text
stringlengths
82
354k
Uracil (u-ra-xin) là một trong bốn loại nucleobase trong RNA, thay vì thymine như trong DNA. Tương tự thymine, uracil có thể tạo thành một cặp base với adenine qua hai liên kết hiđrô, tuy nhiên nó kém thua thymine một nhóm methyl. Uracil, so với thymine, dễ bị thoái hóa hơn thành cytosine. Uracil hiếm khi hiện diện trong DNA, chỉ xuất hiện trong RNA. Uracil có thể bị methyl hoá tạo thành thymine. Sự kết hợp uracil với enzyme uracil-N-glycosilase (Ung) trong phản ứng PCR được dùng như một phương pháp chống tạp nhiễm chéo, quan trọng trong các thử nghiệm lâm sàng.
Miễn dịch học là một chuyên ngành rộng trong y sinh học, nghiên cứu mọi phương diện của hệ miễn dịch của tất cả các sinh vật. Đối tượng nghiên cứu của miễn dịch học bao gồm: hoạt động sinh lý của hệ miễn dịch ở cơ thể khỏe mạnh và cả khi bệnh (các đặc điểm lý, hóa, sinh lý "in vitro", "in situ", và "in vivo" của các thành phần thuộc hệ miễn dịch); các rối loạn của hệ miễn dịch (các bệnh tự miễn, các phản ứng quá mẫn, sự suy giảm miễn dịch); và hiện tượng thải ghép. Miễn dịch học được ứng dụng trong nhiều ngành khoa học khác, bản thân nó cũng phân thành các ngành chuyên sâu hơn. Lịch sử nghiên cứu hệ miễn dịch. Ngay cả trước khi khái niệm miễn dịch được hình thành, nhiều thầy thuốc cổ đại đã miêu tả những cơ quan mà về sau người ta chứng minh được là thuộc hệ miễn dịch. Các cơ quan chính của hệ miễn dịch gồm tuyến ức, lách, tủy xương, các mạch lympho, hạch lympho và các mô lympho thứ cấp (như các hạch amiđan, V.A.) và da. Các cơ quan chính, tuyến ức và lách, đã được nghiên cứu đơn thuần về mặt mô học qua các tử thiết. Ngoài ra, có thể dùng phẫu thuật lấy ra các hạch lymho và một số mô lympho thứ cấp để nghiên cứu khi bệnh nhân còn sống (sinh thiết). Nhiều tế bào thuộc hệ miễn dịch không liên kết với một cơ quan đặc biệt nào, mà chỉ tập trung hoặc lưu chuyển giữa nhiều mô trong khắp cơ thể. Miễn dịch học cổ điển. Miễn dịch học cổ điển có liên hệ chặt chẽ với dịch tễ học và y học. Nó nghiên cứu mối quan hệ giữa các hệ thống của cơ thể, các tác nhân gây bệnh và sự miễn nhiễm. Tài liệu viết cổ nhất có đề cập đến miễn nhiễm được biết đến có liên quan đến trận dịch hạch ở Athena (Hy Lạp) năm 430 TCN. Thucydides ghi nhận rằng những người khỏi bệnh từ những đợt dịch trước có thể chăm sóc người bệnh mà không sợ bị lây bệnh lần thứ hai. Nhiều xã hội cổ cũng biết đến hiện tượng này, nhưng phải đợi đến thế kỷ 19 và 20 khái niệm miễn nhiễm mới được phát triển thành một luận thuyết khoa học. Nghiên cứu các thành phần phân tử và tế bào của hệ miễn dịch, về chức năng và tương tác giữa chúng với nhau, là trọng tâm của miễn dịch học. Hệ miễn dịch được phân thành hệ miễn dịch tự nhiên (không đặc hiệu) và hệ miễn dịch thu được (đặc hiệu), miễn dịch đặc hiệu tiếp tục được phân thành miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào. Đáp ứng dịch thể (kháng thể) là tương tác giữa các kháng thể với các kháng nguyên. Hiểu biết về thuộc tính của hai thực thể sinh học trên là tâm điểm của miễn dịch học. Tuy nhiên, đáp ứng miễn dịch tế bào cũng không kém phần quan trọng, bởi lẽ loại đáp ứng này ngoài chức năng tiêu diệt các tế bào nhiễm bệnh, nó còn có vai trò quyết định trong sự kiểm soát đáp ứng dịch thể. Nói đơn giản, cả hai hệ (dịch thể và tế bào) phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau. Trong thế kỷ 21, chân trời khám phá của miễn dịch học đã được mở rộng với rất nhiều nghiên cứu được tiến hành tại những cơ sở chuyên biệt. Các nghiên cứu này bao gồm chức năng miễn dịch của các tế bào, cơ quan và hệ cơ quan mà bình thường được xem là không thuộc hệ miễn dịch, cũng như nghiên cứu các chức năng của hệ miễn dịch ngoài các khái niệm miễn nhiễm truyền thống. Miễn dịch học lâm sàng. Miễn dịch học lâm sàng nghiên cứu các bệnh hoặc rối loạn của hệ miễn dịch theo góc độ y học. Các bệnh miễn dịch gồm ba nhóm lớn: suy giảm miễn dịch, trong đó một vài bộ phận của hệ miễn dịch không tạo ra được đáp ứng đủ mạnh (thí dụ bệnh bạch cầu hạt mạn tính); các bệnh tự miễn, khi hệ miễn dịch tấn công các kháng nguyên của chính cơ thể mình (lupus ban đỏ hệ thống, viêm đa khớp dạng thấp, bệnh Hashimoto bệnh nhược cơ ); và các phản ứng quá mẫn, trong đó hệ miễn dịch đáp ứng không thích đáng với các với các hợp chất vô hại (hen phế quản và các dị ứng) hoặc đáp ứng quá mạnh. Bệnh nổi tiếng nhất có liên quan đến hệ miễn dịch là AIDS, do virus HIV gây ra. AIDS là một bệnh suy giảm miễn dịch đặc trưng bởi sự tụt giảm số lượng tế bào T CD4+ (tế bào "giúp đỡ") và các đại thực bào do bị hủy diệt bởi HIV. Các nhà miễn dịch học lâm sàng cũng nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa hiện tượng thải ghép, vì bình thường hệ miễn dịch có xu hướng tiêu diệt các mảnh ghép ngoại lai ("allograft" - từ cá thể khác cùng loài hoặc "xenograft" - từ các động vật khác loài). Liệu pháp miễn dịch. "Xem bài chính Miễn dịch liệu pháp" Việc sử dụng các thành phần của hệ miễn dịch để trị bệnh gọi là miễn dịch liệu pháp. Miễn dịch liệu pháp thường được dùng trong bối cảnh điều trị các ung thư, cùng với các phương pháp truyền thống là hóa trị liệu (dùng thuốc), xạ trị (dùng tia phóng xạ). Trước khi hóa trị và xạ trị, các bác sĩ sẽ cho bệnh nhân xét nghiệm để tìm xem họ có khả năng đáp ứng miễn dịch hay không. Nếu không đáp ứng miễn dịch thì mới bắt buộc xạ trị và hóa trị. Một số bệnh nhân ung thư có khả năng khỏe mạnh nhờ bổ sung kháng thể từ bên ngoài vào. Điều này được ghi nhận ở những người được chỉ định tiêm kháng thể tổng hợp và sử dụng sản phẩm có chứa kháng thể tự nhiên. Mặt khác, phương pháp xạ trị và hóa trị gây suy giảm hệ miễn dịch ở người bệnh, vì hóa chất và phóng xạ tổn hại trực tiếp đến các tế bào lành tính và tế bào miễn dịch. Ngoài ra, miễn dịch liệu pháp còn được dùng ở các bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch hoặc bệnh tự miễn. Liệu pháp Vắc-xin cũng được xem như một bộ phận của miễn dịch liệu pháp. Miễn dịch học chẩn đoán. Tính đặc hiệu trong liên kết giữa kháng thể với kháng nguyên được ứng dụng thành một phương tiện tầm soát các chất trong nhiều kỹ thuật chẩn đoán. Các kháng thể đặc hiệu đối với một kháng nguyên mong đợi có thể được gắn nhãn phóng xạ hay huỳnh quang hoặc các enzyme tạo màu rồi sử dụng như các "đầu dò" để tìm kiếm kháng nguyên đó. Các ứng dụng nổi tiếng bao gồm immunoblot, ELISA và nhuộm hóa mô miễn dịch các tiêu bản hiển vi. Tốc độ, độ chính xác và sự đơn giản của các xét nghiệm trên đã thúc đẩy sự phát triển của các kỹ thuật chẩn đoán nhanh "in vivo" các bệnh, vi khuẩn và cả các chất ma túy. Xét nghiệm sự tương hợp các nhóm máu cũng trên cơ sở phản ứng kháng nguyên-kháng thể. Miễn dịch học tiến hóa. Nghiên cứu hệ miễn dịch của các loài (còn hiện diện hoặc đã tuyệt chủng) giúp cho con người hiểu rõ hơn về sự tiến hóa của các loài nói chung và hệ miễn dịch nói riêng. Sự phát triển của mức độ phức tạp của hệ miễn dịch có thể thấy được từ cơ chế bảo vệ bằng hiện tượng thực bào của các cơ thể đơn bào, qua các peptide có tính kháng sinh lưu hành trong các loài côn trùng, đến các cơ quan lympho ở động vật có xương sống. Dĩ nhiên, cũng như quá trình tiến hóa nói chung, tiến hóa của hệ miễn dịch thường được nhìn theo quan điểm vị nhân, dẫu sao cũng phải thừa nhận rằng hệ miễn dịch của mỗi loài đều có khả năng tự vệ trước hầu hết các dạng kẻ thù. Côn trùng và các loài chân khớp khác, tuy không có một hệ miễn dịch đặc hiệu thực sự, lại có hệ miễn dịch tự nhiên rất phát triển, thêm vào đó chúng còn được bảo vệ khỏi các sang chấn bên ngoài (cũng như với các tác nhân gây bệnh) bởi lớp vỏ chitin.
Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình (hay đơn giản là Sân Mỹ Đình) là một sân vận động đa năng ở quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam. Sân có sức chứa 40.192 chỗ ngồi và là trung tâm của Khu liên hợp thể thao quốc gia Việt Nam. Sân chính thức được khánh thành vào tháng 9 năm 2003 và là địa điểm chính của Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2003 vào cuối năm đó, bao gồm tổ chức lễ khai mạc, bế mạc cũng như các nội dung thi đấu môn điền kinh và các trận đấu môn bóng đá nam. Đây là sân nhà chính của đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam từ năm 2003. Sân thường tổ chức các trận thi đấu hoặc giao hữu quốc tế khi có đội tuyển tham gia. Nằm cách trung tâm Hà Nội 10 km về phía tây bắc, đây là sân vận động có sức chứa lớn nhất trong cả nước. Sân được xây dựng với chi phí 1.300 tỷ đồng (~53 triệu USD, tỷ giá năm 2003). Mái che cong bao phủ các khán đài ở phía đông và phía tây của sân vận động, che phủ cho một nửa số ghế. Bên cạnh sân vận động có hai sân tập bóng đá, cung cấp cơ sở vật chất tập luyện cho các đội bóng. Kể từ năm 2021, chất lượng mặt cỏ của sân vận động và cơ sở vật chất xung quanh bị xuống cấp nghiêm trọng, gây ra nhiều sự cố khi tổ chức các trận bóng đá và trở thành tâm điểm chỉ trích của các cổ động viên Việt Nam và nước ngoài. Ý tưởng về một sân vận động quốc gia mới ở Việt Nam đã được đưa ra vào năm 1998, khi chính phủ tiến hành nghiên cứu khả năng xây dựng một khu liên hợp thể thao quốc gia mới. Vào tháng 7 năm 2000, Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải đã phê duyệt dự án xây dựng sân vận động ở trung tâm của Khu liên hợp thể thao quốc gia Việt Nam để chuẩn bị cho việc tổ chức Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2003. Bốn công ty, cụ thể là Hanoi International Group (HISG - Trung Quốc), Philipp Holzmann (Đức), Bouygues (Pháp) và Lemna-Keystone (Hoa Kỳ), đã tham gia đấu thầu xây dựng sân vận động. Quá trình này đã gây tranh cãi do vi phạm các yêu cầu kỹ thuật và tài chính trong hồ sơ đấu thầu của HISG và Holzmann (Holzmann thậm chí đã nộp đơn xin phá sản trước đó vào năm 1999), các cáo buộc tham nhũng đối với khoản tài trợ của Bouygues, cũng như phía Lemna-Keystone nghi ngờ sự minh bạch trong việc đưa ra quyết định của hội đồng chấm thầu. Cuối cùng, HISG đã thắng thầu và ký hợp đồng cam kết vào ngày 14 tháng 8 năm 2001. Công việc xây dựng sân vận động được bắt đầu vào năm 2002. Trong giai đoạn xây dựng, sân được gọi là "Sân vận động Trung tâm". Sân đã hoàn thiện về mặt kiến ​​trúc vào tháng 6 năm 2003. Vào tháng 8 năm 2003, sân vận động được đặt tên chính thức là "Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình", lấy theo tên của khu vực xã mà sân vận động này được xây dựng ở đó. Sân được khánh thành vào ngày 2 tháng 9 năm 2003, trùng với ngày Quốc khánh của Việt Nam. Bên trong sân vận động. Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình có 4 khán đài. Các khán đài A và B (tương ứng là khán đài phía đông và phía tây) được che phủ bởi mái che nặng 2.300 tấn ở mỗi khán đài. Hai khán đài này cao hai tầng và cao , trong khi khán đài C và D (tương ứng là khán đài phía nam và phía bắc) cao một tầng và cao . Tổng cộng, sân vận động này có sức chứa 40.192 chỗ ngồi, bao gồm 450 ghế VIP và 160 ghế cho các nhà báo. Mặt sân cỏ có kích thước 105 x 68 m, bao quanh là đường chạy điền kinh 8 làn và các cơ sở thể thao khác. Sự kiện thể thao. Sân vận động chính thức được khánh thành vào ngày 2 tháng 9 năm 2003 với trận đấu giao hữu mở màn giữa U-23 Việt Nam và câu lạc bộ bóng đá Thân Hoa Thượng Hải thuộc Giải bóng đá ngoại hạng Trung Quốc. Sân đã tổ chức Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2003 (lễ khai mạc, bóng đá và điền kinh, lễ bế mạc) và Đại hội Thể thao Người khuyết tật Đông Nam Á 2003. Vào tháng 7 năm 2007, tại Asian Cup 2007, Sân vận động Mỹ Đình đã tổ chức các trận đấu bảng B cùng với Sân vận động Quân khu 7 (Thành phố Hồ Chí Minh), trận tứ kết (Nhật Bản vs Úc) và trận bán kết (Nhật Bản vs Ả Rập Xê Út). Sân vận động Mỹ Đình đã tổ chức lễ khai mạc Đại hội Thể thao Trong nhà châu Á 2009 diễn ra từ ngày 30 tháng 10 đến ngày 8 tháng 11 năm 2009. Vào tháng 12 năm 2010, sân đã tổ chức các trận đấu bảng B của AFF Suzuki Cup 2010 từ ngày 2 tháng 12 đến ngày 8 tháng 12. Sân vận động này cũng là nơi tổ chức Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2021 (lễ khai mạc, bóng đá và điền kinh). Ngoài ra, sân vận động này còn tổ chức nhiều giải đấu bóng đá trong nước và quốc tế: Sự kiện giải trí. Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình đã tổ chức nhiều sự kiện giải trí. Mỹ Tâm là ca sĩ Việt Nam đầu tiên và duy nhất tổ chức buổi diễn trực tiếp tại đây với sức chứa hơn 10.000 khán giả cho liveshow "Ngày ấy bây giờ" (2004) và hơn 30.000 khán giả cho liveshow "Tri âm" (2022). Vào ngày 27 tháng 3 năm 2010, một buổi hòa nhạc của MTV Exit đã được tổ chức tại đây, trong đó có sự góp mặt của nhóm nhạc nam Hàn Quốc Super Junior, ca sĩ người Úc Kate Miller-Heidke cùng với nhiều ca sĩ Việt Nam. Vào ngày 26 tháng 3 năm 2011, nhóm nhạc nam Mỹ Backstreet Boys đã biểu diễn tại đây như một phần của chuyến lưu diễn This Is Us Tour của nhóm. Vào ngày 1 tháng 10 năm 2011, nhóm nhạc nam Ireland Westlife đã biểu diễn tại đây trong khuôn khổ chuyến lưu diễn Gravity Tour của nhóm; khoảng 11.000 người đã tham dự buổi hòa nhạc. Sân vận động cũng là điểm khởi đầu của chương trình . Vào ngày 26 tháng 5 năm 2012, MTV Exit đã tổ chức một buổi hòa nhạc tại sân vận động với sự góp mặt của ban nhạc pop punk Canada Simple Plan nhằm nâng cao nhận thức về nạn buôn người và nô lệ hiện đại. Sân vận động cũng là nơi tổ chức nhiều buổi hòa nhạc K-pop. Đây là nơi diễn ra buổi hòa nhạc đặc biệt Music Core của MBC vào ngày 8 tháng 12 năm 2012, Music Bank World Tour của KBS vào ngày 28 tháng 3 năm 2015. Vào ngày 26 tháng 11 năm 2019, sân vận động đã tổ chức lễ trao giải Asia Artist Awards. Vào ngày 29 và 30 tháng 7 năm 2023, nhóm nhạc Blackpink tổ chức hai buổi diễn trong khuôn khổ chuyến lưu diễn Born Pink World Tour với 67.443 khán giả tham dự và đạt doanh thu $13.660.064 Các trận đấu bóng đá lớn. Sân vận động đã tổ chức một số trận đấu quốc tế của FIFA. Dưới đây là các trận đấu quốc tế quan trọng nhất được tổ chức tại Sân vận động Mỹ Đình. Sự cố, bê bối và tranh cãi. Nổ pháo hoa năm 2010. Khoảng 11 giờ 40 phút () ngày 6 tháng 10 năm 2010 xảy ra vụ nổ tại Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình. Nguyên nhân được xác nhận bắt nguồn từ hai container chứa pháo hoa nổ do sơ suất khi lắp đặt trận địa pháo; đây là buổi tổng duyệt cho chương trình "Đêm hội văn hóa nghệ thuật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội" dự kiến tổ chức chính thức vào ngày 10 tháng 10 năm 2010. Hậu quả khiến bốn nạn nhân tử vong (2 người Đức, 1 người Singapore, 1 người Việt Nam) và ba nạn nhân bị thương, các nạn nhân bao gồm người Đức và người Singapore cùng người Việt. Chất lượng mặt sân và trang thiết bị xuống cấp. Năm 2021 và SEA Games 31. "Nice cow paddock" (tạm dịch: Bãi chăn bò đẹp đấy) Lee Gaskin, phóng viên thể thao Australia, đăng trên trang cá nhân Twitterbrsau trận Việt Nam - Australia tại vòng loại thứ ba World Cup 2022 Từ nửa cuối năm 2021, dư luận đã có nhiều chỉ trích liên quan đến chất lượng sân cỏ và cơ sở vật chất của sân vận động. Làn sóng chỉ trích bắt đầu vào đầu tháng 9 năm 2021, khi tuyển Việt Nam tiếp đón Australia tại vòng loại thứ ba World Cup 2022; truyền thông và người hâm mộ Australia thời điểm đó đã so sánh mặt sân Mỹ Đình với "bãi cỏ chăn bò". Theo "Lao Động", mặt cỏ sân Mỹ Đình đã không hề được thay mới trong gần 10 năm, chủ yếu vẫn là chăm sóc trên nền đất cũ và loại cỏ cũ, nên chỉ cần thời tiết thay đổi bất thường là lập tức có vấn đề về thẩm mỹ và chất lượng. Ngoài ra, một số khu vực và phòng chức năng tại sân Mỹ Đình đã xuống cấp nghiêm trọng do thời gian dài không được sửa chữa. Để lý giải sự xuống cấp này, vấn đề nguồn kinh phí đã được các bên liên quan đặt ra. Sau khi Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) yêu cầu cải thiện mặt sân Mỹ Đình và các phòng chức năng, sân vận động đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam cải tạo lớn để tổ chức các trận đấu tiếp theo tại vòng loại World Cup và cũng để chuẩn bị cho Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2021 vào tháng 5 năm 2022. Trước SEA Games 31, Chính phủ cấp cho Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch hơn 400 tỉ đồng để sửa chữa Khu liên hợp thể thao quốc gia. Dù vậy, việc thay mặt cỏ sân Mỹ Đình đã không được tiến hành. Đến trước trận tranh hạng ba và chung kết môn bóng đá nam SEA Games 31, mặt cỏ sân Mỹ Đình tiếp tục bị hư hại nghiêm trọng do hệ quả của việc lắp đặt sân khấu cho lễ khai mạc SEA Games mới tổ chức trước đó, khiến cỏ bị héo úa và chết khá nhiều. Sự cố trận giao hữu giữa Việt Nam và Borussia Dortmund. Vào ngày 30 tháng 11 năm 2022, trong trận đấu giao hữu giữa Việt Nam và Borussia Dortmund, tại phút thứ 86 của trận đấu, xà ngang khung thành của phía Dortmund đã bị bật ra khiến trận đấu bị gián đoạn 5 phút. Ngoài ra, trong thời gian nghỉ giữa hai hiệp, khu vực kỹ thuật của hai đội bóng và khu vực trọng tài bàn đã bị gió thổi đổ rất nhiều lần. Tại thời điểm này, chất lượng sân Mỹ Đình đã trở nên xuống cấp trầm trọng. Tình trạng của sân đấu được các trang báo trong nước mô tả là "nóng hơn cả tuyển Việt Nam", "hình ảnh xấu xí", "nhếch nhác", "sân đất nện", "như đá bóng ngoài ruộng". Trước khi AFF Cup 2022 diễn ra, Liên đoàn Bóng đá Việt Nam (VFF) đã ký hợp đồng với Khu liên hợp thể thao quốc gia để thuê sân Mỹ Đình làm sân nhà của đội tuyển Việt Nam. Giá thuê sân cho mỗi trận đấu của tuyển Việt Nam là 800 triệu đồng, nhiều nhất trong lịch sử của sân vận động này. Tuy vậy, mặt cỏ của sân vận động được mô tả là già, úa, xấu. Ghế bạc màu, ố bẩn do toàn bộ 40.000 ghế ngồi được lắp đặt từ năm 2003 chưa thay lần nào. Ngoài ra, theo Cục Thuế Hà Nội, cho đến năm 2023, Khu liên hợp thể thao quốc gia nợ 855 tỉ đồng tiền thuế. Lý giải hiện tượng này, Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục Thể thao, ông Đặng Hà Việt cho biết, nguyên nhân không phải do thiếu kinh phí mà vì "quên bảo dưỡng". Theo ông Việt, việc bảo dưỡng và chăm sóc trong một tháng qua vẫn được tiến hành đều đặn nhưng thời tiết Hà Nội khắc nghiệt, nắng ít làm cho mặt cỏ không xanh như mong đợi. Hơn nữa, AFC đã đánh giá mặt sân Mỹ Đình vẫn đủ điều kiện để thi đấu. Tuy vậy, việc lý giải mặt sân xuống cấp do thời tiết bị nhiều cổ động viên cho là không có cơ sở, bởi trước đó khi đội tuyển Việt Nam tiếp đón Trung Quốc tại vòng loại thứ 3 World Cup 2022 hồi đầu năm, mặt cỏ của sân Mỹ Đình vẫn rất đẹp và xanh. Điều này cho thấy mặt cỏ của Mỹ Đình hiện tại bị xuống cấp là vì không được chăm sóc kỹ càng.Tình trạng nhếch nhác tại sân vận động đã trở thành tâm điểm chỉ trích của các cổ động viên Việt Nam và nước ngoài. Ngày 4 tháng 1 năm 2023, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhắc đến tình trạng của sân vận động quốc gia Mỹ Đình. Ông nhấn mạnh và đặt câu hỏi về việc không khai thác được sân vận động mà chỉ trông chờ vào tiền nhà nước. Phương châm của toàn ngành là Quyết liệt hành động, Khát vọng cống hiến, chúng ta đã thực hiện được gần 2 năm rồi. Toàn ngành đã có những tiến bộ, sự thay đổi rõ rệt như Lãnh đạo Đảng và Nhân dân ghi nhận. Thế nhưng, thi thoảng ở một số bộ phận, lĩnh vực tôi vẫn cảm thấy sự quyết liệt đó chưa được thực hiện thường xuyên. Bằng chứng là câu chuyện tại Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình. Kế hoạch tổ chức AFF Cup đã có từ trước chứ có phải đột xuất đâu, sao vẫn để những việc như vậy xảy ra? Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng phát biểu cuối buổi sáng ngày 6 tháng 1 năm 2023 Để xử lý tình trạng xuống cấp trước trận Việt Nam gặp Indonesia (thi đấu ngày 9 tháng 1), tối ngày 6 tháng 1, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch Việt Nam Nguyễn Văn Hùng yêu cầu hiệu trưởng Trường đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh chỉ đạo lực lượng Đoàn thanh niên, sinh viên nhà trường tổ chức hoạt động tình nguyện để hỗ trợ làm vệ sinh môi trường cảnh quan cho sân Mỹ Đình.
Cá voi xanh ("Balaenoptera musculus)," còn gọi là cá ông là một loài cá voi thuộc về phân bộ Mysticeti (cá voi tấm sừng hàm). Dài và nặng hay thậm chí hơn nữa, nó là động vật lớn nhất từng tồn tại và nặng nhất từng tồn tại. Cơ thể cá voi xanh dài và thon, có thể có màu hơi xanh-xám ở mặt lưng và sáng màu hơn ở mặt bụng. Có ít nhất 3 phân loài cá voi xanh: "B. m. musculus" sống ở vùng biển bắc Đại Tây Dương và bắc Thái Bình Dương, "B. m. intermedia" sống ở Nam Băng Dương và "B. m. brevicauda" (cá voi xanh lùn) sống ở Ấn Độ Dương và nam Thái Bình Dương. Giống như các loài cá voi khác, thức ăn của chúng chủ yếu là sinh vật phù du và giáp xác nhỏ. Trước thế kỉ 20, cá voi xanh tồn tại với số lượng cá thể lớn ở hầu hết các đại dương trên thế giới. Nhưng hơn 100 năm qua, chúng bị săn bắn đến mức gần như tuyệt chủng cho đến khi được bảo vệ bởi luật pháp quốc tế vào năm 1966. Theo một báo cáo vào năm 2002, có xấp xỉ 5.000 - 12.000 cá thể sống trên toàn thế giới, bao gồm ít nhất 5 nhóm. Trước khi bị săn bắt ráo riết, quần thể cá voi xanh lớn nhất ở vùng biển Nam cực có khoảng 239.000 cá thể (từ 202.000 tới 311.000). Các quần thể nhỏ hơn khác (khoảng 2000 cá thể) tập trung ở các vùng biển Đông bắc Thái Bình Dương, Nam Cực. Có 2 quần thể khác ở Bắc Đại Tây Dương và ít nhất 2 quần thể nữa ở Nam Bán Cầu. Năm 2014, số lượng cá voi xanh tại California đã phục hồi đến mức gần như trước thời kì săn bắt. Cá voi xanh thuộc về họ Balaenopteridae, họ này bao gồm cá voi lưng gù, cá voi vây, cá voi Bryde, cá voi Sei và cá voi Minke. Balaenopteridae được tin rằng đã tách ra từ các họ khác của phân bộ Mysticeti khoảng giữa thế Oligocene (28 triệu năm trước). Cá voi xanh thường được phân loại như một trong tám loài của chi "Balaenoptera"; một tác giả đặt nó trong một chi đơn loài riêng biệt, "Sibbaldus", nhưng không được thừa nhận. Phân tích DNA cho thấy cá voi xanh là họ hàng gần của cá voi Sei ("Balaenoptera borealis") và cá voi Bryde ("Balaenoptera brydei") hơn các loài "Balaenoptera" khác, và gần với cá voi lưng gù ("Megaptera") và cá voi xám ("Eschrichtius") hơn là cá voi Minke ("Balaenoptera acutorostrata" và "Balaenoptera bonaerensis"). Có tài liệu về ít nhất 11 trường hợp lai tự nhiên giữa cá voi xanh/cá voi vây. Arnason và Gullberg miêu tả khoảng cách di truyền giữa cá voi xanh và cá voi vây giống khoảng cách giữa người và khỉ đột. Các nhà nghiên cứu ở Fiji tin rằng họ đã chụp được hình một con cá voi lưng gù/cá voi xanh lai. Miên tả đầu tiên về cá voi xanh đến từ "Phalainologia Nova" của Robert Sibbald (1694). Vào tháng 9 năm 1692, Sibbald tìm thấy một con cá voi bị mắc cạn ở Firth of Forth—một con đực dài . Các tác giả chia loài này thành ba phân loài: "B. m. musculus", quần thể bắc Đại Tây Dương và bắc Thái Bình Dương, "B. m. intermedia", ở Nam Băng Dương, "B. m. brevicauda", cá voi xanh lùn được tìm thấy ở Ấn Độ Dương và nam Thái Bình Dương, và "B. m. indica", đây là phân loài còn nhiều vấn đề, cũng được tìm thấy ở Ấn Độ Dương, mặc dù "B. m. indica" được miêu tả sớm hơn, nó có thể đồng nghĩa với "B. m. brevicauda". Miêu tả và tập tính. Cá voi xanh là loài động vật lớn nhất được biết từ trước đến nay trong lịch sử quả đất. Một trong những chi khủng long lớn nhất trong Đại Trung Sinh là "Argentinosaurus" chỉ nặng có 90 tấn, bằng với một con cá voi xanh trung bình. Cá voi xanh có một thân hình to lớn, dài và thon giúp chúng dễ dàng rẽ nước khi di chuyển. Chúng có bộ  dạ trơn màu xanh xám và phần bụng có màu sáng hơn kèm theo đó là một loạt nếp gấp trên cổ có thể dãn ra gấp bốn lần khi chúng ăn. Đuôi của Cá voi xanh thẳng và chia ra thành hai mái chèo giúp đẩy thân hình độ sộ của chúng dưới áp lực của dòng nước. Cá voi xanh thuộc họ cá voi " không răng ", có nghĩa là thay vì dùng răng, chúng có khoảng 395 tấm sừng mọc ở hàm trên và được dùng để lọc thức ăn từ nước. Như những họ hàng của mình, cá voi xanh cũng có hai lỗ trên lưng, được dùng để đẩy không khí cũ và nước biển ra khỏi phổi khi chúng trồi lên để hô hấp. Trong vòng 7 tháng đầu sau sinh, con cá voi xanh con uống khoảng sữa mỗi ngày, nên khối lượng nó tăng lên rất nhanh vào khoảng mỗi 24 giờ. Thậm chí lúc mới sinh nó đã nặng —bằng khối lượng một con hà mã ("hippopotamus") trưởng thành. Cá voi xanh có bộ não tương đối nhỏ (), chỉ bằng khoảng 0,007% khối lượng cơ thể của nó. Dương vật của nó cũng lớn nhất trong tất cả các sinh vật sống và cũng giữ kỷ lục Guinness thế giới là có dương vật dài nhất. Chiều dài trung bình của dương vật thay đổi nhưng thường vào khoảng đến . Dù không sở hữu bộ răng thực sự, nhưng Cá voi xanh vẫn bị xếp vào nhóm động vật ăn thịt. Chúng sống dựa  trên một chế độ ăn uống mà chủ yếu bao gồm các nhuyễn thể, giáp xác nhỏ và đôi khi là những loài cá nhỏ. Cá voi xanh ăn bằng cách bơi về phía bầy con mồi và những nếp gấp trên cổ cho phép cổ họng của chúng mở rộng, hớp lấy một ngụm nước khổng lồ vào túi chứa thức ăn được tạo ở hàm dưới và khép  miệng chúng lại. Sau đó, nước được đẩy ra ngoài nhưng hàng ngàn sinh vật nhỏ bé được giữ lại bởi các tấm sừng hàm lọc thức ăn của chúng và sau đó các sinh vật ấy sẽ bị nuốt vào. Cá voi xanh có thể tiêu thụ lên đến 40 tấn con mồi hàng ngày trong suốt những tháng mùa hè ở vùng biển lạnh và giàu thức ăn. Mặc dù Cá voi xanh ăn một lượng thức ăn khổng lồ vào mùa hè, nhưng chúng hầu như không ăn gì khi di chuyển đến vùng nước ấm vào mùa đông. Một con cá voi xanh trưởng thành có thể tiêu thụ tới 40 triệu con moi lân một ngày. Chúng luôn kiếm ăn trong những vùng có mật độ moi lân nhiều nhất, thỉnh thoảng tiêu thụ đến moi lân chỉ trong vòng một ngày. Nhu cầu năng lượng cho một cá thể cá voi xanh trưởng thành là khoảng 1,5 triệu kilocalo. Mức tiêu thụ thức ăn của cá voi xanh biến động theo mùa. Chúng thường phải tiêu thụ một lượng lớn moi lân ở vùng nước lạnh giàu thức ăn ở vùng biển Châu Nam cực trước khi di chuyển tới các vùng biển ấm hơn gần xích đạo để sinh sản. Cá voi xanh thường lặn xuống tới 100 m (330 ft) để kiếm ăn vào ban ngày trong khi vào ban đêm, hoạt động này chủ yếu diễn ra ở gần mặt nước. Thông thường chúng có thể săn mồi liên tục mà không cần trở lên mặt nước trong 10 phút, tuy nhiên, có ghi nhận về các trường hợp lặn liên tục tới 21 phút. Cá voi xanh thường vô tình ăn cả những loài cá nhỏ, mực và các loài giáp xác nhỏ khác do cách thức săn mồi của chúng. Cá voi xanh được mệnh danh là những ca sĩ lãng du khắp các đại dương. Vì cá voi xanh có thể phát ra âm thanh siêu trầm ở tần số 14 Hz.Và nó cũng phát ra thứ âm thanh lớn nhất trên thế giới, lớn hơn cả tiếng rít của máy bay phản lực với cường độ 200 decibel. Nếu so sánh với tiếng hét của loài người ở 70 decibel, âm thanh cao hơn 120 decibel gây nguy hiểm cho tai người.#đổi Người ta không rõ mục đích của những tiếng kêu này là gì. Richardson (1995) nêu ra một số lý do có thể: Số lượng và nạn săn bắt. Thời kì bị săn bắt. Cá voi xanh rất khỏe và nhanh, do đó rất khó để bắt/giết. Do đó thời gian đầu người ta thường săn cá nhà táng hoặc cá voi Eubalaena, chứ hiếm khi nào săn cá voi xanh. Mọi chuyện bắt đầu thay đổi khi Svend Foyn, một người Na Uy, thử săn cá voi cỡ lớn vào năm 1864 trên một con tàu hơi nước với một khẩu súng phóng lao được thiết kế đặc biệt. Dù lúc đầu khẩu súng này khá cồng kềnh và có xác suất thành công thấp, Foyn đã cố gắng hoàn thiện nó và chẳng mấy chốc một vài trạm săn cá voi bắt đầu mọc lên dọc theo bờ biển Finnmark ở phía Bắc Na Uy. Vì những xung đột với ngư dân địa phương, các trạm này bị đóng cửa, với trạm cuối hoạt động vào năm 1904. Việc săn cá voi xanh nhanh chóng lan đến Iceland (1883), Faroe Islands (1894), Newfoundland (1898), và Spitsbergen (1903). Năm 1904-05, cá voi lần đầu tiên bị giết tại South Georgia, và tới năm 1925, với sự xuất hiện của máng trượt đằng sau tàu (để kéo cá voi lên dễ dàng) và việc sử dụng phổ biến động cơ hơi nước, số lượng cá voi xanh nói riêng và cá voi tấm sừng hàm nói chung tại Nam Cực và các vùng xung quanh sụt giảm thảm hại. Vào mùa săn năm 1930–31, chỉ tính riêng tại Nam Cực, 29.400 con cá voi xanh đã bị giết. Khi Thế chiến thứ II kết thúc, Trái Đất dường như đã hết sạch cá voi xanh. Năm 1946, lần đầu tiên một hạn mức quốc tế về săn bắt cá voi được đặt ra, nhưng hiệu quả thì không là bao, vì những loài quý hiếm vẫn có thể được săn theo cùng 'hạn mức' với các loài vẫn còn tương đối nhiều. Arthur C. Clarke là trí thức lớn đầu tiên đứng lên kêu gọi cộng đồng quan tâm hơn đến tình cảnh khốn cùng của loài này, trong quyển sách năm 1962 tựa "Profiles of the Future" của mình. Ông nói "chúng ta không biết được bản chất thật của thực thể mà chúng ta đang hủy diệt" - ám chỉ đến bộ não lớn của cá voi xanh. Toàn bộ các loài cá voi truyền thống ở châu Á đã gần như bị tuyệt chủng bởi các hoạt động săn bắt công nghiệp của Nhật Bản, đặc biệt là những nhóm cá voi di cư từ phía Bắc Nhật Bản xuống Biển Hoa Đông. Những con cuối cùng trong nhóm này bị bắt tại Amami Oshima trong khoảng thời gian từ 1910 đến 1939.. Hoạt động đánh bắt ráo riết này diễn ra cho tới năm 1965 với các trạm săn cá voi chủ yếu đặt dọc bờ biển Hokkaido và Sanriku. Việc săn cá voi cuối cùng cũng bị Hiệp hội Nghề đánh cá voi Quốc tế cấm vào năm 1966, và những hoạt động săn bắt trái phép tại Liên Xô cuối cùng cũng chấm dứt vào thập niên 1970. Cho tới lúc đấy, đã có tổng cộng 330.000 con cá voi xanh bị giết tại Nam Cực, 33.000 con tại các phần còn lại của Bán Cầu Nam, 8.200 con ở Bắc Thái Bình Dương và 7.000 con ở Bắc Đại Tây Dương. Cộng đồng cá voi xanh lớn nhất, ở Nam Cực, đã bị rút xuống chỉ còn 0,15% số lượng ban đầu. Tình hình hiện nay. Kể từ khi luật cấm săn bắt cá voi được ban hành, người ta đã thực hiện nhiều nghiên cứu nhằm xem các quần thể cá voi xanh hiện nay tăng trưởng về số lượng hay là đang ổn định. Tại Nam Cực, ước tính khả quan nhất cho thấy tốc độ tăng trưởng là 7,3% một năm kể từ lúc việc săn trộm tại Liên Xô chấm dứt, nhưng tổng số cá voi xanh ở đây vẫn không vượt quá 1% vào thời điểm trước khi bị săn. Quần thể tại California hồi phục nhanh hơn, với nghiên cứu năm 2014 cho thấy quần thể này đã đạt 97% số lượng ban đầu. Số lượng cá voi xanh trên toàn thế giới năm 2002 được ước tính vào khoảng từ 5.000 đến 12.000 con. Tuy nhiên, ở rất nhiều vùng, người ta chỉ có thể suy đoán một cách không chắc chắn. Cá voi xanh được liệt kê là một trong những loài loài nguy cấp trong Sách đỏ IUCN ngay khi sách này được công bố. Tại Mỹ, Cục Nghề cá Quốc gia đã đặt cá voi xanh dưới sự bảo vệ của Luật Loài Nguy cấp. Quần thể cá voi xanh lớn nhất, gồm khoảng 2.800 con thuộc phân loài "B. m. muculus", sinh sống tại Đông Bắc Thái Bình Dương từ Alaska đến Costa Rica. Vào mùa hè người ta có thể thấy chúng tại California. Lâu lâu quần thể này cũng bơi tới Tây Bắc Thái Bình Dương vùng giữa Kamchatka và cực bắc Nhật Bản. Bắc Đại Tây Dương. Phía Bắc Đại Tây Dương có 2 quần thể "B. m. musculus" sinh sống. Quần thể thứ nhất được tìm thấy ở Greenland, Newfoundland, Nova Scotia và vịnh Saint Lawrence, gồm khoảng 500 con. Quần thể thứ hai phân bố lệch về phía đông, di chuyển từ Azores vào mùa xuân đến Iceland vào tháng 7 và tháng 8; người ta nghĩ rằng chúng bơi theo đường sống núi giữa Đại Tây Dương nằm giữa 2 vùng đảo núi lửa. Ngoài Iceland, cá voi xanh còn được quan sát thấy tít phía Bắc tận Spitsbergen và Jan Mayen. Tuy nhiên các lần quan sát kể trên khá là hiếm. Các nhà khoa học không biết những con cá voi xanh này sống ở đâu vào mùa đông. Tổng số cá voi xanh tại Bắc Đại Tây Dương được ước tính vào khoảng 600 đến 1,500. Tại bờ biển Ireland, các quan sát thấy loài này được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 2008., Kể từ đó vùng Porcupine Seabight đã được xem là nơi phát triển tốt cho cá voi xanh và cá voi vây. Bắc Thái Bình Dương. Cá voi xanh đã từng bị săn bắt rất dữ tại Nhật Bản, với các hoạt động giết chóc diễn ra chủ yếu tại biển Kumanonada giáp thành phố Wakayama, vịnh Tosa và biển Hyūga. Vì chúng bị săn quá ráo riết, một số nhà khoa học từng nghĩ cá voi xanh đã biến mất hoàn toàn khỏi đây, với các ghi nhận cá voi mắc cạn lần cuối được thu thập vào thập niên 1950. Ngày nay, các cá thể còn sót lại của quần thể phía đông và ven biển ngày xưa có thể được quan sát tại Kushiro, dù điều này là rất hiếm. Người ta cũng thấy cá voi xanh, dù hiếm nhưng đều đặn, bơi ở bán đảo Triều Tiên hoặc ven bờ biển Nhật Bản (là một vùng biển rìa). Điều này khá là thú vị vì thường thì cá voi xanh không bơi vào biển rìa (như biển Okhotsk) trong khi di cư. Trước đây cá voi xanh từng được biết hay di cư xa lên phía Bắc, tới Đông Kamchatka, vịnh Anadyr (Nga) và quần đảo Commander (Nga). Ngày nay, tại quần đảo Commander, hơn 80 năm qua cá voi xanh chưa bao giờ được thấy lại, và từ năm 1994 đến năm 2004, chỉ có 3 lần loài này được thấy tại Nga. Một số vùng như quần đảo Hawaii, quần đảo Bắc Mariana, quần đảo Ogasawara, quần đảo Ryukyu, ven bờ Philippines, Đài Loan, Chu San, và biển Đông như vịnh Daya, bán đảo Lôi Châu, đảo Hải Nam, phía Nam quần đảo Hoàng S, cảnh sát biển Nhật Bản đã thấy vài cá thể cá voi khổng lồ dài hơn 20m. Tuy nhiên, người ta không biết chắc chúng thuộc loài nào. Năm 2005, tại Vạn Ninh đã xảy ra một vụ cá voi mắc cạn. Về tình hình các loài động vật biển tại biển Trung Quốc và Triều Tiên, xin xem "Động vật hoa dã tại Trung Quốc". Nam Bán Cầu có 2 phân loài cá voi xanh, "B. m. intermedia" ở Nam Cực và "B. m. brevicauda", một giống cá voi xanh lùn ít được nghiên cứu, ở Ấn Độ Dương. Các khảo sát gần đây nhất (khoảng giữa năm 1998) cho thấy có khoảng 2280 con cá voi xanh tại Nam Cực, hầu hết là "B. m. intermedia", chứ "B. m. brevicauda" chiếm chưa đến 1%. Năm 1996, một khảo sát khác ở Ấn Độ Dương cho thấy chỉ trong một phạm vi nhỏ hẹp tại Nam Madagascar đã có tới 424 con cá voi xanh lùn tại đây, do đó, tổng số cá voi xanh sống ở Ấn Độ Dương có thể lên đến hàng ngàn. Nếu điều này là đúng thì số lượng cá voi xanh trên toàn thế giới sẽ nhiều hơn rất nhiều so với ước tính hiện tại. Tại châu Đại Dương, cá voi xanh thường tụ tập ở hẻm núi Perth gần đảo Rottnest, vịnh Đại Úc phần giáp với Portland, và vịnh Nam Taranaki. Cả hai giống cá voi xanh phía Nam và cá voi xanh lùn đều sinh sản và di trú tại phần biển giáp Tây Úc, đảo Bắc của New Zealand, từ vùng Northland như vịnh Đảo, vịnh Hauraki ở phía Bắc tới vịnh Plenty phía Nam (rất gần với bờ biển). Ít nhất có các quần thể phía Nam và phía Tây Úc cùng một số quần thể khác được biết di cư đến vùng biển nhiệt đới của Indonesia, Philippines, và Đông Timor (cá voi xanh đến Philippines có thể cũng thuộc quần thể di cư từ Bắc Thái Bình Dương do người ta hay thấy chúng tại Bohol, phía bắc Xích đạo). Các mối đe dọa khác ngoài săn bắt. Vì kích thước khổng lồ, sức mạnh và tốc độ của mình, cá voi xanh hầu như không có thiên địch trong tự nhiên. Có một lần "tạp chí National Geographic" đã đưa tin về một con cá voi xanh bị tấn công bởi một đàn cá voi sát thủ tại bán đảo Baja California. Mặc dù bầy cá voi sát thủ không thể giết được con cá voi xanh này, nó bị thương nặng và chết không lâu sau đó. Gần 1/4 cá voi xanh tại Baja mang những vết sẹo do bị cá voi sát thủ cắn. Cá voi xanh có thể bị thương, thậm chí chết, do va chạm với tàu bè hay bị vướng vào lưới đánh cá. Việc sử dụng ngày càng nhiều sonar trong kĩ thuật hàng hải đã làm nhiễu những bài hát của cá voi, khiến chúng gặp khó khăn trong giao tiếp. Cá voi xanh ngừng phát ra tiếng kêu D khi một sóng sonar tần số trung được bật, mặc dù tần số này (1–8 kHz) nằm ngoài ngưỡng giọng của chúng (25–100 Hz). Việc thải polychlorinated biphenyl (PCB) ra tự nhiên - một chất gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên sức khỏe động vật - cũng đe dọa đến sự phục hồi của cá voi xanh. Có quan ngại rằng nếu các sông băng và băng vĩnh cửu tan quá nhanh vì sự ấm lên toàn cầu, một lượng lớn nước ngọt chảy ra đền một mức nào đó sẽ làm ngưng sự luân chuyển thủy nhiệt. Cá voi xanh dựa trên sự luân chuyển này, tức là sự dịch chuyển của dòng biển nóng và lạnh, để di cư. Chúng kiếm ăn tại các vùng nước mát giàu nhuyễn thể ở vĩ độ cao vào mùa hè, và trú đông cũng như đẻ con ở các vùng nước ấm thuộc vĩ độ thấp hơn vào mùa đông. Nếu như cơ chế chuyển dịch dòng biển này bị ngưng thì cá voi xanh có thể sẽ gặp nhiều vấn đề khó khăn. Sự thay đổi nhiệt độ nước biển cũng ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của cá voi xanh. Nhiệt độ tăng trong khi nồng độ muối lại đi xuống sẽ làm thay đổi sự phân bố cũng như giảm đáng kể số lượng moi lân mà cá voi xanh ăn. Bảo tàng Lịch sử Tự Nhiên, London có trưng bày 2 hiện vật rất nổi tiếng về cá voi xanh, đặt song song với nhau. Hiện vật thứ nhất là một mô hình cá voi xanh kích cỡ thực; hiện vật thứ hai là bộ xương hoàn chỉnh của một cá thể cá voi xanh. Cả hai hiện vật đều thuộc loại đầu tiên trên thế giới. Bảo tàng Melbourne và bảo tàng New Zealand Te Papa Tongarewa có bộ xương của cá voi xanh lùn. Bảo tàng Khoa học Tự nhiên North Carolina tại Raleigh, North Carolina có một bộ xương cá voi xanh mà du khách có thể xem từ tầng một và tầng hai. Phía trước Bảo tàng Quốc gia Tokyo tại Công viên Ueno có trưng bày một mô hình cá voi xanh kích cỡ thực. [[Thể loại:Động vật có vú Bắc Cực]] [[Thể loại:Cá voi xanh| ]] [[Thể loại:Động vật Ấn Độ Dương]] [[Thể loại:Động vật Đại Tây Dương]] [[Thể loại:Động vật Thái Bình Dương]] [[Thể loại:Cá voi châu Úc]] [[Thể loại:Động vật được mô tả năm 1758]] [[Thể loại:Động vật Bắc Băng Dương]] [[Thể loại:Bảo tồn động vật có vú]]
Một hình ảnh PNG với lớp 8-bit trong suốt (trên), được chèn vào hình nền là các ô vuông (dưới). PNG (từ viết tắt trong tiếng Anh của Portable Network Graphics; chính thức đọc như "pinh") là một dạng hình ảnh sử dụng phương pháp nén dữ liệu mới - không làm mất đi dữ liệu gốc. PNG được tạo ra nhằm cải thiện và thay thế định dạng ảnh GIF với một định dạng hình ảnh không đòi hỏi phải có giấy phép sáng chế khi sử dụng. PNG được hỗ trợ bởi thư viện tham chiếu libpng, một thư viện nền tảng độc lập bao gồm các hàm của C để quản lý các hình ảnh PNG. Những tập tin PNG thường có phần mở rộng là codice_1 và codice_2 đã được gán kiểu chuẩn MIME là codice_3 (được công nhận vào ngày 14 tháng 10 năm 1996). Lịch sử và phát triển. Động cơ thúc đẩy cho việc tạo ra định dạng PNG bắt đầu vào khoảng đầu năm 1995, sau khi Unisys công bố họ sẽ áp dụng bằng sáng chế vào thuật toán nén dữ liệu LZW- được sử dụng trong định dạng GIF. Thuật toán được bảo vệ bởi bằng công nhận độc quyền sáng tạo ở trong nước Mỹ và tất cả các nước trên thế giới. Tuy nhiên, cũng đã có một số vấn đề với định dạng GIF khi cần có một số thay đổi trên hình ảnh, nhất giới hạn của nó là 256 màu trong thời điểm máy tính có khả năng hiển thị nhiều hơn 256 màu đang trở nên phổ biến. Mặc dù định dạng GIF có thể thể hiện các hình ảnh động, song "PNG" vẫn được quyết định là định dạng hình ảnh đơn (chỉ có một hình duy nhất). Một người "anh em" của nó là MNG đã được tạo ra để giải quyết vấn đề ảnh động. PNG lại tăng thêm sự phổ biến của nó vào tháng 8 năm 1999, sau khi hãng Unisys huỷ bỏ giấy phép của họ đối với các lập trình viên phần mềm miễn phí, và phi thương mại. Thông tin kỹ thuật. Phần đầu của tập tin. Một tập tin PNG bao gồm 8-byte ký hiệu (89 50 4E 47 0D 0A 1A 0A được viết trong hệ thống có cơ số 16, chứa các chữ "PNG" và 2 dấu xuống dòng , ở giữa là sắp xếp theo số lượng của các "thành phần", mỗi thành phần đều chứa thông tin về hình ảnh. Cấu trúc dựa trên các thành phần được thiết kế cho phép định dạng PNG có thể tương thích với các phiên bản cũ khi sử dụng. Các "thành phần" trong tập tin. PNG là cấu trúc như một chuỗi các thành phần, mỗi thành phần chứa kích thước, kiểu, dữ liệu, và mã sửa lỗi CRC ngay trong nó. Chuỗi được gán tên bằng 4 chữ cái phân biệt chữ hoa chữ thường. Sự phân biệt này giúp bộ giải mã phát hiện bản chất của chuỗi khi nó không nhận dạng được. Với chữ cái đầu, viết hoa thể hiện chuỗi này là thiết yếu, nếu không thì ít cần thiết hơn ancillary. Chuỗi thiết yếu chứa thông tin cần thiết để đọc được tệp và nếu bộ giải mã không nhận dạng được chuỗi thiết yếu, việc đọc tệp phải được hủy. Thành phần cơ bản. Một bộ giải mã (decoder) phải có thể thông dịch để đọc và hiển thị một tệp PNG. PNG không hỗ trợ ảnh động. Nhưng một định dạng khác phức tạp hơn dựa trên ý tưởng và các chunk của PNG là MNG được thiết kế cho ảnh động, tuy nhiên định dạng này không cho phép 'tương thích lùi' tức là hiển thị một ảnh trong trường hợp hệ thống không hỗ trợ được hình động. Một định dạng khác là APNG cũng dựa trên PNG hỗ trợ ảnh động và tương thích lùi, nhưng đơn giản hơn MNG. Tuy nhiên, đến thời điểm 2005 những định dạng này vẫn chưa được hỗ trợ rộng rãi
Cổ sinh vật học Cổ sinh vật học là một ngành khoa học nghiên cứu lịch sử phát triển của sự sống trên Trái Đất, về các loài động vật và thực vật cổ xưa, dựa vào các hóa thạch tìm được, là các chứng cứ về sự tồn tại của chúng được bảo tồn trong đá. Các nghiên cứu về hình dáng dựa theo các bộ xương hóa thạch, các dấu vết, các hang động, thành phần thức ăn, dựa vào phân ("phân hóa đá") đã hóa thạch, và thành phần hóa học còn lại của nó. Cổ sinh vật học hiện đại nghiên cứu sự sống cổ xưa dưới quan điểm của nó, bằng việc nghiên cứu những sự thay đổi lâu dài về mặt vật lý của địa lý ("cổ địa lý học") và khí hậu ("cổ khí hậu học") toàn cầu có ảnh hưởng như thế nào đến sự tiến hóa của sự sống, các hệ sinh thái có những phản ứng như thế nào đối với những sự thay đổi đó và những thay đổi đó đã ảnh hưởng như thế nào đối với môi trường của hành tinh chúng ta, và những tác động qua lại đó đã ảnh hưởng như thế nào đến sự đa dạng sinh học ngày nay. Với một phạm vi nghiên cứu rộng lớn như vậy cổ sinh vật học bao trùm rất nhiều các ngành khoa học khác như: địa chất học, với những nghiên cứu về lĩnh vực đá và thành phần của đá, thực vật học, sinh vật học, động vật học, và sinh thái học, là các lĩnh vực nghiên cứu việc hình thành sự sống và các mối quan hệ giữa các lĩnh vực đó với nhau. Các lĩnh vực chính của cổ sinh vật học bao gồm cổ động vật học về các loài động vật cổ đại, cổ thực vật học về các loài thực vật cổ đại, và cổ vi sinh vật học về các loài về các hóa thạch của các loài vi sinh vật. Các nhà cổ sinh vật học có thể đi theo các hướng nghiên cứu khác nhau dựa vào lĩnh vực mà họ nghiên cứu như các nhà cổ sinh vật học nghiên cứu các loại động vật không xương sống (cổ sinh vật không xương sống, các nhà cổ sinh vật học nghiên cứu các loại động vật có xương sống (cổ sinh vật có xương sống, bao gồm cả các hóa thạch của loài người (cổ nhân chủng học). Các nhà cổ vi sinh học nghiên cứu các loại hóa thạch của các loài vi sinh vật, bao gồm việc nghiên cứu các hóa thạch được bao bọc trong các chất hữu cơ khác ví dụ như hổ phá Có rất nhiều các lĩnh vực đặc trưng như cổ sinh thái học, cổ thực vật học, khoa học nghiên cứu dấu phân hóa thạ, tất cả các nghiên cứu đó để làm sáng tỏ những vấn đề mà con người hiện đại chưa biết đến sau khi các loài sinh vật đó biến mất khỏi sự sống. Các lĩnh vực chính của việc nghiên cứu cổ sinh vật học liên quan đến các vấn đề như tầng đá với niên đại địa chất của chúng và việc nghiên cứu đến sự tiến hóa của sự sống. Cổ sinh vật học sử dụng cùng một hệ thống danh pháp kép cổ điển được nghĩ ra cho sinh học của nhà sinh vật học người Thụy Điển Carolus Linnaeus vào giữa thế kỷ 18 và việc nghiên cứu cổ sinh vật học tiếp tục thêm vào các loài mới vào trong cây phả hệ của sự sống trên Trái Đất và so sánh mức độ quan hệ giữa các loài này bằng "kỹ thuật" còn nhiều mâu thuẫn là phân loại và miêu tả theo nhánh. Lợi ích kinh tế cơ bản mà cổ sinh vật học mang lại đó là dựa vào kết quả nghiên cứu cổ sinh vật học người ta có thể xác định được niên đại của các lớp đất đá bao quanh các hóa thạch đó hoặc các lớp đất đá ở phía trên hoặc dưới nó. Những thông tin đó là rất quan trọng đối với ngành công nghiệp khai khoáng và đặc biệt là đối với ngành công nghiệp dầu mỏ. Người tiền sử cũng đã biết đến các hóa thạch và đôi khi họ đã xác định chính xác chúng là các tàn tích của các dạng sống cổ đại. Việc nghiên cứu có tổ chức của cổ sinh vật học được bắt đầu vào cuối thế kỷ 18. Các nhà cổ sinh học nổi tiếng. Các nhà cổ sinh vật học thuộc típ những người "màu mè" và lập dị trong lịch sử khoa học. Những nhân vật quan trọng bao gồm William Smith người Anh là người đầu tiên thông báo rằng các chuỗi hóa thạch tương tự nhau đã được tìm thấy theo khu vực và Georges Cuvier là người đầu tiên nghiên cứu các động vật cổ đại dựa trên các động vật còn đang sinh sống. Nổi tiếng nhất trong số các người Mỹ là Edward Drinker Cope, Othniel Charles Marsh, Paul Sereno, Henry Fairfield Osborn, Louis Agassiz, Charles Walcott và Roy Chapman Andrews. Các nhà cổ sinh vật học nổi tiếng ở châu Âu có Björn Kurtén (người Phần Lan gốc Thụy Điển), nhà cổ côn trùng học người Czech Jarmila Kukalova-Peck. Franz Nopcsa von Felsö-Szilvás thông thường được coi là người sáng lập ra bộ môn cổ sinh học, một lĩnh vực cần thiết phải làm việc với các chức năng sinh học và sinh thái học được suy ra từ các hóa thạch. Ngoài ra còn một số các nhà cổ sinh vật học nổi tiếng khác. Charles Darwin đã thu thập các mẫu hóa thạch động vật có vú ở Nam Mỹ trong chuyến công du của mình tới Beagle và đã kiểm tra các cánh rừng hóa đá ở Patagonia. Thomas Jefferson có một sự ham mê với các bộ xương voi ma mút. Bằng việc quan sát răng động vật có vú và đào bới nghiên cứu về chim cánh cụt, George Gaylord Simpson đã đóng một vai trò quan trọng chủ yếu trong việc đem các ý tưởng từ sinh học, cổ sinh vật học và di truyền học lại với nhau để góp phần tạo ra "sự tổng hợp hiện đại" của sinh học tiến hóa, cuốn sách "Tempo and Mode" của ông là cổ điển trong lĩnh vực này. Các tên tuổi nổi tiếng trong cổ sinh vật học động vật không xương sống có Steven Stanley, Stephen Jay Gould, David Raup, Geerat Vermeij và Jack Sepkoski là những người đã làm rất nhiều để mở rộng kho tàng kiến thức của chúng ta về các mô hình dài hạn trong sự tiến hóa sự sống trên Trái Đất. Tương tự là trường hợp của nhà khoa học người Croatia Dragutin Gorjanovic-Kramberger và phát hiện của ông về "Người Krapina". Các nhà cổ sinh vật học khác còn có Yves Coppens. Các nhà khoa học hiện đại trong lĩnh vực cổ sinh vật học bao gồm John Ostrom, Bob Bakker, David B. Weishampel và Jack Horner. Các công việc trong lĩnh vực cổ sinh vật học có thể chia ra thành điều tra ngoài trời, khai quật, bảo quản hóa thạch và xử lý trong phòng thí nghiệm, phân loại và thu thập các dữ liệu khác, miêu tả hệ thống các loài mới và quản lý các mẫu sưu tập.
Lý thuyết hỗn loạn Thuyết hỗn loạn hay thuyết hỗn mang (chaos theory) là một lĩnh vực nghiên cứu trong toán học và được ứng dụng vào các ngành khoa học khác như vật lý, cơ khí, kinh tế, sinh học, triết họ Thuyết hỗn loạn nghiên cứu hành vi của các hệ thống động lực (dynamical system) nhạy cảm với điều kiện ban đầu, chúng là những hệ thống "phi tuyến tính" (non-linear) hoặc có "số chiều không gian không giới hạn". Những hệ thống này được đặc trưng bởi tính chất "hỗn loạn" và sự nhạy cảm của các hệ thống đó thường được nhắc đến như là hiệu ứng cánh bướm (butterfly effect) - một hiện tượng được tìm ra bởi Edward Lorenz. Với đặc tính này, những biến đổi quan sát được của các hệ thống vật lý có biểu hiện hỗn loạn trông có vẻ ngẫu nhiên, dù mô hình mô tả của hệ thống là 'xác định' theo nghĩa là được định nghĩa chính xác và không chứa những tham số ngẫu nhiên. Những biến đổi này có thể được dự đoán trước bằng những phương trình tất định đơn giản (simple deterministic equation). Về mặt ngữ nghĩa, từ "hỗn loạn" (chaos từ tiếng Hy Lập χάους) trong ngữ cảnh khoa học mang nghĩa khác với thông thường được sử dụng là "trạng thái lộn xộn, thiếu trật tự". Từ "hỗn loạn" trong "thuyết hỗn loạn" ám chỉ một hệ thống có vẻ như không có trật tự nào hết nhưng lại tuân theo một quy luật hoặc nguyên tắc nào đó. Một vài ví dụ của những hệ thống nhạy cảm với điều kiện ban đầu là khí quyển Trái Đất, hệ mặt trời, kiến tạo học, đối lưu chất lỏng, kinh tế, tăng trưởng dân số... Mô tả về thuyết hỗn loạn. Một "hệ thống động lực" formula_1 là "hỗn loạn" nếu như tồn tại một hàm formula_2 bất biến trên tập formula_3, nghĩa là formula_4 và formula_5, thì formula_6. Hàm formula_2 phải thỏa mãn các tính chất sau: Hoặc bằng cách diễn giải thông thường, ta nói một hệ thống động lực là hỗn loạn nếu nó mang các tính chất sau đây: Sự vận động mỏ hỗ. "Sự nhạy cảm với các điều kiện ban đầu" nghĩa là hai điểm trong một hệ như vậy có thể di chuyển trên những quỹ đạo hoàn toàn khác biệt nhau trong không gian pha của chúng ngay cả nếu như sự khác nhau trong cấu hình ban đầu của chúng là rất nhỏ. Hệ này hành xử hoàn toàn giống nhau nếu như cấu hình ban đầu của chúng là giống nhau "một cách chính xác". Một ví dụ về độ nhạy cảm như vậy là hiện tượng gọi là "hiệu ứng bướm", khi mà vẫy cánh của một con bướm được tưởng tượng là tạo ra những thay đổi nhỏ trong khí quyển mà sau một quãng thời gian đủ lớn sẽ tạo nên những thay đổi lớn như là một cơn bão có thể xảy ra. Cái vẫy cánh của con bướm biểu diễn một thay đổi nhỏ trong trạng thái ban đầu của hệ tạo ra một chuỗi các sự kiện để dẫn đến những hiện tượng ở phạm vi rộng lớn hơn như là một cơn bão. Nếu như một con bướm đã không vẫy cánh, quỹ đạo của hệ có thể rất khác xa. Các ví dụ phổ biến khác của các chuyển động hỗn loạn là sự pha trộn của thuốc nhuộm và các dòng khí chuyển động hỗn loạn. Sự nhạy cảm đối với điều kiện ban đầu liên quan đến hàm mũ Lyapunov. Hòa trộn topo (topological mixing) hay chuyển trạng thái topo (topological transitivity) nghĩa là khi ta áp dụng phép biến đổi lên bất kì một đoạn bất kì formula_18 sẽ làm nó mở rộng ra cho đến khi đó chồng lên với một đoạn cho trước bất kì formula_19. Tính hòa lẫn nhau, các điểm tuần hoàn trù mật, và sự nhạy cảm đối với điều kiện ban đầu có thể mở rộng ra bất kì không gian metric nào. Một cách để nhìn thấy các chuyển động hỗn loạn, hay bất kì một thứ chuyển động nào, là vẽ sơ đồ pha của chuyển động đó. Trong một sơ đồ như vậy thời gian không được biểu diễn và mỗi trục đại diện cho một chiều của trạng thái. Chẳng hạn, ta có thể vẽ "vị trí" của một con lắc so với "vận tốc" của nó. Con lắc ở điểm dừng sẽ được vẽ bằng 1 điểm và một con lắc tuần hoàn lắc lư qua lại sẽ được vẽ bằng một đường cong khép kín. Khi một sơ đồ làm thành một đường cong khép kín, đường cong đó được gọi là một quỹ đạo. Con lắc của chúng ta có vô số quỹ đạo, tạo thành một vết các hình ellip lồng vào nhau xung quanh gốc tọa độ. Thông thường thì các sơ đồ pha sẽ cho thấy rằng đa số các quỹ đạo trạng thái sẽ quấn quanh và tiến đến một giới hạn chung nào đó. Hệ thống này cuối cùng sẽ có một chuyển động giống nhau cho tất cả các trạng thái ban đầu trong một vùng xung quanh chuyển động, như thể như là hệ thống bị hút vào đó. Một chuyển động thu hút như vậy được gọi là một vùng thu hút của hệ thống và rất phổ biến cho các hệ thống có lực tiêu tán dần. Phạm vi của các sự hấp dẫn. Lý thuyết toán học. Các nhà toán học đã tìm ra nhiều cách bổ sung để đưa ra các phát biểu định lượng về lý thuyết hỗn loạn, trong đó bao gồm: Cực tiểu sự phức tạp của một hệ thống hỗn loạn. Nhiều hệ đơn giản có thể tạo ra sự hỗn loạn mà không phụ thuộc vào các phương trình vi phân, ví dụ như bản đồ Logistic, là một phương trình sai phân tuyến tính có liên hệ lặp lại, mô tả sự gia tăng dân số theo thời gian Ngay cả với hệ thống rời rạc như là ô tô tự động, có thể phụ thuộc nhiều vào những điều kiện ban đầu. Stephen Wolfram đã nghiên cứu một ô tô tự động với các tính chất này, được ông gọi là "Quy tắc 30" Các liên kết ngoài. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Trong lý thuyết quyết định (chẳng hạn quản lý rủi ro), một cây quyết định (tiếng Anh: "decision tree") là một đồ thị của các quyết định và các hậu quả có thể của nó (bao gồm rủi ro và hao phí tài nguyên). "Cây quyết định" được sử dụng để xây dựng một kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu mong muốn. Các cây quyết định được dùng để hỗ trợ quá trình ra quyết định. Cây quyết định là một dạng đặc biệt của cấu trúc cây. Trong lĩnh vực máy học, cây quyết định là một kiểu mô hình dự báo ("predictive model"), nghĩa là một ánh xạ từ các quan sát về một sự vật/hiện tượng tới các kết luận về giá trị mục tiêu của sự vật/hiện tượng. Mỗi một nút trong ("internal node") tương ứng với một biến; đường nối giữa nó với nút con của nó thể hiện một giá trị cụ thể cho biến đó. Mỗi nút lá đại diện cho giá trị dự đoán của biến mục tiêu, cho trước các giá trị của các biến được biểu diễn bởi đường đi từ nút gốc tới nút lá đó. Kỹ thuật học máy dùng trong cây quyết định được gọi là học bằng cây quyết định, hay chỉ gọi với cái tên ngắn gọn là cây quyết định. Học bằng cây quyết định cũng là một phương pháp thông dụng trong khai phá dữ liệu. Khi đó, cây quyết định mô tả một cấu trúc cây, trong đó, các lá đại diện cho các phân loại còn cành đại diện cho các kết hợp của các thuộc tính dẫn tới phân loại đó[1]. Một cây quyết định có thể được học bằng cách chia tập hợp nguồn thành các tập con dựa theo một kiểm tra giá trị thuộc tính [1]. Quá trình này được lặp lại một cách đệ quy cho mỗi tập con dẫn xuất. Quá trình đệ quy hoàn thành khi không thể tiếp tục thực hiện việc chia tách được nữa, hay khi một phân loại đơn có thể áp dụng cho từng phần tử của tập con dẫn xuất. Một bộ phân loại rừng ngẫu nhiên ("random forest") sử dụng một số cây quyết định để có thể cải thiện tỉ lệ phân loại. Cây quyết định cũng là một phương tiện có tính mô tả dành cho việc tính toán các xác suất có điều kiện. Cây quyết định có thể được mô tả như là sự kết hợp của các kỹ thuật toán học và tính toán nhằm hỗ trợ việc mô tả, phân loại và tổng quát hóa một tập dữ liệu cho trước. Dữ liệu được cho dưới dạng các bản ghi có dạng: Biến phụ thuộc ("dependant variable") "y" là biến mà chúng ta cần tìm hiểu, phân loại hay tổng quát hóa. "x1", "x2", "x3"... là các biến sẽ giúp ta thực hiện công việc đó Các kiểu cây quyết định. Cây quyết định còn có hai tên khác: Cây hồi quy ("Regression tree") ước lượng các hàm giá có giá trị là số thực thay vì được sử dụng cho các nhiệm vụ phân loại. (ví dụ: ước tính giá một ngôi nhà hoặc khoảng thời gian một bệnh nhân nằm viện) Cây phân loại ("Classification tree"), nếu "y" là một biến phân loại như: giới tính (nam hay nữ), kết quả của một trận đấu (thắng hay thua). Ví dụ thực hành. Ta sẽ dùng một ví dụ để giải thích về cây quyết định: David là quản lý của một câu lạc bộ đánh golf nổi tiếng. Anh ta đang có rắc rối chuyện các thành viên đến hay không đến. Có ngày ai cũng muốn chơi golf nhưng số nhân viên câu lạc bộ lại không đủ phục vụ. Có hôm, không hiểu vì lý do gì mà chẳng ai đến chơi, và câu lạc bộ lại thừa nhân viên. Mục tiêu của David là tối ưu hóa số nhân viên phục vụ mỗi ngày bằng cách dựa theo thông tin dự báo thời tiết để đoán xem khi nào người ta sẽ đến chơi golf. Để thực hiện điều đó, anh cần hiểu được tại sao khách hàng quyết định chơi và tìm hiểu xem có cách giải thích nào cho việc đó hay không. Vậy là trong hai tuần, anh ta thu thập thông tin về: Trời ("outlook") (nắng ("sunny"), Và tất nhiên là số người đến chơi golf vào hôm đó. David thu được một bộ dữ liệu gồm 14 dòng và 5 cột. Sau đó, để giải quyết bài toán của David, người ta đã đưa ra một mô hình cây quyết định. Nhóm người chơi golf khi trời nắng, nhóm chơi khi trời nhiều mây, và nhóm chơi khi trời mưa. Kết luận thứ nhất: nếu trời nhiều mây, người ta luôn luôn chơi golf. Và có một số người ham mê đến mức chơi golf cả khi trời mưa. Tiếp theo, ta lại chia nhóm trời nắng thành hai nhóm con. Ta thấy rằng khách hàng không muốn chơi golf nếu độ ẩm lên quá 70%. Cuối cùng, ta chia nhóm trời mưa thành hai và thấy rằng khách hàng sẽ không chơi golf nếu trời nhiều gió. Và đây là lời giải ngắn gọn cho bài toán mô tả bởi cây phân loại. David cho phần lớn nhân viên nghỉ vào những ngày trời nắng và ẩm, hoặc những ngày mưa gió. Vì hầu như sẽ chẳng có ai chơi golf trong những ngày đó. Vào những hôm khác, khi nhiều người sẽ đến chơi golf, anh ta có thể thuê thêm nhân viên thời vụ để phụ giúp công việc. Kết luận là cây quyết định giúp ta biến một biểu diễn dữ liệu phức tạp thành một cấu trúc đơn giản hơn rất nhiều. Nó dựa vào việc bình phương các xác suất thành viên cho mỗi thể loại đích trong nút. Giá trị của nó tiến đến cực tiểu (bằng 0) khi mọi trường hợp trong nút rơi vào một thể loại đích duy nhất. Giả sử "y" nhận các giá trị trong {1, , "m"} và gọi "f(i,j)" là tần suất của giá trị "j" trong nút "i". Nghĩa là "f(i,j)" là tỷ lệ các bản ghi với "y"="j" được xếp vào nhóm "i". Dùng trong các thuật toán sinh cây ID3, C4.5 và C5.0. Số đo này dựa trên khái niệm entropy trong lý thuyết thông tin ("information theory"). Ưu điểm của cây quyết định. So với các phương pháp khai phá dữ liệu khác, cây quyết định là phương pháp có một số ưu điểm: == nhược điểm của cây quyết định - khó giải quyết được những vấn đề có dữ liệu phụ thuộc thời gian liên tục - dễ xảy ra lỗi khi có quá nhiều lớp chi phí tính toán để xây dựng mô hình cây quyết định CAO Mở rộng cây quyết định thành đồ thị quyết định. Trong cây quyết định, mọi đường đi từ nút gốc đến nút lá được tiến hành bằng các phép hội ("AND"). Trong đồ thị quyết định, có thể dùng các phép tuyển ("OR") để kết nối ghép hai hay nhiều đường lại với nhau. Phần bù của cây quyết định là phân tích hình thái học ("Morphological Analysis").
Đá hay nham thạch là tổ hợp có quy luật của các loại khoáng vật, có thể là một thể địa chất có lịch sử hình thành riêng biệt. Cách phân loại tổng quát nhất dựa trên nguồn gốc thành tạo gồm đá macma, đá trầm tích và đá biến chất. Đôi khi thiên thạch được xem là một nhóm đá riêng có nguồn gốc từ vũ trụ. Nham thạch là một từ Hán Việt dùng để chỉ đá theo thiên hướng học thuật hoặc một cách chung chung, trong đó "nham" (岩) chỉ đá tảng, đá núi và "thạch" (石) chỉ đá hòn, đá sỏi. Với thời gian đời người đá không có sự biến đổi nhưng chúng có thể bị biến đổi bởi các quá trình địa chất diễn ra trong thời gian rất dài. Chu trình thạch học mô tả các giai đoạn mà các loại đá được hình thành và biến chuyển từ dạng này sang dạng khác. Đá magma hình thành khi dung nham đông nguội trên bề mặt hoặc kết tinh ở dưới sâu. Các đá trầm tích được hình thành từ quá trình lắng đọng vật liệu, rồi nén ép thành đá. Trong khi đá biến chất có thể hình thành từ các loại đá magma, đá trầm tích hay các loại đá biến chất có trước dưới tác động của nhiệt độ và áp suất. Đá là một loại vật liệu gắn liền với lịch sử phát triển của loài người. Từ thời đại đồ đá con người đã biết dùng đá để làm vũ khí tự vệ, săn bắn, công cụ sản xuất. Đặc biệt, đá được dùng trong xây dựng những công trình mà ngày nay chúng trở nên nổi tiếng như Kim tự tháp, Angkor Wat, thành Babylon, El-Djem, Colisée, Bourgogne, Épidayre. Chu trình thạch học hay còn gọi là vòng tuần hoàn của đá nằm ở lớp thạch quyển thuộc vỏ Trái Đất. Cũng giống như nước hay nhiều loại hợp chất khác, chúng biến đổi tuần tự theo một chu trình xác định và quay vòng một cách có hệ thống tạo nên vòng tuần hoàn khép kín. Các đá magma được kết tinh bên dưới lớp vỏ từ magma nóng hoặc được đưa lên trên mặt để hình thành đá núi lửa. Các quá trình bóc mòn, phong hóa diễn ra trên bề mặt làm đá vỡ ra được mang đi nơi khác lắng đọng lại ở những môi trường có năng lượng thấp như hồ, biển, , và cứ thế quá trình tiếp tục tuần hoàn. Các đá cũng như thế, chúng cũng biến đổi tuần tự theo những chu trình xác định dưới những điều kiện tác động về hóa lý khác nhau từ môi trường như bị phong hóa, lắng đọng, nóng chảy, kết tinh, đông kế (1) Magma → Đá magma phun trào → Trầm tích → Đá trầm tích → Đá biến chất → magma (2) Magma → Đá magma xâm nhập → Trầm tích → Đá trầm tích → Đá biến chất → magma Đây có thể coi là hai vòng tuần hoàn lớn vì ngoài ra còn có các vòng tuần hoàn nhỏ hơn cũng xuất phát từ vật liệu ban đầu là magma. Nhưng những vòng tuần hoàn nhỏ này có đường đi ngắn hơn, bỏ qua một số đá nào đó. (3) Đá magma → Đá magma phun trào → Đá biến chất → magma (4) Đá magma → Đá magma xâm nhập → Đá biến chất → magma (5) Đá biến chất (có thể xuất phát từ thiên thạch)→ Trầm tích → Đá trầm tích → Đá biến chất → magma (6) Đá trầm tích (có thể xuất phát từ thiên thạch)→ Trầm tích → Đá trầm tích → Đá biến chất → magma Đá magma được hình thành từ kết quả nguội lạnh, đông cứng của dung dịch silicat nóng chảy (dung dịch macma) và được chia (theo nguồn gốc thành tạo) làm hai loại macma chính: macma xâm nhập và macma phun trào. Macma này có thể có nguồn gốc từ manti của Trái Đất hoặc từ các loại đá đã tồn tại trước đó bị nóng chảy do các thay đổi nhiệt độ áp suất cực cao. Khoảng 64,7% thể trích vỏ Trái Đất được cấu tạo bởi các đá magma, trong đó, 66% là basalt và gabro, 16% là granit, và 17% granodiorit và diorit. Chỉ có 0,6% là syenit và 0,3% peridotit và dunit. Vỏ đại dương là 99% basalt, một loại đá có thành phần mafic. Granit và các đá tương tự cấu tạo nên phần lớn vỏ lục địa. Trên 700 loại đá magma đã được miêu tả lại, phần lớn trong chúng được tạo ra gần bề mặt lớp vỏ Trái Đất. Các loại đá magma chiếm khoảng 95% toàn bộ phần phía trên của lớp vỏ Trái Đất, nhưng chúng phân bố phổ biến hơn ở bên dưới lớp đá trầm tích và đá biến chất tương đối mỏng nhưng phân bố rộng. Thành phần hóa học khoáng vật. Người ta dựa vào thần phần hóa học của đá magma, đặc biệt là silic dioxide (SiO2) để phân ra thành các đá base, trung tính và axit. Ngoài ra, việc phân loại theo thành phần hóa có thể gồm siêu "mafic", "mafic" (tương đương với base) hay đá sẫm màu, trung tính và "felsic" (tương đương với axit) hay đá sáng màu. Xu hướng ngày nay người ta dùng cách gọi mafic, felsic để tránh nhầm lẫn với tính chất axit, base trong hóa học. Thuật ngữ felsic được hình thành khi ghép các từ fel của fenspat (tiếng Anh là Felspar) và si của silic. Từ mafic cũng hình thành theo cách tương tự: ma của magiê và f của ferrum (chỉ sắt) trong tiếng Latinh. Các đá felsic là các đá sáng màu do chứa nhiều natri và kali hơn so với các đá mafic. Các đá felsic có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn nhưng bền hơn trong điều kiện phong hóa so với đá mafic. Chuỗi phản ứng Bowen miên tả quá trình magma nguội lạnh và trình tự kết tinh các khoáng vật để hình thành các loại đá. Chuỗi phản ứng của Boween gồm hai nhánh, nhánh bên phải được gọi là chuỗi phản ứng không liên tục, còn nhánh bên trái được gọi là chuỗi phản ứng liên tục. Nhánh không liên tục bắt đầu kết tinh ở 1200 độ C đứng đầu là olivin - một khoáng vật rất giàu sắt và magnesi, tiếp theo là pyroxen, amphibol, và biotit. Quá trình kết tinh này làm hàm lượng SiO2 trong phần còn lại của magma tăng cao. Trong khi đó, nhánh liên tục bên phải bắt đầu là plagioclase giàu calci có tên gọi là anorthit, từ đây, thành phần calci của khoáng vật này bị thay thế liên tục bằng natri để tạo ra plagioclase giàu natri-anbit. Tiếp theo muscovit và fenspat giàu SiO2 được kết tinh ở nhiệt độ thấp hơn. Thạch anh là sản phẩm kết tinh cuối cùng trong chuỗi phản ứng trên ở nhiệt độ 750 độ C. Đá magma có các kiến trúc khác nhau tùy theo môi trường mà chúng thành tạo. Các đá có hạt thô đồng đều là do quá trình nguội lạnh từ từ khi đó các khoáng vật có thời gian để hình thành những tinh thể, loại kiến trúc này được gọi là hiển tinh. Các đá có kiến trúc hiển tinh thường đặc trưng cho môi trường thành tạo dưới mặt đất, như granit, diorit hoặc gabro. Còn các đá nguội lạnh nhanh, các khoáng vật không có thời gian kết tinh như đá núi lửa thường có các kiến trúc ban tinh, vi tinh, ẩn tinh hoặc thủy tinh như ryolit, andesit hay bazan. Đối với các đá có kiến trúc ban tinh, sự xuất hiện các hạt tinh thể to là do chúng được hình thành từ trước dưới sâu và được mang lên trên bề mặt qua quá trình phun trào. Một số loại đá phun trào hình thành nên cấu trúc lỗ hổng hoặc cấu trúc bọt, các cấu trúc này đặc trưng cho các dung nham có chứa nhiều chất bốc (hơi nước, CO2) ở áp suất cao, khi lên đến bề mặt áp suất bị giảm nên pha khí tách ra khỏi pha lỏng, và kết quả là để lại những lỗ rỗng trong khối đá. Các loại đá magma. Đá magma chia theo thành phần SiO2 và theo môi trường thành tạo được miêu tả trong bảng bên dưới. Đá magma xâm nhập. Đá magma xâm nhập được thành tạo khi dung dịch macma nguội đi và các tinh thể khoáng vật kết tinh chậm bên trong vỏ Trái Đất. Các tinh thể kết tinh rõ ràng, các đá loại này thường có cấu tạo đặc sít. Sự kết tinh của dung dịch magma trong giai đoạn sau có môi trường thuận lợi để hình thành loại đá có kích thước hạt rất to như pegmatit. Các đá xâm nhập có mặt trong các dãy núi cổ và hiện đại, tuy nhiên chúng chỉ có trên các lục địa. Đá mạch là các loại đá xâm nhập khi magma đi lên theo các khe nứt kiến tạo, đứt gãy hoặc các đá có trước bị yếu đi do các yếu tố kiến tạo. Các quá trình hình thành loại đá này có thể xảy ra trên cạn hoặc dưới đáy biển. Quá trình kết tinh có thể xảy ra ở các cấp áp suất và nhiệt độ đa dạng tùy thuộc vào vị trí và thế nằm của chúng. Chúng được chia như sau: Đá magma phun trào. Đá magma phun trào được thành tạo khi dung dịch magma phun trào lên trên bề mặt đất; có sự giải phóng các chất khí có trong dung dịch macma một cách mãnh liệt, các đá macma phún xuất thường có cấu tạo rỗng xốp. Trên mặt đất, do nguội lạnh nhanh, macma không kịp kết tinh, hoặc chỉ kết tinh được một bộ phận với kích thước tinh thể rất nhỏ, chưa hoàn chỉnh, còn đại bộ phận tồn tại ở dạng vô đình hình, trong đá có lẫn nhiều bọt khí (do đang sôi và bị nguội lạnh nhanh): đó là dạng macma phún xuất chặt chẽ. Ví dụ Đá diabase, bazan, andezit. Có tính chất rỗng nhẹ, cứng và rất giòn. Sử dụng làm cốt liệu cho bê tông nhẹ, dụng làm phụ gia hoạt tính cho bê tông và xi măng… Khi macma đang sủi bọt, gặp lạnh đông lại nên rất xốp và nhẹ, hoặc phần macma bị phun lên cao, bay xa, nguội nhanh, hơi nước, khí thoát ra nhiều nên có kết cấu rỗng vụn, lỗ nhỏ: đó là dạng macma phún xuất rời rạc. Ví dụ Tro, túp núi lửa, túp dung nham. Tính chất nhẹ. Dùng làm phụ gia trơ cho bê tông và xi măng. Ngoài các núi lửa trên đất liền, một lượng lớn đá này hình thành một cách liên tục ở các sống núi giữa đại dương. Phần lớn lớp vỏ Trái Đất được cấu tạo bởi các đá magma và đá biến chất, ước tính chúng chiếm khoảng 90-95% trong 16 km tính từ bề mặt Trái Đất. Dù vậy, hầu hết bề mặt trái Đất được bao phủ bởi trầm tích. Về cơ bản tất cả đáy biển được phủ bởi trầm tích, và 70-80% các lục địa được bao phủ bởi các đá trầm tích. Hầu hết các hóa thạch được phát hiện trong trầm tích, đá trầm tích và đá biến chất từ đá trầm tích, chúng là các dấu hiện quan trọng cho việc tìm hiểu các điều kiện môi trường mà trước đây từng tồn tại trên bề mặt Trái Đất. Các nguồn năng lượng như dầu mỏ, khí thiên nhiên, than đá và urani được chiết tách từ đá trầm tích. Đá trầm tích được tạo ra từ sự lắng đọng của các mảnh vụn hoặc các chất hữu cơ, hay các chất kết tủa hóa học (các chất còn lại sau quá trình bay hơi), được nối tiếp bằng sự kết đặc của các chất cụ thể và quá trình xi măng hóa. Quá trình xi măng hóa có thể diễn ra tại hoặc gần bề mặt Trái Đất, đặc biệt là đối với các loại trầm tích giàu cacbonat. Do được hình thành trong các điều kiện môi trường năng lượng thấp nên đá trầm tích có các đặc điểm chung là: Do sự tích tụ, lắng đọng hay kết tủa trong nước của các khoáng chất, của đất đá bị phong hóa, vỡ vụn tích lũy thành khối mà thành. Dựa vào nguồn gốc hình thành có ba loại: Đá trầm tích mảnh vụn. Đá trầm tích mảnh vụn hay trầm tích cơ học được hình thành từ các sản phẩm vụn nát sinh ra trong quá trình phong hóa các loại đá có trước tích tụ lại mà thành. Về cấu tạo, đá mảnh vụn gồm hai hợp phần là các mảnh vụn và xi măng gắn kết các mảnh vụn đó lại. Phần mảnh vụn là các hạt có nhiều kích thước khác nhau, và thành phần khác nhau; còn xi măng là các hạt có kích thước nhỏ hơn cỡ hạt sét như xi măng sét, xi măng vôi hoặc xi măng silic. Một số đá trầm tích mảnh vụn thường gặp như dăm kết, cuội kết, sa thạch. Đá trầm tích hóa học. Đá trầm tích hóa học tạo thành do các khoáng chất hòa tan trong nước lắng đọng, kết tủa lại, như đá vôi dolomit. thạch cao, anhydride, tup đá vôi… Đá vôi chiếm khoảng 10-15% của các loại đá trầm tích của Trái Đất. Cacbonat calci, CaCO3, có tồn tại ở hai loại khoáng vật là canxit và aragonit. Đá vôi có thể được hình thành trong nhiều cách khác nhau, calci cacbonat có thể được kết tủa từ nước biển bão hòa, hoặc sinh học, động vật có vỏ đá vôi để lại vỏ. Có cả động vật hình thành khung xương aragonit và động vật hình thành khung xương calcit, và tùy thuộc vào loại động vật sinh sống ở một hốc đá vôi có thể khác nhau đáng kể giữa các địa điểm. Loại phổ biến nhất của các loại đá kết tủa hóa học là evaporit, được hình thành khi nước giàu muối hòa tan bị bốc hơi. Khi bay hơi nồng độ muối tăng cho đến khi nước được bão hòa và muối bắt đầu kết tủa. Một lượng lớn các đá evaporit hình thành khi biển bốc hơi trong khu vực Địa Trung Hải trong suốt thế Miocene và dọc theo bờ Biển Chết ngày nay. Các loại khoáng evaporit gồm thạch cao (CaSO4·2H2O), thạch cao khan (CaSO4) và halit (NaCl). Đá trầm tích hữu cơ. Trầm tích hữu cơ tạo thành do sự tích tụ xác động vật, thực vật như đá vôi, đá vôi vỏ sò, đá phấn, đá diatomit, trepen… Trầm tích hữu cơ thường bị các vi sinh vật tiêu thụ oxy phá hủy. Tuy nhiên, nếu lượng oxy không đủ, vi sinh vật không thể phá hủy toàn bộ nguyên liệu, và nó có thể tạo thành một tảng đá hữu cơ. Các loại đá này có thể được hình thành cả trên các lục địa và đại dương. Ví dụ về một môi trường lục địa là than và biển là đá phiến dầu. Thành phần của hợp chất carbon và carbon có thể lên tới 25% và hàm lượng lưu huỳnh có thể lên tới 12%. Đá trầm tích núi lửa. Đá hình thành do mảnh vụn của núi lửa lắng đọng và nén ép thành đá như tuff. Đá biến chất được tạo ra từ sự thay đổi của bất kỳ loại đá nào (bao gồm cả đá biến chất đã hình thành trước đó) đối với các điều kiện thay đổi của môi trường như nhiệt độ và áp suất so với các điều kiện nguyên thủy mà các loại đá đó được hình thành. Các điều kiện nhiệt độ và áp suất này luôn luôn cao hơn so với các chỉ số của chúng ở bề mặt Trái Đất, và phải đủ cao để có thể thay đổi các khoáng chất nguyên thủy thành các dạng khoáng chất khác hoặc thành các dạng khác của cùng một khoáng chất (ví dụ bằng sự tái kết tinh). Mức độ biến chất của đá có thể được miêu tả qua một số tướng, mỗi tướng đặc trưng bởi một số loại đá có khoáng sản đi kèm trong một giới hạn nhiệt độ và áp suất nhất định. Lý thuyết về tướng biến chất được nhà địa chất Phần Lan, Pentti Eskola đưa ra năm 1915, lý thuyết này là sự phát triển tiếp theo của công trình phiến biến chất được Viktor M. Goldschmidts đưa ra từ thập niên 1900. Trong trường hợp nhiệt độ là yếu tố chính thì biến chất xảy ra theo đường màu xanh lá cây (hình bên) tạo ra đá biến chất tướng amphibolit và granulit. Trong trường hợp va mảng mà yếu tố chi phối là áp lực thì tạo nên tướng đá phiến lam và eclogit. Môi trường biến chất. Biến chất khu vực xảy ra trong khu vực rộng lớn, chẳng hạn như các dãy núi. Khi các mảng kiến tạo hội tụ và các tầng trên của các lớp gấp lại và ép xuống làm những lớp đá hình thành trước bị lún sâu hơn, bên trên là những lớp trầm tích mới tích tụ dần gây nên áp lực và nhiệt độ gia tăng. Điều này dẫn đến cả hai quá trình tái kết tinh và thay đổi cấu trúc. Loại đá này có tính phân phiến (lớp mỏng) nên tính chất cơ học kém hơn đá magma. Ví dụ Đá gơnai (do đá granit tái kết tinh), phiến sét (do sự biến chất của đất sét dươi áp lực cao). Biến chất tiếp xúc xảy ra khi đá nằm bên cạnh một khối magma bị ảnh hưởng bởi nhiệt từ magma. Kích thước của magma ảnh hưởng đến khoảng cách mà khối đá có trước bị biến chất. Trong một thể magma lớn, giống như một thể batolit lớn có thể đến vài km, thì lớp biến chất tiếp xúc có thể chỉ vài cm. Biến chất tiếp xúc xảy ra ở tất cả các độ sâu trong lớp vỏ, nhưng là rõ ràng nhất khi nó xảy ra gần bề mặt, bởi vì áp lực thấp, và độ lệch nhiệt độ quá lớn. Vì biến chất tiếp xúc không liên quan đến bất kỳ áp lực nào tác động lên nên các tinh thể không định hướng theo bất kỳ hướng nào. Ví dụ đá hoa (do tái kết tinh đá vôi và đá đôlômit dưới tác dụng của nhiệt độ và áp suất cao mà thành), thạch anh (biến chất từ cát)… Biến chất nhiệt dịch xảy ra khi dòng nhiệt dịch nóng xen vào trong các khe nứt làm ảnh hưởng đến khối đá có trước. Điều này thường xảy ra trong các khe nứt của các hoạt động lửa, vì điều này góp phần ra nhiệt cần thiết. Biến chất va chạm xảy ra khi thiên thạch va chạm bề mặt đất, do động năng rất lớn của thiên thạch được chuyển thành nhiệt và áp suất trong đá bị va chạm. Trong một số trường hợp, những tác động này tạo thành các coesit, một loại silica mật độ lớn, và thậm chí hình thành các hạt kim cương nhỏ. Sự hiện diện của các khoáng chất như trên cho thấy rằng ít nhất là thiên thạch đã tạo ra áp lực và nhiệt độ gây biến đổi phần trên cùng, nơi mà các khoáng vật thường được hình thành. Cấu tạo đặc trưng của đá biến chất là phân phiến, đó là sự sắp xếp có định hướng của các khoáng vật dưới tác động của áp suất chính trong quá trình hình thành đá biến chất, ví dụ như đá gneiss, đá phiến lam, đá phiến lục. Phương áp lực sẽ vuông góc với mặt phẳng chứa các phiến. Dựa vào đặc điểm này, người ta có thể tái hiện môi trường kiến tạo vào lúc mà đá đó được hình thành. Tuy nhiên, không phải đá biến chất nào cũng có cấu tạo phân phiến. Các đá không có cấu tạo phân phiến như quartzit, đá hoa, đá sừng. Thiên thạch là một loại đá có nguồn gốc trong không gian chứ không phải hình thành trên Trái Đất. Một số thiên thạch có thể là dấu tích còn sót lại từ sự hình thành hệ Mặt Trời cách nay hơn 4,6 tỷ năm. Thiên thạch thường bao gồm khoáng vật silicat (95%) và rất nhiều hợp kim sắt - nickel, hoặc sự kết hợp cả hai (5%). Thiên thạch sắt bao gồm hợp kim sắt-nickel và chiếm khoảng 3,8% của tất cả thiên thạch. Chúng được cho là bao gồm các vật liệu từ lõi của các tiểu hành tinh bị gián đoạn. Thiên thạch sắt rơi vào ba nhóm tùy thuộc vào thành phần nickel/sắt và cấu trúc tinh thể; hexahedriter chứa 4-6% nickel, octahedriter chứa 6-12% nickel và ataxiter chứa nhiều hơn 12% nickel. Cấu trúc tinh thể của hexahedriter giống như một hình chữ nhật, octahedriter có mô hình lục giác và ataxiter không có cấu trúc tinh thể khác nhau. Thiên thạch sắt đá bao gồm một hỗn hợp xấp xỉ bằng hợp kim sắt-nickel và khoáng chất silicat và tương ứng với khoảng 0,5% của tất cả các thiên thạch được biết đến. Chúng được cho là thành tạo từ vật liệu từ khu vực tiếp giáp giữa lõi thiên thể và lớp vỏ của nó. Đá là một loại vật liệu gắn liền với lịch sử phát triển của loài người. Thời tiền sử, bắt đầu thời đại đồ đá con người đã biết dùng đá để làm vũ khí tự vệ, săn bắn, công cụ sản xuất. Những công trình bằng đá nổi tiếng như kim tự tháp, Angkor Wat, thành Babylon, El-Djem (Tuynizi), Colisée (Ý), Bourgogne (Pháp), Épidayre (Hy Lạp), vv. Làm vật liệu xây dựng. Là sản phẩm sản xuất từ đá thiên nhiên bằng phương pháp gia công cơ học hoặc do phong hóa tự nhiên như: đá hộc, đá tấm (phiến), đá dăm, cá Từ đá thiên nhiên có thể chế tạo một số chất kết dính như xi măng (đá vôi+ đất sét+ nung + clinker, nghiền +PG XM), vôi (nung đá vôi CaCO3), thạch cao xd CaSO4.0.5H2O (nung đá thạch cao CaSO4.2H2O) … Vật liệu đá xây dựng được sử dụng rộng rãi nhờ có những ưu điểm sau: Tính chất các đá làm vật liệu xây dựng bao gồm trọng lượng thể tích và cường độ ở trạng thái khô, như các loại nhẹ (trọng lượng 1800 kg/m3 và có mác tương ứng 5, 10, 15, 75, 100, 150 kG/cm2) thường dùng xây tường cho nhà cần cách nhiệt; loại nặng ( 1800 kg/m3 và có mác tương ứng 100, 150, 200, 400, 600, 800, 1000 kG/cm2) dùng trong các công trình chịu lực, công trình thủy công để xây móng, tường chắn, lớp phủ bờ kè, ốp lát…
Cự thạch (tiếng Anh: "megalith") là các tảng đá lớn được sử dụng để xây dựng các kết cấu hay các di tích, hoặc là đứng một mình hoặc là cùng với các tảng đá khác. Trong ngôn ngữ một số nước châu Âu, người ta dùng từ "megalith" để chỉ cự thạch. Nó có nghĩa là làm từ những tảng đá như vậy, nhưng sử dụng cơ chế tự khóa mà không sử dụng vữa hay các chất kết dính nào khác. Từ "megalith" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ "megas" nghĩa là "lớn" và "lithos" nghĩa là "đá". Sự phân bố của các cự thạch. Thuật ngữ này có thể sử dụng để miêu tả các công trình xây dựng được con người ở nhiều khu vực trên thế giới và thuộc nhiều thời kỳ khác nhau dựng lên. Đầu thế kỷ 20, một số học giả cho rằng tất cả mọi cự thạch đều thuộc về một "nền văn minh cự thạch" toàn cầu (những người theo chủ nghĩa siêu phổ biến, ví dụ Grafton Elliot Smith và William James Perry), nhưng điều này đã bị bác bỏ từ lâu nhờ các phương pháp xác định niên đại hiện đại. Nabta Playa đã từng là một hồ lớn trong sa mạc Nubia, nằm ở khu vực cách 500 dặm về phía nam Cairo ngày nay (xem Nubia). Vào thiên niên kỷ 5 TCN những người sống ở Nabta Playa đã xây dựng thiết bị thiên văn học sớm nhất thế giới mà ngày nay còn biết tới, nó sớm hơn 1.000 năm, nhưng có thể so sánh với Stonehenge xem ở đây . Các nghiên cứu chỉ ra rằng nó là một loại lịch tiền sử dùng để đánh dấu chính xác thời điểm diễn ra hạ chí xem ở đây . Các vật tìm thấy chỉ ra rằng khu vực này chỉ có thể sử dụng theo mùa vụ, có lẽ chỉ được trong mùa hè khi hồ này có nước đủ để cỏ phát triển cho việc chăn thả bò xem Nabta , xem thêm . Các cự thạch ở Tây Âu. Ở Tây Âu và khu vực ven Địa Trung Hải, các cự thạch nói chung được xây dựng trong thời kỳ đồ đá mới hoặc cuối thời kỳ đồ đá và thời kỳ đồng-đá hoặc thời kỳ đồ đồng (khoảng những năm 4500 – 1500 TCN). Có lẽ cự thạch nổi tiếng nhất ở châu Âu là cự thạch nằm ở Stonehenge, Anh, mặc dù còn rất nhiều cự thạch khác cũng được biết đến trên toàn thế giới. Comte de Caylus (1692–1765) là người đầu tiên miêu tả các di tích ở Carnac. Legrand d'Aussy đã đưa ra các thuật ngữ "menhir" (cột đá) và "dolmen" (mộ đá), cả hai đều có nguồn gốc từ tiếng Breton, thành các thuật ngữ về các khối cấu trúc xây dựng bằng đá thời cổ đại. Ông diễn giải các cự thạch như là các mồ mả của người Gôloa. Tại Anh, các nhà sưu tầm đồ cổ như Aubrey và Stukeley đã chỉ đạo các tìm kiếm sớm nhất đối với cự thạch. Năm 1805, Jacques Cambry đã xuất bản cuốn sách có tên gọi "Monuments celtiques, ou recherches sur le culte des Pierres, précédées d'une notice sur les Celtes et sur les Druides, et suivies d'Etymologie celtiques", trong đó ông đề xuất ý tưởng về sự thờ cúng đá của người Celt. Điều này là sự liên kết hoàn toàn vô căn cứ giữa các thầy tu (druid) và các cự thạch và nó đã ám ảnh trí tưởng tượng cộng đồng kể từ đó. Các dạng cấu trúc cự thạch. Các cấu trúc cự thạch khác nhau bao gồm: Mồ mả cự thạch. Nhiều di tích cự thạch cổ đã là các gò đống chôn cất được sử dụng bởi nhiều thế hệ người khác nhau. Các ụ đá hình tháp có khoang riêng là dạng phổ biến của các mồ mả tập thể. Một số trong chúng là các mồ mả có lối đi – nói chung được xây dựng mà vật liệu xây tường không cần hồ vữa và/hoặc có các cự thạch, thông thường với khoang chôn cất hình tròn trong các gò đống tròn và có lối đi thẳng dẫn ra ngoài. Mồ mả có hành lang có các khoang cự thạch dài với các bên song song thông thường ở các gò đống dài và có lối vào ở một đầu. Nhiều cự thạch được coi là có mục đích để xác định các sự kiện quan trọng trong thiên văn như các ngày diễn ra hạ chí, đông chí, xuân phân và thu phân "(xem thêm cổ thiên văn học)". Các dấu đánh trên các cự thạch được một số người coi là đại diện cho các ngôi sao và vì thế để chỉ hướng các chòm sao tại các điểm xây dựng cự thạch. Các cự thạch thời hiện đại. Có một số các công trình xây dựng kiểu cự thạch thời hiện đại. Coral Castle là một công trình bằng đá kỳ dị được xây dựng những năm thập niên 1920 ở Homestead, Florida bởi Edward Leedskalnin. Các ví dụ về cự thạch. Các cự thạch khác còn có:
Hệ thống chống bó phanh Hệ thống chống thắng trượt (ABS, viết tắt của "anti-lock braking system" được dịch từ tiếng Đức "Antiblockiersystem") là một hệ thống trên xe hơi và xe máy, giúp cho bánh xe của phương tiện không bị bó cứng trong lúc thắng (phanh trượt), chống lại việc bánh xe bị trượt dài trên mặt đường Hệ thống ABS được phát minh bởi hãng Robert Bosch GmbH và hiện nay là một hệ thống bắt buộc của xe ở nhiều nước. Hãng Bosch của Đức đã có ý tưởng và phát triển hệ thống này từ thập niên 1930, sau đó đến năm 1978 lần đầu tiên sản xuất được hệ thống ABS điện. Hệ thống ABS áp dụng lần đầu tiên trên xe ô tô là dòng xe S-serie của Mercedes-Benz vào năm 1978 sau đấy thì được áp dụng trên cả những phương tiện khác kể cả mô tô nhưng dựa trên loại má phanh có tính ăn mềm (ăn từ từ, chậm dần) Hệ thống thắng ABS có các bộ phận chính sau đây: ECU điều khiển trượt: Bộ phận này xác định mức trượt giữa bánh xe và mặt đường dựa vào các tín hiệu từ các cảm biến và điều khiển bộ chấp hành của thắng. Gần đây, một số kiểu xe có ECU điều khiển trượt lắp trong bộ chấp hành của thắng. Công tắc thắng: báo cho ECU biết khi nào người lái đạp thắng và dừng đạp thắng Bộ chấp hành của thắng: Bộ chấp hành của thắng điều khiển áp suất thủy lực của các xilanh ở bánh xe bằng tín hiệu ra của ECU điều khiển trượt. Cảm biến tốc độ: Cảm biến tốc độ phát hiện tốc độ của từng bánh xe và truyền tín hiệu đến ECU điều khiển trượt. Ngoài ra, trên tá-blô điều khiển còn có: Đèn báo tá-blô: Đèn báo của ABS, khi ECU phát hiện thấy sự trục trặc ở ABS hoặc hệ thống hỗ trợ thắng, đèn này bật sáng để báo cho người lái. Đèn báo hệ thống thắng, khi đèn này sáng lên đồng thời với đèn báo của ABS, nó báo cho người lái biết rằng có trục trặc ở hệ thống ABS và EBD. Công tắc đèn thắng: Công tắc này phát hiện bàn đạp thắng đã được đạp xuống và truyền tín hiệu đến ECU điều khiển trượt. ABS sử dụng tín hiệu của công tắc đèn thắng. Tuy nhiên dù không có tín hiệu công tắc đèn thắng vì công tắc đèn thắng bị hư, việc điều khiển ABS vẫn được thực hiện khi các bố thắng bị bó cứng. Trong trường hợp này, việc điều khiển bắt đầu khi hệ số trượt đã trở nên cao hơn (các bánh xe có xu hướng khoá cứng) so với khi công tắc đèn thắng hoạt động bình thường. Cảm biến giảm tốc: Chỉ có ở một số loại xe. Cảm biến giảm tốc cảm nhận mức giảm tốc của xe và truyền tín hiệu đến ECU điều khiển trượt. Bộ ECU đánh giá chính xác các điều kiện của mặt đường bằng các tín hiệu này và sẽ thực hiện các biện pháp điều khiển thích hợp. Nguyên lý hoạt động. Đây là một hệ thống sử dụng các cảm biến điện tử để nhận biết một hoặc nhiều bánh bị bó cứng trong quá trình thắng của xe. Hệ thống này giám sát tốc độ của các bánh khi thắng. Khi một hoặc nhiều bố có hiện tượng bó cứng, hệ thống này sẽ điều chỉnh áp lực thắng cho từng bánh, ngăn ngừa vỏ xe trượt - duy trì khả năng điều khiển xe. Thông thường hệ thống máy tính trên xe có trang bị ABS sẽ thay đổi áp lực thắng khoảng 30 lần/giây, giảm áp lực tối đa lên một bánh xe đến khi áp lực bằng 0. Các thiết bị chống bó cứng thắng ABS hiện đại gồm có : một máy tính, 4 cảm biến tốc độ tại mỗi bánh và các van dầu thắng . Khi CPU nhận thấy một hay nhiều bánh có tốc độ quay chậm hơn mức quy định nào đó so với các bánh còn lại, nó sẽ tự động giảm áp suất tác động lên thắng. Tương tự, nếu một trong các bánh quay quá nhanh, Chíp điện tử cũng tự động tác động lực trở lại, đồng thời tạo độ rung ở bàn đạp thắng để báo cho người lái biết ABS đang hoạt động. Khi hoạt động, ABS nhả - nhấn piston khoảng 15 lần mỗi giây. Nhờ đó trong các tình huống khẩn cấp hệ thống ABS sẽ giúp người lái có thể kiểm soát quá trình chuyển động trong suốt quá trình thắng xe.
Sư đoàn 1 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa Sư đoàn 1 Bộ Binh, là một trong 3 đơn vị chủ lực thuộc Quân đoàn I và Quân khu 1 của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, được thành lập năm 1955 và tan hàng vào tháng 3 năm 1975. Đây là một đơn vị quân đội lớn, từng tham dự nhiều trận đánh quan trọng trong Chiến tranh Việt Nam, cũng là Sư đoàn bộ binh hàng đầu trong Quân Lực Việt Nam Cộng hòa. Ngoài ra Đại đội Hắc Báo (với chức năng Trinh sát và Viễn thám) nổi tiếng thiện chiến với quân số 260 tay súng cũng trực thuộc Sư đoàn. Do lập được nhiều thành tích nên đây là Sư đoàn Bộ binh đầu tiên mà tất cả quân nhân được mang dây biểu chương ba màu Tam Hợp Bảo quốc Huân chương. Đặc biệt, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 của Sư đoàn là đơn vị duy nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa nhận "Presdential Unit Citation" của Hoa Kỳ vì thành tích chiến đấu dũng cảm. [#endnote_] Trong Chiến tranh Việt Nam sư đoàn đã nhiều lần mở các cuộc hành quân, giao chiến ác liệt ở vùng hỏa tuyến vĩ tuyến 17 dọc theo sông Bến Hải với những địa danh như Quốc lộ 9, Cồn Thiên, Khe Sanh, Tchépone, Lao Bảo, Cam Lộ, Ba Lòng, Tà Bạt, Làng Vây, A Shầu, A Lưới, Đông Hà. Lịch sử hình thành. Sư đoàn 1 Bộ Binh được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1955 tại Huế, với danh xưng ban đầu là Sư đoàn 21 Bộ binh "(Nghị định số 012-QP/NĐ ngày 17 tháng 1 năm 1955 và Sự vụ văn thư số 474/TTM/1/1/SC ngày 27 tháng 1 năm 1955)" do Trung tá Lê Văn Nghiêm làm Tư lệnh đầu tiên. Ngày 1 tháng 8 năm 1955, Sư đoàn 21 Bộ binh đổi tên là Sư đoàn 21 Dã Chiến, ngày 1 tháng 10 năm 1955 lại đổi thành Sư đoàn 1 Dã chiến "(Sự vụ văn thư số 3975/TTM/1/1/SC ngày 17 tháng 9 năm 1955) Cuối năm 1958, Bộ Tổng tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng hòa tái tổ chức các Sư đoàn Dã chiến 1, 2, 3, 4 và 6, các Sư đoàn Khinh chiến 11, 12, 13, 14, 15, 16 thuộc Quân đội Quốc gia thành 7 Sư đoàn Bộ binh, gồm Sư đoàn 1, Sư đoàn 2, Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, Sư đoàn 21, Sư đoàn 22 và Sư đoàn 23. Mỗi sư đoàn với quân số 10.500 quân nhân. [#endnote_] Ngày 1/12/1958, Sư đoàn 1 Dã chiến chính thức với tên gọi Sư đoàn 1 Bộ binh gồm các Trung đoàn trực thuôc: 1, 2 và 3. Ngày 16 tháng 7 năm 1966, sau khi xác nhận các đơn vị và quân số của đối phương, Liên quân Việt-Mỹ mở cuộc hành quân Lam Sơn 289 hay chiến dịch Hastings gồm 5 Tiểu đoàn Bộ binh thuộc Sư đoàn 1 Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, 5 Tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 3 Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, 1 Tiểu đoàn đổ bộ Đặc biệt thuộc Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tại khu vực tây nam sông Bến Hải. Tổng lực lượng có quân số lên đến 16.000 quân tham chiến trên mặt đất, cùng hàng trăm trực thăng và máy bay hỗ trợ. Tất cả lực lượng Quân Lực Việt Nam Cộng hòa tham chiến lẫn yểm trợ đều đặt dưới sự điều động của Quân đoàn I Việt Nam Cộng hòa do Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm chỉ huy. Đại tướng Westmoreland chỉ huy quân Mỹ cung cấp toàn bộ hỏa lực pháo binh, hỏa lực hải quân và không quân tại Quảng Trị cho chiến dịch này. Đây là cuộc hành quân quy mô lớn đầu tiên tại chiến trường Quảng Trị. Ngày 21/7/1966, Quân đội Nhân dân Việt Nam điều động Sư đoàn 324B cùng với Lữ đoàn Giới Tuyến vượt sông Bến Hải tăng viện cho các đơn vị đang tham chiến chống lại cuộc hành quân của QLViệt Nam Cộng hòa và Quân lực Hoa Kỳ đang tấn công các Tiểu đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam cố thủ tại các vị trí. Ngày 30/6/1966, 30 phi tuần B-52 xuất phát từ đảo Guam ném bom dọc khu Phi Quân sự (DMZ), liên tục ném hàng trăm tấn bom vào đội hình phòng ngự của quân đối phương, gây thương vong lớn. Sau 19 ngày chiến đấu từ 16/7 đến 3/8/1966, cuộc hành quân kết thúc. Phía Hoa Kỳ tuyên bố có khoảng 700 quân đối phương tử trận, 17 bị bắt, 142 vũ khí cá nhân và vũ khí cộng đồng bị tịch thu, phía Liên quân Mỹ-Quân Lực Việt Nam Cộng hòa tổn thất 147 tử trận và khoảng 600 bị thương. Ngày 14/9/1966, TQLC Hoa Kỳ phối hợp với Sư đoàn 1 Bộ binh mở chiến dịch Prairie nhằm thanh tảo toàn bộ khu vực Phi Quân sự, 1 ngày sau, Bộ Tư lệnh Đặc nhiệm số 3 Hoa Kỳ huy động 12.000 lính Thủy quân lục chiến khởi động chiến dịch Deck House Quage phối hợp với 11.000 quân Mỹ-Việt Nam Cộng hòa đang thực hiện chiến dịch Prairie, truy quét các lực lượng đối phương từ Cửa Việt đến tây nam sông Bến Hải, buộc các đơn vị đối phương phải rút qua phía bên kia khu vực vĩ tuyến 17. Phía nam sông Bến Hải, toàn tuyến phòng thủ trước ngày 16/7 được khôi phục hoàn toàn. Từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1967, Trung đoàn 2 Bộ binh cùng với TQLC Hoa Kỳ tham gia một loạt các trận đánh lớn ở vùng Phi Quân sự (DMZ) phản công lại cuộc tiến quân vượt qua vĩ tuyến 17 của Sư đoàn 304 và Sư đoàn 325 của Quân đội Nhân dân Việt Nam được sự yểm trợ của pháo tầm xa đặt ở Vĩnh Linh, phía Bắc vĩ tuyến 17. Tại các khu vực Gio Linh, Cồn Thiện, Cồn Tiên, Trung Lương chứng kiến những trận chiến ác liệt giữa 2 phe tham chiến. Các đơn vị tham chiến đã gây thiệt hại lớn cho quân tấn công nhờ sự yểm trợ hùng hậu của pháo binh mặt đất trong đó có các pháo đội 175 ly đặt ở Cam Lộ và Đông Hà, hải pháo và máy bay ném bom chiến lược B-52 của Mỹ. Tết Mậu Thân năm 1968, Trung đoàn 3 cùng với các Tiểu đoàn 1/1, 2/1, 2/2, 4/2, Đại đội Hắc Báo và các Chi đoàn 2 và 3 của Thiết đoàn 7 Thiết giáp trực thuộc Sư đoàn và Chiến đoàn 1 Nhảy Dù gồm các Tiểu đoàn 2, 7 và 9 giữ vững Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh tại đồn Mang Cá và các khu vực lân cận xung quanh. Sau đó Trung đoàn 3 cùng với Chiến đoàn A Thủy quân Lục chiến Việt Nam Cộng hòa, 2 Tiểu đoàn Biệt động quân 21 và 39, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ giải tỏa thành công Cố đô Huế và truy quét quân của đối phương. Tháng 4/1968, Sư đoàn cùng với Sư đoàn 101 Không vận Hoa Kỳ mở một loạt chiến dịch truy quét phía tây Thừa Thiên, vùng thung lũng A Shầu. Ngày 7/2/1969, Tiểu đoàn 2 phối hợp với Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 3 chạm súng nặng với một Trung đoàn chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam không rõ phiên hiệu tại tây bắc Thừa Thiên. Trung đoàn 3 tuyên bố đã gây tổn thất nặng cho trung đoàn đối phương với 247 tử trận và 11 tù binh, tịch thu được 109 vũ khí trong đó có 18 vũ khí cộng đồng, phía Việt Nam Cộng hòa thương vong 57 tử trận và khoảng 200 bị thương. Ngày 6/4/1969, Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 2 phục kích một Tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 304 Quân đội Nhân dân Việt Nam đang tìm cách xâm nhập vào Gio Linh, gây thiệt hại cho đơn vị này với 55 chết và 7 tù binh, tịch thu 23 vũ khí cá nhân. Phía QLViệt Nam Cộng hòa có 18 tử trận và 41 bị thương. Tháng 5 năm 1969, Trung đoàn 3 cùng với Tiểu đoàn 2 và 4 của Trung đoàn 1 tham gia chiến dịch Apache Snow nằm trong 1 loạt các trận đánh ở các Cao điểm 900, 916, 935, 937, 991, đỉnh núi A Bia tại vùng thung lũng mắt xích A Shầu cùng với Sư đoàn 101 Không vận Hoa Kỳ. Tiểu đoàn 2 và 4 tham gia hỗ trợ bảo vệ 2 căn cứ hỏa lực yểm trợ trực tiếp cho chiến dịch của Lữ đoàn 3 Nhảy dù Hoa Kỳ, còn Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 3 Bộ binh Việt Nam Cộng hòa tham gia cuộc đột kích cuối cùng để chiếm ở Cao điểm 937 hay còn gọi là "Đồi thịt băm". Tiểu đoàn đã cùng lính dù Mỹ chiếm thành công đỉnh đồi 937 và cắm cờ lúc 10 giờ sáng ngày 20 tháng 5 năm 1969 trước khi bàn giao cho Tiểu đoàn 3 của Lữ đoàn 3 Nhảy dù Hoa Kỳ lúc 17 giờ chiều cùng ngày sau khi đánh bật đối phương khỏi ngọn đồi này. Ngày 11/10/1969, Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 3 Bộ binh Việt Nam Cộng hòa tham gia giải vây 1 trại Lực lượng Đặc biệt tại tây bắc Thừa Thiên. Ngày 24/11/1969, Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 1 mở cuộc đột kích binh trạm 92, tuy nhiên lại chạm súng nặng nề với lực lượng bảo vệ binh trạm này, buộc phải rút lui mà không đạt được mục tiêu là phá hủy binh trạm này. Tuy nhiên tiểu đoàn 3 tuyên bố đã gây thương vong cho đối phương là 38 chết và 18 bị thương còn phía Việt Nam Cộng hòa thương vong 8 chết và 11 bị thương. Năm 1970, Sư đoàn tiếp nhận thêm Trung đoàn 54 Bộ binh biệt lập và trở thành trung đoàn thứ tư của Sư đoàn. Năm 1971, Sư đoàn tham gia chiến dịch Lam Sơn 719 với 3 Trung đoàn 1, 2 và 3 (Trung đoàn 54 không tham gia trận này mà ở lại bảo vệ vùng hậu cứ Thừa Thiên) với mục tiêu là phá hủy đường mòn Hồ Chí Minh nhằm triệt tiêu con đường tiếp vận khổng lồ của Quân đội Nhân dân Việt Nam vào chiến trường miền Nam với nhiều vũ khí tối tân đủ loại. Cùng tham gia chiến dịch còn có các Sư đoàn Nhảy dù, Thủy Quân Lục Chiến và Liên đoàn 1 Biệt động quân thuộc Quân đoàn I. Tiểu đoàn 2/2 do Trung tá Trần Ngọc Huế, sỹ quan có nhiều thành tích trong Tết Mậu Thân 1968 cùng với tiểu đoàn 4/2 được 120 trực thăng UH-1 Huey mang 1.200 quân không vận nhảy vào thị xã Tchépone để phá hủy các kho tàng chứa lương thực và vũ khí đủ loại của đối phương. Sau đó Sư đoàn chạm súng nặng nề với các Sư đoàn 2, 304, 308, 324B và các đơn vị tăng cường của đối phương với quân số lên đến hơn 40.000 quân đang tiến hành bao vây Sư đoàn. Trung đoàn 1 Bộ binh do Đại tá Nguyễn Văn Điềm chỉ huy bị vây khốn ở bãi đáp Lolo. Sau 10 ngày chiến đấu ác liệt trong điều kiện bị vây hãm và dưới dàn hỏa lực pháo binh khủng khiếp của phía quân đối phương, Trung đoàn 1 được di tản khẩn cấp bằng trực thăng UH-1 Huey và CH-47 Chinook. Tiểu đoàn 4/1 do Trung tá Lê Huấn chỉ huy nhận lãnh trách nhiệm đoạn hậu cho Trung đoàn rút lui, Tiểu đoàn 4/1 chịu tổn thất nặng nề khi chỉ còn 63/600 tay súng về tới Việt Nam, nhiều trực thăng của Lục quân Hoa Kỳ cũng bị bắn hạ do lưới lửa từ các dàn pháo phòng không đủ tầm bao vây xung quanh khu vực. Cũng trong trận chiến này, Trung tá Huấn, viên tiểu đoàn trưởng của Trung đoàn 1 Bộ binh đã tử trận bên cạnh Tiểu đoàn phó và các sĩ quan, binh sĩ dưới quyền khác. Sau khi về Việt Nam, Sư đoàn đã tham gia ngay hai cuộc hành quân Lam Sơn 720 và 810 cùng với Thủy quân Lục chiến Việt Nam giải tỏa Động A Tây do Trung đoàn 6 Quân đội Nhân dân Việt Nam chiếm đóng trước đó. Cuộc tái chiếm diễn ra ác liệt, sau 5 ngày chiến đấu, Động A Tây hoàn toàn được giải tỏa, phía Việt Nam Cộng hòa thu hồi được hơn 100 thi hài quân đồng đội, tổn thất 116 tử trận và khoảng 300 bị thương, và tuyên bố phía đối phương có 402 tử trận (đếm xác) và 22 bị bắt làm tù binh, tịch thu 293 vũ khí cá nhân và 47 vũ khí cộng đồng. Ngày 26/6/1971, Đại đội Hắc Báo trực thuộc Sư đoàn tiến hành tấn công chớp nhoáng Binh trạm 106 tại thung lũng A Shầu, phá hủy các kho tàng chứa vũ khí và lương thực, tiêu diệt nhóm bảo vệ binh trạm này và rút ra thành công mà không phải chịu tổn thất nào. Cũng trong năm này, các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh liên tiếp thực hiện các cuộc tấn công khác ở vùng hỏa tuyến. Ngày 1/10/1971, Sư đoàn 3 Bộ Binh Việt Nam Cộng hòa được thành lập, nhận lãnh trách nhiệm trấn đóng vùng địa đầu giới tuyến Quảng Trị thay thế cho Sư đoàn 1 Bộ binh lui về phòng thủ tiểu khu Thừa Thiên, Sư đoàn 1 nhận lệnh chuyển Trung đoàn 2 Bộ Binh đang trấn đóng ở giới tuyến làm nòng cốt của Sư đoàn 3 Bộ Binh. Năm 1972, Sư đoàn tham gia Chiến dịch Mùa Hè Đỏ Lửa, lúc này Trung đoàn 51 Bộ binh biệt lập đang hoạt động ở vùng Quảng Đà (Quảng Nam-Đà Nẵng) được lệnh sáp nhập vào Sư đoàn, Sư đoàn chính thức có 4 trung đoàn trực thuộc gồm trung đoàn 1, 3, 51, 54 cho đến khi tan hàng năm 1975. Sư đoàn tham gia các chiến dịch tái chiếm một loạt cứ điểm, các điểm cao và thung lũng có thể quan sát toàn bộ tuyến chuyển vận huyết mạch của Quân đội Nhân dân Việt Nam vào miền Nam, những trận đánh đẫm máu không kém hai Sư đoàn đang hoạt động ở phía bắc là Nhảy dù và Thủy quân Lục chiến đang tiến lên tái chiếm Cổ thành Quảng Trị. Tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 1 Bộ binh cùng Liên đoàn 15 Biệt động quân, chịu trách nhiệm bảo vệ hướng Tây và hướng nam tỉnh Thừa Thiên. Trong lúc hành quân, Sư đoàn được lệnh rút về cửa Tư Hiền để thực hiện lệnh tái phối trí Quân đoàn I. Theo kế hoạch rút quân, Sư đoàn 1 Bộ binh cùng các đơn vị trực thuộc tăng phái sẽ tập hợp tại cửa Tư Hiền, vượt đầm Cầu Hai, qua đèo Hải Vân rồi theo Quốc lộ 1 về Đà Nẵng. [#endnote_] Kế hoạch này không tiến hành như dự kiến, vì ngày 21 tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 324B và Sư đoàn 325 cùng Trung đoàn Trị Thiên của Quân Giải phóng miền Nam đồng loạt tấn công dọc theo tuyến phòng thủ sông Bồ kéo dài đến Phú Lộc. Tại các trận tuyến Mõ Tàu, núi Bông và các cao điểm nơi có mặt Trung đoàn 1, 51, 54 thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, giao tranh xảy ra quyết liệt và Sư đoàn 1 đã gây nhiều thiệt hại cho các đơn vị tấn công. [#endnote_] Khi các đơn vị Sư đoàn 1 Bộ binh về đến cửa Tư Hiền, Duyên đoàn 13 Hải quân Việt Nam Cộng hòa chịu trách nhiệm đưa quân qua sông gặp khó khăn do biển động mạnh và sóng quá lớn khiến Duyên đoàn không thể làm tròn trọng trách đó. Sư đoàn 1 Bộ binh không thể rút quân và đã tan rã tại đây, và chỉ có khoảng 4.000 quân nhân về được đến Đà Nẵng. Đến ngày 1/4/1975, sau khi đánh 1 loạt trận chiến cuối cùng xung quanh và trong thành phố Đà Nẵng, Sư đoàn 1 Bộ binh đã tan hàng tại Đà Nẵng sau hơn 20 năm chiến đấu tại vùng địa đầu giới tuyến của miền Nam Việt Nam. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Nguyễn Tường Vân (17 tháng 8 năm 1980 – 2 tháng 12 năm 2005) là người Úc gốc Việt bị kết án buôn lậu ma túy theo luật Singapore. Nguyễn Tường Vân đã chịu án tử hình dưới hình thức bị treo cổ theo Đạo luật Lạm dụng Ma túy, mặc dù có sự can thiệp tích cực của chính quyền Úc cũng như của một số cá nhân và tổ chức. Bản án được thi hành tại Nhà tù Changi của Singapore. Nguyễn Tường Vân và em trai sinh đôi Nguyễn Đăng Khoa ra đời tại một trại tị nạn ở Songkhla, Thái Lan trong gia đình bố mẹ là người Việt. Anh không biết cha mình cho đến năm 2001 khi anh đi từ Hoa Kỳ đến Úc. Mẹ của anh, Kim, định cư ở Úc ngay sau khi sinh hai anh em. Theo thông tin của Vân, năm 1987, mẹ anh kết hôn với một người Úc gốc Việt và thường xuyên đánh đập họ. Vân học tại Trường St Ignatius tại Richmond, Trường tiểu học St Joseph ở Springvale và Trường trung học Mount Waverley. Sau khi rời trường năm 18 tuổi, anh dự định học tại Đại học Deakin, nhưng khó khăn tài chính khiến anh phải làm nhân viên cửa hàng, nhân viên bán hàng, nhân viên bán hàng máy tính và nghiên cứu tiếp thị. Vân bắt đầu kinh doanh máy tính của riêng mình vào năm 1999. Sau khi anh trai Khoa gặp rắc rối về pháp lý, Vân đã lên kế hoạch kinh doanh. Sau đó, anh ta đã tìm được một công việc bán hàng, nghiên cứu và tiếp thị và kiếm được từ 1.500 đến 2.500 đô la Úc một tháng (tùy thuộc vào số tiền hoa hồng anh ta nhận được). Sau đó, anh ta đã nghỉ phép từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2002. Trong lời thú nhận của mình, anh ta tuyên bố rằng anh ta đang dùng "thuốc trị mụn cần 4 tháng." Tháng 11 năm 2002, Vân móc nối một số người tại Úc và được đề nghị vận chuyển hàng từ Campuchia đến Melbourne và có thể là đến Sydney. Chuyến rời Úc đầu tiên này của Vân đưa anh qua Singapore và Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi trở về Singapore từ Thành phố Hồ Chí Minh, Vân được hướng dẫn tán bạch phiến, quấn quanh người. Vân bị bắt ở sân bay Changi khi làm thủ tục bay về Melbourne. Tại phiên toà, Vân thú nhận đã vận chuyển bạch phiến với mục đích kiếm tiền trả các món nợ cũng như các phí tổn pháp lý cho Khoa - người em song sinh đã từng bị ra toà vì tội sử dụng ma tuý và ẩu đả. Số bạch phiến vận chuyển là 396,2 gram, nhiều gấp 25 lần số lượng phải chịu tử hình theo Đạo Luật Chống Sử Dụng Ma Tuý của Singapore là 15 gram. Toà Thượng thẩm đã tuyên phạt Vân tử hình vào ngày 20 tháng 3 năm 2004. Đơn kháng án của Vân bị bác bỏ. Ngày 17 tháng 11 năm 2005, gia đình Vân được thông báo án tử hình được thi hành ngày 2 tháng 12 năm 2005. Thủ tướng Úc John Howard có gửi thỉnh cầu cuối cùng đến Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long xin ân xá cho Vân nhưng không có kết quả. Bản thăm dò ý kiến (Morgan Poll) được đưa ra tháng 11 năm 2005 cho thấy rằng 47% dân Úc tin Vân phải bị tử hình, 46% nói rằng không nên thi hành án tử hình và 7% không có ý kiến. Thỉnh cầu khoan hồng. Lời kêu gọi khoan hồng của Chính phủ Úc đã bị từ chối vào tháng 10 năm 2005. Các thành viên của quốc hội liên bang và tiểu bang đã kháng cáo quyết định xem xét lại và khoan hồng để được cấp. Việc treo cổ của anh ta là vụ xử tử đầu tiên của một công dân Úc ở Đông Nam Á kể từ năm 1993, khi Michael McAuliffe bị treo cổ tại Malaysia vì buôn bán ma túy. Chín năm trước, Barlow and Chambers đã được gửi tới giá treo cổ vì tham gia vào một vụ buôn lậu ma túy. Vào ngày 21 tháng 11 năm 2005, Chính phủ Úc đang xem xét yêu cầu của các luật sư của Vân để nộp đơn xin xét xử tại Tòa án Công lý Quốc tế yêu cầu chính phủ Singapore đồng ý với thẩm quyền của mình. Tuy nhiên, Bộ trưởng Ngoại giao Downer cho rằng không có khả năng chính phủ Singapore sẽ đồng ý. Vào ngày 24 tháng 11 năm 2005, Tổng chưởng lý bang Victoria Rob Hulls đã gặp Bộ trưởng Bộ Luật và Nội vụ Singapore Ho Peng Kee để báo cáo vụ kiện vì sự khoan hồng nhưng không thành công. Vào ngày 28 tháng 11 năm 2005 Ủy viên Nhân quyền Úc, Sev Ozdowski, cho biết Úc phải tiếp tục gây sức ép để Singapore từ bỏ án tử hình, ngay cả khi điều đó chứng minh quá muộn cho Vân. Sau khi tuyên án vào tháng 3 năm 2004, các nhà vận động chống án tử hình đã được báo cáo là tràn ngập các email từ người Úc đề nghị hỗ trợ cho Vân. Các chính khách và các nhân vật tôn giáo đã đưa ra lời cầu xin khoan hồng, nhưng những điều này đã bị chính phủ Singapore từ chối. Một ngày trước khi Vân bị treo cổ, một luật sư đã đưa ra một chiến thuật pháp lý cuối cùng, buộc tội Vân với các tội liên quan đến ma túy tại Tòa án sơ thẩm ở Melbourne, mà anh ta hy vọng sẽ cho phép Chính phủ Liên bang Úc dẫn độ Vân. Tuy nhiên, Bộ trưởng Tư pháp Chris Ellison đã bác bỏ dẫn độ, nói rằng Giám đốc Công tố Liên bang sẽ không cố gắng truy tố Vân tại Úc.#đổi
Bảo quốc Huân chương Bảo quốc Huân chương là huân chương cao quý nhất của Quốc gia Việt Nam, được Việt Nam Cộng hòa kế thừa, dành tưởng thưởng cho các quân nhân trong tất cả binh chủng hay thường dân bên hành chính dân sự đã có "chiến tích xuất sắc trong công cuộc giữ gìn bờ cõi hoặc có cống hiến lớn cho quốc gia". Thời thuộc địa, từ năm 1886, nhà Nguyễn đã đặt ra quy chế Đại Nam Long tinh, phỏng theo Bắc Đẩu Bội tinh của Pháp, để hình thành cơ chế phong thưởng cao nhất cho triều thần nhà Nguyễn và người Pháp tại Bắc và Trung kỳ. Năm 1896, Đại Nam Long tinh được chính quyền Pháp công nhận là một trong bảy loại huân chương của thuộc địa. Tuy nhiên, từ năm 1945, khi chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập và hoàng đế Bảo Đại thoái vị, cơ chế Đại Nam Long tinh viện cũng bị bãi bỏ. Đến năm 1950, Quốc gia Việt Nam thành lập dưới sự thỏa hiệp giữa chính phủ Pháp và cựu hoàng Bảo Đại. Một mặt, quốc trưởng Bảo Đại tái lập Đại Nam Long tinh Viện để phong tặng cho các quan lại cũ trên danh nghĩa Hoàng đế. Mặt khác, ông cho thành lập Bảo quốc Huân chương theo đúng mô hình của Đại Nam Long tinh để ban thưởng với danh nghĩa Quốc trưởng. Hai hệ thống huân chương này cùng tồn tại song song cho đến năm 1955, khi quốc trưởng Bảo Đại bị thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất và chính thể Việt Nam Cộng hòa được thành lập. Cơ chế Đại Nam Long tinh hoàn toàn bị bãi bỏ, nhưng Bảo quốc Huân chương vẫn được kế thừa và tồn tại cho đến năm 1975 thì ngừng hoạt động vĩnh viễn khi chính thể Việt Nam Cộng hòa chấm dứt tồn tại. Bảo quốc Huân chương có hình ngũ giác gần như tròn với đỉnh nhọn trên cùng. Chính giữa có hình tròn, ở diềm có 5 tia mạ vàng tỏa ra hơi giống hình ngôi sao. Trong lòng hình tròn, khảm bằng men ngọc đỏ và khắc nổi bốn chữ "Tổ quốc tri ân". Quanh mé ngoài hình tròn có khảm một đường men màu xanh; bên mé trong, mé ngoài đường men có viền bằng 2 sợi chỉ vàng. Giữa các tia sao, khắc nổi các hoa văn trang trí tráng men xanh lục. Riêng ở vị trí phía dưới, khắc nổi hình rồng. Phía trên đỉnh ngũ giác, khắc mặt rồng với hai bên đối xứng, làm chỗ nối dây đeo. Ở các hạng Đệ nhất đẳng và Đệ nhị đẳng còn có thêm một bài đeo lớn, có hình dạng gần tương tự huân chương. Kèm theo huân chương còn có văn bằng. Trên văn bằng ghi rõ tên họ người được cấp và hạng cấp của Bảo quốc Huân chương. Hệ thống cấp bậc. Như đã nêu trên, Bảo quốc Huân chương gần như được sao chép từ Đại Nam Long tinh của nhà Nguyễn, mà nguồn gốc xa hơn là hệ thống Légion d'honneur của Pháp, vì vậy hệ thống cấp bậc cũng như cách sử dụng của chúng gần như tương đồng hoàn toàn. Hệ thống cấp bậc so sánh giữa chúng nhu sau (theo thứ tự từ cao xuống thấp) Cách sử dụng của Bảo quốc Huân chương cũng gần tương tự với Đại Nam Long tinh và Bắc Đẩu bội tinh. Vị trí đeo của Bảo quốc Huân chương là vị trí danh dự cao hơn trên tất cả các huân, huy chương khác. Mỗi hạng có cách đeo khác nhau như: Trong trường hợp tối giản, các cuống Bảo quốc Huân chương được quy định như sau:
Karst (tiếng Đức: Karst, tiếng Việt: Các-xtơ) là hiện tượng phong hóa đặc trưng của những miền núi đá vôi bị nước chảy xói mòn. Sự xói mòn không phải do cơ chế lực cơ học, mà chủ yếu là do khí carbon dioxide trong không khí hòa tan vào nước, cộng với các ion dương của hydro (H+) tạo thành acid carbonic. Acid carbonic là nguyên nhân chính của quá trình ăn mòn đá vôi. Sản phẩm tự nhiên của quá trình phong hóa karst là các hang động với các nhũ đá, măng đá, sông suối ngầ Từ "Karst" là tên gọi cho Kras, một khu vực ở Slovenia dọc theo bờ biển Adriatic và nằm trên một cao nguyên đá vôi. Địa hình karst là địa hình của các kiểu phân rã đặc trưng thông thường được đánh dấu bởi các hệ thống thoát nước theo hang động ngầm dưới đất. Đây là các khu vực mà ở đó nền đá có lớp bị hòa tan hoặc các lớp, thông thường (nhưng không phải luôn luôn) là đá carbonat chẳng hạn như đá vôi hay dolomit. Trong những chỗ như thế có rất ít hoặc thậm chí không có hệ thống thoát nước trên bề mặt. Một số khu vực có địa hình karst, chẳng hạn khu vực ở miền nam Missouri và miền bắc Arkansas tại Hoa Kỳ, có chứa hàng nghìn hang động. Phản ứng hóa học trong địa hình karst. Sự tạo thành của địa hình karst nói chung là kết quả của nước mưa có chứa lượng carbonic hòa tan (hay còn gọi là mưa acid nhẹ), tác động lên nền đá vôi hay dolomit và hòa tan một phần các chất chứa trong các loại đá này theo thời gian. Quá trình hòa tan dưới bề mặt đá sẽ diễn ra nhanh hơn nếu đá có nhiều khe nứt và tạo ra địa hình với các đặc trưng đặc biệt, bao gồm các hố sụt hay thung lũng (các lòng chảo khép kín), các đường thông thẳng đứng, các dòng suối đột ngột biến mất. Sau một thời gian đủ lớn, các hệ thống thoát nước ngầm phức tạp này (chẳng hạn các tầng ngậm nước karst) và các hệ thống hang động có phạm vi rộng có thể được tạo ra. Acid carbonic tham gia vào quá trình này được tạo ra khi các hạt mưa đi qua khí quyển đã lôi theo khí CO2 và hòa tan nó trong nước. Khi mưa rơi xuống mặt đất, nó ngấm qua các lớp đất, thu thập thêm CO2 để tạo ra dung dịch acid carbonic yếu: H2O + CO2 → H2CO3 CaCO3 → Ca2+ + CO32– CO32– + H2CO3 → 2 HCO3– CaCO3 + H2CO3 → Ca2+ + 2 HCO3– Nước có tính acid yếu này bắt đầu hòa tan đá từ vị trí các khe nứt và các lớp đá trong các tầng đá vôi. Theo thời gian các khe nứt này mở rộng dần và nền đá vẫn tiếp tục bị hòa tan. Các khoảng rỗng trong các lớp đá tăng dần về kích thước và bắt đầu phát triển hệ thống thoát nước ngầm, cho nhiều nước hơn đi qua và làm tăng tốc độ hình thành các đặc trưng karst ngầm. Sự hình thành karst. Sự phát triển của karst xuất hiện khi nước có thành phần acid phản ứng với bề mặt của các khe nứt trong đá hoặc bề mặt lớp đá trầm tích. Khi đó đá gốc (thường là đá vôi hoặc dolomit) sẽ tiếp tục bị ăn mòn và các khe nứt ngày càng rộng hơn. Theo thời gian, các khu nứt này sẽ tiếp tục mở rộng, và tạo thành một mạng lưới thoát nước có thể chảy ngầm bên dưới mặt đất. Nếu mạng lưới ngầm này phát triển, nó sẽ thúc đẩy nhanh việc hình thành karst. Calci carbonat bị hòa tan bởi nước chứa acid nhẹ có thể tích tụ lại ở bất kỳ chỗ nào. Trong các hang, các nhũ đá và các măng đá được hình thành nhờ sự tích tụ của calci carbonat và các khoáng chất bị hòa tan khác khi nước nhỏ giọt từ phía trên xuống. Một ví dụ là hang Gruta Rei do Mato tại Sete Lagoas, Brasil với nhũ đá dài tới 20 mét. Các sự hình thành khác bao gồm các tấm đệm (trong đó dòng chảy là từ các vết nứt chứ không phải là từ các điểm), và lớp cặn calci xuất hiện khi dòng chảy của nước giàu calcit bị cản trở và calcit lắng xuống theo dòng chảy. Helictit là sự hình thành có dạng vòng xoắn gắn liền với mái và tường của hang. Các dạng hình thành dạng dòng chảy lớn hơn là các vũng nước tù đọng, chúng có dạng như bồn tắm và có thể chứa nhiều tinh thể calcit hoặc aragonit lớn hơn như là kết quả của sự bay hơi chậm. Các con sông hiện ra từ các hang đá vôi cũng có thể tạo ra các địa hình tufa, chứa các lớp trầm tích calcit theo thời gian khi nước thoát khỏi môi trường hang động giàu CO2. Thoát nước và các vấn đề. Trồng trọt trong khu vực karst cần phải tính toán đến sự mất nước. Đất có thể đủ màu mỡ và lượng mưa là vừa phải nhưng nước mưa nhanh chóng chui xuống các đường nứt vào trong đất, đôi khi làm cho mặt đất bị khô nẻ trong khoảng thời gian giữa các trận mưa. Việc cung cấp nước từ các giếng trong khu vực có địa hình karst là khá nguy hiểm, do nước giếng có thể là nước chảy ra từ các chỗ đất sụt trong các bãi chăn thả gia súc thông qua các hang động và tới giếng mà không có sự tinh lọc thông thường diễn ra trong các tầng đất xốp ngậm nước. Nước ngầm trong khu vực karst rất dễ bị ô nhiễm như là nước bề mặt. Thông thường các chỗ đất sụt được sử dụng để lập trang trại hay thậm chí là chỗ đổ rác cho cộng đồng. Trong các khu vực karst mà các hố phân tự hoại là hệ thống xử lý chất thải chủ yếu thì sự quá tải hay sự trục trặc của hệ thống sẽ thải các chất thải còn tươi vào trong các kênh nước ngầm. Địa hình karst tự nó cũng gây ra một số khó khăn cho sự cư trú của con người. Các chỗ đất sụt có thể phát triển dần dần cho đến khi các lỗ hổng bề mặt đủ lớn, nhưng sự xói mòn ngầm là hoàn toàn không biết trước được và mái của các hang động ngầm có thể sập bất thình lình. Những sự kiện như thế gây ra tổn thất cho nhà cửa, gia súc, xe cộ, máy móc, và thậm chí là con người. "Giả karst" diễn ra ở xnhững nơi mà nguyên nhân gây xói mòn chính không phải là nước mưa, nhưng ở đó cũng có hệ thống thoát nước ngầm. Nó có thể diễn ra ở vùng đá bazan, trong đó hệ thống thoát nước là xuyên qua các hang động dung nham, hoặc nằm trong các ngọn đồi có cấu tạo là đá granit (ví dụ hang Labertouche ở Victoria, Úc).
