text
stringlengths 82
354k
|
|---|
Cameroon hay Cameroun, tên chính thức là nước Cộng hòa Cameroon (phiên âm tiếng Việt: Ca-mơ-run, , ), là một quốc gia ở phía tây của khu vực Trung Phi. Cameroon có biên giới quốc tế với Nigeria ở phía tây; với Tchad ở phía đông bắc; với nước Cộng hòa Trung Phi ở phía đông; và với Guinea Xích Đạo, Gabon, và nước Cộng hòa Congo ở phía nam. Bờ biển của Cameroon nằm ven vùng lõm Bonny thuộc vịnh Guinea và Đại Tây Dương. Quốc gia này thường được gọi là "châu Phi thu nhỏ" do đa dạng về địa chất và văn hóa. Các đặc điểm tự nhiên của Cameroon gồm có các bãi biển, hoang mạc, dãy núi, rừng mưa, và xa van. Đỉnh cao nhất quốc gia là núi Cameroon ở phía tây nam, và các thành thị lớn nhất là Douala, Yaoundé và Garoua. Cameroon là nơi có trên 200 nhóm ngôn ngữ khác nhau. Quốc gia nổi tiếng với các phong cách âm nhạc bản địa, đặc biệt là makossa và bikutsi, và sự thành công của đội tuyển bóng đá quốc gia. Tiếng Pháp và tiếng Anh là các ngôn ngữ chính thức của Cameroon.
Các cư dân ban đầu trên khu vực này gồm các cư dân thuộc nền văn minh Sao quanh hồ Tchad và những người Baka săn bắn-hái lượm tại rừng mưa đông nam bộ. Các nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha đến bờ biển của khu vực vào thế kỷ XV và đặt tên cho khu vực là "Rio dos Camarões" ("sông Tôm"), rồi trở thành "Cameroon" trong tiếng Anh. Các quân nhân người Fula thành lập nên Tù trưởng quốc Adamawa ở phía bắc khu vực trong thế kỷ XIX, và nhiều dân tộc ở phía tây và tây bắc thành lập nên các tù bang hùng mạnh. Cameroon trở thành một thuộc địa của Đức vào năm 1884. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, lãnh thổ Kamerun thuộc Đức được phân chia giữa Pháp và Anh Quốc với danh nghĩa Hội Quốc Liên ủy thác. Chính đảng Liên minh Nhân dân Cameroun (UPC) chủ trương đòi độc lập, song bị người Pháp cấm vào thập niên 1950. Năm 1960, phần lãnh thổ Cameroon do Pháp quản lý được độc lập với tên nước Cộng hòa Cameroun, dưới quyền Tổng thống Ahmadou Ahidjo. Phần phía nam của các lãnh thổ Cameroon thuộc Anh hợp nhất với Cộng hòa Cameroun vào năm 1961 để hình thành Cộng hòa Liên bang Cameroon. Quốc gia đổi tên thành Cộng hòa Liên hiệp Cameroon vào năm 1972 rồi Cộng hòa Cameroon vào năm 1984.
So với các quốc gia khác tại châu Phi, Cameroon có ổn định tương đối cao về chính trị và xã hội. Điều này cho phép sự phát triển của nông nghiệp, đường bộ, đường sắt, và các ngành công nghiệp dầu mỏ và đốn gỗ. Tuy thế, một số lượng lớn người dân Cameroon sống trong nghèo khổ với sinh kế là nông nghiệp. Kể từ năm 1982, quyền lực nằm chắc trong Tổng thống Paul Biya, và Đảng Phong trào Dân chủ Nhân dân Cameroon của ông. Các lãnh thổ nói tiếng Anh của Cameroon ngành cáng xa lánh chính phủ trung ương, và các chính trị gia từ các khu vực này đã yêu cầu về việc phân quyền lớn hơn hay thậm chí là ly khai.
Lãnh thổ nay là Cameroon có người định cư đầu tiên từ thời đại đồ đá mới. Các cư dân sinh sống liên tục lâu nhất là các nhóm người như Baka (một nhóm người Pygmy). Từ đây, các cuộc di cư của người Bantu đến phía đông, phía nam, và trung bộ châu Phi được cho là bắt đầu khoảng 2.000 năm trước. Văn hóa Sao xuất hiện quanh hồ Tchad vào khoảng năm 500 CN và bị Kanem thay thế, quốc gia kế thừa của Kanem là Bornu. Các vương quốc, tù bang xuất hiện tại phía tây.
Các thủy thủ người Bồ Đào Nha đến bờ biển khu vực vào năm 1472, họ nhận thấy có nhiều tôm ma "Lepidophthalmus turneranus" trên sông Wouri và đặt tên cho sông là ("sông Tôm"), tên gọi này trở thành "Cameroon" trong tiếng Anh. Trong vài thế kỷ sau, người châu Âu quan tâm đến mậu dịch chính quy hóa với các cư dân duyên hải, và các nhà truyền giáo Ki-tô mở rộng vào nội địa. Vào đầu thế kỷ XIX, Modibo Adama lãnh đạo các quân nhân người Fula trong một thánh chiến ở phía bắc chống lại các dân tộc phi Hồi giáo và cục bộ Hồi giáo và thiết lập nên Tù trưởng quốc Adamawa. Việc định cư những người chạy trốn quân Fula tạo ra một sự tái phân bổ nhân khẩu lớn. Phần phía bắc của Cameroon là một phần quan trọng trong mạng lưới buôn bán nô lệ.
Đế quốc Đức tuyên bố chủ quyền đối với lãnh thổ với địa vị là thuộc địa Kamerun vào năm 1884 và bắt đầu thúc đẩy bình định vùng nội địa. Họ đề xướng các kế hoạch nhằm cải tiến cơ sở hạ tầng của thuộc địa, dựa trên một hệ thống lao động cưỡng bách khắc nghiệt. Với việc Đức chiến bại trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Kamerun trở thành một lãnh thổ ủy thác của Hội Quốc Liên, và được phân chia thành Cameroun thuộc Pháp và các lãnh thổ Cameroon thuộc Anh vào năm 1919. Pháp tích hợp kinh tế Cameroun vào kinh tế Pháp và cải tiến cơ sở hạ tầng với các đầu tư tư bản, công nhân lành nghề, và tiếp tục duy trì lao động cưỡng bách.
Người Anh quản lý các lãnh thổ Cameroon của họ từ Nigeria, người địa phương than phiền rằng việc này khiến họ bị sao lãng khi là một "thuộc địa của một thuộc địa". Các công nhân nhập cư người Nigeria đổ xô đến Nam Cameroon, kết thúc tình trạng lao động cưỡng bách song khiến nhân dân bản địa giận dữ. Trách nhiệm ủy thác của Hội Quốc Liên được chuyển đổi sang trách nhiệm ủy trị của Liên Hợp Quốc vào năm 1946, và độc lập trở thành một vấn đề cấp bách tại Cameroun thuộc Pháp. Pháp cấm chính đảng cấp tiến nhất là Liên minh Nhân dân Cameroun (UPC), vào năm 1955. Hành động này thúc đẩy một cuộc chiến du kích kéo dài và vụ ám sát thủ lĩnh đảng là Ruben Um Nyobé. Tại các lãnh thổ Cameroon thuộc Anh, vấn đề là thống nhất với Cameroun thuộc Pháp hay gia nhập Nigeria.
Ngày 1 tháng 1 năm 1960, Cameroun thuộc Pháp giành được độc lập từ Pháp, nằm dưới quyền Tổng thống Ahmadou Ahidjo. Đến ngày 1 tháng 10 năm 1961, Nam Cameroon thuộc Anh cũ hợp nhất với Cameroun thuộc Pháp cũ để hình thành Cộng hòa Liên bang Cameroon. Ahmadou Ahidjo sử dụng cuộc chiến đang diễn ra với UPC để tập trung quyền lực về tổng thống, song điều này vẫn tiếp tục sau khi UPC bị đàn áp vào năm 1971.
Ahmadou Ahidjo là thành viên của Liên minh Dân tộc Cameroon (CNU), tổ chức này trở thành chính đảng hợp pháp duy nhất vào ngày 1 tháng 10 năm 1966 và đến năm 1972, hệ thống chính phủ theo thể thức liên bang bị bãi bỏ để hình thành Cộng hòa Thống nhất Cameroon, với thủ đô là Yaoundé. Ahmadou Ahidjo theo đuổi một chính sách kinh tế tự do chủ nghĩa kế hoạch, ưu tiên các cây trồng kinh tế và khai thác dầu mỏ. Chính phủ sử dụng lợi nhuận từ dầu mỏ để tạo nên dự trữ tiền mặt quốc gia, chi trả cho nông dân, và cung cấp tài chính cho các dự án lớn về phát triển; tuy nhiên, nhiều sáng kiến thất bại do Ahmadou Ahidjo bổ nhiệm các đồng minh không đủ trình độ của ông làm người chỉ đạo chúng.
Ahmadou Ahidjo từ chức vào ngày 4 tháng 11 năm 1982 và giao lại quyền lực cho Paul Biya. Tuy nhiên, Ahmadou Ahidjo duy trì quyền kiểm soát CNU và cố gắng nhằm điều hành quốc gia trong hậu trường. Paul Biya và các đồng minh của người này sau đó buộc Ahmadou Ahidjo phải từ chức, Paul Biya bắt đầu thời kỳ quản lý quốc gia của mình với việc chuyển đổi hướng đến một chính phủ dân chủ hơn, song một đảo chính bất thành khiến ông lại hướng sang phong cách lãnh đạo của người tiền nhiệm.
Một khủng hoảng kinh tế diễn ra tại Cameroon từ giữa thập niên 1980 đến cuối thập niên 1990, bắt nguồn từ tình hình kinh tế quốc tế, hạn hán, giá dầu thô suy giảm, và nhiều năm tham nhũng, quản lý yếu kém, và nhậm dụng thân tín. Cameroon chuyển sang nhận viện trợ nước ngoài, cắt giảm chi tiêu công, và tư hữu hóa công nghiệp. Tháng 12 năm 1990, Cameroon chuyển sang chính trị đa đảng, từ đó có các nhóm từ những khu vực Cameroon từng thuộc Anh đòi hỏi quyền tự trị lớn hơn, và Hội đồng Dân tộc Nam Cameroons thì chủ trương ly khai hoàn toàn để trở thành nước Cộng hòa Ambazonia.
Cameroon có tổng diện tích , là quốc gia rộng thứ 53 trên thế giới. Quốc gia này nằm ở vùng Trung Phi và Tây Phi, bên vũng Bonn thuộc vịnh Guinea và Đại Tây Dương. Tài liệu du lịch miêu tả Cameroon là "châu Phi thu nhỏ" vì nơi này có tất cả các khí hậu và hệ thực vật chính của lục địa: duyên hải, hoang mạc, núi, rừng mưa, và xa van. Các quốc gia lân cận là Nigeria ở phía tây; Tchad ở phía đông bắc; nước Cộng hòa Trung Phi ở phía đông; và Guinea Xích Đạo, Gabon, và nước Cộng hòa Congo ở phía nam.
Cameroon được phân thành ba đới địa lý chính, phân biệt qua các đặc điểm về tự nhiên, khí hậu, và thực vật. Đồng bằng duyên hải trải rộng vào nội địa tính từ vịnh Guinea và có cao độ trung bình là . Dải đồng bằng này rất nóng và ẩm và có một mùa khô ngắn, có mật độ rừng dày đặc và có một số trong số những nơi ẩm nhất trên Trái Đất, và là một phần của vùng rừng duyên hải Cross-Sanaga-Bioko.
Đồng bằng Nam Cameroon nổi lên từ đồng bằng duyên hải đến cao độ bình quân . Rừng mưa Xích Đạo chiếm ưu thế tại khu vực này, song do có mùa mưa và mùa khô luân phiên nên khu vực này kém ẩm hơn vùng duyên hải. Khu vực này là một phần của vùng sinh thái rừng duyên hải Xích Đạo Đại Tây Dương.
Mỗi chuỗi các núi, đồi, và cao nguyên không đều được gọi là dãy Cameroon kéo dài từ núi Cameroon (đỉnh cao nhất tại Cameroon với cao độ ) gần đến hồ Tchad tại biên giới bắc bộ của Cameroon. Khu vực này có khí hậu ôn hòa, đặc biệt tại Cao nguyên Tây bộ, song có lượng mưa lớn. Đất đai của khu vực này thuộc vào hàng phỉ nhiêu nhất tại Cameroon, đặc biệt là quanh núi lửa Cameroon. Các hiện tượng núi lửa tạo ra hồ miệng núi lửa, một trong số đó là hồ Nyos từng phun ra Cacbon dioxide và khiến từ 1.700 đến 2.000 người thiệt mạng vào năm 1986. Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên mô tả khu vực này là vùng sinh rái rừng cao địa Cameroon.
Cao nguyên nam bộ nổi lên về phía bắc cho đến cao nguyên Adamawa đầy cỏ và gồ ghề. Đặc điểm này trải dài từ vùng núi tây bộ và tạo thành một rào chắn giữa bắc và nam Cameroon. Cao độ trung bình là , và nhiệt độ trung bình dao động từ đến và có mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10 với cao điểm là tháng 7 và tháng 8. Vùng đất thấp bắc bộ kéo dài từ rìa của Adamawa đến hồ Tchad với cao độ trung bình là . Thực vật đặc trưng của khu vực là cây bụi xa van và đồng cỏ. Đây là khu vực khô hạn với mưa rải rác và nhiệt độ trung bình ở mức cao.
Cameroon có bốn lưu vực: Tại phía nam, các sông chính là Ntem, Nyong, Sanaga, và Wouri, chúng chảy theo hướng tây nam hoặc theo hướng tây và đổ trực tiếp vào vịnh Guinea. Sông Dja và Kadéï chảy theo hướng đông nam rồi hợp lưu với sông Congo. Tại bắc bộ Cameroon, sông Bénoué River chảy theo hướng bắc và tây rồi hợp lưu với sông Niger. Sông Logon chảy theo hướng bắc và đổ vào hồ Tchad, hồ này được phân chia giữa Cameroon và ba quốc gia khác.
Chính trị và chính phủ.
Tổng thống Cameroon có quyền lực rộng, đơn phương trong việc hoạch định chính sách, quản lý các cơ quan chính phủ, chỉ huy các lực lượng vũ trang, đàm phán và ký kết các hiệp định, và tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Tổng thống bổ nhiệm các quan chức chính phủ ở mọi cấp, từ thủ tướng đến người đứng đầu các đơn vị hành chính cấp dưới. Tổng thống được bầu theo thể thức phổ thông đầu phiếu cho mỗi nhiệm kỳ bảy năm.
Hệ thống tư pháp của Cameroon dựa phần lớn vào dân luật Pháp và chịu các ảnh hưởng của thông luật. Bộ máy tư pháp độc lập trên danh nghĩa, song nằm dưới quyền uy của Bộ Tư pháp thuộc nhánh hành pháp. Tổng thống bổ nhiệm các thẩm phán ở mọi cấp. Bộ máy tư pháp về chính thức được phân thành tòa án sơ thẩm, tòa án thượng tố, và tòa án tối cao. Quốc hội bầu ra chín thành viên của Tòa án Công lý cao đẳng, Tòa án này xét xử các thành viên cấp cao trong chính phủ trong trường hợp họ bị buộc tội phản quốc hoặc gây tổn hại đến an ninh quốc gia.
Quốc hội là cơ quan lập pháp, và gồm có 180 thành viên được bầu cho mỗi nhiệm kỳ 5 năm, họp ba lần mỗi năm. Các đạo luật được thông qua theo nguyên tắc đa số phiếu, hiếm khi quốc hội thay đổi hoặc chặn các dự luật do tổng thống đệ trình. Hiến pháp năm 1996 thiết lập Tham nghị viện gồm 100 ghế, cơ quan này được thành lập chính thức vào tháng 4 năm 2013, theo hiến pháp thì chủ tịch tham nghị viện là người kế vị tổng thống trong trường hợp chức vụ này bị khuyết. Chính phủ công nhận quyền uy của các tù trưởng trong việc cai quản ở cấp địa phương và giải quyết tranh chấp, miễn là những sự cai trị này không xung đột với luật pháp quốc gia.
Phong trào Dân chủ Nhân dân Cameroon (CPDM) là chính đảng hợp pháp duy nhất cho đến tháng 12 năm 1990, sau đó một số phe nhóm chính trị cấp địa phương được hình thành. Tổ chức đối lập chính là Mặt trận Xã hội Dân chủ (SDF), căn cứ của nhóm này phần lớn nằm tại khu vực Anh ngữ của quốc gia và John Fru Ndi giữ chức chủ tịch từ năm 1990. Paul Biya và CPDM của ông duy trì quyền kiểm soát đối với chức vụ tổng thống và quốc hội thông qua các cuộc bầu cử, song các đối thủ cho rằng các cuộc bầu cử này không công bằng. Các tổ chức nhân quyền cáo buộc rằng chính phủ Cameroon đàn phán các quyền tự do của các nhóm đối lập bằng cách ngăn cản biểu tình, làm gián đoạn các cuộc họp, và bắt giữ các lãnh đạo và ký giả đối lập.
Cameroon là thành viên của cả Thịnh vượng chung các quốc gia và Cộng đồng Pháp ngữ. Chính sách ngoại giao của quốc gia là gắn chặt với đồng minh chính là Pháp. Cameroon phụ thuộc nhiều vào Pháp về quốc phòng, song chi tiêu quân sự của quốc gia này ở mức cao so với chi tiêu trong các lĩnh vực khác.
Hiến pháp phân chia Cameroon thành 10 vùng bán tự trị, mỗi vùng nắm dưới quyền quản lý của một hội đồng khu vực được bầu lên. Một sắc lệnh tổng thống vào ngày 12 tháng 11 năm 2008 chính thức bắt đầu việc chuyển từ tỉnh (province) sang vùng. Đứng đầu mỗi vùng là một thống đóc do tổng thổng bổ nhiệm. Các lãnh đạo này có bổn phận thi hành ý định của tổng thống, báo cáo tình hình và điều kiện chung của vùng, quản lý công vụ, duy trì hòa bình, và giám sát người đứng đầu của các đơn vị hành chính nhỏ hơn. Thống đốc có quyền hạn rộng lớn: họ có thể ra lệnh tuyên truyền trong địa bàn của họ và triệu tập quân đội, hiến binh, và cảnh sát. Toàn bộ quan chức chính phủ địa phương là nhân viên của Bộ Quản lý lãnh thổ của chính phủ trung ương, chính phủ địa phương cũng nhận được hầu hết ngân sách của họ từ bộ này.
Các vùng được chia thành 58 tỉnh (French ). Đứng đầu mỗi tỉnh là tỉnh trưởng () do tổng thống bổ nhiệm. Các tỉnh được chia tiếp thành các phân vùng (), đứng đầu là phó tỉnh trưởng (). Các huyện trưởng () là người đứng đầu các huyện, đây là đơn vị hành chính nhỏ nhất.
Ba vùng ở viễn bắc là Viễn Bắc (), Bắc (), và Adamawa (). Thẳng phía nam của chúng là Trung () và Đông (). Nam () nằm ven vịnh Guinea và biên giới phía nam. Khu vực tây bộ của Cameroon được phân chia giữa bốn vùng nhỏ hơn: Littoral và Tây Nam () nằm ven biển, và các vùng Tây Bắc () cùng Tây () nằm trên thảo nguyên tây bộ.
Trong một phần tư thế kỷ sau khi giành lại độc lập, Cameroon là một trong những nước đông dân nhất tại châu Phi. Sự hạ giá các mặt hàng xuất khẩu chính của nước này — dầu mỏ, dừa, cà phê, và bông — ở giữa thập niên 1980, cộng với một đồng tiền tệ được đánh giá quá cao, tham nhũng tràn lan cũng như quản lý kinh tế kém cỏi đã dẫn tới sự giảm phát kéo dài một thập kỷ. GDP thực trên đầu người giảm hơn 60% trong giai đoạn 1986 tới 1994. Tiền gửi, thâm hụt tài chính cũng như nợ nước ngoài tăng cao. Tuy vậy nhờ nguồn tài nguyên dầu mỏ và các điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp, Cameroon vẫn là một trong những nền kinh tế tốt nhất vùng Hạ Saharan châu Phi.
Như trường hợp nhiều nước đang phát triển khác, quá trình đô thị hóa nhanh chóng đã tạo ra sức ép lên nền kinh tế. Hoạt động kinh tế lớn nhất tại Cameroon vẫn là nông nghiệp. Nhiều trở ngại khác đang cản trở sự phát triển của Cameroon; mức độ quan liêu cao, hạ tầng cơ sở kém cỏi, tham nhũng ăn sâu. Gần đây, chính phủ đã tuyên bố đang nỗ lực tiêu diệt tham nhũng và tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch hơn.
Dân cư Cameroon được ước tính gồm 250 sắc tộc riêng biệt, có thể chia thành năm vùng văn hóa chính:
Cameroon là nước đa dạng tôn giáo và hiến pháp nước này đảm bảo sự tự do tôn giáo của người dân. Tôn giáo chủ yếu của Cameroon chủ yếu là Kitô giáo, được thực hành bởi khoảng 2/3 dân số, trong khi Hồi giáo là một tôn giáo thiểu số, chiếm khoảng 1/5 dân số. Ngoài ra, tín ngưỡng truyền thống bản địa cũng được nhiều người dân thực hiện. Người Hồi giáo tập trung nhiều nhất ở miền Bắc, trong khi các Kitô hữu tập trung chủ yếu ở khu vực phía nam và phía tây, tuy nhiên tín đồ của hai tôn giáo này cũng có thể được tìm thấy trên khắp đất nước. Hầu hết các thành phố lớn đều có tín đồ của hai tôn giáo này.
Người dân ở phía Tây Bắc và các tỉnh miền Tây Nam phần lớn là Tin Lành, và các vùng nói tiếng Pháp của khu vực phía nam và phía tây chủ yếu là Công giáo Rôma. các dân tộc miền Nam chủ yếu theo tín ngưỡng vật linh Phi Kitô giáo hoặc truyền thống, hoặc một sự kết hợp giữa tín ngưỡng bản địa và Kitô giáo.
Ở miền Bắc, nơi người Fulani là dân tộc chiếm ưu thế chủ yếu theo Hồi giáo, nhưng tổng dân số là khá đồng đều phân chia giữa người Hồi giáo, Thiên chúa giáo và những người theo tín ngưỡng tôn giáo bản địa (gọi là Kirdi ("ngoại đạo") của Fulani). Người Bamum của khu vực Tây phần lớn là Hồi giáo. Tôn giáo truyền thống bản địa được thực hành ở các vùng nông thôn trong cả nước nhưng hiếm khi được thực hành công khai ở các thành phố.
Người Hồi giáo chiếm khoảng 24% trong tổng số 21 triệu dân của Cameroon. Khoảng 27% trong số đó tự nhận mình là người Hồi giáo Sunni và 3% là người Hồi giáo Shia, trong khi phần lớn số tín đồ còn lại không liên kết mình với một giáo phái nào cụ thể. Người Fulani, một nhóm dân tộc du mục, đã truyền bá Hồi giáo vào Cameroon đầu thế kỷ XIX chủ yếu thông qua hoạt động thương mại. Ở các tỉnh phía Bắc, nơi người Fulani chiếm ưu thế tôn giáo áp đảo là Hồi giáo. Các dân tộc khác, được gọi chung là Kirdi, thường thực hành một số hình thức của đạo Hồi. Các tộc người Bamoun ở các tỉnh phía Tây cũng phần lớn là người Hồi giáo.
Ước tính có khoảng 4,25 triệu người Công giáo Rôma được rửa tội tại Cộng hòa Cameroon, chiếm 26% dân số. Cả nước có 24 giáo phận, 1.350 linh mục và 2.600 tu sĩ nam nữ trong các dòng tu.
Enoch Olinga, người Uganda là người đầu tiên đưa đạo Bahá'í đến nước này năm 1953. Năm 2003, ước tính có khoảng 40.000 tín đồ của đạo Bahá'í ở Cameroon và đã tăng lên 50.800 người trong năm 2005.
Người Kirdi và người Matakam ở các vùng núi phía tây sản xuất ra các loại đồ gốm riêng biệt. Các mặt nạ có nhiều uy quyền của Bali, theo hình dạng đầu voi, thường được sử dụng trong những dịp tang lễ và các bức tượng Bamileke nhỏ được tạc có mặt người hay động vất. Người Tikar nổi tiếng vì có những chiếc tẩu trang trí rất đẹp, người Ngoutou nổi tiếng về các mặt nạ hai mặt và người Bamum về các mặt nạ cười.
Viện châu Phi Đen của Pháp có một thư viện tại Douala chuyên ngành xã hội học, dân tộc học và Lịch sử châu Phi. Trong số nhiều bảo tàng, Bảo tàng Diamare và Maroua có nhiều bộ sưu tập nhân loại học liên quan tới những người Sudan và Bảo tàng Cameroon tại Douala có trưng bày nhiều đồ vật tiền sử và lịch sử tự nhiên.
Các tổ chức văn hóa gồm Hiệp hội Văn hóa Cameroun, Tổ chức Xã hội Cameroun, và Trung tâm Văn hóa và Ngôn ngữ.
Ngoài ra cũng có nhiều hiệp hội phụ nữ (gồm Hiệp hội phụ nữ Tây bắc vì sự phát triển nông thôn), các tổ chức thanh niên và tổ chức thể thao. Không giống như các tổ chức phụ nữ mới được các cơ quan phát triển phương Tây thành lập gần đây ở các nơi như Trung Á, các hiệp hội phụ nữ Tây Phi đã có một lịch sử phát triển lâu dài. Ở nước Cameroon hiện nay, chúng thường được đăng ký như những Nhóm Cộng đồng Sáng kiến hay CIG's, vì thế chúng tiếp tục truyền thống đoàn kết phụ nữ để hỗ trợ tình cảm và kinh tế lẫn nhau. Dù các nhóm đó dựa trên cơ sở phụ nữ giải quyết vấn đề của phụ nữ (như chăm sóc trẻ em, làm ruộng/tích trữ lương thực gia đình, công bằng xã hội vân vân) chúng không phải là độc quyền của phụ nữ và trẻ em cũng như đàn ông đều có thể gia nhập.
Ngoài ra, những ngày nghỉ lễ khác gồm:
"Xem thêm:" Âm nhạc Cameroon, Ẩm thực Cameroon, Danh sách các nhà văn Cameroon
Sau khi giành độc lập Cameroon đã sử dụng hai hệ thống giáo dục riêng biệt. Hệ thống Đông Cameroon dựa trên mô hình của Pháp, Tây Cameroon dựa trên mô hình của Anh. Hai hệ thống này đã được sáp nhập với nhau năm 1976. Các trường dòng Thiên chúa giáo luôn đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục.
Cameroon nổi tiếng vì có một trong những hệ thống giáo dục tốt nhất châu Phi. Giáo dục tiểu học là tự do và bắt buộc. Những con số thống kê cho thấy 70% trẻ em trong độ tuổi 6-12 tới trường, trong khi 79% dân cư Cameroon biết đọc, viết. Ở những vùng phía nam đất nước hầu như toàn bộ trẻ em ở tuổi đến trường đều đi học. Tuy nhiên, ở phía bắc, là những vùng biệt lập nhất tại Cameroon, con số này thấp hơn nhiều. Đa số học sinh Cameroon không học quá mức tiểu học.
Đất nước này có nhiều viện đào tạo giáo viên và kỹ thuật. Mức giáo dục cao nhất là trường Đại học Yaoundé. Tuy nhiên, hiện nay có một khuynh hướng ngày càng phát triển là những sinh viên giỏi nhất, giàu có nhất đều đi ra sống tại nước ngoài, gây ra tình trạng chảy máu chất xám.
NGO's Community Initiative Groups
Các nhóm dân tộc
|
Comoros ( , "#đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
") là một quốc đảo ở châu Phi, nằm giữa eo biển Mozambique trên Ấn Độ Dương. Đây là quốc gia có diện tích nhỏ thứ tư châu Phi. Thủ đô và thành phố lớn nhất của Comoros là Moroni.
Comoros là thành viên của Liên Hợp Quốc, Liên minh châu Phi, Tổ chức Hợp tác Hồi giáo, Cộng đồng Pháp ngữ, và là thành viên duy nhất của Liên đoàn Ả Rập nằm ở Nam Bán cầu.
Trước khi thực dân xâm lăng.
Những cư dân trên quần đảo này đến từ châu Phi, Madagascar và vịnh Ba Tư, phần lớn là người Hồi giáo. Người Bồ Đào Nha khám phá ra quần đảo này năm 1503 và người Pháp đến đây năm 1517.
Thực dân Pháp và tiếp xúc châu Âu.
Pháp lập chế độ bảo hộ từ năm 1886, Comoros trở thành vùng lãnh thổ hải ngoại của Pháp từ năm 1958.
Comoros Độc lập đến nay.
Comoros tuyên bố độc lập ngày 6 tháng 7 năm 1975, riêng đảo Mayotte tuyên bố ở lại trong Cộng hòa Pháp trong cuộc trưng cầu ý dân năm 1976. Ahmed Abdallah được bầu làm Tổng thống tháng 7 năm 1975, bị một ủy ban cách mạng do Ali Soilih lãnh dạo truất phế tháng 8 năm 1975. Đến lượt Soilih bị cựu Tổng thống Abdallah lật đổ với sự giúp đỡ của lính đánh thuê nước ngoài tháng 5 năm 1978 và quần đảo lấy tên là Cộng hòa Liên bang Hồi giáo Comoros. Tháng 11 năm 1989, Tổng thống Abdallah lại bị chính quân lính đánh thuê ám sát và Said M. Djohar lên thay thế năm 1990. Sau nhiều tháng phản đối và xung đột với lực lượng an ninh, đảo Anjouan (Ndzouani) tuyên bố độc lập ngày 3 tháng 8 năm 1997. Tháng 7-1997, lực lượng của Tổng thống Mohamed Taki cố gắng chiếm lại đảo Anjouan nhưng thất bại. Taki tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Các cuộc đàm phán hòa bình đầu năm 1999 giữa đại diện của đảo Anjouan và Chính phủ không mang lại kết quả nào.
Tháng 4 năm 1999, Đại tá Trali Assoumani cầm đầu cuộc đảo chính lật đổ quyền Tổng thống Tadjidine, Đảo Anjouan tiếp tục cuộc đấu tranh chống lại Chính phủ ở đảo Qomor Lớn trong cả năm 1999.
Tháng 3 năm 2000, Tổ chức Thống nhất châu Phi (OAU) cắt đứt liên lạc với Anjouan nhằm chấm dứt cuộc nổi dậy. OAU yêu cầu Tổng thống Assoumani áp đặt lệnh cấm vận thương mại và trao trả quyền lại cho giới dân sự tại Comoros. Tháng 2 năm 2001, Tổng thống ký một hiệp ước hòa giải với các nhà lãnh đạo chính trị ở ba đảo, kể cả nhà lãnh đạo nhóm li khai của đảo Anjouan, Đại tá Said Abeid. Tháng 3 năm 2002, một hiến pháp mới được thông qua, ba đảo được thống nhất lại. Mỗi đảo bầu một Tổng thống riêng và Assoumani được bầu làm Tổng thống liên bang.
Comoros nằm ở Đông Phi, gồm ba đảo núi lửa (Ngazidja, Moili và Ndzouani) ở Ấn Độ Dương nằm về phía Tây Bắc Madagascar. Địa hình chủ yếu là các cao nguyên đất bazan thoải dần về phía các dải đồng bằng hẹp ven biển.
Với diện tích 2.235 km2, đảo quốc này là một trong những quốc gia nhỏ nhất trên thế giới. Comoros cũng cóyêu cầu bồi thường 320 km2 lãnh hải đối với các nước láng giềng. Khí hậu nhiệt đới với hai mùa phân biệt tương đối rõ rệt. Nhiệt độ đạt trung bình 29-30 °C (84-86 °F) trong tháng 3, tháng nóng nhất trong mùa mưa (gọi là kashkazi) là tháng 12, và nhiệt đọ thấp nhất là 19 °C (66 °F) trong mùa lạnh, mùa khô gọi là Kusi, bắt đầu từ tháng năm đến tháng mười một.
Chính trị của Comoros diễn ra trong khuôn khổ của một nước cộng hòa tổng thống liên bang, theo đó Tổng thống Comoros là nguyên thủ quốc gia và là người đứng đầu chính phủ, và một hệ thống chính trị đa đảng. Hiến pháp của Comoros đã được phê duyệt bởi cuộc trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 12 năm 2001. Nước này trước đây đã được coi là một chế độ độc tài quân sự, và sự chuyển giao quyền lực từ tướng Azali Assoumani sang Tổng thống Ahmed Mohamed Abdallah Sambi vào tháng 5 năm 2006 là cuộc chuyển giao quyền lực hòa bình đầu tiên trong lịch sử Comoros.
Quyền hành pháp thuộc chính phủ. Quyền lập pháp liên bang được trao cho cả chính phủ và quốc hội. Lời nói đầu của Hiến pháp bảo đảm Hồi giáo có mặt trong chính trị cũng như cam kết về nhân quyền, và một số quyền được liệt kê cụ thể trong đó có dân chủ được áp dụng cho tất cả người dân Comoros. Các đảo (theo Tiêu đề II của Hiến pháp) có quyền tự trị lớn trong liên bang, bao gồm có hiến pháp riêng của họ (hoặc Luật cơ bản), có chủ tịch và Quốc hội riêng. Tổng thống và Hội đồng Liên bang được giao xoay vòng giữ người đứng đầu chính phủ các đảo.
Hệ thống pháp luật Comoros dựa trên luật Hồi giáo. Già làng, kadis hoặc tòa án dân sự giải quyết hầu hết các tranh chấp. Cơ quan tư pháp độc lập với cơ quan lập pháp và hành pháp. Tòa án tối cao hoạt động như một Hội đồng Hiến pháp trong việc giải quyết vấn đề hiến pháp và giám sát cuộc bầu cử tổng thống.
Quân đội Comoros bao gồm một đội quân nhỏ và một lực lượng cảnh sát 500 thành viên, cũng như một lực lượng quốc phòng 500 thành viên. Một hiệp ước quốc phòng với Pháp cung cấp các nguồn lực hải quân để bảo vệ các vùng lãnh hải, đào tạo cán bộ quân sự Comoros, và giám sát không phận. Pháp duy trì vài cán bộ cao cấp có mặt tại Quốc đảo Comoros theo yêu cầu của chính phủ nước này. Pháp duy trì một cơ sở hàng hải nhỏ nằm trên Mayotte.
Quan hệ với nước ngoài.
Trong tháng 11 năm 1975, Comoros trở thành thành viên 143 của Liên Hợp Quốc.
Comoros cũng là thành viên của Liên minh châu Phi, Liên đoàn Ả Rập, Quỹ Phát triển châu Âu, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ủy ban Ấn Độ Dương, và Ngân hàng Phát triển châu Phi. Vào ngày 10 tháng 4 năm 2008, Comoros trở thành quốc gia thứ 179 chấp nhận Nghị định thư Kyoto.
Quốc đảo này lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 24 tháng 9 năm 2015.
Kinh tế dựa trên hai lãnh vực chính: nông nghiệp trồng cây lương thực (lúa, sắn), cây công nghiệp (cà phê, dừa, vani, đinh hương và một số cây cho tinh dầu) và mậu dịch đường biển. Du lịch ít phát triển.
Comoros là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới. Đất đai cằn cỗi và bị xói mòn. Tỉ lệ tăng dân số cao, nguồn tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn. Trình độ học vấn của lực lượng lao động thấp, tình trạng thất nghiệp cao, phụ thuộc nhiều vào sự tài trợ của nước ngoài. Hiện nay Chính phủ ra sức nâng cao trình độ giáo dục và huấn luyện kĩ thuật, tiến hành tư nhân hóa các xí nghiệp thương mại và công nghiệp, cải thiện hệ thống y tế, đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, khuyến khích phát triền ngành du lịch và giảm tỉ lệ tăng dân số.
Dân số nước này chưa đến một triệu người, Comoros là một trong những quốc gia ít dân nhất trên thế giới, nhưng cũng là một trong những nước có mật độ dân số cao nhất, với trung bình 275 người trên mỗi km vuông. Trong năm 2001, 34% dân số được sống ở là đô thị, nhưng được dự kiến sẽ tăng, trong khi mức tăng dân số vẫn còn tương đối cao. Gần một nửa dân số của Quốc đảo Comoros ở độ tuổi dưới 15 và sống tập trung tại các trung tâm đô thị lớn bao gồm Moroni, Mutsamudu, Domoni, Fomboni, và Tsémbéhou. Có từ 200.000 và 350.000 người Comoros sống tại Pháp.
Các đảo của Comoros có người dân chủ yếu là nguồn gốc châu Phi-Ả Rập. Hồi giáo Sunni là tôn giáo chiếm ưu thế, đại diện cho 98% dân số. Mặc dù văn hóa Ả Rập được thiết lập vững chắc trên khắp quần đảo, nhưng cũng có một thiểu số dân số của Mayotte, chủ yếu là người nhập cư từ Pháp, là người Công giáo La Mã. Người Malagasy (theo Cơ Đốc giáo) và Ấn Độ (chủ yếu là giáo phái Ismaili) là những dân tộc thiểu số. Người Trung Quốc cũng có mặt trên Mayotte và các bộ phận của Grande Comore (đặc biệt là Moroni).
Ngôn ngữ phổ biến nhất trong Quốc đảo Comoros là tiếng Comorian hay còn gọi là Shikomor, một ngôn ngữ chịu ảnh hưởng từ tiếng Swahili và tiếng Ả Rập nặng, với bốn biến thể khác nhau (Shingazidja, Shimwali, Shinzwani, và Shimaore) được nói trên bốn hòn đảo chính tạo nên nước này. Tiếng Pháp và tiếng Ả Rập cũng là ngôn ngữ chính thức, cùng với Comorian. Tiếng Ả Rập được biết đến rộng rãi như một ngôn ngữ thứ hai, là ngôn ngữ giảng dạy kinh Coran. Tiếng Pháp là ngôn ngữ hành chính và ngôn ngữ của ngành giáo dục. Một số ngôn ngữ khác như tiếng Malagasy, Shibushi, được nói bởi khoảng một phần ba dân số của Mayotte. Khoảng 57% dân số biết chữ và viết được ngôn ngữ của mình bằng chữ cá Latinh trong khi hơn 90% biết đọc biết viết tiếng Ả Rập, tổng số biết đọc biết viết được ước tính là 62,5%. Comoros không có chữ viết bản địa, vì vậy chữ Ả Rập và chữ Latinh được sử dụng để ghi lại ngôn ngữ quốc gia.
Hệ thống giáo dục của Comoros được tổ chức dựa theo mô hình của Pháp. Giáo dục tiểu học miễn phí, mỗi làng có một trường tiểu học. Tuy nhiên, chỉ khoảng 1/3 số trẻ em học xong tiểu học và một số ít học lên trung học. Comoros không có hệ thống đại học ngoài một số trường sư phạm.
Chăm sóc y tế chưa được coi trọng. Ở thành phố và thị trấn cũng có các bệnh viện nhưng thiếu các phương tiện và thiết bị. Các bệnh dịch như sốt rét, tiêu chảy và các bệnh đường ruột khác khá phổ biến.
Phương tiện truyền thông.
Có một tờ báo quốc gia của chính phủ là Al-Watwan, xuất bản ở Moroni. Đài phát thanh Quốc đảo Comoros là dịch vụ phát thanh quốc gia và truyền hình quốc gia Comoros là dịch vụ truyền hình chính.
|
Cộng hòa Congo (), cũng được gọi là Congo-Brazzaville hay đơn giản là Congo, là một quốc gia có chủ quyền nằm ở Trung Phi. Nó giáp ranh với năm quốc gia: Gabon và Đại Tây Dương về phía tây; Cameroon về phía tây bắc; Cộng hòa Trung Phi về phía đông bắc; Cộng hòa Dân chủ Congo về phía đông và nam; và tỉnh Cabinda thuộc Angola ở phía tây nam.
Congo-Brazzaville từng là một phần của thuộc địa châu Phi Xích Đạo của Pháp. Sau khi giành được độc lập năm 1960, cựu thuộc địa Congo thuộc Pháp trở Cộng hòa Congo. Cộng hòa Nhân dân Congo là một nhà nước đơn đảng theo chủ nghĩa Marx-Lenin tồn tại từ 1970 tới 1991. Sau đó, các cuộc bầu cử đa đảng đã được tổ chức từ năm 1992, dù chính quyền dân cử đã bị trục xuất năm 1997 trong cuộc Nội chiến Cộng hòa Congo và Denis Sassou Nguesso đã giữ chức tổng thống từ năm đó.
Thời kỳ tiền thuộc địa.
Những nhóm người Bantu đã lập nên các bộ lạc tại khu vực này từ 1500 trước công nguyên. Nhiều vương quốc Bantu—đáng chú ý là đế quốc Kongo, vương quốc Loango, và vương quốc Anziku (Teke)—đã xây dựng những còn đường thương mại dẫn vào vùng lưu vực sông Congo.
Nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Diogo Cão đến cửa sông Congo năm 1484. Mối quan hệ thương mại nhanh chóng phát triển giữa các vương quốc Bantu trong nội địa và các nhà buôn châu Âu, trao đổi nhau nhiều loại hàng hóa, sản phẩm và cả nô lệ. Sau nhiều thế kỷ làm trung tâm giao thương lớn, thực dân châu Âu bắt đầu biến vùng lưu vực sông Congo thành thuộc địa của mình vào cuối thế kỷ XIX.
Năm 1910, Congo bị sáp nhập vào thuộc địa châu Phi Xích đạo thuộc Pháp và Brazzaville trở thành thủ đô. Việc lạm dụng sức lao động của những người làm công dẫn đến sự phản đối công khai chống lại thực dân Pháp.
Năm 1956, tu sĩ Fulbert Youlou thành lập Liên minh dân chủ bảo vệ quyền lợi châu Phi. Năm 1960, Cộng hòa Congo, còn gọi là "Congo-Brazzaville" tuyên bố độc lập. Tu sĩ F. Youlou trở thành Tổng thống và từ chức sau cuộc nổi dậy của nhân dân năm 1963. Alphonse Massamba Débat lên nắm quyền.
Năm 1968, Marien Ngouabi tiến hành cuộc đảo chính quân sự và tuyên bố nền Cộng hòa nhân dân (1970). Năm 1977, M. Ngouabi bị ám sát và Denis Sassou Nguesso trở thành Tổng thống (1979).
Từ năm 1990, thể chế đa đảng được thông qua. Năm 1992, lãnh đạo đảng Dân chủ đối lập, Pascal Lissouba, đắc cứ Tổng thống. Tháng 6 năm 1997, xảy ra các cuộc xung đột đẫm máu giữa phe ủng hộ cựu Tổng thống S. Nguesso và phe ủng hộ Tổng thống đương nhiệm P. Lissouba. Sau khi đánh bại Tổng thống Lissouba, S. Nguesso tuyên bố trở thành Tổng thống. Tuy nhiên, các cuộc xung đột tiếp tục xâu xé đất nước.
Cuối năm 1999, một hiệp định hòa bình được ký kết giữa Sasou Nguesso và nhóm nổi dậy ở miền Nam. Tình trạng thời kì hậu chiến cũng không kém phần bi đát: căn bệnh buồn ngủ và một số bệnh dịch khác tràn lan khắp đất nước. Tháng 3 năm 2002, Tổng thống Denis Sassou Ngueso tái đắc cử với 89,4% số phiếu. Các đối thủ của ông hoặc bị ngăn chặn không thể về nước hoặc rút lui khỏi cuộc bầu cử. Quân đội nổi dậy tiếp tục các cuộc chiến chống lại lực lượng Chính phủ. Điều này đã dẫn đến chiến tranh Pool vòa năm 2016.
Congo-Brazzaville theo thể chế chính trị đa đảng từ đầu thập niên 1990, mặc dù vậy tổng thống Denis Sassou Nguesso vẫn nắm trong tay rất nhiều quyền lực và gần như không có đối thủ trong các cuộc bầu cử.
Quốc gia ở Trung Phi, Bắc giáp Cameroon và Cộng hòa Trung Phi, Nam và Đông giáp Cộng hòa Dân chủ Congo, Tây giáp Gabon, Tây Nam giáp Angola và Đại Tây Dương.
Ngoại trừ dải đồng bằng hẹp ven biển, địa hình phần lớn là cao nguyên và đồi. Sông Oubangi và sông Congo tạo thành biên giới tự nhiên với Cộng hòa Dân chủ Congo. Vùng rừng rậm bao phủ ở phía Bắc đường xích đạo và chuyển dần thành các đồng cỏ ở vùng nhiệt đới phía Nam.
Cuối những năm 1970, Congo tìm ra dầu lửa. Năm 1987 khai thác 6,3 triệu tấn, chiếm 60% thu nhập quốc dân và hơn 85% thu nhập xuất khẩu.
Nền kinh tế Cộng hoà Congo pha trộn giữa nông nghiệp làng xã và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp; khu vực công nghiệp chủ yếu dựa vào dầu mỏ, trụ cột của nền kinh tế, cung cấp nguồn thu và nguồn xuất khẩu chủ yếu cho chính phủ. Sau cuộc nội chiến, tháng 10 năm 1997, chính phủ đã công khai thể hiện mối quan tâm của mình trong việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách kinh tế, tư nhân hoá và đổi mới sự hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế.
Nhưng những tiến bộ của nền kinh tế đã nhanh chóng bị ảnh hưởng bởi biến động của giá dầu và những cuộc xung đột vũ trang trong nước vào tháng 12 năm 1998 và gây ra sự thâm hụt ngân sách nghiêm trọng và gây khó khăn cho nền kinh tế. Nhưng việc giá dầu hồi phục trong thời gian gần đây đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này đạt 10,5%. Trong khi đó tỷ lệ lạm phát giữ ở mức độ ổn định, khoảng 5,2%.
Năm 2010, GDP của Congo đạt 11,88 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 3000 USD/người/năm. Tuy nhiên, phân phối thu nhập là không đồng đều chỉ tập trung vào một nhóm người và phần đông dân số vẫn sống dưới mức nghèo khổ.
Nông nghiệp chỉ đóng góp vào 4,4% GDP. Các nông sản chủ yếu là: gạo, đường, ngô, rau, cà phê, ca cao, sắn, đậu phộng, lâm sản.
Công nghiệp của Congo đóng góp vào 63,7% GDP của nước này. Công nghiệp dựa chủ yếu vào dầu mỏ với sản lượng 274,4 nghìn thùng/ngày (năm 2009). Ngoài ra còn có các ngành công nghiệp khác như xi măng, xà phòng, công nghiệp làm gỗ, thuốc lá…
Về ngoại thương, năm 2010, Congo xuất khẩu 9,2 tỷ USD. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là dầu mỏ, xi măng, gỗ xẻ, gỗ dán, đường, ca cao, cà phê, kim cương. Các bạn hàng xuất khẩu của Congo là Mỹ (23%), Belarus(14%), Đức, Ý, Đài Loan, Trung Quốc.
Năm 2010, Congo nhập khẩu khoảng 3,6 tỷ USD, trong đó các mặt hàng mà nước này nhập nhiều là trang thiết bị, vật liệu xây dựng và lương thực. Các bạn hàng nhập khẩu của Congo là Pháp, Mỹ, Đức, Trung Quốc và Hà Lan.
Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp 10%, công nghiệp 48%, dịch vụ 42%. Congo phải nhập phần lớn lương thực. Hiện nay kinh tế Congo đang suy thoái nghiêm trọng do hậu quả của nội chiến. Từ sau khi xảy ra xung đột tháng 5 năm 1997, cơ sở vật chất bị tàn phá nặng nề, tài chính kệt quệ, hệ thống giáo dục, y tế xuống cấp nghiêm trọng, thất nghiệp tăng nhanh.
Xuất nhập khẩu: năm 2007, Congo xuất khẩu dầu lửa (chiếm 50%), gỗ, gỗ dán, đường, dừa, cà phê, kim cương chủ yếu sang các nước: Mỹ (35,9%), Trung Quốc (31,4%), Đài Loan(9,9%), Hàn Quốc (8%); nhập sản phẩm dầu lửa, thiết bị, vật liệu xây dựng và thực phẩm chủ yếu từ Pháp (23%), Trung Quốc (13,2%), Mỹ (7,6%), Ấn Độ(7%).
Ngành nông nghiệp trồng trọt cây lương thực là cơ sở của nền kinh tế. Dầu mỏ là sản phẩm xuất khẩu chính và đóng góp 60% vào ngân sách quốc gia. Ngành đánh bắt cá biển và khai thác gỗ cũng mang lại nguồn lợi đáng kể.
Brazzaville và Pointe-Noire là hai trung tâm kinh tế chính của Cộng hòa Congo. Tình trạng nợ nước ngoài chồng chất, Chính phủ thực hiện các biện pháp tự do hóa nhằm khôi phục lại đầu tư của khu vực tư nhân.
