combined_text
stringlengths 92
1.15k
| original_content
stringlengths 27
999
| metadata
dict |
|---|---|---|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: Introduction
Context: Introduction
Content: Ethnic group Bản mẫu:SHORTDESC:Ethnic group Người Êđê (tiếng Êđê: Anak Rađê hay được dùng phổ biến theo cộng đồng là Anak Đê hay Đê-Ga ) là một dân tộc có vùng cư trú truyền thống là miền trung Việt Nam và đông bắc Campuchia. Tại Việt Nam người Êđê được công nhận là một trong số 54 dân tộc tại Việt Nam . Theo trang Joshua Project tổng dân số người Êđê năm 2019 là 402.000 người, cư trú chủ yếu tại Việt Nam và Campuchia . Người Ê Đê nói tiếng Ê Đê , một ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Chăm thuộc ngữ tộc Mã Lai-Đa Đảo của ngữ hệ Nam Đảo . Người Ê Đê thuộc nhóm chủng tộc Nam Đảo . Trước năm 1975, tại miền nam Việt Nam , trong văn bản hành chính của Việt Nam Cộng hoà , người Êđê được gọi là người Raday (Rhade). Theo tài liệu của Ủy ban Dân tộc Chính phủ Việt Nam (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo ), dân số người Êđê thống kê ngày 01 tháng 04 năm 2009 là khoảng 331.194 người, xếp thứ 11 về số lượng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam . Người Êđê hiện nay khá đặc trưng, nổi bật là một cộng đồng có
|
Ethnic group Bản mẫu:SHORTDESC:Ethnic group Người Êđê (tiếng Êđê: Anak Rađê hay được dùng phổ biến theo cộng đồng là Anak Đê hay Đê-Ga ) là một dân tộc có vùng cư trú truyền thống là miền trung Việt Nam và đông bắc Campuchia. Tại Việt Nam người Êđê được công nhận là một trong số 54 dân tộc tại Việt Nam . Theo trang Joshua Project tổng dân số người Êđê năm 2019 là 402.000 người, cư trú chủ yếu tại Việt Nam và Campuchia . Người Ê Đê nói tiếng Ê Đê , một ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Chăm thuộc ngữ tộc Mã Lai-Đa Đảo của ngữ hệ Nam Đảo . Người Ê Đê thuộc nhóm chủng tộc Nam Đảo . Trước năm 1975, tại miền nam Việt Nam , trong văn bản hành chính của Việt Nam Cộng hoà , người Êđê được gọi là người Raday (Rhade). Theo tài liệu của Ủy ban Dân tộc Chính phủ Việt Nam (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo ), dân số người Êđê thống kê ngày 01 tháng 04 năm 2009 là khoảng 331.194 người, xếp thứ 11 về số lượng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam . Người Êđê hiện nay khá đặc trưng, nổi bật là một cộng đồng có
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "Introduction",
"section": "Introduction",
"topic": "Introduction"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: Introduction
Context: Introduction
Content: dân số người Êđê thống kê ngày 01 tháng 04 năm 2009 là khoảng 331.194 người, xếp thứ 11 về số lượng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam . Người Êđê hiện nay khá đặc trưng, nổi bật là một cộng đồng có xu hướng tương đối thống nhất ý thức dân tộc, cũng là một cộng đồng dân tộc-tôn giáo khá rõ nét chiếm số nhiều ảnh hưởng của đạo Tin Lành.
|
dân số người Êđê thống kê ngày 01 tháng 04 năm 2009 là khoảng 331.194 người, xếp thứ 11 về số lượng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam . Người Êđê hiện nay khá đặc trưng, nổi bật là một cộng đồng có xu hướng tương đối thống nhất ý thức dân tộc, cũng là một cộng đồng dân tộc-tôn giáo khá rõ nét chiếm số nhiều ảnh hưởng của đạo Tin Lành.
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "Introduction",
"section": "Introduction",
"topic": "Introduction"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 2Dân số và địa bàn cư trú
Context: 2Dân số và địa bàn cư trú
Content: Dân tộc Êđê gồm khoảng 490.000 người đang sinh sống ở các nước trên thế giới như Việt Nam , Campuchia , Thái Lan , Hoa Kỳ , Canada , Pháp , Phần Lan , Thụy Điển ... Trong đó Tây Nguyên là quê hương bản địa lâu đời của người Êđê. Đây là nhóm dân tộc có nguồn gốc từ nhóm tộc người nói tiếng Mã Lai từ các hải đảo Thái Bình Dương đã có mặt lâu đời ở Đông Dương; truyền thống dân tộc vẫn mang đậm nét mẫu hệ thể hiện dấu vết hải đảo của nhóm tộc người nói tiếng Malay-Polynesia . Các nhóm địa phương bao gồm các nhóm: Êđê Kpă (tự nhận là chính dòng Đê). Cư trú quanh thành phố Buôn Ma Thuột , Krông Ana , Krông Pắc , Cư M'gar . Là ngôn ngữ chuẩn có chữ viết của người Êđê. - Họ chính của Êđê Kpă: Niê, Buôn Yă (Byă), Êban, Niê Kdăm... Êđê Adham xuất phát từ chữ Ấn Độ là Adaham có nghĩa là vùng trũng đệm, pha tạp.Êđê Adham cư trú tại huyện Krông Bŭk, Čư̆ Mgar, Thị xã Buôn Hồ, Krông H-Nang và một phần Êa Hleo của tỉnh Dak Lak - Họ của Êđê Adham: Êya, Kpơr, Kbuôr..vvv Êđê Mdhŭr xuất phát từ chữ Ấn Độ
|
Dân tộc Êđê gồm khoảng 490.000 người đang sinh sống ở các nước trên thế giới như Việt Nam , Campuchia , Thái Lan , Hoa Kỳ , Canada , Pháp , Phần Lan , Thụy Điển ... Trong đó Tây Nguyên là quê hương bản địa lâu đời của người Êđê. Đây là nhóm dân tộc có nguồn gốc từ nhóm tộc người nói tiếng Mã Lai từ các hải đảo Thái Bình Dương đã có mặt lâu đời ở Đông Dương; truyền thống dân tộc vẫn mang đậm nét mẫu hệ thể hiện dấu vết hải đảo của nhóm tộc người nói tiếng Malay-Polynesia . Các nhóm địa phương bao gồm các nhóm: Êđê Kpă (tự nhận là chính dòng Đê). Cư trú quanh thành phố Buôn Ma Thuột , Krông Ana , Krông Pắc , Cư M'gar . Là ngôn ngữ chuẩn có chữ viết của người Êđê. - Họ chính của Êđê Kpă: Niê, Buôn Yă (Byă), Êban, Niê Kdăm... Êđê Adham xuất phát từ chữ Ấn Độ là Adaham có nghĩa là vùng trũng đệm, pha tạp.Êđê Adham cư trú tại huyện Krông Bŭk, Čư̆ Mgar, Thị xã Buôn Hồ, Krông H-Nang và một phần Êa Hleo của tỉnh Dak Lak - Họ của Êđê Adham: Êya, Kpơr, Kbuôr..vvv Êđê Mdhŭr xuất phát từ chữ Ấn Độ
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "2Dân số và địa bàn cư trú",
"section": "2Dân số và địa bàn cư trú",
"topic": "2Dân số và địa bàn cư trú"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 2Dân số và địa bàn cư trú
Context: 2Dân số và địa bàn cư trú
Content: ệm, pha tạp.Êđê Adham cư trú tại huyện Krông Bŭk, Čư̆ Mgar, Thị xã Buôn Hồ, Krông H-Nang và một phần Êa Hleo của tỉnh Dak Lak - Họ của Êđê Adham: Êya, Kpơr, Kbuôr..vvv Êđê Mdhŭr xuất phát từ chữ Ấn Độ là Madahura có nghĩa là vùng cằn cỗi, vùng đất thấp. Êđê Mdhur cư trú tại huyện M'Drắk của tỉnh Đắk Lắk, Sông Hinh của tỉnh Phú Yên. - Họ của người Êđê Mdhur: Hra, Lemo, Rơ Ô... Êđê Bih tiếng Việt là Êđê cổ là nhóm Rang Đê cổ nhất bảo lưu nhiều dấu vết cổ qua ngôn ngữ, Êđê Bih có truyền thống làm gốm, dệt chiếu, trồng lúa nước, đặc biệt các phụ nữ có điệu múa mang tên Rom Wŏng (Kdŏ Dar), Kông Tuôr. Họ Cư trú ven sông Krông Ana , sông Krông Knô của tỉnh Đắk Nông. Một số vẫn đang gần hang Băng Adrênh của Buôn Cuê, Xung quanh hồ Ea Kao, hồ Lắk , tại các huyện Krông Bông , Buôn Đôn , Cư Kuin . Họ của người Êđê Bih: BuônDăp (Bdap), Hdruĕ, Êñuôl, Hđơ̆k, Buôn Krông (Bkrông), Hlŏng, Kmăn, Hmŏk, Knul, Êčăm... Êđê Krung xuất phát từ chữ Kurung trong ngôn ngữ Rang Đê cổ, Khi vua Chế Mân, Chế Bồng
|
ệm, pha tạp.Êđê Adham cư trú tại huyện Krông Bŭk, Čư̆ Mgar, Thị xã Buôn Hồ, Krông H-Nang và một phần Êa Hleo của tỉnh Dak Lak - Họ của Êđê Adham: Êya, Kpơr, Kbuôr..vvv Êđê Mdhŭr xuất phát từ chữ Ấn Độ là Madahura có nghĩa là vùng cằn cỗi, vùng đất thấp. Êđê Mdhur cư trú tại huyện M'Drắk của tỉnh Đắk Lắk, Sông Hinh của tỉnh Phú Yên. - Họ của người Êđê Mdhur: Hra, Lemo, Rơ Ô... Êđê Bih tiếng Việt là Êđê cổ là nhóm Rang Đê cổ nhất bảo lưu nhiều dấu vết cổ qua ngôn ngữ, Êđê Bih có truyền thống làm gốm, dệt chiếu, trồng lúa nước, đặc biệt các phụ nữ có điệu múa mang tên Rom Wŏng (Kdŏ Dar), Kông Tuôr. Họ Cư trú ven sông Krông Ana , sông Krông Knô của tỉnh Đắk Nông. Một số vẫn đang gần hang Băng Adrênh của Buôn Cuê, Xung quanh hồ Ea Kao, hồ Lắk , tại các huyện Krông Bông , Buôn Đôn , Cư Kuin . Họ của người Êđê Bih: BuônDăp (Bdap), Hdruĕ, Êñuôl, Hđơ̆k, Buôn Krông (Bkrông), Hlŏng, Kmăn, Hmŏk, Knul, Êčăm... Êđê Krung xuất phát từ chữ Kurung trong ngôn ngữ Rang Đê cổ, Khi vua Chế Mân, Chế Bồng
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "2Dân số và địa bàn cư trú",
"section": "2Dân số và địa bàn cư trú",
"topic": "2Dân số và địa bàn cư trú"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 2Dân số và địa bàn cư trú
Context: 2Dân số và địa bàn cư trú
Content: Họ của người Êđê Bih: BuônDăp (Bdap), Hdruĕ, Êñuôl, Hđơ̆k, Buôn Krông (Bkrông), Hlŏng, Kmăn, Hmŏk, Knul, Êčăm... Êđê Krung xuất phát từ chữ Kurung trong ngôn ngữ Rang Đê cổ, Khi vua Chế Mân, Chế Bồng Nga mộ lính đi đánh giặc họ tự gọi các thủ lĩnh đó là Kurung hay Krung. Cư trú chủ yếu tại huyện Ea H'leo , Krông Búk của tỉnh Đắk Lắk. - Họ Êđê Krung: Mlô, Ktla, Aliô, Kđoh, Mdrang, Adrơng, Ksơr, Kpă...v.v. Ngoài ra còn có các nhóm địa phương nhỏ khác: Blô, Dongmak, Hwing, Êpan... Nhưng hầu như người Êđê không có sự khác biệt lớn giữa các nhóm địa phương. Người Êđê là nhóm dân tộc có xu hướng thống nhất ý thức tộc người, biểu hiện rõ nét nhất là ranh giới khác biệt giữa các nhóm địa phương tồn tại trước kia thì ngày nay đã hoàn toàn bị xóa bỏ bằng việc thống nhất tôn giáo , ngôn ngữ và chữ viết và người Êđê tự gọi họ là Anak Đê đọc tránh từ Anak Aê-Diê, nghĩa là những đứa con của Yàng . Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 người Êđê ở Việt Nam có dân số 398.671 người, cư trú tại
|
Họ của người Êđê Bih: BuônDăp (Bdap), Hdruĕ, Êñuôl, Hđơ̆k, Buôn Krông (Bkrông), Hlŏng, Kmăn, Hmŏk, Knul, Êčăm... Êđê Krung xuất phát từ chữ Kurung trong ngôn ngữ Rang Đê cổ, Khi vua Chế Mân, Chế Bồng Nga mộ lính đi đánh giặc họ tự gọi các thủ lĩnh đó là Kurung hay Krung. Cư trú chủ yếu tại huyện Ea H'leo , Krông Búk của tỉnh Đắk Lắk. - Họ Êđê Krung: Mlô, Ktla, Aliô, Kđoh, Mdrang, Adrơng, Ksơr, Kpă...v.v. Ngoài ra còn có các nhóm địa phương nhỏ khác: Blô, Dongmak, Hwing, Êpan... Nhưng hầu như người Êđê không có sự khác biệt lớn giữa các nhóm địa phương. Người Êđê là nhóm dân tộc có xu hướng thống nhất ý thức tộc người, biểu hiện rõ nét nhất là ranh giới khác biệt giữa các nhóm địa phương tồn tại trước kia thì ngày nay đã hoàn toàn bị xóa bỏ bằng việc thống nhất tôn giáo , ngôn ngữ và chữ viết và người Êđê tự gọi họ là Anak Đê đọc tránh từ Anak Aê-Diê, nghĩa là những đứa con của Yàng . Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 người Êđê ở Việt Nam có dân số 398.671 người, cư trú tại
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "2Dân số và địa bàn cư trú",
"section": "2Dân số và địa bàn cư trú",
"topic": "2Dân số và địa bàn cư trú"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 2Dân số và địa bàn cư trú
Context: 2Dân số và địa bàn cư trú
Content: viết và người Êđê tự gọi họ là Anak Đê đọc tránh từ Anak Aê-Diê, nghĩa là những đứa con của Yàng . Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 người Êđê ở Việt Nam có dân số 398.671 người, cư trú tại 59 trên tổng số 63 tỉnh , thành phố . Người Êđê cư trú tập trung tại tỉnh: Đắk Lắk (298.534 người, chiếm 17,2% dân số toàn tỉnh và 90,1% tổng số người Êđê tại Việt Nam), Phú Yên (20.905 người), Đắk Nông (5.271 người), Khánh Hòa (3.396 người). .Tại một số quốc gia khác, như Campuchia , Hoa Kỳ , Canada và các nước Bắc Âu cũng có một ít người Êđê sinh sống, song chưa có số liệu chính thức.
|
viết và người Êđê tự gọi họ là Anak Đê đọc tránh từ Anak Aê-Diê, nghĩa là những đứa con của Yàng . Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 người Êđê ở Việt Nam có dân số 398.671 người, cư trú tại 59 trên tổng số 63 tỉnh , thành phố . Người Êđê cư trú tập trung tại tỉnh: Đắk Lắk (298.534 người, chiếm 17,2% dân số toàn tỉnh và 90,1% tổng số người Êđê tại Việt Nam), Phú Yên (20.905 người), Đắk Nông (5.271 người), Khánh Hòa (3.396 người). .Tại một số quốc gia khác, như Campuchia , Hoa Kỳ , Canada và các nước Bắc Âu cũng có một ít người Êđê sinh sống, song chưa có số liệu chính thức.
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "2Dân số và địa bàn cư trú",
"section": "2Dân số và địa bàn cư trú",
"topic": "2Dân số và địa bàn cư trú"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 3Đặc điểm kinh tế
Context: 3Đặc điểm kinh tế
Content: Người Êđê làm rẫy là chính, riêng nhóm Bih làm ruộng nước theo lối cổ sơ, dùng trâu dẫm đất thay việc cày, cuốc đất. Ngoài trồng trọt còn chăn nuôi , săn bắn , hái lượm, đánh cá , đan lát , dệt vải . Trên nương rẫy, ngoài cây chính là lúa còn có ngô , khoai , bầu , thuốc lá , bí , hành , ớt , bông . Đặc điểm làm rẫy của người Êđê là chế độ luân khoảnh, tức là bên cạnh những khu đất đang canh tác còn có những khu đất để hoang để phục hồi sự màu mỡ. Ngày nay người Ê Đê gắn mình với sản xuất nông sản cây công nghiệp: cà phê , cao su , hồ tiêu , ca cao ,... Nghề trồng trọt ở đây có nuôi trâu , bò , voi . Người dân ở đây còn tự làm ra được đồ đan lát, bát đồng, đồ gỗ, đồ trang sức, đồ gốm.
|
Người Êđê làm rẫy là chính, riêng nhóm Bih làm ruộng nước theo lối cổ sơ, dùng trâu dẫm đất thay việc cày, cuốc đất. Ngoài trồng trọt còn chăn nuôi , săn bắn , hái lượm, đánh cá , đan lát , dệt vải . Trên nương rẫy, ngoài cây chính là lúa còn có ngô , khoai , bầu , thuốc lá , bí , hành , ớt , bông . Đặc điểm làm rẫy của người Êđê là chế độ luân khoảnh, tức là bên cạnh những khu đất đang canh tác còn có những khu đất để hoang để phục hồi sự màu mỡ. Ngày nay người Ê Đê gắn mình với sản xuất nông sản cây công nghiệp: cà phê , cao su , hồ tiêu , ca cao ,... Nghề trồng trọt ở đây có nuôi trâu , bò , voi . Người dân ở đây còn tự làm ra được đồ đan lát, bát đồng, đồ gỗ, đồ trang sức, đồ gốm.
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "3Đặc điểm kinh tế",
"section": "3Đặc điểm kinh tế",
"topic": "3Đặc điểm kinh tế"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 4Hôn nhân gia đình
Context: 4Hôn nhân gia đình
Content: Trong gia đình người Êđê, chủ nhà là phụ nữ theo đó của cải và đất đai sẽ được truyền từ mẹ sang con gái, theo chế độ mẫu hệ có đặc điểm rất khá tương đồng với chế độ mẫu hệ của người Minangkabau ở đảo Sumatra , con cái mang họ mẹ, trước đây con trai không được hưởng thừa kế , bây giờ có sự bình đẳng trong nhà. Phụ nữ chịu trách nhiệm trong quản lý gia đình, chăm sóc con cái, mồ mả tổ tiên, của cải thừa kế cho con cái... Đàn ông chịu trách nhiệm trong việc ngoại giao, giao lưu buôn bán với cộng đồng bên ngoài đồng thời các vấn đề tôn giáo và chính trị cũng là trách nhiệm của người đàn ông. Cho nên vai trò và địa vị của đàn ông Êđê bên ngoài xã hội là rất lớn. Đàn ông cư trú trong nhà vợ. Nếu vợ chết và bên nhà vợ không còn ai thay thế theo tục nối dây thì người chồng phải về với chị em gái mình. Khi chết, được đưa về chôn cất bên người thân của gia đình mẹ đẻ. Chỉ con gái được thừa kế tài sản, người con gái út được thừa kế nhà tự ông bà và phải nuôi dưỡng cha mẹ già. Đây là nét ảnh
|
Trong gia đình người Êđê, chủ nhà là phụ nữ theo đó của cải và đất đai sẽ được truyền từ mẹ sang con gái, theo chế độ mẫu hệ có đặc điểm rất khá tương đồng với chế độ mẫu hệ của người Minangkabau ở đảo Sumatra , con cái mang họ mẹ, trước đây con trai không được hưởng thừa kế , bây giờ có sự bình đẳng trong nhà. Phụ nữ chịu trách nhiệm trong quản lý gia đình, chăm sóc con cái, mồ mả tổ tiên, của cải thừa kế cho con cái... Đàn ông chịu trách nhiệm trong việc ngoại giao, giao lưu buôn bán với cộng đồng bên ngoài đồng thời các vấn đề tôn giáo và chính trị cũng là trách nhiệm của người đàn ông. Cho nên vai trò và địa vị của đàn ông Êđê bên ngoài xã hội là rất lớn. Đàn ông cư trú trong nhà vợ. Nếu vợ chết và bên nhà vợ không còn ai thay thế theo tục nối dây thì người chồng phải về với chị em gái mình. Khi chết, được đưa về chôn cất bên người thân của gia đình mẹ đẻ. Chỉ con gái được thừa kế tài sản, người con gái út được thừa kế nhà tự ông bà và phải nuôi dưỡng cha mẹ già. Đây là nét ảnh
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "4Hôn nhân gia đình",
"section": "4Hôn nhân gia đình",
"topic": "4Hôn nhân gia đình"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 4Hôn nhân gia đình
Context: 4Hôn nhân gia đình
Content: gái mình. Khi chết, được đưa về chôn cất bên người thân của gia đình mẹ đẻ. Chỉ con gái được thừa kế tài sản, người con gái út được thừa kế nhà tự ông bà và phải nuôi dưỡng cha mẹ già. Đây là nét ảnh hưởng từ quy định của xã hội từ thời phong kiến Champa mà người Êđê chịu ảnh hưởng trong suốt thế kỷ dài trong lịch sử.
|
gái mình. Khi chết, được đưa về chôn cất bên người thân của gia đình mẹ đẻ. Chỉ con gái được thừa kế tài sản, người con gái út được thừa kế nhà tự ông bà và phải nuôi dưỡng cha mẹ già. Đây là nét ảnh hưởng từ quy định của xã hội từ thời phong kiến Champa mà người Êđê chịu ảnh hưởng trong suốt thế kỷ dài trong lịch sử.
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "4Hôn nhân gia đình",
"section": "4Hôn nhân gia đình",
"topic": "4Hôn nhân gia đình"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 5Văn hóa
Context: 5Văn hóa
Content: Người Êđê có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: thần thoại , cổ tích , ca dao , tục ngữ , đặc biệt là các Khan ( trường ca , sử thi ) nổi tiếng với Khan Dam San , Khan Dam Kteh Mlan, Khan Dam Khing Jŭ,... Người Êđê yêu ca hát, múa Rom Wong (kdŏ dar) nhịp nhàng, múa kông tuôr, thích tấu nhạc và thường rất có năng khiếu về lĩnh vực này. Nhạc cụ có cồng chiêng , trống , sáo , Gôc, Kni, đàn, Đinh Năm , Đĭng Buôt là các loại nhạc cụ phổ biến của người Êđê và được nhiều người yêu thích.
|
Người Êđê có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: thần thoại , cổ tích , ca dao , tục ngữ , đặc biệt là các Khan ( trường ca , sử thi ) nổi tiếng với Khan Dam San , Khan Dam Kteh Mlan, Khan Dam Khing Jŭ,... Người Êđê yêu ca hát, múa Rom Wong (kdŏ dar) nhịp nhàng, múa kông tuôr, thích tấu nhạc và thường rất có năng khiếu về lĩnh vực này. Nhạc cụ có cồng chiêng , trống , sáo , Gôc, Kni, đàn, Đinh Năm , Đĭng Buôt là các loại nhạc cụ phổ biến của người Êđê và được nhiều người yêu thích.
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "5Văn hóa",
"section": "5Văn hóa",
"topic": "5Văn hóa"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 6Đôi nét về nhân chủng
Context: 6Đôi nét về nhân chủng
Content: Người Ê Đê chiếm 17 % dân số tại tỉnh Đắk Lắk. Dân tộc này nằm trong nhóm các tộc người sử dụng ngôn ngữ Malay-Polynesia , sống trên khắp Đông Nam Á . Đa số người Ê Đê ngày nay là tín đồ Tin Lành - một tôn giáo du nhập hòa trộn nhiều thành phần tín ngưỡng dân gian bản địa, và người Êđê không có tục thờ cúng tổ tiên. Người Êđê thường có bề ngoài điển hình của người Đông Nam Á , trông gần giống người hải đảo Indonesia , Philippines và Malaysia . Tuy nhiên, người Ê Đê không thuần chủng, bề ngoài có nhiều nét khác nhau, đó là do kết quả của nhiều thế kỉ pha trộn với người Ấn Độ xa xưa, người M'nông thuộc ngôn ngữ Môn-Khmer , người Pháp thời thuộc địa, và người Việt .
|
Người Ê Đê chiếm 17 % dân số tại tỉnh Đắk Lắk. Dân tộc này nằm trong nhóm các tộc người sử dụng ngôn ngữ Malay-Polynesia , sống trên khắp Đông Nam Á . Đa số người Ê Đê ngày nay là tín đồ Tin Lành - một tôn giáo du nhập hòa trộn nhiều thành phần tín ngưỡng dân gian bản địa, và người Êđê không có tục thờ cúng tổ tiên. Người Êđê thường có bề ngoài điển hình của người Đông Nam Á , trông gần giống người hải đảo Indonesia , Philippines và Malaysia . Tuy nhiên, người Ê Đê không thuần chủng, bề ngoài có nhiều nét khác nhau, đó là do kết quả của nhiều thế kỉ pha trộn với người Ấn Độ xa xưa, người M'nông thuộc ngôn ngữ Môn-Khmer , người Pháp thời thuộc địa, và người Việt .