Cây báng (các tên gọi khác: đác, co pảng, quang lang, bụng báng, búng báng, báng búng, Cây Tà vạt, Cây rượu trời, Cây dừa núi), danh pháp khoa học Arenga pinnata, là giống cây lâu năm thuộc họ Cau, có nguồn gốc khu vực nhiệt đới châu Á, từ đông Ấn Độ về phía đông tới Malaysia, Indonesia, và Philippines. Ở Việt Nam, cây báng mọc nhiều ở chân núi ẩm (Cao Bằng, Lạng Sơn), chân núi đá vôi, trong rừng thứ sinh. Ở tuổi trưởng thành cây có đường kính khoảng 40–50 cm (gốc và ngọn tương đương) và cao chừng 8-20 mét. Lá xẻ lông chim to trông như lá dừa, mặt dưới màu trắng, dài 6-12 mét và rộng khoảng 1,5 mét, với các lá chét mọc thành 1–6 hàng, dài 40–70 cm và rộng 5 cm. Cuống và bẹ lá có nhiều sợi dài có thể bện thừng. Bông mo phân nhánh nhiều, cong. Hoa đực có 70-80 nhị, hoa cái có ba lá đài còn lại trên quả. Cuống hoa chứa nhiều nước ngọt, có thể nấu thành đường hoặc cho lên men rượu. Quả hình gần cầu, đường kính 7 cm, vỏ màu xanh chuyển thành đen khi chín. Lõi thân chứa nhiều tinh bột, ăn được. Thân đục ra làm máng nước. Ruột cây báng đặc, có cấu trúc sợi trải thưa dọc theo chiều thân cây, là chất liệu màu trắng, mềm. Bột trong lõi cây có thể dùng làm lương thực. Cho đến giữa thế kỉ 20, người Rục ở miền tây Quảng Bình còn lấy bột báng làm lương thực chính. Hiện nay ở Trung Quốc họ sử dụng bột báng rất nhiều để làm đồ uống mát bổ có lợi cho sức khỏe, bột báng còn là chất phụ gia không thể thiếu trong ẩm thực và làm bánh kẹo. Lõi của trái trên cây là hạt đác, rất được ưa chuộng ở Indonesia (được gọi là "kolang-kaling" or "buah tap)" hay Philippines (được gọi là "kaong)." Ở Việt Nam, loại hạt này là đặc sản của vùng Nam Trung Bộ như những tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa. Nhiều người trồng báng làm cảnh vì có dáng đẹp. Dân miền núi thường lấy ruột cây để ủ men nấu rượu. Được nấu từ ruột cây báng sau khi đã ủ men rượu. Rượu báng là đặc sản của dân miền núi đá cao. Hiện nay ở một số xã của tỉnh Cao Bằng người dân vẫn làm rượu từ cây báng, nhưng phải mất khá nhiều thời gian để ủ và lên men (4 tháng) mới có thể cất rượu được Từ bột báng ngoài nghĩa là bột lấy từ thân cây báng còn là tên gọi của loại bột làm từ củ của cây sắn. Ngoài ra từ Báng (Báng Cổ trướng) còn dùng để chỉ một tình trạng tích tụ dịch bệnh lý trong khoang phúc mạc
Mẫu thiết kế phần mềm Trong công nghệ phần mềm, một mẫu thiết kế (tiếng Anh: design pattern) là một giải pháp tổng thể cho các vấn đề chung trong thiết kế phần mềm. Một mẫu thiết kế không phải là một thiết kế hoàn thiện để mà có thể được chuyển đổi trực tiếp thành mã; nó chỉ là một mô tả hay là sườn ("template") mô tả cách giải quyết một vấn đề mà có thể được dùng trong nhiều tình huống khác nhau. Các mẫu thiết kế hướng đối tượng thường cho thấy mối quan hệ và sự tương tác giữa các lớp hay các đối tượng, mà không cần chỉ rõ các lớp hay đối tượng của từng ứng dụng cụ thể. Các giải thuật không được xem là các mẫu thiết kế, vì chúng giải quyết các vấn đề về tính toán hơn là các vấn đề về thiết kế. Các mẫu xuất phát từ một ý niệm kiến trúc đưa ra bởi Christopher Alexander. Vào năm 1987, Kent Beck và Ward Cunningham bắt đầu thử nghiệm ý tưởng áp dụng các mẫu vào lập trình và đưa ra các kết quả của chúng tại hội thảo OOPSLA vào năm đó. Vào các năm tiếp theo, Beck, Cunningham và những người khác vẫn tiếp tục với công việc này. Các mẫu thiết kế đã trở nên phổ biến trong khoa học máy tính sau khi cuốn sách "Design Patterns: Elements of Reusable Object-Oriented Software" được ấn hành vào năm 1994 bởi các tác giả được biết đến với tên "Gang of Four"(Gamma et al) gọi tắt là "GoF". Vào cùng năm đó, cuộc hội thảo đầu tiên về Các ngôn ngữ mẫu cho các chương trình đã được tổ chức và vào năm sau, Kho dự trữ các mẫu Portland ("Portland Pattern Repository) đã được thiết lập để lưu trữ văn bản về các mẫu thiết kế. Các mẫu thiết kế có thể giúp tăng tốc quá trình phát triển phần mềm bằng cách cung cấp các mẫu hình ("paradigms") phát triển đã được chứng thực và kiểm chứng. Để thiết kế phần mềm hiệu quả đòi hỏi phải xem xét các yếu tố mà chỉ trở nên rõ ràng sau khi hiện thực. Xác định được chúng, thông qua các mẫu thiết kế, chúng ta sẽ thoát khỏi chúng vì chúng có thể dẫn đến những rắc rối lớn và cải tiến khả năng dễ đọc của mã cho người viết mã và các nhà kiến trúc sẽ cảm thấy quen thuộc với các mẫu. Thông thường, mọi người chỉ biết cách áp dụng một số kĩ thuật thiết kế phần mềm nào đó vào một vài vấn đề cụ thể nào đó. Những kĩ thuật này khó áp dụng mở rộng cho các vấn đề khác. Các mẫu thiết kế cung cấp các giải pháp chung, được viết tài liệu dưới một định dạng mà không gắn liền với một vấn đề cụ thể nào cả. Các mẫu cho phép các nhà phát triển giao tiếp với nhau dùng các tên dễ hiểu, được dùng rộng rãi để đặt cho các tương tác của phần mềm. Các mẫu thiết kế chung có thể được cải tiến qua thời gian, để trở nên ổn định hơn là thiết kế tùy biến ("ad-hoc designs"). Các mẫu thiết kế có thể được phân loại dựa vào nhiều tiêu chí, chung nhất là dựa vào vấn đề cơ bản mà chúng giải quyết. Theo tiêu chuẩn này, các mẫu thiết kế có thể được phân loại thành nhiều lớp, một số trong chúng là: Việc viết tài liệu cho một mẫu thiết kế nên chứa đựng đủ thông tin về vấn đề mà mẫu đề cập, ngữ cảnh trong đó nó được sử dụng và giải pháp được đề nghị. Tuy vậy, các tác giả mẫu thường sử dụng các dạng trình bày mẫu riêng của mình để trình bày các mẫu thiết kế, và các dạng trình bày mẫu thường tương tự với các phần cần thiết đã nêu. Các tác giả thường bao gồm thêm một số đoạn để cung cấp nhiều thông tin hơn và tổ chức các phần cần thiết trong những đoạn khác nhau có thể có với những tên khác nhau. Một dạng chung thường được sử dụng là dạng được sử dụng bởi "Bộ tứ" (Các tác giả của Mẫu Thiết Kế). Nó bao gồm các đoạn:
Ireland (phiên âm: "Ai-len"; phát âm tiếng Anh: ; ]#đổi ), hay còn được gọi chi tiết là Cộng hòa Ireland (, ), là một quốc gia ở tây bắc châu Âu, chiếm khoảng 5/6 diện tích đảo Ireland về phía nam. Thủ đô và thành phố lớn nhất Cộng hòa Ireland là Dublin, thành phố nằm trên phần phía đông của đảo, có dân số vùng đô thị chiếm khoảng một phần ba trong số 4,75 triệu dân toàn quốc. Quốc gia có chủ quyền này có biên giới trên bộ duy nhất với Bắc Ireland thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Bao quanh Cộng hòa Ireland là Đại Tây Dương, trong đó biển Celtic nằm về phía nam, eo biển Saint George nằm về phía đông nam, và biển Ireland nằm về phía đông. Đây là một nước cộng hòa nhất thể, theo thể chế nghị viện. Nhà nước Tự do Ireland được hình thành vào năm 1922 do kết quả từ Hiệp định Anh-Ireland, khiến khoảng 5/6 diện tích đảo Ireland về phía nam tách ra và độc lập khỏi Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Ireland có vị thế quốc gia tự trị cho đến khi thông qua hiến pháp mới vào năm 1937, theo đó quốc hiệu là "Ireland" và thực tế trở thành một nước cộng hòa, có một tổng thống dân cử đóng vai trò là nguyên thủ quốc gia. Ireland chính thức được tuyên bố là một nước cộng hòa vào năm 1949. Ireland trở thành một thành viên của Liên Hợp Quốc vào tháng 12 năm 1955, gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) vào năm 1973. Cộng hòa Ireland không có quan hệ chính thức với Bắc Ireland trong hầu hết thời gian của thế kỷ XX, song vào thập niên 1980 và 1990 hai chính phủ Anh Quốc và Ireland làm việc với các phái Bắc Ireland nhằm tìm giải pháp cho xung đột vũ trang tại Bắc Ireland. Kể từ khi ký kết Hiệp định Thứ Sáu Tốt lành vào năm 1998, chính phủ Ireland và cơ quan hành pháp Bắc Ireland hợp tác trong một số lĩnh vực chính sách trong khuôn khổ Hội đồng Bộ trưởng Bắc-Nam. Ireland được xếp vào hàng 25 quốc gia thịnh vượng nhất thế giới theo GDP bình quân, và là quốc gia thịnh vượng thứ mười thế giới theo một xếp hạng vào năm 2015. Sau khi gia nhập EEC, Ireland ban hành một loạt chính sách kinh tế tự do, kết quả là tăng trưởng nhanh chóng. Quốc gia đạt được thịnh vượng đáng kể trong giai đoạn "Con hổ Celtic" 1995-2007. Giai đoạn này bị ngưng lại do khủng hoảng tài chính bắt đầu vào năm 2008, kết hợp với khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, Ireland có nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất Liên minh châu Âu trong năm 2015, và nhanh chóng trở lại đứng hàng đầu trong các xếp hạng về của cải và phồn vinh quốc tế. Năm 2015, Ireland được xếp đồng hạng sáu (cùng Đức) theo chỉ số phát triển con người của Liên Hợp Quốc. Ireland cũng đạt thành tích tốt trong một số thước đo như tự do báo chí, tự do kinh tế và tự do dân sự. Ireland là một thành viên của Liên minh châu Âu và là thành viên sáng lập của Ủy hội châu Âu và OECD. Chính phủ Ireland theo chính sách trung lập về quân sự thông qua không liên kết, chính sách này có từ ngay trước Chiến tranh thế giới thứ hai, và Ireland sau đó không gia nhập NATO, song là một thành viên trong chương trình Quan hệ đối tác vì Hòa bình của NATO. Tên gọi Ireland bắt nguồn từ tiếng Ireland cổ "Eriu". Từ này lại có nguồn gốc từ tiếng Celt nguyên thủy "*Iveriu" (tương đương với "Iwerddon" trong tiếng Wales), nó cũng là nguồn gốc của từ "Hibernia" trong tiếng La Tinh. "Iveriu" bắt nguồn từ một gốc từ nghĩa là "béo, thịnh vượng." Hiến pháp Ireland quy định rằng "tên nước là "Éire", hoặc "Ireland" trong tiếng Anh, ". Theo luật thành văn Ireland, "Cộng hòa Ireland" (hay "Poblacht na hÉireann") là "sự miêu tả quốc gia" song không phải là tên gọi chính thức. Miêu tả chính thức này được đề ra trong Đạo luật Cộng hòa Ireland 1948, theo đó chuyển những nhiệm vụ còn lại của quân chủ cho một tổng thống được bầu cử. Tuy nhiên, tên nước trong tiếng Anh vẫn là "Ireland". Một thay đổi về tên nước cần phải có một sửa đổi hiến pháp. Tuy nhiên, tại Anh Quốc, Đạo luật Ireland 1949 quy định rằng "Cộng hòa Ireland" có thể được sử dụng để chỉ nhà nước Ireland. Mặc dù ban đầu được chính phủ Anh Quốc chấp thuận, song tên gọi "Ireland" trở thành một nguồn gây tranh chấp giữa hai chính phủ Anh Quốc và Ireland. Những lo ngại này phát sinh do một bộ phận của đảo Ireland thuộc về Anh Quốc và do đó chính phủ Anh Quốc nhận định rằng tên gọi này không thích hợp. Trong một vụ tố tụng vào năm 1989, một đa số trong Tòa án Tối cao Ireland biểu thị quan điểm rằng nhà cầm quyền Ireland không cần phải thi hành trát dẫn độ khi nó đề cập đến quốc gia bằng một tên gọi khác ngoài "Ireland" (trong trường hợp này các trát đã sử dụng tên gọi "Éire"). Trong Hiệp định Thứ sáu Tốt lành 1998, chính phủ Ireland từ bỏ yêu sách quyền tài phán với toàn đảo Ireland. Sau hiệp định, Anh Quốc chấp thuận và sử dụng tên gọi "Ireland". Các thuật ngữ "Republic of Ireland", "the Republic", "Southern Ireland" hay "the South" thường được sử dụng khi cần thiết phải phân biệt quốc gia này với đảo hoặc khi thảo luận về Bắc Ireland ("the North"). Nhiều người Ireland theo chủ nghĩa cộng hòa, và những người khác phản đối phân chia đảo, tránh gọi là quốc gia là "Ireland". Họ cho rằng điều đó củng cố phân chia và thúc đẩy nhận thức rằng 'Ireland' và 'tính chất Ireland' bị giới hạn trong nước cộng hòa. Thay vào đó, họ thường gọi quốc gia là "26 hạt" (còn Bắc Ireland là "Sáu hạt") hoặc đôi khi là "Quốc gia Tự do" (ám chỉ quốc gia trước 1937). Phong trào tự quản. Từ khi Đạo luật Liên hiệp có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 1801, cho đến ngày 6 tháng 12 năm 1922, đảo Ireland là bộ phận của Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Trong nạn đói lớn từ năm 1845 đến năm 1849, dân số đảo giảm 30% từ mức trên 8 triệu người. Trong đó, một triệu người Ireland thiệt mạng do thiếu ăn và/hoặc dịch bệnh và có thêm 1,5 triệu người khác di cư, hầu hết là đến Hoa Kỳ. Sự kiện này định ra mô hình xuất cư trong một thế kỷ sau, khiến dân số suy giảm liên tục cho đến thập niên 1960. Từ năm 1874, và đặc biệt là dưới quyền Charles Stewart Parnell từ năm 1880, Đảng Nghị viện Ireland trở nên nổi bật. Trước tiên là thông qua kích động về ruộng đất với kết quả là cải cách ruộng đất cho người thuê, và thứ hai là thông qua các nỗ lực nhằm đạt được tự quản thông qua hai dự luật song bất thành. Điều này dẫn đến "thường dân" kiểm soát quốc sự theo Đạo luật Chính quyền địa phương 1898, dù trước đó nằm trong tay các bồi thẩm đoàn Tin Lành chủ yếu là địa chủ. Quyền tự quản dường như là chắc chắn khi Đạo luật Nghị viện 1911 bãi bỏ quyền phủ quyết của Quý tộc viện, và John Redmond đạt được đạo luật tự quản thứ ba vào năm 1914. Tuy nhiên, phong trào liên hiệp phát triển từ năm 1886 trong cộng đồng Tin Lành Ireland thì lo ngại kỳ thị và mất đi các đặc quyền kinh tế và xã hội nếu người Công giáo Ireland giành được quyền lực chính trị thực sự. Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa liên hiệp đặc biệt mạnh tại nhiều nơi thuộc Ulster, là nơi công nghiệp hóa cao hơn phần còn lại của đảo. Tồn tại lo ngại rằng bất kỳ hàng rào thuế quan nào cũng sẽ tác động nặng nề đến khu vực. Ngoài ra, cư dân Tin Lành chiếm ưu thế hơn tại Ulster, ở thế đa số tại bốn hạt. Những người liên hiệp trở thành chiến sĩ nhằm phản đối "áp bức Ulster". Sau khi dự luật tự quản được nghị viện thông qua vào tháng 5 năm 1914, nhằm tránh khởi nghĩa tại Ulster, Thủ tướng Anh H. H. Asquith đưa ra một dự luật sửa đổi, theo đó tạm thời loại trừ Ulster khỏi hiệu lực của dự luật trong thời gian sáu năm. Cách mạng và các bước đi đến độc lập. Việc thi hành đạo luật tự quản bị đình chỉ cho đến sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, làm dịu nguy cơ nội chiến tại Ireland. Với hy vọng đảm bảo thi hành đạo luật khi đại chiến kết thúc bằng cách Ireland tham gia chiến tranh, Redmond và Quân tình nguyện Ireland hỗ trợ Anh và các Đồng Minh. 175.000 người tham gia các trung đoàn Ireland. Phần còn lại trong Quân tình nguyện Ireland phản đối bất kỳ hỗ trợ nào cho Anh, họ phát động khởi nghĩa vũ trang chống Anh cai trị vào dịp Phục sinh năm 1916, cùng với Quân đội Công dân Ireland. Khởi nghĩa bắt đầu vào ngày 24 tháng 4 năm 1916 với tuyên ngôn độc lập. Sau một tuần giao tranh ác liệt chủ yếu tại Dublin, các phiến quân sống sót buộc phải đầu hàng. Đa số bị cầm tù song có 15 tù nhân (gồm hầu hết thủ lĩnh) bị hành quyết vì tội phản quốc đối với Anh. Các sự kiện này cùng với khủng hoảng quân dịch năm 1918 gây tác động sâu sắc, làm thay đổi quan điểm công chúng tại Ireland. Trong tháng 1 năm 1919, các thành viên Sinn Féin thắng đa số ghế sau tổng tuyển cử tháng 12 năm 1918 song từ chối nhậm chức tại Thứ dân viện. Thay vào đó, họ lập ra một nghị viện Ireland và đặt tên cho nó là Dáil Éireann. Dáil khóa I này vào tháng 1 năm 1919 ban hành tuyên ngôn độc lập và công bố Cộng hòa Ireland. Tuyên ngôn này chủ yếu là lặp lại tuyên ngôn năm 1916, có thêm điều khoản là Ireland không còn là bộ phận của Anh Quốc. Cộng hòa Ireland mới thành lập này chỉ được công nhận quốc tế từ nước Nga Xô viết. Nội các của Cộng hòa Ireland cử một phái đoàn đến Hội nghị hòa bình Paris năm 1919, song không được thừa nhận. Sau chiến tranh độc lập và đình chiến vào tháng 7 năm 1921, các đại biểu của chính phủ Anh và đoàn đại biểu thương lượng Ireland dưới quyền lãnh đạo của Arthur Griffith, Robert Barton và Michael Collins, đàm phán Hiệp định Anh-Ireland tại Luân Đôn từ ngày 11 tháng 10 đến ngày 6 tháng 12 năm 1921. Dáil Éireann khóa II thông qua hiệp định với chênh lệch phiếu thấp. Theo hiệp định, vào ngày 6 tháng 12 năm 1922, toàn đảo Ireland trở thành một quốc gia tự trị mang tên Nhà nước Tự do Ireland ("Saorstát Éireann"). Chiểu theo Hiến pháp Nhà nước Tự do Ireland, Nghị viện Bắc Ireland lựa chọn rời Nhà nước Tự do Ireland một tháng sau đó và trở về Anh Quốc. Nhà nước Tự do Ireland theo chế độ quân chủ lập hiến, có cùng quân chủ với Anh Quốc và các quốc gia tự trị khác trong Thịnh vượng chung Anh. Quốc gia này có một toàn quyền đại diện cho quân chủ, một nghị viện có hai viện, một nội các mang tên "hội đồng hành pháp", và một thủ tướng gọi là "chủ tịch hội đồng hành pháp". Nội chiến Ireland là hậu quả từ việc thành lập Nhà nước Tự do Ireland. Lực lượng chống đối hiệp định do Éamon de Valera lãnh đạo phản đối việc chấp thuận hiệp định khiến bãi bỏ Cộng hòa Ireland năm 1919 mà họ từng tuyên thệ trung thành. Họ bác bỏ hầu hết việc quốc gia vẫn là bộ phận của Đế quốc Anh và các thành viên của nghị viện phải tuyên thệ điều mà họ cho là tuyên thệ trung thành với quốc vương của Anh. Lực lượng ủng hộ hiệp định do Michael Collins lãnh đạo, lập luận rằng hiệp định không phải là tự do cuối cùng, song là tự do để đạt được nó. Vào lúc đầu chiến tranh, Quân đội Cộng hòa Ireland (IRA) tách thành hai phái đối lập: IRA ủng hộ hiệp định và IRA phản đối hiệp định. IRA ủng hộ hiệp định giải tán và tham gia Quân đội Quốc gia mới thành lập. Tuy nhiên, do phái IRA phản đối hiệp định thiếu cấu trúc chỉ huy hiệu quả và do lực lượng ủng hộ hiệp ước có chiến thuật phòng thủ trong suốt chiến tranh, Michael Collins và lực lượng của mình có thể gây dựng quân đội gồm hàng chục nghìn cựu chiến binh Thế chiến I, có năng lực áp đảo phái phản đối hiệp định. Anh Quốc cung cấp vũ khí cho phái ủng hộ hiệp định, và đe dọa đưa quân trở lại Nhà nước Tự do Ireland. Do lực lượng phản đối hiệp định thiếu sự ủng hộ quần chúng, và do chính phủ quyết tâm chiến thắng nên lực lượng này thất bại. Sau trưng cầu dân ý năm vào ngày 29 tháng 12 năm 1937, Hiến pháp Ireland có hiệu lực. Nó thay thế Hiến pháp Nhà nước Tự do Ireland và định quốc hiệu là "Ireland", hay "Éire" trong tiếng Ireland. Điều 2 và 3 trong hiến pháp khẳng định yêu sách lãnh thổ danh nghĩa đối với toàn đảo, nhìn nhận việc phân chia Ireland theo Hiệp định Anh-Ireland năm 1922 là bất hợp pháp. Chính phủ Nhà nước Tự do Ireland cũng tiến hành các bước nhằm bãi bỏ chức vụ toàn quyền vài tháng trước khi hiến pháp mới có hiệu lực. Mặc dù hiến pháp thiết lập chức vụ tổng thống Ireland, song vấn đề Ireland là một quốc gia cộng hòa vẫn còn bỏ ngỏ. Các nhà ngoại giao được ủy nhiệm của quốc vương, song tổng thống thi hành các chức năng nội bộ với vị thế nguyên thủ quốc gia. Chẳng hạn, tổng thống phê chuần các luật mới theo quyền hạn của mình mà không phải chuyển đến Quốc vương George VI. Ireland duy trì trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ hai - là thành viên duy nhất trong Khối Thịnh vượng chung không tham chiến. Liên kết giữa Ireland và Thịnh vượng chung kết thúc khi thông qua Đạo luật Cộng hòa Ireland năm 1948, có hiệu lực từ ngày 18 tháng 4 năm 1949 và tuyên bố rằng nhà nước là một cộng hòa. Ireland không tái gia nhập Thịnh vượng chung khi tổ chức này sau đó cho phép các nước cộng hòa gia nhập. Lịch sử gần đây. Ireland trở thành một thành viên của Liên Hợp Quốc vào tháng 12 năm 1955, sau khi từng bị từ chối do có lập trường trung lập và không hỗ trợ Đồng Minh trong Thế chiến II. Vào thời điểm đó, gia nhập Liên Hợp Quốc liên quan đến cam kết sử dụng vũ lực để ngăn cản xâm lược của một quốc gia chống lại quốc gia khác nếu Liên Hợp Quốc cho là cần thiết. Người Ireland gia tăng quan tâm đến quyền thành viên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) trong thập niên 1950, và cân chắc cũng làm thành viên của Khu vực Mậu dịch tự do châu Âu. Do Anh Quốc dự định là thành viên của EEC, Ireland nộp đơn làm thành viên vào tháng 7 năm 1961 do có liên kết kinh tế lớn với Anh Quốc. Tuy nhiên, các thành viên sáng lập của EEC vẫn hoài nghi về năng lực kinh tế, tính trung tập, và chính sách bảo hộ ít hấp dẫn của Ireland. Nhiều nhà kinh tế học và chính trị gia Ireland nhận thấy cần cải cách chính sách kinh tế. Triển vọng làm thành viên EEC trở nên không chắc chắn vào năm 1963 khi Tổng thống Pháp Charles de Gaulle phát biểu rằng Pháp phản đối Anh gia nhập, đồng nghĩa ngừng đàm phán với mọi ứng cử viên khác. Tuy nhiên, đến năm 1969 người kế nhiệm ông ta là Georges Pompidou không phản đối tư cách thành viên cho Anh và Ireland. Các cuộc đàm phán bắt đầu và Ireland cuối cùng gia nhập EEC vào năm 1973. Khủng hoảng kinh tế vào cuối thập niên 1970 bắt nguồn từ ngân sách chính phủ của đảng Fianna Fáil, bãi bỏ thuế xe, vay mượn quá mức, và bất ổn kinh tế toàn cầu như khủng hoảng dầu mỏ năm 1979. Có các thay đổi đáng kể về chính sách kể từ năm 1989, với cải cách kinh tế, giảm thuế, cải cách phúc lợi, gia tăng cạnh tranh, và cấm chỉ vay mượn để cung cấp cho chi tiêu hiện tại. Chính sách này bắt đầu vào năm 1989–1992 dưới quyền chính phủ Fianna Fáil/Dân chủ Tiến bộ, và tiếp tục dưới thời chính phủ Fianna Fáil/Công đảng và Fine Gael/Công đảng/Dân chủ cánh Tả. Ireland trở thành một trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới vào cuối thập niên 1990 và kéo dài cho đến khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008, giai đoạn này được gọi là Con hổ Celtic. Và kể từ năm 2014, Ireland lại đạt được tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Trong vấn đề Bắc Ireland, hai chính phủ Anh và Ireland bắt đầu tìm kiếm một giải pháp hòa bình đối với xung đột bạo lực. Một dàn xếp hòa bình cho Bắc Ireland mang tên Hiệp định Thứ sáu Tốt lành được phê chuẩn vào năm 1998 trong các cuộc trưng cầu dân ý trên hai phần của đảo. Theo dàn xếp này, yêu sách lãnh thổ đối với Bắc Ireland trong Hiến pháp Ireland bị loại bỏ. Cộng hòa Ireland có diện tích , chiếm khoảng 5/6 diện tích đảo Ireland (), phần còn lại của đảo là Bắc Ireland. Phía bắc và phía tây của đảo Ireland là Đại Tây Dương, phía đông bắc là eo biển Bắc. Về phía đông, biển Ireland liên kết với Đại Tây Dương qua eo biển St George và biển Celtic về phía tây nam. Cảnh quan phía tây chủ yếu gồm các vách đá, đồi núi gồ ghề. Vùng đất thấp trung tâm được bao phủ bằng các lớp trầm tích băng hà gồm sét và cát, và còn có các khu vực đầm lầy rộng cùng một số hồ. Đỉnh cao nhất là Carrauntoohil (), nằm trên dãy Macgillycuddy's Reeks thuộc miền tây nam. Sông Shannon bắt nguồn từ vùng đất thấp trung tâm và là sông dài nhất tại Ireland với . Bờ biển phía tây gồ ghề hơn so với phía đông, và có nhiều đảo, bán đảo, mũi đất và vịnh. Trước khi những người định cư đầu tiên đến đảo vào khoảng 9.000 năm trước, đất đai trên đảo phần lớn có rừng bao phủ với các loại cây như sồi, tần bì, đu, phỉ, thủy tùng. Nguyên nhân chính khiến rừng bị mất đi trong các thế kỷ tiếp theo được cho là do đầm lầy phát triển và phát quang đất rừng quy mô lớn để thuận tiện cho nông nghiệp. Hiện nay, khoảng 12% diện tích Ireland có rừng bao phủ, đa số đáng kể gồm các đồn điền chủ yếu trồng tùng bách phi bản địa nhằm mục đích thương mại. Điều kiện đất lý tưởng, lượng mưa lớn và khí hậu ôn hòa khiến Ireland có tốc độ phát triển rừng cao nhất tại châu Âu. Các hàng rào bằng cây là nơi thay thế quan trọng cho môi trường sống đất rừng, cung cấp nơi ẩn náu cho các loài thực vật hoang dã bản địa và nhiều loài côn trùng, chim và thú. Đất nông nghiệp chiếm khoảng 64% tổng diện tích đất. Điều này dẫn đến hạn chế về đất để bảo tồn môi trường sống tự nhiên, đặc biệt là cho các loài thú hoang cỡ lớn có nhu cầu lãnh thổ rộng. Lịch sử sản xuất nông nghiệp lâu dài đi cùng với phương thức nông nghiệp hiện đại, như sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón, tạo áp lực lên đa dạng sinh học. Đại Tây Dương và ảnh hưởng ấm từ Hải lưu Gulf Stream tác động đến mô hình khí hậu tại Ireland. Nhiệt độ khác biệt theo vùng, các vùng miền trung và miền đông có xu hướng cực đoan hơn. Tuy nhiên, do có khí hậu đại dương ôn hòa, nhiệt độ hiếm khi thấp dưới vào mùa đông và cao hơn vào mùa hè. Nhiệt độ cao kỷ lục tại Ireland là vào năm 1887 tại Lâu đài Kilkenny thuộc Kilkenny, trong khi nhiệt độ thấp kỷ lục là tại Lâu đài Markree thuộc Sligo. Mưa phổ biến hơn vào mùa đông và ít xuất hiện hơn vào các tháng đầu mùa hè. Khu vực tây nam có mưa nhiều nhất do ảnh hưởng từ gió tây nam, trong khi Dublin có ít mưa nhất. Thời gian nắng nhiều nhất là tại miền đông nam của Ireland. Cực bắc và tây của đảo Ireland là hai trong số các khu vực nhiều gió nhất tại châu Âu, có tiềm năng lớn về năng lượng gió. Ireland thường có từ 1.100 đến 1.600 giờ nắng mỗi năm, hầu hết các khu vực có trung bình 3,25 đến 3,75 giờ nắng mỗi ngày. Các tháng nhiều nắng nhất là tháng 5 và tháng 6, có trung bình từ 5 đến 6,5 giờ nắng mỗi ngày tại hầu khắp đất nước. Cực đông nam là nơi có nhiều nắng nhất, trung bình có trên 7 giờ nắng mỗi ngày vào đầu mùa hè. Tháng 12 là tháng âm u nhất, có số giờ nắng trung bình dao động từ khoảng 1 giờ ở phía bắc đến gần hai giờ ở cực đông nam. Mùa hè nóng nhất trong 100 năm từ 1881 đến 1980 là năm 1887; 1980 là năm âm u nhất. Ireland là một nước cộng hòa lập hiến, có hệ thống chính phủ nghị viện. ' là quốc hội lưỡng viện, bao gồm tổng thống và hai viện: ' (thượng viện) và " (hạ viện). Áras an Uachtaráin là dinh thự chính thức của tổng thống Ireland, còn nơi họp của Oireachtas là Tòa nhà Leinster tại Dublin. Tổng thống có vai trò là nguyên thủ quốc gia, được bầu ra với nhiệm kỳ bảy năm và có thể tái cử một lần. Tổng thống chủ yếu là nhân vật mang tính tượng trưng, song được giao cho một số quyền lực hiến pháp nhất định theo khuyến nghị của Hội đồng Nhà nước. Chức vụ này có quyền quyết định tuyệt đối trên một số lĩnh vực, như trình một dự luật lên Tòa án Tối cao để phân xử về tính hợp hiến. Michael D. Higgins trở thành tổng thống thứ chín của Ireland vào ngày 11 tháng 11 năm 2011. ' (thủ tướng) có vai trò là người đứng đầu chính phủ, do tổng thống bổ nhiệm theo đề cử của hạ viện. Hầu hết ' là thủ lĩnh của chính đảng giành nhiều ghế nhất trong tổng tuyển cử. Việc các liên minh thành lập chính phủ đã trở thành điều thông thường, do không có chính phủ một đảng nào kể từ năm 1989. gồm có 60 thành viên, 11 người trong đó do chỉ định, sáu người do hai đại học bầu ra, và 43 người do các đại biểu cộng đồng bầu ra dựa theo cơ sở nghề nghiệp. có 158 thành viên (") được bầu ra để đại diện cho các khu vực bầu cử nhiều đại biểu theo hệ thống đại diện tỷ lệ và phương thức lá phiếu khả nhượng đơn. Chính phủ bị hạn chế trong 15 thành viên theo quy định trong hiến pháp. Trong đó, không có hơn hai thành viên được chọn từ , và , "" (phó thủ tướng) và bộ trưởng tài chính cần phải là thành viên của . Dáil phải bị giải thể trong vòng 5 năm kể từ phiên họp đầu tiên sau cuộc bầu cử trước đó, và tổng tuyển cử các thành viên của Dáil cần phải được tiến hành không chậm hơn 30 ngày sau khi giải thể. Theo Hiến pháp Ireland, các cuộc bầu cử nghị viện cần phải tổ chức ít nhất bảy năm một lần, song các luật có thể áp đặt hạn chế thấp hơn. Ireland là một quốc gia thành viên Liên minh châu Âu từ năm 1973, song lựa chọn duy trì bên ngoài khu vực Schengen. Công dân Anh Quốc có thể tự do nhập cảnh Cộng hòa Ireland mà không cần hộ chiếu do hai bên có biên giới mở. Tuy nhiên, có một số yêu cầu nhận dạng tại sân bay và hải cảng. Chính quyền địa phương. Đạo luật Chính quyền địa phương 1898 là văn kiện hình thành hệ thống chính quyền địa phương hiện nay, trong khi Tu chính án 23 Hiến pháp vào năm 1999 công nhận hiến pháp đối với đạo luật. 26 hạt truyền thống của Ireland không phải luôn cùng ranh giới với các đơn vị hành chính song về tổng thể chúng được cư dân Ireland sử dụng để làm khung tham chiếu địa lý. Đạo luật Cải cách chính quyền địa phương năm 2014 tạo ra một hệ thống 31 chính quyền địa phương, gồm 26 hội đồng hạt, hai hội đồng thành phố-hạt, ba hội đồng thành phố. Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm về các vấn đề như quy hoạch, đường cấp địa phương, vệ sinh và thư viện. Các khu vực bầu cử Dáil tuân theo ranh giới hạt nhiều nhất có thể. Các hạt có dân số lớn có nhiều khu vực bầu cử, song thường không vượt qua ranh giới hạt. Các hạt được nhóm lại thánh tám khu vực, mỗi khu vực có một cơ quan gồm thành viên được ủy nhiệm từ các hội đồng hạt và thành phố trong khu vực. Các khu vực không có bất kỳ vai trò hành pháp trực tiếp nào, song chúng phục vụ mục đích kế hoạch, hợp tác và thống kê. Ireland có hệ thống pháp luật thông luật, có một hiến pháp thành văn quy định chế độ dân chủ nghị viện. Hệ thống tòa án gồm có tòa án tối cao, tòa án phúc thẩm, tòa án cấp cao, tòa án lưu động và tòa án khu vực, toàn bộ đều áp dụng pháp luật Ireland. Các vụ án nghiêm trọng theo thường lệ cần phải được tổ chức trước một bồi thẩm đoàn. Tòa án cấp cao và tòa án tối cao có thẩm quyền quyết định tính phù hợp của pháp luật và các hoạt động của các thể chế nhà nước khác so với hiến pháp và pháp luật. Ngoại trừ các trường hợp đặc biệt, các phiên tòa phải công khai. Tòa án Hình sự Tư pháp là tòa nhà chính của các phiên tòa hình sự. Garda Síochána na hÉireann ("Những người bảo vệ hòa bình của Ireland"), thường gọi là Gardaí, là lực lượng cảnh sát dân sự của Cộng hòa Ireland. Lực lượng này chịu trách nhiệm về toàn bộ các khía cạnh kiểm soát dân sự, cả về lãnh thổ và hạ tầng. Hầu hết các thành viên mặc đồng phục thường không mang vũ khí, việc khống chế tiêu chuẩn theo truyền thống được tiến hành chỉ với dùi cui và bình xịt hơi cay. Quân cảnh là một quân đoàn của Lục quân Ireland, chịu trách nhiệm cung cấp nhân viên phục vụ cưỡng chế và cung cấp hiện diện quân cảnh cho các lực lượng khi diễn tập và triển khai. Trong thời chiến, các nhiệm vụ bổ sung bao gồm kiểm soát giao thông để cho đội ngũ quân sự di chuyển nhanh chóng đến khu vực làm nhiệm vụ. Các vai trò thời chiến khác bao gồm kiểm soát tù binh chiến tranh và nạn dân. Pháp luật công dân của Ireland liên quan đến "đảo Ireland", bao gồm đảo và các vùng biển, do đó mở rộng phạm vi đến Bắc Ireland. Vì thế, bất kỳ ai sinh tại Bắc Ireland và đáp ứng các điều kiện để trở thành công dân Ireland, như có một cha/mẹ là công dân Ireland hoặc Anh hoặc một cha/mẹ được phép cư trú tại Bắc Ireland hoặc Cộng hòa Ireland, có thể thực hiện quyền có quốc tịch Ireland, như có hộ chiếu Ireland. Quan hệ đối ngoại. Quan hệ đối ngoại chịu tác động lớn từ tư cách thành viên của Ireland trong Liên minh châu Âu, song các quan hệ song phương với Anh Quốc và Hoa Kỳ cũng quan trọng. Ireland hướng tới độc lập trong chính sách đối ngoại, do đó quốc gia này không phải là thành viên của [[NATO]] và có chính sách trung lập quân sự kéo dài. Chính sách này giúp Lực lượng vũ trang Ireland thành công trong các đóng góp về gìn giữ hòa bình trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc từ năm 1960, như trong Xung đột Congo, tại [[Síp]], [[Liban]] và [[Bosnia và Herzegovina]]. Mặc dù trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ hai, song Ireland có hơn 50.000 người tham chiến khi họ đăng lính trong quân đội của Anh. Trong [[Chiến tranh Lạnh]], chính sách quân sự của Ireland tuy bề ngoài là cân bằng song thiên về NATO. Trong [[Khủng hoảng tên lửa Cuba]], Thủ tướng [[Seán Lemass]] cho phép khám xét máy bay [[Cuba]] và [[Tiệp Khắc]] bay qua Shannon và truyền thông tin cho [[CIA]]. Hạ tầng hàng không của Ireland được Quân đội Mỹ sử dụng để chuyển quân nhân tham gia [[xâm chiếm Iraq]] năm 2003, thông qua [[sân bay Shannon]]. Trước đó, sân bay này được sử dụng cho cuộc [[xâm chiếm Afghanistan]] năm 2001, cũng như [[Chiến tranh vùng Vịnh]]. Từ năm 1999, Ireland là một thành viên trong chương trình Quan hệ đối tác vì Hòa bình của NATO và Hội đồng Quan hệ đối tác châu Âu-Đại Tây Dương của NATO, có mục tiêu tạo sự tin tưởng giữa NATO và các quốc gia khác tại châu Âu và Liên Xô cũ. Quân đội Ireland gồm có lục quân, hải quân, không quân và lực lượng dự bị; với quy mô nhỏ song được trang bị tốt với gần 10.000 quân nhân chuyên nghiệp và trên 2.000 quân dự bị. Ireland là một quốc gia trung lập, và có quy tắc "ba nấc khóa" trong việc binh sĩ Ireland tham gia tại các vùng xung đột, đó là cần được Liên Hợp Quốc, hạ viện và chính phủ phê chuẩn. Triển khai thường nhật của lực lượng vũ trang bao gồm hỗ trợ quyền lực dân sự, bảo vệ và tuần tra lãnh hải và [[vùng đặc quyền kinh tế]] của Ireland, và các sứ mệnh của Liên Hợp Quốc, Liên minh châu Âu, và Đối tác vì Hòa bình. Đến năm 1996, có hơn 40.000 nhân viên Ireland từng phục vụ trong các sứ mệnh duy trì hòa bình quốc tế của Liên Hợp Quốc. Tổng thống là tư lệnh tối cao trên danh nghĩa của các lực lượng vũ trang, song trên thực tế họ theo lệnh Chính phủ thông qua Bộ Quốc phòng. [[Tập tin:BlueE|thumb|Ireland là bộ phận của Liên minh châu Âu (lam đậm và nhạt) và [[Eurozone]] (lam nhạt).]] Kinh tế Ireland chuyển đổi kể từ thập niên 1980, từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp trở thành một nền kinh tế trí thức hiện đại tập trung vào các ngành công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ. Ireland sử dụng tiền euro vào năm 2002 cùng nhiều quốc gia khác là thành viên Liên minh châu Âu. Quốc gia này dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài và thu hút một số tập đoàn đa quốc gia do có lực lượng lao động được giáo dục cao và có mức thuế doanh nghiệp thấp. Các công ty như [[Intel]] đầu tư tại Ireland vào cuối thập niên 1980, theo sau là [[Microsoft]] và [[Google]]. Ireland được xếp hạng 8 trong số các nền kinh tế tự do nhất thế giới theo [[Chỉ số tự do kinh tế]] (2016). Xét theo GDP bình quân, Ireland là một trong các quốc gia thịnh vượng nhất của [[Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế|OECD]] và EU. Tuy nhiên, Ireland xếp hạng dưới trung bình OECD về GNP bình quân. GDP lớn hơn đáng kể so với GNP vì có nhiều công ty đa quốc gia đặt trụ sở tại Ireland. Từ đầu thập niên 1990, Cộng hòa Ireland trải qua tăng trưởng kinh tế chưa từng thấy do gia tăng mạnh mẽ trong tiêu dùng, xây dựng và đầu tư, được gọi là giai đoạn Con hổ Celtic. Nhịp độ tăng trưởng chậm lại vào năm 2007 và dẫn đến nổ tung bong bóng bất động sản quy mô lớn vốn đã phát triển trong nhiều năm. Sụt giảm đột ngột giá bất động sản phơi bày tập trung quá độ của nền kinh tế vào xây dựng và góp phần dẫn đến khủng hoảng ngân hàng Ireland. Ireland chính thức bước vào suy thoái trong năm 2008. GNP suy giảm đến 11,3% chỉ trong năm 2009, mức giảm GNP lớn nhất hàng năm kể từ 1950. Ireland chính thức thoát khỏi suy thoái vào năm 2010 nhờ tăng trưởng mạnh mẽ trong xuất khẩu. Tuy nhiên, do gia tăng đáng kể chi phí vay nợ công vì chính phủ đảm bảo nợ ngân hàng tư nhân, chính phủ Ireland chấp thuận một chương trình trợ giúp 85 tỷ euro từ EU, [[IMF]] và các khoản vay song phương từ Anh, Thụy Điển và Đan Mạch. Sau ba năm suy thoái, kinh tế tăng trưởng 0,7% trong năm 2011 và 0,9% trong năm 2012. Tỷ lệ thất nghiệp đạt 14,7% vào năm 2012, bao gồm 18,5% trong các tân di dân. Đến tháng 3 năm 2016, tỷ lệ thất nghiệp được ghi nhận là 8,6%, giảm từ mức kỷ lục là 15,1% trong tháng 2 năm 2012. Di cư ròng từ Ireland từ năm 2008 đến năm 2013 là 120.100 người, tức khoảng 2,6% tổng dân số theo điều tra năm 2011. Một phần ba số người xuất cư trong độ tuổi 15-24. Năm 2013, Ireland được [[Forbes]] mệnh danh là "quốc gia tốt nhất để kinh doanh". Ireland ra khỏi chương trình cứu trợ tài chính của EU-IMF vào ngày 15 tháng 12 năm 2013. Mặc dù các công ty đa quốc gia chi phối lĩnh vực xuất khẩu của Ireland, song xuất khẩu từ các nguồn khác cũng đóng góp đáng kể vào thu nhập quốc dân. Hoạt động của các công ty đa quốc gia đặt tại Ireland khiến nước này nằm vào hàng đứng đầu về xuất khẩu dược phẩm, thiết bị y tế và hàng hóa cùng dịch vụ liên quan đến phần mềm. Xuất khẩu của Ireland cũng có đóng góp từ các công ty quốc nội lớn (như [[Ryanair]], [[Kerry Group]] và [[Smurfit Kappa Group]]) và xuất khẩu tài nguyên khoáng sản: Ireland là nước sản xuất kẽm cô lớn thứ bảy, và đứng thứ 12 về chì cô. Ireland cũng có trữ lượng đáng kể về [[thạch cao]], [[đá vôi]], và trên mức độ thấp hơn là đồng, bạc, vàng, [[barit]] và [[dolomit]]. Các mặt hàng xuất khẩu khác bao gồm nông sản và nhôm. Các mặt hàng nhập khẩu lớn của Ireland gồm thiết bị xử lý dữ liệu, hóa chất, dầu hỏa và sản phẩm dầu hỏa, hàng dệt và quần áo. Dịch vụ tài chính của các công ty đa quốc gia đặt tại Trung tâm Dịch vụ Tài chính Ireland cũng đóng góp cho xuất khẩu của Ireland. Khác biệt giữa xuất khẩu (€89,4 tỷ) và nhập khẩu (€45,5 tỷ) tạo ra thặng dư mậu dịch €43,9 tỷ trong năm 2010, mức thặng dư mậu dịch cao nhất so với GDP trong các thành viên EU. EU là đối tác mậu dịch lớn nhất của Ireland, chiếm 57,9% xuất khẩu và 60,7% nhập khẩu. Anh Quốc là đối tác mậu dịch quan trọng nhất trong EU, chiếm 15,4% xuất khẩu và 32,1% nhập khẩu. Bên ngoài EU, Hoa Kỳ chiếm 23,2% xuất khẩu và 14,1% nhập khẩu vào năm 2010. ESB, Ervia và Airtricity là ba nhà cung cấp điện và khí đốt chính tại Ireland. Ireland có 19,82 triệu m³ trữ lượng khí đốt được chứng minh. khai thác khí đốt tự nhiên trước đây diễn ra tại Kinsale Head đến khi mỏ cạn kiệt. Mỏ khí đốt Corrib đi vào hoạt động năm 2013/14. Năm 2012, mỏ Barryroe được xác nhận có trữ lượng 1,6 tỷ thùng khí, với từ 160 đến 600 triệu thùng có thể khai thác. Mỏ có thể cung cấp cho toàn bộ nhu cầu năng lượng của Ireland trong đến 13 năm khi nó được phát triển vào năm 2015/16. Diễn ra các nỗ lực đáng kể nhằm tăng cường sử dụng các dạng năng lượng tái tạo và bền vững tại Ireland, đặc biệt là năng lượng gió, với các trang trại gió 3.000 MW, một số trong đó có mục đích để xuất khẩu. SEAI ước tính rằng 6,5% nhu cầu năng lượng năm 2011 của Ireland được lấy từ các nguồn tái tạo. SEAI cũng báo cáo về gia tăng tính hiệu quả năng lượng tại Ireland khi giảm được 28% khí thải carbon của mỗi hộ gia đình trong giai đoạn 2005-2013. Ba cảng hàng không chính của Cộng hòa Ireland là [[sân bay Dublin|Dublin]], [[sân bay Shannon|Shannon]] và [[sân bay Cork|Cork]]. Đường bay giữa Luân Đôn và Dublin là đường bay quốc tế nhộn nhịp thứ nhì tại châu Âu, với 3,6 triệu lượt người qua lại vào năm 2013 song giảm so với 4,4 triệu lượt người vào năm 2003. [[Aer Lingus]] là hãng hàng không quốc gia của Ireland, song [[Ryanair]] là hãng hàng không lớn nhất nước. Ryanair là hàng hàng không giá rẻ lớn nhất châu Âu, và lớn thứ hai về lượng hành khách, và lớn nhất thế giới về số lượng hành khách quốc tế (2007). Dịch vụ đường sắt do Iarnród Éireann cung cấp, hãng này vận hành toàn bộ các tuyến đường sắt liên thành thị, đô thị và chở hàng trong nước. Dublin là trung tâm của mạng lưới với hai ga lớn là Heuston và Connolly, liên kết tới các thành thị trong nước. Dịch vụ Enterprise liên kết Dublin với [[Belfast]] và do hãng này và Đường sắt Bắc Ireland cùng điều hành. Mạng lưới đường sắt chính của toàn đảo Ireland hoạt động trên khổ 1,6 mét, đây là một điểm độc đáo tại châu Âu. Dublin đang dần cải thiện mạng lưới vận chuyển công cộng, bao gồm DART, Luas, Dublin Bus và dublinbikes. Xa lộ, các quốc lộ chính và quốc lộ phụ nằm dưới quyền quản lý của Cơ quan Đường bộ Quốc gia, còn các đường khu vực và địa phương do nhà đương cục địa phương quản lý. Mạng lưới đường bộ chủ yếu tập trung tại thủ đô, song các xa lộ được kéo dài đến các thành phố khác theo chương trình đầu tư "Transport 21", nhờ đó các xa lộ được hoàn thiện liên kết Dublin và một số thành phố lớn khác của Ireland như Cork, Limerick, Waterford và Galway. Nghiên cứu di truyền học cho thấy những người định cư ban đầu tại Ireland đã di cư từ bán đảo [[Iberia]] sau kỷ băng hà gần đây nhất. Sau thời kỳ đồ đá giữa, đồ đá mới, và đồ đồng, các di dân đưa ngôn ngữ và văn hóa Celt đến đảo. Các di dân trong hai thời kỳ sau vẫn được đại diện trong di sản di truyền học của hầu hết người Ireland. Người Ireland được kết hợp từ các nguồn gốc Gael, Norse, Anh-Norman, Pháp và Anh Quốc. Dân số Ireland đạt 4.588.252 vào năm 2011, tăng trưởng 8,2% so với năm 2006. #đổi [[Bản mẫu:Tính đến]], Ireland có mức sinh cao nhất trong Liên minh châu Âu (16 ca sinh/1.000 người). Năm 2014, 36,3% số ca sinh là của các bà mẹ chưa kết hôn. Mức tăng dân số hàng năm vượt quá 2% trong giai đoạn 2002-2006, do có tỷ lệ cao trong gia tăng tự nhiên và nhập cư. Mức này giảm sút phần nào trong giai đoạn 2006-2011, với mức tăng trung bình hàng năm là 1,6%. Vào thời điểm điều tra nhân khẩu năm 2011, số lượng ngoại kiều được ghi nhận là 544.357, chiếm 12% tổng dân số. Con số này gấp gần 2,5 lần so với số ngoại kiều ghi nhận trong điều tra nhân khẩu năm 2002 (224.261), khi lần đầu có câu hỏi về quốc tịch. Năm nhóm ngoại kiều đông đảo nhất lần lượt là người [[Ba Lan]] (122.585), Anh Quốc (112.259), [[Litva]] (36.683), [[Latvia]] (20.593) và [[Nigeria]] (17.642). [[Tập tin:Percentage stating they speak Irish daily outside the education system in the 2011 |thumb|250px|Tỷ lệ người tự nhận nói tiếng Ireland hàng ngày ngoài hệ thống giáo dục trong điều tra nhân khẩu năm 2011.]] Hiến pháp mô tả [[tiếng Ireland]] là "ngôn ngữ quốc gia", song [[tiếng Anh]] là ngôn ngữ chiếm ưu thế. Trong điều tra nhân khẩu năm 2006, có 39% cư dân tự nhận có đủ trình độ tiếng Ireland. Tiếng Ireland chỉ giữ vai trò là ngôn ngữ cộng đồng tại một lượng nhỏ các khu vực nông thôn và hầu hết là tại miền tây và miền nam đất nước, gọi chung là [[Gaeltacht]]. Ngoại trừ các khu vực Gaeltacht, các biển hiệu giao thông thường ghi song ngữ. Hầu hết thông cáo công cộng và truyền thông in ấn chỉ viết bằng tiếng Anh. Dù nhà nước Ireland về chính thức là song ngữ, song các công dân có thể thường gặp phải khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ công bằng tiếng Ireland và hầu hết xuất bản phẩm của chính phủ không hiện hữu trong cả hai ngôn ngữ. Truyền thông tiếng Ireland bao gồm kênh truyền hình TG4, đài phát thanh RTÉ Raidió na Gaeltachta và báo điện tử T, toàn bộ các lệnh luyện tập bộ binh và vũ khí đều bằng tiếng Ireland. Do nhập cư nên [[tiếng Ba Lan]] trở thành ngôn ngữ được nói phổ biến thứ nhì tại Cộng hòa Ireland sau tiếng Anh, trong khi tiếng Ireland xếp thứ ba. Một vài ngôn ngữ Trung Âu khác (Séc, Hungary và Slovak), và các ngôn ngữ Balt (Litva và Latvia) cũng được nói thường ngày. Các ngôn ngữ khác được nói tại Ireland gồm có tiếng [[Shelta]] của người Ireland du cư, và một phương ngữ tiếng Scot được nói bởi một số người Scot Ulster tại Donegal. Hầu hết học sinh trung học lựa chọn học một hoặc hai ngoại ngữ, ngôn ngữ dành cho bằng sơ cấp (Junior Certificate) và bằng tốt nghiệp (Leaving Certificate) gồm có tiếng Pháp, Đức, Ý và Tây Ban Nha; học sinh muốn lấy bằng tốt nghiệp trung học cũng có thể học tiếng Ả Rập, Nhật và Nga. Một số trường trung học có dạy tiếng Hy Lạp cổ đại, Hebrew và Latinh. Học tập tiếng Ireland là điều bắt buộc đối với các học sinh muốn đạt bằng tốt nghiệp, song một số người có thể đủ điều kiện được miễn trong một số hoàn cảnh, như trở ngại học tập hoặc nhập cảnh sau tuổi 11. Ireland sở hữu một trong các hệ thống y tế phát triển nhất thế giới và các chuyên gia y tế được đào tạo với trình độ cao. Y tế tại Ireland được cung cấp từ cả khu vực công và tư. Bộ Y tế chịu trách nhiệm cho việc lập chính sách dịch vụ y tế tổng thể. Mỗi cư dân Ireland có quyền nhận được chăm sóc y tế thông qua hệ thống chăm sóc y tế công cộng, được cấp kinh phí từ tiền thuế. Mỗi cá nhân có thể phải trả một khoản phụ phí cho các chăm sóc y tế nhất định; nó tùy thuộc vào thu nhập, độ tuổi, bệnh tật hoặc tàn tật. Toàn bộ dịch vụ thai sản được cung cấp miễn phí, và cũng áp dụng miễn phí cho trẻ từ 6 tháng tuổi trở xuống. Chăm sóc cấp cứu phục vụ cho bệnh nhân hiện diện tại bệnh viện thuộc Cơ quan Cấp cứu, tuy nhiên, khách đến trong tình trạng không khẩn cấp và không được bác sĩ giới thiệu có thể phải trả phí. Bất kỳ ai sở hữu thẻ bảo hiểm y tế châu Âu đều có quyền điều dưỡng và trị bệnh miễn phí trong các giường bệnh công thuộc Cơ quan Dịch vụ Y tế và các bệnh viện tình nguyện. Dịch vụ bệnh nhân ngoại trú cũng được cung cấp miễn phí. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân có thu nhập từ trung bình trở lên được yêu cầu trả phí trợ cấp bệnh viện. Bảo hiểm y tế tư nhân hiện hữu đối với người muốn tận dụng nó. Tuổi thọ dự tính trung bình tại Ireland vào năm 2012 là 81 năm (trung bình của [[OECD]] vào năm 2012 là 80 năm), với 78,2 năm đối với nam giới và 83,6 năm đối với nữ giới. Ireland có tỷ suất sinh cao nhất EU (16,8 ca sinh trên 1.000 cư dân, so với 10,7 của EU) và có tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh rất thấp (3,5 trên 1.000 trẻ). Hệ thống y tế Ireland xếp hạng 13 trong số 34 quốc gia châu Âu vào năm 2012 theo Health Consumer Powerhouse. Ireland có ba cấp giáo dục: tiểu học, trung học và đại học. Hệ thống giáo dục phần lớn nằm dưới chỉ đạo của Chính phủ thông qua Bộ Giáo dục và Kỹ năng. Các trường tiểu học và trung học được công nhận cần phải tuân theo chương trình giảng dạy do các cơ quan hữu quan lập ra. Giáo dục là điều bắt buộc đối với trẻ từ 6 đến 15 tuổi, và toàn bộ trẻ đến tuổi 18 cần phải hoàn thành ba năm đầu trung học, bao gồm một lần kiểm tra chứng chỉ sơ cấp (Junior Certificate). Ireland có khoảng 3.300 trường tiểu học. Đại đa số (92%) nằm dưới sự bảo trợ của Giáo hội Công giáo. Trường học do các tổ chức tôn giáo điều hành, song nhận được kinh phí và được công nhận, và không thể kỳ thị học sinh dựa trên tôn giáo. Tồn tại một hệ thống ưu đãi được phê chuẩn, tại đó học sinh của một tôn giáo cụ thể có thể được ưu tiên tiếp nhận so với học sinh không chia sẻ đặc điểm chung của trường, trong trường hợp chỉ tiêu của trường đã đủ. Bằng tốt nghiệp đạt được sau hai năm học, vào kỳ khảo thí cuối cùng trong hệ thống trung học. Những người có mục đích học tập bậc đại học thường tham gia kỳ thi này, theo đó việc tuyển sinh bậc đại học thường dựa vào kết quả đạt được từ sáu môn có kết quả tốt nhất, dựa trên cơ sở cạnh tranh. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) hợp tác với [[OECD]] xếp học sinh Ireland là có điểm đọc hiểu cao thứ tư, điểm khoa học cao thứ chín và điểm toán học cao thứ 13 trong số các quốc gia OECD, theo đánh giá năm 2012 của họ Năm 2012, học sinh Ireland 15 tuổi xếp thứ hai về đọc hiểu trong EU. Giáo dục bậc tiểu học, trung học và đại học tại Ireland miễn phí đối với mọi công dân EU. Tổng cộng, 37% dân số Ireland có bằng đại học hoặc cao đẳng, nằm vào hàng cao nhất trên thế giới (năm 2012). Tự do tôn giáo được quy định trong hiến pháp tại Ireland. [[Cơ Đốc giáo]] là tôn giáo chiếm ưu thế, và mặc dù Ireland vẫn là một quốc gia do [[Công giáo La Mã]] chi phối, song tỷ lệ người tự nhận là tín đồ giáo phái này giảm nhiều từ mức 84,2% theo điều tra vào năm 2011 xuống còn 78,3% theo điều tra vào năm 2016. Các kết quả khác trong điều tra năm 2016 là: 4,2% là tín đồ Tin Lành, 1,3% là tín đồ Hồi giáo, và 9,8% không theo tôn giáo. Theo một nghiên cứu của [[Đại học Georgetown]], trước năm 2000 Ireland nằm vào hàng quốc gia có tỷ lệ tham dự Thánh lễ thường lệ cao nhất trong thế giới phương Tây. Tỷ lệ tham dự hàng ngày là 13% vào năm 2006, còn tỷ lệ tham gia hàng tuần giảm từ 81% vào năm 1990 xuống 48% vào năm 2006, song sự suy giảm được tường thuật là ổn định. Năm 2011, theo tường thuật tỷ lệ tham dự Thánh lễ hàng tuần tại Dublin là dưới 18%, và còn thấp hơn nữa trong thế hệ trẻ. Giáo hội Ireland thuộc [[Anh giáo]] là giáo phái Cơ Đốc lớn thứ nhì, thành viên của giáo phái này suy giảm trong suốt thế kỷ XX, song lại tăng lên vào đầu thế kỷ XXI. Các giáo phái Tin Lành đáng kể khác là Giáo hội Trưởng Lão và Giáo hội Giám Lý. Các di dân góp phần vào tăng trưởng tín đồ Ấn Độ giáo và Hồi giáo. Xét theo tỷ lệ, Chính Thống giáo và Hồi giáo là các tôn giáo phát triển nhanh nhất. Các thánh bảo trợ của Ireland là [[Thánh Patriciô|Thánh Patrick]], [[Brigid của Kildare|Thánh Bridget]] và [[Côlumba|Thánh Columba]], trong đó chỉ có Thánh Patrick được công nhận phổ biến. Ngày Thánh Patrick được tổ chức vào 17 tháng 3 tại Ireland và hải ngoại với tư cách ngày quốc khánh Ireland, có các cuộc diễu hành và kỷ niệm khác. Văn hóa Ireland trong nhiều thế kỷ chủ yếu là văn hóa Gael, và duy trì là một trong [[Các quốc gia Celt|sáu quốc gia Celt]] chính. Sau khi người Anh-Norman xâm chiếm vào thế kỷ XII, tiếp đến là công cuộc chinh phục và thuộc địa hóa của người Anh, Ireland chịu ảnh hưởng từ văn hóa Anh và Scotland. sau đó văn hóa Ireland dù có khác biệt về nhiều mặt song chia sẻ các đặc điểm với khối Anh ngữ, châu Âu Công giáo, và các khu vực Celt khác. Cộng đồng người Ireland hải ngoại là một trong các cộng đồng tha hương lớn nhất và phân tán nhất thế giới, họ có đóng góp trong việc toàn cầu hóa văn hóa Ireland, sản sinh nhiều nhân vật nổi bật trong nghệ thuật, âm nhạc và khoa học. Nhà nước Ireland chia sẻ nhiều biểu trưng với đảo Ireland, bao gồm các màu lục và lam, các động vật như chó săn Ireland và hươu, các kiến trúc như tháp tròn và thánh giá Celt, các thiết kế như trang trí dây bện Celt và xoắn ốc. [[Shamrock]] là một loại cỏ ba lá trở thành biểu trưng quốc gia cho Ireland từ thế kỷ XVII khi việc mang theo nó là một tượng trưng của ngày Thánh Patrick. Các biểu trưng này được các thể chế nhà nước và tư nhân sử dụng. [[James Joyce]] phát hành tác phẩm nổi tiếng nhất của mình là "[[Ulysses (tiểu thuyết)|Ulysses]]" vào năm 1922 tại Dublin. Edith Somerville tiếp tục sáng tác sau khi đối tác của bà là Martin Ross từ trần vào năm 1915. Annie M. P. Smithson nằm trong số vài tác giả phục vụ cho người hâm mộ tiểu thuyết lãng mạn trong thập niên 1920 và 1930. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các tiểu thuyết nổi tiếng thuộc về một số tác giả như Brian O'Nolan với bút danh Flann O'Brien, Elizabeth Bowen, và Kate O'Brien. Trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, Edna O'Brien, John McGahern, Maeve Binchy, Joseph O'Connor, Roddy Doyle, Colm Tóibín và John Banville trở thành các tiểu thuyết gia tiên phong. Patricia Lynch có nhiều tác phẩm dành cho thiếu nhi, còn Eoin Colfer đặc biệt thành công về thể loại này trong những năm gần đây. Truyện ngắn là thể loại được nhiều nhà văn Ireland ưa chuộng, các nhân vật nổi tiếng nhất bao gồm Seán Ó Faoláin, Frank O'Connor và William Trevor. Các nhà thơ Ireland có tên tuổi bao gồm Patrick Kavanagh, Thomas McCarthy, Dermot Bolger, [[W. B. Yeats|William Butler Yeats]] và [[Seamus Heaney]]. Các nhà văn nổi bật viết bằng tiếng Ireland là Pádraic Ó Conaire, Máirtín Ó Cadhain, Séamus Ó Grianna và Nuala Ní Dhomhnaill. Lịch sử sân khấu Ireland bắt đầu khi người Anh mở rộng quyền cai trị tại Dublin vào đầu thế kỷ XVII, và kể từ đó Ireland có đóng góp đáng kể cho nghệ thuật kịch Anh. Vào lúc ban đầu, tác phẩm sân khấu tại Ireland có khuynh hướng phục vụ mục đích chính trị, song khi có thêm nhiều sân khấu khánh thành và khán giả phổ thông tăng lên thì sân khấu trở nên đa dạng hơn. Nhiều sân khấu tại Dublin liên kết với đồng nghiệp tại Luân Đôn, và các tác phẩm của Anh thường xuyên xuất hiện trên sân khấu Ireland. Tuy nhiên, hầu hết nhà soạn kịch Ireland ra nước ngoài để khẳng định bản thân. Trong thế kỷ XVIII, [[Oliver Goldsmith]] và [[Richard Brinsley Sheridan]] là hai trong số các nhà soạn kịch thành công nhất trên sân khấu Luân Đôn. Vào lúc khởi đầu thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện các công ty sân khấu dành riêng cho biểu diễn các vở kịch Ireland và phát triển các nhà văn, đạo diễn và diễn viên, tạo điều kiện cho nhiều nhà soạn kịch Ireland trau dồi nghề nghiệp và khẳng định danh tiếng tại Ireland thay vì tại Anh hay Mỹ. Tiếp bước các soạn giả được tôn vinh như [[Oscar Wilde]], [[George Bernard Shaw]] (1925), [[Samuel Beckett]] (1969), các nhà soạn kịch [[Seán O'Casey]], Brian Friel, Sebastian Barry, Brendan Behan, Conor McPherson và Billy Roche đạt được thành công đại chúng. Trong số các nhà soạn kịch Ireland khác trong thế kỷ XX, còn phải kể đến Denis Johnston, Thomas Kilroy, Tom Murphy, Hugh Leonard, Frank McGuinness, và John B. Keane. Âm nhạc và vũ đạo. Âm nhạc truyền thống Ireland vẫn đầy sinh lực, bất chấp thế lực văn hóa toàn cầu hóa, và duy trì nhiều khía cạnh truyền thống. Nó gây ảnh hưởng đến nhiều thể loại âm nhạc như [[nhạc đồng quê]] Mỹ, và trên mức độ nhất định là đến [[rock]] hiện đại. Nó đôi khi được pha trộn với các phong cách như [[rock and roll]] và [[punk rock]]. Ireland cũng sản sinh các nghệ sĩ nổi tiếng quốc tế trong các thể loại khác, như rock, pop, jazz, và blues. Tồn tại một số đoàn nhạc cổ điển khắp Ireland, như RTÉ Performing Groups. Ireland còn có ba tổ chức opera. Opera Ireland sản xuất các vở nhạc kịch quy mô lớn tại Dublin, Opera Theatre Company lưu diễn nhạc kịch phong cách thính phòng khắp đất nước, và Lễ hội Opera Wexford thường niên được tổ chức vào tháng 10 và 11. Ireland tham gia [[Eurovision Song Contest|cuộc thi ca hát Eurovision]] từ năm 1965. Ireland lần đầu giành chiến thắng vào năm 1970, khi [[Dana Rosemary Scallon|Dana]] đoạt giải nhất với bài "[[All Kinds of Everything]]". Ireland sau đó còn chiến thắng thêm nhiều lần nữa, và là quốc gia chiến thắng nhiều lần nhất. "[[Riverdance]]" bắt nguồn từ một màn trình diễn cắt quãng trong cuộc thi năm 1994. Vũ đạo Ireland có thể phân chia một cách đại thể thành vũ đạo xã giao và vũ đạo trình diễn. Vũ đạo xã giao Ireland có thể phân thành "céilí" và nhảy nhóm. Nhảy nhóm kiểu Ireland có bốn cặp xếp theo hình vuông, còn nhảy céilí tạo hình của các cặp từ 2 đến 16 người. Tồn tại nhiều khác biệt về phong cách giữa hai thể loại. Vũ đạo xã giao Ireland là một truyền thống sống động, có các điệu nhảy khác nhau trên khắp đất nước. Tại một số nơi vũ đạo được cố ý cải biên và các vũ đạo mới được sáng tạo. Vũ đạo trình diễn được gọi theo truyền thống là stepdance. Stepdance Ireland phổ biến nhờ biểu diễn "[[Riverdance]]", nổi tiếng vì di chuyển chân nhanh, còn thân và tay phần lớn là giữ yên. Stepdance đơn có đặc điểm chung là kiểm soát song không cứng nhắc phần thân trên, tay thẳng và có các động tác bàn chân nhanh và chính xác. Vũ đạo đơn có thể dùng "giày mềm" hoặc "giày cứng". Ireland có nhiều công trình kiến trúc, tồn tại dưới nhiều tình trạng bảo tồn từ thời đồ đá mới, như mộ đá Poulnabrone, đá Castlestrange, đá Turoe, và vòng đá Drombeg. Do người La Mã chưa từng chinh phục Ireland, nên kiến trúc có nguồn gốc Hy-La cực kỳ hiếm. Thay vào đó, quốc gia này có một giai đoạn kéo dài của kiến trúc thời kỳ đồ sắt. Các tháp tròn Ireland bắt đầu vào thời sơ kỳ Trung Cổ. Cơ Đốc giáo đưa đến các tòa nhà tu viện đơn giản, như Clonmacnoise, Skellig Michael và Scattery Island. Có một điểm tương đồng đáng chú ý về phong cách giữa các tu viện kép này với các tu viện phái [[Người Copt|Copt]] của Ai Cập. Các quốc vương và quý tộc Gael ở trong các pháo đài hình tròn hoặc "[[crannóg]]". Các cải cách giáo hội trong thế kỷ XII thông qua [[Dòng Xitô]] thúc đẩy ảnh hưởng từ châu Âu lục địa, với các tu viện theo phong cách [[kiến trúc Roman]] như Mellifont, Boyle và Tintern. Các khu định cư Gael hạn chế trong các đô thị nguyên thủy kiểu tu viện như Kells. Các khu định cư đô thị quy mô đáng kể chỉ phát triển sau thời kỳ người Viking xâm chiếm. Người Anh-Norman xây lên các lâu đài vào cuối thế kỷ XII, như [[Lâu đài Dublin]] và Lâu đài Kilkenny, và đem tới khái niệm về đô thị mậu dịch có tường bao được quy hoạch, các đô thị này đạt được vị thế pháp lý và một số quyền lợi theo hiến chương. Các hiến chương này quản lý cụ thể thiết kế các đô thị. Hai làn sóng hình thành các đô thị có quy hoạch diễn ra sau đó, lần đầu là các đô thị đồn điền vào thế kỷ XVI và XVII nhằm phục vụ quốc vương của Anh đàn áp khởi nghĩa địa phương, tiếp đến là các đô thị địa chủ thế kỷ XVIII. Các đô thị quy hoạch do người Norman lập nên còn tồn tại đến nay là Drogheda và Youghal; các đô thị đồn điền có Portlaoise và Portarlington; các đô thị quy hoạch trong thế kỷ XVIII được bảo tồn tốt gồm có Westport và Ballinasloe. Các nhà thờ lớn theo [[kiến trúc Gothic]] như St Patrick là do người Norman đem tới. [[Dòng Phan Sinh]] chi phối trong chỉ đạo các tu viện cho đến hậu kỳ Trung Cổ, trong khi các tòa tháp thanh lịch như Lâu đài Bunratty được quý tộc Gael và Norman xây dựng. Nhiều tòa nhà tôn giáo bị đổ nát khi Quốc vương [[Henry VIII của Anh|Henry VIII]] cho giải thể các tu viện. Sau khi chế độ quân chủ khôi phục tại Anh, [[kiến trúc Palladio]] và [[rococo]] xuất hiện khắp Ireland, đặc biệt là biệt thự thôn quê, trong đó Tòa nhà Nghị viện là quan trọng nhất. Các phong cách [[Kiến trúc Tân cổ điển|tân cổ điển]] và George phồn thịnh tại Ireland, đặc biệt là tại Dublin với các công trình như The Custom House, Four Courts, General Post Office và King's Inns. Các nhà phố kiểu George sản sinh các con phố có nét độc đáo, đặc biệt là tại Dublin, Limerick và Cork. Sau khi triều đình Anh giải phóng cho Công giáo, xuất hiện các nhà thờ chịu ảnh hưởng của kiến trúc Phục hưng Gothic của Pháp như St Colman và St Finbarre. Nhà mái tranh tồn tại từ lâu tại Ireland, và hiện nay chúng được cho là có vẻ đẹp kỳ lạ. Khởi đầu với nhà thờ theo phong cách [[Art Deco]] tại Turner's Cross vào năm 1927, kiến trúc Ireland từ đó đi theo xu hướng quốc tế hướng đến các phong cách tòa nhà hiện đại và bóng mượt. Các phát triển kiến trúc gần đây bao gồm cải tạo khu Ballymun và mở rộng đô thị Dublin tại Adamstown. Từ khi thành lập Cơ quan phát triển Dublin Docklands vào năm 1997, Dublin Docklands trải qua tái thiết quy mô lớn, bao gồm xây dựng Trung tâm Hội nghị Dublin và Nhà hát Grand Canal. Tháp The Elysian tại Cork hoàn thành vào năm 2008, là tòa nhà tầng có [[chiều cao]] lớn nhất tại Cộng hòa Ireland với . Viện Hoàng gia về Kiến trúc Ireland quy định thực tiễn kiến trúc tại Cộng hòa Ireland. Raidió Teilifís Éireann (RTÉ) là cơ quan phát sóng công cộng của Ireland, lấy kinh phí từ phí giấy phép truyền hình và quảng cáo. RTÉ vận hành hai kênh truyền hình quốc gia là RTÉ One và RTÉ Two. Các kênh truyền hình quốc gia độc lập khác là TV3, 3e, UTV Ireland và TG4, trong đó TG4 phát sóng bằng tiếng Ireland. Toàn bộ các kênh này hiện diện trên dịch vụ kỹ thuật số mặt đất miễn phí quốc gia mang tên Saorview. Ngoài ra, còn có các kênh như RTÉ News Now, RTÉjr, và RTÉ One +1. Các nhà cung cấp truyền hình trả tiền hoạt động tại Ireland bao gồm Virgin Media và Sky. Được Ban Điện ảnh Ireland giúp đỡ, công nghiệp điện ảnh Ireland phát triển đáng kể từ thập niên 1990, với việc xúc tiến các phim bản địa cũng như thu hút các tác phẩm quốc tế như "[[Trái tim dũng cảm]]" và "[[Giải cứu binh nhì Ryan]]". Một lượng lớn đài phát thanh khu vực và địa phương tồn tại ở vùng thôn quê. Một nghiên cứu cho thấy rằng 85% người trưởng thành nghe hỗn hợp các đài quốc gia, khu vực và địa phương ở mức độ hàng ngày. RTÉ Radio vận hành bốn kênh phát thanh quốc gia là Radio 1, 2fm, Lyric fm, và RnaG. Đài cũng điều hành bốn kênh phát thanh DAB quốc gia. Ngoài ra, còn có hai đài phát thanh quốc gia độc lập là Today FM và Newstalk. Ireland có ngành truyền thông xuất bản có tính cạnh tranh từ xưa, gồm các nhật báo quốc gia và tuần báo khu vực, cũng như các phiên bản Chủ Nhật quốc gia. Sức mạnh của truyền thông Anh Quốc là một điểm đặc trưng của nền truyền thông xuất bản Ireland do có thể lựa chọn đọc nhiều báo chí của Anh. [[Eurostat]] tường thuật rằng 82% hộ gia đình Ireland truy cập internet vào năm 2013, trong khi mức bình quân của EU là 79%. Ẩm thực Ireland theo truyền thống dựa trên sản phẩm thịt và bơ sữa, bổ sung rau và hải sản. Một số món ăn Ireland nổi tiếng là boxty, colcannon, coddle, stew, thịt muối cải bắp. Ireland nổi tiếng vì bữa sáng đầy đủ gồm thịt muối, trứng, xúc xích, pudding, và cà chua chiên. Ngoài ảnh hưởng đáng kể từ các món ăn châu Âu và quốc tế, gần đây còn nổi lên một nền ẩm thực Ireland mới dựa trên các nguyên liệu truyền thống được xử lý theo nhiều cách. Nền ẩm thực này dựa trên rau tươi, cá, hàu, trai, và các loài sò ốc khác, và các loại pho mát thủ công đa dạng nay được sản xuất khắp đất nước. Các loài sò ốc ngày càng phổ biến, đặc biệt là do tại duyên hải có các loại sò ốc chất lượng cao. Loại cá phổ biến nhất là cá hồi và cá tuyết. Loại bánh mì truyền thống là bánh mì soda, còn barmbrack là một loại bánh mì lên men có thêm nho. Các loại đồ uống hàng ngày phổ biến của người Ireland là trà và cà phê. Các đồ uống có cồn có liên hệ đến Ireland gồm có [[Poitín]] và [[Guinness]] nổi tiếng thế giới, một loại rượu nâu nặng khởi nguồn từ nhà máy bia của [[Arthur Guinness]] tại Dublin. Whiskey Ireland cũng phổ biến khắp đất nước, và có nhiều dạng như mạch nha đơn, ngũ cốc đơn, và pha trộn. [[Tập tin:Croke park hogan |thumb|right|Sân vận động Croke Park là trụ sở của Hiệp hội Thể thao Gael.]] [[Bóng đá Gael]] và [[hurling]] là các môn thể thao truyền thống của Ireland, và cũng là các môn có khán giả đông nhất. Chúng chịu sự quản lý từ Hiệp hội Thể thao Gael có thẩm quyền trên toàn đảo. Các môn thể thao Gael khác cũng chịu sự quản lý của hiệp hội là bóng ném Gael và rounders. Bóng đá là môn có khán giả đông thứ ba và là môn có mức độ tham gia cao nhất. Mặc dù Giải Liên đoàn Ireland là giải đấu quốc gia, song [[Giải Ngoại hạng Anh]] là giải đấu phổ biến nhất đối với công chúng. [[Đội tuyển bóng đá quốc gia Cộng hòa Ireland]] nằm dưới quyền quản lý của Hiệp hội bóng đá Ireland. Liên đoàn bóng rugby Ireland là thể chế quản lý môn rugby liên hiệp, tại cấp địa phương và quốc tế trên cơ sở toàn đảo Ireland, và sản sinh các cầu thủ như [[Brian O'Driscoll]] và [[Ronan O'Gara]], họ cùng đội tuyển giành được Grand Slam vào năm 2009. Rugby liên minh nằm dưới quyền quản lý của Liên đoàn rugby Ireland trên cơ sở toàn đảo Ireland. Ireland từng vào đến tứ kết giải vô địch rugby liên minh thế giới năm 2000 vào đến bán kết tại giải này vào năm 2008. Thành công của Đội tuyển cricket Ireland tại giải vô địch thế giới năm 2007 khiến công chúng gia tăng quan tâm đến môn thể thao này, môn này nằm dưới quyền quản lý của Cricket Ireland trên cơ sở toàn đảo Ireland. [[Golf]] cũng là môn thể thao phổ biến tại Ireland, với trên 300 sân tại vùng thôn quê. Quốc gia này sản sinh nhiều vận động viên golf thành công quốc tế như [[Pádraig Harrington]] và [[Paul McGinley]]. Đua ngựa có mức độ hiện diện rất lớn tại Ireland, có hoạt động gây giống và thi đấu vào hàng có ảnh hưởng nhất. Đua ngựa diễn ra tại Trường đua The Curragh tại hạt Kildare và tại Trường đua Leopardstown. Quyền Anh là môn thể thao thành công nhất của Ireland ở cấp độ Thế vận hội, nằm dưới quyền quản lý của Hiệp hội quyền Anh nghiệp dư Ireland trên cơ sở toàn đảo Ireland. Môn thể thao này được phổ biến nhờ thành công quốc tế của các vận động viên như Bernard Dunne, Andy Lee và Katie Taylor. Một số vận động viên điền kinh Ireland đạt thành tích cao từng tham dự Thế vận hội là [[Eamonn Coghlan]] và [[Sonia O'Sullivan]]. Giải Marathon Dublin và Marathon nữ ngắn Dublin được tổ chức thường niên, là hai trong số các sự kiện điền kinh phổ biến nhất nước. [[Thể loại:Cộng hòa Ireland| ]] [[Thể loại:Vùng cấp một Liên minh châu Âu]] [[Thể loại:Quốc gia thành viên Ủy hội châu Âu]] [[Thể loại:Quốc gia và vùng lãnh thổ nói tiếng Anh]] [[Thể loại:Quốc gia châu Âu]] [[Thể loại:Quốc gia thành viên Liên minh châu Âu]] [[Thể loại:Quốc gia Tây Âu]] [[Thể loại:Quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc]]
Đảo Anh hay Đại Anh () nằm ở phía tây bắc của châu Âu đại lục. Đây là hòn đảo lớn thứ 9 thế giới, và là đảo lớn nhất quần đảo Anh cũng như châu Âu. Với dân số khoảng 60,0 triệu người vào giữa năm 2009, đây là đảo đông dân thứ ba trên thế giới, chỉ sau Java và Honshu. Đảo Anh có trên 1.000 đảo nhỏ hơn bao quanh. Đảo Ireland nằm ở phía tây của đảo Anh. Về mặt chính trị, "Great Britain" trong tiếng Anh cũng có thể đề cập tới đảo Anh cùng các đảo lân cận hợp thành các xứ Anh, Scotland và Wales. Toàn bộ đảo Anh là lãnh thổ của quốc gia có chủ quyền Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, và hầu hết lãnh thổ của nước Anh là đảo Anh. Hầu hết lãnh thổ của các xứ Anh, Scotland, và Wales nằm trên đảo Anh, và thủ phủ của các xứ cũng nằm trên đảo: tương ứng là Luân Đôn, Edinburgh, và Cardiff. Vương quốc Anh (Kingdom of Great Britain) là kết quả của sự liên hiệp chính trị giữa Vương quốc Anh (Kingdom of England) và Vương quốc Scotland theo Đạo luật Liên hiệp 1707 vào ngày 1 tháng 5 năm 1707 dưới sự trị vì của Nữ hoàng Anne. Năm 1801, theo Đạo luật Liên hiệp 1800, vương quốc này sáp nhập với Vương quốc Ireland để tại thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Sau Chiến tranh Độc lập Ireland, hầu hết phía nam đảo Ireland ly khai khỏi liên hiệp và trở thành Cộng hoà Ireland. Còn vương quốc trở thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland ("United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland"). Sự đa dạng về hệ động thực vật trên đảo Anh tương đối hạn chế do kích thước của đảo và do thực tế rằng động vật hoang dã đã có ít cơ hội để phát triển từ thời kỳ băng hà cuối. Mức độ đô thị hóa cao đã góp phần vào việc đảo Anh có một tỉ lệ tuyệt chủng loài cao hơn 100 lần so với tỷ lệ tuyệt chủng chung của Trái Đất. Định nghĩa chính trị. Đảo Anh là hòn đảo lớn nhất của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Về mặt chính trị, đảo Anh (Great Britain) là sự kết hợp của ba xứ England, Scotland và Wales, và không bao gồm Bắc Ireland nằm ở đảo Ireland; "Great Britain" cũng bao gồm một số hòn đảo ngoài khơi các xứ Anh, Scotland và Wales như đảo Wight, Anglesey, quần đảo Scilly, quần đảo Hebride, và các nhóm đảo Orkney và Shetland. Great Britain không bao gồm đảo Man và Quần đảo Eo Biển và chúng cũng không phải là một phần của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland mà là các lãnh thổ phụ thuộc tự trị với hệ thống luật pháp và thuế riêng. Liên hiệp chính trị giữa hai vương quốc Anh (Kingdom of England) và Scotland đã diễn ra vào năm 1707 khi Đạo luật Liên hiệp 1707 đã thông qua Hiệp ước Liên hiệp năm 1706 và hợp nhất nghị viện của hai nước, tạo thành Vương quốc Anh (Kingdom of Great Britain), bao trùm toàn bộ hòn đảo. Trước đó, một liên minh cá nhân đã tồn tại giữa hai nước kể từ Liên hiệp các vua (Union of the Crowns) dưới thời hai nước có chung một người trị vì là James VI của Scotland và James I của Anh. Định nghĩa địa lý. Đảo Anh nằm trong vùng thềm lục địa của châu Âu và nằm ở phía tây bắc của châu Âu đại lục và ở phía đông của đảo Ireland. Đảo Anh tách biệt với lục địa châu Âu qua biển Bắc và eo biển Manche, eo biển này chỉ rộng tại eo Dover. Hòn đảo trải dài trên 10 vĩ độ, có trục bắc-nam, với diện tích nếu không tính tất cả các đảo nhỏ xung quanh. eo biển Bắc, biển Ireland, eo biển St George và biển Celtic phân tách đảo Anh với đảo Ireland ở phía tây. Hòn đảo kết nối về mặt tự nhiên với đại lục châu Âu qua Đường hầm eo biển Manche, đường hầm tàu hỏa dưới biển dài nhất trên thế giới và được hoàn thành vào năm 1993. Về mặt địa lý, hòn đảo có các miền đồng quê thấp và lượn sóng ở phía đông và nam, còn các đồi và núi thì thống trị ở các vùng phía tây và phía bắc. Đảo có trên 1.000 đảo nhỏ hơn bao quanh. Khoảng cách lớn nhất giữa hai điểm trên đảo là 968 km (601,5 mi) (giữa Land's End, Cornwall và John O'Groats, Caithness), hay 1.349 km (838 mi) nếu đi theo mạng lưới xa lộ quốc gia.