Cộng hòa Congo là một trong những quốc gia có diện tích rừng lớn nhất tại châu Phi (ước khoảng 25 triệu ha rừng), do đó quốc gia Trung Phi này đang tìm kiếm đầu tư của các công ty nước ngoài vào ngành công nghiệp sản xuất, chế biến gỗ - lĩnh vực kinh tế quan trọng chỉ đứng thứ hai sau dầu mỏ.
Với 250 triệu ha rừng trong đó 57% nằm ở CH Dân chủ Congo và 10% thuộc CH Congo (hay Congo Brazzaville), khu vực lưu vực sông Congo là lá phổi sinh học lớn thứ hai thế giới sau vùng rừng Amazone. Lưu vực này bao trùm lên lãnh thổ của các nước Angola, Burundi, Cameroun, Congo-Brazzaville, Gabon, Guinea Xích đạo, Cộng hòa Trung Phi, CH Tchad, Cộng hòa Dân chủ Congo]], Rwanda và São Tomé và Principe.
So với các khu vực rừng nhiệt đới khác, rừng ở lưu vực sông Congo còn tương đối nguyên vẹn. Tuy nhiên, nếu tình trạng phá rừng còn tiếp tục diễn ra với nhịp độ như hiện nay (30.000-40.000ha/năm) thì những khu rừng ở đây sẽ bị phá hủy giống như tại khu vực Đông và Tây Nam Á.
Trong một nghiên cứu mới đây của Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc (FAO) về tình trạng tài nguyên rừng thế giới, năm 2011, khu vực Trung Phi chiếm 37% tổng diện tích rừng trên Trái Đất.
Tại CH Congo, rừng bao phủ 25 triệu ha, tương đương khoảng 70% lãnh thổ quốc gia. Đây là nước có diện tích rừng lớn thứ hai ở châu Phi sau Cộng hòa Dân chủ Congo. Ngoài rừng tự nhiên, Congo còn trồng mới 86.000 ha chủ yếu là bạch đàn (73.000 ha), limba (7.500 ha), thông (4.500 ha), các loại cây khác (1000 ha).
Tiềm năng khai thác gỗ ước đạt 2 triệu m3/năm, tuy nhiên nước này chưa bao giờ đạt sản lượng trên con số 850.000 m3. Những cây gỗ chính gồm có cây trám hồng, gỗ tếch, gụ, bạch đàn, gỗ limba, gỗ xoan đào (sapelli).
Ngành lâm nghiệp của Cộng hòa Congo vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tuy nhiên đã bắt đầu có dấu hiệu phục hồi. Đóng góp vào GDP là rất nhỏ (3%). Sản xuất gỗ tròn, gỗ xẻ giảm từ 77.109 m3 trong năm 2009 xuống còn 14.662 m3 trong năm 2010 do giá gỗ xẻ trên thị trường quốc tế vẫn thấp. Tuy nhiên, sự gia tăng nhu cầu từ các nước châu Á đặc biệt là từ Trung Quốc (70% gỗ của Congo được xuất sang Trung Quốc), Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đang mở ra triển vọng mới cho ngành khai thác gỗ của nước này. Ở Congo hiện có 2 công ty chi phối ngành sản xuất gỗ là Olam - tập đoàn có trụ sở tại Singapore và công ty gỗ CIB của Congo, chi nhánh của tập đoàn Đan Mạch Dalhoff Larsen Horneman.
Năm 2011, Congo tiếp tục duy trì các biện pháp nhằm giảm những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng đối với ngành gỗ như xuất khẩu đến 30% gỗ tươi và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thanh toán thuế đốn cây. Việc chế biến gỗ vẫn là một lựa chọn ưu tiên của Congo với việc chú trọng đào tạo nguồn nhân lực. Hơn nữa, việc áp dụng giấy phép chứng nhận gỗ sẽ giúp nước này thu được nhiều lợi ích.
Mục tiêu của chính sách lâm nghiệp Cộng hòa Congo là bảo đảm phát triển kinh tế, xã hội và sinh thái của đất nước trên cơ sở quản lý bền vững các nguồn tài nguyên rừng và hệ động vật trong đó:
Về mặt công nghiệp, Congo chủ trương chế biến gần như toàn bộ gỗ sản xuất trong nước. Phát triển một ngành công nghiệp gỗ tích hợp có năng suất cao và về trung hạn, cơ cấu lại các nhà máy chế biến gỗ hiện nay; Nâng cao hiệu quả của các đơn vị công nghiệp phụ trách những rừng trồng bạch đàn và thông. Ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật cho ngành công nghiệp gỗ.
Về mặt xuất khẩu, cho phép xuất khẩu có thời hạn các loại gỗ có giá trị gia tăng cao hơn giá trị mà ngành công nghiệp chế biến gỗ địa phương mang lại. Tuy nhiên, những giao dịch này không được vượt quá một số mức trần quy định đối với các loại gỗ tươi. Thiết lập một loại phí đối với gỗ xuất khẩu thu theo hướng giảm dần tùy theo mức độ chế biến xuống còn 0% đối với hàng thành phẩm. Tăng cường việc kiểm soát gỗ xuất khẩu và theo dõi các thị trường xuất khẩu nhằm tối ưu hóa các nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Về mặt thuế, dành cho các công ty lâm nghiệp những ưu đãi thuế quan bằng cách áp dụng bộ luật đầu tư sửa đổi. Áp dụng hệ thống thuế lâm nghiệp linh hoạt có tính đến những vùng sản xuất gỗ khó tiếp cận. Nâng cao giá trị gia tăng của gỗ ngay tại địa phương.
Ông Henri Djombo, Bộ trưởng Môi trường và Lâm nghiệp Cộng hòa Congo cho biết Congo mong muốn phát huy thế mạnh của ngành công nghiệp gỗ bằng cách kêu gọi doanh nghiệp của những nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, B, đầu tư vào lĩnh vực này.
Cộng hòa Congo thành viên của Liên hợp quốc, Tổ chức Pháp ngữ, Phong trào KLK, IMF, WTO... Nước này đang triển khai đường lối đối ngoại mở cửa, tranh thủ vốn và kỹ thuật của Mỹ, phương Tây (chủ yếu là Pháp) và các tổ chức quốc tế (như World Bank và IMF) nhằm khôi phục hạ tầng cơ sở, cải thiện mức sống của nhân dân, đưa Congo, một nước dầu mỏ trở lại con đường phát triển kinh tế sau nhiều năm nội chiến.
Congo cắt quan hệ ngoại giao với Sahraoui Dân chủ sau chuyến thăm của Charles Ganao sang Maroc (tháng 9 năm 1996). Ngày 26 tháng 12 năm 1998, Congo ký Hiệp ước không xâm lược với Cộng hòa Dân chủ Congo (Congo K) của chính quyền Kabila.
Cộng hòa Congo được chia thành 12 bang. Các bang được chia thành xã và huyện. Đó là:
Tôn giáo tại Cộng hòa Congo (2011)
Cộng hòa Congo có số lượng dân cư thưa thớt, phần lớn dân số tập trung ở phần phía Tây Nam của đất nước, để lại những khu vực rộng lớn của khu rừng nhiệt đới ở miền Bắc hầu như không có người ở. Do đó, Congo là một trong những nước có mức đô thị hóa cao nhất ở châu Phi, với 70% tổng dân số sống ở khu vực đô thị, cụ thể là tại Brazzaville, Pointe-Noire hoặc một trong những thành phố nhỏ, làng dọc theo chiều dài 534 km đường sắt nối liền hai thành phố lớn này. Trong khu vực nông thôn, hoạt động công nghiệp và thương mại đã giảm nhanh chóng trong những năm gần đây, để lại nền kinh tế nông thôn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của chính phủ và tự cung tự cấp.
Dân tộc và ngôn ngữ của Cộng hòa Congo là đa dạng. Nước này công nhận 62 ngôn ngữ được nói trong nước, nhưng cia thành ba loại ngôn ngữ chính. Các bộ tộc thuộc sắc tộc Kongo là nhóm dân tộc lớn nhất chiếm khoảng một nửa dân số. Các nhóm đáng chú ý nhất của Kongo là Laari sống tại tại Brazzaville, Pool, Vili và xung quanh Pointe-Noire và dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Nhóm lớn thứ hai là người Teke sống ở phía bắc Brazzaville chiếm 17% dân số. Người Boulangui (M'Boshi) sống ở phía tây bắc và ở Brazzaville chiếm 12% dân số.Người Pygmy chiếm 2% dân số Congo.
Trước khi cuộc chiến tranh năm 1997, có khoảng 9.000 người châu Âu và các quốc gia châu Phi sống ở Congo, nhất là những người Pháp, hiện giờ chỉ có một phần nhỏ của con số này vẫn còn ở lại. Khoảng 300 người Mỹ cư trú tại Congo.
Người dân Cộng hòa Congo phần lớn theo Công giáo và Tin Lành, khoảng 50,5% và 40,2% dân số. Phần lớn các Kitô hữu trong nước là Công giáo Rôma, trong khi số còn lại bao gồm nhiều giáo phái Kitô giáo khác. Tín đồ Hồi giáo chiếm 1,3% dân số, chủ yếu là do một làn sóng lao động nước ngoài sang ở tại các trung tâm đô thị.
Giáo dục công về mặt lý thuyết là miễn phí và bắt buộc cho trẻ dưới 16 tuổi, nhưng trong thực tế, chi phí cho việc học tập vẫn tồn tại. Tỷ lệ học sinh tiểu học là 44% trong năm 2005, ít hơn nhiều so với 79% vào năm 1991.
Giáo dục ở độ tuổi từ sáu đến mười sáu là bắt buộc. Học sinh hoàn thành sáu năm học tiểu học, bảy năm trung học cơ sở mới có được bằng tú tài. Ở trường đại học, sinh viên học cử nhân trong ba năm và thạc sĩ là bốn năm. Đại học Marien Ngouabi cung cấp các khóa học trong y học, pháp luật và một số các lĩnh vực khác, đây là đại học công lập duy nhất của đất nước.
Hệ thống giáo dục ở Cộng hòa Congo gần như hoàn toàn theo mô hình hệ thống giáo dục của Pháp. Cơ sở hạ tầng giáo dục đã xuống cấp nghiêm trọng do hậu quả của cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế. Không có ghế trong hầu hết các lớp học, buộc trẻ em ngồi trên sàn nhà.
|
Cộng hòa Dân chủ Congo
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Cộng hòa Dân chủ Congo (tiếng Pháp: "République Démocratique du Congo") là một quốc gia ở Trung Châu Phi. Cộng hòa Dân chủ Congo còn được gọi là Congo-Leopoldville, hay Congo-Kinshasa vì thủ đô là Kinshasa, hay Zaire.
Đây là quốc gia có diện tích lớn thứ hai ở châu Phi. Mặc dù nằm ở tiểu vùng Trung Phi theo cách xác định của Liên Hợp Quốc, song quốc gia này hay được xem thuộc vùng Nam châu Phi vì là một thành viên của Cộng đồng Phát triển Nam Phi (SADC). Quốc gia này có biên giới với Cộng hòa Trung Phi và Nam Sudan ở phía Bắc, Uganda, Rwanda, Burundi, Tanzania ở phía Đông, Zambia và Angola ở phía Nam, và Cộng hòa Congo ở phía Tây. Quốc gia có đường bờ biển dài chỉ 40 km ở Muanola, trong đó có tới khoảng 9 km là cửa sông Congo đổ vào vịnh Guinea ở Đại Tây Dương. Cái tên Congo (nghĩa đen: Người đi săn) được đặt theo tên sắc tộc Kongo sống ở lưu vực sông Congo.
Vốn là một thuộc địa của Bỉ (Congo thuộc Bỉ), quốc gia này giành được độc lập vào năm 1960, mang tên "Cộng hòa Congo" cho đến ngày 01 tháng 10 năm 1971 thì được tổng thống Mobutu đổi tên thành Zaire, phát âm từ Bồ Đào Nha của chữ Nzere hay Nzadi của Kikogo, được dịch là "Dòng sông nuốt chửng tất cả các dòng sông". Sau cuộc chiến Congo lần thứ nhất lật đổ Mobutu vào năm 1997, đất nước này lại được đổi tên là Cộng hòa Dân chủ Congo. Từ năm 1998 đến năm 2003, đất nước đã chịu nhiều đau khổ từ sự tàn phá của cuộc chiến Congo lần thứ hai (đôi khi được gọi là Chiến tranh thế giới ở châu Phi).
Cộng hòa Dân chủ Congo nằm ở Trung Phi, đường xích đạo đi ngang qua, nằm chếch về phía trên. Cộng hòa dân chủ Congo có diện tích lớn hàng thứ ba ở châu Phi, sau Sudan và Algérie, Bắc giáp Cộng hòa Trung Phi và Sudan; Tây Nam giáp Angola và Nam giáp Zambia; Đông giáp Uganda, Rwanda, Burundi và Tanzania; Tây giáp Đại Tây Dương và Cộng hòa Congo Quốc gia này chỉ có một hành lang hẹp thông ra Đại Tây Dương. Lãnh thổ cả nước trải rộng trên vùng chậu được bao phủ bởi rừng rậm xích đạo ẩm và nóng, tương ứng với khoảng 2/3 diện tích vùng lưu vực sông Congo. Ở phía Đông, Cộng hòa Dân chủ Congo tựa lưng vào những vùng đất cao của Đông Phi, tiếp đó là dãy lũng hẹp dài có các hồ Albert (Mobutu), Edward, Kivu, Tanganyika đặt mốc cho biên giới chung với các nước ở phía Đông. Cư dân tập trung ở các vùng cao thuộc rìa phía Đông có khí hậu trong lành, nhất là ở một phần ba lãnh thổ phía Nam, tại đó rừng thưa và các đồng cỏ xen nhau (Kinshasa và Kangtaga). Nhìn chung, nhân dân Congo gồm chừng 60 tộc người gia tăng mạnh ở các thành phố (44,3% số dân).
Các sông chính có Sông Congo (4.700 km, lưu lượng lớn nhất châu Phi), sông Lualaba (1.770 km), sông Lomami (1.500 km), sông Aruwimba, sông Uélé, sông Tahuapa, sông Lukénie, sông Kasai.
Vùng lãnh thổ thuộc Cộng hòa Dân chủ Congo là nơi định cư của hai nhóm sắc tộc Bantu và Pygmy, bị phân chia thành những địa hạt tù trưởng và các vương quốc. Lịch sử vùng này được đánh dấu bởi sự ra đời của ba vương quốc lớn. Vương quốc Kongo được thành lập trên phần lãnh thổ phía Bắc Angola hiện nay, bên vùng cửa sông Congo từ thế kỷ XIV. Vương quốc của người Luba (hoặc Baluba) được thành lập từ thế kỷ XVI trong vùng cao nguyên Katanga. Vương quốc Lunda gồm một phần của vùng Kasai, được thành lập vào thế kỷ XVII. Các vương quốc này xâu xé nhau bởi các cuộc tranh chấp trong vùng và bị tàn phá do chế độ buôn bán nô lệ.
Nhà nước Congo tự do (1870 – 1908).
Sau các cuộc thám hiểm của Henry Stanley tiến sâu vào lãnh thổ bên trong bằng đường sông Congo (1874-1884), Nhà nước Tự do Congo được thành lập (Hội nghị Berlin, 1885) và thuộc quyền sở hữu cá nhân của vua Bỉ, Léopold II, ông ta đã thâu tóm một gia tài khổng lồ từ ngà voi và cao su do bóc lột sức lao động của nô lệ. Khoảng 10 triệu người đã chết do lao động cưỡng bức, đói khát và bị giết chết trong suốt thời kì cai trị thuộc địa của Leopold.
Sự quản lý của Bỉ (1908 – 1960).
Từ năm 1908, Congo trở thành thuộc địa của Bỉ. Bỉ đã xây dựng và phát triển mạng lưới đường bộ và đường sắt tại thuộc địa này để chuyên chở các sản phẩm khai thác từ hầm mỏ và các đồn điền về chính quốc. Cư dân thành thị và công nhân phát triển mạnh làm xuất hiện các phong trào dân tộc chủ nghĩa.
Chính trị khủng hoảng (1960 – 1965).
Năm 1960, Congo giành được độc lập. Vùng Katanga, dưới sự lãnh đạo của Moise Tschombé, tuyên bố li khai. Đồng thời, chính quyền trung ương lại chia thành những người ủng hộ thể chế liên bang của Tổng thống Kasanubu và những người ủng hộ chế độ hợp nhất của Thủ tướng Lumumba. Năm 1961, Thủ tướng Lumumba bị ám sát, nội chiến vẫn tiếp tục kéo dài. Liên Hợp Quốc gởi quân đội đến can thiệp (1961-1963) và lực lượng lính dù của Bỉ được phái đến để tiêu diệt quân phiến loạn ủng hộ Thủ tướng Lumumba (1964).
Năm 1965, Tướng Mobutu lên nắm quyền sau cuộc đảo chính, mở ra một thời kì tương đối ổn định. Cộng hòa Congo, còn gọi Congo-Kinshasa được đổi tên thành Zaire năm 1971.
Thời kỳ Zaire (1971 – 1997).
Năm 1977, Tổng thống Mobutu kêu gọi sự giúp đỡ của Pháp khi phải đối mặt với những nguy cơ đòi li khai ngày càng phát triển mạnh.
Từ năm 1990, làn sóng phản đối ngày càng tăng cao buộc Tổng thống Mobutu phải nhượng bộ. Năm 1994, khoảng một triệu người Hutu và Rwanda sang tị nạn ở miền đông Congo, làm cho cuộc khủng hoảng chính trị thêm trầm trọng. Năm 1997, cuộc đấu tranh chống lại sự kiểm soát của quyền lực trung ương đã dẫn dến việc ra đi của Tổng thống Mobutu.
Xung đột và sự chuyển tiếp (1996 – nay).
Laurent-Désiré Kabila lên cầm quyền và tuyên bố đổi tên nước thành Cộng hòa Dân chủ Congo. Năm 1998, các lực lượng liên minh cũ của Tổng thống L. D. Kabila nhờ sự ủng hộ của Rwanda và Uganda, đã nổi dậy chống lại chính quyền trung ương, đẩy đất nước vào cuộc chiến tranh mới. Tháng 1 năm 2001. Tổng thống Kabila bị ám sát và con trai là Joseph Kabila lãnh đạo đất nước.
Tổng thống Kevin tiến hành các cuộc đàm phán nhằm - chấm dứt cuộc nội chiến. Tháng 4 năm 2002, chính phủ đồng ý một thỏa thuận chia sẻ quyền lực với quân nổi dậy do Uganda hậu thuẫn. Tháng 7 năm 2002, Tổng thống Cộng hòa Dân chủ Congo và Tổng thống Rwanda cùng ký hiệp ước: Rwanda hứa rút 35.000 quân khỏi biên giới phía Đông Cộng hòa Dân chủ Congo, còn Cộng hòa Dân chủ Congo sẽ giải trừ vũ khí của hàng ngàn dân quân Hutu đang đóng trên lãnh thổ Cộng hòa Dân chủ Congo và đe doạ đến an ninh Rwanda - nhiều người trong số họ đã ủng hộ hoặc tham gia cuộc diệt chủng người Tutsi Rwanda năm 1994. Tháng 9 năm 2002, Uganda và Cộng hòa Dân chủ Congo ký hiệp định hòa bình.
Một Chính phủ chuyển tiếp đã ra đời vào tháng 7 năm 2003, đứng đầu là Tổng thống Joseph Kabila và 4 phó Tổng thống là các đại diện của Chính phủ trước đây, lực lượng nổi dậy và phe đối lập. Chính phủ chuyển tiếp đã tổ chức thành công cuộc trưng cầu dân ý về Hiến pháp tháng 12 năm 2005. Trong cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng 8 năm 2006, ông Kabila đã tái đắc cử và tiếp tục điều hành đất nước. Theo hiến pháp nước này, Thủ tướng do Tổng thống chỉ định. Cuộc bầu cử tiếp theo sẽ được dự kiến tổ chức vào tháng 11 năm 2011.
Từ tháng 3 năm 2012, nhóm phiến quân nổi loạn, được gọi là M23, đã nổi dậy buộc 470.000 người ở Bắc Kivu, tỉnh giàu khoáng sản ở miền Đông Cộng hoà Dân chủ Congo và nằm sát biên giới chung với Uganda và Rwanda, phải đi lánh nạn. Đầu tháng bảy vừa qua, M23 tuyên bố đã giành quyền kiểm soát nhiều thị trấn, trong đó có vị trí chiến lược Rutshuru tại tỉnh Bắc Kivu.
M23, nhóm nổi loạn nguyên là quân đội người Tutsi sáp nhập vào quân đội Cộng hoà dân chủ Congo từ năm 2009 nhưng đầu năm nay đã đào ngũ với lý do bất đồng về lương bổng và các điều kiện sinh hoạt. Nhóm nổi loạn cũng đã đặt ra các điều kiện với Chính phủ Cộng hoà Dân chủ Congo như người tị nạn Congo ở Rwanda được hồi hương, thúc đẩy dân chủ cũng như xác nhận vị trí cấp bậc mà các thành viên M23 từng giữ trong quân đội Cộng hoà Dân chủ Congo.
Liên Hợp Quốc đã gửi quân đến để hỗ trợ lực lượng chính phủ trấn áp phe nổi loạn. Cho đến tháng 8 năm 2012, tình hình an ninh tại CHDC Congo tại một số vùng vẫn chưa ổn định.
Quốc gia này được chia thành 10 tỉnh và 01 thành phố cấp tỉnh. Đến lượt các tỉnh lại chia thành các huyện và huyện chia thành các vùng lãnh thổ.
Khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm ở các khu vực trũng hai bên bờ sông thuộc vùng xích đạo; mát và khô hơn ở các vùng cao nguyên phía Nam; mát và ẩm hơn các vùng cao nguyên phía Đông. Vùng phía Bắc xích đạo: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 2; vùng phía Nam xích đạo: mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 4, mùa khô từ tháng 4 đến tháng 10.
Tình trạng ô nhiễm nguồn nước; nạn phá rừng; đất bị xói mòn; nạn săn bắt trái phép và nguy cơ thú rừng bị tuyệt chủng.
Ngày 30 tháng 7 năm 2006, Cộng hòa Dân chủ Congo bầu cử Tổng thống và Quốc hội theo chế độ đa đảng. Đây là cuộc tổng tuyển cử đa Đảng đầu tiên trong hơn 40 năm qua tại Cộng hòa Dân chủ Congo, dưới sự giám sát của 1.500 quan sát viên nước ngoài; hơn 17.000 binh lính thuộc lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc và 1.000 binh sĩ thuộc Liên minh châu Âu bảo đảm an ninh cho cuộc bầu cử. Sau vòng 2, ông Joseph Kabia đã giành thắng lợi với 58,05% số phiếu.
Chính quyền của Tổng thống J. Kabila có nhiều nỗ lực nhằm ổn định tình hình, khắc phục hậu quả nặng nề do nội chiến để lại và thực hiện hoà giải, hoà hợp dân tộc; song vẫn còn các cuộc đụng độ phe phái - sắc tộc, nhất là ở khu vực phía Đông có sự dính líu của Rwanda và Uganda.
Tháng 1 năm 2008, tại Goma, thủ phủ tỉnh Bắc Kivu (North Kivu), Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Congo và lực lượng nổi dậy thuộc Phong trào Mai Mai và tướng đào ngũ Laurent Nkunda đã ký Hiệp định nhằm chấm dứt nội chiến kéo dài ở miền Đông nước này.
Cộng hòa Dân chủ Congo (CHDC) Congo nằm trong số những nước nghèo nhất thế giới, với GDP thấp đứng hàng thứ hai. CHDC Congo được nhiều nước giàu có chú ý tới bởi nguồn tài nguyên phong phú của quốc gia này; các mỏ nguyên liệu khoáng thô chưa được khai thác của quốc gia này có trị giá hơn 24 tỷ đô la.
Tuy nhiên, nền kinh tế của CHDC Congo đã bị suy thoái từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX. Vào thời điểm độc lập năm 1960, CHDC Congo là một nước công nghiệp hóa thứ 2 ở châu Phi sau Nam Phi, dựa chủ yếu vào ngành công nghiệp khai thác mỏ và nền nông nghiệp tương đối có hiệu quả. Hai cuộc chiến trong thời gian sau đó, bắt đầu từ năm 1996, đã làm sản xuất và nguồn thu ngân sách giảm sút nghiêm trọng, trong khi đó nợ nước ngoài lại tăng. Cuộc chiến còn cướp đi sinh mạng của 3,5 triệu người do bạo lực, nạn đói và bệnh tật. Những nhà kinh doanh cắt giảm các hoạt động đầu tư do lo ngại các cuộc xung đột, thiếu cơ sở hạ tầng, và môi trường kinh doanh khó khăn. Tình hình đã được cải thiện vào cuối năm 2002 khi mà lực lượng chiếm đóng bắt đầu rút quân khỏi Congo. Chính phủ chuyển tiếp đã nối lại quan hệ với các thiết chế tài chính và các nhà tài trợ quốc tế. Tổng thống Kabila bắt đầu tiến hành cải cách. Nhiều các dự án được tiến hành thúc đẩy tăng trưởng GDP. Kinh tế CHDC Congo bắt đầu tăng trưởng ổn định trong giai đoạn 2003 – 2005 bất chấp những khó khăn do khuôn khổ pháp lý chưa rõ ràng, nạn tham nhũng, và các chính sách mở cửa chưa thông thoáng. Suy thoái kinh tế toàn cầu đã khiến cho tốc độ tăng trưởng của nước này năm 2009 giảm 1 nửa so với năm 2008, tuy nhiên chỉ số này đã hồi phục và tăng trưởng 6% năm 2010.
Năm 2010, tổng sản phẩm quốc nội của CHDC Congo tăng trưởng 6%, đạt 12,6 tỷ USD. Và GDP bình quân đầu người của nước này là 176 USD/người/năm. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong ổn định nền kinh tế, nhưng tỷ lệ lạm phát của nước này là khá cao, khoảng 26,2%.
Congo là một nước nông nghiệp. Phần đông dân cư sống bằng nghề nông. Hàng năm, nông nghiệp đóng góp khoảng 37,4% GDP cho đất nước này. Các loại nông sản chính của Congo là: cà phê, đường, dầu cọ, chè, miến, chuối, ngô, hoa quả và các sản phẩm gỗ, cao su…
CHDC Congo là nước có nguồn dự trữ về tài nguyên và khoáng sản vô cùng phong phú. Công nghiệp của Congo chủ yếu là khai khoáng, là nhà sản xuất cobalt lớn nhất thế giới. Congo có 70% trữ lượng coltan của thế giới, và hơn 30% kim cương. chủ yếu là dạng kim cương nhỏ, công nghiệp. Năm 2002, thiếc đã được phát hiện ở phía đông của quốc gia này nhưng cho đến nay việc khai thác chỉ ở quy mô nhỏ. Buôn lậu liên quan đến khoáng sản, coltan và cassiterit như đã đổ thêm dầu vào lửa cho các cuộc chiến tranh ở miền đông Congo. Katanga Mining Limited, một công ty của Thụy Sĩ, sở hữu nhà máy luyện kim Luilu, có công suất 175.000 tấn đồng và 8.000 tấn cobalt mỗi năm, là nhà sản tinh chế cobalt lớn nhất thế giới. Sau một chương trình phục hồi lớn, công ty này đã khởi động lại vào tháng 12 năm 2007 và sản xuất cobalt vào tháng 5 năm 2008. CHDC Congo cũng sở hữu 50% diện tích rừng ở châu Phi và hệ thống sông suối cung cấp nhiều thuận lợi cho khai thác thủy điện, theo báo cáo của UN về ý nghĩa chiến lược và vai trò tiềm năng của quốc gia này thì đây được xem là một động lực kinh tế ở Trung Phi. Ngoài ra còn có các ngành công nghiệp phục vụ tiêu dùng (dệt may, giày dép, sản xuất đồ ăn và đồ uống), sửa chữa tàu.. Hàng năm, công nghiệp đóng góp vào khoảng 11% GDP của nước này.
Dịch vụ hàng năm đóng góp khoảng 1/3 GDP cho đất nước. Tuy nhiên ngành dịch vụ du lịch chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các cuộc nội chiến liên miên trước đây và đại dịch COVID-19.
Về ngoại thương, năm 2009, CHDC Congo xuất khẩu 3,8 tỷ USD hàng hoá các loại. Trong đó các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt là kim cương, đồng, cà phê, dầu thô và côban. Các bạn hàng xuất khẩu chính của nước này là: Bỉ, Phần Lan, Mỹ, Trung Quốc.
Kim ngạch nhập khẩu năm 2009 của Congo đạt 3,8 tỷ USD. Các mặt hàng mà Congo thường nhập khẩu là lương thực, xăng dầu và các thiết bị vận tải. Các đối tác nhập khẩu hàng từ CHDC Congo là Nam Phi, Bỉ, Pháp, Zambia, Kenya, Mỹ, Đức.
60.085.000 người (ước tính 2005)
Mật độ dân số.
Xấp xỉ 19 người/km2.
Trong số các nhóm dân tộc Phi, dân tộc Bantu chiếm đa số; có 4 bộ lạc lớn nhất là Mongo, Luba, Kongo (tất cả thuộc dân tộc Bantu), và Mangbetu-Azande (Hamities), chiếm khoảng 45% tổng số dân.
Tôn giáo tại CHDC Congo (2013)
templatestyles src="Legend/" / Công giáo Roma
(36.8%)templatestyles src="Legend/" / Tin Lành
(32%)templatestyles src="Legend/" / Phi Cơ Đốc giáo
(11.2%)templatestyles src="Legend/" / Hồi giáo Sunni
(6%)templatestyles src="Legend/" / Hồi giáo Shia
Thiên Chúa giáo 50%, Tin lành 20%, Giáo hội Kimbanguist 10% một nhánh Tin lành được sáng lập tại Conggo, Hồi giáo 10%, tôn giáo khác (bao gồm giáo phái đồng bộ và tín ngưỡng bản địa) 10%. Cộng hòa Dân chủ Congo cũng là quốc gia có số dân theo đạo Công giáo lớn nhất châu Phi với hơn 28 triệu tín hữu.
Hệ thống giáo dục Congo chưa phát triển, cơ sở vật chất nghèo nàn và rất thiếu cán bộ, tỷ lệ học sinh đến trường thấp. Năm 2001, tỉ lệ người biết chữ được ước tính là 67,2% (80,9% ở nam và 54,1% ở nữ).
Hệ thống giáo dục của CHDC Congo được quản lý bởi 3 bộ thuộc chính phủ: "Ministère de l'Enseignement Primaire, Secondaire et Professionnel"(Bộ tiểu học, trung học và chuyên nghiệp), "Ministère de l'Enseignement Supérieur et Universitaire (Bộ Đại học và sau đại học)" và "Ministère des Affaires Sociales (Bộ Xã hội)". Hệ thống giáo dục của CHDC Congo giống của Bỉ. Năm 2002, có hơn 19.000 trường tiểu học với 160.000 học sinh; và 8.000 trường trung học với 110.000 học sinh. Giáo dục tiểu học là miễn phí và bắt buộc (điều 43 của Hiến pháp Congo 2005).
Tỉ lệ nhập học thô được tính dựa trên số học sinh đăng ký chính thức ở các trường tiểu học và sau đó không cần thiết phản ảnh qua số học sinh thực tế theo học. Năm 2000, 65% trẻ ở độ tuổi 10-14 đã đi học. Do ảnh hưởng của cuộc nội chiến 6 năm, hơn 5,2 triệu trẻ em ở quốc gia này phải thất học.
Giao thông đường bộ ở CHDC Congo rất khó khăn do nhiều yếu tố địa hình và khí hậu cản trở, và khoảng cách đi lại giữa những khu vực trên đất nước này rất lớn. Hơn nữa, quản lý kinh tế yếu kém kéo dài và xung đột nội bộ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đầu tư trong nhiều năm qua. Ngoài ra, đất nước này có hàng ngàn km đường thủy, và vận tải đường thủy truyền thống có thể di chuyển trong khoảng 2/3 chiều dài đất nước này.
Tất cả các nhà vận tải đường không được CHDC Congo cấp phép đều bị cấm khai thác ở các sân bay của Liên minh châu Âu do không đủ tiêu chuẩn an toàn.
Rừng nhiệt đới ở CHDC Congo có độ đa dạng sinh học rất cao, sở hữu nhiều loài đặc hữu và quý hiếm như tinh tinh thông thường và tinh tinh lùn, voi rừng, khỉ đột núi, hươu đùi vằn và tê giác trắng. Năm trong số các vườn quốc gia của đất nước này được xếp vào danh sách các di sản thế giới gồm: Garumba, Kahuzi-Biega, Salonga và vườn quốc gia Virunga, và Khu dự trữ động vật hoang dã Okapi. Cuộc nội chiến và các điều kiện kinh tế yếu kém đã đe dọa sự đa dạng sinh học ở đây. Tất cả các vườn quốc gia được liệt kê ở trên đều trong diện Di sản bị đe dọa.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Hoàng Trọng (1922 – 1998) là một nhạc sĩ nhạc tiền chiến Việt Nam. Ông được biết đến qua một số ca khúc như, "Cánh hoa yêu", "Ngàn thu áo tím" và "Tiễn bước sang ngang". Ông còn được xem là "Vua Tango" của nền âm nhạc Việt Nam.
Hoàng Trọng tên thật là Hoàng Trung Trọng, sinh năm 1922 tại Hải Dương. Đến năm 1927, cả gia đình ông chuyển về sinh sống tại Nam Định.
Năm 1933, ông bắt đầu học nhạc qua người anh của ông là Hoàng Trung Quý. Đến năm 1937, ông học nhạc tại trường dòng Saint Thomas Nam Định. Đến năm 1941, ông bắt đầu học nghiên cứu hàm thụ âm nhạc tại một trường âm nhạc tại Paris.
Khi ông lên 15 tuổi, ông cùng các anh em trong gia đình và một số nhạc sĩ như Đan Thọ, Bùi Công Kỳ, Tạ Phước, Đặng Thế Phong thành lập một ban nhạc. Mãi sau này, đến năm 1945, ông mới lấy tên ban nhạc là Thiên Thai, dựa theo tên phòng trà mà ông mở tại Nam Định. Năm 1946, do chiến tranh, ông di tản từ Nam Định qua Nho Quan, Phát Diệm và đến năm 1947, ông đã định cư tại Hà Nội.
Năm 1950, ông gia nhập quân đội và làm trưởng ban Quân nhạc Bảo Chính Đoàn trình diễn tại vườn hoa cạnh bưu điện Hà Nội.
Năm 1954, ông cùng ba người con, bao gồm Hoàng Nhạc Đô, Hoàng Bạch La và Hoàng Cung Fa di cư vào Nam. Khi mới vào Sài Gòn, ông sống tại khu vực đường Phan Văn Trị tại Chợ Lớn và có mở một lớp dạy nhạc tại đây. Thời điểm này, ông có phụ trách cho một số ban nhạc trên Đài Phát thanh Sài Gòn. Đến năm 1967, ông phụ trách cho ban hợp xướng Tiếng Tơ Đồng. Ban nhạc của ông gồm một số ca sĩ thời điểm đó, như Thanh Sơn, Lệ Thanh, Mai Hươ, Châu Hà, Kim Tước để thành lập ban tam ca Kim Mộc Châu.
Sau năm 1975, ông chỉ sáng tác thánh ca và một số bài hát lưu hành trong gia đình. Năm 1992, ông sang Hoa Kỳ định cư và qua đời ngày 16 tháng 7 năm 1998.
Ông kết hôn với một người ở Nam Định và có ba người con. Ba người con của ông đều được đặt tên theo nốt nhạc, trong đó có Hoàng Nhạc Đô sau này là một nhạc sĩ. Tuy nhiên, do vợ ông nghĩ rằng ông có người khác bên ngoài nên đã chia tay khi con gái ông chỉ ba tháng tuổi. Năm 1978, ông kết hôn với Thu Tâm, là một ca sĩ trong ban "Tiếng Tơ Đồng" của ông.
Năm 1938, lúc ông 16 tuổi, ông đã viết ca khúc đầu tay là bài hát "Đêm trăng". Ông còn viết thêm một số bài hát khác trong thời điểm đó, như "Tiếng đàn tôi"...Sau đó, ông đã viết rất nhiều bài theo điệu Tango, như bài "Phút chia ly" khi ông đi tản cư, "Buồn nhớ quê hương", "Nhạc sầu tương tư", "Khóc biệt kinh kỳ" khi ông di cư vào Nam năm 1954. Riêng ca khúc Buồn nhớ quê hương đã đoạt giải thưởng sáng tác vào năm 1952.
Hoàng Trọng được xem là "Vua Tango" của nền tân nhạc Việt Nam vì ông đã viết hơn rất nhiều ca khúc theo điệu Tango được công chúng biết đến, như "Lạnh lùng", "Mộng lành", "Tiễn bước sang ngang", "Ngỡ ngàng"... Riêng một phần bài "Tiễn bước sang ngang" đã từng được truyền miệng sang miền Bắc với tên "Giã từ" và để tên tác giả là "Nhạc Liên Xô".
Ông sáng tác hơn 200 bài nhạc, tuy nhiên chỉ có 40 bài do ông tự đặt lời, còn lại là do một số nhạc sĩ hay nhà thơ như Hồ Đình Phương, Hoàng Dương, Vĩnh Phú
Ông còn viết nhạc cho một số nhạc phim như "Xin nhận nơi này làm quê hương", "Giã từ bóng tối", "Người tình không chân dung", "Sau giờ giới nghiêm", "Bão tình"... Riêng nhạc phim mà ông viết cho phim "Triệu phú bất đắc dĩ", ông được giải thưởng Văn học Nghệ thuật của Việt Nam Cộng hòa trong năm 1972 - 1973.
Sau năm 1975, ông chỉ viết một số bài hát Thánh ca và một số bài tình ca, trong đó có bài "Chiều rơi đó em" viết năm 1979. Sau này, khi ông được bảo lãnh sang Hoa Kỳ, ông viết thêm 3 bản nhạc nữa cho đến khi qua đời.
|
Hiệp định về Nông nghiệp
Hiệp định về Nông nghiệp (tiếng Anh: "Agreement on Agriculture", viết tắt là AoA) là một trong các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Nó được ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995, cũng là ngày mà WTO chính thức đi vào hoạt động.
Hiệp định đưa ra ba loại trợ cấp nông nghiệp đó là: Trợ cấp màu hổ phách (bị cấm), trợ cấp màu xanh da trời (có thể bị kiện) và trợ cấp màu xanh lá cây (không bị kiện).
Mục tiêu của Hiệp định về Nông nghiệp là tiến hành cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng các chính sách nông nghiệp có định hướng thị trường hơn nữa. Hiệp định cũng nhằm nâng cao khả năng dự đoán trước các thay đổi và đảm bảo an ninh lương thực cho các nước xuất khẩu cũng như nhập khẩu.
Các quy định và cam kết trong Hiệp định Nông nghiệp được xây dựng xoay quanh ba nhóm vấn đề chính được gọi là ba trụ cột ("pillars"). Đó là:
Hiệp định cho phép các chính phủ khuyến khích khu vực kinh tế nông thôn, nhưng nên thông qua các chính sách ít làm biến dạng thương mại. Hiệp định cho phép có sự linh động trong việc thực thi các cam kết. Các nước đang phát triển không cần phải giảm bớt trợ cấp hay cắt giảm thuế quan nhiều như các nước phát triển. Họ cũng có thời gian chuyển tiếp dài hơn để thực hiện các cam kết của mình. Các nước kém phát triển hoàn toàn không phải thực hiện những cam kết giống như của các nước phát triển và đang phát triển. Hiệp định cũng có những điều khoản đặc biệt giải quyết mối quan tâm của các nước phải nhập khẩu lương thực và các nước kém phát triển.
|
Hiệp định về Hàng Dệt may
Hiệp định về Hàng Dệt may (tiếng Anh: "Agreement on Textiles and Clothing", viết tắt là ATC) được ký kết cùng với đa số các hiệp định khác của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tại Vòng đàm phán Uruguay. Nó thay thế cho Thỏa thuận Đa sợi (MFA) để quản lý thương mại quốc tế trong lĩnh vực hàng dệt may. Đây là hiệp định duy nhất của WTO có điều khoản tự huỷ. Theo quy định được ghi trong hiệp định, nó đã hết hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2005, và thương mại hàng dệt may đã quay về áp dụng theo các quy định chung của GATT 1994. Điều đó có nghĩa là chấm dứt chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may và các nước nhập khẩu không còn có thể có các biện pháp phân biệt đối xử đối với hàng dệt may của các nước xuất khẩu khác nhau.
Về nguyên tắc, Hiệp định về Hàng Dệt may cho phép các nước thành viên áp dụng hạn ngạch đối với hàng dệt may. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian 10 năm (từ 1995 đến 2004), các thành viên phải dần dần dỡ bỏ rào cản này. Việc dỡ bỏ được thực hiện theo 4 bước, cho phép cả nước xuất khẩu lẫn nước nhập khẩu điều chỉnh theo tình hình mới. Hạn ngạch ban đầu của một nước thành viên được áp dụng theo hạn ngạch mà nước đó đặt ra tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 1994.
Hiệp định quy định tỷ lệ hàng dệt may phải đưa vào áp dụng quy định chung của GATT 1994 tại mỗi bước nêu trên. Nếu trong số đó có các mặt hàng dệt may đang áp dụng hạn ngạch thì hạn ngạch phải bị dỡ bỏ. Những tỷ lệ này được quy định dựa theo mức trao đổi thương mại hàng dệt may của nước nhập khẩu vào năm 1990. Hiệp định cũng quy định rằng khối lượng nhập khẩu cho phép theo hạn ngạch phải được tăng lên mỗi năm theo một tỷ lệ nhất định, và qua mỗi bước, tỷ lệ này cũng phải tăng lên. Tỷ lệ tăng lên đó được xác định dựa trên một công thức tính với giá trị là tốc độ tăng nhập khẩu qua các năm áp dụng Thỏa thuận Đa sợi.
|
Vải còn gọi lệ chi (danh pháp hai phần: Litchi chinensis) là một loài thực vật có hoa thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae). Loài này được Pierre Sonnerat miêu tả khoa học đầu tiên năm 1782.
Vải là loại cây ăn quả thân gỗ vùng nhiệt đới, có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc; tại đó người ta gọi là 荔枝 (bính âm: lìzhī, Hán-Việt: lệ chi), phân bố trải dài về phía nam tới Indonesia và về phía đông tới Philippines (tại đây người ta gọi nó là "alupag").
Vải là cây thường xanh với kích thước trung bình, có thể cao tới 15–20 m, có lá hình lông chim mọc so le, mỗi lá dài 15–25 cm, với 2-8 lá chét ở bên dài 5–10 cm và không có lá chét ở đỉnh. Các lá non mới mọc có màu đỏ đồng sáng, sau đó chuyển dần thành màu xanh lục khi đạt tới kích thước cực đại. Hoa nhỏ màu trắng ánh xanh lục hoặc trắng ánh vàng, mọc thành các chùy hoa dài tới 30 cm.
Quả là loại quả hạch, hình cầu hoặc hơi thuôn, dài 3–4 cm và đường kính 3 cm. Lớp vỏ ngoài màu đỏ, cấu trúc sần sùi, không ăn được nhưng dễ dàng bóc được. Bên trong là lớp cùi thịt màu trắng mờ, ngọt và giàu vitamin C, có kết cấu tương tự như của quả nho. Ở giữa quả là một hạt màu nâu, dài 2 cm và đường kính cỡ 1-1,5 cm. Hạt - tương tự như hạt của quả dẻ ngựa - có độc tính nhẹ và không nên ăn. Quả chín vào giai đoạn từ tháng 6 (ở các vùng gần xích đạo) đến tháng 10 (ở các vùng xa xích đạo), khoảng 100 ngày sau khi cây ra hoa.
Một số loài phụ:
Trồng và sử dụng.
Vải được trồng nhiều tại miền nam Trung Quốc cũng như ở khu vực Đông Nam Á, Ấn Độ, miền nam Nhật Bản và gần đây là tại Florida và Hawaii (Hoa Kỳ) cũng như các khu vực ẩm ướt thuộc miền đông Australia. Vải cần có khí hậu nóng vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới không có sương giá hoặc chỉ có mùa đông rét nhẹ với nhiệt độ không xuống dưới -4 °C và với mùa hè nóng bức, nhiều mưa và độ ẩm cao. Nó phát triển tốt trên các loại đất thoát nước tốt, hơi chua và giàu chất hữu cơ (mùn). Có nhiều giống cây trồng, với các giống chín sớm thích hợp với khí hậu nóng hơn còn các giống chín muộn thích hợp với khí hậu mát hơn. Ở một vài nơi người ta còn trồng vải làm cây cảnh.
Quả vải nói chung được bán để ăn tươi tại các chợ khu vực (trong những năm gần đây nó cũng được bán rộng rãi tại các siêu thị phương Tây). Vỏ màu đỏ chuyển thành nâu sẫm khi quả được vận chuyển bằng các phương tiện đông lạnh, nhưng mùi vị gần như không bị ảnh hưởng. Dưới dạng đóng hộp nó được bầy bán quanh năm.
Nguồn dẫn chiếu lịch sử chính thức đầu tiên của Trung Quốc về cây/quả vải có ở thời nhà Đường, khi nó là loại quả ưa thích của Dương Quý Phi, người thiếp yêu của hoàng đế Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng).
Người Quảng Đông cho rằng "ăn một quả vải bằng giữ ba ngọn đuốc trong người" (nguyên văn: 一啖荔枝三把火, "nhất đạm lệ chi tam bả hỏa"). Điều này muốn nói đến thuộc tính dương (nóng) của loại quả này. Ăn quá nhiều vải làm khô môi và có thể gây chảy máu cam ở một số người, cũng như có thể gây ra mụn nhọt hay loét miệng. Ngược lại, loại quả từ cây có quan hệ họ hàng là nhãn lại được coi là có các tính chất bổ dưỡng.
Giống vải được ưa chuộng nhất ở Việt Nam là vải thiều trồng tại khu vực huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, vải được trồng nhiều nhất ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Quả vải tại vùng Thanh Hà (Hải Dương) thông thường có hương vị thơm và ngọt hơn vải được trồng ở các khu vực khác (mặc dù cũng lấy giống từ đây). Một giống vải khác chín sớm hơn, có tên gọi dân gian là "vải tu hú", có hạt to hơn và vị chua hơn so với vải thiều. Nguyên do có tên gọi như vậy có lẽ là vì gắn liền với sự trở lại của một loài chim di cư là chim tu hú.
Vải ra hoa vào tháng 3 dương lịch và chín vào tháng 6. Thời điểm vải chín rộ thường bắt đầu từ giữa tháng 6 tới giữa tháng 7. Khoảng thời gian thu hoạch vải thiều thường ngắn, khoảng 2 tuần. Vì vậy nên với sản lượng lớn, người ta thường chế biến bằng cách sấy khô, sản phẩm sau đó gọi là vải khô.
Trong lịch sử Việt Nam, vải gắn liền với hai nhân vật lịch sử của Việt Nam là Mai Thúc Loan và Nguyễn Trãi. Mai Thúc Loan xuất thân là phu khuân vải cống nạp cho nhà Đường của Trung Quốc. Ông đã lãnh đạo dân chúng khởi nghĩa và sau lên ngôi làm Mai Hắc Đế. Vải còn được biết đến ở Việt Nam qua vụ án Lệ Chi Viên ("Vụ án vườn vải") liên quan đến Nguyễn Trãi.
|
Hiệp định về chống bán phá giá
Hiệp định về Chống bán Phá giá là một trong những hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay.
Tên đầy đủ của Hiệp định là Hiệp định về việc Thực thi Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994). Điều VI của GATT 1994 cho phép các thành viên có biện pháp chống lại hành vi bán phá giá. Hiệp định về Chống bán Phá giá quy định chi tiết các điều kiện để các thành viên WTO có thể thực hiện các biện pháp như vậy. Cả Hiệp định và Điều VI được sử dụng cùng nhau để điều chỉnh các biện pháp chống bán phá giá.
Điều kiện áp dụng.
Định nghĩa đầy đủ của hành vi bán phá giá được quy định trong Hiệp định. Nói một cách vắn tắt, đó là hành vi của một công ty bán một mặt hàng xuất khẩu thấp hơn giá thông thường mà họ bán mặt hàng đó tại thị trường trong nước. Để áp dụng biện pháp chống bán phá giá, nước nhập khẩu là thành viên WTO phải chứng minh được ba điều kiện sau:
Biện pháp áp dụng.
