title
stringlengths
1
250
url
stringlengths
37
44
text
stringlengths
1
4.81k
Nhà Tấn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33488
Tháng 3 năm 373, Hoàn Ôn chết, khu vực quản lý của Hoàn Ôn được chia làm ba, giao cho Hoàn Xung (328 - 384), Hoàn Khoát và Hoàn Thạch Tú quản lý. Tạ Huyền đánh lui Tiền Tần. Sau khi Hoàn Ôn chết, quyền lực trong triều do Tể tướng Tạ An (320 -385) nắm giữ. Họ Tạ là một vọng tộc phong lưu nổi tiếng còn để lại nhiều tên t...
Nhà Tấn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33488
Quân Tạ Huyền chiếm được Viên Thành, Quyên Thành. Nhiều thành ở Hà Nam lần lượt xin hàng. Sau đó, ông dẫn quân đánh Thanh Châu. Tướng Tần giữ Thanh Châu là Phù Lãng bại trận xin hàng. Hoàn Huyền phái Triệu Thống thu phục Dịch Dương và các thành trấn phụ cận, uy thế áp thẳng đến Lạc Dương. Sau khi bình định các châu Từ,...
Nhà Tấn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33488
Cối Kê Vương Tư Mã Đạo Tử (353 - 403), con trai Giản Văn Đế lên nắm quyền Tể tướng sau khi cùng họ Hoàn làm suy yếu thế lực họ Tạ đã liên kết chặt chẽ với họ Vương gốc Thái Nguyên mở đầu cuộc đấu tranh mới giữa Hoàng gia với họ Hoàn cho nên sau khi đại thắng thì Vương triều Đông Tấn lại nảy sinh một nguy cơ mới trong v...
Nhà Tấn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33488
Chính lệnh của Triều đình chỉ có hiệu lực tại 8 quận phía đông (Cối Kê, Ngô Quận, Ngô Hưng, Nghĩa Hưng, Lâm Hải, Vĩnh Gia, Đông Dương, và Tân An) thuộc Dương Châu. Năm 401, Hoàn Huyền, đã kiểm soát hơn 2/3 lãnh thổ Đông Tấn, tiến quân về phía đông, chiếm được kinh thành Kiến Khang, xử tử cả nhà Tư Mã Nguyên Hiển cùng T...
Nhà Tấn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33488
Khởi nghĩa Tôn Ân. Trong giới tín đồ gốc sĩ tộc thế gia có Đỗ Tử Cung là đầu lĩnh ở Tiền Đường. Ông có nhiều đệ tử, xuất thân là thế gia đại tộc ở Giang Nam. Đỗ Tử Cung mất, môn đồ là Tôn Thái và Tôn Ân kế nghiệp. Tôn Ân tự là Linh Tú, quê ở Lang Nha, vừa là cháu vừa là đệ tử Tôn Thái. Hiếu Vũ Đế phong Tôn Thái làm Phụ...
Nhà Tấn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33488
Quân Lư Tuần còn khoảng 2000 người. Dư đảng Lý Tốn (Thái thú Cửu Chân, nổi loạn) là Lý Thoát kết tập 5000 dân bản địa giúp Lư Tuần đánh ở bến sông phía Nam thành Long Biên. Binh của Đỗ Tuệ Độ phóng đuốc trĩ vĩ đốt chiến thuyền Lư Tuần. Lư Tuần nhảy sông tự vẫn. Đỗ Tuệ Độ cho vớt tử thi Lư Tuần và chặt đầu, gửi về Kiến ...
Nhà Tấn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33488
Lưu Dụ rút đại quân về Nam, để lại con nhỏ là Lưu Nghĩa Chân mới 12 tuổi trấn thủ Trường An. Ngay năm sau (418), Hách Liên Bột Bột lập tức Nam tiến, đánh vào đất cũ của Hậu Tần. Các tướng Tấn lại mâu thuẫn tự giết hại nhau khiến chiến sự càng bất lợi. Lưu Dụ đón con về Nam rồi sai Chu Siêu Thạch đi cứu Trường An nhưng ...
Nhà Tấn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33488
Ít người vi phạm thì giảm được hình phạt; pháp luật phải đáp ứng yêu cầu phân cấp bậc, minh bạch. Ý kiến của ông được tiếp nhận và luật được ban bố dùng trong cả nước. Tấn luật có dựa vào "Cửu chương luật" của nhà Hán và tham khảo "Ngụy luật", tuy nhiều hơn Ngụy luật 2 thiên, tổng cộng có 21 thiên nhưng chỉ có 2306 điề...
Nhà Tấn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33488
Chính sách ưu đãi đó đã tạo ra cuộc sống xa hoa của người quyền quý trong giai cấp thống trị, điển hình cho sự giàu có, xa xỉ là Thạch Sùng và Vương Khải nổi tiếng trong lịch sử. Đông Tấn. Chính sách với người di cư từ phương Bắc. Trải qua một thời gian loạn lạc và bị người Hung Nô tấn công làm chính quyền Tây Tấn sụp ...
Nhà Tấn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33488
Các sĩ tộc lợi dụng thế lực của mình để thôn tính đất đai, gom các nông dân phá sản vào điền trang của mình để làm nhân khẩu phụ thuộc gọi là ẩn khách gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập tài chính của Nhà nước. Năm 341, Triều đình ra lệnh kiều dân từ vương công cho đến thứ dân định hộ tịch theo thực tế cư trú, đem ...
Nhà Tấn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33488
Dân thường gọi là "hạ phẩm". Các gia đình sĩ tộc có nhiều quyền lợi và được truyền nối nhau làm quan nhiều đời. Những người không xuất thân từ sĩ tộc, dù có vươn lên chức vụ to trong triều cũng bị sĩ tộc coi thường là hèn kém. Thời Đông Tấn quy định lại số lượng điền khách cho các sĩ tộc. Từ nhất phẩm, nhị phẩm được sở...
