text
stringlengths
0
6.73k
Tính đến tháng 11 năm 2017 , trường có 315 giảng viên. Trong đó có 7 phó giáo sư , 48 tiến sĩ , 208 thạc sĩ và 52 giảng viên có trình độ đại học . [ 1 ]
Chất lượng đầu ra thực tế
* Tỉ lệ sinh viên có việc làm trong vòng một năm sau khi ra trường đã bao gồm số lượng người ra trường có khởi nghiệp thành lập doanh nghiệp, không bao gồm ngộ nhận khởi nghiệp như đa cấp. [ 2 ]
* Thống kê không dành cho bậc đào tạo thấp như cao đẳng với trung cấp, nên không thể dùng để nội suy chất lượng đào tạo ở hai hệ đào tạo này.
Cơ sở
Trường gồm hai khuôn viên:
Lịch sử
Trường Đại học Hùng Vương được thành lập vào ngày 29 tháng 04 năm 2003 theo Quyết định số 81/2003/QĐ-TTg [ 3 ] của Thủ tướng Chính phủ , trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm Phú Thọ và có bề dày truyền thống hơn 46 năm. [ 4 ]
Cơ cấu tổ chức [ 4 ]
Khoa và bộ môn trực thuộc
Phòng ban chức năng
Các trung tâm và đơn vị phục vụ đào tạo
Hiệu trưởng
Chú thích
------------------------------------------------------------
=== SCHOOL_WIKI ===
ID: cc3fc1b78f31
TITLE: Trường Đại học Phú Yên
SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Ph%C3%BA_Y%C3%AAn
[CONTENT]
Trường Đại học Phú Yên ( tiếng Anh : Phu Yen University ) là một trường đại học địa phương , đào tạo đa ngành của tỉnh Đắk Lắk . [ 1 ] Trường Đại học Phú Yên trực thuộc UBND tỉnh Đắk Lắk và chịu sự quản lý nhà nước về đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo . [ 2 ] Trường có địa chỉ tại: số 01 Nguyễn Văn Huyên, phường Tuy Hòa , tỉnh Đắk Lắk.
Lịch sử hình thành
Được thành lập theo Quyết định số 112/QĐ-TTg ngày 24/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sáp nhập và nâng cấp Trường CĐSP Phú Yên và Trường Trung học Kinh tế - Kỹ thuật Phú Yên.
Cơ cấu tổ chức và đội ngũ
Cơ cấu tổ chức của trường gồm 13 đơn vị thuộc và trực thuộc Trường đó là:
Tổng số cán bộ giảng viên toàn trường (2025) là 172 người (giảng viên 118; nhân viên 54). Trường Đại học Phú Yên đang triển khai chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên và định hướng đến năm 2025 có 60% thạc sĩ, 35% tiến sĩ trong tổng số giảng viên tương ứng với quy mô đào tạo khoảng 5.000 sinh viên.
Cơ sở vật chất
Trường Đại học Phú Yên có tổng diện tích 15 ha; đáp ứng quy mô đào tạo khoảng 5.000-10.000 sinh viên. Tổng diện tích sàn 11.250 m 2 ; trong đó, nhà học: 2.417 m 2 , thư viện: 1.236 m 2 , giảng đường (200 chỗ): 298 m 2 , nhà học đặc thù: 981 m 2 , nhà tập đa chức năng: 940 m 2 , ký túc xá (800 chỗ): 2.668 m 2 , nhà ăn: 1.038 m 2 , 2 phòng thí nghiệm vật lý: 145 m 2 , 2 phòng thí nghiệm hoá: 145 m 2 , 2 phòng thí nghiệm sinh học: 145 m 2 , 3 phòng thực hành nhạc: 184 m 2 , 4 phòng thực hành vi tính: 245 m 2 , 1 phòng LAB: 49 m 2 . [ 2 ]
Chú thích
Tham khảo
Bài viết chủ đề giáo dục này vẫn còn sơ khai . Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn.