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "6Đôi nét về nhân chủng",
"section": "6Đôi nét về nhân chủng",
"topic": "6Đôi nét về nhân chủng"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 7Nhà cửa
Context: 7Nhà cửa
Content: Tư liệu liên quan tới Nhà người Ê Đê tại Wikimedia Commons Tộc người Êđê vốn thuộc nhóm cư dân ngôn ngữ Malay-Polynesia , có nguồn gốc lâu đời từ vùng biển. Mặc dù đã chuyển cư vào miền trung Việt Nam hàng ngàn năm trước, và di cư lên Tây Nguyên khoảng sớm nhất vào cuối thế kỷ VIII đến thế kỷ XV nhưng trong sâu thẳm văn hóa của người Êđê, bến nước và con thuyền là những hình ảnh chưa hề phai nhạt. Nhà sàn Êđê có hình con thuyền dài, cửa chính mở phía trái nhà, cửa sổ mở ra phía hông. Bên trong nhà có trần gỗ hình vòm giống hệt mui thuyền. Có nhiều buôn Êđê trù phú với hàng trăm ngôi nhà dài trông như một hạm đội thuyền Nam Đảo đang rẽ sóng giữa thế giới biển đảo, đây là nét đặc trưng có hầu hết ở các tộc người nói tiếng Mã Lai. Nhà người Ê Đê thuộc loại hình nhà dài sàn thấp, thường dài từ 15 đến hơn 100 m tùy theo gia đình nhiều người hay ít người. Nhà Ê Đê có những đặc trưng riêng không giống nhà của các cư dân khác ở Tây Nguyên. Là nhà của gia đình lớn theo chế độ mẫu hệ . Bộ khung
|
Tư liệu liên quan tới Nhà người Ê Đê tại Wikimedia Commons Tộc người Êđê vốn thuộc nhóm cư dân ngôn ngữ Malay-Polynesia , có nguồn gốc lâu đời từ vùng biển. Mặc dù đã chuyển cư vào miền trung Việt Nam hàng ngàn năm trước, và di cư lên Tây Nguyên khoảng sớm nhất vào cuối thế kỷ VIII đến thế kỷ XV nhưng trong sâu thẳm văn hóa của người Êđê, bến nước và con thuyền là những hình ảnh chưa hề phai nhạt. Nhà sàn Êđê có hình con thuyền dài, cửa chính mở phía trái nhà, cửa sổ mở ra phía hông. Bên trong nhà có trần gỗ hình vòm giống hệt mui thuyền. Có nhiều buôn Êđê trù phú với hàng trăm ngôi nhà dài trông như một hạm đội thuyền Nam Đảo đang rẽ sóng giữa thế giới biển đảo, đây là nét đặc trưng có hầu hết ở các tộc người nói tiếng Mã Lai. Nhà người Ê Đê thuộc loại hình nhà dài sàn thấp, thường dài từ 15 đến hơn 100 m tùy theo gia đình nhiều người hay ít người. Nhà Ê Đê có những đặc trưng riêng không giống nhà của các cư dân khác ở Tây Nguyên. Là nhà của gia đình lớn theo chế độ mẫu hệ . Bộ khung
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "7Nhà cửa",
"section": "7Nhà cửa",
"topic": "7Nhà cửa"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 7Nhà cửa
Context: 7Nhà cửa
Content: ừ 15 đến hơn 100 m tùy theo gia đình nhiều người hay ít người. Nhà Ê Đê có những đặc trưng riêng không giống nhà của các cư dân khác ở Tây Nguyên. Là nhà của gia đình lớn theo chế độ mẫu hệ . Bộ khung kết cấu đơn giản. Cái được coi là đặc trưng của nhà Ê Đê là: hình thức của cầu thang, cột sàn và cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt. Đặc biệt là ở hai phần. Nửa đằng cửa chính gọi là Gah là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung của cả nhà dài, bếp chủ, ghế khách, ghế chủ, ghế dài (Kpan) (tới 20 m), chiêng ché,... nửa còn lại gọi là Ôk là bếp đặt chỗ nấu ăn chung và là chỗ ở của các đôi vợ chồng, chia đôi theo chiều dọc, phần về bên trái được coi là "trên" chia thành nhiều gian nhỏ. Phần về bên phải là hành lang để đi lại, về phía cuối là nơi đặt bếp. Mỗi đầu nhà có một sân sàn. Sân sàn ở phía cửa chính được gọi là sân khách. Muốn vào nhà phải qua sân sàn. Nhà càng khá giả thì sân khách càng rộng, khang trang.
|
ừ 15 đến hơn 100 m tùy theo gia đình nhiều người hay ít người. Nhà Ê Đê có những đặc trưng riêng không giống nhà của các cư dân khác ở Tây Nguyên. Là nhà của gia đình lớn theo chế độ mẫu hệ . Bộ khung kết cấu đơn giản. Cái được coi là đặc trưng của nhà Ê Đê là: hình thức của cầu thang, cột sàn và cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt. Đặc biệt là ở hai phần. Nửa đằng cửa chính gọi là Gah là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung của cả nhà dài, bếp chủ, ghế khách, ghế chủ, ghế dài (Kpan) (tới 20 m), chiêng ché,... nửa còn lại gọi là Ôk là bếp đặt chỗ nấu ăn chung và là chỗ ở của các đôi vợ chồng, chia đôi theo chiều dọc, phần về bên trái được coi là "trên" chia thành nhiều gian nhỏ. Phần về bên phải là hành lang để đi lại, về phía cuối là nơi đặt bếp. Mỗi đầu nhà có một sân sàn. Sân sàn ở phía cửa chính được gọi là sân khách. Muốn vào nhà phải qua sân sàn. Nhà càng khá giả thì sân khách càng rộng, khang trang.
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "7Nhà cửa",
"section": "7Nhà cửa",
"topic": "7Nhà cửa"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 8Trang phục
Context: 8Trang phục
Content: Có đầy đủ các thành phần, chủng loại trang phục và phong cách thẩm mỹ khá tiêu biểu cho các dân tộc khu vực Tây Nguyên . Y phục cổ truyền của người Êđê là màu đen, có điểm những hoa văn sặc sỡ. Đàn bà trùm khăn lên đầu, mặc áo, quấn váy (iêng). Người Đàn ông Êđê (Radaya) ngày xưa phân biệt rất rõ về địa vị, ngoài trang phục cổ truyền gồm có Ao Kiêr Nut (áo liền nút), khố kteh và đầu quấn khăn (Păn Ka-Ưm) được binh lính và nông dân tầng lớp thấp mặc, thì các thủ lĩnh (Krung) hay quý tộc Êđê (Radaya) thường mặc Čhum Kpin. Người Êđê ưa dùng các đồ trang sức bằng bạc , đồng , hạt cườm. Trước kia, tục cà răng quy định mọi người đều cắt cụt 6 chiếc răng cửa hàm trên, nhưng lớp trẻ ngày nay không cà răng nữa.
|
Có đầy đủ các thành phần, chủng loại trang phục và phong cách thẩm mỹ khá tiêu biểu cho các dân tộc khu vực Tây Nguyên . Y phục cổ truyền của người Êđê là màu đen, có điểm những hoa văn sặc sỡ. Đàn bà trùm khăn lên đầu, mặc áo, quấn váy (iêng). Người Đàn ông Êđê (Radaya) ngày xưa phân biệt rất rõ về địa vị, ngoài trang phục cổ truyền gồm có Ao Kiêr Nut (áo liền nút), khố kteh và đầu quấn khăn (Păn Ka-Ưm) được binh lính và nông dân tầng lớp thấp mặc, thì các thủ lĩnh (Krung) hay quý tộc Êđê (Radaya) thường mặc Čhum Kpin. Người Êđê ưa dùng các đồ trang sức bằng bạc , đồng , hạt cườm. Trước kia, tục cà răng quy định mọi người đều cắt cụt 6 chiếc răng cửa hàm trên, nhưng lớp trẻ ngày nay không cà răng nữa.
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "8Trang phục",
"section": "8Trang phục",
"topic": "8Trang phục"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 8.1Trang phục nam
Context: 8.1Trang phục nam
Content: Nam để tóc ngắn quấn khăn màu đen nhiều vòng trên đầu và đeo sbay trong dịp lễ. Y phục truyền thống gồm áo và khố . Áo có hai loại cơ bản: Loại áo dài trùm mông: Đây là loại áo khá tiêu biểu cho người Êđê qua trang phục nam, có tay áo dài, thân áo cũng dài trùm mông, có xẻ tả và khoét cổ chui đầu. Trên nền chàm của thân và ống tay áo ở ngực, hai bên bả vai, cửa tay, các đường viền cổ, nơi xẻ tà gấu áo được trang trí và viền vải đỏ, trắng. Đặc biệt là khu giữa ngực áo có mảng sọc ngang trong bố cục hình chữ nhật tạo vẻ đẹp, khỏe, lực lãm. Loại áo dài quá gối: Đây là loại áo dài quá gối, có khoét cổ, ống tay bình thường không trang trí như loại áo dài trùm mông nói trên,... Khố có hai loại cơ bản: Khố (Kpin): chủ yếu được dùng cho binh lính và nông dân tầng lớp thấp mặc. Khố này có nhiều loại và được phân biệt ở sự ngắn dài có trang trí hoa văn như thế nào. Đẹp nhất là các loại ktêh, drai, đrêch, piêk, còn các loại bong và băl là loại khố thường. Khố quần (čhum kpin): được dùng cho
|
Nam để tóc ngắn quấn khăn màu đen nhiều vòng trên đầu và đeo sbay trong dịp lễ. Y phục truyền thống gồm áo và khố . Áo có hai loại cơ bản: Loại áo dài trùm mông: Đây là loại áo khá tiêu biểu cho người Êđê qua trang phục nam, có tay áo dài, thân áo cũng dài trùm mông, có xẻ tả và khoét cổ chui đầu. Trên nền chàm của thân và ống tay áo ở ngực, hai bên bả vai, cửa tay, các đường viền cổ, nơi xẻ tà gấu áo được trang trí và viền vải đỏ, trắng. Đặc biệt là khu giữa ngực áo có mảng sọc ngang trong bố cục hình chữ nhật tạo vẻ đẹp, khỏe, lực lãm. Loại áo dài quá gối: Đây là loại áo dài quá gối, có khoét cổ, ống tay bình thường không trang trí như loại áo dài trùm mông nói trên,... Khố có hai loại cơ bản: Khố (Kpin): chủ yếu được dùng cho binh lính và nông dân tầng lớp thấp mặc. Khố này có nhiều loại và được phân biệt ở sự ngắn dài có trang trí hoa văn như thế nào. Đẹp nhất là các loại ktêh, drai, đrêch, piêk, còn các loại bong và băl là loại khố thường. Khố quần (čhum kpin): được dùng cho
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "8.1Trang phục nam",
"section": "8.1Trang phục nam",
"topic": "8.1Trang phục nam"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 8.1Trang phục nam
Context: 8.1Trang phục nam
Content: ều loại và được phân biệt ở sự ngắn dài có trang trí hoa văn như thế nào. Đẹp nhất là các loại ktêh, drai, đrêch, piêk, còn các loại bong và băl là loại khố thường. Khố quần (čhum kpin): được dùng cho tướng lĩnh và các nhà quý tộc danh giá. Khố quần gồm có ba màu chủ đạo, màu đen, đỏ và xanh. - Đen: tượng trưng cho đất - Đỏ: tượng trưng cho những nhà giàu quý tộc làm quan. - Xanh: tượng trưng cho núi và rừng Áo thường ngày ít có hoa văn , bên cạnh các loại áo trên còn có loại áo cộc tay đến khủy, hoặc không tay. Áo có giá trị nhất là loại áo Ktêh của những người quyền quý có dải hoa văn "đại bàng dang cánh", ở dọc hai bên nách, gấu áo phía sau lưng có đính hạt cườm. Nam giới cũng mang hoa tai và vòng cổ.
|
ều loại và được phân biệt ở sự ngắn dài có trang trí hoa văn như thế nào. Đẹp nhất là các loại ktêh, drai, đrêch, piêk, còn các loại bong và băl là loại khố thường. Khố quần (čhum kpin): được dùng cho tướng lĩnh và các nhà quý tộc danh giá. Khố quần gồm có ba màu chủ đạo, màu đen, đỏ và xanh. - Đen: tượng trưng cho đất - Đỏ: tượng trưng cho những nhà giàu quý tộc làm quan. - Xanh: tượng trưng cho núi và rừng Áo thường ngày ít có hoa văn , bên cạnh các loại áo trên còn có loại áo cộc tay đến khủy, hoặc không tay. Áo có giá trị nhất là loại áo Ktêh của những người quyền quý có dải hoa văn "đại bàng dang cánh", ở dọc hai bên nách, gấu áo phía sau lưng có đính hạt cườm. Nam giới cũng mang hoa tai và vòng cổ.
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "8.1Trang phục nam",
"section": "8.1Trang phục nam",
"topic": "8.1Trang phục nam"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 8.2Trang phục nữ
Context: 8.2Trang phục nữ
Content: Phụ nữ Êđê để tóc dài buộc ra sau gáy hoặc trùm khăn lên đầu. Họ mang áo váy trong trang phục thường nhật . Xưa họ để tóc theo kiểu búi tó và đội nón duôn bai. Họ mang đồ trang sức bằng bạc hoặc đồng. Vòng tay thường đeo thành bộ kép nghe tiếng va chạm của chúng vào nhau họ có thể nhận ra người quen, thân. Áo: Áo phụ nữ là loại áo ngắn dài tay, khoét cổ (loại cổ thấp hình thuyền ) mặc kiểu chui đầu. Thân áo dài đến mông khi mặc cho ra ngoài váy. Trên nền áo màu chàm thẫm các bộ phận được trang trí là: cổ áo lan sang hai bên bả vai xuống giữa cánh tay, cửa tay áo, gấu áo. Đó là các đường viền kết hợp với các dải hoa văn nhỏ bằng sợi màu đỏ, trắng, vàng. Cái khác của trang phục áo nữ Êđê khác Gia Rai về phong cách trang trí là không có đường ở giữa thân áo. Đếch là tên gọi mảng hoa văn chính ở gấu áo. Ngoài ra phụ nữ còn có áo lót cộc tay (áo yếm). Váy: Đi cùng với áo của phụ nữ Êđê là chiếc váy mở (tấm vải rộng làm váy) quấn quanh thân. Cũng trên nền chàm, váy được gia công trang trí
|
Phụ nữ Êđê để tóc dài buộc ra sau gáy hoặc trùm khăn lên đầu. Họ mang áo váy trong trang phục thường nhật . Xưa họ để tóc theo kiểu búi tó và đội nón duôn bai. Họ mang đồ trang sức bằng bạc hoặc đồng. Vòng tay thường đeo thành bộ kép nghe tiếng va chạm của chúng vào nhau họ có thể nhận ra người quen, thân. Áo: Áo phụ nữ là loại áo ngắn dài tay, khoét cổ (loại cổ thấp hình thuyền ) mặc kiểu chui đầu. Thân áo dài đến mông khi mặc cho ra ngoài váy. Trên nền áo màu chàm thẫm các bộ phận được trang trí là: cổ áo lan sang hai bên bả vai xuống giữa cánh tay, cửa tay áo, gấu áo. Đó là các đường viền kết hợp với các dải hoa văn nhỏ bằng sợi màu đỏ, trắng, vàng. Cái khác của trang phục áo nữ Êđê khác Gia Rai về phong cách trang trí là không có đường ở giữa thân áo. Đếch là tên gọi mảng hoa văn chính ở gấu áo. Ngoài ra phụ nữ còn có áo lót cộc tay (áo yếm). Váy: Đi cùng với áo của phụ nữ Êđê là chiếc váy mở (tấm vải rộng làm váy) quấn quanh thân. Cũng trên nền chàm, váy được gia công trang trí
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "8.2Trang phục nữ",
"section": "8.2Trang phục nữ",
"topic": "8.2Trang phục nữ"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 8.2Trang phục nữ
Context: 8.2Trang phục nữ
Content: ính ở gấu áo. Ngoài ra phụ nữ còn có áo lót cộc tay (áo yếm). Váy: Đi cùng với áo của phụ nữ Êđê là chiếc váy mở (tấm vải rộng làm váy) quấn quanh thân. Cũng trên nền chàm, váy được gia công trang trí các sọc nằm ngang ở mép trên, mép dưới và giữa thân bằng chỉ các màu tương tự như áo. Đồ án trang trí tập trung hơn ở mép trên và dưới thân váy. Có thể đây cũng là phong cách hơi khác với váy của dân tộc Gia Rai. Váy có nhiều loại phân biệt ở các dải hoa văn gia công nhiều hay ít. Váy loại tốt là m'iêng đếch, rồi đến m'iêng drai, m'iêng piơk. Loại bình thường mặc đi làm rẫy là bong. Hiện nay nữ thanh niên thường mặc váy kín. Khăn: Có 2 loại khăn. 1. Khăn trùm đầu: được chọn các loại vải mềm và cuốn lên đầu, tùy theo màu vải sở thích của cá nhân. 2. Khăn lah (Sbay): được đeo trên các dịp lễ bên vai, được làm băng tâm vải rộng khoảng 20mm, dài tùy theo sở thích hợp với mình.
|
ính ở gấu áo. Ngoài ra phụ nữ còn có áo lót cộc tay (áo yếm). Váy: Đi cùng với áo của phụ nữ Êđê là chiếc váy mở (tấm vải rộng làm váy) quấn quanh thân. Cũng trên nền chàm, váy được gia công trang trí các sọc nằm ngang ở mép trên, mép dưới và giữa thân bằng chỉ các màu tương tự như áo. Đồ án trang trí tập trung hơn ở mép trên và dưới thân váy. Có thể đây cũng là phong cách hơi khác với váy của dân tộc Gia Rai. Váy có nhiều loại phân biệt ở các dải hoa văn gia công nhiều hay ít. Váy loại tốt là m'iêng đếch, rồi đến m'iêng drai, m'iêng piơk. Loại bình thường mặc đi làm rẫy là bong. Hiện nay nữ thanh niên thường mặc váy kín. Khăn: Có 2 loại khăn. 1. Khăn trùm đầu: được chọn các loại vải mềm và cuốn lên đầu, tùy theo màu vải sở thích của cá nhân. 2. Khăn lah (Sbay): được đeo trên các dịp lễ bên vai, được làm băng tâm vải rộng khoảng 20mm, dài tùy theo sở thích hợp với mình.
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "8.2Trang phục nữ",
"section": "8.2Trang phục nữ",
"topic": "8.2Trang phục nữ"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 9.1So sánh Lịch pháp Ê-đê với các lịch pháp Công Lịch
Context: 9.1So sánh Lịch pháp Ê-đê với các lịch pháp Công Lịch
Content: Lịch thứ tiếng Ê-đê Lịch thứ Hebrew (Do Thái giáo) Lịch thứ tiếng Việt Lịch thứ tiếng Anh Hruê 1 (SA) Yom Rishon (1) – יום ראשו Thứ 2 (HAI) Monday (2-DAY) Hruê 2(DUA) Yom Sheni (2) – יום שני Thứ 3(BA) Tuesday (3-DAY) Hruê 3 (T'LÂO) Yom Shlishi (3)– יום שלישי Thứ 4 (TƯ) Wednesday (4-DAY) Hruê 4 (PĂ) Yom Reviʻi (4) – יום רביעי Thứ 5 (NĂM) Thursday (5-DAY) Hruê 5 (ÊMA) Yom Chamishi (5) – יום חמישי Thứ 6 (SÁU) Friday (6-DAY) Hruê 6 (NĂM) Yom Shishi (6) – יום ששי Thứ 7 (BẢY) Saturday (7-DAY) Hruê 7 (KJUH) (SABAT) Yom Shabbat (7) – יום שבת Chủ nhật Sunday (1-FIRST DAY) Người Êđê coi số 7 là con số linh thiêng, và con số tận trong hàng đơn vị tiếng Ê-Đê cùng sau con số 7 đều là những số ghép. Người Êđê theo Tin Lành thờ phượng đúng vào ngày Thứ 7 mà họ gọi là (Hrue Sabbath): Ngày Nghỉ ngơi - Trùng vào ngày Chủ nhật (Sunday) trong Công lịch. Những ngày này đa số tín đồ thường kiêng không làm việc nương rẫy hay lao động chân tay khác. Đạo Tin Lành truyền thống của người Êđê đã Tin lành hóa
|
Lịch thứ tiếng Ê-đê Lịch thứ Hebrew (Do Thái giáo) Lịch thứ tiếng Việt Lịch thứ tiếng Anh Hruê 1 (SA) Yom Rishon (1) – יום ראשו Thứ 2 (HAI) Monday (2-DAY) Hruê 2(DUA) Yom Sheni (2) – יום שני Thứ 3(BA) Tuesday (3-DAY) Hruê 3 (T'LÂO) Yom Shlishi (3)– יום שלישי Thứ 4 (TƯ) Wednesday (4-DAY) Hruê 4 (PĂ) Yom Reviʻi (4) – יום רביעי Thứ 5 (NĂM) Thursday (5-DAY) Hruê 5 (ÊMA) Yom Chamishi (5) – יום חמישי Thứ 6 (SÁU) Friday (6-DAY) Hruê 6 (NĂM) Yom Shishi (6) – יום ששי Thứ 7 (BẢY) Saturday (7-DAY) Hruê 7 (KJUH) (SABAT) Yom Shabbat (7) – יום שבת Chủ nhật Sunday (1-FIRST DAY) Người Êđê coi số 7 là con số linh thiêng, và con số tận trong hàng đơn vị tiếng Ê-Đê cùng sau con số 7 đều là những số ghép. Người Êđê theo Tin Lành thờ phượng đúng vào ngày Thứ 7 mà họ gọi là (Hrue Sabbath): Ngày Nghỉ ngơi - Trùng vào ngày Chủ nhật (Sunday) trong Công lịch. Những ngày này đa số tín đồ thường kiêng không làm việc nương rẫy hay lao động chân tay khác. Đạo Tin Lành truyền thống của người Êđê đã Tin lành hóa
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "9.1So sánh Lịch pháp Ê-đê với các lịch pháp Công Lịch",
"section": "9.1So sánh Lịch pháp Ê-đê với các lịch pháp Công Lịch",
"topic": "9.1So sánh Lịch pháp Ê-đê với các lịch pháp Công Lịch"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 9.1So sánh Lịch pháp Ê-đê với các lịch pháp Công Lịch
Context: 9.1So sánh Lịch pháp Ê-đê với các lịch pháp Công Lịch
Content: Trùng vào ngày Chủ nhật (Sunday) trong Công lịch. Những ngày này đa số tín đồ thường kiêng không làm việc nương rẫy hay lao động chân tay khác. Đạo Tin Lành truyền thống của người Êđê đã Tin lành hóa nhiều tín ngưỡng bản địa với nhiều quy tắc kiêng cự khá nghiêm ngặt: Cấm hôn nhân ngoại giáo, không ăn thịt động vật chết hay thú vật cắn, không ăn thực phẩm liên quan cúng tế ngoại giáo, cấm thờ ảnh tượng, không ăn huyết động vật và những thức ăn chế biến từ huyết động vật, cấm dùng đồ uống có men như rượu, bia và thuốc lá, đưa tang ma vào lúc 9 giờ buổi sáng theo quan niệm phải mặt trời (ánh bình minh) chiếu xuống huyệt góc 60 độ về hướng Tây (?)...
|
Trùng vào ngày Chủ nhật (Sunday) trong Công lịch. Những ngày này đa số tín đồ thường kiêng không làm việc nương rẫy hay lao động chân tay khác. Đạo Tin Lành truyền thống của người Êđê đã Tin lành hóa nhiều tín ngưỡng bản địa với nhiều quy tắc kiêng cự khá nghiêm ngặt: Cấm hôn nhân ngoại giáo, không ăn thịt động vật chết hay thú vật cắn, không ăn thực phẩm liên quan cúng tế ngoại giáo, cấm thờ ảnh tượng, không ăn huyết động vật và những thức ăn chế biến từ huyết động vật, cấm dùng đồ uống có men như rượu, bia và thuốc lá, đưa tang ma vào lúc 9 giờ buổi sáng theo quan niệm phải mặt trời (ánh bình minh) chiếu xuống huyệt góc 60 độ về hướng Tây (?)...