Nhà Tấn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33488
Về y học có Vương Thúc Hòa với công trình y học "Mạch kinh" và nổi bật là Hoàng Phủ Mật (215-282) với bộ Châm cứu Giáp Ất kinh, được xem là tác phẩm chuyên về châm cứu đầu tiên. Công thần khai quốc Vệ Quán (220-291) từng có công dẹp Chung Hội ở đất Thục thời Tam Quốc và chết trong Loạn bát vương, cùng con trai Vệ Hằng ...
Nhà Tấn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33488
Về thư pháp và hội họa, thời Đông Tấn đóng góp nhiều hơn cả, nổi bật nhất là Vương Hi Chi (cháu Vương Đạo), Vương Dị, Cố Khải Chi, Đới Quỳ. Vương Hi Chi nổi tiếng nhờ học được thuật thư pháp của Vệ Thước - con gái nhà thư pháp Vệ Quán thời Tây Tấn. Vương Hi Chi (303 – 361) đã viết "Lan Đình thiếp", được coi là một báu ...
Nhà Tấn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33488
Cố Khải Chi (348 – 409) là họa sĩ kiêm văn nhân. Hơn 500 năm sau, danh sĩ Lý Tự Chân đời Đường, đã viết trong sách "Hậu họa phẩm": "Cố thiên tài kiệt xuất, đứng riêng một mình một cõi, không ai sánh bằng. Ông suy nghĩ ngang với tạo hóa, hiểu được diệu lý của sự vật…". Ông được coi là "tam tuyệt" (tài tuyệt, si tuyệt, h...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Thập lục quốc (), còn gọi là Ngũ Hồ loạn Hoa, là một tập hợp gồm nhiều quốc gia có thời gian tồn tại ngắn ở bên trong và tại các vùng lân cận Trung Quốc từ năm 304 đến 439 kéo theo sự rút lui của nhà Tấn về miền nam Trung Quốc đến khi Bắc triều thống nhất toàn bộ phương bắc, mở ra cục diện mới là Nam Bắc triều. Tên gọi...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Tới thời Tam Quốc, dân Hung Nô đã đông đúc, thế lực lớn dần. Tào Tháo bèn phân tán người Hung Nô thành 5 bộ, cho ở 5 huyện thuộc Sơn Tây hiện nay là: Huyền Thị (huyện Cao Bình), Bồ Tử (huyện Bồ), Tân Hưng (Hãn Châu), Đại Lăng (huyện Văn Thủy), Kỳ huyện (huyện Kỳ). Mỗi bộ đặt một quan cầm đầu gọi là Súy, sau đổi làm Đô ...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Sự sụp đổ của nhà Tây Tấn. Loạn bát vương làm nhà Tây Tấn suy yếu trầm trọng. Hàng loạt tông thất có thế lực và tài năng bị giết, khiến hoàng tộc khủng hoảng nhân sự không có người phò trợ. Các bộ tộc ngoại lai thừa cơ xâm nhập và làm loạn Trung Nguyên. Do khủng hoảng nhân sự, các vị vương nhà Tấn phải dùng tới các tướ...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Tuy nhiên chính thể của Mẫn Đế cũng đã rất suy yếu, chỉ cai quản một góc Trường An. Năm 316, Lưu Thông lại điều quân dễ dàng đánh chiếm Trường An bắt sống Mẫn Đế. Tấn Mẫn Đế làm tù binh rồi bị Lưu Thông giết chết. Nhà Tây Tấn diệt vong. Một quý tộc nhà Tấn là Lang Nha vương Tư Mã Tuấn (hay Duệ - cháu nội Tấn Vũ Đế) tập...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Năm 329, Lưu Diệu bị Thạch Lặc đánh bại, bắt sống và giết chết. Nước Hán Triệu mất. Tiền Lương - Tiền Yên - Bắc Đại. Trong khi Ngũ Hồ xâu xé đất đai Trung Nguyên, một tướng vùng biên phía tây của nhà Tây Tấn là Trương Quỹ coi giữ Lương Châu, không hàng phục các chính quyền Ngũ Hồ, tự giữ bờ cõi cai trị và vẫn dùng niên...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Ông còn xây dựng tràn lan, cướp cả vợ con người khác để hoang dâm vô độ, nhân dân chết đói rất nhiều. Do vậy các dân tộc nổi dậy phản kháng không ngừng. Các con trai Thạch Hổ tranh quyền. Thái tử Thạch Tuyên giết Thạch Thao, Thạch Hổ giết Thạch Tuyên. Năm 349, Thạch Hổ chết, chính quyền rơi vào tay con nuôi Hổ là Thạch...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Về cơ bản, sau năm 352, Trung Nguyên nằm trong tay Tiền Tần và Tiền Yên, phía bắc xa xôi là Bắc Đại, phía tây xa xôi là Tây Lương (Tiền Lương). Năm 355, Phù Kiện chết, con là Phù Sinh lên thay. Phù Sinh sinh ra đã chỉ có 1 mắt, rất tàn nhẫn, sát hại nhiều quan lại và người trong họ, hễ những người này lỡ phạm phải nhữn...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Nhưng các đại thần nhà Đông Tấn sợ chiến thắng ngoài mặt trận sẽ khiến uy thế của ông quá lớn nên tìm cách kìm chế ông. Những hành động đơn lẻ của Tổ Địch dần dần bị cô lập, yếu đi và không mang lại kết quả lớn. Quân Ngũ Hồ thừa cơ phản công giành lại đất đai. Ông buồn rầu qua đời. Không lâu sau đó các tướng phía bắc n...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Hoàn Ôn mất, Tạ An nắm quyền. Tạ An tỏ ra là người mềm mỏng hơn Hoàn Ôn, không hiếp chế vua Tấn. Lúc đó, Tần Chiêu đế (Phù Kiên) đã làm chủ toàn bộ miền bắc, ông huy động 90 vạn quân gồm nhiều sắc tộc Hồ và cả người Hán đi đánh miền nam, bất chấp sự phản đối của nhiều đại thần. Phù Kiên chủ quan kiêu ngạo nói rằng quân...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Nhân sự suy yếu của Tiền Tần, các tướng dưới quyền bắt đầu thực hiện ý định ly khai, tái lập thế chia cắt Ngũ Hồ ở miền bắc như trước đây. Thực ra, nguy cơ tái chia cắt đã tồn tại ngay khi Phù Kiên thống nhất, vì trong hàng ngũ tướng sĩ của ông, có nhiều người dị tộc được ông thu phục, đã manh tâm ly khai. Khi cầm đại ...