Khi thỏa mãn được ba điều kiện trên, Hiệp định cho phép thành viên WTO được phép áp dụng biện pháp chống bán phá giá với mặt hàng nhập khẩu bị điều tra. Các biện pháp này thường là áp thêm một khoản thuế nhập khẩu đối với sản phẩm bị coi là bán phá giá nhằm đưa mức giá của sản phẩm đó xấp xỉ với "giá trị thông thường" của nó hoặc để khắc phục thiệt hại đối với ngành sản xuất của nước nhập khẩu. Các biện pháp này nếu trong điều kiện bình thường là những hành vi vi phạm các nguyên tắc của WTO về ràng buộc thuế suất nhập khẩu và không phân biệt đối xử hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, biện pháp chống bán phá giá chỉ mang tính tạm thời nhằm loại trừ ảnh hưởng tiêu cực của hàng hoá nhập khẩu phá giá trên thị trường quốc gia nhập khẩu vì vậy các quốc gia chỉ được phép áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu thời hạn nhất định - tối đa là 5 năm.
Điều tra chống bán phá giá sẽ kết thúc ngay lập tức mà không đưa ra biện pháp chống bán phá giá nào nếu cơ quan chức năng xác định rằng biên độ phá giá không đáng kể (nhỏ hơn 2% giá xuất khẩu). Điều tra cũng chấm dứt nếu khối lượng hàng bán phá giá là không đáng kể (khối lượng hàng phá giá từ một nước bị điều tra nhỏ hơn 3% tổng nhập khẩu, đồng thời tổng khối lượng hàng phá giá từ tất cả các nước bị điều tra nhỏ hơn 7% tổng nhập khẩu).
Cơ quan theo dõi.
Hiệp định cũng quy định các thành viên phải báo cáo chi tiết ngay lập tức cho Ủy ban phụ trách các Hành động Chống bán Phá giá của WTO khi họ bắt đầu tiến hành điều tra sơ bộ cũng như khi đưa ra kết luận cuối cùng. Họ cũng phải báo cáo tổng kết hai lần mỗi năm cho Ủy ban tất cả những cuộc điều tra của họ. Khi có sự tranh cãi, các thành viên được khuyến khích tiến hành tham vấn lẫn nhau. Nếu tham vấn không đạt được kết quả, họ có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để giải quyết và phải chấp nhận kết quả giải quyết theo cơ chế này.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Họ Lạc tiên (danh pháp khoa học: Passifloraceae) là một họ thực vật có hoa chứa khoảng 935 loài trong khoảng 27 chi. Chúng bao gồm các loại cây thân gỗ, cây bụi, dây leo và chủ yếu tìm thấy trong khu vực nhiệt đới.
Họ này có tên gọi từ hoa lạc tiên thuộc chi "Passiflora", là chi bao gồm cả các loại cây cho quả ăn được như "Passiflora edulis" cũng như các loại cây trồng trong vườn như lạc tiên hoa tía ("Passiflora incarnata") và lạc tiên hoa vàng ("Passiflora lutea") hay dưa gang tây ("Passiflora quadrangularis").
Trong hệ thống Cronquist cũ thì người ta đặt họ này vào trong bộ Violales, nhưng trong các hệ thống phân loại gần đây chẳng hạn hệ thống của Angiosperm Phylogeny Group thì nó được đưa vào trong bộ Malpighiales.
Phân loại dưới đây lấy theo hệ thống APG III năm 2009:
|
Thuật ngữ Bo mạch chủ thường dùng nhiều nhất trong ngành công nghiệp máy tính nói chung như một từ dành riêng, mặc dù có rất nhiều thiết bị khác cũng có thể có Bảng mạch chính được gọi là "bo mạch chủ". Bài viết này nói đến Bo mạch chủ trong các máy tính nói chung mà chú trọng nhiều hơn là của máy tính cá nhân.
Bo mạch chủ của máy tính trong tiếng Anh là "motherboard" hay "mainboard" và thường được nhiều người gọi tắt là: "mobo", "main".
Các thiết bị thường có mặt trên bo mạch chủ.
Trong các thiết bị điện tử Bo mạch chủ là một bản mạch đóng vai trò là trung gian giao tiếp giữa các thiết bị với nhau. Một cách tổng quát, nó là mạch điện chính của một hệ thống hay thiết bị điện tử.
Có rất nhiều các thiết bị gắn trên bo mạch chủ theo cách trực tiếp có mặt trên nó, thông qua các kết nối cắm vào hoặc dây dẫn liên kết, phần này trình bày sơ lược về các thiết bị đó, chi tiết về các thiết bị xin xem theo các liên kết đến bài viết cụ thể về chúng.
Một số bộ phận ngoại vi thường được tích hợp trên bo mạch chủ:
Cấu trúc bo mạch chủ.
Cấu trúc sử dụng CPU của hãng Intel.
Cấu trúc bo mạch chủ sơ lược giải nghĩa như sau:
CPU kết nối với Chipset cầu bắc (North Bridge), tại đây chipset cầu bắc giao tiếp với RAM và bo mạch đồ hoạ. Nói chung, cấu trúc máy tính cá nhân dùng bộ xử lý Intel đến thời điểm năm 2007 CPU sử dụng RAM thông qua chipset cầu bắc. Chipset cầu bắc được nối với chipset cầu nam thông qua bus nội bộ. Do tính chất làm việc "nặng nhọc" của chipset cầu bắc nên chúng thường toả nhiều nhiệt, bo mạch chủ thường có các tản nhiệt cho chúng bằng các hình thức khác nhau.
Chipset cầu nam nối với các bộ phận còn lại, bao gồm các thiết bị có tính năng nhập/xuất (I/O) của máy tính bao gồm: các khe mở rộng bằng bus PCI, ổ cứng, ổ quang, USB, E
Cấu trúc sử dụng CPU của hãng AMD.
Về cơ bản, cấu trúc bo mạch chủ sử dụng CPU của hãng AMD giống như cấu trúc của bo mạch chủ sử dụng CPU của hãng Intel. AMD cũng như nhiều hãng khác đều chưa đưa ra định hướng riêng của mình mà phải theo cấu trúc của Intel bởi sự phát triển của máy tính cá nhân ngay từ thời điểm sơ khai đã phát triển theo cấu trúc nền tảng của các hãng IBM - Intel. Phần này chỉ nói ra những sự khác biệt nhỏ trong cấu trúc bo mạch chủ sử dụng CPU của AMD so với bo mạch chủ sử dụng CPU của hãng Intel: về một số cấu trúc bo mạch chủ cho bộ xử lý AMD có thể cho phép CPU giao tiếp trực tiếp với RAM mà điều này cải thiện đáng kể sự "thắt cổ chai" thường thấy ở cấu trúc bo mạch chủ sử dụng CPU của hãng Intel. Với thế hệ chipset X58/P5x/H5x, Intel đã giảm tải cho chíp cầu bắc bằng việc chuyển các bus giao tiếp với Ram và VGA lên CPU quản lý.
Cấu tạo bản mạch in của bo mạch chủ.
Bản mạch in của bo mạch chủ có cấu tạo khác biệt một chút so với các bản mạch in của các thiết bị điện tử thường thấy khác. Đa số các bản mạch in ở các mạch điện đơn giản đều có cấu tạo hai mặt (mặt trước và mặt sau) để chứa các đường dẫn trên nó. Do có rất nhiều các đường dẫn hoạt động với tần số khác nhau nên (theo quy tắc chung) bản mạch phải được thiết kế với các đường dẫn không gây nhiễu sang nhau, đây là một điểm khác biệt khiến việc thiết kế bản mạch của bo mạch chủ khác với các bo mạch thông thường.
Ở bo mạch chủ, do chứa nhiều linh kiện với các đường dẫn lớn nên chúng được thiết kế từ 3 đến 5 lớp (thậm chí nhiều hơn): Ngoài hai lớp mặt trước và mặt sau thì ở giữa của bo mạch cũng có các đường dẫn.
Ngoài tác dụng để cắm và dán các linh kiện trên bề mặt nó, bo mạch chủ còn được thiết kế để truyền một phần nhiệt từ các thiết bị toả nhiệt trên nó và truyền nhiệt ra một diện tích rộng để được làm mát bằng không khí. ASUS là một hãng phần cứng của Đài Loan thường rất thành công trong việc thiết kế tản nhiệt ra bản mạch của bo mạch chủ.
Tản nhiệt trên bo mạch chủ.
Do có nhiều linh kiện có thể phát nhiệt tại trực tiếp hoặc được cắm, gắn trên bo mạch chủ nên vấn đế tản nhiệt rất được coi trọng trong thiết kế.
Phương thức tản nhiệt thường thấy trên bo mạch chủ bao gồm:
Các thiết bị cần tản nhiệt trên bo mạch chủ:
Thiết kế riêng của các nhà sản xuất phần cứng.
Các nhà sản xuất phần cứng luôn tạo ra các sự thay đổi trong thiết kế cấu trúc của bo mạch chủ nên mỗi hãng khác nhau sẽ tạo ra một sự thay đổi nào đó so với các kiến trúc thông thường để hướng sự chú ý của khách hàng. Chính điều đó đã thúc đẩy công nghệ phát triển, tạo ra sự phát triển không ngừng.
Sự thay đổi thiết kế có thể kể đến:
Các chuẩn bo mạch chủ thông dụng đến năm 2007.
ATX là chuẩn bo mạch chủ thông dụng nhất hiện nay, chúng được phát triển có chọn lọc trên nền các chuẩn cũ (Baby-AT và LPX) với sự thay đổi của thiết kế và liên quan nhiều đến việc thay đổi đầu nối nguồn với nguồn máy tính, tính năng quản lý điện năng thông minh và sự thay đổi nút khởi động một phiên làm việc. Một thay đổi khác là sự tập hợp các cổng kết nối vào/ra về phía sau của hệ thống máy tính cá nhân (bao gồm các khe cắm mở rộng ở phía dưới và cụm cổng vào/ra ở phía trên (I/O connector panel) đối với vỏ máy tính kiểu đứng).
Hình minh hoạ đầu tiên của bài viết này là một bo mạch chủ theo chuẩn ATX.
Đầu nối nguồn cho bo mạch chủ theo chuẩn ATX:
Đầu nối nguồn cho bo mạch chủ theo chuẩn ATX bao gồm hai loại đầu: 20 chân và 24 chân.
Hình phần trên: Đầu nối 24 chân cung cấp điện năng cho bo mạch chủ; hình dưới: Đầu nối vào bo mạch chủ cung cấp nguồn +12V cho CPU
Theo sự quy ước (như hình) thì các đầu nối 20 chân chỉ khác biệt 4 chân dưới cùng. Nếu bỏ các chân 11, 12, 23, 24 (theo quy ước như hình) thì đầu nối 24 chân trở thành đầu nối 20 chân. Chính vì điều này mà một số nguồn máy tính đã thiết kế loại đầu cắm 20+4 chân phù hợp cho cả hai loại bo mạch chủ.
Thay đổi nút Power so với các chuẩn cũ:
Nút power ở các chuẩn cũ thuộc thể loại "công tắc", chúng có nguyên lý hoạt động giống như các công tắc bật đèn thông thường trong dân dụng (đây là điều tạo nên sự dễ phân biệt các chuẩn ATX và chuẩn cũ). Theo chuẩn ATX thì nút "Power" trên vỏ máy tính là một nút nhấn "mềm" (chúng tự đàn hồi về trạng thái 0 sau khi bấm), nút này có thể được lựa chọn tuỳ biến thành các chức năng khác nhau khi máy tính đã khởi động vào hệ điều hành (Ví dụ có thể trở thành một trong các nút: Stand by, Hibernate, Shutdown).
BTX là một chuẩn mới xuất hiện và thường chỉ dùng cho các hệ thống máy tính cá nhân cao cấp, điểm đặc biệt của bo mạch chủ theo chuẩn này là sự sắp xếp lại vị trí của các thiết bị trên bo mạch chủ nhằm tạo ra sự lưu thông không khí tối ưu trong thùng máy.
CPU được chuyển gần ra phía trước của thùng máy cùng với quạt tản nhiệt CPU thiết kế kiểu thổi ngang (song song với bo mạch chủ) sẽ lấy gió từ phía mặt trước của vỏ máy (được thiết kế bắt buộc các lưới thoáng). Cách thiết kế này cải tiến so với chuẩn ATX bởi CPU theo chuẩn ATX có thể sử dụng luồng gió luẩn quẩn nếu không được thiết kế thông thoáng và định hướng gió hợp lý hoặc sử dụng vỏ máy tính theo chuẩn 38°.
Luồng gió đầu vào sau khi làm mát CPU có thể tiếp tục làm mát bo mạch đồ hoạ, một phần thoát ra phía sau theo quạt thông gió của vỏ máy tính phía sau, một phần qua RAM để thoát ra ngoài thông qua nguồn máy tính.
Kết nối nguồn của chuẩn BTX không có khác biệt so với của chuẩn ATX 24 chân.
BTX hiện nay chưa trở thành thông dụng với đa số người dùng do đó các hãng sản xuất phần cứng cũng chưa cho ra đời nhiều loại bo mạch chủ theo chuẩn này.
Các chuẩn kích thước của bo mạch chủ.
Kích thước của bo mạch chủ thường được chuẩn hoá để đảm bảo tương thích với các vỏ máy tính.
Có các loại kích thước sau:
Kích thước không theo chuẩn.
Trong một số trường hợp các nhà sản xuất máy tính có thể sản xuất các bo mạch chủ với kích thước riêng của họ nhưng loại này chỉ được lắp ráp tại các máy tính đồng bộ mà không được bán riêng lẻ ra thị trường
Các công ty sản xuất.
Danh sách các nhà sản xuất bo mạch chủ::
[[Thể loại:Bo mạch chủ|Bo mạch chủ]]
|
Khánh Băng (1935–2005) là một nhạc công, nhạc sĩ người Việt Nam. Ông là tác giả của nhiều ca khúc được yêu thích, trong đó nổi tiếng nhất là bài "Sầu đông".
Ông tên thật là Phạm Văn Minh, sinh năm 1935 tại Thắng Tam, Vũng Tàu.
Năm 1949, Khánh Băng lên học trung học ở trường Huỳnh Khương Ninh, Sài Gòn. Ông cùng vài người bạn như Vân Hùng, Tùng Lâ, một người là Khanh còn người kia tên Băng, ông thêm dấu "sắc" vào chữ "Khanh" thành Khánh Băng.
Năm 1954, dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của nhạc sĩ Võ Đức Thu, Khánh Băng thi đậu vào làm nhạc công đàn mandolin ở Đài phát thanh Sài Gòn. Tiếp sau đó, ông được Tùng Lâm tiến cử với nghệ sĩ Trần Văn Trạch chơi đàn ở đoàn Sầm Giang lẫn ban kịch Dân Nam và Đài phát thanh Pháp Á. Từ năm 1955 đến 1959, ông thường xuất hiện trên các sân khấu đại nhạc hội và phụ diễn ca nhạc với tiết mục độc tấu guitar thùng. Năm 1960, ông chuyển qua chơi guitar điện và biểu diễn hàng đêm tại phòng trà ca nhạc do chính ông làm chủ ở Thị Nghè. Khánh Băng được coi là người Việt Nam đầu tiên sử dụng đàn guitar điện trên sân khấu vào thập niên 1960.
Năm 1962, ông thành lập ban nhạc với những thành viên ban đầu gồm ông, Phùng Trọng, Dương Quang Định và Dương Quang Lê Minh. Đến năm 1967, ban nhạc của ông trở thành ban nhạc thường trực của Đài Truyền hình Sài Gòn.
Khánh Băng viết nhạc từ những năm học tiểu học, bản thân ông cũng không nhớ bản nhạc đầu tay của mình. Bản nhạc đầu tiên của ông được phát thanh là "Nụ cười thơ ngây", do Minh Trang và Anh Ngọc song ca trên Đài Phát thanh Sài Gòn ngày 15 tháng 3 năm 1955. Sau đó, ông bắt đầu được biết đến với bài "Vọng ngày xanh" viết năm 1956. Bài hát này được nhà văn nữ nổi tiếng Françoise Sagan viết lời Pháp và nhờ vậy, ông được Hội Tác quyền âm nhạc Pháp mời gia nhập.
Khánh Băng viết rất nhiều ca khúc có tiết tấu nhanh, sôi động, thường được gọi là thể loại nhạc kích động. Những bài "Sầu đông", "Có nhớ đêm nào", "Tiếng mưa rơi"... do ông sáng tác vào khoảng năm 1962 được coi là những bài nhạc trẻ đầu tiên ở Việt Nam. Riêng bài "Sầu đông" còn được ông viết thêm lời Pháp "Jonhny Mon Amour" và có thêm lời tiếng Anh do một người khác viết. Ông cũng viết các ca khúc trữ tình dưới bút danh Anh Minh, Nhật Hà, Thủy Thanh Lam và Thanh Hà.
Trong khoảng thời gian từ 1991 đến 1996, trước khi bị mù do ảnh hưởng của bệnh tiểu đường, ông vẫn còn sáng tác được hơn 100 bài, trong đó có những bài hát phổ biến như "Chờ người", "Chiều đồng quê", "Trên nhịp cầu tre"... mang phong cách dân ca Nam Bộ.
Ông mất ngày 9 tháng 2 năm 2005 (mùng một Tết Ất Dậu) tại nhà riêng quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Thi hài ông được an táng ở quê nhà Vũng Tàu.
|
Phân lớp Sổ (Dilleniidae) là một danh pháp thực vật ở cấp độ phân lớp.
Định nghĩa của phân lớp này thay đổi theo hệ thống phân loại được sử dụng; yêu cầu duy nhất là nó phải bao gồm họ Sổ ("Dilleniaceae"). Wikipedia chấp nhận hệ thống APG III trong đó không sử dụng các danh pháp thực vật chính thức ở cấp độ cao hơn bộ và vì thế trong phạm vi Wikipedia thì tên gọi này sẽ không được định nghĩa về mặt phân loại học.
Hệ thống được nhiều người biết đến có sử dụng tên gọi này là hệ thống Cronquist và trong phiên bản nguyên gốc năm 1981 của hệ thống này thì định nghĩa của phân lớp Sổ là:
APG II và APG III đưa các loại thực vật trong phân lớp này vào các nhánh "asterids" và "rosids".
|
Bộ Sổ (danh pháp khoa học: Dilleniales) là một bộ thực vật có hoa. Tên gọi này đã được sử dụng trong hệ thống Cronquist. Trong phiên bản năm 1981 của hệ thống này thì bộ (nằm trong phân lớp Sổ - Dilleniidae) có định nghĩa bao gồm 2 họ: họ Sổ (Dilleniaceae) và họ Mẫu đơn (Paeoniaceae).
Trong hệ thống APG II (sử dụng trong Wikipedia) thì họ thứ nhất được đưa vào nhóm thực vật hai lá mầm thật sự (eudicots) nhánh hai lá mầm thực thụ phần lõi (core eudicots), không được xếp như là một bộ, còn họ thứ hai được đặt trong bộ Tai hùm (Saxifragales).
Tuy nhiên, trên website của APG, truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2009, người ta lại công nhận bộ này với chỉ 1 họ (họ Sổ), 10 chi và 300 loài.
|
Bộ Lộc vừng (danh pháp khoa học: Lecythidales) là danh pháp thực vật ở cấp bộ. Tên gọi này được sử dụng trong hệ thống Cronquist cho một bộ thuộc phân lớp Sổ ("Dilleniidae"). Bộ này chỉ bao gồm một họ duy nhất là họ Lộc vừng ("Lecythidaceae"). Họ này hiện nay (trong hệ thống APG II) được đặt trong bộ Thạch nam (hay bộ Đỗ quyên) ("Ericales"). Lưu ý là chi Lecythis có lẽ không có mặt tại Việt Nam, nên người ta gọi tên bộ này theo chi có chứa cây lộc vừng hoa chùm ("Barringtonia racemosa") là chi Barringtonia.
|
Anh hùng dân tộc
Anh hùng dân tộc là những người có công lao kiệt xuất trong công cuộc đấu tranh bảo vệ và phát triển của một dân tộc, được nhân dân ca ngợi và lịch sử dân tộc ghi nhận. Anh hùng dân tộc thường xuất hiện khi lịch sử dân tộc gặp biến cố to lớn, góp phần thay đổi vận mệnh của dân tộc. Là biểu tượng và là một niềm tự hào bất diệt của dân tộc.
Từ thời kỳ 13 tiểu bang nội địa đầu tiên nổi dậy đấu tranh giành độc lập khỏi Đế quốc Anh cùng với sự ra đời của Nhà nước Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ (1776) cho đến nay, quốc gia này đã xuất hiện rất nhiều vị tổng thống được các sử gia đánh giá là những vị tổng thống vĩ đại nhất trong lịch sử, đồng thời cũng được ca ngợi là những vị anh hùng dân tộc kiệt xuất là: George Washington, John Adams, Thomas Jefferson, James Madison, Abraham Lincoln, Franklin D. Roosevelt, John F. Kennedy, Ronald Reagan và George H.W. Bush.
Trong suốt lịch sử hàng nghìn năm bảo vệ và phát triển đất nước của dân tộc Việt Nam đã xuất hiện nhiều anh hùng dân tộc tiêu biểu. Ngày 21 tháng 6 năm 2013, tại văn bản số 2296/BVHTTDL-MTNATL, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam đã đưa ra danh sách 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam theo thứ tự thời gian như sau: Quốc tổ Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế (Lý Bí), Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh), Lê Đại Hành (Lê Hoàn), Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn), Lý Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo (Trần Quốc Tuấn), Lê Thái Tổ (Lê Lợi), Nguyễn Trãi, Quang Trung (Nguyễn Huệ), Hồ Chí Minh.
Lịch sử của đất nước Trung Quốc thường gắn bó với những cuộc nội chiến, những cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe phái trong nước, những cuộc xâm lược nhằm bành trướng lãnh thổ đến các nước lân bang. Tuy nhiên, quốc gia này cũng có những vị anh hùng được sinh ra trong những thời kỳ xã hội đất nước bị bần cùng hóa, đất nước bị chủ nghĩa đế quốc đô hộ như: Tổ Địch, Dương gia tướng, Nhạc Phi, Hàn Thế Trung, Lý Cương, Tông Trạch, Văn Thiên Tường, Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu, Vu Khiêm, Thích Kế Quang, Viên Sùng Hoán, Tần Lương Ngọc, Sử Khả Pháp, Lâm Tắc Từ, Quan Thiên Bồi, Phùng Tử Tà
Lịch sử của đất nước Ấn Độ thường gắn liền với hình ảnh vị lãnh tụ Mahatma Gandhi vĩ đại. Ông được xem là người anh hùng dân tộc đã lãnh đạo nhiều phong trào yêu nước chống lại sự cai trị của Đế quốc Anh vào giữa thế kỷ 20
José Rizal, nhà cách mạng và là người anh hùng đấu tranh bất bạo động cho phong trào giành độc lập của Philippines từ đế chế Tây Ban Nha ở thế kỷ 19
Sultan Mehmed II là Nhà chinh phạt quang vinh, vị Sultan vĩ đại của dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ vào thế kỷ 15. Ông là người có công thống suất ba quân tiến hành cuộc chinh phạt thành Constantinopolis, tiêu diệt Đế quốc Đông La Mã và lập nên một kinh đô mới cho Đế quốc Ottoman ngày một lớn mạnh. Không những gặt hái những chiến thắng, mở rộng bờ cõi khiến cho dân châu Âu phải khiếp sợ, ông còn là vị Sultan bảo trợ nền khoa học và nghệ thuật nở rộ.
Mustafa Kemal Atatürk là người anh hùng giải phóng đã mang lại một loạt chiến thắng vẻ vang cho Quân đội Ottoman trong chiến dịch ác liệt ở bán đảo Gallipoli (Chiến tranh thế giới lần thứ nhất) trước quân xâm lược Anh - Pháp - Nga. Sau khi Đế quốc Ottoman đầu hàng, ông lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc Chiến tranh Giải phóng Dân tộc đánh đuổi liên quân Anh - Pháp - Ý - Hy Lạp, đồng thời lật đổ Vương triều Ottoman và sáng lập ra nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại đầu thế kỷ 20.
Cyrus Đại Đế là vị vua khai quốc của Đế quốc Ba Tư, là người có công hợp nhất các dân tộc Media và Ba Tư thành một quốc gia. Trong khắp Đế quốc Ba Tư, người Ba Tư hết mực kính nể gọi ông là "Quốc tổ", người Babylon gọi ông là "Nhà Giải phóng", người Hy Lạp gọi ông là "Đấng ban luật" và người Do Thái gọi ông là "Người xức dầu của Chúa Trời", do ông thực chính sách công bình giữa các dân tộc. Ông cũng là một nhà chiến thuật và chiến lược đại tài.
Simón Bolívar, người anh hùng lãnh đạo giành độc lập thành công cho Venezuela từ đế chế Tây Ban Nha ở đầu thế kỷ 19
José de San Martín, nhà cách mạng và là người anh hùng lãnh đạo giành độc lập thành công cho Argentina từ đế chế Tây Ban Nha ở đầu thế kỷ 19
Bernardo O'Higgins, nhà cách mạng và là người anh hùng lãnh đạo giành độc lập thành công cho Chile từ đế chế Tây Ban Nha ở đầu thế kỷ 19
Nhà yêu nước William Wallace, thủ lĩnh cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Scotland chống lại ách đô hộ của Vương quốc Anh, vào thế kỷ 13. Ông được mệnh danh là "Người hộ vệ của Scotland".
Robert the Bruce - một nhà quý tộc Scotland, đã bị ý chí của William Wallace thức tỉnh bản tính hèn nhát của mình, để từ đó sau khi Wallace bị hành hình, cũng như ông trở thành vua Scotland (vua bù nhìn). Ông đã đứng lên thay Wallace lãnh đạo khởi nghĩa giành độc lập cho Scotland, bắt vua Edward I tàn bạo phải thừa nhận nền độc lập của Scotland,và sau khi Scotland độc lập, ông trở thành vị vua chính thức của Scotland. Ông được biết đến như một anh hùng dân tộc và là tấm gương để người đời học tập về sự đấu tranh với bản thân
Tù trưởng Hermann (Arminius) của thị tộc Cherusci, là người có công lãnh đạo liên minh các thị tộc trên khắp miền Germania đánh tan tác các binh đoàn Lê dương La Mã trong trận rừng Teutoburg vào đầu thế kỷ 1, giải phóng miền đất Germania và mở ra thời kỳ phát triển văn hóa, chủ quyền của dân tộc Đức, cùng truyền thống quân sự hào hùng của dân tộc. Là một trang tù trưởng anh dũng, ông luôn luôn được vinh danh trong thi ca Đức như một vị danh tướng, và là một trong những người lãnh đạo quả cảm nhất của nước Đức thời cổ xưa.
Đầu thế kỷ 16 có nhà thần học Martin Luther người xứ Sachsen-Anhalt, là người anh hùng "Hercules trên đất Đức" và là "chim sơn ca trên đất Đức". Ông là người có công lớn tiến hành cuộc cải cách tôn giáo Kháng Cách. Trong hội nghị của các vua chúa Đức tại Worms, ông vẫn khẳng khái bảo vệ đức tin của mình.
Cuối thế kỷ 17 có Tuyển hầu tước Vĩ đại Friedrich Wilhelm I, là người đã đưa lãnh địa phong kiến Phổ - Brandenburg từ một quốc gia nghèo nàn, bị chiến tranh tàn phá, trở thành một Nhà nước lớn mạnh, đưa dân tộc Phổ - Đức đến giai đoạn huy hoàng đầu tiên của họ. Ông xây dựng lực lượng Quân đội thường trực hùng mạnh, tạo tiền đề cho Phổ lớn mạnh. Thoạt đầu ông đánh tan tác quân Ba Lan và giành độc lập cho xứ Phổ khỏi ách chư hầu của Vương triều Ba Lan, sau đó ông lập chiến công rạng rỡ đánh tan nát quân xâm lược Thụy Điển trong trận Fehrbellin. Ông trở thành một vị lãnh chúa lỗi lạc trong khi lãnh địa của ông ngày một vinh quang. Với ông, một bộ máy Chính phủ hữu hiệu được xây dựng.
Giữa thế kỷ 18 có vị vua - chiến binh Friedrich II Đại Đế nước Phổ, là một nhà văn hóa kiệt xuất, lại còn có tài dụng binh trị nước. Ông đã chinh phạt tỉnh Silesia của Áo. Trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm, ông thắng trận và đặc biệt mang lại huy hoàng cho toàn thể dân tộc Đức với cuộc đại phá tan nát liên quân Pháp - Áo hùng mạnh trong trận Rossbach, cùng chiến công hào hùng đập tan tác đại binh Áo trong trận Leuthen, mở đường cho vận mệnh sáng soi của dân tộc. Những cuộc chinh phạt hiển hách của ông đã đem lại di sản đồ sộ về quân sự cho nước Đức. Cuối đời, với thành công của việc thiết lập Liên minh các Vương hầu Đức bảo vệ đức tin Kháng Cách cùng quyền lợi của nước Phổ, ông trở thành vị anh hùng Đại đức rạng rỡ, mở đường cho một nước Đức thống nhất. Không những thế, ông còn là vị Quân vương có tư tưởng tiến bộ nhất thời đại, là ông vua - triết học viết nhiều sách.
Đầu thế kỷ 19 có Bá tước August Neidhardt von Gneisenau nước Phổ, là một Sĩ quan Tham mưu đại tài. Lúc Vương quốc lâm nguy, ông là người lãnh đạo quân dân Phổ dũng mãnh giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ pháo đài Colberg trước cuộc xâm lược của quân tinh nhuệ Pháp, mang lại niềm tự hào cho dân tộc Đức. Là người có tầm nhìn xa trông rộng, ông nỗ lực cải cách đưa Quân đội Phổ trở thành một lực lượng hùng mạnh, toàn thắng cuộc Chiến tranh Giải phóng đánh đuổi quân Pháp ra khỏi bờ cõi. Với thiên tài quân sự của mình, ông cũng góp phần mang lại chiến thắng quyết định của liên quân chống Pháp trong trận Waterloo, nhờ đó ông trở thành một trong số ít những vĩ nhân lịch sử đã hạ gục Hoàng đế Napoléon Bonaparte.
Cùng thời đó có Thống chế Gebhard Leberecht von Blücher nước Phổ, cũng là một kình địch không đội trời chung của Napoléon. Ông vốn đã nuôi chí căm hờn người Pháp và kiên quyết sẽ giải phóng quốc gia. Là một nhà yêu nước Phổ, vị danh tướng xuất sắc này đã làm việc thân cận với các nhà quân sự lỗi lạc khác như Gneisenau, góp phần lật nhào chế độ Napoléon (tỷ như trận Leipzig), đẩy quân Pháp về sào huyệt Paris trong cảnh ngộ thất thế. Ông là người tung đại quân Phổ vào họp binh với quân Anh trong trận Waterloo, góp phần quyết định đè bẹp hoàn toàn Napoléon Bonaparte. Trong trận thắng quyết định này ông hợp tác chặt chẽ với Gneisenau. Ông trở thành một huyền thoại sống trong đời mình, vì những chiến tích của ông đại thắng Napoléon.
Cuối thế kỷ 19 có Thủ tướng Otto von Bismarck nước Phổ là một lãnh đạo sáng suốt, có ảnh hưởng lớn nhất ở châu Âu. Ông là nhà chính trị thiên tài và dày dạn kinh nghiệm, là một nhà ngoại giao bậc thầy, đã hoàn thành công cuộc nhất thống các quốc gia ở Đức thành một Đế chế Đức. Là một nhân vật hiếm có trong lịch sử châu Âu, ông thực hiện chính sách "Chính trị thực dụng" ("Realpolitik"), mang lại thành quả cho Phổ - Đức. Thoạt đầu, ông giành chiến thắng lừng lẫy trong cuộc Chiến tranh Schleswig lần thứ hai chống Đan Mạch. Tiếp theo đó, ông đánh thắng cuộc Chiến tranh chống Áo, rồi lại toàn thắng cuộc chiến tranh chống Pháp (trận đánh quyết định tiêu biểu nhất là trận Sedan). Với những công tích rực rỡ ấy, ông đã thiết lập ra Đế chế Đức hùng cường, dũng mãnh. Là một quốc gia non trẻ nhưng Đế chế Đức có lực lượng Quân đội tinh nhuệ nhất Âu châu và là nỗi lo sợ của các nước láng giềng.
Sang thế kỷ 20 nước Đức có Thống chế Paul von Hindenburg là một huyền thoại sống, một vị anh hùng dân tộc trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Khi quân Nga xâm lược vùng Đông Phổ, ông dẫn dắt quân sĩ giành chiến thắng hào hùng trong trận Tannenberg, đưa ông trở thành người anh hùng trong mắt toàn dân Đức. Nhân dân coi ông là vị mãnh tướng trả thù cho chiến bại của các Hiệp sĩ Teuton trước người Slavơ trong trận Tannenberg thời Trung Cổ. Khi quân Nga sang tái xâm phạm, ông lại quét sạch quân địch trong trận hồ Masurian lần thứ nhất - một chiến tích vang lừng khó quên trong lịch sử quân sự nước Đức. Sau khi cuộc Đại chiến kết thúc, vì những chiến công hiển hách của ông mà ông được bầu làm Tổng thống nước Cộng hòa Weimar. Trong mắt biết bao người Đức, ông là biểu hiện của giá trị truyền thống Phổ với tinh thần kỷ cương, tuân lệnh, trách nhiệm, thượng võ.
Vua nước Phổ Friedrich II Đại Đế, với những chiến công hiển hách đại phá quân Pháp và quân Áo tại Rossbach và Leuthen, được nhân dân Anh Quốc coi là người anh hùng. Nhờ có liên minh với ông, nước Anh dễ dàng đánh bại liên minh Pháp - Tây Ban Nha, đưa đất nước trở nên vinh quang, cường thịnh. Không những thế, liên minh với ông cũng hỗ trợ cho người Anh giải phóng xứ Hanover chư hầu.
Với một loạt chiến thắng đầu tiên (như trận đánh sông Nin) rồi đến chiến thắng trước thủy binh Pháp trong trận Trafalgar vào năm 1805, Đô đốc Horatio Nelson trở thành anh hùng dân tộc Anh.
Vị vua nước Thụy Điển vào thế kỷ 18, Karl XII, đã đấu tranh trong suốt 18 năm trời để bảo vệ đất nước, tuy thất bại nhưng các nhà dân tộc chủ nghĩa lãng mạn Thụy Điển coi là anh hùng dân tộc.
Thời Trung Cổ có Đại Vương công xứ Vladimir là Aleksandr Yaroslavich Nevsky đã đánh tan tác quân xâm lược Thụy Điển và các Hiệp sĩ Teuton. Không những thế, ông còn đập tan quân Litva, và trở thành anh hùng dân tộc của Nga.
Thời Đế quốc Nga, nổi bật lên là Mikhail Kutuzov, người đã đánh bại đội quân hùng mạnh của Napoleon I và góp phần quan trọng trong việc làm sụp đổ Đế chế Pháp.
Thời kì Liên bang Xô Viết, có rất nhiều vị tướng tham gia trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, trong đó tiêu biểu nhất là nhà lãnh đạo Iosif Stalin, linh hồn của Liên Xô trong cuộc chiến và là nhà lãnh đạo tái thiết Liên Xô sau chiến tranh cũng như xây dựng Liên Xô thành cường quốc. Georgi Zhukov - Nguyên soái Liên bang Xô Viết, là vị tướng trải qua rất nhiều trận mạc từ châu Âu đến châu Á, ông là nỗi khiếp sợ của quân đội phát xít và được coi là vị tướng số một của Liên Xô trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại.
|
"Xem các chợ cùng tên khác tại chợ Âm Phủ"
Chợ Âm Dương (còn gọi là chợ Âm Phủ) là một chợ đặc biệt theo quan niệm là nơi người chết và người sống có thể gặp nhau, họp tại một vài nơi trên cả nước, đặc biệt là ở Bắc Ninh, Việt Nam có 2 chợ âm dương là chợ Ó và chợ Chằm.
.Chợ Ó - Võ Cường, Tp. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Chợ họp ở địa phận làng Ó, xã Võ Cường, thành phố Bắc Ninh. Tương truyền ngày xưa đó là bãi chiến trận và đã có rất nhiều người chết trong các cuộc giao tranh. Là chợ đặc biệt nên chợ Âm Dương chỉ họp duy nhất mỗi năm một lần vào đêm mùng 4 rạng mùng 5 Tết Nguyên Đán (tức mùng 4, mùng 5 tháng Giêng âm Lịch).
Theo quan niệm của mọi người dân trong vùng, thì chợ họp là cơ hội hiếm có cho người chết và người sống được gặp nhau. Chợ bắt đầu họp vào lúc "lên đèn" trên một bãi đất trống, cạnh một ngôi miếu có tiếng linh thiêng trong vùng. Đây là chợ mà không có lều quán, không sử dụng đèn nến để thắp sáng. Nhiều người đi chợ thường mang theo một con gà đen được chăm sóc cẩn thận trước đó để làm vật tế thần. Tuy không có lều quán nhưng trong chợ cũng có nhiều hàng mã, hương, nến, cau, trầ
Chợ không phải là nơi mua may bán rủi như nhiều chợ nơi khác. Trong chợ người mua không ai mặc cả, người bán không đếm lại tiền người mua trả. Trong bóng đêm chỉ thấy bóng người đi lại và tiếng thì thào to nhỏ. Người ta hầu như không quan tâm nhiều đến việc "mua may bán rủi" như ở một số chợ khác. Chợ họp là dịp để người cõi trần gặp người cõi âm. Ở đầu chợ, người ta đặt một chậu nước để thử tiền âm hay tiền dương. nếu đồng tiền đó nổi lên thì là tiền người âm còn chìm xuống là tiền của người dương Sáng hôm sau, có người xem trong túi đựng tiền của mình chỉ toàn là vỏ hến, lá
Những ai đi chợ đều vui vẻ, thoải mái, họ quan niệm rằng đó là dịp làm phúc, làm điều thiện với người đã chết. Cuộc sống tâm linh của họ sẽ thanh thản hơn.
Chợ tan khi còn đêm. Sau khi tan chợ, những người đi chợ lại mời nhau uống nước ăn trầu và hát quan họ Bắc Ninh.
Đây là một hình thức sinh hoạt văn hóa mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân gian rất đặc trưng của vùng Kinh Bắc. Người ta quan niệm rằng, có như vậy thì việc làm ăn hay mùa vụ năm đó mới được thuận lợi.
.Chợ Chằm - Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
"Chợ âm dương" họp ở xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh: có tên gọi là "chợ Chằm".
Chợ Chằm là một chợ dân sinh nhỏ, phục vụ nhu cầu mua sắm của nhân dân trong xã Mão Điền cũng như vùng lân cận. Bình thường, chợ không họp liên tục, mà chỉ họp ấn định vào các ngày mùng 4, 9, 14, 18, 24, 28 trong tháng, theo lịch âm. Tuy nhiên chỉ có phiên chợ tết ngày mùng 4 tháng Giêng (4/1 - âm lịch) là được gọi là "chợ âm dương".
Bởi vì, tương truyền nơi đây trước kia cũng là nơi chiến trường đẫm máu (từ thời phong kiến xa xưa), số người chết nhiều không kể xiết. Theo quan niệm duy tâm xưa, các oan hồn này không được siêu thoát, mà bị lưu vong ở dưới địa ngục (không được đầu thai), chỉ đến dịp tết hàng năm mới được "hồn lên dương thế" quay lại nơi mình đã chết trước kia.
Chuyện kể rằng, từ sau năm có chiến tranh không lâu, người dân họp chợ ngày mùng 4 tháng Giêng hay gặp những chuyện lạ thường như: đi mua bán hay bị đưa tiền giả, mang về nhà mới biết (tiền xu bị biến thành đất, lá chuối khô...), người dân nghi là do các oan hồn chiến sĩ đã về đi chợ mua hàng, họ trả tiền âm phủ, ở chợ có quá nhiều âm khí nên không nhận ra được. Ban đầu nhân dân trong vùng cũng nhờ thầy về cúng xua đuổi tà ma, nhưng không nổi vì âm khí quá nặng. Sau đó họ được thầy bày cho cách là khi đi chợ thì mang theo một thau nước (nhất là người bán), kiểm tra tiền chỉ cần thả vào nước là biết, nếu chìm là tiền thật, nổi là tiền giả!
Do đã có cách phân biệt tiền âm, tiền dương, hơn nữa mỗi năm người âm cũng chỉ lên có một lần, nên người ta vẫn tiến hành họp chợ bình thường.
Cho đến thời gian gần đây (thời phong kiến trước Cách mạng tháng Tám), mặc dù không mua bán được bằng tiền âm, nhưnng dường như các hồn vẫn muốn tranh thủ cơ hội lên trần đi chợ ngắm cảnh, tham quan - nên người ta vẫn thi thoảng có những câu chuyện ly kỳ chứng tỏ người âm lên trần, mặc dù thưa thớt dần đi.
Cho đến bây giờ, thì người dân trong vùng đã không đi họp chợ vào ngày mùng 4 tháng Giêng nữa, coi như nhường hẳn cho người âm không gian khu chợ trong ngày đó.
Cũng chính vì có chợ Âm - Dương đặc biệt này đã kéo theo một phong tục khác là ngày hóa vàng sau dịp tết ở Mão Điền mọi nhà đều cúng vào sáng mồng 4 tết âm lịch, với ý nghĩa để linh hồn tổ tiên (cõi âm) đi chợ luôn ngày hôm đó (trong khi các địa phương khác lân cận thường cúng hóa vàng hết tết vào mồng 3 tết âm lịch, hoặc không cố định, tùy gia đình).
|
Cồn Cỏ là một huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Trị, Việt Nam.
Vị trí địa lý.
Cồn Cỏ cách Mũi Lay 27 km về phía đông, có vị trí ở 17°10' vĩ bắc và 107°21' kinh đông. Trước khi thành lập huyện đảo Cồn Cỏ, đảo thuộc xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Linh và do Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị quản lý.
Cồn Cỏ là một đảo nhỏ ở Biển Đông, thuộc tỉnh Quảng Trị, miền Trung. Diện tích của đảo trước đây gần 4 km², nay khoảng 2,2 km². Nhìn trên bản đồ, đảo có hình dạng tương đối tròn.
Vai trò địa lý.
Đảo Cồn Cỏ được coi là dấu mốc để bắt đầu vẽ đường cơ sở của lãnh hải Việt Nam.
Theo các nhà khảo cổ học với những phát hiện mới nhất, ở khu vực Bến Nghè của đảo đã tìm thấy nhiều công cụ đá của con người thời đá cũ cách đây hàng vạn năm. Trong thời gian của những thế kỷ đầu Công nguyên, Cồn Cỏ đã từng là địa bàn cư dân Chămpa đặt chân đến.
Trong khoảng thế kỷ 17 - thế kỷ 18, trên con đường giao lưu buôn bán, cư dân Đại Việt cũng đã coi Cồn Cỏ là một điểm dừng. Những phát hiện khảo cổ học ở khu vực Bến Tranh trong tháng 7 năm 1994 đã ghi nhận điều đó.
Tương truyền rằng, dưới thời nhà Nguyễn, Cồn Cỏ là nơi đầy ải của những người có tội. Ở đây, bộ đội đảo khi khơi một giếng cũ (không rõ được đào từ thời nào) đã tình cờ phát hiện một bộ hài cốt cùng với xích cùm bằng sắt.
Huyện Cồn Cỏ được thành lập theo nghị định số 174/2004/NĐ-CP ngày 1 tháng 10 năm 2004, trên cơ sở đảo Cồn Cỏ thuộc xã Vĩnh Quang (nay là thị trấn Cửa Tùng), huyện Vĩnh L=174/2004/NĐ-CP/ref
Tỉnh Quảng Trị đã làm lễ ra mắt huyện đảo này ngày 18 tháng 4 năm 2005.
Trong tư liệu và bản đồ hàng hải nước ngoài như An Nam đại quốc họa đồ (1838) hoặc Bản đồ Xiêm và Cochin China (Việt Nam) (năm 1820-1829) do John Crawfurd vẽ, cồn Cỏ được gọi là Hòn Cổ, Tigris Insula, Tiger's Island, Đảo Cọp, Đảo Hổ.
Huyện không tổ chức bộ máy cấp xã, hiện tại có KDC Thanh niên xung phong với 13 hộ dân, trong đó có trưởng KDC. Bộ máy tổ chức cấp huyện gồm: Huyện Ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ, các tổ chức đoàn thể và các tổ chức khác.
Cơ sở vật chất.
Tháng 11/2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo (Việt Nam) tổ chức khánh thành Trường mầm non - tiểu học Hoa Phong Ba. Đây là ngôi trường kiên cố đầu tiên được xây dựng trên đảo này kể từ ngày đảo này chuyển từ đảo quân sự thành đảo dân sự. Tổng vốn đầu tư xây dựng trường gần 5 tỉ đồng, do Tổng công ty cổ phần Khoan và dịch vụ khoan dầu khí tài trợ.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Doãn Mẫn (1919 – 2007), còn được viết Dzoãn Mẫn, là một nhạc sĩ nhạc tiền chiến nổi tiếng, thuộc thế hệ tiên phong của tân nhạc Việt Nam.
Doãn Mẫn sinh ngày 15 tháng 10 năm 1919 tại thôn Đoài làng Hoàng Mai (kẻ Mơ) (phường Hoàng Văn Thụ) quận Hoàng Mai Hà Nội. Cha của ông là Doãn Tính, một viên chức ở ga Hàng Cỏ (xếp ga vào những năm 1930-1940), nhưng mê âm nhạc dân tộc và chơi đàn bầu rất hay. Được cha hướng dẫn, từ nhỏ Doãn Mẫn đã biết chơi đàn tứ và một vài nhạc cụ truyền thống khác. Sau khi tốt nghiệp Trường nam Sư phạm, ông vào làm thư ký tại bệnh viện Bạch Mai.
Doãn Mẫn tự học nhạc qua sách tiếng Pháp. Ông cũng học một người Pháp tên Banal, nguyên chỉ huy một dàn nhạc Quân đội Pháp, trong khoảng thời gian 4 tháng chủ yếu là về phối âm, phối khí. Trước khi là nhạc sĩ, Doãn Mẫn từng là nhạc công biểu diễn nhiều nơi.
Cũng như nhiều thanh niên thời đó, Doãn Mẫn bị dòng nhạc phương Tây, mà chủ yếu là nhạc Pháp cuốn hút. Ông cùng Văn Chung và Lê Yên lập nhóm nhạc Tricéa tụ tập trao đổi về âm nhạc và sáng tác. Tên nhóm Tricéa có nghĩa: 3 chữ C và 3 chữ A được viết tắt từ tiếng Pháp: "Collection Des Chants Composés Par Des Artistes Annamites Associés": "Tuyển chọn các tác phẩm âm nhạc của nhóm người viết nhạc Annam". Cùng nghe những đĩa nhạc của Tino Rossi, Josephine Baker, họ cùng nhau sáng tác những bài hát của riêng mình: Văn Chung có "Bóng ai qua thêm", "Đôi mắt huyền" và Lê Yên có "Bẽ bàng", "Vườn xuân". Theo đánh giá của Phạm Duy, thì: Doãn Mẫn là người thành công nhất trong 3 thành viên nhóm nhạc Tricéa. Ngay những năm đầu thời tân nhạc Việt Nam, Doãn Mẫn đã sáng tác liên tiếp khoảng 10 ca khúc hay, như: "Sao hoa chóng tàn, Biệt ly, Cô lái thuyền, Tiếng hát đêm thu, Một hình bóng, Một buổi chiều mơ, Gió xa khơi, Nhạc chiều, Trở lại cùng " Nhạc của Doãn Mẫn dành riêng cho Ghi-ta Hawaii, loại nhạc cụ sở trường của ông, và thuần túy soạn trên âm giai thất cung (heptatonic, bảy nốt) của phương Tây, mà không dùng âm giai ngũ cung của nhạc dân tộc.
Doãn Mẫn sáng tác ca khúc đầu tay "Tiếng hát đêm thu" năm 1937, lời của Văn Chung. Sau đó nhiều nhạc phẩm khác lần lượt ra đời "Gió thu" (1937), "Một buổi chiều thu" (1939), và "Biệt ly" (1939).
Những năm cuối thập kỷ 1930, ga Hàng Cỏ Hà Nội là nơi chia ly của nhiều đôi tình nhân, khi các thanh niên lên đường làm lính lê dương cho quân đội Pháp. Chứng kiến nhiều cuộc chia tay ở đó, Doãn Mẫn đã viết bài "Biệt ly", nhạc phẩm nổi tiếng nhất của ông.
"Tôi viết Biệt ly năm tôi vừa 20 tuổi. Hồi đó, cha tôi làm việc ở ga Hàng cỏ, Hà Nội. Nhà ở gần ga nên tôi thường hay ra ga chơi, chứng kiến nhiều cuộc chia tay đầy nước mắt trên sân ga, nhất là những đôi trai gái yêu nhau nhưng vì hoàn cảnh phải ly biệt. Điều đó khơi dậy trong lòng tôi nhiều cảm xúc và tôi có ý định sáng tác một bài hát về đề tài chia ly. Tôi nghĩ rằng tôi sáng tác bài Biệt ly với rất nhiều kỷ niệm. Qua những cuộc chia ly mà tôi được chứng kiến ở sân ga Hà Nội, ở bến cảng Hải Phòng đã cho tôi rất nhiều xúc động. Tôi đã dự kiến làm bài Biệt ly này từ năm 1937, tức là năm tôi bắt đầu sáng tác. Nhưng mà rồi có nhiều trường hợp khác cho nên tôi lại viết về chủ đề khác, cho đến năm 1939, có mấy việc dồn dập đến, tôi trở lại cái đề tài này. Có những buổi biểu diễn ở các rạp, một phần nữa do các anh em ở trường Bưởi làm ca cảnh, cho nên cái bài đó mới được phổ biến."