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "9.1So sánh Lịch pháp Ê-đê với các lịch pháp Công Lịch",
"section": "9.1So sánh Lịch pháp Ê-đê với các lịch pháp Công Lịch",
"topic": "9.1So sánh Lịch pháp Ê-đê với các lịch pháp Công Lịch"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 9.2Tên họ người Êđê
Context: 9.2Tên họ người Êđê
Content: Bài chi tiết: Tên người Ê Đê
|
Bài chi tiết: Tên người Ê Đê
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "9.2Tên họ người Êđê",
"section": "9.2Tên họ người Êđê",
"topic": "9.2Tên họ người Êđê"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 9.2Tên họ người Êđê
Context: 9.2Tên họ người Êđê (Bài chi tiết: Tên người Ê Đê) > Introduction
Content: Tên người Ê Đê được theo cấu trúc tên trước, họ sau. Nguyên thủy xa xưa, người Ê Đê (Radaya) cũng như nhiều tộc người khác trên thế giới, không có họ riêng. Thông thường họ dùng từ Dam (nghĩa là Chàng ) để đệm cho Nam giới như Dam Săn, Dam Điêt, Dam Bhu, Dam Păr Kuê, Dam Yi, Dam Rông, Dam Jŭ... và Hơbia (nghĩa là Nàng ) để đệm cho Nữ giới như HơBia Blao, HơBia Jŭ, HơBia Drah Hjan. Như hầu hết dân tộc trên thế giới, họ của người Ê Đê cũng hình thành từ sự phân rã các bộ tộc. Ở thời kỳ hiện đại, họ của người Ê Đê có liên quan mật thiết với họ của người J'rai do quá trình gắn bó mật thiết lâu đời của 2 dân tộc này như Niê (Nai, Nay), Buôn Yă, B.Yă (Kpă), Mlô (R'), Êban (Rhlan, Rbăm), Ksơr (Ksor), Êčăm (Rčăm, Rčom), Kbuôr (Puih, Kpuih, Kbor), Adrơ̆ng (Ajrơ̆ng)… Ngày nay, người Ê Đê đã hình thành rất nhiều họ khác nhau, tuy nhiên, có 2 dòng họ chính là Niê và Mlô, cùng nhiều phân họ kép hình thành từ 2 dòng họ này. Người Ê Đê cũng là tộc người duy nhất ở Việt Nam đặt tên theo cấu trúc tên
|
Tên người Ê Đê được theo cấu trúc tên trước, họ sau. Nguyên thủy xa xưa, người Ê Đê (Radaya) cũng như nhiều tộc người khác trên thế giới, không có họ riêng. Thông thường họ dùng từ Dam (nghĩa là Chàng ) để đệm cho Nam giới như Dam Săn, Dam Điêt, Dam Bhu, Dam Păr Kuê, Dam Yi, Dam Rông, Dam Jŭ... và Hơbia (nghĩa là Nàng ) để đệm cho Nữ giới như HơBia Blao, HơBia Jŭ, HơBia Drah Hjan. Như hầu hết dân tộc trên thế giới, họ của người Ê Đê cũng hình thành từ sự phân rã các bộ tộc. Ở thời kỳ hiện đại, họ của người Ê Đê có liên quan mật thiết với họ của người J'rai do quá trình gắn bó mật thiết lâu đời của 2 dân tộc này như Niê (Nai, Nay), Buôn Yă, B.Yă (Kpă), Mlô (R'), Êban (Rhlan, Rbăm), Ksơr (Ksor), Êčăm (Rčăm, Rčom), Kbuôr (Puih, Kpuih, Kbor), Adrơ̆ng (Ajrơ̆ng)… Ngày nay, người Ê Đê đã hình thành rất nhiều họ khác nhau, tuy nhiên, có 2 dòng họ chính là Niê và Mlô, cùng nhiều phân họ kép hình thành từ 2 dòng họ này. Người Ê Đê cũng là tộc người duy nhất ở Việt Nam đặt tên theo cấu trúc tên
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 2,
"path": "9.2Tên họ người Êđê (Bài chi tiết: Tên người Ê Đê) > Introduction",
"section": "Introduction",
"topic": "9.2Tên họ người Êđê"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 9.2Tên họ người Êđê
Context: 9.2Tên họ người Êđê (Bài chi tiết: Tên người Ê Đê) > Introduction
Content: hành rất nhiều họ khác nhau, tuy nhiên, có 2 dòng họ chính là Niê và Mlô, cùng nhiều phân họ kép hình thành từ 2 dòng họ này. Người Ê Đê cũng là tộc người duy nhất ở Việt Nam đặt tên theo cấu trúc tên trước, họ sau, có thể là kết quả ảnh hưởng của văn hóa Pháp. Người Ê Đê thường đặt tên theo cấu trúc như sau: Với Nữ giới, người Ê-đê sẽ đệm chữ "H'", bắt nguồn từ chữ "Hubaya sri devi" trong tiếng Phạn Ấn Độ có nghĩa là "các Nàng", sau này rút âm gọn thành "Hơ-Bia" để chỉ các phụ nữ có địa vị cao sang chưa kết hôn, Chữ "Hơ Bia" sau này được Y Jut và Y Ut viết gọn thành "H'" để đệm cho tên nữ Ê-Đê như là một điều bẳt buộc. Ví dụ như: H'Maryam Niê , H'Či Êban . Với Nam giới: Vào đầu thế kỷ 20, Y Jut đã tiến hành cải cách lối đặt đệm tên họ cho người Ê Đê bằng cách dùng chữ cái đầu là chữ "Y-", là danh xưng Thượng đế Y-HWH (Thiên Chúa Giê-Hô-Va hay Gia-Vê), để đệm tên lót cho tất cả người nam, thay thế hẳn lối đặt tên chịu ảnh hưởng từ phong kiến Champa và Java (Indonesia) mang nhiều màu
|
hành rất nhiều họ khác nhau, tuy nhiên, có 2 dòng họ chính là Niê và Mlô, cùng nhiều phân họ kép hình thành từ 2 dòng họ này. Người Ê Đê cũng là tộc người duy nhất ở Việt Nam đặt tên theo cấu trúc tên trước, họ sau, có thể là kết quả ảnh hưởng của văn hóa Pháp. Người Ê Đê thường đặt tên theo cấu trúc như sau: Với Nữ giới, người Ê-đê sẽ đệm chữ "H'", bắt nguồn từ chữ "Hubaya sri devi" trong tiếng Phạn Ấn Độ có nghĩa là "các Nàng", sau này rút âm gọn thành "Hơ-Bia" để chỉ các phụ nữ có địa vị cao sang chưa kết hôn, Chữ "Hơ Bia" sau này được Y Jut và Y Ut viết gọn thành "H'" để đệm cho tên nữ Ê-Đê như là một điều bẳt buộc. Ví dụ như: H'Maryam Niê , H'Či Êban . Với Nam giới: Vào đầu thế kỷ 20, Y Jut đã tiến hành cải cách lối đặt đệm tên họ cho người Ê Đê bằng cách dùng chữ cái đầu là chữ "Y-", là danh xưng Thượng đế Y-HWH (Thiên Chúa Giê-Hô-Va hay Gia-Vê), để đệm tên lót cho tất cả người nam, thay thế hẳn lối đặt tên chịu ảnh hưởng từ phong kiến Champa và Java (Indonesia) mang nhiều màu
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 2,
"path": "9.2Tên họ người Êđê (Bài chi tiết: Tên người Ê Đê) > Introduction",
"section": "Introduction",
"topic": "9.2Tên họ người Êđê"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 9.2Tên họ người Êđê
Context: 9.2Tên họ người Êđê (Bài chi tiết: Tên người Ê Đê) > Introduction
Content: -", là danh xưng Thượng đế Y-HWH (Thiên Chúa Giê-Hô-Va hay Gia-Vê), để đệm tên lót cho tất cả người nam, thay thế hẳn lối đặt tên chịu ảnh hưởng từ phong kiến Champa và Java (Indonesia) mang nhiều màu sắc phân biệt thứ bậc, tuổi tác, địa vị rườm rà phức tạp (Dam, Hbia, Ama, Aê, Yă, Aduôn, Pô...). Hầu hết ngày nay, nam giới Ê Đê đều đệm chữ cái "Y-" từ chữ "YHWH" theo cấu trúc "(Y-)+(tên gọi) +(họ) như là một điều bắt buộc cho mọi nam giới người Ê Đê mang ý nghĩa như là đứa con của Yàng (Anak Yang Adiê). Ví dụ như: Y-Dam Săn Mlô , Y-Arol Êčăm, Y Dam Rông Buôndăp, Y-Dam Thih Hdruê. . Tuy nhiên, ngày nay người Ê Đê chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa Đạo Tin Lành, nên việc sử dụng tên Thánh đã hoàn toàn chiếm ưu thế so với cách đặt tên theo truyền thống xưa. Các tên Thánh để đặt tên theo tiếng Ê Đê. Y-Abba Y-Abel Y-Abraham Y-Abram Y-Adam Y-Arat Y-Aminadap Y-Arol Y-Atah Y-Banabas Y-Bel Y-Ben Y-Brahim Y-Buni Y-Daniel Y-Dăwit Y-Ênŏk Y-Jeremi Y-Lŭk Y-Maraki Y-Marakos Y-Mathiơ Y-Mičĕk Y-Moih
|
-", là danh xưng Thượng đế Y-HWH (Thiên Chúa Giê-Hô-Va hay Gia-Vê), để đệm tên lót cho tất cả người nam, thay thế hẳn lối đặt tên chịu ảnh hưởng từ phong kiến Champa và Java (Indonesia) mang nhiều màu sắc phân biệt thứ bậc, tuổi tác, địa vị rườm rà phức tạp (Dam, Hbia, Ama, Aê, Yă, Aduôn, Pô...). Hầu hết ngày nay, nam giới Ê Đê đều đệm chữ cái "Y-" từ chữ "YHWH" theo cấu trúc "(Y-)+(tên gọi) +(họ) như là một điều bắt buộc cho mọi nam giới người Ê Đê mang ý nghĩa như là đứa con của Yàng (Anak Yang Adiê). Ví dụ như: Y-Dam Săn Mlô , Y-Arol Êčăm, Y Dam Rông Buôndăp, Y-Dam Thih Hdruê. . Tuy nhiên, ngày nay người Ê Đê chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa Đạo Tin Lành, nên việc sử dụng tên Thánh đã hoàn toàn chiếm ưu thế so với cách đặt tên theo truyền thống xưa. Các tên Thánh để đặt tên theo tiếng Ê Đê. Y-Abba Y-Abel Y-Abraham Y-Abram Y-Adam Y-Arat Y-Aminadap Y-Arol Y-Atah Y-Banabas Y-Bel Y-Ben Y-Brahim Y-Buni Y-Daniel Y-Dăwit Y-Ênŏk Y-Jeremi Y-Lŭk Y-Maraki Y-Marakos Y-Mathiơ Y-Mičĕk Y-Moih
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 2,
"path": "9.2Tên họ người Êđê (Bài chi tiết: Tên người Ê Đê) > Introduction",
"section": "Introduction",
"topic": "9.2Tên họ người Êđê"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 9.2Tên họ người Êđê
Context: 9.2Tên họ người Êđê (Bài chi tiết: Tên người Ê Đê) > Introduction
Content: ếng Ê Đê. Y-Abba Y-Abel Y-Abraham Y-Abram Y-Adam Y-Arat Y-Aminadap Y-Arol Y-Atah Y-Banabas Y-Bel Y-Ben Y-Brahim Y-Buni Y-Daniel Y-Dăwit Y-Ênŏk Y-Jeremi Y-Lŭk Y-Maraki Y-Marakos Y-Mathiơ Y-Mičĕk Y-Moih Y-Nab Y-Nehemi Y-Petros Y-Phierơ Y-Sačê Y-Samuel Y-Tesolinika Y-Tid Y-Yôhan Y-Yôsep Y-Yôsuê Ðối với tên Nữ H'Mari H'Rut H'Ðêbora H'Madalen H'Maryam H'Rêbeka H'Ê-Wa H'An-na Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ người Ê Đê vẫn duy trì việc đặt tên theo nhân vật trong các tác phẩm sử thi như H'Bia, H'Ñĭ, H'Bhĭ, Y-Dam Săn, Y-Dam Yi, Y-Dam Rông,...
|
ếng Ê Đê. Y-Abba Y-Abel Y-Abraham Y-Abram Y-Adam Y-Arat Y-Aminadap Y-Arol Y-Atah Y-Banabas Y-Bel Y-Ben Y-Brahim Y-Buni Y-Daniel Y-Dăwit Y-Ênŏk Y-Jeremi Y-Lŭk Y-Maraki Y-Marakos Y-Mathiơ Y-Mičĕk Y-Moih Y-Nab Y-Nehemi Y-Petros Y-Phierơ Y-Sačê Y-Samuel Y-Tesolinika Y-Tid Y-Yôhan Y-Yôsep Y-Yôsuê Ðối với tên Nữ H'Mari H'Rut H'Ðêbora H'Madalen H'Maryam H'Rêbeka H'Ê-Wa H'An-na Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ người Ê Đê vẫn duy trì việc đặt tên theo nhân vật trong các tác phẩm sử thi như H'Bia, H'Ñĭ, H'Bhĭ, Y-Dam Săn, Y-Dam Yi, Y-Dam Rông,...
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 2,
"path": "9.2Tên họ người Êđê (Bài chi tiết: Tên người Ê Đê) > Introduction",
"section": "Introduction",
"topic": "9.2Tên họ người Êđê"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 9.3Chữ viết
Context: 9.3Chữ viết
Content: Trước khi người Pháp đặt chân lên Tây Nguyên (Đêga), người Êđê đã có chữ viết riêng theo lối văn tự Pali- Sancrit của Ấn Độ mà người Êđê gọi là " Boh hră", có thể là một trong những loại dạng kiểu chữ viết cong của người Champa , loại chữ Sancrit này được viết trên giấy da " mơar klĭt", hay trên lá cọ khô "Hla guôl", loại chữ này hoàn toàn thất truyền sau năm 1954 bởi chính sách Việt hóa và cấm dậy ngôn ngữ bản địa dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, những văn bản bằng chữ Êđê cổ cuối cùng bị chính quyền Ngô Đình Diệm thiêu huỷ hoàn toàn. Trong thời gian cai trị của người Pháp, chính quyền thuộc địa đã cổ vũ sử dụng chữ viết theo mẫu tự Latin do 2 thầy giáo Y-Ut và Y-Jut sáng tạo ra vào khoảng những năm đầu thế kỷ XX. Mục đích chủ yếu là nhằm phục vụ giáo dục. Trong khi người theo Công giáo và Tin Lành dùng nó để ghi chép Kinh Thánh và Gia Phả. So với các dân tộc ít người khác tại Việt Nam, người Ê Đê là sắc dân có chữ viết theo bảng chữ cái La tinh khá
|
Trước khi người Pháp đặt chân lên Tây Nguyên (Đêga), người Êđê đã có chữ viết riêng theo lối văn tự Pali- Sancrit của Ấn Độ mà người Êđê gọi là " Boh hră", có thể là một trong những loại dạng kiểu chữ viết cong của người Champa , loại chữ Sancrit này được viết trên giấy da " mơar klĭt", hay trên lá cọ khô "Hla guôl", loại chữ này hoàn toàn thất truyền sau năm 1954 bởi chính sách Việt hóa và cấm dậy ngôn ngữ bản địa dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, những văn bản bằng chữ Êđê cổ cuối cùng bị chính quyền Ngô Đình Diệm thiêu huỷ hoàn toàn. Trong thời gian cai trị của người Pháp, chính quyền thuộc địa đã cổ vũ sử dụng chữ viết theo mẫu tự Latin do 2 thầy giáo Y-Ut và Y-Jut sáng tạo ra vào khoảng những năm đầu thế kỷ XX. Mục đích chủ yếu là nhằm phục vụ giáo dục. Trong khi người theo Công giáo và Tin Lành dùng nó để ghi chép Kinh Thánh và Gia Phả. So với các dân tộc ít người khác tại Việt Nam, người Ê Đê là sắc dân có chữ viết theo bảng chữ cái La tinh khá
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "9.3Chữ viết",
"section": "9.3Chữ viết",
"topic": "9.3Chữ viết"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 9.3Chữ viết
Context: 9.3Chữ viết
Content: ục. Trong khi người theo Công giáo và Tin Lành dùng nó để ghi chép Kinh Thánh và Gia Phả. So với các dân tộc ít người khác tại Việt Nam, người Ê Đê là sắc dân có chữ viết theo bảng chữ cái La tinh khá sớm, người Ê Đê có chữ viết từ thập niên 1920. Các nhà truyền giáo Tin Lành đã phối hợp với các chuyên viên ngôn ngữ học tại Viện Ngôn ngữ học Mùa hè đặt chữ viết cho người Ê Đê để dịch Kinh Thánh cho dân tộc này. Năm 1971, các chuyên viên này phối hợp với Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa phát hành sách dạy tiếng Ê Đê. Năm 1979, sách dạy ngữ vựng Ê Đê được xuất bản tại Hoa Kỳ . Kinh Thánh Tân Ước song ngữ Ê Đê - Việt phát hành năm 2001. Năm 2006, Nhà xuất bản Tôn giáo của chính phủ Việt Nam, với sự hỗ trợ của United Bible Societies, đã phát hành 20 ngàn cuốn Kinh Thánh Tân Ước song ngữ Ê Đê - Việt tại Việt Nam. Đây là cuốn sách có số lượng phát hành nhiều nhất trong tiếng Ê Đê từ trước đến nay.
|
ục. Trong khi người theo Công giáo và Tin Lành dùng nó để ghi chép Kinh Thánh và Gia Phả. So với các dân tộc ít người khác tại Việt Nam, người Ê Đê là sắc dân có chữ viết theo bảng chữ cái La tinh khá sớm, người Ê Đê có chữ viết từ thập niên 1920. Các nhà truyền giáo Tin Lành đã phối hợp với các chuyên viên ngôn ngữ học tại Viện Ngôn ngữ học Mùa hè đặt chữ viết cho người Ê Đê để dịch Kinh Thánh cho dân tộc này. Năm 1971, các chuyên viên này phối hợp với Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa phát hành sách dạy tiếng Ê Đê. Năm 1979, sách dạy ngữ vựng Ê Đê được xuất bản tại Hoa Kỳ . Kinh Thánh Tân Ước song ngữ Ê Đê - Việt phát hành năm 2001. Năm 2006, Nhà xuất bản Tôn giáo của chính phủ Việt Nam, với sự hỗ trợ của United Bible Societies, đã phát hành 20 ngàn cuốn Kinh Thánh Tân Ước song ngữ Ê Đê - Việt tại Việt Nam. Đây là cuốn sách có số lượng phát hành nhiều nhất trong tiếng Ê Đê từ trước đến nay.
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "9.3Chữ viết",
"section": "9.3Chữ viết",
"topic": "9.3Chữ viết"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử
Context: 10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử
Content: Người Êđê và người Gia Rai vốn cùng nguồn gốc từ một tộc người Orang Đê cổ được ghi chép khá nhiều trong các bia ký Champa, Khmer,...Orang Đê có thể là nhóm mà người Êđê và Gia Rai gọi là Mdhur, trong văn hóa Mdhur có chứa đựng nhiều yếu tố văn hoá trung gian giữa người Êđê và Gia Rai. Trong văn hóa Mdhur trước kia còn tồn tại tục hỏa táng người chết và bỏ tro trong chum, ché sau đó mới mang chôn cất trong nhà mồ, đây có thể là ảnh hưởng của đạo Hindu từ người Chăm. Xét về phương diện người Mdhur là cội nguồn xuất phát của người Êđê và Gia Rai hiện đại. Trong lịch sử Orang Đê đã từng tồn tại các tiểu quốc sơ khai, với sự cai trị của các Mtao, Pơ Tao có thế lực trên một khu vực rộng lớn ở vùng người Gia Rai và Êđê. Sự hình thành các tiểu quốc nhỏ là đặc điểm thường thấy ở các tộc người Đông Nam Á: Thủy Xá - Hỏa Xá (TK XV - TK XX) là tên gọi của hai vị tiểu vương cai trị tiểu quốc Orang Đê của bộ tộc người J'rai Chor, J'rai Hdrung, Êđê Krung, Mdhur và một bộ phận Êđê Adham trên cao
|
Người Êđê và người Gia Rai vốn cùng nguồn gốc từ một tộc người Orang Đê cổ được ghi chép khá nhiều trong các bia ký Champa, Khmer,...Orang Đê có thể là nhóm mà người Êđê và Gia Rai gọi là Mdhur, trong văn hóa Mdhur có chứa đựng nhiều yếu tố văn hoá trung gian giữa người Êđê và Gia Rai. Trong văn hóa Mdhur trước kia còn tồn tại tục hỏa táng người chết và bỏ tro trong chum, ché sau đó mới mang chôn cất trong nhà mồ, đây có thể là ảnh hưởng của đạo Hindu từ người Chăm. Xét về phương diện người Mdhur là cội nguồn xuất phát của người Êđê và Gia Rai hiện đại. Trong lịch sử Orang Đê đã từng tồn tại các tiểu quốc sơ khai, với sự cai trị của các Mtao, Pơ Tao có thế lực trên một khu vực rộng lớn ở vùng người Gia Rai và Êđê. Sự hình thành các tiểu quốc nhỏ là đặc điểm thường thấy ở các tộc người Đông Nam Á: Thủy Xá - Hỏa Xá (TK XV - TK XX) là tên gọi của hai vị tiểu vương cai trị tiểu quốc Orang Đê của bộ tộc người J'rai Chor, J'rai Hdrung, Êđê Krung, Mdhur và một bộ phận Êđê Adham trên cao
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử",
"section": "10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử",
"topic": "10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử
Context: 10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử
Content: i Đông Nam Á: Thủy Xá - Hỏa Xá (TK XV - TK XX) là tên gọi của hai vị tiểu vương cai trị tiểu quốc Orang Đê của bộ tộc người J'rai Chor, J'rai Hdrung, Êđê Krung, Mdhur và một bộ phận Êđê Adham trên cao nguyên Pleiku, thung lũng Cheo Reo, Buôn Hồ, Êa Sŭp, Krông Pa, M'Drak, Krông Hing từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX. Sang cuối thế kỷ XVIII đầu XIX, nhóm Êđê Adham vùng Krông Bŭk, Buôn Hồ, Čư̆ Mgar lớn mạnh nhờ giao lưu buôn bán được với người Lào, Khmer, Xiêm thông qua vùng Bản Đon ngày nay, Yă Wam là một nữ tù trưởng đã từng dựa vào người Xiêm và Lào để đưa người Adham thoát khỏi ảnh hưởng của các Mtao-Ptao vùng Jarai. Tiểu quốc Adham (TK 18 - TK 19) Adham hay Dham, hoặc Atham, là một nhóm địa phương của người Ê Đê. Người Adham cư trú ở phía tây bắc Dak Lak, chủ yếu ở vùng Buôn Hồ, Čư̆ Mgar, Krông Bŭk và Êa Hleo. Đây là nhóm địa phương đông dân số nhất của người Ê Đê. Khoảng giữa thế kỷ XVIII vào đầu thế kỷ XIX, người Êđê Adham đã từng di cư ồ ạt xuống phía tây nam của Đắk Lắk và dừng
|
i Đông Nam Á: Thủy Xá - Hỏa Xá (TK XV - TK XX) là tên gọi của hai vị tiểu vương cai trị tiểu quốc Orang Đê của bộ tộc người J'rai Chor, J'rai Hdrung, Êđê Krung, Mdhur và một bộ phận Êđê Adham trên cao nguyên Pleiku, thung lũng Cheo Reo, Buôn Hồ, Êa Sŭp, Krông Pa, M'Drak, Krông Hing từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX. Sang cuối thế kỷ XVIII đầu XIX, nhóm Êđê Adham vùng Krông Bŭk, Buôn Hồ, Čư̆ Mgar lớn mạnh nhờ giao lưu buôn bán được với người Lào, Khmer, Xiêm thông qua vùng Bản Đon ngày nay, Yă Wam là một nữ tù trưởng đã từng dựa vào người Xiêm và Lào để đưa người Adham thoát khỏi ảnh hưởng của các Mtao-Ptao vùng Jarai. Tiểu quốc Adham (TK 18 - TK 19) Adham hay Dham, hoặc Atham, là một nhóm địa phương của người Ê Đê. Người Adham cư trú ở phía tây bắc Dak Lak, chủ yếu ở vùng Buôn Hồ, Čư̆ Mgar, Krông Bŭk và Êa Hleo. Đây là nhóm địa phương đông dân số nhất của người Ê Đê. Khoảng giữa thế kỷ XVIII vào đầu thế kỷ XIX, người Êđê Adham đã từng di cư ồ ạt xuống phía tây nam của Đắk Lắk và dừng
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử",
"section": "10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử",
"topic": "10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử
Context: 10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử
Content: ar, Krông Bŭk và Êa Hleo. Đây là nhóm địa phương đông dân số nhất của người Ê Đê. Khoảng giữa thế kỷ XVIII vào đầu thế kỷ XIX, người Êđê Adham đã từng di cư ồ ạt xuống phía tây nam của Đắk Lắk và dừng lại cộng cư với người Êđê Kpă vùng Buôn Ma Thuột ngày nay để tránh những cuộc tấn công từ các Mtao Êa- Mtao Pui của tiểu quốc Jarai. Nhờ con đường buôn bán với người Lào, Xiêm, Khmer tại các cửa sông Bản Đon ngày nay, thế kỷ XVIII - XIX được coi thời kỳ phát triển mạnh của Êđê Adham với sự cai quản của nữ thủ lĩnh Yă Wăm được người Êđê gọi Mtao Mniê (Vua Bà), Yă Wăm cai trị một khu vực rộng lớn từ Krông H-Nang, Buôn Hồ, Êa Sŭp, Čư̆ Mgar, Buôn Đôn. Do vậy, bà được người Lào, người Xiêm kính nể và so sánh ngang với thế lực Mtao Pui, Mtao Êa. Cho đến đầu thế kỷ XX, người Adham là nhóm hùng mạnh và thịnh vượng nhất so với các nhóm Êđê khác như người Kpă. Địa bàn của người Adham gồm '"...Nam phần Dak lak cho tới lưu vực sông Ya Liau, phía Đông Bắc, họ vượt qua sông Krông Bŭk và lan tới tận
|
ar, Krông Bŭk và Êa Hleo. Đây là nhóm địa phương đông dân số nhất của người Ê Đê. Khoảng giữa thế kỷ XVIII vào đầu thế kỷ XIX, người Êđê Adham đã từng di cư ồ ạt xuống phía tây nam của Đắk Lắk và dừng lại cộng cư với người Êđê Kpă vùng Buôn Ma Thuột ngày nay để tránh những cuộc tấn công từ các Mtao Êa- Mtao Pui của tiểu quốc Jarai. Nhờ con đường buôn bán với người Lào, Xiêm, Khmer tại các cửa sông Bản Đon ngày nay, thế kỷ XVIII - XIX được coi thời kỳ phát triển mạnh của Êđê Adham với sự cai quản của nữ thủ lĩnh Yă Wăm được người Êđê gọi Mtao Mniê (Vua Bà), Yă Wăm cai trị một khu vực rộng lớn từ Krông H-Nang, Buôn Hồ, Êa Sŭp, Čư̆ Mgar, Buôn Đôn. Do vậy, bà được người Lào, người Xiêm kính nể và so sánh ngang với thế lực Mtao Pui, Mtao Êa. Cho đến đầu thế kỷ XX, người Adham là nhóm hùng mạnh và thịnh vượng nhất so với các nhóm Êđê khác như người Kpă. Địa bàn của người Adham gồm '"...Nam phần Dak lak cho tới lưu vực sông Ya Liau, phía Đông Bắc, họ vượt qua sông Krông Bŭk và lan tới tận
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử",
"section": "10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử",
"topic": "10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử
Context: 10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử
Content: ạnh và thịnh vượng nhất so với các nhóm Êđê khác như người Kpă. Địa bàn của người Adham gồm '"...Nam phần Dak lak cho tới lưu vực sông Ya Liau, phía Đông Bắc, họ vượt qua sông Krông Bŭk và lan tới tận thượng nguồn sông H Nang". Việc bà Yă Wăm cắt đất Buôn Đôn cho Y-Thu Knul để định cư cho một số dân người gốc Lào, Thái Lan lập ra Buôn Đôn, chấm dứt cuộc nam tiến của người Lào theo dọc các nhánh sống Mekong, cùng với câu chuyện tình ái giữa Nữ thủ lĩnh danh tiếng và thủ lĩnh săn voi tài giỏi này, là nguyên nhân để tiểu vương quốc Êđê Adham suy tàn sau khi người Pháp đặt chân đến Buôn Đon. Lúc này thế lực Êđê Kpă vùng Buôn Ma Thuột bắt đầu lớn mạnh nhờ dựa vào thế lực người Pháp thay thế hẳn vai trò của người Êđê Adham.