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Năm 385, Phù Kiên bị quân Tây Yên của Mộ Dung Xung cũng kéo đến đánh Tiền Tần để báo thù họa vong quốc năm 371, vây đánh ở Trường An, phải phá vây ra ngoài. Cùng lúc đó quân Hậu Tần của Diêu Trường thừa cơ đón bắt giết Kiên. Một số triều thần sót lại của Tiền Tần lập con Kiên là Phù Phi lên ngôi ở Nghiệp Thành, nhưng n...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Hậu Yên rút lên phía bắc, chỉ bao gồm đất của nước Yên cổ thời Chiến Quốc xưa kia. Cùng lúc đó nội bộ Hậu Yên lại xảy ra tranh đoạt, chém giết lẫn nhau, khiến liên tiếp chỉ trong chưa đầy 10 năm, các vua Mộ Dung Bảo (398), Mộ Dung Thịnh (401), Mộ Dung Hy (407) đều bị giết. Một người con nuôi của Mộ Dung Bảo là Cao Vân ...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Diêu Hưng phân cấp cho ông 5 bộ Tiên Ti và hơn 2 vạn người Hồ trấn thủ phương bắc, vì đó ông được nắm quân tự lập ra nước Hạ, định đô ở Thống Vạn (Hành Sơn, Thiểm Tây). Năm 410, tướng Đông Tấn là Lưu Dụ diệt nước Nam Yên của cháu Mộ Dung Đức là Mộ Dung Siêu. Năm 414, vua Tây Tần là Khất Phục Sí Bàn diệt nước Nam Lương ...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Ở miền nam trong tay nhà Lưu Tống, sử gọi thời kỳ các triều đại nam và bắc nối nhau cai trị hai miền là Nam Bắc triều. Chiến tranh vẫn chưa chấm dứt. Bình luận. Tính sắc tộc. Tính cả các vua nhà Tấn, thời Ngũ Hồ thập lục quốc có tới gần 150 vua xưng đế hoặc xưng vương. Chiến tranh xảy ra liên miên trên hầu khắp miền bắ...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Các nhà sử học đã xác nhận thời kỳ này xuất hiện những bạo chúa như Thạch Hổ, Nhiễm Mẫn, Phù Sinh, Hách Liên Bột Bột... Nhiều vua Ngũ Hồ đồng thời là những viên tướng thiện chiến, thường trực tiếp làm tướng cầm quân ra mặt trận và lập công hiển hách như Thạch Lặc, Thạch Hổ, Phù Kiên, Mộ Dung Thuỳ, Diêu Trường, Hách Liê...
Ngũ Hồ thập lục quốc
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33493
Về nhà Tấn trong chiến tranh với Ngũ Hồ. Xét toàn cục sâu xa, ngọn lửa Ngũ Hồ có thể không cháy lan rộng và kéo dài như đã diễn ra trong lịch sử, nếu những người cầm quyền họ Tư Mã sáng suốt hơn. Đông Tấn được xem là kế tục Đông Ngô theo cách gọi "Lục triều" ở Giang Nam, nhưng nội bộ chia rẽ và bất ổn hơn nhiều so với ...
Bom
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33497
Bom (bắt nguồn từ từ tiếng Pháp "bombe" /bɔ̃b/) là một thiết bị nổ tạo ra và giải phóng năng lượng của nó một cách cực kỳ nhanh chóng thành một vụ nổ và sóng xung kích mãnh liệt mang tính phá hủy. Bom đã được sử dụng từ thế kỷ thứ 11 bắt đầu ở Đông Á. Đa số bom không chứa nhiều năng lượng hơn nhiên liệu thông thường, n...
Bom
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33497
Kim sử《金 史》 (được biên soạn năm 1345) nói rằng vào năm 1232, khi tướng Mông Cổ Subutai (Tốc Bất Đài; 1176-1248) tiến xuống thành Khai Phong, những người bảo vệ đã có một "chấn thiên lôi" (震天雷) bao gồm "thuốc súng sấm sét" đưa vào một thùng chứa sắt... sau đó khi các cầu chì được thắp sáng (và đạn bắn ra) đã có một vụ n...
Bom
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33497
Các vụ thử bom của quân đội đã ghi nhận nhiệt độ lên tới 2.480 °C (4.500 °F). Mặc dù có khả năng gây bỏng nặng đến thảm khốc và gây ra hỏa hoạn thứ cấp, hiệu ứng sóng nhiệt được coi là rất hạn chế trong phạm vi so với sốc và phân mảnh. Tuy nhiên, quy tắc này đã bị thách thức bởi sự phát triển quân sự của vũ khí nhiệt đ...
Bom
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33497
Việc chiếu các vật liệu đặt ra một mối đe dọa có thể gây chết người do vết cắt ở các mô mềm, cũng như nhiễm trùng và tổn thương các cơ quan nội tạng. Khi sóng quá áp tác động vào cơ thể, nó có thể gây ra mức độ gia tốc dữ dội do nổ. Kết quả thương tích có thể từ nhỏ đến không thể chữa khỏi. Ngay sau khi tăng tốc ban đầ...
Bom
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33497
Bom nguyên tử dựa trên lý thuyết phân hạch hạt nhân, khi một nguyên tử lớn tách ra, nó sẽ giải phóng một lượng năng lượng khổng lồ. Vũ khí nhiệt hạch, (thường được gọi là "bom hydro") sử dụng năng lượng từ vụ nổ phân hạch ban đầu để tạo ra vụ nổ nhiệt hạch mạnh hơn nữa. Thuật ngữ bom bẩn dùng để chỉ một thiết bị chuyên...
Bom
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33497
Chất nổ thấp thường bao gồm một hỗn hợp của một loại muối oxy hóa, chẳng hạn như kali nitrat (saltpeter), với nhiên liệu rắn, như than củi hoặc bột nhôm. Các chế phẩm này làm xì hơi khi đánh lửa, tạo ra khí nóng. Trong trường hợp bình thường, sự xì hơi này xảy ra quá chậm để tạo ra một sóng áp lực đáng kể; Do đó, chất ...