Doãn Mẫn từng giữ chức trưởng phòng giáo vụ của Nhạc viện Hà Nội, ông làm việc ở đó khoảng 20 năm. Thời gian đó ông không sáng tác gì, vì theo lời của Doãn Mẫn, ông "phải đi lo cả việ, chỗ ăn, ở, nhà vệ sinh bẩn thỉu thì làm sao". Ngoài 70 tuổi, Doãn Mẫn có viết nhạc trở lại.
Ông qua đời ngày 13 tháng 4 năm 2007 (25 tháng 2 âm lịch) tại Hà Nội. 5 tháng sau khi đứa chắt thứ hai chào đời.
Trong sự nghiệp của mình, Doãn Mẫn viết khoảng 50 ca khúc, trong đó nhiều bài được đánh giá vượt thời gian như "Biệt ly", "Hương cố nhân".
|
Bùi Thiện Ngộ (1929 – 2006) - Thượng tướng Công an nhân dân Việt Nam. Ông nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Nội vụ (Từ năm 1998 được đổi tên thành Bộ Công an) - Huân chương Hồ Chí Minh.
Thân thế sự nghiệp.
• Ông sinh ngày 24 tháng 10 năm 1929, tại Tân Định, Sài Gòn (nay là phường Tân Định, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).
• Ông tham gia hoạt động Việt Minh trong phong trào Cách mạng tháng 8 năm 1945, được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 7 năm 1947. Từ năm 1948, ông công tác trong lực lượng công an tại tỉnh Biên Hòa, sau là tỉnh Thủ Biên, Miền Nam Việt Nam.
• Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, công tác tại Ban Thống nhất Trung ương và Bộ Công an, làm cán bộ Vụ Bảo vệ chính trị, sau đó làm giảng viên Trường Công an Trung ương.
• Năm 1965, ông được phân công vào công tác tại Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam, làm Phó Văn phòng, sau đó làm Phó Tiểu ban Bảo vệ chính trị của Ban An ninh.
• Sau năm 1975, ông tiếp tục công tác trong lực lượng Công an rồi chuyển sang công tác chính quyền.
• Tháng 11 năm 1976, ông trở lại ngành Công an, giữ chức Phó Cục trưởng Cục Chống gián điệp, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Tháng 7 năm 1979, ông là Giám đốc Công an Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo, sau đó được bầu làm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Đặc khu.
• Tháng 1 năm 1984, ông chuyển công tác về Bộ Nội vụ và đến tháng 11 năm 1985, làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh Nhân dân.
• Năm 1986, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI, được cử làm Phó Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng, rồi Thứ trưởng Thường trực Bộ Nội vụ. Tháng 1 năm 1989, ông được phong cấp Trung tướng.
• Năm 1991, ông được bầu là Ủy viên Bộ Chính trị (khóa VII) và được cử giữ chức Bộ trưởng Nội vụ thay ông Mai Chí Thọ. Ông giữ chức vụ này đến năm 1996. Trong thời gian này, ông còn là đại biểu Quốc hội khóa IX, và là Ủy viên Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội.
• Tháng 12 năm 1992, ông được phong cấp Thượng tướng.
• Bùi Thiện Ngộ qua đời khi đang điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 3 giờ 55 phút sáng, ngày 1 tháng 7 năm 2006 (tức 7 tháng 6 năm Bính Tuất), ông được an táng tại Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh (quê hương Bùi Thiện Ngộ).
Phần thưởng cao quý.
••• và nhiều huân huy chương cao quý khác.
|
Đình (chữ Nho: 亭 hay 庭) là một công trình kiến trúc cổ truyền ở làng quê Việt Nam, là nơi thờ Thành hoàng, những người có công, anh hùng tín ngưỡng và cũng là nơi hội họp của người dân trong cộng đồng.Ở miền nam, những ngôi đình làng còn được gọi là Đình thần
Trước kia theo tình hình chung của cả nước, đình của các làng mạc Việt Nam chỉ là quán để nghỉ. Năm 1231, thượng hoàng Trần Huy Tông xuống chiếu cho đắp tượng Phật ở đình quán. Tháng 10 âm lịch năm 1491, Lê Thánh Tông cho xây dựng Quảng Văn đình ngoài cửa Đại Hưng (nay là khu vực Cửa Nam, Hà Nội), là nơi để dân chúng đánh trống kêu oan và nơi ban bố, giảng giải các chính sách của nhà nước phong kiến tại Thăng Long.
Ngôi đình làng với chức năng là nơi thờ thành hoàng và là nơi hội họp của dân chúng có lẽ bắt đầu vào thời Lê sơ và định hình vào thời nhà Mạc. Có lẽ sự phát triển của Nho giáo vào cuối thế 15 đã cấy dần Thành hoàng vào đình làng. Nhưng hiện nay dấu vết sớm nhất của đình làng thì Thành hoàng chỉ gặp từ thế kỷ 16. Trước đây đình thường chỉ có 3 gian và 2 chái. Gian giữa không có sạp, trong gian thờ Thành hoàng. Cuối thế kỷ 17 từ gian giữa và kéo dài về sau gọi là chuôi vồ, tạo cho đình làng mang kiểu chữ Đinh. Cuối thế kỷ 17, nhất là thế kỷ 18, đình làng được bổ sung tòa tiền tế.
Bố cục của đình theo trục thường gồm: Hồ nước, Nghi môn, Nhà Tiền tế, Đại đình – Hậu cung, hai bên có hành lang tả hữu mạc. Kiến trúc truyền thống được xây dựng dựa trên những nguyên tắc của thuật phong thủy. Địa điểm của đình khác đền chùa. Trong khi chùa và đền chuộng địa điểm tĩnh mịch, có khi u tịch, khuất lối thì đình làng chủ yếu lấy địa điểm trung tâm. Lý tưởng nhất là đình có địa điểm thoáng đãng nhìn ra sông nước. Nếu không có được ao hồ thiên nhiên thì dân làng có khi đào giếng khơi để có mặt nước phía trước đình cho đúng thế ""tụ thủy" vì họ cho đó là điềm thịnh mãn cho làng. Kiểu xây dựng bằng gỗ bao gồm các yếu tố nghiêng về trang trí và chạm khắc.
Đình làng thường là một ngôi nhà to, rộng được dựng bằng những cột gỗ tròn to thẳng tắp đặt trên những hòn đá tảng lớn. Vì, kèo, xà ngang, xà dọc, xà gồ của đình cũng làm toàn bằng gỗ tốt như gỗ lim. Tường đình xây bằng gạch. Mái đình lợp ngói mũi hài, hai đầu hồi xây bít đốc hoặc làm bốn góc đầu đao cong. Trên nóc đình là hai con rồng chầu mặt nguyệt, tục gọi là "lưỡng long chầu nguyệt" hay "lưỡng long tranh châu".
Sân đình được lát gạch. Trước đình có hai cột trụ cao vút, trên đình được tạc hình con nghê. Trong đình, gian giữa có bàn thờ, thờ một vị thần của làng gọi là Thành hoàng. Một chiếc trống cái cũng được để trong đình để đánh vang lên theo nhịp ngũ liên thúc giục dân làng về đình tụ họp bàn tính công việc của làng. Nhiều đình có có tấm bình phong, điêu khắc thường thấy là đồ án Long Mã hoặc tạc hình con hổ nhìn ra để trấn trạch (trong miền Nam hay gọi là Bia ông Hổ).
Các ngôi đình tiêu biểu Việt Nam.
Dân gian có câu: "cầu Nam - chùa Bắc - đình Đoài"" có ý nghĩa ca ngợi xứ Sơn Nam nổi tiếng với những cầu cổ có giá trị như: cầu ngói Phát Diệm, cầu ngói chợ Lương; xứ Kinh Bắc nổi tiếng với những ngôi chùa như: chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Phật Tích; còn xứ Đoài nổi tiếng với những ngôi đình đẹp nhất. Tới tháng 10/2023, có 8 trên tổng số 10 ngôi đình được công nhận là Di tích quốc gia Đặc biệt ở Việt Nam nằm ở khu vực Xứ Đoài (nay là Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ). Hai ngôi đình còn lại ở Nghệ An và Quảng Ninh.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Ku Klux Klan (), thường được gọi là KKK hoặc Klan, là một nhóm thù ghét của những người Mỹ da trắng, có mục tiêu chính là người Mỹ gốc Phi. Ku Klux Klan đã tồn tại ở ba thời kỳ khác nhau tại các thời điểm khác nhau trong lịch sử Hoa Kỳ. Mỗi giai đoạn của tổ chức này đã ủng hộ các lập trường cực đoan khác nhau nhưng nhìn chung, các lập trường này là "kim chỉ nam" của KKK như: chủ nghĩa dân tộc trắng, chống nhập cư, phân biệt chủng tộc và đặc biệt là trong các lần lặp lại sau này - Chủ nghĩa Bắc Âu và chủ nghĩa chống Công giáo. Trong giai đoạn Klan đệ nhất thì các thành viên của tổ chức này đã sử dụng khủng bố và bạo lực để chống lại những người da đen tham gia hoạt động chính trị và cả những người da trắng theo đảng Cộng hòa hay ủng hộ cộng đồng da màu ở các bang miền Nam nước Mỹ (địa bàn của KKK) vào cuối những năm 1860 cho đến khi bị chính phủ Hoa Kỳ thẳng tay đàn áp vào năm 1872. Tất cả ba phong trào đều kêu gọi "thanh lọc" xã hội Mỹ và tất cả đều được coi là các tổ chức cực đoan cánh hữu. Trong mỗi thời đại, tư cách thành viên Klan là bí mật và ước tính tổng số thành viên đã bị cả bạn bè và kẻ thù của tổ chức này cường điệu hóa lên.
Klan đầu tiên phát triển mạnh ở miền Nam Hoa Kỳ vào cuối những năm 1860 trong Giai đoạn Tái thiết, sau đó chết dần vào đầu những năm 1870. Nó đã tìm cách lật đổ các chính phủ nhà nước Cộng hòa ở miền Nam, đặc biệt là bằng cách sử dụng bạo lực chống lại các nhà lãnh đạo người Mỹ gốc Phi. Mỗi chi nhánh đều được tự chủ và rất bí mật về tư cách thành viên cũng như kế hoạch hành động. K.K.K đệ nhất chính thức chìm vào quên lãng khi chúng bị chính quyền Hoa Kỳ dập tắt hoạt động vào năm 1872, thông qua thực thi pháp luật liên bang. Các thành viên của tổ chức này tự làm trang phục, thường có nhiều màu sắc trên nền trắng: áo choàng trắng có vòng tròn màu đỏ (Clan-Klan) với cây thánh giá màu trắng và giọt máu đỏ ở giữa cây thánh giá (tình huynh đệ gắn kết như giọt máu bên trong cơ thể-brotherhood-kyklos-Ku Klux (tiếng Hi Lạp)), mặt nạ và mũ hình chóp khoét mắt, tất cả cũng đều màu trắng, được thiết kế để trở nên đáng sợ hơn và để che giấu danh tính của họ.
Thời kỳ thứ hai bắt đầu với quy mô nhỏ ở bang Georgia vào năm 1915. KKK đệ nhị trở lên lớn mạnh trên toàn nước Mỹ trong thập niên 1920 và thập niên 1930. "Địa bàn" hoạt động chính của 3K bao gồm các khu vực đô thị ở các bang thuộc miền Trung Tây, Tây và Nam Hoa Kỳ. Lấy cảm hứng từ bộ phim câm chính kịch-sử thi của DW Griffith, "The Birth of a Nation," côngchiếu năm 1915, đã thần thoại hóa việc thành lập Klan thời đầu, nó sử dụng các kỹ thuật tiếp thị và một cấu trúc tổ chức huynh đệ phổ biến. Bắt nguồn từ các cộng đồng Tin lành địa phương, nó tìm cách duy trì quyền lực tối cao, thường có lập trường ủng hộ Cấm rượu, chống lại người Công giáo, người Do Thái, người da màu, người nhập cư... đồng thời luôn thể hiện sự phản đối với quyền lực chính trị được cho là của Giáo hoàng và Giáo hội Công giáo ở Hoa Kỳ. 3K đệ nhị tự tổ chức và phân bổ tài chính cho các hoạt động của tổ chức. Nguồn tiền hoạt động của hội đến từ phí gia nhập hội và phí mua trang phục tiêu chuẩn. Các thành viên của K.K.K đệ nhị trước khi nhập hội thì bắt buộc phải đóng 2 khoản phí này. Hội này không thu lệ phí theo kì hạn như các hội kín khác. Nó đã sử dụng những từ K tương tự như những từ được sử dụng bởi Klan đầu tiên. Chúng thường xuyên thực hiện những nghi thức như: đốt thánh giá, hò hét, diễu hành, bạo lực để đe dọa các đối tượng mà chúng thù ghét. K.K.K đệ nhị nhanh chóng suy giảm trong nửa cuối thập niên 1930, và đi tới chấm dứt vào giữa thập niên 1940 trước hàng loạt các biến động xảy ra với nước Mỹ vào thời điểm đó.
Giai đoạn thứ ba và hiện tại của KKK xuất hiện sau năm 1950, dưới hình thức các nhóm địa phương hóa và độc lập sử dụng tên KKK. Các nhóm này đã tập trung vào việc phản đối phong trào dân quyền, thường sử dụng bạo lực và giết người để đàn áp các nhà hoạt động. Nó được Liên đoàn Chống phỉ báng (ADL) và Trung tâm Luật Nghèo miền Nam (SPLC) phân loại là một nhóm thù hận. ính đến năm 2016[ [cập nhật]], trong khi Liên đoàn Chống phỉ báng đưa tổng số thành viên KKK trên toàn quốc vào khoảng 3.000 thành viên, thì Trung tâm Luật Nghèo đói miền Nam đưa ra con số là vào khoảng 6.000 thành viên.
Các giai đoạn phát triển thứ hai và thứ ba của Ku Klux Klan thường xuyên nhắc đến dòng máu " Anglo-Saxon " của Mỹ, quay trở lại với chủ nghĩa bản địa của thế kỷ 19. Mặc dù các thành viên của KKK thề sẽ đề cao đạo đức Kitô giáo, nhưng hầu như mọi giáo phái Kitô giáo ở Mỹ đều đã chính thức lên án KKK và một số cha xứ Tin lành người Mỹ còn coi tổ chức này là khủng bố.
Sự hình thành của KKK.
KKK đầu tiên được thành lập ở Pulaski, bang Tennessee trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 1865 đến tháng 8 năm 1866 bởi 6 cựu sĩ quan của quân đội Liên minh Miền Nam ủng hộ chế độ nô lệ là: Frank McCord, Richard Reed, John Lester, John Kennedy, J. Calvin Jones và James Crowe. Ban đầu, KKK là một câu lạc bộ xã hội được lấy cảm hứng từ tổ chức "Những đứa con của Marta" (Sons of Marta) trước đó. Những trò nhập môn, truyền đạo, khai tâm kệch cỡm, lố bịch của KKK cũng được lấy cảm hứng từ SoM. Tên gọi được tạo nên bởi sự kết hợp giữa một từ trong tiếng Hy Lạp là "kyklos" (hình tròn) với từ "clan" (đoàn, nhó)". Cái tên này còn mang ý nghĩa là "Vòng tròn của những người anh em".
Trong một cuộc phỏng vấn báo chí năm 1868, Bedford Forrest đã tuyên bố hùng hồn rằng Klan là một tổ chức rộng lớn trải khắp Liên bang, với hơn 550.000 hội viên và rằng ông ta không phải là hội viên của Klan, mà ông chỉ bày tỏ sự ủng hộ đối với sứ mệnh của họ và chung sức cùng cộng tác với họ để hoàn thành sứ mệnh đó mà thôi. Và chính ông có thể tập hợp được 4 vạn hội viên Klan mà chỉ cần báo trước 5 ngày.
Mặc dù Klan nói rằng nó chỉ có những hội viên là "công dân có tư cách", những người da trắng, nhưng trên thực tế thì không hoàn toàn như vậy. Hội viên của Klan mang rất nhiều đặc điểm khác nhau, nó không phải là một thể thống nhất, mà như lời phát biểu của nhà sử học Elaine Frantz Parsons thì khi: "cởi bỏ cái mặt nạ trên đầu Klan đi thì đã để lộ một vẻ hỗn loạn, với vô số các hội viên của các nhóm bài da đen, những người nông dân da trắng nghèo bất mãn, những tàn quân du kích thời chiến, những người đàn ông trẻ tuổi, những kẻ bạo dâm ("sadist"), những tên hiếp dâm, những công nhân da trắng luôn lo sợ sự cạnh tranh từ những đồng nghiệp da đen, những tên trộm vặt vã"
Các hoạt động của Klan.
Klan đầu tiên đã tiến hành nhiều hoạt động chống lại việc giải phóng nô lệ, cũng như chống lại việc tái thiết liên bang. Nó nhanh chóng tham gia vào các hoạt động với chủ trương hoạt động vũ trang, sử dụng bạo lực. Trong thời kỳ tái thiết sau nội chiến các hội viên của KKK đã tham gia vào việc giết hại hơn 150 người Mỹ gốc Phi ở một hạt thuộc bang Florida.
Ảnh hưởng chính trị.
Tuy không có được cơ cấu tổ chức thật hoàn chỉnh, nhưng Klan thứ nhất đã được rất nhiều người biết tới nhờ danh tiếng của nó. Điều này còn được nâng lên rất nhiều bởi những kiểu trang phục lạ lùng, kỳ dị và những hoạt động hết sức liều lĩnh và rất dã man của nó.
Trong thời kỳ này Klan đã có nhiều hoạt động để từ đó mang đến cho nó nhiều danh tiếng trong chính trị, đó là các hoạt động chống bãi nô, chống người nhập cư... Những hoạt động này đã kéo theo sự ủng hộ của một bộ phận không nhỏ công chúng, thậm chí là cả sự ủng hộ của các đảng viên Cộng hòa, các chính trị
Trên thực tế thì Klan đầu tiên đã không được tổ chức tốt, nó chưa thực sự là có một cơ cấu tổ chức hoàn thiện. Klan giống như một hội bí mật hay là một hội nhóm "vô hình". Hội kín này không có một danh sách chính xác về các hội viên cũng như không có chế độ trả lương, thưởng cho hội viên. Nó không có lấy những phương tiện đi lại cốt yếu, không báo chí, không có người phát ngôn, không tăng hội, không có các hội sở ở địa phương, không có văn phòng chính thứ
Klan đầu tiên đã đi vào giai đoạn suy tàn từ năm 1868 cho đến 1870. Và hội kín này đã chính thức bị xóa sổ vào đầu thập niên 1870 bởi đạo luật quyền dân sự năm 1871 ("Civil Act of 1871"), thường được biết đến như là "Đạo luật Ku Klux Klan". Đạo luật do Benjamin Franklin Butler soạn thảo và năm 1871 đã được Tổng thống Ulysses S. Grant ký thông qua.
Klan thứ hai được William Joseph Simmons chủ lực tạo lập nên vào năm 1915. Sự tạo lập năm 1915 này là của một nhóm gồm nhiều người khác nhau, họ đã sử dụng cùng một cái tên đã được truyền cảm hứng bởi sức mạnh mới được tìm ra của các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại, mới xuất hiện.
Trong năm này đã có 3 sự kiện liên hệ mật thiết tới việc hình thành Klan thứ 2 đó là:
Phần lớn trong số những người tạo lập nên Klan thứ hai đều đến từ một tổ chức tự xưng là Những hiệp sĩ vì Mary Phagan và một tổ chức mới đã đấu tranh phản đối phiên bản hư cấu của Klan nguyên thủy trong bộ phim "The Birth of a Nation".
Klan thứ hai đã tổ chức các hội viên với một cấu trúc chính thể hoàn thiện. Với cấp độ cao nhất là cấp quốc gia, hay cấp Liên bang, và các cấp tiểu bang, địa phương dưới đó.
Với cấu trúc hoàn chỉnh, có chỉ đạo tổng thể, Klan đã trả lương cho hàng ngàn hội viên để tổ chức nên các nghiệp đoàn địa phương bao trùm lên toàn Liên bang. Hàng triệu người đã xin gia nhập vào Klan thứ hai và tại thời kỳ hoàng kim của nó, trong thập niên 1920 hội kín này đã có số hội viên lên tới 15% "dân số có tư cách" của toàn Liên bang. ("nation's eligible population"), xấp xỉ 4 - 5 triệu người. Chia rẽ nội bộ, những hành vi phạm pháp luật của những người lãnh đạo và sự chống đối công khai giữa các thành viên trong hội, đã được đưa ra khoảng 30,000 vụ vào năm 1930. Tổ chức đã tàn lụi dần trong những năm 1940.
Hoạt động và ảnh hưởng chính trị.
KKK rao giảng về thuyết "chủ nghĩa Mỹ 100%" và yêu cầu thanh lọc nền chính trị, kêu gọi các giá trị đạo đức nghiêm ngặt và thi hành tốt hơn lệnh cấm sản xuất, vận chuyển và buôn bán đồ uống có cồn. Chính sách tuyên truyền chính thức của nó tập trung vào việc đe dọa Giáo hội Công giáo, sử dụng thuyết bài Công giáo và thuyết chủ nghĩa địa phương, cho rằng công dân sinh ra ở địa phương ưu việt hơn người nhập cư.
Lời kêu gọi của phong trào KKK thứ hai nhằm vào người theo đạo Tin lành da trắng. Phong trào này chống đối người da đen, người Công giáo, người Do Thái và những người nhập cư từ Nam Âu, chẳng hạn như người Ý.
Một số nhóm địa phương đe dọa bạo lực chống lại những người buôn lậu rượu và những người phạm các tội ác đạo đức nghiêm trọng. Các vụ bạo lực do KKK gây ra chủ yếu diễn ra ở các bang miền Nam.
Ngày nay, hội KKK được cho là đã kết thúc, mặc dù vẫn tồn tại một số hoạt động của các nhóm lẻ tẻ.
Một cựu thành viên của KKK, cũng là người duy nhất đang làm việc cho Chính phủ liên bang Mỹ là Robert Byrd từ West Virginia. Ông này nói ông hối hận sâu sắc vì đã tham gia 3K gây nên một sự kiện tại Greensboro, vào chủ nhật ngày 3.11.1979, lực lượng công nhân lao động trong vùng tổ chức diễu hành chống nạn phân biệt chủng tộc. Một đoàn 9 chiếc xe dừng lại trước đoàn biểu tình, khoảng 40 tên thành viên 3K lao ra bắn xối xả trong vòng 1 phút khiến 5 công nhân chết tại chỗ và hàng chục người bị thương nặng. Những phiên tòa sau đó đều xử trắng án cho 40 tên với những lời biện hộ như "Các bị cáo thể hiện lòng yêu nước cao độ: Họ tiễu trừ cộng sản tại Bắc Carolina", gây nên làn sóng phẫn nộ trong dư luận Mĩ.
|
Bệnh tan máu bẩm sinh
Bệnh tan máu bẩm sinh (Thalassemia hay Thalassaemia) là tên chung cho một nhóm bệnh thiếu máu.
Mỗi năm, trên thế giới có khoảng 100.000 em bé sinh ra mắc phải loại bệnh trầm trọng của nhóm này - phần lớn là dân Ý, Hy Lạp, Trung Đông, Nam Á và châu Phi.
Phân loại bệnh Thalassemia.
Nguyên nhân của Thalassemia là cấu tạo bất bình thường của hemoglobin trong hồng cầu. Hai thể dạng bất thường chính được gọi là alpha-Thalassemia và beta -Thalassemia, tùy theo phần nào của chất hemoglobin bị thiếu. (Hemoglobin là một cấu trúc đạm có khả năng giữ dưỡng khí oxygen trong hồng cầu)
Dưới dạng bệnh nặng nhất của alpha-thalassemia, thấy nhiều nhất trong các sắc dân ở Đông Nam Á, Trung Quốc và Philippines thường làm hư thai hay trẻ con chết khi sinh. Phần lớn những người có bệnh alpha-thalassemia bị thiếu máu kinh niên - một số bị nặng trầm trọng, không sống được lâu.
Phần kế tiếp trong bài này liên hệ đến beta-thalassemia. Loại bệnh này cũng bao gồm một số trường hợp từ trầm trọng cho đến nhẹ, đôi khi không có ảnh hường đến sức khỏe:
Triệu chứng của bệnh.
Khi mới sinh ra, trẻ bị dạng bệnh nặng của thalassemia trông có vẻ khoẻ mạnh bình thường. Nhưng trong vòng vài tháng hay một hai năm, trẻ sẽ khó chịu, mệt mỏi, biếng ăn. Trẻ sẽ chậm lớn và da hay ửng màu vàng (xem vàng da).
Nếu không chữa trị, lá lách, gan và tim sẽ sưng to. Xương bị xốp và dễ gãy, cấu trúc của xương mặt bị thay đổi. Vì hồng cầu vỡ sớm hơn bình thường nên tủy xương phải làm việc quá sức (để sản xuất hồng cầu), khiến xương biến dạng. Ở những trẻ bị Thalassemia nặng, trán gồ lên, mũi tẹt, xương hàm trên nhô ra do tăng sản tủy xương (trẻ em bị thalassemia nặng hay trông giống nhau vì cấu trúc xương mặt đều bị biến dạng tương tự). Trẻ sẽ chết sớm, nhất là vì suy tim hay nhiễm trùng.
Trẻ mắc phải dạng thalassemia Trung Đông khi phát bệnh cũng trầm trọng như trên, nhưng phần đông chúng bị nhẹ hơn trong hai thập niên đầu.
Truyền máu thường xuyên và sử dụng thuốc kháng sinh giúp trẻ bị thalassemia dạng trầm trọng có đời sống khả quan hơn. Truyền máu thường xuyên (một tuần 3-4 lần) có thể làm giảm bớt những biến chứng của bệnh (như suy tim hay xốp xương). Nhưng khi truyền máu quá nhiều như thế, chất sắt sẽ ứ thừa trong cơ thể, gây hại cho gan và tim.
Hiện nay, khi được chữa trị, người bệnh dạng trầm trọng thalassemia có thể sống thêm từ 20 đến 30 năm.
Một số rất ít có thể chữa bằng phương pháp thay tủy.
Khả năng di truyền.
Thalassemia là bệnh di truyền dạng lặn của nhiễm sắc thể thường (tiếng Anh: "autosomal recessive"). Bệnh này không có thể lây từ trẻ này sang trẻ khác.
Mỗi con người đều có hai gene (một từ cha và một từ mẹ) liên hệ đến cấu tạo hemoglobin của hồng cầu. Tạm gọi gene này là gene 'R' (màu xanh trong thí dụ hình dưới) và tạm gọi gene có dấu tích thalassemianày là gene 'r' (màu đỏ trong thí dụ hình dưới).
Ở một người bình thường, cả hai gene đều không có dấu tích thalassemia (R và R).
Một số người có 1 một trong hai gene này có dấu tích thalassemia (R và r). Tuy chỉ có 1 gene bình thường (R), gene này vẫn có khả năng tạo hemoglobin gần hoàn hảo, và những người này thường không có triệu chứng gì cả - chỉ có khi nào họ thử máu mới biết mình có mang dấu tích bệnh thalassemia.
Khi cả hai gene đều bất bình thường, (r và r), thì hemoglobin sẽ bị cấu tạo sai - gây ra bệnh thalssemia dạng trầm trọng.
Thí dụ các trường hợp di truyền:
Khi cha có gene ngầm (R - r) nhưng mẹ hoàn toàn bình thường (R -R) thì người con có thể nằm vào một trong những trường hợp sau:
Tức là người con có 50% nguy cơ bị mang dấu tích thalassemia,
và 50% đứa trẻ sinh ra bình thường.
Khi cả cha lẫn mẹ đều có gene ngầm (R - r) thì người con có thể nằm vào một trong những trường hợp sau:
Tức là người con có 25% cơ hội hoàn toàn bình thường, 50% có nguy cơ bị mang dấu tích thalassemia và 25% bị bệnh thalassemia dạng nặng.
Bệnh này chưa thể phòng ngừa được, ngoài việc thử nghiệm chồng, vợ hay bào thai, giúp giáo dục họ về cơ hội xác suất con cái họ có thể mang mầm bệnh hay bị bệnh nặng.
Những nghiên cứu đang được tiến hành.
Có thể có những phương hướng sau:
|
Thủ đô Việt Nam
Thủ đô Việt Nam hiện nay là thành phố Hà Nội. Sau đây là danh sách các kinh đô/thủ đô – hiểu theo nghĩa rộng – là các trung tâm chính trị của chính thể nhà nước trong lịch sử Việt Nam, và cả của các vương quốc cổ/cựu quốc gia từng tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay.
Kinh đô và Thủ đô của Việt Nam qua các thời kỳ.
Phần này liệt kê các kinh đô/thủ đô trong lịch sử Việt Nam, theo trình tự thời gian. Các kinh đô được in đậm là các kinh đô độc lập của Việt Nam, còn các kinh đô được "in nghiêng" là các kinh đô trong giai đoạn Việt Nam bị nước khác đô hộ.
Kinh đô không chính thức [cần dẫn nguồn].
Ngoài ra còn có các kinh đô phụ tồn tại song song với kinh đô chính thức như:
Cố đô của Việt Nam.
Cố đô là cách gọi tôn vinh những nơi từng là thủ đô chính thống trong lịch sử Việt Nam. Hiện ở Việt Nam có các nơi sau được gọi là cố đô gồm: đất tổ Phong Châu, cố đô Hoa Lư, cố đô Huế; với sự nhìn nhận và đánh giá lại về vương triều nhà Hồ, Thanh Hóa cũng được xem là một cố đô của Việt Nam. Cố đô Hoa Lư và cố đô Huế là 2 tên gọi thông dụng, thường thấy nhất.
Các di tích cố đô thường sở hữu một trong các danh hiệu UNESCO ở Việt Nam như Phong Châu có tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di sản văn hóa phi vật thể; Hoàng thành Thăng Long, cố đô Hoa Lư, thành nhà Hồ, quần thể di tích Cố đô Huế đều thuộc những vùng di sản thế giới.
Hiện nay Việt Nam có 5 tỉnh, thành được gọi là các "vùng kinh đô" gồm: Hà Nội, Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hóa và Thừa Thiên Huế. 5 vùng kinh đô này được ngành văn hóa cho phép tổ chức và tham gia nhiều sự kiện lớn như: cuộc thi người đẹp các vùng kinh đô, hiệp hội văn học nghệ thuật các vùng kinh đô, triển lãm ảnh ngũ đại cố đô của Việt Nam, Hành trình di sản thế giớ, thành phố có Kinh đô cổ và di sản văn hoá thế giới có chuyên đề "Hành trình về Kinh đô cổ Việt Nam".
|
Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Bà mẹ Việt Nam anh hùng là danh hiệu vinh dự được Nhà nước Việt Nam phong tặng hoặc truy tặng những phụ nữ Việt Nam có nhiều cống hiến, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế.
Danh hiệu này được quy định lần đầu tiên tại Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng" ngày 29 tháng 8 năm 1994, sau đó được sửa đổi bổ sung bởi Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20 tháng 10 năm 2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc điểm a, khoản 2, Điều 58 Luật Thi đua, khen thưởng 2003.
Hoàn cảnh ra đời.
Giữa tháng 5/1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng triệu tập cuộc họp do Tổng bí thư Đỗ Mười chủ trì để nghe Tổng cục Chính trị báo cáo tình hình công tác chính sách. Tham dự cuộc họp có lãnh đạo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và đại diện các cơ quan, ngành có liên quan.
Sau khi nghe báo cáo, Tổng bí thư Đỗ Mười yêu cầu mọi người tập trung thảo luận và đề xuất giải quyết những vấn đề quan trọng, bức thiết đặt ra. Trong phần kết luận cuộc họp, Tổng bí thư nhấn mạnh: Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách. Quân đội cùng các ngành, các địa phương và toàn dân đã có nhiều cố gắng tổ chức thực hiện những chính sách đã ban hành. Kết quả đó góp phần ổn định tình hình chính trị – xã hội trên từng địa phương và trong cả nước. Tuy nhiên, tính đến thời điểm này, chưa có chính sách đãi ngộ thỏa đáng cả về tinh thần và vật chất đối với một đối tượng đặc biệt – đó là những người mẹ đã hiến dâng cho Tổ quốc những người con ưu tú. Xét đến cùng, các mẹ là những người có công lớn nhất trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Ban Bí thư yêu cầu Tổng cục Chính trị phối hợp với các ngành – nhất là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội – triển khai nghiên cứu xây dựng một chính sách xứng đáng đối với các bà mẹ có nhiều cống hiến. Có thể khẳng định rằng, ý tưởng về chính sách "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" bắt nguồn từ cuộc họp đó của Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Chấp hành kết luận của Tổng bí thư, ông Lê Khả Phiêu (Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) và ông Đặng Vũ Hiệp (Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) đã giao cho Cục Chính sách nghiên cứu đề án. Trong một thời gian ngắn, Cục Chính sách đã cử cán bộ về các địa phương khảo sát số lượng, tình hình đời sống của các bà mẹ có nhiều con là liệt sĩ, cũng như nguyện vọng đề đạt của nhân dân. Trên cơ sở đó, Cục Chính sách đã xây dựng đề án, phối hợp nghiên cứu, tiến hành xin ý kiến của các cơ quan có liên quan trong và ngoài quân đội.
Tiếp đến, Cục Chính sách đã giúp Tổng cục Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng xây dựng tờ trình lên Ban Bí thư, Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về chính sách với các nội dung bao gồm: Xác định đối tượng, tiêu chuẩn, hình thức khen thưởng, chế độ được hưởng và thủ tục, quy trình xét tặng. Ban đầu, trong quá trình nghiên cứu và ý kiến tại các cuộc hội thảo, có nhiều ý kiến đề xuất các phương án khác nhau về tên gọi của danh hiệu vinh dự. Cuối cùng, tên gọi "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng" là phương án tối ưu, được các cơ quan thống nhất cao.
Ngày 29/8/1994, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Quy định Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng".
Ngày 10/9/1994, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký Lệnh công bố Pháp lệnh Quy định Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng".
Ngày 20/10/1994, Chính phủ ban hành Nghị định 167-CP thi hành Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng".
Ngày 17/12/1994, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký quyết định tặng và truy tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng" đợt đầu tiên cho 19.879 bà mẹ trong cả nước, trong đó có các bà mẹ tiêu biểu: Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam có 9 con, 1 rể, 2 cháu ngoại là liệt sĩ; Mẹ Phạm Thị Ngư ở Hàm Hiệp, Hàm Thuận, Bình Thuận có 8 con là liệt sĩ, bản thân mẹ là Anh hùng LLVT nhân dân; Mẹ Trần Thị Mít ở Hải Phú, Hải Lăng, Quảng Trị có 9 con là liệt sĩ; Mẹ Nguyễn Thị Rành, ở Phước Hiệp, Củ Chi, TP Hồ Chí Minh có 8 con là liệt sĩ, bản thân mẹ là Anh hùng LLVT nhân dân; Mẹ Nguyễn Thị Dương ở Triệu Thành, Triệu Phong, Quảng Trị có 8 con thì 5 con là liệt sĩ (3 người con khác là: Đại tướng Đoàn Khuê, Trung tướng Đoàn Chương và Đại tá Đoàn Thúy)…
Ngày 19/12/1994, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam – Ngày hội Quốc phòng toàn dân, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đã tổ chức trọng thể Lễ tuyên dương Danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng lần đầu tiên cho 59 Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu, đại diện cho gần 2 vạn bà mẹ được phong tặng.
Hưởng ứng Lời kêu gọi của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiều năm qua, các địa phương, các ngành, đoàn thể trong cả nước đã dấy lên phong trào "Phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng". Cùng với chế độ đãi ngộ theo quy định của Nhà nước, việc phụng dưỡng của các đơn vị quân đội, các tổ chức đoàn thể xã hội và nhân dân các địa phương đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của những Mẹ còn sống.
Dưới sự chỉ đạo của Tổng cục Chính trị, Cục Chính sách là cơ quan chủ trì việc nghiên cứu đề xuất và chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện chính sách "Bà mẹ Việt Nam anh hùng". Ông Nguyễn Mạnh Đẩu với cương vị Cục trưởng đã cùng các ông: Phạm Lam, Đỗ Quang Bích (Phó cục trưởng), Nguyễn Văn Tinh, Lê Thế Hải (Phòng Khen thưởng) và một số cán bộ nghiên cứu thuộc Cục Chính sách giữ vai trò điều tra, khảo sát, phản ánh và là những người trực tiếp "chắp bút", "biên tập" các văn kiện.
Tiêu chuẩn đạt danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng" (kể cả là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam) dành cho những phụ nữ đạt một trong những tiêu chuẩn sau:
Người con là liệt sĩ bao gồm con đẻ và con nuôi của Bà mẹ đã được pháp luật xác nhận, và đã được Chính phủ tặng Bằng "Tổ Quốc Ghi Công".
Bà mẹ có đủ 1 trong 4 trường hợp nêu trên do phải chịu đựng nỗi đau mất con, mất chồng mà bị bệnh tâm thần, vẫn được tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng"
Người chồng là liệt sĩ nói ở trên đây là người đã được Chính phủ tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" mà Bà mẹ là vợ của người đó được hưởng chế độ tuất liệt sĩ.
Danh hiệu này do Chủ tịch nước ký tặng hoặc truy tặng theo đề nghị của Chính phủ.
Người được tặng (truy tặng) được cấp bằng và huy hiệu "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng".
Từ tháng 12/1994 đến hết năm 2001, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phong tặng và truy tặng danh hiệu cao quý "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" cho:
Tính đến tháng 7/2020, Nhà nước Việt Nam đã phong tặng hoặc truy tặng 139.275 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, trong đó tỉnh Quảng Nam có số lượng được phong tặng và truy tặng cao nhất (15.261 mẹ), tiếp theo là Bến Tre với 6.905 mẹ, Quảng Ngãi có 6.802 mẹ, Hà Nội có 6.723 mẹ.
Từ thập niên 1990, do đất nước đã hòa bình nên rất hãn hữu mới có trường hợp được phong tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Bà Lê Thị Minh Thủy (56 tuổi) ở Nha Trang (Khánh Hòa) là Mẹ Việt Nam anh hùng mới nhất, được phong tặng vào tháng 7/2018, bà có chồng và 1 con trai cùng là liệt sĩ (cả 2 đều là phi công, hy sinh khi bay huấn luyện).
Một số bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu.
Một số bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu:
|
Thành Cổ Loa là kinh đô của nhà nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và của nhà nước phong kiến dưới thời Ngô Quyền thế kỷ 10 tại vùng đất xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Bối cảnh địa lý.
Vào thời Âu Lạc, Cổ Loa nằm vào vị trí đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng và là nơi giao lưu quan trọng của đường thủy và đường bộ. Từ đây có thể kiểm soát được cả vùng đồng bằng lẫn vùng sơn địa. Cổ Loa là một khu đất đồi cao ráo nằm ở tả ngạn sông Hoàng. Con sông này qua nhiều thế kỷ bị phù sa bồi đắp và nay đã trở thành một con lạch nhỏ, nhưng xưa kia sông Hoàng là một con sông nhánh lớn quan trọng của sông Hồng, nối liền sông Hồng với sông Cầu, con sông lớn nhất trong hệ thống sông Thái Bình. Như vậy, về phương diện giao thông đường thủy, Cổ Loa có một vị trí vô cùng thuận lợi hơn bất kỳ ở đâu tại đồng bằng Bắc Bộ vào thời ấy. Đó là vị trí nối liền mạng lưới đường thủy của sông Hồng cùng với mạng lưới đường thủy của sông Thái Bình. Hai mạng lưới đường thủy này chi phối toàn bộ hệ thống đường thủy tại Bắc bộ Việt Nam. Qua con sông Hoàng, thuyền bè có thể tỏa đi khắp nơi, nếu ngược lên sông Hồng là có thể thâm nhập vào vùng Bắc hay Tây Bắc của Bắc Bộ, nếu xuôi sông Hồng, thuyền có thể ra đến biển cả, còn nếu muốn đến vùng phía Đông Bắc bộ thì dùng sông Cầu để thâm nhập vào hệ thống sông Thái Bình đến tận sông Thương và sông Lục Nam.
Địa điểm Cổ Loa chính là Phong Khê, lúc đó là một vùng đồng bằng trù phú có xóm làng, dân chúng đông đúc, sống bằng nghề làm ruộng, đánh cá và thủ công nghiệp. Việc dời đô từ Phong Châu về đây, đánh dấu một bước ngoặt phát triển của dân cư Việt cổ, giai đoạn người Việt chuyển trung tâm quyền lực từ vùng Trung du bán sơn địa về định cư tại vùng đồng bằng. Việc định cư tại đồng bằng chứng tỏ một bước tiến lớn trong các lãnh vực xã hội, kinh tế trong giao tiếp, trao đổi con người dễ dàng đi lại bằng đường bộ hay bằng đường thủy; trong nông nghiệp có bước tiến đáng kể về kỹ thuật trồng lúa nước, mức độ dân cư cũng đông đúc hơn.
Trung tâm quyền lực của các cư dân Việt ở đồng bằng sông Hồng cũng thể hiện sự phát triển về chiều rộng của Văn hóa Đông Sơn.
Thành Cổ Loa được xây bằng đất do thời ấy ở Âu Lạc chưa có gạch nung. Khu vực Cổ Loa được coi là một nền đất yếu nên việc xây dựng thành Cổ Loa có thể khó khăn và thành bị đổ nhiều lần là dễ hiểu. Khi xẻ dọc thành để nghiên cứu, các nhà khảo cổ học phát hiện kỹ thuật gia cố thành của Thục Phán: chân thành được chẹn một lớp tảng đá. Hòn nhỏ có đường kính 15 cm, hòn lớn có đường kính 60 cm. Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy văn dày đặc đã được tạo ra thành một vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ thủy binh hùng mạnh. Thuở ấy, sông Thiếp – Ngũ Huyền Khê - Hoàng Giang thông với sông Cầu ở Thổ Hà, Quả Cảm (Hà Bắc) thông với sông Hồng ở Vĩnh Thanh (Đông Anh). Ngay sau khi xây thành, Thục Phán An Dương Vương đã chiêu tập những thợ mộc giỏi, sử dụng gỗ ở địa phương đóng thuyền chiến. Nhân dân cũng được điều tới khai phá rừng đa (Gia Lâm), rừng Mơ (Mai Lâm), rừng dâu da (Du Lâm)... thành ruộng. Những hiệp thợ chuyên rèn vũ khí cũng xuất hiện, chế tạo côn, kiếm, giáo, mác và nỏ liên châu, mỗi phát bắn nhiều mũi tên. Có nhiều bằng chứng khảo cổ về sự tồn tại của hàng chục vạn mũi tên đồng, có thể dùng nỏ liên châu ở đây. Xem thêm Truyền thuyết Cổ Loa.
Cấu trúc Thành Cổ Loa.
Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ".
Khi xây thành, người Việt cổ đã biết lợi dụng tối đa và khéo léo các địa hình tự nhiên. Họ tận dụng chiều cao của các đồi, gò, đắp thêm đất cho cao hơn để xây nên hai bức tường thành phía ngoài, vì thế hai bức tường thành này có đường nét uốn lượn theo địa hình chứ không băng theo đường thẳng như bức tường thành trung tâm. Người xưa lại xây thành bên cạnh con sông Hoàng để dùng sông này vừa làm hào bảo vệ thành vừa là nguồn cung cấp nước cho toàn bộ hệ thống hào vừa là đường thủy quan trọng. Đầm Cả rộng lớn nằm ở phía Đông cũng được tận dụng biến thành bến cảng làm nơi tụ họp cho đến cả hàng trăm thuyền bè.
Chất liệu chủ yếu dùng để xây đá và gốm vỡ. Đá được dùng để kè cho chân thành được vững chắc. Các đoạn thành ven sông, ven đầm được kè nhiều đá hơn các đoạn khác. Đá kè là loại đá tảng lớn và đá cuội được chở tới từ các miền khác. Xen giữa đám đất đá là những lớp gốm được rải dày mỏng khác nhau, nhiều nhất là ở chân thành và rìa thành để chống sụt lở. Các cuộc khai quật khảo cổ học đã tìm thấy một số lượng gốm khổng lồ gồm ngói ống, ngói bản, đầu ngói, đinh ngói. Ngói có nhiều loại với độ nung khác nhau. Có cái được nung ở nhiệt độ thấp, có cái được nung rất cao gần như sành. Ngói được trang trí nhiều loại hoa văn ở một mặt hay hai mặt.
Thành Cổ Loa theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn cứ trên dấu tích hiện còn, các nhà khoa học nhận thấy thành có 3 vòng, trong đó vòng thành nội rất có thể được làm về sau, dưới thời Ngô Quyền. Chu vi vòng ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện tích trung tâm lên tới 2 km². Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy dốc thẳng đứng, mặt trong thoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4–5 m, có chỗ cao đến 8–12 m. Chân lũy rộng 20–30 m, mặt lũy rộng 6–12 m. Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối.
Thành nội hình chữ nhật, cao trung bình 5 m so với mặt đất, mặt thành rộng từ 6–12 m, chân rộng từ 20–30 m, chu vi 1.650 m và có một cửa nhìn vào tòa kiến trúc Ngự triều di quy.
Thành trung là một vòng thành không có khuôn hình cân xứng, dài 6.500 m, nơi cao nhất là 10 m, mặt thành rộng trung bình 10 m, có bốn cửa ở các hướng đông, bắc, tây bắc và tây nam, trong đó cửa đông ăn thông với sông Hồng.
Thành ngoại cũng không có hình dáng rõ ràng, dài hơn 8.000m, cao trung bình 3–4 m (có chỗ tới hơn 8 m).
Mỗi vòng thành đều có hào nước bao quanh bên ngoài, hào rộng trung bình từ 10m đến 30m, có chỗ còn rộng hơn. Các vòng hào đều thông với nhau và thông với sông Hoàng. Sự kết hợp của sông, hào và tường thành không có hình dạng nhất định, khiến thành như một mê cung, là một khu quân sự vừa thuận lợi cho tấn công vừa tốt cho phòng thủ.
Sông Hoàng được dùng làm hào thiên nhiên cho thành ngoại ở về phía tây nam và am. Phần hào còn lại được đào sát chân tường thành từ gò Cột Cờ đến Đầm Cả. Con hào này nối với hào của thành trung ở Đầm Cả và Xóm Mít, chảy qua cửa Cống Song nối với năm con lạch có hình dáng như bàn tay xòe và với một nhánh của con lạch này, nước chảy thông vào vòng hào của thành Nội.
Thuyền bè đi lại dễ dàng trên ba vòng hào để đến trú đậu ở Đầm Cả hoặc ra sông Hoàng và từ đó có thể tỏa đi khắp nơi. Theo truyền thuyết, Thục Phán An Dương Vương thường dùng thuyền đi khắp các hào rồi ra sông hồng .
Giá trị của thành Cổ Loa.
Trong cấu trúc chung của thành Cổ Loa còn có một yếu tố khác làm phong phú thêm tổng thể kiến trúc này. Đó là những gò đất dài hoặc tròn được đắp rải rác giữa các vòng thành hoặc nằm ngoài thành ngoại. Không biết được có bao nhiêu ụ, lũy như thế, nhưng một số được dân chúng gọi là Đống Dân, Đống Chuông, Đống Bắ, có nhiệm vụ của những pháo đài tiền vệ, phối hợp với thành, hào trong việc bảo vệ và chiến đấu. Đây cũng là một điểm đặc biệt của thành Cổ Loa. Cổ Loa cũng được biết đến là một trong những đô thị đầu tiên trong lịch sử nước ta.
"Về mặt quân sự", thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước và chống ngoại xâm. Với các bức thành kiên cố, với hào sâu rộng cùng các ụ, lũy, Cổ Loa là một căn cứ phòng thủ vững chắc để bảo vệ nhà vua, triều đình và kinh đô. Đồng thời là một căn cứ kết hợp hài hòa thủy binh cùng bộ binh. Nhờ ba vòng hào thông nhau dễ dàng, thủy binh có thể phối hợp cùng bộ binh để vận động trên bộ cũng như trên nước khi tác chiến.
"Về mặt xã hội", với sự phân bố từng khu cư trú cho vua, quan, binh lính, thành Cổ Loa là một chứng cứ về sự phân hóa của xã hội thời ấy. Thời kỳ này, vua quan không những đã tách khỏi dân chúng mà còn phải được bảo vệ chặt chẽ, sống gần như cô lập hẳn với cuộc sống bình thường. Xã hội đã có giai cấp rõ ràng và xã hội có sự phân hóa giàu nghèo rõ ràng hơn thời Vua Hùng.
