Dataset Viewer
Auto-converted to Parquet Duplicate
lop
int64
1
12
file_image
stringlengths
118
152
image
imagewidth (px)
351
816
text
stringlengths
69
3.47k
11
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 11/Đề thi học kì 1 lớp 11 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-11-nam-2024-thpt-chuyen-le-hong-phong-a33277/image_1.png
Họ tên học sinh Lớp SBD I. PHẦN ĐỌC HIỂU. Đọc văn bản . NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỞNG DÂN GIAN TRONG XU HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI SỐ Chuyển đổi số là xu hướng tất yếu đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi cách thức giải quyết phù hợp, nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, bảo tồn và phát huy nghệ thuật diễn xướng dân gian trong thời đại mới. Diễn xướng dân gian và xu hướng chuyển đổi số Diễn xướng dân gian là hình thái sinh hoạt văn hóa gắn với đời sống của người dân, ra đời từ nhu cầu tâm mỹ , xây dựng niềm cảm cộng, cổ kết cộng đồng. Đó là sản phẩm nghệ thuật của nhiều người, qua nhiều thế hệ, được lưu truyền theo nhiều phương thức (kể, ca, vũ, vè, hò, múa, diễn...). Hiện nay, chuyển đổi số là xu hướng được quan tâm trọng táo tốn, phát huy nghệ thuật diễn xướng. Chuyển đổi số là tiến trình khai thác dữ liệu tự quá trình số hóa, dùng công nghệ để phân tích, biến đổi tạo ra giá trị mới. Bảo tồn, phát huy nghệ thuật diễn xướng trên môi trường số Ở Việt Nam, chuyển đổi số được phổ biến khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 đến 2030. Với chỉ trương số hóa, những loại hình nghệ thuật dân gian như: chèo, tuồng, múa rối... đã được đưa lên môi trường số. Nhiều đơn vị như Nhà hát Chèo Việt Nam, Nhà hát Tuồng Việt Nam.... đẩy mạnh hoạt động biểu diễn trực tuyến, "nhà hát số"... tạo nên không gian trình diễn, thưởng thức mới mẻ. Đưa nghệ thuật diễn xướng lên môi trường số sẽ mở ra cơ hội quảng bá những tinh hoa nghệ thuật dân gian Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Do đó, việc quản lý, bảo tồn, phát huy các loại hình diễn xướng dân gian trên môi trường số cần được tiếp tục chủ trương, đầu tư nghiên cứu xứng tầm, hiệu quả. (Theo Nguyễn Văn Thủy, in trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 533, tháng 5-2023) Đồ họa thông tin. Các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian (Nguồn: https://infographics.vn/) Thực hiện các yêu cầu : Câu 1. Chỉ ra bố cục của văn bản. (0,5 điểm) Câu 2. Xác định cách giải thích nghĩa của từ cổ kết trong phần cước chú của văn bản. (0,5 điểm) Câu 3. Trình bày thái độ của người viết trước đề hiện trong văn bản. (1,0 điểm) Câu 4. Nêu hiệu quả của việc sử dụng đồ họa thông tin trong việc biểu đạt thông tin chinh. (1,0 điểm) Câu 5. Em có đồng tình với quan điểm: Đưa nghệ thuật diễn xướng lên môi trường số sẽ mở ra cơ hội quảng bá những tinh hoa nghệ thuật dân gian Việt Nam trong thời kỳ hội nhập không? Vì sao? (1,0 điểm) II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Nói về mối quan hệ giữa công nghệ số và con người, GS Huỳnh Như Phương chia sẻ: Ta không lo công nghệ số sẽ bào mòn cảm xúc của con người; ta chỉ nên lo con người không biết khai thác thế mạnh của công nghệ số để làm giàu cho kiến văn (hiểu biết về đời sống), suy tưởng và cảm xúc của chính mình. (Huỳnh Như Phương, in trên Diễn đàn của Hội LIHTN Việt Nam, https://thanhnien.vn/) Từ góc nhìn của người trẻ, hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về quan điểm trên.
11
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 11/Đề thi học kì 1 lớp 11 môn Văn/de-hoc-ki-1-lop-11-nam-2023-mon-van-thpt-luong-the-vinh-a31202/image_2.png
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm) Đọc văn bản: Một đời mẹ mặc áo nâu Bao nhiêu tấm cũng một màu đất đai Rách lành kể những hôm mai Áo như đời mẹ sơn phai mỗi ngày Áo nâu bạc! áo nâu gầy! Áo như thửa ruộng chờ đầy nắng mưa Lắng nghe sợi vải ngày xưa Thấy trong mặn chát đã thừa mồ hôi Bao nhiêu nước mắt mẹ rơi Áo nâu gói cả những lời xót xa Mẹ như sông phía quê nhà Đổ lòng đôi vạt phủ sa lặng thầm Mẹ xa lìa cõi trầm năm Con ngồi xếp những nâu trăm mà thương Thời đánh nhớ cả khối sương Áo nâu ơi, hãy theo đường mẹ đi.. (Một đời áo nâu - Nguyễn Văn Song - Báo Văn nghệ Hải Dương 18/10/2020) Trả lời các câu hỏi: Câu 1: Bài thơ được viết bằng thể thơ nào? Câu 2: Chỉ ra những từ ngữ miêu tả đặc điểm về chiếc áo của mẹ trong khổ thơ sau: Một đời mẹ mặc áo nâu. Bao nhiêu tấm cũng một màu đất đai Rách lành kể những hôm mai Áo như đời mẹ sòn phai mỗi ngày Câu 3: Chỉ ra 02 biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Áo nâu bạc! áo nâu gầy! Áo như thửa ruộng chờ đầy nắng mưa Câu 4: Em hiểu như thế nào về nội dung hai câu thơ: Mẹ như sông phía quê nhà Đổ lòng đôi vạt phủ sa lặng thầm Câu 5: Hình ảnh nào luôn song hành với mẹ trong suốt bài thơ? Tại sao tác giả lại lựa chọn hình ảnh đó?
11
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 11/Đề thi học kì 1 lớp 11 môn Văn/de-hoc-ki-1-lop-11-nam-2023-mon-van-thpt-luong-the-vinh-a31202/image_1.png
Câu 6: Nhận xét về tình cảm của nhà thơ đối với mẹ được thể hiện trong bài thơ? Câu 7: Bài thơ đem đến cho chúng ta thông điệp gì về trách nhiệm của bậc làm con? Câu 8: Nhận xét về cách sử dụng từ ngữ và hình ảnh trong bài thơ. II. VIẾT (4,0 điểm) Viết bài văn (khoảng 600 chữ) nêu suy nghĩ của anh (chị) về vai trò của sự tự tin đối với tuổi trẻ. ----------Hết-----------
11
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 11/Đề thi học kì 1 lớp 11 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-11-thpt-phu-nhuan-2025-a34038/image_2.png
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm) Đọc văn bản sau: *Có ba con cá đang trôi lềnh bềnh trên sông trong một chiếc lá. Một cơn quyết định nhảy xuống sông. Hỏi còn lại bao nhiêu con cá trên chiếc lá?* *Đâu là mọi người sẽ trả lời là còn lại hai con.* *Sai!* *Con lại ba con ở trên chiếc lá.* *Tại sao?* *'Vì "quyết định nhảy" và "nhảy" là hai việc hoàn toàn khác nhau.'* Đã bao nhiêu lần bạn làm lẩn quan quyết định làm một việc gì đó rồi lại bỏ qua không thực hiện? Đã bao nhiêu lần bạn dễ dàng thay đổi những suy tư dường như vô vị nhưng thất thoát thời gian để đạt? Đã bao nhiêu lần bạn muốn từ bỏ một điều gì đó nhưng lại không muốn phá vỡ đồ chơi quen của mình? Francis Bacon đã từng nói: "Kiến thức là sức mạnh". Ông ấy dùng thuật ngữ lạ quên mất một từ giúp câu nói trở nên hoàn toàn chính xác: "Sự dụng kiến thức là sức mạnh". Có được kiến thức đa khó nhưng áp dụng được nó vào thực tế còn khó gấp ngàn lần. Nếu bạn có hiểu biết mà không đưa được nó vào hành hành thì giống như kẻ bị không biết. Đến gần là vậy! Qua đề bài này tôi cũng học một điều đơn giản, nhưng ít ai dám mở rõ thái, không cần tới vô và cũng không thể trốn tránh. Tuy được sinh ra trong một gia đình giàu có nhưng tôi sớm rơi vào cảnh nghèo túng khi có một thời thiếu niên, tôi lớn lên và dần hiểu rõ về những hiểm họa khiến con người đánh mất thành công hơn hết là sự yếu đuối để đạt được nó. Mặc dù sâu đo cha mẹ tôi đã dạy giáo lối sự nghiệp, lấy lý luận nghiêm ngặt và đã rất mong có một đứa con trai cho tôi không bao giờ lấy lại được, đó là cách tự duy của một người thành đạt. Do đó, hàng ngày tôi phải đối mặt với sự sợ hãi bị mất tất cả một lần nữa của cả thanh thế mà tôi hy vọng chi bảo vệ "những nguyện tắc vàng" để duy trì sự thành công lâu dài. Bản hãy thử tưởng tượng, khi bạn đang sống một cuộc sống sung túc và bỗng nhiên mất buổi sáng thứ bảy không còn một phút nào thư thả, bạn sẽ bước dậy lúc bốn giờ đêm, nhưng bạn thường xuyên không có đủ thời gian để chăm nghiệm chung với lại càng không có điều kiện để truyền đạt lại cho người khác. Vì thế quyết đi đến thành công như một điều bí ẩn đòi hỏi, một bí ẩn mà vẻ sau tôi đã quyết tâm phải làm sáng tỏ. Tôi mong muốn mình hiểu được và có thể giải thích một cách hợp lý các vấn đề liên quan đến cuộc sống cũng như công việc của con người, như: - Tại sao cùng một việc mà có người làm thành, có người không? - Tại sao có người thành công trong khi họ không hề tài giỏi hay thật bài? - Tại sao nhiều người lại không thể duy trì sự thăng bằng công lâu dài cơ mình? - Tại sao 90% số người cố độ tuổi 65 vẫn không thể sống một cách đủ dư thoải mái, mà phải tiếp tục làm việc, dục đảm vào bảo hiểm xã hội hoặc con cái?
11
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 11/Đề thi học kì 1 lớp 11 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-11-thpt-phu-nhuan-2025-a34038/image_1.png
(Joachim de Posada & Ellen Singer – Không theo lối mòn, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2016, tr.03) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 6: Câu 1 (0.5 điểm): Xác định vấn đề nghị luận của văn bản. Câu 2 (0.5 điểm): Theo tác giả, câu nói: "Kiến thức là sức mạnh" của Francis Bacon cần thêm từ nào để trở nên hoàn toàn chuẩn xác? Câu 3(1.0 điểm): Chỉ ra và phân tích 02 đặc điểm của ngôn ngữ viết thể hiện trong câu văn sau: "Mặc dù sau đó cha mẹ tôi đã gầy dựng lại sự nghiệp, lấy lại được những gì đã mất nhưng có một điều cha mẹ tôi không bao giờ lấy lại được, đó là cách tư duy của một người thành đạt." Câu 4 (1.0 điểm): Việc tác giả mở đầu văn bản bằng câu chuyện về ba con ếch và chiếc lá có tác dụng gì trong việc triển khai vấn đề nghị luận? Câu 5 (1.5 điểm): Anh/chị hiểu như thế nào về câu nói: "Nếu bạn có hiểu biết mà không đưa được nó vào thực hành thì chẳng khác gì không biết?" Câu 6 (1.5 điểm): Từ nội dung văn bản, anh/chị hãy rút ra bài học có ý nghĩa nhất đối với bản thân ở thời điểm hiện tại và lí giải vì sao. II. PHẦN VIẾT (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về việc xây dựng hình tượng cá nhân trong thời kỳ chuyển đổi số. ------- HẾT ------- Học sinh không sử dụng tài liệu. Giáo viên coi kiểm tra không giải thích gì thêm.
11
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 11/Đề thi học kì 1 lớp 11 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-lop-11-mon-van-nam-2024-truong-pho-thong-nang-khieu-a33301/image_2.png
chối, vì thế mà bị đày đến đất Tề. Nghe tin trạng tốt kinh đó, Tề vương tỏ ý muốn nhường ngôi và gả công chúa cho Châu Tuấn nhưng chàng lại từ chối, bị vua tống giam. Công chúa nước Tề vừa xin vua cha tha cho Châu Tuấn, vừa khuyên chàng nên tu hoàn cảnh mà chấp nhận hôn sự. Ở quê nhà, Thoại Khanh bảy năm vất vả nuôi mẹ chồng và thủy chung chờ chồng. Thoại Khanh đành phải cộng mẹ ta phương cầu thực, thậm chí phải cắt thịt ở cánh tay mình nướng cho mẹ ăn. Hai mẹ con gặp cọp dữ nhưng được cọp giúp vượt khỏi rừng sâu, tới hang núi miếu thì lại gặp Dâm thần. Thoại Khanh phải móc đôi mắt đẹp để Dâm thần trả hồn cho mẹ sống lại. Trên đường đi, nàng gặp Phật Thích Ca cho cây đàn thần, nhờ đó mà Thoại Khanh nuôi được mẹ già, gặp lại Châu Tuấn, trở thành hoàng hậu. - Đoạn trích trên kể về việc Châu Tuấn sau khi đã trở thành phò mã, đi vi hành cùng vua Tề và công chúa rồi tình cờ nghe được tiếng đàn của Thoại Khanh. Trả lời các câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu bên dưới: Câu 1 (1.0 điểm): Xác định mô hình cốt truyện của tác phẩm Thoại Khanh – Châu Tuấn và chỉ ra vị trí của đoạn trích trong mô hình cốt truyện như nêu. Câu 2 (1.5 điểm): Liệt kê những câu thơ miêu tả tiếng đàn của Thoại Khanh. Chỉ ra và nêu tác dụng của một phép tu từ nổi bật xuyên suốt đoạn thơ ấy. Câu 3 (1.0 điểm): Tiếng đàn của Thoại Khanh đã chuyển chở những tâm sự gì? Những suy nghĩ, hành động của Châu Tuấn sau khi nghe tiếng đàn cho thấy những phẩm chất gì ở chàng? Câu 4 (1.5 điểm): Châu Tuấn (Thoại Khanh - Châu Tuấn) nhân ra Thoại Khanh qua tiếng đàn của vợ, nhà vua (Cái Tâm, cái Căm) nhận ra Tấm nhờ miếng trầu nàng nhai. Theo bạn, điều vụ thể khiến con người vẫn nhận ra nhau sau bao năm tháng bị chia cắt bởi sóng gió cuộc đời? Hãy trình bày quan điểm bằng đoạn văn ngắn (khoảng 7-9 dòng). II. VIẾT (5.0 điểm) a. Phần dành cho học sinh không chuyên Văn Bạn hãy viết một bài luận phân tích, đánh giá hình tượng nhân vật Châu Tuấn trong đoạn trích ở phần Đọc - hiểu. b. Phần dành cho học sinh chuyên Văn *Văn học không có khả năng cải hóa cái ác cũng như cứu chữa những người bị bách hại, nhưng nó có thể ủng hộ, nâng đỡ những người sống trong sạch, lương thiện, làm cho những người này không cảm thấy lẻ loi, lắm cho họ tin cách sống của mình là đúng.* (Trích *Văn học trên con đường dân chủ hoá*, Huỳnh Như Phương, *Những tín hiệu mới*, NXB Hội Nhà văn, 1994, tr.106) Bạn hãy viết một bài luận phân tích, đánh giá hình tượng nhân vật Châu Tuấn trong đoạn trích ở phần Đọc - hiểu, từ đó bình luận ý kiến trên. ....................................Hết....................................
11
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 11/Đề thi học kì 1 lớp 11 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-lop-11-mon-van-nam-2024-truong-pho-thong-nang-khieu-a33301/image_1.png
I. ĐỌC HIỂU (5.0 điểm) Đọc văn bản sau: THOẠI KHANH – CHÂU TUÂN (Trích) Cùng nhau điền điệp vui chơi, Xem qua quan Trạng bởi hỏi chẳng an. Canh ba giờ tý lặng trang, Trạng nguyện vầng vàng nghe hạ tiếng đồn: Đồn kêu tịch tịch tình tang, Đồn kêu gió giã muôn vân ái ân. Đồn kêu đã nhất lại khoan, Cung cao cung thấp dịu dàng khá thương. Đêm cho mười bảy năm trường, Chồng Nam vợ Bắc, huyền đường¹ tám mươi Mẹ già để lại thiếp nuôi, Mà chàng sang cả nước người sao an? Trạng nguyện nghe thâu tiếng đồn, Động lòng thương nhớ ngả lăn một hồi. Giấy lâu mới chổi dậy² ngồi, Khen ai khéo khảy³ hay thôi tiếng đồn? Đồn kêu kế nhật kể khoan, Sao mà biết động việc quân tơi này? Hay là bầu lạc đến đây, Thoại Khanh em hỏi, có hay sự này? Quân nhơn bay chạy ngay, Đem ba quan rày cho nó làm ơn. Phải chi rước được người đồn, Kéo còn cách trở lâm sơn chưa tường. (Trích “Thoại Khanh – Châu Tuấn”, Kho tàng Truyện Nôm khuyết danh, tập 2, NXB Văn học, 2000, tr.1622–1624) Quân nhơn vâng lệnh lên đàng, Bốn ta tìm tới lều tranh gặp nàng. Hỏi han bước tới vội vàng, Hỡi người bán tơ vướng manh⁴ kia là Người khen khéo khảy, khéo ca, Được lòng phó mã người cho mi tiền. Thoại Khanh tay lạnh lấy tiên, Miếng lại chúc nguyện phước thọ gia tăng. Cầu cho sống được trăm năm, Bà thi sang cả, nhà hàng vinh hoa; Quân nhơn thôi mời trở ra, Về trình phó mã người mà đăng hay. Gặp người bần nữ tốt thay, Dui hai con mắt, mặt mày nhu hiền. Lại có mẹ⁵ ye cũng hiền, Trạng nguyện nghe nói bỗng liền thất kinh. Chuốc hại đi thám⁶ sự tình, Chẳng cớ lại thấy quang bình thị liên. Rằng có hiệu lệnh⁷ vua truyền, Dạy đội quan Trạng đem binh trừ trẻ. Trạng nguyện nghe nói ú è, Trong lòng còn ngại hiềm thế, sợ già. Hai hàng nước mắt nhỏ sa, Bao giờ cho đáng hiệp hòa một nơi? - Tóm tắt: Nàng Thoại Khanh đẹp người đẹp nết vốn là con quan Thừa tướng nhưng chẳng may cha mẹ qua đời, nàng phải chịu nhiều vất vả. Sau đó, nàng gặp gỡ, kết duyên cùng bạn đồng môn là Châu Tuấn. Khi Châu Tuấn thi đỗ Trạng nguyên, chàng được vua Tống gả công chúa nhưng chàng từ ¹ Huyền đường: “Huyền” được dùng để chỉ người mẹ do chữ trong Kinh thi: “Yên đắc huyền thảo, ngô thụ thị bồi” (Làm sao có được cỏ huyền trồng ở chái nhà phía bắc). Chái nhà phía Bắc là phía người mẹ ở. Trồng cỏ huyền nơi người mẹ ở là ý muốn cho mẹ khỏi buồn phiền. ² Chổi dậy: ngồi dậy. ³ Khảy: gảy. ⁴ Quang manh: không trông thấy, mù lòa. ⁵ Mẹ: tên gọi chung của bà cả và lão tuấn. ⁶ Chuốc hại: đi giày; đi thám: đi xem, dò hỏi. ⁷ Lệnh: âm địa phương của từ “lệnh”.