Bom
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33497
Trong trường hợp phù hợp, hợp nhất nhanh chóng có thể gây ra một phản ứng dây chuyền có thể sinh sôi nảy nở và tăng cường bởi nhiều bậc độ lớn trong vòng micro giây. Năng lượng được giải phóng bởi một quả bom phân hạch hạt nhân có thể lớn hơn hàng chục nghìn lần so với một quả bom hóa học có cùng khối lượng. Phản ứng t...
Bom
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33497
Trong Thế chiến II ném bom đã trở thành một tính năng quân sự lớn, và một số phương thức giao hàng mới được giới thiệu. Chúng bao gồm bom nảy của Barnes Wallis, được thiết kế để dội lên mặt nước, tránh lưới ngư lôi và các hệ thống phòng thủ dưới nước khác, cho đến khi nó tới một con đập, tàu hoặc điểm đến khác, nơi nó ...
Bom
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33497
Lựu đạn cũng có thể được phóng bằng các phương tiện khác, chẳng hạn như được phóng từ mõm súng trường (như trong lựu đạn súng trường), sử dụng súng phóng lựu (như M203), hoặc gắn tên lửa vào lựu đạn nổ (như trong một quả lựu đạn phóng tên lửa (RPG)). Một quả bom cũng có thể được định vị trước và che giấu. Một quả bom p...
Bom
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33497
Nếu các loại bom thông thường dựa vào phản ứng cháy nổ của các chất hóa học để gây ra một bán kính sát thương nhất định thì vũ khí hạt nhân dựa vào các phản ứng dây chuyền để gấy ra một luồng năng lượng cực lớn. Phổ biến. Những quả bom thả xuống hàng không đầu tiên đã được người Áo sử dụng trong cuộc bao vây Venice năm...
Bom
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33497
Một số quả bom được trang bị một chiếc dù,chẳng hạn như "parafrag" trong Thế chiến II (một quả bom phân mảnh 11 kg (24 lb), máy cắt hoa cúcthời chiến tranh Việt Namvà bom của một số bom chùmhiện đại. Dù làm chậm quá trình hạ cánh của quả bom, cho máy bay rơi thời gian để đến một khoảng cách an toàn từ vụ nổ. Điều này đ...
Bom
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33497
Kíp nổ được kích hoạt bởi đồng hồ, điều khiển từ xa như điện thoại di động hoặc một số loại cảm biến, chẳng hạn như áp suất (độ cao), radar,rung động hoặc tiếp xúc. Kíp nổ khác nhau về cách chúng hoạt động, chúng có thể là ngòi nổ điện, lửa hoặc nổ và những người khác,
Mìn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33498
Mìn, gọi đầy đủ là mìn quân dụng (military mine) là một dụng cụ nổ, được bố trí tại những vị trí cố định, thường được kích hoạt nhờ tác động, trực tiếp cũng như gián tiếp của chính "nạn nhân" mục tiêu. Tên gọi. Trước, đây, tiếng Việt dùng lôi (雷) để chỉ các khối bộc phá (爆破) nói chung, như địa lôi (地雷), thủy lôi (水雷), ...
Mìn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33498
Hậu quả của mìn. Mìn tuy lợi thế về quân sự, nhưng rất khó thu hồi. Sau chiến tranh, đất đai bị xáo trộn, bản vẽ những bãi mìn thất lạc hoặc chưa bao giờ có. Việc gỡ mìn rất tốn thời gian và nhân mạng, tiền của. Mìn còn lại sau chiến tranh gây những thảm họa lớn và lâu dài. Ở Việt Nam, Campuchia và nhiều nước khác, mìn...
Mìn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33498
Những đầu đạn nổ khó nhận biết hoặc những loại mìn nhỏ là một mối nguy hiểm rất lớn đối với trẻ em. Hàng năm có khoảng chục nghìn người bị thương hoặc bị giết chết do mìn. Theo Biên bản về mìn trên đất của Liên Hợp Quốc thì vị trí, khu vực bị cài mìn cần được ghi lại. Hệ thống tự vô hiệu hóa sau một thời gian cần đi kè...
Mìn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33498
Trong thời bình, có nhiều phương pháp phát hiện và tháo gỡ, nhưng chậm và mức độ nguy hiểm lớn. Người ta dùng các máy dò điện từ để phát hiện vỏ kim loại của mìn. Các radar sâu để phát hiện các điểm đặc biệt trong đất, các máy siêu âm nhận ra vật cứng trong đất. Phương pháp tiên tiến là dùng X-quang nhận ra khối thuốc ...
Mìn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33498
Thủy lôi hay mìn nước (sea mine). Loại mìn này bố trí dưới nước, trong tiếng Việt gọi là thủy lôi, loại mìn này có kích thước rất lớn để tiêu diệt các mục tiêu dưới nước như tàu, thuyền... Địa lôi hay mìn mặt đất (land mine). Mìn mặt đất phổ biến trong Thế chiến 1. Mìn mặt đất được chia thành hai loại chủ yếu: Mìn chốn...
Mìn
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33498
Loại mìn này được Liên Xô phát triển mạnh. Ngòi của loại mìn này phần lớn là cảm ứng từ trường, điện trường và âm thanh. Thủy lôi. Thủy lôi là mìn dùng để chống thuyền và tàu ngầm. Mìn được đặt ở ngoài khơi.
Công sự
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33499
Công sự là công nghệ xây dựng pháo đài dùng để bảo đảm an toàn cho người và phương tiện vật chất, kho tàng, bảo đảm chỉ huy ổn định, nâng cao hiệu quả sử dụng vũ khí và phương tiện kỹ thuật quân sự, chống các phương tiện sát thương của địch. Tác dụng. 1. Bảo đảm an toàn cho người và vũ khí trang bị. 2. Phát huy hỏa lực...
