Dataset Viewer
Auto-converted to Parquet Duplicate
url
stringlengths
43
279
title
stringlengths
7
249
published_at
stringdate
1949-11-12 00:00:00
2026-03-30 21:03:00
doi
stringclasses
111 values
abstract
stringclasses
355 values
body_text
stringlengths
1.52k
65.8k
https://lyluanchinhtri.vn/nang-cao-hieu-qua-truyen-thong-ve-cong-tac-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-trong-giai-doan-moi-13539.html
Nâng cao hiệu quả truyền thông về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn mới
30/03/2026 21:03
https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.8735
null
Tiếng Việt English Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nhân vật - Sự kiện Diễn đàn Quốc tế Tin tức Từ điển mở Giới thiệu Giới thiệu tạp chí in Đại hội Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Tóm tắt bài Tạp chí in số mới nhất Tin qua ảnh Lưu trữ Trang chủ Thực tiễn Thực tiễn Nâng cao hiệu quả truyền thông về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn mới • 30/03/2026 21:03 DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.8735 Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số mạnh mẽ hiện nay, truyền thông về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện cả về tư duy, nội dung, phương thức và công nghệ. Bài viết phân tích thực trạng truyền thông về công tác NVNONN sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài; phân tích những thành tựu đạt được, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận động, gắn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn tới. ThS NGUYỄN VĂN THUẬT Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ IV_Ảnh: BNG 1.Mở đầu Truyền thông đối ngoại là một phần quan trọng trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, có đóng góp thiết thực vào việc thực hiện đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) đã khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam (1) . Sau 17 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 12-KL/TW ngày 12 - 8 - 2021 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn mới, đặt ra yêu cầu “đổi mới nội dung, phương thức và tư duy về công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại” (2) . Trong hơn 20 năm qua, công tác thông tin đối ngoại đối với NVNONN đã đạt nhiều kết quả quan trọng, từng bước khẳng định vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với cộng đồng kiều bào trên toàn cầu. Thông qua hệ thống báo chí đối ngoại, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cùng các chương trình, chiến dịch truyền thông chính thống, nhiều chủ trương, đường lối, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đã được lan tỏa kịp thời, góp phần củng cố niềm tin chính trị, tăng cường sự đồng thuận và gắn bó của kiều bào với quê hương, đất nước. Công tác thông tin đối ngoại không chỉ giúp cộng đồng NVNONN hiểu rõ hơn về tình hình trong nước và định hướng phát triển của Việt Nam, mà còn tạo điều kiện để kiều bào tham gia sâu hơn vào các hoạt động giao lưu văn hóa, khoa học - công nghệ, đầu tư và ngoại giao nhân dân. Qua đó, truyền thông đối ngoại đã góp phần phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời thúc đẩy hình ảnh Việt Nam hòa bình, ổn định, đổi mới và hội nhập trong mắt cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản môi trường truyền thông toàn cầu. Truyền thông không còn là quá trình một chiều, mà chuyển mạnh sang mô hình đa chiều, tương tác, cá nhân hóa dựa trên dữ liệu. Trong bối cảnh đó, công tác truyền thông về NVNONN nếu không được đổi mới kịp thời sẽ khó đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thậm chí có nguy cơ bị tụt hậu trước sự cạnh tranh gay gắt của các luồng thông tin đa chiều trên không gian mạng. 2. Nội dung 2.1. Những kết quả đạt được của hoạt động truyền thông về công tác người Việt Nam ở nước ngoài thời gian vừa qua Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có quy mô khoảng 6,5 triệu người, sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó khoảng 80% cư trú tại các nước phát triển (3) . Trong đó, chuyên gia, trí thức chiếm khoảng 10-15% (tương đương 650.000 người). Các hội đoàn, mạng lưới chuyên gia, trí thức Việt Nam ở nước ngoài ngày càng phát triển; hiện đã hình thành 10 mạng lưới đổi mới sáng tạo tại các quốc gia, quy tụ 2000 chuyên gia cùng với hơn 30 hội chuyên gia, trí thức hoạt động tích cực (4) . Lực lượng này không chỉ gồm những chuyên gia Việt Nam sang học tập, làm việc và định cư từ giai đoạn trước, mà còn có sự tham gia của thế hệ kiều bào trẻ sinh ra, lớn lên ở nước ngoài (thế hệ thứ hai, thứ ba). Với ưu thế về ngoại ngữ và kinh nghiệm quốc tế, họ đang trở thành lực lượng nòng cốt, đóng vai trò hạt nhân trong mạng lưới tri thức người Việt trên phạm vi toàn cầu. Sau hơn 20 năm triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị, truyền thông về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đã có những bước phát triển rõ nét cả về quy mô, phạm vi và hình thức, góp phần nâng cao nhận thức xã hội, củng cố niềm tin và tăng cường sự gắn kết giữa cộng đồng kiều bào với quê hương, đất nước. Truyền thông từng bước khẳng định vai trò là một bộ phận hữu cơ trong tổng thể công tác đối với NVNONN, vừa là kênh thông tin, vừa là công cụ vận động, kết nối và định hướng dư luận. Cụ thể: Một là , truyền thông đã góp phần lan tỏa kịp thời các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với NVNONN tới cộng đồng kiều bào trên toàn cầu. Thông qua hệ thống báo chí đối ngoại, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cổng thông tin điện tử và các nền tảng truyền thông số, nhiều nội dung quan trọng liên quan đến quốc tịch, bảo hộ công dân, đầu tư, giáo dục, khoa học - công nghệ, gìn giữ tiếng Việt và văn hóa dân tộc đã được truyền tải rộng rãi, giúp kiều bào hiểu rõ hơn về chính sách nhất quán của Nhà nước trong việc coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam ( 5 ) . Hai là , truyền thông đã góp phần tích cực trong việc xây dựng và củng cố niềm tin của kiều bào đối với đường lối phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước. Các chiến dịch truyền thông gắn với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và vị thế quốc tế của Việt Nam đã tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là lực lượng trí thức, doanh nhân và thế hệ trẻ. Nhiều sự kiện mang tính biểu tượng như Xuân Quê hương ( 6 ) , gắn với các chương trình tôn vinh kiều bào tiêu biểu, không chỉ thu hút sự tham gia trực tiếp mà còn tạo dấu ấn mạnh mẽ trên không gian truyền thông số. Ba là, truyền thông đã góp phần thúc đẩy, huy động nguồn lực trí thức kiều bào phục vụ phát triển đất nước. Thông qua việc tuyên truyền về các chương trình hợp tác khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và chuyển giao tri thức, truyền thông đã góp phần thúc đẩy sự tham gia ngày càng sâu rộng của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài vào các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, tư vấn chính sách và triển khai các dự án phát triển trong nước. Việc hình thành và lan tỏa các mạng lưới trí thức kiều bào trên môi trường truyền thông đã tạo nền tảng quan trọng cho việc kết nối tri thức toàn cầu với nhu cầu phát triển của Việt Nam. Bốn là, truyền thông về NVNONN đã góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và tăng cường quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Thông qua các kênh báo chí, truyền hình, nền tảng số và hoạt động truyền thông cộng đồng, hình ảnh Việt Nam hòa bình, ổn định, đổi mới và hội nhập ngày càng được lan tỏa sâu rộng. Cộng đồng kiều bào, trong đó có lực lượng trí thức, ngày càng đóng vai trò quan trọng như những “đại sứ nhân dân”, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, khoa học, giáo dục, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam với các nước. Năm là, truyền thông đã góp phần tích cực vào việc gìn giữ bản sắc văn hóa và duy trì tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là đối với thế hệ thứ hai, thứ ba. Các chương trình, chuyên mục và chiến dịch truyền thông về văn hóa, lịch sử, truyền thống dân tộc, cùng các hoạt động tôn vinh giá trị Việt đã góp phần củng cố, duy trì mối liên hệ văn hóa - tinh thần giữa kiều bào với quê hương. Nhà nước chủ trì tổ chức các sự kiện, lễ hội nhằm gìn giữ và lan tỏa các giá trị văn hoá Việt thông qua ẩm thực, âm nhạc, trang phục…; thu hút, kết nối giới trẻ tham gia vào hoạt động thường niên do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao) tổ chức như: Trại hè Việt Nam, Cuộc thi Tìm kiếm Sứ giả tiếng Việt ở nước ngoài (7 ) , tạo nền tảng bền vững cho sự gắn kết cộng đồng. Những kết quả này cơ bản đáp ứng được yêu cầu theo tinh thần Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị, nhất là yêu cầu về đổi mới, đa dạng hóa hình thức vận động, tăng cường gắn kết thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời phát huy vai trò của kiều bào như cầu nối thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia sở tại, qua đó, góp phần củng cố niềm tin, khơi dậy trách nhiệm và huy động sự tham gia ngày càng chủ động của đội ngũ trí thức, doanh nhân kiều bào. 2.2. Những hạn chế trong truyền thông về công tác người Việt Nam ở nước ngoài Mặc dù truyền thông về công tác NVNONN đã đạt được nhiều kết quả rất đáng tự hào, song vẫn còn nhiều hạn chế, chưa thực sự đổi mới theo hướng chuyên sâu, nội dung thông tin ở một số kênh còn thiên về tuyên truyền một chiều, chưa thực sự hấp dẫn, thiếu tính cá nhân hóa và chưa theo kịp xu hướng tiêu thụ thông tin nhanh, ngắn, trực quan của môi trường số. Việc ứng dụng các hình thức truyền thông mới như video ngắn, podcast, tương tác trực tiếp trên nền tảng mạng xã hội còn chưa đồng đều giữa các cơ quan, địa phương và cơ quan đại diện ở nước ngoài. Công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong và ngoài nước còn thiếu tính liên thông, dữ liệu về cộng đồng kiều bào chưa được chuẩn hóa, tích hợp và khai thác hiệu quả. Hiện nay, thông tin về NVNONN vẫn phân tán ở nhiều đầu mối khác nhau, gây khó khăn cho việc phân tích nhu cầu, xu hướng dư luận và xây dựng các chiến dịch truyền thông có trọng tâm, trọng điểm. Nguồn lực dành cho truyền thông đối ngoại, bao gồm nhân lực chuyên môn, tài chính và hạ tầng công nghệ, nhìn chung còn hạn chế, chưa tương xứng với quy mô cộng đồng kiều bào và yêu cầu ngày càng cao của công tác này trong bối cảnh chuyển đổi số. Đáng chú ý, trong khi truyền thông chính thống còn gặp khó khăn trong đổi mới phương thức tiếp cận, thì các luồng thông tin xấu độc, tin giả, thông tin sai lệch về Việt Nam trên không gian mạng lại gia tăng với nhiều hình thức tinh vi, có tổ chức, tác động trực tiếp đến nhận thức của một bộ phận người Việt Nam ở nước ngoài. Việc thiếu một nền tảng truyền thông số chuyên biệt, đủ mạnh và có khả năng phản hồi nhanh đã làm giảm hiệu quả đối trọng thông tin, ảnh hưởng đến việc định hướng dư luận và củng cố sự gắn kết cộng đồng. Nguyên nhân của những hạn chế trên trước hết xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về vai trò chiến lược của truyền thông đối ngoại trong tổng thể công tác NVNONN. Cơ chế phối hợp liên ngành còn phân tán, thiếu đồng bộ do chưa có một chiến lược truyền thông tổng thể quốc gia về công tác NVNONN. Việc đầu tư cho truyền thông chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ số và nhu cầu tiêu thụ thông tin và các sản phẩm truyền thông mới của công chúng. Việc chậm hình thành một hệ sinh thái thông tin chính thống, tích hợp dữ liệu và ứng dụng công nghệ hiện đại đã khiến công tác truyền thông về NVNONN chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế vốn có. Trước sự thay đổi nhanh chóng của môi trường truyền thông số và yêu cầu ngày càng cao trong việc huy động nguồn lực kiều bào đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa về tư duy, phương thức và công cụ truyền thông trong giai đoạn tới. 2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn mới Thứ nhất, hoàn thiện khung thể chế và chính sách về truyền thông đối với công tác NVNONN theo hướng đồng bộ, linh hoạt và thích ứng với môi trường số Đẩy mạnh xây dựng hành lang pháp lý cho các nền tảng truyền thông xuyên biên giới, bảo đảm vừa mở rộng đối tượng tiếp cận, vừa giữa vững định hướng chính trị. Trên cơ sở đó, cần xây dựng chiến lược truyền thông số tổng thể về NVNONN với tầm nhìn dài hạn, bảo đảm sự thống nhất về định hướng, thông điệp và mục tiêu giữa các bộ, ngành, địa phương và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Chiến lược này cần xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ chế phối hợp liên ngành và trách nhiệm cụ thể của từng chủ thể tham gia, tránh chồng chéo, phân tán trong tổ chức thực hiện. Đồng thời, bổ sung các cơ chế khuyến khích xã hội hóa, tạo điều kiện huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, hội đoàn và đội ngũ trí thức kiều bào tham gia sản xuất, lan tỏa nội dung truyền thông, qua đó nâng cao tính chủ động, hiệu quả và tính bền vững lâu dài của công tác truyền thông về NVNONN. Thứ hai, xây dựng nền tảng truyền thông số chuyên biệt về công tác NVNONN Nền tảng truyền thông số chuyên biệt về công tác NVNONN hoạt động như một trung tâm tích hợp dữ liệu - nội dung - phản hồi, bảo đảm đa ngôn ngữ và liên thông với hệ thống thông tin của các bộ, ngành, địa phương và báo chí đối ngoại. Trên nền tảng đó, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, được cập nhật theo khu vực địa lý, lĩnh vực hoạt động và nhóm đối tượng, phục vụ hiệu quả cho công tác phân tích, hoạch định chính sách và định hướng truyền thông. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) trong giám sát dư luận, phân tích xu hướng truyền thông, cá nhân hóa nội dung theo từng nhóm kiều bào và phát hiện sớm thông tin sai lệch, qua đó nâng cao tính chủ động, kịp thời và hiệu quả của công tác truyền thông về NVNONN trong bối cảnh chuyển đổi số. Thứ ba, đổi mới nội dung và phương thức truyền thông theo hướng ngắn gọn, trực quan, đa nền tảng và cá nhân hóa, phù hợp với đặc điểm, nhu cầu và thói quen tiếp nhận thông tin của từng nhóm kiều bào Trọng tâm là chuyển từ cách truyền tải thông tin thuần túy sang kể chuyện đa phương tiện (storytelling), tăng tính tương tác và khả năng chia sẻ trên các nền tảng số toàn cầu. Trên cơ sở đó, triển khai các chiến dịch truyền thông theo chuyên đề gắn với văn hóa, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế, qua đó lan tỏa hình ảnh Việt Nam năng động, sáng tạo và hội nhập. Đồng thời, cần phát huy vai trò của trí thức, doanh nhân, những cá nhân có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng như các chủ thể đồng sáng tạo và lan tỏa thông tin chính thống, góp phần mở rộng độ phủ, tăng tính thuyết phục và hiệu quả của công tác truyền thông về NVNONN. Thứ tư, xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả truyền thông về NVNONN Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả truyền thông về NVNONN dựa trên dữ liệu, bao gồm các tiêu chí cốt lõi như độ lan tỏa, mức độ tin cậy, sự tham gia của cộng đồng và chỉ số hình ảnh quốc gia. Trên cơ sở đó, cần thiết lập cơ chế phản hồi hai chiều, vận hành trung tâm phân tích và phản hồi thông tin đối ngoại theo thời gian thực (24/7), bảo đảm khả năng tiếp nhận, xử lý và phản hồi kịp thời ý kiến, kiến nghị của kiều bào. Kết quả đo lường và phản hồi được sử dụng như một “vòng phản hồi số”, phục vụ việc điều chỉnh nội dung, phương thức và chính sách truyền thông, qua đó nâng cao tính chủ động, hiệu quả và khả năng thích ứng của công tác truyền thông về NVNONN trong bối cảnh chuyển đổi số. Thứ năm, x ây dựng đội ngũ làm công tác truyền thông về NVNONN theo hướng chuyên nghiệp, đa kỹ năng và am hiểu môi trường quốc tế Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng năng lực truyền thông số, phân tích dữ liệu, ứng dụng AI, kể chuyện đa văn hóa và quản trị khủng hoảng truyền thông cho cán bộ trong nước và tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Khuyến khích thu hút sự tham gia của trí thức, chuyên gia, nhà báo và cộng tác viên kiều bào vào mạng lưới truyền thông đối ngoại, coi đây là lực lượng nòng cốt bảo đảm tính linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả của toàn bộ hệ sinh thái truyền thông NVNONN. 3. Kết luận Nâng cao hiệu quả truyền thông về công tác NVNONN trong tình hình mới là yêu cầu khách quan, xuất phát từ bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự biến đổi nhanh chóng của môi trường truyền thông số, với sự phát triển các luồng thông tin đa chiều trên không gian mạng. Việc xây dựng chiến lược truyền thông số tổng thể, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo và hình thành hệ sinh thái thông tin chính thống là hướng tiếp cận phù hợp, qua đó, không chỉ cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, mà còn góp phần tăng cường kết nối, củng cố niềm tin, khơi dậy tinh thần đoàn kết và trách nhiệm của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời góp phần khẳng định vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Ngày nhận bài: 8-1-2026; Ngày bình duyệt : 30-1-2026; Ngày duyệt đăng: 29-3-2026 Email tác giả: thuatnguyencpi@gmail.com (1) Bộ Chính trị: Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài . (2) Bộ Chính trị: Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới . (3) Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản: Hội nghị toàn quốc tổng kế 20 năm thực hiện công tác người Việt Nam ở nước ngoài. https://dangcongsan.org.vn/ , ngày 22-12-2025. (4) VietnamPlus: Nguồn lực trí thức khoa học và công nghệ của kiều bào - Lợi thế chiến lược của Việt Nam , Thông tấn xã Việt Nam. https://www.vietnamplus.vn , ngày 25-12-2025. (5) Báo điện tử Công Thương: Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. https://dantoctongiao.congthuong.vn , ngày 30-11-2022. (6) Vietnam Plus: Xuân Quê hương: Điểm hẹn của kiều bào khắp nơi trên thế giới mỗi dịp Tết . https://www.vietnamplus.vn , ngày 14-12-2023. (7) VietnamPlus: Kiều bào hướng về cội nguồn, gìn giữ bản sắc văn hóa Việt , Thông tấn xã Việt Nam. https://www.vietnamplus.vn , ngày 13-11-2025. Chia sẻ Facebook Chia sẻ Zalo Chia sẻ Zalo Công tác người Việt Nam ở nước ngoài truyền thông đối ngoại nâng cao hiệu quả giai đoạn mới Đọc thêm Thực tiễn Nổi bật Tin mới nhất Xem thêm Tin đọc nhiều Thực tiễn Nâng cao hiệu quả truyền thông về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn mới Cỡ chữ Mặc định Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nhân vật - Sự kiện Diễn đàn Quốc tế Tin tức Từ điển mở Giới thiệu Giới thiệu tạp chí in Đại hội Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Tóm tắt bài Tạp chí in số mới nhất Tin qua ảnh Lưu trữ Cơ quan chủ quản: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tổng biên tập: PGS, TS Nguyễn Thắng Lợi Phó Tổng biên tập: PGS, TS Hoàng Anh PGS, TS Đinh Quang Thành TS Tạ Quang Tuấn Giấy phép hoạt động Tạp chí in và Tạp chí điện tử số 628/GP-BTTTT ngày 24/9/2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông Mã số chuẩn quốc tế: ISSN 2525-2607 Tạp chí in được phát hành qua Công ty Phát hành báo chí Trung ương: Tạp chí tiếng Việt mã số C186; Tạp chí tiếng Anh mã số C063 Toà soạn: 135 Nguyễn Phong Sắc, phường Nghĩa Đô, Hà Nội Điện thoại: 080.48132 Email: tcllct.hcma@gmail.com Fax: 04.62827490 POWERED BY Gửi bình luận Hủy Gửi