11
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 11/Đề thi học kì 1 lớp 11 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-lop-11-mon-van-nam-2024-thpt-mac-dinh-chi-a33299/image_2.png
Cau 1. Đoạn trích trên thuộc thể loại nào của văn học Việt Nam? Cau 2. Nhận xét về cách thể hiện thái độ, tình cảm của nhân vật Thị Dan qua lời thoại sau đây: “Đất rộng thật, lòng người lại hẹp. Ngắn cả hai, đời lúc lãng thinh; Nạn bất công đâu cũng có: Người ăn thừa, người thiếu tìm không ra.” Cau 3. Xác định các biện pháp tu từ được thể hiện trong đoạn truyền thơ sau và nêu tác dụng “Dinh mũi nó còn vương lông nhỏ, Quá đào tiên anh em bền.” Cau 4. Thông qua đoạn trích trên, anh/chị nhận thấy dân tộc Tày đã thể hiện cách nhìn như thế nào về tình yêu đôi lứa? Anh/ chị rút ra bài học? II. PHẦN VIẾT Cau 1. Nghị luận văn học (2,0 điểm) Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá giá trị nhân đạo được tác giả khuyết danh thể hiện trong đoạn trích “Nam Kim - Thị Đan” ở phần Đọc - hiểu. Cau 2. Nghị luận xã hội (4,0 điểm) Viết một bài văn nghị luận xã hội trình bày quan điểm của anh/ chị về vấn đề: Tuổi trẻ cần tôn trọng sự không hoàn hảo trong cuộc sống? -HẾT-
11
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 11/Đề thi học kì 1 lớp 11 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-lop-11-mon-van-nam-2024-thpt-mac-dinh-chi-a33299/image_1.png
I. PHẦN ĐỌC - HIỂU (4,0 điểm) Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu: NAM KIM – THỊ ĐAN (Trích Truyện thơ dân tộc Tày) Lược dẫn: Nam Kim – Thị Đan là một chuyện tình bằng thơ của dân tộc Tày. Đôi trai gái Nam Kim – Thị Đan yêu nhau tha thiết. Vì Nam Kim nhà nghèo lại mồ côi nên bố mẹ Thị Đan không gả Thị Đan cho Nam Kim, mà bắt nàng phải lấy con trai một nhà giàu có. Thị Đan đành phải về nhà chồng. Tuy đã có chồng nhưng trong lòng Thị Đan vẫn yêu Nam Kim tha thiết như xưa và Nam Kim cũng vậy. Quá nhiều đắng cay, tủi nhục hai người đành phải tìm đến cái chết để giữ trọn tình chung thủy. Đoạn trích dưới đây là sự trần trụi của Thị Đan với chị là Thị Giao trước khi từ giả cõi đời, giải thoát cho cuộc đời nhiều đau khổ vì quá mong nhớ Nam Kim… …“Đỉnh núi nợ còn vương lòng nhớ, Quá đào tiên anh nửa em bên. Chơi núi như chơi cung tiên, Gió vẩy tóc cá hai mắt rươi. Đôi núi nối nhau, đi không hết Hỏi nhau: - “Đất trời rộng quá nhi?” Bừng má, hai nụ cười… Đất rộng thật, lòng người lại hẹp. Ngắn cả hai, đôi lúc lặng thinh; Nạn bất công đâu đâu cũng có: Người ăn thừa, người thiếu tim không ra”… (Theo Văn học các dân tộc thiểu số tập 4 Truyện thơ, Nông Minh Châu (dịch và chú thích), trang 305 – 306, NXB Đà Nẵng, 2008)
11
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 11/Đề thi học kì 1 lớp 11 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-11-nam-2024-thpt-thu-duc-a33276/image_1.png
I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm) Đọc đoạn trích: Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương Cho đoàn xe kịp giờ ra trận Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa Đánh lạc hướng thù. Hướng lấy luồng bom... Đơn vị tôi hành quân qua con đường mòn Gặp hố bom nhắc chuyện người con gái Một năm nào, nắng nới bao sắc đá, Tình yêu thương bồi đắp cao lên... Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em Mưa động lại một khoảng trời nho nhỏ Đất nước mình nhân hậu Có nước trời xoa dịu vết thương đau. Em nằm dưới đất sâu Như khoảng trời đó nằm yên trong đất Đêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng Những vì sao ngồi chơi, lung linh. [...] (Trích Khoảng trời, hố bom, Lâm Thị Mỹ Dạ, in trong Giải Nhất văn chương, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Hình tượng nhân vật em hiện lên trong khổ thơ thứ nhất qua những từ ngữ, hình ảnh nào? (1,0 điểm) Câu 2. Xác định ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh ngọn lửa trong câu thơ Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa. (1,0 điểm) Câu 3. Xác định và nêu tác dụng của biện tuông phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường trong câu thơ sau: (1,0 điểm) Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa Đánh lạc hướng thù. Hướng lấy luồng bom... Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về hai câu thơ sau?: (1,0 điểm) Đêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng Những vì sao ngồi chơi, lung linh. Câu 5. Hình tượng người nữ thanh niên xung phong trong đoạn trích gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về ý thức trách nhiệm của giới trẻ ngày nay đối với đất nước? (1,0 điểm) II. LÀM VĂN (5,0 điểm) Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận bàn về ý thức và trách nhiệm của học sinh ngày nay trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. ------- Hết -------
10
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 10/Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-lop-10-mon-van-nam-2024-thpt-nguyen-an-ninh-a33300/image_2.png
I. PHẦN ĐỌC (6,0 điểm) Đọc văn bản sau: Mùa hoa diêu nở Chúng con lén lên Rủ rỉ căn nhà Nàng thơ miền Đông về hoa diêu địu nở Trái tơ vàng nỉn thốt thử một thuở Một kem bớm mắt dịu rưới mùa sương Bần bì, trốn tìm... ...mưa vãi cơn đau đắng Dòng trăng đã trỗi gọi nhau cười khóc khinh Dâu chế gió lại biếc lòng... Con trở về Phấn hoa diêu rắc bay, hồng gấm mơ hương Nhựa hạt diêu làm lem cả áo trắng Tóc mẹ phai màu nắng Khói thuốc vương tay tía Những đàn ong vẫn ùi ríu mật mà giắt ngàn hoa Chúng em chỉ biết hữu duyên, chôn thanh đó suốt mười vọng . Chai sún tay cha Lom khom lưng mẹ Nổi nẻ bằng thời gian Trên miệt Nam Tháng tư nắng gắt Cha mẹ quê nhà Cống lưng gấp nhặt Các lon phương xa Loăn quăn khói bụi từ thành Thương điếu thư nặng đôi dăm nhân Kẻo lắng lệ gieo vươn hiền chờ đợi Mơn trớn nắng vừa hớt vía mùa xưa Mùa hoa diêu nở, ký ức gợi nhớ (Hồng Nhung - https://vanngon.vn/chuyen-hoc-tap/tham-thuong-tri-dieu-tha- hanh-do-sen-nhan))
10
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 10/Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-lop-10-mon-van-nam-2024-thpt-nguyen-an-ninh-a33300/image_1.png
Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1 (0.5 điểm). Bài thơ được viết theo thể thơ nào? Câu 2 (0.5 điểm). Xác định cách gieo vần của đoạn thơ sau: Con trở về Phấn hoa diều rắc bay, hồng giấc mơ hoang Nhua hạt diều làm lem tà áo trắng Tóc mẹ phai màu nắng Khói thuốc vàng tay cha Câu 3 (1.5 điểm). Hình ảnh hoa diều gắn với những kỉ niệm nào trong tuổi thơ của người con? Em có nhận xét như thế nào về hình ảnh ấy? Câu 4 (1.0 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong hai dòng thơ sau: Thương trái diều thu nắng để đậm nhân Rồi lặng lẽ góc vườn hòa thân chờ đợi Câu 5 (1.5 điểm). Chủ thể trữ tình trong bài thơ xuất hiện dưới dạng thức nào? Phân tích tình cảm, cảm xúc của chủ thể trữ tình thể hiện bài thơ. Câu 6 (1.0 điểm). Thông điệp nào gợi ra từ văn bản có ý nghĩa nhất với em? Vì sao? II. PHẦN VIẾT (4.0 điểm) Viết bài nghị luận phân tích đánh giá chủ đề và những đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ Mưa hoa diều nở - Hồng Nhạn. -----------< HẾT >-----------
10
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 10/Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-9-nam-2024-thpt-bui-thi-xuan-a33326/image_2.png
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm) Đọc văn bản sau: Nơi tuổi thơ em Tác giả: Nguyễn Lâm Thắng¹ Có một dòng sông xanh Bắt nguồn từ sữa mẹ Có vàng trăng tròn thề Lưng lư khóm tre làng Có bảy sắc cầu vồng Bắc qua đồi xanh biếc Có lời ru tha thiết Ngọt ngào mãi vành nôi Có cánh đồng xanh tươi Ấp yêu đàn cò trắng Có ngày mưa tháng nắng Đóng trên áo mẹ cha Có một khúc dân ca Thơm lừng hương cỏ dại Có tuổi thơ đẹp mãi Là đất trời quê hương. (Trích Giấc mơ buổi sáng, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội 2017) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1 (0,5 điểm): Bài thơ trên được viết theo thể thơ gì? Câu 2 (1,0 điểm): Anh/ Chị hãy xác định chủ thể trữ tình trong bài thơ trên và cho biết đó là ai? Câu 3 (1,0 điểm): Tuổi thơ của chủ thể trữ tình được hiện lên qua những hình ảnh nào? Câu 4 (1,0 điểm): Anh/Chị hãy chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp từ điệp sử dụng xuyên suốt bài thơ. ¹ Nhà thơ Nguyễn Lâm Thắng, sinh năm 1973, đang là giảng viên văn hóa, ngôn ngữ và Hán Nôm, khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm Huế. Trang thơ của Nguyễn Lâm Thắng là cả một thế giới tuổi thơ trong trẻo, sâu lắng được thể hiện bằng ngôn từ gần gũi, dễ hiểu và sự hòa quyện giữa tình yêu thương triu mến và sự mộc mạc chân thành.
10
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 10/Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-9-nam-2024-thpt-bui-thi-xuan-a33326/image_1.png
Câu 5 (1,0 điểm): Anh/Chị hãy xác định nội dung chính của bài thơ trên. Câu 6 (1,5 điểm): Từ việc đọc văn bản, hãy rút ra một thông điệp mà anh/chị tâm đắc. Đồng thời, lý giải vì sao anh/chị chọn thông điệp đó. II. VIẾT (4,0 điểm) Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của văn bản “Nơi tuổi thơ em” của Nguyễn Lâm Thắng. --- HẾT! ---
10
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 10/Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Văn/de-thi-cuoi-ki-1-lop-10-mon-van-2025-thpt-nguyen-huu-huan-a34006/image_1.png
I. ĐỌC HIỂU (5.0 điểm) Đọc đoạn trích sau: đất nước là hình ảnh con trâu đi trước cái cày, trước cha, trước mẹ là bải đồng dao con chim se sẻ nó để mãi tranh, tôi ném hòn sành là con Rồng cháu Tiên, là gương vỡ lại lành là thần thoại nhổ tre mà đuổi giặc [...] đất nước quanh tôi với tất cả bình thường là bún bò Huế, là tô mì Quảng... là phở, là cá lóc canh chua hoặc trái xoài, trái nhãn... cưu mang tôi khôn lớn từng ngày đất nước là hình ảnh khẩu súng quàng vai đứng trang nghiêm trước sơn hà xã tắc¹ là câu đánh vần lúc bắt đầu đi học là ngôi trường làng mái ngói rêu phong (Trích Định nghĩa về Đất Nước, Lê Minh Quốc, Theo Tôi về mặt tôi, NXB Văn hóa thông tin, 1994). ¹"Sơn hà xã tắc": dùng để chỉ đất nước, những gì thuộc về chủ quyền của một nước. Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích trên. Câu 2. Tìm hai ngữ liệu cổ gợi nhắc đến hai tác phẩm văn học dân gian trong đoạn trích. Câu 3. Nêu loại cước chú được sử dụng trong văn bản trên và phân tích tác dụng của cước chú đó? Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về dòng thơ: “đất nước là hình ảnh khẩu súng quàng vai”. Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị rút ra từ đoạn thơ trên là gì giải về thông điệp đó. II. VIẾT (5.0 điểm) Hiện nay có một số bạn trẻ rất hay đổ lỗi cho hoàn cảnh mỗi khi gặp thất bại. Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) thuyết phục các bạn ấy từ bỏ thói quen này. --- Hết đề ---
10
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 10/Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Văn/de-thi-hk-1-mon-van-lop-10-nam-2024-thpt-nguyen-thuong-hien-a33346/image_2.png
Nhập rộng mở hình Tiếp nối sự kiện công của Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh, Đường sách thành phố Thủ Đức (trên đường Hồ Thị Tư, phường Hiệp Phú) vừa chính thức đi vào hoạt động từ ngày 22/12/2023. Nằm ở vị trí trung tâm của thành phố Thủ Đức, cũng là nơi tập trung nhiều trường đại học thương phổ thông cấp cao, Đường sách hứa hẹn sẽ trở thành một điểm nhấn, không gian thu hút nhiều người dân, bạn đọc lựa chọn. [...] Ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Thành phố Hồ Chí Minh, đánh giá sự ra đời của Đường sách thành phố Thủ Đức đã nói tới thành công của mô hình Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh, một thành tựu trong thực hiện sứ mệnh phát triển văn hóa đọc của thành phố. Đây là đường sách thứ hai tại Thành phố Hồ Chí Minh và cũng là đường sách địa phương đầu tiên được phát triển thông cống. Góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa đọc, Thành phố Hồ Chí Minh có định hướng tiếp tục xây dựng và phát triển các không gian sách, đường sách tại các địa phương trên địa bàn, tạo thuận lợi cho người dân trong việc tiếp cận, thưởng thức và đọc sách. "Thành phố sẽ phát triển các không gian sách ở bốn trục của thành phố. Ở phía Đông, công trình Đường sách thành phố Thủ Đức đã trở thành hiện thực. Thời gian tới, phía Nam sẽ có đường sách ở Quận 7, dự kiến phía Tây sẽ có không gian sách ở quận Bình Tân và phía Bắc là ở Củ Chi", ông Lâm Đình Thắng chia sẻ. (Theo Thu Hoài, Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh: Tạo đột phá phát triển văn hóa đọc, https://www.vietnamplus.vn/, ngày 28/12/2023 09:34) Câu 1. (0.75 điểm) Đề tài của văn bản trên là gì? Em dựa vào đâu để xác định điều đó? Câu 2. (0.75 điểm) Theo tác giả, Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh có những lợi thế gì để trở thành điểm đến quen thuộc và thu hút được lượng lớn khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm? Câu 3. (1.00 điểm) Chỉ ra một trích dẫn thuộc kiểu trích dẫn trực tiếp và nêu tác dụng cách trích dẫn này trong văn bản. Câu 4. (1.00 điểm) Xác định phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản và nêu tác dụng của phương tiện này trong việc thể hiện nội dung văn bản. Câu 5. (1.50 điểm) Xác định mục đích viết và quan điểm của người viết thể hiện trong văn bản trên. Em có đồng tình với quan điểm đó hay không? Vì sao? Câu 6. (1.00 điểm) Ngoài việc phát triển các đường sách, em có những đề xuất gì để phát triển văn hóa đọc của người dân thành phố Hồ Chí Minh? (trả lời trong khoảng 6-8 dòng). PHẦN II. LÀM VĂN (4.00 điểm) <3cmq Thống kê từ Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, trong năm 2023, toàn quốc xảy ra hơn 21.000 vụ tai nạn giao thông đường bộ. Trong đó tai nạn giao thông liên quan đến trẻ dưới 18 tuổi chiếm 7,8% (với khoảng trên 1.700 vụ). Tuy công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhà trường, ký cam kết giữa gia đình và nhà trường đã được triển khai nhưng nhiều phụ huynh vẫn giao xe cho con em tham gia giao thông khi chưa đủ điều kiện. Bên cạnh đó, nhiều học sinh dù chưa có giấy phép lái xe nhưng vẫn đi xe máy, xe máy điện với tốc độ từ 40 -50km/h, tụ tập để lang lách, đánh võng, vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông, dẫn tới nhiều vụ tai nạn giao thông, gây hậu quả nghiêm trọng. Hướng ứng tháng an toàn giao thông 2024, em hãy viết một bài luận thuyết phục các bạn học sinh trong trường từ bỏ thói quen sử dụng xe phân khối lớn khi chưa đủ tuổi theo quy định. (>50^c) -------HẾT-------
10
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 10/Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Văn/de-thi-hk-1-mon-van-lop-10-nam-2024-thpt-nguyen-thuong-hien-a33346/image_1.png
PHẦN ĐỌC HIỂU (6,00 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh: Tạo đột phá phát triển văn hóa đọc Từ mô hình Đường sách ở quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh định hướng sẽ xây dựng không gian sách, đường sách ở nhiều nơi khác, nhằm đưa sách đến gần hơn với bạn đọc, tạo đột phá phát triển văn hóa đọc. Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh luôn nhộn nhịp, thu hút đông đảo bạn trẻ đến tham quan, tìm hiểu sách. (Anh: Anh Tuấn/TTXVN) Sau hơn 7 năm hoạt động, mô hình Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh (đường Nguyễn Văn Bình, Quận 1) đã có những thành công nhất định trong việc lan tỏa, nâng cao văn hóa đọc trong cộng đồng. Tiếp nối thành công đó, Thành phố Hồ Chí Minh định hướng sẽ xây dựng các không gian sách, đường sách ở nhiều địa phương khác, nhằm đưa sách đến gần hơn với bạn đọc, tạo đột phá phát triển văn hóa đọc. **Gợi bán sắc của đường sách** Chính thức đi vào hoạt động từ năm 2016, Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh là mô hình đường sách đầu tiên khởi trang cả nước. Có lợi thế lớn khi nằm ngay vị trí trung tâm của Thành phố, gần các điểm du lịch hấp dẫn khác, Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành điểm đến quen thuộc và thu hút được lượng lớn khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm. Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh được bình chọn là một trong 100 điểm đến thú vị của thành phố mạng ten Bác. Các hoạt động sôi nổi tại đường sách cùng hàng loạt hoạt động trải nghiệm về văn hóa đọc ở các gian hàng đã góp phần đưa sách đến gần hơn với bạn đọc, có tác động lớn đến việc hình thành thói quen đọc, nâng cao văn hóa đọc cho người dân. Đường sách là nơi diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, du lịch; các sự kiện phục vụ nhiệm vụ chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, đáp ứng nhu cầu bạn đọc cũng như yêu cầu phát triển của địa phương. Chị Nguyễn Thu Phương (thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) chia sẻ: Gia đình chị thích đến đường sách bởi đây là không khí lý tưởng, đa dạng phong phú. Vào mỗi dịp cuối tuần, chị đều đặn dành con đến đây để cùng tìm đọc, chọn sách và trải nghiệm các hoạt động thi vẽ về sách. Chị Phương mong rằng việc tổ chức các chương trình xuyên tập cận với sách sẽ giúp hình thành thói quen đọc cho các con từ khi còn nhỏ. Năm 2022, lượng khách đến với Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh đạt gần 3 triệu lượt. Tổng doanh thu của các đơn vị tại Đường sách đạt 51,64 tỷ đồng, tăng 113,7% so với năm 2021; số bán sách bán lẻ tăng 40,8%. Riêng trong 6 tháng đầu năm 2023, doanh thu Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh đạt hơn 32 tỷ đồng, tăng 56% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức cao nhất từng ký trong họ 7 năm hoạt động của đường sách. Ông Lê Hoàng, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đường sách thành phố Hồ Chí Minh cho biết mục tiêu hoạt động của Đường sách là tiếp tục nâng chất lượng hoạt động, vừa làm mới mình nhưng cũng phải giữ được bản sắc riêng về sách, tạo không gian văn hóa về sách, thúc đẩy văn hóa đọc.
10
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 10/Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-10-thpt-phu-nhuan-2025-a34034/image_1.png
Đọc văn bản sau: TRỞ LẠI Tác giả: Hoài Vũ Chiều trở mình lặng lẽ Tiếng dế kêu thắm thơ trước hiên nhà Con vui nhìn vào khói bếp Cho bố những ngày rong ruổi đi xa Hoa khế đầu hồi thơm ngọt Dịu dàng như thế thương yêu Bát canh cua đồng mẹ nấu Ngán ngơ cà lợn khói chiều Tấm nước giếng khơi mát lạnh Sạch đi hết bụi bặm đời Bon chen lo toan cũng tới Chỉ còn nhẹ nhõm thanh thơi Con hoá thành ngày xưa cũ Chân trần đi giữa tuổi thơ Nằm nghe lụ tre làng hát Nước sông ru nhịp đôi bờ (Trích Những mảnh ghép của huyền thoại, do Nguyễn Thanh Tâm tuyển chọn, NXB Văn học Việt Nam, trang 159) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 6: Câu 1. (1.0 điểm) Chủ thể trữ tình của bài thơ là ai? Chú thể xuất hiện dưới dạng thức nào? Câu 2. (1.0 điểm) Hãy tìm và phân tích cách sử dụng hình ảnh thể hiện vẻ đẹp bình dị, thân thuộc của quê hương trong bài thơ. Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra và phân tích hiệu quả biểu đạt của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong khổ thơ sau: "Hoa khế đầu hồi thơm ngọt Dịu dàng như thế thương yêu Bát canh cua đồng mẹ nấu Ngán ngơ cà lợn khói chiều" Câu 4. (1.0 điểm) Phân tích diễn biến tâm cảm, cảm xúc của chủ thể trữ tình trong bài thơ. Câu 5. (1.0 điểm) Nêu cảm hứng chủ đạo của bài thơ. Câu 6. (1.0 điểm) Theo anh/chị, việc nuôi dưỡng tình cảm gắn bó với quê hương đem lại những giá trị nào cho chiều sâu nhân cách và đời sống tinh thần của mỗi người. PHẦN II. VIẾT (4.0 điểm) Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề trưởng thành không chỉ là lớn lên, mà còn là biết đặt mình vào vị trí của người khác để thấu hiểu. ------- HẾT ------- Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
10
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 10/Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-10-thpt-nguyen-thuong-hien-2025-a34009/image_2.png
Tại Việt Nam, khảo sát của Đại học Quốc gia Hà Nội (2023) chỉ ra rằng, sinh viên sử dụng mạng xã hội quá nhiều thường chịu áp lực về cảm xúc, thời gian và khả năng làm việc khác nhau. Đặc biệt, TikTok và YouTube đang trở thành “bẫy thời gian”, khiến nhiều sinh viên trì hoãn việc học để đắm chìm vào các nội dung giải trí. Hơn nữa, về hoạt động chuyên môn, thời gian dành cho mạng xã hội đang làm giảm cơ hội rèn luyện kỹ năng. Báo cáo Tổ chức Lao động Quốc tế (2024) chỉ rõ, gần một nửa số người lao động trẻ thiếu các kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu công việc, trong khi trung bình họ dành 4 - 5 giờ mỗi ngày trên mạng xã hội. Điều này cho thấy, thế hệ đang lãng phí thời gian vào các nội dung không mang lại giá trị thực sự cho sự nghiệp. “ Theo quan điểm của tôi, tính thần học sinh, sinh viên tiêu thụ quá nhiều nội dung trực tuyến tầm thường, hay nói vui là “thối não” thực sự đáng lo ngại. Nội dung trực tuyến tầm thường mang tính giải trí nhất thời, như video hài ngắn, thử thách vô nghĩa hoặc nội dung câu view, mà không mang lại giá trị lâu dài về mặt tri thức hay kỹ năng”, ThS. Trung nhận định. Đi cùng với brain rot, “chữa lành” cũng là xu hướng nổi bật trong nhiều năm qua, và ngày càng gắn liền với làn sóng lạm dụng mạng xã hội, công nghệ số. Nhiều câu hỏi và sự mâu thuẫn đặt ra rằng: “Xem clip gì để khỏi brain rot, rồi lại chữa lành?”, “Tại sao thế hệ Z lại dễ gây rối vậy?” hay “Chữa lành có thật sự chữa lành?...”. Muốn ngăn chặn brain rot, không cách nào khác, người trẻ không thể đối diện chính mình và ưu tiên thời gian cho những việc khó, việc mới. [...] (Thông tin của văn bản được trích từ các báo Tiền Phong, Hội nhập và Sáng tạo.) Câu 1. (0.75 điểm) Đề tài của văn bản trên là gì? Em dựa vào đâu để xác định điều đó? Câu 2. (0.75 điểm) Chỉ ra một trích dẫn thực kiện giúp tăng tính thuyết phục trong văn bản. Câu 3. (1.00 điểm) Theo em, đoạn văn được in đậm đã sử dụng phương thức thuyết minh kết hợp với phương thức nào? Hãy chỉ ra và phân tích mục đích của việc lồng ghép các yếu tố này trong đoạn văn. Câu 4. (1.00 điểm) Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản trên là gì? Nếu tác giả dùng các cách trình bày này trong việc thể hiện nội dung văn bản. Câu 5. (1.00 điểm) Xác định quan điểm của người viết thể hiện trong văn bản trên. Em có đồng tình với quan điểm đó hay không? Vì sao? Câu 6. (1.50 điểm) Em hãy đề xuất số giải pháp có thể giúp người trẻ đối phó với tình trạng “brain rot” trong thời đại công nghệ hiện nay và nêu lý do đề xuất (trình bày bằng một đoạn văn từ 8 đến 10 dòng). PHẦN II. LÀM VĂN (4,00 điểm) Ngày nay, việc sử dụng điện thoại ngoài thời gian làm việc như một hình thức để giải trí cũng là một công cụ “giết thời gian” đối với nhiều người. Tuy nhiên, khoảng thời gian bị chiếm dụng đôi khi lại lên đến vài giờ đồng hồ vì quá “cuốn” với những nội dung được đăng tải trên mạng dưới hình thức video ngắn. Em hãy viết một bài luận thuyết phục các bạn trẻ từ bỏ thói quen nghiện xem những video ngắn vô bổ trên mạng xã hội. ....................................HẾT.......................... - Thí sinh không được sử dụng tài liệu; - Giám thị không giải thích gì thêm.