Bari
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33500
Bari là một nguyên tố hoá học có ký hiệu là Ba và số hiệu nguyên tử là 56. Nó là nguyên tố thứ năm trong nhóm 2 của bảng tuần hoàn và là một kim loại kiềm thổ màu trắng bạc. Do có khả năng phản ứng hóa học rất cao nên bari không thể được tìm thấy trong tự nhiên dưới dạng nguyên tố tự do. Các khoáng vật phổ biến nhất củ...
Bari
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33500
Điểm nóng chảy của nó ở mức 1.000K (727 °C; 1.341 °F) nằm giữa nguyên tố nhẹ hơn, stronti (1.050K hay 777 °C; 1.431 °F) và nguyên tố nặng hơn, radi (969K hay 696 °C; 1.285 °F); tuy nhiên, điểm sôi của nó tại 2.118K (1.845 °C; 3.353 °F) cao hơn nhiều so với stronti (1.650K hay 1.377 °C; 2.511 °F). Khối lượng riêng của b...
Bari
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33500
Các hợp chất bari bay hơi cháy với ngọn lửa màu lục hoặc lục nhạt, và đó cũng là một cách hiệu quả để nhận biết một hợp chất của bari. Màu của ngọn lửa bắt nguồn từ các vạch quang phổ tại 455,4, 493,4, 553,6 và 611,1 nm. Nhóm hợp chất hữu cơ của bari là một nhóm hợp chất đang tiếp tục được nghiên cứu: ví dụ, đã có một ...
Bari
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33500
Cũng trong thế kỷ 18, nhà khoáng vật học người Anh William Withering quan sát được một khoáng vật nặng trong các mỏ chì ở Cumberland, mà hiện nay được đặt tên là witherit. Bari được Sir Humphry Davy phân lập thành công tại Anh vào năm 1808 qua điện phân muối bari nóng chảy. Dựa trên tính chất hóa học tương đồng với cal...
Bari
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33500
Quặng sau khi khai thác sẽ được làm sạch, nghiền vỡ, phân loại và tách ra khỏi thạch anh. Nếu thạch anh lọt vào quá sâu bên trong quặng, kỹ thuật tuyển nổi sẽ được áp dụng. Sản phẩm thu được là barit tinh khiết 98% (theo khối lượng); độ tinh khiết phải không dưới 95%, với một lượng nhỏ sắt và silic dioxide. Sau đó, car...
Bari
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33500
Ứng dụng này hiện đang dần biến mất với sự ra đời của các loại tivi màn hình LCD và màn hình plasma không có ống chân không. Một số ứng dụng ít phổ biến khác của nguyên tố bari bao gồm làm chất phụ gia cho hợp kim nhôm–silic để tinh chỉnh cấu trúc của chúng, cùng với: Bari sulfat và barit. Bari sulfat (khoáng vật barit...
Bari
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33500
Tuy nhiên, bụi chứa hợp chất bari không tan có thể tích tụ trong phổi, dẫn đến một căn bệnh lành tính có tên gọi là bệnh bụi bari (baritosis). Khác với các chất độc hòa tan khác, bari sulfat không tan là chất không gây độc và không được xếp trong danh mục hàng hóa nguy hiểm. Để tránh xảy ra phản ứng hóa học mạnh, kim l...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Nam Bắc triều (, 420-589) là một giai đoạn trong lịch sử Trung Quốc, bắt đầu từ năm 420 khi Lưu Dụ soán Đông Tấn mà lập nên Lưu Tống, kéo dài đến năm 589 khi Tùy diệt Trần. Về trình tự, thời kỳ Nam Bắc triều nối tiếp thời kỳ Đông Tấn-Ngũ Hồ thập lục quốc, sau đó là triều Tùy. Do hai thế lực bắc-nam đối lập trong một th...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Sau khi Bắc Ngụy phân liệt thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, không lâu sau lại phân liệt, bị Bắc Tề và Bắc Chu thay thế. Bắc Tề chủ yếu do tập đoàn Lục trấn hợp thành, sơ kỳ quân lực cường thịnh. Bắc Chu có ít quân Tiên Ti hơn Bắc Tề, địa vị chính trị không được như Nam triều Trần. Cuối cùng, tập đoàn Quan-Lũng do Vũ Văn Th...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Thế tộc nắm giữ một lượng lớn y phụ nhân không cần phải nộp thuế, những người này tiến hành sản xuất và tác chiến cho thế tộc, do đó ảnh hưởng đế số thuế thu được của triều đình. Tuy hoàng đế Nam triều vẫn cần đến sự ủng hộ của thế tộc chủ lưu, song cũng trợ giúp cho hàn môn để cân bằng thế lực chính trị, vào thời Lươn...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Năm 440, sau khi Bắc Ngụy thống nhất phương bắc, cùng với Lưu Tống hình thành thế đối lập Nam-Bắc. Tống Vũ Đế xuất thân từ quân đội, là người cương nghị kiệm phác, sau khi xưng đế vẫn nỗ lực thực hiện tiết kiệm, tạm thời cục thế chính trị rất tốt. Tuy nhiên, ông không xem trọng giáo dục hoàng thất, tin tưởng giao phó c...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Năm 453, Lưu Tống Văn Đế bị Thái tử Thiệu sát hại, tam tử Lưu Tuấn thừa cơ suất quân đoạt vị, tức Hiếu Vũ Đế. Hiếu Vũ Đế là người hoang dâm tàn bạo, gian dâm với cháu gái, khiến phát sinh hai lần chiến sự trong nội bộ tông thất, cuối cùng còn đồ sát tại thành Quảng Lăng. Đương thời, nhân dân lưu truyền câu nói: "Kiến K...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Tiêu Loan có ý soán vị, sau khi sát hại Tiêu Chiêu Nghiệp thì cải lập Tiêu Chiêu Văn, không lâu sau lại phế Tiêu Chiêu Văn, tự lập làm hoàng đế, tức Minh Đế. Sau khi kế vị, Minh Đế lợi dụng "quan điểm thiên" mà đại sát chư vương tông thất, tử tôn của Cao Đế và Vũ Đế đầu bị tận sát. Những năm cuối đời, Minh Đế bệnh trọn...