"Về mặt văn hóa", là một tòa thành cổ nhất còn để lại dấu tích, Cổ Loa trở thành một di sản văn hóa, một bằng chứng về sự sáng tạo, về trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt cổ. Đá kè chân thành, gốm rải rìa thành, hào nước quanh co, ụ lũy phức tạp, hỏa hồi chắc chắn và nhất là địa hình hiểm trở ngoằn ngoèo, tất cả những điều này làm chứng cho nghệ thuật và văn hóa thời An Dương Vương. Hàng năm, vào ngày 6 tháng giêng âm lịch, cư dân Cổ Loa tổ chức một lễ trang trọng để tưởng nhớ đến những người xưa đã có công xây thành, và nhất là để ghi ơn An Dương Vương.
Hiện nay Cổ Loa là một trong 21 Khu du lịch Quốc gia của Việt Nam, và vào ngày 27/9/2012 Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ Cổ Loa được Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.
Di vật khảo cổ.
Trên địa phận thành, các nhà khảo cổ đã từng khai quật được nhiều mộ cổ, hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh, khuôn đúc mũi tên, rìu lưỡi xéo bằng đồng, trống đồng và thậm chí cả ngói ống.
|
Chiến sĩ thi đua
Chiến sĩ thi đua là danh hiệu vinh dự tặng thưởng cho cá nhân lập thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua, chiến đấu hoặc sản xuất ở Việt Nam. Danh hiệu này đặt ra theo Nghị quyết 104/CP ngày 18 tháng 7 năm 1963 sau đó thay thế bằng Nghị định số 156/1998/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ Việt Nam. Trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, Chiến sĩ thi đua thường được lựa chọn sau khi kết thúc một nhiệm vụ tác chiến, công tá, một cuộc vận động hoặc tổng kết thi đua hằng năm. Trong các ngành sản xuất và nghiên cứu khoa học kĩ thuật, chiến sĩ thi đua được lựa chọn trong các kì tổng kết công tác hằng năm và kế hoạch 5 năm.
Phong trào thi đua yêu nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động từ năm 1948. Đại hội thi đua lần thứ nhất khai mạc 1/5/1952 tại Đại Từ, Thái Nguyên; có 154 chiến sĩ thi đua công, nông, binh và lao động trí óc toàn quốc về dự. Cũng tại đại hội này, các chiến sĩ thi đua lần đầu tiên được phong tặng tiêu biểu như Cao Viết Bảo, Giáp Văn Khương, Vũ Viết Thân, Phạm Thị Thành
Chiến sĩ thi đua ở Việt Nam được quy định trong các văn bản sau:
|
Áo tắm hai mảnh hay bikini là một kiểu đồ bơi phụ nữ có đặc trưng được chia làm hai mảnh riêng biệt gồm một mảnh che vòng 1 một mảnh che vòng 3 khoảng thân thể khác để phơi trần. Hình dạng của hai mảnh bikini rất giống với đồ lót phụ nữ, và phần dưới của bikini vì thế có thể chỉ đơn giản là một dải dây hay nhiều vải hơn giống kiểu quần soóc.
Đồ hai mảnh phụ nữ dùng trong thể thao từng xuất hiện trong các hình vẽ trên bình thời Hy Lạp ngay từ năm 1400 TCN.
Thỉnh thoảng từ bikini còn được sử dụng để gọi kiểu đồ bơi nam giới cũng thường được gọi là speedos.
Nguồn gốc hiện đại.
Theo chính sử, bikini hiện đại do một kỹ sư người Pháp là Louis Réard và nhà thiết kế thời trang Jacques Heim phát minh tại Paris năm 1946 và đưa ra giới thiệu ngày 5 tháng 7 tại một cuộc trình diễn thời trang ở Piscine Molitor, Paris. Đó là một bikini dây với một mảnh vải nhỏ (g-string) phía sau. Bộ đồ này được đặt theo tên Đảo san hô Bikini, địa điểm diễn ra cuộc thử nghiệm vũ khí hạt nhân vài ngày trước đó ở Quần đảo Marshall, với lý do nó cũng gây nhiều kích động như sự kiện hạt nhân đó. Tuy nhiên, phụ nữ tại Paris đã mặc bikini một năm trước khi nó được "phát minh". Sự thực này đã được đề cập với ảnh chụp trong ấn bản ngày 16 tháng 7 năm 1945 của tạp chí "Life". Bộ phim về những người đi nghỉ tại Đức trong thập kỷ 1930 đã có những cảnh phụ nữ mặc đồ tắm hai mảnh.
Tất nhiên tờ tạp chí không gán cái tên "bikini" cho bộ đồ tắm đó. Ở thời điểm đó, vụ thử bom hạt nhân vẫn còn chưa diễn ra và rõ ràng chưa ai từng nghe tới cái tên Đảo san hô Bikini. Thay vào đó họ gọi nó là "Đồ bơi Pháp". Nhưng dù cái tên vẫn chưa được chấp nhận, bộ đồ bơi phụ nữ Paris mặc rõ ràng đã được công nhận là những bộ bikini đầu tiên theo kiểu dáng và diện tích che phủ.
Một sự trùng khớp ngẫu nhiên, ngày xuất bản tạp chí, 16 tháng 7, 1945, cũng là ngày quả bom hạt nhân đầu tiên được giới thiệu ở sa mạc bên ngoài Alamogordo, New Mexico.
Bộ đồ của Reard là sự cải tiến tác phẩm trước đó của Jacques Heim, hai tháng trước, ông này đã đưa ra giới thiệu "Atome" (nguyên tử - được đặt tên theo kích thước của nó) và quảng cáo đó là "bộ đồ tắm nhỏ nhất thế giới". Reard đã chia nhỏ "atome" ra nữa, nhưng ông không tìm ra được người mẫu nào dám mặc nó. Cuối cùng ông thuê Micheline Bernardini, một vũ nữ thoát y từ Sòng bài Paris làm người mẫu.
Trở nên phổ biến.
Phải mất mười lăm năm bộ bikini mới được chấp nhận tại Hoa Kỳ. Năm 1951 việc mặc bikini đã bị cấm trong cuộc thi Hoa hậu Thế giới. Tuy nhiên, năm 1957 bộ bikini của Brigitte Bardot trong bộ phim "Và Chúa đã tạo ra Đàn bà" đã mở ra một thị trường mới cho đồ tắm tại Hoa Kỳ và trong năm 1960, bài hát nhạc pop "Itsy Bitsy Teenie Weenie Yellow Polka Dot Bikini" của Brian Hyland đã gây nên một cao trào mua đồ bơi bikini. Cuối cùng bikini trở nên nổi tiếng vào năm 1963, bộ phim "Beach Party", với diễn viên Annette Funicello (thật sự "không" mặc bikini, theo yêu cầu cá nhân của Walt Disney) và Frankie Avalon, đã dẫn tới một làn sóng phim đưa bikini lên làm biểu tượng của văn hoá pop.
Tại Malta mất nhiều thời gian mới trở nên thông dụng. Trong thập kỷ 1960 cảnh sát đã bác bỏ đề xuất của Giám mục Michael Gonzi cấm những khách du lịch mặc bikini vì sợ làm ảnh hưởng tới hình ảnh du lịch của nơi này. Những phụ nữ theo Đảng Lao động Malta cảm thấy mình được bảo vệ khi mặc bikini tham gia những bữa tiệc trên bờ biển nhưng điều này lại không thể chấp nhận được với những người theo Đảng Quốc gia.
Những người hiểu biết về lịch sử Đảo san hô Bikini —đặc biệt là những người phản đối phát triển vũ khí hạt nhân— có thể coi từ nguyên và việc sử dụng tên "bikini" đặt cho một loại trang phục là không thích hợp, bởi vì danh tiếng "nổi như cồn" một cách mỉa mai của nó đã làm giảm sự chú ý tới mức độ nghiêm trọng của một cuộc khủng hoảng nhân đạo trong lịch sử— một cuộc khủng hoảng vẫn còn để lại ảnh hưởng trong nền chính trị Quần đảo Marshall— chỉ còn lại đơn giản là một biểu tượng sex của văn hóa pop trong ý thức đa số mọi người. Thuật ngữ "hai mảnh" được coi là sự thay thế trung lập nhất.
Nhiều tạp chí cũng đã tự đánh bóng tên tuổi của mình bằng cách in ảnh những người đẹp mặc bikini lên trang bìa. Vì có ảnh hưởng của truyền thông, phụ nữ tìm cách giảm cần trước mùa hè để có được một "thân hình bikini" lý tưởng. Những mục tiêu giảm cân này thường là phi hiện thực và không có lợi cho sức khoẻ.
Trong những năm gần đây, thuật ngữ "monokini" (bikini một mảnh) đã được sử dụng để chỉ những phụ nữ mặc đồ tắm hở ngực: nếu bikini có hai mảnh thì monobikini chỉ có mảnh bên dưới. Ở những nơi có nhiều phụ nữ mặc như vậy, từ "bikini" có thể được dùng một cách bỡn cợt để gọi bộ đồ hai mảnh gồm một mảnh dưới và một chiếc mũ che nắng. Thuật ngữ này do Rudi Gernreich đưa ra.
"Tankini" là một bộ đồ tắm gồm một tank top bên trên và một bikini bên dưới.
Bikini dây là kiểu cải tiến của bikini truyền thống thường gồm những mảnh vải nhỏ nhất có thể để che phần trên và phần dưới, cả hai phần đều chỉ là những mảnh vải nhỏ màu tam giác, nối với nhau bằng dây. Đối với một số phụ nữ, thực tế là kiểu bikini đẹp nhất. Bikini dây thích hợp nhất với những phụ nữ ngực nhỏ. Vì phụ nữ ngực nhỏ không cần đến áo ngực với nhiều vật liệu đỡ, một áo ngực tam giác kiểu truyền thống phía trên có thể cải thiện hình dạng và tăng đường cong ngực. Hơn nữa, áo ngực tam giác với dây kín bên trong có thể hoạt động tương tự như một áo ngực kiểu push-up để làm tăng kích thước ngực.
Phần phía dưới của bikini còn được giảm kích thước hơn nữa trong thập niên 1970 để trở thành kiểu thong của Brasil, phần phía sau của nó nhỏ tới mức nó biến mất vào khe mông.
Những vận động viên bóng chuyền bãi biển nữ chuyên nghiệp thường phải mặc đồ hai mảnh khi thi đấu. Tuy nhiên, vì để phục vụ thể thao nên loại bikini này thường dày hơn, bền và kín đáo hơn so với bikini thông thường.
Miêu tả truyền thông.
Sự khêu gợi của loại trang phục này đã là cảm hứng cho nhiều bộ phim và chương trình truyền hình ngay khi quan niệm đạo đức thay đổi và mọi người chấp nhận nó. Trong số này có nhiều phim lướt sóng ngay từ đầu thập kỷ 1960 và loạt chương trình truyền hình, "Baywatch". Những phim miêu tả hình tượng bikini gồm Ursula Andress với vai Bond girl Honey Ryder trong phim "Dr. No" (1962), Raquel Welch trong vai cô gái trong hang thời tiền sử ở bộ phim "One Million Years B.C." năm 1966 và Phoebe Cates trong bộ phim tuổi teen "Fast Times at Ridgemont High" năm 1982. Những cảnh đó gần đây đã được Chanel 4 (Anh Quốc) xếp hạng thứ 1, 86, và 84 trong bảng xếp hạng 100 Thời điểm Sexy Vĩ đại nhất (trong phim) .
Ngoài ra, một biến thể khác của bikini thường thấy trong văn học tưởng tượng là một bộ bikini chế tạo bằng sắt (không mang tính hiện thực) giáp sắt, thỉnh thoảng được gọi là một "bikini áo giáo" hay "bikini đồng"; nhân vật Red Sonja là một ví dụ điển hình. Một thuật ngữ để gọi nó, khi mục đích gợi tình quan trọng hơn tính hiện thực là "babes-at-arms" (được nhại lại thành "men-at-arms" để chỉ các binh sĩ được trang bị tận răng).
Trong phim khoa học viễn tưởng, Sự trở lại của Jedi có bộ Bikini của công chúa Leia, nó được nhân vật Công chúa Leia mặc khi cô bị bắt giữ ở đoạn phim mở đầu. Bộ bikini đặc biệt này từ đấy đã được đưa lên trở thành biểu tượng của văn hóa pop, làm xuất hiện nhiều kiểu bắt chước và lời nói nhại (đáng chú ý nhất là 1 tập phim Friends).
Bị loại bỏ trong các cuộc thi Hoa hậu.
Trong lịch sử thi hoa hậu, đã có không ít lần trang phục bikini bị phản đối. Tại cuộc thi Hoa hậu Thế giới đầu tiên vào năm 1951 đã có phần thi bikini. Giáo hoàng Pius XII lúc đó đã ra tuyên cáo lên án, coi việc trình diễn loại trang phục hở hang đó là một tội lỗi rất nghiêm trọng và là sự hủy hoại các giá trị đạo đức Ki-tô giáo.
Các tổ chức đấu tranh vì quyền phụ nữ trên thế giới đã phê phán phần thi bikini trong các cuộc thi sắc đẹp, vì ở đó công chúng thoải mái buông ra những lời nhận xét khiếm nhã (dù vô tình hay cố tình) có thể làm tổn thương phụ nữ. Màn thi bikini đã trực tiếp cổ vũ tâm lý coi cơ thể phụ nữ là vật trưng bày mua vui, hạ thấp nhân phẩm phụ nữ, nhiều cô gái tham dự đã trở thành đối tượng bị chê bai, xúc phạm nặng nề chỉ vì cơ thể họ có khiếm khuyết
Cuộc đấu tranh lâu dài của các nhóm nữ quyền đã bước đầu có kết quả và làm ban tổ chức các cuộc thi hoa hậu ở các quốc gia khác phải suy nghĩ lại. Đến đầu thập niên 2010, nhiều cuộc thi hoa hậu trên thế giới bắt đầu loại bỏ phần thi trang phục bikini do những chỉ trích về văn hóa và đạo đức. Các cuộc thi này nhận thấy việc buộc thí sinh mặc trang phục bikini diễu qua lại trước đông đảo người xem không phải là "tôn vinh nét đẹp", mà là sự thiếu tôn trọng đối với phụ nữ, đó là một dạng lợi dụng cơ thể hở hang, thiếu vải của phụ nữ để câu khách. Một xã hội văn minh, coi trọng nhân phẩm phụ nữ cần phải chấm dứt những màn thi buộc phụ nữ phải mặc trang phục hở hang, thiếu vải, chịu sự săm xoi của khán giả về những ưu khuyết điểm trên cơ thể họ. Trong xã hội hiện nay, vấn đề bình đẳng giới, quyền phụ nữ ngày càng được coi trọng, nâng cao thì việc thi bikini bị loại bỏ ở các cuộc thi nhan sắc được coi là chuyện sớm muộn sẽ xảy ra.
Hoa hậu Thế giới.
Năm 2013, ban tổ chức Hoa hậu Thế giới (cuộc thi hoa hậu quốc tế lớn nhất thế giới) đã phải chuyển từ phần thi bikini sang trang phục đi biển kín đáo trước sức ép của người dân Đạo hồi ở nước chủ nhà Indonesia. Hội đồng Hồi giáo Indonesia, cho rằng màn trình diễn bikini cần phải bị hủy bỏ vì nó thúc đẩy "chủ nghĩa khoái lạc, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa tiêu dùng," và rằng "thi bikini chỉ là một cái cớ để khoe mẽ các bộ phận cơ thể của phụ nữ vốn cần phải kín đáo"
Sau đó, Hoa hậu Thế giới 2014 diễn ra tại Anh đã không còn phần trình diễn trang phục bikini trong đêm thi chung kết. Đồng thời, bà Julia Morley - chủ tịch cuộc thi Hoa hậu Thế giới thông báo phần thi bikini chính thức bị loại bỏ khỏi đấu trường nhan sắc lớn nhất thế giới này kể từ năm 2015. Bà cho rằng phần thi bikini không còn cần thiết và muốn các thí sinh cạnh tranh nhau ở vẻ đẹp trí tuệ, cách ứng xử, lòng nhân á, và đó mới là phương châm "sắc đẹp vì mục đích cao cả" mà cuộc thi theo đuổi
Bà Julia Morley thể hiện quan điểm rằng bà không muốn nhìn những cô gái diễu qua lại trên sân khấu trong những bộ áo tắm: "“Nó không có tác dụng gì với phụ nữ và cũng không có bất cứ tác dụng nào với bất cứ ai trong chúng ta"". Thay vào đó, Hoa hậu Thế giới sẽ tập trung vào trí tuệ, sự nhân hậu và tinh thần mạnh mẽ của các cô gái. Quyết định của bà Morley được đánh giá là bước đi tiên phong, tạo bước chuyển về bản chất của các cuộc thi sắc đẹp, để các thí sinh không còn bị đánh giá chỉ bởi vẻ bề ngoài cũng như phải hứng chịu những bình luận khiếm nhã về cơ thể họ.
Hoa hậu Trái Đất.
Tại phần trình diễn hình thể mở đầu cuộc thi Hoa hậu Trái Đất 2017, mặt các thí sinh đều phải che lại trong khi tạo dáng với áo tắm nhằm làm người xem không rõ đó là ai. Sự thay đổi này của cuộc thi nhằm xoa dịu những chỉ trích về vấn đề buộc thí sinh phải trình diễn bikini trong cuộc thi.
Hoa hậu Mỹ (Miss America).
Năm 2018, cuộc thi Hoa hậu Mỹ (Miss America) đã quyết định loại bỏ phần thi bikini nhằm ủng hộ phong trào #MeToo (phong trào chống quấy rối tình dục và bình phẩm vẻ ngoài phụ nữ) đang lan rộng, đặc biệt là sau khi những người lãnh đạo cũ của cuộc thi gặp bê bối lộ email phân biệt giới tính và gọi các thí sinh là "gái điếm". Bà Gretchen Carlson, Chủ tịch mới của Tổ chức Hoa hậu Mỹ và cũng là Hoa hậu Mỹ 1989, nói rằng "“Tôi đã trò chuyện với rất nhiều cô gái trẻ và họ nói với tôi rằng họ muốn tham gia cuộc thi nhưng không muốn sải bước trên sân khấu trong bộ đồ bikini. Tôi hiểu điều đó. Và chúng tôi sẽ không chấm điểm bạn chỉ dựa trên diện mạo bên ngoài của bạn. Chúng tôi đang tiến về phía trước và thay đổi để phù hợp với cuộc cách mạng văn hoá này”". Theo đó, cuộc thi người đẹp nói riêng và việc đánh giá phụ nữ nói chung cần tập trung vào những thành tựu học thức, sự nghiệp, đóng góp xã hội của họ, phần thi áo tắm có thể làm ảnh hưởng xấu đến thông điệp đó. Cuộc thi sẽ là một cuộc đua thực sự về trí tuệ, tài năng, lòng nhân ái chứ không chỉ là nơi trình diễn sắc đẹp. 9 thành viên của Hội đồng quản trị cuộc thi Miss America, trong đó 7 người là phụ nữ đã nhất trí với sự thay đổi này.
Theo Blain Roberts, ở thời điểm phong trào phụ nữ đòi quyền bình đẳng và cần được đánh giá đúng về bản thân, không chỉ ở vẻ ngoài, thì mục đích và tiêu chí của cuộc thi Hoa hậu Mỹ cần thay đổi cho phù hợp. Hoa hậu Mỹ 2015, Kira Kazantsev, chia sẻ trên tờ Times: "Hoa hậu Mỹ sẽ phải thăm nhiều thành phố, di chuyển nhiều, trở thành đại sứ cho các dự án từ thiệ, khỏe khoắn, truyền cảm hứ, tôi thích phần thi bikini. Tôi thích sải bước trên sân khấu ở khoảnh khắc ấy vì nó phù hợp tính cách của mình. Nhưng khi nhìn lại, tôi nhận ra nó chẳng đóng góp gì cho trách nhiệm hoa hậu tôi phải làm. Ngược lại, phần thi ấy cản trở công việc của tôi. Những người tôi gặp sẽ không đánh giá tôi nghiêm túc, thậm chí đưa ra những nhận xét dâm dục, chế nhạo tôi".
Hoa hậu Tuổi Teen Mỹ.
Năm 2016, tổ chức Hoa hậu Hoàn vũ (tổ chức từng nắm quyền điều hành ba cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ, Hoa hậu Mỹ và Hoa hậu Tuổi Teen Mỹ) đưa ra thông báo sẽ loại bỏ phần thi áo tắm khỏi sân chơi sắc đẹp dành cho đối tượng từ 15-19 tuổi này. Theo đó, phần thi áo tắm sẽ được thay thế bằng trang phục thể thao.
Bà Paula Shugart, chủ tịch tổ chức Miss Universe, cho biết sự thay đổi này mang ý nghĩa tích cực, nhằm tôn vinh vẻ đẹp, sức mạnh của phụ nữ theo một cách khác. "Quyết định này phản ánh sự biến đổi văn hóa quan trọng. Chúng ta đang tôn vinh những người phụ nữ mạnh mẽ, có khả năng làm chủ cuộc sống của mình và khuyến khích người khác làm theo. Chúng tôi hy vọng khán giả cũng sẽ nhận ra đó là những cô gái tràn đầy năng lượng và truyền cảm hứng" - bà Paula Shugart nói.
Ở các nước khác.
Năm 2005, cuộc thi Hoa hậu Pháp bắt đầu xem xét lại về màn thi bikini, 12 người vào vòng chung kết sẽ trình diễn bikini trong khi các ứng viên còn lại sẽ trình diễn áo tắm một mảnh. Bà Geneviève de Fontenay, Chủ tịch Ủy ban Hoa hậu Pháp, nói với phóng viên AFP rằng quyết định này là thể hiện sự tôn trọng khán giá truyền hình, bởi bikini là trang phục gây phản cảm với người già, trẻ nhỏ hoặc các tín đồ tôn giáo:
Năm 2012, ban tổ chức cuộc thi Hoa hậu Italia thông báo cấm thí sinh mặc bikini dự thi. Họ chỉ chấp nhận những bộ áo tắm một mảnh hoặc áo tắm kiểu cổ điển, kín đáo như ở thập niên 1950. Patrizia Mirigliani - nhà tổ chức Miss Italia - cho hay quyết định này nằm trong nỗ lực nhằm đưa cuộc thi về với "vẻ đẹp cổ điển". Việc loại bỏ bikini cũng đồng thời mang lại "yếu tố tao nhã" cho sàn đấu sắc đẹp này. Ngoài quy định cấm mặc bikini, Miss Italia cũng cấm thí sinh phẫu thuật thẩm mỹ, xăm trổ và xỏ khuyên trên cơ thể.
Năm 2019, lần đầu tiên trong lịch sử, cuộc thi Hoa hậu Venezuela sẽ không công bố số đo 3 vòng (vòng ngực, vòng eo, vòng hông) của 24 thí sinh tham dự nữa, dù đây là quốc gia nổi tiếng về thi hoa hậu. Quyết định không công bố số đo 3 vòng của các thí sinh được đưa ra trong bối cảnh các cuộc thi nhan sắc đang đối mặt với những chỉ trích của công luận vì quá chú trọng tới vẻ đẹp hình thể. Cô Gabriela Isler, người phát ngôn của cuộc thi Hoa hậu Venezuela và cũng là Hoa hậu Hoàn vũ 2013, nói: "Vẻ đẹp của một phụ nữ không phải là 90, 60, 90… Nó được đo bằng tài năng của mỗi người"
Ở Nam Phi, cuộc thi Hoa hậu Namibia (được diễn ra từ năm 1980) đã quyết định loại bỏ phần trình diễn áo tắm từ năm 2019. Họ đi theo xu hướng quốc tế giống với Hoa hậu Thế giới năm 2015. Các tiêu chí đánh giá bao gồm: vòng phỏng vấn, cách biểu hiện trên sân khấu, trang phục dạ hội và trả lời câu hỏi từ ban giám khảo.
Ở Hàn Quốc, chuyên gia vũ đạo Lee Myeong Seok - người nhiều năm là tổng đạo diễn đêm chung kết các cuộc thi hoa hậu - cho biết vài năm gần đây, các cuộc thi người đẹp ở Hàn Quốc ngày một suy giảm, một phần nguyên nhân là quan niệm công chúng đã nâng lên, họ nhận ra các cuộc thi người đẹp chỉ là một hình thức kinh doanh lợi dụng thân thể, nhan sắc của người phụ nữ.
Cuộc thi Hoa hậu Thế giới người Trung Quốc cũng loại bỏ phần thi áo tắm kể từ năm 2015. Ông Vu Tử Xuyên, thư ký ban tổ chức Hoa hậu Thế giới Trung Quốc vừa cho biết việc bỏ phần thi áo tắm nhằm thể hiện sự tôn trọng với phụ nữ và sự đa dạng văn hóa. Việc các thí sinh mặc trang phục áo tắm thiếu vải, phô diễn cơ thể cho thấy sự thiếu tôn trọng đối với phụ nữ và đây cũng là quan niệm sai lầm tại các cuộc thi nhan sắc. "Một cuộc thi nhan sắc tận dụng hình ảnh những cô gái mặc đồ bơi để câu khách là không thể hiện sự tôn trọng đối với phụ nữ và đưa ra những thông điệp sai lầm trong quan niệm về cái Đẹp ở những cuộc thi nhan sắc" - Ủy ban khẳng định. Ban tổ chức sẽ loại bỏ phần thi áo tắm để cuộc thi trở nên gần gũi với thuần phong mỹ tục Trung Quốc, thay vào đó họ sẽ tập trung chủ yếu vào việc phô diễn tài năng về nghệ thuật, văn hóa truyền thống. Ủy ban đặt ra tiêu chí rằng các thí sinh tham gia cuộc thi Hoa hậu Thế giới người Trung Quốc đều phải hiểu biết sâu về văn hóa Trung Hoa để giúp mở rộng tầm phủ sóng của văn hóa Trung Quốc ra thế giới
|
Jean P. Sasson là nhà văn và nhà báo (New York Times) Mỹ.
Bà sinh tại thành phố nhỏ Troy, tiểu bang Alabama, Mỹ. Từ khi còn bé, bà bị mê hoặc bởi những câu chuyện về những đất nước và nền văn hóa khác nhau. Năm 1978, bà sang Ả Rập Xê-út để làm điều phối viên nhà nước tại Bệnh viện Nhà vua Faisal và Trung tâm nghiên cứu tại Riyadh. Bà sinh sống và làm việc tại đây 12 năm, từ năm 1978 đến 1991. Từ đó, bà đã đi thăm 59 nước trên thế giới. Hiện giờ, bà đang sinh sống tại tiểu bang Atlanta, Mỹ.
Cuốn sách đầu tiên của bà, "Sự hâm hiếp tại Kuwait", được xuất bản năm 1992. Jean Sasson phần lớn viết những câu truyện thật về những vấn đề liên quan đến phụ nữ, mặc dù cuốn sách "Đứa con của Ester" là chuyện lịch sử về người thật. Những cuốn sách của bà được xuất bản hơn 60 lần, bằng hơn 30 ngôn ngữ. Bà là người theo chủ nghĩa nhân đạo nổi tiếng và khi không nghiên cứu hay viết sách, bà dùng thì giờ vào những vấn đề nhân đạo khác nhau. Những vấn đề mà bà quan tâm đến nhiều nhất là vấn đề về phụ nữ và quyền lợi động vật.
|
Cephalotus là chi duy nhất chứa loài duy nhất Cephalotus follicularis trong họ Cephalotaceae ở tây nam Úc. Nó là một dạng cây nắp ấm, nói chung cũng hay được gọi là nắp ấm Úc, nắp ấm Albany, cây bắt ruồi hay cây mocassin hoặc nắp ấm Tây Australia.
Loài cây này sinh ra hai loại lá: một loại có chức năng bắt côn trùng, một loại không có chức năng này. Loại có chức năng bắt côn trùng nhìn bề ngoài giống như một chiếc giày moccasin nhỏ màu xanh lục.
Giống như nhiều loài nắp ấm khác, cây nắp ấm này có lông răng, là một vòng tròn chứa các gai nhỏ hướng xuống dưới và bao quanh lối vào "ấm" (lá hình ấm), và một nắp. Nắp này có tác dụng ngăn không cho nước mưa vào quá nhiều để hòa tan hết các enzym tiêu hóa của nó. Nắp có các miếng chứa các tế bào trong mờ nhằm làm cho côn trùng bị lúng túng nhờ bề ngoài tương tự như một mảng của bầu trời.
Sự phân loại họ Cephalotaceae vào trong bộ Tai hùm (Saxifragales) đã bị từ bỏ. Trong các hệ thống phân loại đang phát triển và mới thì họ này được đưa vào trong bộ Chua me đất (Oxalidales); những hệ thống khác đặt nó (có lẽ sai lầm) vào trong bộ Hoa hồng (Rosales).
|
Bộ Nắp ấm (tên khoa học Nepenthales) hay còn có tên gọi khác là Nắp bình là một danh pháp thực vật cho một bộ thực vật có hoa. Tên gọi này được sử dụng trong hệ thống Cronquist cho bộ thuộc phân lớp Sổ ("Dilleniidae") và trong phiên bản năm 1981 của hệ thống này thì nó bao gồm các họ sau:
APG II và APG III.
Hệ thống APG II và hệ thống APG III đưa họ cuối cùng vào trong bộ Thạch nam ("Ericales") và hai họ đầu tiên vào bộ Cẩm chướng ("Caryophyllales"). Điều này là ngược lại với cái mà người ta có thể mong chờ khi chỉ xem xét theo phương pháp bắt côn trùng.
Theo phương pháp bắt côn trùng thì họ "Droseraceae" đứng riêng, các loài cây gọng vó bắt côn trùng bằng các giọt nhỏ ra chất keo dính và trong họ này thì cây bắt ruồi Venus ("Dionaea muscipula") bắt côn trùng trong lá bằng các răng cài vào nhau. Hai họ còn lại là các loài cây nắp ấm, chúng giết chết con mồi bằng cách dìm cho chúng chết trong dung dịch nước (chứa các enzym tiêu hóa hay vi khuẩn) bên trong ấm của chúng.
Lưu ý là còn một loại cây nữa cũng được gọi là nắp ấm, chỉ có ở miền tây nam Úc. Loài này thuộc về bộ Chua me đất (Oxalidales). Xem bài Nắp ấm (Úc).
|
Mạc Đĩnh Chi (chữ Hán: 莫挺之 1272 - 1346), tên tự là Tiết Phu (節夫), hiệu là Tích Am (僻庵) là một quan đại thần và nhà ngoại giao nổi tiếng triều Trần trong lịch sử Việt Nam. Năm 1304, đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, ông thi đỗ trạng nguyên. Nhờ thông minh, hiểu biết sâu rộng, ông nhiều lần được cử đi sứ sang Trung Quốc. Ngoài ra, ông còn được biết đến như là tổ tiên trực hệ của các đời Hoàng đế nhà Mạc, được Mạc Thái Tổ truy tôn thụy là Kiến Thủy Khâm Minh Văn Hoàng Đế (建始欽明文皇帝).
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Mạc Đĩnh Chi quê ở xứ làng Bàng Hà và Ba Điểm. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1287 đã theo hàng quân Nguyên. Nhà Trần sau chiến thắng đã trị tội cả làng, bắt dân làm lính hầu cho các vương hầu nhà Trần, không cho làm quan, nhưng sau này năm 1304, Mạc Đĩnh Chi vẫn được ứng thi và làm quan.
Theo Lịch triều hiến chương loại chí, Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh, Hải Đông (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), tổ tiên là Mạc Hiển Tích đỗ khoa Thái học sinh năm Bính Dần đời vua Lý Nhân Tông. Ông thông minh hơn người, nhưng tướng mạo xấu xí.
Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc mở học đường, tập hợp văn sĩ bốn phương, chu cấp cho ăn mặc, đào tạo nhiều nhân tài, trong đó có Mạc Đĩnh Chi. Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép rằng: "Ích Tắc là con thứ của Thượng hoàng, thông minh hiếu học, thông hiểu lịch sử, lục nghệ, văn chương nhất đời. Dù nghề vặt như đá cầu, đánh cờ, không nghề gì không thông thạo; từng mở học đường ở bên hữu phủ đệ, tập hợp văn sĩ bốn phương cho học tập, cấp cho ăn mặc, đào tạo thành tài như Mạc Đĩnh Chi ở Bàng Hà, Bùi Phóng ở Hồng Châ, đều được dùng cho đời."
Năm 1304 đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, triều đình mở khoa thi Cống sĩ lấy 44 người đỗ Thái học sinh (tiến sĩ). Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên; Bùi Mộ đỗ bảng nhãn, Trương Phóng đỗ thám hoa. Khi mới đỗ nhà vua chê ông xấu, Mạc Đĩnh Chi bèn làm bài phú "Ngọc tỉnh liên" (Sen trong giếng ngọc) để tự ví mình với sen. Trong bài phú có đoạn:
"Há rằng trống rỗng bất tài
"Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.
"Nếu ta giữ mực thẳng ngay.
"Mưa sa gió táp xem nay cũng thường
Vua Trần Anh Tông xem rồi khen hay, thăng làm Thái học sinh dũng thủ, sung chức Nội thư gia.
Tham dự triều chính.
Thời vua Trần Minh Tông, Mạc Đĩnh Chi càng được tin dùng hậu đãi. Ông là người liêm khiết, vua biết muốn thử ông, sai người đem 10 vạn quan tiền để trước cửa nhà ông. Sáng hôm sau Đĩnh Chi đem túi tiền lên triều, tâu nhà vua, Vua nói: "Không ai nhận tiền ấy, thì cho khanh lấy mà chi dùng". Ông đã từ chối và không nhận vì cho rằng người mất sẽ lo lắng , lúc này vua cho biết rằng chỉ thử lòng và trao cho Mạc Đĩnh Chi phần thường vì lòng chính trực.
Mạc Đĩnh Chi cùng với các vị Trần Thời Kiến, Đoàn Nhữ Hài, Độ Thiên Lư, Nguyễn Dũ, Phạm Mại, Phạm Ngộ, Nguyễn Trung Ngạ"Việt sử tiêu án": "Các ông này khi làm quan, ngạnh trực dám nói thẳng, có phong độ đại thần" và "nhân tài thịnh nhất hơn triều các vua khác".
Thời vua Trần Hiến Tông ông làm chức Nhập nội hành khiển, Lang trung hữu ty, chuyển sang làm Lang trung tả ty trải đến chức Tả bộc xạ ở hàng quan to.
Đi sứ nhà Nguyên.
Năm 1308 đời vua Trần Anh Tông, Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên, mừng vua Nguyên Vũ Tông mới lên ngôi. Đó là lúc mới 20 năm sau chiến tranh chống quân Nguyên thứ 3 (1287-1288), sứ bộ bị nắn gân cốt rất mạnh.
Tuy nhiên trong hoạt động bang giao ông đã tỏ rõ khí phách và tài năng của mình. Hoạt động và tài năng văn chương của ông đã để lại nhiều giai thoại nổi tiếng.
Sau đó năm Nhâm Tuất (1322) ông đi sứ lần 2, nhưng chưa tìm được nguồn tin.
Giai thoại đi sứ.
Thử thách văn chương đầu tiên là do trời mưa nên Sứ bộ đến cửa ải Pha Lũy (nay là ải Nam Quan) bị trễ. Quan trấn ải phía Trung Quốc không chịu mở cổng thành, song vì biết danh tiếng ông, nên thử tài bằng câu đối:
"Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan"
Nghĩa là: Qua cửa quan trễ, cửa quan đóng, mời khách qua đường qua cửa quan.
Ông đã đáp lại:
"Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối"
Nghĩa là: Ra câu đối trước thì dễ, đối câu đối mới khó, xin tiên sinh đối trước.
Quan giữ ải phục tài, lập tức mở cửa ải đón sứ bộ và tiếp đãi rất long trọng.
Buổi tiếp kiến đầu tiên.
Khi đến Đại Đô (nay là Bắc Kinh, Trung Quốc), thấy Mạc Đĩnh Chi người thấp bé, nên người Nguyên tỏ ý khinh thường. Trong buổi tiếp kiến đầu tiên người triều Nguyên đã ra câu đối:
"Nhật hoả vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thố"
Nghĩa là: Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày thiêu cháy vừng trăng. Hàm ý là đại quốc đủ sức đốt cháy nước nhỏ.
Mạc Đĩnh Chi đã đối lại:
"Nguyệt cung tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô"
Nghĩa là: Trăng là cung, sao là đạn, buổi chiều tối bắn rụng mặt trời. Hàm ý là nước nhỏ cũng có thể chống lại nước lớn trong hoàn cảnh thích hợp.
Vế đối này của Mạc Đĩnh Chi còn lấy điển tích "Hậu Nghệ xạ nhật", hay Hậu Nghệ bắn rụng chín mặt trời làm gốc. Kim Ô, hay Quạ Mặt Trời, ban ngày bay lên tai hoạ nhân gian. Hậu Nghệ bèn lấy cung bắn rụng chín con, chỉ chừa lại một con duy nhất để chiếu sáng nhân gian.
Bức tranh chim sẻ ở phủ Tể tướng.
Khi Tể tướng triều Nguyên mở tiệc chiêu đãi sứ bộ Việt, ông thấy trong phủ Tể tướng có bức tranh thêu chim sẻ vàng đậu trên cành trúc rất đẹp. Đĩnh Chi kéo con chim sẻ xuống xé nát ra, người Nguyên hỏi cớ sao ? Ông nói:"Cổ nhân có vẽ mai và tước, chưa thấy vẽ trúc và tước (sẻ). Trúc là quân tử, tước là tiểu nhân, bức trướng thêu này là kẻ tiểu nhân lấn lướt người quân tử, nay tôi vì Thánh triều mà trừ mối tệ ấy đi."
Bài minh cái quạt.
Khi vào chầu vua Nguyên Vũ Tông, đang cuối mùa hè oi bức, có người của Sát Hợp Đài hãn quốc dâng cái quạt, ông phụng mệnh làm bài minh vào cái quạt. Sứ thần nước Cao Ly làm xong trước, có 4 câu, 16 chữ, Mạc Đĩnh Chi trông thế bút viết, biết được bài của sứ thần Cao Ly rồi, liền theo ý mà làm phiên câu văn đi, lại dẫn thêm 3 câu ở trong truyện làm câu kết, được khen thưởng hơn, đủ biết ông có tài và nhanh lắm, người Nguyên càng thêm thán phục. Bài minh của sứ Cao Ly:
"Uẩn long trùng trùng, "
"Y Doãn, Chu Công. "
"Vũ tuyết thê thê,"
"Bá Di, Thúc Tề".
Bài của Đĩnh Chi:
"Lưu Kim thước thạch thiên địa vi lô, "
"nhĩ ư tư thời hề Y Chu cự nho; "
"Bắc phong kỳ thê vũ tuyết tái đồ,"
"nhĩ ư tư thời hề Di Tề ngã phu."
"dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng,"
"duy ngã dữ nhĩ hữu thi phù."
Văn tế công chúa.
Trong thời gian sứ bộ lưu ở Đại Đô, có một công chúa nhà Nguyên chết, sứ thần Việt Mạc Đĩnh Chi được cử đọc văn tế. Để thử tài sứ giả nước Việt, quan Bộ Lễ trao cho ông trang giấy chỉ có 4 chữ Nhất. Thật là một tình thế hết sức hiểm nghèo, nhưng rồi ông rất bình tĩnh ứng khẩu đọc:
"Thanh thiên nhất đóa vân,"
"Hồng lô nhất điểm tuyết,"
"Thượng uyển nhất chi hoa,"
"Dao Trì nhất phiến nguyệt."
"Y ! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết !"
"Trời xanh có một áng mây,"
Hồng lô có một bông tuyết,
"Thượng uyển có một cành hoa,"
Dao Trì có một mảnh trăng.
"Than ôi ! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết !"
Ý rằng: trên trời có một đám mây, trong lò lửa có một bông tuyết, trong vườn hoa có một nhành hoa, nước Dao Trì có một mặt trăng ! Than ôi ! Mây tan hết, tuyết rã rồi, hoa tàn héo, trăng không tròn !
Tuy nhiên trên thực tế, bài văn tế này là của một tác giả Trung Quốc, sống ở thời Tống và người đời sau đã đem gán cho Mạc Đĩnh Chi cách sau đời Tống đến trên ba thế kỷ, đã tạo thành một câu chuyện giai thoại, và theo Lê Quý Đôn thì bài văn còn được gán cho Nguyễn Đăng Cảo (1619 - ?) sống cách đời Tống sau 600 năm.
Câu đố chết người.
Khi sứ bộ bái biệt vua Nguyên Vũ Tông để về nước, thì họ ra câu đố hiểm hóc:
"Có một chiếc thuyền, trong đó có vua, thầy học, và cha mình (quân, sư, phụ) bơi đến giữa sông chẳng may gặp sóng lớn đắm thuyền. Khi ấy ngươi ở trên bờ ra cứu, nhưng chỉ có thể cứu được một người thôi, thế thì ngươi cứu ai?
Vào thời kỳ đó, trả lời sai sẽ bị tội phanh thây, chém đầu hoặc lưu giữ lại, dẫn đến nước Việt mất nhân tài. Nhưng ông đã trả lời:
"Thần đứng trên bờ, thấy thuyền bị đắm, tất phải vội vã nhẩy xuống sông bơi ra cứu, hễ thần gặp ai trước thì thần cứu người ấy trước, bất kể người ấy là vua, thầy học hay cha mình.
Cuối cùng ông được ra về.
Hậu duệ ở Triều Tiên.
Trong thời gian đi sứ Trung Hoa, sứ bộ nước Việt giao lưu rất thân thiết với sứ bộ nước Cao Ly. Sự tương đồng hoàn cảnh của hai nước trước cường quốc Trung Hoa, cùng với tài năng của Mạc Đĩnh Chi làm sứ thần Cao Ly mến mộ. Vị sứ thần Cao Ly đã mời ông sang chơi và gả cháu gái cho ông. Người thiếp này sinh được 1 nữ, và lần ông đi sứ thứ hai thì sinh 1 nam, từ đó lập ra một dòng họ ở bên đó. Một hậu duệ của ông đã tìm đến Việt Nam, bút đàm hán tự với ông Lê Khắc Hòe. Sau đó ông Hòe có viết bài "Người Triều Tiên đi bán sâm là hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi", muốn tìm họ Mạc để nhận họ, đăng trên An Nam tạp chí số 4 năm 1926. Sau này Vũ Hiệp sưu tập và đăng trên tạp chí Nghiên cứu Sử số 2, 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
|
Phong Châu (峯州) hay bộ Văn Lang (文郎) là kinh đô của nhà nước Văn Lang. Vị trí của kinh đô này nằm trải từ thành phố Việt Trì ngày nay cho tới khu vực Đền Hùng thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Do thời Hùng Vương các tư liệu lịch sử để lại rất ít, các di tích khảo cổ cũng chưa được phát hiện nhiều cho nên tới nay, người ta vẫn chưa xác định được chính xác vị trí đặt kinh thành thời Hùng Vương.
Nhiều ý kiến cho rằng kinh đô thời này, nằm giữa khoảng từ thành phố Việt Trì ngày nay cho tới khu vực Đền Hùng thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ do Kiều Công Hãn sau này tiếp tục làm Thứ sử Phong Châu sử dụng. Những phát hiện khảo cổ tại Làng Cả (phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì) cuối năm 2005 cho thấy nhiều khả năng địa điểm này xưa kia chính là kinh đô Phong Châu.
Thời Loạn 12 sứ quân, Phong Châu là một trong 12 căn cứ lỵ sở quân sự của sứ quân, đây là nơi đóng quân của sứ quân Kiều Công Hãn.
|
Nguyễn Hiền (chữ Hán: 阮賢, 11 tháng 3, 1234 - 05 tháng 9, 1256) là trạng nguyên trẻ nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam, khi mới mười ba tuổi. Cuộc đời ông gắn với nhiều giai thoại dân gian Việt Nam còn lưu truyền đến nay.
Cuộc đời và sự nghiệp.
Nguyễn Hiền sinh năm 1234-1256 tại làng Dương A, huyện Thượng Hiền, phủ Thiên Trường (nay là Thôn Dương A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định). Ông thi đỗ trạng nguyên khi mới 13 tuổi, trở thành trạng nguyên trẻ nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam, tại khoa thi tháng 2 năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 (1247) thời vua Trần Thái Tông. Cùng năm đó có Lê Văn Hưu (黎文休) 17 tuổi đỗ bảng nhãn và Đặng Ma La (鄧麻羅) 14 tuổi đỗ thám hoa. Đây cũng là khoa thi Nho học đầu tiên trong lịch sử Việt Nam đặt ra danh vị tam khôi, bao gồm trạng nguyên, bảng nhãn và thám hoa.
Khi ông đỗ trạng nguyên, vì còn thiếu niên nên vua Trần Thái Tông cho ông về quê 3 năm tu dưỡng thêm rồi mới gọi ra làm quan. Hết 3 năm, vua tuyển ông vào học tiếp Tam giáo chủ khoa, tức đạo Lão, đạo Phật, đạo Khổng. Về sau bổ nhiệm làm quan đến chức Thượng thư bộ Công. Ông có đi sứ nhà Nguyên vài lần.
Những năm làm quan trong triều, Nguyễn Hiền có nhiều kế sách hay để phò vua giúp nước. Năm Ất Mão (1255), Đại Việt bị Chiêm Thành xâm lược, vua Trần Thái Tông rất lo bèn giao cho Trạng nguyên Nguyễn Hiền đánh giặc giữ nước. Chỉ ít lâu sau, quân giặc thất bại, trạng Hiền thu quân về Vũ Minh Sơn mở tiệc khao quân và tâu lên vua. Nhà vua vô cùng vui mừng và phong cho ông danh hiệu "Đệ nhất hiển quý quan".
Về nông nghiệp, ông cho đắp đê quai vạc sông Hồng, phát triển sản xuất mùa màng thắng lợi. Về quân sự, ông cho mở mang võ đường để rèn quân luyện sĩ.
Ngày 14 tháng 8 năm Bính Thìn (1256), Trạng nguyên Nguyễn Hiền lâm bệnh nặng rồi qua đời, hưởng dương 21 tuổi. Vua Trần Thái Tông thương tiếc truy phong ông là "Đại vương thành hoàng" và tôn làm thần ở 32 nơi, trong đó có đình Lại Đà ở xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Hiện nay, tại đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền ở quê hương ông, thôn Dương A (Nam Thắng, Nam Trực, Nam Định) còn giữ được nhiều bài vị, sắc phong, câu đối, đại tự, đặc biệt bảo tồn được cuốn Ngọc phả nói về sự nghiệp của ông, trong đó có câu ca ngợi tài năng của Nguyễn Hiền như sau:
"Thập nhị tuế khôi khai lưỡng quốc"
"Vạn niên thiên tuế lập tam tài"
"Mười hai tuổi khai khoa hai nước"
"Nghìn năm ghi mãi chữ tam tài"
Sau khi ông mất, để tỏ lòng tôn kính một nhân tài mệnh yểu, vua cho đổi tên huyện Thượng Hiền thành Thượng Nguyên để kiêng tên húy của ông.
Thần đồng từ nhỏ.
Nguyễn Hiền mồ côi cha từ nhỏ, bà mẹ đã cho ông theo học sư cụ chùa Hà Dương ở làng Dương A. Tương truyền, lúc đầu vào học sư mới viết được 10 trang giấy, Hiền liền đọc ngay được như người đã từng đi học rồi, sư cụ lấy làm lạ. Một đêm, sư cụ nằm mộng thấy Phật quở rằng: "Trạng nguyên mỗi lần vào chùa thường nghịch ngợm, sao nhà ngươi không răn đe, ngăn chặn?". Sư tỉnh dậy, đốt đuốc khắp chùa thấy sau lưng các pho tượng đều có viết chữ "phạt 30 roi", riêng hai pho hộ pháp ghi "phạt 60 roi", sư nhận ra ngay chữ của Hiền. Một hôm, sư lên lớp bèn lấy một câu trong sách: "Kính quỷ thần mà phải lánh xa" mà dặn Hiền rằng: "Phật tức quỷ thần, trò không được nhạo báng". Hiền liền nhận lỗi và tự lau sạch những chữ mình đã viết. Từ đó, Hiền càng chăm chỉ học tập, học đến đâu nhớ đến đấy, xuất khẩu thành chương.
Năm 11 tuổi, Hiền đã nổi tiếng và được mệnh danh là "thần đồng". Bấy giờ có người họ Đặng tự cho mình là đã đọc biết hết các sách, nghe tiếng tăm Hiền liền tìm đến nhà Hiền thử tài, ra đầu đề bài phú:
"Phượng hoàng sào a, kỳ lân du úc"
và ra hạn cho Hiền số câu, mỗi câu phải có tiếng chỉ một loài cầm thú. Hiền liền ứng khẩu:
"Phi long kiên chiếu"
"Mã bất xuất hà"
"Ý bi Hữu Hùng chi thế"
"Ấp vu Trác Lộc chi a."