10
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 10/Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-10-thpt-nguyen-thuong-hien-2025-a34009/image_1.png
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (6,00 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: **Hiểm họa từ hội chứng 'thối não'** TP - Thuật ngữ "brain rot" (tạm dịch: thối não) được Nhà xuất bản Đại học Oxford chọn làm từ nổi bật nhất năm 2024, chỉ trạng thái suy giảm trí tuệ hoặc tinh thần của một người. Brain rot được xem là hậu quả của việc nghe, xem quá nhiều nội dung trực tuyến tầm thường hoặc không có tính thử thách. "Nội dung trực tuyến tầm thường" được các chuyên gia cảnh báo sẽ tiếp tục đe dọa bộ não của giới trẻ trong năm 2025 và thời gian tới. Bởi, các nền tảng mạng xã hội như TikTok, Facebook, YouTube hay Instagram không ngẫu nhiên gây nghiện. Các thuật toán được thiết kế tinh vi để giữ người dùng càng lâu càng tốt, bằng cách liên tục cung cấp những kích thích mới mẻ, nhưng thường thiếu chiều sâu. Điều này vô tình kéo người trẻ vào dòng chảy tin tức mạng xã hội, khiến họ tiêu thụ nội dung trực tuyến tầm thường như một thói quen và một nhu cầu bắt buộc. Word of the Year 2024 brain rot thối não Từ điển Oxford bình chọn "Brain Rot" (Thối Não) là từ nổi bật nhất năm 2024 ON THE FEED Bàn về brain rot và dự đoán về trạng thái này với giới trẻ năm 2025, ThS. Tạ Thanh Trung - Phó trưởng phòng Đào tạo, Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo Giáo dục Sài Gòn đã dẫn nguồn một số kết quả nghiên cứu đáng báo động. Cụ thể, một báo cáo từ Đại học Harvard (2024) cho thấy, việc sử dụng mạng xã hội trong khi học sẽ làm giảm hiệu suất đến 30% do tình trạng "đa nhiệm ảo".
4
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 4/Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt/de-thi-cuoi-ki-1-lop-4-mon-tieng-viet-2022-co-dap-an-th-vinh-thuan-a27715/image_4.png
Đọc bài sau và làm bài tập bên dưới: **TIẾNG HÁT BUỔI SỚM MAI** Rạng đông, mặt trời tỏa những tia nắng dịu dàng xuống muôn vật. Bên bia rừng có một bông hoa lạ, năm cánh mịn như nhung. Bông hoa tỏa hương thơm ngát. Quanh nó thấp thoáng những con bướm dập dờn. Mặt trời mỉm cười với hoa. Thế là bông hoa cất tiếng hát. Nó hát mãi, hát mãi. Cuối cùng, nó hỏi gió xem có thích bài hát đó không. Gió ngạc nhiên : - O chính tôi hát đấy chứ! Tôi đã làm những cánh hoa của bạn đung đưa, tạo thành những tiếng lao xao nên bạn cứ tưởng mình hát. Hoa lại hỏi sương. Những hạt sương long lanh trả lời: - Bạn nhầm rồi! Đó chính là tiếng ngân nga thánh thót của chúng tôi. Tranh cãi mãi, chẳng ai chịu ai. Hoa, gió và sương quyết định hỏi bác gạc rừng. Bác gạc rừng ôn tồn giải thích : - Mỗi buổi sáng sớm, khi mặt trời bắt đầu sưởi ấm vạn vật, muôn loài đều hân hoan hát ca. Nhưng mỗi loài đều có tiếng hát của riêng mình. Có biết lắng nghe nhau mới hiểu được tiếng hát của nhau, các cháu ạ. *Theo TRUYỆN NƯỚC NGOÀI* 1. (M1 - 0,5 điểm) Khoanh tròn vào chữ a, b, c hoặc d trước ý trả lời đúng: Hoa hỏi gió và sương điều gì? a. Bạn có thích bài hát của tôi không? b. Bạn có thích hát cùng tôi không? c. Bạn hát hay tôi hát đây nhỉ ? d. Bạn thấy tôi hát có hay không?. 2. (M1 - 0,5 điểm) Đánh dấu X vào ô trống ☐ trước câu trả lời đúng: Gió và sương trả lời hoa thế nào ? ☐ O, đó là bạn hát à ? ☐ Bài hát đó không hay bằng bài hát của tôi. ☐ Tôi không biết . ☐ Đó là tôi hát đấy chứ. 3. (M2 - 1 điểm) Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống: Vì sao hoa, gió và sương không nghe được tiếng hát của nhau? ☐ Vì mỗi vật đều hát to quá, át tiếng hát của nhau. ☐ Vì gió và sương đung đưa và ngân nga thánh thót.
4
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 4/Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt/de-thi-cuoi-ki-1-lop-4-mon-tieng-viet-2022-co-dap-an-th-vinh-thuan-a27715/image_1.png
Vì chúng không biết cách lắng nghe để hiểu nhau. Vì ai cũng say sưa hát bài hát của mình. 4. (M3 - 1 đ) Qua câu chuyện, em rút ra được bài học gì cho mình? Viết câu trả lời của em: 5. (M4 - 1đ) Vì sao câu chuyện lại có tên là "Tiếng hát buổi sớm mai"? Viết câu trả lời của em : (M1 - 0.5 đ) Gạch dưới các từ láy trong câu sau: "Tôi đã làm những cánh hoa của bạn rung rinh, tạo thành những tiếng lao xao nên bạn cứ tưởng mình hát". 7. (M2 - 1 đ) Nối các từ ở cột B với mỗi từ loại ở cột A cho phù hợp: | A | B | |---|---| | Danh từ | Mặt trời | | Động từ | Dịu dàng | | Tính từ | Tiếng hát | | | toả | 8. (M3 - 1 đ) Hãy đặt câu hỏi có từ nghi vấn "ai" cho câu sau: Tôi đã làm những cánh hoa của bạn rung đưa, tạo thành những tiếng lao xao nên bạn cứ tưởng mình hát. 9. (M4 - 0.5đ) Em hãy viết 1 hoặc 2 câu miêu tả chiếc bút của em rồi gạch dưới tính từ trong câu vừa đó. Môn : Tiếng Việt (phần Chính tả) - Thời gian : 20 phút Đề thi: Người chiến sĩ giàu nghị lực Trong trận chiến đấu giải phóng Sài Gòn cuối tháng 4 năm 1975, Lê Duy Ứng bị thương nặng. Anh đã quệt máu chảy từ đôi mắt bị thương vẽ một bức chân dung Bác Hồ. Tác phẩm của người thương binh hồng mắt đã gây xúc động cho đồng bào cả nước. Từ đó đến nay, họa sĩ Lê Duy Ứng đã có hơn 30 triển lãm tranh, tượng; đoạt 5 giải thưởng mĩ thuật quốc gia và quốc tế. Nhiều tác phẩm của anh đạt trân trọng trong các bảo tàng lớn của đất nước. Theo báo Lao Động Môn : Tiếng Việt (phần Tập làm văn) - Thời gian : 40 phút Đề bài: Em hãy tả một đồ chơi mà em yêu thích.
4
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 4/Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt/de-thi-ki-1-mon-tieng-viet-lop-4-nam-2022-th-binh-minh-co-dap-an-a27797/image_5.png
Câu 10: (1 điểm) Cho các từ sau: nhỏ bé, ngôi nhà, nhanh nhẹn, cái cặp, chăm chỉ, trắng phau, học sinh, ông. Xếp các từ đã cho vào 2 nhóm thích hợp. | Tính từ | Danh từ | | :--- | :--- | | .................................................... | .................................................................. | | .................................................... | .................................................................. | Câu 11: (0,5 điểm) Câu “Sáng sáng, ông cầm que vạch lên cột nhà luyện chữ cho cứng cáp.” Thuộc kiểu câu nào? Viết câu trả lời của em vào chỗ trống. B. KIỂM TRA VIẾT (10điểm) I. Chính tả: (2 điểm) Nghe – viết (khoảng 20 phút) Cánh diều tuổi thơ (sách TV4,tập 1 trang 146) Cánh diều tuổi thơ Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều. Chiều chiều, trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều thi. Cánh diều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi vui sướng đến phát dại nhìn lên trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè... như gọi thấp xuống những vì sao sớm. Ban đêm, trên bãi thả diều thật không còn gì huyền ảo hơn. Có cảm giác diều đang trôi trên dải Ngân Hà. Theo TẠ DUY ANH II. Tập làm văn: (8 điểm) Em hãy tả một đồ dùng học tập hoặc một đồ chơi mà em yêu thích. * Gợi ý: + Giới thiệu về đồ vật mà em định tả. + Đặc điểm của đồ vật (hình dáng, kích thước, màu sắc, ...) + Lợi ích (công dụng) của đồ vật. + Tình cảm của em đối với đồ vật
4
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 4/Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt/de-thi-ki-1-mon-tieng-viet-lop-4-nam-2022-th-binh-minh-co-dap-an-a27797/image_1.png
C. Vì ông lười học. D. Vì làm sai bài. **Câu 2: (0,5 điểm)** Sự việc gì xảy ra khiến Cao Bá Quát phải ân hận? A. Bà lão không sử dụng đơn kiện của Cao Bá Quát viết giúp. B. Lá đơn của Cao Bá Quát viết chữ quá xấu, quan không đọc được nên thét lính đuổi bà cụ về, khiến bà cụ không giải được nỗi oan. C. Bà lão bị thua vì đơn không rõ ràng. D. Lá đơn viết không nói đúng sự thật. **Câu 3: (1 điểm)** Thái độ của Cao Bá Quát như thế nào khi bà cụ hàng xóm nhờ viết hộ lá đơn? Viết câu trả lời của em vào chỗ trống. .................................................................................................................................................................... **Câu 4: (0,5 điểm)** Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ Cao Bá Quát luyện viết bao nhiêu trang vở? A. Tám trang vở. B. Chín trang vở. C. Mười trang vở. D. Mười hai trang vở **Câu 5: (0,5 điểm)** Chữ viết đã tiến bộ Cao Bá Quát làm gì ? A. Không cần luyện viết nữa . B. Luyện đọc. C. Chỉ viết một kiểu chữ. D. Mượn những cuốn sách chữ viết đẹp làm mẫu để luyện nhiều kiểu chữ. **Câu 6: (1 điểm):** Câu chuyện khuyên các em điều gì? Viết câu trả lời của em vào chỗ trống. **Câu 7: (0,5 điểm)** Câu tục ngữ nào dưới đây thể hiện đúng chủ đề của bài văn? A. Thất bại là mẹ thành công. B. Lá lành đùm lá rách. C. Tuổi trẻ tài cao. D. Có chí thì nên. **Câu 8: (0,5 điểm)** Từ ngữ nào nói lên ý chí, nghị lực của Cao Bá Quát? A. Kiên trì. B. Thông minh. C. Chăm chỉ. D. Lười biếng. **Câu 9: (0,5 điểm)** “ Gia đình già có một việc oan uống muốn kêu quan, nhờ cậu viết giúp cho lá đơn, có được không?” là câu hỏi, thể hiện: A.Thái độ khen, chê. B. Sự khẳng định, phủ định C. Yêu cầu, mong muốn. D. Những điều chưa biết.
4
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 4/Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt/de-thi-ki-1-mon-tieng-viet-lop-4-nam-2022-th-binh-minh-co-dap-an-a27797/image_3.png
Đọc thầm văn bản sau : Văn hay chữ tốt Thưở đi học, Cao Bá Quát viết chữ rất xấu nên nhiều bài văn dù hay vẫn bị thầy cho điểm kém. Một hôm, có bà cụ hàng xóm sang khẩn khoản: - Gia đình già có một việc oan uổng muốn kêu quan, nhờ cậu viết giúp cho lá đơn, có được không? Cao Bá Quát vui vẻ trả lời: - Tương việc gì khó, chứ việc ấy cháu xin sẵn lòng. Lá đơn viết lí lẽ rõ ràng, Cao Bá Quát yên trí quan sẽ xét nỗi oan cho bà cụ. Nào ngờ, chữ ông xấu quá, quan đọc không được nên thét lính đuổi bà ra khỏi huyện đường. Về nhà, bà kể lại câu chuyện khiến Cao Bá Quát vô cùng ăn năn. Ông biết dù văn hay đến đâu mà chữ không ra chữ cũng chẳng ích gì. Từ đó, ông dốc sức luyện viết chữ sao cho đẹp. Sáng sáng, ông cầm que vạch lên cột nhà luyện chữ cho cứng cáp. Mỗi buổi tối, ông viết xong mười trang vở mới chịu đi ngủ. Chữ viết đã tiến bộ, ông lại mượn những cuốn sách chữ viết đẹp làm mẫu để luyện nhiều kiểu chữ khác nhau. Kiên trì luyện tập suốt mấy năm, chữ ông mỗi ngày một đẹp. Ông nổi danh khắp nước là người văn hay chữ tốt. Theo Truyện đọc 1 (1995) Dựa vào nội dung bài đọc, hãy khoanh tròn chữ cái đặt trước ý trả lời đúng hoặc làm bài tập cho từng câu hỏi dưới đây : Câu 1 : (0,5 điểm) Thưở đi học,vì sao Cao Bá Quát thường bị điểm kém? A. Vì chữ ông viết rất xấu dù bài văn ông rất hay. B. Vì ông viết văn rất dở.
4
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 4/Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt/de-thi-cuoi-ki-1-nam-2023-mon-tieng-viet-lop-4-th-quang-trung-a30483/image_4.png
I. KIỂM TRA ĐỌC (10 điểm) 1. Đọc thành tiếng: (3 điểm) (Thời gian khoảng 3 -5 phút/ em ) GV yêu cầu học sinh đọc bài Cô tích viết bằng chân và bài Hai chiếc huy chương, trả lời các câu hỏi có liên quan đến nội dung đoạn vừa đọc. - CÔ TÍCH VIẾT BẰNG CHÂN Những trang vở đỏ chói chữ đều, thẳng tắp – ít ai có thể ngờ rằng những dòng chữ đó được viết không phải bởi tay mà là bằng chân : một đôi chân kì diệu của bạn Nguyễn Minh Phú, lớp 4B, Trường Tiêu học Hồ Tông Thốc, xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Cô Nguyễn Thị Bình – mẹ của Phú – không thể nào quên được cái ngày 17-7-1990 ấy. Cô đã ngã xe khi nhìn thấy đứa con vừa chào đời mới chín : một hai thì đau, bé bị vỡ và thiểu hàn đôi cánh tay. Nhưng Phú đã lớn lên và cố ý thức tự lập từ sớm, tận tâm mọi việc bằng đôi chân của mình. Mỗi sáng ngủ dậy, Phú dùng chân kẹp bàn chải đánh răng và lấy khăn rửa mặt. Với đôi chân của mình, Phú không chỉ tự ăn cơm, mặc quần áo, mắc màn, xếp chăn, tắt mở công tắc điện,... mà còn giúp bố mẹ làm nhiều việc vặt trong nhà, trở nên ngồ, nhặt rau, đun bếp, quét nhà cho đến xâu kim chỉ cho mẹ và quàn áo. Một lần, Phú mò men đến lớp học, say sưa nhìn cô giáo giảng bài, nhìn lũ bạn è đánh vần, tập viết,... về nhà, Phú lấy viên phấn kép vào chân, viết chăm chú những nguệch ngoạc trên nền gạch. Khi biết đọc thông, viết thạo, Phú nâng cao đòi cha mẹ cho đi học. Cô giáo chủ nhiệm dành cho Phú một chiếc ghế để Phú đặt vò lên đấy, xoay ngang người, kê chân lên và cắp bút viết. Cứ như thế, Phú cần cù chịu khó, chịu khó, dù cho vào những ngày nóng rực, mồ hôi rã xuống nhoe hết cả trang vở, cơn về mùa đông khi bàn chân vì cong vị lạnh, điều khiến cây bút cực kì khó khăn. Có những hôm, do viết quá nhiều, Phú bị chuột rút khiến các ngón chân co quắp, cứng đờ. Vất vả, khổ sở là thế nhưng Phú không hề nản lòng, chưa hề nghỉ một buổi học nào. Điều đáng nói là Phú viết rất đẹp và đặc biệt là tiếp thu bài rất rõ nhanh. Suốt bốn năm học, Phú luôn là người dẫn đầu lớp về thành tích học tập. Phú đã có khá năng về môn Toán, trong cuộc thi toàn diện 9, 10. Năm 2002, Phú đoạt giải “Vở sạch – Chữ đẹp” của huyện. Mẹ của Phú là từ thời nhỏ người thích đọc, vi theo bà, đó là cũng việc thích hợp nhất đối với mỗi người không có tay như Phú. Nhìn gương mặt thông minh với đôi mắt sáng, kiên quyết của Phú, tôi tin rằng Phú sẽ học thành tài, sẽ thực hiện được ước mơ của mình. (Theo báo Thiếu niên Tiền phong) Trả lời các câu hỏi: Câu 1: Bạn Phú trong câu chuyện thiếu hẳn đôi tay nhưng đã biết làm những việc gì ? - Bóc ngô, nhặt rau, đun bếp, quét nhà, xâu kim chỉ... Câu 2: Phú đã gặp những khó khăn gì khi tập viết bằng chân ? - Mùa hè, mồ hôi rã xuống nhoe vở. Mùa đông, chân bị cong vị lạnh. Hay bị chuột rút khiến các ngón chân co quắp, cứng đờ. Câu 3: Phú đã đạt được những thành tích gì trong học tập ? - Là người dẫn đầu lớp về thành tích học tập, rất giỏi Toán, đoạt giải “Vở sạch – Chữ đẹp”. Câu 4: Nội dung câu chuyện này là gì ? - Ca ngợi bạn Nguyễn Minh Phú giàu nghị lực mặc dù thiếu hẳn đôi tay nhưng vẫn chăm làm, học giỏi và viết chữ đẹp.
4
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 4/Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt/de-thi-cuoi-ki-1-nam-2023-mon-tieng-viet-lop-4-th-quang-trung-a30483/image_2.png
HAI CHIẾC HUY CHƯƠNG Tại Đại hội Ô-lim-pích dành cho người khuyết tật, một học sinh tên Giôn, 14 tuổi, mắc hội chứng Đao nên mắt nhìn không rõ. Giôn đăng kí chạy môn 400 mét. Vào ngày thi, sau khi đăng kí để nhận đường chạy và số hiệu, thì cặp kính của Giôn biến mất, nhưng cậu ta nói rất quyết tâm : - Em sẽ gắng hết sức để giành huy chương vàng. Khi có tín hiệu xuất phát, Giôn đã khởi đầu rất tốt. Đột nhiên, một vận động viên khác chạy lấn vào đường đua của Giôn khiến em không nhìn thấy đường chạy và ngã vào khu vực đá dăm bên cạnh đường đua. Thế nhưng Giôn đã gượng đứng dậy, nheo mắt nhìn đường đua và tiếp tục chạy dù chân trái khập khiễng vì đau. Cậu tiếp tục chạy qua khúc cua một cách bền bỉ. Khi gần bắt kịp vận động viên cuối cùng, Giôn lại bị trượt chân và ngã. Cậu nằm khá lâu. Nhưng Giôn lại gượng đứng dậy. Lúc này, sức chạy của Giôn đã giảm đi rất nhiều, chân tay cậu bắt đầu run lấy bẩy, người đã vì kiệt sức. Khi chỉ còn cách đích khoảng 10 mét, cậu lại bị ngã một lần nữa. Bỗng nhiên, mẹ của Giôn đến đứng gần vạch đích : - Giôn ! Mẹ ở đây, con có nghe thấy tiếng mẹ không ? Mặc cho khuỵu tay, đầu gối đang bị trầy xước và rớm máu, Giôn vẫn khập khiễng tiến về phía vạch đích, hướng theo tiếng gọi của người mẹ. - Phía này, con yêu ơi ! - Mẹ cậu gọi. Gương mặt của cậu trông rạng rỡ và vui sướng hẳn lên khi băng qua vạch đích và ngã vào vòng tay âu yếm của mẹ. Giôn đã không chiến thắng trên đường đua nhưng niềm tin chiến thắng đã cháy bỏng, toả sáng trong cậu. Giôn thật xứng đáng nhận cùng một lúc hai huy chương : một huy chương về bản lĩnh và niềm tin; một huy chương khác cho sự quyết tâm tuyệt vời - không bao giờ bỏ cuộc. (Theo Thanh Tâm) Trả lời các câu hỏi: Câu 1. Cậu bé Giôn trong câu chuyện tham gia thi đấu môn thể thao nào? - Chạy 400 mét. Câu 2. Giôn mắc chứng bệnh gì? - Mắc hội chứng Đao nên mắt nhìn không rõ. Câu 3. Khi phát hiện ra mình mất kính trước giờ thi đấu, thái độ của Giôn như thế nào? - Quyết tâm cố gắng hết sức để giành huy chương vàng. Câu 4. Cậu đã làm thế nào để có thể về đích? - Nghe theo tiếng gọi của mẹ ở vạch đích Câu 5. Giôn xứng đáng được nhận hai huy chương cho những điều gì? - Cho bản lĩnh, niềm tin và sự quyết tâm tuyệt vời không bao giờ bỏ cuộc. Câu 6. Câu chuyện muốn nói với em điều gì? - Câu chuyện muốn nói với em rằng: Cần có bản lĩnh, niềm tin và quyết tâm thực hiện mọi việc mình đã đề ra. (GV có thể nêu các câu hỏi khác dựa vào nội dung bài đọc.) 2. Đọc hiểu + Kiến thức tiếng Việt: (7 điểm) (Thời gian khoảng 35 - 40 phút ) Đọc thầm bài: NÓI LỜI CÔ VŨ Một cậu bé người Ba Lan muốn học đàn dương cầm, thế nhưng cha cậu bảo mấy ngón tay của cậu mập mạp và ngắn quá, không thể nào chơi đàn hay được. Ông khuyên cậu hãy thử học chơi kèn, thế rồi sau đó một nhạc công chuyên nghiệp lại nói rằng cậu không có được đôi môi thích hợp.
