh số 65/SL là văn bản pháp quy đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về bảo tồn di sản văn hóa, mở đầu cho toàn bộ hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này. Từ Sắc lệnh ấy, dòng chảy pháp lý về di sản được hình thành và không ngừng hoàn thiện qua các nghị định, thông tư của Chính phủ, để rồi kết tinh thành Luật Di sản Văn hóa năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2009, Luật Di sản văn hóa năm 2024. Có thể nói, Sắc lệnh số 65/SL là “hạt giống đầu tiên” của nền lập pháp văn hóa Việt Nam, đặt cơ sở cho nguyên tắc quản lý, bảo vệ di sản bằng pháp luật - một tư duy pháp trị tiến bộ, thể hiện rõ bản chất của Nhà nước pháp quyền cách mạng từ buổi đầu lập quốc. Không chỉ dừng lại ở giá trị tư tưởng và pháp lý, Sắc lệnh số 65/SL còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Với quy định “cấm phá hủy đình, chùa, đền, miếu, cung điện, lăng tẩm...”, văn bản này không chỉ điều chỉnh hành vi, mà còn tác động đến nhận thức cộng đồng, gieo vào lòng người dân ý thức rằng gìn giữ di sản là nghĩa vụ công dân và là hành động yêu nước cụ thể. Từ đó, nhiều phong trào bảo vệ, trùng tu di tích, bảo quản cổ vật được khởi xướng, lan tỏa trong nhân dân và được duy trì cho đến hôm nay. Như vậy, Sắc lệnh không chỉ là một mệnh lệnh hành chính của Nhà nước, mà còn là một lời hiệu triệu toàn xã hội, biến việc bảo tồn thành phong trào của toàn dân. Ở bình diện rộng hơn, Sắc lệnh số 65/SL còn thể hiện tầm nhìn phát triển vượt thời đại. Tám mươi năm trước, khái niệm “kinh tế di sản”, “du lịch văn hóa” hay “sáng tạo từ truyền thống” chưa hình thành, nhưng tinh thần của các khái niệm ấy đã được manh nha trong Sắc lệnh này. Bằng việc xem di sản là một phần trong “công cuộc kiến thiết nước Việt Nam”, Chính phủ lâm thời khẳng định di sản là nguồn lực tinh thần, vật chất cho sự phát triển đất nước. Tư duy này đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong chiến lược phát triển bền vững: lấy văn hóa làm nền tảng, lấy di sản làm động lực sáng tạo. Mộc bản có tuổi đời hơn 200 năm tại chùa Vĩnh Nghiêm, tỉnh Bắc Ninh_Ảnh: vov.vn Tám thập niên đã trôi qua kể từ ngày Sắc lệnh số 65/SL được ban hành, nhưng những giá trị của Sắc lệnh vẫn nguyên vẹn tính thời sự. Giữ gìn quá khứ là để kiến tạo tương lai; phát triển phải gắn liền với bản sắc; văn hóa không đứng sau chính trị hay kinh tế mà song hành cùng sự hưng thịnh của quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và đô thị hóa mạnh mẽ hiện nay, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ phai nhạt, Sắc lệnh số 65 như một lời nhắc nhở về căn tính dân tộc, về trách nhiệm gìn giữ ký ức trước làn sóng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nó khẳng định, hiện đại không có nghĩa là đánh mất gốc rễ; hội nhập không đồng nghĩa với hòa tan. Chính ở điểm đó, giá trị tư tưởng của Sắc lệnh số 65 vẫn mang tính định hướng cho các chính sách văn hóa đương đại. Sắc lệnh số 65/SL thực sự là văn kiện có giá trị đặc biệt trong lịch sử lập quốc - vừa đặt nền móng cho tư tưởng bảo tồn di sản, vừa mở đường cho hệ thống pháp luật văn hóa Việt Nam. Hơn cả một văn bản hành chính, đó là tuyên ngôn văn hóa chính trị của nhà nước non trẻ về bản lĩnh dân tộc và ý chí tự cường. Trong bối cảnh hiện nay, khi di sản đang trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển bền vững, Sắc lệnh số 65/SL càng cho thấy tính tiên phong và giá trị trường tồn của nó. Việc hoàn thiện khung khổ pháp lý về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa là nhiệm vụ tất yếu để tiếp nối tinh thần đó, biến di sản thành “sức mạnh mềm” của quốc gia trong thời kỳ hội nhập. Với giá trị đặc biệt về tư tưởng, lịch sử và pháp lý, Sắc lệnh số 65/SL cùng các sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được công nhận là Bảo vật quốc gia (7) - một minh chứng sống động cho tầm vóc và sức lan tỏa của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh trong hành trình dựng nước và giữ nước./. ---------------------------- (1), (2), (3), (4), (5), (6) Xem: Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 65 ngày 23 tháng 11 năm 1945, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Sac-lenh-65-an-dinh-nhiem-vu-Dong-duong-bac-co-hoc-vien-35914.aspx (7) Ngày 22-12-2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2469/QĐ-TTg công nhận Tập Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1945 - 1946 (trong đó có Sắc lệnh số 65) là Bảo vật quốc gia
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/an-ninh2/-/2018/495379/xay-dung-phong-cach-cua-can-bo-lanh-dao-trong-cong-an-nhan-dan-hien-nay-theo-tu-tuong-ho-chi-minh.aspx
Xây dựng phong cách của cán bộ lãnh đạo trong Công an nhân dân hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
18-07-2019
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách người cán bộ lãnh đạo
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đơn vị Công an nhân dân vũ trang bảo vệ Thủ đô, ngày 14-2-1961_Nguồn: TTXVN Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách người cán bộ lãnh đạo Phong cách lãnh đạo là tổng hợp những phương pháp, biện pháp, cách thức riêng, tiêu biểu mà người lãnh đạo sử dụng để thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao. Phong cách đó, một mặt , được quy định bởi chức năng, nhiệm vụ, phẩm chất, tri thức, điều kiện chính trị và điều kiện sống của người lãnh đạo; mặt khác , được hình thành, rèn luyện và hoàn thiện trong hoạt động thực tiễn. Do vậy, mỗi nhà lãnh đạo cũng có những phong cách khác nhau với những nét độc đáo, riêng biệt. Trong quá trình lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng nguyên tắc dân chủ, quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “cách làm việc dân chủ” là yêu cầu hàng đầu mà người cán bộ, nhất là người đứng đầu cần phải có. Quán triệt nguyên tắc dân chủ, quá trình lãnh đạo của người cán bộ, đảng viên sẽ phát huy được tính sáng tạo, tinh thần cống hiến của cấp dưới và quần chúng nhân dân; hơn thế, còn làm cho tổ chức cơ quan, đoàn thể thêm gắn bó. Gắn bó với quần chúng, phát huy vai trò của nhân dân và hướng tới vì người dân, nguyên tắc làm việc dân chủ, quần chúng phải được thể hiện trong nội dung và phong cách lãnh đạo thực tế của Đảng, của từng cán bộ, đảng viên với nhân dân, chứ không chỉ trong lời nói, bởi: “Dân chúng đồng lòng việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(1). Do vậy, trong công tác lãnh đạo, quản lý cần thực hiện nhất quán các nguyên tắc: Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân, tin vào nhân dân. Đưa mọi vấn đề cho nhân dân thảo luận và dựa vào ý kiến của nhân dân để tìm cách giải quyết, sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta(2). Trong lãnh đạo điều hành, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên hướng về cơ sở, gần gũi với quần chúng, nắm tâm tư, nguyện vọng của quần chúng; đồng thời, phải tin yêu, tôn trọng quần chúng, “học hỏi quần chúng”. Người cũng nhiều lần nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên phải phê phán và đấu tranh để khắc phục cách làm việc quan liêu, mệnh lệnh, mà “tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”(3). Đồng thời, Người luôn yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải “từ nơi quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”, phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng, sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình. Người phê bình cán bộ lãnh đạo thiếu quan điểm và tác phong quần chúng: “Là người cán bộ phụ trách nhưng xa rời thực tế, xa rời quần chúng. Đối với công việc thì không điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng. Chỉ đạo thì đại khái, chung chung. Không lắng nghe ý kiến của quần chúng, tác phong không dân chủ. Sợ phê bình và tự phê bình. Không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách”(4). Đối với lực lượng CAND, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt và trong các bài nói, bài viết của mình, rất nhiều lần Người bàn về phong cách lãnh đạo của người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy dựa trên nguyên tắc dân chủ, quần chúng. Trong thư gửi Hội nghị Công an toàn quốc (tháng 1-1950), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: đối với CAND “Lề lối làm việc phải dân chủ. Cấp trên phải thường kiểm tra cấp dưới. Cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và sáng kiến, giúp nhau tiến bộ. Tự phê bình và phê bình nhau theo tinh thần thân ái và lập trường cách mệnh”(5). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong cách người lãnh đạo, chỉ huy trong CAND phải đề cao dân chủ rộng rãi và chỉ như vậy mới thu hút được mọi người tham gia đóng góp ý kiến, thông qua đó mới xây dựng được một tập thể đoàn kết, gắn bó và phát huy được trí tuệ, kinh nghiệm của tập thể. Nhưng Người cũng chỉ rõ, dân chủ phải là dân chủ thực sự, chứ không phải dân chủ hình thức. Muốn có dân chủ thực sự, phải có phê bình và tự phê bình. Nói chuyện tại Trường Trung cấp Công an khóa 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về thực hành dân chủ, phê bình và tự phê bình trong nội bộ công an: “Trong nội bộ phải thực hành dân chủ, phải luôn luôn tự kiểm thảo để đi đến đoàn kết. Phê bình và tự phê bình phải từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Phê bình trên công tác cách mạng, phê bình để tiến bộ, không phải để soi mói”(6). Trong phong cách làm việc dân chủ của người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong CAND, Người cũng chỉ ra rằng, dân chủ phải đi liền với tập trung, tập trung phải trên nền tảng dân chủ. Tập trung và dân chủ được biểu hiện bởi nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: “Không nên hiểu lầm dân chủ. Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi. Nhưng khi đã quyết định rồi thì không được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ là để bàn cách thi hành cho được, cho nhanh, không phải để đề nghị không thực hiện”(7). Mặt khác, dân chủ phải chú ý kỷ luật; thưởng, phạt nghiêm minh. Người nhấn mạnh, trong lãnh đạo, chỉ huy trong lực lượng CAND thì “đối với những người có thành tích, phải khen thưởng; đối với những người mắc sai lầm thì phải phê bình, kiểm thảo giúp họ sửa chữa. Khi cần thiết thì phải thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng mức”, thậm chí “đối với những người không sửa được thì phải tẩy trừ ra khỏi ngành kẻo để lại thì con sâu làm rầu nồi canh”(8). Không chỉ “dân chủ” trong phong cách làm việc, lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn luôn luôn nhắc nhở mỗi cán bộ, chiến sĩ nói chung và người lãnh đạo, chỉ huy CAND nói riêng phải thật gần gũi nhân dân, dựa vào lực lượng rộng lớn của nhân dân để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, không có nhân dân thì công an có đông đến mấy cũng là không đủ. Quần chúng có tin và đi theo Đảng, Nhà nước hay không; Đảng và Nhà nước có hiểu dân hay không, có phát huy được sức mạnh của quần chúng hay không, phụ thuộc rất nhiều vào phong cách lãnh đạo và năng lực của người cán bộ cách mạng. Bởi theo Người, “Lãnh đạo tốt nghĩa là thực hiện đầy đủ những nghị quyết của Đảng, biến quyết tâm của Đảng thành quyết tâm của nhân dân. Phải đi đúng đường lối quần chúng”(9). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy CAND muốn có phong cách làm việc quần chúng cần thể hiện tốt qua các hành động cụ thể sau: Dựa vào quần chúng để lãnh đạo, quản lý, nhằm phục vụ lợi ích của quần chúng. Đây là đặc trưng cơ bản, thể hiện bản chất của phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh, chỉ có dựa vào lực lượng đông đảo và mạnh mẽ của quần chúng thì cách mạng mới thắng lợi được. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, công an không thể tách rời nhân dân, nhiệm vụ của công an chỉ khi có sự giúp sức của nhân dân mới có thể giành được thắng lợi. Người chỉ rõ: “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”(10). Cặn kẽ hơn, Người giải thích 5 vạn công an thì chỉ có 5 vạn cặp mắt, 5 vạn đôi bàn tay; công an làm sao phải có hàng chục triệu đôi bàn tay, hàng chục triệu cặp mắt và đôi tai mới được; muốn như vậy phải dựa vào dân, không được xa rời dân. Quan điểm dựa vào dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng lý luận có tính định hướng cho lực lượng CAND trong xây dựng thế trận an ninh nhân dân sau này: “Vấn đề dựa vào dân, công an phải có thiên la địa võng như trong chiến tranh du kích có thiên la địa võng về quân sự” bởi vì “hàng triệu lỗ tai, con mắt của nhân dân chăng thành những bức “thiên la địa võng” nên lũ mật thám không sao thoát được”(11). Đoàn kết với nhân dân, làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có thể nói, đây là điểm cốt lõi trong phong cách lãnh đạo, chỉ huy của người cán bộ CAND. Để dựa vào dân, người cán bộ công an cần phải đoàn kết với nhân dân. Muốn vậy, lực lượng CAND phải biết đoàn kết nội bộ, sau đó đoàn kết với nhân dân và đoàn kết với các ngành khác. Hơn thế nữa, Người dạy: “Làm công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì công an mới hoàn thành được tốt nhiệm vụ của mình”(12). Muốn “dân tin, dân yêu, dân ủng hộ” người cán bộ công an phải biết lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, sâu sát với quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ta quan tâm đời sống quần chúng thì quần chúng sẽ theo ta. Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác”; muốn như vậy, người cán bộ lãnh đạo công an phải biết đi “đường lối quần chúng”, nói cách khác là “phải đi sâu, đi sát đến cơ sở, phải thật sự quan tâm đến đời sống của nhân dân... Phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân”(13). Ngược lại, công an không đi theo “đường lối quần chúng” là “không gần nhân dân, là thiếu dân chủ, là trở thành quan liêu”(14). Xây dựng phong cách người cán bộ lãnh đạo trong CAND Từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng, có thể thấy nguyên tắc dân chủ, quần chúng là nét chủ đạo trong phong cách lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong CAND, nguyên tắc này cũng là cốt yếu quan trọng cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Hiện nay, quá trình phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng của nước ta tiếp tục đặt ra những yêu cầu mới cho công cuộc bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, Đảng, Nhà nước và ngành công an đã nhận thức rõ ý nghĩa đặc biệt quan trọng của việc học tập, rèn luyện, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với lực lượng CAND. Để vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng phong cách lãnh đạo, chỉ huy của người cán bộ CAND, trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau: Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa việc học tập phong cách làm việc của người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy CAND theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong toàn ngành công an. Hiện nay, lực lượng CAND đang đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ” và thực hiện Chỉ thị số 07/CT-BCA-X11, ngày 26-10-2016, của Bộ trưởng Bộ Công an “Về tăng cường lãnh đạo nâng cao văn hóa ứng xử CAND trong tình hình mới” gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ; Đảng ủy Công an Trung ương và cấp ủy công an các cấp cần nhận thức rõ việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc của người cán bộ CAND, đặc biệt là người cán bộ lãnh đạo, quản lý là yêu cầu cấp bách, trọng tâm trong xây dựng đội ngũ cán bộ CAND đủ đức, đủ tài, đáp ứng tốt yêu cầu của tình hình mới đặt ra; từ đó thường xuyên quan tâm đến xây dựng phong cách người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong CAND. Hai là , mỗi cán bộ, đảng viên CAND cần thường xuyên trau dồi, tự giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, tích cực học tập, nâng cao trình độ hiểu biết và năng lực công tác, chiến đấu. Đây là tiêu chuẩn không thể thiếu trong đánh giá phẩm chất, năng lực cán bộ. Đồng thời, người cán bộ, đảng viên CAND phải đặt sự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của mình dưới sự kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân, xây dựng hình ảnh đẹp của người CAND trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế; quan tâm chăm lo, chú trọng công tác dân vận, luôn yêu dân, trọng dân, lắng nghe ý kiến góp ý của nhân dân và vì nhân dân phục vụ. Người lãnh đạo, chỉ huy CAND phải gương mẫu, đi đầu, lời nói đi đôi với việc làm và luôn là tấm gương sáng về đạo đức, phong cách làm việc, lối sống cho cán bộ, chiến sĩ, đảng viên học tập, noi theo; có biện pháp phòng ngừa, khắc phục sự xuống cấp về đạo đức, phong cách, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, tư tưởng trung bình chủ nghĩa, lợi ích nhóm, xa rời nhân dân, quan liêu và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cơ quan, đơn vị để cán bộ, chiến sĩ nâng cao hơn nữa năng lực công tác trong tình hình mới. Ba là , tăng cường công tác giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy CAND. Hoàn thiện xây dựng quy chuẩn, tiêu chí của người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cấp chiến lược trong công tác, chiến đấu. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước gắn với việc xây dựng phong cách làm việc của cán bộ, chiến sĩ CAND nói chung và người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy nói riêng. Đặc biệt, cần chú ý tập huấn, bồi dưỡng tác phong làm việc, kỹ năng lãnh đạo, chỉ huy, khả năng ứng xử, giao tiếp trong công việc, công tác dân vận, vận động nhân dân cho cán bộ CAND, nhất là cho bộ phận cán bộ thường xuyên tiếp xúc, làm việc với nhân dân. Bốn là , thường xuyên tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn ngành, các cuộc vận động, cuộc thi tìm hiểu, các phong trào thi đua về thực hiện phong cách người lãnh đạo, chỉ huy trong CAND theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần quán triệt sâu sắc và triển khai nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Công an, trong đó trọng tâm là Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” , cuộc vận động “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ” . Thúc đẩy hơn nữa các phong trào thi đua trong mỗi đơn vị, kịp thời biểu dương và có hình thức khen thưởng đối với các tấm gương tiêu biểu, xuất sắc vì nhân dân phục vụ. Năm là , thường xuyên tiến hành kiểm tra, đánh giá, tổng kết việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách của người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong CAND. Theo đó, mỗi đơn vị cấp cơ sở cần có sự tổng kết, rút kinh nghiệm định kỳ làm căn cứ cho việc đánh giá, xếp loại. Khen thưởng, biểu dương những tấm gương điển hình xuất sắc gắn với việc phê bình, xử lý những cá nhân làm chưa tốt. Đánh giá, khen thưởng, kỷ luật công tâm để đưa việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong CAND hiện nay đi vào thực chất hơn và trở thành công việc được tiến hành thường xuyên, liên tục. Trước yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, để giữ vững niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, lực lượng CAND, đặc biệt là người lãnh đạo, chỉ huy trong CAND có vai trò đặc biệt quan trọng. Người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy CAND phải không ngừng tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, vì nhân dân phục vụ, thấm nhuần và tiếp tục thực hiện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xứng đáng với vai trò, chức trách được giao, đóng góp công sức, trí tuệ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./. -------------------------------------- (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 501 - 502 (2) Nguyễn Trọng Phúc: “Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về nội dung và phương pháp lãnh đạo của Đảng”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam , ngày 8-10-2015 (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 5, tr. 126 (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 14, tr. 141 (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 6, tr. 312 (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 7, tr. 270 (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 6, tr. 457 - 458 (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , , t. 15, tr. 170; t. 7, tr. 270 (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 11, tr. 30 (10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd , t. 7, tr. 270 (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd , t. 15, tr. 141; t. 7, tr. 53 (12) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd , t. 12, tr. 223 (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 142; 182 - 183 (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t.11, tr. 249
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-ao-uc-phong-cach-ho-chi-minh1/-/2018/1185603/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-phat-trien-doi-ngu-nha-giao-va-su-van-dung-cua-dang-trong-giai-doan-hien-nay.aspx
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đội ngũ nhà giáo và sự vận dụng của Đảng trong giai đoạn hiện nay
10-12-2025
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đội ngũ nhà giáo
Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu tham quan phòng thực hành giáo dục STEM tại Trường Trung học cơ sở Cầu Giấy, thành phố Hà Nội_Ảnh: Tư liệu Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đội ngũ nhà giáo Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò then chốt của đội ngũ nhà giáo trong sự nghiệp giáo dục cách mạng. Người khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục... không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hoá” (2) và “nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng Chủ nghĩa xã hội được” (3) . Nghĩa là không có nhà giáo thì không có giáo dục và không có giáo dục thì không có bất kỳ sự nghiệp cách mạng vẻ vang nào được thực hiện. Đó là sự khẳng định vai trò quyết định của nhà giáo đối với sự nghiệp giáo dục và vận mệnh của dân tộc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy giáo tốt, xứng đáng là người thầy vẻ vang nhất, dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương. Song những người thầy giáo tốt là những người anh hùng thầm lặng, luôn âm thầm cống hiến cho đất nước, cho xã hội. Mặc dù “Không có tượng đồng bia đá, không có gì là oanh liệt” (4) nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhà giáo được đóng góp cho sự nghiệp “trồng người” cũng là một vinh dự và trách nhiệm “vẻ vang nhất” của người chiến sĩ cách mạng: “Nhiệm vụ của các cô giáo, thầy giáo rất nặng nề nhưng rất vẻ vang” (5) . Chính từ vị trí, vai trò và nhiệm vụ quan trọng của đội ngũ nhà giáo trong sự nghiệp giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo. Thứ nhất , Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu xây dựng đội ngũ nhà giáo có phẩm chất đạo đức. Người căn dặn: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức… Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con” (6) , “Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô, các chú phải là người tốt” (7) . Thứ hai, bên cạnh việc trau dồi phẩm chất đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn yêu cầu nhà giáo phải hoàn thiện tài năng, không ngừng trau dồi, học tập và không ngừng nâng cao kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy của mình. Người luôn khẳng định, đức và tài là một thể thống nhất, tương hỗ nhau, trong đó đức là nền tảng của tài, đức giúp định hướng cho tài năng phát triển và phát triển đúng hướng . Mặt khác, Người cũng nhấn mạnh, nếu một người chỉ “có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người”. “Có tài mà không có đức là hỏng. Có đức mà chỉ i, tờ thì dạy thế nào?” (8) Thứ ba, để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu nhà giáo trước khi tham gia vào quá trình giáo dục phải cải tạo tư tưởng của bản thân mình, bởi thời điểm đó, nước ta mới giành được độc lập, vừa bước ra từ nền giáo dục dưới chế độ phong kiến và gần trăm năm bị thực dân Pháp đô hộ. Dưới chế độ giáo dục như vậy, nhà giáo chỉ là những thầy đồ gõ đầu trẻ “kiếm cơm”. Người đến trường được đào tạo nên những kẻ làm tay sai, làm tôi tớ cho một bọn thực dân người Pháp. Trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh niên Việt Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ, mà trái lại càng làm cho họ đần độn thêm, theo chiều hướng ngu dân. Điều này trái ngược hẳn với mục đích của giáo dục theo đúng nghĩa của nó. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, nhà giáo trong chế độ xã hội mới thì tư tưởng cũng phải mới, “phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại… Và cần xây dựng tư tưởng: Dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân” (9) . Muốn làm được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn cho đội ngũ giáo viên: “… phải nắm lấy vũ khí của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mà ở trong xã hội cũ không thể có được, đó là thật thà tự phê bình và phê bình” (10) . Thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin sẽ định hướng xây dựng và phát triển nền giáo dục Việt Nam theo phương châm khoa học - dân tộc - đại chúng. Từ góc nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng đội ngũ giáo viên phải gắn liền với mục tiêu cách mạng và văn hóa dân tộc. Giáo viên không chỉ dạy chữ mà còn “bồi dưỡng thế hệ công dân, cán bộ sau này” (11) . Người khẳng định: “Các cô, các chú có nhiệm vụ rất quan trọng: Bồi dưỡng thế hệ công dân, cán bộ sau này. Làm tốt thì thế hệ sau này có ảnh hưởng tốt. Làm không tốt sẽ có ảnh hưởng không tốt đến thế hệ sau”. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải coi trọng việc phát triển toàn diện về chính trị, chuyên môn và đạo đức của người thầy, nhằm tạo nên một lực lượng giáo viên vững mạnh, có “trí tuệ và tài năng”, xứng đáng với vai trò kiến tạo tương lai đất nước. Xây dựng đội ngũ nhà giáo trong các giai đoạn cách mạng Đảng ta đã vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng đội ngũ giáo viên qua nhiều giai đoạn với những dấu mốc quan trọng: các cuộc cải cách giáo dục lớn vào các năm 1950, 1956, 1979 và những đổi mới căn bản, toàn diện kể từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986). Mỗi giai đoạn đều hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, góp phần hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Với tư duy đổi mới sáng tạo, ngay từ Nghị quyết số 142-NQ/TW, ngày 28-6-1966, của Đảng Lao động Việt Nam, “Về đào tạo và bồi dưỡng cán bộ khoa học, kỹ thuật và cán bộ quản lý kinh tế” đã nêu rõ giải pháp: Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy và cải tiến chương trình, nội dung giảng dạy vì đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ; cải tiến phương pháp đào tạo cán bộ, gắn liền học tập với lao động, sản xuất. Trên tinh thần đó, các văn kiện tiếp theo của Đảng đều nhấn mạnh tính cấp thiết của nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhà giáo, đặc biệt là Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” đã khẳng định, các thầy, cô giáo là những chủ thể đóng vai trò quyết định chất lượng giáo dục. Vì vậy, nội dung về phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của Nghị quyết số 29-NQ/TW. Đây chính là sự cụ thể hóa tư tưởng lúc sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng một đội ngũ đông đảo nhà giáo có phẩm chất đạo đức, thực sự yêu nghề, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục, không ngừng nâng cao trình độ, năng lực, là tấm gương sáng cho người học noi theo. Với một tầm nhìn chiến lược, trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22-8-2025, của Bộ Chính trị, về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo ra đời, là một trong những nghị quyết chiến lược, định hướng cuộc cách mạng toàn diện trong công tác giáo dục, trong đó có đổi mới mạnh mẽ về thể chế với chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội cho đội ngũ nhà giáo. Đảng ta xác định, nhà giáo là động lực, quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo; coi trọng danh dự người thầy, tôn vinh người thầy trong xã hội. Thể chế hóa quan điểm của Đảng, hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật có nội dung quy định về quyền, nghĩa vụ của nhà giáo đã được ban hành (12) . Các văn bản này đóng vai trò quan trọng, vừa là cơ sở ghi nhận địa vị pháp lý của nhà giáo trong hoạt động “trồng người”, vừa là hành lang pháp lý để các chủ thể trong xã hội phát huy trách nhiệm thực hiện đúng, đủ chức năng cần thiết bảo đảm chất lượng giảng dạy, góp phần thúc đẩy công cuộc xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam. Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật cũng ghi nhận nhiều chính sách ưu đãi để chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhà giáo. Luật Giáo dục năm 2019 và các quy định liên quan cho phép giáo viên hưởng lương và phụ cấp từ ngân sách nhà nước, với hệ số lương và phụ cấp ưu đãi nghề (từ 30% đến 70% tùy khu vực khó khăn). Luật Nhà giáo năm 2025 quy định lương giáo viên được xếp cao nhất trong hệ thống khung lương viên chức; đồng thời mở rộng các chế độ phụ cấp đặc thù, như phụ cấp trách nhiệm, ưu đãi vùng khó khăn, thâm niên,… nhằm cải thiện thu nhập và ổn định đời sống giáo viên. Đặc biệt, chính sách hưu trí linh hoạt cho giáo viên mầm non (được nghỉ hưu trước tối đa 5 năm mà không bị trừ lương hưu) và chính sách khuyến khích nhân lực chất lượng cao (cho phép nhà giáo có học hàm, học vị cao làm việc lâu hơn tuổi nghỉ hưu) được luật hóa nhằm tạo cơ chế “đặc thù” để thu hút nhân tài cho ngành giáo dục. Trong thời gian qua, công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo đạt được nhiều thành tựu. Lực lượng giáo viên, giảng viên đã có chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đổi mới giáo dục. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ngày càng tăng, đạt trên 90% với tất cả các cấp học từ tiểu học đến trung học phổ thông. Nội dung chương trình bồi dưỡng nhà giáo được đổi mới, tập trung vào kiến thức và kỹ năng thực tế, đáp ứng yêu cầu của công tác giảng dạy hiện nay. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chú trọng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp “trồng người”. Chính sách thu hút sinh viên giỏi vào ngành sư phạm đã được triển khai hiệu quả, đúng quy định. Công tác quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục và điều chỉnh biên chế tạo điều kiện thuận lợi cho việc bố trí, sử dụng đội ngũ nhà giáo, góp phần giải quyết tình trạng thiếu giáo viên ở một số địa phương (12) , cơ bản đáp ứng nhu cầu, yêu cầu về đội ngũ nhà giáo của địa phương, vùng miền. Với sự đầu tư đúng mức về chế độ, chính sách, đội ngũ nhà giáo có điều kiện để phát triển chuyên môn, nâng cao chất lượng giảng dạy. Sự phát triển về quy mô và trình độ của đội ngũ giáo viên góp phần quan trọng giúp Việt Nam duy trì và nâng cao thành tựu phổ cập giáo dục, mở rộng cơ hội học tập, đồng thời khẳng định vị thế quốc gia có nền giáo dục phát triển trong khu vực Đông Nam Á. Học sinh Việt Nam liên tục đạt thành tích cao trong các kỳ thi Olympic quốc tế, điểm đánh giá PISA của Việt Nam thuộc nhóm đầu khu vực, phản ánh năng lực giảng dạy và sự tận tâm của nhà giáo trong công cuộc đổi mới phương pháp giáo dục. Nhiều mô hình dạy học mới, lấy người học làm trung tâm, đã được triển khai rộng rãi trong các trường học. Đội ngũ giáo viên trẻ, năng động, có trình độ công nghệ thông tin tốt đang từng bước đóng góp cho chuyển đổi số trong giáo dục - một xu hướng quan trọng hiện nay. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đội ngũ nhà giáo và thực hiễn công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo vẫn còn hạn chế nhất định. Đội ngũ nhà giáo vừa thiếu về số lượng, vừa mất cân đối giữa các môn học, giữa các vùng, miền. Tình trạng thiếu giáo viên chất lượng cao ở các môn học, nhất là môn đặc thù như tin học, ngoại ngữ, âm nhạc, mỹ thuật… vẫn phổ biến, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giảng dạy và phát triển năng lực toàn diện cho người học. Bên cạnh đó, vẫn còn có hiện tượng xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên trong cơ sở giáo dục; tham nhũng, tiêu cực trong giáo dục - đào tạo gây nhức nhối dư luận (bạo lực học đường, chạy điểm, chạy bằng cấp...). Một bộ phận giáo viên ít dành thời gian tự học, nghiên cứu khoa học, thiếu chuyên tâm đổi mới phương pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy. Công tác xây dựng, hoàn thiện và thực thi chính sách đối với đội ngũ nhà giáo, nhất là chính sách tiền lương, chưa thật sự đồng bộ và hiệu quả. Chương trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên còn thiếu tính chiến lược và chưa đồng bộ. Điều này dẫn đến tình trạng không ít nhà giáo chưa đáp ứng về kiến thức, kỹ năng sư phạm, trình độ ngoại ngữ dẫn đến tình trạng còn lúng túng trong tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho người học. Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, trên một số mặt vẫn còn bất cập về chất lượng, số lượng, cơ cấu và chính sách đãi ngộ” (13) . Thực hiện đồng bộ chính sách, chế độ đãi ngộ nhằm tạo động lực, khuyến khích đội ngũ nhà giáo yên tâm công tác, cống hiến và sáng tạo_Ảnh: TTXVN Giải pháp để phát triển đội ngũ nhà giáo trong giai đoạn hiện nay Trong giai đoạn hiện nay, việc thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm và hết sức quan trọng. Để công cuộc này đạt hiệu quả, việc quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, đặc biệt là chiến lược “xây dựng đội ngũ nhà giáo” là rất quan trọng, theo đó cần thực hiện một số giải pháp: Một là, tăng cường sự l ãnh đạo của Đảng, q uản lý của n hà nước: Thực hiện nhất quán quan điểm phát triển đội ngũ nhà giáo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, hợp lý hóa cơ cấu đội ngũ. Hoàn thiện khung pháp lý, liên quan đến phát triển đội ngũ nhà giáo, nhất là rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật tạo cơ sở nâng cao chất lượng nhà giáo, thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Sớm ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Nhà giáo năm 2025 nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất về tuyển dụng, quản lý, sử dụng đội ngũ nhà giáo, cũng như quy định về định mức số lượng, chuẩn giáo viên đối với các cấp học. Thực hiện sắp xếp, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động đối với nhà giáo bảo đảm đúng quy định về định mức số lượng, chuẩn giáo viên, khắc phục tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ và bảo đảm nguyên tắc: “Ở đâu có học sinh thì ở đó phải có giáo viên”. Hai là, nâng cao p hẩm chất đ ạo đức và t rách nhiệm n êu gương : Xây dựng đội ngũ nhà giáo có phẩm chất đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp cao, là tấm gương sáng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Mỗi nhà giáo cần chủ động tu dưỡng, nâng cao phẩm chất đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh như thanh liêm, trung thực, đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích cá nhân. Quá trình tu dưỡng bản thân phải thường xuyên, liên tục. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục về vai trò và trách nhiệm cao cả của nhà giáo trong xã hội dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Xây dựng môi trường làm việc văn hóa, dân chủ để nhà giáo phát huy năng lực. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát việc tuân thủ trách nhiệm nêu gương gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Xây dựng môi trường giáo dục chuẩn mực thông qua tăng cường thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử trong nhà trường, xử lý nghiêm trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp, góp phần xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Ba là, phát triển trí tuệ và n âng cao trình độ c huyên môn ( t ư duy, n ăng lực và k ỹ năng hiện đại) là giải pháp cốt lõi để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Cần tập trung vào việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn vững vàng, năng lực sư phạm hiện đại và tư duy đổi mới cho đội ngũ nhà giáo. Nhà giáo cần chuyển đổi tư duy từ người truyền đạt thông tin sang người kiến tạo và định hướng kiến thức, tập trung phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của người học. Chú trọng bồi dưỡng kỹ năng thiết kế bài giảng theo hướng kích thích tư duy phản biện, tư duy hệ thống và khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh, sinh viên. Trang bị và bồi dưỡng kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng học tập số hóa trong giảng dạy, quản lý lớp học và đánh giá học sinh, nhằm tối ưu hóa hiệu quả giáo dục. Tạo điều kiện và cơ chế khuyến khích nhà giáo tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, cải tiến phương pháp giảng dạy, tự làm chủ và phát triển nội dung chuyên môn của mình. Mỗi nhà giáo cần trang bị hành trang kiến thức đầy đủ, không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn có cái nhìn sâu sắc, toàn diện về môn học, đồng thời mở rộng kiến thức liên ngành để tích hợp hiệu quả vào bài giảng. Tập trung bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý, giảng dạy đáp ứng yêu cầu chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở theo quy định tại Nghị định số 71/2020/NĐ-CP, ngày 30-6-2020, của Chính phủ, “Quy định lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở”. Tiến hành chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo các cấp. Triển khai tích cực công tác kiểm định chất lượng giáo dục và công khai kết quả thực hiện. Tổ chức thực hiện nghiêm túc và hiệu quả việc đánh giá kết quả quá trình đào tạo, bồi dưỡng hằng năm của nhà giáo để phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu, bảo đảm chất lượng đầu ra. Bốn là, thực hiện đồng bộ chính sách, chế độ đãi ngộ nhằm tạo động lực, khuyến khích đội ngũ nhà giáo yên tâm công tác, cống hiến và sáng tạo. Theo tinh thần Nghị quyết số 45-NQ/TW, ngày 24-11-2023, “Về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới” và Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22-8-2025, “Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách tiền lương, phụ cấp, ưu đãi nghề nghiệp; đẩy mạnh chính sách thu hút học sinh, sinh viên giỏi vào ngành sư phạm; đồng thời, xây dựng cơ chế đánh giá, khen thưởng minh bạch, gắn với hiệu quả công tác và phẩm chất nghề nghiệp. Việc xây dựng và hoàn thiện chính sách phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, góp phần nâng cao vị thế xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ nhà giáo. Năm là, tăng cường công tác kiểm định, đánh giá và giám sát chất lượng đội ngũ nhà giáo. Tổ chức đánh giá định kỳ, khách quan, thực chất kết quả đào tạo, bồi dưỡng và hoạt động giảng dạy của đội ngũ nhà giáo; gắn kết quả đánh giá với quy hoạch, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và chính sách đãi ngộ. Đẩy mạnh kiểm định chất lượng giáo dục, công khai minh bạch kết quả kiểm định, bảo đảm trách nhiệm giải trình, tạo động lực cho đội ngũ nhà giáo không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới./. ---------------------------- (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 11, tr. 528 (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 10, tr. 345 (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 14, tr. 403 (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd, t. 10, tr. 345 (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 14, tr. 747 (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 12, tr. 270 (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 12, tr. 78 (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 12, tr. 269 (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 10, tr. 185 (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 12, tr. 266 (11) Đơn cử như Luật Nhà giáo năm 2025, Luật Giáo dục năm 2019, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật Giáo dục đại học năm 2012, Quyết định số 732/QĐ-TTg, ngày 29-4-2016, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”, Quyết định số 1299/QĐ-TTg, ngày 3-10-2018, của Thủ tướng Chính phủ, về việc thực hiện Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018 - 2025” (12) Giai đoạn 2021 - 2025, cả nước được giao bổ sung 94.714 biên chế, trong đó riêng năm 2021 bổ sung khoảng 30.000 biên chế (bao gồm 20.000 biên chế giáo viên cho các môn học mới cấp tiểu học, cấp trung học phổ thông và 10.000 biên chế giáo viên mầm non cho các tỉnh vùng sâu, vùng xa khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (không bao gồm 5 tỉnh Tây Nguyên và 14 tỉnh, thành phố được bổ sung 20.300 biên chế giáo viên mầm non năm 2019) (13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 83
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-ao-uc-phong-cach-ho-chi-minh1/-/2018/1150403/thuc-hanh-dan-chu-trong-dang-theo-tu-tuong-ho-chi-minh---y-nghia-doi-voi-cong-cuoc-xay-dung%2C-chinh-don-dang-hien-nay.aspx
Thực hành dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Ý nghĩa đối với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay
15-10-2025
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng
Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú thăm hỏi người dân tại Ủy ban nhân dân phường Hải Châu, thành phố Đà Năng_Ảnh: TTXVN Trong suốt chặng đường xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động. Điều này được Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần khẳng định, xem tư tưởng Hồ Chí Minh như “ngọn đuốc soi đường, đưa cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng vượt mọi thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên nhiều kỳ tích” (1) . Đặc biệt, trong bài phát biểu định hướng tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2024, triển khai công tác năm 2025 của Chính phủ và chính quyền địa phương, Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết về xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân “trên nguyên tắc dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch và trong sạch”; đồng thời, khẳng định “cán bộ, đảng viên phải gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh” (2) . Những quan điểm nêu trên của người đứng đầu Đảng ta cho thấy, muốn củng cố và nâng cao sức mạnh của Đảng, trước hết cần thực hành và phát huy dân chủ từ trong Đảng; đồng thời, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị vững vàng, xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân. Trong bối cảnh đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển vươn mình, công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, việc làm rõ nội dung, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng Trên hành trình tìm đường cứu nước và với tầm nhìn thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ giá trị của dân chủ và mục đích phải hiện thực hóa giá trị dân chủ tại Việt Nam. Theo Người, mục đích của thực hành dân chủ là “để làm cho dân ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do” (3) ; vai trò của thực hành dân chủ là giúp việc khó hóa dễ, “ thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” (4) ; cách thức “ thực hành dân chủ , nghĩa là công việc đều phải bàn bạc với xã viên, cán bộ không được quan liêu, mệnh lệnh” (5) . Trong lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, thực hành dân chủ trong Đảng là một nội dung quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh và được thể hiện qua một số nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, thực hành dân chủ trong công tác lập kế hoạch, xây dựng chủ trương, đường lối. Trong công tác lập kế hoạch, xây dựng và triển khai thực hiện chủ trương, đường lối, yêu cầu quan trọng là cần thông tin, bàn bạc với đảng viên và quần chúng nhân dân để thâu thái được nhiều ý kiến đóng góp; qua đó, đi đến quyết định, lựa chọn tốt nhất. Người chỉ rõ: “Tập trung trên nền tảng dân chủ là các đảng viên có quyền thảo luận chính sách của Đảng, rồi tập trung ý kiến lên Trung ương, còn dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung là vì nếu cái gì không nên bàn cũng cứ bàn ắt hỏng, cái gì đã bàn rồi thì phải đưa lên. Khi bên trên ra lệnh thì bên dưới phải thi hành, phải tuân theo. Tập trung mà không dân chủ thì đi đến độc tài, dân chủ mà không tập trung thì dân chủ quá trớn,... càng dân chủ thì càng phải tập trung” (6) . Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “tập thể lãnh đạo là dân chủ . Cá nhân phụ trách là tập trung . Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung ” (7) . Có lãnh đạo tập thể mới huy động được trí tuệ, tri thức, sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân vào việc xây dựng chủ trương, đường lối, cách thức, bước đi đúng hướng, đạt hiệu quả tối đa. Trái lại, “lãnh đạo không tập thể thì sẽ đi đến cái lệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc”. Còn phụ trách phải do cá nhân đảm nhiệm thì công việc mới đạt kết quả cao. Nếu “phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc” (8) . Vì vậy, nguyên tắc tập trung dân chủ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong các khâu thực hành dân chủ trong Đảng. Hơn nữa, trong công tác triển khai chủ trương, đường lối của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng khâu kiểm tra, giám sát. Người coi đây là một trong những nội dung cốt yếu của thực hành dân chủ trong Đảng và nâng lên thành một trong những phong cách lãnh đạo dân chủ. Thứ hai, tạo dựng phong cách lãnh đạo dân chủ trong Đảng. Về cơ bản, thực hành dân chủ trong Đảng không thể thiếu việc tạo dựng phong cách lãnh đạo dân chủ ở người cán bộ, đảng viên. Phong cách lãnh đạo dân chủ của người cán bộ, đảng viên thể hiện ở việc luôn lắng nghe ý kiến của tập thể, của nhân dân. Người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, phải tôn trọng, lắng nghe và chịu sự kiểm tra của cấp dưới, của quần chúng nhân dân. Không chỉ thảo luận một cách dân chủ trong nội bộ đảng viên, mà theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “còn phải nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hăng hái trong quần chúng. Nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hăng hái trong quần chúng cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với nhân dân. Đó là một vấn đề rất trọng yếu cho cách làm việc của Đảng” (9) . Người lãnh đạo, quản lý phải bàn bạc, liên hệ chặt chẽ với cấp dưới và quần chúng nhân dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và giải thích điều nhân dân chưa hiểu để có quyết sách phù hợp với lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Có như vậy, chủ trương, đường lối của Đảng mới phù hợp với lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, mới thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống. Do vậy, muốn thực hiện phong cách lãnh đạo dân chủ một cách thực chất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước kia, việc gì cũng từ “trên dội xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên”. Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng” (10) . Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hành dân chủ là phải khéo kiểm soát để bao nhiêu khuyết điểm bộc lộ ra hết và dần dần sẽ bớt đi. Tuy nhiên, để kiểm soát đạt kết quả tốt, cần thực hiện theo hai cách: “Một cách là từ trên xuống . Tức là người lãnh đạo kiểm soát kết quả những công việc của cán bộ mình. Một cách nữa là từ dưới lên . Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó” (11) . Nếu không được giám sát chặt chẽ thì người cán bộ lãnh đạo, quản lý rất dễ rơi vào tha hóa, lạm quyền, lộng quyền và cuối cùng trở nên độc đoán, độc tài. Điều này làm giảm sút tính chiến đấu của tổ chức đảng, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức, cơ quan, đơn vị, đặc biệt là sẽ làm mất đi niềm tin của nhân dân. Tạo dựng phong cách lãnh đạo dân chủ sẽ khuyến khích tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên; qua đó, tăng cường sự trong sạch, văn minh trong Đảng. Thứ ba, thực hành dân chủ trong cách thức sinh hoạt đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của việc thực hiện nền nếp nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Theo Người, trong Đảng không tránh khỏi khuyết điểm, nhưng một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Vì vậy, chỉ có “thang thuốc” hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình với mục đích là cho mọi người học hỏi ưu điểm của nhau và giúp nhau sửa chữa khuyết điểm - đó chính là cách thức sinh hoạt đảng hữu hiệu. Không dễ để phê bình, người bị phê bình có thể không chấp nhận ý kiến nhận xét, đánh giá về mình. Người phê bình có thể chịu thái độ thù địch hoặc oán giận; có thể không thấy lợi ích gì mà chỉ thấy mất đoàn kết; hoặc cũng có khi do động cơ cá nhân mà dùng lời cay nghiệt để làm tổn thương người bị phê bình. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, phê bình phải triệt để, trung thực, không phóng đại, không giảm bớt. Người phê bình phải chỉ rõ cả ưu điểm và khuyết điểm, phê việc chứ không phê người, tránh nói lời cay độc, phải giúp đỡ nhau khắc phục lỗi lầm; còn người bị phê bình phải chấp nhận việc phê bình để sửa chữa, không nản lòng, thù hận. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chú trọng quyền được nêu ý kiến trong sinh hoạt đảng. Người căn dặn, phải thực hành dân chủ trong sinh hoạt đảng để bảo đảm quyền làm chủ, khuyến khích tính chủ động, tâm huyết của đảng viên, làm gương cho quần chúng nhân dân noi theo. Cần khuyến khích đảng viên phát biểu ý kiến, thực hiện phê bình và tự phê bình một cách thiết thực; qua đó, nâng cao tính tự chủ, tính năng động, sáng tạo của đảng viên, ngăn ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong cuộc vận động xây dựng Điều lệ Đảng chuẩn bị cho Đại hội III của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình” (12) . Để thực hành dân chủ trong sinh hoạt đảng thực sự hiệu quả, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoài khuyến khích việc nêu ý kiến của cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng, thì còn phải lưu ý đến thái độ, phong cách của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng. Người chỉ rõ, “muốn cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc. Muốn như thế phải thực hành những điểm này: 1. Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến… Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng... Việc gì cấp trên cũng nhúng vào, cán bộ cũng như một cái máy, việc gì cũng chờ mệnh lệnh, sinh ra ỷ lại, mất hết sáng kiến” (13) . Như vậy, người cán bộ lãnh đạo, quản lý cần đặt niềm tin vào cán bộ cấp dưới của mình, khuyến khích họ nêu ý kiến, làm cho họ thấy rõ lợi ích thiết thực từ những gì họ đang tham gia đóng góp. Thứ tư, thực hành dân chủ trong công tác tổ chức - cán bộ. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ và tầm quan trọng của công tác cán bộ. Người nhiều lần nhấn mạnh, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” (14) . Chính vì vai trò quan trọng của công tác tổ chức - cán bộ, mà ngay từ khâu lựa chọn kết nạp đảng viên mới, Người nhấn mạnh phải giữ đúng điều kiện Trung ương đã quy định và kết hợp với công tác khác; đặc biệt, phải dựa vào quần chúng nhân dân mà xem xét cẩn thận. Quần chúng nhân dân chính là “tai mắt” của Đảng trong đánh giá trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, chất lượng của người đảng viên. Trong quá trình xem xét bổ nhiệm cán bộ vào vị trí chủ chốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý cần xem người đó có gần gũi quần chúng nhân dân không, có được nhân dân tin cậy và mến phục, có hiểu dân chúng, có liên lạc mật thiết với dân chúng không?... Bởi vì quần chúng nhân dân rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong công việc chỉnh đốn Đảng, cũng như trong mọi công việc khác, quyết phải thực hành cách liên hợp sự lãnh đạo với quần chúng và liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng. Phải dùng cách “từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”” (15) . Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “để cho dân chúng phê bình cán bộ, dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng. Đồng thời, do sự dùi mài của dân chúng, cán bộ và dân chúng đều tiến bộ, lại do đó, cán bộ và dân chúng đoàn kết chặt chẽ thêm” (16) . Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không thể đạt kết quả tốt nếu không có sự tham gia của quần chúng nhân dân. Tôn trọng góp ý của quần chúng nhân dân chính là thể hiện sự tin tưởng của Đảng đối với nhân dân; qua đó, cũng là cách thức phát huy dân chủ trong nhân dân. Đại biểu biểu quyết thông qua dự thảo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Huế lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 - 2030_Ảnh: TTXVN Ý nghĩa, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng đối với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay Tình hình trong nước và thế giới hiện nay có nhiều thay đổi, tác động không nhỏ đến nhận thức của mỗi cán bộ, đảng viên. Trình độ giác ngộ chính trị, tư tưởng, việc rèn luyện đạo đức, lối sống của người cán bộ, đảng viên không ngừng được nâng cao, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu bản lĩnh chính trị, dễ bị lôi kéo, tác động tiêu cực, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng có ý nghĩa, giá trị sâu sắc; cụ thể: Một là, củng cố niềm tin của nhân dân, đảng viên vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân Việt Nam biết ơn, tôn vinh và được thế giới kính trọng, biết đến là vị anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, danh nhân văn hóa kiệt xuất. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị trong đấu tranh giải phóng dân tộc, mà còn có giá trị bền vững, lâu dài đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước, là ngọn cờ dẫn dắt dân tộc Việt Nam đến phồn vinh, hạnh phúc. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn, nhất quán, quán triệt, vận dụng, bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội. Đây chính là nhân tố quyết định, làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Do đó, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh sẽ tạo ra niềm tin vững chắc trong quần chúng nhân dân và cán bộ, đảng viên. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Cuộc đời và sự nghiệp của Người đã trở thành biểu tượng cách mạng, khơi dậy khát vọng và niềm tin cho nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ thế giới trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội” (17) . Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay sẽ là một trong những yếu tố vun đắp niềm tin của mỗi cán bộ, đảng viên và của quần chúng nhân dân vào sự thành công của công tác này, góp phần làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh. Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét: “Hồ Chí Minh đã làm gương mẫu để xây dựng Đảng. Tấm gương của lãnh tụ được sự hưởng ứng tự nguyện và nhiệt tình của toàn Đảng, đã tạo nên khuôn phép chặt chẽ và thiêng liêng, để lại truyền thống tốt đẹp về Đảng và sự lãnh đạo của Đảng” (18) . Hai là, tạo dựng nền tảng lý luận cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng trở thành nền tảng lý luận vững chắc trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Những lý luận của Người về thực hành dân chủ trong Đảng cho thấy sự chặt chẽ trong cách thức thực hành, phù hợp với điều kiện và thực tiễn cách mạng nước ta. Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn, nhất quán, quán triệt và vận dụng linh hoạt, hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh trong lãnh đạo Nhà nước và xã hội, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta luôn nhấn mạnh, Đảng phải liên hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Đảng luôn khuyến khích đội ngũ cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám tham gia thảo luận, mạnh dạn phát biểu ý kiến, dám chịu trách nhiệm, dám đảm đương công việc vì lợi ích chung. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng hoàn toàn vì lợi ích của nhân dân và lợi ích của quốc gia - dân tộc. Bên cạnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong sinh hoạt đảng, trong xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ cũng chính là công cụ hữu hiệu nhằm củng cố bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, đẩy lùi hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Ba là, góp phần phát huy vai trò to lớn của thực hành dân chủ trong Đảng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Thực hành dân chủ trong Đảng không chỉ là nguyên tắc tổ chức, mà còn là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sự minh bạch, công bằng và hiệu quả trong mọi hoạt động của Đảng. Điều này đòi hỏi quá trình thực hiện dân chủ được tiến hành một cách thuần thục, thường xuyên, trở thành chế độ và nền nếp trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng. Nếu không có sự duy trì và thực hành dân chủ thực chất thì công tác triển khai rất dễ rơi vào hiện tượng dân chủ hình thức, làm mất đi giá trị cốt lõi của dân chủ và không thấy được vai trò thực sự của dân chủ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong những năm gần đây, Đảng ta đã thực hiện một cách linh hoạt và nền nếp nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Các biện pháp, như lấy phiếu tín nhiệm tại các cơ quan, tổ chức đảng và nhận xét đảng viên sinh hoạt nơi cư trú đã trở thành một khâu quan trọng trong việc thúc đẩy dân chủ nội bộ. Các biện pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng lãnh đạo, mà còn góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm, đạo đức và trình độ chuyên môn của mỗi cán bộ, đảng viên. Cùng với đó, thông qua quá trình tự phê bình và phê bình, mỗi đảng viên có điều kiện tự nhìn nhận lại bản thân mình; từ đó, không ngừng tu dưỡng phẩm chất đạo đức và trau dồi trình độ chuyên môn để xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân và sự tin tưởng của Đảng. Với niềm tin yêu sâu sắc của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người về thực hành dân chủ trong Đảng đã trở thành “kim chỉ nam”, góp phần vào thành công chung của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Sự thành công này không chỉ thể hiện qua việc củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, mà còn thể hiện trong nâng cao hiệu quả lãnh đạo và quản lý, bảo đảm cho Đảng ta luôn giữ vững vai trò tiên phong, dẫn dắt sự phát triển của đất nước. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng đã chứng minh giá trị bền vững, mang lại hiệu quả thiết thực trong các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi Đảng phải đối mặt với nhiều thách thức mới, phức tạp hơn trong quá trình lãnh đạo, phát triển đất nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng thể hiện tầm nhìn thời đại của Người, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận và tổng kết thực tiễn về thực hành dân chủ trong Đảng, giúp Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”./. ---------------- (1) Xem: Văn Hiếu: “Tổng Bí thư Tô Lâm: Học tập, làm theo Bác để xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh””, Báo điện tử Tiếng nói Việt Nam , ngày 15-11-2024, https://vov.vn/chinh-tri/tong-bi-thu-to-lam-hoc-tap-lam-theo-bac-de-xay-dung-dang-la-dao-duc-la-van-minh-post1135870.vov (2) Xem: “Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị Chính phủ và chính quyền địa phương”, Báo Điện tử Chính phủ , ngày 8-1-2025, https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-hoi-nghi-chinh-phu-va-chinh-quyen-dia-phuong-102250108155900992.htm (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 39 (4), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Sđd , t. 15, tr. 325, 260 (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 6, tr. 373 - 374 (7), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 5, tr. 620, 620 (9), (10), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 5, tr. 337, 338, 328 (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 12, tr. 544 (13), (14), (15), (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t. 5, tr. 319 - 320, 280, 331, 336 (17) Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức học tập, nỗ lực phấn đấu và rèn luyện, không ngừng làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản , số 968 (tháng 6-2021), tr. 4 (18) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh - Tinh hoa và khí phách của dân tộc , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 179
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-ao-uc-phong-cach-ho-chi-minh1/-/2018/1200505/suy-ngam-ve-%E2%80%9Cbat-bien%E2%80%9D-trong-phuong-cham-%E2%80%9Cdi-bat-bien-ung-van-bien%E2%80%9D-tu-tu-tuong-ngoai-giao-ho-chi-minh.aspx
Suy ngẫm về “bất biến” trong phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” từ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
03-01-2026
“Bất biến” - mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn cách mạng
Ngày 31-5-1946, trước khi lên đường sang Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng - Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam): “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở cụ và anh em giải quyết cho. Mong cụ “dĩ bất biến ứng vạn biến”” (1) . Là người am hiểu sâu sắc triết học phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm trong lời căn dặn đó một số định hướng mang tầm chiến lược. Đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng - một nhà Nho thâm hiểu kinh điển, lời căn dặn được hiểu là trong hoàn cảnh khó khăn, phải kiên định nguyên tắc căn bản, lấy cái không đổi ứng phó với muôn sự thay đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa_Ảnh: Tư liệu “Dĩ bất biến ứng vạn biến” thường được hiểu là lấy cái không thay đổi để ứng phó với muôn sự biến động. Ở tầm chỉ đạo hành động, phương châm này hàm ý rằng, để ứng xử linh hoạt, trước hết phải xác định rõ đâu là “cái bất biến” và đâu là “cái vạn biến”. Xác định đúng “cái bất biến” giúp chủ động điều chỉnh “cái vạn biến”, mà vẫn giữ vững mục tiêu chiến lược. Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp giải thích phương châm này, song các nhà nghiên cứu thống nhất rằng “cái bất biến” chính là mục tiêu, nguyên tắc lớn của cách mạng Việt Nam (2) . Giữ vững nguyên tắc chính là điều kiện để thực hiện mục tiêu. Trong tư duy của Người, mục tiêu luôn là điểm khởi đầu, đồng thời là thước đo của mọi hành động cách mạng. Từ thực tiễn lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn 1945 - 1946 và tại Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “cái bất biến” là mục tiêu tối thượng của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, trong từng thời kỳ cụ thể, “bất biến” luôn được cụ thể hóa thành mục tiêu phù hợp với bối cảnh lịch sử và yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Đó là biểu hiện sinh động của trí tuệ, bản lĩnh và nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên tắc và linh hoạt - giữa “bất biến” và “vạn biến” - trong tư duy chiến lược và hành động thực tiễn của Người. “Bất biến” - mục tiêu đặt ra Quan niệm về mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét nhất trong việc lựa chọn tiêu ngữ quốc hiệu của nước Việt Nam. Tại Sắc lệnh số 50 ngày 9-10-1945, lần đầu tiên cụm từ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” xuất hiện dưới Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (3) . Ba thành tố này được đặt ngang hàng, song mang giá trị ý nghĩa ở những cấp độ khác nhau, phản ánh tư tưởng nhất quán của Người về mục tiêu tối thượng: độc lập dân tộc gắn liền với tự do và hạnh phúc của nhân dân. Ngày 17-10-1945, trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (4) . Như vậy, “hạnh phúc, tự do của nhân dân” là mục tiêu cuối cùng, còn “độc lập” là điều kiện trung tâm để đạt được mục tiêu đó. Tư tưởng này tiếp tục được Người khẳng định trong Thư gửi đồng bào tỉnh Lào Cai vào ngày 18-10-1945, khi kêu gọi: “Từ đây đồng bào ta phải đoàn kết chặt chẽ, tranh đấu đến kỳ cùng để mưu tự do, hạnh phúc cho dân tộc” và bày tỏ niềm tin: “Tất cả nhân dân Lào Cai,... cùng nhau hăng hái đứng lên phấn đấu để củng cố nền độc lập của nước nhà và xây dựng nền hạnh phúc tự do cho dân chúng” (5) . Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định quan niệm sâu sắc về “tự do” và “hạnh phúc”. Tháng 1-1946, trả lời các nhà báo nước ngoài, Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (6) . Trong khi khẳng định “hạnh phúc, tự do của nhân dân” là mục tiêu tối thượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời đề cao vai trò quyết định của độc lập dân tộc. Độc lập vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để đạt tới tự do và hạnh phúc của nhân dân. Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, chưa được quốc tế công nhận, nền độc lập còn “ngàn cân treo sợi tóc”, Người xác định rõ độc lập chính là “cái bất biến” cần được giữ vững trước mọi biến động. Ngày 6-10-1945, khi đề cập đến chính sách ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Với Pháp - rất đơn giản, Chính phủ buộc Pháp phải công nhận nền độc lập của nước ta. Được thế, các vấn đề khác cũng có thể giải quyết dễ dàng”. Ngày 28-11-1945, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Người nhấn mạnh: “Ngoại giao đối với Pháp: a) Nhất quyết đòi độc lập. b) Chỉ có thể nhượng bộ ít nhiều về kinh tế, văn hóa. c) Ngoại giao với Trung Hoa: Cùng một nguyên tắc là không nhượng bộ về vấn đề độc lập của Việt Nam (7) . Chủ tịch Hồ Chí Minh coi độc lập là “cái bất biến”, đồng thời xác định rõ “cái vạn biến” có thể linh hoạt điều chỉnh là kinh tế, văn hóa và các lĩnh vực khác. Đó là sự kết hợp biện chứng giữa kiên định mục tiêu và linh hoạt sách lược, thể hiện tầm vóc tư duy chiến lược của Người trong nghệ thuật lãnh đạo và đối ngoại cách mạng. “Bất biến” - mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn cách mạng Trong khi kiên định mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ mục tiêu cụ thể (mục tiêu trước mắt), phù hợp với bối cảnh từng giai đoạn cách mạng. Trong những năm 1945 - 1946, mục tiêu trước mắt là giữ vững chính quyền, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài. Tháng 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cụ Huỳnh Thúc Kháng khi đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã gặp Lư Hán (1895 - 1974), tướng lĩnh cao cấp của Quốc dân đảng Trung Quốc, Tư lệnh Tập đoàn quân số 1, kiêm Tổng chỉ huy lực lượng Trung Hoa Quốc dân đảng tại Bắc Đông Dương, được Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch (1887 - 1975) làm Chủ tịch ủy nhiệm sang Việt Nam tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật Bản theo thỏa thuận của Hội nghị Potsdam (8) . Theo quyết định của Hội nghị Postdam, quân đội Trung Hoa Dân Quốc được giao nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật ở khu vực phía Bắc vĩ tuyến 16, còn quân đội Anh phụ trách khu vực phía Nam vĩ tuyến 16. Mặc dù mang danh nghĩa “giải giáp quân đội Nhật”, song lực lượng do tướng Lư Hán chỉ huy - khoảng 20 vạn quân - đã có nhiều hoạt động vượt ra ngoài phạm vi được ủy nhiệm, tác động đáng kể đến tình hình chính trị ở miền Bắc Việt Nam. Trong bối cảnh phức tạp đó, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối diện với không ít sức ép từ bên ngoài, đòi hỏi nghệ thuật xử lý tình huống hết sức linh hoạt và tỉnh táo. Tại một cuộc tiếp xúc quan trọng, khi phía đối phương đưa ra nhiều yêu cầu gây khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ thái độ bình tĩnh, phân tích rõ tương quan lực lượng và xác định nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là giữ vững chính quyền, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng để chủ động ứng phó với những biến động tiếp theo. Việc xác định rõ mục tiêu cụ thể và kiên định thực hiện mục tiêu cho thấy trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các yếu tố khác - kể cả mục tiêu lâu dài - có thể được điều chỉnh linh hoạt khi cần thiết để bảo vệ “cái bất biến”. Quyết định ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 với Pháp là minh chứng tiêu biểu cho nghệ thuật đó. Mục tiêu tối thượng của Việt Nam là độc lập dân tộc, song với tương quan lực lượng lúc bấy giờ, chưa thể buộc Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam dù chỉ trên danh nghĩa. Trước đó, ngày 28-2-1946, Hiệp định Hoa - Pháp được ký kết, theo đó Pháp được quyền thay thế quân đội Trung Hoa Dân Quốc tại miền Bắc Đông Dương. Để việc chuyển quân diễn ra thuận lợi, phía Pháp mong muốn đạt được thỏa thuận với Việt Nam nhằm tránh xung đột không cần thiết. Trong bối cảnh tình hình chính trị trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, nguy cơ xung đột đa chiều đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một giải pháp mềm dẻo, vừa giữ vững nguyên tắc, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng tiếp tục phát triển. Đầu tháng 3-1946 (từ ngày 1 đến 3-3-1946), đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Cộng hòa Pháp tiến hành các cuộc đàm phán bí mật. Phía Việt Nam kiên trì lập trường yêu cầu Pháp công nhận quyền độc lập và thống nhất của Việt Nam, song hai bên còn những bất đồng. Trước đó, ngày 25-2-1946, trong cuộc gặp với Jean Sainteny - đại diện Chính phủ Pháp - Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ quan điểm của Việt Nam là “Độc lập và hợp tác” (9) . Tình hình lúc bấy giờ diễn biến hết sức căng thẳng. Ngày 5-3-1946, hạm đội Pháp xuất hiện tại vịnh Bắc Bộ; phía Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố nếu quân Pháp đổ bộ khi chưa có Hiệp định Việt - Pháp, sẽ nổ súng. Ở trong nước, nhân dân và lực lượng vũ trang sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, trong khi một số tổ chức chính trị tìm cách lợi dụng thời cơ để gây rối tình hình. Tối ngày 5-3-1946, đại diện quân đội Tưởng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và bày tỏ sẽ ủng hộ nếu Việt Nam đạt được thỏa thuận với Pháp. Ngay sau đó, đại diện Pháp cũng đến gặp, mong muốn tiến hành đàm phán và đi đến thống nhất ngay trong đêm cùng ngày. Cuộc trao đổi giữa hai bên kéo dài đến rạng sáng ngày 6-3-1946. Phía Việt Nam kiên trì đề nghị Pháp công nhận nền độc lập và thừa nhận kết quả trưng cầu ý dân về thống nhất ba kỳ, song phía Pháp vẫn giữ quan điểm khác biệt đối với vấn đề độc lập. Sáng ngày 6-3-1946, khi tàu chiến Pháp tiến vào Hải Phòng, xung đột vũ trang đã xảy ra giữa quân đội Pháp và một bộ phận quân đội Trung Hoa Dân Quốc. Tại Thủ đô Hà Nội, tình hình trở nên hết sức căng thẳng; phía Trung Hoa Dân Quốc liên tục thúc giục Việt Nam sớm đạt thỏa thuận với Pháp. Nếu không có giải pháp kịp thời, nguy cơ Pháp và Trung Hoa Dân Quốc thỏa hiệp, đẩy