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Sơ kỳ Lương Vũ Đế, Bắc Ngụy sau vận động Hán hóa thì phát sinh mâu thuẫn, quốc lực dần thua kém so với Lương. Từ năm 503 trở đi, Bắc Ngụy và Lương hội chiến ở khu vực Hoài Nam, cuối cùng Cương Nghĩa Chi, Tào Cảnh Tông, Vi Duệ đại thắng quân Bắc Ngụy trong trận Chung Li. Lương Vũ Đế đến lúc này tích cực Bắc phạt, song p...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Tuy nhiên, thế lực của Hầu Cảnh chỉ giới hạn trong phạm vi Giang Đông và bình nguyên Giang Hán, khu vực Lương châu và Ích châu vẫn do Lương thất khống chế, song các đội quân này lo kiềm chế lẫn nhau, không chịu hợp tác với nhau. Cuối cùng, liên quân của Phiên Ngung quận thái thú Trần Bá Tiên cùng với Vương Tăng Biện đư...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Trần Văn Đế trước tiên đánh tan liên quân Vương Lâm-Bắc Tề, kế tiếp phong tỏa Ba Khâu để cản trở Bắc Chu xuôi theo Trường Giang đông tiến. Trong thời gian Trần Văn Đế tại vị, chính trị tốt đẹp, phục hồi kinh tế Giang Nam, khiến quốc thế Nam triều khôi phục. Năm 566, sau khi Trần Văn Đế qua đời, Thái tử Bá Tông kế vị, t...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Sau khi Tiền Tần sụp đổ, cháu của Đại vương Thác Bạt Thập Dực Kiền là Thác Bạt Khuê khởi binh phục quốc, định đô ở Thịnh Lạc năm 386, cải quốc hiệu thành "Ngụy", sử gọi là Bắc Ngụy. Trong thời gian trị vì của Đạo Vũ Đế Thác Bạt Khuê, Minh Nguyên Đế Thác Bạt Tự, Thái Vũ Đế Thác Bạt Đảo, Bắc Ngụy từng bước hùng mạnh. Thá...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Sau đó, Bắc Ngụy bắt 5 vạn hộ rồi đem theo về bắc, đến lúc này quân lực Bắc triều áp đảo Nam triều, song quân lực cũng chịu tổn thất lớn. Năm 445, Cái Ngô cùng bách tính các tộc khởi sự chống lại triều đình Bắc Ngụy, Sau khi Thái Vũ Đế bình định được cuộc nổi dậy này, ông tiến hành đả kích Phật giáo, sự kiện này trở th...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Những quý tộc Tiên Ti còn lưu lại vùng biên thùy phương bắc-Lục trấn- không muốn dời về phía nam, dần dần không còn được triều đình Lạc Dương xem trọng và thất thế, nội bộ Bắc Ngụy do vậy phân liệt thành hai đại tập đoàn Hán hóa và Tiên Ti hóa, là một trong những nguyên nhân gây nên khởi nghĩa Lục trấn sau này. Năm 494...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Họ được xem là "quốc chi phế phủ", có thể tùy thời mà trở về kinh thành nhậm chức. Tuy nhiên, sau khi triều đình thiên đô đến Lạc Dương, địa vị của Lục trấn giảm xuống. Họ vẫn bảo tồn tập tính Tiên Ti nguyên thủy, bị quý tộc Tiên Ti đã Hán hóa kỳ thị là "Đại Bắc hàn nhân", tướng lĩnh Lục trấn khi được thăng quan lên tr...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Cao Hoan biết trước về sự việc, đến năm 534 thì giết Hạ Bạt Nhạc. Hiếu Vũ Đế lại liên hiệp với Vũ Văn Thái, đoạn tuyệt với Cao Hoan, chạy đến chỗ Vũ Văn Thái. Cao Hoan truy đuổi nhưng không kịp, bèn cải lập Thanh Hà vương thế tử Nguyên Thiện Kiến, tức Đông Ngụy Hiếu Tĩnh Đế, thiên đô tới Nghiệp Thành. Năm 535, Hiếu Vũ ...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Đến lúc này, cục thế phân liệt được định, chiến trường chuyển hướng sang khu vực Hà Đông. Năm 546, Cao Hoan lại suất 10 vạn đại quân tây chinh, giao chiến với thủ tướng Vi Hiếu Khoan của Tây Ngụy trong trận Ngọc Bích. Cuối cùng, Cao Hoan chiến bại, hơn 7 vạn lính tử thương, năm sau thì bệnh mất ở Tấn Dương. Sau khi Cao...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Văn Tuyên Đế trước sau đánh bại các tộc Khố Mặc Hề, Khiết Đan, Nhu Nhiên, Sơn Hồ (thuộc Hung Nô), đồng thời đánh hạ khu vực Hoài Nam của Lương. Trên phương diện kinh tế, nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp đều tương đối phát đạt. Bắc Tề gần như tương đồng với Bắc Ngụy, tiếp tục thi hành quân điền chế. Vào sơ kỳ...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Vũ Đế chọn kế sách ẩn thân, 12 năm sau thì sát hại Vũ Văn Hộ và tự mình nắm quyền cai quản. Vũ Đế là người anh minh oai nghiêm, tiến hành nhiều cải cách trong thời gian nắm quyền, khiến cho quốc lực Bắc Chu cường thịnh. Năm 577, Vũ Đế đông chinh Bắc Tề, năm sau thì tiến vào kinh đô Nghiệp của Bắc Tề. Chu Vũ Đế sau khi ...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Cương vực và phân chia hành chính. Về mặt hành chính, Nam triều kế thừa Đông Tấn, thi hành chế độ 3 cấp: châu, quận, huyện. Tuy nhiên, "kiều châu quận huyện" và "song đầu quận huyện" do tiến hành "thổ đoạn" nên biến thành châu quận thông thường. Từ năm Trung Bình thứ 5 (188) thời Hán Linh Đế trở đi Trung Quốc bắt đầu t...