4
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 4/Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt/de-thi-cuoi-ki-1-nam-2023-mon-tieng-viet-lop-4-th-quang-trung-a30483/image_3.png
Một ngày kia, cậu được gặp gỡ nhạc sĩ dương cầm lừng danh An-tôn Ru-bin-xtên. Con người nổi tiếng này đã trao cho cậu một lời khích lệ mà trước đây cậu chưa từng được nghe : “Này chú bé, chú có thể chơi pi-a-nô được đấy ! Ta nghĩ là chú có thể chơi được… nếu như chú chịu khó luyện tập 7 tiếng mỗi ngày.” Ôi chao, đó mới thực là nguồn động viên lớn lao mà cậu cần đến. Ru-bin-xtên vĩ đại đã bảo là cậu có thể chơi đàn được ! Cậu sẽ phải bỏ rất nhiều thời gian để luyện tập nếu muốn chơi đàn, nhưng mà cậu có thể chơi được ! Thậm chí có thể chơi giỏi ! An-tôn Ru-bin-xtên đã nói như vậy mà ! Cậu bé về miệt mài tập luyện, cậu bỏ ra nhiều giờ mỗi ngày, và sau nhiều năm, công lao khổ nhọc của cậu đã được tặng thưởng: Gian Pa-đơ-rêu-xki trở thành một trong những nghệ sĩ dương cầm lừng danh nhất thời bấy giờ. Một lời động viên đơn giản đã mang đến nội lực làm bùng lên ngọn lửa đam mê trong lòng một cậu bé, ngọn lửa ấy vẫn cháy sáng mãi trong nhiều năm trời. Hãy nhớ rằng những lời động viên mà bạn đang trao gửi hôm nay đôi khi làm thay đổi được mãi mãi một cuộc đời của người đã đón nhận nó. (Theo Thu Hà) **Dựa vào nội dung bài đọc**, em hãy khoanh vào chữ đặt trước ý trả lời đúng ở các câu 1, 2, 4, 5 và làm các bài tập: Câu 1 (M1): Cậu bé người Ba Lan trong câu chuyện đã thử học chơi những nhạc cụ nào ? A. Dương cầm, kèn. B. Kèn, vi-ô-lông. C. Vi-ô-lông, dương cầm. D. Sáo, dương cầm. Câu 2 (M1): Vì sao cha cậu bé khuyên cậu không nên học đàn dương cầm ? A. Vì cậu không có đôi môi thích hợp. B. Vì các ngón tay của cậu múp míp và ngắn quá. C. Vì cậu không có năng khiếu. D. Vì cậu hát không hay. Câu 3 (M1): Nối từ ở cột A với từ loại ở cột B cho phù hợp: | | | | :--- | :--- | | **A** | **B** | | động viên | danh từ | | giỏi | động từ | | cậu bé | | | tập luyện | tính từ | Câu 4 (M2): Ai đã khích lệ cậu bé học đàn dương cầm? A. Một họa sĩ tài ba. B. Một cầu thủ bóng đá. C. Một ca sĩ nổi tiếng. D. Một nhạc sĩ dương cầm lừng danh. Câu 5 (M2): Nguyên nhân nào dẫn đến sau này cậu trở thành một nghệ sĩ dương cầm lừng danh ?
4
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 4/Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt/de-thi-ki-1-mon-tieng-viet-lop-4-nam-2022-thcs-chu-van-an-co-dap-an-a27658/image_1.png
1. Đọc thành tiếng (3 điểm): Học sinh bốc thăm đọc một đoạn văn hoặc một đoạn thơ (khoảng 3 - 5 phút) đã học từ tuần 11 đến tuần 17; sau đó trả lời 1 câu hỏi liên quan đến nội dung đoạn vừa đọc. 2. Kiểm tra đọc hiểu văn bản kết hợp kiểm tra từ và câu (7điểm) Đọc thầm bài “Về thăm bà” và trả lời câu hỏi. Về thăm bà Thanh bước lên thềm, nhìn vào trong nhà. Cảnh tượng gian nhà cũ không có gì thay đổi. Sự yên lặng làm Thanh mãi mới cất được tiếng gọi khẽ: - Bà ơi! Thanh bước xuống dưới giàn thiên lý. Có tiếng người đi, rồi bà mái tóc bạc phơ, chống gậy trúc ở ngoài vườn vào. Thanh cảm động và mừng rỡ, chạy lại gần. - Cháu đã về đây u? Bà thôi nhai trầu, đôi mắt hiền từ dưới làn tóc trắng nhìn cháu, âu yếm và mến thương: - Đi vào trong nhà kéo nắng, cháu! Thanh đi, người thẳng, mạnh, cạnh bà lưng đã còng. Tuy vậy, Thanh cảm thấy chính là che chở cho mình như những ngày còn nhỏ. Bà nhìn cháu, giục: - Cháu rửa mặt rồi đi nghỉ đi! Lần nào trở về với bà, Thanh cũng thấy bình yên và thong thả như thế. Căn nhà, thửa vườn này như một nơi mát mẻ và hiền lành. Ở đây, lúc nào bà cũng sẵn sàng chờ đợi để mơn man. Theo Thạch Lam Khoanh tròn vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất : Câu 1: M1. Câu nào cho thấy bà của Thanh đã già? (1điểm) A. Tóc bạc phơ, miệng nhai trầu, đôi mắt hiền từ, chống gậy trúc. B. Tóc đen, khỏe mạnh bước ra chào cháu, đôi mắt hiền từ. C. Tóc đen, da còn trẻ, miệng tươi cười. D. Tóc bạc, bà bước đi nhanh nhẹn chào cháu. Câu 2: Câu nào dưới đây nói lên tình cảm của đối với Thanh? (M1 )(1điểm). A. Nhìn cháu bằng ánh mắt âu yếm, mến thương, giục cháu vào nhà cho khỏi nắng, giục cháu đi rửa mặt rồi nghỉ ngơi. B. Nhìn cháu và bảo cháu vào nhà, lấy nước cho cháu. C. Nhìn cháu và lấy nước cho cháu và bật quạt cho cháu. D. Nhìn cháu bằng ánh mắt thương hại và lấy nước cho cháu. Câu 3: Thanh có cảm giác như thế nào khi về ngồi trò của bà? (M2 ) (1điểm) A. Có cảm giác buồn bã vì phải xa nhà.
4
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 4/Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt/de-thi-ki-1-mon-tieng-viet-lop-4-nam-2022-thcs-chu-van-an-co-dap-an-a27658/image_3.png
B. Có cảm giác vui vì được xa bố mẹ. C. Có cảm giác buồn, không được bà che chở. D. Có cảm giác thong thả, bình yên, được bà che chở. **Câu 4:** Vì sao Thanh cảm thấy chính bà đang che chở cho mình? (M2) (1 điểm) A. Vì Thanh thấy vui khi được về quê chơi B. Vì Thanh sống với bà từ nhỏ, luôn yêu mến, tin cậy bà và được bà săn sóc,yêu thương. C. Vì Thanh là khách của bà, được bà chăm sóc, yêu thương. D. Vì Thanh được đi chơi xa nên thấy thoải mái trong lòng. **Câu 5:** Nếu là em, em sẽ nói điều gì với bà? (M4) (1điểm). **Câu 6:** Hãy đặt câu hỏi có từ nghi vấn “ai” cho câu sau: (M3 ) (1điểm) Chú Đất Nung được nung trong lửa. **Câu 7:** Em hãy đặt một câu kể có sử dụng kiểu câu kể Ai làm gì ? (M3 )(1điểm) **B. BÀI KIỂM TRA VIẾT** I. Chính tả: Nghe - viết :4 điểm **Bài:** Rất nhiều mặt trăng (Từ đầu ..... đến bỏ tay) Tiếng Việt 4-Tập 1/Trang 168 II. Tập làm văn: (6 điểm) **Đề bài:** Hãy tả một đồ dùng học tập hoặc một đồ chơi mà em yêu thích nhất.
4
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 4/Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt/de-thi-hoc-ki-1-mon-tieng-viet-lop-4-nam-2023-kntt-co-dap-an-a30653/image_2.png
I. ĐỌC – HIỂU (5 điểm): Đọc văn bản **CHIẾC ÁO MỚI NGÀY XUÂN** Tôi nhớ mãi lần mẹ mua cho tôi chiếc áo mới vào ngày Tết, chiếc áo vải dày nhưng sờ vào rất mát. Những bông hoa vàng nhụy đỏ làm niềm vui của tôi trong năm mới râm ran. Cả đêm đó, dù không phải thức canh nồi bánh chưng nhưng tôi vẫn cố canh cho mình đừng ngủ. Tôi chỉ sợ nếu nhắm mắt vào thì chiếc áo mới đó sẽ bị ai đó lấy mất, hoặc rất có thể nó sẽ không cánh mà bay. Tết năm ấy với tôi cái gì cũng đẹp hơn, vui hơn gấp trăm lần. Từ 27 Tết, tôi cứ chạy khắp căn nhà nhỏ bé của mình để xếp gọn đồ đạc lại, làm đủ mọi việc linh tinh mà không phụng phịu, dỗi hờn như mọi năm. Thi thoảng lại liếc mắt nhìn chiếc áo mới được mẹ móc gọn gàng phơi trên dây. Vui như thế cái áo cũng đang mỉm cười với mình, đang hát với mình… Đêm Giao thừa mẹ bảo mặc áo mới trước giờ bói thấp hương. Tôi cầm cáo áo trên tay hít hà mùi vải mới, vừa muốn mặc lên người mà vừa không nỡ. Cứ tần ngần, bố phải nhắc đến lần thứ ba. Dù chiều đã đun nước hương bưởi để tắm gội tất niên nhưng từ khi mặc áo mới tôi chỉ ngửi thấy trên cơ thể mình một mùi thơm lạ lẫm. Có lẽ đó là mùi của niềm vui trong lòng trẻ thơ lên mười. Sau này khi cuộc sống đã bớt khó khăn, Tết nào mẹ cũng sắm cho ba anh em tôi quần áo mới. Tuy nhiên, dù giá những bộ quần áo đó có cao hơn, chất vải tốt hơn tôi vẫn yêu chiếc áo mới thời khó, năm nào. *Vũ Thị Huyền Trang* Dựa vào nội dung bài đọc, khoanh vào chữ cái đặt trước câu trả lời đúng hoặc làm theo yêu cầu: **Câu 1.** Câu văn sau đây vừa tả chiếc áo vừa nói lên niềm vui của bạn nhỏ? A. Chiếc áo có những bông hoa vàng nhụy đỏ làm lòng tôi cứ rộn lên. B. Tết năm ấy với tôi cái gì cũng đẹp hơn, vui hơn gấp trăm lần. C. Sau này khi cuộc sống đã bớt khó khăn, Tết nào mẹ cũng sắm cho ba anh em tôi quần áo mới.
4
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 4/Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt/de-thi-hoc-ki-1-mon-tieng-viet-lop-4-nam-2023-kntt-co-dap-an-a30653/image_1.png
Câu 3. Cụm từ “mùi thơm rất lạ” trong bài chỉ ý gì? A. Mùi vải mới từ cái áo. B. Mùi vải mới quyện với hương bưởi từ nước tắm gội. C. Mùi của niềm vui trong treo thưở lên mười. Câu 4. Vì sao bạn nhớ thấy Tết năm ấy đẹp hơn, vui hơn những năm trước? A. Vì bạn có chiếc áo mới rất đẹp. B. Vì bạn làm được nhiều việc giúp bố mẹ. C. Vì mọi người đều thấy vui trong ngày Tết. Câu 5. Vì sao sau này, khi đã có những bộ quần áo đẹp hơn, giá trị hơn mà nhân vật “tôi” vẫn yêu chiếc áo thời khó khăn năm xưa? ....................................................................................................... ....................................................................................................... Câu 6. Xác định từ loại của các từ gạch chân trong câu văn sau. Tôi nhớ mãi lần mẹ mua cho tôi chiếc áo mới vào ngày Tết, chiếc áo vải dày nhưng sờ vào rất mát. Câu 7. Gạch chân rồi viết lại cho đúng các tên riêng bị viết sai trong đoạn văn sau: Hà Nội nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử. Đến với Thủ đô Hà Nội bạn sẽ được chiêm ngưỡng nét kiến trúc cổ độc đáo của chùa một cột, chùa trấn quốc, được thăm văn miếu – quốc tử giám, được dạo quanh những hồ đẹp: hồ gươm, hồ tây, hồ bảy mẫu. ....................................................................................................... ....................................................................................................... ....................................................................................................... Câu 8. Đặt câu với thành ngữ sau: Có mới nới cũ ....................................................................................................... ....................................................................................................... II. VIẾT BÀI VĂN: (5 điểm) Đề bài: Em hãy viết một bài văn miêu tả một con vật nuôi (trong nhà em hoặc nhà hàng xóm mà em có dịp quan sát).
4
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 4/Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt/de-thi-ki-1-lop-4-mon-tieng-viet-2022-th-phong-dong-co-dap-an-a27895/image_2.png
Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi: CHIẾC DIỀU SÁO Chiến lớn lên, khỏe mạnh, chăm học, chăm làm. Tuy vậy, nó ham mê chơi diều và chơi khòe thật lắm. Còn bà, sau một ngày làm việc mệt nhọc, bà bác chồng ra sân ngồi nghỉ, lòng thanh thản. Bà lắng nghe tiếng sáo ngân nga, nhận ra tiếng sáo của Chiến ngọt ngào và vi vu mượt mà. Năm 1965, Chiến nhập ngũ. Suốt mười năm xa sống khắc khoải trong nỗi thương nhớ và chờ đợi. Ngày Chiến về, bà đã bị lẫn nên không nhận ra anh. Chiến ôm chầm lấy bà, nhưng bà giẫy này đẩy anh ra. Chiến ngơ ngàng, sụp xuống quỳ lạy bà, nước mắt ròng ròng. Mùa thả diều lại đến. Một buổi chiều, khi bà đang ngồi ở cổng thì Chiến về, mang theo một đoạn tre nói: - Con vót cái diều chơi với bà ạ. Bà nhìn đoạn tre, nhìn Chiến một lúc lâu. Bà lần đến, rờ lên đầu, len vai anh và hỏi: - Chiến đấy thật ư con? Chiến vứt chiếc nan diều vót dở, ôm chầm lấy bà, thương xót cả đến thắt ruột, bà lập cập kéo Chiến xuống bếp, chỉ lên gác bếp: - Diều của con đây có mà. Tối hôm ấy, khi Chiến mang diều đi, bà lại lăn ra chóng nằm. Trong nhiều tiếng sáo ngân nga, bà nhận ra tiếng chiếc diều sáo của Chiến. Đêm thơm nức mùi hoa. Trời sao thăm thẳm, bình yên. (Theo Thắng Sắc) Khoanh tròn vào câu trả lời đúng nhất và trả lời câu hỏi: Câu 1. Chiến ham mê chơi gì ? (0,5 điểm) M1 a. Chơi diều. b. Chơi đàn. c. Chơi bóng. d. Chơi đá cầu. Câu 2. Bà lắng nghe tiếng sáo ngân nga, nhận ra tiếng sáo của Chiến như thế nào? (0,5 điểm) M1
4
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 4/Đề thi học kì 1 lớp 4 môn Tiếng Việt/de-thi-ki-1-lop-4-mon-tieng-viet-2022-th-phong-dong-co-dap-an-a27895/image_1.png
a. Thổi không hay. b. Thổi rất hay. c. Ngọt ngào và vì vút nhất d. Trong trẻo. Câu 3. Năm 1965 Chiến làm gì ? (0,5 điểm) M1 a. Lấy vợ. b. Đi vùng kinh tế mới. c. Nhập ngũ d. Đi học đại học. Câu 4. Chiến vứt chiếc nan diều vót dở để làm gì ? (0,5 điểm) M1 a. Di nấu cơm. b. Ôm trùm lấy bà. c. Đi đá bóng. c. Đi chơi. Câu 5. Em có nhận xét gì về nhân vật người bà? (1 điểm) M2 .................................................................................................... .................................................................................................... Câu 6. Qua câu chuyện trên, em rút ra bài học gì ? (1 điểm) M3 .................................................................................................... .................................................................................................... Câu 7. Trong câu: “Bạn Hà rất chăm chỉ”. Tính từ là: (0,5 điểm) M1 a. Bạn. b. Hà. c. Rất. d. Chăm chỉ. Câu 8. Từ nói lên ý chí, nghị lực của con người là : (1điểm) M1 a. Quyết chí . b. Ham chơi. c. Đua đòi. d. Nản chí. Câu 9. Đặt một câu hỏi để hỏi bạn cho em mượn 1 đồ dùng học tập. (0,5 điểm) M2 .................................................................................................... .................................................................................................... Câu 10. Đặt một câu kể “Ai làm gì?”. (1 điểm) M2 .................................................................................................... .................................................................................................... B: Phần kiểm tra viết 1. Chính tả (nghe viết) (2điểm): Bài “Rất nhiều mặt trăng” (SGK Tiếng Việt lớp 4 tập 1A trang 181). Viết từ “Ó vương quốc nợ ... nếu có được mặt trăng” 2. Tập làm văn (8 điểm) Đề bài : Hãy tả một đồ vật mà em yêu thích (đồ chơi của em, đồ dùng học tập hoặc đồ dùng trong nhà).
9
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 9/Đề thi học kì 1 lớp 9 môn Văn/de-thi-ki-1-mon-van-lop-9-thcs-hong-van-2025-a34017/image_2.png
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) ĂN TẾT VỚI MẸ Con là cán bộ phương xa đến Ăn tết hôm nay với mẹ già Ngồi bên bếp lửa sáng giờà Con nghe mẹ kể gần xa trầm trồ: - Mẹ thương đoàn lính Cụ Hồ Hôm nay ăn tết ở vô phương nào Đồng lương chẳng có là bao Có không cũng ở đồng bào mà thôi Mẹ già, chợ búa xa xôi Con ăn với mẹ lưng xói vui mừng Tết xưa bánh mứt bánh chưng Mà chưa độc lập cũng không vui gì..." Mẹ ngồi, mẹ nói, mẹ khoe Vườn rau mẹ tốt, nương chè mẹ xanh - "Mình dáy cực khổ cũng dành Tết ni tiết kiệm để dành sang năm Phòng khi bộ đội về làng Không chi thì cũng khoai lang nước chè Anh em cực khổ nhiều bề Có con có mẹ đi về là vui..." Lửa vòn nồi nước bùng sôi Con nghe ngon miệng lưng xới vợi dần Mẹ rằng: "Con có mà ăn Chi coi với mẹ để phần cho ai?" Mẹ ngồi mẹ ngó con nhai Mẹ nhìn con nuốt mà hai mắt cười Bỗng nhiên mắt mẹ sáng ngời:
9
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 9/Đề thi học kì 1 lớp 9 môn Văn/de-thi-ki-1-mon-van-lop-9-thcs-hong-van-2025-a34017/image_1.png
- "Tết ni Cụ¹ đã mấy mươi tuổi rồi?" Bên bếp lửa ngồi nghe mẹ kể Con thấy lòng thấm thía tình thương Ngày mai con bước lên đường Mẹ ơi! Con mẹ coi thường gian lao (Vĩnh Mai, Đất đen và hoa thảm, NXB Hội Nhà văn, 1982) **Thực hiện các yêu cầu** Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản trên? Câu 2 (1 điểm). Ghi lại những từ ngữ khắc họa hình ảnh người mẹ trong khổ thơ đầu tiên. Qua những từ ngữ đó, em có cảm nhận như thế nào về người mẹ ấy? Câu 3 (0,5 điểm). Từ ngữ địa phương như “ni” “chí” trong văn bản *Ăn tết với mẹ* có ý nghĩa, tác dụng gì? Câu 4 (1,0 điểm). Việc sử dụng phép điệp cấu trúc và phép liệt kê trong hai dòng thơ *Mẹ ngồi, mẹ nói, mẹ khoe! Vườn rau mẹ tốt, nương chè mẹ xanh* mang lại hiệu quả nghệ thuật gì? Câu 5 (1,0 điểm). Từ hình ảnh người mẹ trong bài thơ, em có suy nghĩ cảm nhận gì về người phụ nữ Việt Nam thời kháng chiến chống Mĩ và hiện nay? **II. PHẦN VIẾT** (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích 12 dòng thơ cuối của văn bản “Ăn tết với mẹ” được trích trong phần đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm). Người lính trong bài thơ vô cùng thấm thía tình thương của “người mẹ” không phải ruột thịt với anh. Từ đó ta thấy bên cạnh gia đình chúng ta rất cần tình cảm yêu thương của mọi người xung quanh như bạn bè, thầy cô… Hãy viết bài văn nghị luận khoảng 400 chữ) để trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên. ....................Hết.....................
