text
stringlengths
82
354k
Sương giáng (tiếng Hán: 霜降) là một trong 24 tiết khí của các lịch Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Nó thường bắt đầu vào khoảng ngày 23 hay 24 tháng 10 dương lịch, khi Mặt Trời ở xích kinh 210° (kinh độ Mặt Trời bằng 210°). Đây là một khái niệm trong công tác lập lịch của các nước Đông Á chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc cổ đại. Ý nghĩa của tiết khí này, đối với vùng Trung Hoa cổ đại, là "Sương mù xuất hiện". Theo quy ước, tiết sương giáng là khoảng thời gian bắt đầu từ khoảng ngày 23 hay 24 tháng 10 khi kết thúc tiết hàn lộ và kết thúc vào khoảng ngày 7 hay 8 tháng 11 trong lịch Gregory theo các múi giờ Đông Á khi tiết lập đông bắt đầu. Lịch Trung Quốc, cũng như lịch ở các nước Đông Á cổ đại bao gồm Việt Nam, bị nhiều người lầm là âm lịch thuần túy, dẫn đến ngộ nhận về việc tiết khí nói chung và Sương giáng nói riêng được tính theo chu kỳ của Mặt Trăng quay xung quanh Trái Đất. Trên thực tế lịch Trung Quốc cổ đại là một loại âm dương lịch, trong đó tiết khí, từ thời Hán Vũ Đế, đã được tính theo vị trí của Trái Đất trong chu kỳ chuyển động trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trời. Theo cách tính hiện đại, với điểm xuân phân là gốc có kinh độ Mặt Trời bằng 0°, thì điểm diễn ra hay bắt đầu tiết Sương giáng ứng với kinh độ Mặt Trời bằng 210°. Ngày bắt đầu tiết Sương giáng do vậy được tính theo cách tính của dương lịch hiện đại và nó thông thường rơi vào ngày 23 hay 24 tháng 10 dương lịch tùy theo từng năm. Tiết khí đứng ngay trước Sương giáng là Hàn lộ và tiết khí kế tiếp sau là Lập đông.
Lập đông (tiếng Hán: 立冬) là một trong 24 tiết khí của các lịch Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Nó thường bắt đầu vào khoảng ngày 7 hay 8 tháng 11 dương lịch, khi Mặt Trời ở xích kinh 225° (kinh độ Mặt Trời bằng 225°). Đây là một khái niệm trong công tác lập lịch của các nước Đông Á chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc cổ đại. Theo quy ước, tiết lập đông là khoảng thời gian bắt đầu từ khoảng ngày 7 hay 8 tháng 11 khi kết thúc tiết sương giáng và kết thúc vào khoảng ngày 22 hay 23 tháng 11 trong lịch Gregory theo các múi giờ Đông Á khi tiết tiểu tuyết bắt đầu. Ý nghĩa của tiết khí này, đối với vùng Trung Hoa cổ đại, là "Bắt đầu mùa đông". Còn theo thuật ngữ thiên văn học phương Tây, ngày bắt đầu mùa đông tại Bắc bán cầu là vào ngày 21 - 22 tháng 12, tương ứng với tiết Đông chí theo lịch Trung Quốc. Lịch Trung Quốc, cũng như lịch ở các nước Đông Á cổ đại bao gồm Việt Nam, bị nhiều người lầm là âm lịch thuần túy, dẫn đến ngộ nhận về việc tiết khí nói chung và Lập đông nói riêng được tính theo chu kỳ của Mặt Trăng quay xung quanh Trái Đất. Trên thực tế lịch Trung Quốc cổ đại là một loại âm dương lịch, trong đó tiết khí, từ thời Hán Vũ Đế, đã được tính theo vị trí của Trái Đất trong chu kỳ chuyển động trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trời. Theo cách tính hiện đại, với điểm xuân phân là gốc có kinh độ Mặt Trời bằng 0°, thì điểm diễn ra hay bắt đầu tiết Lập đông ứng với kinh độ Mặt Trời bằng 225°. Ngày bắt đầu tiết Lập đông do vậy được tính theo cách tính của dương lịch hiện đại và nó thông thường rơi vào ngày 7 hay 8 tháng 11 dương lịch tùy theo từng năm. Tiết khí đứng ngay trước Lập đông là Sương giáng và tiết khí kế tiếp sau là Tiểu tuyết.
Tiểu tuyết (tiếng Hán: 小雪) là một trong 24 tiết khí của các lịch Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Nó thường bắt đầu vào khoảng ngày 22 hay 23 tháng 11 dương lịch, khi Mặt Trời ở xích kinh 240° (kinh độ Mặt Trời bằng 240°). Đây là một khái niệm trong công tác lập lịch của các nước Đông Á chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc cổ đại. Ý nghĩa của tiết khí này, đối với vùng Trung Hoa cổ đại, là "Tuyết xuất hiện". Theo quy ước, tiết tiểu tuyết là khoảng thời gian bắt đầu từ khoảng ngày 22 hay 23 tháng 11 khi kết thúc tiết lập đông và kết thúc vào khoảng ngày 7 hay 8 tháng 12 trong lịch Gregory theo các múi giờ Đông Á khi tiết đại tuyết bắt đầu. Lịch Trung Quốc, cũng như lịch ở các nước Đông Á cổ đại bao gồm Việt Nam, bị nhiều người lầm là âm lịch thuần túy, dẫn đến ngộ nhận về việc tiết khí nói chung và Tiểu tuyết nói riêng được tính theo chu kỳ của Mặt Trăng quay xung quanh Trái Đất. Trên thực tế lịch Trung Quốc cổ đại là một loại âm dương lịch, trong đó tiết khí, từ thời Hán Vũ Đế, đã được tính theo vị trí của Trái Đất trong chu kỳ chuyển động trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trời. Theo cách tính hiện đại, với điểm xuân phân là gốc có kinh độ Mặt Trời bằng 0°, thì điểm diễn ra hay bắt đầu tiết Tiểu tuyết ứng với kinh độ Mặt Trời bằng 240°. Ngày bắt đầu tiết Tiểu tuyết do vậy được tính theo cách tính của dương lịch hiện đại và nó thông thường rơi vào ngày 22 hay 23 tháng 11 dương lịch tùy theo từng năm. Tiết khí đứng ngay trước Tiểu tuyết là Lập đông và tiết khí kế tiếp sau là Đại tuyết.
Đại tuyết (tiếng Hán: 大雪) là một trong 24 tiết khí của các lịch Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Nó thường bắt đầu vào khoảng ngày 7 hay 8 tháng 12 dương lịch, khi Mặt Trời ở xích kinh 255° (kinh độ Mặt Trời bằng 255°). Đây là một khái niệm trong công tác lập lịch của các nước Đông Á chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc cổ đại. Ý nghĩa của tiết khí này, đối với vùng Trung Hoa cổ đại, là "Tuyết dày". Theo quy ước, tiết đại tuyết là khoảng thời gian bắt đầu từ khoảng ngày 7 hay 8 tháng 12 khi kết thúc tiết tiểu tuyết và kết thúc vào khoảng ngày 21 hay 22 tháng 12 trong lịch Gregory theo các múi giờ Đông Á khi tiết đông chí bắt đầu. Lịch Trung Quốc, cũng như lịch ở các nước Đông Á cổ đại bao gồm Việt Nam, bị nhiều người lầm là âm lịch thuần túy, dẫn đến ngộ nhận về việc tiết khí nói chung và Đại tuyết nói riêng được tính theo chu kỳ của Mặt Trăng quay xung quanh Trái Đất. Trên thực tế lịch Trung Quốc cổ đại là một loại âm dương lịch, trong đó tiết khí, từ thời Hán Vũ Đế, đã được tính theo vị trí của Trái Đất trong chu kỳ chuyển động trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trời. Theo cách tính hiện đại, với điểm xuân phân là gốc có kinh độ Mặt Trời bằng 0°, thì điểm diễn ra hay bắt đầu tiết Đại tuyết ứng với kinh độ Mặt Trời bằng 255°. Ngày bắt đầu tiết Đại tuyết do vậy được tính theo cách tính của dương lịch hiện đại và nó thông thường rơi vào ngày 7 hay 8 tháng 12 dương lịch tùy theo từng năm. Tiết khí đứng ngay trước Đại tuyết là Tiểu tuyết và tiết khí kế tiếp sau là Đông chí.
Tiểu hàn (tiếng Hán: 小寒) là một trong 24 tiết khí của các lịch Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Nó thường bắt đầu vào khoảng ngày 5 hay 6 tháng 1 dương lịch, khi Mặt Trời ở xích kinh 285° (kinh độ Mặt Trời bằng 285°). Đây là một khái niệm trong công tác lập lịch của các nước Đông Á chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc cổ đại. Ý nghĩa của tiết khí này, đối với vùng Trung Hoa cổ đại, là "Rét nhẹ". Theo quy ước, tiết tiểu hàn là khoảng thời gian bắt đầu từ khoảng ngày 5 hay 6 tháng 1 khi kết thúc tiết đông chí và kết thúc vào khoảng ngày 20 hay 21 tháng một trong lịch Gregory theo các múi giờ Đông Á khi tiết đại hàn bắt đầu. Lịch Trung Quốc, cũng như lịch ở các nước Đông Á cổ đại bao gồm Việt Nam, bị nhiều người lầm là âm lịch thuần túy, dẫn đến ngộ nhận về việc tiết khí nói chung và Tiểu hàn nói riêng được tính theo chu kỳ của Mặt Trăng quay xung quanh Trái Đất. Trên thực tế lịch Trung Quốc cổ đại là một loại âm dương lịch, trong đó tiết khí, từ thời Hán Vũ Đế, đã được tính theo vị trí của Trái Đất trong chu kỳ chuyển động trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trời. Theo cách tính hiện đại, với điểm xuân phân là gốc có kinh độ Mặt Trời bằng 0°, thì điểm diễn ra hay bắt đầu tiết Tiểu hàn ứng với kinh độ Mặt Trời bằng 285°. Ngày bắt đầu tiết Tiểu hàn do vậy được tính theo cách tính của dương lịch hiện đại và nó thông thường rơi vào ngày 5 hay 6 tháng 1 dương lịch tùy theo từng năm. Tiết khí đứng ngay trước Tiểu hàn là Đông chí và tiết khí kế tiếp sau là Đại hàn.
Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc | từ  1 tháng 1 năm 2017 Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc là chức danh đứng đầu Ban Thư ký Liên Hợp Quốc. Trong thực tế, Tổng Thư ký cũng đồng thời là người phát ngôn của Liên Hợp Quốc. Theo Hiến chương Liên Hợp Quốc, chức danh Tổng Thư ký được bổ nhiệm bởi Đại Hội đồng căn cứ trên sự tiến cử của Hội đồng Bảo an. Tổng Thư ký có thể được tái bổ nhiệm. Tổng Thư ký đương nhiệm là António Guterres, người Bồ Đào Nha, nhậm chức vào ngày 1 tháng 1 năm 2017. Nhiệm kỳ đầu tiên của ông kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm 2021. Chức danh Tổng Thư ký được quy định trong bản Hiến chương như là "viên chức quản lý và quản trị chính" của tổ chức này. Nhiệm kỳ và quy trình tuyển chọn. Chức danh này được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ năm năm. Các Tổng Thư ký thường phục vụ hai nhiệm kỳ liên tiếp, riêng Boutros Boutros-Ghali chỉ ngồi ở vị trí này trong một nhiệm kỳ. Tổng Thư ký được bổ nhiệm bởi Đại Hội đồng, dựa trên sự tiến cử của Hội đồng Bảo an. Do vậy, sự tuyển chọn phụ thuộc vào phiếu phủ quyết của các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an. Chức danh này không được bầu chọn theo cách phổ thông đầu phiếu. Theo quy ước, chức vụ Tổng Thư ký được chọn tuần tự theo các khu vực địa lý, nhưng vì Boutros Boutros-Ghali từ Ai Cập chỉ phục vụ một nhiệm kỳ nên một người đến từ Phi châu, Kofi Annan, được chọn để kế nhiệm. Khi Annan hoàn tất nhiệm kỳ đầu tiên, các quốc gia thành viên, vì có ấn tượng tốt với thành tích của ông, đã quyết định dành cho ông nhiệm kỳ thứ hai mà không tính đến yếu tố nên chọn Tổng Thư ký kế nhiệm từ Á châu. Cho đến nay vẫn chưa có tổng thư ký nào đến từ Bắc Mỹ hoặc châu Đại Dương. Hầu hết các Tổng Thư ký là những ứng viên thoả hiệp xuất thân là viên chức trung cấp và ít có tiếng tăm. Những chính trị gia có thanh danh thường được giới thiệu cho chức vụ này, nhưng hầu như luôn luôn bị gạt bỏ. Chẳng hạn như các nhân vật tiếng tăm như Charles de Gaulle, Dwight Eisenhower và Anthony Eden được xem xét cho chức Tổng Thư ký đầu tiên của LHQ nhưng cuối cùng đều bị khước từ và một người đến từ Na Uy, Trygve Lie, giành được sự đồng thuận để được bổ nhiệm vào chức vụ này. Phụ thuộc vào nền chính trị quốc tế và cơ chế vận hành của nền chính trị thỏa hiệp, vì vậy dễ dàng tìm thấy nhiều điểm tương đồng trong quy trình và tiêu chuẩn tuyển chọn chức vụ Tổng Thư ký với các vị trí lãnh đạo thuộc các tổ chức quốc tế khác, trong đó nên kể đến quy trình bầu chọn giáo hoàng cho Giáo hội Công giáo Rôma. Xoay quanh việc bầu Tổng Thư ký năm 2006. Nhiệm kỳ của đương kim Tổng Thư ký Annan hết hạn vào cuối năm 2006. Đã có những đồn đại cho rằng cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton và cựu Tổng thống Chile Ricardo Lagos đang tính trở thành Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, Clinton đến từ một quốc gia là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an nên điều này được xem là phá vỡ truyền thống của LHQ. Các ứng viên khác là Ngoại trưởng Hàn Quốc Ban Ki-moon, Phụ tá Bộ trưởng Thông tin Ấn Độ Shashi Tharoor, Gro Harlem Brundtland, cựu Thủ tướng Na Uy và là cựu Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tarja Halonen, Tổng thống Phần Lan, và Vaira Vike Freiberga, Tổng thống Latvia. Dù vậy, nhiều người cho rằng chức vụ Tổng Thư ký LHQ nên dành cho châu Á. Cả Clinton lẫn Lagos cũng bác bỏ tin đồn họ có ý định ra tranh chức vụ này. Đằng sau hậu trường, Trung Quốc đang vận động ráo riết cho Phó Thủ tướng Thái Lan, Surkiart Sathirathai, ông này cũng nhận được sự ủng hộ từ Hoa Kỳ, Nga và ASEAN. Trong khi đó, Jayantha Dhanapala của Sri Lanka và Jose Ramos-Horta, cựu Ngoại trưởng Timor-Leste và là người được đề cử Giải Nobel Hòa bình cũng được xem là những ứng viên có nhiều triển vọng. Dhanapala là nhân vật có tiếng tăm trong nội bộ Liên Hợp Quốc nhờ vào những đóng góp của ông trong các vấn đề giải trừ quân bị. Có ý kiến được nhiều người đồng tình cho rằng đã đến lúc nên bổ nhiệm một phụ nữ vào chức vụ Tổng Thư ký. Trong suốt 60 năm qua, tất cả Tổng Thư ký đều là nam giới. Thủ tướng New Zealand, Helen Clark, và Toàn quyền nước này, Dame Silvia Cartwright, được xem là các ứng viên triển vọng sau khi được giới thiệu bởi tổ chức phụ nữ quốc tế Equality Now. Ngoại trưởng Hàn Quốc Ban Ki-moon đã được chính thức được bầu chọn để kế nhiệm Kofi Annan vào đầu năm 2007. Các nguyên Tổng thư ký còn sống. Từ sau Tết 2020 đến nay, có duy nhất nguyên Tổng thư ký còn sống là Ban Ki-moon. Nguyên Tổng thư ký qua đời gần đây nhất là Javier Pérez de Cuéllar vào ngày 4 tháng 3 năm 2020 sau tuổi 100. Dưới đây là bảng tổng hợp các nguyên tổng thư ký còn sống được xếp theo thứ tự nhiệm kỳ:
Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc (tiếng Anh: "United Nations General Assembly", viết tắt UNGA/GA) là một trong 5 cơ quan chính của Liên Hợp Quốc. Được thành lập bởi các quốc gia thành viên, Đại Hội đồng triệu tập các kỳ họp thường niên dưới quyền của vị chủ tịch được bầu chọn trong vòng các đại biểu đến từ các quốc gia thành viên. Là cơ quan duy nhất của Liên Hợp Quốc có đại diện của tất cả thành viên, Đại Hội đồng có chức năng của một diễn đàn để các thành viên để diễn đạt sáng kiến trong những vấn đề về hòa bình, tiến bộ kinh tế và nhân quyền. Cũng có thể đề xuất các cuộc nghiên cứu, đưa ra những lời khuyên, cổ xúy cho nhân quyền, soạn thảo và phát triển công pháp quốc tế và xúc tiến những chương trình kinh tế, xã hội, văn hóa và giáo dục. Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc được đề cập lần đầu trong Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945. Kỳ họp đầu tiên của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc được triệu tập ngày 10 tháng 1 năm 1946 tại Westminster Central Hall tại Luân Đôn với các đại biểu đến từ 51 quốc gia. Trong suốt giai đoạn từ 1946-1951, Đại Hội Đồng, Hội Đồng Bảo An, Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội đã dẫn dắt các hoạt động tại các tổng bộ tạm thời ở Lake Success, New York. Vào 1952, Đại Hội Đồng đã di dời đến tổng bộ cố định của Liên Hợp Quốc ở Midtown, Manhattan, New York trước khi diễn ra phiên họp thường niên lần thứ 7. Kỳ họp thường niên của Đại Hội đồng thường bắt đầu vào ngày thứ ba của tháng 9 và kết thúc vào giữa tháng 12 với chức danh Chủ tịch Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc được bầu vào lúc khởi đầu của mỗi kỳ họp. Đại Hội đồng biểu quyết bằng cách bỏ phiếu trong các vấn đề quan trọng - đề xuất hòa bình và an ninh; tuyển chọn thành viên cho các cơ quan; thu nhận, đình chỉ và trục xuất thành viên và các vấn đề ngân sách - cần được thông qua bởi đa số 2/3 số đại biểu có mặt và bỏ phiếu. Các vấn đề khác được quyết định bởi đa số quá bán. Mỗi quốc gia thành viên chỉ có một phiếu. Ngoại trừ việc thông qua các vấn đề về ngân sách bao gồm việc chấp nhận một thang bậc thẩm định, nghị quyết của Đại hội đồng không có giá trị ràng buộc đối với thành viên. Đại hội đồng có thể đề xuất về các sự việc trong khuôn khổ của Liên Hợp Quốc, ngoại trừ các vấn đề liên quan đến hòa bình và an ninh thuộc thẩm quyền xem xét của Hội đồng Bảo an. Trên lý thuyết, quy chế 1 quốc gia, 1 lá phiếu cho phép các nước nhỏ với dân số tổng cộng chiếm chỉ 8% dân số thế giới có khả năng thông qua nghị quyết với đa số 2/3 trên tổng số phiếu. Suốt thập niên 1980, Đại Hội đồng trở thành diễn đàn cho "đối thoại Bắc-Nam" - thảo luận về các vấn đề nảy sinh giữa các nước đã công nghiệp hoá và các nước đang phát triển. Những vấn đề này được đưa lên hàng đầu vì cớ sự phát triển thần kỳ và vì có diện mạo đang thay đổi của thành phần thành viên Liên Hợp Quốc. Năm 1945, Liên Hợp Quốc có 51 thành viên, nay con số này là 193, với hơn 2 phần 3 là các quốc gia đang phát triển. Chiếm phần đa số, các nước đang phát triển có khả năng ấn định nghị trình của Đại hội đồng (thông qua phương pháp phối hợp các nhóm quốc gia như G7), chiều hướng các cuộc tranh luận và thực chất của các quyết định. Đối với nhiều quốc gia đang phát triển, Liên Hợp Quốc là nguồn cung ứng cho họ ảnh hưởng ngoại giao và diễn đàn chính cho những sáng kiến ngoại giao. Đại hội đồng cũng phê chuẩn ngân sách của Liên Hợp Quốc và quyết định mỗi quốc gia thành viên phải trả bao nhiêu tiền để điều hành tổ chức. Hiến chương Liên Hợp Quốc trao trách nhiệm phê duyệt ngân sách cho Đại hội đồng (Chương IV, Điều 17) và chuẩn bị ngân sách cho tổng thư ký, với tư cách là "giám đốc hành chính" (Chương XV, Điều 97). Điều lệ cũng đề cập đến việc không thanh toán các khoản đóng góp được đánh giá (Chương IV, Điều 19). Chu kỳ lập kế hoạch, lập trình, lập ngân sách, giám sát và đánh giá của Liên Hợp Quốc đã phát triển qua nhiều năm; các nghị quyết chính về quy trình này bao gồm các nghị quyết của Đại hội đồng: 41/213 ngày 19 tháng 12 năm 1986, 42/211 ngày 21 tháng 12 năm 1987 và 45/248 ngày 21 tháng 12 năm 1990. Ngân sách bao gồm chi phí của các chương trình Liên Hợp Quốc trong các lĩnh vực như các vấn đề chính trị, công lý và luật pháp quốc tế, hợp tác quốc tế để phát triển, thông tin công cộng, nhân quyền và các vấn đề nhân đạo. Nguồn vốn chính cho ngân sách thường xuyên là sự đóng góp của các quốc gia thành viên. Quy mô đánh giá dựa trên khả năng thanh toán của các quốc gia. Điều này được xác định bằng cách xem xét tỷ lệ tương đối của họ trong tổng sản phẩm quốc dân, được điều chỉnh để tính đến một số yếu tố, bao gồm cả thu nhập bình quân đầu người của họ. Ngoài ngân sách thường xuyên, các quốc gia thành viên được đánh giá về chi phí của các tòa án quốc tế và, theo phiên bản sửa đổi của thang đo cơ bản, cho các chi phí của các hoạt động gìn giữ hòa bình. Đại hội đồng được giao phó trong Hiến chương Liên Hợp Quốc bầu các thành viên cho các cơ quan khác nhau trong hệ thống Liên Hợp Quốc. Thủ tục cho các cuộc bầu cử này có thể được tìm thấy trong Phần 15 của Quy tắc Thủ tục cho Đại hội đồng. Các cuộc bầu cử quan trọng nhất cho Đại hội đồng bao gồm những cuộc bầu cử cho sắp tới Chủ tịch Đại hội đồng,Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế và Xã hội, Hội đồng Nhân quyền, Tòa án Công lý Quốc tế, các thẩm phán của Tòa án Tranh chấp Liên Hợp Quốc, và Tòa phúc thẩm Liên Hợp Quốc. Hầu hết các cuộc bầu cử được tổ chức hàng năm, ngoại trừ cuộc bầu cử thẩm phán vào ICJ, diễn ra hai năm một lần. Hội đồng hàng năm bầu năm thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an với nhiệm kỳ hai năm, 18 thành viên của Hội đồng Kinh tế và Xã hội với nhiệm kỳ ba năm và 14-18 thành viên của Hội đồng Nhân quyền với nhiệm kỳ ba năm. Nó cũng bầu ra lãnh đạo của phiên họp Đại hội đồng tiếp theo, tức là Chủ tịch tiếp theo của Đại hội đồng, 21 Phó Chủ tịch và văn phòng của sáu ủy ban chính. Các cuộc bầu cử vào Tòa án Công lý Quốc tế diễn ra ba năm một lần để đảm bảo tính liên tục trong tòa án. Trong các cuộc bầu cử này, năm thẩm phán được bầu với nhiệm kỳ chín năm. Các cuộc bầu cử này được tổ chức cùng với Hội đồng Bảo an, với các ứng cử viên cần nhận được đa số phiếu bầu tuyệt đối ở cả hai cơ quan. Hội đồng cũng vậy, kết hợp với Hội đồng Bảo an, chọn tổng thư ký tiếp theo của Liên Hợp Quốc. Phần chính của các cuộc bầu cử này được tổ chức tại Hội đồng Bảo an, với Đại hội đồng chỉ đơn giản là bổ nhiệm ứng cử viên nhận được đề cử của Hội đồng. Các Cơ Quan Con. Các cơ quan phụ của Đại hội đồng được chia thành năm loại: 30 Ủy Ban (có 6 Ủy ban chính), 6 Ủy Ban Nhiệm Vụ, 7 Phòng Ban, 4 Hội Đồng và 1 Ban Hội Thẩm, các Nhóm Làm Việc và Khác Các Ủy Ban (Committees). Các ủy ban chính. Các ủy ban chính được đánh số theo thứ tự, 1–6: Vai trò của nhiều ủy ban chính đã thay đổi theo thời gian. Cho đến cuối những năm 1970, Ủy ban thứ nhất là Ủy ban Chính trị và An ninh cũng có đủ số lượng các vấn đề "chính trị" bổ sung mà một ủy ban chính bổ sung, không đánh số, được gọi là Ủy ban Chính trị Đặc biệt, cũng họp. Ủy ban thứ tư trước đây đã xử lý các vấn đề Ủy thác và Phi thực dân hóa. Với số lượng ngày càng giảm của những vấn đề như vậy cần được giải quyết như các lãnh thổ tin tưởng đã đạt được độc lập và Phong trào phi thực dân hóa đã tiến triển, các chức năng của Ủy ban Chính trị Đặc biệt đã được sáp nhập vào Ủy ban thứ tư trong những năm 1990. Mỗi ủy ban chính bao gồm tất cả các thành viên của Đại hội đồng. Mỗi người bầu một chủ tịch, ba phó chủ tịch, và một báo cáo viên vào đầu mỗi phiên họp thường kỳ của Đại hội đồng. Các ủy ban khác. Những thứ này không được đánh số. Theo trang web của Đại hội đồng, điều quan trọng nhất là: Các ủy ban khác của Đại hội đồng được liệt kê. Các Ủy Ban Nhiệm Vụ (Commissions). Có sáu Ủy Ban Nhiệm Vụ: Bất chấp cái tên của nó, Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc (UNCHR) "(đã bị thay thế từ năm 2006)" thực sự là một cơ quan phụ của ECOSOC. Các Phòng Ban (Boards). Có 7 Phòng Ban được phân loại thành hai nhóm: a) Ban điều hành và b) Ban thường Hội Đồng (Councils) và Ban Hội Thẩm (Panels). Hội đồng mới nhất là Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, đã thay thế UNCHR đã nói ở trên vào tháng 3 năm 2006. Có tổng cộng 4 Hội đồng và 1 Ban Hội Thẩm. Các nhóm làm việc và những người khác. Có một nhóm các nhóm làm việc đa dạng và các cơ quan phụ trợ khác. Những kỳ họp đặc biệt. Những kỳ họp đặc biệt có thể được triệu tập theo yêu cầu của Hội đồng Bảo an, của đa số thành viên Liên Hợp Quốc, hoặc của một thành viên nếu được đa số tán đồng. Một phiên họp đặc biệt được triệu tập vào tháng 10 năm 1995 với sự tham dự của những người đứng đầu chính phủ để kỷ niệm 50 năm thành lập Liên Hợp Quốc. Một kỳ họp đặc biệt khác được tổ chức vào tháng 9 năm 2000 để chào mừng thiên niên kỷ mới và xúc tiến Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Thêm một kỳ họp đặc biệt nữa (Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới 2005) được triệu tập vào tháng 9 năm 2005 kỷ niệm lần thứ 60 ngày thành lập Liên Hợp Quốc và thẩm định sự tiến bộ của Mục tiêu Thiên niên kỷ, cũng như thảo luận đề án "In Larger Freedom" (Tự do hơn nữa) của Kofi Annan. Đại Hội đồng được phép hành động để duy trì hoà bình quốc tế nhằm hành xử trách nhiệm chính yếu của mình trong trường hợp Hội đồng Bảo an không có khả năng làm điều này, thường là do bất đồng giữa các thành viên thường trực. Nghị quyết "Đoàn kết cho hòa bình", được thông qua năm 1950, dành cho Đại Hội đồng quyền triệu tập kỳ họp đặc biệt trong trường hợp khẩn cấp nhằm đưa ra những biện pháp chung – kể cả quyền sử dụng lực lượng vũ trang – trong trường hợp hòa bình bị xâm phạm hoặc có tiến hành xâm lấn. Cần có 2/3 số thành viên ủng hộ đề xuất. Những kỳ họp đặc biệt trong trường hợp khẩn cấp theo quy trình này đã được triệu tập trong mười trường hợp. Hai kỳ họp gần đây nhất, lần trước vào năm 1982 và lần sau từ 1997 đến 2003, đã được triệu tập nhằm phản ứng lại những hành động của Israel. Kỳ họp thứ chín xem xét tình hình tại những lãnh thổ Ả Rập đang bị chiếm đóng sau khi Israel đơn phương gia hạn luật pháp, quyền tài phán và quyền cai trị tại Cao nguyên Golan. Kỳ họp thứ mười khởi phát bởi sự chiếm đóng Khu Đông Jerusalem và các vấn đề Palestine. Tại kỳ họp đặc biệt của Đại Hội đồng triệu tập năm 1947, Oswaldo Aranha, khi ấy là trưởng phái đoàn Brasil tại Liên Hợp Quốc, khởi đầu truyền thống vẫn còn duy trì đến ngày nay, theo đó diễn giả đầu tiên của diễn đàn quốc tế quan trọng này luôn luôn là người Brasil. Ngày 21 tháng 3 năm 2005, Tổng Thư ký Kofi Annan đệ trình một bản tường trình, "In larger Freedom", phê phán Đại Hội đồng quá chú trọng đến sự đồng thuận đến nỗi đã thông qua những nghị quyết kém phẩm chất chỉ để phản ánh "mẫu số chung thấp nhất của các quan điểm dị biệt". Ông cũng chỉ trích Đại Hội đồng chỉ cố thiết lập một nghị trình quá bao quát thay vì tập trung vào "những vấn đề căn bản chủ chốt như tình trạng di dân quốc tế và một công ước toàn diện về khủng bố đã được bàn luận từ lâu". Annan đề nghị thu gọn nghị trình, cơ cấu các ủy ban và thủ tục của Đại Hội đồng; củng cố vai trò và thẩm quyền của chủ tịch Đại hội đồng; nâng cao vai trò của những định chế dân sự và thiết lập cơ chế tái thẩm định những quyết định của các ủy ban nhằm giảm thiểu những ủy thác không được cấp ngân sách và phương cách quản trị vi mô của Ban Thư ký Liên Hợp Quốc. Annan cũng nhắc nhở các thành viên Liên Hợp Quốc về trách nhiệm của họ phải thực thi cải tổ nếu họ muốn nhìn thấy Liên Hợp Quốc ngày càng hoạt động hiệu quả hơn.
Vectơ Poynting là tích vectơ giữa cường độ điện trường và cường độ từ trường, được đặt tên theo người phát hiện John Henry Poynting. Oliver Heaviside cũng tìm ra vectơ này một cách độc lập. Vectơ Poynting, thường được ký hiệu là formula_1, formula_2 hay formula_3, là vectơ mô tả sự truyền đi của năng lượng sóng điện từ trong môi trường. Chiều của vectơ Poynting là chiều truyền đi của năng lượng (có thể khác với chiều của vectơ truyền sóng formula_4), còn độ lớn của nó là năng lượng sóng điện từ truyền qua một đơn vị diện tích trong một đơn vị thời gian. với formula_6 là cường độ điện trường, formula_7 là cường độ từ trường, formula_8 là cảm ứng từ, formula_9 là hằng số từ môi của môi trường, trong chân không hệ số này là formula_10. Trong trường hợp sóng phẳng, ta có thể viết trung bình của vectơ Poynting theo thời gian dưới dạng: với khoảng thời gian T lớn hơn một chu kì dao động sóng. = Xem thêm =
Philip Cortelyou Johnson (8 tháng 7 năm 1906 – 25 tháng 1 năm 2005) là một kiến trúc sư . Ông là giám đốc đầu tiên của bộ phận kiến trúc thuộc Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York ("Museum of Modern Arts" - MoMA) vào năm 1946 và sau này là người đại diện của MoMA. Ông được tặng Huy chương Vàng của Học viện kiến trúc sư Mỹ năm 1978 và là người đầu tiên đoạn giải thưởng Pritzker vào năm 1979. Ông từng là sinh viên tại Đại học Harvard. Vào năm 1932, ông cộng tác với Henry-Russell Hitchcock viết tác phẩm "" ("The International Style: Architecture Since 1922"). Tác phẩm này đã ghi nhận các đặc điểm cho sự phát triển giai đoạn đầu của Kiến trúc Hiện đại trên thế giới. Johnson được biết đến với kiến thức sâu, rộng về trường phái hiện đại châu Âu và giới thiệu Ludwig Mies van der Rohe ở Mỹ. Với tư cách là cố vấn của nhóm New york Five, một nhà môi giới quyền lực, một nhân vật nổi danh và một ủy viên quản trị của Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại ("Museum of Modern Art" - MoMA), Johnson đã có một ví trí lý tưởng để quảng bá quan điểm của mình về kiến trúc như một ngành nghệ thuật cân bằng với các loại nghệ thuật khác. Tuy rằng Johnson vẽ không được đẹp nhưng bù lại ông có một giác quan về đồ họa và thiết kế hoàn hảo. Như một nhân vật nổi danh của kiến trúc Mỹ trong nhiều thập kỷ, Johnson vừa là một biểu tượng lớn, nhà tiên tri, một nhà châm biếm, ông thực sự là một nguồn dữ liệu tin tưởng của trí tuệ và các nhận xét phê bình. Liên quan tới chủ nghĩa Phát xít. Một trong số những điểm gây tranh cãi trong sự nghiệp của Johnson là sự tán dương chủ nghĩa Phát xít trong vòng tám năm, bắt đầu từ năm 1932. Sau khi tách mình ra khỏi thành công của ông với MoMa, Johnson đã nỗ lực gia nhập lực lượng của thống đốc bang Louisiana là Huey Long, một hành động mà báo chí đương thời cho là kì quái. Sau khi Huey Long bị ám sát năm 1935, Johnson viết một loạt các bài thẳng thừng Bài Do thái cho linh mục Charles Coughlin ở đài phát thanh Detroit, đồng thời chạy đua vào cơ quan công quyền ở Ohio và cố gắng lập một đảng Phát xít ở Mỹ. Johnson cũng đi du lịch tại Nürnberg trong cuộc mít tinh của Adolf Hitler năm 1938. Năm 1938, Johnson đến Ba Lan sau khi bị nước Đức xâm lược. Khi đó ông đã viết: "Những bộ quân phục màu xanh của người Đức đã làm quan cảnh thật vui tưoi và hạnh phúc" [...] "Ở đó chẳng còn mấy người Do Thái. Chúng ta thấy Warszawa bốc cháy và Modlin bị dội bom. Thật là một quang cảnh hào hứng" Sau một cuộc điều tra của FBI và trong quãng thời gian chờ đợi trước khi nước Mỹ tham chiến ở Thế Chiến thứ hai, Johnson từ bỏ sự ủng hộ của mình với chủ nghĩa Phát xít khoảng giữa năm 1940 và quay lại Đại học Harvard. Những năm sau đó, ông từ bỏ chủ nghĩa Phát xít và thiết kế một hội đường Do Thái giáo miễn phí như một lời xin lỗi. Trong triết lý của mình, Johnson chỉ tập trung vào thẩm mỹ mà bỏ đi tất cả các khía cạnh khác, trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1973, ông đã nói: "Điểm duy nhất tôi thực sự lấy làm tiếc về những chế độ độc tài không phải là về nền chuyên chính, bởi vì tôi hiểu rằng, vào thời của Julius, của Justinian và của Caesar phải có những nhà độc tài. Ý của tôi là tôi thực sự không quan tâm gì đến khía cạnh chính trị. Tôi không thấy bất cứ một ý nghĩa nào về nó. Về phần Hitler, nếu ông ta có thể là một kiến trúc sư tốt" Một số công trình nổi tiếng. Công trình nổi tiếng nhất của Johnson là nhà kính New Canaan tại Connecticut, một công trình có không gian mở và trong suốt, được ông thiết kế làm nhà riêng và cũng là luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của ông tại Đại học Harvard năm 1949. Công trình này có rất nhiều điểm tương tự nhà kính Farnsworth của Mies. Công trình trụ sở ATT của Johnson, hoàn thành năm 1984, lại mang một hình ảnh hoàn toàn khác. Với lớp vỏ màu hồng bằng đá cẩm thạch và một dáng vẻ cổ điển, công trình là một sự tương phản với thẩm mỹ kiến trúc Hiện đại của những nhà chọc trời trong khu Manhattan. Yếu tố đập vào mắt mọi người ở công trình đó là chi tiết trán tường có một cung tròn bị vỡ ra thành hình tròn kiểu Chippendade, một kiểu tủ cổ Ý. Cách xử lý này chính là một trong những thủ pháp của Kiến trúc Hậu Hiện đại. Theo một số nhà nghiên cứu, đây được xem như tuyên ngôn đầu tiên của Kiến trúc Hậu Hiện đại, khi mà thẩm mỹ của kiến trúc Hiện đại đã đi vào ngõ cụt. Một số công trình nổi tiếng khác của Johnson gồm có
Richard Joseph Neutra (8 tháng 4 năm 1892 tại thủ đô Viên của Áo – 16 tháng 4 năm 1970) được xem như một trong số các kiến trúc sư quan trọng nhất của Kiến trúc hiện đại. Ông là học trò của Adolf Loos, chịu ảnh hưởng của Otto Wagner, hai kiến trúc sư lớn của Áo thời điểm đó và có làm việc một thời gian tại Đức. Năm 1923, Neutra di cư sang Mỹ và nhập quốc tịch năm 1929. Ông làm việc một thời gian ngắn cho Frank Lloyd Wright nhưng đã dừng chân tại California, làm việc với Rudolf Schindler, một người bạn thân của ông từ lúc học đại học tại Wien. Sau đó, ông mở văn phòng kiến trúc của riêng mình cùng với vợ, bà Dione. Neutra nổi tiếng vì sự quan tâm đặc biệt đến nhu cầu của khách hàng, bất kể là ông xây dựng một căn nhà nhỏ hay một dinh thự lớn. Điều này tương phản với một số kiến trúc sư nổi tiếng khác, những người thường hay áp đặt quan điểm thẩm mỹ của mình xuống khách hàng. Ông đôi khi sử dụng một bảng câu hỏi chi tiết để biết được chính xác nhu cầu của khách hàng, đến mức khiến họ kinh ngạc. Kiến trúc nhà ở của ông là một sự kết hợp giữa nghệ thuật, kiến trúc phong cảnh và sự thoải mái thuận tiện. Ông mất ở Wuppertal, Đức, hiện nay con trai của Neutra là Dion vẫn tiếp tục điều hành hãng kiến trúc Richard và Dion Neutra ở Los Angeles, Mỹ.
Alvaro Siza (tên đầy đủ Alvaro Joaquim de Melo Siza Vieira; sinh vào năm 1933) là một kiến trúc sư Hậu Hiện đại. Ông sinh ra ngày 25 tháng 6 năm 1933 tại một thị trấn duyên hải nhỏ, Matosinhos, Bồ Đào Nha. Từ 1949 đến 1955, Alvaro Siza theo học kiến trúc tại trường kiến trúc, Đại học Porto. Năm 1954, ông đã hoàn thành tác phẩm đầu tiên của mình trước khi tốt nghiệp. Cùng năm đó, ông mở văn phòng thiết kế riêng ở thủ đô Porto. Các thể loại công trình của Siza rất đa dạng, từ bể bơi đến các công trình lớn, nhà ở, ngân hàng. Từ năm 1966, Siza bắt đầu dạy tại trường đại học, từ năm 1976 ông được bổ nhiệm làm giáo sư kiến trúc tại Đại học Porto. Ngoài ra, ông còn là giáo sư thỉnh giảng tại các trường đại học trên thế giới như Đại học Harvard, Đại học Pennsylvania, Đại học Bogota, Trường Bách khoa Lausanne và các đại học khác. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng lớn về kiến trúc, như Huy chương Vàng của quỹ Mies van der Rohe, đây là giải thưởng cao quý nhất về kiến trúc ở châu Âu, Huy chương Vàng kiến trúc của Cộng đồng chung châu Âu, giải thưởng Pritzker năm 1992.
Maki Fumihiko (槇 文彦, Maki Fumihiko "Điên Văn Ngạn") (sinh ngày 6 tháng 9 năm 1928) sinh ra tại Tokyo, Nhật Bản. Ông là một kiến trúc sư Hiện đại nổi tiếng thế giới. Là học trò của Tange Kenzo tại Đại học Tokyo, Maki tốt nghiệp năm 1952. Sau đó ông chuyển đến học tại Học viện Hàn lâm Nghệ thuật Cranbrook tại Bloomfield Hills, Michigan, Mĩ. Sau đó ông lấy bằng thạc sĩ kiến trúc tại Đại học Harvard. Sau khi ra trường, ông làm việc cho các hãng Skidmore, Owings Merrill ở New York và Sert Jackson và cộng sự ở Cambridge. Năm 1956, ông làm trợ lý giáo sư tại Đại học Washington và thiết kế công trình đầu tiên trên đất Mĩ là Trung tâm nghệ thuật Steinberg. Trong suốt thời gian làm việc trên đất Mĩ, Maki đã trải nghiệm được những kinh nghiệm thẩm mĩ về cả phương Đông và phương Tây và tạo dựng được cho mình một khiếu thẩm mĩ đa dạng để đáp ứng mọi loại khách hàng. Năm 1965, Maki quay lại Nhật Bản mở văn phòng thiết kế Maki và cộng sự tại Tokyo. Hầu hết những công trình của ông được xây dựng tại Nhật Bản. Vật liệu ưu thích của ông là các vật liệu truyền thống của kiến trúc Hiện đại như thép, bê tông, kí, chạ, nhưng kiến trúc của ông lại rất quan tâm đến truyền thống lịch sử Nhật. Ông được tặng giải thưởng Pritzker năm 1993.
Bùi Xuân Phái (1 tháng 9 năm 1920 – 24 tháng 6 năm 1988) là một họa sĩ Việt Nam, nổi tiếng với các tác phẩm vẽ về Phố cổ Hà Nội. Quê gốc của Bùi Xuân Phái là ở làng Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cũ. Ông tốt nghiệp khoa Hội họa trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa 1941–1945. Bùi Xuân Phái tham gia kháng chiến, tham dự triển lãm nhiều nơi. Năm 1952 ông về Hà Nội, sống tại nhà số 87 Phố Thuốc Bắc cho đến khi mất. Năm 1956-1957 ông giảng dạy tại Trường Mỹ thuật Hà Nội. Năm đó Bùi Xuân Phái tham gia phong trào Nhân văn Giai phẩm, phải đi học tập lao động trong một xưởng mộc tại Nam Định và ban giám hiệu nhà trường đã đề nghị ông phải viết đơn xin thôi không giảng dạy tại trường Mỹ thuật. Sự nghiệp hội họa. Bùi Xuân Phái là một trong những họa sĩ thuộc thế hệ cuối cùng của sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cùng thời với các danh họa Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên - những tên tuổi ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Ông chuyên về chất liệu sơn dầu, đam mê mảng đề tài phố cổ Hà Nội. Ngay từ lúc sinh thời, sáng tạo của ông đã được quần chúng mến mộ gọi dòng tranh này là Phố Phái. Tranh phố của Bùi Xuân Phái vừa cổ kính lại rất hiện thực, thể hiện rõ "hồn cốt" của phố cổ Hà Nội những thập niên 50, 60, 70. Các mảng màu trong tranh Phái thường có "đường viền đậm nét", phố không những trở thành chính nó mà còn gần hơn với con người, từ bề mặt đến cảnh quan đều có chiều sâu bên trong. Ngắm tranh phố cổ của ông, người xem nhận thấy họa sĩ đã gửi gắm những kỉ niệm, những hoài cảm cùng nỗi buồn man mác, tiếc nuối bâng khuâng trên từng nét vẽ, như điềm báo về sự đổi thay và biến mất của từng mái nhà, từng con người mang hồn phách xưa cũ. Ngoài phố cổ, ông còn vẽ các mảng đề tài khác, như: chèo, chân dung, nông thôn, khỏa thân, tĩnh vậ, giấy, bảng gỗ, thậm chí cả trên giấy báo khi không có đủ nguyên liệu. Ông dùng nhiều phương tiện hội họa khác nhau như sơn dầu, màu nước, phấn màu, chì than, bút chì... Các tác phẩm của ông biểu hiện sâu xa linh hồn người Việt, tính cách nhân bản và lòng yêu chuộng tự do, óc hài hước, đậm nét bi ai và khốn khổ. Ông đã góp phần rất lớn vào lĩnh vực minh họa báo chí và trình bày bìa sách, được trao tặng giải thưởng quốc tế (Leipzig) về trình bày cuốn sách "Hề chèo" (1982). Do tham gia phong trào Nhân văn Giai phẩm, từ năm 1957 trở đi, hoạt động của ông dần bị hạn chế. Để kiếm sống, ông phải vẽ tranh minh họa và tranh vui cho các báo, lấy bút hiệu là: PiHa, ViVu, Ly. Mãi đến năm 1984 ông mới có được cuộc triển lãm cá nhân (đầu tiên và cũng là duy nhất), nhận được sự đánh giá cao từ phía công chúng, đồng nghiệp. Với 24 bức tranh được khách hàng đặt mua ngay trong ngày khai mạc, có thể coi đây là triển lãm thành công nhất so với trước đó tại Việt Nam. Đó cũng là lần đầu tiên, Đài truyền hình Việt Nam dành thời lượng lớn phát sóng để giới thiệu về cuộc đời và tác phẩm của Bùi Xuân Phái trong chương trình Văn học Nghệ thuật. Mặc dù cuộc sống khó khăn nhưng với tình yêu nghệ thuật, khát khao tìm tòi và thể hiện cái đẹp dung dị đời thường bằng những nét vẽ cọ, Bùi Xuân Phái đã không ngừng vẽ, sáng tạo nghệ thuật ngay cả khi không mua được vật liệu và ông đã phải tận dụng mọi chất liệu như vỏ bao thuốc lá, giấy báo… Ông cũng là họa sĩ đã gạt bỏ mọi toan tính đời thường để cho ra đời các tác phẩm dung dị, đơn giản nhưng đầy tâm tư sâu lắng. Ông mất ngày 24 tháng 6 năm 1988 tại Hà Nội. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Huy chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam 1997 Giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì Tình yêu Hà Nội. Tháng 8 năm 2008, nhân kỷ niệm 85 năm ngày sinh của danh họa, Giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì Tình yêu Hà Nội là sáng kiến của Báo Thể thao Văn hóa (Thông tấn xã Việt Nam) và gia đình cố họa sĩ; nhằm tìm tòi, phát hiện và tôn vinh những tác giả, tác phẩm, việc làm, ý tưởng có hàm lượng nghệ thuật và khoa học cao, gắn bó với các mặt của đời sống Hà Nội và thấm đượm một tình yêu Hà Nội. Tên ông được đặt cho một con đường ở khu đô thị mới Mỹ Đình thuộc quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, phường Nam Lý, thành phố Đồng Hới, Quảng Bình và ở quận Hải Châu của thành phố Đà Nẵng. Ngày 1 tháng 9 năm 2019, trang chủ của công cụ tìm kiếm Google đã vinh danh ông nhân kỷ niệm 99 năm ngày sinh của ông bằng biểu tượng Google Doodle. Theo đại diện của Google, đây là sự vinh danh người họa sĩ đã góp phần ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại và những thành tựu cống hiến cho quê hương, cho những người yêu Hà Nội. Đây là lần thứ 2 Google Doodle vinh danh một người Việt Nam. Trước đó là cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhân dịp sinh nhật lần thứ 80 của ông.
Gottfried Semper (29 tháng 11 năm 1803 – 15 tháng 3 năm 1879) là một kiến trúc sư và nhà lý thuyết kiến trúc, một nhà phê bình nghệ thuật và một giáo sư đại học người Đức. Ông là người đã xây dựng Semperoper (Nhà hát opera) ở thành phố Dresden vào khoảng những năm từ 1838 đến 1841. Vào năm 1849, ông tham dự vào cuộc Nổi dậy tháng 5 và bị chính phủ truy nã. Semper lánh sang Zurich một thời gian và sau đó là London. Sau cùng, ông quay về Đức vào năm 1862 sau một lệnh ân xá của chính phủ cho các nhà cách mạng. Về lý thuyết kiến trúc, Sempers đặc biệt quan tâm xuống nguồn gốc của kiến trúc. Ông viết tác phẩm "Bốn yếu tố của kiến trúc" ("Die vier Elemente der Baukunst") năm 1851 và ông đóng một vai trò quan trọng trong cuộc tranh cãi về tính đa dạng của kiến trúc Hy Lạp cổ đại. Năm 1852, sau khi tham dự cuộc Triển lãm thế giới tại London, Sempers viết tác phẩm "Khoa học, công nghiệp và nghệ thuật" ("Wissenschaft, Industrie und Kunst") báo hiệu sự thay đổi trong phương thức sản xuất sẽ ảnh hưởng đến thẩm mỹ kiến trúc giai đoạn đó.
Adolf Loos (10 tháng 12 năm 1870 tại Brno, Morava – 23 tháng 8 năm 1933 tại Viên, Áo) là một trong những kiến trúc sư quan trọng nhất của kiến trúc Hiện đại của thế kỉ 20. Ông đã có liên quan với Phong cách Quốc tế. Tuy nhiên, ảnh hưởng của ông chủ yếu lại chỉ dựa trên một vài thiết kế nội thất và một số tiểu luận gây tranh cãi. Người ta thường biết đến ông nhiều hơn qua các bài bút chiến. Các công trình của Loos, từ những nhà ở nông thôn cho đến căn hộ và cửa hàng là những ví dụ mẫu mực về vẻ đẹp giản dị của kiến trúc. Vào thời kì đầu, những công trình xây dựng của ông chỉ được biết trong nước Áo. Ông sinh ngày 10 tháng 12 năm 1870 tại Brno, Morava, nay là Cộng hòa Séc. Thuở nhỏ, Adolf Loos làm việc ở xưởng thợ nề của bố ông, ở đây ông được làm quen với nghề thủ công của kiến trúc. Năm 17 tuổi, Loos thi vào Trường nghệ thuật Hoàng gia và Đế chế bang tại Reichenberg ở Bohemia. Năm 1889, Loos được gọi vào lính dự bị của quân đội hoàng gia Áo. Loos đặc biệt quan tâm tới các tác phẩm của Friedrich Schinkel, một kiến trúc sư Tân Cổ điển người Đức, và hơn tất cả là tác phẩm của Vitruvius. Ông sang Mỹ năm 1893 và bị ấn tượng bởi sự phát triển và sáng tạo của công nghiệp xây dựng Mỹ. Thời gian tại Mỹ đã giúp ông hình thành nên khiếu thẩm mỹ kiến trúc của mình. Năm 1896, Loos trở lại Wien và bắt đầu làm việc cho hãng thiết kế kiến trúc của Carl Mayreder. Vào cuối thập niên 1890, Aloos bắt đầu khuấy động những cuộn tranh luận của mình. Những tác phẩm bút chiến của ông với trường phái Cải cách Wien được đăng tải rộng rãi, trong khi công trình cửa hàng bách hóa Goldmann và Salatsch của ông được hoàn thành năm 1911, đối diện nhà thờ Hofburg ở Wien đã gây ra một vụ tranh cãi với kiến trúc mặt đứng phẳng lì của nó. Năm 1908, Adolf Loos công bố tác phẩm nổi tiếng "Trang trí và tội ác". Ông khẳng định sự phát triển của máy móc sẽ thủ tiêu hoàn toàn các chi tiết trang trí trên tác phẩm nghệ nghệ thuật. Với ông, trang trí là vô dụng, là phí phạm tài nguyên và thời gian con người. Sự phát triển đó, theo ông, được xem như sự tiến hóa của văn hóa con người. Một trong những công trình hấp dẫn nhất của ông, biệt thự Muller ở Praha, được xây dựng năm 1930, phục chế lại năm 2003. Công trình này được xem như đỉnh điểm cho ý tưởng tiên phong của ông về "Không gian kiến trúc xây dựng trên mặt bằng" ("Raumplan"), với sự phát triển liên tục về không gian thay vì giới hạn không gian theo quy ước.
Giuseppe Terragni (1904 tại Meda, Como – 1943) là một kiến trúc sư người Ý. làm việc dưới thời chính quyền phát xít của Benito Mussolini. Ông là người tiên phong của Kiến trúc Hiện đại Ý và thuộc trường phái Duy lý Ý. Bị ảnh hưởng bởi các Trường phái Duy lý, Chủ nghĩa Tương lai và Chủ nghĩa Cấu trúc, các công trình của Terragni là một sự kết hợp của đặc và rỗng với một vẻ đẹp thuần khiết. Một trong số những công trình nổi tiếng của ông là Trụ sở đảng Phát xít ("Casa del Fascio") ở Como, một thị trấn ở miền bắc nước Ý. Công trình được xây dựng từ năm 1932 cho đến năm 1936. Công trình này gợi lại hình thức sân trong của các cung điện kiến trúc Phục Hưng, Ý, các cửa sổ được tính toán theo các tỉ lệ trong lý thuyết kiến trúc của Hy Lạp và La mã cổ đại. Theo Terragni, truyền thống là nguồn cung cấp những ý tưởng hoàn hảo cho kiến trúc Hiện đại mới, tuy nhiên, điều đó phải bộc lộ qua những vật liệu và công nghệ xây dựng của thời đại. Giuseppe Terragni chết vì bị thương ở Mặt trận phía Đông với quân đội Liên Xô trong Thế chiến thứ hai.
"Bài này nói về một tỉnh cũ của Việt Nam. Xem các nghĩa khác tại Hà Đông (định hướng)" Hà Đông là một tỉnh cũ của Việt Nam. Tên gọi Hà Đông thay thế cho tên gọi cũ là Cầu Đơ vào ngày 6 tháng 12 năm 1904. Địa bàn tỉnh Cầu Đơ nguyên là tỉnh Hà Nội, được đổi tên sau khi cắt phần thành Hà Nội cho Pháp làm nhượng địa và tỉnh lỵ chuyển về Cầu Đơ. Tỉnh Hà Đông còn được gọi là Xứ Sơn Nam Thượng thuộc trấn Sơn Nam Tỉnh Hà Đông là một phần của thành phố Hà Nội sau khi mở rộng năm 2008. Hà Đông là một tỉnh đồng bằng thấp trũng, nếu không có đê thì sẽ thường ngập lụt, có vị trí địa lý: Phần phía tây nam nơi thuộc phủ Mỹ Đức là có đồi núi (bao gồm cả vùng Hương Sơn), đều bắt nguồn từ mạn Đà Giang chạy xuống. Sông ngòi phần nhiều làm giới hạn tỉnh như: sông Hồng (ranh giới phía Đông), sông Đáy tức Hát Giang (ranh giới phía Tây với Sơn Tây), phía Nam có sông Giè (tức sông Giẽ hay Màn Giang), giữa có sông Nhuệ (Nhuệ Giang) chảy qua tỉnh lỵ. Diện tích Hà Đông khoảng 1.250 km². Vào những năm 1920, dân số tỉnh Hà Đông khoảng 786 nghìn người, trong đó đa phần là người Kinh, cùng với khoảng 4.500 người Mường ở vùng Chợ Bến, phủ Mỹ Đức. Tỉnh Hà Đông có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm thị xã Hà Đông (tỉnh lỵ) và 8 huyện: Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa. Công sứ Pháp đầu tiên của tỉnh Hà Đông là Duranton (1904 - 1906). Tỉnh Hà Đông gồm 4 phủ: Hoài Đức (có thêm huyện Đan Phượng của tỉnh Sơn Tây nhập vào), phủ Mỹ Đức, phủ Thường Tín và phủ Ứng Hòa. Tỉnh lỵ tỉnh Hà Đông là thị xã Hà Đông, mà tên gọi cũ là Cầu Đơ. Năm 1915, huyện Hoàn Long của thành phố Hà Nội (gồm một phần các huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận cũ và một số khu vực lân cận thuộc huyện Từ Liêm về sau) được sáp nhập vào tỉnh Hà Đông. Nhưng đến năm 1942, huyện Hoàn Long được sáp nhập trở lại vào thành phố Hà Nội, đồng thời được chuyển thành Đại lý đặc biệt Hoàn Long. Năm 1961, phần lớn huyện Thanh Trì và một phần xã Kiến Hưng được chuyển về thành phố Hà Nội; 5 xã thuộc huyện Đan Phượng là Tân Dân (Thượng Cát), Tân Tiến (Liên Mạc), Trần Phú (Phú Diễn), Trung Kiên (Tây Tựu), Minh Khai và 3 xã: Hữu Hưng (Tây Mỗ và Đại Mỗ), Kiên Cương (Trung Văn), Xuân Phương, một phần các xã Vân Canh, Di Trạch thuộc huyện Hoài Đức cùng với một phần xã Vạn Phúc thuộc thị xã Hà Đông, được cắt chuyển về huyện Từ Liêm mới được thành lập. Ngày 1 tháng 7 năm 1965, hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây sáp nhập thành tỉnh Hà Tây. Trước khi sáp nhập, tỉnh Hà Đông có tỉnh lỵ là thị xã Hà Đông và 8 huyện: Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa. Hà Đông là tỉnh nổi tiếng với nhiều sản vật nông nghiệp, lại nhiều làng nghề thủ công nghiệp (công nghệ phát đạt), nên thương mại cũng rất phát triển. Toàn tỉnh có hơn 150 chợ, to nhất là chợ Đơ (nay là chợ Hà Đông), thứ đến là các chợ: chợ Bằng ở phủ Thường Tín, chợ Canh (làng Vân Canh), chợ Mỗ (làng Đại Mỗ), chợ Chuông thuộc làng Chuông ở phía Nam làng Đôn Thư, chợ Đình làng Phương Đình, chợ Bến phủ Mỹ Đức (giáp Hòa Bình), chợ Gôi, chợ Mơ (làng Hoàng Mai), chợ Sét. Chợ Chuông (thuộc thôn Chung Chính, ở giữa làng Chuông) chợ Chuông họp mỗi tháng 6 phiên chính vào các ngày 4, 10, 14, 20, 24, 30 Âm lịch, nếu vào tháng thiếu thì họp vào mồng 1 tháng tiếp theo. Chợ Chuông thuộc xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, có Bia lập thị từ thời cổ.
Cá heo sông là một nhóm động vật có vú thủy sinh chỉ sống ở vùng nước ngọt hay lợ. Đây là chỉ là một nhóm cá heo chia sẻ chung đặc điểm, chứ không phải một nhóm phân loại hợp lệ thuộc Cetacea. Các loài "cá heo sông" là thành viên của họ Platanistidae, Iniidae và Pontoporiidae. Có 5 loài cá heo sông còn sinh tồn. Cá heo sông khá nhỏ so với những cá heo khác, do đã thích ứng để sống trong vùng nước ấm, nông, có dòng chảy mạnh. Chúng biến thiên về kích cỡ, từ (cá heo Ấn-Hằng) tới (cá heo Amazon). Nhiều loài thể hiện dị hình giới tính ở chỗ là con đực to hơn con cái. Chúng có cơ thể thuôn và hai chi sau đã phát triển thành vây bơi. Cá heo sông dùng cái mỏ dài và những chiếc răng hình nón để bắt những con mồi nhanh lẹ trong nước đục. Chúng có hệ thống thính giác phát triển, thích ứng với cả trong không khí và dưới nước; chúng không phụ thuộc mấy vào tầm nhìn do nước nơi chúng sống thường rất đục. Những loài này phân bố không rộng lắm và thường chỉ có mặt ở những con sông và vùng châu thổ nhất định. Điều này làm chúng rất dễ bị sự tàn phá môi trường tác động. Thức ăn chính của cá heo sông là cá. Con đực có thể giao phối với nhiều con cái mỗi năm, những con cái chỉ giao phối mỗi hai hay ba năm. Con non ra đời vào những tháng mùa xuân và hè; con cái nuôi dưỡng chúng. Cá heo sông rất hiếm khi được nuôi giữ và con vật thường chết trong vòng vài tháng sau khi bắt; thành công trong nhân giống là rất ít. Bốn họ cá heo sông (Iniidae, Pontoporiidae, Lipotidae và Platanistidae) hiện được công nhận. Trước đây, nhiều nhà phân loại học từng xếp tất cả các loài cá heo sông vào họ Platanistidae, cũng như xem cá heo sông Ấn và cá heo sông Hằng là hai loài riêng biệt. Tính đến tháng 10 năm 2006, một nghiên cứu không tìm ra cá thể "Lipotes vexillifer" (cá heo sông Dương Tử) nào và coi như loài này đã tuyệt chủng. Với sự biến mất của chúng, họ Lipotidae cũng tuyệt chủng theo. Phân loại hiện hành như sau:
Sao Giác, Giác Tú (Chữ Hán: 角宿, bính âm: Jiǎo Xiù) hay Giác Mộc Giao (角木蛟) là tên gọi của một trong hai mươi tám chòm sao Trung Quốc cổ đại (nhị thập bát tú). Nghĩa đen của nó là sừng và con vật tượng trưng là giao long/thuồng luồng (Giác Mộc Giao). Nó là chòm sao thứ nhất trong 7 chòm sao thuộc về Thanh Long ở phương Đông, tượng trưng cho Mộc của Ngũ hành và mùa xuân. Mảng sao Giác hay Thiên Quan (天关) là tên gọi 2 sao nằm bên Thái Vi Viên, cạnh nó còn có chòm sao Phòng, chòm sao Chẩn. Sao Giác nằm ngay dưới xích đạo thiên cầu và cũng nằm trên hoàng đạo, ở khoảng giữa góc giờ 14h và 15h. Ngày nay, người ta xác định được mảng sao Giác là hai ngôi sao của chòm sao Thất Nữ, có tên gọi là α Virginis (Spica, Giác Tú 1, Thiên Môn (天门), Tướng (將)) và ζ Virginis (Giác Tú 2, Thiên Điền (天田), Lý (李)). Sao Giác có 11 mảng sao với 41 sao như sau: Sách "Khâm định nghi tượng khảo thành" của khâm thiên giám nhà Thanh bổ sung 54 sao.
Khu di tích lịch sử Kim Liên Khu di tích lịch sử Kim Liên là khu di tích tưởng niệm chủ tịch Hồ Chí Minh tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thuộc vùng duyên hải miền Trung Việt Nam, cách thành phố Vinh khoảng 15 km theo quốc lộ 46 . Hiện nay, nơi đây đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt. Là địa danh gắn liền với nơi sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở quê ngoại là làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An; nơi Hồ Chí Minh đã sống những năm 1901 - 1906 ở quê nội làng Kim Liên; khu mộ bà Hoàng Thị Loan (mẹ Chủ tịch Hồ Chí Minh); núi Chung và nhiều di tích khác đã gắn liền với tuổi thơ của Hồ Chí Minh. Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam công nhận là một trong những khu du lịch trọng điểm quốc gia và là một trong bốn khu di tích quan trọng bậc nhất về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lịch sử công nhận. Di tích lịch sử văn hóa Kim Liên (gọi tắt là Khu di tích Kim Liên) được Nhà nước cho xây dựng từ thập niên sáu mươi của thế kỷ trước . Tới năm 1979, Khu di tích Kim Liên được Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia theo Quyết định số 54VH/QĐ ngày 29 tháng 4 năm 1979 . Khu di tích Kim Liên là một trong bốn di tích quan trọng tại Việt Nam về Chủ tịch Hồ Chí Minh, lưu giữ những hiện vật, tài liệu, không gian văn hóa - lịch sử về thời niên thiếu của Hồ Chí Minh và những người thân trong gia đình của Người. Toàn bộ khu di tích bao gồm nhà tranh nhỏ của cha mẹ Hồ chủ tịch (hai cụ Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan); ngôi nhà của ông bà ngoại của Người; nhà thờ chi họ Hoàng Xuân (thuộc cụm di tích Hoàng Trù); nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc; giếng Cốc; lò rèn Cố Điền; nhà cụ cử Vương Thúc Quý - thầy học khai tâm của Người; nhà thờ họ Nguyễn Sinh; nhà cụ Nguyễn Sinh Nhâm - ông nội của chủ tịch Hồ Chí Minh; di tích cây đa, sân vận động Làng Sen; khu trưng bày các hiện vật, tài liệu và nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh (thuộc cụm di tích Làng Sen); phần mộ cụ Hoàng Thị Loan ở Động Tranh trên dãy Đại Huệ và cụm di tích núi Chung. Toàn khu di tích rộng trên 205 ha, các điểm và cụm di tích cách nhau 2 – 10 km. Được đánh giá là một trong những di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia, khu di tích Kim Liên được Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng đầu tư trong nhiều năm qua. Hằng năm, khu di tích đón tiếp hàng triệu khách tham quan trong và ngoài nước tới viếng thăm. Một số di tích tiêu biểu. Làng Kim Liên (tên Nôm là làng Sen), quê nội của chủ tịch Hồ Chí Minh, cách thành phố Vinh khoảng 12.5 km về phía Tây. Làng nằm ở gần núi Chung, cách núi Đại Huệ khoảng 3 km. Mộ cụ Hoàng Thị Loan. Trên lưng núi Động Tranh thuộc dãy Đại Huệ là nơi mai táng cụ Hoàng Thị Loan - mẹ của Hồ Chí Minh. Mộ bà được đặt trên lưng chừng dãy núi Đại Huệ khu vực thuộc xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tại vị trí có độ cao chừng 100m so với mực nước biển. Khu mộ là ngôi mộ của cụ Hoàng Thị Loan được xây dựng từ ngày 19 tháng 5 năm 1984 đến ngày 16 tháng 5 năm 1985. Nhìn tổng quát, ngôi mộ có hình một khung cửi khổng lồ (khi sinh thời, bà chuyên làm nghề dệt vải để nuôi các con). Xung quanh ngôi mộ được ốp bằng những phiến đá hoa cương và đá cẩm thạch. Nóc mộ được phủ lên bằng những hòn đá tự nhiên của núi Đại Huệ, phía trên có dàn bê tông che chắn có hình khung cửi được phủ đầy hoa giấy (được mang về trồng từ khu lăng mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc tại Cao Lãnh - Đồng Tháp). Tại nền sân thượng hình bán nguyệt trước ngôi mộ, có dựng một tấm bia lớn tạc tiểu sử và công lao của cụ Hoàng Thị Loan bằng đá đen. Hai bên tả hữu là đường đi lên và đường đi xuống được làm thành nhiều bậc đá khác nhau giống như hai giải lụa đào xõa xuống từ khung cửi. Từ chỗ chỉ đơn thuần là một ngôi mộ thì khu vực này đã được đầu tư xây dựng thành một khu tưởng niệm rộng lớn, liên kết với Khu di tích Kim Liên, khu lăng mộ Mai Hắc Đế tạo thành một quần thể di tích lịch sử. Từ ngày khánh thành đến nay, đã có hàng chục triệu lượt du khách trong và ngoài nước về đây thăm viếng để tỏ lòng ngưỡng mộ và biết ơn cụ Hoàng Thị Loan. Cụm di tích làng Hoàng Trù. Cụm di tích Hoàng Trù nằm trọn trong làng Hoàng Trù (thường goi là làng Chùa), quê ngoại của Hồ Chí Minh và cũng là nơi Bác Hồ ra đời. Diện tích của cụm di tích này khoảng 3.500 m². Ngôi nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Là ngôi nhà lá 5 gian được dân làng Sen quê nội Hồ Chí Minh dựng lên từ quỹ công của dân làng để mừng ông Nguyễn Sinh Sắc, cha của Hồ Chí Minh, khi ông đỗ phó bảng khoa thi Hội năm 1901. Cụ Nguyễn Sinh Sắc dành hai gian để đặt bàn thờ bà Hoàng Thị Loan và để tiếp khách. Bàn thờ được làm bằng liếp tre nứa trên trải chiếu nhỏ để bát hương, cây nến và bài vị bằng gỗ giản dị. Gian thứ tư là nơi nghỉ của Sắc với bộ phản gỗ kê bên cửa sổ chính, bên cạnh có chiếc án thư nơi để ông dạy các con học chữ và đây cũng là nơi vào các buổi tối ông thường mời bà con ngồi quây quần uống nước trà xanh. Các kỷ vật trong ngôi nhà hiện còn được giữ lại hầu như nguyên vẹn: hai bộ phản gỗ là nơi nghỉ của Phó bảng và hai con trai, chiếc giường là của bà Thanh (tên hiệu Bạch Liên) con gái cụ, chiếc rương đựng lương thực, chiếc tủ đứng hai ngăn đựng đồ dùng, chiếc mâm bằng gỗ sơn đen.
Sao Khuê hay Khuê Tú (tiếng Hán: 奎宿, bính âm: Kuí Xiù) hoặc Khuê Mộc Lang (奎木狼) là một trong hai mươi tám chòm sao Trung Quốc cổ đại. Nghĩa đen của nó là chân và con vật tượng trưng là chó sói (Khuê Mộc Lang). Nó là chòm sao thứ nhất trong số 7 chòm sao thuộc về Bạch Hổ ở phương Tây, tượng trưng cho Kim của Ngũ hành và mùa thu. Cùng với Sao Khôi là thần chủ quản văn chương, trí tuệ. Sao Khuê có 9 mảng sao như sau: Văn hóa truyền thống. "Khuê Văn" theo quan niệm truyền thống của người phương đông lý giải về thiên thể: Khuê là tên một ngôi sao trong chòm 28 sao, là đầu Bạch Hổ phương tây, có 16 ngôi, sắp xếp khúc khuỷu giống hình chữ Văn 文. Trong sách Hiếu kinh có ghi: "Khuê chủ văn chương". Về sau người ta coi sao "Khuê" biến hoá là người đứng đầu của quan văn. Trong văn hóa Đông Á và Việt Nam, sao Khuê là biểu tượng của văn chương, học thuật. Khuê Văn Các được xây dựng tại Quốc Tử Giám, trường Đại học đầu tiên của Việt Nam, mang biểu tượng này. Những bậc bác học lỗi lạc trong lịch sử được ví là sáng như sao Khuê; một trong số đó là Nguyễn Trãi, đã được Lê Thánh Tông cho tạc bia: "Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo" ("tấm lòng ức Trai sáng tựa sao Khuê"). Hoàng Bào đại vương là tên của sao Khuê khi hạ phàm làm yêu tinh trong Tây du ký
Cục Điều tra Liên bang Cục Điều tra Liên bang Mỹ (tên gốc viết tắt là "FBI") là một cơ quan trực thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, có nhiệm vụ thực hiện điều tra tội phạm ở cấp độ liên bang và tình báo nội địa. FBI có quyền hạn điều tra về các vi phạm trong hơn 200 danh mục về tội ác liên bang. Khẩu hiệu của Cục là "Trung thành, Quả cảm, Liêm chính". Trụ sở của Cục là Tòa nhà J. Edgar Hoover tọa lạc tại thủ đô Washington, D.C. Còn 56 văn phòng đại diện nằm rải rác và hơn 400 cơ quan địa phương ở các thành phố nhỏ và thị trấn trên khắp các thành phố lớn của Hoa Kỳ. Ngoài ra, Cục còn có hơn 50 văn phòng được gọi là ‘’"tùy viên pháp lý"’’ bên trong các lãnh sự Hoa Kỳ trên khắp thế giới. Năm 1886, Tòa án Tối cao nhận thấy rằng liên bang không hề có đủ thẩm quyền điều chỉnh một số vấn đề xảy ra ở cùng lúc nhiều tiểu bang, dẫn đến Đạo luật Thương mại Liên bang ra đời năm 1887 nhằm tạo ra một cơ quan thực thi pháp luật có đủ thẩm quyền trong việc giải quyết các vụ việc mang tính chất cấp Liên bang. Tuy nhiên Bộ Tư pháp lại tỏ ra chậm chạp trong việc phân phối nguồn nhân lực cho Cục, dẫn đến Tổng Chưởng lý Charles Joseph Bonaparte phải nhờ đến các cơ quan khác, có cả Cơ quan Mật vụ để hỗ trợ điều tra. Tuy nhiên, Quốc hội đã thông qua bộ luật nghiêm cấm Bộ Tư pháp sử dụng nhân lực từ Bộ Ngân khố, do đó Tổng Chưởng lý phải tổ chức và thành lập Cục Điều tra một cách hoàn chỉnh với nhân sự là các đặc vụ riêng của Cục. Cơ quan Mật vụ đã hỗ trợ Bộ Tư pháp 12 đặc vụ và những đặc vụ này đã trở thành những đặc vụ đầu tiên của Cục Điều tra mới thành lập. Những đặc vụ đầu tiên của FBI hóa ra lại là những đặc vụ của Cơ quan Mật vụ, từ đó Cục chính thức có đầy đủ thẩm quyền theo Đạo luật Thương mại Liên bang năm 1887. FBI phát triển rất mạnh với một lượng đặc vụ rất dày đặc vào tháng 7 năm 1908 trong thời kì của Tổng thống Theodore Roosevelt, nhiệm vụ chính thức đầu tiên của Cục là thâm nhập và khảo sát về các nhà chứa để chuẩn bị thực thi pháp luật theo Đạo luật ‘’Buôn bán nô lệ da trắng’’ hay còn gọi là ‘’Đạo luật Mann’’ được ban hành vào 25 tháng 6 năm 1910. Năm 1932, Cục đổi tên là Cục Điều tra Hoa Kỳ. Năm sau đó, Cục kết hợp với Cục Kiểm soát Rượu và chất có cồn và được đặt tên lại là Đơn vị Điều tra trước khi tách ra và trở thành một Cục hoàn chỉnh trực thuộc Bộ Tư pháp vào năm 1935. Trong cùng năm đó, Cục chính thức đổi tên Đơn vị Điều tra thành Cục Điều tra Liên bang và được sử dụng cho đến ngày nay, viết tắt là FBI. Thời kì của J. Edgar Hoover. Giám đốc của Cục Điều tra J. Edgar Hoover trở thành giám đốc đầu tiên của Cục mới thành lập là Cục Điều tra Liên bang, nếu tính luôn thời gian lãnh đạo từ khi Cục là Cục Điều tra, rồi sang Đơn vị Điều tra và Cục Điều tra Liên bang, ông đã phục vụ 48 năm. Sau cái chết của Hoover, luật đã giới hạn lại thời gian nắm quyền của các giám đốc về sau chỉ tối đa 10 năm. Hoover có nhiều ảnh hưởng đáng kể trong hầu hết mọi kế hoạch và công việc của FBI trong nhiệm kì của mình, Phòng Thí nghiệm Khoa học Điều tra Tội phạm hay còn gọi là Phòng Thí nghiệm FBI ra đời năm 1932, ý tưởng chủ yếu là của Hoover. Trong thời kì ‘’Chiến tranh với tội phạm’’ trong thập niên 1930, các đặc vụ FBI đã bắt giữ hoặc giết chết rất nhiều tội phạm nguy hiểm mang trên mình các bản án về tội bắt cóc, trộm cướp và giết người trên toàn quốc, như John Dillinger, ‘’Baby Face’’ Nelson, Kate ‘’Ma’’ Baker, Alvin ‘’Creepy’’ Karpis và George ‘’Machine Gun’’ Kelly. Ngoài ra, Cục còn có nhiệm vụ quan trọng khác là làm giảm phạm vi và ảnh hưởng của nhóm Ku Klux Klan. Thêm vào đó, nhờ vào Edwin Atherton, FBI đã thành công trong việc bắt giữ được cả đội quân khởi nghĩa tân Mexico dọc biên giới California trong thập niên năm 1920. FBI và An ninh Quốc gia. Bắt đầu vào thập niên năm 1940 và tiếp tục vào thập niên 1970, Cục tiến hành điều tra các hoạt động gián điệp chống lại nước Mỹ và đồng minh. Cục đã bắt được 8 điệp viên theo Phát xít đang lên kế hoạch phá hoại nước Mỹ và xử tử 6 trong số 8 tên. Trong thời gian này, một liên minh giữa Hoa Kỳ và Anh quốc nỗ lực phá mã ‘’Venona’’(mã liên lạc tình báo và ngoại giao của Liên Xô) – mà FBI là cơ quan chủ đạo – đã hỗ trợ nhà cầm quyền đọc được thông tin liên lạc của Liên Xô. Nhờ những nỗ lực trên mà họ có thể xác định được có những người Mỹ làm việc cho tình báo Liên Xô. Hoover là người chỉ đạo trực tiếp chiến dịch này nhưng đã không thông báo cho Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) mãi cho đến năm 1952. Điểm nổi bật trong sự việc này là vụ bắt giữ Rudolf Abel năm 1957. Việc phát hiện ra điệp viên Xô Viết tại Hoa Kỳ đã thôi thúc nỗi ám ảnh từ lâu của Hoover về mối hiểm họa tiềm tàng mà ông nhận thấy được từ những Người Mỹ cánh tả, xuất xứ từ công đoàn của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ cho đến những người thuộc phe Tự do. FBI và hoạt động nhân quyền. Trong suốt thập niên 1950 và 1960, các quan chức FBI bắt đầu quan tâm nhiều đến sự ảnh hưởng của các lãnh tụ dân quyền. Đơn cử, năm 1956, Hoover đã làm một việc rất hiếm khi làm là gửi một bức thư mở tố cáo Bác sĩ T.R.M Howard, một lãnh tụ dân quyền, bác sĩ và là một nhà buôn phát đạt ở Mississippi, người đã chỉ trích sự vô trách nhiệm của FBI trong vụ giải quyết án mạng của George W. Lee, Emmett Till và những người da đen khác tại miền Nam. FBI đã thực hiện một chương trình giám sát nội địa gây nhiều tranh luận mang tên ‘’COINTELPRO’’ nghĩa là Chương trình Phòng chống Tình báo. Chương trình tập trung điều tra các tổ chức chính trị bạo động bên trong nước Mỹ, bao gồm các tổ chức bất bạo động, tổ chức vũ trang và Liên đoàn Lãnh đạo Cơ đốc miền Nam. Martin Luther King, Jr. từng là một mục tiêu thường xuyên bị điều tra. Theo lời của Carl Rowan, phóng viên tờ The Washington Post quả quyết rằng FBI đã gửi ít nhất một lá thư nặc danh kêu gọi King nên tự sát. Tháng 3 năm 1971, một cơ quan địa phương của FBI tại Media, Pennsylvania bị trộm, kẻ trộm đã lấy đi nhiều tài liệu mật và gửi chúng cho một loạt các tuần báo trong đó có tờ "Harvard Crimson". Trong số các tài liệu bị mất, có bản chi tiết chương trình ‘’COINTELPRO’’, với rất nhiều cuộc điều tra về những công dân bình thường – bao gồm một nhóm các sinh viên da đen tại trường đại học quân sự và con gái của Đại biểu Quốc hội Henry Reuss của Wisconsin. Cả đất nước ‘’choáng váng’’ với những sự thật được phơi bày, nhiều Đại biểu Quốc hội bao gồm cả lãnh đạo đa số ở Hạ viện Hale Boggs đã tố cáo các hành động này của FBI, khi họ chứng minh được điện thoại của Boggs và một số đại biểu khác bị ghi âm lén. FBI và vụ ám sát Kennedy. Khi Tổng thống John F. Kennedy bị bắn chết, quyền điều tra được trao cho các phòng cảnh sát địa phương cho đến khi Tổng thống Lyndon B. Johnson chỉ định FBI trực tiếp vào việc. Việc làm này là để đảm bảo sự trật tự trong thứ bậc giải quyết án mạng ở cấp độ liên bang, Quốc hội đã tán thành khi thông qua dự luật giao quyền cho FBI tiếp quản điều tra về cái chết của các quan chức cấp liên bang. FBI và tội phạm có tổ chức. Nhằm đối phó với tội phạm có tổ chức, vào tháng 8 năm 1953, FBI đã tạo ra chương trình ‘’Top Hoodlum’’, chương trình đòi hỏi các cơ quan đại diện thu thập thông tin về các băng Đảng và địa bàn hoạt động của chúng rồi báo cáo thường xuyên về cho Washington để tổng hợp thông tin tình báo. Sau khi Quốc hội thông qua đạo luật Tệ tham nhũng và ảnh hưởng của các băng Đảng, viết tắt là RICO, FBI bắt đầu điều tra các nhóm buôn lậu rượu có tổ chức vốn thực hiện nhiều tội ác ở các thành phố chính và cả những thị trấn nhỏ. Tất cả mọi việc đều được FBI thực hiện bí mật và sử dụng nội gián bên trong các tổ chức này để tiêu diệt chúng. Mặc dù Hoover phủ nhận sự tồn tại của Nghiệp đoàn Tội phạm Quốc gia ở nước Mỹ, nhưng Cục đã thực hiện nhiều chiến dịch để chống lại các nghiệp đoàn và gia đình tội phạm, như Sam Giancana và John Gotti. Đạo luật RICO vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay để kiếm soát tội phạm có tổ chức và các cá nhân liên quan. Tuy nhiên, vào năm 2003, một Ủy ban thuộc Quốc hội đã gọi chương trình nội gián chống tội phạm có tổ chức là một trong những sự thất bại nhất trong lịch sử của cơ quan thực thi pháp luật liên bang khi FBI kết án 4 người vô tội, 3 trong số đó bị kết án tử (sau đó giảm xuống chung thân). Bị can thứ tư bị kết án chung thân trong tù mà anh ta thi hành án ba thập kỷ. Vào tháng 7 năm 2007, thẩm phán quận Nancy Gertner đã cho thấy bằng chứng Cục đã cố tình kết tội 4 người trong vụ thanh toán xã hội đen giết chết Edward ‘’Teddy’’ Deegan tháng 3 năm 1965. Chính phủ Hoa Kỳ đã phải bồi thường cho 4 bị can số tiền là 100 triệu$. Những đợt tái cơ cấu nổi bật thời Hoover. Đội đặc nhiệm FBI. Năm 1984, FBI thành lập một đội đặc nhiệm để hỗ trợ các vấn đề mới phát sinh tại Thế vận hội mùa hè năm 1984, đặc biệt là tội phạm khủng bố và trọng án. Việc thành lập đội trở nên cấp thiết hơn sau vụ Thế vận hội mùa hè năm 1972 tại Munich, Đức khi những kẻ khủng bố giết chết các vận động viên Israel. Đội được đặt tên là ‘’Đội Giải cứu con tin’’ và thực hiện nhiệm vụ giống đội Cơ động Quốc gia nhằm giải quyết các vấn đề nghiêm trọng và vụ việc liên quan đến khủng bố. Song song, ‘"Đội Phân tích và Phản ứng Tội phạm Công nghệ cao’’ (CART) được thành lập năm 1984. Cuối thập niên năm 1980, đầu thập niêm 1990, Cục có nhiều sự thuyên chuyển công tác cho các đặc vụ với hơn 300 người có nhiệm vụ từ chống tình báo nước ngoài cho đến trọng tội đều chuyển về trọng tội vì nhiệm vụ này đã được nâng lên hàng thứ 6 trong bảng ưu tiên quốc gia. Cùng với việc cắt giảm ngân sách cho đến thiết lập nhiều phòng ban mới, chống khủng bố không còn là công việc cấp thiết nữa sau Chiến tranh Lạnh, FBI trở thành công cụ hỗ trợ cảnh sát địa phương truy bắt các phạm nhân bỏ trốn trên phạm vi liên bang. Phòng thí nghiệm FBI hỗ trợ phát triển công nghệ thử DNA, công việc này tiếp tục phát triển và hỗ trợ đắc lực cho việc nhận dạng thay thế cho hệ thống nhận dạng vân tay vốn có từ lâu đời (từ năm 1924). Những thành công đáng kể trong thập niên 1990. Giữa năm 1993 và 1996, FBI tập trung vào vai trò chống khủng bố khi làn sóng đánh bom đầu tiên bắt đầu sau sự kiện Trung tâm Thương mại Thế giới năm 1993 ở Thành phố New York và Thành phố Oklahoma năm 1995 và vụ bắt giữ Theodore Kaczynski năm 1996. Sự tiến bộ công nghệ và kỹ năng cao của các chuyên gia phân tích FBI đã giúp FBI đủ bằng chứng truy tố cả ba vụ việc, tuy nhiên FBI vẫn phải trải qua sự phản đối kịch liệt trong quần chúng, điều vẫn ám ảnh Cục cho đến ngày nay. Vào đầu và cuối thập niên năm 1990, FBI nhận trách nhiệm chính trong hai sự kiện Ruby Ridge và Waco Siege dẫn đến sự chết chóc gây náo động. Trong suốt Thế vận hội mùa hè năm 1996 tại Atlanta, Georgia, FBI bị chỉ trích trong việc điều tra vụ đánh bom Công viên Centennial Olympic. Vụ việc dấy lên một cuộc tranh luận giữa Richard Jewell, nhân viên an ninh tư nhân tại phòng xử án với một số tổ chức truyền thông, khi để lộ tên ông trong quá trình điều tra. FBI đã tiếp nhận và thiết lập việc nâng cấp công nghệ năm 1998 sau khi Quốc hội thông qua đạo luật ‘’Hỗ trợ Thông tin cho việc thực thi pháp luật’’ (CALEA, 1994), đạo luật ‘’Trách nhiệm giải trình và Bảo hiểm Sức khỏe linh động’’ (HIPAA, 1996) và đạo luật ‘’Gián điệp kinh tế’’ (EEA, 1996). Để đối phó với diễn biến phức tạp trong công nghệ thông tin như vi rút, sâu và những chương trình gây hại khác trên máy tính có thể gây sự tàn phá nghiêm trọng ở Hoa Kỳ, FBI đã thiết lập Trung tâm Đánh giá Mối đe dọa cho Cơ sở hạ tầng và Điều tra Công nghệ thông tin (CITAC) và Trung tâm Bảo vệ Cơ sở hạ tầng Quốc gia (NIPC). Với sự phát triển đi lên của hệ thống viễn thông cũng dấy lên nhiều vấn đề phát sinh, FBI tăng sự hiện diện điều tra của mình trong việc giám sát an ninh quốc gia và an toàn công cộng. Vụ khủng bố 11 tháng 9. Tân Giám đốc FBI Robert Mueller, người nhận nhiệm sở chỉ một tuần trước vụ khủng bố, đã kêu tái tổ hợp là cấu trúc và hoạt động của FBI. Ông đã đặt tất cả các tội liên bang lên hàng ưu tiên, bao gồm chống khủng bố, ngăn chặn tình báo nước ngoài, chú tâm vào các mối đe dọa an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao khác, bảo vệ dân quyền, tuyên chiến với tham nhũng công, tội phạm có tổ chức, tội phạm ‘’cổ trắng’’ và các trọng tội liên quan đến bạo lực khác. 18.2.2001 Robert Hanssen bị bắt giữ khi đang bán tài liệu mật cho chính phủ Nga. Thông tin sau đó cho biết Hanssen là nhân viên cao cấp của FBI bán thông tin tình báo từ đầu 1979 cho đến nay. Ông bị kết tội phản bội và bị kết án tù chung thân vào năm 2002, vụ việc cho thấy vẫn còn nhiều kẽ hở bên trong nhân sự của FBI. Có tin đồn cho biết Hanssen đã cung cấp thông tin dẫn đến vụ khủng bố 11 tháng 9. Ủy ban 11 tháng 9 đã ra thông cáo vào ngày 22 tháng 7 năm 2004 tuyên bố rằng FBI và Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) đã không tham khảo thông tin tình báo về sự kiện có thể dẫn đến vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001. Bản báo cáo cũng chỉ trích rất nhiều về Cục khi Cục đã không hoàn thành đúng nhiệm vụ được giao và yêu cầu phải có sự thay đổi bên trong FBI. Trong khi FBI đã tán thành với hầu hết các ý kiến đề nghị, bao gồm cả việc Giám đốc Tình báo Quốc gia sẽ giám sát Cục, thì một số thành viên của Ủy ban 11/9 vẫn công khai chỉ trích FBI vào tháng 10 năm 2005 khi Cục chỉ thay đổi cho có hình thức mà không có tính căn cơ. Tháng 7 năm 2007, tờ ‘’Washington Post’’ xuất bản đoạn trích từ sách của Giáo sư Amy Zegart thuộc Đại học Los Angeles-California mang tựa đề "Spying Blind: The CIA, the FBI, and the Origins of 9/11". Tựa báo nêu tin rằng các tài liệu cho thấy CIA và FBI đã làm lỡ mất 23 cơ hội để phá vỡ âm mưu khủng bố 11 tháng 9. Lý do chủ yếu trong vụ việc này bao gồm: ý tưởng mới và văn hóa chống sự thay đổi trong Cục, việc đề bạt không thích hợp và sự tính thiếu hợp tác giữa hai cơ quan CIA và FBI với các cơ quan khác trong Cộng đồng Tình báo Hoa Kỳ. Bài báo cũng chỉ trích tính tập trung hóa của FBI dẫn đến sự thiếu hiệu quả trong liên lạc và hợp tác giữa các văn phòng FBI khác nhau. FBI đã không phát triển hiệu quả của các cơ quan chống khủng bố và gián điệp nước ngoài do sự cổ hữu trong việc cách tân FBI. Ví dụ như FBI luôn đối xử bất công giữa các đặc vụ với các nhân viên còn lại, phân biệt hóa giữa các chuyên viên phân tích với nhân viên thợ máy và lao công. Cơ cấu Tổ chức và Cấp bậc. FBI được tổ chức thành năm nhánh dựa vào chức năng và Văn phòng Giám đốc bao gồm nhiều văn phòng hành chính đi kèm. Đứng đầu mỗi nhánh là Trợ lý Điều hành Giám đốc, mỗi phòng và đơn vị sẽ do Trợ lý Giám đốc điều hành. Danh sách cấu trúc cấp hàm trong FBI: Cơ sở hạ tầng. Trụ sở chính của FBI là tòa nhà J. Edgar Hoover tại thủ đô Washington, D.C, cùng với 56 văn phòng đại diện tại các thành phố chính trên khắp lãnh thổ Mỹ. Bên cạnh đó, Cục cũng duy trì các cơ quan đại diện tại địa phương cùng với hơn 50 tùy viên pháp lý tại các tòa đại sứ và lãnh sự Hoa Kỳ trên thế giới. Nhiều cơ quan chuyên môn của FBI tọa lạc tại khu tiện nghi ở Quantico, Virginia, trung tâm dữ liệu với 96 triệu mẫu vân tay trên khắp Hoa Kỳ và của tù nhân được nhà chức trách Hoa Kỳ lấy mẫu ở Ả Rập Xê Út, Yemen, Iraq và Afghanistan tại trụ sở ở Clarksburg, West Virginia. Theo đạo luật ‘’Tự do Thông tin’’ yêu cầu thì FBI đang chuẩn bị chuyển Đơn vị Quản lý Dữ liệu về Winchester, Virginia. Theo tuần báo "Washington Post", FBI đang xây dựng kho chứa tuyệt mật tại tầng 4 tòa nhà J. Edgar Hoover ở Washington, D.C. Kho này chứa dữ liệu về hàng chục ngàn công dân Hoa Kỳ và người cư trú hợp pháp chưa từng bị truy tố bất kỳ tội gì. Bất cứ người nào cũng có thể bị nghi ngờ, cảnh sát trưởng thị trấn, cảnh sát giao thông cho đến người hàng xóm. Phòng Thí nghiệm FBI được thiết lập từ khi còn Cục chỉ mới là Cục Điều tra, và chuyển về tòa nhà J. Edgar Hoover khi nó hoàn thành vào năm 1974. Phòng thí nghiệm chủ yếu tập trung vào các công việc phân tích DNA, sinh vật học và hoa học tự nhiên. Các dịch vụ trong phòng thí nghiệm bao gồm "Hóa học", "Hệ thống Chỉ số Kết hợp AND"(CODIS), "Phân tích và Phản ứng Máy tính", "Phân tích DNA", "Phản ứng Vật chứng", "Chất nổ", "Súng đạn và nhận diện vũ khí", "Âm thanh Pháp lý", "Hình ảnh Pháp lý", "Phân tích Ảnh", "Nghiên cứu Khoa học Pháp lý’’, "Huấn luyện Khoa học Pháp lý", "Phản ứng Vật chất nguy hiểm", "Đồ họa Điều tra và Dự đoán", "In Chìm", "Phân tích Vật liệu", "Tài liệu Chất vấn", "Hồ sơ Băng Đảng", "Phân tích Ảnh Đặc biệt", "Đồ án Cấu trúc" và "Dấu vết Chứng cứ". Có rất nhiều cơ quan địa phương, liên bang và quốc tế sử dụng dịch vụ của Phòng Thí nghiệm FBI, Phòng còn có một phòng thí nghiệm khác ở Học viện FBI. Học viện FBI tọa lạc tại Quantico, Virginia, là FBI sử dụng phòng thí nghiệm máy tính và liên lạc. Đây cũng là nơi mà các đặc vụ mới được cử đi học trước khi nhận nhiệm sở., họ phải trải qua khóa huấn luyện 21 tuần cho từng người. Năm 1972, học viện chính thức được sử dụng, ngoài nhiệm vụ huấn luyện cho các đặc vụ của riêng mình, học viện còn mở lớp cho các nhân viên ở cơ quan thực thi pháp luật địa phương và cấp bang được mời dự tại trung tâm huấn luyện. Các đơn vị FBI ở Quantico gồm "Đơn vị Huấn luyện Cảnh sát và Cơ động", "Đơn vị Huấn luyện Bắn", "Trung tâm Huấn luyện và Nghiên cứu Khoa học Pháp lý", "Đơn vị Dịch vụ Công nghệ"(TSU), "Đơn vị Huấn luyện Điều tra", "Đơn vị Liên lạc Thực thi Pháp luật", "Đơn vị khoa Khoa học Quản lý và Lãnh đạo"(LSMU), "Đơn vị Huấn luyện Thể chất", "Đơn vị Huấn luyện Tân binh"(NATU), "Đơn vị khoa Áp dụng Thực tiễn"(PAU), "Đơn vị Huấn luyện Điều tra Máy tính" và "Đại học Nghiên cứu Phân tích". Năm 2000, FBI bắt đầu kế hoạch bộ ba để nâng cấp cơ sở hạ tầng Công nghệ Thông tin đã lỗi thời. Theo kế hoạch này, thì Cục sẽ phải mất 3 năm và chi ngân sách vào khoảng 380 triệu$, nhưng rồi Cục phải làm chậm tiến độ vì chi phí bội ngân. Cục nỗ lực để đưa máy tính và thiết bị mạng hiện đại vào áp dụng thành công, nhưng việc phát triển phần mềm điều tra, được giao cho Tập đoàn Công nghệ Ứng dụng Quốc tế làm, lại là một thảm họa. "Hồ sơ vụ việc Ảo"(VCF) lại trở nên vô tích sự vì không đạt được mong muốn và tạo nhiều thay đổi trong quản lý. Tháng 1 năm 2005, hơn hai năm sau đó, thời điểm mà phần mềm nguyên bản phải được hoàn thành đúng hẹn, FBI chính thức ngừng kế hoạch. Hơn 100 triệu$ được chi cho dự án xem như mất trắng. FBI lại tiếp tục sử dụng Hệ thống Hỗ trợ Vụ án Tự động vốn đã hơn cả thập kỷ, mà các chuyên gia Công nghệ Thông tin xem vô tích sự. Tháng 3 năm 2005, FBI thông báo một kế hoạch về phần mềm mới đầy tham vọng có tên mã là Sentinel dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2009. Phần mềm Carnivore được Cục dùng trong suốt nhiệm kỳ của Clinton để kiểm soát thư điện tử và các giao tiếp điện tử khác. Sau khi bị báo giới chỉ trích quá nhiều, FBI đã quyết định đổi tên của hệ thống từ "Carnivore" sang "DCS1000". DCS có nghĩa là hệ thống thu thập điện tử với chức năng không thay đổi. Tuần báo Associated Press đăng tin FBI sẽ dừng Carnivore vào năm 2001, để chuyển sang phần mềm khác là NarusInsight. Đơn vị Dịch vụ Thông tin Tội phạm Tư pháp (CJIS), ở Clarksburg, West Virginia là đơn vị trẻ nhất của FBI, thành lập vào năm 1991 và chính thức hoạt động vào năm 1995. Đơn vị là nơi cất giữ tài liệu quan trọng, và cũng là nơi của nhiều chương trình như "Trung tâm Thông tin Tội phạm"(NCIC), "Báo cáo Tội phạm"(UCR), "Nhận dạng Vân tay", "Hệ thống Nhận dạng Vân tay Tự động"(IAFIS), "NCIC 2000" và "Hệ thống Báo cáo Tình trạng Quốc gia"(NIBRS). Nhiều cơ quan địa phương và liên bang đã sử dụng hệ thống này để làm nguồn cho việc điều tra bằng phương thức mã hóa an toàn. FBI cung cấp nhiều công cụ nhận dạng đặc biệt và dịch vụ thông tin cho các cơ quan thực thi pháp luật địa phương, tiểu bang, liên bang và quốc tế. FBI chịu trách nhiệm quản lý "Trung tâm Dịch thuật Ảo Quốc gia" để cung cấp nguồn dịch chính xác và đúng giờ từ các thông tin tình báo nước ngoài của Cộng đồng Tình báo. Lỗi trong phân tích bằng chứng đầu đạn. Trong hơn 40 năm, phòng thí nghiệm tội ác của FBI tại Quantico tin rằng mỗi đầu đạn có một đặc trưng hóa học duy nhất, do đó có thể đem tháo rời và phân tích, có thể xác định được viên đạn, không những xác định được viên đạn đến từ nhà máy nào mà còn biết được nó nằm ở hộp đạn nào. Học viện Khoa học Quốc gia đã bỏ ra 18 tháng để làm một cuộc khảo sát độc lập về kỹ thuật so sánh phân tích đầu đạn. Năm 2003, Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia xuất bản báo cáo kêu gọi chất vấn về thử nghiệm 30 năm của FBI. Bản chất vấn cho thấy kết quả mà FBI dùng hoàn toàn không đầy đủ và kết luận rằng việc xác định được các mảnh đạn từ hộp đạn nào là hoàn toàn phóng đại, điều này cho thấy Cục đã sai lầm theo luật chứng cứ. Một năm sau, FBI quyết định dừng phân tích đầu đạn. Trong hơn 2,500 vụ án sử dụng biện pháp phân tích, có thể có hơn hàng trăm ngàn vụ mà phòng thí nghiệm FBI sử dụng biện pháp trên để cung cấp chứng cứ pháp lý trước tòa án. Mỗi trường hợp, bằng chứng có thể đã sai và làm chệch hướng điều tra. Chính phủ Hoa Kỳ đã phải ban bố nghĩa vụ pháp lý để thông báo cho các bị can biết bất kỳ thông tin nào mà họ có thể cung cấp về sự vô tội của mình ngay cả khi họ đã bị kết án. Chỉ duy nhất có FBI xác nhận được vụ án nào có sử dụng phân tích đầu đạn, nhưng Cục không công bố thông tin trên. Theo kết quả điều tra của chương trình "60 Phút/Washington Post" năm 2007, Cục đã lên tiếng sẽ xác nhận, xem xét và công bố các vụ án liên quan và thông báo cho bên công tố về các trường hợp bị sai kết quả chứng cứ. Nhiệm vụ và quyền ưu tiên. Trong năm tài chính 2010, ngân quỹ tối thiểu của FBI xấp xỉ 7.9 tỉ$, bao gồm 618 triệu$ được sử dụng trong chương trình chống khủng bố, tội phạm máy tính, bạo loạn, vũ khí huỷ diệt hàng loạt, tội phạm "cổ trắng" và các chương trình huấn luyện. Nhiệm vụ chính của FBI là bảo vệ và phòng thủ nước Mỹ trước các mối đe dọa khủng bố và tình báo nước ngoài, phòng chống và thực thi pháp luật đối với tội phạm Hoa Kỳ và dịch vụ thông tin tội phạm tư pháp và nâng cao khả năng tự lập cho các cơ quan, đối tác liên bang, tiểu bang, thành phố và quốc tế. Hiện tại, FBI tập trung điều tra các vụ việc ưu tiên sau: Vào tháng 8 năm 2007, FBI sẽ điều tra các tội ác hàng đầu như: Địa vị Pháp lý. Nhiệm vụ của FBI được thành lập theo bộ luật số 28 của Hoa Kỳ, Phần 533, cho phép Tổng Chưởng lý Hoa Kỳ chỉ định quan chức để điều tra các tội ác chống lại Hoa Kỳ. Những đạo luật khác cho phép FBI quyền và trách nhiệm điều tra các tội ác riêng biệt. J. Edgar Hoover bắt đầu sử dụng ghi âm điện thoại vào thập niên năm 1920 trong thời kì Cấm Rượu ở Hoa Kỳ nhầm bắt những kẻ buôn lậu rượu. Một vụ án năm 1927, một tay buôn lậu rượu bị bắt khi đoạn ghi âm được đưa đến Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, vốn đã cho phép FBI được phép sử dụng ghi âm phục vụ quá trình điều tra và không được vi phạm Điều 4 Sửa đổi của Hiến pháp Hoa Kỳ, quy định FBI không được xâm phạm gia trang bất hợp pháp của người khác để hoàn thành việc ghi âm. Sau khi Luật cấm Rượu bị bãi bỏ, Quốc hội Hoa Kỳ đã cấm việc ghi âm qua điện thoại, nhưng cho phép đặt máy nghe lén. Trong trường hợp khác tại Tòa án Tối cao, tòa án quy định năm 1939 chiếu theo điều luật 1934, các chứng cứ do FBI thu thập được bằng cách thu âm lén điện thoại sẽ không được chấp nhận tại tòa. Tòa án Tối cao năm 1967 đã thay đổi vụ án năm 1927, cho phép đặt máy nghe trộm, sau khi Quốc hội thông qua đạo luật "An toàn đường phố và kiểm soát tội ác trên xe buýt", cho phép các nhà chức trách thu âm qua điện thoại sau khi họ có trát bắt giữ. Nhờ vào đạo luật "Chống tham nhũng có tổ chức và Ảnh hưởng của băng Đảng" mà FBI có được công cụ để tiến hành các chiến dịch chống lại tội phạm có tổ chức. Theo đạo luật "Dân quyền" năm 1964, FBI đồng thời chịu trách nhiệm thực thi và điều tra các tội danh liên quan đến bạo lực sẽ bị truy tố bởi cơ quan chủ quản là Bộ Tư pháp. Ngoài ra FBI cũng hợp tác với Cơ quan Bài trừ Ma túy (DEA) theo đạo luật "Kiểm soát Chất gây nghiện" năm 1970. Đạo luật "Ái Quốc Hoa Kỳ" đã gia tăng rất nhiều quyền lực cho FBI, đặc biệt trong việc thu âm qua đường dây hữu tuyến và kiểm soát hoạt động của Internet. Một trong những điều khoản gây tranh cãi nhiều nhất đó là điều khoản "ẩn mình và nhìn trộm" cho phép FBI có quyền khám nhà khi người chủ nhà đi đâu xa và không cần phải thông báo ngay cho chủ nhà mà phải chờ đến vài tuần sau. Dưới nhiều điều khoản trong đạo luật "Ái Quốc Hoa Kỳ", FBI được phép lật lại hồ sơ thư viện của những nghi phạm khủng bố (điều mà Cục không được phép làm kể từ thập niên 1970). Đầu thập niên năm 1980, Thượng viện tổ chức kiểm tra các hoạt động ngầm của FBI sau vụ tranh cãi Abscam. Năm sau đó, nhiều lời đề nghị được đưa ra nhằm thắt chặt lại các hoạt động của FBI. Tháng 3 năm 2007, Tổng Thanh tra thuộc Bộ Tư pháp đã mô tả về FBI là "lạm dụng diễn ra khắp nơi và nghiêm trọng" trong việc gửi thư an ninh quốc gia, một loại trát hành chính được dùng để yêu cầu hồ sơ và dữ liệu liên quan đến một cá nhân nào đó. Bản báo cáo cho thấy giữa năm 2003 và năm 2005, FBI đã cấp phát hơn 140,000 thư an ninh quốc gia, rất nhiều trong số đó liên quan đến những người không hề có chút liên hệ nào đến khủng bố. Nguồn tin thu thập được để FBI dùng trong điều tra sẽ được trình bày cho Viên Chưởng lý hoặc viên chức thuộc Bộ Tư pháp phù hợp, người được phép quyết định nên đưa vụ việc ra tòa hoặc hành động khác. FBI thường hay hợp tác trong công việc với các cơ quan liên bang khác, như "Tuần tra Bờ biển Hoa Kỳ" (USCG) và "Bảo vệ Biên giới và Hải quan Hoa Kỳ"(CBP) trong lĩnh vực an ninh hải cảng hoặc sân bay, và "Ban An tòa Vận tải Quốc gia" trong điều tra máy bay rơi và các tai nạn nghiêm trọng khác. Cơ quan "Kiểm soát Nhập cư và Hải quan Hoa Kỳ"(ICE) là cơ quan duy nhất có đủ quyền lực gần với FBI để phối hợp điều tra. Sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 9, FBI duy trì một vai trò đáng kể trong việc điều tra các tội liên bang. Theo số liệu tháng 12 năm 2009, FBI có tổng cộng 33,652 nhân viên. Trong đó bao gồm 13,412 đặc vụ và 20,420 chuyên viên hỗ trợ, như chuyên viên phân tích tình báo, chuyên gia ngôn ngữ, nhà khoa học, kỹ thuật viên công nghệ thông tin và các chuyên viên trong lĩnh vực khác. Trang Tưởng niệm các sĩ quan đã hi sinh cung cấp lý lịch của 57 sĩ quan FBI hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ từ năm 1925 đến năm 2009. Quy trình Tuyển dụng. Để nộp đơn cho vị trí nhân viên FBI, thí sinh phải ở độ tuổi 23 đến 37. Tuy nhiên, việc này phụ thuộc vào Phòng Quản lý Nhân sự, đối với các thí sinh là cựu quân nhân có giới thiệu sẽ được dự tuyển ngay cả khi hơn 37 tuổi. Năm 2009, Phòng Quản lý Nhân sự đã phát hành cuốn cẩm nang hướng dẫn:OPM Letter Ứng viên phải có bằng công dân Hoa Kỳ, lý lịch tốt và có bằng cử nhân hệ 4 năm. Tất cả các nhân viên FBI đều được yêu cầu kiểm tra an ninh tối mật. Để thành công trong kì kiểm tra an ninh tối mật, các ứng viên tiềm năng phải vượt qua một loạt các "cuộc điều tra lý lịch bản thân phạm vi đơn"(SSBI) do Phòng Quản lý Nhân sự đưa ra. Các ứng viên đặc vụ phải vượt qua bài "Kiểm tra Thể chất"(PFT) bao gồm 300 mét chạy, 1 phút duỗi thẳng, hít đất hết cỡ và chạy 2.4 km. Ngoài ra ứng viên phải vượt qua đợt kiểm tra tim mạch với các câu hỏi về tiền sử sử dụng ma túy. Sau khi các ứng viên tiềm năng vượt qua kì sát hạch kiểm tra tối mật và đồng ý ký vào đơn SF-312, họ sẽ tham dự trại huấn luyện FBI tại Căn cứ Thủy quân Lục chiến ở Quantico, Virginia. Các ứng viên trải qua 21 tuần tại Học viện FBI, tại đây họ tiếp tục 500 giờ học và 1000 giờ thực huấn. Sau khi tốt nghiệp, tân đặc vụ FBI sẽ được bố trí trên khắp Hoa Kỳ và thế giới, tùy vào khả năng riêng của từng người. Các chuyên viên hỗ trợ sẽ làm việc tại một trong các tòa nhà dành riêng mà FBI sở hữu. Tuy nhiên, bất kỳ đặc vụ hay nhân viên hỗ trợ nào cũng có thể bị chuyển công tác bất kỳ lúc nào nếu Cục cảm thấy cần họ hỗ trợ cho phòng đại diện hoặc một trong 400 cơ quan tại địa phương của FBI. Một đặc vụ FBI được trang bị khẩu Glock đời 22 với loại đạn.40 SW, các khẩu Glock đời 17, 19 và 26 với đạn 9mm Luger, Mẫu 23, 27 và.40 SW được phép mang như súng dự phòng. Các đặc vụ thuộc "Đội Giải cứu Con tin" và đội SWAT được sử dụng khẩu Springfield mẫu 1911A1 đạn.45 ACP và M4A1 cabine. Ấn phẩm "Bản tin FBI" được xuất bản hàng tháng do "Đơn vị Thông tin FBI" chủ quản, với nhiều bài viết hấp dẫn người đọc là nhân sự tại các cơ quan thực thi pháp luật địa phương và tiểu bang. Ấn bản đầu tiên được xuất bản năm 1932 với tựa đề "Nhân vật bị truy nã gắt gao nhất", "Bản tin FBI" bao gồm nhiều chủ đề công nghệ và giải pháp như bản đồ tội phạm và sử dụng vũ lực, nghiên cứu tội phạm tư pháp và hệ thống cảnh báo Vi-CAP, được dùng cho các vụ trọng án và tội phạm bị truy nã. Ngoài ra, FBI còn xuất bản nhiều bài báo cáo cho nhân sự bên ngành thực thi pháp luật và cả người dân bình thường về nhiều chủ đề như thực thi pháp luật, khủng bố, tội phạm mạng, tội phạm kinh tế, tội phạm bạo lực và thống kê. Tuy nhiên, đa số các bài viết của FBI đều được Phòng Chương trình Tư pháp trực thuộc Bộ Tư pháp xuất bản và phân phối bởi "Cơ quan Chứng nhận Tội phạm Tư pháp Quốc gia". Thống kê tội ác. Thập niên năm 1920, FBI bắt đầu phát hành các bản báo cáo về tội ác từ số liệu của các phòng cảnh sát địa phương. Nhưng do sự hạn chế của hệ thống trong giai đoạn thập niên 1960 và 1970 – nạn nhân thường không trình báo với cảnh sát – Bộ Tư pháp đã phát triển phương pháp thay thế là kiểm tra tội ác và điều tra nạn nhân. Báo cáo tội ác của nhân viên công lực. Báo cáo tội ác của nhân viên công lực (UCR) biên tập lại dữ liệu từ hơn 17,000 cơ quan thực thi pháp luật trên toàn Hoa Kỳ. Họ cung cấp thông tin liên quan đến tội ác bao gồm bắt bớ, kết thúc vụ án và thông tin sĩ quan thực thi pháp luật. UCR tập trung chủ yếu vào các dữ liệu liên quan đến tội ác liên quan đến bạo lực, tội ác hằn thù chủng tộc và tội ác trong tranh chấp tài sản. Hệ thống UCR phản ánh hầu hết các vụ án nghiêm trọng liên quan đến tội ác và rất ít đề cập đến "hãm hiếp". Bản báo cáo thường niên năm 2006 cho thấy tội ác liên quan đến bạo lực tăng 1.3% còn tội ác liên quan đến tài sản giảm 2.9% so với năm 2005. Hệ thống Báo cáo Tai nạn Quốc gia. Hệ thống Báo cáo Tai nạn Quốc gia (NIBRS) là hệ thống thống kê tội ác nhằm mục đích bổ sung những hạn chế của hệ thống UCR. Cơ quan thực thi pháp luật dùng hệ thống này để thu thập và tổng hợp dữ liệu về tình hình tội ác. Các cơ quan địa phương, tiểu bang, liên bang cập nhật dữ liệu từ hệ thống quản lý hồ sơ của họ lên NIBRS. Năm 2004, 5,271 cơ quan thực thi pháp luật đã cập nhật thông tin lên dữ liệu NIBRS. Con số thu được đại diện cho 20% dân số Hoa Kỳ và 16% dữ liệu thống kê tội ác của FBI thu thập được. Trên phương tiện truyền thông. FBI thường xuyên được đưa lên màn ảnh của nhiều bộ phim, FBI được lột tả dưới nhiều góc độ từ sự liên quan trực tiếp đến quá trình tự sáng tạo cho đến FBI đại diện cho cái tốt, chân lý tốt, tham khảo ý kiến và kết thúc vụ án. Các bộ phim mà cơ quan FBI được xướng tên:
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (Việt Nam) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thường gọi tắt là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là thành viên của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đứng đầu Bộ Quốc phòng Việt Nam. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm quản lý, xây dựng và tổ chức về quân sự. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thường là Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh, Ủy viên Bộ Chính trị. Đây là một trong những chức danh cao cấp nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam. Bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức. Tại Điều 88, Hiến pháp năm 2013 quy định thẩm quyền của Chủ tịch nước thì Quốc hội có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm chức danh Bộ trưởng Bộ Quốc phòng theo sự đề nghị của Chủ tịch nước. Theo Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2014 tại Điều 15 thì chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại tướng. Tiêu chuẩn ứng viên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ khi thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào năm 1976 đến nay, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng luôn là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị. Theo Quy định số 89-QĐ/TW ngày 19 tháng 12 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tại Phụ lục 1, Mục II, Tiểu mục 3 và tại Điều 5, Điều 13 thì thời hạn giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là 5 năm và thuộc diện thẩm quyền Bộ Chính trị quản lý, đánh giá, bố trí, giới thiệu ứng cử, chỉ định; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cho thôi giữ chức, đình chỉ chức vụ; khen thưởng, kỷ luật. Theo Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4 tháng 8 năm 2017 và Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4 tháng 8 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thì tiêu chuẩn chung của chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bao gồmː Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 tại phần III, mục 2 có quy định cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp trên phải kinh qua vị trí chủ chốt cấp dưới, trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Theo Quy định 214-QĐ/TW năm 2020  về khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý do Ban Chấp hành Trung ương ban hành, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phải là người: ""Bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn chung của Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư hoặc Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, đồng thời, cần có những phẩm chất, năng lực: Có trình độ cao và am hiểu sâu sắc về quản lý nhà nước, nắm chắc pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế. Có năng lực cụ thể hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để hoạch định phương hướng, chính sách phát triển ngành, lĩnh vực được phân công và chỉ đạo thực hiện có hiệu quả. Có năng lực phối hợp giữa các bộ, ban, ngành và giữa Trung ương với địa phương, tạo sự đồng bộ trong thực hiện chính sách chung của Đảng, Nhà nước. Có kinh nghiệm lãnh đạo, điều hành và quyết đoán, quyết liệt, kịp thời quyết định những vấn đề khó, phức tạp thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách. Không bị chi phối bởi lợi ích nhóm. Đã kinh qua và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp thứ trưởng hoặc phó trưởng ban, ngành, đoàn thể Trung ương hoặc lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh."" Tiêu chuẩn của Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư. "Bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn của Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, đồng thời, cần có thêm các tiêu chuẩn: Thật sự tiêu biểu, mẫu mực của Ban Chấp hành Trung ương về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo, quản lý, ý thức tổ chức kỷ luật; không bị chi phối bởi sự can thiệp, sức ép bên ngoài và lợi ích nhóm. Hiểu biết sâu rộng tình hình đất nước, khu vực và thế giới; nhạy cảm về chính trị, nhạy bén về kinh tế, am hiểu sâu sắc về xã hội. Có ý thức, trách nhiệm cao, có khả năng đóng góp ý kiến trong việc hoạch định đường lối, chính sách và phát hiện, đề xuất những vấn đề thực tiễn đặt ra để Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thảo luận, quyết định. Là Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương trọn một nhiệm kỳ trở lên; đã kinh qua và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở các chức vụ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh (bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ; chủ tịch Hội đồng nhân dân, chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố) hoặc trưởng các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương. Trường hợp Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư công tác trong quân đội thì phải kinh qua chức vụ chủ trì cấp quân khu." Tiêu chuẩn của Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. ""Tiêu biểu của Đảng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác. Có ý thức, trách nhiệm cao, kiến thức toàn diện; tích cực tham gia thảo luận, đóng góp, hoạch định đường lối, chính sách và sự lãnh đạo tập thể của Ban Chấp hành Trung ương. Có năng lực tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách, nhiệm vụ của Đảng, chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới ở lĩnh vực, địa bàn công tác được phân công quản lý, phụ trách. Có năng lực dự báo, xử lý, ứng phó kịp thời, hiệu quả những tình huống đột xuất, bất ngờ; có khả năng làm việc độc lập. Có tố chất, năng lực lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược; có hoài bão, khát vọng đổi mới vì dân, vì nước. Đã kinh qua và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở các chức vụ lãnh đạo chủ chốt cấp dưới trực tiếp và tương đương." "Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương phải là những cán bộ trẻ; cơ bản đáp ứng được tiêu chuẩn của Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương; qua thực tiễn công tác thể hiện có năng lực, triển vọng phát triển về tố chất lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược; được quy hoạch chức danh Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và lãnh đạo chủ chốt tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương, ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương nhiệm kỳ tới và các nhiệm kỳ tiếp theo"." "1.1. Về chính trị, tư tưởng: Tuyệt đối trung thành với lợi ích của quốc gia - dân tộc, của Đảng và nhân dân; cố gắng hết khả năng của mình bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới của Đảng. Có lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng; kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Có tinh thần yêu nước nồng nàn, sâu sắc; luôn đặt lợi ích của Đảng, quốc gia - dân tộc, nhân dân lên trên lợi ích của ngành, địa phương, cơ quan và cá nhân; sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuyệt đối chấp hành sự phân công của tổ chức, yên tâm công tác. Giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn theo đúng nguyên tắc, quy định của Đảng." "1.2. Về đạo đức, lối sống: Mẫu mực về phẩm chất đạo đức; sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, trong sáng, giản dị, bao dung; cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Không tham vọng quyền lực, có nhiệt huyết và trách nhiệm cao với công việc; là trung tâm đoàn kết, gương mẫu về mọi mặt. Không tham nhũng, lãng phí, cơ hội, vụ lợi; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, cửa quyền và lợi ích nhóm; tuyệt đối không trục lợi và cũng không để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm của mình và chỉ đạo thực hiện nghiêm nguyên tắc, quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện, việc làm trái với các quy định của Đảng, Nhà nước trong công tác cán bộ." "1.3. Về trình độ: Tốt nghiệp đại học trở lên; lý luận chính trị cử nhân hoặc cao cấp; quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; trình độ ngoại ngữ cử nhân hoặc trình độ B trở lên, tin học phù hợp." "1.4. Về năng lực và uy tín: Có quan điểm khách quan, toàn diện, biện chứng, lịch sử cụ thể, có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược; phương pháp làm việc khoa học; nhạy bén chính trị; có năng lực cụ thể hoá và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; có năng lực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, phân tích và dự báo tốt. Nắm chắc tình hình chung và hiểu biết toàn diện về lĩnh vực, địa bàn, địa phương, cơ quan, đơn vị được phân công quản lý, phụ trách. Kịp thời nắm bắt những thời cơ, vận hội; phát hiện những mâu thuẫn, thách thức, vấn đề mới, vấn đề khó, hạn chế, yếu kém trong thực tiễn; chủ động đề xuất những nhiệm vụ, giải pháp có tính khả thi và hiệu quả. Năng động, sáng tạo, cần cù, chịu khó, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, dám đương đầu với khó khăn, thách thức; nói đi đôi với làm; có thành tích nổi trội, có kết quả và "sản phẩm" cụ thể góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; gắn bó mật thiết với nhân dân và vì nhân dân phục vụ. Là hạt nhân quy tụ và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị; được cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân tin tưởng, tín nhiệm cao." "1.5. Sức khoẻ, độ tuổi và kinh nghiệm: Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ; bảo đảm tuổi bổ nhiệm (theo quy định của Đảng, độ tuổi trước khi bổ nhiệm không quá 65 tuổi), giới thiệu ứng cử theo quy định của Đảng. Đã kinh qua và hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp dưới trực tiếp; có nhiều kinh nghiệm thực tiễn."" Chức năng và nhiệm vụ. Theo Thông tư số 52/2017/TT-BQP ngày 10 tháng 3 năm 2017 của Bộ Quốc phòng về Quy chế làm việc của Bộ Quốc phòng Bộ trưởng là người đứng đầu Bộ Quốc phòng, chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về toàn bộ hoạt động của Bộ Quốc phòng và có trách nhiệm: Chức vụ bỏ trống. Trong trường hợp chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bị bỏ trống (cách chức, từ chức hay đột ngột qua đời) thì Thứ trưởng Thường trực Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam giữ Bộ trưởng tạm quyền. Bộ trưởng tạm quyền có đầy đủ quyền hành như Bộ trưởng cho đến khi Quốc hội bầu ra Bộ trưởng mới. Khi Bộ trưởng không làm việc được trong thời gian dài hay bị đình chỉ chức vụ tạm thời thì Thứ trưởng Thường trực Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam giữ chức Bộ trưởng tạm quyền cho đến khi Bộ trưởng trở lại làm việc.
Isozaki Arata ("磯崎 新", "Isozaki Arata", "Ki Khi Tân") (23 tháng 7 năm 1931 tại Oita, Nhật Bản – 28 tháng 12 năm 2022) là một trong số các kiến trúc sư người Nhật có danh tiếng trên toàn thế giới. Ông theo học khoa kiến trúc tại Đại học Tokyo và là học trò của Tange Kenzo. Năm 1963, Isozaki mở văn phòng kiến trúc riêng. Hình thức và màu sắc kiến trúc, sự chăm chút tỉ mỉ vào chi tiết là những thế mạnh trong kiến trúc của Isozaki. Ông qua đời ngày 28 tháng 12 năm 2022, hưởng thọ 91 tuổi.
Kurokawa Kisho (黒川 紀章, "Kurokawa Kishō", "Hắc Xuyên Kỉ Chương") (8 tháng 4 năm 1934, Nagoya – 12 tháng 10 năm 2007, Tokyo) là một kiến trúc sư nổi tiếng thế giới người Nhật và là người sáng lập phong trào Chuyển hóa luận ("Metabolism Movement"). Ông theo học tại khoa kiến trúc tại Đại học Kyoto, tốt nghiệp năm 1957. Ông tiếp tục theo học tại trường kiến trúc Đại học Tokyo dưới sự hướng dẫn của Tange Kenzo và hoàn thành thạc sĩ năm 1959, và tiến sĩ năm 1964. Cùng với vài người bạn, ông lập ra phong trào Chuyển hóa luận vào năm 1960. Đây là nhóm các kiến trúc sư theo trường phái Tiên phong Duy lý Nhật Bản, theo đuổi việc kết hợp và tuần hoàn của phong cách kiến trúc với triết lý phương Đông. Triển lãm thế giới Expo '70 tại Osaka được xem như đỉnh cao thành công của nhóm, tuy nhiên, nhóm đã tan với một thời gian sau đó. Ngày 8 tháng 4 năm 1962, Kisho thành lập hãng thiết kế Kurokawa Kisho và cộng sự. Hiện nay, hãng có trụ sở tại Tokyo, và các chi nhánh tại Osaka, Nagoya, Kazakhstan, Kuala Lumpur và Bắc Kinh. Hãng được xếp hạng Văn phòng kiến trúc hạng 1 theo tiêu chuẩn Nhật Bản.
Ando Tadao (安藤 忠雄, "Andō Tadao", あんどただお,"An Đằng Trung Hùng") (sinh 13 tháng 9 năm 1941 ở Osaka, Nhật Bản) là một kiến trúc sư người Nhật. Ông là một người theo chủ nghĩa Phê bình khu vực. Ando chưa hề qua một trường lớp đào tạo về kiến trúc nào. Thời trẻ, ông đã một mình thực hiện một chuyến đi từ Đông sang Tây để tự quan sát và học hỏi. Ông đã từng là tài xế, một võ sĩ quyền Anh trước khi là một kiến trúc sư. Năm 1969, ông thành lập hãng kiến trúc Ando Tadao và cộng sự. Công trình nhà lô ở Sumiyoshi ("Azuma House"), một nhà nhỏ 2 tầng, hoàn thành năm 1972 là công trình đầu tiên bộc lộ những đặc điểm kiến trúc của ông. Nó bao gồm 3 khối không gian vuông cân bằng. Trong đó, hai khối đặc của không gian nội thất được chia cắt bằng một không gian mở của sân. Năm 1995, Ando được nhận giải thưởng Pritzker và 100.000 đô la Mỹ. Ông đã tặng số tiền đó cho những trẻ em mồ côi trong cuộc động đất Hanshin.
Đặng Hữu Phúc (sinh 4 tháng 6 năm 1953) là một nhạc sĩ hiện đại của Việt Nam. Đặng Hữu Phúc sinh tại Phú Thọ, Việt Nam. Ông học nhạc tại Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam từ năm lên 10 tuổi, và được đào tạo chính quy cả hai chuyên ngành: sáng tác và biểu diễn piano. Đặng Hữu Phúc từng tu nghiệp tại Nhạc viện Quốc gia Paris tại Pháp (1991-1992). Ông là nghệ sĩ dương cầm của Dàn nhạc giao hưởng Quốc gia Việt Nam trong hơn 20 năm (1979-2002). Ông cũng đã từng độc tấu piano bản Sonate polyphonique (mà ông là tác giả) tại Liên Xô cũ năm 1988 (Liên hoan các nhạc sĩ trẻ các nước Xã hội Chủ nghĩa lần thứ nhất) và thu thanh bản nhạc này tại Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam (1978). Hiện nay, Đặng Hữu Phúc giảng dạy bộ môn sáng tác ở Học viện âm nhạc quốc gia Hà Nội. Các sáng tác, hoạt động. Tác phẩm của ông chia làm hai mảng chính là: Khí nhạc (thính phòng, giao hưởng) và Thanh nhạc. Sáng tác khí nhạc, thính phòng giao hưởng. - Ở mảng khí nhạc, bản Prelude đầu tay giọng Mi giáng trưởng (Es) viết cho Piano năm 18 tuổi (1971) của ông hiện vẫn được dùng trong giáo trình giảng dạy của các Nhạc viện ở Việt Nam. - Một số tác phẩm viết cho Piano của ông như "Suite (1973)" và "Sonate Polyphonique 1978" . "Chùm hoa Việt Nam - Bunches of flowers of Vietnam 2009" đã được Đặng Thái Sơn, Giải nhất cuộc thi piano quốc tế Fréderic Chopin lần thứ 10 biểu diễn ở trong và ngoài nước. Hiện nay bản "Chùm Hoa Việt Nam" đã được biểu diễn và ghi CD ở Nhật Bản và nhiều nơi trên thế giới Ông đã thể nghiệm nhiều phong cách khác nhau trong sáng tác, từ cổ điển (classique) tới nhạc Tiền phong (Avant garde). - Bản Ouverture "Ngày hội" viết cho dàn nhạc giao hưởng của ông đã được biểu diễn với các nhạc trưởng Anh, Pháp, Nhật Bản, Canada. Nhạc trưởng người Pháp, Xavier Rist (người đã đoạt 7 giải nhất về chỉ huy dàn nhạc tại Nhạc viện Quốc gia Paris-Pháp) đã viết về tác phẩm này như sau: "NGÀY HỘI là một tác phẩm xuất sắc, nhạc sĩ đã chuyển đổi và tái tạo chất liệu nhạc truyền thống Việt Nam dưới lăng kính của ngôn ngữ giao hưởng đương đại với một cảm nhận về nhịp điệu và màu sắc rất tinh tế". Tháng 5/2007, dàn nhạc giao hưởng của Việt Nam lần đầu đi lưu diễn ở châu Âu, đã biểu diễn bản "Ngày hội" là tác phẩm mở đầu cho 3 đêm diễn tại Pháp (trong đó có 1 đêm ở vùng Paris) dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Xavier Rist, đã được thính giả Pháp đón nhận nồng nhiệt.. Tại China - Asean music week (6-2015) tổ chức tai Nam Ninh, Trung Quốc. Bản "Ngày hội" đã vinh dự được chọn làm tiết mục mở đầu cho đêm giao hưởng khai mạc do nhạc trưởng Alex Pauk (Canada) chỉ huy, dàn nhạc Canadian Esprit Orchestra biểu diễn., - Bản "Pizzicato Vietnam" cho dàn nhạc dây . Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam đã biểu diễn lần đầu bản nhạc này ngày 20 tháng 5/2009 Tại Nhà hát lớn Hà Nội. Chỉ huy là Tetsuji Honna. Bản "Pizzicato Vietnam" cũng đã được biểu diễn ngày 21/9/2011 ở Madrid (Espana) và ngày 11/10/2011 ở Hà Nội, cùng do nhạc trưởng người Tây Ban Nha Carlos Cuesta chỉ huy Năm 2012 Đặng Hữu Phúc đã viết thêm hai chương nữa, trở thành "Tổ khúc cho dàn nhạc dây": Chương I toàn bộ dàn nhạc chơi bằng gốc archet (Du talon), chương II toàn bộ dàn nhạc chơi Tremolo, và chương III Pizzicato được giữ nguyên, ngày 27/5/2013 bản nhạc này đã được dàn nhạc Nhạc viện Hà Nội biểu diễn tại Nhà hát lớn dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Phần Lan Jukka Pekka. - Bản "Tám bức tranh giao hưởng từ dân ca Việt Nam" viết năm 2013 đã liên tục được biểu diễn với các nhạc trưởng: Oliver Leo Schmidt (Đức) 2014, Tetsuji Honna (Nhật Bản) 2014 và David Gomez Ramirez (Tây Ban Nha) 2016. - Tháng 10/2016 Tác phẩm viết cho 2 đàn Piano của ông đã được biểu diễn tại Seoul Arts Center và tháng 9/2017 Tác phẩm "Suite for 4 piano" cũng đã được biểu diễn tai đây. - Nối tiếp truyền thống từ F.Liszt. Ông cũng đã chuyển thể từ tổng phổ giao hưởng ra Piano độc tấu nhiều tác phẩm kinh điển của các nhạc sĩ thiên tài, như các bản:"Symphonie Fantastique" của H.Berlioz. "Đêm trên núi trọc" ("A Night on bald Mountain") của M.Mussorgsky. "Scheherazade" của N.Rimsky-Korsakov. Symphony No5 của P.T - Là tác giả Việt Nam đầu tiên được Sun Symphony Orchestra (SSO) biểu diễn tác phẩm viết cho dàn nhạc giao hưởng. Chương trình Hoà nhạc Mexico ngày 14/9/2018, tác phẩm “Tám bức tranh giao hưởng từ dân ca Việt Nam” (biểu diễn 4 bản). Nhà hát lớn Hanoi, chỉ huy dàn nhạc Olivier Ochanine. Lần thư hai, SSO biểu diễn bản “Ngày Hội/ Fetes” (đã sửa chữa mới trong tháng 10) trong chương trình “Huyền thoại tình yêu” ngày 16/11/2018. Nhà hát lớn Hanoi, chỉ huy dàn nhạc Olivier Ochanine - Năm 2018: Xuất bản cuốn “Tác phẩm cho đàn piano” sách dầy 255 trang gồm 5 phần: solo, 4 tay, 2 piano, 4 piano và phần tác phẩm chuyển soạn từ tổng phổ giao hưởng kinh điển cho piano solo. Trong cuốn này có 4 bản nhạc mới viết trong năm 2018. Cùng với cuốn “Tuyển chọn 60 bài Romance và ca khúc với piano” xuất bản năm 2012, 245 trang, cũng do Học viện Âm nhạc Việt Nam xuất bản, đều là những cuốn sách duy nhất của một tác giả Việt Nam về thể loại thanh nhạc và nhạc cho đàn piano, cho tới thời điểm này. Tác phẩm cho thanh nhạc. Ở mảng thanh nhạc, Đặng Hữu Phúc đã viết từ ca khúc quần chúng cho tới những hình thức lớn như hợp xướng và dàn nhạc. Bản Giao hưởng-hợp xướng lớn "Đất nước" (Thơ Nguyễn Đình Thi) được viết năm 1973, khi đó tác giả chưa tròn 20 tuổi, biểu diễn lần đầu tiên tại Nhà hát lớn Hà nội do chính tác giả chỉ huy dàn nhạc và dàn hợp xướng Nhà hát giao hưởng Nhạc Vũ kịch Việt Nam ngày 1 tháng 9/2009 . Ngày 3 tháng 9 năm 2013 bản hợp xướng này được biểu diễn trong ngày âm nhạc Việt Nam tại Nhà hát lớn Hà Nội. Năm 1974, ông đã viết tác phẩm "Ba bức tranh" cho giọng Soprano và 2 piano. Biểu diễn lần đầu tiên tại Trường âm nhạc VN do: Ái Vân soprano, Đặng Thái Sơn piano 1, Tác giả piano 2 Năm 2004 viết tập "10 bài cho hợp xướng không nhạc đệm" (A cappella) đã biểu diễn 2 đêm 21-22 tháng 4/2005 tại Nhà hát lớn Hà Nội do chính tác giả dàn dựng và chỉ huy dàn hợp xướng Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam. Bản A Cappella "Ru con mùa đông" đã giành giải tác giả có tác phẩm hay nhất tại Liên hoan hợp xướng quốc tế tại Huế năm 2013. Đặc biệt, năm 2006 tập "Tuyển chọn 60 bài Romances và Ca khúc cho giọng hát với Piano" đã ra đời sau hơn 30 năm, đó là một tuyển tập viết cho thanh nhạc đầu tiên và duy nhất của một nhạc sĩ Việt Nam có đầy đủ cả phần piano. Trong tuyển tập có nhiều ca khúc đã được phổ biến rộng rãi trong công chúng như "Cơn mưa sang đò", "Trăng chiều", "Ru con mùa đông", "Tôi vẫn hát"... Chỉ chuyên tâm vào sáng tác, Đặng Hữu Phúc không quan tâm đến việc quảng bá cho tác phẩm. Vì vậy còn nhiều bài hát trong tuyển tập chưa được giới thiệu với công chúng. Tuy vậy cũng có tới 14 bài trong tuyển tập đã đoạt giải thưởng hàng năm của Hội nhạc sĩ Việt Nam (như "Lời ru cao nguyên", "Hoa lục bình", "Ngọn gió mùa xuân") Nhạc cho phim và sân khấu. Một mảng quan trọng trong sự nghiệp sáng tác âm nhạc của Đặng Hữu Phúc là ông đã viết nhạc cho hàng trăm phim và nhiều vở diễn sân khấu kịch nói, múa, rối, xiế: "Bỉ Vỏ", "Ngõ hẹp", "Người đàn bà nghịch cát", "Tướng về hưu", "Dòng sông hoa trắng", "Đêm Bến Tre"... Tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 13 tháng 12/2001. Ông đã giành tất cả hai giải nhạc phim xuất sắc nhất cho phim nhựa "Mùa ổi" và phim Video "Nắng chiều". Ông còn viết nhiều bài báo để quảng bá cho âm nhạc chuyên nghiệp và khí nhạc, trong tình hình ca khúc quần chúng, nghiệp dư, với thẩm mỹ bình dân ngày càng lấn lướt ở Việt Nam, Các bài báo của ông đã gây nên những tranh cãi về nhạc Việt. Giải thưởng Quốc tế. Tháng 6 năm 2005, Đặng Hữu Phúc đã giành Giải Kim Tước cho Âm nhạc xuất sắc nhất, tại Liên hoan phim Quốc tế Thượng Hải lần thứ 8, sau khi vượt qua 375 film của 40 nước (Như: Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc ). Nhận xét của Ban giám khảo quốc tế về nhạc phim của anh như sau: “Những nét nhạc đẹp như thể nét vẽ của người họa sĩ trong tranh, nhạc gây ấn tượng mạnh và làm lay động tâm hồn chúng ta. Nhờ có âm nhạc, số phận của các nhân vật chính đã trở nên rõ nét hơn”. Thời trẻ, Đặng Hữu Phúc là bạn học với ca sĩ Ái Vân. Bài hát "Trăng chiều, Ru con mùa đông, Cơn mưa sang đò" và nhiều bài hát ông viết dành tặng cho Ái Vân. Ái Vân đã thu thanh trên 20 bài Romances và ca khúc của ông trong điều kiện thu thanh còn đơn sơ. Tuy vậy những bản thu thanh này vẫn có nhiều người yêu thích Sau này, Đặng Hữu Phúc lập gia đình nhưng cuộc hôn nhân đổ vỡ. Ông có một con trai (sinh khoảng 1988) từ cuộc hôn nhân này. Con trai ông cũng là một pianist được đào tạo tại Toulon (CH Pháp).