"Rồng không bay lên nơi ao, hồ"
"Ngựa không từ sông phi ra"
"Đẹp thay đời có họ Hữu Hùng"
"Làm nhà ở nơi Trác Lộc."
Người họ Đặng hết sức thán phục Hiền và tấm tắc khen là "Thiên tài".
Đỗ Trạng nguyên nhưng chưa được bổ nhiệm.
Đến năm thi Đinh Mùi (1247), Nguyễn Hiền dự kỳ thi đình với bài phú "Áp tử từ kê mẫu du hồ phú" (bài phú về gà con từ giã mẹ gà đi chơi hồ nước). Vua hỏi, Hiền trả lời trôi chảy cả văn lẫn ý, vua khen ngợi và hỏi:
- Học thầy nào?
Nguyễn Hiền trả lời:
- Thần không phải là người sinh ra đã biết, nhưng khi có một đôi chữ không biết thì hỏi thầy chùa.
- Vì còn nhỏ mà trạng nguyên ăn nói chưa biết lễ, cần cho về nhà học lễ 3 năm mới bổ dụng.
Vì thế trạng Hiền chưa được ban áo mão.
Xâu chỉ qua vỏ ốc.
Nguyễn Hiền trở về quê nuôi dưỡng mẹ, ngày ngày đọc sách. Hiền vẫn rất ham chơi, thường lúc rỗi rãi vẫn cùng trẻ làng chơi khăng, thả diề, triều đình tiếp sứ Trung Hoa, viên sứ đưa ra một con ốc xoắn nhờ xâu qua ruột nó bằng một sợi chỉ mảnh. Được như vậy y mới chịu vào thành. Ấy là viên sứ muốn thử tài người Nam ra sao. Vua truyền cho các quan tìm cách xâu thử, nhưng vị nào cũng lè lưỡi, lắc đầu. Bấy giờ vua chợt nghĩ đến trạng nguyên trẻ Nguyễn Hiền, bèn cho triệu trạng về kinh.
Viên quan được giao việc đến quê gặp trạng, gặp ngay một lũ trẻ chăn trâu nghịch đất đầu làng, thấy trong đó có một cậu bé mặt mũi khôi ngô đang bày cho lũ bạn đắp một con voi bằng đất mà bốn chân lẫn tai, vòi… có thể ngoe nguẩy được. Sứ giả đồ chừng đó là trạng Hiền, bèn buông một câu thăm dò:
"Tự là chữ, cắt giằng đầu, chữ tử là con, con nhà ai đấy?"
Cậu bé nghe được, không ngước mặt lên, cũng thủng thẳng buông một câu:
"Vu là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa hỏi ta chi!"
Chủ ý của viên quan xuất một vế đối theo lối chiết tự chữ Hán. Chữ "tự" (字) có hai bộ phận, trên như cái giằng xay, dưới là chữ "tử" (子). Để nguyên "tự" có nghĩa là chữ, bỏ giằng trên còn lại chữ "tử" nghĩa là con, và gắn luôn với vế đối nôm tiếp đó thành một câu hỏi nửa Hán nửa Nôm. Câu hỏi cũng có sắc thái của người trên hỏi kẻ dưới. Trạng Hiền cũng đối lại bằng cách chiết tự chữ Hán kết hợp với một phần Nôm: chữ "vu" (于) là chưng có hai nét ngang và một nét móc, bỏ nét ngang (一) ở giữa thành chữ "đinh" (丁), nghĩa là đứa, đi với đứa nào đứa này là một vế đối rất chỉnh và rất xược.
Sứ biết đó chính là trạng Hiền, bèn xuống ngựa, truyền lại ý vua vời trạng về kinh.
Nhưng trạng Hiền không chịu, viện lẽ rằng, trước vua cho trạng kém lễ buộc về, nhưng lần này vua cho vời trạng lên cũng không giữ đúng lễ. Viên quan không biết làm thế nào, phải trần tình đầu đuôi câu chuyện sứ giả nước ngoài đưa câu đố mà chưa ai giải được. Trạng Hiền nghe chỉ mỉm cười, trở lại với đám trẻ chăn trâu. Chờ khi viên quan lên ngựa, Hiền mới xui đám trẻ cùng hát:
"Tích tịch tình tang!"
"Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng"
"Bên thì lấy giấy mà bưng"
"Bên thì bôi mỡ kiến mừng kiến sang"
"Tích tịch tình tang!"
Viên quan nghe nhẩm thuộc lời ấy, biết trạng đã chỉ cách giải, vui vẻ trở về kinh.
Bài thơ chữ "Điền".
Tương truyền sứ thần Trung Hoa đem một bài thơ ngụ ngôn sang thử nhân tài nước Nam. Bài thơ như sau:
Vua và các quan trong triều không ai giải nghĩa được là gì. Một viên quan tâu với vua xin mời Trạng nguyên Nguyễn Hiền (mà vua cho là bé đang ở nhà để rèn luyện thêm) đến để hỏi nghĩa.
Các quan đến quê mời gặp lúc Nguyễn Hiền đang nô đùa với chúng bạn, Nguyễn Hiền nói với các quan:
- Trước đây vua nói ta chưa biết lễ, thì nay chính vua cũng không biết lễ. Không ai đi mời Trạng nguyên về kinh lại không có lễ nghĩa.
Quan về tâu lại với vua, rồi đem đồ lễ và xe ngựa đến đón, Nguyễn Hiền mới chịu về kinh.
Về đến kinh đô, vua đưa bài thơ của sứ Tàu ra, trạng Hiền liền giải thích như sau:
Câu thứ nhất có ý nói là hai chữ "nhật" (日) xếp ngang hàng nhau. Câu thứ hai nghĩa là bốn chữ "sơn" (山) xoay ngược xuôi. Câu thứ ba nói về hai chữ "vương" (王) xếp chồng lên nhau. Câu thứ tư là bốn chữ "khẩu" (口) xếp ngang dọc cạnh nhau. Tóm lại, tất cả bài thơ chỉ nói đến chữ "điền" (田), có nghĩa là ruộng đất.
Giải xong, trạng Hiền viết thư đưa cho sứ Trung Hoa, ông ta phải chịu là nước Nam có nhân tài.
|
Nhà máy thủy điện Sơn La
Thủy điện Sơn La nằm trên sông Đà tại thị trấn Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, Việt Nam.
Nhà máy có công suất lắp máy 2.400 MW, với 6 tổ máy, khởi công xây dựng ngày 2 tháng 12 năm 2005. Sau 7 năm xây dựng, Thủy điện Sơn La được khánh thành vào ngày 23 tháng 12 năm 2012, sớm hơn kế hoạch 3 năm, trở thành nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam và cả khu vực Đông Nam Á tại thời điểm đó.
Quá trình xây dựng.
Nhà máy được khởi công vào năm 2005 nhưng trước đó 30 năm những chuyến khảo sát đầu tiên đã được thực hiện bởi các chuyên gia viện Thủy điện và công nghiệp Moskva, công ty Electricity and Power Distribution của Nhật Bản, Cty Designing Research and Production Shareholding của Nga và SWECO của Thụy Điển.
Năm 2001, dự án Thủy điện Sơn La được đưa ra Quốc hội khóa X thảo luận, gây ra nhiều tranh cãi về tính an toàn do mực nước thiết kế cao lại nằm trong khu vực có thể có động đất, lo ngại các tác động về môi trường sinh thái, an ninh quốc phò, dự án Thủy điện Sơn La được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư, nhưng chưa quyết phương án xây dựng. Tháng 12 năm 2002, Báo cáo nghiên cứu khả thi được thông qua tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XI. Phương án xây dựng công trình cũng được Quốc hội thông qua với mục tiêu phát điện tổ máy số 1 vào năm 2012 và hoàn thành toàn bộ công trình vào năm 2015.
Năm 2003, EVN đã hoàn chỉnh Báo cáo nghiên cứu khả thi thực hiện phương án Sơn La. Công tác tái định cư cũng được bắt đầu triển khai thực hiện. Tháng 12/2003, những người thợ đầu tiên thuộc Tổng công ty Sông Đà có mặt tại công trường để triển khai xây dựng mặt bằng công trường và đồng thời tận dụng thời gian chuẩn bị công trường trong 2 năm (2004-2005) để thi công các công trình dẫn dòng. Ngày 15/1/2004, Thủ tướng đã ra quyết định số 09/QĐ-TTg phê duyệt dự án Thủy điện Sơn La.
Ngày 2/12/2005, công trình Thủy điện Sơn La được khởi công xây dựng. Trong quá trình thiết kế, thi công dự án đã được thay đổi nhiều so với phương án ban đầu như cao trình được hạ xuống từ khoảng 295 xuống còn 215-230, thay biện pháp đổ bê tông đập dâng bằng công nghệ dầm lăn với phụ gia khoáng là tro bay của Nhiệt điện Phả Lại, thay phương án từ nhà máy 8 tổ máy (8 x 300 MW) sang phương án nhà máy 6 tổ máy (6x400 MW); thay phương án máy biến áp 1 pha bằng máy biến áp 3 , Châu Âu, Trung Quốc đã được mời giám sát, đóng góp bổ sung thêm những tiêu chuẩn rất chặt chẽ... Ngày 11 tháng 1 năm 2008, những khối bê tông đầm lăn đầu tiên được sản xuất. Tới ngày 25 tháng 8 năm 2010 kết thúc quá trình đổ bê tông đầm lăn đập chính nhà máy. Tháng 4 năm 2010 sau hơn 7 năm triển khai, các tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu đã hoàn thành công tác di chuyển toàn bộ các hộ dân ra khỏi vùng lòng hồ Thủy điện Sơn La. Ngày 15 tháng 5 năm 2010, các đơn vị thi công đã tiến hành đóng kênh dẫn dòng tích nước hồ chứa. Ngày 5 tháng 11 năm 2010, hồ chứa đã tích nước đến cao trình 189,3m đáp ứng cho phát điện tổ máy số 1. Ngày 20 tháng 8 năm 2010, rotor tổ máy số 1 đã được lắp đặt thành công. Ngày 7 tháng 1 năm 2011, tổ máy số 1 phát điện chính thức. Ngày 26 tháng 9 năm 2012, tổ máy 6 (tổ máy cuối cùng) của Nhà máy Thủy điện Sơn La đã hòa thành công vào điện lưới quốc gia.
Ngày 23 tháng 12, công trình Thủy điện Sơn La chính thức khánh thành trở thành đập thủy điện lớn nhất Đông Nam Á với cao độ đỉnh đập 228,1 m; dài 961,6 m; chiều rộng đáy đập 105 m; chiều rộng đỉnh đập 10 m. Dung tích hồ chứa thủy điện 9,26 tỷ m3, với tổng công suất lắp máy 2.400 MW, sản lượng điện bình quân hàng năm trên 10 tỷ kWh, bằng gần 1/10 sản lượng điện của Việt Nam năm 2012
Kỷ lục Việt Nam.
Thủy điện Sơn La là nhà máy thủy điện công suất lớn nhất Việt Nam tính đến năm 2022 và có thể giữ vị trí này trong một thời gian dài nữa.
|
Cao Bá Quát (: templatestyles src="Nôm/" /; 1808 – 1855), biểu tự Chu Thần (周臣), hiệu Mẫn Hiên (敏軒), lại có hiệu Cúc Đường (菊堂), là quân sư trong cuộc nổi dậy Mỹ Lương, và là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam.
Ông là người làng Sủi, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc; nay thuộc thôn Phú Thụy, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội.
Có ý kiến khác nhau về tên tự của Cao Bá Quát. Theo GS. Dương Quảng Hàm thì Cao Bá Quát có hiệu là "Chu Thần" (周臣). Theo các tác giả gần đây như GS. Nguyễn Lộc, GS. Vũ Khiêu, GS. Thanh Lãng, GS. Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế ... thì tự của ông là "Chu Thần", còn "Mẫn Hiên" (閔軒) chỉ là hiệu hoặc là biệt hiệu. Theo gia phả của dòng họ Cao ở Phú Thị: "Thân sinh ra Cao Bá Quát tên là Cao Huy Tham, có tên tự là Bộ Hiên. Ông nội Cao Bá Quát có tên tự là Ngọ Hiên. Cao Bá Quát có tên tự là Mẫn Hiên, lúc sinh thời, ông thường dùng các bút hiệu như: Chu Thần, Cao Chu Thần, hoặc Cao Tử".
Ông nội Cao Bá Quát tên là Cao Huy Thiềm (1761-1821) sau đổi là "Cao Danh Thự", một danh y nổi tiếng trong vùng. Thân sinh Cao Bá Quát tên là Cao Huy Sâm (1784-1850) sau đổi là "Cao Huy Tham", cũng là một thầy thuốc giỏi . Cao Bá Quát là em song sinh với Cao Bá Đạt, và là chú của Cao Bá Nhạ.
Phục vụ nhà Nguyễn.
Thuở nhỏ, Cao Bá Quát sống trong cảnh nghèo khó, nhưng nổi tiếng là trẻ thông minh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt. Năm Tân Tỵ (1821), ông thi khảo hạch ở trường lúc đó mới 13 tuổi, nhưng thi Hương (lần đầu) không đỗ.
Năm Tân Mão (1831) đời vua Minh Mạng, ông thi Hương đỗ Á Nguyên tại trường thi Hà Nội, nhưng đến khi duyệt quyển, bị Bộ Lễ kiếm cớ xếp xuống cuối bảng xếp ông xuống hạng cuối cùng trong số 20 người đỗ cử nhân.
Năm Nhâm Thìn (1832), Cao Bá Quát vào kinh đô Huế dự thi Hội nhưng không đỗ. Sau đó, ông vào kinh dự thi mấy lần nữa, nhưng lần nào cũng hỏng.
Năm 1841 đời vua Thiệu Trị, được quan tỉnh Bắc Ninh tiến cử, Cao Bá Quát được triệu vào kinh đô Huế bổ làm Hành tẩu ở bộ Lễ. Tháng 8 (âm lịch) năm đó, ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Thấy một số bài thi hay nhưng có chỗ phạm trường quy, ông bàn với bạn đồng sự là Phan Nhạ lấy son hòa với muội đèn chữa lại. Việc bị phát giác, ông bị bắt giam vào ngục Trấn Phủ (ngày 7 tháng 9 âm lịch), rồi chuyển đến ngục Thừa Thiên (21 tháng 1 âm lịch năm Nhâm Dần, 1842). Suốt thời gian dài bị giam cầm, ông thường bị nhục hình tra tấn. Nhưng khi án đưa lên, vua Thiệu Trị đã giảm cho ông từ tội "trảm quyết" xuống tội "giảo giam hậu", tức được giam lại đợi lệnh. Sách "Đại Nam thực lục"(Tập 23) chép việc:
"Năm Tân Sửu (1841), tháng , chữa văn sĩ nhân (chữa 09 chữ trong một số quyển thi phạm húy). Bộ Lễ và Viện Đô sát tra xét, nghị tội: Quát và Nhạ phải tội xử tử. Nguyễn Văn Siêu (làm Phân khảo) phải tội trượng, đồ. Chủ khảo và Giám khảo bị cách chức, giáng chức. Vua xét lại, tha cho Quát, Nhạ tội xử tử và chuyển thành giảo giam hậu. Siêu chỉ bị cách chức, tha cho tội đồ; Chủ khảo Bùi Quỹ và Phó khảo Trương Sĩ Tiến bị cách lưu làm việc. 5 cử nhân có bài được sửa đều phải thi lại cả ba kỳ và đều được lấy đỗ trở lại" .
Sau gần ba năm bị giam cầm khổ sở, khoảng cuối năm Quý Mão (1843), Cao Bá Quát được triều đình tạm tha, nhưng bị phát phối đi Đà Nẵng, chờ ngày đi "dương trình hiệu lực" (tức đi phục dịch để lấy công chuộc tội).
Tháng 12 (âm lịch), ông theo Đào Trí Phú (trưởng đoàn) xuống tàu Phấn Bằng đi hiệu lực đến vùng Giang Lưu Ba (Indonesia). Cùng lúc ấy, Phan Nhạ theo Nguyễn Công Nghĩa (trưởng đoàn) xuống thuyền Thần Dao đi hiệu lực sang Tân Gia Ba (Singapore)
Tháng 7 năm Giáp Thìn (1844), đoàn công cán trên thuyền Phấn Bằng về đến Việt Nam. Sau đó, Cao Bá Quát được phục chức ở bộ Lễ, nhưng chẳng bao lâu thì bị thải về sống với vợ con ở Thăng Long.
Ông trở về sống với vợ con ở Hà Nội. Trước đây, nhà ông vốn ở phố Đình Ngang (nay gần phố Nguyễn Thái Học), năm 1834 khi ông vào Huế thi Hội, thì vợ ông ở nhà đã xin phép cha chồng cho sửa lại một ngôi nhà gần Cửa Bắc về phía Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch. Thời gian này, những lúc thư nhàn, ông thường xướng họa với các danh sĩ đất Thăng Long như Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Văn Lý, Trần Văn Vi, Diệp Xuân Huyê
Sau ba năm bị thải về, Cao Bá Quát nhận được lệnh triệu vào Huế (1847) làm ở Viện Hàn Lâm, lo việc sưu tầm và sắp xếp văn thơ. Thời gian ở Kinh đô Huế lần này, ông kết thân với một số thi nhân nổi tiếng như Nguyễn Hàm Ninh, Đinh Nhật Thận, Nguyễn Phúc Miên Thẩm, Nguyễn Phúc Miên T"Mạc Vân Thi xã" do hai vị hoàng thân này sáng lập.
Năm Canh Tuất (1850), do không được lòng một số quan lớn tại triều, Cao Bá Quát đã bị đầy đi làm giáo thụ ở phủ Quốc Oai (Sơn Tây cũ).
Khởi nghĩa chống nhà Nguyễn.
Khoảng cuối năm Canh Tuất (1850) đời vua Tự Đức, Cao Bá Quát lấy cớ về quê chịu tang cha và sau đó xin ở lại nuôi mẹ già rồi xin thôi chức Giáo thụ ở phủ Quốc Oai.
Khoảng tháng 6, tháng 7 âm lịch năm Giáp Dần 1854, nhiều tỉnh ở miền Bắc gặp đại hạn, lại bị nạn châu chấu làm cho mùa màng mất sạch, đời sống người nhân dân hết sức cực khổ; Cao Bá Quát bèn vận động một số sĩ phu yêu nước, các thổ hào ở các vùng Quốc Oai, Vĩnh Phúc, Cao Bằng, Lạng Sơ, họp với thổ mục Sơn Tây là Đinh Công Mỹ và Bạch Công Trân dựng cờ nổi dậy tại Mỹ Lương, thuộc vùng Sơn Tây chống lại triều đình đương thời.
Đang trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, do có người tố giác nên kế hoạch bị bại lộ. Trước tình thế cấp bách, Cao Bá Quát buộc phải phát lệnh tấn công vào cuối năm 1854.
Buổi đầu ông cùng các thổ mục ở Sơn Tây là Đinh Công Mỹ và Bạch Công Trân đem lực lượng đánh phá phủ Ứng Hòa, huyện Thanh Oai, huyện thành Tam Dương, phủ Quốc Oai, Yên Sơ, nhưng sau khi quan quân triều đình tập trung phản công thì quân khởi nghĩa liên tiếp bị thất bại.
Tháng Chạp năm Giáp Dần (tháng 12 năm này rơi vào năm dương lịch 1855 ), sau khi bổ sung lực lượng (chủ yếu là người Mường và người Thái ở vùng rừng núi Mỹ Lương, nay là vùng đất phía Tây sông Đáy thuộc các huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức của Hà Nội, và các huyện Lương Sơn, Kim Bôi tỉnh Hòa Bình), Cao Bá Quát đem quân tấn công huyện lỵ Yên Sơn lần thứ hai (huyện lỵ huyện Yên Sơn cũng là phủ lỵ phủ Quốc Oai, ngày nay là thị trấn Quốc Oai huyện Quốc Oai). Phó lãnh binh Sơn Tây là Lê Thuận đem quân nghênh chiến. Cuộc đối đầu đang hồi quyết liệt tại vùng núi Yên Sơn (giáp Sài Sơn), thì Cao Bá Quát bị suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Tiếp theo, Nguyễn Kim Thanh và Nguyễn Văn Thực cũng lần lượt bị quân triều đình bắt được, sau cả hai đều bị xử chém. Ngoài những thiệt hại này, hơn trăm quân khởi nghĩa bị chém chết và khoảng 80 quân khác bị bắt (theo sử nhà Nguyễn).
Nghe tin đại thắng, vua Tự Đức lệnh cho ban thưởng và cho "đem thủ cấp của nghịch Quát bêu và rao khắp các tỉnh Bắc Kỳ rồi giã nhỏ quăng xuống sông". Sự thật về cái chết của Cao Bá Quát cho đến nay vẫn còn là một vấn đề nghi vấn cần làm sáng tỏ hơn .
Sau khi dẹp được cuộc khởi nghĩa, triều đình ra lệnh tru di tam tộc dòng họ Cao của ông. Anh trai song sinh của ông là Cao Bá Đạt đang làm Tri huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa, và có tiếng là một viên quan mẫn cán và thanh liêm, cũng phải chịu tội và bị giải về kinh đô Huế. Dọc đường, Cao Bá Đạt làm một tờ trần tình gửi triều đình rồi dùng dao đâm cổ tự vẫn.
Ngay sau khi cuộc nổi dậy ở Mỹ Lương (tỉnh Sơn Tây) bị thất bại (1855-1856), các tác phẩm của Cao Bá Quát đã bị triều đình nhà Nguyễn cho thu đốt, cấm tàng trữ và lưu hành, nên đã bị thất lạc không ít. Tuy vậy, trước 1984, nhóm biên soạn sách "Thơ văn Cao Bá Quát", đã tìm đến kho sách cổ của Thư viện Khoa học kỹ thuật trung ương (Hà Nội), và sau khi loại trừ những bài chắc chắn không phải của ông, thì số tác phẩm còn sót lại cũng còn được trên ngàn bài được viết bằng thứ chữ Nôm và chữ Hán.
Cụ thể là hiện còn 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi, gồm 11 bài viết theo thể ký hoặc luận văn và 10 truyện ngắn viết theo thể truyền kỳ. Trong số này về chữ Nôm, có một số bài hát nói, thơ Đường luật và bài phú "Tài tử đa cùng" (Bậc tài tử lắm cảnh khốn cùng). Về chữ Hán, khối lượng thơ nhiều hơn, được tập hợp trong các tập:
Sự nghiệp văn chương.
Trích đánh giá trong "Từ điển văn học (bộ mới)":
"Cao Bá Quát là một nhà thơ rất có bản lĩnh. Từ những tác phẩm đầu tiên đã thấy lòng tin của nhà thơ vào ý chí và tài năng của mình. Ông sống nghèo, nhưng khinh bỉ những kẻ khom lưng uốn gối để được giàu sang, và tin rằng mình có thể tự thay đổi đời mình."
"Đến khi làm quan, muốn đem tài năng ra giúp đời, nhưng rồi Cao Bá Quát sớm nhận ra rằng vấn đề không hề đơn giản như ông tưởng."
"Có những lúc ông cảm thấy bất lực trước những bất công trong xã hội, ông cũng muốn nhàn hưởng lạc thú như Nguyễn Công Trứ. Thế nhưng mỗi khi nghĩ đến những người cùng khổ bị áp bức, ông lại thấy cách đó là không thể, mà phải tìm một con đường khác. Cuối cùng, con đường mà ông chọn là đến với phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình."
"Ngoài những chủ đề nêu trên, ông còn viết về vợ con, bè bạn, học trò và quê hương. Bài nào cũng thắm thiết, xúc động. Ông cũng có một số bài đề cao những anh hùng trong lịch sử, để qua đó thể hiện hoài bão của mình. Ông cũng có một số bài thơ viết về chuyện học, chuyện thi mà ông cho rằng chỉ là chuyện "nhai văn nhá chữ". Trong dịp ông đi công cán ở vùng Hạ Châu, ông cũng có những bài thơ phản ảnh cảnh bất công giữa người da trắng với người da đ"
"Về mặt nghệ thuật, Cao Bá Quát là một nhà thơ trữ tình với một bút pháp đặc sắc. Ông làm thơ nhanh, có lúc "ứng khẩu thành chương", nhưng vẫn thể hiện được cảm xúc dồi dào và sâu lắng. Và mặc dù hình tượng trong thơ ông thường bay bổng, lãng mạn, nhưng trong những bài viết về quê hương thì ông lại sử dụng rất nhiều chi tiết hiện thực gợi cảm. Ngoài ra, đối với thiên nhiên, ông cũng hay nhân cách hóa, coi đó như những người bạn tri kỷ tri â
Trích thêm một số nhận xét khác:
"Cao Bá Quát là một văn hào có nhiều ý tứ mới lạ, lời lẽ cao kỳ" .
"Tư tưởng độc lập của Cao Bá Quát khác cái chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ. Ông Trứ lập nghiệp là để giúp vua, để chu toàn nghĩa quân thần; còn ông Quát mang cả cái mộng thay đổi thời cuộc và chuyển vần số mệ, sở trường của ông là thể phú và thể ca trù. Hai thể này, với ông đã vươn tới một trình độ nghệ thuật tuyệt vời. Có điều ông hay lạm dụng chữ Nho và điển tích, vì vậy có thua kém Nguyễn Công Trứ về thể loại ca trù .
"Cao Bá Quát trước mắt chúng ta, tượng trưng cho tài thơ và tinh thần phản kháng. Còn triết lý của ông chính là bền bỉ phục vụ cho đời ".
Vài vấn đề liên quan.
Năm sinh, năm mất.
Phỏng đoán Cao Bá Quát sinh năm 1808 là căn cứ bài "Thiên cư thuyết" của ông. Trong bài có câu (dịch): "Với tuổi ta mới hai kỷ mà đã thấy núi sông, thành quách cũ thay đổi đến ba lần". Cuối bài ghi: "Tháng mạnh thu, năm Nhâm Thìn (1832), Chu thần thị viết bài thuyết này". Hai kỷ tức 24 năm, suy ra ông sinh năm 1808. Tuy nhiên cứ liệu này chỉ có giá trị tương đối. Theo GS Vũ Khiêu và nhóm nghiên cứu về Cao Bá Quát thì khẳng định ông sinh năm 1809. Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng ghi ông sinh năm 1809..
Về năm mất, có một vài tác giả cho rằng Cao Bá Quát mất năm 1854. Nhưng theo Trần Công Nghị thì:
"Cao Bá Quát mất ngay tại trận tiền vào tháng Chạp năm Giáp Dần. Khi chuyển qua dương lịch thì: Ngày 1 tháng 12 năm Giáp Dần nhằm ngày 18 tháng 1 năm 1855. Ngày 30 tháng Chạp, năm Giáp Dần nhằm ngày 16 tháng 2 năm 1855. Như vậy nguyên tháng Chạp năm này đều rơi vào năm 1855. Cho nên năm qua đời của Cao Bá Quát phải ghi là năm 1855 mới đúng".
Hiện vẫn còn tồn tại nhiều giai thoại liên quan đến nhân cách và tài thơ của Cao Bá Quát (như "Bịa thơ tài hơn vua, Chữa câu đối của vua, Cá đớp cá-người trói người, Trên dưới đều chó, Câu thơ thi xã" ). Tuy nhiên, theo GS. Vũ Khiêu thì đa phần chúng đều thiếu căn cứ và chưa được xác minh. Bởi vậy theo ông chỉ có thể hiểu Cao Bá Quát và đánh giá đúng tư tưởng cùng hành động của ông trên cơ sở phân tích nguồn gốc xã hội đương thời, diễn biến trong cuộc đời và trong thơ văn của ông mà thôi . Ở một đoạn khác, giáo sư lại viết:
"Khác với một số giai thoại có ý nói Cao Bá Quát là một con người kiêu căng, ngỗ ngược; và qua số một bài thơ cùng bài hát nói được gán cho ông, có người còn muốn coi ông là kẻ thích hưởng lạc, rượu chè, trai gá, qua cuộc đời và thơ văn của ông, chỉ thấy ông là một người biết giữ gìn phẩm hạnh, đối xử đúng mực với cha mẹ, anh em, vợ con, hàng xóm và biết yêu quý đất nước, quê hương."
Đề cập đến "Trần tình văn" của Cao Bá Nhạ, theo giáo sư thì rất có thể người cháu này đã đỗ lỗi cho chú để minh oan cho mình.
|
Chăm sóc trẻ em
Chăm sóc trẻ em là hoạt động nuôi dưỡng, giáo dục, theo dõi quá trình phát triển của trẻ nhỏ.
Trẻ nhỏ từ khi mới lọt lòng mẹ cần sự chăm sóc về dinh dưỡng cũng như giáo dục về tinh thần. Trong nhiều xã hội hiện đại, công việc này được chia sẻ cho cả cha và mẹ đứa bé. Một số gia đình có thêm người giúp đỡ cho việc này, thường gọi là vú em. Ở nhiều xã hội, các thành viên khác của gia đình, như ông bà, cũng tham gia việc chăm sóc trẻ. Trẻ nhỏ sau độ tuổi 12 tháng ở nhiều quốc gia có thể đến trường mẫu giáo để nhận được sự chăm sóc, giúp cha mẹ của chúng có thời gian hoạt động xã hội. Từ sau 6 năm tuổi, nhiều quốc gia quy định trẻ phải bắt buộc đến trường tiểu học.
Trong trường hợp cha mẹ của trẻ bị mất tích hay chết, hoặc không đủ khả năng chăm sóc trẻ, trẻ có thể nhận được sự trợ giúp của cộng đồng, ví dụ như trường trẻ em mồ côi.
Việc thuê vú em để giúp chăm sóc trẻ nhỏ là một chủ đề có thể gây tranh cãi. Một số nghiên cứu cho thấy việc trẻ em nhận được sự chăm sóc liên tục của cha mẹ từ khi lọt lòng, đặc biệt là trong giáo dục, đạo đức, kỷ luật và giao tiếp xã hội sẽ làm tăng cơ hội giúp trẻ được phát triển hết tiềm năng.
Đa số các quốc gia có luật lệ liên quan đến bảo vệ trẻ em (và bà mẹ), ngăn chặn việc lạm dụng trẻ em.
Chăm sóc trẻ dưới 1 tuổi.
Trẻ dưới 1 tuổi cần được quan tâm chăm sóc đặc biệt về dinh dưỡng.
Nhiều nghiên cứu cho thấy sữa mẹ là thức ăn tốt nhất dành cho trẻ sơ sinh và trẻ còn ẵm ngửa. Các chế độ ăn cho trẻ sơ sinh và trẻ còn ẵm ngửa thường được xây dựng với thực đơn chính là sữa mẹ.
Một chế độ nuôi dưỡng có thể được áp dụng là
Có nguồn cho biết tại các vùng nông thôn Việt Nam, trẻ dưới 4 tháng tuổi vẫn uống nước thường xuyên, ăn bột sớm, thậm chí ngay từ tháng đầu. Bột có thể làm quá tải bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện của trẻ; còn nước không đảm bảo vệ sinh sẽ mang bệnh đến cho trẻ. Các nghiên cứu và quan sát thực nghiệm cho thấy trong sữa mẹ đã có đủ nước cho trẻ rồi.
Cai sữa cho trẻ.
Trẻ em từ 0 đến 6 tháng tuổi được khuyên nên bú hoàn toàn bằng sữa mẹ. Từ tháng thứ 6 trở đi, có thể bắt đầu cho trẻ ăn dặm, kèm theo bú sữa mẹ kết hợp sữa bình. Thức ăn dặm cho trẻ thường được điều chỉnh, thay đổi thường xuyên nhằm giúp trẻ đỡ ngán và cung cấp nguồn dinh dưỡng hợp lý cho trẻ. Nhưng trẻ em khi đã đến độ tuổi thích hợp cần được tiến hành cai sữa, điều này tốt cho sự phát triển của bé và cả người mẹ. Mỗi người làm cha mẹ khi tiến hành cai sữa cho con, cần trang bị đủ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm cũng như tâm lý sẵn sàng để giúp trẻ cai sữa thành công.
|
Luật bóng chày có đôi chút khác biệt tùy theo giải đấu, nhưng nhìn chung đều có chung các quy định chơi cơ bản.
Trò chơi diễn ra giữa 2 đội, mà trong suốt trận đấu, sẽ thay phiên nhau tấn công và phòng thủ. Một "mùa bóng" diễn ra suốt nhiều tháng bởi nhiều đội, gọi là liên đoàn (league). Mỗi đội trong liên đoàn đấu với mọi đội khác thuộc liên đoàn một số lần cố định, chứ không phải là luân phiên đấu (cơ chế round robin). Cuối mùa bóng, đội thắng nhiều nhất sẽ là vô địch của mùa.
+Bổ sung: Em yêu anh
Mục tiêu của trò chơi là ghi điểm, gọi là "run" theo ngôn ngữ của bóng chày. Đội có nhiều "runs" nhất tại cuối trận đấu sẽ thắng. Một "run" được ghi khi mà cầu thủ, trong khi tấn công, có thể đi qua hết các "chốt" (bases), tạo thành một hình vuông gọi là "kim cương".
Bóng chày dùng quả bóng màu trắng (dù màu khác vẫn có thể dùng) với viền đỏ cỡ bằng kích thước 1 nắm tay. Bóng mềm dùng banh trắng hay vàng (hay dùng hơn) với viền trắng cỡ bằng 2 nắm tay. Mỗi đội gồm 9 hoặc 10 người chơi. Góc của sân bóng kim cương nơi diễn ra trận đấu được đặt tên theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ như sau: chốt nhà (home plate), chốt 1, chốt 2 và chốt 3.
Để bắt đầu trò chơi, đội "nhà" chơi phòng thủ trước, có 9 cầu thủ phòng thủ ra sân, cố gắng để ngăn cầu thủ đội khác ghi điểm. Đội "khách" chơi tấn công trước, vì thế sẽ cố gắng ghi điểm "run". "Run" được ghi như sau: bắt đầu từ vị trí dĩa nhà, mỗi cầu thủ tấn công sẽ cố gắng lấy được quyền để chạy (ngược chiều kim đồng hồ), đến căn cứ kế tiếp, và chạm người vào căn cứ ở tại góc đó, tiếp đến căn cứ kế tiếp (theo trật tự), và cuối cùng trở về "chốt nhà", khi đó là một điểm (run) đã được ghi. Để có được quyền chạy, sẽ nói ở dưới.
Trước khi có thể chạy đến các căn cứ, cầu thủ phòng thủ làm vai trò ném bouce("pitcher,") sẽ đứng ở trung tâm của sân kim cương ở vị trí định sẵn, gọi là mô đất (mound) hay "rubber" - để ám chỉ hình chữ nhật nằm ở trung tâm của mô đất. Tám (hay chín) người chơi còn lại đứng ở trong sân, đồng thời với ngưới ném bóng, chiếm các vị trí khác nhau.
Cầu thủ tấn công được gọi là "người đánh" (batter) đứng ở tại "dĩa nhà", cầm cây gậy (dài, cứng, đường kính khoảng 2 inch (5 centimeters), chưa tính tay cầm, tay cầm đường kính dài khoảng 1-inch (2.5 centimeters), làm bằng gỗ hay nhôm tùy thuộc vào phiên bản của trò chơi. "Người đánh banh" đợi người ném bóng ném trái banh về phía "dĩa nhà". Tại thời điểm thích hợp, người ném banh ném banh, về phía người đánh, người này sẽ cố gắng đánh trái banh đi bằng cây gậy. Nếu người đánh banh đánh trúng trái banh, thì ngay lập tức bỏ cây gậy xuống, và bắt đầu chạy về phía gôn 1. Còn có nhiều cách khác để có thể có quyền chạy về căn cứ, như là đi bộ khi bị ném banh trúng người.
Khi người đánh bắt đầu chạy, anh ta sẽ được gọi là người chạy ("runner"). Tại thời điểm này, người chạy sẽ cố gắng để chạy về phía gôn 1, khi đến được thì gọi là "an toàn" (safe), còn không thì gọi là "bị loại" (out). Khi bị loại, người chạy phải rời khỏi sân (trở về hàng ghế), nơi mà các cầu thủ dự bị và huấn luyện viên đang quan sát trận đấu.
Có nhiều cách để đội phòng thủ có thể loại một cầu thủ tấn công. Nhưng để đơn giản, chỉ đưa ra ở đây 5 cách đơn giản nhất:
Một trận bóng chày được chia thành nhiều lượt đấu ("innings,") nơi mỗi đội sẽ thay phiên nhau tấn công và phòng thủ, và ngược lại. Một lượt đấu kết thúc khi có 6 lần bị loại ("outs") xảy ra, 3 lần cho mỗi đội. Khi đội phòng thủ loại được 3 cầu thủ tấn công, vai trò mỗi đội sẽ được hoán đổi - phóng thủ chuyển sang tấn công và ngược lại. Tùy thuộc vào loại bóng được dùng, mỗi đội có thể có tối đa 9 cơ hội để ghi điểm (runs).
|
Sử dụng hợp lý
Học thuyết sử dụng hợp lý (tiếng Anh: "fair use") tại Hoa Kỳ dựa trên các tự do ngôn luận do Tu chính án số 1 của Hiến pháp Hoa Kỳ bảo vệ. Trong phạm vi của luật bản quyền Hoa Kỳ, học thuyết này cho phép trích dẫn hoặc sao chép các tư liệu của người khác đã đăng ký bản quyền một cách phi lợi nhuận mà không cần xin phép, trong tác phẩm của tác giả khác, theo cuộc thử nghiệm cân nhắc ("balancing test") có bốn điều kiện. Thuật ngữ "sử dụng hợp lý" chỉ được sử dụng tại nước Mỹ; một nguyên tắc tương tự, xử sự hợp lý ("fair dealing"), tồn tại ở một số phạm vi khác mà sử dụng hệ thống luật tập tục. Luật nhãn hiệu Hoa Kỳ cũng có điều kiện "sử dụng hợp lý". Tuy điều kiện đó có tên giống, học thuyết đó thực sự khác hẳn với "sử dụng hợp lý" trong luật bản quyền.
Luật bản quyền tại Philippines cũng có học thuyết sử dụng hợp lý phần lớn hay tất cả dựa trên học thuyết được chấp nhận tại Hoa Kỳ.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đỗ Nhuận (1922 – 1991) là một nhạc sĩ Việt Nam. Ông là Tổng thư ký đầu tiên của Hội nhạc sĩ Việt Nam khóa I và II từ 1958 đến 1983, một trong những nhạc sĩ tiên phong của âm nhạc cách mạng. Đỗ Nhuận còn là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết opera với vở "Cô Sao", cũng là tác giả của bản "Du kích sông Thao" nổi tiếng.
Đỗ Nhuận sinh ngày 10 tháng 12 năm 1922, quê ở thôn Hoạch Trạch, xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Rời Cẩm Bình từ rất nhỏ, Đỗ Nhuận từng sống nhiều năm ở thành phố cảng Hải Phòng, nơi cha ông phục vụ trong đội quân nhạc với vai trò "lính kèn Tây".
Hải Phòng những năm cuối thập niên 1930 là một trong những cái nôi của tân nhạc với những Văn Cao, Lê Thương, Hoàng Quý... Năm 14 tuổi, Đỗ Nhuận tham gia hướng đạo sinh, hát những ca khúc Pháp và châu Âu. Ông cũng tự học âm nhạc dân tộc và biết chơi sáo trúc, tiêu, đàn nguyệt, đàn tứ, đàn bầu. Sau đó, khi âm nhạc cải cách bước đầu nhen nhóm, Đỗ Nhuận cũng bắt đầu tiếp xúc với tân nhạc, học đàn guitar, banjo, kèn harmonica và ghi âm. Sau ông còn học thêm violon, baian với các nhạc công người Nga lưu vong ở Hà Nội.
Năm 1939, Đỗ Nhuận sáng tác ca khúc đầu tay vào tuổi 17, bản "Trưng Vương", nhân ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng ở tỉnh Hải Dương. "Trưng Vương" được phổ biến rộng rãi và đã xuất bản ngay trong năm đó. Tiếp theo, từ cảm hứng lịch sử, ông soạn nhiều ca khúc như: "Chim than", "Lời cha già", "Đường lên ải Bắc"... là cơ sở soạn nên vở ca cảnh "Nguyễn Trãi - Phi Khanh" gồm 3 ca khúc "Chim than", "Lời cha già", "Đường lên ải Bắc" được ông viết trong hai năm 1940, 1941.
Thời gian đó Đỗ Nhuận cũng bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1943, vì in và rải truyền đơn tuyên truyền cho cách mạng nên ông bị bắt giam vào nhà tù Hải Dương, rồi đưa lên Hỏa Lò và sau bị đày lên Sơn La. Thời gian trong tù, Đỗ Nhuận đã viết nhiều bài hát cách mạng như: "Chiều tù", "Côn Đảo", "Hận Sơn La", "Tiếng gọi tù nhân", "Viếng mồ tử sĩ", "Du kích ca"...
Sau khi được trả tự do, Đỗ Nhuận tiếp tục sáng tác và hoạt động cách mạng. Ông viết nhiều bài hát và được khá phổ biến thời bấy giờ: "Nhớ chiến khu", "Đường trường vô Nam", "Tiếng súng Nam Bộ", "Bé yêu Bác Hồ", "Ngày Quốc hội"... Trong thời gian chiến tranh, ông có những ca khúc về du kích cùng nhiều nhạc phẩm khác: "Du kích ca", "Đoàn lữ nhạc", "Hành quân xa", "Trên đồi Him Lam", "Chiến thắng Điện Biên", "Tình Việt Bắc", "Lửa rừng", "Tiếng hát đầu quân", "Áo mùa đông", "Đèo bông lau"... Trong số đó phải kể đến "Hành quân xa" với câu hát nổi tiếng "Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi" và "Đoàn lữ nhạc" cùng trường ca bất hủ "Du kích sông Thao" vẫn được các ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn về sau trình bày.
Thời kỳ này, có thể nói Đỗ Nhuận đã ảnh hưởng nhiều nhạc sĩ cách mạng khác như Trần Quý, Lê Lan, Doãn Nho,Nguyên N, chùm ca khúc Điện Biên Phủ của ông đã được trao giải nhất của Hội Vǎn nghệ Việt Nam. Cho đến nay, giai điệu của bài "Chiến thắng Điện Biên" là một trong những nhạc hiệu quen thuộc của đài phát thanh và đài truyền hình.
Sau hòa bình 1954 Đỗ Nhuận tiếp tục sáng tác và có mặt trong lĩnh vực khí nhạc Việt Nam qua các tác phẩm: khúc biến tấu trên chủ đề dân ca cho flute và piano "Mùa xuân trên rừng" (1963), tứ tấu đàn dây "Tây Nguyên" (1964), ba biến tấu cho violon và piano (1964), tổ khúc giao hưởng "Điện Biện" (1965), giao hưởng thơ "Đimit'rov" (1981)... Ngoài ra, còn phải kể đến kịch múa rối "Giấc mơ bé Rồng" (1968), kịch múa "Mở biển" (1973) và nhạc nền trong các phim tài liệu và phim truyện: "Chiến thắng Điện Biên" (1954), "Nguyễn Vǎn Trỗi" (1965), "Mở đường Trường Sơn" (1972), "Lǎng Bác Hồ" (1975).
Đỗ Nhuận cũng là nhạc sĩ duy nhất trong thế hệ đầu của tân nhạc được đào tạo bài bản, ông đi học tại đại học tại Nhạc viện Tchaikovsky từ năm 1960 đến 1962. Ông là một trong những người đặt nền móng cho thể loại nhạc kịch theo truyền thống của opera phương Tây. Những thể nghiệm đầu tiên của ông xuất hiện từ những nǎm 1950 là các ca kịch ngắn: "Cả nhà thi đua, Sóng cả không ngã tay chèo, Anh Pǎn về bản, Hòn đá". Những năm 1970, 1980, Đỗ Nhuận viết các vở nhạc kịch: "Chú Tễu, Ai đẹp hơn ai, Trước giờ cưới, Quả dưa đỏ"... Đỗ Nhuận là nhạc sĩ Việt Nam đầu viết opera với vở "Cô Sao" (1965), rồi sau đó là "Người tạc tượng" (1971). Đỗ Nhuận còn có những tác phẩm khí nhạc như "Vũ khúc Tây Nguyên" cho violon và dàn nhạ"Việt Nam quê hương tôi", "Tôi thích thể thao" (một bài hát vui, bắt đầu bằng toàn chữ T), "Em là thợ quét vôi", "Đường bốn mùa xuân"...
Ngoài sáng tác, Đỗ Nhuận còn viết báo, tham gia phê bình. Nổi bật trong số đó là bài báo tấn công nặng nề nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm, cụ thể là Trần Dần năm 1958, không lâu sau khi ông nhận chức Tổng thư ký Hội nhạc sĩ.
Đỗ Nhuận mất vào ngày 18 tháng 5 nǎm 1991 tại Hà Nội.
Ngoài ra, có thể kể đến kịch múa rối "Giấc mơ bé Rồng" (1968), kịch múa "Mở biển" (1973) và nhạc nền trong các phim tài liệu và phim truyện: "Chiến thắng Điện Biên" (1954), "Nguyễn Vǎn Trỗi" (1965), "Mở đường Trường Sơn" (1972), "Lǎng Bác Hồ" (1975).
|
Lịch Gregorius, hay lịch Gregory, còn gọi là Tây lịch, Công lịch, Dương lịch, là lịch được sử dụng ở hầu hết các nơi trên thế giới. Nó được đặt theo tên của Giáo hoàng Grêgôriô XIII, ông đã giới thiệu lịch này vào tháng 10 năm 1582.
Lịch này dùng năm nhuận để làm cho năm trung bình của nó dài 365,2425 ngày, xấp xỉ với năm nhiệt đới 365,2422 ngày được xác định bởi vòng quay của Trái Đất quanh Mặt trời. Quy tắc cho năm nhuận là:
Lịch này là một bản sửa đổi của lịch Julius và có hai khía cạnh khác biệt. Nó đã rút ngắn (lịch) trung bình của năm đi 0,0075 ngày để ngăn chặn sự trôi dạt của lịch đối với các điểm phân. Để đối phó với sự sai lệch kể từ khi lịch Julius được sửa, ngày lịch mới đã được nâng lên 10 ngày; Thứ năm ngày 4 tháng 10 năm 1582 được theo sau là thứ sáu ngày 15 tháng 10 năm 1582. Có sự liên tục trong chu kỳ các ngày trong tuần và "kỷ nguyên" lịch "Anno Domini". Cuộc cải cách này cũng thay đổi chu kỳ âm lịch được Giáo hội sử dụng để tính ngày cho Lễ Phục sinh, khôi phục nó về thời gian trong năm như ban đầu được Giáo hội sơ khai cử hành. Kỷ nguyên lịch này có tên thế tục thay thế là "Kỷ nguyên chung".
Việc cải cách lịch này ban đầu đã được các nước Công giáo ở Châu Âu và các thuộc địa ở nước ngoài của họ áp dụng. Trong ba thế kỷ tiếp theo, các nước Tin lành và Chính thống giáo phương Đông cũng chuyển sang cái mà họ gọi là "lịch Cải tiến", với Hy Lạp là quốc gia châu Âu cuối cùng áp dụng lịch vào năm 1923. Để chỉ định rõ ràng một ngày trong giai đoạn chuyển tiếp (hoặc trong các văn bản lịch sử), niên đại kép đôi khi được sử dụng để chỉ định ngày Kiểu cũ và Kiểu mới (viết tắt là OS và NS). Trong suốt thế kỷ 20, hầu hết các nước không phải phương Tây cũng áp dụng lịch, ít nhất là cho các mục đích dân sự.
Lịch Gregorius là lịch dương có 12 tháng, mỗi tháng 28-31 ngày. Một năm Gregorius thông thường bao gồm 365 ngày, nhưng trong một số năm nhất định được gọi là năm nhuận có một ngày nhuận được thêm vào tháng 2. Năm Gregorius được xác định bằng các số năm liên tiếp nhau. Ngày lịch được chỉ định đầy đủ theo năm (được đánh số theo kỷ nguyên lịch, trong trường hợp này là "Anno Domini" hoặc Thời đại chung), tháng (được xác định bằng tên hoặc số), và ngày trong tháng (được đánh số liên tục bắt đầu từ 1). Mặc dù năm dương lịch hiện chạy từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 12, tại các thời điểm trước đó, các con số của năm dựa trên một điểm bắt đầu khác trong lịch (xem phần "đầu năm" bên dưới).