9
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 9/Đề thi học kì 1 lớp 9 môn Văn/de-thi-cuoi-ki-1-mon-van-lop-9-nam-2025-thcs-dong-da-a33995/image_1.png
Họ và tên học sinh:............................................................. Số báo danh: .......................... I. ĐỌC – HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: NHỚ QUÊ (1) Chia tay cánh quê nghèo thuở ấy Chuyến đổi chiều biết mấy van vương Xa rồi lại nhớ người thương Dáng gầy của mẹ bên đường ngóng theo (2) Nhớ giọt nắng ấm tre bờ đậy Bóng hoàng hôn đánh dấu hàng tre Sao ai rêu rất trưa hè Cánh diều đón gió, chú ve dạo đàn (3) Trắng nghiêng xuống ghé giàn thiên lý Đón hương nồng nhá ý gì đây? Dịu dàng bướm lượn ong say Quê hương, nỗi nhớ cố ngày nào với (4) Con đi miệt phương trời cách biệt Dường như mình mới biết gian nan Nhớ quê, nhớ xóm nhớ làng Công cha, nghĩa mẹ mênh mang đất trời (5) Nhớ con sông nhỏ, đôi ơi! Nhớ cù vi đậm cả đời nặng mang. (Trần Thiên Lý, Veho.com.vn) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1 (1,0 điểm). Bài thơ được làm theo thể thơ gì? Chỉ ra đặc điểm của vần trong khổ thơ thứ nhất. Câu 2 (1,0 điểm). Ở khổ thơ thứ hai, quê hương hiện lên qua những hình ảnh, chi tiết nào? Nêu ý nghĩa của những hình ảnh, chi tiết đó trong việc gợi lại ký ức của nhân vật trữ tình và tái hiện bức tranh sắc màu làng quê Việt Nam xưa? Câu 3 (1,0 điểm). Xác định phép tu từ nhấn hoặc được sử dụng trong hai câu thơ sau và phân tích tác dụng: Trắng nghiêng xuống ghé giàn thiên lý Đón hương nồng nhá ý gì đây? Câu 4 (1,0 điểm). Cùng nói về tình cảm đối với quê hương, nhà thơ Tố Hữu viết: “Quê hương là nơi mặt trời mọc đẹp nhất, là nơi trái tim ta hướng về”. Có người cho rằng trong thời đại 4.0, nhờ các nền tảng xã hội như facebook, Instagram, zalo hay điện thoại, tin nhắn… chúng ta dễ dàng kết nối với quê nhà, người thân nên ít nhớ về quê hương sẽ không còn đau đáu, khắc khoải nữa. Em có đồng tình không? Hãy nêu ngắn gọn ý kiến của em bằng một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu). II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình được bộc lộ ở hai khổ cuối bài thơ “Nhớ quê” của tác giả Trần Thiên Lý. Câu 2 (4,0 điểm). Trong cuộc sống và trên mạng xã hội, đôi khi học sinh phải đối diện với những tình huống như: bị chỉ trích, chê bai hoặc nghe những lời bình luận tiêu cực. Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày cách ứng xử của em trong tình huống đó. ---------- HẾT ----------
9
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 9/Đề thi học kì 1 lớp 9 môn Văn/de-thi-hk1-mon-van-lop-9-nam-2025-thpt-nguyen-du-a34026/image_1.png
CHO MÙA THI (Bình Nguyên Trang) (1) Em nghe không, những hoa thanh kỳ diệu Một mùa thi lại đứng đợi trước thềm Mắt em đỏ và một mùa hạ đỏ Tháng năm ngực đầy rực rỡ ước mơ. (2) Ngon đèn nào cháy suốt những canh khuya Mồ hôi mùa hạ rơi nhễ nhại trang vở Bình yên đấy và cũng nóng nần đây Cả những nhạc thầm thầm lặng cất trong em. (3) Ve lốt xác mỗi mùa và day dứt thêm Treo âm thanh vào nỗi buồn thiếu nữ Loài hoa đó cứ đẫy thêm mật lửa Em ngày mai rồi sẽ khác ngày xưa? (4) Mỗi lớp học trò đi nghỉ ngơi với thầy cô Ngân ngân mát, rung rưng bàn chân bước Chiếc băng đen, chỗ ngồi rung rưng nước Bài thơ rung rưng khóc ở ngăn bàn. (5) Tháng nào rồi, mùa đang tràn nắng gió Lo toan kế sau mái áo hồng Ngon đèn khuya đó đổ hói xuống góc Thảnh thơi đời dài, đêm ngắn dần đi. (6) Bình minh hẹn hát bài ca chia li Ở phía trước những con đường xa mãi Ve ve phượng và tháng năm ngủ lại Ngày năm qua giờ đã lên ngàn mai. Chớm hạ 1995 (Bình Nguyễn Trang, in trong Văn học & Tuổi trẻ số 5+6 (308+309) năm 2014, NXB Giáo dục, tr.77) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. (1.0 điểm) Bài thơ được viết theo thể thơ nào? Chỉ rõ một căn cứ hình thức quan trọng giúp em xác định được thể thơ đó? Câu 2. (1.0 điểm) Trong khổ thơ thứ ba, những hình ảnh nào báo hiệu mùa hè về? Những hình ảnh này gợi trong lòng người học trò tâm trạng, cảm xúc gì? Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ rõ và nêu tác dụng của biện pháp điệp ngữ trong khổ thơ thứ tư. Câu 4. (1.0 điểm) Quảng thời gian cấp sách đến trường luôn đem đến cho ta kỉ niệm và cảm xúc khó quên. Hãy chia sẻ điều ý nghĩa nhất đối với em về những năm tháng học trò đã qua (trình bày khoảng 5-7 dòng). PHẦN II. VIẾT (6.0 điểm) Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hai khổ thơ cuối của bài thơ Cho mùa thi (Bình Nguyên Trang) được dẫn ở phần đọc hiểu. Câu 2. (4.0 điểm) Đất nước ta ngày nay đã bước vào kỷ nguyên mới, trách nhiệm tiếp nối và phát huy các giá trị dân tộc đang đặt vai lên thế hệ trẻ. Chính vì vậy, chuẩn bị hành trang cho tương lai là một việc quan trọng. Không thể thiếu đối với mỗi học sinh nói riêng và thế hệ trẻ nói chung. Em hãy viết bài văn nghị luận khoảng 400 chữ đề xuất giải pháp phù hợp giúp các bạn trẻ chuẩn bị hành trang bước vào tương lai.
9
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 9/Đề thi học kì 1 lớp 9 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-9-nam-2025-thcs-nam-trung-yen-a34037/image_2.png
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: BỨC THƯ NHÀ (trích) (Nguyễn Bính) Được tin anh, lòng mừng khôn xiết Trả lời anh, em viết thư này. Trong màn con đã ngủ say. Ngoài sân trăng giãi(1) bóng cây la đà(2). Nay em kể chuyện nhà anh rõ: Mẹ bình yên, con nhỏ chịu chơi. Em không công đếm kịp người(3). Lúa tầm, lúa lợn mẹ nuôi vẫn đều. { Việc đoàn thể sớm chiều dẫu bận, Việc gia đình em vẫn lo toan Vụ chiêm(4) chăm bón kỹ càng Lúa đang vào mấy(5), ngô đang phơi cựa(6). Dạo tháng trước lợp nhà sửa ngõ, Được bà con giúp đỡ ân cần. Có chồng là một quân nhân(7), Trẻ già vì nể, xa gần mến thương. Anh lại được ở luôn quân ngũ(8). Thực là điều vinh dự cho em. Xóm làng ai nấy đều khen, Khen anh đáng một thanh niên lúc này. (Nguồn: https://www.thivien.net) Chú thích: - Nguyễn Bính (1918 – 1966) là một nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới. Thơ ông giàu chất dân gian, mộc mạc, đậm bản sắc đồng quê. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông tham gia hoạt động văn nghệ, viết nhiều tác phẩm ca ngợi quê hương, tình cảm gia đình, và tinh thần kháng chiến. (1) Trăng giãi: ánh trăng tỏa xuống, chiếu sáng ra khắp không gian.
9
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 9/Đề thi học kì 1 lớp 9 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-9-nam-2025-thcs-nam-trung-yen-a34037/image_1.png
(3) La đà: dung đưa nhẹ, chập chờn, nghiêng ngả (bóng cây la đà là bóng cây đổ xuống một cách mềm mại, nhẹ nhàng). (7) Không công đếm kịp người: không làm được nhiều hoặc không đạt số điểm lao động bằng những người khác trong tổ/đội sản xuất. (4) Vụ chiêm: vụ lúa gieo cấy vào mùa đông và thu hoạch vào đầu mùa hạ (khoảng tháng 5,6). (5) Mẩy: vào hạt, hạt chắc, mập, đầy. (6) Phơi cờ: hình ảnh lá ngô xòe ra như lá cờ, chỉ ngô đang thời kỳ phát triển tốt (7) Quân nhân: người phục vụ trong quân đội. (8) Quân ngũ: môi trường, đơn vị quân đội nơi người lính sinh hoạt và công tác Thực hiện các yêu cầu: Câu 1 (1,0 điểm). Văn bản được viết theo thể thơ nào? Chỉ ra dấu hiệu nhận biết thể thơ đó. Câu 2 (1,0 điểm). Vì sao người vợ nói “Em không công đếm kịp người”? Qua văn bản, em hiểu tình cảm của người vợ dành cho chồng như thế nào? Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong hai dòng thơ sau: Vụ chiêm chăm bón kỹ công Lúa đong vào mấy, ngô đang phơi cờ Câu 4 (1,0 điểm). Từ nội dung văn bản, em hãy viết những lời nhắn gửi tới người thân đang làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là ở nơi biên cương, hải đảo để họ yên tâm công tác. PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích hai khổ thơ in đậm trong văn bản Bức thư nhà của Nguyễn Bình được trích dẫn ở phần Đọc - Hiểu. Câu 2 (4,0 điểm). Trong Bức thư nhà, Nguyễn Bình kể về cảnh người vợ đã vất vả “việc đoàn thể sớm chiều dẫu bận” nhưng luôn được bà con “giúp đỡ ân cần”. Những câu thơ mộc mạc ấy gợi nhắc chúng ta về tinh thần sẻ chia trong cuộc sống. Viết bài văn khoảng 400 chữ để trả lời câu hỏi: Mỗi chúng ta còn làm những gì để góp phần sẻ chia, giúp đỡ người khác mỗi khi gặp khó khăn trong cuộc sống? -- Hết --
9
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 9/Đề thi học kì 1 lớp 9 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-lop-9-mon-van-nam-2025-thcs-dong-khoi-a34025/image_2.png
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (6,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi / yêu cầu bên dưới: BẾN NHÀ RỒNG VÀ DẤU ÁN Ở THÀNH PHỐ MANG TÊN BẮC 1. Nhà Rồng là kiến trúc lâu đời nhất của Pháp ở Đông Dương. [...] Sách "Địa lý Gia Định - Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh" cho biết, thủ phủ của Gia Định xưa gồm toàn bộ Nam Bộ nước ta, đặt tại Bến Nghé có rất nhiều điều kiện thuận lợi với địa lí tốt lành không đâu sánh bằng. Đây là cái mối vững rộng lớn mà hàng năm khuông bị lũ lụt như ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đến thời, cũng là nơi tập kết chiến lược cho thủy quân gần gũi an ninh trật tự cho miền Nam của Tổ quốc [...] Năm 1859, giúp Pháp trừ Đà Nẵng kéo quân vào Nam, tiến vào sông Bến Nghé rồi đánh thành Gia Định. Bến Nhà Rồng ngày nay là nơi thu hút khách du lịch. 2. Nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Ngày 5.6.1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên tràn đầy hoài bão cách mạng Nguyễn Tất Thành dưới tên gọi Văn Ba đã quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc trên tàu Đô đốc Amiral Latouche Trévillle thuộc hãng Nam Sao (Charguers Reunis)...] Từ bến Nhà Rồng, sau 30 năm bôn ba khắp năm châu, trải lạc động, vừa học tập, nghiên cứu lí luận và thực tiễn cách mạng thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã trở về tổ quốc, mang theo một tài sản vô cùng quý báu, đó là con đường cách mạng, con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Con đường cách mạng Việt Nam má Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh xây đắp là nền tảng cho mọi thắng lợi của Cách mạng Việt Nam. 3. Từ quá khứ đến hiện tại Tên nhà Rồng là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng đối với dân tộc, đất nước. Ngày 30.4.1975, cờ đỏ sao vàng đã được kéo lên tít đây, đánh dấu chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc chiến giành độc lập, thống nhất đất nước.... Bến Nhà Rồng hiện nay là Bảo tàng Hồ Chí Minh - chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại số 1 Nguyễn Tất Thành, Phường 12, Quận 4. Đây là một trong những đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời cũng là một chi nhánh nằm trong hệ thống bảo tàng và Di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước. (Theo Nguyễn Kim Sơn – Báo lao động. Thứ bảy, 29/04/2023 Nguồn https://laodong.vn/lao-dong-cuoi-tuan/ben-nha-rong-va-dau-an-o-thanh-pho-mang-ten-bac-1185683.ldp, truy cập 17/11/2024, 7:45AM) Câu 1: Theo văn bản, vào ngày 5.6.1911, ai là người đã rời Bến Nhà Rồng để ra đi tìm đường cứu nước? (1,0 điểm) Câu 2: Xác định cách trình bày phần thông tin trong đoạn: "Ngày 30.4.1975, cờ đỏ sao vàng đã được kéo lên tít đây, đánh dấu chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc chiến giành độc lập, thống nhất đất nước...". Tác dụng của cách trình bày ấy đó. (1,0 điểm) Câu 3: Văn bản sử dụng loại phương tiện phi ngôn ngữ nào? Nêu tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ vừa tìm được. (1,0 điểm)
9
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 9/Đề thi học kì 1 lớp 9 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-lop-9-mon-van-nam-2025-thcs-dong-khoi-a34025/image_1.png
Câu 4: Nhận xét mối quan hệ giữa nhan đề “Bến Nhà Rồng và dấu ấn ở Thành phố mang tên Bác” với các thông tin cơ bản của văn bản. (1,0 điểm) Câu 5: “Bến Nhà Rồng là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng đối với dân tộc.” Theo em, trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay đối với nơi này là gì? (Trình bày trong khoảng từ 80 chữ đến 90 chữ). (2,0 điểm) PHẦN II: VIẾT (4,0 điểm) Viết một truyện kể sáng tạo phỏng theo câu chuyện sau, trong đó có sử dụng các yếu tố miêu tả và biểu cảm. CON SÁO BIẾT NÓI (Thái Sinh) Năm học lớp hai, về quê ngoại ăn giỗ, tôi được cậu Tung cho con sáo mới mọc lông măng. Chiều chiều tôi mang sáo ra đồng bắt cào cào và tập cho nó ăn mận để quen nhà. Khi chim mọc đủ lông, tôi nghe lời cậu cắt một ít lưỡi và dạy nó nói. [...] Con sáo rất thông minh, nói được nhiều câu dài. Tiếng đồn lan khắp làng, có người trả bốn tới hai chỉ vàng nhưng bố không bán. [...] Một chiều, đàn sáo bay đến ruộng, con sáo của tôi đứng nhìn với vẻ cô đơn. Tôi đưa tay gọi, nó bay lại nhưng vẫn dõi theo đàn chim. Rồi tiếng gọi đồng loại khiến nó bay nhập đàn. Nó cất những câu tôi dạy làm đám chim hoảng sợ và bay đi. Tôi chạy theo nhưng nó không quay lại. Tôi buồn bã đánh trâu về. Mẹ tiếc hai chỉ vàng, còn bố nói: “Thế là giải phóng nó khỏi sự tù hãm”. Ba ngày sau nó trở về, thân hình tả tơi. Tôi nhốt lại nhưng từ đó nó trói tính, không chịu học thêm câu mới, chỉ nhại những câu cũ. Ba tháng sau nó chết vì rách họng. Bố bảo: “Thế cũng là cách tự giải phóng”. Tôi chôn nó dưới gốc me ngoài cổng và nhớ nó mãi.[...] (In trong 100 truyện hay cực ngắn, NXB Văn nghệ TP.HCM, 1999). ------ HẾT ------
9
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 9/Đề thi học kì 1 lớp 9 môn Văn/de-thi-ki-1-lop-9-mon-van-2025-thcs-thpt-luong-the-vinh-a33996/image_2.png
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: CHIẾC THÙNG PHUY DƯỠNG CÁT (trích) - Văn Xương - (Tóm tắt phần đầu: Ông Thanh giật mình khi cái chân cụt tê dại, nhưng hóa ra chỉ là chiếc điện thoại để trong túi quần đang rung. Ông nhận cuộc gọi từ người đồng đội đang tìm kiếm hài cốt liệt sĩ tại Thành Cổ Quảng Trị. Người bạn báo tin rằng những thùng phuy hài cốt được chôn giấu hiện không thấy cả Hà và Thái, khiến ông Thanh bối rối và đau đớn. Nghe tin Quảng Trị đang mưa, việc tìm kiếm càng khó khăn, ông chỉ biết thở dài, ánh mắt trĩu nặng nỗi buồn và hy vọng dang dở). Đơn vị Thanh được lệnh vượt sông Thạch Hãn để bổ sung lực lượng cho mặt trận Thành Cổ Quảng Trị vào đầu tháng Chín. Trời mưa như trút, cứ nửa đêm trời đổ bao nhiêu nước dồn đổ hết xuống. Sông Thạch Hãn, nước dâng cao, chảy xiết cuốn cây trôi, gỗ mục, xác động vật..., trôi đi phẳng phiu. Trên trời máy bay, pháo địch gầm rú, quân đào, bắn phá không ngưng nghỉ. Sau những tiếng nổ inh tai, nhức óc, từng đợt nước nối tiếp nhau dựng đứng lên. Có những đụn nước nào đó bỗng dưng nổi lên. Nhiều đồng đội Thanh đã mãi mãi nằm lại trên dòng sông ấy... Sức vóc con trai, bơi thì kém, lũ lụt quá thế nào. Thanh tuột mất chiếc phao, nước cuốn xét đi như cái chong chóng, may mà thằng Thái kịp nắm lấy tóc cứu vớt. Qua bên kia sông đơn vị Thanh được bố trí chốt giữ tại một khu vực gần chợ thị xã Quảng Trị. Cả thị xã đã bị san phẳng, chỉ còn lại những đống gạch, đá, bê tông, sắt thép lồm xồm, những hố bom, đạn sựu hoám khét lẹt mùi thuốc súng và mùi hôi thối, tanh tưởi của xác người. Đêm. Trời tối đen như mực. Đại đội trưởng cầm đèn pin lội loạn loạng, lệnh các đơn vị bố trí trại tập và chuẩn bị chiến đấu. Công sự yêu cầu tận dụng những đống bè tong đổ nát, giáo hào và các công sự cũ của địch bị sạt lở và ngập do trời mưa kéo dài. Để tránh phải ngâm mình dưới nước và có cơ động tấn công hiệu quả, tiểu đội Thanh chia hai tổ, chọn hai mỏ đất cao về hướng địch sẵn sàng, chặt bẹ tre và hòm phuy đầy cát bên trong lấy chỗ công sự cũ của địch để phục kích. Bao cát thật chắc chắn dễ dàng, còn thùng phuy, loại 200 lít đựng xăng dầu, bằng thép không gỉ của Mỹ rất nặng nên lăn lóc được và đặt ở phía dưới. Thanh, Hà, Thái được bố trí một tổ đánh địch từ hướng đường Trần Hưng Đạo qua. Hà quê Tuyên Quang, dáng người xinh, nước da trắng mịn, môi đỏ mọng như gái nông thôn của thanh niên, lém lỉnh và hay mơ mộng... Thái quê ở vùng biển Thái Bình, nước da ngăm ngăm, tính trầm tư, nhưng khi nói thì nhuần động cực tốt, người ta khỏe, lực lưỡng việc gì cũng làm giỏi... Còn Thanh thì như Hà, Thái hay bon chen: Tiếng la trai Thái nhanh nhẹn như chuột gù gai, còn người già... vịt ra ngoài đường ba ngày đến ruồi cũng chẳng thèm đậu nói gì con gái. Ba đứa cùng học một lớp, ngành xây dựng cầu đường, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội số tán ở Quê Võ. Ba đứa nên chăng là gì tính tình của nhau. Lệnh Tổng Động viên, chúng đưa nhau được về thăm nhà trước khi nhập ngũ. Từng lớp tổ chức chia tay đơn sơ nhưng đầy ắp những lưu luyến và bịn rịn. Nhiều mối tình lâu nay
9
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 9/Đề thi học kì 1 lớp 9 môn Văn/de-thi-ki-1-lop-9-mon-van-2025-thcs-thpt-luong-the-vinh-a33996/image_1.png