Torino (tiếng Ý; còn được gọi là Turin trong tiếng Piemonte và các tiếng Anh, Pháp, Đức) là một thành phố kỹ nghệ quan trọng tại tây bắc của Ý. Torino là thủ phủ của Piemonte và nằm cạnh sông Po. Torino đã đăng cai Thế vận hội mùa đông 2006. Cái tên "Turin" bắt nguồn từ "Tau", một từ trong tiếng Celt có ý nghĩa là "núi". Tên tiếng Ý của nó, "Torino", dịch ra như là "con bò nhỏ"; do đó cũng là huy hiệu và biểu tượng của thành phố. Khu vực này được định cư bởi người Taurini từ trước thời đại La Mã. Vào thế kỉ thứ 1 TCN (có lẽ là 28 TCN), người La Mã thiết lập một doanh trại quân đội ("Castra Taurinorum"), sau này được đặt tên theo Augustus ("Augusta Taurinorum"). Những đường kiểu La Mã hình bàn cờ vẫn còn được nhìn thấy ở thành phố hiện đại. Torino đạt đến khoảng 5.000 người cư trú vào lúc đó, tất cả đều sống trong khu tường thành cao. Sau khi Đế chế La Mã sụp đổ thành phố bị chinh phục bởi người Lombard, sau đó là người Frank; vào năm 942 danh hiệu "Contea di Torino" ("Bá tước thành Torino"), được thành lập, kể từ 1050 được nắm giữ bởi gia đình Bá tước của Savoy lúc đó. Trong khi thể diện của bá tước được công nhận bởi Giám mục như là Conte di Torino, 1092-1130 và 1136-1191, quyền lực thành phố thật ra nằm trong tay các Giám mục. Đó là quyền lực giai đoạn 1230-1235 dưới thời Marchese di Monferrato, theo kiểu Signore di Torino. Vào cuối thế kỉ 13, khi nó được sáp nhập vào Lãnh địa Savoy, thành phố đã có 20.000 người dân cư trú. Nhiều vườn và dinh thự được xây dựng vào thế kỉ 15 khi thành phố được thiết kế lại. Trường Đại học Torino cũng được thành lập trong giai đoạn này. Emanuele Filiberto (đầu sắt) làm Torino trở thành thủ phủ của Lãnh địa Savoy vào năm 1563. Piazza San Carlo, thông qua Po và Cung điện Hoàng gia ("Palazzo Reale"), được xây dựng trong giai đoạn này. Vào năm 1706, quân Pháp bao vây thành phố trong vòng 117 ngày mà không chinh phục được thành phố (Trận đánh thành Torino). Theo sau Hòa ước Utrecht, Vương quốc Sardinia được sáp nhập vào Lãnh địa Savoy và kiến trúc sư Filippo Juvarra bắt đầu thiết kế lại thành phố với quy mô lớn. Bây giờ là thủ đô của một vương quốc ở châu Âu, Torino có khoảng 90.000 cư dân vào lúc đó. Vào thế kỉ 19, sau khi bị chiếm đóng trong một thời gian ngắn bởi Napoléon, thành phố bắt đầu tích cực tham gia quá trình thống nhất nước Ý. Vào năm 1871, đường hầm xe lửa Fréjus được mở, làm Torino trở thành một nút liên lạc quan trọng. Thành phố bây giờ có 250.000 người dân. Các nhà thờ Museo Egizio, Mole Antonelliana, Gran Madre và quảng trường Vittorio Veneto được xây trong thời gian này. Vào năm 1861, Torino trở thành thủ đô của nước Ý thống nhất vừa mới thành lập. Vào năm 1865 thủ đô được dời về Firenze. (Từ năm 1870 thủ đô là Roma.) Torino phản ứng lại sự mất đi về tầm quan trọng trong sự công nghiệp hóa nhanh chóng của nó: vào năm 1899, FIAT được thành lập và Lancia vào năm 1906. Cuộc Triển lãm thế giới được tổ chức ở Torino vào năm 1902 và thường được xem như là cột mốc của thiết kế Nghệ thuật Mới ("Art Nouveau") và thành phố lại tổ chức cuộc triển lãm lần nữa vào năm 1911. Đến thời gian này, Torino đã phát triển đến 430.000 người. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, những mâu thuẫn giữa công nhân và các nhà công nghiệp bắt đầu nổ ra. Những cuộc đình công đầu tiên xảy ra vào năm 1920 và xí nghiệp Lingotto bị chiếm đóng. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Torino được xây dựng lại nhanh chóng và các ngành công nghiệp của thành phố phát triển mạnh, tạo ra những làn sóng nhập cư, chủ yếu là từ các vùng miền nam nước Ý. Dân số đạt đến 1 triệu người vào năm 1960 và lên đến 1.5 triệu vào năm 1975. Trong thập niên 1980 cuộc khủng hoảng công nghiệp đầu tiên quật vào thành phố và dân số của nó bắt đầu giảm xuống (và tiếp tục giảm, trong khi khu vực đô thị phát triển). Dân số năm 2005 là 908.000. Torino cũng có những câu lạc bộ bóng đá lớn nhất thế giới được hâm mộ bởi nhiều người Ý. Câu lạc bộ bóng đá Juventus luôn có một sự cạnh tranh quyết liệt với các câu lạc bộ bóng đá của A.C. Milan trong Serie A.
Khủng bố, chủ nghĩa khủng bố hay tấn công khủng bố (), theo nghĩa rộng nhất, là hành động phá hoại hoặc là việc sử dụng bạo lực và nỗi sợ hãi để đạt được một mục đích về mặt ý thức hệ. Thuật ngữ này được sử dụng chủ yếu để chỉ bạo lực có chủ ý trong thời bình hoặc trong bối cảnh chiến tranh chống lại những người không tham chiến (chủ yếu là dân thường và quân nhân trung lập). Các thuật ngữ "terrorist" và "terrorism" để chỉ khủng bố có nguồn gốc trong cuộc Cách mạng Pháp vào cuối thế kỷ thứ 18 nhưng đã được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới và thu hút sự chú ý trên toàn cầu vào những năm 1970 trong cuộc xung đột Bắc Ireland, xung đột Basque, và xung đột Israel–Palestine. Việc sử dụng các cuộc tấn công tự sát gia tăng từ những năm 1980 trở đi được điển hình hoá bởi các cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 ở Hoa Kỳ. Trong cộng đồng quốc tế, khủng bố không có một định nghĩa có tính pháp luật hay hình sự rõ ràng nào. Định nghĩa chung của chủ nghĩa khủng bố chỉ đề cập đến những hành vi bạo lực được dự định để tạo ra sự sợ hãi (khủng bố). tạo ra cho một mục tiêu tôn giáo, chính trị hay ý thức hệ; và cố tình nhắm vào các mục tiêu hoặc không quan tâm đến sự an toàn của những người không có khả năng tự vệ (ví dụ, nhân viên dân sự trung lập hay dân thường). Một số định nghĩa của khủng bố hiện nay bao gồm cả các hành vi bạo lực bất hợp pháp và chiến tranh. Việc sử dụng chiến thuật tương tự như của các tổ chức tội phạm để tống tiền hoặc để ép buộc người khác phải im lặng thường không được coi là khủng bố, mặc dù những hành động tương tự có thể được coi là khủng bố khi được thực hiện bởi một nhóm có động cơ chính trị. Sử dụng thuật ngữ này cũng bị chỉ trích vì việc sử dụng thái quá và thường xuyên của nó với các tổ chức khủng bố Hồi giáo hoặc Jihad, trong khi bỏ qua các tổ chức hoặc cá nhân khủng bố không phải Hồi giáo. Từ "khủng bố" mang nặng màu sắc chính trị, tâm lý, và gây nhiều tranh cãi, và điều này tạo ra rất nhiều khó khăn trong việc cung cấp một định nghĩa chính xác. Một nghiên cứu về chủ nghĩa khủng bố trong chính trị đã kiểm tra hơn 100 định nghĩa về "khủng bố" tìm thấy 22 yếu tố định nghĩa riêng biệt (ví dụ như bạo lực, vũ lực, sợ hãi, đe dọa, sự phân biệt mục tiêu nạn nhân). Trong một số trường hợp, cùng một nhóm vũ trang có thể được những người ủng hộ họ mô tả là "chiến sĩ đấu tranh vì tự do", trong khi đối thủ của họ thì coi đó là những kẻ khủng bố. Khái niệm về khủng bố có thể gây tranh cãi vì nó thường được sử dụng bởi cơ quan nhà nước (và cá nhân được nhà nước hỗ trợ) để làm giảm tính chính danh của các đối thủ, và có khả năng hợp pháp hóa việc sử dụng lực lượng vũ trang riêng của nhà nước để chống lại đối thủ (chính các lực lượng này có thể được đối thủ của nhà nước trên mô tả như là "khủng bố"). Đồng thời, ngược lại cũng có thể diễn ra khi các quốc gia thực hiện hoặc bị cáo buộc phạm vào tội khủng bố cấp nhà nước. Có nhiều ví dụ về sự tranh cãi khi coi ai hoặc hành động nào đó là "khủng bố" hay không. Chẳng hạn như nhà lãnh đạo Nam Phi, Nelson Mandela, trong quá khứ ông từng bị chính quyền phân biệt chủng tộc ở Nam Phi coi là khủng bố, nhưng ngày nay ông được xem là một nhà cách mạng đấu tranh vì người da đen Hoặc nhân vật An Trọng Căn bị Nhật Bản coi là kẻ khủng bố vì đã ám sát thủ tướng Nhật là Ito Hirobumi, nhưng ở Hàn Quốc và Trung Quốc thì ông được ca ngợi là nhà ái quốc đã hy sinh thân mình để chống ách xâm lược của Nhật Bản. Trong Thế Chiến thứ II, việc Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki làm chết hàng trăm ngàn dân thường Nhật Bản để làm chính quyền Nhật khiếp sợ dẫn đến nhanh chóng đầu hàng cũng có thể bị xem là hành động khủng bố vì việc ném bom này nhắm vào mục tiêu dân sự chứ không phải quân sự với mục đích khiến đối phương sợ hãi. Tùy vào cách định nghĩa, khủng bố có thể được xem là đã ra đời từ ít nhất là thế kỷ 1 CN. Theo nhà sử học Do Thái-La Mã đương thời Josephus, sau khi phong trào Zealot nổi dậy chống lại sự thống trị của La Mã ở tỉnh Judea, Judas của Galilee đã thành lập một nhánh nhỏ cực đoan hơn của phong trào này có tên là Sicarii vào năm 6 CN. Hoạt động khủng bố của Sicarii nhắm vào các nhân vật người Do Thái mà đã "thông đồng" với La Mã, bao gồm các tư tế, Sadducee, vương triều Herodia và những người khác thuốc tầng lớp giàu có. Bản thân khái niệm "khủng bố" vốn được sử dụng để miêu tả các hành động của câu lạc bộ Jacobin trong giai đoạn "Triều đại Khủng bố" của cuộc Cách mạng Pháp. Theo lãnh đạo của câu lạc bộ Jacobin Maximilien Robespierre, "khủng bố không gì khác là công lý được thực thi một cách nhanh chóng, gay gắt và không nhân nhượng". Năm 1795, Edmund Burke lên án câu lạc bộ Jacobin vì đã "thả hàng nghìn con chó săn mang tên những kẻ khủng bố ... lên người dân" Pháp. Tháng 1 năm 1858, nhà yêu nước người Ý Felice Orsini đã ném 3 quả bom nhằm mục đích ám sát hoàng đế Pháp Napoleon III. 8 người qua đường đã thiệt mạng và 142 người khác bị thương. Sự kiện này đóng vai trò then chốt đối với sự hình thành của các nhóm khủng bố đầu tiên. Hội anh em Cộng hòa Ireland có thể được xem là tổ chức đầu tiên sử dụng các chiến thuật khủng bố hiện đại. Tổ chức này được thành lập vào năm 1858 với tư cách là một tổ chức cách mạng theo chủ nghĩa dân tộc Ireland và thực hiện các vụ tấn công ở Anh. Chiến dịch đánh bom mà Hội anh em Cộng hòa Ireland đã phát động vào năm 1881 là một trong những chiến dịch khủng bố hiện đại đầu tiên. Thay vì ám sát chính trị, chiến dịch này sử dụng chất nổ được hẹn giờ để gieo rắc nỗi sợ hãi trong người dân thành thị ở Anh nhằm mục đích chính trị. Một nhóm khủng bố thời kỳ đầu khác, Narodnaya Volya, được thành lập ở Nga vào năm 1878 với tư cách là một tổ chức cách mạng theo chủ nghĩa vô trị lấy cảm hứng từ Sergei Nechayev và Carlo Pisacane. Tổ chức này đã phát triển những ý tưởng mà sau này trở thành đặc trưng của các vụ tấn công do tổ chức phi nhà nước nhỏ tiến hành, chẳng hạn như ám sát các "lãnh đạo của chế độ áp bức". Tổ chức này, tin rằng các công nghệ được phát minh trong thời kỳ này cho phép họ tấn công một cách trực diện và chọn lọc. Chẳng hạn, Narodnaya Volya là tổ chức theo chủ nghĩa vô trị đầu tiên sử dụng rộng rãi dynamit. Theo David Rapoport, đã có 4 làn sóng khủng bố toàn cầu lớn, bao gồm "khủng bố vô trị, khủng bố chống thực dân, khủng bố Tân Tả, và khủng bố tôn giáo. 3 làn sóng đầu tiên đã kết thúc và kéo dài khoảng 40 năm; làn sóng thứ 4 vẫn đang diễn ra và đã bước sang thập kỷ thứ 3." Rất nhiều tổ chức chính trị đã tiến hành khủng bố nhằm phát triển mục tiêu của mình, bao gồm cả phe chính trị cánh hữu và cánh tả, các nhóm dân tộc, các nhóm tôn giáo, cách mạng, và các chính phủ cầm quyền. Các hoạt động khủng bố có một đặc tính thống nhất là việc sử dụng bừa bãi bạo lực đối với những người không có khả năng chống cự với mục đích là sự nổi tiếng cho một nhóm, một phong trào, một cá nhân hoặc gây áp lực lên đối thủ chính trị buộc họ phải chấp nhận một giải pháp chính trị có lợi cho mình. Các tổ chức khủng bố có thể khai thác nỗi sợ hãi của con người để hỗ trợ đạt được những mục tiêu này. Đối tượng chịu thiệt hại do khủng bố có thể là tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, tài sản (của cá nhân, tổ chức hay của nhà nước) hoặc sự vững mạnh của một chính quyền nhà nước. Cách phân loại khủng bố có sự khác nhau giữa từng quốc gia, hệ thống chính trị và thời điểm trong lịch sử. Đơn vị Tác chiến về Bất ổn và Khủng bố Hoa Kỳ định nghĩa khủng bố là "một chiến thuật mà trong đó hành động bạo lực hoặc sự đe dọa sẽ hành đồng bạo lực được sử dụng để tạo ra nỗi sợ hãi nhằm mục đích cưỡng chế". Theo đơn vị tác chiến này, bất ổn và khủng bố được chia thành 6 loại: Các nguồn khác phân loại khủng bố theo những cách khác, chẳng hạn như chia khủng bố một cách tổng thể hơn thành khủng bố nội địa và khủng bố quốc tế, hoặc bao gồm những loại khủng bố khác như khủng bố dân phòng hoặc khủng bố nổi dậy. Một cách phân loại khác chia khủng bố thành các loại sau: Mục đích và động cơ. Lựa chọn khủng bố làm biện pháp. Các cá nhân và tổ chức lựa chọn khủng bố làm biện pháp bởi khủng bố có khả năng: Trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, các vụ tấn công nhầm vào người "thông đồng" với nhà nước có mục đích đe dọa những người khác để họ không hợp tác với nhà nước, từ đó làm suy giảm khả năng kiểm soát của nhà nước. Chiến thuật này đã được sử dụng trong các cuộc đấu tranh giành độc lập ở Ireland, Kenya, Algeria và Cyprus. Một số vụ tấn công có mục đích thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế vào một cuộc đấu tranh không được đưa tin, ví dụ như vụ không tặc máy bay Palestine năm 1970 và khủng hoảng con tin tàu hỏa Hà Lan năm 1975. Mục đích chính trị hoặc xã hội của khủng bố bao gồm: Mục đích của khủng bố cánh hữu bao gồm chủ nghĩa dân tộc da trắng, chủ nghĩa dân tộc-sắc tộc, chủ nghĩa phát xít, chống chủ nghĩa xã hội, phong trào phản đối phá thai và kháng cự nộp thuế. Đôi khi các tội phạm khủng bố thuộc cùng một phe lại có những động cơ khác nhau. Ví dụ, trong cuộc xung đột Chechen–Nga, những người Chechen đấu tranh giành độc lập đồng minh với các phần tử khủng bố Hồi giáo cực đoan từ các quốc gia khác. Yếu tố cá nhân và xã hội. Có nhiều yếu tố cá nhân và xã hội có thể tác động đến việc một người quyết định tham gia tổ chức khủng bố hoặc tự mình thực hiện hành động khủng bố, bao gồm: Một báo cáo do Paul Gill, John Horgan và Paige Deckert thực hiện #đổi Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. cho thấy trong số các tên khủng bố đơn độc: Nhà tâm lý học Ariel Merari đã tiến hành nghiên cứu tình trạng tâm lý của các tên khủng bố liều chết từ năm 1983 dựa trên thông tin tiểu sử từ giới truyền thông, phỏng vấn người thân của những người đã tấn công liều chết và phỏng vấn những người đã lên kế hoạch tấn công liều chết nhưng bị bắt giữ. Bà kết luận rằng ít khả năng các tên khủng bố có đặc điểm bất thường về tâm lý. Scott Atran đã nhận thấy rằng các tên khủng bố liều chết không có bất kỳ đặc điểm xã hội bất thường—chẳng hạn như không có bố, bạn bè hay việc làm—hoặc biểu hiện muốn tự sát nào. Cụ thể, học không liều chết chỉ vì cảm thấy tuyệt vọng hoặc như thế mình 'không còn gì để mất'. Abrahm đặt giả thuyết rằng các tổ chức khủng bố không lựa chọn khủng bố vì tính hiệu quả về mặt chính trị của nó. Động cơ của các tên khủng bố đơn độc thường là mong muốn hòa nhập xã hội với các thành viên khác trong tổ chức của mình hơn là mục đích chính trị hay mục tiêu chiến lược–những điều mà bản thân họ cũng không xác định được rõ ràng. Michael Mousseau đã cho thấy tính chất của nền kinh tế và tư tưởng của tội phạm khủng bố có thể có liên hệ với nhau. Nhiều tội phạm khủng bố có tiền sử bạo lực gia đình. Các nhóm 'khủng bố sử dụng nhiều chiến thuật khác nhau để tối đa hóa sợ hãi và công khai. Các tổ chức khủng bố thường là có phương pháp kế hoạch tấn công trước, và có thể đào tạo người tham gia, những người hoạt động "bí mật", và quyên góp tiền ủng hộ hoặc thông qua các tổ chức tội phạm. Giao tiếp có thể xảy ra thông qua viễn thông hiện đại, hoặc thông qua các phương pháp cũ thời như người đưa thư. Thành phần khủng bố quốc tế nay nhắm vào khách sạn và các mục tiêu "mềm" dễ đánh trong lúc an ninh tại các cơ sở quân đội và chính quyền tiếp tục được cải thiện, theo một công ty nghiên cứu an ninh thế giới. Đến năm 2009, các cuộc tấn công nhắm vào khách sạn đã tăng hơn gấp đôi kể từ sau cuộc tấn công của khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, so sánh với thời gian tám năm trước đó. Số người bị thương và thiệt mạng trong các cuộc tấn công này cũng tăng gấp sáu lần trong cùng thời gian. Một khách sạn là mục tiêu tấn công dễ dàng, thường được thành phần khủng bố Hồi giáo quá khích lựa chọn; với địa điểm cố định, nhiều người lui tới và hàng rào phòng thủ thu hẹp. Khách sạn cũng là nơi thu hút nhiều người Tây phương, cho thành phần khủng bố cơ hội giết hay làm bị thương nhiều người trong cùng cuộc tấn công. Tuy rằng nhân viên canh gác khách sạn cũng cố theo dõi những người có vẻ nghi ngờ cùng hoạt động của họ, thành phần khủng bố cũng biết cách tránh né điều này bằng cách đến mướn phòng từ trước, cho họ có quyền lui tới khắp nơi. Một thí dụ là các tên khủng bố mở hai cuộc tấn công tự sát liên tiếp ngày 17/7/2009 ở J.W. Marriott và Ritz-Carlton tại thủ đô Jakarta của Indonesia đã đến ở hai ngày trước đó. Dù rằng ngày càng có nhiều cuộc tấn công nhắm vào khách sạn, các chủ nhân và giám đốc điều hành tỏ vẻ ngần ngại trong việc có thêm các biện pháp bảo vệ an ninh vì có thể làm phiền toái khách đến ở. Nhưng điều này có thể sẽ phải thay đổi. Cuối thập niên 2000, al-Qaeda thay đổi từ một tổ chức với thành phần chỉ huy đầu não trung ương có các mục tiêu toàn cầu sang các "chi nhánh" ở nhiều vùng, với mục tiêu có tính cách cục bộ địa phương và có sự hậu thuẫn của dân chúng nơi đó, theo một bản báo cáo do công ty STRATFOR đưa ra ngày 8/9/2009. Các tổ chức khủng bố nhỏ hơn này thường không được huấn luyện kỹ càng và cũng không có nhiều tiền nên thường nhắm đến các mục tiêu không quá khó khăn. Điều đó không có nghĩa là họ không nguy hiểm, "nhất là khi họ muốn chứng tỏ giá trị của mình hay muốn tìm cách bắt tay với tổ chức khác có khả năng chiến thuật cao hơn," theo bản báo cáo. Thủ phạm gây ra các hành động khủng bố có thể là một cá nhân, tổ chức hoặc nhà nước. Trong quan niệm phổ biến, khủng bố thường gắn liền với hình ảnh một nhóm người nhỏ và bí mật sẵn sàng xả thân cho mục đích nào đó một cách cao độ. Trong các vụ tấn công khủng bố gây nhiều thương vong nhất trong thời gian gần đây, nhiều vụ tấn công–chẳng hạn như sự kiện 11 tháng 9, vụ đánh bom tàu điện ngầm Luân Đôn, cuộc tấn công Mumbai năm 2008 và vụ đánh bom Bali năm 2002–được lên kế hoạch và thực hiện bởi một nhóm người khăng khít bao gồm bạn bè thân thiết, người trong gia đình cũng như các mạng lưới xã hội khác. Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm rút ra chân dung của tội phạm khủng bố, từ đó giải thích được hành động của các cá nhân này thông qua tâm lý và hoàn cảnh kinh tế xã hội của họ. Các nhà nghiên cứu khác, chẳng hạn như Roderick Hindery, tìm cách rút ra chân dung đó từ những chiến thuật tuyên truyền mà tội phạm khủng bố sử dụng. Theo một nghiên cứu được nhà kinh tế học Alan B. Krueger thực hiện vào năm 2007, 28% tội phạm khủng bố có hoàn cách nghèo đói so với 33% không có hoàn cảnh như vậy, và 47% được giáo dục ít nhất là hết cấp 3 so với 38% không nhận được điều đó.. Một phân tích khác thì cho thấy chỉ có 16% tội phạm khủng bố có hoàn cảnh nghèo đói, so với 30% tất cả nam giới Palestine, và hơn 60% được giáo dục quá cấp 3 so với 15% toàn bộ dân số. Để tránh bị phát hiện, tội phạm khủng bố sẽ ăn mặc và hành động một cách bình thường trước khi thực hiện hành động khủng bố. Một số ý kiến cho rằng nỗ lực xây dựng chân dung của tội phạm khủng bố dựa trên các đặc điểm tính cách, ngoại hình hoặc xã hội học là vô ích. Những miêu tả về ngoại hình và hành vi của một tội phạm khủng bố cũng có thể đúng với gần như bất cứ một người bình thường nào. Phần lớn các cuộc tấn công khủng bố được tiến hành bởi nam giới ở độ tuổi có thể phục vụ quân sự (từ 16 đến 40). Theo công bố mới đây của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 2005 toàn thế giới đã xảy ra 11.000 vụ tấn công khủng bố, trong đó chỉ riêng Iraq đã chiếm 1/3 số vụ. Phản ứng với khủng bố có phạm vi rộng và có thể bao gồm sự tổ chức lại phổ chính trị hoặc đánh giá lại các giá trị cốt lõi. Các phản ứng cụ thể bao gồm: Khái niệm "chống khủng bố" có phạm vi hẹp hơn và mang ý nghĩa rằng các biện pháp đó trực tiếp nhắm vào bên tiến hành hoạt động khủng bố. Nghiên cứu khủng bố. Nghiên cứu khủng bố là một lĩnh vực học thuật liên ngành có mục đích tìm hiểu nguyên nhân của khủng bố, cách ngăn chặn khủng bố cũng như các tác động của khủng bố theo nghĩa rộng nhất. Nghiên cứu khủng bố có thể được tiến hành trong cả bối cảnh quân sự lẫn dân sự, chẳng hạn như bởi các trung tâm nghiên cứu như Trung tâm Nghiên cứu Khủng bố và Bạo lực Chính trị của Anh, Trung tâm Nghiên cứu Bạo lực và Căng thẳng Chấn thương của Na Uy, và Trung tâm chống Khủng bố Quốc tế (ICCT). Có một số tạp chí học thuật về lĩnh vực này, ví dụ như "Perspectives on Terrorism". Thỏa thuận quốc tế. Một trong những thỏa thuận nhằm thúc đẩy xây dựng khung pháp lý chống khủng bố quốc tế là Bộ quy tắc ứng xử nhằm đạt được một thế giới không có khủng bố được đưa vào lưu hành trong kỳ họp thứ 73 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc vào năm 2018. Được tổng thống Kazakhstan Nursultan Nazarbayev khởi xướng, bộ quy tắc ứng xử này có mục đích chính là triển khai một loạt các cam kết quốc tế nhằm chống lại khủng bố và thiết lập một liên minh toàn cầu với mục tiêu đạt được một thế giới không có khủng bố vào năm 2045. Hơn 70 quốc gia đã ký vào bộ quy tắc. Hoa Kỳ và các nước phương Tây đang thực hiện cuộc chiến chống khủng bố tại chính quốc gia của họ và một số khu vực trên thế giới. Cuộc chiến này dẫn đến việc họ đưa quân vào một số quốc gia để giúp đỡ phe phái chính trị này chống lại phe phái chính trị khác bị họ xem là lực lượng khủng bố. Đây bị xem là hành động can thiệp vào nội bộ quốc gia khác thậm chí bị lên án là xâm lược. Có quan điểm cho rằng cuộc chiến chống khủng bố thực chất là dùng vũ lực can thiệp vào nước khác để đạt được các mục tiêu địa chính trị, thiết lập các chính phủ thân phương Tây tại quốc gia khác. Tuy nhiên chính cuộc chiến chống khủng bố làm tăng sự thù ghét của dân chúng và các lực lượng chính trị tại các nước bị can thiệp làm tăng nguy cơ xảy ra các vụ khủng bố tại Mỹ và các nước phương Tây.
José Rafael Moneo Vallés (sinh ngày 9 tháng 5 năm 1937 tại Tudela, Tây Ban Nha) là một kiến trúc sư . Ông là một kiến trúc sư, nhà lý thuyết kiến trúc và một giáo sư đại học. Thuở nhỏ Moneo có thích tìm hiểu về triết học thơ ca và ông thực sự không có một khái niệm gì về kiến trúc sư. Tuy nhiên, bố của ông vốn là một kỹ sư công nghiệp đã hướng sự chú ý của ông vào chủ đề này. Năm 1954, Moneo theo học kiến trúc tại Đại học Madrid. Tại đây, ông chịu ảnh hưởng mạnh của giáo sư Leopoldo Torres Balbás, người dạy ông môn lịch sử kiến trúc. Ông cũng làm việc cho kiến trúc sư Francisco Javier Sáenz de Oiza. Sau khi tốt nghiệp năm 1961, Moneo đến Đan Mạch làm việc cho kiến trúc sư Jørn Utzon và tham gia thiết kế công trình nổi tiếng Nhà hát Opera Sydney, Úc. Sau đó, Moneo đã đi khắp bán đảo Scandinavi. Trong thời gian đó, ông đã gặp Alvar Aalto ở Helsinki, Phần Lan. Năm 1962, Moneo quay về Tây Ban Nha và ông nhận được một học bổng nhỏ của Viện Hàn lâm Tây Ban Nha tại Rome ("Academy of Spain in Rome"), Ý trong vòng hai năm. Tại đây ông đã có cơ hội gặp gỡ làm quen với nhiều nhân vật nổi tiếng đương thời như Bruno Zevi, Manfredo Tafuri, Paolo Portoghesi. Năm 1965, Moneo quay lại Tây Ban Nha, dạy học và hoàn thành học vị tiến sĩ tại trường Kiến trúc, Đại học Madrid. Năm 1970, ông chuyển sang làm nghiên cứu về lý thuyết kiến trúc tại trường Kiến trúc Barcelona. Năm 1976, Moneo sang Mỹ làm việc theo học bổng của Học viện Nghiên cứu Kiến trúc và Đô thị New York ("Institute for Architecture and Urban Studies of New York City") và trường Kiến trúc của Hiệp hội Cooper ("Cooper Union Irwin S. Chanin School of Architecture"). Trong thời gian này, ông trở thành giáo sư thỉnh giảng của Đại học Harvard, Đại học Princeton và Đại học Lausanne (Thụy Sĩ). Năm 1985, Moneo được bổ nhiệm làm chủ nhiệm khoa Kiến trúc, Đại học Harvard cho đến đầu những năm 1990. Theo ban giám khảo giải thưởng Pritzker, kiến trúc của Moneo theo chủ nghĩa chiết trung, lấy cảm hứng từ nhiều nguồn khác nhau. Ông chắt lọc qua sự sáng tạo của mình để tạo cho công trình luôn có các dáng vẻ đa dạng khác nhau, phù hợp với bối cảnh thiết kế.
Cây gậy và củ cà rốt Cây gậy và củ cà rốt (tiếng Anh: "carrot and stick") là một kiểu chính sách ngoại giao trong quan hệ quốc tế, thường được dùng bởi các nước lớn mạnh nhằm làm thay đổi hành vi của các nước nhỏ hơn. 'Cây gậy' tượng trưng cho sự đe dọa trừng phạt, 'củ cà rốt' tượng trưng cho quyền lợi hay phần thưởng. Một chính sách kiểu 'cây gậy và củ cà rốt' (carrot and stick approach) phải luôn hội tụ đủ ba yếu tố: yêu cầu thay đổi, quyền lợi nếu thay đổi, biện pháp trừng phạt (kinh tế hoặc quân sự). Thông thường, thành ngữ này không được dùng một cách chính thức trong quan hệ quốc tế, nhưng được dùng bởi giới báo chí, đôi khi được dùng bởi nước bị áp đặt với hàm ý rằng đó là chính sách thiếu công bằng.
Kendo (剣 道, "Kendō", "kiếm đạo") là một môn võ thuật hiện đại Nhật Bản, có nguồn gốc từ kenjutsu, sử dụng kiếm tre ("shinai") và áo giáp bảo vệ ("bōgu"). Ngày nay, kendo được rèn luyện rộng rãi ở Nhật Bản và đã được phổ biến tại nhiều quốc gia khác trên thế giới. Võ phục và dụng cụ tập luyện. Kendo được luyện tập với các trang phục truyền thống của Nhật Bản, gồm áo giáp bảo vệ (防具, "bōgu"), một (đôi khi là hai) thanh kiếm tre (竹刀, "shinai"). Dụng cụ tập luyện. Kiếm tre ("shinai)" được dùng để thay thế cho katana trong quá trình tập luyện, được làm từ bốn thanh tre ghép lại, giữ chặt với nhau bằng các miếng da. Một biến thể hiện đại của "shinai" được làm từ các thanh nhựa gia cố bằng sợi carbon cũng thường được sử dụng. "Kendōka" (剣道家, "người tập kendo") cũng sử dụng những thanh kiếm gỗ (木刀, "bokutō") để luyện "kata". Kendo sử dụng các đòn đánh gồm một cạnh và đầu của "shinai" hoặc "bokutō". Áo giáp được mặc để bảo vệ các khu vực, mục tiêu cụ thể gồm đỉnh đầu, cổ tay và cơ thể. Đầu được bảo vệ bởi một chiếc mũ bảo hiểm cách điệu, gọi là "men" (面), với một tấm lưới kim loại (面 金, "men-gane") để bảo vệ khuôn mặt, một loạt các vạt da và vải cứng (突 垂 れ, "tsuki-dare") ​​để bảo vệ cổ họng, và các vạt vải đệm (面 垂 れ, "men-dare") ​​để bảo vệ bên cổ và vai. Cẳng tay, cổ tay và bàn tay được bảo vệ bằng găng tay vải dày và dài gọi là "kote" (小 手). Phần thân được bảo vệ bằng một miếng giáp ngực (胴, "dō"), trong khi phần eo và vùng háng được bảo vệ bằng "tare" (垂 れ), gồm ba vạt vải dày hoặc ba mảnh áo giáp dọc. Võ phục mặc dưới bōgu bao gồm áo khoác ("kendogi" hay "keikogi") và "hakama", một loại quần được tách ra ở giữa để tạo thành hai ống quần rộng. Một chiếc khăn bông (手 拭 い, "tenugui") được quấn quanh đầu, dưới "men", để thấm mồ hôi và tạo một lớp đệm để đeo "men" một cách thoải mái. Tập luyện kendo ngày nay. Tập kendo được cho là khá ồn ào so với một số môn võ thuật hoặc môn thể thao khác. Điều này là do các "kendōka" sử dụng tiếng hét, hay "kiai" (気 合 い) để thể hiện tinh thần chiến đấu của họ khi ra đòn. Ngoài ra, các "kendōka" còn thực hiện "fumikomi-ashi" (踏 み 込 み 足), một hành động dập bàn chân trước và trong khi ra đòn. Tương tự như một số môn võ thuật khác, "kendōka" được tập luyện và chiến đấu bằng chân trần. Mội trường luyện tập Kendo lý tưởng là một "dōjō" được xây dựng có mục đích nhất định, ở đây là tập để tập kendo, mặc dù các phòng thể thao tiêu chuẩn và các địa điểm khác cũng thường được dùng thay cho "dōjō". Một địa điểm phù hợp để tập kendo phải có sàn lát gỗ được lau chùi sạch sẽ, thích hợp cho "fumikomi-ashi". Khi một "kendoka" bắt đầu tập luyện , các bài tập luyện có thể là một hoặc tất cả các bài tập sau: "Để nhào nặn tâm trí và thân thể." "Để nuôi dưỡng một tinh thần mạnh mẽ" "Để phấn đấu cải thiện nghệ thuật Kendo." "Để tôn trọng lịch sự và danh dự." "Kết giao với người khác bằng sự chân thành." "Và để mãi mãi theo đuổi sự tu dưỡng của bản thân." "Bằng cách này, ta có thể:" "Yêu tổ quốc và xã hội;" "Góp phần phát triển văn hóa;" "Thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng giữa các đất nước."
Mai Hắc Đế (chữ Hán: 梅黑帝; 670 – 723), tên thật là Mai Thúc Loan (梅叔鸞), là vị vua lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại sự chiếm đóng của nhà Đường ở miền Bắc Việt Nam vào đầu thế kỉ thứ 8. Trong lịch sử Việt Nam, ông được xem như một vị anh hùng dân tộc. Mai Thúc Loan sinh vào năm Canh Ngọ (670) tại thôn Ngọc Trừng, Hoan Châu, nay thuộc huyện Nam Đàn, Nghệ An. Theo "Việt điện u linh", cha của Mai Thúc Loan là Mai Hoàn, mẹ là Mai An Hòa nguyên gốc Lộc Hà, Hà Tĩnh, lưu lạc sang vùng Nam Đàn, Nghệ An. Theo sách "Việt sử tiêu án", Mai Thúc Loan là người làng Hương Lãm, huyện Nam Đường, nay là thị trấn Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, dân lập đền thờ ông ở thôn chợ Sa Nam. Năm Mai Thúc Loan 10 tuổi, mẹ đi lấy củi bị hổ vồ, ít lâu sau bố cũng mất. Ông được người bạn của cha là Đinh Thế đem về nuôi, sau gả con gái là Ngọc Tô cho. Sinh thời, Mai Thúc Loan vốn rất khỏe mạnh, giỏi đô vật, học rất giỏi và có chí lớn. Ông mở lò vật, lập phường săn, chiêu mộ trai tráng trong vùng mưu việc lớn. Vợ ông giỏi việc nông trang, nhờ đó "gia sản ngày một nhiều, môn hạ ngày một đông." Nhờ chí du ngoạn lại được vợ hết lòng ủng hộ, Mai Thúc Loan kết thân với nhiều hào kiệt, sau này trở thành những tướng tài tụ nghĩa dưới lá cờ của ông như Phòng Hậu, Thôi Thặng, Đàn Vân Du, Mao Hoành, Tùng Thụ, Tiết Anh, Hoắc Đan, Khổng Qua, Cam Hề, Sỹ Lâm, Bộ Tâ Sách "An Nam chí lược" viết về ông là "Soái trưởng Giao Châu". Năm 605, tướng nhà Tùy là Lưu Phương đánh bại các cuộc chống đối của người Việt, thiết lập sự đô hộ của nhà Tùy. Nhà Tùy mất, nhà Đường lên thay, đặt nước Việt làm An Nam Đô hộ phủ, đóng ở Giao Châu. Các bộ chính sử thời cổ cho đến tận "Việt Nam sử lược" đều không ghi rõ nguyên nhân của khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Tuy nhiên, các sách và giáo trình lịch sử Việt Nam được biên soạn từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX bắt đầu xuất hiện nguyên nhân cho rằng cuộc khởi nghĩa nổ ra do "nạn cống quả vải" cho vua Đường. Chuyện dân gian tương truyền rằng ông cùng đoàn phu gánh vải nộp cho nhà Đường, đã kêu gọi các phu gánh vải nổi dậy chống quân Đường. Giáo sư Phan Huy Lê cho rằng truyền thuyết này "từ dạng truyền khẩu đã đi vào hát chầu văn, vào thơ, khá phố biến ở vùng Nghệ Tĩnh nhất là vùng Nam Đàn" nên dùng làm căn cứ cho nguyên nhân cuộc nổi dậy. Quan điểm Mai Thúc Loan cùng các dân phu đã nổi dậy do đi gánh vải nộp cho Dương Quý Phi ăn cũng được Giáo sư Trần Quốc Vượng công nhận. Tuy nhiên Dương Quý Phi sinh năm 719 thì có thể thấy rõ rằng đây là chuyện không thể xảy ra cùng thời với Mai Thúc Loan (năm 722). Việc cống vải cho Dương Quý Phi ăn được xác định là có thật nhưng là từ miền nam Trung Hoa và dùng ngựa vận chuyển. Hiện nay các nhà nghiên cứu đều thống nhất: sưu cao, thuế nặng là nguyên nhân khiến nhân dân nổi dậy chống lại ách đô hộ nhà Đường, nổi bật là khởi nghĩa Hoan Châu. Đây là cuộc khởi nghĩa có sự chuẩn bị, biết chọn thời cơ, không phải một cuộc bạo động. Chuyện "cống vải" của An Nam chỉ là một chi tiết của truyền thuyết, không tồn tại trong thực tế. Chính giáo sư Phan Huy Lê về sau cũng đã thừa nhận, chuyện cống vải quả không thể và không phải là nguyên nhân chính nổ ra cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc do Mai Thúc Loan lãnh đạo. Truyện Dương Tư Húc "Phiên âm": Khai Nguyên sơ, An Nam thủ lĩnh Mai Huyền Thành bạn, tự xưng "Hắc Đế". Dữ Lâm Ấp, Chân Lạp quốc thông mưu, hãm An Nam phủ. Chiếu Tư Húc tướng binh thảo chi. Tư Húc chí Lĩnh Biểu, cưu mộ thủ lĩnh tử đệ binh mã thập dư vạn, thủ Phục Ba cố đạo dĩ tiến, xuất kỳ bất ý. Huyền Thành cự văn binh chí, hoảng hoặc kế vô sở xuất, cánh vi quan quân sở cầm lâm trận trảm chi, tận tru kỳ đảng dữ, tích thi vi kinh quán nhi hoàn. "Dịch nghĩa": Những năm đầu niên hiệu Khai Nguyên (713-741), thủ lĩnh An Nam là Mai Huyền Thành làm phản, tự xưng là "Vua Đen" (Hắc Đế), thông mưu với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, đánh phá phủ thành An Nam. (Hoàng đế) sai Tư Húc đem quân dánh dẹp. Tư Húc đến Lĩnh Nam, chiêu mộ con em bọn thủ lĩnh ở đó, người và ngựa được hơn mười vạn, theo đường cũ của Mã Viện mà tiến đánh bất ngờ. Bọn Huyền Thành chợt nghe tin quân (của Tư Húc) đến, hoảng sợ không nghĩ được kế gì, liền bị quan quân bắt hoặc chém chết tại trận, giết hết phe đảng, dồn xác chết thành đống rồi rút quân về. , Cựu Đường thư, Liệt truyện 134, "Hoạn quan", Quyển 184. Các bộ chính sử của Trung Quốc và Việt Nam đều chép thống nhất về Khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo nổ ra vào khoảng thời gian nửa đầu niên hiệu Khai Nguyên, đời vua Đường Huyền Tông, và bị dập tắt vào năm Bính Tuất (722). Cựu Đường thư ghi một câu vào năm Khai Nguyên thứ 10: Tân Đường thư biên soạn sau đó 100 năm, đã đính chính lại tháng nhưng năm thì vẫn là Khai Nguyên thứ 10: Một số nhà nghiên cứu, bao gồm cả Giáo sư Phan Huy Lê, do hiểu sai cụm từ "Khai Nguyên sơ" nghĩa là "năm đầu niên hiệu Khai Nguyên" mà cho rằng cuộc khởi nghĩa nổ ra năm 713 và phê phán các sử gia biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục là không đúng. "Khai Nguyên sơ" ở đây phải được hiểu đúng là "những năm đầu niên hiệu Khai Nguyên", và năm Bính Tuất (722) nằm trong nửa đầu của niên hiệu Khai Nguyên (713 - 741) là hoàn toàn chính xác. Một số nhà nghiên cứu dựa vào tài liệu duy nhất còn ghi lại chính xác thời điểm khởi nghĩa là "Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập", được viết vào thế kỉ XVII: Nhà nghiên cứu Lê Mạnh Chiến nêu cứ liệu cho rằng từ tháng 1 đến tháng 11 (âm lịch) năm Quý Sửu (713) vẫn thuộc niên hiệu Tiên Thiên năm thứ hai; bắt đầu từ ngày 1 tháng 12 mới đổi sang niên hiệu Khai Nguyên. Như vậy, niên hiệu Khai Nguyên nguyên niên (năm thứ nhất) chỉ gồm có 1 tháng, là tháng 12 năm Quý Sửu. Vì vậy tác giả Gia Cát thị (Việt điện u linh tập) cho rằng khởi nghĩa bắt đầu vào tháng 4 năm Khai Nguyên thứ nhất là không chính xác. Trên thực tế, tháng 12 âm lịch năm Quý Sửu (Khai Nguyên thứ nhất) đã sang năm dương lịch mới (714) nên khởi nghĩa Hoan Châu khó có thể diễn ra vào năm 713. Tiến sĩ Phạm Lê Huy phản biện rằng qua bia mộ thời Đường khai quật được cho thấy ngay dưới niên hiệu Khai Nguyên, người thời đó đã coi các tháng của năm 713 là thuộc niên hiệu Khai Nguyên thứ nhất. Vì vậy cần hết sức thận trọng khi sử dụng các ghi chép của Cựu - Tân Đường thư nói riêng và chính sử Trung Quốc nói chung để xác định các điểm mốc quan trọng liên quan đến lịch sử Việt Nam, cần tiếp tục tìm kiếm các tài liệu để xác định thời điểm bùng nổ khởi nghĩa. Chung quy lại, hiện nay vẫn chưa có một căn cứ vững chắc nào khẳng định thời điểm chính xác bắt đầu cuộc khởi nghĩa, có thể là ngay từ năm 713 cho đến vài ba năm hoặc bảy tám năm sau đó nên các tài liệu hiện hành bao gồm cả sách giáo khoa các cấp đều chưa chính xác. Truyện Mai Thúc Loan Năm Nhâm Tuất (722). (Đường Huyền Tông, năm Khai Nguyên thứ 10). Tháng 7, mùa thu. Ở Hoan Châu Mai Thúc Loan giữ lấy châu, tự xưng đế. Nhà Đường, sai bọn nội thị Dương Tự Húc sang đánh, phá được. Theo Đường thư, khoảng năm Khai Nguyên (713-741), An Nam có Mai Thúc Loan làm phản, tự xưng là Hắc đế, chiêu tập quân 32 châu, ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp và Kim Lân, giữ vùng biển nam, quân số có đến 40 vạn. Tư Húc xin đi đánh, chiêu mộ 10 vạn quân, cùng với Quang Sở Khách tiến quân theo đường cũ của Mã Viện, nhân lúc bất ý, sập đến đánh. Thúc Loan hoang mang nao núng, không kịp mưu tính cách đối phó, bị thua to. Tư Húc mới chôn những xác chết chung vào một nơi, đắp thành cái gò cao (Kình quán), để ghi chiến công của mình, rồi rút quân về. "Lời cẩn án" - Khoảng năm Khai Nguyên (713-741) nhà Đường, An Nam đô hộ phủ vẫn còn ở Giao Châu, thống trị 12 châu, 59 huyện, đều đặt các quan thú, tể để quản trị (...) lúc Mai Thúc Loan khởi lên, thì phủ đô hộ với các châu Phong, Ái, Lục, Diễn chưa nghe thấy có đâu là thuộc về Mai Thúc Loan đóng giữ, như vậy Mai Thúc Loan làm thế nào mà chiêu tập được người 32 châu, có số quân đến 40 vạn? Trộm nghĩ Thúc Loan chẳng qua giữ được một châu, thế lực cũng nhỏ. Bấy giờ Đường Huyền Tông thích lập công ở biên giới, bọn Tư Húc và Sở Khách thì lợi dụng xứ này ở nơi hiểm trở xa xôi, nên mới thổi phồng thanh thế bên địch để cầu lấy công cán và phong thưởng đó thôi. Nếu không phải thế thì sau giáp binh và đất đai như thế, mà quân nhà Đường mới thoạt kéo đến đã vội kinh hãi tan rã ngay? "Lời chua" - Dương Tư Húc: Theo truyện Dương Tư Húc trong Đường thư, Tư Húc là hoạn quan người Thạch Thành thuộc La Châu, gốc tích là họ Tô. Quang Sở Khách (Sử cũ chép Nguyên Sở Khách là lầm): Người Giang Lăng, hồi đầu niên hiệu Khai Nguyên, sang làm An Nam đô hộ. Quốc Sử quán triều Nguyễn , Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Tiền Biên, Quyển IV. Cuộc khởi nghĩa nổ ra tại "Rú Đụn", còn gọi là Hùng Sơn (Nghệ An). Mai Thúc Loan lên ngôi vua, lấy hiệu là Mai Hắc Đế. Theo "Việt điện u linh", Mai Hắc Đế mang mệnh thủy tức là nước, mà nước được tượng trưng là màu đen. Vì vậy, ông lấy hiệu là Hắc Đế để hợp với mệnh của mình. Một số nguồn cũng cho hay, ông lấy hiệu là Mai Hắc Đế vì ông có màu da đen. Ông cho xây thành lũy, lập kinh đô Vạn An (thuộc thị trấn Nam Đàn hiện nay), tích cực rèn tập tướng sỹ. Cuộc nổi dậy của ông được hưởng ứng rộng rãi ở trong nước và có cả sự liên kết với Lâm Ấp và Chân Lạp. Theo sách "An Nam chí lược" thì vào khoảng đầu niên hiệu Khai Nguyên của Huyền Tông, Soái trưởng Giao Châu là Mai Thúc Loan làm phản, hiệu xưng là Hắc Đế, ngoài thì kết giao với quân của Lâm Ấp và Chân Lạp, tập hợp được 30 vạn quân sĩ, chiếm cứ nước An Nam. Vua Huyền Tông ra lời chiếu sai hoạn quan Tả Giám môn Vệ tướng quân là Dương Tư Húc và quan Đô hộ là Quang Sở Khách (sách chép sai thành "Nguyên Sở Khách") qua đánh, cứ noi theo con đường cũ của Mã Viện đi tới phá quân của Loan, chất xác chết đắp thành gò lớn, rồi kéo về. Mai Hắc Đế tiến binh đánh thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay), Đô hộ nhà Đường là Quang Sở Khách cùng đám thuộc hạ không chống cự lại được, phải bỏ thành chạy về nước. Lực lượng Mai Hắc Đế lúc đó lên tới chục vạn quân. Mùa thu năm Nhâm Tuất (722), Nhà Đường bèn huy động 10 vạn quân do tướng Dương Tư Húc và Quang Sở Khách sang đàn áp. Quan quân nhà Đường tiến theo đường bờ biển Đông Bắc và tấn công thành Tống Bình. Sau nhiều trận đánh khốc liệt từ lưu vực sông Hồng đến lưu vực sông Lam, cuối cùng Mai Hắc Đế thất trận, thành Vạn An thất thủ, nghĩa quân tan vỡ. Không đương nổi đội quân xâm lược, Mai Hắc Đế phải rút vào rừng, sau bị ốm rồi mất. Theo sách Việt sử tiêu án thì: "Thời nhà Đường có Tống Chi Đễ bị tội đầy ra quận Chu Diên, gặp lúc Loan vây hãm châu Hoan, vua Đường bèn trao cho Đễ chức Tổng quản để đánh ông Loan. Đễ mộ được 8 người tráng sĩ mặc áo giáp dày, kéo đến tận chân thành mà hô to rằng: "Hễ bọn người Lèo hành động tức thì giết chết"; 700 quân đều phục xuống không dám đứng dậy, mới bình được." Tương truyền, con trai thứ ba của ông là Mai Thúc Huy lên ngôi vua tức Mai Thiếu Đế, tiếp tục chống trả các cuộc tấn công của nhà Đường tới năm 723. Tương truyền từ sau cuộc khởi nghĩa này, nhà Đường không bắt dân An Nam đô hộ phủ nộp cống vải hằng năm nữa. Tuy nhiên rất nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu đều cho rằng không hề tồn tại việc cống vải trong lịch sử. Đời sau nhớ ơn Mai Hắc Đế, lập đền thờ ông ở trên núi Vệ Sơn và trong thung lũng Hùng Sơn. Ngày nay tại địa phận thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn có khu di tích tưởng niệm ông. Một bài thơ chữ Hán còn ghi trong "Tiên chân báo huấn tân kinh" để ở đền thờ, ca tụng công đức ông như sau (bản dịch): "Hùng cứ châu Hoan đất một vùng," "Vạn An thành lũy khói hương xông," "Bốn phương Mai Đế lừng uy đức," "Trăm trận Lý Đường phục võ công." "Lam Thủy trăng in, tăm ngạc lặn," "Hùng Sơn gió lặng, khói lang không." "Đường đi cống vải từ đây dứt," "Dân nước đời đời hưởng phúc chung." Ở vùng Nam Đàn, còn lưu truyền lại một bài hát chầu văn nói đến việc cống quả vải thời Mai Thúc Loan, đây chính là căn cứ lỏng lẻo để một số nhà nghiên cứu đưa ra chuyện cống quả vải sang nhà Đường, một chuyện không thể xảy ra với khoảng cách địa lý hơn 2000 km từ Nghệ An đến kinh đô Trường An trong khi Nghệ An không hề có giống vải ngon. "Nhớ khi nội thuộc Đường triều," "Giang sơn cố quốc nhiều điều ghê gai" "Sâu quả vải vì ai vạch lá," "Ngựa hồng trần kể đã héo " Lễ hội chính của đền, miếu vua Mai (tại thị trấn Nam Đàn và thung lũng Đụn Sơn) được tổ chức long trọng vào Rằm tháng Giêng, thời Nguyễn từng được coi là Quốc lễ. Người dân Nam Đàn và nhiều nơi trong cả nước cũng lập đền thờ, tổ chức cúng giỗ vợ và con, cùng các tướng tài của Mai Hắc Đế. Đặc biệt ở thị trấn Nam Đàn, ngày Rằm tháng Bảy còn được nhân dân địa phương ghi nhớ là ngày giỗ các nghĩa sỹ của khởi nghĩa Hoan Châu đã tử trận vì nước, tục gọi là “ngày giỗ trận vong tướng sỹ”. Tại chợ Sa Nam trung tâm thị trấn Nam Đàn, người dân nghỉ chợ trước một ngày để chuẩn bị. Những người buôn bán trong chợ cùng góp tiền mua sắm đồ lễ để cúng tế các liệt sỹ. Đúng ngày Rằm tháng Bảy, hàng chục bao tải ngô, nếp rang nổ, hàng chục nồi cháo được nấu. Người dân bày hàng trăm chiếc lá đa lên các bàn trong chợ Sa Nam, rồi múc cháo lên đó, gọi là cháo búp (cháo đặc, múc đổ lên lá đa thì có ngọn). Các loại hoa quả như thị, nhãn, vải cũng được bày ra, và không thể thiếu các đồ vàng mã như áo quần, dày dép. Giữa chợ, người ta dựng một ông Võ Tướng bằng nan, phết giấy rất đẹp. Các bàn lễ được bày cúng xung quanh ông Võ Tướng, cúng xong thì hóa, các lễ vật được phát cho ăn mày và những nhà nghèo. Phong tục này được duy trì nhiều đời. Tuy tranh luận còn chưa ngã ngũ về thời điểm khởi nghĩa Mai Thúc Loan nổ ra, năm 2013, tỉnh Nghệ An đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 1300 năm khởi nghĩa Hoan Châu (713 - 2013). Hình ảnh công cộng. Trước 1975, kho Mai Hắc Đế trên đường Yersin thị xã Ban Mê Thuột là kho vũ khí đạn dược lớn nhất ở Tây Nguyên của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nơi diễn ra hai trận đánh lớn của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong Sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 và chiến dịch Tây Nguyên năm 1975. Sau 1975, đường Yersin được đổi tên thành đường Mai Hắc Đế, hiện nay là một đường phố lớn ở phường Tân Thành, trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột. Để tưởng nhớ đến ông, tại nhiều tỉnh và thành phố như Hà Nội, Lâm Đồ
Tối ưu hóa (toán học) Trong toán học, thuật ngữ tối ưu hóa chỉ tới việc nghiên cứu các bài toán có dạng "Cho trước:" một hàm "f": "A" formula_1 R từ tập hợp "A" tới tập số thực "Tìm:" một phần tử "x"0 thuộc "A" sao cho "f"("x"0) ≤ "f"("x") với mọi "x" thuộc "A" ("cực tiểu hóa") hoặc sao cho "f"("x"0) ≥ "f"("x") với mọi "x" thuộc "A" ("cực đại hóa"). Một phát biểu bài toán như vậy đôi khi được gọi là một quy hoạch toán học ("mathematical program"). Nhiều bài toán thực tế và lý thuyết có thể được mô hình theo cách tổng quát trên. Miền xác định "A" của hàm "f" được gọi là không gian tìm kiếm. Thông thường, "A" là một tập con của không gian Euclid R"n", thường được xác định bởi một tập các "ràng buộc", các đẳng thức hay bất đẳng thức mà các thành viên của "A" phải thỏa mãn. Các phần tử của "A" được gọi là các "lời giải khả thi". Hàm "f" được gọi là hàm mục tiêu, hoặc hàm chi phí. Lời giải khả thi nào cực tiểu hóa (hoặc cực đại hóa, nếu đó là mục đích) hàm mục tiêu được gọi là "lời giải tối ưu". Thông thường, sẽ có một vài cực tiểu địa phương và cực đại địa phương, trong đó một "cực tiểu địa phương" x* được định nghĩa là một điểm thỏa mãn điều kiện: với giá trị δ 0 nào đó và với mọi giá trị x sao cho công thức sau luôn đúng Nghĩa là, tại vùng xung quanh x*, mọi giá trị của hàm đều lớn hơn hoặc bằng giá trị tại điểm đó. Cực đại địa phương được định nghĩa tương tự. Thông thường, việc tìm cực tiểu địa phương là dễ dàng – cần thêm các thông tin về bài toán (chẳng hạn, hàm mục tiêu là hàm lồi) để đảm bảo rằng lời giải tìm được là cực tiểu toàn cục. Các bài toán tối ưu hóa thường được biểu diễn bằng các ký hiệu đặc biệt. Dưới đây là một vài ví dụ: Giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của hàm số. Xét ký hiệu sau đây: Đây là ký hiệu cho giá trị nhỏ nhất của hàm mục tiêu formula_5, với formula_6 nằm trong tập số thực formula_7. Giá trị nhỏ nhất trong trường hợp này là formula_8, xảy ra tại formula_9. Tương tự thì ký hiệu chỉ ra giá trị lớn nhất cho hàm mục tiêu formula_11, với formula_6là một số thực. Trong trường hợp này, không có giá trị đó do biểu thức không bị chặn trên, vậy kết quả là "giá trị vô cùng" hoặc "không xác định". Đối số tối ưu. Xét ký hiệu sau đây: hay tương đương là Ký hiệu này biểu diễn một hoặc nhiều giá trị của đối số formula_6trong đoạn formula_16sao cho hàm mục tiêu formula_17đạt giá trị nhỏ nhất (chứ không yêu cầu tìm giá trị nhỏ nhất đó). Kết quả là formula_18, do không như ví dụ đầu tiên, formula_9không nằm trong tập khả thi. hay ký hiệu tương đương Biểu diễn một hay nhiều cặp formula_22làm cho hàm mục tiêu formula_23đạt giá trị lớn nhất, với ràng buộc là "x" nằm trong đoạn formula_24. (Một lần nữa, giá trị tối ưu của hàm mục tiêu không quan trọng, hàm formula_25chỉ cho ra cặp formula_22thỏa mãn yêu cầu trên.) Trong trường hợp này, kết quả là các cặp số có dạng formula_27và formula_28, với formula_29 là số nguyên tùy ý. Đối với các hàm khả vi hai lần ("twice-differentiable"), có thể giải các bài toán không ràng buộc bằng cách tìm các điểm mà tại đó đạo hàm của hàm mục tiêu bằng 0 (điểm dừng) và sử dụng ma trận Hesse để xác định xem đó là cực tiểu, cực đại, hay điểm yên ngựa. Ta có thể tìm các điểm dừng bằng cách bắt đầu từ một điểm dự đoán là điểm dừng rồi tiến về điểm dừng bằng cách lặp đi lặp lại các phương pháp như Nếu hàm mục tiêu là hàm lồi trong vùng quan tâm thì cực tiểu địa phương sẽ là cực tiểu toàn cục. Có các phương pháp số nhanh chóng và hiệu quả cho việc tối ưu hóa các hàm lồi khả vi hai lần. Các bài toán ràng buộc thường có thể được biến đổi thành một bài toán không có ràng buộc bằng phương pháp nhân tử Lagrange ("Lagrange multiplier"). Dưới đây là một số phương pháp thông dụng: Các bài toán trong động lực học vật rắn (cụ thể là động lực học vật rắn chính xác) thường đòi hỏi các kỹ thuật quy hoạch toán học, do ta có thể coi động lực học vật rắn như là việc giải các phương trình vi phân thường ("ordinary differential equation") trên một đa tạp ràng buộc ("constraint manifold"); các ràng buộc là các ràng buộc hình học không tuyến tính đa dạng, chẳng hạn "hai điểm này phải luôn trùng nhau", "bề mặt này không được xuyên qua các bề mặt khác", hoặc "điểm này phải nằm đâu đó trên đường cong này". Ngoài ra, vấn đề tính toán các lực tiếp xúc có thể được thực hiện bằng cách giải một bài toán bù tuyến tính (linear complementarity problem). Dạng bài nài cũng có thể được coi là bài toán quy hoạch bậc hai. Nhiều bài toán thiết kế cũng có thể được biểu diễn dưới dạng các chương trình tối ưu hóa. Áp dụng này được gọi là tối ưu hóa thiết kế. Một lĩnh vực con mới phát triển trong thời gian gần đây là multidisciplinary design optimization. Nó hữu ích cho nhiều bài toán và đã được áp dụng cho các bài toán kỹ nghệ hàng không ("aerospace engineering"). Vận trù học (operations research) là lĩnh vực sử dụng rất nhiều đến các kỹ thuật tối ưu hóa. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Huy chương vàng AIA Huy chương vàng AIA là giải thưởng của Hội Kiến trúc sư Hoa Kỳ ("American Institute of Architects", AIA). Giải thưởng này được trao để ghi nhận đóng góp có ảnh hưởng xuống lĩnh mực thực hành và lý thuyết kiến trúc. Đây là giải thưởng cao nhất của AIA. Kể từ năm 1947, giải thưởng này được trao đa phần là thường niên. Tuy nhiên, trong những năm gần này, giải thưởng AIA đã bị phủ bóng bởi giải thưởng Pritzker trong kiến trúc. Danh sách các kiến trúc sư đoạt giải
Richard Buckminster "Bucky" Fuller (12 tháng 7 năm 1895 – 1 tháng 7 năm 1983) là kiến trúc sư, nhà thiết kế, và nhà sáng chế nổi tiếng người Mỹ. Trong suốt cuộc đời của mình, Fuller ám ảnh bởi câu hỏi liệu nhân loại có khả năng tồn tại lâu dài và bền vững trên Trái Đất không, và nếu có thì như thế nào. Tự nhận mình là một con người bình thường, không có một khả năng tài chính hoặc một bằng cấp hàn lâm nào, Fuller đã cống hiến toàn bộ cuộc đời ông để trả lời câu hỏi trên, cố gắng tìm ra câu trả lời: một cá nhân bình thường như ông có thể làm gì để cải thiện điều kiện tồn tại của loài người, điều mà những tổ chức lớn, những chính phủ hoặc những tập đoàn tư bản không thể thực hiện được. Ông nghiên cứu đồng thời từ nhà ở, ô tô, thuyền, các trò chơi, các thiết bị truyền tin và vòm trắc đạ"Nhiều hơn cho ít hơn" ("more for less"). Ông từng nói: Theo đuổi thí nghiệm của đời mình, Fuller đã viết 28 cuốn sách, phát minh ra những khái niệm như Tàu vũ trụ Trái Đất ("spaceship earth"), thích nghi đột biến ("ephemeralization") và phát sinh đột biến không dự báo ("synergetics" hoặc "negentropy") Ông cũng là tác giả của một loạt các phát minh hầu hết trong tạo hình và kiến trúc, nổi tiếng nhất là kết cấu vòm trắc đạc. Vào cuối đời mình, sau vài thập kỉ làm việc dựa trên lý thuyết, Fuller đã trở nên nổi tiếng. Ông đi vòng quanh thế giới 46 lần để giảng bài, nói chuyện và nhận được 54 bằng Tiến sĩ danh dự và là ứng cử viên cho giải thưởng Nobel hòa bình năm 1969. Tuy nhiên, hầu hết các phát minh của ông đều dừng ở lý thuyết và chưa bao giờ được ứng dụng vào thực tế, ông cũng bị chỉ trích mạnh trong hầu hết các lĩnh vực mà ông có ảnh hưởng như kiến trúc, hoặc ông đơn giản bị bỏ quên như một con người không tưởng. Những phát minh của ông cũng cho thấy người ta đã chưa đánh giá đúng mức và xứng đáng với tầm giá trị của nó. Ông sinh ra và lớn lên ở Massachusetts trong một gia đình trung lưu. năm 17 tuổi, Fuller đã làm cả gia đình thất vọng khi không tốt nghiệp được Đại học Harvard. Sau đó ông gia nhập Hải quân Mỹ cho đến năm 1922. Công trình và phát minh quan trọng. = KTS Buckminister Fuller và định hướng tương lai trong quá khứ = Năm 1920, Buckminister Fuller mong muốn xây dựng một không gian gia đình bền vững, một cỗ máy sống của tương lai. Mặc dù không được xây dựng một cách thực thụ nhưng bản thiết kế Dymaxion House lại thể hiện những cấp tiến đổi mới mang tính ảnh hưởng mạnh mẽ với các loại nhà tiền chế và công trình mang tính bền vững ngày nay. Ngôi nhà không chỉ mẫu mực trong khả năng tự cung tự cấp mà còn có thể sản xuất hàng loạt, dễ dàng đóng gói và vận chuyển đi toàn thế giới. Một thiết kế mang tính cách mạng. KTS Buckminister Fuller bên dự án Dymaxion. Ngôi nhà hình lục giác 100 mét vuông sở hữu cấu trúc chống động đất, chống gió bão nhờ hệ cột trung tâm giúp treo dây cáp, từ đó cho phép toàn bộ tường bao không phải chịu lực. Bằng cách quy tất cả tiện ích về khu vực trung tâm và để phần còn lại của ngôi nhà hướng theo dạng mô đun, Buckminister Fuller đã tạo nên một không gian linh hoạt cho người thuê có thể tùy biến theo nhu cầu của họ. Thiết kế cũng cho thấy các tuabin gió trên mái nhà cùng một hệ thống bể chứa lớn để lưu trữ và tái sử dụng nước. Những phác thảo ban đầu của dự án. Theo Buckminister Fuller giải thích, ngôi nhà được xây dựng từ nhôm để đáp ứng các nhu cầu về chịu lực tốt, trọng lượng thấp và chi phí bảo trì ở mức tối thiểu: “Nguyên tắc Dymaxion là có thể làm được nhiều thứ với trọng lượng, thời gian và thiết bị luôn ở mức tối thiểu, đồng thời cung cấp mức độ hiệu suất chức năng nhất định. Với tốc độ tái chế trung bình cho tất cả kim loại là 22 năm cùng nhiều cải tiến thiết kế, sẽ có ngày càng nhiều người được phục vụ ở tiêu chuẩn cao hơn với vật liệu cũ.” Dự án Dymaxion đã bị hoãn lại bởi Buckminister Fuller hoãn lại đến năm 1944, khi tình trạng thiếu nhà ở sau chiến tranh thúc giục ông xem xét lại ý tưởng trước đây về việc sản xuất hàng loạt công trình dân cư. Để biến dự án thành hiện thực, Fuller đã ký hợp đồng nghiên cứu 2 năm với thương hiệu công nghiệp máy bay Beech, đơn vị nắm giữ rất nhiều nhôm thu được từ sau Thế Chiến II. Năm 1946, Fuller hoàn thành hai nguyên mẫu Barwise và Danbury, dù sau nay không được sản xuất hàng loạt do một vài bất đồng trong thỏa hiệp. Năm 1948, William Graham – một nhà đầu tư cũ của dự án đã mua lại và kết hợp hai nguyên mẫu để tạo nên ngôi nhà Wichita House giữa nguyên tinh thần ban đầu của Dymaxion, nhưng hình lục giác đã được chuyển thành dạng hình tròn mềm mại hơn và cách mặt đất một khoảng nhỏ (với Dymaxion là hoàn toàn lơ lửng). Dự án được mua lại sau này và cải tiến thành dạng hình tròn. Dự án Dymaxion có lẽ đã thành công nếu phát huy được hết tiềm năng của nó khi cung cấp được giải pháp cho tình trạng thiếu hụt trầm trọng nhà ở sau chiến tranh, đồng thời lại được kết hợp các công nghệ bền vững, dễ lắp ráp, sản xuất hàng loạt. Thật không may, Dymaxion đã không bao giờ có cơ hội đó nhưng nguyên tắc về tính bền vững của Buckminister Fuller đã để lại ảnh hưởng rất lớn trong lĩnh vực thiết kế ngày nay.
Thơ mới là cách gọi trào lưu sáng tác thơ phi cổ điển, chịu ảnh hưởng các phép tắc tu từ, thanh vần của thơ hiện đại phương Tây. Trở thành một hiện tượng trong khu vực các nước đồng văn châu Á, thơ mới ra đời, phát triển dựa trên yêu cầu cấp thiết hiện đại hóa thi ca truyền thống. Phong trào Thơ mới. Thơ mới tại các quốc gia thường bắt đầu bằng việc trên thi đàn xuất hiện những bài thơ có thể tài nghệ thuật, thanh vận, phức điệ, sự xuất hiện của các bài thơ phi cổ điển ngày càng nhiều và lý luận về thơ mới cũng phát triển trong sự đối đầu với các khuynh hướng sáng tác theo thể tài và loại thể thơ truyền thống. Khi sự thắng thế giữa thơ mới với thơ cũ đã hoàn tất, khi thơ mới đã được thừa nhận, tiến trình hiện đại hóa thi ca đã đến giai đoạn cuối với sự biến mất của khái niệm thơ mới trên thi đàn. Từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tại Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Thái Lan, M, với sự xuất hiện của thể loại shintaishi (tân thể thi) vào năm 1882, khi Toyama Seiichi (1848-1900), Yatabe Ryokichi (1851-1899) và Inoue Tetsujiro (1855-1944), ba giáo sư Đại học Tokyo, trong khi dịch thơ Tây phương, đã thử sáng tác một số bài thơ theo phong cách châu Âu đương thời và cho in thành tập mang tên Shintaishi-sho (tân thể thi sao), và đạt mốc lớn tiếp theo vào cuối thời Meiji với sự ra đời của thơ tự do, hay còn gọi là thơ sử dụng văn nói.
Phong trào Thơ mới (Việt Nam) Từ năm 1932, văn hóa Việt Nam diễn ra cuộc vận động đổi mới thơ ca mạnh mẽ với sự xuất hiện làn sóng thơ mới với cá tính sáng tác độc đáo. Cuộc vận động đề xướng sử dụng các thể loại thơ mới, không tuân theo lối vần luật, niêm luật của các thể loại thơ cổ. Cuộc canh tân này đi vào lịch sử văn học tên gọi Phong trào Thơ Mới. Ở Việt Nam, vào thời Pháp thuộc, giới trí thức trẻ nhanh chóng nhận ra vần luật, niêm luật của cổ thi đã quá gò bó trong việc thể hiện tiếng thơ của con người. Năm 1917, trên báo "Nam Phong" (số 5), Phạm Quỳnh, nổi tiếng là người bảo thủ, cũng phải thú nhận sự gò bó của các luật thơ cũ: "Người ta nói tiếng thơ là tiếng kêu của con tim. Người Tàu định luật nghiêm cho người làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại tiếng kêu ấy cho nó hay hơn nhưng cũng nhân đó mà làm mất đi cái giọng tự nhiên vậy." Sau đó, Phan Khôi cũng viết nhiều bài báo chỉ trích những trói buộc của thơ văn cũ và đòi hỏi cởi trói cho sáng tác thơ ca. Trong khoảng 1924-1925, cuốn tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách kể về mối tình Đạm Thủy-Tố Tâm đã gây sóng gió trong giới học sinh và thanh niên thành thị, dù tình yêu ấy chưa vượt qua được rào cản của đại gia đình phong kiến. Tiếp theo đó, năm 1928, Nguyễn Văn Vĩnh cũng đã phá vỡ vần điệu niêm luật, số câu, số chữ của "thơ cũ" khi dịch bài "La cigale et la fourmi" ("Con ve và con kiến") của La Fontaine sang tiếng Việt. Năm 1929, Trịnh Đình Rư tiếp tục viết trên báo "Phụ nữ tân văn" (số 26): "Cái nghề thơ Đường luật khó đến như thế, khó cho đến đỗi kẻ muốn làm thơ, mỗi khi có nhiều tư tưởng mới lạ muốn phát ra lời, song vì khó tìm chữ đối, khó chọn vần gieo, nên ý tưởng dầu hay cũng đành bỏ bớt. Cái phạm vi của thơ Đường luật thật là hẹp hòi, cái qui củ của thơ Đường luật thật là tẩn mẩn. Ta nếu còn ưa chuộng mà theo lối thơ này mãi, thì nghề thơ văn của ta chắc không có bao giờ mong phát đạt được vậy." Ngày 10 tháng 3 năm 1932, bài thơ "Tình già" của Phan Khôi ra mắt bạn đọc trên báo "Phụ nữ tân văn" số 122 cùng với bài giới thiệu mang tên "Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ" đã có tiếng vang mạnh mẽ, được xem là bài thơ mở đầu cho phong trào Thơ mới. Ngay sau đó, cuộc tranh luận giữa lối thơ mới và thơ cũ diễn ra vô cùng gay gắt. Mãi đến năm 1941, cuộc tranh chấp mới chấm dứt do sự thắng thế của lối thơ mới, khép lại mấy trăm năm thống lĩnh của thơ Đường. Một thời kỳ vàng son mới của văn học Việt Nam đã diễn ra với tên gọi quen thuộc là phong trào Thơ mới. Khuynh hướng chung của thời kỳ Thơ mới những năm 1932-1945 là khuynh hướng lãng mạn, là lý tưởng thẩm mỹ cái "tôi" của tác giả, thẩm mỹ hóa cái cuộc sống rối ren, tơi bời của xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến và là tâm trạng buồn sầu, ưu uất, lạc lõng giữa vòng đời. Tính khuynh hướng của nghệ thuật lãng mạn rất đa dạng, có khi lãng mạn, mộng mơ, ai ca, thần bí, anh hùng, triết học, cũng có khi lãng mạn anh hùng, lãng mạn công dân hay lãng mạn xã hộ, trốn vào trong cái thế giới vô cùng lý tưởng ấy. Đối với chủ nghĩa lãng mạn, chỉ có cái gì khác thường, khác người, khác đời, và sự đối lập giữa mộng và thực là đáng kể. Trong hoàn cảnh mất nước, sống giữa cái xã hội hủ lậu, ngột ngạt ấy thì sự đối lập là dễ hiểu. Trong văn học thời kỳ này, thơ cũng như văn xuôi, cá nhân tự khẳng định, tự biểu hiện ra niềm vui, mơ ước, khát vọng. Cảm hứng sáng tác gắn liền với ý thức cá nhân; thơ mới là thơ của cái "tôi", một cái "tôi" chưa bao giờ được biết đến trong thơ cổ điển. Cái "tôi" bấy giờ không làm việc "tải đạo" nữa mà vượt lên những công thức ước lệ, khuôn khổ định Buồn, cô đơn là tâm trạng của một cá thể thi nhân nhưng lại là nét chung của các nhà thơ trong trường phái này. Đây không phải là một hiện tượng lạ mà do những nguyên nhân khách quan chung. Họ không biết phải làm gì, phải đi theo hướng nào giữa cái xã hội tan tác ấy. Họ cũng không chấp nhận được cuộc sống tầm thường, tẻ nhạt như mọi người xung quanh. Do đó, họ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ giữa xã hội. Trong thơ mới có nhiều rạo rực, âu lo, có nhiều khát vọng một cách vội vã, căng thẳng, chính cái mới này đã quyết định sự ra đời của thơ mới. Theo quan điểm của những người theo Chủ nghĩa Marx trên "Từ điển văn học": Những tác phẩm đầu tiên. Những tác phẩm ra đời đầu tiên được chính nhóm Tự lực văn đoàn chê là "đọc lên nó lủng củng, trục trặc, lại có vẻ ngơ ngẩn" và giáo sư Hoàng Như Mai cho rằng "bây giờ không ai kể nó ra nữa, không phải vì bội bạc mà vì nó dở" "...Ôi đôi ta tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng." "Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông " "Lần bước tiếng gieo thầm, bóng ai kia lủi thủi." "Lẳng lặng với sương đeo im lìm cùng gió thổi" "Không tiếng không tăm không thưa không hỏ" "Hai cô thiếu nữ đi ra đồng" "(Một cô ở chợ, một cô ở đồng)" "Hai cô thiếu nữ đi ra đồng" "Một mảnh lụa hồng, một vóc vải đen" "Hai cô rủ nhau đi xuống đầm" "(Cô đi chân không, cô đi dép đầm)" "Hai cô rủ nhau đi xuống đầm" "Bóng lụa hồng tách bóng vải thâ"
Thiên Thai là tên của chuyện Lưu Thần và Nguyễn Triệu đời nhà Hán nhân tiết Đoan Dương (5/5 âm lịch) vào núi Thiên Thai hái thuốc, bị lạc lối về. Hai người tao ngộ tiên nữ, kết làm vợ chồng. Sống hạnh phúc được nửa năm thì hai chàng nhớ quê muốn về thăm. Các tiên nữ cho biết đây là cõi tiên, đã về trần là không thể trở lại, song vẫn không giữ được hai chàng. Lưu, Nguyễn hồi hương thấy quang cảnh khác hẳn xưa, thì ra họ xa nhà đã bảy đời. Buồn bã, hai người trở lại Thiên Thai thì không thấy tiên đâu nữ Việt Nam cũng có một tiên thoại tương tự là "Từ Thức gặp tiên".
"Bến xuân" là tên một ca khúc hợp soạn của nhạc sĩ Văn Cao và nhạc sĩ Phạm Duy vào năm 1942. Hoàn cảnh ra đời. Ca khúc này được sáng tác vào năm 1942, khi Văn Cao và Phạm Duy đang sống chung ở Hải Phòng. Lúc này Văn Cao có tình cảm với Hoàng Oanh, một thiếu nữ Hải Phòng. Sau lần đầu tiên và duy nhất được Hoàng Oanh đến thăm, Văn Cao đã cảm tác lên những câu mở đầu đầy thơ mộng của bài "Bến xuân": "Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước, Em đến tôi một lầ". Hoàng Oanh là nữ ca sĩ, đầu thập niên 1940 đến thăm Văn Cao ở bến đò Rừng, nhưng lúc đó nàng đã có người yêu và chỉ thăm Văn Cao một lần duy nhất rồi lên xe hoa. Mấy năm sau người chồng vắn số của Hoàng Oanh qua đời và mùa xuân năm 1947, Văn Cao đã gặp nàng ở Việt Trì, khi đó nàng đi theo ban ca kịch kháng chiến. Theo ca sĩ Ánh Tuyết, đây là một bài tiết tấu chậm, từ từ nhưng mà ca từ tình cảm của Văn Cao trong đó rất sâu, từ ca từ đến cách Văn Cao đặt tình cảm trong đó. Trong một lần trao đổi với Ánh Tuyết, Văn Cao cho biết có một cô cô ấy yêu tôi rồi một lần nọ cô đến thăm tôi rồi sau đó cô ra đi luôn, chỉ còn lại Bến xuân (Theo VTV, "Những bài hát còn xanh" ngày 23/08/2015). Phạm Duy chưa hoàn toàn đi vào sáng tác, nhưng nhờ tự học sách tây, Phạm Duy rất am hiểu nhạc lý, nên đã góp ý và chỉnh sửa phần giai điệu do Văn Cao viết. Cuối cùng "Bến xuân" hoàn chỉnh, với phần lời 1 của Văn Cao, phần lời 2 của Phạm Duy, phần giai điệu do Văn Cao sáng tác chính, Phạm Duy góp ý. Lời mới: Đàn chim Việt. Lời mới của ca khúc là "Đàn chim Việt", do một mình Văn Cao viết vào năm 1944, khi ông theo Việt Minh. Phần lời này thoát khỏi tình cảm lãng mạn của đôi lứa như ở "Bến xuân", mà nó mang những hình ảnh tượng trưng và gợi những tâm trạng của đoàn quân kháng chiến.
Bài toán bảy cây cầu Euler Bài toán bảy cây cầu Euler, còn gọi là Bảy cầu ở Königsberg là bài toán nảy sinh từ nơi chốn cụ thể, thành phố Königsberg, Phổ (nay là Kaliningrad, Nga) nằm trên sông Pregel, bao gồm hai hòn đảo lớn nối với nhau và với đất liền bởi bảy cây cầu. Bài toán đặt ra là tìm một tuyến đường mà đi qua mỗi cây cầu một lần và chỉ đúng một lần (bất kể điểm xuất phát hay điểm tới). Năm 1736, Leonhard Euler đã chứng minh rằng bài toán này là không có lời giải. Kết quả này là cơ sở phát triển của lý thuyết đồ thị và tạo mầm mống cho tô pô học. Lời giải của Euler. Để chứng minh kết quả, Euler đã phát biểu bài toán bằng các thuật ngữ của lý thuyết đồ thị. Ông loại bỏ tất cả các chi tiết ngoại trừ các vùng đất và các cây cầu, sau đó thay thế mỗi vùng đất bằng một điểm, gọi là đỉnh hoặc nút, và thay mỗi cây cầu bằng một đoạn nối, gọi là cạnh hoặc liên kết. Cấu trúc toán học thu được được gọi là một đồ thị. Hình thù của đồ thị có thể bị bóp méo theo đủ kiểu nhưng không làm đồ thị bị thay đổi, miễn là các liên kết giữa các nút giữ nguyên. Việc một liên kết thẳng hay cong, một nút ở bên phải hay bên trái một nút khác là không quan trọng. Euler nhận ra rằng bài toán có thể được giải bằng cách sử dụng bậc của các nút. Bậc của một nút là số cạnh nối với nó; trong đồ thị các cây cầu Königsberg, ba nút có bậc bằng 3 và một nút có bậc 5. Euler đã chứng minh rằng một chu trình có dạng như mong muốn chỉ tồn tại khi và chỉ khi không có nút bậc lẻ. Một đường đi như vậy được gọi là một "chu trình Euler". Do đồ thị các cây cầu Königsberg có bốn nút bậc lẻ, nên nó không thể có chu trình Euler. Có thể sửa đổi bài toán để yêu cầu một đường đi qua tất cả các cây cầu nhưng không cần có điểm đầu và điểm cuối trùng nhau. Đường đi như vậy được gọi là một "đường đi Euler". Một đường đi như vậy tồn tại khi và chỉ khi đồ thị có đúng hai đỉnh bậc lẻ. (Như vậy điều này cũng không thể đối với bảy cây cầu ở Königsberg.) Ý nghĩa của bài toán đối với lịch sử toán học. Trong lịch sử toán học, lời giải của Euler cho bài toán bảy cây cầu ở Königsberg được coi là định lý đầu tiên của lý thuyết đồ thị, ngành nghiên cứu mà nay được coi là một nhánh của toán học tổ hợp ("combinatorics"), tuy các bài toán tổ hợp đã được quan tâm đến từ sớm hơn rất nhiều. Ngoài ra, nhận xét của Euler rằng thông tin quan trọng là số cây cầu và danh sách các vùng đất ở đầu cầu (chứ không phải vị trí chính xác của chúng) đã là dấu hiệu cho sự phát triển của ngành tôpô học. Sự khác biệt giữa sơ đồ thực và sơ đồ đồ thị là một ví dụ tốt cho thấy rằng tôpô học không quan tâm đến hình thù cứng nhắc của các đối tượng.
Chó Phú Quốc là một loại chó riêng của đảo Phú Quốc, Việt Nam. Nó có đặc điểm phân biệt với các loại chó khác là các xoáy lông ở trên sống lưng. Nó là một trong ba dòng chó có xoáy lông trên lưng trên thế giới. Hai loại chó lông xoáy ở lưng còn lại là chó lông xoáy Rhodesia và chó lông xoáy Thái. Chó Phú Quốc đã có tên trong từ điển tiếng Pháp, "Larousse". Chó Phú Quốc là một trong bốn loại chó đặc biệt của Việt Nam ("tứ đại quốc khuyển"): chó Bắc Hà, chó Phú Quốc, chó H'Mông Cộc và Dingo Đông Dương. Nguồn gốc của chó Phú Quốc hiện nay vẫn chưa được xác định. Theo một số người, chó lông xoáy Phú Quốc được bắt đầu từ một giống chó lông xoáy của Pháp khi lạc trên hoang đảo Phú Quốc và giống chó này đã sinh sôi nảy nở ở đây thành một loại chó hoang. Theo một nguồn quảng cáo cho chó lông xoáy Thái, có vài lập luận để thuyết minh rằng chó Phú Quốc đến từ Thái Lan. Tuy nhiên các luận cứ này vẫn chưa đáng tin cậy và thiếu tính thuyết phục vì tính chính xác của nó. Ngày 14 tháng 12 năm 2008, Hiệp hội Chó giống quốc gia Việt Nam (VKC) đã chính thức đăng ký giống chó Phú Quốc với Hiệp hội Chó giống quốc tế để được thế giới công nhận. Ngày 06 tháng 12 năm 2009, trong cuộc thi "Chó đẹp toàn quốc năm 2009" lần đầu tiên tổ chức tại Việt Nam. Chó Phú Quốc đã đoạt giải nhì khi so tài với nhiều giống chó khác nhau của Việt Nam và thế giới. Ngày 5 tháng 7 năm 2011, lần đầu tiên chó Phú Quốc đã được đưa sang Paris để tham dự FCI World dog show 2011 - Cuộc thi chó đẹp thế giới năm 2011. Tại đây, chó Phú Quốc đã đoạt giải CACS (chứng chỉ chó đẹp cấp thế giới, có thể gọi là "Vô địch thế giới chó Phú Quốc năm 2011"). Chó Phú Quốc có đặc điểm dễ phân biệt như lưng vòng xoáy chạy từ vai đến xương hông, dáng dũng mãnh và được nhiều người tìm kiếm, đưa về nuôi. Chúng có nhiều biệt tài so với các loài chó khác. Quân đội nhà Nguyễn đã dùng chó Phú Quốc làm quân khuyển vì chó Phú Quốc khi xác định được lãnh địa thì làm chủ hoàn toàn lãnh địa của mình. Không có bất cứ một người lạ, vật lạ nào rơi vào phạm vi lãnh địa của chúng mà chúng không phát hiện. Theo những cư dân lâu năm của Phú Quốc, chó Phú Quốc thuần chủng có vòng xoáy trên lưng với bốn màu cơ bản: đen, vàng và vện (sọc) và đốm (bốn mắt). Tuy nhiên, ngày nay thì màu lông đã có nhiều sự lai tạp. Chó Phú Quốc có cơ bắp săn chắc, khi trưởng thành thì con đực nặng khoảng 15-20kg, con cái 12–18 kg. Có các đặc điểm như: chân cao, chân trước thẳng và thon, các ngón chân sát với nhau, hai ngón giữa nhô ra, ngực nở, bụng thon, chiều sâu từ lưng đến phần nhỏ nhất của bụng nhỏ hơn 2/3 so với chiều sâu từ lưng đến ức, ức sâu đến khớp xương trên của chân trước; đầu nhỏ tròn, sọ thuôn tròn, trán có nếp nhăn khi chó chú ý quan sát, phần giữa trán có vệt hơi lõm xuống theo chiều dọc; sống mũi thẳng, phần chuyển tiếp giữa sọ và sống mũi hơi gãy; mắt hình hạt hạnh nhân, hơi xếch, có viền đen quanh mắt; cổ dài, không có nếp nhăn của da thừa; mõm dài vừa phải, hình chữ V, gốc mõm to, chóp mõm nhỏ, phần phía trên của mõm thuôn tròn, nên mặt cắt có dạng hình thang; tai dài, mỏng luôn dựng lên, chó con khoảng 2,5 tháng là tai đã dựng lên; lưỡi đen hoặc có những chấm đen (không phải xanh hoặc chấm xanh). Chó biết đào hang để đẻ và có thể săn thú. Loài chó này có khả năng bơi tương tự như rái cá nhờ chân có màng như chân vịt và bộ lông cứng, mượt, không dài đều nhau, lông ở đuôi và xoáy trên lưng dài hơn ở các phần khác, lông ôm sát cơ thể (lông chỉ 0.7 – 2 cm) khá ngắn nên khi chó Phú Quốc ướt chỉ cần lắc mình vài lượt là nước sẽ bắn đi, do đó lông sẽ nhanh khô, đặc biệt nhất là thường có xoáy lông mọc ngược dọc trên lưng từ sát đuôi đến vai. Đuôi cong hình cánh cung, lông ngắn và ít, gốc đuôi nhỏ, đuôi ít khi cụp xuống, khi cong đuôi không bao giờ chạm đến sống lưng. Mông hơi xuôi, phần chuyển tiếp giữa lưng và đuôi vát dốc xuống khoảng 20 độ. Chó Phú Quốc là giống chó săn rất giỏi, chúng khi đã truy tìm thì tra đến cùng dấu vết con mồi cũng như rất ít khi bỏ cuộc. Đây là giống chó rất trung thành và thông minh, chúng tuân thủ mệnh lệnh một cách chính xác mà không tốn nhiều công huấn luyện. Một điểm khá đặ̣c biệt là chó Phú Quốc không ăn những thức ăn "nhân tạo" (do một người khác làm hoặc không phải của chủ nó cho ăn) nên chúng rất thường khó bị mắc bẫy hoặc bị dùng thuốc độc tiêu diệt, chúng không sợ độ cao và thích leo trèo. Thần khuyển đại tướng quân. Trong dân gian Việt Nam, chó Phú Quốc được coi là "vương khuyển" vì trong lịch sử đã từng có bốn con chó Phú Quốc được vua Gia Long sắc phong một cách trang trọng, không kém những công thần khai quốc của nhà Nguyễn. Bốn con chó Phú Quốc (2 đực, hai cái) được vua Gia Long nuôi và đã theo ông suốt những năm bôn tẩu. Trong sách ""Nguyễn Phúc tộc đế phả tường giải đồ", cuốn sách gia truyền ghi chép và lý giải tất cả những chuyện liên quan đến hoàng tộc, đã ghi rõ về bốn con chó này, không những về chiến công mà còn mô tả kỹ càng về đặc tính của chó Phú Quốc. Các chú chó Phú Quốc này đã cứu nguy cho vua Gia Long 2 lần thoát chết trước khi lên ngôi. Chúng giải vây cho ông thoát khỏi sự truy đuổi của quân Tây Sơn và bảo vệ cho ông thoát nạn. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long khi bình công phong thưởng cho tướng sĩ, đã không quên sắc phong cho bốn con chó Phú Quốc danh hiệu: "Cứu khổn phò nguy Tá quốc huân thần Thần khuyển đại tướng quân". Đến khi bốn con chó qua đời, ông đã cho an táng và lập miếu thờ trọng thể.
Danh sách công trình cao nhất nước Mỹ Danh sách công trình cao nhất nước Mỹ bao gồm tất cả tòa nhà cao trên 820 ft (250m) bởi chiều cao kiến trúc (bao gồm ăng-ten). Tòa nhà chọc trời đầu tiên trên thế giới được xây dựng tại Chicago vào năm 1885. Kể từ đó, Hoa Kỳ đã trở thành nơi của một số tòa nhà cao nhất thế giới. Tại thành phố New York, đặc biệt là ở quận Manhattan, đây là nơi có đường chân trời cao nhất cả nước. Đáng chú ý, đã có 11 tòa nhà của Mỹ đã giữ danh hiệu tòa nhà cao nhất thế giới (9 ở New York). Thành phố New York và Chicago luôn là nơi tập trung của các tòa nhà chọc trời ở Mỹ. Vào năm 2018, One World Trade Center ở New York được cao là tòa nhà cao nhất tại Hoa Kỳ. Tòa nhà có chiều cao là 1.792 ft (546m). Nhưng nếu đo chiều cao đến tầng cao nhất của tòa nhà (tầng quan sát) thì One World Trade Center đã bị vượt qua bởi Willis Tower ở Chicago (tên cũ là Sears Tower) và 432 Park Avenue. Trước cuộc tấn công 11 tháng 9 tại thành phố New York, hai tòa tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới chiếm vị trí thứ hai và ba trong danh sách dưới đây, ngay phía sau Willis Tower (không tính One World Trade Center). Nếu như không bị phá hủy, thì hai tòa tháp đôi này hiện tại sẽ đứng ở vị trí thứ ba và tư trong danh sách dưới đây. Có rất nhiều tòa nhà siêu lớn được đề xuất và đang được xây dựng trên toàn quốc, tập trung ở thành phố New York và Chicago. Các dự án ở New York bao gồm Central Park Tower và 111 West 57th Street. Ở Chicago, các cấu trúc được đề xuất bao gồm Vista Tower ~95 tầng và ~1.186 ft (361m); Wolf Point Towers, Gateway Tower và một tháp được thiết kế bởi Rafael Vinoly. Các tòa nhà cao tầng khác được đề xuất hoặc đang xây dựng bao gồm Comcast Technology Center ở Philadelphia, Salesforce Tower ở San Francisco, One Bayfront Plaza và One Brickell City Centre ở Miami. Danh sách này được xếp theo công trình đã hoàn thành ở Hoa Kỳ có chiều cao ít nhất 820 ft (250m), dựa trên chiều cao tiêu chuẩn bao gồm tháp và kiến trúc. Dấu bằng (=) theo thứ hạng cho biết cùng chiều cao giữa hai hoặc nhiều tòa nhà. templatestyles src="Legend/" /  Đã từng là tòa nhà cao nhất thế giới Đang được xây dựng, đề xuất hoặc bị hủy bỏ. Danh sách này liệt kê các tòa nhà được xây dựng và lên kế hoạch tại Hoa Kỳ, có chiều cao hơn 690 ft (210m). Cột "năm" trong danh sách là năm hoàn thành dự kiến của công trình. Đã phê duyệt và đề xuất. Danh sách này liệt kê các tòa nhà đã được phê duyệt và đề xuất dự án tại Hoa Kỳ, có chiều cao hơn 700 ft (213m). Danh sách này liệt kê các tòa nhà đã bị hủy bỏ tại Hoa Kỳ, có chiều cao hơn 374 ft (114m). Cột "năm" trong danh sách là năm tòa nhà bị hủy bỏ đề xuất. Đã bị phá hủy. Danh sách này được liệt kê 10 tòa nhà cao nhất bị phá hủy tại Hoa Kỳ. templatestyles src="Legend/" /  Đã từng là tòa nhà cao nhất thế giới
Nhà chọc trời là công trình kiến trúc cao tầng, bao gồm những tầng nhà được xây dựng liên tiếp và thường được sử dụng cho mục đích thương mại và văn phòng. Trên thực tế không có một định nghĩa chính thức hoặc chiều cao tiêu chuẩn cho một nhà chọc trời. Nét đặc trưng của nhà chọc trời là kết cấu khung sườn chịu lực bằng thép, sử dụng dạng hệ vách (tiếng Anh: curtain-wall) chứ không dùng tường chịu lực (tiếng Anh: load-bearing wall) theo truyền thống. Hầu hết những nhà chọc trời đều sử dụng khung sườn thép cho phép công trình đạt được chiều cao tối đa lớn hơn so với các công trình sử dụng kết cấu bê tông cốt thép. Tường của nhà chọc trời không đóng vai trò chịu lực, người ta thay thế tường gạch truyền thống bằng các khung cửa sổ rất lớn bằng kính. Tuy vậy một số nhà chọc trời vẫn có thể được che chắn bởi cả tường và cửa sổ như truyền thống. Sau cuộc đại khủng hoảng, việc xây dựng những toà nhà chọc trời bị ngừng lại. Từ thập niên 60, kỹ sư Fazlur Rahman Khan đã làm hồi sinh nhà chọc trời bằng phương pháp xây dựng theo Ống (cấu trúc). Kĩ thuật xây dựng này giúp kết cấu công trình trở nên chắc chắn và có hiệu suất sử dụng cao hơn: kim loại được sử dụng ít hơn (giúp giảm chi phí) nhưng vẫn cho phép công trình cao hơn; số lượng cột chống cũng ít hơn giúp tăng diện tích sử dụng mặt bằng cho các tầng; cho phép thiết kế công trình theo nhiều hình dáng đặc biệt. Hệ thống kết cấu này đã trở thành nền tảng cho việc thiết kế và xây dựng nhà cao tầng và nhà chọc trời ngày nay còn bản thân Fazlur Rahman Khan được coi như « Einstein của ngành kĩ thuật công trình ». Khan và phát minh của ông trở thành biểu tượng trong cả hai ngành kiến trúc và kỹ thuật công trình. Ngày nay, nhờ vào tỉ lệ cao giữa mặt bằng cho thuê trên một đơn vị diện tích, những toà nhà chọc trời thường được đặt ở những khu đất đắt đỏ, như ở trung tâm của những thành phố lớn. Chúng được xây dựng không chỉ vì mục đích kinh tế, mà còn được xem như biểu tượng về sức mạnh kinh tế của mỗi thành phố, giống như vai trò của những ngôi đền hoặc cung điện, lâu đài trong quá khứ. Trong một số trường hợp đặc biệt, chiều cao của một toà nhà chọc trời được lựa chọn không chỉ xuất phát từ nhu cầu sử dụng mà còn nhằm làm nổi bật nét đặc sắc và giúp quảng bá hình ảnh và sức mạnh của thành phố. Một công trình được xem là Nhà chọc trời nếu nó vươn cao hẳn so với môi trường xung quanh và thay đổi đường chân trời tổng quan. Độ cao lớn nhất của các công trình phát triển theo thời gian, cùng với những tiến bộ về phương pháp và kỹ thuật xây dựng, do đó ngày nay các nhà chọc trời đều cao hơn trước kia. Nguyên gốc trong tiếng Anh thì khái niệm "nhà chọc trời" ("skycraper") là một khái niệm hải dương học, để chỉ cây cột buồm thẳng đứng trên thuyền buồm. Trong tiếng Việt, nhà chọc trời là cách gọi hình tượng của nhà cao tầng. Một nhà chọc trời có chiều cao trên 305 m (1000 ft) đôi khi được gọi là nhà siêu cao tầng. Burj Khalifa hiện là công trình cao nhất thế giới. Nhà cao tầng được thừa nhận là thấp hơn Nhà chọc trời. Mặc dù không có sự khác biệt rõ ràng về mặt định nghĩa giữa nhà cao tầng và nhà chọc trời, nhưng những công trình có chiều cao ít hơn 30 tầng thường không được xem như Nhà chọc trời, còn những công trình từ 40 tầng hoặc 50 tầng trở lên với độ cao thường được xem là nhà chọc trời. Lịch sử phát triển. Khái niệm "nhà chọc trời" lần đầu tiên được sử dụng với những toà nhà có kết cấu khung thép cao ít nhất 10 tầng được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX, là kết quả từ sự kinh ngạc của công chúng với chiều cao của những toà nhà được xây dựng tại khắp các thành phố như Chicago, New York, Philadelphia, Detroit và St. Louis. Toà nhà chọc trời đầu tiên được xây dựng là Toà nhà bảo hiểm (10 tầng, cao 42m) tại Chicago vào năm 1885. Ngày nay chiều cao của Toà nhà Bảo hiểm là hết sức bình thường, nhưng vào thời điểm xuất hiện nó đã thực sự gây kinh ngạc cho công chúng. Sự phát triển bước ngoặt của nhà chọc trời nằm ở sự ra đời và các phát minh về công nghệ vật liệu như thép, kính, bê tông cốt thép, máy bơm nước và thang máy. Cho đến tận thế kỷ XIX, những công trình cao trên 6 tầng rất hiếm. Việc sử dụng cầu thang bộ cho nhiều tầng hoặc hệ thống bơm nước không có đủ khả năng bơm nước cao hơn 15 m (50 ft) trở nên vô cùng bất tiện cho các cư dân thời đó. Nước Anh cũng có đóng góp một số công trình vào giai đoạn đầu của sự phát triển nhà chọc trời. Công trình đầu tiên phù hợp với định nghĩa về mặt kết cấu của nhà chọc trời là Khách sạn Grand Midland, hiện nay là "St Pancras Chambers", ở thủ đô Luân Đôn. Công trình được hoàn thành năm 1873 với chiều cao là 82 m (269 ft). Tòa nhà Shell Mez ở Luân Đôn có tổng số 12 tầng và chiều cao là 58 m (190 ft) được hoàn thành năm 1886 đã đánh bại công trình "Tòa nhà Bảo hiểm" cả về số tầng lẫn chiều cao. Theo những tiêu chuẩn hiện đại thì công trình đầu tiên của thể loại nhà cao tầng là Tòa nhà Woolworth ("Woolworth Building") ở New York. Hầu hết những nhà chọc trời đầu tiên xuất hiện ở các đô thị lớn như New York, Luân Đôn, Chicago vào cuối thế kỷ XIX. Tuy nhiên các công trình ở Luân Đôn sớm bị giới hạn chiều cao do than phiền của Nữ hoàng Victoria của Anh. Điều luật này tồn tại đến năm 1950 mới được sửa đổi. Một số điều luật liên quan đến thẩm mỹ và luật an toàn phòng hỏa cũng làm cản trở sự phát triển của nhà chọc trời ở lục địa châu Âu vào nửa đầu thế kỷ XX. Ở thành phố Chicago, người ta cũng ra một điều luật giới hạn chiều cao nhà chọc trời ở con số 40. Do vậy New York là thành phố dẫn đầu trên thế giới về phát triển chiều cao của nhà chọc trời. Từ cuối thập niên 1930, nhà chọc trời cũng dần dần xuất hiện ở Nam Mỹ như São Paulo, Buenos Aires và ở châu Á như Thượng Hải, Hồng Kông và Singapore. Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô có kế hoạch xây dựng tám công trình cao tầng khổng lồ hay còn gọi là "Các toà tháp của Stalin" ở thủ đô Moskva: cuối cùng bảy trong số đó đã được xây dựng, được mang tên Bảy chị em Moskva. Phần còn lại của châu Âu cuối cùng cũng chậm chạp khởi động, bắt đầu với thành phố Madrid, thủ đô của Tây Ban Nha trong những năm 1950. Nhà chọc trời cuối cùng cũng xuất hiện ở châu Phi, Trung Đông và châu Đại Dương từ cuối thập niên 1960. Ngày nay, không thành phố nào trên thế giới có nhiều công trình cao trên 150 m hơn New York, quê hương của tháp Đế chế, của Tòa nhà Chrysler và của Trung tâm Thương mại Thế giới cũ. Điều luật về các công trình cao tầng ở Chicago cũng chỉ được nới lỏng vào năm 1960, trong vòng 15 năm sau đó có rất nhiều công trình cao tầng được xây dựng, trong số đó có tòa tháp Sears khổng lồ với chiều cao 442 m (1451 ft). Kể từ cuối thập niên 1980, Hồng Kông đóng góp một số công trình nhà chọc trời nổi tiếng, bao gồm Nhà băng Trung Quốc và Trung tâm Tài chính Quốc tế. Bộ ba Chicago, Hồng Kông và New York được xem là ba ông lớn về nhà cao tầng trên thế giới. Trước sự khan hiếm về đất đai xây dựng cũng như tỉ lệ hoàn vốn và lợi nhuận trên diện tích sàn cao, nhà chọc trời trở thành một xu hướng phát triển chung của loài người. Mặt khác, nhà cao tầng cũng được xem như biểu tượng của sức mạnh kinh tế. Hiện tại tháp Burj Khalifa đã hoàn thành ở Dubai, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất. Đó là kết cấu cao nhất trên thế giới với chiều cao ước chừng là 643,3 m. Với sự xuất hiện của mình, tháp Burj đánh dấu sự ra đời của một thể loại công trình mới: nhà siêu chọc trời. Một số công trình nhà chọc trời nổi tiếng trên thế giới: Thiết kế và thi công nhà chọc trời. Việc thiết kế và thi công nhà chọc trời liên quan tới việc đảm bảo an toàn và không gian sống cho người sử dụng trong một công trình có chiều cao rất lớn. Công trình cần chống đỡ những tải trọng như trọng lượng bản thân, gió, động đất và bảo vệ người sử dụng khi hoả hoạn. Ngoài ra, thiết kế nhà chọc trời còn phải đảm bảo thuận tiện trong việc ra vào, ngay cả trên những tầng cao nhất, và cung cấp các dịch vụ cũng như môi trường sống tiện nghi cho người sử dụng. Những vấn đề nảy sinh và cần giải quyết trong việc thiết kế và thi công nhà chọc trời được xếp vào hàng phức tạp nhất trong kỹ thuật xây dựng, đòi hỏi sự kết hợp và cân bằng giữa các yếu tố kinh tế, kỹ thuật và quản lý xây dựng. Một đặc trưng của nhà cao tầng đó là sử dụng kết cấu khung thép cùng hệ vách ("curtain" "wall"), thay vì kết cấu tường chịu lực ("load-bearing walls") như những công trình truyền thống. Việc sử dụng kết cấu khung thép giúp các công trình được xây cao hơn so với tường chịu lực bằng bê tông gia cường. So với nhà truyền thống, trên cùng một mặt bằng, hệ thống tường của nhà chọc trời luôn chiếm diện tích nhỏ hơn. Do không phải tham gia vào việc chịu lực nên rất nhiều công trình nhà chọc trời lựa chọn kính làm vật liệu cho hệ thống tường bao thay vì gạch hay bê tông như truyền thống. Theo thời gian, với những công trình có chiều cao ngày càng lớn, kết cấu khung thép trở nên kém hiệu quả và đắt đỏ do diện tích sàn sử dụng bị cắt giảm bởi các cột chống phải càng lớn và do việc sử dụng quá nhiều thép làm tăng chi phí công trình. Từ những năm 1960, kết cấu dạng ống ra đời đã giải quyết vấn đề này. Lượng thép sử dụng giảm mạnh (Tháp Willis sử dụng lượng thép bằng một phần ba so với Toà nhà Đế chế) giúp đạt hiệu quả lớn về mặt kinh tế, cho phép các công trình được xây dựng ngày càng cao hơn. Kết cấu dạng ống cũng sử dụng các cột chống nhỏ hơn giúp tăng diện tích sử dụng sàn. Ngoài ra nó còn cho phép các công trình được thiết kế theo nhiều hình dạng phong phú hơn. Thang máy cũng là một trong những đặc trưng trong thiết kế nhà chọc trời. Năm 1852, Elisha Otis giới thiệu một loại thang máy an toàn, cho phép di chuyển người một cách tiện lợi và nhanh chóng lên các tầng cao hơn. Sự phát triển của hệ thống thang máy cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhà chọc trời. Nhưng những ngôi nhà chọc trời cũng có các nhược điểm của nó: các tường kính từ 6 đến 12 mm thu và tỏa nhiệt gấp trên 10 lần so với tường gạch có lớp cách nhiệt. Ở các xứ lạnh thì phải làm hệ thống sưởi điện làm tan băng bám tấm kính để băng khỏi rơi vào đầu người đi dưới đường. Dưới chân nhà chọc trời thường có gió xoáy, gọi là hội chứng Mery Poppins rất nguy hiểm. Ngoài ra, để chống dao động các nhà chọc trời cần có các thiết bị giảm dao động rất đắt (3 triệu đôla đối với Tòa nhà John Hancock). Hiệu suất kinh tế. Các tòa nhà chọc trời thường nằm ở các trung tâm thành phố lớn, là nơi có giá đất cao đắt đỏ. Việc xây dựng một tòa nhà chọc trời trở nên hợp lý nếu giá đất cao đến mức có ý nghĩa kinh tế, và để xây dựng theo hướng kinh tế thì việc xây dựng nhà chọc trời đã giảm thiểu được chi phí đất trên tổng diện tích sàn của một tòa nhà. Do đó, tầm quan trọng để xây dựng các tòa nhà chọc trời được quyết định bởi kinh tế học và dẫn đến các tòa nhà chọc trời được đặt ở một phần nhất định của một thành phố lớn, trừ khi một quy chuẩn xây dựng hạn chế chiều cao của các tòa nhà. Các tòa nhà chọc trời hiếm khi được nhìn thấy ở các thành phố nhỏ với mật độ dân số vừa. Thông thường, chỉ những người sử dụng văn phòng, thương mại và khách sạn, mới có thể thuê được mặt bằng ở trung tâm thành phố, vì vậy hầu hết những người thuê các tòa nhà chọc trời đều thuộc lớp này. Một vấn đề với các tòa nhà chọc trời là khu vực đậu xe giảm thiểu ở các thành phố lớn đã phát triển, vì hầu hết mọi người dân khi đi làm họ đều sử dụng các phương tiện công cộng thay thế. Ngược lại, ở các thành phố nhỏ hơn thì cần nhiều chỗ đậu xe, các bãi đỗ xe nhiều tầng xây rất cao đồng nghĩa với việc tốn nhiều diện tích đất. Ở Việt Nam, một số công trình chọc trời đã hoàn thành như công trình tháp Bitexco khởi công năm 2005 ở Thành phố Hồ Chí Minh với 68 tầng và chiều cao tổng cộng là 262 m, tháp Lotte Center Hà Nội ở Hà Nội có 65 tầng với chiều cao 281 m, tòa nhà Keangnam ở Hà Nội với chiều cao 350 m và 72 tầng. Gần đây nhất là tòa nhà The Landmark 81 ở Thành phố Hồ Chí Minh với chiều cao 461.3 m và 81 tầng dẫn đầu là tòa nhà cao nhất Việt Nam ở thời điểm hiện tại và được xếp thứ hạng 14 trong bảng danh sách các tòa nhà cao nhất thế giới. — Kiến trúc sư Louis Sullivan, "Xem xét về thẩm mỹ của nhà cao tầng", 1896 — Kiến trúc sư Constantinos Doxiades, 1971 — Kiến trúc sư Ludwig Mies van der Rohe
Quấy rối tình dục Quấy rối tình dục là một hình thức quấy nhiễu mà đặc biệt là hướng về giới tính của người có liên can. Ngày nay trong phần lớn các nước phương Tây quấy rối tình dục được coi là phân biệt đối xử và là trái luật, ví dụ như theo ý nghĩa của luật lao động, nhưng phải phân biệt với việc lạm dụng tình dục dưới hình thức xâm chiếm tình dục cũng như là sử dụng bạo lực cơ thể mà về phía nó thông thường là đã đầy đủ tình trạng tội phạm. Ngoài những việc khác, quấy rối tình dục là những hành động và nhận xét làm hổ thẹn hay làm nhục về tình dục và có liên quan đến giới tính, tiếp cận cơ thể không được sự mong muốn, tiếp cận trong quan hệ hứa hẹn ban thưởng và/hay trấn áp. Theo một nghiên cứu được thực hiện theo yêu cầu của Ủy ban châu Âu thì khoảng 40%–50% nữ nhân viên và khoảng 10% nam nhân viên đã từng một lần là mục tiêu của quấy rối tình dục. Tình trạng pháp luật trong Liên minh châu Âu. Trong Liên minh châu Âu, xuất phát từ một đề nghị của Ủy ban châu Âu, quấy rối tình dục được định nghĩa như sau: "Khi một thái độ có liên quan đến giới tính thể hiện ở hình thức có từ ngữ, không từ ngữ hay bằng cơ thể có mục đích hay có tác động làm tổn thương đến phẩm giá của một người hay tạo nên một môi trường mang nhiều dọa dẫm, thù địch, hạ thấp, lăng nhục, xúc phạm hay bối rối." Trên toàn châu Âu có chỉ thị của Liên minh châu Âu 2002/73 được đưa ra vào năm 2002 nhờ vào hoạt động của nữ ủy viên về việc làm và xã hội Anna Diamantopoulou. Chỉ thị này thể hiện một sự mở rộng chỉ thị về bình đẳng nam nữ từ năm 1976. Các điểm chính của chỉ thị này là: Quy tắc ứng xử cho người thuê nhân công. Ủy ban châu Âu đã khuyên nhủ một "quy tắc ứng xử cho người thuê nhân công nhằm quấy rối tình dục mạnh hơn". Quy tắc này cần phải bao gồm các điểm sau đây: Ý nghĩa của một quy tắc đối xử như vậy là ở chỗ người nhân viên có một hướng dẫn trong tay để chống lại hình thức đối xử vi phạm luật lệ này và đồng thời cũng có thể nhận rõ là hành động của chính mình không gây ra bất bình. Khả năng giúp đỡ nạn nhân của một cách ứng xử như thế cũng được nêu ra và một quy tắc như vậy cũng là một công cụ để cho lãnh đạo doanh nghiệp và đại diện nhân viên trừng phạt thái độ này một cách tương ứng. Luật lệ ở Đức. Theo Luật Bảo vệ Người lao động (Đức), quấy rối tình dục là "tất cả các hành động cố tình về tình dục tổn thương đến nhân phẩm của người lao động tại nơi làm việc". Theo điều 2 câu 1 của Luật Bảo vệ Người Lao động, người chủ hay lãnh đạo trực tiếp (trường hợp là nhân viên nhà nước) phải bảo vệ nữ và nam nhân viên trước sự quấy rối tình dục. Định nghĩa tình huống nào và bắt đầu từ đâu là một sự quấy rối tình dục về cơ bản là được định nghĩa từ các phán quyết tương ứng của các tòa án lao động. Được xem như quấy rối tình dục ngoài các hành vi thuộc về hình sự là "các hành vi tình dục khác và yêu cầu thực hiện các hành vi này, các nỗ lực cơ thể mang tính tình dục, nhận xét có nội dung tình dục cũng như là việc cho xem và treo các hình ảnh khiêu dâm mà bị người có liên can từ chối một cách có thể nhận thấy được." (Điều 2, khoảng 2, câu 2 Luật Bảo vệ Người lao động). Quấy rối tình dục cũng là động chạm vượt mức cho phép ( và hướng đến nhu cầu thoả mãn sinh lý) mà nạn nhân phản kháng,không cho phép. Nhân viên bị quấy rối tình dục có quyền khiếu nại (điều 3 Luật Bảo vệ Người lao động). Người chủ hay người lãnh đạo trực tiếp phải xem xét khiếu nại này và đưa ra biện pháp thích ứng để tránh sự quấy rối tình dục tái diễn. Các biện pháp này có thể là cảnh cáo, chuyển chỗ làm hay đuổi việc. Khi người chủ hay người lãnh đạo trực tiếp không đưa ra biện pháp hay những biện pháp đó rõ ràng là không phù hợp thì người lao động bị quấy rối có quyền không phải làm việc nữa mà vẫn có yêu cầu tiếp tục được nhận tiền lương (điều 4, phần 2, Luật Bảo vệ Người lao động). Luật lệ ở Thụy Sĩ. Quấy rối tình dục theo Luật Bình đẳng ("Gleichstellungsgesetz"), chương 4 là phân biệt đối xử và đã bị cấm. Người chủ lao động tư nhân và nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ những người bị quấy rối. Luật lệ ở Việt Nam. "Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác", quy định điểm a, khoản 1, Điều 5, Nghị định 167/2013/NĐ-CP (mức phạt đối với hành vi này là từ 100 ngàn đến 300 nghìn đồng) Trong bộ luật lao động Điều 8 nghiêm cấm hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc, và Điều 37, 182 và 183 cũng có cụm từ "quấy rối tình dục" Bộ luật lao động năm 2019, từ ngày 01/01/2021, quấy rối tình dục tại nơi làm việc có thể bị sa thải. Slavoij Zizek chống lại tính chính trị đúng đắn ("political correctness") của các cuộc thảo luận về quấy rối tình dục. Ông phát biểu về "một điểm mù của vấn đề quấy rối tình dục": "Không có tình dục nào mà không có một nguyên tố "quấy rối" (của cách nhìn nhầm lẫn, gây sốc và tổn thương tinh thần (traumatically) từ đặc tính của những gì xảy ra ở đấy)... Loại trừ đặc tính gây tổn thương này ra khỏi quan hệ tình dục thì cái còn lại đơn giản không còn là tình dục nữa. Không có nguyên tố của "việc cho thêm" gây tổn thương thì tình dục "chín mùi" giữa những người trưởng thành theo định nghĩa đã không còn là tình dục nữa và biến đổi thành một sự giao cấu máy móc." (Zizek 1999, trang 60)
Giải thưởng Stirling là giải thưởng kiến trúc thường niên, mang tên kiến trúc sư James Stirling, được tổ chức bởi Hiệp hội Kiến trúc sư Hoàng gia Anh ("Royal Institute of British Architects", viết tắt là RIBA). Phần thưởng trị giá 20.000 bảng Anh. Giải thưởng này được trao cho các kiến trúc sư có đóng góp lớn cho sự phát triển của kiến trúc Anh trong năm. Kiến trúc sư phải là thành viên của RIBA nhưng công trình có thể xây dựng bất cứ đâu trong Liên minh châu Âu.
Hoàng Cầm (nhà thơ) "Bài này viết về thi sĩ Hoàng Cầm, các nghĩa khác xem tại Hoàng Cầm (định hướng)" Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, (22 tháng 2 năm 1922 – 6 tháng 5 năm 2010 tại Hà Nội), là một nhà thơ Việt Nam. Ông sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc Tằng, nay là phường Tăng Tiến, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Quê gốc của Hoàng Cầm ở phường Song Hồ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm. Năm 1944, do Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra quyết liệt, ông đưa gia đình về lại quê gốc ở Thuận Thành. Cũng tại nơi này, ông bắt đầu tham gia hoạt động Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh. Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông về Hà Nội, thành lập đoàn kịch Đông Phương. Khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông theo đoàn kịch rút ra khỏi Hà Nội, biểu diễn lưu động ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình một thời gian rồi giải thể. Tháng 8 năm 1947, ông tham gia Vệ quốc quân ở chiến khu 12. Cuối năm đó, ông thành lập đội Tuyên truyền văn nghệ, đội văn công quân đội đầu tiên. Năm 1952, ông được cử làm Trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị, hoạt động biểu diễn cho quân dân vùng tự do và phục vụ các chiến dịch. Tháng 10 năm 1954, đoàn văn công về Hà Nội. Đầu năm 1955, do đoàn văn công mở rộng thêm nhiều bộ môn, Hoàng Cầm được giao nhiệm vụ trưởng đoàn kịch nói. Cuối năm 1955, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, làm công tác xuất bản. Tháng 4 năm 1957, ông tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, và được bầu vào Ban chấp hành. Tuy nhiên, không lâu sau, do vụ án "Nhân văn Giai phẩm", ông phải rút khỏi Hội nhà văn vào năm 1958 và về hưu năm 1970 lúc 48 tuổi. Năm 1982 ông bị bắt giam vào Hỏa lò vì tập thơ Về Kinh Bắc sáng tác năm 1959 - 1960,đến năm 1983 được thả về mà không có phiên tòa nào xử tội chống Đảng của ông.Hậu quả của việc này là ông mắc bệnh trầm cảm. Ông nổi tiếng với vở kịch thơ "Hận Nam Quan", "Kiều Loan" và các bài thơ "Lá diêu bông", "Bên kia sông Đuống". Bài thơ "Bên kia sông Đuống" được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông. Ngoài bút danh Hoàng Cầm ông còn có các bút danh: Bằng Việt, Lê Thái, Lê Kỳ Anh, Bằng Phi. Đầu năm 2007, ông được nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng. Thời gian cuối đời ông sống tại Hà Nội và ông đã mất vào ngày 6 tháng 5 năm 2010 tại Hà Nội vì bệnh nặng. Kháng chiến của Việt Nam không thể thành công nếu không có nhạc của Văn Cao, không có thơ của Hoàng Cầm.
Bếp Hoàng Cầm ra đời từ chiến dịch Hòa Bình (1951 – 1952) và rất phổ biến trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Đây là một loại bếp dã chiến, có công dụng làm tan loãng khói bếp tỏa ra khi nấu ăn nhằm tránh bị máy bay phát hiện từ trên cao, cũng như ở gần. Bếp mang tên người chế tạo ra nó, anh hùng nuôi quân Hoàng Cầm (1916 – 1996). Ông nguyên là tiểu đội trưởng nuôi quân của Đội trưởng Đội điều trị 8, Sư đoàn 308 Quân đội Nhân dân Việt Nam. Với những ưu thế nên bếp Hoàng Cầm đã trở nên phổ biến trong các đơn vị trong Chiến dịch Điện Biên Phủ và những năm Chiến tranh Việt Nam sau này. Địa đạo Củ Chi hiện nay vẫn còn công trình hầm bếp Hoàng Cầm. Tiểu sử anh nuôi Hoàng Cầm. Hoàng Cầm sinh năm 1916 ở xã Trực Đại, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Vì nghèo khó, ông bỏ nhà lên phố mưu sinh năm 20 tuổi. Sau năm 1936, ông học nghề đầu bếp và làm thuê cho cửa hàng cơm Văn Phú ở phố Hàng Lọng (đường Lê Duẩn ngày nay). Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia tự vệ thành. Năm 1947, ông được giao nhiệm vụ phụ trách cấp dưỡng của An Dưỡng đường thuộc Quân y vụ khu Trung ương (Cục Quân y). Cuối năm 1948, ông được điều về phụ trách cấp dưỡng tại Quân y viện ở Mỹ Tranh. Thu đông năm 1949, trong Chiến dịch Biên giới, ông phụ trách một tổ cấp dưỡng tại một trạm vận chuyển thương binh ở Na Lang. Trong Chiến dịch Hoàng Hoa Thám 1951, do có công giúp đơn vị “luôn đủ thực phẩm tươi sống mà giá cả lại phải chăng, đời sống thương bệnh binh ngày càng được cải thiện”…ông được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba. Đông xuân 1951 – 1952, trong Chiến dịch Hòa Bình, vì phải theo sát cuộc chiến đấu của Sư đoàn 308, bộ phận phục vụ của Hoàng Cầm phải chia làm 2 tổ, bình quân mỗi người phải phục vụ 60 người. Giai đoạn này ông đã chế tạo bếp Hoàng Cầm. Bếp Hoàng Cầm do ông chế tạo đã được nhanh chóng phổ biến và sử dụng rộng rãi trong Quân đội Nhân dân Việt Nam thời kỳ Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam. Với thành tích trên, cha đẻ của bếp Hoàng Cầm đã được bầu là Chiến sĩ thi đua sư đoàn, được thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Sau Chiến tranh Đông Dương, ông nhận huy hiệu chiến sĩ Điện Biên và Huân chương Chiến thắng hạng Ba. Năm 1958, Hoàng Cầm ra quân. Ông tiếp tục công tác tại thị trấn Tam Đảo. Kết thúc cuộc Chiến tranh Việt Nam, ông được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Hai. Cấu tạo của bếp. Bếp có nhiều đường rãnh để thoát khói, nối liền với lò bếp, bên trên rãnh đặt những cành cây và phủ một lớp đất mỏng được tưới nước để giữ độ ẩm. Khói từ trong lò bếp bốc lên qua các đường rãnh chỉ còn là một dải hơi nước tan nhanh khi rời khỏi mặt đất. Do đó, bếp Hoàng Cầm nấu được cả ban ngày lẫn ban đêm mà không sợ lộ khói lửa, theo tinh thần “đi không dấu, nấu không khói…”. Bếp Hoàng Cầm trong văn thơ. Hình ảnh bếp Hoàng Cầm đã xuất hiện trong thơ ca kháng chiến, mà nổi tiếng nhất là trong thơ Phạm Tiến Duật. Trong "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" nói về bộ đội những năm tháng chống Mỹ, Phạm Tiến Duật có viết: "Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời" "Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấ" "Bếp Hoàng Cầm ta sưởi ấm khắp nơi nơ" ("Nổi lửa lên em)"
Trong lý thuyết đồ thị, danh sách kề (tiếng Anh: "adjacency list") là danh sách biểu diễn tất cả các cạnh hoặc cung trong một đồ thị. Nếu đồ thị vô hướng, mỗi phần tử của danh sách là một cặp hai đỉnh là hai đầu của cạnh tương ứng. Nếu đồ thị có hướng, mỗi phần tử là một cặp có thứ tự gồm hai đỉnh là đỉnh đầu và đỉnh cuối của cung tương ứng. Ví dụ, danh sách {a,b},{a,c},{b,c} mô tả đồ thị vô hướng trong hình dưới đây, trong đó ba đỉnh a, b, c được nối với nhau. Thông thường, danh sách kề không coi trọng thứ tự giữa các cạnh. Trong Khoa học máy tính, danh sách kề là một cấu trúc dữ liệu gắn bó chặt chẽ với việc biểu diễn đồ thị. Trong một biểu diễn danh sách kề, với mỗi đỉnh trong đồ thị, ta lưu trữ tất cả các đỉnh khác có cạnh nối với đỉnh đó - danh sách kề của đỉnh. Ví dụ, đồ thị trong hình vẽ có biểu diễn danh sách kề như sau: Đối thủ chính của danh sách kề là ma trận kề. Với một đồ thị có ma trận kề thưa, biểu diễn danh sách kề của nó chiếm ít không gian hơn, do nó không sử dụng phần không gian nào để lưu trữ các cạnh "không" tồn tại. Sử dụng cài đặt danh sách liên kết đơn giản trên một máy tính 32-bit, một danh sách kề cho một đồ thị vô hướng cần khoảng 16"e" byte, trong đó "e" là số cạnh của đồ thị. Mặt khác, do mỗi ô trong ma trận kề chỉ đòi hỏi một bit, chúng có thể được biểu diễn rất gọn, chỉ chiếm "n"2/8 byte không gian bộ nhớ liên tục, trong đó "n" là số đỉnh. Ngoài việc tiết kiệm bộ nhớ, lưu trữ gọn gàng này còn khuyến khích locality of reference ("tính địa phương của các truy nhập đến bộ nhớ"). Lưu ý rằng một đồ thị có thể có nhiều nhất "n"2 cạnh (kể cả các khuyên). Giả sử "d" = "e"/"n"2 ký hiệu "mật độ" của đồ thị. Ta có: 16"e" "n"2/8, có nghĩa là danh sách kề chiếm nhiều không gian hơn khi "d" 1/128. Do đó, chỉ nên dùng danh sách kề với đồ thị thưa. Bên cạnh thỏa hiệp về không gian bộ nhớ, các cấu trúc dữ liệu khác nhau còn tạo thuận lợi cho các thao tác dữ liệu khác nhau. Với một danh sách kề, ta dễ dàng tìm mọi đỉnh kề với một đỉnh cho trước; ta chỉ cần đọc danh sách kề của đỉnh đó. Với một ma trận kề, ta phải duyệt toàn bộ một hàng, việc đó cần thời gian O(n). Còn nếu ta lại muốn biết giữa hai đỉnh cho trước có cạnh nối hay không, điều này có thể được xác định ngay lập tức với một ma trận kề, trong khi đó với một danh sách kề, việc này đòi hỏi thời gian tỷ lệ thuận với bậc nhỏ nhất của các đỉnh trong đồ thị.
Pistia là một chi thực vật thủy sinh trong họ Ráy ("Araceae"), chỉ có một loài duy nhất có danh pháp khoa học là Pistia stratiotes mà tiếng Việt gọi là bèo cái. Người ta chưa chắc chắn về nguồn gốc của bèo cái nhưng có thể là khắp vùng nhiệt đới; lần đầu tiên bèo cái được miêu tả một cách khoa học là từ bèo cái sông Nin gần hồ Victoria thuộc châu Phi. Hiện nay bèo cái có mặt gần như tại mọi vùng nước ngọt của khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới thông qua phổ biến tự nhiên hay nhờ con người. Bèo cái sống nổi trên mặt nước trong khi rễ của bèo cái chìm dưới nước gần các đám lá trôi nổi. Bèo cái là một loại cây lâu năm một lá mầm với các lá dày, mềm tạo ra hình dáng giống như một cái nơ. Các lá có thể dài tới 14 cm và không có cuống, có màu xanh lục nhạt, với các gân lá song song, các mép lá gợn sóng và được che phủ bằng các sợi lông tơ nhỏ và ngắn. Bèo cái là một loài thực vật đơn tính, có các hoa nhỏ ẩn ở đoạn giữa của cây trong các đám lá, các quả mọng màu lục có kích thước nhỏ được tạo ra sau khi hoa được thụ phấn. Loài cây này có thể sinh sản vô tính, các cây mẹ và cây con liên kết với nhau bằng một thân bò ngắn, tạo ra các cụm bèo cái dày dặc. Sự phát triển của bèo cái làm cho bèo cái trở thành một loại cỏ dại trong các tuyến đường thủy. Bèo cái là loại cỏ dại sống dưới nước phổ biến tại Hoa Kỳ, cụ thể là ở Florida là khu vực mà số lượng lớn của bèo cái gây cản trở trên các tuyến đường thủy. Bèo cái là một loài thực vật có khả năng làm giảm tính đa dạng sinh học của các vùng nước ngọt. Các cụm bèo cái cản trở sự trao đổi khí trong mặt phân giới nước-không khí, điều này làm giảm lượng oxy trong nước và giết chết nhiều loài cá, chúng cũng ngăn cản sự chiếu sáng và giết chết nhiều loài thực vật sống ngầm dưới nước, cũng như làm thay đổi cộng đồng thực vật sống nổi trên mặt nước bằng cách chèn ép chúng. Người ta có thể kiểm soát sự sinh sản của chúng bằng cách vớt chúng khỏi mặt nước và đem đi xử lý hoặc dùng các loại thuốc diệt cỏ dưới nước. Hai loại côn trùng cũng đang được thử nghiệm như là biện pháp kiểm soát sinh học. Một loại mọt ("Neohydronomous affinis") ở vùng Nam Mỹ và ấu trùng của chúng ăn các lá của bèo cái, cũng như ấu trùng của một loài nhậy ("Spodoptera pectinicornis") ở Thái Lan, đều là các công cụ kiểm soát có hiệu quả sự sinh trưởng của bèo cái. Bèo cái thông thường được sử dụng trong các ao nuôi cá ở các vùng nhiệt đới để tạo nơi trú ẩn cho cá bột và cá nhỏ. Bèo cái cạnh tranh thức ăn với tảo trong nước vì thế chúng có ích trong việc ngăn ngừa sự bùng nổ của loài này. Một số tác giả cho rằng cây bèo cái có tác dụng hấp thụ các kim loại nặng và một số chất dinh dưỡng trong môi trường nước. Vì thế họ cho rằng bèo cái có tính năng chống ô nhiễm cho nước, đặc biệt quan trọng cho các vùng đô thị một số quốc gia đang phát triển, do hệ thống dẫn và xử lý nước thải còn chưa hoàn chỉnh nên đã gây ra tình trạng ô nhiễm nặng cho nước bề mặt. Bèo cái cũng được sử dụng trong Đông y để chữa một số bệnh liên quan đến mụn nhọt và tiêu độc.
Trong Toán học và Khoa học máy tính, ma trận kề (tiếng Anh: "adjacency matrix") cho một đồ thị hữu hạn "G" gồm "n" đỉnh là một ma trận "n" × "n", trong đó, các ô không nằm trên đường chéo chính "a""ij" là số cạnh nối hai đỉnh "i" và "j", còn ô nằm trên đường chéo chính "a""ii" là hai lần số khuyên tại đỉnh "i", hoặc chỉ là số khuyên tại đỉnh đó (bài này chọn cách thứ nhất, các đồ thị có hướng luôn theo cách thứ hai). Mỗi đồ thị có duy nhất một ma trận kề, các đồ thị khác nhau có các ma trận kề khác nhau. Trong trường hợp đặc biệt của đồ thị đơn hữu hạn, ma trận kề là một ma trận (0,1) với các giá trị 0 nằm trên đường chéo chính. Nếu đồ thị là vô hướng, ma trận kề là ma trận đối xứng. Đối với đồ thị thưa, nghĩa là đồ thị có ít cạnh, người ta thường chọn dùng danh sách kề hơn do nó chiếm ít bộ nhớ hơn. Ma trận liên thuộc là một biểu diễn ma trận khác cho đồ thị. Quan hệ giữa một đồ thị và ma trận kề của nó được nghiên cứu trong lý thuyết phổ đồ thị ("spectral graph theory"). Ma trận kề của đồ thị G, ký hiệu B(G), là một ma trận nhị phân cấp n x n được định nghĩa như sau: B=(formula_3) với: Nếu G là đồ thị vô hướng, ma trận liên thuộc của đồ thị G, ký hiệu A(G), là ma trận nhị phân cấp nxm được định nghĩa như sau: A=(formula_10) Đồ thị vô hướng. Cho đồ thị G vô hướng (7 đỉnh): Biểu diễn đồ thị có hướng. Cho đồ thị G có hướng (4 đỉnh): Ngược lại, mỗi (0,1)-ma trận đối xứng cấp "n" sẽ tương ứng, chính xác đến cách đánh số đỉnh (còn nói là: chính xác đến đẳng cấu), với một đơn đồ thị vô hướng "n" đỉnh. Ma trận kề của một đồ thị vô hướng có tính đối xứng, và do đó có một tập đầy đủ các giá trị riêng ("eigenvalue") và cơ sở vectơ riêng ("eigenvector") trực giao. Tập các giá trị riêng của đồ thị là phổ của đồ thị. Giả sử cho trước hai đồ thị có hướng hoặc vô hướng "G"1 và "G"2 với các ma trận kề "A"1 và "A"2. "G"1 và "G"2 đẳng cấu ("isomorphic") khi và chỉ khi tồn tại một ma trận hoán vị ("permutation matrix") "P" sao cho "PA"1"P" −1 = "A"2. Cụ thể là "A"1 và "A"2 là các ma trận đồng dạng và do đó có cùng đa thức cực tiểu ("minimal polynomial"), đa thức đặc trưng ("characteristic polynomial"), các giá trị riêng, định thức ("determinant") và vết của ma trận ("trace"). Do đó chúng có thể được dùng như các bất biến đẳng cấu của đồ thị. Cho trước hai ma trận kề, có thể xây dựng lại ma trận hoán vị đã được sử dụng: xem chi tiết tại Ma trận hoán vị. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng điều ngược lại không đúng: hai đồ thị có thể có bộ giá trị riêng giống nhau nhưng chúng không đẳng cấu. Phép nhân với ma trận hoán vị có thể được coi là việc gắn nhãn mới cho các cạnh. Nếu "A" là ma trận kề của đồ thị có hướng hoặc vô hướng "G", thì ma trận "A""n" (ma trận tích của "n" lần "A") có một ý nghĩa thú vị: ô tại hàng "i" và cột "j" cho biết số đường đi (có hướng hoặc vô hướng) có độ dài "n" từ đỉnh "i" tới đỉnh "j". Ma trận "I" − "A" (trong đó "I" ký hiệu ma trận đơn vị "n"×"n") là nghịch đảo được khi và chỉ khi đồ thị "G" không có chu trình có hướng. Khi đó, ma trận nghịch đảo ("I" − "A")−1 có ý nghĩa sau: ô tại hàng "i" và cột "j" cho biết số đường đi có hướng từ đỉnh "i" tới đỉnh "j" (giá trị này luôn hữu hạn nếu đồ thị không có chu trình có hướng). Điều này có thể được giải thích bằng cấp số nhân ("geometric series") của các ma trận: ("I" − "A")−1 = "I" + "A" + "A"2 + "A"3 +... tương ứng với thực tế rằng số đường đi từ "i" tới "j" bằng số đường đi độ dài 0 cộng với số đường đi độ dài 1 cộng với số đường đi độ dài 2 Đường chéo chính của mọi ma trận kề tương ứng của đồ thị không có khuyên gồm toàn các ô chứa giá trị 0. Ma trận kề của đồ thị phân đôi. Một ma trận kề "A" của một đồ thị phân đôi gồm "r" và "s" đỉnh có dạng: Trong đó "B" là một ma trận "r × s" và "O" là một ma trận toàn-số-0. Rõ ràng là ma trận "B" là đại diện duy nhất cho đồ thị phân đôi. Ta có "G" = ("U", "V", "E") là một đồ thị phân đôi với các phần formula_38 và formula_39. Ma trận phân đôi là ma trận "B" "r × s" 0-1 trong đó formula_40 khi và chỉ khi formula_41. Nếu "G" là một đa đồ thị phân đôi hoặc đồ thị trọng số phân đôi thì các thành phần formula_42 chứa giá trị tương ứng là bậc của các đỉnh hoặc trọng số của cạnh formula_43 Ma trận kề (0,−1,1) của một đồ thị đơn có "a""ii" = 0 và "a""ij" = −1 nếu "ij" là một cạnh và bằng 1 nếu không phải là cạnh. Đồ thị này được dùng trong nghiên cứu các đồ thị chính quy mạnh ("strongly regular graph") và các two-graph ("đồ thị đôi"???). Các thỏa hiệp trong vai trò cấu trúc dữ liệu. Khi được sử dụng với vai trò cấu trúc dữ liệu, đối thủ chính của ma trận kề là danh sách kề. Do mỗi ô trong ma trận kề chỉ đòi hỏi một bit, nên chúng có thể được biểu diễn bằng một cách rất gọn, chỉ chiếm "n"2/8 byte bộ nhớ liên tục, trong đó "n" là số đỉnh. Ngoài việc tiết kiệm bộ nhớ, lưu trữ gọn gàng này còn khuyến khích locality of reference ("tính địa phương của các truy nhập đến bộ nhớ"). Mặt khác, khi dùng cho đồ thị thưa, danh sách kề lại thắng thế, do chúng không lưu trữ các cạnh "không" tồn tại. Sử dụng cài đặt danh sách liên kết đơn giản trên một máy tính 32-bit, một danh sách kề cho một đồ thị vô hướng cần khoảng 16"e" byte, trong đó "e" là số cạnh của đồ thị. Lưu ý rằng một đồ thị có thể có nhiều nhất "n"2 cạnh (kể cả các khuyên). Giả sử "d" = "e"/"n"2 ký hiệu "mật độ" của đồ thị. Ta có: 16"e" "n"2/8, có nghĩa là danh sách kề chiếm nhiều không gian hơn khi "d" 1/128. Do đó, chỉ nên dùng danh sách kề với đồ thị thưa. Bên cạnh thỏa hiệp về không gian bộ nhớ, các cấu trúc dữ liệu khác nhau còn tạo thuận lợi cho các thao tác dữ liệu khác nhau. Với một danh sách kề, ta dễ dàng tìm mọi đỉnh kề với một đỉnh cho trước; ta chỉ cần đọc danh sách kề của đỉnh đó. Với một ma trận kề, ta phải duyệt toàn bộ một hàng, việc đó cần thời gian O(n). Còn nếu ta lại muốn biết giữa hai đỉnh cho trước có cạnh nối hay không, điều này có thể được xác định ngay lập tức với một ma trận kề, trong khi đó với một danh sách kề, việc này đòi hỏi thời gian tỷ lệ thuận với bậc nhỏ nhất của các đỉnh trong đồ thị.
Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (tên giao dịch chính thức: Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất; IATA: SGN là tên viết tắt của Sài Gòn – Tân Sơn Nhất; ICAO: VVTS; trước năm 1975 có tên là Phi cảng Sài Gòn Tân Sơn Nhứt) là sân bay quốc tế lớn nhất Việt Nam. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với diện tích 850ha là sân bay lớn nhất Việt Nam về mặt diện tích cũng như công suất nhà ga (với công suất thiết kế năm 2018 là 28 triệu lượt khách/năm và quá tải khi lượng hành khách lên tới 38 triệu khách/năm, so với công suất hiện tại của sân bay Nội Bài là 20–25 triệu và diện tích 815ha, sân bay Đà Nẵng là 13 triệu) và là sân bay có lượng khách lớn nhất Việt Nam. Nằm cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh 8 km về phía Bắc, thuộc quận Tân Bình, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là đầu mối giao thông quan trọng của Nam Bộ. Năm 2014, sân bay này phục vụ 26.546.475 lượt khách, nằm trong nhóm 50 sân bay có lượng khách nhiều nhất thế giới. Năm 2016, sân bay này đã phục vụ 32,6 triệu lượt khách, tăng 22,8% so với năm 2015 và 38,5 triệu luợt khách năm 2018. Sân bay này là nơi hoạt động chính của tất cả các hãng hàng không Việt Nam, là trụ sở của Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam, đơn vị quản lý toàn bộ các sân bay dân dụng ở Việt Nam. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất thuộc sự quản lý và khai thác của Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam, trực thuộc Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Lịch sử hình thành và phát triển. Làng Tân Sơn Nhứt và khu vực lân cận trên bản đồ Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định năm 1895 khi chưa xây dựng sân bay Khởi thủy sân bay do thực dân Pháp xây dựng vào năm 1930 trên phần lớn diện tích của làng Tân Sơn Nhứt, phía tây bắc thành phố Sài Gòn. Thời Hoàng đế Tự Đức nhà Nguyễn, làng Tân Sơn Nhứt thuộc tổng Dương Hòa Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, sau này thực dân giữ nguyên tên làng, tên tổng nhưng phân vào quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Chuyến bay đầu tiên từ Paris đến Sài Gòn ở sân bay Tân Sơn Nhất là vào năm 1933, chuyến bay này kéo dài 18 ngày. Năm 1937, Pháp cho thành lập Sở hàng không dân dụng Đông Dương. Năm 1956, Chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ xây dựng sân bay rộng hơn, dài hơn 3000 m bằng bê tông, so với sân bay do thực dân Pháp xây dựng năm xưa dài hơn 1500 m chỉ bằng đất đỏ. Quỹ đất Việt Nam Cộng hòa để dành cho phát triển lâu dài sân bay là khoảng 3.600 ha, gấp ba lần quỹ đất sân bay Changi của Singapore hiện nay. Trong Chiến tranh Việt Nam, phi cảng Sài Gòn Tân Sơn Nhứt là căn cứ quân sự quan trọng của Quân đội Hoa Kỳ và của Không lực Việt Nam Cộng hòa. Thời kỳ này, phi cảng Tân Sơn Nhứt là một trong ba sân bay đông đúc nhất thế giới. Ngày 1 tháng 5 năm 1975, chiếc trực thăng Mil Mi–6 do phi công Lê Đình Ký thuộc Trung đoàn không quân 916 lái, hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất trở thành chiếc máy bay đầu tiên sơn phù hiệu Không quân Nhân dân Việt Nam hạ cánh xuống sân bay này. Ngày 3 tháng 5 năm 1975, chiếc máy bay vận tải Ilyushin Il–14 của Lữ đoàn 919 chở đoàn cán bộ và phương tiện kỹ thuật hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất nhằm tăng cường công tác đảm bảo kỹ thuật phục vụ các chuyến bay thường lệ đi và đến Tân Sơn Nhất. Ngày 15 tháng 5 năm 1975, chiếc máy bay Ilyushin Il–18 của Lữ đoàn 919 đưa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tôn Đức Thắng cùng nhiều Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và cán bộ lãnh đạo Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào Sài Gòn dự lễ mừng chiến thắng. Cũng ngày 15 tháng 5 năm 1975 này, lực lượng tiếp quản đã khôi phục hoàn chỉnh bốn máy bay vận tải dân dụng vừa mới tiếp thu và đưa ngay những máy bay này vào hoạt động. Đường hàng không Sài Gòn – Hà Nội và ngược lại và Sài Gòn đi các địa phương ở miền Nam bắt đầu hoạt động với tần suất 5–6 lần/chuyến/ngày. Sau khi nước Việt Nam tái thống nhất, cơ sở vật chất tiếp tục được xây dựng để khai thác các chuyến bay quốc nội và quốc tế. Tuy nhiên, so về diện tích đất thì sân bay năm 2016 chỉ còn bằng 20–25% diện tích so với phi cảng Sài Gòn Tân Sơn Nhứt trước năm 1975. Phần đất Đông Bắc của sân bay này đã biến thành một sân golf có tên sân golf Tân Sơn Nhất chiếm 160 ha đất, còn các phần đất khác được phân lô xây nhà ở và kinh doanh thương mại từ sau năm 1975 đến nay. Đoạn từ ngã tư Bảy Hiền dọc đường Trường Chinh (quận Tân Bình, hướng về ngã tư An Sương) hay từ đường Phổ Quang sang các đường Nguyễn Kiệm, Nguyễn Oanh, Quang T(quận Gò Vấp) vốn là đất của phi cảng Sài Gòn Tân Sơn Nhứt cũ. Năm 1986, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI diễn ra từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 12 đánh dấu cột mốc lớn cho sự thay đổi toàn diện Việt Nam. Nền kinh tế bao cấp được xóa bỏ, cơ chế quản lý kinh tế và cách thức công nghiệp hóa được đổi mới toàn diện. Ngành giao thông vận tải nói chung và ngành hàng không dân dụng Việt Nam nói riêng cũng có những bước chuyển mình mạnh mẽ, nhanh chóng nắm bắt những cơ hội của nền kinh tế thị trường, tạo ra những bước phát triển đột phá, năng động trong hội nhập kinh tế quốc tế và vươn tới các châu lục. Hạ tầng kỹ thuật. Sân bay có hai đường băng song song, trong đó đường băng 07L/25R dài 3.048m rộng 45m, đường băng 07R/25L dài 3.800m rộng 45m, sân bay có thể phục vụ các chuyến bay của nhiều loại máy bay. Nhà ga quốc tế với 10 cầu lồng hàng không (nhiều hơn 6 cái so với ở nhà ga nội địa) thích ứng với cả những loại máy bay thân rộng bay tầm xa như Boeing 747–400, Boeing 777–200/300, Airbus A350, Boeing 767, Airbus A330, Boeing 787, Airbus A Sân bay hiện có 2 đường băng cách nhau 365m nên không thể cùng một lúc 2 chuyến bay cùng cất, hạ cánh, mà phải thay phiên nhau, cứ chiếc này cất cánh xong thì chiếc kia mới được hạ cánh. Hiện nay, số lượt chuyến bay cất hạ cánh tại sân bay Tân Sơn Nhất trung bình đạt khoảng 948 chuyến bay/ngày. Năng lực thông qua đường băng cất–hạ cánh đang được điều phối 44 chuyến bay/giờ, tức trung bình cứ 1 phút 20 giây lại có một máy bay cất hoặc hạ cánh. Từ 1/7/2020 tới 10/1/2021, đường băng 25R/07L bị tạm dừng hoạt động để sửa chữa và nâng cấp sau một thời gian dài bị xuống cấp nghiêm trọng do mật độ hoạt động các máy bay vượt quá công suất thiết kế chịu tải. Trong giai đoạn này, đường lăn E1, NS1, W4 và W6 cùng các công trình phụ trợ khác cũng được xây dựng. Tổng mức đầu tư dự án là 2.015 tỉ đồng. Lúc 15h07 ngày 10/1/2021 chuyến bay mang số hiệu VN1828 của Vietnam Airlines từ Phú Quốc đã hạ cánh trên đường băng 25R/07L, chính thức đưa vào khai thác sau 6 tháng đóng cửa. Việc khai thác 2 đường băng trở lại nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại trong dịp Tết 2021. Ngày 30/11/2021, Cục Hàng không Việt Nam chấp thuận cho khai thác trở lại đường băng 25R/07L với mặt đường làm mới và lắp hệ thống đèn hiệu theo công nghệ đèn LED, đặc biệt là nâng cấp đèn tiếp cận đầu 25R của đường băng để tăng cường an toàn bay cùng với các đường lăn P1, P2, P3, P4, P5, P6 và một đoạn đường lăn S5. Ngoài ra, vị trí đỗ 2E trên đường lăn P6 cùng hệ thống thiết bị liên quan được đưa vào khai thác. Từ 14h ngày 21/2/2022 đến 14h ngày 15/3/2022, sân bay tạm đóng cửa từng phần đường băng 25R/07L để thi công kết nối các nhánh đường lăn song song đang thi công với đường băng theo phương án đã được Cục Hàng không phê duyệt. Từ ngày 16/3/2022 đến ngày 30/4/2022, sân bay đóng cửa đường băng 25L/07R để hoàn thành việc thi công các đường lăn P1, V1, S7, P4 thuộc dự án cải tạo, nâng cấp đường CHC và các đường lăn của sân bay. Đối với sân đỗ tàu bay, hệ thống sân đậu tàu bay khai thác tổng cộng 80 vị trí đỗ thương mại ngày và đêm. Hệ thống an ninh – an toàn. Trang bị hệ thống ngăn chặn khủng bố; hệ thống camera giám sát; hệ thống báo cháy chữa cháy tự động; hệ thống kiểm soát cửa ra vào; máy soi chiếu an ninh; hệ thống cung cấp điện dự phòng 24/24; dịch vụ y tế/ cấp cứu 24/7,… Trong giai đoạn đại dịch COVID-19, để phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh, sân bay đã phối hợp chặt chẽ với trung tâm kiểm soát bệnh tật HCDC để kiểm soát và thực hiện đúng quy trình phòng chống dịch qua đường hàng không. Sân bay sử dụng hệ thống camera giám sát truy vết nhanh chóng, kịp thời khi có thông tin hành khách dương tính với COVID–19 đi qua sân bay. Từ đó tìm ra người tiếp xúc gần, yêu cầu cách ly theo đúng quy định và hướng dẫn. Ngày 26/11/2021, sân bay được Tổ chức Hội đồng sân bay quốc tế – Airports Council International (ACI) phê duyệt gia hạn chứng nhận Airport Health Accreditation (AHA) có giá trị 12 tháng, kể từ ngày 04/12/2021 đến ngày 04/12/2022. Nhà ga hành khách. "Nhà ga nội địa (T1)". Nhà ga nội địa hiện nay trước đây là nhà ga hành khách duy nhất của sân bay cho tới khi nhà ga quốc tế T2 được khai trương vào năm 2007. Nhà ga gốc ban đầu được xây dựng bởi chính quyền Pháp, có diện tích 1800m2. Giữa 1954 và 1975 khi sân bay nhanh chóng trở thành một trong những sân bay bận rộn nhất thế giới, nhà ga hành khách được mở rộng thêm 4 lần nữa: vào 1956, 1960, 1963 (do nhà thầu RMK-BRJ thực hiện), và 1969. Tới năm 1972, nhà ga đã được mở rộng diện tích tới 10.800m2 với khả năng đáp ứng 1,5 triệu hành khách một năm. Trong những năm gần đây, sau khi liên tục phải nâng cấp mở rộng để đáp ứng nhu cầu tăng cao, năng lực nhà ga đã tăng gấp 10 lần lên 15 triệu khách một năm tại thời điểm 2023. Hiện nhà ga có diện tích 40.948m2 với 20 cửa ra máy bay (4 ống lồng hàng không và 16 cửa tiếp cận từ xa), 126 quầy làm thủ tục, 1 quầy làm thủ tục nối chuyến và 1 quầy hành lý quá khổ; 30 máy soi chiếu an ninh và cổng từ, 3 băng chuyền hành lý đi, 6 băng chuyền hành lý đến (băng chuyền số 1 – 4 dành cho khách Vietnam Airlines chặng Hà Nội – Tp. Hồ Chí Minh). Sảnh A có 14 quầy kiểm tra an ninh (11 máy cho khách, 1 máy nội bộ, 2 máy khách VIP), còn sảnh B (khu vực dành cho VietJet Air) có 11 quầy kiểm tra an ninh; 2 thang máy; 10 thiết bị kiểm tra kim loại cầm tay đưa vào sử dụng. Nhà ga nội địa được chia làm 2 sảnh. Sảnh A nằm bên trái nhà ga, phục vụ Vietnam Airlines (quầy A, B, C, D), Pacific Airlines (quầy E), VASCO (quầy F), Bamboo Airways (quầy G, H), và Vietravel Airlines (quầy G). Sảnh B, nằm bên phải nhà ga, phục vụ duy nhất hãng VietJet Air với các quầy I, J, K. Lúc 3h sáng ngày 27 tháng 10 năm 2008, nhà ga nội địa đã cháy lớn. Đến 6h30 sáng cùng ngày, đám cháy mới được dập tắt. Theo kết quả điều tra, nguyên nhân vụ cháy là do chập điện, không có thiệt hại về người nhưng thiệt hại về tài sản là khá nặng. Nhà ga nội địa phải ngưng hoạt động để sửa chữa và đưa vào hoạt động trở lại một phần vào ngày 3 tháng 11 năm 2008, các dịch vụ khác tại nhà ga nội địa vẫn tiếp tục được sửa chữa. Đến nay, toàn bộ nhà ga nội địa đã hoàn tất sửa chữa và đưa vào khai thác bình thường trở lại. Sân bay triển khai hệ thống tra cứu thông tin chuyến bay FIDS quốc nội và bản đồ phương tiện giao thông công cộng tại: Website theo dõi chuyến bay và phương tiện đưa đón và mã QR giúp hành khách tra cứu thông tin chuyến bay khi làm thủ tục. Nhà ga nội địa có 3 phòng chờ: phòng chờ Bông Sen (Lotus Lounge), phòng chờ Prime (Sasco Prime Lounge) và phòng chờ Le Saigonnais (Sasco Business Lounge). Về việc sử dụng xe ô tô vào nhà ga quốc nội và đón xe buýt: "Nhà ga quốc tế (T2)". Nhà ga quốc tế có công suất tối đa 15–17 triệu lượt hành khách/năm với tổng dự toán: 260 triệu USD từ vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản. Tổng thầu thi công là Tổ hợp Liên danh 4 nhà thầu Nhật Bản (KTOM – ajimaK, Taisei", Obayashi", "Maeda"). Nhà ga có diện tích: 115.834 m², trong đó diện tích đường và sân đậu ôtô: 78.000 m², diện tích đường tầng: 10.540 m², diện tích đường công vụ: 13.000 m². Nhà ga được trang bị: 10 ống lồng dẫn khách, 8 băng chuyền hành lý đến, 6 băng chuyền hành lý đi, 8 băng tải cho người đi bộ, hệ thống thông báo bay, 18 thang máy và 20 thang cuốn, 43 máy soi chiếu, 10 cổng từ: 19 cổng ra máy bay,có thể đáp ứng cùng một lúc 20 chuyến bay vào giờ cao điểm. Công trình nhà ga quốc tế mới đã được đưa vào sử dụng lúc 12h20 ngày 14 tháng 8 năm 2007 với chuyến bay số hiệu TR 328 của hãng Tiger Airways. Nhà ga này đã phục vụ thử một số hãng quốc tế và sau đó đã được chính thức đưa vào sử dụng chính thức kể từ ngày 2 tháng 9 năm 2007. Khu đến và đi của nhà ga quốc tế được chia thành hai lầu riêng biệt. Nhà ga quốc tế có 120 quầy làm thủ tục từ A–L; 5 quầy nối chuyến; 1 quầy hành lý quá khổ; 48 quầy thủ tục xuất cảnh, 44 quầy thủ tục nhập cảnh; 2 máy soi hải quan đi và 6 máy soi hải quan đến. Tại nhà ga quốc tế, Cảng đã thực hiện di dời hai quầy Transfer/Transit của VIAGS–TSN và SAGS về vị trí mở rộng bụng ga quốc tế giai đoạn 2 đối diện khu cấp visa của Công an cửa khẩu (cạnh vị trí trực của Trung tâm Kiểm dịch Y tế quốc tế), nhằm tránh sự xung đột về luồng khách vào làm thủ tục nhập cảnh và luồng khách làm thủ tục Transfer/Transit trong thời gian cao điểm, nâng cao chất lượng dịch vụ. Hiện tại, nhà ga quốc tế có công suất tối đa 13 triệu khách mỗi năm. Nhà ga quốc tế có 5 phòng chờ: Lotus Lounge 1 và 2, Le Saigonnais, Orchid Lounge, và Rose Business Lounge Xây dựng sân bay mới. Trong tương lai, sân bay Tân Sơn Nhất là một trong hai sân bay chính của Vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, chủ yếu phục vụ khách nội địa. Một sân bay quốc tế mới có công suất thiết kế tối đa 100 triệu lượt hành khách/năm và 9 triệu tấn hàng hóa/năm, hiện đang được tiến hành thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư, với chi phí theo dự kiến khoảng 20,8 tỷ USD. Nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất. TS Nguyễn Bách Phúc – Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ Quản lý TP.HCM HASCON; Viện trưởng Viện Điện – Điện tử – Tin học EEI cho rằng có thể nâng năng lực vận chuyển của sân bay Tân Sơn Nhất qua hai giai đoạn: Quy hoạch giai đoạn 2020–2030. Nghiên cứu, xây dựng hệ thống radar thời tiết công nghệ Doppler phía Đông Bắc cảng hàng không, tiếp giáp với khu xử lý nước thải và thu gom chất thải rắn, diện tích khoảng 1.600 m2. Khu phục vụ mặt đất, hệ thống sân đỗ ô tô sẽ được nghiên cứu bố trí tổ hợp sân đỗ ô tô và nhà xe nhiều tầng với nhà ga hành khách T3, quy hoạch các luồng ra, vào phù hợp với diện tích đất mở rộng. Ngoài ra, quy hoạch cũng bổ sung đồn công an bố trí tại khu vực bãi đỗ xe ô tô phía đông nhà ga hành khách T2, diện tích khoảng 300 m2. Điều chỉnh công năng nhà xe ngoại trường phục vụ trực tiếp nhà ga T3 thành bãi tập kết trang thiết bị mặt đất; điều chỉnh vị trí từ phía đông nhà ga T3 sang phía tây nhà ga hành khách T3. Đến 2030, nhà ga hành khách T1 và T2 vẫn giữ nguyên và sẽ được cải tạo, mở rộng để nâng công suất phục vụ đạt khoảng 30 triệu hành khách/năm, bổ sung nhà ga T3 ở phía nam với công suất đáp ứng 20 triệu khách; Bổ sung 3 đường lăn song song và bổ sung 5 đường lăn thoát nhanh, các đường lăn nối. Sân đỗ máy bay trước ga T3, sân phía Tây Nam sẽ được bổ sung 56 vị trí, nâng tổng vị trí đỗ của sân bay lên 106. Ở khu vực phía bắc, hạng mục được ưu tiên là hồ chứa nước, trạm bơm cưỡng bức nhằm chống ngập úng. Hệ thống trục ra vào sân bay sẽ được đầu tư ngay sau khi điều chỉnh quy hoạch chi tiết được duyệt, phù hợp với quy hoạch giao thông của TP.HCM. Theo đó, tổng diện tích đất quy hoạch điều chỉnh là 791ha gồm: 545ha đất cảng hàng không Tân Sơn Nhất hiện hữu; 19ha đất quốc phòng đã tạm bàn giao làm sân đỗ; 18ha đất quốc phòng liên danh với hàng không dân dụng; 35ha đất quy hoạch bổ sung phía Nam và 171ha đất quy hoạch bổ sung phía Bắc. Xây dựng nhà ga hành khách T3. Đây là giải pháp nhằm giảm áp lực cho sân bay Tân Sơn Nhất trong khi chờ đợi sân bay Long Thành hoàn thành. Nhà ga mới sẽ được xây dựng trên khu đất rộng khoảng 10 ha, kết nối với các tuyến đường Cộng Hòa, Hoàng Hoa Thám. Chiều 24/12/2022, dự án xây dựng nhà ga T3 Tân Sơn Nhất chính thức khởi công sau hơn 2 năm từ ngày phê duyệt chủ trương đầu tư. Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) cho biết Thành phố Hồ Chí Minh đã cơ bản hoàn tất phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng và bàn giao diện tích 14,757 ha (đợt 1) cho chủ đầu tư để thi công dự án nhà ga T3 Tân Sơn Nhất. Dự án xây dựng nhà ga T3 có 3 hạng mục chính gồm Nhà ga hành khách, nhà xe cao tầng kết hợp dịch vụ phi hàng không và hệ thống cầu cạn trước nhà ga; tổng mức đầu tư 10.990 tỷ đồng. Nguồn vốn được huy động từ ACV (70%) và vốn vay thương mại (chiếm 30%). Nhà ga có 1 tầng hầm và 4 tầng nổi, tổng diện tích sàn xây dựng là 112.500 m2. Ga T3 được thiết kế thành 2 cao trình đi và đến riêng biệt, có 90 quầy thủ tục truyền thống, 20 quầy bagdrop thả hành lý tự động và 42 kiosk check in, 27 cửa ra tàu bay, 25 cửa kiểm soát an ninh hành khách, 6 đảo băng chuyền hành lý đi và 10 đảo băng chuyền hành lý đến. Đặc biệt, Nhà ga T3 được thiết kế 8 cửa kiểm soát an ninh và khu riêng biệt phục vụ khách VIP, hạng thương gia và khách ưu tiên. Khi hoàn thành, ga T3 đáp ứng công suất 20 triệu hành khách/năm, phục vụ 7.000 hành khách/giờ cao điểm, khai thác được tất cả các loại tàu bay Code C và Code E. Nhà ga có lớp mái cong mềm mại trải dài từ ga đến vườn trung tâm của công trình phức hợp thương mại – văn phòng, gợi nhớ đến đường nét mềm mại của tà áo dài Việt Nam, biểu trưng cho sự duyên dáng, thanh lịch. Các lớp mái lên xuống, đan xen tạo sự đa dạng trong các góc nhìn, đồng thời mang ánh sáng tự nhiên vào trong nhà ga. Điểm nhấn của ga T3 là khu phức hợp thương mại – văn phòng được thiết kế hướng đến mục tiêu kiến trúc xanh, tích hợp các yếu tố tự nhiên và cảnh quan, tạo nên môi trường thân thiện. Các lớp mái lên xuống, đan xen tạo sự đa dạng trong các góc nhìn, đồng thời mang ánh sáng tự nhiên vào trong nhà ga. Điểm nhấn của ga T3 là khu phức hợp thương mại – văn phòng được thiết kế hướng đến mục tiêu kiến trúc xanh, tích hợp các yếu tố tự nhiên và cảnh quan, tạo nên môi trường thân thiện. Hành khách khi bắt đầu đến sân bay được chào đón bởi các hàng cây xanh dọc theo tuyến đường trục chính, tạo thành hành lang xanh kết nối với thành phố. Tòa nhà có thiết kế thông gió tự nhiên và mái lấy sáng, kết hợp với các mảng xanh từ khu vực cảnh quan, công viên, quảng trường trên cao, hồ nước trang trí, tường xanh, tạo nên kết nối đồng điệu với thiên nhiên. Số lượng hành khách thông qua tính đến năm 2022. Sân bay có tốc độ tăng trưởng khoảng 8–10%. Các hãng hàng không và điểm đến. Các chuyến bay nội địa sử dụng nhà ga số 1; các chuyến bay quốc tế sử dụng nhà ga số 2. Tai nạn, sự cố và các vấn đề an toàn bay khác. Sự cố máy bay trượt khỏi đường băng. Chuyến bay VJ322 khởi hành từ Phú Quốc đi TP.HCM lúc 11h23. Khi hạ cánh tại sân bay Tân Sơn Nhất (TP.HCM) lúc 12h10, do ảnh hưởng của thời tiết mưa gió lớn tại khu vực sân bay, tàu bay đã trượt ra ngoài mép đường băng. Theo thông tin từ hãng, tàu bay và toàn bộ hành khách, tổ bay đều an toàn. Hãng hàng không đã sơ tán toàn bộ hành khách và đang phối hợp với Cảng hàng không tập trung giải phóng đường băng. Sự cố khiến hoạt động cất hạ cánh tại Tân Sơn Nhất phải tạm dừng hoàn toàn. Sân bay có 2 đường cất hạ cánh là 25R/07L và 25L/07R nhưng hiện đường cất hạ cánh 25R/07L đang đóng để cải tạo nâng cấp nên việc khai thác phụ thuộc hết vào đường băng còn lại. Lực lượng chức năng phải kéo máy bay gặp sự cố rời khỏi đường băng 25L/07R, đồng thời thông báo cho các chuyến bay chuẩn bị đến Tân Sơn Nhất có kế hoạch chuyển hướng. Sự cố mất điện tại trung tâm kiểm soát không lưu. Vào lúc 11h5 ngày 20 tháng 11 năm 2014, Trung tâm Kiểm soát đường dài TPHCM và Tiếp cận Tân Sơn Nhất (AACC HCM) bị gián đoạn hệ thống cấp điện cho thiết bị điều hành bay, đến 12h19 mới trở lại bình thường. Đây là một sự cố chưa từng có trong lịch sử hàng không thế giới. Khi đó có 54 máy bay đang hoạt động trong vùng trời Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó 8 máy bay đã nằm trong vùng chuẩn bị hạ cánh. Ngoài ra, trong thời gian mất điện đã có 92 máy bay bay vào vùng trời này. Tuy nhiên, Tân Sơn Nhất không có khả năng tiếp nhận máy bay, ảnh hưởng các chuyến bay chuẩn bị cất cánh đến Thành phố Hồ Chí Minh. Hậu quả là nhiều chuyến phải lơ lửng trên trời. Có chuyến phải đáp xuống các sân bay khác, có chuyến phải chuyển hướng –đa. Nói về nguyên nhân gây sự cố mất điện tại sân bay Tân Sơn Nhất, ông Đinh Việt Thắng cho biết, lúc 11h ngày 20 tháng 11, các nhân viên kỹ thuật của Công ty Quản lý bay miền Nam thực hiện công tác ngắt điện lưới để kiểm tra định kỳ hệ thống máy phát điện. Sau khi tiến hành ngắt điện, 3 máy phát vẫn hoạt động bình thường. Đến 11h5, một hệ thống UPS báo lỗi. Theo quy trình, trước hết các nhân viên kỹ thuật phải cô lập toàn bộ hệ thống UPS bị lỗi, rồi mới tiến hành sửa chữa. Tuy nhiên, kíp trưởng của ca trực là Lê Trí Tình đã thực hiện sai thao tác dẫn tới toàn bộ hệ thống điện bị sập. Đài kiểm soát không lưu Cảng Hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất vừa mới được khánh thành vào ngày 2 tháng 7 năm 2013, trị giá hơn 400 tỷ đồng, là một trong những cơ sở điều hành bay được trang bị hiện đại nhất của Việt Nam và Đông Nam Á. Sự cố mất điện tại một phần nhà ga quốc tế. Sáng ngày 18 tháng 12 năm 2019, đại diện cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất cho biết sự cố xảy ra lúc 2h35 cùng ngày. Cụ thể, một máy cắt trung thế của trạm điện nội bộ cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất (ST1) trong sân bay tác động đến hệ thống bảo vệ sự cố gây mất điện một phần nhà ga quốc tế, cánh trái nhà ga. Theo vị này, hệ thống cung cấp điện nhà ga đã chuyển đổi sang sử dụng nguồn máy phát điện dự phòng lúc 2h39. Thời gian chuyển đổi điện 4 phút nằm trong tiêu chuẩn gián đoạn cung cấp điện chuyển nguồn máy phát dưới 5 phút. Trong thời gian gián đoạn cung cấp điện 4 phút, các hệ thống kỹ thuật quan trọng của nhà ga đều được cấp nguồn liên tục từ UPS. Đến 3h15, hệ thống điện nhà ga chuyển đổi sử dụng trở lại nguồn điện lưới thành phố. Tại thời điểm nêu trên, nhà ga không có các chuyến bay đi, chỉ có một số ít chuyến bay đến nên hoạt động khai thác nhà ga hầu như không bị ảnh hưởng. Máy bay không người lái. Thống kê của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất cho biết, từ đầu năm 2021 đến tháng 6/2022, đã xảy ra 58 vụ vi phạm hoạt động an toàn bay (năm 2021 xảy ra 32 vụ và 6 tháng đầu năm 2022 xảy ra 26 vụ); trong đó, hơn 30 vụ chiếu đèn laser, 10 vụ thả vật thể bay, 4 vụ thả bóng bay, 2 vụ thả diều, chiếu đèn công suất cao. Vấn đề an ninh soi chiếu. Ngày 18 tháng 7 năm 2022, nhân viên soi chiếu đã không phát hiện được do con dao gọt hoa quả dài khoảng 20cm nằm lẫn với các đồ vật kim loại và điện tử trong túi xách tay của 2 hành khách có số ghế 27H và 27K trên chuyến bay VN208 của Vietnam Airlines. Theo trang mạng chuyên xếp hạng sân bay khắp thế giới SleepinginAirports công bố, 2015 trong danh sách 10 sân bay tệ nhất thế giới sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất xếp vị trí thứ 8: "Tân Sơn Nhất xấu đi rất nhiều trong mắt hành khách trong những năm qua bởi những cáo buộc về tham nhũng nhiễu. Nhiều người tham gia khảo sát cho biết cán bộ xin hối lộ để được giải quyết nhanh hơn; những ai từ chối hối lộ ngay lập tức bị xử lý chậm chạp hoặc làm trì hoãn một số thủ tục giấy tờ của hành khách. Một số than phiền khác về tín hiệu Wi–Fi nghèo nàn, nhà vệ sinh dơ bẩn và không nhiều lựa chọn nhà hàng. Nếu đến sân bay này, bạn chắc chắn phải giấu đi những vật có giá trị". Còn trong danh sách bình chọn 10 sân bay tệ nhất châu Á, Tân Sơn Nhất xếp ở vị trí thứ 4. Tuy nhiên từ năm 2016 trở lại đây, Cảng hàng không Tân Sơn Nhất đã có khá nhiều thay đổi. Như việc mở rộng thêm Nhà ga hành khách, xây dựng nhà để xe công cộng trên tầng, chất lượng dịch vụ đã đảm bảo hơn trước như việc thuê lao công thường xuyên dọn dẹp nhà vệ sinh, tăng cường Wi–Fi sử dụng tại cảng hàng không, tăng các khu vực như phòng chờ, khu ăn uống, khu vui chơi dành cho trẻ em, khu nghỉ ngơi miễn phí cho hành khác, các dịch vụ hàng không ngày càng nhanh chóng được cải thiện hơn bằng cách sử dụng khoa học công nghệ mới thay thế các thủ tục bằng giấy tờ (như check–in online hay bán vé qua mạng)... Dần dần Tân Sơn Nhất đã có những cải thiện đáng về mọi mặt. Dù vậy, vấn đề hành khách bị mất hành lý, bị mất tài sản trong khi vận chuyển thường xuyên xảy ra, nhiều nhất là vào năm 2016, 2017, khiến nhiều người hoang mang, thắc mắc có nên sử dụng phương tiện này đề vận chuyển hành lý, hàng hóa hay không.
Thế vận hội Mùa đông 2006 Thế vận hội Mùa đông 2006, hay Thế vận hội Mùa đông XX, là Thế vận hội Mùa đông thứ 20, được tổ chức tại Torino (Ý) từ ngày 10 tháng 2 đến 26 tháng 2 năm 2006. Có 80 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia trong Thế vận hội này với khoảng 2.600 vận động viên và 2.500 quan chức. Ngoài ra còn có khoảng 650 trọng tài. Tổng cộng có 84 bộ huy chương được trao. Các quốc gia tham dự. Một kỷ lục 80 ủy ban Olympic quốc gia (NOC) tuyên bố tham dự vận động viên tại Thế vận hội Mùa đông 2006. Đây là tăng thêm của hai từ 78 đại diện tại Thế vận hội Mùa đông 2002. Số trong dấu ngoặc đơn chỉ ra số lượng người tham gia NOC đã đóng góp. Đó là sự xuất hiện đầu tiên cho Albania, Ethiopia và Madagascar. Đó là sự xuất hiện duy nhất tại Thế vận hội Mùa đông cho Serbia và Montenegro, đến giữa đổi tên của họ vào năm 2003 và Montenegro bỏ phiếu cho độc lập trong tháng 5. Bảng tổng sắp huy chương. Sau đây là thống kê các huy chương đã đoạt được, cập nhật theo . Nước chủ nhà (Ý) được tô màu xanh đậm.
Canh ki na (danh pháp khoa học: Cinchona) là một chi của khoảng 25 loài trong họ Thiến thảo (Rubiaceae), có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ. Chúng là các loại cây bụi lớn hay cây thân gỗ nhỏ cao từ 5–15 mét với lá xanh quanh năm. Các lá của chúng mọc đối, hình tròn hay hình mũi giáo, dài từ 10–40 cm. Hoa của chúng màu trắng, hồng hay đỏ, tạo thành các chùy hoa. Quả là loại quả nang nhỏ chứa nhiều hạt. Các loài cây trong chi này là nguồn của nhiều loại ancaloit khác nhau, trong đó quan trọng nhất là quinin (ký ninh), một chất dùng làm thuốc hạ sốt đặc biệt hữu ích trong phòng chống bệnh sốt rét. Phần quan trọng về mặt y học của loại cây này là vỏ cây, được người ta róc ra từ thân cây, sấy khô và tán thành bột. Như là một loại cây thuốc, vỏ cây canh ki na còn được biết đến như là "vỏ cây Peru". Các loài canh ki na bị ấu trùng của một số loài bướm thuộc bộ Lepidoptera ăn hại, bao gồm bướm răng cưa ("Ectropis crepuscularia") và các thành viên của chi "Endoclita" như "E. damor", "E. purpurescens" và "E. sericeus". Tên gọi của chi này là do Linnaeus đặt vào năm 1742 theo nữ bá tước Chinchon, vợ của phó vương Peru, là người vào năm 1638 đã được thổ dân giới thiệu về các thuộc tính y học của vỏ cây. Tuy nhiên, lịch sử về các tính chất y học của vỏ cây này có lẽ đã được đề cập tới trong các sách vở từ những năm thập niên 1560–1570 "(xem liên kết Ortiz dưới đây)". Nhà thực vật học người Italia Pietro Castelli đã viết một cuốn sách nhỏ đáng chú ý như là cuốn sách đầu tiên của người Italia có đề cập tới canh ki na. Vào thập niên 1630 (hoặc thập niên 1640, phụ thuộc vào nguồn dẫn chiếu), vỏ cây canh ki na đã được xuất khẩu tới châu Âu. Vào cuối thập niên 1640, phương pháp sử dụng vỏ cây đã được ghi chép trong "Schedula Romana", và vào năm 1677 việc sử dụng vỏ cây này đã được ghi lại trong "London Pharmacopoeia". Các loài cây này được trồng tại Nam Mỹ, quê hương của chúng cũng như tại các khu vực nhiệt đới khác, chủ yếu là tại Ấn Độ và Java. Tại Việt Nam, nó được bác sĩ Alexandre Yersin giới thiệu vào đầu thế kỷ 20 tại Đà Lạt. Vỏ cây Cinchona được các thầy tu ở Tây Ban Nha sử dụng làm thuốc chữa bệnh sốt rét từ thời xa xưa.
Tên lửa hay hỏa tiễn là một khí cụ bay, có hoặc không có điều khiển, chỉ sử dụng một lần hoặc nhiều lần,chuyển động nhờ sức đẩy theo nguyên tắc phản lực do khí phụt ra từ động cơ tên lửa (xem thêm Định luật 3 Newton). Trong tiếng Anh, người ta phân biệt ba loại tên lửa. Tuy nhiên, sự phân biệt này chỉ áp dụng đối với trường hợp các vũ khí chứ không áp dụng đối với các tên lửa dân sự hoặc tên lửa dùng để phóng tàu vũ trụ lên quỹ đạo. Có rất nhiều loại tên lửa và có nhiều kích cỡ khác nhau, từ loại rất nhỏ đến các loại tên lửa cực lớn như các tên lửa dùng để phóng các tàu vũ trụ. Từ "tên lửa" xuất phát từ Hán-Việt "hỏa tiễn" (火箭, "hỏa" có nghĩa "lửa", "tiễn" có nghĩa "tên"). Hỏa tiễn ban đầu là những mũi tên buộc liều cháy. Mũi tên được phóng đi (chẳng hạn bằng cung) đem theo lửa để đốt mục tiêu. Loại "hỏa tiễn" này khác hoàn toàn với hỏa tiễn hiện đại: lấy "hỏa" đẩy "tiễn" đi. Người ta đã dùng từ "tên lửa" hay "hỏa tiễn" để chỉ thứ đạn phản lực chỉ vì chúng cũng để lại cái đuôi sáng rất ấn tượng như hỏa tiễn thời cổ. Phân loại tên lửa. Tên lửa có thể phân loại theo nhiều tiêu chuẩn phân loại: Khi tên lửa đang hoạt động, nhiên liệu (và do đó trọng lượng) nhiên liệu giảm dần, khiến cho trọng lượng vô ích (phần vỏ của bình chứa nhiên liệu) tăng dần lên. Vì thế càng về cuối hành trình, hiệu suất sức đẩy của tên lửa giảm đi. Vì thế khi thiết kế tên lửa, thùng nhiên liệu được ráp bởi nhiều phần (gọi là các tầng), và chúng được vứt khỏi tên lửa khi nhiên liệu trong phần đó vừa cạn Do vậy loại tên lửa này phần cánh dẫn hướng thường nằm ở phía trước, và trên mỗi tầng đều có các cánh ổn định để thay thế cho các cánh trên các tầng bị mất Theo tầm hoạt động. SRBM - Short Range Ballistic Missile 1,000 km
Kliment Yefremovich Voroshilov (tiếng Nga: Климе́нт Ефре́мович Вороши́лов; 1881 – 1969) là nhà cách mạng Nga, chỉ huy quân đội Liên Xô, lãnh đạo Đảng và nhà nước Liên Xô, người tham gia vào Nội chiến, một trong những Nguyên soái đầu tiên của Liên Xô (1935). Ông là người giữ kỷ lục về thời gian trong Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, tổng cộng 34,5 năm. Tên ông được đặt cho một loại xe tăng hạng nặng nổi tiếng của Liên Xô, xe tăng Kliment Voroshilov. Ông sinh ngày 4 tháng 2 năm 1881 tại làng Verkhneye, huyện Bakhmut, tỉnh Yekaterinoslav, Đế quốc Nga (Donetsk, và từ năm 1938 là tỉnh Voroshilovgrad thuộc Ukraina Xô, vào năm 1992 được đổi tên thành tỉnh Lugansk của Ukraina), nay thuộc thành phố Lysychansk, trong gia đình của một công nhân đường sắt cha là Efrem Andreevich Voroshilov (1844-1907) và mẹ là một lao công Maria Voroshilov (tên thời con gái là Agafonova) (1857-1919). Có nguồn gốc là người Ukraina. Có một số ghi chép rằng họ thật của cha ông là Voroshilo, sau này ông đổi thành Voroshilov. Trong hồi ký ông kể về quê quán và gia đình, nói về nguồn gốc Nga của mình. Năm 7 tuổi làm nghề chăn cừu, thợ mỏ. Năm 1893-1895 ông học tại trường Zemskaya giáo xứ Vasilyevka huyện Slavyanoserbsk (từ năm 1924 là huyện Voroshilovsky tỉnh Donetsk). Ông trở thành một người bạn thân và gần như là một thành viên trong gia đình của giáo viên Semen Ryzhkov, người sau này trở thành Thư ký thứ hai Duma Quốc gia. Từ năm 1896, ông làm việc tại nhà máy Yekaterinovsky DYUMO, từ năm 1903 làm việc tại nhà máy đầu máy hơi nước Gartman thành phố Lugansk. Hoạt động cách mạng. Ông trở thành thành viên của Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga (Bolshevik) tại nhà máy luyện kim DYUMO vào cuối năm 1903. Từ năm 1904, ông gia nhập Bolshevik, thành viên của Ủy ban Bolshevik Lugansk. Tháng 12 năm 1905, sau khi mãn hạn tù, ông trở thành chủ tịch Xô viết Lugansk, lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân, thành lập các đội dân sự tự vệ. Ông là đại biểu Đại hội lần thứ 4 (1906) và lần thứ 5 (1907) Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga (b). Có biệt danh "Volodin". Năm 1908-1917, ông tiến hành công tác đảng ngầm ở Baku, Petrograd, Tsaritsyn. Ông liên tiếp bị bắt và lưu đày. Vào cuối tháng 9 năm 1907, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Pyotr Arkadyevich Stolypin quyết định: "Cử Voroshilov đến tỉnh Arkhangelsk dưới sự giám sát công khai của cảnh sát trong ba năm, kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1907". Voroshilov bị lưu đày tại một thị trấn nhỏ Pinega thuộc tỉnh Arkhangelsk. Ngày 22 tháng 12 năm 1907 ông trốn khỏi nơi lưu đày. Bị bắt năm 1909 tại St.Petersburg. Ông bị giam trong nhà tù "Kresty", và sau đó, áp giải một lần nữa đưa đến tỉnh Arkhangelsk, đến thành phố Mezen, nơi ông ở đến cuối tháng 10 năm 1909. Vào cuối năm 1910, một cuộc họp đặc biệt dưới quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã quyết định: "Gia hạn thời gian giám sát Lipaev và Voroshilov công khai đối với cảnh sát và trục xuất đến tỉnh Arkhangelsk thêm một năm, và sắp xếp Izbitsky để cảnh sát giám sát thêm ở Lãnh thổ Pechora". Người đứng đầu nhà tù tỉnh đã báo cáo với chính quyền hiến binh tỉnh Arkhangelsk (vào tháng 10 năm 1911): Bị ốm, kiệt sức vì tuyệt thực và Voroshilov cùng một số tù "chính trị" khác bị đày đến Mezen vốn đã quen thuộc với ông, và sau đó xa hơn nữa đến làng Doloda Slit ở Biển Trắng, gần Vòng Bắc Cực. Ở Mezen, ông tham gia một những người lưu vong chính trị địa phương. Vào tháng 3 năm 1912, "do hành vi không được đồng ý," Voroshilov liên tục được chuyển đến Yuroma, Ust-Vashka, Dorogorskoye. Vào tháng 7 năm 1912, Voroshilov được bỏ khỏi sự giám sát công khai của cảnh sát. Anh ta đến Arkhangelsk, và sau đó ra ngoài tỉnh - đến Donbass. Cảnh sát và hiến binh tiếp tục tiến hành theo dõi ngầm Voroshilov. Vào tháng 3 năm 1913, sau hai lần bị bắt, ông được công bố quyết định về "biện pháp trấn áp các hoạt động bất hợp pháp" - trục xuất dưới sự giám sát công khai của cảnh sát trong hai năm đến huyện Cherdyn tỉnh Perm. Như trong cuộc lưu đày Arkhangelsk, Voroshilov đã thiết lập các mối liên hệ với những người lưu vong chính trị ở đây, tiến hành công việc chính trị giữa người dân địa phương. Các hoạt động cách mạng của Voroshilov diễn ra trong bí mật, và nhờ đó, ông cùng với những người khác được đưa vào danh sách những người lưu đày chính trị được ân xá liên quan đến lễ kỷ niệm 300 năm thành lập triều Romanovs: thời gian lưu đày ở Perm đã giảm một năm. Vào ngày 13 tháng 3 năm 1914 Voroshilov cùng với Ekaterina Davydovna, người đã tự nguyện lấy ông, cả hai rời đến Donbass. Ở Lugansk, Kliment Efremovich thất nghiệp; giám sát của cảnh sát cũng tăng cường. Tất cả những điều này đã buộc ông phải rời Donbass và tìm việc ở nơi khác. Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra Voroshilov đến Tsaritsyn, nơi ông làm việc tại nhà máy pháo. Là một công nhân của doanh nghiệp quốc phòng theo luật của Đế chế Nga, Voroshilov được miễn khỏi nghĩa vụ quân sự. Sau Cách mạng Tháng Hai năm 1917, ông là thành viên của Xô viết Đại biểu Công nhân và Binh lính Petrograd, đại biểu Hội nghị Đại biểu Toàn quốc lần thứ 7 và Đại hội lần thứ 6 Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga. Kể từ tháng 3 năm 1917 - Chủ tịch Ủy ban Bolshevik Lugansk, từ tháng 8 Chủ tịch Duma Lugansk, kể từ tháng 9 Chủ tịch Xô viết Lugansk. Vào tháng 11 năm 1917, trong cuộc Cách mạng Tháng Mười, Voroshilov là Chính ủy Ủy ban Cách mạng Quân sự Petrograd. Vào ngày 5 tháng 12 năm 1917, theo gợi ý của Feliks Edmundovich Dzerzhinsky Hội đồng Dân ủy Nga Xô thảo luận về vấn đề giải thể chính quyền cũ và thành lập một cơ quan đặc biệt để duy trì trật tự ở thủ đô. Sau khi chấp thuận kế hoạch này, Hội đồng Dân ủy Nga Xô đã hướng dẫn Voroshilov thực hiện kế hoạch. Cùng với Feliks Dzerzhinsky, ông đã làm việc để tổ chức Ủy ban Đặc biệt toàn Nga (Cheka). Năm 1918, ông là đại biểu những người Bolshevik trong Quốc hội Lập hiến Nga. Vào đầu tháng 3 năm 1918, Voroshilov tổ chức biệt đội Xã hội chủ nghĩa Lugansk số 1, biệt đội này bảo vệ thành phố Kharkov khỏi quân Đức-Áo. Trong Nội chiến, ông là Tư lệnh Tập đoàn quân 5, sau đó là Mặt trận Tsaritsyn, Phó Tư lệnh kiêm Uỷ viên Hội đồng quân sự Mặt trận phía Nam, Tư lệnh Tập đoàn quân số 10 (3 tháng 10 - 18 tháng 12 năm 1918), Ủy viên Nhân dân Bộ Dân ủy Nội vụ Ukraine Xô viết (tháng 1 - tháng 6 năm 1919), Tư lệnh Quân khu Kharkov, Tư lệnh Tập đoàn quân 14 và Phương diện quân nội vụ Ukraine. Một trong những người tổ chức và là thành viên của Hội đồng Quân nhân Cách mạng của Quân đoàn kỵ binh số 1, do Semyon Mikhailovich Budyonny chỉ huy. Tại Đại hội VIII Đảng Cộng sản Nga (b), được tổ chức vào tháng 3 năm 1919, ông đã tham gia vào "phe quân sự bảo thủ". Năm 1921, ông dẫn đầu một nhóm đại biểu tham dự Đại hội X Đảng Cộng sản Nga, đồng thời tham gia đàn áp Cuộc nổi dậy Kronstadt. Năm 1921-1924, ông là Ủy viên Cục Đông Nam Trung ương Đảng Cộng sản Nga (b), Tư lệnh Quân khu Bắc Caucasian. Năm 1924-1925, ông là Tư lệnh Quân khu Moskva, từ tháng 1/1925-11/1925 là Phó Ủy viên Nhân dân Bộ Dân ủy Quân sự và Hải quân Liên Xô và thành viên của Hội đồng Quân sự Cách mạng. Ông là thành viên của Uỷ ban tổ chức tang lễ của Lenin. Bộ Dân ủy Quốc phòng. Sau khi Mikhail Vasilyevich Frunze qua đời, ông lần lượt giữ các chức vụ Ủy viên Nhân dân Bộ Dân ủy Quân sự và Hải quân Liên Xô kiêm Chủ tịch Hội đồng Quân sự Cách mạng Liên Xô từ ngày 6 tháng 11 năm 1925 đến ngày 20 tháng 6 năm 1934; Ủy viên Nhân dân Bộ Dân ủy Quốc phòng Liên Xô từ ngày 20 tháng 6 năm 1934 đến ngày 7 tháng 5 năm 1940. Tổng cộng, Voroshilov đã giữ chức vụ lãnh đạo quốc phòng gần 15 năm, lâu hơn bất kỳ ai khác trong thời kỳ Liên Xô. Ông nổi tiếng là người hết lòng ủng hộ Stalin, ủng hộ trong cuộc chiến chống lại Trotsky, và sau đó là trong quá trình củng cố quyền lực của Stalin vào cuối những năm 1920. Ông đã viết một số bài báo, và sau đó là cuốn sách "Stalin và Hồng quân", ca ngợi vai trò của Stalin trong Nội chiến. Tuy nhiên, xung đột của ông với Stalin về chính sách ở Trung Quốc, cũng như về vấn đề trục xuất ngay lập tức Trotsky và Zinoviev khỏi Trung ương Đảng. Vào ngày 4 tháng 7 năm 1927 Molotov trong một bức thư phàn nàn với Stalin: "Voroshilov coi thường sự lãnh đạo của đồng chí trong 2 năm qua". Nhân kỷ niệm 50 năm ngày sinh Stalin, Voroshilov đã xuất bản bài báo "Stalin và Hồng quân" (1929), trong đó Stalin được coi là một trong những "người tổ chức chiến thắng Nội chiến" xuất sắc nhất, "chiến lược thực thụ", là "người tổ chức và lãnh đạo quân sự hạng nhất có tầm nhìn xa trông rộng". Tháng 11 năm 1935, Ban Chấp hành Trung ương và Hội đồng Dân ủy Liên Xô đã phong tặng cho 5 tư lệnh cấp cao Liên Xô quân hàm mới "Nguyên soái Liên Xô". Trong số đó có Voroshilov. Dưới thời Voroshilov, Hồng quân được tái trang bị vũ khí hiện đại và trang bị các mẫu xe tăng và máy bay mới về mặt kỹ thuật, cũng như các loại pháo. Là một phần của quá trình hiện đại hóa quân đội, Voroshilov đã gặp gỡ các nhà thiết kế, thăm các nhà máy, để kiểm tra chất lượng chiến đấu của các loại súng mới được chỉ định bởi các ủy ban đặc biệt, bao gồm các chuyên gia quân sự giàu kinh nghiệm như Nikolay Nikolayevich Voronov, Vladimir Davydovich Grendal, Matvey Vasilyevich Zakharov, Georgy Kosmich Savchenko và nhiều người khác, đã tích cực tham gia vào việc xem xét các kết luận của các ủy ban. Ngoài ra, cấp bậc và cấp hiệu mới đã được phê duyệt trong Hồng quân, và quân phục mới đã được giới thiệu. Đồng thời, dưới thời Voroshilov, Hồng quân Công nông chuyển từ hệ thống dân quân địa phương sang hệ thống biên chế. Sau khi Nội chiến kết thúc, Hồng quân đã đưa vào áp dụng một hệ thống tuyển dụng hỗn hợp, kết hợp giữa hệ thống chính quy và dân quân địa phương. Hệ thống tuyển dụng dân quân địa phương là việc tuyển chọn công dân đủ 18 tuổi tham gia nghĩa vụ quân sự huấn luyện và tham gia dân quân tại địa phương trong thời gian nhất định, với sĩ quan chính quy làm nòng cốt, lực lượng dân quân địa phương chiếm sức mạnh một nửa của quân đội. Sự chuyển đổi này là bắt buộc do kinh tế Liên Xô đang trong giai đoạn khó khăn. Nhưng kinh nghiệm cho thấy với những ưu điểm nhất định (tiết kiệm chi phí, có nhiều tân binh trẻ, đào tạo với chi phí thấp nhất, ), hệ thống đó không bảo đảm trình độ chiến đấu và huấn luyện chính trị, sự gắn kết, hiệp đồng và kỷ luật quân đội. Tổng hợp tuyển tập những tân binh sinh năm 1903, Voroshilov lưu ý: "Như một điều tất yếu, việc bố trí một phần lãnh thổ được xác định, bằng nguyên tắc phân vùng dân cư. Do đó, trong trường hợp xảy ra chiến tranh, với lãnh thổ rộng lớn của đất nước Xô Viết và mạng lưới đường sắt không đủ, việc tập trung các đơn vị này trong một chiến trường cụ thể sẽ là một bài toán khó. Một nhược điểm khác của hệ thống này là nó dựa trên các trại huấn luyện ngắn hạn, không thể đảm bảo sự thống nhất của các đơn vị, giáo dục tính kỷ luật vững vàng trong binh sĩ và nghiên cứu các trang thiết bị phức tạp". Tiềm lực kinh tế Liên Xô ngày càng tăng, khiến cho việc loại bỏ các đội hình dân quân. Năm 1935, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản toàn Liên bang (b) quyết định chuyển một số dân quân địa phương sang cấp chính quy. Vào đầu năm 1935, 77% quân đội chính quy và 23% dân quân địa phương. Năm 1939, loại bỏ hoàn toàn dân quân địa phương trong biên chế Hồng quân. Cũng dưới thời Voroshilov, việc tổ chức lại việc đào tạo quân nhân đã hoàn tất. Trong thời kỳ cải cách, giáo dục quân sự được chia thành hai loại chính: hạ sĩ quan (sau khi tốt nghiệp trường quân sự bình thường) và sĩ quan (sau khi tốt nghiệp học viện). Tiến hành phân tích sự biến đổi của đào tạo quân nhân, Voroshilov tại cuộc họp trọng thể nhân dịp tốt nghiệp các chỉ huy Hồng quân ngày 10 tháng 9 năm 1926 đã nói: "Chúng ta phải tự hào nói rằng nhiệm vụ to lớn và khó khăn này là tạo ra một quân đoàn chỉ huy, phù hợp với sự quản lý của Hồng quân chúng ta, chúng ta đã giải quyết được 75%. Trong số 48 nghìn chỉ huy Hồng quân, chúng tôi có hơn 34 nghìn người tốt nghiệp từ các trường bình thường hoặc các khóa học ngắn hạn của chúng ta". Đến đầu năm 1928, Liên Xô có 49 trường học, 6 học viện quân sự và 5 khoa của học viện dân sự. Kể từ năm 1929, sự phát triển chung về số lượng và năng lực của các trường đại học, đặc biệt là các trường kỹ thuật. Theo một nghiên cứu của Oleg Nikolaevich Ken, Voroshilov, khi làm việc với tư cách là Ủy viên Nhân dân Bộ Dân ủy Quân sự và Hải quân, đã chủ trương phát triển cân đối các lực lượng vũ trang, có tính đến khả năng kinh tế của đất nước. Theo Voroshilov, những nỗ lực chính đáng lẽ phải hướng vào việc củng cố vị thế kinh tế của đất nước và mở rộng nền tảng kinh tế chuẩn bị cho chiến tranh. "Thiết bị quân sự đòi hỏi rất nhiều tiền, và do đó, nó chỉ có thể được sử dụng bởi một cơ quan kinh tế mạnh mẽ", Voroshilov nói trong bài báo của mình trên tờ "Sao đỏ". - Quá tải ở khu vực này thường dẫn đến giảm lực sản xuất. Một số người hàng xóm của chúng ta có thể là một minh họa sống động cho thực tế đáng buồn này. Ngược lại, "sự sẵn sàng nhanh chóng của ngành công nghiệp để thực hiện nghĩa vụ của mình đối với mặt trận giảm thiểu lượng dự trữ trong thời bình và cung cấp vật tư chiến đấu cho quân đội. Và điều đó có nghĩa là trong thời bình, nhà nước sẽ không phải giữ những nguồn tài chính và vật chất khổng lồ đến mức cần thiết". Nhưng từ năm 1930, đường lối này đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ các nhà kỹ trị quân sự, những người không tính đến thực tế xã hội và kinh tế kế hoạch. Sau chiến tranh Liên Xô-Phần Lan, vào ngày 7 tháng 5 năm 1940, Voroshilov được thay thế bởi Semyon Konstantinovich Timoshenko, người được Stalin bổ nhiệm vào chức vụ Ủy viên Nhân dân Bộ Dân ủy Quốc phòng Liên Xô. Cùng ngày, Voroshilov trở thành Phó Chủ tịch Hội đồng Dân ủy Liên Xô (cho đến ngày 15 tháng 3 năm 1953) và Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng thuộc Hội đồng Dân ủy Liên Xô (cho đến khi bị bãi bỏ vào ngày 30 tháng 5 năm 1941), đồng thời là Phó Ủy viên Nhân dân Bộ Dân ủy Quốc phòng Liên Xô (đến tháng 11 năm 1944). Trong cuộc Đại thanh trừng, Voroshilov, trong số những cộng sự thân cận nhất của Stalin, đã tham gia vào việc xem xét cái gọi là "danh sách xử bắn" - danh sách những người bị thanh trừng của các thành viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản toàn Liên bang (b). Các chữ ký trên danh sách có nghĩa là một bản án có tội. Chữ ký của Voroshilov hiện diện trên 185 danh sách, trong đó hơn 18,000 người đã bị kết án và xử bắn. Với tư cách là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản toàn Liên bang (Bolsheviks) đã thông qua một số lượng lớn cái gọi là "giới hạn" (hạn ngạch về số lượng bị đàn áp theo nghị định NKVD số 00447 "Về hoạt động trấn áp kulaks trước đây, tội phạm và các phần tử chống Liên Xô khác"). Khi là Ủy viên Nhân dân Bộ Dân ủy Quốc phòng Voroshilov đã tham gia tích cực vào các cuộc trấn áp chống lại các sĩ quan của Hồng quân. Trong danh sách 26 sĩ quan của Hồng quân, được gửi từ Bộ Dân ủy Nội vụ Liên Xô (NKVD) đến Bộ Dân ủy Quốc phòng Liên Xô (NPO) ngày 28 tháng 5 năm 1937, ông đưa ra nghị quyết "Đồng chí. Gửi Ezhov. Hãy bắt tất cả những kẻ vô lại. 28.5.1937. К. Voroshilov"; một bút phê ngắn hơn - "Bắt giữ. К. В." - nằm trong danh sách tương tự gồm 142 sĩ quan. Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, Nguyên soái Liên Xô Voroshilov là thành viên của Ủy ban Quốc phòng (GKO) kể từ khi thành lập vào ngày 30 tháng 6 năm 1941 đến ngày 22 tháng 11 năm 1944. Từ ngày 10 tháng 7 năm 1941, Tổng tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân sự hướng Tây Bắc (giải tán ngày 27 tháng 8), sau đó là Tư lệnh Phương diện quân Leningrad (từ ngày 5 đến ngày 14 tháng 9 năm 1941, do Georgy Konstantinovich Zhukov thay thế), đại diện Đại bản doanh bố trí quân sự (12 tháng 10 năm 1941 - 5 tháng 9 năm 1942), đại diện của Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao Mặt trận Volkhov (15 tháng 2 - 25 tháng 3 năm 1942). Ngày 15 tháng 12 năm 1942, ông được cử đến khu vực hoạt động của mặt trận Leningrad và Volkhov để hỗ trợ chuẩn bị cho cuộc đột phá phong tỏa Leningrad. Vào tháng 1 năm 1943, ông điều phối các hoạt động của quân đội Phương diện quân Leningrad trong Chiến dịch Tia Lửa trong cuộc đột phá phong tỏa Leningrad. Vào giữa tháng 12 năm 1943, Voroshilov được điều đến Tập đoàn quân Duyên hải độc lập được lựa chọn để hỗ trợ tổ chức các hoạt động tác chiến mở rộng đầu cầu. Trong cuộc tấn công Crimea năm 1944, ông là điều phối viên của Tập đoàn quân Duyên hải độc lập. Vào ngày 6 tháng 9 năm 1942, Voroshilov được bổ nhiệm làm Tổng tư lệnh phong trào du kích. Trên cương vị này, ông đã làm được rất nhiều điều cho sự phát triển của phong trào du kích. Đặc biệt, Voroshilov đã cải tiến việc quản lý các lực lượng du kích. Đề án quản lý lực lượng du kích do Voroshilov đưa ra tỏ ra rất hiệu quả và tồn tại ít thay đổi cho đến khi chiến tranh kết thúc. Thông qua những nỗ lực của Voroshilov, Đại bản doanh Trung ương phong trào du kích đã trở thành một cơ quan quyền lực để kiểm soát các lực lượng du kích. Nó cũng giải quyết được nhiều vấn đề liên quan đến huấn luyện, hậu cần và vận tải hàng không, và các vấn đề quan trọng khác của phong trào du kích. Nhưng vào ngày 19 tháng 11 năm 1942, chức vụ này bị bãi bỏ. Theo Ilya Grigoryevich Starinov, một chuyên gia nổi tiếng về du kích, việc bãi bỏ chức vụ Tổng tư lệnh Phong trào du kích đã có tác động tiêu cực đến phong trào du kích. Ngày 5 tháng 4 năm 1943, theo nghị quyết của Ủy ban Quốc phòng Liên Xô, Voroshilov được bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban Chiếm đóng. Từ tháng 4 năm 1943, cùng với việc tổ chức lại các cơ quan quản lý chiếm đóng, việc hình thành các đơn vị chiếm đóng mới bắt đầu. Vào mùa hè năm 1943, một cấu trúc rõ ràng của các đơn vị chiếm đóng của Hồng quân đã được thành lập, điều này đã củng cố đáng kể việc phục vụ chiếm đóng và có tác động tích cực đến kết quả công việc. Cùng với việc giải quyết các vấn đề kinh tế quốc gia, đơn vị chiếm đóng đã tham gia tích cực vào việc giúp đỡ người dân được giải phóng khỏi sự chiếm đóng của Đức. Mặc dù có sự phân bổ lớn các nguồn lực để làm việc trong nền kinh tế quốc dân, nhưng đơn vị chiếm đóng cũng phải đương đầu với nhiệm vụ quan trọng nhất của mình - thu gom, bán và vận chuyển vũ khí, thiết bị quân sự và phế liệu. Vào ngày 3 tháng 4 năm 1944, "Quy định mới về các cơ quan, đơn vị và tổ chức của Hồng quân", do Chủ tịch Ủy ban Chiếm đóng thuộc Ủy ban Quốc phòng Voroshilov phê duyệt và công bố, nơi đưa ra quy định đầy đủ nhất về các nhiệm vụ phục vụ chiếm đóng: "Các cơ quan, đơn vị và tổ chức của Hồng quân đảm bảo việc thu thập, bảo vệ, hạch toán, loại bỏ và giao nộp vũ khí, đạn dược, thiết bị quân sự, thức ăn gia súc, nhiên liệu và các giá trị quân sự và kinh tế khác mà Hồng quân thu giữ được từ kẻ thù". Điều khoản này đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng cường hơn nữa đơn vị chiếm đóng. Vào tháng 2 năm 1945, Ủy ban bị bãi bỏ. Năm 1943, Voroshilov tham gia vào công việc của Hội nghị Tehran. Cũng trong năm 1943, Voroshilov đứng đầu Ủy ban đình chiến, cơ quan đóng vai trò quyết định trong việc thiết lập các điều kiện để Đức đầu hàng vô điều kiện. Sự phát triển lớn đầu tiên của ủy ban dưới sự lãnh đạo của Voroshilov là "Văn kiện về việc Đức đầu hàng vô điều kiện" ngày 3 tháng 2 năm 1944. Báo cáo cuối cùng về công việc của ủy ban vào ngày 14 tháng 2 năm 1946. Năm 1945-1947 ông là Chủ tịch Ủy ban Kiểm soát khối đồng minh tại Hungary. Ủy ban Kiểm soát khối đồng minh (ACC) bắt đầu hoạt động tại Debrecen vào ngày 5 tháng 2 năm 1945. Trách nhiệm của Ủy ban là điều chỉnh và giám sát việc thực hiện các điều khoản của hiệp định đình chiến. Ủy ban đã phải hành động trong những điều kiện khó khăn vì sự chia rẽ trong xã hội Hungary do nỗ lực rút khỏi cuộc chiến bất thành của Hungary, điều này làm cho tình hình ở Hungary về cơ bản khác với các nước vệ tinh khác của Đức. Nhưng bất chấp mọi khó khăn, nhiệm vụ của Ủy ban đã hoàn thành xuất sắc. Ủy ban ngừng hoạt động sau khi hiệp ước hòa bình có hiệu lực. Năm 1946-1953 là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Từ tháng 3 năm 1953 đến tháng 5 năm 1960, ông là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô Viết Tối cao Liên Xô. Từ tháng 5 năm 1960, ông là Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô Viết Tối cao Liên Xô. Ông từng là đại biểu Xô Viết Tối cao Liên Xô từ khóa 1 đến khóa 7 (1937-1969), Xô viết Tối cao Ukraine Xô viết từ khóa 1 đến khóa 4. Ông qua đời vào ngày 2 tháng 12 năm 1969, hưởng thọ 89 tuổi. Ông được an táng trên Quảng trường Đỏ ở Moscow gần bức tường điện Kremlin. Như một số thông tin ghi chép, đám tang của ông được tổ chức cấp nhà nước chưa từng có - lần đầu tiên sau hai mươi năm sau đám tang của Andrey Aleksandrovich Zhdanov, người ta đào một ngôi mộ phía sau Lăng Lenin (ngoại trừ việc cải táng Stalin). Lãnh đạo Nhà nước. Năm 1954, theo Nghị định của Đoàn Chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô ngày 12/7/1954, với tư cách là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô Viết Tối cao Liên Xô, Voroshilov đã bãi bỏ cấp bậc và cấp hiệu cá nhân, cũng như quân phục cho nhân viên các bộ và cơ quan dân sự của Liên Xô, được Nikolay Shvernik, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô, trước đó ký ban hành. Từ năm 1921 đến tháng 10 năm 1961 và từ năm 1966 - ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Từ năm 1926 đến ngày 16 tháng 7 năm 1960 - Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (đến năm 1952 - Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô), ông từ nhiệm vì "yêu cầu cá nhân." Đại biểu tham dự Đại hội Đảng toàn quốc từ lần thứ X đến lần thứ XXIII. Năm 1957, ông tham gia "tập đoàn phản đảng". Không giống như các nhà lãnh đạo khác, ông không bị khai trừ khỏi đảng mà chỉ bị chỉ trích tại Đại hội lần thứ XXII của Đảng Cộng sản Liên Xô. Đời sống cá nhân. Vợ của Voroshilov - Golda Davidovna Gorbman (1887-1959), người Do Thái. Trước khi kết hôn với Voroshilov (năm 1913, khi đang sống lưu vong ở Nyrob), cô đã được rửa tội, đổi tên và trở thành Ekaterina Davidovna. Đảng viên Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga từ năm 1917. Trong khi cả hai phục vụ trong Mặt trận Tsaritsyn năm 1918, nơi Ekaterina đang giúp đỡ những đứa trẻ mồ côi, họ nhận nuôi một cậu bé mồ côi bốn tuổi mà họ đặt tên là Petya (1914-1984) - (nhà thiết kế, trung tướng), và họ có hai người cháu - Klim Petrovich Voroshilov và Vladimir Petrovich Voroshilov. Sau khi Mikhail Vasilyevich Frunze qua đời năm 1925, năm 1931 ông đã nhận nuôi 2 người con của Frunze một con trai Timur Mikhailovich Frunze (1923-1942) và một con gái Tatyana Mikhailovna Frunze (sinh năm 1920). Ngoài ra họ có con trai nuôi là giáo sư Học viện Bách khoa Kharkov Leonid Lavrentyevich Nesterenko (1910-1986), con trai của thợ cơ khí nhà máy đầu máy hơi nước Lugansk Lavrenty Ivanovich Nesterenko, người đã làm việc ở đó cùng với Voroshilov và sau đó đã chết trong Nội chiến ở Crimea, nơi ông đã chiến đấu trong Hồng quân. Dòng xe tăng KV (Kliment Voroshilov), sử dụng trong Thế chiến II, mang tên ông. Hai thị trấn mang tên ông: Voroshilovgrad ở Ukraine (nay đổi tên thành Luhansk) và Voroshilov ở Viễn Đông Nga (nay đổi tên thành Ussuriysk theo dòng sông Ussuri), cũng như Học viện Tổng Tham mưu ở Moskva. Stavropol được gọi là Voroshilovsk từ 1935 tới 1943.
Karl Heinrich Marx (: Các Mác; : Mã Khắc Tư; 5 tháng 5 năm 1818 – 14 tháng 3 năm 1883) là một nhà triết học, kinh tế học, sử học, xã hội học, lý luận chính trị, nhà báo và nhà cách mạng người Đức gốc Do Thái. Tên tuổi của Marx gắn liền với hai danh tác nổi bật, đó là cuốn pamfơlê "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" (1848) và bốn tập sách "Das Kapital". Những tư tưởng chính trị và triết học của Marx đã có tầm ảnh hưởng lớn lao đến lịch sử của các lĩnh vực tri thức, kinh tế và chính trị mãi tận về sau. Karl Marx chào đời tại Trier, Đức. Ở bậc đại học, Marx lựa chọn học ngành luật và triết. Ông kết hôn với nhà phê bình kịch nghệ sân khấu kiêm nhà hoạt động chính trị tên là Jenny von Westphalen vào năm 1843. Do liên tục tung ra các ấn bản chính trị làm phật lòng chính quyền sở tại, Marx lâm vào cảnh không quốc tịch, rồi đành sống lưu vong cùng vợ và con cái tại Luân Đôn suốt nhiều thập kỷ. Tại đây, ông tiếp tục xây dựng các tư tưởng của mình với sự trợ giúp của triết gia người Đức Friedrich Engels và cho xuất bản nhiều tác phẩm, miệt mài nghiên cứu tại phòng đọc của Bảo tàng Anh. Những lý thuyết phê phán của Marx về xã hội, kinh tế, chính trị – gọi chung là chủ nghĩa Marx – cho rằng các xã hội loài người từ xưa đến nay diễn tiến nhờ đấu tranh giai cấp. Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, điều này hiện thân ở dạng đấu tranh giữa giai cấp thống trị (hay giai cấp tư sản), giai cấp kiểm soát hoàn toàn phương tiện sản xuất, và giai cấp lao động (hay giai cấp vô sản), giai cấp phải vận hành những phương tiện sản xuất sở hữu bởi giai cấp tư sản bằng sức lao động của bản thân để được hưởng tiền công. Dựa trên hướng tiếp cận mang tính phê phán mà ông gọi là chủ nghĩa duy vật lịch sử, Marx tiên đoán rằng chủ nghĩa tư bản sẽ liên tục nảy sinh các mâu thuẫn nội bộ giống như những hình thái kinh tế chính trị đi trước; điều này rốt cuộc sẽ khiến nó tự sụp đổ và bị thay thế bởi phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa. Theo Marx, sự đối kháng giai cấp trong lòng chủ nghĩa tư bản – bắt nguồn một phần từ bản tính bất ổn định và dễ khủng hoảng của nó – sẽ khơi mào ý thức giai cấp của toàn thể công nhân lao động, thôi thúc họ vùng lên tiếm đoạt quyền lực chính trị và cuối cùng tạo lập nên một xã hội cộng sản phi giai cấp nhờ liên tưởng tự do về sản xuất. Marx luôn chủ trương áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, ông cho rằng giai cấp lao động phải thực hiện cách mạng vô sản một cách có tổ chức nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản và giải phóng thể chế kinh tế xã hội. Marx được đánh giá là một trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng to lớn nhất trong lịch sử nhân loại, các tác phẩm của ông đã nhận được nhiều lời tán dương cũng như nhiều lời chỉ trích. Các công trình kinh tế học của ông đã đặt nền móng cho phần lớn sự hiểu biết hiện tại của ta về lao động và mối quan hệ của lao động với tư bản. Vô số nhà trí thức, các tổ chức công đoàn, các nghệ sĩ và các đảng phái chính trị trên khắp thế giới đều chịu ảnh hưởng tư tưởng từ Marx, theo đó một số cá nhân và đoàn thể tiếp tục phát huy và sửa đổi lý thuyết của ông sao cho phù hợp với thế sự. Marx thường được trích dẫn là một trong những kiến trúc sư chính của ngành khoa học xã hội đương đại. Tuổi thơ và giáo dục thuở sớm: 1818–1836. Marx chào đời ngày 5 tháng 5 năm 1818 tại Brückengasse 664, Trier; một thị trấn cổ kính hồi bấy giờ thuộc tỉnh Rhine Hạ của Vương quốc Phổ. Cha ông là Heinrich Marx (1778 – 1838) và mẹ ông là Henriette Pressburg (1788 – 1863), vốn là một gia đình gốc Do Thái không theo tôn giáo; song trước khi Marx ra đời họ đã chính thức theo Kitô giáo. Ông ngoại Marx là một giáo sĩ rabbi người Hà Lan. Họ hàng bên nội ông có truyền thống làm rabbi tại Trier kể từ năm 1723, và ông nội Marx là Meier Halevi Marx cũng giúp tiếp nối cái truyền thống lâu đời ấy. Cha ông, hồi nhỏ có biệt danh Herschel, là người đầu tiên trong dòng họ được giáo dục theo hướng thế tục. Herschel trở thành một luật sư với mức lương khá giả thuộc lớp thượng trung lưu, hơn nữa gia đình ông cũng sở hữu nhiều mảnh vườn trồng nho ở Moselle. Trước thời điểm Marx ra đời và thời điểm mà phong trào bãi bỏ sự giải phóng Do Thái diễn ra tại Rhineland, Herschel đã cải sang đạo Phúc Âm thuộc giáo hội Phổ, rồi đổi tên thành Heinrich. Heinrich không quá gắn bó với tôn giáo mà là người rất ngưỡng mộ phong trào Khai sáng và lấy làm thú vị những tư tưởng của hai nhà hiền triết Immanuel Kant và Voltaire. Với tư cách là người theo chủ nghĩa tự do cổ điển, ông gia nhập phong trào ủng hộ tạo lập một hiến pháp và thực hiện cải cách tại Phổ, đất nước lúc ấy còn theo chế độ quân chủ tuyệt đối. Năm 1815, Heinrich Marx bắt đầu làm luật sư và trong năm 1819 đã chuyển gia đình tới một căn nhà 10 phòng gần Porta Nigra. Vợ ông là Henriette Pressburg, một người phụ nữ Hà Lan theo Do Thái giáo, vốn xuất thân từ một gia đình doanh nhân thành đạt mà về sau sáng lập công ty Philips Electronics nổi tiếng. Em gái bà Sophie Pressburg (1797–1854) kết hôn với Lion Philips (1794–1866); Sophie là bà ngoại của Gerard Philips và Anton Philips, và là bà cố của Frits Philips. Em rể của Henriette, Lion Philips, làm chủ một công xưởng sản xuất thuốc lá Hà Lan rất thịnh vượng. Trong những năm tháng vợ chồng Karl và Jenny Marx lưu đày ở London, hai người họ đã nhiều lần phải vay mượn tiền từ Philips để trang trải cuộc sống. Ta có rất ít thông tin về thời thơ ấu của Marx. Ông là con thứ ba trong gia đình với 9 anh chị em. Sau khi người anh trai Moritz mất vào năm 1819, ông trở thành người con cả trong mắt cha mẹ mình. Marx và anh chị em còn lại của ông, Sophie, Hermann, Henriette, Louise, Emilie và Caroline, được rửa tội và gia nhập Giáo hội Luther vào tháng 8 năm 1824. Mẹ ông cũng cải theo vào tháng 12 năm 1825. Cha Marx tự mình kèm cặp con trai cho tới năm 1830, khi ông được gửi tới học ở trường Trung học Trier (#đổi ). Hiệu trưởng trường này là Hugo Wyttenbach, một người bạn của cha Marx. Ông thường thuê các giáo viên theo chủ nghĩa tự do nhân bản đến đứng giảng tại trường, khiến cho giới chức tại địa phương vốn theo chủ nghĩa bảo thủ chính trị rất phẫn nộ. Năm 1832, cảnh sát được lệnh khám xét khẩn cấp ngôi trường và trong quá trình đó đã phát giác nhiều tài liệu chính trị tự do được phân phát cho học sinh. Sau vụ việc đó, chính quyền địa phương tiến hành cải tổ và thay thế nhiều giáo chức của nhà trường. Vào tháng 10 năm 1835, cậu thiếu niên Marx 17 tuổi lữ hành đến Đại học Bonn, háo hức muốn được nghiên cứu triết học và văn chương tuy rằng cha ông lúc ấy lại muốn hướng con theo ngành luật để phù hợp với thực tiễn hơn. Do được chẩn đoán mắc chứng "lồng ngực yếu", Marx được miễn tòng quân lúc 18 tuổi. Tại Đại học Bonn, Marx đã gia nhập Câu lạc bộ Nghệ sĩ, một hội nhóm quy tụ nhiều nhân vật có tư tưởng chính trị cấp tiến, sở dĩ do vậy mà bị cảnh sát theo dõi rất sát sao. Ngoài ra Marx cũng từng tham gia Câu lạc bộ Tửu quán Trier (), sau giữ chức đồng chủ tịch của hội uống rượu này. Ông cũng rất hay vướng vào những vụ cãi cọ đôi co, có khi còn làm to chuyện lên; ví dụ vào tháng 8 năm 1836, ông đề nghị tỉ thí đấu kiếm với một sinh viên từ Borussian Korps để giải quyết mâu thuẫn. Điểm số kì học đầu của Marx tại trường Bonn tuy khá tốt, song về sau do chểnh mảng mà ngày càng tụt dốc. Điều này khiến cha Marx ép ông chuyển tới Đại học Berlin với hy vọng kết quả học tập của con mình sẽ tiến bộ hơn. Chủ nghĩa Hegel và nghiệp báo chí thuở sớm: 1836–1843. Dành mùa hè và mùa thu năm 1836 ở Trier, Marx trở nên nghiêm túc hơn về nghiệp học và cuộc sống của mình. Ông đính hôn với Jenny von Westphalen, một thiếu nữ có học thức sinh ra trong một gia đình tiểu quý tộc, người đã quen Marx từ thuở ấu thơ. Jenny đã từ khước hôn ước với một chàng quý tộc trẻ tuổi để có thể ở bên Marx. Mối quan hệ này đã gây nhiều lùm xùm vì hai người họ khác biệt về cả tôn giáo lẫn tầng lớp xã hội, song mọi chuyện được giải quyết ổn thỏa sau khi Marx kết thân với cha cô là Ludwig von Westphalen (một quý tộc theo chủ nghĩa tự do). Bảy năm sau khi đính hôn, vào ngày 19 tháng 6 năm 1843, Marx và Jenny kết hôn tại một nhà thờ Tin lành ở Kreuznach. Tháng 10 năm 1836, sau khi trúng tuyển khoa luật của trường đại học Berlin, Marx lên Berlin và thuê trọ ở Mittelstrasse. Trong học kỳ đầu, Marx tham dự các bài giảng của Eduard Gans (đại biểu cho quan điểm Hegel tiến bộ, giảng giải rõ hơn về sự phát triển thuần lý trong lịch sử bằng cách nhấn mạnh vào các khía cạnh tự do của nó, và tầm quan trọng của nghi vấn xã hội) và của Karl von Savigny (đại biểu của Trường phái Luật Lịch sử Đức). Mặc dù theo ngành luật, ông lại rất say mê triết học và tìm cách tổng hòa hai lĩnh vực ấy, với niềm tin rằng "không có triết học thì không thể đạt được điều gì". Marx bắt đầu quan tâm hơn đến vị triết gia người Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel, nhân vật mà có tầm ảnh hưởng đáng kể đến giới triết học châu Âu hậu thế. Trong thời gian dưỡng bệnh ở Stralau, ông tham gia câu lạc bộ , một hội sinh viên chuyên thảo luận về tư tưởng của chủ nghĩa Hegel. Qua đó, Marx biết đến trường phái Hegel Trẻ có tư tưởng chính trị cấp tiến và gia nhập nhóm này vào năm 1837. Ludwig Feuerbach và Bruno Bauer là hai nhân vật chủ chốt trong nội bộ nhóm lúc đó. Giống như Marx, những người Hegel Trẻ phê phán các giả định siêu hình học của Hegel, song họ tiếp thu phép biện chứng của Hegel để áp dụng nó theo quan điểm tả khuynh nhằm phê phán xã hội, chính trị và tôn giáo đã được thiết lập. Cha của Marx qua đời vào tháng 5 năm 1838, khiến thu nhập của gia đình bị giảm sút. Marx rất trân trọng ký ức của người cha quá cố, bởi ông và cha khi trước cực kỳ gần gũi với nhau. Đến năm 1837, Marx thử sức mình sáng tác một số tác phẩm văn học hư cấu và phi hư cấu; lúc bấy giờ ông đã hoàn thành một cuốn tiểu thuyết ngắn mang nhan đề "Bọ cạp và Felix" (), và một vở kịch mang nhan đề "Oulanem", cùng như một số bài thơ tình dành riêng cho Jenny von Westphalen. Không một tác phẩm nào trong thời kỳ này được xuất bản khi Marx còn sống. Những bài thơ tình được biên khảo và xuất bản trong cuốn "Tuyển văn Karl Marx và Frederick Engels: Tập 1" (). Marx nhanh chóng từ bỏ viết tiểu thuyết để theo đuổi những mục tiêu khác, bao gồm nghiên cứu tiếng Anh, tiếng Ý, lịch sử nghệ thuật và dịch thuật các tác phẩm Latinh kinh điển. Ông hợp tác với Bruno Bauer để biên tập cuốn "Triết học tôn giáo Hegel" vào năm 1840. Marx đồng thời cũng chắp bút viết luận văn tiến sĩ mang tên "Sự khác biệt giữa triết học tự nhiên Democritus và Epicurus", và hoàn thành nó vào năm 1841. Đây được mệnh danh là "một kiệt tác táo bạo và nguyên bản, trong đó Marx nỗ lực chứng tỏ rằng thần học phải quy phục trước sự thông thái siêu việt của triết học". Bài luận đã gây khá nhiều tranh cãi, đặc biệt là đối với giới giáo sư bảo thủ của Đại học Berlin. Thay vào đó, Marx quyết định nộp luận văn của mình cho Đại học Jena có tư tưởng phóng khoáng hơn và được trao bằng Tiến sĩ vào tháng 4 năm 1841. Vì Marx và Bauer đều theo chủ nghĩa vô thần, vào tháng 3 năm 1841 hai ông lên kế hoạch sáng lập tạp chí "Văn khố vô thần" (), nhưng rốt cuộc điều này không được thực hiện. Tháng 7 cùng năm, Marx và Bauer khởi hành từ Berlin đến Bonn. Ở đây, họ gây tai tiếng cho tập thể lớp do say xỉn, cười cợt trong nhà thờ và cưỡi lừa phi nước đại trên đường phố. Marx đã xem xét theo đuổi một sự nghiệp học thuật thực thụ, song giấc mơ này dường như đã bị ngăn cản bởi sự thù ghét chủ nghĩa tự do cổ điển và trường phái Hegel Trẻ của nhà nước Phổ. ​​Marx chuyển đến sống và làm việc ở Cologne vào năm 1842. Tại đây, ông viết cho tờ báo chính trị cấp tiến "Rheinische Zeitung", bày tỏ những quan điểm ban sơ của ông về chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng dần để tâm hơn đến lĩnh vực kinh tế học. Marx chỉ trích các chính phủ cánh hữu ở châu Âu lúc bấy giờ, cũng như các nhân vật dẫn đầu các phong trào tự do và xã hội chủ nghĩa, những người mà ông cho là chẳng làm được tích sự gì hoặc thậm chí còn gây phản tác dụng. Tờ báo thu hút sự chú ý của cơ quan kiểm duyệt trực thuộc chính phủ Phổ. Họ được lệnh rà soát các bản thảo nhằm chắt lọc nội dung kích động bạo loạn trước khi đem ra in ấn, đúng theo lời than phiền của Marx: "Tờ báo của chúng tôi phải được đệ trình cho đám cảnh sát đánh hơi, và nếu mũi chúng ngửi thấy bất cứ mùi gì phi-Kitô hoặc phi-Phổ, thì tờ báo đó sẽ không được phép xuất hiện". Sau khi "Rheinische Zeitung" xuất bản một bài báo chỉ trích kịch liệt chế độ quân chủ Nga, Sa hoàng Nicholas I đã đề nghị cấm tờ báo, khiến chính phủ Phổ phải thực thi ngay lệnh cấm vào năm 1843. Năm 1843, Marx trở thành đồng chủ biên của tờ báo chính trị tả khuynh cấp tiến "Deutsch-Französische Jahrbücher" ("Niên giám Đức-Pháp") đặt trụ sở tại Paris, vốn được thành lập bởi nhà hoạt động người Đức Arnold Ruge nhằm tập hợp những người có tư tưởng chính trị cấp tiến từ Đức và Pháp. Marx và vợ chuyển đến Paris vào tháng 10 năm 1843 để dễ bề làm việc. Ban đầu họ ở chung với gia đình Ruge tại số 23 Rue Vaneau, song do điều kiện kham khổ, họ đành chuyển ra ngoài sau khi con gái đầu lòng Jenny của họ chào đời vào năm 1844. Trái với mục đích ban đầu của nó, tờ "Jahrbücher" chỉ thu hút được toàn những người Đức cấp tiến chứ ít có bóng người ngoại quốc. Trên thực tế, cây bút duy nhất trong ban biên tập không phải người Đức là triết gia theo thuyết vô trị người Nga Mikhail Bakunin. Marx đóng góp tổng cộng hai bài tiểu luận cho tờ báo, đó là "Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêgen" và "Về vấn đề Do Thái". Tác phẩm "Vấn đề Do Thái" thể hiện niềm tin của Marx rằng giai cấp vô sản là lực lượng cách mạng và đánh dấu xuất phát điểm theo con đường chủ nghĩa cộng sản của ông. Chỉ duy nhất một ấn bản của "Jahrbücher" được ra mắt, song nó vẫn tương đối thành công, nhờ phần lớn vào chùm thơ châm biếm của Heinrich Heine nhằm vào vua Ludwig I của Bayern. Vụ việc này khiến các bang Đức ra lệnh cấm lưu hành tờ báo và tịch thu các bản sao nhập khẩu của nó (bản thân Ruge cũng từ chối tài trợ cho việc xuất bản các số tiếp theo, điều mà khiến tình bạn giữa ông và Marx tan vỡ). Sau khi tờ "Jahrbücher" phá sản, Marx soạn cho tờ báo tiếng Đức theo tư tưởng cấp tiến duy nhất còn lại lọt qua lưới kiểm duyệt, đó là tờ "Vorwärts!" ("Tiến lên!"). Tờ này đặt trụ sở tại Paris và có kết nối với Liên đoàn Công bình (), một hội kín theo chủ nghĩa xã hội không tưởng của giai cấp công nhân và nghệ nhân địa phương. Marx dự một số cuộc họp của hội này nhưng không gia nhập. Trong thời gian này, ông cũng hoàn thiện quan điểm xã hội chủ nghĩa của mình dựa trên những sáng kiến triết học của Hegel và chủ nghĩa duy vật biện chứng của Feuerbach, và đồng thời cũng phê phán gay gắt những người theo chủ nghĩa tự do và những người theo chủ nghĩa xã hội khác đang hoạt động ở châu Âu. Ngày 28 tháng 8 năm 1844, Marx gặp nhà xã hội chủ nghĩa người Đức Friedrich Engels tại quán Café de la Régence, đánh dấu khởi đầu của một tình bạn khăng khít suốt đời. Tại đây, Engels đã đưa Marx đọc tác phẩm "Tình cảnh giai cấp công nhân Anh" do chính ông viết và mới được xuất bản ít lâu. Ông thuyết phục Marx rằng giai cấp công nhân chính là tác nhân lẫn công cụ của cuộc cách mạng cuối cùng trong lịch sử. Chẳng bấy lâu sau, Marx và Engels bắt tay cùng viết tác phẩm "Gia đình thần thánh" (1845) nhằm đả kích Bruno Bauer, một người bạn cũ của Marx. Mặc dù phê phán Bauer, Marx ngày càng chịu ảnh hưởng tư tưởng của những người theo phái Hegel trẻ, bao gồm Max Stirner và Ludwig Feuerbach, song Marx và Engels rốt cuộc cũng cáo chung với chủ nghĩa duy vật kiểu Feuerbach. Marx dành khoảng thời gian sống tại 38 Rue Vaneau, Paris (tháng 10 năm 1843-tháng 1 năm 1845) tìm tòi và nghiền ngẫm về các tác giả kinh tế chính trị (như Adam Smith, David Ricardo, James Mill, ), các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng của Pháp (đặc biệt là Henri de Saint Simon và Charles Fourier) và lịch sử Pháp. Marx sẽ bám theo sự nghiệp nghiên cứu và phê bình kinh tế chính trị suốt quãng đời còn lại của ông, và cũng trong quá trình đó, ông đã cho ra đời công trình kinh tế chính trị đồ sộ và nổi bật nhất—bộ ba tập sách "Das Kapital". Chủ nghĩa Marx được xây dựng dựa trên ba cột trụ lớn, đó là: phép biện chứng của Hegel, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và kinh tế chính trị Anh. Điều này nghĩa là, kết hợp với những nghiên cứu trước đó của Marx về phép biện chứng, ba yếu tố chính yếu cấu thành "chủ nghĩa Marx" hầu như đã được ông chắp ghép đâu vào đấy kể từ mùa thu năm 1844. Khung sườn của "chủ nghĩa Marx" chắc hẳn đã thành hình trong tâm trí ông vào cuối năm 1844. Thật vậy, nhiều đặc điểm trong thế giới quan Mác-xít đã được mường tượng khá chi tiết, song Marx vẫn cần thảo các ý tưởng đó xuống giấy để làm sáng tỏ thêm lối phê phán kinh tế chính trị chỉ mới nằm trong suy nghĩ. Theo đó, Marx đã chắp bút viết "các bản thảo kinh tế và triết học" để bàn luận về nhiều chủ đề và trình bày kĩ càng khái niệm tha hóa lao động. Đến mùa xuân năm 1845, quá trình nghiên cứu kinh tế chính trị, tư bản và chủ nghĩa tư bản, đã khiến Marx tin rằng phương pháp phê bình của ông về kinh tế chính trị—chủ nghĩa xã hội khoa học—cần được xây dựng trên cơ sở quan điểm duy vật triệt để về thế giới. "Các bản thảo kinh tế và triết học năm 1844" được Marx viết từ tháng 4 đến tháng 8 trong năm 1844, nhưng không mấy lâu sau Marx lại nhận thấy công trình này còn chịu ảnh hưởng của một số tư tưởng không nhất quán của Ludwig Feuerbach. Theo đó, Marx nhận ra rằng ông phải đoạn tuyệt với triết học Feuerbach và áp dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử. Do đó một năm sau (vào tháng 4 năm 1845) sau khi chuyển từ Paris đến sống ở Brussels, Marx đã viết "Luận cương về Feuerbach"; trong đó nổi bật nhất với luận cương thứ 11, phát biểu rằng "các nhà triết học tự cổ chí kim lý giải thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song mấu chốt là làm cách nào để cải tạo thế giới ấy". Qua đó Marx đã bày tỏ sự phê phán của ông về chủ nghĩa duy vật (còn quá trầm tư chiêm nghiệm), về chủ nghĩa duy tâm (đề cao lý thuyết hơn thực tiễn), và về triết học tổng thể (đề cao thực tại trừu tượng hơn thế giới vật chất). Đây là những góc nhìn đầu tiên về chủ nghĩa duy vật lịch sử được Marx đề xướng, trong đó ông cho rằng thế giới xoay vần không nhờ các ý tưởng mà nhờ vào sự vận động của vật chất, của sự thực, của thực tiễn. Năm 1845, chính phủ Pháp nhận được yêu cầu từ vua Phổ cấm tờ "Vorwärts!" và Bộ trưởng Nội vụ Pháp lúc bấy giờ là François Guizot đã ra lệnh trục xuất Marx. Không thể ở tại Pháp hoặc quay về Đức, Marx quyết định di cư đến Bruxelles vào tháng 2 năm 1845. Tuy nhiên để được phép cư trú tại Bỉ, ông phải cam kết không xuất bản bất cứ thứ gì liên quan đến chính trị đương đại. Tại Bruxelles, Marx liên kết với các nhà chủ nghĩa xã hội lưu vong khác từ khắp châu Âu, bao gồm Moses Hess, Karl Heinzen và Joseph Weydemeyer. Vào tháng 4 năm 1845, Engels rời Barmen chuyển đến Bruxelles để gia nhập cùng Marx và cộng đồng Liên đoàn Công bình ngày càng đông đảo nương náu ở đây. Mary Burns, một người bạn lâu năm của Engels, cũng rời Manchester để đồng hành cùng ông sang Bruxelles. Giữa tháng 7 năm 1845, Marx và Engels sang Anh thăm các nhà lãnh đạo phong trào hiến chương của giai cấp công nhân địa phương. Đây là chuyến đi đầu tiên của Marx đến Anh quốc. Engels đóng vai trò là hướng dẫn viên lý tưởng cho chuyến công du này bởi lẽ ông đã từng dành hai năm sinh sống ở Manchester, từ tháng 11 năm 1842 đến tháng 8 năm 1844. Trong thời gian đó, Engels không chỉ học được tiếng Anh mà còn tạo lập thêm nhiều mối quan hệ với các nhà lãnh đạo của phòng trào hiến chương. Ngoài ra, Engels khi trước cũng từng làm phóng viên cho một số tờ báo tiếng Anh theo chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa hiến chương. Về phần Marx, ông đã tranh thủ dịp này để khảo cứu tư liệu kinh tế có sẵn trong các thư viện ở London và Manchester. Hợp tác với Engels, Marx lên kế hoạch viết tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" luận về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong đó, Marx đã tuyên bố cáo chung với triết học của Ludwig Feuerbach, Bruno Bauer, Max Stirner nói riêng và phái Hegel Trẻ nói chung, cũng như từ khước triết học của Karl Grün và các "nhà xã hội chủ nghĩa chân chính" vẫn níu giữ "chủ nghĩa duy tâm". Qua đó, Marx và Engels cuối cùng đã hoàn thiện triết lý của riêng mình, coi rằng chủ nghĩa duy vật như là thế lực duy nhất thúc đẩy tiến trình lịch sử. "Hệ tư tưởng Đức" được viết theo phong cách hài hước với dụng ý châm biếm, song điều này không qua mắt được các cơ quan kiểm duyệt. Giống các công trình ban sớm của Marx, "Hệ tư tưởng Đức" chỉ được xuất bản sau khi ông mất, cụ thể là vào năm 1932. Sau khi hoàn thành cuốn "Hệ tư tưởng Đức", Marx muốn viết một tác phẩm làm rõ lập trường của ông về "lý thuyết và chiến thuật" của một "phong trào cách mạng vô sản" khả thi đứng trên quan điểm của một triết học "duy vật khoa học" thực thụ, cũng là nhằm để phân định chủ nghĩa xã hội không tưởng của những triết gia đời trước với chủ nghĩa xã hội khoa học của Marx. Để bản thảo đây có thể lọt lưới kiểm duyệt, Marx đã đặt nhan đề cho nó là "Sự khốn cùng của triết học" (1847), quảng bá nó là một phản ứng đối với "triết học tiểu-tư sản" của nhà xã hội chủ nghĩa vô chính phủ người Pháp Pierre-Joseph Proudhon, như được thể hiện trong cuốn "Triết học về sự khốn cùng" (1840) của ông ta. Những cuốn sách trên đã đặt nền móng cho danh tác nổi bật nhất của Marx và Engels, cuốn pamfơlê chính trị mà ngày nay thường được biết đến với tên gọi "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản". Marx, hồi năm 1846 tại Bruxelles, vẫn còn giữ liên lạc với Liên đoàn Công bình khi trước. Ông đánh giá rằng tổ chức đây đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy giai cấp công nhân châu Âu hướng tới phong trào quần chúng, điều mà tất yếu dẫn đến một cuộc cách mạng của giai cấp công nhân. Tuy nhiên để đạt được mục đích ấy, Liên đoàn phải chấm dứt chủ trương hoạt động "bí mật" hoặc "ngấm ngầm" của họ mà phải mạnh dạn hoạt động công khai như một chính đảng thực sự. Các thành viên của Liên đoàn rốt cuộc bị thuyết phục bởi quan điểm của Marx; vào tháng 6 năm 1847, Liên đoàn Công bình được tái cơ cấu thành một đảng chính trị công khai đấu tranh vì lợi ích của công nhân lao động, đổi tên thành Liên đoàn Cộng sản. Cả Marx và Engels đều tham gia vào việc vạch ra cương lĩnh và nguyên tắc của tổ chức mới này. Tạm thời ổn định cuộc sống ở Paris, Marx chuyển trụ sở điều hành của Liên đoàn Cộng sản lên thành phố và sáng lập Hội Công nhân Đức cùng nhiều nhà xã hội người Đức tại đó. Hi vọng một ngày sẽ được chứng kiến cuộc cách mạng lan khắp nước Đức, năm 1848, Marx quay trở lại Köln, nơi ông tuyên truyền bản thông cáo "Yêu sách của Đảng Cộng sản tại Đức". Tuy nhiên, ở đây Marx chỉ đề cập đến bốn trong số mười điểm nêu ra trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản", bởi lẽ ông tin rằng ở Đức thời bấy giờ, giai cấp tư sản phải lật đổ chế độ quân chủ phong kiến ​​và tầng lớp quý tộc trước đã, rồi giai cấp vô sản mới có thể lật độ giai cấp tư sản. Mùng 1 tháng 6 cùng năm, Marx bắt đầu cho xuất bản tờ nhật báo "Neue Rheinische Zeitung" bằng khoản tiền ông mới được thừa kế từ người cha quá cố. Nghiên cứu về toán học. Trong lời giới thiệu bản thân năm 1885 của cuốn "Chống Duhrinh", Engels có viết: "Nhưng từ khi Karl Marx qua đời, thời giờ của tôi phải ngừng công việc nghiên cứu của tôi lại. Lúc bấy giờ tôi đành tạm bằng lòng với những phác thảo đã đưa ra trong sách này và đợi sau này có dịp thì sẽ tập hợp và công bố những kết quả đã thu nhận được, có thể là cùng một lúc với những bản thảo toán học rất quan trọng do Marx để lại." Cuốn tuyển tập Mathematical manuscripts of Karl Marx (tạm dịch: Các công trình Toán học của Karl Marx) gồm hầu hết các tìm hiểu của Marx về nền tảng của phép tính vi tích phân được viết khoảng những năm 1873–1883. Một phiên bản Tiếng Nga được Sofya Yanovskaya dịch và biên tập lại cuối cùng cũng được xuất bản năm 1968, và sao đó bản dịch sang tiếng Anh (dài hơn 300 trang) được xuất bản vào năm 1983. Các học giả cho rằng dường như Marx muốn sử dụng công cụ của phép tính tích phân để nghiên cứu định lượng về kinh tế sâu sắc hơn. Glivenko cho rằng cách tiếp cận của Marx về phép tính vi tích phân tương tự như cách của Hadamard trong cuốn Cours d'Analyse xuất bản 50 năm sau đó. Kennedy cũng đã biện giảng về cách hiểu của Marx về phép vi phân như một quá trình biện chứng. Marx và von Westphalen có với nhau 7 đứa con, song do do điều kiện sống kham khổ khi ở London, chỉ có 3 người con sống sót đến tuổi trưởng thành. Những người con của họ gồm: Jenny Caroline (cưới Longuet; 1844–1883); Jenny Laura (cưới Lafargue; 1845–1911); Edgar (1847–1855); Henry Edward Guy ("Guido"; 1849–1850); Jenny Eveline Frances ("Franziska"; 1851–1852); Jenny Julia Eleanor (1855–1898) và một đứa con mất ở cữ trước khi được đặt tên (tháng 7 năm 1857). Con rể Marx, Paul Lafargue, miêu tả ông là người cha hết mực yêu thương con cái. Năm 1962, rộ lên tin đồn cho rằng Marx có một người con trai ngoài giá thú tên là Freddy với người hầu nữ Helene Demuth, song điều này còn bị tranh cãi do thiếu sót chứng cứ tài liệu. Các ảnh hưởng đến Marx. Tư tưởng của Marx chịu ảnh hưởng từ lối suy nghĩ của nhiều nhà hiền triết khác nhau, chẳng hạn: Sử quan của Marx, gọi là chủ nghĩa duy vật lịch sử, bắt nguồn trực tiếp từ khẳng định của Hegel khi cho rằng người ta phải nhìn nhận thực tại (cũng như lịch sử) theo mặt biện chứng. Tuy nhiên, Hegel là một triết gia duy tâm nên trong suy tưởng của ông thì ý thức vẫn giữ vai trò tiên phong chứ không phải vật chất. Thay vào đó, Marx muốn viết lại phép biện chứng trên danh nghĩa chủ nghĩa duy vật và biện giải ưu thế siêu việt của vật chất so với ý thức. Hegel cho rằng "tinh thần" thúc đẩy diễn trình lịch sử. Trái lại, Marx cho rằng "tinh thần" của Hegel là một khái niệm mông muội thừa thãi, khái niệm mà làm che khuyết thực tại của nhân loại và các hoạt động vật lý của nó trong việc hình thành thế giới. Marx cho rằng chủ nghĩa Hegel đã hiểu sai hoàn toàn về sự vận động của thực tại, và qua đó Marx khuyên ta rằng cái thế giới quan lầm lỡ ấy cần được chỉnh đốn cho đúng đắn trở lại. Mặc dù Marx không ưa thích lối viết văn hàm hồ kì bí, bản thân ông đôi khi cũng vận dụng phép ẩn dụ văn học Gothic trong một số tác phẩm của mình: chẳng hạn trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản", ông có viết như sau "Một bóng ma đang ám ảnh châu Âu: bóng ma chủ nghĩa cộng sản. Tất cả những thế lực của châu Âu cũ: Giáo hoàng và Nga hoàng, Mét-téc-ních và Ghi-dô, bọn cấp tiến Pháp và bọn cảnh sát Đức, đều đã liên hợp lại thành một liên minh thần thánh để trừ khử bóng ma đó", hoặc trong cuốn "Das Kapital", ông đã miêu tả tư bản như "thứ ma thuật bủa vây các thành quả lao động". Triết lý và quan niệm về xã hội. Marx thường luận chiến với các nhà tư tưởng khác thông qua các bài phê bình, vì lẽ ấy mà ông được mệnh danh là "vĩ nhân đầu tiên sử dụng phương pháp phê phán trong khoa học xã hội". Ông chỉ trích gay gắt triết học tư biện, đặt siêu hình học ngang hàng với hệ tư tưởng. Bằng cách tiếp cận này, Marx muốn tách những phát hiện quan trọng khỏi các thiên kiến sinh ra từ hệ tư tưởng. Điều này khiến ông khác biệt với đa số triết gia đương thời. Bản chất con người. Một cách nền tảng, Marx cho rằng bản chất loài người liên quan tới việc cải tạo tự nhiên. Với quá trình cải tạo này ông đặt ra thuật ngữ "lao động", và với khả năng cải tạo tự nhiên là thuật ngữ "sức lao động." Marx phát biểu: “ Một con nhện tiến hành các công việc giống với công việc của một thợ dệt, và một con ong hơn hẳn một kiến trúc sư khi xây dựng những chiếc tổ của nó. Nhưng điều khiến người kiến trúc sư tồi nhất khác biệt với những con ong tài năng nhất là điều này, rằng người kiến trúc sư đã tưởng tượng ra công trình của mình trước khi anh ta xây dựng nó trên thực tế. ”— ("Tư bản", Quyển I, Chương 7, Pt. 1)   /div Nhiều người đề xướng chủ nghĩa tư bản đã coi chủ nghĩa tư bản là công cụ hiệu quả hơn trong việc tạo ra và phân phối tài sản so với chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản, hay đã thể hiện sự chia tách giàu nghèo như sự lo ngại của Marx và Engels chỉ là một hiện tượng nhất thời. Một số người cho rằng tính tư lợi và nhu cầu sở hữu tư bản là một tính chất sẵn có của cách hành xử của con người, chứ không phải bị gây ra bởi việc chấp nhận chủ nghĩa tư bản hay bất kỳ một hệ thống kinh tế riêng biệt nào khác và rằng những hệ thống kinh tế khác nhau phản ánh những sự đáp ứng khác nhau của xã hội với thực tế này. Trường phái Áo về kinh tế đã chỉ trích việc Marx sử dụng lý thuyết giá trị thặng dư lao động. Ngoài ra, sự đàn áp chính trị và các vấn đề kinh tế của nhiều nhà nước Cộng sản lịch sử đã làm giảm sút khá nhiều danh tiếng của Marx ở phương Tây, đặc biệt sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin và của Liên bang Xô viết. John Maynard Keynes coi chủ nghĩa Marx là một học thuyết phi logic và gọi cuốn "Das Kapital" là "một cuốn sách lỗi thời mà tôi biết không chỉ có nhiều lỗi về mặt khoa học mà còn không được quan tâm hay có thể áp dụng vào thế giới hiện đại". Tuy sự tàn phá kinh tế của cuộc Đại Giảm phát trong thập niên 1930 đã làm gia tăng lời kêu gọi tới chủ nghĩa Marx ở các quốc gia phát triển, sự phục hồi kinh tế sau đó và việc chính phủ áp dụng các biện pháp cứu vãn đã làm giảm sút tầm ảnh hưởng của nó. Trái lại, chủ nghĩa Marx trở nên đặc biệt có ảnh hưởng tại các xã hội phong kiến và chưa phát triển về công nghiệp như nước Nga thời Sa hoàng trước năm 1917, nơi cuộc Cách mạng Bolshevik đã chứng tỏ là một sự thành công. Tới đầu thế kỷ XXI, những bài học, chính sách phúc lợi xã hội và quyền của người lao động mà các nước thuộc hệ thống cộng sản chủ nghĩa để lại trong việc xây dựng một xã hội mới công bằng, tiến bộ hơn đã được các nhà nước hiện đại tiếp thu. Một số biện pháp kinh tế – xã hội mà chủ nghĩa Marx đề ra đã được áp dụng ở khắp mọi nơi, ngay cả ở các nước phương Tây vốn từng là đối thủ. J. Arch Getty nhận xét: "Công cuộc cải tạo quyền lao động ở phương Tây trong thế kỷ qua được thúc đẩy bởi một phong trào lao động quốc tế, được bảo vệ và hỗ trợ bởi Liên Xô. Chính sách New Deal của Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt có một phần được sao chép từ chính sách của Liên Xô. Các mục tiêu xã hội phổ biến ngày hôm nay, bao gồm các quyền của phụ nữ và bình đẳng chủng tộc, là chính sách của các Đảng Cộng sản từ rất lâu trước khi được chính phủ Mỹ thi hành một cách nghiêm túc. Những người Cộng sản đầu tiên đã đi đến Nam Mỹ và bắt đầu tổ chức những người da trắng, người Mỹ gốc Phi và người nghèo xung quanh vấn đề đòi hỏi công bằng xã hội. Trên trường quốc tế, Liên Xô cung cấp hỗ trợ cho Nelson Mandela chống lại chế độ áp bức chủng tộc và những cải cách khác. Chủ nghĩa Cộng sản tạo ra sự cạnh tranh khó khăn cho các nước phương Tây, và người ta nghi ngờ rằng những cải cách xã hội ở phương Tây đã không xảy ra nếu nước Nga Xô viết không tồn tại. Trớ trêu thay, sự tồn tại của Liên Xô đã giúp phương Tây tư bản tự cải cách và tránh khỏi những cuộc cách mạng đẫm máu của phương Đông. Chủ nghĩa cộng sản trong thế kỷ XX không phải là ảo tưởng thoáng qua; di sản của nó đang hiện diện ở khắp mọi nơi." Những người khác chỉ trích Marx từ khía cạnh triết lý khoa học. Karl Popper chỉ trích các lý thuyết của Marx là không có tính khả thi, điều mà ông tin là xuất phát từ một số khía cạnh lý luận lịch sử và chính trị xã hội phi khoa học của Marx; tiêu chuẩn tính khả thi của Popper, dù rất có ảnh hưởng, cũng đã bị chứng minh có thể gây tranh cãi. Popper cũng chỉ trích Marx về 'chủ nghĩa lịch sử'; nghĩa là, việc giả định rằng sự phát triển của những xã hội loài người tuân theo một bộ quy luật cố định và có thể thấy trước. Murray Rothbard cho rằng ""...Marx không bao giờ tìm cách đưa ra một câu trả lời. Quả thực ông không thể, bởi nếu ông gắn tình trạng kỹ thuật hay sự thay đổi công nghệ với những hành động của con người, của con người cá nhân, toàn bộ hệ thống của ông sẽ sụp đổ. Với ý thức của loài người, và ý thức cá nhân với điều đó, thì khi ấy mới xác định phương thức sản xuất chứ không phải cách thức khác theo hình tròn." Tuy nhiên, bài viết "Lời nói đầu cho một sự đóng góp vào việc phê bình Kinh tế chính trị" nổi tiếng của Marx phát biểu rằng "Trong sự sản xuất xã hội của sự tồn tại của nó, con người không tránh được phải tham gia vào những quanh hệ xác định, phụ thuộc vào ý chí của họ, nói rõ ra là những quan hệ sản xuất thích ứng với một giai đoạn cho trước trong sự phát triển các lực lượng sản xuất vật chất của họ."" Marx đã gắn một cách rõ ràng các lực lượng sản xuất và sự phát triển của chúng với những hành động của loài người, nhưng nhấn mạnh bản chất xã hội của sự phát triển này, dựa trên nhu cầu, nhu cầu phải duy trì sự tồn tại của con người, vì thế phát triển "độc lập của ý chí của họ", như các cá nhân, và vì thế ảnh hưởng ngược lại tới cá nhân theo những cách phản ứng các điều kiện xã hội cho trước. Nhà triết học cánh tả Peter Singer, trong cuốn sách "Một người Darwin cánh Tả", đã đặt nghi vấn quan điểm Marxist về bản chất con người là rất dễ thay đổi. Nhà khoa học Lionel Tiger cũng đã trình bày lý lẽ chống lại quan điểm Marxist về bản chất con người. Lionel Tiger cho rằng những tuyên bố Marxist đã không thể loại bỏ và trao quyền lực cho giai cấp vô sản bởi chủ nghĩa xã hội Marxist không nhận ra rằng bởi con người đã được thừa hưởng khuynh hướng cạnh tranh và chuyên chế từ những tổ tiên thời nguyên thủy của mình trong một hệ thống "kiểm tra và cân bằng" và những hạn chế với việc cá nhân giành lấy quyền lực và tài sản là cần thiết để duy trì một xã hội xã hội chủ nghĩa quân bình. Ngoài ra, những nhà tư tưởng cánh tả theo tư tưởng vô chính phủ như Mikhail Aleksandrovich Bakunin tại Nga, người có chủ trương "xóa bỏ giai cấp, đưa mọi của cải vào làm của chung, thủ tiêu Nhà nước và mọi quyền lực" – đã chỉ trích Marx về những thành phần chuyên chính trong triết lý của ông và miêu tả ông như là một kẻ "thân chính phủ Bismarck" bị ám ảnh với việc nắm quyền lực quốc gia. Marx và chống Semit. Một số nhà bình luận, như Bernard Lewis, Edward H. Flannery và Hyam Maccoby, đã coi "Về Vấn đề Do Thái" của Marx như một tác phẩm chống Semit, và xác định những tính chất chống Semit trong các tác phẩm đã xuất bản và tác phẩm riêng của ông. Theo họ, Marx coi người Do Thái như một hiện thân của chủ nghĩa tư bản và là những người tạo ra các tính chất ma quỷ của nó. Theo quan điểm của họ, sự đánh đồng chủ nghĩa Do Thái với chủ nghĩa tư bản của Marx, cùng với những tuyên bố của ông về người Do Thái, đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới các phong trào xã hội chủ nghĩa và định hình nên thái độ và chính sách của họ với người Do Thái. Theo những ý kiến của các học giả này, tác phẩm "Về Vấn đề Do Thái" của Marx đã ảnh hưởng tới chủ nghĩa Phát xít, cũng như các tình cảm chống Semit của Liên bang Xô viết và người Ả Rập. Albert Lindemann và Hyam Maccoby đã cho rằng Marx cảm thấy bối rối vì lý lịch Do Thái của mình. Những tác gia trên thường trích dẫn đoạn sau trong "Về Vấn đề Do Thái" để làm cơ sở cho lý luận của mình: “ Đâu là căn bản thế tục của chủ nghĩa Do Thái? Nhu cầu thực tế, tính ích kỷ. Đâu là sự sùng bái thế tục của người Do Thái? Mặc cả. Cái gì là vị thần thế tục của họ? Tiền. Khi ấy thì, một sự giải phóng khỏi sự mặc cả và tiền bạc, từ thực tế, chủ nghĩa Do Thái đích thực sẽ là tự giải phóng khỏi thời đại của chúng ...Giải phóng xã hội của người Do Thái là giải phóng xã hội khỏi chủ nghĩa Do Thái. ” Tuy nhiên, Giáo sư khoa học chính trị Iain Hamphsher-Monk cho rằng các chỉ trích trên là từ những người chưa đọc kỹ tác phẩm của Marx. Ông đã viết trong tác phẩm của mình: "Tác phẩm này [Về Vấn đề Do Thái] đã được nêu ra như một bằng chứng về cái được cho là tình cảm chống Semit của Marx, nhưng chỉ việc đọc nó một cách hời hợt mới có thể dẫn tới một sự giải thích như vậy." Tương tự, McLellan và Francis Wheen cho rằng các độc giả phải hiểu "Về Vấn đề Do Thái" trong bối cảnh các cuộc tranh cãi của Marx với Bruno Bauer, tác giả của "Vấn đề Do Thái", về sự giải phóng Do Thái ở Đức. Francis Wheen nói: "Những chỉ trích đó, ai coi nó như một tiền thân của 'Mein Kampf', bỏ sót một điều, điểm quan trọng: bỏ qua sự vụng về trong cách viết và sự thô thiển của bản in, tác phẩm trên thực tế được viết như một sự bảo vệ dành cho người Do Thái. Đó là sự đáp lại với Bruno Bauer, người đã cho rằng người Do Thái không nên được trao đầy đủ các quyền dân sự và tự do trừ khi họ được rửa tội để trở thành các tín đồ Thiên chúa". Theo McLellan, Marx đã sử dụng từ "Judentum" theo cách thông tục, với nghĩa "thương mại", cho rằng người Đức phải chịu đựng, và phải được giải phóng khỏi, chủ nghĩa tư bản. McLellan kết luận rằng độc giả phải hiểu nửa sau của cuốn tiểu luận như "một sự chơi chữ mở rộng làm thiệt hại cho Bauer". Jonathan Sacks, Chief Rabbi ở Anh, coi việc áp dụng thuật ngữ "chủ nghĩa chống Semit" cho Marx như một sự sai lầm — bởi Marx khi viết "Về Vấn đề Do Thái", rõ ràng mọi nhà triết học lớn đều thể hiện các khuynh hướng chống Semit, nhưng từ "chủ nghĩa chống Semit" vẫn chưa được đặt ra, bỏ mặc phát triển một thành phần chủng tộc, và ít sự hiểu biết tồn tại về tầm mức của thiên kiến của người châu Âu chống người Do Thái. Vì thế Marx chỉ đơn giản thể hiện tư tưởng chung của thời kỳ của mình.
Ma trận hoán vị Ma trận hoán vị là một ma trận có được bằng cách hoán vị các hàng và/hoặc cột của một ma trận đơn vị "n" x "n" ("I"n). Như vậy ma trận hoán vị là một ma trận vuông mà mỗi hàng và cột chỉ có một phần tử có giá trị '1', các phần tử còn lại có giá trị '0'. Có tất cả "n"! hoán vị của một ma trận "I"n.