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Trong và sau loạn Hầu Cảnh, Bắc Tề thừa cơ chiếm lĩnh đất Hoài Nam-Giang Bắc, Tây Ngụy thừa cơ chiếm đất Hán Trung-Ba Thục. Tây Ngụy suất quân đoạt lấy vùng đất ở phía bắc Giang Lăng của Lương, giao cho Tiêu Sát kiến lập Tây Lương để làm nước phụ dung. Sau khi Trần thành lập, cương vực không rộng, từ năm 569 thì bắt đầ...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Bắc Ngụy đối với bản tộc Tiên Ti hoặc các tộc khác (ngoài tộc Hán) đặt chức "lĩnh dân tù trưởng" để quản lý tộc đó, địa vị chỉ đứng sau thứ sử các châu. Đồng thời, Bắc Ngụy cũng kế tục Thập Lục Quốc, đặt thêm "hộ quân" để quản lý các dân tộc khác trong địa phận châu, địa vị tương đồng với quận thủ, đến năm 457 thì phế ...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Bắc Chu Vũ Đế diệt Bắc Tề, lấy đất Giang Hoài của Trần, khuếch trương đáng kể về mặt lãnh thổ. Thể chế chính trị. Mặc dù vào thời Nam bắc triều, quyền lực của thế tộc cực thịnh, song thế tộc Nam triều theo thời gian có xu thế trở nên cứng nhắc, hàn môn bắt đầu nổi lên; thế tộc Bắc triều chịu ảnh hưởng rất lớn của Hoàng...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Do quân chủ Hồ tộc của Bắc triều cần có nhân tài quen thuộc với chế độ hay quy chế của Trung Nguyên, cũng nhằm lung lạc một số thế lực thế tộc phương bắc, quân chủ Hồ tộc hợp tác với thế tộc Hán tộc để trị lý quốc gia. Mặc dù thế tộc phương bắc tiếp tục có ý nguyện phối hợp, song giữa hai bên vẫn có bất đồng về phong t...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Môn hạ tỉnh phụ trách hiến kế sách và khuyến gián hoàng đế, tham dự vào việc cơ mật, trở thành cơ cấu nắm giữ đại quyền. Để tránh bị thế tộc khống chế, hoàng đế Nam triều để cho người xuất thân từ hàn môn đảm nhiệm các chức vụ cơ yếu bên cạnh mình, như "thông sự xá nhân" không những thay Hoàng đế khởi thảo chiếu lệnh, ...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
phân bố ở khu vực nay là Hồ Nam và Giang Tây. Lý tộc có phạm vi cư trú tại Nam Lĩnh, nay là khu vực nam bộ Quý Châu đến đảo Hải Nam, bắc bộ Việt Nam. Người dân Lý tộc nổi danh có Trân Pha, bà an định đất Giao-Quảng trong loạn Hầu Cảnh và loạn Âu Dương Hột, bảo hộ cho nhân dân Lý-Hán địa phương, được tôn là "Thánh Mẫu"....
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Vào thời Lưu Tống, Tề, Lương, tuy Nam Trung vẫn còn là thuộc địa, triều đình đặt chức Ninh châu thứ sử, song đại đa số đều "diêu lĩnh", không thể đến nhậm chức, thành viên Thoán thị trở thành những người khống chế khu vực này trên thực tế. Ninh châu thứ sử Từ Văn Thịnh của triều Lương từng có hoạt động tại nơi này, son...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Trong xã hội thịnh hành vu thuật, trong thời chiến tranh thường tiến hành tế thiên xem bói để biết trước cát hung. Người Vật Cát thì "hai người cày cùng nhau, đất trồng nhiều dẻ, mạch, tế, rau, lại có cả quỳ", có cả nghề săn bắn. Sơ kỳ Đông Hán, Phù Dư Quốc cường thịnh, thần phục được các nước Vật Cát, người Phù Dư Quố...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Nam triều cũng dần gia tăng sách phong với Oa vương, thừa nhận Oa Quốc thống trị một bộ phận nam bộ bán đảo Triều Tiên. Sau khi Cừu Trì Quốc mất vào tay Bắc Ngụy, phân biệt kiến lập Vũ Hưng Quốc và Âm Bình Quốc. Năm 472, Dương Văn Độ kiến quốc Vũ Hưng, chu toàn và giao chiến với hai triều Nam Bắc. Năm 505, Dương Thiệu ...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Ngoài ra, Quy Từ còn có các sản phẩm đồng, chì, ngựa tốt, hồ phấn, An Tức hương, là trung tâm kinh tế của Tây Vực. Vu Điền quốc vương và bách tính đều tôn kính Phật pháp, trong nước có rất nhiều tăng lữ và tu viện. Rất nhiều danh tăng Trung Nguyên đến Vu Điền để lấy kinh thư, bách tính đều sẵn lòng dâng tăng phòng cho ...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Ngoại quân quy thuộc quyền quản chế của đô đốc các địa phương, đô đốc phần nhiều kiêm nhiệm thứ sử, thường kháng lại triều đình trung ương. Vào sơ kỳ, quân đội Bắc Ngụy lấy kị binh Tiên Ti là chính, các bộ tự đoạt lấy sản vật để tiếp tế cho quân đội. Trong quá trình thống nhất Hoa Bắc, người Hán dần gia nhập vào quân đ...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Tuy nhiên, "phủ binh chế" vào thời kỳ này không giống với "phủ binh chế" thời Tùy-Đường, họ vẫn là những binh sĩ chuyên nghiệp, Vũ Văn Thái đem tướng lĩnh phủ binh (cùng sĩ tốt của họ) cải sang họ Tiên Ti, kết hợp với việc cấp cho đất đai. hợp thành một nhóm người ở Quan Trung có nghề nghiệp là quân nhân, dân tộc là ng...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Để ngăn chặn nô lệ chạy trốn, các nô lệ đều bị "kình diện" (Thích chữ bôi mực vào mặt). Nhờ các phương thức như "mi nam vi khách" hay " phát nô vi binh" mà nô lệ có thể chuyển thành điền khách của địa chủ hoặc binh sĩ của quốc gia. Những người tự cày cấy trồng trọt là lực lượng trọng yếu trong hoạt động sản xuất nông n...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Do người Hán có cơ hội được tham gia chính quyền của người Hồ, truyền thống văn hóa và thể chế của Trung Quốc dần dần tiếp nhận các yếu tố ngoại tộc, song vẫn còn thịnh hành các phong tục như "tài hôn". Thời Nam-Bắc triều, các dân tộc du mục và dân tộc nông nghiệp diễn ra Hồ-Hán dung hợp văn hóa, các dân tộc du mục trê...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
; Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế thúc đẩy phong trào Hán hóa, dung hợp hoàng tộc Tiên Ti với thế tộc người Hán, đổi họ của hoàng tộc từ "Thác Bạt" sang "Nguyên", cấm dùng tiếng Tiên Ti; Thượng trụ Tây Ngụy là Vũ Văn Thái nghe theo kiến nghị của Tô Xước mà lập chính sách Quan Trung bản vị. Tuy nhiên, quá trình dung hợp không thể ...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Cùng với đó là việc chiến tranh diễn ra thường xuyên, khiến cho lực lượng lao động tráng kiện của xã hội bị tổn thất rất lớn, khiến cho quốc gia cùng địa chủ và tự viện tranh đoạt với nhau về thổ địa và lực lượng lao động, bùng phát xung đột đổ máu, như "Bắc Ngụy Thái Vũ Đế diệt Phật" hay "Bắc Chu Vũ Đế diệt Phật". Cuố...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Các triều đại Nam triều cho xây dựng sửa chữa không ít các công trình thủy lợi, như các triều Tống, Tề, Lương cho sửa chữa Thược Bi ở Thọ Dương (nay là phía nam Thọ huyện, An Huy). Nam Tề tại Tề quận (trị sở nay là Lâm Truy, Sơn Đông) cho khai khẩn 200 khoảnh ruộng hoang, dùng nước của Thẩm Hồ để tưới ruộng. Tiền kỳ củ...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Do thế tộc Bắc Chu có lực lượng không lớn, lại thêm việc cai trị trong sạch hơn, nên tương đối dễ thi hành "quân điền chế". Do Tiên Ti là một dân tộc du mục, nghề chăn nuôi gia súc của họ vốn phát triển rất tốt, khu vực sản xuất chủ yếu tại vùng Mạc Nam (nay là Hà Sáo). Thời Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế, lại thiết lập bãi chăn...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Nghề xe sợi và dệt ở Bắc triều chủ yếu là dệt tơ và xe sợi đan len, là một trong những nghề thủ công phát đạt nhất, với các trung tâm dệt tơ như Kính châu (nay là Kính Xuyên, Thiểm Tây), Ung châu (nay là Tây An, Thiểm Tây), Định châu (nay là Định Châu, Hà Bắc). Sản lượng lụa vải gia tăng khiến giá lụa hạ xuống, vào sơ ...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Các trọng trấn thương nghiệp có Kiến Khang, Giang Lăng, Thành Đô, Quảng Châu, Quảng Lăng; trong đó Kiến Khang là trung tâm kinh tế của Tam Ngô. Thời Lương Vũ Đế, trong thành Kiến Khang có 28 vạn cư dân, cộng thêm một vạn cống sứ, thương nhân lữ khách, dân đi thuyền. Cối Kê, Ngô quận, Dư Hàng đứng ở vị trí tiếp theo. Qu...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Văn hóa. Tư tưởng học thuật. Sau khi địa vị độc tôn của Nho học bị phá vỡ dưới thời Tấn, đến thời nam Bắc triều đã hình thành đa nguyên hóa tư tưởng. Trong nhiều lưu phái tư tưởng, xuất hiện các quan điểm có giá trị như việc dùng pháp trị quốc, chủ trương vụ thực cầu trị (theo Tào Tháo và Gia Cát Lượng thời Tam Quốc, V...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Tác phẩm nổi tiếng của Phạm Chẩn có "Thần diệt luận", hay "Đáp tào xá nhân" để trả lời phái phản đối Tào Tư Văn. Luận điểm của ông rút ra từ triều dã, Tào Tư Văn sáng tác "Nan thần diệt luận", Tiêu Sâm dẫn cố sự "Đỗ bá quan cung" và "Bá hữu bị giới" để bác lại. Lương Vũ Đế là người tin theo Phật giáo, ông triển khai lu...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Ông soạn "Nhan thị gia huấn", có ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội Trung Quốc vào sau này, hậu thế xem đây là tác phẩm khuôn mẫu đối với gia huấn, được học giả Nho gia và môn đệ Phật giáo xem trọng. Văn học. Văn học thời kỳ Nam Bắc triều phát triển nhanh chóng, trong đó phong cách Nam triều mang thiên hướng hoa lệ tinh tế,...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Thi nhân Vĩnh Minh trong thơ cố gắng đạt đến "nhất giản chi nội, âm vận tận thù; lưỡng câu chi trung, khinh trọng tất dị", tránh những điều gọi là bát bệnh (bình đầu, thượng vĩ, phong yêu, hạc tất, đại vận, tiểu vận, bàng nữu, chính nữu), do vậy sản sinh ra Vĩnh Minh thể, là nguồn gốc của cách luật thi thời Đường. "Từ-...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Về mặt nghiên cứu văn học, "Văn tâm điêu long" của Lưu Hiệp trở thành kiệt tác lý luận văn nghệ có hệ thống đầu tiên của Trung Quốc, chủ trương văn phong thực dụng, phản đối văn phong hoa mỹ không thực dụng. Trưởng tử Tiêu Thống của Lương Vũ Đế tổ chức văn nhân biên tuyển "Chiêu Minh văn tuyển", là một bộ thơ văn tổng ...
Nam–Bắc triều (Trung Quốc)
https://vi.wikipedia.org/wiki?curid=33502
Tác phẩm do quan lại biên soạn có "Tống thư" của Thẩm Ước, "Nam Tề thư" của Tiêu Tử Hiển, "Ngụy thư" của Ngụy Thâu. do cá nhân biên soạn có "Hậu Hán thư của Phạm Diệp. Sách sử phán ánh các loại tình cảnh trong xã hội cũng thịnh hành vào thời Nam Bắc triều, như trong "Hậu Hán thư" của Phạm Diệp, "Tống thư" của Thẩm Ước ...