bí mật nay "bật mí", riêng cả ba, chẳng có lấy một mối tình vắt vai nào để tơ lòng vấn vương, thổn thức. Huyền đội tổ chức giao nhận quân tại trường, cả ba cùng được biên chế trong một đơn vị và được tập trung huấn luyện gấp rút khoảng một tháng ở Hòa Bình rồi lên đường đi B. Đi B là vào chiến trường miền Nam, Thanh, Hà, Thái và đồng đội chỉ biết vậy. Cuộc hành quân dài đằng đẵng, đầy gian khổ chưa từng có, ròng rã gần hai tháng trời đưa Thanh và các bạn từ giảng đường thẳng ra chiến trường. Thanh, Hà, Thái cùng một tiểu đội, và bây giờ cùng một tổ chiến đấu nên càng thương yêu nhau như ruột thịt. Sau cái đêm chuẩn bị công sự chiến đấu, mấy ngày liền, địch liên tục mở nhiều đợt tấn công vào khu vực của đơn vị Thanh. Hai bên giành giật, giằng co nhau từng ụ đất, từng mét giao thông hào, bờ tường, đồng gạch, bê tông đổ... dưới trời mưa tầm tã và cả trong bóng đêm đen đặc. Tranh thủ lúc địch cũng cố lực lượng, Thái bàn với Thanh và Hà: - Địch thì ngoài đánh vào kho quân sát được hỏa lực của ta và bất lợi về địa hình, địa vật. Hai người dùng AK bắn nhè để chúng tập trung xông lên, rồi yểm trợ cho tớ trườn ra ngoài công sự phụt một quả B40 sẽ tiêu diệt gọn bọn chúng. Đúng như sáng kiến của Thái, B40 là hỏa lực có sức xuyên phá mạnh, sát thương lớn, lại ở tầm gần nên chúng bị thương vong khá nhiều, xác chết nằm rải rác quanh các đồng bê tông đổ nát, bờ công sự, dưới hào nước. Địch rất khiếp sợ, không dám liều lĩnh xông lên, chi núp từ xa bắn xối xả vào. Mấy thùng phụ cát trên công sự lộ chỗ đấy vội đạn AR15. Tiếng súng bỗng im bặt. Một khoảng lặng ghê người. Hà nói nhỏ với Thanh và Thái: - Cẩn thận! Chưa chừng chúng sẽ pháo kích đó. - Mình với địch gần nhau thế này, làm sao chúng pháo kích được - Thanh nói cứng. - Cũng có thể địch sẽ rút ra khỏi tầm bắn, sau đó mới gọi pháo nã vào thì sao - Thái tư lự. - Chúng sẽ không pháo kích đâu. Yên tâm đi - Thanh khẳng định lại lần nữa. Giao thông hào, trời mưa nước từ trên đồn ú xuống, ngập ngụa, nhơn nhợn, tanh tưởi. Là tổ trưởng nên ý kiến của Thanh coi như quyết định. Nào ngờ chỉ ít phút sau, hàng loạt đạn pháo địch tới tập trung xuống khu vực đơn vị Thanh chót gốc. Những tiếng nổ xé gió, rách tai, đất, đá bay vèo vèo. Không kịp rút xuống giao thông hào trú ẩn, cả ba đứa nằm úp vào thành công sự. "Viu viu... xoẹt...". Một ánh chớp loé cùng tiếng nổ ghê rợn. Thanh bị hất tung lên. Trời đất tối sầm lại, Thanh thấy mình nhẹ tênh như một làn sương khói cứ thể lơ lửng, lơ lửng trôi đi... Có tiếng người thăm thi đầu đó rất gần, Thanh chợt tỉnh, ngoi ngác hồi lâu, mới biết là mình đang nằm ở một trạm xá dã chiến. Thanh cử mình dịch nổi dậy, nhưng toàn thân ê ẩm, đau buốt không sao nhắc lên được. Một người đàn ông mặc áo bộ lu trắng đến gần bảo: "Anh bị mất máu khá nhiều nhưng rất may là đồng đội của anh đã kịp thắt ga rô". (Tóm tắt phần cuối: Thanh tỉnh dậy trong trạm xá, hoảng hốt tìm Hà và Thái nhưng chỉ còn lại ký ức về tình huynh đệ mà ba người đã trải qua giữa chiến trường. Nói đau mắt bạn theo ông suốt hơn bốn mươi năm, luôn hiện về trong những giấc mơ đầy day dứt và ân hận. Sau chiến tranh, ông mới biết đồng đội đã dùng hai thùng phụ đựng cát làm quan tài cho Hà và Thái, còn gửi theo cả phần chân bị mất của ông. Dù tuổi đã cao, ông và nhóm cựu chiến binh vẫn đều đặn tìm cách quay lại Quảng Trị để lần theo dấu tích đồng đội cũ. Một ngày, ông nhận được tin vui rằng cơ gia đình đào được hai thùng phụ chứa hài cốt liệt sĩ gần đúng vị trí năm xưa, khiến cả nhóm òa lên trong
9
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 9/Đề thi học kì 1 lớp 9 môn Văn/de-thi-ki-1-lop-9-mon-van-2025-thcs-thpt-luong-the-vinh-a33996/image_3.png
xúc động. Đêm cuối năm, ông Thanh cùng đồng đội lên tàu vào Quảng Trị, mang theo niềm hy vọng được gặp lại hai người anh em đã gắn bó bằng lời thề sinh tử.) (Nguồn: https://vanngheDanang.org.vn/chiec-thung-phuy-dung-cat-9902.html) **Chú thích:** - Văn Xương (tên thật Nguyễn Văn Bồn) sinh năm 1959 và thuộc lớp những người cầm bút của thời kỳ đổi mới. - Chiếc thùng phuy đựng cát lấy bối cảnh câu chuyện là Thành Cổ Quảng Trị xoay quanh ba người lính Thanh, Hà, Thái vốn là sinh viên ngành xây dựng cầu đường, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Năm 1972, họ vào chiến trường và đã vượt sông Thạch Hãn để bổ sung cho lực lượng chiến đấu ở Thành Cổ. Hà, Thái đã hi sinh và Thành thì bị cụt một chân khi trận địa của họ trúng pháo địch. **Thực hiện các yêu cầu:** **Câu 1 (0,5 điểm).** Xác định ngôi kể của văn bản. **Câu 2 (0,5 điểm).** Theo văn bản, ba người lính Thanh, Hà, Thái được bố trí chiến đấu ở khu vực nào khi đến Thành Cổ Quảng Trị? **Câu 3 (1,0 điểm).** Các câu văn “Trên trời máy bay, pháo địch gầm rú, quân đảo, bắn phá không ngừng nghỉ. Sau những tiếng nổ inh tai, nhức óc, từng đụn nước nối tiếp nhau dựng đứng lên.” giúp em hiểu gì về những nguy hiểm mà những người lính trẻ phải đối mặt? **Câu 4 (1,0 điểm).** Xác định lời dẫn trực tiếp có trong các câu văn sau và chuyển lời dẫn đó sang lời dẫn gián tiếp: Thanh cố gắng định ngồi dậy, nhưng toàn thân ê ẩm, đau buốt không sao nhấc lên được. Một người đàn ông mặc áo bờ lu trắng đến gần báo: “Anh bị mất máu khá nhiều nhưng rất may là đồng đội của anh đã kịp thắt ga rồi”. **Câu 5 (1,0 điểm).** Qua nội dung câu chuyện, nhà văn muốn gửi tới người đọc những thông điệp gì? **PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)** **Câu 1 (2,0 điểm).** Viết đoạn văn khoảng 150 chữ phân tích nhân vật Thanh trong văn bản Chiếc thùng phuy đựng cát của Văn Xương được trích dẫn ở phần Đọc hiểu. **Câu 2 (4,0 điểm).** Vào ngày 13/11/2025, trường THCS&THPT Lương Thế Vinh (cơ sở Cầu Giấy, Hà Nội) đã tổ chức cho các em học sinh khối 9 và 10,11,12 đi trải nghiệm giáo dục truyền thống tại Quảng Trị. Chuyến đi đã để lại trong mỗi học sinh nhiều ấn tượng sâu sắc về những hi sinh, mất mát của các chiến sĩ để từ đó mỗi em nhận ra tầm quan trọng của hòa bình, tự do và nhận thấy rõ trách nhiệm của mình với quá khứ, với Tổ quốc, với những anh hùng đã ngã xuống. Viết bài văn khoảng 350 chữ trả lời câu hỏi: Là học sinh, em cần làm những gì để có thể “thắp lửa tuổi trẻ - tri ân anh hùng”? --- Hết --- *Cán bộ coi kiểm tra không giải thích gì thêm.*
8
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 8/Đề thi học kì 1 lớp 8 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-8-thcs-nguyen-du-2024-a33218/image_2.png
I. ĐỌC HIỂU: (6,0 điểm) Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới: Chế học trò ngủ gật Trò trệt chi bay học chẳng thầy Gật gà gật giường nực cười thay! Giọng khè nồng nặc không ra tiếng, Mắt lại lim dim nhắp đã cay. Đồng nổi(1) đầu dầy là liệt đão, Ma men(2) chi đấy tít mù say. Dễ thường bắt chước Chu Y(3) đó, Quyển có câu thần vậy gật ngay. (Thơ Nguyễn Khuyến, tr. 13, NXB Văn Học, 2010) Chú thích: (1) Đồng nổi: Tức lên đồng. Cả câu ý nói: học trò ngủ gật, lão đảo như lên đồng. (2) Ma men: Chỉ người nghiện rượu. (3) Chu Y: Nghĩa đen là áo đỏ. Đây chỉ một “vị thần” mặc áo đỏ báo cho biết một câu văn hay, lấy tích từ chuyện về Âu Dương Tu. Âu Dương Tu đi chấm thi, hễ thấy một người áo đỏ gật đầu sau đó y rằng ông đọc đến câu văn hay. Lúc đầu, ông tưởng có một người nào đấy, sau định thần nhìn kỹ thì chẳng có gì. Lựa chọn phương án trả lời đúng: (3,5 điểm) Câu 1: Bài thơ Chế học trò ngủ gật được viết theo thể thơ nào? A. Thất ngôn bát cú Đường luật. B. Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. C. Ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật. D. Ngũ ngôn bát cú Đường luật. Câu 2: Bố cục nào dưới đây là bố cục của thể thơ trên? A. Khởi, thừa, chuyển, hợp. B. Chuyển, thừa, khởi, hợp. C. Đề, thực, luận, kết. D. Đề, luận, thực, kết. Câu 3: Phương thức biểu đạt chính của bài thơ là gì? A. Nghị luận. B. Biểu cảm. C. Miêu tả. D. Tự sự. Câu 4: Phép đối trong bài thơ xuất hiện ở những cặp câu nào? A. 1 – 2 và 3 – 4 B. 1 – 2 và 7 – 8 C. 5 – 6 và 7 – 8 D. 3 – 4 và 5 – 6 Câu 5. Đối tượng của tiếng cười trong bài thơ là ai? A. Là tác giả. B. Là học trò. C. Là người say rượu. D. Là thầy đồ.
8
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 8/Đề thi học kì 1 lớp 8 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-8-thcs-nguyen-du-2024-a33218/image_1.png
Câu 6. Đặc điểm nào của học trò được tác giả Nguyễn Khuyến nói đến? A. Trêu đùa với bạn bè, ngủ gật trong khi học, nói năng giọng khè nóng nặc. B. Nói chuyện, trêu đùa với bạn bè, ngủ gật trong khi học, không chú ý học bài. C. Giọng khè nóng nặc, mắt lim dim, gặt gà gặt giường, lão đảo như lên đồng. D. Lão đảo như lên đồng, không ghi chép, không chú ý, không suy nghĩ. Câu 7. Giọng điệu chủ đạo của bài thơ là gì? A. Mía mai – châm biếm. B. Hài hước, đùa cợt. C. Đả kích, sừng sã. D. Trữ tình, sâu lắng. Trả lời câu hỏi: (2,5 điểm) Câu 8: (1,0 điểm) Em hãy xác định và phân tích tác dụng của các từ tượng hình có trong bài thơ. Câu 9: (1,0 điểm) Tiếng cười trào phúng trong bài thơ Chế học trò ngủ gật nhằm mục đích phê phán điều gì? Câu 10: (0,5 điểm) Theo em, học trò ngày nay cần khắc phục những thói xấu nào? (Trình bày thành một đoạn văn từ 3 - 5 câu) II. LÀM VĂN: (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận về vấn đề sử dụng mạng xã hội của học sinh hiện nay. ---------<3 HẾT &>---------
8
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 8/Đề thi học kì 1 lớp 8 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-lop-8-mon-van-huyen-cao-loc-2024-a33322/image_2.png
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: Người có tính khiêm tốn thường hay tự cho mình là kém, còn phải phấn đấu thêm, trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều thêm nữa. Người có tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn luôn tìm cách để học hỏi thêm nữa. Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là một cuộc đấu tranh bất tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy quan trọng, nhưng thật ra chỉ là những giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la. Sự hiểu biết của mỗi cá nhân không thể đem so sánh với mọi người cùng chung sống với mình. Vì thế, dù tài năng đến đâu cũng luôn luôn phải học thêm, học mãi mãi. Tóm lại, người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình, hiểu người, không tự mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình cũng như không bao giờ chấp nhận một ý thức chịu thua mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người. (Trích Ngữ văn 7, tập 2, NXB Giáo dục, 2015, tr.70 – 71) Lựa chọn đáp án đúng: Câu 1 (0,5 điểm): Văn bản trên bàn về vấn đề gì? A. Bàn về đức tính khiêm tốn. B. Bàn về đức tính giản dị C. Bàn về giá trị của bản thân. D. Bàn về vai trò của cá nhân. Câu 2 (0,5 điểm): Văn bản trên trình bày mấy luận điểm? A. 1 luận điểm B. 2 luận điểm C. 3 luận điểm D. 4 luận điểm Câu 3 (0,5 điểm): Theo tác giả "dù tài năng đến đâu cũng luôn luôn phải" A. học thêm. B. học mãi mãi. C. sống khiêm tốn. D. học thêm, học mãi mãi. Câu 4 (0,5 điểm): Đoạn văn thứ hai được trình bày theo kiểu đoạn văn nào?
8
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 8/Đề thi học kì 1 lớp 8 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-lop-8-mon-van-huyen-cao-loc-2024-a33322/image_1.png
A. Đoạn văn quy nạp B. Đoạn văn song song C. Đoạn văn diễn dịch D. Đoạn văn phối hợp Trả lời câu hỏi: Câu 5 (1,0 điểm): Hãy chỉ ra câu văn mang luận điểm của đoạn văn thứ hai? Câu 6 (1,0 điểm): Em hiểu thế nào là “khiêm tốn”? Câu 7 (1,0 điểm): Em cần làm gì để thể hiện sự khiêm tốn với những người xung quanh? Câu 8 (1,0 điểm): Em rút ra được những bài học gì từ văn bản trên? II. VIẾT (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của lòng khiêm tốn. ………………Hết……………
8
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 8/Đề thi học kì 1 lớp 8 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-lop-8-mon-van-huyen-giao-thuy-2024-a33370/image_2.png
THỦY DẠ LỤC BÌNH MINH MINH KÍNH (1) Sáng tạo là không thấy giận vì tính mà bị không bị làm phiền hay phải cảm thấy buồn vui xương xẩu. Điều cơ cực ngoài cùng thường hoạt động mạnh mẽ và sáng suốt thật. (2) Đề nhiên là không nhiều người muốn thảo luận ở góc độ này. Thế nên tôi tiếp tục nói mỗi ngày mà ít có sự hướng khác nhau hoặc cụ thể. Tuy nhiên, việc đặt đúng vấn đề cũng sớm hơn mới nâng cao đánh khoa học của chúng ta dựa trên đặc tả mức vẻ nền lớn. Tôi tưởng tượng vậy rất dễ dàng khái quát, nhưng cái khó là rơi vào chi tiết ở lúc ban đầu thì đáng sợ hơn hết. Nhưng nếu ai đó đang nỗ lực đọc một từ trang sách, ăn sáng rồi làm việc cả buổi trưa. Một ngày mới sẽ bắt đầu rất sáng khoái. (...) (3) Cũng giống như các thời trước đây, năm mười mấy tuổi, ta chỉ cần luyện tập để trở thành quen. Không cần bắt đầu với tham vọng. Và chắc chắn ta vẫn luôn đạt được tốt báo theo song hơn 15 phút viết bình thường, và cố gắng duy trì hàng chục phút dài. Chí Phèo đã thấy, rõ ràng hơn hẳn thế đó có gắng làm theo thì gần biết - và sau khi đã thấy, thì lại vừa quyết tâm ngay nữa, ta tăng lên hành số phút. Nếu điều ấy còn xa xôi nhất, thì một tuần bạn cố thêm bốn giờ sáng để đấu tranh cho bản thân. Ta không bao giờ nghĩ đến việc mình sẽ tìm được niềm thích. (Rosie Nguyen, “Được ra đằng địa giới mà thôi”, NXB Nhã văn, tr. 54-55) Thuyết hiện cấp yêu cầu của: Câu 1 (1,0 điểm): Giải định luận đề chính và các luận điểm của văn bản. Câu 2 (1,0 điểm): Theo tác giả, sáng hôm là không gian quan trọng như thế nào và nó giúp ích gì cho đâu cơ con người? Câu 3 (1,0 điểm): Xác định kiểu đoạn văn của đoạn (1), chỉ ra cách dùng nhận diện kiểu đoạn văn đó và nêu tác dụng của kiểu đoạn văn trong trình bày bài luận. Câu 4 (1,5 điểm): Vận dụng các sở về tổ chức đoạn văn (3) có tác dụng gì trong việc thể hiện hiệu quả nội dung của đoạn văn? Câu 5 (1,5 điểm): Nêu mối quan hệ giữa ý đoạn văn thứ 30 phút, em sẽ dành khoảng thời gian đó để làm gì? Vì sao?
8
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 8/Đề thi học kì 1 lớp 8 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-lop-8-mon-van-huyen-giao-thuy-2024-a33370/image_1.png
Phần II. Viết (4,0 điểm) Viết bài văn phân tích bài thơ “Cảm Tết” của Tú Xương. CẢM TẾT Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo, Tiền bạc trong kho chứa lỉnh tiêu. Rượu cúc nhân đem, hàng biếng quẩy. Trà sen mượm hỏi, giá còn kiêu Bánh chưng sắp gói, e nồm chầy, Gió lụa toan làm, sợ nắng thiu Thôi thế thì thôi, đành tết khác, Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo! (Tú Xương*, Tú Xương thơ và đời, NXB Văn học, tr. 33) Chú thích: Trần Tế Xương (1870 - 1907) quê ở Nam Định, là người có tài nhưng lận đận thi cử, đỗ Tú tài nên thường được gọi là Tú Xương. Trần Tế Xương sáng tác nhiều thơ Nôm. Thơ ông đậm chất trữ tình và chất trào phúng, phản ánh rõ nét bức tranh hiện thực của xã hội thuộc địa nửa phong kiến nước ta cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Một số bài thơ Nôm tiêu biểu của Trần Tế Xương: Năm mới chúc nhau, Thương vợ, Áo bông anh bán, Sông Lấp,... HẾT
8
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 8/Đề thi học kì 1 lớp 8 môn Văn/de-thi-cuoi-ki-1-nam-2024-thcs-truong-sa-lop-8-mon-van-a33371/image_1.png
(Đề này có một trang) I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm). Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu : CÁI BIỂN Một cửa hàng bán cá làm cái biển để mỵ chữ to tướng: "Ở ĐÂY CÓ BÁN CÁ TƯƠI". Biển vừa treo lên, kẻ người qua đường xem, cười bảo: - Nhà này xưa nay quen bán cá ươn hay sao mà bây giờ lại phải đề biển là cá tươi? Nhà hàng nghe nói, bỏ ngay chữ "tươi" đi. Hôm sau, có người khác đến hỏi và nhìn tên biển cười bảo: - Chẳng lẽ người ta đến hàng hoa mua cá hay sao mà phải đề là "ở đây". Nhà hàng nghe lời, bỏ ngay hai chữ "ở đây" đi. Cách vài hôm, lại có người khách đến mua cá, mua xong, cũng nhìn tên biển, cười bảo: - Ở đây chẳng bán cá thì bày ra đó để khoe hay sao mà phải đề là "có bán"? Nhà hàng nghe thấy cũng có lý liền bỏ hai chữ "có bán" đi. Thành ra chỉ còn mỗi một chữ "Cá", trông bụng chảy xàm từ giữa chẳng còn ai bắt được nữa. Vài hôm sau nữa, người láng giềng sang chơi, nhìn cái biển nói: - Chưa đủ đâu phố đã ngửi mùi tanh, đến gần đây nhưng cơ, ai chẳng biết mà còn để biển làm gì nữa. Thế là nhà hàng cất cái biển đi luôn. (Theo Nguyễn Cư - Phan Trọng Thường – Biên soạn, sưu tầm, chọn tuyển, In lần thứ 12 có sửa chữa và bổ sung, NXB Văn học – Hà Nội, 2009 –Tr.86) Yêu cầu: Câu 1. (0,5 điểm) Xác định thể loại của văn bản. Câu 2. (0,5 điểm) Xác định bối cảnh của văn bản. Câu 3. (0,5 điểm) Văn bản trên viết về đề tài gì? Câu 4. (1,0 điểm) Chỉ ra nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn trong câu văn sau: Ở đây có bán cá tươi. Câu 5. (1,0 điểm) Theo em, tác giả dân gian sáng tạo câu chuyện trên nhằm mục đích gì? Câu 6. (1,0 điểm) Qua văn bản trên, em rút ra được bài học gì cho bản thân? Câu 7. (1,5 điểm) Từ văn bản trên, em hãy nêu suy nghĩ của mình về tác hại của việc sống không có lập trường, chính kiến. (Viết khoảng 5 - 7 dòng) II. VIẾT (4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận bày tỏ quan điểm của em ý kiến: "Bảo vệ nguồn nước sạch là bao vệ cuộc sống của chính chúng ta".
8
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 8/Đề thi học kì 1 lớp 8 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-nam-2024-lop-8-mon-van-quan-tay-ho-a33333/image_1.png
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 điểm): Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi: Con về quê cũ trời thưa vắng Ngõ cúc buồn tình đậu cúc già Bên thềm trâu úa không người hái Cau đã mấy mùa quên trổ hoa. Nhớ xưa bóng ngoại nghiêng chiều nắng Tóc trắng cùng mây trắng dưới trời Xòe tay ngoài đêm từng thu cuối Con nào hay biết mối thù vơi Con đi mỗi bước xa, xa mãi Dáng ngoại bên hiên. Nắng tãi dần Lá nghiêng về cội con tìm gốc Tẻ tái chiều buông tím góc sân (Nhớ ngoại, Bảo Ngọc, in trong tập Giữ lửa, NXB Hội Nhà văn 2015) Chú thích: Nhà thơ Bảo Ngọc với cái tên gần gũi: “Người lưu giữ Ký ức đồng quê cho trẻ”. Chị có khá nhiều bài thơ được lựa chọn đưa vào Sách giáo khoa bậc TH và THCS, có vài chục bài thơ được phổ nhạc, được hòa âm phối khí dàn dựng trong Liên hoan tiếng hát thiếu nhi Thủ đô và được trao giải. Câu 1 (0,5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào? Phương thức biểu đạt chính là gì? Câu 2 (0,5 điểm): Hãy chỉ ra chủ thể trữ tình và đối tượng trữ tình trong bài thơ. Câu 3 (1,0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau: Bên thềm trâu úa không người hái Cau đã mấy mùa quên trổ hoa Câu 4 (1,0 điểm): Em hiểu như thế nào về ý nghĩa của hai câu thơ: Xòe tay ngoài đêm từng thu cuối Con nào hay biết mối thù vơi Câu 5 (1,0 điểm): Trong nhịp sống hiện đại ngày nay, chúng ta ít có thời gian sống được gần gũi với thế hệ ông bà và những người họ hàng thân thích ở những miền quê. Theo em, cần có những việc làm nào để rút ngắn khoảng cách về không gian địa lý, để tạo ra mối liên hệ gắn gũi, gắn kết thường xuyên với ông bà, họ hàng ở quê xa? II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích khổ thơ cuối của bài thơ: Câu 2 (4,0 điểm): Hãy viết một văn bản nghị luận (khoảng 400 chữ) nêu suy nghĩ của em về vấn đề: Tình yêu quê hương, đất nước của thế hệ trẻ trong thời đại ngày nay. Hết Giáo viên coi kiểm tra không giải thích gì thêm. Họ và tên học sinh: ....................................................................................................................... SBD: ..................................................................................................................................