Tàu ngầm hay tầu ngầm, còn gọi là tiềm thủy đĩnh, là một loại tàu đặc biệt hoạt động dưới nước. Nhiều quốc gia có lực lượng hải quân sử dụng tàu ngầm cho mục đích quân sự. Tàu ngầm cũng được sử dụng cho vận chuyển hàng hải và nghiên cứu khoa học ở đại dương cũng như ở vùng nước ngọt, giúp đạt tới độ sâu vượt quá khả năng lặn của con người. Người ta đã coi Cornelis Drebbel, nhà vật lý, người phát minh ra nhiệt kế, sống ở cung vua Anh Jacques I và là thái phó của các hoàng tử và công chúa của quốc vương, là cha đẻ của tàu ngầm đầu tiên. Thực ra ông chỉ áp dụng các ý tưởng của nhà toán học Anh William Bourne, đưa ra từ năm 1578. Bourne cũng đã có ý tưởng về một cột buồm rỗng để thông gió. Đó là nguyên lý của ống thông hơi mãi sau này được trang bị cho các tàu ngầm của Đức kiểu XXI. Năm 1624, Drebbel đã cho chế tạo một tàu ngầm có dạng quả trứng, bằng gỗ, được đẩy đi bởi mười hai người chèo thêm vào thủy thủ đoàn, mà ông đã thử trên sông Thames trước sự ngạc nhiên của mọi người. Dường như Drebbel đã có ý tưởng tái sinh không khí trên tàu bằng con đường hóa học nhờ một dung dịch kiềm, vốn đã kích thích rất mạnh trí tò mò của nhà vật lý Robert Boyle (1627–1691). Nguyên lý hoạt động. Nguyên lý hoạt động của tàu ngầm dựa vào hai định luật cơ bản của Vật lý: Định luật Ac-si-mét: Với bất cứ một vật nào chìm trong nước, đều chịu một lực đẩy, thẳng đứng, hướng lên trên và có độ lớn đúng bằng phần chất lỏng mà vật đang chiếm chỗ. Định luật Pascal: Áp suất mà một bề mặt phải chịu tỉ lệ thuận cùng lực tác dụng lên bề mặt, tỉ lệ nghịch với diện tích bề mặt đó. Đối với một tàu ngầm thông thường, có hai, lớp vỏ dày 700mm, lớp vỏ trong dày 800mm, dày hơn nhiều và cũng là lớp vỏ của khoang nhân viên, giữa hai lớp vỏ là khoang trống có chứa các giàn ép nước. Khi tàu nổi thì khoang giữa hai lớp vỏ này trống, khi muốn tàu lặn thì có một van phía trên sẽ mở, nước tràn vào khe giữa hai vỏ làm khối lượng tàu tăng lên, chìm xuống. Các giàn ép phía trong khoang giữa hai vỏ này có nhiệm vụ dồn không khí vào chiếm chỗ nước để tàu nổi lên. Duy trì chất lượng không khí. Có ba điều phải xảy ra để giữ cho không khí trong một chiếc tàu ngầm thở: Oxy phải được bổ sung lượng như đã được tiêu thụ. Nếu tỷ lệ oxy trong không khí giảm quá thấp, thủy thủ sẽ bị ngộp thở. Carbon dioxide phải được loại bỏ từ không khí. Khi nồng độ tăng carbon dioxide, nó trở thành một chất độc. Độ ẩm từ hơi thở của chúng ta phải được loại bỏ. Oxy được cung cấp hoặc từ bồn áp lực, một máy tạo oxy (mà có thể tao oxy từ điện phân nước) hoặc một số loại "ống đựng oxy" mà giải phóng khí oxi bằng một phản ứng hóa học. Oxygen hoặc là được tạo ra liên tục qua một hệ thống máy tính có thể bù lại lượng oxy trong tàu ngầm, hoặc nó được cung cấp định kỳ theo ngày. Carbon dioxide có thể được loại bỏ từ không khí bằng cách sử dụng soda (sodium hydroxide và calcium hydroxide). Các carbon dioxide sẽ được giữ lại trong vôi soda bởi một phản ứng hóa học và loại bỏ. Phản ứng tương tự khác có thể thực hiện cùng một mục đích. Độ ẩm có thể được loại bỏ bằng một máy hút ẩm hoặc bằng hóa chất. Điều này ngăn không cho ngưng tụ hơi nước trên các bức tường và các thiết bị bên trong con tàu. Ngoài ra, các loại khí khác như carbon monoxide hoặc hydrogen, được tạo ra bởi thiết bị và thuốc lá, có thể được loại bỏ bằng cách nhiệt. Cuối cùng, bộ lọc được sử dụng để loại bỏ các hạt bụi bẩn và bụi từ không khí. Duy trì cung cấp nước ngọt. Hầu hết các tàu ngầm có một bộ máy chưng cất có thể biến nước biển thành nước ngọt. Nhà máy chưng cất làm nóng nước biển để tạo hơi nước, loại bỏ cát muối, và sau đó làm mát hơi nước vào bể thu nước sạch. Nhà máy chưng cất trên một số tàu ngầm có thể sản xuất 10.000 đến 40.000 gallon (38.000 - 150.000 lít) nước ngọt mỗi ngày. Nước này được sử dụng chủ yếu để làm mát thiết bị điện tử (như máy tính và thiết bị dẫn đường) và hỗ trợ cho các thuyền viên (ví dụ, uống, nấu ăn và vệ sinh cá nhân). 1900/Chiến tranh Nga-Nhật 1904–1905 Chiến tranh thế giới thứ II
Osama bin Mohammed bin Awad bin Laden (, , "#đổi Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. ", thường được gọi là Osama bin Laden; 10 tháng 3 năm 1957 – 2 tháng 5 năm 2011) là người sáng lập ra tổ chức chiến binh Hồi giáo cực đoan al-Qaeda. Tổ chức này bị Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và Liên minh châu Âu xếp vào danh sách các tổ chức khủng bố nguy hiểm nhất thế giới. Osama bin Laden là công dân Ả Rập Saudi cho đến năm 1994 và là thành viên của một gia đình giàu có. Cha Bin Laden là Mohammed bin Awad bin Laden, một triệu phú Ả Rập được sinh ra tại Hadhramaut, Yemen, và người sáng lập của công ty xây dựng, tập đoàn Saudi Binladin. Mẹ của hắn ta là bà Alia Ghanem, xuất thân từ một gia đình trung lưu thế tục ở Latakia, Syria. Hắn được sinh ra ở Ả Rập Xê Út và học đại học tại nước này cho đến năm 1979, khi hắn tình nguyện tham gia lực lượng Mujahideen ở Pakistan chiến đấu chống Liên Xô ở Afghanistan. Osama bin Laden đã tài trợ cho Mujahideen bằng cách vận chuyển vũ khí, tiền bạc và các chiến binh từ thế giới Ả Rập vào Afghanistan, và được nhiều người Ả Rập ưa chuộng. Năm 1988, Osama bin Laden thành lập al-Qaeda. Hắn bị trục xuất khỏi Ả Rập Xê Út vào năm 1992, và chuyển căn cứ của mình đến Sudan, cho đến khi áp lực của Hoa Kỳ buộc hắn phải rời khỏi Sudan vào năm 1996. Sau khi thành lập một căn cứ mới ở Afghanistan, Osama bin Laden tuyên chiến chống lại Hoa Kỳ, bắt đầu một loạt vụ đánh bom và các cuộc tấn công liên quan. Bin Laden nằm trong danh sách Mười kẻ đào tẩu bị truy nã gắt gao nhất và Kẻ khủng bố bị truy nã gắt gao nhất của Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) vì liên quan đến vụ đánh bom đại sứ quán Hoa Kỳ năm 1998. Bin Laden được biết đến nhiều nhất với vai trò chủ mưu vụ tấn công ngày 11 tháng 9 dẫn đến cái chết của gần 3.000 người và khiến Hoa Kỳ, theo lệnh của Tổng thống George W. Bush, bắt đầu Cuộc chiến chống khủng bố và các cuộc chiến tiếp theo. Chiến tranh ở Afghanistan. Sau đó, bin Laden trở thành chủ đề của một cuộc truy lùng quốc tế kéo dài hàng thập kỷ. Từ năm 2001 đến năm 2011, bin Laden bị chính phủ Hoa Kỳ ra lệnh truy nã quốc tế, khi họ đề nghị treo thưởng 25 triệu USD cho những ai đã phát hiện ra nơi trú ẩn của hắn ta. Vào ngày 2 tháng 5 năm 2011, Osama bin Laden bị lính SEAL của Hải quân Hoa Kỳ bắn chết khi đang đột nhập vào một khu dân cư tư nhân ở Abbottabad, Pakistan, nơi bin Laden sống cùng một gia đình địa phương đến từ Waziristan. Hoạt động bí mật này được tiến hành bởi các thành viên của Nhóm Phát triển Chiến tranh Đặc biệt của Hải quân Hoa Kỳ (SEAL Team Six) và những người điều hành SAD/SOG của Cơ quan Tình báo Trung ương theo lệnh của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama. Dưới sự lãnh đạo của bin Laden, tổ chức al-Qaeda phải chịu trách nhiệm cho không chỉ vụ tấn công ngày 11/9 ở Mỹ, mà còn nhiều vụ tấn công gây thương vong hàng loạt khác trên toàn thế giới.. Osama bin Mohammed bin Awad bin Laden sinh ra ở Riyadh, Ả Rập Saudi, là con trai của Yemen Mohammed bin Awad bin Laden, một tỷ phú xây dựng có quan hệ mật thiết với hoàng gia Ả Rập Saudi, và Mohammed bin Người vợ thứ mười của Laden, Hamida al-Attas người Syria (khi đó được gọi là Alia Ghanem). Trong một cuộc phỏng vấn năm 1998, bin Laden đã cho biết ngày sinh của mình là 10 tháng 3 năm 1957. Mohammed bin Laden ly dị Hamida ngay sau khi Osama bin Laden được sinh ra. Mohammed đã giới thiệu Hamida cho Mohammed al-Attas, một cộng sự. Al-Attas kết hôn với Hamida vào cuối những năm 1950 hoặc đầu những năm 1960, và họ vẫn bên nhau đến nay. Cặp đôi có 4 người con và bin Laden sống trong hộ gia đình mới với 3 người anh em cùng cha khác mẹ và một người chị cùng cha khác mẹ. Gia đình bin Laden kiếm được 5 tỷ đô la Mỹ trong ngành xây dựng, và Osama sau này được thừa kế khoảng 25–30 triệu đô la. Bin Laden được nuôi dạy như một tín đồ Hồi giáo Sunni sùng đạo. Từ năm 1968 đến năm 1976, ông theo học Trường Mẫu giáo Al-Thager dành cho những thành phần ưu tú. Bin Laden học kinh tế và quản trị kinh doanh tại Đại học King Abdulaziz. Một số báo cáo cho rằng ông có bằng kỹ sư xây dựng năm 1979, hoặc bằng hành chính công năm 1981. Bin Laden tham gia một khóa học tiếng Anh ở Oxford, Anh trong năm 1971. Một nguồn tin mô tả bin Laden là người "làm việc chăm chỉ"; một người khác nói rằng ông đã rời trường đại học trong năm thứ ba mà không hoàn thành bằng đại học. Tại trường đại học, mối quan tâm chính của bin Laden là tôn giáo, và tham gia vào cả việc "diễn giải kinh Qur'an và thánh chiến " cũng như công việc từ thiện. Các sở thích khác của Bin Laden bao gồm làm thơ; đọc, với các tác phẩm của Thống chế Bernard Montgomery và Charles de Gaulle được cho là một trong những tác phẩm yêu thích của Bin Laden; ngựa đực đen; và bóng đá, khi thi đấu Bin Laden thích chơi ở vị trí trung phong và hâm mộ câu lạc bộ Arsenal của Anh. Năm 1974 ở tuổi 17, bin Laden kết hôn với Najwa Ghanhem tại Latakia, Syria; họ đã ly thân trước ngày 11 tháng 9 năm 2001. Những người vợ được biết đến khác của Bin Laden là Khadijah Sharif (kết hôn 1983, ly hôn 1990); Khairiah Sabar (kết hôn 1985); Siham Sabar (kết hôn năm 1987); và Amal al-Sadah (kết hôn năm 2000). Một số nguồn tin cũng liệt kê danh sách người vợ thứ sáu, không rõ tên, trong đó cuộc hôn nhân của người này với bin Laden đã bị hủy bỏ ngay sau buổi lễ. Bin Laden có từ 20 đến 26 người con với các bà vợ. Nhiều người con của bin Laden đã trốn sang Iran sau vụ tấn công ngày 11 tháng 9.ính đến năm 2010[ [cập nhật]] các nhà chức trách Iran được cho là tiếp tục kiểm soát các hoạt động của những người này. Nasser al-Bahri, người từng là vệ sĩ riêng của bin Laden từ năm 1997–2001, kể chi tiết đời tư của bin Laden trong cuốn hồi ký của mình. Anh mô tả bin Laden là một người đàn ông tiết kiệm và một người cha nghiêm khắc. Bin Laden thích đưa gia đình lớn của mình tham gia các chuyến đi chụp ảnh và dã ngoại trên sa mạc. Mohammed, cha của Bin Laden, qua đời năm 1967 trong một vụ tai nạn máy bay ở Ả Rập Xê Út khi phi công Mỹ Jim Harrington xử lý sai lầm khi hạ cánh. Anh trai cùng cha khác mẹ của Bin Laden, Salem bin Laden, người đứng đầu gia đình bin Laden, qua đời vào năm 1988 gần San Antonio, Texas, Hoa Kỳ, khi anh vô tình lao máy bay vào đường dây điện. FBI mô tả bin Laden khi trưởng thành cao và gầy, cao khoảng tới và nặng khoảng , mặc dù tác giả Lawrence Wright, trong cuốn sách đoạt giải Pulitzer về al-Qaeda, "The Looming Tower", viết rằng một số bạn thân của bin Laden đã xác nhận rằng các báo cáo về chiều cao đã bị phóng đại quá mức, và thực ra là bin Laden. "chỉ hơn cao”. Cuối cùng, sau khi bin Laden chết, đo chiều dài của xác chết cho thấy dài . Bin Laden có nước da màu ô liu và thuận tay trái, thường chống gậy, thường mặc một chiếc keffiyeh màu trắng. Bin Laden sau này đã ngừng mặc đồ nam truyền thống của Ả Rập Xê Út và thay vào đó là bộ đồ nam truyền thống của Yemen. Bin Laden được mô tả là người ăn nói nhẹ nhàng và có thái độ cư xử mềm mỏng. Đức tin và hệ tư tưởng. Một thành phần chính trong hệ tư tưởng của bin Laden là quan niệm rằng thường dân từ các nước thù địch, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em, là mục tiêu hợp pháp để cho các chiến binh thánh chiến giết hại. Theo cựu nhà phân tích của CIA, Michael Scheuer, người dẫn đầu cuộc săn lùng Osama bin Laden của CIA, thủ lĩnh al-Qaeda bị thúc đẩy bởi niềm tin rằng chính sách đối ngoại của Mỹ đã đàn áp, giết hại hoặc gây hại cho người Hồi giáo ở Trung Đông. Như vậy, mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của Hoa Kỳ không phải do al-Qaeda bị xúc phạm bởi những gì của Mỹ mà là bởi những gì Mỹ làm, hoặc theo cách nói của Scheuer, "Họ (al-Qaeda) ghét chúng ta (người Mỹ) vì những gì chúng ta làm, không phải vì chúng ta là ai. " Tuy nhiên, bin Laden chỉ trích Hoa Kỳ về hình thức quản trị thế tục của mình, kêu gọi người Mỹ chuyển sang đạo Hồi và từ chối các hành vi trái đạo đức như tà dâm, đồng tính luyến ái, dùng chất hướng thần, cờ bạc và cho vay nặng lãi, trong một bức thư được xuất bản vào cuối năm 2002. Bin Laden tin rằng thế giới Hồi giáo đang gặp khủng hoảng và việc khôi phục hoàn toàn luật Sharia sẽ là cách duy nhất để thiết lập mọi thứ đúng đắn trong thế giới Hồi giáo.Bin Laden phản đối những lựa chọn thay thế như chính phủ thế tục, cũng như chủ nghĩa toàn Ả Rập, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và dân chủ. Ông đã đăng ký theo học trường phái thần học Hồi giáo Athari. Những niềm tin này, cùng với thánh chiến bạo lực, đôi khi được gọi là Chủ nghĩa Qutb sau khi được Sayyid Qutb phổ biến. Bin Laden tin rằng Afghanistan, dưới sự cai trị của Taliban của Mullah Omar, là "quốc gia Hồi giáo duy nhất" trong thế giới Hồi giáo. Bin Laden luôn quan tâm đến sự cần thiết của cuộc thánh chiến bạo lực để giải quyết những gì ông tin là những bất công đối với người Hồi giáo do Hoa Kỳ và đôi khi của các quốc gia không theo đạo Hồi khác gây ra. Ông cũng kêu gọi tiêu diệt Israel, đồng thời kêu gọi Hoa Kỳ rút toàn bộ dân thường và quân nhân khỏi Trung Đông, cũng như rút quân khỏi mọi quốc gia Hồi giáo trên thế giới. Các quan điểm và phương pháp đạt được chúng của bin Laden đã khiến ông bị các học giả, nhà báo của "The New York Times", BBC, và đài tin tức Al Jazeera của Qatar, nhà phân tích như Peter Bergen, Michael Scheuer, Marc Sageman, và Bruce Hoffman xác định là kẻ khủng bố. Ông bị các cơ quan thực thi pháp luật ở Madrid, New York và Tripoli truy tố tội khủng bố. Năm 1997, bin Laden lên án Hoa Kỳ vì sự đạo đức giả khi không coi vụ ném bom ở Hiroshima là khủng bố. Vào tháng 11 năm 2001, ông cho rằng việc trả thù giết người Mỹ là chính đáng vì ông tuyên bố rằng luật Hồi giáo cho phép các tín đồ tấn công những kẻ xâm lược ngay cả khi kẻ thù sử dụng lá chắn con người. Tuy nhiên, theo Rodenbeck, "quan điểm cổ điển này ban đầu được dự định như một biện minh pháp lý cho các vụ giết hại dân thường vô tình trong những trường hợp rất hạn chế - không phải là cơ sở cho việc cố ý nhắm vào những người không có bom." Vài tháng sau, trong một bức thư năm 2002, ông không đề cập đến lời biện minh này nhưng tuyên bố "vì Hoa Kỳ là một nền dân chủ, tất cả công dân phải chịu trách nhiệm về hành động của chính phủ và dân thường là mục tiêu tấn công công bằng." Chiến lược tổng thể của Bin Laden để đạt được mục tiêu chống lại những kẻ thù lớn hơn nhiều như Liên Xô và Hoa Kỳ là lôi kéo các quốc gia này vào một cuộc chiến tiêu hao lâu dài ở các nước Hồi giáo, thu hút một số lượng lớn các chiến binh thánh chiến mà không bao giờ đầu hàng. Ông tin rằng điều này sẽ dẫn đến sự sụp đổ kinh tế của các nước đối địch, bằng cách khiến họ “chảy máu” đến khi chết khô. Sách hướng dẫn của Al-Qaeda thể hiện chiến lược này. Trong một đoạn băng được Al Jazeera phát sóng năm 2004, bin Laden nói về việc "làm nước Mỹ chảy máu đến mức phá sản". Một số sai sót và mâu thuẫn trong lập luận của bin Laden đã bị các tác giả như Max Rodenbeck và Noah Feldman chỉ ra. Ông viện dẫn nền dân chủ vừa là một ví dụ về sự gian dối và gian lận của hệ thống chính trị phương Tây — Luật pháp Hoa Kỳ là "luật của người giàu" —và lý do thường dân phải chịu trách nhiệm cho các hành động của chính phủ của họ và do đó có thể bị trừng phạt theo luật bằng cái chết. Bin Laden tố cáo nền dân chủ là một "tôn giáo của sự ngu dốt" vi phạm đạo Hồi bằng cách ban hành luật nhân tạo, nhưng trong một tuyên bố sau đó so sánh nền dân chủ phương Tây của Tây Ban Nha có lợi với thế giới Hồi giáo mà người cai trị phải chịu trách nhiệm. Rodenbeck tuyên bố, "Rõ ràng là [bin Laden] chưa bao giờ nghe những lời biện minh thần học cho nền dân chủ, dựa trên quan điểm rằng ý chí của người dân nhất thiết phải phản ánh ý chí của một Đức Chúa Trời toàn năng." Bin Laden là người bài Do Thái, nói rằng hầu hết các sự kiện tiêu cực xảy ra trên thế giới là kết quả trực tiếp của các hành động của người Do Thái. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 12 năm 1998 với nhà báo Pakistan Rahimullah Yusufzai, bin Laden tuyên bố rằng Chiến dịch Desert Fox là bằng chứng cho thấy người Do Thái Israel kiểm soát chính phủ Hoa Kỳ và Anh, chỉ đạo họ giết càng nhiều người Hồi giáo càng tốt. Trong một lá thư phát hành vào cuối năm 2002, ông tuyên bố rằng người Do Thái kiểm soát các phương tiện truyền thông dân sự, chính trị và thể chế kinh tế của Hoa Kỳ. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 5 năm 1998 với John Miller của ABC, bin Laden tuyên bố rằng mục tiêu cuối cùng của nhà nước Israel là sáp nhập Bán đảo Ả Rập và Trung Đông vào lãnh thổ của mình và nô dịch các dân tộc của họ, như một phần của cái mà ông gọi là "Nước Israel vĩ đại". Bin Laden tuyên bố rằng người Do Thái và người Hồi giáo không bao giờ có thể hòa hợp và chiến tranh là "không thể tránh khỏi" giữa họ, đồng thời cáo buộc Mỹ khuấy động tình cảm chống Hồi giáo. Ông tuyên bố rằng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ bị người Do Thái kiểm soát, với mục đích duy nhất là phục vụ các mục tiêu của nhà nước Israel. Ông thường đưa ra những lời cảnh báo chống lại những âm mưu bị cáo buộc của người Do Thái: “Những người Do Thái này là bậc thầy của cho vay nặng lãi và là những kẻ phản bội. Họ sẽ không để lại gì cho bạn, dù ở thế giới này hay thế giới tiếp theo. " Người Hồi giáo dòng Shia đã được bin Laden liệt kê là kẻ thù cùng với những kẻ dị giáo, Mỹ và Israel là bốn kẻ thù chính của Hồi giáo tại các tầng lớp tư tưởng của tổ chức al-Qaeda của bin Laden. Bin Laden phản đối âm nhạc vì lý do tôn giáo, và thái độ của ông đối với công nghệ cũng không rõ ràng. Một mặt ông quan tâm đến máy móc di chuyển trên trái đất và kỹ thuật di truyền của thực vật, nhưng mặt khác lại từ chối nước đông lạnh. Bin Laden cũng tin rằng biến đổi khí hậu là một mối đe dọa nghiêm trọng và đã viết một lá thư kêu gọi người Mỹ hợp tác với Tổng thống Barack Obama để đưa ra quyết định hợp lý để "cứu nhân loại khỏi những khí độc đang đe dọa vận mệnh của mình". Sự nghiệp quân sự và chính trị. Sau khi rời trường đại học vào năm 1979, bin Laden đến Pakistan, gia nhập Abdullah Azzam và sử dụng tiền và máy móc từ công ty xây dựng của riêng mình để giúp đỡ quân kháng chiến Mujahideen trong Chiến tranh Xô-Afghanistan. Sau đó, ông nói với một nhà báo: "Tôi cảm thấy bị xúc phạm vì một sự bất công đã được thực hiện đối với người dân Afghanistan." Từ năm 1979 đến năm 1992, Hoa Kỳ (là một phần trong các hoạt động của CIA tại Afghanistan, đặc biệt là Chiến dịch Cyclone), Ả Rập Xê-út và Trung Quốc đã cung cấp viện trợ tài chính và vũ khí trị giá từ 6–12 tỷ USD cho hàng chục nghìn mujahideen thông qua Cơ quan Tình báo Liên ngành của tình báo Pakistan (ISI). Nhà báo người Anh Jason Burke đã viết rằng “Bin Laden không nhận được bất kỳ sự tài trợ hay đào tạo trực tiếp nào từ Mỹ trong suốt những năm 1980. Những người theo ông cũng vậy. Mujahideen Afghanistan, thông qua cơ quan tình báo ISI của Pakistan, đã nhận được một lượng lớn tiền và được đào tạo từ Hoa Kỳ. Một số đã đổ máu cho người Ả Rập chiến đấu với Liên Xô nhưng không đáng kể. " Bin Laden đã gặp và xây dựng mối quan hệ với Hamid Gul, một người ba sao nói chung trong quân đội Pakistan và thủ trưởng cơ quan ISI. Mặc dù Mỹ cung cấp tiền và vũ khí, việc huấn luyện các nhóm chiến binh hoàn toàn do Lực lượng vũ trang Pakistan và ISI thực hiện. Theo một số sĩ quan CIA, bắt đầu từ đầu năm 1980, bin Laden hoạt động như một liên lạc viên giữa Giảm đốc Tình báo Ả Rập Xê Út (GIP) và các lãnh chúa Afghanistan, nhưng không có bằng chứng về liên hệ giữa CIA và Bin Laden trong kho lưu trữ của CIA. Steve Coll nói rằng mặc dù bin Laden có thể không phải là một đặc vụ GIP chính thức, được trả lương, nhưng "rõ ràng là bin Laden đã có một mối quan hệ đáng kể với tình báo Ả Rập Xê Út." Người huấn luyện đầu tiên cho Bin Laden là biệt kích Ali Mohamed của Lực lượng Đặc nhiệm Mỹ. Đến năm 1984, bin Laden và Azzam thành lập Maktab al-Khidamat, tổ chức đưa tiền, vũ khí và chiến binh từ khắp thế giới Ả Rập vào Afghanistan. Thông qua al-Khadamat, bin Laden đã dùng tài sản gia đình được thừa kế của mình để trả tiền vé máy bay và chỗ ở, chi trả các thủ tục giấy tờ với chính quyền Pakistan và cung cấp các dịch vụ khác cho các chiến binh thánh chiến. Bin Laden đã thành lập các trại tại Khyber Pakhtunkhwa ở Pakistan và huấn luyện các tình nguyện viên từ khắp thế giới Hồi giáo để chiến đấu chống lại chế độ do Liên Xô hậu thuẫn, Cộng hòa Dân chủ Afghanistan. Trong khoảng thời gian từ 1986 đến 1987, bin Laden đã thiết lập một căn cứ ở miền đông Afghanistan cho vài chục binh sĩ Ả Rập của chính mình. Từ căn cứ này, bin Laden đã tham gia một số hoạt động chiến đấu chống lại Liên Xô, chẳng hạn như Trận Jaji năm 1987. Mặc dù có ý nghĩa chiến lược nhỏ, trận chiến này đã được báo chí chính thống Ả Rập đăng tải. Chính trong thời gian này, bin Laden đã trở thành thần tượng của nhiều người Ả Rập. Vụ thảm sát Gilgit năm 1988. Vào tháng 5 năm 1988, phản ứng với tin đồn về một cuộc thảm sát người Sunni do người Shia thực hiện, một số lượng lớn người Shia từ trong và xung quanh Gilgit, Pakistan đã bị giết trong một cuộc thảm sát. Thường dân Shia cũng bị hãm hiếp. Vụ thảm sát được B. Raman, người sáng lập Cánh Nghiên cứu và Phân tích của Ấn Độ khơi mào, để đáp lại cuộc nổi dậy của người Shias of Gilgit trong thời kỳ cai trị của nhà độc tài quân sự Zia-ul Haq. Ông cáo buộc rằng Quân đội Pakistan đã khiến Osama bin Laden dẫn đầu một nhóm vũ trang của những người Sunni, từ Afghanistan và tỉnh Biên giới Tây Bắc nước này, tiến vào Gilgit và các khu vực lân cận để trấn áp cuộc nổi dậy. Sự hình thành và cấu trúc của al-Qaeda. Đến năm 1988, bin Laden tách khỏi Maktab al-Khidamat. Trong khi Azzam đóng vai trò hỗ trợ cho các chiến binh Afghanistan, thì bin Laden lại muốn có một vai trò quân sự lớn hơn. Một trong những điểm chính dẫn đến sự chia rẽ và thành lập al-Qaeda là việc Azzam khăng khăng rằng các chiến binh Ả Rập phải được tích hợp vào các nhóm chiến đấu Afghanistan thay vì thành lập một lực lượng chiến đấu riêng biệt. Ghi chú của cuộc họp giữa bin Laden và những người khác vào ngày 20 tháng 8 năm 1988 cho thấy al-Qaeda là một nhóm chính thức vào thời điểm đó: “Về cơ bản là một phe Hồi giáo có tổ chức, mục tiêu của nó là nâng cao lời Thiên Chúa, giúp tôn giáo của Chúa chiến thắng." Danh sách liệt kê các yêu cầu cho thành viên chia thành từng nhóm như sau: khả năng nghe, cách cư xử tốt, vâng lời, và thực hiện một cam kết ("bayat") nghe theo cấp trên của mình. Theo Wright, tên thật của nhóm này không được sử dụng trong các tuyên bố trước công chúng vì sự tồn tại của nó vẫn là một bí mật được giữ kín. Nghiên cứu của ông cho thấy al-Qaeda được thành lập vào ngày 11 tháng 8 năm 1988, cuộc họp giữa một số lãnh đạo cấp cao của tổ chức Thánh chiến Hồi giáo Ai Cập, Abdullah Azzam và bin Laden, nơi tổ chức này đã đồng ý tham gia tổ chức của bin Laden với chuyên môn của tổ chức Thánh chiến Hồi giáo. và tiếp nhận sự nghiệp thánh chiến ở nơi khác sau khi Liên Xô rút khỏi Afghanistan. Sau khi Liên Xô rút khỏi Afghanistan vào tháng 2 năm 1989, Osama bin Laden trở lại Ả Rập Xê Út như một anh hùng thánh chiến. Cùng với quân đoàn Ả Rập của mình, ông được cho là đã hạ gục siêu cường Liên Xô hùng mạnh. Sau khi trở về Ả Rập Xê Út, bin Laden tham gia vào các phong trào đối lập với chế độ quân chủ Ả Rập Xê Út trong khi làm việc phục vụ kinh doanh của gia đình mình. Ông đề nghị cử al-Qaeda lật đổ chính phủ Đảng Xã hội Yemen do Liên Xô liên kết ở Nam Yemen nhưng bị Thái tử Turki bin Faisal từ chối. Sau đó, bin Laden cố gắng phá vỡ quá trình thống nhất Yemen bằng cách ám sát các lãnh đạo YSP nhưng bị Bộ trưởng Nội vụ Ả Rập Xê Út, Hoàng tử Nayef bin Abdulaziz ngăn chặn sau khi Tổng thống Ali Abdullah Saleh phàn nàn với Quốc vương Fahd. Ông cũng tức giận đối với cuộc giao tranh giữa các bộ lạc giữa những người Afghanistan. Tuy nhiên, bin Laden vẫn tiếp tục làm việc với Saudi GID và ISI Pakistan. Ông tài trợ cho nỗ lực đảo chính Afghanistan năm 1990 và cũng vận động Quốc hội Pakistan thực hiện một động thái bất tín nhiệm chống lại Thủ tướng Benazir Bhutto. Cuộc xâm lược Kuwait của Iraq dưới thời Saddam Hussein vào ngày 2 tháng 8 năm 1990, đã đặt vương quốc Ả Rập Xê Út và hoàng gia vào tình thế nguy hiểm. Với lực lượng Iraq ở biên giới Ả Rập Xê Út, lời kêu gọi của Saddam đối với chủ nghĩa toàn Ả Rập có khả năng kích động bất đồng nội bộ. Một tuần sau khi Vua Fahd đồng ý với lời đề nghị hỗ trợ quân sự của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Dick Cheney, Bin Laden đã gặp Vua Fahd và Bộ trưởng Quốc phòng Ả Rập Xê-út Sultan, nói rằng họ không phụ thuộc vào sự trợ giúp không theo đạo Hồi từ Hoa Kỳ và những người khác và đề nghị giúp đỡ bảo vệ Ả Rập Saudi với quân đoàn Ả Rập của mình. Khi Sultan hỏi bin Laden sẽ bảo vệ các chiến binh như thế nào nếu Saddam sử dụng vũ khí hóa học và sinh học của Iraq để chống lại họ, ông trả lời "Chúng tôi sẽ chiến đấu với hắn bằng đức tin." Lời đề nghị của Bin Laden đã bị bác bỏ và chế độ quân chủ Ả Rập Xê Út mời triển khai lực lượng Mỹ trên lãnh thổ Ả Rập Xê Út. Bin Laden công khai phê phán sự phụ thuộc của Ả Rập Xê Út vào lực lượng Hoa Kỳ, cho rằng Kinh Qur'an cấm những người không theo đạo Hồi đặt chân đến Bán đảo Ả Rập và rằng hai ngôi đền linh thiêng nhất của Hồi giáo, Mecca và Medina, những thành phố mà nhà tiên tri Muhammad đã nhận và đọc thông điệp của Allah, chỉ nên được người Hồi giáo bảo vệ. Bin Laden đã cố gắng thuyết phục "ulama" Ả Rập Xê-út ban hành lệnh trừng phạt lên án việc triển khai quân sự của Mỹ nhưng các giáo sĩ cấp cao từ chối vì sợ bị đàn áp. Những lời chỉ trích của Bin Laden đối với chế độ quân chủ Ả Rập Xê Út khiến họ cố gắng bịt miệng ông ta. Sư đoàn Dù số 82 của Mỹ đã hạ cánh xuống thành phố Dhahran ở phía đông bắc Ả Rập Xê Út và được triển khai trên sa mạc cách Medina chỉ 400 dặm. Trong khi đó, vào ngày 8 tháng 11 năm 1990, FBI đột kích vào nhà ở New Jersey của El Sayyid Nosair, một cộng sự của al-Qaeda, Ali Mohamed. Họ phát hiện ra nhiều bằng chứng về âm mưu khủng bố, bao gồm cả kế hoạch làm nổ tung các tòa nhà chọc trời của Thành phố New York. Điều này đánh dấu sự phát hiện sớm nhất về các kế hoạch khủng bố của al-Qaeda bên ngoài các quốc gia Hồi giáo. Nosair cuối cùng bị kết tội liên quan đến vụ đánh bom Trung tâm Thương mại Thế giới năm 1993, và sau đó thừa nhận tội danh giết Giáo sĩ Meir Kahane ở thành phố New York vào ngày 5 tháng 11 năm 1990. Năm 1991, bin Laden bị chính quyền Saudi Arabia trục xuất khỏi Ả Rập Xê-út sau nhiều lần chỉ trích liên minh giữa Ả Rập Xê-út với Hoa Kỳ. Đầu tiên, ông và những người theo ông chuyển đến Afghanistan và sau đó chuyển đến Sudan vào năm 1992, trong một thỏa thuận do Ali Mohamed làm trung gian. Chi tiết an ninh cá nhân của Bin Laden bao gồm các vệ sĩ do chính ông lựa chọn. Kho vũ khí của họ bao gồm SA-7, tên lửa Stinger, AK-47, RPG và súng máy PK. Trong khi đó, vào tháng 3 đến tháng 4 năm 1992, bin Laden cố gắng đóng vai trò bình định trong cuộc nội chiến leo thang ở Afghanistan, bằng cách thúc giục lãnh chúa Gulbuddin Hekmatyar tham gia cùng các nhà lãnh đạo mujahideen khác đàm phán về một chính phủ liên minh thay vì cố gắng chiếm Kabul cho riêng mình. Tình báo Mỹ đã theo dõi bin Laden ở Sudan bằng cách sử dụng các đặc nhiệm điều hành hàng ngày và chụp ảnh các hoạt động tại khu nhà của ông, đồng thời sử dụng một ngôi nhà an toàn tình báo và phát tín hiệu tình báo để theo dõi bin Laden và ghi lại những động thái của ông. Từ Sudan tới Afghanistan. Tại Sudan, bin Laden đã thành lập một căn cứ mới cho các hoạt động của Mujahideen ở Khartoum. Ông mua một ngôi nhà trên phố Al-Mashtal trong khu Al-Riyadh giàu có và một nơi nghỉ dưỡng tại Soba trên sông Nile Xanh. Trong thời gian ở Sudan, ông đã đầu tư rất nhiều vào cơ sở hạ tầng, vào nông nghiệp và kinh doanh. Bin Laden là đại lý tại Sudan cho công ty Hunting Surveys của Anh, và xây dựng những con đường bằng cách sử dụng chính những chiếc máy ủi mà ông đã thuê để xây dựng các đường mòn trên núi ở Afghanistan. Nhiều người lao động của ông là những chiến binh đã từng là đồng đội của ông trong cuộc kháng chiến chống Liên Xô. Bin Laden hào phóng với người nghèo và được lòng dân xung quanh. Ông tiếp tục chỉ trích Vua Fahd của Saudi Arabia. Đáp lại, vào năm 1994, Fahd đã tước bỏ quyền công dân Ả Rập Xê-út của bin Laden và thuyết phục gia đình bin Laden cắt khoản chi tiêu mỗi năm 7 triệu đô la của ông. Vào thời điểm đó, bin Laden đang có liên hệ với tổ chức Thánh chiến Hồi giáo Ai Cập (EIJ), tổ chức cốt lõi của al-Qaeda. Năm 1995, EIJ đã cố gắng ám sát Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak. Nỗ lực không thành công và Sudan đã trục xuất EIJ. Bộ Ngoại giao Mỹ cáo buộc Sudan là nhà tài trợ cho chủ nghĩa khủng bố quốc tế và bin Laden điều hành các trại huấn luyện khủng bố trên sa mạc Sudan. Tuy nhiên, theo các quan chức Sudan, lập trường này đã trở nên lỗi thời khi thủ lĩnh chính trị Hồi giáo Hassan al-Turabi mất dần ảnh hưởng ở đất nước của họ. Người Sudan muốn can dự với Mỹ nhưng các quan chức Mỹ từ chối gặp họ ngay cả khi họ đã trục xuất bin Laden. Mãi đến năm 2000, Bộ Ngoại giao mới cho phép các quan chức tình báo Hoa Kỳ đến thăm Sudan. Do áp lực ngày càng tăng đối với Sudan từ Ả Rập Xê-út, Ai Cập và Hoa Kỳ, bin Laden được phép rời đến đất nước mà ông lựa chọn. Ông chọn quay trở lại Jalalabad, Afghanistan trên một chuyến bay thuê vào ngày 18 tháng 5 năm 1996; ở đó ông đã có một mối quan hệ thân thiết với Mullah Mohammed Omar. Theo Ủy ban 11/9, việc trục xuất khỏi Sudan đã làm suy yếu đáng kể bin Laden và tổ chức của ông. Một số nguồn tin tình báo châu Phi lập luận rằng việc trục xuất bin Laden không còn lựa chọn nào khác ngoài việc trở thành một kẻ cực đoan toàn thời gian, và phần lớn trong số 300 người Ả Rập Afghanistan bỏ đi cùng bin Laden sau đó đã trở thành những kẻ khủng bố. Nhiều nguồn báo cáo rằng bin Laden đã mất từ 20 triệu đô la Mỹ đến 300 triệu đô la Mỹ ở Sudan; chính phủ đã tịch thu thiết bị xây dựng của ông, và bin Laden buộc phải thanh lý các cơ sở kinh doanh, đất đai và thậm chí cả ngựa của mình. Tuyên bố chiến tranh năm 1996 và Fatwa năm 1998. Tháng 8 năm 1996, bin Laden tuyên chiến chống lại Hoa Kỳ. Bất chấp lời đảm bảo của Tổng thống George HW Bush với Vua Fahd vào năm 1990, rằng tất cả các lực lượng Hoa Kỳ đóng tại Ả Rập Xê-út sẽ được rút lui sau khi mối đe dọa Iraq đã được xử lý, đến năm 1996 người Mỹ vẫn còn ở đó. Bush trích dẫn sự cần thiết của việc đối phó với tàn dư của chế độ Saddam (mà Bush đã chọn không tiêu diệt). Quan điểm của Bin Laden là "tệ nạn" ở Trung Đông xuất phát từ nỗ lực của Mỹ nhằm chiếm lấy khu vực này và từ sự ủng hộ của nước này đối với Israel. Ả Rập Xê Út đã bị biến thành thuộc địa của Mỹ ". Năm 1998, ông đã đưa ra một fatwa chống lại Hoa Kỳ, được xuất bản lần đầu ở "Al-Quds Al-Arabi", một tờ báo tại Luân Đôn. Nó có tựa đề là "Tuyên bố chiến tranh chống lại người Mỹ chiếm đất của hai thánh địa". Ả Rập Xê Út đôi khi được gọi là "Vùng đất của hai thánh đường Hồi giáo" liên quan đến Mecca và Medina, hai địa điểm linh thiêng nhất trong đạo Hồi. Đề cập đến việc chiếm đóng ở Fatwā đề cập đến các lực lượng Hoa Kỳ đóng tại Ả Rập Xê Út với mục đích kiểm soát không gian ở Iraq, được gọi là Operation Southern Watch. Tại Afghanistan, bin Laden và al-Qaeda đã quyên tiền từ các nhà tài trợ từ những ngày Liên Xô còn thánh chiến, và từ ISI ở Pakistan để thành lập thêm các trại huấn luyện cho các chiến binh Mujahideen. Bin Laden đã tiếp quản một cách hiệu quả Hãng hàng không Ariana Afghanistan, hãng vận chuyển các chiến binh Hồi giáo, vũ khí, tiền mặt và thuốc phiện qua Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Pakistan, cũng như cung cấp danh tính giả cho các thành viên trong mạng lưới khủng bố của bin Laden. Kẻ buôn lậu vũ khí Viktor Bout đã giúp điều hành hãng hàng không, bảo trì máy bay và chất hàng hóa. Michael Scheuer, người đứng đầu đơn vị bin Laden của CIA, kết luận rằng Ariana đang được sử dụng như một dịch vụ chuyển hàng của lực lượng khủng bố. Các cuộc tấn công đầu tiên và việc hỗ trợ cho các cuộc tấn công. Người ta tin rằng vụ đánh bom đầu tiên liên quan đến bin Laden là vụ đánh bom vào khách sạn Gold Mihor ở Aden ngày 29 tháng 12 năm 1992, khiến hai người thiệt mạng. Sau vụ đánh bom này, al-Qaeda được cho là đã đưa ra lời biện minh cho việc giết người vô tội. Theo một fatwa do Mamdouh Mahmud Salim đưa ra, việc giết ai đó đứng gần kẻ thù là chính đáng bởi vì bất kỳ người ngoài cuộc vô tội nào cũng sẽ tìm được phần thưởng xứng đáng khi chết, họ sẽ đến "Jannah" (thiên đường) nếu họ là người Hồi giáo tốt và đến "Jahannam" (địa ngục) nếu họ xấu hoặc không tin. Fatwa này được phổ biến cho các thành viên al-Qaeda chứ không phải công chúng. Trong những năm 1990, al-Qaeda của bin Laden đã hỗ trợ các chiến binh thánh chiến về tài chính và đôi khi cả về mặt quân sự ở Algeria, Ai Cập và Afghanistan. Vào năm 1992 hoặc 1993, bin Laden đã cử một sứ giả, Qari el-Said, với 40.000 USD đến Algeria để hỗ trợ lực lượng Hồi giáo và thúc giục chiến tranh hơn là đàm phán với chính phủ. Lời khuyên của họ đã được chú ý. Cuộc chiến sau đó đã gây ra cái chết của 150.000–200.000 người Algeria và kết thúc bằng việc người Hồi giáo đầu hàng chính phủ. Vào tháng 1 năm 1996, CIA đã thành lập một đơn vị mới của Trung tâm Chống Khủng bố (CTC) có tên là Trạm Phát hành Bin Laden, mật danh "Trạm Alec", để theo dõi và thực hiện các hoạt động chống lại các hoạt động của Bin Laden. Trạm Vấn đề Bin Laden do Michael Scheuer, một cựu chiến binh của Chi nhánh Chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo của CTC, đứng đầu. Các cuộc tấn công cuối những năm 1990. Người ta cho rằng bin Laden đã tài trợ cho vụ thảm sát Luxor ngày 17 tháng 11 năm 1997, giết chết 62 thường dân, và gây phẫn nộ cho công chúng Ai Cập. Vào giữa năm 1997, Liên minh phương Bắc đe dọa sẽ tràn đến Jalalabad, khiến bin Laden phải từ bỏ khu Najim Jihad và chuyển các hoạt động của mình đến Nông trại Tarnak ở phía nam. Một cuộc tấn công thành công khác được thực hiện tại thành phố Mazar-i-Sharif ở Afghanistan. Bin Laden đã giúp củng cố liên minh của mình với Taliban bằng cách cử hàng trăm chiến binh Ả Rập Afghanistan đi cùng để giúp Taliban tiêu diệt từ năm đến sáu nghìn người Hazara tràn qua thành phố. Vào tháng 2 năm 1998, Osama bin Laden và Ayman al-Zawahiri đã đồng phát hành một "fatwa" nhân danh Mặt trận Hồi giáo Thế giới chống Jihad chống lại người Do Thái và quân Thập tự chinh, trong đó tuyên bố việc giết người Bắc Mỹ và đồng minh của họ là "nghĩa vụ cá nhân đối với mỗi người Hồi giáo" để giải phóng Nhà thờ Hồi giáo al-Aqsa (ở Jerusalem ) và nhà thờ Hồi giáo thánh (ở Mecca) khỏi sự kìm kẹp của chúng. Tại buổi công bố, Fatwa bin Laden tuyên bố rằng Bắc Mỹ là "mục tiêu rất dễ dàng". Ông nói với các nhà báo tham dự, "Các bạn sẽ thấy kết quả của việc này trong một thời gian rất ngắn." Bin Laden và al-Zawahiri tổ chức đại hội al-Qaeda vào ngày 24 tháng 6 năm 1998. Các vụ đánh bom đại sứ quán Hoa Kỳ năm 1998 là một loạt các vụ tấn công xảy ra vào ngày 7 tháng 8 năm 1998, trong đó hàng trăm người đã thiệt mạng trong các vụ nổ bom xe tải đồng thời tại các đại sứ quán Hoa Kỳ ở các thành phố lớn ở Đông Phi là Dar es Salaam, Tanzania và Nairobi, Kenya. Các cuộc tấn công có liên quan đến các thành viên địa phương của tổ chức Thánh chiến Hồi giáo Ai Cập, lần đầu tiên đưa Osama bin Laden và Ayman al-Zawahiri trở thành sự chú ý của dư luận Hoa Kỳ. Al-Qaeda sau đó đã lên tiếng nhận trách nhiệm về các vụ đánh bom này. Để trả đũa cho các vụ đánh bom đại sứ quán, Tổng thống Bill Clinton đã ra lệnh thực hiện một loạt vụ tấn công bằng tên lửa hành trình vào các mục tiêu liên quan đến bin Laden ở Sudan và Afghanistan vào ngày 20 tháng 8 năm 1998. Tháng 12/1998, Giám đốc Trung tâm Chống khủng bố Tình báo Trung ương báo cáo với Tổng thống Clinton rằng al-Qaeda đang chuẩn bị cho các cuộc tấn công ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, bao gồm cả việc đào tạo nhân viên cướp máy bay. Vào ngày 7 tháng 6 năm 1999, Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ đã xếp bin Laden vào danh sách Mười người bị truy nã gắt gao nhất. Vụ tấn công 11/9. Chúa biết chúng tôi không muốn tấn công các tòa tháp, nhưng sau khi tình hình trở nên không thể chịu đựng nổi - và chúng tôi đã chứng kiến sự bất công và bạo ngược của liên minh Mỹ-Israel chống lại người dân của chúng tôi ở Palestine và Lebanon - tôi đã nghĩ về điều đó. Và những sự kiện ảnh hưởng trực tiếp đến tôi là năm 1982 và những sự kiện sau đó - khi Mỹ cho phép người Israel xâm lược Lebanon, với sự giúp đỡ của Hạm đội 6 Hoa Kỳ. Khi tôi xem những tòa tháp bị phá hủy ở Lebanon, tôi chợt nhận ra mình trừng phạt kẻ bất công theo cùng một cách: phá hủy những tòa tháp ở Mỹ để nó có thể nếm trải một phần những gì chúng ta đang nếm trải, và ngừng giết trẻ em và phụ nữ của chúng ta.- Osama bin Laden, 2004 Sau các phủ nhận ban đầu, sau khi các cuộc tấn công xảy ra, bin Laden tuyên bố, “những gì Hoa Kỳ đang nếm trải ngày nay không là gì so với những gì chúng ta đã nếm trải trong nhiều thập kỷ. "Umma" của chúng tôi đã biết sự sỉ nhục và khinh miệt này trong hơn tám mươi năm. Các con trai của nó bị giết, máu của nó đổ ra, các thánh địa của nó bị tấn công, và nó không được cai quản theo lệnh của Allah. Mặc dù vậy, không ai quan tâm ". Để đối phó với các cuộc tấn công, Hoa Kỳ đã phát động Cuộc chiến chống khủng bố nhằm lật đổ chế độ Taliban ở Afghanistan và bắt giữ các thành viên al-Qaeda, đồng thời một số quốc gia đã củng cố luật pháp chống khủng bố để ngăn chặn các cuộc tấn công trong tương lai. Bộ phận Hoạt động Đặc biệt của CIA được giao nhiệm vụ dẫn đầu trong việc truy tìm và tiêu diệt hoặc bắt giữ bin Laden. Cục Điều tra Liên bang đã tuyên bố rằng liên kết giữa al-Qaeda và bin Laden với các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 là rõ ràng và không thể bác bỏ. Chính phủ Anh đã đưa ra kết luận tương tự liên quan đến tội ác của al-Qaeda và Osama bin Laden trong vụ tấn công ngày 11 tháng 9, mặc dù báo cáo của chính phủ lưu ý rằng bằng chứng được đưa ra không nhất thiết đủ để khởi tố vụ án. Bin Laden ban đầu phủ nhận liên quan đến các cuộc tấn công. Ngày 16 tháng 9 năm 2001, bin Laden đọc một tuyên bố sau đó được kênh vệ tinh Al Jazeera của Qatar phát đi phủ nhận trách nhiệm về vụ tấn công. Trong một đoạn băng do lực lượng Mỹ thu hồi vào tháng 11 năm 2001 ở Jalalabad, bin Laden được nhìn thấy đang thảo luận về vụ tấn công với Khaled al-Harbi theo cách thể hiện sự biết trước. Cuốn băng được phát trên nhiều mạng tin tức khác nhau vào ngày 13 tháng 12 năm 2001. Giá trị của bản dịch này đã bị tranh cãi. Tiến sĩ người Ả Rập Abdel El M. Husseini tuyên bố: “Bản dịch này rất có vấn đề. Tại những đoạn quan trọng nhất, nơi văn bản chứng minh tội lỗi của bin Laden, nó không đồng nhất với văn bản gốc tiếng Ả Rập. " Trong đoạn video năm 2004, bin Laden đã từ bỏ lời phủ nhận của mình mà không rút lại các tuyên bố trong quá khứ. Trong đó, ông nói rằng ông đã đích thân chỉ đạo 19 kẻ không tặc. Trong đoạn băng dài 18 phút, phát trên kênh Al-Jazeera, bốn ngày trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, bin Laden cáo buộc Tổng thống Mỹ George W. Bush sơ suất trong vụ cướp máy bay vào ngày 11 tháng 9. Theo các đoạn băng, bin Laden tuyên bố rằng ông được truyền cảm hứng để phá hủy Trung tâm Thương mại Thế giới sau khi chứng kiến việc Israel phá hủy các tòa tháp ở Lebanon trong Chiến tranh Lebanon năm 1982. Thông qua hai đoạn băng khác được Al Jazeera phát sóng vào năm 2006, Osama bin Laden tuyên bố, “Tôi là người phụ trách 19 anh ”(23 tháng 5 năm 2006). Trong các đoạn băng, bin Laden gặp gỡ Ramzi bin al-Shibh, cũng như hai trong số những kẻ không tặc vụ 11/9, Hamza al-Ghamdi và Wail al-Shehri, khi những người này chuẩn bị cho các cuộc tấn công 11/9 (đoạn băng phát sóng ngày 7 tháng 9 năm 2006). Các động cơ được xác định của vụ tấn công ngày 11 tháng 9 bao gồm sự hỗ trợ của Israel bởi Hoa Kỳ, sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Vương quốc Ả Rập Xê-út và việc Hoa Kỳ thực thi các lệnh trừng phạt đối với Iraq. Cáo buộc hình sự. Ngày 16 tháng 3 năm 1998, Libya ban hành lệnh bắt giữ chính thức đầu tiên của Interpol đối với bin Laden và ba người khác. Họ bị buộc tội giết Silvan Becker, đặc vụ của cơ quan tình báo trong nước của Đức, Văn phòng Liên bang Bảo vệ Hiến pháp, trong Cục Chống khủng bố, và vợ của hắn là Vera tại Libya vào ngày 10 tháng 3 năm 1994. Bin Laden vẫn bị chính phủ Libya truy nã vào thời điểm ông đã chết. Osama bin Laden lần đầu tiên bị đại bồi thẩm đoàn Hoa Kỳ truy tố vào ngày 8 tháng 6 năm 1998 với tội danh âm mưu tấn công các cơ sở quốc phòng của Hoa Kỳ và các công tố viên còn buộc tội rằng bin Laden là người đứng đầu tổ chức khủng bố có tên là al-Qaeda. Và bin Laden là người ủng hộ tài chính lớn cho các chiến binh Hồi giáo trên toàn thế giới. Vào ngày 4 tháng 11 năm 1998, Osama bin Laden bị Đại bồi thẩm đoàn Liên bang tại Tòa án Quận phía Nam của Hoa Kỳ truy tố tội danh "Giết công dân Hoa Kỳ bên ngoài Hoa Kỳ, Âm mưu sát hại công dân Hoa Kỳ bên ngoài Hoa Kỳ. Hoa Kỳ và Các cuộc tấn công vào một cơ sở liên bang dẫn đến tử vong" vì vai trò bị cáo buộc của ông trong vụ đánh bom đại sứ quán Hoa Kỳ năm 1998 ở Kenya và Tanzania. Bằng chứng chống lại bin Laden bao gồm lời khai tại phòng xử án của các cựu thành viên al-Qaeda và hồ sơ điện thoại vệ tinh, từ chiếc điện thoại do đại lý mua sắm của al-Qaeda Ziyad Khaleel ở Hoa Kỳ mua cho ông. Tuy nhiên, Taliban đã ra phán quyết không dẫn độ Bin Laden với lý do không có đủ bằng chứng được công bố trong bản cáo trạng và các tòa án không theo đạo Hồi không có tư cách để xét xử người Hồi giáo. Bin Laden trở thành người thứ 456 có tên trong danh sách Mười kẻ đào tẩu bị truy nã gắt gao nhất của FBI, khi hắn được thêm vào ngày 7 tháng 6 năm 1999, sau bản cáo trạng của hắn cùng với những người khác với tội tử hình trong vụ tấn công đại sứ quán năm 1998. Các nỗ lực ám sát và yêu cầu dẫn độ bin Laden từ Taliban của Afghanistan đã thất bại trước khi xảy ra vụ đánh bom Afghanistan vào tháng 10 năm 2001. Năm 1999, Tổng thống Mỹ Bill Clinton thuyết phục Liên Hợp Quốc áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Afghanistan nhằm buộc Taliban dẫn độ bin Laden. Vào ngày 10 tháng 10 năm 2001, bin Laden cũng xuất hiện trong danh sách ban đầu của 22 tên khủng bố bị truy nã gắt gao nhất của FBI, được công bố trước công chúng bởi Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush, để phản ứng trực tiếp với vụ tấn công ngày 11 tháng 9., nhưng lại dựa trên bản cáo trạng về vụ tấn công đại sứ quán năm 1998. Bin Laden nằm trong nhóm 13 kẻ khủng bố chạy trốn bị truy nã trong danh sách sau này để thẩm vấn về vụ đánh bom đại sứ quán năm 1998. Bin Laden vẫn là kẻ đào tẩu duy nhất từng có tên trong cả hai danh sách đào tẩu của FBI. Bất chấp nhiều cáo trạng nêu trên và nhiều yêu cầu, Taliban từ chối dẫn độ Osama bin Laden. Tuy nhiên, Taliban đã đề nghị xét xử bin Laden rước một tòa án Hồi giáo nếu có bằng chứng về sự dính líu của Osama bin Laden trong vụ tấn công ngày 11 tháng 9. Mãi đến tám ngày sau khi vụ đánh bom Afghanistan bắt đầu vào tháng 10 năm 2001, Taliban cuối cùng đã đề nghị chuyển Osama bin Laden cho một quốc gia bên thứ ba để xét xử đổi lại Hoa Kỳ chấm dứt vụ đánh bom. Đề nghị này đã bị từ chối bởi Tổng thống Bush nói rằng điều này không còn có thể thương lượng được nữa, và Bush trả lời "không cần phải thảo luận về sự vô tội hay có tội. Chúng tôi biết ông ta có tội. " Vào ngày 15 tháng 6 năm 2011, các công tố viên liên bang của Hoa Kỳ đã chính thức hủy bỏ mọi cáo buộc hình sự đối với Osama bin Laden sau cái chết của ông vào tháng Năm. Truy nã của Hoa Kỳ. Bắt Osama bin Laden là mục tiêu của chính phủ Hoa Kỳ kể từ thời tổng thống Bill Clinton. Ngay sau vụ tấn công ngày 11 tháng 9, người ta tiết lộ rằng Tổng thống Clinton đã ký một chỉ thị cho phép CIA (và đặc biệt là Bộ phận Hoạt động Đặc biệt ưu tú của họ) bắt giữ bin Laden và đưa hắn đến Hoa Kỳ để xét xử sau vụ đánh bom đại sứ quán Hoa Kỳ năm 1998 ở Châu Phi; nếu việc bắt sống bin Laden được cho là không thể, thì việc giết bin Laden được cho phép. Vào ngày 20 tháng 8 năm 1998, 66 tên lửa hành trình do tàu Hải quân Hoa Kỳ phóng ở Biển Ả Rập đã tấn công trại huấn luyện của bin Laden gần Khost ở Afghanistan, khiến bin Laden mất tích vài giờ. Năm 1999, CIA, cùng với tình báo quân đội Pakistan, đã chuẩn bị một đội khoảng 60 lính biệt kích Pakistan thâm nhập Afghanistan để bắt hoặc giết bin Laden, nhưng kế hoạch này đã bị hủy bỏ do cuộc đảo chính Pakistan năm 1999 ; năm 2000, các đặc nhiệm nước ngoài làm việc thay mặt cho CIA đã bắn một quả lựu đạn tên lửa vào một đoàn xe mà bin Laden đang đi qua vùng núi Afghanistan, bắn trúng một trong những chiếc xe nhưng không phải chiếc bin Laden ngồi trong. Năm 2000, trước vụ tấn công ngày 11 tháng 9, Paul Bremer mô tả chính quyền Clinton đã tập trung chính xác vào bin Laden, trong khi Robert Oakley chỉ trích nỗi ám ảnh của chính quyền đối với bin Laden. Ngay sau vụ tấn công ngày 11 tháng 9, các quan chức chính phủ Mỹ đã nêu đích danh bin Laden và tổ chức al-Qaeda là nghi phạm chính và treo thưởng 25 triệu USD cho thông tin dẫn đến việc bắt giữ hoặc cái chết của bin Laden. Vào ngày 13 tháng 7 năm 2007, Thượng viện đã bỏ phiếu để tăng gấp đôi phần thưởng lên 50 triệu USD, mặc dù số tiền trên thực tế không bao giờ thay đổi. Hiệp hội Phi công Hàng không và Hiệp hội Vận tải Hàng không đề nghị thêm vào phần thưởng 2 triệu USD. Bin Laden được cho là đang ẩn náu trong dãy núi Trắng (Spin Ghar) ở phía đông Afghanistan, gần biên giới Pakistan. Theo "The Washington Post", chính phủ Hoa Kỳ kết luận rằng Osama bin Laden đã có mặt trong Trận chiến Tora Bora, Afghanistan vào cuối năm 2001, và theo các quan chức dân sự và quân sự quan sát thấy trực tiếp, Hoa Kỳ đã không có đủ lính bộ binh để săn lùng bin Laden và dẫn đến việc bin Laden trốn thoát. Đây là thất bại nặng nề nhất của Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống lại al-Qaeda. Các quan chức tình báo đã thu thập những gì họ cho là bằng chứng quyết định, từ các cuộc thẩm vấn đương thời và sau đó và các liên lạc bị chặn, rằng bin Laden đã bắt đầu Trận chiến Tora Bora bên trong khu hang động dọc biên giới miền núi phía đông Afghanistan. "Tờ Washington Post" cũng đưa tin rằng đơn vị CIA gồm các lực lượng bán quân sự hoạt động đặc biệt chuyên truy bắt bin Laden đã bị đóng cửa vào cuối năm 2005. Lực lượng Hoa Kỳ và Afghanistan đã đột kích vào các hang động trên núi ở Tora Bora từ ngày 14 đến 16 tháng 8 năm 2007. Quân đội đã được kéo đến khu vực này sau khi nhận được thông tin tình báo về một cuộc họp trước tháng Ramadan do các thành viên al-Qaeda tổ chức. Sau khi giết hàng chục thành viên al-Qaeda và Taliban, họ không tìm thấy Osama bin Laden hay Ayman al-Zawahiri. Ngày 7 tháng 10 năm 2008, trong cuộc tranh luận tổng thống lần thứ hai, về chính sách đối ngoại, ứng cử viên tổng thống khi đó là Barack Obama đã cam kết “Chúng tôi sẽ tiêu diệt bin Laden. Chúng tôi sẽ nghiền nát al-Qaeda. Đó phải là ưu tiên an ninh quốc gia lớn nhất của chúng tôi. " Sau khi đắc cử, Tổng thống đắc cử Obama đã bày tỏ kế hoạch gia hạn cam kết của Mỹ trong việc tìm kiếm thủ lĩnh của al-Qaeda Osama bin Laden, theo các cố vấn an ninh quốc gia của Obama trong nỗ lực đẩy mạnh truy lùng trùm khủng bố này. Tổng thống Obama bác bỏ chính sách của chính quyền Bush đối với bin Laden, vốn tập hợp tất cả các mối đe dọa khủng bố từ al-Qaeda đến Hamas cho đến Hezbollah, thay thế nó bằng một sự tập trung bí mật, giống như tia laser vào al-Qaeda và tổ chức của nó. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates cho biết vào tháng 12 năm 2009 rằng các quan chức không có thông tin đáng tin cậy về nơi ở của bin Laden trong nhiều năm. Một tuần sau, Tướng Stanley McChrystal, chỉ huy hàng đầu của Mỹ tại Afghanistan vào tháng 12/2009 nói rằng al-Qaeda sẽ không bị đánh bại trừ khi thủ lĩnh của nó, Osama bin Laden, bị bắt hoặc bị giết. Làm chứng trước Quốc hội Mỹ, ông nói rằng bin Laden đã trở thành một nhân vật mang tính biểu tượng, và sự sống còn của bin Laden đã đưa al-Qaeda trở thành một tổ chức nhượng quyền trên toàn thế giới, và việc Obama triển khai thêm 30.000 quân đến Afghanistan đồng nghĩa với việc thành công sẽ có thể xảy ra. "Tôi không nghĩ rằng cuối cùng chúng ta có thể đánh bại al-Qaeda cho đến khi hắn bị bắt hoặc bị giết", McChrystal nói về bin Laden. Theo ông, giết hoặc bắt bin Laden sẽ không đánh dấu sự kết thúc của al-Qaeda, nhưng phong trào này không thể bị tiêu diệt trong khi bin Laden vẫn còn sống. Vào tháng 4 năm 2011, Tổng thống Obama đã ra lệnh cho một chiến dịch bí mật để tiêu diệt hoặc bắt giữ bin Laden. Vào ngày 2 tháng 5 năm 2011, Nhà Trắng thông báo rằng SEAL Team Six đã thực hiện thành công chiến dịch giết chết bin Laden trong khu nhà Abbottabad ở Pakistan. Các hoạt động và nơi ở sau vụ tấn công ngày 11 tháng 9. Trong khi đề cập đến Osama bin Laden trong một đoạn phim của CNN vào ngày 17 tháng 9 năm 2001, Tổng thống George W. Bush khi đó đã nói: “Tôi muốn công lý. Theo tôi nhớ lại, có một tấm áp phích cũ miền Viễn Tây ghi rằng, 'Truy nã: Sống hay chết' ". Sau đó, bin Laden rút lui khỏi tiếp xúc công chúng để tránh bị bắt. Nhiều báo chí đưa tin đồn đoán về nơi ở hoặc thậm chí cái chết của ông; một số cho bin Laden ở các địa điểm khác nhau trong các khoảng thời gian chồng chéo. Không có gì đã được chứng minh một cách chắc chắn. Sau khi các cuộc tấn công quân sự ở Afghanistan không khám phá được tung tích của bin Laden, Pakistan thường xuyên được xác định là nơi ẩn náu tình nghi. Một số báo cáo mâu thuẫn về nơi ở của bin Laden và những tuyên bố nhầm lẫn về cái chết của ông như sau: Vào ngày 29 tháng 3 năm 2012, tờ "Dawn" Pakistan đã có được một báo cáo do các quan chức an ninh Pakistan thực hiện, dựa trên việc thẩm vấn ba người vợ còn sống của bin Laden, kể chi tiết về những di chuyển của bin Laden khi sống dưới lòng đất ở Pakistan. Trong một lá thư năm 2010, bin Laden trừng phạt những người theo "học thuyết Hồi giáo đã diễn giải lại al-tatarrus" - một học thuyết Hồi giáo có nghĩa là bào chữa cho việc giết người không chủ ý trong những trường hợp bất thường - để biện minh cho các vụ thảm sát thường xuyên đối với thường dân Hồi giáo, điều đã khiến người Hồi giáo chống lại phong trào cực đoan. Trong số các nhóm liên kết với al-Qaeda, Bin Laden đã lên án Tehrik-i-Taliban Pakistan vì một cuộc tấn công nhằm vào các thành viên của một bộ tộc thù địch, tuyên bố rằng hoạt động này là không hợp lý vì đã có thương vong của những người không phải ném bom. Bin Laden viết rằng "học thuyết tatarrus" cần được xem xét lại dựa trên bối cảnh thời hiện đại và các ranh giới rõ ràng đã được thiết lập. Bin Laden yêu cầu cấp dưới soạn ra một quy tắc ứng xử của các chiến binh thánh chiến nhằm hạn chế các hoạt động quân sự để tránh thương vong cho dân thường. Tại Yemen, Bin Laden kêu gọi các đồng minh của mình tìm kiếm một thỏa thuận ngừng bắn để mang lại sự ổn định cho đất nước hoặc ít nhất sẽ cho người dân thấy rằng chúng tôi đang cẩn thận trong việc giữ an toàn cho người Hồi giáo trên cơ sở hòa bình. Tại Somalia, ông kêu gọi sự chú ý đến tình trạng nghèo đói cùng cực do chiến tranh liên miên, và ông khuyên al-Shabab theo đuổi phát triển kinh tế. Ông hướng dẫn các tín đồ của mình trên khắp thế giới tập trung vào giáo dục và thuyết phục hơn là tham gia vào các cuộc đối đầu với các đảng chính trị Hồi giáo. Nơi ở ngay trước khi chết. Vào tháng 4 năm 2011, nhiều cơ quan tình báo của Mỹ đã xác định được vị trí nghi ngờ của Bin Laden gần Abbottabad, Pakistan. Trước đây người ta tin rằng bin Laden đang ẩn náu gần biên giới giữa Afghanistan và các Khu vực Bộ lạc do Liên bang quản lý của Pakistan, nhưng bin Laden đã bị phát hiện cách đó trong một biệt thự ba tầng không cửa sổ ở Abbottabad tại. Dinh thự của Bin Laden cách Học viện Quân sự Pakistan về phía tây nam. Bản đồ Google Earth cho thấy khu nhà này không tồn tại vào năm 2001, nhưng nó đã hiện diện trong các hình ảnh được chụp vào năm 2005. Osama bin Laden đã bị lực lượng biệt kích đặc biệt của Hoa Kỳ giết chết ở Abbottabad, Pakistan, vào ngày 2 tháng 5 năm 2011, sau 1:00 sáng giờ địa phương (04:00 múi giờ Đông Hoa Kỳ). Chiến dịch, có tên mã là Operation Neptune Spear, được lệnh của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và được thực hiện trong một hoạt động của Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) bởi một đội SEAL của Hải quân Hoa Kỳ thuộc Nhóm Phát triển Chiến tranh Đặc biệt của Hải quân Hoa Kỳ (cũng được gọi là DEVGRU hoặc tên không chính thức trước đây là SEAL Team Six) của Bộ chỉ huy các hoạt động đặc biệt chung, với sự hỗ trợ từ các đặc nhiệm CIA trên mặt đất. Cuộc đột kích vào khu nhà của bin Laden ở Abbottabad được phát động từ Afghanistan. Sau cuộc đột kích, các báo cáo vào thời điểm đó nói rằng các lực lượng Mỹ đã đưa thi thể bin Laden đến Afghanistan để xác định danh tính, sau đó chôn cất trên biển, theo quy định của luật Hồi giáo, trong vòng 24 giờ sau khi ông qua đời. Các báo cáo tiếp theo đã đặt câu hỏi về việc chôn xác này, ví dụ, không có bằng chứng cho thấy đã có một imam Hồi giáo trên tàu , nơi được cho là đã diễn ra việc chôn cất bin Laden. Các nhà chức trách Pakistan sau đó đã phá dỡ khu nhà vào tháng 2 năm 2012 để ngăn nó trở thành một ngôi đền theo chủ nghĩa tân Hồi giáo. Vào tháng 2 năm 2013, Pakistan công bố kế hoạch xây dựng một công viên giải trí trị giá 265 triệu PKR (30 triệu USD) trong khu vực này, bao gồm cả căn nhà nơi ẩn náu trước đây. Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2019, Thủ tướng Pakistan Imran Khan tuyên bố rằng tình báo Pakistan đã dẫn dắt CIA đến nơi trú ẩn của Osama bin Laden. Osama bin Laden có năm vợ, trong đó có hai người đã chia tay,
The Codebreaker (ISBN 0684831309) là tác phẩm nổi tiếng của David Kahn xuất bản năm 1967. Kahn không nhận mình làm trong ngành mật mã học, song những điều ông trình bày trong tác phẩm của mình làm cho người đọc thán phục về hiểu biết của Kahn đối với ngành khoa học đặc biệt này. Cuốn sách đã tái hiện lại lịch sử mật mã học từ thời Ai Cập cổ đại cho tới thời điểm viết sách. Nó được nhìn nhận như là cuốn sách hay nhất viết về đề tài này tại thời điểm xuất bản. Chính phủ Mỹ đã từng cố gắng để mua bản quyền cuốn sách để ngăn chặn việc xuất bản. Tại thời điểm xuất bản, các thông tin về việc phá vỡ hệ thống Enigma của phát xít Đức trong thế chiến II chưa được tiết lộ. Vì thế nó không đề cập đến vấn đề này và cũng như những thuật toán mật mã hóa mạnh được sử dụng rộng rãi được phát triển sau đó. Cuốn sách được tái xuất bản năm 1996 và có thêm một chương tóm tắt các sự kiện xảy ra sau lần xuất bản đầu tiên.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. ", ], nghĩa đen: "Căn cứ", "Tổ chức", cách đánh vần là al-Qaida và al-Qa'ida) là một tổ chức đa quốc gia của chiến binh Hồi giáo dòng Sunni, được nhiều người coi là một tổ chức khủng bố. Al-Qaeda được Osama bin Laden, Abdullah Azzam, và một số tình nguyện viên Ả Rập khác thành lập vào năm 1988 trong Chiến tranh Liên Xô-Afghanistan. Al-Qaeda hoạt động như một mạng lưới gồm các phần tử Hồi giáo cực đoan và thánh chiến Salafist. Tổ chức này đã bị Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Vương quốc Anh, Nga, Ấn Độ và nhiều quốc gia khác chỉ định là một nhóm khủng bố. Al-Qaeda đã tiến hành các cuộc tấn công vào các mục tiêu phi quân sự và quân sự ở nhiều quốc gia khác nhau, bao gồm cả vụ đánh bom đại sứ quán Hoa Kỳ năm 1998, vụ tấn công ngày 11 tháng 9 và vụ đánh bom Bali năm 2002. Chính phủ Hoa Kỳ đã đáp trả các cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 bằng cách phát động "Cuộc chiến chống khủng bố", nhằm tìm cách làm suy yếu al-Qaeda và các đồng minh của nó. Cái chết của các thủ lĩnh chủ chốt, bao gồm cả Osama bin Laden, đã khiến hoạt động của al-Qaeda chuyển từ tổ chức từ trên xuống và lập kế hoạch tấn công, sang việc lập kế hoạch tấn công được thực hiện bởi một mạng lưới lỏng lẻo gồm các nhóm liên kết và do các sói đơn độc điều khiển. Al-Qaeda đặc trưng tổ chức các cuộc tấn công bao gồm các cuộc tấn công liều chết và ném bom đồng thời vào một số mục tiêu. Các nhà tư tưởng của Al-Qaeda tưởng tượng một tương lai với việc loại bỏ mọi ảnh hưởng của nước ngoài đến các nước Hồi giáo. Các thành viên Al-Qaeda tin rằng một liên minh Cơ đốc giáo - Do Thái đang âm mưu tiêu diệt Hồi giáo. Là các chiến binh thánh chiến Salafist, các thành viên của al-Qaeda tin rằng việc giết những người không tham chiến sẽ bị trừng phạt về mặt tôn giáo. Al-Qaeda cũng phản đối những gì nó coi là luật nhân tạo, và muốn thay thế chúng bằng một hình thức nghiêm ngặt của luật sharia. Al-Qaeda đã thực hiện nhiều cuộc tấn công nhằm vào những người mà tổ chức này coi là "kafir". Nó cũng chịu trách nhiệm về việc xúi giục bạo lực giáo phái giữa những người theo đạo Hồi. Al-Qaeda coi những người Hồi giáo tự do, Shias, Sufis và các giáo phái khác là dị giáo và các thành viên cũng như những người có thiện cảm đã tấn công các nhà thờ Hồi giáo và các cuộc tụ tập của họ. Ví dụ về các cuộc tấn công theo giáo phái bao gồm vụ thảm sát Ashoura năm 2004, các vụ đánh bom ở Thành phố Sadr năm 2006, các vụ đánh bom ở Baghdad vào tháng 4 năm 2007 và các vụ đánh bom cộng đồng Yazidi năm 2007. Sau cái chết của Osama bin Laden vào năm 2011, tổ chức này do Ayman al-Zawahiri người Ai Cập lãnh đạo, và đến năm 2021 Al-Qaeda được cho là đã bị mất quyền chỉ huy trung tâm đối với các hoạt động trong khu vực. Tên tiếng Anh của tổ chức này là một phiên âm đơn giản hóa của danh từ tiếng Ả Rập "#đổi Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. " (‏القاعدة) ‏ có nghĩa là "nền tảng" hay "cơ sở". "Chữ al-" đầu tiên là mạo từ xác định trong tiếng Ả Rập. Trong tiếng Ả Rập, "al-Qaeda" có bốn âm tiết (/alˈqaː.ʕ). Tuy nhiên, kể từ khi hai trong số những phụ âm tiếng Ả Rập trong tên không phải là âm vị trong các ngôn ngữ tiếng Anh, nên âm vị tiếng Anh của chữ này bao gồm , và . Tên của Al-Qaeda cũng có thể được phiên âm là "al-Qaida", "al-Qa'ida" hoặc "el-Qaida". Bin Laden giải thích nguồn gốc của thuật ngữ này trong một cuộc phỏng vấn được quay video với nhà báo Tayseer Alouni của Al Jazeera vào tháng 10 năm 2001: Người ta lập luận rằng hai tài liệu thu giữ được từ văn phòng Sarajevo của Benevolence International Foundation chứng minh cái tên này không chỉ được "phong trào mujahideen" áp dụng và một nhóm cũng có tên là al-Qaeda đã được thành lập vào tháng 8 năm 1988. Cả hai tài liệu này đều chứa biên bản các cuộc họp được tổ chức để thành lập một nhóm quân sự mới, và chứa thuật ngữ "al-Qaeda". Cựu Ngoại trưởng Anh Robin Cook đã viết rằng từ al-Qaeda nên được dịch là "cơ sở dữ liệu", vì ban đầu nó ám chỉ tệp tin máy tính của hàng nghìn "chiến binh mujahideen" đã được tuyển dụng và huấn luyện với sự giúp đỡ của CIA để đánh bại người Nga. Vào tháng 4 năm 2002, nhóm này lấy tên là "Qa'idat al-Jihad" ( "#đổi Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. "), có nghĩa là "căn cứ của Jihad". Theo Diaa Rashwan, điều này "dường như là kết quả của việc sáp nhập chi nhánh ở nước ngoài của tổ chức al-Jihad ở Ai Cập, do Ayman al-Zawahiri lãnh đạo, với các nhóm mà Bin Laden kiểm soát sau khi trở về Afghanistan vào giữa những năm 1990." Phong trào Hồi giáo cực đoan phát triển trong thời kỳ hồi sinh Hồi giáo và sự trỗi dậy của phong trào Hồi giáo sau Cách mạng Iran (1978-1979). Một số người cho rằng các tác phẩm của tác giả và nhà tư tưởng Hồi giáo Sayyid Qutb đã truyền cảm hứng cho tổ chức al-Qaeda. Trong những năm 1950 và 1960, Qutb thuyết giảng rằng vì thiếu "luật sharia", thế giới Hồi giáo không còn là người Hồi giáo nữa, và đã trở lại với sự ngu muội tiền Hồi giáo được gọi là "jahiliyyah". Để khôi phục lại Hồi giáo, Qutb cho rằng cần phải có một đội tiên phong gồm những người Hồi giáo chân chính để thiết lập "các quốc gia Hồi giáo chân chính", thực hiện luật "sharia" và loại bỏ thế giới Hồi giáo khỏi mọi ảnh hưởng không phải của người Hồi giáo. Theo quan điểm của Qutb, những kẻ thù của Hồi giáo bao gồm " người Do Thái thế giới ", mà "có âm mưu" chống lại Hồi giáo. Qutb cũng ảnh hưởng đến người cố vấn của bin Laden, Ayman al-Zawahiri. Chú của Zawahiri và tộc trưởng họ ngoại, Mafouz Azzam, là học trò của Qutb, người bảo vệ, luật sư riêng, và là người thừa hành tài sản của ông. Azzam là một trong những người cuối cùng nhìn thấy Qutb còn sống trước khi bị hành quyết. Zawahiri bày tỏ lòng kính trọng đối với Qutb trong tác phẩm "Hiệp sĩ dưới tấm biển của nhà tiên tri". Qutb cho rằng nhiều người Hồi giáo không phải là người Hồi giáo thực sự. Qutb lập luận rằng một số người Hồi giáo đã bỏ đạo. Những người bị cáo buộc bội giáo này bao gồm các nhà lãnh đạo của các quốc gia Hồi giáo, vì họ đã không thực thi "luật sharia". Cuộc thánh chiến ở Afghanistan chống lại chính phủ thân Liên Xô đã phát triển thêm phong trào Thánh chiến Salafist vốn đã truyền cảm hứng cho Al-Qaeda. Al-Qaeda chỉ gián tiếp kiểm soát các hoạt động hàng ngày của nó. Triết lý của nó kêu gọi tập trung hóa việc ra quyết định, đồng thời cho phép phân cấp việc thực hiện. Các nhà lãnh đạo cao nhất của Al-Qaeda đã xác định hệ tư tưởng và chiến lược chỉ đạo của tổ chức, đồng thời họ cũng nêu rõ những thông điệp đơn giản và dễ tiếp nhận. Đồng thời, các tổ chức cấp trung được trao quyền tự chủ, nhưng họ phải tham khảo ý kiến của ban lãnh đạo cấp cao nhất trước các cuộc tấn công và ám sát quy mô lớn. Ban lãnh đạo cao nhất bao gồm hội đồng shura cũng như các ủy ban về hoạt động quân sự, tài chính và chia sẻ thông tin. Thông qua các ủy ban thông tin của al-Qaeda, ông đặc biệt chú trọng vào việc liên lạc với các nhóm của mình. Tuy nhiên, sau Chiến tranh chống khủng bố, ban lãnh đạo của al-Qaeda đã trở nên cô lập. Kết quả là, ban lãnh đạo đã trở nên phi tập trung và tổ chức đã được phân vùng hóa thành một số nhóm al-Qaeda. Nhiều chuyên gia khủng bố không tin rằng phong trào thánh chiến toàn cầu được thúc đẩy ở mọi cấp độ do sự lãnh đạo của al-Qaeda. Tuy nhiên, bin Laden đã có một sự dao động ý thức hệ đáng kể đối với một số phần tử Hồi giáo cực đoan trước khi chết. Các chuyên gia cho rằng al-Qaeda đã phân tán thành một số phong trào khác nhau trong khu vực và các nhóm này có ít mối liên hệ với nhau. Quan điểm này phản ánh lời kể của Osama bin Laden trong cuộc phỏng vấn tháng 10 năm 2001 với Tayseer Allouni: Bruce Hoffman lại coi al-Qaeda là một mạng lưới liên kết được chỉ đạo chặt chẽ từ các khu vực bộ lạc Pakistan. Al-Qaeda có các chi nhánh trực tiếp sau: Những nhóm sau đây hiện được cho là các chi nhánh gián tiếp của al-Qaeda: Các chi nhánh cũ của Al-Qaeda bao gồm: Osama bin Laden (1988 - 5/2011). Osama bin Laden từng là lãnh đạo của al-Qaeda từ khi thành lập tổ chức này vào năm 1988 cho đến khi bị quân Mỹ ám sát vào ngày 1 tháng 5 năm 2011. Atiyah Abd al-Rahman được cho là chỉ huy thứ hai trước khi qua đời vào ngày 22 tháng 8 năm 2011. Bin Laden được cố vấn bởi một Hội đồng Shura, bao gồm các thành viên cấp cao của al-Qaeda. Nhóm ước tính bao gồm 20-31 người. Sau tháng 5 năm 2011. Ayman al-Zawahiri từng là phó lãnh đạo của al-Qaeda và đảm nhận vai trò lãnh đạo sau cái chết của bin Laden. Al-Zawahiri thay thế Saif al-Adel, người từng giữ chức chỉ huy lâm thời. Vào ngày 5 tháng 6 năm 2012, các quan chức tình báo Pakistan thông báo rằng người kế nhiệm của al-Rahman là chỉ huy thứ hai, Abu Yahya al-Libi, đã bị giết ở Pakistan. Nasir al-Wuhayshi được cho là đã trở thành lãnh đạo thứ hai của al-Qaeda vào năm 2013. Ông đồng thời là thủ lĩnh của al-Qaeda ở Bán đảo Ả Rập (AQAP) cho đến khi bị một cuộc không kích của Mỹ ở Yemen giết chết vào tháng 6 năm 2015. Abu Khayr al-Masri, người kế nhiệm Wuhayshi với tư cách là cấp phó của Ayman al-Zawahiri, đã bị một cuộc không kích của Mỹ giết chết ở Syria vào tháng 2 năm 2017. Mạng lưới của Al-Qaeda được xây dựng từ đầu như một mạng lưới âm mưu với sự lãnh đạo của một số nút khu vực. Tổ chức này tự chia thành nhiều ủy ban, bao gồm: Cấu trúc quyền lực. Hầu hết các thủ lĩnh và giám đốc hoạt động của Al Qaeda đều là những cựu binh từng chiến đấu chống lại cuộc xâm lược Afghanistan của Liên Xô trong những năm 1980. Osama bin Laden và cấp phó Ayman al-Zawahiri là những thủ lĩnh được coi là chỉ huy hoạt động của tổ chức. Tuy nhiên, các hoạt động quân sự của Al-Qaeda lại không do Ayman al-Zawahiri quản lý. Một số nhóm hoạt động tồn tại, nhóm này tham khảo ý kiến của ban lãnh đạo trong các tình huống chuẩn bị tấn công. Khi được hỏi vào năm 2005 về khả năng al-Qaeda liên quan đến vụ đánh bom London ngày 7/7/2005, Ủy viên Cảnh sát Thủ đô Sir Ian Blair nói: "Al-Qaeda không phải là một tổ chức. Al-Qaeda là một cách thức hoạt độ" Vào ngày 13 tháng 8 năm 2005, "báo The Independent" đưa tin rằng máy bay ném bom ngày 7 tháng 7 đã hoạt động độc lập với một kẻ chủ mưu có tâm thế của al-Qaeda. Nasser al-Bahri, người từng là vệ sĩ của Osama bin Laden trong 4 năm sau vụ khủng bố 11/9 đã viết trong hồi ký của mình, mô tả rất chi tiết về cách thức hoạt động của nhóm vào thời điểm đó. Al-Bahri mô tả cơ cấu hành chính chính thức và kho vũ khí rộng lớn của al-Qaeda. Tuy nhiên, tác giả Adam Curtis cho rằng ý tưởng về al-Qaeda như một tổ chức chính thức chủ yếu là một phát minh của Mỹ. Curtis cho rằng cái tên "al-Qaeda" lần đầu tiên được công chúng chú ý trong phiên tòa xét xử bin Laden năm 2001 và 4 người bị cáo buộc trong vụ đánh bom đại sứ quán Mỹ năm 1998 ở Đông Phi. Curtis đã viết: Trong phiên tòa năm 2001, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ cần phải chứng minh rằng bin Laden là thủ lĩnh của một tổ chức tội phạm để buộc tội ông ta "vắng mặt" theo Đạo luật các tổ chức có ảnh hưởng và tham nhũng của Racketeer. Tên của al-Qaeda và chi tiết về cấu trúc của nó đã được cung cấp trong lời khai của Jamal al-Fadl, người nói rằng anh ta là thành viên sáng lập của nhóm và là nhân viên cũ của bin Laden. Một số nguồn tin đã đưa ra câu hỏi về độ tin cậy của lời khai của al-Fadl vì tiền sử không trung thực của anh ta và vì al-Fadl đã khai báo như một phần của thỏa thuận mặc cả sau khi bị kết tội âm mưu tấn công các cơ sở quân sự của Mỹ. Sam Schmidt, một luật sư bào chữa cho al-Fadl nói: Hoạt động thực địa. Số lượng các cá nhân trong al-Qaeda mà đã trải qua khóa huấn luyện quân sự thích hợp và có khả năng chỉ huy các lực lượng nổi dậy, phần lớn vẫn chưa được biết đến. Các tài liệu thu được trong cuộc đột kích vào dinh thự của bin Laden năm 2011 cho thấy số thành viên cốt lõi của al-Qaeda năm 2002 là 170. Năm 2006, ước tính al-Qaeda có khoảng vài nghìn chỉ huy ở 40 quốc gia khác nhau. ính đến năm 2009[ [cập nhật]], người ta tin rằng không quá 200–300 thành viên của nhóm vẫn đang là chỉ huy tại ngũ. Theo bộ phim tài liệu "The Power of Nightmares" của đài BBC năm 2004, al-Qaeda liên kết với nhau rất yếu đến mức khó có thể nói nó tồn tại ngoài bin Laden và một nhóm nhỏ các cộng sự thân cận. Bộ phim tài liệu này cho rằng việc thiếu vắng số lượng đáng kể các thành viên al-Qaeda bị kết án, mặc dù có một số lượng lớn các vụ bắt giữ vì tội khủng bố, là lý do để nghi ngờ liệu một thực thể rộng rãi đáp ứng mô tả của al-Qaeda có tồn tại hay không. Các chỉ huy của Al-Qaeda, cũng như các đặc vụ đang ngủ của nó, đang ẩn náu ở những nơi khác nhau trên thế giới cho đến ngày nay. Họ chủ yếu bị các cơ quan mật vụ của Mỹ và Israel săn lùng. Thủ lĩnh số hai của Al Qaeda, Abdullah Ahmed Abdullah, đã bị các đặc vụ Israel giết chết. Bút danh của ông là Abu Muhammad al-Masri, người đã bị giết vào tháng 11 năm 2020 tại Iran. al-Masri có liên quan đến vụ ám sát năm 1988 tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở Kenya và Tanzania. Lực lượng nổi dậy. Theo tác giả Robert Cassidy, al-Qaeda duy trì hai lực lượng riêng biệt được triển khai cùng với quân nổi dậy ở Iraq và Pakistan. Lực lượng đầu tiên, với số lượng hàng chục nghìn người, được "tổ chức, huấn luyện và trang bị như lực lượng chiến đấu nổi dậy" trong cuộc chiến Liên Xô-Afghanistan. Lực lượng này chủ yếu bao gồm các "mujahideen" nước ngoài từ Ả Rập Xê Út và Yemen. Nhiều chiến binh trong số này đã chiến đấu ở Bosnia và Somalia cho "cuộc thánh chiến" toàn cầu. Một nhóm khác, với số lượng 10.000 người vào năm 2006, sống ở phương Tây và đã được huấn luyện chiến đấu thô sơ. Các nhà phân tích khác đã mô tả các chiến binh của al-Qaeda là "chủ yếu là người Ả Rập" trong những năm đầu hoạt động, nhưng tính đến 2007 tổ chức này cũng bao gồm "các dân tộc khác". Người ta ước tính rằng 62% thành viên al-Qaeda có trình độ đại học. Trong năm 2011 và năm sau, người Mỹ đã dàn xếp thành công các cuộc thanh toán với Osama bin Laden, Anwar al-Awlaki, tuyên truyền viên chính của tổ chức và phó chỉ huy của Abu Yahya al-Libi. Những tiếng nói lạc quan đã nói rằng al-Qaeda đã kết thúc. Tuy nhiên, đó là khoảng thời gian mà Mùa xuân Ả Rập đã tới khu vực này, tình trạng hỗn loạn rất lớn đã xảy ra đối với các lực lượng trong khu vực của al-Qaeda. Bảy năm sau, Ayman al-Zawahiri được cho là người lãnh đạo số một trong tổ chức, thực hiện chiến lược của mình với tính nhất quán có hệ thống. Hàng chục nghìn thành viên trung thành với al-Qaeda và các tổ chức liên quan đã có thể thách thức sự ổn định của địa phương và khu vực và tấn công tàn nhẫn kẻ thù của họ ở Trung Đông, Châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á, Châu Âu và Nga. Trên thực tế, từ Tây Bắc Phi đến Nam Á, al-Qaeda đã có hơn hai chục đồng minh "dựa trên nhượng quyền thương mại". Chỉ riêng ở Syria, số lượng chiến binh al-Qaeda đã lên tới 20.000 người, họ có 4.000 thành viên ở Yemen và khoảng 7.000 người ở Somalia. Cuộc chiến vẫn chưa kết thúc. Al-Qaeda thường không giải ngân cho các cuộc tấn công và rất hiếm khi thực hiện chuyển khoản. Trong những năm 1990, nguồn tài chính một phần đến từ tài sản cá nhân của Osama bin Laden. Các nguồn thu nhập khác bao gồm buôn bán heroin và quyên góp từ những người ủng hộ ở Kuwait, Saudi Arabia và các quốc gia vùng Vịnh Hồi giáo khác. Một bức điện tín nội bộ của chính phủ Mỹ năm 2009 do WikiLeaks phát hành tuyên bố rằng "nguồn tài trợ khủng bố xuất phát từ Ả Rập Saudi vẫn là một mối quan tâm nghiêm trọng." Trong số những bằng chứng đầu tiên liên quan đến việc Ả Rập Xê-út ủng hộ al-Qaeda là cái gọi là " Chuỗi vàng ", một danh sách những kẻ tài trợ cho al-Qaeda ban đầu bị cảnh sát Bosnia thu giữ trong một cuộc đột kích năm 2002 ở Sarajevo. Danh sách viết tay đã được Jamal al-Fadl, kẻ đào tẩu al-Qaeda xác nhận, và bao gồm tên của cả những người quyên góp và thụ hưởng. Tên của Osama bin-Laden xuất hiện bảy lần trong số những người được hưởng lợi, trong khi 20 doanh nhân và chính trị gia Ả Rập Xê Út và vùng Vịnh được liệt kê trong số những người quyên góp. Các nhà tài trợ đáng chú ý bao gồm Adel Batterjee và Wael Hamza Julaidan. Batterjee được Bộ Tài chính Hoa Kỳ chỉ định là nhà tài trợ chống khủng bố vào năm 2004, và Julaidan được công nhận là một trong những người sáng lập al-Qaeda. Các tài liệu thu giữ được trong cuộc đột kích Bosnia năm 2002 cho thấy al-Qaeda đã khai thác rộng rãi các tổ chức từ thiện để hỗ trợ tài chính và vật chất cho các hoạt động của mình trên toàn cầu. Đáng chú ý, hoạt động này đã khai thác Tổ chức Cứu trợ Hồi giáo Quốc tế (IIRO) và Liên đoàn Thế giới Hồi giáo (MWL). IIRO có quan hệ với các cộng sự của al-Qaeda trên toàn thế giới, bao gồm cả cấp phó của al-Qaeda Ayman al Zawahiri. Anh trai của Zawahiri làm việc cho IIRO ở Albania và đã tích cực tuyển mộ người nhân danh al-Qaeda. MWL được lãnh đạo al-Qaeda công khai xác định là một trong ba tổ chức từ thiện mà al-Qaeda chủ yếu dựa vào các nguồn tài trợ. Cáo buộc hỗ trợ từ Qatar. Một số công dân Qatar đã bị cáo buộc tài trợ cho al-Qaeda. Những người này bao gồm Abd Al-Rahman al-Nuaimi, một công dân Qatar và là một nhà hoạt động nhân quyền, người đã thành lập tổ chức phi chính phủ (NGO) Alkarama có trụ sở tại Thụy Sĩ. Vào ngày 18 tháng 12 năm 2013, Bộ Tài chính Hoa Kỳ đã chỉ định Nuaimi là một kẻ khủng bố vì các hoạt động hỗ trợ al-Qaeda. Bộ Tài chính Mỹ cho biết Nuaimi "đã tạo điều kiện hỗ trợ tài chính đáng kể cho al-Qaeda ở Iraq, và đóng vai trò là người đối thoại giữa al-Qaeda ở Iraq và các nhà tài trợ ở Qatar". Nuaimi bị buộc tội giám sát khoản tiền 2 triệu USD chuyển giao hàng tháng cho al-Qaeda ở Iraq với vai trò trung gian giữa các sĩ quan cấp cao của al-Qaeda ở Iraq và các công dân Qatar. Nuaimi bị cáo buộc có mối quan hệ với Abu-Khalid al-Suri, đặc phái viên hàng đầu của al-Qaeda tại Syria, người đã xử lý một vụ chuyển khoản 600.000 USD cho al-Qaeda vào năm 2013. Nuaimi cũng được biết là có liên hệ với Abd al-Wahhab Muhammad 'Abd al-Rahman al-Humayqani, một chính trị gia Yemen và là thành viên sáng lập của Alkarama, người đã được Bộ Tài chính Hoa Kỳ liệt vào danh sách Khủng bố Toàn cầu được Chỉ định Đặc biệt (SDGT) vào năm 2013. Các nhà chức trách Mỹ cho rằng Humayqani đã lợi dụng vai trò của mình trong Alkarama để gây quỹ thay mặt cho al-Qaeda ở Bán đảo Ả Rập (AQAP). Một nhân vật nổi bật trong AQAP, Nuaimi cũng được cho là đã tạo điều kiện thuận lợi cho dòng vốn cho các chi nhánh của AQAP có trụ sở tại Yemen. Nuaimi cũng bị cáo buộc đầu tư tiền vào quỹ từ thiện do Humayqani chỉ đạo để cuối cùng tài trợ cho AQAP. Khoảng 10 tháng sau khi bị Bộ Tài chính Mỹ xử phạt, Nuaimi cũng bị hạn chế hoạt động kinh doanh ở Anh. Một công dân Qatar khác, Kalifa Mohammed Turki Subayi, đã bị Bộ Tài chính Hoa Kỳ trừng phạt vào ngày 5 tháng 6 năm 2008, vì các hoạt động của Subayi với tư cách là "nhà tài chính của al-Qaeda ở vùng Vịnh". Tên của Subayi đã được thêm vào Danh sách trừng phạt của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc năm 2008 với tội danh hỗ trợ tài chính và vật chất cho giới lãnh đạo cấp cao của al-Qaeda. Subayi bị cáo buộc đã chuyển các tân binh của al-Qaeda đến các trại huấn luyện ở Nam Á. Ông cũng hỗ trợ tài chính cho Khalid Sheikh Mohammed, một sĩ quan cấp cao và quốc tịch Pakistan của al-Qaeda, người được cho là chủ mưu đằng sau vụ tấn công ngày 11 tháng 9 theo báo cáo của Ủy ban 11 tháng 9. Qataris đã cung cấp hỗ trợ cho al-Qaeda thông qua tổ chức phi chính phủ lớn nhất của đất nước này, Quỹ từ thiện Qatar. Kẻ đào tẩu Al-Qaeda al-Fadl, người từng là thành viên của Tổ chức từ thiện Qatar, đã làm chứng trước tòa rằng Abdullah Mohammed Yusef, người từng là giám đốc Tổ chức từ thiện Qatar, có liên hệ với al-Qaeda và đồng thời với Mặt trận Hồi giáo Quốc gia, một nhóm chính trị đã cho thủ lĩnh al-Qaeda Osama Bin Laden cư trú ở Sudan vào đầu những năm 1990. Thủ tục pháp lý từ phiên tòa "Hoa Kỳ vs." "Enaam M. Arnaout" tiết lộ rằng Tổ chức Qatar Charity được Bin Laden trích dẫn vào năm 1993 là một trong những tổ chức từ thiện được sử dụng để hỗ trợ tài chính cho các thành viên al-Qaeda ở nước ngoài. Các tài liệu tương tự cũng báo cáo lời phàn nàn của Bin Laden rằng âm mưu ám sát thất bại của Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak đã làm tổn hại đến khả năng khai thác các tổ chức từ thiện của al-Qaeda để hỗ trợ các hoạt động của nó ở mức độ tối đa có thể trước năm 1995. Tổ chức Qatar Charity bị cáo buộc đã hỗ trợ tài chính cho các thành viên của al-Qaeda ở Chechnya. Lời buộc tội này đã bị Hamad bin Nasser al-Thani công khai phủ nhận. Qatar Charity nằm trong số các tổ chức phi chính phủ bị cáo buộc chuyển tiền đến Ansar Dine ở Bắc Mali, theo báo cáo của tình báo quân sự Pháp về sự can thiệp của Pháp vào nước này vào đầu năm 2013. Qatar tài trợ cho các doanh nghiệp của al-Qaeda thông qua chi nhánh cũ của al-Qaeda ở Syria, Jabhat al-Nusra. Nguồn tài chính chủ yếu được chuyển theo hình thức bắt cóc để đòi tiền chuộc. Tổ chức chống khủng bố tài chính (CATF) báo cáo rằng quốc gia vùng Vịnh này đã tài trợ cho al-Nusra từ năm 2013. Năm 2017, "Asharq Al-Awsat" ước tính Qatar đã giải ngân 25 triệu USD ủng hộ al-Nusra thông qua hình thức bắt cóc đòi tiền chuộc. Ngoài ra, Qatar đã thực hiện các chiến dịch gây quỹ thay mặt cho al-Nusra. Al-Nusra thừa nhận một chiến dịch do Qatar tài trợ "là một trong những cách thức ưu tiên cho các khoản quyên góp dành cho nhóm này". Khi tranh cãi về việc liệu mục tiêu của Al-Qaeda là tôn giáo hay chính trị, Mark Sedgwick mô tả chiến lược của Al-Qaeda là chính trị là mục tiêu trước mắt nhưng với mục tiêu cuối cùng là tôn giáo. Vào ngày 11 tháng 3 năm 2005, "Al-Quds Al-Arabi đã" công bố các trích đoạn từ tài liệu của Saif al-Adel "Chiến lược của Al Qaeda đến năm 2020". Abdel Bari Atwan tóm tắt chiến lược này bao gồm năm giai đoạn để loại bỏ Ummah khỏi mọi hình thức áp bức: Atwan lưu ý rằng, mặc dù kế hoạch này là không thực tế, nhưng "cần phải tỉnh táo để xem xét rằng điều này hầu như đã mô tả sự sụp đổ của Liên Xô." Theo Fouad Hussein, một nhà báo và tác giả người Jordan đã từng ngồi tù với Al-Zarqawi, chiến lược của Al Qaeda bao gồm bảy giai đoạn và tương tự như kế hoạch được mô tả trong Chiến lược của Al Qaeda đến năm 2020. Các giai đoạn này bao gồm: Theo Charles Lister của Viện Trung Đông và Katherine Zimmerman thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ, mô hình mới của al-Qaeda là "xã hội hóa các cộng đồng" và xây dựng cơ sở hoạt động rộng khắp trên lãnh thổ với sự hỗ trợ của các cộng đồng địa phương, đồng thời có được độc lập về tài chính, thêm phần tài trợ của các sheik. "The Guardian" vào năm 2009 đã mô tả 5 giai đoạn rõ rệt trong sự phát triển của al-Qaeda: sự khởi đầu của nó vào cuối những năm 1980, thời kỳ "hoang vu" vào những năm 1990–1996, "thời kỳ hoàng kim" của nó vào năm 1996–2001, thời kỳ mạng lưới từ 2001 đến 2005, và một giai đoạn phân mảnh từ năm 2005 đến năm 2009. Nguồn gốc của al-Qaeda có thể bắt nguồn từ Chiến tranh Liên Xô-Afghanistan (tháng 12 năm 1979 – tháng 2 năm 1989). Hoa Kỳ xem cuộc xung đột ở Afghanistan dưới góc độ Chiến tranh Lạnh, với một bên là những người theo chủ nghĩa Mác xít và một bên là các "mujahideen" bản địa Afghanistan. Quan điểm này đã dẫn đến một chương trình của CIA, Operation Cyclone, thực hiện chuyển tiền thông qua cơ quan Tình báo liên ngành của Pakistan đến các Mujahideen Afghanistan. Chính phủ Mỹ đã hỗ trợ tài chính đáng kể cho các chiến binh Hồi giáo Afghanistan. Viện trợ cho Gulbuddin Hekmatyar, một nhà lãnh đạo "mujahideen" Afghanistan và là người sáng lập Hezb-e Islami, lên tới hơn 600 triệu đô la Mỹ. Ngoài viện trợ của Mỹ, Hekmatyar còn là nước nhận viện trợ của Ả Rập Xê Út. Vào đầu những năm 1990, sau khi Mỹ giảm bớt hỗ trợ, Hekmatyar đã "hợp tác chặt chẽ" với bin Laden. Đồng thời, ngày càng nhiều "mujahideen" Ả Rập tham gia "cuộc thánh chiến" chống lại chế độ mácxít Afghanistan, được các tổ chức Hồi giáo quốc tế, đặc biệt là Maktab al-Khidamat (MAK) tạo điều kiện. Năm 1984, MAK được thành lập tại Peshawar, Pakistan, bởi bin Laden và Abdullah Yusuf Azzam, một học giả Hồi giáo người Palestine và là thành viên của Tổ chức Anh em Hồi giáo. MAK đã tổ chức các nhà khách ở Peshawar, gần biên giới Afghanistan, và thu thập vật tư để xây dựng các trại huấn luyện bán quân sự để chuẩn bị cho các tân binh nước ngoài tham gia chiến trường Afghanistan. MAK được tài trợ bởi chính phủ Ả Rập Xê Út cũng như bởi những người Hồi giáo cá nhân bao gồm cả các doanh nhân Ả Rập Xê Út. Bin Laden cũng trở thành một nhà tài trợ lớn cho "mujahideen", tiêu tiền của chính mình và sử dụng các mối quan hệ của mình để tác động đến dư luận về cuộc chiến. Từ năm 1986, MAK bắt đầu thiết lập một mạng lưới các văn phòng tuyển dụng tại Mỹ, trung tâm là Trung tâm Tị nạn Al Kifah tại Nhà thờ Hồi giáo Farouq trên Đại lộ Atlantic của Brooklyn. Trong số những nhân vật đáng chú ý tại trung tâm Brooklyn có "điệp viên hai mang" Ali Mohamed, người mà đặc vụ FBI Jack Cloonan gọi là "người huấn luyện đầu tiên của bin Laden", và "Blind Sheikh" Omar Abdel-Rahman, một nhà tuyển dụng "mujahideen" hàng đầu cho Afghanistan. Azzam và bin Laden bắt đầu thành lập các trại huấn luyện ở Afghanistan vào năm 1987. MAK và các tình nguyện viên "mujahideen" nước ngoài, hay "người Ả Rập Afghanistan", không đóng vai trò chính trong cuộc chiến. Trong khi hơn 250.000 "mujahideen" Afghanistan chiến đấu với Liên Xô và chính phủ cộng sản Afghanistan, người ta ước tính rằng không bao giờ có hơn 2.000 "mujahideen" nước ngoài trên chiến trường cùng một lúc. Tuy nhiên, các tình nguyện viên "mujahideen" nước ngoài đến từ 43 quốc gia, và tổng số người đã tham gia vào phong trào ở Afghanistan từ năm 1982 đến năm 1992 được báo cáo là 35.000 người. Bin Laden đóng vai trò trung tâm trong việc tổ chức các trại huấn luyện cho các tình nguyện viên Hồi giáo nước ngoài. Liên Xô rút khỏi Afghanistan vào năm 1989. Chính phủ Cộng sản Afghanistan của Mohammad Najibullah tồn tại thêm ba năm nữa, trước khi bị các chiến binh "mujahideen" đánh bại. Mở rộng hoạt động. Trước khi kết thúc sứ mệnh quân sự của Liên Xô tại Afghanistan, một số "mujahideen" nước ngoài muốn mở rộng hoạt động của họ để bao gồm các cuộc đấu tranh của chủ nghĩa Hồi giáo ở các khu vực khác trên thế giới, chẳng hạn như Palestine và Kashmir. Một số tổ chức chồng chéo và có mối quan hệ với nhau đã được thành lập, để tiếp tục phát triển những nguyện vọng đó. Một trong số này là tổ chức cuối cùng được gọi là al-Qaeda. Nghiên cứu cho rằng al-Qaeda được thành lập vào ngày 11 tháng 8 năm 1988, khi một cuộc họp ở Afghanistan giữa các thủ lĩnh của tổ chức Thánh chiến Hồi giáo Ai Cập, Abdullah Azzam và bin Laden diễn ra. Một thỏa thuận đã đạt được nhằm liên kết tiền của bin Laden với chuyên môn của tổ chức Thánh chiến Hồi giáo và tiếp nhận hoạt động thánh chiến ở nơi khác sau khi Liên Xô rút khỏi Afghanistan. Các ghi chú cho thấy al-Qaeda trở thành một nhóm chính thức vào ngày 20 tháng 8 năm 1988. Một danh sách các yêu cầu đối với tư cách thành viên bao gồm những điều sau: khả năng lắng nghe, cách cư xử tốt, vâng lời và cam kết ("bayat") làm theo lệnh cấp trên. Trong hồi ký của mình, cựu vệ sĩ của bin Laden, Nasser al-Bahri, đưa ra mô tả công khai duy nhất về nghi thức trao "bayat" khi al-Bahri thề trung thành với thủ lĩnh al-Qaeda. Theo Wright, tên thật của nhóm không được sử dụng trong các tuyên bố công khai vì "sự tồn tại của nó vẫn là một bí mật được giữ kín." Sau khi Azzam bị ám sát vào năm 1989 và MAK tan rã, một số lượng đáng kể những người theo MAK đã gia nhập tổ chức mới của bin Laden. Vào tháng 11 năm 1989, Ali Mohamed, một cựu trung sĩ lực lượng đặc biệt đóng tại Fort Bragg, Bắc Carolina, đã giải ngũ và chuyển đến California. Anh ta đã đến Afghanistan và Pakistan và trở thành người "tham gia sâu sắc vào các kế hoạch của bin Laden." Năm 1991, Ali Mohammed được cho là đã giúp dàn xếp việc đưa bin Laden tới Sudan. Chiến tranh vùng Vịnh và bắt đầu sự thù địch với Hoa Kỳ. Sau khi Liên Xô rút khỏi Afghanistan vào tháng 2 năm 1989, bin Laden trở về Ả Rập Xê Út. Cuộc xâm lược Kuwait của Iraq vào tháng 8 năm 1990 đã đặt Vương quốc và Hạ viện Saud cầm quyền vào tình thế nguy hiểm. Các mỏ dầu giá trị nhất thế giới nằm trong khoảng cách tầm với của các lực lượng Iraq ở Kuwait, và lời kêu gọi của Saddam đối với chủ nghĩa toàn Ả Rập / Hồi giáo có khả năng gây bất đồng nội bộ. Trước sự hiện diện quân sự rầm rộ của Iraq, lực lượng của Ả Rập Xê Út đã đông hơn hẳn. Bin Laden đã đề nghị "mujahideen" của mình được phục vụ cho Vua Fahd để bảo vệ Ả Rập Saudi khỏi quân đội Iraq. Quốc vương Ả Rập Xê Út từ chối lời đề nghị của bin Laden, thay vào đó chọn việc cho phép các lực lượng Mỹ và đồng minh triển khai quân đội vào lãnh thổ Ả Rập Xê Út. Việc này khiến bin Laden tức giận, vì ông ta tin rằng sự hiện diện của quân đội nước ngoài ở "vùng đất thiêng liêng của hai thánh đường Hồi giáo" (Mecca và Medina) làm nhơ bẩn vùng đất này. Sau khi lên tiếng công khai chống lại chính phủ Ả Rập Xê Út vì chứa chấp quân đội Mỹ, ông bị trục xuất và buộc phải sống lưu vong ở Sudan. Từ khoảng năm 1992 đến năm 1996, al-Qaeda và bin Laden đặt trụ sở tại Sudan theo lời mời của nhà lý thuyết Hồi giáo Hassan al-Turabi. Động thái này diễn ra sau một cuộc đảo chính Hồi giáo ở Sudan, do Đại tá Omar al-Bashir lãnh đạo, người tuyên bố cam kết sắp xếp lại các giá trị chính trị của người Hồi giáo. Trong thời gian này, bin Laden đã hỗ trợ chính phủ Sudan, mua hoặc thành lập các doanh nghiệp kinh doanh khác nhau và thành lập các trại huấn luyện. Một bước ngoặt quan trọng đối với bin Laden xảy ra vào năm 1993 khi Ả Rập Xê Út ủng hộ Hiệp định Oslo, vốn đặt ra con đường hòa bình giữa Israel và Palestine. Do bin Laden liên tục dùng ngôn ngữ tấn công vua Fahd của Ả Rập Xê Út, Fahd đã cử một phái viên đến Sudan vào ngày 5 tháng 3 năm 1994 để yêu cầu thu lại hộ chiếu của bin Laden. Quốc tịch Ả Rập Xê Út của Bin Laden cũng bị thu hồi. Gia đình bin Laden đã bị thuyết phục để cắt tiền trợ cấp 7 triệu đô la mỗi năm của Osama, và tài sản Ả Rập Xê Út của bin Laden bị đóng băng. Gia đình bin Laden đã công khai từ chối ông. Các chuyên gia tranh cãi về mức độ mà bin Laden tiếp tục thu hút được sự ủng hộ của các thành viên al-Qaeda sau đó. Năm 1993, một nữ sinh trẻ tuổi đã bị giết trong một nỗ lực bất thành nhằm cướp đi sinh mạng của thủ tướng Ai Cập, Atef Sedki. Dư luận Ai Cập phản đối các vụ đánh bom của lực lượng Hồi giáo, và cảnh sát đã bắt 280 thành viên của al-Jihad và hành quyết 6 người. Vào tháng 6 năm 1995, một nỗ lực ám sát tổng thống Ai Cập Mubarak đã dẫn đến việc trục xuất tổ chức Thánh chiến Hồi giáo Ai Cập (EIJ), và vào tháng 5 năm 1996, bin Laden bị trục xuất khỏi Sudan. Theo doanh nhân người Mỹ gốc Pakistan Mansoor Ijaz, chính phủ Sudan đã cho Chính quyền Clinton nhiều cơ hội để bắt giữ bin Laden. Các tuyên bố của Ijaz đã xuất hiện trong nhiều bài báo, bao gồm một bài đăng trên "Los Angeles Times" và một "bài đăng trên tờ The Washington Post" được viết chung với cựu Đại sứ Sudan Timothy M. Carney. Các cáo buộc tương tự đã được biên tập viên đóng góp "của Vanity Fair," và Richard Miniter, tác giả của "Losing bin Laden" đưa ra trong một cuộc phỏng vấn tháng 11 năm 2003 với "World". Tị nạn ở Afghanistan. Sau khi chế độ thân cộng sản ở Afghanistan sụp đổ vào năm 1992, Afghanistan đã không được chính phủ nào quản lý trong bốn năm và bị các cuộc đấu đá nội bộ liên tục giữa các nhóm "mujahideen" khác nhau tàn phá"." Tình hình này cho phép Taliban tái tổ chức. Taliban cũng thu hút được sự ủng hộ từ các sinh viên tốt nghiệp từ các trường Hồi giáo, được gọi là "madrassa". Theo Ahmed Rashid, 5 thủ lĩnh của Taliban đều tốt nghiệp Darul Uloom Haqqania, một madrassa ở thị trấn nhỏ Akora Khattak. Thị trấn nằm gần Peshawar ở Pakistan, nhưng trường phần lớn là những người tị nạn Afghanistan theo học. Tổ chức này phản ánh niềm tin của Salafi vào giáo lý của nó, và phần lớn kinh phí của nó đến từ các khoản đóng góp tư nhân của những người Ả Rập giàu có. Bốn trong số các thủ lĩnh của Taliban đã tham dự một madrassa được tài trợ và có ảnh hưởng tương tự ở Kandahar. Các liên hệ của Bin Laden là rửa tiền quyên góp cho các trường học này, và các ngân hàng Hồi giáo đã được sử dụng để chuyển tiền cho "một loạt" các tổ chức từ thiện đóng vai trò là các nhóm bình phong cho al-Qaeda. Nhiều người trong số các "mujahideen" sau này gia nhập Taliban đã chiến đấu cùng với nhóm Harkat i Inqilabi của lãnh chúa Afghanistan Mohammad Nabi Mohammadi vào thời điểm Nga xâm lược. Nhóm này cũng nhận được sự trung thành của hầu hết các chiến binh Ả Rập Afghanistan. Tình trạng vô luật pháp tiếp tục cho phép tổ chức Taliban đang phát triển và có kỷ luật tốt mở rộng quyền kiểm soát của nhóm đối với lãnh thổ ở Afghanistan, và tổ chức này đã thiết lập một vùng đất mà nó gọi là Các Tiểu vương quốc Hồi giáo của Afghanistan. Năm 1994, Taliban chiếm được trung tâm khu vực Kandahar, và sau khi giành được lãnh thổ nhanh chóng sau đó, Taliban đã chiếm được thủ đô Kabul vào tháng 9/1996. Năm 1996, Afghanistan do Taliban kiểm soát đã tạo ra một căn cứ hoàn hảo cho al-Qaeda. Mặc dù không chính thức hợp tác với nhau, Al-Qaeda được hưởng sự bảo vệ của Taliban và hỗ trợ chế độ Taliban trong mối quan hệ cộng sinh bền chặt đến mức nhiều nhà quan sát phương Tây gọi Tiểu vương Hồi giáo Afghanistan của Taliban là "nhà nước được tài trợ khủng bố đầu tiên trên thế giới". Tuy nhiên, tại thời điểm này, chỉ có Pakistan, Ả Rập Xê-út và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất công nhận Taliban là chính phủ hợp pháp của Afghanistan. Để đáp trả vụ đánh bom đại sứ quán Hoa Kỳ năm 1998, một căn cứ của al-Qaeda ở tỉnh Khost đã bị Hoa Kỳ tấn công trong Chiến dịch Infinite Reach. Khi ở Afghanistan, chính phủ Taliban đã giao nhiệm vụ cho al-Qaeda huấn luyện Lữ đoàn 055, một phần tử tinh nhuệ của quân đội Taliban. Lữ đoàn chủ yếu bao gồm các chiến binh nước ngoài, các cựu chiến binh từ Cuộc xâm lược của Liên Xô, và những người tuân theo hệ tư tưởng của mujahideen. Vào tháng 11 năm 2001, khi Chiến dịch Tự do Bền vững lật đổ chính quyền Taliban, nhiều chiến binh của Lữ đoàn 055 đã bị bắt hoặc bị giết, và những người sống sót được cho là đã trốn thoát tới Pakistan cùng với bin Laden. Vào cuối năm 2008, một số nguồn tin cho biết Taliban đã cắt đứt mọi quan hệ còn lại với al-Qaeda, tuy nhiên, có lý do để nghi ngờ điều này. Theo các quan chức tình báo quân sự cấp cao của Mỹ, có ít hơn 100 thành viên của al-Qaeda còn lại ở Afghanistan vào năm 2009. Thủ lĩnh Al Qaeda, Asim Omar đã bị giết tại quận Musa Qala của Afghanistan sau cuộc không kích chung giữa Mỹ và Afghanistan vào ngày 23 tháng 9, Tổng cục An ninh Quốc gia Afghanistan (NDS) xác nhận vào tháng 10 năm 2019. Trong một báo cáo công bố ngày 27 tháng 5 năm 2020, Nhóm Giám sát Hỗ trợ Phân tích và Trừng phạt của Liên Hợp Quốc tuyên bố rằng mối quan hệ Taliban-Al Qaeda vẫn bền chặt cho đến ngày nay và thêm vào đó, chính Al Qaeda cũng thừa nhận rằng tổ chức này hoạt động bên trong Afghanistan. Vào ngày 26 tháng 7 năm 2020, một báo cáo của Liên Hợp Quốc cho biết nhóm Al Qaeda vẫn đang hoạt động tại 12 tỉnh ở Afghanistan và thủ lĩnh của nó là al-Zawahiri vẫn đang đóng đô ở nước nà=""/ref và Nhóm Giám sát của Liên Hợp Quốc ước tính rằng tổng số chiến binh Al Qaeda ở Afghanistan là "từ 400 đến 600". Kêu gọi thánh chiến Salafi toàn cầu. Năm 1994, các nhóm Salafi tiến hành chủ nghĩa thánh chiến Salafi ở Bosnia bắt đầu suy tàn, và các nhóm như Thánh chiến Hồi giáo Ai Cập bắt đầu rời xa chủ nghĩa Salafi ở châu Âu. Al-Qaeda đã tham gia và nắm quyền kiểm soát khoảng 80% các tế bào vũ trang phi nhà nước ở Bosnia vào cuối năm 1995. Đồng thời, các hệ tư tưởng của al-Qaeda đã chỉ thị cho những kẻ tuyển mộ mạng lưới này tìm kiếm "những người Hồi giáo quốc tế Jihadi", những người tin rằng cực đoan "thánh chiến" phải được chiến đấu trên phạm vi toàn cầu. Al-Qaeda cũng tìm cách mở "giai đoạn tấn công" của "cuộc thánh chiến" Salafi trên toàn cầu. Các phần tử Hồi giáo Bosnia vào năm 2006 đã kêu gọi "đoàn kết với các lý tưởng Hồi giáo trên toàn thế giới", ủng hộ quân nổi dậy ở Kashmir và Iraq cũng như các nhóm chiến đấu cho một nhà nước Palestine. Năm 1996, al-Qaeda tuyên bố tổ chức "thánh chiến" nhằm trục xuất quân đội và các lợi ích nước ngoài khỏi các vùng đất mà họ coi là vùng đất Hồi giáo. Bin Laden đã đưa ra một "fatwa," mà giống như một tuyên bố công khai của kháng chiến chống Mỹ và các đồng minh, và bắt đầu với các nguồn lực tái tập trung của al-Qaeda vào các cuộc tấn công quy mô lớn, mang tính tuyên truyền. Vào ngày 23 tháng 2 năm 1998, bin Laden và Ayman al-Zawahiri, một thủ lĩnh của tổ chức Thánh chiến Hồi giáo Ai Cập, cùng với ba thủ lĩnh Hồi giáo khác, đã đồng ký kết và đưa ra "lời" kêu gọi người Hồi giáo đi giết người Mỹ và đồng minh. Dưới ngọn cờ của Mặt trận Hồi giáo Thế giới chống lại người Do Thái và quân Thập tự chinh, hai người tuyên bố: Cả bin Laden và al-Zawahiri đều không có uy tín học thuật truyền thống của Hồi giáo để đưa ra lệnh "trừng phạt (fatwa)". Tuy nhiên, họ từ chối quyền lực của "ulema" đương thời (mà họ coi là đầy tớ được trả lương của những người cai trị "jahiliyya)" và tự cho mình có quyền đó.] Al-Qaeda đã tiến hành các cuộc tấn công chống lại người Shia ở Iraq đa số nhằm kích động bạo lực giáo phái. Al-Zarqawi cố ý tuyên bố chiến tranh toàn diện với người Shiite trong khi tuyên bố chịu trách nhiệm về các vụ đánh bom nhà thờ Hồi giáo Shiite. Cùng tháng, một tuyên bố tự xưng là của Al-Qaeda ở Iraq đã bị bác bỏ là "giả". Trong một video tháng 12 năm 2007, al-Zawahiri bảo vệ Nhà nước Hồi giáo ở Iraq, nhưng lại tránh xa các cuộc tấn công nhằm vào dân thường, mà ông cho là do "những kẻ đạo đức giả và những kẻ phản bội đang tồn tại trong hàng ngũ" al-Qaeda thực hiện. Các quan chức Mỹ và Iraq cáo buộc Al-Qaeda ở Iraq cố gắng đẩy Iraq vào một cuộc nội chiến toàn diện giữa người Hồi giáo Shiite tại Iraq và người Ả Rập dòng Hồi giáo Sunni. Điều này được thực hiện thông qua một chiến dịch dàn dựng gồm các vụ thảm sát thường dân và một số cuộc tấn công khiêu khích nhằm vào các mục tiêu tôn giáo nổi tiếng. Với các cuộc tấn công bao gồm vụ đánh bom nhà thờ Hồi giáo Imam Ali năm 2003, vụ đánh bom Ngày Ashura và Karbala và Najaf năm 2004, vụ đánh bom nhà thờ Hồi giáo al-Askari đầu tiên năm 2006 ở Samarra, một loạt vụ đánh bom chết người trong một ngày khiến ít nhất 215 người thiệt mạng ở Quận của người Shiite ở thành phố Sadr, và vụ đánh bom al-Askari thứ hai vào năm 2007, Al-Qaeda ở Iraq đã kích động lực lượng dân quân người Shiite tung ra một làn sóng tấn công trả đũa, dẫn đến những vụ giết người kiểu sát thủ và khiến bạo lực giáo phái leo thang vào năm 2006. Năm 2008, các vụ đánh bom giáo phái do al-Qaeda gây ra ở Iraq đã giết chết ít nhất 42 người tại đền Imam Husayn ở Karbala vào tháng 3 và ít nhất 51 người tại một trạm xe buýt ở Baghdad vào tháng 6. Vào tháng 2 năm 2014, sau một cuộc tranh chấp kéo dài với tổ chức kế nhiệm của al-Qaeda tại Iraq, Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant (ISIS), al-Qaeda đã công khai tuyên bố cắt đứt mọi quan hệ với phân nhóm này, vốn được coi là quá tàn bạo và "ương ngạnh". Tại Somalia, các điệp viên al-Qaeda đã hợp tác chặt chẽ với phân nhóm Somali của tổ chức này, vốn được tạo ra từ nhóm al-Shabaab. Vào tháng 2 năm 2012, al-Shabaab chính thức gia nhập al-Qaeda, tuyên bố trung thành trong một đoạn video. Al-Qaeda Somalia tuyển dụng trẻ em để huấn luyện đánh bom liều chết và tuyển mộ thanh niên tham gia vào các chiến dịch chống lại người Mỹ. Tỷ lệ các cuộc tấn công ở Thế giới thứ nhất bắt nguồn từ biên giới Afghanistan-Pakistan (AfPak) đã giảm bắt đầu từ năm 2007, khi al-Qaeda chuyển sang Somalia và Yemen. Trong khi các thủ lĩnh al-Qaeda ẩn náu trong các khu vực bộ lạc dọc biên giới AfPak, các thủ lĩnh cấp trung tăng cường hoạt động ở Somalia và Yemen. Vào tháng 1 năm 2009, bộ phận của al-Qaeda ở Ả Rập Xê Út đã hợp nhất với phân nhánh Yemen của nó để thành lập tổ chức al-Qaeda ở Bán đảo Ả Rập (AQAP). Đặt trung tâm ở Yemen, nhóm này tận dụng lợi thế của nền kinh tế, nhân khẩu học và an ninh nội địa nghèo nàn của quốc gia này. Vào tháng 8 năm 2009, nhóm này đã thực hiện một vụ ám sát nhằm vào một thành viên của hoàng gia Ả Rập Xê Út. Tổng thống Obama yêu cầu Ali Abdullah Saleh đảm bảo hợp tác chặt chẽ hơn với Mỹ trong cuộc đấu tranh chống lại hoạt động ngày càng tăng của al-Qaeda ở Yemen, đồng thời hứa sẽ gửi thêm viện trợ. Các cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan đã thu hút sự chú ý của Mỹ và bỏ qua Somalia và Yemen. Vào tháng 12/2011, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta cho biết các hoạt động của Mỹ chống lại al-Qaeda "hiện đang tập trung vào các nhóm chủ chốt ở Yemen, Somalia và Bắc Phi." Al-Qaeda ở Bán đảo Ả Rập đã lên tiếng nhận trách nhiệm về vụ đánh bom năm 2009 trên Chuyến bay 253 của Northwest Airlines do Umar Farouk Abdulmutallab thực hiện. AQAP tuyên bố là Tiểu vương quốc Al-Qaeda ở Yemen vào ngày 31 tháng 3 năm 2011, sau khi chiếm được hầu hết tỉnh Abyan. Khi cuộc can thiệp quân sự do Ả Rập Xê-út lãnh đạo leo thang vào tháng 7 năm 2015, 50 dân thường đã thiệt mạng và 20 triệu người cần viện trợ. Vào tháng 2/2016, lực lượng al-Qaeda và liên quân do Ả Rập Xê-út đứng đầu đã giao tranh với phiến quân Houthi trong cùng một trận chiến. Vào tháng 8 năm 2018, "Al Jazeera" đưa tin rằng "Một liên minh quân sự chiến đấu với phiến quân Houthi đã đảm bảo các giao dịch bí mật với al-Qaeda ở Yemen và tuyển mộ hàng trăm chiến binh của nhóm nà" Hoạt động tại Hoa Kỳ. Tháng 12/1998, Giám đốc Trung tâm Chống khủng bố CIA báo cáo với Tổng thống Bill Clinton rằng al-Qaeda đang chuẩn bị tiến hành các cuộc tấn công ở Hoa Kỳ và nhóm này đang đào tạo nhân viên để cướp máy bay. Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, al-Qaeda tấn công Hoa Kỳ, cướp 4 máy bay trong nước và cố tình đâm 2 chiếc vào tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York. Chiếc máy bay thứ ba đã đâm vào phía tây của Lầu Năm Góc ở Quận Arlington, Virginia. Chiếc máy bay thứ tư đã bị rơi xuống một cánh đồng ở Shanksville, Pennsylvania. Tổng cộng, những kẻ tấn công này đã giết chết 2.977 nạn nhân và hơn 6.000 người khác bị thương. Các quan chức Hoa Kỳ lưu ý rằng Anwar al-Awlaki có tầm hoạt động đáng kể trong phạm vi Hoa Kỳ. Một cựu nhân viên FBI đã xác định Awlaki là "kẻ tuyển mộ cấp cao cho al-Qaeda", và là động lực tinh thần của nhóm. Các buổi thuyết pháp của Awlaki ở Mỹ có sự tham gia của ba trong số những kẻ không tặc vụ 11/9 và bị cáo buộc tội giết người của kẻ xả súng tại Fort Hood là Nidal Hasan. Tình báo Hoa Kỳ đã chặn được các email từ Hasan đến Awlaki trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2008 đến đầu năm 2009. Trên trang web của mình, Awlaki đã ca ngợi hành động của Hasan trong vụ xả súng Fort Hood. Một quan chức giấu tên tuyên bố có lý do chính đáng để tin rằng Awlaki "đã tham gia vào các hoạt động khủng bố rất nghiêm trọng kể từ khi rời Mỹ [năm 2002], bao gồm cả âm mưu tấn công chống lại Mỹ và các đồng minh." Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã phê chuẩn việc giết al-Awlaki có chủ đích vào tháng 4 năm 2010, biến al-Awlaki trở thành công dân Hoa Kỳ đầu tiên từng bị CIA đưa vào danh sách mục tiêu. Điều đó cần có sự đồng ý của Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ và các quan chức cho rằng việc giết người này là phù hợp vì cá nhân này gây ra mối nguy hiểm sắp xảy ra đối với an ninh quốc gia. Vào tháng 5 năm 2010, Faisal Shahzad, kẻ đã nhận tội thực hiện vụ đánh bom xe hơi ở Quảng trường Thời đại năm 2010, nói với các nhà thẩm vấn rằng anh ta "được truyền cảm hứng từ" al-Awlaki, và các nguồn tin cho biết Shahzad đã liên hệ với al-Awlaki qua Internet. Đại diện Jane Harman gọi anh ta là "kẻ khủng bố số một", và tờ "Investor's Business Daily" gọi al-Awlaki là "người đàn ông nguy hiểm nhất thế giới". Vào tháng 7 năm 2010, Bộ Tài chính Hoa Kỳ đã thêm al-Awlaki vào danh sách Những kẻ khủng bố toàn cầu được chỉ định đặc biệt, và Liên Hợp Quốc đã thêm hắn vào danh sách những cá nhân có liên hệ với al-Qaeda. Vào tháng 8 năm 2010, cha của al-Awlaki đã khởi kiện chính phủ Hoa Kỳ với Liên minh Tự do Dân sự Hoa Kỳ, thách thức lệnh giết al-Awlaki của tổ chức này. Vào tháng 10 năm 2010, các quan chức Mỹ và Anh đã liên hệ al-Awlaki với âm mưu đánh bom máy bay chở hàng năm 2010. Vào tháng 9 năm 2011, al-Awlaki đã bị giết trong một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái giết người có chủ đích ở Yemen. Vào ngày 16 tháng 3 năm 2012, có thông tin cho rằng Osama bin Laden đã có âm mưu giết Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama. Cái chết của Osama bin Laden. Vào ngày 1 tháng 5 năm 2011, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama thông báo rằng Osama bin Laden đã bị giết bởi "một nhóm nhỏ lính Mỹ" hành động theo lệnh trực tiếp, trong một hoạt động bí mật ở Abbottabad, Pakistan. Hành động đột kích này đã diễn ra tại địa điểm cách phía bắc của Islamabad. Theo các quan chức Mỹ, một đội gồm 20–25 lính SEAL của Hải quân Mỹ dưới sự chỉ huy của Bộ Chỉ huy Tác chiến Đặc biệt đã ập vào khu nhà của bin Laden bằng hai máy bay trực thăng. Bin Laden và những người đi cùng đã bị giết trong một cuộc đọ súng mà lực lượng Hoa Kỳ không có thương vong. Theo một quan chức Mỹ, cuộc tấn công này đã được thực hiện mà không có sự đồng ý của chính quyền Pakistan. Ở Pakistan, một số người được báo cáo là đã bị sốc trước sự xâm nhập trái phép của các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ. Địa điểm này cách Học viện Quân sự Pakistan ở Kakul vài dặm. Trong thông báo phát đi của mình, Tổng thống Obama nói rằng các lực lượng Hoa Kỳ đã "cẩn thận để tránh thương vong cho dân thường". Chi tiết nhanh chóng xuất hiện rằng ba người đàn ông và một phụ nữ đã bị giết cùng với bin Laden, người phụ nữ bị giết khi cô được "sử dụng làm lá chắn bởi một chiến binh nam giới". DNA từ thi thể bin Laden, so với các mẫu DNA trong hồ sơ từ người chị gái đã chết của bin Laden, đã xác nhận danh tính của bin Laden. Thi thể đã được quân đội Hoa Kỳ lấy đi và đang bị giữ lại cho đến khi, theo một quan chức Hoa Kỳ, thi thể của bin Laden được chôn cất trên biển theo truyền thống Hồi giáo. Một quan chức Mỹ nói rằng "việc tìm kiếm một quốc gia sẵn sàng tiếp nhận hài cốt của một tên khủng bố bị truy nã gắt gao nhất thế giới là rất khó khăn." Một quan chức cấp cao của Mỹ cho biết Bộ Ngoại giao Mỹ đã ban hành "Cảnh báo trên toàn thế giới" đối với những người Mỹ sau cái chết của bin Laden và các cơ sở ngoại giao của Mỹ ở khắp mọi nơi đã được đặt trong tình trạng báo động cao. Đám đông đã tụ tập bên ngoài Nhà Trắng và tại Quảng trường Thời đại của thành phố New York để ăn mừng cái chết của bin Laden. Năm 2003, Tổng thống Bashar al-Assad tiết lộ trong một cuộc phỏng vấn với một tờ báo Kuwait rằng ông nghi ngờ al-Qaeda thậm chí còn tồn tại. Ông được trích dẫn đã nói, "Có thực sự có một thực thể được gọi là al-Qaeda? Nó có ở Afghanistan không? Bây giờ nó có tồn tại không? " Ông tiếp tục nhận xét sâu hơn về bin Laden, bình luận rằng "[ông ấy] không thể nói chuyện điện thoại hoặc sử dụng Internet, nhưng ông ấy có thể hướng thông tin liên lạc đến khắp nơi trên thế giới? Điều này là phi logic." Sau các cuộc biểu tình rộng khắp diễn ra vào năm 2011, yêu cầu al-Assad phải từ chức, các nhóm liên kết với al-Qaeda và những người có cảm tình với Hồi giáo Sunni đã sớm bắt đầu tạo thành một lực lượng chiến đấu hiệu quả chống lại al-Assad. Trước Nội chiến Syria, sự hiện diện của al-Qaeda ở Syria là không đáng kể, nhưng sự phát triển của nó sau đó rất nhanh chóng. Các nhóm như Mặt trận al-Nusra, Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant đã tuyển mộ nhiều Mujahideen nước ngoài để huấn luyện và chiến đấu trong cuộc chiến dần trở thành một cuộc chiến mang tính giáo phái cao. Về mặt ý thức hệ, Nội chiến Syria đã phục vụ lợi ích của al-Qaeda khi nó tạo ra một phe đối lập chủ yếu là người Hồi giáo Sunni chống lại một chính phủ thế tục. Al-Qaeda và các nhóm chiến binh Hồi giáo Sunni theo chủ nghĩa chính thống khác đã đầu tư rất nhiều vào cuộc xung đột dân sự, đôi khi tích cực ủng hộ và hỗ trợ phe Đối lập chính thống ở Syria. Vào ngày 2 tháng 2 năm 2014, al-Qaeda tách ra khỏi ISIS và các hoạt động của nó ở Syria; tuy nhiên, trong giai đoạn 2014–15, ISIS và Mặt trận al-Nusra có vẫn có thể hợp tác đôi khi trong cuộc chiến chống lại chính phủ Syria. Al-Nusra (được Ả Rập Xê-út và Thổ Nhĩ Kỳ hậu thuẫn như một phần của Quân đội Chinh phục trong giai đoạn 2015–2017) đã thực hiện nhiều cuộc tấn công và ném bom, chủ yếu nhằm vào các mục tiêu có liên quan hoặc ủng hộ chính phủ Syria. Từ tháng 10 năm 2015, các cuộc không kích của Nga nhắm vào các vị trí do Mặt trận al-Nusra nắm giữ, cũng như các phiến quân Hồi giáo và phi Hồi giáo khác, trong khi Mỹ cũng tổ chức không kích nhằm vào al-Nusra. Vào đầu năm 2016, một tổ chức tư tưởng hàng đầu của ISIL đã mô tả al-Qaeda là "những người Do Thái thánh chiến". Vào tháng 9 năm 2014, al-Zawahiri tuyên bố al-Qaeda đang thành lập một mặt trận ở Ấn Độ để "tiến hành thánh chiến chống lại kẻ thù, giải phóng đất đai, khôi phục chủ quyền và hồi sinh Caliphate." Al-Zawahiri đã đề cử Ấn Độ làm đầu tàu cho các cuộc thánh chiến trong khu vực ở các nước láng giềng như Myanmar và Bangladesh. Động cơ của video đã bị nghi ngờ vì có vẻ như nhóm chiến binh này đang đấu tranh để duy trì sự phù hợp trong bối cảnh ISIS đang nổi bật. Chi nhánh mới được gọi là "Qaedat al-Jihad fi'shibhi al-qarrat al-Hindiya" hoặc al-Qaida ở Tiểu lục địa Ấn Độ (AQIS). Các nhà lãnh đạo của một số tổ chức Hồi giáo Ấn Độ đã bác bỏ tuyên bố của al-Zawahiri, nói rằng họ không thấy AQIS có điều gì tốt đẹp và coi đó là mối đe dọa đối với thanh niên Hồi giáo trong nước. Vào năm 2014, "Zee News" đưa tin rằng Bruce Riedel, cựu nhà phân tích CIA và là quan chức Hội đồng An ninh Quốc gia khu vực Nam Á, đã cáo buộc tình báo quân đội Pakistan và Cơ quan Tình báo Liên ngành (ISI) tổ chức và hỗ trợ Al-Qaeda tổ chức ở Ấn Độ. Pakistan phải được cảnh báo rằng nước này sẽ được đưa vào danh sách Nhà nước bảo trợ khủng bố, và rằng "Zawahiri đã quay đoạn băng tại nơi ẩn náu của hắn ở Pakistan, và nhiều người Ấn Độ nghi ngờ ISI đang giúp bảo vệ hắn." Các cuộc tấn công. Al-Qaeda đã thực hiện tổng cộng 6 cuộc tấn khủng bố lớn, bốn trong số đó là các cuộc thánh chiến chống lại Mỹ. Trong mỗi trường hợp những kẻ cầm đầu lên kế hoạch cho cuộc tấn công vào năm sau, sắp đặt các cuộc vận chuyển vũ khí và chất nổ và dùng các nhà buôn để giúp các lực lượng hành động có nơi ẩn nấp và thẻ căn cước giả. Ngày 29 tháng 12 năm 1992, hai quả bom phát nổ tại Aden, Yemen là vụ tấn công khủng bố đầu tiên của al-Qaeda. Mục tiêu đầu tiên là khách sạn Movepick và mục tiêu thứ 2 là bãi đậu xe của khách sạn Goldmohur. Các cuộc đánh bom này là sự nỗ lực loại bỏ lính Mỹ đang trên đường đến Somalia tham gia vào các nỗ lực cứu trợ nạn đói quốc tế. Trong nội bộ, Al-qaeda coi vụ đánh bom này là 1 thành công trong việc đánh đổi lính Mỹ, nhưng ở Mỹ, cuộc tấn công này ít được chú ý. Không có người Mỹ nào thiệt mạng vì lúc đó tất cả binh lính Mỹ đang ở tại 1 khách sạn khác và họ đã tới Somalia như dự định. Tuy nhiên, cũng có vài điểm đáng chú ý, đây cũng là 1 cuộc tấn công then chốt được coi là sự khởi đầu trong sự thay đổi chỉ đạo của Al- Qaeda, từ đánh lại quân đội tới sát hại dân thường. Hai người đã thiệt mạng trong cuộc đánh bom, 1 khách du lịch người Úc và 1 nhân viên khách sạn người Yemen, 7 người khác (hầu hết là người Yemen) bị thương nặng. Hai fatwa của Hồi giáo được cho là đã bị chọn bởi hầu hết kiến thức thần học của các thành viên Al-Qaeda, Mamdouh Mahmud Salim, để biện minh cho các vụ tàn sát theo luật Hồi giáo.Salim đã đề cập đến 1 đạo luật Hồi giáo nổi tiếng của Ibn Taymiyyah, một học giả thế kỷ XIII rất được tôn kính, đạo luật trừng phạt sự phản kháng dưới mọi hình thức trong các cuộc xâm lược của Mông Cổ. Vụ đánh bom trung tâm thương mại thế giới 1993. Vào năm 1993, Ramzi Yousef đã sử dụng 1 quả bom xe tải để tấn công trung tâm thương mại thế giới ở Thành phố New York. Vụ tấn công được lên kế hoặch là sẽ đánh vào tòa nhà 1 để nó đổ vào tòa nhà 2 và tất cả sẽ sụp đổ. Yousef đã hy vọng vụ tấn công này có thể cướp đi sinh mạng của 25,000 người. Các tòa nhà đã bị rung chuyển và lung lay. Và Yousef sát hại thành công 6 người (Mặc dù hắn đã làm bị thương 1,042 người khác và tổn thất về tài sản lên tới gần 300 triệu đô la Mỹ). Sau cuộc tấn công Yousef đã chạy trốn đến Pakistan và sau đó là Manila. Tại đây hắn bắt đầu phát triển các kế hoạch làm nổ tung đồng thời 1 chục chiếc máy bay của các hãng hàng không Mỹ, nhằm ám sát Giáo hoàng John Paul II và tổng thống Bill Clinton và đâm thẳng 1 chiếc máy bay cá nhân vào trụ sở của CIA. Cuối cùng hắn bị bắt giam tại Pakistan. Không có bất cứ 1 cáo trạng nào của chính phủ Mỹ đưa ra chống lại Osama bin Laden có bất kì mối liên hệ với vụ đánh bom này, nhưng Ramzi Yousef được biết rằng đã tham gia trại huấn luyện khủng bố tại Afghanistan. Sau khi hắn bị bắt, Yousef đã tuyên bố rằng sự biện minh đầu tiên của hắn cho vụ tấn công là để trừng phạt nước Mỹ vì hành động ủng hộ sự chiếm đóng của người Israel đối với khủng bố người Palestine và không đề cập tới bất kì động cơ tôn giáo nào. Cuối những năm 1990. Năm 1996, bin Laden đích thân lập âm mưu ám sát Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton khi tổng thống đang ở Manila để tham dự Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương. Tuy nhiên, các nhân viên tình báo đã chặn được một tin nhắn trước khi đoàn xe rời đi, và báo cho Cơ quan Mật vụ Hoa Kỳ. Các nhân viên sau đó đã phát hiện ra một quả bom được gắn dưới gầm cầu. Ngày 7 tháng 8 năm 1998, al-Qaeda đánh bom các đại sứ quán Mỹ ở Đông Phi, giết chết 224 người, trong đó có 12 người Mỹ. Để trả đũa, một loạt tên lửa hành trình do quân đội Mỹ phóng đi đã tàn phá một căn cứ của al-Qaeda ở Khost, Afghanistan. Al-Qaeda không hề hấn gì. Vào cuối năm 1999 và năm 2000, Al-Qaeda đã lên kế hoạch cho các cuộc tấn công trùng với thiên niên kỷ, do Abu Zubaydah chủ mưu và có sự tham gia của Abu Qatada, bao gồm vụ đánh bom các thánh địa Thiên chúa giáo ở Jordan, vụ đánh bom sân bay quốc tế Los Angeles của Ahmed Ressam, và vụ đánh bom . Vào ngày 12 tháng 10 năm 2000, các chiến binh al-Qaeda ở Yemen đã ném bom tàu khu trục tên lửa "USS Cole" trong một cuộc tấn công liều chết, giết chết 17 quân nhân Mỹ và làm hỏng con tàu khi nó nằm ngoài khơi. Lấy cảm hứng từ sự thành công của một cuộc tấn công ngang nhiên như vậy, bộ phận chỉ huy của al-Qaeda bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc tấn công trực tiếp vào Hoa Kỳ. Vụ tấn công 11 tháng 9. Cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 của al-Qaeda đã giết chết 2.977 người – 2.507 dân thường, 343 lính cứu hỏa, 72 nhân viên thực thi pháp luật và 55 quân nhân. Hai chiếc máy bay thương mại đã cố tình bay vào tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới, chiếc thứ ba vào Lầu Năm Góc và chiếc thứ tư, ban đầu nhằm vào Điện Capitol Hoa Kỳ hoặc Nhà Trắng, đã bị rơi tại một cánh đồng ở Thị trấn Stonycreek gần Shanksville, Pennsylvania. Đây cũng là cuộc tấn công nước ngoài đẫm máu nhất trên đất Mỹ kể từ cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941. Các cuộc tấn công này al-Qaeda được thực hiện bởi, hành động phù hợp với các "Fatwa" 1998 ban hành chống lại Mỹ và các đồng minh bằng những người cảm tử dưới sự chỉ huy của bin Laden, al-Zawahiri, và những người khác. Bằng chứng cho thấy các đội cảm tử do chỉ huy quân đội al-Qaeda Mohamed Atta chỉ huy là thủ phạm của các vụ tấn công, với bin Laden, Ayman al-Zawahiri, Khalid Sheikh Mohammed và Hambali là những người lập kế hoạch chủ chốt và là một phần của bộ chỉ huy quân sự và chính trị của al-Qaeda. Các thông điệp do bin Laden đưa ra sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, đã ca ngợi các cuộc tấn công và giải thích động cơ của các hành động này trong khi phủ nhận bất kỳ sự liên quan nào. Bin Laden đã hợp pháp hóa các cuộc tấn công bằng cách xác định những bất bình mà cả người Hồi giáo chính thống và Hồi giáo chủ nghĩa cảm thấy, chẳng hạn như nhận thức chung rằng Mỹ đang tích cực đàn áp những người Hồi giáo. Bin Laden tin rằng rằng Mỹ đang thảm sát những người dân Hồi giáo ở Palestine, Chechnya, Kashmir và Iraq và rằng người Hồi giáo nên giữ lại "quyền tấn công để trả thù". Bin Laden cũng tuyên bố cuộc tấn công 11/9 không nhắm vào phụ nữ và trẻ em mà nhắm vào " biểu tượng quân sự và sức mạnh kinh tế của Mỹ", mặc dù thực tế bin Laden đã lên kế hoạch tấn công vào buổi sáng khi hầu hết những người trong các mục tiêu dự định đều có mặt và do đó tạo ra số thương vong về người tối đa. Dẫn chứng đã làm sáng tỏ mục tiêu ban đầu của cuộc tấn công có thể đã là các nhà máy điện hạt nhân ở vùng biển phía đông nước Mỹ. Sau đó al-Qaeda đã thay đổi kế hoạch, vì cuộc tấn công vào các nhà máy điện được e ngại là có thể vượt quá tầm kiểm soát. Bị chỉ định là một nhóm khủng bố. Al-Qaeda được các quốc gia và tổ chức quốc tế sau coi là một nhóm khủng bố được chỉ định: với chi nhánh của Al-Qaeda tại Thổ Nhĩ Kỳ Chiến tranh chống khủng bố. Ngay sau vụ tấn công 11/9, chính phủ Mỹ đã đáp trả và bắt đầu chuẩn bị lực lượng vũ trang để lật đổ Taliban, tổ chức mà họ tin rằng đang chứa chấp al-Qaeda. Mỹ cho phép thủ lĩnh Taliban Mullah Omar cơ hội đầu hàng bin Laden và các cộng sự hàng đầu của hắn. Các lực lượng đầu tiên được đưa vào Afghanistan là các sĩ quan bán quân sự từ Bộ phận hoạt động đặc biệt tinh nhuệ của CIA (SAD). Taliban đề nghị giao nộp bin Laden cho một quốc gia trung lập để xét xử nếu Mỹ cung cấp được bằng chứng về sự đồng lõa của bin Laden trong các vụ tấn công. Tổng thống Mỹ George W. Bush đáp lại: "Chúng tôi biết ông ta có tội. Hãy lật tẩy ông ta", và Thủ tướng Anh Tony Blair cảnh báo chế độ Taliban: "Hãy giao nộp bin Laden, hoặc bạn sẽ phải giao nộp quyền lực." Ngay sau đó Mỹ và các đồng minh đã đưa quân vào Afghanistan, và cùng với Liên minh phương Bắc Afghanistan đã loại bỏ chính phủ Taliban như một phần của cuộc chiến ở Afghanistan. Do sự hỗ trợ của lực lượng đặc biệt Mỹ và lực lượng trên bộ của Liên minh phương Bắc, một số trại huấn luyện của Taliban và al-Qaeda đã bị phá hủy, và phần lớn cơ cấu hoạt động của al-Qaeda được cho là đã bị phá vỡ. Sau khi bị đuổi khỏi các vị trí chủ chốt ở khu vực Tora Bora của Afghanistan, nhiều chiến binh al-Qaeda đã cố gắng tập hợp lại ở khu vực Gardez hiểm trở của quốc gia này. Vào đầu năm 2002, al-Qaeda đã bị giáng một đòn nặng nề vào năng lực hoạt động của tổ chức này, và cuộc xâm lược Afghanistan dường như đã thành công. Tuy nhiên, một cuộc nổi dậy với lực lượng đáng kể của Taliban đã diễn ra ở Afghanistan. Các cuộc tranh luận tiếp tục liên quan đến bản chất vai trò của al-Qaeda trong vụ tấn công 11/9. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phát hành một đoạn băng ghi hình cho thấy bin Laden nói chuyện với một nhóm nhỏ cộng sự ở đâu đó ở Afghanistan không lâu trước khi Taliban bị hạ bệ. Mặc dù tính xác thực của nó đã bị một số người nghi ngờ, đoạn băng rõ ràng ám chỉ bin Laden và al-Qaeda trong vụ tấn công ngày 11 tháng 9. Cuốn băng đã được phát sóng trên nhiều kênh truyền hình, với bản dịch tiếng Anh kèm theo do Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ cung cấp. Vào tháng 9 năm 2004, Ủy ban 11/9 chính thức kết luận rằng các cuộc tấn công được lên ý tưởng và thực hiện bởi các thành viên al-Qaeda. Vào tháng 10 năm 2004, bin Laden xuất hiện để nhận trách nhiệm về các cuộc tấn công trong một đoạn băng video được phát qua Al Jazeera, nói rằng ông ta được truyền cảm hứng từ các cuộc tấn công của Israel vào các tòa nhà cao tầng trong cuộc xâm lược Lebanon năm 1982: "Khi tôi nhìn những tòa tháp bị phá hủy ở Lebanon, tôi nghĩ rằng chúng ta nên trừng phạt kẻ áp bức bằng cách tương tự và chúng ta nên phá hủy các tòa tháp ở Mỹ để chúng phải nếm trải những gì chúng ta đã nếm trải, và để chúng phải chần chừ trước khi giết hại phụ nữ và trẻ em của chúng ta." Cuối năm 2004, chính phủ Mỹ tuyên bố rằng 2/3 nhân vật cao cấp nhất của al-Qaeda từ năm 2001 đã bị CIA bắt và thẩm vấn: Abu Zubaydah, Ramzi bin al-Shibh và Abd al-Rahim al-Nashiri trong Năm 2002; Khalid Sheikh Mohammed năm 2003; và Saif al Islam el Masry năm 2004. Mohammed Atef và một số người khác bị giết chết. Phương Tây bị chỉ trích vì không thể xử lý triệt để Al-Qaeda dù đã trải qua một thập kỷ chiến tranh. Sự tham gia của Al-Qaeda ở châu Phi bao gồm một số vụ đánh bom ở Bắc Phi, đồng thời hỗ trợ các bên trong các cuộc nội chiến ở Eritrea và Somalia. Từ năm 1991 đến năm 1996, bin Laden và các thủ lĩnh al-Qaeda khác cư trú ở Sudan. Các phiến quân Hồi giáo ở Sahara tự xưng là al-Qaeda ở Maghreb Hồi giáo đã tăng cường bạo lực trong những năm gần đây. Các quan chức Pháp nói rằng phiến quân không có mối liên hệ thực sự nào với giới lãnh đạo al-Qaeda, nhưng điều này đã bị tranh chấp. Có vẻ như bin Laden đã chấp thuận tên của nhóm này vào cuối năm 2006, và phiến quân đã "tiếp nhận nhãn hiệu nhượng quyền của al Qaeda", gần một năm trước khi bạo lực bắt đầu leo thang. Tại Mali, phe Ansar Dine cũng được cho là đồng minh của al-Qaeda vào năm 2013. Phe Ansar al Dine tự liên kết với AQIM. Năm 2011, chi nhánh Bắc Phi của Al-Qaeda đã lên án nhà lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi và tuyên bố ủng hộ các phiến quân chống Gaddafi. Sau Nội chiến Libya , việc Gaddafi bị hạ bệ và giai đoạn sau đó là bạo lực hậu nội chiến ở Libya, nhiều nhóm chiến binh Hồi giáo liên kết với al-Qaeda đã có thể mở rộng hoạt động của mình trong khu vực. Cuộc tấn công Benghazi năm 2012, dẫn đến cái chết của Đại sứ Hoa Kỳ J. Christopher Stevens và ba người Mỹ khác, bị nghi ngờ là do nhiều mạng lưới Jihadist khác nhau thực hiện, chẳng hạn như Al-Qaeda ở Maghreb Hồi giáo, Ansar al-Sharia và một số. các nhóm liên kết khác của Al-Qaeda. Việc bắt giữ Nazih Abdul-Hamed al-Ruqai, một đặc vụ cấp cao của al-Qaeda bị Hoa Kỳ truy nã vì liên quan đến vụ đánh bom đại sứ quán Hoa Kỳ năm 1998, vào ngày 5 tháng 10 năm 2013, bởi Hải quân Hoa Kỳ, FBI và các nhân viên CIA minh họa cho tầm quan trọng của Hoa Kỳ và các đồng minh phương Tây khác đối với Bắc Phi. Trước vụ tấn công ngày 11 tháng 9, al-Qaeda đã hiện diện ở Bosnia và Herzegovina, và các thành viên của nó hầu hết là các cựu binh của biệt đội El Mudžahid thuộc Quân đội Hồi giáo Bosnia của Cộng hòa Bosnia và Herzegovina. Ba đặc vụ al-Qaeda đã thực hiện vụ đánh bom xe Mostar vào năm 1997. Các hoạt động này được liên kết chặt chẽ với và được tài trợ bởi Ủy ban cứu trợ cấp cao của Ả Rập Xê-út của Bosnia và Herzegovina do Hoàng tử lúc bấy giờ là Vua Salman của Ả Rập Xê-út thành lập. Trước vụ tấn công 11/9 và cuộc xâm lược Afghanistan của Mỹ, những người phương Tây từng là tân binh tại các trại huấn luyện của al-Qaeda đã được cánh quân của al-Qaeda săn lùng. Kỹ năng ngôn ngữ và kiến thức về văn hóa phương Tây thường có được trong số những tân binh đến từ châu Âu, chẳng hạn như trường hợp của Mohamed Atta, một người Ai Cập học tại Đức vào thời điểm được đào tạo, và các thành viên khác của Hamburg Cell. Osama bin Laden và Mohammed Atef sau đó đã chỉ định Atta là kẻ cầm đầu vụ không tặc 11/9. Sau các cuộc tấn công, các cơ quan tình báo phương Tây xác định rằng các phòng al-Qaeda hoạt động ở châu Âu đã hỗ trợ những kẻ không tặc về tài chính và liên lạc với giới lãnh đạo trung ương có trụ sở tại Afghanistan. Năm 2003, các phần tử Hồi giáo đã thực hiện một loạt vụ đánh bom ở Istanbul, giết chết 55 người và bị thương 700 người. 78 người đã bị chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ buộc tội. Một số người trước đây đã từng gặp bin Laden, và mặc dù họ mạnh mẽ từ chối trung thành với al-Qaeda nhưng họ vẫn yêu cầu sự phù hộ và giúp đỡ của tổ chức này. Năm 2009, ba người sống tại London, Tanvir Hussain, Assad Sarwar và Ahmed Abdullah Ali, đã bị kết tội âm mưu kích nổ bom được ngụy trang dưới dạng nước ngọt trên bảy chiếc máy bay đi Canada và Mỹ. Cuộc điều tra của MI5 liên quan đến âm mưu này kéo dài hơn một năm với công tác theo dõi được hơn hai trăm sĩ quan tiến hành. Các quan chức Anh và Mỹ cho biết âm mưu này – không giống như nhiều âm mưu tương tự của các chiến binh Hồi giáo ở châu Âu – có liên hệ trực tiếp với al-Qaeda và được các thành viên cấp cao của al-Qaeda ở Pakistan hướng dẫn. Vào năm 2012, Tình báo Nga chỉ ra rằng al-Qaeda đã đưa ra lời kêu gọi "thánh chiến trong rừng" và đã tạo ra các vụ cháy rừng lớn như một phần của chiến lược "lăng trì" (nghìn vết cắt). Thế giới Ả Rập. Sau khi thống nhất Yemen vào năm 1990, các mạng lưới Wahhabi bắt đầu chuyển những người truyền giáo vào đất nước này. Mặc dù không chắc bin Laden hoặc al-Qaeda của Ả Rập Xê Út có liên quan trực tiếp, nhưng mối quan hệ cá nhân mà họ tạo ra sẽ được thiết lập trong thập kỷ tới và được sử dụng trong vụ đánh bom USS "Cole". Mối quan tâm ngày càng tăng đối với nhóm của Al Qaeda ở Yemen. Tại Iraq, lực lượng al-Qaeda liên kết chặt chẽ với giới lãnh đạo đã nằm trong nhóm Jama'at al-Tawhid wal-Jihad do Abu Musab al-Zarqawi chỉ huy. Chuyên thực hiện các hoạt động cảm tử, họ là "động lực chủ chốt" của lực lượng nổi dậy Sunni. Mặc dù họ đóng một vai trò nhỏ trong cuộc nổi dậy nói chung, từ 30% đến 42% tổng số vụ đánh bom liều chết diễn ra trong những năm đầu là do nhóm của Zarqawi tuyên bố. Các báo cáo chỉ ra rằng những sơ suất như việc không kiểm soát được việc tiếp cận nhà máy sản xuất vũ khí Qa'qaa ở Yusufiyah đã khiến một lượng lớn đạn dược rơi vào tay al-Qaeda. Vào tháng 11 năm 2010, nhóm chiến binh Nhà nước Hồi giáo Iraq, có liên hệ với al-Qaeda ở Iraq, đã đe dọa "tiêu diệt tất cả những người theo đạo Thiên chúa ở Iraq ". Al-Qaeda bắt đầu đào tạo người Palestine vào cuối những năm 1990. Các nhóm lớn như Hamas và Thánh chiến Hồi giáo Palestine đã từ chối liên minh với al-Qaeda, vì lo ngại rằng al-Qaeda sẽ hợp tác với các phần tử tế bào của họ. Điều này có thể đã thay đổi gần đây. Các cơ quan tình báo và an ninh Israel tin rằng al-Qaeda đã tìm cách xâm nhập các lực lượng đặc nhiệm từ các Vùng lãnh thổ bị chiếm đóng vào Israel và đang chờ cơ hội để tấn công. ính đến năm 2015[ [cập nhật]], Ả Rập Saudi, Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ công khai ủng hộ Army of Conquest, một nhóm phiến loạn chiến đấu trong nội chiến Syria chống lại chính phủ Syria bao gồm Mặt trận al-Nusra (có liên kết với al-Qaeda) và một Liên minh Salafi với tên gọi Ahrar al-Sham. Bin Laden và Ayman al-Zawahiri coi Ấn Độ là một phần của âm mưu bị cáo buộc là Crusader-Zionist-Hindu chống lại thế giới Hồi giáo. Theo một báo cáo năm 2005 của Cơ quan Khảo cứu Quốc hội Hoa Kỳ, bin Laden đã tham gia huấn luyện các chiến binh cho Jihad ở Kashmir khi sống ở Sudan vào đầu những năm 1990. Đến năm 2001, nhóm chiến binh Kashmiri Harkat-ul-Mujahideen đã trở thành một phần của liên minh al-Qaeda. Theo Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR), al-Qaeda được cho là đã thiết lập các căn cứ ở Pakistan do Kashmir quản lý (ở Azad Kashmir, và ở một mức độ nào đó ở Gilgit – Baltistan) trong Chiến tranh Kargil 1999 và tiếp tục hoạt động ở đó. với sự chấp thuận ngầm của Cơ quan Tình báo Pakistan. Nhiều người trong số các chiến binh hoạt động ở Kashmir đã được đào tạo trong cùng các madrasa với các chiến binh Taliban và al-Qaeda. Fazlur Rehman Khalil của nhóm chiến binh Kashmiri Harkat-ul-Mujahideen là người ký tuyên bố năm 1998 của al-Qaeda về Jihad chống lại Mỹ và các đồng minh. Trong 'Thư gửi người dân Mỹ' (2002), bin Laden viết rằng một trong những lý do ông ta chống lại Mỹ là vì sự ủng hộ của nước này đối với Ấn Độ trong vấn đề Kashmir. Vào tháng 11 năm 2001, sân bay Kathmandu được đặt trong tình trạng báo động cao sau những lời đe dọa rằng bin Laden định cướp máy bay tại đây và đâm nó vào một mục tiêu ở New Delhi. Năm 2002, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Donald Rumsfeld, trong một chuyến công du đến Delhi, cho rằng al-Qaeda đang hoạt động ở Kashmir mặc dù ông ta không có bất kỳ bằng chứng nào. Rumsfeld đề xuất các cảm biến mặt đất công nghệ cao dọc theo Đường kiểm soát để ngăn chặn các chiến binh xâm nhập vào vùng Kashmir do Ấn Độ quản lý. Một cuộc điều tra vào năm 2002 đã tìm thấy bằng chứng cho thấy al-Qaeda và các chi nhánh của nó đang phát triển thịnh vượng ở Kashmir do Pakistan quản lý với sự chấp thuận ngầm của Cơ quan Tình báo Liên ngành của Pakistan. Năm 2002, một đội đặc biệt của Lực lượng Không quân Đặc biệt và Lực lượng Delta được cử đến Kashmir do Ấn Độ quản lý để săn lùng bin Laden sau khi nhận được báo cáo rằng hắn đang được che chở bởi nhóm chiến binh Kashmiri Harkat-ul-Mujahideen, nhóm đã chịu trách nhiệm bắt cóc miền tây. khách du lịch ở Kashmir năm 1995. Đặc vụ al-Qaeda cấp cao nhất của Anh, Rangzieb Ahmed trước đó đã chiến đấu ở Kashmir với nhóm Harkat-ul-Mujahideen và ở trong nhà tù Ấn Độ sau khi bị bắt ở Kashmir. Các quan chức Mỹ tin rằng al-Qaeda đang giúp tổ chức các cuộc tấn công ở Kashmir nhằm kích động xung đột giữa Ấn Độ và Pakistan. Chiến lược của họ là buộc Pakistan điều quân tới biên giới với Ấn Độ, qua đó giảm bớt áp lực lên các phần tử al-Qaeda đang ẩn náu ở tây bắc Pakistan. Năm 2006, al-Qaeda tuyên bố họ đã thiết lập một chi nhánh ở Kashmir. Tuy nhiên, Tướng quân đội Ấn Độ HS Panag lập luận rằng quân đội nước này đã loại trừ sự hiện diện của al-Qaeda ở Jammu và Kashmir do Ấn Độ quản lý. Panag cũng cho biết al-Qaeda có quan hệ chặt chẽ với các nhóm chiến binh Kashmiri Lashkar-e-Taiba và Jaish-e-Mohammed có trụ sở tại Pakistan. Người ta lưu ý rằng Waziristan đã trở thành chiến trường cho các chiến binh Kashmiri chiến đấu chống lại NATO ủng hộ al-Qaeda và Taliban. Dhiren Barot, người viết "Đội quân Madinah ở Kashmir" và là một đặc nhiệm của al-Qaeda bị kết án vì dính líu đến âm mưu phát nổ các tòa nhà tài chính Mỹ năm 2004, đã được đào tạo về vũ khí và chất nổ tại một trại huấn luyện chiến binh ở Kashmir. Maulana Masood Azhar, người sáng lập nhóm Jaish-e-Mohammed ở Kashmiri, được cho là đã gặp bin Laden vài lần và nhận tài trợ trực tiếp. Năm 2002, Jaish-e-Mohammed tổ chức vụ bắt cóc và sát hại Daniel Pearl trong một chiến dịch do al-Qaeda tiến hành và được bin Laden tài trợ. Theo chuyên gia chống khủng bố người Mỹ Bruce Riedel, al-Qaeda và Taliban đã tham gia chặt chẽ vào vụ cướp chuyến bay 814 của Hãng hàng không Ấn Độ đến Kandahar năm 1999, dẫn đến việc thả Maulana Masood Azhar và Ahmed Omar Saeed Sheikh khỏi một nhà tù ở Ấn Độ. Vụ không tặc này, Riedel nói, được Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ lúc bấy giờ là Jaswant Singh mô tả là một 'cuộc diễn tập trang phục' cho các cuộc tấn công ngày 11 tháng 9. Bin Laden đã đích thân chào đón Azhar và tổ chức một bữa tiệc xa hoa để vinh danh Azhar sau khi được thả. Ahmed Omar Saeed Sheikh, người từng ngồi tù vì vai trò trong vụ bắt cóc du khách phương Tây năm 1994 ở Ấn Độ, đã giết Daniel Pearl và bị kết án tử hình ở Pakistan. Đặc vụ Al-Qaeda Rashid Rauf, một trong những người bị buộc tội trong âm mưu cướp máy bay xuyên Đại Tây Dương năm 2006, có quan hệ hôn nhân với Maulana Masood Azhar. Lashkar-e-Taiba, một nhóm chiến binh Kashmiri được cho là đứng sau các vụ tấn công Mumbai năm 2008, cũng được biết là có quan hệ chặt chẽ với các thủ lĩnh cấp cao của al-Qaeda sống ở Pakistan. Cuối năm 2002, đặc vụ hàng đầu của al-Qaeda là Abu Zubaydah bị bắt khi đang được Lashkar-e-Taiba che chở trong một ngôi nhà an toàn ở Faisalabad. FBI tin rằng al-Qaeda và Lashkar đã 'gắn bó với nhau' trong một thời gian dài trong khi CIA nói rằng al-Qaeda tài trợ cho Lashkar-e-Taiba. Jean-Louis Bruguière nói với Reuters vào năm 2009 rằng "Lashkar-e-Taiba không còn là một phong trào Pakistan chỉ với một chương trình nghị sự chính trị hoặc quân sự của Kashmir. Lashkar-e-Taiba là thành viên của al-Qaeda. " Trong một video được phát hành vào năm 2008, đặc vụ cấp cao của al-Qaeda gốc Mỹ Adam Yahiye Gadahn nói rằng "chiến thắng ở Kashmir đã bị trì hoãn trong nhiều năm; đó là việc giải phóng đội quân thánh chiến ở đó khỏi sự can thiệp này, điều mà nếu Allah sẵn sàng, sẽ là bước đầu tiên tiến tới chiến thắng trước những kẻ chiếm đóng Ấn Độ giáo trên vùng đất Hồi giáo này." Vào tháng 9 năm 2009, một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Mỹ được cho là đã giết chết Ilyas Kashmiri, thủ lĩnh của Harkat-ul-Jihad al-Islami, một nhóm chiến binh Kashmiri liên kết với al-Qaeda. Kashmiri được Bruce Riedel mô tả là một thành viên 'nổi bật' của al-Qaeda trong khi những người khác mô tả Kashmiri là người đứng đầu các hoạt động quân sự của al-Qaeda. Kashmiri cũng bị Mỹ buộc tội trong một âm mưu chống lại Jyllands-Posten, tờ báo Đan Mạch vốn là trung tâm của tranh cãi về phim hoạt hình Jyllands-Posten Muhammad. Các quan chức Mỹ cũng tin rằng Kashmiri có liên quan đến vụ tấn công Trại Chapman chống lại CIA. Vào tháng 1 năm 2010, nhà chức trách Ấn Độ thông báo cho Anh về một âm mưu của al-Qaeda nhằm cướp một máy bay của hãng hàng không Ấn Độ hoặc Air India và đâm nó vào một thành phố của Anh. Thông tin này được phát hiện sau cuộc thẩm vấn Amjad Khwaja, một đặc nhiệm của Harkat-ul-Jihad al-Islami, người đã bị bắt ở Ấn Độ. Vào tháng 1 năm 2010, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates, trong chuyến thăm Pakistan, nói rằng al-Qaeda đang tìm cách gây mất ổn định khu vực và có kế hoạch kích động một cuộc chiến tranh hạt nhân giữa Ấn Độ và Pakistan. Al-Qaeda và những tổ chức kế thừa của nó đã di chuyển lên Internet để thoát khỏi sự phát hiện trong bầu không khí quốc tế tăng cường cảnh giác. Việc sử dụng Internet của nhóm ngày càng tinh vi hơn, với các hoạt động trực tuyến bao gồm tài trợ, tuyển dụng, kết nối mạng, di chuyển, quảng bá, phổ biến, thu thập và chia sẻ thông tin. Phong trào al-Qaeda của Abu Ayyub al-Masri ở Iraq thường xuyên tung ra các đoạn video ngắn ca ngợi hoạt động của những kẻ đánh bom liều chết thánh chiến. Ngoài ra, cả trước và sau cái chết của Abu Musab al-Zarqawi (cựu thủ lĩnh của al-Qaeda ở Iraq), tổ chức bảo trợ mà al-Qaeda ở Iraq trực thuộc, Hội đồng Mujahideen Shura , đều có mặt thường xuyên trên web. Phạm vi nội dung đa phương tiện bao gồm các clip huấn luyện du kích, ảnh tĩnh của các nạn nhân sắp bị sát hại, lời nói cuối cùng của những kẻ đánh bom liều chết và video thể hiện sự tham gia thánh chiến thông qua các bức chân dung cách điệu của các nhà thờ Hồi giáo và các bản nhạc. Một trang web liên kết với al-Qaeda đã đăng một đoạn video quay cảnh doanh nhân người Mỹ Nick Berg bị bắt bị chặt đầu ở Iraq. Các video và hình ảnh về việc chặt đầu khác, bao gồm cả của Paul Johnson, Kim Sun-il và Daniel Pearl, lần đầu tiên được đăng trên các trang web thánh chiến. Vào tháng 12 năm 2004, một thông điệp âm thanh tự xưng là của bin Laden đã được đăng trực tiếp lên một trang web, thay vì gửi một bản sao cho al Jazeera như đã làm trước đây. Al-Qaeda đã sử dụng Internet để phát hành các video của mình để chắc chắn rằng chúng sẽ không bị chỉnh sửa, thay vì giao video cho al Jazeera và video sẽ bị chỉnh sửa nếu có nội dung chỉ trích hoàng gia Ả Rập Xê Út. A, nhưng các nhà điều hành đã chống lại bằng cách chuyển trang web sang các máy chủ khác nhau và chuyển đổi nội dung một cách chiến lược. Chính phủ Mỹ đã buộc tội một chuyên gia công nghệ thông tin người Anh, Babar Ahmad, với tội danh khủng bố liên quan đến việc anh ta điều hành một mạng lưới các trang web al-Qaeda bằng tiếng Anh, chẳng hạn như A Liên lạc trực tuyến. Năm 2007, al-Qaeda phát hành "Mujahedeen Secrets", phần mềm mã hóa được sử dụng cho liên lạc trực tuyến và di động. Một phiên bản sau đó, "Mujahideen Secrets 2", được phát hành vào năm 2008. Mạng lưới hàng không. Al-Qaeda được cho là đang vận hành một mạng lưới hàng không bí mật bao gồm "một số máy bay Boeing 727 ", máy bay phản lực cánh quạt và máy bay phản lực cho doanh nghiệp, theo một câu chuyện của Reuters năm 2010. Dựa trên một báo cáo của Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ, câu chuyện cho biết al-Qaeda có thể đang sử dụng máy bay để vận chuyển ma túy và vũ khí từ Nam Mỹ đến các quốc gia bất ổn khác nhau ở Tây Phi. Một chiếc Boeing 727 có thể chở tới 10 tấn hàng hóa. Cuối cùng, ma túy được buôn lậu đến châu Âu để phân phối và bán, và vũ khí được sử dụng trong các cuộc xung đột ở châu Phi và có thể ở cả những nơi khác. Các tay súng có liên hệ với al-Qaeda ngày càng bắt cóc nhiều người châu Âu để đòi tiền chuộc. Lợi nhuận từ việc buôn bán ma túy và vũ khí, và số tiền thu về từ các vụ bắt cóc có thể tài trợ thêm cho các hoạt động quân sự. Các cáo buộc về sự tài trợ của CIA. Các chuyên gia tranh luận về quan điểm các cuộc tấn công của al-Qaeda là kết quả gián tiếp từ chương trình Operation Cyclone của CIA nhằm giúp đỡ các mujahideen Afghanistan. Robin Cook, Ngoại trưởng Anh từ năm 1997 đến năm 2001, đã viết rằng al-Qaeda và bin Laden là "sản phẩm của một tính toán sai lầm lớn của các cơ quan an ninh phương Tây", và "Al-Qaida, nghĩa đen là 'cơ sở dữ liệu', ban đầu là tập tin máy tính của hàng nghìn mujahideen đã được tuyển dụng và đào tạo với sự giúp đỡ của CIA để đánh bại người Nga. " Munir Akram, Đại diện thường trực của Pakistan tại Liên hợp quốc từ năm 2002 đến năm 2008, đã viết trong một bức thư đăng trên "The New York Times" ngày 19 tháng 1 năm 2008: Nhà báo của CNN Peter Bergen, Chuẩn tướng ISI người Pakistan Mohammad Yousaf, và các nhân viên CIA tham gia vào chương trình Afghanistan, chẳng hạn như Vincent Cannistraro, phủ nhận rằng CIA hoặc các quan chức Mỹ khác có liên hệ với "mujahideen" nước ngoài, hoặc bin Laden rằng họ đã trang bị, đào tạo, huấn luyện hoặc tuyên truyền tư tưởng cho họ. Trong cuốn sách "Ghost Wars" năm 2004 của mình, Steve Coll viết rằng CIA đã dự tính cung cấp hỗ trợ trực tiếp cho các "mujahideen" nước ngoài, nhưng ý tưởng đó không bao giờ vượt ra ngoài các cuộc thảo luận. Bergen và những người khác  lập luận rằng không cần thiết phải tuyển dụng người nước ngoài không quen với ngôn ngữ địa phương, phong tục hoặc cư trú của đất đai vì đã có 250,000 người Afghanistan địa phương sẵn sàng chiến đấu. Bergen lập luận thêm rằng "mujahideen" nước ngoài không cần các quỹ của Mỹ vì họ nhận được vài triệu đô la mỗi năm từ các nguồn nội bộ. Cuối cùng, ông lập luận rằng người Mỹ không thể đào tạo các "mujahideen" nước ngoài bởi vì các quan chức Pakistan sẽ không cho phép nhiều người trong số họ hoạt động ở Pakistan và không ai ở Afghanistan, và người Ả Rập Afghanistan hầu như luôn luôn là những phần tử Hồi giáo chủ chiến theo phản xạ thù địch với người phương Tây dù có hay không. những người phương Tây đã giúp đỡ những người Afghanistan theo đạo Hồi. Theo Bergen, người thực hiện cuộc phỏng vấn trên truyền hình đầu tiên với bin Laden vào năm 1997: ý tưởng rằng "CIA tài trợ cho bin Laden hoặc đào tạo bin L[là] một huyền thoại dân gian. Không có bằng chứng về điều nà, chống Mỹ và hoạt động bí mật, độc lập.. Câu chuyện thực sự ở đây là CIA không thực sự có manh mối về anh chàng này là ai cho đến năm 1996 khi họ thành lập một đơn vị để thực sự bắt đầu theo dõi anh ta. " Nhân vật đứng thứ hai của tổ chức Al Qaeda, Ayman al-Zawahiri, cũng xác nhận rằng những người Ả Rập Afghanistan không nhận được bất kỳ khoản tài trợ nào của Mỹ trong cuộc chiến ở Afghanistan. Trong cuốn sách có tên là "Knights Under the Prophet's Banner", được xuất bản vào tháng 12 năm 2001, al-Zawahiri nói rằng người Ả Rập Afghanistan được tài trợ bằng tiền từ các nguồn Ả Rập, số tiền này đến hàng trăm triệu USD: ""Trong khi Hoa Kỳ ủng hộ Pakistan và phe phái mujahidin bằng tiền bạc và vũ khí, mối quan hệ của người Ả Rập Afghanistan với Hoa Kỳ lại hoàn toàn khác"...". Abdullah Anas, người Algeria, một trong những phần tử khủng bố người Ả Rập Afghanistan và là con rể của Abdullah Azzam (một trong những người sáng lập của Al Qaeda), cũng đã xác nhận rằng CIA không hề có mối quan hệ nào với người Ả Rập Afghanistan, bao gồm cả Osama bin Laden: ""Nếu bạn nói rằng đã từng có một mối quan hệ theo nghĩa là CIA đã từng gặp người Ả Rập, thảo luận với họ, chuẩn bị kế hoạch với họ và chiến đấu với họ - thì điều đó chưa bao giờ xảy ra". Bản thân Osama bin Laden đã hơn một lần phủ nhận việc ông ta từng nhận được sự hậu thuẫn từ Hoa Kỳ, và việc Liên Xô tan rã theo ông ta "là nhờ có Chúa trời và các chiến binh mujahideen ở A", nhưng "sự sụp đổ [của Liên Xô] đã khiến Mỹ trở nên kiêu căng và ngạo mạn hơn". Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Anh Robert Fisk vào năm 1993, về sau được tổng hợp thành một bài báo đăng lên tờ Independent của Anh với tựa đề: ""Anti-Soviet warrior puts his army on the road to peace", Osama bin Laden đã tuyên bố rằng: "Cá nhân tôi cũng như những người anh em của tôi đều không thấy bất cứ dấu hiệu nào về sự giúp đỡ của người Mỹ". Trong một cuộc phỏng vấn khác với Robert Fisk vào tháng 7 năm 1996 và sau đó được đăng lên báo Independent vào năm 1997, bin Laden lại một lần nữa nhấn mạnh rằng ông ta chưa từng hợp tác với Mỹ: "chúng tôi chưa bao giờ là bạn của người Mỹ. Chúng tôi vào thời điểm đó đã biết rằng người Mỹ ủng hộ người Do Thái ở Palestine và họ là kẻ thù của chúng tôi". Các cáo buộc về sự tài trợ của Ả Rập Xê út và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất. Một báo cáo của CNN đã tiết lộ rằng Ả Rập Xê-út và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) đã chuyển giao vũ khí tinh vi do Mỹ sản xuất cho các chiến binh có liên hệ với al-Qaeda ở Yemen. Vào tháng 10 năm 2014, Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden cho biết Ả Rập Xê-út và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đã "đổ hàng trăm triệu đô la và hàng chục nghìn tấn vũ khí vào bất kỳ ai sẽ chiến đấu chống lại Al-Assad, ngoại trừ những người đang bị được cung cấp là al-Nusra, và al Qaeda, và các phần tử cực đoan thánh chiến đến từ các nơi khác trên thế giới. " Ảnh hưởng rộng hơn. Anders Behring Breivik, thủ phạm của các vụ tấn công ở Na Uy năm 2011, đã được truyền cảm hứng từ Al-Qaeda, gọi đây là "phong trào cách mạng thành công nhất trên thế giới." Trong khi thừa nhận những mục đích khác nhau, Breivik đã tìm cách "tạo ra một phiên bản Al-Qaida ở châu Âu." Phản ứng thích hợp đối với các chi nhánh Al-Qaeda là một chủ đề tranh luận. Một nhà báo đưa tin vào năm 2012 rằng một nhà hoạch định quân sự cấp cao của Mỹ đã hỏi: "Liệu chúng ta có nên sử dụng máy bay không người lái và các cuộc đột kích của Lực lượng Đặc nhiệm mỗi khi một nhóm nào đó giương cao biểu ngữ màu đen của al Qaeda không?" Chúng ta có thể tiếp tục tấn công các chi nhánh của các chi nhánh al Qaeda trên khắp thế giới trong bao lâu? " Chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo đã có từ thời Kharijites vào thế kỷ thứ 7. Từ vị trí chính trị cơ bản của họ, người Kharijites đã phát triển các học thuyết cực đoan khiến họ trở nên khác biệt với cả người Hồi giáo dòng Sunni và Shiʿa chính thống. Người Kharijites đặc biệt được chú ý vì đã áp dụng một cách tiếp cận triệt để đối với Takfir, theo đó họ tuyên bố những người Hồi giáo khác là những kẻ không tin Chúa và do vậy coi họ là đáng chết. Theo một số nguồn tin, một "làn sóng phản đối" đã hình thành chống lại al-Qaeda và các chi nhánh của nó bởi "các học giả tôn giáo, cựu chiến binh và chiến binh", những người bị báo động bởi takfir của al-Qaeda và việc tổ chức này giết người Hồi giáo ở các nước Hồi giáo, đặc biệt là ở Iraq. Noman Benotman, một cựu chiến binh của Nhóm Chiến đấu Hồi giáo Libya (LIFG), đã công khai bằng một bức thư ngỏ chỉ trích Ayman al-Zawahiri vào tháng 11 năm 2007, sau khi thuyết phục các nhà lãnh đạo cấp cao bị cầm tù của nhóm cũ của anh ta tham gia vào các cuộc đàm phán hòa bình với chế độ Libya. Trong khi Ayman al-Zawahiri tuyên bố có liên kết của nhóm với al-Qaeda vào tháng 11 năm 2007, chính phủ Libya đã thả 90 thành viên của nhóm này ra khỏi tù vài tháng sau khi "họ được cho là đã từ bỏ bạo lực." Năm 2007, nhân kỷ niệm vụ tấn công ngày 11 tháng 9, sheikh Ả Rập Xê Út Salman al-Ouda đã gửi lời quở trách cá nhân tới bin Laden. Al-Ouda, một học giả tôn giáo và là một trong những cha đẻ của Sahwa, phong trào thức tỉnh chủ nghĩa chính thống tràn qua Ả Rập Saudi vào những năm 1980, là một nhà phê bình được kính trọng rộng rãi đối với chủ nghĩa thánh chiến. Al-Ouda nói chuyện với thủ lĩnh của al-Qaeda trên truyền hình, và hỏi ông ta: Theo các cuộc thăm dò của Pew, sự ủng hộ đối với al-Qaeda đã giảm trong thế giới Hồi giáo trong những năm trước 2008. Tỷ lệ ủng hộ các vụ đánh bom liều chết ở Indonesia, Lebanon và Bangladesh đã giảm một nửa hoặc hơn trong 5 năm qua. Tại Ả Rập Xê-út, chỉ có mười phần trăm dân số đã có một cái nhìn tốt về al-Qaeda, theo một cuộc thăm dò tháng 12 năm 2017 của Terror Free Tomorrow, một think tank có trụ sở tại Washington. Năm 2007, Sayyed Imam Al-Sharif, một người Ả Rập có ảnh hưởng ở Afghanistan, "cha đỡ đầu về tư tưởng của al-Qaeda", và là người ủng hộ takfir trước đây, đã rút lại sự ủng hộ al-Qaeda với cuốn sách "Wathiqat Tarshid Al-'Aml Al-Jihadi. fi Misr w'Al-'Alam" (). Mặc dù đã từng liên kết với al-Qaeda, vào tháng 9 năm 2009, LIFG đã hoàn thành một "mã" mới cho thánh chiến, một tài liệu tôn giáo dài 417 trang có tựa đề "Nghiên cứu sửa sai". Với uy tín của tổ chức này và thực tế là một số chiến binh Jihad nổi tiếng khác ở Trung Đông đã quay lưng lại với al-Qaeda, sự đảo ngược quan điểm của LIFG có thể là một bước quan trọng để ngăn chặn việc tuyển mộ thành viên mới của al-Qaeda. Bilal Abdul Kareem, một nhà báo Mỹ có trụ sở tại Syria đã tạo ra một bộ phim tài liệu về al-Shabab, chi nhánh của al-Qaeda ở Somalia. Bộ phim tài liệu bao gồm các cuộc phỏng vấn với các thành viên cũ của nhóm, những người đã nêu lý do của họ để rời al-Shabab. Các thành viên cáo buộc phân biệt chủng tộc, thiếu ý thức tôn giáo và tham nhũng nội bộ và chủ nghĩa thiên vị. Đáp lại Kareem, Mặt trận Truyền thông Hồi giáo Toàn cầu đã lên án Kareem, gọi anh ta là kẻ nói dối và bác bỏ những cáo buộc từ các cựu chiến binh. Vào giữa năm 2014 sau khi Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant tuyên bố rằng họ đã khôi phục lại Caliphate, một tuyên bố âm thanh được phát hành bởi người phát ngôn của nhóm lúc đó là Abu Muhammad al-Adnani tuyên bố rằng "tính hợp pháp của tất cả các tiểu vương quốc, các nhóm, các tiểu bang và tổ chức trở nên vô hiệu bởi sự mở rộng quyền lực của Caliphate. " Bài phát biểu bao gồm việc bác bỏ tôn giáo đối với Al-Qaeda vì đã quá khoan dung đối với người Shiite và việc họ từ chối công nhận chính quyền của Abu Bakr al-Baghdadi, al-Adnani đặc biệt lưu ý: "Để một nhà nước trung thành với một tổ chức là không phù hợp." Ông cũng nhắc lại một trường hợp trong quá khứ, trong đó Osama bin Laden kêu gọi các thành viên al-Qaeda và những người ủng hộ trung thành với Abu Omar al-Baghdadi khi nhóm này vẫn chỉ hoạt động ở Iraq, với tư cách là Nhà nước Hồi giáo Iraq, và lên án Ayman al- Zawahiri vì đã không đưa ra yêu cầu tương tự đối với Abu Bakr al-Baghdadi. Zawahiri đang khuyến khích chủ nghĩa bè phái và chia rẽ giữa các đồng minh cũ của ISIL như Mặt trận al-Nusra.