------------------------------------------------------------
=== SCHOOL_WIKI ===
ID: 88cbd77f3e36
TITLE: Trường Đại học Quảng Bình
SOURCE_URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_Qu%E1%BA%A3ng_B%C3%ACnh
[CONTENT]
Trường Đại học Quảng Bình ra đời ngày 24/10/2006 theo quyết định số 237/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình, mà tiền thân là Trường Trung cấp Sư phạm Quảng Bình được thành lập vào năm 1959. Trải qua hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, Trường đã có nhiều cống hiến cho tỉnh Quảng Trị và đất nước, đã đào tạo hơn 5 vạn cán bộ, giáo viên, cử nhân, kỹ sư, cung cấp nguồn nhân lực quan trọng cho các tỉnh Hà Tĩnh , Quảng Trị ,
Lịch sử
Trường Đại học Quảng Bình được thành trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình mà tiền thân là Trường Trung cấp Sư phạm Quảng Bình được thành lập từ năm 1959. Đây là trường đại học duy nhất của tỉnh Quảng Bình , đào tạo đa ngành, đa cấp, đa lĩnh vực. Với hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, Trường Đại học Quảng Bình đã trải qua 7 giai đoạn: [ 1 ]
Giai đoạn từ 1959 đến 1965
Ngày 22/7/1959, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên ký Nghị định số 379/NĐ thành lập một số trường sư phạm, trong đó có trường Trung cấp Sư phạm Quảng Bình. Trường có nhiệm vụ đào tạo giáo viên cấp 2 về khoa học tự nhiên và xã hội phục vụ các tỉnh Hà Tĩnh , Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh . Cơ sở đầu tiên của Trường đóng tại Tam Tòa ( Đồng Hới ). Ngày 27/10/1959, tại thị xã Đồng Hới , Trường đã tổ chức Lễ khai giảng khóa học đầu tiên.
Giai đoạn từ 1965 đến 1975
Do điều kiện chiến tranh, từ 1965 đến 1975, Trường đã phải 8 lần chuyển địa điểm, qua nhiều nơi, từ miền núi xuống đồng bằng, đủ các địa bàn Đông, Tây, Nam, Bắc của Quảng Bình .
Với nhiều thành tích đạt được trong 10 năm chiến tranh gian khổ, Trường Trung cấp Sư phạm Quảng Bình là một trong 9 trường sư phạm trên toàn miền Bắc được công nhận là trường tiên tiến xuất sắc của ngành giáo dục; được Nhà nước tặng Huân chương chiến công hạng III, huân chương kháng chiến hạng III; được Bộ Giáo dục và UBND tỉnh Quảng Bình tặng cờ thi đua và nhiều bằng khen, giấy khen. Năm 1970, tỉnh Quảng Bình quyết định nhập 4 trường: Trường Sư phạm Trung Cấp, Trường Sư phạm Sơ Cấp, Trường Sư phạm Mẫu giáo, Trường Sư phạm Bồi dưỡng thành Trường Sư phạm Quảng Bình. Cuối năm học 1973-1974, Trường Sư phạm Quảng Bình lại tách làm 3 trường: Trường Sư phạm Cấp 1; Trường Sư phạm 10+3 và Trường Sư phạm Mẫu giáo.
Giai đoạn từ 1975 đến 1979
Năm 1976, ba tỉnh Quảng Bình , Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế sáp nhập thành tỉnh Bình Trị Thiên , Trường Sư phạm 10+3 Quảng Bình có thêm nhiệm vụ đào tạo giáo viên tăng cường cho vùng mới giải phóng ở Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế . Thời kỳ này Trường chuyển về phía Tây Cộn, trên một khu đất rộng rãi với cơ sở vật chất để lại của một số cơ quan cấp tỉnh đã chuyển vào Huế . Từ 1976 đến 1979, Trường đã đào tạo được 2.479 giáo viên cấp 2 hệ 10+3, chi viện cho vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, kịp thời đáp ứng nhu cầu giáo dục của cả tỉnh. Cũng thời gian này, Trường đã quan tâm chuẩn hóa đội ngũ, động viên một số giáo viên đi học sau đại học khóa đầu tiên tại Hà Nội. Sau gần 20 năm xây dựng và phát triển, ngày 21/8/1978, Chính phủ quyết định nâng cấp Trường Sư phạm 10+3 Quảng Bình thành Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình. Đây là thành quả của sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của thầy và trò, là mốc quan trọng trong lịch sử của trường. Ngày 20/3/1979, Trường vinh dự được Chủ tịch nước quyết định tặng thưởng Huân chương Lao động hạng 3.