8
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 8/Đề thi học kì 1 lớp 8 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-8-thcs-phan-chu-trinh-2024-a33334/image_2.png
ÁO RÁCH VÀ NẤM BỤI Hai thằng nhỏ leo qua rào, một đứa bị kẹt cái áo rách toạc áo. Cái vết rách hình chữ L bên hông nó thò ra mảng da đen thù lù, đèn đàng nổi cảm giác làm thâm kim luôn cái áo màu cam lọt. Xui rủi là tôi cũng có mặt ở đó, và đáng chụp hình chúng và chú thích hiện lên trong đầu ngay khi màn trập máy ảnh chưa mở, "qua một hàng rào kẽm gai của resort đang xây dở"... Nhưng cái thú thích cùng tấm ảnh đường nhừ dài cháy xem trước ánh nhìn trầm trọng của đứa bé kia. Nó chính thế ở bờ hồ ba la rồi bỏ gì đâu là giới lắm sao? Bỗng dưng tôi thấy mình càng mày lành là cô tội, ăn mặc tử tế là cô tội, tôi trắng hơn nó cũng là cô tội. Và tôi có tội vì đã đến hòn đảo thiên đường này chơi, nên người ta mới xây cất chỗ nơi đón tôi, nên áo thằng nhỏ rách. Bây giờ là cuối tháng mười một ta, gió biển thổi bề nào cũng lạnh. Tháng phong phanh ấy phong nói với thằng (đã) phong phanh mà cơn bức, mà mây đánh đơn hoa mãi coi. Tôi nhớ mình hồi xưa trèo cây làm xước cái áo len mờ, lúc về đi lùi vô nhà, phòng khi ma đánh thì chạy cho lo. Cái áo lành lặn thời niên thiếu là cả một gia tài. Như đứa trẻ xứ biên này vậy. Thằng áo rách vẫn còn đứng nán na mép Mao hoang mang bên rào. Bạn nó đã chạy về trước vì tới giờ cơm. Vội sợ, nhớ tiếc làm cho những tia lửa trong mắt nó dịu lại khi tôi lân la lại bằng qua gợi chuyện nợ kia. Hỏi nhà nó khoát tay về phía xóm nằm bên kia bãi cát, nom cái nhà nào cũng giống hết cái nào, giống cả những cuốn sách cũ nhóm đương bay lên. Bất cứ đồ người ta cũng sắp rã ra để xây một trung tâm thương mại hay đảo. Nghĩa là con đường ra ngoài bãi biển của tụi nhỏ ngày càng bị ngăn lại bằng nhiều lớp rào gai tường cao hơn. Nó kể mấy tháng trước chiều nào nó cũng dắt em ra ngoài bãi biển để đứt cơm, "cho con nhổ vọc nước là đủ nhiêu nó cũng ăn hết, ở nhà dễ gi...". Thằng áo rách kể và kể, vẽ đưa em nhỏ và bọn trẻ trong xóm, về những cuộc chạy chơi vui điên đà rối và vô vài đứa sứt yết chết đuối, về những con cá trôi đại mà nó lượm được đem về muối chiên ăn thơm bụi bùi. - Con chó Phèn của nhà tui chôn ở đó. Giờ bãi biển, nơi con chó "khôn như quý, lúc sắp chết còn biết chạy nước mắt" đang nằm yên nghỉ, đã thuộc về những người xa lạ. Và mai đây bầu trời cũng thuộc về người khác, khi tòa lầu mọc lên và ngăn trở mọi tầm nhìn. Tôi nghĩ vậy khi nghe thằng nhỏ ba hoa nói nếu leo lên mấy cây dương cổ gần nhà nó, là có thể thấy được hòn Rái Nhỏ tuốt luốt ngoài khơi. Nó vừa kể vừa mân mê chỗ áo rách, như không làm sao quên được cú xé tàn nhẫn lần lạnh buổi sáng cái be sườn mềm ngọt. Bia vào nao cắt vào tay nó mà cơn oán giận quay trở lại, thằng nhỏ đấy tôi về bên kia biển ngồi bàng bóng giữa trong nắng nó, "chị cũng phê túi nó...". Tụi nó ở đây là hàng rào gai hay chủ cửa hàng rào gai?
8
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 8/Đề thi học kì 1 lớp 8 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-mon-van-lop-8-thcs-phan-chu-trinh-2024-a33334/image_1.png
Như thằng nhỏ rách áo ngay từ đầu đã mặc định tôi thuộc về phía những kẻ lấy mất bãi biển của nó, vì tôi được ra đó chơi mà không phải leo rào. Chỉ cần trả tiền thôi, thứ mà đứa bé kia không có. Thằng nhỏ rách rời tôi mủi bỏ tôi lại, nó băng sang bên kia đường một mình. Và khi chiếc xe hơi màu trắng sữa ngang qua tung đám bụi cái chia cắt hẳn tôi và thằng nhỏ, tôi đã kịp thấy nó hốt hoảng quy ốc ném vội theo, kèm theo một cái đá gió rất khẳng khái. Sau những vòng bánh xe thân nhiên quay có mấy tiếng chửi thề của chính thằng nhỏ là ta rơi. Ừa sao tôi thấy buồn thây đầy dư cảm bâng quơ? Ừa sao tôi không thấy hành động của thằng nhỏ tuyệt vọng như đã từng, khi nhìn theo bóng ông cậu mình lúi húi chống gậy đi trong chiều muộn? (Nguyễn Ngọc Tư, Trích Áo rách và nấm bụi, NXB Trẻ 2022) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1 (1 điểm): Văn bản sử dụng ngôi kể thứ mấy? Cho biết tác dụng của việc sử dụng ngôi kể này với việc kể chuyện? Câu 2 (1 điểm): Trong đoạn văn in đậm, những kỉ niệm nào với bãi biển được "thằng áo rách" nhắc đến? Qua đó, em hình dung thế nào về cảm xúc và tình cảm của nhân vật với bãi biển? Câu 3 (1 điểm): Câu văn: "Sau những vòng bánh xe thân nhiên quay có mấy tiếng chửi thề của chính thằng nhỏ là ta rơi." sử dụng những biện pháp tu từ nào? Hãy nêu tác dụng của một biện pháp tu từ mà em vừa chỉ ra Câu 4 (1 điểm): Câu chuyện đặt ra vấn đề gì? Vấn đề ấy có liên quan thế nào với thực tiễn mà em được biết? II. VIẾT (6 điểm) Câu 1: (2 điểm): Hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích nhân vật "thằng áo rách" trong văn bản ở phần Đọc hiểu. Trong đoạn văn có sử dụng hợp lý một trợ từ, gạch chân trợ từ đó. Câu 2: (4 điểm): Quan sát 2 hình ảnh dưới đây: Hai hình ảnh trên gợi ra trong em những liên tưởng về hiện tượng gì trong cuộc sống? Hãy viết bài văn nghị luận khoảng 400 chữ thể hiện suy nghĩ, quan điểm của mình về hiện tượng đó. Hết
7
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 7/Đề thi học kì 1 lớp 7 môn Văn/de-thi-cuoi-ki-1-mon-van-lop-7-nam-2023-phong-gd-ninh-hoa-a31023/image_1.png
Đứng ở giữa phòng bếp, chị nhìn cái bếp tự động đang kêu ro ro chuẩn bị bữa ăn tối cho bốn người. - Anh hiểu không, cái phòng trẻ đã thay đổi, nó hoàn toàn không còn là cái phòng như trước nữa. - Thôi được, chúng ta cùng vào xem nào. Họ cùng đi theo hình làng của ngôi nhà cách mấy kiểu “Tất cả cho hạnh phúc” mà họ đã mua vội giá ba mươi ngàn đô-la (với đầy đủ trang thiết bị), ngoài bàn tiệc xếp quần áo cho họ, nấu nướng cho họ ăn, rửa cho họ, hát cho họ nghe và chơi đùa với họ. Khi họ còn cách phòng trẻ năm bước chân, cô môt tiếng “tách” vang lên và đèn trong ngưỡng bật sáng. Cô ở ngoài hành lang lục hồ đăng di công việc, những bóng đèn cực tử đóng lại lướt bất lén tất tật di từng cái lau. [...] - Em cũng không biết nữa.- Chị lau nước mắt, ngồi vào chiếc ghế bành, chiếc ghế lập tức tự động lắc lư như: - Có thể, tại em có quá ít việc phải làm. Có thể, vì có quá nhiều thời gian để nghĩ ngợi. Tại sao chúng mình không khóa trái toilet bỏ ngồi nhà trong vài ngày hay đi đến nơi nào đó nhỉ? - Em muốn nói là em sẵn sàng rảnh trùng cho anh?- Vâng. - Chị gật đầu. - Và mang tay cho anh? - Vâng! Chị lật gặt đầu lia lịa, mặt đám đia nước mắt. - Rồi tuy tay dọn dẹp nhà cửa?- Vâng, vâng... tất nhiên rồi. - Còn anh thì cứ nghĩ rằng chúng ta mua ngôi nhà này chỉ cốt để không phải tự tay làm việc gì. - Đúng thế. Nhưng trong ngôi nhà này em hầu như không còn ý nghĩa gì nữa. Vì ngôi nhà này vừa là người vợ, người tôi, và người hầu. Lê nào em có thể đưa tranh vời cái hoang mạc Châu Phi. Lê nào em có thể tâm sự cho nhau cơ nhanh và sạch bằng một máy tìm tư đồng? Em không thấy. Và vấn đề không phải chỉ ở mình em. Cả anh cũng thế. Thời gian gần đây em thấy anh càng thẳng một cách đáng sợ. - Cô lê vi anh hút thuốc quá nhiều. - Anh có cái vẻ hung hục không ngừng chui trốn vào đâu trong ngôi nhà này. Từ sáng sớm anh đã hút thuốc nhiều hơn mọi khi một chút, buổi tối anh cũng uống rượu nhiều hơn trước một chút, còn ban đêm anh phải uống hai viên thuốc ngủ, thay vì mỗi viên như trước đây. Anh cũng bắt đầu cảm thấy anh là người thừa trong ngôi nhà này. - Anh ấy à.... Anh im lặng để cố thử nhìn lại mình từ con mắt người khác. (Trích Hoàng mạc châu Phi - Ray Bradbury) Câu 1. (0,50đ) Đoạn trích trên thuộc thể loại gì? Câu 2. (1,50đ) Hãy tìm và ghi lại 01 phụ từ và 01 sở từ trong câu sau: “Đứng ở giữa phòng bếp, chị nhìn cái bếp tự động đang kêu ro ro chuẩn bị bữa ăn tối cho bốn người”. Cho biết sở từ và phó từ đó bổ sung ý nghĩa gì cho từ trung tâm? Theo đoạn trích, ngôi nhà chắc ám hiệu “Tất cả cho hạnh phúc” có những công dụng đặc biệt gì? Vì sao người vợ muốn đóng cửa ngôi nhà này để đi đến nơi khác? Câu 3. (1,00đ) Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua đoạn trích là gì? Câu 4. (1,00đ) Câu 5. (1,00đ) Theo em, trong tương lai, khi cuộc sống con người đã đủ đầy và con người không phải làm bất cứ việc gì thì họ có thực sự hạnh phúc không? Vì sao? II. VIẾT (5,00 điểm) Trong quá trình học và đọc sách, em đã được làm quen với rất nhiều nhân vật văn học thú vị. Từ ấn tượng về các nhân vật ấy, hãy viết bài văn phân tích một nhân vật trong một tác phẩm truyện mà em yêu thích.
7
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 7/Đề thi học kì 1 lớp 7 môn Văn/de-thi-ki-1-mon-van-lop-7-phong-gd-tan-yen-2023-a31044/image_2.png
C. Gõ Me. D. Gặp lá cơm nếp. Câu 3. Trong bài thơ, bà chất chứa để dành từng quả trứng để làm gì? A. Để bán đi lấy tiền đóng học phí cháu. B. Để bán đi lấy tiền mua thuốc chữa bệnh cho cháu. C. Để bán đi mua dầu đèn, mua sách vở cho cháu. D. Để cho gà ấp, sau bán đàn gà mua quần áo mới cho cháu. Câu 4. Nội dung bài thơ trên là A. tiếng gà trưa gợi nỗi xúc động về những kỉ niệm đẹp đẽ tuổi thơ, làm sâu sắc tình cảm gia đình trong lòng người lính trẻ. B. tiếng gà trưa gợi kỉ niệm tuổi thơ, tình cảm gia đình đã làm sâu sắc tình yêu quê hương, đất nước trong lòng người lính. C. tiếng gà trưa gợi về những kỉ niệm đẹp đẽ tuổi thơ là động lực cho người chiến sĩ trẻ trên đường hành quân. D. tiếng gà trưa gợi hình ảnh người bà tần tảo đầy lòng yêu thương, chất chứa dành dụm chăm lo cho cháu có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Câu 5. Bài thơ được viết chủ yếu theo thể thơ nào? A. Thơ 4 chữ. B. Thơ 5 chữ. C. Thơ lục bát. D. Thơ tự do. Câu 6. Cảm xúc của nhà thơ được khơi gợi từ điều gì? A. Từ âm thanh tiếng gà trưa nhảy ở trên đường hành quân. B. Từ hình ảnh những con gà mái mơ, mái vàng. C. Từ việc nghỉ lại bên xóm nhỏ trên đường hành quân. D. Từ hình ảnh ổ rơm hồng những trứng. Câu 7. Từ “chất chiu” trong câu thơ “Dành từng quả chất chiu” có nghĩa gì? A. Dành dụm, nâng niu. B. Hà tiện, dễ dặt. C. Quan tâm, chăm sóc. D. Ấu yếm, vỗ về. Câu 8. Điều không phải là tình cảm, cảm xúc sâu đậm của nhân vật trữ tình thể hiện trong bài thơ? A. Tình yêu thiên nhiên. B. Tình yêu quê hương đất nước. C. Nỗi nhớ, sự hoài niệm tuổi thơ. D. Tình bà cháu. Trả lời câu hỏi: Câu 9. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ nổi bật trong khổ cuối bài thơ. Câu 10. Từ bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh, hãy viết một đoạn văn từ 4 đến 6 câu nêu suy nghĩ của em về vai trò của gia đình đối với mỗi người. PHẦN II. VIẾT (4.0 điểm) Trong văn bản Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của tác giả Nguyễn Ngọc Thuần, nhân vật người cha và nhân vật “tôi” (người con) để lại những ấn tượng đẹp trong lòng bạn đọc. Em hãy phân tích một nhân vật mà em yêu thích. Qua nhân vật ấy, em rút ra bài học nào cho bản thân? Hết
7
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 7/Đề thi học kì 1 lớp 7 môn Văn/de-thi-ki-1-mon-van-lop-7-phong-gd-tan-yen-2023-a31044/image_1.png
TIẾNG GÀ TRƯA Trên đường hành quân xa Dừng chân bên xóm nhỏ Tiếng gà ai nhảy ổ: "Cục... cục tác cục ta" Nghe xao động nắng trưa Nghe bàn chân đỡ mỏi Nghe gọi về tuổi thơ Tiếng gà trưa Ôi rơm hồng những trứng Này con gà mái mơ Khắp mình hoa đốm trắng Này con gà mái vàng Lông óng như màu nắng Tiếng gà trưa Có tiếng bà vẫn mắng: - Gà đẻ mà mày nhìn Rồi sau lấy lang lang mất! Cháu về lạy chương mẹ Lòng dãi thơ lo lắng Tiếng gà trưa Tay bà khum soi trứng Dành từng quả chắt chiu Cho con gà mái ấp Cứ hàng năm hàng năm Khi gió mùa đông tới Bà lo đàn gà toi Mong trời giáng sương muối Để cuối năm bán gà Cháu được quần áo mới Ơi cái quần chéo go Ống rộng dài quét đất Cái áo cánh trúc bâu Đi qua nghe sột soạt. * * * Tiếng gà trưa Mang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu sẽ nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu Tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi, cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ. (Xuân Quỳnh, Tuyển tập các tác phẩm thơ chọn lọc Xuân Quỳnh, NXB Văn học 1999, tr. 80) HÃY CHỌN CÂU TRẢ LỜI ĐÚNG NHẤT: Câu 1. Từ "những" trong câu thơ "Ôi rơm hồng những trứng" thuộc từ loại nào? A. Phó từ. B. Danh từ. C. Số từ. D. Động từ. Câu 2. Những tình cảm, cảm xúc của người chiến sĩ trong bài thơ Tiếng gà trưa gợi cho em liên tưởng đến một bài thơ khác trong chương trình Ngữ văn 7 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, NXB GD Việt Nam) cũng thể hiện tình yêu của người con - người chiến sĩ - dành cho mẹ và đất nước là A. Đồng dao mùa xuân. B. Mùa xuân nho nhỏ.
7
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 7/Đề thi học kì 1 lớp 7 môn Văn/de-thi-cuoi-ki-1-mon-van-lop-7-nam-2023-phong-gd-thanh-liem-a31043/image_2.png
1. PHẦN ĐỌC - HIỂU (6,0 điểm) Đọc văn bản sau và khoanh tròn vào chữ cái trước đáp án em cho là đúng nhất (từ câu 1 đến câu 5) trong mỗi câu hỏi dưới đây. Mỗi câu trả lời đúng được 0,5 điểm. ...Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi đã bắt tay hết mọi người, anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà. Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ nó giẫy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao. - Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói. Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con bỗng như nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên: - Ba....a...ba! Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng "ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng "ba" như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Tôi thấy làn tóc tơ sau ói nó như dựng đứng lên. Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nức nở khóc: - Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con! Ba nó bế nó lên. Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết sẹo dài bên má của ba nó nữa... (Trích Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng) *Chú thích: "Con bé": Nhân vật bé Thu, "Ba nó": Nhân vật ông Sáu Câu 1. Theo em, việc đưa phương ngữ vào trong tác phẩm có ý nghĩa gì? A. Làm chuyện kể khách quan. B. Thể hiện tác giả là người khác biệt. C. Làm cho chuyện kể trở nên chân thực. D. Thể hiện sắc thái địa phương, dấu ấn phong cách của tác giả. Câu 2. Ý nào nói đúng nhất về nhân vật "con bé" trong đoạn trích? A. Ngang bướng. B. Yêu thương cha mãnh liệt. C. Có cá tính. D. Hồn nhiên, ngây thơ. Câu 3. Câu văn: "Đó là tiếng "ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng "ba" như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó" sử dụng những biện pháp tu từ nào? A. Ẩn dụ, nhân hóa. B. So sánh, ẩn dụ. C. So sánh, nhân hóa. D. So sánh, liệt kê. Câu 4. Trong đoạn trích, các từ "ba", "thẹo", "kêu"... là từ địa phương miền nào? A. Trung du, miền núi phía Bắc. B. Nam Trung Bộ. C. Nam Bộ. D. Bắc Trung Bộ. Câu 5. Nhân vật bé Thu ("con bé") trong đoạn trích trên được khắc họa qua các phương diện nào? A. Hành động, cử chỉ, lời nói. B. Diễn biến tâm lí. C. Lời nói, cử chỉ. D. Lời nói, hành động. Câu 6. Nhân vật trong đoạn trích được đặt trong hoàn cảnh nào? A. Sau một lúc ngạc nhiên con nhận cha và bộc lộ tình cảm mãnh liệt. B. Buổi chia tay giữa ông Sáu với gia đình để con nhận ba và giữ ba ở lại. C. Cuộc gặp gỡ của hai cha con sau tám năm xa cách. D. Khi ông Sáu trở lại chiến trường, bé Thu đến thăm rồi chia tay ra về. Câu 7. Kể lại sự việc theo lời người kể chuyện xưng "tôi" có ý nghĩa gì?
7
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 7/Đề thi học kì 1 lớp 7 môn Văn/de-thi-cuoi-ki-1-mon-van-lop-7-nam-2023-phong-gd-thanh-liem-a31043/image_1.png
A. Chuyện kể chân thực. B. Người kể có thể xen vào mạch kể cảm xúc, suy nghĩ cá nhân. C. Chuyện kể khách quan. D. Hai ý A, C. Câu 8. Ý nào nói đầy đủ nhất phương thức biểu đạt có trong đoạn trích? A. Miêu tả, nghị luận, biểu cảm, thuyết minh. B. Tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận. C. Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh. D. Tự sự, nghị luận, biểu cảm, thuyết minh. Câu 9 (0,5 điểm): Hình ảnh bé Thu "Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa" có ý nghĩa gì? Câu 10 (1,5 điểm): Từ câu chuyện trong đoạn trích trên, em hãy viết đoạn văn (4 đến 8 câu) trình bày suy nghĩ của em về tình phụ tử. Phần II. Viết (4,0 điểm) Trong các bài học vừa qua, em đã được làm quen với nhiều nhân vật văn học thú vị. Đó là các bạn nhỏ với tâm hồn trong sáng, tinh tế, nhân hậu như Mên, Mon (Bầy chim chìa vôi), An, Cô (Đi lấy mật)...và cả những người cha (Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ), người thầy (Người thầy đầu tiên)... hết lòng yêu thương con trẻ. Những nhân vật ấy chắc hẳn đã mang đến cho em nhiều cảm xúc và ấn tượng. Từ ấn tượng về các nhân vật ấy hãy viết bài văn phân tích đặc điểm của một nhân vật em yêu thích nhất. ------- HẾT -------
7
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 7/Đề thi học kì 1 lớp 7 môn Văn/de-kiem-tra-cuoi-ki-1-lop-7-mon-van-2023-tx-my-hao-a30977/image_1.png
CON QUẠ VÀ CÁI BÌNH NƯỚC Vào một năm nọ, hạn hán kéo dài, suốt mấy tháng liền trời không có lấy một giọt mưa. Đất đai khô cằn, cây cỏ héo úa, nước trong các ao hồ đều cạn khô hết cả. Sự sống của muôn loài bị đe dọa như đang đứng trước lưỡi gươm của Thần Chết. Có một chú quạ trên cành cây khát cổ nghỉ chân. Chú quạ rất khát nước nhưng không biết cách nào để tìm được nước cả. Sau đó tình cờ nhìn thấy trên mặt đất có một cái bình nước. Ngay lập tức, nó bay xuống và thò mỏ vào chiếc bình để uống nước. Thế nhưng, chú quạ không làm cách nào để uống được vì miệng bình nhỏ quá mà cổ bình lại cao, mực trong bình không dâng lên đủ để cho chú uống được. Dù nỗ đã cố gắng hết sức nhưng vẫn không uống được một giọt nước nào. Đang trong lúc tuyệt vọng không biết phải làm thế nào thì nó nhìn thấy một viên sỏi. Một ý nghĩ vụt lóe lên đầu nó là sẽ dùng chiếc mỏ để cắp những viên sỏi bỏ vào trong bình. Bố càng nhiều sỏi, nước trong bình sẽ càng dâng cao. Khi nước dâng lên đến miệng bình là nó có thể uống được rồi. Ngay lập tức, quạ đi khắp nơi để tìm sỏi bất chấp cái nắng nóng như đổ lửa. Sau một thời gian bỏ công đi tìm kiếm những viên sỏi trở về, lúc này nó chỉ việc tha những viên sỏi bỏ vào bình. Sỏi trong bình càng nhiều, nước trong bình càng dâng lên cao hơn. Khi bỏ viên sỏi cuối cùng vào thì mực nước trong bình cũng vừa dâng lên đến miệng và qua uống uống ngậm nước trong bình. Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại truyện nào? A. Truyện ngụ ngôn. B. Truyện đồng thoại. C. Truyền thuyết. D. Thần thoại. Câu 2. Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy? A. Ngôi thứ ba B. Ngôi thứ hai C. Ngôi thứ nhất số ít D. Ngôi thứ nhất số nhiều Câu 3. Đang lúc tuyệt vọng, quạ đã nhìn thấy gì? A. Viên đá nhỏ. B. Những hạt cát. C. Cục đất D. Viên sỏi Câu 4. Chi tiết “Một ý nghĩ vụt lóe lên trong đầu nó là sẽ dùng chiếc mỏ để cắp những viên sỏi bỏ vào trong bình” thể hiện được đặc điểm nào của nhân vật? A. Dũng cảm. B. Thông minh. C. Liều lĩnh. D. Ngốc nghếch. Câu 5. Quạ đã làm gì để có thể uống được nước trong bình? A. Sà xuống và thò mỏ vào chiếc bình để uống nước. B. Bay đi tìm bạn bè giúp đỡ. C. Tha những viên đá vào bình để nước dâng lên. D. Cắp những viên sỏi bỏ vào trong bình Câu 6. Câu văn “Ngay lập tức, quạ đi khắp nơi để tìm sỏi bất chấp cái nắng nóng như đổ lửa”. Sử dụng biện pháp nghệ thuật nào dưới đây? A. Nhân hóa. B. Hoán dụ C. So sánh D. Ẩn dụ Câu 7. Sau khi đọc văn bản, em có nhận xét gì về chú quạ? Câu 8. Viết thành đoạn (từ 5-7 câu) nêu suy nghĩ về một bài học tâm đắc nhất đối với em từ văn bản trên PHẦN II. VIẾT (5.0 ĐIỂM) Trong cuộc sống có rất nhiều sự việc khiến em có những tình cảm, suy nghĩ sâu sắc. Em hãy viết một bài văn trình bày cảm xúc, suy nghĩ của mình về một trong những sự việc có ấn tượng sâu sắc đó.