Trong lịch Julius, một năm nhuận xảy ra 4 năm một lần và ngày nhuận được thêm vào bằng cách nhân đôi ngày 24 tháng Hai. Cải cách lịch Gregorius đã bỏ qua ba ngày nhuận trong mỗi 400 năm và giữ nguyên ngày nhuận. Tuy nhiên, nó đã trở thành thông lệ trong thời kỳ hiện đại để đánh số ngày một cách tuần tự không có khoảng cách, và ngày 29 tháng 2 thường được coi là ngày nhuận. Trước khi sửa đổi Lịch La Mã năm 1969, Giáo hội Công giáo La Mã đã trì hoãn các ngày lễ tháng Hai sau ngày 23 một ngày trong những năm nhuận; Các thánh lễ được cử hành theo lịch trước đây vẫn phản ánh sự chậm trễ này.
Chu kỳ lịch lặp lại hoàn toàn sau mỗi 400 năm, tương đương với 146.097 ngày. Trong số 400 năm này, 303 là năm thông thường 365 ngày và 97 năm là năm nhuận gồm 366 ngày. Một năm dương lịch trung bình là ngày = 365,2425 ngày, hoặc 365 ngày, 5 giờ, 49 phút và 12 giây.
Cải cách lịch Gregorius.
Lịch Gregorius là một cuộc cải cách của lịch Julius. Nó được chính thức hóa bằng một tông sắc "Inter gravissimas" do Giáo hoàng Grêgôriô XIII thiết lập ngày 24 tháng 2 năm 1582, sau đó lịch được đặt tên theo vị giáo hoàng này. Động lực cho việc điều chỉnh là đưa ngày cử hành Lễ Phục sinh vào thời điểm trong năm mà lễ này được cử hành bởi Giáo hội sơ khai. Sai sót trong lịch Julius (giả định rằng có chính xác 365,25 ngày trong một năm) đã dẫn đến ngày điểm phân theo lịch trôi đi so với thực tế được quan sát, và do đó một lỗi đã được đưa vào tính toán ngày của lễ Phục sinh. Mặc dù một khuyến nghị của Công đồng Nicaea đầu tiên vào năm 325 quy định rằng tất cả các Ki tô hữu nên tổ chức Lễ Phục sinh vào cùng một ngày, nhưng phải mất gần 5 thế kỷ trước khi hầu như tất cả các Ki tô hữu đạt được mục tiêu đó bằng cách áp dụng các quy tắc của Giáo hội Alexandria (xem Lễ Phục sinh để biết các vấn đề phát sinh).
Vì ngày lễ Phục sinh dựa trên tính toán của ngày xuân phân (bán cầu bắc), Giáo hội Công giáo coi là không thể chấp nhận được sự khác biệt ngày càng tăng giữa ngày chính tắc của điểm phân và thực tế được quan sát. Lễ Phục sinh được tổ chức vào Chủ nhật sau ngày trăng tròn của Giáo hội vào hoặc sau ngày 21 tháng 3, được coi là gần đúng với ngày phân tháng 3. Các học giả châu Âu đã biết rõ về sự trôi dạt lịch từ đầu thời kỳ trung cổ.
Bêđa, viết vào thế kỷ 8, cho thấy rằng sai số tích lũy trong thời gian ông sống là hơn ba ngày. Roger Bacon trong khoảng năm 1200 ước tính chênh lệch là bảy hoặc tám ngày. Dante, viết c. 1300, nhận thức được sự cần thiết của một cuộc cải cách lịch. Nỗ lực đầu tiên để tiến tới một cuộc cải cách như vậy được Giáo hoàng Sixtus IV thực hiện, người vào năm 1475 đã mời Regiomontanus đến Vatican cho mục đích này. Tuy nhiên, dự án đã bị gián đoạn bởi cái chết của Regiomontanus ngay sau khi ông đến Rome. Sự gia tăng kiến thức thiên văn và độ chính xác của các quan sát vào cuối thế kỷ 15 khiến vấn đề này trở nên cấp bách hơn. Nhiều ấn phẩm trong những thập kỷ tiếp theo đã kêu gọi cải cách lịch, trong số đó có hai bài báo do Đại học Salamanca gửi tới Vatican vào năm 1515 và 1578, nhưng dự án đã không được tiếp tục cho đến những năm 1540, và chỉ được thực hiện dưới thời Giáo hoàng Grêgôriô XIII (r. 1572–1585).
Năm 1545, Hội đồng Trent ủy quyền cho Giáo hoàng Phaolô III cải cách lịch, yêu cầu ngày xuân phân phải được khôi phục lại thành ngày mà nó đã tổ chức vào thời điểm của Công đồng Nicaea lần thứ nhất vào năm 325 và yêu cầu một sự thay đổi lịch được được thiết kế để ngăn chặn sự chênh lệch ngày trong tương lai. Điều này sẽ cho phép lên lịch chính xác và nhất quán hơn cho lễ Phục sinh.
Năm 1577, một "Bản tổng hợp" được gửi đến các nhà toán học chuyên nghiệp bên ngoài ủy ban cải cách để lấy ý kiến. Một số chuyên gia, bao gồm Giambattista Benedetti và Giuseppe Moleto, tin rằng Lễ Phục sinh nên được tính toán từ chuyển động thực của Mặt Trời và Mặt Trăng, thay vì sử dụng phương pháp bảng, nhưng những khuyến nghị này đã không được chấp nhận. Cải cách được thông qua là sự sửa đổi đề xuất của bác sĩ người Calabria Aloysius Lilius (hay Lilio).
Đề xuất của Lilius bao gồm việc giảm số năm nhuận trong bốn thế kỷ từ 100 xuống 97, bằng cách biến ba trong số bốn năm trung bình là phổ biến thay vì năm nhuận. Ông cũng đưa ra một kế hoạch thực tế và nguyên bản để điều chỉnh thời gian diễn ra của Mặt trăng khi tính toán ngày Lễ Phục sinh hàng năm, giải quyết một trở ngại lâu đời đối với việc cải cách lịch.
Bảng biểu thời cổ cung cấp kinh độ trung bình của Mặt trời. Nhà toán học người Đức Christopher Clavius, kiến trúc sư của lịch Gregorius, lưu ý rằng các bảng thống nhất không thống nhất về thời điểm Mặt trời đi qua điểm phân cực cũng như về độ dài của năm nhiệt đới trung bình. Tycho Brahe cũng nhận thấy sự khác biệt này. Quy tắc năm nhuận Gregorius (97 năm nhuận trong 400 năm) do Petrus Pitatus của Verona đưa ra vào năm 1560. Ông lưu ý rằng nó phù hợp với năm nhiệt đới của bảng Alfonsine và với năm nhiệt đới trung bình của Copernicus ("De Revolutionutionibus") và Erasmus Reinhold ("bảng Prutenic"). Ba năm nhiệt đới trung bình trong các phép tính theo giới tính của người Babylon là thời gian vượt quá 365 ngày (theo cách chúng sẽ được trích xuất từ bảng kinh độ trung bình) là 0; 14,33,9,57 (Alfonsine), 0; 14,33,11, 12 (Copernicus) và 0; 14,33,9,24 (Reinhold). Trong ký hiệu thập phân, chúng tương ứng bằng 0,24254606, 0,24255185 và 0,24254352. Tất cả các giá trị đều giống nhau đến hai chữ số thập phân (0;14,33, bằng 0,2425 thập phân) và đây cũng là độ dài trung bình của năm Gregorius. Vì vậy, giải pháp của Pitatus sẽ được các nhà thiên văn học khen ngợi.
Đề xuất của Lilius có hai thành phần. Đầu tiên, ông đề xuất điều chỉnh độ dài của năm. Năm chí tuyến trung bình dài 365,24219 ngày. Một giá trị thường được sử dụng vào thời của Lilius, từ các bảng Alfonsine, là 365,2425463 ngày. Vì độ dài trung bình của một năm Julius là 365,25 ngày, nên năm Julius dài hơn gần 11 phút so với năm chí tuyến trung bình. Sự khác biệt dẫn đến sự chênh lệch khoảng ba ngày sau mỗi 400 năm. Đề xuất của Lilius dẫn đến một năm trung bình là 365,2425 ngày. Vào thời điểm Gregorius cải tổ, đã có 10 ngày trôi qua kể từ Hội đồng Nicaea, dẫn đến điểm xuân phân rơi vào ngày 10 hoặc 11 tháng 3 thay vì ngày cố định theo giáo hội là ngày 21 tháng 3, và nếu không được sửa đổi thì nó sẽ trôi đi xa hơn. Lilius đề xuất rằng sự trôi dạt 10 ngày nên được điều chỉnh bằng cách xóa ngày nhuận Julius trên mỗi lần trong số mười lần xuất hiện của nó trong khoảng thời gian bốn mươi năm, do đó tạo điều kiện cho điểm phân quay trở lại dần dần vào ngày 21 tháng 3.
Tác phẩm của Lilius đã được Christopher Clavius mở rộng trong một tập 800 trang được lập luận chặt chẽ. Sau đó ông bảo vệ công việc của mình và của Lilius trước những lời gièm pha. Ý kiến của Clavius là sự điều chỉnh nên diễn ra trong một động thái, và chính lời khuyên này đã thuyết phục được Grêgôriô.
Thành phần thứ hai bao gồm một ước tính sẽ cung cấp một lịch chính xác nhưng đơn giản, dựa trên quy tắc. Công thức của Lilius là một hiệu chỉnh trong 10 ngày để hoàn nguyên sự trôi dạt kể từ Hội đồng Nicaea, và việc áp đặt một ngày nhuận chỉ trong 97 năm vào 400 thay vì 1 năm trong 4. Quy tắc được đề xuất là các "năm chia hết cho 100 sẽ chỉ là năm nhuận nếu chúng cũng chia hết cho 400".
Chu kỳ 19 năm được sử dụng cho âm lịch cũng được sửa lại một ngày sau mỗi 300 hoặc 400 năm (8 lần trong 2500 năm) cùng với việc sửa chữa cho những năm không còn là năm nhuận (tức là 1700, 1800, 1900, 2100, , một phương pháp mới để tính toán ngày Lễ Phục sinh đã được giới thiệu.
Khi lịch mới được đưa vào sử dụng, lỗi tích lũy trong 13 thế kỷ kể từ Hội đồng Nicaea đã được sửa chữa bằng cách xóa đi 10 ngày. Ngày đầu tiên của lịch Julius là thứ Năm, ngày 4 tháng 10 năm 1582 được theo sau bởi ngày đầu tiên của lịch Gregory, thứ sáu, ngày 15 tháng 10 năm 1582 (chu kỳ các ngày trong tuần không bị ảnh hưởng).
Lịch Gregorius in lần đầu tiên.
Một tháng sau khi ra quyết định cải tổ, giáo hoàng (với bản tóm tắt là ngày 3 tháng 4 năm 1582) đã trao cho một Antoni Lilio quyền độc quyền xuất bản lịch trong thời hạn mười năm. "Lunario Novo secondo la nuova riforma low" được in bởi Vincenzo Accolti, một trong những cuốn lịch đầu tiên được in ở Rome sau cuộc cải cách, ghi chú ở cuối rằng nó đã được ký với sự ủy quyền của Giáo hoàng và Lilio ("Con licentia delli S(onii) Lilij"). Bản tóm tắt của Giáo hoàng bị thu hồi vào ngày 20 tháng 9 năm 1582, vì Antonio Lilio tỏ ra không thể đáp ứng kịp nhu cầu về các bản sao.
Mặc dù cải cách của Grêgôriô đã được ban hành theo những hình thức trang trọng nhất dành cho Giáo hội, tông sắc của ông không có thẩm quyền ngoài Giáo hội Công giáo và Lãnh địa Giáo hoàng. Những thay đổi mà ông đề xuất là những thay đổi đối với lịch dân sự mà ông không có thẩm quyền. Họ yêu cầu các cơ quan dân sự ở mỗi quốc gia phải thông qua để có hiệu lực pháp lý.
Tông sắc "Inter gravissimas" đã trở thành luật của Giáo hội Công giáo vào năm 1582, nhưng nó không được các Giáo hội Tin lành, Giáo hội Chính thống giáo Đông phương, Giáo hội Chính thống giáo cổ Đông phương và một số giáo hội khác công nhận. Do đó, những ngày mà Lễ Phục sinh và các ngày lễ liên quan được cử hành bởi các Giáo hội Cơ đốc khác nhau là khác nhau.
Vào ngày 29 tháng 9 năm 1582, Philip II của Tây Ban Nha ra lệnh thay đổi từ lịch Julius sang lịch Gregorius. Điều này ảnh hưởng phần lớn đến Châu Âu theo Công giáo La Mã, vì lúc đó Philip là người cai trị Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng như phần lớn nước Ý. Tại các vùng lãnh thổ này, cũng như trong Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva (do Anna Jagiellonka cai trị) và ở Lãnh địa Giáo hoàng, lịch mới được thực hiện vào ngày do tông sắc trên chỉ định, với Thứ Năm Julius, ngày 4 tháng 10 năm 1582, tiếp theo là Thứ Sáu Gregorius, ngày 15 tháng 10 năm 1582. Các thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã theo sau "trên thực tế" một chút vì sự chậm trễ trong liên lạc.
Nhiều quốc gia theo Kháng Cách ban đầu phản đối việc áp dụng một sự đổi mới lịch của Công giáo; một số người theo Kháng Cách lo sợ lịch mới là một phần của âm mưu đưa họ trở lại với dòng Công giáo. Ví dụ, người Anh không dám áp dụng hệ thống lịch của Công giáo một cách rõ ràng: Phụ lục về Lịch của họ (Phong cách mới) Đạo luật năm 1750 đã thiết lập một phép tính cho ngày Lễ Phục sinh đạt được kết quả tương tự như các quy tắc của Grêgôriô, mà không thực sự nhắc đến ông.
Anh và Đế quốc Anh (bao gồm cả phần phía đông của vùng ngày nay là Hoa Kỳ) đã thông qua lịch Gregorius vào năm 1752. Thụy Điển cũng áp dụng lịch này vào năm 1753.
Trước năm 1917, Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng âm lịch Hồi giáo với thời đại Hegira cho các mục đích chung và lịch Julius cho các mục đích tài chính. Ngày bắt đầu năm tài chính cuối cùng được ấn định vào ngày 1 tháng 3 và số năm gần tương đương với năm Hegira (xem lịch Rumi). Vì năm mặt trời dài hơn năm âm lịch, điều này ban đầu dẫn đến việc sử dụng "năm thoát" thường xuyên khi con số của năm tài chính sẽ tăng vọt. Từ ngày 1 tháng 3 năm 1917, năm tài chính trở thành năm theo lịch Gregorius thay vì theo lịch Julius. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1926, việc sử dụng lịch Gregorius đã được mở rộng để bao gồm việc sử dụng cho các mục đích chung và số của năm trở nên giống như ở hầu hết các quốc gia khác.
Sự khác biệt giữa ngày lịch Gregorius và lịch Julius.
Phần này luôn đặt ngày nhuận vào ngày 29 tháng 2 mặc dù nó luôn được lấy bằng cách nhân đôi hai ngày 24 tháng 2 ("bissextum" (hai lần thứ sáu) cho đến cuối thời Trung cổ. Lịch Gregorius được giả lập cho các mốc ngày trước 1582, và sự khác biệt giữa Gregorius và ngày lịch Julius tăng ba ngày mỗi bốn thế kỷ (đã bao gồm tất cả các phạm vi ngày).
Phương trình sau đây cho biết số ngày (thực tế là ngày) mà lịch Gregorius đi trước lịch Julius, được gọi là sự "khác biệt thế tục" giữa hai lịch. Một sự khác biệt giá trị âm có nghĩa là lịch Julius đi trước lịch Gregorius.
với formula_2 là sự khác biệt thế tục và formula_3 là năm sử dụng cách đánh số năm thiên văn, tức là sử dụng (năm trước CN) − 1 cho các năm trước Công nguyê, 1900/400 = 4, trong khi −500s, −500/400 = −2.
Quy tắc chung, trong những năm là năm nhuận trong lịch Julius nhưng không phải là lịch Gregorius, là:
Tính đến ngày 28 tháng 2 trong lịch đang được chuyển đổi from thêm một ngày ít hoặc trừ một ngày nhiều hơn giá trị tính toán. Cho tháng Hai số ngày thích hợp để chuyển đổi sang lịch. Khi trừ ngày để tính Gregorius tương đương với ngày 29 tháng 2 (Julius), thì ngày 29 tháng 2 bỏ không đếm. Do đó, nếu giá trị được tính toán là −4 thì tương đương với Gregorius của ngày này là ngày 24 tháng Hai.
Năm được sử dụng trong các ngày trong thời Cộng hòa La Mã và Đế chế La Mã là năm lãnh sự, bắt đầu vào ngày các quan lãnh sự lần đầu tiên nhậm chức — có thể là ngày 1 tháng 5 trước năm 222 trước Công nguyên, ngày 15 tháng 3 từ năm 222 trước Công nguyên và ngày 1 tháng 1 từ năm 153 trước Công nguyên. Lịch Julius, bắt đầu từ năm 45 trước Công nguyên, tiếp tục sử dụng ngày 1 tháng 1 là ngày đầu tiên của năm mới. Mặc dù năm được sử dụng cho ngày thay đổi, năm dân sự luôn hiển thị các tháng của nó theo thứ tự từ tháng 1 đến tháng 12 từ thời Cộng hòa La Mã cho đến nay.
Trong thời Trung cổ, dưới ảnh hưởng của Giáo hội Công giáo, nhiều quốc gia Tây Âu đã chuyển đầu năm sang một trong những lễ hội quan trọng của Cơ đốc giáo — 25 tháng 12 (được cho là Lễ giáng sinh của Giê-su), 25 tháng 3 (Truyền tin), hoặc Lễ Phục sinh (Pháp), trong khi Đế chế Byzantine bắt đầu thành niên vào ngày 1 tháng 9 và Nga làm như vậy vào ngày 1 tháng 3 cho đến năm 1492 khi năm mới được chuyển sang ngày 1 tháng 9.
Theo cách sử dụng phổ biến, ngày 1 tháng 1 được coi là Ngày đầu năm mới và được tổ chức như vậy, nhưng từ thế kỷ 12 cho đến năm 1751, năm hợp pháp ở Anh bắt đầu vào ngày 25 tháng 3 (Ngày Phụ nữ). Vì vậy, ví dụ, hồ sơ của Nghị viện liệt kê vụ hành quyết Charles I vào ngày 30 tháng 1 như xảy ra vào năm 1648 (vì năm đó không kết thúc cho đến ngày 24 tháng 3), mặc dù các sử sách sau đó điều chỉnh thời điểm bắt đầu năm thành ngày 1 tháng 1 và ghi lại vụ hành quyết xảy ra vào năm 1649.
Hầu hết các nước Tây Âu đã thay đổi ngày bắt đầu của năm thành ngày 1 tháng 1 trước khi họ áp dụng lịch Gregorius. Ví dụ, Scotland đã thay đổi ngày bắt đầu của Năm mới Scotland thành ngày 1 tháng 1 năm 1600 (điều này có nghĩa là năm 1599 là một năm ngắn ngủi). Anh, Ireland và các thuộc địa của Anh đã thay đổi ngày bắt đầu của năm thành ngày 1 tháng 1 năm 1752 (vì vậy năm 1751 là một năm ngắn chỉ có 282 ngày) mặc dù ở Anh, ngày bắt đầu của năm tính thuế vẫn là ngày 25 tháng 3 (OS), ngày 5 tháng 4 (NS) cho đến năm 1800, khi nó chuyển sang ngày 6 tháng 4. Sau đó vào năm 1752 vào tháng 9, lịch Gregorius đã được giới thiệu trên khắp nước Anh và các thuộc địa của Anh. Hai cải cách này được thực hiện bởi Đạo luật Lịch (kiểu mới) năm 1750.
Ở một số quốc gia, một nghị định hoặc luật chính thức quy định rằng ngày bắt đầu của năm phải là ngày 1 tháng Giêng. Đối với những quốc gia như vậy, một năm cụ thể khi ngày 1 tháng Giêng trở thành tiêu chuẩn có thể được xác định. Ở các quốc gia khác, phong tục tập quán khác nhau, và thời điểm đầu năm di chuyển qua lại do thời trang và ảnh hưởng từ các quốc gia khác quyết định nhiều phong tục khác nhau.
Cả tông sắc của Giáo hoàng và các giáo luật đính kèm của nó đều không ấn định ngày như vậy một cách rõ ràng, mặc dù nó được ngụ ý bởi hai bảng ngày của các thánh, một bảng được dán nhãn 1582 kết thúc vào ngày 31 tháng 12 và bảng khác cho bất kỳ năm nào bắt đầu vào ngày 1 tháng Giêng. Nó cũng chỉ định thời gian của nó liên quan đến ngày 1 tháng 1, trái ngược với lịch Julius, nó chỉ định nó liên quan đến ngày 22 tháng 3. Ngày cũ bắt nguồn từ hệ thống tiếng Hy Lạp: "Supputatio Romana" trước đó đã chỉ định nó liên quan đến ngày 1 tháng Giêng.
Lịch Gregorius trên thế giới.
Vì sự thông tin chậm trễ và vì lý do tôn giáo, nhiều nước không áp dụng lịch Gregorius ngay sau đó. Nước Anh (và Hoa Kỳ lúc còn là thuộc địa của Anh) mãi đến 1752 mới theo lịch này, và khi đó phải bỏ bớt 11 ngày trong lịch (do đó George Washington sinh ngày 11 tháng 2 năm 1732, nhưng Hoa Kỳ ăn mừng sinh nhật của ông vào ngày 22 tháng 2). Nga chỉ theo lịch này sau năm 1917, do đó Cách mạng tháng Mười Nga diễn ra vào tháng 11 dương lịch. Một số nhà thờ Chính thống giáo (ví dụ như ở Nga, Serbia và Georgia) tiếp tục tổ chức lễ hội tôn giáo theo lịch Julius. Lễ Giáng sinh của họ (ngày 25 tháng 12) hiện tại vào ngày 7 tháng 1 (lịch Gregorius). Tất cả các nhà thờ Chính thống đều tính lễ Phục sinh và các lễ hội di chuyển khác theo đầu xuân lịch Julius và theo trăng tròn; lễ hội do đó chỉ trùng hợp thỉnh thoảng với ngày lễ Phục sinh của các hội thánh phương Tây; thường là một, bốn hoặc năm tuần sau đó ở phương Tây.
Tại Việt Nam, Tây lịch được áp dụng ở các công sở khi người Pháp ép triều đình Huế nhận nền bảo hộ vào cuối thế kỷ 19. Tuy nhiên lịch Hiệp kỷ vẫn được nhà Nguyễn duy trì song hành. Lịch Gregorius chính thức được dùng kể từ năm 1946 trở đi.
|
Myosotis là một nhóm nhạc thời kỳ tiền chiến.
Myosotis có nghĩa là hoa lưu ly, nhóm nhạc này gồm các nhạc sĩ Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Phạm Văn Nhượng, Trần Dư, Vũ Khá, nhiều nhóm nhạc ở miền Bắc cùng tung ra các ca khúc của mình. Trong số đó đáng kể hơn cả là Myosotis và nhóm Tricéa.
Myosotis được đánh giá là có chủ trương sáng tác rõ rệt hơn. Hai xu hướng chính của nhóm là:
Thẩm Oánh theo con đường trung dung. Ông từng tuyên bố trên báo Ngày Nay của Nhất Linh, tờ hậu thuẫn cho tân nhạc thời hình thành đó: "Âm nhạc cải cách phải theo ý nhạc Việt Nam và phải có cảm tưởng thuần túy Á Đông". Trong khi đó, Dương Thiệu Tước thì chủ trương phải sáng tác theo âm điệu Tây phương hoàn toàn. Ông viết trên báo Việt Nhạc số 5, ngày 16 tháng 10 năm 1948: "Nếu đã có nhà văn Việt Nam viết văn bằng tiếng Pháp, thì nhà soạn nhạc Việt Nam cũng có thể viết được những bản nhạc có âm điệu Tây Phương".
Có thể thấy rằng cả hai đã rất trung thành với chủ trương của mình. Sáng tác của Thẩm Oánh rất Á Đông, còn nhạc Dương Thiệu Tước đầy âm điệu khiêu vũ phương Tây. Từ năm 1938, nhóm Myosotis cũng đứng ra xuất bản các ca khúc mới, những bài như "Đôi Oanh Vàng, Hoa Tàn, Phút Vui Xưa"... cùng những bản nhạc không lời của Dương Thiệu Tước. Các ca sĩ nổi tiếng như Ái Liên và Kim Thoa được hãng đĩa Beka thuê thu thanh các bài hát này trên đĩa hát 78 vòng.
Từ 1938 cho tới 1942, nhóm Myosotis với hai nhạc sĩ chính là Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước đã để lại nhiều nhạc phẩm giá trị, phần lớn theo phong cách trữ tình lãng mạn. Theo Phạm Duy: "Tác phẩm của nhóm Myosotis rất là nhiều, nhưng không lưu truyền cho tới về sau, trừ một số bài nào đó, ngẫu nhiên được một giọng ca lớn nào đó, ví dụ giọng Thái Thanh hay Kim Tước, hát lại trong những thập niên sau".
Sau một thời gian ngắn tồn tại, Myosotis không còn là một nhóm thuần nhất. Các thành viên chia tay, tiếp tục đi theo con đường sáng tác riêng của mình.
|
Tricéa là một nhóm nhạc thời tiền chiến với ba thành viên Văn Chung, Lê Yên và Doãn Mẫn. Tên nhóm Tricéa có nghĩa: 3 chữ C và 3 chữ A được viết tắt từ "Collection Des Chants Composés Par Des Artistes Annamites Associés" trong tiếng Pháp và có nghĩa là "Tuyển chọn các tác phẩm âm nhạc của nhóm người viết nhạc Annam".
Trước khi tân nhạc Việt Nam được chính thức khai sinh với những buổi diễn của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên, Tricéa đã có những sinh hoạt âm nhạc. Nhưng chỉ sau khi Nguyễn Văn Tuyên công bố hai bản nhạc, hai nhóm Tricéa và Myosotis mới cho in những bản nhạc của mình.
Sư hình thành của nhạc cải cách khi đó được hậu thuẫn của tờ Ngày Nay do Nhất Linh là chủ bút. Theo nhạc sĩ Vũ Thành, người đã có những sinh hoạt tân nhạc từ thời đó, Nhất Linh từng đảm trách việc thổi kèn clarinette trong một ban nhạc tài tử do hai nhóm kể trên phối hợp để trình diễn vào một ngày mùa thu năm 1939.
Trong nhóm Tricéa, Văn Chung được coi như người có bài hát được dân chúng ưa thích cho nên Thẩm Oánh của nhóm Myosotis đã từng phê bình trong báo Việt Nhạc số 5: "Nhóm Tricéa chủ trương đi sát quần chúng", ngụ ý là loại nhạc thấp.
Trong một bài phỏng vấn của báo Thể thao Văn hóa năm 2002, Doãn Mẫn có kể lại một câu chuyện về nhóm Tricéa: "Năm 1935, Lê Yên viết bài Bẽ bàng rất hay nhưng mãi không sao viết được câu kết, nghe anh kể tôi liền bảo: Anh đàn lên đi, khi nghe xong, tôi tức khắc ứng khẩu, bạn tôi mừng như vớ được vàng. Đến năm 1955, tôi làm bài Gọi nghé trên đồng, cũng không kết được và Lê Yên chính là người giúp tôi viết tiếp. Lúc đó, anh ấy nói với tôi: 20 năm mình mới trả nợ được cậu".
Những năm khoảng 1939, nhiều ca khúc của nhóm được quần chúng yêu thích như: "Ca khúc ban chiều, Trên thuyền hoa, Bóng ai qua thềm" của Văn Chung; "Biệt ly", "Sao hoa chóng tàn", "Tiếng hát đêm thu" của Doãn Mẫn; "Bẽ bàng", "Vườn xuân" của Lê Yên. Cả ba nhạc sĩ của Tricéa đều thành công, trong đó hơn cả là Doãn Mẫn. Họ đã để lại nhiều nhạc phẩm giá trị, một số trong đó được đánh giá vượt thời gian:
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Họ Liễu hay họ Dương liễu (danh pháp khoa học: Salicaceae) là một họ thực vật có hoa. Các nghiên cứu di truyền học gần đây của Angiosperm Phylogeny Group đã mở rộng định nghĩa và phạm vi của họ này tới 57 chi.
Trong hệ thống Cronquist cũ thì họ Salicaceae được xếp vào một bộ riêng của chính nó là bộ Liễu (Salicales), và chỉ chứa có 3 chi là ("Salix", "Populus" và "Chosenia", với "Chosenia" hiện nay được coi là đồng nghĩa của "Salix"), nhưng APG lại đưa họ này vào trong bộ Sơ ri (Malpighiales). Các chi bổ sung thêm vào thì trước đây được đặt trong họ Bồ quân (Flacourtiaceae), nhưng nói chung chúng có lịch sử hỗn tạp trước khi có điều này và đã từng được đặt trong các họ như Bembiciaceae, Caseariaceae, Homaliaceae, Poliothyrsidaceae, Prockiaceae, Samydaceae và Scyphostegiaceae.
Chi "Gerrardina" hiện tại được coi là chi duy nhất của họ tách biệt, gọi là Gerrardinaceae
Một số tác giả, như Mac H. Alford, lại tách các chi "Tetrathylacium", "Lunania", "Ryania", "Trichostephanus", "Osmelia", "Pseudosmelia", "Ophiobotrys", "Euceraea", "Neoptychocarpus", "Casearia", "Laetia", "Zuelania", "Hecatostemon" và "Samyda" ra thành họ Samydaceae. Chi "Scyphostegia" với 1 loài duy nhất "Scyphostegia borneensis" đôi khi cũng được tách ra thành họ đơn loài có danh pháp là Scyphostegiaceae. Họ Salicaceae sau khi tách hai họ này ra cũng được coi là họ Liễu nghĩa hẹp.
|
Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp chống Trợ cấp
Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng (Hiệp định SCM) là một trong các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hiệp định được ký cùng với các hiệp định khác của WTO tại Vòng đàm phán Uruguay. Hiệp định có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995.
Hiệp định đưa ra các quy định về việc sử dụng các biện pháp trợ cấp cũng như các quy định về những hành động một thành viên WTO có thể sử dụng để đối phó lại ảnh hưởng của các biện pháp trợ cấp. Theo Hiệp định, một thành viên WTO có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để yêu cầu một thành viên khác rút lại biện pháp trợ cấp mà họ đang áp dụng, hoặc có những phương thức khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của biện pháp trợ cấp đó. Thành viên bị ảnh hưởng cũng có thể thực hiện điều tra riêng của mình và có thể áp một mức thuế nhập khẩu bổ sung (được gọi là thuế chống trợ cấp) đối với hàng nhập khẩu được trợ cấp mà theo kết quả điều tra gây tổn hại đến ngành sản xuất trong nước.
Phạm vi điều chỉnh.
Hiệp định có định nghĩa cụ thể về trợ cấp. Áp dụng đối với trợ cấp công nghiệp. Hiệp định cũng đưa ra khái niệm về "trợ cấp cụ thể", là trợ cấp chỉ áp dụng đối với một doanh nghiệp, một ngành, một nhóm doanh nghiệp hoặc nhóm ngành tại nước trợ cấp. Các quy định trong Hiệp định chỉ áp dụng với trợ cấp cụ thể. Trợ cấp cụ thể đó có thể là trợ cấp trong nước hoặc trợ cấp xuất khẩu. Hiệp định đưa ra 3 dạng trợ cấp là: trợ cấp đèn đỏ (bị cấm), trợ cấp đèn vàng (có thể bị kiện) và trợ cấp đèn xanh (không bị kiện).
Phân loại trợ cấp.
Hiệp định phân trợ cấp thành hai nhóm: trợ cấp bị cấm và trợ cấp có thể áp dụng. Trước đây, trợ cấp còn có thể thuộc một nhóm thứ ba: trợ cấp có thể không được áp dụng. Nhóm này tồn tại trong vòng 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, tức là đến ngày 31 tháng 12 năm 1999, và không được gia hạn thêm. Hiệp định áp dụng đối với cả hàng nông sản cũng như hàng chế tạo, ngoại trừ các khoản trợ cấp được miễn trừ theo "điều khoản hòa bình" của Hiệp định về Nông nghiệp. Điều khoản này cũng đã hết hạn vào cuối năm 2003.
Một số quy định của Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp chống Trợ cấp cũng tương tự như các quy định của Hiệp định về Chống bán Phá giá. Thuế chống trợ cấp, tương tự như thuế chống bán phá giá, chỉ có thể được áp dụng khi nước nhập khẩu đã tiến hành điều tra tỷ mỷ về hành động trợ cấp. Hiệp định có những quy định chi tiết về việc kết luận khi nào một mặt hàng bị coi là được trợ cấp, các tiêu chí để xác định một mặt hàng nhập khẩu được trợ cấp có gây thiệt hại đến ngành sản xuất trong nước hay không, thủ tục để mở một cuộc điều tra và các bước thự hiện nó, cách thức và thời gian có hiệu lực của các biện pháp chống trợ cấp. Một giải pháp khác tránh cho việc áp dụng các biện pháp trợ cấp là người xuất khẩu được trợ cấp có thể đồng ý tăng giá xuất khẩu của họ.
Hiệp định công nhận rằng trợ cấp có thể đóng một vai trò quan trọng ở các nước phát triển cũng như trong việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang các nền kinh tế thị trường. Các nước kém phát triển và các nước đang phát triển có thu nhập bình quân đầu người ít hơn 1.000 đô-la Mỹ/năm được miễn áp dụng các quy định về trợ cấp xuất khẩu bị cấm. Các nước đang phát triển khác có thời hạn đến năm 2003 để dỡ bỏ các khoản trợ cấp xuất khẩu của mình. Tuy nhiên, các nước kém phát triển phải dỡ bỏ các khoản trợ cấp thay thế nhập khẩu (các khoản trợ cấp được xây dựng để trợ giúp sản xuất hàng trong nước thay thế hàng nhập khẩu) không chậm hơn năm 2003. Thời hạn này đối với các nước đang phát triển là năm 2000. Các nước đang phát triển sẽ nhận được đối xử ưu đãi hơn trong trường hợp hàng xuất khẩu của họ chịu sự điều tra để áp dụng thuế chống trợ cấp. Đối với các nền kinh tế chuyển đổi, các khoản trợ cấp bị cấm phải được dỡ bỏ chậm nhất là năm 2002.
|
Pháp gia là một trường phái tư tưởng có mục đích tiếp cận tới cách phân tích các vấn đề pháp luật đặc trưng ở lý lẽ lý thuyết nhắm vào việc đưa ra văn bản pháp luật ứng dụng, ví dụ như một hiến pháp, pháp chế, hay quy tắc dựa theo phong tục tập quán, hơn là nhắm tới xã hội, kinh tế, hay tình huống chính trị.
Nói theo cách khái quát, pháp gia duy trì quan niệm rằng cơ cấu vốn có của quyền lực hành pháp đã chứa đựng luân lý duy nhất và đã được quyết định thích hợp cho mọi vấn đề pháp luật có thể gặp phải; và rằng nhiệm vụ của người phân xử là xác định rõ câu trả lời duy nhất và đã được quyết định trước đó thông qua một quá trình xử lý cần thiết.
Trường phái phương Tây ủng hộ việc áp dụng pháp luật theo kiểu này không có quan hệ gì nhiều với trường phái chính trị Pháp gia Trung Quốc tuy cả hai cùng được đặt một tên và chúng ta sẽ xem xét vấn đề ở dưới đây.
Pháp gia ở Trung Quốc.
Trong Lịch sử Trung Quốc, Pháp gia (法家; bính âm "Fǎjiā") là một trong bốn trường phái triết lý ở thời Xuân Thu và thời Chiến Quốc (gần cuối thời nhà Chu từ khoảng thế kỷ thứ 6 TCN cho tới khoảng thế kỷ thứ 3 TCN). Trên thực tế, nó mang nhiều tính cách triết lý chính trị thực tiễn, với châm ngôn kiểu "khi thời đại thay đổi, những đường lối cũng thay đổi" làm nguyên tắc chính của mình, hơn là một triết học về luật. Trong hoàn cảnh đó, "Pháp gia" ở đây có thể mang ý nghĩa "triết lý chính trị tán thành sự cai trị của pháp luật" và vì thế, khác biệt so với ý nghĩa của Pháp gia phương Tây. Hàn Phi Tử tin rằng một nhà cai trị phải cai quản các thần dân của mình theo ba quy tắc sau:
Quyền lực chính trị.
Pháp gia là tư tưởng trung tâm trong triều đình nhà Tần, lên tới cực điểm của nó khi Trung Quốc thống nhất dưới thời ‘Hoàng đế đầu tiên’ (Tần Thủy Hoàng). Tư tưởng pháp gia thường được đem ra so sánh với tư tưởng chính trị của nhà triết học người Italia Niccolo Machiavelli và "Arthashastra" ở Kautilya (theo quan điểm châu Âu).
Áp dụng thực tiễn.
Luật được áp dụng để tạo ra sự nghịch biện, bằng cách ấy các quan lại của Hoàng đế có thể tìm kiếm và lựa chọn ra điều luật để áp dụng. "Thế" chính là mưu mẹo khôn khéo để vượt trên pháp luật, dù xét theo từng điều một thì pháp luật là rõ ràng và đơn giản, nhưng nó vẫn là một cơ cấu mà theo đó một sự vi phạm pháp luật dù là nhỏ nhất, mà bất kỳ ai ở bất kỳ địa vị nào đều có thể phạm phải, cũng không thể bày tỏ được nếu không có khả năng chứng minh. Khi ấy, "những thủ đoạn đặc biệt" bắt đầu mang lại kết quả, bởi vì quyền lựa chọn luật pháp để mang ra thi hành chỉ nằm trong tay Hoàng đế. Sự vượt trên pháp luật vừa diễn ra bằng quy trình tố tụng vừa bằng sự lựa chọn luật tố tụng, và bằng sự vắng mặt hay sự đình chỉ tố tụng bởi một điều luật mâu thuẫn. Lúc ấy tất cả mọi người buộc phải hiểu được tính bí ẩn trong cách hành xử của Hoàng đế. Thậm chí cả những người đại diện cho Hoàng đế nắm quyền lực trong tay cũng chính là những đối tượng của mạng lưới luật pháp phức tạp theo học thuyết này của pháp gia. Rất khó để hiểu được động cơ hành động của Hoàng đế, vì việc áp dụng luật kiểu này này lại dễ dàng khiến nó trở nên xung đột với một kiểu áp dụng khác. Vì thế, chỉ có Hoàng đế là hoàn hảo. Lợi thế kiểm soát luôn nằm trong tay nhà vua, người luôn giám sát việc lựa chọn (hay tạo ra) luật lệ quyết định cuối cùng để áp dụng cho mọi tình huống.
Đa số các nhà triết học và tư tưởng chính trị Trung Quốc có cái nhìn rất tiêu cực đối với Pháp gia, buộc tội nó là một xã hội mà ngày nay chúng ta gọi là xã hội chuyên chế. Nhiều học giả Trung Quốc tin rằng chính một phản ứng chống lại pháp gia đã làm cho chính trị đế quốc Trung Quốc mang nhiều đặc tính cá nhân và đạo đức hơn là sự nhấn mạnh vào sự cai trị của pháp luật. Tuy nhiên, quan điểm này về nhà Tần có thể là có thành kiến, bởi vì đa số các sách sử Trung Quốc đều do các học giả Khổng giáo viết ra, mà những nhà nho Khổng giáo lại bị đàn áp ở thời Tần.
Vai trò của Nhà cai trị.
Ban đầu các thành viên của tầng lớp cai trị, những người theo Pháp gia nhấn mạnh rằng hoàng đế với tư cách người đứng đầu quốc gia luôn gắn liền với "sự bí ẩn của chính quyền", và như thế những quyết định của chính quyền buộc người dân phải kính trọng và tuân thủ. Nhà vua đại diện cho tính chính thống. Khi nhấn mạnh quyền lực của vương quyền, những người pháp gia như Thận Đáo (kh. 350-275 TCN) và Thân Bất Hại tìm cách làm giảm tầm quan trọng của một nhà cai trị có đạo đức (đối với nhân dân). Vì thế, thần dân bắt buộc phải tuân theo những mệnh lệnh dù là đê hèn, tàn nhẫn nhất và/hay những vị vua cai trị dù là bất tài nhất. Những nhà cai trị tài năng được tôn kính, nhà cai trị khôn khéo thì giữ kín mình. Vì vậy, theo lý thuyết, bằng cách che giấu đi những mong ước, những ý định của mình, vị vua của pháp gia biết được kẻ nịnh bợ và buộc quan lại phải lưu ý về tính độc tài của chính quyền. Trong khi Thương Ưởng (Tể tướng của Tần Hiếu Công) vẫn để cho những vị vua cai trị say đắm vào nữ nhạc hơn là chú tâm tới chính sách đối ngoại, Hàn Phi Tử (học giả Pháp gia được Tần Thủy Hoàng kính trọng nhất) lại yêu cầu một nhà cai trị khôn ngoan. Một lãnh đạo giỏi, theo các tiêu chuẩn của Hàn Phi Tử, phải biết từ chối chấp nhận lời đề nghị của những vị quan trung thành khi chúng có sai sót, nhưng cũng phải tỏ ra nhã nhặn với những kẻ dưới quyền và không quá tham lam. Vị vua cai trị tài giỏi cũng phải hiểu được tầm quan trọng của sự khắt khe ngay cả khi đang rộng lượng. Mặc dù mong rằng nhà vua cai trị không phải là gia trưởng, pháp gia nhấn mạnh rằng tỏ ra quá nhân đức có thể làm hại đến tính quần chúng và đe doạ trật tự bên trong của quốc gia. Khá ngạc nhiên, là theo nhà sử học vĩ đại thời nhà Hán là Tư Mã Thiên (kh. 145-86 TCN), trong khi vị Hoàng đế đầu tiên nhà Tần giấu mình khỏi thế giới (có lẽ vì muốn đạt tới bất tử) và vì thế ít được biết đến, ông lại không cần phải theo mọi đề xuất của pháp gia trong vai trò của nhà cai trị.
Vai trò của Quan lại trong tư tưởng Pháp gia.
Để giúp đỡ vị vua cai trị và ngăn chặn quản lý kém, Thân Bất Hại – vị tướng quốc nước Hàn – đã lập nên quan niệm những "thuật" cai trị, hay là hình thức quan liêu hành chính có mục đích thúc đẩy sự áp dụng chương trình cai trị của pháp gia. Đối với những nhà pháp gia, vị quan giỏi phải là người hỗ trợ đắc lực nhất cho nhà vua. Trong khi trách nhiệm của quan là phải hiểu được cụ thể từng việc thì trách nhiệm của vua là phải chỉnh lý lại công việc của quan. Nhấn mạnh quan điểm rằng các vị quan và những viên chức khác thường muốn có ảnh hưởng đối với những nước xung quanh bằng cách lạm dụng địa vị của mình, Hàn Phi Tử thúc giục vua cai trị kiểm soát các cá nhân đó bằng hai cách, trừng phạt và khen thưởng. Các vị quan lại bị buộc phải đảm bảo rằng sự thực hiện trách nhiệm của mình không tốt hơn mà cũng không kém hơn công việc đã được giao. Theo nhà Hán học kiệt xuất Robin Yates, những bộ luật mới được tìm thấy của nhà Tần cho thấy các quan lại bị buộc phải tính toán số lượng chính xác nhân công cần thiết cho mọi công việc thủ công; nếu người thợ bị bắt phải thực hiện công việc nhiều hơn hay ít hơn, vị quan đó sẽ có trách nhiệm phải giải thích. Vì thế, theo lý thuyết pháp gia, các quan lại và viên chức bị ngăn chặn không thể thực hiện một số trách nhiệm của người khác và bị trừng phạt nếu họ có ý định che giấu vua bằng lời lẽ hay không thể cảnh báo vua về nguy hiểm. Hệ quả của việc này là vị quan phải luôn giải thích với vua về những nguy cơ có thể gây hại cho vua trong khi đó nhà vua lại không bao giờ phải nhận trách nhiệm cá nhân. Tuy nhiên, bằng cách nhấn mạnh sự thực thi nhiệm vụ thông qua phương pháp nguỵ biện, pháp gia hy vọng hạn chế tham nhũng trong quan lại và mưu đồ bên trong chế độ quan liêu bằng sự đe doạ trừng phạt.
Mục đích của Luật lệ.
Trong khi những luật lệ do phái pháp gia đưa ra bề ngoài có vẻ là để mang lại lợi ích cho người dân thì trên thực tế nó lại có mục đích mang lại lợi ích cho đất nước bằng cách đặt chiến tranh và nông nghiệp lên vị trí những chính sách hàng đầu của đất nước. Đặc biệt, Thương Ưởng nhấn mạnh nông nghiệp và chiến tranh là những nhân tố quan trọng nhất trong cai trị. Luật pháp tốt đảm bảo rằng người dân thường sẽ không được tiếp cận giáo dục và sẽ không hiểu biết chút gì về thuật cai trị, cho phép sử dụng họ làm binh sĩ, và nông dân. Nghệ sĩ, thợ thủ công, và thương nhân đều bị coi là những công dân vô dụng, những người không thể chiến đấu cũng không thể sản xuất ra lúa gạo cho quân đội. Pháp gia nhấn mạnh trên chiến tranh là một công cụ nền tảng quan trọng cho sự sống còn của quốc gia và yêu cầu có một quần chúng hăm hở tham gia chiến tranh. Để tạo ra một quần chúng ham thích chiến tranh, pháp gia nhấn mạnh rằng chính phủ phải tăng cường các biện pháp gây nên sự thù nghịch để làm yếu người dân và sau đó khiến họ trở thành nô lệ vào lợi ích của quốc gia.
Tuy thế, những pháp luật do pháp gia ủng hộ là biện pháp ủng hộ quốc gia, nhà vua, và gia đình hoàng gia, cũng là những biện pháp có tính cải cách và đổi mới. Về lý thuyết, pháp gia tin rằng nếu những sự trừng phạt là nặng nề và pháp luật được áp dụng bình đẳng thì kể cả người có quyền lực và người dân thường đều không thể thoát khỏi sự quản lý của nhà nước. Pháp gia đặc biệt nhấn mạnh tính thực dụng chứ không phải địa vị và phong tục là những nền tảng của pháp luật. Được hướng dẫn theo những tư tưởng pháp gia, Hoàng đế đầu tiên nhà Tần làm yếu đi quyền lực của các lãnh chúa địa phương (mặc dù không hoàn toàn như đã được ghi ở trên), phân chia các đế chế thống nhất thành ba mươi sáu đơn vị hành chính (gọi là "quận"), và tiêu chuẩn hoá chữ viết. Phản ánh tham vọng của pháp gia về trật tự và cơ cấu, các binh sĩ Tần chỉ được tập trung khi cả hai thành phần (một do vua nắm giữ và một nửa do vị tướng chỉ huy) được tập hợp với nhau. Cũng như vậy, tất cả các tài liệu trong đế chế phải được ghi chép lại năm mà chúng được viết ra, người sao chép chúng, và giờ giao chuyển chính xác. Chấp nhận những sự nhấn mạnh trước kia của Thương Ưởng về tiêu chuẩn hoá đo lường và trọng lượng, Thủy Hoàng đế cũng chấp nhận triết lý của Thương Ưởng rằng không một cá nhân nào trong nước có thể đứng trên luật pháp (bằng cách đảm bảo trừng trị nghiêm khắc cho tất cả những trường hợp bất tuân) và rằng các gia đình phải được phân chia thành những hộ nhỏ hơn. Trong khi có lý do để nghi ngờ rằng Tư Mã Thiên đã tuyên bố rằng Hoàng đế đầu tiên trên thực tế đã chia các gia đình thành những nhóm mười nhà, chắc chắn những ví dụ khác về tiêu chuẩn hoá và tổ chức hành chính do Hoàng đế đầu tiên đưa ra có ảnh hưởng quan trọng từ tư tưởng Pháp gia trong luật pháp nhà Tần. Dựa vào việc phát triển các nguồn lợi quốc gia, pháp luật nhà Tần là một công cụ vừa để kiểm soát dân chúng vừa để ngăn ngừa tội phạm.
Pháp gia và Quyền cá nhân.