|
ạnh và thịnh vượng nhất so với các nhóm Êđê khác như người Kpă. Địa bàn của người Adham gồm '"...Nam phần Dak lak cho tới lưu vực sông Ya Liau, phía Đông Bắc, họ vượt qua sông Krông Bŭk và lan tới tận thượng nguồn sông H Nang". Việc bà Yă Wăm cắt đất Buôn Đôn cho Y-Thu Knul để định cư cho một số dân người gốc Lào, Thái Lan lập ra Buôn Đôn, chấm dứt cuộc nam tiến của người Lào theo dọc các nhánh sống Mekong, cùng với câu chuyện tình ái giữa Nữ thủ lĩnh danh tiếng và thủ lĩnh săn voi tài giỏi này, là nguyên nhân để tiểu vương quốc Êđê Adham suy tàn sau khi người Pháp đặt chân đến Buôn Đon. Lúc này thế lực Êđê Kpă vùng Buôn Ma Thuột bắt đầu lớn mạnh nhờ dựa vào thế lực người Pháp thay thế hẳn vai trò của người Êđê Adham.
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử",
"section": "10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử",
"topic": "10Các tiểu quốc Người Êđê (Orang Đê) trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 11Câu nói của nhân vật nổi tiếng
Context: 11Câu nói của nhân vật nổi tiếng
Content: " Chúng ta phải có chữ của người Ê Đê, chúng ta cũng cần học tiếng Pháp thật giỏi để người Pháp không dám coi thường chúng ta ".- Thầy giáo Y Jut Hwing (1885-1934), người đã sáng tạo ra chữ Ê Đê. " Đất là lưng ông bà ta, rừng cây, khe suối là của ông bà ta, sao ta lại chịu bỏ nhà, bỏ buôn làng mà đi để bọn giặc chúng giẫm lên lưng ông bà ta, phá phách rừng núi của ông bà ta ". - Tù trưởng Ama Jhao (1840-1905) " Cuộc đời tôi vừa được ca hát, vừa trồng cà phê, vừa được sống giữa núi rừng, sống với thiên nhiên. Người ta vẫn hỏi tôi, tại sao không dời nhà về thành phố, tại sao không đi diễn nhiều, tại sao không làm kinh tế, câu trả lời của tôi rất giản dị, tôi yêu cuộc sống ở cao nguyên, tôi yêu thiên nhiên quê mình, tôi thích cách sống như vậy, và dù không biết đó có phải là lựa chọn đúng hay không, nhưng tôi không bao giờ hối hận về sự lựa chọn của mình. "— Y Moan Ênuôl " Ta không sợ nghèo vì ta quen nghèo rồi, ta cũng không sợ chết, nhưng sau ta, ai xứng đáng là sứ giả văn hóa... "- Y
|
" Chúng ta phải có chữ của người Ê Đê, chúng ta cũng cần học tiếng Pháp thật giỏi để người Pháp không dám coi thường chúng ta ".- Thầy giáo Y Jut Hwing (1885-1934), người đã sáng tạo ra chữ Ê Đê. " Đất là lưng ông bà ta, rừng cây, khe suối là của ông bà ta, sao ta lại chịu bỏ nhà, bỏ buôn làng mà đi để bọn giặc chúng giẫm lên lưng ông bà ta, phá phách rừng núi của ông bà ta ". - Tù trưởng Ama Jhao (1840-1905) " Cuộc đời tôi vừa được ca hát, vừa trồng cà phê, vừa được sống giữa núi rừng, sống với thiên nhiên. Người ta vẫn hỏi tôi, tại sao không dời nhà về thành phố, tại sao không đi diễn nhiều, tại sao không làm kinh tế, câu trả lời của tôi rất giản dị, tôi yêu cuộc sống ở cao nguyên, tôi yêu thiên nhiên quê mình, tôi thích cách sống như vậy, và dù không biết đó có phải là lựa chọn đúng hay không, nhưng tôi không bao giờ hối hận về sự lựa chọn của mình. "— Y Moan Ênuôl " Ta không sợ nghèo vì ta quen nghèo rồi, ta cũng không sợ chết, nhưng sau ta, ai xứng đáng là sứ giả văn hóa... "- Y
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "11Câu nói của nhân vật nổi tiếng",
"section": "11Câu nói của nhân vật nổi tiếng",
"topic": "11Câu nói của nhân vật nổi tiếng"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 11Câu nói của nhân vật nổi tiếng
Context: 11Câu nói của nhân vật nổi tiếng
Content: ay không, nhưng tôi không bao giờ hối hận về sự lựa chọn của mình. "— Y Moan Ênuôl " Ta không sợ nghèo vì ta quen nghèo rồi, ta cũng không sợ chết, nhưng sau ta, ai xứng đáng là sứ giả văn hóa... "- Y Moan Ênuôl
|
ay không, nhưng tôi không bao giờ hối hận về sự lựa chọn của mình. "— Y Moan Ênuôl " Ta không sợ nghèo vì ta quen nghèo rồi, ta cũng không sợ chết, nhưng sau ta, ai xứng đáng là sứ giả văn hóa... "- Y Moan Ênuôl
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "11Câu nói của nhân vật nổi tiếng",
"section": "11Câu nói của nhân vật nổi tiếng",
"topic": "11Câu nói của nhân vật nổi tiếng"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: Y-Đê (Radaya) người Thủ Lĩnh chinh phục Nàng Công Chúa H-Gar (Nagar). Đây cùng là nguồn gốc hình thành 1 dân tộc mang tên tổ phụ của người Đê-Gar và thành lập vương quốc mới có tên Radaya (Đêgar). Từ " Anak Đê-Gar" có nghĩa là những người con của Y Đê và H Gar theo tiếng Pali Sanskrit Ấn Độ là Anak KuRadaya. Người Êđê là một trong những tộc người có lịch sử lâu đời trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên, Thông qua các thư tịch cổ của Trung Hoa, Đại Việt, các bia ký của Champa , Đế Chế Khmer, và cả những ghi chép của các nhà truyền giáo mà ít nhiều nhắc đến các nhân vật trong lịch sử của người Êđê xưa. Trong các tác phẩm sử thi dân gian của người Êđê thường nhắc đến các nhân vật anh hùng. Sử Thi Êđê là một pho tài liệu quý giá chứa đựng thông tin lịch sử về tộc người này.Trong phần lịch sử, Pièrre Bernard Lafont đã tiến hành chia lịch sử Champa ra làm 3 thời kỳ chính: Thời kì Ấn Độ hóa (được tính từ khi lập quốc đến năm 1471), thời kì bản địa (1471-1832) và thời kỳ sau ngày sụp đổ
|
Y-Đê (Radaya) người Thủ Lĩnh chinh phục Nàng Công Chúa H-Gar (Nagar). Đây cùng là nguồn gốc hình thành 1 dân tộc mang tên tổ phụ của người Đê-Gar và thành lập vương quốc mới có tên Radaya (Đêgar). Từ " Anak Đê-Gar" có nghĩa là những người con của Y Đê và H Gar theo tiếng Pali Sanskrit Ấn Độ là Anak KuRadaya. Người Êđê là một trong những tộc người có lịch sử lâu đời trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên, Thông qua các thư tịch cổ của Trung Hoa, Đại Việt, các bia ký của Champa , Đế Chế Khmer, và cả những ghi chép của các nhà truyền giáo mà ít nhiều nhắc đến các nhân vật trong lịch sử của người Êđê xưa. Trong các tác phẩm sử thi dân gian của người Êđê thường nhắc đến các nhân vật anh hùng. Sử Thi Êđê là một pho tài liệu quý giá chứa đựng thông tin lịch sử về tộc người này.Trong phần lịch sử, Pièrre Bernard Lafont đã tiến hành chia lịch sử Champa ra làm 3 thời kỳ chính: Thời kì Ấn Độ hóa (được tính từ khi lập quốc đến năm 1471), thời kì bản địa (1471-1832) và thời kỳ sau ngày sụp đổ
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: ch sử, Pièrre Bernard Lafont đã tiến hành chia lịch sử Champa ra làm 3 thời kỳ chính: Thời kì Ấn Độ hóa (được tính từ khi lập quốc đến năm 1471), thời kì bản địa (1471-1832) và thời kỳ sau ngày sụp đổ (1832-thế kỉ XX, thông qua ba giai đoạn này thì thời kỳ Ấn Độ hoá Chăm Pa (được tính từ khi lập quốc đến năm 1471)đã tác động mạnh đến một phần văn hoá và tín ngưỡng của người Êđê cổ, giai đoạn sau sụp đổ vương triều Vijaya 1471),yếu tố văn hoá Ấn từ các triều đại Champa đã khồng đủ sức ảnh hưởng trước sự phát triển trở lại của yếu tố văn hoá bản địa ở người Êđê, trong giai đoạn thế kỷ XV đến thế kỷ XVII này nhiều tác phẩm trường ca, sử thi cổ bắt phát triển nảy nở lại: Dam San, Dam Yi, Xinh Nhã, Dam Kteh Mlan.. và chấm dứt khi các nhà truyền giáo Phương Tây và người Việt xâm nhập vùng cao nguyên. Hơbia Mmih-Êa hay còn gọi là nàng Mi Ê (媚醯) Hbia Mih Êa là vương phi Chiêm Thành vào thế kỷ XI.Bà là vợ của vua Chiêm Thành Jaya Sinhavarman II. MMih Êa vốn xuất thân là cung nữ Rang Đê giỏi
|
ch sử, Pièrre Bernard Lafont đã tiến hành chia lịch sử Champa ra làm 3 thời kỳ chính: Thời kì Ấn Độ hóa (được tính từ khi lập quốc đến năm 1471), thời kì bản địa (1471-1832) và thời kỳ sau ngày sụp đổ (1832-thế kỉ XX, thông qua ba giai đoạn này thì thời kỳ Ấn Độ hoá Chăm Pa (được tính từ khi lập quốc đến năm 1471)đã tác động mạnh đến một phần văn hoá và tín ngưỡng của người Êđê cổ, giai đoạn sau sụp đổ vương triều Vijaya 1471),yếu tố văn hoá Ấn từ các triều đại Champa đã khồng đủ sức ảnh hưởng trước sự phát triển trở lại của yếu tố văn hoá bản địa ở người Êđê, trong giai đoạn thế kỷ XV đến thế kỷ XVII này nhiều tác phẩm trường ca, sử thi cổ bắt phát triển nảy nở lại: Dam San, Dam Yi, Xinh Nhã, Dam Kteh Mlan.. và chấm dứt khi các nhà truyền giáo Phương Tây và người Việt xâm nhập vùng cao nguyên. Hơbia Mmih-Êa hay còn gọi là nàng Mi Ê (媚醯) Hbia Mih Êa là vương phi Chiêm Thành vào thế kỷ XI.Bà là vợ của vua Chiêm Thành Jaya Sinhavarman II. MMih Êa vốn xuất thân là cung nữ Rang Đê giỏi
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: o nguyên. Hơbia Mmih-Êa hay còn gọi là nàng Mi Ê (媚醯) Hbia Mih Êa là vương phi Chiêm Thành vào thế kỷ XI.Bà là vợ của vua Chiêm Thành Jaya Sinhavarman II. MMih Êa vốn xuất thân là cung nữ Rang Đê giỏi dệt chăn gấm.HơBia Mih Ea trong ngôn ngữ Rang Đê cổ có nghĩa là nàng dòng sông. Vào triều vua Lý Thái Tông (1028-1054) nước Đại Cồ Việt, vua Jaya Sinhavarman II của Champa không theo lệ cống, thất lễ Phiên thần, vua tự đem quân Nam chinh phạt Chiêm Thành. Vào năm 1044, vua Lý Thái Tông của Đại Cồ Việt tiến đánh Chiêm Thành, trong khi đó triều chính Chiêm Thành có sự bội phản, tướng Chiêm Thành là Quách Gia Dĩ đã chém chết chúa vua Jaya Sinhavarman II rồi đầu hàng. Quân Đại Cồ Việt chiếm được thành Sinhapura, bắt hàng trăm cung nữ, ca kỹ và nhạc công mang về, trong đó có H'Bia Mih Êa:Theo Việt Sử Toàn Thư, tr 141: Chiêm Thành bỏ cống 16 năm, vua Lý Thái Tông phá quốc đô Phật Thệ , giết 3 vạn quân Chiêm, bắt sống 5.000 người, bắt được 30 con voi và giết chúa Sạ Đẩu tức là vua Jaya
|
o nguyên. Hơbia Mmih-Êa hay còn gọi là nàng Mi Ê (媚醯) Hbia Mih Êa là vương phi Chiêm Thành vào thế kỷ XI.Bà là vợ của vua Chiêm Thành Jaya Sinhavarman II. MMih Êa vốn xuất thân là cung nữ Rang Đê giỏi dệt chăn gấm.HơBia Mih Ea trong ngôn ngữ Rang Đê cổ có nghĩa là nàng dòng sông. Vào triều vua Lý Thái Tông (1028-1054) nước Đại Cồ Việt, vua Jaya Sinhavarman II của Champa không theo lệ cống, thất lễ Phiên thần, vua tự đem quân Nam chinh phạt Chiêm Thành. Vào năm 1044, vua Lý Thái Tông của Đại Cồ Việt tiến đánh Chiêm Thành, trong khi đó triều chính Chiêm Thành có sự bội phản, tướng Chiêm Thành là Quách Gia Dĩ đã chém chết chúa vua Jaya Sinhavarman II rồi đầu hàng. Quân Đại Cồ Việt chiếm được thành Sinhapura, bắt hàng trăm cung nữ, ca kỹ và nhạc công mang về, trong đó có H'Bia Mih Êa:Theo Việt Sử Toàn Thư, tr 141: Chiêm Thành bỏ cống 16 năm, vua Lý Thái Tông phá quốc đô Phật Thệ , giết 3 vạn quân Chiêm, bắt sống 5.000 người, bắt được 30 con voi và giết chúa Sạ Đẩu tức là vua Jaya
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: :Theo Việt Sử Toàn Thư, tr 141: Chiêm Thành bỏ cống 16 năm, vua Lý Thái Tông phá quốc đô Phật Thệ , giết 3 vạn quân Chiêm, bắt sống 5.000 người, bắt được 30 con voi và giết chúa Sạ Đẩu tức là vua Jaya Sinhavarman II . Khi thuyền đến sông Lý Nhân, giữa đêm, vua Đại Cồ Việt nghe Mỵ Ê có sắc đẹp, bên sai quan Trung Sứ vời đến chầu thuyền ngự. Mih Êa không dấu được phẩn uất, từ chối rằng: Vợ phương nam man rợ quê mùa, y phục xấu xí, ngôn ngữ thô lỗ, không giống các phi tần đất Việt. Nay nước tan, chồng mất, chỉ mong một chết là thoả lòng; nếu cưỡng bức hợp hoan, ngại nổi làm dơ mình vua vậy. Đoạn, nàng lén lấy tấm chăn thổ cẩm vừa tự dệt quấn lấy kín thân mình rồi nhảy xuống sông Châu Giang mà chết. Nhà vua kinh hoàng tự hối, muốn cứu nhưng không sao kịp nữa. H'bia Suryah Bunga Dewee hay Suryah Đê-wi (Thế kỷ XII) Là chị gái ruột của Vancaraya thuộc dòng dõi hoàng gia Vijaya. Suriyah Bunga Dewi sau này thành vợ của Vua Nam Champa Jaya Harivarman I xứ Paduranga và trở thành thứ hậu. Khi
|
:Theo Việt Sử Toàn Thư, tr 141: Chiêm Thành bỏ cống 16 năm, vua Lý Thái Tông phá quốc đô Phật Thệ , giết 3 vạn quân Chiêm, bắt sống 5.000 người, bắt được 30 con voi và giết chúa Sạ Đẩu tức là vua Jaya Sinhavarman II . Khi thuyền đến sông Lý Nhân, giữa đêm, vua Đại Cồ Việt nghe Mỵ Ê có sắc đẹp, bên sai quan Trung Sứ vời đến chầu thuyền ngự. Mih Êa không dấu được phẩn uất, từ chối rằng: Vợ phương nam man rợ quê mùa, y phục xấu xí, ngôn ngữ thô lỗ, không giống các phi tần đất Việt. Nay nước tan, chồng mất, chỉ mong một chết là thoả lòng; nếu cưỡng bức hợp hoan, ngại nổi làm dơ mình vua vậy. Đoạn, nàng lén lấy tấm chăn thổ cẩm vừa tự dệt quấn lấy kín thân mình rồi nhảy xuống sông Châu Giang mà chết. Nhà vua kinh hoàng tự hối, muốn cứu nhưng không sao kịp nữa. H'bia Suryah Bunga Dewee hay Suryah Đê-wi (Thế kỷ XII) Là chị gái ruột của Vancaraya thuộc dòng dõi hoàng gia Vijaya. Suriyah Bunga Dewi sau này thành vợ của Vua Nam Champa Jaya Harivarman I xứ Paduranga và trở thành thứ hậu. Khi
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: Suryah Đê-wi (Thế kỷ XII) Là chị gái ruột của Vancaraya thuộc dòng dõi hoàng gia Vijaya. Suriyah Bunga Dewi sau này thành vợ của Vua Nam Champa Jaya Harivarman I xứ Paduranga và trở thành thứ hậu. Khi người Khmer đánh chiếm và đô hộ bắc Chiêm Thành, Suriyah Bunga Dewi đề nghị chồng là vua Jaya Harivarman I mang quân sang giúp em trai mình là Vancaray đánh đuổi người Khmer và giải phóng kinh đô Vijaya của xứ Bắc Chiêm Thành. Sau cuộc kéo quân ra bắc, Jaya Harivarman I đã đánh đuổi được người Khmer và ngay lập tức kiểm soát hết toàn bộ lãnh thổ bắc Chiêm Thành với ý định nhằm thống nhất toàn cõi dân Chiêm Thành .Vụ việc dẫn đến người sự chống đối quyết liệt của người Rang Đê dưới sự lãnh đạo của Vancaraya . Dam Khing Jŭ Vancaraya (1125- 1169) Vancaraya là tên gọi bằng tiếng Pali Sanskrit Ấn Độ Vancaraya ( वैनसीएराया ), tiếng ÊĐê thường gọi là Dam Khing Jŭ có nghĩa là Thủ Lĩnh Da Nâu. Theo sử liệu Trung Quốc thì Vancaraya được nhắc đến với tên gọi ( 鷹 明 葉 Bính âm : YingMingYe, âm Hán
|
Suryah Đê-wi (Thế kỷ XII) Là chị gái ruột của Vancaraya thuộc dòng dõi hoàng gia Vijaya. Suriyah Bunga Dewi sau này thành vợ của Vua Nam Champa Jaya Harivarman I xứ Paduranga và trở thành thứ hậu. Khi người Khmer đánh chiếm và đô hộ bắc Chiêm Thành, Suriyah Bunga Dewi đề nghị chồng là vua Jaya Harivarman I mang quân sang giúp em trai mình là Vancaray đánh đuổi người Khmer và giải phóng kinh đô Vijaya của xứ Bắc Chiêm Thành. Sau cuộc kéo quân ra bắc, Jaya Harivarman I đã đánh đuổi được người Khmer và ngay lập tức kiểm soát hết toàn bộ lãnh thổ bắc Chiêm Thành với ý định nhằm thống nhất toàn cõi dân Chiêm Thành .Vụ việc dẫn đến người sự chống đối quyết liệt của người Rang Đê dưới sự lãnh đạo của Vancaraya . Dam Khing Jŭ Vancaraya (1125- 1169) Vancaraya là tên gọi bằng tiếng Pali Sanskrit Ấn Độ Vancaraya ( वैनसीएराया ), tiếng ÊĐê thường gọi là Dam Khing Jŭ có nghĩa là Thủ Lĩnh Da Nâu. Theo sử liệu Trung Quốc thì Vancaraya được nhắc đến với tên gọi ( 鷹 明 葉 Bính âm : YingMingYe, âm Hán
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: t Ấn Độ Vancaraya ( वैनसीएराया ), tiếng ÊĐê thường gọi là Dam Khing Jŭ có nghĩa là Thủ Lĩnh Da Nâu. Theo sử liệu Trung Quốc thì Vancaraya được nhắc đến với tên gọi ( 鷹 明 葉 Bính âm : YingMingYe, âm Hán Việt : Ưng Minh Diệp ), là một thủ lĩnh người Rang Đê , cũng là một hoàng tử thuộc hoàng gia Vijaya miền bắc Champa , giai đoạn lịch sử này, người Êđê và Jarai chưa phân li thành hai tộc người riêng như ngày nay. Sự kiện lịch sử theo bia ký Champa ghi lại rằng: Đó là vào giữa thế kỷ thứ XII, vương quốc Champa bị phân chia làm hai miền. Miền nam, tức là tiểu vương quốc Panduranga (thuộc vùng Ninh Thuận ngày nay), đặt dưới quyền lãnh đạo của vua Jaya Harivarman I. Ngược lại, tiểu vương quốc Vijaya (Ngày nay thuộc địa bàn huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định ) ở miền Bắc đặt dưới quyền đô hộ Đế chế Khmer . Vì không thể chấp nhận sự thống trị của người dị chủng Campuchia , vua Jaya Harivarma I ở miền Nam tiến quân ra bắc giải phóng kinh đô Vijaya vào năm 1149, giết được hoàng tử Harideva, lãnh đạo
|
t Ấn Độ Vancaraya ( वैनसीएराया ), tiếng ÊĐê thường gọi là Dam Khing Jŭ có nghĩa là Thủ Lĩnh Da Nâu. Theo sử liệu Trung Quốc thì Vancaraya được nhắc đến với tên gọi ( 鷹 明 葉 Bính âm : YingMingYe, âm Hán Việt : Ưng Minh Diệp ), là một thủ lĩnh người Rang Đê , cũng là một hoàng tử thuộc hoàng gia Vijaya miền bắc Champa , giai đoạn lịch sử này, người Êđê và Jarai chưa phân li thành hai tộc người riêng như ngày nay. Sự kiện lịch sử theo bia ký Champa ghi lại rằng: Đó là vào giữa thế kỷ thứ XII, vương quốc Champa bị phân chia làm hai miền. Miền nam, tức là tiểu vương quốc Panduranga (thuộc vùng Ninh Thuận ngày nay), đặt dưới quyền lãnh đạo của vua Jaya Harivarman I. Ngược lại, tiểu vương quốc Vijaya (Ngày nay thuộc địa bàn huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định ) ở miền Bắc đặt dưới quyền đô hộ Đế chế Khmer . Vì không thể chấp nhận sự thống trị của người dị chủng Campuchia , vua Jaya Harivarma I ở miền Nam tiến quân ra bắc giải phóng kinh đô Vijaya vào năm 1149, giết được hoàng tử Harideva, lãnh đạo
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: hmer . Vì không thể chấp nhận sự thống trị của người dị chủng Campuchia , vua Jaya Harivarma I ở miền Nam tiến quân ra bắc giải phóng kinh đô Vijaya vào năm 1149, giết được hoàng tử Harideva, lãnh đạo đoàn quân viễn chinh Campuchia . Sau ngày thắng trận, thay vì Jaya Harivarman I phải rút quân trở về Panduranga, ông ta lại lợi dụng tình thế, tự xưng vương ở Vijaya, mặc dù ông ta biết rằng quyền nối ngôi ở Vijaya phải thuộc về hoàng tử Vancaraya , chính là em ruột của vợ ông (Vua Jaya Harivarnann I có một người vợ gốc Rang Đê). Nhằm phản đối lại sự đoạt ngôi này, các bộ tộc Rang Đê mà bia ký gọi là Kiratas phất cờ vùng dậy đưa hoàng tử Vancaraya lên làm vua ở Vijaya. Vua Jaya Harivarman I không còn giải pháp khác để giải quyết sự khủng hoảng chính trị này, quyết định vào năm 1151 tấn công đoàn quân người Rang Đê và nhóm quân Kiratas khác do hoàng tử Vancaraya lãnh đạo. Thất trận, hoàng tử Vancaraya chạy sang Đại Việt cầu cứu viện trợ. Vua Lý Anh Tông sai tướng Nguyễn Mông cùng 5.000
|
hmer . Vì không thể chấp nhận sự thống trị của người dị chủng Campuchia , vua Jaya Harivarma I ở miền Nam tiến quân ra bắc giải phóng kinh đô Vijaya vào năm 1149, giết được hoàng tử Harideva, lãnh đạo đoàn quân viễn chinh Campuchia . Sau ngày thắng trận, thay vì Jaya Harivarman I phải rút quân trở về Panduranga, ông ta lại lợi dụng tình thế, tự xưng vương ở Vijaya, mặc dù ông ta biết rằng quyền nối ngôi ở Vijaya phải thuộc về hoàng tử Vancaraya , chính là em ruột của vợ ông (Vua Jaya Harivarnann I có một người vợ gốc Rang Đê). Nhằm phản đối lại sự đoạt ngôi này, các bộ tộc Rang Đê mà bia ký gọi là Kiratas phất cờ vùng dậy đưa hoàng tử Vancaraya lên làm vua ở Vijaya. Vua Jaya Harivarman I không còn giải pháp khác để giải quyết sự khủng hoảng chính trị này, quyết định vào năm 1151 tấn công đoàn quân người Rang Đê và nhóm quân Kiratas khác do hoàng tử Vancaraya lãnh đạo. Thất trận, hoàng tử Vancaraya chạy sang Đại Việt cầu cứu viện trợ. Vua Lý Anh Tông sai tướng Nguyễn Mông cùng 5.000