Ireland (phiên âm: "Ai-len", tiếng Anh: ; ]#đổi ; Ulster-Scots: #đổi ) là một hòn đảo tại Bắc Đại Tây Dương. Đảo này tách biệt với Đảo Anh ở phía đông qua Eo biển Bắc, Biển Ireland và Eo biển St George. Ireland là đảo lớn thứ nhì trong Quần đảo Anh, lớn thứ ba tại châu Âu và lớn thứ 20 trên thế giới. Về mặt chính trị, Đảo Ireland được chia tách thành Cộng hoà Ireland (được đặt tên chính thức là Ireland) chiếm 5/6 diện tích đảo, và Bắc Ireland, thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Năm 2011, dân số Ireland đạt khoảng 6,4 triệu, là đảo đông dân thứ nhì tại châu Âu sau Đảo Anh. Trong đó, có gần 4,6 triệu người sống tại Cộng hòa Ireland và hơn 1,8 triệu người sống tại Bắc Ireland. Về mặt khu vực địa lý, đảo có các dãy núi tương đối thấp bao quanh một đồng bằng trung tâm, với một số dòng sông mà tàu thuyền có thể đi được kéo dài vào nội địa. Đảo có thảm thực vật tươi tốt do có khí hậu ôn hòa nhưng dễ thay đổi, không chịu sự khắc nghiệt của nhiệt độ. Rừng rậm từng bao phủ đảo cho đến thời kỳ Trung Cổ. Đến năm 2013, 11% diện tích đảo có rừng bao phủ, trong khi mức trung bình của châu Âu là 33%, và hầu hết là các đồn điền trồng cây lá kim không có nguồn gốc bản địa. Có hai mươi sáu loài động vật có vú sống trên cạn có nguồn gốc bản địa Ireland. Khí hậu Ireland chịu ảnh hưởng của Đại Tây Dương và do đó rất ôn hoà, và mùa đông ôn hòa hơn so với một khu vực phía bắc như vậy, mặc dù mùa hè khí hậu mát hơn so với lục địa châu Âu. Lượng mưa và mây che phủ rất nhiều. Bằng chứng sớm nhất về việc con người hiện diện tại Ireland có niên đại từ 10.500 TCN. Trật tự Ireland Gael xuất hiện từ thế kỷ I. Cư dân đảo cải đạo sang Cơ Đốc giáo từ thế kỷ V trở đi. Sau khi người Norman xâm chiếm đảo vào thế kỷ XII, Anh yêu sách chủ quyền đối với Ireland. Tuy nhiên, quyền cai trị của Anh không bành trướng được đến toàn đảo cho đến cuộc chinh phục dưới thời Triều đại Tudor trong thế kỷ XVI-XVII, cuộc chinh phục này kéo theo những người di cư đến từ Đảo Anh. Trong thập niên 1690, một hệ thống cai trị theo dòng Tin Lành của người Anh được định ra nhằm gây bất lợi cho tín hứu Công giáo La Mã chiếm đa số cùng với những người biệt giáo với Tin Lành, và hệ thống được mở rộng trong thế kỷ XVIII. Theo Đạo luật Liên hiệp năm 1801, Ireland trở thành một bộ phận của Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Một cuộc chiến tranh giành độc lập vào đầu thế kỷ XX diễn ra được kế tiếp bằng sự phân chia hòn đảo, thành lập Nhà nước Tự do Ireland, thực thể dần tăng cường chủ quyền trong các thập niên tiếp theo, và Bắc Ireland, vốn duy trì là bộ phận của Vương quốc Anh. Bắc Ireland đã chứng kiến ​​nhiều bất ổn dân sự từ cuối những năm 1960 cho đến những năm 1990. Tình hình dần lắng xuống sau một hiệp định chính trị vào năm 1998. Năm 1973, Cộng hòa Ireland và Vương quốc Anh, bao gồm Bắc Ireland, gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu. Văn hoá Ireland có ảnh hưởng đáng kể đến các nền văn hoá khác, đặc biệt là trong lĩnh vực văn học. Cùng với văn hóa phương Tây chủ lưu, văn hoá bản địa mạnh mẽ vẫn hiện diện trên đảo, được thể hiện thông qua các trò chơi Gael, âm nhạc Ireland, và ngôn ngữ Ireland. Văn hoá trên đảo cũng chia sẻ nhiều đặc điểm với văn hoá Anh, trong đó có ngôn ngữ Anh và các môn thể thao như bóng đá, rugby, đua ngựa và golf. Tên gọi Ireland bắt nguồn từ tiếng Ireland cổ "Eriu". Từ này lại có nguồn gốc từ tiếng Celt nguyên thủy "*Iveriu" (tương đương với "Iwerddon" trong tiếng Wales), nó cũng là nguồn gốc của từ "Hibernia" trong tiếng La Tinh. "Iveriu" bắt nguồn từ một gốc từ nghĩa là "béo, thịnh vượng." Hầu hết đảo Ireland bị băng bao phủ trong hầu hết thời gian thuộc thời kỳ băng hà cuối cùng, kéo dài cho đến khoảng 9.000 năm trước. Mực nước biển thấp và Ireland cùng với đảo Anh là bộ phận của châu Âu lục địa. Đến năm 12.000 TCN, mực nước biển dâng lên do băng tan khiến Ireland tách khỏi đảo Anh. Đến khoảng năm 5.600 TCN thì đảo Anh cũng tách khỏi châu Âu lục địa. Bằng chứng sớm nhất về việc con người hiện diện tại Ireland có niên đại từ 10.500 TCN. Cho đến gần đây, bằng chứng sớm nhất về loài người tại Ireland cho đến nay là về người thuộc thời kỳ đồ đá giữa, họ đến bằng thuyền từ đảo Anh vào từ năm 8.000 TCN đến năm 7.000 TCN. Từ khoảng năm 4.500 TCN, những người định cư thuộc thời kỳ đồ đá mới đến đảo và mang theo các giống cây lương thực có hạt, một văn hóa ngựa (tương tự như tại Scotland cùng thời kỳ) và các tượng đá. Một nền nông nghiệp tiến bộ hơn phát triển tại Céide Fields, được bảo tồn bên dưới lớp than bùn. Một hệ thống cánh đồng rộng lớn, được cho là cổ nhất trên thế giới, gồm các phần nhỏ được tách biệt qua các bức tường xếp đá. Các cánh đồng được canh tác trong vài thế kỷ từ 3.500 TCN đến 3.000 TCN. Lúa mì và lúa mạch là các cây trồng chủ đạo, được đưa đến từ bán đảo Iberia. Thời kỳ đồ đồng bắt đầu vào khoảng năm 2.500 TCN, lúc này kỹ thuật thay đổi sinh hoạt thường nhật của dân chúng thông qua các phát minh như bánh xe, sử dụng bò trong sản xuất, dệt vải, làm đồ uống có cồn, gia công kim loại tinh xảo tạo ra các vũ khí và công cụ mới, cùng các đồ trang sức bằng vàng và kim cương tinh tế. Theo một số nguồn, Ireland vào cuối thời kỳ đồ đồng là bộ phận của một văn hóa mạng lưới giao dịch hàng hải tên là Thời kỳ đồ đồng Đại Tây Dương, cùng với Anh Quốc, miền tây Pháp và Iberia, là những nơi ngôn ngữ Celt phát triển. Điều này tương phản với quan điểm truyền thống rằng nguồn gốc chúng là tại châu Âu lục địa cùng với văn hoá Hallstatt. Sự xuất hiện của người Celt ở Ireland. Trong thời kỳ đồ sắt, một ngôn ngữ và văn hóa Celt xuất hiện tại Ireland. Cách thức và thời điểm đảo Ireland bị Celt hoá là đề tài tranh luận. Một quan điểm truyền thống có từ lâu là ngôn ngữ Celt, chữ viết Ogham và văn hoá Celt được đưa đến Ireland theo các làn sóng người Celt xâm chiếm hoặc di cư từ châu Âu lục địa. Thuyết này dựa theo "Lebor Gabála Érenn", một tác phẩm giả sử học Cơ Đốc giáo Trung Cổ của Ireland, cùng với sự hiện diện của văn hóa, ngôn ngữ và đồ tạo tác Celt phát hiện được trên đảo. Theo thuyết này, có 4 cuộc xâm chiếm của người Celt tại Ireland. Đầu tiên được cho là là người Priteni, tiếp theo là người Belgae từ miền bắc Gaul và đảo Anh. Tiếp đó, các bộ lạc Laighin từ Armorica (nay là Bretagne của Pháp) được cho là xâm chiếm đảo Ireland và đảo Anh gần như đồng thời. Cuối cùng, người Milesia (người Gael) được cho là đến Ireland từ miền bắc Iberia hoặc miền nam Gaul. Một thuyết gần đây hơn cho rằng văn hóa và ngôn ngữ Celt đến Ireland là kết quả của truyền bá văn hóa, theo đó Celt hóa Ireland có thể là đỉnh điểm của một quá trình tác động văn hóa và kinh tế lâu dài giữa đảo Ireland, đảo Anh và các khu vực lân cận của châu Âu lục địa. Thuyết này được thúc đẩy một phần là do thiếu các chứng cứ khảo cổ học về nhập cư Celt quy mô lớn, song nó chấp thuận rằng những chuyển động như vậy rất khó để xác định. Một số người đề xướng thuyết này cho rằng có thể có các nhóm nhỏ người Celt di cư đến Ireland, song không phải là nguyên nhân cơ bản khiến đảo bị Celt hóa. Các nhà ngôn ngữ học lịch sử hoài nghi về việc đây là cách thức duy nhất giải thích cho việc hấp thu ngôn ngữ Celt. Nghiên cứu di truyền phát hiện rằng không có khác biệt đáng kể trong DNA ty thể giữa Ireland và các khu vực lớn tại châu Âu lục địa, tương phản với một phần mô hình nhiễm sắc thể Y. Một nghiên cứu gần đây kết luận rằng người nói tiếng Celt hiện đại tại Ireland có thể được cho là "người Celt Đại Tây Dương" châu Âu có tổ tiên chung trên khắp khu vực Đại Tây Dương từ miền bắc Iberia đến miền tây Scandinavia chứ không phải về cơ bản là Trung Âu. Thời kỳ cuối cổ đại và đầu trung đại. Bản ghi chép sớm nhất về Ireland đến từ các nhà địa lý học Hy Lạp-La Mã cổ điển. Ptolemy trong "Almagest" gọi đảo Ireland là "Mikra Brettania" ("đảo Anh nhỏ") và ông gọi đảo Anh là "Megale Brettania" ("đảo Anh lớn"). Trong tác phẩm "Geography" sau đó, Ptolemy gọi đảo Ireland là "Iouernia" và gọi đảo Anh là "Albion". Các tên mới này có vẻ là tên địa phương của các đảo khi đó. Các tên gọi sớm hơn có vẻ được đặt ra trước khi có tiếp xúc trực tiếp với dân chúng địa phương. Người La Mã sau đó gọi Ireland bằng tên gọi này theo dạng La Tinh hoá là "Hibernia", hoặc Scotia. Ptolemy ghi lại 16 quốc gia tại mỗi bộ phận của Ireland vào năm 100. Không rõ về quan hệ giữa đế quốc La Mã và các vương quốc tại Ireland, tuy nhiên phát hiện được một số tiền xu La Mã trên đảo. Đảo Ireland tiếp tục là nơi có các vương quốc kình địch nhau, từ thế kỷ VII khái niệm về vương quyền dân tộc dần trở nên rõ ràng thông qua khai niệm về "thượng vương Ireland". Văn học Ireland trung đại phác họa một loạt thượng vương hầu như không gián đoạn trong hàng nghìn năm, song các sử gia hiện đại cho rằng điều này được dựng nên trong thế kỷ VIII nhằm biện minh cho vị thế của các nhóm chính trị quyền lực. Toàn bộ các vương quốc trên đảo Ireland có quốc vương riêng song trên danh nghĩa lệ thuộc thượng vương. Thượng vương xuất thân từ các quốc vương và quân chủ địa phương, có thủ đô nghi lễ trên đồi Tara. Khái niệm không trở thành một hiện thực chính trị cho đến thời kỳ Viking và thậm chí sau đó cũng không nhất quán. Ireland có quy chế pháp luật thống nhất về văn hoá: hệ thống tư pháp thành văn sơ khởi là Luật Brehon, do một tầng lớp luật gia chuyên nghiệp gọi là "brehons" thi hành. "Biên niên sử Ireland" viết rằng vào năm 431, Giám mục Palladius đến Ireland theo lệnh Giáo hoàng Celestine I để giúp người Ireland "vững tin vào Chúa". Tác phẩm này còn ghi rằng Thánh Patrick bảo trợ cho Ireland đến đảo trong cùng năm. Tiếp tục tồn tại tranh luận về các sứ mệnh của Palladius và Patrick, song đồng thuận rằng chúng diễn ra và rằng truyền thống druid trước đó bị tan vỡ khi đối diện với tôn giáo mới. Các học giả Cơ Đốc giáo Ireland xuất sắc trong học tập kiến thức La Tinh và Hy Lạp và thần học Cơ Đốc giáo. Trong văn hoá tu viện sau khi Ireland bị Cơ Đốc giáo hoá, kiến thức La Tinh và Hy Lạp được bảo tồn tại Ireland trong sơ kỳ Trung Cổ. Năm 563, một tu sĩ Ireland là Columba thành lập một hội truyền giáo trên đảo Iona (nay thuộc Scotland), bắt đầu truyền thống hội truyền giáo Ireland hoạt động nhằm truyền bá Cơ Đốc giáo Celt và kiến thức đến Scotland, Anh và đế quốc Frank tại châu Âu lục địa sau khi La Mã sụp đổ. Các hội truyền giáo này tiếp tục cho đến hậu kỳ Trung Cổ, họ lập ra các tu viện và trung tâm kiến thức, sản sinh các học giả như Sedulius Scottus và Johannes Eriugena và gây nhiều ảnh hưởng tại châu Âu. Từ thế kỷ IX, các làn sóng hải tặc Viking tiến hành cướp bóc các tu viện và thị trấn Ireland. Người Viking cũng tham gia thành lập hầu hết các khu định cư duyên hải lớn tại Ireland: Dublin, Limerick, Cork, Wexford, Waterford và các khu định cư nhỏ khác. Người Norman và Anh xâm chiếm. Ngày 1 tháng 5 năm 1169, một đội viễn chinh gồm các hiệp sĩ Cambria-Norman với khoảng 600 người đổ bộ lên bờ biển Bannow nay thuộc hạt Wexford. Đội quân do Richard de Clare chỉ huy. Cuộc xâm chiếm trùng hợp với một giai đoạn người Norman khôi phục bành trướng, và diễn ra theo lời mời của Quốc vương Leinster Dermot Mac Murrough. Năm 1166, Mac Murrough đào thoát đến Anjou, Pháp sau chiến tranh với Breifne và tìm kiếm viện trợ từ quốc vương Angevin (cai trị Anh và một nửa nước Pháp ngày nay) là Henry II để tái chiếm Leinster. Năm 1171, Henry đến Ireland nhằm khảo sát tiến trình tổng thể cuộc viễn chinh. Henry thành công trong việc tái áp đặt quyền uy đối với Richard de Clare và các quân phiệt Cambria-Norman, thuyết phục nhiều quốc vương Ireland chấp thuận mình là chúa tể, dàn xếp này được xác nhận theo Hiệp định Windsor năm 1175. Cuộc xâm chiếm được hợp pháp hóa theo các điều khoản trong chiếu thư "Laudabiliter" của Giáo hoàng Adrianus IV vào năm 1155. Chiếu thư khuyến khích Henry nắm quyền kiểm soát Ireland nhằm giám sát tái tổ thức tài chính và hành chính của Giáo hội Ireland và tích hợp họ vào hệ thống Giáo hội La Mã. Một số bước tái cơ cấu đã được bắt đầu ở cấp giáo hội sau hội nghị tại Kells vào năm 1152. Tồn tại tranh luận đáng kể về tính xác thực của "Laudabiliter" Năm 1172, tân giáo hoàng là Alexander III khuyến khích Henry hơn nữa trong việc thúc đẩy hợp nhất Giáo hội Ireland với Giáo hội La Mã. Đổi lại, Henry nhận tước hiệu "Chúa Ireland" và ông trao nó cho con trai là John Lackland vào năm 1185. Sự kiện này xác định nhà nước Ireland với vị thế Lãnh địa Ireland. Năm 1199, John kế thừa vương vị Anh và giữ lại tước chúa của Ireland. Trong thế kỷ tiếp theo, luật phong kiến Norman dần thay thế Luật Brehon Gael, đến cuối thế kỷ XIII người Norman tại Ireland lập ra một hệ thống phong kiến trên phần lớn đảo. Các khu định cư của người Norman có đặc điểm là lập ra lãnh địa nam tước, thái ấp, đô thị và hạt, giống hệ thống hạt hiện đại. Một phiên bản của Magna Carta (Đại hiến chương Ireland), thay thế "Dublin" cho "London" và "Giáo hội Ireland" cho "Giáo hội Anh", được phát hành vào năm 1216 và Nghị viện Ireland được thành lập vào năm 1297. Từ giữa thế kỷ XIV, sau Cái chết Đen, các khu định cư Norman tại Ireland lâm vào một giai đoạn suy thoái. Những người cai trị Norman và tầng lớp tinh hoa Ireland Gael liên hôn và các khu vực do người Norman cai trị bị Gael hóa. Tại một số nơi, xuất hiện văn hóa lai tạp Ireland-Norman. Nhằm phản ứng, Nghị viện Ireland thông qua Quy chế Kilkenny vào năm 1367, đây là một bộ luật nhằm ngăn chặn đồng hóa người Norman vào xã hội Ireland bằng cách yêu cầu các thần dân Anh tại Ireland nói tiếng Anh, tuân theo phong tục Anh và pháp luật Anh. Đến cuối thế kỷ XV, quyền lực trung ương Anh tại Ireland gần như biến mất và văn hoá cùng ngôn ngữ Ireland hồi sinh lại chiếm ưu thế, dù có ảnh hưởng của Norman. Quyền kiểm soát của quân chủ Anh vẫn tương đối vững chắc trong một khu vực không được định rõ bao quanh Dublin gọi là The Pale, và theo các điều khoản trong Luật Poynings vào năm 1494, luật pháp do Nghị viện Ireland ban hành cần được Nghị viện Anh phê chuẩn. Tước hiệu "quốc vương Ireland" được Quốc vương Anh Henry VIII tái lập vào năm 1542. Pháp quyền Anh được củng cố và mở rộng tại Ireland trong thời gian cuối của thế kỷ XVI, dẫn đến triều đình Tudor chinh phục Ireland. Cuộc chinh phục gần như hoàn tất khi bước sang thế kỷ XVII. Quyền kiểm soát này càng được củng cố trong các cuộc chiến và xung đột vào thế kỷ XVII, cùng với đó là việc người Anh và người Scotland thực dân hóa các đồn điền tại Ireland, chiến tranh Ba Vương quốc và chiến tranh giữa hai phe ủng hộ James II và William III. Theo ước tính, tổn thất của Ireland trong chiến tranh Ba Vương quốc là 20.000 người thiệt mạng trên chiến trường. Cũng theo ước tính, có 200.000 thường dân thiệt mạng do kết hợp từ nạn đói do chiến tranh, di tán, hoạt động du kích và dịch bệnh trong thời gian chiến tranh. Có thêm 50.000 người bị đưa đi lao dịch có khế ước tại Tây Ấn. Một số sử gia ước tính có đến một nửa dân số Ireland thời tiền chiến đã thiệt mạng do hậu quả của xung đột. Các cuộc đấu tranh tôn giáo trong thế kỷ XVII để lại phân chia tông phái sâu sắc tại Ireland. Lòng trung thành tôn giáo theo pháp luật giờ đây sẽ quyết định nhận thức về lòng trung thành với quốc vương và nghị viện của Ireland. Sau khi thông qua Đạo luật Test năm 1672, cùng với chiến thắng của lực lượng William-Mary trước phái Jacob, người Công giáo La Mã và người Tin Lành bất đồng không phù hợp đều bị ngăn cấm làm nghị viên Ireland. Theo luật hình sự mới xuất hiện, người Công giáo La Mã và người Tin Lành bất đồng tại Ireland ngày càng bị tước đoạt các quyền dân sự khác nhau, thậm chí là quyền sở hữu tài sản thừa kế. Các đạo luật trừng phạt bổ sung có hồi tố được ban hành vào các năm 1703, 1709 và 1728. Điều này hoàn thành một nỗ lực toàn diện có hệ thống nhằm gây bất lợi lớn cho người Công giáo La Mã và Tin Lành bất đồng, trong khi làm lợi thêm cho tầng lớp cai trị mới gồm các tín đồ Anh giáo phục tùng. Một đột biến khí hậu gọi là "Sương giá lớn" tác động đến Ireland và phần còn lại của châu Âu từ tháng 12 năm 1739 đến tháng 9 năm 1741. Mùa đông tàn phá loại các cây trồng chủ đạo có thể tích trữ như khoai tây còn mùa hè yếu tàn phá nghiêm trọng thu hoạch. Điều này dẫn đến nạn đói năm 1740, có ước tính cho rằng 250.000 nghìn người (khoảng 1/8 dân số) thiệt mạng do nhiễm trùng và dịch bệnh. Sau nạn đói, sản xuất công nghiệp và mậu dịch gia tăng tạo ra các đợt bùng nổ xây dựng kế tiếp nhau. Dân số tăng cao vào cuối thế kỷ này và di sản kiến trúc George Ireland được tạo dựng. Năm 1782, Luật Poynings bị bãi bỏ, trao cho Ireland quyền lập pháp độc lập với Anh lần đầu tiên kể từ năm 1495. Tuy nhiên, Chính phủ Anh duy trì quyền bổ nhiệm Chính phủ Ireland mà không cần nghị viện Ireland tán thành. Liên hiệp với Anh. Năm 1798, các thành viên Tin Lành bất đồng truyền thống (chủ yếu là Trưởng Lão) và người Công giáo La Mã tiến hành một cuộc khởi nghĩa cộng hòa do Hội người Ireland Liên hiệp lãnh đạo, mục tiêu là Ireland độc lập. Dù có viện trợ của Pháp, cuộc khởi nghĩa vẫn bị đàn áp. Năm 1800, nghị viện của Anh và Ireland đều thông qua Đạo luật Liên hiệp có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1801, theo đó hợp nhất Vương quốc Ireland và Vương quốc Anh để hình thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Việc thông qua đạo luật tại Nghị viện Ireland cuối cùng đạt được đa số đáng kể, sau khi từng thất bại vào năm 1799. Theo các văn kiện đương đại và phân tích lịch sử, điều này đạt được nhờ hối lộ ở mức độ đáng kể, cùng các tặng thưởng khác. Theo đạo luật, nghị viện của Ireland bị bãi bỏ và thay thế nó là nghị viện liên hiệp tại Westminster, Luân Đôn, song kháng cự vẫn tồn tại chẳng hạn như khởi nghĩa Ireland năm 1803. Ngoại trừ ngành vải lanh thì Ireland phần lớn bị cách mạng công nghiệp bỏ qua, một phần là do đảo thiếu tài nguyên than đá và sắt và một phần là do tác động từ việc liên hiệp đột ngột với một nước Anh vốn có kết cấu kinh tế ưu việt, Anh nhìn nhận Ireland là một nguồn cung nông sản và tư bản. Nạn đói lớn 1845–1851 tàn phá Ireland, trong những năm này dân số Ireland giảm một phần ba. Có trên một triệu người thiệt mạng do đói và dịch bệnh, hai triệu người khác di cư, hầu hết là đến Hoa Kỳ và Canada. Tiếp sau nạn đói này là một giai đoạn bất ổn dân sự kéo dài đến cuối thế kỷ XIX, được gọi là chiến tranh đất đai. Di cư hàng loạt trở nên phổ biến và khiến dân số tiếp tục giảm cho đến giữa thế kỷ XX. Ngay trước nạn đói, dân số được ghi nhận là 8,2 triệu theo điều tra nhân khẩu năm 1841, kể từ đó chưa từng quay lại được mức này. Trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa dân tộc Ireland hiện đại dâng cao, chủ yếu là trong cộng đồng Công giáo La Mã. Daniel O'Connell là nhân vật chính trị ưu tú người Ireland sau khi liên hiệp với Anh. Ông đắc cử nghị viên thuộc đơn vị Ennis gây ra bất ngờ song ông không thể nhậm chức do là người Công giáo La Mã. O'Connell xung kích trong một chiến dịch nhận được ủng hộ của thủ tướng là Công tước Wellington, một người sinh tại Ireland. Đạo luật Cứu trợ Công giáo được Quốc vương George IV ký thành luật, dù phụ vương của ông là George III từng phản đối một dự luật như vậy vào năm 1801 do lo ngại việc giải phóng cho Công giáo sẽ xung khắc với Đạo luật Định cư 1701. Daniel O'Connell sau đó lãnh đạo một chiến dịch yêu cầu bãi bỏ Đạo luật Liên hiệp, song thất bại. Cũng trong thế kỷ này, Charles Stewart Parnell và những người khác vận động giành quyền tự trị trong Liên hiệp. Những người theo phái liên hiệp phản đối mạnh mẽ tự trị, đặc biệt là người khu vực Ulster, vì họ cho rằng nó sẽ bị các lợi ích của Công giáo chi phối. Sau vài nỗ lực nhằm thông qua một dự luật tự trị tại nghị viện, tình hình có vẻ chắc chắn rằng một dự luật rốt cuộc sẽ được thông qua vào năm 1914. Nhằm ngăn chặn khả năng này, Quân Tình nguyện Ulster được thành lập vào năm 1913 dưới quyền lãnh đạo của Edward Carson. Đến năm 1914, Quân Tình nguyện Ireland được thành lập với mục tiêu là đảm bảo rằng Dự luật Tự trị địa phương được thông qua. Đạo luật này được thông qua song "tạm thời" loại trừ 6 hạt của Ulster mà sau này trở thành Bắc Ireland. Tuy nhiên, đạo luật bị đình chỉ trước khi thi hành trong thời gian chiến tranh thế giới thứ nhất. Quân Tình nguyện Ireland bị phân làm hai nhóm. Đa số với khoảng 175.000 người nằm dưới quyền của John Redmond, lấy tên là Quân Tình nguyện Dân tộc và ủng hộ Ireland tham gia đại chiến. Thiểu số với khoảng 13.000 người vẫn lấy tên gọi Quân Tình nguyện Ireland và phản đối Ireland tham gia đại chiến. Nhóm thiểu số này tiến hành khởi nghĩa Phục Sinh năm 1916 cùng với một nhóm dân quân xã hội nhỏ là Quân đội Công dân Ireland. Người Anh cho hành quyết 15 thủ lĩnh khởi nghĩa và tống giam hơn một nghìn người, khiến tâm trạng dân chúng chuyển sang ủng hộ phiến quân. Sự ủng hộ dành cho chủ nghĩa cộng hoà Ireland tăng lên hơn nữa do chiến tranh tiếp diễn tại châu Âu, cũng như khủng hoảng quân dịch năm 1918. Đảng ủng hộ độc lập là Sinn Féin giành được ủng hộ mạnh mẽ trong tổng tuyển cử năm 1918, đến 1919 họ tuyên bố thành lập một nước Cộng hoà Ireland, lập nghị viện và chính phủ riêng. Đồng thời quân tình nguyện nay gọi là Quân đội Cộng hoà Ireland (IRA) phát động chiến tranh du kích kéo dài trong ba năm, kết thúc bằng một hòa ước vào tháng 7 năm 1921 (song bạo lực tiếp tục cho đến tháng 6 năm 1922, hầu hết là tại Bắc Ireland). Tháng 12 năm 1921, Hiệp định Anh-Ireland được ký kết giữa Chính phủ Anh và các đại biểu của nghị viện Ireland khoá II. Hiệp định trao cho Ireland độc lập hoàn toàn trong nội vụ và độc lập thực tế trong chính sách ngoại giao, song có một điều khoản lựa chọn không tham gia, cho phép Bắc Ireland duy trì là bộ phận của Vương quốc Liên hiệp. Ngoài ra, nó còn yêu cầu tuyên thệ trung thành với quốc vương. Bất đồng về các điều khoản này dẫn đến phân liệt trong phong trào dân tộc và sau đó là nội chiến giữa tân chính phủ của Nhà nước Tự do Ireland và phái phản đối hiệp định do Éamon de Valera lãnh đạo. Nội chiến kết thúc vào tháng 5 năm 1923 khi Éamon de Valera ban hành lệnh đình chiến. Trong thập niên đầu tiên, Nhà nước Tự do Ireland mới thành lập nằm dưới quyền cai quản của những người chiến thắng trong nội chiến. Đến khi Éamon de Valera lên nắm quyền, ông tận dụng Pháp lệnh Westminster và tình thế chính trị để xây dựng nền móng cho chủ quyền cao hơn. Việc tuyên thệ trung thành với quốc vương bị bãi bỏ vào năm 1937 khi hiến pháp mới được thông qua. Điều này hoàn tất một quá trình dần ly khai khỏi đế quốc Anh được chính phủ theo đuổi từ khi độc lập. Tuy nhiên, đến năm 1949, thì nhà nước mới chính thức trở thành Cộng hoà Ireland. Ireland trung lập trong chiến tranh thế giới thứ hai, song cung cấp viện trợ bí mật cho Đồng Minh, đặc biệt là năng lực phòng thủ của Bắc Ireland. Dù trung lập, song có khoảng 50.000 quân tình nguyện từ nước Ireland độc lập gia nhập lực lượng Anh trong chiến tranh. Xuất cư quy mô lớn diễn ra trong hầu hết giai đoạn hậu chiến (đặc biệt là trong thập niên 1950 và 1980), song kinh tế được cải thiện từ năm 1987, trong thập niên 1990 bắt đầu có tăng trưởng kinh tế đáng kể. Giai đoạn tăng trưởng này được gọi là "Con hổ Celtic". Tăng trưởng GDP thực tế của Cộng hoà Ireland đạt trung bình 9,6% mỗi năm từ 1995 đến 1999, đến năm 1999 nước này gia nhập khu vực sử dụng đồng euro. Năm 2000, Ireland là quốc gia giàu có thứ sáu trên thế giới xét theo GDP bình quân. Biến đổi xã hội cũng diễn ra trong thời gian này, rõ ràng nhất là suy thoái quyền thế của Giáo hội Công giáo. Khủng hoảng tài chính bắt đầu vào năm 2008 làm kết thúc đột ngột giai đoạn bùng nổ kinh tế của Ireland. GDP giảm 3% vào năm 2008 và 7,1% vào năm 2009, là năm tệ hại nhất từ khi có tính toán. Cộng hoà Ireland từ đó trải qua suy thoái sâu sắc, với tỷ lệ thất nghiệp duy trì trên 14% vào năm 2012. Bắc Ireland được lập ra với vị thế một đơn vị của Anh theo Đạo luật Chính phủ Ireland năm 1920 và có quyền hạn tự trị bên trong Anh với nghị viện và thủ tướng riêng cho đến năm 1972. Bắc Ireland do là bộ phận của Anh nên không trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ hai và thủ đô Belfast bị 4 trận oanh tạc vào năm 1941. Chế độ quân dịch không mở rộng đến Bắc Ireland và số quân tình nguyện từ Bắc Ireland gần như bằng số quân tình nguyện đến từ Ireland độc lập. Dù Bắc Ireland phần lớn tránh được xung đột trong nội chiến Ireland, song vào các thập niên sau khi phân chia đã xảy ra xung đột lẻ tẻ giữa các cộng đồng. Những người dân tộc chủ nghĩa chủ yếu là tín đồ Công giáo La Mã, họ muốn thống nhất đảo Ireland thành một nước cộng hòa, trong khi những người liên hiệp chủ nghĩa chủ yếu theo Tin Lành và muốn Bắc Ireland duy trì là bộ phận của Anh. Các cộng đồng Tin Lành và Công giáo La Mã tại Bắc Ireland phần lớn bỏ phiếu theo làn ranh giáo phái, đồng nghĩa với việc Chính phủ Bắc Ireland (bầu theo thể thức đa số) do Đảng Liên hiệp Ulster kiểm soát. Theo thời gian, cộng đồng Công giáo La Mã thiểu số ngày càng cảm thấy bị xa lánh cùng với gia tăng bất mãn do sắp xếp khu vực bầu cử gây bất lợi cho họ, hay họ bị kì thị trong nhà ở và công việc. Đến cuối thập niên 1960, bất bình của phái dân tộc chủ nghĩa bộc lộ công khai trong các cuộc kháng nghị dân quyền đại chúng, song thường phải đương đầu với các cuộc phản kháng của phái trung thành. Phản ứng của chính phủ được cho là một chiều và mạnh tay theo hướng ủng hộ phái Liên hiệp. Pháp luật và trật tự bị phá vỡ khi náo loạn và bạo lực giữa các cộng đồng tăng lên. Chính phủ Bắc Ireland yêu cầu Lục quân Anh viện trợ cảnh sát. Năm 1969, Quân đội Cộng hoà Ireland Lâm thời bán quân sự xuất hiện do tách ra từ Quân đội Cộng hoà Ireland, họ ủng hộ thành lập một Ireland thống nhất, và bắt đầu tiến hành một chiến dịch chống lại điều mà họ gọi là "sự chiếm đóng của Anh tại sáu hạt". Các nhóm khác thuộc cả bên phía liên hiệp và dân tộc cũng tham gia vào bạo lực, một thời kỳ được gọi là the Troubles bắt đầu. Có trên 3.600 người thiệt mạng trong ba thập niên xung đột. Do bất ổn dân sự, Chính phủ Anh đình chỉ tự trị vào năm 1972 và áp đặt cai trị trực tiếp đối với Bắc Ireland. Năm 1998, sau một lệnh đình chiến của Quân đội Cộng hoà Ireland Lâm thời và đàm phán nhiều bên, Hiệp nghị Thứ sáu Tốt lành được ký kết giữa chính phủ Anh và Ireland, bổ sung văn bản nhất trí trong đàm phán nhiều bên. Nội dung của hiệp nghị sau đó được tán thành thông qua trưng cầu dân ý tại cả hai bộ phận của đảo Ireland. Hiệp nghị khôi phục tự trị cho Bắc Ireland trên cơ sở chia sẻ quyền lực trong hành pháp giữa các đảng lớn trong Nghị hội Bắc Ireland. Cơ quan hành pháp cùng nằm dưới quyền của một bộ trưởng thứ nhất và thứ trưởng thứ nhất đến từ các đảng liên hiệp và dân tộc. Bạo lực giảm mạnh sau khi đình chiến vào năm 1994 và đến năm 2005 Quân đội Cộng hoà Ireland Lâm thời tuyên bố kết thúc chiến dịch vũ trang của họ, một ủy ban độc lập giám sát giải trừ quân bị của lực lượng này và các tổ chức dân quân dân tộc và liên hiệp khác. Nghị hội và cơ quan hành pháp chia sẻ quyền lực bị đình chỉ vài lần song lại được khôi phục vào năm 2007. Trong năm này, Chính phủ Anh chính thức kết thúc hỗ trợ quân sự cho cảnh sát Bắc Ireland và bắt đầu triệt thoái binh sĩ. Về chính trị, đảo Ireland bị phân chia giữa Cộng hoà Ireland độc lập và Bắc Ireland thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh. Hai thực thể có biên giới mở và đều nằm trong Khu vực đi lại chung. Cộng hoà Ireland và Anh Quốc đều là thành viên của Liên minh châu Âu, do đó tồn tại tự do di chuyển về con người, hàng hoá, dịch vụ và vốn qua biên giới. Cộng hoà Ireland là một quốc gia dân chủ đại nghị dựa theo mô hình Anh, có hiến pháp thành văn và một tổng thống do dân chúng bầu ra, song tổng thống có quyền lực hầu như mang tính nghi lễ. Người đứng đầu chính phủ là thủ tướng (Taoiseach), do tổng thống bổ nhiệm theo đề cử của hạ nghị viện (Dáil). Các thành viên trong chính phủ do hạ nghị viện và thượng nghị viện (Seanad) lựa chọn. Thủ đô của Cộng hòa Ireland là Dublin. Bắc Ireland có cơ quan hành pháp và lập pháp địa phương, thi hành quyền lực được Anh phân quyền. Đứng đầu cơ quan hành pháp là bộ trưởng thứ nhất và thứ trưởng thứ nhất, còn các bộ trưởng được phân bổ theo tỷ lệ đại biểu của mỗi đảng trong nghị hội. Thủ đô Bắc Ireland là Belfast. Quyền lực chính trị tối hậu thuộc về Chính phủ Anh, Chính phủ Anh từng có các giai đoạn cai trị trực tiếp Bắc Ireland. Bắc Ireland được phân 18 ghế trong số 650 ghế của Hạ nghị viện Anh. Quốc vụ khanh về Bắc Ireland là một chức vụ cấp nội các trong chính phủ của Anh. Bắc Ireland tạo thành một trong ba khu vực phạm vi quyền hạn tư pháp riêng biệt của Anh, song Tòa án Tối cao Anh là tòa án tối cao. Theo Hiệp nghị Thứ sáu Tốt lành, hai chính phủ Anh và Ireland chấp thuận thành lập các thể chế toàn đảo và các lĩnh vực hợp tác. Hội đồng Bộ trưởng Bắc/Nam là một thể chế gồm bộ trưởng trong chính phủ của Ireland và cơ quan hành pháp của Bắc Ireland, nhằm đồng thuận về các chính sách toàn đảo. Hội nghị liên chính phủ Anh-Ireland cung cấp hợp tác giữa chính phủ Anh và Ireland trên toàn bộ các vấn đề cùng quan tâm, đặc biệt là Bắc Ireland. Trong bối cảnh Cộng hoà Ireland quan tâm đặc biệt về cai quản Bắc Ireland, các phiên họp "định kỳ và thường lệ" dưới sự đồng chủ trì của Bộ trưởng Ngoại giao Ireland và Quốc vụ khanh về Bắc Ireland của Anh, liên quan đến các vấn đề không được phân quyền cho Bắc Ireland và các vấn đề toàn Ireland không được phân quyền. Hiệp hội Liên nghị viện Bắc/Nam là một diễn đàn cho toàn đảo, thể chế này không có quyền lực chính thức song hoạt động nhằm thảo luận các vấn đề cùng quan tâm giữa các cơ quan lập pháp tương ứng. Đảo Ireland nằm tại phía tây bắc của châu Âu, giữa vĩ tuyến 51° và 56° Bắc, giữa kinh tuyến 11° và 5° Tây. Đảo Ireland tách biệt với đảo Anh qua biển Ireland và eo biển Bắc có chiều rộng hẹp nhất là 23 km. Phía tây đảo là Đại Tây Dương, phía nam đảo là biển Celtic. Đảo Ireland có tổng diện tích là 84.421 km².. Đảo Ireland và đảo Anh cùng nhiều đảo nhỏ xung quanh được gọi chung là quần đảo Anh. Một vành đai các dãy núi duyên hải bao quanh các đồng bằng thấp tại trung tâm của đảo. Đỉnh núi cao nhất trong số đó là Carrauntoohil thuộc hạt Kerry với độ cao 1.038 m trên mực nước biển. Vùng đất thích hợp nhất cho canh tác nằm tại tỉnh Leinster. Khu vực phía tây có nhiều địa hình đồi núi và lắm đá với tầm nhìn toàn cảnh xanh tươi. Sông Shannon là sông dài nhất trên đảo Ireland với 386 km, khởi nguồn tại hạt Cavan thuộc miền tây bắc và chảy 113 km đến thành phố Limerick thuộc miền trung tây. Đảo gồm có nhiều miền địa chất. Tại cực tây, quanh hạt Galway và hạt Donegal là một tổ hợp đá biến chất và hỏa sinh bậc trung và cao thuộc hệ Caledonia, tương tự Cao địa Scotland. Quanh đông nam Ulster và kéo dài về phía tây nam đến Longford và phía nam đến Navan là miền đá Ordovic và Silur, tương tự Cao địa Miền Nam của Scotland. Xa về phía nam, dọc duyên hải của hạt Wexford, là một khu vực xâm nhập granite vào đá có tính Ordovic và Silur cao, tương tự Wales. Tại phía tây nam, dọc vịnh Bantry và dãy núi Macgillicuddy's Reeks, là một khu vực biến dạng đáng kể, song chỉ là đá biến dạng nhẹ thuộc kỷ Devon. Vành đai địa chất "đá cứng" cục bộ này được bao phủ bằng một lớp đá vôi kỷ Cácbon tại trung tâm đảo, làm gia tăng tăng cảnh quan tương đối phì nhiêu và tươi tốt. Khu vực duyên hải phía tây Burren quanh Lisdoonvarna có đặc điểm karst phát triển mạnh. Thăm dò hydrocarbon đang được tiến hành sau khi có phát hiện lớn đầu tiên tại mỏ khí đốt Kinsale Head ngoài khơi Cork vào giữa thập niên 1970. Năm 1999, có phát hiện khí đốt đáng kể về kinh tế tại mỏ khí Corrib ngoài khơi hạt Mayo. Điều này làm gia tăng hoạt động tại ngoài khơi duyên hải phía tây song song với phát triển "Tây Shetland". Mỏ dầu Helvick ước tính chứa dầu theo một khám phá khác. Thảm thực vật tươi tốt trên đảo là do khí hậu ôn hòa và thường xuyên có mưa. Về tổng thể, Ireland có khí hậu đại dương ôn hòa song dễ thay đổi với ít cực độ. Khí hậu mang đặc trưng hải đảo và điều độ, tránh được các cực độ về nhiệt độ như nhiều khu vực cùng vĩ độ trên thế giới. Đây là kết quả của gió ẩm điều hòa thường xuất hiện từ Đại Tây Dương. Mưa rơi suốt năm song về tổng thể là thấp, đặc biệt là tại miền đông. Miền tây có xu hướng mưa nhiều hơn về trung bình và hay gặp bão Đại Tây Dương, đặc biệt là vào cuối thu và đông. Chúng thỉnh thoảng đưa đến các trận gió có tính tàn phá và tổng lượng mưa cao hơn đến các khu vực này, cũng như đôi khi là tuyết và mưa đá. Khu vực phía bắc hạt Galway và phía đông hạt Mayo xảy ra nhiều sét nhất trên đảo, xuất hiện khoảng từ năm đến mười ngày mỗi năm. Munster tại phía nam có ít tuyết rơi nhất, còn Ulster tại phía bắc có tuyết rơi nhiều nhất. Khu vực nội địa ấm hơn vào mùa hè và lạnh hơn vào mùa đông. Tại các trạm khí hậu nội địa thường có khoảng 40 ngày trong năm có nhiệt độ dưới mức đóng băng 0 °C, trong khi tại các trạm duyên hải có mười ngày. Ireland đôi khi chịu tác động từ các sóng nhiệt, gần đây là vào năm 1995, 2003, 2006 và 2013. Cùng với phần còn lại của châu Âu, Ireland trải qua thời tiết thường xuyên giá lạnh trong mùa đông 2009/10. Nhiệt độ xuống thấp đến −17,2 °C tại hạt Mayo vào ngày 20 tháng 12 và tuyết rơi dày đến một mét tại các vùng núi. Do Ireland trở nên biệt lập với châu Âu lục địa trước khi kỷ băng hà cuối hoàn toàn kết thúc, đảo có ít loài động thực vật hơn so với đảo Anh vốn tách khỏi lục địa sau đó. Đảo Ireland có 55 loài thú, và trong đó chỉ có 26 loài thú cạn được cho là loài bản địa của Ireland. Một số loài như cáo đỏ, nhím gai và lửng rất phổ biến, trong khi những loài như thỏ Ireland, hươu đỏ, chồn thông thì hiếm gặp. Động vật hoang dã dưới nước, như rùa biển, cá mập, hải cẩu, cá voi và cá heo phổ biến tại ngoài khơi. Có khoảng 400 loài chim được ghi nhận tại Ireland, nhiều loài trong đó là chim di cư. Trên đảo có một số loại môi trường sống khác nhau, gồm đất nông nghiệp, đất rừng mở, rừng lá rộng và hỗn hợp ôn đới, đồn điền thông, bãi lầy than bùn và các môi trường duyên hải khác nhau. Tuy nhiên, nông nghiệp chiếm ưu thế trong sử dụng đất trên đảo, hạn chế bảo tồn môi trường tự nhiên, đặc biệt là cho các loài thú hoang cỡ lớn cần lãnh thổ rộng. Do không có động vật ăn thịt đầu bảng cỡ lớn trên đảo ngoại trừ người và chó, nên không thể kiểm soát bằng tự nhiên số lượng các loài động vật như hươu bán hoang dã, mà phải dùng cách tiêu hủy mỗi năm. Trên đảo không có rắn, loài bò sát bản địa duy nhất trên đảo là thằn lằn thông thường. Nai sừng tấm Ireland, an ca lớn và chó sói là các loài đã tuyệt chủng trên đảo. Một số loài tuyệt chủng từ trước trên đảo như đại bàng vàng được đưa lại đến đảo sau nhiều thập niên. Cho đến thời kỳ Trung Cổ, Ireland có rừng bao phủ nhiều với các loài sồi, thông, bạch dương. Hiện nay, rừng bao phủ khoảng 12,6% diện tích của đảo Ireland, trong đó 4.450 km² thuộc quyền sở hữu của cơ quan lâm nghiệp Ireland. Tính đến năm 2012, Cộng hoà Ireland là một trong số những nước có tỷ lệ che phủ rừng thấp nhất tại châu Âu. Hầu hết đất đai nay là đồng cỏ và có nhiều loài hoa dại. Cây kim tước ("Ulex europaeus") mọc nhiều trên vùng đất cao còn dương xỉ có nhiều tại các khu vực ẩm ướt hơn, đặc biệt là các phần phía tây. Đảo có hàng trăm loài thực vật, trong đó có một số loài đặc hữu bị một số loại cây thân cỏ xâm lấn như cỏ biển Spartina. Tác động của nông nghiệp. Do có lịch sử sản xuất nông nghiệp lâu dài, cộng thêm phương thức nông nghiệp thâm canh hiện đại như sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón rồi để chất ô nhiễm chảy vào dòng chảy, sông hồ, nên gây tác động lên hệ sinh thái nước ngọt và gây áp lực đến đa dạng sinh học tại Ireland. Đất dành cho trồng trọt và chăn nuôi làm hạn chế không gian của các loài hoang dã bản địa. Tuy nhiên, các hàng rào cây từ xưa được sử dụng để giữ và phân giới đất trở thành một nơi nương tựa cho các thực vật hoang dã bản địa. Hệ sinh thái này trải dài khắp vùng thôn quê và đóng vai trò là một mạng liên kết các tàn dư vẫn được bảo tồn của hệ sinh thái từng bao phủ đảo. Các khoản trợ cấp theo Đạo luật Nông nghiệp Cộng đồng hỗ trợ tiến hành nông nghiệp theo cách bảo tồn môi trường hàng rào cây và đang được cải cách. Chính sách này trong quá khứ từng trợ cấp cho hoạt động nông nghiệp có khả năng tàn phá, nhưng không hạn chế sử dụng bừa bãi thuốc trừ sâu và phân bón; song các cải cách dần đưa ra các yêu cầu môi trường và yêu cầu khác. Rừng bao phủ khoảng 12,6% diện tích đảo, hầu hết được xác định cho sản xuất thương mại. Diện tích rừng đặc trưng là gồm các đồn điền độc canh các loài phi bản địa, có thể dẫn đến môi trường sống không phù hợp cho các loài bản địa. Tàn dư của rừng bản địa nằm rải rác quanh đảo, đặc biệt là trong vườn quốc gia Killarney. Các khu vực tự nhiên cần phải có hàng rào để ngăn hươu và cừu nuôi tràn sang. Việc chăn thả quá độ là một trong những yếu tố chính ngăn chặn rừng tái sinh tự nhiên tại nhiều khu vực. Dù hai chính thể trên đảo sử dụng hai đơn vị tiền tệ khác nhau (euro và bảng Anh), song hoạt động thương mại ngày càng gia tăng trên nền tảng toàn Ireland. Điều này được tạo thuận tiện do hai chính thể cùng là thành viên của Liên minh châu Âu có các yêu cầu trong giới kinh doanh và hoạch định chính sách về hình thành một "kinh tế toàn Ireland" để tận dụng lợi thế kinh tế quy mô và nâng cao tính cạnh tranh. Bên dưới là so sánh GDP khu vực trên đảo Ireland. Ireland có 3 di sản thế giới: Brú na Bóinne, Skellig Michael và Giant's Causeway. Một số địa điểm khác có trong danh sách đề cử là Burren, Ceide Fields. Một số địa điểm có nhiều khách đến thăm nhất tại Ireland là Thành Bunratty, Rock of Cashel, Vách đá Moher, Tu viện Holy Cross và Thành Blarney. Các di tích tu viện có tầm quan trọng lịch sử là Glendalough và Clonmacnoise, chúng là các công trình kỷ niệm quốc gia tại Cộng hoà Ireland. Dublin là khu vực có đông du khách nhất và có một vài điểm thu hút nhiều du khách như Nhà kho Guinness và Phúc Âm Kells. Phía tây và tây nam có nhóm hồ Killarney và bán đảo Dingle thuộc hạt Kerry và Connemara cùng quần đảo Aran thuộc hạt Galway, là các điểm du khách nổi tiếng. Đảo Achill nằm ngoài khơi hạt Mayo và là đảo lớn nhất Ireland nếu không tính đảo chính. Đây là điểm du lịch nổi tiếng đối với môn lướt sóng và có 5 bãi biển đạt chứng nhận Blue Flag, còn Croaghaun là một trong các vách núi biển cao nhất thế giới. Những ngôi nhà trang nghiêm kiểu Anh được xây dựng trong các thế kỷ XVII, XVIII và XIX tại Palladian theo phong cách tân cổ điển và tân Gothic, như Castle Ward, Castletown House, Bantry House, Thành Glenveagh cũng được du khách quan tâm. Một số được chuyển đổi thành khách sạn, chẳng hạn Thành Ashford, Thành Leslie và Thành Dromoland. Ireland có một ngành cổ xưa là dựa vào than bùn để làm nguồn năng lượng cho các gia đình sử dụng. Nguồn nhiệt này là một dạng năng lượng sinh khối và vẫn được sử dụng rộng rãi tại các khu vực nông thôn. Tuy nhiên, do tầm quan trọng của đất than bùn đối với lưu giữ cacbon và do nó hiếm có, Liên minh châu Âu có nỗ lực nhằm bảo tồn môi trường sống này bằng cách phạt Ireland nếu đào chúng lên. Trong các thành phố, nhiệt thường được cung cấp bằng dầu đốt lò, song một số nhà cung cấp phân phối "đất mặt than bùn" làm "nhiên liệu không khói". Đảo Ireland có một thị trường điện đơn nhất. Trong phần lớn thời gian, mạng lưới điện của Cộng hoà Ireland và Bắc Ireland hoàn toàn tách biệt. Tuy nhiên, trong thời gian qua chúng được liên kết bằng ba tuyến và cũng được liên kết qua đảo Anh đến châu Âu lục địa. Tình hình tại Bắc Ireland phức tạp do các công ty tư nhân không cung ứng đủ điện năng cho Điện lực Bắc Ireland (NIE). Tại Cộng hoà Ireland, ESB thất bại trong việc hiện đại hoá các trạm điện và năng suất của các nhà máy điện ở mức tệ hại so với Tây Âu. EirGrid xây dựng một tuyến truyền tải dòng một chiều cao áp giữa đảo Ireland và đảo Anh với công suất 500 MW. Mạng phân phối khí đốt cũng liên kết toàn đảo, có đường ống nối Gormanston thuộc hạt Meath, và Ballyclare thuộc hạt Antrim hoàn thành vào năm 2007. Hầu hết khí đốt của Ireland đến từ liên kết giữa Twynholm tại Scotland và Ballylumford thuộc hạt Antrim và Loughshinny thuộc hạt Dublin. Nguồn cung giảm đi từ mỏ khí đốt Kinsale ngoài khơi hạt Cork và mỏ khí Corrib ngoài khơi hạt Mayo vẫn chưa có đường ống. Cộng hoà Ireland biểu thị cam kết mạnh mẽ đối với năng lượng tái tạo, xếp hạng nhất trong 10 thị trường đầu tư công nghệ sạch theo chỉ số kinh tế xanh toàn cầu năm 2014. Tôn giáo lớn nhất trên đảo Ireland là Cơ Đốc giáo, giáo phái lớn nhất là Công giáo do có trên 73% cư dân trên đảo tin theo (khoảng 87% cư dân Cộng hoà Ireland). Hầu hết các cư dân còn lại là thành viên của các giáo phái Tin Lành (khoảng 48% cư dân Bắc Ireland). Giáo phái Tin Lành lớn nhất là Giáo hội Ireland của Anh giáo. Cộng đồng Hồi giáo đang phát triển tại Ireland, hầu hết là do nhập cư gần đây, với tỷ lệ tăng trưởng 50% tại Cộng hoà Ireland trong giai đoạn 2006-2011. Khoảng 4% dân số Cộng hoà Ireland và khoảng 14% dân số Bắc Ireland tự nhận là không theo tôn giáo. Trong một nghiên cứu vào năm 2010, 32% số người trả lời nói rằng họ tới buổi lễ tôn giáo trên một lần mỗi tuần. Dân số Ireland gia tăng nhanh chóng từ thế kỷ XVI cho đến giữa thế kỷ XIX, bị gián đoạn một thời gian ngắn do nạn đói năm 1740-41 khiến gần 2/3 dân số trên đảo thiệt mạng. Dân số khôi phục và tăng cấp số nhân trong thế kỷ sau, song nạn đói trong thập niên 1840 khiến một triệu người thiệt mạng và buộc hơn một triệu người di cư ngay lập tức. Trong thế kỷ sau đó, dân số giảm còn hơn một nửa, trong khi vào thời gian này xu hướng chung của các quốc gia châu Âu là dân số tăng trung bình ba lần. Phân chia và định cư. Theo truyền thống, đảo Ireland được phân thành bốn tỉnh: Connacht (tây), Leinster (đông), Munster (nam) và Ulster (bắc). Theo một hệ thống được phát triển từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII, Ireland có 32 hạt truyền thống. 26 hạt trong số đó thuộc Cộng hòa Ireland và 6 hạt thuộc Bắc Ireland. Sáu hạt truyền thống thuộc Bắc Ireland đều thuộc tỉnh Ulster (tỉnh này có 9 hạt truyền thống). Do đó, "Ulster" thường được sử dụng đồng nghĩa với Bắc Ireland, song hai địa danh không có chung ranh giới. Tại Cộng hoà Ireland, các hạt tạo thành cơ sở cho hệ thống chính quyền địa phương. Các hạt Dublin, Cork, Limerick, Galway, Waterford và Tipperary bị tách thành các khu vực hành chính nhỏ hơn. Tuy nhiên, chúng vẫn được xem như hạt vì mục đích văn hóa và các mục đích chính thức khác, như bưu chính và đo đạc địa hình. Các hạt tại Bắc Ireland không còn được sử dụng cho mục đích chính quyền địa phương, song ranh giới truyền thống của chúng vẫn được sử dụng cho các mục đích phi chính thức như giải đấu thể thao và trong văn hóa hay du lịch. Vị thế thành phố tại đảo Ireland được xác định theo pháp luật hoặc chiếu chỉ. Đại Dublin có trên một triệu cư dân, là thành phố lớn nhất trên đảo. Belfast có 579.726 cư dân, là thành phố lớn nhất tại Bắc Ireland. Vị thế thành phố không tương xứng trực tiếp với quy mô dân số, chẳng hạn Armagh có 14.590 dân song có hội sở của Giáo hội Ireland theo Anh giáo và Tổng giám mục Toàn Ireland theo Công giáo và được tái xác định là thành phố vào năm 1914. Tại Cộng hoà Ireland, Kilkenny từng là trị sở của gia tộc Butler, dù không còn là thành phố trong mục đích hành chính, song theo luật vẫn được sở dụng nó để mô tả. Dân số đảo Ireland sụt giảm đáng kể trong nửa cuối thế kỷ XIX. Dân số đạt trên 8 triệu vào năm 1841 song giảm còn hơn 4 triệu vào năm 1921. Dân số giảm một phần là do có nhiều người thiệt mạng trong nạn đói lớn từ năm 1845 đến năm 1852, với con số 1 triệu. Tuy nhiên, nguyên nhân lớn hơn khiến dân số suy giảm là tình trạng kinh tế tệ hại trên đảo, khiến cho văn hoá di cư ăn sâu cho đến cuối thế kỷ XX. Di cư từ Ireland trong thế kỷ XIX góp phần làm gia tăng dân số tại Anh, Hoa Kỳ, Canada và Úc, tại những nơi này có cộng đồng người Ireland tha hương quy mô lớn. #đổi , 4,3 triệu người Canada, tức 14% dân số, có tổ tiên Ireland. #đổi , tổng cộng 34,5 triệu người Mỹ tự nhận có tổ tiên Ireland. Do kinh tế ngày càng thịnh vượng vào cuối thế kỷ XX, Ireland trở thành một điểm đến cho những người nhập cư. Kể từ khi Liên minh châu Âu mở rộng bao gồm Ba Lan vào năm 2004, người Ba Lan chiếm số lượng di dân lớn nhất (trên 150.000 người) đến từ Trung Âu. Ngoài ra, cón có số lượng đáng kể di dân đến từ Litva, Séc và Latvia. Cộng hoà Ireland trải qua nhập cư quy mô lớn, có 420.000 ngoại kiều vào năm 2006, chiếm khoảng 10% dân số. Một phần tư số ca sinh (24 %) trong năm 2009 là từ các bà mẹ sinh ra bên ngoài Ireland. người Hoa, người Nigeria và các quốc gia châu Phi khác chiếm một tỷ lệ lớn di dân ngoài Liên minh châu Âu tại Ireland. Có đến 50.000 công nhân nhập cư từ Đông và Trung Âu rời khỏi Cộng hoà Ireland khi nước này lâm vào khủng hoảng tài chính. Hai ngôn ngữ chính tại Ireland là tiếng Ireland và tiếng Anh, chúng đều có đóng góp lớn cho văn học. Tiếng Ireland nay là ngôn ngữ thiểu số song vẫn có địa vị chính thức tại Cộng hoà Ireland, đây là tiếng mẹ đẻ của cư dân Ireland trong hơn hai nghìn năm. Ngôn ngữ Ireland có chữ viết sau khi đảo được Cơ Đốc giáo hóa vào thế kỷ V, ngôn ngữ này còn được truyền bá đến Scotland và đảo Man rồi tiến hóa thành tiếng Gael Scotland và tiếng Man. Tiếng Ireland bị suy thoái dưới thời Anh cai trị song vẫn là ngôn ngữ đa số cho đến đầu thế kỷ XIX và kể từ đó trở thành ngôn ngữ thiểu số, song các nỗ lực phục hồi đang tiếp tục trên toàn đảo. Gaeltacht là các khu vực nói tiếng Ireland, tại những nơi này vẫn xảy ra hiện tượng suy thoái ngôn ngữ. Các khu vực Gaeltacht chính nằm về phía tây của đảo, tại Donegal, Mayo, Galway và Kerry cùng các khu vực Gaeltacht nhỏ gần Dungarvan thuộc Waterford, Navan, tại Meath. Tiếng Ireland là một môn học bắt buộc trong hệ thống giáo dục công tại Cộng hòa Ireland, và nhiều trường giảng dạy bằng tiếng Ireland được thành lập tại cả hai phần của đảo. Tiếng Anh được đưa đến Ireland lần đầu tiên khi người Norman xâm chiếm. Khi đó, nó là ngôn ngữ của số ít nông dân và thương nhân đến từ Anh và phần lớn bị tiếng Ireland thay thế trước khi triều Tudor chinh phục Ireland. Nó trở thành ngôn ngữ chính thức sau các cuộc chinh phục của triều Tudor và Cromwell. Các đồn điền Ulster khiến tiếng Anh có chỗ đứng vững chắc tại Ulster và nó duy trì là ngôn ngữ chính thức; thượng lưu tại nơi khác, các tù trưởng và quý tộc nói tiếng Ireland bị hạ bệ. Chuyển đổi ngôn ngữ trong thế kỷ XIX thay thế tiếng Ireland bằng tiếng Anh khi đại đa số cư dân trên đảo có ngôn ngữ thứ nhất là tiếng Anh. Ngày nay, dưới 10% cư dân Cộng hoà Ireland nói tiếng Ireland thường xuyên ngoài hệ thống giáo dục và 38% những người trên 15 tuổi được phân loại là "người nói tiếng Ireland". Tại Bắc Ireland, tiếng Ireland được công nhận chính thức, có các biện pháp bảo hộ cụ thể, còn các phương ngữ Scot Ulster có vị thế bảo hộ thấp hơn. Kể từ thập niên 1960, do nhập cư gia tăng, có nhiều ngôn ngữ được đưa tới đảo, đặc biệt là từ châu Á và Đông Âu. Tiếng Shelta là ngôn ngữ của người Ireland du cư, là một ngôn ngữ bản địa của Ireland. Văn hoá Ireland bao gồm yếu tố của văn hóa của các dân tộc cổ đại, ảnh hưởng văn hóa của di dân về sau và của truyền thông (chủ yếu là văn hóa Gael, Anh hoá, Mỹ hóa và các khía cạnh của văn hóa châu Âu rộng hơn). Về tổng quát, Ireland được nhìn nhận là một trong số các quốc gia Celt, cùng với Scotland, Wales, Cornwall, đảo Man và Bretagne. Sự kết hợp các ảnh hưởng văn hóa này có thể thấy được trong các thiết kế phức tạp có tên là "đan xen kiểu Ireland" hay "trang trí dây bện Celt." Có thể trông thấy chúng trong cách trang trí các công trình Trung Cổ và thế tục. Phong cách này hiện vẫn phổ biến trong nghệ thuật kim cương và tạo hình, cũng như là phong cách đặc trưng trong âm nhạc và vũ đạo truyền thống Ireland, và trở thành chỉ dấu của văn hoá "Celt" hiện đại nói chung. Tôn giáo giữ vai trò đáng kể trong sinh hoạt văn hóa trên đảo kể từ thời cổ đại (và từ khi xuất hiện các đồn điền trong thế kỷ XVII thì tập trung vào bản sắc và phân chia chính trị trên đảo). Di sản tiền Cơ Đốc của Ireland kết hợp cùng Giáo hội Celt sau khi có các đoàn truyền giáo của Thánh Patrick trong thế kỷ V. Các đoàn truyền giáo Ireland-Scotland có khởi đầu là tu sĩ người Ireland Columba, chúng giúp truyền bá mô hình Cơ Đốc giáo Ireland đến Anh và Francia ngoại giáo. Các đoàn truyền giáo này đưa ngôn ngữ thành văn đến cộng đồng mù chữ tại châu Âu trong Thời kỳ Đen tối sau khi La Mã sụp đổ, khiến Ireland giành được biệt hiệu là "đảo của các thánh và học giả". Ireland có đóng góp lớn cho văn học thế giới trong tất cả các thể loại, đặc biệt là văn học Anh ngữ. Thơ tiếng Ireland nằm trong số thơ tiếng bản địa cổ nhất tại châu Âu, có các mẫu vật sớm nhất có niên đại từ thế kỷ VI. Trong văn học Anh ngữ, Jonathan Swift là một nhà văn trào phúng lỗi lạc, rất nổi tiếng trong thời gian của ông với các tác phẩm như "Gulliver du kí" và "A Modest Proposal", còn Oscar Wilde hầu như nổi tiếng nhờ các lời nhận xét tế nhị của ông. Trong thế kỷ XX, Ireland có bốn người đoạt giải Nobel văn học là George Bernard Shaw, William Butler Yeats, Samuel Beckett và Seamus Heaney. Dù không được giải Nobel, song James Joyce được nhìn nhận phổ biến là một trong các nhà văn quan trọng nhất của thế kỷ XX. Tiểu thuyết "Ulysses" vào năm 1922 của ông được cho là một trong số các tác phẩm quan trọng nhất của văn học hiện đại chủ nghĩa và cuộc đời ông được kỷ niệm thường niên vào ngày 16 tháng 6 tại Dublin với tên gọi "Bloomsday". Văn học Ireland hiện đại thường liên kết với di sản nông thôn trên đảo thông qua các nhà văn như John McGahern và các nhà thơ như Seamus Heaney. Có bằng chứng về âm nhạc hiện diện tại Ireland từ thời tiền sử. Mặc dù trong sơ kỳ Trung Cổ giáo hội "hầu như không tương đồng với đối tác của họ tại châu Âu lục địa", song tồn tại trao đổi đáng kể giữa các khu tu sĩ tại Ireland và phần còn lại của châu Âu, đóng góp cho thể loại được gọi là bình ca Gregoriano. Bên ngoài cơ sở tôn giáo, Ireland Gel thời kỳ đầu gồm bộ ba thể loại nhạc khóc ("goltraige"), nhạc cười ("geantraige") và nhạc ngủ ("suantraige"). Âm nhạc thanh âm và nhạc cụ được truyền bá bằng cách truyền khẩu, song đàn hạc Ireland quan trọng đến mức trở thành biểu trưng quốc gia của Ireland. Âm nhạc cổ điển theo mô hình châu Âu phát triển sớm nhất tại các khu vực đô thị, trong các cơ sở nằm dưới quyền cai trị của người Ireland gốc Anh như Lâu đài Dublin, Nhà thờ Lớn St Patrick's và Christ Church, và "Messiah" (1742) của Handel nằm trong số tác phẩm nổi bật của thời kỳ baroque. Trong thế kỷ XIX, các buổi hoà nhạc công cộng khiến âm nhạc cổ điển đến với mọi tầng lớp xã hội, song vì nguyên nhân chính trị và tài chính nên những nhà soạn nhạc người Ireland nổi tiếng khi đó là những người di cư khỏi đảo. Âm nhạc và vũ đạo truyền thống Ireland trở nên nổi tiếng toàn cầu kể từ thập niên 1960. Vào những năm giữa thế kỷ XX, xã hội Ireland trải qua hiện đại hóa, âm nhạc truyền thống không còn được ưa chuộng, đặc biệt là tại các khu vực đô thị. Tuy nhiên trong thập niên 1960, diễn ra phong trào khôi phục quan tâm đến âm nhạc truyền thống Ireland với các ban nhạc tiên phong là The Dubliners, The Chieftains, The Wolfe Tones, Clancy Brothers, Sweeney's Men và các cá nhân như Seán Ó Riada và Christy Moore. Các nhóm nhạc và nhạc sĩ như Horslips, Van Morrison và Thin Lizzy kết hợp các yếu tố trong âm nhạc truyền thống Ireland vào nhạc rock đương đại, và trong thập niên 1970 và 1980 khác biệt giữa nhạc sĩ truyền thống và rock trở nên mờ nhạt. Có thể nhận thấy xu hướng này gần đây hơn trong tác phẩm của các nghệ sĩ như Enya, The Saw Doctors, The Corrs, Sinéad O'Connor, Clannad, The Cranberries và The Pogues. Nghệ thuật tạo hình và điêu khắc sớm nhất được biết đến tại Ireland là các chạm khắc thời kỳ đồ đá mới tại các di chỉ như Newgrange và có vết tích qua các đồ tạo tác thời kỳ đồ đồng và các chạm khắc tôn giáo và các thủ bản chiếu sáng thời Trung Cổ. Trong thế kỷ XIX và XX, có một truyền thống mạnh về hội họa xuất hiện, với các nhân vật như John Butler Yeats, William Orpen, Jack Yeats và Louis le Brocquy. Các nghệ sĩ thị giác Ireland đương đại nổi tiếng gồm có Sean Scully, Kevin Abosch, và Alice Maher. Nhà triết học và thần học người Ireland Johannes Scotus Eriugena được cho là nằm trong số trí thức hàng đầu vào sơ kỳ Trung Cổ. Nhà thám hiểm người Ireland Ernest Henry Shackleton là một trong các nhân vật chính thám hiểm châu Nam Cực. Ông cùng đoàn thám hiểm của mình là những người đầu tiên tiếp cận núi Erebus và khám phá địa điểm gần đúng của Cực Nam từ. Robert Boyle là một trong những người sáng lập hóa học hiện đại và nổi tiếng vì xây dựng định luật Boyle. Nhà vật lý học thế kỷ XIX John Tyndall phát hiện hiệu ứng Tyndall. Nicholas Callan phát minh cuộn cảm, biến áp, và phương thức ban đầu của mạ điện vào thế kỷ XIX. Nhà vật lý học người Ireland Ernest Walton giành giải Nobel vật lý năm 1951. Ông cùng với John Cockcroft là người đầu tiên phân tách hạt nhân nguyên tử bằng phương pháp nhân tạo và có đóng góp cho phát triển một thuyết mới về phương trình sóng. Nam tước xứ Kelvin là William Thomson là người được lấy danh để đặt cho đơn vị nhiệt độ tuyệt đối Kelvin. Joseph Larmor tạo ra các phát kiến trong hiểu biết về điện học, động lực học, nhiệt động lực học và thuyết điện tử về vật chất. Tác phẩm có ảnh hưởng nhất của ông là Aether and Matter, một cuốn sách về vật lý lý thuyết phát hành vào năm 1900. George Johnstone Stoney giới thuật thuật ngữ "electron" vào năm 1891. John Stewart Bell là người tạo ra định lý Bell và một bài viết liên quan đến phát hiện tính dị thường Bell-Jackiw-Adler. Các nhà toán học đáng chú ý gồm có William Rowan Hamilton, nổi tiếng với công trình về cơ học cổ điển và phát minh bộ bốn quaternion. Francis Ysidro Edgeworth có đóng góp trong hộp Edgeworth và nó vẫn duy trì ảnh hưởng trong thuyết kinh tế vi mô tân cổ điển cho đến nay; trong khi Richard Cantillon truyền cảm hứng cho Adam Smith và những người khác. John B. Cosgrave là một chuyên gia trong lý thuyết số và phát hiện một số nguyên tố 2000 số vào năm 1999 và một hợp số Fermat kỷ lục vào năm 2003. John Lighton Synge đóng góp vào phát triển của nhiều lĩnh vực khoa học, bao gồm cơ học và phương pháp hình học trong thuyết tương đối rộng. Kathleen Lonsdale sinh tại Ireland và nổi tiếng vì công trình của bà về tinh thể học. Trong hầu hết các môn thể thao, có một đội tuyển quốc tế duy nhất đại diện toàn đảo Ireland. Ngoại lệ đáng chú ý là bóng đá, song trước thập niên 1950 thì hai hiệp hội bóng đá vẫn tổ chức các đội tuyển quốc tế với tên gọi "Ireland". Bóng đá Gaelic là môn thể thao phồ biến nhất tại Ireland xét theo số khán giả theo dõi thi đấu và quy mô tham gia của cộng đồng, với khoảng 2.600 câu lạc bộ trên đảo. Năm 2003, bóng đá Gaelic chiếm 34% tổng số khán giả thể thao, tiếp đến là hurling với 23%, bóng đá với 16% và rugby với 8% và chung kết bóng đá Gaelic toàn Ireland là sự kiện được theo dõi nhiều nhất vào mỗi mùa thể thao. Bóng đá là môn thể thao đội tuyển được chơi phổ biến nhất tại Bắc Ireland. Bơi, golf, aerobic, bóng đá, đi xe đạp, bóng đá Gaelic và billiards/snooker là các hoạt động thể thao có mức độ tham gia cao nhất. Bóng đá Gaelic, hurling và bóng ném Gaelic là các môn thể thao truyền thống Ireland được phổ biến nhất, chúng được gọi chung là thể thao Gaelic. Các môn thể thao Gaelic chủ yếu nằm dưới quyền quản lý của Hiệp hội Thể thao Gaelic (GAA). Trụ sở của hiệp hội (và sân vận động chính trên đảo) là sân Croke Park có sức chứa 82.500 người tại phía bắc Dublin. Mọi vận động viên thuộc hiệp hội đều là nghiệp dư, dù có thi đấu ở cấp cao nhất, họ không nhận lương song được phép nhận một lượng thu nhập hạn chế liên quan đến thể thao đến từ các nhà tài trợ thương mại. Hiệp hội Bóng đá Ireland (IFA) ban đầu là thể chế quản lý bóng đá trên toàn đảo. Bóng đá được chơi theo cách có tổ chức tại Ireland kể từ thập niên 1870, Cliftonville F.C. tại Belfast là câu lạc bộ bóng đá lâu năm nhất tại Ireland. Bóng đá trở thành môn thể thao phổ biến nhất quanh Belfast và tại Ulster, đặc biệt là trong các thập niên đầu. Năm 1921, các câu lạc bộ có trụ sở tại Dublin tách ra để thành lập Hiệp hội Bóng đá Nhà nước Ireland Tự do. Hiện nay, hiệp hội miền nam đảo mang tên Hiệp hội Bóng đá Ireland (FAI). FAI được FIFA công nhận vào năm 1923, song IFA và FAI tiếp tục tuyển chọn thành viên đội tuyển từ toàn đảo Ireland, một số cầu thủ thi đấu quốc tế cho cả hai đội tuyển. Năm 1950, FIFA chỉ đạo các hiệp hội chỉ tuyển chọn cầu thủ trong lãnh thổ tương ứng của họ, và đến năm 1953 thì chỉ đạo rằng đội tuyển của FAI được gọi là "Cộng hòa Ireland" và đội tuyển của IFA được gọi là "Bắc Ireland". Bắc Ireland giành quyền tham gia vòng chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới vào các năm 1958, 1982 và 1986. Cộng hòa Ireland cũng giành quyền tham gia vòng chung kết giải đấu này vào các năm 1990, 1994, 2002. Trên toàn đảo Ireland, có sự quan tâm đáng kể đến giải Ngoại hạng Anh, và trên mức độ thấp hơn là Ngoại hạng Scotland. Ireland có một đội tuyển quốc gia chung trong môn bóng bầu dục và có hiệp hội chung là Liên đoàn Bóng bầu dục Ireland (IRFU). Đội tuyển bóng bầu dục Ireland thi đấu tại tất cả các mùa giải vô địch thế giới, từng nhiều lần vào đến tứ kết. Ireland từng đăng cai giải vô địch bóng bầu dục thế giới trong các năm 1991 và 1999. Bóng bầu dục Ireland ngày càng tăng tính cạnh tranh ở cả cấp quốc tế và địa phương từ khi môn thể thao này được chuyên nghiệp hoá vào năm 1994. Ngoài ra, Ireland ngày càng thành công tại giải vô địch bóng bầu dục sáu quốc gia châu Âu. Ẩm thực Ireland chịu ảnh hưởng từ cây trồng và vật nuôi trong khí hậu ôn hoà trên đảo, và từ hoàn cảnh xã hội-chính trị trong lịch sử. Chẳng hạn, từ thời kỳ Trung Cổ cho đến khi du nhập khoai tây vào thế kỷ XVI thì đặc điểm chi phối của kinh tế Ireland là chăn nuôi gia súc, số lượng gia súc mà một người sở hữu tương đương với địa vị xã hội của họ. Do đó, những người chăn nuôi tránh giết bò sữa. Vì thế, thịt lợn và thịt trắng phổ biến hơn thịt bò, và thịt muối cùng bơ muối là trung tâm trong bữa ăn tại Ireland kể từ thời Trung Cổ. Kể từ khi khoai tây được đưa đến vào nửa cuối thế kỷ XVI, nó có ảnh hưởng lớn đến ẩm thực trên đảo. Bần cùng khiến người dân sử dụng khoai tây và đến giữa thế kỷ XIX đại đa số cư dân có bữa ăn là khoai tây và sữa. Một gia đình điển hình gồm vợ chồng và bốn con ăn hết khoai tây mỗi tuần. Do đó, các món ăn được cho là món ăn dân tộc có cách thức nấu không tinh tế, như món hầm Ireland, thịt muối và cải bắp, bánh kếp khoai tây boxty, món colcannon gồm khoai tây nghiền cùng với cải xoăn hoặc cải bắp. Kể từ một phần tư cuối của thế kỷ XX, khi Ireland trở nên thịnh vượng, văn hóa ẩm thực Ireland mới dựa trên các nguyên liệu truyền thống kết hợp các ảnh hưởng quốc tế đã xuất hiện. Nền ẩm thực này dựa trên rau cá tươi (đặc biệt là cá hồi, cá hồi chấm, hàu, trai), cũng như các loại bánh mì soda truyền thống và các loại pho mát thủ công đa dạng được sản xuất khắp nơi. Một ví dụ về nền ẩm thực mới này là "Dublin Lawyer": tôm hùm nấu trong whiskey và kem. Tuy nhiên, khoai tây vẫn là một đặc điểm cơ bản trong nền ẩm thực này và Ireland vẫn là nơi tiêu thụ khoai tây bình quân cao nhất tại châu Âu. Ireland từng chi phối thị trường whiskey thế giới khi sản xuất 90% lượng whiskey vào lúc đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, do hậu quả từ hành vi bán rượu lậu khi Hoa Kỳ cấm rượu (họ bán whiskey chất lượng kém với nhãn hiệu giống như của Ireland khiến dân chúng mất đi niềm tin vào nhãn hiệu Ireland) và thuế quan đối với whiskey của Ireland trên khắp Đế quốc Anh trong Chiến tranh Mậu dịch Anh-Ireland thập niên 1930, thị phần của whiskey Ireland trên thế giới giảm chỉ còn 2% vào giữa thế kỷ XX. Bia nâu nặng, đặc biệt là Guinness, có liên kết tiêu biểu với Ireland, dù về lịch sử nó có liên hệ mật thiết hơn với Luân Đôn. Bia nâu nặng vẫn rất phổ biến, song từ giữa thế kỷ XX nó để mất thị phần về tay bia nhẹ kiểu Đức. Rượu táo cũng là một loại đồ uống phổ biến. Nước chanh đỏ là một loại nước ngọt, được tiêu thụ bằng cách uống trực tiếp, hoặc pha với đồ uống khác như whiskey.
Lịch Gregorius đón trước Lịch Gregorius đón trước được tạo ra bằng cách mở rộng lịch Gregorius tới những ngày trước khi có sự sử dụng chính thức của lịch này vào năm 1582. Bede và các nhà lịch sử sau này không sử dụng cách viết số 0 trong tiếng Latinh, "nulla", như là năm, vì thế năm trước năm 1 là năm 1 TCN. Trong hệ thống này năm 1 TCN là năm nhuận (tương tự như trong lịch Julius đón trước). Về mặt tiếng Việt, nó là thuận tiện hơn để chuyển sang năm 0 và thể hiện các năm sớm hơn như là các năm âm. Sự chuyển đổi này được sử dụng trong hệ thống đánh số năm thiên văn và trong tiêu chuẩn quốc tế ISO 8601 về hệ thống ngày tháng năm. Trong các hệ thống này, năm 0 là năm nhuận. Cũng lưu ý rằng lịch Julius thực sự trên thực tế chỉ được sử dụng từ năm 4, cho đến năm 1582 hoặc muộn hơn (xem thêm Từ Julius sang Gregorius trong bài về Lịch Julius), vì thế các nhà sử học và thiên văn học thích sử dụng lịch Julius thực sự trong giai đoạn đó. Tương tự, lịch Julius đón trước được sử dụng cho những ngày cụ thể trước năm 4, là năm nhuận cứ bốn năm một lần đầu tiên của lịch này (các năm nhuận giữa năm 45 TCN và năm 4 là không theo quy luật, xem thêm Sai số năm nhuận trong lịch Julius). Nhưng khi các ngày theo mùa là quan trọng thì lịch Gregorius đón trước đôi khi cũng được sử dụng, đặc biệt khi thảo luận về các nền văn hóa không sử dụng lịch Julius.
Lịch Julius đón trước Lịch Julius đón trước được tạo ra bằng cách mở rộng lịch Julius tới những ngày trước khi có sự sử dụng chính thức của lịch này vào năm 45 TCN. Lịch thu được bằng cách mở rộng sớm hơn về thời gian so với sự phát minh hoặc hoàn thiện bổ sung được gọi là phiên bản "đón trước" của lịch, và vì vậy người ta thu được lịch Julius đón trước. Tương tự, lịch Gregory đón trước thỉnh thoảng cũng được sử dụng để chỉ rõ các ngày trước khi có sự sử dụng chính thức của nó vào năm 1582 (hoặc muộn hơn, tùy theo từng quốc gia và khu vực). Do lịch Julius thực tế đã được sử dụng trước thời gian này, người ta cần thông báo rõ ràng là ngày đã cho nào đó là theo lịch Gregory đón trước khi ngày đó được sử dụng. Chữ AD hay A.D mà người ta vẫn dùng để chỉ các năm công nguyên là viết tắt của "Anno Domini" hay đầy đủ hơn là " Anno Domini Nostri Iesu Christi" trong tiếng La tinh- tức "Trong năm của Chúa tôi"/"Trong năm của Chúa tôi Đấng Cứu thế Giê-su" còn BC là từ viết tắt của tiếng Anh "Before Christ" tức "trước khi chúa Giê-su ra đời", phiên bản tương đương trong tiếng La tinh là a.C.n (viết tắt của "Ante Christum Natum", tức "trước khi Đấng Cứu thế ra đời"). Các nhà sử học kể từ Bede có truyền thống biểu diễn các năm trước năm AD 1 là "1 BC" (tức năm 1 TCN), "2 BC" (tức năm 2 TCN), "nulla", giữa các năm BC (năm trước công nguyên) và AD (năm công nguyên). Trong hệ thống này, năm 1 TCN phải là năm nhuận (mặc dù các năm nhuận thực tế trong khoảng từ năm 46 TCN và năm 4 là thất thường: xem bài lịch Julius để có thêm chi tiết). Để xác định khoảng cách về thời gian giữa các năm dọc theo ranh giới BC/AD, thuận tiện hơn là thêm khái niệm năm 0 và biểu diễn các năm sớm hơn như là các năm âm. Sự chuyển đổi này được sử dụng trong hệ thống "lịch Julius thiên văn". Trong hệ thống này, năm 0 là tương đương với năm 1 TCN và nó là năm nhuận.
Eratosthenes (tiếng Hy Lạp: "Ερατοσθένης và phiên âm tiếng Việt: Ơ-ra-tô-xten"; 276 TCN – 194 TCN) là một nhà toán học, địa lý và thiên văn người Hy Lạp. Những người đương thời gọi ông là "Beta" do ông là người nổi tiếng thứ hai trên thế giới vào thời đó trong nhiều lĩnh vực, sau người đồng nghiệp và bạn thân Archimedes. Ông sinh ra tại Cyrene (ngày nay thuộc Libya), nhưng dành hầu hết cuộc đời và sự nghiệp tại Alexandria (Ai Cập) thời kỳ Ptolemaios. Ông được nhắc tới vì đã phát kiến ra hệ thống kinh độ và vĩ độ cũng như tính toán gần chính xác kích thước của Trái Đất. Eratosthenes nghiên cứu tại Alexandria và một số năm tại Athena (Hy Lạp). Năm 236 TCN, ông được vua Ptolemaios III Euergetes bổ nhiệm làm thủ thư tại Thư viện Alexandria. Ông đã có một số cống hiến cho toán học và khoa học và là một người bạn thân của nhà bác học lừng danh người Syracuse là Archimedes. Khoảng năm 255 TCN, ông đã phát minh ra hỗn thiên nghi, là thiết bị được sử dụng rộng rãi trong gần 2.000 năm sau đó, khi phát minh mô hình vũ trụ ra đời vào thế kỷ 18. Trong tác phẩm "Trong các chuyển động tròn của các thiên thể," Cleomedes cho rằng ông đã tính toán chính xác chu vi Trái Đất vào khoảng năm 240 TCN, bằng sử dụng các phương pháp lượng giác và kiến thức về góc lên của Mặt Trời vào giữa trưa tại Alexandria và Syene (ngày nay là Aswan, Ai Cập). Đo đạc Trái Đất. Eratosthenes đã biết rằng tại thời điểm hạ chí vào giữa trưa tại khu vực ở trên đường bắc chí tuyến thì Mặt Trời phải xuất hiện ở thiên đỉnh, ngay phía trên đầu người quan sát — mặc dù trên thực tế, Syene nằm ở phía bắc và rất sát với đường chí tuyến này. Từ các kết quả đo đạc, ông cũng biết rằng tại thành phố Alexandria thì góc lên của Mặt Trời là khoảng 7° về phía nam của thiên đỉnh vào cùng một thời điểm. Eratosthenes đặt giả thiết rằng Alexandria nằm ở phía bắc của Syene, mặc dù Alexandria trên thực tế nằm nghiêng nhiều hơn về phía tây, từ đó ông đã kết luận rằng khoảng cách từ Alexandria tới Syene khoảng 7/360 của chu vi Trái Đất. Khoảng cách giữa hai thành phố đã được biết từ các chuyến đi của các đoàn lữ hành là khoảng 5.000 stadion. Thực tế vẫn có một ít sai số trong tính toán này, bởi vì Syene không nằm chính xác trên bắc chí tuyến và cũng không thẳng về phía nam của Alexandria; đồng thời Mặt Trời không cách xa Trái Đất vô cùng lớn. (Eratosthenes đã biết điều này, nhưng chúng ta không biết rõ ông ấy đã điều chỉnh hay chưa). Nghiêm túc hơn nữa thì các góc trong thời cổ đại chỉ có thể đo chính xác đến mức của độ hoặc 1/4 độ và việc đo đạc khoảng cách trên mặt đất thì còn kém hơn nữa. Ông đã xác định giá trị cuối cùng là 700 stadion trên một độ, điều này hàm ý chu vi Trái Đất là khoảng 252.000 stadion. Độ lớn chính xác của "stadion" mà ông đã sử dụng thì ngày nay người ta không biết chính xác ("stadion" phổ biến của người Attike là khoảng 185 m), nhưng nói chung người ta tin rằng giá trị mà Eratosthenes đưa ra tương ứng với khoảng 39.690 km- 46.620 km. Chu vi của Trái Đất dọc theo các cực ngày nay đo được là khoảng 40.008 km. 150 năm sau đó, phương pháp của Eratosthenes đã được Posidonius sử dụng. Khoảng năm 200 TCN, Eratosthenes cũng được coi là người đã nghĩ ra/chấp nhận sử dụng từ "γηγραφειν" hay "γειαγραφειν" tức địa lý, là khoa học mô tả Trái Đất. Các cống hiến khác của Eratosthenes còn có: Eratosthenes còn được biết đến với tên gọi "Beta" (β), vì ông tự nhận bản thân là thứ hai trên thế giới trong nhiều lĩnh vực. Ông cũng được biết đến vì tính kiêu căng. Năm 195 TCN, Erastosthenes bị mù, dẫn đến mất khả năng đọc và quan sát tự nhiên. Có lẽ vì quá tuyệt vọng nên ông bắt đầu tuyệt thực, và qua đời một năm sau đó, hưởng thọ 82 tuổi. Tập hợp chắp vá các huyền thoại về bầu trời của người Hellen được gọi là "Catasterismi" ("Katasterismoi") đã được coi là của Eratosthenes, tên của một người đáng nể, để tăng thêm sự tin tưởng vào nó.
Trong hình học phẳng, đường kính của một đường tròn là khoảng cách lớn nhất giữa hai điểm bất kỳ trên đường tròn đó. Đường kính là trường hợp đặc biệt của dây cung đi qua tâm đường tròn.Đường kính luôn đi qua tâm của hình tròn. Đường kính là dây cung lớn nhất.Đường kính của một hình cầu là đường kính của vòng tròn lớn của hình cầu đó. Độ dài của đường kính của một đường tròn bằng 2 lần bán kính của đường tròn đó. Trong không gian mêtric, đường kính của một tập là cận trên đúng của tất cả các khoảng cách giữa hai điểm bất kỳ thuộc tập hợp đó. Đường chéo trong hình chữ nhật Đường chéo nối hai đỉnh đối diện xa nhất trong một hình bình hành Cạnh lớn nhất của một tam giác Đường chéo nối hai đỉnh trong khối lập phương
Định lý Gelfond-Schneider mang tên của nhà toán học người Nga Alexander Osipovich Gelfond (1906-1968) và của nhà toán học Theodor Schneider (1911-1988), hai người cùng độc lập chứng minh trong lý thuyết số định lý này trong năm 1934. "Cho một số đại số a khác 1 và khác 0, và một số vô tỉ đại số b, thì số ab là số siêu việt." Các số sau đây là siêu việt: Nếu không có điều kiện "a" và "b" là các số đại số, định lý nói chung không đúng. Ví dụ, formula_3 ở đây, "a" là √2√2, là một số siêu việt. Tương tự, nếu "a" = 3 và "b" = (log 2)/(log 3) là một số siêu việt, thì "ab" = 2 là một số đại số. "Nếu a1,, an là các số khác không sao cho log a1, log , log an là độc lập tuyến tính trên trường số hữu tỉ, thì 1, log a1, log , log an cũng độc lập tuyến tính trên mọi trường số đại số."
Định lý Banach-Steinhause mang tên hai nhà toán học Ba Lan Stefan Banach (1892-1945) và Hugo Steinhause (1887-1972). Định lý này được tìm ra năm 1927. Nó còn được gọi là Nguyên lý cơ bản của tính bị chặn đều dùng trong giải tích hàm. "Một họ bị chặn từng điểm của các phép toán liên tục tuyến tính từ một không gian Banach đến một không gian tuyến tính chuẩn thì bị chặn đều.
Định đề Bertrand là một định lý phát biểu rằng với bất kỳ số nguyên formula_1, luôn tồn tại ít nhất một số nguyên tố formula_2 sao cho Một công thức khác đẹp hơn tuy không chặt bằng: với mỗi số tự nhiên formula_4 luôn tồn tại ít nhất một số nguyên tố formula_2 sao cho Một công thức khác, với formula_7 là số nguyên tố thứ "n", thì với formula_8 Joseph Bertrand (1822–1900) lần đầu đưa ra phỏng đoán trên năm 1845. Chính ông đã xác nhận phát biểu này đúng cho tất cả các số nằm trong khoảng [2, 3 × 106]. Giả thuyết của ông được chứng minh bởi Chebyshev (1821–1894) năm 1852 vậy nên định đề này đôi khi được gọi là định lý Bertrand–Chebyshev hay định lý Chebyshev. Định lý Chebyshev cũng có thể phát biểu sử dụng formula_10, với formula_10 là hàm đếm số nguyên tố (số các số nguyên tố không vượt quá formula_12): formula_13 với mọi formula_14 Định lý số nguyên tố. Định lý số nguyên tố chỉ ra rằng số các số nguyên tố không vượt quá "x" xấp xỉ bằng "x"/ln("x"), do đó khi thay "x" bằng 2"x" thì số các số nguyên tố không vượt quá 2"x" tiệm cận gấp đôi số các số nguyên tố không quá "x" (hạng tử ln(2"x") và ln("x") tiệm cận bằng nhau). Do đó số các số nguyên tố giữa "n" và 2"n" xấp xỉ bằng "n"/ln("n") khi "n" lớn, vì thế thực sự có nhiều số nguyên tố trong khoảng này hơn kết quả định đề Bertrand. Vậy nên định đề Bertrand yếu hơn nhiều so với định lý số nguyên tố. Tuy nhiên định lý số nguyên tố là một định lý chuyên sâu, trong khi định đề Bertrand có thể được phát biểu một cách dễ nhớ và chứng minh đơn giản hơn, đồng thời vẫn đúng với những giá trị nhỏ của "n". (Thêm vào đó, định lý Chebyshev được chứng minh trước định lý số nguyên tố nên nhận được nhiều sự chú ý.) Một vấn đề liên quan, giả thuyết Legendre hỏi rằng với mỗi "n" 1, liệu có số nguyên tố "p" sao cho "n"2 "p" ("n" + 1)2 hay không. Lần này ta phỏng đoán sẽ có nhiều số nguyên tố nằm giữa "n"2 và ("n" + 1)2, nhưng trong trường hợp này định lý số nguyên tố không có tác dụng: số các số nguyên tố không quá "x"2 tiệm cận "x"2/ln("x"2) còn số các số nguyên tố không quá ("x" + 1)2 tiệm cận ("x" + 1)2/ln(("x" + 1)2), tức lại tiệm cận "x"2/ln("x"2). Vậy nên khác với trường hợp "x" và 2"x" ta không chứng minh được giả thuyết Legendre thậm chí với "n" lớn. Xấp xỉ sai số trên định lý số nguyên tố không đủ để chứng minh có ít nhất một số nguyên tố trong khoảng này. Năm 1919, Ramanujan (1887–1920) sử dụng tính chất của hàm gamma đưa ra chứng minh đơn giản hơn. Bài báo gồm một tổng quát của định đề mà từ đó làm nền tảng cho khái niệm số nguyên tố Ramanujan. Tổng quát khác của số nguyên tố Ramanujan cũng xuất hiện, ví dụ như một chứng minh rằng trong đó "p""k" là số nguyên tố thứ "k" và "R""n" là số nguyên tố Ramanujan thứ "n". Những mở rộng khác của định đề Bertrand cũng xuất hiện sử dụng những phương pháp cơ bản. (Từ đây về sau, "n" là một số nguyên dương.) Năm 2006, Mohamed El Bachraoui chứng minh rằng 2"n" và 3"n". Năm 2011, Andy Loo chứng minh rằng tồn tại một số nguyên tố giữa 3"n" và 4"n". Hơn thế nữa, ông chứng minh rằng khi "n" tiến tới vô hạn, số các số nguyên tố giữa 3"n" và 4"n" cũng tiến tới vô hạn, từ đó tổng quát những kết quả của Erdős và Ramanujan (xem định lý Erdős ở dưới). Kết quả đầu tiên sử dụng những phương pháp cơ bản. Kết quả thứ hai dựa trên giới hạn giải tích của hàm giai thừa. Định đề Bertrand được cho là có thể áp dụng vào các nhóm hoán vị. Sylvester (1814–1897) tổng quát phát biểu yếu hơn như sau: tích của "k" số tự nhiên liên tiếp lớn hơn "k" chia hết cho một số nguyên tố lớn hơn "k". Định đề Bertrand (yếu) có thể suy ra từ phát biểu trên với "k" = "n" và xét "k" số "n" + 1, "n" + 2, lên đến "n" + "k" = 2"n" với "n"  1. Theo tổng quát của Sylvester, một trong những số này có một ước nguyên tố lớn hơn "k". Do tất cả các số này đều nhỏ hơn 2("k" + 1), số mà chứa ước nguyên tố lớn hơn  "k" chỉ có một ước nguyên tố, tức nó là một số nguyên tố. Chú ý rằng 2"n" không phải số nguyên tố, do đó tồn tại một số nguyên tố  "p" với "n"  "p"  2"n". Năm 1932, Erdős (1913–1996) xuất bản một chứng minh đơn giản hơn sử dụng hệ số nhị thức và hàm Chebyshev "ϑ", được định nghĩa như sau: với "p" ≤ "x" chạy trên tập các số nguyên tố. Xem chứng minh của định đề Bertrand để thêm chi tiết. Năm 1934, Erdős chứng minh rằng với bất kỳ số nguyên dương "k", tồn tại một số tự nhiên "N" sao cho với mợi "n"  "N", có ít nhất "k" số nguyên tố nằm giữa "n" và 2"n". Một phát biểu tương đương đã được chứng minh năm 1919 bởi Ramanujan (xem Số nguyên tố Ramanujan). Kết quả chặt hơn. Từ định lý số nguyên tố suy ra rằng với bất kỳ số thực formula_17 có một số formula_18 sao cho với mọi formula_19 có một số nguyên tố formula_2 thỏa mãn formula_21. Ví dụ như: đồng nghĩa với formula_23 tiến tới vô hạn (và lớn hơn 1 với giá trị đủ lớn của formula_24). Giới hạn không tiệm cận cũng đã được chứng minh. Năm 1952, Jitsuro Nagura chứng minh rằng với "n" ≥ 25, luôn có một số nguyên tố giữa "n" và (1 + 1/5)"n". Năm 1976, Lowell Schoenfeld chỉ ra rằng với "n" ≥ 2010760, luôn có một số nguyên tố giữa "n" và (1 + 1/16597)"n". Năm 1998, Pierre Dusart cải thiện kết quả trên trong luận án tiến sĩ rằng với "k" ≥ 463, "p""k"+1 ≤ (1 + 1/(ln2"pk"))"pk", và với "x" ≥ 3275, tồn tại một số nguyên tố giữa "x" và (1 + 1/(2ln2"x"))"x". Năm 2010 Pierre Dusart chứng minh rằng với "x" ≥ 396738 có ít nhất một số nguyên tố giữa "x" và (1 + 1/(25 ln2"x"))"x". Năm 2016 Pierre Dusart cải thiện kết quả năm 2010 của mình, chỉ ra rằng với "x" ≥ 468991632 có ít nhất một số nguyên tố giữa "x" và (1 + 1/(5000 ln2"x"))"x". Baker, Harman và Pintz chứng minh rằng có một số nguyên tố trong khoảng formula_25 với giá trị lớn của formula_26.
Định lý giá trị trung gian, còn có tên là định lý Bolzano (đặt theo tên nhà toán học Tiệp Khắc Bernhard Bolzano (1781-1848)). là định lý cơ bản trong giải tích, liên quan đến các hàm số liên tục trên một khoảng. Định lí phát biểu rằng: "Nếu hàm số formula_1 liên tục trên đoạn formula_2 và formula_3 thì với mọi giá trị formula_4 nằm giữa formula_5 và formula_6, tồn tại ít nhất một giá trị formula_7 sao cho formula_8." Người ta áp dụng định lý này để chỉ ra sự tồn tại của nghiệm phương trình và tìm nghiệm một cách gần đúng. Cho hàm số thực formula_9 xác định và liên tục trên một khoảng formula_10, thì formula_11 cũng là một khoảng Phát biểu tương đương Với mọi hàm số f xác định và liên tục trên ["a", "b"] → ℝ, và với mọi "u" nằm giữa "f(a)" và "f(b)", luôn tồn tại ít nhất một giá trị "c" nằm trong khoảng [a,b] sao cho "f(c)=u" Trường hợp đặc biệt Nếu "f(a)" và "f(b)" không cùng dấu, thì luôn tồn tại ít nhất một giá trị "c" nằm giữa a và b sao cho "f(c) = 0"
Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (viết tắt là ICRC theo tiếng Anh "Internationally Committee of the Red Cross" hoặc CICR theo tiếng Pháp "Comité international de la Croix-Rouge") là một phần của Phong trào Chữ thập đỏ – Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế với tổng hành dinh ở Genève. Được thành lập năm 1863, tổ chức hoạt động trên toàn thế giới để cung cấp trợ giúp nhân đạo cho những người bị ảnh hưởng bởi xung đột và bạo lực vũ trang và thúc đẩy pháp luật bảo vệ nạn nhân của chiến tranh. Một tổ chức độc lập và trung lập, nhiệm vụ của họ bắt nguồn chủ yếu từ các Công ước Geneva năm 1949.Có trụ sở tại Geneva, Thụy Sĩ, có khoảng 12.000 thành viên tại 80 quốc gia, chủ yếu được tài trợ bởi sự đóng góp tự nguyện từ các chính phủ và từ các quốc gia hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ. Mục đích duy nhất của họ là nhân đạo, dựa trên các nguyên tắc căn bản vô tư. Kể từ khi thành lập vào năm 1863, mục tiêu duy nhất của ICRC là đảm bảo, bảo vệ và hỗ trợ cho các nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang. Thông qua hành động trực tiếp của nó trên toàn thế giới, cũng như bằng cách khuyến khích sự phát triển của luật nhân đạo quốc tế) và thúc đẩy sự tôn trọng cho các chính phủ và tất cả các người mang vũ khí. Là tổ chức nhân đạo chủ nghĩa lớn nhất trên thế giới hoạt động với mục đích bảo vệ sự sống và sức khỏe con người, giúp đỡ những người bị thương trong các cuộc xung đột vũ trang, không phân biệt quốc tịch,dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng, giai cấp hay quan điểm chính trị Solferino, Henry Dunant and sự ra đời của ICRC. Cho đến giữa thế kỷ thứ 19, không có hệ thống điều dưỡng quân đội có tổ chức và được thiết lập tốt cho thương vong cũng như không có các cơ sở an toàn và được bảo vệ để tiếp nhận và điều trị những người bị thương trên chiến trường. Vào tháng 6 năm 1859, doanh nhân Thụy Sĩ Henry Dunant đến Ý để gặp hoàng đế Pháp Napoléon III với ý định thảo luận về những khó khăn trong việc tiến hành kinh doanh ở Algeria, lúc đó đang bị Pháp chiếm đóng. Khi đến thị trấn Solferino nhỏ của Ý vào tối ngày 24 tháng 6, anh đã chứng kiến ​​hậu quả của Trận Solferino, một cuộc giao tranh trong Chiến tranh giành độc lập của Ý lần thứ hai. Chỉ trong một ngày, khoảng 40.000 binh sĩ của cả hai bên đã chết hoặc bị thương trên chiến trường. Henry Dunant đã bị sốc bởi hậu quả khủng khiếp của trận chiến, sự đau khổ của những người lính bị thương, và gần như hoàn toàn không có sự tham gia y tế và chăm sóc cơ bản. Anh ấy hoàn toàn từ bỏ ý định ban đầu của chuyến đi và trong nhiều ngày, anh ấy đã dành hết sức mình để giúp chữa trị và chăm sóc những người bị thương. Ông đã thành công trong việc tổ chức một mức độ hỗ trợ cứu trợ vượt trội bằng cách thúc đẩy người dân địa phương viện trợ mà không phân biệt đối xử. Trở về nhà của mình ở Geneva, ông quyết định viết một cuốn sách mang tên "Ký ức về Solferino" mà ông đã xuất bản bằng tiền của mình vào năm 1862. Ông đã gửi các bản sao của cuốn sách cho các nhân vật chính trị và quân sự hàng đầu trên khắp châu Âu. Ngoài việc viết một mô tả sống động về những trải nghiệm của mình ở Solferino năm 1859, ông còn chủ trương rõ ràng việc thành lập các tổ chức cứu trợ tình nguyện quốc gia để giúp đỡ các thương binh trong trường hợp chiến tranh. Ngoài ra, ông kêu gọi xây dựng các điều ước quốc tế để đảm bảo tính trung lập và bảo vệ những người bị thương trên chiến trường cũng như các bác sĩ và bệnh viện dã chiến.
Danh sách lãnh tụ Liên Xô Đây là danh sách lãnh tụ Liên Xô, gồm những người từng nắm quyền lực tối cao ở Liên Xô. Thực tế đó là những người đứng đầu Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Cơ cấu quyền lực ở Liên Xô có ba nhánh chính, dẫn đến 3 vị trí cao nhất. Đứng đầu nhánh hành pháp (chính phủ) là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng). Thời Lenin chức vụ này, lúc đó gọi là Chủ tịch Hội đồng Dân uỷ, là vị trí số 1 vì thực chất Lenin (Chủ tịch Hội đồng dân ủy) là lãnh tụ đảng Bolshevik từ khởi thủy. Chức vụ Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô được lập ra tháng 4 năm 1922 nhưng sau khi Lenin qua đời mới trở thành quan trọng nhất. (Trong khoảng từ 1952 đến tháng 4 năm 1966, chức vụ này được gọi là Bí thư thứ nhất.) Vị trí đó đã tạo điều kiện cho Stalin tiêu diệt "đội cận vệ già", trục xuất Lev Davidovich Trotsky (Лев Давидович Троцкий) và thâu tóm quyền lực vô hạn. Về sau ông được xưng tụng là "lãnh tụ dân tộc" thì thậm chí không dùng danh hiệu Tổng bí thư nữa [#endnote_]. Về mặt chính quyền, Stalin giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, vì thế khi Stalin chết, Malenkov thay ông ở chức vụ này, lúc đầu được xem là lãnh tụ mới. Malenkov giữ chức này đến tận 1955, nhưng thực tế từ tháng 9 năm 1953 thực quyền về tay Khruschov. Trước đó Lavrenty Pavlovich Beria (Лаврентий Павлович Берия, bộ trưởng nội vụ do Stalin cất nhắc) cố gắng tập trung quyền lực trong đảng, nhưng Khruschov cầm đầu phe chống lại, bắt giữ Beria (tháng 6 năm 1953), và do đó nắm được quyền lãnh đạo tối cao, khẳng định vị trí số 1 của chức vụ Bí thư thứ nhất. Chức vụ Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng không còn là quan trọng nhất nữa, mặc dù từ tháng 3 năm 1958 Khruschev cũng kiêm luôn chức này. Về mặt pháp lý thì nguyên thủ quốc gia do Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô đảm nhiệm, sau là Chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô (phương Tây gọi một cách không chính thức là Chủ tịch Liên Xô). Trên lý thuyết đó là vị trí cao nhất, do lẽ Xô viết Tối cao là quốc hội, tức cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, theo Hiến pháp Liên Xô. Từ Brezhnev trở đi, các Tổng bí thư kiêm chức vụ này, tức vừa có thực quyền số 1, vừa là nguyên thủ chính thức. Ngày 14 tháng 3 năm 1990, Đại hội Đại biểu Nhân dân (mới bầu ra năm 1989) bỏ phiếu chấm dứt sự kiểm soát của Đảng Cộng sản trên chính quyền và bầu Gorbachov làm Tổng thống Liên Xô. Chức vụ này trở thành nguyên thủ, từ đó Chủ tịch Xô viết Tối cao chỉ còn là chủ tịch quốc hội, đứng đầu nhánh lập pháp. [#endnote_] Việc lãnh tụ Đảng Cộng sản thường kiêm giữ một vị trí khác khiến phương Tây hay nhầm lẫn về nhân vật số 1 của Liên Xô: Lenin, Stalin, Malenkov và Khrushchov kiêm chức thủ tướng, còn Brezhnev và những người kế nhiệm kiêm chức chủ tịch. Lãnh tụ các quốc gia hậu-Xô viết. Về lãnh tụ của 15 quốc gia độc lập tách ra từ Liên bang Xô viết, xin xem các mục từ sau:
Các Công ước Genève (Giơ-ne-vơ) gồm có bốn công ước được viết ở Genève (Thụy Sĩ) đặt tiêu chuẩn luật pháp quốc tế về vấn đề nhân đạo. Những hiệp định này do những đóng góp của Henri Dunant, người đã chứng kiến sự khủng khiếp của chiến tranh ở trận Solferino năm 1859. Theo điều khoản 49, 50, 129, và 146 của Công ước Genève I, II, III, và IV, riêng từng cái một, các quốc gia ký Công ước phải thông qua đủ luật pháp để làm những sự vi phạm Công ước Genève thành tội ác phải được trừng phạt. Tuy nhiên, "Công ước Genève" thực sự chỉ đến một số văn kiện khác: Ngoài ra, cũng có ba nghị định phụ vào Công ước Genève: Công ước thứ nhất được chấp nhận sau khi Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế được thành lập năm 1863. Cả bốn công ước được sửa lần cuối và thông qua năm 1949, dựa trên các sửa đổi trước và dựa trên một số Hiệp định La Hay năm 1907; bộ luật tất cả được gọi là Công ước Genève năm 1949. Những hội nghị sau đã cộng vào một số điều khoản cấm sử dụng một số phương pháp chiến tranh và giải quyết vấn đề nội chiến. Gần 200 quốc gia trên thế giới đã ký hiệp định, bởi vì họ đã thông qua các hiệp định rồi.
Võ gậy tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2005 Bộ môn võ gậy, quốc võ của Philippines, lần thứ hai được đưa vào chương trình thi đấu tại một kỳ Đại hội thể thao Đông Nam Á SEA Games 2005 trong hai ngày mùng 3 và mùng 4 tháng 12, 2005. Lần đầu tiên khi Đại hội được tổ chức tại Manila, Philippines năm 1991. Môn thi đấu này là sự tranh chấp giữa hai đoàn Philippines và Việt Nam. Ngoài ra, võ gậy cũng giúp Đông Timor giành được 3 tấm huy chương đầu tiên tại một kỳ SEA Games.
Năm 0 (còn gọi là Năm Công nguyên) là tên gọi được sử dụng bởi một số học giả khi làm việc với các hệ thống lịch. Trong sử dụng thông thường ở các nước phương Tây, phần lớn mọi người không nói tới năm 0, vì thế năm 1 Anno Domini đứng liền ngay sau năm 1 TCN ("Ante Christum Natum") mà không có năm 0 xen vào giữa. Có điều này là do hệ thống đánh số năm sử dụng là hệ thống số thứ tự mà không phải hệ thống số lượng – năm đầu tiên chính xác là – năm đầu tiên. Năm "2024" trên thực tế lẽ ra phải gọi là "năm thứ 2024". Sự hiện diện hay vắng mặt của năm 0 được xác định theo quy ước trong các nhóm chẳng hạn các nhà sử học hay các nhà thiên văn học, trong đó các nhà thiên văn học thấy năm 0 là có ích. Không có một hệ thống lịch nào trong số các lịch Julius hay Gregory cũng như kỷ nguyên ("Anno Domini" hay Công Nguyên) xác định là năm 0 sẽ được sử dụng hay không. Nếu người viết không sử dụng quy ước của nhóm mà họ thuộc về thì họ phải thông báo rõ ràng là họ có đưa năm 0 vào trong cách đếm năm của họ hay không, nếu không như thế thì các số liệu về ngày tháng năm của họ sẽ bị hiểu sai. Không có một nhà lịch sử nào đưa năm 0 khi đánh số năm trong tiêu chuẩn hiện tại của kỷ nguyên. Vì thế, không phụ thuộc vào tên gọi hay lịch được sử dụng (Julius hay Gregory), 1 TCN luôn luôn trực tiếp đứng ngay trước năm AD 1 (hay đơn giản chỉ viết là năm 1). Các nhà sử học thậm chí còn từ chối sử dụng năm 0 khi sử dụng các năm âm trước kỷ nguyên dương của chúng ta, vì thế −1 của họ đứng trực tiếp ngay trước 1, ví dụ V. Grumel trong "La chronologie" (1958), trang 30. Phương pháp "anno Domini" của các năm được đánh số đã không được sử dụng rộng rãi ở Tây Âu cho đến tận thế kỷ 9 và năm lịch sử từ ngày 1 tháng 1 tới ngày 31 tháng 12 đã không thống nhất ở Tây Âu cho đến tận năm 1752. Các thuật ngữ "anno Domini" (AD), "kỷ nguyên Dionysus", "kỷ nguyên Thiên chúa", "kỷ nguyên Cơ đốc" và "công nguyên" đã được sử dụng đồng nghĩa với nhau trong thời kỳ Phục Sinh và trong thế kỷ 19, ít nhất là trong tiếng Latinh. Kết quả là, các nhà sử học nói tới các kỷ nguyên này là tương đương. Tuy nhiên, có ít nhất 2 nhóm đưa năm 0 vào khi họ đánh số các năm trước các kỷ nguyên này: đó là các nhà thiên văn học và một số nhà sử học Maya. Ngoài ra, một số lịch ở Nam Á bắt đầu các tính toán của họ về năm từ năm 0. Beda là nhà sử học đầu tiên sử dụng năm trước công nguyên (TCN, viết tắt tiếng Anh: BC) và vì vậy là người đầu tiên chấp nhận quy ước là không có năm 0 giữa các năm trước công nguyên và công nguyên, trong cuốn sách "Historia ecclesiastica gentis Anglorum" ("Lịch sử giáo hội của người Anh") của ông năm 731. Các nhà sử học Thiên chúa trước đó sử dụng "anno mundi" (trong năm của thế giới"), hay "anno Adami" ("trong năm của Adam", bắt đầu muộn hơn 5 ngày, được người Africanus sử dụng), hay "anno Abrahami" ("trong năm của Abraham", bắt đầu muộn hơn 3.412 năm theo Septuagint, được Eusebius sử dụng), tất cả đều gắn "một" với năm bắt đầu từ Ngày Sáng Tạo, hoặc là sự sáng tạo ra Adam, hoặc là ngày sinh của Abraham một cách tương ứng. Tất cả đều bắt đầu với năm 1 do hệ thống đếm số bắt đầu từ 1 mà không phải là 0. Bede chỉ đơn giản là tiếp nối truyền thống này để nói về kỷ nguyên AD. Người phát minh ra thuật ngữ AD là Dionysius Exiguus vào năm 525 đã không chỉ rõ là ông bắt đầu cách đếm của mình từ 1 hay từ 0 (cũng như ông không đề cập tới trước công nguyên). Bede đã không đánh số tuần tự bất kỳ đơn vị nào khác trong lịch (các ngày trong tháng, tuần trong năm, hoặc tháng trong năm)-nhưng ông đã ý thức được các ngày Do Thái trong tuần trong đó việc đánh số bắt đầu từ 1 (ngoại trừ ngày thứ bảy được gọi là "Sabbath") và đã đánh số một phần các ngày trong tuần Thiên chúa giáo của ông một cách tương ứng ("Lord's day" (ngày của Chúa), "second day" (ngày thứ hai)... "sixth day" (ngày thứ sáu), "Sabbath" trong cách chuyển đổi ra thành tiếng Anh). Người ta thường cho rằng Bede đã không sử dụng năm 0 vì ông không biết về số 0. Mặc dù "ký hiệu" cho số không (0) đã chưa từng có mặt ở châu Âu cho đến tận thế kỷ 11, Bede và Dionysius chắc chắn đã biết về hai "từ" để chỉ số 0—trong tiếng Latinh là các từ "nulla" và "nihil", trong cách nói thông thường có nghĩa là "không có gì". "Nulla" đã được sử dụng mỗi khi 0 là thành viên của các chuỗi số, dù rằng các số khác đã thuộc hệ thống số La Mã hay các từ trong tiếng Latinh. Dionysius sử dụng cách viết số 0 bằng tiếng Latinh này trong cùng một bảng trong đó ông giới thiệu kỷ nguyên "anno Domini" của mình, nhưng trong cột bên cạnh—nó là ngày lịch so le đầu tiên của chu kỳ 19 năm được sử dụng để tính toán Lễ Phục Sinh (xem thêm Chu kỳ 19 năm của Dionysius ). Bede tiếp tục sử dụng ngày lịch so le số 0 này trong tác phẩm "De temporum ratione" ("Trong tính toán thời gian") của mình năm 725, nhưng đã không sử dụng nó giữa BC và AD. "Nihil" được sử dụng để chỉ phần dư bằng 0 khi số là chia hết (xem các đối số 2 và 5 trong "Chu kỳ 19 năm của Dionyius" vừa đề cập). Trong chương II quyển I của "Lịch sử giáo hội", Bede thông báo rằng Julius Caesar đã xâm lược nước Anh "trong năm thứ 693 sau khi xây dựng Roma, nhưng là năm thứ 60 trước sự hiện thân của Chúa tôi", trong khi thông báo trong chương III, "trong năm Roma thứ 798, Claudius" cũng đã xâm chiếm nước Anh và "trong vài ngà[năm] thứ 46 từ sự hiện thân của Chúa tôi". Mặc dù cả hai số liệu ngày tháng đều sai, nhưng chúng là đủ để kết luận rằng Bede đã không đưa năm 0 vào giữa BC và AD: 798 − 693 + 1 (vì các năm là bao gồm cả) = 106, nhưng 60 + 46 = 106, nó không còn chỗ cho năm 0. Thuật ngữ trong tiếng Anh "before Christ" (BC) "không" là sự phiên dịch trực tiếp của thuật ngữ Latinh "trước sự hiện thân của Chúa tôi" (tự nó không bao giờ được viết tắt), mà chỉ là cách dịch tương đương rút gọn: "Sự hiện thân" có nghĩa là sự đầu thai của Chúa Giê-su, là ngày mà kể từ thế kỷ 4 trở đi đã được kỷ niệm vào ngày 25 tháng 3 hàng năm, tức 9 tháng trước ngày mà ngày sinh của ông được kỷ niệm, 25 tháng 12. Sử dụng 'BC' duy nhất của Bede đã tiếp tục được sử dụng không thường xuyên trong thời Trung cổ (mặc dù với năm chính xác). Sử dụng rộng rãi đầu tiên của thuật ngữ này (vài trăm lần) có trong "Fasciculus Temporum" của Werner Rolevinck năm 1474, sát cạnh các năm của thế giới ("anno mundi"). Các nhà thiên văn. Các nhà thiên văn học đưa năm 0 vào ngay trước năm 1. Lần sử dụng năm thiên văn 0 đầu tiên thông thường được cho là của Jacques Cassini trong cuốn "Tables astronomiques" ("Các bảng thiên văn") năm 1740. Lý do để đưa vào năm 0 của ông là (trang 5, dịch từ tiếng Pháp): Năm 0 là năm mà người ta cho rằng Chúa Giê-su ra đời, mà một số nhà viết sử đánh dấu là 1 trước ngày sinh của Chúa Giê-su và là năm mà chúng tôi đánh dấu là 0, làm sao để tổng các năm trước và sau Chúa Giê-su tạo ra khoảng thời gian là giữa các năm này, và trong đó các số chia hết cho 4 đánh dấu các năm nhuận trước cũng như sau Chúa Giê-su. Nhưng Philippe de La Hire đã từng sử dụng năm 0 sớm hơn vào năm 1702 trong cuốn "Tabulæ Astronomicæ" ("Các bảng thiên văn") của mình trong dạng "Christum o." ("Chúa cứu thế 0") mà không có giải thích. Cả Cassini và La Hire sử dụng các năm BC (TCN) trước năm 0 của họ và các năm AD cho các năm sau đó (vì thế có trật tự 1 BC, 0, AD 1). Điều này giải thích tại sao Cassini thông báo rằng "tổng" của chúng tạo ra khoảng thời gian. Ví dụ, 1 + 1 = 2. Bắt đầu từ thế kỷ 19, một số nhà thiên văn bắt đầu sử dụng các năm âm trước năm 0 của họ, trong khi các nhà thiên văn học khác vẫn tiếp tục sử dụng các năm BC trước năm 0 của họ. Vào giữa thế kỷ 20, tất cả các nhà thiên văn học đã sử dụng các năm âm trước năm 0 (vì thế trật tự là −1, 0, 1). Vì vậy các nhà thiên văn học hiện đại có thể thông báo rằng "hiệu" của năm tạo ra khoảng thời gian, và nó đúng cho cả năm âm lẫn năm dương. Ví dụ 1 − (−1) = 2 và 2000 − 1999 = 1. Mặc dù 'AD' được bỏ qua trong những năm gần đây và chỉ để lại mỗi số, dấu dương (+) đôi khi vẫn được đưa vào đầu số. Do khả năng lẫn lộn với việc sử dụng trước đây của các năm TCN thiên văn, chỉ trong phiên bản hiện đại có thể nói rằng năm thiên văn 0 tương đương với năm lịch sử 1 TCN. ISO 8601:2004 và ISO 8601:2000, nhưng không phải là ISO 8601:1988, sử dụng một cách rõ ràng cách đánh số năm thiên văn trong các hệ thống tham chiếu ngày tháng của mình. Do họ cũng chỉ rõ việc sử dụng của lịch Gregory đón trước cho tất cả các năm trước năm 1582, một số độc giả kết luận một cách sai lầm là năm 0 luôn luôn được đưa vào trong lịch này, trong khi điều đó là không bình thường. Định dạng "cơ bản" cho năm 0 là trong dạng 4 chữ số 0000, nó tương đương với năm lịch sử 1 TCN. Một vài định dạng "mở rộng" có thể là: -0000 và +0000, cũng như là các phiên bản 5 hay 6 chữ số. Các năm sớm hơn cũng có các phiên bản âm 4, 5 hay 6 chữ số, trong đó chúng có giá trị tuyệt đối nhỏ hơn so với giá trị tuyệt đối của các năm trước công nguyên tương ứng là một đơn vị, vì thế -0010 = 11 TCN (ASCII 7-bit) là được cho phép trong ISO 8601 nên ký hiệu âm là dấu nối. Các lịch Nam Á. Mọi kỷ nguyên sử dụng trong các lịch Hindu và Phật giáo, chẳng hạn như kỷ nguyên Saka hoặc Kali Yuga, bắt đầu với năm 0 vì tất cả các lịch này sử dụng các cách tính năm theo kiểu năm trôi qua, năm khi đến hạn, hoặc năm đủ, ngược với phần lớn các lịch khác được sử dụng rộng rãi những năm gần đây. Năm đủ vẫn chưa trôi qua đối với bất kỳ ngày nào trong năm bắt đầu từ đầu kỷ nguyên, vì thế nó không thể là năm 1 — trái lại, nó là năm 0. Điều này tương tự như cách người phương Tây tính tuổi của một cá nhân — người đó chưa đạt đến 1 tuổi cho đến khi nào một năm đã trôi qua kể từ ngày người đó sinh ra (nhưng tuổi của người đó trong năm được tính theo số tháng/ngày cụ thể kể từ khi sinh ra chứ không nói là 0 tuổi; tuy nhiên, nếu tuổi của người đó tính theo năm và tháng thì có thể nói là (chỉ là ví dụ) 0 năm và 6 tháng tuổi). Các nhà sử học Maya. Nhiều nhà sử học Maya (nhưng không phải tất cả) cho rằng (hoặc đã từng cho rằng) năm 0 tồn tại trong lịch hiện đại và vì thế chỉ rõ rằng kỷ nguyên "Long Count" của lịch Maya đã diễn ra trong năm 3113 TCN chứ không phải năm 3114 TCN. Điều này đòi hỏi phải có trật tự 1 TCN, 0, 1 giống như trong các năm thiên văn thời kỳ đầu. Thiên niên kỷ thứ ba. Các nhà sử học cho rằng thiên niên kỷ thứ ba bắt đầu vào ngày 1 tháng 1 năm 2001 vì họ cho rằng kỷ nguyên Giê-su bắt đầu từ năm 1, trong khi nhiều người cho rằng nó bắt đầu vào ngày 1 tháng 1 năm 2000 vì khi đó hàng ngàn (là hàng có giá trị lớn nhất) của năm đã thay đổi từ 1 thành 2. Hệ thống đánh số năm thiên văn không thể sử dụng để hỗ trợ cho năm 2000 như là năm đầu tiên của thiên niên kỷ thứ 3 do sự không chắc chắn liên quan tới các thiên niên kỷ thiên văn. Đưa năm 0 vào trong thiên niên kỷ dương đầu tiên (0 tới 999) trong khi loại bỏ nó từ thiên niên kỷ âm đầu tiên (−1000 tới −1) là không nhất quán. Nhưng sự nhất quán lại tạo ra một kết quả dị thường: hoặc là năm 0 không thuộc thiên niên kỷ dương đầu tiên (1 tới 1000) và thiên niên kỷ âm đầu tiên (−1000 tới −1) hoặc nó được đưa vào cả hai (−999 tới 0 và từ 0 tới 999). Truyền thông đại chúng. Trong phim "Back to the Future" (Trở lại tương lai) tiến sĩ Emmett Brown ("Doc" Brown), người phát minh ra cỗ máy thời gian, đã nhập số liệu về "ngày sinh của Đấng Cứu thế" trên keypad là "ngày 25 tháng 12 năm 0000". Không chỉ có ngày tháng năm được nhập vào sử dụng các số của năm thiên văn, mà ngày tháng năm nhập vào còn hàm ý là Chúa Giê-su thực sự đã sinh trong năm này (theo các nguồn khác nhau thì ông đã sinh ra trong khoảng thời gian giữa các năm 8 TCN và năm 9), và ngoài ra hoạt động kỷ niệm của Thiên chúa giáo vào Lễ Nô-en trong ngày 25 tháng 12 là một ngày lễ lịch sử thực sự chứ không phải ngày truyền thống (các manh mối trong Kinh Thánh chỉ ra rằng Giê-su sinh ra vào mùa xuân (ví dụ, những người chăn cừu canh gác đàn cừu của họ trong đêm tại quyển 3 Phúc âm (Luke) của kinh Tân ước có lẽ đã có mặt để giúp đỡ ca đẻ). Người ta cũng cho rằng ngày 25 tháng 12 đã được chọn để tạo ra sự liên tục đối với những người tôn sùng đã từng cử hành các lễ hội đông chí Pagan). Sự mới lạ của phim là khi Doc nói rằng "giả sử là ngày này chính xác, tất cả mọi điều chúng ta phải làm là tìm đường tới Bethlehem!" - vì thế có khả năng là tiến sĩ Emmett Brown chỉ là một kẻ thích phô trương và/hoặc là khôi hài (đối với cả Marty McFly và khán giả của bộ phim). Công trình nổi tiếng nhất của nhà thần học nổi tiếng và hư cấu nhất Franz Bibfeldt liên quan tới năm 0: luận văn năm 1927 được trình bày tại Trường đại học Chicago có tên gọi "Vấn đề của năm 0".
Tôn Trung Sơn (chữ Hán: 孫中山; 12 tháng 11 năm 1866 – 12 tháng 3 năm 1925), nguyên danh là Tôn Văn (孫文), tự Tải Chi (載之), hiệu Nhật Tân (日新), Dật Tiên (逸仙) là một chính khách, triết gia chính trị và bác sĩ người Trung Quốc, người đóng vai trò quan trọng trong cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911 lật đổ triều đại nhà Thanh của người Mãn Châu và khai sinh ra Trung Hoa Dân Quốc. Ông được tôn xưng là Quốc phụ tại Trung Hoa Dân Quốc và được coi là "người tiên phong của cách mạng (Cách mạng tiên hành giả)" tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Vợ của ông là Tống Khánh Linh, cũng là một nhân vật cách mạng nổi tiếng. Ông cũng nổi tiếng nhờ việc đề xuất và phát triển chủ nghĩa Tam Dân. Ông sinh ngày 12 tháng 11 năm 1866 ở tỉnh Quảng Đông trong một gia đình nông dân khá giả. Năm 13 tuổi, ông đến học ở Honolulu tại tiểu bang Hawaii vì có người anh buôn bán ở đây, ở đây ông học các trường tiểu học và trung học nên chịu ảnh hưởng rất lớn của phương Tây. Năm 1883, ông trở về nước, và năm 1886 ông học Trường Đại học Y khoa Hương Cảng và trở thành bác sĩ năm 1892. Ông là một trong 2 người được tốt nghiệp trong lớp 12 người. Tuy nhiên sau đó thấy tình cảnh đất nước bị các đế quốc chia xé, ông bỏ nghề y theo con đường chính trị. Theo Cơ Đốc Giáo. Thời trung học, ông học tại Trường ʻIolani được dạy dỗ bởi những người Anh theo Anh giáo. Tuy trường này không bắt buộc học sinh phải theo đạo nhưng đòi hỏi học sinh dự lễ tại nhà nguyện vào chủ nhật. Tại trường, ông lần đầu tiếp xúc với Kitô giáo và bị ấn tượng sâu đậm. Theo Schriffin, Kitô giáo đã có ảnh hưởng lớn tới toàn bộ cuộc đời chính trị trong tương lai của Tôn Dật Tiên. Sau này ông được báp-tem tại Hồng Kông bởi một nhà truyền giáo Hoa Kỳ và trở thành một tín hữu Tự trị giáo đoàn ("Congregational church", "Công lý hội"). Ông tham dự Nhà thờ Đạo Tế (道濟會堂, được sáng lập bởi Hội Truyền giáo London vào năm 1888) trong khi học Y khoa ở Hồng Kông. Việc ông theo Cơ Đốc Giáo liên hệ tới những lý tưởng cách mạng và nỗ lực cải tiến đất nước. Tuy nhiên việc ông có thật sự tin theo Cơ Đốc Giáo hay không vẫn còn tranh cãi. Tôn Trung Sơn làm đám cưới với Tống Khánh Linh, người vợ thứ hai, sau này cũng làm Chủ tịch danh dự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Em của bà, bà Tống Mỹ Linh, cưới Tưởng Giới Thạch, và như vậy 2 nhà lãnh tụ trở thành anh em cột chèo. Cha của hai bà là một mục sư Giám lý, kiếm rất nhiều tiền trong các hoạt động ngân hàng, mặc dù là bạn thân của Tôn, những đã nổi giận khi nghe Tôn tuyên bố dự tính cưới Khánh Linh, bởi vì Tôn là một người có đạo và đã có vợ với ba con. Ông cho là Tôn đã đi ngược lại với đạo lý mà họ cùng chia sẻ. Con trai ông (với người vợ đầu Lô Mộ Trinh hay Lư Mộ Trinh (盧慕貞) là Tôn Khoa (孫科; bính âm: "Sūn Kē") sau này làm Thủ tướng Trung Hoa Dân Quốc. Ngoài hai vợ trên, theo "Trung Quốc sử thoại", ông còn quan hệ gắn bó với "bà Nam Dương" Trần Túy Phần, sau đổi tên là Trần Tứ. Sự nghiệp chính trị. Năm 1894, Tôn Trung Sơn sang tiểu bang Hawaii tại Hoa Kỳ tập hợp Hoa kiều cùng chí hướng thành lập Hưng Trung hội với tôn chỉ đánh đổ phong kiến Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa. Ông bị người anh đưa về Trung Quốc vì sợ ông theo Kitô giáo nhưng ông đã trở lại Hawaii ít nhất hai lần vào 1900 và 1901. Năm 1905, Tôn Trung Sơn hợp nhất Hưng Trung hội với một số tổ chức trong nước lập thành Trung Quốc Đồng minh hội do ông làm Tổng lý. Trên tờ Dân báo, cơ quan ngôn luận của hội, ông đã công bố chủ nghĩa Tam Dân: "Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc". Từ 1905 đến năm 1911 Trung Quốc Đồng minh hội tổ chức nhiều cuộc binh biến ở các tỉnh miền Nam nhưng không thành công. Ngày 10 tháng 10 năm 1911, Đồng minh hội vận động được binh sĩ ở Vũ Xương (Hồ Bắc) nổi dậy khởi nghĩa và giành được thắng lợi mở đầu cho Cách mạng Tân Hợi. Phong trào này nhanh chóng bùng nổ ở nhiều tỉnh khác. Ngày 29 tháng 12 năm 1911, Tôn Trung Sơn về nước, được đại hội đại biểu các tỉnh họp ở Nam Kinh đề cử làm Đại Tổng thống lâm thời. Ngày 1 tháng 1 năm 1912, ông tuyên thệ nhậm chức Đại Tổng thống Lâm thời Trung Hoa Dân Quốc tại Nam Kinh. Nhưng một tháng sau, ông nhường chức này cho Viên Thế Khải với điều kiện Viên Thế Khải bắt vua nhà Thanh thoái vị để thành lập chế độ cộng hòa nhưng Viên Thế Khải đã phản bội, đàn áp lực lượng dân chủ cộng hòa. Tôn Trung Sơn là nhân vật độc đáo trong số các nhà lãnh đạo Trung Quốc thế kỷ XX, với danh tiếng lớn tại cả Trung Quốc đại lục và Đài Loan. Là người khai sinh nên Trung Hoa Dân Quốc, tại Đài Loan ông được tôn xưng là "Quốc phụ". Tại đại lục, ông được coi là "Cách mạng tiên hành giả" ("người tiên phong của cách mạng") và tên của ông thậm chí còn được đề cập tới trong lời tựa Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn có ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào đấu tranh giành độc lập ở Việt Nam. Theo giới sử học Việt Nam, Tôn Trung Sơn có mối quan hệ sâu rộng với cộng đồng người Hoa tại Chợ Lớn, Sài Gòn và Hà Nội. Lần đầu ông đến Việt Nam là tại Sài Gòn vào năm 1900 và kéo dài hơn 2 tuần. Ông tới Hà Nội lần đầu vào tháng 12 năm 1902. Từ khoảng tháng 3 năm 1907, ông hoạt động ở Việt Nam hơn một năm. Tại Hà Nội, ông ngụ ở Hội quán Quảng Đông, số 22 phố Hàng Buồm. Theo nhà sử học Chương Thâu, cựu Trưởng phòng Lịch sử Cận đại thuộc Viện Sử học Việt Nam, một loạt các thế hệ các nhà Cách mạng Việt Nam, từ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh cho tới Hồ Chí Minh đều chịu ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng Tam Dân Chủ nghĩa của Cách mạng Tân Hợi. Ngay cả sau đó, Việt Minh (Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội) cũng được tổ chức theo khuôn mẫu của Trung Quốc Đồng minh Hội do Bác sĩ Tôn Dật Tiên sáng lập tại Trung Quốc năm 1905. Tiêu ngữ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Độc lập - Tự do - Hạnh phúc được Hồ Chí Minh lấy từ chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn vẫn được nhà nước Việt Nam dùng cho đến nay. Tôn Trung Sơn được tôn kính trong đạo Cao Đài như là một trong Tam Thánh ký Thiên Nhân Hòa ước lần thứ ba. Ngay chính điện của Thánh thất Cao Đài ở Tây Ninh hiện còn treo bức tranh Tam Thánh ở chỗ trang trọng nhất. Tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh có một con đường mang tên Tôn Dật Tiên.
Mười hai vị thần trên đỉnh Olympus 12 vị thần là những vị thần chính trong điện thờ của người Hy Lạp, cai trị trên đỉnh Olympus. Các vị thần đỉnh Olympus giành quyền thống trị sau khi Zeus lãnh đạo các vị thần giành chiến thắng trong trận chiến với các Titan. Tài liệu cổ xưa nhất về các nghi thức tôn giáo với các vị thần được tìm thấy trong các bài thơ Homer ca tụng Hermes. Sự sùng bái mười hai vị thần đỉnh Olympus của người Hy Lạp có thể bắt nguồn từ thế kỷ thứ VI TCN ở thành Athens và gần như không có tiền lệ vào thời kỳ văn hóa Mycenae. Việc thờ phụng mười hai vị thần Olympus thường được xác định bắt đầu vào thời gian Pesistratos lên nhiếp chính ở thành Athens, vào năm 522/521 TCN. Hệ thống cổ điển của mười hai vị thần trên đỉnh Olympus bao gồm các vị thần: Hades (tiếng La Mã: Pluto) thường không nằm trong danh sách này. Ông không có vị trí trong thần điện bởi ông dành hầu hết thời gian dưới âm phủ, vương quốc của ông. Hệ thống La Mã tương ứng của Ennius đặt tên La Mã tương đương cho những vị thần Hy Lạp, nhưng thay thế Dionysus (Bacchus) bằng Hestia (Vesta) vì thế danh sách có sáu nam thần và sáu nữ thần. Herodotus cũng đề cập đến Heracles trong danh sách. Lucian cũng kể đến Heracles Asclepius là thành viên của mười hai vị thần, tuy nhiên không giải thích hai vị thần nào đã phải nhường vị trí cho họ. Ở đảo Kos, Heracles và Dionysus được đưa vào danh sách, Ares và Hephaestus thì không. Hebe, Helios, Eros (Cupid), Selene và Persephone cũng là những vị thần quan trọng đôi khi được kể vào nhóm mười hai vị thần. Eros thường được miêu tả cùng với mười hai bị thần kia, đặc biệt với mẹ là Aphrodite, nhưng hiếm khi được công nhận là một trong số các vị thần trên đỉnh Olympus. Plato đã liên hệ mười hai vị thần đỉnh Olympus với mười hai tháng trong năm, và đề nghị tháng cuối cùng đặc biệt vinh dự dành riêng cho Hades và những linh hồn đã chết, ám chỉ ông tính Hades là một trong số mười hai vị thần. Hades dần bị rút tên ra khỏi nhóm này vì liên quan đến âm phủ. Trong "Phaedrus" Plato xếp mười hai vị thần tương ứng với các cung Hoàng đạo và loại bỏ Hestia ra khỏi sự sắp xếp đó. Danh sách các vị thần trên đỉnh Olympus. Các kiểu xác định khác. Các vị thần sau cũng đôi khi được nhắc đến trong mười hai vị thần đỉnh Olympus Những nhân vật gần gũi với các vị thần Olympus. Các nam thần, nữ thần và á thần sau thường không được tính là thần trên đỉnh Olympus, dù vậy cũng khá gần gũi với họ.
Đền Bayon nằm ở trung tâm quần thể Angkor Thom, Campuchia. Đây là ngôi đền ấn tượng nhất của kiến trúc đền núi Campuchia do sự hùng vĩ về quy mô cũng như về cảm xúc mà nó đem lại cho người xem. Ngôi đền gồm 54 tháp lớn nhỏ, trên mỗi tháp đều có điêu khắc khuôn mặt của thần Lokesvara, hay còn gọi là thần Avalokitesvara, tượng trưng cho sự quan sát của thần linh về 4 hướng của Campuchia. Nằm ở trong khu phức hợp quần thể Angkor Thom, Bayon được xem là ngôi đền trung tâm của khu phức hợp Angkor Thom - hay còn gọi là thành Yaxodarapura. "Angkor Thom", có nghĩa là "Kinh thành lớn", là thành phố kinh đô lâu dài nhất và cũng là cuối cùng của Vương quốc Khmer được vua Jayavarman VII xây dựng vào cuối thế kỷ thứ 12. Sau khi vua Suryavarman II là người xây dựng Angkor Wat băng hà vào khoảng năm 1150, Campuchia rơi vào tình trạng rối ren, vô chính phủ. Quân Chiêm Thành nhiều lần tấn công và cuối cùng cưỡng chiếm Angkor Wat. Jayavarman VII lúc sinh thời vốn là một người thích sống ẩn dật, chọn lối sống thanh bần, ông thờ ơ với mọi biến động trong đời sống. Đến 50 tuổi, thấy đất nước quá tang thương vì loạn lạc và bị ngoại xâm dày xéo, ông thấy không còn con đường nào khác hơn là theo con đường kiếm cung mới mong cứu được đất nước qua cơn nguy khốn. Năm 1181, ông dấy binh khởi nghĩa, sau ròng rã bốn năm chiến đấu, ông đánh đuổi được Chiêm Thành ra khỏi đất nước mình, khôi phục lại thanh bình và xây dựng nên một đất nước hùng mạnh. Để thực hiện sự nghiệp giải phóng đất nước, trước khi lên ngôi Jayavarman VII bắt đầu xây dựng lại quân đội, rồi tiến hành nhiều cuộc phản công, trong đó có một trận hải chiến oanh liệu miêu tả trên bức tường đá chạm nổi ở các đền Bayon và Banteay Chhmar. Sau khi hoà bình được lập lại Jayavarman VII lên ngôi, lúc này ông khoảng 50 tuổi. Ông liền bắt tay vào việc khôi phục lại kinh đô và cho xây dựng ở đây một khu thành mới gọi là thành Yaxôdarapura. Khu đền Bayon nằm ở trung tâm Angkor Thom, cách cổng thành khoảng 1 cây số rưởi. Bayon là khu đền súc tích với những trang trí chạm khắc bằng đá đẹp đẽ. Được xây dựng trong khoảng cuối thế kỷ thứ 12 và đầu thế kỷ thứ 13 như là đền chính thức của vua Jayavarman VII, tin theo Phật giáo Đại thừa khác với tín ngưỡng Ân Độ giáo như các vua trước nhưng vẫn theo truyền thống vua thần ("devaraja"). Vua Jayavarman VII cải giáo sang Đại thừa vì các vua đời trước nối nghiệp vua Suryavarman II theo Ấn Độ giáo, người xây dựng Angkor Wat đã để quân Chiêm Thành đánh bại. Sau khi Jayavarman VII chết, những vua nối tiếp với tín ngưỡng khác nhau như Ấn Độ giáo, Phật giáo Nguyên thủy, đã xây thêm cho ngôi đền dựa theo tín ngưỡng của mình. Cấu trúc của Bayon gồm ba tầng mà cả ba tầng đều đổ nát nhiều, gạch đá nằm ngổn ngang khắp nơi. Hai tầng dưới bố trí theo hình vuông, tô điểm bằng những phù điêu trên tường. Tầng ba được sắp xếp theo hình tròn với nhiều tháp mà các mặt đá có hình khuôn mặt. Dãy hành lang ở tầng dưới là một kho tàng nghệ thuật với 11 ngàn bức phù điêu chạm khắc trên tường đá chạy dài 1200 mét, một tổng hợp liên quan đến lịch sử lẫn các truyền thuyết, miêu tả cảnh diễn hành của vua và hoàng gia, những trận đánh của vua Jayavarman VII với Chiêm Thành bằng cả thủy lẫn bộ chiến, ngoài ra còn miêu tả đời sống văn hóa, xã hội của một nền văn minh đã bị lãng quên từ bao thế kỷ. Nhiều khoảng tường công trình vẫn còn dở dang, chỉ còn để lại nét phát họa. Có lẽ bị bỏ dở khi vua Jayavarman VII qua đời. Hình ảnh nổi bật nhất của Bayon vẫn là những ngọn tháp cao vút ở trung tâm bằng đá tảng, chạm khắc thành 4 khuôn mặt nhìn bốn hướng. Kiến trúc của Bayon được xem như có phong cách của trường phái baroque, trong khi Angkor thuộc phái cổ điển. Sự tương đồng của vô số khuôn mặt khổng lồ ở trên các tháp của đền Bayon với các bức tượng khác của vua Jayavarman VII khiến nhiều học giả đi đến kết luận đây chính là khuôn mặt của nhà vua. Người khác thì cho là của Quán Âm Bồ Tát (Avalokitesvara hay Lokesvara). Nhà học giả chuyên về Angkor học Coedes thì lý luận rằng Jayavarman VII theo truyền thống của các vua Khmer tự cho mình là vua thần ("devaraja"), khác với các vua trước theo Ấn Độ giáo tự cho mình là hình ảnh của thần Shiva, trong khi Jayavarman VII là một Phật tử nên cho hình ảnh Phật và Bồ tát là chính mình. Có tất cả 37 tháp đền đá tạc hình nhiều khuôn mặt nhìn xuống và nhìn đi bốn hướng như thể quan sát chúng sanh và che chở cho đất nước. Bên trong đền có hai dãy hành lang đồng tâm ở tầng dưới, và một dãy ở tầng trên. Tất cả nằm dồn lại với nhau trong một không gian hạn hẹp bề 140 m và bề 160 m, trong khi phần chính của ngôi đền nằm ở tầng trên lại còn hẹp hơn với kích thước 70 m × 80 m; khác với Angkor Wat, người ta phải trầm trồ với quy mô to lớn và thoáng rộng của nó. Từ xa nhìn vào Bayon rải dài theo chiều ngang như một đống đá lổn chổn muốn vươn lên trời cao. Các tháp có kích cỡ cao thấp khác nhau, có tháp thật thấp khiến khuôn mặt như nhìn thắng vào mắt của du khách. Đi theo những lối đi quanh co, người ta có cảm giác như đi lạc vào một mê trận. Bất cứ rẽ vào lối nào du khách cũng trực diện với những đôi mắt đang chăm chú nhìn mình. Trong số hằng trăm ngôi đền nơi quần thể Angkor, Bayon khiến cho các nhà khảo cổ thắc mắc nhiều nhất. Bayon hiện vẫn bao trùm nhiều bí ẩn mà lời giải đáp vẫn đang còn được tranh cãi: nó được xây với biểu tượng gì, để thờ ai? Có lẽ thích hợp với lời giải thích nhất vẫn là khuôn mặt với nụ cười hết sức bí ẩn nằm ở tháp trung tâm. Một số dân Khmer cho rằng Bayon được xây dựng vào thời vương quốc này được chia thành 54 tỉnh, những đôi mắt của những bức tượng này nhìn về phía muôn dân trong các tỉnh đó để cứu độ (dưới hình ảnh Quan Âm), để che chở (dưới hình ảnh của vua Jayavarman VII). Thoạt đầu vào năm 1929, Robert J. Casey trong cuốn sách về Angkor nhan đề "In Fact" cho rằng những khuôn mặt đá là những khuôn mặt của thần Shiva thuộc đạo Hindu. Thế rồi trong thập niên 1930, các nhà khảo cổ thuộc Trường Viễn Đông Bác cổ khám phá ra rằng cái mô-típ ấy thuộc bên Phật giáo Đại thừa mà những hình ảnh bốn mặt đó là của Quán Thế Âm (Avalokitesvara). Họ lý luận rằng theo Đại thừa, bồ tát là người đã hoàn toàn giác ngộ để đạt thành Phật. Thay vì nhập Niết bàn, họ chọn ở lại trần gian để cứu độ những kẻ đang bị trầm luân trong khổ ải. Qua nụ cười bí ẩn của các khuôn mặt, vị bồ tát mà dân Campuchia gọi là Lokesvara đang tỏ lòng thương cảm trước nỗi đau của chúng sinh. Đồng thời có thuyết cho rằng vua Jayavarman VII tự cho mình hiển thị qua hình ảnh của Lokesvara, một vị Phật sống qua vai trò của một vị vua thần. Nhìn ngược về lịch sử, chiến thắng bất ngờ của vua Jayavarman VII giành lại độc lập cho xứ sở từ Chiêm Thành đã chiếm được trái tim của mọi con dân Khmer. Sau khi đánh bại quân Chiêm Thành, ông thôn tính luôn nước Chiêm Thành và mở rộng lãnh thổ trải dài khắp vùng Đông Nam Á. Những tháp với bốn khuôn mặt nhìn ra bốn hướng có lẽ để làm e dè những kẻ đến chiêm bái ở đền Bayon. Nhìn đâu họ cũng thấy những đôi mắt của vị vua thần đang chằm chằm nhìn họ. Đồng thời những kẻ sùng bái thần phục lòng thương yêu của vị vua dành cho họ qua những hình ảnh trên những bức phù điêu mô tả đời sống thường nhật của dân chúng. Ngoài ra còn những bức miêu tả công lao đánh đuổi ngoại xâm Chiêm Thành nhắc nhở với thần dân rằng họ mang ơn vô vàn đối với vị vua thần đầy nhân ái, kẻ đã xả thân lưu lại trần gian vì lợi ích của muôn dân. Jayavarman VII còn có công xây dựng vô số bệnh viện khắp đất nước Campuchia. Cố nhiên những công trình vĩ đại được xây dựng vào thời gian này đã làm cho nhân lực và vật lực trong nước bị khánh kiệt, thuế má và sưu dịch ngày càng đè nặng lên đầu nhân dân, làm cho quần chúng lao động vô cùng cơ cực và oán than. Nhiều cuộc bạo động và khởi nghĩa của quần chúng đã nổ ra, nhưng ngoài một số phong trào đấu tranh được ghi chép lại một cách vắn tắt và mơ hồ trong một số rất ít ỏi tài liệu văn bia, chúng ta không có thêm nguồn tài liệu nào khác nữa. Dẫu sao thì những công trình kiến trúc đồ sộ và vô cùng tốn kém đó cũng nói lên được sức sáng tạo của những người Khmer thời cổ. Dưới đời vua Jayavarman VII, sức sáng tạo đó rõ nét nhất qua việc xây dựng khu chùa Banteay Chmar, một trong những ngôi chùa đẹp nhất của Campuchia. Theo ước tính của G. Groslier trong cuốn "Angkor - Người và đá" "chỉ riêng việc xây dựng ngôi chùa cũng đòi hỏi bốn vạn bốn nghìn công nhân làm việc trong tám năm, mỗi ngày làm mười giờ. Còn như việc trang trí cho ngôi chủa thì cũng cần đến một nghìn thợ điêu khắc làm việc suốt trong hai mươi năm".5 Nhiều đền chùa khác được xây dựng ở các tỉnh xa xôi: đền Wat Norko ở Kompong Cham, đền Ta Prom ở Bati và rất nhiều đền khác tại Lopburi, Ratburi, Phetchaburi, Muong S, tập trung nhiều nhất pở kinh thành Angkor Thom và vùng phụ cận. Đó là một kinh thành với những bức tường thành dài 12 km, những hào sâu bao bọc, những cổng lớn hướng về bốn phương trời và đền Bayon ở trung tâm; đó là đền Banteay Kdei, đền Ta Prhom, đền Neak Pean, đền Preah Khan, được coi là những viên ngọc của nghệ thuật kiến trúc Khmer. Ở đây người ta không thờ vua-thần với những tượng linga bằng vàng như dưới các đời vua trước, mà người ta thờ pho tượng Jayavarman VII khổng lồ bằng đá dưới dạng Quan Âm Bồ Tát. Phía Đông Angkor Thom còn có các đền Banteay Kdei bên cạnh hồ Sras Srang, đền Ta Prom thờ tượng bà hoàng thái hậu, tượng vị cao tăng thầy học của nhà vua cùng với trên 260 pho tượng khác. Ở phía bắc Angkor Thom có đền Prei Khan thờ tượng vua chúa, trong đó người ta tìm thấy bia đã nói trên đây tường thuật lại buổi lễ đang quang cũng như những công trình xây dựng đường sá và bệnh viện của nhà vua. Ngôi đền có thể do may mắn và do một phần chính do sự may mắn của lịch sử. Chính khuôn mặt từ bi của những bức tượng thần bốn mặt đó mà các vị vua sau theo Ấn Độ giáo đã tưởng lầm là khuôn mặt của thần Shiva nên tiếp tục hoàn thiện nó mà không đập bỏ. Khác với những công trình khác có sự đấu tranh về tôn giáo, vị vua trước theo Phật giáo, các vị vua sau theo Ấn Độ giáo sẽ đập bỏ toàn bộ các công trình xây dựng trước đó, và khi các vị vua sau theo Phật giáo sẽ làm việc tương tự và theo quy trình đó, toàn bộ các công trình trong quần thể Angkor Thom hoàn toàn không nguyên vẹn mà có sự đấu tranh tôn giáo gay gắt. Một trong những ngôi đền tiêu biểu cho sự đấu tranh tôn giáo gay gắt nhất là Ta Prohm. Bayon lại may mắn hơn khi khuôn mặt Bồ Tát bốn mặt bị lầm tưởng là thần Shiva nên nó vẫn tồn tại khá nguyên vẹn đến tận ngày nay, dù bị đổ nát do chiến tranh và thời gian. Di tích này hiện nay đang bị đe doạ nghiêm trọng bởi nó là một trong những di tích thu hút du khách. Hiện nay Nhật Bản đã giúp Campuchia khôi phục di tích này.Phần phía bức tường có bức tranh sử thi được trùng tu trước vì sức phá hoại của thiên nhiên đến với các bức tranh này đang diễn ra nhanh chóng. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Viêm ruột hoại tử Viêm ruột hoại tử ("NEC: Necrotizing EnteroColitis") là một cấp cứu nội khoa và ngoại khoa đường tiêu hóa thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh đẻ non. Với tỉ lệ tử vong có thể lên đến 50% ở những trẻ có cân nặng thấp hơn 1500 gram, viêm ruột hoại tử là một bệnh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong sơ sinh học. Rất thường gặp ở trẻ sơ sinh đẻ non nhưng viêm ruột hoại tử không phải không gặp ở trẻ sơ sinh đủ tháng. Mặc dù có những nghiên cứu sâu rộng trong hơn ba thập niên qua, nguyên nhân của viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh đến nay vẫn chưa được biết chính xác. Nguyên nhân có thể. Nhiều yếu tố như thiếu máu cục bộ đường tiêu hóa và/hoặc tổn thương tái tưới máu ("reperfusion lesion"), yếu tố nhiễm trùng. br Có bằng chứng về sự phát tán vi khuẩn vào máu ("translocation of intestinal flora") gây nên triệu chứng toàn thể.br Biểu hiện ban đầu không đặc hiệu. Biểu hiện về sau nằm trong bối cảnh bệnh nặng giống nhiễm trùng và hội chứng đáp ứng viêm hệ thống ("SIRS: Systemic Inflammatory Response Syndrome"). Gặp ở trẻ sơ sinh đẻ non và nhất là cực Trẻ đủ tháng có thể bị viêm ruột hoại tử trong các trường hợp như: ngạt chu sinh, suy hô hấp, bệnh tim bẩm sinh, bất thường chuyển hóa, hoặc có quá trình phát triển bào thai bất thườ Ở sinh đẻ non, tần suất mắc bệnh tùy thuộc tuổi thai. Trẻ càng sinh non và càng nhẹ cân thì nguy cơ xuất hiện bệnh viêm ruột hoại tử càng cao. br Thông thường bệnh xuất hiện khi trẻ đang được cho ăn qua đường miệng với tiến triển tốt. Biểu hiện ban đầu hay gặp nhất là sự kém dung nạp thức ăn, trẻ "khác thường". Tuy nhiên đôi khi bệnh cũng khởi phát rầm rộ, đột ngột bằng dấu hiệu suy sụp tuần hoàn. br Lâm sàng gồm triệu chứng tiêu hóa và toàn thân nặng:br Triệu chứng tiêu hóa: 2. Đi ngoài phân đen 3, Có thể có vàng da Triệu chứng toàn thân: 2. Trẻ bỏ bú 4. Trong trường hợp bệnh nặng có thể có xuất huyết dưới da Chẩn đoán hình ảnh. Chẩn đoán vẫn chủ yếu là chụp X quang bụng: tư thế chụp trước sau và chụp nghiêng trái (bên trái phía dưới). Có thể chụp theo dõi mỗi 6 giờ nếu nghi ngờ. Xử trí theo phân độ Bell. Bell giai đoạn I. Bell giai đoạn II. Đây là giai đoạn bệnh đã biểu hiện rõ ràng trên lâm sàng, xét nghiệm cũng như chẩn đoán hình ảnhbr Bell giai đoạn III. Biểu hiện NEC tiến triển với các dấu hiệu toàn thân nặng có khả năng diễn tiến đến khả năng can thiệp phẫu thuật. Nên đặt tĩnh mạch trung tâm để nuôi dưỡng tối ưu hơn. Cho ăn trở lại sau 14 ngày kể từ khi xquang biònh thường ở trẻ không phẫu thuật. ở trẻ phải phẫu thuật thì thời gian này còn dài hơn.
Mực nước biển trung bình (tiếng Anh: "Mean sea level", viết tắt MSL), thường gọi tắt là mực nước biển (sea level), là mức trung bình của bề mặt của một hoặc nhiều đại dương của Trái Đất, nhằm xác định ra độ cao bằng 0 và từ đó có thể đo được độ cao của điểm trên Trái Đất . Phép dựng mô hình Trái Đất dẫn đến bề mặt Trái Đất được quy về một ellipsoid, gọi là ellipsoid quy chiếu, tượng trưng cho độ cao của biển và được dùng để lấy mốc về độ cao của vật thể trên Trái Đất. Các vật nằm trên bề mặt này được quy ước có "độ cao bằng 0 so với mực nước biển". Nó là một khái niệm được thống nhất về lý thuyết, nhưng từng nước lại quy định trong tiêu chuẩn quốc gia của mình cách lấy mốc khác nhau. Đây là mực nước trung bình cân đối tính trong toàn năm của một vùng biển được nhắm chọn theo quy định trong tiêu chuẩn quốc gia của mỗi nước và có độ cao quy ước là "0 mét". Ví dụ: "Mực nước biển" theo tiêu chuẩn quốc gia của Ba Lan là hình ellipsoid đi qua mực nước trung bình trong toàn năm của biển Baltic, tính cho vịnh Kronstadt (thuộc Liên bang Nga). Khái niệm mực nước biển cũng được mở rộng ra thành khái niệm hình ellipsoid chuẩn cho các hành tinh, dùng để lấy mốc độ cao cho các vật thể trên bề mặt các hành tinh. Nó có thể được định nghĩa dựa vào thể tích bằng thể tích phần đất đá cứng của hành tinh và/hoặc các bán trục lớn phù hợp với khoảng cách trung bình của cực và các điểm trên xích đạo tới tâm hành tinh. Ví dụ, với Sao Hỏa, "mực nước biển" là hình ellipsoid với các bán trục lớn "a" = 3394,6 km, "b" = 3393,3 km và "c" = 3376,3 km.