Việt Nam vào thế bất lợi, là điều khó tránh khỏi. Trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đề xuất sáng kiến ký “Hiệp định Sơ bộ” với điều kiện Pháp phải công nhận Việt Nam là “quốc gia tự do”. Phía Pháp chấp thuận. Chiều ngày 6-3-1946, vào lúc 16 giờ 30 phút, Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Jean Sainteny - đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp - ký kết Hiệp định Việt - Pháp. Hiệp định khẳng định “nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội, tài chính của mình” (10) . Ngày 7-3-1946, tại cuộc mít-tinh lớn của nhân dân thủ đô Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu làm rõ ý nghĩa của Hiệp định Sơ bộ: “Nước Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước tự do; tự do không phải là tự trị, nhiều hơn tự trị nhưng vẫn chưa là độc lập… Sau khi giành được tự do, chúng ta sẽ tiến tới giành độc lập, độc lập hoàn toàn” (11) . Lời khẳng định đó phản ánh rõ quan điểm chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: trong bối cảnh phức tạp, cần biết tạm thời chấp nhận bước đi thích hợp để giữ vững “cái bất biến” - mục tiêu độc lập dân tộc - đồng thời linh hoạt về sách lược nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh lâu dài. Việc xác định mục tiêu cụ thể tiếp tục được thể hiện rõ trong quá trình đàm phán tại Hội nghị Paris. Mục tiêu tối thượng của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước vẫn là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 (mở rộng), được thông qua và phổ biến sau đợt họp lần thứ hai vào tháng 7-1959, đã xác định rõ: “Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện dân tộc độc lập và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (12) . Trước đó, ngày 1-8-1956, trả lời phỏng vấn Báo Tuần lễ Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi sẽ kiên quyết phấn đấu để củng cố hòa bình, giành thống nhất, độc lập và dân chủ hoàn toàn cho đất nước” (13) . Những phát biểu và chủ trương này cho thấy sự nhất quán trong tư duy của Người: kiên định mục tiêu “bất biến” là độc lập, thống nhất Tổ quốc, đồng thời vận dụng linh hoạt sách lược “vạn biến” để đạt được mục tiêu trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể. Độc lập dân tộc là mục tiêu xuyên suốt, cần được kiên định trong mọi giai đoạn. Trong đàm phán Paris, nguyên tắc này càng có ý nghĩa đặc biệt, bởi Mỹ không tham gia ký kết Hiệp định Genève năm 1954 và không thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam. Mặc dù gặp thất bại trên chiến trường và rơi vào thế bất lợi trong đàm phán, song phía Mỹ vẫn cố duy trì lập trường này. Thậm chí, đến tháng 11-1972, Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger còn đề xuất không ghi cụm từ “Mỹ công nhận”, mà chỉ “các nước công nhận”, đồng thời tìm cách chuyển nội dung “công nhận các quyền cơ bản của Việt Nam” từ Chương I, Điều 1 xuống Chương IV nhằm làm giảm giá trị pháp lý của điều khoản đó (14) . Thống nhất đất nước là mục tiêu cuối cùng, song để đạt được mục tiêu đó, trong từng giai đoạn cần xác định rõ nhiệm vụ cụ thể. Trong đàm phán Paris, mục tiêu trước mắt được xác định là “quân đội Mỹ rút, quân ta ở lại”. Ngày 20-7-1968, trong Lời kêu gọi nhân kỷ niệm 14 năm ký kết Hiệp định Genève, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Lập trường của ta rất chính đáng, rõ ràng: Ngày nào đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược nước ta, chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, để dân ta tự do giải quyết công việc nội bộ của mình, thì ngày đó hòa bình sẽ lập lại ngay… Cách duy nhất để lập lại hòa bình là quân Mỹ và quân chư hầu phải rút hết về nước!” (15) . Lập trường đó thể hiện hai nội dung nhất quán: 1- Quân đội Mỹ và các lực lượng đồng minh phải rút hoàn toàn khỏi Việt Nam; 2- Các vấn đề nội bộ của Việt Nam phải do chính người Việt Nam tự quyết định, trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng chính trị - quân sự ở miền Nam. Đây chính là sự vận dụng linh hoạt tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến”: kiên định mục tiêu thống nhất và độc lập, đồng thời xác định bước đi chiến lược phù hợp để hiện thực hóa mục tiêu đó. Ngày 1-1-1969, trong Thư chúc mừng năm mới gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ: “Năm qua thắng lợi vẻ vang,/Năm nay tiền tuyền chắc càng thắng to./Vì độc lập, vì tự do,/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào./Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,/Bắc - Nam sum họp, Xuân nào vui hơn! (16) . Bài thơ đã khẳng định rõ mục tiêu cuối cùng là độc lập, tự do và thống nhất đất nước (“Bắc - Nam sum họp”), đồng thời chỉ ra mục tiêu cụ thể, trước mắt là “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Đây là sự kết hợp nhất quán giữa cái “bất biến” - mục tiêu chiến lược - với cái “vạn biến” - sách lược hành động phù hợp từng giai đoạn cách mạng. Đánh giá ý nghĩa của Hiệp định Paris, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định: “Đối với ta, điều quan trọng của Hiệp định Paris không phải ở chỗ thừa nhận hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát… mà mấu chốt là quân Mỹ phải ra, còn quân ta thì ở lại” (17) . Như vậy, tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” tiếp tục được vận dụng sáng tạo, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất Tổ quốc. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của Hội nghị Paris (từ tháng 5 đến tháng 10-1968), Việt Nam chưa chấp nhận đàm phán với chính quyền Sài Gòn. Theo hồi ức của ông Nguyễn Đình Phương - phiên dịch tại hội nghị, trong một cuộc gặp bí mật giữa đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Xuân Thủy và phái đoàn Mỹ do Averell Harriman dẫn đầu, phía Mỹ yêu cầu có đại diện của chính quyền Sài Gòn tham dự. Ông Xuân Thủy thẳng thắn khẳng định: “Ngụy quyền Sài Gòn không phải là đại diện cho nhân dân miền Nam Việt Nam, chúng tôi không thừa nhận Thiệu - Kỳ” (18) . Đến tháng 10-1968, Mỹ tiếp tục đề nghị Việt Nam chấp thuận sự tham gia của chính quyền Sài Gòn như một điều kiện để chấm dứt ném bom miền Bắc. Việt Nam đồng ý, với điều kiện phía Mỹ phải thừa nhận sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đây là một bước đi thể hiện rõ nghệ thuật “dĩ bất biến ứng vạn biến”, vừa kiên định lập trường nguyên tắc, vừa linh hoạt trong sách lược. Cục diện đàm phán bốn bên tại Thủ đô Paris được mở ra, với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng - lực lượng chính trị, quân sự có uy tín và vị thế quốc tế ngày càng cao - tạo thuận lợi mới cho Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao, hướng tới mục tiêu độc lập, thống nhất đất nước. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư tham quan trưng bày ảnh về công tác đối ngoại nhân dân_Ảnh: TTXVN Xác định “cái bất biến” trong bối cảnh hiện nay Cách thức Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định mục tiêu trong từng giai đoạn cách mạng thể hiện giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thứ nhất , mục tiêu cuối cùng là “kim chỉ nam” cho hành động. Kiên định mục tiêu lâu dài giúp không chệch hướng, không sa vào chủ quan, giáo điều. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu, cần có những điều kiện cụ thể; nếu vận dụng cứng nhắc trong bối cảnh chưa chín muồi, sẽ khó xử lý hiệu quả các vấn đề phức tạp, trước mắt. Thứ hai , mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn là yếu tố quan trọng dẫn tới mục tiêu cuối cùng. Mục tiêu này phải phù hợp thực tiễn, khả thi và có tính định hướng, là “nấc thang” tiến dần tới thắng lợi toàn diện. Càng xác định rõ mục tiêu trước mắt, càng tạo được sự linh hoạt trong điều hành chiến lược và trong hành động. Thứ ba , mục tiêu cuối cùng và mục tiêu cụ thể có vai trò khác nhau nhưng thống nhất trong tổng thể. Mục tiêu cuối cùng giữ vai trò định hướng chiến lược, còn mục tiêu cụ thể là căn cứ xử lý những vấn đề cấp bách, thiết thực. Thứ tư , để xác định đúng “cái bất biến” trong từng giai đoạn, cần “biết người, biết mình, biết thời thế”. “Biết người” là hiểu rõ đối tác và bối cảnh; “biết mình” là nắm chắc năng lực, mục tiêu, phương cách hành động; “biết thời thế” là nhận diện đúng xu hướng vận động của thế giới và khu vực (19) . Khi hội đủ ba yếu tố này, việc xác định “cái bất biến” mới thực sự chính xác và khả thi. Ngày nay, sau hơn 80 năm giành được độc lập, “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” vẫn là mục tiêu tối thượng của dân tộc Việt Nam. “Cái bất biến” - với nghĩa là mục tiêu chiến lược - không thay đổi; song “cái bất biến” - với nghĩa là mục tiêu cụ thể - cần được xác định phù hợp bối cảnh mới. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) xác định: Đến năm 2030, Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao (20) . Đây là những mục tiêu chiến lược, thể hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mọi chính sách, trong đó có chính sách đối ngoại, đều phải phục vụ hiệu quả cho việc hiện thực hóa những mục tiêu này. Nói cách khác, mục tiêu phát triển quốc gia - “cái bất biến” - chi phối toàn bộ hoạt động đối ngoại, từ lựa chọn đối tác, lĩnh vực ưu tiên đến cách xử lý các vấn đề phát sinh - “cái vạn biến”. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cần tiếp tục xác định rõ nguyên tắc xử lý “cái bất biến” trong các tình huống cụ thể của quan hệ quốc tế. Từ nay đến năm 2030 và năm 2045, các mối quan hệ đa phương, song phương và khu vực đều có thể phát sinh những vấn đề phức tạp; nếu có nguyên tắc chung, sự đồng thuận và ứng phó sẽ chủ động, hiệu quả hơn. Vận dụng tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn. Một là, đánh giá kỹ tác động của từng vụ việc đối với mục tiêu cuối cùng và lợi ích cốt lõi của quốc gia - dân tộc. Phải tránh hai khuynh hướng: nghiêm trọng hóa dẫn đến cứng nhắc, làm vấn đề thêm phức tạp; hoặc đơn giản hóa, dẫn đến chủ quan, bỏ lỡ thời cơ hoặc gây hệ lụy lâu dài. Hai là, trên cơ sở đánh giá mức độ tác động, xác định mục tiêu cấp bách, trước mắt theo các tiêu chí phù hợp với mục tiêu cuối cùng, tối ưu và khả thi. Từ đó, xác định các biện pháp xử lý phù hợp, cả về phương thức và mức độ. Ba là, khi xác định được mục tiêu cụ thể (cái bất biến) và biện pháp xử lý (cái vạn biến), cần kiên định thực hiện, đồng thời chủ động hóa giải các hệ quả có thể phát sinh. Bài học từ lịch sử còn nguyên giá trị đến hôm nay. Ngày 7-3-1946, một ngày sau khi ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trước đồng bào Thủ đô: “Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt cuộc đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước” (21) . Lời khẳng định đó thể hiện bản lĩnh kiên định, niềm tin vững chắc và tinh thần bất khuất đối với “cái bất biến” - độc lập, chủ quyền và lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc. Tóm lại, phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” là một nội dung cốt lõi, thể hiện chiều sâu tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại. Vấn đề then chốt và cũng là khó nhất trong việc vận dụng đúng tinh thần ấy chính là xác định “cái bất biến” trong từng thời điểm, hoàn cảnh cụ thể. Kiên định “cái bất biến” là giữ vững mục tiêu chiến lược; linh hoạt trong “vạn biến” là nghệ thuật ứng xử sáng tạo để đạt tới mục tiêu đó. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hai yếu tố này không đối lập, mà bổ sung cho nhau, tạo nên bản lĩnh, trí tuệ và bản sắc ngoại giao Việt Nam. Trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi nhanh của thế giới hiện nay, tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến” theo tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là cẩm nang quý báu cho Việt Nam trong hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, vì lợi ích quốc gia - dân tộc; đồng thời, là kim chỉ nam trong xử lý linh hoạt, hiệu quả các vấn đề phức tạp nảy sinh trong quan hệ quốc tế hiện đại./. ---------------------------- (1), (4), (5), (6), (7), (9), (10), (21) Hồ Chí Minh: Biên niên sử (1945 - 1946), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t. 3, tr. 197, 44, 46, 119, 76, 139, 147, 149 (2) Xem: Nguyễn Văn Nguyên: ““Phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị chỉ đạo thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam (giai đoạn 1945 - 1946)”, Tạp chí điện tử Lý luận chính trị, ngày 10-7-2025, https://lyluanchinhtri.vn/phuong-cham-di-bat-bien-ung-van-bien-trong-tu-tuong-ho-chi-minh-va-gia-tri-chi-dao-thuc-tien-doi-voi-cach-mang-viet-nam-giai-doan-1945-1969-6997.html (3) Xem: Hà Minh Hồng: “Thêm nhận thức về 6 chữ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” trong Quốc hiệu Việt Nam”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 1-9-2020, https://baochinhphu.vn/them-nhan-thuc-ve-6-chu-doc-lap-tu-do-hanh-phuc-trong-quoc-hieu-viet-nam-102278396.htm (8) Hội nghị diễn ra tại thành phố Potsdam (Đức), từ ngày 17-7 đến 2-8-1945, giữa ba cường quốc Liên Xô, Mỹ và Anh (11) Bộ Ngoại giao: Bác Hồ và hoạt động ngoại giao: Một vài kỷ niệm về Bác, Nxb. Chính trị quốc gia , tr. 28 ( 1 2) Văn kiện Đảng toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, t. 20, tr. 81 (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 393 (14) Huỳnh Văn Trình: “Những nội dung cơ bản của Hiệp định Paris về Việt Nam” trong cuốn Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. tr. 176 (15), (16) Hồ Chí Minh: Biên niên sử (1967 - 1969), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t. 10, tr. 200, 253 (17) Bộ Ngoại giao: Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2007, tr. 18 (18) Nguyễn Đình Phương: “Về cuộc đàm phán bí mật”, Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. tr. 152 (19) Xem: Đặng Đình Quý: “Bàn về phương pháp tư duy Hồ Chí Minh: Vận dụng ngũ tri trong nghiên cứu đối ngoại”, Nghiên cứu quốc tế, số 2(93), tháng 6-2013, tr. 23 - 35 (20) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 36
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/an-ninh2/-/2018/493175/quyet-dinh-tu-phap-va-doan-dinh-tu-phap-cua-nguoi-dan---pham-tru-phap-ly-moi-can-duoc-quan-tam-trong-thuc-tien-tu-phap-nuoc-ta.aspx
Quyết định tư pháp và đoán định tư pháp của người dân - phạm trù pháp lý mới cần được quan tâm trong thực tiễn tư pháp nước ta
25-06-2019
Nhận thức chung về quyết định tư pháp và đoán định tư pháp của người dân
PGS, TS. Nguyễn Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao_Nguồn: tapchitoaan.vn Nhận thức chung về quyết định tư pháp và đoán định tư pháp của người dân Về quyết định tư pháp của người dân. Khoa học pháp lý cũng như pháp luật thực định ở nước ta khi đề cập đến “quyết định tư pháp” thường chỉ tiếp cận các quyết định của cơ quan công quyền, cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng (quyết định khởi tố, bắt, tạm giữ, tạm giam, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản...). Trong thực tế tư pháp còn có “quyết định tư pháp của người dân” . Quyết định tư pháp của người dân tồn tại một cách khách quan. Xã hội càng phát triển, trình độ dân trí về pháp luật càng được nâng cao thì quyết định tư pháp của người dân càng được phát huy và có tác động tích cực đến chất lượng nền tư pháp. Quyết định tư pháp của người dân là những quyết định trong quá trình giải quyết các vụ án, vụ, việc mà pháp luật trao cho người dân và thường xuất hiện trong các trường hợp sau: 1- Quyết định lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp (phương thức hòa giải, đối thoại hoặc phương thức xét xử); 2- Quyết định yêu cầu hoặc không yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự đối với một số trường hợp phải có yêu cầu của người bị hại mới được khởi tố; 3- Quyết định tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa; 4- Quyết định làm chứng, cung cấp chứng cứ hay không; 5- Quyết định khiếu nại, tố cáo hay không đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng; 6- Quyết định kháng cáo hoặc không kháng cáo bản án, quyết định của tòa án; 7- Quyết định tự nguyện thi hành án; và nhiều quyết định khác... Chủ thể “quyết định tư pháp của người dân” chính là người liên quan đến vụ án, vụ, việc (có thể là đương sự, người khởi kiện, người bị kiện, người bị hại, bị can, bị cáo...), là “người trong cuộc” , có quyền đưa ra các quyết định trong quá trình giải quyết vụ án, vụ, việc. Các quyết định tư pháp của người dân ở những mức độ khác nhau đều có tác động đến hoạt động của các cơ quan tư pháp. Nếu người dân lựa chọn giải quyết tranh chấp dân sự bằng phương thức hòa giải thì tố tụng xét xử tại tòa án sẽ không mở ra; nếu người dân quyết định kháng cáo thì bản án sơ thẩm sẽ chưa có hiệu lực pháp luật và phải được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm... Quyết định tư pháp của người dân đúng đắn và chính xác sẽ giúp phát hiện kịp thời các sai sót; giải quyết đúng đắn vụ án; sớm kết thúc tố tụng; giảm áp lực công việc của cơ quan tư pháp, tăng sự đồng thuận xã hội và sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân... Quyết định tư pháp của người dân không đúng có thể khiến cho quá trình tố tụng kéo dài, phức tạp, tốn kém thời gian, chi phí của cả người dân và Nhà nước. Chính vì vậy, các nền tư pháp tiên tiến trên thế giới đều rất chú trọng nâng cao chất lượng quyết định tư pháp của người dân, triển khai nhiều giải pháp để hỗ trợ hiệu quả người dân trong việc đưa ra các quyết định tư pháp đúng đắn. Về đoán định tư pháp của người dân. Đoán định tư pháp của người dân là các dự đoán của xã hội về phương pháp, kết quả giải quyết các vụ án, vụ, việc và có thể xuất hiện trong tất cả các vụ án, vụ, việc, nhất là các vụ án, vụ, việc lớn, được dư luận quan tâm. Xã hội càng phát triển, người dân càng quan tâm đến tư pháp thì đoán định tư pháp càng thu hút nhiều người tham gia. Đoán định tư pháp thường rất đa chiều, phong phú; các kết quả dự đoán đưa ra thậm chí rất khác nhau (Ví dụ: Vụ án Vinasun khởi kiện yêu cầu Grab bồi thường đã thu hút nhiều người dân tham gia dự đoán liệu Vinasun sẽ thắng kiện hay Grab sẽ thắng kiện...). Đoán định tư pháp không chỉ được đưa ra với các vụ án trong nước, mà cả với các vụ án do cơ quan tư pháp nước ngoài giải quyết (Ví dụ: Vụ án liên quan đến cái chết của ông Kim Jong Nam tại Ma-lai-xi-a đã thu hút nhiều người dân tham gia dự đoán liệu công dân Đoàn Thị Hương có thoát tội giết người và được trả tự do hay không...). Đoán định tư pháp được đưa ra dựa trên thông tin công khai về vụ án và phụ thuộc vào kiến thức, kinh nghiệm của từng người tham gia đoán định. Đoán định tư pháp sẽ đạt độ chính xác cao nếu người tham gia đoán định có nhiều thông tin về vụ án, có kiến thức tốt về pháp luật và có kinh nghiệm sống phong phú. Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông và In-tơ-nét cũng hỗ trợ tích cực cho đoán định tư pháp, cung cấp kịp thời nhiều thông tin về vụ án, thậm chí đăng tải các ý kiến nhiều chiều từ các nhà chuyên môn để giúp người dân đưa ra các dự đoán về kết quả giải quyết vụ án đạt độ chính xác ngày càng cao hơn. Chủ thể “đoán định tư pháp” là đông đảo nhân dân, là những người không liên quan đến vụ án, vụ, việc, không có quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án, vụ, việc theo luật định nhưng quan tâm đến các sự kiện pháp lý này. Trong thực tế, một bộ phận tham gia đoán định tư pháp là các chuyên gia, các nhà hoạt động thực tiễn có kiến thức pháp luật và có kinh nghiệm chuyên môn (điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư, các nhà khoa học pháp lý, sinh viên luật...) đã đóng góp tiếng nói chuyên môn bổ ích, có giá trị tham khảo không chỉ đối với những người dân tham gia đoán định tư pháp, mà còn đối với những người đang được giao trách nhiệm giải quyết vụ án. Việc ngày càng có nhiều người dân tham gia đoán định tư pháp là dấu hiệu tích cực cho thấy, trình độ dân trí, nhận thức pháp luật, sự quan tâm của người dân đối với công việc của Nhà nước nói chung và công việc tư pháp nói riêng ngày càng cao; đồng thời tạo cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp. Quyết định tư pháp và đoán định tư pháp của người dân luôn tồn tại khách quan và có tác động không nhỏ đến hoạt động tư pháp. Việc nhận diện đầy đủ vấn đề pháp lý này cả ở phương diện khoa học cũng như thực tiễn là rất cần thiết để có các giải pháp hỗ trợ người dân đưa ra các quyết định tư pháp và đoán định tư pháp chính xác, góp phần nâng cao chất lượng nền tư pháp. Vai trò của quyết định tư pháp và đoán định tư pháp của người dân đối với chất lượng hoạt động tư pháp Vai trò của quyết định tư pháp của người dân đối với chất lượng hoạt động tư pháp. Trong từng trường hợp cụ thể, các quyết định tư pháp của người dân có tác động khác nhau đối với hoạt động tư pháp. Để hiểu rõ hơn vai trò của quyết định tư pháp của người dân, cần phân tích các tình huống pháp lý gắn liền với các quyết định này. Một là, quyết định lựa chọn phương thức hòa giải, đối thoại để giải quyết tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính. Trên thế giới, ngày càng có nhiều nước phải đối diện với sự quá tải trong giải quyết các vụ án dân sự, thương mại. Nhiều giải pháp đã được đề ra, trong đó có giải pháp giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện bằng phương thức hòa giải, đối thoại. Trên cơ sở đó, mô hình “Trung tâm hòa giải tại tòa án” (với các tên gọi khác nhau) đã được thành lập ở nhiều nước và hiện đang trở thành phương thức phổ biến trong giải quyết tranh chấp. Ở nước ta, những năm qua các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính không ngừng tăng lên theo quy mô của nền kinh tế và quy mô dân số, song người dân vẫn có xu hướng lựa chọn phương thức xét xử, dẫn đến tăng áp lực xét xử của tòa án, tăng thời gian chờ đợi và chi phí của người dân. Việc người dân quyết định chọn phương thức hòa giải, đối thoại để giải quyết tranh chấp có ý nghĩa lớn với các bên tranh chấp cũng như với Nhà nước. Theo đó: Thứ nhất , phát huy tối đa ý chí tự nguyện và khả năng tự định đoạt của các chủ thể trong giải quyết các tranh chấp. Thứ hai , các bên tìm được sự thiện chí, thống nhất để giải quyết hài hòa lợi ích đôi bên theo tinh thần hai bên cùng thắng, không bị rơi vào tâm lý thắng - thua như khi giải quyết tranh chấp thông qua xét xử tại tòa án, nhờ vậy đồng thuận xã hội được duy trì tốt hơn. Thứ ba , đáp ứng được mong muốn của các bên tranh chấp, đó là chi phí ít tốn kém, thời gian giải quyết nhanh chóng, bất đồng được giải quyết kín đáo và bảo mật thông tin - tiêu chí mà phương thức giải quyết bằng tố tụng tại tòa án không thể có được. Thứ tư , kết quả giải quyết của phương thức này được pháp luật thừa nhận, ở mức độ đơn giản là công nhận hiệu lực của phương án đạt được thông qua hòa giải, ở mức độ cao hơn là thiết lập các cơ chế pháp lý để loại bỏ những hạn chế có thể phát sinh, bảo đảm kết quả hòa giải được thực thi. Thứ năm , giúp giảm áp lực công tác xét xử của tòa án; tiết kiệm chi phí, công sức, thời gian của Nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân mà vẫn đạt được mục đích giải quyết tranh chấp; đặc biệt, đối với những tranh chấp kinh doanh, thương mại có giá trị lớn, thì tranh chấp kéo dài đồng nghĩa với thiệt hại về vật chất của các bên sẽ tăng lên. Thứ sáu , hòa giải, đối thoại thành công sẽ được các bên tôn trọng và tự nguyện thi hành mà không cần đến sự can thiệp của cơ quan thi hành án. Thứ bảy , đối với việc giải quyết vụ án hành chính, lựa chọn phương thức đối thoại còn góp phần xây dựng mối quan hệ tin cậy giữa người dân và chính quyền; thông qua đối thoại, tạo điều kiện cho chính quyền xem xét lại tính hợp pháp của hành vi, quyết định hành chính, nếu không đúng pháp luật sẽ kịp thời hủy bỏ; đồng thời tạo điều kiện để người dân xem xét lại tính có căn cứ của yêu cầu khởi kiện, nếu không có căn cứ pháp luật người dân sẽ chủ động rút đơn khởi kiện, tránh khiếu kiện bức xúc, kéo dài, làm phức tạp tình hình. Từ những ý nghĩa nêu trên, nhiệm vụ đặt ra là phải cải cách mạnh mẽ thiết chế hòa giải, đối thoại ở nước ta hiện nay để khuyến khích người dân quyết định lựa chọn phương thức hòa giải, đối thoại, phát huy các giá trị của phương thức này đối với xã hội và Nhà nước. Vừa qua, Tòa án Nhân dân tối cao đã thực hiện chủ trương đổi mới hòa giải, đối thoại để nâng cao chất lượng giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính. Theo đó, đã triển khai thí điểm tại 16 tỉnh, thành phố mô hình Trung tâm hòa giải, đối thoại tại tòa án . Kết quả thí điểm cho thấy, tỷ lệ hòa giải thành đạt trên 70%. Từ kết quả thí điểm, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã giao cho Tòa án Nhân dân tối cao xây dựng Dự án Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án trình Quốc hội thông qua, tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ để người dân thực hiện quyền quyết định lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả. Hai là, quyết định tự thỏa thuận giải quyết vụ án dân sự. Bộ luật Tố tụng dân sự nước ta xây dựng trên tinh thần “việc dân sự cốt ở đôi bên” . Theo đó, ngay cả khi đương sự đã khởi kiện và tòa án đã thụ lý vụ án, pháp luật vẫn dành cơ hội để các bên tự thỏa thuận, thương lượng về việc giải quyết vụ án trong mọi giai đoạn. Cụ thể, trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, nếu các bên nhất trí thỏa thuận việc giải quyết vụ án và rút đơn khởi kiện thì tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Tương tự như vậy, tại phiên tòa sơ thẩm hay phiên tòa phúc thẩm, nếu các bên thỏa thuận được việc giải quyết vụ án thì hội đồng xét xử phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận tự nguyện của các đương sự. Như vậy, ngay cả khi tòa án đã thụ lý vụ án, quyết định tự thỏa thuận về việc giải quyết vụ án có ý nghĩa rất lớn, giúp sớm chấm dứt quá trình tố tụng, tiết kiệm thời gian và chi phí của đương sự và Nhà nước, tranh chấp được giải quyết một cách thân thiện, quan hệ hòa thuận giữa các bên tiếp tục được duy trì, đồng thời cũng không làm phát sinh trách nhiệm của cơ quan thi hành án, bởi các bên sẽ tôn trọng và tự nguyện thi hành kết quả thỏa thuận. Thẩm phán có vai trò rất quan trọng để khuyến khích các đương sự quyết định tự thỏa thuận việc giải quyết vụ án. Quá trình tố tụng, các thẩm phán có bổn phận thực thi nhiệm vụ này, phân tích thấu đáo các lợi ích và tạo điều kiện tối đa để các bên quyết định tự thỏa thuận giải quyết tranh chấp. Ba là, quyết định trình bày lời khai, cung cấp chứng cứ. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Người bị buộc tội có quyền trình bày lời khai, đưa ra chứng cứ, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Điều này xuất phát từ nguyên tắc tố tụng hình sự tiến bộ quan trọng: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Nhà nước, người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội”. Như vậy, việc có đưa ra lời khai bất lợi, thừa nhận hoặc không thừa nhận hành vi phạm tội là quyền của người bị buộc tội, hoàn toàn do người bị buộc tội quyết định, pháp luật không buộc họ phải thực hiện việc này. Ở một khía cạnh khác, luật cũng khuyến khích người bị tình nghi thành khẩn khai báo bằng các chính sách hình sự khoan hồng. Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự cho thấy, trường hợp người bị buộc tội quyết định nhận tội, thành khẩn khai báo, cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, vụ án sẽ sớm kết thúc, tiết kiệm thời gian và nguồn lực của Nhà nước, người phạm tội được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Trường hợp người phạm tội không thừa nhận hành vi phạm tội, các cơ quan tố tụng phải tôn trọng quyền của họ và phải thực hiện trách nhiệm chứng minh tội phạm bằng các nguồn chứng cứ khác. Do đó, quá trình giải quyết vụ án sẽ kéo dài và phức tạp. (Ví dụ: Vụ án sát hại nữ sinh giao gà tại tỉnh Điện Biên hiện nay đang trong quá trình điều tra, các bị can khai báo nhỏ giọt, lời khai không chính xác, liên tục thay đổi lời khai, dẫn đến việc điều tra vụ án rất khó khăn, ban đầu chỉ khởi tố về tội giết người, sau đó khởi tố bổ sung các tội cướp tài sản, tội hiếp dâm, tội giữ người trái pháp luật, tội không tố giác tội phạm). Quyết định của người dân trong việc cung cấp chứng cứ, tham gia vụ án với tư cách người làm chứng cũng có ý nghĩa lớn trong giải quyết các vụ án dân sự, hành chính..., giúp cho việc giải quyết vụ án chính xác, đúng pháp luật, nhanh chóng. Bốn là, quyết định khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Nền tư pháp tiến bộ phải là nền tư pháp công bằng, đúng pháp luật và không vi phạm. Quyết định khiếu nại, tố cáo của người dân nếu chính xác sẽ giúp phát hiện sớm các sai sót, vi phạm, từ đó kịp thời khắc phục, giảm thiểu những thiệt hại, hạn chế những tiêu cực trong quá trình giải quyết vụ án (Ví dụ: Người dân khiếu nại cơ quan điều tra không chỉ định người bào chữa cho bị can dưới 18 tuổi, qua giải quyết xác định việc khiếu nại là đúng, cơ quan điều tra sẽ phải chỉ định ngay người bào chữa để bảo vệ cho bị can, đồng thời tránh được nguy cơ vô hiệu các kết quả tố tụng liên quan đến bị can dưới 18 tuổi do vi phạm này được Bộ luật Tố tụng hình sự xác định là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thuộc trường hợp phải trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung). Quyết định khiếu nại, tố cáo của người dân chính là kênh giám sát chặt chẽ đối với quá trình tố tụng, đặt ra yêu cầu đối với các cán bộ tố tụng phải đề cao trách nhiệm, thận trọng, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án. Đây cũng là kênh thông tin quan trọng giúp thủ trưởng các cơ quan tố tụng đánh giá đầy đủ năng lực, trách nhiệm, thái độ công tác của cán bộ thuộc quyền, từ đó có các quyết định thích hợp về tổ chức cán bộ, như khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ... Nhiệm vụ đặt ra đối với các cơ quan tố tụng là phải giải quyết vụ án một cách khách quan, kịp thời, đúng pháp luật, không làm phát sinh khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Khi có khiếu nại, tố cáo của người dân, phải nghiêm túc kiểm tra, cầu thị xem xét, nếu có sai sót thì phải kịp thời khắc phục; nếu khiếu nại, tố cáo không đúng thì phải trả lời, giải thích đầy đủ để người dân đồng thuận, tránh khiếu nại, tố cáo bức xúc, kéo dài. Năm là, quyết định kháng cáo bản án, quyết định của tòa án. Những sai sót, vi phạm trong bản án dù lớn hay nhỏ đều ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, thậm chí ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội. Trước mỗi vụ án, việc người dân quyết định kháng cáo chính xác sẽ giúp phát hiện và khắc phục kịp thời các sai sót, bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng pháp luật, khách quan, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội; đồng thời giúp cho thẩm phán đã ra bản án không đúng pháp luật thấy được các thiếu sót để rút kinh nghiệm trong việc giải quyết các vụ án tương tự sau này. Ngược lại, quyết định không kháng cáo nếu chính xác sẽ giúp sớm chấm dứt quá trình tố tụng; tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của người dân và Nhà nước; bản án sẽ sớm có hiệu lực thi hành, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên theo bản án sẽ sớm được thực thi. Trên thực tế, thời gian qua không hiếm các trường hợp kháng cáo theo kiểu “đeo bám tố tụng”, bất chấp pháp luật. Những kháng cáo như vậy chỉ làm cho quá trình giải quyết vụ án trở nên phức tạp, kéo dài, lãng phí, tốn kém, thậm chí làm nảy sinh tiêu cực trong đội ngũ chức danh tư pháp do “chạy án”. Sáu là, quyết định tự nguyện thi hành án. Điều 106 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều trường hợp, nhất là trong thi hành án dân sự, đương sự không những không chấp hành bản án mà còn chống đối quyết liệt. Tình trạng chống đối thi hành các bản án đã có hiệu lực pháp luật đang khá phổ biến và gây ra những hệ lụy không đáng có, người phải thi hành án vừa bị cưỡng chế tài sản (theo bản án dân sự), vừa bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi chống người thi hành công vụ, cố ý gây thương tích hoặc gây rối trật tự công cộng... Chính vì vậy, sau cưỡng chế thi hành án, thường tiềm ẩn những mâu thuẫn mới sẽ phát sinh, có nguy cơ tạo ra vòng tròn đối lập phức tạp qua nhiều thế hệ: xung đột - khiếu kiện - xét xử - cưỡng chế thi hành án - xung đột... Ngoài ra, việc tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự phải huy động nhiều lực lượng chức năng, với các phương án, kế hoạch cưỡng chế, tốn kém nhiều công sức, tài sản, thời gian. Do đó, nếu người dân quyết định tự nguyện thi hành án sẽ có ý nghĩa rất lớn; bên được thi hành án sớm khôi phục lại quyền lợi của mình; bên phải thi hành án sẽ không phải trả các chi phí thi hành án; giảm áp lực cho cơ quan thi hành án; tránh tốn kém cho ngân sách nhà nước. Thiện chí của các bên trong quá trình thi hành án còn giúp hàn gắn các mâu thuẫn, rạn nứt. Nhiệm vụ đặt ra đối với cơ quan thi hành án và mỗi chấp hành viên là phải kiên trì vận động, giải thích, cung cấp đầy đủ thông tin để người dân hiểu và tự nguyện chấp hành bản án, để cả đương sự và Nhà nước đều có lợi. Vai trò của đoán định tư pháp của người dân đối với chất lượng hoạt động tư pháp. Hiện nay, sự công khai, minh bạch trong hoạt động tư pháp, sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông và trình độ dân trí ngày càng được nâng cao đã thu hút nhiều người dân tham gia đoán định tư pháp. Chất lượng cao trong dự đoán về phương pháp, trình tự, kết quả giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính sẽ có tác động tích cực đến chất lượng nền tư pháp. Cần phải thừa nhận đoán định tư pháp là một hiện tượng xã hội khách quan, có xu hướng phổ biến, mức độ thống nhất của các dự đoán ngày càng tăng lên. Những dự đoán của các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ hoạt động thực tiễn đã nghỉ hưu trong lĩnh vực tư pháp (thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, luật sư...) thường khá sát với kết quả giải quyết vụ án trên thực tế. Đây là dấu hiệu tích cực của nền tư pháp. Mặt ưu việt của đoán định tư pháp có thể được nhắc đến là: 1- Tạo cơ chế giám sát đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp và các chức danh tư pháp; 2- Nhắc nhở cán bộ tư pháp cẩn trọng trước khi ban hành các quyết định; 3- Là kênh thông tin tham khảo đôi khi rất quan trọng, có ý nghĩa cho cán bộ tư pháp khi thực thi nhiệm vụ; 4- Giúp cho nhà quản lý và cơ quan tư pháp cấp trên phát hiện được sai sót của quá trình tố tụng và có giải pháp khắc phục kịp thời; 5- Là diễn đàn khoa học để các cán bộ tư pháp nghiên cứu và trao đổi thực tiễn; sinh viên luật thảo luận, tranh luận về những hiện tượng pháp lý cụ thể trong các vụ án; 6- Là một trong những phương thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật hữu hiệu để nâng cao trình độ dân trí về pháp luật, vốn luôn là mục tiêu quan trọng của mọi nền tư pháp; 7- Có tác dụng răn đe, phòng ngừa các vi phạm, tội phạm thông qua việc dự báo các mức độ chế tài nghiêm khắc của pháp luật. Những giải pháp nâng cao chất lượng quyết định tư pháp và đoán định tư pháp của người dân Quyết định tư pháp và đoán định tư pháp của người dân là một hiện tượng xã hội có hai mặt: tích cực và tiêu cực. Mặt tiêu cực là các quyết định, đoán định sai sẽ làm lệch chuẩn giá trị đạo đức, pháp lý; tác động bất ổn đến dư luận xã hội; tạo áp lực đối với các cơ quan tư pháp, có nguy cơ xâm phạm nguyên tắc hiến định “bảo đảm sự độc lập của hoạt động xét xử” , vô tình can thiệp gián tiếp vào quá trình giải quyết vụ án, làm cho việc giải quyết vụ án trở nên phức tạp, kéo dài, tốn kém... Mặt tích cực bao trùm là các quyết định, đoán định đúng sẽ góp phần đáng kể nâng cao chất lượng nền tư pháp, giúp cho việc giải quyết vụ án đúng pháp luật, đúng thời hạn. Thực tế hiện nay, quyết định tư pháp và đoán định tư pháp của người dân do chưa được nhận thức đầy đủ, thiếu sự điều chỉnh và định hướng của Nhà nước nên đang phát triển tự phát, làm cho mặt tiêu cực bộc lộ và đôi khi lấn át mặt tích cực. Trong tiến trình cải cách tư pháp thời gian tới, Nhà nước phải nhận thức đầy đủ hơn về quyết định tư pháp và đoán định tư pháp của người dân, có giải pháp thiết thực để khắc phục mặt tiêu cực và phát huy mặt tích cực của nó. Theo đó, chúng tôi đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng quyết định tư pháp và đoán định tư pháp của người dân như sau: Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền pháp luật, nâng cao trình độ dân trí về pháp luật. Hiểu biết pháp luật là tiền đề tiên quyết để người dân đưa ra quyết định tư pháp và đoán định tư pháp đúng đắn. Người dân luôn có nhu cầu muốn biết pháp luật đã trao cho mình những quyền gì để quyết định sử dụng, pháp luật đã định hướng giải quyết vụ, việc theo khuôn khổ nào để lựa chọn và dự đoán. Do đó, trách nhiệm của Nhà nước là phải triển khai nhiều hình thức thiết thực và hiệu quả trong tuyên truyền pháp luật, để trình độ dân trí về pháp luật ngày càng được nâng cao. Thứ hai, công khai các văn bản pháp luật, áp dụng các cơ chế tra cứu pháp luật thuận tiện, nhanh chóng. Việc cập nhật đầy đủ và kịp thời các quy định pháp luật sẽ hỗ trợ người dân đưa ra các quyết định tư pháp và đoán định tư pháp chính xác. Trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền là phải thực hiện nghiêm túc việc công khai các văn bản pháp luật; công bố kịp thời các văn bản pháp luật mới ban hành. Đồng thời, ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng và triển khai các phần mềm để tạo thuận lợi cho người dân trong tra cứu, đối chiếu. Thứ ba, công khai các bản án, án lệ. Việc công khai các bản án, án lệ sẽ cung cấp nguồn thông tin tham khảo quan trọng, giúp người dân đối chiếu vụ án, vụ, việc liên quan đến mình để đưa ra quyết định chính xác, đồng thời hỗ trợ hữu ích những người quan tâm đến vụ án và tham gia đoán định vụ án. Trong thời gian tới, Tòa án Nhân dân tối cao sẽ tiếp tục chú trọng việc công khai bản án, án lệ trên mạng in-tơ-nét - một công việc đã được dư luận đánh giá cao như vừa qua; đồng thời tăng cường phát hiện, ban hành các án lệ mới. Thứ tư, tăng cường các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài xét xử, thiết lập cơ chế hòa giải, đối thoại hữu hiệu. Khẩn trương hoàn thành việc xây dựng và trình Quốc hội thông qua Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án. Việc sớm ban hành đạo luật này sẽ hỗ trợ người dân giải quyết hiệu quả tranh chấp, ít tốn kém thời gian, chi phí, giữ gìn sự đoàn kết, bảo đảm hài hòa lợi ích các bên, giảm áp lực cho công tác xét xử và thi hành án. Thứ năm, chăm lo xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ luật sư, hòa giải viên, trợ giúp viên pháp lý chính là giải pháp quan trọng để hình thành đội ngũ chuyên gia am hiểu pháp luật, giàu kinh nghiệm thực tiễn, qua đó tư vấn hiệu quả cho người dân trong việc đưa ra các quyết định tư pháp chính xác. Nhiệm vụ đặt ra trong thời gian tới là cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật liên quan để phát triển đội ngũ này và tạo điều kiện thuận lợi để họ thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ pháp lý cho người dân. Thứ sáu, định hướng và chấn chỉnh một số hiện tượng chưa phù hợp trong công tác truyền thông vừa qua. Làm tốt nhiệm vụ này sẽ có ý nghĩa quan trọng, tạo sự lan tỏa rộng rãi trong xã hội. Tuyên truyền những quyết định tư pháp và đoán định tư pháp đúng đắn của người dân sẽ góp phần định hướng cách ứng xử chuẩn mực trong xã hội; hạn chế, loại trừ các đoán định trái pháp luật, xuyên tạc, bôi nhọ; làm lành mạnh hóa môi trường pháp lý; tạo diễn đàn khuyến khích người dân tham gia đoán định tư pháp. Thứ bảy, khắc phục mặt tiêu cực của quyết định tư pháp và đoán định tư pháp của người dân . Cùng với việc phát huy các giá trị tích cực của quyết định tư pháp và đoán định tư pháp của người dân, Nhà nước cần phải hạn chế mặt tiêu cực của nó. Cần bắt đầu bằng việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, sau đó là các giải pháp, các cơ chế khắc phục mặt tiêu cực. Đồng thời, có các chế tài hình sự, yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự, hành chính để nghiêm khắc xử lý các hiện tượng tiêu cực trong quyết định tư pháp và đoán định tư pháp của người dân như kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới. Thứ tám, cung cấp cho người dân các công cụ tiện ích để tìm kiếm các vụ án có tình huống pháp lý tương tự. Tham khảo kinh nghiệm của thế giới cho thấy, nhiều nước có nền tư pháp hiện đại đã ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai nhiều phần mềm tiện ích giúp người dân tra cứu các vụ án có tình huống pháp lý tương tự để tham khảo trước khi đưa ra quyết định tư pháp hoặc đoán định tư pháp. Thời gian tới, Nhà nước cần quan tâm và dành khoản ngân sách thỏa đáng cho nhiệm vụ ứng dụng công nghệ thông tin của các cơ quan tư pháp, góp phần quan trọng xây dựng nền tư pháp ngày càng hiện đại và hỗ trợ pháp lý cho người dân đạt hiệu quả hơn./.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/an-ninh2/-/2018/495496/bao-dam-an-ninh-bien%2C-dao-de-phat-trien-ben-vung-kinh-te---xa-hoi-dat-nuoc.aspx
Bảo đảm an ninh biển, đảo để phát triển bền vững kinh tế - xã hội đất nước
29-07-2019
Quan điểm của Đảng về bảo đảm an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, phát triển kinh tế biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Lễ Chào cờ trên đảo Song Tử Tây (huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa)_Ảnh: Vĩnh Thành Quan điểm của Đảng về bảo đảm an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, phát triển kinh tế biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trên năm trăm năm trước, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã xác định: “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ/Đất Việt muôn năm vững trị bình”. Giữ được biển là yên được nước. Dựa trên hình thể của nước ta, dựa trên chiều dài lịch sử giữ nước, chống ngoại xâm nên Trạng Trình đã viết nên những dòng có tính kinh điển như vậy. Quả thực, lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc khẳng định giữ được biển có vai trò then chốt trong sự phát triển của đất nước. Biển Đông là một biển lớn, đứng thứ hai thế giới sau biển San Hô ở phía Đông Ô-xtrây-li-a. Chiều dài của Biển Đông khoảng 3.000km, chiều ngang nơi hẹp nhất từ Mũi Cà Mau đến đảo Borneô thuộc In-đô-nê-xi-a gần 1.000km; diện tích khoảng 3.447.106km 2 , gấp 1,5 lần Địa Trung Hải. Trong biển có hai vịnh lớn là vịnh Bắc Bộ ở phía Bắc (diện tích khoảng 150.000km 2 ) và vịnh Thái Lan ở phía Nam (462.000km 2 ). Biển Đông có con đường hàng hải tấp nập thứ hai trên thế giới, nhiều eo biển thông ra Thái Bình Dương, kết nối với Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca, là đường thủy huyết mạch nối các quốc gia nằm ở Đông Á, Thái Bình Dương với Trung Cận Đông, châu Phi và châu Âu. Là quốc gia ven biển, nằm trên phía Tây của Biển Đông, Việt Nam có bờ biển dài trên 3.260km, có diện tích các vùng lãnh hải thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên 1 triệu ki-lô-mét vuông, gấp 3 lần lãnh thổ, với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên 3.000 đảo và quần đảo khác. Diện tích biển của Việt Nam chiếm 29% diện tích Biển Đông. Bình quân 100km 2 đất liền có 1km đường bờ biển, trong khi tỷ lệ này của thế giới là 600km 2 /1km. Cứ khoảng 1km 2 đất liền thì có gần 4km 2 vùng lãnh hải và đặc quyền kinh tế. Tỷ lệ này gấp khoảng 1,6 lần so với mức trung bình của thế giới. Việt Nam có trên 50% dân số sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển. Nhiều khu vực bờ biển, cũng như các đảo ở nước ta có vị trí địa lý rất trọng yếu đối với phát triển kinh tế và an ninh, quốc phòng. Bảo đảm an ninh biển, đảo nhằm khai thác những tiềm năng to lớn của biển là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiệm vụ này càng trở nên cấp bách trong thế kỷ XXI khi mà tình hình Biển Đông đang ngày càng nóng lên trước những toan tính của một số quốc gia trên thế giới. Nhận rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh và phát triển kinh tế biển, trong những năm qua Đảng ta đã có những quyết sách mang tầm chiến lược. Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 6-5-1993, của Bộ Chính trị, về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển đã xác định, xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, “trở thành một nước mạnh về kinh tế biển” phải là một mục tiêu chiến lược của quốc gia. Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 22-9-1997, của Bộ Chính trị, về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cụ thể hóa thêm một bước về mục tiêu trên: "Vùng biển, hải đảo và ven biển là địa bàn chiến lược, có vị trí quyết định đối với sự phát triển của đất nước ta; là tiềm năng và thế mạnh quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI nêu rõ: “Phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của nước ta, gắn với phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biển. Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, đóng tàu, xi-măng... Phát triển cảng biển, dịch vụ cảng và vận tải biển, sông - biển; phát triển các đội tàu, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển, phát triển kinh tế đảo phù hợp với vị trí tiềm năng và lợi thế của từng đảo”(1). Đại hội XII của Đảng xác định nội dung phát triển kinh tế biển: “Phát triển mạnh kinh tế biển nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia và bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp dầu khí, đánh bắt xa bờ và hậu cần nghề cá, kinh tế hàng hải (kinh doanh dịch vụ cảng biển, đóng và sửa chữa tàu biển, vận tải biển), du lịch biển, đảo. Có cơ chế tạo bước đột phá về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển, thu hút mạnh hơn mọi nguồn lực đầu tư để phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, khai thác tài nguyên biển, đảo một cách bền vững. Tập trung đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động các khu vực kinh tế ven biển”(2). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045 khẳng định: “Thống nhất tư tưởng, nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(3). Nội dung chiến lược bảo đảm an ninh biển, đảo của Việt Nam được xác định tại Nghị quyết 09-NQ/TW, ngày 9-02-2007, Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 , đó là: Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc gắn với thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là hải quân, không quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển mạnh, làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân và các thành phần kinh tế sản xuất và khai thác tài nguyên biển. Sớm xây dựng chính sách đặc biệt để thu hút và khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra đảo định cư lâu dài và làm ăn dài ngày trên biển, phát triển kinh tế kết hợp làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc. Tình hình hiện nay ở Biển Đông diễn biến phức tạp do những toan tính của các thế lực bên ngoài, gây cản trở cho việc bảo về chủ quyền biển, đảo và phát triển các ngành kinh tế biển của nước ta. Vì vậy, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân… Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân… Bảo đảm an ninh biển, đảo chính là bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia. Bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo, bao gồm: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định theo Hiến pháp và pháp luật nước ta, các điều ước quốc tế về biên giới và lãnh thổ mà Việt Nam tham gia; phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Xây dựng thế trận lòng dân, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế để bảo đảm vững chắc an ninh, chủ quyền biển, đảo Phát triển kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế để bảo đảm vững chắc an ninh, chủ quyền biển, đảo sẽ phát huy được sức mạnh của từng lĩnh vực. Sự kết hợp này tạo thành sức mạnh tổng hợp, quy tụ mọi nguồn lực nhằm hoàn thành thắng lợi mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Quán triệt quan điểm đó, để bảo đảm tốt an ninh, chủ quyền biển, đảo, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau: Một là , phát triển mạnh mẽ, vững chắc kinh tế - xã hội vùng ven biển, hải đảo, làm cứ điểm phát triển toàn diện kinh tế biển. Đầu tư thích đáng cho các ngành kinh tế biển có thế mạnh, như khai thác, chế biến dầu khí, hệ thống cảng và dịch vụ vận tải biển, đánh bắt xa bờ, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản, du lịch biển, đảo,... Xây dựng các trung tâm dịch vụ có khả năng hỗ trợ mạnh mẽ cho khai thác kinh tế biển, tập trung phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh biển. Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc khai thác hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên biển. Xây dựng các cơ sở hậu cần nghề cá, tránh trú bão, hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ và hoạt động dài ngày trên biển. Tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người dân định cư lâu dài trên các đảo. Tăng cường công tác cứu hộ, cứu nạn và bảo đảm an ninh, an toàn trên biển, đảo. Hai là , kết hợp chặt chẽ giữa thúc đẩy nhanh quá trình dân sự hóa các vùng biển, đảo để xây dựng thế trận lòng dân trên biển vững mạnh, đủ khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Dân sự hóa các vùng biển, đảo, tổ chức dân cư, tổ chức sản xuất nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên trên biển, đồng thời cũng là tiền đề để xây dựng, củng cố và phát huy lực lượng tại chỗ phục vụ chiến lược quốc phòng - an ninh trên biển. Khuyến khích nhân dân định cư ổn định và làm ăn dài ngày trên biển. Kết hợp hài hòa giữa các lợi ích kinh tế với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng tại các vùng kinh tế ven biển. Gắn kết giữa phát triển kinh tế với nâng cao khả năng phòng thủ vùng biển. Phát huy hiệu quả tối đa các công trình, cơ sở vật chất kỹ thuật “lưỡng dụng” cho mục đích kinh tế và quốc phòng, an ninh. Gắn kết chặt chẽ các vùng kinh tế trọng điểm biển với các vùng kinh tế ven biển. Bảo đảm các vùng kinh tế ven biển là hậu cứ vững chắc cho vùng kinh tế biển, kịp thời ứng phó với những tình huống phức tạp phát sinh trên vùng kinh tế biển. Xây dựng các khu quốc phòng - kinh tế tại các đảo, quần đảo, vùng biển, tạo thành những căn cứ vững chắc để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của nước ta. Ba là , xây dựng lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân vững mạnh đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh biển, đảo. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. Hiện đại hóa, nâng cao sức chiến đấu của hải quân, không quân, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, những binh chủng hợp thành các quân đoàn, quân khu ven biển và hải đảo. Tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của các lực lượng thực thi pháp luật trên biển. Xây dựng lực lượng vũ trang thành chỗ dựa vững chắc cho những lực lượng dân sự làm kinh tế biển. Xây dựng lực lượng công an nhân dân bảo đảm đủ sức là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ an ninh chính trị, kinh tế, trật tự, an toàn xã hội vùng biển, hải đảo và các vùng ven biển. Bảo đảm an ninh, trật tự là điều kiện để phát triển kinh tế, nâng cao năng lực quốc phòng. Điều này lại càng cần thiết trong điều kiện biển và hải đảo, nơi gắn liền với công tác bảo vệ sự toàn vẹn biên giới, lãnh thổ. Trình độ bảo đảm an ninh, an toàn xã hội thể hiện trình độ, năng lực làm chủ vùng biển quốc gia. Theo đó, lực lượng công an nhân dân cần được xây dựng để đủ sức làm tốt các nhiệm vụ sau: - Xây dựng lực lượng cảnh sát biển làm nòng cốt bảo đảm thực thi pháp luật trên biển. - Bảo vệ hoạt động kinh tế biển, tính mạng người dân, tài sản của Nhà nước và nhân dân trên biển. Bảo đảm an toàn giao thông đường biển và ven bờ. Bảo vệ môi trường, kịp thời xử lý các hành vi làm tổn hại đến môi trường biển. - Xử lý các tranh chấp lợi ích giữa các tổ chức hoặc cá nhân trong sản xuất, khai thác biển. - Tham gia phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai. Thực thi công tác cứu hộ, cứu nạn trên biển. - Bảo đảm an ninh quốc gia trên biển, kịp thời ngăn chặn, xử lý các phương tiện xâm nhập đất liền nhằm các mục tiêu chính trị và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Bốn là , đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong nước và cộng đồng quốc tế. Đây là một nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Cần thông tin đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực liên quan tới biển, đảo đến nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế. Tuyên truyền rộng rãi các dữ liệu khoa học đã kết luận về tiềm năng biển, quy hoạch phát triển kinh tế biển; các tài liệu lịch sử - pháp lý thuyết phục, khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển, đảo nước ta trên cơ sở Luật Biển Việt Nam và Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thông qua Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). Năm là, tăng cường đấu tranh trên trường quốc tế nhằm điều chỉnh, giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp về quyền lợi giữa các quốc gia có biển, trước hết là liên quan đến Biển Đông dưới các hình thức pháp lý tương ứng (các công ước, tuyên bố chung, hiệp định, luật,…)./. ------------------------------------- (1). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI , Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 122 (2). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII , Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr 95 (3). Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII , Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr 72, 73.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quan-triet-va-thuc-hien-nghi-quyet-dai-hoi-xiii-cua-dang/-/2018/1153103/nhung-dot-pha-chien-luoc-de-phat-trien-tinh-ha-tinh-den-nam-2030%2C-tam-nhin-nam-2045.aspx
Những đột phá chiến lược để phát triển tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045
29-09-2025
Nhiệm kỳ 2020 - 2025 vượt qua khó khăn, thách thức, khẳng định thế và lực mới
Tổ công tác số 4 của Bộ Chính trị do đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư chủ trì, làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh về công tác chuẩn bị Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2025 - 2030_Ảnh: TTXVN Nhiệm kỳ 2020 - 2025 vượt qua khó khăn, thách thức, khẳng định thế và lực mới Nhiệm kỳ 2020 - 2025 tỉnh Hà Tĩnh phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, như tác động kép của đại dịch COVID-19, biến đổi khí hậu, hạn hán, lũ lụt; diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực..., song nhờ nhận diện rõ cơ hội, nhìn nhận rõ khó khăn, thách thức, bắt nhịp chủ động, nhanh chóng với tình hình, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, sự điều hành quyết liệt, thống nhất, kịp thời của Ủy ban nhân dân tỉnh cùng tinh thần đoàn kết, bản lĩnh, sự kiên định và sáng tạo, bức tranh tổng thể về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh Hà Tĩnh có nhiều khởi sắc. Tỉnh Hà Tĩnh đã nghiên cứu, ban hành, triển khai nhiều chính sách mới, đột phá nhằm tăng cường thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, cải cách hành chính, chuyển đổi số, phát triển văn hóa và con người Hà Tĩnh trong thời kỳ mới,... Nhờ vậy, kết quả trên các lĩnh vực khá toàn diện, tạo thế và lực mới cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Cụ thể: Thứ nhất , tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 6,4%/năm, quy mô nền kinh tế tăng gấp 1,5 lần (đạt 126.000 tỷ đồng); thu ngân sách đạt gần 90.000 tỷ đồng, tăng 1,6 lần so với nhiệm kỳ trước và năm sau cao hơn năm trước (6 tháng đầu năm 2025 đạt 11.000 tỷ đồng); cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng nông nghiệp còn 13,6%, công nghiệp - xây dựng 40,6%, dịch vụ 45,8%; tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) bình quân đầu người đạt 94 triệu đồng; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 11 tỷ USD (gấp 3 lần giai đoạn trước). Ngành công nghiệp có bước phát triển đột phá, thu hút đầu tư đạt kết quả khá, có gần 1.500 dự án (bao gồm 1.400 dự án trong nước và 70 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tổng vốn đầu tư hơn 22 tỷ USD, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, đóng góp thu ngân sách nhà nước, nâng cao đời sống nhân dân. Thứ hai , ngành nông nghiệp của tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng khá, đạt trên 3%/năm, nhiều sản phẩm chủ lực khẳng định thương hiệu trên thị trường. Nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tuần hoàn được quan tâm chỉ đạo. Diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững trên địa bàn tỉnh, đứng nhóm đầu cả nước và là một trong sáu địa phương thực hiện thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, thu về 6,48 triệu USD. Chương trình xây dựng nông thôn mới tiếp tục đi vào chiều sâu và đạt nhiều kết quả nổi bật, tỉnh đã hoàn thành tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo Quyết định của Thủ tương Chính phủ (1) ; sản xuất, kinh doanh được quan tâm và được xác định là gốc để “nâng chất” nông thôn mới; hoạt động phân bổ, quản lý, giải ngân vốn kịp thời, hiệu quả, không để phát sinh nợ đọng xây dựng nông thôn mới. Thứ ba , khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh, với gần 6.500 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 2,3 lần so với giai đoạn trước. Kinh tế tập thể và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục được phát huy, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng. Tỉnh Hà Tĩnh cũng là một trong hai địa phương đầu tiên được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tạo cơ sở quan trọng để đẩy mạnh xúc tiến và thu hút đầu tư. Nhiều dự án hạ tầng chiến lược, như đường ven biển, cao tốc Bắc - Nam, các tuyến kết nối Đông - Tây, hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp... được nâng cấp đồng bộ, tạo diện mạo mới cho phát triển và đẩy mạnh liên kết vùng. Thứ tư , lĩnh vực văn hóa - xã hội đạt nhiều kết quả nổi bật. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được quan tâm. Là địa phương được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh nhiều di sản văn hóa, danh nhân văn hóa gắn với tỉnh Hà Tĩnh, như đại thi hào Nguyễn Du, danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác; nhiều di sản văn hóa, như ca trù, dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, Mộc bản Trường học Phúc Giang, Hoàng hoa sứ trình đồ, Văn bản Hán Nôm làng Trường Lưu,... Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh lan tỏa sâu rộng. Chất lượng giáo dục toàn diện tiếp tục được giữ vững: 88,28% trường đạt chuẩn quốc gia; nhiều năm liền có học sinh đoạt huy chương Olympic quốc tế. Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm được chú trọng, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 80%, hằng năm tạo việc làm cho hơn 23.000 người. Y tế có nhiều tiến bộ, chất lượng khám, chữa bệnh từ tỉnh đến cơ sở được nâng cao, cùng chính sách hỗ trợ hộ nghèo, đối tượng khó khăn tiếp cận dịch vụ y tế. Công tác an sinh xã hội lan tỏa mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần tương thân tương ái, nhà hảo tâm chung tay hỗ trợ người nghèo, người yếu thế. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,9%; công tác xóa nhà tạm, dột nát được chỉ đạo quyết liệt, mang lại niềm vui cho hàng chục nghìn hộ chính sách và gia đình khó khăn (2) . Thứ năm , quốc phòng - an ninh, tình hình trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Quan tâm xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân; xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống. An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; nhiều chuyên án lớn được triệt phá, có tính điển hình toàn quốc; tội phạm và tệ nạn xã hội giảm mạnh. Quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, hiệu quả, góp phần quảng bá hình ảnh tỉnh Hà Tĩnh năng động, hội nhập, giàu bản sắc văn hóa. Chủ động triển khai hiệu quả hoạt động hợp tác quốc tế, tạo môi trường ổn định, thu hút đầu tư. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, tỉnh Hà Tĩnh đã tập trung thực hiện đồng bộ, quyết liệt 3 đột phá chiến lược và đạt nhiều kết quả rõ nét, khẳng định bước tiến mới trong quá trình phát triển, cụ thể: Một là, đột phá trong công tác cán bộ và tổ chức bộ máy . Nhiều nhiệm vụ được thực hiện nghiêm túc, như triển khai Nghị quyết của Tỉnh ủy về xây dựng đội ngũ cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; xây dựng chính sách khuyến khích phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc và cán bộ khoa học trẻ. Chính quyền tỉnh luôn chú trọng đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm và khung năng lực, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ nhân dân. Hai là, đột phá trong sắp xếp đơn vị hành chính và cải cách hành chính. Tỉnh Hà Tĩnh đã hoàn thành sắp xếp 209 đơn vị xã, phường, thị trấn thành 69 đơn vị hành chính cấp xã mới bảo đảm tiến độ, chất lượng theo yêu cầu của Trung ương; quá trình triển khai thực hiện được tổ chức khoa học, hiệu quả, tạo được sự đông thuận cao trong nhân dân. Song song với đó, tỉnh tập trung xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số; năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành và địa phương được cải thiện rõ nét, góp phần tăng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Kỷ luật, kỷ cương hành chính tiếp tục được siết chặt, đạo đức công vụ, tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức có nhiều chuyển biến tích cực. Ba là, đột phá về phát triển hạ tầng và thu hút đầu tư chiến lược . Hà Tĩnh đã ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng Khu kinh tế Vũng Áng - Trung tâm động lực tăng trưởng của tỉnh. Thu hút dự án quy mô lớn, mang tính động lực vào khu kinh tế quy mô lớn được khởi công, hoàn thành, như Nhiệt điện Vũng Áng II (công suất 1.200MW), Nhà máy điện khí LNG, khu công nghiệp VSIP, Vinhomes Vũng Áng, hai nhà máy sản xuất pin, sản xuất ô tô điện Vinfast công suất 400.000 xe/năm,... tạo bước đột phá mới trong phát triển công nghiệp - năng lượng - dịch vụ, mở ra dư địa phát triển lâu dài. Kết quả đạt được của tỉnh, nhất là ở 3 mũi đột phá trong nhiệm kỳ 2020 - 2025 là nền tảng vững chắc để Hà Tĩnh xác định đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ mới, từ đó triển khai thực hiện đồng bộ, trọng tâm, trọng điểm để cùng cả nước phát triển ngày càng giàu mạnh, hạnh phúc. Công nhân sản xuất ô tô tại Nhà máy VinFast ở tỉnh Hà Tĩnh_Ảnh: TTXVN Cơ hội và thách thức trong kỷ nguyên mới Trong dòng chảy phát triển mạnh mẽ của đất nước, tỉnh Hà Tĩnh đang bước vào giai đoạn mới với cơ hội, vận hội lớn, đồng thời cũng phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức đan xen. Đây là thời kỳ để tỉnh khẳng định tầm vóc, vị thế trong tiến trình phát triển chung của dân tộc, khi cả nước cùng vươn lên hiện thực hóa khát vọng thịnh vượng, hùng cường. Với vị trí địa lý then chốt, tỉnh Hà Tĩnh trở thành điểm giao thoa giữa Bắc - Nam, Đông - Tây, vừa là phên giậu phía Đông của Tổ quốc, vừa là cửa ngõ hội nhập quốc tế qua tuyến biên giới dài hơn 164km với nước bạn Lào và cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, quản lý đường bờ biển dài 137km, vùng biển rộng lớn, cảng Vũng Áng - Sơn Dương được định hướng trở thành trung tâm logistics tầm cỡ quốc gia và khu vực... tất cả đã mở ra điều kiện đặc biệt thuận lợi để tỉnh vươn lên trở thành một cực tăng trưởng mới. Không chỉ có tiềm năng tự nhiên và địa - chính trị, tiềm năng về tài nguyên, đất và rừng, sức mạnh con người Hà Tĩnh còn được hun đúc bởi truyền thống văn hóa - cách mạng lâu đời, đậm đà bản sắc với nhiều địa danh lịch sử, di tích, di sản văn hóa, lãnh tụ cách mạng tiền bối, danh nhân văn hóa, như Khu Di tích cố Tổng Bí thư Trần Phú; Khu Di tích cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập; Khu Di tích di tích Ngã ba Đồng Lộc; thắng cảnh Hồ Kẻ Gỗ, chùa Hương Tích,... Nền văn hóa đặc sắc ấy hội tụ cùng làng nghề truyền thống, bãi biển đẹp và đội ngũ lao động trẻ, tỷ lệ qua đào tạo cao trong thời đại mới chính là nguồn nội lực quan trọng để tỉnh phát triển nhanh và bền vững. Trong bối cảnh cả nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, tỉnh Hà Tĩnh có lợi thế lớn khi hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện đồng bộ; các tập đoàn như VSIP, Vingroup, T&T, FPT, TH, Ecopark,... đã hiện diện, tạo xung lực mới cho sự phát triển; hoạt động xúc tiến đầu tư được mở rộng ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, bao gồm cả châu Mỹ, châu Âu, châu Á. Đặc biệt, các Nghị quyết trụ cột, chiến lược của Bộ Chính trị mới được ban hành: Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”; Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục đẩy mạnh và nâng tầm hội nhập quốc tế trong tình hình mới”; Nghị quyết số 68, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, “Về phát triển kinh tế tư nhân”; Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30-4-2025, của Bộ Chính trị, “Về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”; Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20-8-2025, của Bộ Chính trị, “Về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22-8-2025, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”; Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 9-9-2025, của Bộ Chính trị, “Về một số giải pháp đột phá tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” là hành lang chính sách quan trọng, tạo nền tảng để tỉnh khơi thông nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân, mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế. Cùng với tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tỉnh có cơ hội cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho một nền kinh tế năng động, bứt phá. Tuy nhiên, thách thức cũng không hề nhỏ. Tỉnh Hà Tĩnh thường xuyên phải gánh chịu thiên tai, khí hậu khắc nghiệt; quy mô kinh tế còn khiêm tốn, tăng trưởng thiếu bền vững, phụ thuộc vào một số dự án lớn; nông nghiệp, dịch vụ chưa phát triển tương xứng với tiềm năng; doanh nghiệp đa phần nhỏ lẻ, thiếu sức cạnh tranh; nguồn nhân lực chất lượng cao còn hạn chế; dịch vụ logistics, cảng biển chưa phát huy hết lợi thế. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều chỉ số kinh tế - xã hội thay đổi, đòi hỏi tỉnh nâng cao năng lực cạnh tranh trong tương quan với địa phương mới. Đặc biệt, trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo và công nghệ số bùng nổ, Hà Tĩnh vừa có cơ hội đi tắt, đón đầu, vừa đứng trước nguy cơ tụt hậu nếu không kịp thời đổi mới tư duy và hành động. Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế thế giới tiếp tục suy giảm, xung đột kéo dài giữa Nga - U-crai-na làm gián đoạn, đứt gãy chuỗi cung ứng hàng hóa, chi phí đẩy tăng cao, lạm phát ở hầu hết quốc gia, chính sách nới lỏng tiền tệ của các nền kinh tế lớn ảnh hưởng đến tỷ giá, đầu tư, xuất khẩu của quốc gia, nợ công gia tăng; nguy cơ mất an ninh năng lượng, an ninh lương thực trên diện rộng ở nhiều quốc gia,... Đây là thời điểm rất quan trọng, mở đầu giai đoạn phát triển của tỉnh Hà Tĩnh mới với không gian phát triển thông suốt, đồng nhất và hiệu năng hơn, hướng đến việc lấy sự hài lòng, hạnh phúc và chất lượng đời sống nhân dân làm thước đo cho mọi quyết sách. Công cuộc tinh gọn tổ chức bộ máy là điều kiện tăng cường hiệu quả vận hành, quản lý của Nhà nước, giảm thiểu nguy cơ xung đột lợi ích, lãng phí nguồn lực; là một bước đi đúng đắn, kịp thời, tạo cơ sở để tỉnh tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển vùng động lực, nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như chất lượng tăng trưởng. Như vậy, thời cơ và thách thức đang đan xen, đặt tỉnh Hà Tĩnh trước yêu cầu phát huy mạnh mẽ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, biến tiềm năng, lợi thế thành động lực phát triển, khẳng định vai trò là một cực tăng trưởng mới của vùng Bắc Trung Bộ và cả nước. Đây chính là thử thách bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng vươn mình của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trong kỷ nguyên phát triển mới. Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh Nguyễn Duy Lâm kiểm tra tại Trung tâm phục vụ hành chính công xã Nghi Xuân mới_Nguồn: baohatinh.vn Đột phá chiến lược để phát triển tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 Trên cơ sở phát huy tiềm năng, lợi thế và dư địa phát triển, nắm bắt tình hình mới, chủ động vượt qua khó khăn, thách thức; kế thừa kết quả, bài học của nhiệm kỳ trước và định hướng lớn trong quy hoạch tỉnh, đồng thời gắn với thực hiện chủ trương, nghị quyết mới của Trung ương, chính quyền và nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tập trung vào 3 định hướng đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ 2025 - 2030, bao gồm: 1- Đẩy mạnh chuyển đổi số dựa trên ba trụ cột: xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số, thúc đẩy xã hội số và quản trị công nhằm bảo đảm phục vụ người dân và doanh nghiệp hiệu quả; 2- Tập trung phát triển, thu hút, đào tạo, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp cơ sở có phẩm chất, uy tín, trình độ lý luận, năng lực thực tiễn, tinh thần hành động quyết liệt, hiệu quả, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới; 3- Phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thu hút dự án đầu tư chiến lược, trọng tâm là khu, cụm công nghiệp quy mô lớn, logistics, giao thông kết nối khu kinh tế, khu công nghiệp, du lịch, cửa khẩu với hệ thống giao thông quốc gia; hạ tầng khu vực ga đường sắt tốc độ cao (theo mô hình TOD). Xây dựng, mở rộng Khu kinh tế Vũng Áng trở thành trung tâm công nghiệp - năng lượng - cảng biển - logistics của khu vực và cả nước. Để hiện thực hóa đột phá chiến lược, thời gian tới Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sẽ tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: Thứ nhất, tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả các Nghị quyết của Bộ Chính trị: Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30-4-2025, về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24-1-2025, của Bộ Chính trị, về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20-8-2025, của Bộ Chính trị, về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22-8-2025, của Bộ Chính trị, về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 9-9-2025, của Bộ Chính trị, về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân... Thứ hai, ưu tiên huy động và phân bổ nguồn lực để đầu tư, hoàn thiện hệ thống hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nâng cao năng lực hoạt động của Trung tâm Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số. Nghiên cứu, phát triển Tổ hợp công nghiệp công nghệ cao và đổi mới sáng tạo (Hà Tĩnh Innovation Park), tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức. Ứng dụng hiệu quả trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của cơ quan Đảng, Nhà nước ở các cấp. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, trang bị kiến thức và kỹ năng số cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; phát động sâu rộng phong trào “Bình dân học vụ số”, “Học tập số”, đồng thời phát huy vai trò của tổ chuyển đổi số cộng đồng. Thứ ba, xác định doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp phát triển, có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Hà Tĩnh và cả nước phát triển, lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ để các doanh nghiệp vững tin vào chính quyền thân thiện, trách nhiệm nêu cao tinh thần phục vụ doanh nghiệp; càng trong khó khăn, càng tỏ rõ bản lĩnh, tinh thần nỗ lực bứt phá, chủ động đổi mới sáng tạo và kịp thời thích ứng với tình hình, duy trì và phát triển sản xuất. Thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp, kết nối chặt chẽ cơ sở nghiên cứu với cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác với viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước; áp dụng linh hoạt hình thức hợp đồng thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ của công chức và cơ chế, chính sách đủ hấp dẫn nhằm phát hiện, thu hút và trọng dụng nhân tài tham gia hoạch định và thực thi nhiệm vụ chiến lược của tỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử, hiện đại hóa nền hành chính, nâng cao chất lượng trung tâm hành chính công các cấp, thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Tiếp tục duy trì, cải thiện và nâng cao các chỉ số PAR Index, SIPAS, PCI, PAPI, DTI; thực hiện hiệu quả Đề án 06 của Chính phủ (4) , góp phần thúc đây chuyển đổi số toàn diện trên địa bàn. Đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành theo hướng linh hoạt, thực chất, bám sát thực tiễn; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao đạo đức công vụ và phát huy vai trò nêu gương, gắn trách nhiệm với người đứng đầu. Thực hiện phân cấp hợp lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực; xây dựng cơ chế, hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả công việc và tinh thần thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức dựa trên kết quả thực tiễn, lượng hóa sản phẩm. Thứ năm , tiếp tục khơi dậy, phát huy truyền thống văn hóa, khát vọng của con người tỉnh Hà Tĩnh trong sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp. Triển khai hiệu quả chính sách đột phá về giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; phát triển giáo dục ngoài công lập và chất lượng cao; thực hiện phù hợp công tác phân luồng, hướng nghiệp; nâng cao chất lượng đào tạo nghề, góp phần gia tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo. Quan tâm đầu tư và nâng cao chất lượng hoạt động của Trường Chính trị Trần Phú, Trường Cao đẳng Kỹ thuật Việt - Đức Hà Tĩnh; nghiên cứu đổi mới mô hình, nội dung đào tạo của Trường Đại học Hà Tĩnh, Trường Trung học phổ thông Chuyên Hà Tĩnh, các trường nghề chất lượng cao ở Hà Tĩnh... Đẩy mạnh liên kết giữa doanh nghiệp - nhà trường trong đào tạo nghề và tuyển dụng sau đào tạo. Thứ sáu , tập trung xây dựng cơ chế tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển, khai thác hiệu quả nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách, phát huy tối đa nguồn nội lực để thực hiện nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất, thực hiện công trình hạ tầng chiến lược, dự án trọng điểm của tỉnh; đẩy mạnh hợp tác công - tư trong dự án hạ tầng đô thị, giao thông, giáo dục và y tế, phù hợp với mô hình đầu tư công - quản trị tư. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, nhất là đất đai, tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, đấu giá, đấu thầu, tài chính, ngân sách, giải ngân vốn đầu tư công. Quan tâm phát triển đồng đều giữa vùng, miền, nhất là nơi có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Tăng cường hợp tác toàn diện, thắt chặt tình hữu nghị và xây dựng đường biên giới hòa bình, hợp tác cùng phát triển với các tỉnh của nước bạn Lào. Duy trì quan hệ tốt với đối tác truyền thống, mở rộng quan hệ với đối tác mới nhằm tranh thủ tối đa nguồn vốn, khoa học - công nghệ, kiến thức quản lý phục vụ nhu cầu phát triển của tỉnh. Thứ bảy , huy động nguồn lực phát triển hạ tầng giao thông đồng bộ, kết nối hiệu quả với mạng lưới giao thông quốc gia, đặc biệt là gắn với Khu kinh tế Vũng Áng, khu/cụm công nghiệp, khu du lịch - dịch vụ ven biển, trung tâm logistics, cảng Vũng Áng - Sơn Dương. Chủ động phối hợp đẩy nhanh tiến độ tuyến giao thông chiến lược, như đường sắt cao tốc Bắc - Nam, đường sắt Lào - Vũng Áng, cao tốc Vũng Áng - cửa khẩu Cha Lo. Nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị trung tâm gắn với “ba hành lang kinh tế”, nhất là hành lang đường bộ, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và đường ven biển, kết nối với Nam Nghệ An, Bắc Quảng Trị. Hoàn thiện hạ tầng, thu hút đầu tư, tăng tỷ lệ lấp đầy khu, cụm công nghiệp; mở rộng Khu kinh tế Vũng Áng để đón dự án quy mô lớn, mang tính chiến lược. Quan tâm đầu tư hạ tầng văn hóa, thể thao, y tế, giáo dục, an sinh xã hội; đột phá về hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng số, thúc đẩy kinh tế số, xã hội số. Phát triển hạ tầng thủy lợi đa mục tiêu gắn với phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quyết tâm phát huy thành quả đã đạt được, khắc phục khó khăn, sẵn sàng khởi động nhiệm kỳ mới 2025 - 2030 với sự bứt phá mạnh mẽ, vững chắc, hướng tới mục tiêu trở thành một trong những cực phát triển của vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung; đến năm 2030 là tỉnh khá; đến năm 2045 là tỉnh phát triển có thu nhập cao; cùng cả nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới. Thứ tám, tiếp tục tập trung triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, bảo đảm tính liên tục, bền vững, hiệu quả trên địa bàn tỉnh theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tổ chức rà soát, đánh giá mức độ đạt chuẩn các tiêu chí theo Bộ tiêu chí xã nông thôn mới, xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021 - 2025, bảo đảm đạt chuẩn theo quy định. Nghiên cứu, triển khai những cách làm sáng tạo trong việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới, nhất là nguồn lực xã hội hóa. Nhận thức rõ nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới là “hành trình không có điểm dừng”, nỗ lực thực hiện mục tiêu đưa Hà Tĩnh đạt chuẩn tỉnh nông thôn mới vào cuối năm 2025 theo “Đề án thí điểm xây dựng tỉnh Hà Tĩnh đạt chuẩn nông thôn mới, giai đoạn 2021 đến năm 2025” đã được Thủ tướng phê duyệt./. ---------- (1) Cụ thể: Quyết định số 321/QĐ-TTg, ngày 83-2022, của Thủ tướng Chính phủ, “Về việc quy định tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025”; Quyết định số 125/QĐ-TTg, ngày 15-1-2025, của Thủ tướng Chính phủ, “Sửa đổi Khoản 8, Điều 1, Quyết định số 321/QĐ-TTg, ngày 8-3-2022, của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025”. (2) Xây dựng 105 nhà văn hóa cộng đồng kết hợp tránh, trú bão lũ; xây dựng, sửa chữa hơn 12.000 nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ người có công với cách mạng, hộ bị thiệt hại do thiên tai và hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với tổng kinh phí thực hiện hơn 836 tỷ đồng. (3) Quyết định số 06/QĐ-TTg, ngày 6-1-2022, của Thủ tướng Chính phủ, “Về phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quan-triet-va-thuc-hien-nghi-quyet-dai-hoi-xiii-cua-dang/-/2018/1153203/dao-tao%2C-boi-duong-can-bo-chien-luoc-quan-doi-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc.aspx
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược Quân đội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
15-10-2025
1- Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI), kỹ thuật số,... tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực đời sống nhân loại và mọi quốc gia - dân tộc. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn ra gay gắt, là yếu tố chính trong định hình trật tự khu vực và thế giới đang tiềm ẩn, đe dọa đến hòa bình, an ninh, ổn định, phát triển trong khu vực và an ninh các quốc gia. Các thách thức an ninh phi truyền thống, như khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, an ninh mạng, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không, biến đổi khí hậu,... diễn biến phức tạp; tranh chấp, xung đột tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức và quyết liệt hơn, như xung đột Nga - U-crai-na; xung đột I-xra-en - Ha-mát; vấn đề hạt nhân... Đây là nguy cơ và thách thức lớn đối với an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, tác động, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, quân sự, quốc phòng, an ninh quốc tế; đến hòa bình, ổn định và phát triển của mỗi quốc gia, khu vực và thế giới. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam với âm mưu, thủ đoạn ngày càng xảo quyệt, công khai, trực diện hơn. Xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh mới, làm thay đổi môi trường chiến lược và nghệ thuật tác chiến mới, hiện đại.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Lương Cường thăm thư viện của Học viện Quốc phòng_Ảnh: TTXVN 1- Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI), kỹ thuật số,... tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực đời sống nhân loại và mọi quốc gia - dân tộc. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn ra gay gắt, là yếu tố chính trong định hình trật tự khu vực và thế giới đang tiềm ẩn, đe dọa đến hòa bình, an ninh, ổn định, phát triển trong khu vực và an ninh các quốc gia. Các thách thức an ninh phi truyền thống, như khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, an ninh mạng, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không, biến đổi khí hậu,... diễn biến phức tạp; tranh chấp, xung đột tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức và quyết liệt hơn, như xung đột Nga - U-crai-na; xung đột I-xra-en - Ha-mát; vấn đề hạt nhân... Đây là nguy cơ và thách thức lớn đối với an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, tác động, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, quân sự, quốc phòng, an ninh quốc tế; đến hòa bình, ổn định và phát triển của mỗi quốc gia, khu vực và thế giới. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam với âm mưu, thủ đoạn ngày càng xảo quyệt, công khai, trực diện hơn. Xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh mới, làm thay đổi môi trường chiến lược và nghệ thuật tác chiến mới, hiện đại. 2- Trước bối cảnh quốc tế mới phát triển nhanh, nhiều biến động liên quan đến xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy kết quả đạt được, quán triệt và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm sau: Thứ nhất, bám sát quan điểm, chủ trương, nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tổ chức quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chiến lược cho Quân đội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Bám sát quan điểm, chủ trương, nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về giáo dục - đào tạo, tổ chức quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” (1) . Nắm vững, bám sát tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI của Đảng, về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW, ngày 20-12-2022, của Quân ủy Trung ương, về “Đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới”; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025; Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết số 44-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”... Xác định đây là nội dung, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, một trong những yêu cầu bắt buộc, cơ sở rất quan trọng bảo đảm định hướng và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới. Thứ hai, tích cực đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo theo hướng cơ bản, hệ thống, thống nhất, chuyên sâu và sự phát triển của nền giáo dục hiện đại. Chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội; góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược trong Quân đội nhân dân Việt Nam, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả phải bám sát đối tượng đào tạo, yêu cầu, nhiệm vụ, gắn lý luận với thực tiễn xây dựng Quân đội, tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện tốt Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (2) . Vì vậy, đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo phải xuất phát từ mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược của từng đối tượng đào tạo. Tích cực đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy học theo hướng cơ bản, hệ thống, thống nhất, chuyên sâu và sự phát triển của nền giáo dục hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; luôn bám sát sự phát triển lý luận và thực tiễn, nhiệm vụ của Quân đội, sự nghiệp quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng chương trình, nội dung thiết thực, phù hợp với nhiệm vụ, chức trách sau đào tạo của cán bộ chiến lược Quân đội. Phân bổ hợp lý giữa giới thiệu chuyên đề lý luận với bồi dưỡng kỹ năng và nghiên cứu thực tế ở cơ quan, đơn vị, địa phương; nghiên cứu tổ chức cho học viên nghiên cứu thực tế ở quân đội một số nước. Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, nâng cao trình độ năng lực toàn diện về chính trị, quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa, xã hội... để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội không chỉ có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, giỏi về lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức hoạt động thực tiễn công tác quốc phòng, quân sự ở tầm chiến lược, mà còn phải đạt tới tầm “chính trị gia”, có khả năng xử lý vấn đề ở tầm khu vực và thế giới. Thường xuyên chủ động điều chỉnh, bổ sung nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo từng khối kiến thức, bảo đảm cân đối, toàn diện, chuyên sâu, không trùng lặp. Nghiên cứu dự báo tình hình thế giới, khu vực và trong nước; xác định “đối tác, đối tượng”, cập nhật phát triển mới về đối tượng tác chiến; nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước; những vấn đề phát triển mới về lý luận quốc phòng, nghệ thuật quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhất là loại hình, phương thức tác chiến mới trong điều kiện chiến tranh vũ khí công nghệ cao, diễn ra trên sáu môi trường chính: Trên không, trên bộ, trên biển, vũ trụ, không gian mạng và trường điện tử; ứng dụng hiệu quả khoa học - công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo (AI), kỹ thuật số... Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược để khi tốt nghiệp ra trường, học viên có phẩm chất chính trị, phát huy năng lực lãnh đạo, trình độ chỉ huy cơ quan, đơn vị ở cấp chiến lược; nâng cao năng lực tham mưu đề xuất với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng hoạch định chủ trương, chính sách, chiến lược liên quan đến lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, có năng lực tổ chức triển khai vận dụng linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội, tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc cần chú trọng ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội. Đổi mới mạnh mẽ, vận dụng phổ biến phương pháp dạy học tích cực phù hợp với xu thế giáo dục hiện đại, phù hợp với từng đối tượng khóa học ngắn hạn, dài hạn. Đẩy mạnh phương pháp dạy học tích cực, lấy học viên làm trung tâm, coi trọng định hướng nghiên cứu, trao đổi với học viên; tập trung đổi mới phương pháp giảng bài, thảo luận, tập bài, diễn tập. Phát huy cao khả năng tự học tập, tự nghiên cứu của học viên, nhằm tạo sự chủ động, tích cực, sáng tạo trong quá trình dạy và học. Tổ chức diễn tập tác chiến hiệp đồng quân chủng, binh chủng cấp chiến dịch, chiến lược; lấy hình thức diễn tập “Đạo theo diễn” là chính, phát huy tốt năng lực tư duy của giảng viên và học viên; nâng cao trình độ tổ chức, xử lý tình huống tầm chiến lược của học viên. Trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội, phải luôn chú trọng gắn lý luận với thực tiễn; nhà trường gắn liền với đơn vị. Tổ chức cho đoàn cán bộ, giảng viên, học viên đi học tập, nghiên cứu thực tế tại đơn vị quân đội, cơ sở sản xuất và địa phương; nghiên cứu thực tế ở nước ngoài, nghiên cứu trên địa bàn chiến lược trọng yếu, vùng biên giới, biển, đảo... Đồng thời, kết hợp mời lãnh đạo ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, cơ quan, đơn vị trong toàn quân tham gia giảng dạy, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn cho học viên. Quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt phương châm chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”; kiến thức lý luận truyền thụ cho học viên đào tạo, bồi dưỡng ở nhà trường luôn bám sát với thực tiễn và yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị cấp chiến lược, của Quân đội, sự nghiệp tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh thực hiện tốt phương châm huấn luyện “Cơ bản, hệ thống, thống nhất, chuyên sâu”; “Dạy thực chất, học thực chất, thi, kiểm tra, đánh giá kết quả thực chất” trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Chú trọng đổi mới công tác khảo thí và bảo đảm chất lượng giáo dục - đào tạo; thực hiện quyết liệt chủ trương “ba thực chất” gắn với “hai thiết thực”, là một trong những nội dung quan trọng, bảo đảm minh bạch, công tâm, khách quan, đánh giá kết quả theo quy chế, quy định. Tiếp tục nghiên cứu đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên và chất lượng giảng dạy của giảng viên; kiên quyết khắc phục biểu hiện tiêu cực trong kiểm tra, thi tốt nghiệp, trong nhận xét đánh giá học viên... Đồng thời, thường xuyên làm tốt công tác sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội; phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, nhược điểm. Từ đó, có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội trong những năm tiếp theo. Góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Thứ ba, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, gắn nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học với nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội. Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về “Gắn kết chặt chẽ giáo dục và đào tạo với nghiên cứu khoa học, triển khai, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới; hình thành các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, các nhóm đổi mới sáng tạo mạnh” (3) ; luôn gắn nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học với nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung, nhất là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Công tác nghiên cứu khoa học được coi trọng, ưu tiên “đi trước” một bước và qua nghiên cứu khoa học cung cấp luận cứ, đúc rút khái quát thực tiễn thành lý luận; lý luận được xây dựng mới phù hợp sẽ đáp ứng thực tiễn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội. Kết quả nghiên cứu khoa học chất lượng sẽ giúp tham mưu kịp thời, hiệu quả với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đề xuất với Đảng, Nhà nước hoạch định chủ trương, chính sách, chiến lược về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, qua nghiên cứu khoa học, biên soạn hệ thống giáo trình, tài liệu đưa vào giảng dạy đạt chất lượng, hiệu quả; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Cán bộ, học viên Học viện Quốc phòng nghiên cứu thực tế đơn vị ở địa bàn chiến lược_Nguồn: nhandan.vn Thứ tư, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên đáp ứng yêu cầu công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội. Trong giáo dục - đào tạo, cán bộ, giảng viên có vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp quyết định chất lượng giáo dục - đào tạo. Để lãnh đạo công tác giáo dục - đào tạo, xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục của Quân đội trong tình hình mới, Đại hội XIII của Đảng xác định: “chăm lo xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt... thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách và giải pháp để cải thiện mức sống, nâng cao trình độ và chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” (4) ; Quân ủy Trung ương có Nghị quyết số 109-NQ/QUTW, ngày 11-2-2019, về “Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới”. Trên cơ sở đó, học viện, nhà trường quân đội luôn bám sát tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện Quốc phòng lần thứ XI, nhiệm kỳ 2021 - 2025, xác định rõ nhiệm vụ, đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo mang tính đột phá, coi trọng xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ khoa học đầu ngành với số lượng hợp lý, chất lượng cao; làm tốt công tác tạo nguồn, tuyển chọn cán bộ, giảng viên; bồi dưỡng nâng cao chất lượng, trình độ, khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học theo tiêu chuẩn chức danh quy định. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng, quyết định đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của học viện, nhà trường quân đội. Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện, nhà trường lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chỉ huy đơn vị, khoa đào tạo xây dựng kế hoạch, tiêu chí đánh giá, phân loại, bồi dưỡng, đào tạo, quy hoạch đội ngũ cán bộ, giảng viên. Thực hiện tốt chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài của Nhà nước và Bộ Quốc phòng, tạo mọi điều kiện cho nhà khoa học, giảng viên giỏi, giàu kinh nghiệm phát huy tài năng, cống hiến cho giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học, nghiên cứu dự báo, tham mưu chiến lược. Xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên theo tổ chức biên chế tinh, gọn, mạnh, có số lượng, cơ cấu hợp lý, chuẩn hóa và chất lượng cao; có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng, năng lực, trí tuệ, tâm huyết; có trình độ học vấn, tư duy tầm chiến lược; có kiến thức toàn diện cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; có kỹ năng sư phạm, trình độ ngoại ngữ, tin học; được trải nghiệm qua thực tế lãnh đạo, chỉ huy cơ quan, đơn vị cấp chiến lược, phù hợp với cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhà khoa học có “tâm, tầm, tài, đức”, đạt tiêu chí, tiêu chuẩn cao về chức danh, học vị; đảm nhận truyền đạt tốt cho lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược; nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, giảng viên thành thạo tiếng Anh, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, trí tuệ nhân tạo (AI), kỹ thuật số... trong đào tạo. Xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cao cấp cho Đảng, Nhà nước và cán bộ chiến lược cho Quân đội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đồng thời, luôn chú trọng mời lãnh đạo cơ quan, ban, bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo, chỉ huy cơ quan, đơn vị cấp chiến lược của Bộ Quốc phòng, nhà khoa học có nhiều kinh nghiệm để tham gia giảng dạy, báo cáo chuyên đề liên quan đến quân sự, quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc cho khóa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội. Điều đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, luôn gắn giữa lý luận với thực tiễn đặt ra về nhiệm vụ của Quân đội, tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thứ năm, xây dựng nhà trường quân đội chính quy, mẫu mực, cơ sở vật chất hiện đại đáp ứng yêu cầu công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội. Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, Học viện Quốc phòng tập trung xây dựng chính quy, mẫu mực, có cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, bám sát tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện Quốc phòng lần thứ XI, nhiệm kỳ 2021 - 2025 trong xây dựng hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại, từng bước tiếp cận và ứng dụng tiến bộ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phục vụ công tác huấn luyện - đào tạo và nghiên cứu khoa học. Bồi dưỡng nâng cao trình độ sử dụng, làm chủ trang thiết bị hiện đại cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên trong Học viện. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đơn vịan, khoa đào tạo khai thác, quản lý, sử dụng hiệu quả cơ sở, vật chất kỹ thuật hiện có; tích cực đầu tư mua sắm trang, thiết bị kỹ thuật hiện đại; bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa, sử dụng tiết kiệm, an toàn phương tiện kỹ thuật dạy - học, sử dụng hiệu quả “Trung tâm mô phỏng tác chiến chiến dịch, chiến lược”; giảng đường chuyên dùng, thư viện điện tử hiện đại; xây dựng hạ tầng, hệ thống kết nối mạng LAN, internet, hệ thống mạng quân sự gắn với hệ thống cảnh báo, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng...; đến năm 2030, phấn đấu xây dựng học viện, nhà trường quân đội trở thành học viện, nhà trường “thông minh”, ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin hiện đại, chuyển đổi số... đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược cho Quân đội. Thứ sáu, thực hiện tốt việc đào tạo tại trường gắn với tự đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ huy, chỉ đạo cho đội ngũ cán bộ chiến lược trong Quân đội nhân dân. Đây là nhiệm vụ quan trọng để nhà trường bám sát, liên hệ chặt chẽ với cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Thực hiện gắn lý luận với thực tiễn, gắn công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược ở nhà trường với tự đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ ở cơ quan, đơn vị cấp chiến lược trong toàn quân. Thông qua kiến thức được học ở nhà trường để cán bộ nắm vững tình hình, vận dụng vào thực tiễn công tác, cấp trên bồi dưỡng, phổ biến, bổ sung nâng cao năng lực, kiến thức, tư duy quân sự, quốc phòng cho mình và cấp dưới trong thực hiện nhiệm vụ công tác đạt hiệu quả. Đồng thời, từ thực tiễn công tác rút ra bài học kinh nghiệm về kết quả thành công và hạn chế để Học viện xây dựng, bổ sung chương trình đào tạo, phương pháp truyền đạt hiệu quả và sát thực hơn. Trên cơ sở đó, quan điểm, đường lối, chủ trương, nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước được đội ngũ cán bộ chiến lược lĩnh hội kiến thức và tổ chức triển khai thực hiện kịp thời, hiệu quả ở cơ quan, đơn vị trong toàn quân; góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nắm vững bối cảnh quốc tế mới, bám sát quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, trực tiếp là sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; phát huy kết quả, thành tích đã đạt được để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chiến lược; góp phần quan trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chiến lược cho Quân đội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới . /. ---------------------------------- (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 309 (2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. I, 2021, tr. 136 (3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd , t. I, tr. 138 (4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd , t. I, tr. 138 - 139
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quan-triet-va-thuc-hien-nghi-quyet-dai-hoi-xiii-cua-dang/-/2018/1153603/ket-qua-cong-tac-kiem-tra%2C-giam-sat-va-thi-hanh-ky-luat-cua-dang-bo-thanh-pho-hue-nhiem-ky-2020---2025-va-nhiem-vu-nhiem-ky-moi.aspx
Kết quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng bộ thành phố Huế nhiệm kỳ 2020 - 2025 và nhiệm vụ nhiệm kỳ mới
01-10-2025
null
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Lương Cường cùng các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư với Ban Thường vụ Thành ủy Huế_ Ảnh: TTXVN Một số kết quả đạt được Công tác lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm kỳ qua có nhiều đổi mới Đảng bộ thành phố Huế có 44 đơn vị trực thuộc (40 xã, phường và 4 đảng ủy trực thuộc) với hơn 57.800 đảng viên. Ban Thường vụ Thành ủy Huế luôn xác định kiểm tra, giám sát là chức năng lãnh đạo của Đảng, có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng, là nhân tố bảo đảm chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng được thực hiện nghiêm túc, hiệu lực, hiệu quả, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; góp phần tăng cường kỷ luật của Đảng, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế) lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, khẳng định: Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, quyết tâm hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng về công tác xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Đây là cơ sở để mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp phát huy vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng xuyên suốt cả nhiệm kỳ. Ban Thường vụ Thành ủy Huế đã kịp thời lãnh đạo quán triệt, triển khai nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, hướng dẫn mới của Trung ương, của thành phố về công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật trong Đảng nói riêng đến tận chi bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ thành phố. Cấp ủy các cấp đã lãnh đạo ủy ban kiểm tra chủ động, tham mưu thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng và việc kiểm soát tài sản, thu nhập theo quy định. Ngay sau Đại hội, Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy Huế đã xây dựng và triển khai thực hiện tốt Quy chế làm việc, Chương trình công tác, Chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa. Hằng năm, Ban Thường vụ Thành ủy đã kịp thời tham mưu Thành ủy ban hành chương trình kiểm tra, giám sát, lãnh đạo cấp ủy trực thuộc xây dựng và triển khai hiệu quả chương trình công tác, chương trình kiểm tra, giám sát. Phân công nhiệm vụ cụ thể đối với các đồng chí Thành ủy viên, các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy theo dõi địa bàn, lĩnh vực, chủ trì đoàn kiểm tra, giám sát; tham mưu Thành ủy kế hoạch lãnh đạo, tổ chức quán triệt, triển khai nghị quyết, quy định, quyết định, kết luận, hướng dẫn của Trung ương về công tác xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt trong toàn thành phố và cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp. Ban Thường vụ Thành ủy Huế đã tập trung xây dựng và triển khai hiệu quả Đề án số 07-ĐA/TU, ngày 1-9-2021, “Về nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng trong Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế) giai đoạn 2021 - 2026”, định hướng cấp ủy trực thuộc xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai, thực hiện; ban hành văn bản lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng và tài chính đảng; quy chế phối hợp giữa ủy ban kiểm tra và các ban, ngành liên quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Công tác lãnh đạo củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ luôn được quan tâm đúng mức; số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra các cấp được nâng cao; chỉ đạo tiến hành sắp xếp, tổ chức bộ máy bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; thực hiện tốt công tác luân chuyển, điều động cán bộ kiểm tra các cấp. Chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát được nâng lên Các cuộc kiểm tra, giám sát theo chương trình, kế hoạch trong nhiệm kỳ 2020 - 2025 được triển khai chất lượng, hiệu quả. Cấp ủy các cấp đã tiến hành kiểm tra 2.670 tổ chức đảng và 16.939 đảng viên (tăng 34 tổ chức và 1.114 đảng viên so với nhiệm kỳ trước); giám sát 2.707 tổ chức đảng và 13.159 đảng viên (tăng 86 tổ chức, 3.305 đảng viên so với nhiệm kỳ trước) . Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong đó tập trung giám sát việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ XVI (nay là thành phố Huế); về những điều đảng viên không được làm; đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; chương trình trọng điểm kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; trong quản lý, sử dụng đất đai... Qua kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên cơ bản thực hiện tốt nội dung được kiểm tra; bên cạnh đó, đã phát hiện 141 tổ chức và 201 đảng viên có khuyết điểm vi phạm, trong đó có 3 đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật; kịp thời nhắc nhở, uốn nắn tổ chức đảng, đảng viên có sai phạm nhưng chưa đến mức chuyển kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc xử lý kỷ luật. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 73 tổ chức đảng, 257 đảng viên, trong đó có 136 cấp ủy viên các cấp (tăng 2 tổ chức đảng, giảm 66 đảng viên so với nhiệm kỳ trước); nội dung về vi phạm những điều đảng viên không được làm, việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, liên quan đến công tác cán bộ, quản lý ngân sách... Qua kiểm tra, kết luận 73 tổ chức đảng, 257 đảng viên vi phạm; trong đó có 15 tổ chức đảng, 105 đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật và đã thi hành kỷ luật, tổ chức đảng, đảng viên còn lại đề nghị nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm. Kết quả thực hiện nhiệm vụ trên cho thấy: kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, nên hầu hết cấp ủy đã quan tâm thực hiện và lãnh đạo ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện nhiệm vụ này. Ủy ban kiểm tra các cấp đã chủ động khảo sát, nắm tình hình để phát hiện dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên, kịp thời tiến hành kiểm tra để ngăn ngừa, hạn chế việc xảy ra thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Đối tượng được kiểm tra chấp hành tốt quyết định, kết luận kiểm tra của tổ chức đảng cấp trên và xem đây là nhiệm vụ thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng. Các trường hợp đảng viên vi phạm đã được chỉ đạo xử lý kịp thời. Ủy ban kiểm tra các cấp đã tiến hành kiểm tra thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng đối với 1.370 tổ chức đảng (tăng 132 tổ chức so với nhiệm kỳ trước), kết quả là đa số tổ chức đảng được kiểm tra đã thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; có 36 tổ chức đảng chưa thực hiện tốt nội dung này, chiếm 2,6% so với số tổ chức được kiểm tra. Tiến hành giám sát 1.889 tổ chức đảng và 1.940 đảng viên (tăng 1 tổ chức và 27 đảng viên so với nhiệm kỳ trước), nội dung giám sát tập trung vào việc chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân sự - quốc phòng địa phương; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chức trách nhiệm vụ đảng viên được phân công; công tác cán bộ; lĩnh vực đầu tư công, quản lý đất đai, trật tự xây dựng… Đã kết luận tổ chức đảng, đảng viên cơ bản thực hiện bảo đảm nội dung được giám sát, có 118 tổ chức đảng và 75 đảng viên có thiếu sót, khuyết điểm, nhưng chưa đến mức chuyển kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Kiểm tra tài chính đảng đối với 24 tổ chức đảng; kiểm tra việc thu, nộp, quản lý và sử dụng đảng phí đối với 1.218 tổ chức đảng, 33.795 đảng viên (tăng 31 tổ chức đảng, 16.921 đảng viên so với nhiệm kỳ trước). Qua kiểm tra đã phát hiện 18 tổ chức đảng, 419 đảng viên có vi phạm về thu, nộp, quản lý và sử dụng đảng phí với tổng số tiền 57 triệu đồng và đã xuất toán, thu hồi. Kiểm tra, xác minh tài sản, thu nhập đối với 444 đảng viên là cán bộ diện cấp ủy các cấp quản lý. Cơ quan tham mưu, giúp việc của Thành ủy và cấp ủy cấp dưới phân công đồng chí lãnh đạo, chuyên viên theo dõi lĩnh vực, địa bàn thực hiện giám sát thường xuyên; hằng năm xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát nội dung, lĩnh vực theo chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức. Nhiệm kỳ 2020 - 2025, cơ quan tham mưu, giúp việc của của Thành ủy và cấp ủy cấp dưới tiến hành kiểm tra 111 tổ chức đảng, 10 đảng viên, giám sát chuyên đề 180 tổ chức đảng, 6 đảng viên theo lĩnh vực chuyên môn phụ trách. Các cuộc kiểm tra, giám sát được cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp triển khai thực hiện bảo đảm nguyên tắc, quy trình, thủ tục, bảo đảm thời gian và phương pháp thực hiện. Qua kiểm tra, giám sát đã giúp cấp ủy các cấp đánh giá đúng tình hình lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, làm rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân cấp ủy viên, cán bộ chủ chốt, nhất là nơi có vấn đề nổi cộm, kịp thời ngăn chặn, hạn chế vi phạm kỷ luật Đảng và Nhà nước. Tăng cường theo dõi, chỉ đạo thực hiện kết luận sau kiểm tra, giám sát, nhất là việc khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, hạn chế và việc xem xét, xử lý vi phạm. Lãnh đạo thành phố Huế kiểm tra công tác vận hành thử mô hình chính quyền địa phương cấp xã mới tại Ủy ban nhân dân phường An Cựu_Ảnh: baochinhphu.vn Thi hành kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên bảo đảm công minh, chính xác, kịp thời Đã thi hành kỷ luật đối với 22 tổ chức đảng (cấp ủy 11 tổ chức, ủy ban kiểm tra 11 tổ chức), hình thức kỷ luật: khiển trách 21, cảnh cáo 1; nội dung vi phạm tập trung: việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, việc chấp hành quy chế làm việc, nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ công tác.. . Đã thi hành kỷ luật đối với 1.576 đảng viên (cấp ủy 1.404 đảng viên, ủy ban kiểm tra 172 đảng viên), hình thức kỷ luật: khiển trách 1.311 , cảnh cáo 160, cách chức 10, khai trừ 95 ; nội dung tập trung : vi phạm chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình (trước khi có Hướng dẫn số 15 -HD/UBKTTW, ngày 20-3-2025); việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Nhìn chung, việc xem xét thi hành kỷ luật được cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp kịp thời xem xét, kết luận đúng tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm để xử lý. Khi xem xét, xử lý bảo đảm khách quan, công minh, chính xác; đảng viên và tổ chức đảng nhận thức được hành vi vi phạm, chấp hành nghiêm túc quy định về nguyên tắc, thủ tục, thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng, góp phần đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh. Trong cả nhiệm kỳ, cho đến nay chưa có trường hợp nào khiếu nại kỷ luật. Công tác tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn, thư bảo đảm kịp thời, đúng quy định Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Huế đã tiếp nhận và xử lý 340 đơn (giảm 51 đơn so với nhiệm kỳ trước), tập trung vào nội dung: lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn , lạm quyền vì vụ lợi , hành vi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống … Qua rà soát, thẩm định: Đã chuyển 87 đơn, trả 47 đơn, lưu 203 đơn, thành lập đoàn giải quyết tố cáo 3 đơn. Ủy ban kiểm tra cấp dưới tiếp nhận và xử lý 322 đơn, thư tố cáo, kiến nghị phản ánh, về nội dung lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn , lạm quyền vì vụ lợi trong một số lĩnh vực, như công tác quản lý đất đai, công tác cán bộ, đầu tư xây dựng cơ bản… Đã chuyển 61 đơn, trả 73 đơn, lưu 106 đơn, thành lập đoàn giải quyết tố cáo 24 đơn, kết thúc đơn và không giải quyết tố cáo 58 đơn. Ủy ban kiểm tra các cấp đã giải quyết tố cáo đối với 3 tổ chức và 31 đảng viên (tăng 2 tổ chức, giảm 19 đảng viên so với nhiệm kỳ trước) . Nội dung tố cáo chủ yếu về thực hiện quy chế làm việc; phẩm chất đạo đức, lối sống; tham nhũng, cố ý làm trái; những điều đảng viên không được làm; thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; quản lý và sử dụng đất đai; công tác cán bộ... Đối tượng bị tố cáo tập trung chủ yếu là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt ở địa phương, đơn vị. Qua giải quyết tố cáo, kết luận: 1 đơn tố cáo tổ chức đảng, 7 đơn tố cáo đảng viên chưa có cơ sở kết luận; 1 đơn tố cáo đảng viên đã cho rút đơn, không xem xét giải quyết; 1 đơn tố cáo tổ chức, 9 đơn tố cáo đảng viên sai; 1 đơn tố cáo tổ chức đảng, 14 đảng viên đúng và đúng một phần, trong đó: có 13 đơn tố cáo đảng viên đúng có vi phạm, nhưng chưa đến mức phải xử lý kỷ luật, 1 đơn tố cáo tổ chức đảng, 1 đơn tố cáo đảng viên đúng có vi phạm phải thi hành kỷ luật và đã thi hành kỷ luật. Quá trình giải quyết đơn, thư tố cáo, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thực hiện kịp thời, đúng quy trình, thủ tục và thẩm quyền theo quy định; cơ bản bảo đảm tính khách quan, chính xác, làm rõ đúng, sai; đến nay không để đơn, thư tồn đọng kéo dài; qua đó, giúp cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng có khuyết điểm, vi phạm nghiêm túc sửa chữa, rút kinh nghiệm và có biện pháp khắc phục. Đạt được kết quả nêu trên là do cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp đã chủ động, tích cực theo dõi, nắm bắt tình hình để xây dựng và lãnh đạo, hoàn thành tốt chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa và hằng năm. Xác định n ộ i dung, đối tượng trọng tâm kiểm tra, giám sát đối với ngành, lĩnh vực, địa bàn, khu vực, đơn vị cần quan tâm. Từng bước đổi mới phương pháp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát theo hướng sát với cơ sở, bám nắm tình hình, vụ việc, dư luận xã hội quan tâm. Thực hiện toàn diện, hiệu quả nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng theo quy định của Điều lệ Đảng, nhất là kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm. Quan tâm kiện toàn, củng cố ủy ban kiểm tra các cấp bảo đảm số lượng và chất lượng, xây dựng đ ộ i ngũ cán b ộ kiểm tra tinh thông nghiệp vụ, có trình đ ộ chuyên môn cao, bản lĩnh, trách nhiệm. Một số giải pháp trong nhiệm kỳ tới Từ tình hình của thực tiễn đang đặt ra hiện nay, để xây dựng Đảng bộ thành phố Huế ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, thì công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong nhiệm kỳ tới cần phải tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả. Trong đó, cần tập trung nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau: Thứ nhất, tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Trong thời gian qua, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trên địa bàn thành phố Huế được đẩy mạnh và đạt được nhiều kết quả tốt, góp phần quan trọng xây dựng Đảng bộ thành phố trong sạch, vững mạnh, tạo dấu ấn và sự lan tỏa tốt trong xã hội. Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trên địa bàn thành phố vẫn còn một số hạn chế, khuyết điểm nhất định, một số cấp ủy chưa qua tâm đúng mức trong công tác triển khai thực hiện nhiệm vụ này. Cần nhất quán trong nhận thức rằng, kiểm tra, giám sát là chức năng lãnh đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn “pha’. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra” (1) . Do đó, kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ của toàn Đảng, của từng chi bộ và mỗi đảng viên, mà trước hết là của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy. Thứ hai, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, phục vụ nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. Do đó, các cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên tự kiểm tra, tự rà soát, kịp thời chỉ ra ưu điểm để phát huy, phát hiện hạn chế, khuyết điểm để chủ động chấn chỉnh, khắc phục. Tiếp tục thực hiện tốt phương châm “giám sát mở rộng, kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm”, tập trung vào việc lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng, lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh vi phạm, trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, kê khai tài sản, thu nhập… gắn kiểm tra, giám sát tổ chức đảng với đảng viên, nhất là cấp ủy viên, cán bộ thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý. Chú trọng kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức đảng, đảng viên, tập trung vào địa bàn, lĩnh vực, vị trí công tác dễ nảy sinh tham nhũng, tiêu cực, nơi có biểu hiện nội bộ mất đoàn kết, có vấn đề phức tạp mới nảy sinh…; giải quyết kịp thời, dứt điểm đơn, thư tố cáo, khiếu nại đối với tổ chức đảng, đảng viên. Tăng cường công tác phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử của Nhà nước; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội trong công tác giám sát, vai trò của truyền thông, báo chí và nhân dân trong phản ánh dư luận xã hội, đấu tranh phòng, chống hành vi vi phạm pháp luật, hiện tượng tiêu cực... Đẩy mạnh công tác chuyển đổi số ngành kiểm tra Đảng, tiếp tục hoàn thiện, bổ sung quy trình, thủ tục thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp, trong đó tập trung vào cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên từ khi mới manh nha; ứng dụng hiệu quả thành tựu khoa học - công nghệ vào công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, hướng tới “kiểm tra trên dữ liệu, giám sát trên dữ liệu”. Thứ ba, tiếp tục củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra của Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, là nhiệm vụ rất khó khăn và phức tạp, để hoàn thành tốt nhiệm vụ thì đòi hỏi xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra các cấp có đủ phẩm chất, năng lực, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thông nghiệp vụ, am hiểu nhiều lĩnh vực; đặc biệt, phải thực sự công tâm, khách quan, không nể nang, né tránh, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thách thức, nhất là trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, giải quyết tố cáo đối với cấp ủy viên, đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý về hành vi tha hóa quyền lực, chạy chức, chạy quyền, tiêu cực, tham nhũng, “lợi ích nhóm”… Ủy ban kiểm tra và đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp phải xác định quyết tâm chính trị, phát huy cao độ vai trò, trách nhiệm, xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Thứ tư, tăng cường tuyên truyền về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Kịp thời công khai kết quả kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc công khai vi phạm, kết quả kiểm tra, xem xét thi hành kỷ luật Đảng đối với cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao, cán bộ đã về hưu trong thời gian vừa qua được dư luận rất hoan nghênh. Một mặt, điều đó thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thể hiện tính dân chủ, công khai trong hoạt động của Đảng. Mặt khác, việc công khai kết quả kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng có tác dụng rất lớn trong việc cảnh báo, cảnh tỉnh, đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí trong tổ chức đảng và bộ máy nhà nước. Đồng thời, việc công khai kết quả và kết luận kiểm tra trên phương tiện thông tin đại chúng còn đòi hỏi cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng một cách đúng đắn, cẩn trọng, chặt chẽ, chính xác. Với tinh thần và quyết tâm chính trị cao, sự vào cuộc tích cực, đồng bộ của cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng được triển khai thường xuyên, liên tục, không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả là điều kiện quan trọng xây dựng Đảng bộ thành phố Huế ngày càng trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị đã đề ra./. --------------------------- ( 1 ) Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 637