7
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 7/Đề thi học kì 1 lớp 7 môn Văn/de-kiem-tra-cuoi-ki-1-lop-7-mon-van-2023-thpt-nghia-tan-a31053/image_2.png
Ghi vào bài làm chữ cái đứng trước đáp án đúng nhất (từ câu 1 đến câu 6, mỗi đáp án đúng được 0.5 điểm) Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào? A. Truyện cười. B. Truyện cổ tích. C. Truyện truyền thuyết. D. Truyện khoa học viễn tưởng. Câu 2. Nội dung chính của văn bản trên là gì? A. Kể lại câu chuyện nhân vật tôi chuẩn bị cho việc trồng khoai tây trên Sao Hỏa. B. Kể lại câu chuyện nhân vật tôi tạo ra nước trên Sao Hỏa. C. Kể lại câu chuyện nhân vật tôi sửa căn Hab. D. Kể lại câu chuyện nhân vật tôi tìm cách liên lạc với chiếc MAV. Câu 3. Trong câu: “Chúng vẫn cần một lượng oxy, nhưng không nhiều." có bao nhiêu số từ và bao nhiêu phó từ? A. 1 số từ, 1 phó từ. B. 1 số từ, 2 phó từ. C. 2 số từ, 2 phó từ. D. 2 số từ, 1 phó từ. Câu 4. Câu “Này tôi nghĩ là tôi đã nghiệm ra." mở rộng thành phần nào? A. Mở rộng chủ ngữ. B. Mở rộng trạng ngữ. C. Mở rộng vị ngữ. D. Mở rộng chủ ngữ và vị ngữ. Câu 5. Bối cảnh câu chuyện trong văn bản trên diễn ra ở đâu? A. Đáy đại dương. B. Bãi biển. C. Trong lòng chiếc hang khổng lồ. D. Trên Sao Hỏa. Câu 6. Dòng nào nói không đúng về tính "khoa học" trong văn bản trên? A. Đặc điểm sống của vi sinh vật trong đất. B. Đặc điểm của khí Hydro. C. Sở thích của cây khoai tây. D. Đặc điểm nhiệt độ của căn Hab. Câu 7 (1.0 điểm). Nêu tác dụng của việc nhà văn đã để cho một nhà phi hành gia vào vai người kể chuyện ở ngôi thứ nhất trong văn bản trên. Câu 8 (0.5 điểm). Gạch lại 1 phó từ trong câu “Nhưng tôi đã tìm ra cách.". Phó từ ấy bổ sung ý nghĩa gì cho câu văn? Câu 9 (1.5 điểm). Đối diện với khó khăn, thử thách là điều không ai tránh khỏi. Em hãy viết đoạn văn khoảng 6 câu để trả lời câu hỏi: Cần làm gì để có thể vượt qua thử thách, trở ngại trong cuộc sống? II. VIẾT (4.0 điểm) Viết bài văn (dài tối thiểu 01 trang giấy thi) để phân tích đặc điểm nhân vật “tôi” trong văn bản “Nhật trình Sol 39". Hết
7
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 7/Đề thi học kì 1 lớp 7 môn Văn/de-kiem-tra-cuoi-ki-1-lop-7-mon-van-2023-thpt-nghia-tan-a31053/image_1.png
1. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm). Đọc ngữ liệu sau và thực hiện yêu cầu: “Người về từ Sao Hỏa” là cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của En-di Uya. Câu chuyện kể về một trận bão và ác liệt tên lửa khiến Mack Otát-mi (nhân vật “tôi”) suýt mất mạng. Đoàn phi hành gia Ho-mét nghi chắc chắn anh đã hi sinh nên họ lên đường trở về Trái đất. Mặc còn trú lại một mình trên Sao Hỏa, với lượng nhu yếu phẩm chỉ đủ một tháng. Anh tuyệt vọng chạy đua với thời gian và các yếu tố môi trường để tìm cách sống sót… **NHẬT TRÌNH SOL<sup>(1)</sup> 39** Tác giả: En-di Uya Này tôi nghĩ là tôi đã nghiêm ra. Vì sinh vật trồng đất quen với thời tiết mùa đông. Chúng ít hoạt động hơn, và đòi hỏi ít ôxy để sống sót. Tôi có thể hạ nhiệt căn Hab<sup>(2)</sup> xuống còn 1 độ C, và chúng sẽ gần như là ngủ đông. Chuyện như thế này lúc nào cũng xảy ra dưới Trái đất. Chúng có thể sống sót vài ngày bằng cách này. Nếu bạn đang tự hỏi làm cách nào vi sinh vật có thể sống sót khi giá rét đất trong cây lạnh dưới Trái đất, câu trả lời là chúng không sống sót. Vì sinh vật tuốt dưới lòng đất ở nơi ấm áp hơn sinh sôi nảy nở và trôi lên phía trên để thay thế đám đã chết chóc. Chúng vẫn cần một lượng oxy, nhưng không nhiều. Tôi nghĩ chừng 1% lượng khí là đủ. Nhiều đồ vừa đủ chứ khi cho chúng thở những không khí đặc biệt ngon lành bùng cháy. Và nguy cơ bọn hydro sẽ không nổ tanh bành. Nhưng chuyện này dẫn đến một vấn đề khác. Đám cây khoai tây sẽ không thích kẻ hoắc hàn. Chúng không nề hà chuyện thiếu oxy nhưng cái lạnh sẽ giết chết chúng. Nên tôi phải bỏ chúng vào chậu (thật ra là bỏ vào bao bì) và chuyển chúng vào trong rover<sup>(3)</sup>. Chúng vẫn chưa dám chết, cho nên chúng cũng chẳng cần đến ánh sáng. Thật phiền phức bất ngờ khi phải tìm cách giữ cho máy sưởi trong rover hoạt động khi chẳng có người trong đó. Nhưng tôi đã tìm ra cách. Xét cho cùng, tôi chẳng có gì ngoài thời gian. Vây đó, đó là kế hoạch. Trước tiên, bổ cây khoai tây vò bao và đem chúng sang rover (đâm bảo chắc chắn cả máy sưởi vẫn mà). Rồi hạ nhiệt căn Hab xuống còn 1 độ C. Rồi giảm lượng O2 xuống còn 1%. Rồi đốt hết hydro với một cục pin, vài sợi dây điện và một thùng O2. Yeah. Nghe như là một ý tưởng tuyệt vời và không có cơ hội nào cho một thất bại thảm. Nhân tiện, đó là lời mỉa mai thôi. Thôi, tôi đi làm đây. (Trích tiểu thuyết “Người về từ Sao Hỏa”) Chú thích: (1) Sol: ở đây chỉ đơn vị một ngày trên Sao Hỏa. (2) Hab: căn nhà trên Sao Hỏa để các phi công vũ trụ ở và liên lạc. (3) Rover: xe do thám
7
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 7/Đề thi học kì 1 lớp 7 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-lop-7-mon-van-nam-2025-thcs-phan-dinh-phung-a34042/image_2.png
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: BÀ Trần Mạnh Hào Cừ ngờ là cổ tích Mà chính đấy là bà Bao thân tiên thưở trước Nhờ bà lại hiện ra Cái cơi trầu biết nói Chiếc dao cau biết cười Bà ngồi bên cạnh cháu Má ngỡ trăm năm rồi Bà vẫn ngồi như thế Tóc bạc cả bình vôi Cháu muốn làm cây gậy Để dắt bà đi chơi... (In trong 65 bài thơ hay dành cho thiếu nhi, Cao Xuân Sơn tuyển chọn, NXB Kim Đồng, 2022, tr. 45) Câu 1. (0,5 điểm) Xác định thể thơ của văn bản trên. Câu 2. (0,5 điểm) Xác định cách ngắt nhịp trong hai dòng thơ sau: Bà ngồi bên cạnh cháu Má ngỡ trăm năm rồi Câu 3. (0,5 điểm) Xác định hình ảnh mà người cháu muốn hóa thân thành để giúp đỡ bà trong hai dòng thơ sau: Cháu muốn làm cây gậy Để dắt bà đi chơi... Câu 4. (1,0 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng ở hai dòng thơ in đậm trong khổ thơ sau: Cái cơi trầu biết nói Chiếc dao cau biết cười Bà ngồi bên cạnh cháu Má ngỡ t...m ... rồi
7
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 7/Đề thi học kì 1 lớp 7 môn Văn/de-thi-hoc-ki-1-lop-7-mon-van-nam-2025-thcs-phan-dinh-phung-a34042/image_1.png
Câu 5. (1,0 điểm) Nêu cảm nhận của em về tình cảm, cảm xúc mà người cháu dành cho bà trong khổ thơ sau: Bà vẫn ngồi như thế Tóc bạc cài bình vôi Cháu muốn làm cây gậy Để dắt bà đi chơi... Câu 6. (1,0 điểm) Xác định chủ đề của văn bản trên. Câu 7. (1,5 điểm) Từ tình cảm của cháu trong văn bản “Bà” của tác giả Trần Mạnh Hào, em hãy rút ra hai bài học về cách ứng xử với người thân yêu trong gia đình. II. VIẾT (4,0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm xúc của em khi đọc bài thơ “Bà” của tác giả Trần Mạnh Hào ở phần Đọc hiểu, __ Hết __
3
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 3/Đề thi học kì 1 lớp 3 môn Tiếng Việt/de-kiem-tra-hoc-ki-1-lop-3-mon-tieng-viet-2021-th-phu-xuan-a25402/image_2.png
3. Kiểm tra viết: (10 điểm) 1. Chính tả: (nghe - viết) (4 điểm) – Thời gian 15 phút: **CÂY TRẮM ĐEN** Ở bãi bồi tới đó mấy cây trâm đen. Thân cây cao vút, thẳng như một cột nước đứng trên trời rồi xuống. Cành cây mập mạp, nanh ngang, vươn tơi như những gọng ô. Trên cái gọng ô ấy xòe tròn một chiếc ô xanh ngút ngàn. Lá trâm đen chỉ to bằng bàn tay đứa trẻ lên ba, nhưng dày và cứng mỡ màng. Xa quê đã ngót chục năm trời, tôi vẫn nhớ da diết những cây trâm đen ở bãi bồi. 2. Tập làm văn: (6 điểm) – Thời gian 25 phút **Đề bài:** Em hãy viết một đoạn văn ngắn (từ 7 đến 10 câu) kể về cảnh đẹp quê hương mình. Theo gợi ý sau: - Cảnh đẹp trong tranh là cảnh gì? Ở đâu? - Bức ảnh có những màu sắc gì? - Cảnh vật nổi bật trong ảnh là cảnh gì? Cảnh vật đó có gì đẹp? - Suy nghĩ, tình cảm của em đối với bức ảnh đó.
3
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 3/Đề thi học kì 1 lớp 3 môn Tiếng Việt/de-kiem-tra-hoc-ki-1-lop-3-mon-tieng-viet-2021-th-phu-xuan-a25402/image_1.png
4. Kiểm tra đọc (10 điểm) 1. Đọc thành tiếng và trả lời câu hỏi. (4 điểm) 2. Đọc hiểu và kiểm tra kiến thức Tiếng Việt (6 điểm) * Đọc thầm bài sau: **MỘT CẢNH NÊN THƠ** Ở vùng này, lúc hoàng hôn và lúc tảng sáng, phong cảnh rất nên thơ. Gió rừng thổi vì làm cành cây gầy đũa đưa cách nhè nhẹ, yêu điệu. Mặt trời chênh chếch xi xuống, biến triệu giọt sương trên lá cây, ngọn cỏ thành những hạt ngọc nhảy nhót, lung linh. Những con suối trong vắt chảy róc rách, hòa với giọng ca hót lù la của hàng nghìn nàng van chim rừng. Nhiều khi người ta ngồi nhìn mũi con trâu cày mà nhựa cây từ xa bay đến, phảng phất và nhẹ nhàng. Trên tri xanh biếc có vài đám mây trắng từng dính báy, giống hết những chiếc thuyền buồm khoan thai lướt mặt biển. Bên ven rừng, hàng vạn con bướm nhỏ nhoi, vàng sáng rực phiới như muốn thi đua vui khách đi đường. Như để làm cho phong cảnh thiên nhiên càng thêm mầu nhiệm hơn. Mấy cụ bà cưỡi trên lưng những con trâu béo núc nịch, em thì hò hét, em thì chăm chú ôn lại bài học hôm qua. *Vừa đi vừa kể chuyện - Hồ Chí Minh* * Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất cho mỗi câu và hoàn thành các bài tập dưới đây: Câu 1 (0,5 điểm). Mùi thơm của hoa và nhựa cây được tả là: A. Phảng phất, nhẹ nhàng. B. Hăng hắc, nhẹ nhàng. C. Hăng hắc, phảng phất. Câu 2 (0,5 điểm). Vào thời gian trong ngày thì cảnh vật rất nên thơ là: A. Hoàng hôn và buổi trưa
3
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 3/Đề thi học kì 1 lớp 3 môn Tiếng Việt/de-kiem-tra-hoc-ki-1-lop-3-mon-tieng-viet-2021-th-phu-xuan-a25402/image_3.png
B. Hoàng hôn và buổi tối C. Hoàng hôn và tảng sáng. Câu 3 (0,5 điểm). Cảnh được tả trong bài thuộc vùng: A. Vùng ven biển B. Vùng rừng núi C. Vùng đồng bằng Câu 4 (0,5 điểm) Hình ảnh đám mây trắng trên bầu trời được gọi là bằng những từ ngữ: A. Đủng đỉnh bay B. Khoan thai lướt C. Nhẹ nhàng bay Câu 5 (0,5 điểm). Dòng gồm các từ chỉ hoạt động, trạng thái trong câu: “Gió rùng rờ thổi vi vu làm cành cây đung đưa một cách nhẹ nhàng, yêu điệu” là: A. Vi vu, yêu điệu B. Thổi, yêu điệu C. Thở, đung đưa Câu 6 : (0,5 điểm) Câu Những con suối trong vắt chảy róc rách... thuộc kiểu câu nào? A. Ai – là gì ? B. Ai – làm gì ? C. Ai – thế nào ? Câu 7 (1 điểm). Điền vào chỗ chấm i hay y để hoàn chỉnh câu vần sau : - Tay ...àm ấm nhai, tay quai miệng trẻ. - Nhai kĩ ...o lâu, cây sâu tốt ...ữa. Câu 8: (0,5 điểm) Tìm từ thích hợp điền vào chỗ trống trong câu sau: Công cha nghĩa mẹ được so sánh như........................., như.......................... Câu 9: (1 điểm ) Đặt câu cho hai bộ phận in đậm sau “Mấy chú bé cười trên lưng những con trâu béo núc nịch” .................................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................................... Câu 10 : ( 1 điểm) Em cần phải làm gì để cảnh vật quê hương Vinh Phúc mình ngày càng tươi đẹp? .................................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................................
3
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 3/Đề thi học kì 1 lớp 3 môn Tiếng Việt/de-thi-cuoi-ki-1-mon-tieng-viet-lop-3-phong-gddt-dai-loc-2023-a30471/image_4.png
I. Đọc thành tiếng: (4điểm) Cho HS bốc thăm đọc 1 đoạn trong những bài tập đọc đã học và trả lời câu hỏi nội dung đoạn đọc. II. Đọc thầm và làm bài tập: (6 điểm) Đọc đoạn văn sau: AI ĐÁNG KHEN NHIỀU HƠN? Ngày nghỉ, thỏ Mẹ bảo hai con: - Thỏ Anh lên rừng kiếm cho mẹ mười chiếc nấm hương, Thỏ Em ra đồng cỏ hái giúp mẹ mười bông hoa thật đẹp! Thỏ Em chạy tới đồng cỏ, hái được mười bông hoa đẹp về khoe với mẹ. Thỏ Mẹ nhìn con âu yếm, hỏi: - Trên đường đi, con có gặp ai không? - Con thấy bé Sóc đang khóc bên gốc ôi, mẹ ạ. - Con có hỏi vì sao Sóc khóc không? - Không ạ. Con vội về vì sợ mẹ mắng. Lát sau, Thỏ Anh về, giỏ đầy nấm hương. Thỏ Mẹ hỏi vì sao ở lâu vậy, Thỏ Anh thưa: - Con giúp cô Gà Mơ tìm Gà Nhép bị lạc nên về muộn, mẹ ạ. Thỏ Mẹ mỉm cười, nói: - Các con đều đáng khen vì biết vâng lời mẹ. Thỏ Em nghĩ đến ta là đúng, song Thỏ Anh còn biết nghĩ đến người khác nên đáng khen nhiều hơn! (Theo Phong Thu) Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy khoanh tròn vào chữ cái trước ý trả lời đúng và hoàn thành các bài tập sau: Câu 1: Câu chuyện trên gồm mấy nhân vật? Đó là những ai? (0,5 điểm) A. 4 nhân vật, đó là Thỏ Mẹ, Thỏ Anh, Thỏ em, Gà Mơ. B. 5 nhân vật, đó là Thỏ Mẹ, Thỏ Anh, Thỏ em, Gà mơ, Gà Nhép. C. 3 nhân vật, đó là Thỏ Mẹ, Thỏ Anh, Thỏ em. Câu 2: Ngày nghỉ, Thỏ Mẹ bảo hai con làm việc gì giúp mẹ ? (0,5 điểm) A. Thỏ Anh kiếm mười chiếc nấm hương; Thỏ Em hái mười bông hoa. B. Thỏ Anh lên rừng hái hoa; Thỏ Em ra đồng kiếm nấm hương C. Thỏ Em kiếm mười chiếc nấm hương; Thỏ Anh hái mười bông hoa.
3
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 3/Đề thi học kì 1 lớp 3 môn Tiếng Việt/de-thi-cuoi-ki-1-mon-tieng-viet-lop-3-phong-gddt-dai-loc-2023-a30471/image_2.png
Câu 3: Thỏ em làm gì khi đến đồng cỏ? (0,5 điểm) A. Chạy nhảy tung tăng trên đồng cỏ. B. Hái được mười bông hoa đẹp nhất. C. Hái những bông hoa đẹp nhất. Câu 4: Vì Sao Thỏ Anh đi hái nấm về muộn hơn Thỏ em? (0,5 điểm) A. Vì Thỏ Anh đi đường xa hơn. B. Vì Thỏ Anh bị lạc đường. C. Vì Thỏ Anh giúp cô Gà Mơ tìm Gà Nhép bị lạc. Câu 5: Vì sao Thỏ Mẹ nói Thỏ Anh đáng khen nhiều hơn? (0,5 điểm) A. Vì Thỏ Anh biết vâng lời mẹ. B. Vì Thỏ Anh biết vâng lời mẹ và còn biết nghĩ đến người khác. C. Vì Thỏ Anh hái được nhiều nấm hương. Câu 6: Câu chuyện trên muốn khuyên em điều gì? (1 điểm) Câu 7: Câu nào dưới đây là câu nêu đặc điểm? (0,5 điểm) A. Ông thường đưa đón tôi đi học mỗi khi bố mẹ bận. B. Trường em rất sạch sẽ và khang trang C. Mẹ em là bác sĩ. Câu 8: Nối câu ở cột A với kiểu câu ở cột B. (1 điểm) A 1.Con hãy cố gắng học thật tốt nhé! 2. A, hoa mẫu đơn đẹp quá! 3. Thảo rất yêu quê hương mình. 4. Thảo sinh ra và lớn lên ở đâu? B a.Câu kể b. Câu hỏi c. Câu cảm d. Câu khiến Câu 9. Em hãy đặt một câu khiến để mượn bạn một quyển sách. (1 điểm)
3
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 3/Đề thi học kì 1 lớp 3 môn Tiếng Việt/de-thi-cuoi-ki-1-mon-tieng-viet-lop-3-phong-gddt-dai-loc-2023-a30471/image_3.png
B. KIỂM TRA VIẾT (10 ĐIỂM) I. Nghe-viết (20 phút-4 điểm) (Nghe viết) Bài: Kho sách của ông bà (Tiếng Việt lớp 3, tập 1, trang 99). Tuyensinh247.com II. Tập làm văn (6 điểm) Em hãy viết thư cho người thân ở xa để hỏi thăm tình hình sức khỏe.
3
hk1/Đề thi học kì 1 lớp 3/Đề thi học kì 1 lớp 3 môn Tiếng Việt/de-kiem-tra-ki-1-lop-3-mon-tieng-viet-nam-2017-th-ly-thuong-kiet-a8935/image_2.png
I. KIỂM TRA ĐỌC 1. Đọc thành tiếng: (4 điểm) HS bốc thăm và đọc một đoạn khoảng 50 tiếng/phút và trả lời một câu hỏi một trong các bài tập đọc sau: Bài: Cậu bé thông minh - Trang 4 (Từ Ngày xưa.........cha con lên đường) H: Nhà vua đã nghĩ ra kế gì để tìm người tài? Bài: Chiếc áo len. Trang 20 (từ Một lúc lâu sau....con đi ngủ đi.) H: Anh Tuấn nói với em những gì? Bài: Người mẹ. Trang 29 (từ Đến một ngã ba......chỉ đường cho bà.) H: Người mẹ đã làm gì để giúp gái chỉ đường cho bà? Bài: Bà tập làm văn. Trang 46 (từ đầu...........Em còn giật bất tất.) H: Cô giáo ra cho lớp đề văn như thế nào? Bài: Nắng phương nam? Trang 94 (từ Tưởng ai.......Huế nói. H: Nghe đọc thư Văn, các bạn mong ước điều gì? Bài: Người của cùa Tây Nguyên. Trang 103 (từ Núp mở những thừ đại hội.....mãi nửa đêm) H: Đại hội tặng dân làng Kông Hoa những gì? Bài: Hũ bạc của người cha - Trang 121 (Đọc từ Người con lai ra đi ....... Cười chảy nước mắt!) H: Người ơi đã làm lụng vất vả và tiết kiệm như thế nào? 2. Đọc hiểu (6 điểm) (Thời gian : 35 phút) Đọc bài sau và trả lời câu hỏi:
End of preview. Expand in Data Studio
README.md exists but content is empty.
Downloads last month
-