"Bài này viết về thành phố Roma. "Rome" được chuyển hướng đến đây. Với những mục đích tìm kiếm khác, vui lòng xem La Mã (định hướng)." Roma (tiếng Latinh và tiếng Ý: "Roma" [ˈroːma]#đổi ; còn phổ biến với tên gọi Rome trong tiếng Anh và tiếng Pháp hay La Mã theo phiên âm Hán Việt) là thủ đô của nước Ý và là một đô thị cấp huyện ("comune") loại đặc biệt (có tên đầy đủ là "Comune di Roma Capitale" – nghĩa là "Thành phố Roma Thủ đô"), đồng thời đóng vai trò là thủ phủ vùng Lazio trung tâm của quốc gia này. Roma là thành phố lớn nhất và đông dân thứ hai ở Ý (chỉ sau thành phố Napoli) với hơn 2,87 triệu cư dân trong phạm vi 1.285,3 km². Đây là thủ đô đông dân thứ ba của Liên minh châu Âu, sau Berlin và Madrid, tính theo số dân sinh sống bên trong phạm vi thành phố. Roma cũng đồng thời là nòng cốt của Thành phố đô thị Roma Thủ đô với hơn 4,3 triệu cư dân, do đó là thành phố đô thị đông dân nhất của nước Ý. Được xây dựng trên địa thế đặc biệt của bảy ngọn đồi, Roma tọa lạc theo hạ lưu dòng Tiber gần nơi cửa sông đổ ra Địa Trung Hải thuộc Trung Tây của bán đảo Ý, khu vực Latium lịch sử. Thành quốc Vatican, quốc gia nhỏ nhất thế giới, là một đất nước độc lập nằm trong lòng Roma, đây là ví dụ duy nhất về một quốc gia nằm trọn vẹn bên trong lãnh thổ của một thành phố; cũng vì lý do này mà Roma thường được xem là thủ đô lưỡng quốc. Lịch sử Roma trải dài 28 thế kỷ. Mặc dù thần thoại La Mã đặt mốc thời gian thành lập Roma vào khoảng năm 753 TCN, tuy nhiên thành phố đã có mặt cư dân sinh sống lâu hơn thế, khiến nó trở thành một trong những khu định cư lâu đời nhất có con người vẫn đang tiếp tục sinh sống tại châu Âu. Là cái nôi thứ hai của nền văn minh phương Tây sau Athens với cư dân ban đầu có nguồn gốc hỗn hợp từ người Latinh, Etrusca và Sabine, thành phố sau đó trở thành thủ đô của Vương quốc La Mã, Cộng hòa La Mã và Đế quốc La Mã. Trong thời kỳ này với câu thành ngữ nổi tiếng "Mọi con đường đều dẫn đến La Mã", quyền lực của Roma phủ khắp phần lớn châu Âu, Bắc Phi và vươn đến Trung Đông, thống trị cả về quân sự lẫn văn hóa, là đầu não của một trong những nền văn minh vĩ đại nhất lịch sử, có ảnh hưởng toàn diện và sâu rộng đến xã hội, ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, quy hoạch đô thị, kỹ thuật dân dụng, triết học, tôn giáo, luật pháp và phong tục xuyên suốt trong nhiều thế kỷ tiếp theo. Thành phố lúc bấy giờ là nơi cư ngụ của từ một đến hai triệu dân của thế giới cổ đại, khiến nó trở thành đô thị triệu dân đầu tiên của thế giới cũng như được nhận định là đại đô thị kiểu mẫu trung tâm đầu tiên của nhân loại. Roma ban đầu được gọi là "Thành phố vĩnh hằng" (tiếng Latinh: "Urbs Aeterna") bởi thi hào Tibullus người La Mã trong thế kỷ thứ nhất TCN và ý tưởng đó đã được Ovidius, Vergilius và Livius tiếp nối. Thành phố còn nổi tiếng với danh hiệu "Caput Mundi" trong tiếng Latinh có nghĩa là "Kinh đô thế giới". Được mở rộng đáng kể bởi các công trình vĩ đại dưới thời Julius Caesar và đặc biệt là ở thời Hoàng đế Augustus, thành phố đã bị phá hủy nặng nề một phần trong trận Đại hỏa hoạn thành Roma năm 62 và sau đó đạt đến đỉnh cao phát triển kiến trúc đô thị vào khoảng năm 320. Theo sau sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã đánh dấu khởi đầu của Đêm trường Trung Cổ, Roma dần rơi vào sự thống trị của chế độ giáo hoàng (đã xuất hiện tại thành phố kể từ thế kỷ 1) và chính thức thế kỷ 8 trở thành thủ đô của Vương quốc Giáo hoàng tồn tại cho đến năm 1870. Bắt đầu từ thời kỳ Phục Hưng, hầu như tất cả các giáo hoàng từ Nicôla V (1447–1455) trở đi đều chủ trương theo đuổi tiến trình mang tính kiến trúc và đô thị hóa liên tục suốt 400 năm nhằm mục đích biến thành phố trở thành trung tâm nghệ thuật và văn hóa của thế giới. Do vậy, Roma trở thành trung tâm lớn của nền Phục Hưng Ý, đưa phong trào nghệ thuật này đạt đến đỉnh cao hoàng kim của nó, còn gọi là giai đoạn Thượng Phục Hưng, và sau đó trở thành nơi khai sinh của trường phái Baroque và chủ nghĩa Tân cổ điển. Những vĩ nhân kiệt xuất như Michelangelo, Raffaello hay Bernini cùng các đại nghệ sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc và kiến trúc sư nổi tiếng đã biến Roma trở thành trung tâm hoạt động của họ, tạo ra những kiệt tác ngoạn mục khắp toàn thành phố, tiêu biểu nhất có thể kể đến như Đại vương cung thánh đường Thánh Phêrô, Nhà nguyện Sistina, Dãy phòng Raffaello, Quảng trường đồi Capitolinus hay Đài phun nước Trevi. Trong thế kỷ 19, Roma là biểu tượng của tinh thần thống nhất nước Ý và năm 1871 chính thức trở thành thủ đô của Vương quốc Ý mới sinh và sau đó là nền Cộng hòa Ý từ năm 1946 cho đến ngày nay. Roma mang đẳng cấp của một thành phố toàn cầu, và thường xuyên được xướng danh trong top những thành phố đẹp nhất thế giới. Trong năm 2017, Roma xếp thứ 12 trong số những thành phố được viếng thăm nhiều nhất thế giới, đứng thứ 3 tại châu Âu và là điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng nhất tại Ý. Ở vai trò là ngai trụ xứ của Giáo hoàng cũng như thánh đô của Giáo hội Công giáo hoàn vũ, công cuộc hành hương đến Roma đã khiến cho thành phố trở thành địa điểm quan trọng bậc nhất đối với những người theo đạo Kitô trên khắp thế giới trong nhiều thế kỷ. Khu trung tâm lịch sử của Roma được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Bảo tàng Vatican nổi tiếng nằm trong số những bảo tàng được viếng thăm nhiều nhất thế giới và Đấu trường La Mã trở thành điểm thu hút khách du lịch phổ biến nhất thế giới với 7,4 triệu lượt khách trong năm 2018. Bên cạnh du lịch, nền kinh tế của thành phố cũng được định hướng theo hướng công nghệ mới, viễn thông và truyền thông đa phương tiện kể từ những năm 2000 trở lại đây. Roma được xem là một trong những danh thắng khảo cổ học lớn nhất và quan trọng nhất trên thế giới, thành phố cũng sở hữu nhiều cây cầu lịch sử và đài phun nước, hơn 900 nhà thờ, cũng như số lượng đồ sộ các viện bảo tàng đẳng cấp và nhiều trường đại học và trung tâm học thuật danh tiếng. Thủ đô của Ý là nơi đăng cai Thế vận hội Mùa hè 1960. Đây cũng là nơi thành lập nên Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (EAEC), bên cạnh đó còn là trụ sở của các cơ quan chuyên môn thuộc Liên Hợp Quốc như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) và Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD). Thành phố cũng là nơi đặt văn phòng Tổng thư ký Hội đồng Nghị viện Liên minh Địa Trung Hải (UfM) cũng như trụ sở của nhiều tập đoàn kinh doanh quốc tế như Eni, Enel, TIM, Leonardo S.p.A., và các ngân hàng nhà nước và quốc tế như UniCredit và BNL. Khu vực quận kinh tế và trung tâm thương mại của thành phố được gọi là EUR, là cơ sở của nhiều công ty quan trọng tham gia vào các ngành công nghiệp dầu mỏ, công nghiệp dược phẩm và dịch vụ tài chính. Roma cũng là một trung tâm thiết kế và thời trang quan trọng nhờ các thương hiệu quốc tế nổi tiếng có trụ sở tại thành phố, và đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng các kinh đô thời trang của thế giới trong những năm gần đây. Phim trường Cinecittà của Roma là phim trường lớn nhất tại châu Âu, đã trở thành nơi bấm máy của rất nhiều bộ phim đoạt giải Oscar. /Theo huyền sử sáng lập của người La Mã cổ đại, cái tên Roma được tin là bắt nguồn từ tên của người sáng lập và vị vua đầu tiên của thành phố, Romulus. Tuy nhiên, nhiều khả năng cái tên Romulus mới thực sự bắt nguồn từ Roma. Ngay từ đầu thế kỷ thứ 4 CN, người ta đã có nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của địa danh Roma. Một số giả thuyết dựa vào ngôn ngữ học, tuy nhiên vẫn chưa thực sự chắc chắn: Tên gọi "La Mã" là phiên âm Hán-Việt của hai chữ "羅馬/罗马", được người Trung Quốc dùng để ký âm cho tên "Roma" (bính âm: "Luómǎ"). Trong tiếng Việt, tên gọi này hiện chủ yếu được sử dụng trong các văn cảnh lịch sử có liên quan đến Đế quốc La Mã cũng như nền văn minh La Mã thời cổ đại. Cái tên Roma có thể viết ngược lại thành "Amor", nghĩa là tình yêu, do đó Roma cũng được xem là "Thành phố của tình yêu". Tên Roma cũng là nguồn gốc của từ "romance" và "romantic" trong tiếng Anh (cũng như từ vựng tương đương trong các ngôn ngữ thuộc nhóm Roman), bắt nguồn từ chữ "romanice" trong tiếng Latinh thông tục và tiếng Latinh Trung Cổ, có nghĩa là "theo kiểu những người Roma". Hai chữ Hán "浪漫" (Hán Việt: "lãng mạn") có nghĩa gốc là "sự buông thả, tùy thích", về sau được mượn dùng để phiên âm cho từ tiếng Anh này, tạo ra một nghĩa mới là "sự lãng mạn" theo cách hiểu hiện đại. Bên cạnh "Thành phố vĩnh hằng", Roma rất nổi tiếng với tên gọi "Kinh đô thế giới" trong lịch sử, đầy đủ là "Roma kinh đô thế giới" (tiếng Latinh: "Roma Caput Mundi"), bởi quyền lực của Đế quốc La Mã thời cổ đại, và về sau là trung tâm của Kitô giáo. Những biệt danh nổi tiếng khác của Roma bao gồm: "Thành phố Bảy ngọn đồi" ("Urbs Septicollis") bắt nguồn từ vị trí địa lý nơi mà thành Roma cổ đại được hình thành, "Ngai của các vị Thánh" ("Limina Apostolorum") bởi vai trò của Thánh Phêrô và Thánh Phaolô trong buổi đầu của Giáo hội và Roma cũng là nơi mà họ tử đạo và được chôn cất. Liên kết lịch sử Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. [[Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển]] [[Người Latinh|Bộ tộc Latinh]] khoảng thiên niên kỷ thứ hai – 753 TCN Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. [[Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển]] Tộc người Alba thế kỷ 10 – 753 TCNbr (Thành lập thành phố) thế kỷ 9 TCNbr Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. [[Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển]] [[Cộng hoà La Mã]] 509–27 TCNbr Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. [[Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển]] [[Đế quốc Tây La Mã]] 285–476 br Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. [[Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển]] [[Đế quốc Đông La Mã]] 553–754 br Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. [[Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển]] Cộng hoà Ý 1946–naybr Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. [[Tập tin:Map_of_ancient_R|thumb|300px|right|Thành phố sơ khởi được hình thành từ [[Bảy ngọn đồi La Mã]] bao quanh bởi [[tường thành Servius]] (màu xanh) được xây dựng vào đầy thế kỷ 4 TCN. [[Tường thành Aurelianus]] (màu đỏ) được xây dựng vào thế kỷ thứ 3, đồ sộ và kiên cố hơn.]] Lịch sử sơ khởi. Có những bằng chứng khảo cổ về việc loài người sống tại khu vực Roma từ khoảng 14.000 năm trước, song lớp đất dày đặc gồm các mảnh vụn có niên đại muộn hơn nhiều đã che lấp các di chỉ đồ đá cũ và đồ đá mới. Bằng chứng về các công cụ bằng đá, đồ gốm và vũ khí bằng đá chứng thực con người hiện diện khoảng 10.000 năm. Một vài cuộc khai quật ủng hộ cho quan điểm rằng Roma phát triển từ các khu định cư chăn thả gia súc trên [[đồi Palatinus]] nằm bên trên khu vực [[Công trường La Mã]] sau này. Từ cuối [[thời đại đồ đồng]] cho đến khi bắt đầu [[thời đại đồ sắt]], mỗi ngọn đồi giữa biển và đồi Capitolinus có một ngôi làng ở trên đỉnh (tại đồi Capitolinus có một ngôi làng được chứng thực có từ cuối thế kỷ 14 TCN). Tuy nhiên, chúng đều chưa đạt tới hạng đô thị. Ngày nay, nhiều người thống nhất rằng thành phố đã dần phát triển thông qua việc tập hợp một vài làng xung quanh ngôi làng lớn nhất nằm trên đồi Palatinus. Quá trình tập hợp được thuận lợi nhờ gia tăng sức sản xuất nông nghiệp vượt trên mức tự cung tự cấp, đồng thời cho phép hình thành các hoạt động thuộc khu vực kinh tế [[Khu vực hai của nền kinh tế|thứ nhì]] và [[Khu vực ba của nền kinh tế|thứ ba]]. Điều này lại kéo theo đẩy nhanh phát triển mậu dịch với các thuộc địa của người Hy Lạp tại [[Nam Ý|miền nam Ý]] (chủ yếu là [[Ischia]] và [[Cumae]]). Những bước phát triển này theo chứng cứ khảo cổ học thì diễn ra vào giữa thế kỷ 8 TCN, có thể được xem là mốc "khai sinh" thành phố. Từ những cuộc khảo cổ gần đây trên đồi Palatinus, quan điểm cho rằng Roma được thành lập vào giữa thế kỷ 7 TCN, theo truyền thuyết về [[Romulus và Remus|Romulus]], chỉ được xem là một giả thuyết ngoài lề.#đổi [[Bản mẫu:Bản đồ định vị OSM]] Truyền thuyết sự thành lập Roma. Các câu chuyện truyền thống do người [[La Mã cổ đại]] truyền đời cho nhau giải thích lịch sử sơ khởi của thành phố bằng truyền thuyết và thần thoại. Thần thoại quen thuộc nhất trong số đó và có lẽ cũng là nổi tiếng nhất trong tất cả [[thần thoại La Mã]], đó là câu chuyện về [[Romulus và Remus]], hai anh em sinh đôi được một con sói cho bú. Họ quyết định xây dựng một thành phố, song sau một lần tranh luận, [[Romulus]] giết người em song sinh và đặt thành phố theo tên mình. Theo những người chép sử La Mã, sự kiện này diễn ra vào 21 tháng 4 năm 753 TCN. Truyền thuyết này hoà hợp với một truyền thuyết song hành được tạo ra từ trước đó, rằng có một [[Chiến tranh thành Troia|người tị nạn thành Troia]] tên là [[Aeneas]] đào thoát sang Ý và lập ra dòng dõi La Mã thông qua con trai ông là [[Ascanius|Iulus]], trùng tên với [[nhà Julius-Claudius|triều đại Julius-Claudius]]. Điều này đã được nhà thơ La Mã [[Vergilius]] viết lại vào thế kỷ thứ nhất TCN. Ngoài ra, [[Strabo]] đề cập rằng còn có một câu chuyện cũ hơn rằng thành phố là thuộc địa của Arcadia và được thành lập bởi Euandros. Strabo cũng ghi lại Lucius Coelius Antipater tin rằng Roma được thành lập bởi người Hy Lạp. [[Dionysius of Halicarnassus|Dionysius xứ Halicarnassus]] viết rằng những người đến vùng đất mà sau này là thành Roma là những người thổ dân đầu tiên đến từ [[Arcadia]], họ đã đuổi những người Sicilia ra khỏi nơi đó, và tiếp đến là người Pelasgos đến từ [[Thessalía]], thứ ba là những người đến Ý cùng Euandros từ thành Pallantium ở Arcadia, sau họ là những người Epeius từ [[Elis]] và người Pheneus, một phần của quân đội do [[Heracles]] chỉ huy đã quyết định ở lại đó trong khi đang trở về từ đoàn thám hiểm ở Erytheia, nơi quân thành Troia giao chiến và còn sót lại cuối cùng, những binh lính Troia sau đó đã trốn thoát cùng Aeneas từ Ilium, Dardanus và các thành phố thuộc Troia khác. Dionysius đề cập rằng quân Troia, cũng là người Hy Lạp có nguồn gốc từ [[Peloponnesos]]. Ông cũng nói thêm rằng ngay cả người La Mã cũng khẳng định thành cổ Pallantium của người La Mã được thành lập bởi người Hy Lạp đến từ Pallantium của Arcadia, khoảng sáu mươi năm trước cuộc chiến thành Troia và người dẫn đầu là Euandros. Sau đó vào thế hệ thứ mười sáu sau cuộc chiến thành Troia, người Alba đã hợp nhất tất cả những nơi này thành một khu định cư, bao quanh họ bằng một bức tường và một con mương. Người Alba là một quốc gia hỗn hợp gồm tất cả những người trên. Dionysius cũng cho biết thêm có thể là quân man rợ trong số những người hàng xóm hoặc tàn dư những cư dân cổ xưa của nơi này được trộn lẫn với người Hy Lạp. Nhưng tất cả những người này đã mất bản sắc dân tộc, được gọi bằng một tên chung, Latin, đặt tên theo Latinus, là vua của đất nước. Lãnh đạo vùng thuộc địa là hai anh em song sinh Romulus và Remus. Thời quân chủ, cộng hoà và đế quốc. Năm 509 TCN, người La Mã trục xuất vị quốc vương cuối cùng khỏi thành phố và lập ra một nền [[cộng hoà]] [[chế độ quyền lực tập trung|tập trung]]. La Mã sau đó bắt đầu một giai đoạn có đặc điểm là đấu tranh nội bộ giữa [[Quý tộc (La Mã cổ đại)|quý tộc]] và [[bình dân (La Mã cổ đại)|bình dân]], và chiến tranh liên miên chống lại các cộng đồng tại [[Trung Ý|miền trung Ý]]: Etrusca, Latinh, [[Volsci]], [[Aequi]], [[Marsi]]. Sau khi trở thành chủ nhân của khu vực [[Latium]], La Mã dẫn đầu một số cuộc chiến tranh với kết quả là chinh phục [[bán đảo Ý]] từ khu vực miền trung đến [[Magna Graecia]]. Trong thế kỷ 3 và 2 TCN, La Mã thiết lập quyền bá chủ trên [[Địa Trung Hải]] và bờ Đông, thông qua ba cuộc [[chiến tranh Punic]] (264–146 TCN) chống lại thành [[Carthago]] và ba cuộc chiến tranh [[chiến tranh Macedonia]] (212–168 TCN) chống lại [[Vương quốc Macedonia|Macedonia]]. Sau đó thành lập nên những [[tỉnh của La Mã|tỉnh thuộc La Mã]] đầu tiên: [[Sicilia]], [[Sardegna|Sardinia]] và [[Corse|Corsica]], [[Hispania]], [[Macedonia (Hy Lạp)|Macedonia]], Achaea và Châu Phi. [[Tập tin:Vincenzo_Camuccini_-_La_morte_di_C|thumb|right|250px|"Cái chết của Caesar" của Vincenzo Camuccini, Phòng tranh quốc gia về Nghệ thuật hiện đại và đương đại, Roma.]] Từ khi bắt đầu thế kỷ 2 TCN, quyền lực là mục tiêu tranh chấp giữa hai nhóm thống trị: phái quý tộc đại diện cho bộ phận bảo thủ trong [[Viện nguyên lão La Mã|Viện nguyên lão]], và phái bình dân dựa vào sự ủng hộ của tầng lớp thường dân. Trong cùng giai đoạn, việc tiểu nông bị phá sản và sự thành lập các điền trang nô lệ lớn đã khuyến khích một lượng lớn dân chúng di cư đến thành phố. Chiến tranh liên miên tạo tính cần thiết cho một đội quân chuyên nghiệp, họ trung thành với tướng lĩnh của mình hơn là với nền cộng hoà. Do đó, vào nửa cuối của thế kỷ 2 và thế kỷ 1 TCN diễn ra xung đột cả ở bên ngoài lẫn bên trong. Sau nỗ lực thất bại nhằm cải cách xã hội của [[Tiberius Gracchus|Tiberius]] và [[Gaius Gracchus]] thuộc phái bình dân, và chiến tranh chống lại [[Jugurtha]], phát sinh cuộc nội chiến đầu tiên giữa [[Gaius Marius]] và [[Lucius Cornelius Sulla|Sulla]]. Theo sau là một cuộc [[Chiến tranh nô lệ lần ba|khởi nghĩa nô lệ]] quy mô lớn dưới quyền [[Spartacus]], và sau đó là thành lập [[Chế độ tam hùng lần thứ nhất|Liên minh tam hùng thứ nhất]] với [[Julius Caesar|Caesar]], [[Pompey]] và [[Marcus Licinius Crassus|Crassus]]. [[Tập tin:RomanEmpire |thumb|250px|left|Đế quốc La Mã bành trướng cực đại dưới thời của Hoàng đế [[Traianus]] đã kiểm soát khoảng 6,5 triệu km² bề mặt đất liền.]] Cuộc chinh phục [[Gallia]] khiến Caesar trở nên vô cùng mạnh mẽ và được lòng dân, dẫn tới [[Nội chiến Caesar|cuộc nội chiến thứ nhì]] chống lại Viện nguyên lão và Pompey. Sau khi giành thắng lợi, Caesar tự lập bản thân làm độc tài trọn đời. Việc ông bị ám sát dẫn đến [[Chế độ tam hùng lần thứ hai|Liên minh tam hùng thứ hai]] gồm [[Augustus|Octavius]] (cháu họ và người thừa kế của Caesar), [[Marcus Antonius]] và [[Marcus Aemilius Lepidus|Lepidus]], và [[Cuộc chiến cuối cùng của Cộng hòa La Mã|một cuộc nội chiến khác]] giữa Octavius và Antonius. Octavius đến năm 27 TCN trở thành "princeps civitatis" và lấy hiệu là [[Augustus]], lập ra chính thể nguyên thủ, một nền chính trị lưỡng đầu giữa nguyên thủ và viện nguyên lão. La Mã trở thành một đế quốc trên thực tế, đạt đến mức độ bành trướng tối đa vào thế kỷ 2 dưới quyền hoàng đế [[Traianus]]. Thành Roma là '[[Caput Mundi]]', tức kinh đô của thế giới, một khái niệm đã có từ thời cộng hòa. Trong hai thế kỷ đầu tiên, đế quốc có quân chủ thuộc nhà Julius-Claudius, nhà Flavius (triều đại cho xây dựng khán đài hình vòng khổng lồ, được biết với tên gọi [[Colosseum]] hay [[Đấu trường La Mã]]) và nhà Antoninus. Thời kỳ này còn có đặc điểm là sự truyền bá [[Kitô giáo]], do [[Giêsu]] thuyết giảng tại [[Judea]] vào nửa đầu thế kỷ 1 (thời [[Tiberius]]) và được các tông đồ của ông truyền bá khắp đế quốc và bên ngoài. Thời kỳ triều đại nhà Antoninus được xem là thời cực thịnh của đế quốc, với lãnh thổ trải dài từ [[Đại Tây Dương]] đến [[Euphrates]] và từ [[Anh]] đến [[Ai Cập]]. Sau khi kết thúc triều đại Severus vào năm 235, đế quốc La Mã bước vào một giai đoạn 50 năm mang tên [[Khủng hoảng thế kỷ thứ ba]], khi đó diễn ra nhiều cuộc nổi dậy của các tướng lĩnh muốn chiếm giữ những khu vực mà họ đã được giao phó do sự yếu kém của chính quyền trung ương tại Roma. Tồn tại đế chế Gallia tự xưng từ 260-274 và các cuộc nổi dậy của [[Zenobia]] và cha của bà từ giữa những năm 260, người đang tìm cách chống đỡ các cuộc xâm lược của Ba Tư. Một số khu vực như Anh, Tây Ban Nha và Bắc Phi hầu như rất khó gây ảnh hưởng đến. Bất ổn gây ra suy thoái kinh tế, lạm phát tăng nhanh chóng do chính quyền hạ mức giá trị tiền tệ nhằm đáp ứng chi tiêu. [[Các dân tộc German|Các bộ lạc German]] dọc sông [[Rhine]] và phía bắc Balkan tiến hành các cuộc xâm nhập từ thập niên 250-280. [[Nhà Sassanid|Đế quốc Ba Tư]] xâm chiếm vài lần trong thập niên 230 đến 260, song cuối cùng bị đánh bại. Vào năm 284, hoàng đế [[Diocletianus]] đảm nhận việc khôi phục đế quốc. Ông đặt dấu chấm hết cho cái gọi là "princeps" (nguyên thủ) và giới thiệu danh hiệu mới là "dominate" (chúa tể) để tạo ấn tượng về quyền uy tối thượng. Đặc điểm nổi bật nhất là sự can thiệp chưa từng có của quốc gia xuống cấp thành phố: trong khi quốc gia trước đây thường đệ trình yêu cầu thuế đối với một thành phố và cho phép nó phân bổ các khoản phí, thì kể từ triều đại của Diocletianus, quốc gia đã thực hiện điều này xuống tận cấp thôn làng. Trong một nỗ lực vô ích nhằm kiểm soát lạm phát, ông đã áp đặt các biện pháp kiểm soát giá nhưng chúng không thể kéo dài được lâu. Ông hoặc [[Constantinus Đại đế|Constantinus]] đã địa phương hóa hệ thống hành chính của đế quốc, điều này đã làm thay đổi căn bản cách điều hành quốc gia bằng cách tạo ra các giáo phận khu vực. Sự tồn tại của các đơn vị tài chính khu vực từ năm 286 đóng vai trò như một mô hình cho sự đổi mới chưa từng có này. Do đó, chính quyền dân sự và chỉ huy quân sự sẽ được tách biệt. Diocletianus giao cho các tổng đốc nhiều nhiệm vụ tài khóa hơn và đặt họ vào phụ trách hệ thống hỗ trợ hậu cần của quân đội với nỗ lực kiểm soát nó bằng cách loại bỏ hệ thống hỗ trợ khỏi sự kiểm soát của nó. Diocletianus đã tạo ra một hệ thống "[[Tứ đầu chế]]" ("Tetrarchia") trong đó mỗi hoàng đế cai quản một góc phần tư lãnh thổ của đế quốc, ông là "[[Augustus (danh hiệu)|Augustus]]" cai quản nửa phía đông và cư ngụ tại [[Nicomedia]]. Năm 286, ông đưa [[Maximianus]] lên thành "Augustus phía tây" cai quản phần lớn lãnh thổ Mediolanum ([[Milano]] ngày nay) mà ông đã cai trị trước đó. Tiếp theo, ông đặt ra hai hoàng đế 'cấp dưới' hay "nhị [[Caesar (danh hiệu)|Caesar]]", một cho mỗi Augustus, trong đó [[Constantius Chlorus]] dưới quyền Maximianus sẽ cai trị Britania (Anh), Gallia (Pháp) và Hispania (Tây Ban Nha) có đầu não quyền lực tại Augusta Treverorum ([[Trier]] ngày nay), và "Caesar phía Đông" [[Galerius]] cai quản vùng [[Balkan]]-[[Danube]] trụ xứ tại thành Srimium, những thành phố này được gọi là thủ đô tứ đầu chế. Mặc dù Roma đã bị lãng quên và không còn là thủ đô hoạt động, nhưng thành phố vẫn tiếp tục là thủ đô danh nghĩa của toàn bộ Đế quốc La Mã, không bị hạ cấp xuống thành [[Tỉnh của La Mã|Tỉnh]] ("Provincia") mà vẫn giữ nguyên vị thế hành chính độc nhất của mình là "Thành phủ" (tiếng Latinh: "Praefectus urbanus"). Việc bổ nhiệm một Caesar không phải là không xác định: Diocletianus đã cố gắng chuyển thành một hệ thống kế vị phi triều đại. Sau khi thoái vị vào năm 305, các Caesar đã tiếp nối và họ lần lượt bổ nhiệm hai đồng nghiệp cho chính mình. [[Tập tin:Raphael_Baptism_C|thumb|250px|right|[[Constantinus Đại đế]] là hoàng đế La Mã đầu tiên cải đạo sang [[Kitô giáo]].]] Sau sự thoái vị của Diocletianus và Maximianus vào năm 305 và một loạt các cuộc nội chiến giữa những người tranh giành quyền lực đế quốc với đối thủ của mình, cho đến khoảng năm 313, chế độ tứ đầu chế đã sụp đổ. [[Constantinus Đại đế]] đã tiến hành một cuộc cải cách lớn về bộ máy quan liêu, không phải bằng cách thay đổi cấu trúc mà bằng cách hợp lý hóa năng lực của một số cơ quan trong những năm 325-330, sau khi ông đánh bại Licinius, hoàng đế ở phía Đông, vào cuối năm 324. [[Sắc lệnh Milano]] năm 313 thực ra là một mảnh thư từ Licinius gửi cho các tổng đốc của các tỉnh phía đông, trao quyền tự do thờ phượng cho mọi người, kể cả cho các Kitô hữu, và ra lệnh khôi phục lại các tài sản của nhà thờ bị tịch thu theo đơn thỉnh cầu của các giáo phận mới được lập ra. Constantinus đã tài trợ cho việc xây dựng một số nhà thờ và cho phép các giáo sĩ đóng vai trò trọng tài trong vụ kiện dân sự (một biện pháp không tồn tại lâu hơn ông nhưng đã được khôi phục một phần sau đó). Ông đã biến trấn Byzantium thành nơi ở mới của mình, tuy nhiên nó không chính thức là nơi cư ngụ hoàng gia như Milan hay Trier hay Nicomedia cho đến khi nó được [[Constantius II]] trao tặng một cái tên mới vào tháng 5 năm 359: [[Constantinopolis]] – "Thành phủ" thứ hai và ngang vị thế hành chính với Roma. Việc tạo ra thành Constantinopolis có ảnh hưởng rất quan trọng đến châu Âu: đó là tuyến phòng thủ chiến lược chống lại sự xâm lăng và chinh phạt từ phương Đông trong khoảng một thiên niên kỷ. [[Kitô giáo]] dưới dạng [[Tín điều Nicea]] trở thành tôn giáo chính thức của đế quốc vào năm 380, được gọi là [[Sắc lệnh Thessalonica]] thông qua nhân danh ba vị hoàng đế [[Gratianus]], [[Valentinianus II]], và [[Theodosius I]], người thực sự thúc đẩy đằng sau sắc lệnh. Ông là hoàng đế cuối cùng của La Mã thống nhất: sau khi ông mất vào năm 395, hai con trai của ông là [[Arcadius]] và [[Honorius (hoàng đế)|Honorius]] phân chia đến quốc thành hai phần [[Đế quốc Tây La Mã|phía tây]] và [[Đế quốc Đông La Mã|phía đông]]. Trụ sở của chính phủ Đế quốc Tây La Mã được chuyển đến [[Ravenna]] sau cuộc vây hãm [[Milano]] vào năm 402. Trong thế kỷ 5, các hoàng đế trong thập niên 430 hầu hết cư trú tại Roma. Roma bị mất vị thế trung tâm trong việc cai quản đế quốc, và bị [[người Visigoth]] dưới quyền [[Alaric I]] cướp phá vào năm 410, song chịu rất ít tổn thất về vật chất, và hầu hết đã được tu sửa. Các giáo hoàng tô điểm cho thành phố bằng các vương cung thánh đường cỡ lớn, như [[Vương cung thánh đường Đức Bà Cả]] (cộng tác với các hoàng đế). Dân số thành Roma giảm từ 800.000 xuống 450-500.000 khi thành phố bị [[người Vandal]] dưới quyền [[Genseric]] cướp phá vào năm 455. Các hoàng đế yếu đuối trong thế kỷ 5 không thể ngăn nổi sự suy tàn, và Đế quốc Tây La Mã chấm dứt vào ngày 22 tháng 8 năm 476 khi [[Romulus Augustus]] bị phế truất, đối với nhiều sử gia đây là mốc khởi đầu [[Trung cổ]]. Sự suy giảm dân số của thành phố đến từ việc mất mát các lô hàng ngũ cốc từ Bắc Phi từ năm 440 trở đi, và sự không sẵn lòng của tầng lớp nguyên lão trong việc duy trì quyên góp để hỗ trợ cho một dân số quá cỡ so với các nguồn lực sẵn có. Mặc dù vậy, những nỗ lực cố gắng đã được thực hiện để duy trì các công trình trung tâm, mái vòm và phòng tắm lớn nhất tiếp tục hoạt động cho đến khi cuộc vây hãm Roma của người Gothic vào năm 537. Các nhà tắm lớn của Constantinus trên [[đồi Quirinalis]] thậm chí đã được sửa chữa vào năm 443 nhưng mức độ thiệt hại vẫn tiếp tục nhân rộng. #đổi [[Bản mẫu:Nhiều hình]] Roma thể hiện tổng thể của sự tồi tệ và suy tàn vì các khu vực bị bỏ hoang lớn do sự suy giảm dân số. Dân số giảm xuống 500.000 vào năm 452 và 100.000 vào năm 500 (có lẽ lớn hơn, mặc dù không có con số nào cụ thể được biết). Sau cuộc vây hãm của người Gothic năm 537, dân số giảm xuống còn 30.000, nhưng đã tăng lên 90.000 vào thời [[Giáo hoàng Grêgôriô I|Giáo hoàng Grêgôriô Cả]]. Sự suy giảm dân số xảy ra đồng thời với sự sụp đổ chung của văn minh đô thị ở phương Tây trong thế kỷ 5 và 6, với một vài ngoại lệ. Phân phối ngũ cốc từ trợ cấp quốc gia trợ cấp cho những người dân nghèo hơn trong xã hội vẫn tiếp tục trong suốt thế kỷ thứ 6 và có lẽ đã khiến dân số không thể giảm thêm nữa. Con số 450.000-500.000 được tính dựa trên số lượng 3.629.000 libra thịt lợn (đơn vị khối lượng La Mã xưa), phân phát cho người dân nghèo Roma trong năm tháng mùa đông với tỷ lệ 5 libra mỗi người mỗi tháng, đủ cho 145.000 người hoặc 1/4 hoặc 1/3 tổng dân số. Ngũ cốc phân phối cho cho 80.000 người có phiếu cùng lúc đã gợi ý 400.000 người (Augustus đặt con số là 200.000 hoặc một phần năm dân số). Giám mục Roma được gọi là [[Giáo hoàng]], và Roma là nơi quan trọng từ thời kỳ đầu của Kitô giáo do hai tông đồ [[Thánh Phêrô|Phêrô]] và [[Sứ đồ Phaolô|Phaolô]] tử đạo tại đây. Các giám mục thành Roma cũng được nhìn nhận là những người kế thừa của Phêrô, người được xem là Giáo hoàng đầu tiên. Thành phố do đó nâng tầm quan trọng với vị thế là trung tâm của [[Kitô giáo]]. Sau khi Đế quốc Tây La Mã sụp đổ vào năm 476, Roma ban đầu nằm dưới quyền kiểm soát của [[Odoacer]] và sau đó là bộ phận của [[Vương quốc Ostrogoth]] trước khi qua tay [[Đế quốc Đông La Mã|Đông La Mã]] sau [[Chiến tranh Gothic (535-554)|Chiến tranh Gothic]] song cuộc chiến này đã tàn phá thành phố. Dân số Roma suy giảm từ hơn một triệu vào năm 210 xuống 500.000 vào năm 273 và còn 35.000 sau Chiến tranh Gothic, làm giảm quy mô thành phố còn một nhóm các toà nhà có người ở nằm rải rác trên một khu vực lớn các tàn tích, thảm thực vật, trang viên nho và vườn chợ. Dân số của thành phố được tin rằng đến năm 300 là 1 triệu (ước tính dao động từ 2 triệu đến 750.000) giảm xuống 750-800.000 vào năm 400, 450-500.000 vào năm 450 và giảm xuống còn 80-100.000 vào năm 500 (mặc dù có thể gấp hai lần con số này). Sau khi [[người Lombard]] xâm chiếm Ý, thành phố vẫn thuộc Đông La Mã trên danh nghĩa, song trong thực tế các giáo hoàng theo đuổi chính sách cân bằng giữa Đông La Mã, [[người Frank]] và người Lombard. Năm 729, quốc vương của người Lombard là [[Liutprand, King of the Lombards|Liutprand]] tặng cho giáo hội thị trấn [[Sutri]] phía bắc Latium, khởi đầu quyền lực lâm thời của giáo hội. Năm 756, sau khi đánh bại người Lombard, [[Pépin Lùn]] giao cho Giáo hoàng quyền hạn tạm thời đối với Công quốc Roma và Khu trấn thủ giáo Ravenna, qua đó lập nên [[Lãnh thổ Giáo hoàng|Vương quốc Giáo hoàng]]. Kể từ đây, ba thế lực cố gắng cai trị thành phố: Giáo hoàng; giới quý tộc và các thủ lĩnh dân quân cùng thẩm phán, Viện nguyên lão và dân chúng; quốc vương của người Frank, cũng như quốc vương của người Lombard, patricius và Hoàng đế. Ba phái này (thần quyền, cộng hoà và đế quốc) là một đặc trưng trong sinh hoạt Roma suốt thời [[Trung Cổ]]. Vào đêm Giáng sinh năm 800, [[Giáo hoàng Lêô III]] trao vương miện cho [[Charlemagne]] tại Roma với tư cách hoàng đế của [[Đế quốc La Mã Thần thánh]]. [[Tập tin:Detail coronation Charles the Great (Francis 1st of France) by Pope Leo III (Leo X) Vatican |left|250px|thumb|Tranh của [[Raffaello]] phác hoạ cảnh đăng cơ của [[Charlemagne]] tại Roma vào ngày 25 tháng 12 năm 800]] Năm 846, người Ả Rập Hồi giáo tấn công bất thành vào tường thành Roma, song cướp phá các [[vương cung thánh đường Thánh Phêrô]] và [[vương cung thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành|Phaolô]] nằm ngoài tường thành. Sau khi quyền lực của vương triều Caroling sụp đổ, Roma lâm vào tình trạng vô chính phủ phong kiến, một số gia đình quý tộc không ngừng tranh đấu chống lại Giáo hoàng, hoàng đế và chống đối lẫn nhau. Trong thời gian này, Theodora và con gái bà là Marozia trở thành thiếp và mẹ của một số giáo hoàng, và của lãnh chúa phong kiến quyền lực Crescentius, là người đấu tranh chống các hoàng đế [[Otto II của đế quốc La Mã Thần thánh|Otto II]] và [[Otto III của Thánh chế La Mã|Otto III]]. Các bê bối trong giai đoạn này thúc đẩy chế độ giáo hoàng tự cải cách: Bầu cử giáo hoàng được dành cho các hồng y, và một cuộc cải cách tăng lữ được nỗ lực tiến hành. Động lực đằng sau việc này là tu sĩ [[Giáo hoàng Grêgôriô VII|Ildebrando da Soana]], ông từng được bầu làm giáo hoàng và tham gia [[Tranh cãi việc bổ nhiệm giáo sĩ|tranh luận về bổ nhiệm giáo sĩ]] chống Hoàng đế [[Heinrich IV của Thánh chế La Mã|Heinrich IV]]. Sau đó, Roma bị [[người Norman]] dưới quyền [[Robert Guiscard]] cướp bóc và đốt cháy vào năm 1084, họ tiến vào thành phố để hỗ trợ Giáo hoàng đang bị vây hãm trong [[Lâu đài Thiên Thần]]. [[Tập tin:Santa Maria in T|thumb|right|250px|Bên trong của Vương cung thánh đường Đức Bà Trastevere, một trong những nhà thờ đẹp nhất được xây dựng từ thời Trung Cổ.]] Trong giai đoạn này, thành phố được tự trị dưới quyền của một "senatore" (nguyên lão) hoặc "patrizio" (quý tộc) trong thế kỷ 12. Chính quyền này thường thấy trong các thành phố Ý, tiến hoá thành công xã Trung Cổ, là một hình thức tổ chức xã hội mới, sự thể hiện của các tầng lớp giàu có mới. Giáo hoàng [[Giáo hoàng Luciô II]] đã chiến đấu chống công xã Roma, và cuộc đấu tranh tiếp tục dưới quyền [[Giáo hoàng Êugêniô III]]: công xã liên minh với giới quý tộc được sự ủng hộ từ [[Arnold of Brescia|Arnaldo da Brescia]], một tu sĩ và nhà cải cách tôn giáo và xã hội. Sau khi Giáo hoàng từ trần, Arnaldo bị [[Giáo hoàng Ađrianô IV]] tống giam, đánh dấu kết thúc quyền tự trị của công xã. Thời kỳ dưới quyền [[Giáo hoàng Innôcentê III]] là đỉnh cao của chế độ giáo hoàng, công xã đã thanh lý được viện nguyên lão, thay thế nó bằng một "Senatore" lệ thuộc Giáo hoàng. Trong thời kỳ này, giáo hoàng đóng vai trò thế tục quan trọng ở [[Tây Âu]], thường đứng ra làm trọng tài giữa các quốc vương Kitô giáo và thực thi các quyền lực chính trị bổ sung. Năm 1266, [[Charles I của Anjou]] được bổ nhiệm làm nghị sĩ khi đang tiến về phương nam để giao tranh với [[nhà Staufer]] nhân danh Giáo hoàng. Trong giai đoạn này, giáo hoàng từ trần, và các hồng y tụ họp tại [[Viterbo]] không thể nhất trí về người kế vị, thị dân tức giận và đã dỡ mái toà nhà nơi tụ họp, giam cầm các hồng y cho đến khi họ chọn ra giáo hoàng mới, sự kiện này đánh dấu khởi đầu [[mật nghị Hồng y]]. Trong giai đoạn này, thành phố cũng bị tàn phá trước các cuộc giao tranh liên tiếp giữa các gia đình quý tộc: Annibaldi, Caetani, Colonna, Orsini, Conti, họ có công sự xây trên các đại công trình La Mã cổ đại, tranh đoạt nhau để kiểm soát chế độ giáo hoàng. [[Giáo hoàng Bônifaciô VIII]] là giáo hoàng cuối cùng đấu tranh cho lãnh địa tổng thể của giáo hội, ông tuyên bố một cuộc thập tự chinh chống lại Colonna, và đến năm 1300 ông kêu gọi Năm Thánh đầu tiên, khiến hàng triệu người hành hương đến Roma. Tuy nhiên, hy vọng của ông bị tiêu tan dưới tay Quốc vương Pháp [[Philippe IV của Pháp|Philippe IV]] và khiến ông mất mạng. Sau đó, một giáo hoàng mới trung thành với người Pháp được bầu ra, và chế độ giáo hoàng được di dời trong một giai đoạn ngắn đến [[Avignon]] (1309–1377). Trong giai đoạn này, thành phố bị bỏ bê, cho đến khi quyền lực vào tay một nhân vật bình dân là [[Cola di Rienzo]]. Một người theo chủ nghĩa lý tưởng và là ngưỡng mộ của La Mã cổ đại, Cola đã mơ về sự tái sinh của Đế quốc La Mã. Sau khi nắm quyền với tư cách "Tribuno" (quan bảo dân), các cải cách của ông bị dân chúng bác bỏ. Cola buộc phải chạy trốn, và trở lại trong đoàn tuỳ tùng của hồng y [[Gil Álvarez Carrillo de Albornoz|Albornoz]], chịu trách nhiệm khôi phục quyền lực của giáo hội tại Ý. Sau khi trở lại nắm quyền trong một thời gian ngắn, ông bị dân chúng hành hình, và Albornoz đã có thể nắm quyền sở hữu thành phố, rồi đến năm 1377 dưới thời [[Giáo hoàng Grêgôriô XI|Grêgôriô XI]], Roma lại trở thành đầu não của chế độ giáo hoàng. Việc chế độ giáo hoàng trở lại Roma trong năm đó đã mở đường cho [[Ly giáo Tây phương]] (1377–1418), và trong bốn mươi năm tiếp theo, thành phố là nạn nhân của các cuộc đấu tranh làm tan vỡ giáo hội. Phục Hưng và cận đại. Năm 1418, [[Công đồng Constance]] giải quyết [[Ly giáo Tây phương]], và bầu ra một giáo hoàng người Roma là [[Giáo hoàng Máctinô V|Máctinô V]]. Sự kiện này giúp Roma có một thế kỷ hoà bình nội bộ, đánh dấu khởi đầu nền [[Phục Hưng]]. Các giáo hoàng cai trị cho đến nửa đầu thế kỷ 16, trong đó [[Giáo hoàng Nicôla V|Nicôla V]] lập ra [[Thư viện Vatican]], [[Giáo hoàng Piô II|Piô II]] là người theo chủ nghĩa nhân văn và có học thức, [[Giáo hoàng Xíttô IV|Xíttô IV]] là một giáo hoàng chiến binh, [[Giáo hoàng Alexanđê VI|Alexanđê VI]] là người vô đạo đức và [[Chủ nghĩa gia đình trị|gia đình trị]], từ [[Giáo hoàng Giuliô II|Giuliô II]] là một người bảo trợ cho đến [[Giáo hoàng Lêô X|Lêô X]] có hiệu được đặt cho giai đoạn này ("thế kỷ Lêô X"), toàn bộ đều cống hiến sức lực của mình cho sự vĩ đại và vẻ đẹp của Thành phố vĩnh hằng, cho quyền lực dòng dõi của họ, và bảo trợ cho nghệ thuật. Trong những năm này, trung tâm của Phục Hưng Ý chuyển từ [[Firenze]] đến Roma. Các công trình uy nghi như [[Vương cung thánh đường Thánh Phêrô]], [[Nhà nguyện Sistina]] và "[[Cầu Sisto]]" được xây dựng. Để hoàn thành chúng, các giáo hoàng đã thu hút các nghệ sĩ giỏi nhất đương thời, như [[Michelangelo]], [[Pietro Perugino|Perugino]], [[Raffaello]], [[Domenico Ghirlandaio|Ghirlandaio]], [[Luca Signorelli]], [[Sandro Botticelli|Botticelli]] và [[Cosimo Rosselli]]. Thời kỳ này cũng khét tiếng vì sự mục nát của chế độ giáo hoàng, với nhiều giáo hoàng nuôi con cái, và tham gia vào gia đình trị và mua quyền bán chức. Sự trụy lạc của các giáo hoàng và các chi phí khổng lồ cho các dự án xây dựng của họ, một phần, dẫn đến cuộc [[Cải cách Kháng nghị]] và đến lượt là [[Phong trào Phản Cải cách]]. Chẳng hạn, Alexanđê VI nổi tiếng với sự bại hoại, ngông cuồng và cuộc sống vô đạo đức. Dưới quyền những vị giáo hoàng phung phí và giàu có, Roma chuyển mình thành một trung tâm mỹ thuật, thi ca, âm nhạc, văn học, giáo dục và văn hoá. Roma trở thành nơi cạnh tranh với các thành phố lớn khác tại châu Âu đương thời về mức độ thịnh vượng, huy hoàng, nghệ thuật, tri thức và kiến trúc. Thời kỳ Phục Hưng đã thay đổi diện mạo của Roma một cách đáng kể, với các tác phẩm như [[Pietà]] của [[Michelangelo]] và các bức bích họa của [[phòng tranh Borgia]]. Roma đạt đến đỉnh cao của sự huy hoàng dưới thời Giáo hoàng Giuliô II (1503–1513) và những người kế vị như Lêô X và [[Giáo hoàng Clêmentê VII|Clêmentê VII]], cả hai đều là thành viên của [[Nhà Medici]]. Trong giai đoạn hai mươi năm này, Roma trở thành một trong những trung tâm nghệ thuật vĩ đại nhất thế giới. Vương cung thánh đường Thánh Phêrô cũ được xây dựng bởi [[Constantinus Đại đế]] (bấy giờ đang trong tình trạng đổ nát) đã bị phá hủy và một nhà thờ mới bắt đầu hình thành. Thành phố đã chào đón các nghệ sĩ như [[Ridolfo Ghirlandaio|Ghirlandaio]], [[Pietro Perugino|Perugino]], [[Sandro Botticelli|Botticelli]] và [[Donato Bramante|Bramante]], những người đã xây dựng ngôi đền "Thánh Phêrô tại Montorio" và lên kế hoạch lớn cho dự án cải tạo [[Điện Tông Tòa|Vatican]]. [[Raffaello]] ngụ tại Roma đã trở thành một trong những họa sĩ nổi tiếng nhất của Ý, đã tạo ra những bức bích họa trong [[Villa Farnesina|Dinh Farnesina]], [[Dãy phòng của Raffaello]], cùng với nhiều bức tranh nổi tiếng khác. [[Michelangelo]] bắt đầu trang trí trần nhà của [[Nhà nguyện Sistina]] và tạo ra bức tượng [[Moses]] nổi tiếng dành cho lăng mộ Giuliô II. Roma mất đi một phần đặc trưng tôn giáo của mình, ngày càng trở thành một thành phố Phục Hưng thực sự, với một số lượng lớn các yến tiệc thết đãi phổ biến, những cuộc đua ngựa, các lễ hội rình rang, những mưu đồ và nhiều tình tiết kịch tính cam go. Kinh tế Roma giàu mạnh, với sự hiện diện của một số chủ ngân hàng người [[Toscana]] như [[Agostino Chigi]], ông là một người bạn của [[Raffaello]] và là một người bảo trợ cho nghệ thuật. Trước khi mất sớm, Raffaello cũng đề xướng lần đầu tiên việc bảo tồn các di tích cổ đại. Mâu thuẫn giao tranh giữa Pháp với Tây Ban Nha tại châu Âu và chính sách đối ngoại của Clêmentê VII đã khiến cho Roma bị cướp phá lần đầu tiên trong gần 500 năm trở lại đây, năm 1527, quân đánh thuê [[Landsknecht]] của vua Tây Ban Nha là [[Karl V của Thánh chế La Mã|Karl V]] đã cướp phá thành phố, chấm dứt đột ngột thời đại hoàng kim của Phục Hưng tại Roma và thường được xem là sự kết thúc của nền Phục Hưng Ý. Sự kiện này tác động rất lớn đến lịch sử của châu Âu, Ý và Công giáo, tạo ra hiệu ứng gợn sóng lâu dài trên khắp văn hóa và chính trị thế giới. Từ [[Công đồng Trentô]] vào năm 1545, Giáo hội Công giáo bắt đầu chống lại [[Cải cách Kháng nghị]] - phong trào nghi vấn quy mô lớn về thẩm quyền của Giáo hội trên các vấn đề tinh thần và sự vụ chính quyền. Việc mất lòng tin này sau đó dẫn đến những chuyển biến lớn về quyền lực rời xa khỏi Giáo hội. Dưới quyền các giáo hoàng từ [[Giáo hoàng Piô IV|Piô IV]] đến [[Giáo hoàng Xíttô V|Xíttô V]], Roma trở thành trung tâm của Công giáo cải cách và chứng kiến xây dựng các công trình kỷ niệm mới nhằm tán dương chế độ giáo hoàng khôi phục tính trọng đại. Các giáo hoàng và hồng y trong thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18 tiếp tục phong trào bằng việc tô điểm cho cảnh quan thành phố các toà nhà kiến trúc [[baroque]]. Diễn ra một giai đoạn gia đình trị khác, các gia đình quý tộc mới (Barberini, Pamphili, Chigi, Rospigliosi, Altieri, Odescalchi) được bảo hộ từ các giáo hoàng xuất thân từ gia đình của họ, các giáo hoàng xây cho người thân của mình các toà nhà baroque đồ sộ. Trong [[Thời kỳ Khai sáng]], các tư tưởng mới cũng lan đến Roma, tại đây chế độ giáo hoàng ủng hộ các nghiên cữu khảo cổ và cải thiện phúc lợi của dân chúng. Nhưng không phải mọi thứ đều suôn sẻ cho Giáo hội trong thời kỳ Phản Kháng Cách. Đã có nhiều thất bại trong nỗ lực kiềm chế các chính sách chống Giáo hội của các cường quốc châu Âu thời bấy giờ, thất bại đáng chú ý nhất có lẽ là vào năm 1773 khi [[Giáo hoàng Clêmentê XIV]] bị các thế lực thế tục buộc phải đàn áp [[Dòng Tên]]. Hiện đại và đương đại. Quyền cai trị của các giáo hoàng bị gián đoạn một thời gian ngắn do Cộng hòa Roma (1798–1800), chế độ này được dựng lên do ảnh hưởng của [[Cách mạng Pháp]]. Vương quốc Giáo hoàng được khôi phục vào tháng 6 năm 1800, tuy nhiên trong thời kỳ [[Napoléon]] cai trị thì Roma bị thôn tính thành một tỉnh của [[Đệ Nhất Đế chế Pháp|Đế quốc Pháp]], ban đầu là "Département du Tibre" (1808–1810) và sau là "Département Rome" (1810–1814). Sau khi Napoléon bị phế truất, nhà nước của Giáo hoàng được khôi phục thông qua [[Đại hội Viên]], Áo năm 1814. Năm 1849, một thể chế Cộng hòa Roma khác xuất hiện trong làn sóng các cuộc cách mạng năm 1848. Hai trong số các nhân vật có ảnh hưởng nhất của quá trình [[thống nhất nước Ý]] là [[Giuseppe Mazzini]] và [[Giuseppe Garibaldi]] chiến đấu cho nền cộng hòa yểu mệnh. Roma sau đó trở thành tâm điểm của hy vọng tái thống nhất Ý, khi mà phần còn lại của Ý đã thống nhất thành [[Vương quốc Ý]] với thủ đô lâm thời tại [[Firenze]]. Năm 1861, Roma được tuyên bố là thủ đô của Ý dù vẫn đang do Giáo hoàng kiểm soát. Trong thập niên 1860, tàn dư của Vương quốc Giáo hoàng nằm dưới quyền bảo hộ của Pháp, nhờ vào chính sách đối ngoại của [[Napoléon III]]. Phải đến khi người Pháp rời khỏi Roma vào năm 1870 do [[Chiến tranh Pháp-Phổ]] thì binh sĩ Ý mới có thể chiếm giữ Roma, họ tiến vào thành phố qua một lỗ thủng tường thành gần [[Porta Pia|Cổng thành Pia]]. Sau đó, [[Giáo hoàng Piô IX]] tự tuyên bố mình là tù nhân tại Vatican, và đến năm 1871 thủ đô của Ý cuối cùng đã được chuyển từ Firenze đến Roma. Không lâu sau [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]], Roma chứng kiến [[Phát xít Ý]] trỗi dậy dưới quyền lãnh đạo của [[Benito Mussolini]]. Ông ta tiến hành cuộc hành quân đến thủ đô vào năm 1922, cuối cùng tuyên bố một Đế quốc Ý và liên minh với [[Đức Quốc xã]]. Mussolini phá huỷ nhiều phần rộng lớn tại trung tâm thành phố nhằm xây dựng các đại lộ và quảng trường rộng, được cho là để tán dương chế độ phát xít và hồi sinh La Mã cổ đại. Giai đoạn giữa hai thế chiến chứng kiến dân số thành phố gia tăng nhanh chóng, vượt qua một triệu người. Trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai]], do sở hữu kho tàng nghệ thuật và hiện diện của Vatican, nên Roma phần lớn thoát khỏi số phận bi thảm như nhiều thành phố châu Âu khác. Tuy nhiên, vào ngày 19 tháng 7 năm 1943, khu San Lorenzo bị quân Anh-Mỹ oanh tạc, khiến khoảng 3.000 người thiệt mạng tại chỗ và 11.000 người bị thương và sau đó có thêm 1.500 người chết. Sau khi chế độ Mussolini sụp đổ và Hoà ước Ý vào ngày 8 tháng 9 năm 1943, thành phố bị người Đức chiếm đóng, và được tuyên bố là [[thành phố mở]] theo sau sự kiện [[Giải phóng Roma]] vào ngày 4 tháng 6 năm 1944. Roma phát triển rất nhanh sau chiến tranh, là một trong các động lực chính đằng sau "[[kỳ tích kinh tế Ý]]" về tái thiết và hiện đại hóa thời hậu chiến trong thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. Trong giai đoạn này, những năm "la dolce vita" ("cuộc sống ngọt ngào"), Roma trở thành một thành phố thời thượng, với các phim cổ điển đại chúng như "[[Ben-Hur (phim 1959)|Ben Hur]]", "[[Quo Vadis (phim 1951)|Quo Vadis]]", "[[Roman Holiday]]" và "[[Cuộc sống ngọt ngào|La Dolce Vita]]" được quay tại xưởng phim [[Cinecittà]] có tính biểu tượng của thành phố. Xu hướng tăng trưởng dân số tiếp tục cho đến giữa thập niên 1980 khi thành phố đạt trên 2,8 triệu cư dân. Sau đó, dân số bắt đầu giảm chậm do cư dân bắt đầu chuyển đến các vùng ngoại ô lân cận Roma. Tổ chức hành chính và chính quyền. Chính quyền thành phố. Địa phương Roma hiến lập thành một đô thị cấp huyện đặc biệt ("[[comune|comune speciale]]") có tên chính thức là "Roma Capitale" ("Roma Thủ đô"), và lớn nhất về diện tích và dân số trong tổng số 8.101 các huyện hành chính ("comune") của Ý. Thành phố nằm dưới quyền quản lý của một thị trưởng và một hội đồng thành phố. Văn phòng trụ sở đặt tại "Điện Senatorio" trên [[đồi Capitolinus]], nơi đầu não lịch sử của chính quyền thành phố. Chính quyền thành phố tại Roma thường được gọi là "Campidoglio", tên của ngọn đồi này trong tiếng Ý. Tổ chức hành chính. Kể từ năm 1972, thành phố được chia thành các quận hành chính gọi là "municipio" (trước năm 2001 gọi là "circoscrizione"). Chúng được lập ra vì mục đích hành chính để tăng cường phi tập trung hoá tại khu trung tâm thành phố. Mỗi quận nằm dưới quyền quản lý của một chủ tịch và một hội đồng gồm 25 thành viên, họ được các cư dân bầu ra mỗi 5 năm. Các quận thường vắt qua các ranh giới của các phân khu truyền thống, phi hành chính của thành phố. Số lượng quận ban đầu là 20, sau còn 19, và đến năm 2013 con số này giảm còn 15. Khu trung tâm lịch sử. [[Tập tin:Piazza di San Callisto Roma Trastevere 2013 |thumb|left|250px|Phường thứ 13 "Trastevere", một trong những khu phố cổ nổi tiếng nhất của Roma.]] Roma còn được chia theo nhiều loại đơn vị phi hành chính khác nhau. Trung tâm lịch sử của Roma được chia thành 22 phường, gọi là "rione", toàn bộ đều nằm trong [[tường thành Aurelianus]] ngoại trừ hai phường [[Prati]] và [[Borgo (rione của Roma)|Borgo]]. Chúng bắt nguồn từ các khu vực của thành Roma cổ đại, tiến hoá vào thời trung cổ thành các rione trung cổ. Đến thời Phục Hưng, dưới quyền [[Giáo hoàng Xíttô V]], chúng lại đạt đến con số 14, ranh giới của chúng cuối cùng được xác định dưới thời [[Giáo hoàng Biển Đức XIV]] vào năm 1743. Một cách phân chia mới của thành phố dưới thời [[Napoléon]] nhanh chóng biến mất, và không có thay đổi rõ rệt nào về tổ chức của thành phố cho đến năm 1870, khi Roma trở thành thủ đô của Ý. Nhu cầu về thủ đô mới dẫn đến bùng nổ về đô thị hoá lẫn dân số trong và ngoài tường thành Aurelianus. Năm 1874, phường thứ 15 là Esquilino được tạo ra tại vùng mới đô thị hoá của phường Monti. Khi bước vào thế kỷ 20, các phường khác được tạo ra là Prati, và cũng là cuối cùng. Sau đó, các phân khu hành chính chính mới của thành phố sử dụng tên "quartiere" ("khu"). Ngày nay, toàn bộ các phường "rione" là đều thuộc [[Quận 1, Roma|Quận 1]], tương đương với khu vực "trung tâm lịch sử" ("Centro Storico"). Chính quyền thành phố đô thị và vùng hành chính. Roma là tỉnh lỵ của [[Thành phố đô thị Roma Thủ đô]] hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 2015. Thành phố đô thị này thay thế [[tỉnh Roma]] cũ, bao gồm vùng đại đô thị của thành phố và trải rộng về phía bắc đến [[Civitavecchia]]. Thành phố đô thị Roma Thủ đô lớn nhất về diện tích tại Ý với 5.352 km², tương đương với vùng [[Liguria]]. Roma còn là thủ phủ của vùng hành chính [[Lazio]]. Chính quyền trung ương. Roma là thủ đô của Ý, và là nơi đặt trụ sở của chính Ý. Các dinh thự chính thức của [[Tổng thống Ý]] và [[Thủ tướng Ý]], trụ sở lưỡng viện [[Nghị viện Ý]] và của Toà án Hiến pháp Ý nằm tại trung tâm lịch sử của thành phố. Các bộ của nhà nước nằm phân tán khắp thành phố; trong đó bao gồm Bộ Ngoại giao và Hợp tác Quốc tế được đặt tại [[Palazzo della Farnesina|Điện Farnesina]] gần [[sân vận động Olimpico]]. [[Tập tin:Isola Tiberina San Bartolomeo all Isola Roma HDR 2013 03 |thumb|250px|right|Đảo Tiberina là khúc cạn tự nhiên nằm giữa sông [[Tiber]], trung tâm Roma.]] Vị trí lịch sử. Roma hình thành bên lưu vực sông [[Tiber]] thuộc vùng [[Latium]] lịch sử, ngày nay là vùng [[Lazio]] miền [[Trung Ý]]. Khu dân cư ban đầu phát triển trên bảy ngọn đồi đối diện một khúc cạn gần đảo Tiberina, là khúc cạn tự nhiên duy nhất của sông tại khu vực này. Trong suốt [[chiều dài]] lịch sử từ thời cổ đại đến cuối thế kỷ 19, giới hạn đô thị của thành Roma được xem là khu vực nằm bên trong chu vi tường thành [[Aurelianus]], có diện tích 13,7 km². Ban đầu, [[tường thành Servius]] được xây 12 năm sau khi [[người Gallia]] cướp phá thành phố vào năm 387 TCN. Nó bao gồm phần lớn các đồi Esquilinus và Caelius, cũng như toàn bộ năm đồi còn lại. Roma nhanh chóng phát triển ra ngoài tường thành này, và không cần xây dựng thêm bất cứ pháo đài phòng thủ nào khác bởi sự ổn định do [[Thái bình La Mã]] mang lại và sự bảo vệ của [[quân đội La Mã]], mãi cho đến gần 700 năm sau tức năm 270 do cuộc [[khủng hoảng thế kỷ thứ Ba]] và họa xâm lăng của các bộ tộc man rợ, Hoàng đế [[Aurelianus]] bắt đầu cho xây dựng [[tường thành Aurelianus|tường thành lớn]] kiên cố và đồ sộ hơn để bảo vệ Roma, chúng dài gần 19 km, và chính là bức tường mà binh sĩ [[Vương quốc Ý]] phải vượt qua để tiến vào thành phố năm 1870 với sứ mạng [[thống nhất nước Ý]]. Lãnh thổ hiện đại. Từ thành La Mã cổ đại 14 km² làm cốt lõi, lãnh thổ thành phố Roma hiện đại vươn ra rất rộng lớn bao gồm cả những khu vực nguyên sơ hoặc bỏ hoang hàng thế kỷ và đầm lầy không phù hợp cho phát triển nông nghiệp cũng như đô thị. Với diện tích là 1.285 km², Roma là thành phố lớn nhất Ý và một trong những thủ đô khổng lồ của châu Âu xét về diện tích. Do đó, mật độ dân số của thành phố Roma không phải là cao, với sự hiện diện của nhiều không gian phủ xanh rộng lớn trải khắp thành phố. Địa giới Roma bị phân chia giữa các khu vực đô thị hóa cao độ và các khu vực được xác định là công viên, khu bảo tồn tự nhiên, và cho mục đích nông nghiệp. [[Tập tin:Ostia_Rome_|thumb|250px|right|Quận 10 mang tên [[Ostia]] là quận giáp biển duy nhất của thủ đô.]] Khu vực đô thị của thành phố được chia làm hai phần trong và ngoài thông qua đường vành đai "Grande Raccordo Anulare" ("GRA") hoàn thành vào năm 1962, nó bao quanh khu vực bên trong thành phố với bán kính khoảng 11 km tính từ đồi Capitolinus. Mặc dù khi đường vành đai hoàn thành thì hầu hết các khu vực dân cư đều nằm bên trong nó (một trong số ngoại lệ là ngôi làng cổ đại [[Ostia]] nằm ven biển Tyrrhenum), song về sau nhiều khu đô thị mới được xây dựng nới rộng ra bên ngoài đến 20 km. Thành phố còn có một sông khác là [[Aniene]], hợp lưu vào Tiber về phía bắc của khu vực trung tâm lịch sử. Mặc dù trung tâm Roma nằm cách [[biển Tyrrhenum]] khoảng 24 km, song địa giới thành phố trải dài đến bờ biển trên địa bàn Quận 10 ở phía tây nam, mang tên [[Ostia]], do đó Roma là một trong số ít các thủ đô của châu Âu có bờ biển và đồng thời là thành phố giáp biển lớn nhất tại châu lục này với đường bờ biển dài 20 km. [[Tập tin:Museum_of_Roman_Civilization_-_model_of_archaic_R|250px|thumb|left|Mô hình thành Roma cổ đại với bảy ngọn đồi La Mã tại Bảo tàng Văn minh La Mã.]] Lãnh thổ hình thành nên Roma có lịch sử địa chất phức tạp: tầng mặt nền bao gồm vật chất do nham tầng tạo thành từ các [[núi lửa]] hiện không còn hoạt động, bao quanh khu vực thành phố về phía đông nam là núi lửa Latium ở dãy Albani và núi lửa Sabatini phía tây bắc, khoảng từ 300.000 đến 600.000 năm trước. Phần lớn các ngọn đồi tại Roma được hình thành từ thế địa tầng này. Sau đó, dòng chảy linh hoạt của sông Tiber và Aniene đã góp phần làm xói mòn các phù điêu và trầm tích đặc trưng cho lãnh thổ thực tế. Do đó, lãnh thổ của Roma thể hiện các cảnh quan thiên nhiên và đặc điểm môi trường khác nhau: một số ngọn núi và đồi (bao gồm [[bảy ngọn đồi La Mã]] lịch sử), các khu vực bằng phẳng, sông Tiber và các nhánh của nó, một hòn đảo trên sông (đảo Tiberina), bờ biển Ostia cũng như các hồ Bracciano và Martignano và các hồ nhân tạo. Vành đai địa chấn của Roma được xếp vào vùng 3 tức có biên độ động đất ở mức thấp. Roma sơ khởi được xây dựng trên [[Bảy ngọn đồi La Mã]] bao gồm [[Aventinus]], [[Caelius]], [[Đồi Capitolinus|Capitolinus]], [[Esquilinus]], [[Palatinus]], [[Quirinalis]] và [[Viminalis]]. Khu [[trung tâm lịch sử thành Roma|trung tâm lịch sử]] còn bao gồm các đồi [[Janiculum]], [[Pincius]] và [[đồi Vatican]], cũng như các gò nhân tạo như núi Testaccio và núi Giordano. Bên ngoài những bức tường trải dài những ngọn đồi cao hơn như núi Mario (Monte Mario), núi Antenne, núi Parioli, núi Thánh (Montesacro) và núi Xanh (Monteverde). Độ cao Roma dao động từ 13 mét trên mực nước biển (tại nền [[đền Pantheon]] trung tâm thành phố) cho đến 139 mét trên mực nước biển tại [[núi Mario]] (nơi cao nhất tại Roma, từ đó người ta có thể ngắm một trong những khung cảnh đẹp nhất của thành phố). [[Tập tin:N|thumb|right|250px|Tuyết được xem là hiếm có tại Roma.]] Roma có [[khí hậu Địa Trung Hải]] ([[phân loại khí hậu Köppen]]: "Csa"), với mùa đông mát và ẩm ướt còn mùa hè ấm và khô. Nhiệt độ trung bình năm là trên 20 °C (68 °F) vào ban ngày và 10 °C (50 °F) vào ban đêm. Trong tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình là 12 °C (54 °F) vào ban ngày và 3 °C (37 °F) vào ban đêm. Trong các tháng nóng nhất là tháng 7 và tháng 8, nhiệt độ trung bình là 30 °C (86 °F) vào ban ngày và 18 °C (64 °F) vào ban đêm. Các tháng 12, 1 và 2 là các tháng lạnh nhất, nhiệt độ trung bình ban ngày là 8 °C (46 °F). Nhiệt độ trong các tháng này thường dao động từ 10 đến 15 °C (50 - 59 °F) vào ban ngày và 3 đến 5 °C (37 - 41 °F) vào ban đêm, song thường xuyên có các đợt lạnh hơn hoặc ấm hơn. Tuyết rơi là hiện tượng hiếm song không phải là không có, các trận tuyết nhẹ hoặc mưa tuyết diễn ra hầu như mọi mùa đông, thường không tích tụ lại, và các đợt tuyết lớn diễn ra một lần trong khoảng mỗi 5 năm (gần đây nhất là vào năm 2018, trước đó là năm 2012). Độ ẩm tương đối trung bình là 75%, dao động từ 72% vào tháng 7 đến 77% vào tháng 11. Nhiệt đội biển dao động từ mức thấp 13 °C (55 °F) trong tháng 2 và tháng 3 đến mức cao 24 °C (75 °F) trong tháng 8. Năm 550 TCN, Roma là thành phố lớn thứ nhì tại Ý, sau [[Taranto|Tarentum]] là thành phố lớn nhất. Roma từng có diện tích khoảng 285 hecta và dân số ước tính đạt 35.000. Các nguồn khác cho rằng dân số ở sát dưới mức 100.000 từ 600–500 TCN. Đến khi nền Cộng hoà được thành lập vào năm 509 TCN, điều tra nhân khẩu ghi nhận dân số 130.000. [[Cộng hòa La Mã]] bao gồm bản thân thành phố và khu vực xung quanh. Các nguồn khác cho rằng dân số đạt 150.000 vào năm 500 TCN. Dân số Roma vượt 300.000 người vào năm 150 TCN. Quy mô thành phố vào thời Hoàng đế [[Augustus]] là vấn đề cần nghiên cứu, các ước tính dựa trên phân bổ lương thực, nhập khẩu lương thực, dung tích cống nước, giới hạn thành phố, mật độ dân số, báo cáo nhân khẩu, và giả định về số nữ giới, trẻ em và nô lệ không được báo cáo. Glenn Storey ước tính có 450.000 người, Whitney Oates ước tính 1,2 triệu, Neville Morely đưa ra con số 800.000 và loại trừ các đề xuất trước đó về mức 2 triệu. Sau khi Đế quốc Tây La Mã sụp đổ, dân số thành phố giảm xuống dưới 50.000 người. Dân số tiếp tục đình trệ hoặc giảm cho đến thời kỳ Phục Hưng. Khi Vương quốc Ý sáp nhập Roma vào năm 1870, thành phố có dân số khoảng 200.000. Con số này tăng lên đến 600.000 ngay trước Chiến tranh thế giới thứ nhất. Chế độ phát xít của Mussolini nỗ lực ngăn chặn dân số gia tăng quá mức, song thất bại và dân số đạt đến một triệu vào đầu thập niên 1930. Tăng trưởng dân số tiếp tục sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhờ kinh tế bùng nổ thời hậu chiến. Bùng nổ trong xây dựng cũng tạo ra lượng lớn các khu ngoại ô trong thập niên 1950 và 1960. Đến giữa thập niên 2010, có 2.754.440 cư dân sống trong địa giới thành phố, và có khoảng 4,2 triệu người sống trong vùng Đại Roma (gần tương ứng với ranh giới [[Thành phố đô thị Roma Thủ đô]], với mật độ khoảng 800 người/km² trải rộng trên 5.000 km²). Năm 2010, người vị thành niên chiếm 17% dân số còn người ở độ tuổi nghỉ hưu là 20,76%, các con số tương đương của toàn quốc là 18,06% và 19,94%. Tuổi trung bình của cư dân Roma là 43 so với mức trung bình toàn quốc là 42. Trong vòng 5 năm từ 2002 đến 2007, dân số Roma tăng 6,54%, trong khi dân số Ý tăng 3,56%. Tỷ suất sinh hiện tại của Roma là 9,1 ca sinh trên 1.000 dân khi so sánh với tỷ lệ sinh trung bình của Ý là 9,45. Khu vực đô thị của Roma phát triển ra ngoài địa giới hành chính của thành phố, với dân số khoảng 3,9 triệu. Từ 3,2 đến 4,2 triệu người sống trung vùng đại đô thị Roma. Các nhóm dân tộc thiểu số. Theo điều tra của ISTAT vào năm 2009, khoảng 9,5% dân số Roma không phải là người gốc Ý. Khoảng một nửa số cư dân nhập cư có nguồn gốc châu Âu (chủ yếu là [[Romania]], [[Ba Lan]], [[Ukraina]], và [[Albania]]) với số lượng tổng cộng 131.118 hay 4,7% dân số. 4,8% còn lại là những người có nguồn gốc ngoài châu Âu, đông nhất là người [[Philippines]] (26.933), [[Bangladesh]] (12.154), và [[Người Hoa hải ngoại|người Hoa]] (10.283). Phường [[Esquilino (rione của Roma)|Esquilino]] nằm bên cạnh nhà ga trung tâm Termini phát triển thành một khu phố nhập cư cỡ lớn, được ví là "phố Tàu" của Roma. Người nhập cư từ trên một trăm quốc gia cư trú tại đây. Do là khu thương mại nên Esquilino có các nhà hàng mang đặc điểm của nhiều nền ẩm thực quốc tế. Trong số 1.300 cơ sở kinh doanh hoạt động tại phường, có 800 cơ sở do người Hoa sở hữu, khoảng 300 cơ sở do những người nhập cư khác điều hành, và 200 cơ sở thuộc sở hữu của người Ý. Tôn giáo La Mã cổ đại. [[Tập tin:August_Labicana_Massimo_I|thumb|200px|left|Hoàng đế La Mã đầu tiên [[Augustus]] đồng thời đóng vai trò là Đại Tư tế ("pontifex maximus") của tôn giáo đa thần La Mã.]] Roma trước đây là trung tâm của Đa thần giáo La Mã, tôn giáo cổ điển có nguồn gốc gắn liền với lịch sử và truyền thống của Roma kể từ khi thành phố được hình thành. Mặc dù chịu ảnh hưởng và vay mượn phần lớn từ Hy Lạp cũng như các nền văn hóa khác như Etrusca hay Sabine, tôn giáo La Mã (tiếng Latinh: "religio romana") sở hữu những đặc trưng độc đáo nhờ tính chất lịch sử, tâm lý và chính trị điển hình của xã hội La Mã. Tôn giáo La Mã cũng được đặc trưng bởi chu kỳ các lễ hội hàng năm, gắn liền với thành Roma; tuy nhiên, với sự mở rộng của đế chế, nhiều tôn giáo và giáo phái bí ẩn mới, chủ yếu đến từ phương Đông, đã lan rộng tại thành phố. Khác với [[thần thoại Hy Lạp]], các vị thần La Mã không có sự tồn tại độc lập; tôn giáo La Mã cũng không tập trung nhiều vào các câu chuyện thần thoại hay nhấn mạnh hình thành hệ thống tư tưởng giáo lý mà thay vào đó đóng vai trò là "nhạc cụ công quyền" (tiếng Latinh: "instrumentum regni"): đã có từ giai đoạn cổ xưa của lịch sử La Mã và trên thực tế, các thể chế tôn giáo không tách biệt với chính trị. Ban đầu, "Đại Tư tế" (tiếng Latinh: "pontifex maximus") chức vụ quan trọng nhất của tôn giáo La Mã cổ đại được độc lập dưới thời Cộng hòa La Mã, sau đó dần dần bị chính trị hóa cho đến khi [[Augustus]] sáp nhập nó vào chức vị hoàng đế. Các vị thần đầu tiên của người Roma là [[Jupiter (thần thoại)|Jupiter]] (có vị thế cao nhất), [[Juno (thần thoại)|Juno]], [[Minerva]], [[Vesta (thần thoại)|Vesta]], [[Janus]], [[Mars (thần thoại)|Mars]], vân vân hay các vị thần trừu tượng được nhân cách hóa khác. Theo truyền thuyết, Mars là chiến thần và là cha của hai người sáng lập Roma là [[Romulus và Remus]]. Ngoài ra còn có một số thần linh nhỏ với vai trò thần bảo hộ, như "Lares" và "Penate". Tôn giáo cổ xưa này là nền tảng của "mos maiorum" (nghĩa là "phong tục tổ tiên" hay đơn giản là "truyền thống") được xem là cốt lõi của bản sắc văn hóa La Mã, bao gồm nguyên tắc tôn trọng thời gian, các hình mẫu thể hiện hành vi ứng xử chuẩn mực và những thực tiễn xã hội liên quan và ảnh hưởng đến đời sống cá nhân, chính trị và quân sự ở La Mã cổ đại. Gắn liền với tôn giáo đa thần, sự sùng bái hoàng gia cũng đã trở thành một trong những phương thức mà Roma quảng bá sự hiện diện của mình ở các tỉnh, để nuôi dưỡng lòng trung thành và bản sắc văn hóa chung trong toàn Đế quốc. Đối với người dân La Mã thông thường, tôn giáo La Mã đã trở thành một phần của cuộc sống thường nhật. Mỗi nhà đều có một gian thờ trong gia đình của mình, nơi diễn ra sự cầu nguyện và nghi lễ rưới rượu cho các vị thần giữ nhà. Các đền thờ khu dân cư và những nơi linh thiêng như suối và lùm cây điểm xuyết khắp thành phố. [[Lịch La Mã]] được xây dựng xung quanh những nghi lễ tôn giáo. Phụ nữ, nô lệ và trẻ em đều tham gia vào một loạt các hoạt động tôn giáo. Một số nghi lễ công cộng chỉ có thể được thực hiện bởi phụ nữ, và phụ nữ đã hình thành nên chức vụ tư tế được ủng hộ và nổi tiếng nhất Roma, [[Trinh nữ Vesta]] - người có nhiệm vụ trông giữ ngọn lửa của nữ thần Vesta thiêng liêng của Roma trong nhiều thế kỷ, cho đến khi tan rã dưới sự thống trị của Kitô giáo. [[Tập tin:TheP|thumb|250px|right|[[Đền Pantheon]] là di tích hiếm hoi còn sót lại của đền thờ La Mã cổ đại "dành cho tất cả các vị thần của quá khứ, hiện tại và tương lai", thoát khỏi số phận bị phá hủy nhờ được cải đạo thành nhà thờ Kitô giáo vào năm 609.]] Vào đầu thế kỷ thứ nhất, giống với những gì đang xảy ra tại các thành trì quan trọng khác của đế quốc, Kitô giáo lan truyền rất nhanh tại Roma, ban đầu được coi là một giáo phái Do Thái, các Kitô hữu thuộc mọi tầng lớp xã hội đã có tổ chức riêng cho mình tức "[[Giáo hội Kitô giáo|giáo hội]]" và lãnh đạo bởi một giám mục (sau này là [[giáo hoàng]]) được xem là người kế vị của [[Thánh Phêrô]], vị tông đồ của Chúa [[Giêsu]] đã tử đạo tại Roma cùng với [[Thánh Phaolô]], về sau cùng trở thành [[thánh quan thầy]] của thành phố. Tư tưởng và đức tin theo [[thuyết độc thần]] của Kitô giáo bác bỏ phủ nhận đa thần đã tạo bối cảnh cho cuộc xung đột gay gắt giữa tôn giáo La Mã và đạo Kitô - mà Đế quốc La Mã luôn coi là một phong trào chủ nghĩa cực đoan bác bỏ đạo truyền thống và là hình thức mê tín dị đoan mới lạ, trong khi tín đồ Kitô giáo coi tôn giáo La Mã là ngoại đạo tà thần, mâu thuẫn này dẫn đến việc bách hại Kitô hữu trong nhiều thế kỷ. Theo sau sự kiện [[Constantinus Đại đế]] ban bố [[sắc lệnh Milano]] năm 313, việc bách hại chính thức chấm dứt và dọn đường cho sự trỗi dậy vươn lên vị thế độc tôn của đạo Kitô. Các chính sách bức hại ngoại đạo tà giáo không phải Kitô giáo bắt đầu từ thời Constantinus, các tôn tượng, đền thần bị đập phá hoặc bị cải đạo, việc thực hiện nghi lễ hiến tế và thờ phượng các hình ảnh đều bị cấm đoán và trở thành tội tử hình, tôn giáo đa thần La Mã truyền thống dần lụi tàn và bị xóa sổ ngay trên chính trụ xứ của mình, nhường chỗ cho đạo Kitô trở thành quốc giáo chính thức của toàn đế quốc, và giáo hội tại Roma nơi nắm giữ quyền Ngai Thánh Phêrô, đã làm tăng thêm quyền lực lễ nghi và sức mạnh tinh thần của bổn giáo đồng thiết lập nên mối quan hệ chặt chẽ với các thể chế chính trị thần quyền đặc trưng của nhiều thế kỷ về sau. Giáo hội Công giáo Roma. Hiện tại, giống như phần lớn phần còn lại của Ý, [[Công giáo La Mã]] là tôn giáo chi phối tại Roma, và thành phố là trung tâm quan trọng nhất của tôn giáo này và là nơi hành hương trong nhiều thế kỷ, trở thành đầu não của [[Tòa Thánh|Vatican]] và [[Giáo hoàng]]. Mặc dù có một số gián đoạn (như [[chế độ giáo hoàng Avignon]]), Roma trong nhiều thế kỷ là trụ sở của Giáo hội Công giáo La Mã, và Giám mục thành Roma tức Giáo hoàng. Tổng cộng có hơn 900 nhà thờ tại Roma, và thành phố sở hữu số lượng [[vương cung thánh đường]] ("basilica", danh hiệu tôn vinh đặc biệt dành cho những nhà thờ có kiến trúc độc đáo cũng như tầm quan trọng về lịch sử và ý nghĩa tâm linh) nhiều hơn bất cứ nơi nào khác. Trên thế giới chỉ có bốn nhà thờ giữ danh hiệu "đại vương cung thánh đường" ("basilica maggiore") tức nhà thờ cấp cao nhất của Giáo hội, và chúng đều nằm tại Roma. Mọi nhà thờ khác giữ danh hiệu "vương cung thánh đường" tại thành phố và trên thế giới đều là "tiểu vương cung thánh đường" ("basilica minore"). Mặc dù Roma có [[Thành Vatican]] và Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, song [[nhà thờ chính tòa]] của thành phố là [[Tổng lãnh vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô|Tổng lãnh vương cung thánh đường Thánh Gioan tại Laterano]] nằm về phía đông nam của trung tâm, là nhà thờ cổ nhất tại Roma cũng như lâu đời nhất và quan trọng nhất trong thế giới phương Tây, là trụ sở của Giáo hội Công giáo về mặt danh nghĩa và là nơi đặt Ngai của Giáo hoàng, nên có danh hiệu "Nhà thờ Mẹ và Đứng Đầu của tất cả các nhà thờ tại Roma và trên toàn thế giới". Bên cạnh nhà thờ chính tòa và nhà thờ Thánh Phêrô, hai nhà thờ còn lại trong bộ tứ đại vương cung thánh đường thuộc giáo hoàng là [[Vương cung thánh đường Đức Bà Cả|nhà thờ Đức Bà Cả]] và [[Vương cung thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành|nhà thờ Thánh Phaolô Ngoại thành]]. Ngoài ra, các nhà thờ đáng chú ý khác gồm có Vương cung thánh đường Thánh Clêmentê, Thánh Carlo tại Quattro Fontane, Nhà thờ Giêsu. Ngoài ra còn có các hầm mộ La Mã cổ đại nằm bên dưới thành phố. Nhiều tổ chức quan trọng giáo dục bậc cao về tôn giáo cũng nằm tại Roma, như Đại học Giáo hoàng Laterano, Viện Kinh Thánh Giáo hoàng, Đại học Giáo hoàng Gregoriana, Học viện Giáo hoàng Phương Đông. Lãnh thổ Thành Vatican là bộ phận của "Mons Vaticanus" (đồi Vatican), và của phạm vi Vatican cũ lân cận, tại đây có [[Vương cung thánh đường Thánh Phêrô]], [[Điện Tông Tòa]], [[Nhà nguyện Sistina]], và các bảo tàng cùng nhiều công trình khác. Khu vực là bộ phận của phường [[Borgo (rione của Roma)|Borgo]] thuộc Roma cho đến năm 1929. Do Thành Vatican nằm ở phía bờ Tây của sông Tiber và tách biệt khỏi khu vực trung tâm thành phố, cho nên khu vực Vatican được bảo vệ trong các bức tường thành thời [[Giáo hoàng Lêô IV]] (847–855), sau đó mở rộng ra các bức tường pháo đài phòng thủ được xây thời [[Giáo hoàng Phaolô III|Phaolô III]] (1534–1549), [[Giáo hoàng Piô IV|Piô IV]] (1559–1565) và [[Giáo hoàng Urbanô VIII|Urbanô VIII]] (1623–1644) như hiện nay. [[Hiệp ước Latêranô|Hiệp ước Laterano]] vào năm 1929 tạo ra nhà nước Vatican, ranh giới của lãnh thổ đề xuất chịu ảnh hưởng bởi thực tế là phần lớn chúng đều nằm trong vòng tường này. Tại một số đoạn biên giới không có tường, và giới hạn của các toà nhà nhất định tạo thành bộ phận của biên giới, và một đoạn nhỏ biên giới là một bức tường xây vào thời hiện đại. Trong lãnh thổ Vatican có [[Quảng trường Thánh Phêrô]], tách khỏi lãnh thổ Ý chỉ qua một vạch màu trắng dọc giới hạn của quảng trường, và giáp với Quảng trường Piô XII. Quảng trường Thánh Phêrô nối liền với "Via della Conciliazione" (nghĩa là "Con đường Hòa giải"), con đường này chạy thẳng đến bờ sông Tiber. Lối vào lớn này do các kiến trúc sư [[Marcello Piacentini|Piacentini]] và Spaccarelli thiết kế, theo mong muốn của [[Benito Mussolini]] và được thoả thuận với giáo hội sau khi ký kết Hiệp định Laterano. Cũng theo hiệp định này, một số tài sản của Toà Thánh nằm trong lãnh thổ Ý, đáng chú ý nhất là [[Cung điện Giáo hoàng Castel Gandolfo]] và các [[vương cung thánh đường|đại vương cung thánh đường]], chúng được hưởng vị thế đặc quyền lãnh thổ ngoại vi giống như các đại sứ quán nước ngoài. [[Tập tin:Petersdom_bei_Nacht_Via_della_Conciliazione_in_R|250px|thumb|left|[[Vương cung thánh đường Thánh Phêrô]] trong đêm, nhìn từ Con đường Hòa giải.]] Với vai trò là trụ xứ của chế độ [[giáo hoàng]] và sở hữu đồ sộ các thánh tích tôn kính liên quan đến các [[Mười hai sứ đồ|tông đồ]], các vị [[Thánh (Kitô giáo)|thánh]] cũng như những người tử đạo, Roma từ lâu đã là địa điểm hành hương lớn của các tín đồ Kitô giáo. Mọi người từ khắp nơi trên thế giới đến thăm Vatican nằm trong lòng thành Roma, nơi cư ngụ của giáo hoàng - nhân vật có ảnh hưởng nhất trong thời Trung Cổ. Thành phố trở thành địa điểm hành hương lớn trong thời Trung Cổ và là tâm điểm của cuộc đấu tranh giữa giáo hoàng và [[Đế quốc La Mã Thần thánh]] bắt đầu từ [[Charlemagne]], người được trao ngôi hoàng đế đầu tiên ở Roma vào năm 800 bởi [[Giáo hoàng Lêô III]]. Ngoài thời kỳ ngắn ngủi là một thành phố độc lập trong thời Trung Cổ, Roma vẫn giữ vị thế là thủ đô của Giáo hoàng và "thánh đô" Kitô giáo trong nhiều thế kỷ, ngay cả khi chế độ giáo hoàng chuyển đến [[Avignon]], [[Pháp]] một thời gian ngắn (1309–1377). Người Công giáo tin rằng Vatican là nơi an nghỉ cuối cùng của Thánh Phêrô. Những chuyến hành hương đến Roma có thể bao gồm các chuyến viếng thăm một số lượng lớn các địa điểm, cả trong Thành phố Vatican và trên lãnh thổ Ý. Một điểm dừng phổ biến là "bậc thang của Philatô": đó là, theo truyền thống Kitô giáo, các bước dẫn đến thảo nguyên [[Phongxiô Philatô]] ở [[Jerusalem]], nơi Chúa [[Giêsu Kitô]] đặt chân trên đường bị đưa đi xét xử trong [[Cuộc thương khó của Giêsu|Cuộc thương khó của ông]]. Trong nhiều thế kỷ, "[[Scala Santa]]" ("Bậc thang Thánh Linh") đã thu hút những người hành hương Kitô giáo muốn tôn vinh Cuộc thương khó của Giêsu, các nấc thang được cho là do [[Thánh Helena]] đem tới Roma trong thế kỷ thứ 4. Các thánh địa để hành hương khác là một số cổ mộ được xây dựng từ thời La Mã, trong đó các Kitô hữu đã cầu nguyện, chôn cất người chết và thực hiện lễ cúng trong thời kỳ bị đàn áp, và các nhà thờ quốc gia khác nhau (trong đó có San Luigi dei Francesi và Santa Maria dell'Anima), hoặc nhà thờ liên kết với các dòng tôn giáo cá thể, như Nhà thờ Dòng Tên của Chúa Giêsu và Sant'Ignazio. Theo truyền thống, những người hành hương đến Roma và công dân của Roma cảm ơn Chúa vì ân sủng nên đến thăm trực tiếp bằng chân đến [[bảy nhà thờ hành hương]] (tiếng Latinh: "septem ecclesiarum", tiếng Ý: "sette chiese") trong 24 giờ của ngày [[Thứ Tư]] trong [[Tuần Thánh]]. Phong tục này bắt buộc đối với mỗi người hành hương vào thời Trung Cổ đã được Thánh [[Philipphê Nêri]] chuẩn hóa vào thế kỷ 16, kết hợp yếu tố ngày lễ và chia sẻ kinh nghiệm tôn giáo phổ quát thông qua việc khám phá di sản của các vị Thánh hữu tiên khởi, theo đó tại mỗi nhà thờ sẽ diễn ra sự cầu nguyện, hát thánh ca và một buổi giảng giáo lý ngắn. Bảy nhà thờ truyền thống bao gồm tứ đại vương cung thánh đường ([[Vương cung thánh đường Thánh Phêrô|Thánh Phêrô tại Vatican]], [[Vương cung thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành|Thánh Phaolô ở Ngoại thành]], [[Tổng lãnh vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô|Thánh Gioan tại Latêranô]] và [[Vương cung thánh đường Đức Bà Cả|Đức Bà Cả]]), ba nhà thờ còn lại là [[Vương cung thánh đường Thánh Lôrensô Ngoại thành|Thánh Lôrensô Ngoại thành]] (một nhà thờ Kitô tiên khởi), nhà thờ [[Thánh Giá Gerusalemme]] (một nhà thờ được thành lập bởi Thánh Helena, mẹ của Constantinus, nơi lưu trữ những mảnh gỗ được gán cho thánh giá) và [[Vương cung thánh đường Thánh Sêbastianô Ngoại thành|Thánh Sêbastianô Ngoại thành]] (nằm trên [[đường Appia]] và được xây dựng trên cổ mộ La Mã). Vào năm thánh 2000, [[Giáo hoàng Gioan Phaolô II]] đã thay thế nhà thờ Thánh Sêbastianô bằng [[Nhà thờ Đức Bà Tình Thương Cao Thượng]] ("Madonna del Divino Amore"), tuy vậy nhiều người hành hương vẫn thích bảy nhà thờ truyền thống trước đó và do vậy họ đến thăm thêm Thánh Sêbastianô Ngoại thành dành những ai có nguyện vọng xin xá tội, hoặc thậm chí không viếng Đức Bà Tình Thương Cao Thượng do thực tế việc đi bộ từ đó đến khu vực nội thành Roma mất ít nhất một nửa ngày đường trong quá trình hành hương và cho rằng sẽ được xá tội nếu đến viếng tứ đại vương cung thánh đường sau đó. Trong những năm gần đây, có sự tăng trưởng rõ rệt trong cộng đồng Hồi giáo tại Roma chủ yếu là do nhập cư từ các quốc gia Bắc Phi và Trung Đông đến thành phố. Do số người hành đạo Hồi giáo tại địa phương tăng lên, xúc tiến xây dựng Thánh đường Hồi giáo Roma. Được khánh thành vào ngày 21 tháng 6 năm 1995, có diện tích 30.000 m2 với sức chứa hơn 12.000 người, đây là thánh đường Hồi giáo lớn nhất trong [[thế giới phương Tây]] và là nơi đặt trụ sở Trung tâm văn hóa Hồi giáo tại Ý. Kể từ khi kết thúc nền Cộng hoà La Mã, Roma cũng là trung tâm của một cộng đồng Do Thái quan trọng, cổ nhất tại châu Âu. [[Do Thái giáo]] theo truyền thống bị giới hạn trong khu vực [[Roman Ghetto|Ghetto Roma]] dưới sự quy định của giáo hoàng. Với hơn 20.000 người, họ có phương ngữ riêng đặc trưng của mình. Đại hội đường Do Thái Roma hay "Tempio Maggiore" là trung tâm thờ kính quan trọng nhất của người Do Thái trong thành phố. Roma cũng có sự hiện diện của một bộ phận nhỏ [[Tin Lành]], [[Chính thống giáo]] và các tín ngưỡng khác. Việc xây dựng khu phức hợp Đền thờ Mặc Môn ở Roma đã được công bố vào ngày 4 tháng 10 năm 2008 bởi [[Thomas S. Monson]], chủ tịch của [[Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô]] tại một đại hội. Ngôi đền đã được khánh thành vào ngày 14 tháng 1 năm 2019, trở thành nhà thờ Mặc Môn đầu tiên tại Ý, bao gồm trung tâm Palo (nhà hội họp), trung tâm tiếp đón, trung tâm lịch sử gia đình, nhà khách và các khu vườn, phục vụ các thành viên của Giáo hội Mặc Môn tại [[Hy Lạp]], [[Síp]], [[Albania]], [[Slovenia]], [[Croatia]], [[Bosnia và Herzegovina]] và [[Macedonia (Hy Lạp)|Macedonia]], cũng như 26.000 thành viên của giáo phái tại Ý. Kiến trúc và cảnh quan thành phố. Kiến trúc của Roma trong nhiều thế kỷ đã phát triển rất mạnh, đặc biệt là từ phong cách cổ điển và Đế quốc La Mã chuyển sang phong cách [[kiến trúc phát xít]] hiện đại. Trong một thời gian, Roma đã từng là trung tâm kiến trúc cổ điển chính của thế giới, phát triển những dạng thức kiến trúc mới như các loại [[vòm]], [[kiến trúc vòm|mái vòm]] và khung vòm. Phong cách [[kiến trúc Roman]] trong thế kỷ 11, 12 và 13 cũng được áp dụng rộng rãi trong kiến trúc La Mã, sau đó thành phố trở thành một trong những trung tâm chính của [[kiến trúc Phục Hưng]], [[kiến trúc Baroque|Baroque]] và tân cổ điển. La Mã cổ đại. Một trong những biểu tượng của Roma là [[Đấu trường La Mã]] (bắt đầu xây dựng từ năm 72 và hoàn thành vào năm 80), một khán đài vòng cung ngoài trời lớn nhất từng được xây dựng tại [[Đế quốc La Mã|Đế chế La Mã]] và hiện tại vẫn là khán đài vòng cung lớn nhất thế giới. Sức chứa ban đầu của khán đài là 60.000 khán giả, và không gian này được sử dụng cho những cuộc tranh tài của các [[võ sĩ giác đấu]] và các sự kiện công cộng khác như chương trình săn bắn, tái hiên các trận chiến và dàn dựng kịch sân khấu nổi tiếng dựa trên thần thoại cổ điển. Các di tích và địa điểm nổi tiếng của La Mã cổ đại bao gồm [[Công trường La Mã]], [[Công trường Hoàng đế]] tòa nhà [[Domus Aurea]], [[đền Pantheon]], [[Cột Traianus]], [[Chợ Traianus]], cổ mộ, [[tường thành Servius]] và [[tường thành Aurelianus]] cũng như các cổng thành, trường đua ngựa cổ đại [[Circus Maximus]], [[Nhà tắm Caracalla|nhà tắm công cộng Caracalla]], [[Lâu đài Thiên Thần]], [[Lăng Augustus]], [[Museum of the Ara Pacis|Ara Pacis]], [[Khải hoàn môn Constantinus]], [[Kim tự tháp Cestius]] và bức tượng khắc [[Miệng Sự Thật]]. Các khu phố nổi tiếng thời Trung Cổ của thành phố, chủ yếu nằm quanh đồi Capitonilus, phần lớn đã bị phá hủy từ cuối thế kỷ 19 và thời kỳ phát xít, nhưng nhiều công trình đáng chú ý vẫn còn. Các [[vương cung thánh đường]] có niên đại từ buổi đầu của Kitô giáo, bao gồm [[Vương cung thánh đường Đức Bà Cả]] và [[Vương cung thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành]] (sau này đã được đại trùng tu lại vào thế kỷ 19). Cả hai tòa nhà đều được chạm khắc những họa tiết trang trí tinh vi mang giá trị thẩm mỹ cao từ thế kỷ thứ 4 TCN. Phong cách nghệ thuật tranh tường và nghệ thuật khảm thời Trung Cổ đáng chú ý khác cũng có thể được tìm thấy trong các nhà thờ như [[Santa Maria in Trastevere|Vương cung thánh đường Đức Bà Trastevere]], [[Santi Quattro Coronati]] và [[Santa Prassede]]. Những công trình thế tục gồm một lượng lớn tháp, trong đó lớn nhất là [[Torre delle Milizie|tháp Milizie]] và [[Torre dei Conti|Conti]]. Cả hai đều nằm kế [[Công trường La Mã]] và cầu thang lớn dẫn đến [[Santa Maria in Ara Coeli|Vương cung thánh đường Đức Bà Aracoeli]]. Phục Hưng và Baroque. Bên cạnh cái nôi [[Firenze]], Roma là trung tâm [[Phục Hưng]] lớn của thế giới, và là nơi mà nghệ thuật Phục Hưng đạt đến đỉnh cao, vươn đến sự hoàn mỹ và hài hòa cao độ, còn gọi là thời kỳ [[Thượng Phục Hưng]]. Giai đoạn này có một kiệt tác của kiến trúc Phục Hưng ở Roma là [[Quảng trường Campidoglio]] do [[Michelangelo]] thiết kế. Cũng ở thời điểm này, các gia đình quý tộc lớn của Roma thường xây dựng những nơi ở sang trọng như [[Điện Quirinale]] (nay là trụ sở của [[Tổng thống]] [[Ý|Cộng hòa Ý]]), [[Điện Venezia]], [[Điện Farnese]], [[Điện Barberini]], [[Điện Chigi]], [[Điện Spada]], [[Điện Cancelleria]] và [[Biệt thự Farnesina]]. Nhiều quảng trường nổi tiếng của thành phố vẫn giữ nguyên hình dáng được tạo từ thời Phục Hưng và Baroque. Trong đó một số quảng trường rất lớn, hoành tráng với bút tháp trang trí đặt ở giữa, một số quảng trường khác thì nhỏ và thơ mộng. Những quảng trường chính là [[Quảng trường Navona]], [[Quảng trường Tây Ban Nha, Roma|Quảng trường Tây Ban Nha]], [[Campo de' Fiori]], [[Quảng trường Venezia]], [[Palazzo Farnese|Quảng trường Farnese]], [[đền Pantheon|Quảng trường Rotonda]] và [[Santa Maria sopra Minerva|Quảng trường Minerva]]. Một trong những ví dụ điển hình nhất của nghệ thuật Baroque là [[đài phun nước Trevi]] của [[Nicola Salvi]]. Những cung điện Baroque đáng chú ý khác của thế kỷ 17 là [[Điện Madama]], ngày nay là trụ sở của Thượng viện Ý và [[Điện Montecitorio]], ngày nay là trụ sở của Hạ viện Ý. [[Tập tin:A|thumb|250px|left|[[Đài tưởng niệm quốc gia Vittoriano]].]] Trong thập kỷ đầu tiên sau khi trở thành thủ đô của nước Ý thống nhất, Roma vẫn giữ nguyên hiện trạng với các công trình cổ xưa. Thành phố có kích thước khiêm tốn vào năm 1870, trôi nổi theo nghĩa đen trong giới hạn của [[tường thành Aurelianus]], với nhiều không gian còn nguyên sơ, thành phố vẫn còn đậm chất tỉnh lẻ, không thiết thực, với những con đường quanh co và thiếu vắng tất cả các dịch vụ cơ bản của một đô thị hiện đại. Nhiều hoạt động quy hoạch đô thị cần thiết đã diễn ra bao gồm kiến thiết các tòa nhà hành chính quan trọng (các trụ sở chính phủ, cơ quan Bộ ngành, Điện Công Lý, Trung tâm Triễn lãm, các đại sứ quán), hình thành những con đường mới (đường Vittorio Emanuele II, đường 20 tháng 9), xây dựng nhà ở cho các quan chức mới, phát triển các cơ sở hạ tầng (bệnh viện, lò mổ, doanh trại), cải tạo bộ mặt hai bên bờ Tiber. Các nghệ sĩ và kiến trúc sư thế kỷ 18 đã tìm tòi một phương hướng phong cách mới mà không phải gắn liền với [[Giáo hội]]. Họ xem lại các nền văn minh [[cổ đại Hy-La]] thời kỳ tiền [[Kitô giáo]] và hình thành nên một trường phái kiến trúc mới dựa trên trật tự, cân bằng và hài hòa, đã chiếm ưu thế vượt trội trong kiến trúc tại Roma lúc bấy giờ. Một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của trường phái tân cổ điển La Mã là [[Đài tưởng niệm quốc gia Vittoriano]], đã phá hủy một phần lớn đồi Capitolinus và khu phố Trung Cổ lân cận để xây dựng, là nơi tổ quốc ghi công các chiến sĩ vô danh, đại diện cho 650.000 người Ý đã ngã xuống trong [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]]. Điện Công Lý nằm tại Quảng trường Cavour, là một ví dụ điển hình về [[chủ nghĩa chiết trung]]. Triển lãm quốc tế về nghệ thuật năm 1911 đã khai sinh ra khu quảng trường Mazzini, cũng như việc tạo ra Phòng tranh quốc gia về Nghệ thuật Hiện đại. Một bản thảo tiền đề cho kế hoạch mở rộng thành phố về phía biển (Ostia, Fregene) đã được đưa ra vào năm 1916. Khu Coppedè (1921-1927) là một ví dụ nổi bật của kiến ​​trúc [[Art Nouveau]]. Các [[thành phố vườn]] như khu Garbatella đẹp như tranh đã được hình thành từ những năm 1920. Chế độ phát xít cai trị ở Ý trong khoảng thời gian từ 1922 đến 1943 đã lưu dấu tại Roma. Mussolini cho phép xây dựng những con đường và quảng trường mới, dẫn đến sự phá hủy các con đường, nhà cửa, nhà thờ và cung điện được dựng lên trong thời cai trị của giáo hoàng. Các hoạt động chính trong chính phủ của ông là: "cô lập" [[đồi Capitolinus]]; phố Monti, sau đổi tên là phố Impero, và cuối cùng là phố Fori Imperiali; đường Mare, sau đổi tên thành phố Teatro di Marcello; "cô lập" của [[Lăng Augustus]], với sự dựng lên của Quảng trường Augusto Imperatore; Con đường Hòa giải. Về mặt kiến trúc, chủ nghĩa phát xít ưa thích các phong trào hiện đại nhất, như kiến trúc chủ nghĩa duy lý. Song song với điều này, vào những năm 1920, một phong cách khác đã xuất hiện, có tên là "Stile Novecento" đã phát triển một phong cách kiến trúc đặc trưng bởi sự liên kết với kiến trúc La Mã cổ đại. Một công trình quan trọng trong phong cách này là Công trường Mussolini, nay là [[Công trường Italico]], bởi Enrico Del Debbio. Bên cạnh đó, nơi lưu dấu kiến trúc phát xít quan trọng nhất ở Roma là khu vực [[EUR, Roma|E.U.R.]] do [[Marcello Piacentini]] thiết kế vào năm 1938. Các tòa nhà tiêu biểu nhất của EUR là [[Palazzo della Civiltà Italiana|Điện Civiltà Italiana]] (1938–1943), thiết kế mang tính biểu tượng đã được xem như khối lập phương của 'Đấu trường La Mã hình vuông', và [[Palazzo dei Congressi|Điện Congressi]], ví dụ về phong cách chủ nghĩa duy lý. Ban đầu khu này được hình thành với mục đích dành cho cuộc [[Esposizione universale (1942)|Triển lãm Thế giới 1942]] ("Esposizione universale 1942") và có tên gọi là "E.42" ("Esposizione 42"). Tuy nhiên, triển lãm thế giới đã không có dịp diễn ra vì năm 1940 nước Ý bước vào [[chiến tranh thế giới thứ hai]] và các tòa nhà tiêu điểm đã bị phá hủy một phần vào năm 1943 trong cuộc chiến giữa quân đội Ý và Đức sau khi đình chiến và sau đó bị bỏ hoang. Khu vực được khôi phục vào thập niên 1950, khi chính quyền Roma nhận thấy rằng họ đã có những mầm mống của một khu kinh tế ngoài trung tâm như những thủ đô khác mà hiện trong thời gian đó vẫn còn đang quy hoạch (như xưởng đóng tàu [[London Docklands]] và [[La Défense]] ở [[Paris]]). Ngoài ra [[Palazzo della Farnesina|Điện Farnesina]], nơi đóng trụ sở của Bộ Ngoại giao Ý ngày nay, được thiết kế vào năm 1935 theo phong cách phát xít thuần chất. Roma bước ra khỏi [[Chiến tranh thế giới thứ hai]] với rất ít những vụ ném bom tàn phá. Năm thánh năm 1950 là cơ hội để thực hiện xong nhà ga trung tâm Termini cũng như đường [[Cristoforo Colombo]] nối Roma đến biển. Quận EUR được hoàn thành và trở thành quận kinh tế tài chính, và tuyến tàu điện ngầm đầu tiên được mở vào năm 1955. Để phục vụ [[Thế vận hội Mùa hè 1960]], [[Sân vận động Olimpico]] và hai điện thể thao khác được xây dựng, cũng như Làng Olimpico. Bên cạnh sân bay truyền thống Ciampino, một sân bay mới - [[Sân bay quốc tế Leonardo da Vinci]] tại Fiumicino đã được khánh thành vào năm 1961 để đáp ứng nhu cầu ngày càng mở rộng và trở thành sân bay chính của Roma. Trung tâm thành phố đã trải qua nhiều cuộc cải tạo mở rộng trong Năm Thánh 2000, và các cung điện nhuốm màu [[thổ hoàng]] do thời gian đã được khôi phục lại gam màu nhạt vốn có ban đầu của chúng trong các chiến dịch cải tạo này. Từ đầu thế kỷ 21, Roma bắt đầu khánh thành các tòa nhà mới theo kiến trúc đương đại: "[[Auditorium Parco della Musica]]" vào năm 2002, [[Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Roma]] (MACRO) năm 2002, [[MAXXI]] năm 2010 và [[Trung tâm Hội nghị Roma]], khánh thành vào năm 2016 tại quận EUR. Không gian xanh và hệ sinh thái. Công viên công cộng và khu bảo tồn thiên nhiên chiếm một khu vực rộng lớn ở Roma. Có thể nói, Roma là thành phố có một vùng không gian xanh bao phủ thuộc hàng lớn nhất trong các thủ đô châu Âu. Phần đáng chú ý nhất của khu không gian xanh này đặc trưng bởi rất nhiều biệt thự và khu vườn của các tầng lớp quý tộc Ý. Tuy nhiều nhiều biệt thự đã bị phá hủy trong giai đoạn bùng nổ xây dựng cuối thế kỷ 19 nhưng vẫn còn sót lại một lượng lớn. Đáng chú ý nhất trong số này là các [[biệt thự Borghese]], [[Villa Ada|biệt thự Ada]] và [[Villa Pamphili Doria|biệt thự Pamphili Doria]]. Biệt thự Pamphili Doria nằm ở phía tây của ngọn [[đồi Janiculum]] rộng 1,8 km². Ngoài ra trên đồi Janiculum còn có biệt thự [[Villa Sciarra|Sciarra]] với các sân chơi cho trẻ em và những khu vực đi bộ phủ bóng mát. Tại khu vực lân cận của [[Orto Botanico dell'Università di Roma "La Sapienza"|Vườn Bách thảo Roma]] ("Orto Botanico") là một không gian xanh thoáng mát và lợp phủ bóng râm. Trường đua ngựa La Mã cổ đại [[Circus Maximus]] là một không gian xanh lớn khác nhưng sự thu hút chính ở đây là các địa điểm đua xe ngựa cổ xưa, còn cây thì tương đối ít. Gần đó là [[Villa Celimontana|biệt thự Celimontana]] tươi tốt, gần các khu vườn xung quanh [[Nhà tắm Caracalla|nhà tắm công cộng Caracalla]] và [[Vườn Hoa hồng Roma|Vườn Hoa hồng]]. Khu vườn của biệt thự Borghese là một không gian xanh lớn và nổi tiếng nhất ở Roma, nơi đây có các phòng trưng bày nghệ thuật trứ danh nằm giữa các lối đi bộ phủ bóng mát cây xanh. Nó nằm gần với [[Bậc thang Tây Ban Nha]] và [[Quảng trường Nhân Dân, Roma|Quảng trường Nhân Dân]]. Roma cũng có nhiều vườn địa phương được hình thành gần đây hơn như vườn địa phương Pineto và Appia. Ngoài ra còn có các khu bảo tồn thiên nhiên tại Marcigliana và Tenuta di Castelporziano. Hàng nghìn loài động vật, [[động vật có xương sống]] và [[động vật không xương sống]] sống trong thành phố vĩnh hằng. Điển hình nhất tại [[Đấu trường La Mã]] và khu vực khảo cổ xung quanh là những chú [[mèo hoang]], được chính quyền thành phố công nhận là "Di sản văn hóa - sinh học của Roma" từ năm 2001 (ví dụ duy nhất ở Ý về quyết định như vậy). Những chú mèo La Mã có khoảng 300.000 cá thể, sinh sống trong các tàn tích cổ xưa và đi hoang khắp nơi, được nhóm lại trong ít nhất 400 điểm trú ẩn mèo được xác định là môi trường sống tự do theo luật. Nhiều người dân Roma chủ yếu là phụ nữ quan tâm chăm sóc và cho chúng ăn. Từ đó, thuật ngữ "gattare" trong tiếng Ý dùng để chỉ những người phụ nữ này. Trong số các loài chim, loài [[sáo đá xanh]] đặc trưng được ước tính có khoảng 5 triệu cá thể. Roma trong nhiều năm là thành phố Ý có số lượng lớn nhất về loài chim này, đã tràn ngập đô thị kể từ thời hậu chiến sau sự phá hủy nhiều vùng đất ngập nước ngoại ô, và chúng tìm thấy môi trường đô thị có ít động vật ăn thịt và sinh sống dễ dàng hơn. Các khu vực đầu tiên bị chiếm giữ bởi những con chim này là các khu vực phủ xanh của Điện Venezia, Biệt thự Torlonia và Quảng trường Cavour, tiếp theo vào năm 1970 bởi Biệt thự Ada, Biệt thự Pamphilj, sang đại lộ 20 tháng 9, đại lộ Trastevere và đường Appia Nuova. Sau đó, chúng chiếm cứ các cây ven sông ở hữu ngạn của Tiber, giữa cầu Matteotti và cầu Thiên Thần, để sau cùng tràn ngập được cả hai bờ. Trong các mùa di cư, chúng thường gây ra tai nạn đâm vào động cơ máy bay tại các phi trường của thành phố cũng như vấn đề với thải phân ở các di tích du lịch biểu tượng. Vài năm trở lại đây, loài [[mòng biển]] từ ngoài khơi đã xâm lược vào sâu trong trung tâm Roma do sự quản lý yếu kém của thành phố, những bãi rác và thức ăn thừa trở nên hấp dẫn và thu hút chúng, đồng thời tấn công và ăn thịt những loài chim khác như bồ câu hoặc sáo, mà theo các nhà chức trách, chúng ngày càng trở nên hung hăng hơn. Đài phun nước và cầu dẫn nước. [[Tập tin:Fontana_di_Trevi_Rome_04_2016_|thumb|250px|right|[[Đài phun nước Trevi]] bắt đầu được xây dựng từ thời La Mã cổ đại và được kiến trúc sư Nicola Salvi hoàn thành vào năm 1762 theo bản thiết kế gốc của [[Gian Lorenzo Bernini]].]] Roma còn sở hữu biệt danh là "Thành phố của những đài phun nước", với 50 [[đài phun nước]] tưởng niệm và hàng trăm đài phun vừa và nhỏ khác trên tổng số hơn 2000, nhiều hơn bất cứ thành phố nào khác trên thế giới, và các đài phun nước đã trở thành biểu tượng quen thuộc của Roma. Các đài phun nước ở Roma được xây dựng theo tất cả các phong cách khác nhau, từ cổ điển, trung cổ đến trường phái [[Baroque]] và [[tân cổ điển]]. Chúng đã có mặt ở thành phố từ hơn 2.000 năm trước, cho thấy người La Mã cổ đại đã luôn có niềm đam mê lớn lao đối với nước dùng công cộng, từ hệ thống cầu dẫn nước đến các nhà tắm hơi cổ đại. Thời [[Đế quốc La Mã]] bấy giờ, vào năm 98 TCN, theo [[Sextus Julius Frontinus]], vị quan cố vấn của La Mã và là người phụ trách quản lý giám hộ nguồn nước của thành phố, Roma có 9 hệ thống cầu dẫn nước, cung cấp nước dẫn đến 39 đài phun nước tưởng niệm và 591 đài phun nước công cộng dạng bồn nhỏ, không kể nguồn nước cung cấp cho hoàng gia, tắm rửa hay cho các địa chủ sở hữu biệt thự tư gia. Mỗi đài phun nước lớn đều được kết nối với hai cầu dẫn nước khác nhau, phòng trường hợp một hệ thống không hoạt động được do bảo trì.. Sau nhiều thế kỷ suy vi, niềm đam mê này vẫn được lưu truyền và tiếp nối đến tận ngày nay qua việc xây dựng vô số các kiểu dáng đài phun hiện hữu khắp nơi trên các đường phố và quảng trường ở thủ đô, để lấy nước uống cũng như để trang trí mỹ quan đô thị. Xuyên suốt lịch sử, vấn đề vệ sinh dường như không hề khiến ai phải bận tâm, khi các nguồn nước (kể cả nước sông) được chắt lọc trong các bồn chứa đặc biệt và được xem là tốt đến mức các giáo hoàng cũng lấy để uống khi vi hành trong thành phố. Trong thế kỷ 17 và 18, các giáo hoàng tái tạo những đài phun nước La Mã tàn tích và xây dựng các đài phun nước mới nhằm đánh dấu thời kỳ của họ, mở ra thời hoàng kim cho các đài phun nước Roma. Như những bức tranh của [[Peter Paul Rubens|Rubens]], các đài phun nước Roma mang tính biểu hiện phong cách mới của nghệ thuật Baroque. Có rất nhiều nhân vật biểu tượng đầy tính cảm xúc và sức sống được đặt tại các đài phun nước. Ở những đài phun nước này, điêu khắc đã trở thành yếu tố chính, và nước được thêm vào đơn giản chỉ để tạo sự chuyển động và đóng vai trò trang trí cho các tác phẩm điêu khắc. Chúng giống như những khu vườn Baroque, là "một sự thể hiện đầy tự tin và quyền lực". Roma nổi tiếng với những bức [[tượng]], nhưng đặc biệt là những bức tượng có tính truyền cảm xúc cao, tức những "bức tượng biết nói". Chúng thường là những pho tượng cổ đã trở thành phương tiện truyền tải những lời diễn thuyết về các thảo luận [[chính trị]] và [[xã hội]], là nơi để mọi người cất lên tiếng nói về quan điểm của họ (thông thường là châm biếm trào phúng). Có hai bức tượng nổi tiếng là: [[Pasquino]] và [[Marforio]], ngoài ra vẫn có 4 bức tượng khác đáng chú ý là [[il Babuino]], [[Madama Lucrezia]], [[il Facchino]] và [[Abbot Luigi]]. Hầu hết những bức tượng đều từ thời La Mã cổ đại hay từ thời cổ điển, phần lớn trong số đó miêu tả những nhân vật trong thần thoại; il Pasquino đại diện [[Menelaus]], Abbot Luigi – một thẩm phán La Mã bí ẩn, il Babuino đại diện cho [[Silenus]], Marforio đại diện cho [[Oceanus]], Madama Lucrezia là một bức tượng bán thân của [[Isis]], và il Facchino là bức tượng duy nhất không phải của La Mã, được tạo thành trong năm 1580, và không đại diện riêng cho bất cứ nhân vật nào. Những bức tượng thường được phủ đầy [[áp phích]] hoặc những hình vẽ [[tranh phun sơn]] hay 'graffiti' bày tỏ ý tưởng và quan điểm chính trị. Những bức tượng khác trong thành phố không phải tượng bộc lộ cảm xúc và quan điểm gồm [[Cầu Thiên Thần]], hoặc một số di tích nằm rải rác trong thành phố, như [[Giordano Bruno]] ở "Campo de'Fiori". Bút tháp và cột tưởng niệm. Roma là nơi lưu giữ nhiều [[bút tháp]] ("obelisk") nhất trên thế giới. Thành phố có 8 bút tháp [[Ai Cập cổ đại|cổ Ai Cập]] (trong đó "Lateranese" tại Quảng trường [[Tổng lãnh vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô|Thánh Gioan Latêranô]] là bút tháp [[Ai Cập]] lớn nhất thế giới) và 5 bút tháp [[La Mã cổ đại]] cùng một số khác hiện đại hơn; thành phố cũng đã từng lưu giữ bút tháp "Axum" của Ethiopia cho đến khi hoàn trả vào năm 2005. Các bút tháp chủ yếu được đặt tại các [[quảng trường]] lớn, chẳng hạn như tại [[Quảng trường Navona]], [[Quảng trường Thánh Phêrô]], [[Piazza Montecitorio|Quảng trường Montecitorio]], [[Quảng trường Nhân Dân, Roma|Quảng trường Nhân Dân]] và những tháp tưởng niệm khác trong các biệt thự, nhà tắm công cộng và trong các khu vườn, công viên, chẳng hạn như ở biệt thự Celimontana, [[nhà tắm Diocletianus|nhà tắm công cộng Diocletianus]] và ngọn [[đồi Pincius]]. Ngoài ra, trung tâm của Roma cũng là nơi có hai cột tưởng niệm La Mã cổ đại là [[Cột Traianus]] và [[Column of Marcus Aurelius|Cột Marcus Aurelius]] với bề ngoài được trang trí theo dạng xoắn ốc nhẹ. Cột Marcus Aurelius được đặt tại [[Quảng trường Colonna]] do Hoàng đế [[Commodus]] dựng nên vào năm 180 để tưởng nhớ cha mẹ của mình. Cột tưởng niệm này được lấy cảm hứng từ Cột Traianus tại [[Công trường Traianus]], một phần của [[Công trường Hoàng đế]]. Thành phố Roma có rất nhiều cây cầu nổi tiếng bắc qua sông [[Tiber]]. Cây cầu duy nhất còn tồn tại nguyên bản cho tới ngày nay không bị thay đổi là [[Cầu Fabricius]] có từ thời cổ đại, nối đảo [[Tiberina]] với bờ tả ngạn của dòng sông. Những cây cầu La Mã khác bắc ngang qua sông Tiber còn tồn tại là [[Pons Cestius|Cầu Cestio]], [[Cầu Thiên Thần]] và [[Ponte Milvio|Cầu Milvio]] dù cho chúng đã chịu sự thay đổi. Xem xét [[Ponte Nomentano|Cầu Nomentano]] bắc ngang sông [[Aniene]] được xây dựng trong thời La Mã cổ đại, do đó còn sót lại 5 cây cầu La Mã cổ đại trong thành phố vẫn tồn tại đến ngày nay. Những cây cầu đáng chú ý khác là [[Cầu Sisto]], cây cầu đầu tiên được xây dựng vào thời Phục Hưng trên nền móng La Mã; [[Pons Aemilius|Cầu Rotto]], thực sự là vòm cung duy nhất còn sót lại của Cầu Aemilius cổ đại, đã sụp trong trận lụt năm 1598 và bị phá hủy vào cuối thế kỷ 19; và [[Ponte Vittorio Emanuele II|Cầu Vittorio Emanuele II]], một cây cầu hiện đại nối liền đường lớn Vittorio Emanuele và phường Borgo. Hầu hết các cây cầu công cộng của thành phố được xây dựng theo phong cách cổ điển hoặc Phục Hưng, nhưng cũng theo phong cách Baroque, Tân cổ điển và Hiện đại. Theo "[[Encyclopædia Britannica]]", cây cầu cổ đẹp nhất còn lại ở Roma là [[Cầu Thiên Thần]], được hoàn thành vào năm 135 và được trang trí với mười bức tượng của các thiên thần, được [[Gian Lorenzo Bernini]] thiết kế vào năm 1688. [[Tập tin:Rom, Domitilla-Katakomben |right|thumb|250px|Cổ mộ Domitilla với hệ thống đường hầm ngầm trải dài 17 km dưới lòng đất được xem là cổ mộ cổ nhất và được bảo tồn tốt nhất tại Roma.]] Roma có một lượng lớn các [[hầm mộ]] cổ đại hoặc những nơi [[chôn cất]] ngầm trong thành phố hay gần thành phố, với số lượng ít nhất 40, một số vừa được phát hiện chỉ trong vài thập kỷ gần đây. Mặc dù nổi tiếng nhất là những nơi [[chôn cất]] [[Kitô hữu]] nhưng vẫn có mộ ngoại giáo và người [[Người Do Thái|Do Thái]], hoặc được [[chôn cất]] trong hầm mộ riêng biệt hoặc nằm xen kẽ chung với nhau trong một khu đất. Những hầm mộ quy mô lớn đầu tiên được khai quật từ thế kỷ thứ 2 trở đi. Ban đầu chúng được chạm khắc từ một loại mềm từ tro núi lửa là đá tufo và đặt tại những vị trí ngoài ranh giới của thành phố vì luật La Mã cấm [[chôn cất]] trong thành phố. Hiện nay Ủy ban Giáo hoàng nắm quyền và trách nhiệm bảo trì các cổ mộ. Theo nghiên cứu của [[Globalization and World Cities Research Network|GaWC]] về [[thành phố toàn cầu]], Roma một thành phố hạng "Beta +", xếp sau Milan. Năm 2014, Roma giành hạng 32 theo chỉ số Global Cities Index, hạng cao nhất tại Ý. Năm 2005, với [[Tổng sản phẩm nội địa|GDP]] đạt 94,376 tỷ [[euro]] (121,5 tỷ [[Đô la Mỹ|USD]]), Roma đóng góp 6,7% vào tổng sản phẩm quốc nội của cả nước (nhiều hơn bất cứ thành phố nào khác ở Ý). Bên cạnh đó, tỷ lệ thất nghiệp của thành phố từ giữa năm 2001 và 2005 đã giảm từ 11,1% xuống 6,5%, hiện đang là một trong những tỷ lệ thấp nhất của tất cả các thành phố thủ đô thuộc Liên minh châu Âu. Tốc độ tăng trưởng của Roma đạt 4,4%/năm và tiếp tục phát triển với một tốc độ cao hơn so với bất kỳ thành phố khác của đất nước. Điều này có nghĩa là nếu Roma là một quốc gia độc lập thì nó sẽ là quốc gia giàu có đứng thứ 52 trên thế giới tính theo GDP, gần với [[Ai Cập]]. [[Tập tin:Panoramic view of EUR business district, R|thumb|center|1000px|Quan cảnh công viên hồ trung tâm của quận kinh tế [[EUR, Roma|EUR]].]] Năm 2003, Roma có mức GDP bình quân đầu người đạt 29.153 euro (37.412 USD), cao thứ hai tại Ý chỉ sau Milano, và cao hơn 134,1% GDP bình quân đầu người trung bình của Liên minh châu Âu. Hơn hết, Roma có tổng thu nhập xếp hàng cao nhất ở Ý, đạt 47.076.890.463 euro trong năm 2008, nhưng xét về thu nhập của người lao động trung bình, thành phố chỉ đứng ở vị thứ 9 tại Ý với mức thu nhập là 24.509 euro. Ở góc độ toàn cầu, người lao động ở Roma nhận được mức lương cao thứ 30 trong năm 2009, tăng 3 thứ hạng so với năm 2008. Vùng đô thị Roma có GDP lên tới 167,8 tỷ đô la và 38.765 đô la trên đầu người. Theo nghiên cứu về bất động sản của [[Citigroup]] và [[Knight Frank]] công bố năm 2009, Roma là thành phố đắt đỏ thứ tám trên thế giới về giá bất động sản cao cấp (13.500 euro mỗi mét vuông). Tầm quan trọng vĩ đại về lịch sử, nghệ thuật và tôn giáo của thành phố khiến nó trở thành một trong những điểm du lịch chính trên thế giới và phổ biến nhất ở Ý. Mỗi ngày có trung bình có khoảng 90.000 khách du lịch ghé thăm, trong tổng số hàng năm tính đến 2014 là 13,4 triệu lượt đến thăm và 32,8 triệu lượt khách lưu trú, trong đó hai phần ba là người nước ngoài. Chỉ tính riêng lượng khách du lịch quốc tế, Roma là thành phố được viếng thăm nhiều nhất ở Ý, thứ 3 tại châu Âu và thứ 14 trên thế giới trong năm 2016. Đóng góp của ngành du lịch chiếm khoảng 12% GDP của thành phố. Mặc dù nền kinh tế của Roma đặc trưng bởi sự vắng mặt của ngành [[công nghiệp nặng]] và bị chi phối chủ yếu bởi ngành [[dịch vụ]], các công ty công nghệ cao ([[công nghệ thông tin]], hàng không vũ trụ, quốc phòng, [[viễn thông]]), nghiên cứu, xây dựng và hoạt động [[thương mại]] (đặc biệt là [[ngân hàng]]), cùng với sự phát triển