https://lyluanchinhtri.vn/cong-tac-dan-toc-cua-he-thong-chinh-tri-o-viet-nam-hien-nay-13538.html
Công tác dân tộc của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay
26/03/2026 14:51
https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.2293
null
Tiếng Việt English Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nhân vật - Sự kiện Diễn đàn Quốc tế Tin tức Từ điển mở Giới thiệu Giới thiệu tạp chí in Đại hội Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Tóm tắt bài Tạp chí in số mới nhất Tin qua ảnh Lưu trữ Trang chủ Thực tiễn Thực tiễn Công tác dân tộc của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay • 26/03/2026 14:51 DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.2293 Tóm tắt: Công tác dân tộc được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài trên nền tảng nhất quán quan điểm bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và tương trợ giữa các dân tộc. Trên cơ sở đó, hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở giữ vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện. Nhờ đó, nhiều lĩnh vực quan trọng như phát triển kinh tế - xã hội và giảm nghèo bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc, nâng cao giáo dục, y tế và an sinh xã hội, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, giữ vững quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc và miền núi đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. TS VŨ TRƯỜNG GIANG Học viện Chính trị khu vực I Nhờ có các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế dành cho đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước, nhiều mô hình kinh tế đã triển khai đem lại hiệu quả kinh tế cao, giúp đồng bào thoát nghèo và phát triển bền vững_Ảnh: TTXVN 1. Mở đầu Việt Nam là quốc gia thống nhất của 54 dân tộc. Trong suốt tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vấn đề dân tộc và công tác dân tộc luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài. Trên cơ sở đó, quan điểm bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc được khẳng định xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng và được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước. Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vùng đồng bào dân tộc có nhiều cơ hội phát triển mới lẫn nhiều thách thức đan xen. Thách thức lớn là khoảng cách phát triển giữa các vùng, nguy cơ mai một bản sắc văn hóa, tác động của biến đổi khí hậu, di cư tự do và các vấn đề an ninh phi truyền thống. Thực tiễn cho thấy, các vấn đề dân tộc, tôn giáo, phát triển và an ninh có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của toàn bộ hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở trong quá trình quản trị nhà nước. Trên cơ sở đó, về phương diện lý luận, bài viết tiếp cận chính sách dân tộc như một hệ thống quan điểm, mục tiêu và công cụ quản trị nhằm điều chỉnh quan hệ dân tộc trong cộng đồng quốc gia - dân tộc, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Công tác dân tộc không chỉ là hoạt động quản lý hành chính mà còn là quá trình tổ chức thực thi chính sách thông qua sự lãnh đạo, quản lý và phối hợp của toàn bộ hệ thống chính trị. Từ góc độ quản trị chính sách, vai trò của hệ thống chính trị trong công tác dân tộc được xem xét trên ba phương diện: hoạch định, tổ chức thực thi và điều phối chính sách. Với cách tiếp cận này có thể nhìn nhận công tác dân tộc dưới góc độ phối hợp liên ngành, liên cấp trong hệ thống chính trị, bảo đảm sự thống nhất giữa hoạch định và thực thi chính sách. Qua đó, bài viết góp phần làm rõ vai trò của hệ thống chính trị trong tổ chức thực thi chính sách dân tộc và thúc đẩy nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam, hướng tới phát triển bền vững. 2. Nội dung 2.1 . Các chủ thể tham gia thực hiện công tác dân tộc Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12-3-2003 về công tác dân tộc xác định: “Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị” (1) . Công tác dân tộc không chỉ là tổng hợp vai trò của từng chủ thể mà là thước đo năng lực phối hợp của toàn bộ hệ thống chính trị. Hiệu quả phụ thuộc vào cơ chế điều phối liên ngành thống nhất giữa trung ương và địa phương, gắn hoàn thiện chính sách với kỷ luật thực thi và trách nhiệm giải trình, nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và củng cố niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số. Thứ nhất , Đảng Cộng sản Việt Nam - chủ thể lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp đối với công tác dân tộc, quyết định phương hướng, mục tiêu và hiệu quả thực hiện công tác này trong toàn bộ hệ thống chính trị. Trước hết, Đảng định hướng đường lối, quan điểm và mục tiêu chiến lược về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc, coi đây là nền tảng để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo đảm phát triển bền vững đất nước. Trên cơ sở đó, Đảng ban hành cương lĩnh, nghị quyết, chỉ thị và kết luận, trong đó tiêu biểu là các nghị quyết của Trung ương về công tác dân tộc và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, làm cơ sở chính trị cho việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Thông qua cơ quan chuyên trách của Đảng là Ban Tuyên giáo và Dân vận - trực tiếp tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra công tác dân tộc; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, nắm bắt tình hình tư tưởng và dư luận trong đồng bào dân tộc thiểu số ( 2 ) . Đảng lãnh đạo công tác tổ chức và cán bộ, chú trọng xây dựng, quy hoạch, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm các chủ trương, chính sách dân tộc được triển khai thống nhất, hiệu quả. Đồng thời, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để gây chia rẽ, mất ổn định chính trị - xã hội. Thứ hai, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - chủ thể quản lý, điều hành Nhà nước Cộng hòa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam giữ vai trò chủ thể quản lý, điều hành công tác dân tộc thông qua việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các chính sách lớn về dân tộc và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời giám sát tối cao việc thực hiện công tác dân tộc; cơ quan chuyên trách giúp Quốc hội thực hiện chức năng này là Hội đồng Dân tộc (3) . Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thống nhất quản lý nhà nước về công tác dân tộc; ban hành và tổ chức thực hiện các chiến lược, chương trình, dự án, chính sách cụ thể nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc. Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu, có quyền quyết định và chỉ đạo các hoạt động quản lý nhà nước tổng thể đối với lĩnh vực công tác dân tộc, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, sự phát triển toàn diện và bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Cơ quan chuyên trách giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực này là Bộ Dân tộc và Tôn giáo (4) . Ngoài ra, có Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về văn hóa các dân tộc thiểu số (5) . Ở địa phương, cơ quan chuyên trách là Ban Dân tộc thuộc Hội đồng Nhân dân tỉnh và Sở Dân tộc và Tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh ( 6 ) có trách nhiệm cụ thể hóa, tổ chức triển khai chính sách dân tộc phù hợp với đặc thù từng vùng, từng dân tộc. Thứ ba, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội giữ vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, góp phần thực hiện hiệu quả công tác dân tộc thông qua chức năng tập hợp, vận động, giám sát và phản biện xã hội. Mặt trận và các tổ chức thành viên làm nòng cốt trong việc tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nhận thức chính trị - pháp lý và ý thức trách nhiệm công dân ( 7) . Thông qua các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn và hoạt động xã hội, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy truyền thống đoàn kết, tương trợ, đồng thời chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội còn thực hiện chức năng giám sát việc thực thi chính sách dân tộc, kịp thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của các dân tộc thiểu số tới Đảng, Nhà nước, qua đó góp phần hoàn thiện chính sách và tăng cường sự đồng thuận xã hội về công tác dân tộc. Thứ tư, lực lượng vũ trang nhân dân Lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, giữ vai trò nòng cốt trong bảo đảm quốc phòng, an ninh và giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong điều kiện địa bàn rộng, địa hình phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố tác động đến an ninh trật tự, lực lượng vũ trang luôn chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu, xử lý hiệu quả các vấn đề phát sinh từ cơ sở. Đồng thời, lực lượng này kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, gắn phát triển với bảo vệ Tổ quốc. Việc tham gia xây dựng “thế trận quốc phòng toàn dân” gắn với “thế trận an ninh nhân dân” và “thế trận lòng dân” được triển khai đồng bộ, phù hợp với đặc điểm từng địa bàn. Thông qua công tác dân vận, lực lượng vũ trang trực tiếp và phối hợp tuyên truyền, vận động đồng bào chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng. Bên cạnh đó, lực lượng vũ trang tích cực tham gia xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ phát triển sản xuất, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Trong phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, lực lượng vũ trang luôn là lực lượng xung kích, sẵn sàng có mặt ở những nơi khó khăn, hiểm nguy nhất, qua đó góp phần củng cố niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng và Nhà nước. 2. 2 . Quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân tộc Thứ nhất, vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với người Kinh là đa số chiếm 85,3%; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số, phân bố dân cư không đồng đều, chủ yếu ở các vùng biên giới, vùng núi, hải đảo, địa bàn trọng yếu về quốc phòng - an ninh, và khu vực có vị trí chiến lược về sinh thái, tài nguyên ( 8 ) . Sự ổn định và phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số vì vậy không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội mà còn là nhân tố có ý nghĩa chiến lược đối với bảo đảm an ninh quốc gia, giữ vững chủ quyền lãnh thổ và củng cố ổn định nền tảng chính trị - xã hội của đất nước. Trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, khoảng cách phát triển giữa các vùng, nguy cơ tái nghèo, tác động của biến đổi khí hậu và sự chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo đặt ra yêu cầu công tác dân tộc một cách chủ động, toàn diện và dài hạn. Nghị quyết số 24-NQ/TW xác định rõ: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam” ( 9 ) . Nhận định này không chỉ khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của công tác dân tộc mà còn đặt vấn đề dân tộc trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước qua từng giai đoạn cách mạng. Công tác dân tộc không chỉ là nhiệm vụ của một ngành, lĩnh vực mà là trách nhiệm chung của toàn hệ thống chính trị, đòi hỏi sự lãnh đạo thống nhất, quản lý hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước và sự tham gia của toàn xã hội. Việc xác định đúng vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc là cơ sở để hoạch định chủ trương, chính sách phù hợp, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Về phương diện lý luận, vấn đề dân tộc ở Việt Nam không chỉ là quan hệ giữa các cộng đồng tộc người, mà là quan hệ chính trị - xã hội gắn với cấu trúc quyền lực nhà nước và chiến lược phát triển quốc gia. Do đó, xử lý vấn đề dân tộc chính là xử lý mối quan hệ giữa ổn định chính trị, công bằng xã hội và phát triển bền vững. Thứ hai, nguyên tắc thực hiện công tác dân tộc Nguyên tắc thực hiện chính sách về vấn đề dân tộc ở Việt Nam được xác định nhất quán trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011): “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc , tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số” ( 10 ) . Đây là hệ nguyên tắc có tính nền tảng, chi phối toàn bộ quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Quan điểm này được cụ thể hóa và phát triển trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ cùng phát triển. Thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội, vươn lên thoát nghèo và giảm nghèo đa chiều bền vững” ( 11 ) . không chỉ nhấn mạnh việc bảo đảm quyền bình đẳng mà còn xác lập yêu cầu phát triển bền vững, coi nâng cao năng lực nội sinh của đồng bào dân tộc thiểu số là định hướng chiến lược lâu dài. Trên phương diện pháp lý, các nguyên tắc đó được hiến định tại Điều 5 của Hiến pháp: “1) Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. 2) Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. 3) Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. 4) Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” ( 12 ) . Việc hiến định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì xác lập cơ sở pháp lý tối cao cho chính sách dân tộc, đồng thời khẳng định bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng cùng phát triển là nguyên tắc chi phối toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Thứ ba, ưu tiên đầu tư phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi Nghị quyết số 24-NQ/TW khẳng định yêu cầu: “Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng” ( 13 ) . Vùng dân tộc thiểu số và miền núi được xác định là “lõi” của nhiệm vụ giảm nghèo bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và ứng phó thiên tai. Đồng thời, đây cũng là khu vực giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm sinh kế lâu dài và giữ vững an ninh biên giới, chủ quyền lãnh thổ. Trên cơ sở đó, Đảng chủ trương tập trung nguồn lực đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng, sinh kế bền vững, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và củng cố quốc phòng - an ninh, nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc. Thứ tư, gắn công tác dân tộc với công tác tôn giáo, an ninh biên giới Thực tế, nhiều vùng dân tộc thiểu số có đặc điểm gắn với các tôn giáo, tín ngưỡng đặc thù, đồng thời nằm ở khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, có quan hệ lịch sử, văn hóa và giao lưu xuyên biên giới lâu đời. Những yếu tố này tạo nên không gian xã hội đặc thù, nơi các quan hệ cộng đồng, tín ngưỡng và lợi ích an ninh - quốc phòng đan xen chặt chẽ. Do đó, các vấn đề dân tộc, tôn giáo và an ninh không tồn tại tách rời mà có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, nếu xử lý thiếu đồng bộ có thể phát sinh những hệ lụy phức tạp. Do đó, việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc cần được đặt trong tổng thể chiến lược quản lý và phát triển xã hội, gắn kết chặt chẽ với công tác tôn giáo, công tác dân vận và nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia. Cách tiếp cận tích hợp này nhằm vừa bảo đảm và phát huy quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của đồng bào, vừa củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện và đấu tranh với các hành vi lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm kích động chia rẽ, gây mất ổn định chính trị - xã hội, qua đó góp phần xây dựng vùng biên giới hòa bình, ổn định và phát triển bền vững lâu dài. 2. 3. Nội dung trọng tâm của công tác dân tộc hiện nay Một là , giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 đã được triển khai tương đối đồng bộ và đạt nhiều kết quả quan trọng: đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân trên 3% mỗi năm; thu nhập của người dân tộc thiểu số tăng hơn ba lần so với năm 2020. Kết cấu hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư, sản xuất nông - lâm nghiệp chuyển dịch theo hướng bền vững, nhiều mô hình sinh kế và chuỗi giá trị được hình thành; các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, bình đẳng giới, chăm sóc phụ nữ và trẻ em có chuyển biến tích cực, góp phần củng cố quốc phòng, an ninh và tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc ( 14 ) . Trên cơ sở những thành quả đó, Quốc hội khóa XV đã ban hành Nghị quyết số 257/2025/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035 ( 15 ) . Triển khai Nghị quyết này, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 424/NQ-CP Ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 ( 16 ) . Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 417/QĐ-BNNMT phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030 ( 17 ) . H ai là , bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững đất nước, vừa góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam thống nhất trong đa dạng, vừa tạo nguồn lực nội sinh cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là phục dựng, bảo tồn các lễ hội truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp; đồng thời gìn giữ và phát huy giá trị của trang phục truyền thống, tiếng nói, chữ viết và kho tàng tri thức bản địa của các dân tộc. Cùng với đó, việc hỗ trợ, tôn vinh và tạo điều kiện để các nghệ nhân, già làng, trưởng bản, người có uy tín tham gia truyền dạy, thực hành văn hóa truyền thống có ý nghĩa then chốt. Việc khuyến khích và nhân rộng các mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc không chỉ tạo sinh kế, nâng cao thu nhập của người dân, mà còn góp phần quảng bá hình ảnh, giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc. Từ góc độ chính sách, những yêu cầu này đã được thể hiện trong các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa gắn với phát triển bền vững và bảo đảm công bằng xã hội ở vùng dân tộc thiểu số. “Bảo đảm bình đẳng trong thụ hưởng các giá trị văn hoá đối với các nhóm yếu thế như người khuyết tật, người nghèo, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số; chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc thiểu số” ( 18 ) . B a là , tăng cường giáo dục, y tế và an sinh xã hội Trong lĩnh vực giáo dục, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách đặc thù nhằm tạo điều kiện cho con em đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận giáo dục một cách bình đẳng. Chính sách cử tuyển, hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú cùng các chương trình hỗ trợ học phí, sách giáo khoa, đồ dùng học tập đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ huy động học sinh đến trường, hạn chế tình trạng bỏ học giữa chừng. Thông qua đó, nhiều học sinh dân tộc thiểu số có cơ hội tiếp tục học tập ở bậc cao hơn, từng bước hình thành đội ngũ cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài của địa phương và đất nước. Đại hội XIV của Đảng xác định: “Phát triển hài hòa giáo dục và đào tạo giữa các vùng, miền; có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, các đối tượng chính sách” ( 19 ) . Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được đặc biệt quan tâm, nhất là việc củng cố mạng lưới y tế cơ sở tại các xã, thôn, bản vùng sâu, vùng xa. Việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, nâng cao năng lực đội ngũ y bác sĩ, nhân viên y tế thôn bản đã giúp người dân được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu kịp thời và thuận lợi hơn. Đồng thời, các chương trình truyền thông, tư vấn về sức khỏe sinh sản, phòng chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống được đẩy mạnh, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, giảm thiểu những hệ lụy tiêu cực đối với chất lượng dân số và sự phát triển của các thế hệ tương lai. Về an sinh xã hội, chính sách bảo hiểm y tế đã đạt được kết quả nổi bật khi tỷ lệ bao phủ gần như toàn bộ đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là chỗ dựa quan trọng giúp người dân giảm bớt gánh nặng chi phí khám chữa bệnh, nhất là đối với các hộ nghèo, cận nghèo. “Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, thích ứng linh hoạt, theo vòng đời và bao phủ toàn dân, toàn diện, lấy con người là trung tâm, nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân; bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu có chất lượng; ưu tiên các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế và đối tượng trong khu vực phi chính thức, mở rộng tín dụng chính sách xã hội phù hợp điều kiện, trình độ phát triển của Việt Nam, “không để ai bị bỏ lại phía sau”” ( 20 ) . Bốn là , xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Việc phát hiện, tạo nguồn cán bộ từ học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số có năng lực, phẩm chất tốt, thông qua các chính sách ưu tiên trong giáo dục, đào tạo, là khâu quan trọng nhằm bảo đảm tính kế thừa và phát triển liên tục của đội ngũ cán bộ. Công tác quy hoạch, bồi dưỡng và đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số cần được tiến hành bài bản, lâu dài và gắn với yêu cầu phát triển của từng địa phương. Đồng thời, cần chú trọng bồi dưỡng toàn diện về lý luận chính trị, chuyên môn, kỹ năng quản lý, kỹ năng vận động quần chúng, gắn đào tạo với thực tiễn công tác tại cơ sở, qua đó nâng cao năng lực thực thi nhiệm vụ của cán bộ địa phương. Bên cạnh công tác đào tạo, việc bố trí, sử dụng và từng bước tăng tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các cấp có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo đảm tính đại diện và phù hợp với đặc điểm vùng, miền. Cán bộ là người dân tộc thiểu số, am hiểu phong tục, tập quán, ngôn ngữ và tâm lý cộng đồng sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo, điều hành, hạn chế những bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, hợp lý về cơ cấu sẽ tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. “Quan tâm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước; tăng cường cán bộ cho các địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu; ưu tiên đào tạo, chuẩn hoá đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ cấp xã sau sắp xếp đơn vị hành chính” ( 21 ) . N ăm là , giữ vững an ninh vùng dân tộc thiểu số và biên giới Một trong những nội dung trọng tâm là chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tuyên truyền xuyên tạc, kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc. “Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thực hiện nghiêm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Phát huy vai trò tích cực của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội” ( 2 2 ) . Thông qua công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức chính trị - pháp luật cho người dân, cần làm rõ bản chất sai trái của các luận điệu thù địch, qua đó củng cố niềm tin của đồng bào đối với đường lối, của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực biên giới là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt nhằm bảo đảm cuộc sống bình yên của nhân dân, mà còn là điều kiện nền tảng để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Trên cơ sở đó, “tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững và củng cố môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước” ( 23 ) . 3 . Kết luận Qua phân tích vai trò của hệ thống chính trị trong công tác dân tộc hiện nay, có thể rút ra một số vấn đề lý luận cơ bản. Thứ nhất , công tác dân tộc không chỉ là lĩnh vực chính sách xã hội chuyên biệt, mà là một cấu phần hữu cơ của chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, gắn trực tiếp với ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát triển bền vững quốc gia. Thứ hai , hiệu quả công tác dân tộc phụ thuộc trước hết vào năng lực điều phối và quản trị thống nhất của hệ thống chính trị, trong đó vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam giữ tính quyết định; Nhà nước thể chế hóa và tổ chức thực thi; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện giám sát, phản biện và vận động xã hội. Thứ ba , trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi phát triển, công tác dân tộc đang chuyển từ tiếp cận hỗ trợ đơn thuần sang phát triển bao trùm, trao quyền và tăng cường năng lực nội sinh của cộng đồng các dân tộc thiểu số. Do đó, cần tập trung vào một số định hướng lớn. Một là , tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về công tác dân tộc theo hướng tích hợp, đồng bộ, khắc phục chồng chéo chính sách, bảo đảm thống nhất giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh và bảo tồn văn hóa. Hai là , làm rõ cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị, tăng cường trách nhiệm giải trình và kỷ luật thực thi. Ba là , đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng nâng cao chất lượng hoạch định chiến lược, năng lực dự báo và tổng kết thực tiễn. Bốn là , đẩy mạnh phân cấp gắn với bảo đảm nguồn lực, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và cán bộ người dân tộc thiểu số; qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác dân tộc và tạo nền tảng phát huy sức mạnh các dân tộc Việt Nam, hướng tới phát triển nhanh, bền vững, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. _________________ Ngày n hận bài: 05-3-2026 ; Ngày bình duyệt: 13-3-2026; Ngày duyệt đăng: 25-3-2026. Email tác giả: giangnhanhoc@yahoo.com.vn (1), (9), (13) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban C hấp hành Trung ương (khóa IX) , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.35, 34, 35. (2) Bộ Chính trị: Quyết định số 246-QĐ/TW ngày 24-01-2025 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương. (3) Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Nghị quyết số 71/2025/UBTVQH15, ngày 18 - 02 - 2025 về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể và cơ cấu tổ chức của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội . (4) Chính phủ: Nghị định số 41/2025/NĐ-CP ngày 26 - 02 - 2025 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Dân tộc và Tôn giáo ,. (5) Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Quyết định số 618/QĐ-BVHTTDL ngày 11-3-2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam . (6) Chính phủ: Nghị định số 45/2025/NĐ-CP ngày 28 - 02 - 2025 Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương . (7) Bộ Chính trị: Quyết định số 217-QĐ/ TW ngày 28 - 12 - 2024 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam . (8) Cục Thống kê: Thông cáo báo chí Kết quả sơ bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019 , https://www.nso.gov.vn, ngày 11-7-2019. (10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.81. (11), (19), (20), (21), (23) ĐCSVN: Văn k iện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.124, 102, 108-109, 137-138, 113. (12) Quốc hội: Hiến pháp n ước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi bổ sung năm 2025). (14) Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025: T ài liệu Hội nghị Tổng kết Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 , Hà Nội, tháng 8-2025. (15) Quốc hội: Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11-12-2025 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 . (16) Chính phủ: Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30-12-2025 Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 . (17) Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31 - 01 - 2026 Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030 , (18) Bộ Chính trị: Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07 - 01 - 2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam . (22) Bộ Chính trị: Kết luận số 65-KL/TW ngày 30 - 10 - 2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc trong tình hình mới . Chia sẻ Facebook Chia sẻ Zalo Chia sẻ Zalo Công tác dân tộc hệ thống chính trị phát triển kinh tế - xã hội giữ vững an ninh dân tộc thiểu số Bài liên quan Các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo thực hiện công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.6618 Tóm tắt: Trong thời kỳ đổi mới, quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc, các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Cửu Long đã lãnh đạo triển khai nhiều nghị quyết, chương trình, kế hoạch nhằm phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc, bảo tồn các giá trị văn hóa và giữ vững ổn định an ninh chính trị trên địa bàn. Bài viết làm rõ những quan điểm cơ bản của Đảng về công tác dân tộc tr Đọc thêm Thực tiễn Nổi bật Tin mới nhất Xem thêm Tin đọc nhiều Thực tiễn Công tác dân tộc của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay Cỡ chữ Mặc định Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nhân vật - Sự kiện Diễn đàn Quốc tế Tin tức Từ điển mở Giới thiệu Giới thiệu tạp chí in Đại hội Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Tóm tắt bài Tạp chí in số mới nhất Tin qua ảnh Lưu trữ Cơ quan chủ quản: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tổng biên tập: PGS, TS Nguyễn Thắng Lợi Phó Tổng biên tập: PGS, TS Hoàng Anh PGS, TS Đinh Quang Thành TS Tạ Quang Tuấn Giấy phép hoạt động Tạp chí in và Tạp chí điện tử số 628/GP-BTTTT ngày 24/9/2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông Mã số chuẩn quốc tế: ISSN 2525-2607 Tạp chí in được phát hành qua Công ty Phát hành báo chí Trung ương: Tạp chí tiếng Việt mã số C186; Tạp chí tiếng Anh mã số C063 Toà soạn: 135 Nguyễn Phong Sắc, phường Nghĩa Đô, Hà Nội Điện thoại: 080.48132 Email: tcllct.hcma@gmail.com Fax: 04.62827490 POWERED BY Gửi bình luận Hủy Gửi
https://lyluanchinhtri.vn/toan-van-bai-phat-bieu-be-mac-hoi-nghi-trung-uong-2-khoa-xiv-cua-tong-bi-thu-to-lam-13537.html
Toàn văn bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV của Tổng Bí thư Tô Lâm
25/03/2026 20:12
null
null
Tiếng Việt English Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nhân vật - Sự kiện Diễn đàn Quốc tế Tin tức Từ điển mở Giới thiệu Giới thiệu tạp chí in Đại hội Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Tóm tắt bài Tạp chí in số mới nhất Tin qua ảnh Lưu trữ Trang chủ Tin tức Tin tức Toàn văn bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV của Tổng Bí thư Tô Lâm • 25/03/2026 20:12 (LLCT) - Chiều 25-3-2026, tại Hà Nội, Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV đã bế mạc sau 3 ngày làm việc chính thức. Tạp chí Lý luận chính trị điện tử trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu bế mạc Hội nghị của Tổng Bí thư Tô Lâm. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV - Ảnh: Báo Nhân dân Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, Thưa các đồng chí đại biểu tham dự hội nghị, Sau 3 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm, dân chủ, thẳng thắn, sâu sắc, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra. Trung ương đã thống nhất rất cao đối với những vấn đề lớn, hệ trọng của Đảng và đất nước, đặc biệt là nhóm nội dung về công tác tổ chức, cán bộ và các quy định nền tảng của Đảng. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi trân trọng cảm ơn và đánh giá cao tinh thần làm việc quyết liệt của các đồng chí Trung ương, các cơ quan giúp việc và toàn thể các đồng chí tham dự hội nghị. Để kết thúc hội nghị, tôi xin khái quát và nhấn mạnh 5 nội dung công việc: Thứ nhất : Về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng trong giai đoạn mới cần tiếp tục được chú trọng, tăng cường, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao bản lĩnh, tính tiên phong, tính chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Tôi đề nghị cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện thật nghiêm túc, nhất quán "Bốn kiên định" về chính trị, tư tưởng. Đó là kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là cơ sở để Đảng ta giữ vững bản chất cách mạng, trung thành với những nguyên lý cốt lõi, đồng thời vận dụng linh hoạt, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và yêu cầu của thời đại. Đó là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, là mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta. Trong bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nào, càng trước khó khăn, thách thức, càng phải giữ vững niềm tin, bản lĩnh và ý chí đối với con đường Đảng ta, Nhà nước ta, Nhân dân ta đã chọn. Đó là kiên định đường lối đổi mới của Đảng. Đây là yêu cầu khách quan, là quá trình cách mạng có tính quy luật, để không ngừng thúc đẩy tiến bộ xã hội, giải phóng sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực, mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế đất nước. Kiên định tinh thần đổi mới đúng định hướng, đổi mới có nguyên tắc, đổi mới vì sự phát triển của đất nước và hạnh phúc của Nhân dân. Đó là kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhằm bảo đảm giữ vững sự thống nhất về ý chí, hành động, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng. Giữ cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, củng cố niềm tin sâu sắc trong nhân dân về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng được ban hành trong hội nghị lần này chính là sự cụ thể hóa "Bốn kiên định" nêu trên. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV - Ảnh: TTXVN Thứ hai: Về mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số". Đây là đòi hỏi khách quan từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới và khát vọng vươn lên của cả dân tộc. Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng thấp. Phải kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất. Vì vậy, các ban, bộ, ngành, địa phương, người dân, doanh nghiệp cần quán triệt sâu sắc " Bốn nguyên tắc" cốt lõi sau: Một là: tăng trưởng thực chất . Tức là không đánh đổi chất lượng, tính bền vững lấy tốc độ tăng trưởng đơn thuần. Tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với chất lượng tăng trưởng dựa trên tăng năng suất các nhân tố tổng hợp, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh quốc gia và giá trị gia tăng thực chất. Mỗi phần trăm tăng trưởng GDP phải chứa đựng hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao hơn. Đảm bảo tăng trưởng hôm nay không làm tổn hại đến nền tảng phát triển của ngày mai, không làm suy giảm nguồn lực đối với thế hệ tương lai của đất nước. Kiên quyết loại bỏ tư duy chạy theo thành tích. Nếu chỉ chạy theo tốc độ mà xem nhẹ chất lượng thì tăng trưởng sẽ không bền vững và cái giá phải trả sẽ rất đắt. Hai là: kiên định nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn. Đây là điều kiện tiên quyết, trụ cột quyết định khả năng vận hành linh hoạt, an toàn và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Việc điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác phải theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, vừa hỗ trợ tăng trưởng hợp lý, vừa củng cố niềm tin thị trường, ổn định kỳ vọng và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài. Ba là: tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực sẵn có, tập trung ưu tiên cho các dự án trọng điểm và thúc đẩy hợp tác công - tư, để gia tăng hiệu quả đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc sử dụng nguồn lực phải gắn với nguyên tắc khoa học, hạch toán kinh tế - xã hội rõ ràng, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn, khắc phục tình trạng dàn trải, kém hiệu quả, lãng phí. Các dự án được lựa chọn phải có tác động chiến lược đối với toàn bộ nền kinh tế, tạo ra giá trị gia tăng thực chất và góp phần củng cố các kết cấu hạ tầng then chốt của quốc gia. Bốn là: tăng trưởng kinh tế cao phải đảm bảo phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội. Mọi chính sách, dự án và nguồn lực đầu tư đều phải hướng tới việc tạo ra giá trị thực chất cho người dân, nâng cao thu nhập, góp phần giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao phúc lợi xã hội và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân. Đảm bảo thành quả tăng trưởng kinh tế phải được chia sẻ công bằng, tạo nền tảng vững chắc cho sự đồng thuận xã hội và phát triển bền vững. Trên cơ sở " Bốn nguyên tắc" cốt lõi này, việc triển khai mục tiêu tăng trưởng "hai con số" phải được tiến hành một cách nhất quán, đồng bộ và kiên định, với sự chỉ đạo tập trung cao của Trung ương, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, bộ, ngành, địa phương và toàn bộ hệ thống chính trị. Để tạo "động lực của động lực" cho phát triển , Trung ương cần sớm xây dựng Nghị quyết về mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để Hội nghị Trung ương 3 - khóa XIV xem xét, quyết định. Các đại biểu dự phiên bế mạc Hội nghị l ần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV - Ảnh: TTXVN Thứ ba : Về phát huy thế mạnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay không chỉ là mô hình tổ chức hành chính mới, mà còn là "Phương thức quản trị địa phương mới" , nhằm bỏ tầng nấc trung gian để tổ chức vận hành bộ máy chính quyền cơ sở thông suốt, với nguồn lực được phân bổ hợp lý, công nghệ và dữ liệu được sử dụng hiệu quả, phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn. Trước hết, phải xác định đây là một cuộc cải cách về quản trị, chứ không đơn thuần là một sự điều chỉnh về tổ chức bộ máy . Nếu chỉ dừng lại ở việc giảm tầng nấc trung gian, sáp nhập đầu mối, tinh giản hình thức, mà không đồng thời đổi mới cơ chế phân quyền, phân cấp, ủy quyền, không thiết kế lại quy trình xử lý công việc, không chuẩn hóa hệ thống dữ liệu, không làm rõ trách nhiệm người đứng đầu, không chuyển mạnh phương thức phục vụ từ hành chính quản lý sang hành chính phục vụ, kiến tạo phát triển thì hiệu quả cải cách sẽ rất hạn chế. Tiếp theo , phải bảo đảm nguyên tắc cấp tỉnh mạnh về chiến lược, cấp xã mạnh về thực thi. Cấp tỉnh không sa vào xử lý sự vụ, làm thay cấp dưới, ôm đồm những việc cơ sở có thể làm được, mà phải tập trung vào những vấn đề mang tính quy hoạch, chiến lược, đầu tư lớn, điều phối nguồn lực, quản trị rủi ro, kiểm tra, giám sát và bảo đảm tính thống nhất, liên kết trong toàn địa bàn, trong vùng. Ngược lại, cấp xã phải được trao điều kiện về nguồn lực để tạo không gian phát triển bên cạnh nhiệm vụ thực sự trở thành nơi giải quyết các công việc trực tiếp gắn với người dân, doanh nghiệp, địa bàn, đời sống hằng ngày, an sinh xã hội, trật tự cơ sở, thủ tục thiết yếu và các yêu cầu cấp bách từ thực tiễn. Đồng thời phân quyền phải đi liền với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực và hoàn thiện công cụ kiểm soát . Không thể giao thêm nhiệm vụ cho cấp xã mà không giao tương xứng về cơ chế, biên chế, ngân sách, dữ liệu, hạ tầng số và cơ chế giám sát, kiểm tra phù hợp. Vì vậy, phải đảm bảo phương châm: giao quyền đến đâu, bảo đảm nguồn lực đến đó; phân cấp đến đâu, kiểm soát chặt chẽ đến đó; trao nhiệm vụ đến đâu, nâng cao năng lực tương ứng đến đó. Cùng với đó việc điều hành hoạt động mô hình chính quyền địa phương 2 cấp phải được thực hiện với tư duy linh hoạt, khoa học, sát thực tiễn, chống rập khuôn, máy móc. Không thể lấy một khuôn mẫu duy nhất áp cho mọi địa phương, mọi đơn vị cơ sở, bởi điều kiện về dân số, diện tích, tính chất đô thị, nông thôn, miền núi, đồng bằng, yêu cầu văn hóa, quốc phòng, an ninh, mức độ phát triển kinh tế - xã hội và khối lượng công việc ở mỗi nơi là rất khác nhau. Nếu triển khai một cách cứng nhắc, rất dễ nảy sinh một bộ máy cồng kềnh mới ngay ở cấp cơ sở, đi ngược lại mục tiêu tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả mà chúng ta đã đặt ra. Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV - Ảnh: TTXVN Cuối cùng , phải lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo thực chất, là tiêu chí cuối cùng để đánh giá thành công của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Hiệu quả của cải cách không chỉ đo bằng số lượng đầu mối được sắp xếp lại, mà phải được kiểm nghiệm bằng những kết quả rất cụ thể trong đời sống xã hội: người dân không bị phiền hà; hồ sơ, thủ tục hành chính phải được giải quyết nhanh thông qua khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tinh thần phục vụ Nhân dân của cán bộ, và quan trọng nhất là cấp xã phải thực sự giải quyết được công việc ngay tại chỗ, phù hợp thực tiễn địa phương. Thứ tư : Về công tác kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn tới cần được đặt trong tổng thể yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước, với cách tiếp cận vừa mang tính hệ thống, vừa có chiều sâu chiến lược. Đó không chỉ là nhiệm vụ cấp bách thường xuyên nhằm làm trong sạch bộ máy, mà còn là điều kiện nền tảng để củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội và tạo lập môi trường lành mạnh cho phát triển. Trong bối cảnh đất nước đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, với hàng loạt công trình, dự án quy mô lớn và các cơ chế, chính sách mới theo hướng thông thoáng hơn, cởi mở hơn để khơi thông nguồn lực phát triển, thì nguy cơ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cũng gia tăng theo cả chiều rộng và mức độ tinh vi. Thực tiễn cho thấy, chính ở những lĩnh vực có nhiều ưu đãi, lại dễ trở thành điểm phát sinh rủi ro nếu thiếu cơ chế phòng ngừa, kiểm tra, kiểm soát hiệu quả. Do đó yêu cầu đặt ra là phải thiết kế, cải tiến thể chế đủ chặt chẽ để "không thể" tham nhũng, lãng phí, đồng thời xây dựng cơ chế giám sát đủ mạnh để "không dám" và "không muốn" tham nhũng. Công tác kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thời gian tới phải được triển khai với quyết tâm chính trị cao, hành động kiên quyết, kiên trì, thường xuyên và liên tục. Xử lý nghiêm minh mọi vi phạm, bảo đảm nguyên tắc "không có vùng cấm, không có ngoại lệ", nhưng đồng thời phải quán triệt sâu sắc tính nhân văn, thượng tôn pháp luật và mục tiêu phát triển. Trong đó, phải thiết lập và vận hành hiệu quả các cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phân định rõ ranh giới giữa sai phạm do động cơ vụ lợi với sai sót trong quá trình thử nghiệm, đổi mới. Thứ năm : Về bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới. Thực tiễn từ diễn biến chính trị, kinh tế, quân sự trên thế giới cho thấy: Một đất nước muốn tăng trưởng nhanh, thu hút đầu tư lớn, mở rộng thị trường, và hội nhập sâu rộng thì trước hết phải là một quốc gia có tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng, có sức đề kháng cao trước các cú sốc an ninh truyền thống và phi truyền thống. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong giai đoạn mới không chỉ là giữ vững chủ quyền quốc gia, biên giới, biển đảo, vùng trời, mà còn là giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ thể chế, bảo vệ lòng tin xã hội, bảo vệ không gian mạng, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ các mạch máu kinh tế và các lợi ích phát triển chiến lược của đất nước. Cần phải nhận thức đầy đủ đây là nhiệm vụ chiến lược thường xuyên, trọng yếu, cốt lõi, lâu dài, kiên trì của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế cần phải được đặt xuyên suốt trong mọi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và quyết sách phát triển. Bảo đảm cho phát triển đúng hướng, bền vững, có chủ quyền, có kiểm soát rủi ro và có khả năng tự vệ từ sớm, từ xa, chủ động "giữ nước từ khi nước chưa nguy". Từ đó xây dựng cho được sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong thời bình, trong đó sức mạnh quân sự, sức mạnh an ninh, sức mạnh đối ngoại, sức mạnh kinh tế, sức mạnh khoa học công nghệ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, liên hoàn, hỗ trợ lẫn nhau. Bên cạnh đó, phải đặc biệt coi trọng và phát huy mạnh mẽ "thế trận lòng dân", xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược, biên giới, biển đảo, đô thị lớn, trung tâm kinh tế, hạ tầng trọng yếu và không gian mạng. Đây chính là sự kết hợp giữa "thế" và "lực", giữa phòng thủ quốc gia với phòng thủ xã hội, giữa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là phải gắn kết ngày càng chặt chẽ hơn giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ và phát triển, giữa ổn định và đổi mới. Để quốc phòng, an ninh, đối ngoại thực sự trở thành một "cấu phần của năng lực cạnh tranh quốc gia" và động lực trực tiếp của phát triển, đồng thời là chỗ dựa chiến lược để đất nước vững vàng đi lên trong kỷ nguyên mới. Thưa các đồng chí, Với nền tảng đã được xác lập, với bản lĩnh, quyết tâm chính trị cao và sự đồng lòng, thống nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta tin tưởng vững chắc rằng các mục tiêu, khát vọng phát triển đất nước mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã đề ra sẽ sớm trở thành hiện thực, đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới nhanh hơn, bền vững hơn và toàn diện hơn. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hãy hành động theo phương châm: Tự chủ chiến lược - Kiên định hai mục tiêu chiến lược 100 năm - Chung sức, đồng lòng, quyết tâm, quyết liệt vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của Nhân dân. Với tinh thần đó, tôi tuyên bố bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV. Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí! Chia sẻ Facebook Chia sẻ Zalo Chia sẻ Zalo Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV Bài liên quan Phát biểu của Tổng Bí Thư Tô Lâm khai mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (LLCT) - Sáng 23-3-2026, tại Hà Nội, Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV khai mạc trọng thể. Tạp chí Lý luận chính trị trân trọng giới thiệu bài phát biểu khai mạc của Tổng Bí thư Tô Lâm. Đọc thêm Tin tức Nổi bật Tin mới nhất Xem thêm Tin đọc nhiều Tin tức Toàn văn bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV của Tổng Bí thư Tô Lâm Cỡ chữ Mặc định Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nhân vật - Sự kiện Diễn đàn Quốc tế Tin tức Từ điển mở Giới thiệu Giới thiệu tạp chí in Đại hội Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Tóm tắt bài Tạp chí in số mới nhất Tin qua ảnh Lưu trữ Cơ quan chủ quản: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tổng biên tập: PGS, TS Nguyễn Thắng Lợi Phó Tổng biên tập: PGS, TS Hoàng Anh PGS, TS Đinh Quang Thành TS Tạ Quang Tuấn Giấy phép hoạt động Tạp chí in và Tạp chí điện tử số 628/GP-BTTTT ngày 24/9/2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông Mã số chuẩn quốc tế: ISSN 2525-2607 Tạp chí in được phát hành qua Công ty Phát hành báo chí Trung ương: Tạp chí tiếng Việt mã số C186; Tạp chí tiếng Anh mã số C063 Toà soạn: 135 Nguyễn Phong Sắc, phường Nghĩa Đô, Hà Nội Điện thoại: 080.48132 Email: tcllct.hcma@gmail.com Fax: 04.62827490 POWERED BY Gửi bình luận Hủy Gửi
https://lyluanchinhtri.vn/tang-cuong-su-lanh-dao-cua-dang-doi-voi-cong-tac-tu-tuong-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi-cua-dan-toc-11440.html
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc
20/01/2026 10:40
https://doi.org/10.70786/PTOJ.1926
null
Tiếng Việt English Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nhân vật - Sự kiện Diễn đàn Quốc tế Tin tức Từ điển mở Giới thiệu Giới thiệu tạp chí in Đại hội Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Tóm tắt bài Tạp chí in số mới nhất Tin qua ảnh Lưu trữ Trang chủ Nghiên cứu lý luận Nghiên cứu lý luận Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc • 20/01/2026 10:40 DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.1926 Tóm tắt: Công tác tư tưởng là bộ phận quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bối cảnh mới, với những biến động phức tạp về chính trị, kinh tế, văn hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, công tác tư tưởng không chỉ là công cụ định hướng nhận thức mà còn là nền tảng tinh thần vững chắc của hệ thống chính trị. Bài viết làm rõ tầm quan trọng của công tác tư tưởng trong việc giữ vững ổn định chính trị, những thách thức đặt ra trong thời đại toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng hiện nay. GS, TS PHẠM VĂN ĐỨC Phó Chủ tịch thường trực Hội Triết học Việt Nam Đại hội XIV của Đảng có phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển_Ảnh: VOV 1. Mở đầu Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, công tác tư tưởng luôn được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhờ triển khai công tác tư tưởng một cách đúng đắn, kiên định và sáng tạo, Đảng đã quy tụ, khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nền tảng tư tưởng vững chắc cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công tác tư tưởng đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Những biến động nhanh chóng về chính trị, kinh tế, văn hóa, cùng sự bùng nổ thông tin và tác động mạnh mẽ của mạng xã hội đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo và nội dung của công tác tư tưởng. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng trong giai đoạn hiện nay không chỉ nhằm giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và chủ nghĩa xã hội, mà còn là cơ sở để xây dựng niềm tin, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh trí tuệ và tinh thần của nhân dân trong công cuộc phát triển đất nước. Đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài, góp phần xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. 2. Nội dung 2.1. Tầm quan trọng của công tác tư tưởng trong kỷ nguyên phát triển mới Trong tiến trình phát triển mạnh mẽ của đất nước, công tác tư tưởng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội và là nhân tố quyết định sự ổn định chính trị - xã hội. Mỗi chủ trương, đường lối của Đảng không chỉ định hướng phát triển kinh tế, mà còn chi phối trực tiếp nhận thức và hành động của các tầng lớp nhân dân. Nếu thiếu nền tảng tư tưởng vững chắc, việc triển khai các chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ khó đạt hiệu quả cao, thậm chí có thể xuất hiện những hoài nghi hoặc phản ứng trái chiều trong xã hội (1) . Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất. Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới, thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất” (2) . Lời dạy của Người đã chỉ rõ mối quan hệ mật thiết giữa tư tưởng và hành động, giữa nhận thức và thực tiễn. Khi tư tưởng thống nhất, sức mạnh của cả hệ thống chính trị và nhân dân sẽ được phát huy, tạo ra sự đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Một là, công tác tư tưởng có vai trò then chốt trong việc định hướng dư luận xã hội, giúp nhân dân hiểu và tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là khi đất nước phải đối mặt với những biến động kinh tế, chính trị toàn cầu. Trong các giai đoạn khủng hoảng hay thử thách, công tác tư tưởng trở thành “lá chắn tinh thần”, củng cố đoàn kết, thống nhất ý chí trong Đảng và đồng thuận trong nhân dân (3) . Công tác tư tưởng không chỉ giữ vai trò duy trì ổn định mà còn là động lực cho phát triển. Đó là công cụ để xác định, truyền bá và bảo vệ những giá trị, mục tiêu chiến lược của Đảng, tạo cơ sở tư tưởng cho các quyết sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong thời kỳ đổi mới, công tác tư tưởng đã giúp toàn Đảng, toàn dân nhận thức rõ con đường chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển đất nước. Hai là, công tác tư tưởng còn mang trọng trách bảo vệ nền tảng văn hóa dân tộc trước sự xâm nhập của các yếu tố văn hóa ngoại lai. Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, các giá trị phương Tây như chủ nghĩa cá nhân, lối sống tiêu dùng, thực dụng đang ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần của người dân, đặc biệt là giới trẻ. Trước thực tế đó, công tác tư tưởng cần phát huy vai trò định hướng, giúp xã hội nhận diện và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại, đồng thời bảo vệ những giá trị truyền thống tốt đẹp như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, “uống nước nhớ nguồn”, “tình làng nghĩa xóm” - những giá trị đã làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Việc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và hội nhập quốc tế chính là mục tiêu của công tác tư tưởng trong thời đại mới. Bằng các phương thức truyền thông sáng tạo, các giá trị văn hóa truyền thống được lan tỏa tới giới trẻ thông qua những hình thức hấp dẫn, gần gũi, hiện đại nhưng vẫn thấm đượm tinh thần dân tộc. Ba là, công tác tư tưởng cần tập trung giáo dục lý tưởng cách mạng, bồi dưỡng đạo đức, lối sống lành mạnh, khơi dậy khát vọng cống hiến vì Tổ quốc. Đó chính là quá trình “trồng người” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn, nhằm giúp thế hệ trẻ phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức và nhân cách, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thế hệ trẻ là lực lượng tiên phong trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, họ cũng là nhóm dễ chịu tác động của luồng tư tưởng đa chiều từ mạng xã hội và văn hóa toàn cầu Công tác tư tưởng đối với thanh niên cần đổi mới cả về nội dung và hình thức, gắn với thực tiễn và nhu cầu của thế hệ số, thông qua các nền tảng trực tuyến, hoạt động xã hội, tình nguyện và giáo dục chính trị hiện đại. Chỉ khi tư tưởng của thế hệ trẻ được định hướng thống nhất với tư tưởng của Đảng, sức mạnh phát triển của dân tộc mới được nhân lên gấp bội. Bốn là, củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân. Đây là một trong những chức năng cốt lõi của công tác tư tưởng. Công tác tư tưởng giúp nhân dân hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, nhận thức được vai trò chủ thể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi Đảng lắng nghe nhân dân, nhân dân hiểu và đồng thuận với đường lối của Đảng, đó là nền tảng để tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc - yếu tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Công tác tư tưởng trong kỷ nguyên phát triển mới không chỉ là công cụ bảo vệ ổn định chính trị, mà còn là động lực tinh thần cho phát triển đất nước. Nó góp phần hình thành sự thống nhất trong nhận thức và hành động, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời nuôi dưỡng niềm tin, khát vọng và lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Để đáp ứng yêu cầu của thời đại, công tác tư tưởng của Đảng cần không ngừng đổi mới, hiện đại hóa phương thức lãnh đạo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và sáng tạo, giữa bảo vệ nền tảng tư tưởng với mở rộng hội nhập quốc tế, hướng tới một Việt Nam phát triển bền vững, hùng cường và văn minh. 2.2. Những thách thức đối với công tác tư tưởng trong thời kỳ hiện nay Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, công tác tư tưởng của Đảng đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới, phức tạp và đa chiều. Những thách thức này không chỉ đến từ sự biến đổi trong không gian thông tin mà còn xuất phát từ quá trình toàn cầu hóa, sự xâm nhập của các giá trị văn hóa phương Tây và sự xuống cấp đạo đức trong một bộ phận xã hội hiện nay. Thứ nhất, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin và mạng xã hội đã làm thay đổi sâu sắc cách thức con người giao tiếp, tiếp cận và xử lý thông tin. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là sự phát triển của mạng xã hội, tạo ra không gian thông tin rộng lớn với khả năng lan tỏa cực kỳ nhanh chóng, song cũng dễ bị lợi dụng để truyền bá những thông tin sai lệch, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước (4) . Không gian mạng ngày nay vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với công tác tư tưởng. Việc lan truyền thông tin không kiểm soát đã tạo ra một “vùng xám” trong truyền thông, nơi thông tin thật - giả lẫn lộn, gây nhiễu loạn nhận thức và làm giảm niềm tin xã hội. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng đặc điểm này để thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, gieo rắc hoài nghi, phủ nhận thành tựu cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ nhiệm vụ tăng cường giám sát, quản lý thông tin trên không gian mạng, bảo vệ an ninh tư tưởng, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch (5) . Đây không chỉ là biện pháp phòng ngừa mà còn là công cụ định hướng dư luận, củng cố niềm tin và thống nhất nhận thức trong toàn xã hội. Thứ hai, toàn cầu hóa mở ra cơ hội giao lưu văn hóa, nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho sự lan tỏa mạnh mẽ của các giá trị phương Tây như chủ nghĩa cá nhân, tự do tuyệt đối và lối sống thực dụng. Những yếu tố này, nếu không được định hướng đúng đắn, có thể làm phai nhạt hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam. Công tác tư tưởng không chỉ nhằm bảo vệ những giá trị truyền thống, mà còn phải xây dựng một hệ giá trị mới, phù hợp với thời đại, không để các yếu tố văn hóa phương Tây xâm nhập làm suy yếu niềm tin vào chủ nghĩa xã hội. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác tư tưởng trong việc khẳng định rõ sự khác biệt giữa giá trị của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, đồng thời kiên trì giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc như tinh thần đoàn kết, nhân ái, trung thực và lòng yêu nước. Việc giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng xã hội chủ nghĩa cần được thực hiện thường xuyên, liên tục và sáng tạo hơn, đặc biệt đối với giới trẻ - nhóm đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi xu hướng toàn cầu hóa và môi trường mạng xã hội. Thứ ba , kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là động lực phát triển, song cũng tiềm ẩn nguy cơ làm nảy sinh chủ nghĩa cá nhân, thực dụng và lối sống hưởng thụ. Sự xuống cấp đạo đức, tham nhũng, và lãng phí trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác tư tưởng. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ: Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác tư tưởng là đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên (6) . Điều đó khẳng định vai trò then chốt của công tác tư tưởng trong việc giữ vững nền tảng tinh thần, củng cố niềm tin và tăng cường sự thống nhất trong Đảng và xã hội. Công tác tư tưởng trong giai đoạn hiện nay không chỉ tập trung bảo vệ mà còn phải tái tạo và phát triển hệ giá trị đạo đức xã hội mới dựa trên truyền thống dân tộc, gắn với yêu cầu phát triển của thời đại. Việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là giải pháp nền tảng để xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh, trong sáng trong toàn xã hội. Như vậy, trước những thách thức hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam cần tiếp tục đổi mới tư duy, hiện đại hóa phương thức lãnh đạo công tác tư tưởng, phát huy sức mạnh của truyền thông đa phương tiện, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa giáo dục lý luận và thực tiễn xã hội, nhằm củng cố nền tảng tư tưởng vững chắc, giữ vững ổn định chính trị và phát triển đất nước bền vững. 2.3. Những giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng Công tác tư tưởng là nền tảng tinh thần của mọi đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều biến động về kinh tế, xã hội, dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng là yêu cầu tất yếu, nhằm giữ vững ổn định chính trị, xã hội và bảo vệ thành quả cách mạng của dân tộc (7) . Thứ nhất, đổi mới và nâng cao hiệu quả giáo dục lý luận chính trị là giải pháp quan trọng và cấp bách. Giáo dục lý luận chính trị là nền tảng cốt lõi của công tác tư tưởng, góp phần nâng cao nhận thức, bản lĩnh và sự thống nhất trong hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “ Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế ” (8) . Kế thừa tư tưởng đó, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định lý luận chính trị là cơ sở để định hướng tư tưởng và hành động cách mạng (9) . Trong thời đại số, việc đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy lý luận chính trị cần gắn với ứng dụng công nghệ, như tổ chức các khóa học trực tuyến, diễn đàn trao đổi, hay hệ thống học tập chính trị qua nền tảng số. Các hình thức này giúp mở rộng phạm vi tiếp cận, đặc biệt đối với thế hệ trẻ, qua đó tăng tính hấp dẫn và hiệu quả trong việc lan tỏa giá trị tư tưởng của Đảng. Trong kỷ nguyên thông tin toàn cầu, mạng xã hội trở thành môi trường tác động mạnh mẽ đến nhận thức của người dân. Vì vậy , công tác tuyên truyền của Đảng cần được đổi mới về nội dung và hình thức , bảo đảm tính chính xác, kịp thời và sức lan tỏa cao. Công tác tuyên truyền phải bắt đầu từ những vấn đề gần gũi, thiết thực với đời sống nhân dân, như các chính sách phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an sinh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Cần phát huy sức mạnh của báo chí, truyền hình, nền tảng mạng xã hội và các phương tiện truyền thông đa phương tiện để lan tỏa thông tin, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đảng cũng cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị, xã hội, đặc biệt là Công đoàn, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Đoàn Thanh niên trong việc lan tỏa thông tin tích cực, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch (10) . Thứ hai, cần tăng cường đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng . Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, nhằm làm phai nhạt niềm tin của nhân dân đối với chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, công tác tư tưởng cần xây dựng cơ chế phản ứng nhanh, chủ động phát hiện, xử lý và phản bác thông tin sai trái, xấu độc trên không gian mạng, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền để người dân nhận thức rõ bản chất, có khả năng sàng lọc và đánh giá thông tin (11) . Đấu tranh tư tưởng phải đi đôi với giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị và khả năng “tự đề kháng” của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân, nhất là thanh niên - lực lượng dễ bị ảnh hưởng bởi thông tin đa chiều trên môi trường số. Thứ ba, đổi mới phương thức lãnh đạo và phát huy sức mạnh của toàn hệ thống chính trị là giải pháp hết sức cần thiết. Công tác tư tưởng chỉ hiệu quả khi Đảng không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, bảo đảm tính linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tiễn. Cần phát huy vai trò của các cơ quan tham mưu, báo chí, giới trí thức, văn nghệ sĩ và các tổ chức xã hội trong việc lan tỏa giá trị tư tưởng và định hướng nhận thức xã hội. Đặc biệt, Đoàn Thanh niên phải là lực lượng tiên phong trong việc giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ thông qua các hoạt động tình nguyện, sáng tạo, ứng dụng công nghệ và truyền thông số để lan tỏa giá trị tích cực và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Những giải pháp trên không chỉ mang tính cấp bách mà còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng. Việc đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo và phát huy sức sáng tạo của toàn hệ thống chính trị là điều kiện tiên quyết để củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và phát triển bền vững. 3. Kết luận Công tác tư tưởng của Đảng là bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ vai trò định hướng tư tưởng, củng cố niềm tin, thống nhất nhận thức và hành động trong toàn xã hội. Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng, công tác tư tưởng đã góp phần quyết định vào mọi thắng lợi của dân tộc, từ giành độc lập, thống nhất đất nước cho đến công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển hiện nay. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, công tác tư tưởng của Đảng đang đứng trước những biến đổi sâu sắc của thời đại, đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và linh hoạt hơn bao giờ hết. Trước yêu cầu đó, Đảng xác định rõ, tăng cường công tác tư tưởng là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị, đẩy mạnh tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời phát huy vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội là những giải pháp trọng yếu. Đây không chỉ là yêu cầu cấp bách để bảo vệ sự ổn định chính trị mà còn là chiến lược lâu dài nhằm phát triển đất nước bền vững. Trong kỷ nguyên số, công tác tư tưởng cần được hiện đại hóa, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội và truyền thông số để lan tỏa thông tin tích cực, định hướng dư luận và kịp thời phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, cần chú trọng giáo dục lý tưởng, đạo đức, và lối sống cho thế hệ trẻ - lực lượng tiên phong của đất nước, tạo nền tảng để họ phát huy trí tuệ, năng lực sáng tạo và tinh thần yêu nước trong thời đại mới. Công tác tư tưởng của Đảng không chỉ hướng đến mục tiêu bảo vệ nền tảng tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mà còn nhằm xây dựng hệ giá trị mới của con người Việt Nam: yêu nước, nhân ái, trung thực, đoàn kết, sáng tạo và trách nhiệm. Sự vững mạnh của nền tảng tư tưởng sẽ củng cố niềm tin xã hội và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Đây chính là sức mạnh tinh thần nội sinh giúp đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, kiên định tiến bước trên con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. _________________ Bài đăng trên số đặc biệt năm 2026 chào mừng Đại hội XIV của Đảng Ngày nhận bài: 26-11-2025. Ngày bình duyệt: 20-12-2025. Ngày duyệt đăng: 05-1-2026. Email tác giả: Ducphilosophy@yahoo.com (1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.172-174, 182. (2), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.554-555, 303. (3), (5), (11) Bộ Chính trị: Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” , Hà Nội, 2021. (4) Bộ Chính trị: Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng , Hà Nội, 2021. (10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII , t.II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.225-227. (6), (9) Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30-10-2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, Hà Nội, 2016. Chia sẻ Facebook Chia sẻ Zalo Chia sẻ Zalo Công tác tư tưởng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tư tưởng kỷ nguyên phát triển mới Bài liên quan Phiên trù bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (LLCT) - Sáng ngày 19-01-2026, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành phiên trù bị. Đây là bước chuẩn bị quan trọng, tạo tiền đề để Đại hội chính thức diễn ra theo đúng chương trình, kế hoạch đã được Trung ương quyết định. KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI CỦA DÂN TỘC Yêu cầu nâng cao năng lực lý luận và thực tiễn đối với đội ngũ cán bộ cấp tỉnh trong kỷ nguyên phát triển mới 19/01/2026 Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới 02/12/2025 Đột phá thể chế, tạo động lực để Việt Nam phát triển trong kỷ nguyên mới 25/11/2025 Thể chế phát triển trong kỷ nguyên phát triển mới của Việt Nam 12/11/2025 Sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước - bản lĩnh chính trị dám đổi mới của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới 14/10/2025 Thuận lợi, khó khăn và giải pháp phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới của dân tộc 10/09/2025 Hoàn thiện quy định pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên phát triển mới 19/08/2025 Dám nghĩ, dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong đánh giá cán bộ 13/08/2025 Hội thảo khoa học quốc gia “Công an nhân dân phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vững bước cùng đất nước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới” 05/08/2025 Xây dựng nguồn nhân lực văn hóa trở thành động lực phát triển thành phố Huế trong kỷ nguyên mới 30/07/2025 Đọc thêm Nghiên cứu lý luận Nổi bật Tin mới nhất Xem thêm Tin đọc nhiều Nghiên cứu lý luận Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Cỡ chữ Mặc định Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nhân vật - Sự kiện Diễn đàn Quốc tế Tin tức Từ điển mở Giới thiệu Giới thiệu tạp chí in Đại hội Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Tóm tắt bài Tạp chí in số mới nhất Tin qua ảnh Lưu trữ Cơ quan chủ quản: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tổng biên tập: PGS, TS Nguyễn Thắng Lợi Phó Tổng biên tập: PGS, TS Hoàng Anh PGS, TS Đinh Quang Thành TS Tạ Quang Tuấn Giấy phép hoạt động Tạp chí in và Tạp chí điện tử số 628/GP-BTTTT ngày 24/9/2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông Mã số chuẩn quốc tế: ISSN 2525-2607 Tạp chí in được phát hành qua Công ty Phát hành báo chí Trung ương: Tạp chí tiếng Việt mã số C186; Tạp chí tiếng Anh mã số C063 Toà soạn: 135 Nguyễn Phong Sắc, phường Nghĩa Đô, Hà Nội Điện thoại: 080.48132 Email: tcllct.hcma@gmail.com Fax: 04.62827490 POWERED BY Gửi bình luận Hủy Gửi
https://lyluanchinhtri.vn/yeu-cau-nang-cao-nang-luc-ly-luan-va-thuc-tien-doi-voi-doi-ngu-can-bo-cap-tinh-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi-11439.html
Yêu cầu nâng cao năng lực lý luận và thực tiễn đối với đội ngũ cán bộ cấp tỉnh trong kỷ nguyên phát triển mới
19/01/2026 21:26
https://doi.org/10.70786/PTOJ.2597
null