Sự sống ngoài Trái Đất Sự sống ngoài Trái Đất là những sinh vật hay giống loài, trên các giả thuyết, tồn tại và phát triển bên ngoài Trái Đất. Hầu hết các nhà khoa học cho rằng sự sống ngoài Trái Đất nếu có tồn tại thì sự tiến hóa của nó đã xuất hiện độc lập ở nhiều nơi khác nhau trong vũ trụ. Có giả thuyết khác cho rằng sự sống ngoài Trái Đất có thể có nguồn gốc ban đầu chung, và sau đó phân tán khắp vũ trụ, từ hành tinh có thể sống được này tới hành tinh có thể sống được khác. Lại có đề xuất cho rằng nếu chúng ta tìm thấy được sự sống và nền văn minh ngoài Trái Đất gần chúng ta thì sự sống và nền văn minh đó hoặc đã phát triển hơn chúng ta rất nhiều hoặc vẫn còn rất sơ khai hơn chúng ta rất nhiều. Sinh vật ngoài Trái Đất theo suy đoán của mọi người có thể thay đổi từ dạng giống con người hay quái dị như trong phim khoa học viễn tưởng cho đến dạng sống nhỏ hơn là vi khuẩn và virus. Sinh vật ngoài Trái Đất, nhất là dạng có trí tuệ, thường ăn sâu vào văn hóa với tên gọi "người ngoài Trái Đất" hay "người ngoài hành tinh". Vài nét về sự sống ngoài Trái Đất. Các dạng sống ngoài hành tinh (như vi khuẩn) được cho rằng có tồn tại ở Hệ Mặt Trời và ở các nơi khác trong vũ trụ. Giả thuyết này dựa trên kích thước lớn và sự nghiệm đúng của các định luật vật lý trong vùng vũ trụ quan sát được. Một số nhà khoa học như Carl Sagan và Stephen Hawking cho rằng không có lý gì mà sự sống lại không thể tồn tại ở nơi nào khác ngoài Trái Đất. Lập luận này dựa trên Quan điểm Copernicus, phát biểu rằng Trái Đất không chiếm một vị trí đặc biệt nào trong vũ trụ, và mediocrity principle, phát biểu rằng Trái Đất chẳng có gì đặc biệt cả. Sự sống có thể đã nảy sinh một cách độc lập ở rất nhiều nơi trong vũ trụ, và cũng có thể được hình thành với tần suất thấp hơn, được chuyển giữa các hành tinh có thể sống được, qua giả thuyết cho rằng sự sống trên trái đất bắt nguồn từ vi sinh vật hoặc tiền thân hóa học của sự sống hiện diện trong không gian vũ trụ và có thể bắt đầu sự sống khi tiếp cận môi trường thích hợp hoặc một sự phát sinh nào đó. Ở trường hợp nào đi nữa thì, theo các mô hình giả lập máy tính, các phân tử hữu cơ phức tạp cần thiết cho sự sống có thể đã được hình thành từ các nguyên tố từ đĩa tinh vân xung quanh Mặt Trời trước khi Trái Đất được hình thành. Các nghiên cứu giả lập này cho thấy quá trình tạo dựng sự sống trên Trái Đất cũng có thể được xảy ra trên các hệ sao khác, mà có các hành tinh quay xung quanh sao chủ. Hiện nay, những nơi người ta đã tìm ra nhiều ngoại hành tinh có sự sống trong vũ trụ bao gồm Kepler 186f, Proxima Centauri b, Teegarden b, Kepler 452b, Kepler 1649c, Gliese 667C(những ngoại hành tinh có sự sống giống Trái Đất). Tháng 5 năm 2011, các nhà khoa học của NASA đã thông báo rằng Enceladus 'đang nổi lên như là một nơi có nhiều triển vọng nhất có thể có dạng sống mà chúng ta biết trong Hệ Mặt Trời'. Sự sống cũng có thể xuất hiện tại các hành tinh ngoài hệ mặt trời, như Gliese 581 c, g và d. Các hành tinh này được phát hiện có khối lượng xấp xỉ Trái Đất, chắc chắn nằm trong vùng sống được của ngôi sao mẹ, và do đó có khả năng có nước ở dạng lỏng. Tháng 12 năm 2011, các nhà khoa học làm việc với kính thiên văn vũ trụ Kepler của NASA tuyên bố đã tìm ra Kepler-22b, một hành tinh ngoài Trái Đất có vẻ như đang quay xung quanh một ngôi sao giống Mặt Trời và nằm trong vùng sống được. Hiện không có một bằng chứng thuyết phục nào cho thấy sự sống ngoài Trái Đất có tồn tại; tuy nhiên, một vài trong số đó đang gây tranh cãi. Một số người tin rằng một vài vật thể bay không xác định có nguồn gốc ngoài hành tinh (xem các Giả thuyết ngoài hành tinh), cùng với các tuyên bố về sự bắt cóc ngoài hành tinh, bị gạt bỏ bởi hầu hết các nhà khoa học. Phần lớn các sự kiện nhìn thấy UFO được giải thích là đã nhìn thấy một vật thể bay thuộc Trái Đất hoặc một vật thể thiên văn, hoặc là một trò lừa. Khả năng tồn tại sự sống ngoài Trái Đất. Theo sinh học vũ trụ. Tất cả sự sống trên Trái Đất đều có cơ sở từ nguyên tố carbon với nước làm dung môi, trong đó xảy ra các quá trình hóa sinh. Sự sống ngoài Trái Đất cũng có thể sử dụng các thành phần này. Tuy nhiên, các nguyên tố và dung môi khác cũng có thể làm cơ sở cho sự sống. Silicon có vẻ thay thế tương tự cho carbon về điều này, mặc dù vẫn chưa chắc chắn lắm. Có giả thuyết cho rằng sự sống dạng silicon có thể tồn tại được ở nhiệt độ cao, chẳng hạn trong các hành tinh gần sao chủ của chúng hơn. Dạng sống dựa vào nguồn ammoniac thay vì nước cũng đã được đưa ra xem xét nhưng hiếm khi hơn. Không loại trừ có thể tìm thấy nguyên tố khác trong vũ trụ có cách phản ứng tương tự như carbon hay hoàn toàn mới, và xa hơn nữa, có thể sự sống ngoài Trái Đất, ngoài các dạng phụ thuộc vào các phản ứng hóa học còn có dạng chỉ phụ thuộc vào các hiện tượng vật lý. Bên cạnh các nguyên tố và dung môi, sự sống còn cần tới nguồn năng lượng. Năng lượng từ một ngôi sao ở gần là rõ ràng hơn cả nhưng không phải duy nhất. Năng lượng địa nhiệt của một hành tinh có thể cung cấp cho sự sống dưới bề mặt và trong lòng đại dương. Giả thuyết về hình thái và tiến hóa. Cùng với khả năng tồn tại sự sống ngoài Trái Đất về phương diện hóa học, vẫn còn có câu hỏi hóc búa về tiến hóa và hình thái. Sinh vật ngoài Trái Đất có thể có hình dạng như thế nào? Khoa học viễn tưởng đã thể hiện điều này từ lâu theo hai hướng: rất nhân tính giống con người hoặc (thường trong trường hợp nói về sự xâm lược hung ác) dạng như bò sát. Sinh vật ngoài Trái Đất mô tả từ xa xưa có da xanh sáng hoặc xám, với cái đầu to, bốn chi rõ rệt và bốn tới năm ngón chi- ví dụ, về cơ bản giống con người với một bộ não to ám chỉ trí tuệ khủng khiếp. Khoa học viễn tưởng cũng hình dung về các dạng sinh vật ngoài Trái Đất khác như giống thú vật hoặc côn trùng. Niềm tin vào sự sống ngoài Trái Đất. Tư tưởng cổ đại và cận đại. Niềm tin vào sự tồn tại của sự sống ngoài Trái Đất có lẽ đã có từ thời Ai Cập, Babylon và Sumer cổ, mặc dù trong các xã hội đó, các lý thuyết về nguồn gốc vũ trụ coi vũ trụ là siêu nhiên và hình tượng sinh vật ngoài Trái Đất khó phân biệt được với chúa, quỷ... Người phương Tây đầu tiên có lý luận hệ thống về vấn đề này là Thales và học trò của ông Anaximander, thế kỷ thứ 7 và 6 trước Công Nguyên. Thales cho rằng vũ trụ đầy các hành tinh và vì vậy, có thể có sự sống ngoài Trái Đất. Thuyết nguyên tử Ai Cập cho rằng một vũ trụ vô tận có thể có vô số thế giới có người ở. Các công trình vũ trụ học Hy Lạp cổ chống lại ý tưởng về sự sống ngoài Trái Đất, tuy vậy thuyết vũ trụ địa tâm dành đặc quyền cho Trái Đất và sự sống trên Trái Đất, "dường như" có phần diễn tả rằng sự sống ngoài Trái Đất là có thể tồn tại. Khi Thiên chúa giáo trải rộng quyền lực khắp châu Âu, mọi lý luận trở nên giáo điều, mặc dù nhà thờ không có tuyên bố chính thức nào về sinh vật ngoài Trái Đất thì tư tưởng chính thống giáo vẫn lưu truyền từ đời này qua đời khác. Năm 1277, giám mục Paris là Etienne Tempier có quan điểm đối lập với Aristotle ở chỗ: Chúa có thể đã tạo ra hơn một thế giới. Tuy vậy, chỉ khi việc phát minh ra kính viễn vọng và tư tưởng của Nicolaus Copernicus trong thuyết vũ trụ nhật tâm, Trái Đất mới thực sự được biết tới là một hành tinh đơn thuần trong vô số thiên thể vũ trụ, sự sống ngoài Trái Đất dần hướng tới cái nhìn khoa học. Vào thế kỷ 16, Giordano Bruno cho rằng vũ trụ vô tận và mọi ngôi sao đều được các hành tinh của nó bao quanh. Đầu thế kỷ 17, nhà thiên văn học người Tiệp là Antonín Maria Sírek of Reity nghĩ rằng: "nếu Sao Mộc có... người ở... thì họ chắc hẳn to lớn và đẹp hơn cư dân Trái Đất, hoàn toàn cân xứng với mẫu tiêu chuẩn hai vòng tròn." Sinh vật ngoài Trái Đất với thời hiện đại. Niềm tin vào sự sống ngoài Trái Đất tiếp tục kéo dài tới thế kỷ 20. Quả thật vậy, khoảng ba thế kỷ sau cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, đầu thời kỳ con người hiện đại tìm hiểu bản chất Hệ Mặt Trời, nhiều nhà thiên văn học và các tác giả lý luận khác, ít nhất là một số người theo tôn giáo, cũng như đa số công chúng đều tin rằng sự tồn tại của sinh vật ngoài Trái Đất là hoàn toàn có thật. Xu thế này cuối cùng cũng bị chững lại sau các cuộc thăm dò không gian: Mặt Trăng rõ ràng bị loại ra khỏi danh sách, trong khi Sao Kim và Sao Hỏa - hai ứng cử viên sáng giá cho sự sống ngoài Trái Đất hiện tại - cho thấy không có bằng chứng rõ ràng. Các Mặt Trăng trong của Hệ Mặt Trời đã được viếng thăm, cũng không có dấu hiệu sự sống mặc dù đã quan sát thấy các hoạt động địa chất thú vị (núi lửa trên Mặt Trăng Io, bầu khí quyển dày của Mặt Trăng Titan, biển trên Mặt Trăng Europa) đã giảm hi vọng tìm thấy một tiềm năng cho sự sống ngoài Trái Đất. Cuối cùng, sự thất bại của chương trình SETI trong việc dò tìm tín hiệu radio của nền văn minh có trí tuệ khác, sau bốn thập kỷ nỗ lực đã đẩy niềm lạc quan từ đầu kỷ nguyên vũ trụ xuống vực thẳm và là cơ hội cho mọi người chỉ trích: tìm kiếm sinh vật ngoài Trái Đất là hành động phản khoa học. Tóm lại, viễn cảnh về những nền văn minh có trí tuệ du hành khắp nơi trong không gian vũ trụ trong Hệ Mặt Trời đối với các nhà khoa học thật mơ hồ. Nhưng trong khi đó, dữ liệu truyền về từ các cuộc thăm dò không gian và các tiến bộ trong phương pháp tìm kiếm được khoa học chấp nhận cũng vẽ ra một viễn cảnh về tiêu chuẩn mới về tiềm năng có thể có sự sống trên các hành tinh khác, ít nhất thì cũng còn rất rất nhiều hành tinh khác, mặc dù sinh vật ngoài Trái Đất có tồn tại hay không vẫn là câu hỏi hóc búa. Hiện nay, nhiều người đam mê lĩnh vực này vẫn tin rằng sinh vật ngoài Trái Đất đã và vẫn thường viếng thăm Trái Đất. Một số người nghĩ rằng vật thể bay không xác định (UFO) (unidentified flying object) quan sát thấy trên bầu trời thực tế là hình ảnh của phi thuyền của sinh vật ngoài Trái Đất và thậm chí còn tuyên bố là đã từng gặp người ngoài Trái Đất. Vòng tròn đồng ruộng cũng được cho là do hành động của sinh vật ngoài Trái Đất mặc dù nhiều hình về sau đã phát hiện là giả mạo. Khả năng tồn tại sự sống dạng nguyên thủy (vi sinh vật) ngoài Trái Đất ít gây tranh cãi hơn mặc dù hiện nay không có bằng chứng trực tiếp nào được tìm thấy. Có bằng chứng gián tiếp về sự tồn tại sự sống nguyên thủy trên Sao Hỏa, tuy vậy, kết luận cuối cùng từ bằng chứng này vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Tìm kiếm sự sống ngoài Trái Đất. Công việc tìm kiếm sự sống ngoài Trái Đất đang được tiến hành theo hai hướng khác nhau: trực tiếp và gián tiếp. Tìm kiếm trực tiếp. Các nhà khoa học đang tìm kiếm chứng cứ cho sự tồn tại của dạng sống đơn bào trong Hệ Mặt Trời, trong đó đáng chú ý là bề mặt Sao Hỏa và các sao băng đã rơi xuống Trái Đất. Có một nhiệm vụ thực thi trên Europa, một trong những vệ tinh của Sao Mộc với lớp nước dưới bề mặt, có thể có sự sống. Có một số bằng chứng hạn chế cho thấy sự sống dạng vi khuẩn có thể tồn tại hoặc đã từng tồn tại trên Sao Hỏa. Một thí nghiệm do tàu Viking ghi nhận khí gas bốc ra từ đất Sao Hỏa bị nung nóng có thể thích hợp với sự xuất hiện của một số vi khuẩn. Tuy vậy, sự thiếu chứng cứ vững chắc từ các cuộc thí nghiệm khác trên tàu Viking cho thấy đó là do phản ứng hóa học vô sinh thì hợp lý hơn. Việc giải thích có thể dẫn đến nhiều tranh luận. Độc lập với mọi thí nghiệm nói trên, năm 1996, những cấu trúc giống như vi khuẩn đã được khám phá trên thiên thạch ALH84001, tạo thành từ đá bắn ra từ Sao Hỏa. Báo cáo này cũng gây ra nhiều tranh luận. Tháng 2 năm 2005, các nhà khoa học NASA đã báo cáo rằng họ tìm thấy chứng cứ có sức thuyết phục về sự tồn tại của sự sống trên Sao Hỏa. Hai nhà khoa học, Carol Stoker và Larry Lemke căn cứ vào dấu vết methan tìm thấy trong khí quyển Sao Hỏa tương tự như sản phẩm methan của một số dạng vi sinh vật trên Trái Đất, ví dụ như những hiểu biết của chúng ta về cuộc sống nguyên thủy gần sông Rio Tinto ở Tây Ban Nha. Các công chức của NASA đã bác bỏ khẳng định của nhiều nhà khoa học, và Stoker đã từ bỏ khẳng định ban đầu của mình. Mặc dù các bằng chứng vẫn còn gây tranh cãi và vẫn còn có sự bất đồng giữa các nhà khoa học với nhau nhưng niềm tin rằng có tồn tại sự sống trên Sao Hỏa vẫn ngày càng lớn dần. Một cuộc khảo sát thông thường được tiến hành tại một hội nghị của Cơ quan vũ trụ châu Âu cho thấy rằng, 75% các nhà khoa học có mặt được ghi nhận là tin rằng đã từng một lần có sự sống trên Sao Hỏa; 25% các nhà khoa học tin rằng vẫn còn sự sống trên Sao Hỏa. Giả thuyết Gaia cho rằng mọi hành tinh với lượng dân cư lớn sẽ có khí quyển không trong trạng thái cân bằng, mà ở có thể phát hiện tương đối dễ dàng bằng quang phổ dù ở một vị trí cách xa. Mặc dù vậy, những sự tiến bộ quan trọng trong việc dò tìm và phân tích ánh sáng này cần được áp dụng các hành tinh nhỏ gần hành tinh của chúng ta thì cần thiết hơn trước khi đưa vào áp dụng cho các hành tinh ngoài thái dương hệ. Tìm kiếm gián tiếp. Các nhà khoa học lập luận rằng bất kì một xã hội nào với công nghệ hiện đại trong vũ trụ cũng sẽ cần phải có sự trao đổi thông tin, liên lạc. Dự án SETI được xác định là một dự án bao gồm các cuộc tìm kiếm trong không gian bằng sóng radio mà sẽ xác định được nếu tồn tại sự sống hiện đại. Một đề xuất liên quan là người ngoài hành tinh có thể sẽ phát ra các xung động và các tín hiệu laser trong quang học kiểu quang phổ hồng ngoại; các tín hiệu laser có lợi do không bị"bẩn"khi đi chuyển đi qua ranh giới giữa các hành tinh và đồng thời có thể có lợi hơn trong viêc truyền thông tin giữa các ngôi sao. Và các cách liên lạc khác bao gồm các tín hiệu laser và các chuyến bay giữa các vì sao đã được đưa ra thảo luận và tạo ra nhiều ý kiến tranh cãi gay gắt và dường như không thế làm được, đơn vị đo biểu thị tính hiệu quả của các cách trao đổi thông tin là số lượng thông tin được trao đổi thành công với một chi phí nhất định, kết quả là tín hiệu radio được chọn làm phương pháp thích hợp nhất. Các hành tinh ngoài Hệ Mặt Trời. Các nhà thiên văn học đồng thời cũng tìm kiếm sự sống trên các hành tinh ngoài Hệ Mặt Trời, họ tin rằng có thể có hành tinh có lợi cho sự sống phát triển, ví dụ như Gliese 581 c và OGLE-2005-BLG-390Lb, nơi mà được tìm thấy có dạng tương đối giống với Trái Đất. Những phương pháp dò tìm bằng radio hiện nay đã không còn tương xứng với một cuộc tìm kiếm lớn, ví dụ như cách giải quyết với công nghệ gần đây đã không còn tương xứng với những gì chúng ta biết về các thiên thể ngoài thái dương hệ. Loại kính viễn vọng trong tương lai cần phải có khả năng cho việc nhìn các hành tinh quay xung quanh các ngôi sao, mà có thể có tồn tại sự sống (dù bằng phương pháp trực tiếp hay thông qua việc chụp ảnh bằng quang phổ giúp làm lộ ra các thông tin quan trọng như sự tồn tại của khí Oxy trong khí quyển của hành tinh đó: Có ý kiến cho rằng Alpha Centauri, chòm sao gần nhất đối với Trái Đất, có thể chứa những hành tinh có khả năng tồn tại sự sống. Vào ngày 24 tháng tư, năm 2007, các nhà khoa học thuộc đài thiên văn Nam Âu ở La Silla, Chile nói rằng họ đã tìm thấy hành tinh đầu tiên giống với Trái Đất. Hành tinh, được biết dưới cái tên Gliese 581 c, quay trong khoảng không cho phép tồn tại sự sống của ngôi sao Gliese 581, một sao lùn đỏ cách Trái Đất 20.5 Năm ánh sáng (194 ngàn tỉ km). Lúc đầu nó được cho rằng có thể có nước. Tuy nhiên, khí hậu trên Gliese 581 c đã được Weiner Volt Bloh và đội của anh mô phỏng trên máy tính tại Viện Nghiên cứu về sự ảnh hưởng khí hậu của Đức và cho kết quả là: các bon đi-oxide và methan trong khí quyển của hành tinh này có thể tạo ra được hiệu ứng nhà kính nhưng sau đó sẽ bị biến mất. Nó sẽ làm hành tinh ấm lên, vượt quá cả mức để nước có thể sôi(100 độ C/ 212 độ F), chính vì vậy nó xóa tan đi hi vọng có thể tồn tại sự sống trên hành tinh này. Hiện giờ các nhà khoa học chuyển sang theo dõi Gliese 581 d, hành tinh mà chỉ nằm sát vùng có thể sống của một ngôi sao. Vào ngày 29 tháng năm năm 2007, the Associated Press công bố một bản báo cáo rằng các nhà khoa học đã tìm thấy 28 thiên thể dạng hành tinh ngoài hệ mặt trời. Một trong số các hành tinh mới được phát hiện này được cho rằng có rất nhiều điểm giống với Sao Hải Vương. Sự sống ngoài Trái Đất trong Hệ Mặt Trời. Nhiều thiên thể trong Hệ Mặt Trời được cho là dường như có sự sống. Trong danh sách dưới đây, ba trong số năm thiên thể là vệ tinh, và được cho là có chứa chất lỏng trong lòng đất, nơi mà sự sống có thể giống như dưới biển sâu. Nhiều thiên thể khác cũng được cho là có dấu hiệu sự sống dạng vi sinh vật. Ví dụ có giả thuyết cho là có sự sống trong khí quyển của Sao Kim hay có thể tồn tại sự sống trên các sao chổi, giống như một vài loại vi trùng trên Trái Đất sống sót thành công theo như một cuộc nghiên cứu Mặt Trăng trong nhiều năm. Tuy vậy, không có nhiều hy vọng rằng sinh vật đa bào phức tạp có thể tồn tại được dưới các điều kiện đó.
Chúa Thánh Thần, Tin Lành gọi là Chúa Thánh Linh, là Ngôi Ba trong Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần: Cả ba Ngôi vị là một Thiên Chúa duy nhất, theo niềm tin của đại đa số các tín hữu Kitô giáo. Tân Ước có hơn 90 lần viết về Chúa Thánh Thần. Cả ba sách Tin Mừng Nhất Lãm đều khẳng định rằng xúc phạm Chúa Thánh Thần là tội lỗi không thể tha thứ. Chúa Thánh Thần có vị trí quan trọng trong các thư tín của Thánh Phaolô. Còn Thánh Tông đồ Gioan đã viết về Chúa Thánh Thần với ba danh hiệu: "Thần Khí", "Thần Chân Lý", và "Đấng An Ủi". Tân Ước miêu tả mối tương giao mật thiết giữa Chúa Thánh Thần với Chúa Giê-su trong lúc ngài sống trên đất và trong thời kỳ ngài rao giảng Phúc Âm. Hai sách Phúc Âm Luca và Mátthêu cùng bản tín điều Nicea xác tín rằng Chúa Giêsu được "hoài thai bởi Chúa Thánh Thần, và sinh bởi Đức Trinh nữ Maria". Thuật từ "Chúa Thánh Thần" ở đây không phải mang nghĩa là "vị Chúa của Thánh và Thần" nhưng gồm hai thành tố: chữ "Thánh" nghĩa là mang nghĩa là "thánh thiện", "linh thiêng"; và "Thần" là "tinh thần", "tâm hồn" (hoặc nếu dùng "Thánh Linh" thì chữ "Linh" cũng mang nghĩa tương tự là "linh hồn", "tâm hồn"). Tiếng Anh là "Holy Spirit" và nhiều ngôn ngữ khác cũng tương ứng như vậy. Thuật từ này xuất phát trong Kinh Thánh tiếng Hebrew là רוח הקודש "" và tiếng Hy Lạp là Πνεῦμα τὸ Ἅγιον "". Quan điểm của Kitô giáo. Kitô hữu tin rằng Chúa Thánh Thần là một Ngôi vị trong Ba Ngôi, bình đẳng với Chúa Cha và Chúa Con (Chúa Giêsu). Theo Tân Ước, Chúa Thánh Thần là Đấng dẫn dắt con người đến với Đức Tin để tiếp nhận Chúa Giê-su, ban cho họ năng lực để theo đuổi các giá trị của nếp sống Cơ Đốc. Chúa Thánh Thần ngự trong lòng tín hữu, xem họ là đền thờ của Ngài. Chúa Thánh Thần được miêu tả là "Đấng Dạy Dỗ", "Đấng Bảo Trợ" hoặc "Đấng An Ủi". Ngài dẫn dắt tín hữu vào mọi lẽ thật. Quyền năng của Chúa Thánh Thần thể hiện trong đời sống của Kitô hữu, theo quan điểm Kitô giáo, sản sinh những kết quả tích cực được gọi là "Hoa quả của Chúa Thánh Thần". Kitô hữu tin rằng Chúa Thánh Thần là Đấng ban cho họ các loại ân tứ (khả năng) khác nhau như nói tiên tri, nói các thứ tiếng, khả năng chữa bệnh, sự hiểu biế(một số người cho rằng sự ban cho này đã dừng lại kể từ sau thời Tân Ước). Tuy vậy, phần lớn Kitô hữu tin rằng các ơn sủng ấy vẫn tiếp tục được ban cho, đặc biệt là các ơn hữu ích cho việc gây dựng Giáo hội như khả năng thi hành mục vụ, giảng dạy, làm việc từ thiện, lãnh đạo, và lòng nhân ái. Trong một số giáo phái, trải nghiệm nhận lãnh Chúa Thánh Linh được gọi là "được xức dầu". Theo truyền thống Nhạc Phúc Âm của người Mỹ gốc Phi, trải nghiệm này thường được nhắc đến như là "nhận lãnh phước hạnh". Kitô hữu tin rằng Chúa Giê-su đã báo trước về Chúa Thánh Thần như là "Đấng Bảo Trợ". Sau khi sống lại, Đức Giê-su bảo cho các môn đồ biết rằng họ cần được "làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần" và nhờ đó họ sẽ nhận lãnh năng lực siêu nhiên. Lời hứa này đã được ứng nghiệm qua những diễn biến được ký thuật trong chương thứ hai của Sách Công vụ Tông đồ. Ấy là trong ngày Lễ Ngũ Tuần ("Pentecost") đầu tiên, các môn đồ của Đức Giê-su, khi đang nhóm lại với nhau tại Jerusalem, đột nhiên nghe tiếng gió thổi mạnh, và xuất hiện những lưỡi bằng lửa đậu trên từng người. Các môn đồ bắt đầu rao giảng Tin Mừng cho một đám đông với nhiều sắc dân khác nhau bằng chính ngôn ngữ của các sắc dân ấy. Trong Phúc Âm của mình, Thánh Gioan Tông đồ không tập chú vào những gì Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Giê-su, nhưng nhấn mạnh vào sự kiện Chúa Giê-su ban Chúa Thánh Thần cho các môn đồ. Học thuyết này của vị Tông đồ, có ảnh hưởng sâu đậm trên tiến trình hình thành thuyết Ba Ngôi, nhìn xem Chúa Giê-su là Chiên Con được hiến tế, đến thế gian để ban Thánh Thần của Thiên Chúa cho nhân loại. Dù có văn phong tương tự với tác giả ba sách Phúc Âm còn lại khi miêu tả sự kiện Chúa Giê-su nhận lãnh Thánh Thần, Thánh Gioan ký thuật sự kiện này với chủ tâm giúp độc giả hiểu rằng Chúa Giêsu nhận lãnh Thánh Thần với mục đích ban Thánh Thần cho người theo Chúa Giê-su, nhờ vậy mà họ có thể hiệp nhất với Ngài, ở trong Ngài và vì vậy họ cũng hiệp nhất với Chúa Cha. (Xem "Tin Mừng theo Thánh Gioan", chương nói về "Pneumatology", tác giả Raymond Brown). Theo Thánh sử Tông đồ Gioan, nhận lãnh Chúa Thánh Thần có nghĩa là nhận lãnh sự sống vĩnh cửu, sự thông hiểu về Thiên Chúa, năng lực để vâng phục, để tương giao với người khác và tương giao với Chúa Cha. Hoa quả của Chúa Thánh Thần. Ki-tô hữu tin rằng "Hoa trái của Chúa Thánh Thần" là những đức hạnh được ban cho những ai chấp nhận Chúa Thánh Thần và để quyền năng của Ngài vận hành trong đời sống của mình. Những đức hạnh này được liệt kê trong Tân Ước (Gal. 5:22): Truyền thống Công giáo cũng liệt kê 12 Hoa quả của Chúa Thánh Thần (Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo, Phần 1832): "từ thiện, vui thoả, bình an, nhẫn nại, nhân ái, từ tâm, độ lượng, hoà nhã, chung thủy, khiêm nhường, tiết chế và trinh bạch". Nhiều Kitô hữu tin rằng những Hoa quả của Chúa Thánh Thần ngày càng trở nên tinh tuyền bằng cách tuân giữ Lời của Thiên Chúa ("Kinh Thánh") và bằng những trải nghiệm trong sống đạo. Nhiều Kitô hữu tin rằng họ hiệp nhất với Thiên Chúa qua Đức Giê-su Kitô, bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần là Đấng ngự trong họ. Những người khác tin rằng sự quy đạo cần đi đôi với trải nghiệm đầy dẫy Thánh Thần (xảy ra cùng lúc hoặc sau đó). Họ gọi trải nghiệm này là "phép rửa trong Chúa Thánh Thần", theo họ, đó là lúc tín hữu thể hiện các ân tứ và khả năng. Sự sống trong Chúa Thánh Thần. "Sự sống trong Chúa Thánh Thần" là thuật từ thể hiện quan điểm của các tín hữu thuộc Phong trào Tin Lành, miêu tả nếp sống Cơ Đốc dưới sự soi dẫn, và được thêm sức, bởi quyền năng của Chúa Thánh Linh. Trải nghiệm này được đề cập nhiều lần trong Kinh Thánh, cũng được triển khai bởi các nhà thần học như Tiến sĩ Gilbert Stafford trong một tác phẩm của ông, "Theology for Disciples", "Hội Thánh được ban năng lực không chỉ để gia tăng số lượng tín hữu mà còn để theo đuổi nếp sống Cơ Đốc chuẩn mực." Chúng ta cần nhận biết quyền năng của Chúa Thánh Linh vận hành trong đời sống tín hữu, trong ba khía cạnh: chịu cáo trách về tội lỗi, sự Thánh khiết trong bản chất, và năng lực để phục vụ.
Trong nhiều tôn giáo, Đấng tối cao được dành cho danh hiệu và những thuộc tính của Cha. Trong nhiều hình thức của đa thần giáo, thần linh tối thượng được nhìn nhận là "cha của các thần linh và của con người". Trong Do Thái giáo, Yaweh được gọi là Cha bởi vì Yaweh là Đấng tạo hóa, đấng ban luật pháp và là đấng bảo vệ. Trong Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa được gọi là Cha cũng vì các lý do tương tự, nhưng đặc biệt là vì mối quan hệ Cha-Con huyền nhiệm được mặc khải bởi Chúa Giê-su Ki-tô. Nhìn chung, danh hiệu Cha được áp dụng cho một thần linh nhằm biểu thị vị thần này là nguồn gốc của các tạo vật, là đấng có thẩm quyền tối thượng và là đấng che chở. Tôn giáo đa thần. Trong nhiều tôn giáo đa thần, một hoặc vài thần linh được cho là có vị trí lãnh đạo và là cha của các thần linh khác, hoặc của con người. So sánh với các tôn giáo độc thần, Chúa Cha của đa thần giáo thường được cho là có tính chất vừa lành vừa dữ. Trong tôn giáo Hi Lạp cổ đại, thần Zeus là Chúa Cha tối thượng, vừa có các phẩm chất của một người cha, vừa dính líu vào nhiều mối quan hệ ngoài hôn nhân và thường có tính khí thất thường. Tôn giáo độc thần. Trong Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo (hai trong ba tôn giáo chính thuộc độc thần giáo), Thiên Chúa được gọi là Cha, một phần vì các tôn giáo này tin rằng Chúa tích cực quan tâm đến con người theo cách người cha chăm sóc con mình. Như vậy, nhiều tín hữu độc thần giáo tin rằng họ có thể tương giao với Chúa qua sự cầu nguyện, để tôn vinh Chúa hay cầu xin Chúa. Họ trông đợi, như một người cha, Chúa thiết lập mối tương giao với nhân loại, với con cái Chúa, ngay cả sửa phạt những người hư hỏng theo cách người cha sửa dạy con mình, nhằm đem họ trở về mối tương giao tốt đẹp với Chúa: ""Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy, Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy ? Nếu anh em không được sửa dạy như tất cả mọi người, thì khi đó anh em là con ngoại hôn, chứ không phải là con chính thức"." (Hebrew 12. 7,8). Hồi giáo viết về Thượng đế: Hãy nói: Ngài là Thượng đế, là một và duy nhất, là Thượng đế (Allah), vĩnh cửu, tuyệt đối. Ngài không sinh ra ai và cũng không ai sinh ra ngài. Và không một ai giống ngài.(Sura Qur'an 112:1-4 , "Yusuf Ali") Tuy nhiên, Hồi giáo không nhìn xem Thiên Chúa (Allah) trong cương vị của người cha, theo kinh Quran: "Người Do Thái và người Cơ Đốc nói rằng ‘Chúng ta là con cái của Allah và là người ngài yêu’. Nhưng hãy nói rằng: thế thì tại sao ngài trừng phạt chúng ta vì cớ tội lỗi chúng ta? Không, chúng ta chỉ là con người sinh ra từ con người mà Ngài đã tạo dựng. Ngài tha thứ người nào ngài muốn, và trừng phạt người nào mà ngài muốn. Allah là người thống trị các tầng trời và mặt đất, và tất cả những gì ở giữa, và đến với ngài là mục đích cao nhất" (Surah 5. 18 ). Trong tôn giáo của người Do Thái, Thiên Chúa được gọi là "Cha" với tình cảm đặc thù của mối tương giao mật thiết. Thiên Chúa được xem là Cha bởi vì Chúa tạo dựng thế giới. Chúa cũng là đấng ban hành luật đạo đức với tư cách là một người cha, cũng là đấng qua giao ước duy trì mối quan hệ cha con với dân Chúa, gọi Israel là "con đầu lòng". Thiên Chúa của người Do Thái cũng là đấng che chở: Chúa được gọi là Cha của người nghèo, người mồ côi, kẻ góa bụa. Chúa là đấng bảo vệ công lý. Chúa cũng được gọi là Cha của vua chúa, đấng dạy dỗ và đấng giúp đỡ các quan trưởng của dân Do thái. Vì Kitô giáo xem mình là sự tiếp nối và hoàn chỉnh của Do Thái giáo, nên các khái niệm về Chúa Cha của người Do Thái được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng Cơ Đốc giáo. Thêm vào đó, tín hữu Cơ Đốc, nhìn xem Chúa Cha trong nội dung của giáo lý Ba Ngôi, cùng với Chúa Con và Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa Ba Ngôi ("God the Trinity"). Trong Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa được gọi là "Cha" trong ý nghĩa Chúa là đấng tạo hoá, đấng duy trì công cuộc sáng tạo và là đấng cung cấp mọi sự cần dùng cho con cái của Chúa, cho dân Chúa. Theo đức tin Kitô giáo, Chúa Cha có mối quan hệ vĩnh cửu với Con Một Thiên Chúa, Chúa Giê-su; thể hiện mối tương giao duy nhất và thân tình của bản thể Ba Ngôi: ""Không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho "." (Matthew 11. 27). Đối với tín hữu Cơ đốc, mối quan hệ giữa Chúa Cha đối với nhân loại là tình cha con. Như vậy, toàn thể nhân loại, theo nghĩa rộng, được gọi là con cái của Thiên Chúa. Theo quan điểm Cơ đốc, Thiên Chúa là đấng tạo hoá và loài người là tạo vật được Chúa dựng nên, trong ý nghĩa đó, Chúa là cha của mọi người. Tân Ước liên kết mối quan hệ này với hình ảnh của một gia đình mà Thiên Chúa là Cha: ""Chúa Cha, là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất"." (Ephesian 3. 15). Tuy nhiên, còn có một ý nghĩa sâu nhiệm hơn về mối quan hệ giữa Thiên Chúa và con người. Tín hữu Cơ Đốc tin rằng, qua Chúa Giê-su, họ được dự phần vào mối tương giao vĩnh cửu giữa Cha và Con. Tín hữu Cơ Đốc cũng tự nhận mình là con được thừa nhận: ""Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để cứu chuộc những ai sống dưới Lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử. Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự vào lòng anh em mà kêu lên: 'Abba, Cha ơi !' Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà là con cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa"." (Galatians 4. 4 –7) Thật ra, Danh Thánh của Chúa Cha là Gia-vê hay Giê-hô-va trong Kinh Thánh Cựu Ước không được nhắc đến vì nhiều nguyên do. Thường thì người ta tôn sùng và nhắc đến Chúa Giê-su nhiều hơn. Kinh Thánh Tân Ước nói: ""Lạy Cha chúng con, Đấng ngự trên trời; Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng"." (Matthew 6: 9). Chính Chúa Giê-su muốn truyền bá Danh Cha Ngài.
Chi Dành dành (danh pháp khoa học: Gardenia) là một chi của khoảng 250 loài thực vật có hoa trong họ Thiến thảo ("Rubiaceae"), có nguồn gốc ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Phi, miền nam châu Á và châu Đại Dương. Chúng là các loại cây thường xanh dạng cây bụi và các cây thân gỗ nhỏ cao từ 1–15 m. Lá của chúng mọc đối hay thành vòng của 3 đến 4 lá, dài từ 5–50 cm và rộng từ 3–25 cm, có màu lục thẫm và bóng mặt với kết cấu giống như da thuộc. Các hoa mọc đơn hay thành cụm nhỏ, có màu trắng hay vàng nhạt, với tràng hoa hình ống có 5-12 thùy hoa ('cánh hoa') đường kính 5–12 cm. Loại cây này ra hoa từ khoảng giữa mùa xuân đến giữa mùa hè và nhiều loài có mùi thơm rất mạnh. Nuôi trồng và sử dụng. Cây dành dành có mùi thơm mạnh, đặc biệt ở một số loài. Việc trồng cây dành dành cần có độ ẩm cao để phát triển. Chúng sinh trưởng tốt trên các loại đất chua có sự tưới tiêu nước tốt. Tại Nhật Bản và Trung Quốc, "Gardenia augusta" được gọi tương ứng là Kuchinashi và 梔子 (chi tử); hoa của nó được dùng làm thuốc nhuộm màu vàng, được sử dụng cho thực phẩm và quần áo.
Chi Mây đang hay chi Mây nước (danh pháp khoa học: Daemonorops) là một chi của các loài mây trong họ Cau ("Arecaceae"). Chúng được tìm thấy chủ yếu ở các vùng nhiệt đới của khu vực Đông Nam Á. Thân cây của chúng được thu hoạch để lấy phần lõi, được sử dụng để làm các đồ gia dụng từ gậy đến đồ nội thất. Quả của một số loài, cụ thể là "Daemonorops draco", tạo ra nhựa màu đỏ gọi là "máu rồng". Một số loài "Daemonorops" được biết đến vì các tính chất dược học của chúng.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Chi Mây hay chi Song mây (danh pháp khoa học: Calamus) là một chi của các loại song mây thuộc họ Cau (Arecaceae). Đây là một trong các chi thực vật được biết đến như là mây. Gồm một số loài song, hèo.
Bộ Đào kim nương Bộ Đào kim nương hay bộ Sim (theo tên gọi của chi "Rhodomyrtus"), còn gọi là bộ Hương đào (theo chi "Myrtus") (danh pháp khoa học: Myrtales) là một bộ trong thực vật có hoa lớp hai lá mầm và nhánh hoa Hồng. Bộ Myrtales chiếm khoảng 6% sự đa dạng trong thực vật hai lá mầm thật sự phần lõi. Các hóa thạch được coi là của bộ này có niên đại khoảng 65 triệu năm trước (Crepet và ctv., 2004). Các loài sâu bướm Lycaenidae được tìm thấy rất phổ biến trên các thành viên của bộ này (đặc biệt là các họ Lythraceae, Myrtaceae, Combretaceae). Vị trí của bộ Myrtales trong nhánh Hoa hồng là không ổn định trong các phân tích rbcL gần đây của thực vật hạt kín (Hilu "và ctv.", 2003). Quan hệ trong bộ cũng đã được nghiên cứu khá chi tiết trong các công trình của Conti và ctv. (1996, 1998, 1999, 2002), Sytsma và ctv. (1998, 2004), Clausing và Renner (2001: Melastomataceae), Schönenberger và Conti (2001, 2003: chủ yếu là Oliniaceae) hay Wilson và ctv. (2005: Myrtaceae nghĩa rộng) và cây phát sinh chủng loài đưa ra tại đây là dựa theo các ấn phẩm đó. Vị trí của họ Combretaceae dường như vẫn chưa rõ ràng. Berger Sytsma (2010), Bell "et al." (2010) và Soltis "et al." (2011) phát hiện một vài mức độ hỗ trợ cho vị trí chị-em với [Onagraceae + Lythraceae]. Giải phẫu (các hốc lõm che phủ), một vài đặc trưng hình thái (kiểu lá chung và cách dính) và các dữ liệu phân tử tất cả đều gợi ý mạnh mẽ rằng Vochysiaceae nên được gộp trong Myrtales, nhưng thoạt nhìn thì các hoa có cựa đơn dối xứng khác biệt của họ này là hoàn toàn không giống như hoa của các họ khác trong bộ này. Theo APG II thì bộ này chứa 11 họ với 380 chi và trên 11.000 loài. APG III công nhận 9 họ. Các họ sau là điển hình trong các phân loại mới nhất: Trong hệ thống phân loại Cronquist gần như về cơ bản có sự phân loại giống như trên, ngoại trừ họ Vochysiaceae nằm trong bộ Polygalales và họ Thymelaeaceae được đưa vào đây. Các họ Sonneratiaceae, Trapaceae và Punicaceae được loại ra khỏi họ Bằng lăng (Lythraceae), trong khi các họ Psioxylaceae và Heteropyxidaceae được cho vào họ Đào kim nương (Myrtaceae), và họ Memecyclaceae nằm trong họ Mua (Melastomataceae). Phát sinh chủng loài. Biểu đồ phát sinh chủng loài dưới đây lấy theo Wang và ctv. (2009), với tên gọi các bộ lấy từ website của Angiosperm Phylogeny.. Các nhánh với mức hỗ trợ tự khởi động thấp hơn 50% bị bỏ qua. Các nhánh khác có mức hỗ trợ 100% ngoại trừ những nơi có con số chỉ ra mức hỗ trợ cụ thể. Phát sinh chủng loài trong phạm vi bộ Đào kim nương như hình dưới đây. Myrtales có niên đại khoảng 89-99 Ma tại Australasia. Tuy nhiên, có một vài tranh luận về niên đại này, cái thu được khi sử dụng DNA hạt nhân. Khi xem xét DNA lục lạp thì dường như tổ tiên của bộ Myrtales đã tiến hóa vào giữa kỷ Creta (~ 100 Ma) tại đông nam châu Phi chứ không phải Australasia Mặc dù hệ thống APG phân loại Myrtales trong phạm vi nhánh eurosids, nhưng bộ gen công bố gần đây của "Eucalyptus grandis" lại đặt Myrtales như là nhóm chị-em với eurosids chứ không phải bên trong nó. Khác biệt này được cho là đã phát sinh do khác biệt khi sử dụng một lượng lớn các đơn vị phân loại thay vì sử dụng một lượng lớn gen để xây dựng cây phát sinh chủng loài.
Sân bay quốc tế Nội Bài Sân bay Quốc tế Nội Bài (), tên giao dịch chính thức: Cảng hàng không Quốc tế Nội Bài, là cảng hàng không Quốc tế lớn nhất của miền Bắc Việt Nam, phục vụ chính cho Thủ đô Hà Nội và vùng lân cận, thay thế cho sân bay Gia Lâm cũ. Sân bay Nội Bài là trung tâm hoạt động chính cho Vietnam Airlines, VietJet Air, Pacific Airlines, Bamboo Airways và trước kia có Indochina Airlines, Air Mekong. Sân bay Quốc tế Nội Bài thuộc huyện Sóc Sơn, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 35km theo tuyến đường bộ về phía Tây Bắc. Khoảng cách này đã được rút ngắn còn 27km khi cầu Nhật Tân và tuyến đường nối đầu cầu này với Nội Bài được hoàn thành trong năm 2015, ngoài ra còn có thể đi theo Quốc lộ 3 dẫn từ cầu Chương Dương đến ngã 3 giao cắt với Quốc lộ 2 để vào sân bay.Sân bay Quốc tế Nội Bài còn nằm gần các thành phố thuộc các tỉnh lân cận như Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh. Nhà ga hành khách T1 do chính các kiến trúc sư Việt Nam thiết kế, mang đậm bản sắc dân tộc, như một cổng trời chào đón khách thập phương đến với Thủ đô và được đánh giá cao về mặt thẩm mĩ, từng đạt giải nhất kiến trúc Việt Nam, tuy trong thực tế xây dựng chỉ thực hiện được một phần của dự án. Nhà ga hành khách T2 do Nhật Bản thiết kế và thi công, với nguồn vốn xây dựng từ nguồn vốn ODA Nhật Bản, được khánh thành vào đầu năm 2015. Sân bay có 2 tháp chỉ huy, trong đó có 1 tháp cao 90 mét. Đây là tháp chỉ huy không lưu cao nhất Đông Dương. Hiện tại đây là Sân bay lưu có lượng hành khách lớn thứ hai Việt Nam, chỉ sau Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất. Sân bay do Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam (ACV), một cơ quan của Bộ Giao thông Vận tải, quản lý. Sân bay Quốc tế Nội Bài, nguyên là một căn cứ không quân của Không quân Nhân dân Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam còn gọi là sân bay Đa Phúc, đã được cải tạo để phục vụ cả mục đích dân sự và quân sự. Ngày 28 tháng 2 năm 1977, Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam đã ra quyết định thành lập Sân bay Quốc tế Nội Bài ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Ngày 2 tháng 1 nǎm 1978, sân bay chính thức mở cửa hoạt động và đón chuyến bay Quốc tế đầu tiên hạ cánh. Tên sân bay được đặt theo tên của làng Nội Bài, một làng thuộc tổng Ninh Bắc, huyện Kim Anh, tỉnh Phúc Yên trước kia, do phần lớn đất sân bay nằm trên địa phận làng này. Năm 1995 nhà ga hành khách T1 được xây dựng và tới tháng 10 năm 2001 thì khánh thành. Ngày 29 tháng 12 năm 2013, nhà ga T1 hoàn tất xây dựng thêm sảnh E và mở cửa, nối liền với sảnh A, giúp sân bay giảm tải lưu lượng hành khách. Ngày 25 tháng 12 năm 2014, nhà khách VIP và nhà ga T2 được khánh thành. Nhà ga T2 chính thức trở thành nhà ga phục vụ các chuyến bay Quốc tế và nhà ga T1 cũ được chuyển đổi chuyên phục vụ các chuyến bay nội địa. Ngày 4 tháng 1 năm 2015, nhà ga Quốc tế T2 được khánh thành cùng thời điểm với cầu Nhật Tân. Hạ tầng kỹ thuật. Tiêu chuẩn kỹ thuật. Ngày 15 tháng 9 năm 2005, sân bay Quốc tế Nội Bài đã được tổ chức TÜV NORD CERT (Đức) trao chứng chỉ . Đường cất hạ cánh Sân bay có hai đường băng để cất cánh và hạ cánh cách nhau 250 m và tàu bay không thể cất hạ cánh cùng một thời điểm trên cả hai đường băng: đường 1A dài 3.200 m, đường 1B dài 3.800 m. Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (tên viết tắt bằng tiếng Anh là ICAO), công suất tối đa của đường hạ - cất cánh sân bay Nội Bài hiện tại chỉ đạt 10 triệu hành khách/năm. Khu vực nhà ga T1 có 3 sân đỗ máy bay A1, A2, A3 với tổng diện tích 165.224 m², nhà ga gồm 4 tầng và 1 tầng hầm với tổng diện tích 90.000 m² và công suất khoảng 6 triệu hành khách/năm, được trang bị đầy đủ các thiết bị phục vụ hàng không và phi hàng không. Sân đỗ bao gồm 17 cầu hành khách. Cầu 1, 2, 4, 5, 6, 7, 9, 11, 12 được trang bị ống lồng, còn lại cầu 3, 8, 10, 13, 14, 15, 16, 17 là cầu cứng. Ngày 29 tháng 12 năm 2013, sân bay Nội Bài chính thức khai trương mở cửa sảnh E nhà ga T1. Nó được kết nối với sảnh A thông qua một hành lang kín kéo dài, giúp giảm tải phần nào cho sân bay. Công trình có 5 cổng đi và 2 cổng đến, diện tích sàn tổng cộng là 23.000 m², với 3 tầng và 1 tầng lửng. Tầng 1 là tầng dành cho khách nội địa đi và đến, là khu vực đảo trả hành lý, cũng là nơi chuyển hành lý đi. Tầng 2 là khu nội địa, check-in, dịch vụ, phòng khách VIP. Tầng 3 là khu văn phòng kỹ thuật. Sảnh E trang bị 38 quầy làm thủ tục cho khách và có hệ thống an ninh kiểm soát. Pacific Airlines là hãng đầu tiên khai thác với 18 chuyến/ngày. Trong tương lai, sảnh E sẽ được kết nối với nhà ga T2. Trong 3 năm gần đây, nhà ga T1 bị dột khi trời mưa to. Chưa có kết luận chính thức từ cơ quan có thẩm quyền về nguyên nhân dột là do khâu thiết kế, thi công hay sử dụng. Ngày 4 tháng 1 năm 2015, Bộ Giao thông vận tải đã khánh thành Nhà ga hành khách T2 – Cảng HKQT Nội Bài. Nhà ga T2 gồm 4 tầng với diện tích mặt bằng khoảng 139.000 m², với tổng mức đầu tư gần 18.000 tỷ đồng (sau 3 năm xây dựng 04/12/2011–04/01/2015). Vốn vay ODA của Nhật Bản, công suất phục vụ 10 triệu hành khách mỗi năm. Ngày cao điểm sẽ phục vụ tới 30.000 hành khách với 230 lượt cất hạ cánh. Nhà ga được thiết kế theo mô hình dạng cánh, hài hòa với thiên nhiên, tận dụng tối đa ánh sáng thiên nhiên để tiết kiệm năng lượng, sẽ được đầu tư theo hướng hiện đại với trang thiết bị hoàn toàn đủ tiêu chuẩn quốc tế. Lưu lượng hành khách Năm 2008, sân bay này đã phục vụ khoảng 8 triệu lượt khách và dự kiến đạt 20 triệu lượt hành khách vào năm 2025. Năm 2010, Nội Bài đã phục vụ 9,5 triệu lượt hành khách, trung bình mỗi ngày có 230 lượt chuyến cất hạ cánh, so với mức 370 lượt chuyến mỗi ngày của Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất. Tuy nhiên, đến năm 2016, sân bay Nội Bài đã phục vụ 20 triệu lượt hành khách, và sẽ quá tải trong ba năm nữa. Kế hoạch mở rộng Cùng với đó, Chính phủ cũng đang lên kế hoạch mở rộng nhà ga T1 và T2 trước năm 2020, đồng thời xem xét để xây dựng thêm nhà ga T3 và T4 sau năm 2020, đưa Nội Bài trở thành một trong những trạm trung chuyển hàng không lớn nhất Đông Nam Á. Theo quy hoạch chung đến năm 2010, nhà ga T2 có công suất là 10 triệu lượt khách mỗi năm sẽ đi vào hoạt động đưa Sân bay Quốc tế Nội Bài đạt công suất 16-25 triệu hành khách năm, (thực tế năm 2016 đã đạt 20 triệu lượt khách); có sân bay dự bị là Sân bay Quốc tế Cát Bi (Hải Phòng). Công suất toàn bộ khi nhà ga được nâng cấp sau năm 2025 là 50 triệu lượt khách mỗi năm, sau năm 2050 là 100 triệu lượt khách mỗi năm, trở thành một trong những cửa ngõ trung tâm trong khu vực Đông Nam Á và châu Á. Quy hoạch đường cất hạ cánh số 3. Theo Quyết định số 590/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch Cảng hàng không Quốc tế Nội Bài-thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2020 và định hướng sau năm 2020 ngày 20 tháng 8 năm 2008, ngoài các hạng mục quy hoạch tầm nhìn tới 2020 mà hiện nay cơ bản đã hoàn thành như bổ sung đường cất hạ cánh thứ 2 (đường băng 1B) dài 3800 m, hệ thống đường lăn, nhà khách VIP, nhà ga Quốc tế T2, còn có những hạng mục khác nhằm đáp ứng tiêu chuẩn sân bay cấp 4F theo phân cấp của ICAO. Đặc biệt trong đó là việc xây dựng mới đường cất hạ cánh thứ 3 (đường băng số 2A) kích thước 4000 x 60 m; và các nhà ga hành khách T3, T4. Ngày 14 tháng 7 năm 2015 Cục Hàng không Việt Nam báo cáo Bộ Giao thông Vận tải về phương án xây dựng đường cất, hạ cánh thứ 3 tại Cảng hàng không Quốc tế Nội Bài. Theo Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam Lại Xuân Thanh, việc xây dựng thêm đường cất hạ cánh số 3 này nhằm để đảm bảo tổng công suất thông qua cảng sau năm 2020 đạt 50 triệu hành khách/năm theo đúng quy hoạch được duyệt tại Quyết định số 590 của Thủ tướng Chính phủ. Trong báo cáo này, Cục Hàng không Việt Nam đưa ra ba phương án: Trong ba phương án nói trên, Cục Hàng không xác định phương án 2 là tối ưu. Sân bay Quốc tế của Hà Nội được Skytrax xếp hạng trong nhóm 100 những sân bay tốt nhất thế giới vào vị trí 86/100. Có được những thành công như vậy là nhờ vào sự cải tiến dịch vụ của cảng hàng không Quốc tế Nội Bài. Cụ thể hơn, hành khách đi máy bay sẽ được sử dung hàng loạt dịch vụ tiện ích tại các nhà ga hành khách như cây nước uống miễn phí, kiosk Internet, xe shuttle bus miễn phí phục vụ khách nối chuyến, xe điện miễn phí phục vụ hành khách khuyết tật, các điểm sạc pin điện thoại miễn phí... Trong đó nổi bật nhất là việc khai thác nhà ga T2 vào năm 2015 và được coi là "nhà ga lớn nhất, hiện đại nhất Việt Nam, đã cải thiện cơ bản về hạ tầng với CHK Quốc tế Nội Bài". Công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 tại sân bay. Ngày 21/1/2020, đoàn công tác của Bộ Y tế do ông Đặng Quang Tấn, Phó Cục trưởng phụ trách Cục Y tế dự phòng làm trưởng đoàn và lãnh đạo Trung tâm kiểm soát bệnh tật TP. Hà Nội, đã kiểm tra công tác phòng chống dịch bệnh tại Cảng Hàng không Quốc tế Nội Bài. Sân bay có 4 máy kiểm tra thân nhiệt, trong đó 2 máy ở khu vực Quốc tế đến và 2 máy ở khu vực Quốc tế đi. Đồng thời, 2 máy kiểm tra thân nhiệt dự phòng để thay thế khi các máy trục trặc. Từ 5/2/2020, nhà ga T1 Nội Bài sẽ lắp đặt thêm máy đo thân nhiệt, hoạt động 24/7, để kiểm soát hành khách đi trên các chặng bay nội địa, đảm bảo không lọt hành khách nào có dấu hiệu sốt; bố phòng cách ly để sử dụng khi cần thiết. Theo Phó giám đốc cảng hàng không Quốc tế Nội Bài Nguyễn Huy Dương, mặc dù trong tình hình dịch bệnh song lượng hành khách qua cảng vẫn khá cao với gần 100.000 hành khách, hơn 600 chuyến bay cất hạ cánh mỗi ngày. Hiện các chuyến bay giữa Việt Nam và Trung Quốc đại lục đã tạm dừng hoạt động, song việc kiểm soát dịch bệnh tiêm phổi vẫn được tăng cường. Toàn bộ nhân viên sân bay Nội Bài đều đeo khẩu trang trong thời gian làm việc, một số bộ phận bắt buộc đeo găng tay bảo hộ. Khoảng 70 - 80% hành khách đến sân bay sử dụng khẩu trang. Các đơn vị sân bay và Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Nội đã xây dựng quy chế phối hợp, xử lý tình huống hành khách có dấu hiệu bị sốt trên máy bay, từ khâu đón khách, kiểm tra và cách ly; thu thập thông tin, yêu cầu khai báo y tế và phun thuốc khử trùng máy bay. Cảng Hàng không Quốc tế Nội Bài bố trí một số điểm cấp phát miễn phí khẩu trang y tế dành cho hành khách (2 điểm cạnh thang máy - khu vực công cộng, khu C, nhà ga T1; 1 điểm tại khu A, Quốc tế đến Nhà ga T2). Từ ngày 10/7/2021, Trung tâm Y tế huyện Sóc Sơn (Hà Nội) cung cấp dịch vụ test nhanh Covid-19 tại sân bay Nội Bài. Hành khách có thể đến đăng kí làm xét nghiệm từ 7h đến 17h mỗi ngày bắt đầu từ ngày 10/7/2021 tại khu vực trước quầy từ A28-A32 nhà ga Quốc nội sân bay Nội Bài. Chi phí cho dịch vụ test nhanh Covid-19 tại sân bay Nội Bài được niêm yết theo mức công bố của Bộ Y tế là 238,000 đồng/lần, có kết quả sau 30 phút. Sân bay Nội Bài hạn chế người nhà đưa tiễn và khuyến cáo hành khách tự làm thủ tục. Để tránh tình trạng ùn tắc khu vực làm thủ tục bay, Cảng hàng không Quốc tế Nội Bài đã khuyến cáo hành khách đi các chuyến bay Quốc tế nên đến sân bay trước 3 tiếng, khách đi chuyến bay trong nước nên đến trước 2 tiếng để chủ động làm thủ tục hàng không; đồng thời, khuyến khích hành khách không có hành lý ký gửi làm thủ tục chuyến bay online hoặc tại hệ thống ki ốt làm thủ tục tự động đặt tại các khu vực công cộng của nhà ga, để tránh ùn tắc tại các khu vực quầy thủ tục. Với khu vực làm thủ tục chuyến bay tại Nhà ga T2 (phục vụ các chuyến bay Quốc tế), Cảng hàng không Quốc tế Nội Bài hạn chế người nhà đưa tiễn vào các khung giờ cao điểm trong ngày từ trong các khung giờ từ 8h đến 11h và từ 19h đến 23h, nhằm tránh ùn tắc tại các khu vực công cộng của nhà ga, tạo luồng di chuyển thông thoáng cho hành khách đi máy bay. Cảng sẽ bố trí lực lượng an ninh để kiểm soát, phân tách hành khách và người đưa tiễn ngay tại 2 cửa D1 và D2 ra vào khu vực làm thủ tục. Như vậy, chỉ có hành khách đi máy bay, nhân viên nội bộ và các đối tượng được cấp phép của các cơ quan có thẩm quyền mới được vào khu vực làm thủ tục hàng không; người nhà đi tiễn hành khách không được vào khu vực này. Tình trạng ùn tắc cục bộ tại các khu vực cửa ra vào, gây khó khăn cho hành khách trong quá trình di chuyển, khó tiếp cận khu vực làm thủ tục lên máy bay, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến công tác bảo đảm an ninh trật tự, an toàn bay, tăng nguy cơ làm chậm chuyến bay, hạn chế năng lực khai thác của Cảng, ảnh hưởng trực tiếp đến hành khách. Vì vậy sẽ dần tạo thói quen cho hành khách thực hiện các quy định an toàn hàng không. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Ngoài ra có các dịch vụ taxi nội bài , vé máy bay giá cả hợp lý
"Bài này là để phân loại các loại khí cụ bay. Xem thêm máy bay." Khí cụ bay là bất cứ cỗ máy hay phương tiện nhân tạo nào có thể "tự duy trì" quỹ đạo bay được trong khí quyển hoặc trong vũ trụ. Chúng được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, cả quân sự lẫn dân sự, cũng như nghiên cứu khoa học. Có nhiều vật thể nhân tạo có thể "bay" nhưng khí cụ bay phải là vật thể có thể "tự duy trì" khả năng bay: ví dụ một đầu đạn bắn ra từ nòng súng cũng đang bay nhưng nó chỉ bay theo quán tính chứ không có khả năng duy trì bay nên không được liệt vào khí cụ bay. Người ta phân loại khí cụ bay chủ yếu theo các tiêu chuẩn phân loại sau: bản chất lực nâng duy trì sự bay, cơ cấu duy trì lực nâng, có động cơ hay không động cơ, bản chất động cơ. Và có thể phân loại các khí cụ bay như sau: Phân loại "khí cụ bay". Khí cụ bay phân làm hai loại chính nhẹ hơn không khí và nặng hơn không khí:
Joanne Rowling ( ; sinh ngày 31 tháng 7 năm 1965), thường được biết đến với bút danh J. K. Rowling, là một nhà văn, nhà từ thiện, nhà sản xuất phim và truyền hình, nhà biên kịch người Anh. Bà nổi tiếng là tác giả của bộ truyện giả tưởng "Harry Potter" từng đoạt nhiều giải thưởng và bán được hơn 500 triệu bản, trở thành bộ sách bán chạy nhất trong lịch sử. Bộ sách đã được chuyển thể thành một loạt phim ăn khách mà chính bà đã phê duyệt kịch bản và cũng là nhà sản xuất của hai phần cuối. Bà cũng viết tiểu thuyết trinh thám hình sự dưới bút danh Robert Galbraith. Xuất thân từ Yate, Gloucestershire, Rowling nảy sinh ra ý tưởng cho bộ truyện "Harry Potter" vào năm 1990 khi bà còn làm việc nghiên cứu và thư ký song ngữ cho tổ chức Ân xá Quốc tế, trên một chuyến tàu bị hoãn từ Manchester đến Luân Đôn. Trong thời kỳ bảy năm sau đó, cuộc đời bà có nhiều biến động: mẹ bà qua đời, đứa con đầu lòng ra đời, bà ly hôn với chồng thứ nhất. Bà sống trong cảnh túng quẫn cho đến khi tiểu thuyết đầu tay là "Harry Potter và Hòn đá Phù thủy" ra mắt vào năm 1997. Sau khi hoàn thành quyển đầu tiên này, bà đã lần lượt xuất bản sáu quyển tiếp theo trong 10 năm sau đó — với quyển cuối cùng ra mắt vào năm 2007. Sau thời điểm đó, bà viết thêm vài tác phẩm cho độc giả người lớn: "The Casual Vacancy" (2012) và loạt truyện trinh thám hình sự "Cormoran Strike" (dưới bút danh Robert Galbraith). Năm 2020, bà viết tác phẩm "cổ tích chính trị" dành cho thiếu nhi, "The Ickabog", ra mắt nhiều kỳ bằng phiên bản trực tuyến. Cuộc đời của Rowling được miêu tả là "từ nghèo đến giàu" — lúc mới vào nghề bà còn phải nhận trợ cấp từ chính phủ, cho đến khi thành công nhờ bộ truyện thì bà trở thành nhà văn tỷ phú đầu tiên trên thế giới, theo tạp chí "Forbes". Rowling phản bác tuyên bố này và cho rằng mình không phải là tỷ phú. "Forbes" báo cáo rằng bà không còn là tỷ phú vì đã hiến tặng phần lớn tài sản của mình cho các tổ chức thiện. Tổng doanh thu của bà tính riêng tại Anh đã vượt con số 238 triệu bảng Anh, khiến bà đứng đầu danh sách tác giả còn sống ở đất nước này. Danh sách người giàu có nhất Anh năm 2021 của tờ "Sunday Times" ước tính tài sản của bà có trị giá 820 triệu bảng Anh, đưa bà vào vị trí người giàu có thứ 196. Tạp chí "Time" nêu danh bà như một trong những người được cân nhắc để trở thành Nhân vật của năm cho năm 2007, ghi nhận những cảm hứng xã hội, đạo đức, và chính trị mà bà đã truyền đến những người hâm mộ. Rowling được trao Huân chương Danh dự (CH) trong lần trao năm 2017 do những cống hiến đến nền văn học và từ thiện. Tháng 10 năm 2010, bà được các chủ bút tạp chí hàng đầu vinh danh là "Phụ nữ có ảnh hưởng nhất nước Anh". Rowling ủng hộ nhiều tổ chức từ thiện, trong đó có Comic Relief, One Parent Families, và Hội Đa xơ cứng Anh; bà cũng là người khởi xướng tổ chức từ thiện Lumos. Kể từ cuối năm 2019, bà công khai quan điểm của mình về quyền của người chuyển giới và đã gây ra nhiều tranh cãi. Mặc dù bà dùng bút danh J. K. Rowling nhưng tên của bà trước khi tái hôn chỉ đơn giản là Joanne Rowling. Vì lo ngại các đối tượng độc giả nam trẻ tuổi có thể sẽ không thích một tác phẩm của phụ nữ, nên nhà xuất bản đề nghị dùng tên viết tắt của bà. Vì không có tên đệm, bà đã chọn chữ "K" (viết tắt từ 'Kathleen', tên bà nội bà) làm ký tự thứ hai trong bút danh. Bà tự gọi mình là Jo. Sau khi tái hôn, có một số lần bà sử dụng tên Joanne Murray cho vấn đề cá nhân. Trong vụ thẩm vấn Leveson, bà làm nhân chứng dưới tên Joanne Kathleen Rowling; mục tiểu sử về bà trong quyển dữ liệu "Who's Who" cũng liệt kê tên bà là Joanne Kathleen Rowling. Cuộc đời và sự nghiệp. Xuất thân và gia đình. Joanne Rowling sinh ngày 31 tháng 7 năm 1965 tại Yate, Gloucestershire,; mẹ bà là Anne (nhũ danh Volant), một kỹ thuật gia khoa học, còn cha bà là Peter James Rowling, một kỹ sư máy bay của Rolls-Royce. Bố mẹ bà gặp nhau lần đầu tại sân ga Ngã tư Vua để đi tới Arbroath vào năm 1964. Họ cưới nhau vào ngày 14 tháng 3 năm 1965. Ông cố ngoại của bà là Dugald Campbell, một người Scotland, sinh ra ở Lamlash. Ông nội của mẹ bà, Louis Volant, là người Pháp, được trao tặng giải thưởng Croix de Guerre vì lòng can đảm cho việc bảo vệ ngôi làng Courcelles-le-Comte trong Thế chiến thứ nhất. Lúc đầu, Rowling tưởng ông được trao huân chương Bắc Đẩu Bội tinh trong chiến tranh: bà nói vậy khi chính mình được nhận huân chương này năm 2009. Đến khi xuất hiện trong một tập của chương trình phả hệ "Who Do You Think You Are?", bà mới biết Louis Volant được trao huy chương không phải là ông cố Volant của bà, và chính thức đính chính. Khi được nghe kể về câu chuyện dũng cảm của ông cố, bà vỡ lẽ ra rằng giải "Croix de guerre" là dành cho những người lính "bình thường" như ông cố của bà - một nhân viên phục vụ bàn - và nói, với bà, giải "Croix de guerre" "tốt hơn" là Bắc Đẩu Bội tinh. Khi Rowling 23 tháng tuổi, Dianne em gái bà chào đời. Năm bà 4 tuổi, gia đình bà phải chuyển tới Winterbourne - một ngôi làng gần đó. Khi còn nhỏ, bà thường viết truyện kỳ ảo và thường đọc cho em gái nghe. Khi lên 9, Rowling lại dọn đến ngôi nhà Church Cottage ở làng Tutshill, Gloucestershire, gần Chepstow, Wales. Khi đến tuổi thiếu niên, bà dì của Rowling tặng cho bà cuốn "Hons and Rebels" - tự truyện của Jessica Mitford. Rowling coi tác giả Mitford là thần tượng của mình, và đọc hết sách của Mitford. Rowling nói rằng thời thiếu niên của mình không được vui. Cuộc sống gia đình bà phức tạp hơn từ khi mẹ bà bị chẩn đoán mắc chứng đa xơ cứng và có quan hệ căng thẳng với người cha mà đến nay bà vẫn còn không liên lạc. Bà cho biết bà tạo ra nhân vật Hermione Granger dựa trên chính mình năm 11 tuổi. Sean Harris, bạn thân của bà từ lớp Upper Sixth (tương đương lớp 12), có một chiếc Ford Anglia màu ngọc lam; chiếc xe này chính là hình mẫu của chiếc xe bay trong "Harry Potter và Phòng chứa bí mật". Như các thiếu niên khác thời đó, Rowling nghe nhạc của các ban nhạc The Smiths, The Clash và Siouxsie Sioux. Bà thường ăn vận theo phong cách của ban nhạc Siouxsie Sioux, chải tóc ra sau và kẻ mắt màu đen cho đến khi bắt đầu vào đại học. Rowling theo học trường tiểu học St Michael's do nhà bãi nô William Wilberforce và nhà cải cách giáo dục Hannah More thành lập. Alfred Dunn, hiệu trưởng khi đó, được cho là hình mẫu của nhân vật Albus Dumbledore. Bà học sơ trung ở Wyedean School and College, nơi mẹ bà làm việc (ban khoa học). Steve Eddy, giáo viên dạy bà môn Anh văn ở đó, nhận xét bà khi đó "không đặc biệt", nhưng là "một trong các nữ sinh thông minh và giỏi môn Anh văn". Bà nhận chứng chỉ A-level trong các môn Anh văn, tiếng Pháp, tiếng Đức, với hai điểm A và một điểm B; và là nữ sinh đại diện trường ("head girl"). Năm 1982, Rowling dự kỳ thi tuyển vào Đại học Oxford nhưng bị trượt, nên theo học Đại học Exeter rồi nhận bằng cử nhân tiếng Pháp và ngôn ngữ cổ điển ở đó. Martin Sorrell, một giáo sư môn tiếng Pháp ở Exeter, nói Rowling là một sinh viên "giỏi thầm lặng trong chiếc áo khoác denim và bộ tóc đen, và, nói theo kiểu hàn lâm là, có phong thái làm được những gì cần làm". Theo như Rowling kể lại, bà học rất ít, và thích đọc truyện của Dickens và Tolkien hơn. Năm 1986, sau một năm học ở Paris, Rowling tốt nghiệp Exeter. Hai năm sau, bà viết một bài luận ngắn về thời gian học môn Ngôn ngữ cổ có tiêu đề "Tên thần nữ đó là gì?, hay là Nhớ lại các môn tiếng Hy Lạp và Latin"; bài này được đăng trên tập san "Pegasus" của trường đại học Exeter. Nguồn cảm hứng và cái chết của người mẹ. Ở London, Rowling trở thành nghiên cứu sinh và thư ký song ngữ cho tổ chức Ân xá Quốc tế, nhưng rồi quyết định chuyển đến Manchester với bạn trai và làm việc tại phòng thương mại. Năm 1990, khi đang ngồi trên chuyến tàu khởi hành trễ 4 tiếng từ Manchester tới London, bà bỗng "hoàn toàn hình thành" ý tưởng về một cậu bé đi học trường pháp thuật, và đặt bút viết câu chuyện ngay khi về đến căn hộ của mình tại Clapham Junction. Tháng 12 năm đó, bà Anne, mẹ của Rowling, qua đời sau 10 năm chống chọi với bệnh đa xơ cứng. Khi đó, Rowling đang viết "Harry Potter", nhưng chưa từng nói với mẹ. Cái chết của mẹ có tác động rất lớn tới tác phẩm của Rowling. Bà xoa dịu nỗi đau mất mát bằng cách viết nhiều và chi tiết hơn về nỗi buồn của Harry trong tập 1. Hôn nhân, ly dị và bà mẹ đơn thân. Sau khi đọc được một mục quảng cáo trên tờ "The Guardian", Rowling đã quyết định đến Porto, Bồ Đào Nha để dạy tiếng Anh cho người bản xứ. Bà dạy ban đêm và viết ban ngày, khi nghe bản Concerto cho violin của Tchaikovsky. Sau 18 tháng ở đây, bà gặp Jorge Arantes - một phóng viên truyền hình người Bồ Đào Nha - trong một quán bar; hai người nói chuyện và phát hiện sở thích chung là nữ văn sĩ Jane Austen. Ngày 16 tháng 10 năm 1992, bà kết hôn với Arantes và hạ sinh bé Jessica Isabel Rowling Arantes (đặt tên theo Jessica Mitford) tại Bồ Đào Nha vào ngày 27 tháng 7. Trước đó, bà từng bị sảy thai. Khi Jessica gần 4 tháng tuổi, ngày 17 tháng 11, hai người ly thân. Những người viết tiểu sử cho rằng Rowling đã bị bạo hành gia đình; về sau, điều này được bà xác nhận. Tháng 6 năm 2020, trong một bài báo trên tờ "The Sun," Arantes cho biết ông đã tát vào mặt Rowling và không hề cảm thấy hối hận. Nicole Jacobs, Ủy viên về bạo hành gia đình cho Vương quốc Anh, nói việc "The Sun" "lặp lại và phóng đại phát ngôn của một người công khai bạo hành bạn tình" là không thể chấp nhận được. Tháng 12 năm 1993, Rowling và con gái, cùng ba chương của "Harry Potter" trong va li, chuyển đến Edinburgh, Scotland, gần nơi em gái bà sống. Bảy năm sau khi tốt nghiệp đại học, Rowling cảm thấy bản thân mình thật thất bại. Tuy hôn nhân tan vỡ, bị thất nghiệp, có một đứa con phải phụ thuộc vào mình, nhưng bà lại nói sự thất bại đó đã "giải phóng" bà, cho phép bà tập trung hơn vào việc viết sách. Trong khoảng thời gian này, Rowling bị trầm cảm và từng có ý định tự tử. Căn bệnh này đã trở thành cảm hứng cho các Giám ngục Azkaban - những sinh vật hút linh hồn xuất hiện lần đầu trong tập sách thứ ba. Bà đăng ký hưởng phúc lợi xã hội, và nói tình trạng kinh tế lúc đó là "nghèo hết mức trong xã hội nước Anh hiện đại, nhưng chưa bị vô gia cư." Rowling sống trong tuyệt vọng sau khi Arantes tới Scotland tìm bà và con gái. Bà xin tòa cho lệnh quản thúc, và chỉ khi bà đệ đơn ly dị tháng 8 năm 1994, Arantes mới về Bồ Đào Nha. Tháng 8 năm 1995, sau khi hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay trong thời kỳ sống bằng nguồn trợ cấp chính phủ, bà bắt đầu học khóa đào tạo giáo viên ở Moray House School of Education tại Đại học Edinburgh. Bà viết truyện ở nhiều quán cà phê, đặc biệt là quán Nicolson's Café của em rể bà và quán Elephant House - bất cứ chỗ nào bé Jessica ngủ được. Trong một cuộc phỏng vấn cho BBC năm 2001, bà phủ nhận tin đồn bà đến quán vì muốn thoát khỏi căn hộ lạnh lẽo. Bà cho biết căn hộ của bà có đồ sưởi ấm, nhưng thích viết ở quán hơn, vì quán có sẵn cà phê, do đó bà không phải gián đoạn việc viết lách, và việc đi dạo giúp Jessica dễ ngủ. Xuất bản "Harry Potter". Vào năm 1995, Rowling hoàn tất bản thảo cho quyển "Harry Potter và Hòn đá Phù thủy" mà bà đã đánh máy trên máy đánh chữ thủ công. Sau khi nhận được lời khen nhiệt tình từ Bryony Evens, một độc giả được giao nhiệm vụ đánh giá ba chương đầu của quyển sách, Cơ quan Đại diện Văn chương Christopher Little có trụ sở ở Fulham đồng ý đại diện bà để tìm một nhà xuất bản. Quyển sách được đệ trình cho 12 nhà xuất bản nhưng không nơi nào chịu nhận bản thảo. Một năm sau, bà nhận sự chấp nhận (và khoản tiền tạm ứng là 1.500 bảng Anh) của Barry Cunningham từ Bloomsbury, một nhà xuất bản ở Luân Đôn. Quyết định xuất bản quyển sách của Rowling phần lớn là nhờ vào Alice Newton, cô con gái 8 tuổi của chủ tịch Bloomsbury, người được cha cô đưa chương đầu để đọc và đánh giá và đã ngay lập tức đòi lấy đọc chương tiếp theo. Dù Bloomsbury đã đồng ý xuất bản cuốn sách, Cunningham cho biết ông đã khuyên Rowling nên tìm nghề chính, vì công việc viết sách thiếu nhi khó làm ra tiền. Không lâu sau, trong năm 1997, Rowling nhận được một khoản trợ cấp 8.000 bảng Anh từ Hội đồng Nghệ thuật Scotland để có thể tiếp tục viết lách. Tháng 6 năm 1997, Bloomsbury xuất bản quyển "Hòn đá Phù thủy" (dưới tựa đề nguyên gốc là "Harry Potter and the Philosopher's Stone") với số lượng 1.000 bản trong lần in đầu, trong đó 500 được phân phối đến các thư viện. Ngày nay, những phiên bản này trị giá từ 16.000 đến 25.000 bảng Anh. Năm tháng sau, quyển sách giành được giải thưởng đầu tiên, Giải sách Nestlé Smarties. Tháng 2 năm 1998, tiểu thuyết giành Giải Sách Anh ở hạng mục Sách Thiếu nhi của Năm, và sau đó nhận Giải Sách Thiếu nhi. Đầu năm 1998, một cuộc đấu giá được tổ chức ở Hoa Kỳ để mua lại quyền xuất bản quyến sách, và Scholastic Inc. thắng cuộc với giá 105.000 USD. Rowling cho biết bà đã "mừng gần chết" khi nghe tin. Vào tháng 10 năm 1998, Scholastic xuất bản quyển "Hòn đá Phù thủy" dưới tựa đề là "Harry Potter and the Sorcerer's Stone." Sau này Rowling nói rằng bà cảm thấy thấy hối tiếc và nếu có địa vị mạnh hơn vào lúc đó thì bà đã không đồng ý với cái tên mới này. Với số tiền nhận được từ Scholastic trong cuộc đấu giá, Rowling dọn ra khỏi căn hộ của mình và đến số 19 Hazelbank Terrace ở Edinburgh. Phần tiếp theo, "Harry Potter và Phòng chứa Bí mật", xuất bản vào tháng 7 năm 1998 và một lần nữa đem lại cho Rowling Giải Smarties. Tháng 12 năm 1999, tiểu thuyết thứ ba là "Harry Potter và tên tù nhân ngục Azkaban" lại thắng Giải Smarties, khiến Rowling trở thành người đầu tiên thắng giải này ba năm liên tiếp. Sau đó bà rút quyển tiểu thuyết "Harry Potter" thứ tư ra khỏi danh sách ứng cử để công bằng hơn cho các quyển khác. Tháng 1 năm 2000, "Tên tù nhân ngục Azkaban" giành Giải Sách Thiếu nhi của năm Whitbread trong năm đầu tiên, tuy nhiên quyển sách không giành được giải Sách của năm, được trao cho bản dịch tác phẩm "Beowulf" của Seamus Heaney. Quyển thứ tư, "Harry Potter và Chiếc cốc lửa", ra mắt cùng ngày tại Anh và Hoa Kỳ vào ngày 8 tháng 7 năm 2000 và đã đạt kỷ lục bán chạy ở cả hai nước với 372.775 quyển được bán vào ngày đầu tiên tại Anh, gần bằng con số mà "Tên tù nhân ngục Azkaban" bán được trong năm đầu. Tại Hoa Kỳ, tiểu thuyết bán được 3 triệu quyển trong vòng 48 tiếng đầu tiên, vượt qua mọi kỷ lục trước đó. Rowling cho biết bà đã gặp khủng hoảng trong lúc sáng tác tiểu thuyết và phải viết đi viết lại một chương nhiều lần để sửa một lỗi trong cốt truyện. Rowling được vinh danh là Tác giả của Năm tại Giải Sách Anh năm 2000. Sau khi "Chiếc cốc lửa" xuất bản, độc giả phải đợi ba năm để đọc được quyển "Harry Potter" thứ năm là "Harry Potter và Hội Phượng Hoàng". Khoảng cách thời gian này đã khiến báo chí suy đoán rằng Rowling đã mắc phải chứng writer's block (một khái niệm khi tác giả mất ý tưởng sáng tác trong viết lách); bà đã phủ nhận các suy đoán này. Rowling sau này nói rằng việc sáng tác quyển sách là một công việc phải làm, lẽ ra nói nên ngắn hơn, và bà đã hết thời gian và nghị lực khi cố gắng hoàn tất quyển sách. Quyển thứ sáu, "Harry Potter và Hoàng tử lai", ra mắt vào ngày 16 tháng 7 năm 2005. Tiểu thuyết cũng vượt qua tất cả kỷ lục bán chạy trước đó, bán được 9 triệu bản trong vòng 24 tiếng sau khi xuất bản. Năm 2006, "Hoàng tử lai" giành Giải Sách Anh ở hạng mục Sách của Năm. Tựa của quyển "Harry Potter" thứ bảy và cũng là cuối cùng được công bố vào ngày 21 tháng 12 năm 2006 là "Harry Potter và Bảo bối Tử thần". Vào tháng 2 năm 2007, báo chí đăng tin rằng Rowling đã viết trên một bức tượng bán thân trong phòng khách sạn của mình ở Khách sạn Balmoral ở Edinburgh rằng bà đã hoàn tất quyển thứ bày trong phòng đó vào ngày 11 tháng 1 năm 2007. "Harry Potter và Bảo bối Tử thần" ra mắt vào ngày 21 tháng 7 năm 2007 (0:01 BST) và vượt qua kỷ lục của quyển trước, trở thành quyển sách bán chạy nhất mọi thời đại. Tiểu thuyết bán được 11 triệu quyển trong ngày đầu tiên phát hành tại Anh và Hoa Kỳ. Chương cuối của quyển sách là một trong những đoạn đầu tiên mà bà đã viết trong toàn bộ loạt sách. "Harry Potter" hiện nay là một thương hiệu toàn cầu trị giá khoảng 15 tỷ USD, và bốn quyển "Harry Potter" cuối cùng đã lần lượt lập kỷ lục sách bán chạy nhất mọi thời đại. Toàn bộ loạt sách, với tổng cộng 4.195 trang, đã được dịch toàn bộ hay một phần ra 65 ngôn ngữ khác nhau. Những tiểu thuyết "Harry Potter" cũng đã được công nhận trong việc khiến giới trẻ quan tâm đến việc đọc sách trong thời điểm mà người ta tưởng rằng trẻ em đang bỏ sách để chơi máy tính, xem truyền hình hay chơi các trò chơi video, dù cũng có báo cáo rằng tuy những quyển sách này nhận nhiều độc giả, giới thanh thiếu niên vẫn tiếp tục giảm đọc sách. Loạt phim "Harry Potter". Tháng 10 năm 1998, hãng Warner Bros. trả hàng triệu đô la để mua quyền sản xuất phim cho hai quyển đầu. Bộ phim chuyển thể đầu tiên, "Harry Potter và Hòn đá Phù thủy" ra mắt vào ngày 16 tháng 11 năm 2001, và phim thứ hai là "Harry Potter và Phòng chứa Bí mật" ra mắt ngày 15 tháng 11 năm 2002. Cả hai phim đều do Chris Columbus đạo diễn. Bộ phim chuyển thể thứ ba, "Harry Potter và tên tù nhân ngục Azkaban", ra mắt vào ngày 4 tháng 6 năm, do Alfonso Cuarón đạo diễn. Bộ phim thứ tư là "Harry Potter và Chiếc cốc lửa," do Mike Newell đạo diễn, ra mắt vào ngày 18 tháng 11 năm 2005. Tập năm là "Harry Potter và Hội Phượng hoàng" được phát hành vào ngày 11 tháng 7 năm 2007. David Yates đạo diễn và Michael Goldenberg viết kịch bản sau khi thay thế Steve Kloves. "Harry Potter và Hoàng tử lai" được phát hành vào ngày 15 tháng 7 năm 2009. David Yates một lần nữa đạo diễn, trong khi Kloves trở lại với vai trò biên kịch. Warner Bros. chia phần cuối của loạt phim, tức "Harry Potter và Bảo bối Tử thần", thành hai phần; phần một ra mắt vào ngày 19 tháng 11 năm 2010 trong khi phần hai ra mắt vào ngày 15 tháng 7 năm 2011. Yates đảm nhận công việc đạo diễn cả hai phim. Khi soạn thảo hợp đồng với Rowling, Warner Bros. rất lưu ý đến ý muốn của bà. Một trong những điều kiện chính của Rowling là loạt phim phải được quay tại Anh với tất cả diễn viên đều phải là người Anh; việc này đã được thực hiện phần lớn. Rowling cũng yêu cầu Coca-Cola, công ty thắng cuộc trong cuộc đua quảng cáo các sản phẩm của mình chung với loạt phim, quyên góp 18 triệu USD cho tổ chức từ thiện khuyến đọc Reading Is Fundamental, cũng như một số chương trình từ thiện cộng đồng. Steve Kloves viết kịch bản cho hầu hết các bộ phim trừ tập năm; Rowling cũng góp phần vào việc viết kịch bản để bảo đảm kịch bản không mâu thuẫn với những tình tiết trong những tập sách chưa xuất bản. Bà tiết lộ với Alan Rickman (vai Severus Snape) và Robbie Coltrane (vai Hagrid) một số bí mật về nhân vật mà họ thủ vai trước khi được công bố trong tiểu thuyết. Daniel Radcliffe (vai Harry Potter) từng hỏi bà rằng liệu Harry có lần nào chết trong loạt truyện không; Rowling trả lởi rằng, "Cháu sẽ có một cảnh chết", do đó không trực tiếp trả lời câu hỏi. Đạo diễn Steven Spielberg ban đầu cũng được thương lượng để đạo diễn phim đầu, nhưng đã rút khỏi. Báo chí nhiều lần cho rằng Rowling là lý do mà ông đã rút khỏi, nhưng bà nói rằng mình không có quyền can dự vào quyết định ai sẽ là đạo diễn và bà nếu Spielberg được chọn bà cũng sẽ không phản đối. Người mà Rowling lựa chọn ban đầu để đạo diễn là Terry Gilliam, thành viên của nhóm Monty Python, nhưng Warner Bros. muốn có một bộ phim phù hợp cho cả gia đình nên đã chọn Columbus. Rowling có một số quyền quản lý liên quan đến sự sáng tạo của phim, và đã phê chuẩn tất cả các kịch bản cũng như đóng vai trò nhà sản xuất trong hai bộ phim cuối cùng là "Bảo bối tử Thần". Rowling, nhà sản xuất David Heyman và David Barron, cùng với các đạo diễn David Yates, Mike Newell và Alfonso Cuarón đã nhận Giải Michael Balcon cho Cống hiến Nổi bật Anh cho Điện ảnh tại Giải thưởng Điện ảnh Viện Hàn lâm Anh Quốc năm 2011 nhằm vinh danh loạt phim "Harry Potter". Vào tháng 9 năm 2013, Warner Bros. công bố một "hợp tác sáng tạo mở rộng" với Rowling, dựa vào một loạt phim mới về nhân vật Newt Scamander, tác giả hư cấu của quyển "Những sinh vật huyền bí và nơi tìm ra chúng" trong "Harry Potter". Bộ phim đầu tiên được phát hành vào tháng 11 năm 2016 và lấy bối cảnh khoảng 70 năm trước các sự kiện của loạt phim chính. Năm 2016, hãng phim cho biết loạt phim sẽ gồm năm tập. ', ra mắt vào tháng 11 năm 2018. ' được phát hành vào tháng 4 năm 2022. Vào năm 2004, "Forbes" nêu danh Rowling là người đầu tiên trở thành tỷ phú đô la Mỹ nhờ viết sách, người phụ nữ trong ngành giải trí giàu thứ nhì, và người giàu thứ 1.062 trên thế giới. Rowling tranh cãi các số liệu này và cho rằng mình dù có nhiều tiền nhưng chưa phải là tỷ phú. Danh sách "Sunday Times" Rich List năm 2021 ước lượng tài sản của Rowling ở mức 820 triệu bảng Anh, đưa bà vào vị trí thứ 196 trong danh sách người giàu nhất nước Anh. Sau tám năm đứng tên trong danh sách, vào năm 2012 "Forbes" đã rút tên bà khỏi danh sách với lý do số tiền quyên góp từ thiện 160 triệu USD và mức thuế cao ở Anh có nghĩa rằng bà không còn là tỷ phú. Vào tháng 2 năm 2013, bà được chương trình "Woman's Hour" trên đài BBC Radio 4 đánh giá là người phụ nữ quyền hạn đứng thứ 13 ở Anh. Năm 2001, sau khi bà mua ngôi nhà lịch sử Killiechassie House và khuôn viên xung quanh nằm ở bờ sông Tay, gần Aberfeldy ở Perth and Kinross, bà nhận được tước hiệu Laird (tương đương Lãnh chúa) của Killiechassie. Bà cũng sở hữu một ngôi nhà xây dựng theo kiến trúc George trị giá 4,5 triệu bảng Anh ở Kensington, phía Tây Luân Đôn, trên con đường có bảo vệ 24 tiếng mỗi ngày. Rowling liên tục được đưa vào danh sách các tác giả có doanh thu cao nhất. Bà đứng đầu danh sách tác giả được trả nhiều tiền nhất trong năm 2017 và 2019 do "Forbes" công bố với tổng doanh thu lần lượt là 72 triệu bảng (95 triệu USD) và 92 triệu USD. Tái hôn và gia đình. Ngày 26 tháng 11 năm 2001, Rowling kết hôn với Neil Murray (sinh ngày 30 tháng 6 năm 1971), một bác sĩ người Scotland, trong một lễ cưới tại nhà riêng là Killiechassie House ở Scotland. Con trai của họ là David Gordon Rowling Murray, sinh ra vào ngày 24 tháng 3 năm 2003. Không lâu sau khi Rowling bắt đầu viết "Harry Potter và Hoàng tử lai", bà phải ngưng công việc viết lách để chăm sóc David khi còn sơ sinh. Rowling là bạn của Sarah Brown, phu nhân của cựu thủ tướng Gordon Brown; hai người quen nhau khi hợp tác trong một dự án từ thiện. Khi con trai của Sarah Brown là Fraser sinh ra vào năm 2003, Rowling là một trong những người đầu tiên đến bệnh viện viếng thăm. Con gái út của Rowling là Mackenzie Jean Rowling Murray, người được bà đề tặng cuốn "Harry Potter và Hoàng tử lai", sinh ra vào ngày 23 tháng 1 năm 2005. Vào tháng 10 năm 2012, một bài viết trên tạp chí "The New Yorker" cho biết gia đình Rowling sống trong một ngôi nhà ở Edinburgh được xây dựng từ thế kỷ 17, phía trước có hàng rào bằng cây thông cao che đậy. Trước tháng 10 năm 2012, Rowling sống gần tác giả Ian Rankin, người sau này cho biết bà có vẻ trầm lặng và nội tâm, và thoải mái hơn với trẻ con. #đổi , gia đình bà sinh sống ở Scotland. Tháng 7 năm 2011, Rowling rời bỏ cơ quan đại diện của mình là Christopher Little và chuyển đến một cơ quan mới do một cựu nhân viên của Christopher Little là Neil Blair thành lập. Ngày 23 tháng 2 năm 2012, cơ quan của ông, Blair Partnership, tuyên bố trên trang web rằng Rowling đang chuẩn bị xuất bản một quyển sách mới cho đối tượng là người lớn. Trong một thông cáo báo chí, Rowling cho biết tác phẩm mới của mình sẽ rất khác biệt so với Harry Potter. Tháng 4 năm 2012, nhà xuất bản Little, Brown and Company tuyên bố quyển sách có tựa đề "The Casual Vacancy" và sẽ được xuât bản vào ngày 27 tháng 9 cùng năm. Rowling đã trả lời phỏng vấn và xuất hiện trước công chúng để quảng cáo quyển "The Casual Vacancy", trong đó có các lần tại Southbank Centre ở Luân Đôn, Liên hoan văn học Cheltenham, chương trình truyền hình "Charlie Rose" và Liên hoan sách Lennoxlove. Trong ba tuần đầu sau khi xuất bản, "The Casual Vacancy" đã bán được hơn 1 triệu quyển trên toàn thế giới. Vào ngày 3 tháng 12 năm 2012, đài BBC cho biết sẽ chuyển thể quyển "The Casual Vacancy" thành một loạt phim truyền hình chính kịch. Nhà đại diện của Rowling là Neil Blair đóng vai trò nhà sản xuất qua công ty sản xuất độc lập của mình, trong khi Rick Senat đảm nhiệm vai trò giám đốc sản xuất. Rowling cũng đã hợp tác trong bộ phim chuyển thể, đóng vai trò giám đốc sản xuất. Bộ phim được trình chiếu trong ba phần, từ ngày 15 tháng 2 đến ngày 1 tháng 3 năm 2015. Năm 2007, tại Liên hoan sách Edinburgh, tác giả Ian Rankin cho biết vợ ông đã nhìn thấy Rowling viết một tác phẩm trinh thám tại một quán cà phê. Sau đó Rankin rút lại tuyên bố này và cho rằng đó chỉ là một trò đùa, nhưng lời đồn vẫn tiếp diễn; năm 2012 một bài viết trên tờ "The Guardian" phỏng đoán rằng tác phẩm kế tiếp của Rowling sẽ là mọt tiểu thuyết trinh thám hình sự. Trong một cuộc phỏng vấn với Stephen Fry năm 2005, Rowling cho biết bà muốn xuất bản những quyển sách sau này dưới một bút danh, nhưng trước đó cũng đã thừa nhận với Jeremy Paxman trong năm 2003 rằng nếu bà làm vậy, báo chí sẽ phanh phui ra "trong giây phút". Tháng 4 năm 2013, Little Brown cho xuất bản quyển "The Cuckoo's Calling", được cho là tiểu thuyết đầu tay của tác giả Robert Galbraith, được nhà xuất bản miêu tả là "một cựu điều tra viên chìm của Sở Cảnh sát Quân sự Hoàng gia, người đã rời bỏ công việc năm 2003 để hoạt động trong ngành an ninh dân sự". Tiểu thuyết là một câu chuyện trinh thám, trong đó thảm tử tư Cormoran Strike phanh phui vụ án về cái chết của một siêu mẫu, bán được 1.500 quyển bìa cứng (dù vụ việc chưa kết thúc #đổi ; những báo cáo sau này cho biết con số này là số bản trong lần in đầu, trong khi con số quyển bán được là khoảng 500) và nhận được nhiều khen ngợi từ các nhà văn trinh thám hình sự khác cũng như giới phê bình. Một bài phê bình của "Publishers Weekly" miêu tả quyển sách là "tác phẩm đầu tay xuất sắc", trong khi mục trinh thám của tạp chí chuyên ngành "Library Journal" miêu tả tiểu thuyết là "tác phẩm đầu tay của tháng". Tiểu thuyết gia kiêm nhà phụ trách mục báo tờ "The Sunday Times" là India Knight vào ngày 9 tháng 7 năm 2017 viết một lời tweet rằng bà đang đọc quyển "The Cuckoo's Calling" và cho rằng nó là một tiểu thuyết đầu tay tốt. Một tweeter tên Jude Callegari đáp lời rằng tác giả là Rowling. Knight gặng hỏi về việc này nhưng không được trả lời. Knight thông báo cho Richard Brooks, chủ bút chuyên mục nghệ thuật cho tờ "The Sunday Times" và ông bắt đầu cuộc điều tra riêng. Sau khi khám phá rằng Rowling và Galbraith có cùng nhà đại diện cũng như nhà biên soạn, ông đã gửi những tác phẩm để phân tích về văn phong; cuộc phân tích đã tìm ra nhiều điểm tương đồng, và ông đã liên lạc với nhà đại diện của Rowling và nhận lời xác nhận rằng đây chính là bút danh của Rowling. Chỉ trong vài ngày sau khi Rowling được xác định là tác giả, quyển sách tăng vọt số lượng bán lên 4.000%, và Little Brown in thêm 140.000 bản để có đủ để bán. #đổi , một quyển phiên bản đầu có chữ ký được bán với giá 4.453 USD (2.950 GBP), trong khi một quyển không có chữ ký được bày bán với giá 6.188 USD (3.950 GBP). Rowling cho biết bà thích thú việc viết dưới một bút danh. Trên trang web Robert Galbraith, Rowling giải thích rằng bà đã lấy tên từ một trong những thần tượng của mình là Robert F. Kennedy, cùng với một tên hư cấu bà tự đặt cho chính mình từ lúc thiếu thời là Ella Galbraith. Bình luận về tên gọi trong một cuộc phỏng vấn với Graham Norton, bà nói rằng, "khi tôi bị lột mặt – khi thân thế bị lộ diện – người ta phân tích rằng tên "Robert có nghĩa là danh tiếng chói lọi còn Galbraith có nghĩa là người lạ" trong khi tôi lại nghĩ rằng "thật vậy ư? Tôi chưa biết điều đó!" Như, bạn biết đó, đôi khi mọi việc bị phân tích quá đáng." Sau khi vụ việc được sáng tỏ, Brooks đặt nghi vấn rằng liệu Jude Callegari có phải chính là Rowling không và toàn bộ vụ việc có phải là một chiêu quảng cáo. Một số người nhận thấy một số nhà văn khen ngợi tiểu thuyết lúc ban đầu, như Alex Gray hoặc Val McDermid, là những người quen biết với Rowling; cả hai đều khăng khăng phủ nhận họ biết trước về việc Rowling là tác giả. Judith "Jude" Callegari là bạn thân của vợ Chris Gossage, một thành viên trong tổ hợp luật sư đại diện cho Rowling là Russells Solicitors. Rowling đưa ra thông cáo cho rằng bà cảm thấy thất vọng và tức giận; Russells xin lỗi về rò rĩ này, xác nhận rằng đây không phải là một chiêu tiếp thị và ông chỉ "tiết lộ riêng tư cho một người mà ông tuyệt đối tin tưởng". Russells quyên một khoản tiền cho tổ chức từ thiện Soldiers' Charity dưới tên Rowling và hoàn trả chi phí pháp lý cho bà. Ngày 26 tháng 11 năm 2013, Cơ quan Quy định Cố vấn pháp luật (Solicitors Regulation Authority, SRA) lập biên bản khiển trách Gossage và phạt ông 1.000 bảng Anh vì vi phạm luật lệ về quyền riêng tư. Ngày 17 tháng 2 năm 2014, Rowling tuyên bố tiểu thuyết Cormoran Strike thứ hai, với tựa đề "The Silkworm", sẽ ra mắt vào tháng 6 cùng năm. Trong đó, Strike sẽ điều tra vụ mất tích của một nhà văn mà đã làm phật lòng nhiều bạn bè vì đã nói xấu họ trong quyển tiểu thuyết mới của mình. Năm 2015, Rowling cho biết trên trang web của Galbraith rằng tiểu thuyết Cormoran Strike thứ ba sẽ có "kế hoạch cặn kẽ, đây là điều tôi làm nhiều nhất trong tất cả những tác phẩm của mình từ trước đến nay. Tôi có một bảng tính chia theo màu để có thể ghi nhớ lại những [tình tiết] mà mình sẽ viết đến." Vào ngày 24 tháng 4 năm 2015, Rowling tuyên bố đã hoàn tất công việc sáng tác quyển thứ ba. Dưới từa đề là "Career of Evil", tiểu thuyết ra mắt vào ngày 20 tháng 10 cùng năm tại Hoa Kỳ, và ngày 22 tháng 10 tại Anh. Năm 2017, đài BBC trình chiếu loạt phim truyền hình "Cormoran Strike", với Tom Burke trong vai Cormoran Strike, tại Hoa Kỳ và Canada nó được HBO phân phối. Tháng 3 năm 2017, Rowling công bố tựa tiểu thuyết thứ tư trên Twitter trong một trò chơi "Hangman" cho người hâm mộ. Sau nhiều lần thất bại, những người hâm mộ đã cuối cùng đoán trúng tựa tác phẩm. Rowling xác nhận tựa tác phẩm là "Lethal White". Tuy dự kiến xuất bản năm 2017, Rowling đã tweet rằng quyển sách đang tiến triển chậm hơn dự kiến và sẽ là quyển dài nhất trong loạt truyện. Quyển sách ra mắt vào ngày 18 tháng 9 năm sau. Quyển thứ năm trong loạt truyện, với tựa là "Troubled Blood", ra mắt vào tháng 9 năm 2020. Vào tháng 5 năm 2021, "Troubled Blood" Giải Sách Anh ở hạng mục Sách Hình sự và Trinh thám của Năm. Những ấn phẩm "Harry Potter" sau này. Rowling cho biết ít có khả năng bà sẽ viết tiếp truyện "Harry Potter". Vào tháng 10 năm 2007, bà cho biết các tác phẩm tương lai của mình cũng chắc không nằm trong thể loại kỳ ảo. Vào ngày 1 tháng 10 năm 2010, trong một cuộc phỏng vấn với Oprah Winfrey, Rowling cho biết một quyển sách mới trong loạt truyện có thể sẽ xảy ra. Trong năm 2007, Rowling cho biết bà đang dự tính viết một bách khoa toàn thư về thế giới phù thủy trong "Harry Potter" bao gồm những tài liệu và ghi chép chưa xuất bản. Mọi lợi nhuận từ quyển sách này bà sẽ quyên cho các tổ chức từ thiện. Tại một cuộc họp báo tại Kodak Theatre ở Hollywood năm 2007, khi được hỏi về tiến triển của quyển bách khoa, Rowling cho biết, "Nó chưa có đâu, và tôi cũng chưa bắt đầu viết. Tôi chưa bao giờ nói rằng nó là điều kế tiếp mình sẽ làm." Cuối năm 2007, Rowling cho biết quyển bách khoa toàn thư có thể sẽ tốn đến 10 năm để hoàn tất. Tháng 6 năm 2011, Rowling tuyên bố các dự án "Harry Potter" trong tương lai, cũng như các tài liệu điện tử, đều sẽ nằm trên một website mới thành lập, tên là Pottermore. Trang web chứa đựng khoảng 18.000 từ bao gồm thông tin về các nhân vật, địa điểm, và vật chất trong thế giới "Harry Potter". Vào tháng 10 năm 2016, Rowling tuyên bố trên "Pottermore" rằng một vở kịch hai phần mà bà viết cùng hai nhà soạn kịch Jack Thorne và John Tiffany, "Harry Potter và đứa trẻ bị nguyền rủa", là "câu chuyện "Harry Potter" thứ tám" và sẽ tập trung vào cuộc đời của cậu con út của Harry Potter là Albus sau phần kết trong "Harry Potter và Bảo bối Tử thần". Vào ngày 28 tháng 10 năm 2015, lượt vé đầu tiên đã bán sạch trong vòng vài tiếng đầu. Kể từ ngày 26 tháng 5 cho đến ngày 10 tháng 7 năm 2020, Rowling đã cho xuất bản một câu chuyện thiếu nhi trên mạng. "The Ickabog" ban đầu được nhắc đến như một "truyện cổ tích chính trị" cho thiếu nhi trong một cuộc phỏng vấn năm 2007 trên tạp chí "Time". Rowling đã bỏ kế hoạch nhưng quyết định xuất bản cho thiếu nhi để phản ứng với Đại dịch COVID-19. Một phiên bản in được xuất bản vào ngày 10 tháng 11 năm 2020 và bao gồm hình ảnh minh họa được chọn trong cuộc thi diễn ra cùng lúc khi xuất bản trực tuyến. Rowling cho biết tất cả thù lao từ quyển sách sẽ được quyên tặng đến các tổ chức từ thiện giúp đỡ những người bị COVID-19 ảnh hưởng. Vào ngày 13 tháng 4 năm 2021, quyển tiểu thuyết thiếu nhi với tựa đề "The Christmas Pig" được tuyên bố sẽ xuất bản vào tháng 10 năm 2021. Câu chuyện này sẽ không liên quan gì đến tất cả các tác phẩm trước của Rowling. Hoạt động từ thiện. Năm 2000, Rowling thành lập Quỹ Từ tiện Volant, với ngân sách hàng năm là 5,1 triệu bảng Anh được dùng cho mục đích xóa đói giảm nghèo và chống lại bất bình đẳng xã hội. Quỹ cũng trợ cấp các tổ chức hỗ trợ trẻ em, gia đình cha mẹ đơn thân, và nghiên cứu đa xơ cứng. Chống đói nghèo và phúc lợi trẻ em. Rowling, từng là một bà bẹ đơn thân, hiện nay là chủ tịch tổ chức từ thiện Gingerbread (trước kia có tên One Parent Families), trước đó bà là Sứ giả đầu tiên của tổ chức vào năm 2000. Rowling cộng tác với Sarah Brown để viết một quyển truyện thiếu nhi để hỗ trợ One Parent Families. Năm 2001, tổ chức quyên góp chống đói nghèo Comic Relief đã thỉnh cầu ba tác giả ăn khách nhất nước Anh — đó là nhà văn dạy nấu ăn và người dẫn chương trình truyền hình Delia Smith, tác giả bộ truyện "Bridget Jones" Helen Fielding, và Rowling — viết những quyển sách ngắn liên quan đến tác phẩm nổi tiếng nhất của mình để xuất bản. Hai quyển sách của Rowling, "Những sinh vật huyền bí và nơi tìm ra chúng" và "Quidditch qua các thời đại", được đưa ra như những bản copy của những quyển sách được tìm thấy trong thư viện của Hogwarts. Từ khi xuất bản vào tháng 3 năm 2001, hai quyển đã đem lại 15,7 triệu bảng Anh cho quỹ. Thêm vào đó, hai quyển cũng đã đem lại 10,8 triệu bảng ở ngoài nước Anh và khoản tiền này được đưa vào Quỹ Quốc tế Cho Thiếu nhi và Thanh niên trong Khủng hoảng mới được thành lập. Vào năm 2002, Rowling cũng đã viết lời mở đầu cho quyển "Magic", một tuyển tập truyện hư cấu do Bloomsbury xuât bản, góp phần gây quỹ cho Hội đông Quốc gia cho Gia đình Cha mẹ Đơn thân. Năm 2005, Rowling và Thành viên Nghị viện Châu Âu Emma Nicholson thành lập Children's High Level Group (nay là Lumos). Vào tháng 1 năm 2006, bà đến Bucharest để gây chú ý đến việc sử dụng giường chuồng trong các bệnh viện tâm thần cho trẻ em. Để tiếp tục hỗ trợ CHLG, Rowling cho đấu giá một trong bảy quyển "Những chuyện kể của Beedle Người Hát Rong" do chính bà viết tay và vẽ minh họa, một loạt truyện cổ tích được nhắt đến trong quyển "Harry Potter và Bảo bối Tử thần". Công ty bán sách trực tuyến A,95 triệu bảng Anh vào ngày 13 tháng 12 năm 2007, trở thành quyển sách hiện đại đắt tiền nhất trong một cuộc đấu giá. Sáu quyển còn lại bà đã cho những người có quan hệ mật thiết đến bộ sách "Harry Potter". Năm 2008, Rowling đồng ý cho xuất bản quyển sách, với lợi nhuận được quyên góp cho Lumos. Vào ngày 1 tháng 6 năm 2010 (Ngày Quốc tế Thiếu nhi), Lumos khởi xướng một sự kiện hàng năm—"Hãy Thắp Nến Sinh nhật cho Lumos". Vào tháng 11 năm 2013, Rowling đã quyên góp toàn bộ lợi nhuận từ "Những chuyện kể của Beedle Người Hát Rong", trị giá gần 19 triệu bảng Anh. Vào tháng 7 năm 2012, Rowling xuất hiện tại Lễ khai mạc Thế vận hội Mùa hè 2012 tại Luân Đôn, trong đó bà đã đọc một đoạn văn từ tác phẩm "Peter Pan" của J. M. Barrie để tri ân Bệnh viện Nhi đồng Great Osmond Street. Trong lúc bà đọc có sự hiện diện của những quả bóng tượng trưng cho Chúa tể Voldemort và một số nhân vật từ văn học thiếu nhi khác. Rowling đã quyên góp tiền và hỗ trợ nỗ lực nghiên cứu và điều trị đa xơ cứng, chứng bệnh mà mẹ bà mắc phải trước khi qua đời năm 1990. Trong năm 2006, Rowling đã quyên góp một khoản tiền đang kể để thành lập một Trung tâm Thuốc Hồi sinh tại Đại học Edinburgh, sau này được đặt tên theo mẹ bà là Anne Rowling Regenerative Neurology Clinic. Năm 2010, bà quyên góp thêm 10 triệu bảng Anh cho trung tâm, và sau đó là 15 triệu nữa vào năm 2019. Vì lý do nào đó chưa xác định được, Scotland, nơi Rowling sinh sống có tỷ lệ đa xơ cứng cao nhất thế giới. Vào năm 2003, Rowling tham gia chiến dịch thành lập tiêu chuẩn chăm sóc người mắc chứng đa xơ cứng. Vào tháng 4 năm 2009, bà tuyên bố ngừng hỗ trợ tổ chức Hội Đa xơ cứng Scotland, do tranh chấp giữa các chi nhánh phía Bắc và Nam đã làm suy sụp chí khí và dẫn đến một số người từ chức. Vào tháng 5 năm 2020, Rowling tuyên bố xuất bản tiểu thuyết thiếu nhi "The Ickabog", với toàn bộ tiền thù lao tác giả được quyên tặng cho các tổ chức hỗ trợ những người bị đại dịch COVID-19 ảnh hưởng. Qua Quỹ Từ thiện Volant, Rowling đã quyên tặng hàng trăm nghìn bảng Anh cho cả hai tổ chức Khalsa Aid và British Asian Trust để hỗ trợ công việc cứu trợ COVID tại Ấn Độ, vào tháng 5 năm 2021. Các hoạt động từ thiện khác. Vào tháng 5 năm 2008, cửa hành sách Waterstones đã thỉnh cầu Rowling và 12 nhà văn khác (Lisa Appignanesi, Margaret Atwood, Lauren Child, Sebastian Faulks, Richard Ford, Neil Gaiman, Nick Hornby, Doris Lessing, Michael Rosen, Axel Scheffler, Tom Stoppard và Irvine Welsh) sáng tác một tác phẩm tự chọn trên một tờ giấy khổ A5, để đưa bán đấu giá nhằm gây quỹ cho hai tổ chức từ thiện Dyslexia Action và English PEN. Cống hiến của Rowling là một đoạn văn gồm 800 chữ lấy bối cảnh trước "Harry Potter" nói về cha của Harry Potter là James Potter, cùng người cha đỡ đầu là Sirius Black, diễn ra 3 năm trước khi Harry sinh ra. Những tờ giấy này được gom lại và sắp xếp thứ tự rồi bán để gây quỹ dưới hình thức sách vào tháng 8 năm 2008. Vào ngày 1 và 2 tháng 8 năm 2006, bà đã đọc cùng với Stephen King và John Irving tại Radio City Music Hall ở Thành phố New York. Thu nhập từ sự kiện này được quyên góp cho Quỹ Haven, một tổ chức từ thiện hỗ trợ các nghệ sĩ và nhà biểu diễn không có bảo hiểm và không hoạt động được, và tổ chức y tế phi chính phủ Bác sĩ không biên giới. Vào tháng 5 năm 2007, Rowling hứa sẽ đóng góp hơn 250.000 bảng Anh vào một quỹ tiền thưởng do tờ báo lá cải "News of the World" thành lập nhằm trả về cô bé người Anh Madeleine McCann vốn đã mất tích tại Bồ Đào Nha. Rowling, cùng với Nelson Mandela, Al Gore, và Alan Greenspan, đã viết phần mở đầu cho một bộ tuyển tập các bài diễn văn của Gordon Brown, và lợi nhuận được quyên góp cho Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Jennifer Brown. Sau khi bị lộ mặt là tác giả quyển "The Cuckoo's Calling" khiến doanh thu tác phẩm tăng vọt, Rowling tuyên bố sẽ quyên tặng toàn bộ tiền thù lao cho Army Benevolent Fund, và nói rằng mình luôn có ý định này nhưng không ngờ rằng quyển sách trở thành một tác phẩm bán chạy. Rowling là thành viên của cả hai tổ chức English PEN và Scottish PEN. Bà là một trong 50 tác giả đóng góp vào First Editions, Second Thoughts, một cuộc đấu giá từ thiện cho English PEN. Mỗi tác giả viết tay vào một phiên bản in lần đầu của một tác phẩm của mình, trong trường hợp của Rowling là quyển "Harry Potter và Hòn đá Phù thủy". Quyển sách là vật đấu giá cao nhất trong sự kiện, đem lại 150.000 bảng Anh (228.600 USD). Rowling cũng hỗ trợ Quỹ Shannon, nhà điều hành các dự án Toe by Toe Reading Plan và Shannon Reading Plan trong các nhà tù khắp nước Anh, giúp đỡ và dạy kèm các tù nhân mù chữ. Rowling đã nêu danh nhà hoạt động dân quyền Jessica Mitford là người ảnh hưởng nhiều nhất trong cuộc đời mình. Bà cho biết "Jessica Mitford là anh hùng của tôi từ khi tôi 14 tuổi, khi tôi nghe được bà họ đáng nể kể về việc Mitford bỏ nhà ở tuổi 19 để theo phe Cộng sản trong Nội chiến Tây Ban Nha", và nói rằng điều truyền cảm hứng về Mitford là cô ta "nổi loạn một cách bất trị và có bản năng, can đảm, mạo hiểm, vui nhộn và bất kính, cô không thích gì hơn là một cuộc chiến đấu tốt đẹp, tốt hơn là với một đối thủ tự cao tự đại và đạo đức giả". Rowling từng miêu tả Jane Austen là tác giả bà yêu thích nhất, nêu danh "Emma" là quyển sách yêu thích nhất của mình trong tạp chí "O, The Oprah Magazine". Lúc còn nhỏ, Rowling cho biết những ảnh hưởng đầu đời gồm các tác phẩm "Sư tử, Phù thủy và cái Tủ áo" của C. S. Lewis, "The Little White Horse" của Elizabeth Goudge, và "Manxmouse" của Paul Gallico. Đối với nhiều người, Rowling được biết qua quan điểm chính trị trung tả. Vào tháng 9 năm 2008, trước thềm Hội nghị Công đảng, Rowling tuyên bố bà đã quyên góp 1 triệu bảng Anh cho Công đảng, và đã công khai tuyên bố ủng hộ Thủ tướng Công đảng Gordon Brown thay vì đối thủ là đảng viên Bảo thủ David Cameron, trong lúc đề cao các chính sách của Công đảng về tệ nạn nghèo đói ở trẻ em. Rowling là bạn thân với Sarah Brown, phu nhân của Gordon Brown; hai người quen biết nhau khi họ hợp tác trong một dự án từ thiện cho tổ chức One Parent Families. Rowling cũng đã bình luận về chính trị Hoa Kỳ khi bàn luận về cuộc bầu cử tổng thống năm 2008 với tờ báo Tây Ban Nha "El País" vào tháng 2 năm 2008, nói rằng cuộc bầu cử sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới ngoài nước Mỹ. Bà cũng nói rằng Barack Obama và Hillary Clinton sẽ "xuất chúng" trong Nhà Trắng. Cũng trong cuộc phỏng vấn này, Rowling cho biết Robert F. Kennedy là anh hùng của mình. Vào tháng 4 năm 2010, một bài Rowling viết được đăng trên tờ "The Times", trong đó bà chỉ trích kế hoạch khuyến khích những cặp đôi đã kết hôn ở chung với nhau bằng cách cho khoản khấu trừ thuế 150 bảng Anh hàng năm của thủ tướng Bảo thủ đương nhiệm là David Cameron: "Không ai từng trải qua hoàn cảnh nghèo đói có thể nói rằng 'đó không phải là vì tiền, mà là vì thông điệp'. Khi căn hộ của bạn đã bị đột nhập, và bạn không có tiền để trả thợ khóa, đó là vì tiền. Khi bạn còn thiếu hai pence để mua một hộp đậu nướng, và đứa con của bạn đang đói, nó là vì tiền. Khi bạn có ý tưởng muốn ăn cắp tã, đó là vì tiền." Do sinh sống tại Scotland, Rowling có quyền bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý độc lập năm 2014; bà đã vận động cho phe chống trong thời gian trước cuộc bỏ phiếu. Bà đã quyên góp 1 triệu bảng Anh cho chiến dịch chống độc lập Better Together do Alistair Darling, từng là hàng xóm của bà, điều hành; đây là khoản tiền quyên góp nhiều nhất tổ chức nhận được tính đến thời điểm đó. Trong một bài blog, Rowling giải thích một bức thư ngỏ từ các chuyên gia y tế Scotland đã nêu ra các vấn đề trong kế hoạch của Thủ hiến Thứ nhất Alex Salmond về việc tài trợ chung cho các nghiên cứu. Rowling ví một số người ủng hộ độc lập Scotland với Tử thần Thực tử, những nhân vật trong "Harry Potter" có quan điểm khinh bỉ những người không có dòng máu thuần chủng. Vào ngày 22 tháng 10 năm 2015, một bức thư với chữ ký của Rowling (cùng 150 nhân vật khác trong các lĩnh vực nghệ thuật và chính trị) được đăng trên tờ "The Guardian," phản đối nỗ lực tẩy chay văn hóa nhắm đến Israel, và tuyên bố thành lập một mạng lưới đối thoại với tên gọi Văn hóa Chung sống (Culture for Coexistence). Giải thích chi tiết hơn về quan điểm của mình, Rowling nói rằng dù bà phản đối hầu hết mọi hành động của Benjamin Netanyahu, bà không tin rằng việc tẩy chay văn hóa sẽ khiến ông mất vị trí lãnh đạo hay sẽ cải tiến tình hình ở Israel và Palestine. Vào tháng 6 năm 2016, Rowling vận động kêu gọi Anh ở lại trong Liên minh Châu Âu trước cuộc trưng cầu dân ý về tư cách thành viên của Anh năm 2016; bà viết trên website của mình rằng, "Tôi là kết quả tạp chủng của châu Âu này và tôi là một người theo chủ nghĩa quốc tế. Tôi được dạy dỗ bởi một người mẹ yêu Pháp, với gia đình hãnh diện vì di sản một phần lai Phá, nhưng tôi vẫn ở quê hương mình." Rowling nêu lo ngại của mình về việc những "kẻ phân biệt chủng tộc và tin mù quáng" đang điều hành chiến dịch rời bỏ. Một số nhân vật và tổ chức tôn giáo từng phản đối và chỉ trích những tác phẩm của Rowling vì họ cho rằng nó đã đề cao thuật phù thủy. Nhiều sự phản đối đặc biệt đến từ những Kitô hữu, dù chính Rowling cũng tự nhận là một Kitô hữu, tuyên bố rằng "Tôi tin tưởng vào Thượng đế, không phải phép thuật." Lúc ban đầu khi viết loạt truyện "Harry Potter" và để đáp lại những chỉ trích, Rowling không tiết lộ nhiều về đức tin của mình; bà tin tưởng rằng nếu độc giả biết được quan điểm tôn giáo của mình, họ sẽ đoán trước được những tình tiết sẽ xảy ra đối với các nhân vật trong câu chuyện. Trong năm 2007, Rowling cho biết bà là người duy nhất trong gia đình thường xuyên đi lễ nhà thờ, và bà theo Giáo hội Anh. Khi còn là học sinh, bà từng cảm thấy phiền lòng đối với "thói tự mãn của những người theo tôn giáo" nên ít tham gia hơn. Sau này, bà bắt đầu gia nhập một giáo đoàn thuộc Giáo hội Scotland cùng lúc khi bà viết "Harry Potter". Con gái cả của bà là Jessica được rửa tội tại đó. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2006 với tạp chí"Tatler", Rowling cho biết rằng, "như Graham Greene, đức tin của tôi đôi khi xoay quanh vấn đề đức tin có trở lại hay không. Nó là điều quan trọng đối với tôi." Bà cho biết bà từng phải đối đầu với ngờ vực, và bà tin tưởng vào thế giới bên kia, và đức tin của bà đóng vai trò trong những tác phẩm của mình. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2012, Rowling cho biết bà là thành viên của Giáo hội Giám nhiệm Scotland, một giáo tỉnh thuộc Khối Hiệp thông Anh giáo. Trong năm 2015, sau khi cuộc trưng cầu dân ý về hôn nhân đồng giới ở Ireland, Rowling nói đùa rằng nếu Ireland hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, Dumbledore và Gandalf có thể kết hôn tại đó. Tổ chức thù hận Westboro Baptist Church, trả lời rằng nếu hai người kết hôn, họ sẽ biểu tình phản đối. Rowling đáp lời rằng, "Chao ôi, một sự hợp nhất vĩ đại như thế này ở một địa điểm như thế sẽ làm vỡ tan những bộ óc nhỏ bé tin mù quáng ra khỏi sọ dày của chúng mày." Rowling cho biết bà có mối quan hệ khó khăn với báo chí, thừa nhận rằng có lần bà "da mỏng" và không thích thú bản chất luôn thay đổi của ngành này, nhưng bà tranh cãi miêu tả rằng mình là một người sống ẩn dật không ưa phỏng vấn. Đến năm 2011, Rowling đã có hơn 50 hành động khiếu nại đối với báo chí. Vào năm 2001, Ủy ban Khiếu nại Báo chí xác nhận đơn khiếu nại của bà về một loạt ảnh chụp bà và cô con gái tại Mauritius được xuất bản trên tạp chí "OK!" mà không có sự chấp thuận của bà. Đến năm 2007, cậu con trai của Rowling là David, được Rowling và chồng bà nâng đỡ, đã thua kiện trong nỗ lực cấm xuất bản một bức ảnh của David. Bức ảnh do một nhiếp ảnh gia chụp với thấu kính tầm xa sau đó đã được xuất bản trên một bài báo trong tạp chí "Sunday Express" viết về cuộc sống gia đình của Rowling. Phán quyết này đã bị lật ngược, thiên về phía David, vào tháng 5 năm 2008. Đặc biệt, Rowling đã tỏ ý căm ghét "Daily Mail", tờ báo lá cải đã nhiều lần phỏng vấn chồng cũ của bà. Theo như lời của một nhà báo, "Ông dượng Vernon của Harry là một kẻ ít học lố bịch với xu hướng hung bạo và đầu óc thật nhỏ bé. Thật là dễ đoán ra Rowling đã cho ông đọc tờ báo nào [trong quyển "Chiếc cốc lửa"]." Vào năm 2014, bà đã kiện thành công tờ "Mail" vì tội phỉ báng sau khi tờ báo đăng một bài viết về quãng thời gian bà còn là một bà mẹ đơn thân. Một số người phỏng đoán rằng mối quan hệ đầy khó khăn với báo chí là nguồn cảm hứng cho nhân vật Rita Skeeter, một nhà báo nổi tiếng xuất hiện lần đầu trong cuốn "Chiếc cốc lửa", nhưng Rowling trong năm 2000 cho biết bà đã phát triển nhân vật từ trước khi mình trở nên nổi tiếng. Tháng 9 năm 2011, Rowling được nêu danh là một "người tham gia chính" trong vụ thẩm vấn Leveson về văn hóa, hoạt động, và đạo đức của ngành báo chí Anh, với tư cách là một trong những người nổi tiếng trở thành nạn nhân trong các vụ xâm nhập vào điện thoại. Vào ngày 24 tháng 11 năm 2011, Rowling làm nhân chứng cho vụ thẩm vấn; tuy bà không bị nghi ngờ là nạn nhân, lời khai của bà bao gồm việc bị các nhiếp ảnh gia đứng chờ ngay trước cửa nhà, vị hôn phu bị lừa gạt để tiết lộ địa chỉ nhà riêng cho phòng viên đang giả làm nhân viên từ sở thuế, việc bà phải rượt đuổi một phóng viên chỉ một tuần sau khi sinh con, một phóng viên để lại một bức thư ngắn trong cặp sách của cô con gái năm tuổi, và nỗ lực "tống tiền" của tờ "The Sun" để chụp ảnh bà để đổi lấy lại một bản thảo bị đánh cắp. Rowling cho biết bà phải bỏ căn nhà cũ ở Merchiston vì bị báo chí quấy rầy. Vào tháng 11 năm 2012, Rowling viết một bài xã luận trên tờ "The Guardian" để phản ứng việc David Cameron quyết định không thực thi tất cả những đề nghị của kết quả vụ thẩm vấn, và nói rằng mình cảm thấy "bị lừa dối và tức giận". Năm 2014, Rowling khẳng định bà ủng hộ "Hacked Off", một chiến dịch đòi hỏi báo chí tự chỉnh đốn bằng cách cùng những người nổi tiếng Anh khác ký tên vào một tuyên bố "[bảo vệ] báo chí từ các can thiệp chính trị trong khi đồng thời đưa bảo trợ thiết yếu cho đối tượng dễ bị tổn thương". Vào tháng 12 năm 2019, Rowling đăng một lời tweet ủng hộ Maya Forstater, một phụ nữ Anh bị thua vụ kiện đối với nhà tuyển dụng Center for Global Development sau khi hợp đồng làm việc không được gia hạn vì những lời nói của bà về người chuyển giới (vụ "Maya Forstater v Centre for Global Development"). Vào ngày 6 tháng 6 năm 2020, Rowling tweet lời chỉ trích cụm từ "người có kinh nguyệt" ("people who menstruate"), và viết rằng "Nếu giới tính không có thật, thì cái thực tế mà phụ nữ toàn cầu đang sống sẽ bị xóa bỏ. Tôi quen biết và yêu thương người chuyển giới, nhưng việc xóa bỏ khái niệm giới tính tước đi khả năng của nhiều người để nói về cuộc sống của họ một cách có ý nghĩa." Lời tweet của Rowling bị tổ chức theo dõi truyền thông ủng hộ người LGBT là GLAAD chỉ trích và miêu tả là "độc ác" và "chống người chuyển giới". Một số diễn viên trong loạt phim "Harry Potter" cũng chỉ trích quan điểm của Rowling hoặc lên tiếng ủng hộ quyền của người chuyển giới, trong đó có Daniel Radcliffe, Emma Watson, Rupert Grint, Bonnie Wright, và Katie Leung, cũng như diễn viên chính trong loạt phim "Những sinh vật huyền bí" là Eddie Redmayne và các trang web của người hâm mộ MuggleNet và The Leaky Cauldron. Diễn viên Noma Dumezweni (thủ vai Hermione Granger trong vở kịch "Harry Potter và đứa trẻ bị nguyền rủa") ban đầu ủng hộ Rowling nhưng sau đó thoái lui sau khi nhận nhiều phản ứng trái chiều. Ngày 10 tháng 6 năm 2020, Rowling đăng một bài luận dài 3.600 chữ trên website của mình để đáp lại những ý kiến chỉ trích. Một lần nữa, bà viết rằng nhiều phụ nữ cảm thấy những cụm từ như "người có kinh nguyệt" có ý nghĩa hạ thấp. Bà viết rằng mình là một người từng trải bạo hành gia đình và tấn công tình dục, và "Khi bạn mở cửa phòng vệ sinh và phòng thay đồ để cho bất cứ người đàn ông nào mà tin tưởng hay cảm thấy mình là phụ nữ đều vào đượ", đồng thời phát biểu rằng hầu hết người chuyển giới là người dễ bị tổn thương và đáng được bảo vệ. Trong một bài viết phản ứng đến phát biểu về việc ai là người có nguy cơ tại phòng vệ sinh phụ nữ, hãng thông tấn Reuters cho biết phụ nữ chuyển giới mới là người có nguy cơ nhiều hơn, và trong 200 địa phương cho phép người chuyển giới sử dụng các trung tâm bảo vệ phụ nữ không nơi nào báo cáo tăng tỷ lệ bạo lực. Bài luận của bà bị nhiều cá nhân và tổ chức chỉ trích, trong đó có tổ chức từ thiện Mermaids (hỗ trợ trẻ em chuyển giới và không theo giới tính và cha mẹ của họ) cũng như nhà lý thuyết giới theo chủ nghĩa nữ quyền Judith Butler. Rowling nhiều lần bị miêu tả là một người theo chủ nghĩa nữ quyền cấp tiến loại trừ người chuyển giới ("trans-exclusionary radical feminist," TERF), dù bà không đồng ý bị dán nhãn này. Rowling nhận ủng hộ từ các diễn viên Robbie Coltrane và Brian Cox, và một số người theo chủ nghĩa nữ quyền như nhà hoạt động Ayaan Hirsi Ali và nhà hoạt động nữ quyền cấp tiến Julie Bindel. Đài BBC đề cử bài luận văn của bà cho Giải Russell thường niên về những viết lách tốt nhất. Vào tháng 8 năm 2020, Rowling trả lại Giải Nhân quyền Robert F. Kennedy mà bà đã được trao tặng sau khi Kerry Kennedy đưa tuyên bố "thất vọng sâu sắc" về những "hành động tấn công đến cộng đồng chuyển giới" của Rowling, mà Kennedy miêu tả là "mâu thuẫn với những ý tưởng và giá trị căn bản của tổ chức Nhân quyền RFK và là... một sự từ bỏ những mơ tưởng của cha tôi". Rowling nói rằng bà "buồn sâu sắc" vì lời nói của Kennedy, nhưng cho rằng không một giải thưởng nào mà khuyến khích mình "từ bỏ quyền đi theo" tiếng gọi lương tâm. Tranh chấp pháp lý. Rowling cùng những nhà xuất bản và Time Warner, đơn vị sở hữu quyền cho loạt phim Harry Potter đã thực hiện nhiều hành động pháp lý nhằm bảo vệ quyển tác giả của tác phẩm. Do sự nổi tiếng của bộ sách trên toàn cầu, có nhiều phiên bản, phần tiếp theo, hay sản phẩm hùa theo đã được xuất bản mà chưa nhận sự cho phép của tác giả hay đơn vị giữ bản quyền, dẫn đến nỗ lực để cấm hay ngăn chận chúng. Một lĩnh vực tranh chấp pháp lý liên quan đến các lệnh tòa theo yêu cầu của Rowling và các nhà xuất bẩn cấm bất cứ ai đọc sách của bà trước ngày chính thức xuất bản. Những lệnh cấm này gặp chỉ trích từ những người hoạt động dân quyền và tự do ngôn luận và đã dẫn đến những cuộc tranh luận về "quyền được đọc". Rowling nhận nhiều bằng danh dự từ Đại học St Andrews, Đại học Edinburgh, Đại học Edinburgh Napier, Đại học Exeter (mà bà đã theo học), the Đại học Aberdeen, và Đại học Harvard, nơi bà phát biểu tại lễ phát bằng. Năm 2009, Rowling được Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy trao cấp bậc Hiệp sĩ Bắc Đẩu Bội tinh (Chevalier de la Légion d'honneur). Năm 2002, Rowling trở thành một Hội viên Danh dự của Hội Hoàng gia Edinburgh (HonFRSE) và Hội viên Hội Văn học Hoàng gia (FRSL). Bà cũng được vinh danh thành Hội viên Đoàn thể Bác sĩ Hoàng gia Edinburgh (FRCPE) vào năm 2011 cho những cống hiến trong lĩnh vực Văn học và Từ thiện. Những giải thưởng khác bà đã nhận gồm có:
Mẹ Têrêsa (còn được gọi là Thánh Têrêsa thành Kolkata; tên khai sinh tiếng Albania: ""; ['agnɛs 'gɔndʒa bɔ'jadʒu]; 26 tháng 8 năm 1910 – 5 tháng 9 năm 1997) là một nữ tu và nhà truyền giáo Công giáo Rôma người Ấn Độ gốc Albania. Bà sinh tại Skopje (thủ đô Cộng hòa Bắc Macedonia ngày nay), khi đó thuộc Đế quốc Ottoman. Sau khi sống ở Macedonia trong 18 năm, bà tới Ireland rồi Ấn Độ, nơi bà sống trong phần lớn cuộc đời còn lại. Bà sáng lập Dòng Thừa sai Bác Ái tại Kolkata (Calcutta), Ấn Độ năm 1950. Trong hơn bốn mươi năm, bà chăm sóc người nghèo, bệnh tật, trẻ mồ côi, người hấp hối, trong khi hoàn tất nhiệm vụ lãnh đạo dòng tu phát triển khắp Ấn Độ, và đến các quốc gia khác. Năm 1970, Mẹ Têrêsa trở thành một nhân vật toàn cầu nổi tiếng với các hoạt động nhân đạo cứu giúp người nghèo và những người sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng, một phần là nhờ một quyển sách và cuốn phim tư liệu tựa đề "Something Beautiful for God" của Malcome Muggeridge. Bà được trao Giải Nobel Hòa bình năm 1979 như một sự vinh danh cho các hoạt động nhân đạo của bà. Dòng Thừa sai Bác ái của Mẹ Têrêsa tiếp tục phát triển, đến thời điểm bà từ trần, tổ chức từ thiện này đang điều hành 610 cơ sở truyền giáo tại 123 quốc gia, trong đó có các nhà trọ và nhà tình thương có người mắc bệnh HIV/AIDS, cũng như bệnh nhân phong và lao, các bếp ăn từ thiện, các chương trình tư vấn cho gia đình và trẻ em, các trại mồ côi, và trường học. Mặc dù Teresa được tôn vinh bởi nhiều cá nhân, chính quyền và các tổ chức, bà cũng là mục tiêu của không ít chỉ trích từ những người như Christopher Hitchens, Aroup Chatterjee, và Vishva Hindu Parishad. Thường thì những phê phán này nhắm vào nỗ lực cải đạo không tự nguyện trong công tác từ thiện bao gồm việc rửa tội cho những người sắp chết, lập trường cứng rắn chống phá thai và việc cho rằng sự nghèo khó có thể tạo điều kiện cho những lợi ích tâm linh. Sau khi mất, bà được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong chân phước. Chủ nhật ngày 4 tháng 9 năm 2016, Giáo hoàng Phanxicô đã chủ sự thánh lễ tuyên thánh cho bà tại Quảng trường Thánh Phêrô ở Vatican với khoảng 120.000 người tham dự. Anjezë Gonxhe Bojaxhiu (trong tiếng Albania, "Anjezë" là Anê; "Gonxhe" nghĩa là "nụ hồng") chào đời ngày 26 tháng 8 năm 1910 tại Skopje, lúc đó là thủ phủ của tỉnh Kossovo Vilayet thuộc Đế quốc Ottoman; nay là thủ đô Cộng hòa Macedonia. là con út của một gia đình đến từ Shkodër, Albania, cha mẹ của cô là Nikola và Dranafile (tiếng Albania nghĩa là "hoa hồng") Bojaxhiu. Nikola có hoạt động chính trị tại Albania. Năm 1919, sau một cuộc hội họp ông ngã bệnh và qua đời khi Agnes mới lên tám. Sau khi cha mất, mẹ nuôi dưỡng cô trong đức tin Công giáo Rôma. Theo người viết tiểu sử Teresa, Joan Graff Clucas, từ khi còn thơ ấu, Agnes đã ham thích đọc các câu chuyện về cuộc đời các thừa sai và hoạt động của họ, đến tuổi 12 cô tin rằng nên hiến mình cho đời sống tôn giáo. Năm 18 tuổi, cô gia nhập Dòng Nữ tu Loreto, từ đó cô không bao giờ gặp lại mẹ và chị. Trước tiên, Agnes đến Tu viện Loreto ở Rathfarnham, Ái Nhĩ Lan để học tiếng Anh, ngôn ngữ dòng Loreto dùng để dạy học tại Ấn Độ. Cô đến Ấn Độ năm 1929, và bắt đầu cuộc đời nữ tu tập sinh tại Darjeeling, gần dãy Himalaya. Ngày 24 tháng 5 năm 1931, cô làm lễ tiên khấn để trở thành nữ tu. Cô chọn tên Teresa theo tên Thérèse de Lisieux, thánh bổn mệnh của các thừa sai. Ngày 14 tháng 5 năm 1937, Teresa khấn trọn đời, khi ấy cô đang dạy học tại trường Loreto ở phía đông Calcutta. Mặc dù bận rộn với nhiệm vụ giảng dạy tại trường, Teresa ngày càng quan tâm đến cuộc sống nghèo khổ nhan nhản chung quanh cô tại Calcutta. Nạn đói năm 1943 mang nhiều điều bất hạnh và chết chóc đến thành phố; rồi các cuộc bạo động giữa người Hindu và người Hồi giáo trong tháng 8 năm 1946 nhấn chìm thành phố này trong nỗi kinh hoàng và sự tuyệt vọng. Dòng Thừa sai Bác ái. Ngày 10 tháng 9 năm 1946, Teresa trải nghiệm điều mà cô miêu tả là "ơn gọi trong ơn gọi" khi cô đang trên đường đến Tu viện Loreto ở Darjeering cho thời kỳ tĩnh tâm hằng năm. "Tôi phải rời tu viện để giúp đỡ người nghèo và sống chung với họ. Đó là mệnh lệnh. Không chịu tuân theo có nghĩa là đánh đổ đức tin." Năm 1948, Teresa khởi đầu công tác thừa sai giữa người nghèo, cô thay bộ áo truyền thống của dòng Loreto bằng trang phục "chira" giản dị bằng vải "cotton" viền màu lam. Cô nhập tịch Ấn, và đi vào các khu nhà ổ chuột. Trước tiên, Teresa mở một trường học ở Motjhil, rồi bắt đầu chăm sóc những người bần cùng đói khát. Teresa viết trong nhật ký rằng năm đầu tiên cô gặp vô số khó khăn. Vì không có nguồn cung ứng tài chính, cô phải phụ thuộc vào hoạt động quyên góp thực phẩm và nhu yếu phẩm. Trong những tháng đầu, cô phải đấu tranh với sự hoài nghi, đơn độc và sự cám dỗ quay trở lại cuộc sống tiện nghi trong tu viện. Teresa ghi lại trong nhật ký: "Chúa chúng ta muốn tôi phải là một nữ tu tự do ẩn mình dưới sự nghèo khó của thập tự giá. Hôm nay tôi học được một bài học hay. Sự nghèo khổ của người nghèo thật là nghiệt ngã. Trong khi tìm kiếm một ngôi nhà, tay chân tôi đau nhức vì đi bộ. Tôi suy nghĩ, người nghèo còn chịu đựng sự nhức nhối bội phần hơn trong thể xác và linh hồn khi tìm kiếm một chỗ trú thân, thức ăn và sức khỏe. Khi ấy, cuộc sống tiện nghi tại Loreto xuất hiện đầy quyến rũ. ‘Chỉ cần nói một lời, tất cả sẽ trở lại với cô,’ Kẻ cám dỗ cứ tiếp tục nói…. Chúa ôi, đây là sự tự nguyện, vì con yêu Chúa, con muốn ở lại và làm bất cứ điều gì theo Thánh Ý. Con không khóc đâu, dù chỉ một giọt lệ." Ngày 7 tháng 10 năm 1950, Vatican chấp thuận cho Teresa khởi đầu một dòng tu sau này trở thành Dòng Thừa sai Bác ái. Sứ mạng của dòng là chăm sóc, theo lời Teresa, "người đói khát, trần truồng, kẻ không nhà, người tàn tật, người mù, bệnh nhân phong, bất cứ ai đang cảm thấy thừa thãi, bị căm ghét, ruồng bỏ trong xã hội, những người đang là gánh nặng của xã hội và bị mọi người xa lánh." Tiên khởi chỉ là một dòng tu nhỏ với 13 tập sinh ở Calcutta; ngày nay có hơn 4 000 nữ tu điều hành các cô nhi viện, trại điều dưỡng AIDS, và các trung tâm từ thiện trên khắp thế giới. Dòng tu cũng chăm sóc người tị nạn, người khuyết tật, già lão, nghiện rươu, người nghèo và người vô gia cư, nạn nhân lũ lụt, dịch bệnh, và nạn đói. Năm 1952, Mẹ Teresa mở ngôi nhà đầu tiên chăm sóc người sắp chết. Với sự hỗ trợ từ các viên chức Ấn, bà cho sửa một ngôi đền Ấn giáo hoang phế thành Nhà Kalighat cho người Hấp hối, một trại điều dưỡng miễn phí cho người nghèo. Sau này bà đổi tên thành "Kalighat", Nhà Thanh Tâm ("Nirmal Hriday"). Những người được mang đến đây được chăm sóc y tế và được chết trong nhân phẩm, được chôn cất theo niềm tin tôn giáo của họ; người Hồi giáo được đọc kinh Quran, người Hindu được tẩy rửa bằng nước sông Hằng, và người Công giáo được làm lễ xức dầu thánh. "Một cái chết đẹp", bà nói, cho những người từng sống kiếp thấp hèn như những con vật, nhưng chết như những thiên thần – được yêu thương và được trọng vọng." Không lâu sau đó, bà mở một ngôi nhà cho những người mắc bệnh "Hansen" (phong cùi), đặt tên là Shanti Nagar (Thành phố Hòa bình). Dòng Thừa sai Bác ái cũng thành lập một số cơ sở y tế mở rộng trên khắp Calcutta, cung cấp thuốc men, thực phẩm. Năm 1955, Teresa mở "Nirmala Shishu Bhavan", Nhà Trái tim Vô nhiễm đón tiếp trẻ mồ côi và thanh thiếu niên vô gia cư. Dòng tu ngày càng thu hút nhiều tập sinh và nhận nhiều đóng góp từ thiện. Đến thập niên 1960, Dòng Thừa sai Bác ái thành lập các nhà điều dưỡng, trại mồ côi, và trại phong trên khắp Ấn Độ, rồi phát triển trên khắp thế giới. Ngôi nhà đầu tiên ngoài Ấn Độ được thành lập ở Venezuela năm 1965 với năm nữ tu. Năm 1968, đến La Mã, Tanzania, và Áo. Trong thập niên 1970, dòng tu thiết lập các ngôi nhà và tổ chức trong hơn mười quốc gia ở châu Á, châu Phi, châu Âu, và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, triết lý hành động của bà gặp phải một số chỉ trích. Trong khi nhìn nhận rằng không có nhiều chứng cứ được đưa ra để chống lại Teresa, David Scott nhận xét rằng bà tự giới hạn mình trong phạm vi hoạt động nhằm cứu sống người khác thay vì nỗ lực giải quyết nạn nghèo đói. Quan điểm của Teresa về sự đau khổ cũng bị phê phán bởi một bài viết đăng trên tuần báo Alberta Report của Canada, vì bà cho rằng sự đau khổ sẽ đem con người đến gần Chúa Giê-xu hơn. Các tạp chí y khoa, nhất là The Lancet và British Medical Journal, tỏ ra quan ngại về cách chăm sóc bệnh nhân thời kỳ cuối tại những nhà dành cho người hấp hối, ghi nhận việc tái sử dụng kim tiêm dưới da, điều kiện sống tồi tệ, trong đó có việc tắm lạnh tất cả người bệnh, và không áp dụng phương pháp chẩn đoán phối hợp. Nhà báo Christopher Hitchens là một trong số những người phê phán Teresa mạnh mẽ nhất. Ông được giao viết kịch bản và thuyết minh cuốn phim tài liệu Hell’s Angel của Kênh 4 Anh Quốc về Teresa sau khi Aroup Chatterjee khuyến khích thực hiện chương trình này, mặc dù Chatterjee cũng không hài lòng với "các tiếp cận đầy cảm xúc" của cuốn phim. Trong cuốn "The Missionary Position" (1995) của ông, Hitchens chỉ trích Teresa nặng nề hơn. Chatterjee viết rằng sinh thời Mẹ Teresa và những người viết tiểu sử chính thức của bà từ chối hợp tác với ông trong cuộc điều tra, và bà không thể tự biện hộ trước những phê phán trên báo chí phương Tây. Ông dẫn một bài viết từ tờ The Guardian của Anh đưa ra những "chi tiết phê phán về điều kiện sống tại những trại mồ côi của bà….những cáo buộc về sự vô tâm cũng như những lạm dụng thể xác và tình cảm", cũng có một phim tài liệu khác, "Mother Teresa: Time for Change?" phát sóng tại vài nước châu Âu. Trong số những người chỉ trích Teresa còn có Tariq Ali, một thành viên của ban biên tập của tờ New Left Review ở Anh, và một nhà báo điều tra sinh trưởng ở Ái Nhĩ Lan Donald MacIntyre. Do lập trường của mình, cả Chatterjee và Hitchens cũng trở thành những đối tượng bị chỉ trích. Vào dịp kỷ niệm năm thứ nhất ngày mất của Mẹ Teresa, Tạp chí Stern của Đức cho đăng một bài viết về những cáo buộc liên quan đến các vấn đề tài chính, và việc sử dụng các khoản quyên góp. Các tạp chí y học cũng đưa ra những chỉ trích làm dấy lên các quan điểm khác nhau về những ưu tiên đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân. Christopher Hitchens, nhân chứng duy nhất được Vatican đề nghị trình bày chứng cứ chống lại việc phong chân phước và phong thánh cho Teresa, lập luận rằng, "bà không có ý định giúp đỡ người khác", ông cũng cáo buộc bà đã nói dối những người hiến tặng về việc sử dụng những khoản đóng góp của họ. "Nhờ nói chuyện với bà, tôi phát hiện ra rằng bà không làm việc để xóa nghèo," lời của Hitchens, "Bà làm việc để gia tăng số giáo dân Công giáo. Bà nói, ‘Tôi không phải là nhân viên công tác xã hội. Tôi làm việc không phải vì mục tiêu này. Tôi làm thế là cho Chúa Ki-tô. Tôi làm thế là cho giáo hội.’" Năm 1982, khi cuộc bao vây Beirut lên đến đỉnh điểm, Mẹ Teresa đã thành công trong nỗ lực giải cứu 37 trẻ em mắc kẹt trong một bệnh viện giữa mặt trận bằng cách đàm phán cho một cuộc ngừng bắn giữa quân đội Israel và du kích Palestine. Được các nhân viên Hồng Thập Tự hộ tống, bà băng qua trận địa để đến ngôi bệnh viện đổ nát và giải cứu các bệnh nhi Khi Đông Âu bắt đầu mở cửa vào cuối thập niên 1980, Teresa cho tiến hành hàng chục đề án tại các quốc gia trong vùng. Không hề nao núng khi bị chỉ trích về lập trường cứng rắn của bà về việc chống phá thai và li dị, bà chỉ nói, "Người ta nói gì cũng mặc, bạn chỉ cần cười và tiếp tục công việc của mình." Mẹ Teresa đã đến Ethiopia cứu giúp những người bị nạn đói, đến Chernobyl giúp người nạn nhân phóng xạ, và đến với nạn nhân động đất ở Armenia. Năm 1991, lần đầu tiên bà trở lại quê hương và mở ngôi nhà Dòng Thừa sai Bác ái tại Tirana, Albnia. Năm 1966, bà điều hành 517 cơ sở từ thiện trên hơn 100 quốc gia. Trải qua nhiều năm, Dòng Thừa sai Bác ái của Mẹ Teresa từ thành phần nhân sự chỉ 12 người đã phát triển đến hàng ngàn người phục vụ "những người nghèo nhất của dân nghèo" tại 450 trung tâm trên khắp thế giới. Mẹ Teresa bị cơn đau tim khi đến Rôma năm 1983 trong chuyến viếng thăm Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Sau cơn đau tim thứ hai năm 1989, bà được đặt máy tạo nhịp tim nhân tạo. Năm 1991, sau khi mắc bệnh cúm lúc đang ở México, bệnh tim trở nặng. Bà muốn từ nhiệm khỏi vị trí lãnh đạo Dòng Thừa sai Bác ái, nhưng các nữ tu, trong một cuộc bỏ phiếu kín, yêu cầu bà ở lại. Mẹ Teresa đồng ý tiếp tục công việc lãnh đạo dòng tu. Tháng 4 năm 1996, bà bị té ngã gãy xương đòn, rồi phải qua lần phẫu thuật tim, sức khỏe bà suy giảm rõ. Ngày 13 tháng 3 năm 1997, Mẹ Teresa từ chức lãnh đạo dòng tu, và từ trần ngày 5 tháng 9 năm 1997. Tổng Giám mục Calcutta, Henry Sebastian D’Souza, thuật lại rằng ông cho một linh mục đến làm phép đuổi quỷ cho Teresa với sự cho phép của bà trong lần đầu bà vào bệnh viện khi bị đau tim, vì bà nghĩ rằng bà đang bị ma quỷ tấn công. Vào thời điểm Mẹ Teresa từ trần, dòng tu của bà có hơn 4 000 nữ tu, với sự hỗ trợ của 300 tu sĩ, và hơn 100 000 người tình nguyện. Họ điều hành 610 cơ sở từ thiện tại 123 nước, trong đó có các nhà tế bần, những ngôi nhà mở cho người mắc bệnh HIV/AIDS, người phong cùi, lao, các nhà bếp cung cấp thức ăn, các chương trình tư vấn gia đình và trẻ em, trại mồ côi, và trường học. Mẹ Teresa được quàng ở Nhà thờ St Thomas, Kolkata trong một tuần trước khi được an táng vào tháng 9 năm 1997. Chính phủ Ấn Độ tuyên bố quốc tang để vinh danh con người từng cứu giúp nhiều người nghèo khổ thuộc các tôn giáo khác nhau trên đất nước Ấn. Trước đó năm 1962, bà được chính phủ Ấn trao giải Padma Shri. Trong những thập niên kế tiếp bà được trao tặng các giải thưởng lớn như Giải Jawaharlal Nehru cho sự Hiểu biết Quốc tế (năm 1972), và năm 1980 là giải thưởng dân sự cao quý nhất Ấn Độ, Bharat Ratna Tuy nhiên, tại Ấn Độ, cũng có những nhận định khác về Teresa. Aroup Chatterjee, một bác sĩ sinh trưởng ở Calcutta nhưng sống ở Luân Đôn và từng làm việc cho Dòng Thừa sai Bác ái, cho rằng Teresa đã quảng bá một hình ảnh tiêu cực về thành phố này.. Đảng Bharatiya Janata (BJP) từng bất đồng với Teresa về những người thuộc đảng cấp Dalit (hạ tiện) theo Cơ Đốc giáo, nhưng khi bà mất, họ đã lên tiếng ca tụng và cử đại diện đến dự tang lễ. Gần đây hơn, nhật báo The Telegraph của Ấn Độ từng gọi Mẹ Teresa là "vị thánh của những người khốn cùng", lại kêu gọi "Rôma nên điều tra xem có phải bà không chịu làm gì để thay đổi điều kiện sống tồi tệ của người nghèo, mà chỉ lo chăm sóc người bệnh và người hấp hối, và sử dụng họ cho mục tiêu khơi gợi xúc cảm đạo đức." Năm 1962, Mẹ Teresa được trao giải Ramon Magsaysay về sự Hiểu biết Quốc tế cho những hoạt động của bà ở Đông và Nam Á, "Ban Quản trị nhìn nhận sự nhận thức sâu sắc và đầy thương cảm của bà dành cho những người nghèo khó ở một xứ sở xa lạ." Đến đầu thập niên 1970, Mẹ Teresa trở nên một nhân vật nổi tiếng thế giới, phần lớn là do cuốn phim tài liệu "Something Beautiful for God" do Malcom Muggeridge sản xuất năm 1969, cũng như quyển sách cùng tên của ông xuất bản năm 1971. Khi thực hiện cuốn phim, có những đoạn phim phải quay trong điều kiện ánh sáng không tốt, nhất là tại Nhà dành cho người Hấp hối, đoàn làm phim nghĩ rằng sẽ không thể sử dụng những thước phim này. Tuy nhiên, khi trở về từ Ấn Độ, chúng lại có ánh sáng rất tốt. Muggeridge cho đó là phép lạ do "ánh sáng thần thượng" từ Mẹ Teresa. Những người khác trong đoàn làm phim thì nghĩ rằng đó là nhờ loại phim cực nhạy của Kodak. Về sau, Muggeridge chấp nhận đức tin Công giáo. Cùng lúc, thế giới Công giáo khởi sự tôn vinh Mẹ Teresa. Năm 1971, Giáo hoàng Phaolô VI trao tặng bà Giải Hòa bình Giáo hoàng Gioan XXIII lần thứ nhất, khen ngợi bà về những gì đã làm cho người nghèo, thể hiện lòng nhân ái Kitô và nỗ lực đấu tranh cho hòa bình. Năm 1976, bà được trao Giải Pacem in Terris. Sau khi mất, giáo hội đẩy mạnh quy trình phong thánh cho Mẹ Teresa, hiện bà đã được phong hiển thánh. Các chính phủ và những tổ chức dân sự cũng tìm đến tôn vinh Mẹ Teresa. Vương quốc Anh và Hoa Kỳ nhiều lần trao tặng bà giải thưởng các loại, cao quý nhất là "Order of Merit" của Anh Quốc năm 1983, và công dân danh dự của Mỹ ngày 16 tháng 11 năm 1996. Quê hương Albania của Mẹ Teresa cũng dành cho bà Huân chương Vàng Nhà nước năm 1994. Năm 1979, Mẹ Teresa được trao tặng Giải Nobel Hòa bình cho "những hoạt động diễn ra trong sự đấu tranh vượt qua sự nghèo khó và cùng quẫn, là những điều đe dọa hòa bình." Bà từ chối bữa tiệc mừng truyền thống và yêu cầu gởi số tiền 192 000 USD cho người nghèo ở Ấn Độ, nói rằng những phần thưởng trên thế gian chỉ có giá trị chỉ nào chúng giúp ích những người thiếu thốn trên thế giới. Khi nhận giải thưởng, bà đặt câu hỏi, "Chúng ta có thể làm gì để thăng tiến nền hòa bình thế giới?", và đưa ra câu trả lời, "Hãy về nhà và yêu chính gia đình mình." Bài đáp từ của Mẹ Teresa cũng dựa trên chủ đề này, "Khắp nơi trên thế giới, không chỉ ở những nước nghèo, tôi thấy xóa nghèo ở phương Tây còn khó khăn hơn. Khi tôi nhặt một người ngoài đường phố, đang đói khát, tôi cho người ấy một đĩa cơm, một miếng bánh, tôi cảm thấy hài lòng vì đã cứu đói cho người ấy. Nhưng khi một người bị gạt bỏ, cảm thấy mình sống thừa thãi, không được yêu thương, sống trong kinh hãi, con người đang bị gạt ra bên lề xã hội – sự nghèo khổ ấy là khốn khổ hơn, tôi thấy rất khó mà cứu giúp." Bà cũng chỉ ra rằng phá thai "là kẻ hủy diệt nguy hiểm nhất cho nền hòa bình thế giới" Các cộng đồng tôn giáo và thế tục đều thương tiếc Mẹ Teresa khi bà tạ thế. Thủ tướng Pakistan Nawaz Sharif nói rằng bà là "một cá nhân độc đáo và hiếm có, đã cống hiến đời mình cho những mục đích cao đẹp. Cuộc đời lâu dài của bà được dành để chăm sóc người nghèo, người bệnh, người bất hạnh đã trở thành một trong những hình mẫu cao quý nhất về lòng tận tụy phục vụ nhân loại. Cựu Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Javier Pérez de Cuéllar nhận xét: "Bà là Liên Hợp Quốc. Bà là hòa bình của thế giới." Đời sống Tâm linh. Khi phân tích các hoạt động và thành quả của bà, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đặt câu hỏi: "Từ đâu mà Mẹ Teresa tìm được sức mạnh và lòng kiên định hầu có thể hoàn toàn hiến mình cho việc phục vụ người khác? Bà tìm thấy nó trong sự cầu nguyện và trong sự tĩnh tâm suy nghiệm hướng về Chúa Giê-su, và Thánh Tâm của Ngài." Trong cuộc sống riêng tư, Mẹ Teresa trải qua một thời gian dài chịu đựng sự khô héo, cằn cỗi trong tâm linh, sự tinh luyện và thử nghiệm đức tin trong "đêm tối của linh hồn" kéo dài gần năm mươi năm cho đến cuối đời, suốt thời gian ấy "bà không hề cảm nhận gì hết về sự hiện diện của Thiên Chúa", - "trong lòng cũng như khi tham dự Bí tích Thánh thể" - theo lời của Linh mục Brian Kolodiejchuk, người chịu trách nhiệm trình bày thỉnh cầu và thu thập chứng cứ cho quy trình phong thánh cho Teresa. Bộc lộ những hoài nghi về sự hiện hữu của Thiên Chúa, và nỗi đau dằn xé tâm linh vì thiếu vắng đức tin, bà viết, Theo Brian Kolodiejchuk, có thể có một số người giải thích sai điều Teresa muốn nói, đức tin của bà đối với Thiên Chúa không hề sút giảm, trong khi Teresa đánh mất cảm giác kề cận Thiên Chúa, bà không hề tra vấn về sự hiện hữu của ngài. Nhiều vị thánh khác cũng có những trải nghiệm tương tự như trường hợp của Thánh Teresa Lisieux. Mẹ Teresa yêu tất cả mọi người, vì vậy bà muốn điều tốt nhất cho tất cả những người mà bà gặp - và đó là để đưa mọi người đến gần Chúa. Theo sự hiểu biết và niềm tin của bà, niềm tin vào Thiên Chúa là vốn quý nhất cho mỗi người, nhưng bà không bao giờ can thiệp vào đời sống tâm linh của người khác. Bà nói: 1910 - Ngày 26 tháng 8, Agnes Bojaxhui cô con gái út của Nicola và Drana sinh ra và lớn lên tại Skopje, thủ phủ của Cộng Hòa Albania thuộc Macedonia. Ngày 27 tháng 8, Agnes được chịu phép Thánh Tẩy tại nhà thờ giáo xứ Thánh Tâm Chúa Giê-su và được nhận thánh hiệu A-nê (Gonxha - A-nê). 1918 – Cha của Agnes, ông Nicola qua đời đột ngột. Ông chết vì bị đầu độc sau một cuộc họp chính trị. 1924 – Lazan, anh trai của Agnes lại rời nhà đến học tại một học viện quân sự Úc. 1925 – Linh mục Jambrenkoic trở thành cha xứ. Agnes tham gia hội tương tế Thành Nữ Đồng Trinh Maria của cha xứ thành lập. 1928 – Agnes cùng mẹ và chị ruột Aga hành hương đến Letnice. Tại đây, cô nhận thấy đã đến lúc đi theo thiên hướng của mình. Tháng 9, cô được dòng Loreto chấp thuận. 1929 – Tháng Giêng, Agnes đến Calcutta, sau đó đi tiếp đến Darjeeling, nơi cô bắt đầu cuộc sống một nữ tu tập sinh. 1931 – Ngày 24 Tháng năm, Agnes làm lế Tiên Khấn "(Đây là nghi thức khấn dâng trọn đời cho Chúa tạm thời, với thời hạn kéo dài sáu năm. Trước khi chính thức Khấn Trọn Đời.)" và trở thành Xơ Teresa. 1937 – Ngày 24Tháng Năm, Xơ Teresa Khấn Trọn Đời. Sau đó Xơ trở về Entally. Một quận phía đông Calcutta. 1946 – Ngày 10 Tháng Chín, Nhận được ơn gọi cách riêng của Chúa, Xơ Teresa rời bỏ cuộc sống tu viện và đi đến làm việc và sống với người nghèo trong các khu ổ chuột. 1948 – Tháng Tám, Tòa Thánh chấp thuận cho phép Soeur Teresa tách khỏi dòng Loreto nhưng vẫn là Nữ Tu. Xơ Teresa chọn bộ áo Sari trắng viền xanh với mong muốn trở nên người phụ nữ nghèo khó nhất tại Ấn Độ, và cũng nói lên khát vọng noi gương Mẹ Maria Đồng Trinh.Sau đó, Xơ tìm đến Petna, nơi Hội Nữ Tu Truyền giáo giúp hướng dẫn cho bà một số kỹ năng y tế cơ bản. Bốn tháng sau, Xơ về Calcutta và đến với Nhà Dưỡng Lão của Hội Nữ Tu Bạn Người Nghèo. 1949 – Tháng Hai, Xơ chuyển đến Creek Lane. Tháng Ba, một học trò cũ của Xơ, cô Subashini Das, đến cộng tác, và trở thành người môn đệ đầu tiên. Không lâu sau đó các học trò cũ khác cùng đến tham gia. 1950 – Ngày 07 Tháng Mười, một Thánh Lễ được cữ hành để Kỷ Niệm ngày thành lập Dòng Thừa Sai Bác Ái. Mười Chí Nguyện sinh được nhập tập viện với thời gian kéo dài hai năm. 1953 – Tháng Hai, ngôi nhà số 54a Lower Circular được mở rộng và trở thành Nhà Mẹ của Dòng Thừa Sai Bác Ái. Xơ Teresa trở thành Mẹ Teresa. Mẹ tiếp tục công việc với lớp người nghèo khổ, người bệnh và tầng lớp người cùng đinh. Mẹ Teresa lien hệ với cảnh sát trưởng và văn phòng y tế Calcutta, xin được một nhà trọ hành hương cũ, và Mẹ đã biến nơi đó thành Nirmal Hriday. 1957 – Tháng Chín, Phòng khám chữa bệnh phong hủi lưu động bắt đầu hoạt động. 1960 – Một trung tâm đầu tiên bên ngoài Calcutta đưa vào hoạt động tại Ranchi. 1962 – Mẹ Teresa là người đầu tiên không phải người Ấn Độ được nhận giải thưởng uy tín Padma Shri. 1963 – Hội Anh Em Thừa Sai Bác Ái được thành lập. 1965 – Trung tâm đầu tiên không nằm trên đất Ấn Độ được thành lập tại Venezuela. Nhân dịp Giáo hoàng Paul VI thăm Bombay, Đức Giáo hoàng tặng Mẹ Teresa chiếc xe Cadillac, và Mẹ đã cho bán đấu giá để lấy tiền cho Hội. 1969 – Chính phủ tặng một khoảnh đất rộng 36 arcre cho Hội và Mẹ đã cho xây cất nhà dành cho người bệnh phong. Đến cuối thập niên 60, tống cộng 25 trung tâm như thế đã được thành lập. 1979 – Mẹ Teresa được trao tặng giải Nobel Hòa Bình. 1980 – Thái tử Charles Anh Quốc thực hiện chuyến viếng thăm đặc biệt Hội Thừa Sai Bác Ái tại Calcutta. 1990 – Bất chấp mong muốn được rút lui của Mẹ, các nữ tu vẫn nhất trí tôn Mẹ Teresa là Mẹ Bề Trên. 1992 – Công nương Diana của Anh Quốc đến thăm Mẹ đang dưỡng bệnh tại Rome. 1994 – Ngày 01 tháng 4 Mẹ Teresa đến Việt Nam, đây là quốc gia thứ 111 có sự hoạt động của Dòng Thừa Sai Bác Ái (Nữ Tử Bác Ái). Hai nhà tại Việt Nam là nhà thứ 501 và 502 của dòng. 1996 – Mẹ Teresa bị các cơn đau tim nặng. 1997 – Mẹ Teresa qua đời ngày 05 tháng 9. Ấn Độ tổ chức lễ Quốc Tang vào ngày 13 tháng 9. 2003 – Ngày 19 tháng Mười, Giáo hội Công giáo cử hành thánh lễ phong chân phước cho Mẹ Teresa. Nhân đó, Hội đồng Giám mục Ấn Độ, với sự ủng hộ rất đông người trong nước, đã chính thức đề nghị Thủ tướng Ấn Độ lúc bấy giờ là ông Vajpayee tuyên bố ngày 19 tháng 10 năm 2003 là ngày lễ nghỉ của quốc gia. 2016 - Giáo hoàng Phanxicô cử hành các nghi thức tuyên thánh cho Mẹ Teresa
Lindsay Dee Lohan (sinh ngày 2 tháng 7 năm 1986) là nữ diễn viên người Mỹ. Cô cũng đồng thời là người mẫu, ca sĩ, nhạc sĩ, đạo diễn kiêm nhà sản xuất. Lindsay Lohan lớn lên tại Merrick và Cold Spring Harbor ở Long Island, New York. Cô là con gái đầu lòng của bà Dina Lohan và ông Michael Lohan. Lindsay mang hai dòng máu Ý và Ai-len và là tín đồ Công giáo. Tổ tiên bên ngoại của cô được biết đến là những tín đồ tích cực của Công giáo Ai-len. Cụ cố của Lindsay là John L. Sullivan là người đồng sáng lập ra Đảng Pro-life ở Long Island. Cha cô từng là nhà đầu tư ở Wall Street và đã từng nhiều lần gặp rắc rối với pháp luật trong khi mẹ cô là cựu ca sĩ kiêm người mẫu. Lohan có ba người em đều là người mẫu và diễn viên: Michael Lohan Jr, cũng từng tham gia phim "The Parent Trap," Aliana Lohan thường gọi "Ali," và Dakota "Cody" Lohan. Cô theo học trường trung học Cold Spring Harbor High School và Sanford H. Calhoun High School, tại đây cô học rất giỏi toán và khoa học. Đến năm lớp 11, do quá bận rộn nên cô đã phải nghỉ học và tự học tại nhà. Lohan có mái tóc màu đỏ tự nhiên. Cha mẹ của Lindsay có mối quan hệ đầy biến động. Hai người kết hôn năm 1985, ly thân khi Lindsay lên 3 và sau đó lại tái hợp. Họ lại ly thân năm 2005 và chính thức hoàn tất thủ tục ly hôn năm 2007. Năm 3 tuổi, ngôi sao nhí bắt đầu "vào nghề" làm người mẫu cho hãng Ford và xuất hiện trong khoảng hơn 60 phim quảng cáo trên truyền hình như quảng cáo cho hãng The Gap, Jello, Pizza Hut và Wendy's. LiLo đã bắt đầu nghiệp diễn trong bộ phim truyền hình "Another world" năm 1996. Ngay sau đó, cô nàng đã ký hợp đồng đóng 3 bộ phim tiếp theo với hãng Walt Disney Pictures. Ngay trong bộ phim đầu tiên của mình, LiLo đã thành công rực rỡ khi vào vai hai chị em song sinh Hallie Parker Annie James quậy tưng bừng trong phim "The Parent Trap". Bộ phim này đã thành công về doanh thu và đem đến cho cô giải Nữ diễn viên chính xuất sắc thể loại phim truyện của giải Nghệ sĩ trẻ. LiLo nằm trong số hiếm những diễn viên dám thẳng thừng thừa nhận mặt trái cuộc sống của mình: "Đừng mộng tưởng rằng thế giới Hollywood là viên ngọc không tì vết. Hãy thử nhảy vào vị trí của tôi xem áp lực lớn thế nào. Chẳng dễ dàng gì khi bị so sánh với cả danh sách những cô gái cùng tuổi, đã có tăm tiếng. Để làm gì cơ chứ, chỉ làm người khác ganh tị với mình, hoặc chính mình ganh tị với người khác". LiLo không bị ảo tưởng về thế giới Hollywood, cô nhận thức rõ rằng danh tiếng không hề đảm bảo một tương lai hạnh phúc. Chỉ có điều, cô hiểu rằng, mình có rất nhiều cơ hội và bỏ lỡ chúng là tội lỗi và kém cỏi. Theo LiLo, Hollywood cũng giống như ngôi trường, nơi cô học hỏi được nhiều thứ. Và cô sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm của mình với các bạn bè, phần lớn cô quen biết từ thời học cấp 1. Cô cho rằng, mối giao tiếp của mình với bạn bè chính là cách để không tự thổi mình bay lên tầng cao của sự phù phiếm. LiLo đã giành chiến thắng trong danh hiệu Diễn viên hài xuất sắc, Diễn viên có hình thể tuyệt vời nhất trong "Mean Girls", Gương mặt biểu cảm nhất trong "Confessions of a Teenage Drama Queen". Không chỉ thế, Lohan còn "sưu tầm" thêm giải Ngôi sao có bước đột phá lớn nhất trong "Freaky Friday" và "Mean Girls". Mặc dù đóng phim khá nhiều nhöng việc học của LiLo khá tốt, cô là sinh viên hạng A trong trường, đặc biệt giỏi toán và các môn khoa học. Thông minh, xinh đẹp, hẳn là LiLo đã có bạn trai, thế nhưng, cô nàng lại phủ nhận: "Tôi chẳng hẹn hò với ai trong thời gian dài. Và tôi có suy nghĩ thế này, cứ để tình yêu tự đến, nếu mình đi tìm nó, mình sẽ chẳng bao giờ thấy nó cả". Đời sống riêng tư. Vai chính trong phim "Confessions of a Teenage Drama Queen" đã góp phần đưa Lindsay Lohan trở thành một trong những diễn viên tuổi "mực tím" được yêu thích nhất tại Mỹ. Có lẽ, đây là vai diễn mà Lohan được "sống" rất thật với mình, vì ngoài đời cô cũng là mộ"nữ hoàng rắc rối". Trong phim, Lindsay Lohan thủ vai cô nhóc Lola "cạnh tranh quyết liệt" với cô bạn học, người được cả trường mới cưng chiều, gây ra bao nhiêu chuyện rắc rối. Vai Lola mới đầu được các nhà sản xuất phim nhắm đến cô ca sĩ trẻ đang lên Hilary Duff (mà khán giả Việt Nam đã biết đến qua các phim "The Lizzie McGuire Movie" và "Agent Cody Banks"). Nhưng sau đó, kế hoạch thay đổi, Hilary lại bận đóng phim khác nên Walt Disney quyết định chọn Lindsay Lohan thay thế. Sự thành công của bộ phim chỉ khiến cho cuộc chiến giữa hai "cục cưng" của làng giải trí Mỹ đã âm ỉ từ lâu trở nên ồn ào. Đều là những diễn viên trẻ đang lên, đều là các ca sĩ mới đang được chú ý (về phần ca nhạc thì tên tuổi của Hilary Duff có nhỉnh hơn một chút), Lohan và Hilary từ lâu đã coi nhau như đối thủ. Không chỉ kình địch nhau trong công việc, họ còn là... tình địch của nhau. Trước đây, Lohan và chàng ca sĩ trẻ nổi tiếng Aaron Carter đã từng có thời gian đầy hạnh phúc. Họ là một cặp tình nhân lý tưởng trong mắt giới trẻ Mỹ. Có người đã từng bảo rằng, Aaron tuy còn trẻ nhưng thành tích chinh phục phái đẹp của anh ta không hề kém cỏi chút nào. Song, Lohan không để tâm đến chuyện đó. Cô yêu và hãnh diện với mối tình của mình. Đùng một cái, Lohan phát hiện ra sau lưng cô, anh ta tán tỉ! Cô cay đắng chia tay với anh chàng có "trái tim nhiều ngăn", chấp nhận bàn thua Hilary Duff trong tình cảm và tập trung cho công việc chính: đóng phim và ca hát. Không chịu thua kém Hilary, cô cũng ra album và hát ca khúc trong phim Freaky Friday. Thế nhưng, trong lúc Lohan muốn lãng quên chuyện cũ thì Aaron tỏ ý muốn nối lại tình xưa. Ai cũng thấy rằng, dạo này Aaron không còn dung dăng dung dẻ cùng Hilary Duff nữa. Người đại diện của Hilary giải thích: "Anh ấy sống ở Floria, còn cô ấy ở Los Angeles, cả hai đều bận rộn". Thật ra, Aaron không quá bận bịu vì công việc đến mức đó. Anh chàng này thường xuyên gọi điện cho Lohan và dành thời gian ở Toronto, Canada cùng Lohan khi cô kết thúc phần quay phim "Confessions of a Teenage Drama Queen". Trái tim Lohan cũng không phải sắt đá, dẫu đã bị tổn thương. Cô tuyên bố rằng, vẫn dành một "góc nhỏ dịu dàng" trong lòng cô cho anh. Có người cho rằng, việc giành lại Aaron chỉ là một kiểu "trả thù ngọt ngào" của Lohan đối với Hilary, nhưng nay thì Lohan cũng đã hiểu rằng, Aaron như chú ngựa bất kham không dễ gì quên đường cũ. Bằng chứng là, mới đây Aaron và hoa hậu tuổi "tím" Hoa Kỳ Tami Farrell còn chụp ảnh chung, đi ăn tối và xem phim cùng nhau. Chuyện này lập tức lên báo với những tình tiết ly kỳ hơn, rằng sau khi đi chơi với Aaron về, cô hoa hậu này có gửi một tin nhắn vào điện thoại di động của Aaron. Sau đó, cô nhận được một cú điện thoại từ một cô gái xưng tên là Natalie. "Natalie" lồng lộn quát: "Sao cô dám gọi bạn thân nhất của tôi là bạn trai hả?". Hoa hậu quật lại: "Chuyện trẻ con!" và cúp máy. Lúc đó, Aaron cũng có mặt. Anh khẳng định, đó chính là giọng Lohan. Tuy nhiên, người đại diện của Lohan phủ nhận chuyện này: "Lohan có còn quan tâm đến Aaron nữa đâu mà gọi điện". Không chỉ gỡ hòa, Lohan cũng đã ghi được một bàn thắng vào "lưới" Hilary. Sau khi cô đã được chọn vào vai chính trong "Mean Girls", mẹ - đồng thời là "bà bầu" - của Hilary vẫn còn gọi điện tới ban tuyển chọn kèo nèo cho Hilary được thử vai. Vốn có cá tính mạnh, Lohan ít khi nhận được những nhận xét thiện cảm. Những người bạn học của Lohan cho biết, ngay từ thời còn cắp sách, cô đã là một cô bé kiêu kỳ đối với bạn bè cùng lớp. Một thành viên trong đoàn phim "Mean Girls" mỉa mai: "Cô ta là một kẻ hợm hĩnh. Cô ta cứ tưởng mình nổi tiếng như Britney Spears cơ đấy. Cô ta đối xử với những người trong đoàn cứ như là với đầy tớ riêng của cô ấy". Còn một nhà thiết kế thời trang từng làm việc với Lohan thì than phiền trên tờ "Star" rằng, ý thức về vị trí ngôi sao đã len lỏi vào tâm trí cô nhóc Lohan. "Cô ta chọn bừa các quần áo trên giá, nếu cô ấy không thích thì cô ấy vứt chúng xuống sàn. Cô ấy là một trong những ngôi sao khó chiều nhất mà tôi từng gặp". Tuy nhiên, chính bản tính nghịch ngợm tự nhiên của Lohan cũng đã giúp cô giành được chiến thắng trong nghề nghiệp. Biên kịch của bộ phim "Mean Girls" muốn có một ngôi sao kiểu như Drew Barrymore vào vai chính trong phim này, Lohan đã giành được vai diễn ngay từ lúc tới thử vai lần đầu tiên. "Tất cả mọi người đều nhận thấy rằng cô ấy chính là người thích hợp nhất". Lohan đã thẳng thắn phát biểu về quan niệm sống của mình với AP: "Tôi không thích thay đổi mình để được người khác chấp nhận. Thời học sinh là một thời kỳ đầy khó khăn với tất cả mọi người, trong đó người ta thường có xu hướng trở thành một người bình thường để được người khác quý mến. Những rốt cuộc cũng chẳng thể nào làm vừa lòng tất cả". Vào những năm gần đây, Lohan thường dùng ma túy và có những buổi tiệc uống rượu thâu đêm làm mất nhiều lòng fan hâm mộ. Cách đây không lâu, tạp chí Newsweek có đăng tải nguyên văn phát biểu của một phụ huynh: "Con gái tôi mê Lindsay Lohan như điếu đổ. Nó xem đi xem lại bộ phim The Parent Trap không biết bao nhiêu lần, còn dán poster Lilo khắp phòng và mua rất nhiều sách báo, tạp chí về cô ta. Một hôm nó chìa cho tôi xem một bức ảnh khá sốc về Lilo và bảo: Mẹ nhìn đi, thần tượng của con đấy. Nhưng tại sao cô ấy lại trở nên quái đản như thế này nhỉ?". Và tôi đã phải khó khăn như thế nào khi phải giải thích cho nó hiểu: "Người nổi tiếng đôi khi vẫn vậy: tiệc tùng ngập trời, lái xe trong tình trạng say xỉn, ăn mặc phản cảm chẳng giống " templatestyles src="Bản mẫu:Đầu tham khảo/" /
Britney Jean Spears (sinh ngày 2 tháng 12 năm 1981) là nữ ca sĩ, nhạc sĩ, vũ công và diễn viên người Mỹ được mệnh danh là "công chúa nhạc pop". Cô chính là người đã hồi sinh dòng nhạc teen pop trong giai đoạn cuối thập niên 1990 và đầu những năm 2000. Spears đã tẩu tán 150 triệu bản thuần trên toàn thế giới, trở thành một trong những ca sĩ bán chạy nhất thế giới. Cô đã gặt hái vô số giải thưởng và danh hiệu, gồm có một giải Grammy, 15 kỷ lục Guinness thế giới, sáu giải MTV Video Music Awards, bảy giải "Billboard" Music Awards (gồm giải Thiên niên kỷ), giải thưởng biểu tượng đài Radio Disney, và một ngôi sao tuyên dương tại đại lộ danh vọng Hollywood. Những video ca nhạc được dàn dựng công phu đã giúp cô giành được giải thưởng Michael Jackson Video Vanguard Award. Sau khi xuất hiện trên màn trình diễn sân khấu loạt phim truyền hình, Spears ký hợp đồng với hãng thu Jive Records vào năm 1997 ở độ tuổi mười lăm. Hai album đầu tiên của cô là "...Baby One More Time" (1999) và "Oops!... I Did It Again" (2000) là hai album bán chạy nhất mọi thời đại, giúp cho cô trở thành nghệ sĩ tuổi thiếu niên bán chạy nhất mọi thời đại. Nhờ vào doanh số tuần đầu đạt hơn 1,3 triệu bản thuần, "Oops!... I Did It Again" nắm giữ kỷ lục album bán chạy nhanh nhất của một nghệ sĩ nữ tại Hoa Kỳ trong vòng mười lăm năm liền. Spears đổi mới phong cách sang hình tượng trưởng thành và gợi dục hơn trong các album "Britney" (2001) và "In the Zone" (2003), và góp mặt trong bộ phim năm 2002 "Crossroads". Cô là nhà sản xuất điều hành cho album phòng thu thứ năm "Blackout" (2007), đây cũng chính là tác phẩm tái xuất được cho là hay nhất của cô. Sau một loạt vấn đề cá nhân được lan truyền chóng mặt, việc quảng bá cho album bị hạn chế và Spears bị đưa vào quyền bảo hộ. Tiếp đến, Spears cho ra mắt hai album đạt ngôi đầu bảng "Circus" (2008) và "Femme Fatale" (2011). Đây là hai kỷ nguyên thành công nhất của cô trên bảng xếp hạng Hoa Kỳ. Với "3" (2009) và "Hold It Against Me" (2011), Spears trở thành nghệ sĩ thứ hai sau Mariah Carey có hai hoặc nhiều bài hát ra mắt tại vị trí quán quân trong lịch sử bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100. Về sau, Spears tổ chức chuyến lưu diễn định cư kéo dài bốn năm tại Planet Hollywood Resort Casino ở Las Vegas để quảng bá hai album tiếp theo "Britney Jean" (2013) và "Glory" (2016). Vào năm 2019, cuộc đấu tranh chống lại quyền bảo hộ của Spears ngày càng gay gắt và dẫn đến phong trào vận động #FreeBritney. Vào năm 2021, quyền bảo hộ chấm dứt sau lời khai công khai của Spears, trong đó cô cáo buộc đội ngũ quản lý của mình và gia đình lạm dụng. Tại Hoa Kỳ, Spears là nữ nghệ sĩ có album bán chạy thứ tư trong kỷ nguyên Nielsen SoundScan, đồng thời là nữ nghệ sĩ có album bán chạy nhất những năm 2000. Cô được tạp chí "Billboard" xếp nghệ sĩ lớn thứ tám thập niên 2000. Nữ ca sĩ đã tích lũy được sáu album quán quân trên "Billboard" 200 và năm đĩa đơn quán quân tại "Billboard" Hot 100: "...Baby One More Time", "Womanizer", "3", "Hold It Against Me", và "SM" (remix với Rihanna). Các bản hit toàn thế giới khác có thể kể đến bao gồm "Oops!... I Did It Again", "I'm a Slave 4 U", và "Toxic". "...Baby One More Time" được mệnh danh là đĩa đơn đầu tay hay nhất mọi thời đại bởi "Rolling Stone" vào năm 2020. Năm 2004, Spears cho ra mắt thương hiệu nước hoa cùng với Elizabeth Arden, Inc.; đạt doanh thu lên đến 1,5 tỷ đô la Mỹ #đổi . "Forbes" đã công bố Spears là nữ nhạc sĩ có thu nhập cao nhất năm 2001 và 2012. Đến năm 2012, cô đã đứng đầu danh sách những người nổi tiếng được tìm kiếm nhiều nhất của Yahoo! bảy lần trong mười hai năm. Tạp chí "Time" ghi tên Spears là một trong số 100 người có sức ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trên thế giới vào năm 2021, cùng với Spears đứng đầu trong cuộc bình chọn độc giả của tạp chí. Cuộc đời và sự nghiệp. 1981–1997: Thời thơ ấu và khởi đầu sự nghiệp. Spears được sinh ra tại McComb, Mississippi, là con thứ hai của Lynne Irene Bridges và James Parnell Spears. Những anh chị em của cô trong gia đình gồm có Bryan James và Jamie Lynn. Vào năm 3 tuổi, cô bắt đầu tham dự các lớp học nhảy tại quê nhà của mình, và xuyên suốt thời thơ ấu, cô cũng tham dự các lớp thể dục và luyện thanh. Spears đã giành chiến thắng tại nhiều cuộc thi cấp Nhà nước và những chương trình tài năng cho trẻ em lúc bấy giờ. Cô có màn trình diễn trên sân khấu lần đầu tiên tại địa phương của mình lúc 5 tuổi, trình diễn "What Child Is This?" tại buỗi lễ tốt nghiệp mẫu giáo của cô. Cô cũng đề cập đến tham vọng của mình khi còn là một đứa trẻ, "Tôi thực sự đã ở trong thế giới của riêng mình, [...] Tôi phát hiện ra những gì tôi phải làm trong những năm đầu đời." Năm 8 tuổi, Spears và mẹ cô Lynne đã đến Atlanta, Georgia để tham gia một buổi thử giọng cho phiên bản tái sinh vào những năm 1990 của "The Mickey Mouse Club". Giám đốc casting Matt Casella đã từ chối cô vì quá nhỏ để tham gia chương trình vào thời điểm đó, nhưng giới thiệu cô với Nancy Carson, một nhà tìm kiếm tài năng của thành phố New York. Carson đã rất ấn tượng với giọng hát của Spears và đề nghị cô ghi danh tại trường nghệ thuật Professional Performing Arts; ngay sau đó, Lynne và con gái của cô chuyển đến sinh sống tại một căn hộ thuê lại ở New York. Spears bắt đầu diễn xuất chuyên nghiệp lần đầu tiên với vai trò diễn viên đóng thế cho vai chính của Tina Denmark trong vở nhạc kịch bán chuyên nghiệp "Ruthless!". Cô cũng xuất hiện trên chương trình truyền hình nổi tiếng "Star Search" dưới vai trò thí sinh và được chọn tham gia vào một số quảng cáo. Trong tháng 12 năm 1992, cô cuối cùng đã trúng tuyển vào đội hình chính thức của "The Mickey Mouse Club" cùng Christina Aguilera, Justin Timberlake, Ryan Gosling, và Keri Russell, nhưng trở về Kentwood ngay sau khi chương trình kết thúc vào năm 1996. Cô theo học tại Parklane Academy tại McComb, Mississippi. Mặc dù đã kết thân với nhiều bạn bè cùng lớp, cô so sánh ngôi trường với "cảnh mở đầu trong "Clueless" với tất cả các bè phái. [...] Tôi đã thấy rất buồn chán. Tôi là hậu vệ phối bóng của đội bóng rổ. Tôi có một người bạn trai, và tôi được trở về quê hương và tận hưởng Giáng sinh. Nhưng tôi mong muốn nhiều hơn thế nữa." Trong tháng 6 năm 1997, Spears đàm phán với nhà quản lý Lou Pearlman để tham gia vào nhóm nhạc pop nữ Innosense. Lynne cũng nhờ đến sự giúp đỡ từ người bạn của gia đình và là luật sư giải trí Larry Rudolph để tham khảo ý kiến và gửi một đoạn ghi âm Spears hát karaoke một bài hát của Whitney Houston cùng một số hình ảnh. Rudolph quyết định rằng ông muốn gửi chúng đến các hãng thu âm, vì vậy cô cần có một bản thu nháp chuyên nghiệp. Ông đã gửi Spears một bài hát không được sử dụng của Toni Braxton; cô đã luyện tập trong một tuần và thu âm lại giọng hát của mình trong một phòng thu với một kỹ sư âm thanh. Spears chuyển đến New York với những bản thu nháp và gặp gỡ giám đốc điều hành của bốn hãng đĩa, và trở về Kentwood trong cùng ngày. Ba trong số những hãng này đã từ chối cô, cho rằng khán giả muốn những ban nhạc pop như Backstreet Boys và Spice Girls, và "sẽ không có thêm bất kỳ một Madonna, Debbie Gibson, hoặc Tiffany nào nữa." Hai tuần sau đó, giám đốc điều hành của Jive Records gọi lại cho Rudolph. Phó chủ tịch cấp cao của AR Jeff Fenster nói về buổi thử giọng của Spears rằng "thật hiếm hoi để có thể nghe được một giọng ca ở lứa tuổi này vừa truyền đạt nội dung ca từ tốt lẫn đáp ứng yếu tố thương mại. [...] Đối với bất kỳ một nghệ sĩ nào, động cơ thúc đẩy—'đôi mắt của hổ'—là cực kỳ quan trọng. Và Britney có điều đó." Sau đó, cô hát "I Have Nothing" (1992) của Houston trước các giám đốc điều hành của Jive, và được ký kết hợp đồng ghi âm với hãng. Họ bổ nhiệm nhà sản xuất Eric Foster White để làm việc với cô trong một tháng, người đã miêu tả chất giọng của cô "theo cách rất đặc trưng, không lẫn vào đâu được của Britney." Sau khi nghe lại những tác phẩm thu âm đã hoàn thiện, chủ tịch Clive Calder đã quyết định thực hiện một album đầy đủ. Phong cách âm nhạc của Spears ban đầu được định hình như "âm nhạc của Sheryl Crow, nhưng trẻ trung hơn và hợp thời đại hơn" nhưng sau khi cảm thấy hài lòng với những nhà sản xuất mà hãng đã sắp xếp, cô cảm thấy rằng "nó sẽ khả quan hơn nếu quyết định theo đuổi nhạc pop, vì tôi có thể nhảy, và nó cũng hợp với tôi hơn." Cô đã bay tới Cheiron Studios ở Stockholm, Thụy Điển, nơi một nửa album được thu âm từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1998, với các nhà sản xuất Max Martin, Denniz Pop, Rami Yacoub và nhiều người khác. Sau khi trở về Hoa Kỳ, Spears bắt tay triển khai một chuyến lưu diễn vòng quanh những trung tâm thương mại để quảng bá cho album đầu tay của cô. Buổi diễn bao gồm danh sách trình diễn với 4 bài hát và cô được hỗ trợ trên sân khấu bởi hai vũ công nhảy nền. Sau đó, cô tham gia lưu diễn như là nghệ sĩ hát mở màn cho *NSYNC. Album phòng thu đầu tay của Spears, "...Baby One More Time", được phát hành vào ngày 12 tháng 1 năm 1999. Nó đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng "Billboard" 200 và được chứng nhận hai lần đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Mỹ sau một tháng. Trên thị trường quốc tế, album đứng đầu các bảng xếp hạng thuộc 15 quốc gia và bán được hơn 10 triệu bản trong năm đầu phát hành. Nó đã trở thành album bán chạy nhất từ trước đến nay bởi một nghệ sĩ hát đơn tuổi thanh thiếu niên. Bài hát chủ đề được phát hành như là đĩa đơn đầu tiên cho album. Ban đầu, Jive Records muốn thực hiện một video ca nhạc dưới hình thức hoạt hình cho nó; Tuy nhiên, Spears đã từ chối ý kiến, và đề xuất ý tưởng về hình tượng một nữ sinh Công giáo. Đĩa đơn bán được 500.000 bản trong ngày đầu phát hành, và đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100 trong hai tuần liên tiếp. Tính đến nay, nó đã bán được hơn 10 triệu bản trên toàn cầu, trở thành một trong những đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại. "...Baby One More Time" sau đó đã nhận được một đề cử giải Grammy cho Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất. Bài hát cũng đứng đầu bảng xếp hạng tại Vương quốc Anh, và trở thành đĩa đơn tiêu thụ nhanh nhất trong lịch sử bởi một nữ nghệ sĩ, với hơn 460.000 bản được tiêu thụ trong tuần đầu. Nó sau đó đã trở thành bài hát thành công thứ thứ 25 trong lịch sử bảng xếp hạng Anh quốc. Spears cũng là nữ nghệ sĩ trẻ tuổi nhất có một đĩa đơn đạt doanh thu triệu bản tại đây. "(You Drive Me) Crazy" được phát hành như là đĩa đơn thứ ba từ album, và trở thành một hit top 10 trên toàn cầu cũng như thúc đẩy doanh số tiêu thụ của "...Baby One More Time". Tính đến nay, album đã bán được 30 triệu bản trên toàn thế giới, và là một trong những album bán chạy nhất mọi thời đại. Với thành công của "...Baby One More Time", Spears được ghi nhận là người có ảnh hưởng đến sự hồi sinh của dòng nhạc teen pop vào cuối thập niên 1990. Thành công của Spears cũng đã thúc đẩy một làn sóng những ca sĩ nữ trẻ đẹp đáng chú ý sau này như Christina Aguilera, Jessica Simpson và Mandy Moore. Tuy nhiên, tại lễ trao giải Grammy năm 2000, Britney đã để vuột mất giải Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất vào tay Christina Aguilera. Vào ngày 28 tháng 6 năm 1999, Spears bắt tay thực hiện chuyến lưu diễn hát chính đầu tiên trong sự nghiệp ...Baby One More Time Tour ở Bắc Mỹ, và nhận được những phản ứng tích cực từ các nhà phê bình, dù vấp phải một số tranh cãi về phần trang phục. Một phiên bản mở rộng của chuyến lưu diễn, mang tên Crazy 2k, diễn ra vào tháng 3 năm 2000. Spears đã trình diễn những bài hát mới từ album thứ hai sắp phát hành của cô trong buổi diễn. "Oops!... I Did It Again", album phòng thu thứ hai của cô, được phát hành vào tháng 5 năm 2000. Nó ra mắt ở vị trí số một tại Hoa Kỳ, bán được 1.3 triệu bản, và phá vỡ kỷ lục của SoundScan về doanh thu tuần đầu cao nhất từ trước đến nay của một nghệ sĩ nữ. Album đã bán được hơn 25 triệu bản trên toàn thế giới tính đến nay, trở thành một trong những album bán chạy nhất mọi thời đại. Đĩa đơn chủ đạo của album, "Oops!... I Did It Again", đạt vị trí quán quân ở Úc, New Zealand, Vương quốc Anh và nhiều quốc gia châu Âu khác. Album cũng như bài hát chủ đề lần lượt nhận được những đề cử Grammy cho Album giọng pop xuất sắc nhất và Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất. Cũng trong năm này, Spears bắt tay thực hiện Oops!... I Did It Again Tour, thu về 40,5 triệu đô-la; Cô cũng cho ra mắt cuốn sách đầu tiên của mình, "Britney Spears' Heart to Heart", được đồng chắp bút bởi mẹ của cô. Ngày 7 tháng 9 năm 2000, Spears biểu diễn tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2000. Giữa màn trình diễn, cô cởi bỏ bộ suit đen và để lộ một bộ bodysuit màu da, trước khi thể hiện một loạt vũ đạo phức tạp. Nó được ghi nhận bởi nhiều nhà phê bình như là khoảnh khắc đánh dấu sự thay đổi của Spears sang hình tượng gợi cảm và khiêu khích hơn. Trước sự hoài nghi của giới truyền thông, Spears đã xác nhận rằng cô đang hẹn hò với thành viên của NSYNC Justin Timberlake. 2001–02: "Britney" và "Crossroad". Trong tháng 2 năm 2001, Spears ký kết một hợp đồng quảng cáo thương mại trị giá 7-8 triệu đô-la với hãng nước ngọt Pepsi, và phát hành một cuốn sách hồi kí đồng chắp bút với mẹ cô, mang tên "A Mother's Gift". Album phòng thu thứ ba mang chính tên của nữ ca sĩ, " Britney", được phát hành vào tháng 11 năm 2001. Trong khoảng thời gian lưu diễn, cô cảm thấy được truyền cảm hứng bởi những nghệ sĩ hip hop như Jay-Z và The Neptunes và mong muốn tạo ra một album với âm thanh phấn khởi hơn. Album ra mắt ở vị trí số một trên "Billboard" 200 và lọt vào top 5 ở Úc, Vương quốc Anh và châu Âu và đã bán được hơn 12 triệu bản trên toàn thế giới. Album nhận được 2 đề cử giải Grammy—Album giọng pop xuất sắc nhất và Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất cho "Overprotected"— và lọt vào danh sách "100 Album xuất sắc nhất trong 25 năm qua" của tạp chí "Entertainment Weekly" năm 2008. Đĩa đơn đầu tiên từ album, "I'm a Slave 4 U", trở thành một đĩa đơn top 10 trên toàn cầu. Màn trình diễn đĩa đơn này của Spears tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2001 với một con hổ trong lồng và một con trăn được đặt trên vai cô, đã vấp phải những phản hồi gay gắt từ tổ chức vì quyền động vật PETA. Để quảng bá cho album, Spears tổ chức chuyến lưu diễn Dream Within a Dream Tour. Chuyến lưu diễn được giới phê bình giành nhiều lời ca ngợi bởi những ý tưởng về dàn dựng kỹ thuật trong buổi diễn. Chuyến lưu diễn thu về 43.7 triệu đô-la, trở thành chuyến lưu diễn có doanh thu cao thứ hai trong năm 2002 bởi một nữ nghệ sĩ, sau của Cher. Những thành công trong sự nghiệp của cô đã được ghi nhận bởi tạp chí "Forbes" năm 2002, với việc Spears được xếp hạng là ngôi sao quyền lực nhất thế giới. Spears cũng đánh dấu vai diễn chính đầu tiên trong sự nghiệp diễn xuất với "Crossroads", phát hành vào tháng 2 năm 2002. Mặc dù bộ phim phần lớn chịu nhiều sự chỉ trích, các nhà phê bình giành những lời khen ngợi cho diễn xuất của Spears và bộ phim là một thành công về mặt doanh thu. "Crossroads", với kinh phí 12 triệu đô-la, đã thu về hơn 61.1 triệu đô-la trên toàn thế giới. Trong tháng 7 năm 2002, Spears tuyên bố cô sẽ tạm gác lại sự nghiệp trong 6 tháng; Tuy nhiên, cô đã trở lại phòng thu vào tháng 11 để thu âm cho album mới. Mối quan hệ tình cảm giữa Spears và Timberlake cũng đi đến kết thúc sau 3 năm. 2003–05: "In the Zone" và những cuộc hôn nhân. Năm 2003, Spears mở màn lễ trao giải Video âm nhạc của MTV năm 2003 với Christina Aguilera, trình diễn "Like a Virgin", trước khi Madonna tham gia vào màn trình diễn, và họ đã có một nụ hôn trên sân khấu. Sự việc đã trở thành một đề tài được quan tâm và bàn tán một thời gian dài sau đó. Spears phát hành album phòng thu thứ tư của cô, "In the Zone", vào tháng 10 năm 2003. Trong bản thu âm, cô nắm quyền kiểm soát sự sáng tạo nhiều hơn với việc tham gia viết lời và đồng sản xuất trong hầu hết những bài hát. "Vibe" gọi nó là "Một tác phẩm dance không những vô cùng tự tin mà còn cho thấy khả năng phát triển của Spears như là một nhạc sĩ." NPR đã liệt kê album vào danh sách "50 Bản thu quan trọng nhất của thập kỷ." "In the Zone" bán được hơn 609.000 bản tại Hoa Kỳ và ra mắt ở vị trí quán quân, giúp Spears trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên trong kỷ nguyên SoundScan có bốn album phòng thu đầu tiên ra mắt tại vị trí số một. Nó cũng đứng đầu bảng xếp hạng ở Pháp và vuơn đến top 10 ở Bỉ, Đan Mạch, Thụy Điển và Hà Lan. "In the Zone" đã bán được hơn 10 triệu bản trên toàn thế giới, và sản sinh nhiều đĩa đơn thành công: "Me Against the Music", hợp tác với Madonna; "Toxic"—giúp Spears giành giải Grammy cho Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất; "Everytime" và "Outrageous". Trong tháng 1 năm 2004, Spears kết hôn với người bạn thời thơ ấu Jason Allen Alexander tại Nhà thờ The Little White Wedding ở Las Vegas, Nevada. Cuộc hôn nhân đã bị hủy bỏ 55 giờ sau đó, sau một đơn kiến nghị lên tòa án rằng Spears "thiếu nhận thức về hành động của mình". Trong tháng 3 năm 2004, cô bắt đầu thực hiện chuyến lưu diễn The Onyx Hotel Tour để quảng bá cho "In the Zone". Trong tháng 6 năm 2004, Spears gặp một chấn thương đầu gối trái khi đang thực hiện video ca nhạc cho "Outrageous", và trải qua một cuộc phẫu thuật nội soi khớp. Sau đó, cô đã buộc phải hủy bỏ phần còn lại của The Onyx Hotel Tour. Trong tháng 7 năm 2004, Spears đính hôn với vũ công người Mỹ Kevin Federline, người mà cô đã gặp gỡ 3 tháng trước. Mối quan hệ này đã nhận được nhiều sự chú ý từ giới truyền thông, sau khi Federline quyết định chia tay nữ diễn viên Shar Jackson, người đang mang thai đứa con thứ hai của họ vào thời điểm đó. Những giai đoạn phát triển tình cảm trong mối quan hệ của họ đã được lưu giữ trong chương trình truyền hình thực tế đầu tiên của Spears "". Họ đã tổ chức một lễ cưới vào ngày 18 tháng 9 năm 2004, nhưng không được chấp thuận một cách hợp pháp cho đến 3 tuần sau đó, vào ngày 6 tháng 10 do sự chậm trễ trong việc hoàn thành hôn ước của vợ chồng. Một thời gian ngắn sau, cô phát hành nhãn hiệu nước hoa đầu tiên của cô với Elizabeth Arden, "Curious", và phá vỡ kỷ lục về doanh thu trong tuần đầu của công ty. Trong tháng 10 năm 2004, Spears tạm gác lại sự nghiệp để bắt đầu xây dựng gia đình của mình. ', album tuyển tập hit đầu tiên của cô, được phát hành vào tháng 10 năm 2004. Bản hát lại "My Prerogative" từ Bobby Brown của Spears đã được phát hành như là đĩa đơn đầu tiên từ album, và đứng đầu các bảng xếp hạng ở Phần Lan, Ireland, Ý, Na Uy. Đĩa đơn thứ hai, "Do Somethin'", lọt vào top 10 ở Úc, Anh và nhiều nước châu Âu khác. Tuyển tập đã bán được hơn 5 triệu bản trên toàn thế giới. Trong tháng 8 năm 2005, Spears phát hành "Someday (I Will Understand)", được xem là một món quà mà cô gửi đến đứa con đầu lòng của mình, một bé trai, người được sinh ra vào tháng sau. Trong tháng 11 năm 2005, cô phát hành album phối lại đầu tiên, ', bao gồm 11 bản phối lại. Nó đã bán được hơn 1 triệu bản trên toàn thế giới. 2006–07: Vấn đề đời tư và "Blackout". Trong tháng 2 năm 2006, hình ảnh Spears đang lái xe với con trai Sean được đặt trên đùi thay vì ở ghế ngồi được đăng tải rộng rãi. Những người ủng hộ trẻ em đã thể hiện thái độ búc xúc trước những bức ảnh vừa lái xe bằng một tay và giữ Sean bằng một tay của cô. Spears tuyên bố rằng tình hình đó xảy ra khi cô đang gặp rắc rối với những tay săn ảnh, nhưng đó cũng là một phần lỗi của cô. Trong tháng sau, cô xuất hiện trong tập phim "Buy, Buy Baby" của "Will Grace" dưới vai trò khách mời. Hai tháng sau đó, Spears chụp ảnh khỏa thân nghệ thuật cho trang bìa của "Harper's Bazaar". Bức ảnh nhận được nhiều sự so sánh với hình ảnh của Demi Moore chụp cho trang bìa của "Vanity Fair" tháng 8 năm 1991. Trong tháng 9 năm 2006, cô hạ sinh đứa con thứ hai, một bé trai. Trong tháng 11 năm 2006, Spears đã đệ đơn xin ly dị với Federline, vì những sự khác biệt không thể hòa giải. Vụ việc được kết thúc vào tháng 7 năm 2007, khi hai vợ chồng đạt được thỏa thuận chung và đồng ý chia sẻ quyền giám hộ hai đứa con của họ. Trong tháng 2 năm 2007, Spears ở lại một trại cai nghiện ma túy ở Antigua trong gần một ngày. Đêm hôm sau, cô cạo trọc đầu với một tông đơ điện tại một tiệm tóc ở Tarzana, Los Angeles. Cô thừa nhận mình phải đến những trung tâm điều trị trong những tuần tiếp theo. Trong tháng 5 năm 2007, cô thực hiện một loạt các buổi diễn tại những địa điểm của House of Blues, mang tên The M+M's Tour. Trong tháng 10 năm 2007, Spears mất quyền giám hộ hai đứa con của cô. Những phán quyết của tòa án không được tiết lộ cho công chúng. Trong tháng 10 năm 2007, Spears phát hành album phòng thu thứ năm của cô, "Blackout". Nó đạt vị trí số một ở Canada và Ireland, thứ hai ở Pháp, Nhật Bản, México, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, và top 10 ở Úc, Hàn Quốc, New Zealand và nhiều nước châu Âu. Tại Hoa Kỳ, Spears trở thành nữ nghệ sĩ duy nhất có 5 album phòng thu đầu tay đều ra mắt trên top 2 của bảng xếp hạng. Album nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình và đã bán được hơn 3 triệu bản trên toàn thế giới. "Blackout" giành giải Album của năm tại Giải Âm nhạc châu Âu của MTV năm 2008 và được liệt kê ở vị trí thứ 5 trong danh sách Album Pop xuất sắc nhất của thập kỷ bởi "The Times". Spears biểu diễn đĩa đơn "Gimme More" tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2007. Màn trình diễn đã bị chỉ trích gay gắt bởi nhiều nhà phê bình. Mặc cho những phản ứng dữ dội, đĩa đơn vẫn gặt hái nhiều thành công trên toàn thế giới, đạt vị trí quán quân ở Canada và top 10 ở hầu hết những quốc gia nó xếp hạng. Đĩa đơn thứ hai, "Piece of Me" đạt vị trí số một ở Ireland và lọt vào top 5 ở Úc, Canada, Đan Mạch, New Zealand và Vương quốc Anh. Đĩa đơn thứ ba, "Break the Ice" được phát hành vào năm sau và gặt hái những thành công tương đối dù không được quảng bá rộng rãi. Trong tháng 1 năm 2008, Spears phủ nhận việc từ bỏ quyền nuôi con trai của mình cho Federline. Cô đã phải nhập viện khẩn cấp tại Trung tâm y tế Cedars-Sinai sau khi cảnh sát đến nhà cô và phát hiện cô đang bị ảnh hưởng do sử dụng chất cấm. Ngày hôm sau, quyền bảo hộ của Spears đã bị đình chỉ tại một phiên tòa khẩn cấp, và Federline được trao quyền nuôi con dưới tư cách là người bảo hộ pháp lý duy nhất của bọn trẻ. Tòa án đã đưa ra phán quyết tạm thời, và sau đó, vĩnh viễn rằng Spears sẽ phải chịu dưới sự kiểm soát từ cha cô, James Spears và luật sư Andrew Wallet, bao gồm việc kiểm soát toàn bộ tài sản của cô. Trong tháng sau, Spears làm khách mời trong tập phim "Ten Sessions" của "How I Met Your Mother" với vai tiếp tân Abby. Cô nhận được những đánh giá tích cực cho diễn xuất của mình, cũng như mang lại cho loạt phim truyền hình dài tập này lượng người xem cao nhất từ ​​trước tới nay. Trong tháng 7 năm 2008, Spears đã giành lại quyền thăm con sau một thỏa thuận với Federline và luật sư của anh. Trong tháng 9 cùng năm, Spears mở màn Giải Video âm nhạc của MTV với một tiểu phẩm hài được ghi hình trước với Jonah Hill và có bài phát biểu khai mạc lễ trao giải. Cô đã chiến thắng giải Video xuất sắc nhất của nữ ca sĩ, Video Pop xuất sắc nhất và Video của năm cho "Piece of Me". Một bộ phim tài liệu dài 60 phút, "", được sản xuất để ghi lại quá trình trở lại ngành công nghiệp ghi âm của Spears. Được đạo diễn bởi Phil Griffin, "For the Record" được ghi hình ở Beverly Hills, Hollywood, và thành phố New York trong quý III năm 2008. Bộ phim tài liệu được phát sóng trên MTV với 5.6 triệu người xem cho hai lượt phát sóng vào đêm công chiếu. Đây là chương trình có lượng người xem cao nhất trong số những chương trình phát sóng cùng khung giờ với nó vào đêm chủ nhật và trong lịch sử của kênh. Trong tháng 12 năm 2008, album phòng thu thứ sáu của Spears "Circus" được phát hành. Nó nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình và đạt vị trí quán quân ở Canada, Cộng hòa Séc và Hoa Kỳ, cũng như lọt vào top 10 tại nhiều quốc gia châu Âu. Tại Hoa Kỳ, Spears trở thành nữ nghệ sĩ trẻ tuổi nhất có 5 album phòng thu ra mắt ở vị trí số một, được ghi danh vào "Sách Kỷ lục Guinness". Cô cũng trở thành nghệ sĩ duy nhất trong kỷ nguyên Soundscan có 4 album phòng thu bán được từ 500,000 bản trở lên trong tuần đầu. Đây là một trong những album bán chạy nhất trong năm, và đã bán được 4 triệu bản trên toàn thế giới. Đĩa đơn đầu tiên của nó, "Womanizer", trở thành đĩa đơn quán quân đầu tiên của Spears trên bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100 kể từ "...Baby One More Time". Nó đạt vị trí số một ở Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Na Uy và Thụy Điển. Bài hát còn nhận được một đề cử giải Grammy cho Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất. Spears bắt tay thực hiện chuyến lưu diễn The Circus Starring Britney Spears vào tháng 3 năm 2009. Với doanh thu 131.8 triệu đô-la, nó trở thành chuyến lưu diễn có doanh thu cao thứ 5 trong năm. Trong tháng 11 năm 2009, Spears phát hành album tuyển tập hit thứ hai của cô, "The Singles Collection". Đĩa đơn chủ đạo và duy nhất của album, "3" trở thành đĩa đơn quán quân thứ ba của Spears tại Hoa Kỳ. Trong tháng 5 năm 2010, đại diện của Spears xác nhận rằng cô đang hẹn hò với quản lý của cô, Jason Trawick, và họ mong muốn kết thúc mối quan hệ nghề nghiệp của họ để tập trung vào mối quan hệ cá nhân. Spears thiết kế một dòng thời trang phiên bản giới hạn cho Candie's, và được bày bán ở tất cả các cửa hàng vào tháng 7 năm 2010. Trong tháng 9 năm 2010, Spears có vai diễn khách mời trong một tập phim tri ân âm nhạc của chính cô thuộc loạt phim truyền hình Mỹ "Glee", mang tên "Britney/Brittany". Đó là tập phim có lượng người xem cao nhất tính đến thời điểm đó của "Glee". 2011–12: "Femme Fatale" và "The X Factor". Trong tháng 3 năm 2011, Spears phát hành album phòng thu thứ bảy "Femme Fatale". Album đạt vị trí quán quân ở Úc, Canada, và Hoa Kỳ, và lọt vào top 10 ở hầu hết các bảng xếp hạng khác. Thứ hạng của nó tại Hoa Kỳ đã giúp cô cân bằng kỷ lục với Mariah Carey và Janet Jackson ở vị trí thứ 3 trong danh sách những nữ nghệ sĩ có nhiều album quán quân nhất. Album quán quân thứ 6 này đã bán được 1 triệu bản ở Hoa Kỳ và 2.2 triệu bản trên toàn thế giới, và được chứng nhận bạch kim bởi RIAA. Đĩa đơn đầu tiên của album "Hold It Against Me" ra mắt ở vị trí quán quân trên bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100, trở thành đĩa đơn thứ tư của Spears trên bảng xếp hạng và giúp cô trở thành nghệ sĩ thứ hai trong lịch sử có hai đĩa đơn đạt vị trí số một ngay trong tuần đầu, sau Mariah Carey. Đĩa đơn thứ hai "Till the World Ends" đạt vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100, trong khi đĩa đơn thứ ba "I Wanna Go" đạt vị trí thứ 7. Thành tích này đã giúp "Femme Fatale" trở thành album đầu tiên trong sự nghiệp của Spears có 3 đĩa đơn lọt vào top 10 trên bảng xếp hạng này. Đĩa đơn thứ tư và cuối cùng từ album "Criminal" được phát hành vào tháng 9 năm 2011. Video ca nhạc của nó đã gây nên nhiều tranh cãi khi các chính trị gia tại Anh chỉ trích việc Spears dùng súng lục trong quá trình quay phim tại Luân Đôn, một trong những khu vực bị ảnh hưởng xấu bởi cuộc nổi dậy năm 2011 tại đây. Sau đó, quản lý của Spears đã trả lời ngắn gọn, rằng "Video này là một câu chuyện tưởng tượng với bạn trai của Britney, Jason Trawick, mà theo nghĩa đen là xuất phát từ lời bài hát đã được viết từ 3 năm trước, khi những cuộc bạo động chưa xảy ra." Tháng 4 năm 2011, Spears góp giọng trong phiên bản phối lại của bài hát của Rihanna "SM". Nó đứng ở vị trí số một tại Hoa Kỳ vào cuối tháng, đem về cho Spears đĩa đơn quán quân thứ 5 trên bảng xếp hạng. Trong danh sách cuối năm 2011 của "Billboard", Spears đứng vị trí thứ 14 trong danh sách Nghệ sĩ của năm, thứ 32 trong Top nghệ sĩ "Billboard" 200 và thứ 10 trong Top nghệ sĩ "Billboard" Hot 100. Tháng 6 năm 2011, Spears bắt tay vào chuyến lưu diễn Femme Fatale Tour. Trong 10 ngày đầu tiên của chuyến lưu diễn, nó đã thu về 6.2 triệu đô-la, hạ cánh ở vị trí 50 trong danh sách 100 tour diễn hàng đầu Bắc Mỹ của Pollstar vào giữa năm. Chuyến lưu diễn kết thúc vào ngày 10 tháng 12 năm 2011 tại Puerto Rico sau 79 buổi diễn. Một DVD của chuyến lưu diễn đã được phát hành vào tháng 11 năm 2011. Trong tháng 8 năm 2011, Spears đã giành giải thưởng Thành tựu Video của MTV tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2011. Trong tháng sau, cô phát hành album phối lại thứ hai của mình, "". Trong tháng 12 cùng năm, Spears đã đính hôn với bạn trai lâu năm Jason Trawick, người trước đây từng làm trợ lý của cô. Trawick đồng thời trở thành người bảo trợ hợp pháp của Spears, cùng với cha cô, vào tháng 4 năm 2012. Tuy nhiên, Spears và Trawick đã hủy bỏ hôn ước của họ vào tháng 1 năm 2013. Trawick cũng không còn là người bảo hộ của Spears, và cha cô tiếp tục là người bảo hộ duy nhất của cô. Trong tháng 5 năm 2012, Spears được mời để thay thế Nicole Scherzinger cho vị trí giám khảo mùa thứ hai của cuộc thi "The X Factor" phiên bản tại Mỹ, Nicole Scherzinger, cùng với Simon Cowell, L.A. Reid và giám khảo mới Demi Lovato, người thay thế Paula Abdul. Với mức thù lao 15 triêu đô-la, Spears đã trở thành giám khảo được trả lương cao nhất trong lịch sử những cuộc thi hát trên truyền hình. Trong cuộc thi, cô hướng dẫn nhóm Teens và thành viên cuối cùng trong đội của cô, Carly Rose Sonenclar, đã đạt ngôi vị Á quân của mùa giải. Spears đã không trở lại vào mùa thứ ba của cuộc thi và vị trí của cô được thay thế bởi Kelly Rowland. Spears góp giọng trong bài hát "Scream Shout" của , đã được phát hành dưới dạng đĩa đơn trích từ album phòng thu thứ tư của anh, "#willpower" (2013). Nó sau đó đã trở thành đĩa đơn quán quân thứ sáu của cô trên bảng xếp hạng UK Singles Chart và đứng vị trí thứ 3 trên "Billboard" Hot 100 tại Hoa Kỳ. "Scream Shout" là một trong những đĩa đơn bán chạy nhất trong năm 2012 và 2013 với 8.1 triệu bản được bán ra trên toàn thế giới. Trong tháng 12, Spears đứng thứ nhất trong danh sách những nghệ sĩ nữ có thu nhập cao nhất trong năm 2012 bởi tạp chí "Forbes", với thu nhập ước tính là 58 triệu đô-la. Spears bắt đầu thực hiện album phòng thu thứ 8 của mình, "Britney Jean", trong tháng 12 năm 2012, và mời , cô xuất hiện trên "Good Morning America" để công bố chương trình biểu diễn cư trú hai năm của cô tại Planet Hollywood Resort Casino ở Las Vegas, mang tên . Nó bắt đầu vào ngày 27 tháng 12 năm 2013, và bao gồm tổng cộng 100 chương trình xuyên suốt năm 2014 và 2015. Bên cạnh đó, Spears cũng thông báo rằng "Britney Jean" sẽ được phát hành tại Hoa Kỳ vào ngày 3 tháng 12 năm 2013. Nó sẽ được phát hành thông qua hãng đĩa RCA Records do sự tan rã của Jive Records vào năm 2011. Britney Jean trở thành dự án cuối cùng của Spears theo hợp đồng ghi âm ban đầu của cô với RCA, đảm bảo việc phát hành 8 album phòng thu. Bản thu âm không có bất kỳ hoạt động quảng bá hoặc tác động thương mại cụ thể nào, được cho là vì điều khoản trong hợp đồng show diễn Britney: Piece of Me. Sau khi phát hành, album ra mắt và đạt vị trí thứ 4 trên "Billboard" 200 với 107.000 bản, trở thành album có thứ hạng và doanh số tiêu thụ thấp nhất của cô tại Hoa Kỳ. Điều này cũng diễn ra tương tự tại thị trường Vương quốc Anh, khi "Britney Jean" chỉ đạt vị trí thứ 34 trên UK Albums Chart. "Work Bitch" được chọn làm đĩa đơn đầu tiên cho "Britney Jean" vào ngày 16 tháng 9 năm 2013, một ngày sớm hơn dự kiến do bị rò rỉ trực tuyến. Nó ra mắt và đạt vị trí thứ 12 trên "Billboard" Hot 100, đánh dấu bài hát thứ 31 của Spears lọt vào bảng xếp hạng và ra mắt ở thứ hạng cao thứ 5 trong sự nghiệp của cô, cũng như là đĩa đơn top 20 thứ 7 của nữ ca sĩ làm được điều này. Đây cũng là đĩa đơn top 20 thứ 19 và đĩa đơn top 40 thứ 23 của Spears. Trên bảng xếp hạng Pop Songs, nó ra mắt ở vị trí thứ 25, trở thành bài hát thứ 31 của cô có mặt trên bảng xếp hạng, vượt qua thành tích của Mariah Carey (30) cho cương vị Nghệ sĩ có nhiều bài hát lọt vào bảng xếp hạng Pop thứ 2 trong lịch sử. Bài hát cũng đạt thành tích tốt ở một số quốc gia khác, đạt đến top 10 ở Brazil, Canada, Pháp, Ý, México, Tây Ban Nha, Hàn Quốc và Vương quốc Anh. Đĩa đơn thứ hai, "Perfume" ra mắt vào ngày 3 tháng 11 năm 2013, hai ngày sớm hơn so với thông báo ban đầu. Nó ra mắt và đạt vị trí thứ 76 trên "Billboard" Hot 100 và 22 trên Pop Songs. Trong khoảng thời gian sản xuất "Britney Jean", Spears thu âm bài hát "Ooh La La" cho nhạc phim của "Xì Trum 2" vào đầu năm 2013. Trong tháng 10 năm 2013, cô tham gia góp giọng cho bài hát của Miley Cyrus "SMS (Bangerz)", nằm trong album phòng thu thứ tư của Cyrus, "Bangerz" (2013). Ngày 8 tháng 1 năm 2014, Spears thắng giải Nghệ sĩ Pop được yêu thích tại Giải thưởng People Choice lần thứ 40. Vào tháng 8 năm 2014, Spears xác nhận cô đã gia hạn hợp đồng ghi âm của cô với RCA, qua đó cũng tiết lộ việc đang sáng tác và thu âm những nhạc phẩm mới cho album tiếp theo của mình. Spears công bố thông qua tài khoản Twitter của mình vào tháng 8 năm 2014 rằng cô sẽ cho ra mắt dòng sản phẩm nội y mang tên "The Intimate Britney Spears". Tính đến nay, nó đã được xuất khẩu sang hơn 200 quốc gia trên toàn cầu. Ngày 25 tháng 9 năm 2014, Spears khẳng định trên "Good Morning Britain" rằng cô đã gia hạn hợp đồng với The AXIS and Planet Hollywood Resort Casino, để tiếp tục thực hiện Britney: Piece Of Me trong hai năm nữa. Vào tháng 3 năm 2015, tin tức về Spears sẽ phát hành đĩa đơn "Pretty Girls", với Iggy Azalea, vào ngày 4 tháng 5 năm 2015 được xác nhận trên tạp chí "People". Bài hát ra mắt và đạt vị trí thứ 29 trên bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100 và gặt hái những thành công tương đối trên thị trường quốc tế. Spears và Azalea đã biểu diễn ca khúc trực tiếp tại Giải thưởng âm nhạc Billboard năm 2015 từ The AXIS, nơi biểu diễn cư trú của Spears, và nhận được những phản hồi tích cực. Entertainment Weekly ca ngợi rằng "Spears đã cho thấy một trong những màn trình diễn truyền hình mạnh mẽ nhất của cô trong nhiều năm". Ngày 16 tháng 6 năm 2015, Giorgio Moroder phát hành album của mình, "Deja Vu", bao gồm sự góp giọng của Spears trong bài hát "Tom's Diner". Trong một cuộc phỏng vấn, Moroder ca ngợi giọng hát của Spears và nói rằng cô ấy đã làm một "công việc tốt" cho bài hát. Moroder cũng công nhận "nó rất tuyệt đến nỗi bạn sẽ khó nhận ra cô ấy". Tại Giải Sự lựa chọn của Giới trẻ năm 2015, Spears nhận giải Biểu tượng Phong cách của Candie. Trong tháng 11, Spears xuất hiện trong vai phỏng tác từ chính mình, dưới tư cách khách mời, trên loạt phim truyền hình "Jane the Virgin" và nhảy "Toxic" cùng với nhân vật của Gina Rodriguez. Trong năm 2016, Spears xác nhận rằng cô đã bắt đầu thu âm album phòng thu thứ 9 của mình thông qua mạng xã hội. Ngày 1 tháng 3 năm 2016, tạp chí "V" công bố rằng Spears sẽ xuất hiện trên bìa ấn phẩm thứ 100 của họ, xuất bản ngày 08 tháng 3 năm 2016, với 3 phiên bản bìa khác nhau do nhiếp ảnh gia Mario Testino thực hiện. Tổng biên tập của tạp chí, Stephen Gan, tiết lộ rằng việc lựa chọn Spears cho "V100" là vì Spears là một biểu tượng trong ngành công nghiệp âm nhạc, và nói "Ai trong thế hệ chúng tôi lớn lên mà không nghe nhạc của cô ấy?". Vào tháng 5 năm 2016, Spears hợp tác với Glu Mobile để cho ra mắt một ứng dụng trò chơi nhập vai mang tên "Britney Spears: American Dream". Ngày 22 tháng 5 năm 2016, Spears trình diễn một liên khúc những bài hát cũ của cô tại Giải thưởng âm nhạc Billboard năm 2016. Ngoài nhiệm vụ mở màn lễ trao giải, Spears còn được vinh danh với giải thưởng Giải thưởng Billboard Thiên niên kỷ. Vào ngày 14 tháng 7 năm 2016, Britney phát hành đĩa đơn đầu tiên, "Make M", trích từ album phòng thu thứ 9 của cô, với sự tham gia góp giọng của rapper người Mỹ G-Eazy. Ngày 3 Tháng 8 năm 2016, Spears thông báo rằng album mới của cô, "Glory" sẽ được phát hành vào ngày 26 tháng 8 năm 2016. Ngày 16 tháng 8 năm 2016, MTV và Spears thông báo rằng cô sẽ biểu diễn tại lễ trao giải Giải Video âm nhạc của MTV năm 2016. Đây là lần đầu tiên Spears trở lại sân khấu của lễ trao giải kể từ năm 2007 với màn trình diễn "Gimme More". Cùng với "Make M", Spears và G-Eazy còn trình diễn bản hit "Me, Myself I" của G-Eazy.. Spears xuất hiện trên trang bìa của "Marie Claire" Anh quốc vào tháng 10 năm 2016. Trong ấn phẩm này, Spears đã tiết lộ rằng cô đã phải trải qua nhiều căng thẳng tồi tệ trong quá khứ, và việc làm mẹ đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp cô vượt qua những khó khăn đó. "Những đứa con của tôi không quan tâm nếu mọi thứ không hoàn hảo và chúng không phán xét tôi," Spears nói. Vào tháng 11 năm 2016, trong một cuộc phỏng vấn với Las Vegas Blog, Spears xác nhận rằng cô đã bắt đầu làm việc cho album phòng thu tiếp theo, nói rằng: "Tôi không chắc mình muốn album tiếp theo sẽ như thế nào [...] Tôi chỉ biết rằng tôi rất vui mừng khi trở lại phòng thu một lần nữa và thực sự đã quay trở lại." Vào tháng 1 năm 2017, Spears nhận được 4 đề cử tại Giải thưởng People Choice lần thứ 43, và chiến thắng tất cả, bao gồm Nghệ sĩ Pop, Nghệ sĩ nữ, Người nổi tiếng trên mạng xã hội được yêu thích, cũng như Màn hợp tác hài hước cho một chuyên mục với Ellen DeGeneres trên "The Ellen DeGeneres Show". Vào tháng 1 năm 2018, Spears cho ra mắt bộ nước hoa thứ 24 của cô cùng với Elizabeth Arden, Sunset Fantasy, và công bố tour lưu diễn Piece of Me Tour vào tháng 7 năm 2018 tại Bắc Mỹ và châu Âu. Chỉ trong vòng vài phút mở bán tại các thành phố lớn, lượng vé bán ra cháy sạch trong khi nhu cầu tham gia của người hâm mộ còn rất cao, nhà tổ chức đành phải bổ sung thêm lịch trình theo đó. Nam rapper gốc Latin Pitbull tham gia hỗ trợ phần trình diễn tại các tiết mục bên châu Âu. Tour lưu diễn xếp hạng thứ 86 và 30 lần lượt ở Top 100 Cả năm của Pollstar năm 2018 tại Bắc Mỹ và thế giới. Tour lưu diễn đem lợi nhuận về cho Spears tổng cộng là 54.3 triệu đô la Mỹ từ 260.531 chiếc vé được bán ra, nằm thứ sáu trong các tour lưu diễn bán chạy nhất của nghệ sĩ nữ năm 2018, đứng thứ nhìn tour bán chạy nghệ sĩ nữ ở riêng Vương Quốc Anh vào năm 2018. Vào 20 tháng 3 năm 2018, Spears công bố tham gia dự án trang phục hạng sang nước Pháp thương hiệu Kenzo. Mục tiêu là để khuynh đảo thế giới thời trang cùng với dự án 'La Collection Memento No. 2' của Spears. Vào ngày 12 tháng 4 năm 2018, Spears được trao giải thưởng GLAAD Vanguard Award năm 2018 ở mục "tuyên truyền cổ vũ cộng đồng LGBTQ+". Vào ngày 27 tháng 4 năm 2018, Epic Rights kí hợp đồng với Spears để cho ra mắt hãng thời trang của bản thân cô vào năm 2019, bao gồm y phục, áo thể thao, phụ kiện và đồ điện tử. Vào tháng 7 năm 2018, Spears cho ra mắt nước hoa unisex Prerogative. Vào ngày 18 tháng 10 năm 2018, Spears công bố ra mắt tour lưu diễn tại Las Vegas, Britney: Domination, dự định sẽ khai màn tại nhà Park MGM vào ngày 13 tháng 2 năm 2019. Spears kiếm được trung bình 507,000 đô la Mỹ, là con số tiền cao nhất từ trước tới nay của cô tại Las Vegas Strip. Vào ngày 21 tháng 10 năm 2018, Spears biểu diễn tại Formula One Grand Prix ở Austin, đây cũng là buổi biểu diễn cuối cùng của cô trong Piece of Me Tour. 2019–2021: Bãi bỏ quyền bảo hộ, phong trào #FreeBritney, cáo buộc lạm dụng. Vào ngày 4 tháng 1 năm 2019, Spears tuyên bố tạm dừng vô thời hạn và huỷ bỏ chuyến biểu diễn nơi cư trú tại Las Vegas sau khi người cha Jamie của cô bị vỡ ruột kết trong tình trạng nguy kịch. Vào tháng 3 năm 2019, Andrew Wallet xin từ chức người đồng bảo quản tài sản của Spears sau 11 năm vì xin tăng lương không thành công và Jamie đã trở thành người duy nhất giữ quyền quản lý cả đời tư và tài sản của con gái. Spears vào viện tâm thần trong bối cảnh căng thẳng vì căn bệnh của cha cô cùng tháng đó. Tháng sau, một podcast dành cho người hâm mộ tên là "Britney's Gram", đã tiết lộ một đoạn thư thoại từ một nguồn tự nhận là cựu thành viên nhóm pháp lý của Spears. Họ cáo buộc ông Jamie đã tự huỷ bỏ chuyến lưu diễn thời gian cư trú do Spears từ chối uống thuốc, và ông đã giam giữ con gái mình tại một cơ sở trái với ý muốn của cô kể từ tháng 1 năm 2019 sau khi cô vi phạm quy tắc cấm lái xe và quyền bảo hộ của cô lẽ ra đã chấm dứt vào năm 2009. Cùng giai đoạn này, phong trào #FreeBritney đòi chấm dứt quyền bảo hộ trả tự do cho Britney Spears bùng nổ trên mạng xã hội, và nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ phía nghệ sĩ gồm có Cher, Paris Hilton, và Miley Cyrus, và tổ chức phi lợi nhuận American Civil Liberties Union. Vào ngày 22 tháng 4 năm 2019, người hâm mộ đã biểu tình bên ngoài Toà thị chính Tây Hollywood và yêu cầu thả Spears. Spears cho biết "tất cả đều ổn" hai ngày sau đó và rời cơ sở vào cuối tháng đó. Trong phiên điều trần vào tháng 5 năm 2019, Thẩm phán Brenda Penny đã ra lệnh đánh giá chuyên môn về quyền bảo hộ. Vào tháng 9, chồng cũ của Spears là vũ công Federline đã nhận được lệnh cấm đối với người cha Jamie của Britney, sau một cuộc xô xát được cho là giữa ông Jamie và một trong những con trai của cô. Người quản lý chăm sóc lâu năm của Spears, Jodi Montgomery được cho là đã tạm thời thay thế ông Jamie làm người bảo hộ cho cô cùng tháng đó, nhưng qua một cuộc điều tra thì hoàn toàn không có quyết định nào sự sắp xếp nào kể trên cả. Một bảo tàng hâm mộ dành riêng cho Spears được gọi là "The Zone", đã khai trương tại Los Angeles vào tháng 2 năm 2020 và sau đó bị ngừng hoạt động do đại dịch COVID-19. Spears phát hành đĩa đơn bổ sung độc quyền "Mood Ring" tại thị trường Nhật Bản của album "Glory" và cho ra mắt phiên bản album có ảnh bìa mới lên trên toàn bộ nền tảng phát trực tuyến và mua kỹ thuật số khắp thế giới vào tháng 5 năm 2020. Vào tháng 8, Jamie gọi phong trào #FreeBritney là "một trò đùa" và những người tổ chức phong trào này là "những nhà lý thuyết âm mưu". Vào ngày 17 tháng 8 năm 2020, luật sư do toà chỉ định của Spears là Samuel D. Ingham III, đã nộp hồ sơ toà án ghi lại mong muốn của Spears về việc thay đổi quyền bảo hộ theo nguyện vọng cũng như lối sống của cô, và chỉ định Montgomery làm người bảo hộ lâu dài của cô, và thay thế ông Jamie bằng một người được ủy thác làm người bảo quản tài sản của cô. Bốn ngày sau, Penny gia hạn thỏa thuận đã được thiết lập cho đến tháng 2 năm 2021. Vào tháng 11 năm 2020, Penny đã chấp thuận Bessemer Trust làm người đồng bảo quản tài sản của Spears cùng với Jamie. Tháng sau, Spears phát hành phiên bản cao cấp mới của Glory, bao gồm "Mood Ring" và các bài hát mới "Swimming in the Stars" và "Matches". Vào tháng 2 năm 2021, một bộ phim tài liệu mang tựa đề "Framing Britney Spears" nói về sự nghiệp và quyền bảo hộ của Spears được chiếu trên đài FX. Spears sau đó đã tiết lộ cô đã xem một phần của bộ phim tài liệu và cô cảm thấy bị bẽ mặt vì nhận thức của cô đã được công chiếu rộng rãi và cô đã "khóc suốt hai tuần" sau buổi phát sóng đầu tiên. Tháng sau, Ingham đệ đơn yêu cầu thay thế vĩnh viễn ông Jamie bằng Montgomery làm người giám hộ cho Spears, trích dẫn lệnh năm 2014 cho rằng Spears không có đủ năng lực đồng ý điều trị y tế dưới bất kỳ hình thức nào. Vào ngày 22 tháng 6 năm 2021, ngay trước khi Spears chuẩn bị phát biểu trước toà, "The New York Times" đã có được các tài liệu mật của toà án kể lại Spears đã nỗ lực trong nhiều năm để chấm dứt quyền bảo hộ của mình. Spears đã phát biểu trước toà vào ngày 23 tháng 6, gọi quyền bảo hộ là "sự bóc lột". Cô nói rằng cô đã nói dối bằng việc "cho cả thế giới biết rằng tôi vẫn ổn và tôi hạnh phúc", nhưng thực sự ra cô đã bị tổn thương và tức giận. Tuyên bố của toà án đã nhận được sự đưa tin rộng rãi của các phương tiện truyền thông và tạo ra hơn 1 triệu lượt chia sẻ trên Twitter, hơn 500.000 lượt tweet sử dụng thẻ #FreeBritney và hơn 150.000 lượt tweet có hashtag mới đề cập đến phiên toà, #BritneySpeaks. Vào ngày 1 tháng 7, Bessemer Trust đã yêu cầu thẩm phán cho phép họ rút khỏi quyền bảo hộ, cho rằng họ đã bị lừa và đã tham gia vào một thoả thuận với nhấn kiến cho rằng quyền bảo hộ là tự nguyện. Cùng ngày hôm đó, các thượng nghị sĩ Elizabeth Warren và Bob Casey Jr. kêu gọi các cơ quan liên bang tăng cường giám sát hệ thống bảo hộ của đất nước. Người quản lý của Spears trong 25 năm, Larry Rudolph, đã từ chức vào ngày 6 tháng 7 vì "có ý định chính thức nghỉ hưu" và cùng ngày hôm đó, có thông tin cho rằng Ingham đã lên kế hoạch nộp hồ sơ lên toà án yêu cầu được bãi nhiệm. Trong phiên điều trần ngày 14 tháng 7, Thẩm phán Penny đã chấp thuận đơn từ chức của Bessemer Trust và Ingham. Toà án cũng chấp thuận yêu cầu của Spears về việc thuê luật sư Mathew S. Rosengart để đại diện cho cô. Rosengart đã thông báo với toà rằng ông sẽ làm việc để chấm dứt quyền bảo hộ. Cuối ngày hôm đó, Spears lần đầu tiên công khai ủng hộ phong trào #FreeBritney, sử dụng thẻ bắt đầu bằng # trong chú thích trên một bài đăng trên Instagram. Cô đề cập đến cảm giác "may mắn" sau khi nhận được "đại diện thực sự", ám chỉ quyết định của Thẩm phán Penny cho phép cô được tự lựa chọn luật sư cho riêng mình. Vào ngày 26 tháng 7, Rosengart đã đệ đơn yêu cầu loại bỏ ông Jamie khỏi vị trí người bảo quản tài sản của Spears và thay thế ông bằng Jason Rubin, Kế toán viên công chứng (CPA) tại Certified Strategies Inc. ở Woodland Hills, California. Vào ngày 12 tháng 8, ông Jamie đồng ý từ chức người bảo hộ vào một ngày nào đó trong tương lai, và các luật sư của ông kể lại rằng ông muốn "một sự chuyển đổi có trật tự sang một người bảo hộ mới". Vào ngày 7 tháng 9, ông Jamie đã nộp đơn yêu cầu chấm dứt quyền bảo hộ. Năm ngày sau, Spears tuyên bố đính hôn với bạn trai lâu năm của mình, Sam Asghari, thông qua một bài đăng trên Instagram. Vào ngày 29 tháng 9, Thẩm phán Penny đã đình chỉ ông Jamie làm người bảo quản tài sản của Spears, và kế toán John Zabel sẽ tạm thời thay thế ông. Vào ngày 12 tháng 11, Thẩm phán Penny chấm dứt quyền bảo hộ. 2022–nay: Cuộc hôn nhân lần thứ ba, hợp tác trong âm nhạc, và "The Woman in Me". Vào tháng 4 năm 2022, cô thông báo mang thai cùng với Asghari, nhưng đã bị sảy vào tháng kế tiếp. Cặp đôi kết hôn vào ngày 9 tháng 6 tại nhà riêng của Spears ở Thousand Oaks, Los Angeles. Không ai nằm trong gia đình trực hệ của Spears (kể cả bố mẹ, em gái và anh trai cô) được mời; hai con trai của cô không tham dự. Người chồng đầu tiên của Spears là Jason Alexander đã cố phá đám cưới bằng cách trang bị dao, đột nhập vào nhà cô nhưng đã bị bắt giữ. Spears nhận được lệnh cấm ba năm đối với anh ta. Vào ngày 26 tháng 8, Spears và nhạc sĩ người Anh Elton John phát hành bài song ca "Hold Me Closer", đây là một phiên bản làm lại của đĩa đơn năm 1972 "Tiny Dancer" của John và đó cũng chính là lần phát hành sản phẩm âm nhạc đầu tiên của Spears sau khi kết thúc quyền bảo hộ. "Hold Me Closer" ra mắt ở vị trí thứ sáu trên bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100 Hoa Kỳ, đem về cho Spears ca khúc top 10 thứ 14 và là ca khúc đạt thứ hạng cao nhất của cô tính từ "Scream Shout" (2012). Nó còn được ra mắt ở vị trí thứ ba tại bảng xếp hạng UK Singles Chart, mang về cho Spears ca khúc top 10 thứ 24. Kể từ khi chấm dứt quyền bảo hộ, cuộc sống cá nhân, sự hiện diện trên mạng xã hội và sức khoẻ tổng thể của Spears đã trở thành đề tài thu hút sự quan tâm mới của giới truyền thông và người hâm mộ, làm nảy sinh các thuyết âm mưu. Vào ngày 24 tháng 1 năm 2023, các đại biểu của văn phòng Cảnh sát trưởng quận Ventura đã thực hiện kiểm tra phúc lợi tại nơi ở của Spears sau khi nhận được nhiều cuộc gọi từ những người hâm mộ lo ngại khi chứng kiến Spears xoá tài khoản Instagram của chính mình. Người phát ngôn của cảnh sát tuyên bố Spears "đã an toàn và không gặp nguy hiểm." Spears đã lên tiếng về vấn đề này trên tài khoản Twitter, yêu cầu người hâm mộ tôn trọng quyền riêng tư của cô. Spears và rapper "Mind Your Business" vào ngày 21 tháng 7 năm 2023. Vào ngày 16 tháng 8, Spears và Asghari đã ly thân sau 14 tháng chung sống. Vào tháng 9 năm 2023, một cuộc kiểm tra phúc lợi bổ sung đã được tiến hành sau khi Spears đăng tải một video lên Instagram quay cảnh cô nhảy múa với dao. Đội an ninh của Spears đã báo với cảnh sát điều tra rằng không hề có mối đe dọa trực tiếp nào đến sự an toàn của cô và các cảnh sát đã rời đi. Spears cũng làm rõ rằng những con dao này không phải là hàng thật. Vào tháng 2 năm 2022, Spears đã ký một hợp đồng xuất bản cuốn hồi ký trị giá 15 triệu đô la, và đây là một trong những hợp đồng bán sách lớn nhất mọi thời đại. Quyển hồi ký "The Woman in Me" của Spears được phát hành vào ngày 24 tháng 10 năm 2023. Nội dung bên trong kể về hành trình trở thành người nổi tiếng của Spears, cùng với sự kiện truyền thông đại chúng, quyền bảo hộ và sự tự do mới tìm được của cô. Spears đã từng công khai ba nữ nghệ sĩ Madonna, Janet Jackson và Whitney Houston là niềm cảm hứng lớn của cô. Họ chính là những nghệ sĩ yêu thích nhất của cô khi còn nhỏ, và Spears sẵn sàng "hát theo bài hát của họ cả ngày lẫn đêm trong phòng khách [của cô]". Bài hát "I Have Nothing" của Houston là bài mà cô đã dùng để thử giọng, giúp cô nhận được bản hợp đồng thu âm với hãng đĩa Jive Records. Spears cũng nêu tên Mariah Carey là "một trong những lý do chính mà tôi bắt đầu đi theo con đường ca hát". Xuyên suốt sự nghiệp, Spears thường hay so sánh giữa Madonna và Jackson về mặt giọng ca, vũ đạo và trình diễn sân khấu. Theo như lời kể của Spears: "Tôi biết khi tôi còn nhỏ, tôi đã tôn thờ những người mà bạn biết đấy, chính là Janet Jackson và Madonna. Họ là niềm cảm hứng lớn của tôi, nhưng tôi cũng có bản sắc riêng và tôi biết mình là ai." Trong quyển sách năm 2002 "Madonnastyle" của Carol Clerk có trích dẫn lời thoại của Spears: "Tôi luôn là fan lớn của Madonna từ khi còn nhỏ đến giờ. Cô ấy là người mà tôi thực sự rất tôn sùng. Tôi thực sự, thực sự rất thích được trở thành một huyền thoại như Madonna." Spears lấy dẫn chứng bài hát "That's the Way Love Goes" là cảm hứng cho bài "Touch of My Hand" nằm trong album "In the Zone" của cô, đồng thời nói rằng "Tôi thích so sánh nó với 'That's the Way Love Goes,' kiểu như một thứ gì đó của Janet Jackson." Cô cũng bảo rằng "Just Luv Me" nằm trong album "Glory" đã gợi nhắc cho cô đến "That's the Way Love Goes". Lúc gặp gỡ Spears tận mặt, Janet Jackson thừa nhận: "Cô bé ấy nói chuyện với tôi, 'chị ơi, em là fan hâm mộ lớn của chị và em thực sự rất ngưỡng mộ chị.' Quả thực là một câu nói rất tâng bốc. Mọi người đều nhận cảm hứng từ một số nơi. Và thật tuyệt vời khi được thấy một người khác bước tới vừa nhảy múa vừa ca hát, và chứng kiến tất cả những đứa trẻ này có mối liên hệ với cô ấy như thế nào. Rất nhiều người chê bai điều đó nhưng những gì cô ấy làm chính là điều tích cực." Madonna cũng bàn về Spears trong tài liệu "": "Tôi ngưỡng mộ tài năng của cô gái ấy khi làm nghệ sĩ... Có những khía cạnh về cô bé đã khiến tôi nhớ đến bản thân tôi khi mới bắt đầu sự nghiệp.". Spears cũng đã từng đề cập đến Michael Jackson, Mariah Carey, Sheryl Crow, Otis Redding, Shania Twain, Brandy, Beyoncé, Natalie Imbruglia, Cher, và Prince, cũng như những nghệ sĩ trẻ hơn chẳng hạn như Selena Gomez và Ariana Grande làm cảm hứng của chính mình. Phong cách âm nhạc. Spears là một nghệ sĩ nhạc pop chuyên về nhánh thể loại nhạc Ngay sau khi vừa mới ra mắt trước công chúng thì cô đã được ghi công là người hồi sinh cho nền nhạc teen pop vào cuối thập niên 1990. Cây bút Rob Sheffield của tờ tạp chí "Rolling Stone" có viết: "Spears vừa mang nguyên mẫu cổ điển của nữ hoàng nhạc rock roll tuổi teen, búp bê dungaree, em bé thiên thần vừa phải tạo một cảnh diễn." Trong bài đánh giá của "...Baby One More Time", Stephen Thomas Erlewine của tờ báo AllMusic mô tả âm nhạc của Spears là một "sự hoà trộn giữa dance-pop mang hơi hướng rap và ballad mượt mà truyền cảm." Thông qua "Oops!... I Did It Again", Spears có làm việc với một số nhà sản xuất thể loại RB để tạo ra "một sự kết hợp giữa thể loại bubblegum, soul đô thị, và raga". Album phòng thu thứ ba của cô "Britney" bắt nguồn từ thể loại teen pop "nhịp điệu và du dương", nhưng được mô tả là "sắc nét hơn, cứng rắn hơn những gì trước đây", kết hợp các thể loại như RB, disco và funk. Spears còn khai thác và kết hợp chặt chẽ giữa các thể loại electropop và nhạc dance xuyên suốt các bản thu của cô, thậm chí tận dụng chất liệu urban đô thị và hip hop trong các album "In the Zone" và "Blackout". "In the Zone" cũng được lấy tiên phong thử nghiệm với dòng nhạc Euro trance, reggae, và nhạc Trung Đông. "Femme Fatale" và "Britney Jean" thì nặng về thể loại nhạc điện tử. Còn album phòng thu thứ chín của Spears "Glory" thì lại mang tính chiết trung và mang tính thử nghiệm hơn so với tác phẩm đã phát hành trước đó của cô. Spears bình luận rằng "đã mất rất nhiều thời , nhưng tôi vẫn chưa thực sự làm xong được." "...Baby One More Time" và "Oops!... I Did It Again" đi vào các chủ đề như tình yêu và các mối quan hệ theo quan điểm của thanh thiếu niên và được sự hưởng ứng nhiệt tình từ người đón nhận âm nhạc của Spears. Sau thành công vang dội về mặt thương mại của hai album phòng thu đầu tiên, nhóm của Spears và các nhà sản xuất từ đó muốn duy trì công thức đã đưa cô đứng đầu bảng xếp hạng. Tuy nhiên, Spears thì không hài lòng với chất âm và bối cảnh do hãng thu của cô đặt ra. Cô đồng sáng tác năm bài hát và chọn nhà sản xuất cho mỗi bài trong album phòng thu thứ ba "Britney" của cô, với lời bài hát thiên về trưởng thành, tình dục và khám phá khía cạnh bản thân. Yếu tố tình dục, khiêu vũ, tự do và tình yêu tiếp tục là chủ đề âm nhạc chính của Spears trong các album tiếp theo của cô. Album phòng thu thứ năm "Blackout" của cô chuyển sang bộc bạch về danh tiếng và sự giám sát của giới truyền thông, nằm gọn trong một bài hát "Piece of Me". Người ta biết đến nhạc của Spears nhờ vào giai điệu bắt tai, dễ thuộc dễ nhớ. Phần mở đầu của đĩa đơn ra mắt sự nghiệp "...Baby One More Time" của cô là chuỗi lặp lại "Oh, baby baby", đã trở thành câu hát cửa miệng đầy biểu tượng của riêng Spears và từng bị đem ra làm chủ đề châm biếm trên truyền thông bởi nhiều nghệ sĩ như Nicole Scherzinger và Ariana Grande. Câu hát ấy đã được biến tấu dưới nhiều hình thức khác nhau trong suốt âm nhạc của cô, chẳng hạn như đơn giản là "baby" và "oh baby", cũng như tựa đề ca khúc Blackout, "Ooh Ooh Baby". Ở giai đoạn đầu sản xuất "...Baby One More Time", Barry Weiss có nhắc đến việc Spears bắt đầu câu cửa miệng từ cách nói ứng khẩu kỳ lạ của cô trong quá trình thu âm bài hát. Ông bình luận thêm: "Lúc đầu, chúng tôi nghe thực sự kỳ lạ. Thật kỳ lạ. Đó không phải là cách mà Max viết ra bài hát đó. Nhưng rất hiệu quả! Chúng tôi nghĩ đây có thể là một màn mở đầu thực sự tốt cho cô ấy." Câu mở đầu trong bài "Gimme More", "It's Britney, bitch" cũng đã trở thành cụm từ mở miệng thương hiệu khác của Spears. Ở bài đánh giá thoạt đầu của album "Blackout" cho rằng câu nói trên "chỉ đơn thuần là để buồn cười". Amy Roberts của tờ "Bustle" gọi đó là "một bước ngoặt văn hoá không thể xoá nhoà, biến khoảnh khắc điên cuồng và bối rối trong sự nghiệp của một siêu sao trở thành sức mạnh và quyền lực". Spears là ca sĩ mang giọng soprano. Một số nguồn tin khác thì cho rằng cô có quãng giọng contralto. Trước khi đạt được thành công đột phá, người ta kể lại rằng Spears từng có giọng hát "trầm sâu hơn nhiều so với chất giọng đặc trưng rất dễ nhận biết của cô ngày nay." Eric Foster White khi ấy là người vừa làm việc với Spears trong album đầu tay "...Baby One More Time" của cô, vừa được cho là đã "[định hình] giọng hát của cô trong suốt một tháng" một khi Spears đã ký hợp đồng với hãng thu Jive Records, dẫn đến "Britney độc lạ đến ngày nay, không thể nhầm lẫn đi đâu được". Rami Yacoub là người đồng sản xuất album đầu tay của Spears cùng với nhạc sĩ lời bài hát Max Martin từng nhận xét: "Tôi biết từ thời Denniz Pop và các sản xuất trước đó của Max, khi bọn tôi cùng làm các bài hát thì sẽ có một thứ liên quan đến giọng mũi. Đối với N' Sync và Backstreet Boys, chúng tôi đành phải đẩy giọng mũi giữa lên. Khi Britney làm chuyện đó, con bé có được chất giọng nghe cáu kỉnh lại còn quyến rũ." Guy Blackman của tờ "The Age" viết rằng "Tuy nhiên, vấn đề ở Spears là những bài hát lớn nhất của cô ấy, cho dù được cứng nhắc tạo ra hay trau chuốt đến mức nào, vẫn luôn có sức thuyết phục nhờ sự truyền tải, sự cam kết và sự hiện diện của cô ấy. ... Spears đã thể hiện một cách hoàn hảo những thôi thúc trái ngược nhau của tuổi thiếu niên, sự căng thẳng giữa khiết tịnh và trải nghiệm tình dục, giữa chủ nghĩa khoái lạc và trách nhiệm, giữa sự tự tin và sự dễ bị tổn thương." Nhà sản xuất William Orbit từng làm việc cùng Spears trong album "Britney Jean" cho hay về giọng của cô: "[Britney] không nổi tiếng chỉ vì [cô ấy] trình diễn những buổi ca hát tuyệt vời; [cô ấy] trở nên như vậy bởi vì [giọng của cô ấy] rất độc đáo: bạn chỉ cần nghe hai từ thôi là bạn sẽ biết ai đang hát liền". Spears luôn bị chỉ trích vì có sử dụng chỉnh giọng Auto-Tune và giọng ca của cô bị cho là "xử lý quá đà" trong các bài hát. Erlewine đã chỉ trích khả năng ca hát của Spears trong bài đánh giá về album "Blackout" của cô, cho rằng: "[Spears] chưa bao giờ là giọng ca vĩ đại nhất, giọng hát gầy gò của cô ấy đáng lý có thể đã bị loại bỏ ngay từ đầu trong sự nghiệp khi còn là một thiếu niên đang học đàn, nhưng gần một thập kỷ sau, giọng hát của cô ấy vẫn không khá khẩm hơn chút nào, ngay cả khi có các công cụ phòng thu để che giấu điểm yếu mà cô ấy có." Joan Anderman của tờ "The Boston Globe" công nhận "Spears nghe có vẻ như người máy, gần như không phải con người qua các bản thu của mình, do giọng của cô ấy được xử lý bằng bộ tổng hợp và bộ chuyển cao độ kỹ thuật số quá nhiều." Kayla Upadhyaya của tờ "The Michigan Daily" cung cấp một luận điểm khác, bảo rằng: "Nhờ giọng ca auto-tune và bị chỉnh quá đà đó mà định hình được giọng ca của Spears khi làm ca sĩ, và trong âm nhạc của cô, auto-tune không phải là một mánh lới quảng cáo vì nó là một công cụ được sử dụng để làm nổi bật, bóp méo và đưa ra tiếng nói." Adam Markovitz của "Entertainment Weekly" khẳng định rằng "Spears không phải là một ca sĩ có kỹ thuật, điều đó là chắc chắn. Nhưng cô ấy được hỗ trợ bởi bức tường pound của Martin và Dr. Luke, giọng hát của cô ấy hoà quyện thành một sự kết hợp giữa tiếng thủ thỉ babytalk và tiếng coital thở hổn hển, theo cách đã được xử lý quá mức của riêng nó, cũng mang tính biểu tượng và hấp dẫn như tiếng yips của Michael Jackson hay tiếng gầm gừ của Eminem." Biểu diễn trên sân khấu và phim ảnh. Spears nổi tiếng trước công chúng nhờ vào màn trình diễn hấp dẫn trên sân khấu của cô, đặc biệt là các động tác khiêu vũ phức tạp của Spears kết hợp "múa bụng và các động tác gợi tình nóng nảy" được cho là có ảnh hưởng từ "những màn khiêu vũ nặng nề" như Danity Kane và the Pussycat Dolls. Độc giả "Rolling Stone" đã bình chọn Spears là nhạc sĩ khiêu vũ được yêu thích thứ hai của họ. Ngoài ra, Spears còn được cho là nhút nhát hơn nhiều so với tính cách trên sân khấu của cô. Cô từng bảo rằng biểu diễn là "một sự tăng cường cho sự tự tin trong cô. Nó giống như một kiểu thay đổi bản ngã. Có thứ gì đó bật ra được, rồi tôi bước đi và biến thành một con người khác. Tôi nghĩ đó là một món quà [cho tôi] để có thể làm được điều đó." Màn trình diễn tại MTV Video Music Awards năm 2000, 2001 và 2003 của cô đã được ca ngợi, trong khi buổi biểu diễn vào năm 2007 thì bị nhà phê bình chỉ trích rộng rãi do cô "nhảy múa nhạt nhoà và miệng chỉ mấp máy vài chữ đôi lúc"."Billboard" gọi màn trình diễn "trở lại" năm 2016 của cô tại chương trình là "một nỗ lực hiệu quả nhưng không hoàn toàn huy hoàng để lấy lại vị thế siêu sao nhạc pop". Sau chấn thương đầu gối và các vấn đề cá nhân, "kỹ năng trình diễn" và khả năng vũ đạo của Spears đã bị vấp phải chê bai. Serge F. Kovaleski của "The New York Times" đã đến xem vào 2016, tuyên bố: "Từng là một vũ công uyển chuyển tự nhiên thì ngày nay cô Spears có thể trông cứng đờ, thậm chí giống người máy, chỉ biết dựa vào những cánh tay khua khoắng và những bộ đồ hào nhoáng." Robin Leach của "Las Vegas Sun" dường như ấn tượng trước sự cố gắng của Spears trong buổi hoà nhạc và cho rằng cô đã mang đến một "màn trình diễn hoàn hảo" trong đêm khai mạc chương trình lưu trú. Một vấn đề tranh cãi khác ở Spears đã diễn ra suốt nhiều năm liền, đó chính là Spears hay bị bắt gặp hát nhép gần như xuyên suốt các buổi biểu diễn trực tiếp, và cô thường phải nhận chỉ trích từ các nhà phê bình âm nhạc và người đi dự buổi hoà nhạc. Một số người khác thì cho rằng mặc dù Spears "nhận được nhiều hỗ trợ âm thanh bên cánh gà" nhưng cô "không hề thực sự hát nhép" trong các buổi trực tiếp. Vào năm 2016, Sabrina Weiss của Refinery29 bảo rằng chuyện Spears hát nhép đã là một "chuyện xưa rồi và chẳng còn xa lạ gì nữa." Càng về sau thì sự phổ biến của hát nhép ngày càng lớn, "Los Angeles Daily News" đặt vấn đề: "Trong bối cảnh buổi hoà nhạc của Britney Spears, điều đó có thực sự quan trọng không?... bạn [chỉ] xem cảnh tượng có phần lố bịch trong đó". Bản thân Spears đã từng lên tiếng về chủ đề này, cô phân trần: "Tôi rất vui vì bạn nhấn mạnh tới câu hỏi này. Thực sự rất khôi hài. Nhiều người nghĩ rằng tôi không hát live. Bởi vì tôi phải nhảy rất nhiều nên tôi có thu âm trước một ít nhưng trên sân khấu có cả giọng thật tôi hát lẫn giọng thu âm. Bạn có biết là tôi rất bực mình bởi cùng một lúc tôi phải nhảy hết sức và phải hát mà không ai thừa nhận sự vất vả đó của tôi cả". Người quản lý tour diễn của Britney Spears, Adam Leber cũng từng lên tiếng bênh vực cho Spears trên tờ Medium: "Để hoàn thiện một chương trình, việc hát toàn bộ thời gian là rất khó. Về cơ bản thì cô ấy vẫn hát được tất cả các bài nếu như chỉ đứng hát. Nhưng liệu bạn có thể nhảy trong suốt 90 phút và hát trọn vẹn thời gian đó hay không". Năm 2012, VH1 xếp Spears là Người phụ nữ vĩ đại thứ tư của Kỷ nguyên Video, trong khi "Billboard" đã xếp cô là tám Nghệ sĩ video âm nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại vào năm 2020 với lý giải: "Cốt truyện, điệu nhảy, "trang phục". Ngay từ đầu, công chúa nhạc pop đã khẳng định chiều dài sáng tạo của mình bằng một số video đáng nhớ nhất trong ba thập kỷ qua." Spears đã được ghi nhận là người tiên phong cho công việc quay phim thời kỳ đầu trong sự nghiệp của mình. Cô đã lên ý tưởng về "mô típ nữ sinh Công giáo mang tính biểu tượng và hoạt náo viên" trong video "...Baby One More Time" và từ chối ý tưởng video hoạt hình. Spears cũng đã ghi hình video "Oops!... I Did It Again" và "lấy vũ đạo làm trung tâm thay vì tập trung vào không gian như nhà sản xuất của cô đề xuất". Cô cũng sử dụng trực giác của vũ công để giúp chọn nhịp cho mỗi bản nhạc. Hình tượng công chúng. Sau khi bắt đầu sự nghiệp âm nhạc với ca khúc "...Baby One More Time", Spears được gắn mác là một thần tượng teen, và "Rolling Stone" từng mô tả cô là "hình mẫu mới nhất của một sản phẩm cổ điển: ngôi sao nhạc pop không có dây thần kinh thực hiện nhiệm vụ của mình với sự quyến rũ của người mẫu tạp kỹ và người phát ngôn." Trang bìa tạp chí Rolling Stone in vào tháng 4 năm 1999 có giới thiệu hình ảnh Spears nằm trên giường, mặc áo hở ngực để lộ áo lót và quần đùi trong khi tay thì đang ôm một con Teletubby. Hiệp hội Gia đình Mỹ (AFA) bày tỏ bất bình, ví bức chụp ảnh ấy là "sự kết hợp đáng lo ngại giữa sự ngây thơ thời thơ ấu và tình dục người lớn" và kêu gọi "Những người Mỹ yêu Chúa xin hãy tẩy chay các cửa hàng bán album của Britney." Spears phản bác: "Có chuyện gì mà phải ồn ào dữ vậy? Tôi còn có đạo đức tốt kia mà. ... Tôi sẽ làm lại thêm nữa. Tôi nghĩ những bức ảnh vẫn ổn. Và tôi cảm thấy mệt mỏi khi bị đem ra so sánh với Debbie Gibson và tất cả những thứ kẹo cao su thổi bong bóng này miết." Cách đó không lâu, Spears đã tuyên bố công khai rằng cô sẽ kiêng cữ cho đến khi kết hôn. Những lời chỉ trích thoạt đầu đối với Spears đều theo chiều hướng cho rằng cô là một ngôi sao nhạc pop được sản xuất, là một sản phẩm của một nhà máy sáng tác nhạc người Thụy Điển không liên quan thực sự đến âm nhạc hay tính cách của cô. Biên tập viên Constance Grady của "Vox" đánh giá những sự việc ấy là đã tồn tại từ từ lúc Spears ra mắt với công chúng vào cuối những năm 1990 khi âm nhạc vẫn còn bị thống trị bởi chủ nghĩa rock, và giải thưởng thì vẫn đang còn mang "cái gọi là tính chân thực và sự gai góc của nhạc rock hơn tất cả". Chính thứ nhạc pop mượt mà và hấp dẫn của Spears là sự xúc phạm đến sự nhạy cảm của những người theo chủ nghĩa nhạc rock và việc phỉ báng Spears giả tạo là một cách dễ dàng để loại bỏ cô. Ron Levy của "Rolling Stone" lên tiếng: "Tôi phải nói cho mọi người biết, nếu công ty thu âm có thể tạo ra nhiều hơn một Britney Spears thì họ đã làm và họ đã cố gắng từ lâu rồi!" "Billboard" cho rằng vào thời điểm Spears phát hành album thứ hai "Oops!... I Did It Again", "Có một sự thay đổi xảy ra trong cả âm nhạc và hình ảnh trước công chúng của cô ấy: Cô ấy sắc sảo hơn, quyến rũ hơn và ca từ mang phong cách trưởng thành hơn, tạo tiền đề cho "Britney" năm 2001 để lột bỏ làn da ngây thơ và đưa cô ấy bước vào tuổi trưởng thành." Đĩa đơn chủ đạo và video âm nhạc "I'm a Slave 4 U" của "Britney" cũng được cho là đã khiến Spears xa rời hình ảnh "ngôi sao kẹo cao su lành mạnh" trước đây. Stephen Thomas Erlewine của AllMusic nhấn mạnh, "Nếu như album "Britney" năm 2021 là một album chuyển tiếp tại thời điểm Spears không phải là một cô bé và chưa phải là một người phụ nữ thì album kế tiếp vào năm 2003 "In the Zone" chính là lúc cô ấy cuối cùng cũng đã hoàn tất cuộc hành trình và hoá thành Britney, một người phụ nữ trưởng thành." Erlewine ví Spears với ca sĩ đồng nghiệp Christina Aguilera, giải thích rằng cả hai đều đánh đồng "sự trưởng thành với tình dục rõ ràng và âm thanh đập thình thịch của hộp đêm". Brittany Spanos của tờ "LA Weekly" nói rằng Spears "đặt tiêu chuẩn cho quá trình chuyển đổi 'tuổi trưởng thành' mà các ngôi sao nhạc pop tuổi teen thường phải vật lộn lấy". Trong giai đoạn giữa năm 2006 và năm 2008, hành vi thất thường và các vấn đề cá nhân của Spears đã được công bố rộng rãi, ảnh hưởng nặng nề đến cả sự nghiệp và hình tượng trong mắt công chúng của Spears. Erlewine đã suy ngẫm về giai đoạn này của cuộc đời Spears, nói rằng "mỗi thảm hoạ mới [đã] loại bỏ mọi vẻ gợi cảm còn sót lại trong hình ảnh trước công chúng của cô ấy". Trong bài viết năm 2008 của tờ "Rolling Stone", Vanessa Grigoriadis mô tả các vấn đề cá nhân được công bố rộng rãi của Spears là "sự sụp đổ công khai nhất so với bất kỳ ngôi sao nào trong lịch sử". Spears sau đó đã nhận được sự chú ý của giới truyền thông; "Billboard" cho rằng màn tái xuất của cô tại MTV Video Music Awards 2008 "là một hình ảnh về sự chuyên nghiệp và đĩnh đạc" sau màn trình diễn "thảm hoạ" năm ngoái, trong khi "Business Insider" đã đăng một bài báo về việc cô đã "mất kiểm soát cuộc sống của mình;... và sau đó đã trở lại sự nghiệp một cách đáng kinh ngạc". Spears sau đó đã suy ngẫm về giai đoạn thăng trầm này: "Tôi nghĩ tôi phải cho bản thân mình có nhiều bước đột phá hơn trong sự nghiệp và chịu trách nhiệm về sức khoẻ tinh thần của mì: 'Mình đã nghĩ cái quái gì thế này?'" Vào tháng 9 năm 2002, Spears được xếp ở vị trí thứ tám trong danh sách 100 nghệ sĩ quyến rũ nhất của VH1. Cô được xếp ở vị trí số một trong danh sách 100 phụ nữ quyến rũ nhất thế giới của "FHM" năm 2004. và vào tháng 12 năm 2012, "Complex" xếp cô thứ 12 trong danh sách 100 nữ ca sĩ nóng bỏng nhất mọi thời đại. Spears thẳng thắn nhận xét về hình ảnh được coi là biểu tượng tình dục của mình, cô nói: "Khi tôi ở trên sân khấu, đó là lúc tôi làm việc của mình và đến đó và trở thành như vậy — và nó rất vui. Thật phấn khởi khi trở thành một thứ gì đó không phải là bạn. Và mọi người có xu hướng tin vào điều đó." Vào năm 2003, "People" tạp chí đã vinh danh cô là một trong 50 người đẹp nhất. Spears được phong là biểu tượng của đồng tính nam và được trao tặng giải thưởng GLAAD Vanguard Award năm 2018 tại buổi lễ GLAAD Media Awards nhờ vào vai trò của cô trong việc "thúc đẩy sự chấp nhận của cộng đồng LGBTQ". Spears nhắc đến "lòng trung thành không lay chuyển" và "không phán xét" của những người hâm mộ LGBTQ của cô trong Những bức thư tình gửi cộng đồng LGBTQ của "Billboard" qua bài phát biểu: "Những câu chuyện của bạn là nguồn cảm hứng cho tôi, mang lại cho tôi niềm vui và khiến tôi và các con trai tôi cố gắng trở thành những người tốt hơn". Manuel Betancourt của tạp chí "Vice" đã viết về "sự tôn thờ đồng tính", đặc biệt là những người đồng tính nam với Spears, và nói rằng, "Trong khi các biểu tượng đồng tính khác thể hiện sự tự chủ, khả năng phục hồi mong manh của Spears đã khiến cô ấy trở thành một hình mẫu thậm chí còn hấp dẫn hơn, gần gũi với Judy Garland hơn cả Lady G, một hình ảnh phản chiếu đứt gãy của những người đàn ông trên sàn nhảy trở lại chính họ." Ben Appel của tờ "HuffPost" cho rằng, "vị thế biểu tượng đồng tính của Spears là nhờ sự gợi cảm giống Monroe "hơi quá/không đến nỗi ngây thơ của cô", bản chất ngọt ngào gần như nhân hậu của Spears, những bài hát pop cơ bản nhưng gây nghiện, những bước nhảy của cô cùng với sự trở lại như phượng hoàng tắt lửa của cô sau một loạt các cuộc khủng hoảng về sức khoẻ tâm thần và sự dịu dàng không thể nhầm lẫn của cô. Britney là một người mang phong cách camp, cô là một tấm thời trang, một con búp bê và là một drag queen." Kể từ những năm đầu xuất hiện trước công chúng, Spears đã trở thành gương mặt thường xuyên của các tờ báo lá cải và là mục tiêu của các tay săn ảnh. Steve Huey của AllMusic nhận xét rằng "trong số các nữ ca sĩ dưới thời đại [của Spears]... sức mạnh ngôi sao nổi tiếng của cô chỉ có thể sánh ngang với Jennifer Lopez." 