Giai đoạn từ 1979 đến 1989
Năm 1979, để thuận tiện cho công tác quản lý, Tỉnh ủy, UBND Tỉnh Bình Trị Thiên quyết định nhập Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình vừa được nâng cấp ở Quảng Bình với Trường Cao đẳng Sư phạm Huế thành Trường Cao đẳng Sư phạm Bình Trị Thiên, cơ sở chính tại thành phố Huế , cơ sở 2 tại Cộn ( Đồng Hới , Quảng Bình ). Nhiệm vụ của cơ sở 2 chủ yếu là giải quyết các công việc còn tồn đọng ở thời điểm giao thời. Có 2156 giáo viên cấp 2 (hệ cao đẳng và 1 khóa hệ 10+3), 1070 giáo viên bồi dưỡng theo hình thức chuyên tu, tại chức tốt nghiệp tại cơ sở Cộn thời kỳ này. Kết thúc năm học 1982-1983, cơ sở 2 ngưng hoạt động để chuyển cán bộ giảng viên và một phần cơ sở vật chất vào thành phố Huế .
Giai đoạn từ 1989 đến 1995
Ngày 30/6/1989 Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 5 quyết định tách tỉnh Bình Trị Thiên thành 3 tỉnh như cũ. Sau khi chia tỉnh, Trường Cao đẳng Sư phạm Bình Trị Thiên trở thành Trường Cao đẳng Sư phạm Thừa Thiên – Huế. Để đáp ứng nhu cầu đào tạo phát triển giáo dục, ngày 10/2/1990, UBND tỉnh Quảng Bình đã có Quyết định số 17/QĐ-UB về việc thành lập Trường Trung học Sư phạm Quảng Bình, trực thuộc Sở Giáo dục Quảng Bình . Đến tháng 8/1990, Trường chính thức đi vào hoạt động. Địa điểm của Trường đóng tại Cộn. Những năm đầu, Trường Trung học Sư phạm Quảng Bình chỉ có 2 khoa: Tiểu học, Mầm non và 2 phòng: Giáo vụ, Hành chính. Ngày 16/9/1990, Trường Trung học Sư phạm Quảng Bình khai giảng khóa đầu tiên với 101 giáo sinh, hệ đào tạo giáo viên tiểu học. Ngày 27/9/1991, Trường Trung học Sư phạm Quảng Bình chuyển về địa điểm mới ở phường Bắc Lý , thị xã Đồng Hới , một phần của Trường Đại học Quảng Bình đóng bây giờ. Giai đoạn từ 1991 đến 1994, ngoài đào tạo giáo viên tiểu học trình độ THSP hệ 12+2, để đáp ứng nhu cầu cấp bách của ngành giáo dục, Trường được Sở Giáo dục giao nhiệm vụ đào tạo giáo viên cắm bản cho vùng cao, đối tượng là học sinh tốt nghiệp THCS. Các loại hình đào tạo này rất linh hoạt, từ khóa đào tạo cấp tốc 1 tháng và học rải trong các hè, đến các hệ 12+1+1; 9+1+2.
Giai đoạn từ 1995 đến 2005
Ngày 25/9/1995, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 602/QĐ-TTg về việc nâng cấp các Trường trung học sư phạm của các tỉnh Quảng Bình , Hòa Bình , Phú Yên thành các Trường cao đẳng sư phạm. Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình trực thuộc Sở Giáo dục Quảng Bình , có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng giáo viên phổ thông của tỉnh Quảng Bình đạt trình độ cao đẳng, nghiên cứu khoa học giáo dục phục vụ yêu cầu phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông ở địa phương. Tháng 11 năm 1995, Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình trở thành đơn vị trực thuộc UBND tỉnh Quảng Bình . Ghi nhận quá trình phấn đấu và tôn vinh thành tích của cán bộ, giảng viên và sinh viên của Trường, ngày 17/9/1999, Chủ tịch nước quyết định trao tặng Huân chương Lao động Hạng nhì cho Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình.
Giai đoạn từ 2006 đến nay