Tiếng Việt English Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nhân vật - Sự kiện Diễn đàn Quốc tế Tin tức Từ điển mở Giới thiệu Giới thiệu tạp chí in Đại hội Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Tóm tắt bài Tạp chí in số mới nhất Tin qua ảnh Lưu trữ Trang chủ Thực tiễn Thực tiễn Yêu cầu nâng cao năng lực lý luận và thực tiễn đối với đội ngũ cán bộ cấp tỉnh trong kỷ nguyên phát triển mới • 19/01/2026 21:26 DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2597 Tóm tắt: Bước vào kỷ nguyên phát triển mới với mô hình chính quyền địa phương hai cấp gắn với tăng cường phân cấp, phân quyền, với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, đặt ra những yêu cầu cao đối với đội ngũ cán bộ cấp tỉnh về năng lực lý luận và thực tiễn, nhằm bảo đảm sự thống nhất này trong việc ra quyết định. Bài viết làm rõ những vấn đề lý luận về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ra quyết định và yêu cầu nâng cao năng lực này của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh trong kỷ nguyên phát triển mới. ThS ĐÀO VĂN QUANG Trường Chính trị Quảng Ngãi UBND tỉnh Quảng Ngãi họp phiên thường kỳ tháng 6 năm 2025_Ảnh:quangngai.gov.vn 1. Mở đầu Trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống giữa lý luận và thực tiễn, bài viết phân tích, chỉ ra ba nội dung cốt lõi của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ra quyết định nói chung, của cán bộ cấp tỉnh nói riêng. Đó là, các quyết định phải là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương; phải đáp ứng nhu cầu thực tiễn của địa phương, xuất phát từ thực tiễn địa phương, không giáo điều; căn cứ từ thực tiễn địa phương là bảo đảm tính khả thi của quyết định. Các nội dung này thống nhất và liên hệ với nhau. Bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn không chỉ phản ánh bản chất của tư duy lãnh đạo, quản lý mang tính khoa học, mà còn quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của các quyết sách đối với sự phát triển của địa phương. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, khẳng định tri thức lý luận chỉ trở thành sức mạnh vật chất khi được vận dụng đúng vào hoạt động thực tiễn. Lý luận giữ vai trò định hướng, cung cấp nền tảng khoa học cho nhận thức và hành động, trong khi thực tiễn là tiêu chí kiểm nghiệm tính đúng đắn, chân thực, hiệu lực và khả năng phát triển của lý luận. Trong việc ra quyết định của cán bộ cấp tỉnh, nguyên tắc này đòi hỏi phải bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với điều kiện, yêu cầu thực tiễn phát triển của địa phương. Mỗi quyết định không chỉ phản ánh tinh thần, định hướng chính trị mà còn phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên căn cứ các điều kiện thực tiễn khách quan của địa phương. Chính sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn là tiền đề để các quyết định của cấp tỉnh đạt được tính khoa học, tính phù hợp và tính khả thi, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương trong kỷ nguyên phát triển mới. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ra quyết định không chỉ là yêu cầu mang tính nguyên lý mà còn là tiêu chí phản ánh tư duy, chất lượng lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh. 2. Nội dung Thực hiện chính quyền địa phương hai cấp trong bối cảnh thực hiện mục tiêu “Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” (1) , đặt ra yêu cầu bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh. Đây là yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với năng lực lãnh đạo của cấp tỉnh. 2.1. Các quyết định của cấp tỉnh phải là sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn địa phương Quyết định của cấp tỉnh là kết quả quá trình người lãnh đạo dựa trên các căn cứ chính trị, pháp lý và thực tiễn đưa ra các phương án và các lựa chọn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý để phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, con người, xây dựng Đảng, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh, đối ngoại ở địa phương. Do vậy, các quyết định phải cụ thể hóa được các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước thành những quyết định phù hợp với điều kiện thực tiễn cụ thể của địa phương. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “có nắm vững đường lối cách mạng mới thấy rõ phương hướng tiến lên của cách mạng, mới hiểu rõ mình phải làm gì và đi theo phương hướng nào để thực hiện mục đích của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay” (2) . Yêu cầu trước hết là phải thống nhất sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong thực tiễn. Đồng thời, các quyết định lãnh đạo, quản lý chỉ thực sự phát huy tác dụng khi cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước thành các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp khả thi ở địa phương. Trong bối cảnh sau khi thực hiện cuộc cách mạng sắp xếp, sáp nhập cấp tỉnh, dừng hoạt động cấp huyện, mỗi tỉnh có quy mô diện tích lớn với đặc điểm đa dạng về điều kiện tự nhiên, nguồn lực phát triển, văn hóa - xã hội, điều kiện thực tiễn, do đó các quyết định lãnh đạo của tỉnh phải vừa bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước vừa đáp ứng nhu cầu thực tế và phù hợp với thực tiễn địa phương. Việc cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước không thể tiến hành một cách rập khuôn, máy móc mà đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt và sáng tạo. Trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, cán bộ cấp tỉnh cần có năng lực phân tích, dự báo, nhận thức đúng những vấn đề đặt ra từ thực tiễn địa phương và đất nước, từ đó xác định các mục tiêu và giải pháp trong các quyết định lãnh đạo, quản lý phù hợp. Chẳng hạn, trong triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, dù mục tiêu chung đã được xác định, nhưng cách thức tổ chức thực hiện giữa các tỉnh khác nhau yêu cầu mô hình, cách thức thực thi phù hợp với đặc điểm dân cư, kết cấu hạ tầng và tiềm năng, thế mạnh của từng địa bàn trong tỉnh. Quá trình cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, đồng thời huy động được sự đồng thuận và tham gia của nhân dân. Các quyết định lãnh đạo của cấp tỉnh phải hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, quá trình triển khai luôn phát sinh những vấn đề mới từ thực tiễn, đòi hỏi cán bộ cấp tỉnh phải kịp thời tổng kết, rút kinh nghiệm và đề xuất các phương án điều chỉnh các quyết định, các chủ trương, chính sách phù hợp hơn với tình hình thực tế địa phương. Như vậy, sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với thực tiễn địa phương không chỉ thể hiện trình độ tư duy lý luận của cán bộ cấp tỉnh mà còn phản ánh năng lực nắm bắt thực tiễn, khả năng tổ chức thực hiện và trách nhiệm trong điều hành lãnh đạo, quản lý của đội ngũ này. Đây là yêu cầu quan trọng bảo đảm cho các quyết định của cấp tỉnh vừa đúng định hướng chiến lược phát triển quốc gia, vừa phù hợp và hiệu quả trong thực tiễn địa phương. 2.2. Các quyết định của cấp tỉnh phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của địa phương, không giáo điều Các quyết định của cấp tỉnh không chỉ là sự quán triệt, triển khai một chiều đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn phải bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Điều này đòi hỏi việc ra quyết định phải dựa vào việc phân tích khách quan, toàn diện tình hình thực tiễn của địa phương, phù hợp với yêu cầu phát triển và nguyện vọng của nhân dân. Nếu các quyết định xa rời thực tiễn địa phương, rập khuôn, máy móc, giáo điều, sẽ thiếu tính khả thi, dẫn đến lãng phí nguồn lực, giảm hiệu lực lãnh đạo, hiệu quả quản lý và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo, quản lý và cấp ủy, chính quyền. Việc ban hành quyết định phải xuất phát từ thực tiễn địa phương, trước hết xuất phát từ đặc điểm điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, cơ cấu dân cư, văn hóa và khả năng nguồn lực của mỗi tỉnh. Bối cảnh và vấn đề đặt ra ở từng địa phương luôn biến đổi, không đồng nhất và nhiều khi biến đổi nhanh, phức tạp, bất thường. Do đó, việc ra quyết định phát triển kinh tế - xã hội và các mặt khác ở địa phương luôn phải tính tới các yếu tố đặc thù, điều kiện thực tiễn địa phương, nếu không sẽ khó mang lại hiệu quả. Chẳng hạn, những quyết định phát triển công nghiệp phù hợp với các tỉnh có hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không khả thi đối với một tỉnh miền núi còn gặp nhiều khó khăn về giao thông, thị trường và nguồn lực đầu tư. Điều này cho thấy, ra quyết định lãnh đạo, quản lý chỉ dựa trên lý luận, chủ trương, đường lối, chính sách chung mà không xuất phát từ thực tiễn, không đáp ứng nhu cầu của địa phương, sa vào giáo điều, dễ dẫn đến hạn chế hiệu quả. Nhấn mạnh yêu cầu nắm vững thực tiễn là cơ sở để vận dụng sáng tạo lý luận và xây dựng, hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách, Đảng ta yêu cầu: “Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn,... không ngừng phát triển lý luận, đề ra đường lối và chủ trương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, khắc phục một số mặt lạc hậu, yếu kém của công tác nghiên cứu lý luận” (3) . Đối với đội ngũ cán bộ cấp tỉnh, am hiểu thực tế đồng nghĩa với khả năng nhận diện đúng vấn đề, xác định trúng những nhu cầu cấp thiết của địa phương và của các tầng lớp nhân dân, từ đó đề ra được những quyết định sát hợp và khả thi. Việc lắng nghe ý kiến người dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, khảo sát thực tế, tham vấn chuyên gia, tham chiếu thông tin khoa học và dữ liệu quản lý nhà nước… là những cách thức quan trọng để cán bộ nắm bắt thực tiễn, có cơ sở khoa học trong việc ra quyết định bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Bên cạnh đó, yêu cầu tránh giáo điều trong ra quyết định không chỉ thể hiện ở việc không rập khuôn về nội dung, mà còn ở việc tránh áp dụng cứng nhắc chủ trương, chính sách, pháp luật trong thực tiễn. Lý luận, đường lối, chính sách chỉ phát huy hiệu quả khi được vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, cán bộ cấp tỉnh cần có tư duy mở, biết kế thừa kinh nghiệm, chú trọng tổng kết thực tiễn, đồng thời mạnh dạn đề xuất các quyết định phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương. Sự linh hoạt trong vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là yếu tố quan trọng để việc ra quyết định vừa đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn cụ thể của địa phương. Việc ra quyết định khoa học và phù hợp thực tiễn đòi hỏi năng lực dự báo, tầm nhìn của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh. Một quyết định đúng không chỉ giải quyết vấn đề trước mắt mà còn phải dự liệu, lường định trước được những tác động lâu dài về kinh tế, xã hội, môi trường và văn hóa. Khả năng đánh giá tình hình và dự báo xu hướng vận động giúp cán bộ cấp tỉnh lựa chọn các quyết định phù hợp nhất, bảo đảm ổn định lâu dài và phát triển bền vững của địa phương. Ngoài ra, tính khả thi của quyết định còn phụ thuộc vào mức độ huy động được sự đồng thuận và tham gia của cộng đồng. Khi người dân được tham gia vào quá trình xây dựng, triển khai và giám sát việc thực thi chính sách, họ sẽ có trách nhiệm hơn với chính sách, đồng thời góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh, hoàn thiện các quyết định cho sát thực tiễn hơn. Đây cũng là một yêu cầu quan trọng trong việc ra quyết định bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Trong điều kiện thực tiễn luôn vận động, các quyết định dù được chuẩn bị công phu đến đâu vẫn có thể bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết khi triển khai. Vì vậy, mỗi quyết định sau khi ban hành, đội ngũ cán bộ cấp tỉnh phải thường xuyên theo dõi, đôn đốc, cập nhật, để điều chỉnh việc thực thi quyết định trên cơ sở thông tin mới và phản hồi từ thực tiễn. Khả năng điều chỉnh linh hoạt thể hiện bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, quản lý, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ban hành và thực thi quyết định. Như vậy, quyết định của cấp tỉnh chỉ thực sự đúng đắn và hiệu quả khi xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của địa phương và được vận dụng linh hoạt trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn đổi thay. Tránh giáo điều, rập khuôn và xa rời thực tế là yêu cầu xuyên suốt đối với đội ngũ cán bộ cấp tỉnh, bảo đảm cho các quyết định của cấp tỉnh thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. 2.3. Sự thống nhất lý luận và thực tiễn, bảo đảm tính khả thi của các quyết định Tính khả thi trong các quyết định nói chung, quyết định của cấp tỉnh nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vai trò lãnh đạo, quản lý điều hành, đồng thời phản ánh trực tiếp năng lực lãnh đạo, trình độ tư duy và hiệu quả quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ. Một quyết định chỉ thực sự phát huy tác dụng khi vừa bảo đảm tuân thủ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương - nơi các chính sách ấy được triển khai. Thực tiễn sinh động ở địa phương cấp tỉnh sau khi sắp xếp, với những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội và con người, là “chất liệu” quan trọng để đội ngũ cán bộ cấp tỉnh xác định hướng đi, cách làm và giải pháp phù hợp. Những quyết định dựa trên thực tiễn không chỉ dễ triển khai, dễ kiểm chứng mà còn tạo được sự đồng thuận trong xã hội, giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả quản lý. Mỗi địa phương sau khi sắp xếp có điểm xuất phát và điều kiện phát triển cụ thể, do đó, quyết định lãnh đạo, quản lý của cấp tỉnh không thể được xây dựng theo kiểu rập khuôn, sao chép máy móc các mô hình từ những địa phương khác hoặc cách làm của mô hình chính quyền địa phương ba cấp trước đây. Khi xuất phát từ thực tiễn, quyết định sẽ phản ánh đúng nhu cầu địa phương, phù hợp với năng lực của địa phương, và do đó có khả năng tạo ra thay đổi tích cực. Ngược lại, nếu quyết định ban hành không phù hợp với thực tiễn địa phương, dễ trở nên xa rời cuộc sống, thiếu tính khả thi, thậm chí gây lãng phí nguồn lực hoặc tạo ra những hệ quả tiêu cực, như đình trệ dự án, cản trở phát triển hoặc làm phát sinh mâu thuẫn trong xã hội. Bám sát thực tiễn, vì vậy, không chỉ là yêu cầu về kỹ năng lãnh đạo, quản lý mà còn là biểu hiện sâu sắc sự quán triệt nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong xây dựng, ban hành quyết định của cán bộ nói chung, cán bộ cấp tỉnh nói riêng. Tính khả thi của quyết định phụ thuộc trước hết vào việc đánh giá đúng tình hình thực tiễn. Cán bộ cấp tỉnh phải nắm chắc những đặc điểm, đặc thù của địa phương như tốc độ phát triển kinh tế, cơ cấu ngành nghề, trình độ dân trí, điều kiện hạ tầng, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, cũng như các vấn đề phức tạp liên quan đến dân cư, an sinh xã hội, môi trường và an ninh trật tự. Thấu hiểu thực tiễn giúp cán bộ cấp tỉnh có thể cụ thể hóa được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành các quyết định sát, đúng, vừa bảo đảm tính khoa học vừa phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển của địa phương. Thực tiễn vì vậy, không chỉ là cơ sở để hình thành quyết định mà còn là tiêu chí để kiểm nghiệm quyết định đó có hợp lý hay không, có mang lại hiệu quả hay không, có tính khả thi hay không. Nguồn lực của địa phương là yếu tố chi phối trực tiếp đến tính khả thi của quyết định. Đối với nguồn lực tài chính, một quyết định dù có mục tiêu tốt đẹp nhưng nếu ngân sách không thể đáp ứng, cơ chế huy động vốn còn hạn chế hoặc phương án phân bổ nguồn lực không phù hợp, thì rất khó triển khai trong thực tế. Việc căn cứ vào thực tiễn giúp lãnh đạo tỉnh tính toán cụ thể về khả năng ngân sách, lựa chọn thứ tự ưu tiên đầu tư, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả. Thay vì ban hành những quyết định mang tính “tham vọng” nhưng thiếu cơ sở nguồn lực thực hiện, cán bộ cấp tỉnh phải tập trung vào những mục tiêu phù hợp khả năng thực tế, căn cứ vào thực tiễn địa phương. Nguồn nhân lực cũng là yếu tố quan trọng quyết định khả năng thực thi của quyết định. Một quyết định đúng đắn về nội dung nhưng đội ngũ thực thi thiếu năng lực hoặc thiếu trách nhiệm thì kết quả sẽ rất hạn chế. Thấu hiểu thực tiễn nguồn nhân lực giúp cán bộ cấp tỉnh đưa ra quyết định phù hợp với trình độ, khả năng tiếp nhận và năng lực triển khai của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và lao động. Đồng thời, việc dựa vào thực tiễn cũng giúp xác định đúng các nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng và bố trí nhân lực, tạo điều kiện để quyết định được thực hiện hiệu quả và không tạo áp lực quá lớn lên hệ thống thực thi. Trong nhiều trường hợp, thực trạng kết cấu hạ tầng và điều kiện kỹ thuật quyết định trực tiếp sự thành - bại của chính sách. Một quyết định phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công hay chuyển đổi cơ cấu kinh tế chỉ thực sự khả thi khi hạ tầng giao thông, năng lượng, thông tin, đô thị hoặc nông thôn của địa phương đáp ứng được yêu cầu triển khai. Việc nắm chắc điều kiện thực tiễn giúp lãnh đạo tỉnh đưa ra các quyết định phù hợp với thực trạng hạ tầng, tránh những phương án thiếu tính toán, gây đội vốn, kéo dài thời gian thực hiện hoặc làm giảm hiệu quả đầu tư. Các yếu tố môi trường tự nhiên cũng cần được xem xét kỹ lưỡng khi ra quyết định. Như biến đổi khí hậu, nguy cơ thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường sinh thái có thể tác động trực tiếp đến tính khả thi của dự án hoặc chính sách. Bởi vậy, căn cứ vào thực tiễn địa phương giúp cán bộ cấp tỉnh ra các quyết định hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững và hạn chế rủi ro dài hạn. Việc lựa chọn phương thức, giải pháp thực thi quyết định cũng phải dựa trên căn cứ thực tiễn địa phương. Một giải pháp khả thi là khi có sự cân bằng giữa cơ sở khoa học và điều kiện thực tế. Trong nhiều trường hợp, lãnh đạo cấp tỉnh không thể áp dụng máy móc các mô hình quản lý từ trung ương hoặc các địa phương khác, mà cần có tư duy linh hoạt, sáng tạo trong xác định cách thức thực thi và điều chỉnh kịp thời theo điều kiện thực tiễn địa phương. Chẳng hạn, trong bối cảnh ngân sách hạn chế, việc dàn trải đầu tư sẽ dẫn đến kém hiệu quả; thay vào đó, ưu tiên các dự án có tính động lực và khả năng lan tỏa sẽ mang lại giá trị cao hơn. Trong cải cách hành chính, quyết định cũng phải phù hợp với trình độ tiếp cận công nghệ của người dân, tránh áp dụng các hệ thống kỹ thuật quá phức tạp khi hạ tầng hoặc dân trí chưa đáp ứng. Tính khả thi của quyết định còn được thể hiện thông qua mức độ đồng thuận xã hội. Một quyết định không được người dân và các tổ chức liên quan ủng hộ thì rất khó triển khai. Thực tiễn cho thấy, sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt qua hoạt động tham vấn, phản biện xã hội, góp phần nâng cao tính thực tiễn, tính hợp lý và tính thuyết phục của quyết định. Khi người dân được lắng nghe và tham gia vào quá trình xây dựng chính sách, họ sẽ đồng hành nhiều hơn trong quá trình thực hiện. Điều này giúp giảm căng thẳng xã hội, tăng tính minh bạch và củng cố niềm tin của nhân dân đối với chính quyền. Nếu quyết định bảo đảm các yếu tố này thì tính khả thi sẽ cao. Một quyết định có tính khả thi không chỉ là có thể triển khai ngay khi ban hành, mà còn là quyết định có khả năng thích ứng với sự biến đổi của thực tiễn. Thực tiễn luôn vận động, biến đổi, do đó, việc đánh giá tác động trước, trong và sau khi triển khai là vô cùng quan trọng. Khi phát hiện các vấn đề phát sinh, lãnh đạo cấp tỉnh cần kịp thời điều chỉnh quyết định hoặc bổ sung giải pháp để bảo đảm hiệu quả cuối cùng. Sự linh hoạt, chủ động và sáng tạo trong điều hành là biểu hiện của năng lực quản lý hiện đại, giúp quyết định duy trì tính khả thi trong điều kiện nhiều biến động. 3 . Kết luận Trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của cấp tỉnh, việc ra quyết định có ý nghĩa quan trọng, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội và các lĩnh vực khác của địa phương. Các quyết định của cấp tỉnh chỉ thực sự khả thi khi được xây dựng dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa lý luận khoa học, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn địa phương. Việc bám sát thực tiễn không chỉ giúp quyết định phù hợp hơn với yêu cầu và điều kiện thực tế mà còn tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, bảo đảm hiệu quả triển khai và góp phần thúc đẩy phát triển bền vững. Từ yêu cầu của bối cảnh mới, đội ngũ cán bộ cấp tỉnh cần xem thực tiễn như nền tảng của tư duy lãnh đạo, là tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý và là cơ sở quan trọng nhất để đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời và khả thi, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ra quyết định nói chung, của cấp tỉnh sau sắp xếp, sáp nhập nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực lý luận và thực tiễn của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh. Đây là nhân tố quyết định các quyết định của cấp tỉnh có tính khả thi. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động ra quyết định của cấp tỉnh được thể hiện qua ba nội dung cốt lõi: (1) xuất phát từ thực tiễn địa phương; (2) đáp ứng đúng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân; (3) được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trên cơ sở lý luận khoa học. Sự gắn kết chặt chẽ này giúp các quyết định vừa có cơ sở lý luận vững chắc, vừa phù hợp với điều kiện phát triển cụ thể, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và bền vững. Điều đó đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực lý luận và thực tiễn của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại mỗi địa phương, vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. _________________ Ngày nhận bài: 12-12-2025; Ngày bình duyệt: 12-01-2026; Ngày quyết định đăng: 19-01-2026. Email tác giả: daovanquangtct@gmail.com (1) ĐCSVN: Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng , Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr.21. (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập , t.15, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 115. Chia sẻ Facebook Chia sẻ Zalo Chia sẻ Zalo Ra quyết định lý luận và thực tiễn cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh Bài liên quan Giải pháp xây dựng văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay (LLCT) - Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc vận hành hệ thống chính trị ở địa bàn mỗi tỉnh. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, về mặt chủ quan, phụ thuộc nhiều vào trình độ quản lý và trình độ văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ này. Vì thế, xây dựng văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh là sự đòi hỏi của thực tiễn phát triển đất nước. Bài viết làm rõ thực trạng, đưa ra các giải pháp xây dựng văn hóa chính trị c KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI CỦA DÂN TỘC Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc 20/01/2026 Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới 02/12/2025 Đột phá thể chế, tạo động lực để Việt Nam phát triển trong kỷ nguyên mới 25/11/2025 Thể chế phát triển trong kỷ nguyên phát triển mới của Việt Nam 12/11/2025 Sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước - bản lĩnh chính trị dám đổi mới của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới 14/10/2025 Thuận lợi, khó khăn và giải pháp phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới của dân tộc 10/09/2025 Hoàn thiện quy định pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên phát triển mới 19/08/2025 Dám nghĩ, dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong đánh giá cán bộ 13/08/2025 Hội thảo khoa học quốc gia “Công an nhân dân phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vững bước cùng đất nước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới” 05/08/2025 Xây dựng nguồn nhân lực văn hóa trở thành động lực phát triển thành phố Huế trong kỷ nguyên mới 30/07/2025 Đọc thêm Thực tiễn Nổi bật Tin mới nhất Xem thêm Tin đọc nhiều Thực tiễn Yêu cầu nâng cao năng lực lý luận và thực tiễn đối với đội ngũ cán bộ cấp tỉnh trong kỷ nguyên phát triển mới Cỡ chữ Mặc định Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nhân vật - Sự kiện Diễn đàn Quốc tế Tin tức Từ điển mở Giới thiệu Giới thiệu tạp chí in Đại hội Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Tóm tắt bài Tạp chí in số mới nhất Tin qua ảnh Lưu trữ Cơ quan chủ quản: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tổng biên tập: PGS, TS Nguyễn Thắng Lợi Phó Tổng biên tập: PGS, TS Hoàng Anh PGS, TS Đinh Quang Thành TS Tạ Quang Tuấn Giấy phép hoạt động Tạp chí in và Tạp chí điện tử số 628/GP-BTTTT ngày 24/9/2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông Mã số chuẩn quốc tế: ISSN 2525-2607 Tạp chí in được phát hành qua Công ty Phát hành báo chí Trung ương: Tạp chí tiếng Việt mã số C186; Tạp chí tiếng Anh mã số C063 Toà soạn: 135 Nguyễn Phong Sắc, phường Nghĩa Đô, Hà Nội Điện thoại: 080.48132 Email: tcllct.hcma@gmail.com Fax: 04.62827490 POWERED BY Gửi bình luận Hủy Gửi
https://lyluanchinhtri.vn/xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi-10407.html
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới
02/12/2025 10:49
null
null
Tiếng Việt English Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nhân vật - Sự kiện Diễn đàn Quốc tế Tin tức Từ điển mở Giới thiệu Giới thiệu tạp chí in Đại hội Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Tóm tắt bài Tạp chí in số mới nhất Tin qua ảnh Lưu trữ Trang chủ Thực tiễn Thực tiễn Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới • 02/12/2025 10:49 (LLCT) - Bài viết trình bày những nội dung về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh kỷ nguyên mới; những đặc điểm cơ bản; cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước; tổ chức các cơ quan quyền lực nhà nước. Từ đó, khái quát những vấn đề đặt ra và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. GS, TS PHẠM VĂN ĐỨC Hội Triết học Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8/2025 1. Mở đầu Nhà nước pháp quyền XHCN là một trong những mô hình đặc thù, có tính đặc biệt của các quốc gia theo chế độ XHCN, trong đó quyền lực nhà nước không chỉ được tổ chức và vận hành dựa trên pháp luật mà còn phải bảo đảm các quyền cơ bản của công dân. Tại Việt Nam, Nhà nước pháp quyền XHCN đã trở thành nền tảng cho việc xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển công nghệ. Bài viết làm rõ cơ chế vận hành và tổ chức bộ máy của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay. 2. Nội dung 2.1. Cơ chế vận hành và tổ chức bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trong mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, sự kết hợp giữa nguyên lý pháp quyền và nguyên lý lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam là một yếu tố đặc thù, tạo nên bản sắc riêng của hệ thống chính trị và quản lý nhà nước ở Việt Nam. Mặc dù các nguyên lý này nhìn có vẻ trái ngược nhau - với pháp quyền nhấn mạnh sự độc lập của các cơ quan nhà nước và pháp luật, trong khi nguyên lý lãnh đạo của Đảng lại yêu cầu sự thống nhất và kiểm soát chặt chẽ từ Đảng Cộng sản - nhưng trên thực tế, chúng được kết hợp một cách hài hòa và đồng bộ, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định chính trị, phát triển kinh tế và bảo vệ quyền lợi của công dân. Nguyên lý pháp quyền là nền tảng của mọi hệ thống chính trị dân chủ và tiến bộ. Trong bối cảnh Việt Nam, pháp quyền mang nghĩa là quyền lực nhà nước phải được tổ chức và thực thi trên cơ sở pháp luật, bảo vệ quyền con người và quyền tự do cơ bản của công dân. Mọi hành động của các cơ quan nhà nước, kể cả Quốc hội, Chính phủ và Tòa án, đều phải dựa trên các quy định của pháp luật, và pháp luật phải là công cụ bảo vệ công lý và sự công bằng trong xã hội. Trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, các quyền lực của ba nhánh: lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ) và tư pháp (Tòa án) được phân chia một cách rõ ràng về chức năng và quyền hạn. Tuy nhiên, sự phân chia này không phải là tuyệt đối, mà có sự điều phối chặt chẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong khi các cơ quan nhà nước có quyền lực độc lập trong phạm vi chức năng của mình, tất cả phải tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nhằm bảo đảm tính đồng bộ và hiệu quả trong việc thực thi các chính sách quốc gia. Nguyên lý lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện ở chỗ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo duy nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam. Sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng không chỉ thể hiện trong việc xác định đường lối chính trị, mà còn trong việc điều phối các hoạt động của các cơ quan nhà nước. Theo Hiến pháp năm 2013, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo tất cả các cơ quan của Nhà nước và xã hội. Điều này có nghĩa là dù các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp có sự độc lập về chức năng và quyền hạn, tất cả đều phải hoạt động trong khuôn khổ và dưới sự chỉ đạo của Đảng. Nguyên lý lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ áp dụng trong các vấn đề chính trị, mà còn liên quan đến việc giám sát và định hướng các quyết sách về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đảng là người quyết định chiến lược phát triển quốc gia, chính sách đối ngoại, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bảo đảm tính nhất quán và hiệu quả trong mọi quyết định chính trị. Mặc dù nguyên lý pháp quyền và nguyên lý lãnh đạo của Đảng có thể gây ra sự mâu thuẫn trong một số hệ thống chính trị khác, nhưng ở Việt Nam được kết hợp một cách hài hòa và bổ sung cho nhau. Sự kết hợp này tạo ra một hệ thống chính trị ổn định, bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đồng thời bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước. Sự lãnh đạo của Đảng giúp duy trì sự thống nhất trong các quyết định chính trị, tránh được sự phân tán quyền lực giữa các cơ quan nhà nước. Điều này bảo đảm rằng các chính sách của Nhà nước không bị xung đột, mâu thuẫn giữa các cơ quan nhà nước, từ đó tạo ra một hệ thống chính trị ổn định. Trong khi đó, pháp quyền giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và các nhóm yếu thế trong xã hội. Mặc dù các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp có sự độc lập trong chức năng của mình, sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm rằng các quyết định của các cơ quan này phải tuân thủ những nguyên lý và đường lối chính trị của Đảng, tạo ra một chính sách đồng bộ và thống nhất trong việc thực thi. Điều này giúp các chính sách của Nhà nước có thể triển khai một cách hiệu quả và không bị gián đoạn hay thay đổi đột ngột. Pháp quyền trong hệ thống này bảo vệ quyền lợi của công dân và công lý. Các cơ quan nhà nước, dù có sự lãnh đạo của Đảng, nhưng vẫn phải thực thi pháp luật công bằng và minh bạch, bảo vệ quyền lợi của tất cả công dân. Điều này giúp tạo ra một xã hội công bằng, nơi công dân được bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Nhà nước pháp quyền XHCN là mô hình nhà nước trong đó quyền lực nhà nước được tổ chức và thực thi dựa trên nền tảng pháp lý, nhằm bảo vệ quyền con người, quyền tự do cơ bản của công dân và bảo vệ công lý trong xã hội. Cơ chế này không chỉ tập trung vào quyền tự do cá nhân mà còn bảo vệ lợi ích cộng đồng, hướng tới một xã hội công bằng và phát triển bền vững. Ở Việt Nam, hệ thống Nhà nước pháp quyền XHCN được xây dựng trên nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với mục tiêu bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Pháp luật là công cụ giúp bảo đảm quyền lợi của công dân; đặc biệt là những nhóm yếu thế trong xã hội, bảo vệ sự ổn định chính trị và xã hội. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dựa trên nguyên tắc phân chia quyền lực giữa ba nhánh chính: Quốc hội, Chính phủ và Tòa án. Tuy nhiên, điểm khác biệt nổi bật so với các mô hình khác là sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặc dù các cơ quan này có sự độc lập trong các chức năng của mình, nhưng tất cả đều hoạt động dưới sự chỉ đạo và giám sát của Đảng, bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất trong việc thực thi các chính sách quốc gia. Quốc hội là cơ quan đại diện cho nhân dân, có chức năng lập pháp và giám sát hoạt động của Chính phủ, đồng thời bảo đảm các chính sách phản ánh đúng nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với mục tiêu phát triển XHCN. Chính phủ là cơ quan hành pháp, thực hiện các chính sách và pháp luật mà Quốc hội thông qua. Chính phủ điều hành các công việc quốc gia, tổ chức thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời bảo đảm an ninh quốc gia. Tòa án và Viện Kiểm sát bảo vệ công lý, giải quyết tranh chấp, xét xử và giám sát việc tuân thủ pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và tổ chức. Sự phân chia này bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả trong việc thực thi pháp luật, đồng thời duy trì sự kiểm soát quyền lực của Đảng. Mục tiêu chính của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là xây dựng một xã hội công bằng, bảo vệ quyền lợi của công nhân và nhân dân lao động, đồng thời phát triển nền kinh tế theo định hướng XHCN. Nhà nước chú trọng đến việc bảo đảm công bằng xã hội, phân phối lại tài sản, quyền lợi giữa các tầng lớp dân cư, và bảo vệ lợi ích của các nhóm yếu thế. Quyền lực nhà nước ở Việt Nam là thống nhất, không có sự phân chia. Mặc dù có ba nhánh chính trong bộ máy nhà nước (Quốc hội, Chính phủ và Tòa án), song quyền lực của Đảng Cộng sản định hướng tất cả các hoạt động này. Các cơ quan nhà nước hoạt động trong khuôn khổ pháp luật nhưng tuân thủ và thực thi các đường lối, chủ trương, chính sách do Đảng đề ra. Mặc dù có những khác biệt so với các mô hình nhà nước pháp quyền khác, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam sở hữu nhiều ưu thế đặc biệt, giúp đất nước phát triển ổn định và bền vững. Một trong những ưu thế lớn nhất của Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là khả năng duy trì sự ổn định chính trị và xã hội trong bối cảnh thế giới đầy biến động. Sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản bảo đảm tính thống nhất trong các quyết định chính trị, tạo ra một nền tảng ổn định vững chắc cho sự phát triển. Nhà nước pháp quyền cho phép Chính phủ có thể can thiệp mạnh mẽ vào nền kinh tế để điều chỉnh và phát triển theo hướng bền vững. Chính phủ có thể triển khai các chính sách dài hạn, bảo vệ lợi ích quốc gia, đồng thời phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm, bảo vệ các quyền lợi của công nhân, nông dân. Chính phủ Việt Nam tập trung vào bảo vệ quyền lợi của các nhóm yếu thế trong xã hội, bảo đảm công bằng trong việc phân phối tài sản và lợi ích. Các chính sách an sinh xã hội như bảo hiểm y tế, giáo dục miễn phí, và các chương trình giảm nghèo giúp nâng cao chất lượng sống cho người dân, đặc biệt là những người có thu nhập thấp. Việt Nam đã chứng minh khả năng đối phó hiệu quả với các thách thức quốc tế thông qua chính sách đối ngoại linh hoạt và chủ động. Chính phủ Việt Nam duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các quốc gia lớn và tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, APEC, ASEAN và WTO. Mặc dù hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam có những ưu điểm về sự ổn định và phát triển, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong việc thực thi pháp luật và duy trì công lý. Một số vấn đề như chất lượng tư pháp, sự can thiệp vào quá trình xét xử và thực thi pháp luật, đặc biệt là trong các trường hợp có sự ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài, cần được cải cách. Bên cạnh đó, việc cải cách hành chính và nâng cao năng lực bộ máy nhà nước là một yếu tố then chốt để giảm thiểu tham nhũng và tăng cường tính minh bạch. Các chính sách an sinh xã hội cũng cần phải được thực thi mạnh mẽ hơn để giảm bớt bất bình đẳng trong xã hội và bảo đảm quyền lợi cho các nhóm yếu thế. Cải cách tư pháp và các hệ thống pháp lý sẽ giúp nâng cao chất lượng công lý và bảo vệ quyền lợi của công dân, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam có những đặc điểm riêng biệt, đồng thời sở hữu các ưu thế nổi bật trong việc duy trì sự ổn định chính trị, bảo vệ quyền lợi của công dân và phát triển kinh tế bền vững. Mặc dù có những khác biệt so với các mô hình nhà nước pháp quyền khác, nhưng những ưu thế này giúp Việt Nam đạt được những thành tựu lớn trong phát triển kinh tế và xã hội, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Để tiếp tục phát triển trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, cải cách và đổi mới hệ thống pháp lý, tư pháp là những yếu tố quan trọng để xây dựng một xã hội pháp quyền thực sự, nơi công lý được thực thi và mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. 2.2. Những giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới Nhà nước pháp quyền XHCN là một mô hình đặc thù, trong đó quyền lực nhà nước phải dựa trên pháp luật và phản ánh ý chí của nhân dân. Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam phải đối mặt với một loạt thách thức không nhỏ khi tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Những vấn đề này không chỉ xuất phát từ các yếu tố nội tại của xã hội mà còn chịu tác động mạnh mẽ từ những biến đổi toàn cầu trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển công nghệ. Những thách thức lớn này yêu cầu Nhà nước phải không ngừng đổi mới, điều chỉnh các chính sách và cải cách để bảo đảm nền tảng pháp quyền của đất nước, nhằm xây dựng một xã hội công bằng, văn minh, phát triển bền vững. Để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới cần thực hiện đồng bộ hệ giải pháp sau: Một là , cần tăng cường tính minh bạch và chống tham nhũng Tham nhũng luôn là một trong những vấn đề gai góc trong mọi xã hội và trở thành thách thức lớn đối với Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Mặc dù Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong việc phòng, chống tham nhũng, nhưng thực tế cho thấy tham nhũng vẫn tồn tại và có xu hướng tái diễn, đặc biệt trong các dự án đầu tư công, việc phân bổ ngân sách và trong một số lĩnh vực công vụ. Tham nhũng là một trong những vấn đề lớn đối với bất kỳ hệ thống chính trị nào, mọi nhà nước đều phải quan tâm và đối mặt. Tham nhũng không chỉ gây tổn thất về tài chính mà còn làm suy yếu niềm tin của người dân vào chính quyền, tạo ra môi trường bất công, mất công bằng trong phân phối tài nguyên và chính sách công. Tham nhũng là một mối nguy lớn, không chỉ về mặt tài chính mà còn về các giá trị đạo đức, phẩm giá con người trong xã hội. Khi tham nhũng xâm nhập vào hệ thống công quyền, các chính sách sẽ không thể thực thi hiệu quả, nền kinh tế sẽ bị cản trở và sự phát triển của xã hội sẽ không bền vững. Đặc biệt, tham nhũng làm suy giảm lòng tin của công dân vào chính phủ và các cơ quan nhà nước, từ đó làm suy yếu sự ổn định chính trị và phát triển xã hội. Nhà nước cần xây dựng hệ thống giám sát tài chính công minh bạch, đặc biệt là các dự án công và phân bổ ngân sách. Việc công khai thông tin về ngân sách quốc gia, các dự án đầu tư và các chính sách phát triển sẽ tạo ra một môi trường minh bạch, giúp người dân dễ dàng theo dõi và tham gia giám sát. Các nền tảng trực tuyến và công nghệ thông tin có thể giúp công khai thông tin về ngân sách và chi tiêu của Chính phủ một cách rõ ràng, dễ hiểu. Việc ứng dụng công nghệ trong phòng chống tham nhũng sẽ làm cho công tác phòng chống tham những có hiệu quả hơn. Công nghệ như Blockchain và trí tuệ nhân tạo (AI) có thể giúp theo dõi các giao dịch tài chính của Nhà nước, phát hiện dấu hiệu bất thường và ngăn chặn tham nhũng ngay từ giai đoạn đầu. Việc sử dụng công nghệ số để giám sát các hoạt động công có thể giúp phát hiện sớm các hành vi tham nhũng và xử lý kịp thời. Tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30-4-2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới yêu cầu mỗi cán bộ công chức phải làm gương trong việc thực thi pháp luật, bảo vệ quyền lợi của người dân. Nhà nước cần tập trung vào việc giáo dục, đào tạo, và nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức, tạo ra môi trường làm việc công bằng, trong sạch, không có tham nhũng (1) . Các tổ chức xã hội và công dân cần được khuyến khích tham gia vào quá trình giám sát hoạt động của Chính phủ, đặc biệt trong việc sử dụng ngân sách công và các dự án công. Nhà nước cần tạo ra các kênh giám sát và phản biện chính sách công, cho phép người dân và tổ chức xã hội góp phần vào công tác phòng chống tham nhũng. Việc tăng cường minh bạch và phòng chống tham nhũng là một yêu cầu cấp bách trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Bằng cách ứng dụng công nghệ, cải cách cơ chế giám sát và xử lý tham nhũng, cũng như thúc đẩy sự tham gia của người dân, Việt Nam sẽ từng bước giảm thiểu các hành vi tham nhũng, tạo dựng một chính quyền trong sạch và minh bạch, qua đó xây dựng niềm tin vững chắc trong lòng người dân. Hai là, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và hành chính công Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và hành chính công là nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN theo tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW. Để thực hiện điều này, Nhà nước cần cải cách hành chính theo hướng đơn giản hóa thủ tục, ứng dụng công nghệ thông tin, bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả trong mọi hoạt động hành chính và quan trọng nhất là thay đổi tư duy của đội ngũ cán bộ, công chức để phục vụ công dân và doanh nghiệp một cách tốt nhất. Đây chính là yếu tố then chốt để củng cố niềm tin của người dân vào chính quyền và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Giải pháp để nâng cao chất lượng quản lý của Nhà nước là tiến hành cải cách hành chính sâu rộng theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính và chuyển đổi số hoàn toàn các dịch vụ công. Các thủ tục hành chính phức tạp hiện nay là một trong những yếu tố gây cản trở lớn đối với việc giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các cơ quan hành chính, chuyển từ thủ tục giấy tờ sang hệ thống dịch vụ công trực tuyến sẽ giúp giảm chi phí và thời gian cho người dân và doanh nghiệp. Các dịch vụ công trực tuyến không chỉ làm giảm bớt những thủ tục rườm rà mà còn giúp tăng tính minh bạch, tạo ra sự thuận tiện và nhanh chóng cho công dân khi giải quyết các vấn đề hành chính. Việc thúc đẩy xây dựng môi trường hành chính công minh bạch và hiệu quả là việc làm cần thiết. Nhà nước cần tạo ra một môi trường hành chính minh bạch, trong đó mọi quy trình, thủ tục và kết quả đều phải được công khai rõ ràng để người dân có thể dễ dàng theo dõi và giám sát. Các cơ quan hành chính cần đẩy mạnh việc công khai thông tin về quá trình xử lý hồ sơ, thông tin về các dịch vụ công, đồng thời tăng cường giám sát và báo cáo kết quả thực hiện công việc để bảo đảm tính minh bạch trong mọi quyết định hành chính. Một trong những tinh thần cốt lõi của Nghị quyết số 66-NQ/TW là Nhà nước phải luôn coi người dân là trung tâm và mục tiêu phục vụ. Do đó, cần tập trung nâng cao chất lượng phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, cải thiện năng lực phục vụ công dân trong việc giải quyết các công việc hành chính. Điều này không chỉ yêu cầu cải tiến quy trình làm việc mà còn đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức phải có thái độ phục vụ tận tâm, thân thiện và chuyên nghiệp. Cần đặc biệt chú trọng vào việc giảm thiểu những thủ tục hành chính rườm rà, làm cho công việc hành chính trở nên đơn giản, hiệu quả và thuận lợi hơn cho công dân. Chính phủ cần tạo ra một môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển thông qua việc giảm thiểu thủ tục hành chính, tăng cường hỗ trợ pháp lý và tài chính cho doanh nghiệp, đặc biệt là trong những lĩnh vực có tính cạnh tranh cao. Việc xây dựng các chính sách hành chính phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp và cải thiện các dịch vụ công hỗ trợ doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và giúp các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ công. Để nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của hệ thống hành chính, cần phải xây dựng và triển khai nền tảng hành chính điện tử cho tất cả các dịch vụ công. Việc này giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào các thủ tục giấy tờ, đồng thời bảo đảm tính chính xác, nhanh chóng và dễ dàng truy cập thông tin của các cơ quan nhà nước. Mọi công dân đều có thể dễ dàng truy cập vào các dịch vụ hành chính qua Internet, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời tạo sự thuận tiện cho tất cả mọi người. Ba là, bảo đảm sự tham gia của người dân trong quản lý nhà nước Một trong những nguyên lý cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN là quyền lực nhà nước phải xuất phát từ nhân dân. Tuy nhiên, việc phát huy quyền tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định của Nhà nước còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa. Người dân ở những khu vực này thiếu thông tin và điều kiện để tham gia vào các hoạt động chính trị, dẫn đến sự xa rời giữa chính quyền và cộng đồng. Một nhà nước pháp quyền XHCN chỉ thực sự mạnh mẽ khi quyền lực của nhà nước được xây dựng và thực thi trên cơ sở sự tham gia đầy đủ và chủ động của người dân. Khi người dân tham gia vào quá trình ra quyết định, các chính sách sẽ phản ánh đúng nhu cầu và nguyện vọng của họ, giúp tăng cường tính hợp pháp của các quyết định chính trị. Một trong những nguyên lý cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, phải xuất phát từ nhân dân. Điều này không chỉ giúp bảo đảm tính dân chủ mà còn củng cố sự gắn kết giữa chính quyền và người dân, tạo ra một xã hội công bằng và đoàn kết. Do đó, để bảo đảm sự tham gia của người dân trong quá trình quản lý nhà nước, cần xây dựng các cơ chế tham gia chính thức như các cuộc bầu cử, các cuộc tham vấn cộng đồng và các kênh đối thoại giữa Nhà nước và người dân. Cần tăng cường các nền tảng trực tuyến để thu thập ý kiến phản hồi từ người dân, tạo ra không gian đối thoại giữa công dân và chính quyền, đồng thời phát huy vai trò của các tổ chức xã hội trong việc giám sát và phản biện chính sách. Bốn là, phát triển hệ thống pháp luật và bảo vệ quyền lợi công dân Hệ thống pháp luật của Việt Nam còn thiếu đồng bộ, có nhiều quy định chưa được cập nhật phù hợp với sự phát triển của xã hội. Điều này dẫn đến việc áp dụng pháp luật chưa công bằng và hiệu quả, gây bất bình đẳng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, đặc biệt là những nhóm yếu thế trong xã hội. Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ là nền tảng để bảo vệ quyền lợi của công dân, bảo đảm sự công bằng trong xã hội và duy trì trật tự xã hội. “Pháp luật không chỉ là công cụ điều chỉnh hành vi xã hội mà còn là phương tiện bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, duy trì trật tự xã hội và bảo đảm công bằng trong xã hội” (2) . Nếu hệ thống pháp luật không đáp ứng được yêu cầu của thực tế xã hội và kinh tế, sẽ tạo ra tình trạng pháp lý không rõ ràng, dễ dàng bị lạm dụng và dẫn đến những bất công trong việc thực thi pháp luật. Pháp luật là công cụ quan trọng giúp Nhà nước duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân. “Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ là điều kiện tiên quyết để đảm bảo quyền lợi của công dân, sự công bằng và sự ổn định xã hội” (3) . Để cải thiện hệ thống pháp luật, Việt Nam cần tiếp tục cải cách và hoàn thiện các bộ luật, bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất, đồng thời bổ sung các điều khoản pháp lý mới để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Các đạo luật phải bảo đảm quyền lợi của mọi công dân, đặc biệt là những nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, và những người nghèo. Đồng thời, cần cải cách tư pháp để bảo đảm sự công bằng và nhanh chóng trong việc xét xử, giảm thiểu tình trạng xét xử kéo dài, qua đó gia tăng sự tin tưởng của công dân vào hệ thống pháp luật. Năm là, ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước và cải cách tư pháp Ứng dụng công nghệ là yếu tố then chốt để cải cách hệ thống hành chính và tư pháp. Nếu không ứng dụng công nghệ, Nhà nước không thể đáp ứng được yêu cầu của một xã hội hiện đại, nơi mà người dân ngày càng đòi hỏi sự minh bạch, nhanh chóng và hiệu quả. Các quốc gia như Estonia và Xinhgapo đã đi đầu trong việc áp dụng công nghệ vào hành chính và tư pháp, tạo ra các dịch vụ công trực tuyến, giúp người dân dễ dàng tiếp cận các thủ tục hành chính. Những quốc gia này là minh chứng rõ ràng cho thấy ứng dụng công nghệ là yếu tố quyết định trong việc nâng cao hiệu quả và sự minh bạch của hệ thống hành chính (4) . Việt Nam cần đẩy mạnh việc chuyển đổi số trong các cơ quan hành chính và tư pháp, xây dựng các hệ thống quản lý dữ liệu điện tử để tối ưu hóa quy trình làm việc, giảm thiểu thời gian chờ đợi của người dân và doanh nghiệp. Việc phát triển các dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xét xử và giải quyết tranh chấp sẽ không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao hiệu quả công việc và công lý. Những thách thức mà Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải đối mặt trong kỷ nguyên mới đòi hỏi một chiến lược cải cách toàn diện và quyết liệt. Các giải pháp như cải cách hành chính, chống tham nhũng, cải thiện hệ thống pháp luật, tăng cường sự tham gia của người dân và ứng dụng công nghệ là những yếu tố then chốt để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN minh bạch, công bằng và hiệu quả. Những cải cách này không chỉ giúp củng cố niềm tin của người dân mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống và khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. 3. Kết luận Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện để đáp ứng các yêu cầu của kỷ nguyên hội nhập quốc tế. Cơ chế vận hành và tổ chức bộ máy nhà nước phải bảo đảm sự minh bạch, công bằng và hiệu quả, đồng thời tăng cường sự tham gia của người dân và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân. Các thách thức và vấn đề đặt ra trong quá trình vận hành hệ thống cần được giải quyết bằng các biện pháp cải cách mạnh mẽ, đặc biệt là trong công tác phòng chống tham nhũng, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và cải cách hệ thống pháp luật. Nhà nước pháp quyền XHCN vững mạnh sẽ là nền tảng để Việt Nam phát triển bền vững và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. _________________ Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2025 Ngày nhận bài: 23-6-2025; Ngày bình duyệt: 08-7-2025; Ngày duyệt đăng: 14-7-2025. Email tác giả: Ducphilosophy@yahoo.com (1) Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30-4-2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. (2) Nguyễn Minh Tuấn: Giới thiệu lý luận pháp lý, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr.75. (3) Phan Xuân Sơn: Lý thuyết về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018, tr.102. (4) Xem: World Bank Report on E-Government (2016): Báo cáo của Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh rằng công nghệ thông tin là yếu tố then chốt trong việc cải cách hành chính, giúp chính phủ dễ dàng tiếp cận và cung cấp dịch vụ công nhanh chóng, hiệu quả hơn. Chia sẻ Facebook Chia sẻ Zalo Chia sẻ Zalo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cơ chế vận hành tổ chức bộ máy nhà nước Bài liên quan Bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân (LLCT) -Bài viết phân tích bản chất dân chủ, tiến bộ, văn minh của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, từ đó khẳng định tính đúng đắn, phù hợp quy luật của mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng. KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI CỦA DÂN TỘC Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc 20/01/2026 Yêu cầu nâng cao năng lực lý luận và thực tiễn đối với đội ngũ cán bộ cấp tỉnh trong kỷ nguyên phát triển mới 19/01/2026 Đột phá thể chế, tạo động lực để Việt Nam phát triển trong kỷ nguyên mới 25/11/2025 Thể chế phát triển trong kỷ nguyên phát triển mới của Việt Nam 12/11/2025 Sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước - bản lĩnh chính trị dám đổi mới của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới 14/10/2025 Thuận lợi, khó khăn và giải pháp phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới của dân tộc 10/09/2025 Hoàn thiện quy định pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên phát triển mới 19/08/2025 Dám nghĩ, dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong đánh giá cán bộ 13/08/2025 Hội thảo khoa học quốc gia “Công an nhân dân phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vững bước cùng đất nước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới” 05/08/2025 Xây dựng nguồn nhân lực văn hóa trở thành động lực phát triển thành phố Huế trong kỷ nguyên mới 30/07/2025 Đọc thêm Thực tiễn Nổi bật Tin mới nhất Xem thêm Tin đọc nhiều Thực tiễn Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới Cỡ chữ Mặc định Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nhân vật - Sự kiện Diễn đàn Quốc tế Tin tức Từ điển mở Giới thiệu Giới thiệu tạp chí in Đại hội Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Tóm tắt bài Tạp chí in số mới nhất Tin qua ảnh Lưu trữ Cơ quan chủ quản: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tổng biên tập: PGS, TS Nguyễn Thắng Lợi Phó Tổng biên tập: PGS, TS Hoàng Anh PGS, TS Đinh Quang Thành TS Tạ Quang Tuấn Giấy phép hoạt động Tạp chí in và Tạp chí điện tử số 628/GP-BTTTT ngày 24/9/2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông Mã số chuẩn quốc tế: ISSN 2525-2607 Tạp chí in được phát hành qua Công ty Phát hành báo chí Trung ương: Tạp chí tiếng Việt mã số C186; Tạp chí tiếng Anh mã số C063 Toà soạn: 135 Nguyễn Phong Sắc, phường Nghĩa Đô, Hà Nội Điện thoại: 080.48132 Email: tcllct.hcma@gmail.com Fax: 04.62827490 POWERED BY Gửi bình luận Hủy Gửi
https://lyluanchinhtri.vn/dot-pha-the-che-tao-dong-luc-de-viet-nam-phat-trien-trong-ky-nguyen-moi-10316.html
"Đột phá thể chế, tạo động lực để Việt Nam phát triển trong kỷ nguyên mớ(...TRUNCATED)
25/11/2025 09:18
null
null
"Tiếng Việt English Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nh(...TRUNCATED)
https://lyluanchinhtri.vn/mot-so-noi-dung-co-ban-ve-phat-trien-van-hoa-theo-tinh-than-dai-hoi-xiv-cua-dang-13536.html
"Một số nội dung cơ bản về phát triển văn hóa theo tinh thần Đại hội XIV củ(...TRUNCATED)
25/03/2026 17:08
https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.1003
null
"Tiếng Việt English Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nh(...TRUNCATED)
https://lyluanchinhtri.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-khai-mac-hoi-nghi-lan-thu-2-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv-13535.html
"Phát biểu của Tổng Bí Thư Tô Lâm khai mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành (...TRUNCATED)
25/03/2026 13:46
null
null
"Tiếng Việt English Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nh(...TRUNCATED)
https://lyluanchinhtri.vn/tap-chi-ly-luan-chinh-tri-lam-viec-voi-dai-dien-nha-xuat-ban-elsevier-va-igroup-viet-nam-13530.html
"Tạp chí Lý luận chính trị làm việc với đại diện Nhà xuất bản Elsevier và i(...TRUNCATED)
24/03/2026 18:26
null
null
"Tiếng Việt English Nghiên cứu lý luận Đào tạo - Bồi dưỡng Thực tiễn Nh(...TRUNCATED)
End of preview. Expand in Data Studio

No dataset card yet

Downloads last month
4