'Britney Spears' là cụm từ tìm kiếm phổ biến nhất trên Yahoo! từ năm 2005 đến năm 2008 và đã tồn tại tổng cộng bảy năm khác nhau. Spears được vinh danh là Người được tìm kiếm nhiều nhất trong "sách Kỷ lục Guinness thế giới" ấn bản năm 2007 và 2009. Sau đó cô được mệnh danh là người được tìm kiếm nhiều nhất trong thập kỷ 2000–2009. Spears là người của công chúng "chưa bao giờ nổi tiếng với người hâm mộ nhờ vào việc trở thành một người nghệ sĩ giải trí tích cực, tận tâm hoặc thậm chí có nhận thức về chính trị." Trong một cuộc phỏng vấn năm 2003 với Tucker Carlson, cô bình luận về tổng thống Mỹ George W. Bush và vụ chiến tranh Iraq, nói rằng "chúng ta chỉ nên tin tưởng vào tổng thống của mình trong mọi quyết định mà ông ấy đưa ". Michael Moore đã đưa đoạn phim về câu trả lời của Spears vào bộ phim tài liệu "chống Bush" "Fahrenheit 9/11" của anh. Theo như James Frazier của tờ "The Washington Times" đã giới thiệu cô "là một ví dụ về một người Mỹ ngây thơ tin tưởng một cách mù quáng vào một tổng tư lệnh không trung thực" và thúc đẩy "huyền thoại đô thị" về một Spears "bảo thủ". Frazier cũng nói rằng "một số quan điểm mà cô đảm nhận khó có thể được coi là bảo thủ", chẳng hạn như ủng hộ hôn nhân đồng giới. Năm 2016, Spears đăng ảnh cuộc gặp với Hillary Clinton trên mạng xã hội. Cô mô tả Clinton là "nguồn cảm hứng và tiếng nói tuyệt vời cho phụ nữ trên toàn thế giới". Vào tháng 12 năm 2017, Spears đã công khai ủng hộ đạo luật DREAM sau thông báo Donald Trump sẽ chấm dứt chính sách DACA, vốn trước đây cho cấp những người nhập cư không có giấy tờ hợp lệ đến với đất nước này khi còn là trẻ vị thành niên một thời gian gia hạn hai năm hoãn bị trục xuất. Cô đã đăng một bức ảnh của mình lên mạng xã hội mặc một chiếc áo phông đen có dòng chữ "We Are All Dreamers" bằng chữ màu trắng. Chú thích của bài đăng là "Hãy yêu cầu Quốc hội thông qua #DreamAct". Năm 2020, giữa bối cảnh đại dịch COVID-19, Spears đã đăng một hình ảnh lên Instagram và viết: "Trong thời gian bị cô lậ, phân phối lại của cải và đình công. Chúng ta sẽ hiểu tầm quan trọng của chính mình từ những nơi chúng ta phải ở", cùng với ba biểu tượng emoji bông hồng "thường được sử dụng bởi các nhà xã hội dân chủ Hoa Kỳ". Sau đó, cô lên tiếng ủng hộ phong trào Black Lives Matter và các cuộc biểu tình vụ sát hại George Floyd, chia sẻ: "Trái tim tôi tan vỡ vì những người bạn của tôi trong cộng đồng da đ, tôi nghĩ tất cả chúng ta nên làm những gì có thể để lắng nghe, học hỏi, làm tốt hơn và sử dụng tiếng nói của mình cho mục đích tốt." Vào ngày 15 tháng 9 năm 2021, Spears được vinh danh là một trong số 100 người ảnh hưởng nhất của năm 2021 bởi tạp chí "Time." Vài ngày trước khi danh sách biên tập viên được công bố, Spears được độc giả xếp đầu danh sách bình chọn những nhân vật nào nên được đưa vào danh sách 100 Time hàng năm. Chính vì Spears được coi là biểu tượng của năm 2021 nên các biên tập viên đã nhấn mạnh tác động của cuộc chiến chống lại quyền bảo hộ của cô cũng như của phong trào #FreeBritney. Vào tháng 10 năm 2021, Spears cảm ơn người hâm mộ của cô và phong trào #FreeBritney vì đã giải thoát cô khỏi quyền bảo hộ. Spears đã trở thành một biểu tượng văn hóa pop quốc tế ngay sau khi bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của mình. Tạp chí "Rolling Stone" đã miêu tả Spears như là "Một trong những giọng ca nữ gây nhiều tranh cãi và thành công nhất của thế kỷ XXI," và cô "đã thúc đẩy sự hồi sinh của dòng nhạc teen pop." Spears được biết đến với những màn trình diễn và những video ca nhạc mang tính biểu tượng. Video ca nhạc cho đĩa đơn đầu tay của cô, "...Baby One More Time", đã được xếp hạng nhất trong chương trình Final Countdown của "Total Request Live" như là video ca nhạc mang tính biểu tượng nhất. Tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2000, trước khi trình diễn "Oops!... I Did It Again", nữ ca sĩ xuất hiện phía sau màn hình lớn, và bước xuống cầu thang xoắn ốc và bắt đầu trình diễn "(I Can't Get No) Satisfaction", mặc một bộ tuxedo. Sau khi thực hiện một đoạn ngắn của bài hát, cô đã xé bỏ bộ tuxedo, để lộ bộ trang phục màu da gợi cảm. Năm tiếp theo, Spears biểu diễn đĩa đơn "I'm a Slave 4 U". Jocelyn Vena của MTV đã tổng kết màn trình diễn, nói rằng, "mang trên mình một con trăn trắng và trườn quanh một khu vườn ẩm ướt - được bao quanh bởi các vũ công trong trang phục ngựa vằn và hổ - Spears đã tạo ra một trong những hình ảnh ấn tượng nhất trong lịch sử 27 năm của lễ trao giải." Cô cũng song ca "The Way You Make Me Feel" với ca sĩ nhạc pop Michael Jackson trong buổi hòa nhạc kỷ niệm 30 năm ca hát của ông vài ngày trước đó. Tại buổi lễ khai mạc của Giải Video âm nhạc của MTV năm 2003 vào ngày 28 tháng 8 năm 2003, Spears tham gia trình diễn một tiết mục với Madonna, Christina Aguilera và Missy Elliott. Trong màn trình diễn, Madonna đã hôn môi Spears và Aguilera trên sân khấu. Nụ hôn giữa Spears và Madonna đã tạo nên những phản ứng mạnh mẽ từ giới truyền thông. Màn trình diễn này được liệt kê bởi tạp chí "Blender" như là một trong 25 khoảnh khắc âm nhạc gợi cảm nhất trong lịch sử truyền hình. MTV đã liệt kê nó như là khoảnh khắc mở màn số một trong lịch sử Giải Video âm nhạc của MTV. Barbara Ellen của "The Observer" đã viết: "Spears là một trong những ngôi sao nhạc thiếu niên 'già nhất' đã từng sản sinh, khi cô gần như lão làng nếu chỉ bàn về đam mê và khả năng làm chủ sân khấu. Nhiều người 19 tuổi thậm chí còn chưa bắt đầu làm việc, trong khi Britney, cựu thành viên của Mickey Mouse, là một cô gái có sức lan tỏa nhất trong các hiện tượng Mỹ - một đứa trẻ có nghề nghiệp toàn thời gian. Trong khi các cô gái khác đang treo poster lên tường, Britney đã trở thành tấm poster trên tường. Trong khi những đứa trẻ khác phát triển theo tốc độ riêng của họ, Britney đã phát triển với tốc độ của ngành công nghiệp giải trí cạnh tranh khốc liệt tại Mỹ." Spears đã được trích dẫn như là nguồn cảm hứng âm nhạc bởi nhiều nghệ sĩ đương đại. Nhân vật của Gwyneth Paltrow trong bộ phim năm 2010 "Country Strong" được lấy cảm hứng từ quá trình khủng hoảng trong cuộc sống của nữ ca sĩ. Theo đạo diễn của bộ phim Shana Fest, "đó là nơi bộ phim này bắt đầu, tôi đã nhìn thấy những gì đang diễn ra trên các phương tiện truyền thông liên quan tới Britney Spears. Tôi nghĩ rằng thật bi thảm khi chúng ta đối xử với những người đã cho chúng ta rất nhiều, và chúng ta rất thích xem họ gục ngã để gầy dựng lại họ, và rồi khiến họ gục ngã một lần nữa." Nicki Minaj đã trích dẫn Spears như là nguồn cảm hứng chính cho sự nghiệp của cô, và bình luận, "thực tế là sự trở lại cô ấy với đầy sự nhiệt huyết đã tạo nên rất nhiều cảm hứng cho tôi, và nó truyền cảm hứng cho những phụ nữ trẻ và mọi người trên toàn thế giới. Rất nhiều người hâm mộ của tôi cảm thấy rằng họ là những người yếu thế và chưa bao giờ được xã hội chấp nhận chính con người họ, hoặc bị chê cười hay trêu chọc. Nhưng chỉ cần bạn là chính mình dù là bất cứ chuyện gì, mọi người có thể không thích bạn, mọi người không thể yêu bạn, nhưng họ sẽ phải tôn trọng bạn vào cuối ngày và sự tôn trọng đó là tất cả của vấn đề." Lana Del Rey nói: "Tôi không thực sự quan tâm đến hàng tá những nghệ sĩ nữ, nhưng có điều gì đó ở Britney đã thu hút tôi - cách cô ấy hát và cách cô ấy nhìn." Del Rey cũng tiết lộ rằng video ca nhạc cho "Toxic" đã truyền nên cảm hứng cho cô. Tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2011, Lady Gaga nói rằng Spears "đã dạy chúng tôi làm thế nào để không sợ hãi, và ngành công nghiệp sẽ không như thế này nếu không có cô ấy." Gaga cũng trích dẫn Spears như là một nguồn cảm hứng, và gọi cô là "nghệ sĩ khiêu khích nhất trong thời đại của tôi". Miley Cyrus đã liệt kê Spears như là nghệ sĩ có tầm ảnh hưởng lớn nhất với cô, và đề cập tên nữ ca sĩ trong bản hit của cô "Party in the U.S.A." (2009). Những khủng hoảng trong đời sống cá nhân của Spears cũng được trích dẫn như là nguồn cảm hứng cho album "15 Minutes" của Barry Manilow. Spears cũng đã ảnh hưởng đến nhiều nghệ sĩ đương đại khác, bao gồm Katy Perry, Meghan Trainor, Demi Lovato, Kelly Key, Kristinia DeBarge, Little Boots, Charli XCX, Marina and the Diamonds, Tegan and Sara, Pixie Lott, Grimes, Selena Gomez, Hailee Steinfeld, Tinashe, Victoria Justice, Cassie, và The Saturdays. Fergie của The Black Eyed Peas tiết lộ với "The Hollywood Reporter" rằng cô cảm thấy vui với sự trở lại của Spears trong ngành công nghiệp âm nhạc và tiếp tục, "Thật là tuyệt vời, trong nhiều năm hoạt động, và với mọi thứ cô ấy đã trải qua, thật tuyệt vời khi thấy cô ấy thực hiện một sự trở lại khổng lồ này. Thực sự, đó là một điều tuyệt vời." Simon Cowell giải thích rằng anh "bị cuốn hút bởi [Britney]. Thực tế cô là một trong những người được bàn luận nhiều nhất - không chỉ các ngôi sao nhạc pop - mà còn cả thế giới hiện nay, có nghĩa là bạn đã có được ngôi sao quyền lực này. [...] Cô ấy vẫn nổi tiếng, cô ấy vẫn đạt được những thành tích và cô ấy vẫn còn tranh cãi, và có một lý do cho điều đó." Jessica Jung và Hyoyeon của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc Girls' Generation cũng được so sánh với Spears, do mái tóc vàng của họ và khả năng của Hyoyeon như là một vũ công. Marina and the Diamonds đã gọi Spears là nguồn cảm hứng chính cho album của cô "Electra Heart", nói rằng "Tôi nghĩ rằng mọi người đang nghĩ tôi đã đùa về việc này trong một thời gian dài. Nhưng khi tôi còn là thiếu niên, có một mối liên hệ thực sự với cô gái ngọt ngào này, người cũng có khía cạnh về tình dục mà mọi người không thực sự muốn chấp nhận [...] Britney thực sự rất thông minh." Diamandis cũng tiết lộ rằng Spears là người có ảnh hưởng chính đến cô khi nói đến nền văn hoá đại chúng và Spears là một trong những người cô mong ước được trở thành khi lớn lên. Spears đã có tầm ảnh hưởng trực tiếp đến những tác phẩm của ca sĩ Porcelain Black sau khi âm nhạc của Spears tác động đến cô khi còn nhỏ. Black mô tả âm nhạc của cô như là "một đứa trẻ xuất phát từ mối tình" giữa Marilyn Manson và Spears. Bebo Norman đã viết một bài hát về Spears, được gọi là "Britney", được phát hành dưới dạng đĩa đơn. Ban nhạc nam Busted cũng đã viết một bài hát về Spears mang tên "Britney", nằm trong album đầu tay của họ. Nữ ca sĩ Hàn Quốc, BoA cũng đã thể hiện tình yêu và tầm ảnh hưởng của Spears đối với cô. Họ gặp gỡ nhau lần đầu tiên vào năm 2003, khi Spears đang quảng bá cho "In The Zone", và Spears đã viết lời cho bài hát "Look Who's Talking" trích từ album tiếng Anh đầu tay mang chính tên của BoA. Phiên bản được trình bày bởi Spears đã bị rò rỉ vào năm 2012. Spears cũng thường xuyên tham gia vào Ngày tinh thần để chống lại việc bắt nạt giới trẻ LGBTQ và nạn bắt nạt. Tạp chí "People" và MTV thông tin rằng vào ngày 1 tháng 10 năm 2008, Trường trung học John Philip Sousa của Bronx, đã đặt tên phòng thu âm nhạc của họ để tôn vinh Britney Spears. Bản thân Spears cũng đã góp mặt trong buổi lễ và giành tặng 10.000 đô-la cho chương trình âm nhạc của trường. Cô được liệt kê bởi "Sách Kỷ lục Guinness" với việc sở hữu "Album bán chạy nhất của một nghệ sĩ hát đơn tuổi vị thành niên" khi album đầu tay của cô "...Baby One More Time" đã bán được hơn 13 triệu bản tại Hoa Kỳ. Melissa Ruggieri của "Richmond Times-Dispatch" đã phát biểu: "Cô được ghi nhận là nghệ sĩ tuổi thiếu niên bán chạy nhất. Trước khi cô ấy tròn 20 tuổi vào năm 2001, Spears đã bán được hơn 37 triệu album trên toàn thế giới." 'Britney Spears' là thuật ngữ được tìm kiếm nhiều nhất trên Yahoo! từ năm 2005 đến năm 2008, và đã đạt được vị trí này trong tổng cộng 7 năm khác nhau. Cô đã được liệt kê là Người được tìm kiếm nhiều nhất trong "Sách kỷ lục Guinness" phiên bản năm 2007 và 2009. Cô sau này được phong tặng là người được tìm kiếm nhiều nhất trong thập kỷ 2000-2009. Tính đến năm 2011, cô đã bán được hơn 100 triệu bản trên toàn thế giới, giúp cô trở thành một trong những nghệ sĩ âm nhạc bán chạy nhất mọi thời đại nếu chỉ dựa trên doanh số bán album. Cô cũng xếp thứ 4 trong danh sách "50 Phụ nữ vĩ đại nhất của kỷ nguyên Video" của VH1, vượt qua hầu hết những nghệ sĩ đương thời và chỉ đứng sau những cái tên kỳ cựu như Madonna, Janet Jackson, và Whitney Houston. Spears cũng được công nhận là nghệ sĩ nữ bán chạy nhất trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, cũng như xếp thứ 5 nếu xét tổng thể. Tháng 12 năm 2009, tạp chí "Billboard" đã xếp Spears ở vị trí thứ 8 trong danh sách Nghệ sĩ của thập niên 2000 tại Hoa Kỳ. Các dự án khác. Sản phẩm và Quảng cáo. Vào năm 2000, Spears ra mắt kính râm phiên bản giới hạn có tên là Shades of Britney. Năm 2001, cô ký hợp đồng thoả thuận với công ty sản xuất giày dép Skechers cùng với bản thoả thuận quảng cáo với hãng nước ngọt Pepsi với mức giá khoảng từ 7 đến 8 triệu đô la Mỹ, và đó cũng là hợp đồng giải trí đắt đỏ nhất tại thời điểm ấy. Bên cạnh nhiều quảng bá thương mại sau này trong năm đó, Spears còn xuất hiện trong một quảng cáo truyền hình Pepsi năm 2004 với chủ đề "Gladiators" cùng với các ca sĩ Beyoncé, Pink và Enrique Iglesias. Vào ngày 19 tháng 6 năm 2002, cô phát hành trò chơi đa nền tảng đầu tiên của cô mang tựa đề "Britney's Dance Beat" và nhận được những phản hồi tích cực. Tháng 3 năm 2009, Spears trở thành gương mặt mới của hãng thời trang Candie's. Giám đốc tiếp thị Dari Marder của thương hiệu cho biết: "Mọi người đều yêu thích một màn tái xuất và chẳng một ai làm giỏi hơn Britney cả. Cô ấy đã sẵn sàng để đạt được thành công lớn hơn nữa." Vào năm 2010, Spears thiết kế dòng phiên bản giới hạn cho thương hiệu và bán ra các cửa hiệu từ tháng 7. Năm 2011, cô hợp tác với Sony, Make Up For Ever và Plenty of Fish nhằm phát hành video âm nhạc "Hold It Against Me" của cô, đem về cho cô 500.000 đô la Mỹ tiền giới thiệu sản phẩm. Spears cũng tác hợp cùng Hasbro vào năm 2012 và cho ra mắt phiên bản độc quyền của trò chơi "Twister Dance" có chứa bản remix của bài hát "Till the World Ends". Cô cũng xuất hiện trong một quảng cáo được ghi hình bởi Ray Kay nhằm quảng bá trò chơi. Spears còn góp mặt trong quảng cáo của "Twister Dance Rave" và phần nhạc trong trò chơi có chứa bản remix Twister của bài "Circus". Vào năm 2018, Spears là gương mặt đại diện cho thương hiệu nội thất Pháp đương đại sang trọng Kenzo. Ngoài ra, trong một loạt bản hợp đồng thương mại và sản phẩm của Spears thì còn có cả sản phẩm chăm sóc sắc đẹp và nước hoa. Spears lần đầu cho ra mắt sản phẩm nước hoa của cô mang tên Curious ở công ty Elizabeth Arden vào năm 2004 và phá kỷ lục doanh thu nước hoa tuần đầu tiên của công ty. Đến năm 2009, cô đã cho ra bảy dòng nước hoa khác nhau gồm cả Fantasy. Năm 2010, Spears cho ra mắt sản phẩm nước hoa thứ tám của cô, Radiance. Vào năm 2011, Radiance được tái ra mắt dưới dạng nước hoa mới mang tên Cosmic Radiance. Trên toàn thế giới, Spears đã bán hơn một triệu lọ nước trong vòng năm năm đầu tiên với tổng doanh thu là 1.5 tỷ đô la Mỹ. Năm 2016, Spears liên hệ với Glu Mobile để tự tạo trò chơi nhập vai của chính cô mang tựa đề "". Ứng dụng chính thức được trình làng vào tháng 5 năm 2016 và tương thích với hệ điều hành iOS và Android. Vào ngày 17 tháng 6 năm 2016, Spears thông báo dòng nước hoa thứ mười hai của cô mang tên Private Show. #đổi , Spears đã cho mở bán 24 lọ nước hoa ở hệ thống Elizabeth Arden. Spears thành lập Quỹ từ thiện Britney Spears để giúp đỡ trẻ em khi cấp thiết, với triết lý đằng sau Quỹ là âm nhạc và giải trí có tác dụng chữa bệnh và có thể mang lại lợi ích cho trẻ em. Quỹ cũng hỗ trợ Trại biểu diễn nghệ thuật Britney Spears hàng năm và các trại viên có cơ hội khám phá và phát triển tài năng của mình tại nơi ấy. Vào tháng 4 năm 2002, Spears và quỹ từ thiện của cô đã sung quỹ một triệu đô la Mỹ cho Twin Towers nhằm hỗ trợ cho con anh hùng quân phục chịu ảnh hưởng từ đợt khủng bố vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 gồm có Sở cứu hoả thành phố New York và Bộ chỉ huy dịch vụ y tế khẩn cấp, Sở cảnh sát thành phố New York, Cảng vụ New York và New Jersey, Văn phòng hành chính toà án bang New York và các văn phòng chính phủ khác. Tuy nhiên, có báo cáo vào năm 2008 cho rằng Quỹ bị thâm hụt 200.000 USD. Sau khi Spears rơi vào quyền giám hộ, người cha Jamie của cô và luật sư đã cho đóng cửa quỹ vào năm 2011. Ngày 30 tháng 10 năm 2011, Spears cùng với Bono và những nghệ sĩ thu âm nổi tiếng khác sử dụng tên gọi "Các nghệ sĩ phòng chống AIDS trên toàn cầu" và cho ra mắt album gồm nhiều phiên bản bài hát "What's Going On" của Marvin Gaye với dự định là quyên góp cho chương trình phòng chống AIDS tại châu Phí và những vùng lãnh thổ nghèo khó khác. Trước làn sóng cơn bão Katrina vào năm 2005, Spears đã góp 350.000 đô cho Music Rising. Về sau vào năm 2011, cô đã quyên góp 200.000 đô la trong buổi tối mang phong cách miền Nam tại một dinh thự riêng ở Beverly Hills nhằm hỗ trợ dự án St. Bernard Project với sự góp sức của các ngôi sao khác gồm có Hilary Duff, Selena Gomez, Kelly Osbourne, Kellan Lutz và Kim Kardashian. Spears cũng đã giúp đỡ một số tổ chức từ thiện trong sự nghiệp của mình, đơn cử gồm có tổ chức Spirituality for Kids dựa trên Kabbalah của Madonna, từ thiện ung thư Gilda's Club Worldwide, Promises Foundation và United Way. Riêng Promises Foundation và United Way thì tập trung vào việc đem lại cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn niềm hy vọng mới và chỗ ở ổn định cho tương lai. Vào ngày 24 tháng 10 năm 2015, Spears góp 120.000 đô cho Quỹ Ung thư Trẻ em Nevada (NCCF). Kèm theo đó, cứ mỗi một chiếc vé được bán ra ở chuyến lưu diễn định cư Britney: Piece of Me Las Vegas của cô thì có một đô la Mỹ được sung vào NCCF. Spears cũng gây quỹ từ thiện thông qua mạng xã hội bên cạnh với việc bán hàng hoá phiên bản giới hạn, và tất cả số tiền thu được sẽ được chuyển đến NCCF. Ngày 27 tháng 10 năm 2016, Spears hợp tác cùng Zappos và XCYCLE tổ chức "Britney Spears Piece of Me Charity Ride" tại Boca Park, Las Vegas nhằm gây thêm tiền quỹ NCCF với mục tiêu là một triệu đô, cùng với 450.000 đô đã được quyên góp từ việc bán vé và hàng hoá của Spears. Những người tham gia có cơ hội giành được một lớp học quay vòng với chính Spears. Sự kiện cuối cùng đã quyên góp được 553.130 đô. Việc gây quỹ cuối cùng đã dẫn đến sự hình thành của Cơ sở NCCF Britney Spears ở Las Vegas khai trương vào ngày 4 tháng 11 năm 2017. Spears cũng thường xuyên tham gia ngày hội Spirit Day để chống lại bắt nạt và bạo lực cộng đồng LGBTQ ở tuổi trẻ. Vào tháng 3 năm 2020, Spears tham gia vào thử thách #DoYourPartChallenge nhằm giúp đỡ mọi người với mọi thứ họ có thể cần trong khoảng thời gian diễn ra đại dịch COVID-19. Cô yêu cầu người hâm mộ gửi tin nhắn cho cô trên Instagram nếu họ cần những lời động viên trong đại dịch do vi-rút corona gây ra, và Spears sẽ chọn ba người hâm mộ trong đó.
Danh sách công trình và kết cấu cao nhất thế giới Cho đến giữa thế kỉ 20, danh sách những công trình và kết cấu cao nhất thế giới được xác định tương đối rõ ràng. Tuy nhiên, kể từ đó, đã có nhiều cuộc tranh luận và sự nhầm lẫn về những tiêu chuẩn và định nghĩa liên quan. Với khái niệm chiều cao tuyệt đối, hầu hết những công trình cao nhất thế giới là các tháp phát thanh và vô truyến truyền hình, có khoảng chừng 12 cái, với chiều cao khoảng 600 mét, tương đương 2000 feet. Tranh cãi về chiều cao. Các cuộc tranh cãi về chiều cao của công trình thường xoay quanh các chủ đề: Phương pháp so sánh. Hiện nay, có 2 cách so sánh. Phương pháp của Ủy ban về các công trình cao và cư trú đô thị (tiếng Anh: "Council on Tall buildings and Urban Habitat", viết tắt là CTBUH) và tiêu chuẩn của Tất cả về nhà chọc trời (tiếng Anh: "All about Skyscrapers", viết tắt là "AASkyscrapers") phân loại cấu trúc vào 7 danh mục khác nhau. Toà nhà cao nhất. Cho đến tận năm 1998, việc xác nhận công trình cao nhất đa phần không bàn cãi. Việc xác địch công trình cao nhất được dựa trên số tầng cao, Trung tâm Thương mại Thế giới ở Thành phố New York là công trình cao nhất thế giới với tháp ăngten, Tháp Sears ở thành phố Chicago, Illinois là công trình cao nhất không tính tháp ăngten. Khi Tháp đôi Petronas ở thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia được xây dựng, một vài ý kiến đã cho rằng phần chỏm tháp của công trình, vốn cao hơn tháp Sears đến 9 m, chỉ đơn thuần được thêm vào để "ăn gian" chiều cao, giành vị trí số 1 của công trình. Do vậy, trước khi Tháp đôi Petronas được hoàn thành, tiêu chuẩn của Ủy ban về các công trình cao và cư trú đô thị xác định 4 danh mục để công trình cao nhất thế giới có thể kiểm định. Chiều cao được tính toán từ mặt phẳng ở mặt lối vào chính của công trình. Trong tất cả các danh mục xếp hạng, Tháp Sears giữ vị trí số 1. Sau khi Tháp Petronas được xây dựng, Tháp Sears chỉ lùi xuống ở vị trí thứ 2 trong danh mục thứ 1. Ngày 20 tháng 4 năm 2004, Tháp Đài Bắc 101 ở Đài Bắc được hoàn thành và được giữ vị trí số 1 ở danh mục đầu tiên. Hiện nay, Tháp Đài Bắc 101 dẫn đầu ở cả ba danh mục. Ở danh mục đầu tiên với chiều cao 508 m, ở danh mục thứ 2 với chiều cao 438 m (1437 ft), ở danh mục thứ 3 với chiều cao là 448 m (1470 ft). Trước đó, đứng đầu ở danh mục số một là Tháp đôi Petronas với chiều cao 452 m (1483 ft), sau đó là Tháp Sears với chiều cao 443 m (1448 ft). Danh mục thứ 2 là Tháp Sears với chiều cao là 435 m (1431 ft); danh mục thứ 3 cũng là Tháp Sears với chiều cao là 442 m (1442 ft). Tuy nhiên, Tháp Sears vẫn dẫn đầu ở danh mục thứ 4 với chiều cao 527 m (1730 ft), trước đó là Tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC) cho đến khi Tháp Sears cải tiến gắn thêm tháp ăngten viễn thông phía tây vào năm 2000, một năm trước khi Tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới bị phá hủy trong vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001. Tính tổng cộng cả chiều cao ăngten, Tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới có chiều cao 526 m (1972 ft). Tính đến thời điểm này, Tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới cũng đứng số một trong danh mục những tòa nhà cao nhất thế giới bị phát hủy. Thực tế, khu đất quanh Trung tâm Thương mại Thế giới đã đi vào sách kỉ lục thế giới lần thứ 2 ở danh mục này. Trước đó, là Tháp Singer, chỉ đứng cách Trung tâm Thương mại Thế giới một lô đất. Tháp Ostankino và Tháp CN không được tính trong những danh mục đó bởi vì đó không phải là những công trình có thể cư trú được. Những công trình có thể cư trú được là loại công trình bao gồm hệ khung kết cấu gồm sàn và tường đan xen. Các công trình cao nhất thế giới hiện nay. Chiều cao tính đến điểm cao nhất của kiến trúc "Lưu ý": Ngoại trừ một số trường hợp, bảng so sánh này được giới hạn ở một số hữu hạn các dạng kết cấu, và được phân loại theo các thể loại đặc biệt của chiều cao đo đạc. Hầu hết các công trình cao nhất trên thế giới là các tháp viễn thông. Các cấu trúc trong bảng này không được sắp xếp theo chiều cao tuyệt đối của tòa nhà, dựa vào bản chất của công trình chọc trời. Các đề xuất phá kỷ lục trong tương lai. Năm 1956, kiến trúc sư nổi tiếng Frank Lloyd Wright đã đề xuất một công trình mang tên Illinois có độ cao 1609 m (khoảng 1 mile). Công trình này được xem như vừa không khả thi về mặt kỹ thuật vừa không cần thiết cho nhu cầu lúc bấy giờ. Kể từ đó đến nay, có vài công trình có độ cao 1220 m (khoảng 4000 ft) được đề xuất cũng như dưới áp lực của nhu cầu con người cho các cấu trúc có độ cao tương tự, nhưng chưa một công trình nào có độ cao tương ứng với tháp Illinois. Hãng kiến trúc Eric Kuhne và cộng sự, trụ sở đặt tại London, trong các cuộc hội đàm nghiêm túc và bí mất với chính phủ Kuwait đã đề xuất một tòa nhà chọc trời với chiều cao 1001 m trong thành phần dự án phát triển Madinat al-Hareer trị giá 150 tỷ đô la Mỹ. Dự án này bao gồm cả một thành phố Olympic và một sân vận động. Trong loại công trình ống khói mặt trời thì dự án Tháp mặt trời Buronga ở Buronga, New South Wales, Úc sẽ có độ cao 1000 m (khoảng 3281 ft). Các điều kiện về mặt kỹ thuật đã chứng minh cho tính khả thi của dự án này và công trình chỉ còn phụ thuộc vào yếu tố tài chính. Tháp Trung tâm Tài chính Thế giới ở Thượng Hải, Trung Quốc có chiều cao 492 m (khoảng 1614 ft) dự kiến sẽ được hoàn thành vào năm 2007, tuy nhiên đã bị chậm tiến do việc phải đánh giá tính ổn định của cơ đất. Một dự án khác cạnh tranh trong cuộc đua công trình cao nhất thế giới là khu Liên hợp thống nhất, giai đoạn 7, có chiều cao 490 m (1608 ft) ở Hồng Kông. Công trình này dự kiến hoàn thành vào năm 2007 và có thể sẽ giữ vị trí tòa nhà cao nhất thế giới trong danh mục số 2 và 3 theo phân loại của Ủy ban về công trình cao và cư trú trong đô thị. Tháp Tự do thay thế Tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới ở thành phố New York sẽ đạt chiều cao 541,3 m (1776 ft) ở toàn bộ tháp và khoảng 1368 ft (416,9 m) đến phần mái, dự kiến sẽ hoàn thành năm 2010. Công trình này sẽ là quán quân về độ cao trong danh mục số 1 và 4 của Ủy ban về công trình cao và cư trú trong đô thị, trong trường hợp nếu như đến khí đó không xuất có một đối thủ cạnh tranh khác phá vỡ kỷ lục. Công trình Tháp Tự do đã khởi công ngày 4 tháng 7 năm 2004. Tháp Al Burj và Tháp Burj Dubai là hai công trình hiện đang xây dựng ở Dubai, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất. Chiều cao của cả hai công trình hiện nay chưa được rõ, tuy nhiên, cả hai đều có chiều cao ít nhất khoảng 700 m (khoảng 2296 ft). Tháp Burj Dubai dự kiến hoàn thành năm 2008 và sẽ dự vị trí quán quân trong tất cả các danh mục phân loại của Ủy ban về công trình cao và cư trú trong đô thị, cũng như là cấu trúc cao nhất thế giới mà con người đã tạo ra trong lịch sử. Tháp Vô tuyến truyền hình Quảng Châu, Trung Quốc có lẽ cũng sẽ là một trong những kết cấu cao nhất thế giới. Một công trình khác được dự kiến khởi công trong năm 2006 là cầu qua eo biển Messina ở Ý. Khi hoàn thành, công trình này sẽ có chiều cao 382,6 m, cao hơn kỷ lục thế giới hiện nay là cầu Millau ở Pháp với độ cao 341 m. Ngoài các công trình đã được xây dựng kể trên, hiện nay, có một vài dự án được đề xuất như tháp vô tuyến độc lập với độ cao 609,6 m ở Bayonne, New Jersey. Hoặc tháp Trung tâm Nghiên cứu kinh Vệ đà Quốc tế ("World Centre of Vedic Learning") được giới thiệu vào năm 1998 ở Ấn Độ với độ cao 677 m (tuy nhiên dự án này chỉ nằm trên giấy tờ). Hoặc phương án dự thi Trung tâm Thương mại Thế giới mang tên Tháp đôi 2 có chiều cao 541 m hoặc ý tưởng về thành phố Vô hạn ("Urbis Interminatus") với độ cao 1610 m (5284 ft). Một số các ý tưởng và thiết kế nghiêm túc đã đề xuất về một kết cấu được mang tên Thang máy không gian xuất phát từ trái đất đến độ cao của quỹ đạo địa tĩnh, chiều cao khoảng 100 km, cao gấp 200 kỷ lục hiện tại, mặc dù đỉnh cao của khả năng kỹ thuật hiện tại chưa cho phép thực hiện điều này.
Nam Bộ hoặc là miền Nam là một trong 3 miền địa lý của Việt Nam (gồm Nam Bộ, Trung Bộ, và Bắc Bộ). Phần lớn địa hình Nam Bộ là đồng bằng phù sa thuộc hệ thống sông Đồng Nai và sông Cửu Long, Nam Bộ được chia làm hai vùng là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (hay còn gọi là Tây Nam Bộ, miền Tây). Từ thế kỷ 17, Nam Bộ là phần lãnh thổ mới nhất của Việt Nam trong quá trình Nam tiến, và từng được gọi là Gia Định rồi Nam Kỳ (1832–1945). Thời Pháp thuộc, Nam Bộ là một xứ thuộc địa với tên gọi Nam Kỳ, vốn xuất hiện từ thời vua Minh Mạng của Nhà Nguyễn. Tên gọi "Nam Bộ" ra đời từ thời Đế quốc Việt Nam năm 1945. Nam Bộ còn được gọi là "Nam Phần" từ 1948 tới 1975 thời Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa. Vị trí, địa hình. Địa hình trên toàn vùng Nam Bộ khá bằng phẳng, phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía bắc và Tây Bắc giáp Campuchia và phía đông bắc giáp với Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (miền Trung, Trung Bộ). Đông Nam Bộ có độ cao từ 0–986m, có cấu tạo địa chất chủ yếu là đất đỏ bazan và đất phù sa cổ. Khu vực đồng bằng sông nước ở đây chiếm diện tích khoảng 6.130.000 ha cùng trên 4.000 kênh rạch với tổng chiều dài lên đến 5.700km. Tây Nam Bộ có độ cao trung bình gần 2m, chủ yếu là miền đất của phù sa mới. Có một số núi thấp ở khu vực miền tây tỉnh An Giang, miền Tây tỉnh Kiên Giang và Campuchia. Hai hệ thống sông lớn nhất trong vùng là sông Đồng Nai và sông Cửu Long. Ngược với dòng sông Đồng Nai có lượng phù sa thấp, dòng sông Cửu Long có lượng nước đổ về trung bình khoảng 4.000 tỷ m và hàng năm vận chuyển khoảng 100 triệu tấn phù sa, giữ vai trò rất quan trọng đối cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 39.734km². Cho đến nay, Đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn là một vùng đất thấp, độ cao trung bình so với mặt biển chỉ vào khoảng 5m. Một số khu vực như tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười và phía tây sông Hậu đang tồn tại ở mức thấp hơn mặt biển, chính vì vậy mà hàng năm có tới 1 triệu ha bị ngâp nước mặn trong thời gian từ 2 đến 4 tháng. Các nhà nghiên cứu lịch sử về vùng đất này cho rằng, cách đây hàng triệu năm nơi này vốn là một vịnh lớn nhưng đã được bồi đắp dần bởi phù sa của sông Cửu Long. Khu vực đồi núi chủ yếu tập trung ở vùng Đông Nam Bộ như núi Bà Rá (Bình Phước) cao 736m, núi Chứa Chan (Đồng Nai) cao 839m, núi Bao Quan (Bà Rịa – Vũng Tàu) cao 529m, núi Thị Vải (Bà Rịa – Vũng Tàu) cao 461m, núi Bà Đen (Tây Ninh) cao 986m – nóc nhà của miền Đông và Nam Bộ... Khu vực phía tây có dãy Thất Sơn (An Giang) với núi Cấm cao 716m – nóc nhà của miền Tây và dãy Hàm Ninh (Kiên Giang). Nam Bộ nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và cận xích đạo, nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ôn cao. Biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong năm thấp và ôn hòa. Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng từ 80–82% . Khí hậu hình thành trên hai mùa chủ yếu quanh năm là mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4. Về mùa vụ sản xuất có khác với khu vực Đồng bằng Bắc Bộ. Lượng mưa hàng năm dao động từ 966–1325mm và góp trên 70–82% tổng lượng mưa trong suốt cả năm. Mưa phân bố không đều, giảm dần từ khu vực giáp ranh từ Thành phố Hồ Chí Minh xuống khu vực phía Tây và Tây Nam. Ở khu vực Đông Nam có lượng mưa thấp nhất. Khi xuất hiện cường độ mưa lớn xảy ra trên một số khu vực trong vùng, thường gây hiện tượng xói mòn ở những vùng gò cao. Khi mưa kết hợp với cường triều và lũ sẽ gây ngập úng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân cư trong vùng. Vì hiện tượng biến đổi khí hậu chung, vùng Đồng bằng Nam Bộ trong thời gian tới có thể bị tác động rất lớn do các nguồn nước ở các sông bị cạn kiệt, đặc biệt là sông Mê Kông. Theo các nhà khoa học thì tới năm 2070, sự thay đổi thời tiết trong vùng sẽ tác động đến nguồn nước của Đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu thông qua các dòng sông vừa và nhỏ, các dòng chảy bị giảm thiểu đi Trước kia đây là lãnh thổ của nước Phù Nam và Chân Lạp nhưng dân cư rất thưa thớt. Năm 1623, chúa Nguyễn chính thức yêu cầu triều đình Chân Lạp để cho dân Việt mở rộng địa bàn khai phá trên những vùng đất thưa dân và để quản lý, chúa Nguyễn lập ở Prey Nokor (vùng Sài Gòn ngày nay) một trạm thu thuế và mở một dinh điền ở Mô Xoài. Vua Chân Lạp đã chấp thuận đề nghị này. Vào thời điểm đó, cư dân Việt đã có mặt ở hầu khắp miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn. Thời chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn, vùng đất này là xứ Gia Định (Gia Định thành), mới được khai khẩn từ thế kỷ 17. Năm 1698, xứ Gia Định được chia thành 3 dinh: Phiên Trấn, Trấn Biên và Long Hồ. Vua Gia Long (nhà Nguyễn) gọi vùng này là Gia Định Thành, bao gồm 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (tức là Vĩnh Long và An Giang), Định Tường và Hà Tiên. Năm 1834, vua Minh Mạng gọi là Nam Kỳ (xem "lịch sử Nam Kỳ") Tháng 12 năm 1845, ba nước An Nam (Việt Nam), Xiêm (Thái Lan) và Cao Miên (Campuchia) đã ký một Hiệp ước, trong đó thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc Việt Nam. Năm sau, triều Nguyễn và Xiêm lại ký một Hiệp ước có nhắc lại điều đó. Đây là Hiệp ước mà sau này Cao Miên cũng tham gia. Như vậy muộn nhất là đến năm 1845, các nước láng giềng với Việt Nam, trong đó có cả Campuchia đã ký các văn bản pháp lý chính thức công nhận vùng đất Nam Bộ là của Việt Nam. Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định, mở đầu cuộc xâm lược đất Việt Nam. Năm 1862, ngày 13 tháng 4, triều đình Huế cắt 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường) nhượng cho Pháp. Năm 1867, Pháp đơn phương tuyên bố toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ là lãnh địa của Pháp. Từ đó, Nam Kỳ được hưởng quy chế thuộc địa, với chính quyền thực dân, đứng đầu là một thống đốc người Pháp. Hiệp ước Quý Mùi (25 tháng 8 năm 1883) nhập thêm tỉnh Bình Thuận vào Nam Kỳ (thuộc địa Pháp) coi như trừ số tiền bồi thường chiến phí còn lại mà triều đình Huế chưa trả hết, nhưng năm sau, Hiệp ước Giáp Thân (6 tháng 6 năm 1884) lại trả tỉnh Bình Thuận về cho Trung Kỳ. Năm 1887, Nam Kỳ trở thành một vùng lãnh thổ nằm trong Liên bang Đông Dương. Năm 1933, quần đảo Trường Sa được sáp nhập vào Nam Kỳ thuộc Pháp. Tháng 3 năm 1945 Thống sứ Nhật Nashimura đổi Nam Kỳ thành Nam Bộ. Năm 1945, thời Đế quốc Việt Nam với chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố sáp nhập Nam Kỳ lại thành một bộ phận của nước Việt Nam. Sau khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ đã ra mắt ngày 25 tháng 8 năm 1945 do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch. Thực dân Pháp nổ súng ở Sài Gòn ngày 23 tháng 9 năm 1945 rồi dần dần đánh rộng ra chiếm lại Nam Bộ. Chính phủ Nam Kỳ quốc được thành lập theo sự chỉ đạo của Pháp hòng tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam với tên Nam Kỳ Quốc. Năm 1946, trước khi sang Pháp tìm kiếm một giải pháp hòa bình, Hồ Chí Minh đã viết thư gửi đồng bào Nam Bộ, ông khẳng định: "Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!" Không đánh bại được Việt Minh, Pháp phải dùng "giải pháp Bảo Đại", thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam thuộc Pháp. Cuối cùng ngày 22 tháng 5 năm 1949, Quốc hội Pháp chính thức bỏ phiếu thông qua việc trả Nam Bộ cho Quốc gia Việt Nam. Nam Bộ trở thành lãnh thổ nằm trong Quốc gia Việt Nam. Các tỉnh Nam Bộ qua các thời kỳ. Dưới thời vua Minh Mạng năm 1832 vùng này chia thành 6 tỉnh (do đó có tên gọi "Nam Kỳ Lục tỉnh" hay "Lục tỉnh"). Đó là các tỉnh: Phiên An, năm 1836 đổi thành Gia Định (tỉnh lỵ là tỉnh thành Sài Gòn), Biên Hòa (tỉnh lỵ là tỉnh thành Biên Hòa), Định Tường (tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho) ở miền Đông; Vĩnh Long (tỉnh lỵ là tỉnh thành Vĩnh Long), An Giang (tỉnh lỵ là tỉnh thành Châu Đốc) và Hà Tiên (tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên) ở miền Tây. Sau khi chiếm được Nam Kỳ mà họ gọi là Cochinchine, thực dân Pháp xóa bỏ cách phân chia địa giới hành chánh cũ của triều Nguyễn. Năm 1876, Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn, mỗi khu vực lại được chia nhỏ thành "hạt" (arrondissement) còn gọi là "địa hạt", "hạt tham biện" hay "tiểu khu" do tham biện cai trị: Sau khi đổi tên gọi "hạt" (arrondissement) thành "tỉnh" (province), từ 1/1/1900, Nam Kỳ có tất cả 20 tỉnh, phân bố như sau: Ngoài ra còn có 3 thành phố Sài Gòn (cấp 1), Chợ Lớn (cấp 2), thành phố tự trị Cap Saint Jacques và Côn Đảo không thuộc tỉnh nào. Năm 1905, xóa bỏ thành phố Cap Saint Jacques (Vũng Tàu), chuyển thành địa lý hành chính thuộc tỉnh Bà Rịa. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1945–1975. Đối với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kể từ năm 1946 thì Nam Bộ bao gồm 21 tỉnh thành trong tổng số 72 tỉnh thành của cả nước, gồm 20 tỉnh: Chợ Lớn, Gia Định, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Tân An, Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc, Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Gò Công, Rạch Giá, Bạc Liêu và thành phố Sài Gòn. Ngày 12/10/1951, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ (thuộc chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) chia Liên khu Nam Bộ thành 2 phân liên khu: Quốc gia Việt Nam và VNCH 1949–1975. Trong khi đó với sự hình thành của Việt Nam Cộng hòa, theo Sắc lệnh 143-NV ngày 22 tháng 10 năm 1956 dưới nền Đệ Nhất Cộng hòa Việt Nam thì Nam phần (tức Nam Bộ) gồm 22 tỉnh và Đô thành Sài Gòn. Đó là các tỉnh Phước Long, Bình Long, Biên Hòa, Long Khánh, Bình Dương, Bình Tuy, Phước Tuy, Gia Định, Long An, Tây Ninh, Định Tường, Kiến Tường, Kiến Phong, Kiến Hòa, Trà Vinh (năm 1957 đổi tên là Vĩnh Bình), Vĩnh Long, An Giang, Phong Dinh, Kiên Giang, Ba Xuyên, An Xuyên và Côn Sơn. Sau này lập thêm các tỉnh Phước Thành (1959-1965), Chương Thiện (1961), Gò Công (1963), Hậu Nghĩa (1963), Châu Đốc (1964), Bạc Liêu (1964), Sa Đéc (1966), bỏ tỉnh Côn Sơn (1965). Như vậy năm 1962, Nam phần có 24 tỉnh rồi tăng lên thành 27 tỉnh vào thời kỳ 1966-1975: Phước Long, Bình Long, Long Khánh, Biên Hòa, Bình Dương, Bình Tuy, Phước Tuy, Gia Định và Biệt khu Thủ đô (Sài Gòn), Hậu Nghĩa, Long An, Tây Ninh, Gò Công, Định Tường, Kiến Tường, Kiến Phong, Sa Đéc, Kiến Hòa, Vĩnh Bình, Vĩnh Long, Châu Đốc, An Giang, Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu, Kiên Giang, An Xuyên. Tỉnh Bình Tuy sau này nhập vào tỉnh Thuận Hải, nay là một phần tỉnh Bình Thuận thuộc Trung Bộ. Các tỉnh Nam phần của Việt Nam Cộng hòa thuộc Quân khu III và IV. Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 toàn Nam Bộ được chia thành 13 tỉnh thành trong tổng số 38 tỉnh thành của cả nước: Thành phố Hồ Chí Minh, Sông Bé, Tây Ninh, Đồng Nai, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Bến Tre, Cửu Long, Minh Hải. Năm 1979, thành lập Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo, tương đương cấp tỉnh. Do đó thời kỳ 1979–1991, Nam Bộ có 13 tỉnh thành và 1 Đặc khu trong tổng số 39 tỉnh thành và 1 Đặc khu của cả nước. Từ năm 1991, với việc tỉnh Cửu Long tách ra thành 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh và Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo trở thành tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thì Nam Bộ có 15 tỉnh thành trong tổng số 53 tỉnh thành của cả nước. Từ năm 1997, với việc tỉnh Sông Bé tách ra thành 2 tỉnh Bình Dương và Bình Phước, tỉnh Hậu Giang tách ra thành 2 tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng, tỉnh Minh Hải tách ra thành 2 tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau thì Nam Bộ có 18 tỉnh thành trong tổng số 61 tỉnh thành của cả nước. Từ năm 2004, tỉnh Cần Thơ tách ra thành TP. Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang nên Nam Bộ có 19 tỉnh thành trong tổng số 63 tỉnh thành của cả nước. Các đơn vị hành chính. Nam Bộ có 19 tỉnh và thành phố được chia làm 2 tiểu vùng: Các tỉnh sau đây đôi khi cũng thuộc khu vực Nam bộ: Có thể nhìn nhận khởi điểm lịch sử văn hóa Nam Bộ được tính mốc là năm 1623 khi vua Chân Lạp cho chúa Nguyễn di dân Việt đến định cư ở Prey Kôr (Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay). Vùng đất Nam Bộ bấy giờ chỉ là một vùng hoang dại với hệ thống đất đai trũng, úng, sình lầy và sông rạch chằng chịt. Bắt đầu từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Tiểu, Cửa Đại trở vào. Cuối thế kỷ XVII, chúa Nguyễn tiếp nhận một đoàn người Hoa đến quy thuận và cho họ đến khai phá và định cư ở Biên Hoà – Đồng Nai. Tiếp đó mộ dân từ Quảng Bình vào và chia đặt doanh, huyện, lập hộ tịch. Như vậy, phải gần một thế kỷ sau Nam Bộ mới bước đầu được định hình một vùng văn hóa. Một nền văn hoá vùng miền hình thành qua thời gian một thế kỷ không phải là dài và khi người Việt đến vùng đất mới mang theo hành trang với vốn văn hóa đúc kết hàng ngàn năm của dân tộc Việt đã góp phần tạo nên nền tảng của hệ giá trị văn hóa Nam Bộ. Những giá trị trải qua quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội trong lịch sử, dần tạo nên những giá trị của nền văn hóa Nam Bộ như hiện nay. Đất Nam Bộ còn là một vựa lúa chính, đồng thời là vựa trái cây nổi tiếng với đủ các chủng loại hoa quả miền nhiệt đới. Từ chôm chôm, vú sữa, măng cụt, sầu riêng cho đến mít, chuối, xoài, ổi, nhãn, cam, quý, đa dạng và phong phú. Với ưu thế sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và bưng biền ngập nước mênh mông là nơi sinh sống lý tưởng của rắn, rết, cá sấu, rùa, ba ba, tôm, cá, cua, cò, nhiều sản vật lạ từ lâu đã đi vào kho tàng văn học dân gian. Nam Bộ vừa có bề dày tiến trình lịch sử văn hóa lại vừa là vùng đất giàu sức trẻ do các tộc người ở đây đang dày công xây dựng nên. Từ vị thế địa lý, văn hóa Nam Bộ, đang giúp trở thành trung tâm của quá trình tiếp biến văn hóa, phần nào tạo cho vùng có những nét đặc thù, diện mạo mới đối với các vùng văn hóa khác ở Việt Nam. Hệ giá trị văn hóa Nam Bộ là truyền thống văn hóa dân tộc và những giá trị cốt lõi hình thành phong cách văn hóa riêng vùng. Tính mở của một vùng đất mới làm nên tính năng động, nhạy bén, dám nghĩ, dám làm của người dân Nam Bộ. Tính mở là cơ sở cho việc tiếp nhận và tiếp biến thành công nhiều giá trị văn hóa cao và hiện nay có thêm nền văn minh hiện đại. Từ thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn đã tổ chức các đơn vị hành chính, sắp đặt quan cai trị, lập sổ sách quản lý dân đinh, ruộng đất và định ra các loại thuế. Từ đó, về cơ bản tổ chức hành chính và kinh tế trên vùng đất Nam Bộ đã được kiện toàn. Dưới thời nhà nước Phù Nam, cư dân của quốc gia có truyền thống hàng hải và thương mại phát triển, Vương quốc Phù Nam có hải cảng giao thương với nước ngoài ở Óc Eo (gần núi Ba Thê – An giang ngày nay). Phù Nam có quan hệ buôn thương với nhiều khu vực lân cận, mở rộng đến cả Trung Hoa, Ấn Độ và Địa Trung Hải. Những hiện vật phát hiện được rất nhiều từ thế kỉ thứ XIX đến nay ở các địa phương Miền Tây Nam Bộ đã chứng tỏ truyền thống hàng hải và thương mại của Phù Nam phát triển rất mạnh mẽ. Về phía biên giới Tây-Nam, Triều Nguyễn tiếp tục thực hiện bằng chính sách của Nguyễn Ánh nửa sau thế kỷ 18. Luồng buôn bán, giao thương qua hai đường chính là cửa khẩu Châu Đốc và đường biển Hà Tiên. Trong thế kỷ 18 và 19, Châu Đốc là vùng biên thuỳ quan trọng ở tuyến biên giới Tây – Nam, nơi đây từng được coi là "phong vũ biểu" không chỉ trong mối quan hệ bang giao giữa Đàng Trong với Chân Lạp, mà nó còn là "hàn thử biểu" của mối giao thương Gia Định – Nam Vang. Do đó, con đường buôn bán Gia Định- Nam Vang không chỉ có tác động đến sự phát triển kinh tế của vùng đất này, mà còn ảnh hưởng đến tình hình chính trị, xã hội, giao lưu văn hoá của các cộng đồng cư dân trong khu vực. Hiện nay bộ mặt kinh tế của Nam Bộ Việt Nam đã hoàn toàn khác xưa. Trở thành một trong những vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Được tập trung ở những tỉnh và thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang. Vùng kinh tế có nhiều tiềm năng, lợi thế, năng động, sáng tạo, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tạo động lực phát triển kinh tế chung của Việt Nam. Với giải pháp cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, là khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế của toàn vùng để phát triển ổn định và bền vững, là cầu nối để hội nhập, hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực. Có mức tăng trưởng kinh tế trung bình là 12,6%/năm, chiếm 60% sản xuất công nghiệp của đất nước theo giá trị, 70 % của doanh thu xuất khẩu của cả nước và 40% của tổng sản phẩm nội địa của đất nước (GDP). Thu nhập đầu người bên trong khu vực này là 31,4 triệu VNĐ/năm.
Thế vận hội Mùa đông 2002 Thế vận hội Mùa đông 2002, hay Thế vận hội Mùa đông XIX, được tổ chức tại Thành phố Salt Lake, Utah (Hoa Kỳ) từ 8 tháng 2 đến 24 tháng 2 năm 2002. Tất cả có 76 quốc gia tham dự. Các quốc gia tham dự. Sau đây là danh sách 76 quốc gia tham dự Thế vận hội Mùa đông 2002. Đã có 78 sự kiện tranh tài trong 7 môn thể thao (15 phân môn).
Thế vận hội Mùa đông 1998 Thế vận hội Mùa đông 1998, hay Thế vận hội Mùa đông XVIII, được tổ chức từ 7 tháng 2 đến 22 tháng 2 năm 1998 tại Nagano, Nhật Bản. Tất cả có 73 quốc gia tham dự. Các quốc gia tham dự. Sau đây là danh sách 73 quốc gia tham dự Thế vận hội Mùa đông 1998.
Hồ Tấn Quyền (1927-1963), nguyên là một sĩ quan Hải Quân cao cấp của Quân đội Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Hải quân Đại tá. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên tại trường Sĩ quan Hải quân do Chính phủ Quốc gia Việt Nam tiếp quản và thành lập từ cơ sở Hải quân của Pháp chuyển giao cho Hải quân Việt Nam đặt tại một tỉnh thuộc Duyên hải miền Trung Việt Nam. Ông là vị Tư lệnh thứ ba của Quân chủng Hải Quân từ tháng 8 năm 1959 cho đến khi bị sát hại vào ngày 1 tháng 11 năm 1963. Tiểu sử và binh nghiệp. Ông sinh ngày 1 tháng 11 năm 1927 tại Hải Châu, Đà Nẵng, trong một gia đình Nho học. Nguyên quán ông ở Kim Long, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1947, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại trường Quốc học Khải Định Huế với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II). Tháng 8 cùng năm, ông thi vào trường Hàng hải Thương thuyền. Tháng 12 năm 1948, ông tốt nghiệp sĩ quan Thuyền trưởng Hàng hải, phục vụ ở ngành này cho đến khi gia nhập quân đội. Quân đội Quốc gia Việt Nam. Cuối năm 1951, ông và một số sĩ quan Hàng hải được tuyển chọn gia nhập Hải quân Quân đội Quốc gia thành phần trong Quân đội Liên hiệp Pháp. Theo học khóa 1 tại trường Sĩ quan Hải quân Nha Trang, khai giảng ngày 1 tháng 1 năm 1952. Với tổng số 9 khóa sinh, tất cả đều được đưa xuống Hàng không Mẫu hạm Arromanches để huấn luyện chuyên nghiệp, sau đó luân chuyển qua các Chiến hạm Viễn Đông của Hải quân Pháp "(vì Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang đang trong thời kỳ xây dựng)". Đến tháng 7, cả khóa trở lại Nha Trang tiếp tục thụ huấn. Ngày 1 tháng 10 cùng năm, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Hải quân Thiếu úy ngành chỉ huy. Ra trường, ông được điều động phục vụ trong Giang đoàn Xung phong. Ngày 1 tháng 10 năm 1953, ông được thăng cấp Hải quân Trung úy giữ chức Chỉ huy phó Giang đoàn Xung phong. Tháng 7 năm 1954, ông được thăng cấp Hải quân Đại úy, nhận lãnh và làm Hạm trưởng đầu tiên Giang hạm HQ-535 do Hải quân Pháp chuyển giao cho Hải quân Việt Nam. Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Ngày Quốc khánh Đệ Nhất Cộng hòa 26 tháng 10 năm 1956, sau một năm từ Quân đội Quốc gia chuyển sang phục vụ Quân đội Việt nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Hải quân Thiếu tá đảm nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Hải khu Đà Nẵng. Thời điểm này ông cùng với Đại tá Linh Quang Viên là quan sát viên cuộc thao diễn Hải quân Liên phòng Đông Nam Á trên Hàng không Mẫu hạm Enterprise trong 15 ngày từ Singapore đến vịnh Subic Philippines. Đến giữa năm 1957, ông được cử làm Tham mưu trưởng trong Bộ Tư lệnh Hải quân do Thiếu tá Trần Văn Chơn làm Tư lệnh. Thượng tuần tháng 8 năm 1959, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Hải quân thay thế Thiếu tá Trần Văn Chơn được cử đi du học trường Cao đẳng Hải chiến tại Hoa Kỳ. Ngày Quốc khánh tháng 10 cùng năm, ông được thăng cấp Hải quân Trung tá tại nhiệm. Ông được đánh giá là người có lòng nhiệt thành, tầm nhìn xa rộng và có công lao lớn trong việc xây dựng Quân chủng Hải quân. Đặc biệt ông rất trung thành với Tổng thống Ngô Đình Diệm. Giữa năm 1960, ông có sáng kiến thành lập Lực lượng Hải thuyền để ngăn chận sự xâm nhập người và vũ khí của Quân đội Bắc Việt. Ngày 11 tháng 11 năm 1960, bộ đôi sĩ quan gồm: Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông cầm đầu cuộc đảo chính lật đổ Chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông đích thân đem quân vào Dinh Độc Lập cứu nguy, khiến cho cuộc đảo chính vừa nổ ra đã bị thất bại. Ngày 27 tháng 2 năm 1962, khi hai phi công Trung úy Nguyễn Văn Cử và Trung úy Phạm Phú Quốc dùng máy bay dội bom Dinh Độc Lập, ông chỉ đạo các Chiến hạm Hải quân, bắn đạn bay đan kín vùng trời, bảo vệ Tổng thống. Ngay sau đó ông được thăng cấp Hải quân Đại tá tại nhiệm. Ngày 3 tháng 1 năm 1963, ông được cử làm Chỉ huy trưởng cuộc hành quân "Sóng tình thương", bình định và an dân tại Năm Căn, Cà Mau. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, một số sĩ quan cao cấp trong quân đội đã tổ chức thành công cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông là một trong số rất ít sĩ quan chỉ huy thật sự trung thành với Ngô Đình Diệm. Vào lúc 9 giờ 45 sáng ngày 1 tháng 11 đúng vào ngày sinh nhật của ông, ông bị sát hại dã man trên xa lộ Biên Hòa hướng đi lên Thủ Đức, chỉ vì ông không đồng thuận với nhóm tướng tá cầm đầu cuộc đảo chính. Cùng đi trên xe với ông có hai sĩ quan Hải quân dưới quyền là Thiếu tá Trương Học Lực, Chỉ huy trưởng Vùng 3 Sông ngòi và Đại úy Nguyễn Kim Hương Giang, Chỉ huy trưởng Giang đoàn 24 Xung phong kiêm Chỉ huy trưởng Đoàn Giang vận. Hai sĩ quan này được lệnh của các tướng cầm đầu cuộc đảo chính loại bỏ ông ra khỏi chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân nên đã lừa ông ra Thủ Đức và hạ sát ông tại rừng cao su. Vì nếu ông còn là Tư lệnh, ông sẽ chỉ huy Hải quân ứng cứu Tổng thống Diệm, với lòng trung thành của ông cộng với Lực lượng Hải quân lúc bấy giờ, có thể cuộc đảo chính sẽ đi đến chỗ thất bại. Ông bị sát hại khi mới 36 tuổi. Ngay sau đó, Hội đồng Quân nhân Cách mạng do tướng Dương Văn Minh làm Chủ tịch liền bổ nhiệm Đại tá Chung Tấn Cang vào chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải Quân. Ông bà có bảy người con gồm 1 trai, 6 gái:brHồ Tấn Bích Thủy (Trưởng nữ. Giáo sư Pháp văn), Hồ Tấn Bích Tiên, Hồ Tấn Bích Trà, Hồ Tấn Bích Thư, Hồ Tấn Bích Tuyền, Hồ Tấn Bích Trang, Hồ Tấn Phú Quốc. Cái Chết Của Hải Quân Đại Tá Hồ Tấn Quyền Lời kể của Bà quả phụ Đại Tá Hồ Tấn Quyền
Họ Thiến thảo, (lấy từ chữ Hán: 茜草; danh pháp khoa học: Rubiaceae Juss. 1789) - có tài liệu phiên là thiên thảo, là một họ của thực vật có hoa, còn có thể gọi là họ cà phê, cỏ ngỗng. Trong một số sách giáo khoa tiếng Việt gọi là họ Cà phê, nhưng có thể gọi là họ Thiến thảo, lý do là tên gọi Rubiceae là dẫn xuất từ chi Rubia (thiến /thiên thảo) mà không là dẫn xuất từ chi Coffea (cà phê). Các loại cây phổ biến trong họ này bao gồm canh ki na, cây cà phê, câu đằng ("Uncaria tonkinensis") và nhàu. Một số họ trước đây được chấp nhận (như Dialypetalanthaceae, Henriqueziaceae, Naucleaceae và Theligonaceae) hiện nay được đưa vào họ Rubiaceae theo các nghiên cứu di truyền học gần đây do Angiosperm Phylogeny Group tiến hành. Theo các định nghĩa hiện nay, có khoảng 611 chi và khoảng 13.150 loài thuộc về họ Rubiaceae. Các loài thuộc họ này là loại cây gỗ, cây bụi hoặc nửa bụi, đôi khi là cây thân thảo hay dây leo. Lá mọc đối, luôn có lá kèm với nhiều hình dạng khác nhau. Hoa thường tập hợp thành cụm hình xim, đôi khi hình đầu, mẫu 5 hoặc 4. Đài và tràng đều hợp, tràng có tiền khai hoa thường vặn, đôi khi van hay lợp. Trong một vài trường hợp số thùy của tràng có thể lên tới 8-10. Số nhị thường bằng với số thùy tràng và nằm xen kẽ giữa các thùy, dính vào ống tràng hoặc họng tràng. Bộ nhụy gồm hai lá noãn dính nhau thành bầu dưới, hai buồng. Một vòi nhụy mảnh, đầu nhụy hình đầu hay chia hai. Mỗi buồng của bầu chứa một đến nhiều noãn đảo hay thẳng. Quả mọng, hạch hay quả khô (quả mở hoặc quả phân thành những hạch nhỏ). Hạt thường có phôi thẳng có nội nhũ hoặc đôi khi không có. Họ Thiến thảo (họ Cà phê) là một họ lớn (chỉ sau họ Cúc), phân bổ ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, ít khi gặp ở vùng ôn đới. Tại Việt Nam hiện biết 90 chi với khoảng trên 400 loài, thường gặp nhiều trong rừng, tạo nên thành phần chủ yếu của tầng cây thấp. Theo "The Plant List", họ Thiến thảo hay còn gọi là họ Cà-fê, gồm 617 chi và 13548 loài Các chi được phân bổ trong các tông, và các tông này được đặt vào một trong ba phân họ đã được thừa nhận:
Diếp cá hay giấp cá, dấp cá, lá giấp, rau giấp, rau vẹn, ngư tinh thảo, tập thái (danh pháp khoa học: Houttuynia cordata) là một loài thực vật thuộc họ Saururaceae. Loài của lục địa châu Á, phân bố từ Ấn Độ qua Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, các nước Đông Nam Á. Ở Việt Nam, diếp cá mọc hoang ở chỗ ẩm ướt. Là một loại cỏ nhỏ, mọc quanh năm (evergreen), ưa chỗ ẩm ướt, có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt. Lá mọc cách (so le), hình tim, có bẹ, đầu lá hơi nhọn hay nhọn hẳn, khi vò ra có mùi tanh như mùi cá. Cây thảo cao 15–50 cm; thân màu lục hoặc tím đỏ, mọc đứng cao 40 cm, có lông hoặc ít lông. Cụm hoa nhỏ hình bông bao bởi 4 lá bắc màu trắng, trong chứa nhiều hoa nhỏ màu vàng nhạt, trông toàn bộ bề ngoài của cụm hoa và lá bắc giống như một cây hoa đơn độc. Quả nang mở ở đỉnh, hạt hình trái xoan, nhẵn. Mùa hoa tháng 5-8, quả tháng 7-10. Theo "Cương mục bản thảo" của Lý Thời Trân, cây giấp cá có tên Hán tự là "ngư tinh thảo" nghĩa là cỏ tanh mùi cá. Ngoài ra trong các sách Trung Quốc còn liệt kê một số tên khác như trấp thái, tử trấp, trấp thảo. Từ chữ trấp, người Việt đã đọc trại đi thành giấp như luật biến âm tr thành gi (ví dụ như trời = giời, tro = gio). Đỗ Phong Thuần trong cuốn "Việt Nam dược vật thực dụng" năm 1957 sưu tầm những tên sau về giấp cá: "Mạnh nương thái" (rau của nàng họ Mạnh), "bút quản thái" (rau cán bút), "long tu thái" (rau râu rồng), "khâm thái" (rau cổ áo). Trong sách "Xích cước y sanh thủ" nêu những tên đồng nghĩa sau: xú mẫu đơn (mẫu đơn hôi), xú linh đan (liều thuốc hay nhưng thối), lạt tử thoả (cỏ cay), nãi đầu thảo (rau núm vú), xú thảo (cỏ hôi), kê nhĩ căn (rễ cỏ con gà). Dân thợ mộc trong Nam xưa hay cữ ăn giấp cá vì họ cho rằng nếu không lúc cưa cây, cưa gỗ giấp vô mắt cá bị thương. Tên tiếng Anh của nó là "heartleaf" (lá hình tim), fish mint, fish herb, hay "lizardtail" (đuôi thằn lằn). Thu hoạch quanh năm. Ở Trung Quốc, người ta nhổ cây giấp cá vào mùa hè và thu hoạch rửa sạch rồi phơi khô. Lá giấp cá sắc nước rẩy để cây bông vải, lúa kiều mạch khỏi bị dòn úa (Trung Quốc thổ nông dược chí). Giấp cá từ lâu đã được trồng lấy lá làm rau ăn. Tại tây nam Trung Quốc, chẳng hạn các tỉnh Vân Nam, Quý Châu và Tứ Xuyên, các rễ phụ cũng được dùng như là rau. Ở Việt Nam, giấp cá được dùng nhiều ở các tỉnh phía nam, thường dùng ăn lá sống kèm với nhiều món như thịt nướng, chả giò bún, gỏi cuố Nhật đã có các công nghệ chế biến rau giấp cá thành các loại thực phẩm như trà rượu. "Trầu vàng nhỏ lá, rau "giấp cá" nhai giòn Khéo khen phụ mẫu sinh em mặt tròn dễ thương." Nghe vẻ nghe ve Nghe vè các rau. Thứ ở hỗn hào, Là rau ngành ngạnh. Trong lòng không chánh, ...Ăn hơi tanh tanh, Là rau "dấp cá..." "(Vè các loại rau)"
Athletic Bilbao (còn được biết đến với tên Athletic Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Tây Ban Nha, có trụ sở ở thành phố Bilbao, tỉnh Biscay và được thành lập vào năm 1898. Athletic Bilbao đang tham dự giải bóng đá vô địch quốc gia Tây Ban Nha (La Liga). Athlectic Bilbao là câu lạc bộ giàu truyền thống thứ ba tại Tây Ban Nha sau Real Madrid CF và F.C. Barcelona với 8 lần vô địch La Liga và Cúp Nhà vua Tây Ban Nha 23 lần. Cùng với Barcelona và Real Madrid, Athletic Bilbao chưa bao giờ xuống hạng. Sân nhà của Athletic Bilbao là sân vận động San Mamés với sức chứa 53.289 người. Câu lạc bộ bóng đá nữ Athletic Bilbao cũng đồng thời giành được 4 chức vô địch giải bóng đá nữ chuyên nghiệp Tây Ban Nha (Primera División Femenina). Athletic Bilbao là đối thủ "không đội trời chung" với Real Sociedad và Real Madrid CF. Trong đó, trận Derby xứ Basque giữa Athletic Bilbao và Real Sociedad là một trong những trận derby lâu đời nhất trong lịch sử bóng đá thế giới. Bóng đá đến với thành phố Bilbao bởi hai con đường riêng biệt, cả hai đều gắn liền đến nước Anh. Công nhân nhà máy Thép, nhà máy đóng tàu Anh và sinh viên Basque trở về từ trường học ở Anh đã đem bóng đá tới Bilbao. Vào cuối thế kỷ 19, Bilbao là một thành phố cảng hàng đầu của khu vực công nghiệp quan trọng với các mỏ sắt và nhà máy đóng tàu. Đó là động lực thúc đẩy nền kinh tế Tây Ban Nha và kết quả là thu hút nhiều lao động nhập cư. Trong số đó có thợ mỏ từ phía Đông Bắc nước Anh, và công nhân nhà máy đóng tàu từ Southampton, Portsmouth và Sunderland. Các công nhân Anh đã mang bóng đá tới Tây Ban Nha theo họ. Trong những năm 1890 những công nhân này thành lập Câu lạc bộ Bilbao ("Bilbao Football" Club). Trong khi đó, các sinh viên Basque qua lớp đào tạo đã thực hiện cuộc hành trình ngược lại. Họ đến Anh để nghiên cứu công trình dân dụng và thương mại. Trong thời gian ở Vương quốc Anh, các sinh viên nắm bắt và bắt đầu quan tâm đến bóng đá, sau đó, trên đường trở về Bilbao, họ sắp xếp một trận đấu với nhóm công nhân người Anh. Năm 1898, sinh viên thuộc "Gymnasium Zamacois" thành lập "Athletic" Club, tên đội sử dụng ngôn ngữ Anh. Năm 1901 một cuộc họp đã được tổ chức tại Cafe Garcia, nhiều quy tắc và quy định chính thức được thông qua. Năm 1902 hai CLB Bilbao đã thành lập một câu lạc bộ liên kết hai câu lạc bộ với nhau, được gọi là "Bizcaya," trong lần đầu tiên xuất hiện tại Copa del Rey. Họ trở về với chiếc cúp sau khi đánh bại FC Barcelona trong trận chung kết. Điều này dẫn đến việc sáp nhập của hai câu lạc bộ, trở thành một "Athletic Club" thống nhất vào năm 1903. Cũng trong thời gian đó, sinh viên Basque cũng thành lập "Athletic Club" Madrid. Câu lạc bộ này sau đó phát triển thành Atlético Madrid. Ngày thành lập của câu lạc bộ là một chủ đề gây tranh cãi của giới chuyên môn. Câu lạc bộ tuyên bố năm thành lập là năm 1898, nhưng những người khác cho rằng năm 1901 hay 1903 mới là năm thành lập của câu lạc bộ. Lần đầu tham dự La Liga. Athletic Bilbao không phải đội bóng Basque duy nhất đại diện cho xứ Basque năm 1920. Các câu lạc bộ khác như Real Unión, Arenas Club de Getxo và Real Sociedad cũng tham gia La Liga. Bốn câu lạc bộ là thành viên tham gia La Liga vào năm 1928 và tới năm 1930 CD Alaves gia nhập La Liga, trở thành câu lạc bộ thứ năm. Điều này có nghĩa là năm trong số mười câu lạc bộ ở "Primera División" - giải đấu quốc gia Tây Ban Nha đến từ xứ Basque. Câu nói "Con cantera y afición, no hace falta importación", dịch là "Với những đội bóng quê hương và người hâm mộ, không cần thiết phải nhập khẩu thêm gì nữa". Kỉ nguyên Fred Pentland. Năm 1921, một huấn luyện viên mới đến với câu lạc bộ là Fred Pentland, từ Racing de Santander. Năm 1923, ông đã dẫn dắt câu lạc bộ giành chiến thắng tại Copa del Rey. Ông đã cách mạng hóa cách chơi, bằng cách sử dụng lối chơi chuyền ngắn. Năm 1927, ông rời Athletic và dẫn dắt Athletico Madrid, Real Oviedo và tuyển quốc gia Tây Ban Nha. Năm 1929, ông trở lại Athletic và sau đó ông đã dẫn dắt Athletic vô địch La Liga / Copa del Rey hai lần liên tiếp vào các năm 1930 và 1931. Câu lạc bộ giành Copa del Rey bốn lần liên tiếp từ 1930 đến 1933, và họ cũng là Á quân La Liga trong năm 1932 và 1933. Năm 1931, Athletic Bilbao hủy diệt FC Barcelona 12-1, thất bại tồi tệ nhất trong lịch sử FC Barcelona. Năm 1941, câu lạc bộ đổi tên thành "Atlético" Bilbao, sau một nghị định ban hành bởi Franco, cấm sử dụng tên ngôn ngữ ngoài ngôn ngữ Tây Ban Nha và tháo dỡ các chính sách cũng như chỉ cho phép cầu thủ gốc Basque trong đội. Cùng năm đó, Telmo Zarra ra mắt lần đầu tiên. Trong 13 mùa giải tiếp theo, ông đã ghi 294 bàn thắng trong trên mọi mặt trận cho Atlético, thêm 20 bàn cho tuyển quốc gia Tây Ban Nha trong nhiều trận đấu. 38 bàn thắng trong mùa giải 1950-51 là một kỷ lục trong vòng 60 năm trước khi bị phá vỡ bởi Lionel Messi. Một cầu thủ vĩ đại khác thời đại này là José Luis Panizo. Năm 1943, câu lạc bộ giành cú đúp danh hiệu Liga / Copa del Generalísimo và sau đó họ vẫn giữ được danh hiệu vô địch Copa del Rey trong cả hai năm 1944 và 1945. Trong những năm đầu thập niên 1950, câu lạc bộ là một bức tranh bao gồm các huyền thoại Zarra, Panizo, Rafa Iriondo, Venancio, và Agustín Gaínza. Họ đã giúp câu lạc bộ giành chiến thắng tại Copa del Generalísimo vào năm 1950. Sự xuất hiện của HLV Ferdinand Daučík càng cải thiện sức mạnh của câu lạc bộ. Ông đã giúp đội bóng giành cú đúp khác trong năm 1956 và hơn nữa là giành hai Copa del Generalísimo vào năm 1955 và 1958. Năm 1956, câu lạc bộ cũng đã lần đầu tiên xuất hiện ở Cup châu Âu, nhưng bị Manchester United đánh bại. Điều giúp câu lạc bộ thành công trong những năm 1930, năm 1940 và 1950 là những quy định nghiêm ngặt đối với cầu thủ nước ngoài. Trong hầu hết các trường hợp câu lạc bộ chỉ có thể có ba cầu thủ nước ngoài trong đội hình của mình, có nghĩa là ít nhất tám cầu thủ địa phương chơi trong mọi trận đấu. Trong khi Real Madrid và FC Barcelona phá vỡ những quy tắc này bằng cách sử dụng các cầu thủ công dân kép (có hai quốc tịch) như Alfredo Di Stéfano, Ferenc Puskás, José Santamaria và Ladislao Kubala, Athletic tuân thủ nghiêm ngặt chính sách Cantera của họ, mặc dù vậy chính sách lộ rõ sự thiếu linh hoạt. Những năm 1960, Real Madrid quá mạnh và chiếm ưu thế ở Tây Ban Nha, "Atletico Bilbao" chỉ có duy nhất một Copa del Rey giành được vào năm 1969. Giống như các đội bóng quốc tế khác, câu lạc bộ đã sử dụng quy tắc "Thế hệ trong gia đình", cho phép tuyển một số cầu thủ gốc Basque. Điều này cho phép Armando Merodio - người sinh ở Barcelona có cha mẹ gốc Basque, chơi cho câu lạc bộ. Trong những năm 1960, các cầu thủ khác như Jesús María Pereda, Miguel Jones, và José Eulogio Gárate đã bị bỏ qua. Mặc dù không ai trong số họ gốc Basque, cả ba chỉ lớn lên ở Basque nhưng được phân loại là cầu thủ gốc Basque; Gárate thậm chí có cha mẹ gốc Basque. Năm 1960 chứng kiến sự xuất hiện của một huyền - thoại Athletic José Ángel Iribar. Những năm 1970, thành tích của câu lạc bộ không tốt hơn là bao với chỉ duy nhất một Copa del Rey giành được trong năm 1973. Trong tháng 12 năm 1976, trước một trận đấu với Real Sociedad, Iribar và đội trưởng Inaxio Kortabarria của Sociedad, mang Ikurriña - cờ xứ Basque cờ và đặt nó để thực hiện nghi thức tại vòng tròn giữa sân. Đây là lần đầu tiên lá cờ này được công khai kể từ cái chết của Francisco Franco. Năm 1977, câu lạc bộ đạt vào chung kết UEFA Cup, chỉ thua trên sân khách trước Juventus. Đến nay, câu lạc bộ sử dụng tên "Athletic" Bilbao. Trước khi bắt đầu mùa giải 2011-12, các thành viên của Câu lạc bộ Athletic Bilbao tổ chức cuộc bầu cử chủ tịch, chủ tịch đương nhiệm Fernando García Macua bị đánh bại bởi cựu cầu thủ phục vụ lâu dài cho câu lạc bộ trước kia Josu Urrutia. Một trong những cam kết mà Urrutia đã thực hiện là mang lại cựu Argentina và Chile - HLV trưởng Marcelo Bielsa dẫn dắt câu lạc bộ. Joaquín Caparrós rời câu lạc bộ với hợp đồng đã hết hiệu lực, ông đã cải thiện đáng kể tầm vóc của Athletic Bilbao. Bielsa gia nhập đã mang đến danh tiếng của việc sử dụng đội hình và chiến thuật độc đáo, và thiết lập thay đổi sao cho phù hợp với câu lạc bộ. Một số cầu thủ đã bắt đầu chơi ở vị trí không quen thuộc, bao gồm cả nhà vô địch World Cup - tiền vệ Javi Martínez, những người được sử dụng như một trung vệ và Óscar de Marcos, người dù đã được biết đến như một tiền vệ đã được sử dụng hậu vệ cánh trái. Kết quả bước đầu không được tốt và bản hợp đồng mới Ander Herrera bị chấn thương. Các cầu thủ bắt đầu điều chỉnh để thay đổi. Sau một chiến thắng trên sân của Real Sociedad, Athletic Bilbao có một quãng thời gian thăng hoa vào mùa thu trong đó bao gồm các chiến thắng trước Paris Saint-Germain, CA Osasuna và Sevilla FC cũng như hòa Valencia CF và FC Barcelona. Câu lạc bộ cũng vượt qua vòng bảng Europa League và đánh bại Lokomotiv Moskva ở vòng 32 đội. Athletic sau đó làm nên chiến thắng 3-2 trước Manchester United trong trận lượt đi tại Old Trafford, họ tiếp tục đánh bạn đội bóng 3 lần vô địch châu Âu và loại họ khỏi giải đấu với một chiến thắng ấn tượng 2-1 trên sân nhà. Fernando Llorente và Oscar de Marcos ghi bàn trong cả hai lượt trận. Trong trận tứ kết lượt đi, họ đụng độ FC Schalke 04 của Đức và chiến thắng trận lượt đi 4-2, mặc dù bị dẫn 2-1 tới phút 72 khi Raul lập cú đúp. Athletic tiếp tục hòa trận lượt về gặp Schalke 2-2, để vào bán kết Europa League đối mặt với Sporting Lisbon. Athletic thua trận lượt đi ở Bồ Đào Nha 2-1 sau khi vượt lên dẫn trước, nhưng họ đã đánh bại Sporting 3-1 trên sân nhà bằng bàn thắng của Markel Susaeta,Ibai Gómez và Fernando Llorente ở phút 89 khiến khán giả nhà bùng nổ. Họ hiên ngang vào chung kết, 4-3 chung cuộc. Trong trận chung kết cúp châu Âu chính thức đầu tiên của họ từ năm 1977, Athletic không thể duy trì mạch chiến thắng cũng như dành danh hiệu Cúp châu Âu sau 28 năm chờ đợi khi họ thua Atletico Madrid 3-0 nhờ sự tỏa sáng của Radamel Falcao. Trận chung kết diễn ra vào ngày 09 tháng 5 năm 2012 tại Arena Naţională ở Bucharest, Romania. Mặc dù suy sụp bởi thất bại này, vẫn còn có một cơ hội khác cho Athletic Club để đòi vinh quang với một lối chơi tích cực và kết quả của mùa giải đầu tiên không thể nói trước được điều gì. Sau khi đạt Copa del Rey 2012, đánh bại CD Mirandés, Athletic phải đối mặt với gã khổng lồ FC Barcelona, ​​đội bóng tỏ ra vượt trội về đẳng cấp so với Athletic và kết quả là 3-0 nghiêng về phía Barcelona. Tuy nhiên, việc trở thành Á quân Copa de Rey có nghĩa là Athletic đủ điều kiện tham dự UEFA Europa League, mặc dù họ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 10. Trước khi bắt đầu mùa giải 2012-13, Athletic đã trải qua một khoảng thời gian với một số xáo trộn. Sau khi gây ấn tượng tại Europa League, rất nhiều cầu thủ hàng đầu (theo truyền thông đồn) đã được các câu lạc bộ ở Anh, Ý và Đức nhòm ngó, và họ có thể cung cấp mức lương cao hơn và còn có thể được thi đấu ở Champions League. Trong đó, tiền đạo Fernando Llorente, người có hợp đồng đã gần kết thúc, không đồng ý một bản hợp đồng mới mới do nhu cầu tăng lương của mình (bị cáo buộc cao hơn nhiều so với mức trung ở câu lạc bộ, nhưng ít hơn so với một số tiền đạo hàng đầu khác ở những giải đấu khác). Và khi vị trí của mình bị lung lay, Javi Martínez muốn ra đi. Với tình hình tài chính của câu lạc bộ tương đối tốt và với một số trường hợp, nếu có, họ có những thay thế có sẵn dựa theo chính sách Basque của họ, Athletic có lập trường cứng rắn về vấn đề này, bất kỳ cầu thủ muốn rời khỏi sẽ phải đáp ứng điều khoản hợp đồng mua đứt. Martinez đã làm như vậy, gia nhập Bayern Munich trước thời hạn chuyển giao sau khi cầu thủ và đội bóng Đức đã đồng ý một thỏa thuận để tài trợ cho các khoản giá trị €40m, bất chấp sự từ chối của Athletic. Llorente thất bại trong việc đảm bảo một thỏa thuận như vậy và vẫn là một cầu thủ Athletic vào lúc đóng cửa của thị trường chuyển nhượng, mâu thuẫn vốn đã phát triển giữa anh và quản lý câu lạc bộ. Martínez và Llorente - được cho là hai cầu thủ quan trọng nhất trong 5 mùa trước - phải đối mặt với tình trạng phản bội người hâm mộ khi họ tìm đường ra đi, mà không đồng ý cải thiện để hòa hợp. Tình hình là phức tạp hơn nữa khi Marcelo Bielsa có một bất đồng lớn với các nhà thầu thực hiện việc cải thiện sân tập CLB Lezama. ông cảm thấy họ không phù hợp, chi phí lại đắt đỏ và chậm tiến độ, do đó hủy chuyến chuẩn bị trước mùa giải của ông với đội. Các tranh chấp trở thành một cuộc ẩu đả, tiếp theo Bielsa tuyên bố chỉ trích công việc - mà hệ thống phân cấp câu lạc bộ có phần tách mình ra. Đã có giai đoạn, huấn luyện viên người Argentina dường như đã rời vị trí của mình, và mặc dù vấn đề này cuối cùng đã được giải quyết,nó không phải là bầu không khí tích cực của câu lạc bộ mong muốn khi mùa giải tiếp mới sắp bắt đầu. Tiền đạo giàu kinh nghiệm Aritz Aduriz trở về từ Valencia CF và Ismael López là bản hợp đồng mới khác. Cùng với việc bán Javi Martinez, lão hóa đội hình bởi Koikili, Igor Gabilondo và Aitor Ocio vào cuối mùa giải, họ theo dõi cầu thủ chạy cánh David López và hậu vệ Ustaritz vào ngày cuối cùng của thị trường chuyển nhượng. Với bối cảnh không chắc chắn này, cùng với chấn thương của một số cầu thủ trong đội hình có lẽ không ngạc nhiên khi Athletic bắt đầu mùa giải của họ với một số kết quả nghèo nàn. Không có sự hiện diện của Llorente, mặc dù Aduriz có khả năng, các chiến thuật sử dụng các cầu thủ được coi là tiền vệ phòng thủ để tăng cấp độ kỹ thuật chung của đội bóng được xem là phản tác dụng phần nào khi đối thủ tạo ra cơ hội một cách dễ dàng đến mức báo động. Trong 8 trận đấu đầu tiên của họ (4 ở La Liga và 4 ở vòng sơ loại Europa League), Athletic ghi được 21 bàn thắng nhưng thủng lưới tới 18. Tiền vệ triển vọng Iñigo Ruiz de Galarreta cũng kết thúc mùa giải sớm với một chấn thương dây chằng trước. Mặc dù Athletic tham gia vòng bảng Europa League, họ đã có nguy cơ bị loại khi chỉ giành một điểm duy nhất trong bốn trận đầu tiên. Tại Copa del Rey, Athletic bối rối ở sân nhà khi họ bị đánh bại trong trận mở màn bởi SD Eibar - câu lạc bộ như là công ty con Athletic Bilbao. Bilbao bị loại một cách không thể ngẩng đầu lên được bởi một đội bóng yếu hơn của xứ Basque. Trớ trêu thay, một cựu cầu thủ Athletic Bilbao, Mikel Arruabarrena, ghi bàn thắng loại câu lạc bộ cũ của mình. Một tuần trước đó, tại trận đấu cuối cùng ở Cúp châu Âu,trên sân vận động của Sparta Prague họ có một trận hòa 0-0. Mặc dù chỉ còn lại một giải đấu để tập trung vào,Athletic vẫn bất thường. Họ vẫn tiếp tục chiếm ưu thế kiểm soát bóng và tạo cơ hội, vấn đề công làm thủ phá bởi gây ra sự mệt mỏi khiến thủng lưới và nhiều và hơn nữa số điểm họ giành được giảm. Tại San Mames, họ chiến thắng Atlético Madrid sau thất bại trước Zaragoza và Rayo và tiếp theo là khủng hoảng sâu hơn nữa khi để Espanyol đánh bại (0-4) và thua Real Sociedad, và chiến thắng Osasuna, Valencia và Granada trong tháng ba, do đó giảm lo ngại về nguy cơ xuống hạng. Với hậu vệ Fernando Amorebieta bị chấn thương, sau đó ra khỏi đội hình chính thức và rời khỏi câu lạc bộ, Bielsa đôn hậu vệ trẻ người Pháp Aymeric Laporte lên như một sự thay thế tiềm năng. Sự thiếu kinh nghiệm khiến cho anh này dẫn đến một số sai lầm (và hai thẻ đỏ) mặc dù tốc độ và kỹ năng của anh này có tiềm năng trong tương lai. Laporte đã ký một hợp đồng dài hạn với câu lạc bộ. Athletic bất bại trong tháng Tư và đầu tháng Năm (bao gồm cả trận hòa với Barcelona), và do kết quả kém từ các đối thủ, họ có khả năng đủ điều kiện tham dự cúp châu Âu một lần nữa bất chấp tất cả những khó khăn của mùa giải. Tuy nhiên niềm tin dập tắt trong thất bại 0-1 đến một UD Levante, và trận đấu đó là tổng kết mùa giải: tiềm năng đáng kể và mang niềm hy vọng của sự thành công với bối cảnh của niềm tự hào truyền thống trong một đấu trường mang tính biểu tượng đó sẽ sớm được phát triển, nhưng cuối cùng kết thúc với một kết quả đáng thất vọng không đạt kì vọng, được sự phấn khích của các mùa giải trước và sự đồng thuận của cả câu lạc bộ và và người hâm mộ có thể nhìn ra đây là một đội hình các cầu thủ và huấn luyện viên đã có thể thực hiện tốt hơn. Những điểm sáng trong chiến dịch áp đảo thuộc về Athletic Bilbao, mà cầu thủ trẻ thực hiện tốt trong suốt mùa giải và thăng hạng Liga Adelante, nuôi hy vọng một số đội hình có thể cung cấp nhiều hơn cầu thủ dự phòng khẩn cấp cho đội bóng sau mùa giải. Các một điều chắc chắn sẽ là Athletic sẽ được chơi trong một sân vận động mới, San Mames Barria, mặc dù trong một trạng thái chưa hoàn thành một phần. Fernando Llorente rời câu lạc bộ tới Juventus sau khi hội đồng quản trị Athletic liên tục bác bỏ các lựa chọn của bất kỳ bản hợp đồng nào liên quan đến một khoản phí trong kỳ chuyển nhượng mùa đông, ngôi sao này ngồi trên ghế dự bị ở Athletic và mất phong độ. Amorebieta, người cũng không đóng vai trò quan trọng trong các kế hoạch sau này, chuyển tới Fulham. "Tính đến ngày 14/7/2023"
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Club Atlético de Madrid ([kluβ aðletiko ðe maðɾið]; nghĩa là "Câu lạc bộ thể thao của Madrid") thường được biết đến với cái tên Atlético Madrid, hay đơn giản là Atlético, là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Tây Ban Nha có trụ sở tại Madrid, hiện đang thi đấu tại La Liga. Câu lạc bộ tổ chức các trận đấu sân nhà tại Metropolitano, có sức chứa 68.456 chỗ ngồi. Về mặt số lần vô địch giải đấu, Atlético Madrid là câu lạc bộ thành công thứ ba trong bóng đá Tây Ban Nha - sau Real Madrid và Barcelona. Atlético đã giành chức vô địch La Liga mười một lần, bao gồm cú đúp giải đấu và cúp năm 1996; giành Copa del Rey mười lần; hai Supercopas de España, một và một Copa Eva Duarte; tại châu Âu, họ đã giành European Cup Winners' Cup năm 1962, là á quân vào các năm 1963 và 1986, là á quân UEFA Champions League vào các năm 1974, 2014 và 2016, đã giành chức vô địch Europa League vào các năm 2010, 2012 và 2018, và giành chức vô địch UEFA Super Cup vào các năm 2010, 2012 và 2018 cũng như 1974 Intercontinental Cup. Trong suốt lịch sử, câu lạc bộ đã được biết đến bằng một số biệt danh, bao gồm "Los Colchoneros" ("Những người làm đệm"), do các dải màu của đội hình đầu tiên cùng màu với những chiếc đệm truyền thống. Trong những năm 1970, họ được biết đến với tên "Los Indios", một số người cho rằng điều này là do câu lạc bộ ký hợp đồng với một số cầu thủ Nam Mỹ sau khi hạn chế về việc ký hợp đồng với cầu thủ nước ngoài được gỡ bỏ. Tuy nhiên, cũng có một số lý thuyết khác cho rằng họ được đặt tên như vậy bởi vì sân vận động của họ được "cắm trại" trên bờ sông, hoặc bởi vì "Los Indios" (Người Ấn Độ) là kẻ thù truyền thống của "Los Blancos" (Những người Trắng), đó là biệt danh của đối thủ cùng thành phố, Real Madrid. Felipe VI, vua của Tây Ban Nha, đã là chủ tịch danh dự của câu lạc bộ kể từ năm 2003. Nền tảng và năm đầu tiên (1903-1939). Câu lạc bộ được thành lập vào ngày 26 tháng 4 năm 1903 với cái tên "Athletic Club de Madrid" bởi ba học sinh Basque sống ở Madrid. Những người sáng lập đã nhìn thấy câu lạc bộ mới như là một chi nhánh thanh niên của đội thời thơ ấu của họ, Athletic Bilbao. Năm 1904, họ được các thành viên bất đồng chính kiến ​​của Real Madrid tham gia. Họ bắt đầu chơi màu xanh và trắng, tương tự như Athletic Bilbao, nhưng đến năm 1911, Athletic đã chơi với màu đỏ và sọc trắng hiện tại. Nhiều người tin rằng sự thay đổi này đã bị ảnh hưởng bởi vì những chiếc sọc đỏ và trắng là các sọc rẻ nhất, vì sự kết hợp giống nhau đã được sử dụng để làm nệm giường, và vải không dùng được dễ dàng chuyển thành áo sơ mi bóng đá. Phát hiện ra một lựa chọn rẻ hơn có thể thuyết phục họ thay đổi và ảnh hưởng đến câu lạc bộ Madrid được gọi là biệt danh "Los Colchoneros". Một lý do hợp lý khác để thay đổi màu sắc là cả Athletic Bilbao và Athletic Madrid đều mua các bộ dụng cụ màu trắng và trắng của Blackburn Rovers ở Anh. Một lần vào năm 1911, Juanito Elorduy, cựu cầu thủ và thành viên ban giám đốc Athletic Madrid, đã sang Anh để mua bộ dụng cụ cho cả hai đội. Khi anh ta thất bại trong việc tìm mua các bộ dụng cụ của Blackburn Rovers, anh ấy đã mua những chiếc áo đỏ và trắng của Southampton. Athletic Madrid đã thông qua chiếc áo đỏ và trắng nhưng đã chọn để giữ những chiếc quần short màu xanh của Blackburn Rovers, dẫn tới họ cũng được biết đến với cái tên "Los Rojiblancos". Căn cứ đầu tiên của Atlético, Ronda de Vallecas, nằm trong khu vực tầng lớp lao động cùng tên ở phía nam thành phố. Vào năm 1919, Compañía Urbanizadora Metropolitana - công ty điều hành hệ thống thông tin liên lạc ngầm ở Madrid - đã có được một số đất, gần Đại học Ciudad. Và vào năm 1921, Athletic Madrid đã trở thành độc lập của câu lạc bộ phụ huynh Athletic Bilbao. Là một phần của dự án này, công ty đã xây dựng một sân vận động thể thao mang tên sân vận động Metropolitano de Madrid, và Athletic đã có một sân vận động mới với sức chứa 35.800 chỗ. Metropolitano đã được sử dụng cho đến năm 1966, khi họ chuyển tới Vicente Calderón mới. Trong những năm 1920, Athletic đã giành "Campeonato del Centro" ba lần và là Copa del Rey chạy vào năm 1921; Trớ trêu thay, trận chung kết này đã khiến họ phải đối mặt với CLB bóng đá Athletic Bilbao, cũng như vào cuối năm 1926. Dựa vào kỷ lục này, họ được mời tham dự Primera División của La Liga lần đầu tiên vào năm 1928. Trong mùa La Liga ra mắt của họ, câu lạc bộ được quản lý bởi Fred Pentland, nhưng sau hai mùa giải ở Primera División, họ lại xuống hạng Segunda División. Họ quay trở lại La Liga một thời gian ngắn vào năm 1934 nhưng sau đó lại xuống hạng vào năm 1936 sau khi Josep Samitier tiếp tục vào giữa mùa giải từ Pentland. May mắn thay cho "Los Colchoneros", Cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha đã làm cho câu lạc bộ phải nghỉ ngơi, vì Real Oviedo đã không thể chơi được do sự phá hủy sân vận động của họ trong các vụ đánh bom. Như vậy, cả La Liga và Athletic đều bị trì hoãn, sau đó là chiến thắng trong trận play-off với Osasuna, nhà vô địch của giải Segunda División. Athletic Aviación de Madrid (1939-1947). Đến năm 1939, khi La Liga tiếp tục, Athletic đã sáp nhập với "Aviación Nacional" của Zaragoza để trở thành "Athletic Aviación de Madrid". Aviación Nacional được thành lập vào năm 1939 bởi các thành viên của Không quân Tây Ban Nha. Họ đã được hứa hẹn một nơi trong Primera División cho mùa giải 1939-40, chỉ để bị từ chối bởi RFEF. Như một sự thỏa hiệp, câu lạc bộ này sáp nhập với Athletic, đội đã mất 8 cầu thủ trong suốt cuộc nội chiến. Nhóm nghiên cứu đã được trao một chỗ trong 1939-1940 chiến dịch La Liga chỉ như là một thay thế cho Real Oviedo. Với huyền thoại Ricardo Zamora là người quản lý, câu lạc bộ sau đó đã giành danh hiệu La Liga đầu tiên của mùa giải đó và giữ lại chức vô địch năm 1941. Cầu thủ có ảnh hưởng nhất trong những năm này là đội trưởng Germán Gómez, người đã được ký kết từ Racing de Santander năm 1939. Anh chơi tám mùa liên tiếp cho "Rojiblancos" cho đến chiến dịch "1947-48". Từ vị trí tiền vệ trung tâm của mình, anh đã lập một tiền vệ huyền thoại cùng với Machín và Ramón Gabilondo. Năm 1941, một nghị định do Francisco Franco cấm đội từ việc sử dụng tên nước ngoài và câu lạc bộ trở thành "Atlético de Aviacion Madrid". Năm 1947, câu lạc bộ quyết định từ bỏ tên của hiệp hội quân đội và đặt căn cứ vào tên hiện tại của "CLB Atlético de Madrid". Cùng năm đó, Atlético đã đánh bại Real Madrid 5-0 tại "Metropolitano", chiến thắng lớn nhất của họ trước đối thủ này. Thời kỳ hoàng kim (1947-1965). Dưới thời Helenio Herrera và với sự giúp đỡ của Larbi Benbarek, Atlético lại vô địch La Liga vào các năm 1950 và 1951. Với sự ra đi của Herrera vào năm 1953, câu lạc bộ bắt đầu tụt lại phía sau Real Madrid và Barcelona và trong khoảng thời gian còn lại của những năm 1950, họ phải cạnh tranh với Athletic Bilbao để giành danh hiệu đội thứ ba ở Tây Ban Nha. Tuy nhiên, trong những năm 1960 và 1970, Atlético Madrid đã thách thức Barcelona cho vị trí thứ hai. Mùa giải 1957-58 chứng kiến Ferdinand Daučík dẫn dắt Atlético, nơi anh dẫn họ tới vị trí thứ hai tại La Liga. Điều này dẫn đến việc Atlético đủ điều kiện tham dự Cúp C1 châu Âu 1958-1959, vì đội vô địch La Liga, Real Madrid, là đương kim vô địch châu Âu. Được truyền cảm hứng từ tiền đạo trung tâm người Brazil Vavá và Enrique Collar, Atlético đã lọt vào bán kết sau khi đánh bại Drumcondra, CSKA Sofia và Schalke 04. Ở bán kết, họ đã gặp Real Madrid, đội đã thắng trận lượt đi với tỷ số 2-1 tại sân nhà Santiago Bernabéu trong khi Atlético thắng 1-0 tại "Metropolitano". Trận đấu được đá lại và Real thắng 2-1 tại Zaragoza. Tuy nhiên, Atlético đã phục thù được khi dưới sự dẫn dắt của cựu huấn luyện viên Real José Villalonga, họ đã đánh bại Real trong hai trận chung kết Copa del Rey liên tiếp vào năm 1960 và 1961. Năm 1962, họ giành chức vô địch Cúp Cúp Châu Âu, đánh bại Fiorentina 3-0 sau khi phát lại.  Thành tích này có ý nghĩa quan trọng đối với câu lạc bộ, vì Cup Winners 'Cup là chiếc cúp châu Âu duy nhất mà Real Madrid không bao giờ giành được. Một năm sau đó câu lạc bộ đạt đến 1963 cuối cùng, nhưng thua English phía Tottenham Hotspur 5-1.  Enrique Collar, người tiếp tục là một cầu thủ có ảnh hưởng trong thời đại này, bây giờ đã có sự tham gia của những tiền vệ như Miguel Jones và tiền vệ trung tâm Adelardo. Các năm tốt nhất của Atlético trùng hợp với các đội Real Madrid thống trị. Giữa năm 1961 và 1980, Real Madrid đã thống trị La Liga, giành chiến thắng trong cuộc thi 14 lần. Trong thời kỳ này, chỉ có Atlético đã đưa ra bất kỳ thách thức nghiêm trọng nào cho Real, giành chức vô địch La Liga vào những năm 1966, 1970, 1973 và 1977 và kết thúc giải đấu năm 1961, 1963 và 1965. Câu lạc bộ đã thành công hơn nữa khi giành Copa del Rey vào ba lần vào năm 1965, 1972 và 1976. Năm 1965, khi họ kết thúc khi La Liga chạy đến Real sau một trận đấu dữ dội cho danh hiệu, Atlético đã trở thành đội đầu tiên đánh bại Real ở Bernabéu trong tám năm. Chung kết Cúp Châu Âu (1965-1974). Các tay vợt nổi tiếng từ thời này bao gồm Adelardo và các cầu thủ thường xuyên Luis Aragonés, Javier Irureta và José Eulogio Gárate, đội "Pichichi" ba lần vào năm 1969, 1970 và 1971. Trong những năm 1970, Atlético cũng tuyển mộ một số nhân viên Argentina, Rubén Ayala, Panadero Díaz và Ramón "Cacho" Heredia cũng như HLV Juan Carlos Lorenzo. Lorenzo tin tưởng vào kỷ luật, thận trọng và phá vỡ lối chơi của đối phương, và mặc dù gây nhiều tranh cãi, phương pháp của anh đã thành công - sau khi chiến thắng La Liga năm 1973, câu lạc bộ đã vươn tới Chung kết Cúp Châu Âu 1974.  Trên đường đến trận chung kết, Atlético đã đánh bại Galatasaray, Dinamo Bucureşti, Red Star Belgrade và Celtic.  Trong trận lượt đi của bán kết gặp Celtic, Atlético có Ayala, Díaz, và thay Quique tất cả bị đuổi khỏi sân trong một cuộc gặp gỡ cứng đã chiến đấu trong những gì đã được báo cáo là một trong những trường hợp tồi tệ nhất của hoài nghi hà giải đấu đã chứng kiến. Do chủ nghĩa hoài nghi này, họ đã có một trận hòa 0-0, tiếp theo là chiến thắng 2-0 trong trận lượt về với các bàn thắng của Gárate và Adelardo.  Tuy nhiên, trận chung kết tại sân vận động Heysel là một sự mất mát cho Atlético. Đối đầu với đội Bayern Munich bao gồm Franz Beckenbauer, Sepp Maier, Paul Breitner, Uli Hoeneß và Gerd Müller, Atlético đã thi đấu trên chính họ. Mặc dù thiếu Ayala, Díaz và Quique thông qua đình chỉ, họ đã đi trước trong thêm thời gian chỉ còn lại bảy phút. Aragonés ghi bàn bằng một cú đá miễn phí, trông như người chiến thắng, nhưng ở phút cuối cùng của trận đấu, hậu vệ Georg Schwarzenbeck của Bayern cân bằng với một cú sút xa 25 yard mà thủ môn Miguel Reina của Atlético bất động.  Trong một phát lại tại Heysel hai ngày sau đó, Bayern giành chiến thắng 4-0 thuyết phục, với hai bàn thắng của Hoeneß và Müller. Những năm Aragonés (1974-1987). Không lâu sau khi thất bại tại Cúp Châu Âu, Atlético đã bổ nhiệm cầu thủ kỳ cựu Luis Aragonés làm huấn luyện viên. Aragonés sau đó đã từng là huấn luyện viên trong bốn dịp riêng biệt, từ năm 1974 đến năm 1980, từ năm 1982 đến năm 1987 một lần nữa năm 1991 cho đến năm 1993 và cuối cùng từ 2002 đến 2003. Thành công đầu tiên của ông đã nhanh chóng như Bayern Munich đã từ chối tham gia vì tắc nghẽn cố định Trong Cúp Intercontinental và khi họ giành chức vô địch Cúp Châu Âu, Atlético đã được mời thay thế. Các đối thủ của họ là Independiente của Argentina, và sau khi thua 1-0, họ đã giành chiến thắng 2-0 với bàn thắng của Javier Irureta và Rubén Ayala. Trong suốt nhiệm vụ thứ hai của mình, Aragonés dẫn đầu câu lạc bộ tới La Liga và giành huy chương tại Copa del Rey, cả năm 1985. Anh đã nhận được sự trợ giúp đáng kể từ Hugo Sánchez, người đã ghi được 19 bàn thắng ở giải đấu và giành chiến thắng Pichichi. Sánchez cũng ghi hai bàn trong trận chung kết cúp như Atlético đánh bại Athletic Bilbao 2-1. Tuy nhiên, Sánchez chỉ ở lại câu lạc bộ trong một mùa giải trước khi anh chuyển tới Real Madrid. Mặc dù mất Sánchez, Aragones tiếp tục dẫn dắt câu lạc bộ để thành công trong Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha trong năm 1985 và sau đó hướng dẫn họ đến Cúp European Cup Winners' cuối cùng trong năm 1986. Atlético, tuy nhiên, đã thua trận chung kết thứ ba liên tiếp ở châu Âu, Lần này 3-0 cho Dynamo Kyiv. Các Jesús Gil năm (1987-2003). Năm 1987, chính trị gia gây tranh cãi và doanh nhân Jesús Gil trở thành chủ tịch câu lạc bộ, điều hành câu lạc bộ cho đến khi ông từ chức vào tháng 5 năm 2003. Atlético đã không giành được La Liga trong mười năm và đã tuyệt vọng cho sự thành công của giải đấu. Ngay sau đó, Gil đã dành rất nhiều thời gian, mang về một số hợp đồng đắt giá, đặc biệt là cầu thủ chạy cánh người Bồ Đào Nha Paulo Futre, người vừa đoạt cúp châu Âu với Porto.  Tuy nhiên, tất cả chi tiêu này chỉ mang lại hai danh hiệu Copa del Rey trong năm 1991 và 1992 khi danh hiệu giải đấu tỏ ra khó nắm bắt. Các Atlético gần nhất đến giải La Liga là mùa giải 1990-91 khi họ kết thúc chạy bằng mười điểm cho Johan Cruyff của Barcelona. Trong quá trình, Gil đã phát triển một danh tiếng tàn nhẫn do cách thức mà ông điều hành câu lạc bộ. Để theo đuổi thành công của giải đấu, anh đã thuê và sa thải một số huấn luyện viên nổi tiếng như César Luis Menotti, Ron Atkinson, Javier Clemente, Tomislav Ivić, Francisco Maturana, Alfio Basile cũng như huyền thoại của đội bóng Luis Aragonés. Gil cũng đóng cửa học viện trẻ của Atlético vào năm 1992,  một hành động sẽ chứng minh quan trọng thành viên học viện do 15 tuổi Raúl người, kết quả là, đã đi khắp thành phố để sau đó đạt được sự nổi tiếng trên toàn thế giới với các đối thủ Real Madrid.  Động thái này được đưa ra như là một phần của kế hoạch tái cấu trúc kinh doanh của Gil được khởi xướng bởi câu lạc bộ; Atlético đã trở thành một Sociedad Anonima Deportiva, một cơ cấu công ty được hưởng lợi từ tình trạng pháp lý đặc biệt được đưa ra gần đây theo luật doanh nghiệp của Tây Ban Nha, cho phép các cá nhân mua và bán cổ phiếu của câu lạc bộ. Trong chiến dịch giải đấu 1994-95, Atlético chỉ tránh được xuống hạng nhờ trận hòa vào ngày cuối cùng của mùa giải. Điều này đã thúc đẩy một sự thay đổi quản lý khác cùng với việc giải phóng mặt bằng bán buôn trong suốt mùa hè năm 1995. Một phần bất ngờ, trong mùa giải 1995-1996, Radomir Antić mới đến, với một đội gồm các cổ động viên: Toni, Roberto Solozábal, Delfi Geli, Juan Vizcaíno, José Luis Caminero, Diego Simeone và Kiko, cũng như các vụ mua lại mới Milinko Pantić, Luboslav Penev, Santi Denia và José Francisco Molina cuối cùng cũng đã giành được nhiều danh hiệu vô địch sau khi Atlético giành được chiến thắng của La Liga / Copa del Rey. Mùa giải tiếp theo, 1996-97, lần đầu tiên câu lạc bộ tham gia Champions League. Với sự mong đợi và tham vọng, các hợp đồng chuyển nhượng mùa hè đáng chú ý nhất là tiền đạo Juan Esnáider từ Real Madrid và Radek Bejbl, người đã có một màn trình diễn tuyệt vời cho Cộng hòa Séc tại Euro 1996. Chơi trên hai mặt trận, Atlético rơi ra khỏi danh hiệu vô địch ngay từ đầu, trong khi ở Champions League, họ đã bị Ajax đánh bại trong một thời gian dài ở vòng tứ kết. Trước mùa giải 1997-98, chi tiêu nặng nề tiếp tục với các bản hợp đồng của Christian Vieri và Juninho. Tuy nhiên, tất cả thành công đều tạo ra sự thay đổi nhỏ trong chiến lược của Gil, Và mặc dù Antić sống sót qua ba mùa liên tiếp phụ trách, anh đã được thay thế vào mùa hè năm 1998 với Arrigo Sacchi, người chỉ còn lại vị trí quản lý trong vòng chưa đầy sáu tháng. Antić sau đó trở lại một thời gian ngắn vào đầu năm 1999 chỉ để được thay thế bởi Claudio Ranieri vào cuối mùa giải. Mùa 1999-2000 chứng tỏ là tai hại cho Atlético. Vào tháng 12 năm 1999, Gil và ban giám đốc của ông đã bị đình chỉ trong khi điều tra về việc sử dụng sai của các quỹ của câu lạc bộ, với quản lý do chính phủ José Manuel Rubí điều hành các hoạt động hàng ngày của Atlético. Với việc bãi nhiệm chủ tịch câu lạc bộ Jesús Gil và ban lãnh đạo của anh, các cầu thủ đã thi đấu tồi tệ và câu lạc bộ lúng túng. Ranieri đã từ chức với câu lạc bộ ngồi thứ 17 trên 20 trong bảng xếp hạng và hướng về phía xuống hạng. Antić, trở lại với đợt tập huấn thứ ba, đã không thể ngăn cản điều không tránh khỏi. Mặc dù đạt được Copa del Rey cuối cùng, Atlético đã được xuống hạng. Atlético đã trải qua hai mùa giải ở Segunda División, sau đó giành chức vô địch Segunda División vào năm 2002. Luis Aragonés là lần thứ tư và cũng là huấn luyện viên của Atlético, người đã đưa họ trở lại Primera División.  Anh cũng huấn luyện đội bóng trong mùa giải tới, và cho Fernando Torres của anh ra mắt tại La Liga. Thời kỳ Aguirre (2006-2009). Năm 2006, Atlético đã ký các tiền vệ Bồ Đào Nha Costinha và Maniche, cũng như tiền đạo người Argentina Sergio Agüero. Vào tháng 7 năm 2007, Fernando Torres đã rời câu lạc bộ Liverpool với giá 26,5 triệu bảng,  trong khi Luis García đã chuyển hướng ngược lại vào cùng thời điểm trong một vụ chuyển nhượng không liên quan.  Câu lạc bộ cũng đã mua Uruguay quốc tế và tiền thân của European Golden Boot / Pichichi chiến thắng Diego Forlán cho khoảng 21.000.000 € từ Villarreal.  Các bổ sung khác bao gồm cầu thủ chạy cánh người Bồ Đào Nha Simão từ Benfica và cầu thủ chạy cánh José Antonio Reyes với giá 12 triệu Euro. Vào tháng 7 năm 2007, hội đồng Atlético đã đạt được một thỏa thuận với Thành phố Madrid để bán đất nơi sân vận động của họ nằm và di chuyển câu lạc bộ đến sân vận động Olympic của thành phố. Tuy nhiên, sân vận động mới sẽ thay đổi tay vào năm 2016 và thuộc sở hữu của câu lạc bộ. Madrid đã đăng ký tổ chức Thế vận hội 2016, thua lỗ tại Rio de Janeiro. Các mùa giải 2007-08 chứng minh là mùa thành công nhất cho câu lạc bộ trong thập kỷ qua. Đội đã vươn tới vị trí 32 trong cúp UEFA, nơi họ bị Bolton Wanderers đánh bại. Họ cũng vươn tới vòng tứ kết Copa del Rey, nơi họ bị Valencia đánh bại. Đáng kể hơn, đội đã kết thúc mùa giải Liga ở vị trí thứ tư, đủ điều kiện cho Champions League lần đầu tiên kể từ mùa giải 1996-97. Diego Forlán ghi được 32 bàn thắng cho Atlético của La Liga trong năm 2008-09, khiến anh trở thành cầu thủ ghi bàn hàng đầu ở Tây Ban Nha và châu Âu Vào ngày 3 tháng 2 năm 2009, Javier Aguirre bị loại khỏi chức vụ quản lý của anh sau một lần khởi đầu thất vọng vào mùa giải, và không có chiến thắng trong sáu trận đấu. Ông sau đó tuyên bố rằng điều này là không chính xác, và rằng ông đã để lại bởi chấm dứt lẫn nhau hơn là thông qua việc sa thải.  Có một thái độ oán giận công khai sau khi sa thải, nhiều người tin rằng ông không phải là nguyên nhân gây ra các vấn đề của Atlético, đó là cầu thủ Diego Forlán. Ông đã ủng hộ cựu huấn luyện viên của ông và nói rằng, "Huỷ bỏ Javier là cách dễ dàng, nhưng ông không phải là nguyên nhân gây ra vấn đề của chúng tôi. Các cầu thủ là do lỗi vì chúng tôi đã không chơi tốt và chúng tôi đã có nhiều sai sót. " Điều này đã dẫn tới việc bổ nhiệm Abel Resino làm giám đốc mới của Atlético. Thành công của Atlético tiếp tục ở nửa sau của mùa giải khi họ xếp thứ tư một lần nữa trong bảng xếp hạng, giành được vị trí trong vòng playoff của UEFA Champions League. Tiền đạo Diego Forlán được trao tặng chiếc cúp Pichichi và cũng giành được chiếc giày vàng Châu Âu sau khi ghi được 32 bàn thắng cho Atlético mùa giải đó.  Atlético thấy thành công trong nước này như một cơ hội để củng cố đội hình của họ cho mùa giải Champions League sắp tới. Họ thay thế thủ môn kỳ cựu Leo Franco cùng David de Gea từ các đội trẻ và ký hợp đồng với cầu thủ trẻ Sergio Asenjo từ Real Valladolid. Atlético cũng mua Real Betis hậu vệ và Juanito Tây Ban Nha trên một chuyển nhượng tự do. Mặc dù áp lực từ các câu lạc bộ lớn để bán cầu thủ ngôi sao Agüero và Forlán, Atlético vẫn cam kết duy trì được cơ sở tấn công mạnh mẽ của mình với hy vọng cho một mùa giải thành công mới. Các Atlético mùa giải 2009-10, tuy nhiên, bắt đầu kém với nhiều thất bại và bàn thua. Vào ngày 21 tháng 10, Atletico đã bị búa 4-0 bởi câu lạc bộ Chelsea Anh ở vòng bảng Champions League.  Sự thất bại này đã khiến ban quản lý Atletico thông báo rằng người quản lý Abel Resino đã phải rời đi.  Sau khi thất bại trong việc ký hợp đồng với cựu vô địch bóng đá Michael Laudrup của Đan Mạch, Atlético Madrid đã tuyên bố chính thức rằng huấn luyện viên mới cho phần còn lại của mùa giải là Quique Sánchez Flores. La Liga và những thành công của châu Âu (2009-). Với sự xuất hiện của Quique Sánchez Flores là huấn luyện viên vào tháng 10 năm 2009, Atlético đã chứng kiến ​​sự thay đổi lớn lao của vận may. Mặc dù họ vẫn tiếp tục tụt hậu ở La Liga trong mùa giải 2009-10, kết thúc ở vị trí thứ chín, họ đã giành vị trí thứ 3 trong bảng xếp hạng của UEFA Champions League 2009-10 và sau đó gia nhập đội hình Europa League mùa giải năm sau, Tiếp tục giành chiến thắng ở Europa League, đánh bại đội Anh Liverpool trong trận bán kết và cuối cùng là Fulham trong trận chung kết tại HSH Nordbank Arena ở Hamburg vào ngày 12 tháng 5 năm 2010.  Diego Forlán ghi hai bàn, Thứ hai là một người chiến thắng thêm vào phút thứ 116, khi Atlético Madrid thắng 2-1. Đây là lần đầu tiên kể từ Cúp Châu Âu 1961-62 mà Atlético đã giành danh hiệu châu Âu. Họ cũng đã đến trận chung kết Copa del Rey vào ngày 19 tháng 5 năm 2010, nơi họ phải đối mặt với Sevilla, nhưng đã thua 2-0 tại Camp Nou ở Barcelona. Bằng cách chiến thắng Europa League, họ đã đủ điều kiện cho Super Cup 2010 vào lưới Internazionale, người chiến thắng của UEFA Champions League 2009-10, thi đấu ở Monaco vào ngày 27 tháng 8 năm 2010. Atlético giành chiến thắng 2-0 với bàn thắng của José Antonio Reyes và Sergio Agüero, chiến thắng đầu tiên của Atlético trong suốt giải đấu Siêu cúp. Atlético đã có một mùa giải đáng thất vọng năm 2010-11, kết thúc chỉ có thứ bảy trong League và đã bị loại tại vòng tứ kết Copa del Rey và vòng bảng của Europa League. Điều này dẫn đến sự ra đi của huấn luyện viên Sánchez Flores trước khi kết thúc mùa giải, người được thay thế bởi cựu huấn luyện viên Sevilla, Gregorio Manzano, và người đã giành được vị trí cuối cùng của Europa League cho Atlético. Chính Manzano đã được thay thế bởi Diego Simeone vào tháng 12 năm 2011 sau khi một lối chơi nghèo nàn ở La Liga. Simeone dẫn Atlético giành chiến thắng Europa League thứ hai trong ba năm kể từ khi thành lập, khi họ đánh bại Athletic Bilbao 3-0 trong trận chung kết vào ngày 9 tháng 5 năm 2012 tại Bucharest với Radamel Falcao  (2 bàn) và Diego là những người ghi bàn. Một lần nữa, với chiến thắng tại Europa League, họ đã đủ điều kiện dự Super Cup 2012 với Chelsea, nhà vô địch của Champions League mùa trước, thi đấu ở Monaco vào ngày 31 tháng 8 năm 2012. Atlético đã thắng 4-1, bao gồm một hat-trick của Falcao trong hiệp một. Vào ngày 17 tháng 5 năm 2013, Atlético đánh bại Real Madrid 2-1 trong trận chung kết Copa del Rey trong một trận đấu căng thẳng, nơi cả hai đội kết thúc với 10 người. Điều này đã kết thúc một vệt vô địch 14 năm và 25 trận đấu ở trận derby Madrid. Mùa giải 2012-13 đã kết thúc câu lạc bộ với ba danh hiệu trong hơn một năm. Vào ngày 17 tháng 5 năm 2014, trận hòa 1-1 tại Camp Nou chống lại Barcelona đã đảm bảo danh hiệu La Liga cho Atlético, lần đầu tiên kể từ năm 1996, và danh hiệu đầu tiên kể từ năm 2003-2004 không giành được bởi Barcelona hay Real Madrid. Một tuần sau đó, Atlético đối mặt với đối thủ thành phố Real Madrid trong trận chung kết Champions League đầu tiên của họ kể từ năm 1974, và lần đầu tiên được chơi giữa hai bên từ cùng một thành phố. Họ đã dẫn trước một nửa trước Diego Godin và dẫn đến phút thứ ba khi chấn thương, khi Sergio Ramos ghi bàn gỡ hòa từ một góc; Trận đấu đã đi đến thời gian thêm, và Real cuối cùng đã giành chiến thắng 4-1. Atlético đã có trận chung kết Champions League thứ hai trong ba mùa giải năm 2015-16, một lần nữa đối mặt với Real Madrid, và bị mất điểm sau trận hòa 1-1. Vào 2018, họ đã giành được danh hiệu Europa League thứ ba trong chín năm bằng cách đánh bại Marseille 3–0 trong chung kết tại Stade de Lyon ở Lyon, nhờ cú đúp của Antoine Griezmann và bàn thắng của đội trưởng câu lạc bộ Gabi trong trận đấu cuối cùng của anh ấy cho câu lạc bộ. Atlético also won another UEFA Super Cup after beating Real Madrid 4–2 at the outset of the following season at the Lilleküla Arena in Tallinn. Vào ngày 22 tháng 5 năm 2021, chiến thắng 2-1 tại sân vận động José Zorrilla trước Valladolid đã bảo đảm danh hiệu La Liga cho Atlético , bảy năm sau chiến thắng cuối cùng của họ. Real Madrid và Atlético Madrid là những câu lạc bộ có tính chất tương phản và số phận khác nhau. Trong khi Sân vận động Santiago Bernabéu của Real Madrid tự hào mọc trên đại lộ Paseo de la Castellana tại khu phố giàu có Chamartín ở miền bắc Madrid, thì Sân vận động Vicente Calderón ít quyến rũ của Atlético đứng ở phía nam của Madrid, trong tầng lớp lao động barrio của Arganzuela. Về mặt lịch sử, Real Madrid từ lâu đã được coi là thành lập câu lạc bộ. Ở phía bên kia, "Rojiblancos" luôn được đặc trưng bởi một "sentimiento de rebeldía", một cảm giác nổi loạn. Mặc dù trong những năm đầu của chế độ Francisco Franco, Atlético là đội được ưa chuộng của chế độ dù đã bị cưỡng ép.[ "" ] Họ liên quan đến lực lượng không quân (đổi tên là Atlético Aviación), cho đến khi những ưu tiên của chế độ chuyển sang Real Madrid vào những năm 1950. Chắc chắn, nhà nước độc tài đã cố gắng để lấy vốn chính trị ra khỏi cúp Châu Âu của Real Madrid vào thời điểm Tây Ban Nha bị cô lập quốc tế; Bộ trưởng Ngoại giao Franco Maria de Castiella nói: "Real Madrid là đại sứ quán tốt nhất mà chúng tôi từng có".  Các nhận thức như vậy đã có một tác động quan trọng đối với bản sắc bóng đá của thành phố, khai thác vào ý thức tập thể. Theo mạch này, các fan Atlético có lẽ là khởi tạo, và là ca sĩ thường xuyên nhất, của bài hát, hát theo giai điệu của Real Madrid, "Hala Madrid, hala Madrid, el EQUIPO del Gobierno, la vergüenza del Pais" , "Go Madrid, đi Madrid, đội của chính phủ, xấu hổ của đất nước." Cho đến gần đây, Atlético Madrid đã phải vật lộn trong trận derby, mang một vệt vô địch 14 năm vào mùa giải 2012-13. Tuy nhiên, phép thuật này kết thúc vào ngày 17 tháng 5 năm 2013 sau khi Atlético đánh bại đối thủ thành phố của họ 2-1 tại Santiago Bernabéu trong trận chung kết Copa del Rey và tiếp tục vào ngày 29 tháng 9 năm 2013 khi họ giành chiến thắng 1-0, tại Bernabéu. Không thể đánh bại Real Madrid trong trận derby giải đấu kể từ năm 1999, Atletico cuối cùng đã thắng lợi vào năm 2013, bắt đầu 6 trận bất bại trong các trận derby. Các mùa giải gần đây. Thống kê từ thập kỷ trước. Để xem lịch sử đầy đủ, xem; "Danh sách các mùa giải của Atlético Madrid" Các đội Tây Ban Nha được giới hạn ở ba cầu thủ không có quốc tịch EU. Danh sách đội chỉ bao gồm quốc tịch chính của mỗi cầu thủ; một số cầu thủ không phải người châu Âu trong đội có hai quốc tịch với một quốc gia EU. Ngoài ra, người chơi từ các quốc gia ACP ở Châu Phi, Caribe và Thái Bình Dương là các bên ký kết Thỏa thuận Cotonou không được tính vào hạn ngạch ngoài EU do phán quyết Kolpak. "Tính đến 6 tháng 9 năm 2023."