mạnh của ngành du lịch đầy năng động đều đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế của thành phố. [[Fiumicino]] là sân bay quốc tế ở Roma và cũng là sân bay lớn nhất tại Ý. Bên cạnh đó, thành phố còn là nơi đóng trụ sở của đại đa số các công ty lớn của Ý, cùng với trụ sở của ba trong 100 công ty lớn nhất thế giới: [[Enel]], [[Eni]] và [[Telecom Italia]]. Roma là cộng đồng nông nghiệp lớn nhất ở châu Âu, với diện tích canh tác 517 km², chiếm khoảng 40% tổng diện tích thành phố. Giáo dục đại học, hệ thống [[radio|phát thanh]] [[truyền hình]] quốc gia và ngành công nghiệp [[điện ảnh]] ở Roma cũng góp phần quan trọng trong nền kinh tế. Roma còn là trung tâm của ngành công nghiệp điện ảnh Ý nhờ vào phim trường [[Cinecittà]] với hoạt động khởi nghiệp từ những 1930. Thành phố cũng là một trung tâm ngân hàng và [[bảo hiểm]], [[electron|điện tử]], [[năng lượng]], [[vận tải]] và công nghiệp hàng không vũ trụ. Rất nhiều trụ sở công ty và cơ quan quốc tế, bộ chính phủ, trung tâm hội nghị, địa điểm thể thao và [[viện bảo tàng]] được đặt tại quận kinh tế EUR của Roma; "Torrino" (phía nam EUR); "Magliana"; "Parco de' Medici-Laurentina" và "Tiburtina-valley" nằm dọc theo con [[đường Tiburtina]] có từ thời cổ đại. Giáo dục bậc cao. [[Tập tin:Sapienza entrance (20040201351).jpg|right|250px|thumb|[[Đại học Roma La Sapienza|Đại học Roma]] thành lập năm 1303, còn gọi là "La Sapienza", viện đại học lớn nhất châu Âu và một trong những cơ sở giáo dục hàng đầu của Ý.]] Roma là một trung tâm giáo dục quốc gia và quốc tế lớn về giáo dục bậc đại học, với rất nhiều [[học viện]], [[trường đại học]] và [[viện đại học]]. Thành phố có nhiều loại học viện khác nhau, luôn là một trung tâm tri thức và giáo dục lớn của thế giới, đặc biệt là thời [[La Mã cổ đại]] và [[Phục Hưng]], cùng với [[Firenze]]. Theo chỉ số City Brands Index, Roma là thành phố đứng thứ nhì về mức độ quan tâm về lịch sử, giáo dục và văn hoá cũng như vẻ đẹp của nó. Roma có một lượng lớn các trường đại học và viện đại học. Viện đại học đầu tiên của Roma là [[Đại học Roma La Sapienza|La Sapienza]], một trong những đại học lâu đời nhất và lớn nhất trên thế giới với trên 140.000 sinh viên theo học, vào năm 2005 trường xếp hạng 33 trong các đại học tốt nhất tại châu Âu và đến năm 2013 La Sapienza xếp hạng 62 thế giới và đứng đầu tại Ý theo "Center for World University Rankings" và luôn nằm trong top 50 của châu Âu và top 150 các đại học tốt nhất thế giới. Nhằm giảm thiểu tình trạng quá tải của La Sapienza, hai viện đại học công lập được thành lập trong những thập niên gần đây: [[Đại học Roma Tor Vergata|Tor Vergata]] vào năm 1982 và [[Đại học Roma Tre|Roma Tre]] vào năm 1992. Năm 1998 thành lập viện đại học thứ tư mang tên [[Đại học Roma Foro Italico|Foro Italico]], đại học công lập duy nhất của Ý chuyên về thể dục thể thao. Roma còn có Trường Chính phủ LUISS, là trường cấp bằng cử nhân quan trọng nhất trong lĩnh vực quan hệ quốc tế và nghiên cứu châu Âu cũng như Trường Thương mại LUISS, trường kinh tế quan trọng nhất của Ý. Viện ISIA của Roma được thành lập vào năm 1973 bởi Giulio Carlo Argan và là học viện lâu năm nhất tại Ý trong lĩnh vực thiết kế công nghiệp. [[Tập tin:Villa M|left|250px|thumb|Biệt thự Medici, cơ sở của Viện hàn lâm Pháp tại Roma.]] Thêm vào đó, Roma có lượng lớn các [[đại học giáo hoàng]] và các học viện khác, bao gồm British School tại Roma, Viện hàn lâm Pháp tại Roma, Đại học Giáo hoàng Gregoriana (đại học [[dòng Tên]] cổ nhất trên thế giới, thành lập vào năm 1551), Học viện châu Âu về Thiết kế, Trường Lorenzo de' Medici, Đại học Link Campus, Đại học Campus Y-Sinh. Roma cũng có hai viện đại học Mỹ: Đại học Mỹ tại Roma và Đại học John Cabot cùng với phân hiệu Đại học St. John's, Trung tâm John Felice Roma là một phân hiệu của Đại học Loyola Chicago còn Đại học Temple Roma là một phân hiệu của Đại học Temple. Các đại học nội trú Roma (Collegi pontifici) là một số trường dòng dành cho sinh viên ngoại quốc học tập để lên chức tu sĩ tại các Đại học Giáo hoàng. Thư viện và các viện lưu trữ. Các thư viện lớn tại Roma gồm có Thư viện Angelica khánh thành vào năm 1604, là thư viện công đầu tiên tại Ý; Thư viện Vallicelliana thành lập vào năm 1565; Thư viện Casanatense khánh thành vào năm 1701; Thư viện quốc gia trung tâm Roma là một trong hai thư viện quốc gia của Ý, lưu giữ 4.126.002 đầu sách; Thư viện Bộ Ngoại giao, chuyên về ngoại giao, đối ngoại và lịch sử hiện đại; Thư viện của Viện Bách khoa toàn thư; Thư viện Don Bosco là một trong các thư viện [[Dòng Salêdiêng Don Bosco|Dòng Salêdiêng]] lớn nhất và hiện đại nhất; Thư viện và Bảo tàng rạp Burcardo là một bảo tàng-thư viện chuyên về lịch sử kịch và sân khấu; Thư viện Hội Địa lý Ý đặt tại Biệt thự Celimontana là thư viện chuyên ngành địa lý quan trọng nhất tại Ý, và một trong những thư viện quan trọng nhất tại châu Âu; và [[Thư viện Vatican]] là một trong những thư viện cổ nhất và quan trọng nhất trên thế giới, có mốc thành lập chính thức là năm 1475, và có 75.000 quyển danh mục, cùng với 1,1 triệu sách in, trong đó có khoảng 8.500 sách in kiểu cổ trước năm 1501. Ngoài ra còn có nhiều thư viện chuyên biệt gắn với các học viện văn hoá nước ngoài khác nhau tại Roma, trong số đó có thư viện của Viện hàn lâm Hoa Kỳ tại Roma, Viện Pháp tại Roma, và Thư viện Hertziana – Viện Lịch sử nghệ thuật Max Planck của Đức, nổi tiếng xuất sắc về nghiên cứu nghệ thuật và khoa học. Du lịch, khảo cổ và di sản. Roma ngày nay là một trong những điểm đến du lịch quan trọng nhất của thế giới, điều này là do sự đa dạng không thể đếm hết các kho tàng khảo cổ và báu vật nghệ thuật tại đây, cũng như do nét thu hút văn hóa của những truyền thống đặc trưng, vẻ đẹp cảnh quan và sự uy nghi tráng lệ của những căn biệt thự (công viên). Các tài nguyên di sản quý giá nhất ở Roma là chính số lượng [[viện bảo tàng|bảo tàng]] lớn – Bảo tàng Capitolinus – viện bảo tàng lâu đời nhất trên thế giới, Bảo tàng Vatican, Phòng triển lãm Borghese, và cùng với những địa điểm khác liên quan đến cả nghệ thuật đương đại và hiện đại – cầu dẫn nước, [[đài phun nước]], [[nhà thờ]], [[cung điện]], công trình lịch sử, [[đài tưởng niệm]], tàn tích [[Công trường La Mã]] - [[Công trường Hoàng đế]] và các cổ mộ. Roma là thành phố thứ được viếng thăm nhiều đứng thứ hai tại [[Liên minh châu Âu]], chỉ xếp sau [[Paris]], với lượng du khách một năm trung bình 7-10 triệu người, mà đôi khi tăng gấp đôi vào những năm thánh. Theo thống kê gần đây, [[Đấu trường La Mã]] (4 triệu du khách) và Bảo tàng Vatican (4,2 triệu du khách) lần lượt đứng thứ 39 và 37 trong bảng xếp hạng những nơi được viếng thăm nhiều nhất trên thế giới. Trung tâm lịch sử Roma có đến hơn 25.000 điểm tham quan về môi trường và khảo cổ được công nhận, chính vì điều này, Roma là thành phố có nhiều [[di tích]] nhất trên thế giới. Sau quá trình thương nghị với [[Tòa Thánh]] và Ý, [[Ủy ban Di sản thế giới]] [[UNESCO]] trên tinh thần hợp tác đã quyết định sửa đổi bổ sung di sản của Roma vào năm 1990, mở rộng đến phạm vi tường thành Janiculum do [[Giáo hoàng Urbanô VIII]] cho xây dựng năm 1643, và những tài sản ngoài lãnh thổ của Tòa Thánh nằm bên trong thành phố, trong đó có ba [[vương cung thánh đường|đại vương cung thánh đường]] tối quan trọng đối với Giáo hội là [[Vương cung thánh đường Đức Bà Cả|Đức Bà Cả]], [[Tổng lãnh vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô|Thánh Gioan tại Latêranô]] và [[Vương cung thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành|Thánh Phaolô Ngoại thành]]. [[Tập tin:Piazza di Spagna, Roma - scalinata |thumb|left|250px|[[Quảng trường Tây Ban Nha, Roma|Quảng trường Tây Ban Nha]] là một trong những địa điểm du lịch thu hút nhất của thủ đô, nơi có 135 [[bậc thang Tây Ban Nha]] nổi tiếng và [[Đài phun nước Barcaccia]] của Bernini.]] Roma là một trung tâm [[khảo cổ học]] lớn và là một trong những trung tâm quan trọng nhất về nghiên cứu khảo cổ học của thế giới. Có rất nhiều viện nghiên cứu và viện văn hóa nằm rải rác trong thành phố, chẳng hạn như [[American Academy in Rome|Viện hàn lâm Hoa Kỳ tại Roma]] và Viện Thụy Điển tại Roma. Roma tồn tại rất nhiều di tích cổ đại, bao gồm [[Công trường La Mã]] - [[Công trường Hoàng đế]], [[Chợ Traianus]], [[Công trường Traianus]], Đấu trường La Mã, [[đền Pantheon]] và một số khác. Đấu trường La Mã được đánh giá là một trong những di tích khảo cổ tiêu biểu nhất của Roma và là một [[kỳ quan thế giới]]. Roma là kho tàng lưu trữ lớn và đầy ấn tượng về các lĩnh vực [[nghệ thuật]], [[điêu khắc]], đài phun nước, khảm trang trí ghép mảnh ([[mosaic]]), [[bích họa]] và tranh vẽ từ tất cả các giai đoạn khác nhau trong lịch sử. Roma đã trở thành một trung tâm nghệ thuật từ thời [[La Mã cổ đại]], với các hình thức nghệ thuật La Mã quan trọng như [[kiến trúc]], [[hội họa]], điêu khắc và [[tranh khảm]]. Rèn [[kim loại]], làm khuôn [[đồng xu|tiền xu]] và khắc [[ngọc|đá quý]], chạm trổ [[ngà voi]], tượng thủy tinh, [[đồ gốm]] và sách minh họa hình ảnh được coi là những hình thức 'nhỏ' trong các tuyệt tác nghệ thuật La Mã. Roma sau này trở thành một trung tâm nghệ thuật [[Phục Hưng]] chính, từ khi các [[giáo hoàng]] dành khoản tiền lớn cho các công trình xây dựng hoàng cung hùng vĩ, [[cung điện]], [[quảng trường]] và công trình công cộng nói chung. Roma trở thành một trong những trung tâm tác phẩm nghệ thuật Phục Hưng lớn của [[châu Âu]], chỉ đứng sau [[Firenze]], và có thể so sánh với các thành phố lớn và các trung tâm văn hóa khác như [[Paris]] và [[Venezia]]. Thành phố đã chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi phong trào [[baroque]] và trở thành nơi cư ngụ của nhiều [[nghệ sĩ]] và [[kiến trúc sư]], chẳng hạn như [[Gian Lorenzo Bernini|Bernini]], [[Caravaggio]], [[Annibale Carracci|Carracci]], [[Francesco Borromini|Borromini]], [[Cortona]]. Trong cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, thành phố là một trong những trung tâm của [[Grand Tour]] – một hình thức du lịch truyền thống ở châu Âu – khi mà những người giàu có, quý tộc trẻ Anh và châu Âu đến thăm thành phố để tìm hiểu về [[văn minh La Mã cổ đại|văn hóa]], nghệ thuật, [[triết học]] và kiến trúc La Mã cổ đại. Roma là nơi có nhiều nghệ sĩ tân cổ điển và rococo, chẳng hạn như [[Giovanni Paolo Pannini|Pannini]] và [[Bernardo Bellotto]]. Ngày nay, thành phố là một trong những trung tâm nghệ thuật lớn nhất của thế giới, với rất nhiều viện nghệ thuật và [[viện bảo tàng|bảo tàng]]. Roma đã phát triển thành nơi lưu trữ nghệ thuật đương đại, hiện đại và kiến trúc. Thư viện Nghệ thuật Hiện đại Quốc gia là nơi trưng bày cố định các tác phẩm của Balla, Morandi, Pirandello, Jerzy Dudek, De Chirico, De Pisis, Guttuso, Fontana, Burri, Mastroianni, Turcato, Kandisky, Cézanne. Năm 2010 chứng kiến buổi khai trương nền tảng nghệ thuật mới nhất của Roma, một loại hình nghệ thuật đương đại và triển lãm kiến trúc do kiến trúc sư người [[Iraq]] nổi tiếng Zaha Hadid thiết kế. [[MAXXI|Bảo tàng Quốc gia Nghệ thuật và Kiến trúc thế kỷ 21 – MAXXI]] tái hiện một khu vực đổ nát với kiến trúc hiện đại ấn tượng. Maxxi có một trường dành riêng cho phòng nghiên cứu thực nghiệm và văn hóa, trao đổi quốc tế và học tập. Nó là một trong những dự án kiến trúc hiện đại mong muốn nhất của Roma, cùng với Parco della Musica của [[Renzo Piano]] và Trung tâm Hội nghị Roma của Massimiliano, "Centro Congressi Italia EUR" tại khu EUR, khai trương vào năm 2016. Trung tâm Hội nghị có đặc điểm như một [[côngtenơ hóa|container]] bán trong suốt khổng lồ, kết cấu [[thép]] và [[teflon]] treo giống như một đám mây bên trong có các phòng họp và một hội trường với hai quảng trường mở ra khu dân cư hai bên công trình. Văn hóa, nghệ thuật và đời sống. Truyền thống và lễ hội dân gian. Một trong những lễ hội truyền thống chính của Roma là [[Carnival Roma]] từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, được chính quyền thành phố khôi phục vào năm 2010, mặc dù ở định dạng hoàn toàn khác. Nguồn gốc của nó bắt nguồn từ ngày lễ [[Saturnalia]] ở Roma cổ đại, đặc trưng bởi những màn trình diễn công cộng, nhảy múa và hóa trang. Các trò chơi carnival diễn ra từ thế kỷ thứ mười trên đồi Testaccio, vài thế kỷ sau [[Giáo hoàng Phaolô III]] đã quyết định rằng lễ hội sẽ diễn ra ở đường Lata, này là đường Corso hiện đại. Các mặt nạ tiêu biểu của lễ hội carnival tại Roma là Rugantino, Meo Patacca và Tướng Mannaggia La Rocca. [[Tập tin:Roman-holiday-738663 |right|250px|thumb|Buổi diễu hành trang phục quân đội La Mã nhân dịp sinh nhật Roma năm 2014.]] Roma là một thành phố giàu truyền thống, [[thần thoại La Mã|thần thoại]], truyền thuyết, phong tục và văn hóa dân gian, từ thời cổ đại và trong suốt thời Trung Cổ, khi nhiều câu chuyện phổ biến được phát triển, trong đó lĩnh vực tôn giáo gia nhập thế giới ma thuật, bao gồm cả sự thiêng liêng kết hợp với những từ lóng thông tục. Do yếu tố đặc trưng này, một trong những khu vực của Roma nơi vẫn có thể theo dấu các mảnh vỡ và sự hấp dẫn của văn hóa đại chúng là phường Trastevere đẹp như tranh vẽ, với những con hẻm hẹp, các "trattoria" (tiệm ăn kiểu Ý truyền thống), nhà thờ thời Trung Cổ và đồi Janiculum. Chính xác là tại Trastevere, bảo tàng văn hóa dân gian và thơ ca Roma vươn mình trỗi dậy, nơi lưu giữ các tài liệu về cuộc sống hàng ngày và các truyền thống thành La Mã xưa, bao gồm cả tác phẩm màu nước "Roma sparita" nổi tiếng của họa sĩ Ettore Roesler Franz. Tại quận EUR có bảo tàng nghệ thuật quốc gia về truyền thống đại chúng, nơi thu thập các tư liệu truyền thống và dân gian từ khắp nước Ý. Những ngày lễ đáng chú ý tại Roma bao gồm: Giải trí và trình diễn sân khấu. Roma là một trung tâm âm nhạc quan trọng với nền [[âm nhạc]] lớn mạnh, bao gồm một vài [[nhạc viện]] và [[nhà hát]] danh giá. Đây là nơi tọa lạc của [[Accademia Nazionale di Santa Cecilia|Học viện quốc gia Thánh Cecilia]] (thành lập năm 1585), một trong những nhạc viện có bề dày lịch sử lâu nhất thế giới, trong đó những phòng hòa nhạc mới đã được xây dựng tại khu phức hợp âm nhạc cộng đồng đa chức năng [[Parco della Musica]], một trong những địa điểm âm nhạc lớn nhất thế giới. Roma cũng có nhà hát [[opera]] là [[Nhà hát Opera Roma]], cùng vài viện âm nhạc nhỏ khác. Thành phố cũng là nơi đăng cai cuộc thi [[Eurovision Song Contest]] (Cuộc thi Ca khúc Truyền hình châu Âu) năm 1991 và [[Giải Âm nhạc châu Âu của MTV|lễ trao giải Âm nhạc châu Âu MTV]] ("MTV Europe Music Awards") năm 2004. Roma cũng từng có tác động lớn trong lịch sử âm nhạc. [[Trường phái La Mã]] là một nhóm các [[nhà soạn nhạc]] chủ yếu về mảng nhạc nhà thờ, hoạt động tại thành phố trong thế kỷ 16 và 17, kéo dài từ cuối thời kỳ [[Phục Hưng]] đến đầu thời kỳ [[Baroque]]. Thuật ngữ này cũng dùng để chỉ âm nhạc mà họ sản xuất. Nhiều nhạc sĩ có mối liên hệ trực tiếp với Giáo hội Công giáo, [[Tòa Thánh]] và [[Nhà nguyện Sistina]] của Giáo hoàng, mặc dù họ làm việc tại một số nhà thờ khác nhau. Về phong cách âm nhạc, họ thường tương phản với [[trường phái Venezia]], một phong trào của các nhà soạn nhạc diễn ra cùng thời và có xu hướng cấp tiến hơn. Nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất từ trước đến nay của trường phái La Mã là [[Giovanni Pierluigi da Palestrina]], tên tuổi ông gắn liền với một tài năng hoàn hảo với phức điệu âm nhạc rõ ràng, nhịp nhàng uyển chuyển suốt 400 năm. Tuy nhiên, cũng có những nhạc sĩ khác hành nghề tại Roma với những phong cách và hình thức đa dạng. Roma cũng được công nhận rộng rãi là một [[kinh đô thời trang]] của thế giới. Mặc dù không đóng vai trò quan trọng như [[Milano]], theo [[Global Language Monitor]] năm 2009, Roma bị rơi 2 bậc xuống vị trí thứ 4 trong những trung tâm thời trang quan trọng của thế giới, sau Milano, [[Thành phố New York|New York]], [[Paris]] và xếp trên [[Luân Đôn]] và duy trì ở vị thứ 5 trong những năm gần đây. Các hãng thời trang và trang sức cao cấp nổi bật như [[Valentino]], [[Bulgari (nhãn hiệu)|Bulgari]], [[Fendi]], [[Laura Biagiotti]] và [[Brioni (thời trang)|Brioni]] và [[Renato Balestra]], có trụ sở chính hoặc được thành lập tại thành phố. Ngoài ra, các thương hiệu lớn khác như [[Chanel]], [[Prada]], [[Dolce Gabbana]], [[Armani]] và [[Versace]] có nhiều cửa hàng sang trọng ở Roma, chủ yếu dọc theo con [[Via Condotti|phố Condotti]] thời trang uy tín và cao cấp ở Roma. Ẩm thực của Roma đã phát triển qua nhiều thế kỷ và các thời kỳ biến động của xã hội, văn hóa và chính trị. Roma trở thành một trung tâm nghệ thuật ẩm thực lớn từ thời [[La Mã cổ đại]]. Ẩm thực giai đoạn này chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa Hy Lạp cổ đại, và sau đó, quá trình bành trướng [[đế quốc La Mã]] đưa Roma tiếp xúc với nhiều tập quán chế biến món ăn địa phương và kỹ thuật nấu ăn. Ban đầu, sự cách biệt giữa các tầng lớp xã hội không lớn lắm nhưng đã tăng dần theo tốc độ tăng trưởng của đế chế. Sau này, trong thời kỳ Phục Hưng, Roma trở nên nổi tiếng là một trung tâm ẩm thực lớn, vì một số đầu bếp giỏi nhất thời đại làm việc cho các giáo hoàng. Một đầu bếp điển hình là [[Bartolomeo Scappi]], làm việc cho [[Giáo hoàng Piô IV]] trong nhà bếp Vatican và trở nên nổi tiếng khi xuất bản cuốn sách nấu ăn "Opera dell'arte del cucinare" vào năm 1570. Trong đó, ông liệt kê khoảng 1.000 công thức ẩm thực Phục Hưng đồng thời mô tả các kỹ thuật và dụng cụ nấu ăn đồng thời đưa ra hình ảnh được biết đến như chiếc [[dĩa|nĩa]] đầu tiên. [[Tập tin:Concia_di_|thumb|250px|right|"Concia di zucchine", một ví dụ điển hình của ẩm thực Do Thái Roma.]] Ngày nay, thành phố đã phát triển nền ẩm thực đặc biệt của riêng mình, dựa trên các sản phẩm của khu vực Campagna gần đó, như thịt cừu và rau củ quả (bông atisô hình cầu khá phổ biến). Song sóng đó, có thể thấy được ảnh hưởng của [[người Do Thái]] trong nền ẩm thực này vì người Do Thái đã sống ở Roma kể từ thế kỷ thứ nhất TCN. Một số ví dụ về món ăn nổi tiếng như ""Saltimbocca alla Romana" (giò cuốn Roma) – cốt lết [[bê]] theo phong cách La Mã; đứng đầu với [[giăm bông]] tươi, cây [[xô thơm]], ninh với [[rượu vang]] trắng và [[bơ]]; "Carciofi alla giudia" – atisô chiên trong [[dầu ô liu]], món điển hình của người Do Thái Roma; "Carciofi alla Romana"" – atisô phong cách Roma, lớp lá bên ngoài được tách bỏ, nhồi với [[Chi Bạc hà|bạc hà]], [[tỏi]], vụn [[bánh mì]] sau đó đem om; "[[Carbonara|mì Ý "Carbonara"]]"– mì [[spaghetti]] với [[thịt hun khói|thịt xông khói]], [[Trứng (thức ăn)|trứng]] và [[pecorino]]; "Gnocchi di semolino alla Romana" – bánh bao "semolina" theo phong cách Roma; và một vài món ăn khác. Roma được xem là một trong những kinh đô phim ảnh của thế giới nhờ có phim trường [[Cinecittà]], là cơ sở sản xuất phim và truyền hình lớn nhất tại châu Âu, và là trung tâm của điện ảnh Ý, là nơi sản xuất nhiều bộ phim ăn khách phòng vé nhất ngày nay. Tổ hợp xưởng phim rộng 40 hécta (99 mẫu Anh), cách trung tâm Roma 9 km và là bộ phận của một trong các cộng đồng sản xuất lớn nhất thế giới chỉ sau [[Hollywood]] với trên 5.000 nhân viên chuyên nghiệp, từ sáng tạo phục trang cho đến hiệu ứng kỹ xảo. Có trên 3.000 sản phẩm được sản xuất tại đây, trong đó có các tác phẩm gần đây như "[[The Passion of the Christ]]", "[[Gangs of New York]]", [[Rome (TV series)|"Rome"]] của [[HBO]], "[[The Life Aquatic with Steve Zissou|The Life Aquatic]]" và "[[The Decameron]]" của [[Dino De Laurentiis]], đến các tác phẩm cổ điển như "[[Ben-Hur (phim 1959)|Ben-Hur]]", "[[Cleopatra (phim 1963)|Cleopatra]]", và các phim của [[Federico Fellini]]. Cinecittà được [[Benito Mussolini]] thành lập vào năm 1937, và bị [[Đồng Minh]] oanh tạc trong [[Chiến tranh thế giới giới hai]]. Trong thập niên 1950, đây là địa điểm quay một số tác phẩm phim lớn của Hoa Kỳ, và sau đó trở thành một xưởng phim gắn bó mật thiết nhất với [[Federico Fellini]]. Ngày nay, Cinecittà là xưởng phim duy nhất trên thế giới có các hạ tầng tiền sản xuất, sản xuất và hậu kỳ sản xuất đầy đủ tại một địa điểm, tạo thuận tiện cho các đạo diễn và nhà sản xuất để đi vào với kịch bản trên tay và "bước ra" với một bộ phim đã hoàn thành. Đã có hơn 3000 phim điện ảnh được sản xuất tại đây, trong đó 90 tác phẩm nhận được [[giải Oscar|đề cử Oscar]] và 47 phim đã đoạt giải. Mặc dù liên hệ ngày nay chỉ với tiếng Latinh, song thành Roma cổ đại thực tế là đa ngôn ngữ. Trong thời cổ xưa nhất, các bộ tộc Sabine và các bộ lạc Latinh cùng chia sẻ khu vực Roma ngày nay. Ngôn ngữ Sabine thuộc [[Nhóm ngôn ngữ gốc Ý|nhóm Ý]], cùng với tiếng Etrusca- ngôn ngữ chính của ba vị quốc vương cuối cùng cai trị thành phố cho đến khi thiết lập chế độ cộng hoà vào năm 509 TCN. Urganilla, hay [[Plautia Urgulanilla]], vợ của Hoàng đế Claudius, được cho là một người nói tiếng Etrusca sau mốc này nhiều thế kỷ, theo như lời của Suetonius về Claudius. Tuy nhiên, tiếng Latinh, dưới nhiều dạng tiến hoá khác nhau, là ngôn ngữ chính của thành Roma cổ đại, song do thành phố có nhiều di dân, nô lệ, cư dân, công sứ, đại sứ từ nhiều nơi trên thế giới nên trở thành khu vực đa ngôn ngữ. Nhiều người Roma có học cũng nói tiếng Hy Lạp, và tồn tại các cộng đồng Hy Lạp, Syria và Do Thái lớn tại nhiều nơi của Roma ngay từ trước thời Đế quốc. [[Tiếng Latinh]] tiến hoá vào thời Trung Cổ thành một ngôn ngữ mới là "vulgaris" ("volgare", tức thông tục) hay còn gọi là [[tiếng Latinh bình dân]]. Ngôn ngữ này xuất hiện khi hội tụ nhiều phương ngữ khu vực khác nhau, trong đó phương ngữ Toscana chiếm ưu thế, song cư dân Roma cũng phát triển phương ngữ riêng của họ là tiếng Romanesco hay còn có tên đơn giản hơn là tiếng Romano. Tiếng "Romanesco" được nói vào thời Trung Cổ ban đầu giống với một phương ngữ Nam Ý hơn cả, rất gần với [[tiếng Napoli]] tại [[Campania]] hơn là tiếng [[Firenze]] của vùng [[Toscana]] (tức [[tiếng Ý]] chuẩn). Văn chương phương ngữ viết bằng dạng truyền thống của Romanesco bao gồm các tác phẩm như của [[Giuseppe Gioachino Belli]] (một trong những nhà thơ Ý quan trọng nhất), [[Trilussa]] và [[Cesare Pascarella]]. Tiếng Romanesco là một "lingua vernacola" (thổ ngữ), có nghĩa là trong nhiều thế kỷ nó không tồn tại ở dạng viết mà chỉ được cư dân nói. [[Tập tin:N|left|thumb|250px|Một tấm bảng quảng cáo ở trạm tàu điện ngầm tại Roma chào mời bằng tiếng Romanesco.]] Ảnh hưởng của văn hoá Firenze vào thời Phục Hưng, và việc nhiều người Firenze di cư đến Roma theo hai giáo hoàng xuất thân từ [[Nhà Medici]] ([[Giáo hoàng Lêô X|Lêô X]] và [[Giáo hoàng Clêmentê VII|Clêmentê VII]]), gây biến đổi lớn trong phương ngữ, nó bắt đầu giống với các dạng Toscana hơn. Điều này được duy trì trong giới hạn thành Roma cho đến thế kỷ 19, và mở rộng đến các nơi khác thuộc Lazio từ đầu thế kỷ 20 do dân số gia tăng tại Roma và sự cải thiện của hệ thống giao thông. Do kết quả từ giáo dục và truyền thông, tiếng Romanesco ngày càng trở nên tương đồng hơn với tiếng Ý tiêu chuẩn, và cũng vì vậy tiếng Romanesco hiện tại có ngữ pháp và từ vựng tương đối khác so với các phương ngữ khác thuộc miền Trung Ý. Tiếng Romanesco đương thời chủ yếu được thể hiện bởi các diễn viên và nữ diễn viên nổi tiếng, chẳng hạn như [[Alberto Sordi]], [[Aldo Fabrizi]], [[Anna Magnani]], [[Carlo Verdone]], [[Enrico Montesano]], [[Gigi Proietti]] và [[Nino Manfredi]]. Đóng góp lịch sử của Roma cho ngôn ngữ của toàn cầu còn rộng hơn nhiều, thông qua quá trình La Mã hoá, cư dân Ý, [[Gallia]] (Pháp), bán đảo Iberia và [[Dacia]] (Romania) phát triển các ngôn ngữ bắt nguồn trực tiếp từ tiếng Latinh, và được sử dụng tại nhiều phần rộng lớn trên thế giới thông qua ảnh hưởng văn hoá, thuộc địa hoá và di cư. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến tiếng Anh hiện đại, do [[người Norman]] khi chinh phục Anh đã đem theo một tỷ lệ lớn từ vựng mà họ mượn từ tiếng Latinh. Chữ cái Latinh là hệ thống chữ viết phổ biến nhất trên thế giới xét về số lượng ngôn ngữ. Roma từ lâu đã có nhiều cộng đồng nghệ thuật, cư dân ngoại quốc và lượng lớn các du học sinh hoặc khách hành hương ngoại quốc, do đó luôn là một thành phố đa ngôn ngữ. Ngày nay, do du lịch đại chúng, có nhiều ngôn ngữ được sử dụng trong du lịch, đặc biệt là tiếng Anh được biết đến phổ biến trong các vùng du lịch, và thành phố có lượng lớn các di dân và có nhiều khu vực nhập cư đa ngôn ngữ. Tội phạm, an ninh và khủng bố. Roma thể hiện mức độ tội phạm từ trung bình đến cao. Thủ đô của Ý là địa bàn hoạt động của các băng nhóm [[tội phạm có tổ chức]] nổi bật gồm có Mafia Thủ đô ("Mafia Capitale"), băng đảng Magliana ("Banda della Magliana") và bang hội Casamonica ("Clan dei Casamonica") cùng một vài nhóm nhỏ khác, hoạt động chủ yếu ở các lĩnh vực kinh doanh phi pháp, buôn lậu, ma túy, ám sát, bắt cóc, đánh bạc, cá độ, mại dâm, cướp, lừa đảo, buôn bán vũ khí, cho vay nặng lãi, giết người theo hợp đồng, tống tiền, rửa tiền, và đặc biệt là hối lộ, tham nhũng, lũng đoạn công quỹ dính líu đến quan chức chính quyền thành phố. Nhiều khu vực đô thị phụ cận trung tâm đang trở nên nhếch nhác và tỷ lệ tội phạm rộng lớn đến mức lớn hơn nhiều so với các thành phố phía bắc và khu vực Trung Âu. Năm 2010, theo Hiệp hội Cảnh sát Quốc gia Ý, Roma đứng thứ hai sau Milano về số tội phạm trên 100.000 dân, tâm điểm là đột nhập bất hợp pháp, trộm xe, buôn lậu và cướp, trong khi năm 2011, thủ đô đã dẫn đầu về số vụ giết người. Theo thống kê của Liên minh châu Âu năm 2015 Roma có tỷ lệ 0,7 vụ giết người trên 100.000 dân, thấp hơn các thành phố lớn khác của Ý như [[Venezia]] (1,1), [[Milano]] (1), [[Torino]] (0,8) hay [[Napoli]] (3,9), và có xu hướng giảm rõ rệt trong những năm gần đây, khiến Roma trở thành một trong những thành phố an toàn nhất thế giới về tội phạm bạo lực. Tuy vậy, nạn móc túi và giật túi xách vẫn là vấn đề khá nghiêm trọng tại thủ đô, gồm nhiều hình thức đa dạng từ các toán thiếu niên [[người Di-gan|Di-gan]] cho đến những người trưởng thành ăn vận lịch thiệp hay một nhóm trẻ em hồn nhiên. Hầu hết các vụ trộm được báo cáo xảy ra tại các địa điểm du lịch đông đúc, trên xe buýt, tàu điện ngầm, phương tiện công cộng hoặc tại các nhà ga lớn như Termini, chủ yếu nhằm vào khách du lịch. [[Tập tin:Rome Easter 2019 police army high |thumb|left|250px|Quân đội và cảnh sát thắt chặt an ninh quanh khu vực [[Đấu trường La Mã]] trong dịp lễ [[Lễ Phục Sinh|Phục Sinh]] năm 2019.]] Vào giữa năm 2014, thủ lĩnh [[Abu Bakr al-Baghdadi]] của [[Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant|Nhà nước Hồi giáo]] sau khi tự cho mình là [[Khalip]] đã tuyên bố sẽ "xâm lược Roma" và tổ chức này đã liên tục nhiều lần xác định rằng Vatican là một "mục tiêu tiềm năng" và sẽ "cắm ngọn cờ đen khalipha trên nóc của Nhà thờ Thánh Phêrô" trong các thông cáo tuyên truyền của mình. Theo các phân tích thống kê các tài liệu liên quan cho thấy rằng Nhà nước Hồi giáo dành sự chú ý đặc biệt của mình cho Roma với vai trò là biểu tượng của phương Tây và thế giới Kitô giáo. Trong năm 2018 Roma được đánh giá là một địa điểm đe dọa ở mức cao đối với hoạt động tấn công khủng bố nhắm vào lợi ích của Mỹ và phương Tây trong một báo cáo của [[Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ]]. Tuy nhiên trong suốt những năm gần đây, Ý nhìn chung hay Roma và Vatican nói riêng vẫn chưa phải hứng chịu một vụ tấn công khủng bố Hồi giáo đẫm máu nào hay trải qua mức độ cực đoan hóa trong nước cao như những nước láng giềng châu Âu bên cạnh, bởi kinh nghiệm điều tra đặc thù và mức độ ngăn chặn hiệu quả của cảnh sát Ý, đồng thời người ta tin rằng ngoại lệ đặc biệt này cũng nhờ vào hiệu ứng mafia, trong đó sự kiểm soát mạnh của mafia Ý đã âm thầm răn đe những kẻ thánh chiến khỏi những chỗ bám víu lợi thế, xâm nhập và phá vỡ các mạng lưới khủng bố thông qua các mối quan hệ xã hội và gia đình chặt chẽ. Mặc dù vậy, thành phố thường đặt trong tình trạng báo động cao và được thắt chặt an ninh trong các dịp lễ quan trọng như [[Giáng sinh]] hay [[Phục sinh]]. [[Tập tin:Graffiti on rolling stock in Rome 01.JPG|250px|thumb|right|Tranh phun sơn graffiti là một vấn nạn dai dẳng của thành phố, hầu như có thể thấy được ở khắp mọi nơi, kể cả các toa tàu điện ngầm cũng không thoát khỏi việc trở thành nạn nhân của sự phá hoại này.]] Theo một cuộc khảo sát được thực hiện bởi văn phòng thống kê thành phố Roma năm 2007, chất lượng cuộc sống của người dân thủ đô nhìn chung là tốt. Tuy nhiên, thành phố đã bộc lộ nhiều điểm yếu khác nhau. Trong số này, tồn tại nhức nhối vấn đề giao thông đô thị, môi trường và [[ô nhiễm tiếng ồn]] do việc sử dụng phương tiện cá nhân ngày càng tăng; Roma chịu ảnh hưởng bởi sự hiện diện lớn của các biển quảng cáo bao gồm cả quảng cáo trái phép bên cạnh các "tác phẩm đường phố" tranh phun sơn [[graffiti]] phá hoại. Một vấn đề khác liên quan đến các dịch vụ công ích tại Roma, đôi khi rất khó tiếp cận đặc biệt ở người cao tuổi. Trong số các khía cạnh tích cực, sự hài lòng của người dân sống ở Roma xuất hiện, tận hưởng hàng ngày di sản lịch sử và khảo cổ của thành phố, vẻ đẹp hoành tráng, nghệ thuật và văn hóa, khí hậu ôn hòa, gần biển và là trung tâm của Kitô giáo, bên cạnh các cơ hội tiếp cận giáo dục và đào tạo, các cơ sở thể thao khác nhau và nhiều khu vực phủ xanh rộng lớn. Do tội phạm có tổ chức ngày càng gia tăng, thủ đô trở thành một trong những thành phố có tỷ lệ tội phạm cao và phức tạp nhất ở Ý. Theo điều tra về tình hình mất an ninh trật tự và sự xuống cấp ở vùng ngoại ô đô thị được thực hiện vào năm 2009 bởi Khoa Xã hội học của "La Sapienza" thay mặt cho Đài quan sát an ninh và pháp lý khu vực, có đến hơn nửa số người dân Roma được hỏi xem vùng ngoại ô phụ cận là nguy hiểm, trên hết là do tội phạm và tai nạn giao thông. Hơn nữa, phần lớn số người được hỏi cho rằng có những khu vực không an toàn trong thành phố, nơi tốt hơn là không nên đi. [[Tập tin:Rome rubbish garbage problem Circus M|250px|thumb|left|Vấn đề ngập rác "mạn tính" và những thùng rác chất đầy ứ bốc mùi không được dọn dẹp thậm chí có thể thấy được ở khu trung tâm ngay [[Circus Maximus]] và tòa nhà [[FAO]], gây ra khủng hoảng đô thị cũng như ảnh hưởng sức khỏe.]] Theo một khảo sát về chất lượng cuộc sống được thực hiện vào năm 2015 bởi công ty tư vấn Mercer, mặc dù có những mặt tích cực, Roma đứng vị trí thứ 52 thế giới, bị điểm trừ do hệ thống giao thông và môi trường kinh doanh không tối ưu, vẫn cách xa vị trí thứ 41 của Milano. Hiện tại, bộ mặt thủ đô đã suy giảm liên tục trong nhiều năm, trở nên nghèo nàn và hứng chịu hàng loạt các vấn đề đô thị cấp bách với những con đường đầy ổ gà, các thùng rác không được dọn dẹp và lợn hoang đi lại thoải mái trên các tuyến phố, cùng một chuỗi các bê bối tham nhũng được phát hiện tại Roma. Theo thống kê gần đây của Greenspace, Roma nằm trong số những thành phố tồi tệ nhất ở châu Âu về an toàn đường bộ, giao thông và ô nhiễm. Tương tự với các đô thị lớn khác ở châu Âu, thủ đô của Ý hiện đang đối mặt với [[Khủng hoảng người nhập cư châu Âu|khủng hoảng người nhập cư]] trầm trọng ở mức đỉnh điểm, gây ra nhiều vấn đề nhức nhối nan giải. [[Bóng đá]] là môn thể thao phổ biến nhất tại Roma, giống như phần còn lại của đất nước. Thành phố từng tổ chức các trận đấu chung kết của [[Giải bóng đá vô địch thế giới]] (FIFA World Cup) năm [[Giải bóng đá vô địch thế giới 1934|1934]] và [[Giải bóng đá vô địch thế giới 1990|1990]]. Trận chung kết năm 1990 diễn ra trên [[Sân vận động Olimpico]], đây cũng là sân nhà của các câu lạc bộ địa phương thi đấu tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Ý [[Serie A]] là [[S.S. Lazio]] thành lập vào năm 1900, và [[A.S. Roma]] thành lập vào năm 1927, kình địch giữa họ trong các trận [[Derby (bóng đá)|Derby Thủ đô]] trở thành một phần chủ yếu trong văn hoá thể thao Roma. Các cầu thủ chơi cho hai câu lạc bộ này và đồng thời sinh ra tại Roma có xu hướng trở nên đặc biệt nổi tiếng, chẳng hạn như các cầu thủ [[Francesco Totti]] và [[Daniele De Rossi]] của A.S. Roma hay [[Alessandro Nesta]] của S.S. Lazio. [[Atletico Roma F.C.]] là một đội bóng nhỏ chơi tại giải hạng nhất cho đến năm 2012, sân nhà của đội bóng này là [[Stadio Flaminio|Sân vận động Flaminio]]. Roma từng đăng cai [[Thế vận hội Mùa hè 1960]], đạt được thành công vang dội, sử dụng nhiều địa điểm cổ đại như [[Biệt thự Borghese]] và [[Nhà tắm Caracalla]] làm địa điểm thi đấu. Để phục vụ Thế vận hội, nhiều công trình đã được xây dựng, đáng chú ý là [[Sân vận động Olimpico]] mới với quy mô lớn hơn (cũng được mở rộng và đổi mới để đủ điều kiện tổ chức và trận đấu chung kết của [[Giải vô địch bóng đá thế giới 1990|FIFA World Cup năm 1990]]), Làng Olimpico (sau này tái phát triển thành một khu dân cư). Roma từng ứng cử đăng cai Thế vận hội Mùa hè năm 2020 song đã rút lui trước khi hạn chót nộp hồ sơ kết thúc. Roma còn từng tổ chức giải bóng rổ châu Âu "[[EuroBasket]]" năm 1991 và có đội tuyển bóng rổ [[Virtus Roma]] được công nhận quốc tế. [[Rugby union]] được đón nhận rộng rãi. Cho đến năm 2011, [[Stadio Flaminio|sân vận động Flaminio]] là sân nhà của đội tuyển rugby quốc gia Ý, đội tuyển thi đấu trong giải vô địch Sáu nước từ năm 2000. Đội tuyển nay thi đấu các trận sân nhà tại sân vận động Olimpico do sân vận động Flaminio cần cải thiện sức chứa và tính an toàn. Roma có các đội tuyển rugby union địa phương như Rugby Roma (thành lập vào năm 1930 và nhiều lần vô địch nước Ý), Unione Rugby Capitolina và S.S. Lazio 1927 (nhánh rugby union của câu lạc bộ thể thao [[S.S. Lazio]]). Mỗi tháng 5 hàng năm Roma tổ chức giải đấu quần vợt [[ATP World Tour Masters 1000]] trên sân đất nện [[Công trường Italico]]. Đua xe đạp phổ biến vào giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ hai, song tính phổ biến của nó đã mất đi. Roma là nơi tổ chức chặng cuối của [[Giro d'Italia]] trong ba lần, vào năm 1911, 1950, và 2009. Roma cũng có nhiều đội tuyển thể thao khác, gồm có bóng chuyền ([[M. Roma Volley]]), [[bóng ném]] hay [[bóng nước (thể thao)|bóng nước]]. Roma là trung tâm của mạng lưới đường hướng tâm chạy theo những con đường nhấp nhô có từ thời La Mã cổ đại, bắt đầu từ ngọn [[đồi Capitolinus]] và nối liền thành Roma với phần còn lại Đế quốc La Mã. Roma ngày nay được khoanh vòng ở khoảng cách khoảng 11 km (6 dặm) là tuyến đường vòng cung ([[Grande Raccordo Anulare]] hoặc "GRA"). Do vị trí nằm ở trung tâm bán đảo Ý, Roma là nút giao đường sắt trọng điểm tại miền Trung nước Ý. Nhà ga chính của Roma, "Termini", là một trong những nhà ga lớn nhất ở châu Âu và có lưu lượng khách sử dụng nhiều nhất ở Ý, với khoảng 400.000 hành khách được chuyên chở mỗi ngày. Nhà ga lớn thứ hai trong thành phố là nhà ga "Roma Tiburtina", hiện đang được tái phát triển thành một trạm [[đường sắt cao tốc]]. Cũng như các chuyến tàu cao tốc thường xuyên đến tất cả các thành phố lớn của Ý, Roma kết nối hàng đêm bằng các dịch vụ tàu 'thuyền nằm' đến [[Sicilia]] và quốc tế bằng các dịch vụ ngủ qua đêm đến [[München]] và [[Viên]] bằng đường sắt ÖBB của [[Áo]]. Có ba sân bay phục vụ tại Roma. Sân bay quốc tế liên lục địa [[Sân bay quốc tế Leonardo da Vinci|Leonardo da Vinci]] là sân bay chính của Ý và thường được gọi là "Sân bay Fiumicino", vì nó nằm trong huyện [[Fiumicino]] phía tây nam của Roma nơi sông Tiber đổ ra [[Địa Trung Hải]]. Năm 2018, Leonardo da Vinci-Fiumicino đứng vị trí thứ 9 trong các sân bay tốt nhất thế giới và được xếp hạng là sân bay phát triển và cải thiện nhanh nhất, và trở thành sân bay tốt nhất của châu Âu trong cùng năm. Tính đến năm 2021, Fiumicino của Roma là sân bay tốt nhất châu Âu trong 4 năm liên tiếp. Sân bay thứ hai là [[sân bay Ciampino Roma|Ciampino Roma]], trước đây là một sân bay dân sự và quân sự kết hợp, thường được gọi là "Sân bay Ciampino" vì nó nằm bên cạnh huyện Ciampino về phía đông nam Roma. Sân bay thứ ba là [[Roma-Urbe]], một sân bay nhỏ có lưu lượng thấp nằm cách khoảng 6 km về phía Bắc trung tâm thành phố, dành riêng phục vụ cho hầu hết máy bay trực thăng và các chuyến bay tư nhân. Mặc dù Roma có một quận giáp Địa Trung Hải (Quận 10, Ostia), nơi này chỉ có bến du thuyền và bến cảng nhỏ cho các tàu đánh cá. Cảng chính phục vụ Roma là [[Port of Civitavecchia|cảng Civitavecchia]], tọa lạc khoảng 62 km (39 dặm) về phía tây bắc của thành phố. Thành phố Roma đang hứng chịu các vấn đề giao thông, chủ yếu là do mô hình đường xuyên tâm đã gây khó khăn cho người dân Roma: nếu muốn di chuyển từ các vùng lân cận của một trong những tuyến đường xuyên tâm đến tuyến đường khác họ phải đi vào trung tâm lịch sử hoặc phải đi đường vòng. Vấn đề này không thể giải quyết do quy mô hệ thống tàu điện ngầm tại Roma bị hạn chế so với các thành phố khác có kích thước tương tự. Ngoài ra, Roma chỉ có 21 xe [[tắc xi|taxi]] cho mỗi 10.000 dân, cách biệt xa so với các thành phố lớn ở châu Âu. Nạn tắc nghẽn xe hơi thường xuyên xảy ra trong những năm 1970 và 1980 đã dẫn đến việc hạn chế lưu thông phương tiện vào trung tâm nội thành trong thời điểm ban ngày. Những khu vực áp dụng hạn chế được gọi là Khu Hạn chế Giao thông ("Zona a Traffico Limitato" (ZTL) trong tiếng Ý). Gần đây hơn, lượng giao thông tấp nập vào ban đêm ở [[Trastevere]], [[Testaccio]] và khu San Lorenzo đã dẫn đến việc hình thành những khu ZTL đêm ở những vùng đó. [[Tập tin:Roma_MetropolitanaC_e_F|thumb|250px|right|Bản đồ các tuyến tàu điện ngầm (metro) và giao thông đường sắt ở Roma.]] Một hệ thống tàu điện ngầm 3 tuyến đã đi vào hoạt động tại Roma. Việc xây dựng nhánh đầu tiên bắt đầu vào những năm 1930. Tuyến đường này đã được lên kế hoạch trước với mục tiêu nhanh chóng kết nối Termini với khu E42 vừa được quy hoạch ở ngoại ô phía Nam, nơi dự định tổ chức Hội chợ Thế giới 1942. Sự kiện này đã không thể diễn ra vì chiến tranh. Khu vực này sau đó một phần được thiết kế lại và đổi tên thành EUR ("Esposizione Universale di Roma": Triển lãm Thế giới Roma) trong những năm 1950 để đóng vai trò như một khu kinh doanh hiện đại. Cuối cùng, tuyến metro này đã được mở vào năm 1955 và hiện nay đang là phần phía nam của Tuyến B. Tuyến A khai trương vào năm 1980, chạy từ Ottaviano đến nhà ga Anagnina, sau đó mở rộng quãng đường đến Battistini (1999-2000). Trong những năm 1990, phần mở rộng của Tuyến B đã đi vào hoạt động, chạy từ Termini đến Rebibbia. Mạng lưới tàu điện ngầm nói chung là đáng tin cậy (mặc dù nó có thể bị tắc nghẽn trong giờ cao điểm và trong các sự kiện, đặc biệt là Tuyến A) vì độ dài tương đối ngắn. Hai Tuyến A và B giao nhau ở nhà ga Termini. Một nhánh mới của Tuyến B (B1) đã khai trương vào ngày 13 tháng 6 năm 2012 sau khi được xây dựng với chi phí ước tính khoảng 500 triệu euro. B1 kết nối với B tại Quảng trường Bologna và có bốn trạm phân bố trong 3,9 km (2 dặm). Tuyến C là tuyến thứ ba, đang được xây dựng với chi phí ước tính 3 tỷ euro với 30 trạm trong khoảng cách 25,5 km (16 dặm). Tuyến C thay thế một phần tuyến đường sắt là Termini-Pantano với đầy đủ tính năng tự động và không người lái. Đoạn đầu với 15 trạm kết nối Pantano với khu Centocelle tại khu đông của thành phố được khánh thành vào ngày 9 tháng 11 năm 2014, và đoạn sau bắt đầu khởi công vào năm 2015, nhưng những phát hiện khảo cổ học thường trì hoãn việc xây dựng ngầm. 6 trạm dài 5,4 km (3,4 dặm) tiếp tục được thêm vào Tuyến C mở vào ngày 29 tháng 6 năm 2015 và gần nhất vào ngày 12 tháng 5 năm 2018, bến cuối ở đầu phía tây được nối đến San Giovanni, nơi chuyển tiếp sang Tuyến A. Nhà ga [[Công trường Hoàng đế]] Fori Imperiali kết nối với nhà ga [[Đấu trường La Mã]] Colosseo của Tuyến B, dự kiến sẽ được khánh thành vào năm 2024. Tuyến thứ tư là tuyến D cũng được quy hoạch với dự kiến 22 nhà ga phân bố trên một khoảng cách 20 km (12 dặm). Đoạn đầu kiến đưa vào hoạt động trong năm 2015 và các phần cuối sẽ hoạt động trước năm 2035. Tuy nhiên kế hoạch đã phải hủy bỏ vào năm 2012 bởi vấn đề khủng hoảng ngân sách của thành phố, nhưng đã được khôi phục lại vào năm 2018. Trong cùng năm 2018, dự án tàu điện ngầm được lên kế hoạch với một số sửa đổi, bao gồm khả năng chuyển đổi tuyến đường sắt đô thị đi biển (từ trung tâm thành phố đến biển Ostia) và tuyến nhánh B1 Jonio thành tuyến tàu điện ngầm thứ năm - Metro E, được ký hiệu bằng màu xanh nhạt, dùng chung đường ray với tuyến B đoạn từ Piramide đến Bologna. Dự án hiện đang chờ một số nghiên cứu về [[tính khả thi]]. Giao thông công cộng bề nổi tại Roma hình thành bởi mạng lưới [[xe buýt]], [[tàu điện|tàu điện nổi]] (tram) và mạng lưới đường sắt đô thị (các tuyến FR). Mạng lưới xe buýt, tàu điện, tàu điện ngầm và đường sắt đô thị được điều hành bởi công ty Atac S.p.A. (ban đầu là viết tắt của "Azienda Tramvie e Autobus del Comune" - 'Công ty Xe buýt và Tàu điện Thành phố' trong tiếng Ý). Hơn 350 tuyến xe buýt và hơn tám nghìn điểm dừng xe buýt, trong khi hệ thống tàu điện hạn chế hơn có 39 km (24 mi) đường ray và 192 điểm dừng. Ngoài ra còn có một tuyến [[xe điện bánh hơi]], được mở vào năm 2005 và các dòng xe buýt điện khác được lên kế hoạch. Tổ chức đoàn thể và vai trò trên trường quốc tế. [[Tập tin:Rom, auf dem Piazza Mignanelli.JPG|thumb|left|250px|Điện Tây Ban Nha tại Quảng trường Tây Ban Nha, nơi đặt cơ quan sứ mệnh ngoại giao của Tây Ban Nha tại [[Tòa Thánh]] từ năm 1647, là tòa nhà đại sứ quán lâu đời nhất trên thế giới.]] Với vị thế là thủ đô của nước Ý, Roma là trụ sở của tất cả các cơ quan chính yếu của quốc gia, như [[Tổng thống|Tổng thống Cộng hòa Ý]], [[chính phủ]] (và các bộ ban ngành), Lưỡng viện [[Quốc hội]], Toà án tư pháp tối cao, và đại sứ quán từ khắp các nước trên thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế khác được đặt tại Roma, đặc biệt là những tổ chức [[văn hóa]] và [[khoa học]] nổi tiếng - chẳng hạn như Viện nghiên cứu Hoa Kỳ, British School, [[Viện hàn lâm Pháp]], Viện Scandinavi, Viện khảo cổ học Đức, cùng những cơ quan chuyên ngành của [[Liên Hợp Quốc]]. [[Tập tin:Aventino s Maria del Priorato villa dal giardino 1050419.JPG|right|250px|thumb|Biệt thự Magistrale trên đồi Aventinus đóng vai trò là Đại sứ quán Dòng Hiệp sĩ Malta tại Ý.]] Trong số các [[thành phố toàn cầu]], Roma là thành phố duy nhất có hai thực thể có chủ quyền nằm hoàn toàn trong địa giới lãnh thổ của mình, là [[Tòa Thánh]], được đại diện bởi [[Thành quốc Vatican]] và [[Dòng Chiến sĩ Toàn quyền Malta]]. Vatican là một vùng đất nằm gọn trong lòng thủ đô nước Ý và thuộc sở hữu có chủ quyền của Tòa Thánh, là [[Giáo phận Roma]] và đầu não tối cao của [[Giáo hội Công giáo La Mã]]. Tòa Thánh không cho phép một đại sứ duy nhất được đồng thời kiêm sứ mệnh ngoại giao đối với cả Giáo hội và Ý, do đó ngoài các đại sứ quán có sứ mệnh ngoại giao tại Ý thì còn có các đại sứ quán đối với [[Tòa Thánh]] và Dòng Hiệp sĩ Malta mượn lãnh thổ của Ý đặt tại Roma. Tổng cộng, Roma có 140 đại sứ quán đối với Ý và 88 đại sứ quán đối với Tòa Thánh (trong đó có 30 cơ quan đặt liên kết ngoại giao với Dòng Malta), hơn nữa còn là nơi đặt trụ sở của 25 Tổng Lãnh sự quán và Lãnh sự quán Danh dự. Điều này tạo ra tình thế ngoại giao đặc biệt, nước Ý là trường hợp duy nhất trên thế giới đặt Đại sứ quán của mình ngay trên chính lãnh thổ của mình: 'Đại sứ quán Ý đối với Tòa Thánh' nằm tại Roma. Thêm vào đó, "Đại sứ quán [[Trung Hoa Dân Quốc]] đối với Tòa Thánh" - đại sứ quán "[[de jure|trên luật định]]" duy nhất tồn tại ở châu Âu và hiếm hoi trên thế giới, nằm trên lãnh thổ Roma nhưng lại là một thực thể không được nước Ý công nhận, tách biệt với "[[Danh sách phái bộ ngoại giao của Đài Loan|Văn phòng đại diện Đài Bắc tại Ý]]" ở Roma mới là đại sứ quán "[[de facto|trên thực tế]]" của chính thể [[Đài Loan]] đối với Ý. Giáo hoàng là Giám mục thành Roma và ngôi chính thức nằm tại là [[Tổng lãnh vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô]], nhà thờ chính tòa của Roma, trong đó [[Tổng thống Pháp|Tổng thống nước Cộng hòa Pháp]] là "đấng pháp chính đệ nhất và danh dự" theo chức vụ ("ex officio") của nhà thờ, danh hiệu của những nguyên thủ quốc gia Pháp có từ thời vua [[Henri IV của Pháp|Henri IV]] của Pháp. Ngoài ra, một số trường đại học và viện đại học giáo hoàng quốc tế cũng được đặt tại Roma. Một thực thể khác, Dòng Chiến sĩ Toàn quyền Malta đã lánh nạn ở Roma vào năm 1834, do cuộc chinh phạt Malta của [[Napoleon]] vào năm 1798. Đôi khi nó được phân loại là có chủ quyền nhưng không yêu sách bất kỳ lãnh thổ nào ở Roma hoặc bất cứ nơi nào khác, do đó dẫn đến sự tranh cãi về tình trạng chủ quyền thực tế của nó. Roma là trụ sở của Polo Romano được tạo thành bởi ba cơ quan quốc tế chính của [[Liên Hợp Quốc]]: [[Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc|Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp]] (FAO), [[Chương trình Lương thực Thế giới]] (WFP) và [[Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp]] (IFAD). Roma theo truyền thống đã tham gia vào quá trình hội nhập chính trị châu Âu. [[Các hiệp ước của EU]] được đặt tại [[Điện Farnesina]], trụ sở của Bộ Ngoại giao, do thực tế rằng chính phủ Ý là nơi lưu giữ các hiệp ước. Năm 1957, thành phố đã tổ chức ký kết [[Hiệp ước Roma]], nơi thành lập [[Cộng đồng Kinh tế châu Âu]] (tiền thân của [[Liên minh châu Âu]]), đồng thời đóng vai trò ký kết chính thức [[Hiến pháp châu Âu]] đề xuất vào tháng 7 năm 2004. Roma là trụ sở của [[Ủy ban Olympic châu Âu]] và của [[NATO Defense College|Đại học Phòng thủ NATO]]. Thành phố này là nơi hình thành [[Tòa án Hình sự Quốc tế|Đạo luật Tòa án Hình sự Quốc tế]] và [[Công ước châu Âu về Nhân quyền]]. Thành phố cũng tổ chức các tổ chức quốc tế quan trọng khác như [[IDLO]] (Tổ chức quốc tế về Luật Phát triển), [[ICCROM]] (Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Bảo tồn và Phục hồi các di sản văn hóa) và [[UNIDROIT]] (Viện Quốc tế về Thống nhất Luật Tư nhân). Thành phố kết nghĩa. Thành phố song sinh và thành phố kết nghĩa. Từ ngày 9 tháng 4 năm 1956, Roma độc quyền tương hỗ và [[Thành phố kết nghĩa|kết đôi]] với thành phố song sinh của mình: Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. #đổi [[Bản mẫu:Link language]] "Solo Parigi è degna di Roma; solo Roma è degna di Parigi." (tiếng Pháp) "Seule Paris est digne de Rome; seule Rome est digne de Paris." (tiếng Anh) "Only Paris is worthy of Rome; only Rome is worthy of Paris." "Chỉ có Paris mới xứng với Roma; chỉ có Roma mới xứng với Paris." Quan hệ hợp tác. Các thành phố có quan hệ cộng sự và đối tác của Roma bao gồm: Danh ngôn về Roma. "Mọi con đường đều dẫn đến Roma" "Roma chẳng được xây chỉ trong một ngày đâu" "Quando a Roma, fai come i romani" (Ý)br"Quand à Rome, fais comme les Romains" (Pháp)br"When in Rome, do as the Romans do" (Anh) "Tại La Mã thì hãy làm theo những người La Mã" "Để hiểu về Roma, một đời là chẳng đủ" "Roma đã lên tiếng, mọi thảo luận đã xong" Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được [[:Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển|di chuyển (đổi tên)]]. Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. [[Thể loại:Trang đổi hướng từ việc di chuyển]] [[Thể loại:Thủ đô châu Âu]] [[Thể loại:Thành phố cổ]] [[Thể loại:La Mã cổ đại| ]] [[Thể loại:Thành phố đô thị Roma Thủ đô]] [[Thể loại:Địa điểm hành hương Công giáo]] [[Thể loại:Thành phố thánh địa]] [[Thể loại:Địa danh trong sách Thứ kinh]] [[Thể loại:Thành phố Tân Ước]] [[Thể loại:Khởi đầu thế kỷ 8 TCN ở Ý]] [[Thể loại:Di sản thế giới tại Ý]]
Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 (hay Cúp bóng đá thế giới 2006, tiếng Anh: "2006 FIFA World Cup," tiếng Đức: "FIFA Fußball-Weltmeisterschaft Deutschland 2006") được tổ chức từ 9 tháng 6 đến 9 tháng 7 năm 2006 tại 12 thành phố của Đức. Đây là giải vô địch bóng đá thế giới lần thứ 18 và là lần thứ hai được tổ chức ở Đức (lần trước vào năm 1974 ở Tây Đức), đồng thời Đức trở thành quốc gia thứ 3 của châu Âu (sau Pháp và Ý) hai lần tổ chức giải. Bài hát chính thức của giải là bài "The Time of Our Lives", của Il Divo và bài hát chào mừng của giải là bài "Celebrate the Day" của Herbert Groenmeyer. Linh vật chính thức của giải đấu là Goleo VI và Pille, một chú sư tử mặc đồng phục thi đấu số 06 của đội tuyển bóng đá quốc gia Đức cùng một trái banh biết nói. Trong mùa giải này có tất cả 197 đội bóng tham gia các vòng loại (hầu hết các đội bóng này là thành viên của FIFA). Đây là giải đấu có số lượng đội bóng tham gia nhiều nhất trong lịch sử. Trong đó, 32 đội xuất sắc nhất tham gia vào vòng chung kết với các trận đấu: vòng bảng, vòng 16 đội, tứ kết, bán kết, chung kết. Trận chung kết giữa Pháp và Ý được tổ chức tại sân vận động Olympic ở Berlin. Ý là đội chiến thắng và lần thứ tư giành chức vô địch thế giới. Việc bán bản quyền phát sóng và tài trợ đã góp phần thành công cho giải đấu. Trong thời kì diễn ra World Cup 2006, người ta ước tính rằng có khoảng 26,29 tỉ lượt người xem trực tuyến. Giải đấu đã thu hút được 715.1 triệu khán giả trên khắp thế giới. World Cup 2006 xếp hạng thứ bốn về số lượng người theo dõi, sau các kỳ World Cup 1990, 1994, 2002. World Cup 2006 đã diễn ra thành công ở Đức, nhờ đó nước chủ nhà đã quảng bá được hình ảnh của mình ra khắp thế giới. Với tư cách là đội chiến thắng, Ý giành quyền tham dự Cúp Liên đoàn các châu lục 2009. Lựa chọn nước chủ nhà. Việc bỏ phiếu để lựa chọn nước chủ nhà tổ chức World Cup 2006 bắt đầu được tổ chức vào tháng 7 năm 2000 tại Zürich, Thụy Sĩ. Trong đó, bốn ứng viên sáng giá bao gồm: Đức, Nam Phi, Anh và Maroc. Ba vòng bỏ phiếu lần lượt diễn ra để loại ra quốc gia có số phiếu ít nhất của mỗi vòng. Vòng thứ ba được tổ chức vào ngày 7 tháng 7 năm 2000 và Đức đã trở thành nước chủ nhà khi có nhiều phiếu hơn Nam Phi. Sau đó, quyết định chọn Đức đăng cai tổ chức World Cup 2006 đã gây tranh cãi trong dư luận . Kết quả được trình bày trong bảng sau: Vòng loại World Cup 2006 bắt đầu từ tháng 9 năm 2003 và kết thúc ngày 17 tháng 11 năm 2005 với hơn 800 trận đấu và 2400 bàn thắng. Bên cạnh đội chủ nhà Đức được vào thẳng vòng chung kết, 196 quốc gia và vùng lãnh thổ khác đã tham dự vòng loại để chọn ra 31 đội. Danh sách cầu thủ tham dự giải. Mỗi đội tuyển tham gia vòng chung kết có quyền đăng ký 23 cầu thủ, trong đó có tối thiểu ba thủ môn. Hạn cuối cùng để nộp danh sách là ngày 15 tháng 5 năm 2006. Trong trường hợp chấn thương vào phút chót, các đội tuyển có thể thay đổi danh sách chậm nhất là vào 24 giờ trước trận đấu khai mạc giải. Lễ bốc thăm và thể thức thi đấu. Các nhóm bốc thăm. Lễ bốc thăm để thành lập các bảng cho VCK World Cup 2006 đã diễn ra ngày 9 tháng 12 năm 2005 tại Trung tâm triển lãm Leipzig (Đức) với sự có mặt của khoảng 6720 khách mời. Người dẫn chương trình trong lễ bốc thăm là siêu mẫu Heidi Klum. 32 đội tuyển tham dự giải được chia ra làm năm nhóm tại lễ bốc thăm, mỗi bảng đấu sẽ có một đội thuộc mỗi nhóm. Nhóm một là nhóm hạt giống bao gồm các đội tuyển hạt giống. Nhóm hai là nhóm các đội tuyển châu Phi, Nam Mỹ và châu Úc. Nhóm thứ 3 là nhóm các đội tuyển châu Âu không phải là hạt giống. Nhóm thứ 4 gồm các đội châu Á và khu vực CONCACAF. Đội tuyển Serbia và Montenegro vào một nhóm riêng để không thể có ba đội châu Âu rơi vào cùng một bảng và chắc chắn sẽ phải gặp một trong ba đội hạt giống là Brasil, Argentina, México. Ở giải năm nay, các đội không may mắn khi rơi vào bảng được coi là "tử thần" là các bảng C và E . "Giờ thi đấu tính theo giờ địa phương (GMT +2)" Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Miroslav Klose (5 bàn) Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Cầu thủ ghi bàn. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Cristian Zaccardo (trận gặp Hoa Kỳ) Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Carlos Gamarra (trận gặp Anh) Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Petit (trận gặp Đức) Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Brent Sancho (trận gặp Paraguay) 32 đội bóng lọt vào vòng chung kết được xếp hạng dựa theo tiêu chuẩn của FIFA và kết quả các trận đấu vừa qua . Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Fansipan (còn được viết là Phan Si Păng hay Phan Xi Păng) là đỉnh núi cao nhất của Việt Nam, nằm trên dãy núi Hoàng Liên Sơn ở vùng Tây Bắc Bộ Việt Nam. Đỉnh núi có độ cao tuyệt đối là 3147,3 m. Fansipan cũng là đỉnh núi cao nhất bán đảo Đông Dương và được mệnh danh là "Nóc nhà Đông Dương". Nguồn gốc của từ Fansipan chưa rõ ràng. Nhiều nguồn cho biết một tên khác của đỉnh Fansipan là "Hủa Xi Pan" và khẳng định tên gọi này có gốc Quan thoại, nghĩa là "phiến đá khổng lồ chênh vênh". Có giả thuyết khác cho rằng cái tên này là tiếng H'mông, có nghĩa là "núi Đỗ quyên" vì sự phổ biến của cây đỗ quyên và các loài thực vật thuộc chi Rhododendron trên núi. Cũng có ý kiến cho rằng cái tên này là lối đọc trại của Phan Văn Sơn, tên một viên quan địa lý nhà Nguyễn, năm 1905 đã cùng người Pháp đi vẽ bản đồ, phân định biên giới Việt Nam với nhà Thanh. Fansipan là đỉnh núi cao nhất trong dãy núi Hoàng Liên Sơn, nằm ở biên giới tỉnh Lào Cai và tỉnh Lai Châu. Về mặt hành chính, đỉnh Fansipan thuộc địa giới của cả huyện Tam Đường (Lai Châu) và thị xã Sa Pa (Lào Cai), cách trung tâm thị xã Sa Pa khoảng 9 km về phía tây nam. Chiều cao của đỉnh núi đo đạc vào năm 1909 là 3143 m, tuy vậy theo số liệu mới nhất của Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam đưa ra vào cuối tháng 6 năm 2019, đỉnh núi cao 3147,3 m. Đây cũng là điểm cao nhất của ba nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) nên Fansipan còn được mệnh danh là "Nóc nhà Đông Dương". Lịch sử kiến tạo địa chất. Fansipan được hình thành vào thời kì chuyển tiếp của hai kỷ Permi và Tam Điệp của Đại Cổ sinh (Paleozoi) và Đại Trung sinh (Mesozoi) cách nay 260-250 triệu năm. Dãy núi Himalaya, kể từ Đại Trung sinh muộn, đã nâng cao thêm đỉnh Fansipan và dãy Hoàng Liên Sơn, và tạo ra đứt gãy sông Hồng về phía đông. Hành trình chinh phục. Trong cuốn "Chinh phục đỉnh Fansipan" của Hiệp hội Địa lý Hà Nội do L.Salles - Giáo sư trường Albert Sarraut - là tác giả (xuất bản ngày 29.11.1935 bằng tiếng Pháp), có viết rằng những người Pháp đầu tiên lên đến đỉnh Fansipan là một người trung sĩ tên Denis và một trung sĩ khác tên Dollo. Trung sĩ Denis cùng nhóm đại úy Scherdlin và đại úy Benoit phải nhận nhiệm vụ chinh phục Fansipan vào cuối tháng 7.1905. Rất có khả năng trung sĩ Denis đã lên tới đỉnh Fansipan một mình. Dennis đã để lại mô tả khá chính xác về cột mốc trên một tảng đá trên đỉnh núi, cũng như một số chi tiết về những khó khăn của cuộc thám hiểm. Denis mất 3 ngày leo núi để chinh phục Fansipan và kể lại: “"Rừng ở trên đỉnh. Mưa trong nửa trên ở đỉnh. Trời rất lạnh ở trên đỉnh"". Điểm cao nhất được anh đánh dấu bằng ba viên đạn săn bắn trên một tảng đá lớn, các viên đạn được nhét vào đá theo hình tam giác. Còn về Dollo, ngay sau nhiệm vụ của nhóm Scherdlin, theo các tài liệu của Sở Địa lý, nhiệm vụ trắc địa thuộc nhóm của trung úy Bourély đã diễn ra. Cựu trung úy, hiện là đại tá Bourély, đã viết thư cho giáo sư L.Salles và kể lại: "Khoảng thời gian ngày 1.10.1905 đã chinh phục thành công đỉnh Fansipan. Trung sĩ bộ binh thuộc địa Dollo đã dành được vinh dự này. Anh phải mất 8 ngày để lên tới đỉnh kể từ khi gặp những ngôi nhà cuối cùng trên đường. Điều này được giải thích bởi cuộc chinh phục được thực hiện trong sương mù, nơi người ta bắt đầu rẽ rừng lên đỉnh để từ đó nhận ra những tia sáng đầu tiên và rồi lại phải rời đi một lần nữa và tiếp tục tìm kiếm điểm cao nhất. Điều đó khá là thú vị và mệt mỏi nữ, nhưng điều đó làm tôi nhớ đến sự khó khăn của cuộc thám hiểm và sự ngạc nhiên mà tất cả chúng tôi đã trải qua khi tiến hành tính toán độ cao của đỉnh khi phát hiện nó đã vượt quá 3.000m."Quãng thời gian chinh phục đỉnh Fansipan của hai người chỉ chênh lệch vài ngày: Khoảng ngày 1.10 và từ ngày 30.9-12.10. Và cả hai cuộc chinh phục đều diễn ra vào năm 1905. Một người thiết lập điểm chuẩn và một người lên đến đỉnh mốc. Tháng 10 năm 1984, ông Hà Văn Khuyên, nhân viên phòng Văn hóa của huyện Sapa cũ được giao nhiệm vụ đưa đoàn chuyên gia của Ba Lan và các vận động viên leo núi lên đỉnh Fansipan. Chuyến đi kéo dài 3 ngày, hoàn thành được mục tiêu mang chóp lên gắn cho đỉnh núi cao nhất Đông Dương. Cung đường trekking lên đỉnh Fansipan bắt đầu hình thành vào khoảng những năm 1990, chủ yếu dành cho những nhà thám hiểm và nhà nghiên cứu. Cáp treo Fansipan được khởi công năm 2013 và khánh thành năm 2016 đã đưa việc tiếp cận đỉnh núi cao nhất Việt Nam trở nên phổ biến với mọi người. Tuy nhiên cung trekking cũ vẫn còn được khai thác bởi những người ưa du lịch mạo hiểm hiện nay. Hệ thực vật ở Fansipan khá phong phú. Có tới 1.680 loại cây chia làm 679 chi thuộc 7 nhóm. Có một số loại thuộc nhóm quý hiếm. Dưới chân núi là những cây gạo, mít, cơi với mật độ khá dày tạo nên những địa danh Cốc Lếu (Cốc Gạo), Cốc San (Cốc Mít), vân vân. Từ đây đến độ cao 700m là vành đai nhiệt đới có những vạt rừng nguyên sinh rậm rạp, dây leo chằng chịt. Từ 700m trở lên là tầng cây hạt trần như pơmu, có những cây ba, bốn người ôm không xuể, cao 50-60m, tuổi đời tới vài trăm năm. Từ độ cao 2.800m, phủ kín mặt đất là trúc lùn, những bụi trúc thấp khoảng 25–30 cm, cả thân cây trơ trụi, phần ngọn có một chút lá phất phơ, nên loài trúc này được gọi là trúc phất trần. Xen kẽ là một số cây thuộc các họ như cói, hoa hồng, hoàng liên.
Kras (tiếng Ý: Carso), còn gọi là the Karst hay cao nguyên Kras, là một khu vực ranh giới cao nguyên đá vôi ở tây nam Slovenia mở rộng tới miền đông bắc Ý và miền tây Croatia. Nó nằm giữa thung lũng Vipava, Vipavska brda, phần phía tây nhất của các ngọn đồi Brkin, vịnh Trieste và một phần ngắn của biên giới Ý nằm giữa vịnh Trieste và sông Vipava. Biên giới phía tây của nó là biên giới theo dân tộc cổ của người Ý và người Sloven. Khu vực này nổi tiếng nhờ nó là cảm hứng cho thuật ngữ địa chất carxtơ. Cao nguyên này khá dốc so với các vùng đất xung quanh, với ngoại lệ là ở phía đông nam, là khu vực mà độ dốc ít rõ nét hơn. Cao nguyên này thấp dần từ đông nam tới tây nam. Trung bình nó nằm ở độ cao 334 mét trên mực nước biển. Do Kras thấp dần về phía biển Adriatic (xem: Kraški rob), nó ít bộc lộ các ảnh hưởng khí hậu có lợi của biển. Thực vật chính trong quá khứ là sồi, nhưng hiện nay là các rừng thông. Các cánh rừng hiện nay chỉ che phủ khoảng 1/3 diện tích khu vực Kras. Kras nổi tiếng vì các hang động của mình. Tại Slovenia, chúng bao gồm Vilenica (hang động du lịch cổ nhất trên thế giới), hang Lipica, hang Divača, hang Kačna và các hang Škocjan (hệ thống di sản thế giới của UNESCO), trong khi tại Ý có Grotta Gigante (hang du lịch lớn nhất thế giới, với mặt phẳng dao động ngang đặc biệt được dùng để đo sự lên xuống của thủy triều do Mặt Trăng tác động đối với Trái Đất). Phần lớn Kras nằm ở tây nam Slovenia với diện tích 429 km² và dân số khoảng 19.000 người. Kras tổng thể có 100 điểm dân cư. Thành phố Sežana là trung tâm của Kras về phía biên giới Slovenia; nó là nơi mà nhà thơ Srečko Kosovel sinh ra. Các trung tâm nông thôn chính là các khu dân cư ở Divača, Dutovlje và Komen. Štanjel là khu dân cư có phong cảnh đẹp ở phần gờ phía bắc nhất của cao nguyên này; các ngôi nhà trong khu này được tụm lại xung quanh đồi Turn, tạo ra ấn tượng về một thành phố thời Trung cổ. Các điều kiện tự nhiên, bao gồm gió bora (burja) và cách thức sinh hoạt của người dân địa phương đã có ảnh hưởng lớn tới các yếu tố cơ bản trong kiến trúc của vùng này, tạo ra các hình dáng đơn giản nhưng rõ ràng. Kras cũng được biết tới nhờ rượu vang của mình, có tên gọi là teran và đùi lợn xông khói. Một trong các trung tâm du lịch chính trong khu vực là Lipica, với các đàn ngựa (quê hương của nòi ngựa Lipizza) cũng như là các tiện nghi du lịch khác.
Lê Văn Tỵ (1904-1964) là một tướng lĩnh Lục quân của Quân đội Quốc gia Việt Nam và Quân đội Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thống tướng. Ông xuất thân từ trường Thiếu sinh quân và trường Sĩ quan Pháp. Ông đã từng phục vụ trong Quân đội Viễn chinh Pháp tham gia Đệ nhị Thế chiến, sau chuyển sang phục vụ cho Quốc gia Việt Nam thời Quốc trưởng Bảo Đại và Việt Nam Cộng hòa thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông là vị Thống tướng đầu tiên và duy nhất của Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Ông có 42 năm thâm niên quân vụ kể từ ngày nhập ngũ cho đến khi từ trần. Tiểu sử và Binh nghiệp. Ông sinh ngày 17 tháng 5 năm 1904 tại làng Thắng Nhì, Vũng Tàu, miền nam Việt Nam trong một gia đình bình dân. Ông là con cả trong gia đình có 7 anh chị em gồm 4 trai và 3 gái. Trong số 3 người em trai của ông, có hai người là sĩ quan của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Năm 1915, sau khi đậu bằng Tiểu học, ông được thân phụ (nguyên là quân nhân trong Quân đội Pháp) gửi vào học ở trường Thiếu sinh quân Đông Dương tại Thủ Dầu Một. Năm 1922 ra trường với chứng chỉ tốt nghiệp tương đương văn bằng Tú tài bán phần (Part I) của bậc Trung học Phổ thông. Quân đội Viễn chinh Pháp. Ngay sau khi tốt nghiệp trường Thiếu sinh quân, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Viễn chinh Pháp tại Việt Nam với cấp bậc Trung sĩ, giữ chức vụ Tiểu đội trưởng thuộc đơn vị bộ binh. Đến giữa năm 1928 ông được cử đi học khóa sĩ quan tại Trung tâm Huấn luyện Quân sự Frejus, Pháp. Sau khi thụ huấn xong phần căn bản quân sự, ông tiếp tục thụ huấn sang phần chuyên môn của ngành Pháo binh. Đầu năm 1930 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy, ra trường phục vụ ở đơn vị Pháo binh của Quân đội Pháp. Mãi đến năm 1933 ông mới về nước, tiếp tục phục vụ trong đơn vị bộ binh của Quân đội Pháp. Đầu năm 1934 ông được thăng cấp Thiếu úy giữ chức vụ Đại đội trưởng bộ binh. Năm 1940 ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm. Thời gian này ông được tham gia Thế chiến 2 ở Châu Âu và Đông Dương Năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương vào ngày 9 tháng 3, ông cùng một số quân nhân Pháp theo đơn vị rút về Cà Mau để kháng Nhật. Khi Quân đội Pháp được lệnh đầu hàng, ông về trú ngụ ở quê vợ tại Hương Mỹ, Bến Tre. Năm 1946, sau khi Pháp tái chiếm Nam Kỳ, ông trở lại Sài Gòn, khi ngang qua Tân Trụ (Long An), ông bị Việt Minh bắt giữ và đem xử bắn. Tới giờ hành quyết, ông được giải thoát bởi chính 2 xạ thủ là cựu quân nhân thuộc quyền lúc trước (hai người này về sau hồi chánh và được phục vụ dưới quyền ông cho tới khi ông từ trần). Khi về tới Sài Gòn ông lại bị Pháp kỷ luật và giam giữ. Sau thời gian thọ phạt, ông được tái phục vụ trong Quân đội Liên hiệp Pháp. Cuối năm này ông được thăng cấp Đại úy. Quốc gia Việt Nam. Ngày 20 tháng 7 năm 1948 ông được chuyển sang làm Chánh Võ phòng cho Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, Chính phủ Nam Kỳ Việt Nam. Cùng thời điểm này, Trung úy Trần Tử Oai giữ chức vụ Phó Võ phòng, Trung úy Trần Văn Đôn giữ chức vụ Sĩ quan tùy viên trong Phủ Thủ tướng Nam Kỳ. Đầu năm 1949 ông được thăng cấp Thiếu tá, giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Trường Vệ binh Nam Việt kiêm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Vệ binh Danh dự. Quân đội Quốc gia Việt Nam. Thượng tuần tháng 12 Năm 1950, khi Quốc gia Việt Nam chính thức thành lập quân đội, ông được thăng cấp Trung tá giữ chức vụ Tham mưu trưởng Tham mưu Biệt bộ tại Bộ Quốc phòng và là sĩ quan người Việt có cấp bậc cao nhất ở Quân đội Quốc gia lúc bấy giờ. Đầu tháng 6 năm 1951 ông được cử làm Tổng chỉ huy cuộc duyệt binh đầu tiên của Quân đội Quốc gia tại Sài Gòn nhân ngày "Hưng Quốc khánh niệm" (lễ kỷ niệm lần thứ 149 ngày Chúa Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế, niên hiệu Gia Long) dưới sự chứng kiến của Quốc trưởng Bảo Đại. Giữa tháng 6 ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Ngày 1 tháng 10 cùng năm, ông chủ tọa buổi lễ mãn khóa 2 Lê Lợi của Trường Võ bị Địa phương Trung Việt tại Huế (còn gọi là Trường Sĩ quan Võ bị Đập Đá), gắn cấp bậc Chuẩn úy và trao kiếm danh dự cho khóa sinh tốt nghiệp Thủ khoa Lê Quang Chính. Ngày 12 tháng 4 năm 1952, ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Liên quân Quân đội Quốc gia, đồng thời làm Chánh chủ khảo kỳ thi tốt nghiệp khóa 5 Hoàng Diệu của Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Ngày 1 tháng 7 cùng năm ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh đầu tiên Đệ nhất Quân khu Nam Việt, khi lãnh thổ Việt Nam được chia thành 4 Quân khu. Năm 1954, Ngô Đình Diệm về nước và được Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm làm Thủ tướng. Ngày 1 tháng 12 cùng năm ông được thăng cấp Thiếu tướng, nhận lệnh bàn giao chức vụ Tư lệnh Đệ nhất Quân khu Nam Việt cho Đại tá Trần Văn Minh (Lục quân). Cùng ngày, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam thay thế Trung tướng Nguyễn Văn Hinh. Việc này đã làm bùng nổ xung đột tranh giành quyền lực trong quân đội. Ngày 28 tháng 4 năm 1955, Quốc trưởng Bảo Đại từ Cannes gửi điện báo về Sài Gòn cử Thiếu tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia và yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm sang Pháp trình bày về tình hình. Tuy nhiên, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã từ chối thực hiện. Cộng với sự ủng hộ của các tướng lĩnh, ông được tín nhiệm lưu chức. Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Ngày 26 tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm thực hiện cuộc Trưng cầu dân ý, truất phế cựu hoàng Bảo Đại và lên làm Quốc trưởng, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm. Sau đó ông có sáng kiến tập hợp các điểm trường Thiếu sinh quân có từ thời thuộc địa Pháp để thành lập một trường Thiếu sinh quân duy nhất được đặt cơ sở tại Vũng Tàu và cử Thiếu tá Phan Như Hiên, cựu Thiếu sinh quân, làm Chỉ huy trưởng đầu tiên. Ngày 8 tháng 12 năm 1956, ông được thăng cấp Đại tướng tại nhiệm. Ngày 27 tháng 7 năm 1959 ông được cử làm Trưởng đoàn, hướng dẫn phái đoàn Việt Nam Cộng hòa công du thăm viếng Tân Gia Ba (Singapore) và Mã Lai (Malaysia). Đầu tháng 7 năm 1963 ông lâm bệnh ung thư phổi, ngày 27 cuối tháng ông sang Hoa Kỳ để chữa trị. Sau hai tháng điều trị không có kết quả tốt, ông hồi hương dưỡng bệnh tại tư thất ở Vũng Tàu. Trong thời gian ông điều trị bệnh, Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm, Tham mưu trưởng Liên quân, được cử giữ chức vụ Quyền Tổng Tham mưu trưởng. Sau đó, Trung tướng Trần Văn Đôn, Tư lệnh Lục quân, được Tổng thống Ngô Đình Diệm cử giữ chức vụ Quyền Tổng Tham mưu trưởng thay tướng Khiêm. Khi nổ ra cuộc đảo chính đầu tháng 11 năm 1963, lật đổ Tổng thống Diệm và nền Đệ nhất Cộng hòa, tướng Trần Văn Đôn là một trong những tướng lĩnh chủ chốt. Cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 thành công. Gần 2 tuần sau ngày 12/11 ông được cử làm Cố vấn trong Chính phủ Lâm thời do Nguyễn Ngọc Thơ làm Thủ tướng. Tuy nhiên, do sức khỏe yếu, ông không tham gia vào bất kỳ hoạt động quân sự và chính trị nào nữa. Sau cuộc Chỉnh lý nội bộ của tướng Nguyễn Khánh vào ngày 31 tháng 1 năm 1964, đầu tháng 2, căn bệnh tái phát, ông lại được sang Hoa Kỳ để điều trị bệnh một thời gian ngắn, tuy nhiên bệnh của ông vẫn không thuyên giảm nên trở về Sài Gòn tiếp tục dưỡng bệnh. Để tưởng thưởng công lao phục vụ quân đội của ông, ngày 21 tháng 7 năm 1964, ông được thăng cấp Thống tướng. (vừa được đặt ra) và được trao tặng Đệ nhất đẳng Bảo quốc Huân chương. Ông trở thành sĩ quan đầu tiên và duy nhất được phong cấp bậc cao nhất của Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Lễ phong cấp được tổ chức tại tư gia số 37 Cường Để, Sài Gòn do Trung tướng Nguyễn Khánh, Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng chủ trì. Ngày 20 tháng 10 năm 1964 ông từ trần tại Sài Gòn, hưởng thọ 60 tuổi (trong khi thân mẫu của ông vẫn còn sống và đã 83 tuổi). Lễ tang của ông được cử hành trọng thể theo nghi thức Quốc gia. Hiện diện trong tang lễ của ông có các vị tướng lãnh và quan chức đang giữ những chức vụ quan trọng: Trung tướng Dương Văn Minh, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo lâm thời Quốc gia và Quân đội, Trung tướng Nguyễn Khánh, Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ, Kỹ sư Phan Khắc Sửu, Chủ tịch Thượng Hội đồng Quốc gia và các thành viên trong Thượng Hội đồng Quốc gia. Ngoài ra còn có Ngoại giao đoàn cùng các Tùy viên quân sự của các Sứ quán, các tướng lãnh trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa, đại diện các đoàn thể dân chúng. Ngoài ra còn có sự hiện diện của ông Maxwell Taylor, Đại sứ Hoa Kỳ, ông Etherington Smith, Đại sứ Anh quốc và Đại tướng Richard Stilwell của Quân lực Hoa Kỳ. Thi hài ông được đặt trên một chiếc Thiết vận xa M-113 di chuyển theo Đại lộ Cường Để, qua đường Thống Nhất rồi đường Mạc Đĩnh Chi và đến Nghĩa trang Đô thành Sài Gòn (Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi). Sau đó, thi hài ông được an nghỉ tại đây. Sau 30 tháng 4 năm 1975, Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi bị giải tỏa. Hài cốt của ông được hỏa táng và đem về thờ tại chùa Đại Giác ở đường Công Lý, Sài Gòn. Năm 1988 di cốt về Vũng Tàu thờ ở nhà con trai Lê Anh Tuấn. Sau đó con trai ông đem di cốt rải xuống biển.
Khi và chỉ khi Trong logic học, hai mệnh đề P và Q gọi là tương đương logic hay tương đương với nhau nếu P và Q đồng thời có cùng một giá trị chân lý; nghĩa là P và Q cùng đúng hoặc cùng sai. Ta viết: P ⇔ Q "⇔" gọi là dấu liên hệ tương đương. Trong logic toán, bảng chân lý của một quan hệ tương đương như sau: Dễ thấy, mối quan hệ tương đương P ⇔ Q chẳng qua là (P ⇒ Q) ∧ (Q ⇒ P) ((P kéo theo Q) và (Q kéo theo P)). Nói cách khác, hai mệnh đề "P" và "Q" tương đương nhau khi và chỉ khi mệnh đề này kéo theo mệnh đề kia và ngược lại. Trong trường hợp này, hai phát biểu "P ⇒ Q" và "Q ⇒ P" gọi là đảo đề của nhau. Để chứng minh mối quan hệ tương đương P ⇔ Q, ta phải chứng minh mối quan hệ kéo theo P ⇒ Q và chiều ngược lại. Chú ý rằng (P ⇔ Q) ⇔ (Q ⇔ P) Trong ngôn ngữ tự nhiên, để diễn đạt mối liên hệ tương đương giữa "P" và "Q", người ta có nhiều cách nói: formula_2 (bình phương lên) Khi bình phương lên, ta mất thông tin "x-1 lớn hơn hoặc bằng một căn bậc hai" nên nó không âm, vậy để đạt được tương đương, ở mệnh đề sau ta phải bổ sung x-1=0. Chứng minh bằng các quan hệ tương đương không phải lúc nào cũng đơn giản, nhiều khi cần phải chứng minh riêng lẻ từng đảo đề tương ứng. Phát biểu rằng "quan hệ tương đương P ⇔ Q là đúng" không có nghĩa là ""P" và "Q" đều đúng", mà là "khi một trong hai mệnh đề là đúng (hoặc sai), mệnh đề còn lại cũng đúng (hoặc sai) đồng thời". Quan hệ tương đương giữa nhiều mệnh đề. Xem xét ba mệnh đề "P", "Q" và "R". Để chứng minh các mối quan hệ tương đương P ⇔ Q ⇔ R, chỉ cần chứng minh các quan hệ kéo theo sau: P ⇒ Q, Q ⇒ R và R ⇒ P. Giả sử các quan hệ P ⇒ Q, Q ⇒ R và R ⇒ P đã được thiết lập. Để chứng minh rằng Q ⇒ P, ta dùng hai quan hệ Q ⇒ R và R ⇒ P. Tương tự, từ R ⇒ P và P ⇒ Q suy ra R ⇒ Q. Cuối cùng P ⇒ R, do P ⇒ Q và Q ⇒ R. Cách chứng minh như trên gọi là chứng minh vòng. Ta có thể tổng quát hóa đối với "n" mệnh đề P1, P2… Pn. Để chứng minh các mối quan hệ tương đương P1 ⇔ P2 ⇔… ⇔ Pn, chỉ cần chứng minh các quan hệ kéo theo: P1 ⇒ P2, P2 ⇒ P3… Pn-1 ⇒ Pn và Pn ⇒ P1.
Gia phả là bản ghi chép tên họ, tuổi tác, ngày giỗ, vai trò và công đức của cha mẹ, ông bà, tổ tiên và mộ phần của một gia đình lớn hay một dòng họ. Gia phả có thể được coi như một bản sử ký của một gia đình hay một dòng họ. Gia phả có khi gọi là Phổ ký, có khi là Phổ truyền. Các nhà Tông thất (dòng dõi vua quan), có khi gọi gia phả của vương triều mình hay gia tộc mình bằng từ ngữ trân trọng hơn: Ngọc phả, Thế phả... Tại các nước Đông Á, chịu ảnh hưởng của Đạo Khổng, các thế hệ sau trong dòng họ hay vương triều phải giữ đạo Trung, đạo Hiếu. Việc xây dựng và lưu truyền gia phả được xem là một cách ghi nhớ công ơn tổ tiên, gây dựng lòng tự hào trong dòng tộc. Ở Tây phương, người ta có tập tục làm cây phả hệ hay phả đồ, tương tự như Tông đồ của người Hoa hay người Việt. Một Tông đồ, một Gia phả, một Phả ký, một Phổ truyền dù đơn sơ hay súc tích cũng đều trở nên những tài liệu quý báu cho nhà xã hội học, nhà sử học về sau. Nó còn có thể hữu dụng cho những nghiên cứu về tâm lý, về di truyền học, huyết học, y học nữa. Môn học nghiên cứu về gia phả là gia phả học. Tại Trung Quốc, gia phả đã xuất hiện dưới dạng thức "thế bản" từ thời nhà Chu (1122-256 TCN). Gia tộc Khổng Tử vẫn còn lưu giữ được gia phả ghi chép từ năm 600 trước công nguyên cho tới nay Tại Việt Nam, gia phả sơ giản ghi chép tên cúng cơm, ngày giỗ và địa điểm an táng của ông cha. Theo các nhà sử học phỏng đoán thì gia phả đã xuất hiện từ thời Sĩ Nhiếp làm Thái thú ở Giao Chỉ, hoặc gần hơn tức là từ thời Lý Nam Đế (khoảng nǎm 503-548). Nhưng phải đến thời nhà Lý, nhà Trần mới xuất hiện những cuốn tộc phả, thế phả (ghi cả thế thứ, tông tích toàn họ), phả ký (ghi lại hành trạng, sự nghiệp của tổ tiên). Mới đầu gia phả xuất hiện chỉ trong Hoàng tộc cùng giới quan lại, nhà Lý có "Hoàng Triều Ngọc Điệp" - năm 1026; nhà Trần có "Hoàng Tông Ngọc Điệp", nhà Lê có "Hoàng Lê Ngọc Phả"... Cùng với sự xuất hiện các gia phả của Hoàng tộc là gia phả của các danh gia, quan lại và cứ thế lan rộng, phổ biến ghi chép gia phả trong nhân dân. Trước đây, gia phả chủ yếu được ghi chép bằng chữ Hán-chữ Nôm, nhưng qua nhiều năm chiến tranh, nhiều bộ gia phả của các dòng họ cũng mất dầ Tục làm gia phả phát triển mạnh ở hai miền Bắc và Trung; miền Nam rất ít gia đình làm gia phả (ở đấy còn được gọi là "gia phổ") và biến đổi thành "tông chi" tức tờ "tông chi tông đồ". Trong gia phả, người đứng đầu ngành trưởng (trưởng họ, trưởng tộc) có bổn phận ghi hết những chi tiết về thân thích và dòng dõi; những người con khác sao lại bản gia phả chính đó. Các gia đình giữ gìn kỹ lưỡng và truyền từ đời cha tới đời con. "Họ" theo nghĩa gốc có liên hệ với nhà và dưới chế độ phong kiến, nối kết con người với đất ruộng: một mái nhà, một gia đình, một họ. Họ và tên của một người định vị trí của cá nhân người đó trong xã hội, xác định cá thể trong một toàn thể. Gia phả được coi là hoàn chỉnh trước hết phải là một gia phả được ghi chép rõ ràng, chữ nghĩa chân phương, có nội dung cơ bản như sau:
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Nguyễn Thái Học (chữ Hán: 阮太學; 1902 – 1930) là nhà cách mạng Việt Nam chủ trương dùng vũ lực lật đổ chính quyền thực dân Pháp, giành độc lập cho Việt Nam. Ông là một trong số những người sáng lập Việt Nam Quốc dân đảng và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị thực dân Pháp bắt và chém đầu ngày 17 tháng 6 năm 1930 tại Yên Bái. Nguyễn Thái Học sinh ngày 1 tháng 12 năm Nhâm Dần (tức ngày 30 tháng 12 năm 1902) tại làng Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (nay là thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc). Ông là con cả của cụ Nguyễn Văn Hách và bà Nguyễn Thị Quỳnh. Gia đình ông là một gia đình trung nông sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, buôn vải. Từ 4 tuổi ông đã được cha mẹ cho đi học chữ Hán, và năm 11 tuổi ông bắt đầu theo học chương trình tiểu học Pháp-Việt tại thị xã Vĩnh Yên.[#endnote_] Năm 19 tuổi ông thi đậu vào trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội, và nhận học bổng của Chính phủ Bảo hộ Pháp. Do tính tình cương trực và không thích khuất phục lối giáo dục của người Pháp, ông bỏ học vào năm thứ ba, và sau đó ghi danh học trường Cao đẳng Thương mại thuộc Đại học Đông Dương (1925-1927). Trong thời gian này, ông tham gia thành lập Nam Đồng Thư xã và tiếp xúc với một số sinh viên đồng chí hướng, trong số đó có Phó Đức Chính, sinh viên trường Cao đẳng Công chánh và Hồ Văn Mịch, sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm, hai nhà cách mạng tương lai sẽ gắn liền với cuộc đời cách mạng của ông sau này.[#endnote_] Cũng trong thời gian là sinh viên của Đại học Đông Dương, Nguyễn Thái Học đã gửi cho Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne một số bức thư kêu gọi chính quyền thực dân Pháp tiến hành một loạt cải cách tiến bộ ở Việt Nam. Sở dĩ Nguyễn Thái Học gửi những đề xuất cải cách của mình cho Varenne vì ông ta vốn là một đảng viên của Đảng Xã hội Pháp, người vừa mới tới nhậm chức toàn quyền đã quyết định ân xá Phan Bội Châu và hứa hẹn nhiều cải cách rộng lớn ở xứ thuộc địa Đông Dương. Tuy nhiên, đó chỉ là những lời hứa suông, và ông ta không bao giờ quan tâm trả lời những bức thư đầy tâm huyết của Nguyễn Thái Học. Hoàn toàn thất vọng về con đường cải cách của chính quyền thuộc địa, Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông đi đến quyết định là: con đường duy nhất để mở ra cơ hội phát triển cho dân tộc Việt Nam chỉ có thể là con đường dùng vũ trang lật đổ chế độ thực dân Pháp và chế độ phong kiến, thành lập một nước Việt Nam độc lập với thể chế cộng hòa và thiết lập một nền dân chủ trên toàn cõi Đông Dương. Hoạt động cách mạng. Thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng. Năm 1927, tổ chức Nam Đồng Thư xã quyết định ủng hộ cuộc khởi nghĩa Bắc Ninh do Quản Trạc lãnh đạo. Công việc bị bại lộ, đa số thành viên của Nam Đồng Thư xã bị thuyên chuyển hoặc bị truy lùng phải đào tẩu, chỉ còn lại Nguyễn Thái Học và một số ít đồng chí. Tháng 10 năm này, ông triệu tập số người còn lại và đưa ra ý định thành lập một đảng cách mạng bí mật, dùng vũ lực lật đổ thực dân Pháp. Đảng này mang tên Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ), và chi bộ đảng đầu tiên mang tên là "Chi Bộ Nam Đồng Thư Xã", do ông làm Chi bộ trưởng, gồm các ủy viên: Hồ Văn Mịch, Phó Đức Chính, Lê Văn Phúc, Hoàng Văn Tùng, Hoàng Phạm Trân (tức Nhượng Tống) và một số đồng chí khác.[#endnote_] Tháng 12 năm 1927, VNQDĐ tổ chức đại hội đảng lần thứ nhất và bầu ông làm Chủ tịch Tổng bộ đảng kiêm Chủ tịch đảng. Dưới sự lãnh đạo của ông, VNQDĐ bắt đầu phát triển rất nhanh chóng để kết nạp tầng lớp trí thức, giáo viên, nông dân, công chức, binh sĩ trong guồng máy cai trị với mục đích dùng bạo động lật đổ chính quyền thực dân Pháp, thành lập một chế độ cộng hòa dân chủ độc lập trên toàn cõi Việt Nam. Đến đầu năm 1929, VNQDĐ đã thành lập được 120 chi bộ tại Bắc kỳ với 1500 đảng viên.[#endnote_] Pháp khởi sự tiêu diệt Việt Nam Quốc Dân Đảng. Năm 1929, tại Bắc kỳ và Bắc Trung kỳ có cao trào mộ phu, đưa dân đi làm phu cho các đồn điền cao su tại các nơi như miền Nam, Miên (Campuchia), Lào, Nouvelle-Calédonie (Tân Ca-lê-đô-ni-a hay Tân Thế giới) và Nouvelles-Hébrides (nay là Vanuatu), nơi những người phu này trở thành nô lệ cho các chủ đồn điền. Một trong những người mua nô lệ nổi tiếng là Bazin tại Hà Nội. Trùm mộ phu người Pháp này chuyên dụ dỗ hay bắt cóc dân đem làm phu lấy lợi. Mặc dù không được sự chấp thuận của Tổng Bộ và Nguyễn Thái Học, ba đảng viên thuộc một Thành bộ VNQDĐ gồm Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Văn Lân và Nguyễn Đức Lung đã tự ý ám sát Bazin vào ngày 9 tháng 2 năm 1929 tại Chợ Hôm, Hà Nội. Nhân vụ ám sát, Pháp khởi sự đàn áp nhằm tiêu diệt VNQDĐ trong khi cơ sở của họ chưa kịp chuẩn bị ứng phó trước kế hoạch khủng bố trắng của chính quyền thuộc địa. Sở mật thám Bắc Việt được một nội ứng phản đảng tên Bùi Tiên Mai chỉ điểm, đã bắt giam 227 đảng viên VNQDĐ nhưng không bắt được hai lãnh tụ đảng lúc đó là Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu, Chủ tịch Ban Hành pháp VNQDĐ nhiệm kỳ 3. Sau khi Bùi Tiên Mai nhận diện và đối chứng với những đồng chí tại các phiên tòa Hội đồng Đề hình, ban ám sát VNQDĐ tổ chức giết người này vì tội phản đảng và quên lời thề trước bàn thờ tổ quốc. Trên đường hành thích, sự việc bị đổ bể và một đảng viên bị chết, một bị tù cấm cố 10 năm. Hai đảng viên khác, Nguyễn Văn Kinh và Nguyễn Văn Ngọc, khi bị bắt do mật thám tra tấn dã man đã khai báo và chỉ điểm cho Pháp mọi đường đi nước bước của các yếu nhân lãnh đạo của VNQDĐ. Ban ám sát VNQDĐ cũng tổ chức giết hai người này, tuy thành công nhưng thêm một số đảng viên bị bắt và hành hình qua các vụ ám sát này.[#endnote_] Để xử các tù nhân chính trị này, Toàn quyền Pháp Pasquier quyết định không giao cho Biện lý cuộc, nhưng ký nghị định thành lập một Hội đồng Đề hình ("Commission criminelle") để tuyên án và xử tội. Hội đồng này trả tự do cho 149 người và kết án 78 người từ 2 đến 15 năm tù tại các tỉnh thượng du Bắc Việt hoặc lưu đày ra Côn Đảo, và mỗi người bị cộng thêm một án 5 năm biệt xứ ("interdiction de séjour").[#endnote_] Lực lượng của VNQDĐ bị suy yếu, tổn thất nặng nề, và hoàn toàn rơi vào thế bị động sau việc ám sát Bazin. Các lãnh tụ buộc phải tiến hành cuộc khởi nghĩa 8 tháng sau đó để tránh cho các cơ sở đang gặp nguy cơ bị tiêu diệt hoặc tan rã. Khởi nghĩa Yên Bái. Trước tình thế hàng ngũ đảng có nhiều phản bội, thực dân áp bức gay gắt có chiều hướng đưa đến tan rã, trung tuần tháng 5 năm 1929, Nguyễn Thái Học triệu tập đại hội đảng toàn quốc tại làng Đức Hiệp, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, quyết định chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Công việc chuẩn bị chưa hoàn tất, cuối năm 1929 tại Bắc Giang một cơ sở chế bom bị tai nạn phát nổ, và đầu năm 1930 người Pháp bắt giữ và khám phá được thêm rất nhiều cơ sở chế tạo bom, đao, kiếm và nhiều đảng viên bị bắt. Trước tình hình nguy cấp, Nguyễn Thái Học triệu tập hội nghị khẩn cấp, quyết định tiến hành khởi nghĩa tại các địa điểm Hưng Hóa, Lâm Thao, Phú Thọ, Yên Bái, Sơn Tây, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Bắc Ninh, Đáp Cầu, Phả Lại và Hà Nội vào đêm mồng 10, rạng ngày 11 tháng 2 năm 1930. Theo kế hoạch ban đầu cuộc khởi nghĩa vũ trang sẽ nổ ra trên hai địa bàn chính ở Bắc Kỳ vào đêm ngày 9 tháng 2 năm 1930. Nguyễn Thái Học sẽ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở miền xuôi, trong khi Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính được phân công chỉ huy cuộc nổi dậy ở miền núi. Gần tới ngày nổi dậy, do cơ sở ở miền xuôi tương đối yếu lại bị đánh phá nặng nề nên không chuẩn bị kịp, Nguyễn Thái Học cử người báo cho Nguyễn Khắc Nhu hoãn cuộc nổi dậy tới ngày 15 tháng 2. Tuy nhiên, liên lạc viên lại bị địch bắt giữa đường. Vì vậy, cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra ở một loạt các địa điểm từ Sơn Tây, Phú Thọ cho tới Yên Bái vào đêm ngày 9, rạng sáng ngày 10 tháng 2. Tuy cuộc tổng nổi dậy xảy ra nhiều nơi khác nhau, nhưng lịch sử mệnh danh nó là cuộc Khởi nghĩa Yên Bái, hay Tổng Khởi nghĩa Yên Bái, cốt để vinh danh những cái chết hào hùng của các lãnh tụ Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính và 11 đảng viên VNQDĐ ở pháp trường Yên Bái ngày 17 tháng 6 năm 1930. Quân nổi dậy đã chiếm được một phần đồn binh Pháp và làm chủ tỉnh lỵ Yên Bái trong gần hai ngày. Ngày 15 tháng 2 năm 1930, mặc dù cuộc khởi nghĩa ở miền núi đã thất bại, Nguyễn Thái Học và cơ sở Việt Nam Quốc dân Đảng vẫn quyết định khởi nghĩa ở miền xuôi như kế hoạch cũ. Cuộc vùng lên quyết liệt nhất là ở Phụ Dực (Thái Bình) và Vĩnh Bảo (lúc đó thuộc Hải Dương). Sự việc không thành, ngày 20 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cổ Vịt (Chí Linh, Hải Dương). Pháp thành lập một Hội đồng Đề hình để xử các nghĩa quân VNQDĐ. Rất nhiều đảng viên VNQDĐ bị chung thân khổ sai, một số tự sát và bị hành hình như: Sau khi hành quyết một số lãnh tụ và nghĩa quân của VNQDĐ tại Yên Bái, Pháp cho chôn chung một mộ tại thị xã Yên Bái, cách ga xe lửa độ một cây số, và cho lính canh giữ đến cuối năm 1930. Năm 1945, quân đội VNQDĐ chiếm đóng Yên Bái, cho trùng tu mộ phần của 17 vị anh hùng và lập đền thờ kỷ niệm.[#endnote_] Khu mộ này sau được nhà nước Việt Nam trùng tu và xếp hạng di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 177 VH/QĐ ngày 5/3/1990. Tên ông được dùng đặt tên nhiều đường phố và trường học tại Việt Nam. Trong cuộc hội thảo ngày 24 tháng 12 năm 2003 tổ chức tại quê hương ông, các nhà khoa học đã đề nghị Đảng và Nhà nước tôn vinh Nguyễn Thái Học là Anh hùng dân tộc. Theo Tế Xuyên thì khi Nguyễn Thái Học vào thi bằng thành chung ("Diplome") thì đề tài bài thi là "Sự nghiệp của Jules Ferry". Nguyễn Thái Học viết trả lời vỏn vẹn có một câu: "Người Việt Nam không hề biết tên người này!". Không lạ gì khi ông bị đánh trượt. Câu nói nổi tiếng. Khi thụ án, ông có đọc trích đoạn một bài thơ: "Mourir pour sa patrie, "C'est le sort le plus beau Khi bị xử tử, ông cùng 12 đồng chí đã hô vang: ("Việt Nam muôn năm") Văn tế Nguyễn Thái Học. Sau khi ông mất, sinh viên học sinh Huế tổ chức lễ truy điệu và đọc bài "Văn tế các Tiên-liệt Việt Nam Quốc Dân Đảng" sau đây do cụ Phan Bội Châu trước tác. "Gươm ba thước chọc trời kinh, chớp cháy, này Lâm Thao, này Yên Bái, này Vĩnh Bảo, khí phục thù hơi thở một tầng mây!" "Súng liên thanh vang đất thụt, non reo, nào chủ đồn, nào xếp cẩm, nào quan binh, ma hút máu người bay theo ngọn gió." "Trách nông nỗi trời còn xoay tít, trước cờ binh sao quay gió cản ngăn;" "Tiếc sự cơ ai quá lờ mờ, dưới trướng giặc bấy nhiêu tay len lỏi." "Ma cường quyền đắc thế sinh hùng uy, "Thần công lý bó tay nghe tử tội." "Ôi thôi, mù thảm mây sầu," "Gió cuồng mưa vội;" "Cửa quỷ thênh thang!" "Đường trời vòi vọi!" "Nhân dân chí sĩ, sát thân vào luật dã man;" "Nữ kiệt anh hùng, thất thế đang hồi đen rủi."[#endnote_] "Trường tuyên án chị chị anh anh cười tủm tỉm, tức nỗi xuất sư vị tiệp,"[#endnote_] "vai bể non gánh nặng hãy trìu trìu," "Đoạn đầu đài sau sau trước trước bước ung dung, gớm gan thị tử như quy,"[#endnote_] "mặc cây cỏ máu tươi thêm chói chói." "Tuy kim cổ hữu hình thì hữu hoại, sóng Bạch Đằng, mây Tam Đảo, hơi sầu cuộn cuộn bóng rồng thiêng đành ông HỌC xa xuôi," "Nhưng sơn hà còn phách ắt còn linh, voi nàng Triệu, ngựa nàng Trưng, hình hạc gió, hãy cô GIANG theo đuổi." "Đoàn trẻ chúng tôi nay:" "Tiếc nước còn đau," "Nghĩ mình càng tủi!" "Nghĩa lớn khôn quên," "Đường xa dặm mỏi!" "Giây nô lệ quyết rày mai cắt đứt, anh linh thời ủng hộ, mở rộng đường công nhẩy, bằng bay;" "Bể lao lung đua thế giới vẫy vùng, nhân đạo muốn hoàn toàn, phải gắng sức rồng dành, cọp chọi," "Đông đủ người năm bộ lớn, đốt hương nồng, pha máu nóng, hồn thiên thu như sống như còn," "Ước ao trong bấy nhiêu niên, rung chông bạc, múa cờ vàng, tiếng vạn tuế càng hô càng trỗi." "Tình khôn xiết nói," "Hồn xin chứng cho," —"Sào Nam Phan Bội Châu (1932)"
Vịnh Morphou (tiếng Hy Lạp: "Κολπος Μορφου", "Kolpos Morfou"; tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: "Güzelyurt Körfezi"), là một phần của Địa Trung Hải, nằm ở phía tây bắc đảo Síp. Nó được đặt tên theo tên gọi của thành phố trên đất liền gần đó là Morphou (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: "Güzelyurt"). Vịnh này tạo ra vùng ven biển xa nhất về phía tây của "nước Cộng hòa Thổ Bắc Kibriz" (có ý định tách ra khỏi Cộng hòa Síp), là "nước" cho rằng vịnh này là lãnh hải của mình. Nó cũng là nơi mà Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu đổ bộ những người tình nguyện và sự tiếp tế để hỗ trợ cho những người Síp gốc Thổ khi các cuộc tranh giành bạo lực diễn ra giữa các cộng đồng người Síp gốc Thổ và người Síp gốc Hy Lạp nổ ra vào tháng 12 năm 1963. Để có thêm thông tin về chủ đề này, xem bài về làng Kokkina (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: "Erenköy").
Liên mạng (tiếng Anh: "internetwork" hoặc viết gọn thành "internet") là hai hay nhiều mạng máy tính nối với nhau bằng các thiết bị Gateway cung cấp một phương thức phổ thông để định tuyến các gói thông tin giữa các mạng. Các thiết bị định tuyến có nhiệm vụ hướng dẫn giao thông dữ liệu theo đường đúng (trong số một số các đường có thể) đi qua liên mạng để tới đích. Kết quả của hệ thống các mạng kết nối với nhau được gọi là liên mạng, hoặc chỉ đơn giản là internet, (Một số người đã nhầm lẫn khi gọi việc liên kết các mạng với nhau bằng các cầu ("bridge") là liên mạng. Thực ra hệ thống đó chỉ là kết nối của các mạng con và việc gửi dữ liệu qua nó không đòi hỏi các giao thức liên mạng, chẳng hạn giao thức IP). Ban đầu, liên mạng là một cách để kết nối các kiểu công nghệ mạng khác nhau. Nhưng rồi nó đã trở nên phổ biến rộng rãi qua sự phát triển của nhu cầu kết nối hai hoặc nhiều mạng cục bộ với nhau thành một dạng mạng diện rộng. Hiện nay, định nghĩa của liên mạng bao hàm cả việc kết nối các mạng máy tính thuộc các kiểu khác, chẳng hạn các mạng cá nhân PAN. Internet chính là ví dụ thực tế nổi tiếng nhất của liên mạng. Đó là một mạng gồm các mạng chạy nhiều giao thức bậc thấp khác nhau, được thống nhất bởi một giao thức liên mạng - giao thức IP. Giao thức IP chỉ cung cấp một dịch vụ chuyển gói tin không đáng tin cậy qua một liên mạng. Để gửi dữ liệu một cách đáng tin cậy, các ứng dụng phải sử dụng một giao thức tầng Giao vận, chẳng hạn giao thức TCP, giao thức này cung cấp một dòng đáng tin cậy ("reliable stream"). (Thuật ngữ "không đáng tin cậy" ở đây không có nghĩa là IP không đáng tin cậy, mà là nó gửi các gói tin mà không liên lạc và thiết lập một kết nối với máy đích từ trước. Dịch vụ đáng tin cậy thì làm ngược lại). Do TCP là giao thức giao vận được sử dụng rộng rãi nhất, người ta thường gọi TCP và IP liền nhau là "TCP/IP". Một số ứng dụng thường sử dụng một giao thức giao vận đơn giản hơn (giao thức UDP) cho các nhiệm vụ không đòi hỏi việc gửi dữ liệu một cách tuyệt đối đáng tin cậy, chẳng hạn như video streaming.
Văn học Việt Nam Văn học Việt Nam là khoa học nghiên cứu, phê bình và sáng tác ngữ văn của người Việt Nam, không kể quốc tịch và thời đại. Văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc. Khi chưa có chữ viết, nền văn học Việt Nam chỉ có văn học dân gian; khi có chữ viết, nền văn học Việt Nam mới bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết. Văn học thành văn chịu ảnh hưởng của văn học dân gian về nhiều phương diện, từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật. Văn học viết cũng có tác động trở lại đối với văn học dân gian trên một số phương diện. Mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học viết cũng như vai trò, ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học thể hiện trọn vẹn hơn cả ở lĩnh vực sáng tác và ở bộ phận thơ văn quốc âm. Văn học dân gian Việt Nam cũng như văn học dân gian của nhiều dân tộc khác trên thế giới có những thể loại chung và riêng hợp thành một hệ thống. Mỗi thể loại phản ánh cuộc sống theo những nội dung và cách thức riêng. Hệ thống văn học dân gian Việt Nam gồm có: sử thi, truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ, câu đố, ca dao, vè, thơ, chèo. Sau hơn 10 thế kỷ hình thành và phát triển, văn học viết Việt Nam đạt được những thành tựu nhất định và vẫn đang tiếp tục "dòng chảy" của mình để có thể hội nhập vào nền văn học chung của thế giới. Trước thời kì Đổi Mới, văn học Việt Nam thường được chia thành hai thể loại khẩu truyền và thành văn, về sau có nhiều xu hướng phê bình và nghiên cứu mới nên dòng văn học trở nên phân nhánh rất phức tạp. Văn học dân gian. Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay. Ba thuật ngữ sau đây được xem là tương đương: "Văn học dân gian", "sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân", "folklore ngôn từ (folklore văn học)". Các đặc trưng trên có liên quan chặt chẽ với nhau. Tạo ra nét đặc trưng của Văn học dân gian so với văn học viết. "Xem thêm bài Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam" Văn học thành văn (văn học viết). Khác với văn học dân gian, văn học viết hình thành đã "mở ra một thời kỳ lịch sử mới, oanh liệt, rực rỡ" (Đặng Thai Mai). Sự va chạm gần 10 thế kỷ giữa nền Hán học và văn hóa dân gian Việt tuy có phần làm văn hóa, tín ngưỡng, phong tục cũng như nghệ thuật của dân Việt bị "sứt mẻ, mất mát" nhưng cũng tác động không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của văn học viết. Nhiều phát hiện mới của khảo cổ học chứng minh từ thời đại Hùng Vương, người Việt đã có nền văn hóa với nhiều nét cá tính khá rõ rệt, thể hiện qua nhiều thần thoại và truyền thuyết. Tiếp theo một thời gian dài tiếp xúc với nền văn hóa Trung Quốc tiên tiến hơn nhiều mặt, người Việt đã biết cách chuyển hóa chữ Hán trên nền tảng văn hóa Việt, đọc theo thanh điệu của tiếng Việt mà vẫn hiểu được một cách chính xác các giá trị tư tưởng, văn hóa, triết học của Trung Quốc lẫn của người Việt. Từ truyền thống văn hóa có sẵn, Hán học tiếp sức cho người Việt hình thành nền văn học độc lập của dân tộc và là nền tảng, cơ sở để sáng tạo ra chữ viết đầu tiên: chữ Nôm. Sự thịnh vượng của Hán học thời kỳ nước Việt giành được quyền tự chủ so với thời kỳ nội thuộc cho thấy tính trang trọng, thâm trầm của loại chữ viết này rất phù hợp với kiểu nhà nước phong kiến và ý thức hệ Nho giáo lúc bấy giờ. Thời kỳ này, trường học, khoa thi đều dùng chữ Hán như "phương tiện giao tế tao nhã" để ghi chép lịch sử, truyền đạt ý chỉ, thể hiện quan hệ, tình cảm vua-tôi và các tầng lớp nho sĩ. Cùng với những thăng trầm của lịch sử, văn học viết dần có được những vận hội mới, tạo được vị trí độc lập của mình sau thời gian dài văn-sử-triết bất phân. 3 dòng tư tưởng Nho-Phật-Lão trở thành nguồn cảm hứng cho văn chương học thuật. Bên cạnh đó, đời sống tích cực gần thiên nhiên của con người thời kỳ này còn mang lại cho văn học nhiều ẩn dụ cao nhã nhưng cũng rất nhân tình. Về mặt thể loại, hình thức; văn học viết thời kỳ đầu chủ yếu là thơ với hai loại: cổ thể và cận thể – tôn trọng khuôn phép mẫu mực của thơ ca Trung Quốc; ngoài ra theo Dương Quảng Hàm (trong quyển "Văn học Việt Nam") thì văn viết trong thời kỳ đầu "có nhiều thể, nhưng có thể chia ra làm ba loại lớn" gồm: Cuối thế kỷ 18 trở đi, khi chữ Nôm hình thành thì văn học viết có vài chuyển biến trong sáng tác: văn học từ chiếu cung đình dần thâm nhập vào đời sống thường nhật (văn chương bình dân) và cái tôi cá nhân bắt đầu được đề cập đến. "Bà chúa thơ Nôm" Hồ Xuân Hương và "Truyện Kiều" (của Nguyễn Du) được xem là những thành tựu nổi bật của chữ Nôm trong văn học Việt Nam. Từ khi có việc truyền bá chữ Quốc ngữ vào Việt Nam, diện mạo văn học có những thay đổi sâu sắc và toàn diện. Ngoài ảnh hưởng các dòng tư tưởng truyền thống phương Đông, sự thâm nhập của phương Tây mang đến cho văn học viết con đường "hiện đại hóa" từ hình thức, thể loại đến tư tưởng và nội dung sáng tác. Riêng về thể loại nếu so sánh văn học viết Việt Nam giữa hai thời kỳ lớn: Văn học trung đại và văn học hiện đại thì có thể hiểu một cách tổng quát về các thể loại chính như sau: Từ đầu thập niên 2000, khái niệm "web fiction" đã xuất hiện trong các giáo trình và luận văn khoa học đa cấp độ dưới tên gọi "văn học mạng". Nghĩa là gồm các tác phẩm hoặc luận văn phê bình được xuất bản trên không gian ảo, tức là internet và intranet. Theo sức phát triển nhanh của làn sóng công nghệ thông tin toàn cầu, dòng văn học này không được xếp vào dạng khẩu truyền hay thành văn, mà tồn tại độc lập nhưng vẫn có sự tương hỗ với các thể loại lâu đời hơn này. Một tác phẩm tiêu biểu ở giai đoạn sơ khởi văn học mạng là bài thơ "Đôi dép" của tác giả Nguyễn Trung Kiên, thường được giới khảo cứu dẫn chứng như một thành công của sức ảnh hưởng công nghệ thông tin cao đối với sự phổ biến văn phẩm. Đồng thời, dòng văn học này cũng được coi là nhân tố quyết định quảng bá văn học và ngôn ngữ Việt Nam ra quốc tế - điều mà trước thế kỷ XXI có tầm ảnh hưởng rất kém.
Liên đoàn Thiên văn Quốc tế Liên đoàn Thiên văn Quốc tế hay Hiệp hội Thiên văn Quốc tế, viết tắt theo tiếng Anh là IAU (International Astronomical Union), là hiệp hội của các hiệp hội thiên văn học khắp nơi trên thế giới. IAU là một "tổ chức phi chính phủ quốc tế", và là "thành viên liên hiệp" của Hội đồng Khoa học Quốc tế (ISC) , và của Hội đồng Quốc tế về Khoa học (ICSU) trước đây. Nó là tổ chức được biết đến với trọng trách đặt tên cho các chòm sao, sao, hành tinh, tiểu hành tinh và các thiên thể cùng các hiện tượng thiên văn. Trong các nhóm làm việc có Nhóm phân loại hành tinh (WGPSN), có nhiệm vụ thực hiện quy ước đặt tên thiên văn và phân loại hành tinh cho các hành tinh. IAU cũng có trách nhiệm với Điện tín Thiên văn, mặc dù tổ chức này không điều hành nhóm này. Nhóm Trung tâm Tiểu hành tinh (MPC), là một trung tâm cho các vật thể phi hành tinh và phi vệ tinh tự nhiên trong Hệ Mặt Trời, cũng do IAU điều hành. IAU được sáng lập năm 1919, theo sau một loạt các hợp tác quốc tế trên lĩnh vực thiên văn như "Carte du Ciel", hay Hiệp hội Mặt Trời hay Văn phòng Thời gian Quốc tế ("Bureau International de l'Heure"). Giám đốc đầu tiên là Benjamin Baillaud. IAU hiện có 9598 thành viên cá nhân, gồm chủ yếu là các nhà thiên văn chuyên nghiệp (có bằng tiến sĩ về chuyên ngành) và 63 thành viên quốc gia. 87% thành viên là nam giới; còn lại 13% là nữ giới. Năm Quốc tế Thiên văn học. Năm Quốc tế Thiên văn học (International Year of Astronomy) đã được chọn và thực hiện là năm 2009. Đó là đề xuất của UNESCO trong Đại hội nghị thứ 33, và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua tại kỳ họp Đại hội đồng thứ 62. Năm 2009 là năm kỷ niệm 400 năm ra đời Kính thiên văn (telescope) của Galileo Galilei, và bản đăng tải của Johannes Kepler, hồi thế kỷ 17.
Gia phả học là môn học nghiên cứu về gia phả. Môn học này đang được phát triển ở khắp nơi trên thế giới. Lý do là ngày càng có nhiều người trong xã hội, trong gia đình nhận thấy gia phả là tài liệu quý báu cho nhiều ngành học. Một Tông đồ, một Gia phả, một Phả ký, một Phổ truyền dù đơn sơ hay súc tích cũng đều trở nên những tài liệu quý báu cho nhà xã hội học, nhà sử học về sau. Nó còn có thể hữu dụng cho những nghiên cứu về tâm lý, về di truyền học, huyết học, y học. Một lý do nữa là với tiến bộ của công nghệ, kỹ thuật ghi chép, sưu tầm những tin tức, tra cứu lịch sử... càng ngày càng thuận lợi hơn. Việc phổ biến gia phả giới hạn trong vòng gia đình, tông tộc hay mở rộng ra trên Internet cho công chúng trong phạm vi rộng khắp đã làm cho nhiều người băn khoăn về vấn đề bí mật cá nhân. Lợi điểm của việc phổ biến rộng rãi là nhiều người có thể biết đến, có thể tìm ra một sự nối kết, có ý hướng sử dụng nó vào những mục đích nghiêm chỉnh - hướng thiện, như bổ sung kiến thức cho văn hóa, cho lịch sử.
Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ Cúp bóng đá thế giới các câu lạc bộ (), trước đây được gọi là FIFA Club World Championship "(Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ)", là một giải đấu bóng đá quốc tế dành cho nam được tổ chức bởi "Liên đoàn bóng đá thế giới" (FIFA), cơ quan quản lý bóng đá toàn cầu, quy tụ các Câu lạc bộ vô địch của các châu lục như Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, Nam Mỹ, Bắc Trung Mỹ, Châu Đại Dương và đội chủ nhà. Giải đấu lần đầu tiên được tổ chức với tên gọi FIFA Club World Championship 2000. Giải sau đó không được tổ chức từ năm 2001 tới 2004 do nhiều nguyên nhân, nhưng quan trọng nhất vẫn là do sự sụp đổ của đối tác tiếp thị của FIFA là International Sport and Leisure. Từ 2005, giải được tổ chức hàng năm, và đã được tổ chức ở Brasil, Nhật Bản, UAE, Qatar và Maroc. FIFA Club World Cup lần đầu tiên được tổ chức tại Brasil năm 2000. Giải đấu vẫn thi đấu song song với Cúp Liên Lục địa (hay còn được biết đến với tên gọi Cúp châu Âu/Nam Mỹ), một giải đấu được tổ chức chung bởi Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) và Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ (CONMEBOL), lần đầu tranh tài năm 1960 giữa đội vô địch UEFA Champions League và Copa Libertadores. Năm 2005, sau trận đấu cuối cùng của Cúp Liên Lục địa, giải đấu này được hợp nhất với phiên bản đầu tiên của Club World Cup và đổi tên thành FIFA Club World Championship. Năm 2006, giải đấu lấy tên FIFA Club World Cup và được sử dụng cho đến hiện tại. Đương kim vô địch hiện tại của giải đấu là Manchester City của Anh, đội đã đánh bại Fluminense của Brazil 4–0 trong trận chung kết năm 2023. Lịch sử hình thành và phát triển. Giai đoạn mới thành lập giải và bị hoãn (2000 – 2006). Kế hoạch tổ chức FIFA Club World Cup đã được vạch ra từ nhiều năm trước. Theo cựu chủ tịch FIFA , ý tưởng thành lập giải đấu được trình bày với Ủy ban điều hành FIFA vào tháng 12/1993 bởi chủ tịch tại . Khi các giải đấu cấp CLB ở các Liên đoàn được hình thành và phát triển ổn định, FIFA nảy ra ý định tổ chức giải đấu Club World Championship. Vào ngày 3/9/1997, Brasil được chọn làm nước chủ nhà của giải đấu dự kiến được diễn ra vào năm 1999. Ban đầu giải đấu có kế hoạch tổ chức vào năm 1999 khi chọn ra các nhà vô địch của năm 1998 tranh tài nhưng giải bị hoãn một năm. Sau đó giải có sự tham gia của các câu lạc bộ là Sport Club Corinthians Paulistat, Vasco da Gama (Brasil), Manchester United (Anh), Necaxa (Mexico), Raja Casablanca (Maroc), Real Madrid (Tây Ban Nha), Al-Nassr (Ả Rập Xê Út) và South Melbourne (Australia). Ở phiên bản tiếp theo được dự kiến tổ chức vào mùa hè 2001 tại Tây Ban Nha, có 12 CLB tham dự và được bốc thăm vào tháng 3/2001 tại La Coruna. Tuy nhiên vào ngày 18/5/2001, do có nhiều yếu tố tác động, chủ yếu là do sự sụp đổ của đối tác FIFA là International Sport and Leisure. Các đội tham dự giải đấu năm 2001 được FIFA bồi thường 750.000 USD và LĐBĐ Tây Ban Nha cũng nhận được 1 triệu USD tiền bồi thường. Sau cúp liên lục địa cuối cùng vào năm 2004, FIFA Club World Championship được tái khởi động lại và giải tiếp theo được diễn ra tại vào năm 2005. Thể thức loại trực tiếp (2005 – 2022). Ở giải đấu năm 2005, thời gian thi đấu tại giải được rút ngắn lại so với giải đấu trước và chỉ có 6 đội vô địch từ các Liên đoàn tham dự. Đại diện đến từ UEFA và CONMEBOL được đặt cách vào bán kết của giải. São Paulo là nhà vô địch của giải khi đánh bại Liverpool 1–0 trong trận chung kết, tiền vệ Mineiro cũng là cầu thủ đầu tiên ghi bàn trong một trận chung kết của FIFA Club World Cup. Tại Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ 2006, giải đấu đầu tiên có 7 đội tham gia khi nước chủ nhà của giải có một đại diện tham dự. Urawa Red Diamonds, nhà vô địch AFC Champions League 2006 cũng là đội bóng đến từ nước chủ nhà Nhật Bản nên đội á quân Sepahan của Iran là đại diện đến từ châu Á tham dự giải. Đến năm 2010, đội bóng ngoài châu Âu và Nam Mỹ đầu tiên lọt vào chung kết FIFA Club World Cup là TP Mazembe của CHDC Congo. Đội bóng châu Phi đánh bại Internacional của Brasil trong trận bán kết để đi vào lịch sử của giải đấu. Tuy nhiên đội đã nhận thất bại dễ dàng 0-3 trước Inter Milan trong trận chung kết. Tại giải đấu năm 2013, chủ nhà Raja Casablanca của Maroc tiến một mạch đến trận chung kết kể từ vòng đầu tiên gặp Auckland City của New Zealand. Họ trở thành đội bóng châu Phi thứ 2 tiến đến trận chung kết giải đấu khi đánh bại Atlético Mineiro của Brasil ở bán kết. Raja Casablanca là đội chủ nhà thứ 2 trong lịch sử giải đấu góp mặt ở trận chung kết và họ chịu thất bại trước Bayern Munich bởi đẳng cấp quá chênh lệch giữa hai đội. Năm 2016, một đội chủ nhà khác đi vào lịch sử của giải khi Kashima Antlers trở thành đội bóng châu Á đầu tiên thi đấu trận chung kết FIFA Club World Cup. Thậm chí, đại diện của J1 League suýt gây sốc khi dẫn trước Real Madrid 2–1 ở đầu hiệp 2 trước khi trận đấu kéo dài thêm hai hiệp phụ và để thua ngược 2–4 với cú Hat-trick của Cristiano Ronaldo. Mặc dù vậy, đội bóng của Nhật Bản vẫn để lại ấn tượng khi suýt trở thành đội đầu tiên ngoài châu Âu và Nam Mỹ từng vô địch giải đấu. Năm 2018, Al-Ain của nước chủ nhà Các Tiểu Vương quốc Ả rập Thống Nhất trở thành đội bóng châu Á thứ hai giành quyền chơi một trận chung kết FIFA Club World Cup. Bị đánh giá thấp hơn Real Madrid, không bất ngờ khi đội đã nhận thất bại với tỉ số 1–4. Năm 2019, Liverpool giành chiến thắng chung cuộc 1–0 sau hiệp phụ trước Flamengo của Brasil qua đó giành chức vô địch FIFA Club World Cup lần đầu tiên. Năm 2020, Bayern Munich giành cúp vô địch lần thứ 2 sau năm 2013 khi đánh bại Tigres UANL của Mexico trong trận chung kết. Năm 2021, giải đấu được tổ chức tại Các Tiểu Vương quốc Ả rập Thống Nhất. Chelsea giành chức vô địch FIFA Club World Cup đầu tiên khi thắng 2–1 trước Palmeiras của Brasil sau 120 phút trong trận chung kết. Năm 2022, giải đấu được tổ chức tại Maroc. Real Madrid giành chức vô địch FIFA Club World Cup lần thứ 5 khi thắng 5–3 trước Al Hilal của Ả Rập Xê Út trong trận chung kết. Mở rộng số đội tham dự (kể từ năm 2021). Vào cuối năm 2016, Chủ tịch FIFA Gianni Infantino đã đề nghị mở rộng giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ thành 32 đội bắt đầu vào năm 2019 và diễn ra vào mùa hè để giải đấu hấp dẫn hơn và cân bằng trình độ các đội tham gia, nhằm thu hút các nhà tài trợ cũng như tăng bản quyền truyền hình. Vào cuối năm 2017, FIFA đã thảo luận các đề xuất tổ chức Super Club World Cup để mở rộng giải đấu tới 24 đội và diễn ra bốn năm một lần vào năm 2021, thay thế cho FIFA Confederations Cup. Ngày 15 tháng 3 năm 2019, định dạng và lịch thi đấu mới của giải đấu đã được thông qua tại cuộc họp của Hội đồng FIFA tại Miami, Florida, Hoa Kỳ. Vì theo lịch thi đấu quốc tế FIFA, khoảng thời gian từ ngày 31 tháng 5 đến ngày 8 tháng 6 năm 2021 sẽ dành cho vòng loại FIFA World Cup 2022 và Chung kết UEFA Nations League 2021, giải đấu sẽ diễn ra từ ngày 17 tháng 6 đến ngày 4 tháng 7, thay thế cho FIFA Confederations Cup 2021. Cúp bóng đá châu Phi năm 2021 và Cúp vàng CONCACAF 2021 sau đó sẽ được phân bố thời gian thi đấu từ ngày 5 đến ngày 31 tháng 7 năm 2021 trong Lịch thi đấu quốc tế FIFA. Vào tối 16-12, Chủ tịch FIFA Gianni Infantino cũng cho biết giải đấu sẽ không diễn ra hằng năm như hiện tại, mà sẽ được tổ chức 4 năm/lần. "Đó sẽ là kỳ FIFA Club World Cup của 32 đội, 4 năm/lần và là lần đầu tiên nó sẽ diễn ra vào mùa hè. Đó sẽ là vào năm 2025. Những đội bóng mạnh nhất thế giới sẽ được mời để tham dự", ông Infantino phát biểu. Thể thức thi đấu. Thể thức hiện tại của giải đấu bao gồm 7 đội tham dự diễn ra trong 2 tuần ở 1 nước chủ nhà; đội vô địch của AFC Champions League (châu Á), CAF Champions League (châu Phi), CONCACAF Champions League (Bắc Mỹ), Copa Libertadores (Nam Mỹ), OFC Champions League (châu Đại Dương) và UEFA Champions League (châu Âu) năm đó, cùng với đội vô địch quốc gia của nước chủ nhà, tham dự giải đấu theo thể thức loại trực tiếp. Đội vô địch quốc gia của nước chủ nhà sẽ gặp đội vô địch châu Đại Dương trong 1 trận play-off; đội giành chiến thắng sẽ cùng với các đội vô địch châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ tham dự vòng tứ kết. Các đội thắng ở tứ kết sẽ gặp các đội vô địch châu Âu và Nam Mỹ, những đội được vào thẳng bán kết. Hai đội thua ở tứ kết sẽ đá trận tranh hạng 5, hai đội thua ở bán kết đá trận tranh hạng 3 và trận đấu cuối cùng của giải là trận chung kết giữa hai đội giành chiến thắng ở vòng bán kết. Kể từ mùa giải 2025, thể thức thi đấu có sự thay đổi lớn. Giải sẽ chuyển sang thi đấu vào mùa hè, theo chu kỳ 4 năm một lần và tăng số đội tham dự lên 32 đội. Giải cũng sẽ được bổ sung thêm vòng bảng, với 8 bảng 4 đội, thi đấu vòng tròn chọn đội nhất bảng vào vòng tứ kết. Tính tới năm 2023, FIFA Club World Cup đã có 11 câu lạc bộ vô địch khác nhau. Real Madrid (Tây Ban Nha) là đội thành công nhất với 5 chức vô địch. Các nhà vô địch khác bao gồm Barcelona (Tây Ban Nha); Bayern München (Đức); AC Milan và Inter Milan (Ý); Manchester United, Liverpool và Chelsea (Anh); Corinthians, São Paulo và Internacional (Brasil). La Liga là giải vô địch quốc gia thành công nhất với 8 chức vô địch, trong đó Barcelona có 4 lần vào chung kết và Real Madrid nắm kỉ lục nhiều nhất với 5 trận chung kết toàn thắng. Số huy chương (2000–2023). Thành tích theo liên đoàn. Các đại diện châu Phi xuất sắc nhất tính tới thời điểm hiện tại là TP Mazembe của Cộng hòa Dân chủ Congo và Raja Casablanca của Maroc. Đó là 2 đội duy nhất của châu Phi từng tham dự trận chung kết giải đấu, lần lượt vào các năm 2010 và 2013. Kashima Antlers của Nhật Bản, Al-Ain của Các Tiểu Vương quốc Ả rập Thống Nhất và Al-Hilal của Ả Rập Xê Út là những đội châu Á có thành tích tốt nhất, giành vị trí á quân lần lượt vào các năm 2016, 2018 và 2022. Các câu lạc bộ của México là Necaxa, Monterrey và Pachuca, cũng như Deportivo Saprissa của Costa Rica, từng đạt vị trí thứ 3. Đây là thành tích tốt nhất của các đại diện Bắc Mỹ. Câu lạc bộ Auckland City của New Zealand đã một lần giành hạng 3 và là đội duy nhất của Châu Đại Dương lọt vào bán kết tính đến nay. Đã có tổng cộng 4 câu lạc bộ ngoài châu Âu và Nam Mỹ tham dự trận chung kết. Đối với từng đội, đội vô địch được nhận 5 triệu $, đội Á quân nhận 4 triệu $, đội hạng ba 2.5 triệu $, hạng tư 2 triệu $, hạng năm 1.5 triệu $, hạng sáu 1 triệu $ và đội hạng bảy nhận 500,000 $. Super Club World Cup. Năm 2017, FIFA cũng đề xuất về một giải đấu có tên "Siêu cúp bóng đá các câu lạc bộ thế giới" ("Super Club World Cup"), dự kiến diễn ra bốn năm một lần, với sự tham gia của 24 câu lạc bộ mỗi mùa. Giải đấu được cho sẽ là sự thay thế cho FIFA Confederations Cup và FIFA Club World Cup, hai giải đấu ít hiệu quả do sự chênh lệch trình độ quá lớn giữa các đội tham gia; cũng như kỳ vọng có thể cạnh tranh với UEFA Champions League về độ hấp dẫn. Tuy nhiên cho đến nay giải đấu này chưa có tiến triển nào thêm.
Chu kỳ quỹ đạo Chu kỳ quỹ đạo là thời gian mà một thiên thể hoàn thành một vòng quỹ đạo quanh thiên thể trung tâm. Trong thiên văn học, nó có thể là các hành tinh hay tiểu hành tinh quay quanh Mặt Trời, các vệ tinh quay quanh hành tinh, các ngoại hành tinh quay quanh các ngôi sao hay sao đôi khác. Đối với các thiên thể nói chung, chu kỳ theo sao (năm/tháng thiên văn) được coi là chu kỳ quỹ đạo đích thực, được xác định bằng một vòng quay 360°Của thiên thể quỹ đạo quanh thiên thể trung tâm, chẳng hạn Trái Đất quay quanh Mặt Trời, so với các sao cố định chiếu trên thiên cầu. Chu kỳ quỹ đạo còn có thể có nhiều cách định nghĩa khác nhau. Các chu kỳ trong thiên văn học có thể được biểu diễn bằng đơn vị thời gian phù hợp, thường là bằng giờ, ngày, tháng hay năm. Một chu kỳ cũng có thể được xác định dưới một điều kiện thiên văn cụ thể, hầu hết gây ra bởi ảnh hưởng hấp dẫn nhỏ từ ngoài hệ bởi các thiên thể khác. Những biến thiên đó cũng bao gồm vị trí thực của khối tâm hấp dẫn giữa hai thiên thể, nhiễu loạn bởi các hành tinh ngoài hệ, cộng hưởng quỹ đạo, hiệu ứng tương đối rộ, và sử dụng dữ liệu quan sát chính xác vị trí của các thiên thể của trắc lượng học thiên thể. Các chu kỳ liên quan. Có nhiều loại chu kỳ (periods) liên quan đến quỹ đạo của các thiên thể, thường được sử dụng trong nhiều ngành khác nhau của thiên văn học và vật lý thiên văn, nhưng đặc biệt không nên nhầm lẫn chúng với các chu kỳ vòng quay khác, chẳng hạn chu kỳ tự quay. Ví dụ của một số loại chu kỳ quỹ đạo phổ biến gồm sau đây: Thiên thể quay quanh thiên thể trung tâm. Theo định luật Kepler thứ ba, chu kỳ quỹ đạo "T" đối với hai vật thể có khối lượng, trong đó một vật chuyển động trong một quỹ đạo tròn hoặc elip là: Đối với tất cả quỹ đạo elip có cùng bán trục lớn thì chu kỳ quỹ đạo là như nhau, bất kể độ lệch tâm của chúng. Ngược lại, để tính toán khoảng cách mà một vật thể phải chuyển động để có một chu kỳ quỹ đạo cho trước: Chẳng hạn, để hoàn thành một quỹ đạo sau 24 giờ quanh một khối lượng trung tâm 100 kg, một vật thể nhỏ hơn phải chuyển động trên quỹ đạo với khoảng cách 1.08 mét tính từ khối tâm của thiên thể trung tâm. Trong trường hợp đặc biệt với quỹ đạo tròn lý tưởng, vận tốc quỹ đạo là không đổi và bằng (theo m/s) Vận tốc này tương ứng bằng #đổi lần (≈ 0.707 lần) vận tốc vũ trụ. Hai thiên thể quay quanh nhau. Trong cơ học thiên thể, khi khối lượng của cả hai vật thể quỹ đạo cần phải được xét đến, chẳng hạn hệ sao đôi, chu kỳ quỹ đạo "T" có thể được tính như dưới đây: Đối với quỹ đạo parabol hay hyperbol, chuyển động là không tuần hoàn, và thời gian của toàn quỹ đạo là vô hạn. Chu kỳ giao hội. Một trong những đặc trưng cơ bản của hai thiên thể đều quay quanh một thiên thể thứ ba trên hai quỹ đạo khác nhau, và do đó hai chu kỳ quỹ đạo khác nhau, là chu kỳ giao hội của chúng, tức là khoảng thời gian giữa hai lần giao hội. Một ví dụ của chu kỳ liên quan này là sự lặp lại hiện tượng hoặc vị trí tương đối của các thiên thể khi quan sát từ bề mặt Trái Đất, cụ thể là khi một hành tinh quay trở về vị trí giao hội hay xung đối so với Mặt Trời quan sát được. Chẳng hạn, Mộc Tinh có chu kỳ giao hội khoảng 398,8 ngày nhìn từ Trái Đất; do đó, sự xung đối của Mộc Tinh xảy ra 13 tháng một lần. Nếu các chu kỳ quỹ đạo theo sao của hai thiên thể quanh trung tâm được ký hiệu là "T"1 và "T"2, sao cho "T"1  "T"2, chu kỳ giao hội được cho bởi công thức: Một số ví dụ về chu kỳ theo sao và giao hội. Chu kỳ theo sao của Trái Đất được gọi là năm thiên văn hay "năm sao" hay "năm theo sao". Năm sao tương ứng với một vòng quay biểu kiến của Mặt Trời trên thiên cầu so với các sao, tức là khoảng thời gian mà xích kinh của Mặt Trời tính từ một điểm phân cố định tăng lên 360°. Nó bằng 365 ngày (tính bằng 24 giờ) cộng 6 giờ 9 phút 10 giây và bằng 365,2564 ngày Mặt Trời trung bình. Nếu không có hiện tượng tiến động của Trái Đất làm điểm xuân phân di chuyển, gây ra tuế sai của điểm phân thì năm sao dài bằng năm xuân phân. Chu kỳ theo sao và chu kỳ giao hội (với Mặt Trời và Trái Đất) của các hành tinh hay thiên thể khác trong Hệ Mặt Trời là (tính bằng ngày Trái Đất hoặc năm Trái Đất): Chu kỳ theo sao của Mặt Trăng trên quỹ đạo quanh Trái Đất được gọi là tháng thiên văn hay còn gọi là tháng sao. Một tháng thiên văn = 27 ngày 7 giờ 43 phút 11,6 giây = 27,321661 ngày Mặt Trời trung bình. Tháng sao khác tháng giao hội (tức chu kỳ giao hội của Mặt Trăng hay tuần trăng) là do chuyển động quay quanh Mặt Trời của Trái Đất. Khi Mặt Trăng quay trọn một vòng quanh Trái Đất thì Trái Đất cũng quay được một góc khoảng 27° quanh Mặt Trời (điều này thể hiện ở hiện tượng biểu kiến là Mặt Trời di chuyển trên hoàng đạo về phía đông so với nền sao). Do đó Mặt Trăng phải đi thêm 2,2 ngày nữa để khớp với chu kỳ pha (tháng giao hội) của nó, khi đó tương quan vị trí biểu kiến của Mặt Trăng với Mặt Trời mới trở lại như cũ. Khoảng thời gian 2,2 ngày chính là chênh lệch giữa tháng sao và tháng giao hội.
Tư Nghĩa là một huyện đồng bằng thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Huyện Tư Nghĩa nằm ở trung tâm tỉnh Quảng Ngãi, có vị trí địa lý: Trước năm 2013, huyện Tư Nghĩa còn giáp biển Đông, nhưng sau khi điều chỉnh địa giới để mở rộng thành phố Quảng Ngãi năm 2013, huyện Tư Nghĩa không còn giáp biển. Huyện có diện tích 206,3 km², dân số năm 2019 là 128.661 người, mật độ dân số đạt 624 người/km². Trong đó dân số thành thị là 16.511 người, dân số nông thôn là 112.150 người. Đây cũng là địa phương có tuyến Đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi đi qua và có dự án Đường cao tốc Quảng Ngãi – Hoài Nhơn đi qua đang được xây dựng. Huyện Tư Nghĩa có 14 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, gồm 2 thị trấn: La Hà (huyện lỵ), Sông Vệ và 12 xã: Nghĩa Điền, Nghĩa Hiệp, Nghĩa Hòa, Nghĩa Kỳ, Nghĩa Lâm, Nghĩa Mỹ, Nghĩa Phương, Nghĩa Sơn, Nghĩa Thắng, Nghĩa Thuận, Nghĩa Thương, Nghĩa Trung. Sau năm 1975, huyện Tư Nghĩa được sáp nhập với thị xã Quảng Ngãi thành thị xã Quảng Nghĩa thuộc tỉnh Nghĩa Bình. Ngày 24 tháng 8 năm 1981, huyện Tư Nghĩa được tái lập, gồm 11 xã: Nghĩa An, Nghĩa Điền, Nghĩa Hà, Nghĩa Hiệp, Nghĩa Hòa, Nghĩa Kỳ, Nghĩa Lâm, Nghĩa Phương, Nghĩa Thắng, Nghĩa Thương và Nghĩa Trung. Ngày 29 tháng 10 năm 1983, chia xã Nghĩa An thành 2 xã: Nghĩa An và Nghĩa Phú. Ngày 12 tháng 3 năm 1987, chia xã Nghĩa Trung thành 2 đơn vị hành chính: xã Nghĩa Trung và thị trấn La Hà. Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Quảng Ngãi được tái lập từ tỉnh Nghĩa Bình, huyện Tư Nghĩa thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 22 tháng 2 năm 1991: Ngày 12 tháng 12 năm 2013, chuyển 3 xã Nghĩa An, Nghĩa Hà, Nghĩa Phú về thành phố Quảng Ngãi quản lý. Huyện Tư Nghĩa còn lại 2 thị trấn: La Hà, Sông Vệ và 13 xã: Nghĩa Điền, Nghĩa Hiệp, Nghĩa Hòa, Nghĩa Kỳ, Nghĩa Lâm, Nghĩa Mỹ, Nghĩa Phương, Nghĩa Sơn, Nghĩa Thắng, Nghĩa Thọ, Nghĩa Thuận, Nghĩa Thương, Nghĩa Trung. Ngày 1 tháng 2 năm 2020, sáp nhập xã Nghĩa Thọ trở lại xã Nghĩa Thắng. Huyện Tư Nghĩa có 2 thị trấn và 12 xã như hiện nay. Kinh tế ở huyện là thuần nông cộng với đánh bắt hải sản và tiểu thủ công nghiệp. Huyện đang phát triển cụm công nghiệp làng nghề La Hà. Huyện có núi Phú Thọ và Cổ lũy cô thôn với các thành lũy văn hóa Chăm Pa (Thành Bàn Cờ, Thành hòn Yàng). Thắng cảnh núi Phú Thọ và Cổ lũy cô thôn đã được Bộ Văn hóa thông tin và truyền thông xếp hạng. La Hà thạch trận với những phiến đá trên ngọn đồi khi có gió thổi thoát ra những tiếng như những cuộc giao chiến. Huyện có Chùa Ông Thu Xà là tên gọi dân gian, tên chữ Hán là "Quan Thánh Tự", được người Hoa tại Quảng Ngãi xây dựng vào thế kỷ 18 nằm trên địa bàn thị tứ Thu Xà, xã Nghĩa Hòa. Chùa vẫn được bảo tồn và hiện nay là di tích quốc gia. Phố cổ Thu Xà cũng là một thương cảng lớn của miền Trung và sầm uất chỉ sau thương cảng Hội An, do chiến tranh tàn phá (năm 1974) và sự hủy hoại của thiên nhiên với việc dòng sông Vệ đổi dòng nên làm giảm vai trò của cảng thị và phố cổ. Đặc sản của huyện và của tỉnh Quảng Ngãi là don, được các ngư dân ven sông Trà Khúc đánh bắt. Công trình thủy lợi Thạch Nham tại đây cũng là điểm du lịch quen thuộc ở Quảng Ngãi. Khu du lịch suối nước nóng Nghĩa Thuận (còn gọi là Tư Thuận) đang được đầu tư xây dựng với sự hỗ trợ của Tổng cục du lịch Việt Nam. Năm 2003, Tổng cục du lịch Việt Nam hỗ trợ 13 tỷ đồng nhằm xây dựng tuyến đường vào suối nước khoáng này và ngày 30 tháng 9 năm 2007, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã đồng ý về chủ trương cho phép Tập đoàn than và khoáng sản Việt Nam đầu tư vào khu du lịch này. Ngày 19 tháng 7 năm 2007 UBND tỉnh đã đồng ý về nguyên tắc cho Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Thiên Tân (chủ đầu tư khu biệt thự, village nam sông Trà Khúc - thương hiệu đoạt giải Sao vàng đất Việt năm 2005) đầu tư Dự án Khu du lịch sinh thái Suối Mơ kết hợp với trồng rừng trên diện tích khoảng 400 ha thuộc địa bàn 3 xã: Nghĩa Kỳ, Nghĩa Thuận và Nghĩa Thọ, huyện Tư Nghĩa.
Benzene là một hợp chất hữu cơ có công thức hoá học C6H6. Benzene là một hydrocarbon thơm, trong điều kiện bình thường là một chất lỏng không màu, mùi dịu ngọt dễ chịu, dễ cháy. Benzene tan kém trong nước và rượu Vì chỉ chứa carbon và hydro nên benzene là một hydrocarbon. Benzene là thành phần tự nhiên của dầu thô và là một trong những hóa chất dầu cơ bản. Do các liên kết pi liên tục tuần hoàn giữa các nguyên tử carbon, benzen được phân loại là hydrocarbon thơm, ["n"] - annulen ([6] - annulen) thứ hai. Nó đôi khi được viết tắt là PhH. Benzen là một chất lỏng không màu và rất dễ cháy và có mùi thơm, nó tạo ra mùi thơm xung quanh các trạm xăng. Nó được sử dụng chủ yếu như một tiền chất để sản xuất các hóa chất có cấu trúc phức tạp hơn, chẳng hạn như ethylbenzen và cumen, trong đó hàng tỷ kg được sản xuất hàng năm. Vì benzen có số octan cao, các dẫn xuất thơm như toluen và xylen thường chiếm tới 25% xăng. Bản thân benzen đã bị giới hạn ở mức dưới 1% trong xăng vì nó là chất gây ung thư ở người. Hầu hết các ứng dụng phi công nghiệp cũng bị hạn chế vì lý do tương tự. Từ "benzene" có nguồn gốc từ "nhựa benzoin", một loại nhựa thơm được các dược sĩ và nước hoa châu Âu biết đến từ thế kỷ 16 như một sản phẩm của Đông Nam Á. Một vật liệu có tính acid được lấy từ benzoin bằng cách thăng hoa và được đặt tên là "hoa của benzoin", hay acid benzoic. Do đó hydrocarbon có nguồn gốc từ acid benzoic thu được tên là benzin, benzol hoặc benzen. Michael Faraday lần đầu tiên phân lập và xác định benzen vào năm 1825 từ dư lượng dầu có nguồn gốc từ việc sản xuất khí phát sáng, đặt cho nó cái tên "bicarburet của hydro". Năm 1833, Eilhard Mitscherlich đã sản xuất nó bằng cách chưng cất acid benzoic (từ nhựa benzoin) và vôi. Ông đã đặt cho hợp chất tên là "benzin". Năm 1836, nhà hóa học người Pháp Auguste Laurent đặt tên cho chất này là "phène"; từ này đã trở thành từ gốc của từ tiếng Anh "phenol", đó là benzen được hydroxyl hóa và " phenyl", gốc tự do được hình thành do sự trừu tượng của một nguyên tử hydro (gốc tự do H •) từ benzene. Năm 1845, Charles Mansfield, làm việc dưới quyền August von von Hofmann, đã tách benzen từ nhựa than đá. Bốn năm sau, Mansfield bắt đầu sản xuất benzen ở quy mô công nghiệp đầu tiên, dựa trên phương pháp than đá. Dần dần, ý thức phát triển giữa các nhà hóa học rằng một số chất có liên quan về mặt hóa học với benzen, bao gồm một họ hóa học đa dạng. Năm 1855, Hofmann đã sử dụng từ "thơm" để chỉ định mối quan hệ gia đình này, vì tính chất đặc trưng của nhiều thành viên trong họ chất này. Năm 1997, benzen được phát hiện trong không gian liên sao. Công thức thực nghiệm cho benzene đã được biết đến từ lâu, nhưng cấu trúc không bão hòa cao của nó, chỉ với một nguyên tử hydro cho mỗi nguyên tử carbon, là thách thức để xác định. Archibald Scott Couper năm 1858 và Joseph Loschmidt năm 1861 đã đề xuất các cấu trúc có thể chứa nhiều liên kết đôi hoặc nhiều vòng, nhưng sau đó có quá ít bằng chứng để giúp các nhà hóa học quyết định bất kỳ cấu trúc cụ thể nào. Năm 1865, nhà hóa học người Đức Friedrich August Kekulé xuất bản một bài báo bằng tiếng Pháp (khi đó ông đang giảng dạy tại vùng Bỉ sử dụng Pháp ngữ) cho thấy cấu trúc benzen chứa một vòng gồm sáu nguyên tử carbon với các liên kết đơn và đôi xen kẽ. Năm sau, ông xuất bản một bài báo dài hơn bằng tiếng Đức về cùng một chủ đề. Kekulé đã sử dụng bằng chứng tích lũy trong những năm qua, cụ thể là, dường như luôn luôn chỉ có một đồng phân của bất kỳ đơn chất hóa học nào của benzen và luôn luôn xuất hiện chính xác ba đồng phân của mọi dẫn xuất bị loại bỏ, mô hình meta và para của sự thay thế aren để hỗ trợ cho cấu trúc đề xuất của ông. Vòng đối xứng của Kekulé có thể giải thích những sự việc gây tò mò này, cũng như tỷ lệ carbon-hydro 1:1 của benzen. Sự hiểu biết mới này về benzen, và do đó của tất cả các hợp chất thơm, đã được chứng minh là rất quan trọng đối với cả hóa học tinh khiết và hóa học ứng dụng mà vào năm 1890, Hiệp hội Hóa học Đức đã tổ chức một sự đánh giá cao về khám phá của Kekulé, kỷ niệm năm thứ 25 của bài báo về benzen đầu tiên của ông. Ở đây Kekulé đã nói về việc tạo ra lý thuyết. Ông nói rằng ông đã phát hiện ra hình dạng chiếc nhẫn của phân tử benzen sau khi có tiếng vang hay giấc mơ ban ngày của một con rắn tự giữ đuôi của mình (đây là một biểu tượng phổ biến trong nhiều nền văn hóa cổ đại được gọi là Ouroboros hoặc nút thắt vô tận). Tầm nhìn này đã đến với ông sau nhiều năm nghiên cứu bản chất của các liên kết carbon-carbon. Mất 7 năm sau khi ông giải quyết vấn đề làm thế nào các nguyên tử carbon có thể liên kết với tối đa bốn nguyên tử khác cùng một lúc. Thật kỳ lạ, một mô tả tương tự, hài hước về benzen đã xuất hiện vào năm 1886 trong một cuốn sách nhỏ có tựa đề "Berichte der Durstigen Chemischen Gesellschaft" (Tạp chí của Hiệp hội hóa học khát nước), một bản nhái của "Berichte der Deutschen Chemischen Gesellschaft", một vòng tròn, thay vì rắn như trong giai thoại của Kekulé. Một số nhà sử học cho rằng nhại lại là một cây đèn thần của giai thoại rắn, có thể đã được biết đến qua truyền miệng ngay cả khi nó chưa xuất hiện trên báo in. Bài phát biểu năm 1890 của Kekulé trong đó giai thoại này xuất hiện đã được dịch sang tiếng Anh. Nếu giai thoại là ký ức của một sự kiện có thật, thì các tình huống được đề cập trong câu chuyện cho thấy nó phải xảy ra vào đầu năm 1862. Bản chất tuần hoàn của benzen cuối cùng đã được xác nhận bởi nhà tinh thể học Kathleen Lonsdale vào năm 1929. Nhà hóa học người Đức Wilhelm Korner đã đề xuất các tiền tố ortho-, meta-, para- để phân biệt các dẫn xuất benzen thay thế vào năm 1867; tuy nhiên, ông không sử dụng các tiền tố để phân biệt vị trí tương đối của các nhóm thế trên vòng benzen. Đó là nhà hóa học người Đức Karl Gräbe vào năm 1869, lần đầu tiên sử dụng tiền tố ortho-, meta-, para- để biểu thị các vị trí tương đối cụ thể của các nhóm thế trên một vòng thơm thay thế di (viz, naphthalen). Năm 1870, nhà hóa học người Đức Viktor Meyer lần đầu tiên áp dụng danh pháp của Gräbe cho benzen. Ứng dụng ban đầu. Trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, benzen được sử dụng làm kem dưỡng da sau cạo râu vì mùi dễ chịu của nó. Trước những năm 1920, benzen thường được sử dụng làm dung môi công nghiệp, đặc biệt là để tẩy kim loại. Khi độc tính của nó trở nên rõ ràng, benzen được thay thế bởi các dung môi khác, đặc biệt là toluen (methylbenzen), có tính chất vật lý tương tự nhưng không gây ung thư. Năm 1903, Ludwig Roselius đã phổ biến việc sử dụng benzen để khử caffein cà phê. Phát hiện này đã dẫn đến việc sản xuất Sanka. Quá trình này sau đó đã bị ngưng. Benzen trong lịch sử đã được sử dụng như một thành phần quan trọng trong nhiều sản phẩm tiêu dùng như Cờ lê lỏng, một số dụng cụ cạo sơn, xi măng cao su, tẩy trang tại chỗ và các sản phẩm khác. Việc sản xuất một số công thức chứa benzen này đã ngừng vào khoảng năm 1950, mặc dù cờ lê lỏng vẫn tiếp tục chứa một lượng đáng kể benzen cho đến cuối những năm 1970. Xuất hiện ngoài tự nhiên. Một lượng nhỏ benzen được tìm thấy trong dầu mỏ và than đá. Nó là sản phẩm phụ của quá trình đốt cháy không hoàn toàn của nhiều vật liệu. Đối với mục đích thương mại, cho đến Thế chiến II, hầu hết benzen được lấy làm sản phẩm phụ của sản xuất than cốc (hay "dầu nhẹ lò than") cho ngành công nghiệp thép. Tuy nhiên, trong những năm 1950, nhu cầu về benzen tăng lên, đặc biệt là từ ngành công nghiệp polymer đang phát triển, đòi hỏi phải sản xuất benzen từ dầu mỏ. Ngày nay, hầu hết benzen đến từ ngành công nghiệp hóa dầu, chỉ có một phần nhỏ được sản xuất từ than đá. Cấu trúc phân tử. Cấu trúc mà Kekulé đưa ra hầu như không thuyết phục được các nhà khoa học đương thời, vì căn cứ vào công thức phân tử thì phân tử benzene thể hiện tính không no cao nhưng rất khó tham gia phản ứng cộng, ngược lại benzene rất dễ tham gia phản ứng thế. Tuy nhiên vào năm 1929, công thức của Kekulé đã được công nhận bởi Kathleen Lonsdale. Theo phân tích quang phổ thì góc liên kết giữa các nguyên tử trong benzen đều là 120 độ, các liên kết C-C đều như nhau (140 pm), lớn hơn liên kết đôi đơn lẻ và nhỏ hơn liên kết đơn (136 pm và 147 pm). Điều này được giải thích qua thuyết lai hoá obitan như sau: trong phân tử benzen, các nguyên tử C ở trạng thái lai hoá sp2 liên kết với nhau và với các nguyên tử H thành mặt phẳng phân tử benzen, các obitan p vuông góc với mặt phẳng không chỉ liên kết thành cặp mà liên kết với nhau thành hệ liên hợp. Do vậy mà liên kết đôi ở benzen thường bền hơn so với các hợp chất có liên kết đôi khác, dẫn đến các tính chất đặc trưng mà người ta gọi là tính thơm. Benzene trong điều kiện có xúc tác nickel, nhiệt độ cao cộng với khí hydro tạo ra cyclohexan. Khi có chiếu sáng, benzene tác dụng với khí chlor tạo ra lindan C6H6Cl6 (còn gọi là thuốc trừ sâu ba số 6, thuốc trừ sâu 6-6-6), một thuốc trừ sâu hoạt tính rất mạnh, đã bị cấm. Ngoài ra, benzen có thể được chuyển thành nhiều hợp chất khác theo cách này. Ví dụ như amphetamin: C6H5CH2CH(CH3)Cl + NH3 - C6H5CH2CH(CH3)NH3+Cl- Thủy phân sản phẩm, thu được amphetamin. Phản ứng thế electrophyl. Benzen phản ứng thế với halogen(X2) khi có sắt hoặc acid Lewis (AlCl3) tạo phenyl halide (C6H5X), phản ứng với acid nitric đặc có xúc tác acid sulfuric đậm đặc tạo nitro benzen (trong điều kiện ngặt nghèo hơn - acid bốc khói và nhiệt độ cao - sinh ra TNB), phản ứng với acid sulfuric đậm đặc chưng cất nước thành acid benzosulfonic. Quy tắc chung được nêu trong hình dưới. Nếu như có thêm nhóm thế thì phản ứng thế vào nhân thơm sẽ nhanh hơn hoặc chậm hơn tuỳ vào bản chất nhóm thế: 3CH≡CH —C, 6000— C6H6 Cho acid benzoic tác dụng với natri hydroxide theo phản ứng: C6H5COOH + 2NaOH — C6H6 + Na2CO3 Từ các hydrocarbon nặng. Từ các hydrocarbon mạch thẳng dài Benzene có mùi thơm dễ chịu giống mùi bánh ngọt vừa nướng xong, nhưng mùi này có hại cho sức khoẻ (gây bệnh bạch cầu). Ngoài ra, khi hít benzene vào, có thể gây vô sinh, cần lưu ý khi tiếp xúc trực tiếp với benzene. Có thể gây bệnh ung thư máu. Benzene khi rơi vào da sẽ gây bỏng rát. Đồng phân vị trí nhóm thế. Nếu có hai nhóm thế đính vào nhân thơm thì cho ra 3 đồng phân: thế 1,2- là ortho- ("o-"), thế 1,3- là meta- ("m-"), thế 1,4- là para- ("p-"). Ngày nay một lượng lớn benzen chủ yếu để:
Vi điều khiển là một máy tính được tích hợp trên một chip, nó thường được sử dụng để điều khiển các thiết bị điện tử. Vi điều khiển, thực chất, là một hệ thống bao gồm một vi xử lý có hiệu suất đủ dùng và giá thành thấp (khác với các bộ vi xử lý đa năng dùng trong máy tính) kết hợp với các khối ngoại vi như bộ nhớ, các module vào/ra, các module biến đổi số sang tương tự và tương tự sang số... Ở máy tính thì các module thường được xây dựng bởi các chip và mạch ngoài. Vi điều khiển thường được sử dụng để xây dựng các hệ thống nhúng. Nó cũng được sử dụng trong các thiết bị điện, điện tử như máy giặt, lò vi sóng, điện thoại, đầu đọc DVD, thiết bị đa phương tiện hay dây chuyền sản xuất tự độ Phân loại vi điều khiển. Có thể phân loại vi điều khiển theo theo độ dài thanh ghi và theo kiến trúc Phân loại theo độ dài thanh ghi. Dựa vào độ dài của các thanh ghi và các tập lệnh của vi điều khiển mà vi điều khiển có thể chia thành các dòng 8 bit, 16 bit hay 32 bit,… Vi điều khiển có thanh ghi nhiều bit hơn thì sẽ có độ dài tập lệnh lớn hơn, do đó số lượng các tập lệnh cũng nhiều hơn các dòng có thanh ghi ít bit hơn. Phân loại theo kiến trúc Harvard và kiến trúc Von-Neumann. Kiến trúc Harvard sử dụng bộ nhớ riêng biệt cho chương trình và dữ liệu, với bus địa chỉ và bus dữ liệu độc lập với nhau nên quá trình truyền nhận dữ liệu đơn giản hơn. Hầu hết các vi điều khiển ngày nay được xây dựng dựa trên kiến trúc Harvard, kiến trúc này định nghĩa bốn thành phần cần thiết của một hệ thống nhúng. Những thành phần này là lõi CPU, bộ nhớ chương trình (thông thường là ROM hoặc bộ nhớ flash), bộ nhớ dữ liệu (RAM), một hoặc vài bộ định thời và các cổng vào/ra để giao tiếp với các thiết bị ngoại vi và các môi trường bên ngoài - tất cả các khối này được thiết kế trong một vi mạch tích hợp. Kiến trúc Von-Neumann sử dụng chung bộ nhớ cho chương trình và dữ liệu, làm giảm kích thước và giá thành của vi điều khiển. Kiến trúc của vi điều khiển. CPU hoặc vi xử lý. CPU (central processing unit) hay bộ xử lý trung tâm chịu trách nhiệm nạp lệnh, giải mã và thực thi các tập lệnh. Từ đó, tất cả mọi hoạt động của của vi điều khiển đều là do CPU điều khiển. CPU giao tiếp với các phần khác trong vi điều khiển thông qua hệ thống bus. Hệ thống xung clock. Hệ thống xung clock làm nhiệm vụ cấp xung nhịp cho toàn vi điều khiển. Thông số kĩ thuật tốc độ xung clock tối đa (maximum clock speed hay maximum CPU speed) của các dòng vi điều khiển, ví dụ như vi điều ATmega328 có tốc độ xung nhịp tối đa là 20 MHz, cho biết tốc độ xử lý tối đa mà vi xử lý trong vi điều khiển này có thể đáp ứng được. Hệ thống xung clock được thiết kế chủ yếu từ các mạch tạo xung (oscillator circuit) trong vi điều khiển. Bộ nhớ (tiếng Anh: memory) là nơi lưu trữ chương trình hoặc là nơi chứa các thông tin mà CPU đang làm việc. Có 2 kiểu bộ nhớ cơ bản: Hệ thống ngoại vi trên vi điều khiển rất đa dạng theo nhiều dòng vi điều khiển khác nhau, nhưng nhìn chung các dòng vi điều khiển đều có những ngoại vi cơ bản như sau: Để đưa chương trình vào được vi điều khiển thì phải thông qua mạch nạp. Mạch nạp được thiết kế để đưa file file thực thi (thường là file .hex) từ máy tính xuống vi điều khiển, thông qua các chuẩn ngoại vi có sẵn trên vi điều khiển, ví dụ như board Arduino IDE hỗ trợ nạp chương trình qua mạch nạp ISP nối vào các chân SPI có sẵn của board. Các mạch nạp phổ biến có thể kể đến như ST Link, JTAG, ISP... Vi điều khiển và vi xử lý. Vi điều khiển khác với các bộ vi xử lý đa năng ở chỗ là nó có thể hoạt động chỉ với vài vi mạch hỗ trợ bên ngoài.
Bật lửa (hay hộp quẹt, hột quẹt) là một thiết bị được sử dụng để tạo ra ngọn lửa nhằm mục đích tạo nguồn lửa ban đầu cho các loại nhiên liệu có thể cháy được khác như thuốc lá, thuốc lào, rơm, rạ, giấy hay than củi trong các vỉ nướng. Nó là một vật làm từ kim loại hay nhựa rỗng ruột có chứa các chất lỏng có thể cháy được (thông thường là butan bị nén dưới áp suất lớn để hóa lỏng hoặc là xăng) làm nguồn nhiên liệu. Loại dùng xăng gọi là bật lửa xăng, loại dùng butan được gọi là bật lửa ga. Thông thường, phía trên có một bộ phận để nạp đá lửa và một bánh răng nhỏ bằng thép - nơi sẽ sinh ra tia lửa nhờ ma sát giữa bánh xe và viên đá lửa khi người sử dụng dùng tay tác động một lực nhỏ làm cho bánh xe quay trong khi vẫn tiếp xúc với viên đá lửa. Tuy nhiên, người ta cũng chế tạo ra loại bật lửa sử dụng nguyên lý của hiện tượng áp điện. Các bật lửa dùng xăng làm nguồn nhiên liệu có một sợi bấc nhỏ được nhúng vào nguồn xăng (được tẩm vào các sợi bông để giảm thiểu khả năng bay hơi của xăng) và xăng sẽ ngấm theo sợi bấc lên phía trên. Các loại bật lửa này cũng có nắp đậy để ngăn không cho hơi xăng thoát đi nhanh chóng cũng như để dập lửa một cách thuận tiện nhất (khi đóng nắp đậy lại). Các bật lửa dùng butan hóa lỏng có van tự động khóa ống dẫn hơi butan lại ngay sau khi người dùng rời ngón tay ra khỏi hệ thống đóng nắp van sau khi đã đánh lửa. Tia lửa được tạo ra bằng cách dùng tay tác dụng một lực để gạt cho bánh răng chuyển động trên "đá lửa", hoặc bằng cách ép một cái nút để cho nó ép vào tinh thể áp điện để tạo ra cung lửa điện. Trong các bật lửa dùng xăng thì xăng cũng rất dễ bay hơi đủ để cho hơi xăng có mặt ngay sau khi nắp của bật lửa được mở ra. Các bật lửa dùng butan là tổ hợp của tác động bật bánh răng đồng thời với việc mở van cho hơi butan thoát ra. Tia lửa khi gặp hơi (xăng, butan) sẽ tạo ra ngọn lửa cho đến khi hoặc là nắp bị đóng lại (bật lửa xăng), hoặc là khi van được giải phóng khỏi lực ép của ngón tay (bật lửa ga). Một lớp chắn bằng kim loại có các lỗ hút khí được người ta chụp xung quanh nơi cấp nguồn lửa, nó được thiết kế để cho phép không khí vẫn có thể trộn lẫn với hơi chất cháy (xăng, butan) đồng thời làm giảm thiểu tác động của gió. Vòi phun trong các bật lửa ga cho phép việc trộn hỗn hợp theo nguyên lý Bernoulli, vì thế các lỗ lấy không khí trong loại này có xu hướng nhỏ hơn và xa hơn đối với chỗ tạo lửa. Bật lửa trên ô tô. Phần lớn các ô tô cũng được lắp đặt một thiết bị để lấy lửa chạy điện. Thiết bị này bao gồm một cuộn dây mỏng làm từ sợi hợp kim nicrôm, khi kích hoạt thiết bị này thì có một dòng điện khoảng 15-20 ampere chạy qua nó. Phần tử phát nhiệt sẽ bị nóng đỏ lên trong một khoảng thời gian ngắn và nó có khả năng đốt cháy đầu điếu thuốc và bùi nhùi để tạo ra lửa. Ổ cắm điện của "bật lửa" này có nguồn điện 12 volt cũng có thể dùng cho các mục đích khác; chẳng hạn như chạy các bộ dao cạo điện, đền rọi di chuyển được hay máy tính xách tay ("laptop"), điện thoại di động, PDA, các bộ điều hợp USB, máy nghe nhạc kỹ thuật số hay thậm chí các tủ lạnh nhỏ hoạt động theo nguyên lý nhiệt điện. Đối với các thiết bị chỉ hoạt động với Trong một số xe ô tô đời mới, do nhiều người đã bỏ hút thuốc nên các "bật lửa" loại này đã được thay thế bằng ổ điện 12 volt và nó không hoạt động như là bật lửa nữa. Đá lửa dùng trong các loại bật lửa là hợp kim sắt-xêri ("ferrocerium"), nó có khả năng tạo ra tia lửa khi bị cào xước trên một bề mặt ráp (khả năng dẫn lửa). Nó còn được biết đến như là kim loại Auer theo tên người phát minh ra nó là Nam tước Carl Auer von Welsbach, nó được bán dưới các tên thương phẩm như là Blastmatch, Fire steel (thép lửa), và Metal-match (diêm kim loại). Nguyên lý tạo tia lửa của nó là do ma sát khi đá lửa bị mài mòn tức thời. Nguyên lý này tương tự như nguyên lý tạo lửa từ đá lửa của người tiền sử và thời cổ đại, nhưng khác ở chỗ trong các loại "đá lửa" của người tiền sử và thời cổ đại thì đá lửa cắt vật thể khác có độ cứng thấp hơn, còn trong loại đá lửa hiện đại này thì chính nó bị vật khác cắt. "Đá lửa" trong các bật lửa được chế tạo từ các kim loại đất hiếm, thông thường từ xêri hay các kim loại khác trong nhóm này, chúng là các kim loại có nhiệt độ đánh lửa thấp (150-180 °C). Do các mảnh nhỏ dễ đánh lửa hơn nên các thuộc tính cơ học của các kim loại đất hiếm cần được điều chỉnh sao cho chúng dễ sử dụng; để làm được điều này có hai hướng để tạo ra các hợp kim giòn hơn:
Mực Tàu (hay mực tầu) là một loại mực màu đen đã từng được sử dụng rộng rãi trong quá khứ để viết, in và vẽ, còn hiện nay nói chung vẫn được sử dụng để vẽ, đặc biệt là được các thầy đồ dùng để viết thư pháp.Thời ngày xưa, người ta thường mài mực trước khi viết và dùng bút lông để thể hiện nét bút. Trong ngôn ngữ như tiếng Anh gọi nó là "Indian ink" hay "India ink" (tức là mực Ấn Độ) do người Anh biết đến loại mực này là từ Ấn Độ, tuy nhiên nguồn gốc chính xác của nó thì chưa ai biết rõ là bắt đầu từ đâu. Các chuyên luận sớm nhất về nghệ thuật có nói đến mực Tàu đã được người Trung Quốc và Ai Cập cổ đại điều chế ra. Nền tảng của mực này là chất màu cacbon đen pha trong chất keo lỏng hay các môi trường gắn kết khác. Ở châu Âu, người ta biết đến mực Tàu khá muộn. Đôi khi trước thế kỷ 12, Eraclius trong cuốn "De Coloribus et Artibus Romanorum" của mình đã trình bày một tập hợp các cách chế tạo một vài loại mực cacbon, bao gồm cả loại tương tự như mực Tàu của Trung Quốc, được làm từ muội than của nhựa hoặc gỗ bị đốt cháy. Các dạng gỗ khác nhau sẽ tạo ra các loại mực có tông màu khác nhau đáng kể. Trong cuốn sách của người Anh năm 1581 về chữ viết tay, Theophilus đã trình bày công thức chế tạo mực cacbon: "To make Inke in haste" "In hast, for a shift when ye have a great neede," "Take woll, or wollen to stand you in steede," "With vinegar, or water make Inke withall." Như công thức đã chỉ ra, vật liệu kết dính là không cần thiết: các phân tử cacbon là trong dạng thể vẩn chất keo và tạo ra một lớp không thấm nước sau khi khô đi; mặc dù thông thường sen-lắc không thấm nước vẫn được bổ sung. Ở châu Âu, trong những năm đầu thế kỷ 20 thì mực Tàu đã thay thế cho mực mụn cây-sắt phổ biến rộng rãi trước đây. Mực Tàu không phù hợp cho các loại bút máy: nó nhanh chóng làm tắc bút. Ngoại lệ duy nhất là mực "Fount India" của Pelikan, nó không chứa sen-lắc.
Hệ tọa độ xích đạo Hệ tọa độ xích đạo là hệ tọa độ thiên văn được sử dụng nhiều cho các quan sát bầu trời từ Trái Đất. Nó là hệ tọa độ gắn bó chặt chẽ với hệ tọa độ địa lý, vì ở đây người ta sử dụng chung một mặt phẳng quy chiếu và chung các cực. Hình chiếu của xích đạo Trái Đất lên thiên cầu được gọi là xích đạo trời. Tương tự, chiếu các cực địa lý lên thiên cầu ta sẽ có thiên cực Bắc và thiên cực Nam. Có hai biến thể: 1. Hệ góc giờ cố định so với Trái Đất giống như hệ tọa độ địa lý. Hai tọa độ trong hệ này là: 2. Hệ xích kinh cố định so với các sao ở xa (thực ra không hẳn như vậy nếu tính đến các hiện tượng tiến động và chương động). Hai tọa độ trong hệ này là: Trong một đêm hoặc vài đêm, khi quan sát từ mặt đất, hệ xích kinh có vẻ xoay trên trời cùng với các sao. Điều này là do hệ xích kinh gần như cố định với nền sao, còn Trái Đất quay dưới bầu trời cố định. Do hiện tượng tiến động và chương động, phương xuân phân (điểm xuân phân, "vernal equinox") dùng để làm mốc tính xích kinh và xích vĩ thay đổi chậm trên nền sao. Khi xác định phương xuân phân và tính tọa độ các thiên thể theo mốc này cần dùng phương xuân phân của một kỷ nguyên gần với ngày quan sát. Hiện nay các quan sát thiên văn dùng phương xuân phân của thời đại J2000.0; các dữ liệu cũ hơn dùng B1950.0. Hướng cơ bản của một hệ quy chiếu thiên thể là một điểm mốc nằm trên mặt phẳng tham chiếu, cùng với một quy ước chiều dương để tính tọa độ kinh độ; ở hệ tọa độ xích đạo và hệ tọa độ hoàng đạo nó là điểm xuân phân. Trên thực tế điểm hướng mốc không hoàn toàn cố định. Một sự chuyển động chậm của trục Trái đất, gọi là tiến động trục quay hay tuế sai, gây ra sự quay chậm, liên tục của hệ tọa độ về phía tây về các cực hoàng đạo, hoàn thành một vòng quay theo chu kỳ khoảng 26.000 năm. Sự tiến động trục quay còn được tổng hợp với một sự tiến động nhỏ hơn của hoàng đạo, và một sự dao động nhỏ của trục quay Trái Đất gọi là chương động. Nhằm cố định vị trí chính xác của điểm mốc hướng cơ bản, các chuyển động này yêu cầu phải chỉ rõ điểm phân của một thời điểm ngày tháng, được gọi là một kỷ nguyên thiên văn, khi đưa ra một vị trí trong hệ tọa độ xích đạo. Ba loại điểm phân thường được sử dụng là: là một hướng điểm mốc cố định tiêu chuẩn, cho phép các vị trí ở những ngày tháng khác nhau có thể được so sánh trực tiếp. là giao điểm của hoàng đạo của "ngày" (tức là hoàng đạo ở một vị trí trong một ngày tháng cụ thể) với xích đạo "trung bình" (tức là, xích đạo được quay tới vị trí hiện tại trong "ngày" đó do tiến động, nhưng không có sự dao động nhỏ theo chu kỳ của chương động). Nó thường được sử dụng trong tính toán quỹ đạo hành tinh. là giao điểm của hoàng đạo của "ngày" với xích đạo "thực" (tức là, xích đạo trung bình cộng với chương động). Đây là giao điểm thật sự của hai mặt phẳng ở mọi thời điểm bất kỳ, với mọi chuyển động đều được tính đến. Một vị trí trong hệ tọa độ hoàng đạo do đó thường được chỉ rõ, chẳng hạn theo "điểm phân thực và hoàng đạo của ngày", "điểm phân trung bình và hoàng đạo của J2000.0", hay tương tự. Lưu ý rằng không có "hoàng đạo trung bình", bởi hoàng đạo không có sự dao động nhỏ theo chu kỳ. Tọa độ cầu của một ngôi sao thường được biểu diễn bằng một cặp tọa độ cầu, gọi là xích kinh và xích vĩ, nhưng thường bỏ qua khoảng cách. Hướng của các thiên thể đủ xa được coi là tương tự nhau đối với mọi người quan sát Trái Đất, nên thuận tiện khi chỉ cần xác định hướng này với cùng một tọa độ chung. Ngược lại, trong hệ tọa độ chân trời, vị trí của cùng một ngôi sao là khác nhau đối với những người quan sát ở các vị trí khác nhau của họ trên bề mặt Trái Đất và liên tục thay đổi theo chuyển động quay của Trái Đất. Kính thiên văn được trang bị giá đỡ xích đạo và các đĩa tròn điều chỉnh sử dụng hệ tọa độ xích đạo để tìm kiếm các thiên thể. Việc thiết lập các đĩa tròn kết hợp với bản đồ sao hoặc lịch thiên văn cho phép kính thiên văn dễ dàng quay và hướng vào các thiên thể đã biết trên thiên cầu. "Xem thêm các bài Xích vĩ và Xích kinh" Góc kiểu vĩ độ của hệ tọa độ xích đạo được gọi là xích vĩ (ký hiệu "delta" "δ", viết tắt theo tiếng Anh là "Dec"). Nó là khoảng cách góc giữa vectơ nối tâm Trái Đất với thiên thể (ở phía Bắc hay phía Nam xích đạo thiên cầu) và mặt phẳng xích đạo. Nó có giá trị dương với thiên thể ở phía Bắc xích đạo thiên cầu, và âm với các thiên thể ở phía Nam. Ví dụ, thiên cực Bắc có giá trị xích vĩ +90°. Gốc của xích vĩ là xích đạo thiên cầu, tức là hình chiếu của xích đạo Trái Đất lên thiên cầu. Xích vĩ là khái niệm tương tự với vĩ độ địa lý. Góc kiểu kinh độ được gọi là xích kinh (ký hiệu "alpha" "α", viết tắt theo tiếng Anh là "RA"). Nó là khoảng cách góc dọc theo xích đạo thiên cầu, giữa vòng giờ đi qua thiên thể và mặt phẳng đi qua thiên cực và điểm xuân phân, tức là một trong hai giao điểm của hoàng đạo với xích đạo thiên cầu. Góc được quy ước có giá trị dương nếu thiên thể nằm ở phương Đông và âm nếu thiên thể nằm ở phương Tây. Khác với xích vĩ và khác với kinh độ, xích kinh thường được đo bằng giờ (phút, giây) thay vì bằng độ, bởi vì sự quay biểu kiến của hệ tọa độ xích đạo gắn chặt với thời gian sao và góc giờ. Một cách đo xích kinh là đo thời gian quá cảnh kinh tuyến của các thiên thể. Vì bầu trời quay trọn một vòng sau 24 giờ, nên một giờ xích kinh bằng 15 độ ( = 15°). Một tọa độ thay cho xích kinh là góc giờ hay góc giờ địa phương (viết tắt theo tiếng Anh là HA hay LHA, "local hour angle"), một tọa độ quy ước tay trái, là khoảng cách góc của một thiên thể theo chiều tây dọc theo xích đạo thiên cầu, từ kinh tuyến địa phương của người quan sát tới vòng giờ đi qua thiên thể. Không giống xích kinh, góc giờ luôn tăng với sự quay của Trái Đất. Góc giờ có thể được xem là một cách đo thời gian từ lúc đỉnh điểm trên, thời điểm mà một thiên thể tiếp xúc với kinh tuyến trực tiếp phía trên bầu trời tại nơi người quan sát. Một ngôi sao tại cực điểm nằm trên kinh tuyến của một người quan sát được gọi là có góc giờ bằng 0 (0h). Một giờ sao (khoảng 0,9973 giờ theo thời gian mặt trời) sau đó, sự tự quay của Trái đất sẽ đưa ngôi sao về phía tây của kinh tuyến, và góc giờ của nó sẽ là 1 giờ. Khi tính toán các hiện tượng trong hệ quy chiếu trên mặt đất, xích kinh có thể được chuyển đổi thành góc giờ như một bước trung gian. Tọa độ xích đạo mở rộng. Mở rộng thành hệ tọa độ cầu-cực. Với xích kinh và xích vĩ, hệ tọa độ xích đạo chỉ có thể xác định phương tới các thiên thể chứ không thể xác định khoảng cách tới các thiên thể. Để xác định cả khoảng cách tới các thiên thể trong không gian 3 chiều, người ta thêm tọa độ thứ ba, đó là khoảng cách ("r") từ tâm Trái Đất tới thiên thể. Khi đó hệ tọa độ xích đạo này là hệ tọa độ cầu-cực. Hệ tọa độ trục vuông góc. Tọa độ xích đạo địa tâm. Có một vài biến thể hệ trục vuông góc của tọa độ xích đạo, và chúng đều có: Các hệ quy chiếu đều không quay cùng với Trái Đất (trái ngược với các hệ quy chiếu tâm Trái Đất và cố định Trái Đất), luôn hướng tới điểm phân và thay đổi chậm theo thời gian với các chuyển động tiến động và chương động. Tọa độ xích đạo nhật tâm. Trong thiên văn học, một biến thể trục vuông góc nhật tâm của hệ tọa độ xích đạo còn được sử dụng, ký hiệu là "x", "y", "z", và có: Hệ quy chiếu này tương đương với hệ "ξ", "η", "ζ" ở trên về mọi mặt, ngoại trừ gốc tọa độ được đặt tại tâm Mặt Trời. Nó thường được sử dụng trong tính toán quỹ đạo hành tinh. Các tọa độ trục vuông góc thiên văn nói trên có liên hệ sau: Mở rộng cho các hành tinh. Hệ tọa độ xích đạo có thể được mở rộng để áp dụng cho các quan sát thiên văn từ hành tinh khác trong hệ Mặt Trời. Chúng cũng sử dụng xích đạo của hành tinh làm mặt phẳng tham chiếu, và điểm xuân phân của hành tinh làm điểm mốc tính kinh độ và vĩ độ. Chúng có thể được gọi với tên chung là hệ tọa độ tâm hành tinh.
Năm Julius (thiên văn) "Bài này nói về khoảng thời gian được sử dụng trong thiên văn.Đối với năm trong lịch Julius, xem bài Lịch Julius." Trong thiên văn học, năm Julius là đơn vị đo thời gian được định nghĩa chính xác bằng 365,25 ngày hay 31.557.600 giây. Tên gọi này có nguồn gốc từ thực tế là nó tương ứng với độ dài trung bình của năm trong lịch Julius đã từng được sử dụng trong cộng đồng thế giới phương Tây trong các thế kỷ trước. Tuy nhiên, về nền tảng thì nó chỉ là cách thức trực giác thuận tiện để đo các khoảng lớn về "ngày" (không phải các năm "thực sự" như năm chí tuyến hay năm thiên văn), và do vậy nó không có mối liên hệ nào với các kiểu duy trì thời gian theo ngày-tháng-năm trong lịch Julius hay bất kỳ loại lịch nào khác. Năm Julius được sử dụng chủ yếu nhằm mục đích tạo thuận lợi trong các công trình lịch thiên văn, trong đó việc liệt kê số ngày có thể là cồng kềnh và khó nhớ (ví dụ, sẽ dễ dàng/dễ nhớ hơn nếu biểu diễn chu kỳ quỹ đạo của Diêm Vương Tinh là 248 năm Julius thay vì 90.590 ngày). Về trực quan, nó là đơn vị dễ hiểu hơn và rất gần với độ dài thực tế của năm, ngoài ra các khoảng cách được đo theo năm Julius cũng dễ dàng được chuyển đổi ngược lại thành các khoảng cách đo theo ngày mà không có các phần thập phân dài dòng, rắc rối và khó nhớ. Năm Julius không nên nhầm lẫn với ngày Julius, là đơn vị cũng được sử dụng trong thiên văn. Mặc dù có sự tương tự trong tên gọi, nhưng ở đây không có sự liên hệ nào giữa chúng. Năm Julius không phải là 365,25 "ngày Julius", nó đơn giản bằng 365,25 ngày. Ngày Julius không phải là đơn vị đo thời gian, mà nó đơn giản chỉ là việc đếm đuổi các ngày với sự lựa chọn ngẫu nhiên điểm bắt đầu từ trong quá khứ xa xôi, với số chỉ mỗi ngày tiếp theo sẽ lớn hơn số chỉ ngày hôm trước là 1 đơn vị, một cách để chỉ ra ngày mà không cần tham chiếu tới tháng hay năm. Ở khía cạnh khác, năm Julius "là" đơn vị đo thời gian và không phải là việc đếm đuổi của năm. Các nhà thiên văn không nói những câu tương tự như "năm nay là năm Julius 2005" (là câu tương tự như khi nói "giờ này là giờ thứ 245"); thay vì thế họ sử dụng các câu tương tự như "chu kỳ thiên văn của Diêm Vương Tinh là 248,0208 năm Julius". Chỉ định và đặt tên các kỷ nguyên. Lưu ý rằng năm Julius trong thiên văn là đơn vị thuần túy để đo thời gian và khoảng thời gian, nó không được sử dụng như bất kỳ loại lịch hay các hệ thống duy trì thời gian nào khác. Các nhà thiên văn không sử dụng lịch Julius đối với các sự kiện đương đại: khi họ cần đề cập đến ngày tháng cụ thể nào đó (chẳng hạn ngày diễn ra nhật thực sắp tới), thì họ sử dụng lịch Gregory tương tự như những người khác. Tuy nhiên, đối với các sự kiện xảy ra trước khi có lịch Gregory (vào ngày 15 tháng 10 năm 1582 thì lịch Julius với năm lịch sử từ ngày 1 tháng 1 tới 31 tháng 12 được sử dụng. Tuy nhiên, năm Julius là nền tảng để đặt tên các kỷ nguyên tiêu chuẩn sử dụng trong thiên văn. Một kỷ nguyên đơn giản chỉ rõ một thời điểm thời gian chính xác. Kỷ nguyên Julius J2000.0 được đồng bộ chính xác vào 12:00 TT (gần nhưng không chính xác bằng thời điểm giữa trưa theo GMT) ngày 1 tháng 1 năm 2000 trong lịch "Gregory" (không phải lịch Julius), và các kỷ nguyên tương lai có thể tính toán và đặt tên theo số ngày kể từ đó, chia cho 365,25. Vì thế, kỷ nguyên tương lai "J2100.0" sẽ chính xác bằng 36525 ngày kể từ kỷ nguyên J2000. Tuy nhiên, thực sự nó không có mục đích sử dụng thực tế nào như là của các hệ thống lịch hiện đang được áp dụng (nó được đồng bộ với ngày 1 tháng 1 năm 2000 của lịch Gregory mà không phải của lịch Julius với cùng một tên gọi, chúng lệch nhau khoảng 2 tuần, do nó sử dụng năm Julius nên nó sẽ lệch khỏi lịch Gregory sau vài trăm năm). Ngoài ra, nó đơn giản chỉ là cách chuyển đổi thuận tiện để liệt kê và đặt tên gọi các kỷ nguyên. Trong thiên văn, các vị trí của các ngôi sao (xích kinh và xích vĩ, tương ứng với kinh độ và vĩ độ địa lý) dần dần thay đổi do tuế sai, vì thế khi chỉ rõ các tọa độ của một ngôi sao nào đó thì cần thiết phải đề cập rõ là các tọa độ này được áp dụng cho kỷ nguyên nào. Ngoài ra, các thông số quỹ đạo của các hành tinh cũng thay đổi nhẹ theo một gốc liên tục do các hiệu ứng của sự nhiễu loạn hấp dẫn, vì thế chúng cũng phải được chỉ rõ là áp dụng cho kỷ nguyên nào. Kỷ nguyên tiêu chuẩn được sử dụng ngày nay là J2000, nhưng vì các lý do thực tế nên một kỷ nguyên tiêu chuẩn mới sẽ được lựa chọn cứ sau khoảng mỗi 50 năm.
Heracles (tiếng Hy Lạp: Ηρακλης - Herakles, trong thần thoại La Mã, vị anh hùng này được gọi là Hercules, phiên âm: "Hê- cra- lét") là một bán thần và là con của Thần Zeus, tên ông được đặt cho chòm sao Hercules. Những chiến công của Heracles vang dội khắp bốn phương, mang ý nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho sức mạnh chinh phục thiên nhiên của con người thời xưa#đổi . Vào thời điểm lúc bấy giờ, thần Zeus đang đau đầu vì lời phán truyền của những nữ thần Số Mệnh: đỉnh Olympus sẽ bị xâm lăng bởi những Gigantos - Đại Khổng Lồ và khi ấy chỉ có một vị anh hùng kiệt xuất người trần gian mới giúp được. Zeus liền xuống trần, giả dạng chồng của Alcmene để ái ân với Alcmene dài gấp ba lần đêm bình thường, bởi Zeus đã ra lệnh cho thần Mặt Trời không được mọc như hàng ngày. Mấy hôm sau, Amphitryon, chồng thật của Alcmene trở về từ chiến trường, thấy thái độ của vợ khác thường, đâm ra nghi ngờ lòng chung thủy của vợ. Cuối cùng, Amphitrion quyết định đến đền thờ xin lời chỉ dẫn. Được lời phán truyền làm yên lòng, Amphitrion dẹp bỏ mối lo về Alcmene. Một thời gian sau, Alcmene có mang và sinh đôi: Một đứa con trai của Amphitryon là Iphicles và một đứa con trai của Zeus là Heracles, tuy nhiên lúc này cậu bé có tên Alcides. Nhưng vào lúc đó nữ thần Hera cũng biết được tin tức về cuộc tình vụng trộm này, vốn bản tính ghen tuông sẵn có, Hera đã giở thủ đoạn để trả thù: đầu tiên, bà ta chọn lúc thần Zeus đang vui mà bắt thần hứa rằng sẽ trao ngôi báu của xứ Mycenae cho một hậu duệ thuộc dòng dõi người anh hùng Perseus (vừa là tổ tiên bên ngoại, vừa là anh trai cùng cha khác mẹ của Heracles) ra đời sớm nhất trong tương lai và nhận được sự chấp thuận của Zeus, vì Zeus tin chắc rằng đứa con của mình sẽ ra đời sớm nhất. Sau đó bà ta sai nữ thần Ilithi chuyên phụ trách việc sinh nở xuống trần gian đẩy nhanh việc sinh nở của hoàng hậu thuộc xứ Mycenae, cũng đang mang thai một hậu duệ thuộc dòng Perseus, và vị hoàng hậu đó đã sinh ra Eurystheus, người sau này sẽ phụ trách việc đày đọa Heracles trong 12 năm nhưng cũng góp phần gián tiếp tạo nên 12 chiến công hiển hách, vĩ đại của Heracles, mặc dù hắn mới nằm trong bụng mẹ có 7 tháng. Việc này khiến cho thần Zeus dù rất giận dữ, nhưng cũng không thể làm gì khác vì thần Zeus phải tuân thủ lời hứa của mình, và buộc phải chấp nhận trao ngôi báu cho Eurystheus ốm yếu. Zeus rất đỗi vui mừng vì có một cậu con trai. Vào một đêm nọ, thần xuống trần bế chú bé Heracles lên cung điện Olympus, lén đặt vào lòng nữ thần Hera để bú trộm sữa. Khi Hera phát hiện Heracles và đẩy phắt cậu ra thì cậu đã bú gần no. Tương truyền lúc Hera đẩy cậu ra, sữa của nữ thần văng khắp bầu trời, tạo thành sông Ngân Hà. Nhờ được uống sữa của Hera mà sau này cậu bé mới trở nên bất tử. Vì vậy, thần Zeus đặt tên mới cho cậu bé là "Heracles", có nghĩa "Vinh quang của Hera". Nữ thần Hera thù ghét Heracles, ngay đêm đó đã sai hai con rắn bò vào nôi của hai đứa trẻ để mổ chết Heracles. Iphicles khóc thét khiến hai vợ chồng Amphitryon chạy tới. Họ nhìn thấy một cảnh tượng kì lạ: Heracles đang cầm hai con rắn trên hai tay và bóp cổ chúng cho tới chết. Ngay từ hồi sơ sinh, Heracles đã bộc lộ sức mạnh phi thường. Lớn lên, cậu được theo học cách điều khiển xe ngựa, võ thuật, cung tê, nghệ thuật, khoa học. Heracles vô cùng hứng thú với các môn võ nghệ, tiếc thay về khoa học và nghệ thuật, cậu rất lười và học dốt thậm tệ các môn này. Thầy giáo dạy nhạc trong một lần giận dữ vì Heracles không thuộc bài nên giơ tay đánh cậu. Heracles nổi cáu, vớ cây đàn lia (có người bảo là cái ghế), đánh vào đầu thầy. Không may, thầy dạy nhạc ngã xuống chết do đòn đánh quá mạnh. Người cha dượng Amphitrion lo sợ Heracles sẽ lại gây ra tội lỗi nên gửi cậu đến chỗ nhân mã Chiron - người từng dạy dỗ biết bao nhân tài của đất Hi Lạp. Ông hi vọng cảnh thanh bình trên núi cao sẽ làm dịu đi bản tính nóng nảy của con mình, hơn nữa như thế cũng hợp với sự phóng khoáng và hiếu động của cậu bé. Ở trên núi với thầy Chiron, Heracles dần trở thành học trò xuất sắc nhất về cả võ nghệ lẫn cung tên. Năm 18 tuổi, Heracles đã trở thành một chàng thanh niên khỏe mạnh, lực lưỡng, cao to, chàng từ giã thầy xuống núi, bắt đầu sự nghiệp giúp đỡ dân lành. Những chiến công đầu tiên bi kịch gia đình. Trước khi lập nên mười hai kì tích, Heracles đã tiêu diệt được một con sư tử ở vùng Chiteron. Con sư tử này vừa to lớn vừa hung dữ, nó đã tàn sát vô số người dân vô tội. Nó cũng bắt đi gia súc. Heracles dù lúc này mới mười tám tuổi nhưng chàng đã tình nguyện đi diệt trừ ác thú. Chàng đã phải mất năm mươi ngày mới hạ nổi con sư tử bằng cách dùng chùy để giết nó. Chàng còn hỗ trợ quân thành Thebes chiến thắng quân xâm lược. Đó chính là hai chiến công lớn đầu tiên của Heracles. Vua thành Thebes là Creon biết ơn Heracles nên đã gả con gái là công chúa Megara cho chàng. Gia đình Heracles rất hạnh phúc và đầm ấm, hai vợ chồng còn sinh được ba người con trai (có nguồn kể rằng sinh được những tám người con). Nhưng tai họa đã đổ ập xuống đầu họ vì Hera vẫn mang trong lòng mối căm ghét con riêng của Zeus. Nữ thần giáng một cơn điên cuồng kì lạ vào Heracles, làm chàng mất hết lý trí và ra tay sát hại vợ con mình. Đến khi tỉnh lại thì mọi thứ đã quá muộn, Heracles chỉ còn biết ôm lấy xác người thân mà khóc. Chàng đến khấn cầu thần Apollo ở đền Delphi, mong được ban cho lời chỉ dẫn để tẩy trừ tội lỗi của bản thân. Thần Apollo phán với Heracles rằng chàng sẽ phải làm nô lệ cho nhà vua Eurystheus xứ Mycenae trong mười hai năm và trong mười hai năm đó chàng sẽ lập được mười hai kỳ công vĩ đại. Vì vậy, Heracles đành nộp mình nô dịch cho Eurystheus.Sau khi Heracles đã hoàn thành được mười hai kỳ công, chàng còn lập nhiều kì công khác như tham gia vào đoàn 50 người anh hùng của tàu Argonauts đi đoạt lại bộ lông cừu vàng, đánh hạ thành T Trong một chuyến đi, vợ chàng - Deianira - bị nhân mã Nessus bắt cóc. Heracles đã bắn mũi tên tẩm máu độc của con long xà ở Lerna để hạ Nessus. Trước khi chết, Nessus lừa Deianira lấy máu của anh ta tẩm vào một chiếc áo và nói rằng đó là bùa yêu, chỉ cần đưa cho Heracles mặc thì chàng sẽ yêu cô suốt đời. Heracles sau khi mặc chiếc áo thì bị nhiễm chất độc, vô cùng đau đớn và đã nhờ tráng sĩ Philoctetes - một tay cung nổi tiếng - hỏa thiêu chàng với cái giá là bó cung tẩm chất độc của con long xà ở Lerna. Sau khi Heracles chết, thần Zeus - cha chàng - đã biến chàng thành bất tử theo thỏa thuận với nữ thần Hera. Heracles từ đó sống với các vị thần bất tử trên đỉnh Olympus. Chàng còn góp công rất lớn trong trận chiến của các vị thần với các Gigantos, để trả ơn chàng cũng như hóa giải mối thù hận lâu năm, Hera đã gả con gái mình là nữ thần Hebe cho Heracles. Mười hai kỳ công của Heracles. Heracles nổi tiếng nhất với Mười hai kỳ công khi phải làm nô lệ cho vua Eurystheus để chịu sự trừng phạt cho việc giết vợ con của mình - một hành động là kết quả của một cơn điên do Hera gây nên. Mười hai kỳ công của Heracles, theo thứ tự về thời gian, là: Do thần thoại có một số dị bản nên ở mỗi dị bản, thứ tự các chiến công có khác nhau đôi chút.
Chùa Bút Tháp (Ninh Phúc tự 寧福寺) nằm ở bên đê hữu ngạn sông Đuống, thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra, nhân dân trong vùng còn gọi là chùa Nhạn Tháp, chùa Thấp. Tên cũ của chùa trước đây gồm có: Thiếu Lâm Tự, Hoàng Cung Tự. Trong chùa có tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn bằng gỗ lớn nhất Việt Nam. Đây cũng là một di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam được xếp hạng đợt 4. Để xác định chùa có từ bao giờ thì chưa có nhà nghiên cứu nào đưa ra một tài liệu chính xác. Theo sách "Địa chí Hà Bắc" (1982) thì chùa có từ đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278). Thiền sư Huyền Quang (đỗ Trạng nguyên năm 1297) đã trụ trì ở đây. Ông cho dựng ngọn tháp đá cao 9 tầng có trang trí hình hoa sen. Ngọn tháp này nay không còn nữa. Đến thế kỷ 17, chùa đã trở nên nổi tiếng với sư trụ trì là Hòa thượng Chuyết Chuyết (1590-1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, sang Việt Nam năm 1633 và trụ trì ở chùa. Năm 1644, Hòa thượng viên tịch và được vua Lê phong là "Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư". Tiếp đó, người kế nghiệp trụ trì chùa Bút Tháp là Thiền sư Minh Hạnh, học trò xuất sắc của Hòa thượng Chuyết Chuyết. Vào thời gian này, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (Diệu Viên) đã rời bỏ cung thất, về đây tu hành. Thấy chùa bị hư nát nhiều, bà cùng con gái là công chúa Lê Thị Ngọc Duyên (Diệu Tuệ), xin phép Chúa Trịnh Tráng, rồi bỏ tiền của, ruộng lộc ra công đức để trùng tu lại ngôi chùa. Đến năm 1647, chùa mới được làm xong. Chùa kiến trúc theo kiểu "Nội Công Ngoại Quốc". Về cơ bản, quy mô và cấu trúc của chùa Bút Tháp hiện nay chính là ngôi chùa được xây dựng trong thời kỳ đó. Đời vua Tự Đức, năm 1876, khi vua qua đây thấy có một cây tháp hình dáng khổng lồ liền gọi tên là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi là tháp Bảo Nghiêm. Chùa được trùng tu vào các năm 1739, 1903, 1915, 1921 và gần đây vào năm 1992-1996. Đây là ngôi chùa có kiến trúc quy mô hoàn chỉnh nhất còn lại ở Việt Nam. Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử và nghệ thuật, chùa Bút Tháp đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích cấp quốc gia theo quyết định số 313-VH/VP ngày 28 tháng 4 năm 1962. Đây là một trong không nhiều ngôi chùa cổ, có quy mô kiến trúc lớn của Đồng bằng Bắc Bộ còn lại đến ngày nay. Chùa có kiến trúc độc đáo, bố cục hài hòa giữa kiến trúc với môi trường thiên nhiên. Toàn bộ kiến trúc chính của chùa quay theo hướng Nam, một hướng truyền thống của người Việt. Đối với đạo Phật hướng Nam là hướng của trí tuệ, của bát nhã. Quần thể kiến trúc còn giữ lại nhiều di tích của thế kỷ 17. Cụm kiến trúc trung tâm ở Chùa Bút Tháp bao gồm 8 đơn nguyên chạy song hành được bố trí đăng đối trên một đường "Thần Đạo" và được bao bọc bởi hai dãy hành lang chạy suốt dọc chùa ở hai bên, đó là tòa Tiền Đường Thượng Điện, cầu đá tòa Thích Thiện Am Trung Đường, phủ thờ nhà Hậu Đường và hàng tháp đá. Sự bố trí chặt chẽ ở khu vực trung tâm này thể hiện một nội dung tư tưởng về giáo lý của đạo Phật. Phật điện của chùa gần như nguyên sơ của chùa cổ Việt Nam, gồm 10 nếp nhà nằm trên một trục dài hơn 100 m. Qua cửa Tam quan, đến gác chuông hai tầng, tám mái. Chùa chính với ba dãy nhà Tiền đường - Thiên hương - Thượng điện tạo thành chữ "công". Cách bố trí như vậy làm nổi bật điện thờ bên trong với các pho tượng. Kiến trúc chùa vẫn dùng khung gỗ chịu lực nhưng nền bệ lan can dùng đá rất phổ biến, trên có những hình động vật được khắc trông sinh động và độc đáo. Trang trí được thể hiện ở mọi nơi trên các chất liệu gỗ và đá, ở kiến trúc và ở các đồ thờ. Đặc biệt trên lan can tòa Thượng Điện có 26 bức chạm khắc đá, trên lan can cầu đá nối với Tòa Thích Thiện Am có 12 bức và ở lan can quanh chân tháp Báo Nghiêm có 13 bức. Như vậy tổng cộng các bức chạm khắc đá ở chùa Bút Tháp là 51 với những đề tài khác nhau, nhưng đều thống nhất với nhau ở mặt chất liệu, phong cách và thống nhất về niên đại. Hình ảnh chạm khắc ở đây sống động tươi vui hàm chứa ý nghĩa Phật đạo và đặc biệt mang đậm nét tính chất nghệ thuật thiền. Các bức chạm đều tập trung về đề tài thiên nhiên phong phú sinh động như Tứ Linh Quý. Tượng phật Quan Âm nghìn mắt nghìn tay. Chùa Bút Tháp có nhiều tượng cổ với giá trị thẩm mỹ cao, trong đó nổi bật nhất là tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay thế kỷ XVII. Bức tượng này là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của nền văn hóa và nghệ thuật Việt Nam, đánh dấu mốc cho sự phát triển của tinh thần dân tộc. Bức tượng được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia trong Đợt đầu tiên năm 2012. Tượng Quan âm Bút Tháp được bảo quản tốt từ khi ra đời cho đến những năm 1950, khi chiến tranh chống Pháp lan rộng ra đồng bằng Bắc bộ. Từ năm 1950 - 1953, làng Bút Tháp chịu nhiều trận công kích của Pháp, chùa Bút Tháp bị trúng nhiều đạn pháo, nhiều công trình bị đổ. Đặc biệt trận đánh năm 1953, cả làng Bút Tháp bị thiêu trụi, trừ ngôi chùa này. Các tượng Phật cũng mất mát và hư hỏng nhiều trong khói lửa. Trong kháng chiến chống Mỹ, do chiến tranh bom đạn lan rộng, bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã đưa tượng Phật bà Quan âm đi sơ tán và trả lại sau chiến tranh. Quá trình đó và cả sau này, tượng Quan âm bị giới nghệ thuật và lịch sử đổ thạch cao, làm phiên bản nhiều lần, thậm chí người ta ốp thẳng khuôn thạch cao lên tượng. Nên pho tượng bị bong tróc và hỏng nhiều chi tiết. Nhiều đoạn nối giữa khuỷu tay và cánh tay, nhiều ngón tay hỏng không được sửa cẩn thận mà chỉ được đắp bằng thạch cao rồi phủ sơn lên, nay thạch cao rời ra để lộ những chỗ nối. Một vài chi tiết bị gãy mất, và bốn con quỷ đội bệ bốn góc cũng bị mất. Đợt trùng tu lớn năm 1993, trong đó có cả một số tượng được tu sửa, nhưng những tượng này hỏng nhanh hơn các tượng không được tu sửa. Do không có phương tiện hiện đại soi chụp, các nhà nghiên cứu không rõ tượng Quan âm Bút Tháp có nhiều ổ rỗng hay không, nhưng chất lượng thân tượng là tương đối tốt, trừ 42 tay lớn do chịu lực giơ tự nhiên, (nhất là tay vươn cao) đều dễ bong gãy. Phần đầu tượng, các chi tiết trang trí trên mũ cũng bị sứt gãy nhiều, và có lẽ phần này bên trong lõi gỗ không còn tốt nữa, cũng bởi nơi nhiều chi tiết, người xưa sử dụng phương pháp đắp đất trộn sơn, nên khả năng hỏng cũng nhiều hơn nơi thuần là gỗ. Các tác phẩm điêu khắc cổ. Ngoài tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay, hai kiệt tác điêu khắc khác nữa làm thành một bộ ba tác phẩm danh bất hư truyền là tượng Tây Thiên Đông Độ Việt Nam lịch đại Tổ sư và tượng Thị Kính. Pho tượng Tuyết Sơn ở đây cũng là một kiệt tác của thế kỷ 17. Ngoài ra, trong chùa có nhiều pho tượng gỗ được tạc trong tư thế quỳ, đứng, ngồi với nét mặt thành kính trông rất sinh động như pho tượng Kim Đồng - Ngọc Nữ; tượng La Hán thể hiện cảm xúc nội tâm, mang nặng ý tưởng Phật giáo. Phủ thờ nằm sau Phật điện là ngôi nhà 5 gian có hai pho tượng đáng chú ý. Hai pho tượng này là chân dung hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc đầu đội vương miện nhưng khoác áo tu hành, và công chúa Ngọc Duyên. Cả hai pho tượng đều ngồi theo dáng toạ thiền. Tượng cổ thường có xu hướng rỗng lõi, nhiều nơi đã bơm các hóa chất đặc vào trong, như vậy sẽ làm pho tượng hỏng nhanh trong tương lai, chỉ có thể lấy gỗ mít cũ, nghiền ra mùn cưa trộn với sơn ta và đất phù sa nhét vào chỗ rỗng thì bền lâu. Hiện tại chất lượng kỹ thuật của các tượng Phật Bút Tháp không đồng đều. Những tượng gỗ vẫn còn tốt, những tượng lõi gỗ với chi tiết đắp đất phủ sơn bong tróc nhiều. Những tượng đất phủ sơn hoàn toàn xuống cấp nặng. Những pho tượng được sơn mới và trùng tu đều có xu hướng hỏng, và hỏng từ bên trong do màng sơn mới làm tượng không thở được. Từ thượng điện, đi qua một chiếc cầu đá có ba nhịp uốn cong dẫn đến ngôi nhà gọi là "Tích Thiện am". Trên cầu có 12 bức phù điêu đá chạm chim muông hoa lá. Tích Thiện am là một ngôi nhà có ba tầng mái. Trong Tích thiện am, có cây Cửu Phẩm Liên Hoa, là một tháp bằng gỗ 9 tầng, 8 mặt, có thể quay tròn quanh một trục, có gắn tượng Phật và chạm những cảnh dân gian hay lấy đề tài trong Phật thoại. Chùa có tháp Báo Nghiêm thờ Hoà thượng Chuyết Chuyết, đỉnh tháp là ngọn bút trông giống như cây bút khổng lồ vươn thẳng tới trời cao thanh vắng. Tháp cao 13,05 mét, năm tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh; ngoài tầng đáy rộng hơn với mái hiên nhô ra; bốn tầng trên gần giống nhau, mỗi cạnh rộng 2 m. Năm góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ. Lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,29 m. Ngoài kỹ thuật xây dựng đá, phần bệ tượng được bao quanh bằng hai vòng tường cấu tạo bằng cột và lan can. Riêng ở tầng dưới cùng của toà tháp này có mười ba bức chạm đá với lấy đề tài chủ yếu là các con thú. Tháp thể hiện tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc tuyệt vời của người thợ Việt Nam xưa. Lễ hội chùa Bút Tháp (địa phương trong vùng quen gọi là hội chùa Thấp) diễn ra vào ngày 24 tháng 3 âm lịch là một lễ hội lớn với nhiều nghi lễ và các trò chơi dân gian, thu hút đông đảo khách thập phương trong và ngoài tỉnh đến dự.
Lịch Julius, hay như trước đây phiên âm từ tiếng Pháp sang là lịch Juliêng, được Julius Caesar giới thiệu năm 46 TCN và có hiệu lực từ năm 45 TCN (709 "ab urbe condita"). Nó đã được lựa chọn sau khi có sự tư vấn của nhà thiên văn người Alexandria là Sosigenes và đã được thiết kế để gần đúng với năm chí tuyến, đã được biết ít nhất là từ thời Hipparchus. Nó có các năm thường 365 ngày được chia thành 12 tháng, và ngày nhuận được thêm vào tháng Hai sau mỗi 4 năm. Vì thế năm Julius trung bình dài 365,25 ngày. Lịch Julius được duy trì sử dụng cho đến tận thế kỷ 20 ở một số quốc gia và hiện vẫn còn được một số nhà thờ Chính thống giáo sử dụng. Tuy nhiên, quá nhiều ngày nhuận được thêm vào để phù hợp với các mùa thiên văn trong sơ đồ này. Trung bình, các điểm phân và điểm chí diễn ra sớm hơn khoảng 11 phút trên năm so với lịch Julius, làm cho lịch này có thêm một ngày dư ra sau mỗi 134 năm. Trong khi Hipparchus và có lẽ cả Sosigenes đã biết về sai khác này (mặc dù có thể không phải là giá trị chính xác), nó đã được coi là ít quan trọng. Tuy nhiên, nó tích lũy đáng kể theo thời gian và cuối cùng dẫn đến sự cải cách lịch năm 1582 trong đó người ta đã thay thế lịch Julius bằng lịch Gregorius có độ chính xác cao hơn. Ký hiệu "kiểu cũ" (OS) đôi khi được sử dụng để chỉ ngày tháng trong lịch Julius, ngược lại với "kiểu mới" được dùng để chỉ ngày tháng trong lịch Gregorius. Ký hiệu này được sử dụng khi có nguy cơ gây nhầm lẫn các số liệu về ngày tháng trong các văn bản. Từ La Mã tới Julius. Năm thông thường trong lịch La Mã trước đó chứa 12 tháng có tổng cộng 355 ngày. Để bổ sung, tháng nhuận, Mensis Intercalaris, đôi khi được chèn vào giữa tháng Hai và tháng Ba. Tháng nhuận này được tạo ra bằng cách chèn 22 ngày trước 5 ngày cuối cùng của tháng Hai, tạo ra tháng có 27 ngày. Nó bắt đầu khi tháng Hai bị cắt ngắn có 23 hay 24 ngày, vì thế nó có tác dụng thêm vào 22 hay 23 ngày đối với năm, tạo ra năm nhuận có 377 hay 378 ngày. Theo Censorinus và Macrobius, chu kỳ nhuận lý tưởng bao gồm các năm thường có 355 ngày xen kẽ với các năm nhuận, mà các năm nhuận này lại xen kẽ các năm 377 và 378 ngày. Trong hệ thống này, năm La Mã trung bình là 366,25 ngày trong 4 năm, làm cho nó có sự chuyển dịch trung bình khoảng 1 ngày trên năm khi so sánh với bất kỳ điểm chí hay điểm phân nào. Macrobius miêu tả một sự hoàn thiện hơn nữa, trong đó có 8 năm trong tổng số 24 năm chỉ có 3 năm nhuận có 377 ngày và 5 năm thường 355 ngày (16 năm còn lại là 8 năm thường, 4 năm nhuận 377 ngày và 4 năm nhuận 378 ngày). Sự hoàn thiện này làm cho độ dài trung bình của năm là 365,25 ngày trên 24 năm. Trong thực tế, các năm nhuận không diễn ra dưới dạng giản đồ phù hợp với các hệ thống lý tưởng này, mà được các giáo hoàng xác định. Như có thể xác định từ các chứng cứ lịch sử, chúng đã không diễn ra có quy luật như là các mô hình lý tưởng đề xuất. Chúng thường diễn ra trong năm thứ hai hay thứ ba của chu kỳ 4 năm, nhưng đôi khi bị bỏ quên lâu hơn, và thỉnh thoảng diễn ra trong 2 năm liên tiếp. Nếu quản lý chính xác hệ thống này thì về trung bình năm La Mã sẽ khá phù hợp với năm chí tuyến. Tuy nhiên, nếu quá nhiều năm nhuận bị bỏ quên, giống như đã xảy ra sau cuộc chiến tranh lần thứ hai của người La Mã với người Punici (Poenici) và trong thời kỳ nội chiến, thì lịch đã nhanh chóng dịch xa ra khỏi sự phù hợp với năm chí tuyến. Ngoài ra, do các năm nhuận thông thường được xác định rất muộn, do đó nói chung thì các công dân La Mã thường là không biết về ngày đó, cụ thể là nếu anh (chị) ta ở một nơi nào đó khá xa thành phố. Vì các lý do này, những năm cuối cùng trước khi lịch Julius ra đời sau này được gọi là "các năm lộn xộn". Các vấn đề trở nên gay gắt trong thời kỳ Julius Caesar đảm nhận chức vụ hoàng đế, từ năm 63 TCN tới năm 46 TCN, trong thời gian này chỉ có 5 tháng nhuận thay vì 8 và đã không có tháng nhuận nào trong 5 năm La Mã cuối cùng trước năm 46 TCN. Cải cách của Julius đã có ý định chỉnh sửa điều này một cách vĩnh cửu. Trước khi nó có hiệu lực, số ngày nhuận bị bỏ quên trước đó trong thời kỳ làm Giáo hoàng của Julius Caesar đã được bù lại bằng cách chèn 67 ngày (22+23+22) giữa tháng 11 và tháng 12 của năm 46 TCN trong dạng hai tháng để bổ sung cho 23 ngày đã được thêm vào từ tháng Hai. Vì thế 90 ngày đã được bổ sung cho năm này của lịch Cộng hòa La Mã, làm cho nó có tới 445 ngày. Do nó là năm cuối cùng của loạt các năm bất quy tắc, nên năm rất dài này đã và đang được nói đến như là "năm lộn xộn cuối cùng". Năm đầu tiên để lịch mới được sử dụng là năm 45 TCN. Sai sót năm nhuận. Mặc dù lịch mới là đơn giản hơn nhiều so với lịch La Mã, nhưng các Giáo hoàng hình như vẫn hiểu sai thuật toán. Họ thêm ngày nhuận sau mỗi 3 năm thay vì sau mỗi 4 năm. Theo Macrobius, sai sót này là kết quả của việc tính gộp, vì thế chu kỳ 4 năm đã được coi như là bao gồm cả năm thứ nhất và năm thứ tư. Điều này tạo ra quá nhiều ngày nhuận. Caesar Augustus khắc phục sự khác biệt này bằng cách phục hồi tần suất chính xác sau 36 năm sai lầm. Ông cũng bỏ qua một số ngày nhuận nhằm tổ chức lại lịch của năm. Trật tự lịch sử của các năm nhuận (tức các năm có ngày nhuận) trong thời kỳ này đã không được các nguồn sử liệu cổ đại đưa ra rõ ràng, mặc dù sự tồn tại của chu kỳ năm nhuận ba năm một lần đã được xác nhận bởi câu ghi lại trên bia có niên đại khoảng từ năm 9 TCN tới năm 8 TCN. Nhà niên đại học Joseph Scaliger năm 1583 đã thiết lập được là cải cách của Augustus đã diễn ra năm 8 TCN, và suy luận ra là chuỗi các năm nhuận thời kỳ đó là các năm 42, 39, 36, 33, 30, 27, 24, 21, 18, 15, 12, 9 TCN, 8, 12 Nhiều giải pháp khác cũng đã được đưa ra theo thời gian. Năm 1614, Kepler đề nghị rằng chuỗi chính xác các năm nhuận thời đó là 43, 40, 37, 34, 31, 28, 25, 22, 19, 16, 13, 10 TCN, 8, 12 , nhà niên đại học người Đức Matzat đề nghị các năm 44, 41, 38, 35, 32, 29, 26, 23, 20, 17, 14, 11 TCN, 4, 8, 12 , dựa vào một đoạn trong Dio Cassius có đề cập tới ngày nhuận của năm 41 TCN và được nói trong đó là "mâu thuẫn với quy tắc (của Caesar)". Trong những năm thập niên 1960, Radke cho rằng cải cách trên thực tế được thực hiện khi Augustus trở thành Giáo hoàng Maximus năm 12 TCN, và cho rằng chuỗi đúng phải là 45, 42, 39, 36, 33, 30, 27, 24, 21, 18, 15, 12 TCN, 4, 8, 12 Năm 1999, một tờ giấy cói ("papyrus") Ai Cập đã được công bố, nó cung cấp bảng lịch thiên văn cho năm 24 TCN theo cả ngày tháng của người La Mã và người Ai Cập. Từ điều này, nó có thể chỉ ra là chuỗi có khả năng nhất là 44, 41, 38, 35, 32, 29, 26, 23, 20, 17, 14, 11, 8 TCN, 4, 8, 12 v.v, rất gần với chuỗi mà Matzat đưa ra. Chuỗi này chỉ ra rằng chuỗi năm nhuận Julius chuẩn được bắt đầu từ năm 4, năm thứ mười hai của cải cách của Augustus. Ngoài ra, theo chuỗi này thì năm La Mã thực tế đã đồng nhất với năm Julius đón trước trong khoảng thời gian từ năm 32 TCN tới 26 TCN. Điều này giả thiết rằng một trong các mục đích của việc tổ chức lại lịch của cải cách Augustus là để đảm bảo các ngày tháng quan trọng trong sự nghiệp của ông, nổi tiếng nhất là ngày thất thủ của Alexandria, ngày 1 tháng 8 năm 30 TCN, đã không bị ảnh hưởng bởi sự chỉnh sửa của ông. Ngày tháng La Mã trước năm 32 TCN thông thường là diễn ra từ 1 đến 2 ngày trước ngày có cùng ngày Julius như thế, vì thế ngày 1 tháng 1 trong lịch La Mã của năm đầu tiên sau cải cách của Julius trên thực tế rơi vào ngày 31 tháng 12 năm 46 TCN (ngày Julius). Một hiệu ứng lạ lùng của điều này là sự ám sát Caesar diễn ra vào ngày Ides (ngày thứ 15) của tháng 3 năm 44 TCN chính là ngày 14 tháng 3 năm 44 TCN trong lịch Julius. Đặt tên các tháng. Ngay sau cải cách của Julius, mười hai tháng của lịch La Mã đã được đặt tên là "Ianuarius", "Februarius", "Martius", "Aprilis", "Maius", "Iunius", "Quintilis", "Sextilis", "September", "October", "November" và "December", giống như tên gọi của chúng trước cải cách. Nhưng độ dài của chúng đã được thiết lập lại theo các giá trị như ngày nay. Tháng nhuận cũ (Mercedonius) đã bị bãi bỏ và thay thế bằng ngày nhuận duy nhất tại cùng thời điểm (tức là 5 ngày trước khi kết thúc tháng Februarius). Tháng đầu tiên của năm vẫn tiếp tục là "Ianuarius", giống như nó đã là như thế kể từ năm 153 TCN. Người La Mã sau đó đổi tên các tháng theo tên gọi của Caesar và Augustus, họ đổi tên "Quintilis" (nguyên thủy là "tháng thứ Năm", với tháng Ba = tháng thứ nhất) thành "Iulius" (tháng Bảy) vào năm 44 TCN và "Sextilis" ("tháng thứ Sáu") thành "Augustus" (tháng Tám) vào năm 8 TCN. (Cũng lưu ý rằng chữ cái J đã không có cho đến tận thế kỷ 17). "Quintilis" đã được đổi tên để tưởng nhớ tới Caesar do nó là tháng sinh nhật của ông. Theo "senatusconsultum" được Macrobius trích dẫn, "Sextilis" đã được đổi tên để tưởng nhớ Augustus vì một số trong số các sự kiện đáng kể nhất trong thời kỳ nắm quyền của ông, mà tột đỉnh của nó là thất thủ của Alexandria, đã diễn ra trong tháng này. Các tháng khác cũng đã được đổi tên bởi các vị hoàng đế khác, nhưng nói chung không có sự thay đổi nào trong số này tồn tại sau khi họ chết. Caligula đổi tên "September" (tức "tháng thứ Bảy") thành Germanicus; Nero đổi tên "Aprilis" (tháng Tư) thành Neroneus, "Maius" (tháng Năm) thành Claudius và "Iunius" (tháng Sáu) thành Germanicus; và Domitian đổi tên "September" thành Germanicus và "October" ("tháng thứ Tám") thành Domitianus. Vào thời khác, "September" cũng đã được đổi tên thành Antoninus và Tacitus, và "November" ("tháng thứ Chín") đã được đổi tên thành Faustina và Romanus. Commodus là người duy nhất trong việc đổi tên cả 12 tháng theo các tên mà ông chấp nhận, theo trật tự từ tháng 1 tới tháng 12 là: "Amazonius", "Invictus", "Felix", "Pius", "Lucius", "Aelius", "Aurelius", "Commodus", "Augustus", "Herculeus", "Romanus", "Exsuperatorius". Tồn tại lâu hơn cả trong số các tên gọi sớm nở tối tàn của thời kỳ các hoàng đế La Mã hậu Augustus là các tên gọi do Charlemagne đưa ra. Ông đổi tên tất cả các tháng theo cách gọi nông nghiệp trong tiếng Đức cổ. Chúng đã được sử dụng cho đến tận thế kỷ 15, và với một số sửa đổi thì dùng cho đến tận cuối thế kỷ 18 tại Đức và Hà Lan, theo trật tự từ tháng 1 đến tháng 12 là: "Wintarmanoth" (tháng mùa đông), "Hornung" (mùa xuân), "Lentzinmanoth" (tháng ăn chay), "Ostarmanoth" (tháng Phục Sinh), "Winnemanoth" (tháng chăn thả), "Brachmanoth" (tháng cày bừa), "Heuvimanoth" (tháng cỏ khô), "Aranmanoth" (tháng thu hoạch), "Witumanoth" (tháng củi gỗ), "Windumemanoth" (tháng rượu vang), "Herbistmanoth" (mùa thu/tháng thu hoạch) và "Heilagmanoth" (tháng Thánh). Sự phiên dịch tên gọi của các tháng này ngày nay vẫn còn được sử dụng trong một số ngôn ngữ Slav, chẳng hạn như trong tiếng Ba Lan. Độ dài các tháng. Theo học giả Sacrobosco (thế kỷ 13) thì sơ đồ nguyên thủy của các tháng trong lịch Julius là rất đều, xen kẽ các tháng dài và ngắn. Từ tháng 1 đến tháng 12 thì độ dài các tháng (theo Sacrobosco cho lịch Cộng hòa La Mã) là: 30, 29, 30, 29, 30, 29, 30, 29, 30, 29, 30, 29, tổng cộng 354 ngày. Sacrobosco cho rằng Julius Caesar đã thêm 1 ngày vào mọi tháng, ngoại trừ tháng Hai, tổng cộng là 11 ngày nữa, tạo ra năm có 365 ngày. Ngày nhuận có lẽ đã được thêm vào tháng Hai trong năm nhuận: 31, 29 (hay 30), 31, 30, 31, 30, 31, 30, 31, 30, 31, 30 Ông cho rằng sau đó Augustus đã thay đổi nó thành: 31, 28 (hay 29), 31, 30, 31, 30, 31, 31, 30, 31, 30, 31 tạo ra độ dài các tháng rất không có quy tắc, làm sao để độ dài của tháng "Augustus" không thể ngắn hơn (và như thế là kém hơn) độ dài của tháng "Iulius". Đây chính là độ dài các tháng mà ngày nay chúng ta đang dùng. Mặc dù giả thuyết này vẫn còn được nhắc lại một cách rộng rãi, nhưng nó có lẽ là sai. Thứ nhất, một bức vẽ trên tường về lịch Cộng hòa La Mã vẫn còn tồn tại Bức họa lịch La Mã nó xác nhận rằng độ dài các tháng đã không đều trước khi Julius Caesar cải cách nó: 29, 28, 31, 29, 31, 29, 31, 29, 29, 31, 29, 29 Ngoài ra, cải cách Julius đã không thay đổi các ngày Nones và Ides. Cụ thể thì các ngày Ides là muộn (trong ngày thứ 15 chứ không phải thứ 13) trong các tháng 3, 5, 7 và 10, nó chỉ ra rằng các tháng này luôn luôn có 31 ngày trong lịch La Mã, trong khi thuyết của Sacrobosco cho rằng độ dài của tháng 10 đã bị thay đổi. Ngoài ra, thuyết của Sacrobosco là mâu thuẫn một cách rõ ràng với các thuyết của các tác giả thế kỷ 3 và 5 là Censorinus và Macrobius, và cuối cùng thì nó là mâu thuẫn với các độ dài các mùa được Varro đưa ra năm 37 TCN (trước khi có cải cách của Augustus), với ngày thứ 31 Sextilis được đưa ra trong tờ giấy cói Ai Cập từ năm 24 TCN, và với tháng Hai 28 ngày được chỉ ra trong "Fasti Caeretani" có niên đại trước năm 12 TCN. Phương pháp chủ yếu mà người La Mã đã dùng để xác định năm cho các mục đích ngày tháng là đặt tên nó theo ngày mà hai quan chấp chính tối cao nhận nhiệm vụ. Từ năm 153 TCN, họ đã nhận công việc vào ngày 1 tháng 1, và Julius Caesar đã không thay đổi sự bắt đầu của năm. Vì vậy năm chấp chính này đã là năm theo tên quan chấp chính hoặc năm được đặt tên. Các năm La Mã đã được đặt tên theo cách này cho đến khi quan chấp chính cuối cùng đã được đề cử vào năm 541. Rất ít khi người La Mã đánh số năm kể từ khi thành lập thành phố Roma, "ab urbe condita" (AUC). Phương pháp này đã được các nhà sử học La Mã sử dụng để xác định số năm từ một sự kiện cho đến một sự kiện khác mà không dùng để xác định năm. Các nhà sử học khác nhau có các ngày tháng khác nhau cho ngày thành lập Roma. "Fasti Capitolini", một bản khắc chứa danh sách chính thức các quan chấp chính đã được Augustus công bố, sử dụng kỷ nguyên năm 752 TCN. Kỷ nguyên được Varro sử dụng là năm 753 TCN đã được nhiều nhà sử học hiện đại chấp nhận. Vì thế các biên tập viên thời kỳ Phục Hưng thường bổ sung nó vào các bản thảo mà họ xuất bản, tạo ra một ấn tượng sai là người La Mã đã đánh số các năm của họ. Phần lớn các nhà sử học hiện đại ngầm giả sử rằng nó bắt đầu vào ngày mà các quan chấp chính nhận nhiệm vụ và các tài liệu cổ như "Fasti Capitolini" (sử dụng các hệ thống AUC khác) cũng làm tương tự. Tuy nhiên, năm AUC của Varro về hình thức không bắt đầu vào ngày 1 tháng 1, mà là vào "ngày Thành lập", 21 tháng 4. Điều này đã ngăn không cho nhà thờ La mã thời kỳ đầu không kỷ niệm ngày Phục Sinh sau ngày 21 tháng 4 vì các hoạt động lễ hội gắn liền với Ngày Thành lập đã mâu thuẫn với nghi lễ trọng thể của mùa ăn chay là điều phải tuân thủ cho đến tận thứ bảy trước Lễ Phục Sinh vào ngày chủ nhật. Bổ sung thêm cho các năm quan chấp chính thì người La Mã đôi khi sử dụng năm cầm quyền của hoàng đế. "Anno Diocletiani", được đặt tên theo Diocletian, thông thường được những người Thiên chúa giáo gốc Alexandria sử dụng để đánh số các lễ Phục Sinh của họ trong thế kỷ 4 và 5. Năm 537, Justinian đã ra lện từ nay trở đi thì ngày tháng phải thêm cả tên của hoàng đế, để bổ sung thêm cho năm chỉ mục và tên quan chấp chính (điều cuối cùng này chỉ kết thúc 4 năm sau đó). Sắc lệnh này làm cho năm của Byzantin bắt đầu vào ngày 1 tháng 9, nó vẫn được sử dụng tại các giáo hội Chính thống giáo phương Đông để tính thời điểm bắt đầu của năm tế lễ. Năm 525 Dionysius Exiguus đề nghị hệ thống anno Domini, nó dần dần được phổ biến trong thế giới Thiên chúa giáo phương Tây, khi mà hệ thống này được Bede chấp nhận. Các năm được đánh số từ ngày được cho là ngày hiện thân của Chúa Giê-su hay ngày Lễ Truyền Tin, tức ngày 25 tháng 3, mặc dù nó nhanh chóng được đổi sang ngày Lễ Giáng Sinh, sau đó lại quay lại ngày Lễ Truyền Tin tại Anh, và năm được đánh số cuối cùng đã bắt đầu vào Lễ Phục Sinh tại Pháp. Từ Julius tới Gregorius. Nói chung lịch Julius đã được sử dụng ở châu Âu từ thời kỳ Đế chế La Mã cho đến tận năm 1582, khi Giáo hoàng Gregorius XIII công bố lịch Gregorius, nó nhanh chóng được các quốc gia Công giáo chấp thuận. Các quốc gia theo Tin Lành đã theo lịch này muộn hơn, còn các nước Đông Âu thì còn muộn hơn nữa. Vương quốc Anh có ngày thứ Năm 14 tháng 9 năm 1752 tiếp theo ngay sau ngày thứ Tư 2 tháng 9 năm 1752. Thụy Điển chấp nhận lịch mới năm 1753, nhưng có thời kỳ 12 năm bắt đầu từ năm 1700 đã sử dụng lịch Julius sửa đổi. Nga duy trì lịch Julius cho đến tận Cách mạng Nga (chính vì thế nó được gọi là 'Cách mạng tháng Mười Nga' nhưng diễn ra vào tháng 11 theo lịch Gregorius) năm 1917, trong khi Hy Lạp vẫn tiếp tục sử dụng lịch Julius cho đến tận năm 1923. Mặc dù tất cả các quốc gia Đông Âu đã chấp nhận lịch Gregorius trước hoặc vào năm 1923, nhưng các Giáo hội Chính thống giáo trong nước họ thì lại không như vậy. Lịch Julius cải cách đã được đưa ra trong hội nghị tôn giáo ở Constantinopolis tháng 5 năm 1923, chứa các phần theo Mặt Trời mà chúng đã và sẽ đồng nhất với lịch Gregorius cho đến tận năm 2800, và phần theo Mặt Trăng để tính Lễ Phục Sinh theo thiên văn tại Jerusalem. Tất cả các giáo hội Chính thống giáo đã từ chối việc chấp nhận phần theo Mặt Trăng, vì thế gần như tất cả các giáo hội Chính thống giáo vẫn tiếp tục kỷ niệm Lễ Phục Sinh theo lịch Julius (chỉ có Giáo hội Chính thống giáo Phần Lan sử dụng lễ Phục Sinh Gregorius). Phần theo Mặt Trời chỉ được một số giáo hội Chính thống giáo chấp nhận, bao gồm Constantinople, Alexandria, Antioch, Hy Lạp, Síp, Romania, Ba Lan, Bulgaria (năm 1963), và Giáo hội Chính thống giáo tại Mỹ (viết tắt trong tiếng Anh: OCA) mặc dù một số giáo xứ OCA được cho phép sử dụng lịch Julius). Vì thế, các giáo hội này kỷ niệm Lễ Giáng Sinh cùng một ngày với những người Thiên chúa giáo phương Tây là 25 tháng 12 theo lịch Gregorius cho đến tận năm 2800. Các giáo hội Chính thống giáo Jerusalem, Nga, Serbia, Gruzia, Ukraina và những người Hy Lạp theo lịch cũ vẫn tiếp tục sử dụng lịch Julius đối với những ngày tháng cố định của họ, vì thế họ kỷ niệm Lễ Thánh Đản vào 25 tháng 12 theo lịch Julius (tức 7 tháng 1 theo lịch Gregorius cho đến tận năm 2100).
Vũ trụ quan sát được Vũ trụ quan sát được (hay còn gọi là vũ trụ khả kiến) đối với con người ở Trái Đất là một vùng không gian của vũ trụ tập hợp mọi vật chất, sự vật, hiện tượng mà con người với các phương tiện thiên văn có thể được trong thời điểm hiện tại. Các nghiên cứu khoa học hiện đại thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 đưa đến nhiều khả năng rằng phần quan sát được của vũ trụ là có giới hạn. Vật thể xa nhất mà con người đã quan sát được tính đến 29/9/2022 có lẽ là thiên hà JADES-GS-z13-0, với dịch chuyển đỏ z được ghi nhận là "z = 13,2", tương ứng với thời gian ánh sáng di chuyển trong 13,6 tỉ năm, hay ở khoảng cách đồng chuyển động rời xa chúng ta khoảng 33,6 tỷ năm ánh sáng tính cả sự giãn nở của vũ trụ. Một bài báo vào tháng 4 năm 2023 gợi ý rằng JADES-GS-z13-0 trên thực tế không phải là một thiên hà mà là một ngôi sao tối có khối lượng gấp khoảng 1 triệu lần khối lượng Mặt Trời. Thêm 1 ứng cử viên cho vật thể xa nhất vũ trụ là thiên hà F200DB-045. Được phát hiện trong dữ liệu từ quan sát phát hành sớm (ERO) thu được bằng Camera hồng ngoại gần của Kính viễn vọng Không gian James Webb vào tháng 7/2022, F200DB-045 là một thiên hà có độ dịch chuyển đỏ cao, với độ dịch chuyển đỏ ước tính xấp xỉ "z = 20,4", tương ứng với 168 triệu năm sau Big Bang, với thời gian ánh sáng di chuyển trong 13,7 tỉ năm, hay ở khoảng cách đồng chuyển động rời xa chúng ta khoảng 36,1 tỷ năm ánh sáng tính cả sự giãn nở của vũ trụ. Nếu được xác nhận, nó sẽ là một trong những thiên hà được biết đến sớm nhất và xa nhất được quan sát thấy. Tuy nhiên, giá trị dịch chuyển đỏ của thiên hà được trình bày theo quy trình trong một nghiên cứu có thể khác với các giá trị được trình bày trong các nghiên cứu khác sử dụng các quy trình khác. Lịch sử nghiên cứu. Cùng với lịch sử quan sát thế giới nói chung và lịch sử quan sát thiên văn nói riêng, quan niệm của con người về vũ trụ ngày càng mở rộng. Khởi đầu bằng các quan sát về các hiện tượng thời tiết, sự mọc và lặn của Mặt Trời, người Babylon cách đây 4000 năm đã tính ra nhật thực, nguyệt thực và xây dựng âm lịch. Thuyết địa tâm của Claudius Ptolemaeus (90-168) hình dung vũ trụ là một quả cầu với Trái Đất ở tâm, mặt Trời, các hành tinh và các thiên thể khác quay xung quanh. Thuyết nhật tâm được phát triển bởi Nicolaus Copernicus (1473-1543), Galileo Galilei (1564-1642) và Johannes Kepler (1571-1630) thay thế cho thuyết địa tâm với giả thiết chính rằng Mặt Trời ở giữa, Trái Đất và các hành tinh quay xung quanh đã mở ra một bước tiến mới trong nhận thức vũ trụ. ! Theo bước sóng !! Theo tần số" style="#đổi formula_4 và formula_5: bước sóng quan sát và phát xạ formula_6 và formula_7: tần số quan sát và phát xạ Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. [[Thể loại:Vũ trụ học]] [[Thể loại:Vũ trụ học vật lý]]
Các thiên thể Messier là tập hợp 110 thiên thể được định vị bởi nhà thiên văn học người Pháp Charles Messier trong quyển "Danh mục Tinh vân và đám sao" ("Catalogue des Nébuleuses et des Amas d'Étoiles") xuất bản lần đầu năm 1774. Messier là một người săn tìm sao chổi và đã bị khó chịu mỗi khi tìm thấy một thiên thể trông giống nhưng không phải là sao chổi. Ông đã xuất bản danh bạ các vật thể đó để giúp các nhà săn tìm sao chổi khác tránh bị mất thời gian khi tìm thấy vật thể đã xác định là không phải sao chổi. Lần xuất bản đầu tiên chứa 45 thiên thể chưa được đánh số (M1 đến M45). Mười tám thiên thể được Messier phát hiện, phần còn lại được các nhà thiên văn học khác quan sát trước đó. Đến năm 1780, danh mục đã tăng lên 70 thiên thể. Lần xuất bản cuối vào năm 1781, danh mục chứa 103 thiên thể và được in lại trong "Connaissance des Temps" ("Hiểu Biết thời gian") vào năm 1784. Tuy nhiên, do lâu nay người ta cho rằng Messier đã bổ sung không chính xác Messier 102 nên tổng số vẫn là 102. Các nhà thiên văn học khác đã sử dụng các ghi chú bên lề trong các văn bản của Messier để hoàn thiện danh mục, cuối cùng đã điền vào danh mục lên tới 110 thiên thể. Nhiều thiên thể trong danh sách này ngày nay vẫn được biết đến với số thứ tự trong danh mục của Messier. Danh mục bao gồm một loạt các Thiên thể, từ các cụm sao và tinh vân cho đến các thiên hà. Ví dụ, Messier 1 là một tàn tích siêu tân tinh còn được gọi là Tinh vân Con Cua và Thiên hà Tiên Nữ xoắn ốc lớn là Messier 31. Tiếp theo là bao gồm, bổ sung đầu tiên đến từ Nicolas Camille Flammarion vào 1921, ông đã thêm Messier 104 sau khi tìm thấy ghi chú bên lề của Messier trong mẫu danh mục ấn bản năm 1781 của ông. Messier 105 đến Messier 107 được Helen Sawyer Hogg bổ sung vào năm 1947, Messier 108 và Messier 109 bổ sung bởi Owen Gingerich vào năm 1960 và Messier 110 bổ sung bởi Kenneth Glyn Jones vào năm 1967. Danh sách Messier được thực hiện từ các công trình của các nhà thiên văn ở Bắc bán cầu Trái Đất, do đó chỉ chứa các thiên thể nằm ở bắc thiên cầu cho tới các thiên thể có xích vĩ nhỏ nhất là –35°. Nhiều thiên thể đẹp và lớn ở Nam thiên cầu, như các Đám mây Magellan Lớn và Nhỏ không có mặt. Các thiên thể Messier đều có thể được quan sát bởi mắt thường hoặc bởi ống nhòm hay kính thiên văn nhỏ khi trời quang và xa thành thị, chúng được các nhà thiên văn nghiệp dư ưa chuộng. Vào đầu mùa xuân, một số người có thể tụ tập và quan sát trong một đêm tất cả các thiên thể Messier, gọi là "Messier Marathon". Danh sách Thiên thể Messier. templatestyles src="Legend/" /  Cụm sao mở templatestyles src="Legend/" /  Cụm sao cầu templatestyles src="Legend/" /  Tinh vân khuếch tán templatestyles src="Legend/" /  Tinh vân hành tinh templatestyles src="Legend/" /  Tàn tích siêu tân tinh templatestyles src="Legend/" /  Thiên hà templatestyles src="Legend/" /  Khác Bản đồ sao thiên thể Messier. CHÚ THÍCH: Messier 102 bị thiếu trong bản đồ này.
Voldemort (, trong phim) là biệt hiệu của Tom Marvolo Riddle, một nhân vật hư cấu và là nhân vật phản diện chính trong loạt tiểu thuyết Harry Potter của nhà văn nữ người Anh, J. K. Rowling. Voldemort xuất hiện lần đầu trong Harry Potter và Hòn đá phù thủy, được xuất bản vào năm 1997. Voldemort xuất hiện trực tiếp hoặc trong các đoạn hồi tưởng trong mỗi cuốn sách và loạt phim chuyển thể cùng tên ngoại trừ phần ba, Harry Potter và tên tù nhân ngục Azkaban, trong đó hắn chỉ được nhắc đến chứ không lộ diện. Voldemort là kẻ thù không đội trời chung của Harry Potter, người mà theo lời tiên tri có "sức mạnh đánh bại Chúa tể Hắc ám". Hắn ta cố gắng giết cậu bé, nhưng thay vào đó lại giết cha mẹ của cậu, Lily và James Potter, và để lại cho Harry một vết sẹo trên đầu dưới hình dạng một tia chớp. Gần như mọi phù thủy hoặc pháp sư không dám thốt ra tên của hắn và thay vào đó gọi hắn bằng những biệt hiệu như "Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy", "Kẻ-chớ-gọi-tên-ra". Nỗi ám ảnh của Voldemort với sự thuần khiết của dòng máu cho thấy mục tiêu của hắn ta là loại bỏ dòng dõi Muggle (không có phép thuật) trong thế giới phù thủy và chinh phục cả hai thế giới, Muggle và phù thủy, để đạt được sự thống trị của dòng máu thuần chủng. Thông qua gia đình bên ngoại, Voldemort là hậu duệ cuối cùng của pháp sư Salazar Slytherin, một trong bốn người sáng lập Trường Phù thủy và Pháp sư Hogwarts. Hắn là thủ lĩnh của Tử thần Thực tử, một nhóm các pháp sư và phù thủy độc ác chuyên tiêu diệt Thế giới Phù thủy của Muggles và đưa Voldemort trở thành kẻ thống trị tối cao tại đây. Phát triển nhân vật. Trong một cuộc phỏng vấn năm 1999, Rowling cho biết Voldemort được coi là kẻ thù không đội trời chung của Harry Potter, và lúc đầu bà cố ý không tiết lộ cốt truyện của Voldemort. "Ý tưởng cơ bản là Harry không biết bản thân là một phù thủy ... Và vì vậy tôi đã làm việc ngược lại từ vị trí đó để tìm hiểu xem điều đó có thể xảy ra như thế nào, rằng cậu bé sẽ không biết mình là người như thế nào. ... Khi cậu được một tuổi, tên phù thủy độc ác nhất hàng trăm năm đã định giết cậu. Hắn ta đã giết cha mẹ của Harry, và sau đó cố gắng giết Harry - hắn cố gắng tạo lời nguyền lên cậu bé. ... Harry phải tìm ra trước chúng ta. Và — vậy — nhưng vì một lý do bí ẩn mà không ai biết được tại sao lời nguyền không có tác dụng với Harry. Vì vậy, hắn đã để lại với vết sẹo hình tia chớp này trên trán cậu bé và lời nguyền dội lại lên tên phù thủy độc ác, kẻ đã lẩn trốn kể từ đó. Trong cuốn thứ hai, Rowling khẳng định rằng Voldemort ghét những pháp sư không thuần huyết, mặc dù bản thân là một đứa trẻ lai giữa dòng máu phù thủy và Muggles. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2000 với BBC, Rowling mô tả Voldemort là một kẻ có xu hướng tự đày đọa bản thân: "Tôi nghĩ thường xảy ra trường hợp những kẻ bắt nạt mạnh nhất coi những gì họ biết là khuyết điểm của chính mình, vì họ hiểu điều đó, và họ áp những thứ đó lên người khác và sau đó họ cố gắng tiêu diệt người kia và đó là những gì Voldemort làm." Cùng năm đó, Rowling nói chính xác hơn về Voldemort. Cô bắt đầu liên tưởng Voldemort tới những bạo chúa ngoài đời thực, mô tả nhân vật này là ""một kẻ tâm thần cuồng nộ, không có phản ứng bình thường của con người trước sự đau khổ của người khác". Tuy nhiên, vào năm 2004, Rowling nói rằng cô không xây dựng Voldemort dựa trên bất kỳ nhân vật nào ngoài đời thực. Năm 2006, Rowling còn chia sẻ rằng Voldemort trong thâm tâm có một nỗi sợ hãi của con người: "nỗi sợ cái chết"". Tác giả chia sẻ: "Nỗi sợ hãi của Voldemort là cái chết, cái chết ô nhục. Ý tôi là, hắn coi cái chết là điều ô nhục. Hắn cho rằng đó là một điểm yếu đáng xấu hổ của con người, như bạn biết. Nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của hắn là cái chết." Xuyên suốt loạt truyện, Rowling khẳng định rằng Voldemort rất đáng sợ trong thế giới phù thủy đến mức ngay cả khi nói tên hắn cũng bị coi là nguy hiểm. Hầu hết các nhân vật trong tiểu thuyết đều gọi hắn bằng biệt danh thay vì gọi to tên của hắn. Trong "Harry Potter và Bảo bối Tử thần", một câu thần chú "cấm kỵ" được đặt theo tên, để Voldemort hoặc những kẻ lựa chọn đi theo hắn có thể truy tìm bất cứ ai nói ra nó. Bằng cách này, những kẻ theo chân Voldemort cuối cùng đã tìm thấy và bắt được Harry cùng những người bạn Ron Weasley và Hermione Granger. Trong cuốn sách thứ hai, Rowling tiết lộ rằng "Ta là Chúa tể Voldemort" là một phép đảo chữ cái tên khai sinh của nhân vật, Tom Marvolo Riddle. Theo tác giả, tên của Voldemort là một từ được phát minh ra. Một số nhà phân tích văn học đã xem xét các ý nghĩa có thể có trong tên: Philip Nel tin rằng Voldemort có nguồn gốc từ tiếng Pháp «vol de mort» có nghĩa là "chuyến bay của cái chết", và trong một bài báo năm 2002, Nilsen và Nilsen gợi ý rằng độc giả có "cảm giác rùng rợn" từ cái tên Voldemort, vì từ tiếng Pháp "mort" ("cái chết") trong nó và sự liên kết của từ đó với các từ tiếng Anh ghép lại có nguồn gốc từ tiếng Latinh "mors". Nhà văn J.K. Rowling đã chơi chữ, khi sắp xếp các chữ cái trong tên Tom Marvolo Riddle sẽ ra câu: “I am Lord Voldemort”. "Marvolo” là từ kết hợp giữa “Marvelous” (tuyệt vời) và thuật ngữ “volo” trong tiếng Latin, có nghĩa là “khao khát” hoặc là “biến đổi một cách nhanh chóng”. Lý giải cho cái tên này, là việc danh tiếng của Voldemort tăng đột biến kèm với đó là hiểm họa đáng sợ mà hắn mang lại. Về phía cái tên mới “Voldemort”, có thể được liên tưởng đến "bay đến cái chết" hay là "kẻ trộm chết chóc" trong tiếng Pháp ("Vol de Mort"). Ở bản dịch của nhiều nước, tên của nhân vật đã phải đổi để sau khi đảo chữ cái cũng ra được câu: “Ta là Chúa tể Voldemort” trong ngôn ngữ của họ. Cụ thể: - Tiếng Tây Ban Nha: Tom Sorvolo Ryddle → Soy Lord Voldemort - Tiếng Pháp: Tom Elvis Jedusor → Je suis Voldemort - Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Tom Marvoldo Riddle → Adim Lord Voldemort - Tiếng Bồ Đào Nha: Tom Servolo Riddle → Eis Lord Voldemort - Tiếng Đan Mạch: Romeo G. Detlev Jr. → Jeg er Voldemort - Tiếng Ý: Tom Orvoloson Riddle → Son io Lord Voldemort - Tiếng Séc: Tom Rojvol Raddle → Já, Lord Voldemort - Tiếng Phần Lan và tiếng Thụy Điển: Tom Gus Mervolo Dolder → Ego sum Lord Voldemort. "Harry Potter và Hòn đá phù thủy". Voldemort xuất hiện lần đầu trong Harry Potter và Hòn đá phù thủy. Trong câu chuyện này, Rowling giới thiệu hắn ta là Chúa tể Voldemort, kẻ đã cố gắng giết Harry Potter vì cậu bé được tiên tri sẽ tiêu diệt hắn. Voldemort đã sát hại cha mẹ của Harry, James và Lily, nhưng kết quả của tình yêu và sự sẵn sàng hy sinh của mẹ vì con trai nên Harry đã sống sót khi Voldemort cố gắng giết cậu bằng Lời nguyền giết chóc. Voldemort bị biến mất, và kết quả là Harry bị để lại một vết sẹo bí ẩn hình tia chớp trên giữa trán. Trong cuốn sách, Voldemort cố gắng lấy lại cơ thể đã tan biến của mình nhưng không thành công bằng cách đánh cắp Hòn đá Phù thủy. Để đạt được mục tiêu của mình, Voldemort sử dụng sự trợ giúp của Giáo sư Quirrell bằng cách bám vào phía sau đầu của người này. Tuy nhiên, ở đoạn cao trào của cuốn sách, Harry đã ngăn được Voldemort ăn cắp viên đá. "Harry Potter và phòng chứa bí mật". Trong phần thứ hai, Harry Potter và Phòng chứa bí mật, Rowling giới thiệu Tom Marvolo Riddle, hiện thân của một Voldemort tuổi thiếu niên sống trong một cuốn nhật ký ma thuật do Ginny Weasley tìm thấy. Trong cuốn sách này, Ginny được viết là một cô bé nhút nhát có tình cảm với Harry. Cảm thấy lo lắng và cô đơn, cô bắt đầu viết nhật ký và chia sẻ nỗi sợ hãi sâu sắc nhất của mình và nhận thấy sự đồng cảm (giả vờ) từ Tom. Tuy nhiên, ở cao trào của câu chuyện, khi Tom sắp xếp lại các chữ cái trong tên của mình để viết "Ta là Chúa tể Voldemort", Riddle được tiết lộ là biểu hiện phép thuật của một chàng trai mà sau này lớn lên trở thành Chúa tể Hắc ám. Riddle nói rằng hắn đã trở nên mạnh mẽ trước nỗi sợ hãi của Ginny và cuối cùng bắt cóc cô bé, sử dụng cô bé như một con tốt để mở Phòng chứa Bí mật, khi một con rắn Tử xà (Basilisk) được thả tự do và hóa đá một số học sinh Hogwarts. Harry đánh bại sự hiện ra của Riddle khỏi cuốn nhật ký và Tử xà. Trong "Harry Potter và Hoàng tử lai", thầy hiệu trưởng Albus Dumbledore đã nói cho Harry biết rằng cuốn nhật ký này là một trong 7 Trường sinh linh giá của Voldemort. Voldemort không xuất hiện trong phần 3, Harry Potter và tên tù nhân ngục Azkaban, dù là trực diện hay dưới dạng một phép thuật. Tuy nhiên, hắn chỉ được nghe thấy khi Harry bất tỉnh do tác động khắc nghiệt của một Giám ngục. Vào cuối câu chuyện, Sybill Trelawney, giáo sư Bói toán, đưa ra một lời tiên tri thực sự hiếm có: "Chúa tể Hắc Ám nằm một mình và không có bạn bè, bị bỏ rơi bởi những người theo của mình. Kẻ phụng sự hắn đã bị xiềng xích trong mười hai năm. Đêm nay, trước nửa đêm, người đầy tớ sẽ được tự do và lên đường để gặp lại chủ. Chúa tể Hắc ám sẽ sống lại với sự trợ giúp của đầy tớ của hắn, vĩ đại và khủng khiếp hơn bao giờ hết. Tối nay ... trước nửa đêm ... người hầu ... sẽ lên đường ... tái hợp ... chủ nhân ..." Mặc dù ban đầu người ta ngụ ý rằng lời tiên tri ám chỉ đến Sirius Black, nhân vật tưởng chừng như là phản diện trong cuốn sách, người hầu cuối cùng được tiết lộ là Peter Pettigrew, kẻ đó trong 12 năm kể từ khi Voldemort sụp đổ, đã được cải trang thành con chuột cưng của Ron, Scabbers. "Harry Potter và chiếc cốc lửa". Trong phần thứ tư của bộ truyện, Harry Potter và Chiếc cốc lửa, Voldemort xuất hiện trở lại trong phần đầu và phần cuối của cuốn sách. Rowling cho phép nhiều yếu tố cốt truyện dường như không liên quan đến trật tự. Nó được tiết lộ rằng tay sai của Voldemort Barty Crouch Jr, cải trang thành giáo sư Hogwarts là Moody Mắt điên (Mad-Eye Moody), đã thao túng các sự kiện của Giải đấu Tam pháp thuật (Triwizard) có lợi cho Harry. Mục tiêu của Voldemort là dịch chuyển Harry dưới sự giám sát của cụ Dumbledore với tư cách là một người tham gia bất đắc dĩ đến nghĩa địa Hangleton Nhỏ, nơi chôn cất gia đình Riddle. Harry bị bắt và, sau khi Pettigrew sử dụng máu của Harry để thực hiện một nghi lễ ma thuật khủng khiếp, Voldemort lấy lại cơ thể và khôi phục toàn bộ sức mạnh của mình. Lần đầu tiên trong loạt phim, Rowling mô tả ngoại hình của hắn: "cao và gầy như bộ xương", với khuôn mặt "trắng hơn đầu lâu, với đôi mắt to, màu đỏ tươi và chiếc mũi tẹt như một con rắn không lỗ mũi" . Rowling viết rằng "bàn tay hắn giống như những con nhện lớn và nhợt nhạt; những ngón tay dài trắng bệch của hắn vuốt ve ngực, cánh tay, khuôn mặt của mình; đôi mắt đỏ, với đồng tử có vết rạn như mắt mèo, vẫn sáng hơn trong bóng tối". Ngoài ra cũng tiết lộ rằng, trong khi ở Albania, Pettigrew đã bắt giữ viên chức Bộ Pháp thuật Bertha Jorkins, đã bị tra tấn để biết thông tin về Bộ. Sau khi chúng biết rằng Barty Crouch Jr, một Tử thần Thực tử trung thành, đã bị đưa ra khỏi Azkaban và bị giam riêng tại nhà của cha mình, chúng đã giết cô. Với sự giúp đỡ của Pettigrew, Voldemort tạo ra một cơ thể nhỏ bé, thô sơ, đủ thể chất để đi lại và thực hiện phép thuật, đồng thời lập kế hoạch khôi phục cơ thể của chính mình bằng cách bắt giữ Harry. Một phần của kế hoạch đã bị nghe lén bởi Frank Bryce, một người làm vườn, người mà sau đó Voldemort đã giết chết. Voldemort sau đó hoàn thành kế hoạch và trở lại cuộc sống trong cơ thể đầy đủ của mình do kết quả của nghi lễ với máu của Harry. Sau đó, hắn triệu tập các Tử thần Thực tử của mình đến nghĩa địa để chứng kiến cái chết của Harry khi thách đấu với Harry trong một trận đấu tay đôi. Tuy nhiên, khi Voldemort đấu với Harry, cây đũa phép của họ bị khóa với nhau một cách kỳ diệu do lõi của hai cây đũa phép đều làm từ lông đuôi của một con phượng hoàng. Tiếp đó một hiện tượng được tiết lộ là Priori Incantatem, những biểu hiện giống như bóng ma của những nạn nhân gần đây nhất của Voldemort (bao gồm cả cha mẹ của Harry) đã xuất hiện và đánh lạc hướng Voldemort, cho phép Harry có đủ thời gian để trốn thoát qua Portkey cùng với xác của bạn học, Cedric Diggory, người đã bị Pettigrew sát hại theo lệnh của Voldemort. "Harry Potter và Hội Phượng Hoàng". Voldemort xuất hiện ở đoạn cao trào của cuốn thứ năm, Harry Potter và Hội Phượng hoàng, một lần nữa âm mưu chống lại Harry. Trong cuốn sách này, Harry phải trải qua những căng thẳng tột độ về cảm xúc, và theo Rowling, cần phải chứng minh rằng Harry là người dễ bị tổn thương về mặt tình cảm và do đó là con người, trái ngược với kẻ thù không đội trời chung Voldemort, kẻ vô cảm và vô nhân đạo: "[Harry là] một anh hùng rất con người và điều này rõ ràng là có một sự tương phản, giữa cậu bé, với tư cách là một anh hùng rất con người, và Voldemort, kẻ đã cố tình " hủy hoại " bản thân. […] và Harry do đó, đã phải đạt đến một điểm mà hắn gần như sụp đổ". " Trong cuốn sách này, Voldemort tận dụng việc Bộ Pháp thuật từ chối tin rằng hắn ta đã trở lại. Voldemort tạo ra một âm mưu giải phóng Bellatrix Lestrange và các Tử thần Thực tử khác khỏi Azkaban và sau đó bắt tay vào một kế hoạch lấy lại toàn bộ hồ sơ của một lời tiên tri được lưu trữ trong Bộ Pháp thuật về Harry và chính hắn. Hắn gửi một nhóm Tử thần Thực tử để lấy lại lời tiên tri, nơi Hội Phượng hoàng gặp chúng. Tất cả trừ Bellatrix đều bị bắt, và Voldemort tham gia vào một cuộc đấu tay đôi dữ dội với Dumbledore. Khi cụ Dumbledore chiếm được ưu thế, Voldemort cố gắng chiếm hữu Harry nhưng không thể; Harry có quá nhiều thứ mà Voldemort thấy không thể hiểu nổi, và thứ mà hắn ghét là sự yếu đuối: tình yêu. Cảm thấy rằng cụ Dumbledore sẽ chiến thắng, Voldemort biến mất, nhưng không phải trước khi Bộ trưởng Bộ Pháp thuật gặp trực tiếp hắn, khiến hắn trở lại công khai trong cuốn sách tiếp theo. Gia đình Gaunt xuất hiện lần đầu trong Harry Potter và hoàng tử lai là một trong những gia đình phù thủy hư cấu trong bộ truyện "Harry Potter" của nữ nhà văn Anh Quốc J. K. Rowling. Đây là gia đình phù thủy thuần chủng. Gia đình Gaunt là một dòng họ pháp sư rất lâu đời nổi tiếng về tính khí hung tợn và bất thường truyền qua nhiều thế hệ do tập quán kết hôn với bà con họ hàng. Thiếu hiểu biết cộng với kiểu cách quý tộc phô trương bởi trong mình mang dòng máu của Salazar Slytherin đã đưa tới hậu quả là của cải của dòng họ bị hoang phí qua rất nhiều thế hệ trước khi hậu duệ cuối cùng của dòng họ là Marvolo, Morfin và Merope chào đời. Gia đình của Marvolo phải sống trong một căn chòi đổ nát với di sản của dòng họ là chiếc dây chuyền của Salazar Slytherin và chiếc nhẫn cẩn đá đen của anh em nhà Peverell. Họ đã nhanh chóng cưới nhau, với ảnh hưởng liều thuốc của Merope, và bà đã mang thai sau một năm cưới Tom Riddle. Tuy nhiên, thời gian đó bà đã phạm một sai lầm lớn. Không thỏa mãn với tình yêu dựa trên ma thuật và dối trá cùng với việc nô dịch chồng bằng phương tiện pháp thuật, bà đã ngừng sử dụng liều thuốc, bởi vì bà tin rằng Riddle đã thực sự yêu thương bà hoặc hẳn là nếu anh ta biết sự thật thì vẫn sẽ ở lại với bà vì đứa con mà Merope mang trong bụng. Nhưng đáng buồn thay, bà đã tính toán sai trong cả hai trường hợp. Riddle khi thoát khỏi tác dụng của Tình dược đã ra đi và trở về căn nhà của gia đình, lý giải mọi việc đều là dối trá. Merope bị bỏ lại một mình, đang mang thai và cô độc. Chính lúc này, Merope, ghê tởm cuộc đời của bà, không bao giờ sử dụng ma thuật nữa. Không ai biết bà đã đi đâu, nhưng vào đêm Giáng Sinh năm 1926, bà đã xuất hiện ở tiệm Borgin và Burkes ở Hẻm Xéo, mang thai, thiếu tiền và cố gắng bán đi vật gia truyền, chiếc mề đay của Salazar Slytherin. Ông Burke đã trả bà 10 đồng vàng Galleon và bà đã biến mất một lần nữa, xuất hiện kế tiếp trên bậc thềm của một trại mồ côi vào năm mới. Bà đã hạ sinh một bé trai sau khi đến đó được một giờ, và một giờ sau, bà đã chết. Bà đã cố gắng sống để đặt tên cho con là Tom Marvolo Riddle và tất nhiên bà có thể sử dụng phép thuật để cứu mình nhưng với Merope Gaunt, niềm hy vọng có được một cuộc sống hạnh phúc đã trôi qua, tất cả những điều ấy đã tan thành mây khói, không còn gì cả. Không muốn dùng đũa phép để cứu lấy bản thân, bà đã chấp nhận ra đi, bất chấp đứa con trai bé bỏng đang cần đến mình Chúa tể Voldemort được sinh ra dưới cái tên Tom Marvolo Riddle vào đêm cuối năm 1926, con của Tom Riddle và Merope Riddle (có họ Gaunt trước khi lấy chồng). Tom Riddle cha là "Muggle", còn Merope là một nữ phù thủy chính gốc, mang dòng máu của vị cố tổ Salazar Slytherin, nhưng quyền năng phép thuật của bà chỉ được phát huy tối đa khi không bị cha mình khủng bố. Tất cả các con cháu của Salazar Slytherin đều không còn, nên Voldemort trở thành người thừa kế cuối cùng của ông ta. Trong thời gian là học sinh tại Hogwarts, Tom đã khá thành công trong việc che đậy động cơ gây tội ác của hắn và bằng cách trở thành một học sinh xuất sắc ở mọi môn, một huynh trưởng có trách nhiệm và kỉ luật. Mặc dù Dumbledore chưa bao giờ quên những gì Riddle đã tự thú nhận với ông, nên Dumbledore cũng chưa bao giờ hoàn toàn tin tưởng hắn. Cái tên Tom Marvolo Riddle nhanh chóng bị sắp xếp lại thành "I am Lord Voldemort" (Ta là Chúa tể Voldemort). Sau khi rời khỏi Hogwarts, Tom đã từ bỏ hẳn tên thật của mình và sử dụng tên tự đặt rộng rãi hơn - Chúa tể Voldemort. Ngay từ lúc Tom còn ở trong Hogwarts, hắn bao bọc bản thân bằng một nhóm bè đảng cùng nhà Slytherin, những kẻ hắn gọi là bạn bè, nhưng thật sự là những kẻ hắn không hề có lòng trắc ẩn. Rất nhiều kẻ trong số đó đã trở thành Tử Thần Thực Tử. Trong năm thứ sáu của Tom tại Hogwarts, hắn đã mở Phòng chứa bí mật, giải phóng con Tử xà (Basilisk) và giết Myrtle, một học sinh có dòng máu Muggle. Chỉ có giáo sư Dumbledore là nghi ngờ hắn (tập 2 "Harry Potter và phòng chứa bí mật") dù Tom đã nhận được rất nhiều tình thương yêu và tin tưởng từ những giáo viên khác, bao gồm cả thầy Độc dược, giáo sư Horace Slughorn (tập 6) và đổ tội cho một học sinh năm thứ 3 là Rubeus Hagrid. Bởi vì lúc đó chưa ai từng đặt chân đến Phòng chứa bí mật mà cũng không biết trong đó có gì nên cứ nghĩ kẻ giết Myrtle là con Nhền nhện 8 mắt khổng lồ mà Hagrid lén nuôi. Sau khi hoàn thành chương trình học của mình, Voldemort nộp đơn xin trở thành một giáo sư tại trường Hogwarts. Dumbledore phán đoán việc này nhằm mục đích để đạt được những đồ vật thuộc về Godric Gryffindor hoặc Rowena Ravenclaw. Voldemort bị từ chối bởi thầy hiệu trưởng lúc bấy giờ là Dippet, với lý do còn quá trẻ. Thay vào đó, hắn tạm thời làm việc tại tiệm Borgin và Burkes, nhưng lại bỏ đi sau khi chiếm được, bằng cách trộm cắp và ám sát, cái dây chuyền của Slytherin và cái cúp có huy hiệu hình con lửng của Hufflepuff, có nhiều khả năng là để dùng làm "Trường sinh Linh giá" ("Horcrux"). Sau đó hắn biệt tăm và không còn được nhắc đến trong vòng nhiều năm. Mười năm sau, hắn trở lại Hogwarts để yêu cầu công việc làm giáo viên môn Phòng chống Nghệ thuật Hắc ám, nhưng lại bị thầy hiệu trưởng Dumbledore từ chối bởi vì hắn đã tự chứng tỏ mình không đáng tin cậy. Vào lúc này Voldemort mang ngoại hình rất ít giống con người, và yêu cầu được gọi bằng cái tên mà hắn tự đặt thay vì Tom Riddle, nhưng Dumbledore đã từ chối. Và kể từ đó không giáo viên nào có thể giữ được công việc này quá 1 năm.