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: ng đoàn quân người Rang Đê và nhóm quân Kiratas khác do hoàng tử Vancaraya lãnh đạo. Thất trận, hoàng tử Vancaraya chạy sang Đại Việt cầu cứu viện trợ. Vua Lý Anh Tông sai tướng Nguyễn Mông cùng 5.000 binh sĩ từ Thanh Hóa vào tiếp cứu nhưng bị đánh bại, Nguyễn Mông và Vancaraya đều bị tử trận. Toàn bộ các thung lũng ven núi như Êa Drang, Êa Pa, Êa Ryu nơi người Rang Đê cư trú đều đặt dưới sự kiểm soát trở lại của Vua Jaya Harivarman I gốc người miền nam Champa. Đây có thể là mối liên hệ sớm nhất giữa bộ lạc Tây Nguyên với người Việt . Dam Sri Agara Là một thủ lĩnh gốc người Rang-Đê. Sau những thất bại của Dam Khing Jŭ (Vancaraya) nhóm người Rang-Đê tiếp tục kháng cự không chịu chấp nhận Ấn Độ hóa bộ lạc Rang-Đê của người Chăm.Năm 1191 tại Vijaya, Surya Jayavarman (hoàng tử In) bị Rasupati, một hoàng thân Champa, đánh bại phải chạy về lại Chân Lạp. Rasupati tự xưng là vua xứ Vijaya, hiệu Jaya Indravarman V. Không nhìn nhận vương quyền mới này, Jayavarman VII cho Jaya Indravarman IV
|
ng đoàn quân người Rang Đê và nhóm quân Kiratas khác do hoàng tử Vancaraya lãnh đạo. Thất trận, hoàng tử Vancaraya chạy sang Đại Việt cầu cứu viện trợ. Vua Lý Anh Tông sai tướng Nguyễn Mông cùng 5.000 binh sĩ từ Thanh Hóa vào tiếp cứu nhưng bị đánh bại, Nguyễn Mông và Vancaraya đều bị tử trận. Toàn bộ các thung lũng ven núi như Êa Drang, Êa Pa, Êa Ryu nơi người Rang Đê cư trú đều đặt dưới sự kiểm soát trở lại của Vua Jaya Harivarman I gốc người miền nam Champa. Đây có thể là mối liên hệ sớm nhất giữa bộ lạc Tây Nguyên với người Việt . Dam Sri Agara Là một thủ lĩnh gốc người Rang-Đê. Sau những thất bại của Dam Khing Jŭ (Vancaraya) nhóm người Rang-Đê tiếp tục kháng cự không chịu chấp nhận Ấn Độ hóa bộ lạc Rang-Đê của người Chăm.Năm 1191 tại Vijaya, Surya Jayavarman (hoàng tử In) bị Rasupati, một hoàng thân Champa, đánh bại phải chạy về lại Chân Lạp. Rasupati tự xưng là vua xứ Vijaya, hiệu Jaya Indravarman V. Không nhìn nhận vương quyền mới này, Jayavarman VII cho Jaya Indravarman IV
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: pati, một hoàng thân Champa, đánh bại phải chạy về lại Chân Lạp. Rasupati tự xưng là vua xứ Vijaya, hiệu Jaya Indravarman V. Không nhìn nhận vương quyền mới này, Jayavarman VII cho Jaya Indravarman IV (cựu vương Champa và cũng là cha của hoàng tử In) về Bắc Champa chiếm lại ngôi báu. Jaya Indravarman IV được Suryavarman (hoàng thân Sri Vidyananda) tiếp sức mới chiếm được Vijaya, Rasupati (Jaya Indravarman V) bị xử trảm. Thay vì giao thành lại cho vua Champa cũ, Suryavarman chiếm luôn Vijaya; Jaya Indravarman IV liền kêu gọi dân chúng tại Amavarati và các làng Ulik, Vyar, Jriy, Traik chống lại. Năm 1192, Jaya Indravarman IV bị tử trận tại Traik. Suryavarman thống nhất lại đất nước, lên ngôi vua và tìm cách tách khỏi ảnh hưởng của đế quốc Angkor. Hay tin hoàng thân Suryavarman làm phản, Jayavarman VII cử đại quân, trong số này có cả người Rang-Đê (do tướng Jai Ramya cầm đầu), sang đánh Champa. Cuộc chiến kéo dài từ 1193 đến 1194, đại quân Khmer bị đánh bại. Thay vì theo quân Khmer về
|
pati, một hoàng thân Champa, đánh bại phải chạy về lại Chân Lạp. Rasupati tự xưng là vua xứ Vijaya, hiệu Jaya Indravarman V. Không nhìn nhận vương quyền mới này, Jayavarman VII cho Jaya Indravarman IV (cựu vương Champa và cũng là cha của hoàng tử In) về Bắc Champa chiếm lại ngôi báu. Jaya Indravarman IV được Suryavarman (hoàng thân Sri Vidyananda) tiếp sức mới chiếm được Vijaya, Rasupati (Jaya Indravarman V) bị xử trảm. Thay vì giao thành lại cho vua Champa cũ, Suryavarman chiếm luôn Vijaya; Jaya Indravarman IV liền kêu gọi dân chúng tại Amavarati và các làng Ulik, Vyar, Jriy, Traik chống lại. Năm 1192, Jaya Indravarman IV bị tử trận tại Traik. Suryavarman thống nhất lại đất nước, lên ngôi vua và tìm cách tách khỏi ảnh hưởng của đế quốc Angkor. Hay tin hoàng thân Suryavarman làm phản, Jayavarman VII cử đại quân, trong số này có cả người Rang-Đê (do tướng Jai Ramya cầm đầu), sang đánh Champa. Cuộc chiến kéo dài từ 1193 đến 1194, đại quân Khmer bị đánh bại. Thay vì theo quân Khmer về
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: Jayavarman VII cử đại quân, trong số này có cả người Rang-Đê (do tướng Jai Ramya cầm đầu), sang đánh Champa. Cuộc chiến kéo dài từ 1193 đến 1194, đại quân Khmer bị đánh bại. Thay vì theo quân Khmer về nước, một người Rang-Đê tên Sri Agara chiếm một vùng đất lớn từ Amavarati đến Pidhyan (Phú Giang, bắc Phú Yên) rồi tự xưng vương năm 1193, hiệu Mtao Ayna PôKa. Sau đó, tướng Dhanapati được lệnh vua Khmer đánh dẹp các cuộc nổi loạn tại Champa, đặc biệt là người Êđê trên cao nguyên. Mtao Ayna PôKa bị bắt sống đem về Campuchia trị tội và bị xử tử tại Angkor. Dhanapati được phong toàn quyền cai trị xứ Champa. Champa trở thành một tỉnh của đế quốc Khmer lần thứ hai. Hbia Drah Hjan (1630-1654) là con gái của một thủ lĩnh Êđê Adham thuộc vùng Čư̆ Mgar, có nơi gọi là H' Drah Hjan Kpă , Ea Hleo phía bắc Dak lak ngày nay, H' Drah Hjan tiếng Êđê nghĩa là Công chúa Hạt Mưa sau này trở thành hoàng hậu thứ của Vương Triều Champa suy tàn trước sức ép của nam tiến của người Việt. Truyện kể lại rằng: Một
|
Jayavarman VII cử đại quân, trong số này có cả người Rang-Đê (do tướng Jai Ramya cầm đầu), sang đánh Champa. Cuộc chiến kéo dài từ 1193 đến 1194, đại quân Khmer bị đánh bại. Thay vì theo quân Khmer về nước, một người Rang-Đê tên Sri Agara chiếm một vùng đất lớn từ Amavarati đến Pidhyan (Phú Giang, bắc Phú Yên) rồi tự xưng vương năm 1193, hiệu Mtao Ayna PôKa. Sau đó, tướng Dhanapati được lệnh vua Khmer đánh dẹp các cuộc nổi loạn tại Champa, đặc biệt là người Êđê trên cao nguyên. Mtao Ayna PôKa bị bắt sống đem về Campuchia trị tội và bị xử tử tại Angkor. Dhanapati được phong toàn quyền cai trị xứ Champa. Champa trở thành một tỉnh của đế quốc Khmer lần thứ hai. Hbia Drah Hjan (1630-1654) là con gái của một thủ lĩnh Êđê Adham thuộc vùng Čư̆ Mgar, có nơi gọi là H' Drah Hjan Kpă , Ea Hleo phía bắc Dak lak ngày nay, H' Drah Hjan tiếng Êđê nghĩa là Công chúa Hạt Mưa sau này trở thành hoàng hậu thứ của Vương Triều Champa suy tàn trước sức ép của nam tiến của người Việt. Truyện kể lại rằng: Một
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: bắc Dak lak ngày nay, H' Drah Hjan tiếng Êđê nghĩa là Công chúa Hạt Mưa sau này trở thành hoàng hậu thứ của Vương Triều Champa suy tàn trước sức ép của nam tiến của người Việt. Truyện kể lại rằng: Một phụ nữ quyền quý thuộc dòng dõi Rhade đã hạ sinh một cô con gái trong đêm tháng ba (âm lịch) lúc trời đất vào khoảng khắc chuyển mùa từ mùa khô sang mùa mưa đúng lúc năm mới ở các xứ Lào, Khmer, Xiêm La (Thái Lan), cũng là năm mới trong tháng lịch nông nghiệp của người Êđê, Drah jan sinh ra khi trời đất nổi những cơn sấm ầm ầm trong đêm và giọt mưa đầu mùa tí tách trút xuống như hạt máu vì sau tháng mùa khô ầy bụi đất, vì thế mưa đầu mùa người Êđê gọi là " Drah Hjan " nghĩa là " mưa máu " là giọt mưa nước mắt bằng máu của tổ tiên (atau) khóc cho con cháu dưới trần gian. Mẹ của Drah Hjan qua đời sau khi bà hạ sinh Drah Hjan trong đêm lạ lùng đó. Cho nên tới bây giờ người Êđê vẫn còn phong tục " Kăm Mah" khi có giọt mưa đầu mùa kèm theo những tiếng sấm thất kinh đất trời Tây Nguyên, Kăm
|
bắc Dak lak ngày nay, H' Drah Hjan tiếng Êđê nghĩa là Công chúa Hạt Mưa sau này trở thành hoàng hậu thứ của Vương Triều Champa suy tàn trước sức ép của nam tiến của người Việt. Truyện kể lại rằng: Một phụ nữ quyền quý thuộc dòng dõi Rhade đã hạ sinh một cô con gái trong đêm tháng ba (âm lịch) lúc trời đất vào khoảng khắc chuyển mùa từ mùa khô sang mùa mưa đúng lúc năm mới ở các xứ Lào, Khmer, Xiêm La (Thái Lan), cũng là năm mới trong tháng lịch nông nghiệp của người Êđê, Drah jan sinh ra khi trời đất nổi những cơn sấm ầm ầm trong đêm và giọt mưa đầu mùa tí tách trút xuống như hạt máu vì sau tháng mùa khô ầy bụi đất, vì thế mưa đầu mùa người Êđê gọi là " Drah Hjan " nghĩa là " mưa máu " là giọt mưa nước mắt bằng máu của tổ tiên (atau) khóc cho con cháu dưới trần gian. Mẹ của Drah Hjan qua đời sau khi bà hạ sinh Drah Hjan trong đêm lạ lùng đó. Cho nên tới bây giờ người Êđê vẫn còn phong tục " Kăm Mah" khi có giọt mưa đầu mùa kèm theo những tiếng sấm thất kinh đất trời Tây Nguyên, Kăm
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: ua đời sau khi bà hạ sinh Drah Hjan trong đêm lạ lùng đó. Cho nên tới bây giờ người Êđê vẫn còn phong tục " Kăm Mah" khi có giọt mưa đầu mùa kèm theo những tiếng sấm thất kinh đất trời Tây Nguyên, Kăm mah nghĩa là " kiêng cữ đeo trang sức vàng bạc " tức là phụ nữ Êđê không được ra ngoài trong mưa, không đeo vàng bạc trang sức vì đó là ngày một phụ nữ Êđê quyền quý qua đời cũng là ngày hạ sinh một cô công chúa Drah Hjan huyền bí sau này sẽ là bà hoàng của một Vương Quốc (Hơ Bia). Riêng người Chăm thì cho rằng theo các nhà chiêm tinh Bà La Môn của Vua Po rê mê thì hạt mầm nảy lộc làm vực dậy vương quốc Chăm pa lại chính là từ người Rhade, các nhà thuật chiêm tinh của Poerme tin rằng Drah jan chính là vị thần có thể hồi sinh nòi giống Chiêm Thành. Từ đó đích thân Pô Rê mê sang vùng đất Rhade để rước Drah jan về, Pô rê mê vốn là người tin vàu thuật bói khóa, chiêm tinh, Dù ông nhiều bà vợ nhưng duy nhất Drah Hjan là người hạ sinh nhiều con cái cho hoàng triều nhất. Chúa nhà Nguyễn, Nguyễn
|
ua đời sau khi bà hạ sinh Drah Hjan trong đêm lạ lùng đó. Cho nên tới bây giờ người Êđê vẫn còn phong tục " Kăm Mah" khi có giọt mưa đầu mùa kèm theo những tiếng sấm thất kinh đất trời Tây Nguyên, Kăm mah nghĩa là " kiêng cữ đeo trang sức vàng bạc " tức là phụ nữ Êđê không được ra ngoài trong mưa, không đeo vàng bạc trang sức vì đó là ngày một phụ nữ Êđê quyền quý qua đời cũng là ngày hạ sinh một cô công chúa Drah Hjan huyền bí sau này sẽ là bà hoàng của một Vương Quốc (Hơ Bia). Riêng người Chăm thì cho rằng theo các nhà chiêm tinh Bà La Môn của Vua Po rê mê thì hạt mầm nảy lộc làm vực dậy vương quốc Chăm pa lại chính là từ người Rhade, các nhà thuật chiêm tinh của Poerme tin rằng Drah jan chính là vị thần có thể hồi sinh nòi giống Chiêm Thành. Từ đó đích thân Pô Rê mê sang vùng đất Rhade để rước Drah jan về, Pô rê mê vốn là người tin vàu thuật bói khóa, chiêm tinh, Dù ông nhiều bà vợ nhưng duy nhất Drah Hjan là người hạ sinh nhiều con cái cho hoàng triều nhất. Chúa nhà Nguyễn, Nguyễn
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: để rước Drah jan về, Pô rê mê vốn là người tin vàu thuật bói khóa, chiêm tinh, Dù ông nhiều bà vợ nhưng duy nhất Drah Hjan là người hạ sinh nhiều con cái cho hoàng triều nhất. Chúa nhà Nguyễn, Nguyễn Phúc Tần sai cai cơ Hùng Lộc mang 3000 quân đánh chiếm vùng đất còn lại của Champa từ Nha Trang đến Sông Phan Rang. Po Romê bị bắt trong trận chiến này, ngài bị nhốt vào Rọ, bỏ đói bỏ khát trên đường đưa về Huế, có lẽ trên đường đi ngài đã tự tử (Lược sử Dân tộc Chàm Dohamide gọi là Ba Bì đã tự tử). Theo tục lệ đạo Bà La Môn, người ta hỏa thiêu xác vua, khi đó chỉ có bà hoàng hậu Ê Đê là H'Bia Drah Hjan đã lặng lẽ âm thầm tiến đến gần nhảy vào lửa chết theo chồng,vì hoàng hậu cả là bà Drah Jih theo đạo Hồi (Chăm BàNi) theo giáo luật Hồi giáo không giám tuẫn tiết theo vua. Để tưởng nhớ đến một vị hoàng hậu cuối cùng của Vương triều Champa này nên được nhân dân thờ Bà trong một ngôi tháp phụ, rồi khi ngôi tháp sụp đổ, tượng của bà được đưa vào tháp chính phía bên phải tượng Vua là người
|
để rước Drah jan về, Pô rê mê vốn là người tin vàu thuật bói khóa, chiêm tinh, Dù ông nhiều bà vợ nhưng duy nhất Drah Hjan là người hạ sinh nhiều con cái cho hoàng triều nhất. Chúa nhà Nguyễn, Nguyễn Phúc Tần sai cai cơ Hùng Lộc mang 3000 quân đánh chiếm vùng đất còn lại của Champa từ Nha Trang đến Sông Phan Rang. Po Romê bị bắt trong trận chiến này, ngài bị nhốt vào Rọ, bỏ đói bỏ khát trên đường đưa về Huế, có lẽ trên đường đi ngài đã tự tử (Lược sử Dân tộc Chàm Dohamide gọi là Ba Bì đã tự tử). Theo tục lệ đạo Bà La Môn, người ta hỏa thiêu xác vua, khi đó chỉ có bà hoàng hậu Ê Đê là H'Bia Drah Hjan đã lặng lẽ âm thầm tiến đến gần nhảy vào lửa chết theo chồng,vì hoàng hậu cả là bà Drah Jih theo đạo Hồi (Chăm BàNi) theo giáo luật Hồi giáo không giám tuẫn tiết theo vua. Để tưởng nhớ đến một vị hoàng hậu cuối cùng của Vương triều Champa này nên được nhân dân thờ Bà trong một ngôi tháp phụ, rồi khi ngôi tháp sụp đổ, tượng của bà được đưa vào tháp chính phía bên phải tượng Vua là người
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: một vị hoàng hậu cuối cùng của Vương triều Champa này nên được nhân dân thờ Bà trong một ngôi tháp phụ, rồi khi ngôi tháp sụp đổ, tượng của bà được đưa vào tháp chính phía bên phải tượng Vua là người chồng của mình. Sự hi sinh chung thủy của Drah Hjan đến nỗi người Chăm coi bà như Nữ Thần và gọi là Pô Bia Drah Hjan. Đây có thể là mối liên hệ cuối cùng về hôn nhân giữa các triều đại Champa với người Rangđêy. Người Chiêm Thành đã có những câu ca rằng: Ba hoàng hậu Drah Hjan, Drah Jih, Drah Yang,Làm náo động sân đình chỉ vì thần Po Rame đẹp trai.Ba hoàng hậu Drah Hjan, Drah Jih, drah Yang, Sắc đẹp toả sáng như thần mặt trời mọc lên.(Drah Jan: hoàng hậu người Êđê, Drah Jih: hoàng hậu cả người Chăm Hồi giáo Bàni, Drah Yang: có ý kiến cho rằng những người vợ Pô Reme theo Hồi giáo gốc Kelantan (Bắc Malaysia)'' Như vậy vua Pô Reme 4 bà vợ: Một người Cham Bà-ni là công chúa nhà vua Pô Muh Taha; Một người Malaysia, để bang giao với thế giới Mã Lai. Một người Ê đê, Vua Pô rê mê và các thuật sĩ
|
một vị hoàng hậu cuối cùng của Vương triều Champa này nên được nhân dân thờ Bà trong một ngôi tháp phụ, rồi khi ngôi tháp sụp đổ, tượng của bà được đưa vào tháp chính phía bên phải tượng Vua là người chồng của mình. Sự hi sinh chung thủy của Drah Hjan đến nỗi người Chăm coi bà như Nữ Thần và gọi là Pô Bia Drah Hjan. Đây có thể là mối liên hệ cuối cùng về hôn nhân giữa các triều đại Champa với người Rangđêy. Người Chiêm Thành đã có những câu ca rằng: Ba hoàng hậu Drah Hjan, Drah Jih, Drah Yang,Làm náo động sân đình chỉ vì thần Po Rame đẹp trai.Ba hoàng hậu Drah Hjan, Drah Jih, drah Yang, Sắc đẹp toả sáng như thần mặt trời mọc lên.(Drah Jan: hoàng hậu người Êđê, Drah Jih: hoàng hậu cả người Chăm Hồi giáo Bàni, Drah Yang: có ý kiến cho rằng những người vợ Pô Reme theo Hồi giáo gốc Kelantan (Bắc Malaysia)'' Như vậy vua Pô Reme 4 bà vợ: Một người Cham Bà-ni là công chúa nhà vua Pô Muh Taha; Một người Malaysia, để bang giao với thế giới Mã Lai. Một người Ê đê, Vua Pô rê mê và các thuật sĩ
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: (Bắc Malaysia)'' Như vậy vua Pô Reme 4 bà vợ: Một người Cham Bà-ni là công chúa nhà vua Pô Muh Taha; Một người Malaysia, để bang giao với thế giới Mã Lai. Một người Ê đê, Vua Pô rê mê và các thuật sĩ chiêm tinh Bà La Môn khi đó tin rằng để phục hồi sức mạnh Champa xưa cũ nhằm gây dựng lại cơ đồ vực dậy hồi sinh giống dân Chiêm Thành về sau; Và bà vợ Việt là Công nữ Ngọc Khoa Bia Ut, như là kế hoãn binh với người Việt để tái thiết Đất nước. Thông tin khác: Tương truyền vào năm 1471, khi thân chinh cầm quân tấn công tiêu diệt Champa, vua Lê Thánh Tông dừng tại chân núi, cho quân lính trèo lên khắc tên, ghi rõ cương vực Đại Việt (Việt Nam ngày nay) tại nơi này. Vì thế, núi được gọi là núi Đá Bia. Trên núi có 1 tảng đá cao 76m, tương truyền năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã đến đây và cho khắc lên mặt khối đá bài văn (nên sau gọi là hòn Đá Bia) dòng chữ khẳng định chủ quyền Đại Việt. Về nội dung văn bia, các tài liệu có sự giải chép khác nhau, tựu trung có ba nội dung như sau: " Chiêm Thành
|
(Bắc Malaysia)'' Như vậy vua Pô Reme 4 bà vợ: Một người Cham Bà-ni là công chúa nhà vua Pô Muh Taha; Một người Malaysia, để bang giao với thế giới Mã Lai. Một người Ê đê, Vua Pô rê mê và các thuật sĩ chiêm tinh Bà La Môn khi đó tin rằng để phục hồi sức mạnh Champa xưa cũ nhằm gây dựng lại cơ đồ vực dậy hồi sinh giống dân Chiêm Thành về sau; Và bà vợ Việt là Công nữ Ngọc Khoa Bia Ut, như là kế hoãn binh với người Việt để tái thiết Đất nước. Thông tin khác: Tương truyền vào năm 1471, khi thân chinh cầm quân tấn công tiêu diệt Champa, vua Lê Thánh Tông dừng tại chân núi, cho quân lính trèo lên khắc tên, ghi rõ cương vực Đại Việt (Việt Nam ngày nay) tại nơi này. Vì thế, núi được gọi là núi Đá Bia. Trên núi có 1 tảng đá cao 76m, tương truyền năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã đến đây và cho khắc lên mặt khối đá bài văn (nên sau gọi là hòn Đá Bia) dòng chữ khẳng định chủ quyền Đại Việt. Về nội dung văn bia, các tài liệu có sự giải chép khác nhau, tựu trung có ba nội dung như sau: " Chiêm Thành
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: lên mặt khối đá bài văn (nên sau gọi là hòn Đá Bia) dòng chữ khẳng định chủ quyền Đại Việt. Về nội dung văn bia, các tài liệu có sự giải chép khác nhau, tựu trung có ba nội dung như sau: " Chiêm Thành quá thử, binh bại quốc vong, An Nam quá thử, tướng tru binh chiết" nghĩa là " Chiêm Thành vượt qua nơi này, binh thua nước mất, An Nam vượt qua nơi này, tướng chết quân tan"; hoặc "Dĩ Nam Chiêm Thành, dĩ Bắc dân triều mệnh Việt Nam" nghĩa là "Từ đây về Nam là Chiêm Thành, từ đây về Bắc dân chịu mệnh Việt Nam" ; cũng có tài liệu nói rằng văn bia chỉ là hai chữ "Hồng Đức", là niên hiệu của vua Lê Thánh Tông. Theo tryền thuyết người Êđê Phú Yên truyền thuyết của người Êđê, núi Đá Bia là Kut Hbia Bhi (mộ của bà HơBhí). Hbia Bhí là tên gọi khác của Hơbia Drah Hjan là người dân tộc Êđê, vợ của vua Pôrômê là vị vua tài giỏi của người Champa xưa kia,sau khi HơBia Bhí (một trong 3 người vợ của vua Pôrômê) mất, người ta đã đắp cho bà ngôi mộ thật to lớn, đó chính là núi Đá Bia ngày nay. Y Jut
|
lên mặt khối đá bài văn (nên sau gọi là hòn Đá Bia) dòng chữ khẳng định chủ quyền Đại Việt. Về nội dung văn bia, các tài liệu có sự giải chép khác nhau, tựu trung có ba nội dung như sau: " Chiêm Thành quá thử, binh bại quốc vong, An Nam quá thử, tướng tru binh chiết" nghĩa là " Chiêm Thành vượt qua nơi này, binh thua nước mất, An Nam vượt qua nơi này, tướng chết quân tan"; hoặc "Dĩ Nam Chiêm Thành, dĩ Bắc dân triều mệnh Việt Nam" nghĩa là "Từ đây về Nam là Chiêm Thành, từ đây về Bắc dân chịu mệnh Việt Nam" ; cũng có tài liệu nói rằng văn bia chỉ là hai chữ "Hồng Đức", là niên hiệu của vua Lê Thánh Tông. Theo tryền thuyết người Êđê Phú Yên truyền thuyết của người Êđê, núi Đá Bia là Kut Hbia Bhi (mộ của bà HơBhí). Hbia Bhí là tên gọi khác của Hơbia Drah Hjan là người dân tộc Êđê, vợ của vua Pôrômê là vị vua tài giỏi của người Champa xưa kia,sau khi HơBia Bhí (một trong 3 người vợ của vua Pôrômê) mất, người ta đã đắp cho bà ngôi mộ thật to lớn, đó chính là núi Đá Bia ngày nay. Y Jut