Real Club Deportivo Mallorca() là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Tây Ban Nha, có trụ sở ở thành phố Palma, đảo Mallorca. Được thành lập vào năm 1916, RCD Mallorca đang tham dự giải bóng đá vô địch quốc gia Tây Ban Nha (La Liga). Sân nhà của RCD Mallorca là ONO với sức chứa 23.142 người. "Tính đến ngày 3 tháng 3 2022"
Real Zaragoza là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Tây Ban Nha, có trụ sở ở thành phố Zaragoza, xứ Aragón. Được thành lập vào năm 1919, Real Zaragoza đang tham dự giải vô địch bóng đá Tây Ban Nha (La Liga). Sân nhà của Real Zaragoza là La Romareda với 34.596 chỗ ngồi. "Tính đến 21 tháng 8 năm 2015"
Valencia Club de Fútbol ([baˈlenθja ˈkluβ ðe ˈfuðβol], ]), thường được gọi là Valencia CF hoặc đơn giản là Valencia, là một câu lạc bộ bóng đá có trụ sở tại Valencia. Họ chơi tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Tây Ban Nha (La Liga). Valencia đã giành được 6 chức vô địch La Liga, 8 chức vô địch Cúp Nhà vua Tây Ban Nha và 2 Siêu cúp Tây Ban Nha. Ở đấu trường châu Âu, họ giành được 2 danh hiệu Inter-Cities Fairs Cup (tiền thân của Cúp UEFA), 1 Cúp UEFA, 1 UEFA Cup Winners' Cup, 2 Siêu cúp châu Âu và 1 UEFA Intertoto Cup. Họ cũng vào đến 2 trận chung kết UEFA Champions League liên tiếp, thua trước kình địch La Liga Real Madrid vào năm 2000 và câu lạc bộ Đức Bayern Munich trên loạt sút luân lưu sau khi hòa 1–1 vào năm 2001. Valencia được thành lập vào năm 1919 và họ chơi các trận đấu sân nhà tại sân vận động Mestalla 49.500 chỗ ngồi kể từ năm 1923. Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1919, với vị chủ tịch đầu tiên là Octavio Augusto Milego Díaz. Người được chọn một cách ngẫu nhiên bằng cách tung đồng xu. Câu lạc bộ chơi trận đấu chính thức đầu tiên trên sân khách vào ngày 21 tháng 3 năm 1919, và họ đã để thua đối thủ Valencia Gimnástico với tỉ số 0-1. Valencia CF chuyển đến sân vận động Mestalla vào năm 1923. Trước đấy họ chơi trên khu đất Algirós. Valencia CF chơi trận đấu đầu tiên trên sân Mestalla gặp đối thủ Castellón Castalia. Kết thúc trận đấu, 2 đội hòa nhau 0-0. Trong trận đấu lại vào ngày hôm sau, Valencia giành chiến thắng với tỉ số 1-0. Valencia CF đoạt chức vô địch vùng vào năm 1923, và giành quyền tham dự cúp Nhà vua lần đầu tiên trong lịch sử. Thành công đầu tiên. Cuộc nội chiến Tây Ban Nha (1936-1939) đã ngăn cản bước tiến của Valencia. Phải cho tới năm 1941, đội bóng mới giành được danh hiệu đầu tiên là chức vô địch cúp Nhà vua sau khi đánh bại RCD Espanyol trong trận chung kết. Trong mùa giải 1941-1942, Valencia CF đã giành chức vô địch Tây Ban Nha lần đầu tiên. Mặc dù khi đó chiến thắng ở cúp Nhà vua danh tiếng hơn La Liga nhưng câu lạc bộ vẫn giữ vững sự ổn định để giành thêm chức vô địch La Liga vào các mùa giải 1943-1944, cũng như 1946-1947. Trong thập niên 50, Valencia thất bại trong việc đạt được những danh hiệu lớn như thập niên trước. Mặc dù câu lạc bộ vẫn tiếp tục trưởng thành. Sự cơ cấu lại câu lạc bộ dẫn đến việc sân vận động Mestalla được mở rộng thành 45.000 chỗ ngồi. Trong đội hình của câu lạc bộ khi đó cũng có một số ngôi sao người Tây Ban Nha và người nước ngoài. Nổi bật trong đó là cầu thủ quốc tế người Tây Ban Nha Antonio Puchades và tiền đạo người Hà Lan Faas Wilkes. Trong mùa giải 1952-1953, Valencia CF kết thúc ở vị trí thứ 2 tại La Liga, và ở mùa giải tiếp theo câu lạc bộ giành chiến thắng ở Cúp Nhà vua. Thành công ở châu Âu. Ở những năm đầu thập niên 60, trong khi thi đấu khá xoàng xĩnh tại giải trong nước trong nước, thì Valencia CF lại giành được cúp UEFA. Trong mùa giải 1961-1962, Valencia đánh bại một đội bóng khác của Tây Ban Nha là FC Barcelona trong trận chung kết với tổng tỉ số sau 2 lượt trận đi và về là 7-3. Ở mùa giải tiếp theo 1962-1963, Valencia gặp một đội bóng của Croatia là Dinamo Zagreb, và họ lại giành chiến thắng với tổng tỉ số 4-1. Valencia lần thứ 3 liên tiếp có mặt trong trận chung kết cúp C2 ở mùa giải 1963-1964, nhưng lần này họ đã bị đánh bại bởi đội bóng đồng hương là Real Zaragoza với tỉ số 1-2. Cựu cầu thủ từng 2 lần giành danh hiệu quả bóng vàng châu Âu Alfredo Di Stéfano được đưa về làm trưởng của câu lạc bộ vào năm 1970, ngay lập ông thổi một luồng gió mới vào câu lạc bộ bằng chức vô địch Tây Ban Nha lần thứ 4. Danh hiệu này giúp Valencia lần đầu tiên được tham dự cúp C1, giải đấu dành cho những câu lạc bộ vô địch các giải quốc gia châu Âu. Valencia vào đến vòng 3 ở giải đấu này năm 1971-1972, trước khi thua đội đương kim vô địch Hungary là Újpest TE. Những cầu thủ nổi tiếng nhất của câu lạc bộ vào những năm 70 có thể kể đến tiền vệ người Áo Kurt Jara, tiền đạo Johnny Rep của Hà Lan và đặc biệt là tiền đạo Mario Kempes, người đã đoạt gianh hiệu vua phá lưới La Liga 2 mùa liên tiếp vào các năm 1976-1977 và 1977-1978. Valencia thêm một lần nữa giành được gianh hiệu cúp nhà vua vào mùa giải 1978-1979. Ở mùa giải sau đó 1979-1980 họ đoạt được chiếc cúp C2 đầu tiên sau khi đánh bại một đội bóng Anh là Arsenal FC trong trận chung kết. Kempes chính là người có công đầu của Valencia trong thành công đó. Xuống hạng và lên hạng. Năm 1982, câu lạc bộ chỉ định Miljan Miljanic là huấn luyện viên trưởng. Sau một mùa giải đáng thất vọng, Valencia đứng thứ 17 và phải đối mặt với khả năng xuống hạng khi giải đấu chỉ còn 7 vòng đấu nữa là kết thúc. Koldo Aguirre thay thế Miljanic làm huấn luyện viên trưởng, và Valencia đã may mắn đoạt được vừa đủ số điểm để trụ hạng năm đó. Trong 2 mùa giải tiếp theo 1983-1984 và 1984-1985, câu lạc bộ rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất. Cuối cùng Valencia CF đứng ở vị trí cuối bảng và xuống hạng khi mùa giải 1985-1986 kết thúc. Khi đó đội bóng tan nát vì những vấn đề nội bộ như việc không trả đủ lương cho cầu thủ và ban huấn luyện, cũng như tinh thần rệu rã của toàn đội. Valencia xuống hạng lần đầu tiên sau 55 năm chơi bóng ở giải đấu hàng đầu Tây Ban Nha. Arturo Tuzón trở thành vị tân chủ tịch của câu lạc bộ, và ông đã giúp cho Valencia CF trở lại với La Liga. Alfredo Di Stéfano trở lại làm huấn luyện viên vào năm 1986, ngay ở mùa giải đó Valencia giành quyền lên hạng. Di Stéfano giữ chức huấn luyện viên đến mùa giải 1987-1988, mùa giải mà Valencia kết thúc ở vị trí thứ 14 ở La Liga. Tiền đạo người Bulgari Luboslav Penev gia nhập câu lạc bộ vào năm 1989, với tham vọng giúp câu lạc bộ giành được vị trí vững chắc ở La Liga. Guus Hiddink được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng vào mùa giải 1991-1992, và câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thứ 4 đồng thời vào đến vòng tứ kết của cúp nhà vua. Trong năm 1992, Valencia CF chính thức trở thành một công ty cổ phần thể thao, và giữ Hiddink là huấn luyện viên đến năm 1993. Huấn luyện viên người Brazil Carlos Alberto Parreira, ngay sau chức vô địch thế giới cùng đội tuyển Brasil ở World Cup 1994, trở thành huấn luyện viên ở sân Mestalla vào năm 1994. Parreira ngay lập tức ký hợp đồng với thủ môn của đội tuyển Tây Ban Nha Adoni Zubizarreta và tiền đạo người Nga Oleg Salenko, cùng với Predrag Mijatovic. Nhưng những kết quả nghèo nàn của câu lạc bộ đã dẫn đến việc Parreira bị thay thế bởi huấn luyện viên José Manuel Rielo. Thế nhưng những thành công trước đây vẫn tiếp tục lảng tránh câu lạc bộ. Mặc dù được dẫn dắt bởi không ít các huấn luyện viên hàng đầu như Luis Aragonés hay Jorge Valdano; cũng như không ít các ngôi sao người nước ngoài như các tiền đạo người Brazil Romário, hay Claudio López và Ariel Ortega từ Argentina. Trở lại đấu trường châu Âu. Huấn luyện viên người Italia Claudio Ranieri là người chấm dứt quãng thời gian 19 năm khát danh hiệu, bằng việc dẫn dắt câu lạc bộ giành chiến thắng ở cúp Nhà vua năm 1999. Sau đó ông được thay thế bởi Héctor Cúper, và ngay lập tức Valencia lọt vào trận chung kết cúp C1 đầu tiên trong mùa giải 1999-2000. Mặc dù vậy họ đã thua với tỉ số 0-3 trước kỳ phùng địch thủ Real Madrid CF. Ở mùa giải sau Valencia lần thứ 2 liên tiếp lọt vào trận chung kết cúp C1, lần này họ lại để thua trước Bayern Munich sau loạt sút penalty đầy may rủi. Héctor Cúper rời câu lạc bộ vào năm 2001, và Rafael Benítez được đưa lên làm huấn luyện viên trưởng. Ngay mùa giải đầu tiên của mình 2001-2002, Benítez đã dẫn dắt câu lạc bộ đến chức vô địch La Liga đầu tiên sau 31 năm. Hai mùa giải sau, Valencia đoạt cú đúp khi Benítez giúp câu lạc bộ giành chiến thắng thứ 2 ở La Liga trong 3 năm đồng thời vô địch cúp UEFA thứ 3 trong lịch sử của câu lạc bộ "Tính đến ngày 28/9/2022" Đội ngũ huấn luyện. Cập nhật lần cuối: tháng 2/2023Nguồn: Valencia CF
Bài toán đồ thị con đẳng cấu Trong lý thuyết độ phức tạp tính toán ("Computational complexity theory"), Đồ thị con đẳng cấu là một bài toán quyết định ("decision problem") thuộc loại NP-đầy đủ ("NP-complete"). Phát biểu của bài toán quyết định như sau: Đẳng cấu đồ thị con(G1, G2) Đầu vào: hai đồ thị G1 và G2. Câu hỏi: G1 có đẳng cấu với một đồ thị con của G2 hay không? Đôi khi bài toán này còn nhấn mạnh vào việc tìm đồ thị con đẳng cấu, thay vì chỉ xác định xem có tồn tại đồ thị con đó hay không (như trường hợp bài toán quyết định cơ bản). Đồ thị con đẳng cấu là suy rộng của một bài toán có thể dễ hơn: bài toán đồ thị đẳng cấu; nếu bài toán này thuộc loại NP-đầy đủ thì polynomial hierarchy ("cây phả hệ đa thức"???) sẽ sụp đổ. Vậy có lẽ không phải như vậy.
Ronald Bilius Weasley là một nhân vật hư cấu trong bộ truyện "Harry Potter" của nữ nhà văn J. K. Rowling. Là một trong các nhân vật chính của loạt truyện này, cậu xuất hiện lần đầu tiên trong "Harry Potter và hòn đá phù thủy", là một trong 2 người bạn thân nhất của Harry Potter. Trong loạt phim phỏng theo bộ truyện này, diễn viên Rupert Grint thủ vai Ronald Weasley. Thần Hộ Mệnh của Ron có hình con chó Jack Russell Terier Ron sinh ngày 1 tháng 3 năm 1980, là con của Arthur Weasley và Molly (Prewett) Weasley, những thành viên của đại gia đình phù thủy thuần chủng lâu đời và nổi tiếng Weasley. Ron là đứa con thứ sáu trong bảy anh em và là đứa con trai ít tuổi nhất. Ron lớn lên tại The Burrow (trang trại Hang Chồn), cạnh làng quê Ottery St. Catchpole của Devon. Ron có năm người anh, Bill, Charlie, Percy, anh em sinh đôi Fred và George và một em gái Ginny. Ron kết hôn với người bạn gái thân nhất của mình Hermione Jean Granger và có 2 đứa con, Rose và Hugo. Tiến trình phát triển của nhân vật. Theo J.K.Rowling, Ron là một trong những nhân vật bà tạo ra ngay từ đầu, lấy cảm hứng từ người bạn tốt nhất của bà, Sean Harris (người mà tập thứ hai của bộ truyện được đề tặng), nhưng sau này bà nói rõ rằng không hề có ý miêu tả Sean trong nhân vật Ron. Ron đối với Harry Potter có vai trò giống như Sean đối với Rowling vậy, Ron "luôn có mặt" khi Harry cần cậu. Ron là hình mẫu chính xác một người bạn nối khố của Harry Potter, thường xuyên là người an ủi, luôn luôn trung thành với nhân vật anh hùng trung tâm, và thiếu hầu hết những tài năng mà Harry Potter sở hữu, ít ra là về mặt phép thuật. Tuy nhiên, không như một vài nhân vật tương tự, Ron không hèn nhát, nhiều lần thể hiện lòng can đàm, nhất là trong ván cờ phép thuật ở tập đầu tiên của bộ truyện, và cùng với Harry Potter vào Rừng cấm trong tập 2 bất chấp chứng sợ nhện của mình. Cái tên “Ronald” được Anh hóa từ tiếng Old Norse (một ngôn ngữ sử dụng ở miền Bắc nước Đức) "Rögnvaldr," nghĩa là “quân sư”. Nói cách khác, tên của Ron phần nào đó cho thấy vai trò của anh trong bộ truyện – phụ tá đắc lực cho “nhà vua” Harry. Một số đặc điểm của Ron có vẻ như là làm nền cho nhân vật chính Harry Potter. Trong khi Harry là một đứa trẻ mồ côi sở hữu nhiều tiền hơn cần thiết, Ron lại xuất thân từ một gia đình lớn đầy tình yêu thương, nhưng rất nghèo. Hầu hết đồ dùng của Ron là đồ "gia truyền" từ các anh của mình, kể cả vật nuôi là con chuột Scabbers từ người anh trai Percy. Harry rất nổi tiếng nhưng thường muốn tránh trở thành tâm điểm; trái lại, Ron thường bị xem là một kẻ ăn theo, thỉnh thoảng có chút ghen tị với danh tiếng của Harry. Cuối cùng, Ron luôn là người tầm thường nhất trong các anh em ruột của mình, cả về thể thao, học tập, lẫn việc không phải là con gái như mẹ cậu mong muốn. Những điều đó đã tạo nên sự bấp bênh trong tâm lý, mặc cảm tự ti và nhu cầu được thể hiện như là một người đáng được tôn trọng, là những điểm quan trọng nhất trong sự phát triển của nhân vật này. Vai trò trong bộ truyện. Harry Potter và Hòn đá Phù thủy. Ron lần đầu tiên xuất hiện trong chi tiết Harry đến ngã tư Vua chuẩn bị nhập học trường Hogwarts. Harry không tìm được đường và nhà Weasley đã giúp cậu vượt qua bức tường đến ga 9 3/4 để lên được tàu. Ron và Harry ngồi cùng một toa, và từ đây bắt đầu tình bạn của họ: Ron chú ý tới Harry vì cậu nổi tiếng, còn Harry cảm thấy thích thú được làm quen với người bạn phù thủy thuần chủng. Họ cũng gặp gỡ cô bạn Hermione Granger, người mà lúc đầu cả hai đều không thích, nhưng rồi họ đã trở thành bạn thân sau khi cứu nhau khỏi con quỷ khổng lồ (mountain troll). Ron và Harry cùng học chung hầu hết các lớp học suốt bộ truyện, và có hầu hết thành tích cũng như khó khăn trong học hành tương tự nhau. Ron đóng một vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ Hòn đá phù thủy ở tập đầu tiên. Chiến thuật của cậu bé tại Bàn cờ Phù thủy khổng lồ đã giúp Harry và Hermione qua được an toàn bàn cờ vua sống có kích cỡ người thật. Ron đã phải cho quân cờ của mình hi sinh và bị đánh bất tỉnh. Với thành tích ấy, trong buổi lễ cuối năm, Ron đã được thầy hiệu trưởng trường Hogwarts Albus Dumbledore thưởng 50 điểm cho nhà Gryffindor, nhờ đó góp phần giúp nhà giành được Cúp. Harry Potter và Phòng chứa Bí mật. Vào đêm ngày sinh nhật thứ 12 của Harry Potter (31/07), khi cậu bé bị nhốt trong phòng ngủ đến mức bị lả vì đói, đúng lúc đó Ron cùng với 2 người anh em sinh đôi lái chiếc xe bay Ford Anglia đến đón Harry và đưa cậu tới Trang trại Hang Sóc. Harry đã trải qua những ngày hè vui vẻ tại đây. Ngày 1/9 đến, khi Harry và Ron chuẩn bị lên tàu đến trường thì bỗng nhiên cổng nhà ga Chín Ba phần Tư đóng lại. Vậy là hai cậu bé phải đi đến trường bằng chiếc xe bay. Khi đến trường một tai nạn đã xảy ra: Chiếc xe đâm vào cây Liễu Roi và bị cái cây quất cho tơi tả khiến cho cây đũa phép của Ron gần như bị gãy. Vụ việc này xôn xao trong trường khiến cho Harry, Ron bị cấm túc đồng thời cũng khiến cho bố Ron, ông Weasley gặp rắc rối. Vì việc đó mà sang hôm sau, mẹ cậu - bà Molly Weasley đã gửi cho cậu một bức thư sấm chứa đầy sự tức giận. Vào một hôm khi buổi tập Quidditch của đội nhà bị gián đoạn và cô bạn thân Hermione của cậu bị Draco Malfoy gọi là "Mudblood" ("máu bùn"), Ron đã định làm phép ói ra ốc sên để trừng phạt Malfoy nhưng không may, cây đũa phép của cậu đã phản lại khiến cho Ron trúng đòn nôn ra ốc sên. Khi Harry Potter bị nghi ngờ là Người kế vị Slytherin khiến cho cậu bé rất buồn và bực mình, Ron vẫn luôn ở bên cạnh cậu. Ron và Harry đã uống thuốc Đa dịch do Hermione chế biến để biến thành Goyle và Crabbe - bạn thân của Draco để dò hỏi xem Draco biết những gì về Người kế vị Slytherin. Ron cũng là người đầu tiên tìm thấy đầu mối thông tin về Tom Marvolo Riddle trong chiếc mề đay "Phục vụ đặc biệt cho nhà trường" bởi vì đêm bị cấm túc Ron đã vô tình ói ốc sên ra chiếc mề đay trong phòng Truyền thống và cậu đã phải đánh bóng lại nó 50 lần. Sau đó, Ron đã phải đối mặt trực diện với nỗi sợ hãi lớn nhất của mình khi cùng Harry đến khu rừng Cấm để gặp con nhện khổng lồ Aragog (mặc dù cậu vô cùng sợ nhện), cả hai đã suýt bị lũ nhện ăn thịt nhưng được chiếc xe Ford Anglia cứu thoát. Với đầu mối của Hermione để lại trước khi bị hóa đá, Harry và Ron đã tìm ra lối vào Căn phòng bí mật. Ron đi cùng Harry vào Phòng chứa Bí mật để tìm con Tử xà. Tuy nhiên vai trò của cậu trong việc này kết thúc khi một phần hang đá bị sụp, và Harry buộc phải đi tiếp một mình. Cả hai đã được ghi nhận vì "Phục vụ đặc biệt cho trường" và được thưởng mỗi người 200 điểm cho Nhà Gryffindor. Harry Potter và Tên tù nhân ngục Azkaban. Trong tập truyện này, vai trò của Ron khá giống với phần trước, trong khi Hermione thì trở nên quan trọng hơn. Khi Scabbers, con chuột của Ron mất tích, Ron đã quy kết cho con mèo của Hermione tên là Crookshanks. Tuy nhiên sau đó vì sự suy sụp của Hermione bởi chương trình học quá nặng và việc tìm bằng chứng cãi tội cho con Bằng mã Buckbeak sau khi gây ra thương tích cho Draco Malfoy. Họ lao vào để tìm bằng chứng cùng với Harry và Hermione giúp Rubeus Hagrid vụ con Bằng Mã. Bộ ba tìm thấy con chuột Scabbers của Ron ở nhà Hagrid, nhưng nó bỏ chạy khỏi tay Ron. Ron đuổi theo con chuột đến cây Liễu-đập, nơi mà cậu bị một con chó đen lớn tóm được, lôi vào trong Lều Hét thông qua đường hầm dưới cây Liễu. Con chuột của Ron bấy lâu nay chính là một Phù thủy Hóa Thú tên là Peter Pettigrew, kẻ được cho là đã bị Sirius Black giết chết. Ron cũng góp phần làm sáng tỏ cho nỗi oan của Sirius Black. Harry Potter và Chiếc cốc Lửa. Trước khi bắt đầu năm học thứ tư của bộ ba ở trường Hogwarts, nhà Weasley mời Harry và Hermione đi xem trận chung kết giải Quidditch thế giới giữa đội Hungary và Ireland. Ron tôn thờ Tầm thủ của đội Hungary, Viktor Krum. Ron rất kinh ngạc khi Viktor Krum là học sinh của trường pháp thuật Durmstrang đến tham dự cuộc thi Tam Pháp Thuật tại trường Hogwarts. Tuy nhiên, khi Harry trở thành người thứ 4 được chọn vào cuộc thi một cách bí ẩn, Ron đã trở thành một trong những người phản đối, nghi ngờ rằng Harry đã gian lận để có tư cách tham gia. Như Hermione nhận xét, là do Ron cảm thấy bị lấn át bởi vầng hào quang dành cho Harry và các anh của mình. Hai người đã gần như không nói chuyện trong gần một tháng. Tuy nhiên sau khi Harry vượt qua được phần thi đầu tiên, đối mặt với con rồng đuôi gai Hungary thì Ron mới hiểu ra cuộc thi này nguy hiểm đến mức nào và tin rằng Harry đã không hề chủ đích tham dự cuộc thi và làm với cậu. Sau phần thi thứ nhất, trường Hogwarts mở vũ hội (The Yule Ball). Ron và Harry phải đối mặt với hoàn cảnh không hề có bạn gái đi cùng để dự lễ. Ron đã cố gắng mời Hermione bằng những lời khá non nớt, tuy nhiên Hermione đã được Viktor Krum mời trước nên cô không thể nhận lời. Lúc vũ hội sắp diễn ra, Harry cứu cả hai khi mời được chị em sinh đôi nhà Patil (Ron đi với Padma Patil). Tuy nhiên, cô bé rất chán nản với thái độ thờ ơ của Ron lẫn bộ quần áo lỗi mốt cậu mặc. Ron cũng không hề để ý đến Padma mà chỉ chú ý đến Hermione đang đi với Viktor Krum. Khi Hermione đến nói chuyện với Harry và Ron, cậu đã mất bình tĩnh và nói cô là "giao du với kẻ địch" và giúp Krum trong cuộc thi. Cuối buổi tối hôm đó, Hermione nói với Ron rằng tốt nhất là cậu hãy mời cô trước Krum, đừng có hy vọng rằng cô tự mời mình. Sau chuyện này, Ron vẫn không hiểu gì cả, vừa chối bỏ lẫn quên mất tình cảm ngày càng lớn hơn của 2 người dành cho nhau. Ron ghen tức với Krum cũng y hệt như Hermione không thích Fleur Delacour (quán quân trường phép thuật Beauxbatons), người mà Ron gần như bị mê hoặc. Trong phần thi thứ 2, Ron là người được chon để Harry cứu, vì Ron là người mà Harry sẽ "cảm thấy nhớ nhất". Sau cuộc thi, Ron đã chế nhạo Harry rằng thật quá ngây thơ khi nghĩ các con tin sẽ gặp nguy hiểm thật sự trong phần thi. Harry Potter và Hội Phượng Hoàng. Trong năm học thứ 5, Ron đã được chọn làm Huynh Trưởng của nhà Gryffindor, gây ngạc nhiên cho nhiều người, đặc biệt là Hermione, cũng trở thành Huynh trưởng. Anh trai Percy Weasley của cậu, người đã trở nên xa cách với gia đình vì ham mê quyền lực, đã gửi thư chúc mừng, khuyên cậu nên tránh xa Harry Potter, và nên thiết lập quan hệ với Dolores Umbridge, là giáo sư mới được chỉ định của môn Phòng chống nghệ thuật Hắc Ám vốn là một viên chức của Bộ Pháp Thuật. Ron luôn thể hiện tình bạn và sự chân thành với Harry khi những người khác cho là cậu đã nói dối về sự trở lại của Voldemort, cậu thường bắt người khác phải im lặng bằng quyền Huynh trưởng khi bàn tán về Harry. Dù thường xuyên cãi nhau vặt, Ron và Hermione đều hết lòng ủng hộ Harry. Ron đã ủng hộ Hermione đề nghị Harry dạy mọi người thực hành môn Phòng chống nghệ thuật Hắc Ám (thành lập Quân đoàn Dumbledore), điều mà giáo sư mới Umbridge đã cấm đoán, để tước dần quyền lực của thầy Dumbledore ở trường Hogwarts. Ron cũng tham gia đội Quidditch, nhưng cậu gặp vấn đề lớn về thần kinh và khả năng bình tĩnh, đến mức nhà Slytherin đã sáng tác 1 bài hát về chuyện Ron sẽ giúp nhà Slytherin giành cúp. Tuy nhiên ở trận chung kết, cậu đã chơi tốt và góp phần giúp nhà Gryffindor giành cúp. Suốt cả năm học này Harry luôn bị đau ở cái sẹo, Ron luôn ở bên cạnh.Ở đoạn đỉnh điểm của phần này, cậu cũng cùng với Harry và những người bạn của cậu, Harry Potter, Hermione Granger, Ginny Weasley, Neville Longbottom và Luna Lovegood chiến đấu giành lại lời Tiên tri ở Bộ Pháp Thuật, suýt bị mấy bộ não quấn chết. Harry Potter và Hoàng tử Lai. Trong tập này, Ron đã trở nên cao hơn sau kì nghỉ hè, và được cô bạn Lavender Brown để ý. Là đội trưởng đội Quidditch, Harry đã chọn Ron làm Thủ Môn cho đội nhà Gryffindor, chứ không phải là Cormac McLaggen, một người cũng ngang cơ Ron nhưng không có tinh thần đồng đội và ít nghe sự chỉ đạo của Harry. Khi biết Hermione đã từng hôn Viktor Krum, Ron đã chơi Quidditch khá tệ, từ bỏ thần tượng một thời của cậu và cư xử tồi với Hermione. Lòng tự trọng của cậu lại càng bị tổn thương sau khi bị Ginny, cô em gái mà cậu đã nổi nóng khi nhìn thấy cô hôn Dean Thomas, nói rằng Ron là kẻ duy nhất chưa được ai hôn. Để khích lệ tinh thần Ron, Harry đã giả vờ cho cậu uống Felix Felicis (Phúc Lạc Dược), khiến Ron chơi rất tuyệt và giúp nhà Gryffindor thắng nhà Slytherin. Nhưng điều đó đã kiến Hermione tức giận khi nhìn Ron ôm hôn Lavender và chỉ trích Harry gian lận. Trong cơn ghen, để trả đũa Hermione đã mời Cormac McLaggen đến dự buổi tiệc Giáng sinh của thầy Horace Slughorn, nhưng cậu ta tỏ ra là một kẻ cực kì ích kỉ. Sau buổi tiệc, Hermione tiếp tục lờ Ron đi, nhìn cậu bằng ánh mắt khinh thường và thi thoảng cạnh khóe, còn Ron càng ngày càng tỏ ra bất mãn trong cuộc tình với Lavender Brown. Vào sinh nhật của mình tháng 3, Ron đã vô tình uống phải Tình Dược vốn dành cho Harry. Sau khi uống một chén rượu mật ong của thầy Slughorn, cậu bị trúng độc và suýt chết nếu không có sự giải cứu của Harry. Quá lo lắng và sợ hãi, Hermione đã bỏ đi mọi giận dỗi trước đây. Khi ở trong ttình huống khó khăn nhất, cậu đã gọi tên "Hermione". Điều đó có nghĩa là Ron đã luôn yêu thương và quan tâm Hermione rất nhiều. Ron thường giả ngủ mỗi khi Lavender đến thăm. Lúc bình phục trở lại, Ron đã làm lành với Hermione và chia tay với Lavender. Rowling nói cô "thực sự rất thích câu chuyện của Ron và Lavender, bởi vì khi so sánh với 2 người còn lại trong nhóm, Ron có vẻ ít trưởng thành hơn nhiều, và chuyện đó đã khiến cậu xứng đáng hơn với H" Ban đầu, Ron không ủng hộ suy đoán của Harry Potter rằng Draco Malfoy là Tử thần Thực tử, nhưng sau đó đã đồng ý. Trong cuộc chiến Hogwarts, Ron, cũng như những người khác trong Đội Quân của Dumbledore, hưởng may mắn từ Felix Felicis, nên không bị thương tích gì. Trong lễ tang của thầy Dumbledore, Ron đã an ủi Hermione và Harry. Hai người thề sẽ giúp Harry tìm ra các Trường sinh linh Giá và tiêu diệt Voldemort, dù phải rời khỏi trường. Harry Potter và Bảo bối Tử thần. Ron đồng ý đi cùng với Harry và Hermione thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt các Trường Sinh Linh Giá. Lo rằng Bộ Pháp Thuật, giờ đây bị Voldemort chiếm hữu, biết cậu đi cùng với Harry, Ron đã hóa trang cho một con quỷ lùn bị bệnh đậu nấm mặc đồ ngủ thành thế thân của mình. Trong chuyến đột nhập Bộ, Ron hóa trang thành Reginald Cattermole. Vì muốn chiếc Trường Sinh Linh Giá đầu tiên không bị mất, Harry quyết định rằng từng người sẽ luân phiên giữ nó trong suốt chuyến đi. Ron bị tác động nhiều bởi tà thuật của chiếc vòng cổ hơn Harry và Hermione. Đến khi không chịu nổi vì sống khổ sở và sự mất phương hướng của nhóm, cậu đã rời nhóm. Ngay lập tức sau đó, cậu đã hối hận, nhưng bị một nhóm Mẹ mìn tóm được, không thể quay lại vì những câu thần chú tránh Tử thần Thực Tử của Hermione. Một thời gian sau, nhờ chiếc Tắt sáng của thầy Dumbledore để lại, Ron đã đến được chỗ 2 người, cứu được Harry khỏi bị chết đuối và ngạt thở dưới hồ băng, đồng thời lấy thanh gươm của Gryffindor. Với lòng tin bất ngờ vào số mệnh, Harry đã tha thứ cho cậu và thuyết phục cậu tiêu diệt chiếc vòng bằng thanh gươm. Dù bị ma thuật của chiếc vòng biến thành những hình hài động chạm vào những nỗi lòng sâu kín nhất, đau đớn nhất, cậu vẫn xuống tay tiêu diệt chiếc vòng. Ron run lên vì bị kích động, cho đến khi Harry nói rằng Hermione chỉ là một người bạn và một người chị gái không hơn. Sau đó, ba người đã bị nhóm Tử thần Thực tử bắt được, Hermione bị tra tấn bởi Bellatrix Lestrange, Ron đã gào thét đau đớn. Sau đó họ được gia tinh Dobby cứu thoát, dù Dobby sau đó đã bị chết bởi tay Bellatrix Lestrange. Khi cả ba quay lại trường Hogwart để tìm một Trường Sinh Linh Giá, vì Harry đã mất thanh gươm Gryffindor vào tay của yêu tinh Griphook, Ron đã nảy ra ý dùng nọc độc Tử Xà để tiêu diệt Trường Sinh Linh Giá. Cậu đã bắt chước được Xà Ngữ để mở cửa vào Phòng chứa Bí Mật. Trong trận chiến Hogwart, cậu đã phải chứng kiến cái chết của Fred-anh trai cậu. Cậu cùng với Neville đánh bại Fenrir Greyback. 19 năm sau sự sụp đổ của Vodermort, Ron kết hôn với Hermione Granger và có hai con: con gái lớn Rose Weasley đang theo học năm nhất tại trường Hogwart và cậu con trai nhỏ Hugo Weasley. Ron đã thi đỗ bằng lái xe trong thế giới Muggle, mặc dù Hermione một mực tin rằng Ron không thể đỗ nếu như không ếm bùa Lú Lẫn lên vị giám khảo. Dù sao, Ron cũng đã bí mật tiết lộ với Harry rằng thực tế cậu đã dùng bùa Lú Lẫn cho giám khảo chấm thi. Cậu và Harry cùng làm Thần Sáng trong Bộ Pháp thuật, và cùng với Hermione, họ đã giúp sửa sang lại Bộ, khác xa so với trước đây.
Mary-Kate và Ashley Olsen Mary-Kate Olsen và Ashley Olsen (sinh ngày 13 tháng 6 năm 1986, biệt danh: "Cặp song sinh Olsen") là hai diễn viên và nhà thiết kế thời trang người Mỹ. Năm 1987, khi được 1 tuổi, hai chị em nhà Olsen bắt đầu nghiệp diễn với vai Michelle Tanner trong sê-ri phim truyền hình "Full House". Từ lúc sáu tuổi cho đến hết quãng thời gian niên thiếu, hai người được công chúng trên toàn thế giới biết tới qua các phim truyền hình, điện ảnh. Không những thế, ở vào tuổi đời còn rất trẻ, hai cái tên Mary-Kate Olsen và Ashley Olsen đã nhanh chóng được liệt kê vào danh sách những người phụ nữ giàu có nhất khi sở hữu cho mình một công ty riêng hoạt động trong ngành công nghiệp giải trí (công ty Dualstar).
Ngôi nhà hạnh phúc Ngôi nhà hạnh phúc (tiếng Hàn: 풀하우스) là bộ phim truyền hình Hàn Quốc dài 16 tập được sản xuất bởi KBS năm 2004. Câu chuyện kể về một cô gái tên là Han Ji Eun giàu có nhưng mồ côi cả cha lẫn mẹ. Cô phải sống một mình đơn độc trong ngôi nhà do chính cha cô thiết kế và xây dựng. Một ngày kia, hai người bạn thân của cô chưa làm đám cưới nhưng họ đã có thai với nhau, nhà cô gái vốn khá giả không kém Ji Eun nhưng vì chuyện đó mà cô đã bị đuổi ra khỏi nhà. Bọn họ trở nên rất khó khăn và họ đã tìm cách để bán ngôi nhà của Ji Eun. Họ đưa cô một tấm vé đi du lịch Hồng Kông và bảo là tấm vé miễn phí nhưng thực ra Ji Eun sẽ phải tự chi tất cả. Nhân lúc Ji Eun không có nhà, họ bán nhà của cô cho diễn viên điện ảnh nổi tiếng Lee Young Jae. Han Ji Eun gặp Lee Young Jae trên máy bay và họ đã ở cùng một khách sạn. Do không có tiền, Ji Eun đã phải vay Young Jae. Lúc về nhà, Ji Eun đã không thấy đồ đạc đâu và cô phải làm giúp việc cho Young Jae. Sau một thời gian, họ quyết định lấy nhau theo hợp đồng để Ji Eun lấy lại được ngôi nhà của mình, và nhiều câu chuyện hài hước cũng như tình cảm của hai người bắt đầu nảy nở. Liệu hai người có đến được với nhau khi có sự xuất hiện của Min Hyok - một anh chàng đẹp trai và là bạn của Young Jae - cũng như nhà thiết kế thời trang trẻ đẹp - người mà Young Jae đã đem lòng yêu mến suốt 20 năm qua? Các phiên bản làm lại. Phiên bản Việt Nam. "Ngôi nhà hạnh phúc" đã được chuyển thể kịch bản thành bộ phim Việt Nam cùng tên bởi đạo diễn Vũ Ngọc Đãng và đã được trình chiếu trên kênh VTV3, Đài truyền hình Việt Nam. Phiên bản Việt với sự góp mặt của các diễn viên như: Lương Mạnh Hải (Vương Hoàng (Nguyễn Đức Thịnh lồng tiếng giọng Nam cho nhân vật), Minh Hằng (Minh Minh), ( Vy Minh lồng tiếng),Lam Trường ( Mai Hoàng Chung lồng tiếng) (Đình Phong), Thủy Tiên (Bảo Yến), (Thái Minh Châu lồng tiếng) Hiếu Hiền (Bá Thông), Tường Vi (Kiều Nhi), cố nghệ sĩ Kim Ngọ, nhưng bù lại các ca khúc nhạc phim luôn nằm trong các bảng xếp hạng trên Z: Ngôi nhà hạnh phúc, Chợt là nỗi đau, Chàng trai tháng 12 (viết về Công Vinh), Quay về đi (song ca cùng Noo Phước Thịnh)... 8 trong số 9 bài hát trong album của Thủy Tiên được đề cử bài hát vàng của tháng 4. Album có lượng tải nhạc chuông chờ cao nhất Việt Nam, và những ca khúc được đề cử của những giải thưởng uy tín. Phiên bản Thái Lan. Năm 2014, phiên bản Thái ra mắt các diễn đàn cộng đồng mạng, tạo nên 1 cơn sốt không thua kém so với phiên bản cũ 10 năm trước trong đó có Việt Nam, Hàn và Trung Quốc. Trong phim, Mike Pirath Nitipaisankul đã có sự kết hợp thú vị khi đóng cặp với "viên kẹo ngọt ngào" Aom Sushar, tạo nên một đôi đũa lệch đáng yêu khi chàng cao 1m8, còn nàng chỉ 1m54. Theo thông tin từ báo chí Thái Lan, sau khi đóng chung, 2 ngôi sao trẻ này giữ mối quan hệ khá đặc biệt khiến nhiều fan nghi ngờ họ "phim giả tình thật". Khi phiên bản Thái sang Trung Quốc, Mike D.Angelo đã gây chấn động, khiến các fan điên đảo trên mạng xã hội. Sự kiện này được đưa lên trang chủ nhiều web giải trí nổi tiếng ở Trung Quốc. Sau hơn 6 tuần phát sóng, "Ngôi nhà hạnh phúc" phiên bản Thái hút hơn 20.000 lượt xem mỗi tập trên Youtube, trở thành phim chuyển thể ăn khách nhất xứ Chùa vàng hiện nay tại Việt Nam. Dàn diễn viên trẻ đẹp, kịch bản chuyển thể linh hoạt, diễn xuất tự nhiên của cặp đôi Mike D.Angelo và Aom Sushar chính là điểm nhấn tạo nên sức hút riêng cho "Ngôi nhà hạnh phúc" phiên bản Thái. Bộ phim công chiếu đài truyền hình Việt trên kênh SCTV11. Năm 2015, cả hai tái ngộ với khán giả qua phim Nụ hôn định mệnh, chuyển thể từ bộ phim ăn khách xứ Đài 2006 "Thơ Ngây." Phiên bản Hàn Quốc 2. "Ngôi nhà hạnh phúc 2" là dự án do 3 nước Hàn, Nhật, Trung bắt tay sản xuất và thu hút nhiều sự chú ý của mọi người bởi lần hợp tác này. Bộ phim lên kế hoạch thực hiện trong 2 năm, nội dung cốt truyện cũng như các cảnh quay được ghi hình luân phiên tại 3 quốc gia, biến bộ phim trở thành tác phẩm được dàn dựng quy mô. Nhiều người cho biết, bộ phim đem lại cảm giác mới mẻ cho dòng phim lãng mạn hài hước, có vẻ như với chất lượng đầu tư tốt, "Ngôi nhà hạnh phúc 2" đã để lại ấn tượng tốt với người xem. Vì có nhiều tin đồn xung quanh bộ phim, cũng như mức độ yêu thích cuồng nhiệt của các diễn viên tại xứ sở hoa anh đào, đội ngũ sản xuất hy vọng rằng bộ phim sẽ càn quét khắp 3 quốc gia.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Câu lạc bộ bóng đá Arsenal (tiếng Anh: "Arsenal Football Club", viết tắt: "Arsenal F.C.") là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Holloway, Luân Đôn, hiện đang thi đấu tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, giải đấu cấp cao nhất trong hệ thống bóng đá Anh. Arsenal đã giành được 13 chức vô địch quốc gia, 14 Cúp FA (kỷ lục), 2 Cúp Liên đoàn Anh, 1 Cúp Liên đoàn Thế kỷ, 16 Siêu cúp Anh, 1 Cúp UEFA và 1 Cúp Inter-Cities Fairs. Arsenal là câu lạc bộ có số trận thắng ở cấp cao nhất nhiều thứ hai trong lịch sử bóng đá Anh, và cũng là đội bóng Anh duy nhất cho đến nay vô địch quốc gia với thành tích bất bại qua 38 vòng đấu, nhận biệt danh The Invincibles (tiếng Việt: "Đội bóng bất bại") và giành Cúp vàng Ngoại hạng Anh. Arsenal trở thành câu lạc bộ đầu tiên ở miền Nam nước Anh tham gia The Football League vào năm 1893, trước khi bắt đầu thi đấu ở Giải Hạng nhất Anh năm 1904. Họ chỉ xuống hạng một lần năm 1913, và cho đến nay là đội bóng góp mặt ở giải đấu cấp cao nhất Anh trong khoảng thời gian dài nhất. Vào thập niên 1930, Arsenal đã giành 5 chức vô địch quốc gia Anh và 2 Cúp FA; sau Chiến tranh Thế giới II, họ giành thêm 2 chức vô địch quốc gia Anh và 1 Cúp FA. Mùa giải 1970–71, họ giành cú đúp vô địch quốc gia Anh và Cúp FA. Trong giai đoạn 1989–2005, họ giành thêm 5 chức vô địch quốc gia Anh và 5 Cúp FA, trong đó có hai cú đúp. Họ kết thúc thế kỷ XX với thứ hạng trung bình cao nhất. Herbert Chapman là người đưa Arsenal đến với những danh hiệu quốc gia đầu tiên, nhưng không may qua đời sớm. Ông là người phát minh sơ đồ chiến thuật WM, phát kiến chơi bóng dưới ánh đèn cao áp, số áo thi đấu, chọn màu trắng cho tay áo và đỏ cho trang phục thi đấu của Arsenal. Arsène Wenger là huấn luyện viên tại vị lâu nhất và dẫn dắt câu lạc bộ giành được nhiều danh hiệu nhất. Ông giữ kỷ lục giành 7 Cúp FA, chuỗi trận thắng dài nhất trong lịch sử bóng đá Anh cùng chuỗi trận bất bại dài nhất với câu lạc bộ. Năm 1886, một nhóm công nhân làm việc tại nhà máy sản xuất đạn dược Woolwich đã thành lập đội bóng với tên gọi Dial Square. Năm 1913, đội chuyển đến Highbury và trở thành hàng xóm với Tottenham Hotspur, từ đó tạo nên những trận Derby Bắc Luân Đôn. Năm 2006, đội chuyển sang thi đấu tại sân Emirates. Arsenal là câu lạc bộ có doanh thu cao thứ sáu thế giới với 487,6 triệu Bảng trong mùa giải 2016–17. Dựa theo báo cáo về hoạt động truyền thông đại chúng từ mùa giải 2014–15, Arsenal có lượng cổ động viên nhiều thứ năm thế giới. Theo báo cáo của hãng kiểm toán KPMG năm 2018, Arsenal được định giá 2,102 tỷ EUR, xếp thứ ba trong danh sách các câu lạc bộ giá trị nhất nước Anh. Vào ngày 1 tháng 12 năm 1886, một nhóm công nhân ở Woolwich, nay thuộc Đông Nam thủ đô Luân Đôn đã thành lập ra một đội bóng đá lấy tên là Dial Square; ngay sau đó được đổi tên thành Royal Arsenal và chọn David Danskin làm đội trưởng. Câu lạc bộ đã giành được hai danh hiệu đầu tiên vào năm 1890 và 1891; đây cũng là những danh hiệu duy nhất mà Arsenal đạt được khi còn thi đấu ở Đông Nam thủ đô Luân Đôn. Năm 1893, đội bóng đổi tên thành Woolwich Arsenal sau khi trở thành một công ty trách nhiệm hữu hạn. Cùng năm này, Woolwich Arsenal trở thành đội bóng đầu tiên ở khu vực phía Nam tham dự The Football League, bắt đầu từ Giải Hạng nhì Anh, rồi lên hạng nhất lần đầu năm 1904. Do vị trí địa lý không phù hợp, đội bóng có rất ít khán giả so với các câu lạc bộ khác. Vì thế, năm 1910, công ty sở hữu câu lạc bộ lâm vào khó khăn và phá sản, nhưng đó cũng là lúc mà tỷ phú Henry Norris và doanh nhân William Hall đến với câu lạc bộ. Ông bắt đầu tìm cách di chuyển vị trí và trụ sở đội bóng. Năm 1913, sau khi bị rớt xuống hạng hai, đội bóng vượt sông Thames di chuyển lên phía Bắc Luân Đôn, lấy sân vận động Highbury làm sân nhà, chính thức lấy tên câu lạc bộ là The Arsenal. Năm 1919, The Football League tổ chức bỏ phiếu, qua đó đưa The Arsenal lên hạng nhất mùa kế tiếp, thay cho đội bóng cùng thành phố Tottenham, mặc dù đội chỉ xếp thứ sáu Giải Hạng nhì Anh mùa giải tiền chiến 1914–15. Một số sách cho rằng kết quả cuộc bầu cử chia lại suất chơi hạng nhất này không rõ ràng. Năm kế tiếp, câu lạc bộ bỏ mạo từ "The" trong "The Arsenal" trong các văn kiện chính thức, cũng là tên gọi được sử dụng cho tới ngày nay. 1919–1953: Câu lạc bộ thuộc Ngân hàng Anh. Sau khi được thăng hạng, ngân sách của câu lạc bộ đã tăng trưởng nhanh và lượng người hâm mộ cũng theo đó gia tăng. Năm 1925, Arsenal bổ nhiệm Herbert Chapman làm huấn luyện viên trưởng. Sau khi dẫn dắt Huddersfield Town giành chức vô địch quốc gia mùa giải 1923–24 và 1924–25, Chapman đã đưa Arsenal bước vào giai đoạn đầu tiên của những thành công lớn. Với phương thức huấn luyện đúng đắn cùng với những bản hợp đồng với các cầu thủ ngôi sao như Alex James và Cliff Bastin, ông đã đặt nền tảng cho sự thống trị của Arsenal trong nền bóng đá Anh vào những năm 1930. Dưới sự dẫn dắt của Chapman, Arsenal đã giành được chức vô địch giải đấu lớn đầu tiên - chiếc Cúp FA năm 1930; và sau đó là hai chức vô địch quốc gia vào mùa giải 1930–31 và 1932–33. Nhờ ông, năm 1932, nhà ga tàu điện ngầm Gillespie Road được đổi tên thành Arsenal, đây là trường hợp đặc biệt khi một nhà ga mang tên một câu lạc bộ bóng đá. Chapman bị chứng viêm phổi và đột ngột qua đời năm 1934. Sau đó, Joe Shaw và George Allison tiếp tục công việc của Chapman rất thành công. Dưới sự huấn luyện của họ, Arsenal đã giành được thêm ba chức vô địch quốc gia, 1933–34, 1934–35 và 1937–38; và chiếc Cúp FA 1936, trong khi họ cũng được biết đến như là "Chảo lửa của các câu lạc bộ Anh". Về cuối thập kỷ, một loạt cầu thủ chủ chốt bắt đầu dừng thi đấu do ảnh hưởng từ cuộc Chiến tranh Thế giới II, và tiếng tăm của Arsenal phần nào bị lu mờ do bóng đá Anh nghỉ thi đấu. Sau chiến tranh, Arsenal có khoảng thời gian thành công thứ hai cùng với huấn luyện viên Tom Whittaker khi giành hai chức vô địch quốc gia 1947–48 và 1952–53 cùng một Cúp FA mùa giải 1949–50. Sau năm 1953, Arsenal bắt đầu thi đấu sa sút và không còn thu hút cầu thủ như những năm 1930. Câu lạc bộ chỉ là một đội bóng hạng trung trong hai thập kỷ 1950 và 1960. Ngay cả cựu đội trưởng tuyển Anh Billy Wright không thể mang lại cho câu lạc bộ có được danh hiệu nào với chức danh huấn luyện viên trưởng, trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1966. Năm 1966, Arsenal bổ nhiệm Bertie Mee làm huấn luyện viên trưởng. Sau khi thua hai trận chung kết Cúp Liên đoàn Anh, người đàn ông từng là một nhà vật lý trị liệu này đã giúp Arsenal giành chiếc cúp châu Âu đầu tiên, Inter-Cities Fairs Cup vào mùa giải 1969–70. Mùa giải kế tiếp, Arsenal đã giành cú đúp danh hiệu đầu tiên trong lịch sử: Giành chức vô địch quốc gia và FA Cup. Đây đánh dấu một mốc son chói lọi của Arsenal trong đầu thập kỷ; mùa giải sau đó, Arsenal chỉ về nhì ở FA Cup và đứng thứ hai ở giải vô địch quốc gia vào năm 1973. Sau mùa giải 1975–76, Bertie Mee từ chức. Terry Neill được ban lãnh đạo Arsenal bổ nhiệm vào vị trí huấn luyện viên trưởng vào ngày 9 tháng 7 năm 1976 khi mới 34 tuổi, và trở thành huấn luyện viên trẻ nhất trong lịch sử Arsenal cho đến nay. Với các bản hợp đồng ký với các cầu thủ Malcolm Macdonald và Pat Jennings, và các tài năng trẻ như Liam Brady và Frank Stapleton, đội bóng lại đi đến những thành công kể từ năm 1971. Họ liên tiếp lọt vào các trận chung kết FA Cup vào các năm 1978, 1979 và 1980; trong đó họ giành được một chức vô địch FA sau trận chung kết kịch tính thắng Manchester United 3–2 năm 1979. Mùa giải tiếp theo, họ giành vị trí á quân European Cup Winners' Cup, sau khi để thua sau loạt sút luân lưu. 1986–2018: Graham và Wenger. Sự trở lại của cựu cầu thủ George Graham trên cương vị huấn luyện viên vào năm 1986 đã đem đến giai đoạn phục hưng thứ ba cho câu lạc bộ. Arsenal đoạt Cúp Liên đoàn Anh vào năm 1987, mùa giải đầu tiên mà Graham dẫn dắt đội bóng. Mùa giải 1988–89, Arsenal giành chức vô địch quốc gia sau trận thắng một cách nghẹt thở trước Liverpool với bàn thắng ở phút cuối cùng. Với duy nhất một trận thua, họ đã bảo vệ thành công chức vô địch quốc gia mùa giải sau đó. Arsenal cũng đã giành cú đúp danh hiệu FA Cup và Cúp Liên đoàn Anh vào mùa giải 1992–93. Họ đã giành chiếc cúp thứ hai trên đấu trường châu Âu vào năm 1994, với danh hiệu UEFA Cup Winner's Cup, khi thắng Parma F.C. trong trận chung kết với bàn thắng duy nhất của Alan Martin Smith. Uy tín của Graham đã bị lu mờ khi dính vào một số bê bối trong chuyển nhượng cầu thủ. Graham bị sa thải năm 1995, mặc dù đem đến nhiều thành công cho câu lạc bộ. Người kế tiếp Graham, Bruce Rioch, chỉ huấn luyện một mùa, rời câu lạc bộ sau một bất đồng với ban lãnh đạo. Vào những năm cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, Arsenal đã có những thành công lớn mà một phần bởi quyết định ký hợp đồng với huấn luyện viên nước ngoài đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ, Arsène Wenger từ ban lãnh đạo Arsenal vào ngày 30 tháng 9 năm 1996. Wenger đã có những thay đổi táo bạo trong chiến thuật, chế độ ăn uống, cách huấn luyện và chính sách chuyển nhượng. Ông đã đưa một số cầu thủ nước ngoài vào thi đấu cũng như đào tạo các cầu thủ trẻ người Anh. Arsenal đoạt cú đúp Ngoại hạng Anh và Cúp FA mùa giải 1997–98; cùng với cú đúp mùa giải 2001–02. Ngoài ra, câu lạc bộ lọt đến trận chung kết của UEFA Cup 1999–2000 (thua sau loạt đá luân lưu 11m trước Galatasaray) và đoạt Cúp FA vào các năm 2003, 2005. Đặc biệt là chức vô địch Ngoại hạng Anh mùa giải 2003–04 với trọn vẹn 38 trận bất bại (26 trận thắng, 12 trận hòa); từ đó các cổ động viên đặt cho họ biệt danh The Invincibles. Đó là một phần trong chuỗi 49 trận bất bại của Arsenal tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh kể từ ngày 7 tháng 5 năm 2003 đến ngày 24 tháng 10 năm 2004, một kỷ lục của bóng đá Anh. Arsenal đã giành được vị trí thứ nhất hoặc thứ nhì trong 11 mùa giải đầu tiên do Wenger dẫn dắt, tuy nhiên ở các mùa giải tiếp theo họ đã không thể hoàn thành được điều này. Tính đến tháng 7 năm 2013, họ là một trong năm đội, cùng với các đội khác là Manchester United, Blackburn Rovers, Chelsea và Manchester City, vô địch Ngoại hạng Anh kể từ khi thành lập vào năm 1992. Arsenal chưa bao giờ tiến xa hơn vòng tứ kết của UEFA Champions League cho đến mùa giải 2005–06; mùa giải mà họ trở thành đội bóng đầu tiên đến từ Luân Đôn trong lịch sử năm mươi năm của giải đấu lọt đến trận chung kết, và thua 1–2 trước Barcelona. Vào tháng 7 năm 2006, họ chuyển đến sân Emirates, sau 93 năm thi đấu trên sân Highbury. Họ vào đến hai trận chung kết Cúp Liên đoàn Anh năm 2007 và 2011, nhưng đều thua với cùng tỷ số 1–2 trước Chelsea và Birmingham. Arsenal trải qua chuỗi 9 năm không có danh hiệu kể từ năm 2005 cho đến ngày 17 tháng 5 năm 2014, khi đánh bại Hull City trong trận chung kết Cúp FA, trận đấu họ bị dẫn 0–2 để rồi lội ngược dòng đánh bại Hull với tỷ số 3–2. Ngày 10 tháng 8 năm 2014, Arsenal đánh bại Manchester City 3–0 trong trận Siêu cúp Anh 2014. 9 tháng sau khi giành Siêu cúp Anh 2014, Arsenal đã xuất hiện trong trận chung kết FA Cup năm thứ hai liên tiếp, và họ đã bảo vệ thành công chức vô địch khi đánh bại Aston Villa 4–0 trong trận chung kết vào ngày 30 tháng 5 năm 2015 và trở thành câu lạc bộ thành công nhất trong lịch sử giải đấu với 12 danh hiệu, kỷ lục mà Manchester United sẽ cân bằng ở mùa bóng kế tiếp. Ngày 2 tháng 8 năm 2015, Arsenal đánh bại Chelsea 1–0 trên sân vận động Wembley để giành Siêu cúp Anh 2015, danh hiệu siêu cúp thứ 14 trong lịch sử của họ. Mùa giải 2015–16, Arsenal chỉ giành á quân giải Ngoại hạng Anh khi kém Leicester City 10 điểm. Sau đó Arsenal tiếp tục vô địch Cúp FA lần thứ 13 khi đánh bại Chelsea trong trận chung kết năm 2017 và một lần nữa trở thành kỷ lục gia về số danh hiệu Cúp FA. Chiến thắng cũng giúp Wenger trở thành huấn luyện viên đầu tiên của bóng đá Anh giành tới 7 danh hiệu Cúp FA. Tuy nhiên, cũng ở mùa giải đó, Pháo Thủ chỉ kết thúc mùa giải Ngoại hạng Anh ở vị trí thứ 5 chung cuộc, và là lần đầu tiên họ nằm ngoài Top 4 kể từ khi Wenger đến câu lạc bộ năm 1996. Sau một mùa giải không thành công ở mùa bóng kế tiếp, Wenger đã tuyên bố chia tay đội bóng vào ngày 20 tháng 4 năm 2018, sau 22 năm tại vị. Quyết định của ông đã nhận được nhiều sự hoan nghênh từ nhiều chuyên gia và các cựu cầu thủ ở Anh cũng như trên toàn thế giới, đặc biệt là những cựu cầu thủ đã cảm ơn ông vì đã giúp phát triển họ. Trận đấu trên sân nhà cuối cùng của ông trên băng ghế chỉ đạo là trận thắng 5–0 trước Burnley, nơi ông nhận được sự chào đón nhiệt liệt từ các cổ động viên. Trận cuối cùng dưới triều đại Wenger là trận thắng 1–0 trên sân của câu lạc bộ Huddersfield. 2018–nay: Thời hậu Wenger. Sau khi tiến hành sửa đổi mô hình hoạt động của đội bóng để phù hợp với sự ra đi của Wenger, chiến lược gia người Tây Ban Nha Unai Emery đã được chọn làm tân huấn luyện viên trưởng của câu lạc bộ vào ngày 23 tháng 5 năm 2018. Ông trở thành huấn luyện viên trưởng trưởng đầu tiên của đội bóng, đồng thời là huấn luyện viên thứ 2 có xuất thân ngoài Vương quốc Anh. Trận đấu đầu tiên ông dẫn dắt Arsenal là trận thắng giao hữu 8–0 trước Boreham Wood. Mùa bóng đầu tiên, Emery không thể giúp Arsenal trở lại Champions League khi chỉ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 5 và thất bại 1–4 trong trận Chung kết UEFA Europa League 2019 trước Chelsea. Lượt đi mùa giải 2019–20, dù được tăng cường lực lượng với các bản hợp đồng như Kieran Tierney, Nicolas Pépe, nhưng sau hai vòng đầu toàn thắng, Arsenal dần sa sút. Sau trận thắng Vitória 3–2 ở Europa League, đội bóng trải qua chuỗi 7 trận không thắng liên tiếp trên mọi đấu trường, cách vị trí thứ 4 tới 8 điểm trong khi Ngoại hạng Anh mới trải qua 13 vòng đấu. Ngày 29 tháng 11 năm 2019, Emery bị sa thải sau khi Arsenal thất thủ 1–2 ngay trên sân nhà trước Frankfurt trong lượt trận cuối vòng bảng Europa League. Cựu cầu thủ, đồng thời là trợ lý huấn luyện viên trưởng Freddie Ljungberg được chỉ định làm huấn luyện viên tạm quyền. Ngày 20 tháng 12 năm 2019, Arsenal bổ nhiệm cựu tiền vệ đội trưởng Mikel Arteta (khi đó giữ vai trò trợ lý cho Pep Guardiola ở Manchester City) làm huấn luyện viên trưởng bằng bản hợp đồng có thời hạn hơn 3 năm. Arteta đưa Arsenal kết thúc ở vị trí thứ 8 tại Ngoại hạng Anh và giành được chức vô địch cúp FA lần thứ 14 nhờ chiến thắng 2–1 trước Chelsea tại Wembley. Ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng sau khi mùa giải kết thúc, và góp công giúp đội bóng đoạt Siêu cúp Anh 2020 khi hòa Liverpool 1–1 cả trận và thắng 5-4 trong loạt luân lưu. Arsenal một lần nữa kết thúc mùa giải 2020–21 ở vị trí thứ 8, qua đó thất bại trong việc giành vé dự cúp châu Âu lần đầu tiên sau 25 năm. Vào năm 1888, chỉ sau hai năm thành lập câu lạc bộ, Arsenal khi đó với cái tên là Royal Arsenal đã chọn cho mình biểu tượng, gồm 3 cột tượng trưng cho những khẩu pháo thần công hướng về phía Bắc, tương tự như các huy hiệu của Khu Metropolitan vùng Woolwich (ngày nay, nó trở thành các huy hiệu của khu Greenwich của Luân Đôn). Đôi khi, biểu tượng có thể bị nhầm lẫn với những ống khói, nhưng với hình ảnh đầu một con sư tử được chạm khắc, và với một cascabel được đặt trên đó để trở thành biểu tượng của đội bóng. Nó đã được bỏ bớt sau khi chuyển tới sân Highbury vào năm 1913 và được khôi phục năm 1922, khi câu lạc bộ chọn biểu tượng gồm 1 một khẩu thần công hướng về phía Đông, kèm theo biệt danh của câu lạc bộ, The Gunners (tiếng Việt: "Pháo Thủ"), được đính vào đó. Biểu tượng này chỉ được sử dụng đến năm 1925, khi Arsenal đổi biểu tượng thành hình với khẩu pháo nhỏ hơn, hướng về phía Tây với dòng chữ The Gunners được khắc bên cạnh. Năm 1949, câu lạc bộ đã đóng một biểu tượng mới, với khẩu pháo được đặt ở dưới tên câu lạc bộ, viền màu đen, trên biểu tượng của Khu Metropolitan của Islington, ở dưới vẽ một dải băng viết theo tiếng Latin: Victoria Concordia Crescit (tiếng Việt: "Chiến thắng đến từ sự hài hoà"). Nó được thiết kế bởi một biên tập viên của đội bóng, Harry Homer. Lần đầu tiên, biểu tượng được kết hợp bởi màu sắc, sau đó có thay đổi chút ít do hoàn cảnh lúc đó, rồi rút gọn chỉ còn ba màu: đỏ, vàng, xanh lá cây. Vì có nhiều phiên bản khác của biểu tượng, Arsenal đã bất lực trong việc mua bản quyền của nó. Mặc dù đội bóng đã đăng ký biểu tượng như một nhãn hiệu, nhưng họ phải cạnh tranh (cuối cùng thắng) trong một cuộc chiến pháp lý về vấn đề bản quyền với một hãng buôn đường phố ở địa phương, và là nơi "không chính thức" bán các mặt hàng từ Arsenal, từ đó thì Arsenal mới thành công trong việc bảo hộ bản quyền pháp lý của biểu tượng. Do đó, năm 2002, Arsenal đã giới thiệu một biểu tượng mới, với các đường cong đẹp và hiện đại hơn nhưng với một phong cách đơn giản, được bảo hộ bản quyền. Khẩu pháo hướng về phía Đông, tên của đội bóng được viết bằng kiểu chữ sans-serif ở phía trên của khẩu pháo. Màu xanh lá cây đã được thay thế bằng màu xanh đậm. Biểu tượng mới đã bị một số người hâm mộ chỉ trích. Hội cổ động viên của Arsenal đã lên tiếng rằng, câu lạc bộ đã bỏ qua nhiều các thiết kế về lịch sử và truyền thống câu lạc bộ, thay bằng một thiết kế mới mẻ và hiện đại, tuy nhiên chưa tham khảo ý kiến người hâm mộ. Đến thập niên 60 của thế kỷ XX, hình vẽ biểu tượng câu lạc bộ được gắn trên áo đấu để tham dự các trận đấu lớn như chung kết Cúp FA, thường là hình thức lồng tên câu lạc bộ với màu đỏ trên nền trắng. Các kiểu chữ viết lồng nhau được viết theo phong cách Art-Deco, các chữ A và C trên hình vẽ biểu tượng được bố trí theo kiểu cách bóng đá hơn chữ F, tất cả được đặt trong một bộ khung hình lục giác. Ví dụ, đầu tiên đây là một logo của một tổ chức, sau đó được giới thiệu như một phần trong thương hiệu trước đây của Herbert Chapman tại câu lạc bộ vào những năm 1930, mặc dù chưa được sử dụng trên áo đấu trong trận chung kết Cúp FA nhưng lại là một chi tiết trong thiết kế sân Highbury, bao gồm các lối vào chính và trong việc ốp lát nền các tầng. Từ năm 1967, trên áo đấu thường xuyên xuất hiện hình vẽ khảu pháo trắng, cho đến khi được thay thế bởi biểu tượng câu lạc bộ, đôi khi có thêm biệt danh "The Gunners", trong những năm 1990. Mùa giải 2011–12, Arsenal kỷ niệm 125 năm thành lập câu lạc bộ. Nhân dịp này, đội bóng cho thiết kế một biểu tượng mới, được đính kèm trên áo đấu của họ để thi đấu trong suốt cả mùa giải. Biểu tượng hầu hết có màu trắng, xung quanh bao gồm 15 lá cây sồi ở bên phải và 15 lá nguyệt quế ở bên trái. Những chiếc lá sồi biểu thị cho 15 thành viên cũ được tìm thấy của câu lạc bộ đã gặp nhau ở quán rượu Royal Oak. Còn 15 lá nguyệt quế tượng trưng cho các chi tiết được thiết kế trên 6 đồng xu bởi những người thành lập đội bóng. Các lá nguyệt quế còn thể hiện cho sức mạnh đội bóng. Để hoàn thành được biểu tượng này, các lá sồi và nguyệt quế được biểu diễn ở hai bên của khẩu hiệu "Forward" (tiếng Việt: "Tiến lên") ở phía dưới cùng của biểu tượng. Màu áo truyền thống. Trong phần lớn lịch sử của Arsenal, màu áo thi đấu trên sân nhà của họ thường là áo sơ mi màu đỏ tươi, tay áo và quần đều có màu trắng, mặc dù không phải lúc nào cũng mặc như thế. Việc lựa chọn màu đỏ là để ghi nhận những hỗ trợ và đóng góp từ Nottingham Forest sau khi Arsenal thành lập năm 1886. Hai trong số các thành viên sáng lập ra Dial Square, Fred Beardsley và Morris Bates, là cựu cầu thủ của Forest đã chuyển tới Woolwich để thi đấu. Vì họ cùng nhau đưa đội một vào khu vực không thể tìm thấy áo đấu, nên Beardsley và Bates đã viết thư về nhà cầu xin sự giúp đỡ, và họ nhận được một bộ đồ và một quả bóng. Chiếc áo có màu đỏ, một màu đỏ đậm, đi cùng với nó là chiếc quần màu trắng, và tất màu xanh và trắng. Năm 1933, Herbert Chapman muốn các cầu thủ của mình được mặc những bộ quần áo sáng màu hơn, nên đã thay thế và nâng cấp bộ áo đấu, thêm phần tay áo màu trắng và đổi màu nền trên thân áo thành một màu đỏ khác sáng hơn. Có hai giả thiết nói về nguồn gốc từ việc thêm các tay áo màu trắng. Thứ nhất, có một mẩu chuyện viết rằng, Chapman nhìn thấy một cổ động viên trên khán đài mặc chiếc áo len không có tay, màu đỏ và mặc trên một chiếc áo sơ mi trắng. Giả thiết thứ hai là ông đã lấy cảm hứng từ một bộ trang phục tương tự được mặc bởi họa sĩ biếm Tom Webster, một người chơi golf cùng với Chapman. Có thể một trong hai câu chuyện này là sự thật, nhưng những bộ áo đấu màu đỏ và trắng đã trở thành màu áo đấu truyền thống của Arsenal. Đội bóng đã mặc những bộ áo đấu như thế trong suốt những năm từ 1933 đến nay, ngoại trừ hai mùa giải: mùa thứ nhất là 1966–67 khi Arsenal mặc những bộ đồ toàn màu đỏ, nhưng các cổ động viên không ưa chuộng và phải trở lại những chiếc áo có cánh tay trắng vào mùa giải kế tiếp; mùa thứ hai là 2005–06, mùa cuối cùng mà Arsenal thi đấu trên sân vận động Highbury, đội bóng đã mặc những chiếc áo đỏ sẫm, tương tự những bộ đồ mà đội bóng mặc trong năm 1913; và câu lạc bộ đã trở về với bộ đồ đỏ trắng vào mùa giải sau đó. Trong mùa giải 2008–09, Arsenal thay thế tay áo toàn màu trắng truyền thống bằng tay áo màu đỏ với một sọc ngang màu trắng. Màu áo sân nhà Arsenal trở thành nguồn cảm hứng cho ít nhất ba câu lạc bộ khác. Năm 1909, Sparta Prague đã cho ra mắt một bộ áo đấu màu đỏ sẫm, bộ đồ thi đấu Arsenal đã mặc vào thời điểm đó; sau đó vào năm 1938, Hibernian cũng cho ra mắt thiết kế tay áo giống với chiếc áo của Arsenal với các đường nét màu xanh lá cây và màu trắng. Năm 1920, Sporting Clube de Braga, sau khi trở về từ một trận bóng tại Highbury, đã thay đổi bộ áo đấu màu xanh của câu lạc bộ đến một bộ đồ có những điểm giống với Arsenal: áo màu đỏ, tay áo màu trắng và quần soóc, từ đó mà họ có biệt danh "Os Arsenalist". Đội bóng đã mặc bộ đồ đó cho đến nay. Trong nhiều năm, quần áo sân khách của Arsenal là chiếc áo màu trắng và quần soóc màu đen hoặc trắng. Đến mùa giải 1969–70, Arsenal giới thiệu bộ áo đấu sân khách, với chiếc áo màu vàng và quần soóc màu xanh. Bộ đồ này đã được Arsenal mặc trong chung kết Cúp FA 1971, trận đấu mà Arsenal đã đánh bại Liverpool để giành cú đúp danh hiệu đầu tiên trong lịch sử. Arsenal lọt vào chung kết Cúp FA lần tiếp theo vào năm sau, mặc bộ đồ sân nhà màu trắng và màu đỏ, nhưng bị thua cuộc trước Leeds United. Cuối thập niên 1970, các Pháo Thủ thi đấu ba trận chung kết Cúp FA liên tiếp từ năm 1978 đến 1980 và họ mặc bộ đồ "may mắn" có màu vàng và màu xanh, sau đó đội bóng vẫn tiếp tục lấy nó làm bộ đồ sân khách của câu lạc bộ cho đến khi giới thiệu một bộ đồ màu xanh lá cây và màu áo hải quân để làm bộ đồ sân khách trong mùa giải 1982–83. Mùa giải tiếp theo, Arsenal trở lại bộ quần áo sân khách màu vàng và màu xanh, mặc dù với một màu xanh đậm hơn trước. Khi Nike thay Adidas làm nhà sản xuất quần áo thi đấu cho Arsenal vào năm 1994, màu áo sân khách của Arsenal đã được đổi lại thành áo sơ mi và quần soóc màu xanh với hai tông màu. Kể từ khi mà thị trường bán áo đấu bắt đầu xuất hiện, các bộ đồ sân khách của Arsenal thay đổi thường xuyên, và Arsenal thường cho giới thiệu bộ đồ sân khách và bộ đồ thứ ba. Trong thời gian này, các mẫu thiết kế quần áo sân khách của Arsenal thường là màu xanh, hoặc một vài thay đổi nhỏ từ bộ đồ sân khách truyền thống với màu vàng và màu xanh, chẳng hạn màu vàng, màu áo hải quân và màu kim loại được sử dụng trong mùa giải 2001–02, màu xám vàng và đen được sử dụng trong các năm từ 2005 đến 2007, màu vàng và màu nâu sẫm từ 2010 đến 2013. Từ năm 2009, bộ đồ sân khách được thay đổi theo từng mùa, và các bộ đồ thi đấu trên sân khách sẽ có ba lựa chọn nếu như bộ áo đấu sân nhà được thiết kế mới theo từng năm. Khi Puma trở thành nhà tài trợ trang phục cho Arsenal vào năm 2014, các bộ áo đấu mới (gồm sân nhà, sân khách và bộ áo đấu thứ ba) của Arsenal đều được ra mắt theo từng mùa. Trong phần lớn thời gian đội bóng có trụ sở tại Đông Nam Luân Đôn, Arsenal lấy sân Manor Ground tại Plumstead làm sân nhà, ngoại trừ ba năm thi đấu tại sân Invicta Ground trong các năm từ 1890 đến 1893. Sân Manor Ground ban đầu chỉ là một bãi đất trống, cho đến khi câu lạc bộ nâng cấp sân bằng việc cải tạo, đắp đất và trồng cỏ để tham dự Football League vào năm 1893. Đội bóng đã lấy đây làm sân nhà trong suốt hai mươi năm cho đến khi chuyển lên Bắc Luân Đôn vào năm 1913. Tháng 9 năm 1913, Arsenal chuyển lên Bắc Luân Đôn và lấy Sân vận động Highbury làm sân nhà; và Arsenal đã sử dụng nó cho đến ngày 7 tháng 5 năm 2006. Sân vận động lúc đầu được thiết kế bởi kiến trúc sư bóng đá nổi tiếng thời đó, Archibald Leitch. Ông đã có một thiết kế chung cho các sân bóng của các câu lạc bộ Anh vào thời điểm ấy, với một kiến trúc đơn giản và ba khán đài hướng ra ngoài trời của sân bóng. Toàn bộ sân vận động đã được trùng tu và nâng cấp trong những năm 1930. Được xây dựng theo phong cách Art-Deco, các khán đài Tây và Đông lần lượt được mở cửa vào các năm 1932 và 1936. Một mái che đã được lắp vào khán đài Bắc của sân bóng, tuy nhiên nó đã bị đánh bom trong cuộc Chiến tranh Thế giới II và không được khôi phục, trùng tu lại cho đến năm 1954. Highbury có thể chứa được 60 nghìn khán giả ở mức cao nhất, và sân bóng này có sức chứa khoảng 57 nghìn chỗ ngồi cho đến đầu những năm 1990. Tờ Taylor Report cũng như ban tổ chức Premier League yêu cầu Arsenal rời sân Higubury và tìm một sân bóng khác có sức chứa lớn hơn cho mùa giải 1993–94, do đó mà Highbury phải giảm còn 38.419 chỗ. Khi ban tổ chức UEFA Champions League quy định gắn các biển quảng cáo ở đường biên, số lượng chỗ ngồi tiếp tục giảm xuống và vì thế, Arsenal phải thi đấu Champions League trên sân Wembley và đăng ký làm sân nhà để thi đấu ở giải đấu trên, sân bóng này có sức chứa 70 nghìn khán giả. Việc mở rộng sân vận động Highbury bị hạn chế vì khán đài Đông của sân bóng được thông báo là sẽ đập bỏ để xây một công trình cấp hai và ba khán đài còn lại nhiều khả năng sẽ bị phá để làm khu dân cư. Những sự hạn chế này đã đưa câu lạc bộ vào thế khó trong việc bán vé các trận đấu trong suốt thập niên 1990 và lan sang cả nửa thập niên đầu của thế kỷ XXI, vì thế họ có nguy cơ bị bỏ lại phía sau về doanh thu trong sự phát triển của bóng đá ở thời điểm đó. Sau khi tham khảo và xem xét các đề xuất, đến năm 2000, Arsenal công bố đề án xây dựng một sân vận động mới với sức chứa 60.361 chỗ ngồi tại khu vực Ashburton Grove, lấy tên sân vận động là Emirates, và nó khoảng 500 mét về phía Tây Nam của sân Highbury. Dự án ban đầu bị trì hoãn do dải băng đỏ và chi phí cao, nhưng cuối cùng sân bóng đã xây xong vào tháng 7 năm 2006, thời điểm bắt đầu mùa giải 2006–07. Sân bóng được đặt tên theo tên nhà tài trợ, hãng hàng không Emirates, đối tác mà câu lạc bộ đã ký một hợp đồng tài trợ lớn nhất trong lịch sử bóng đá Anh, trị giá khoảng 100 triệu Bảng; nhưng một số người hâm mộ đã gọi sân bóng với các tên gọi như Ashburton Grove hoặc nói một cách ngắn gọn Grove, vì họ không ủng hộ việc lấy tên một doanh nghiệp làm tên sân vận động. Sân vận động sẽ có được cái tên Emirates cho đến ít nhất là năm 2028, và hãng là nhà tài trợ áo đấu của câu lạc bộ cho đến cuối mùa giải 2018–19. Từ đầu mùa giải 2010–11, các khán đài của sân vận động được biết đến với những cái tên như khán đài Bắc, khán đài Đông, khán đài Tây và khán đài Sau (đồng hồ hiển thị thời gian thi đấu). Các cầu thủ của Arsenal được đào tạo và tập luyện ở Trung tâm đào tạo bóng đá Shenley ở Hertfordshire, một trung tâm bóng đá được khánh thành vào năm 1999. Trước đó, câu lạc bộ mượn một khu đất thuộc quyền sở hữu của Trường Đại học Luân Đôn, và đến năm 1961 thì họ tập trực tiếp trên sân Highbury. Đội U18 của học viện bóng đá Arsenal thi đấu sân nhà tại Shenley, và họ cũng có một sân bóng dự bị là Meadow Park; và đây cũng là sân nhà của Boreham Wood. Các cổ động viên của Arsenal luôn gọi chính họ dưới cái tên "Gooners", cái tên mà bắt nguồn từ biệt danh của đội bóng, "The Gunners" (tiếng Việt: "Pháo Thủ"). Lượng người hâm mộ của đội bóng đông và hầu như đều trung thành với đội bóng. Hầu hết tất cả các trận đấu trên sân nhà của Arsenal trong mùa giải 2007–08 có số lượng cổ động viên trung bình cho một trận đấu tại giải vô địch quốc gia cao thứ hai trong các câu lạc bộ Anh với 60.070 khán giả/trận, chiếm 99,5% tổng số chỗ ngồi trên sân Emirates. Còn đối với năm 2006 thì số cổ động viên trung bình đứng thứ tư. Arsenal có số cổ động viên trung bình cho một trận đấu cao thứ bảy trong số các câu lạc bộ ở châu Âu, đứng sau Borussia Dortmund, FC Barcelona, Manchester United, Real Madrid, Bayern München, và Schalke. Vị trí của câu lạc bộ nằm liền kề với những khu vực có đông tầng lớp xã hội như Islington, Holloway, Highbury và khu Camden tại Luân Đôn, có những khu vực có đông người lao động như Finsbury Park hay Stoke Newington. Điều đó cho thấy người hâm mộ Arsenal đến từ nhiều tầng lớp xã hội. Cũng như các câu lạc bộ bóng đá lớn khác tại nước Anh, Arsenal có một nhóm cổ động viên đã hợp tác chặt chẽ với Hiệp hội các cổ động viên độc lập Arsenal, nhưng đã lập ra một hội độc lập khác. Hiệp hội ủng hộ lòng tin Arsenal (viết tắt: "AST") luôn thúc đẩy sự tích cực tham gia ủng hộ câu lạc bộ từ người hâm mộ. Các cổ động viên của câu lạc bộ cũng đã cho xuất bản các tờ báo cổ động chẳng hạn như: "The Gooner", "Gunflash" và loạt báo châm biếm "Up The Arse!". Ngoài các bài hát về bóng đá Anh, các cổ động viên còn hát ""One-Nil to the Arsenal" (theo giai điệu của bài hát "Go West"), "Boring, Boring Arsenal"", bài hát này đã từng là một bài hát mang tính chê bai Arsenal từ cổ động viên, nhưng trớ trêu thay, về sau này các cổ động viên lại hát bài này khi đội nhà chơi tốt. Cũng có rất nhiều cổ động viên của Arsenal ngoài khu vực Luân Đôn. Kể từ khi truyền hình vệ tinh ra đời, các cổ động viên bóng đá đã không còn phụ thuộc nhiều về vị trí địa lý. Do đó, Arsenal cũng có một số lượng đáng kể cổ động viên ở ngoài Luân Đôn và khắp nơi trên thế giới. Thống kê vào năm 2007, số hội cổ động viên Arsenal như sau: 24% ở Anh, 37% ở Ireland, 49% ở nước ngoài và các khu vực khác đã liên kết với câu lạc bộ. Một báo cáo năm 2005 của Granada Ventures, lúc đó họ đang sở hữu 9,9% cổ phần của đội bóng, ước tính Arsenal có khoảng 27 triệu người hâm mộ trên thế giới. Mùa giải 2014–15, hoạt động quảng bá hình ảnh của câu lạc bộ đến với công chúng được đánh giá là lớn thứ 5 trên thế giới. Arsenal có lịch sử đối đầu và cũng là đại kình địch đối với đội bóng hàng xóm Tottenham Hotspur, trận đấu giữa hai đội được xem là trận Derby phía Bắc Luân Đôn. Những đội bóng kình địch khác từ Luân Đôn là Chelsea, Fulham và West Ham. Ngoài ra, Arsenal cũng có những cuộc đối đầu khốc liệt với Manchester United kể từ thập niên 1980, và mạnh mẽ nhất là trong những năm gần đây khi Manchester United và Arsenal đều cạnh tranh cho chức vô địch Ngoại hạng Anh. Trong một cuộc thăm dò trực tuyến năm 2003, Manchester United là đối thủ lớn nhất của Arsenal, tiếp đến là Tottenham và Chelsea. Một cuộc thăm dò năm 2008 cho thấy Tottenham mới là đối thủ lớn nhất. Chủ sở hữu và cơ cấu tài chính. Doanh nghiệp chủ sở hữu của đội bóng, Arsenal Holdings plc, hoạt động như một công ty đại chúng trách nhiệm hữu hạn chưa được niêm yết rộng rãi, do đó mà có quyền sở hữu khác nhau lớn so với các câu lạc bộ bóng đá khác. Chỉ có 62.217 cổ phần của Arsenal được phát hành; họ không được tham gia giao dịch trong các trao đổi công cộng chẳng hạn như Thị trường Tập đoàn FTSE hoặc Thị trường Đầu tư Lựa chọn Luân Đôn; và họ tương đối ít khi tham gia giao dịch tại hệ thống sàn chứng khoán ICAP và Thị trường Trao đổi Chứng khoán Phái sinh, một thị trường chuyên biệt. Ngày 6 tháng 11 năm 2014, một cổ phần đơn của Arsenal có giá trung bình ở vào khoảng 14.500 Bảng; và giá trị vốn hóa thị trường của câu lạc bộ là vào khoảng 902,2 triệu Bảng. Câu lạc bộ có lợi nhuận kinh doanh trước thuế (không tính đến việc chuyển nhượng cầu thủ) là 62,7 triệu Bảng tính đến hết ngày 31 tháng 5 năm 2009, trong khoản doanh thu 313,3 triệu Bảng. Cổ đông lớn nhất của Arsenal là một ông bầu thể thao Hoa Kỳ, Stan Kroenke, người đã khởi đầu cho việc đấu thầu câu lạc bộ trong năm 2007, và trong năm 2009 đã nắm giữ 18.594 cổ phần câu lạc bộ (chiếm 29,9%). Đối thủ cùng tham gia đấu thầu với Kroenke là một người đến từ hệ thống sàn chứng khoán Red White; một hệ thống do tỷ phú người Nga Alisher Usmanov và một chuyên gia tài chính người Iran tại Luân Đôn, Farhad Moshiri làm đồng chủ sở hữu. Năm 2016, Usmanov đã mua cổ phần của Moshiri. Red White đã bắt đầu tham gia đấu thầu vào tháng 8 năm 2007, được mua cổ phần từ số cổ phần mà cựu phó chủ tịch Arsenal David Dein nắm giữ, và tính đến tháng 10 năm 2013 thì họ sở hữu 18.671 cổ phần của câu lạc bộ (chiếm 30% tổng số). Điều này đã kích hoạt một sự đầu cơ tích trữ trong một cuộc chiến giữa hai nhà thầu Kroenke và Usmanov. Kroenke đồng ý không mua hơn 29,9% cổ phần của đội bóng cho đến ít nhất là tháng 9 năm 2009, trong khi phần dự trữ còn lại từ ban quản trị đội bóng được chào giá lần đầu trên các cổ phần khác cho đến tháng 10 năm 2012. Đến tháng 10 năm 2011, Kroenke sở hữu 41.574 cổ phần (chiếm 66,82%) và hệ thống sàn chứng khoán Red White nắm giữ 18.261 cổ phần (chiếm 29,35%). Những đơn vị dưới công ty luật Kroenke, cổ đông lớn nhất của câu lạc bộ, đều phải thực hiện các nghĩa vụ đặt ra lời đề nghị về các cổ phần còn lại trong câu lạc bộ. Ivan Gazidis trở thành Giám đốc điều hành của câu lạc bộ kể từ năm 2009. Mùa giải 2014–15, Arsenal thu về khoản lợi nhuận 344,5 triệu Bảng, với lợi nhuận trước thuế 24,7 triệu Bảng. Trong đó các doanh nghiệp đã đổ vào đội bóng 329,3 triệu Bảng. Tờ Deloitte Football Money League là đối tác của đội bóng, tổng hợp doanh thu đội bóng. Ấn phẩm này tổng hợp doanh thu 331,3 triệu Bảng và đứng thứ 7 trên thế giới. Arsenal và Deloitte đã tổng hợp doanh thu từ các trận đấu trên sân Emirates là 100,4 triệu Bảng. Trong văn hóa đại chúng. Arsenal được biết đến trong các phương tiện thông tin và truyền thông đầu tiên. Ngày 22 tháng 1 năm 1927, trận đấu trên sân vận động Highbury với đội Sheffield United là trận đấu bóng đá Anh đầu tiên được phát thanh trực tiếp trên vô tuyến truyền thanh. Một thập kỷ sau, ngày 16 tháng 9 năm 1937, trận đấu giữa đội một của Arsenal và đội dự bị của Arsenal đã trở thành trận bóng đá đầu tiên trên thế giới được truyền hình trực tiếp. Arsenal cũng xuất hiện trong lần đầu tiên lên sóng của chương trình "Match of the Day" của kênh BBC, khi chương trình đã chiếu những nét nổi bật của trận gặp Liverpool tại Anfield vào ngày 22 tháng 8 năm 1964. Trận đấu giữa Arsenal và Manchester United được phát sóng trên kênh truyền hình trả tiền BSkyB vào tháng 1 năm 2010 là lần đầu tiên phát sóng công khai một sự kiện thể thao dưới dạng truyền hình 3D. Là một trong những câu lạc bộ bóng đá thành công nhất ở nước Anh, Arsenal thường có những nét đặc biệt khi bóng đá được miêu tả trong nền mỹ thuật nước Anh. Họ đã hình thành nên nền tảng của một trong những bộ phim sớm nhất về bóng đá, "Bí ẩn sân vận động Arsenal" (1939). Bộ phim nói về một trận đấu giao hữu giữa Arsenal với một đội bóng nghiệp dư, mà một trong các cầu thủ của họ bị ngộ độc khi tham dự trận đấu. Nhiều cầu thủ Arsenal xuất hiện trong bộ mặt của chính họ và huấn luyện viên George Allison đã có một phần phát biểu. Gần đây, cuốn sách Fever Pitch được viết bởi Nick Hornby là một cuốn tự truyện viết về cuộc sống của Hornby và mối liên hệ với bóng đá và Arsenal nói riêng. Được xuất bản vào năm 1992, cuốn sách đã ra đời trong bối cảnh mà bóng đá đang dần phục hưng và xây dựng lại vị thế trong xã hội Anh vào những năm đầu thập niên 1990. Cuốn sách này đã hai lần được chuyển thể thành phim. Năm 1997, một bộ phim nói về mùa giải 1988–89 mà Arsenal vô địch quốc gia; và một bộ phim ở Hoa Kỳ vào năm 2005 với một cổ động viên của đội bóng chày Boston Red Sox. Arsenal thường có một lối chơi phòng thủ có những nét ấn tượng, nhưng có khía cạnh "nhàm chán", đặc biệt là vào những năm 1970 và 1980. Có nhiều diễn viên hài, chẳng hạn như Eric Morecambe, đã gây cười với các thông tin về kinh phí của câu lạc bộ. Chủ đề này đã được nhắc lại trong một bộ phim của năm 1997, The Full Monty, trong cảnh mà diễn viên chính di chuyển dọc đường biên và giơ tay, cố ý bắt chước trọng tài căng cờ báo bẫy việt vị do hàng phòng ngự Arsenal tạo ra; trong nỗ lực để diễn cho giống với những gì mà Arsenal đã thường làm. Trong một bộ phim tài liệu khác, chiến thuật phòng thủ của câu lạc bộ được nhắc đến trong bộ phim Plunkett Macleane, trong đó có hai nhân vật có tên Dixon và Winterburn, tên của hai hậu vệ quan trọng một thời của câu lạc bộ, Lee Dixon và Nigel Winterburn. Một chương trình hài kịch truyền hình ngắn năm 1991 đã mô tả lại những nét nổi bật từ bản phác họa lại với nhân vật Mr Cholmondly-Warner và Grayson nói về trụ sở của Arsenal năm 1933. Họ đã phóng đại những nét giống của các cầu thủ nghiệp dư của Liverpool vào năm 1991 (mặc dù chỉ là bản hư cấu lại). Năm 1985, Arsenal thành lập một tổ chức cộng đồng mang tên "Arsenal in the Community" (tiếng Việt: "Arsenal với cộng đồng"), trong đó họ tổ chức các dự án thể thao, hòa nhập xã hội, phát triển giáo dục và từ thiện. Câu lạc bộ còn trực tiếp tham gia vào một số hoạt động từ thiện khác, và đến năm 1992 thành lập "The Arsenal Charitable Trust" (tiếng Việt: "Quỹ" "Từ thiện Arsenal"). Năm 2006, tổ chức này đã quyên góp được hơn 2 triệu Bảng cho quỹ từ thiện địa phương. Các cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp đã từng thi đấu cho câu lạc bộ cũng gây quỹ bằng cách tham dự các trận đấu từ thiện. Mùa giải 2009–10, Arsenal thông báo đã gây quỹ với số tiền kỷ lục 818.897 Bảng cho tổ chức từ thiện dành cho trẻ em ở bệnh viện Great Ormond Street. Mức quỹ dự tính trước đó là 500 nghìn Bảng. Save The Children trở thành đối tác từ thiện toàn cầu của Arsenal từ năm 2011 và hai bên đã cùng nhau thực hiện nhiều dự án nhằm cải thiện an sinh và phúc lợi cho trẻ em bị tổn thương ở Luân Đôn và ngoài lãnh thổ nước Anh. Vào ngày 13 tháng 9 năm 2016, "The Arsenal Foundation" (tiếng Việt: "Quỹ Arsenal") đã quyên góp 1 triệu Bảng, thu được từ trận đấu từ thiện với Milan Glorie trên sân vận động Emirates để xây dựng sân bóng cho trẻ em ở Luân Đôn, Indonesia, Iraq, Jordan và Somalia. Vào ngày 3 tháng 6 năm 2018, Arsenal sẽ có trận đấu với Real Madrid trong khuôn khổ 2018 Corazon Classic Match tại sân vận động Bernabeu, trong đó số tiền thu được từ trận đấu sẽ được sử dụng trong các dự án quyên trợ các trẻ em bị tổn thương do quỹ Real Madrid thực hiện. Hai đội gặp nhau trong trận lượt về trên sân vận động Emirates ngày 8 tháng 9 năm 2018, trong đó số tiền thu được sẽ được chuyển vào quỹ Arsenal. Thống kê và kỷ lục. Arsenal giành tổng cộng 13 chức vô địch quốc gia, đứng thứ ba chỉ sau Manchester United (với 20 chức vô địch) và Liverpool (18 chức vô địch). Họ là đội bóng giành được nhiều chiếc Cúp FA nhất trong lịch sử với 13 chiếc trong phòng truyền thống. Arsenal đã từng đoạt được ba cú đúp danh hiệu vô địch quốc gia và FA Cup (vào các năm 1971, 1998, 2002), thành tích này ngang bằng với Manchester United (vào các năm 1994, 1996, 1999), và họ cũng là đội bóng đầu tiên giành được cú đúp Cúp FA và Cúp Liên đoàn Anh (vào năm 1993). Arsenal cũng là câu lạc bộ Luân Đôn đầu tiên lọt đến một trận chung kết Champions League, vào năm 2006, lúc đó họ thua 1–2 trước Barcelona. Arsenal là một trong những câu lạc bộ có một vị trí tốt nhất ở giải vô địch quốc gia trong lịch sử, với việc chỉ 7 lần kết thúc mùa giải ở vị trí từ 15 trở xuống. Họ là đội bóng có thứ hạng trung bình sau khi kết thúc mùa giải cao nhất thế kỷ XX, với thứ hạng trung bình là 8,5. Ngoài ra, họ là một trong sáu câu lạc bộ đoạt Cúp FA 2 lần liên tiếp, vào các năm 2002 và 2003; 2014 và 2015. Arsenal cũng giữ kỷ lục về số trận bất bại dài nhất trong khuôn khổ Giải bóng đá Ngoại hạng Anh với 49 trận, và là đội bóng duy nhất cho đến nay có một mùa giải bất bại ở giải đấu này (mùa giải 2003-04). David O'Leary hiện đang nắm giữ kỷ lục số trận ra sân nhiều nhất cho Arsenal, với 722 trận đấu trong những năm 1975-1993. Người đồng đội, trung vệ và cũng là cựu đội trưởng của Arsenal, Tony Adams đứng thứ hai, với 669 lần ra sân. Thủ môn ra sân nhiều nhất cho Arsenal là David Seaman, với 564 lần. Thierry Henry là cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho câu lạc bộ, với 228 bàn thắng từ năm 1999 đến 2007 và đầu năm 2012, vượt qua kỷ lục của Ian Wright với 185 bàn thắng lập được vào tháng 10 năm 2005. Kỷ lục của Wright đứng vững từ tháng 9 năm 1997 khi cầu thủ này vượt qua mốc 178 bàn của cầu thủ chạy cánh Cliff Bastin lập được vào năm 1939. Henry cũng là cầu thủ ghi bàn nhiều nhất tại giải vô địch quốc gia cho câu lạc bộ với 175 bàn, một kỷ lục mà Bastin đã lập và đứng vững tới tháng 2 năm 2006. Kỷ lục về số cổ động viên dự một trận đấu trên sân nhà của Arsenal là 73.707 khán giả, trong trận cúp C1 châu Âu với RC Lens vào ngày 25 tháng 11 năm 1998, trên sân vận động Wembley, nơi mà trước đây đội bóng chơi các trận đấu tại cúp châu Âu vì những vướng mắc về sân vận động Highbury. Kỷ lục về số cổ động viên dự một trận đấu tại Highbury là 73.295 người, trong trận hòa 0–0 với Sunderland ngày 9 tháng 3 năm 1935. Còn đối với kỷ lục về số cổ động viên trên sân Emirates thì con số là 60.161 người, trong trận hòa 2–2 với Manchester United vào ngày 3 tháng 11 năm 2007. Arsenal cũng đã làm nên kỷ lục của bóng đá Anh, khi trở thành đội bóng có nhiều mùa giải nhất tại giải vô địch quốc gia trong lịch sử (88 mùa giải tính đến 2014–15) và có chuỗi trận bất bại dài nhất tại giải vô địch quốc gia (với 49 trận từ ngày 7 tháng 5 năm 2003 đến 24 tháng 10 năm 2004). Chuỗi trận bất bại này bao gồm cả 38 trận đấu của mùa giải 2003–04, giúp Arsenal trở thành đội bóng thứ hai sau Preston North End (cách mùa giải đó 115 năm) có một mùa giải bất bại. Arsenal cũng đã lập kỷ lục giữ sạch lưới tại cúp C1 châu Âu 2005–06 với 10 trận không để đối phương chọc thủng lưới. Họ đã có tổng cộng 995 phút không để thủng lưới, và kết thúc bởi bàn thắng của cầu thủ Barcelona, Samuel Eto'o ở phút thứ 76 trong trận chung kết. "Tính đến ngày 1 tháng 9 năm 2023" Cầu thủ xuất sắc nhất năm. Tính từ năm 2006 đến nay. "Tính đến tháng 11 năm 2020." "Tính đến tháng 8 năm 2020." Đội ngũ kỹ thuật. Huấn luyện viên trưởng. Có 20 huấn luyện viên chính thức và 6 huấn luyện viên tạm quyền trong lịch sử câu lạc bộ, kể từ khi họ bổ nhiệm Thomas Mitchell vào năm 1897. Huấn luyện viên có nhiệm kỳ dài nhất và có nhiều trận đấu nhất cùng câu lạc bộ là Arsène Wenger; ông cũng là huấn luyện viên có quốc tịch không phải Vương quốc Anh đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ. Hai vị chiến lược gia qua đời trong thời gian đương nhiệm là Herbert Chapman và Tom Whittaker. Arsenal đã giành được bốn cú đúp, bao gồm: Đội nữ Arsenal là câu lạc bộ bóng đá nữ tại Anh liên kết với câu lạc bộ Arsenal. Được thành lập năm 1987 bởi Vic Akers, đội nữ Arsenal trở thành câu lạc bộ bán chuyên nghiệp vào năm 2002, hiện đang thi đấu dưới sự dẫn dắt của Joe Montemurro. Đội nữ Arsenal là đội bóng thành công nhất trong hệ thống bóng đá nữ của nước Anh. Mùa giải 2008–09, các cô gái Arsenal đã giành cú ăn ba danh hiệu ở nước Anh: FA Women's Premier League, FA Women's Cup và FA Women's Premier League Cup. Họ là câu lạc bộ nữ duy nhất của nước Anh cho đến nay giành được UEFA Women's Champions League (mùa giải 2006–07). Mặc dù đội bóng nam và đội bóng nữ Arsenal hoạt động độc lập với nhau nhưng cả hai vẫn có mối liên quan chặt chẽ. Đội nữ Arsenal được chơi bóng tại sân Emirates một lần mỗi mùa, còn lại họ chơi các trận sân nhà ở Boreham Wood. Tính đến thời điểm hiện tại, đội nữ Arsenal đã giành 46 danh hiệu trong ba mươi năm lịch sử câu lạc bộ.
Câu lạc bộ bóng đá Aston Villa () là câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh có trụ sở ở Birmingham. Câu lạc bộ thi đấu ở Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, hạng đấu cao nhất của hệ thống giải bóng đá Anh. Được thành lập vào năm 1874, họ thi đấu các trận đấu sân nhà của họ tại Villa Park kể từ năm 1897. Aston Villa là thành viên sáng lập của Football League vào năm 1888 đồng thời là thành viên sáng lập của Giải bóng đá Ngoại hạng Anh vào năm 1992. Villa là một trong 5 câu lạc bộ của Anh vô địch Cúp C1 châu Âu, vào mùa giải 1981-82. Họ cũng vô địch Football League First Division 7 lần, Cúp FA 7 lần, Cúp Liên đoàn 5 lần và Siêu cúp bóng đá châu Âu 1 lần. Đối thủ truyền thống của Aston Villa là câu lạc bộ Birmingham City. Trận đấu được biết đến như trận derby vùng Birmingham hay còn có một cái tên khác là Second City Derby và được diễn ra kể từ năm 1879. Màu áo trang phục truyền thống của câu lạc bộ là màu rượu đỏ và màu xanh của bầu trời. Lịch sử đội bóng. Câu lạc bộ bóng đá Aston Villa được thành lập vào tháng 3 năm 1874 bởi thành viên của nhà thờ Weyslayan thuộc khu vực Aston, nay là một phần của thành phố Birmingham. Bốn thành viên sáng lập của câu lạc bộ bao gồm Jack Hughes, Frederick Matthews, Walter Price và William Scattergood. Trận đấu chính thức đầu tiên là với một đội Rugby địa phương có tên là Aston Brook St Mary's. Điều kiện để trận đấu được diễn ra là Aston Villa phải chơi hiệp đấu đầu tiên theo luật của môn Rugby và hiệp thứ hai theo luật bóng đá. Aston Villa nhanh chóng trở thành một trong những đội bóng xuất sắc nhất của vùng Midlands, giành được chiếc cúp đầu tiên, Birmingham Senior Cup, vào năm 1880. Aston Villa giành FA Cup đầu tiên trong lịch sử của mình vào năm 1887 với đội trưởng Archie Hunter và trở thành đội bóng đầu tiên đoạt danh hiệu này. Vô địch quốc gia "Tính đến 26 tháng 7 2023", Các thế hệ huấn luyện viên. Các huấn luyện viên cập nhật đến 16.3.2013 (chỉ tính các trận chính thức)
Câu lạc bộ bóng đá Everton (tiếng Anh: "Everton Football Club") là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại thành phố Liverpool, Anh; hiện đang chơi tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, giải đấu hàng đầu trong hệ thống bóng đá Anh. Everton đã tham gia vào giải đấu hàng đầu với kỷ lục 117 mùa giải và giành chức vô địch Ngoại hạng Anh 9 lần, và FA Cup năm lần. Thành lập năm 1878, Everton là thành viên sáng lập của The Football League năm 1888 và đã giành chức vô địch đầu tiên của họ hai mùa sau đó. Sau 4 lần vô địch giải Ngoại hạng và hai trận thắng FA Cup, Everton đã trải qua giai đoạn chiến tranh thế giới thứ hai ngay sau khi hồi phục những năm 1960, khi mà câu lạc bộ giành hai chức vô địch giải đấu và một FA Cup. Giữa những năm 1980 là thời kỳ thành công bền vững gần đây nhất của họ, với hai Giải vô địch Liên đoàn, FA Cup, và Cúp Châu Âu năm 1985. Cúp FA gần đây nhất của câu lạc bộ là FA Cup năm 1995. Những người ủng hộ của câu lạc bộ được biết đến với cái tên Everton. Everton có một sự ganh đua quyết liệt với hàng xóm của mình là Liverpool, và cả hai bên đều thi đấu trận Derby Merseyside. Câu lạc bộ này đã được đặt tại Goodison Park ở Walton, Liverpool, từ năm 1892, sau khi chuyển từ Anfield sang một hàng trong số tiền thuê. Màu sắc nhà của câu lạc bộ là áo sơ mi màu xanh hoàng gia với quần short trắng và vớ. Everton được thành lập dưới cái tên St Domingo FC vào năm 1878 để các thành viên của nhà thờ St Domingo Methodist New Connexion Chapel ở Breckfield Road North, Everton có thể chơi môn cricket chơi môn thể thao năm này vào mùa hè. Ở trận đấu đầu tiên, câu lạc bộ đã giành chiến thắng 1-0 trước Everton Church Club. Câu lạc bộ được đổi tên thành Everton vào tháng 11 năm 1879 khi những người bên ngoài hội muốn tham gia. Câu lạc bộ là thành viên sáng lập của Liên đoàn Bóng đá năm 1888-89 và đã giành chức vô địch giải vô địch đầu tiên trong mùa giải 1890-91. Everton đã giành cúp FA lần đầu tiên vào năm 1906 và League Championship một lần nữa vào năm 1914-15. Sự bùng nổ của Thế chiến thứ nhất vào năm 1914 đã làm gián đoạn chương trình bóng đá trong khi Everton là vô địch, đó là điều mà sẽ lại xảy ra vào năm 1939. Mãi cho đến năm 1927, thời kỳ thành công đầu tiên của Everton bắt đầu. Năm 1925, câu lạc bộ đã ký Dixie Dean từ Tranmere Rovers. Trong những năm 1927-1928, Dean lập kỷ lục ghi bàn cho các mục tiêu của giải đấu hàng đầu trong một mùa giải với 60 bàn thắng trong 39 trận đấu, đó là một kỷ lục vẫn còn. Anh đã giúp Everton giành chức vô địch giải Ngoại hạng Thứ 3 trong mùa giải đó. Tuy nhiên, Everton đã được chuyển tới Sư đoàn 2 năm sau đó trong lúc hỗn loạn nội bộ tại câu lạc bộ. Câu lạc bộ nhanh chóng hồi phục và đã được thăng cấp lần đầu tiên, trong khi ghi được một số kỷ lục của các bàn thắng trong Sư đoàn thứ hai. Trở lại chuyến bay hàng đầu năm 1931-32, Everton đã không còn thời gian để khẳng định lại vị trí của họ và giành chức vô địch League One thứ tư ngay từ cơ hội đầu tiên. Everton cũng giành chức vô địch FA Cup lần thứ hai vào năm 1933 với chiến thắng 3-0 trước Manchester City trong trận chung kết. Kỷ nguyên kết thúc vào năm 1938-39 với giải vô địch League thứ năm. Sự bùng nổ của Thế chiến thứ hai lại chứng kiến ​​sự đình trệ của giải đấu, và khi cuộc thi chính thức bắt đầu vào năm 1946, đội Everton đã bị chia rẽ và đánh bại so với đội trước chiến tranh. Everton đã xuống hạng lần thứ hai vào năm 1950-51 và đã không được thăng hạng cho đến năm 1953-54, khi họ kết thúc ở vị trí thứ 3 trong mùa thứ ba của họ ở League Two. Câu lạc bộ đã có mặt trên thị trường kể từ đó. "Tính đến 23 tháng 2 năm 2023" "Tính đến ngày 13 tháng 7 năm 2023" Đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đồ thị hai phía Trong Lý thuyết đồ thị, đồ thị hai phía (đồ thị lưỡng phân hay đồ thị hai phần) (tiếng Anh: bipartite graph) là một đồ thị đặc biệt, trong đó tập các đỉnh có thể được chia thành hai tập không giao nhau thỏa mãn điều kiện không có cạnh nối hai đỉnh bất kỳ thuộc cùng một tập. Những tính chất của đồ thị hai phía được đề cập đến đầu tiên bởi Dénes Kőnig(1916) . Dénes Kőnig cũng là người viết cuốn sách đầu tiên Theorie der endlichen und unendlichen Graphen 1936 về Lý thuyết đồ thị. Đồ thị hai phía xuất hiện trong các bài toán dùng đồ thị biểu diễn quan hệ hai ngôi giữa hai tập A và tập B không giao nhau. Một ví dụ cho quan hệ này là quan hệ hôn nhân giữa hai tập hợp người nam và nữ. Một đồ thị đơn vô hướng formula_1 được gọi là hai phía mà tập đỉnh của nó có thể chia thành hai tập con formula_2 và formula_3 rời nhau sao cho bất kì cạnh nào của đồ thị cũng nối một đỉnh của formula_2 với một đỉnh thuộc formula_3. Khi đó người ta còn ký hiệu là: formula_6và gọi một tập (chẳng hạn formula_2) là tập các đỉnh trái và tập còn lại (chẳng hạn formula_3) là tập các đỉnh phải của đồ thị hai phía formula_9.. Nếu formula_10 thì formula_9 được gọi là đồ thị hai phía cân bằng. formula_12 không phải là đồ thị lưỡng phân vì nếu ta chia các đỉnh của nó thành 2 phần rời nhau thì một trong 2 phần này phải chứa 2 đỉnh. Nếu đồ thị là lưỡng phân thì các đỉnh này không thể nối với nhau bằng một cạnh. Nhưng trong K3 mỗi đỉnh được nối với đỉnh khác bằng một cạnh. Một vài ví dụ trừu tượng: Thuật toán kiểm tra một đồ thị liên thông là đồ thị hai phía. Để kiểm tra một đồ thị liên thông có phải là đồ thị hai phía hay không, ta có thể áp dụng thuật toán sau: Với một đỉnh formula_13 bất kì: Y:= Y formula_15 Kề(X); X:= X formula_16 Kề(Y); until (X formula_17 Y formula_18) or (X và Y là tối đại - không bổ sung được nữa); if X formula_17 Y formula_18 then (Không phải đồ thị hai phía) (Đây là đồ thị hai phía X là tập các đỉnh trái: các đỉnh đến được từ v qua một số chẵn cạnh Y là tập các đỉnh cạnh phải: các đỉnh đến được từ v qua một số lẻ cạnh); Một đồ thị A là hai phần khi và chỉ khi G không có chu trình lẻ. Chứng minh theo chiều thuận G là hai phần và có 1 chu trình đi qua u ∈ U khi đó số lần đi vào u bằng số lần đi ra khỏi u và tổng số cạnh của chu trình là số cạnh kề với tập đỉnh thuộc một trong hai tập U hoặc V thuộc chu trình đó,nên ta có 1 chu trình độ dài chẵn. Ta có hình vẽ minh hoạ như sau: Chứng minh theo chiều nghịch Không mất tính tổng quát ta giả sử G liên thông,chọn một đỉnh u bất kì,với mỗi đỉnh v ∈ V(G) do tính liên thông của G sẽ tồn tại một đường đi từ u đến v nếu độ dài đường đi này là chẵn thì cho v vào tập U,ngược lại thì cho v vào V. Ta sẽ chứng minh: 1. Cách xây dựng này là không mâu thuẫn. 2. Không có cạnh nào trong U. 3. Không có cạnh nào trong V. Từ ba điều trên thì đồ thị đã cho là đồ thị hai phần. Ta đi chứng minh 3 ý trên. 1. Giả sử phản chứng tồn tại hai đường đi chẵn,lẻ từ u đến v thì sẽ tồn tại một chu trình lẻ suy ra mâu thuẫn với giả thiết. 2. Giả sử tồn tại cạnh (x,y) ∈ U khi đó tồn tại đường đi độ dài chẵn từ u đến x và từ v đến y nên sẽ có 1 chu trình lẻ. 3. Tương tự như trường hợp 2. formula_21 Định lý được chứng minh
Tiếng Ho (IPA: /hoː ʤʌgʌr/) là một ngôn ngữ Munda của ngữ hệ Nam Á và được sử dụng chủ yếu ở Ấn Độ. Hiện nay tiếng Ho đang được nói bởi khoảng 1.421.000 người, đa số tại Bengal và Bangladesh. 'Kherwar' (Khanwar, Kharar, Kharoal, Kharwar) là tên cho nhóm ngôn ngữ bao gồm tiếng Ho, tiếng Munda, và tiếng Santal (ba ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ với nhau), cùng một số ngôn ngữ hoặc phương ngữ khác ít người nói hơn. Hầu hết phương ngữ có 85% số từ vựng tương đồng nhau, ngoại trừ ba phương ngữ ở phía Nam và phía Đông. Tiếng Oriya, tiếng Santal và tiếng Hindi được sử dụng trong khu vực nói tiếng Ho. Tiếng Ho là ngôn ngữ dùng cả ở nhà và ở công cộng trên hầu khắp vùng. Tỷ lệ biết chữ ở người bản ngữ là 1% đến 5%, còn ở nhóm người nói như ngôn ngữ thứ hai là 25% đến 50%. Tiếng Ho là một ngôn ngữ bộ lạc. Nó được nói trong cộng đồng các bộ lạc Ho, Munda, Kolha và Kol ở Odisha, Jharkhand, Bihar, Chhattisgarh, West Bengal, Assam và được viết bằng chữ Warang Citi. Đôi khi chữ Devanagari, Latinh, Odia, Telugu và Bengal cũng được sử dụng, dù người bản ngữ ưa dùng chữ Ho (Warang Citi) hơn. Ott Guru Kol Lako Bodra là người có công sáng tạo nên chữ Warang Citi. Tên "Ho" có nguồn gốc từ từ "𑣙𑣉𑣉" (IPA: /hoː/) có nghĩa là "Con người" Tiếng Ho gần với phương ngữ Mayurbhanj của tiếng Mundar hơn là phương ngữ được nói ở Jharkhand. Tiếng Ho và tiếng Munda gần gũi về mặt dân tộc và ngôn ngữ nhưng bản sắc khu vực của họ là khác biệt. Một số nhà nghiên cứu và học giả cho rằng tiếng Ho và tiếng Munda là hai ngôn ngữ chị em.
Trong lý thuyết đồ thị, ma trận bậc (tiếng Anh: degree matrix) là một ma trận đường chéo ("diagonal matrix") chứa thông tin về bậc của mỗi đỉnh. Cho một đồ thị formula_1 với formula_2, ma trận bậc formula_3 của đồ thị formula_4 mà một ma trận vuông formula_5 được định nghĩa như sau với giá trị bậc formula_7 của một đỉnh là số các cạnh kết thúc ở đỉnh đó. Trong một đồ thị vô hướng, điều này có nghĩa là mỗi vòng lặp (cạnh xuất phát và kết thúc cùng một đỉnh) sẽ có giá trị bậc là 2. Trong một đồ thị có hướng, thuật ngữ bậc có thể là bậc vào (indegree, số cạnh đến ở mỗi đỉnh) hoặc bậc ra (outdegree, số cạnh đi ra từ mỗi đỉnh). Trong đó, đỉnh số 1 có giá trị bậc là 4 (do có một vòng lặp nên tính là 2), đỉnh số 2 có giá trị bậc là 3 (kết nối với 3 cạnh) và các giá trị khác trên đường chéo ma trận tương ứng với số cạnh được kết nối ở mỗi đỉnh.
Bậc (lý thuyết đồ thị) "Bài này viết về thuật ngữ "bậc" dùng trong lý thuyết đồ thị. Mời xem các bài bậc (toán học) hoặc bậc để đọc về các nghĩa khác." Trong Lý thuyết đồ thị, bậc của một đỉnh "v" là số cạnh liên thuộc với "v" (trong đó, khuyên được tính hai lần). Bậc của "v" được ký hiệu là formula_1. Trong một đồ thị có hướng, bậc trong của đỉnh "v" là số cung kết thúc tại "v", còn bậc ngoài là số cung xuất phát từ "v". Bậc trong và bậc ngoài của "v" được ký hiệu là formula_2 và formula_3. Đỉnh với formula_5 được gọi là đỉnh cô lập. Đỉnh có formula_6 được gọi là lá. Nếu mỗi đỉnh của đồ thị đều có bậc bằng nhau và bằng "k" thì đồ thị được gọi là đồ thị chính quy bậc "k" và đồ thị được coi là có bậc bằng "k". Đỉnh có formula_7 được gọi là đỉnh phát, đỉnh có formula_8 là đỉnh thu. Một số định lý. Cho đồ thị "G"=("V","E"), Do mỗi cạnh liên thuộc với hai đỉnh nên số đỉnh bậc lẻ trong đồ thị là số chẵn.
Đồ thị chính quy Trong lý thuyết đồ thị, một đồ thị chính quy, còn gọi là đồ thị đều (tiếng Anh: "regular graph") là một đồ thị trong đó mỗi đỉnh có số láng giềng bằng nhau, nghĩa là các đỉnh có bậc bằng nhau. Một đồ thị chính quy với các đỉnh có bậc bằng "k" được gọi là đồ thị chính quy bậc "k". Các đồ thị chính quy có bậc không lớn hơn 2 rất dễ nhận: đồ thị chính quy bậc 0 bao gồm các đỉnh cô lập, đồ thị chính quy bậc 1 bao gồm các cạnh không nối với nhau, và đồ thị chính quy bậc 2 bao gồm các chu trình không nối với nhau. Đồ thị chính quy bậc 3 còn được gọi là đồ thị bậc ba ("cubic graph"). Đồ thị chính quy mạnh là đồ thị chính quy mà mọi cặp đỉnh kề nhau đều có số láng giềng chung bằng nhau và mọi cặp đỉnh không kề đều có số láng giềng chung bằng nhau. Các đồ thị nhỏ nhất là đồ thị chính quy nhưng không chính quy mạnh là các đồ thị vòng ("cycle graph") và đồ thị tròn ("circulant graph") 6 đỉnh. Đồ thị đầy đủ formula_1 là đồ thị chính quy mạnh với mọi formula_2. Các tính chất đại số. Cho "A" là ma trận kề của đồ thị. Đồ thị là đồ thị chính quy khi và chỉ khi formula_3 là vectơ riêng của "A". Khi nó là một vectơ riêng, giá trị riêng sẽ là hằng bậc của đồ thị.
Thế vận hội Mùa đông 1992 Thế vận hội Mùa đông 1992, hay Thế vận hội Mùa đông XVI, được tổ chức từ 8 tháng 2 đến 23 tháng 2 năm 1992 tại Albertville, Pháp. Tất cả có 64 quốc gia tham dự. ² Bộ môn biểu diễn tại Thế vận hội này. Bảng tổng sắp huy chương. ¹ Đại diện cho Cộng đồng các Quốc gia Độc lập và chỉ tham dự độc nhất lần này.