Yên Tử (chữ Hán: 安子山, "Yên Tử sơn") là một dãy núi trải dài trên địa bàn 3 tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Dương và cũng là tên ngọn núi cao nhất trong dãy. Đây là dãy núi gắn liền với nhà Trần trong lịch sử Việt Nam cũng như gắn với Thiền phái Trúc Lâm. Dãy Yên Tử thuộc cánh cung Đông Triều, một trong bốn cánh cung núi chính của vùng Đông Bắc Bộ Việt Nam. Dãy núi có địa hình thấp dần từ đông sang tây, cao trung bình trên 600 m so với mực nước biển; trong đó nơi cao nhất là đỉnh Yên Tử (1.068 m) còn nơi thấp nhất là khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc (200–238 m), gần Lục Đầu Giang. Sườn núi phía nam (còn gọi là sườn Đông Yên Tử) chủ yếu thuộc tỉnh Quảng Ninh và một phần nhỏ thuộc tỉnh Hải Dương, còn sườn núi phía bắc (còn gọi là sườn Tây Yên Tử) thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang. Trong lịch sử, Yên Tử luôn là một trong những trung tâm Phật giáo của cả nước, gắn với nhiều kiến trúc cổ, được xây dựng qua các thời kỳ lịch sử khác nhau (Lý, Trần, Lê, Nguyễn). Năm 1294, sau khi vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con trai là Trần Thuyên (vua Trần Anh Tông) và trở thành Thái thượng hoàng, ông xuất gia tu Phật tại hành cung Vũ Lâm, Ninh Bình. Năm 1299, ông đến Yên Tử, lấy pháp hiệu là Hương Vân đại đầu đà hay Trúc Lâm đại đầu đà, thu hút được nhiều đệ tử. Tại đây, ông đã cho xây dựng hệ thống chùa, am, tháp và sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền Phật giáo mang bản sắc văn hóa Việt Nam tồn tại đến ngày nay. Sách "Đồng Khánh địa dư chí" mô tả về Yên Tử như sau:Núi Yên Tử (Yên Tử sơn): ở vào địa phận tổng Bí Giang. Núi liên tiếp chạy dài hơn 10 ngọn, cao nhất là ngọn Yên Tử. Tương truyền An Kỳ Sinh tu luyện đắc đạo thành tiên ở nơi đây cho nên có tên gọi là núi An (Yên) Tử. Năm Hồng Vũ thứ 3 (1379) nhà Minh sai sứ sang làm lễ tế, vẽ hình thế núi sông ở đây đem về. Năm Tự Đức thứ 3 (1850) bộ Lễ vâng mệnh vua xếp núi này vào hạng danh sơn và ghi vào tự điển (sổ thờ).
Quốc tế ca (tiếng Pháp: "L'Internationale") là bài tụng ca chủ nghĩa cánh tả. Nó từng là ngọn cờ của phong trào xã hội chủ nghĩa từ cuối thế kỉ 19, khi Đệ Nhị Quốc tế chấp nhận ca khúc là bài ca tranh đấu chính thức. Nguyên bản tiếng Pháp được sáng tác năm 1871 bởi Eugène Pottier (1816 – 1887) sau thất bại của Công xã Paris, một người Pháp theo chủ nghĩa vô chính phủ, hội viên của Đệ Nhất Quốc tế, sau này là một hội viên trong Hội đồng thành phố Công xã Paris). Nhà xã hội người Bỉ Pierre Degeyter (1848 – 1932) phổ thơ thành nhạc năm 1888 (lúc ban đầu họ dự định hát theo điệu nhạc của bài "La Marseillaise"). Quốc tế ca đã trở thành bài hát quen thuộc trong cách mạng Xã hội chủ nghĩa. Tác phẩm được dịch ra nhiều ngôn ngữ, như Tiếng Trung Quốc, Tiếng Nga, thậm chí đã được dịch sang Tiếng Việt. Tại nhiều quốc gia châu Âu, bài hát đã bị cấm vào đầu thế kỷ 20 vì liên hệ với chủ nghĩa cộng sản và có thông điệp lật đổ chính phủ tư bản. Phiên bản tiếng Nga được chọn làm quốc ca của Liên Xô từ năm 1917 đến 1944; khi Liên Xô chọn bài quốc ca khác ("Quốc ca Liên bang Xô viết") thì "Quốc tế ca" trở thành đảng ca của Đảng Cộng sản Liên Xô. Lời tiếng Nga do Aron Kots (Arkadiy Yakolevich Kots) soạn vào năm 1902 và được phổ biến trong một nguyệt san tiếng Nga in tại Luân Đôn. "Quốc tế ca" được những người theo cánh tả như vô chính phủ, xã hội, cộng sản, dân chủ xã hội, công đoàn hát. Nó cũng là bài ca cuộc Nổi dậy tại Đông Đức 1953 do phe đệ tứ lãnh đạo chống lại ách đế quốc chủ nghĩa Nga kiểu Stalin; của các sinh viên và công đoàn trong cuộc biểu tình tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989 chống đối chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nhạc của bài Quốc tế ca vẫn còn thuộc bản quyền tại Pháp cho đến năm 2014, nhưng bản quyền không được các thành phần cánh tả tuân theo. Trong năm 2005 một nhà làm phim đã phải trả 1000 Euro để sử dụng bài này trong phim. Vùng lên! Hỡi các nô lệ ở thế gian Vùng lên! Hỡi ai cực khổ bần hàn Sục sôi nhiệt huyết trong tim đầy chứa rồi Quyết phen này sống chết mà thôi. Chế độ xưa ta mau phá sạch tan tành Toàn nô lệ, vùng đứng lên đi Nay mai cuộc đời của toàn dân khác xưa Bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình "Đấu tranh này là trận cuối cùng" "Kết đoàn lại để ngày mai" "Sẽ là xã hội tương lai" Những tên quỷ đói tham lam đội lốt người Tàn sát đánh thuế, bóc lột lao động Thủ tiêu, tàn sát dân lành và nô lệ Bè lũ hung tàn đế quốc sài lang Chúng chặt đầu, hung tợn và cướp bóc dã man Ngọn cờ loang máu rên xiết kêu than Chiến đấu chống lại quân thù tàn ác kia Nguyện đem máu thù tưới lên ruộng đồng "Đấu tranh này là trận cuối cùng" "Kết đoàn lại để ngày mai" "Sẽ là xã hội tương lai" Chẳng ai sẽ cứu chúng ta khỏi hiểm nguy Chẳng ai không chúa cũng không anh hùng Vùng lên hỡi các dân tộc và nô lệ Bằng sức lao động chân chính của ta. Để phá tan xiềng xích nô lệ hung tàn Để giành lại quyền lợi của chúng ta Bước tiến - Đánh tan quân thù tàn ác kia ! Bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình "Đấu tranh này là trận cuối cùng" "Kết đoàn lại để ngày mai" "Sẽ là xã hội tương lai" Chặn ngay, bè lũ xâm lăng, và giết người Chặn ngay, những chiếc cánh bay quân thù Sục sôi nhiệt huyết trong tâm đầy chứa rồi Quyết phen này sống chết mà thôi Hãy xây dựng một nhà nước của nhân dân Và đây là khẩu hiệu của chúng ta: Nông dân, thợ thuyền, công nhân đoàn kết lại Bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình! "Đấu tranh này là trận cuối cùng" "Kết đoàn lại để ngày mai" "Sẽ là xã hội tương lai" Vọng lên tiếng súng căm hờn của đấu tranh Gào thét, đứng lên giành lại hòa bình Vùng lên, đoàn kết đấu tranh và chống lại Hãy chấm dứt sự nghèo đói của ta Hãy phất cao cờ tranh đấu của chúng ta Hãy thổi bùng lên ngọn lửa tháng Mười Lê-nin dẫn đường nhân dân vượt khó khăn Từ trong bão giông tiến lên huy hoàng! "Đấu tranh này là trận cuối cùng" "Kết đoàn lại để ngày mai" "Sẽ là xã hội tương lai" Vùng lên hãy phất cao ngọn cờ đấu tranh Vững bước tiến theo ngọn cờ của Đảng Tự do hạnh phúc độc lập ta quyết giành Cuộc sống chúng ta bừng sáng mùa xuân Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng Đảng truyền cho ta niềm tin, tương lai Thế giới quanh ta huy hoàng ngàn :tiếng ca Vầng dương hé sáng khắp nơi có Đảng "Phất cao ngọn hồng kỳ thắm tươi" "Đảng của ta đã dẫn đường" "Tổ quốc tươi đẹp phát triển" "Chúng ta nguyện sẽ cống hiến!" "Phất cao ngọn hồng kỳ thắm tươi" "Đảng của ta đã chỉ lối" "Hạnh phúc độc lập và tự do" "Quyết xây đất nước tươi đẹp!"
Nhà du hành vũ trụ cổ đại Nhà du hành vũ trụ cổ đại hay phi hành gia cổ đại ("Ancient astronauts") là một giả thuyết ngụy khoa học cho rằng các sinh vật ngoài hành tinh đã từng đến Trái Đất và tiếp xúc với con người vào thời cổ đại và tiền sử, từ đó gây ảnh hưởng đến văn hóa lúc khởi điểm phát triển của loài người. Đáng chú ý nhất là các tác giả Erich von Däniken và Zecharia Sitchin. Những giả thuyết này nói rằng con người ngày nay hoặc là có nguồn gốc hoặc là được sáng tạo ra do "alien" (sinh vật ngoài Trái Đất) đã viếng thăm Trái Đất hàng thiên niên kỷ trước - những ý tưởng hầu như bị bác bỏ bởi cộng đồng khoa học. Yếu tố khác của ý tưởng này là sự thông thái của con người hay tín ngưỡng, tôn giáo có được là từ những sứ giả đến từ ngoài Trái Đất đã viếng thăm nhiều lần trong thời kỳ rất cổ xưa. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Thiên hà Abell 1835 IR1916 Thiên hà Abell 1835 IR1916 (còn có tên Abell 1835) là một ứng cử viên cho thiên hà xa nhất đã được chụp hình. Nó đã được một nhóm các nhà thiên văn Pháp và Thụy Sĩ của Tổ chức Nghiên cứu thiên văn châu Âu tại Nam Bán cầu (Roser Pelló, Johan Richard, Jean-François Le Borgne, Daniel Schaerer, và Jean-Paul Kneib) tìm thấy. Họ đã dùng thiết bị hồng ngoại gần của Kính thiên văn Rất Lớn khi phát hiện ra thiên hà này; các đài thiên văn khác sau đó đã chụp ảnh thêm về thiên hà Abell 1835. Đài thiên văn Châu Âu phía Nam, cùng với Viện Khoa học Quốc gia Thụy Sĩ, và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp, và báo "Astronomy and Astrophysics", đã họp báo công bố về phát kiến này ngày 1 tháng 3 năm 2004. Theo nghiên cứu dịch chuyển đỏ trong phổ-J, thiên hà này nằm cách chúng ta 13,2 tỷ năm ánh sáng (4,04 tỷ parsec) với mức dịch chuyển đỏ "z"=10, trong chòm sao Virgo. Nghĩa là các ánh sáng từ thiên hà này đến với chúng ta sau khi chúng xuất phát Abell 1835 IR1916 vào khoảng 13,2 tỷ năm ánh sáng, chỉ 500 triệu năm sau Vụ Nổ Lớn và rất gần với thời điểm hình thành thế hệ sao đầu tiên của vũ trụ. Thiên hà này do đó cũng nằm gần đường chân trời vũ trụ (rìa của vũ trụ quan sát được), cách chúng ta khoảng 13,7 tỷ năm ánh sáng. Mặc dù ở xa như vậy, thiên hà vẫn hiện ra đủ sáng để chúng ta quan sát, đấy là nhờ hiệu ứng hội tụ hấp dẫn bởi các nhóm thiên hà nằm giữa Abell 1835 và chúng ta. Tuy nhiên, các nghiên cứu bởi Weatherley et al. (2004) đã cho thấy những nghi ngờ đầu tiên về khả năng đây là thiên hà nằm xa. Các quan sát trong phổ-H bởi Kính thiên văn Gemini phía Bắc cũng không hề thấy được thiên hà này (Bremer et al. 2004). Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
De jure (trong tiếng Latinh cổ: de iure) là một thành ngữ có nghĩa là "dựa trên luật" hay "luật định", ngược với "de facto", là thành ngữ mang nghĩa "trên thực tế". Các thuật ngữ "de jure" và "de facto" được sử dụng tương tự như "theo luật định" và "trong thực tế" khi người ta miêu tả các trạng thái chính trị. Chúng cũng thường được sử dụng khi thảo luận về sự phân biệt chủng tộc. Một thông lệ có thể đang tồn tại dưới dạng "de facto", khi người ta tuân thủ nó trong các khế ước và được coi như là luật định. Một quá trình được biết như là "tình trạng lỗi thời " (từ tiếng Pháp: "désuet") có thể cho phép các thông lệ "de facto" thay thế các sắc luật đã lỗi thời. Mặt khác, một thông lệ có thể tồn tại dưới dạng "de jure" nhưng lại không được người ta tuân thủ hay thực thi. Từ "de jure" trong tiếng Latinh này không nên nhầm lẫn với từ tiếng Pháp "du jour", nó được dịch như là "của/trong ngày", chẳng hạn như trong câu "soupe du jour" (món súp của ngày). Các chuẩn mực của "de jure" và "de facto" có thể khác nhau; ví dụ, Hoa Kỳ không có ngôn ngữ chính thức "de jure", trong khi ngôn ngữ chính thức "de facto" là tiếng Anh. Tương tự, tiêu chuẩn "de jure" của Hoa Kỳ để đo độ dài khoảng cách đường sá là kilômét (do Hoa Kỳ là một thành viên của "Convention du Mètre"), nhưng tiêu chuẩn "de facto" lại là dặm ("mile"). • "De jure" trong chính trị Trong chính trị, nhà lãnh đạo "de jure" của một quốc gia hay khu vực là người được thừa nhận là lãnh đạo theo Hiến pháp hoặc trên lý thuyết, tuy nhiên lại không có hoặc có ít quyền lực trên thực tế ("de facto"). Các nhà lãnh đạo có nhiều quyền trên lý thuyết có thể kể đến Nữ hoàng Elizabeth của Khối Thịnh vượng chung Anh, hay Nhật hoàng Naruhito của Nhật Bả, hiện thường chỉ mang tính lễ nghi, đại diện cho tinh thần đoàn kết dân tộc còn quyền hành do Chính phủ mà đứng đầu là Thủ tướng nắm. Một hình thức khác của nhà lãnh đạo "de jure" nhưng có nhiều quyền lực hơn là Chủ tịch nước của các nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa, tức các quốc gia có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Tại những quốc gia này, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản mới là nguyên thủ quốc gia trên thực tế (ngoại lệ có Đặng Tiểu Bình không làm Tổng Bí thư hay Chủ tịch nước nhưng vẫn là Lãnh đạo tối cao Trung Quốc giai đoạn 1978-1992). Trong những năm gần đây, các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa đã thực hiên "nhất thể hóa" hai chức vụ đứng đầu Đảng và Nhà nước để thuận tiện trong ngoại giao. Riêng tại Việt Nam, Tổng Bí thư và Chủ tịch nước vẫn là hai chức vụ riêng biệt. Do Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nên Tổng Bí thư là nhà lãnh đạo cao cấp nhất, nắm quyền cao nhất trên thực tế ("de facto)." Chủ tịch nước Việt Nam đồng thời là Ủy viên Bộ Chính trị, là cán bộ cao cấp thứ 2 sau Tổng Bí thư.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Nguyễn Thị Lệ Mai (sinh ngày 6 tháng 3 năm 1945), thường được biết đến với nghệ danh Khánh Ly là nữ ca sĩ hải ngoại người Mỹ gốc Việt, nổi tiếng với giọng nữ trung trầm. Bắt đầu sự nghiệp ca hát từ những năm 1960, gắn liền với các ca khúc của Trịnh Công Sơn, Khánh Ly là một trong những tiếng hát tiêu biểu nhất của dòng tân nhạc Việt Nam và nằm trong danh sách nghệ sĩ âm nhạc Việt Nam bán đĩa chạy nhất. Khánh Ly cũng thành công với các nhạc phẩm tiền chiến và của nhiều nhạc sĩ khác như Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Vũ Thành An, Nguyễn Đình Toà, trước năm 1975, bà còn được mệnh danh là "Nữ hoàng chân đất". Khánh Ly sinh ra tại Hà Nội, tên thật là Nguyễn Thị Lệ Mai, cũng có khi bà lấy tên Phạm Thị Lệ Mai theo họ Phạm của người cha dượng. Năm 1954, Lệ Mai theo mẹ di cư vào miền Nam. Khi còn ở Hà Nội, dù chưa tới 9 tuổi nhưng Khánh Ly đã tham dự một cuộc thi hát với bài "Thơ Ngây" của nhạc sĩ Anh Việt nhưng không được giải gì. Cuối năm 1956, mới 11 tuổi, Khánh Ly một mình đi nhờ xe chở rau từ Đà Lạt về Sài Gòn tham dự cuộc thi tuyển lựa ca sĩ nhi đồng do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức tại rạp Norodom. Lệ Mai hát bài Ngày trở về của nhạc sĩ Phạm Duy và đoạt giải nhì, sau "thần đồng" Quốc Thắng. Năm 1962, Khánh Ly thực sự bước chân vào sự nghiệp ca hát, bà hát cho phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện, Sài Gòn. Cuối năm đó cô chuyển lên sống tại Đà Lạt và hát cho các phòng trà ở đó. Năm 1964, Khánh Ly gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, lúc đó còn chưa nổi tiếng, ông mời bà về Sài Gòn biểu diễn. Lúc đó, vì không muốn rời Đà Lạt nên Khánh Ly từ chối lời đề nghị của người nhạc sĩ trẻ đó. Khánh Ly và Trịnh Công Sơn đã có những buổi trình diễn ngoài trời không công và không thù lao cho sinh viên tại Quán Văn (mà theo Khánh Ly, đó là một quán lá sơ sài dựng trên một nền gạch đổ nát) nằm trên bãi đất rộng sau trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Họ tiếp tục trình diễn khắp nơi ở miền Nam Việt Nam, nhất là trong sân cỏ trường đại học, nơi Khánh Ly được mệnh danh là "Nữ hoàng Chân Đất" hay "Nữ hoàng Sân Cỏ". Khánh Ly chính là ca sĩ Việt Nam đầu tiên tổ chức show diễn riêng của mình. Về biệt danh "Nữ hoàng chân đất", theo lời thuật lại của Khánh Ly trong băng Video "Một đời Việt Nam" thực hiện năm 1991, khi chưa có kinh nghiệm ca hát và lần đầu tiên xuất hiện trước một đám đông khoảng một ngàn người, Khánh Ly đã không giữ được bình tĩnh và đứng không vững, phải vịn vào vai Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn nói "bỏ tay ra và đứng hát cho nghiêm chỉnh", vì run quá, nên Khánh Ly cởi bỏ đôi giày cao gót và đứng chân đất và nhờ đó, đã có thể bình tĩnh để trình bày hết bài hát của Trịnh Công Sơn trong suốt một đêm đó, khoảng 30 đến 40 bài hát trong 1 đêm. Khánh Ly kể về thời kỳ những năm 60 cơ cực, đói khổ nhưng đầy hạnh phúc ấy: "Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào. Thời ấy, tôi phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết đến ai cả, mà vẫn cảm thấy mình cực kỳ hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn". Từ năm 1967 đến 1975, Khánh Ly hợp tác với nhiều hãng đĩa tại Sài Gòn, thâu âm nhiều bài hát trong các dĩa nhạc của các hãng như Dĩa Hát Việt Nam, Sóng Nhạc, Tình Ca Quê Hương, Dư Âm, Nhạc Ngày Xanh, Continental và thâu vào của Chương trình Phạm Mạnh Cương, Trường Sơn, Sơn Ca, Họa Mi, Jo M, Khánh Ly mở "Hội Quán Cây Tre" ở Đakao, số 2bis đường Đinh Tiên Hoàng, Sài Gòn. Đây là nơi tụ họp của các văn nghệ sĩ và các sinh viên học sinh yêu văn nghệ yêu tiếng hát Khánh Ly, và đây cũng là nơi tổng phát hành những cuốn băng nổi tiếng "Trịnh Công Sơn - Khánh Ly Hát Cho Quê hương Việt Nam". Trong hai năm 1969 và 1970, được sự tài trợ của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, Khánh Ly đã có nhiều cuộc trình diễn cho các sinh viên Việt Nam ở châu Âu, Mỹ và Canada. Năm 1970, nhận được lời mời của đài truyền hình NHK, Khánh Ly sang biểu diễn ở Nhật Bản. Khánh Ly đã ghi âm và trình diễn các ca khúc bằng cả hai thứ tiếng Việt và Nhật. Năm 1970, Chiến tranh Việt Nam tạm lắng ở trong nước nhưng lại lan rộng sang láng giềng, Trịnh Công Sơn viết nhiều ca khúc phản chiến và được Khánh Ly hát trong những cuốn băng "Hát Cho Quê Hương Việt Nam". Khánh Ly cũng tham gia hát trong những buổi ca nhạc gây dựng quỹ của các hội đoàn, hội Công giáo Việt Nam để xây chùa, nhà thờ, trại mồ côi, trại tị nạn. Năm 1972, bà mở một phòng trà ca nhạc mang tên "Khánh Ly" tại số 1214 đường Tự Do, Sài Gòn. Sau năm 1975, Khánh Ly rời Việt Nam và định cư tại Cerritos, California, Hoa Kỳ. Năm 1979, một lần nữa Columbia Nippon lại mời Khánh Ly đến Nhật để thâu băng nhạc của Trịnh Công Sơn. Năm 1982, đài Bunka Honso Radio mời Khánh Ly tham gia Liên hoan Âm nhạc châu Á với nhiều nghệ sĩ nhiều nước châu Á. Năm 1985, Khánh Ly cùng chồng là nhà báo Nguyễn Hoàng Đoan mở hãng thu riêng "Khánh Ly Productions". Năm 1987, Khánh Ly trở lại Nhật để thâu băng cho phim "Thuyền nhân" ("Boat Man"). Năm 1988, là một tín đồ Công giáo mộ đạo, Khánh Ly được mời đến Vatican trong lễ tuyên phong các thánh tử đạo Việt Nam. Trong sự kiện này, Khánh Ly đã gặp Giáo hoàng Joannes Paulus II. Năm 1989, sau khi bức tường Berlin bị phá bỏ, Khánh Ly và Thanh Tuyền đã hát trong chương trình nhạc đầu tiên ở Đông Đức. Năm 1993, Khánh Ly được mời đến Đại hội Giới trẻ Thế giới ở Denver, Colorado (Hoa Kỳ), và là lần thứ hai bà được gặp Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Năm 1996, Đài truyền hình NHK ở Nhật Bản đã chọn Khánh Ly là một trong 10 nhân vật nổi tiếng để làm phim tài liệu về cuộc đời và gia đình Khánh Ly. Hiện nay Khánh Ly vẫn tiếp tục sự nghiệp ca hát của mình và là một diva (nữ ca sĩ được mến mộ) trụ cột của Trung tâm Thúy Nga. Để kỷ niệm 50 năm ca hát, Khánh Ly và bạn hữu đã tổ chức 1 buổi văn nghệ miễn phí tại Nhà thờ chính tòa Pha Lê (Crystal Cathedral) tại Garden Grove, California vào ngày 30 tháng 11 năm 2012, và sau đó kéo dài trong nhiều tháng, bà "đồng hành với nhiều ca sĩ trẻ đến nhiều nhà thờ trên khắp nước Mỹ để hiến tặng CD Thánh Ca". Bà cũng cho biết sẽ dành hết phần đời còn lại để làm công tác từ thiện. Từ sau năm 1975, bà về Việt Nam hai lần để thăm gia đình. Năm 2005, trong một cuộc phỏng vấn trên đài BBC của Anh ở Mỹ, Khánh Ly cho biết, về Việt Nam luôn là ước mơ nằm trong trái tim bà. Trong một cuộc phỏng vấn với BBC năm 2012, bà cho biết rất muốn về Việt Nam biểu diễn và cho rằng nếu có sự chống đối thì "cũng là tự nhiên". Cuối năm 2012, lần đầu tiên bà được nhà nước Việt Nam cấp giấy phép để trở về trình diễn tại Việt Nam, nhưng bà đã không về. Như dự kiến, Khánh Ly đã về Việt Nam và biểu diễn trong live concert của mình tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội vào ngày 9 tháng 5 năm 2014. Sau đêm diễn đó, một liveshow nữa của bà đã được tổ chức tại cùng địa điểm vào ngày 2 tháng 8. Bà cũng có buổi biểu diễn tại Đà Nẵng vào ngày 8 tháng 8. Khánh Ly lập gia đình lần đầu và có hai con với một người có biệt danh là "Hải Dớ". Lần thứ hai, bà có một người con với một quân nhân thuộc lực lượng Biệt cách dù, Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Lần thứ ba, Khánh Ly lập gia đình với Nguyễn Hoàng Đoan, một nhà báo kiêm nhà văn viết tiểu thuyết phóng sự năm 1975. Bà có tổng cộng bốn người con, hai trai và hai gái. Có những tin đồn về tình cảm của bà với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhưng Trịnh Công Sơn phủ nhận và cho biết thực chất quan hệ giữa 2 người chỉ là tình đồng nghiệp, tình bạn đẹp. Băng đĩa của Khánh Ly. 1962 - 1975 tại Việt Nam. Trong những năm 1967 đến 1975 Khánh Ly thâu âm rất nhiều vào đĩa nhựa 45 tours, băng Akai của các hãng đĩa như Việt Nam, Sóng Nhạc, Sơn Ca, Nhạc Ngày Xanh, Shotguns, Phạm Mạnh Cương, Continental/"Premier", Thương Ca - Mặc Thế Nhân, Nhã Ca - Anh Việt Thanh, Nhật Trường, Trường Hải, Diễm Ca, Mây Hồng, Jo Marcel, Nguyễn Hữu Thiết, Hoàng Trọ: Các CD do bà thực hiện thu âm đều được Hãng phim Phương Nam biên tập, sản xuất và phát hành bao gồm:
Đặng Thế Phong (14 tháng 4 năm 1918 – 2 tháng 8 năm 1942) là nhạc sĩ thuộc thế hệ tiên phong của tân nhạc Việt Nam, một trong những gương mặt tiêu biểu nhất cho giai đoạn âm nhạc tiền chiến. Ông mất năm 24 tuổi và chỉ để lại ba nhạc phẩm: "Đêm thu, Con thuyền không bến" và "Giọt mưa thu". Đặng Thế Phong sinh ngày 5 tháng 4 năm 1918 tại thành phố Nam Định. Cha anh là Đặng Hiển Thế, Thông phán Sở Trước bạ Nam Định. Tiểu sử của Đặng Thế Phong in trong ấn bản "Con thuyền không bến" do Nhà xuất bản Tinh Hoa phát hành tại Sài Gòn vào năm 1964: Đặng Thế Phong sinh năm 1918, thứ nam của cụ Đặng Hiển Thể, Thông phán Sở Trước bạ thành phố Nam Định, là con thứ 2 của một gia đình có 6 anh em, 2 trai 4 gái. Cha mất sớm, gia đình thiếu thốn, anh phải bỏ dở học vấn khi đang học lớp 2ème année P.S. Anh có lên Hà Nội theo học trường Cao đẳng Mỹ thuật với tư cách bàng thính viên. Anh vẽ tranh cho báo "Học Sinh" (chủ bút là Phạm Cao Củng) như truyện bằng tranh "Hoàng Tử Sọ Dừa", "Giặc Cờ Đen" để lấy tiền ăn học. Mùa xuân năm 1941, anh có đi Sài Gòn rồi Nam Vang. Ở Nam Vang anh có mở một lớp dạy nhạc. Đến mùa thu 1941, anh lại trở về Hà Nội. Lúc sinh thời Đặng Thế Phong là một nhạc sĩ rất nghèo nên cuộc sống của anh thật là khổ cực, chật vật. Ngoài tài sáng tác, anh còn là một ca sĩ, tuy chưa hẳn được là tenor nhưng giọng hát khá cao, đã nhiều lần ra sân khấu mà lần đầu tiên anh hát bài "Con thuyền không bến" tại Rạp chiếu bóng Olympia, phố Hàng Da, Hà Nội năm 1940. Đến đầu 1942 thì anh từ giã cõi đời tại nhà, trên một căn gác hẹp ở phố Hàng Đồng vì bệnh lao, hưởng dương 24 tuổi. Vì cha mất sớm, gia cảnh túng thiếu, Đặng Thế Phong phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc thành chung ("deuxième année primaire supérieure") tại trường trung học Saint Thomas d'Aquin. ông lên Hà Nội vẽ cho một số tờ báo và học với tư cách dự thính tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ("École supérieure des Beaux-Arts") tới năm 1939. Thời gian học ở đây anh đã để lại một giai thoại. Trong một kỳ thi, Đặng Thế Phong vẽ bức tranh cảnh một thân cây cụt. Giáo sư, họa sĩ người Pháp Tardieu chấm bài, khen ngợi nhưng nói rằng: "Em Đặng Thế Phong sẽ không sống lâu được!" Cuộc đời Đặng Thế Phong rất long đong, lận đận. anh phải sống lang bạt và trải qua nhiều nghề. Tháng 2 năm 1941, Đặng Thế Phong lang thang vào Sài Gòn rồi sang Campuchia. Tại Nam Vang, anh có mở một lớp dạy nhạc cho đến khi tiếp tục ra Hà Nội. Sự nghiệp âm nhạc của Đặng Thế Phong chỉ có ba nhạc phẩm và đều rất nổi tiếng là: "Đêm thu" ca khúc viết cho lửa trại của học sinh Hà Nội 1940, "Con thuyền không bến" hoàn chỉnh tại Nam Vang, trình diễn lần đầu tại rạp Olympia, Hà Nội năm 1941 và "Giọt mưa thu" 1942. Nhạc phẩm cuối cùng "Giọt mưa thu" được anh viết vào những ngày cuối đời trên giường bệnh. Ban đầu bản nhạc mang tên "Vạn cổ sầu", nhưng theo ý một vài người bạn, anh đặt lại là "Giọt mưa thu" cho bớt sầu thảm hơn. Cả ba ca khúc của anh đều viết về mùa thu và hai trong số đó "Con thuyền không bến" và "Giọt mưa thu" được xếp vào những tác phẩm bất hủ của tân nhạc Việt Nam. "Giọt mưa thu" cũng là cảm hứng cho nhạc sĩ Hoàng Dương sáng tác bài "Tiếc thu" nổi tiếng. Nhiều ý kiến cho rằng Trịnh Công Sơn đã ảnh hưởng bởi "Giọt mưa thu" khi viết ca khúc đầu tay "Ướt mi". Nhận xét của Phạm Duy, các sáng tác của Đặng Thế Phong là những bài hát khởi đầu cho dòng "nhạc thu" Việt Nam, được tiếp nối xuất sắc bởi Văn Cao và Đoàn Chuẩn. Theo Doãn Mẫn, Đặng Thế Phong và Lê Thương là hai nhạc sĩ tiền chiến có sáng tác sâu đậm hồn dân tộc nhất: "Đặng Thế Phong là người hết sức tài hoa. anh chơi được rất nhiều nhạc cụ. Anh sáng tác Giọt mưa thu, Con thuyền không bến từ khi còn rất trẻ. Đáng tiếc, anh mất quá sớm. Có thể nói sự ra đi của anh là một tổn thất lớn đối với bạn bè và cho cả những người yêu mến âm nhạc Việt Nam." Đặng Thế Phong được xem như một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất của thời kỳ tiền chiến. Anh mất năm 24 tuổi vì bệnh lao trên một căn gác số 9 phố Hàng Đồng, Nam Định năm 1942.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. pH là chỉ số đo độ hoạt động (hoạt độ) của các ion H3O⁺ (H+) trong dung dịch và vì vậy là độ axít hay base của nó. Trong các hệ dung dịch nước, hoạt độ của ion hiđrô được quyết định bởi hằng số điện ly của nước ("K"w) = 1,008 × 10−14 ở 25°C) và tương tác với các ion khác có trong dung dịch. Do hằng số điện ly này nên một dung dịch trung hòa (hoạt độ của các ion hiđrô cân bằng với hoạt độ của các ion hiđrôxít) có pH xấp xỉ 7. Các dung dịch nước có giá trị pH nhỏ hơn 7 được coi là có tính axít, trong khi các giá trị pH lớn hơn 7 được coi là có tính kiềm. Khái niệm này được S.P.L. Sørensen (và Linderström-Lang) đưa ra vào năm 1909 và có nghĩa là "pondus hydrogenii" ("độ hoạt động của hiđrô") trong tiếng Latinh. Tuy nhiên, các nguồn khác thì cho rằng tên gọi này xuất phát từ thuật ngữ tiếng Pháp "pouvoir hydrogène." Mặc dù pH không có đơn vị đo, nhưng nó không phải là thang đo ngẫu nhiên; số đo sinh ra từ định nghĩa dựa trên độ hoạt động của các ion hiđrô trong dung dịch. Công thức để tính pH là: [H+] biểu thị hoạt độ của các ion H+ (hay chính xác hơn là [H3O+], tức các ion hiđrônium), được đo theo mol trên lít (còn gọi là phân tử gam). Trong các dung dịch loãng (như nước sông hay từ vòi nước) thì hoạt độ xấp xỉ bằng nồng độ của ion H+. Log10 biểu thị lôgarit cơ số 10, và pH vì thế được định nghĩa là thang đo lôgarít của tính axít. Ví dụ, dung dịch có pH=8,2 sẽ có độ hoạt động [H+] (nồng độ) là 10−8.2 mol/L, hay khoảng 6,31 × 10−9 mol/L; một dung dịch có hoạt độ của [H+] là 4,5 × 10−4 mol/L sẽ có giá trị pH là −log10(4,5 × 10−4), hay khoảng 3,35. Trong dung dịch nước ở nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn (STP), giá trị pH bằng 7 chỉ ra tính trung hòa (tức nước tinh khiết) do nước phân ly một cách tự nhiên thành các ion H+ và OH− với nồng độ tương đương 1×10−7 mol/L. Một giá trị pH thấp hơn (ví dụ pH = 3) chỉ ra rằng độ axít đã tăng lên, và một giá trị pH cao hơn (ví dụ pH = 11) chỉ ra rằng độ kiềm đã tăng lên. pH trung hòa không "chính xác" bằng 7; nó chỉ ngầm ý là nồng độ các ion H+ là "chính xác" bằng 1×10−7 mol/L. Tuy nhiên, các giá trị là đủ gần để pH trung hòa là 7,00 tới ba chữ số đáng kể nhất, nó là đủ gần để người ta coi nó chính xác bằng 7. Trong các dung dịch không chứa nước hay ở các điều kiện không tiêu chuẩn, thì giá trị pH trung hòa thậm chí có thể không gần với 7. Thay vì thế, nó liên quan với hằng số điện ly cho dung môi cụ thể đang được sử dụng. (Lưu ý rằng nước tinh khiết, khi tiếp xúc với khí quyển, sẽ hấp thụ một phần cacbon dioxide, một số trong các phân tử CO2 này sẽ phản ứng với nước để tạo ra axít cacbonic, axit cacbonic tiếp tục phân li tạo ra H+, vì thế làm giảm pH xuống còn khoảng 5,7. Phần lớn các chất có pH nằm trong khoảng từ 0 đến 14, mặc dù các chất cực axít hay cực kiềm có thể có pH 0 hay pH 14. pH có thể được đo: Còn có khái niệm pOH, về ngữ nghĩa là ngược lại với pH, nó đo nồng độ các ion OH−. Do nước là tự ion hóa, và ghi [OH−] như là nồng độ của các ion hiđrôxít, chúng ta có trong đó Kw là hằng số ion hóa của nước. bằng các đồng nhất thức lôgarít, ta có quan hệ sau: (*) Chỉ chính xác ở nhiệt độ 298,15 K (25°C), chấp nhận được cho phần lớn các tính toán trong phòng thí nghiệm. Tính toán pH cho các axít mạnh và yếu. Các giá trị pH cho các axít yếu và mạnh có thể tính xấp xỉ theo các giả thiết nhất định. Theo Thuyết axit-base Brønsted-Lowry, axít mạnh hay yếu hơn chỉ là khái niệm tương đối. Nhưng ở đây chúng ta định nghĩa axít mạnh là những loại mà có tính axít mạnh hơn ion hiđrônium (H3O+). Trong trường hợp đó phản ứng phân ly (chặt chẽ thì HX + H2O↔H3O++X- nhưng đơn giản hóa thành HX↔H++X-) diễn ra hoàn toàn, tức là không còn axít chưa phản ứng trong dung dịch. Vì thế sự hòa tan của axít mạnh HCl trong nước có thể biểu diễn như sau: HCl(dd) → H+ + Cl- Điều này có nghĩa là trong dung dịch 0,01 mol/L của HCl nó là xấp xỉ rằng ở đây có nồng độ 0,01 mol/L các ion hiđrô hòa tan. Từ trên đây ta có pH bằng: pH = −log10 [H+]: pH = −log (0,01) nó tương đương với 2. Đối với các axít yếu, phản ứng phân ly không diễn ra hoàn toàn. Sự cân bằng đạt được giữa các ion hiđrô và gốc base. Dưới đây chỉ ra sự cân bằng phản ứng của axít mêtanoic và các ion của nó: HCOOH(dd) ↔ H+ + HCOO- Cần thiết phải biết giá trị của hằng số cân bằng của phản ứng cho mỗi axít để có thể tính pH của nó. Trong ngữ cảnh pH, nó được gọi là "hằng số axít" (hằng số phân li của axít) nhưng được thực hiện theo cùng cách thức (xem cân bằng hóa học): Ka = [ion hiđrô][ion axít] / [axít] Đối với HCOOH, "K"a = 1,6 × 10−4 (có tài liệu cho biết một số giá trị khác của "K"a) Khi tính toán pH của các axít yếu, thông thường người ta giả sử rằng nước không cung cấp bất kỳ ion hiđrô nào. Điều này đơn giản hóa tính toán và nồng độ cung cấp bởi nước, 1×10−7 mol, thông thường là không đáng kể. Với dung dịch 0,1 mol/L axít mêtanoic (HCOOH), hằng số axít là tương đương với: "K"a = [H+][HCOO-] / [HCOOH] Cho rằng lượng không biết trước của axít đã phân ly, [HCOOH] sẽ bị giảm đi bằng chính lượng này, trong khi [H+] và [HCOO-] mỗi thứ sẽ tăng bằng chính lượng này. Vì thế, [HCOOH] có thể thay thế bằng 0,1 − "x", và [H+] và [HCOO-] có thể thay thế bằng "x", cho ta phương trình sau: Giải phương trình này ta có "x" là 3,9×10−3, nó là nồng độ của các ion hiđrô sau khi phân ly. Vì thế pH bằng −log(3,9×10−3), hay khoảng 2,4. Chất chỉ thị được dùng để đo pH của dung dịch hóa chất khác. Các chất chỉ thị phổ biến là giấy quỳ, phenolphthalein, cam mêtyl và xanh brômothymol Năm 2002, một nhóm nghiên cứu của IUPAC đã thống nhất đề nghị đưa pH vào trong hệ thống đơn vị đo lường quốc tế (SI). Độ kiềm của đất. Độ chua, độ kiềm của đất được đo bằng độ pH. Đất thường có trị số pH từ 3 đến 9. Căn cứ vào trị số pH người ta chia đất thành: đất chua (pH 7), đất trung tính (pH = 7) và đất kiềm (pH 7). Người ta xác định đất chua, đất kiềm và đất trung tính để có kế hoạch cải tạo và sử dụng. Ngoài ra nếu độ pH quá cao đối với các loại đất trồng thì sẽ làm cây không sống được. Cây nhiệt đới là cây có thể trồng với loại đất trung tính. cây tỏi, hoa tulip và cây sung là những loại cây có thể trồng ở đất kiềm. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
De facto (]) hay thực quyền, quyền lực thực tế, quyền thực tế là một thành ngữ trong tiếng Latinh có nghĩa là "trên thực tế" hay "theo thông lệ". Cũng có thể hiểu là luật bất thành văn. Thông thường, nó được sử dụng ngược với "de jure" (có nghĩa là "theo luật định") khi nói đến các vấn đề của lĩnh vực luật pháp, nhà nước, hay kỹ thuật (chẳng hạn các tiêu chuẩn) được tìm thấy trong thực tiễn của cộng đồng do được tạo ra hay phát triển lên mà không có (hoặc không trái) các quy định của luật điều chỉnh. Khi thảo luận về các trạng thái pháp lý thì "de jure" đề cập tới điều mà luật ghi nhận, trong khi "de facto" đề cập tới điều xảy ra trong thực tế, và chúng có thể khác nhau. Thuật ngữ "de facto" cũng có thể sử dụng khi không tồn tại luật hay tiêu chuẩn tương ứng, nhưng thông lệ chung đã được thiết lập rõ ràng, mặc dù có thể là không phải phổ biến rất rộng. Các tiêu chuẩn "de facto". Tiêu chuẩn "de facto", ví dụ như các tiêu chuẩn kỹ thuật hay tiêu chuẩn khác mà có sự phổ biến đến mức mọi người tuân theo chúng tương tự như khi người ta tuân theo các tiêu chuẩn luật định. Tiêu chuẩn "de jure" có thể khác: một ví dụ là sắc luật về tốc độ lái xe trên đường cao tốc. Mặc dù tiêu chuẩn "de jure" là lái xe ở tốc độ giới hạn hoặc thấp hơn, nhưng tiêu chuẩn "de facto" là lái xe ở tốc độ giới hạn hay tốc độ lớn hơn một chút so với tốc độ này. Một ví dụ khác là không có luật nào cấm một người thêm chữ cái mới, chẳng hạn như chữ Þ vào bảng chữ cái Latinh. Các chữ cái đã được thêm vào trong nhiều thế kỷ trước mà không có khó khăn nào, nhưng ngày nay người đó bị ngăn cản trong việc làm này, bởi những khó khăn thực tế nảy sinh. Vì thế đây là giới hạn "de facto" trong việc thay đổi bảng chữ cái. Tiêu chuẩn "de facto" đôi khi không được chính thức hóa và có thể chỉ đơn giản dựa trên thực tế là một số người nào đó có các ý tưởng tốt được ưa chuộng nhiều đến mức nó được những người khác sao chép lại. Những người tạo ra các tiêu chuẩn "de facto" điển hình là các công ty, tập đoàn hay côngxoocxiom. Trong khoa học máy tính, các tiêu chuẩn "de facto" đôi khi có thể trở thành các tiêu chuẩn "de jure" do tính ưu việt của chúng trên thị trường. Ví dụ, JavaScript của Netscape (tiêu chuẩn hóa thành ECMAScript) và một phần của DOM Mức 0 (tiêu chuẩn hóa thành Thông số HTML DOM Mức 1/2). Các nhà lãnh đạo "de facto". Trong chính trị, nhà lãnh đạo "de facto" của một quốc gia hay khu vực là người được thừa nhận là có quyền lực, không phụ thuộc vào việc người đó có được quyền lực này bằng cách thức hợp hiến, hợp pháp hay đúng luật hay không. Thuật ngữ này được sử dụng rất phổ biến để chỉ những người mà quyền lực của họ được một số ít người khác cho là giành được bằng các cách thức bất hợp hiến, bất hợp pháp hay các cách thức không đúng luật khác, thường là bằng việc lật đổ nhà lãnh đạo trước đó hay can thiệp sâu vào sự lãnh đạo của người đương nhiệm đó. Các nhà lãnh đạo "de facto" không nhất thiết phải nắm giữ các chức vụ chính thức theo hiến pháp quy định và có thể thực thi quyền lực của mình theo các cách không chính thức. Tuy nhiên, quyền lực của họ thì không thể phủ nhận, điều này làm cho vị trí của họ như là các nhà lãnh đạo thực thụ phải được thừa nhận. Nhưng cần phải lưu ý rằng không phải tất cả các nhà độc tài đều là các nhà lãnh đạo "de facto". Ví dụ, Augusto Pinochet ở Chile ban đầu lên nắm quyền trong vai trò của chủ tịch hội đồng tư vấn quân sự, nhưng sau đó đã thay đổi hiến pháp để trở thành tổng thống nước này, vì vậy đã làm ông trở thành nhà lãnh đạo chính thức và hợp pháp của Chile. Một ví dụ khác về nhà lãnh đạo "de facto" là những người trên thực tế không phải là nhà lãnh đạo, nhưng có ảnh hưởng rất lớn hay tổng thể đối với nhà lãnh đạo thực thụ, nó rất phổ biến trong các vương triều. Các ví dụ khác về các nhà lãnh đạo de facto là Từ Hi Thái Hậu của Trung Quốc (đối với con trai là vua Đồng Trị và cháu ruột là vua Quang Tự), công tước Aleksandr Danilovich Menshikov (đối với người yêu cũ của ông là nữ hoàng Ekaterina I của Nga), Hồng y giáo chủ Richelieu của Pháp (đối với vua Louis XIII), và hoàng hậu Marie Karolina (đối với chồng mình là vua Ferdinando I). Một số nhà lãnh đạo "de facto" thực thụ và nổi tiếng là Đặng Tiểu Bình của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và tướng Manuel Noriega của Panama. Cả hai nhân vật nói trên đã thực thi việc kiểm soát gần như tổng thể đối với quốc gia của họ trong nhiều năm, mặc dù không có chức vụ hợp pháp theo hiến pháp quy định hay sự ủy nhiệm luật định để thực thi quyền lực. Lãnh đạo quốc gia "de facto" là thuật ngữ hay sử dụng để miêu tả các Đại diện vương miện trong Khối Thịnh vượng chung Anh, hay nhà lãnh đạo thay cho ("in lieu") nhà lãnh đạo quốc gia hợp pháp ("de jure", hay luật định) (ví dụ vua hay nữ vương Anh). Ở các quốc gia theo chế độ cộng sản nói chung và Việt Nam nói riêng, nguyên thủ quốc gia (ở đây là Chủ tịch nước) chỉ là nhà lãnh đạo "de jure" (trên lý thuyết) còn nhà lãnh đạo "de facto" thường là Tổng Bí thư Đảng cầm quyền (ngoại lệ có Đặng Tiểu Bình không làm Tổng Bí thư hay Chủ tịch nước nhưng vẫn là Lãnh đạo tối cao Trung Quốc giai đoạn 1978-1992). Trong những năm gần đây, các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa đã thực hiên "nhất thể hóa" hai chức vụ đứng đầu Đảng và Nhà nước để thuận tiện trong ngoại giao. Riêng tại Việt Nam, Tổng Bí thư và Chủ tịch nước vẫn là hai chức vụ riêng biệt. Do Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nên Tổng Bí thư là nhà lãnh đạo cao cấp nhất, nắm quyền cao nhất trên thực tế ("de facto)". Một số quốc gia có quốc ngữ trên thực tế (de facto), bao gồm Úc, Nhật Bản, Vương quốc Anh, và Hoa Kỳ, nhưng không có quốc ngữ chính thức (theo luật quy định:de jure). Một số quốc gia có một ngôn ngữ nữa trên thực tế cộng thêm vào với quốc ngữ chính thức. Đó là trường hợp ở Liban và Maroc, quốc ngữ chính thức là tiếng Ả Rập, nhưng có thêm một ngôn ngữ trên thực tế là Tiếng Pháp. Ở New Zealand, Maori và New Zealand Sign theo luật quy định là quốc ngữ, trong khi tiếng Anh là quốc ngữ trên thực tế. Một số sử dụng khác. Sử dụng phổ biến khác của thuật ngữ "de facto" là sự "phân biệt "de facto"": chẳng hạn những người sử dụng của một thư viện hay một ngôi trường nào đó có xu hướng là những người sống gần đó, vì thế các tiện ích này có xu hướng trở thành phân biệt "chủng tộc" hay "dân tộc" mà không có "sự phân biệt "de jure"" (nó đòi hỏi phải có sự phân biệt theo luật định). Một quốc gia độc lập "de facto" là quốc gia không được các quốc gia độc lập hay tổ chức quốc tế "de jure" nào công nhận, thậm chí cho dù chủ quyền của đất nước này là tách rời khỏi "quốc gia mẹ" và nó được thực thi tuyệt đối trên toàn bộ lãnh thổ mà nước này coi là của mình. Sự độc quyền "de facto" là hệ thống trong đó có nhiều pháp nhân hay thể nhân tham gia, nhưng có rất ít điều chỉnh (hay các sắc luật chống độc quyền nói chung hoặc trong một lĩnh vực kinh tế cụ thể, đặc biệt là trong các lĩnh vực dịch vụ công) hoặc ở những nơi mà luật chống độc quyền không được áp dụng dẫn đến tình trạng một pháp nhân/thể nhân nào đó thao túng thị trường.
IUPAC (viết tắt của tên riêng tiếng Anh: "International Union of Pure and Applied Chemistry", tạm dịch: Liên minh Quốc tế về Hóa học cơ bản và Hóa học ứng dụng) là tổ chức phi chính phủ được thành lập vào năm 1919 bởi các nhà hóa học trên thế giới nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển của khoa học hóa học. Thành viên IUPAC có thể là các hội hóa học, các viện hàn lâm khoa học của các nước hoặc các tổ chức đại diện cho giới hóa học gia. Danh pháp IUPAC được toàn thế giới công nhận làm cơ sở để đặt danh pháp cho các nguyên tố và hợp chất hóa học. Trụ sở IUPAC đóng tại Zürich, Thụy Sĩ. Văn phòng điều hành (Ban thư ký IUPAC) đóng tại "Research Triangle Park", Bắc Carolina, Hoa Kỳ; văn phòng này do giám đốc điều hành của IUPAC đứng đầu. Chủ tịch IUPAC hiện nay là Giáo sư Javier García-Martínez và giám đốc điều hành là Tiến sĩ Lynn M. Soby. Lịch sử thành lập. Nhu cầu thiết lập một hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về hóa học được nêu ra lần đầu tiên vào năm 1860 bởi một ủy ban do nhà khoa học người Đức Friedrich August Kekulé von Stradonitz đứng đầu. Ủy ban này là hội nghị quốc tế đầu tiên thiết lập hệ thống danh pháp cho các hợp chất hữu cơ. IUPAC là kết quả kế thừa từ hội nghị này. IUPAC được thành lập vào năm 1919. Một quốc gia thành viên quan trọng bị loại khỏi tổ chức IUPAC mới thành lập là nước Đức. Việc nước Đức bị loại khỏi IUPAC là kết quả của sự định kiến từ các cường quốc Đồng minh sau Thế chiến I đối với nước Đức. Đức cuối cùng đã được tái gia nhập vào IUPAC năm 1929. Tuy nhiên, Đức Quốc xã lại bị loại khỏi IUPAC trong Thế chiến II. Trong Thế chiến II, IUPAC đã liên kết với các cường quốc Đồng minh, nhưng ít tham gia vào các hoạt động chiến sự. Sau Thế chiến II, Đông Đức và Tây Đức đã được chấp thuận gia nhập IUPAC vào năm 1973. Kể từ Thế chiến II, IUPAC tiếp tục tập trung vào việc chuẩn hóa danh pháp và phương pháp nghiên cứu khoa học. Năm 2016, IUPAC đã tố cáo việc sử dụng clo làm vũ khí hóa học. Tổ chức này đã bày tỏ quan ngại trong một lá thư gửi đến Ahmet Üzümcü, Giám đốc Tổ chức Cấm Vũ khí Hóa học (OPCW), về việc việc sử dụng clo làm vũ khí hóa học trong chiến tranh ở Syria và một số chiến trường khác. Từ khi thành lập, IUPAC do nhiều ủy ban khác nhau điều hành với các trách nhiệm cũng khác nhau. Các ủy ban này tiến hành nhiều loại dự án, trong đó bao gồm chuẩn hóa danh pháp, và xuất bản các công trình nghiên cứu. Không chỉ nổi tiếng với các công trình chuẩn hóa danh pháp trong hóa học, IUPAC còn xuất bản nhiều ấn phẩm thuộc các ngành khoa học khác như sinh học và vật lý học. Một số đóng góp quan trọng của IUPAC cho các lĩnh vực này là chuẩn hóa tên gọi mã đoạn trình tự nucleotide và xuất bản sách dành cho nhà khoa học môi trường, nhà hóa học và nhà vật lý học.
Little Saigon (Tiểu Sài Gòn, Sài Gòn nhỏ, khu Sài Gòn) thường chỉ những khu vực có nhiều người Việt sinh sống bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhất là tại Hoa Kỳ, Canada và Pháp. Những khu Little Saigon được hình thành từ những làn sóng tị nạn diễn ra sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975. Các khu Little Saigon lớn có mặt trong thành phố Westminster Garden Grove, San Jose, California, Los Angeles và Houston. Westminster và Garden Grove nằm trong khu vực Quận Cam, California, nơi được mệnh danh là "thủ đô người Việt tị nạn". Khu Little Saigon lâu đời nhất, lớn nhất nằm tại hai thành phố Westminster và Garden Grove, Quận Cam, California, nơi người Việt chiếm 30,7% và 21,4% dân số theo điều tra dân số năm 2000 (tổng cộng trên 125.000 người). Trước kia, Westminster cũng như các thành phố gần đó là những vùng đất đai trồng trọt lớn. Từ năm 1975, người Việt tỵ nạn đầu tiên đến đây từ trại Pendleton, nằm cách Westminster 50 dặm về hướng Nam và từ các tiểu bang khác như Pennsylvania, Arkansas, Florida. Những cơ sở thương mại đầu tiên là tiệm phở Hòa và chợ Đà Lạt gần ngã tư đường First và Fairview thuộc thành phố Santa Ana. Khu này sau có thêm trung tâm sinh hoạt Nguyễn Khoa Nam do Đặng Giang Sơn thành lập. Nơi đó trở thành nơi tụ tập của cộng đồng tỵ nạn. Sau đó lui về phía tây cũng trên cùng tuyến đường First nhưng có tên là Bolsa Avenue thuộc hai thành phố Garden Grove và Westminster, khoảng năm 1978 xuất hiện chợ Hòa Bình, nhà sách Tú Quỳnh, và nhà hàng Thành Mỹ. Cùng năm đó, "Nhật báo Người Việt" góp mặt với văn phòng phát hành đặt tại thành phố Garden Grove. Những người Việt tỵ nạn dần tập trung ở quãng đường đó mua lại các cơ sở thương mại của người địa phương và lập nên một khu phố thương mại phảng phất hình bóng Việt Nam. Năm 1982 thì hình thành "Hiệp hội Thương gia Tiểu Sài Gòn". Sách báo tiếng Việt từ đó bắt đầu dùng danh từ "Phố Sài Gòn" nhất là khi hãng Bridgecreek cho xây thương xá hai tầng 1986-88. Địa bàn cộng đồng người Việt từ đó lan rộng tràn ra những thành phố lân cận như Stanton, Fountain Valley và Anaheim. Năm 1986, Ủy ban Thành lập Danh xưng Little Saigon, sau đổi thành Ủy ban Phát triển Little Saigon bầu lên 15 ủy viên, xúc tiến họp với hội đồng thành phố Westminster chính thức công nhận danh xưng Little Saigon. Chính ủy ban đã được 18 vị dân biểu và nghị sĩ tiểu bang giúp đỡ để đưa đề nghị thành lập Đặc khu Tiểu Sài Gòn lên thống đốc tiểu bang. Ngày 1 tháng 6 năm 1986, trước Viện Lập pháp tiểu bang, Thống đốc George Deukmejian đã chấp thuận. Nha lộ vận California theo đó cho dựng 13 bảng tên "Little Saigon" chỉ lối cho xe rẽ từ xa lộ 22 và 405 vào. Ngày 17 tháng 6 năm 1986, thị trưởng Westminster Chuck Smith đã làm lễ ra mắt Đặc khu Little Saigon trước thương xá Phước Lộc Thọ. Buổi lễ được đặt dưới sự chủ toạ của thống đốc tiểu bang và có sự hiện diện của đông đảo người Việt Nam trong vùng. Bố trí và các dịch vụ. Little Saigon tại Quận Cam là một vùng rộng lớn, với nhiều khu thương xá của người Việt và người Hoa, nằm phía Tây của Disneyland, giữa xa lộ California 22 và xa lộ Liên bang 405. Ngoài các trụ sở thương mại còn có siêu thị và nhà hàng bán thực phẩm các món ăn Việt Nam và Á châu như cơm tấm, phở, bánh mì, bánh cuốn. Ngoài ra là các dịch vụ y tế, luật pháp, tập trung không ít bác sĩ, nha sĩ, luật sư, kế toán lập văn phòng tại đây để phục vụ thân chủ đồng hương. Năm 2016, một dịch vụ xe buýt miễn phí tên Little Saigon Shuttle được khánh thành để đưa đón hành khách mua sắm trong khu vực, phục vụ 22 trạm dừng trong tuyến đường dài 2,5 mile. Tuy nhiên dịch vụ đã chấm dứt sau 6 tháng hoạt động vì chi phí cao. Xe đò Hoàng, một dịch vụ xe đò đường dài, nối liền Little Saigon ở Quận Cam với cộng đồng ở San Jose và nhiều thành phố khác ở California và Arizona có đông người Việt sinh sống. Little Saigon, đặc biệt là Westminster, thường được xem là trung tâm của ngành truyền thông Việt ngữ tại hải ngoại. Hầu hết các chương trình ca nhạc hải ngoại đều được phát hành tại đây, trong đó có "trung tâm Thúy Nga", "trung tâm Asia", "trung tâm Vân Sơn", , rất nhiều ca sĩ, nhạc sĩ hải ngoại cư ngụ tại khu vực này. Có hai đài phát thanh phát sóng tiếng Việt 24 giờ mỗi ngày là Little Saigon Radio (trên KVNR 1480 AM) và Radio Bolsa (KALI 106.3 FM). Một đài khác thỉnh thoảng có chương trình tiếng Việt (KXMX-AM 1190). Nội dung phát sóng bao gồm tin tức, thời sự, âm nhạc, talk show, tôn giáo, đọc truyện, , mỗi ngày hai lần. Gần đây đài Little Saigon Radio cũng có nỗ lực phát thanh về Việt Nam. Có 4 đài truyền hình phát sóng suốt ngày bằng Việt ngữ tại miền nam California. Hai đài truyền hình vệ tinh, Saigon Broadcasting Television Network và Hồn Việt TV cũng có trụ sở tại đây và có thể xem được trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ. Tại đây có hàng chục tờ báo tiếng Việt được bán bên cạnh các báo tiếng Anh, có tiếng nhất trong số đó là "Báo Người Việt". Những tờ nhật báo lớn khác có thể nói đến là "Việt Báo", "Viễn Đông", , nguyệt san và báo phục vụ giới trẻ cũng được phát hành như "Việt Tide" (song ngữ) và Người Việt 2 (bằng tiếng Anh). Little Saigon là một địa phương chống cộng mãnh liệt. Sự kiện Trần Trường đầu năm 1999 được xem là điểm mốc quan trọng trong hoạt động chính trị của người Việt tại Little Saigon nói riêng và Hoa Kỳ nói chung. Sự kiện xảy ra sau khi một người làm nghề cho thuê băng video tên là Trần Văn Trường treo cờ đỏ sao vàng và hình Hồ Chí Minh trên cửa tiệm. Sau khi ông không được chú ý, ông đã gửi fax đến một số cơ quan truyền thông cộng đồng để loan báo về hành động của mình. Trong gần hai tháng sau đó, hàng nghìn người Việt biểu tình hằng ngày phản đối ông Trường và chính phủ Việt Nam, với điểm cao là một cuộc thắp nến được tổ chức bởi các đoàn thể sinh viên Mỹ gốc Việt, với sự tham dự của hơn 15.000 người, và được báo chí toàn quốc và quốc tế theo dõi. Sự việc kết thúc sau khi ông Trường bị kết án cho thuê băng lậu, và bị buộc phải đóng cửa tiệm. Ông Trường cho biết mình bị đánh năm lần và phải vào bệnh viện, ông đã mất hết gia sản, khoảng một triệu đôla, và vợ ông, sau những biến cố, đã 'mắc bệnh tâm thần; đồng thời khẳng định đây là án sai, rằng 'ông không sang băng lậu, mà có hợp đồng kinh doanh với các công ty của Tàu. "Sự kiện đã đưa ra nhiều vấn đề về tự do ngôn luận tại Hoa Kỳ, một số người ra đại diện làm trung gian với báo chí để phát biểu quan điểm của những người biểu tình. Nhiều người lãnh đạo trong cuộc biểu tình cảm thấy tự tin hơn và bắt đầu tham gia chính trường và vận động cộng đồng như trong Chiến dịch Cờ Vàng. Người Mỹ gốc Việt, dựa vào số đông, đã và đang nắm giữ quyền lực chính trị đáng kể tại hai thành phố Westminster và Garden Grove. Nhiều người tham gia vào các hoạt động chính trị tại địa phương và được bầu vào các chức vụ công. Ví dụ như Janet Nguyễn, vào năm 2007 trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên lên làm giám sát viên quận trên toàn quốc. Ông Trần Thái Văn đắc cử dân biểu tiểu bang California từ năm 2004 và trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên được bầu vào ngành lập pháp tiểu bang. Sinh hoạt cộng đồng. Năm 2003, "Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ" (tiếng Anh: "Vietnam War Memorial") đã được xây dựng tại Westminster để tưởng niệm những người lính Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ đã hy sinh trong Chiến tranh Việt Nam hồi thế kỷ trước. Ngày 12 Tháng Tám năm 2009, Hội đồng thành phố Westminster, California lại thông qua nghị quyết 4257 công nhận ngày Thứ Bảy cuối cùng mỗi Tháng Tư sẽ là "Ngày Thuyền nhân Việt Nam". Trường Bolsa Grande High School tại Garden Grove là nơi tổ chức Hội Tết Việt Nam hàng năm do Tổng hội sinh viên Việt Nam Nam Cali UVSA tổ chức cho hàng trăm ngàn người tham dự. Hàng năm, từ năm 1997, vào ngày Tết Nguyên Đán, Little Saigon tại San Jose cũng có cuộc diễn hành Tết hoành tráng do Hội Diễn Hành Tết ("Vietnamese Spring Festival", VSF) tổ chức, với sự kết hợp của nhiều hội đoàn, tổ chức. Từ năm 2003, Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế (Vietnamese International Film Festival hay ViFF) là một đại hội điện ảnh diễn ra 2 năm một lần tại Đại học California tại Irvine và nhiều địa điểm quanh vùng Little Saigon của Quận Cam, California, Mỹ. Với dân số người Mỹ gốc Việt gần 100.000 người, thành phố San Jose, California là thành phố đông người Việt nhất tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, cơ sở thương mại của người Việt nằm rải rác trên San Jose, không tập trung như tại Westminster. Năm 2000, thương xá Grand Century Mall được thành lập tại đường Story, trở thành một trung tâm của người Việt tại San Jose. Năm 2007, nghị viên Madison Nguyen đề nghị hội đồng thành phố chính thức công nhận một khu thương mại người Việt. Nhiều tên cho khu vực này được đề xuất. Đa số người Việt ủng hộ tên "Little Saigon", trong khi một số cơ sở thương mại trong khu này cho rằng tên này có sắc thái quá chính trị bài cộng sản, và đề xuất tên "Vietnamese Business District" (Khu thương mại Việt Nam). Những người gốc Việt phản đối mạnh mẽ tên "Vietnamese Business District" vì họ cho rằng tên này sẽ vinh danh chính phủ cộng sản Việt Nam hiện nay và không nhìn nhận các đóng góp của những người tị nạn chống cộng. Ngày 20 tháng 11 năm 2007, hội đồng thành phố San Jose chính thức bầu chọn tên "Saigon Business District" (Khu thương mại Saigon) với số phiếu ủng hộ 8-3 sau một phiên họp dài 6 tiếng đồng hồ, với trên 800 người ủng hộ tên Little Saigon tham gia cuộc họp. Lựa chọn này làm phẫn nộ rất nhiều người Mỹ gốc Việt vì họ cho rằng hội đồng thành phố đã bất chấp ý dân. Trên 2000 người biểu tình phản đối trước tòa thị chính, kêu gọi hội đồng thành phố xét lại. Madison Nguyen, một trong những nghị viên bỏ phiếu ủng hộ tên "Saigon Business District", trở thành một mục tiêu chỉ trích của cộng đồng. Một số người kêu gọi cô từ chức và đang vận động bãi miễn Madison Nguyen. Sau nhiều cuộc biểu tình, hội đồng thành phố San Jose vào ngày 4 tháng 3 năm 2008 bầu 10-1 hủy quyết định chọn tên "Saigon Business District" trong một cuộc họp dài với hàng ngàn người tham gia. Tuy nhiên, hội đồng thành phố vẫn chưa chọn tên "Little Saigon" cho khu vực này. Kể từ đầu năm 2004 thành phố San Francisco đã chính thức thành lập khu "Little Saigon" trên đường Larkin giữa hai ngã tư đường Eddy và O'Farrell. Ở đây tập trung khoảng 2.000 người Việt trong tổng số 13.000 người Việt trên toàn thành phố. Hơn 80% các cơ sở buôn bán ở đây là của người Việt. Chính quyền đã thiết lập bảng chỉ dẫn trên đường và còn có kế hoạch xây cổng chào đón du khách tương tự như loại cổng dựng ở phố Tàu và phố Nhật San Francisco. Ngày 2 tháng 5 năm 2004, chính quyền địa phương đã chính thức đặt tên "Little Saigon" cho khu vực Midtown, với nhiều cơ sở thương mại của người Việt, nằm cạnh khu Downtown ở trung tâm thành phố Houston. Một trung tâm thương mại khác của người Việt là khu vực mới phát triển quanh Đại lộ Bellaire, phía Tây Nam thành phố. Louisiana là nơi có nhiều người Việt Nam, nhiều người trước đây là ngư dân đánh cá. New Orleans có một số khu vực có tập trung các doanh nghiệp Việt-Mỹ. Lớn nhất trong số các cộng đồng này nằm xung quanh Village de L'Est, trong đó bao gồm khu dân cư và các tổ chức thương mại cũng như cơ sở tôn giáo như giáo xứ Mary Queen của Giáo hội Công giáo Việt Nam, Chùa Vạn Hạnh của Phật giáo, và Nhà hàng bánh nướng Đông Phương. Có một khu vực doanh nghiệp Việt Nam ở thủ phủ Baton Rouge, nằm gần khối 12.000 Đại lộ Florida Blvd (Hwy 190), trong đó bao gồm các nhà hàng, cửa hàng tạp hóa, và các doanh nghiệp khác nhau. Năm 2008, Joseph Cao đã làm nên lịch sử sau khi được bầu vào Quốc hội Hoa Kỳ tại khu vực thứ 2 thường thiên về Đảng Dân chủ của bang Louisiana, bao gồm hầu hết New Orleans. Một trong những khu phố Việt lớn nhất ở Philadelphia tập trung vào các giao điểm của đường Eighth Street và Washington Avenue ở Nam Philadelphia, là "một trong những quần thể lớn nhất của người Việt Nam trên bờ biển phía đông". Các cửa tiệm Việt Nam tập trung tại quận 13 và quận 5 thành phố Paris. Ở Sydney, người Úc gốc Việt tập trung ở Cabramatta (còn mệnh danh là "Vietnamatta"), Bankstown, Canley Vale và Villawood. Ở Melbourne, vùng ngoại ô Richmond có một tỷ lệ lớn người Úc gốc Việt sinh sống, phố Victoria (Victoria Street) thường có biệt danh là Little Saigon. Các cộng đồng người Việt khác tập trung quanh Đường Springvale (Springvale Road) ở Springvale, hầu hết các khu vực của Footscray và cả ở St Albans. Ở Adelaide, người Việt Nam tập trung xung quanh Woodville đặc biệt dọc theo Đường Hanson (Hanson Road).
Carbon dioxide hay carbonic oxide (tên gọi khác: "thán khí", "anhydride carbonic", "khí carbonic") là một hợp chất ở điều kiện bình thường có dạng khí trong khí quyển Trái Đất, bao gồm một nguyên tử carbon và hai nguyên tử oxy. Là một hợp chất hóa học được biết đến rộng rãi, nó thường xuyên được gọi theo công thức hóa học là CO2. Trong dạng rắn, nó được gọi là băng khô hoặc đá khô. Carbon dioxide thu được từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả khí thoát ra từ các núi lửa, sản phẩm cháy của các hợp chất hữu cơ và hoạt động hô hấp của các sinh vật sống hiếu khí. Nó cũng được một số vi sinh vật sản xuất từ sự lên men và sự hô hấp của tế bào. Các loài thực vật hấp thụ carbon dioxide trong quá trình quang hợp, và sử dụng cả carbon và oxy để tạo ra các carbohydrat. Ngoài ra, thực vật cũng giải phóng oxy trở lại khí quyển, oxy này sẽ được các sinh vật dị dưỡng sử dụng trong quá trình hô hấp, tạo thành một chu trình. Nó có mặt trong khí quyển Trái Đất với nồng độ thấp và tác động như một khí gây hiệu ứng nhà kính. Nó là thành phần chính trong chu trình carbon. Các thuộc tính hóa-lý. Carbon dioxide là một khí không màu mà khi hít thở phải ở nồng độ cao (nguy hiểm do nó gắn liền với rủi ro ngạt thở) tạo ra vị chua trong miệng và cảm giác nhói ở mũi và cổ họng. Các hiệu ứng này là do khí hòa tan trong màng nhầy và nước bọt, tạo ra dung dịch yếu của acid carbonic. Tỷ trọng riêng của nó ở 25 °C là 1,98 kg·m−3, nặng hơn khoảng 1,5 lần không khí. Phân tử carbon dioxide (O = C = O) chứa hai liên kết đôi và có hình dạng tuyến tính. Nó không có lưỡng cực điện. Do nó là hợp chất đã bị oxy hóa hoàn toàn nên về mặt hóa học nó không hoạt động lắm và cụ thể là không cháy. Ở nhiệt độ dưới -78 °C, carbon dioxide ngưng tụ lại thành các tinh thể màu trắng gọi là băng khô. Carbon dioxide lỏng chỉ được tạo ra dưới áp suất trên 5,1 bar; ở điều kiện áp suất khí quyển, nó chuyển trực tiếp từ các pha khí sang rắn hay ngược lại theo một quá trình gọi là thăng hoa. Nước sẽ hấp thụ một lượng nhất định carbon dioxide, và nhiều hơn lượng này khi khí bị nén. Khoảng 1% carbon dioxide hòa tan chuyển hóa thành acid carbonic. Acid carbonic phân ly một phần thành các ion bicarbonat (HCO3−) và carbonat (CO32−). Khi một nguồn lửa được đưa vào ống thử có chứa carbon dioxide thì ngọn lửa sẽ tắt ngay lập tức do carbon dioxide thông thường không duy trì sự cháy, tuy nhiên nếu là sự cháy của các kim loại mang tính khử cao như Mg, Zn thì carbon bị khử, tạo ra Oxide kim loại và muội than. (Một số loại bình cứu hỏa chứa carbon dioxide hay các chất khi phản ứng với nhau sẽ tạo ra nó dùng để dập lửa). Để xác nhận tiếp theo là khí này là carbon dioxide thì khí được dẫn qua dung dịch calci hydroxide (Ca(OH)2) trong. Dung dịch calci hydroxide sẽ chuyển thành kết tủa màu trắng do sự tạo thành calci carbonat (CaCO3). Carbon dioxide lỏng và rắn là chất làm lạnh quan trọng, đặc biệt là trong công nghiệp thực phẩm, trong đó chúng tham gia vào quá trình lưu trữ và vận chuyển các loại kem lạnh và các thực phẩm đông lạnh. Carbon dioxide được sử dụng để sản xuất nước giải khát carbonat hóa và nước soda. Theo truyền thống, quá trình carbonat hóa trong bia và vang nổ có được do lên men tự nhiên, nhưng một số nhà sản xuất carbonat hóa các đồ uống này một cách nhân tạo. Bột nở sử dụng trong các loại bánh nướng tạo ra khí carbonic làm cho khối bột bị phình to ra, do tạo ra các lỗ xốp chứa bọt khí. Men bánh mì tạo ra khí carbonic bằng sự lên men trong khối bột, trong khi các loại bột nở hóa học giải phóng ra khí carbonic khi bị nung nóng hoặc bị tác dụng với các acid. Carbon dioxide thông thường cũng được sử dụng như là khí điều áp rẻ tiền, không cháy. Các áo phao cứu hộ thông thường chứa các hộp nhỏ chứa carbon dioxide đã nén để nhanh chóng thổi phồng lên. Các ống thép chứa carbonic nén cũng được bán để cup cấp khí nén cho súng hơi, bi sơn, bơm lốp xe đạp, cũng như để làm nước khoáng xenxe. Sự bốc hơi nhanh chóng của carbon dioxide lỏng được sử dụng để gây nổ trong các mỏ than. Carbon dioxide dập tắt lửa, và một số bình cứu hỏa, đặc biệt là các loại được thiết kể để dập cháy do điện, có chứa carbon dioxide lỏng bị nén. carbon dioxide cũng được sử dụng như là môi trường khí cho công nghệ hàn, mặc dù trong hồ quang thì nó phản ứng với phần lớn các kim loại. Nó được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp ô tô mặc dù có chứng cứ đáng kể cho thấy khi hàn trong môi trường này thì mối hàn giòn hơn so với các mối hàn trong môi trường các khí trơ, và các mối hàn này theo thời gian sẽ giảm phẩm cấp do sự tạo thành của axít carbonic. Nó được sử dụng làm việc này chủ yếu là do nó rẻ tiền hơn nhiều so với các khí trơ như agon hay heli. Carbon dioxide lỏng là một dung môi tốt cho nhiều hợp chất hữu cơ, và được dùng để loại bỏ cafein từ cà phê. Nó cũng bắt đầu nhận được sự chú ý của công nghiệp dược phẩm và một số ngành công nghiệp chế biến hóa chất khác do nó là chất thay thế ít độc hơn cho các dung môi truyền thống như các chloride hữu cơ (xem hóa học xanh). Thực vật cần có carbon dioxide để thực hiện việc quang hợp, và các nhà kính có thể được làm giàu bầu khí quyển của chúng bằng việc bổ sung CO2 nhằm kích thích sự tăng trưởng của thực vật. Người ta cũng đề xuất ý tưởng cho carbon dioxide từ các nhà máy nhiệt điện đi qua các ao để phát triển tảo và sau đó chuyển hóa chúng thành nguồn nhiên liệu điezen sinh học. Nồng độ cao của carbon dioxide trong khí quyển tiêu diệt có hiệu quả nhiều loại sâu hại. Các nhà kính được nâng nồng độ CO2 tới 10.000 ppm (1%) trong vài giờ để tiêu diệt các loại sâu bệnh như rầy trắng (họ "Aleyrodidae"), nhện Trong y học, tới 5% carbon dioxide được thêm vào oxy nguyên chất để trợ thở sau khi ngừng thở và để ổn định cân bằng O2/CO2 trong máu. Một dạng phổ biến của laser khí công nghiệp là laze carbon dioxide, sử dụng carbon dioxide làm môi trường. Carbon dioxide cũng hay được bơm vào hay gần với các giếng dầu. Nó có tác dụng như là tác nhân nén và khi hòa tan trong dầu thô dưới lòng đất thì nó làm giảm đáng kể độ nhớt của dầu thô, tạo điều kiện để dầu chảy nhanh hơn trong lòng đất vào các giếng hút. Trong các mỏ dầu đã hoàn thiện thì một hệ thống ống đồ sộ được sử dụng để chuyển carbon dioxide tới các điểm bơm. Băng khô là tên gọi cho carbon dioxide rắn (đóng băng). Thuật ngữ này được Prest Air Devices tạo ra năm 1925 (công ty thành lập năm 1923 tại thành phố Long Island, New York). Băng khô, dưới áp suất thường, không nóng chảy thành carbon dioxide lỏng mà thăng hoa trực tiếp thành dạng khí ở -78,5 °C (-109,3 °F). Vì thế nó được gọi là "băng khô" như là cách gọi để so sánh với băng "ướt" (nước đá thông thường). Băng khô được sản xuất bằng cách nén khí carbon dioxide thành dạng lỏng, loại bỏ nhiệt gây ra bởi quá trình nén (xem định luật Charles), và sau đó cho carbon dioxide lỏng giãn nở nhanh. Sự giãn nở này làm giảm nhiệt độ và làm cho một phần CO2 bị đóng băng thành "tuyết", sau đó "tuyết" này được nén thành các viên hay khối. Do các đặc trưng cụ thể của mình, băng khô đòi hỏi phải có sự phòng ngừa đặc biệt khi tiếp xúc. Nó cực lạnh vì vậy không nên cho tiếp xúc trực tiếp với da (nghĩa là cần đeo găng cách nhiệt thích hợp). Nó thường xuyên thăng hoa thành khí carbonic, vì thế nó không thể lưu trữ trong các thùng chứa có nắp đậy do áp suất tạo ra sẽ nhanh chóng phá vỡ thùng do bị nổ. Khí thăng hoa cần thông gió tốt; nếu không nó có thể tràn ngập không gian quanh đó và làm cho người ta nghẹt thở. Sự quan tâm đặc biệt đối với các thiết bị thông gió là cần thiết. Những người tiếp xúc với băng khô cần phải được cảnh báo là carbon dioxide nặng hơn không khí và sẽ chìm xuống dưới sàn. Một số thị trường đòi hỏi những người mua băng khô phải từ 18 tuổi trở lên. Carbon dioxide là sản phẩm cuối cùng trong cơ thể sinh vật có sự tích lũy năng lượng từ việc phân hủy đường hay chất béo với oxy như là một phần của sự trao đổi chất của chúng, trong một quá trình được biết đến như là sự hô hấp của tế bào. Nó bao gồm tất cả các loài thực vật, động vật, nhiều loại nấm và một số vi khuẩn. Trong các động vật bậc cao, carbon dioxide di chuyển trong máu từ các mô của cơ thể tới phổi và ở đây nó bị thải ra ngoài. Hàm lượng carbon dioxide trong không khí trong lành là khoảng 0,04%, và trong không khí bị thải ra từ sự thở là khoảng 4,5%. Khi thở trong không khí với nồng độ cao (khoảng 5% theo thể tích), nó là độc hại đối với con người và các động vật khác. Hemoglobin, phân tử chuyên chở oxy chính trong hồng cầu, có thể chở cả oxy và carbon dioxide, mặc dù theo các cách thức hoàn toàn khác nhau. Sự suy giảm liên kết với oxy trong máu do sự tăng mức carbon dioxide được biết đến như là hiệu ứng Haldane, và nó là quan trọng trong việc vận chuyển carbon dioxide từ các mô tới phổi. Ngược lại, sự tăng áp suất thành phần của CO2 hay pH thấp hơn sẽ sinh ra sự rút bớt oxy từ hemoglobin. Hiệu ứng này gọi là hiệu ứng Bohr. Theo nghiên cứu của USDA , sự thở của một người trung bình mỗi ngày sinh ra khoảng 450 lít (khoảng 900 gam) carbon dioxide. CO2 được vận chuyển trong máu theo ba cách khác nhau. Phần lớn trong chúng (khoảng 80%–90%) được các enzym carbonic anhydraz chuyển hóa thành các ion bicarbonat HCO3− trong các tế bào hồng cầu. 5%–10% được hòa tan trong huyết tương và 5%–10% liên kết với hemoglobin thành các hợp chất carbamin. Phần trăm chính xác phụ thuộc vào đó là máu ở động mạch hay tĩnh mạch. Hemoglobin liên kết với CO2 không giống như liên kết với oxy; CO2 liên kết với các nhóm chứa N trên 4 chuỗi globin. Tuy nhiên, do các hiệu ứng khác khu vực hoạt hóa trên phân tử hemoglobin, liên kết của CO2 làm giảm lượng oxy được liên kết đối với áp suất thành phần nhất định của oxy. Carbon dioxide có thể là một trong các chất trung gian để tự điều chỉnh việc cung cấp máu theo khu vực. Nếu nồng độ của nó cao thì các mao mạch nở ra để cho nhiều máu hơn đến các mô. Các ion bicarbonat là chủ yếu trong việc điều chỉnh pH của máu. Do tần suất thở có ảnh hưởng tới mức CO2 trong máu, nên nhịp thở quá chậm hay quá nông sẽ sinh ra hiện tượng toan hô hấp, trong khi nhịp thở quá nhanh gây nên thở nhanh sẽ dẫn đến kiềm hô hấp. Một điều thú vị là mặc dù oxy là chất cần thiết của quá trình trao đổi chất của cơ thể, nhưng không phải nồng độ thấp của oxy kích thích sự hô hấp mà lại là nồng độ cao của carbon dioxide. Kết quả là, sự hô hấp trong không khí loãng (áp suất thấp) hay hỗn hợp khí không có oxy (ví dụ nitơ nguyên chất) dẫn đến sự bất tỉnh mà không cần có các vấn đề về hệ hô hấp của cá thể đó. Nó là đặc biệt nguy hiểm cho các phi công lái máy bay chiến đấu bay ở cao độ lớn, và nó cũng là lý do giải thích tại sao các hướng dẫn tại các máy bay thương mại trong trường hợp sụt áp suất trong khoang thì người ta cần phải sử dụng mặt nạ thở oxy cho chính mình trước khi giúp người khác—nếu không thì chính người đó sẽ chịu rủi ro bất tỉnh mà không hề được cảnh báo trước về nguy hiểm sắp xảy ra. Thực vật hấp thụ carbon dioxide từ khí quyển trong quá trình quang hợp. Carbon dioxide được thực vật (với năng lượng từ ánh sáng Mặt Trời) sử dụng để sản xuất ra các chất hữu cơ bằng tổ hợp nó với nước. Các phản ứng này giải phóng ra oxy tự do. Đôi khi carbon dioxide được bơm thêm vào các nhà kính để thúc đẩy thực vật phát triển. Thực vật cũng giải phóng ra CO2 trong quá trình hô hấp của nó, nhưng tổng thể thì chúng làm giảm lượng CO2. Các giới hạn của OSHA cho nồng độ carbon dioxide tại nơi làm việc là 0,5% cho thời gian dài, tối đa tới 3% cho phơi nhiễm ngắn (tối đa 10 phút). OSHA cho rằng các nồng độ trên 4% là "nguy hiểm ngay lập tức đối với sức khỏe và sự sống". Những người thở không khí chứa trên 5% carbon dioxide trên 30 phút có các triệu chứng tăng anhydride carbonic máu cấp tính, trong khi việc thở với nồng độ carbon dioxide từ 7%–10% có thể làm bất tỉnh trong vài phút. Carbon dioxide, dù là dạng khí hay dạng rắn, chỉ được tiếp xúc trong các môi trường/khu vực thông gió tốt. "Xem thêm": Khí máu động mạch. Khí quyển Trái Đất. Vào thời điểm năm 2004, khí quyển Trái Đất chứa khoảng 0,038% theo thể tích (380 µL/L hay ppm) hoặc 0,053% theo trọng lượng là CO2. Nó tương đương với 2,7 × 1012 tấn CO2. Do có nhiều đất đai hơn (và vì thế nhiều thực vật hơn) nên ở bắc bán cầu khi so với nam bán cầu có sự dao động hàng năm vào khoảng 5 µL/L, sự dao động này lên tới đỉnh vào tháng 5 và xuống tối thiểu vào tháng 10 khi kết thúc mùa sinh trưởng ở bắc bán cầu, khi mà khối lượng các chất sinh học trên hành tinh là lớn nhất. Mặc dù nồng độ thấp nhưng CO2 là một thành phần cực kỳ quan trọng trong khí quyển Trái Đất, do nó hấp thụ bức xạ hồng ngoại và làm tăng hiệu ứng nhà kính. Carbon dioxide nguyên thủy trong khí quyển của Trái Đất được tạo ra trong hoạt động của các núi lửa; nó là cốt yếu để làm ấm và ổn định khí hậu dẫn đến sự sống. Hoạt động núi lửa ngày nay giải phóng khoảng 130–230 triệu tấn carbon dioxide mỗi năm. Lượng khí này xấp xỉ 1% lượng carbon dioxide do các hoạt động của con người tạo ra. Từ đầu thời kỳ cách mạng công nghiệp, nồng độ CO2 trong khí quyển đã tăng khoảng 110 µL/L hay khoảng 40%, phần lớn trong số này được giải phóng từ năm 1945 đến nay. Các đo đạc hàng tháng tại Mauna Loa từ năm 1958 chỉ ra sự tăng từ 316 µL/L trong năm đó tới 376 µL/L năm 2003, tổng thể tăng 60 µL/L trong lịch sử 44 năm đo đạc. Các nhiên liệu hóa thạch như than và dầu mỏ bị đốt là nguyên nhân chính trong sự gia tăng của CO2 do con người tạo ra; Sự tàn phá rừng là nguyên nhân thứ hai. Năm 1997, các đám cháy than bùn ở Indonesia có thể giải phóng tới 13%–40% lượng dioxide carbon do nhiên liệu hóa thạch tạo ra. Nhiều công nghệ khác nhau đã được giới thiệu nhằm làm giảm lượng carbon dioxide dư thừa khỏi khí quyển. Không phải toàn bộ lượng CO2 được giải phóng ra tồn tại trong không khí; một số được các đại dương hoặc sinh quyển hấp thụ. Tỷ lệ CO2 tỏa ra trên sự tăng của CO2 trong khí quyển được biết đến như là "tỷ lệ bay lên" (Keeling và những người khác, 1995); nó dao động theo các trung bình ngắn hạn nhưng thông thường là 57% cao hơn đối với các chu kỳ dài hơn (5 năm). Thuyết "sự ấm toàn cầu" (GWT) dự báo là sự gia tăng lượng CO2 trong khí quyển có xu hướng làm trầm trọng thêm hiệu ứng nhà kính và vì thế góp phần vào sự ấm toàn cầu. Hiệu ứng của carbon dioxide tạo ra từ sự cháy đối với khí hậu được gọi là hiệu ứng Callendar. Thay đổi trong quá khứ. Phương pháp trực tiếp nhất để đo nồng độ carbon dioxide trong khí quyển cho các thời kỳ trước việc lấy mẫu trực tiếp là đo các bọt khí bị giữ lại trong các chỏm băng ở Nam Cực hay Greenland. Nghiên cứu được chấp nhận rộng rãi nhất là từ các loại lấy từ Nam Cực và chỉ ra rằng mức CO2 trong khí quyển là khoảng 260–280 µL/L ngay trước khi khí thải công nghiệp bắt đầu và nó không dao động nhiều với mức này trong khoảng 10.000 năm trước đó. Ghi chép về lõi băng dài nhất đến từ Đông Nam Cực, tại đó băng được lấy mẫu đến niên đại khoảng 650.000 năm trước. Trong thời gian này, nồng độ carbon dioxide trong khí quyển đã dao động trong khoảng 180–210 µL/L trong các thời kỳ băng hà, tăng lên tới 280–300 µL/L trong các thời kỳ giữa các kỷ băng hà ấm áp hơn. Một số nghiên cứu đã gây tranh luận về sự ổn định của mức CO2 trong thời kỳ giữa các kỷ băng hà gần đây nhất (10.000 năm cuối). Dựa trên phân tích các lá hóa thạch, Wagner và những người khác cho rằng mức CO2 trong thời kỳ 7–10.000 năm trước là cao hơn một cách đáng kể (≈ 300 µL/L) và chứa các thay đổi đáng kể mà có thể có tương quan với các thay đổi khí hậu. Các tuyên bố khác gây tranh cãi là giả thiết cho rằng chúng có lẽ phản ánh các vấn đề định cỡ hơn là các thay đổi thực sự của CO2. Liên quan đến tranh cãi này là các quan sát lõi băng ở Greenland thông thường cho các giá trị của CO2 cao hơn và biến đổi nhiều hơn so với các phép đo tương tự tại Nam Cực. Tuy nhiên, các nhóm chịu trách nhiệm cho các đo đạc này (ví dụ Smith và những người khác tin rằng các thay đổi trong lõi băng Greenland được tạo ra do sự phân hủy tại chỗ ("in situ") của bụi calci carbonat tìm thấy trong băng. Khi mức độ bụi trong các lõi băng Greenland là thấp gần như bằng mức ở lõi băng Nam Cực thì các báo cáo của các nhà nghiên cứu cũng gần như cho một kết quả giữa các phép đo tại hai nơi này. Trên biểu thời gian dài hơn, các phép đo đại diện khác nhau được sử dụng để cố gắng xác định mức carbon dioxide trong khí quyển hàng triệu năm trước. Các phép đo này bao gồm các tỷ lệ đồng vị bo và carbon trong các dạng trầm tích đại dương nào đó cũng như số lượng khí khổng quan sát được trên các lá hóa thạch. Trong khi các phép đo này ít chính xác hơn về nồng độ carbon dioxide so với việc đo lõi băng thì ở đây có chứng cứ cho thấy các nồng độ CO2 rất cao ( 3.000 µL/L) trong khoảng 600–400 triệu năm trước và trong khoảng 200–150 triệu năm trước. . Trên biểu thời gian dài, hàm lượng CO2 khí quyển được xác định theo cân bằng giữa các quá trình địa hóa học (bao gồm carbon hữu cơ bị chôn vùi trong các trầm tích, đá silicat phong hóa) và tác động của núi lửa. Hiệu ứng ròng của sự không cân bằng nhẹ trong chu trình carbon trên hàng chục đến hàng trăm triệu năm đã làm giảm CO2 khí quyển. Các tốc độ của các quá trình này là cực chậm; vì thế chúng có mối tương quan bị giới hạn đối với các phản ứng của CO2 khí quyển trong việc thoát ra trong hàng trăm năm sau. Trong thời gian gần đây, nồng độ CO2 khí quyển vẫn tiếp tục theo đà suy giảm kể từ khoảng 60 triệu năm trước, và ở đây cũng có chứng cứ địa hóa học cho thấy nồng độ đã nhỏ hơn 300 µL/L vào khoảng 20 triệu năm trước. Nồng độ CO2 thấp có thể đã là tác nhân kích thích cho sự tiến hóa của các thực vật C4, là những loài đã tăng đáng kể về số lượng trong khoảng 7–5 triệu năm trước. Mặc dù các nồng độ CO2 thời đó đã vượt quá trong vòng các kỷ nguyên địa chất diễn ra sớm hơn, các nồng độ carbon dioxide hiện nay có lẽ là cao hơn so với bất kỳ thời gian nào trong vòng 20 triệu năm qua nhưng lại là thấp hơn so với bất kỳ thời gian nào trong lịch sử nếu ta nhìn vào thang thời gian dài hơn 50 triệu năm. Thủy quyển Trái Đất. Các đại dương của Trái Đất chứa một lượng khổng lồ carbon dioxide trong dạng các ion bicarbonat và carbonat—nhiều hơn rất nhiều so với lượng CO2 trong khí quyển. Bicarbonat được tạo ra trong các phản ứng của đá, nước và carbon dioxide. Dưới đây là ví dụ về sự hòa tan calci carbonat: CaCO3 + CO2 + H2O ⇌ Ca2+ + 2 HCO3− Các phản ứng tương tự như thế có xu hướng tạo ra các thay đổi đệm của CO2 khí quyển. Các phản ứng giữa carbon dioxide và các loại đá không carbonat cũng bổ sung thêm bicarbonat vào biển cả, chúng sau đó phản ứng theo chiều ngược lại của phản ứng trên để tạo ra các loại đá carbonat và giải phóng một nửa các bicarbonat thành CO2. Hàng trăm triệu năm qua chúng đã tạo ra một lượng lớn đá carbonat. Nếu tất cả các loại đá carbonat trong lớp vỏ Trái Đất được chuyển hóa ngược lại thành carbon dioxide thì lượng khí này sẽ nặng gấp 40 lần toàn bộ khí quyển. Phần chủ yếu của CO2 được bổ sung vào khí quyển cuối cùng sẽ bị các đại dương hấp thụ trong dạng các ion bicarbonat, nhưng quá trình này phải mất hàng trăm năm do phần lớn nước biển lại không ở gần bề mặt. Carbon dioxide là thành phần chính của khí quyển Sao Hỏa, và là một thành phần quan trọng của khí quyển Sao Kim. Có giả thuyết cho rằng vào thời kỳ hệ Mặt Trời mới hình thành, các hành tinh nằm ở vòng trong (Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Kim) đều có khí quyển khá giống nhau và chứa nhiều thán khí. Thán khí cũng có mặt ở dạng băng khô trên các sao chổi. Chất khí này đã được quan sát là có mặt ở khoảng không vũ trụ, gần những sao thuộc thế hệ 2 hoặc thế hệ 3, nơi mà sản phẩm của quá trình phản ứng nhiệt hạch trong các sao đã tích tụ nhiều carbon và oxy. Có thể đặt giả thuyết rằng chất khí này có mặt trong khí quyển của các hành tinh thuộc vòng trong bay quanh các sao thuộc thế hệ từ 2 trở đi. Carbon dioxide là một trong các khí đầu tiên được miêu tả như là chất hiện hữu trong không khí. Vào thế kỷ XVII, nhà hóa học người Flanders là Jan Baptist van Helmont đã quan sát thấy khi ông đốt than củi trong bình kín thì khối lượng còn lại của tro là thấp hơn so với khối lượng nguyên thủy của than củi. Diễn giải của ông là phần còn lại của than củi đã được biến tố thành chất không nhìn thấy mà ông gọi là "khí" hay "linh hồn hoang dã" ("spiritus sylvestre"). Các thuộc tính của carbon dioxide được nhà vật lý người Scotland là Joseph Black nghiên cứu nhiều hơn trong thập niên 1750. Ông phát hiện ra là đá vôi (calci carbonat) có thể nung nóng hay xử lý bằng các acid để sinh ra khí mà ông gọi là "không khí cố định". Ông quan sát thấy không khí cố định nặng hơn không khí và không hỗ trợ sự cháy cũng như sự sống của động vật. Ông cũng phát hiện là nó có thể, khi cho chạy qua dung dịch nước của vôi tôi (calci hydroxide) làm kết tủa calci carbonat và sử dụng hiện tượng này để minh họa rằng carbon dioxide là sản phẩm của sự hô hấp của động vật và lên men vi sinh vật. Năm 1772, Joseph Priestley sử dụng carbon dioxide tạo ra từ phản ứng của acid sunfuric với đá vôi để điều chế nước soda, ví dụ đầu tiên được biết của đồ uống carbonat hóa nhân tạo. Carbon dioxide được Humphrey Davy và Michael Faraday hóa lỏng lần đầu tiên năm 1823 bằng tăng áp suất. Mô tả đầu tiên về carbon dioxide rắn là của Charles Thilorier, là người năm 1834 đã mở thùng chứa carbon dioxide lỏng bị nén, chỉ để tìm sản phẩm được tạo ra do bị làm lạnh vì sự bay hơi nhanh của carbon dioxide lỏng và thấy "tuyết" của CO2 rắn.
Xác nhận hai pha (khoa học máy tính) Trong lĩnh vực cơ sở dữ liệu, xác nhận hai pha (tiếng Anh: "two-phase commit protocol", hay 2PC) là một thuật toán phân tán đảm bảo các nút khác nhau của một hệ thống phân tán xác nhận một giao dịch. Trong quá trình xác nhận, nếu một trong các nút của hệ thống phủ nhận giao dịch thì toàn bộ giao dịch sẽ bị hủy bỏ. Giao dịch chỉ được hoàn thành khi tất cả các nút của hệ thống xác nhận nó. Quá trình xác nhận bao gồm 2 pha là: - Gửi yêu cầu: nút điều phối (coordinator) gửi câu truy vấn yêu cầu xác nhận giao dịch tới tất cả các nút tham gia, sau đó đợi trả lời từ các nút đó. - Xác nhận giao dịch: khi nút điều phối nhận được trả lời đồng ý của tất cả các nút tham gia, nó sẽ gửi lại thông điệp xác nhận tới tất cả các nút tham gia một lần nữa để hoàn tất việc giao dịch, và giao dịch đó được xác nhận thành công. Trong trường hợp nút điều phối nhận được ít nhất một trả lời phủ định giao dịch từ một nút tham gia nào đó, hoặc nếu sau khoảng thời gian nhất định vẫn chưa nhận được toàn bộ trả lời từ các nút tham gia, thì nút điều phối sẽ gửi thông điệp hủy bỏ việc xác nhận tới tất cả các nút tham gia, và việc xác nhận giao dịch thất bại.
Điện toán phân tán Điện toán phân tán (tiếng Anh: "Distributed computing") là một ngành khoa học máy tính nghiên cứu các hệ thống phân tán. "Hệ thống phân tán" (distributed system) là hệ thống phần mềm mà các thành phần cấu tạo nên nó nằm ở trên các máy tính khác nhau được kết nối thành mạng lưới. Các máy tính này phối hợp hoạt động với nhau để hoàn thành một nhiệm vụ chung bằng cách trao đổi qua lại các thông điệp (message). Điện toán phân tán là tính toán song song được phân quyền. Các loại phần cứng, ngôn ngữ lập trình, hệ điều hành và các tài nguyên khác được sử dụng có thể rất đa dạng. Nó tương tự với việc phân cụm máy tính ("computer clustering") với khác biệt chính là sự phân tán về mặt địa lý của các tài nguyên. Việc tổ chức tương tác giữa các máy tính trong hệ thống có tầm quan trọng rất lớn. Để có thể sử dụng các loại máy tính đa dạng nhất có thể được, giao thức hoặc kênh truyền không nên chứa hoặc sử dụng bất cứ thông tin nào mà chỉ có một số máy tính nhất định có thể hiểu được. Cũng cần sự quan tâm đặc biệt tới việc các thông điệp phải được chuyển giao một cách đúng đắn và các thông điệp không hợp lệ phải bị loại bỏ, nếu không chúng có thể gây hại cho hệ thống và có thể cả phần còn lại của cả mạng. Một nhân tố quan trọng khác là khả năng gửi phần mềm tới một máy tính khác một cách khả chuyển ("portable") để cho phần mềm đó có thể thực thi và tương tác với mạng hiện hành. Việc này không phải lúc nào cũng khả thi và có ý nghĩa thực tế khi sử dụng các tài nguyên và phần cứng khác nhau, trong trường hợp đó cần sử dụng các phương pháp khác chẳng hạn như biên dịch chuyển mã ("cross-compiling") hay chuyển bằng tay ("manually porting") phần mềm này. Công nghệ thông tin và viễn thông ngày càng phát triển, đòi hỏi nhu cầu về xử lý thông tin ngày càng cao, nhanh hơn nhiều lần tốc độ phát triển của tài nguyên phần cứng và phần mềm. Có nhiều vấn đề đặt ra mà các hệ thống tập trung thông thường không đáp ứng được, do tốc độ xử lý còn hạn chế. Xây dựng một hệ thống phân tán có khả năng xử lý đồng thời một bài toán trên nhiều máy tính là một hướng giải quyết khả thi và đã được chứng minh tính hữu dụng. Hệ thống phân tán còn tạo nhiều thuận lợi trong việc chia sẻ thông tin trên toàn thế giới Có nhiều dạng hệ thống phân tán khác nhau và nhiều khó khăn để thiết kế. Mục đích chính của hệ thống phân tán là kết nối người sử dụng và tài nguyên một cách trong suốt, mở, và có thể nới rộng được. Một cách lý tưởng thì hệ thống này có khả năng chịu lỗi tốt hơn và mạnh hơn nhiều hệ thống tổ hợp máy tính độc lập khác. Ngày nay, các Web Service trở thành những giao thức chuẩn của các hệ thống phân tán. Một ví dụ của hệ thống phân tán là World Wide Web. Khi bạn xem một trang web trên một site, thực ra bạn đang sử dụng một hệ thống phân tán có chứa site đó. Khi bạn duyệt web, trình duyệt của bạn chạy trên máy tính của bạn giao tiếp với những máy chủ web khác nhau và cung cấp cho bạn các trang web mà bạn yêu cầu. Rất có thể trình duyệt của bạn dùng qua một máy chủ proxy để truy cập đến nội dung các trang web chứa trên máy chủ web nhanh chóng và an toàn hơn. Để có thể xác định những máy chủ này, trình duyệt phải dùng hệ thống tên miền phân tán DNS. Trình duyệt có thể truy cập tới tất cả những máy chủ này trên Internet thông qua hệ thống các router mà chính bản thân chúng cũng tạo nên một hệ thống phân tán khổng lồ.
Hệ thống phân giải tên miền Hệ thống phân giải tên miền (DNS) về căn bản là một hệ thống giúp cho việc chuyển đổi các tên miền mà con người dễ ghi nhớ (dạng ký tự, ví dụ ) sang địa chỉ IP vật lý (dạng số, ví dụ 123.11.5.19) tương ứng của tên miền đó. DNS giúp liên kết với các trang thiết bị mạng cho các mục đích định vị và địa chỉ hóa các thiết bị trên Internet. Phép so sánh thường được sử dụng để giải thích cho DNS là, nó phục vụ như một "Danh bạ điện thoại", có khả năng tìm kiếm và dịch tên miền thành địa chỉ IP. Ví dụ, , là 208.77.188.166 (IPv4) hoặc 2001: db8: 1f70:: 999: de8: 7648:6 e8 (IPv6). Hệ thống phân giải tên miền phân phối trách nhiệm gán tên miền và lập bản đồ những tên tới địa chỉ IP bằng cách định rõ những máy chủ có thẩm quyền cho mỗi tên miền. Những máy chủ có tên thẩm quyền được phân công chịu trách nhiệm đối với tên miền riêng của họ, và lần lượt có thể chỉ định tên máy chủ khác độc quyền của họ cho các tên miền phụ. Kỹ thuật này đã thực hiện các cơ chế phân phối DNS, chịu đựng lỗi, và giúp tránh sự cần thiết cho một trung tâm đơn lẻ để đăng ký được tư vấn và liên tục cập nhật. Nhìn chung, Hệ thống phân giải tên miền cũng lưu trữ các loại thông tin khác, chẳng hạn như danh sách các máy chủ email mà chấp nhận thư điện tử cho một tên miền Internet. Bằng cách cung cấp cho một thế giới rộng lớn, phân phối từ khóa – cơ sở của dịch vụ đổi hướng, Hệ thống phân giải tên miền là một thành phần thiết yếu cho các chức năng của Internet. Các định dạng khác như các thẻ RFID, mã số UPC, ký tự Quốc tế trong địa chỉ email và tên máy chủ, và một loạt các định dạng khác có thể có khả năng sử dụng DNS. Chức năng của DNS. Mỗi website có một tên (là tên miền hay đường dẫn URL: Uniform Resource Locator) và một địa chỉ IP. Địa chỉ IP gồm 4 nhóm số cách nhau bằng dấu chấm(IPv4). Khi mở một trình duyệt Web và nhập tên website, trình duyệt sẽ đến thẳng website mà không cần phải thông qua việc nhập địa chỉ IP của trang web. Quá trình "dịch" tên miền thành địa chỉ IP để cho trình duyệt hiểu và truy cập được vào website là công việc của một DNS server. Các DNS trợ giúp qua lại với nhau để dịch địa chỉ "IP" thành "tên" và ngược lại. Người sử dụng chỉ cần nhớ "tên", không cần phải nhớ địa chỉ IP (địa chỉ IP là những con số rất khó nhớ). Cách sử dụng DNS. Do các DNS có tốc độ biên dịch khác nhau, có thể nhanh hoặc có thể chậm, do đó người sử dụng có thể chọn DNS server để sử dụng cho riêng mình. Có các cách chọn lựa cho người sử dụng. Sử dụng DNS mặc định của nhà cung cấp dịch vụ (Internet), trường hợp này người sử dụng không cần điền địa chỉ DNS vào network connections trong máy của mình. Sử dụng DNS server khác (miễn phí hoặc trả phí) thì phải điền địa chỉ DNS server vào network connections. Địa chỉ DNS server cũng là 4 nhóm số cách nhau bởi các dấu chấm. Không gian tên miền (Domain name space). Không gian tên miền là một kiến trúc dạng cây (hình), có chứa nhiều nốt (node). Mỗi nốt trên cây sẽ có một nhãn và có không hoặc nhiều resource record (RR), chúng giữ thông tin liên quan tới tên miền. Nốt root không có nhãn. Tên miền (Domain name). Tên miền được tạo thành từ các nhãn và phân cách nhau bằng dấu chấm (.), ví dụ , tên miền cấp 1, cấp Cú pháp tên miền (Domain name syntax). Tên miền được định nghĩa trong các RFC 1035, RFC 1123, và RFC 2181. Một tên miền bao gồm một hoặc nhiều phần, gọi là các nhãn (label), chúng cách nhau bởi dấu chấm (.), ví dụ Hệ thống phân giải tên miền tính theo hướng từ phải sang trái. Ví dụ "example" là một tên miền con của tên miền "com", và "www" là tên miền con của tên miền "". Cây cấu trúc này có thể có tới 127 cấp. Do sự giới hạn của bộ ký tự ASCII trong việc diễn tả các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới, ICANN cho phép thiết lập hệ thống IDNA (Internationalized domain names Application), dùng ký tự Unicode để biểu diễn tên miền, ví dụ http://TênMiềnTiếngViệ Máy chủ tên miền (NS - Name Server). Máy chủ tên miền chứa thông tin lưu trữ về một số tên miền. Hệ thống phân giải tên miền được vận hành bởi hệ thống dữ liệu phân tán, dạng Client-Server. Các node của hệ thống dữ liệu này là các máy chủ tên miền. Mỗi một tên miền sẽ có ít nhất một máy chủ tên miền chứa thông tin về tên miền đó. Các thông tin về máy chủ tên miền sẽ được lưu trữ trong các zone của tên miền. Có hai dạng Name Server (NS) là là Primary và Secondary. Một Client sẽ ưu tiên hỏi Primary trước và thử lại với Secondary nếu Primary không thể trả lời thông tin về tên miền đó trong thời gian quy định. Máy chủ tên miền có thẩm quyền (Authoritative name server). Máy chủ tên miền có thẩm quyền là một máy chủ tên miền có thể trả lời các truy vấn DNS từ các dữ liệu gốc, ví dụ, tên miền quản trị hoặc phương thức DNS động. Các máy chủ phân giải tên miền theo cơ chế từ cao xuống thấp. Theo lý thuyết, các máy chủ tên miền có thẩm quyền đã đủ dùng để vận hành hệ thống Internet. Tuy nhiên, nếu chỉ có máy chủ tên miền thẩm quyền, mỗi truy vấn DNS phải bắt đầu đi từ root zone, và mỗi hệ thống người dùng phải vận hành một phần mềm để làm nhiệm vụ phân giải. Để giảm lượng băng thông trên Internet, DNS cho phép các máy chủ DNS lưu Cache các kết quả mà nó đã từng truy vấn. Phần client của DNS gọi là DNS resolver. Tra cứu ngược (Reverse lookup). Tra cứu ngược là một truy vấn để tìm tên miền khi biết địa chỉ IP. Giao thức vận chuyển. DNS chủ yếu hoạt động trên giao thức UDP và cổng 53. Một số hoạt động khác có sử dụng giao thức TCP. 0: Cho biết là không có lỗi trong quá trình truy vấn. 1: Cho biết định dạng gói tin bị lỗi, server không hiểu được truy vấn. 2: Server bị trục trặc, không thực hiện hồi đáp được. 3: Tên bị lỗi. Chỉ có server có đủ thẩm quyền mới có thể thiết lập giá trị náy. 4: Không thi hành. Server không thể thực hiện chức năng này. 5: Server từ chối thực thi truy vấn. Cấu trúc gói tin DNS. Mẩu tin resoucre DNS (DNS resource records). Mẩu tin Resource Record (RR) lưu trữ thông tin của tên miền. Các RR chia thành các lớp (class) và có kiểu (type) khác nhau. Một số kiểu RR phổ biến: Tất cả các DNS Resource Records dựa theo tiêu chuẩn khi vận chuyển trên Internet:
Nguyễn Phi Khanh (chữ Hán: 阮飛卿; tên thật là Nguyễn Ứng Long (阮應龍); năm sinh không chắc chắn. Một số nguồn cho là khoảng năm 1355–1428 hay 1429) là Hàn lâm học sĩ nhà Hồ và là cha của Nguyễn Trãi - một công thần khai quốc nhà Hậu Lê. Ông quê làng Chi Ngãi, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là phường Cộng Hòa, Tp.Chí Linh, Hải Dương). Sau dời về thôn Trại Ổi (Ngọc Ổi) làng Nhị Khê, nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, nay thuộc Hà Nội. Sử sách có chép rằng quan tư đồ Trần Nguyên Đán thấy Ứng Long, khi đó 19 tuổi, học giỏi nên yêu mến và mời về dạy cho con gái mình là Trần Thị Thái, nhưng sau đó hai người yêu nhau. Khi sự việc bại lộ thì Ứng Long bỏ trốn, Trần Nguyên Đán phải cho người đi tìm Ứng Long về gả con gái đang mang thai cho ông. Sự kiện này được Đại Việt sử ký toàn thư chép vào năm Xương Phù thứ 9 (1385) đời Trần Phế Đế. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: Ông từng thi đỗ Nhị giáp tiến sĩ năm Long Khánh thứ 2, đời vua Trần Duệ Tông, tức năm 1374 nhưng không được triều đình bổ dụng nên về quê dạy học. Đại Việt sử ký toàn thư không ghi rõ ông đỗ thái học sinh năm nào, nhưng có viết về việc ông đỗ thái học sinh trong các sự kiện của năm 1385, sau khi thượng hoàng Trần Nghệ Tông đã tổ chức kỳ thi thái học sinh năm Xương Phù thứ 8 (1384). Đến khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, ông đã ra làm quan cho nhà Hồ dưới triều Hồ Hán Thương, được bổ nhiệm giữ chức Hàn lâm học sĩ rồi lần lượt thăng lên Thống chương Đại phu, Đại lý tự khanh kiêm Trung thư Thị lang, Tư nghiệp Quốc tử giám. Năm 1407, khi quân nhà Minh xâm lược nước Việt, Nguyễn Phi Khanh được đề cập đến trong vài sự kiện trong Chiến tranh Minh - Đại Ngu, sau đó sử sách Minh triều và sử sách Đại Việt đều chép là Nguyễn Phi Khanh tự mình đi đầu hàng nhà Minh và bị giải về Trung Quốc Nguyễn Phi Khanh mất tại Trung Quốc, thọ 73 tuổi. Hài cốt ông an táng tại núi Đá Bạc. Người đời sau gọi núi đó là núi Báo Ân hay núi Báo Đức, hoặc còn gọi là núi Báo Vọng, thuộc Tp Chí Linh, tỉnh Hải Dương ngày nay. Mộ chí nay vẫn còn. Gần đây, sách "Nhìn lại lịch sử" dẫn bài của tác giả Đinh Công Vĩ, có nghiên cứu gia phả Phạm Anh Võ (tức Nguyễn Anh Võ - con Nguyễn Trãi, cháu Nguyễn Phi Khanh, phải đổi sang họ mẹ khi trốn tránh vì gia đình bị tru di tam tộc) nêu thông tin khác về kết cục của Nguyễn Phi Khanh. Theo đó, Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh giải đi Trung Quốc, có cả anh em Nguyễn Trãi và Nguyễn Phi Hùng đi theo. Tới Vạn Sơn Điếm (Hồ Bắc) một thời gian thì quân Minh thả cho Nguyễn Phi Khanh về. Ông sống và chết ở Trung quốc. Sau này vẫn chưa biết chính xác về mồ mã của ông. Dù chỉ còn vài chục bài thơ chữ Hán được lưu truyền tới nay nhưng Nguyễn Phi Khanh cũng được giới nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam đánh giá là một cá tính thơ ca của dòng văn thơ Lý-Trần, dù phong cách thơ của ông thực sự rất khác biệt với dòng văn học nổi tiếng hào sảng tinh thần Đông A này. Về giọng điệu thơ, ông có nhiều chỗ gần gũi với một nhân vật nổi bật khác của thời Trần mạt là Trần Nguyên Đán, cha vợ ông. Tháng 12-2020, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội quyết định gắn biển "Đường Nguyễn Phi Khanh" cho một con đường ở Huyện Thường Tín. Ở Thành Phố Hồ Chí Minh cũng đặt tên cho 1 con đường nhỏ ở quận 1 từ đường Nguyễn Hữu Cầu đến đường Đinh Tiên Hoàng. Ở TP Vũng Tàu cũng có đường Nguyễn Phi Khanh tại khu Đại An, Phường 9.
Quảng Trị (thị xã) Quảng Trị là một thị xã nằm ở phía nam tỉnh Quảng Trị, Việt Nam. Hiện nay, thị xã Quảng Trị không phải là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị. Tuy nhiên, thị xã lại từng là lỵ sở của dinh Quảng Trị dưới thời nhà Nguyễn, và sau này là tỉnh lỵ tỉnh Quảng Trị cho đến năm 1976, khi tỉnh Quảng Trị hợp nhất với hai tỉnh Quảng Bình và Thừa Thiên thành tỉnh Bình Trị Thiên. Khi tỉnh Quảng Trị được tái lập vào năm 1989, tỉnh lỵ được đặt tại thị xã Đông Hà (nay là thành phố Đông Hà) cho đến nay. Thị xã Quảng Trị cách thành phố Huế 54 km về phía đông nam, cách thành phố Đông Hà 13 km về phía tây bắc. Thị xã có địa giới hành chính: Hiện nay diện tích của thị xã là 74 km², dân số năm 2019 là 23.356 người. Thị xã Quảng Trị có 5 đơn hành chính cấp xã, bao gồm 4 phường: 1, 2, 3, An Đôn và xã Hải Lệ. Từ thời đại Hùng Vương, thị xã Quảng Trị ngày nay thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang xưa. Dưới thời kỳ Bắc thuộc, nhà Hán chia nước Âu Lạc thành ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Bộ Việt Thường thuộc quận Nhật Nam (từ năm 179 TCN đến năm 339 Công nguyên). Năm 339, khi nhà Đông Tấn của Trung Quốc suy yếu, Vương quốc Chăm Pa, một nước mới thành lập ở phía Nam đèo Hải Vân, đánh chiếm vùng đất bộ Việt Thường. Vùng đất này trở thành biên địa phía bắc của Vương quốc Chăm Pa độc lập với cơ cấu 5 châu: Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh, Ô và Rí (Lý). Vùng đất thị xã Quảng Trị thuộc châu Ô. Năm 1069, vua Lý Thái Tông đem quân đánh vào kinh thành Chăm Pa, bắt được vua Chế Củ. Chế Củ xin dâng ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh để được trả tự do. Nhà Lý đổi ba châu đó thành châu Lâm Bình và Minh Linh. Năm 1306, vua Chăm Pa là Chế Mân sai sứ dâng chiếu cầu hôn với vua Trần Anh Tông của Đại Việt (tên của Việt Nam lúc đó). Vua Trần bằng lòng gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân và nhận hai châu Ô và châu Rí (Lý) mà Chế Mân đã dâng làm vật sính lễ. Nhà Trần đổi châu Ô làm Thuận Châu, châu Lý làm Hóa Châu. Mảnh đất thị xã Quảng Trị ngày nay thuộc Thuận Châu. Đời nhà Hậu Lê, năm 1499, vua Lê Thánh Tông đổi tên hai châu Thuận và châu Hóa thành hai phủ Tân Bình và phủ Triệu Phong thuộc xứ Thuận Hóa. Phủ Triệu Phong gồm các huyện Vũ Xương, Hải Lă Năm 1558, để tránh nguy cơ bị ám hại bởi bàn tay của người anh rể là Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng - con trai thứ của Nguyễn Kim - xin vào trấn thủ xứ Thuận Hóa. Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn xây dựng xứ Thuận Hóa dần dần trở thành bờ cõi riêng và xưng chúa. Năm 1801, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, lập dinh Quảng Trị bao gồm đất đai các huyện Hải Lăng, Đăng Xương (tên cũ là Vũ Xương), Minh Linh và đạo Cam Lộ (mới lập). Đến năm 1827, dinh Quảng Trị đổi là trấn Quảng Trị. Năm 1832, trấn Quảng Trị đổi thành tỉnh Quảng Trị, dinh lỵ Quảng Trị đóng tại làng Tiền Kiên (thuộc huyện Đăng Xương). Năm 1809, dinh lỵ Quảng Trị dời từ Tiền Kiên tới đóng tại xã Thạch Hãn (huyện Hải Lăng), tức vị trí của thị xã Quảng Trị ngày nay và tiến hành xây thành, đắp luỹ cố định. Năm 1853, tỉnh Quảng Trị với phủ Thừa Thiên hợp nhất thành đạo Quảng Trị. Năm 1876, lập lại tỉnh Quảng Trị. Năm 1890, Toàn quyền Đông Dương Jules Georges Piquet ra nghị định hợp nhất Quảng Trị với tỉnh Quảng Bình thành tỉnh Bình Trị. Năm 1896, Toàn quyền Paul Armand Rosseau ra lại nghị định tách Quảng Trị ra khỏi địa hạt thuộc quyền công sứ Đồng Hới, hợp cùng với Thừa Thiên đặt dưới quyền Khâm sứ Trung kỳ. Năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer ra nghị định tách Quảng Trị ra khỏi Thừa Thiên, lập thành tỉnh Quảng Trị riêng biệt. Ngày 17 tháng 2 năm 1906, Toàn quyền Jean Baptiste Paul Beau ra nghị định thành lập thị xã Quảng Trị (tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị). Từ năm 1976 đến nay. Sau khi ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên hợp nhất thành tỉnh Bình Trị Thiên (tháng 5 năm 1976), thị xã Quảng Trị bị giải thể và trở thành một đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Triệu Phong, đồng thời là huyện lỵ của huyện Triệu Phong. Tháng 1 năm 1977, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên ra quyết định thành lập thị trấn Triệu Phong. Tiếp đó, hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng hợp nhất thành huyện Triệu Hải thì thị trấn Triệu Phong được đổi thành thị trấn Triệu Hải. Ngày 15 tháng 8 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam ra quyết định thành lập thị trấn Quảng Trị trên cơ sở sáp nhập thị trấn Triệu Hải và và xã Hải Trí. Sau khi tỉnh Quảng Trị được tái lập vào ngày 1 tháng 7 năm 1989 và chọn thị xã Đông Hà làm tỉnh lỵ, theo nguyện vọng của nhân dân và xu thế phát triển của tình hình mới, ngày 16 tháng 9 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định thành lập thị xã Quảng Trị, ban đầu gồm 2 phường: 1, 2 (trên cơ sở giải thể thị trấn Quảng Trị cũ). Ngày 19 tháng 3 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2008/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hải Lăng, huyện Triệu Phong để mở rộng địa giới hành chính thị xã Quảng Trị; điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường để thành lập phường thuộc thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. Theo đó: Thị xã Quảng Trị có 4 phường và 1 xã như hiện nay. Thị xã Quảng Trị là trung tâm kinh tế của tỉnh Quảng Trị bên cạnh thành phố Đông Hà. Nền kinh tế của thị xã đang được chuyển dịch theo hướng dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp. Trong đó, du lịch tâm linh đang là điểm nhấn đặc biệt cho kinh tế của thị xã Quảng Trị, khi tại đây có các di tích lịch sử nổi tiếng, thu hút nhiều khách tham quan ghé thăm trong các đợt lễ, các ngày kỉ niệm như: Di tích Thành Cổ Quảng Trị, tháp chuông thành Cổ, khu quảng trường Giải phóng, đôi bờ sông Thạch Hãn. Ngoài ra, lễ hội thả hoa đăng được tổ chức vào các ngày mồng 1 và 15 theo lịch âm hàng tháng được đông đảo người dân thị xã và các khu vực lân cận quan tâm cũng là điểm nhấn cho du lịch tại đây. Có quốc lộ 1A, đường cao tốc Cam Lộ – La Sơn và đường sắt Bắc Nam đi qua.