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: a vua Pôrômê là vị vua tài giỏi của người Champa xưa kia,sau khi HơBia Bhí (một trong 3 người vợ của vua Pôrômê) mất, người ta đã đắp cho bà ngôi mộ thật to lớn, đó chính là núi Đá Bia ngày nay. Y Jut Hwing (1888-1934) sinh ra tại Buôn Kram, xã Êa Tiêu trước đây thuộc huyện Krông Ana, nay thuộc huyện Čư̆ Kuiñ, tỉnh Dak Lak. Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, Y-Jut cùng các trẻ em nam khác bị thực dân Pháp bắt cóc và giao nộp cho Trường Prancios-Rhade để đào tạo trí thức tay sai cho thực dân Pháp. lợi dụng cơ hội này Y Jut quyết tâm học hành, đem ánh sáng văn hóa trở lại phục vụ quê hương, buôn làng và đó cũng là cơ hội tốt nhất để giải phóng đồng bào ra khỏi ách áp bức bóc lột. Y Jút tốt nghiệp sơ học tại Trường Franco – Rhade Buôn Ma Thuột, tốt nghiệp tiểu học ở Huế và năm 1912 học trung học tại Trường Lycee Khải Định Huế. Năm 1916 Y Jut tốt nghiệp trung học, được bổ nhiệm làm giáo viên tại Trường Franco – Rhade Buôn Ma Thuột. Trước cảnh sống tối tăm và khổ nhục của đồng bào do
|
a vua Pôrômê là vị vua tài giỏi của người Champa xưa kia,sau khi HơBia Bhí (một trong 3 người vợ của vua Pôrômê) mất, người ta đã đắp cho bà ngôi mộ thật to lớn, đó chính là núi Đá Bia ngày nay. Y Jut Hwing (1888-1934) sinh ra tại Buôn Kram, xã Êa Tiêu trước đây thuộc huyện Krông Ana, nay thuộc huyện Čư̆ Kuiñ, tỉnh Dak Lak. Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, Y-Jut cùng các trẻ em nam khác bị thực dân Pháp bắt cóc và giao nộp cho Trường Prancios-Rhade để đào tạo trí thức tay sai cho thực dân Pháp. lợi dụng cơ hội này Y Jut quyết tâm học hành, đem ánh sáng văn hóa trở lại phục vụ quê hương, buôn làng và đó cũng là cơ hội tốt nhất để giải phóng đồng bào ra khỏi ách áp bức bóc lột. Y Jút tốt nghiệp sơ học tại Trường Franco – Rhade Buôn Ma Thuột, tốt nghiệp tiểu học ở Huế và năm 1912 học trung học tại Trường Lycee Khải Định Huế. Năm 1916 Y Jut tốt nghiệp trung học, được bổ nhiệm làm giáo viên tại Trường Franco – Rhade Buôn Ma Thuột. Trước cảnh sống tối tăm và khổ nhục của đồng bào do
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: trung học tại Trường Lycee Khải Định Huế. Năm 1916 Y Jut tốt nghiệp trung học, được bổ nhiệm làm giáo viên tại Trường Franco – Rhade Buôn Ma Thuột. Trước cảnh sống tối tăm và khổ nhục của đồng bào do chính sách ngu dân của thực dân Pháp, ngay từ những năm đầu bước vào nghề dạy học, Y Jút đã nuôi hoài bão giải thoát người ÊĐê ra khỏi nạn mù chữ. Kết hợp với bạn bè như Y Ut Niê, Y Blŭl Êban tìm hiểu mẫu tự La tinh và vần Êđê đặt ra bộ chữ viết Êđê ngày nay. Sau đó bộ chữ này được đốc học Angtoamaki và Sabatier tu chỉnh lại vào năm 1920. Latinh hóa tiếng Êđê và thầy đã thành công. Ngoài ra, Y Jút còn là người phụ trách biên soạn bộ giáo trình Rhade – Pháp(Rhade-Francios) loại bỏ giáo trình Pháp-Rhade (Francios-Rhade) dùng để giảng dạy trong nhà trường nghĩa là học sinh bản địa Êđê học chữ Êđê trước sau đó mới học chức Pháp. Chữ Êđê là một trong những bộ chữ của các tộc người bản địa Tây Nguyên được xây dựng sớm nhất ở khu vực từ cơ sở chữ Latinh nhằm mục đích phục vụ giáo dục, với ý
|
trung học tại Trường Lycee Khải Định Huế. Năm 1916 Y Jut tốt nghiệp trung học, được bổ nhiệm làm giáo viên tại Trường Franco – Rhade Buôn Ma Thuột. Trước cảnh sống tối tăm và khổ nhục của đồng bào do chính sách ngu dân của thực dân Pháp, ngay từ những năm đầu bước vào nghề dạy học, Y Jút đã nuôi hoài bão giải thoát người ÊĐê ra khỏi nạn mù chữ. Kết hợp với bạn bè như Y Ut Niê, Y Blŭl Êban tìm hiểu mẫu tự La tinh và vần Êđê đặt ra bộ chữ viết Êđê ngày nay. Sau đó bộ chữ này được đốc học Angtoamaki và Sabatier tu chỉnh lại vào năm 1920. Latinh hóa tiếng Êđê và thầy đã thành công. Ngoài ra, Y Jút còn là người phụ trách biên soạn bộ giáo trình Rhade – Pháp(Rhade-Francios) loại bỏ giáo trình Pháp-Rhade (Francios-Rhade) dùng để giảng dạy trong nhà trường nghĩa là học sinh bản địa Êđê học chữ Êđê trước sau đó mới học chức Pháp. Chữ Êđê là một trong những bộ chữ của các tộc người bản địa Tây Nguyên được xây dựng sớm nhất ở khu vực từ cơ sở chữ Latinh nhằm mục đích phục vụ giáo dục, với ý
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: hữ Êđê trước sau đó mới học chức Pháp. Chữ Êđê là một trong những bộ chữ của các tộc người bản địa Tây Nguyên được xây dựng sớm nhất ở khu vực từ cơ sở chữ Latinh nhằm mục đích phục vụ giáo dục, với ý thức tự tôn dân tộc, nhằm giúp cho người Êđê có chữ viết. Sau này mới được các linh mục người Pháp, các mục sư Tin lành người Mỹ góp ý sửa chữa để chép kinh thánh bằng tiếng Êđê. Điều này không giống với quá trình xây dựng và hình thành bộ chữ của một số tộc người Tây Nguyên khác như: Jarai, Bana , Ka Ho... đều do các đức cha giáo phận mời trí thức các dân tộc cùng tham gia biên soạn, hướng chính vào mục đích phổ biến kinh thánh Cơ đốc và Tin lành. Trải qua nhiều năm tháng, bộ chữ Êđê ban đầu do hai thầy Y Jut và Y Ut biên soạn vẫn được coi là khoa học nhất và rất ít bị thay đổi. Ngày nay hầu hết người Êđê sử dụng thành thạo chữ viết này. Y-Jut bị đầu độc và qua đời năm 1934 tại Buôn Ma Thuột còn Y-Ut Niê BuônRit (Ama Puk) bị kẻ xấu ám sát bằng súng năm 1962 tại Buôn Trăp Krông Ana trong
|
hữ Êđê trước sau đó mới học chức Pháp. Chữ Êđê là một trong những bộ chữ của các tộc người bản địa Tây Nguyên được xây dựng sớm nhất ở khu vực từ cơ sở chữ Latinh nhằm mục đích phục vụ giáo dục, với ý thức tự tôn dân tộc, nhằm giúp cho người Êđê có chữ viết. Sau này mới được các linh mục người Pháp, các mục sư Tin lành người Mỹ góp ý sửa chữa để chép kinh thánh bằng tiếng Êđê. Điều này không giống với quá trình xây dựng và hình thành bộ chữ của một số tộc người Tây Nguyên khác như: Jarai, Bana , Ka Ho... đều do các đức cha giáo phận mời trí thức các dân tộc cùng tham gia biên soạn, hướng chính vào mục đích phổ biến kinh thánh Cơ đốc và Tin lành. Trải qua nhiều năm tháng, bộ chữ Êđê ban đầu do hai thầy Y Jut và Y Ut biên soạn vẫn được coi là khoa học nhất và rất ít bị thay đổi. Ngày nay hầu hết người Êđê sử dụng thành thạo chữ viết này. Y-Jut bị đầu độc và qua đời năm 1934 tại Buôn Ma Thuột còn Y-Ut Niê BuônRit (Ama Puk) bị kẻ xấu ám sát bằng súng năm 1962 tại Buôn Trăp Krông Ana trong
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Context: 12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử
Content: u hết người Êđê sử dụng thành thạo chữ viết này. Y-Jut bị đầu độc và qua đời năm 1934 tại Buôn Ma Thuột còn Y-Ut Niê BuônRit (Ama Puk) bị kẻ xấu ám sát bằng súng năm 1962 tại Buôn Trăp Krông Ana trong khi trên đường về dạy học cho các trẻ em Êđê. Ông Y Ut cũng là một dân biểu quốc hội trong chế độ cũ Việt Nam Cộng Hòa.
|
u hết người Êđê sử dụng thành thạo chữ viết này. Y-Jut bị đầu độc và qua đời năm 1934 tại Buôn Ma Thuột còn Y-Ut Niê BuônRit (Ama Puk) bị kẻ xấu ám sát bằng súng năm 1962 tại Buôn Trăp Krông Ana trong khi trên đường về dạy học cho các trẻ em Êđê. Ông Y Ut cũng là một dân biểu quốc hội trong chế độ cũ Việt Nam Cộng Hòa.
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"section": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử",
"topic": "12Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 13Các nhân vật
Context: 13Các nhân vật
Content: Các nhân vật người Ê Đê Tên Sinh thời Hoạt động Nổi tiếng trong giới Hoa hậu H'Hen Niê 1992-... Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2017 , Top 5 Hoa hậu Hoàn vũ 2018 , Timeless Beauty – Vẻ đẹp vượt thời gian 2018, quê buôn Sứt M’đưng, xã Čư Suê , huyện Čư M'gar , tỉnh Đắk Lắk H'Ăng Niê 1992-... Á quân Người mẫu Thời trang Việt Nam 2018, Á hậu Siêu mẫu Thế giới 2018, quê ở Buôn Hồ , tỉnh Đắk Lắk Các nhân sự Nhà nước Y Jut Hwing 1888-1934 Nhân sỹ trí thức, tác giả chính của bộ chữ viết Ê đê ngày nay. Thời Pháp thuộc ông từng phụ trách biên soạn bộ giáo trình Rhade – Pháp (Rhade-Francios) loại bỏ giáo trình Pháp-Rhade (Francios-Rhade) dùng để giảng dạy trong nhà trường, quê nay là xã Ea Tiêu huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Y Bih Alêô 1901-1987 Tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp do Y Jut và Y Ut lãnh đạo, sau đó đi lính khố xanh cho Pháp. Năm 1945 ông theo Việt Minh , tham gia những ủy ban hành chánh lâm thời. Sau đó tham gia và đảm nhận phó chủ tịch Mặt trận DTGP MNVN , quê xã Ea Ñuôl , thị xã
|
Các nhân vật người Ê Đê Tên Sinh thời Hoạt động Nổi tiếng trong giới Hoa hậu H'Hen Niê 1992-... Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2017 , Top 5 Hoa hậu Hoàn vũ 2018 , Timeless Beauty – Vẻ đẹp vượt thời gian 2018, quê buôn Sứt M’đưng, xã Čư Suê , huyện Čư M'gar , tỉnh Đắk Lắk H'Ăng Niê 1992-... Á quân Người mẫu Thời trang Việt Nam 2018, Á hậu Siêu mẫu Thế giới 2018, quê ở Buôn Hồ , tỉnh Đắk Lắk Các nhân sự Nhà nước Y Jut Hwing 1888-1934 Nhân sỹ trí thức, tác giả chính của bộ chữ viết Ê đê ngày nay. Thời Pháp thuộc ông từng phụ trách biên soạn bộ giáo trình Rhade – Pháp (Rhade-Francios) loại bỏ giáo trình Pháp-Rhade (Francios-Rhade) dùng để giảng dạy trong nhà trường, quê nay là xã Ea Tiêu huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Y Bih Alêô 1901-1987 Tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp do Y Jut và Y Ut lãnh đạo, sau đó đi lính khố xanh cho Pháp. Năm 1945 ông theo Việt Minh , tham gia những ủy ban hành chánh lâm thời. Sau đó tham gia và đảm nhận phó chủ tịch Mặt trận DTGP MNVN , quê xã Ea Ñuôl , thị xã
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "13Các nhân vật",
"section": "13Các nhân vật",
"topic": "13Các nhân vật"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 13Các nhân vật
Context: 13Các nhân vật
Content: nh đạo, sau đó đi lính khố xanh cho Pháp. Năm 1945 ông theo Việt Minh , tham gia những ủy ban hành chánh lâm thời. Sau đó tham gia và đảm nhận phó chủ tịch Mặt trận DTGP MNVN , quê xã Ea Ñuôl , thị xã Buôn Ma Thuột Y Wang Mlô Aduôn Du ?-? Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ Việt Nam. Quê Buôn Tring, phường An Lạc, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk. Y Blŏk Êban 1921-2018 Thiếu tướng QĐNDVN , năm 1976 giữ chức Chủ tịch tỉnh Đắk Lắk, đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa 3, 4, quê thành phố Buôn Ma Thuột Y Ngông Niê Kdăm 1922-2001 Trí thức , bác sĩ, Nhà giáo Nhân dân , Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk , quê thị trấn Ea Pôk , huyện Cư M'gar , tại Đắk Lắk Y Bhăm Êñuôl 1913-1975 Người tham gia thành lập và lãnh đạo tổ chức FULRO , chủ trương chấm dứt phân biệt đối xử các dân tộc thiểu số, năm 1975 bị Khmer Đỏ sát hại tại Phnôm Pênh , quê Buôn Kram xã Ea Tiêu huyện Cư Kuin , Đắk Lắk MôLô Y Choi 1930? Còn gọi là Mô Lô Y Clavi. Nhà thơ Việt Nam , tác giả của bài thơ "Cô gái vót chông" được nhạc sĩ Hoàng
|
nh đạo, sau đó đi lính khố xanh cho Pháp. Năm 1945 ông theo Việt Minh , tham gia những ủy ban hành chánh lâm thời. Sau đó tham gia và đảm nhận phó chủ tịch Mặt trận DTGP MNVN , quê xã Ea Ñuôl , thị xã Buôn Ma Thuột Y Wang Mlô Aduôn Du ?-? Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ Việt Nam. Quê Buôn Tring, phường An Lạc, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk. Y Blŏk Êban 1921-2018 Thiếu tướng QĐNDVN , năm 1976 giữ chức Chủ tịch tỉnh Đắk Lắk, đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa 3, 4, quê thành phố Buôn Ma Thuột Y Ngông Niê Kdăm 1922-2001 Trí thức , bác sĩ, Nhà giáo Nhân dân , Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk , quê thị trấn Ea Pôk , huyện Cư M'gar , tại Đắk Lắk Y Bhăm Êñuôl 1913-1975 Người tham gia thành lập và lãnh đạo tổ chức FULRO , chủ trương chấm dứt phân biệt đối xử các dân tộc thiểu số, năm 1975 bị Khmer Đỏ sát hại tại Phnôm Pênh , quê Buôn Kram xã Ea Tiêu huyện Cư Kuin , Đắk Lắk MôLô Y Choi 1930? Còn gọi là Mô Lô Y Clavi. Nhà thơ Việt Nam , tác giả của bài thơ "Cô gái vót chông" được nhạc sĩ Hoàng
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "13Các nhân vật",
"section": "13Các nhân vật",
"topic": "13Các nhân vật"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 13Các nhân vật
Context: 13Các nhân vật
Content: er Đỏ sát hại tại Phnôm Pênh , quê Buôn Kram xã Ea Tiêu huyện Cư Kuin , Đắk Lắk MôLô Y Choi 1930? Còn gọi là Mô Lô Y Clavi. Nhà thơ Việt Nam , tác giả của bài thơ "Cô gái vót chông" được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ thành bài hát cùng tên H Ngăm Niê Kdăm ?-? Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Y Ly Niê Kdăm 1944-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 11, Chủ tịch HĐND tỉnh Đắk Lắk, quê thị trấn Ea Pôč , huyện Čư M'gar , Đắk Lắk Niê Thuật 1956-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 13, quê xã Čư Drăm, huyện Krông Bông, Đắk Lắk Y Moan Ênuôl 1957-2010 Thường gọi là Y Moan , nhạc sĩ , ca sĩ , được phong Nghệ sĩ ưu tú và Nghệ sĩ Nhân dân , quê huyện M'Drắk , Đắk Lắk Y Tru Alio 1959-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14, Ủy viên UBTW Mặt trận TQVN , quê xã Êa Tiêu, huyện Čư Kuin, tỉnh Đắk Lắk Y Biêr Niê 1963-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14 (2016-2021), Chủ tịch HĐND tỉnh Đắk Lắk, quê xã Cư Bao, thị xã Buôn Hồ , tỉnh Đắk Lắk Y Thông 1966-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 13 (2011-2016),
|
er Đỏ sát hại tại Phnôm Pênh , quê Buôn Kram xã Ea Tiêu huyện Cư Kuin , Đắk Lắk MôLô Y Choi 1930? Còn gọi là Mô Lô Y Clavi. Nhà thơ Việt Nam , tác giả của bài thơ "Cô gái vót chông" được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ thành bài hát cùng tên H Ngăm Niê Kdăm ?-? Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Y Ly Niê Kdăm 1944-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 11, Chủ tịch HĐND tỉnh Đắk Lắk, quê thị trấn Ea Pôč , huyện Čư M'gar , Đắk Lắk Niê Thuật 1956-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 13, quê xã Čư Drăm, huyện Krông Bông, Đắk Lắk Y Moan Ênuôl 1957-2010 Thường gọi là Y Moan , nhạc sĩ , ca sĩ , được phong Nghệ sĩ ưu tú và Nghệ sĩ Nhân dân , quê huyện M'Drắk , Đắk Lắk Y Tru Alio 1959-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14, Ủy viên UBTW Mặt trận TQVN , quê xã Êa Tiêu, huyện Čư Kuin, tỉnh Đắk Lắk Y Biêr Niê 1963-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14 (2016-2021), Chủ tịch HĐND tỉnh Đắk Lắk, quê xã Cư Bao, thị xã Buôn Hồ , tỉnh Đắk Lắk Y Thông 1966-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 13 (2011-2016),
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "13Các nhân vật",
"section": "13Các nhân vật",
"topic": "13Các nhân vật"
}
|
Ethnic Group: Người Êđê
Topic: 13Các nhân vật
Context: 13Các nhân vật
Content: r Niê 1963-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14 (2016-2021), Chủ tịch HĐND tỉnh Đắk Lắk, quê xã Cư Bao, thị xã Buôn Hồ , tỉnh Đắk Lắk Y Thông 1966-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 13 (2011-2016), quê xã Ea Bá, huyện Sông Hinh, Phú Yên Y Phôn Ksor 1961-... Nhạc sĩ, nhà hoạt động nghệ thuật tại Đắk Lắk
|
r Niê 1963-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14 (2016-2021), Chủ tịch HĐND tỉnh Đắk Lắk, quê xã Cư Bao, thị xã Buôn Hồ , tỉnh Đắk Lắk Y Thông 1966-... Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 13 (2011-2016), quê xã Ea Bá, huyện Sông Hinh, Phú Yên Y Phôn Ksor 1961-... Nhạc sĩ, nhà hoạt động nghệ thuật tại Đắk Lắk
|
{
"ethnic_group": "Người Êđê",
"level": 1,
"path": "13Các nhân vật",
"section": "13Các nhân vật",
"topic": "13Các nhân vật"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: Introduction
Context: Introduction
Content: Ethnic group Bản mẫu:SHORTDESC:Ethnic group Người Hmông hay Mông ( RPA : Hmoob/Moob, Chữ Hmông Việt : Hmôngz/Môngz) ; phát âm tiếng H'Mông: [m̥ɔ̃ŋ] ), là một nhóm dân tộc có địa bàn cư trú truyền thống là Trung Quốc và các nước lân cận thuộc tiểu vùng Đông Nam Á , gồm Lào , Việt Nam , Thái Lan và Myanmar . Người Hmông nói tiếng Hmông , một ngôn ngữ chính trong ngữ hệ Hmông-Miền . Tiếng Hmông vốn chưa có chữ viết, hiện dùng phổ biến là chữ Hmông Latin hóa (RPA) và một phần là chữ Pahawh Hmông , được lập từ năm 1953. Tại Việt Nam người Hmông là một trong các dân tộc thiểu số có dân số đáng kể trong số 54 dân tộc tại Việt Nam . Tên gọi dân tộc được ông Cư Hòa Vần nêu ra là "Mông" hoặc "Hmôngz". Tại Thái Lan và Lào họ được gọi là người Mèo (trong nhóm Lào Sủng ). Theo tiếng Thái là แม้ว Maew hay ม้ง Hmông . Tại Trung Quốc , họ được gọi là Miêu ( tiếng Trung : 苗 ; bính âm : Miáo ), và tên gọi này được dùng trong văn liệu quốc tế là Miao, như trong tiếng Anh Miao people . Người Miêu được
|
Ethnic group Bản mẫu:SHORTDESC:Ethnic group Người Hmông hay Mông ( RPA : Hmoob/Moob, Chữ Hmông Việt : Hmôngz/Môngz) ; phát âm tiếng H'Mông: [m̥ɔ̃ŋ] ), là một nhóm dân tộc có địa bàn cư trú truyền thống là Trung Quốc và các nước lân cận thuộc tiểu vùng Đông Nam Á , gồm Lào , Việt Nam , Thái Lan và Myanmar . Người Hmông nói tiếng Hmông , một ngôn ngữ chính trong ngữ hệ Hmông-Miền . Tiếng Hmông vốn chưa có chữ viết, hiện dùng phổ biến là chữ Hmông Latin hóa (RPA) và một phần là chữ Pahawh Hmông , được lập từ năm 1953. Tại Việt Nam người Hmông là một trong các dân tộc thiểu số có dân số đáng kể trong số 54 dân tộc tại Việt Nam . Tên gọi dân tộc được ông Cư Hòa Vần nêu ra là "Mông" hoặc "Hmôngz". Tại Thái Lan và Lào họ được gọi là người Mèo (trong nhóm Lào Sủng ). Theo tiếng Thái là แม้ว Maew hay ม้ง Hmông . Tại Trung Quốc , họ được gọi là Miêu ( tiếng Trung : 苗 ; bính âm : Miáo ), và tên gọi này được dùng trong văn liệu quốc tế là Miao, như trong tiếng Anh Miao people . Người Miêu được
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 1,
"path": "Introduction",
"section": "Introduction",
"topic": "Introduction"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: Introduction
Context: Introduction
Content: ew hay ม้ง Hmông . Tại Trung Quốc , họ được gọi là Miêu ( tiếng Trung : 苗 ; bính âm : Miáo ), và tên gọi này được dùng trong văn liệu quốc tế là Miao, như trong tiếng Anh Miao people . Người Miêu được chính phủ Trung Quốc công nhận là một trong 55 dân tộc thiểu số tại Trung Quốc . Người Miêu tạo thành nhóm dân tộc lớn thứ 5 tại Trung Quốc . Người Miêu Trung Quốc bao gồm các phân nhóm: Hmông, H'mu, H'mao và Ghao Xong. Bên ngoài Trung Quốc thì chủ yếu thuộc phân nhóm Hmông.