Độ ẩm tương đối Độ ẩm tương đối hay còn gọi là độ ẩm tỉ đối (tiếng Anh:"relative humidity", viết tắt: "RH") là tỷ lệ giữa áp suất riêng phần của hơi nước và áp suất hơi bão hòa của nước ở cùng nhiệt độ. Không khí càng ẩm, độ ẩm tương đối càng cao. Độ ẩm tương đối phụ thuộc vào nhiệt độ và áp suất của hệ thống quan tâm. Cùng một lượng hơi nước dẫn đến độ ẩm tương đối cao hơn trong không khí mát hơn không khí ấm. Một tham số liên quan là điểm sương. Độ ẩm tương đối formula_1 hoặc là formula_2 của hỗn hợp nước–khí được định nghĩa là tỷ lệ giữa áp suất riêng phần của hơi nước formula_3 và áp suất hơi bão hòa của nước formula_4 ở cùng nhiệt độ, được thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm: Độ ẩm tương đối thường được biểu thị bằng phần trăm; không khí càng ẩm, độ ẩm tương đối càng cao. Khi độ ẩm tương đối đạt 100%, không khí đã bão hòa hơi nước và đang ở điểm sương. Độ ẩm tương đối khác với độ ẩm tuyệt đối – được định nghĩa là khối lượng của hơi nước có trong 1m³ không khí. Độ ẩm tuyệt đối chưa cho biết mức độ ẩm của không khí vì ở nhiệt độ càng thấp thì hơi nước trong không khí càng dễ đạt trạng thái bão hòa. Do vậy, để mô tả mức độ ẩm của không khí, người ta dùng độ ẩm tương đối. Độ ẩm tương đối có thể được đo bằng những thiết bị đo độ ẩm, gọi là ẩm kế. Kiểm soát khí hậu. Kiểm soát khí hậu liên quan đến kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm tương đối trong các tòa nhà, xe cộ và các không gian kín khác nhằm mục đích mang lại sự thoải mái, sức khỏe và an toàn cho con người, và đáp ứng các yêu cầu về môi trường của máy móc, vật liệu nhạy cảm (ví dụ, mang tính lịch sử) và các quá trình kỹ thuật. Độ ẩm tương đối và thoải mái nhiệt. Cùng với nhiệt độ không khí, nhiệt độ trung bình bức xạ, tốc độ không khí, tốc độ trao đổi chất và mức độ quần áo, độ ẩm tương đối đóng một vai trò trong sự thoải mái nhiệt của con người. Theo Tiêu chuẩn ASHRAE 55-2017: Điều kiện môi trường nhiệt cho người ở, sự thoải mái nhiệt trong nhà có thể đạt được thông qua phương pháp PMV với độ ẩm tương đối từ 0, 100%, tùy thuộc vào mức độ của các yếu tố khác góp phần vào sự thoải mái nhiệt. Tuy nhiên, phạm vi độ ẩm tương đối trong nhà được đề nghị trong các tòa nhà máy lạnh thường là 30-60%. Nói chung, nhiệt độ cao hơn sẽ yêu cầu độ ẩm tương đối thấp hơn để đạt được sự thoải mái về nhiệt so với nhiệt độ thấp hơn, với tất cả các yếu tố khác được giữ cố định. Ví dụ, với mức quần áo = 1, tốc độ trao đổi chất = 1,1 và tốc độ không khí 0,1m/s, sự thay đổi nhiệt độ không khí và nhiệt độ bức xạ trung bình từ 20°C đến 24°C sẽ làm giảm độ ẩm tương đối tối đa chấp nhận được từ 100% xuống 65% để duy trì điều kiện tiện nghi nhiệt. Công cụ tiện nghi nhiệt CBE có thể được sử dụng để chứng minh ảnh hưởng của độ ẩm tương đối đối với các điều kiện tiện nghi nhiệt cụ thể và nó có thể được sử dụng để chứng minh sự tuân thủ với Tiêu chuẩn ASHRAE 55-2017. Khi sử dụng mô hình thích ứng để dự đoán sự thoải mái nhiệt trong nhà, độ ẩm tương đối không được tính đến. Mặc dù độ ẩm tương đối là một yếu tố quan trọng đối với sự thoải mái về nhiệt, con người nhạy cảm hơn với sự thay đổi nhiệt độ so với thay đổi độ ẩm tương đối. Độ ẩm tương đối có ảnh hưởng nhỏ đến sự thoải mái nhiệt ngoài trời khi nhiệt độ không khí thấp, hiệu ứng rõ rệt hơn một chút ở nhiệt độ không khí vừa phải và ảnh hưởng mạnh hơn nhiều ở nhiệt độ không khí cao hơn. Khó chịu của con người do độ ẩm tương đối thấp. Ở vùng khí hậu lạnh, nhiệt độ ngoài trời khiến cho hơi nước chảy xuống thấp hơn. Mặc dù trời có thể có tuyết và độ ẩm tương đối ngoài trời cao, một khi không khí đi vào tòa nhà và nóng lên, độ ẩm tương đối mới của nó rất thấp (có nghĩa là không khí rất khô), có thể gây khó chịu. Da khô nứt có thể là kết quả của không khí khô. Độ ẩm thấp làm cho các mô lót mũi bị khô, nứt và trở nên dễ bị vi rút cảm lạnh của Rhinovirus xâm nhập. Độ ẩm thấp là nguyên nhân phổ biến của chảy máu cam. Việc sử dụng máy tạo độ ẩm trong nhà, đặc biệt là phòng ngủ, có thể giúp khắc phục những triệu chứng này. Độ ẩm tương đối trong nhà nên được giữ ở mức trên 30% để giảm khả năng bị khô mũi. Con người có thể thoải mái trong một phạm vi độ ẩm rộng lớn tùy thuộc vào nhiệt độ từ 30-70% lý tưởng trong khoảng từ 50% và 60%. Độ ẩm rất thấp có thể tạo ra sự khó chịu, các vấn đề về hô hấp và làm nặng thêm tình trạng dị ứng ở một số người. Vào mùa đông, nên duy trì độ ẩm tương đối ở mức 30% trở lên. Độ ẩm tương đối quá thấp (dưới 20%) cũng có thể gây kích ứng mắt. Để kiểm soát khí hậu trong các tòa nhà sử dụng hệ thống HVAC, điều quan trọng là duy trì độ ẩm tương đối ở phạm vi thoải mái, đủ thấp để thoải mái nhưng đủ cao để tránh các vấn đề liên quan đến không khí rất khô. Khi nhiệt độ cao và độ ẩm tương đối thấp, sự bốc hơi nước nhanh chóng; đất khô, quần áo ướt treo trên một đường hoặc giá khô nhanh chóng, và mồ hôi dễ dàng bay hơi khỏi da. Đồ nội thất bằng gỗ có thể co lại, làm cho lớp sơn bao phủ các bề mặt này bị gãy. Khi nhiệt độ thấp và độ ẩm tương đối cao, sự bốc hơi nước chậm. Khi độ ẩm tương đối đạt tới 100%, ngưng tụ có thể xảy ra trên các bề mặt, dẫn đến các vấn đề với nấm mốc, ăn mòn, sâu răng và suy giảm liên quan đến độ ẩm khác. Ngưng tụ có thể gây ra rủi ro an toàn vì nó có thể thúc đẩy sự phát triển của nấm mốc và thối gỗ cũng như có thể đóng băng lối thoát hiểm khẩn cấp. Một số quy trình sản xuất và kỹ thuật và phương pháp điều trị trong các nhà máy, phòng thí nghiệm, bệnh viện và các cơ sở khác yêu cầu duy trì mức độ ẩm tương đối cụ thể bằng cách sử dụng máy tạo độ ẩm, máy hút ẩm và hệ thống kiểm soát liên quan. Phương tiện di động. Các nguyên tắc cơ bản cho các tòa nhà, ở trên, cũng áp dụng cho các phương tiện. Ngoài ra, có thể có những cân nhắc về an toàn. Ví dụ, độ ẩm cao bên trong một xe hơi có thể dẫn đến các vấn đề của sự ngưng tụ, như phun sương của kính chắn gió và ngắn mạch của các thành phần điện. Trong các phương tiện chịu áp lực như máy bay dân dụng, tàu ngầm và tàu vũ trụ, những cân nhắc này có thể rất quan trọng đối với an toàn và các hệ thống kiểm soát môi trường phức tạp bao gồm thiết bị để duy trì áp suất là cần thiết.
Họ Lan (danh pháp khoa học: Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Măng tây, lớp thực vật một lá mầm. Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bổ nhiều nơi trên thế giới. Vườn thực vật hoàng gia Kew liệt kê 880 chi và gần 22.000 loài được chấp nhận, nhưng số lượng chính xác vẫn không rõ (có thể nhiều tới 25.000 loài) do các tranh chấp phân loại học. Số lượng loài lan cao gấp 4 lần số lượng loài động vật có vú hay hơn 2 lần số lượng loài chim. Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa. Khoảng 800 loài lan mới được bổ sung thêm mỗi năm. Các chi lớn nhất là "Bulbophyllum" (khoảng 2.000 loài), "Epidendrum" (khoảng 1.500 loài), "Dendrobium" (khoảng 1.400 loài) và "Pleurothallis" (khoảng 1.000 loài). Họ này cũng bao gồm chi "Vanilla" (chi chứa loài cây vani), "Orchis" (chi điển hình) và nhiều loài được trồng phổ biến như "Phalaenopsis" hay "Cattleya". Ngoài ra, kể từ khi du nhập các loài từ khu vực nhiệt đới vào trong thế kỷ XIX thì các nhà làm vườn châu Âu và Bắc Mỹ đã bổ sung thêm khoảng 100.000 loại cây lai ghép và giống cây trồng. Hoa lan được người tiêu dùng ưa chuộng vì vẻ đẹp đặc sắc và các hình thức đa dạng của chúng. Cũng giống như cây lan, hoa lan hầu như có tất cả các màu trong cầu vồng và những kết hợp của các màu đó. Hoa lan nhỏ nhất chỉ bằng hạt gạo trong khi hoa lan lớn nhất có đường kính khoảng 1m. Đa số các loại hoa lan được bán rộng rãi trên thị trường thường không có hương thơm nhưng trong tự nhiên có rất nhiều loại hoa lan có mùi thơm đặc trưng. Vanilla là một loại hoa lan mà hương thơm được dùng trong các loại ẩm thực của thế giới và có nguồn gốc từ México; trong khi đó có các loại hoa lan tỏa ra mùi như thịt bị hỏng để hấp dẫn các côn trùng. Họ Orchidaceae phân bố rộng khắp thế giới, gần như có thể có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các sa mạc và sông băng. Phần lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ. Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực. Danh sách dưới đây liệt kê gần đúng sự phân bổ của họ này: Phát sinh chủng loài. Cây phát sinh chủng loài dưới đây lấy theo APG III. Họ này được công nhận trong mọi hệ thống phân loại và hệ thống APG II năm 2003 đặt nó trong bộ Asparagales. Phân loại họ này luôn luôn thay đổi, do các nghiên cứu mới vẫn tiếp tục nhận dạng nhiều yếu tố phân loại mới. Hiện tại người ta công nhận 5 phân họ. Biểu đồ dưới đây được lập theo hệ thống APG: Một nghiên cứu đăng trong tạp chí Nature đã chỉ ra rằng nguồn gốc họ Lan có xuất phát điểm lâu đời hơn so với dự tính ban đầu, có lẽ khoảng 76-84 triệu năm trước. Một con ong của loài ong không ngòi tuyệt chủng, với danh pháp "Proplebeia dominicana", được tìm thấy bị mắc trong hổ phách thế Miocen khoảng 15-20 triệu năm trước. Con ong này mang phấn hoa của một loài lan trước đây không rõ, "Meliorchis caribea", trên các cánh của nó. Đây là chứng cứ đầu tiên về lan hóa thạch cho tới nay. Loài lan tuyệt chủng "M. caribea" này được đặt trong tông Cranichideae, phân tông Goodyerinae (phân họ Orchidoideae). Điều này chỉ ra rằng họ Lan có thể có nguồn gốc cổ đại và đã phát sinh khoảng 76-84 triệu năm trước trong thời kỳ Hậu Creta. Nói cách khác, các loài lan có thể cùng tồn tại với khủng long. Nó cũng chỉ ra rằng vào thời gian đó côn trùng là các sinh vật thụ phấn tích cực cho các loài lan. Theo M.W. Chase "và ctv." (2001) thì địa lý sinh học chung và mô hình phát sinh loài của họ Orchidaceae chỉ ra rằng chúng thậm chí còn cổ hơn và có thể đã phát sinh khoảng 100 triệu năm trước. Sử dụng phương pháp đồng hồ phân tử, người ta có thể xác định niên đại của các nhánh chính trong họ Lan. Điều này cũng xác nhận rằng phân họ Vanilloideae là nhánh tại sự phân đôi cơ sở của lan với nhị đơn, và phải tiến hóa rất sớm trong sự tiến hóa của họ này. Do chi Vanilla trong phân họ này có mặt tại nhiều nơi trên thế giới trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, từ châu Mỹ qua châu Á, New Guinea và Tây Phi, và các lục địa đã bắt đầu tách ra khoảng 100 triệu năm trước, nên trao đổi quần sinh vật đáng kể phải xảy ra sau sự chia tách này (do niên đại của Vanilla được ước tính khoảng 60-70 triệu năm trước). Các chi dưới đây là đáng chú ý nhất trong họ Lan.
Hoa loa kèn, bách hợp, lily hay huệ tây, ở Đà Lạt gọi là hoa Ly (từ tiếng Pháp: "fleur de lys", tiếng Nhật: テッポウユリ,"Teppouyuri"; danh pháp hai phần: Lilium longiflorum), là một loài thực vật có hoa thuộc chi Lilium, họ Loa kèn. Đây là loài cây bản địa của quần đảo Ryukyu, phía nam Nhật Bản và Đài Loan. Phân loại thực vật. Hoa loa kèn thuộc nhóm thực vật một lá mầm ("Monocotylendones"), phân lớp Hành ("Liliidae"), bộ Hành ("Liliales"), họ Hành ("Lilicaceae"), chi Loa kèn ("Lilium"). Đặc điểm sinh trưởng phát dục. Giai đoạn sinh trưởng phát dục: Phát triển trục thân, ra nụ, ra hoa, kết hạt, chết. Củ giống vùi trong đất sau khoảng 60-70 ngày mới nảy mầm. Nếu củ giống được đem xử lý lạnh (phá ngủ) thì khi trồng xuống đất đến khi mầm vươn lên khỏi mặt đất chỉ cần 2 tuần lễ. Xử lý lạnh không tốt thời gian gieo trồng gặp lạnh thì có thể kéo tới 5 tuần. Từ lúc mọc mầm đến khi ra nụ khoảng 60-75 ngày tùy từng thời vụ, từ ra nụ đến ra hoa từ 25-35 ngày, từ nở hoa đến tạo quả từ 8-12 ngày. Nhu cầu tiêu thụ cũng như sản xuất hoa loa kèn ngày càng tăng, điển hình là ở một số nước như: Hà Lan, Pháp, Đức, Italia, Canada, Bỉ... Hà Lan là nước lai tạo ra rất nhiều giống mới có hoa đẹp, chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao kết hợp với việc ứng dụng thành công kỹ thuật điều khiển ra hoa đã có thể sản xuất hoa quanh năm. Ở châu Á, nước đứng đầu về sản xuất hoa loa kèn là Nhật Bản. Đài Loan cũng là nước có công nghệ trồng hoa loa kèn tiên tiến nhất hiện nay. Cây hoa này được du nhập vào Việt Nam từ Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Châu Âu. Giống trồng trọt trước đây: Ở Việt Nam, hoa loa kèn hay huệ tây được biết đến nhiều nhất ở bức tranh nổi tiếng "Thiếu nữ bên hoa huệ" của họa sĩ Tô Ngọc Vân. Ở Pháp, các phạm nhân khi vi phạm quy định của nhà thờ sẽ bị thích dấu lên vai hình hoa huệ tây.
Leo Hendrick Baekeland (14 tháng 11 năm 1863 – 23 tháng 2 năm 1944) là nhà hoá học người Mỹ gốc Bỉ. Ông được sinh ra tại Gent (Bỉ) và mất tại Beacon, New York, Hoa Kỳ). Trong thời gian 1905–1907 Baekeland đã phát triển loại nhựa đầu tiên được sản xuất hàng loạt có tên là Bakelite. Người con trai của một thợ giày này quan tâm đến khoa học tự nhiên ngay từ nhỏ. Ông đã nhận được nhiều khen thưởng trong các bộ môn hóa học, vật lý và kinh tế ngay từ khi là học trò của một trường dạy về ban đêm. Bắt đầu từ năm 1880, một học bổng đã tạo điều kiện cho ông theo học ngành hóa tại trường đại học Gent. Năm 1884 ông viết luận án phó tiến sĩ và từ năm 188 ông là giáo sư hóa tại trường điại học Gent. Năm 1889 ông kết hôn với Celine Swarts, con gái của Theodore Swarts, nguyên là giáo sư hóa của ông. Ông đã phát minh ra giấy sang ảnh Velox - loại giấy ảnh cho phép các nhà nhiếp ảnh có thể dùng ánh sáng nhân tạo thay thế cho ánh sáng Mặt trời. Sau khi bán phát minh này với số tiền bản quyền 1 triệu đôla cho một công ty nhiếp ảnh, năm 1889, ông và gia đình định cư ở New York trong một chuyến đi nghiên cứu tại Mỹ. Tại Hoa Kỳ, Baekeland bắt tay nghiên cứu chất cách điện trong phòng thí nghiệm riêng của ông. Sau nhiều nghiên cứu về các quá trình điện hóa, bắt đầu từ năm 1905 ông quay sang các phản ứng giữa phenol và Fomanđêhít. Mãi đến năm 1907, ông đã thành công trong việc tìm ra chất polyoxybenzylmethylenglycolanhydride và đặt tên là Bakelite (gần giống với tên của ông). Năm 1909, chất hoá học nhân tạo này đã chính thức được công bố và ông nhận được bằng sáng chế. Đây được coi là một mốc cực kỳ quan trọng của ngành hoá học, mở đầu cho việc ra đời của hàng loạt các loại nhựa (tên gọi khác là chất dẻo) ("plastic") khác như polystyren (năm 1930), nylon (năm 1934)... Từ đó đến này, nhiều loại nhựa với các tính năng đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật và dân dụng đã được loài người sử dụng. Chúng được ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực đòi hỏi tính năng cao như hàng không vũ trụ... Tuy nhiên, các chất dẻo tổng hợp lại gây ra mối lo lắng của con người về sự ô nhiễm môi trường. Ông đã được tặng thưởng Nichols Medal của Hội Hóa học Mỹ vào năm 1909, huy chương Perkin của chi nhánh Hội Công nghiệp Hóa chất tại Hoa Kỳ năm 1916 và Franklin Medal của Viện Franklin vào năm 1940. Baekeland thuộc trong "Danh sách 20 nhà tư tưởng và khoa học gia lớn nhất của thế kỷ 20" do tạp chí "Time" công bố vào ngày 29 tháng 3 năm 1999.
Bắn cung tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2005 Bộ môn Bắn cung tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2005 được thi đấu tại Vịnh Subic, Zabales, Philippines từ ngày 28 tháng 11 cho đến ngày 4 tháng 12 năm 2005. Tại kỳ đại hội lần này, các đoàn thi đấu để tranh bốn bộ huy chương, hai nội dung dành cho nam và hai nội dung dành cho nữ. Các cung thủ đều thi đấu ở nội dung bia với đương kính 122 cm được đặt ở khoảng cách 70 m, và mỗi lượt bắn không quá 40 giây. Mỗi đoàn tham dự kỳ đại hội lần này được cử tối đa 3 vận động viên. Mỗi vận động viên thi đấu một vòng phân hạng, với 6 loạt bắn, mỗi loạt 12 mũi. Thứ tự của vận động viên ở vòng phân hạng giúp phân chia cặp đấu ở vòng loại trực tiếp với thể thức vận động viên có số điểm cao nhất ở vòng phân hạng sẽ gặp vận động viên có số điểm thấp nhất. Ở ba vòng đấu loại trực tiếp đầu tiên, mỗi vận động viên ở mỗi trận sẽ bắn 6 loạt, mỗi loạt 3 mũi. Ở vòng tứ kết, bán kết, chung kết và trận tranh huy chương đồng, mỗi cung thủ sẽ bắn 4 loạt 3 mũi tên.
Điền kinh tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2005 Bộ môn Điền kinh tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2005, ngoài môn Marathon được tổ chức tại thành phố Pasay, các môn còn lại được thi đấu tại khu liên hợp thể thao Rezal Memorial ở thủ đô Manila, Philippines. Tại kỳ đại hội lần này, một lần nữa Thái Lan khẳng định vị thế cường quốc thể thao số một trong khu vực Đông Nam Á của mình khi giành ngôi nhất toàn đoàn trong môn thể thao nữ hoàng, tuy họ không còn quá lấn lướt so với các đoàn khác như khi xưa. Với vị thế là nước chủ nhà, không ngạc nhiên khi Philippines giành ngôi vị thứ hai khu vực. Đại hội cũng đánh dấu vị thế mới của Việt Nam trên đấu trường thể thao khu vực khi đoàn giành được 7 tấm huy chương vàng, đặc biệt tấm chuy chương vàng nội dung 100 m nữ của Vũ Thị Hương, đồng thời các vận động viên Việt Nam cũng là tác giả của 3 trên 6 kỷ lục SEA Games mới của bộ môn điền kinh được lập tại đại hội kỳ này. Một số sự kiện đáng chú ý khác là việc đoàn Indonesia gần như biến mất khỏi bản đồ đấu trường khu vực khi chỉ giành được 1 huy chương vàng và việc do không hiểu luật khiến đoàn Việt Nam mất hai huy chương (một vàng và một bạc) ở nội dung 1500 m nam và marathon nữ. "(Có ba môn thi đấu là nhảy sào nam, nhảy ba bước nam và tạ xích nữ chưa được thống kê vào bảng trên)"
Joseph Black (16 tháng 4 năm 1728 tại Bordeaux - 10 tháng 11 năm 1799 tại Edinburgh) là một nhà vật lý và nhà hóa học người Scotland. Joseph Black là một trong những nhà vật lý, hóa học nổi tiếng từng giữ chức vụ giáo sư ở Đại học Glasgow. Năm 1746, ông nhập học tại Trường Đại học Tổng hợp Glasgow. Ngoài ra, Black cũng đã học tại trường tổng hợp Edinburgh và sau đó vào năm 1754 đã nghiên cứu kỹ các thuộc tính của dioxide cacbon (khi đó ông gọi nó là `không khí cố định´). Năm 1756 ông miêu tả bằng cách nào mà các muối cacbonat trở nên kiềm hơn khi chúng mất dioxide cacbon, trong khi việc hấp thụ trở lại khí này sẽ tái hồi phục chúng. Ông là người đầu tiên cô lập được dioxide cacbon trong trạng thái hoàn toàn tinh khiết. Công trình của ông đã góp phần hỗ trợ trong việc phá vỡ niềm tin trong các thuyết về sự cháy có khái niệm gọi là yếu tố cháy. Năm 1761 ông phát hiện ra rằng băng hấp thụ nhiệt mà không hề tăng nhiệt độ khi nóng chảy. Từ điều này ông kết luận rằng nhiệt phải kết hợp với các hạt băng và trở thành "ẩn nhiệt". Trong khoảng những năm 1759 - 1763 ông luận ra thuyết về "ẩn nhiệt" mà tên tuổi của ông chủ yếu được biết đến nhờ công trình này và ông cũng chỉ ra rằng các chất khác nhau có nhiệt dung riêng khác nhau. James Watt là học trò và phụ tá của ông. Năm 1755 ông phát hiện ra magiê.
Humphry Davy, Tòng nam tước thứ nhất, FRS (thông thường viết và phát âm không chính xác là "Humphrey"; 17 tháng 12 năm 1778 – 29 tháng 5 năm 1829) là một nhà vật lý và nhà hóa học người Cornwall. Ông sinh ra tại Penzance, Cornwall, Vương quốc Anh. Sir (Ngài) Humphry là cách gọi trang trọng để chỉ địa vị xã hội của ông. Davy trở nên nổi tiếng nhờ các thực nghiệm của ông về các phản ứng sinh lý của một số chất khí, trong đó có cả khí gây cười (oxide nitrơ tức đinitơ mônoxide hay N2O). Davy sau đó bị suy giảm thị lực trong một tai nạn phòng thí nghiệm khi ông đang thử nghiệm nitơ triclorua. Năm 1801 ông được chỉ định làm giáo sư tại Viện Hoàng gia của Anh quốc (Great Britain) và viện sĩ Hội Khoa học Hoàng gia Anh mà sau đó ông là chủ tịch của hội này. Năm 1800, Alessandro Volta giới thiệu pin lần đầu tiên. Davy đã sử dụng pin này để tách các muối bằng cách mà ngày nay người ta gọi là điện phân.Với nhiều pin mắc nối tiếp ông đã có thể tách ra các nguyên tố kali, natri năm 1807 và calci, stronti, bari, magiê năm 1808. Ông cũng nghiên cứu năng lượng tham gia vào trong việc chia tách các muối này, mà ngày nay là một lĩnh vực của điện hóa học. Năm 1802 Humphrey Davy là nhà phát minh người Anh nổi tiếng. Ông sử dụng phát kiến cột Volta của nhà khoa học người Ý Alessandro Volta để chế tạo bóng đèn điện đầu tiên trên thế giới bằng cách nối các cột volta với các điện cực bằng than. Phát minh này được gọi là Hồ Quang Điện. Tuy nhiên, sản phẩm này tuy gây được chấn động lớn nhưng tính ứng dụng chưa cao do sản phẩm chưa thực sự có thể áp dụng cho thực tiễn, khi việc phát sáng diễn ra quá nhanh và chi phí tốn kém, hơn nữa quá sáng để sử dụng trong nhà hoặc nơi làm việc. Kết cục, phát minh của Davy vẫn nằm trên bàn giấy. Năm 1812 ông được phong tước hiệp sĩ, đọc bài diễn thuyết chia tay tại Viện Hoàng gia, và cưới một góa phụ giàu có là Jane Apreece. Sau kỳ nghỉ dài tại châu Âu lục địa, ông bắt đầu sản xuất đèn Davy là loại đèn an toàn cho công nhân mỏ. Ông cũng chỉ ra rằng oxy không thể thu được từ các chất gọi là acid oxymuriatic và chứng minh rằng chất thu được là một nguyên tố, ông đặt tên nó là "chlorine" (clo trong tiếng Việt). Phát minh này đã lật đổ định nghĩa của Lavoisier về acid như là hợp chất chứa oxy. Năm 1815 Davy giả thiết rằng các acid là các chất chứa hiđrô có thể thay thế – hiđrô mà có thể thay thế một phần hay toàn phần bởi các kim loại. Khi các acid phản ứng với kim loại thì chúng tạo thành các muối. Các base là các chất có phản ứng với acid để tạo ra muối và nước. Các định nghĩa này làm việc tốt trong nhiều thế kỷ. Ngày nay chúng ta sử dụng thuyết Brønsted-Lowry về acid và base. Năm 1818, ông được ban thưởng tước hiệu tòng nam tước. Năm 1824 ông đề xuất và cuối cùng đã tạo ra một lớp bọc bằng sắt cho thân tàu bằng đồng như là lần sử dụng đầu tiên của phương pháp bảo vệ catốt. Davy mất tại Geneva, Thụy Sĩ, việc hít thở phải hơi của các loại hóa chất khác nhau cuối cùng đã thể hiện tác hại của chúng đối với sức khỏe của ông. Người trợ tá phòng thí nghiệm của ông là Michael Faraday đã tiếp tục mở rộng các công trình của ông và sau đó đã trở nên nổi tiếng hơn và có ảnh hưởng hơn – đến mức mà Davy cho rằng Faraday là phát hiện lớn nhất của đời ông. Tuy nhiên, sau này ông đã kết tội người trợ tá của mình là ăn cắp ý tưởng của mình, điều này khiến cho Faraday đã phải giảm mọi nghiên cứu trong lĩnh vực điện từ trường cho đến tận khi người thầy thông thái của ông mất. Bài thơ sau được coi là bài thơ theo thể Clerihew đầu tiên (một dạng thơ ngụ ngôn): He lived in the odium Of having discovered sodium. Không ưa món nước xốt Sống trong sự căm ghét Vì tìm ra natri
Giá trị tuyệt đối Giá trị tuyệt đối () - còn thường được gọi là mô-đun ("modulus") của một số thực "x" được viết là |"x"|, là giá trị của nó nhưng bỏ dấu. Như vậy |"x"| = -"x" nếu "x" là số âm (-x là số dương), và |"x"| = "x" nếu "x" là số dương, và |0| =0. Giá trị tuyệt đối của một số có thể hiểu là khoảng cách của số đó đến số 0. Trong toán học, việc sử dụng giá trị tuyệt đối có trong hàng loạt hàm toán học, và còn được mở rộng cho các số phức, véctơ, trườ Đồ thị của một hàm số có các biến số nằm trong dấu "giá trị tuyệt đối" thì luôn luôn nằm phía trên của trục hoành. Với mọi số thực formula_1, giá trị tuyệt đối của formula_1 - ký hiệu là formula_3 - được định nghĩa: Định nghĩa trên cho thấy, giá trị tuyệt đối của formula_1 luôn là một số không âm. Hiểu theo góc độ hình học, giá trị tuyệt đối của một số thực là khoảng cách từ số đó đến điểm 0 trên đường thẳng thực ("real number line", còn gọi là "trục số thực"). Tổng quát hơn, giá trị tuyệt đối giữa hai số thực khác nhau là khoảng cách giữa chúng trên đường thẳng thực, ví dụ: |5 - 3| = 2 (khoảng cách giữa 5 và 3). Mệnh đề 1 dưới đây là một đồng nhất thức ("identity"). Nó tương đương với định nghĩa trên và đôi khi có thể được sử dụng để định nghĩa về giá trị tuyệt đối. Vì formula_3 và formula_18 đều lớn hơn 0 nên formula_19 hoặc formula_20 đều nhỏ hơn tổng formula_21. Vậy ta luôn có: formula_22. Ta cũng có hai bất đẳng thức ("inequalities") quan trọng: Hai bất đẳng thức trên thường được sử dụng để giải các bài toán bất đẳng thức khác. Ví dụ: Vì số phức ("complex number") không có thứ tự, nên định nghĩa về giá trị tuyệt đối của các số phức không thể được suy ra từ định nghĩa tương ứng của các số thực. Tuy nhiên, từ đồng nhất thức ở mệnh đề 1 (xem phần số thực ở trên), ta có định nghĩa sau: Với mọi số phức: giá trị tuyệt đối hay mô-đun của z - ký hiệu là |z| - được định nghĩa là: Về góc độ hình học, ta thấy định nghĩa trên giống như định lý Pitago:formula_27
Thế kỷ 19 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1801 đến hết năm 1900, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory (tức là lịch cổ). Nhưng theo Lịch thiên văn, Thế kỷ 19 được bắt đầu từ ngày 1/1/1800 và kết thúc vào ngày 31/12/1899. Đôi khi những sử gia gọi thời kỳ "Thế kỷ XIX" là thời gian kéo dài từ năm 1815 (do Hội nghị Wien) tới năm 1914 (do Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu). Thay vì đó, Eric Hobsbawm gọi "Thế kỷ dài 19" là thời gian kéo dài từ 1789 đến 1914. Nhìn chung, Thế kỷ thứ XIX là một thế kỉ đầy biến động về rất nhiều mặt (bắt đầu thời Pháp Thuộc của Việt Nam, Cách mạng công nghiệp lần thứ 2, các trận chiến của N) Đặc điểm lịch sử. Nó được xem là thế kỷ, mà chủ nghĩa tư bản mở rộng ra toàn thế giới. Thế kỷ 19 đã đánh dấu bước ngoặt căn bản chuyển từ lao động bằng tay sang lao động bằng máy. Loài người đã chuyển từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp. Nền văn minh công nghiệp đã tạo ra cách nhìn mới, kéo theo những biến đổi lớn về chính trị, văn hóa, xã hội. Loài người bước vào một giai đoạn mới của văn minh nhân loại.
Chùa Phổ Minh (Phổ Minh tự 普明寺) hay chùa Tháp là một ngôi chùa ở thôn Tức Mạc, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định. Năm 2012, di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đền Trần và chùa Phổ Minh được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Theo biên niên sử, chùa được xây dựng vào năm 1262, ở phía tây cung Trùng Quang của các vua nhà Trần. Nhưng theo các minh văn trên bia, trên chuông thì ngôi chùa này đã có từ thời nhà Lý. Có thể chùa đã được xây dựng lại với quy mô rộng lớn từ năm 1262. Tuy đã nhiều lần tu bổ nhưng chùa vẫn còn giữ được nhiều dấu tích nghệ thuật đời Trần. Cụm kiến trúc chính của chùa bao gồm 9 gian tiền đường, 3 gian thiêu hương, toà thượng điện cũng 3 gian nhưng rộng hơn, xếp theo hình chữ "công". Bộ cửa gian giữa nhà tiền đường gồm 4 cánh bằng gỗ lim, to dày, chạm rồng, sóng nước, hoa lá và văn hoa hình học. Hai cánh ở giữa chạm đôi rồng lớn chầu Mặt Trời trong khuôn hình lá đề, được coi là một tác phẩm điêu khắc khá hoàn mỹ. Cũng như đôi sấu đá trên thành bậc tam quan và đôi rồng trên thành bậc gian giữa tiền đường, bộ cánh cửa này còn giữ được những dấu ấn của nghệ thuật chạm khắc đời Trần. Hiện nay, hai cánh lưu trữ tại Bảo Tàng Nam Định, hai cánh còn lại lưu trữ tại Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia ở Hà Nội. Một số công trình kiến trúc bài trí khác đã làm tô thêm vẻ đẹp của chùa Phổ Minh, như 3 gian tam quan khung gỗ, tường gạch, mái ngói rêu phong, cổ kính với bức hoành phong đề 4 chữ lớn. "Đại hùng bảo điện" và thành bậc thềm ở chính giữa có chạm đôi sấu đá rất sống động, hai hồ tròn thả sen nằm đăng đối hai bên lối đi dẫn vào chùa. Trong chùa có bày tượng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn (tượng nằm); tượng Trúc Lâm Tam tổ dưới bóng cây trúc; một số tượng Phật đẹp lộng lẫy. Chuông lớn của chùa có khắc bản văn "Phổ Minh đỉnh tự" đúc năm 1796 - chùa vốn có một vạc lớn, sử sách coi là một trong bốn vật báu của Việt Nam (An Nam tứ đại khí) nhưng nay không còn, nhưng phần bệ đá hoa sen từ thời Trần vẫn còn đến ngày nay. Sau thượng điện, cách một sân hẹp là ngôi nhà dài 11 gian. Ở giữa là 5 gian nhà tổ, bên trái là 3 gian nhà tăng và bên phải là 3 gian điện thờ. Hai dãy hành lang nối tiền đường ở phía trước với ngôi nhà 11 gian ở phía sau làm thành một khung vuông bao quanh kiến trúc chùa. Kiến trúc thời nhà Trần được bảo tồn khá nguyên vẹn ở đây là tháp Phổ Minh, dựng khoảng từ năm 1305 đến 1308. Tháp cao 19,51 m, gồm 14 tầng. Nền tháp và tầng thứ nhất xây bằng đá, những tầng còn lại phía trên xây bằng gạch. Tầng nào cũng trổ 4 cửa vòm cuốn, giữa các tầng là gờ má, có hai lớp cánh sen, lớp dưới chúc xuống, lớp trên ngửa lên đỡ lấy tháp hình vuông, mỗi cạnh rộng hơn 5 mét. Bệ và tầng thứ nhất có những hình chạm nông trên mặt đá như hoa lá, sóng nước, mây cuốn, đặc trưng cho phong cách trang trí thời nhà Trần. Mặt ngoài những viên gạch các tầng trên được trang trí hình rồng. Theo các sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Đại Nam nhất thống chí và Nam Định địa dư chí, vào thời Tây Sơn năm 1789, trấn thủ Hải Dương (là/và/hoặc) Trần Túc đã phá tháp Phổ Minh để lấy đồng nhưng khi phá đến tầng thứ 2 hoặc 3 từ trên xuống thấy một luồng hơi đỏ bốc lên, do sợ nên giao xã sửa lại như cũ nhưng không còn đỉnh tháp bằng đồng. Trong bức ảnh "407. TONKIN - Nam-Dinh - Pagode consacrê au culte du lingam" chụp khoảng từ năm 1890 đến năm 1945 (không phải bức hình bên trên) có thể thấy tháp Phổ Minh không có đỉnh như ngày nay. Vào lần trùng tu tháp năm 1987 do ngành văn hóa tỉnh Nam Định chủ trì đã phát hiện một chiếc quách bằng đá vây quanh một hộp đồng ở tầng thứ 3 từ trên xuống Trong văn học, nghệ thuật. Danh sĩ người xứ Đông Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585), sống thời Lê–Mạc, đồng thời là một cư sĩ tự nhận (Bạch Vân am cư sĩ), trong một lần qua vùng Sơn Nam Hạ vãn cảnh chùa Phổ Minh chừng hơn một thế kỷ sau loạn giặc Minh xâm lược qua đi, đã để lại bài thơ thất ngôn bát cú "Du Phổ Minh tự" được đưa vào tập thơ chữ Hán "Bạch Vân am thi tập" do chính ông đề tựa:
Công suất phản kháng Công suất phản kháng, công suất hư kháng,công suất ảo Q là 1 khái niệm trong ngành kĩ thuật điện dùng để chỉ phần công suất điện được chuyển ngược về nguồn cung cấp năng lượng trong mỗi chu kỳ do sự tích lũy năng lượng trong các thành phần cảm kháng và dung kháng, được tạo ra bởi sự lệch pha giữa hiệu điện thế "u(t)" và dòng điện "i(t)". Khi "u(t)", "i(t)" biến đổi theo đồ thị hàm "sin" thì formula_1, với U, I: giá trị hiệu dụng "u(t)", "i(t)"; φ là pha lệch giữa u(t), i(t). Công suất hư kháng Q là phần ảo của công suất biểu kiến S, S = P + iQ. Đơn vị đo Q là var ("volt amperes reactive"), 1 kvar = 1000 var.
Giải vô địch bóng đá thế giới FIFA World Cup, hay đơn giản là World Cup, còn gọi là Giải vô địch bóng đá thế giới hoặc Cúp bóng đá thế giới trong tiếng Việt, là giải đấu bóng đá do Liên đoàn Bóng đá Quốc tế (FIFA) tổ chức với chu kỳ 4 năm 1 lần cho tất cả các đội tuyển bóng đá nam quốc gia của những nước thành viên FIFA. Giải lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1930, và bị gián đoạn 2 lần vào các năm 1942 và 1946 do Chiến tranh thế giới thứ hai. Giải đấu bắt đầu với giai đoạn vòng loại, diễn ra trong ba năm trước đó để xác định đội nào giành quyền tham dự vòng chung kết. Ở vòng chung kết, 32 đội cạnh tranh chức vô địch tại các địa điểm trong (các) quốc gia chủ nhà trong thời gian khoảng một tháng. (Các) quốc gia chủ nhà tự động lọt vào vòng bảng của giải đấu. FIFA World Cup tiếp theo dự kiến ​​sẽ mở rộng lên 48 đội cho giải đấu năm 2026. World Cup là sự kiện thể thao thu hút sự quan tâm đông đảo nhất trên toàn thế giới. Lượng người xem World Cup 2018 ước tính đạt 3.57 tỷ người, gầm một nửa dân số toàn cầu, trong khi lượng người xem World Cup 2022 ước tính đạt 5 tỷ người với khoảng 1.5 tỷ người xem trận chung kết. Qua 22 lần (tính đến năm 2022) tổ chức, tính đến nay mới chỉ có 8 đội tuyển quốc gia vô địch giải đấu này. Brazil là đội tuyển duy nhất tham dự đủ 22 vòng chung kết và cũng là đội tuyển thành công nhất với 5 lần vô địch. Tiếp đó là Đức và Ý với 4 lần giành ngôi cao nhất. Argentina 3 lần nâng cúp, Pháp và Uruguay cùng có 2 danh hiệu. Anh và Tây Ban Nha mỗi đội đều có một lần vô địch. 17 quốc gia đã đăng cai ít nhất một kỳ World Cup. Brazil, Pháp, Ý, Đức và Mexico đã từng tổ chức hai lần, trong khi Uruguay, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Chile, Anh, Argentina, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc (đồng chủ nhà), Nam Phi, Nga và Qatar từng tổ chức một lần. World Cup 2026 sẽ được đồng tổ chức bởi Canada, Hoa Kỳ và Mexico, với Mexico trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới đăng cai ba kỳ World Cup, Hoa Kỳ lần thứ hai đăng cai và là lần đầu tiên Canada tổ chức sự kiện này. Tên gọi chính thức của FIFA World Cup đã có vài lần thay đổi. Thoạt đầu nó được gọi là "World Cup" (Cúp thế giới, "Coupe du monde") sau đó là "Cúp Jules Rimet" (tên của cựu chủ tịch FIFA, người đề xướng giải đấu này), rồi đến "Giải vô địch bóng đá thế giới - Cúp Jules Rimet" và sau cùng là "FIFA World Cup". Tại Việt Nam, "World Cup" được gọi phổ biến hơn hẳn so với "Giải vô địch bóng đá thế giới". Các giải đấu quốc tế trước đây. Trận đấu bóng đá quốc tế đầu tiên trên thế giới là trận đấu diễn ra tại Glasgow năm 1872 giữa 2 tiểu quốc tự trị là Scotland và Anh (nay thuộc Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland), kết thúc với tỷ số hòa 0-0. Giải đấu quốc tế đầu tiên, Giải vô địch Anh quốc khai mạc, diễn ra vào năm 1884. Khi bóng đá ngày càng phổ biến ở các nơi khác trên thế giới vào đầu thế kỷ 20, nó được tổ chức như một môn thể thao không có huy chương dành cho các vận động viên thể thao không chuyên nghiệp tại Thế vận hội Mùa hè 1900 và 1904 (tuy nhiên, IOC đã nâng cấp vị thế của chúng thành các sự kiện chính thức) và tại Thế vận hội Mùa hè 1906 (Olympic 1896 vẫn gây tranh cãi về việc liệu có từng diễn ra môn bóng đá giữa 2 đội của Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay tại châu Âu hay không). Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland là nhà vô địch Olympic đầu tiên vào năm 1900. Sau khi FIFA được thành lập vào năm 1904, tổ chức này đã cố gắng sắp xếp một giải đấu bóng đá chuyên nghiệp quốc tế giữa các quốc gia bên ngoài khuôn khổ Olympic vào năm 1906. Đây là những ngày đầu tiên của bóng đá quốc tế, và lịch sử của FIFA mô tả cuộc thi là một thất bại. Tại Thế vận hội Mùa hè 1908 ở London, bóng đá đã trở thành một cuộc thi chính thức. Được lên kế hoạch bởi Hiệp hội bóng đá Anh (FA), cơ quan quản lý bóng đá của Anh, sự kiện này chỉ dành cho các cầu thủ nghiệp dư và bị nghi ngờ là một chương trình chứ không phải là một cuộc thi. Vương quốc Anh (đại diện bởi đội bóng đá nghiệp dư quốc gia Anh) đã giành huy chương vàng. Họ lặp lại thành tích này tại Thế vận hội Mùa hè 1912 ở Stockholm. Với sự kiện Olympic tiếp tục được thi đấu giữa các đội nghiệp dư, Sir Thomas Lipton đã tổ chức giải đấu Sir Thomas Lipton Trophy ở Turin vào năm 1909. Giải đấu Lipton là giải vô địch giữa các câu lạc bộ cá nhân (không phải các đội tuyển quốc gia) từ các quốc gia khác nhau, mỗi đội đại diện cho cả một quốc gia). Cuộc thi đôi khi được mô tả là "Giải vô địch bóng đá thế giới đầu tiên" và với sự góp mặt của các câu lạc bộ chuyên nghiệp uy tín nhất từ ​​Ý, Đức và Thụy Sĩ, nhưng Hiệp hội bóng đá Anh đã từ chối cuộc thi và từ chối lời đề nghị gửi một đội chuyên nghiệp. Lipton đã mời West Auckland, một đội bóng nghiệp dư từ County Durham, đại diện thay thế cho nước Anh. West Auckland đã vô địch giải đấu và trở lại vào năm 1911 để bảo vệ thành công danh hiệu của họ. Năm 1914, FIFA đã công nhận Olympic là "giải vô địch bóng đá thế giới dành cho người nghiệp dư" và chịu trách nhiệm quản lý sự kiện này. Điều này đã mở đường cho cuộc thi bóng đá liên lục địa đầu tiên trên thế giới, tại Thế vận hội Mùa hè 1920, với các trận đấu gồm Ai Cập và 13 đội châu Âu và chiến thắng cuối cùng thuộc về Bỉ. Uruguay đã giành được huy chương vàng ở hai giải đấu bóng đá Olympic tiếp theo vào năm 1924 và 1928. Do đó cũng là hai giải vô địch thế giới đầu tiên, vì năm 1924 là khởi đầu của kỷ nguyên bóng đá chuyên nghiệp của FIFA. World Cup trước Thế chiến II. Sau sự thành công của các giải đấu bóng đá Olympic, FIFA được sự thúc giục bởi chủ tịch Jules Rimet, một lần nữa bắt đầu xem xét việc tổ chức giải đấu quốc tế riêng biệt bên ngoài Thế vận hội. Vào ngày 28 tháng 5 năm 1928, Đại hội FIFA tại Amsterdam đã quyết định tổ chức một giải vô địch thế giới. Với việc Uruguay đã hai lần vô địch hai kỳ Olympic gần nhất và để kỷ niệm một trăm năm độc lập của nước này vào năm 1930, FIFA đã chọn Uruguay là nước chủ nhà của giải đấu. Các hiệp hội bóng đá quốc gia của các quốc gia được chọn đã được mời để gửi đội tham dự, nhưng việc lựa chọn nơi tổ chức là Uruguay đồng nghĩa với việc sẽ cần một chuyến đi dài và tốn kém để băng qua Đại Tây Dương cho các đội bóng châu Âu. Thật vậy, không có quốc gia châu Âu nào cam kết gửi đội tham gia cho đến thời điểm hai tháng trước khi bắt đầu giải. Rimet cuối cùng đã thuyết phục các đội từ Bỉ, Pháp, Romania và Nam Tư thực hiện chuyến đi. Tổng cộng, 13 quốc gia đã tham gia: bảy từ Nam Mỹ, bốn từ Châu Âu và hai từ Bắc Mỹ. Hai trận đấu World Cup đầu tiên diễn ra đồng thời vào ngày 13 tháng 7 năm 1930; Pháp và Hoa Kỳ là đội chiến thắng trong 2 trận đầu tiên của giải, lần lượt đánh bại Mexico 4-1 và Bỉ 3-0. Bàn thắng đầu tiên trong lịch sử World Cup được ghi bởi Lucien Lauros của Pháp. Trong trận chung kết, Uruguay đã đánh bại Argentina 4-2 trước sự theo dõi của 93.000 khán giả ở Montevideo và trở thành quốc gia đầu tiên vô địch World Cup. Sau khi World Cup thành lập, FIFA và IOC không đồng ý với sự tham gia của các cầu thủ nghiệp dư và vì thế bóng đá đã bị loại khỏi Thế vận hội Mùa hè 1932. Bóng đá ở Olympic đã trở lại từ Thế vận hội Mùa hè 1936 tại Đức, nhưng đã bị lu mờ bởi một World Cup hấp dẫn và danh giá hơn. Các vấn đề phải đối mặt với các Giải vô địch bóng đá thế giới đầu tiên trong thập niên 1930 cũng như trong bóng đá nói riêng và thể thao nói chung là những khó khăn sâu sắc của việc di chuyển xuyên lục địa và chiến tranh-chính trị. Rất ít các đội lục địa Nam Mỹ sẵn sàng tới châu Âu tham dự World Cup 1934 và tất cả các quốc gia Bắc và Nam Mỹ, ngoại trừ Brazil và Cuba, đã tẩy chay giải đấu năm 1938. Brazil là đội Nam Mỹ duy nhất tham gia cả hai giải. Giải vô địch năm 1942 và 1946 mà Đức và Brazil đã tìm cách tổ chức đã bị hủy bỏ do Chiến tranh thế giới thứ hai và hậu quả nghiêm trọng của nó. World Cup sau Thế chiến II. World Cup 1950 được tổ chức tại Brazil là lần đầu tiên xuất hiện các đội tuyển thuộc Vương quốc Anh. Vương quốc Anh đã rút khỏi FIFA năm 1920, một phần do không muốn thi đấu với các quốc gia đã có chiến tranh với họ, và phần khác là do các cuộc biểu tình chống lại sự ảnh hưởng của nước ngoài đối với bóng đá nhưng đã chấp nhận gia nhập lại vào năm 1946 theo lời mời của FIFA. Giải đấu cũng chứng kiến ​​sự trở lại của nhà vô địch năm 1930 Uruguay, đội bóng đã tẩy chay hai kỳ World Cup trước đó. Uruguay đã vô địch giải đấu một lần nữa sau khi đánh bại đội chủ nhà Brazil, trong trận đấu mang tên "Maracanazo" (tiếng Bồ Đào Nha: "Maracanaço"). Trong các giải đấu từ năm 1934 đến 1978, 16 đội thi đấu tại vòng chung kết, ngoại trừ năm 1938, khi Áo bị sáp nhập vào Đức sau vòng loại, do đó chỉ còn 15 đội và năm 1950, khi Ấn Độ, Scotland và Thổ Nhĩ Kỳ rút lui, giải đấu chỉ còn 13 đội. Hầu hết các quốc gia tham dự là từ Châu Âu và Nam Mỹ, với một số ít từ Bắc Mỹ, Châu Phi, Châu Á và Châu Đại Dương. Các đội này thường bị đánh bại dễ dàng bởi các đội châu Âu và Nam Mỹ vốn mạnh hơn hẳn và do đó giải đấu tiếp tục duy trì thế độc tôn là sự kiện thể thao lớn nhất trong thời hiện đại. Cho đến năm 1982, chỉ có các đội sau ​​ngoài châu Âu và Nam Mỹ vượt qua vòng bảng: Hoa Kỳ vào bán kết vào năm 1930; Cuba vào tứ kết năm 1938; Bắc Triều Tiên vào tứ kết năm 1966; và Mexico vào tứ kết năm 1970. Mở rộng tới 32 đội. Giải đấu được mở rộng thành 24 đội vào năm 1982 và sau đó tăng lên 32 đội vào năm 1998, ngoài ra cũng cho phép nhiều đội hơn từ Châu Phi, Châu Á và Bắc Mỹ tham gia. Kể từ đó, các đội từ các khu vực này đã gặt hái được nhiều thành công hơn, một số trong đó đã lọt vào tứ kết: Mexico vào tứ kết năm 1986; Cameroon vào tứ kết năm 1990; Hàn Quốc lọt vào bán kết năm 2002; Sénégal cùng với Hoa Kỳ, lọt vào tứ kết năm 2002; Ghana lọt vào tứ kết năm 2010; Costa Rica lọt vào tứ kết vào năm 2014 và Maroc lọt tới bán kết năm 2022. Tuy nhiên, các đội châu Âu và Nam Mỹ vẫn tiếp tục thống trị; các đội lọt vào tứ kết của các giải đấu năm 1994, 1998, 2006 và 2018 đều là các đội châu Âu và Nam Mỹ. 199 đội đã tham dự vòng loại World Cup 2002; 198 quốc gia đã thi đấu tại vòng loại World Cup 2006, trong khi kỷ lục về số quốc gia tham dự vòng loại là 214 ở giải năm 2018. Mở rộng tới 48 đội. Vào tháng 10 năm 2013, Sepp Blatter đã nói về việc đảm bảo cho khu vực của Liên đoàn bóng đá Caribe một vị trí tại World Cup. Trong ấn bản ngày 25 tháng 10 năm 2013 của tuần báo "FIFA Weekly", Blatter đã viết rằng: "Từ góc độ thể thao thuần túy, tôi muốn thấy sự toàn cầu hóa cuối cùng được thực hiện nghiêm túc mà các hiệp hội thể thao quốc gia châu Phi và châu Á đã đạt được vị thế mà họ xứng đáng tại Giải vô địch bóng đá thế giới." Sau khi xuất bản tạp chí, đối thủ của Blatter cho cương vị Chủ tịch FIFA, Chủ tịch UEFA Michel Platini, trả lời rằng ông dự định mở rộng World Cup lên tới 40 hiệp hội bóng đá quốc gia, tăng số lượng đội tham dự hiện tại lên 8 đội. Platini nói rằng ông sẽ phân bổ một suất bổ sung cho UEFA, hai cho Liên đoàn bóng đá châu Á và Liên đoàn bóng đá châu Phi, hai suất được chia sẻ giữa CONCACAF và CONMEBOL, và một suất bảo đảm cho Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương. Platini đã nói rõ về lý do tại sao ông muốn mở rộng World Cup: ""World Cup không dựa trên chất lượng của các đội vì bạn không có 32 người giỏi nhất tại World C? Giải đấu mang lại cho tất cả mọi người trên toàn thế giới. Nếu không cho họ cơ hội tham gia, bóng đá sẽ không tiến bộ."" Vào tháng 10 năm 2016, chủ tịch FIFA Gianni Infantino tuyên bố ủng hộ tăng số đội World Cup lên 48 đội vào năm 2026. Vào ngày 10 tháng 1 năm 2017, FIFA xác nhận World Cup 2026 sẽ có 48 đội vào chung kết. Vụ án tham nhũng FIFA 2015. Tháng 5 năm 2015, các cáo buộc hình sự về tội nhận hối lộ, lừa đảo và rửa tiền để tham nhũng trong việc phát hành quyền truyền thông và tiếp thị (đấu thầu gian lận) cho các giải đấu của FIFA, với các quan chức FIFA bị buộc tội nhận hối lộ với tổng số tiền hơn 150 triệu đô la trong 24 năm. Vào cuối tháng 5, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã công bố bản cáo trạng 47 tội danh với các cáo buộc đấu giá, lừa đảo qua đường dây và rửa tiền âm mưu chống lại 14 người. Việc bắt giữ hơn một chục quan chức FIFA đã được thực hiện kể từ thời điểm đó, đặc biệt là vào ngày 29 tháng 5 và ngày 3 tháng 12. Đến cuối tháng 5 năm 2015, tổng cộng chín quan chức FIFA và năm giám đốc điều hành của các thị trường thể thao và phát thanh truyền hình đã bị buộc tội tham nhũng. Vào thời điểm đó, Chủ tịch FIFA Sepp Blatter tuyên bố sẽ từ bỏ vị trí của mình vào tháng 2 năm 2016. Vào ngày 4 tháng 6 năm 2015, Chuck Blazer khi hợp tác với FBI và chính quyền Thụy Sĩ đã thừa nhận rằng ông và các thành viên khác trong ủy ban điều hành của FIFA đã bị mua chuộc để quảng bá cho World Cup 1998 và 2010. Vào ngày 10 tháng 6 năm 2015, chính quyền Thụy Sĩ đã tịch thu dữ liệu máy tính từ các văn phòng của Sepp Blatter. Cùng ngày, FIFA đã hoãn quá trình đấu thầu World Cup 2026 trước những cáo buộc xung quanh việc hối lộ trong các giải đấu 2018 và 2022. Tổng thư ký lúc bấy giờ Jérôme Valcke tuyên bố: "Do tình hình này, tôi nghĩ rằng thật vô lý khi bắt đầu bất kỳ quy trình đấu thầu nào trong thời điểm hiện tại." Vào ngày 28 tháng 10 năm 2015, Blatter và Phó chủ tịch FIFA đã bị đình chỉ làm việc trong 90 ngày; cả hai đều thừa nhận vô tội trong các tuyên bố gửi cho các phương tiện truyền thông. Vào ngày 3 tháng 12 năm 2015, hai phó chủ tịch FIFA đã bị bắt vì nghi ngờ hối lộ trong cùng một khách sạn ở Zurich, Áo, nơi bảy quan chức FIFA đã bị bắt giữ vào tháng 5. Thêm 16 cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã được công bố cùng ngày. Các giải đấu FIFA khác. Một giải đấu tương đương dành cho bóng đá nữ, Giải vô địch bóng đá nữ thế giới, lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1991 tại Trung Quốc. Giải đấu dành cho nữ có quy mô nhỏ hơn nam giới, nhưng đang trong quá trình phát triển; số lượng quốc gia tham gia giải đấu năm 2007 là 120, nhiều hơn gấp đôi so với năm 1991. Bóng đá nam đã được đưa vào mọi kỳ Thế vận hội Olympic mùa hè trừ năm 1896 và 1932. Không giống như nhiều môn thể thao khác, giải bóng đá nam tại Thế vận hội không phải là giải đấu cấp cao nhất và kể từ năm 1992, một giải đấu dành cho độ tuổi dưới 23 (U-23) với mỗi đội được phép mang ba cầu thủ vượt quá tuổi được tổ chức. Bóng đá nữ ra mắt tại Olympic năm 1996. Cúp Liên đoàn các châu lục ("FIFA Confederations Cup)" là giải đấu được tổ chức một năm trướcWorld Cup tại (các) quốc gia đăng cai World Cup như một đợt thử nghiệm, khảo sát cho kỳ World Cup sắp tới. FIFA cũng tổ chức các giải đấu quốc tế dành cho bóng đá trẻ (Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới, Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới, Giải vô địch bóng đá nữ U-20 thế giới, Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới), bóng đá câu lạc bộ (Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ ("FIFA Club World Cup")), và các biến thể bóng đá như futsal (Giải vô địch bóng đá trong nhà thế giới ("FIFA Futsal World Cup")) và bóng đá bãi biển (Giải vô địch bóng đá bãi biển thế giới ("FIFA Beach Soccer World Cup")). Ba giải sau không có phiên bản dành cho nữ, mặc dù Giải vô địch bóng đá nữ thế giới các câu lạc bộ đã được đề xuất. Giải vô địch bóng đá nữ U-20 thế giới được tổ chức một năm trước mỗi kỳ của Giải vô địch bóng đá nữ thế giới. Giải đấu U-20 đóng vai trò là một đợt thử nghiệm cho giải đấu lớn hơn. Từ năm 1930 đến 1970, "Cúp Jules Rimet" đã được trao cho đội vô địch World Cup. Ban đầu nó được gọi đơn giản là "World Cup" hoặc "Coupe du Monde", nhưng vào năm 1946, nó được đổi tên sau khi chủ tịch FIFA Jules Rimet thành lập giải đấu. Từ năm 1970 trở về trước, đội vô địch thế giới được trao "cúp vàng" mà trong các văn kiện chính thức của FIFA gọi là "vật phẩm nghệ thuật". Đó là bức tượng nhỏ hình "Nữ thần chiến thắng Nike" (theo thần thoại Hy Lạp) mà trong giới bóng đá thường gọi là tượng "Nữ thần vàng". Theo đơn đặt hàng của FIFA, chiếc tượng này được hoàn thành năm 1928 do một người thợ kim hoàn ở Paris tên là Abel Lafleur đúc bằng vàng thật, nặng 1,8 kg (với chiếc đế bằng đá hoa cương nặng chừng 4 kg), trị giá 10.000 USD. Trước Giải thế giới năm 1970, FIFA giữ "Cup vàng" theo điều lệ quy định để rồi trao cho liên đoàn bóng đá quốc gia thuộc nước có đội bóng đoạt chức vô địch thế giới rồi trả lại cho FIFA trước khi tiến hành vòng chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới lần sau. Năm 1970, sau 3 lần vô địch, như trong điều lệ quy định, đội Brasil đã được trao tặng vĩnh viễn "Nữ thần vàng". Tuy nhiên, chiếc cúp đã bị đánh cắp vào năm 1983 và chưa bao giờ được tìm lại, dường như đã bị những tên trộm nấu chảy. Sau giải năm đó, FIFA đặt làm chiếc cúp mới lấy tên là Cúp thế giới FIFA. Chiếc cúp này là cúp luân lưu, không đội bóng nào có thể đoạt vĩnh viễn cả. Những đội bóng vô địch sẽ được trao tặng chiếc cúp mẫu thu nhỏ để làm kỷ niệm cùng với việc được giữ chiếc cúp chính thức trong thời gian giữa 2 giải vô địch bóng đá thế giới. Chiếc cúp mới được đúc bằng vàng thật do nghệ sĩ người Ý Silvio Gazzaniga sáng tác, sau khi vượt qua 53 nghệ nhân để trở thành người thắng cuộc, với chiều cao 36,5 cm được làm bằng vàng nguyên khối 18 carat (75%), nặng 6,175 kg, trị giá 20.000 USD. Cúp này do người thợ kim hoàn Stabilimento Artistico Bertoni ở thành phố Milano đúc. Chiếc cúp mang hình 2 thanh niên với 4 cánh tay giơ cao đỡ lấy quả Địa Cầu. Phần kim loại của chiếc cúp hiện nay là 4,9 kg "vàng nguyên khối 18 carat" và có 2 lớp đá malachit trong khi mặt dưới của chiếc cúp khắc tên của những quốc gia vô địch giải vô địch bóng đá thế giới kể từ năm 1974. Mô tả về chiếc cúp của Gazzaniga là: "Những đường thẳng xuất phát từ dưới, vươn lên theo hình xoắn ốc, vươn ra để tiếp nhận thế giới. Từ những đường nét đáng chú ý của cơ thể được điêu khắc, bức tượng nổi lên với khoảnh khắc chiến thắng." Hiện tại, tất cả các thành viên (cầu thủ, huấn luyện viên và người quản lý) của ba đội hàng đầu giải đấu đều nhận được huy chương với một huy hiệu của Cúp vô địch bóng đá thế giới; quán quân (vàng), á quân (bạc) và hạng ba (đồng). Trong phiên bản 2002, huy chương vị trí thứ tư đã được trao cho chủ nhà Hàn Quốc. Trước giải đấu năm 1978, huy chương chỉ được trao cho mười một cầu thủ trên sân trong trận chung kết và trận tranh hạng ba. Vào tháng 11 năm 2007, FIFA đã thông báo rằng tất cả các thành viên của đội tuyển vô địch World Cup từ năm 1930 đến năm 1974 sẽ được trao lại huy chương. Kể từ kỳ World Cup thứ hai vào năm 1934, vòng loại đã được tổ chức để chọn ra các ứng viên đủ điều kiện cho vòng chung kết. Vòng loại được tổ chức trong sáu khu vực (Châu Phi, Châu Á, Bắc, Trung Mỹ và Caribbean, Nam Mỹ, Châu Đại Dương và Châu Âu), được giám sát bởi các liên đoàn của họ. Đối với mỗi giải đấu, FIFA quyết định số suất tham dự được trao cho từng khu vực lục địa trước đó, thường dựa trên sức mạnh và thành tích quốc tế của các đội trong liên đoàn. Vòng loại có thể bắt đầu sớm nhất là gần ba năm trước khi vòng chung kết diễn ra và kéo dài trong khoảng thời gian hai năm. Thông thường, một hoặc hai suất được trao cho những đội chiến thắng trong trận play-off liên lục địa. Ví dụ, đội vượt qua vòng loại ở khu vực Châu Đại Dương và đội đứng thứ năm ở vòng loại khu vực châu Á đã đối đầu với nhau ở trận play-off cho một suất tham dự World Cup 2010. Từ World Cup 1938 trở đi, các quốc gia chủ nhà không cần phải đá vòng loại để tham dự vòng chung kết như các đội khác. Quyền này cũng được trao cho các nhà đương kim vô địch từ năm 1938 đến 2002, nhưng đã bị xóa bỏ kể từ World Cup 2006 trở đi, đòi hỏi các nhà đương kim vô địch phải vượt qua vòng loại để tham dự giải kế tiếp. Brazil, quốc gia vô địch năm 2002, là nhà vô địch thế giới đầu tiên chơi các trận đấu vòng loại để tham dự World Cup 2006. Tiến trình lựa chọn. Các kỳ World Cup đầu tiên, quyền đăng cai được trao cho các quốc gia tại các cuộc họp của đại hội FIFA. Các địa điểm đã gây tranh cãi bởi vì Nam Mỹ và châu Âu cho đến nay là hai trung tâm sức mạnh trong bóng đá và chuyến đi giữa họ cần ba tuần bằng thuyền. Chẳng hạn, quyết định tổ chức World Cup đầu tiên ở Uruguay, dẫn đến chỉ có bốn quốc gia châu Âu thi đấu. Hai kỳ World Cup tiếp theo đều được tổ chức ở châu Âu. Quyết định tiếp tục chọn Châu Âu và tổ chức ở Pháp đã bị tranh cãi, vì các nước Nam Mỹ hiểu rằng vị trí này sẽ tiếp tục xen giữa Đại Tây Dương. Do đó, cả Argentina và Uruguay đều tẩy chay Giải vô địch bóng đá thế giới 1938. Kể từ Giải vô địch bóng đá thế giới 1958, để tránh những cuộc tẩy chay hoặc tranh cãi, FIFA đã bắt đầu một mô hình xen kẽ các đội chủ nhà giữa châu Mỹ và châu Âu, tiếp tục cho đến Giải vô địch bóng đá thế giới 1998. Giải vô địch bóng đá thế giới 2002, được tổ chức bởi Hàn Quốc và Nhật Bản, là lần đầu tiên được tổ chức ở châu Á và là giải đấu đầu tiên có nhiều hơn một nước chủ nhà. Nam Phi trở thành quốc gia châu Phi đầu tiên đăng cai Giải vô địch bóng đá thế giới 2010. Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 được tổ chức bởi Brazil, lần đầu tiên được tổ chức tại Nam Mỹ kể từ Argentina năm 1978 và là lần đầu tiên World Cup liên tiếp được tổ chức ở bên ngoài Châu Âu. Nước chủ nhà hiện được chọn trong một cuộc bỏ phiếu của Hội đồng FIFA. Điều này được thực hiện theo một hệ thống bỏ phiếu toàn diện. Hiệp hội bóng đá quốc gia của một quốc gia mong muốn tổ chức sự kiện này nhận được "Thỏa thuận" từ FIFA, giải thích các bước và yêu cầu. Hiệp hội cũng nhận được một hình thức bằng cách đệ trình đại diện để chính thức ứng cử. Sau đó, một nhóm thanh tra được FIFA chỉ định đến xem xét đất nước để xác định rằng quốc gia này có đáp ứng các yêu cầu cần thiết để tổ chức sự kiện và một báo cáo về quốc gia này được đưa ra. Quyết định về việc ai sẽ tổ chức World Cup thường được đưa ra sáu hoặc bảy năm trước giải đấu. Tuy nhiên, đã có những lần chủ nhà của nhiều giải đấu trong tương lai được công bố cùng một lúc, như trường hợp của World Cup 2018 và 2022, được trao cho Nga và Qatar, với việc Qatar trở thành quốc gia Trung Đông đầu tiên đăng cai giải đấu. Đối với World Cup 2010 và 2014, giải đấu cuối cùng được luân chuyển giữa các liên đoàn, chỉ cho phép các quốc gia từ liên đoàn được chọn (Châu Phi năm 2010, Nam Mỹ vào năm 2014) để tổ chức giải đấu. Chính sách xoay vòng được đưa ra sau cuộc tranh cãi xung quanh chiến thắng của Đức trước Nam Phi trong cuộc bỏ phiếu để tổ chức giải đấu năm 2006. Tuy nhiên, chính sách xoay vòng lục địa sẽ không tiếp tục sau năm 2014, do đó, bất kỳ quốc gia nào, ngoại trừ những quốc gia thuộc liên đoàn đã tổ chức hai giải đấu trước đó, đều có thể đăng ký làm chủ nhà cho World Cup bắt đầu từ năm 2018. Điều này một phần để tránh một kịch bản tương tự như quá trình đấu thầu cho giải đấu năm 2014, nơi Brazil là nhà thầu chính thức và duy nhất. Giải vô địch bóng đá thế giới 2026 đã được chọn để tổ chức tại Hoa Kỳ, Canada và México, đánh dấu lần đầu tiên một World Cup được chia sẻ bởi ba quốc gia chủ nhà. Giải đấu năm 2026 sẽ là World Cup lớn nhất từng được tổ chức, với 48 đội thi đấu tổng cộng 80 trận. 60 trận đấu sẽ diễn ra ở Mỹ, bao gồm tất cả các trận đấu từ vòng tứ kết trở đi, trong khi Canada và Mexico, mỗi nước sẽ tổ chức 10 trận đấu. Sáu trong số tám nhà vô địch hiện tại đã giành được một trong những danh hiệu World Cup khi thi đấu trên chính quê hương của mình, ngoại lệ là Brazil, đội đã đứng vị trí á quân sau khi thua trận đấu quyết định trên sân nhà vào năm 1950 cũng như thua trận bán kết với Đức vào năm 2014 và Tây Ban Nha khi chỉ lọt vào vòng hai trên sân nhà vào năm 1982. Anh (1966) đã giành được danh hiệu duy nhất của mình khi chơi với tư cách là một quốc gia chủ nhà. Uruguay (1930), Ý (1934), Argentina (1978) và Pháp (1998) đã giành được những danh hiệu đầu tiên với tư cách là quốc gia chủ nhà, trong khi Đức (1974) giành được danh hiệu World Cup thứ hai khi chơi trên sân nhà. Các quốc gia khác cũng đã thành công khi tổ chức giải đấu. Thụy Sĩ (tứ kết 1954), Thụy Điển (á quân năm 1958), Chile (vị trí thứ ba năm 1962), Hàn Quốc (vị trí thứ tư năm 2002), Nga (tứ kết năm 2018) và Mexico (tứ kết năm 1970 và 1986) đều có kết quả tốt nhất khi là chủ nhà. Cho đến nay, Nam Phi (2010) và Qatar (2022) là hai quốc gia chủ nhà thất bại trong việc vượt qua vòng bảng. Các kỷ lục và thống kê. Sáu cầu thủ có số lần tham dự các vòng chung kết World Cup nhiều nhất là (1950-1966), Rafael Márquez (2002-2018) và Andrés Guardado (2006-2022) cùng đến từ Mexico; cựu đội trưởng đội tuyển CHLB Đức Lothar Matthäus (1982-1998). đội trưởng đội tuyển Argentina Lionel Messi và người đồng cấp Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo (2006-2022). Messi cũng là người chơi nhiều trận nhất với tổng cộng 26 lần được ra sân. Huyền thoại Pelé là người duy nhất 3 lần vô địch World Cup với tư cách cầu thủ. Djalma Santos của Brazil (1954-1962), Franz Beckenbauer (1966-1974) của Tây Đức và Philipp Lahm của Đức (2006-2014) là những cầu thủ duy nhất được ghi tên ba lần trong Đội hình Tiêu biểu. Người ghi nhiều bàn thắng nhất tại các kỳ World Cup là tuyển thủ Đức Miroslav Klose, với 16 lần làm tung lưới đối phương trong 4 lần tham dự giải. Thứ 2 là tuyển thủ Brasil Ronaldo với 15 bàn. Đứng thứ 3 với 14 lần lập công là tuyển thủ người Đức Gerd Müller. Có cùng vị trí thứ 4 là trung phong huyền thoại người Pháp Just Fontaine và tiền đạo người Argentina Lionel Messi với 13 bàn thắng. Ngoài ra, Fontaine còn giữ kỷ lục về số bàn thắng ghi được tại một kỳ World Cup, với thành tích 13 bàn ghi được tại giải năm 1958. Vào tháng 11 năm 2007, FIFA đã thông báo rằng tất cả các thành viên của đội tuyển vô địch World Cup từ năm 1930 đến năm 1974 sẽ được trao lại huy chương vô địch. Điều này khiến huyền thoại Pelé của Brazil trở thành cầu thủ duy nhất giành được ba huy chương của đội vô địch World Cup (1958, 1962 và 1970, mặc dù ông không chơi trong trận chung kết năm 1962 vì chấn thương). Bảy cầu thủ đã thu thập tất cả ba loại huy chương World Cup (vàng, bạc và đồng): năm cầu thủ đến từ đội hình 1966-1974 bao gồm Franz Beckenbauer, Jürgen Grabowski, Horst-Dieter Höttges, Sepp Maier và Wolfgang Overath (1966-1974); Franco Baresi của Ý (1982, 1990, 1994) và gần đây nhất là Miroslav Klose của Đức (2002-2014) với bốn huy chương liên tiếp. Miroslav Klose cũng chính là cầu thủ nhận được huy chương World Cup nhiều nhất (1 vàng, 1 bạc, 2 đồng). Anh cũng là cầu thủ duy nhất có tất cả các loại huy chương và luôn có huy chương ở tất cả các kỳ World Cup tham gia. Mário Zagallo, Franz Beckenbauer và Didier Deschamps là ba người đồng thời vô địch World Cup với tư cách cầu thủ và huấn luyện viên. Zagallo vô địch các giải năm 1958 và 1962 khi còn đang thi đấu rồi giải năm 1970 khi chuyển sang vai trò huấn luyện viên. Beckenbauer vô địch giải năm 1974 khi đeo băng đội trưởng đội tuyển Tây Đức và giải năm 1990 với tư cách người chỉ đạo đội., Didier Deschamps vô địch vào năm 1998 khi là cầu thủ và năm 2018 khi làm huấn luyện viên. Còn huấn luyện viên tuyển Ý Vittorio Pozzo là người duy nhất từng hai lần giành ngôi vô địch trên ghế chỉ đạo (1934 và 1938). Tất cả các huấn luyện viên trưởng giành chức vô địch World Cup đều là người xuất thân từ đất nước có đội tuyển giành danh hiệu này. Tính đến hết World Cup 2022, Brasil đã chơi nhiều trận World Cup nhất với 114 trận, theo sau là Đức với 112 trận. Hai đội gặp nhau lần đầu tiên trong lịch sử thi đấu tại giải ở trận chung kết năm 2002. Đức góp mặt ở nhiều trận chung kết (8 lần), bán kết (13 lần), và tứ kết nhất (16 lần), trong khi Brazil tham dự nhiều vòng chung kết nhất (22 lần), thắng nhiều trận nhất (76 trận), và ghi được nhiều bàn thắng nhất (237 bàn). Hai đội đã đối đầu hai lần tại World Cup, trong trận chung kết năm 2002 và bán kết năm 2014. Giải vô địch bóng đá thế giới gần như là sân chơi riêng cho các đội bóng Nam Mỹ và châu Âu khẳng định sự thống trị tuyệt đối trong làng túc cầu thế giới bởi vì cho đến nay thì chưa có đội bóng nào ngoài châu Âu và Nam Mỹ có vinh dự được nâng cao chiếc cúp vàng danh giá. Tuy nhiên chưa có đội bóng châu Âu nào vô địch World Cup khi giải đấu được đăng cai tại châu Á. Phát sóng và quảng bá. Giải vô địch bóng đá thế giới được truyền hình trực tiếp lần đầu tiên vào năm 1954 và hiện là sự kiện thể thao được xem và theo dõi rộng rãi nhất trên thế giới. Lượng người xem tích lũy của tất cả các trận đấu của World Cup 2006 ước tính là 26,29 tỷ. 715,1 triệu người đã theo dõi trận đấu cuối cùng của giải đấu này (một phần chín của toàn bộ dân số trên hành tinh). Lễ bốc thăm World Cup 2006, quyết định phân chia các đội thành các bảng, được theo dõi bởi 300 triệu người xem. Giải vô địch bóng đá thế giới thu hút nhiều nhà tài trợ như Coca-Cola, McDonald's và Adidas. Đối với các công ty này và nhiều công ty khác, việc trở thành nhà tài trợ tác động mạnh mẽ đến các thương hiệu toàn cầu của họ. Các nước chủ nhà thường có sự gia tăng doanh thu hàng triệu đô la từ sự kiện kéo dài một tháng. Cơ quan quản lý môn thể thao này, FIFA đã tạo ra doanh thu 4,8 tỷ đô la từ giải đấu năm 2014 và 6,1 tỷ đô la từ giải đấu năm 2018. Mỗi giải vô địch bóng đá thế giới kể từ năm 1966 đều có linh vật hoặc/và logo riêng. "World Cup Willie", linh vật cho cuộc thi năm 1966, là linh vật World Cup đầu tiên. World Cup có các quả bóng thi đấu chính thức được thiết kế đặc biệt cho mỗi giải đấu. Mỗi giải vô địch bóng đá thế giới cũng có một bài hát chính thức, được trình diễn bởi các nghệ sĩ từ Shakira đến Will Smith. Thiết lập quan hệ đối tác với FIFA vào năm 1970, Panini đã xuất bản album sticker đầu tiên cho World Cup 1970. Kể từ đó, thu thập và giao dịch nhãn dán đã trở thành một phần của trải nghiệm World Cup, đặc biệt là cho thế hệ trẻ. FIFA cũng đã cấp phép các video game World Cup từ năm 1986, với Electronic Arts, công ty giữ giấy phép hiện tại. World Cup thậm chí còn có ảnh hưởng đáng kể về mặt thống kê đối với tỷ lệ sinh, tỷ lệ giới tính nam/nữ của trẻ sơ sinh và bệnh đau tim ở các quốc gia có các đội tuyển quốc gia đang thi đấu. Đã có 80 quốc gia đã tham dự ít nhất một kỳ World Cup. Trong số này, tám đội tuyển quốc gia đã giành được World Cup, và họ đã thêm ngôi sao vào huy hiệu của họ, với mỗi ngôi sao đại diện cho một lần vô địch thế giới. (Uruguay, tuy nhiên, chọn để hiển thị bốn ngôi sao trên huy hiệu của họ, đại diện cho hai huy chương vàng của họ tại Thế vận hội Mùa hè 1924 và 1928 và hai chức vô địch thế giới của họ vào năm 1930 và 1950). Với năm lần vô địch, Brasil là đội tuyển thành công nhất trong lịch sử World Cup và cũng là quốc gia duy nhất đã tham dự tất cả các kỳ World Cup (22 lần) cho đến nay. Brasil cũng là đội tuyển đầu tiên giành chức vô địch World Cup lần thứ ba (1970), thứ tư (1994) và thứ năm (2002). Ý (1934 và 1938) và Brasil (1958 và 1962) là 2 quốc gia duy nhất đã từng bảo vệ thành công ngôi vô địch. Tây Đức (1982–1990) và Brasil (1994–2002) là các quốc gia duy nhất xuất hiện trong ba trận chung kết World Cup liên tiếp. Đức đã vào được bán kết 13 lần, có 12 lần giành huy chương và là đội lọt vào chung kết nhiều nhất (8 lần). * = "chủ nhà" ^ = "bao gồm kết quả đại diện Tây Đức giữa 1954 và 1990" # = "các nhà nước đã tách ra thành hai hoặc nhiều quốc gia độc lập" Thành tích tốt nhất theo khu vực lục địa. Cho đến nay, các trận chung kết Cúp bóng đá thế giới chỉ được tranh tài giữa các đội tuyển từ các liên đoàn UEFA (châu Âu) và CONMEBOL (Nam Mỹ). Các quốc gia châu Âu đã giành được 12 chức vô địch, trong khi Nam Mỹ là 10 lần. Chỉ có ba đội tuyển từ bên ngoài hai châu lục này đã từng vào được đến vòng bán kết của giải đấu: Hoa Kỳ (Bắc, Trung Mỹ và Caribe) vào năm 1930, Hàn Quốc (châu Á) vào năm 2002 và Maroc (châu Phi) vào năm 2022. Chỉ có một đội từ châu Đại Dương đã từng vượt qua vòng bảng, Úc vào năm 2006, đã giành quyền vào vòng hai. Brasil, Argentina, Tây Ban Nha và Đức là những đội tuyển duy nhất giành được World Cup tổ chức bên ngoài liên đoàn lục địa của họ; Brasil đã giành chiến thắng ở châu Âu (1958), Bắc Mỹ (1970 và 1994) và châu Á (2002), Argentina đã giành chức vô địch tại Bắc Mỹ vào năm 1986 và châu Á vào năm 2022, trong khi Tây Ban Nha đã giành được một chức vô địch tại châu Phi vào năm 2010. Đức là đội tuyển châu Âu đầu tiên vô địch World Cup tại Nam Mỹ vào năm 2014. Chỉ có năm lần liên tiếp World Cup được chinh phục bởi các đội tuyển đến từ cùng một lục địa. Ý và Brasil đã bảo vệ thành công danh hiệu của họ vào năm 1938 và 1962, trong khi đội đăng quang tiếp theo sau Ý vào năm 2006 là Tây Ban Nha vào năm 2010, Đức vào năm 2014, Pháp vào năm 2018 và Argentina vào năm 2022. "Tính đến World Cup 2022" Hiện có 6 giải thưởng trao cho cá nhân hay toàn đội tuyển cho thành tích thi đấu của họ tại mỗi kỳ World Cup: "Đội hình tiêu biểu" được công bố lần đầu vào năm 1998. Các đội tuyển mỗi lần vô địch World Cup đều được gắn thêm 1 ngôi sao lên biểu tượng, trừ ĐTQG Uruguay (có 4 sao nhưng có 2 lần vô địch World Cup, 2 lần vô địch bóng đá nam Olympic). Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ nhiều nước công nghiệp. Theo Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Thế giới (IARC) vào năm 1998 thì ung thư vú đứng đầu, chiếm 21% trong tổng số các loại ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới. Cũng theo IARC, xuất độ chuẩn hóa theo tuổi của ung thư vú ở phụ nữ là 92,04 (trên 100 000 dân) ở châu Âu và 67,48 (trên 100 000 dân) trên toàn thế giới vào năm 1998, đều là cao nhất trong các loại ung thư ở nữ giới.5 Ung thư vú đang trở nên phổ biến tại các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, năm 1998, ở nữ giới, ung thư vú là loại ung thư có tần suất cao nhất ở Hà Nội với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 20,3 (trên 100 000 dân) và cao thứ hai ở Thành phố Hồ Chí Minh với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 16 (trên 100 000 dân) sau ung thư cổ tử cung mà xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 28,6 (trên 100 000 dân). 6 Đây là một bệnh hết sức phức tạp mà trong nhiều năm qua đã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân, bệnh sinh và điều trị. Một điều quan trọng cần phải nhận thấy là việc phát hiện sớm ung thư vú qua sự tầm soát ở những phụ nữ bình thường đã làm thay đổi rõ ràng bệnh sử tự nhiên của bệnh cũng như cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh. Các yếu tố nguy cơ. Nguyên nhân của ung thư vú chưa được biết rõ, nhưng với những nghiên cứu dịch tễ học cùng với những hiểu biết sâu hơn về sinh học của tế bào tuyến vú đã mang lại những cơ sở mới cho bệnh này. Theo UICC thì tỷ lệ ung thư vú ở đàn ông ít hơn 100 lần so với phụ nữ. 3. Còn theo 1 thì nguy cơ tương đối của ung thư vú giữa phụ nữ và nam giới là 150. Nghĩa là ung thư vú ở nam giới ít gặp hơn nữ giới rất nhiều lần. Dưới đây chỉ nói về những yếu tố nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ. Người ta nhận thấy nguy cơ bị ung thư vú tăng lên ở những bệnh nhân sau: 1 Ngoài ra, nguy cơ ung thư vú cũng gặp ở những nhóm người sau: Sinh học ung thư vú. Yếu tố gia đình từ lâu đã được công nhận là có liên quan đến ung thư vú, tuy nhiên yếu tố này chỉ quan trọng trong khoảng 10–15% các trường hợp ung thư vú. Yếu tố gia đình gợi ý có một số gene quy định tính nhạy cảm của cá thể đó với bệnh này, và những nghiên cứu về gene đã ghi nhận một vùng của nhiễm sắc thể 17 (mang gene BRCA1 và BRCA2) có liên quan đến việc xuất hiện sớm ung thư vú trong một số gia đình. Hội chứng Li-Fraumeni, với đột biến của gene p53 cũng được ghi nhận ở những bệnh nhân bị ung thư vú sớm. 2 Nội tiết tố sinh dục ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư vú. Người ta nhận thấy estrogen đẩy mạnh ung thư vú ở chuột trong thí nghiệm, và trên mẫu nuôi cấy các tế bào ung thư vú thì estrogen kích thích các tế bào này tăng trưởng. Ngày nay, người ta biết tác dụng của nội tiết tố sinh dục lên mô vú một phần là qua trung gian các yếu tố tăng trưởng. Một số yếu tố tăng trưởng đã được xác định có thể là nguyên nhân gây ra những biến đổi mô vú bình thường thành ác tính và kéo dài quá trình ung thư hóa. Ngoài ra, estrogen còn gây tăng tiết prolactin – cũng là một loại hormone gây phát triển tuyến vú. 1 Thụ thể của mô tuyến vú với estrogen và progesteron và một số yếu tố tăng trưởng cũng đã được nhận dạng. Trong đó thụ thể với estrogen và progesteron rất có giá trị trong việc đánh giá tiên lượng bệnh nhân, chọn lựa phương pháp điều trị. Người ta nhận thấy có khoảng 2/3 các bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính, và ½ số đó có đáp ứng khi điều trị bằng nội tiết tố ở chỗ kích thước khối bướu thu nhỏ. 3 Chẩn đoán ung thư vú. Các tình huống lâm sàng. Đa phần ung thư vú được phát hiện là do chính người bệnh, khi họ ghi nhận thấy một sự thay đổi ở tuyến vú. Thường gặp nhất đó là một khối bướu hay một chỗ dày cứng lên không đau ở vú. Hoặc cũng có thể do thầy thuốc phát hiện qua một lần khám sức khỏe thường kỳ. Cần phải nghi ngờ ung thư vú khi thấy bất kỳ bướu nào ở vú ở người phụ nữ trên 30 tuổi cho đến khi có triệu chứng chính xác ngược lại mặc dù khoảng 80% khối bất thường ở vú là lành tính. 2 Những tính chất sau của khối bướu gợi ý ác tính: Bệnh nhân đến khám với các triệu chứng của ung thư tiến triển hoặc đã có di căn xa: Tầm soát ung thư vú. Điều này đã được làm ở các nước phát triển và đang bắt đầu được áp dụng ở Việt Nam. Các phương pháp sau đây được áp dụng trong chương trình tầm soát ung thư vú: Ung thư giai đoạn sớm – I, II, IIIA. Là điều trị chủ yếu. Những phẫu thuật trước đây như đoạn nhũ tận gốc (Phẫu thuật Halsted) ngày nay ít được dùng vì mức tàn phá rộng, để lại nhiều dư chứng nặng nề cho bệnh nhân. Các loại phẫu thuật ít tàn phá hơn, bảo tồn các cơ ngực lớn, bé càng ngày càng cho thấy hiệu quả trong việc điều trị tại chỗ căn bệnh. Phẫu thuật bảo tồn vú: chỉ lấy khối bướu và mô bình thường cách rìa bướu 1–2 cm gần đây được ưa thích và áp dụng nhiều. Nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy phẫu thuật bảo tồn kèm theo xạ trị cho kết quả ngang bằng với phẫu thuật đoạn nhũ riêng lẻ. Tuy nhiên, có một số chống chỉ định của phương pháp điều trị này: Nạo hạch cũng là một phần của phẫu thuật. Nhất là nạo hạch lympho vùng nách rất cần cho đánh giá tiên lượng. Liệu pháp toàn thân. Nguy cơ di căn vi thể ở những ung thư giai đoạn sớm là có. Vì vậy, hóa trị là một biện pháp điều trị toàn thân có thể diệt các tế bào ác tính lan tràn. Điều trị hỗ trợ đối với ung thư vú có hạch dương tính (di căn hạch)7 Tiền mãn kinh, Thụ thể Estrogen(ER) + hoặc thụ thể Progesteron (PR) +: Hóa trị + Tamoxifen Cắt bỏ buồng trứng (hoặc chất tương đồng GnRH) +/- Tamoxifen Hóa chất +/- Cắt bỏ buồng trứng (hoặc chất tương đồng GnRH) +/- Tamoxifen Trước mãn kinh, ER - và PR -: Hóa trị Sau mãn kinh, ER-,PR+: Hóa trị, Tamoxifen Sau mãn kinh, ER - và PR -: Hóa trị Người già: dùng Tamoxifen, nếu không có ER và PR thì dùng hóa trị Ung thư di căn. Mục đích chủ yếu là cải thiện chất lượng đời sống và kéo dài cuộc sống của người bệnh. Có chỉ định cho một số bệnh nhân. Như bệnh nhân cần đoạn nhũ khi các tổn thương sùi, loét gây đau nhức, bệnh nhân có các di căn não, phổi đơn độc, tràn dịch màng ngoài tim, màng phổ Vai trò chủ yếu trong điều trị tạm bợ và nâng đỡ, ví dụ như chỉ định cho các di căn xương đau nhiều, di căn hệ thần kinh trung ương không cắt bỏ đượ Liệu pháp toàn thân. Việc lựa chọn thuốc để điều trị phải cân nhắc nhiều yếu tố của bệnh nhân. Các yếu tố đó là: tuổi, bệnh nhân đã mãn kinh hay chưa, bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính hay không, số lượng hạch di că Liệu pháp toàn thân bao gồm: Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng của bệnh. Quan trọng nhất là giai đoạn của bệnh, càng phát hiện ở giai đoạn sớm thì tiên lượng càng tốt. Hạch di căn cũng đóng vai trò đáng kể. Đặc tính mô học của bướu cũng được quan tâm. Tiên lượng tốt hơn với các ung thư trong nang, ung thư ống dẫn, ung thư dạng tủy, bệnh Paget không bướu. Ung thư vú rất đáng quan tâm vì đó là một trong những loại ung thư hàng đầu ở phụ nữ. Nhiều biện pháp đã được đề xuất để làm giảm nguy cơ mắc bệnh, một số biện pháp dưới đây rất đáng chú ý: 4
Giải quần vợt Úc Mở rộng Giải quần vợt Úc Mở rộng (tiếng Anh: Australian Open) là một trong 4 giải Grand Slam quần vợt trong năm. Đây là giải Grand Slam đầu tiên trong năm và diễn ra vào nửa cuối tháng 1 tại Melbourne. Giải được tổ chức bởi Tennis Australia, tổ chức thường được biết với cái tên Lawn Tennis Association of Australia (LTAA). Giống như tại Roland Garros hay Wimbledon, giải đấu này thi đấu theo thể thức 5 set thắng 3 (đối với nội dung đơn nam) và 3 set thắng 2 (đối với nội dung đơn nữ) và không có loạt tie-break (tie-breaker) ở set cuối cùng. Ngoài ra còn có các nội dung đánh đôi nam, đôi nữ, đôi nam nữ phối hợp và còn có nội dung cho các cựu danh thủ. Giải đấu này được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1905 với cái tên là Giải Vô địch Australasia (gồm Úc và New Zealand) tại Warehouseman's Cricket Ground ở St Kilda Road, Melbourne, sau đó trở thành giải vô địch Úc vào năm 1927 và trở thành giải Úc Mở rộng vào năm 1969. Kể từ năm 1905, giải đấu này đã được tổ chức ở 6 địa điểm sau: Melbourne (46 lần), Sydney (17 lần), Adelaide (14 lần), Brisbane (8 lần), Perth (3 lần) và tại nước láng giềng New Zealand (2 lần vào các năm 1906 1912). Vào năm 1972, các nhà tổ chức quyết định giải đấu sẽ diễn ra chỉ ở một thành phố trong một năm và CLB Kooyong Lawn Tennis của thành phố Melbourne đã được lựa chọn để tổ chức giải đấu này. Melbourne Park (có tên khác là Flinders Park) được xây dựng vào năm 1988, đúng thời điểm mà các nhà tổ chức đang muốn mở rộng phạm vi giải đấu và CLB Kooyong quá nhỏ để có thể đáp ứng được nhu cầu trên. Giải đấu được chuyển tới Melbourne Park và ngay lập tức đã mang lại thành công khi nó làm tăng thêm đến 90% lượng khán giả – lên đến 266.436 lượt người vào năm 1988 trong khi đó ở năm trước chỉ có 140.000 lượt người ghé thăm Kooyong. Vì khoảng cách địa lý quá xa xôi của Australia, những giải đấu đầu tiên có rất ít các tay vợt nước ngoài tham dự. Trong thập niên 1920, để đi từ châu Âu tới Australia bằng tàu thủy phải mất 45 ngày. Những vận động viên quần vợt đầu tiên tới Úc bằng máy bay là đội tuyển Cúp Davis Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 1946. Ngay cả đối với các tay vợt bản địa, đến tham dự giải cũng không phải là điều dễ dàng. Khi giải được tổ chức tại Perth, không có bất cứ tay vợt nào đến từ Victoria hay New South Wales đăng ký tham dự, vì nếu như vậy họ phải đi tàu hỏa hơn 3.000 km từ bờ Đông sang bờ Tây nước Úc. Hay giải tổ chức tại Christchurch, New Zealand năm 1906, chỉ có hai tay vợt Úc tham dự. Từ năm 1969, giải Úc mở rộng cho phép tất cả các tay vợt đăng ký, kể cả các vận động viên chuyên nghiệp. Nhưng, chỉ trừ hai giải năm 1969 và 1971, còn đâu cho đến năm 1981, còn đâu hầu hết các tay vợt xuất sắc nhất thế giới đều không tham dự do tính bất hợp lý của lịch thi đấu (giải thường diễn ra đúng vào dịp Lễ Giáng sinh hay đầu năm mới), cùng với lượng tiền thưởng chưa hấp dẫn. Giải được thi đấu trên mặt sân cỏ từ năm 1905 cho đến năm 1987. Từ năm 1988, giải chuyển sang thi đấu trên mặt sân cứng. Mats Wilander là tay vợt nam duy nhất giành được chức vô địch trên cả hai mặt sân. Vào 2008, mặt sân Rebound Ace, sau 20 năm được sử dụng tại Melbourne Park, được thay thế bằng mặt sân acrylic tổng hợp Plexicushion. Điểm xếp hạng cho nam (ATP) và nữ (WTA) đã có nhiều thay đổi tại US Open thông qua nhiều năm nhưng bây giờ tay vợt nhận được các điểm như sau đây: Năm 2009 tiền thưởng cho cả tay vợt nam và nữ là bằng nhau:
Giải vô địch bóng đá thế giới 1930 Giải bóng đá vô địch thế giới 1930 là giải bóng đá vô địch thế giới đầu tiên (tên chính thức là 1930 Football World Cup - Uruguay / "1er Campeonato Mundial de Football") và được tổ chức từ 13 tháng 7 đến 30 tháng 7 năm 1930 ở Uruguay. Đây là kỳ World Cup duy nhất mà tất cả các trận đấu được tổ chức ở cùng một thành phố là Montevideo, Thủ đô nước Cộng hòa Đông Uruguay. Uruguay được chọn làm nơi đăng cai kỳ World Cup 1930 là vì đội tuyển Uruguay đã xuất sắc giành huy chương vàng ở bộ môn bóng đá tại hai kỳ Thế vận hội liên tiếp vào các năm 1924 và 1928, và năm 1930 là năm kỷ niệm 100 năm ngày Uruguay giành được độc lập. Nhưng việc giải đấu diễn ra ở vùng Nam Mỹ khiến cho hầu hết các đội tuyển châu Âu đều không muốn đi gửi đội tham dự giải bởi hành trình bằng tàu thủy quá tốn kém và dài trong bối cảnh Đại khủng hoảng. Điều này đã khiến hai tháng trước khi khai mạc giải, vẫn chưa có đội tuyển nào của châu Âu đăng ký tham dự. Bằng nỗ lực vận động tích cực của ông Jules Rimet, Chủ tịch FIFA ở lúc đó và cũng là người sáng lập ra giải đấu, bốn đội tuyển châu Âu là Pháp, Bỉ, Romania và Nam Tư cuối cùng chấp nhận tham gia. 4 đội bóng này đã cùng lên chuyến tàu "Conte Verde" khởi hành ngày 21 tháng 6 năm 1930 tại vùng lãnh thổ Villefranche-Sur-Mer, Pháp; tàu dừng lại Rio de Janeiro ngày 29 tháng 6 để giải đón nhận thêm đội bóng Brasil trước khi cập bến ở Montevideo vào ngày 4 tháng 7. Đây cũng là kỳ giải World Cup duy nhất không hề có vòng loại và trận tranh hạng ba, năm 1986 thì FIFA căn cứ hiệu số bàn thắng nên công nhận đội Hoa Kỳ giành hạng 3. Argentina, Uruguay, Hoa Kỳ và Nam Tư giành chiến thắng trong các bảng để lọt vào vòng bán kết. Trong trận chung kết, chủ nhà Uruguay cũng như là đội được yêu thích trước giải đấu đã xuất sắc đánh bại đội tuyển Argentina 4–2 trước 68.346 khán giả để chính thức trở thành đội tuyển đầu tiên vô địch World Cup. Các đội tham dự. FIFA - cơ quan quản lý bóng đá thế giới, đã thảo luận về việc thành lập một giải đấu dành cho các đội tuyển quốc gia trong vài năm trước năm 1930. Tổ chức này đã thay mặt Ủy ban Olympic Quốc tế quản lý bộ phận bóng đá của Thế vận hội Mùa hè từ đầu thế kỷ 20 và sự thành công của cuộc thi tại Thế vận hội Mùa hè 1924 và 1928 đã dẫn đến việc thành lập Giải vô địch bóng đá thế giới . Tại đại hội FIFA lần thứ 17 ở Amsterdam vào tháng 5 năm 1928, giải đấu do chủ tịch Jules Rimet đề xuất và được ban tổ chức chấp nhận, phó chủ tịch FIFA Henri Delaunay tuyên bố: "Bóng đá quốc tế không còn được tổ chức trong giới hạn của Thế vận hội". World Cup đầu tiên là kỳ duy nhất không có vòng loại. Mọi quốc gia liên kết với FIFA đều được mời tham gia thi đấu và có hạn chót là ngày 28 tháng 2 năm 1930 để chấp nhận. Cuộc thi ban đầu được lên kế hoạch là một giải đấu loại trực tiếp 16 đội với khả năng có vòng loại nếu thừa đội tham dự. Tuy nhiên, số đội không đủ 16 nên không có vòng loại. Rất nhiều sự quan tâm đã được thể hiện bởi các quốc gia ở châu Mỹ: Argentina, Brazil, Bolivia, Chile, Mexico, Paraguay, Peru và Hoa Kỳ, tất cả đều tham dự. Tổng cộng có bảy đội Nam Mỹ tham gia, nhiều hơn bất kỳ vòng chung kết World Cup nào sau đó, và có hai đội Bắc Mỹ tham dự. Tuy nhiên, do chuyến đi dài, tốn kém bằng tàu vượt qua Đại Tây Dương và thời gian dài vắng mặt của các cầu thủ, rất ít đội châu Âu muốn tham gia do cuộc khủng hoảng kinh tế đang diễn ra. Một số đội từ chối cho phép đi đến Nam Mỹ trong bất kỳ trường hợp nào, và không có đội châu Âu nào đăng ký tham gia trước thời hạn. Trong một nỗ lực để đạt được sự tham gia của một số đội châu Âu, Hiệp hội bóng đá Uruguay đã gửi thư mời tới Hiệp hội bóng đá Anh, mặc dù Vương quốc Anh (Anh, Bắc Ireland, Scotland và Wales) đã rút khỏi FIFA vào thời điểm đó. Ủy ban FA đã từ chối lời mời vào ngày 18 tháng 11 năm 1929. Hai đội đến từ châu Á - Nhật Bản và Xiêm La (Thái Lan ngày nay) rút lui. Trong khi Ai Cập - đội châu Phi duy nhất tham gia, đã rút lui do một cơn bão ở Địa Trung Hải, và họ bị lỡ chuyến tàu đi đến Uruguay. Hai tháng trước khi bắt đầu giải đấu, không có đội nào từ châu Âu chính thức tham gia. Chủ tịch FIFA Rimet đã can thiệp và bốn đội châu Âu cuối cùng đã thực hiện chuyến đi bằng đường biển: Bỉ, Pháp, Romania và Nam Tư. Đội Romania, được huấn luyện bởi Constantin Rădulescu cùng đội trưởng Rudolf Wetzer và Octav Luchide, đã tham gia cuộc thi sau sự can thiệp của Vua Carol II mới lên ngôi. Nhà vua đã đích thân chọn cầu thủ và thương lượng với các nhà tuyển dụng để đảm bảo rằng các cầu thủ vẫn có việc làm khi họ trở về. Người Pháp tham dự bằng lời mời của chủ tịch FIFA Rimet, nhưng cả hậu vệ ngôi sao của Pháp Manuel Anatol và huấn luyện viên thường xuyên của đội Gaston Barreau đều không thể bị thuyết phục để thực hiện chuyến đi. Người Bỉ tham gia theo lời mời của phó chủ tịch FIFA người Bỉ gốc Đức Rodolphe Seeldrayers. Đội Romania lên tàu SS "Conte Verde" tại Genoa, Ý. Đội Pháp và Nam Tư được đón tại Villefranche-sur-Mer, Pháp, vào ngày 21 tháng 6 năm 1930, và đón đội Bỉ tại Barcelona , Tây Ban Nha. Conte "Verde" mang theo Rimet, chiếc cúp và ba trọng tài châu Âu được chỉ định: hai trọng tài người Bỉ John Langenus và Henri Christophe, cùng với Thomas Balvay, một trọng tài người Pháp. Đội Brazil đã được đón khi thuyền cập cảng Rio de Janeiro vào ngày 29 tháng 6 trước khi đến Uruguay vào ngày 4 tháng 7. Quả bóng chính thức được sử dụng cho giải đấu là T-Model. Danh sách các đội được mời. 16 đội sau ban đầu đủ điều kiện tham dự giải đấu cuối cùng. Tuy nhiên, chỉ có 13 đội đã tham gia do sự rút lui của Ai Cập, Nhật Bản và Xiêm La. Sau đây là danh sách các trọng tài được chỉ định cho giải đấu. Các trọng tài in nghiêng chỉ được chỉ định làm trọng tài biên trong suốt giải đấu. Cầu thủ ghi bàn. Manuel Rosas #đổi (trận gặp  Chile) Vô địch : Uruguay Á quân : Argentina Hạng 3 : Mỹ "(công nhận 1986)" Cầu thủ hay nhất : Jose Nasazzi Yarza "(Uruguay)" Vua phá lưới : Guillermo Stábille "(Argentina)" Găng tay vàng : Enrique Ballestrero "(Uruguay)"
Ashoka Đại Đế (br. 𑀅𑀲𑁄𑀓 sa. "aśoka", pi. "asoka", zh. 阿育王, hv. A Dục) là vị vua thứ ba của vương triều Ma-gát-đa (sa. "maurya", zh. 孔雀, hv. Khổng Tước) thời Ấn Độ xưa, trị vì Ấn Độ từ năm 273 đến 232 trước CN. Là một trong những hoàng đế kiệt xuất trong lịch sử Ấn Độ, Ashoka đã toàn thắng trong loạt các cuộc chinh phạt và cai trị phần lớn vùng Nam Á, từ Afghanistan cho đến Bengal hiện nay và đi sâu đến miền Nam tận Mysore. Là một vị vua ủng hộ Phật giáo, nhưng khi mới lên ngôi, ông được mệnh danh là A Dục vương bạo ác, ông lập ra những khung hình phạt tàn ác giống như các cảnh mô tả trong địa ngục để hành hình tội nhân, và ông đặt tên cho các ngục ấy là địa ngục trần gian. Về sau ông hối hận, Quy y Tam Bảo và đã lập nhiều bia đá ghi lại những thánh tích trong cuộc đời Phật Thích-ca Mâu-ni. Theo truyền thống Phật giáo, tên tuổi của ông gắn liền với việc truyền bá Phật giáo. Vào khoảng năm 260 TCN Ashoka tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nhà nước Kalinga (ngày nay là Odisha). Ông đã chinh phục Kalinga, điều mà tiên đế của ông là Chandragupta Maurya chưa bao giờ làm được. Ông xây dựng trung tâm cơ quan quyền lực của đế chế Maurya ở Magadha (nay là Bihar). Ông trở nên đề cao Phật giáo sau khi chứng kiến nhiều chết chóc trong chiến tranh Kalinga, mà bản thân ông đã thực hiện do khát vọng mở rộng đế quốc của mình. "Ashoka suy ngẫm về trận chiến ở Kalinga, cuộc chiến mà người ta ngẫm rằng đã làm hơn 100.000 người chết và 150.000 người khác bị trục xuất." Ashoka đã quy y Tam bảo vào khoảng 263 TCN. Sau đó ông đã hoằng dương giáo pháp nhà Phật ra khắp châu Á, và thiết lập các di tích đánh dấu nhiều địa danh quan trọng trong cuộc đời truyền pháp của Phật tổ Thích-ca Mâu-ni. Tên ông cũng được gọi theo dịch tiếng Hán Việt khác là A-du-ca (zh. 阿輸迦), A-du-già (阿輸伽), A-thứ-già (阿恕伽), A-thú-khả (阿戍笴), A-thúc (阿儵), hoặc dịch nghĩa là Vô Ưu (無憂), hoặc như ông tự khắc trên những cột trụ nổi danh được lưu đến ngày nay là Thiên Ái Hỉ Kiến (zh. 天愛喜見, sa. "devānaṃpriya priyadarśi"), nghĩa là "người được chư thiên thương, người nhìn sự vật với tấm lòng hoan hỉ". Ông là vị quân vương đầu tiên của nước Ấn Độ xưa (sa. "bhāratavarṣa") đã thống nhất được một lãnh thổ vĩ đại, lớn hơn ngay cả Ấn Độ ngày nay. Tài liệu nguồn lịch sử. Các thông tin lịch sử về cuộc đời và thời gian cai trị của vua A-dục có nguồn từ một số tài liệu Phật giáo tương đối nhỏ. Đặc biệt là tác phẩm tiếng Phạn "A-dục vương truyện" (sa. "aśokāvadāna") và hai bộ sử của Tích Lan là "Đảo sử" (zh. 島史, pi. "dīpavaṃsa") và "Đại sử" (zh. 大史, pi. "mahāvaṃsa") cung cấp hầu như tất cả những thông tin ngày nay có được. Những thông tin đi sâu hơn được các bản khắc văn của chính vua A-dục cung cấp (xem A-dục vương khắc văn), sau khi tác giả của những khắc văn này là Thiên Ái Hỉ Kiến được xác nhận là A-dục vương trong các văn bản Phật giáo, là tên khác của A-dục Khổng Tước (pi. "asoka mauriya") Việc dùng tài liệu Phật giáo để tu phục lại cuộc đời của vua A-dục đã gây ảnh hưởng lớn đến cách nhận thức A-dục hiện nay cũng như cách diễn giảng các văn bản khắc trên trụ và vách đá của ông. Lập cơ sở trên những tài liệu này, các nhà nghiên cứu trước đây cho rằng, ông chủ yếu là một quân vương Phật giáo, trải qua một cuộc chuyển hóa tâm thức, đến với Phật giáo và sau đó chủ động hỗ trợ Phật giáo và Tăng-già. Các nhà nghiên cứu gần đây đặt câu hỏi về những sự kiện trên, bởi vì những nguồn tài liệu ngoài truyền thống Phật giáo, chính các bản khắc văn của A-dục ít nói đến những điểm giáo lý, triết học Phật giáo, mặc dù khái niệm "Đạt-ma" (zh. 達磨, sa. "dharma", pi."dhamma") được nhắc rất nhiều lần. Một vài học giả diễn giảng là đây chính là dấu hiệu của việc A-dục muốn lập một tôn giáo quần chúng có tính cách bao gồm, đa tôn giáo cho quân vương của mình (Romila Thapar); và tôn giáo quần chúng này đặt cơ sở trên khái niệm Đạt-ma như một năng lực luân lý, nhưng không ủng hộ hoặc đề cao bất cứ một triết lý có thể gán vào những trào lưu tôn giáo triều vua A-dục (ví như Kì-na giáo, Bà-la-môn giáo hoặc Sinh kế giáo, sa. "ājīvika"). Tuy nhiên, như A.W.P. Guruge cho thấy bằng nhiều ví dụ từ kinh tạng Pali, thuyết tôn giáo quần chúng bên trên không có lập trường vững chắc. Trong mọi trường hợp, tất cả các học giả hiện này đều nhất trí là A-dục đã trị nước với một tấm lòng nhân ái, khoan dung đối với tất cả những trào lưu tôn giáo thời đó. Cái tên "A-dục", hay "Ashoka" có nghĩa là "không đau khổ" trong tiếng Sanskrit. Trong các sắc lệnh ông tự xưng là "Devaanaampriya" hay là "Người được thần linh phù hộ". H.G. Wells viết về vua A-dục: Truyền thuyết về ông được lưu lại trong Ashokavadana ("Chuyện kể về A-dục vương") trong thế kỷ thứ II và Divyavadana ("Chuyện kể linh thiêng").Ashoka là vị hoàng tử thứ hai của vua Bindusara và của Vương triều Maurya Theo như truyền thống Phật giáo, miêu tả trong "Truyền thuyết về A-dục vương" vào thế kỷ thứ II, sự ra đời của A-dục được tiên tri bởi Phật Thích-ca Mâu-ni, trong câu chuyện "Quà của Đất": Theo sau lời tiên tri này, "Truyền thuyết về A-dục vương" còn nói thêm rằng A-dục cuối cùng được hạ sinh như là hoàng tử của Hoàng đế Bindusara xứ Maurya bởi một thứ phi tên là Dharma. Dharma được kể là con của một Brahmin (Bà la môn) nghèo. Ông dâng con gái vào cung vua vì có lời tiên đoán rằng con trai (của Dharma) sẽ là một hoàng đế vĩ đại. Mặc dù Dharma có dòng dõi tăng lữ, sự kiện cô không phải là hoàng tộc đã làm cô có một vị trí thấp trong cung cấm. A-dục có một số người anh cùng cha khác mẹ lớn tuổi hơn và một người em trai, Vitthashoka, con trai thứ của Dharma. Các hoàng tử cạnh tranh lẫn nhau hết sức gay gắt, nhưng A-dục trẻ tuổi xuất sắc cả trong quân sự lẫn các môn học được dạy dỗ. Có một sự đối đầu gay gắt, đặc biệt là giữa A-dục và người anh Susima. Thời kì nắm quyền lực. Trưởng thành như một vị tướng bất khả chiến bại và một người cầm quân khôn ngoan, A-dục tiếp tục chỉ huy một vài quân đoàn của quân đội Maurya. Uy tín anh trong vương quốc tăng dần khiến các người anh lớn lo sợ anh sẽ được phụ hoàng Bindusara chọn làm người kế vị. Người lớn tuổi nhất, Hoàng tử Susima, theo truyền thống sẽ là người nối ngôi, thuyết phục phụ hoàng gửi A-dục dẹp quân nổi loạn ở thành phố Takshashila trong một tỉnh phía tây bắc của Sindh, mà Hoàng tử Susima là thống đốc. Takshashila là một nơi bất ổn bởi dân số Ấn-Hy Lạp hiếu chiến và sự điều hành kém cỏi của bản thân Susima. Điều này đã tạo nên sự thành lập của các sứ quân khác nhau tạo ra nổi loạn. Ashoka tuân lệnh và lên đường đền vùng có biến. Khi tin tức về A-dục đem quân tiến đánh lan đến, anh được chào đón bởi các sứ quân và cuộc nổi loạn kết thúc mà không cần một trận đánh nào. (Tỉnh này nổi loạn một lần nữa dưới triều A-dục vương, nhưng lần này cuộc nổi dậy bị dập tắt với một bàn tay sắt). Sự thành công của A-dục làm các người anh cùng cha khác mẹ thêm lo lắng là anh muốn lên ngôi, và nhiều lời sàm tấu từ Susima khiến Bindusara gửi A-dục đi đày. Anh đi vào vùng Kalinga và mai danh ẩn tích. Nơi đó anh gặp một cô gái đánh cá tên là Kaurwaki, họ yêu nhau; các bản khắc đá tìm ra gần đây cho thấy cô ta trở thành hoàng hậu thứ hai hay thứ ba của anh. Trong khi đó, lại có một cuộc nổi loạn ở vùng Ujjain. Hoàng đế Bindusara triệu tập A-dục về sau hai năm đi đày. A-dục tiến về Ujjain và bị thương trong trận chiến sau đó, nhưng các tướng của anh đã dập tắt cuộc nổi loạn. A-dục được chữa trị ở một nơi bí mật để các tay chân của Susima không thể làm hại. Anh được chữa trị bởi các nhà sư Phật giáo. Chính nơi này là nơi anh lần đầu tiên biết được những lời dạy của Phật Thích-ca Mâu-ni, và cũng là nơi anh gặp nàng Devi xinh đẹp, là y tá riêng là cũng là con gái của một thương gia từ vùng Vidisha lân cận. Sau khi bình phục, anh cưới cô ta. A-dục, vào thời điểm đó, đã lập gia đình với Asandhimitra người là vương phi chính của ông trong nhiều năm cho đến khi bà mất. Bà có vẻ như là đã sống ở Pataliputra cả cuộc đời. Năm sau trôi qua một cách bình yên và Devi chuẩn bị hạ sinh đứa con đầu lòng của ông. Vào thời gian đó, Hoàng đế Bindusara lâm bệnh và hấp hối. Một nhóm các đại thần dẫn đầu bởi Radhagupta, người chán ghét Susima, đã mời A-dục về để nối ngôi, mặc dù Bindusara ưa thích Susima hơn. Theo như truyền thuyết, trong một cơn giận Hoàng tử A-dục tấn công Pataliputra (Patna ngày nay), và giết chết tất cả các người anh cùng cha khác mẹ, kể cả Susima, và ném xác của họ vào một cái giếng ở Pataliputra. Không biết là vua cha Bindusara đã qua đời hay chưa vào lúc đó. Vào giai đoạn đó của cuộc đời ông, nhiều người gọi ông là Chanda Ashoka nghĩa là kẻ giết người bất nhân Ashoka. Truyền thuyết Phật giáo đã vẽ lên một bức tranh đẫm máu bạo lực về các hành động của ông vào thời gian đó. Đa số là không đáng tin cậy, và nên được đọc như là các yếu tố làm nền để làm nổi bật lên sự chuyển hóa trong A-dục vương mà Phật giáo đem lại sau này. Sau khi lên ngôi, Ashoka mở rộng đế chế trong tám năm sau đó: đất nước mở rộng để bao gồm một vùng trải từ biện giới ngày nay của Bangladesh và bang Assam của Ấn Độ, ở phía đông, đến các vùng đất ngày nay là Iran và Afghanistan, ở phía tây, và từ Nút thắt Pamir ở phía bắc đến tận mũi của bán đảo của vùng phía nam Ấn Độ. Vào thời điểm đó của cuộc đời ông, ông được gọi là Chakravarti mà theo nghĩa đen là "Chuyển luân vương" (nghĩa rộng là hoàng đế). Vào khoảng thời gian đó, hoàng hậu Phật giáo Devi đã hạ sinh hai người con, Hoàng tử Mahindra và Công chúa Sanghamitra. Phần đầu của triều đại của vua A-dục rõ ràng là khá đẫm máu. A-dục liên tục tổ chức các chiến dịch, chinh phạt hết vùng đất này đến vùng đất khác và mở rộng đáng kể đế chế Maurya đã khá rộng lớn và tích trữ thêm của cải. Cuộc chinh phạt cuối cùng là bang Kalinga nằm trên bờ biển phía đông Ấn Độ trong vùng ngày nay là Orissa. Kalinga tự hào với chủ quyền và nền dân chủ; với nền dân chủ kết hợp vua - nghị viện, khá là đặc biệt trong xứ Bharata cổ đại, vì nơi đó đã tồn tại khái niệm Rajdharma, nghĩa là nghĩa vụ của người cầm quyền, được đan xen đến mức như là bản chất của khái niệm về sự dũng cảm và Kshatriya dharma. Nguyên nhân khởi đầu cuộc chiến tranh Kalinga (265 TCN hoặc 263 TCN) là không rõ ràng. Một trong những người anh của vua A-dục - và có lẽ là người ủng hộ Susima - có lẽ là bỏ chạy về phía Kalinga và chính thức lánh nạn ở nơi đó. Điều này đã làm A-dục nổi giận. Ông được khuyên bởi các quan đại thần nên tấn công Kalinga cho hành động phản bội đó. A-dục sau đó đã yêu cầu hoàng gia Kalinga đầu hàng. Khi họ coi thường tối hậu thư đó, A-dục gửi một trong các tướng lĩnh của mình đến Kalinga để buộc họ đầu hàng. Tuy nhiên, vị tướng và các quân lính của ông ta đã bị đánh bật ra thông qua những chiến thuật tài tình của tổng tư lệnh xứ Kalinga. Vua A-dục, nổi đóa bởi sự thất bại này, đã tấn công với cuộc xâm lăng lớn nhất trong lịch sử Ấn Độ đã ghi lại cho đến lúc đó. Kalinga đã chống cự mãnh liệt, nhưng họ không phải là đối thủ của quân lực hùng hậu của A-dục với các vũ khí mạnh hơn cùng các tướng sĩ nhiều kinh nghiệm hơn. Toàn bộ Kalinga bị cưỡng đoạt và tiêu diệt: các khuyến dụ của A-dục này nói rằng khoảng 100.000 người thiệt mạng phía Kalinga và 10.000 từ quân đội của A-dục; hàng ngàn người bị trục xuất. Quy y Tam bảo. Theo như truyền thuyết, một ngày sau khi cuộc chiến kết thúc vua A-dục cưỡi ngựa dạo quanh phía đông thành phố và tất cả những gì mà ông có thể thấy là những căn nhà cháy rụi và những xác người rải rác khắp nơi. Cảnh tượng này làm ông cảm thấy khó ở và ông thốt lên câu nói nổi tiếng, "Ta đã làm gì thế này? ". Sự tàn bạo của cuộc chinh phạt đã làm ông chuyển hóa sang Phật giáo và sử dụng vị trí của mình để truyền bá triết lý tương đối mới này lên đỉnh cao, đến mức như là La Mã cổ đại và Ai Cập. Cũng theo truyền thuyết, cũng có một yếu tố khác đã dẫn dắt vua A-dục đến Phật giáo. Một công chúa Maurya - vợ của một trong những người anh trai của A-dục (đã bị ông xử tử) chạy trốn khỏi dinh thự với một tỳ nữ, lo sợ cho đứa con chưa ra đời. Trải qua một hành trình dài, công chúa đang mang thai ngã gục dưới một gốc cây trong rừng, và người tỳ nữ chạy đến ngôi đền gần đó để nhờ một thầy tu hay thầy thuốc đến giúp. Trong khi đó, dưới gốc cây, công chúa hạ sinh một người con trai. Hoàng tử trẻ tuổi được nuôi nấng và dạy dỗ bởi những Brahmin trong ngôi đền. Sau này, khi cậu khoảng mười ba tuổi, cậu tình cờ gặp A-dục, ông ngạc nhiên khi thấy một cậu bé nhỏ tuổi như vậy ăn mặc như một nhà hiền triết. Khi cậu bé bình thản tiết lộ thân thế của mình, có vẻ như là A-dục xúc động vì hối hận và lòng thương cảm, và cho dời cậu bé và mẹ cậu về lại hoàng cung. Trong khi đó Hoàng phi Kavi, một người theo Phật giáo, và nuôi dạy các con theo tín ngưỡng đó, và rõ ràng là đã rời bỏ A-dục sau khi bà chứng kiến những việc tàn bạo xảy ra tại Kalinga. Vua A-dục đau khổ vì điều này, và được khuyên bởi người cháu của mình (người lớn lên trong đền thờ và mang tính thầy tu nhiều hơn là hoàng tử) quy thuận theo đạo pháp ("dharma") và tránh xa chiến tranh. Hoàng tử Mahindra và công chúa Sanghamitra, con của Hoàng hậu Devi, chán ghét bạo lực và cảnh đổ máu, nhưng biết rằng chiến tranh trong hoàng gia sẽ là một phần của cuộc đời họ. Do đó họ xin phép A-dục gia nhập với các nhà sư Phật giáo, mà A-dục miễn cưỡng chấp nhận. Hai người này đã thiết lập Phật giáo ở Ceylon (bây giờ là Tích Lan). Từ thời điểm đó vua A-dục, người đã từng được miêu tả như là "A-dục ác vương" (Chandashoka), bắt đầu được mô tả như là "A-dục sùng đạo" (Dharmashoka). Ông cho lan truyền trường phái Vibhajjvada của Phật giáo và thuyết pháp giáo lý trong vương quốc của mình cũng như ra khắp thế giới từ khoảng 250 TCN. A-dục vương do vậy được khẳng định là người có những cố gắng nghiêm túc đầu tiên để phát triển một chính sách Phật giáo. Qua đời và di sản. Vua Ashoka trị vì xấp xỉ trong bốn mươi năm, và sau khi ông qua đời, triều đại Maurya chỉ tồn tại thêm được năm mươi năm nữa. Ông có nhiều vợ và con, nhưng tên tuổi của phần lớn trong số họ đã bị quên lãng cùng năm tháng. Mahindra (Ma-hi-đà) và Sanghamitta (Tăng-già-mật-đa) là 2 người con nổi tiếng nhất của ông, ngày nay vẫn còn được nhớ đến. Họ là cặp song sinh hạ sinh bởi người vợ thứ nhất của ông là Devi ở thành phố Ujjain. Ông đã cho họ xuất gia theo đạo Phật, và 2 người này đã góp công truyền đạo Phật đến khắp thế giới. Mahindra và Sanghamitra đã đi đến Sri Lanka và truyền đạo cho vua, hoàng hậu và người dân xứ đó theo đạo Phật. Mahindra có lẽ cũng là chủ tọa của Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ tư tại Sri Lanka. Còn Tỳ-kheo-ni Sanghamitta (Tăng-già-mật-đa) thì đã mang theo 1 nhánh cây chiết từ Cội Bồ-đề (Phật Thích Ca đã ngồi dưới gốc cây bồ đề đó vào đêm ngài đạt tới giác ngộ) đem đến trồng ở Anuradhapura, sau này nhánh cây phát triển thành một cây to và người dân Sri Lanka gọi đây là "Cây Bồ Đề Vĩ Đại Cát Tường". Cho tới nay, trải qua gần 2.300 năm, Cây Bồ Đề Vĩ Đại vẫn sống tươi tốt và được người Sri Lanka coi là quốc bảo. Rất nhiều nhánh từ cây này đã được chiết để gửi đi trồng ở chùa chiền khắp nơi trên thế giới. Ngày nay vào ngày rằm tháng 11 âm lịch, Phật tử khắp nơi trong đảo quốc Sri Lanka vẫn hành lễ tưởng niệm công lao của Ma-hi-đà và Tăng-già-mật-đa Trong những năm tháng tuổi già, ông có vẻ chịu sự thao túng của người vợ trẻ nhất tên là Tishyaraksha. Người ta kể rằng bà ta đã làm cho hoàng tử Kunala, quan nhiếp chính ở Takshashila, bị mù bởi những âm mưu xảo trá. Kanula được tha tội tử hình và trở thành một người hát rong đi cùng với người vợ yêu của ông ta là Kanchanmala. Ở thành phố Pataliputra, vua Ashoka nghe lời hát của Kunala, và nhận ra rằng sự bất hạnh của Kunala có thể là sự trừng phạt của những tội lỗi trong quá khứ của nhà vua và kết tội chết Tishyaraksha, phục hồi Kunala về lại triều đình. Kunala được kế vị bởi con ông ta, Samprati. Nhưng triều đình của ông không kéo dài sau khi Ashoka qua đời. Quốc huy của Ấn Độ là bản sao của cột đá Ashoka. Triều đại Maurya của vua Ashoka thể dễ dàng biến mất vào lịch sử với nhiều năm tháng trôi qua và có lẽ sẽ như vậy, nếu như ông đã không để lại chứng cứ về những thành công của ông. Những bằng chứng về vị vua khôn ngoan này đã được khám phá dưới dạng những cột đá được chạm khắc lộng lẫy và những tảng đá khắc những tranh vẽ và những lời răn dạy. Những gì Ashoka để lại là ngôn ngữ viết đầu tiên ở Ấn Độ kể từ thành phố cổ đại Harappa. Không hẳn là Sanskrit, ngôn ngữ dùng trong các bản khắc đá là dạng ngôn ngữ nói thời đó gọi là Prakrit. Vào năm 185 TCN, khoảng năm mươi năm sau khi vua Ashoka qua đời, vị vua cuối cùng của Maurya, Brhadrata, bị giết hại một cách tàn bạo bởi tổng tư lệnh của quân đội Maurya, Pusyamitra Sunga, trong khi vua đang duyệt hàng quân danh dự. Pusyamitra Sunga thiết lập triều đại Sunga (185 TCN-78 TCN) và cai trị chỉ một phần của Đế chế Maurya. Đa phần lãnh thổ phía tây bắc của Đế chế Maurya (ngày nay là Iran, Afghanistan và Pakistan) trở thành Vương quốc Ấn-Hy Lạp (). Khi Ấn Độ giành lại được độc lập từ Đế quốc Anh nước này đã mô phỏng quốc huy của Ashoka thành quốc huy chính thức, đặt Dharmachakra (Bánh xe của các Nghĩa vụ Chính nghĩa) trên nhiều cột đá trên lá cờ của quốc gia vừa giành được độc lập. Năm 1992, vua Ashoka được xếp thứ 53 trong Danh sách những nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử của Michael H. Hart. Năm 2001, phim Ashoka - một bộ phim (có phần hư cấu) về cuộc đời của Ashoka được sản xuất. A-dục vương trong thời nay. Trong nghệ thuật và điện ảnh. Ashoka đại đế (phim truyền hình)