|
ew hay ม้ง Hmông . Tại Trung Quốc , họ được gọi là Miêu ( tiếng Trung : 苗 ; bính âm : Miáo ), và tên gọi này được dùng trong văn liệu quốc tế là Miao, như trong tiếng Anh Miao people . Người Miêu được chính phủ Trung Quốc công nhận là một trong 55 dân tộc thiểu số tại Trung Quốc . Người Miêu tạo thành nhóm dân tộc lớn thứ 5 tại Trung Quốc . Người Miêu Trung Quốc bao gồm các phân nhóm: Hmông, H'mu, H'mao và Ghao Xong. Bên ngoài Trung Quốc thì chủ yếu thuộc phân nhóm Hmông.
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 1,
"path": "Introduction",
"section": "Introduction",
"topic": "Introduction"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 1Tên gọi
Context: 1Tên gọi
Content: Thuật ngữ "Miêu" và "Hmông" hiện thời đều được sử dụng để chỉ nhóm dân tộc thiểu số ở Trung Quốc . Họ sống chủ yếu ở miền nam Trung Quốc, trong các tỉnh Quý Châu , Hồ Nam , Vân Nam , Tứ Xuyên , Quảng Tây và Hồ Bắc . Theo điều tra dân số năm 2000 , số lượng người Miêu ở Trung Quốc khoảng 9,6 triệu. Ngoài phạm vi Trung Quốc họ còn sống ở Thái Lan , Lào (được xếp chung vào nhóm Lào Sủng ), Việt Nam và Myanmar do di cư bắt đầu vào khoảng thế kỷ XVIII , cũng như tới Hoa Kỳ , Guyana thuộc Pháp , Pháp và Úc như là kết quả của các cuộc di cư gần đây sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam . Tất cả các nhóm này cộng lại xấp xỉ 8 triệu người nói tiếng Hmông . Tại Việt Nam, có khoảng trên 1 triệu người Hmông. Tiếng Hmông bao gồm 3 phương ngữ, với 30-40 thổ ngữ có thể hiểu lẫn nhau được, cùng với tiếng Bunu , thuộc về nhóm Hmông trong ngữ hệ Hmông-Miền (hay hệ Miêu-Dao theo văn liệu Trung Quốc). Các nhà nghiên cứu phương Tây xử lý vấn đề thuật ngữ này không thống nhất. Những người đầu tiên sử dụng
|
Thuật ngữ "Miêu" và "Hmông" hiện thời đều được sử dụng để chỉ nhóm dân tộc thiểu số ở Trung Quốc . Họ sống chủ yếu ở miền nam Trung Quốc, trong các tỉnh Quý Châu , Hồ Nam , Vân Nam , Tứ Xuyên , Quảng Tây và Hồ Bắc . Theo điều tra dân số năm 2000 , số lượng người Miêu ở Trung Quốc khoảng 9,6 triệu. Ngoài phạm vi Trung Quốc họ còn sống ở Thái Lan , Lào (được xếp chung vào nhóm Lào Sủng ), Việt Nam và Myanmar do di cư bắt đầu vào khoảng thế kỷ XVIII , cũng như tới Hoa Kỳ , Guyana thuộc Pháp , Pháp và Úc như là kết quả của các cuộc di cư gần đây sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam . Tất cả các nhóm này cộng lại xấp xỉ 8 triệu người nói tiếng Hmông . Tại Việt Nam, có khoảng trên 1 triệu người Hmông. Tiếng Hmông bao gồm 3 phương ngữ, với 30-40 thổ ngữ có thể hiểu lẫn nhau được, cùng với tiếng Bunu , thuộc về nhóm Hmông trong ngữ hệ Hmông-Miền (hay hệ Miêu-Dao theo văn liệu Trung Quốc). Các nhà nghiên cứu phương Tây xử lý vấn đề thuật ngữ này không thống nhất. Những người đầu tiên sử dụng
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 1,
"path": "1Tên gọi",
"section": "1Tên gọi",
"topic": "1Tên gọi"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 1Tên gọi
Context: 1Tên gọi
Content: g Bunu , thuộc về nhóm Hmông trong ngữ hệ Hmông-Miền (hay hệ Miêu-Dao theo văn liệu Trung Quốc). Các nhà nghiên cứu phương Tây xử lý vấn đề thuật ngữ này không thống nhất. Những người đầu tiên sử dụng tên gọi theo kiểu Trung Hoa trong một loạt các phiên âm: Miao, Meau, Meo, Mo, Miao-tse, Miao-tsze, Miao-tseu (Miêu tộc). Tuy nhiên, do ảnh hưởng của người Hmông ở Lào, các nhà nghiên cứu đương đại chấp nhận thuật ngữ khác là "Hmông". Bản thân người Hmông thì sử dụng hàng loạt các tên tự gọi khác nhau. Tại Trung Quốc thông thường phân loại họ theo màu sắc chủ yếu đặc trưng nhất của phụ nữ Miêu. Danh sách dưới đây liệt kê các tên tự gọi, tên gọi màu sắc và khu vực chính mà 4 nhóm chính của người Miêu sinh sống tại Trung Quốc: Ghao Xong; Miêu đỏ; tây Hồ Nam . Hmu, Gha Ne (Ka Nao); Miêu đen; đông nam Quý Châu . Hmao; Miêu hoa lớn; tây bắc Quý Châu và đông bắc Vân Nam . Hmong; Miêu trắng, Miêu xanh, Miêu hoa nhỏ; nam Tứ Xuyên , tây Quý Châu và nam Vân Nam . Chỉ có nhóm thứ tư sử dụng thuật
|
g Bunu , thuộc về nhóm Hmông trong ngữ hệ Hmông-Miền (hay hệ Miêu-Dao theo văn liệu Trung Quốc). Các nhà nghiên cứu phương Tây xử lý vấn đề thuật ngữ này không thống nhất. Những người đầu tiên sử dụng tên gọi theo kiểu Trung Hoa trong một loạt các phiên âm: Miao, Meau, Meo, Mo, Miao-tse, Miao-tsze, Miao-tseu (Miêu tộc). Tuy nhiên, do ảnh hưởng của người Hmông ở Lào, các nhà nghiên cứu đương đại chấp nhận thuật ngữ khác là "Hmông". Bản thân người Hmông thì sử dụng hàng loạt các tên tự gọi khác nhau. Tại Trung Quốc thông thường phân loại họ theo màu sắc chủ yếu đặc trưng nhất của phụ nữ Miêu. Danh sách dưới đây liệt kê các tên tự gọi, tên gọi màu sắc và khu vực chính mà 4 nhóm chính của người Miêu sinh sống tại Trung Quốc: Ghao Xong; Miêu đỏ; tây Hồ Nam . Hmu, Gha Ne (Ka Nao); Miêu đen; đông nam Quý Châu . Hmao; Miêu hoa lớn; tây bắc Quý Châu và đông bắc Vân Nam . Hmong; Miêu trắng, Miêu xanh, Miêu hoa nhỏ; nam Tứ Xuyên , tây Quý Châu và nam Vân Nam . Chỉ có nhóm thứ tư sử dụng thuật
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 1,
"path": "1Tên gọi",
"section": "1Tên gọi",
"topic": "1Tên gọi"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 1Tên gọi
Context: 1Tên gọi
Content: đông nam Quý Châu . Hmao; Miêu hoa lớn; tây bắc Quý Châu và đông bắc Vân Nam . Hmong; Miêu trắng, Miêu xanh, Miêu hoa nhỏ; nam Tứ Xuyên , tây Quý Châu và nam Vân Nam . Chỉ có nhóm thứ tư sử dụng thuật ngữ "Hmông". Ngoài ra, chỉ có người Hmông (và một số Hmu) có người sinh sống ngoài phạm vi Trung Quốc. Những người Hmông phi Trung Quốc này cho rằng thuật ngữ "Hmông" không chỉ để nói tới nhóm thổ ngữ của họ, mà còn là để chỉ các nhóm khác sống tại Trung Quốc. Nói chung, họ cho rằng thuật ngữ "Miao" (hay "Miêu") là một thuật ngữ xúc phạm và không nên sử dụng nó. Thay vì điều này thuật ngữ "Hmông" được sử dụng để chỉ mọi nhóm người thuộc dân tộc này. Tuy nhiên, điều này có thể là kết quả của sự nhầm lẫn biểu hiện và ý nghĩa của từ. Các nhà thám hiểm và xâm lược Trung Hoa đặt cho người Hmông tên gọi "Miao" (hay "Miêu"), sau đó trở thành "Meo" (Mèo) và "Man" (Mán). Thuật ngữ sau để chỉ những kẻ "man di, mọi rợ ở miền nam". Từ "Miêu" cũng được sử dụng trong các ngôn ngữ khác của khu vực Đông
|
đông nam Quý Châu . Hmao; Miêu hoa lớn; tây bắc Quý Châu và đông bắc Vân Nam . Hmong; Miêu trắng, Miêu xanh, Miêu hoa nhỏ; nam Tứ Xuyên , tây Quý Châu và nam Vân Nam . Chỉ có nhóm thứ tư sử dụng thuật ngữ "Hmông". Ngoài ra, chỉ có người Hmông (và một số Hmu) có người sinh sống ngoài phạm vi Trung Quốc. Những người Hmông phi Trung Quốc này cho rằng thuật ngữ "Hmông" không chỉ để nói tới nhóm thổ ngữ của họ, mà còn là để chỉ các nhóm khác sống tại Trung Quốc. Nói chung, họ cho rằng thuật ngữ "Miao" (hay "Miêu") là một thuật ngữ xúc phạm và không nên sử dụng nó. Thay vì điều này thuật ngữ "Hmông" được sử dụng để chỉ mọi nhóm người thuộc dân tộc này. Tuy nhiên, điều này có thể là kết quả của sự nhầm lẫn biểu hiện và ý nghĩa của từ. Các nhà thám hiểm và xâm lược Trung Hoa đặt cho người Hmông tên gọi "Miao" (hay "Miêu"), sau đó trở thành "Meo" (Mèo) và "Man" (Mán). Thuật ngữ sau để chỉ những kẻ "man di, mọi rợ ở miền nam". Từ "Miêu" cũng được sử dụng trong các ngôn ngữ khác của khu vực Đông
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 1,
"path": "1Tên gọi",
"section": "1Tên gọi",
"topic": "1Tên gọi"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 1Tên gọi
Context: 1Tên gọi
Content: ên gọi "Miao" (hay "Miêu"), sau đó trở thành "Meo" (Mèo) và "Man" (Mán). Thuật ngữ sau để chỉ những kẻ "man di, mọi rợ ở miền nam". Từ "Miêu" cũng được sử dụng trong các ngôn ngữ khác của khu vực Đông Nam Á như tiếng Việt, Lào, Thái trong dạng "Meo" (tức là "Mèo"). Có thể những người nói tiếng Việt, Lào, Thái đã lấy từ "miao" (miêu) từ tiếng Trung Hoa. Nó được phát âm với giọng sai trong tiếng Thái hay với giọng cao trong tiếng Hán Quảng Đông thì có ý nghĩa là "Mèo" (đây là khả năng của nguồn gốc tượng thanh ). Trong cách dịch của người Việt các từ Hán-Việt thì "miêu" cũng là "mèo". Điều này giải thích tại sao lại có sự phản đối quyết liệt như vậy chống lại thuật ngữ "miêu" trong các nhóm người Hmông tại khu vực Đông Nam Á. Tại Trung Quốc, tình hình lại khác hẳn vì hai nguyên nhân chính. Các nhóm người Miêu có các tên tự gọi khác hẳn và chỉ một số rất ít sử dụng từ "Hmông". Những người còn lại thì không có ý kiến gì khi cho rằng "Hmông" là thích hợp hơn so với "Miêu" trong vai trò của
|
ên gọi "Miao" (hay "Miêu"), sau đó trở thành "Meo" (Mèo) và "Man" (Mán). Thuật ngữ sau để chỉ những kẻ "man di, mọi rợ ở miền nam". Từ "Miêu" cũng được sử dụng trong các ngôn ngữ khác của khu vực Đông Nam Á như tiếng Việt, Lào, Thái trong dạng "Meo" (tức là "Mèo"). Có thể những người nói tiếng Việt, Lào, Thái đã lấy từ "miao" (miêu) từ tiếng Trung Hoa. Nó được phát âm với giọng sai trong tiếng Thái hay với giọng cao trong tiếng Hán Quảng Đông thì có ý nghĩa là "Mèo" (đây là khả năng của nguồn gốc tượng thanh ). Trong cách dịch của người Việt các từ Hán-Việt thì "miêu" cũng là "mèo". Điều này giải thích tại sao lại có sự phản đối quyết liệt như vậy chống lại thuật ngữ "miêu" trong các nhóm người Hmông tại khu vực Đông Nam Á. Tại Trung Quốc, tình hình lại khác hẳn vì hai nguyên nhân chính. Các nhóm người Miêu có các tên tự gọi khác hẳn và chỉ một số rất ít sử dụng từ "Hmông". Những người còn lại thì không có ý kiến gì khi cho rằng "Hmông" là thích hợp hơn so với "Miêu" trong vai trò của
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 1,
"path": "1Tên gọi",
"section": "1Tên gọi",
"topic": "1Tên gọi"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 1Tên gọi
Context: 1Tên gọi
Content: Các nhóm người Miêu có các tên tự gọi khác hẳn và chỉ một số rất ít sử dụng từ "Hmông". Những người còn lại thì không có ý kiến gì khi cho rằng "Hmông" là thích hợp hơn so với "Miêu" trong vai trò của tên gọi chung. Kể từ khi có phân loại chính thức các dân tộc thiểu số trong thập niên 1950 một số dân tộc thiểu số đã khiếu nại về từ ngữ được sử dụng ở Trung Quốc để gọi tên dân tộc họ và đã đề nghị chính quyền thay đổi cách sử dụng chính thức. Nhóm người Miêu ở Trung Quốc, theo bài báo năm 1992 trong Dự án bản tin Thái-Vân Nam [TYPN 1992], đã không có khiếu nại gì. Lý do thứ hai thuần túy là thực dụng: không có khả năng đưa từ "hmong" vào trong tiếng Trung do âm tiết của nó không tồn tại trong tiếng Trung. (Cũng giống như trong tiếng Anh là có rất ít người có khả năng phát âm các âm điếc giọng mũi). Tuy nhiên, trong tiếng Anh , không giống như tiếng Trung, người ta có khả năng viết được từ "Hmong". Người Hmông viết tên gọi của dân tộc mình theo chữ Hmông Latin hóa (RPA) là "Hmoob".
|
Các nhóm người Miêu có các tên tự gọi khác hẳn và chỉ một số rất ít sử dụng từ "Hmông". Những người còn lại thì không có ý kiến gì khi cho rằng "Hmông" là thích hợp hơn so với "Miêu" trong vai trò của tên gọi chung. Kể từ khi có phân loại chính thức các dân tộc thiểu số trong thập niên 1950 một số dân tộc thiểu số đã khiếu nại về từ ngữ được sử dụng ở Trung Quốc để gọi tên dân tộc họ và đã đề nghị chính quyền thay đổi cách sử dụng chính thức. Nhóm người Miêu ở Trung Quốc, theo bài báo năm 1992 trong Dự án bản tin Thái-Vân Nam [TYPN 1992], đã không có khiếu nại gì. Lý do thứ hai thuần túy là thực dụng: không có khả năng đưa từ "hmong" vào trong tiếng Trung do âm tiết của nó không tồn tại trong tiếng Trung. (Cũng giống như trong tiếng Anh là có rất ít người có khả năng phát âm các âm điếc giọng mũi). Tuy nhiên, trong tiếng Anh , không giống như tiếng Trung, người ta có khả năng viết được từ "Hmong". Người Hmông viết tên gọi của dân tộc mình theo chữ Hmông Latin hóa (RPA) là "Hmoob".
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 1,
"path": "1Tên gọi",
"section": "1Tên gọi",
"topic": "1Tên gọi"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 1Tên gọi
Context: 1Tên gọi
Content: ếc giọng mũi). Tuy nhiên, trong tiếng Anh , không giống như tiếng Trung, người ta có khả năng viết được từ "Hmong". Người Hmông viết tên gọi của dân tộc mình theo chữ Hmông Latin hóa (RPA) là "Hmoob". Cách viết hai nguyên âm chỉ ra rằng nó được phát âm giống như âm mũi, và một số phụ âm được sử dụng ở cuối của âm tiết để biểu thị giọng đọc. Vì thế từ America được viết giống như là Asmeslivkas trong RPA (Chữ Hmông Việt: Asmêslircas ). Thuật ngữ "Hmông" được đề nghị như là tên gọi của các nhóm người Miêu nói thổ ngữ Hmông ở Trung Quốc và người Hmông ngoài Trung Quốc. Việc sử dụng từ này ngày nay đã được thiết lập vững chắc trong sách vở phương Tây. Nó dẫn đến nhiều người đã nhầm lẫn với tình trạng của các thuật ngữ hiện tại và không nhìn thấy mối liên quan giữa người Miêu và Hmông.
|
ếc giọng mũi). Tuy nhiên, trong tiếng Anh , không giống như tiếng Trung, người ta có khả năng viết được từ "Hmong". Người Hmông viết tên gọi của dân tộc mình theo chữ Hmông Latin hóa (RPA) là "Hmoob". Cách viết hai nguyên âm chỉ ra rằng nó được phát âm giống như âm mũi, và một số phụ âm được sử dụng ở cuối của âm tiết để biểu thị giọng đọc. Vì thế từ America được viết giống như là Asmeslivkas trong RPA (Chữ Hmông Việt: Asmêslircas ). Thuật ngữ "Hmông" được đề nghị như là tên gọi của các nhóm người Miêu nói thổ ngữ Hmông ở Trung Quốc và người Hmông ngoài Trung Quốc. Việc sử dụng từ này ngày nay đã được thiết lập vững chắc trong sách vở phương Tây. Nó dẫn đến nhiều người đã nhầm lẫn với tình trạng của các thuật ngữ hiện tại và không nhìn thấy mối liên quan giữa người Miêu và Hmông.
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 1,
"path": "1Tên gọi",
"section": "1Tên gọi",
"topic": "1Tên gọi"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 2Ngôn ngữ
Context: 2Ngôn ngữ
Content: Tiếng Hmông là một ngôn ngữ nằm trong ngữ hệ Hmông-Miền (hay Miêu-Dao). Trên thực tế vấn đề phân loại theo quan hệ họ hàng của ngôn ngữ này đã từng có nhiều ý kiến khá khác nhau. Một số nhà ngôn ngữ học từng xếp tiếng Hmông thuộc nhánh Miêu-Dao trong ngữ hệ Hán-Tạng , trong đó phải kể đến các nhà khoa học Trung Quốc. Trong những ý kiến đáng chú ý ta còn phải kể đến Paul K. Benedict với quan điểm quy các ngôn ngữ trong khu vực thành 2 hệ cơ bản: Hán-Tạng và Nam Thái ( Austro-Thai ). Trong đó vị trí các ngôn ngữ Hmông-Miền được định vị trong hệ Nam Thái. Còn André G. Haudricourt từng bước đem so sánh cả hệ thống thanh điệu và cả lớp từ vựng cơ bản giữa các ngôn ngữ Hmông-Miền với các ngôn ngữ của ngữ hệ Hán-Tạng và hệ Nam Á . Ông đã cho rằng "các ngôn ngữ Miao-Yao hình như tạo nên mối liên hệ giữa các ngôn ngữ Nam Á và các ngôn ngữ Tạng-Miến ". Đây cũng chính là cơ sở để một hướng các nhà ngôn ngữ sau này không xếp các ngôn ngữ Hmông-Miền vào Nam Á hay Hán-Tạng mà là một họ ngôn ngữ độc
|
Tiếng Hmông là một ngôn ngữ nằm trong ngữ hệ Hmông-Miền (hay Miêu-Dao). Trên thực tế vấn đề phân loại theo quan hệ họ hàng của ngôn ngữ này đã từng có nhiều ý kiến khá khác nhau. Một số nhà ngôn ngữ học từng xếp tiếng Hmông thuộc nhánh Miêu-Dao trong ngữ hệ Hán-Tạng , trong đó phải kể đến các nhà khoa học Trung Quốc. Trong những ý kiến đáng chú ý ta còn phải kể đến Paul K. Benedict với quan điểm quy các ngôn ngữ trong khu vực thành 2 hệ cơ bản: Hán-Tạng và Nam Thái ( Austro-Thai ). Trong đó vị trí các ngôn ngữ Hmông-Miền được định vị trong hệ Nam Thái. Còn André G. Haudricourt từng bước đem so sánh cả hệ thống thanh điệu và cả lớp từ vựng cơ bản giữa các ngôn ngữ Hmông-Miền với các ngôn ngữ của ngữ hệ Hán-Tạng và hệ Nam Á . Ông đã cho rằng "các ngôn ngữ Miao-Yao hình như tạo nên mối liên hệ giữa các ngôn ngữ Nam Á và các ngôn ngữ Tạng-Miến ". Đây cũng chính là cơ sở để một hướng các nhà ngôn ngữ sau này không xếp các ngôn ngữ Hmông-Miền vào Nam Á hay Hán-Tạng mà là một họ ngôn ngữ độc
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 1,
"path": "2Ngôn ngữ",
"section": "2Ngôn ngữ",
"topic": "2Ngôn ngữ"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 2Ngôn ngữ
Context: 2Ngôn ngữ
Content: hệ giữa các ngôn ngữ Nam Á và các ngôn ngữ Tạng-Miến ". Đây cũng chính là cơ sở để một hướng các nhà ngôn ngữ sau này không xếp các ngôn ngữ Hmông-Miền vào Nam Á hay Hán-Tạng mà là một họ ngôn ngữ độc lập vì những kiến giải của Haudricourt "không thuần tuý là sự so sánh từ vựng mà là sự phục nguyên, một thao tác thể hiện tính quy luật của những chuyển đổi âm thanh". Kế thừa những nghiên cứu đi trước, Martha Ratliff đã đưa ra một bảng phân loại các ngôn ngữ Hmông-Miền khá chi tiết trong đó tác giả đã định vị ngành Hmông trắng (Mông Đơư) như sau: Ngữ hệ ( language family ): Hmông-Miền ( Hmong-Mien ) Nhóm ngôn ngữ: Hmông ( Hmongic ) Nhánh: thuộc các phương ngôn Tứ Xuyên - Quý Châu - Vân Nam, còn gọi là nhánh Hmông phía Tây ( West Hmongic branch ) Tiểu nhánh: Tứ Xuyên - Quý Châu - Vân Nam Phương ngữ: Mông Trắng ( White Hmong ) Trong cuốn từ điển Bách khoa thư ngôn ngữ đã phân các ngôn ngữ Hmông-Miền thành hai nhánh chính: Hmông - gồm có: Dananshan Hmong, Hmong Đông, Hmong Bắc, Hmong Tây,
|
hệ giữa các ngôn ngữ Nam Á và các ngôn ngữ Tạng-Miến ". Đây cũng chính là cơ sở để một hướng các nhà ngôn ngữ sau này không xếp các ngôn ngữ Hmông-Miền vào Nam Á hay Hán-Tạng mà là một họ ngôn ngữ độc lập vì những kiến giải của Haudricourt "không thuần tuý là sự so sánh từ vựng mà là sự phục nguyên, một thao tác thể hiện tính quy luật của những chuyển đổi âm thanh". Kế thừa những nghiên cứu đi trước, Martha Ratliff đã đưa ra một bảng phân loại các ngôn ngữ Hmông-Miền khá chi tiết trong đó tác giả đã định vị ngành Hmông trắng (Mông Đơư) như sau: Ngữ hệ ( language family ): Hmông-Miền ( Hmong-Mien ) Nhóm ngôn ngữ: Hmông ( Hmongic ) Nhánh: thuộc các phương ngôn Tứ Xuyên - Quý Châu - Vân Nam, còn gọi là nhánh Hmông phía Tây ( West Hmongic branch ) Tiểu nhánh: Tứ Xuyên - Quý Châu - Vân Nam Phương ngữ: Mông Trắng ( White Hmong ) Trong cuốn từ điển Bách khoa thư ngôn ngữ đã phân các ngôn ngữ Hmông-Miền thành hai nhánh chính: Hmông - gồm có: Dananshan Hmong, Hmong Đông, Hmong Bắc, Hmong Tây,
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 1,
"path": "2Ngôn ngữ",
"section": "2Ngôn ngữ",
"topic": "2Ngôn ngữ"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 2Ngôn ngữ
Context: 2Ngôn ngữ
Content: ương ngữ: Mông Trắng ( White Hmong ) Trong cuốn từ điển Bách khoa thư ngôn ngữ đã phân các ngôn ngữ Hmông-Miền thành hai nhánh chính: Hmông - gồm có: Dananshan Hmong, Hmong Đông, Hmong Bắc, Hmong Tây, Hmong Daw, Hmong Njua, Miao Đỏ, Pa Heng, Punu Miền (hay Dao) - gồm có: Ba Pai, Mien, Biao Mien, Iu mien, Mun, She Tại đây Hmông Leng (Mông Lềnh) được xác định như một tên gọi khác của ngành Hmông Njua (Hmông Xanh) nằm trong nhánh Hmông.
|
ương ngữ: Mông Trắng ( White Hmong ) Trong cuốn từ điển Bách khoa thư ngôn ngữ đã phân các ngôn ngữ Hmông-Miền thành hai nhánh chính: Hmông - gồm có: Dananshan Hmong, Hmong Đông, Hmong Bắc, Hmong Tây, Hmong Daw, Hmong Njua, Miao Đỏ, Pa Heng, Punu Miền (hay Dao) - gồm có: Ba Pai, Mien, Biao Mien, Iu mien, Mun, She Tại đây Hmông Leng (Mông Lềnh) được xác định như một tên gọi khác của ngành Hmông Njua (Hmông Xanh) nằm trong nhánh Hmông.
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 1,
"path": "2Ngôn ngữ",
"section": "2Ngôn ngữ",
"topic": "2Ngôn ngữ"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 3Chữ viết
Context: 3Chữ viết
Content: Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông Hiện chưa xác định rõ liệu một hệ thống chữ viết Hmông trong lịch sử hay không. Theo truyền thuyết thì người Hmông từng có chữ gọi là "chữ Nam Man", do người Hán gọi người Hmông là người Nam Man . Trong cuộc chiến với người Hán , người Hmông thua trận phải chạy về phía nam, dẫn đến sách và chữ đã bị thất lạc. Vì thế đến thế kỷ 20 tiếng Hmông được coi là chưa có chữ viết. Những nỗ lực lập ra bộ chữ để ghi tiếng Hmông xuất hiện vào giữa thế kỷ XX.
|
Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông Hiện chưa xác định rõ liệu một hệ thống chữ viết Hmông trong lịch sử hay không. Theo truyền thuyết thì người Hmông từng có chữ gọi là "chữ Nam Man", do người Hán gọi người Hmông là người Nam Man . Trong cuộc chiến với người Hán , người Hmông thua trận phải chạy về phía nam, dẫn đến sách và chữ đã bị thất lạc. Vì thế đến thế kỷ 20 tiếng Hmông được coi là chưa có chữ viết. Những nỗ lực lập ra bộ chữ để ghi tiếng Hmông xuất hiện vào giữa thế kỷ XX.
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 1,
"path": "3Chữ viết",
"section": "3Chữ viết",
"topic": "3Chữ viết"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 3Chữ viết
Context: 3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > Introduction
Content: Chữ viết H'Mông hay chữ viết Hmông dùng để chỉ các hệ thống chữ viết khác nhau được sử dụng để ghi các tiếng H'Mông , được người Hmông nói ở Trung Quốc , Việt Nam , Lào , Hoa Kỳ và Thái Lan , là 5 quốc gia hàng đầu về số người H'Mông cư trú. Hiện ghi nhận được hơn một chục bộ chữ viết H'Mông, song trong số đó không có bản nào được coi là tiêu chuẩn cho việc phiên âm ngôn ngữ trong con mắt của người H'Mông.
|
Chữ viết H'Mông hay chữ viết Hmông dùng để chỉ các hệ thống chữ viết khác nhau được sử dụng để ghi các tiếng H'Mông , được người Hmông nói ở Trung Quốc , Việt Nam , Lào , Hoa Kỳ và Thái Lan , là 5 quốc gia hàng đầu về số người H'Mông cư trú. Hiện ghi nhận được hơn một chục bộ chữ viết H'Mông, song trong số đó không có bản nào được coi là tiêu chuẩn cho việc phiên âm ngôn ngữ trong con mắt của người H'Mông.
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 2,
"path": "3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > Introduction",
"section": "Introduction",
"topic": "3Chữ viết"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 3Chữ viết
Context: 3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > 1Các chữ viết được ghi nhận trong lịch sử
Content: Hiện chưa xác định rõ liệu có một hệ thống chữ viết Hmông trong lịch sử hay không. Một số dạng chữ được nói đến trong các tác phẩm lịch sử, chủ yếu là trong văn học Trung Quốc, như được nêu trong các phần dưới đây, tuy nhiên bằng chứng này còn là tranh cãi. Ví dụ theo S. Robert Ramsey, không có hệ thống chữ viết nào của người Miêu tồn tại, cho đến khi các nhà truyền giáo tạo ra chúng. Các nhà khảo cổ vẫn đang tìm kiếm các hiện vật từ thời kỳ được cho là đã có chữ. Năm bản dưới đây được minh chứng rộng rãi nhất trong các nguồn tài liệu chính.
|
Hiện chưa xác định rõ liệu có một hệ thống chữ viết Hmông trong lịch sử hay không. Một số dạng chữ được nói đến trong các tác phẩm lịch sử, chủ yếu là trong văn học Trung Quốc, như được nêu trong các phần dưới đây, tuy nhiên bằng chứng này còn là tranh cãi. Ví dụ theo S. Robert Ramsey, không có hệ thống chữ viết nào của người Miêu tồn tại, cho đến khi các nhà truyền giáo tạo ra chúng. Các nhà khảo cổ vẫn đang tìm kiếm các hiện vật từ thời kỳ được cho là đã có chữ. Năm bản dưới đây được minh chứng rộng rãi nhất trong các nguồn tài liệu chính.
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 2,
"path": "3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > 1Các chữ viết được ghi nhận trong lịch sử",
"section": "1Các chữ viết được ghi nhận trong lịch sử",
"topic": "3Chữ viết"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 3Chữ viết
Context: 3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > 1.1Chữ Nam Man
Content: Trong lịch sử Trung Quốc thuyết địa lý của người Hoa coi đất Hoa Hạ của người Hoa ở "trung tâm thế giới", bao quanh là "bốn xứ man rợ" ( Tứ di ), trong đó các dân tộc sống ở phía nam gọi là Nam Man . Vào thời kỳ đầu thì Nam Man trỏ đến người Hmông . Nam Man sống ở nam - đông Hoa Hạ , sau khi thua trận và vị vua thần thoại của người Hmông là Xi Vưu bị trục xuất, người Nam Man phải chạy về phía nam. Theo truyền thuyết trong quá trình chạy thì chữ của họ và những thông tin đã ghi lại bị biến mất theo nhiều cách: những cuốn sách đã bị mất trong trận lụt; người Hmông phải ăn những cuốn sách vì thiếu lương thực do cuộc xâm lược của người Hoa ; chúng bị thú vật ăn khi chạy khỏi người Trung Quốc; hoặc họ không có cách nào vượt sông mà không vứt bỏ sách. Tất cả những câu chuyện có chung một sự mất mát của những cuốn sách, đất nước, do người Hoa xâm lược. Đến nay bộ chữ đó chưa tìm lại được.
|
Trong lịch sử Trung Quốc thuyết địa lý của người Hoa coi đất Hoa Hạ của người Hoa ở "trung tâm thế giới", bao quanh là "bốn xứ man rợ" ( Tứ di ), trong đó các dân tộc sống ở phía nam gọi là Nam Man . Vào thời kỳ đầu thì Nam Man trỏ đến người Hmông . Nam Man sống ở nam - đông Hoa Hạ , sau khi thua trận và vị vua thần thoại của người Hmông là Xi Vưu bị trục xuất, người Nam Man phải chạy về phía nam. Theo truyền thuyết trong quá trình chạy thì chữ của họ và những thông tin đã ghi lại bị biến mất theo nhiều cách: những cuốn sách đã bị mất trong trận lụt; người Hmông phải ăn những cuốn sách vì thiếu lương thực do cuộc xâm lược của người Hoa ; chúng bị thú vật ăn khi chạy khỏi người Trung Quốc; hoặc họ không có cách nào vượt sông mà không vứt bỏ sách. Tất cả những câu chuyện có chung một sự mất mát của những cuốn sách, đất nước, do người Hoa xâm lược. Đến nay bộ chữ đó chưa tìm lại được.
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 2,
"path": "3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > 1.1Chữ Nam Man",
"section": "1.1Chữ Nam Man",
"topic": "3Chữ viết"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 3Chữ viết
Context: 3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > 1.2Pax Ntâu (vải hoa)
Content: Để đối phó với cuộc xâm lược của người Hoa , người Hmông cố bảo tồn hệ thống chữ viết cổ xưa của họ trong "vải hoa" (Paj Ntau / Pax Ntâu) của phụ nữ. Điều này có vẻ là một câu chuyện phổ biến để phản ứng lại sự mất chữ và mất sách vì hậu quả của sự mất nước của Nam Man trước Hoa Hạ. Một phiên bản hiện đại trên Internet được gọi là " Hệ thống chữ viết Hmông cổ đại " tuyên bố là đã giải mã tập chữ này, nhưng không có kết nối nào tới nguồn đáng tin cậy và trung lập.
|
Để đối phó với cuộc xâm lược của người Hoa , người Hmông cố bảo tồn hệ thống chữ viết cổ xưa của họ trong "vải hoa" (Paj Ntau / Pax Ntâu) của phụ nữ. Điều này có vẻ là một câu chuyện phổ biến để phản ứng lại sự mất chữ và mất sách vì hậu quả của sự mất nước của Nam Man trước Hoa Hạ. Một phiên bản hiện đại trên Internet được gọi là " Hệ thống chữ viết Hmông cổ đại " tuyên bố là đã giải mã tập chữ này, nhưng không có kết nối nào tới nguồn đáng tin cậy và trung lập.
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 2,
"path": "3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > 1.2Pax Ntâu (vải hoa)",
"section": "1.2Pax Ntâu (vải hoa)",
"topic": "3Chữ viết"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 3Chữ viết
Context: 3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > 1.3Chữ thời Nhà Thanh
Content: Vào thời Nhà Minh và Nhà Thanh những người Hán đến định cư ở các vùng phía nam, nơi người Hmông sống. Lúc đó người Hmông được coi là đã sử dụng một hệ thống chữ viết để ghi lại thông tin. Trong nỗ lực ép buộc người Hmông, mà người Hán gọi là người Miêu , làng Hmông bị đốt cháy và di tích văn hóa Hmông bị phá hủy. Người Hmông bị cấm sao chép ngôn ngữ của họ, nên không rõ di sản Hmông viết từ thời đó có còn hay không.
|
Vào thời Nhà Minh và Nhà Thanh những người Hán đến định cư ở các vùng phía nam, nơi người Hmông sống. Lúc đó người Hmông được coi là đã sử dụng một hệ thống chữ viết để ghi lại thông tin. Trong nỗ lực ép buộc người Hmông, mà người Hán gọi là người Miêu , làng Hmông bị đốt cháy và di tích văn hóa Hmông bị phá hủy. Người Hmông bị cấm sao chép ngôn ngữ của họ, nên không rõ di sản Hmông viết từ thời đó có còn hay không.
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 2,
"path": "3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > 1.3Chữ thời Nhà Thanh",
"section": "1.3Chữ thời Nhà Thanh",
"topic": "3Chữ viết"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 3Chữ viết
Context: 3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > 1.6Chữ viết từ thời cổ đại
Content: Theo các tài liệu khảo cổ thuộc di chỉ văn hóa Đại Vấn Khẩu ở tỉnh Sơn Đông với niên đại khoảng 4.000 năm TCN đến 2.000 năm TCN cho thấy hệ thống các ký tự khắc trên các đồ gốm giống với chữ Hán Phồn Thể ngày nay. Điều đặc biệt là thời gian tồn tại nền văn hóa này và các địa điểm phát hiện khảo cổ đều trùng khớp với truyền thuyết về Chiyou và trận đấu Trắc Lộc nổi tiếng.
|
Theo các tài liệu khảo cổ thuộc di chỉ văn hóa Đại Vấn Khẩu ở tỉnh Sơn Đông với niên đại khoảng 4.000 năm TCN đến 2.000 năm TCN cho thấy hệ thống các ký tự khắc trên các đồ gốm giống với chữ Hán Phồn Thể ngày nay. Điều đặc biệt là thời gian tồn tại nền văn hóa này và các địa điểm phát hiện khảo cổ đều trùng khớp với truyền thuyết về Chiyou và trận đấu Trắc Lộc nổi tiếng.
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 2,
"path": "3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > 1.6Chữ viết từ thời cổ đại",
"section": "1.6Chữ viết từ thời cổ đại",
"topic": "3Chữ viết"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 3Chữ viết
Context: 3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > 2.1Chữ Pollard
Content: Chữ Pollard được Sam Pollard đưa ra năm 1922 để viết tiếng A-Hmao (Miêu Hoa Lớn), một ngôn ngữ Hmông ở Tứ Xuyên , Trung Quốc, để dùng trong truyền đạo. Việc sử dụng nó đang giảm, mặc dù nó được người Hmông của cộng đồng Kitô hữu và các trưởng lão tôn trọng. Mức độ hiện tại của việc sử dụng nó chưa được biết. Chữ Pollard hiện có mã unicode là U+16F00..U+16F9F. Bảng Unicode chữ Miêu Pollard Official Unicode Consortium code chart Version 12.0. 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 A B C D E F U+16F0x 𖼀 𖼁 𖼂 𖼃 𖼄 𖼅 𖼆 𖼇 𖼈 𖼉 𖼊 𖼋 𖼌 𖼍 𖼎 𖼏 U+16F1x 𖼐 𖼑 𖼒 𖼓 𖼔 𖼕 𖼖 𖼗 𖼘 𖼙 𖼚 𖼛 𖼜 𖼝 𖼞 𖼟 U+16F2x 𖼠 𖼡 𖼢 𖼣 𖼤 𖼥 𖼦 𖼧 𖼨 𖼩 𖼪 𖼫 𖼬 𖼭 𖼮 𖼯 U+16F3x 𖼰 𖼱 𖼲 𖼳 𖼴 𖼵 𖼶 𖼷 𖼸 𖼹 𖼺 𖼻 𖼼 𖼽 𖼾 𖼿 U+16F4x 𖽀 𖽁 𖽂 𖽃 𖽄 𖽅 𖽆 𖽇 𖽈 𖽉 𖽊 𖽏 U+16F5x 𖽐 𖽑 𖽒 𖽓 𖽔 𖽕 𖽖 𖽗 𖽘 𖽙 𖽚 𖽛 𖽜 𖽝 𖽞 𖽟 U+16F6x 𖽠 𖽡 𖽢 𖽣 𖽤 𖽥 𖽦 𖽧 𖽨 𖽩 𖽪 𖽫 𖽬 𖽭 𖽮 𖽯 U+16F7x 𖽰 𖽱 𖽲 𖽳 𖽴 𖽵 𖽶 𖽷 𖽸 𖽹 𖽺 𖽻 𖽼 𖽽 𖽾 𖽿 U+16F8x 𖾀 𖾁 𖾂 𖾃 𖾄 𖾅 𖾆 𖾇 𖾏 U+16F9x 𖾐 𖾑 𖾒 𖾓 𖾔 𖾕 𖾖 𖾗 𖾘 𖾙 𖾚 𖾛 𖾜 𖾝 𖾞 𖾟
|
Chữ Pollard được Sam Pollard đưa ra năm 1922 để viết tiếng A-Hmao (Miêu Hoa Lớn), một ngôn ngữ Hmông ở Tứ Xuyên , Trung Quốc, để dùng trong truyền đạo. Việc sử dụng nó đang giảm, mặc dù nó được người Hmông của cộng đồng Kitô hữu và các trưởng lão tôn trọng. Mức độ hiện tại của việc sử dụng nó chưa được biết. Chữ Pollard hiện có mã unicode là U+16F00..U+16F9F. Bảng Unicode chữ Miêu Pollard Official Unicode Consortium code chart Version 12.0. 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 A B C D E F U+16F0x 𖼀 𖼁 𖼂 𖼃 𖼄 𖼅 𖼆 𖼇 𖼈 𖼉 𖼊 𖼋 𖼌 𖼍 𖼎 𖼏 U+16F1x 𖼐 𖼑 𖼒 𖼓 𖼔 𖼕 𖼖 𖼗 𖼘 𖼙 𖼚 𖼛 𖼜 𖼝 𖼞 𖼟 U+16F2x 𖼠 𖼡 𖼢 𖼣 𖼤 𖼥 𖼦 𖼧 𖼨 𖼩 𖼪 𖼫 𖼬 𖼭 𖼮 𖼯 U+16F3x 𖼰 𖼱 𖼲 𖼳 𖼴 𖼵 𖼶 𖼷 𖼸 𖼹 𖼺 𖼻 𖼼 𖼽 𖼾 𖼿 U+16F4x 𖽀 𖽁 𖽂 𖽃 𖽄 𖽅 𖽆 𖽇 𖽈 𖽉 𖽊 𖽏 U+16F5x 𖽐 𖽑 𖽒 𖽓 𖽔 𖽕 𖽖 𖽗 𖽘 𖽙 𖽚 𖽛 𖽜 𖽝 𖽞 𖽟 U+16F6x 𖽠 𖽡 𖽢 𖽣 𖽤 𖽥 𖽦 𖽧 𖽨 𖽩 𖽪 𖽫 𖽬 𖽭 𖽮 𖽯 U+16F7x 𖽰 𖽱 𖽲 𖽳 𖽴 𖽵 𖽶 𖽷 𖽸 𖽹 𖽺 𖽻 𖽼 𖽽 𖽾 𖽿 U+16F8x 𖾀 𖾁 𖾂 𖾃 𖾄 𖾅 𖾆 𖾇 𖾏 U+16F9x 𖾐 𖾑 𖾒 𖾓 𖾔 𖾕 𖾖 𖾗 𖾘 𖾙 𖾚 𖾛 𖾜 𖾝 𖾞 𖾟
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 2,
"path": "3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > 2.1Chữ Pollard",
"section": "2.1Chữ Pollard",
"topic": "3Chữ viết"
}
|
Ethnic Group: H'Mông
Topic: 3Chữ viết
Context: 3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > 2.2Chữ Hmông Latin hóa (RPA)
Content: Bài chi tiết: Chữ Hmông Latin hóa Chữ Hmông Latin hóa (Ntawv Thoob Teb, Chữ Hmông Việt: Ntơưr Thôngz Têz ) là bộ chữ Hmông theo ký tự Latin được lập ra trong nỗ lực tìm phương cách ghi lại tiếng H'Mông theo ký tự Latin . Các văn liệu tiếng Anh gọi là Romanized Popular Alphabet , viết tắt RPA . Chữ Hmông Latin hóa được nhà truyền giáo Tin Lành G. Linwood Barney (1923-2003) ở Xiengkhuang Lào bắt đầu lập ra vào năm 1951 dựa trên thổ ngữ Hmông Lềnh (Mong Leng), với tham gia của các cố vấn người H'Mông là Yang Geu và Xiong Tua. Sau đó có sự thống nhất phương pháp chuyển tự với nhóm của nhà truyền giáo William A. Smalley (1923 – 1997) và nhóm của nhà truyền giáo Công giáo La Mã Yves Bertrais cùng với Yang Chong Yeng và Thao Chue Her, đều ở Luang Prabang . Năm 1953 phiên bản "chữ Hmông Latin hóa" thống nhất ra đời, và đã trở thành hệ thống phổ biến nhất để viết tiếng H'Mông ở phương Tây. Nó cũng được sử dụng trong khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc cùng với các hệ thống văn bản khác.
|
Bài chi tiết: Chữ Hmông Latin hóa Chữ Hmông Latin hóa (Ntawv Thoob Teb, Chữ Hmông Việt: Ntơưr Thôngz Têz ) là bộ chữ Hmông theo ký tự Latin được lập ra trong nỗ lực tìm phương cách ghi lại tiếng H'Mông theo ký tự Latin . Các văn liệu tiếng Anh gọi là Romanized Popular Alphabet , viết tắt RPA . Chữ Hmông Latin hóa được nhà truyền giáo Tin Lành G. Linwood Barney (1923-2003) ở Xiengkhuang Lào bắt đầu lập ra vào năm 1951 dựa trên thổ ngữ Hmông Lềnh (Mong Leng), với tham gia của các cố vấn người H'Mông là Yang Geu và Xiong Tua. Sau đó có sự thống nhất phương pháp chuyển tự với nhóm của nhà truyền giáo William A. Smalley (1923 – 1997) và nhóm của nhà truyền giáo Công giáo La Mã Yves Bertrais cùng với Yang Chong Yeng và Thao Chue Her, đều ở Luang Prabang . Năm 1953 phiên bản "chữ Hmông Latin hóa" thống nhất ra đời, và đã trở thành hệ thống phổ biến nhất để viết tiếng H'Mông ở phương Tây. Nó cũng được sử dụng trong khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc cùng với các hệ thống văn bản khác.
|
{
"ethnic_group": "H'Mông",
"level": 2,
"path": "3Chữ viết (Bài chi tiết: Chữ viết H'Mông) > 2.2Chữ Hmông Latin hóa (RPA)",
"section": "2.2Chữ Hmông Latin hóa (RPA)",
"topic": "3Chữ viết"
}
|
End of preview. Expand
in Data Studio
No dataset card yet
- Downloads last month
- 1