Các triết gia pháp gia nhấn mạnh tính vượt trội của nhà nước so với quyền cá nhân. Cá nhân cô độc không có các quyền cá nhân hợp pháp và bất kỳ quyền tự do cá nhân nào cũng phải bị hạn chế để tăng cường sức mạnh của vị vua cai trị. Đặc biệt, Hàn Phi Tử, rất nghiêm khắc đối với những khái niệm về quyền cá nhân. Từ một quan điểm nền tảng, phái pháp gia coi những người bình dân và những hành động của họ là có hại và ngu ngốc. Vì thế, theo truyền thuyết đời xưa, con người vốn ít và rải rác nên nói chung là có sự dư dật, pháp gia cho rằng thời của họ quá đông dân và thiếu hụt hàng hoá. Vì thế, theo Thương Ưởng, chính người dân muốn nhà cai trị phải phát hành ra luật lệ. Ổn định xã hội ở đất nước pháp gia có nghĩa rằng người dân không bao giờ thoát khỏi sự trừng phạt. Ví dụ, Nhà Tần đã sử dụng người dân để giám sát lẫn nhau vì nếu một nhà xảy ra chuyện gì thì tất cả các nhà kia đều bị liên quan. Chính sách thực dụng này cuối cùng cũng làm những người pháp gia cắn xé lẫn nhau. Thương Ưởng, khi ủng hộ quyền nhà nước trừng phạt cả thế tử, thì cuối cùng khi thế tử lên ngôi là Huệ công nhà Tần (r. 338-311 BC) đã quay lại chống đối ông. Ông từng có quyền trục xuất những kẻ đối nghịch (và vì thế, ngăn chặn các chỉ trích cá nhân) ra những vùng biên giới, cuối cùng ông nhận hình phạt "Ngũ mã phanh thây". Tương tự như thế, Hàn Phi Tử cũng bị đồng môn cũ là Lý Tư ép phải uống thuốc độc, nhưng đến lượt mình Lý Tư cũng bị giết (theo luật mà ông đã đặt ra) bởi Tần Nhị Thế, người mà ông đã đưa lên ngôi.
Trong những Triều đại về sau, Pháp gia bị mất uy tín và không còn là một trường phái tư tưởng độc lập nữa. Tuy nhiên, những nhà quan sát chính trị Trung Quốc cả thời trước và hiện nay đều cho rằng một số tư tưởng pháp gia đã trộn lẫn vào xu thế của Khổng giáo và vẫn giữ một vai trò trong chính quyền. Thời Thục Hán, thừa tướng nổi tiếng Gia Cát Lượng có chỉnh lý các thiên Thân Bất Hại, Hàn Phi Tử, Quản Tử cho vua Hán Hoài Đế học.
Gần đây hơn, Mao Trạch Đông, người có một số kiến thức về chính trị cổ Trung Quốc, đã so sánh mình với Tần Thủy Hoàng và công nhiên ủng hộ một số phương pháp của pháp gia. Tuy nhiên, từ thập kỷ 1990 khái niệm có liên quan về pháp trị đã trở nên khá phổ biến.
Pháp gia Triều Tiên.
Lịch sử Pháp gia tại Triều Tiên có từ "Gyeonggukdaejeon", một cuốn sách luật được biên soạn vào thời nhà Triều Tiên. Có một sự nhận thức pha trộn về pháp gia bên trong xã hội Hàn Quốc, khi mà chế độ quân sự hậu chiến tranh thế giới thứ hai đã sử dụng tư tưởng của pháp gia làm công cụ cai trị của mình. Những tư tưởng đó liên quan tới pháp gia Trung Quốc, nhưng thường có thể phân biệt vì người Hàn Quốc không thích việc sử dụng pháp gia của Trung Quốc để nhằm chính thống hoá tư tưởng đế quốc Hán triều.[#endnote_]
|
UEFA Cup Winners' Cup
Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc gia châu Âu (tiếng Anh: UEFA Cup Winners' Cup; tên thường gọi: Cúp C2) là giải bóng đá hàng năm do Liên đoàn bóng đá châu Âu tổ chức cho các câu lạc bộ vô địch cúp quốc gia ở châu Âu. Giải tổ chức từ năm 1960 và sáp nhập vào Cúp UEFA năm 1999.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Barcelona (4 lần; 1979, 1982, 1989, 1997)
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Thung lũng, hoặc gọi là lũng, khe, nghĩa gốc: dòng nước chảy giữa hai vách núi hoặc sườn dốc, là địa hình âm hẹp và dài do hai bên địa hình dương kẹp chặt và đứng đối mặt với nhau, thường có sự phát triển của chi lưu, dòng sông và hồ chằm, thung lũng dốc gần như thẳng đứng có khả năng có dòng bùn đá, ở trên bản đồ địa hình đường đẳng cao biểu hiện là một nhóm đường đẳng cao nhô ra hướng về phía chỗ cao.
Căn cứ nguyên nhân hình thành, thung lũng được chia thành hai loại lớn: thung lũng kiến tạo và thung lũng xói mòn. Thung lũng kiến tạo là thung lũng bị kiến tạo địa chất kiểm soát, nó phát triển dọc theo đường kiến tạo địa chất; thung lũng xói mòn do xói mòn thuỷ lực mà hình thành, thung lũng xói mòn không bị kiến tạo địa chất ảnh hưởng, nó có thể tuỳ ý cắt xuyên qua đường kiến tạo.
Loại hình thung lũng thường thấy có:
Căn cứ nguyên nhân hình thành, thung lũng được chia thành hai loại lớn: thung lũng kiến tạo và thung lũng xói mòn.
Thung lũng kiến tạo.
Thung lũng kiến tạo (strucural valley) là thung lũng bị kiến tạo địa chất kiểm soát, nó phát triển dọc theo đường kiến tạo địa chất, thí dụ như thung lũng nếp lõm, thung lũng đứt gã: một loại là dòng sông chảy vào trong vùng trũng do kiến tạo địa chất mà sinh thành, nước sông đào khoét ra thành lũng sông, loại lũng sông này gọi là thung lũng kiến tạo, thí dụ như thung lũng nếp lõm và thung lũng tách giãn địa hào. Một loại khác là, dòng sông chảy dọc theo đới kiến tạo suy yếu, lũng sông hoàn toàn bị bản thân nước chảy bào mòn, loại lũng sông này gọi là thung lũng kiến tạo thích ứng, cũng gọi là thung lũng kiến tạo xói mòn, thí dụ như thung lũng đứt gãy, thung lũng nếp lồi , thung lũng đơn nghiê
Thung lũng xói mòn.
Thung lũng xói mòn (erosional valley) là chỉ lũng sông bị dòng sông cắt xuống, phát triển dọc theo nền đất nguyên thuỷ của địa hình mà thành. Thung lũng xói mòn phát triển thành lũng sông thành hình thông thường chia làm ba giai đoạn: hẻm núi, thung lũng ngập lũ và lũng sông.
Hẻm núi (canyon hoặc gorge) là chỉ lũng núi có sườn thung lũng dốc gần như thẳng đứng, chiều sâu lớn hơn chiều rộng, căn cứ vào hình thái có thể chia nhỏ thành hẻm núi hình chữ V và hẻm núi hình chữ U. Nó thông thường phát triển ở đoạn đất có chuyển động kiến tạo nâng lên và sườn thung lũng do đá cứng (đá trầm tích, đá magma, đá biến chấ) hợp thành, khi tốc độ nâng lên của mặt đất phối hợp nhịp nhàng với tác dụng bổ xuống, dễ dàng hình thành hẻm núi.
Hẻm núi Tam Hiệp sông Trường Giang là đoạn đất lí tưởng xây dựng móng đập và hồ chứa nước. Hẻm núi là lũng núi do bức vách cao chót vót vây quanh, thông thường do dòng sông xói mòn trong một khoảng thời gian dài mà hình thành.
Thung lũng ngập lũ.
Thung lũng ngập lũ là do hẻm núi hình chữ V phát triển mà thành, mặt cắt ngang của hẻm núi có dạng hình hộp, sườn thung lũng thoai thoải, rìa thung lũng mở rộng, dòng nước ở thời kì nước bằng tập trung ở trong lòng sông, có bãi ngập lũ ở hai bên lòng sông, nó rộng hơn lòng sông từ vài lần đến vài chục lần, bề mặt bằng phẳng hoặc hơi có nhấp nhô. Bởi vì sự xói mòn bên của dòng sông gia tăng mãnh liệt, khiến cho hẻm núi mở rộng thêm, đồng thời hình thành dòng uốn khúc, tuỳ theo sự tiến triển của xói mòn bên mà bờ lõm liên tục không ngừng lùi về sau; tác dụng bồi tích ở bờ lồi khiến cho doi lưỡi liềm (point bar) không ngừng khuếch đại. Kết quả phát triển dòng uốn khúc (meander) khiến cho hẻm núi gia tăng bề rộng, bãi ngập lũ khuếch đại, hình thành thung lũng ngập lũ.
Lũng sông (river valley) là khu vực hình máng do tác dụng địa chất của sông mà hình thành ở bề mặt Trái Đất. Nó được hình thành và phát triển dưới tác dụng xói mòn của nước sông: dòng nước mang theo xói mòn phù sa khiến cho thung lũng cắt xuống; xói mòn bên của dòng nước khiến cho sườn thung lũng lùi về sau khi bào mòn, bao gồm xói mòn tấm (sheet erosion), xói mòn rãnh (gully erosion) và sạt lở đồi núi ở trên sườn thung lũng; xói mòn hướng về nguồn/ xói mòn ngược dòng (headward erosion) khiến cho thung lũng kéo dài hướng lên trên, làm tăng độ dài thung lũng. Ba loại phương thức xói mòn này thông thường tiến hành cùng lúc, chỉ là ở thời gian và đoạn đất khác nhau thì chúng khác nhau. Sự phát triển của lũng sông bị khí hậu và kiến tạo ảnh hưởng.
Hình thái và cấu trúc của lũng sông hiện đại là kết quả trải qua tác dụng lâu dài của dòng nước, trên sơ sở nham thạch học và kiến tạo địa chất nhất định. Lũng sông phát triển hoàn chỉnh bao gồm ba bộ phận cấu tạo: đỉnh thung lũng, sườn thung lũng và đáy thung lũng, có nhiều loại tiểu đơn vị địa mạo như lòng sông, bãi ngập lũ và thềm sông. Chiếu theo quan hệ lũng sông và kiến tạo địa chất, chia thành: thung lũng nếp lồi (anticlinal valley), thung lũng nếp lõm (synclinal valley), thung lũng đơn nghiêng (monoclinal valley), thung lũng đứt gãy (fault valley), thung lũng dọc (longitudinal valley), thung lũng ngang (transverse valley), thung lũng lệch (insequent valley), v.v; chiếu theo hình dạng mặt cắt ngang của thung lũng, chia thành thung lũng hình chữ V và thung lũng hình chữ U. Hình thái và cấu trúc của lũng sông đều có liên quan mật thiết đối với việc xác định vị trí, hình thức kết cấu, bố trí đầu mối giao thông trọng yếu, phương pháp thi công và xử lí nền móng của công trình thuỷ lợi.
Từ mặt cắt ngang mà nhìn, có thể chia thành hai bộ phận: đáy thung lũng và sườn thung lũng. Đáy thung lũng bao gồm lòng sông, bãi ngập lũ; sườn thung lũng là sườn bờ của hai bên thung lũng, thường có sự phát triển của thềm sông. Chỗ giáp giới giữa sườn thung lũng và đáy thung lũng gọi là chân sườn thung lũng. Từ mắt cắt dọc mà nhìn, lũng sông vùng thượng du thì chật hẹp, nhiều thác, trung du mở rộng, phát triển bãi ngập lũ và thềm sông, hạ du có độ dốc lòng sông khá nhỏ, phần lớn hình thành hình thành dòng uốn cong và các sông nhánh, cửa sông hình thành tam giác châu hoặc tam giác vịnh - cửa sông hình dạng loa (ví dụ cửa sông Tiền Đường ở vịnh Hàng Châu, cửa sông La Plata ở Nam Mĩ). Dòng sông hình thành xói mòn trong quá trình chảy. Thời kì đầu, tác dụng xói mòn chủ yếu ở hạ du dòng sông, lũng sông liên tục gia tăng độ sâu và kéo dài. Sau khi đợi dòng nước bồi bằng (mặt cắt hình chữ V), dòng sông xói mòn vào bờ trũng, bồi tụ bờ lồi, khiến cho dòng sông càng thêm uốn cong. Cuối cùng hình thành dòng sông uốn khúc, ngoằn ngoèo.
Lũng sông do hỏm rãnh, khe núi phát triển mà thành. Giáng thuỷ của khí quyển, nước tan từ băng và tuyết tập hợp ở hỏm rãnh, khe núi, hình thành dòng nước ở hỏm rãnh, khe núi. Thuỷ lượng của dòng nước lớn, chảy nhanh, năng lượng tập trung. Bởi vì những đặc điểm này, cho nên chủ yếu xói mòn xuống và xói mòn hướng lên. Xói mòn xuống đến mức độ nhất định, cắt xuống đến tầng nước dưới đất, nước dưới đất trở thành nguồn cấp nước cho hỏm rãnh, khe núi. Khi dòng nước được nước dưới đất cung cấp ổng định, đến lúc này hỏm rãnh, khe núi trở thành thung lũng hình chữ V.
Nguyên nhân hình thành các loại thung lũng.
Địa hào biến thành thung lũng.
Địa hào biến thành thung lũng, cũng gọi là thung lũng ríp-tơ, lúc các mảng kiến tạo của Trái Đất tách giãn, đường khâu nối giữa hai mảng sẽ dần dần mở rộng (một năm khoảng vài centimet), đồng thời dần dần hình thành một vùng đất thấp (lowland), vùng đất thấp này sẽ dần dần mở rộng liên tục không ngừng, trở thành thung lũng. Ví dụ: Thung lũng tách giãn Lớn, bồn địa Biển Chết, bồn địa Quan Trung và hồ Crater.
Nếp lồi biến thành thung lũng.
Nếp lồi biến thành thung lũng, lúc mảng kiến tạo dồn ép và gấp nếp, sự nhô ra của nham tầng (rock formation) sẽ dần dần bị bào mòn. Nham tầng mềm (ví dụ như đá phiến sét) sẽ bị bào mòn nhanh hơn một chút so với đá cứng (ví dụ như đá hoa cương). Đá mềm ở phần lõi của nếp lồi rất giòn, dễ gãy, dễ bị ngoại lực bào mòn thành thung lũng. Ví dụ: bồn địa Elk, thung lũng Nittany.
Nếp lõm biến thành thung lũng.
Nếp lõm biến thành thung lũng, bởi vì sự dồn ép của các mảng kiến tạo, có một số rìa mảng sẽ xuất hiện cao thấp không bằng phẳng, khu vực thấp trở thành thung lũng nếp lõm. Ví dụ: bồn địa sông Powder, bồn địa Rainbow.
Thung lũng điển hình.
Hẻm núi lớn Hoa Kỳ.
Hẻm núi lớn (chữ Anh: Grand Canyon), nằm trên cao nguyên Colorado ở trong bang Arizona, Hoa Kỳ, có sông Colorado từ giữa chảy qua. Là một kì quan nổi tiếng cả thế giới, bởi vì sông Colorado chảy xuyên trong đó, cho nên còn gọi là hẻm núi lớn Colorado. Nó là một trong những di sản thiên nhiên do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc bầu chọn cần được bảo vệ. Tổng chiều dài 446 kilômét, chỗ sâu nhất khoảng 1.800 mét, ước chừng cao khoảng 500 tầng lầu, chỗ rộng nhất 13 kilômét, ở trên hai vách núi của nó chạm khắc lịch sử phát triển Trái Đất - có khoảng 1/3 là lịch sử của sự vận động vỏ Trái Đất được ghi chép sâu sắc ở trên vách đá, những tảng đá ở đáy thung lũng đã trải qua sự biến thiên năm tháng khoảng 2 tỉ năm, bằng một nửa tuổi của Trái Đất.
Hẻm núi lớn Hoa Kỳ có hoá thạch sinh vật mang tính đại biểu của thời kì địa chất, cho nên có danh xưng là "sách giáo khoa lịch sử địa chất sống". Cao nguyên Colorado là "cao địa dạng bàn" điển hình, cũng gọi là "núi bàn", tức là núi có phần đỉnh bằng phẳng, mặt bên dốc dựng đứng. Loại địa hình này là do tác dụng bào mòn (bổ xuống và tách ra) mà hình thành. Vào thời kì bào mòn, nham tầng trong cao nguyên tương đối cứng chắc tạo thành mũ bảo hộ cho các khu vực giữa lũng sông, cho nên tác dụng xói mòn ở trong lũng sông hoạt động mạnh mẽ. Kết quả này đã tạo thành núi lớn kiểu mái nhà hoặc núi nhỏ hình dạng pháo đài.
Hẻm núi lớn Yarlung Tsangpo.
Hẻm núi lớn Yarlung Tsangpo là hẻm núi sâu nhất trên Trái Đất, có sông Yarlung Tsangpo từ giữa chảy qua, nằm ở huyện Mễ Lâm và huyện Mặc Thoát, thành phố Lâm Chi, Tây Tạng, Trung Quốc, sát gần huyện Upper Siang, bang Arunachal Pradesh, Ấn Độ, có tổng chiều dài 504,6 kilômét, chỗ sâu nhất 6.009 mét, độ sâu trung bình 2.268 mét, cũng là hẻm núi lớn nhất thế giới.
Có bốn nhóm thác nước lớn hiếm thấy ở trên lòng sông của hẻm núi trong vùng trung tâm của hẻm núi, nơi không có người ở, trong đó một số thác chính có mức nước chênh lệch của lòng sông so với mặt biển đều từ 30 - 50 mét. Hẻm núi có sẵn 9 đới tự nhiên thẳng đứng (altitudinal zonation) từ đới băng, tuyết ở núi cao cho đến rừng rậm nhiệt đới ở lũng sông thấp, đã tụ hợp nhiều loại tài nguyên sinh vật, bao gồm 2/3 loài thực vật bậc cao đã biết trên cao nguyên Thanh Tạng, 1/2 động vật có vú đã biết, 4/5 côn trùng đã biết, cùng với 3/5 macrofungi đã biết. Nó chia tách hàng rào đồi núi giữa cao nguyên Thanh Tạng và hơi nước ở Ấn Độ Dương qua lại với nhau, liên tục không ngừng vận chuyển hơi nước vào bên trong cao nguyên, khiến cho phía đông nam cao nguyên Thanh Tạng từ đó trở thành một thế giới xanh. Chỗ có địa thế cao và hiểm trở nhất, cốt lõi nhất trong hẻm núi lớn Yarlung Tsangpo là một đoạn sông từ Bạch Mã Cẩu Hùng đi xuống khoảng 100 kilômét, hẻm núi sâu thẳm tối tăm, dòng nước tung toé bọt sóng gào thét giận dữ, cho đến nay vẫn không có người có khả năng vượt qua, nó gian nan và nguy hiểm, bị gán biệt danh là "nơi bí mật cuối cùng của loài người". Bởi vì môi trường của hẻm núi lớn Yarlung Tsangpo ác liệt, tai hoạ thường xuyên, tạo thành rào cản và khoảng cách khiến cho mọi người rất khó vượt qua, sự lạc hậu và bế tắc của nó khiến cho huyện Mặc Thoát trở thành "hòn đảo cô lập" trên cao nguyên, chốn "bồng lai tiên cảnh" cách xa xã hội hiện đại có rất ít người đặt chân đến. Năm 1994, các nhà khoa học Trung Quốc tập hợp thành một đội khảo sát khoa học, tiến hành khảo sát khoa học đối với hẻm núi lớn Yarlung Tsangpo, thì mới vén mở một góc bức màn bí mật của hẻm núi lớn Yarlung Tsangpo.
Hẻm núi lớn Mai Lí.
Hẻm núi lớn Mai Lí sông Lan Thương, nằm ở Vườn quốc gia núi tuyết Mai Lí thuộc huyện Dêqên, Địch Khánh, Vân Nam, là hẻm núi lớn ở thượng nguồn sông Mê Kông, có sông Lan Thương từ giữa chảy qua. Phía bắc bắt đầu từ xã Phật Sơn, phía nam cho đến xã Yến Môn, dài 150 kilômét, nơi này là chỗ có chênh lệch độ cao lớn nhất ở tỉnh Vân Nam.
Mặt sông của hẻm núi có độ cao 2.006 mét so với mực nước biển, núi tuyết Mai Lí ở tả ngạn có đỉnh Kawagarbo cao 6.740 mét so với mực nước biển, núi tuyết Bạch Mã ở hữu ngạn có đỉnh Zhalaqueni cao đến 5.460 mét, chênh lệch độ cao lớn nhất của hẻm núi đạt 4.734 mét, khoảng cách mặt sườn núi tính từ mặt sông đến đỉnh núi là 14 kilômét, cứ mỗi kilômét trung bình tăng lên 337 mét, hẻm núi có một mặt sườn núi dốc gần như thẳng đứng.
Sông Lan Thương - thượng nguồn sông Mê Kông, sau khi từ Tây Tạng chảy vào hẻm núi Mai Lí, mặt sông bó hẹp, dòng nước chảy xiết, không có ai dám vượt qua, toàn bộ dựa vào zip line để qua sông.
Hẻm núi lớn Mai Lí sông Lan Thương không chỉ nổi tiếng về độ sâu và chiều dài, mà còn nổi tiếng về dòng nước chảy xiết. Mùa đông nước trong và chảy xiết, mùa hè nước đục và sóng vỗ mênh mông, lượng chảy mặt hằng năm của sông là 838 triệu mét khối. Chênh lệch độ rơi trong chiều dài 150 kilômét là 504 mét, gradient bỉ giáng là 3,4%, sóng dữ trên mặt sông chật hẹp đập vào bờ, tiếng nước như sấm, hoàn toàn hùng tráng, địa hình thung lũng dọc, núi cao dốc gần như thẳng đứng như vậy, thực sự hiếm thấy trên thế giới.
Năm 1974, cao tốc Vân Nam - Tây Tạng thông xe xuyên qua hẻm núi lớn Mai Lí, khi bạn đứng ở đèo hẹp của núi tuyết Bạch Mã cao 4.292 mét, cúi nhìn hẻm núi sâu thẳm hùng vĩ và nguy hiểm, nhìn ra xa đỉnh núi tuyết Mai Lí trong suốt và cao chót vót, thì mới chấn động trước phong cảnh sông núi hùng vĩ.
Những thung lũng ngoài Trái Đất.
Mặt Trăng của Trái Đất cũng như nhiều tiểu hành tinh, hành tinh khác trong hệ Mặt Trời đều có nhiều thung lũng. Nhất là những hành tinh có tầng khí quyển mỏng. Trên Mặt Trăng các thung lũng được tạo thành là do sự va chạm của các mảnh thiên thạch, hay do bị các sao chổi quét đuôi qua.
Thung lũng lớn nhất Hệ Mặt Trời là thung lũng Marineris (do Schiaparelli phát hiện đầu tiên vào năm 1877) nằm trên đường xích đạo của Sao Hoả. Đó là một hệ thống các hẻm núi khổng lồ, với kích thước lên tới 4.500 x 600 km.
|
Bánh gai là một loại bánh ngọt truyền thống của Việt Nam, bắt nguồn vùng Đồng bằng Bắc bộ ở Việt Nam. Bánh có dạng hình vuông, màu đen màu của lá gai, mùi thơm đặc trưng của đỗ xanh và gạo nếp.
Một loại bánh tương tự, đặc sản của tỉnh Bình Định ở Nam Trung bộ là bánh ít lá gai, được gói bằng lá chuối tươi thành hình chóp như bánh ít.
Bánh gai về cơ bản gồm vỏ và nhân. Nguyên liệu thường dùng có lá gai, gạo nếp, đỗ xanh, mứt bí, thị mỡ tẩm đường, dầu chuối vali, đường kính, vừng.
Sau khi đã chuẩn bị nhân và vỏ, gói bằng lá chuối khô, sau đó hấp chín.
Bánh gai có thể được thưởng thức như đồ tráng miệng sau bữa ăn chính hoặc làm quà biếu. Bánh có vị ngọt, bùi, thơm ngậy do nhân bánh mang lại và dẻo, mát nhờ vào vỏ bánh.
"Muốn ăn bánh ít lá gai"
"Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi"
"hay vùng Phú Yên:"
"Tiếng đồn bánh ít lá gai"
"Dẫu rằng có dốt, cũng trai Hà Bằng ."
Bánh gai Tứ Trụ.
Bánh gai Tứ Trụ hay bánh gai làng Mía là loại bánh đặc sản của làng Mía, xã Tứ Trụ thuộc tổng Diên Hào, phủ Thọ Xuân, nay thuộc xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Trong các dịp cúng giỗ Lê Lợi và Lê Lai ("hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi"), bánh gai Tứ Trụ được chọn làm thức cúng tế. Trước đây, bánh gai Tứ Trụ thường chỉ được làm trong các dịp giỗ tết, đình đám và đặc biệt để cúng tiến trong các ngày lễ tết, ngày hội, ngày giỗ húy nhật của thành hoàng. Hiện nay, bánh được làm quanh năm để phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng.
Nguyên liệu làm bánh gai gồm có lá gai, gạo nếp, đậu xanh, dầu chuối, đường, mật mía, thịt lợn nạc, nước mắm, vừng. Lá gai được hái từ trong rừng hoặc từ bãi bồi ven sông Chu, tước bỏ cuống lá, gân lá, xơ lá rồi phơi thật khô, cất kỹ. Đến khi làm bánh, đem lá gai khô ngâm nước, rửa sạch rồi đem luộc thật kỹ. Sau đó vớt ra, tiếp tục rửa sạch rồi lại luộc, thời gian luộc của hai lần khoảng 24 giờ, xong vắt khô kiệt nước, giã nhuyễn. Hiện nay, người ta đưa lá vào ép cho kiệt nước rồi đem nghiền. Gạo nếp, thường là nếp nương hoặc nếp hoa cau, được xay hoặc giã nhỏ bằng cối đá rồi dùng rây bột để gạn đi những hạt to. Trộn kỹ bột lá gai, bột nếp và mật mía rồi ủ trong một đêm, sau đó đem luyện bằng cách giã trong cối, đến khi bột nhuyễn, dẻo quánh. Bột sau khi luyện không được nhão quá hoặc cứng quá, sẽ không thành bánh. Hiện nay, người ta dùng máy để giã bột.
Nhân bánh được làm từ đậu xanh, dầu chuối. Đậu xanh xay vỡ, ngâm và đãi võ, sau đó nấu hoặc đồ lên. Khi đậu chín, cho vào cối giã cùng với đường đến khi thu được hỗn hợp mịn và đều. Ngoài ra, còn sử dụng một ít dừa nạo rang khô; dầu chuối cần cho vừa đủ, nếu nhiều sẽ bị đắng còn ít quá thì không dậy mùi. Bột bánh được nặn từng cục tròn rồi dàn mỏng trên lòng bàn tay, đặt nhân vào giữa, vê lại cho nhân nằm gọn giữa lòng chiếc bánh, xoa cho bánh tròn thì lăn bánh trên chiếc mâm đã rải đều hạt vừng. Dùng lá chuối khô, thường là lá chuối tiêu để gói lại thành từng chiếc bánh vuông vắn, quấn một chiếc lạt giang bên ngoài. Hấp bánh còn gọi là đồ bánh. Thời gian để hấp chín bánh phụ thuộc vào số lượng bánh đồ trong chõ to hay nhỏ, ít hay nhiều, nhiệt độ cao hay thấp, nhưng thường vào khoảng 1 giờ. Bánh chín được vớt ra nia rồi mở ra (không bóc) cho ráo, để cho bánh nguội tự nhiên và ráo nước. Công đoạn này còn phải làm động tác vuốt lại bánh để bánh nhẵn và có hình mai rùa. Khi bánh đã nguội, dùng lạt giang đã nhuộm đỏ để gói từng 5 chiếc một.
Bánh gai Tứ Trụ thường được ăn sau khi hấp khoảng 10 giờ. Bánh gai thành phẩm phải mịn và thơm ngon, có vị dẻo thơm của lá gai và gạo nếp, hương thơm của dầu chuối, vị ngọt của mật mía, mùi thơm thanh dịu của đậu, vị béo ngậy của thịt, mùi thơm thoảng của vừng và hương vị tự nhiên của lá chuối khô. Bánh có hương vị đặc trưng do sử dụng mật mía, thịt lợn nạc, nước mắm… lại không sử dụng hạt sen, thịt mỡ như bánh gai Nam Định, bánh gai Ninh Giang. Khác với bánh gai Ninh Giang sử dụng mật đun nóng, ở Thọ Diên người ta sử dụng mật nguội và không quá loãng.
Giá mỗi chiếc bánh gai tùy thuộc vào từng loại. Vào thời điểm 2013, bánh loại rẻ nhất là 3 nghìn, loại trung bình là 5 nghìn, loại đắt có thể đến 10 nghìn đồng Việt Nam.
|
Hội chứng Churg–Strauss (HCCS), còn gọi là "viêm mạch và đa u hạt dị ứng" (tiếng Anh: Eosinophilic granulomatosis with polyangiitis (EGPA)), là một rối loạn đa hệ thống đặc trưng bởi viêm mũi dị ứng, hen và tăng bạch cầu ái toan máu ngoại biên. Cơ quan thường bị tổn thương nhất là phổi, tiếp đó là da. Tuy nhiên HCCS cũng có thể ảnh hưởng lên bất cứ hệ cơ quan nào, gồm các hệ tim mạch, dạ dày ruột, tiết niệu (thận) và thần kinh trung ương.
Chẩn đoán chính xác HCCS thường khó khăn vì các yếu tố gây nhầm lẫn như sau:
Dịch tễ học của HCCS chưa được biết rõ do tính không chắc chắn của chẩn đoán. Khoảng 10% người mang một thể chính của viêm mạch được xem là có HCCS. Trong số các viêm mạch chính, tần suất HCCS đứng thứ hai chỉ sau đa u hạt Wegener.
HCCS không biểu hiện liên quan đến giới tính. Tuổi trung bình của chẩn đoán là 50, nhưng pha viêm mạch hệ thống thường rõ ràng ở bệnh nhân cuối những năm 30 tuổi. HCCS không là nguyên nhân gây viêm mạch thường gặp ở bệnh nhân trên 65 tuổi, chiếm khoảng 5% viêm mạch được chứng minh bằng mô học trong số 38 bệnh nhân lớn tuổi với các thể viêm mạch hệ thống khác nhau (Mouthon, 2002).
Mặc dù căn nguyên học của HCCS chưa được biết, bệnh này hầu như xảy ra do quá trình tự miễn, với những bằng chứng sau:
Chất đối kháng thụ thể leukotriene.
Hội chứng tương tự HCCS là một biến chứng hiếm gặp xảy ra ở bệnh nhân hen phụ thuộc steroid điều trị thành công với chất đối kháng (antagonist) thụ thể leukotriene (như zafirlukast, montelukast, pranlukast) giúp giảm liều glucocorticoid đường uống. Biến chứng này thường liên quan với quá trình cai steroid được hỗ trợ bởi các thuốc này, từ đó bộc lộ HCCS bên dưới, hơn là bản thân các thuốc này.
Trường hợp nhận biết HCCS tương tự cũng xảy ra ở bệnh nhân cai steroid đường uống bằng cách dùng steroid hít. Trong một số hiếm trường hợp, hội chứng này xảy ra khi chất đối kháng thụ thể leukotriene được dùng thay thế cho steroid hít, mà không trải qua cai steroid uống trước đó.
Mối liên hệ ít gặp giữa viêm mạch giống HCCS và việc dùng cocain không chứa base (free base cocaine) cũng đã được ghi nhận.
Đặc điểm lâm sàng.
Biểu hiện lâm sàng của hội chứng Churg-Strauss diễn ra trong các pha kế tiếp nhau:
Hen là đặc điểm chủ yếu của HCCS (xảy ra ở trên 95% bệnh nhân) và thường đi trước pha viêm mạch khoảng 8 - 10 năm. Tuy nhiên, HCCS đôi khi có thể xảy ra cùng lúc với biểu hiện lần đầu của hen.
Hen thường mạn tính và đủ nặng để cần điều trị lâu dài với corticosteroid. Khi đến pha viêm mạch, độ nặng và số đợt trở nặng của hen có thể tăng. Ở một số trường hợp hiếm, triệu chứng hen giảm ở giai đoạn đầu của pha viêm mạch.
Điều trị hen kéo dài với corticosteroid có thể một phần hoặc toàn bộ ức chế các dấu hiệu lâm sàng của HCCS không được điều trị. Vì vậy bệnh có thể không biểu hiện cho đến khi ngưng hoặc giảm liều steroid.
Bệnh mũi và xoang.
Viêm mũi dị ứng là biểu hiện thường gặp ở HCCS. Các biểu hiện mũi và các xoang quanh mũi cũng thường gặp (tắc mũi, viêm xoang tái phát, polyp mũi) và có thể xảy ra trước hen.Phân biệt viêm mũi dị ứng và viêm xoang Lồi mắt có thể phục hồi, viêm tai mạn, mất nghe, tẩm nhuận u hạt bạch cầu ái toan ở nền sọ là các biến chứng hiếm gặp. Sang thương hoại tử mũi hầu và đường dẫn khí trên điển hình hơn ở đa u hạt Wegener, và ít gặp ở HCCS.
Điều trị biến chứng tai của có thể cần phẫu thuật nội soi, kháng sinh và mở thông màng nhĩ (myringotomy) đặt ống dẫn lưu. Tuy nhiên, tất cả năm bệnh nhân trong một nghiên cứu biến chứng viêm tai giữa và viêm xoang chũm mạn tính đáp ứng nhanh chóng với điều trị tấn công bằng steroid đường uống (Ishiyama, 2001).
Biểu hiện da là một trong các biểu hiện thường gặp nhất của pha viêm mạch của HCCS. Hai phần ba bệnh nhân HCCS có sang thương da, thường ở dạng các nốt dưới da trên mặt duỗi của cánh tay, nhất là khuỷu, bàn tay, và chân. Sang thương có thể là:
Biểu hiện tim mạch của HCCS gồm viêm màng ngoài tim cấp (32% bệnh nhân), viêm màng ngoài tim co thắt, suy tim (47%), nhồi máu cơ tim (Hasley, 1990). Bệnh tim mạch gây ra phân nửa trường hợp tử vong do HCCS.
Bệnh thần kinh ngoại biên, thường là viêm đơn dây thần kinh đa ổ gặp ở 75% bệnh nhân HCCS. Nếu không điều trị, bệnh này có thể diễn tiến sang bệnh đa dây thần kinh đối xứng hay không đối xứng. Ngoài ra, xuất huyết và nhồi máu não là các nguyên nhân quan trọng gây tử vong.
Biểu hiện thận có lẽ thường gặp hơn những gì được báo cáo. Thí dụ, trong số 19 bệnh nhân HCCS thì có 16 người có bệnh thận ở mức độ nào đó (Clutterbuck, 1990). Trên mẫu sinh thiết thận, viêm thận cầu thận khu trú từng phần (85%), và thường đi kèm hoại tử và mào. U hạt và tẩm nhuận bạch cầu ái toan ngoại mạch tương đối hiếm gặp.
Tăng huyết áp hệ thống tương đối thường gặp (29% bệnh nhân) và có thể phản ánh tần số nhồi máu thận ở HCCS. Không như đa u hạt Wegener, suy thận hiếm xảy ra ở HCCS (dưới 10% bệnh nhân).
Bệnh đường tiêu hoá.
Viêm dạ dày ruột tăng bach cầu ái toan, biểu hiện với đau bụng (59% bệnh nhân), tiêu chảy (33%), xuất huyết dạ dày ruột (18%) và viêm đại tràng, có thể đi trước hay đồng thời với pha viêm mạch của HCCS.
Đau cơ, đau đa khớp di chuyển và viêm khớp đơn thuần tương đối hiếm gặp và thường chỉ trong pha viêm mạch của HCCS.
Bất thường về xét nghiệm.
Không có xét nghiệm đặc hiệu cho HCCS. Tăng bạch cầu ái toan máu ngoại biên (thường từ 5000 đến 9000/μl) là biểu hiện điển hình nhất. Tuy nhiên, tăng bạch cầu ái toan đôi khi bị bỏ sót vì số lượng bạch cấu ái toan có thể biến động hoặc giảm ngẫu nhiên hay gây ra do steroid. Tăng bạch cầu ái toan mô cũng có thể vẫn được thấy ở bệnh nhân không tăng bạch cầu ái toan ở máu ngoại biên.
Các bất thường không đặc hiệu khác gồm
Rửa khí quản-phế nang cho thấy tỉ lệ phần trăm bạch cầu ái toan cao trong dịch rửa (thường hơn 33%), tuy nhiên không đặc hiệu cho HCCS.
Một nghiên cứu theo dõi liên tục 16 bệnh nhân đáp ứng định nghĩa HCCS của Hội nghị Chapel Hill 1992 với thời gian trung bình 4,5 năm, và nhận thấy bệnh nhân ở giai đoạn bệnh hoạt động có sự gia tăng đáng kể eosinophil cationic protein (ECP), thụ thể interleukin-2 hoà tan (soluble interleukin-2, sIL-2R) và nồng độ thrombomodulin hoà tan (sTM) so với bệnh nhân ở giai đoạn lui bệnh. Nồng độ sIL-2R có liên hệ chặt với nồng độ sTM - chất đánh dấu tổn thương tế bào nội mô, gợi ý nguyên nhân tổn thương có liên quan với hoạt hoá tế bào T. Nồng độ sIL-2R và ECP tăng ở HCCS biểu hiện tổn thường điều hoà miễn dịch liên hệ với viêm mạch và tăng bạch cầu ái toan.
Kháng thể bào tương kháng bạch cầu trung tính.
Kháng thể bào tương kháng bạch cầu trung tính (antineutrophil cytoplasmic antibody, ANCA) có ở một số viêm mạch hệ thống, gồm HCCS, đa u hạt Wegener, viêm đa mạch vi thể và viêm mạch giới hạn ở thận. Ở HCCS, 38 - 59% bệnh nhân có ANCA dương tính. Đa số (70 - 75%) bệnh nhân có ANCA dương tính có kháng thể kháng myeloperoxidase ở mẫu nhuộm quanh nhân (P-ANCA).
HCCS có ANCA dương tính và âm tính có thể khác nhau. Điều này được gợi ý từ một phân tích cắt ngang đa trung tâm 112 bệnh nhân với chẩn đoán mới HCCS. Tình trạng ANCA dương tính có liên hệ với tổn thương thận, bệnh thần kinh ngoại biên và viêm mạch trên sinh thiết, trong khi tình trạng ANCA âm tính liên hệ với bệnh tim và sốt.
Đặc điểm X quang.
Bất thường X quang ở bệnh nhân HCCS khá phong phú, bao gồm:
Chụp CT scan với độ phân giải cao cho thấy động mạch phổi ngoại biên phình rộng đáng kể (khi so sánh với phế quản tương ứng) kèm với hình dạng hình sao hoặc bất thường của một số động mạch phổi (được xem là dấu hiệu viêm mạch) có thể giúp ích gợi ý chẩn đoán HCCS.
Cũng có thể gặp dày quanh phế quản, các vùng dày vách, các ổ đông đặc rải rác, không rõ ràng, rộng khắp. Một nghiên cứu cho thấy đông đặc nhu mô và hình ảnh kính mờ có ở 10 trong số 17 bệnh nhân (Worthy, 1998).
Chụp mạch máu ở HCCS cho thấy phình mạch ở gan và thận, có thể nhầm với viêm đa động mạch nốt
Xét nghiệm chức năng phổi.
Kết quả xét nghiệm chức năng phổi có thể cho thấy tổn thương tắc nghẽn phù hợp với hen.
Chẩn đoán HCCS được gợi ý từ bệnh cảnh lâm sàng và sau đó được xác nhận bằng sinh thiết phổi hay sinh thiết mô bị ảnh hưởng trên lâm sàng, như sinh thiết mù dây thần kinh hiển ngoài ở bệnh nhân bệnh thần kinh với nghi ngờ HCCS. Xét nghiệm ANCA không có ích để thiết lập hoặc loại trừ chẩn đoán vì tần suất thử nghiệm ANCA dương tính thấp ở bệnh nhân HCCS.
Đặc điểm bệnh học.
Sinh thiết phổi qua phẫu thuật là "tiêu chuẩn vàng" trong chẩn đoán HCCS. Ngược lại, sinh thiết phổi xuyên phế quản nhìn chung không có ích. Các dữ kiện mô học chính:
Tiêu chuẩn phân loại.
Một số hệ thống phân loại khác nhau cho HCCS đã được đề nghị và so sánh. Hội Khớp học Hoa Kỳ (American College of Rheumatology) đã thiết lập 6 tiêu chuẩn phân loại HCCS ở bệnh nhân được ghi nhận viêm mạch. Sự có mặt từ 4 tiêu chuẩn trở lên cho độ nhạy 85% và độ đặc hiệu 99,7% HCCS:
Hầu hết bệnh nhân HCCS đáp ứng thuận lợi với điều trị corticosteroid liều cao. Liều từ 0,5 - 1.5 mg/kg/d thường được dùng nhất trong 6 - 12 tuần hoặc cho đến khi bệnh đã hoàn toàn được giải quyết. Liều cao hơn cần ở bệnh nhân viêm mạch, đặc biệt nếu chức năng tim hoặc thận bị tổn thương, hoặc khi hiện diện bệnh thần kinh.
Theo dõi đáp ứng với điều trị và tái phát bằng số lượng bạch cầu ái toan và tốc độ lắng hồng cầu. ANCA duong tính dai dẳng ở HCCS cũng là dấu hiệu của diễn tiến bệnh cơ bản, nhưng không đủ phản ánh mức hoạt động của bệnh, do đó không được dùng để quyết định thay đổi trong điều trị. Biểu hiện X quang có thể vẫn ổn định hoặc thoái lui nhanh chóng với điều trị corticosteroid.
Hiếm gặp tái phát muộn sau một đáp ứng thành công với điều trị. Do đó, điều trị có thể được chấm dứt ở hầu hết bệnh nhân. Tuy nhiên, ngưng điều trị sớm có thể dẫn đến tái phát. Tăng huyết áp nên được điều trị theo phương pháp tiêu chuẩn, nhưng có thể khó kiểm soát.
Mặc dù tiên lượng của HCCS không rõ ràng, điều trị có vẻ làm giảm đáng kể tỉ lệ tử vong. Trước khi dùng steroid, 50% bệnh nhân không điều trị tử vong trong vòng 3 tháng khởi phát viêm mạch. Ngày nay tỉ lệ sống sót hơn 70% sau 5 năm.
Hầu hết tử vong do biến chứng của pha viêm mạch, thường do:
Sự có mặt/không có mặt của một số đặc điểm lâm sàng liên hệ mạnh với tỉ lệ tử vong. Năm yếu tố có vẻ ảnh hưởng quan trọng đến dự hậu của bệnh nhân HCCS:
Trong số đó, sự hiện diện của bệnh tim mạch hay dạ dày ruột có vẻ là dấu hiệu mạnh nhất cho một dự hậu xấu. Tỉ lệ tử vong sau 5 năm là 12% nếu không có yếu tố nào trong 5 yếu tố trên hiện diện, 26% nếu 1 yếu tố hiện diện, 46% nếu từ 3 yếu tố trở lên hiện diện (Guillevin, 1996).
Một giai đoạn hen ngắn trước khi khởi phát viêm mạch cũng cho thấy dự hậu xấu hơn. Vai trò của việc đo ANCA trong dự hậu vẫn chưa được biết đến.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Họ Côca (danh pháp khoa học: Erythroxylaceae) là một họ thực vật có hoa, chứa 4 chi và khoảng 240 loài. Loài được biết đến nhiều nhất là cây côca ("Erythroxylum coca").
Phát sinh chủng loài.
Cây phát sinh chủng loài dưới đây lấy theo Schwarzbach A. E. và Ricklefs R. E. (2000).
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Họ Lanh (danh pháp khoa học: Linaceae) là một họ thực vật có hoa, chủ yếu là cây thân thảo hoặc đôi khi là cây thân gỗ, rất ít khi là các cây thân gỗ lớn ở vùng nhiệt đới. Các lá đơn mép trơn gần như luôn luôn mọc so le, đôi khi có lá kèm. Các hoa lưỡng tính, dạng tỏa tia là các loại hoa 5 cánh, rất ít khi 4 cánh (gặp trong vùng nhiệt đới). Họ này phân bổ rộng khắp thế giới với khoảng 250 loài. Trong họ này có 8 chi với chi lớn nhất là chi Lanh ("Linum") có khoảng 180-200 loài.
Trong hệ thống Cronquist cũ thì họ Linaceae được đặt trong bộ riêng của chính nó là bộ Linales. Các phân loại mới hơn đặt nó trong bộ Sơ ri ("Malpighiales").
|
Cầu là một phương tiện nối liền 2 hay nhiều điểm khác nhau, giúp việc di chuyển giữa các vị trí ấy được dễ dàng hơn.
Cầu là một công trình giao thông được bắc qua các chướng ngại nước như: rãnh nước, dòng suối, dòng sông, hồ, biển, thung lũng, hay các chướng ngại khác như: đường bộ, đường sắ
"Cầu" là một từ Hán Việt cổ, bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán thượng cổ của một từ tiếng Hán được viết bằng chữ Hán là "橋". Chữ Hán "橋" có âm Hán Việt tiêu chuẩn hiện đại là "kiều". William H. Baxter và Laurent Sagart phục nguyên cách phát âm trong tiếng Hán thượng cổ của từ "橋" là "*[g](r)aw".
Cầu đã ra đời cách ngày nay rất lâu. Thể thức ban đầu của những cây cầu là tác phẩm của tự nhiên, là khúc cây đổ bắc ngang qua dòng nước. Thời gian đầu, người ta thường làm cầu từ một tấm ván mỏng, từ những cây gỗ đơn, tre, thậm chí là từ những tảng đá. Các cầu loại này thường không chịu được tải trọng lớn và cường độ giao thông cao.
Những cây cầu vòm bằng đá và đường máng dẫn nước (aqueduct) được xây dựng đầu tiên thời Đế chế La Mã, một số còn tồn tại đến ngày nay như cầu Alcántara qua sông Tagus ở Tây Ban Nha. Tại nhiều vùng lãnh thổ khác cũng xây dựng nhiều loại cầu bằng những vật liệu khác nhau như gỗ, đá (Trung Quốc), gạch xây vữa (châu Âu), cầu treo đơn giản bằng dây thừng của thổ dân (Inca Nam Mĩ)...Cho đến thế kỉ 19 khi xảy ra cách mạng công nghiệp, các cầu bằng sắt rèn, rồi tiến đến bằng thép ra đời. Ngày nay, các loại cầu bằng bêtông trở nên phổ biến cùng với cầu thép. Nhịp cầu ngày càng được kéo dài, từ vài trăm mét như loại cầu dầm, cầu giàn bêtông ứng suất trước hoặc thép, và lên đến 2000 mét như cầu treo dây võng Akashi-Kaikyo (Nhật Bản).
Kết cấu cầu là một lĩnh vực thuộc kết cấu xây dựng. Độ khó trong xây dựng cầu nằm tại kết cấu của nó, nên việc thiết kế cầu vẫn chủ yếu do các kỹ sư xây dựng thực hiện mà ít có đóng góp của kiến trúc sư.
Kết cấu nhịp cầu bao gồm: mặt cầu (gồm có bản mặt bằng bêtông cốt thép hoặc thép hoặc gỗ, các lớp phủ như lớp chống nước, bêtông ), dầm dọc và dầm ngang, kết cấu nhịp chịu tác dụng của tải trọng bản thân cầu gọi là tĩnh tải, cùng với tải trọng người, xe trên cầu gọi là hoạt tải, ngoài ra còn có tác dụng của gió, của động đất (trường hợp đặc biệt), toàn bộ tải trọng này được truyền xuống đất qua hệ thống mố trụ cầu
Bộ phận ở hai đầu cầu và nối tiếp giữa cầu với đường gọi là mố cầu. Mố cầu ở cuối cầu và tạo thành cấu trúc chuyển tiếp từ đường tới mặt cầu. Nó tiếp nhận một phần tải trọng của kết cấu nhịp truyền xuống và chịu tác dụng của đất đắp sau mố (đường tiếp nối vào cầu). Cấu trúc của mố cầu bằng bê tông cốt thép và bao ngoài bằng đá hộc, đá tảng gắn kết bằng xi măng mác cao.
Bộ phận giữa hai mố cầu để cho kết cấu nhịp tựa lên gọi là trụ cầu. Do nhiều yêu cầu về kinh tế kĩ thuật chiều dài kết cấu nhịp không thể quá dài. Để vượt được khoảng cách lớn yêu cầu phải có cọc chống đỡ trung gian dó là trụ cầu. Trụ cầu truyền tải từ kết cấu nhịp xuống móng công trình. Đối với loại cầu dây văng hoặc cầu treo thì trụ cầu thường được làm cao hẳn hơn bản mặt cầu, để treo, neo dây cáp chịu lực, gọi là trụ tháp.
Mố trụ cầu rất quan trọng trong tổng thể của công trình cầu vì vậy khi thiết kế mố trụ cần chú ý đến nhiều yếu tố không những phải chịu được lực truyền từ kết cấu nhịp bên trên xuống mà còn các yếu tố khác tác dụng vào mố trụ: đối với mố là lực đẩy ngang của đất, đối với trụ là sự va đập của các phương tiện giao thông: tàu thuyền vào trụ cầu (cầu vượt sông), xẹ cộ (cầu cạn); ngoài ra trụ cầu qua sông còn phải chịu các yếu tố thủy lực như lực đẩy nổi, lực do dòng chảy tác động. Những yếu tố ăn mòn cũng tác động mạnh đến trụ cầu; như han rỉ.
Móng cầu là bộ phận bên dưới cùng của một cây cầu, làm bằng bê tông cốt thép. Móng có tác dụng truyền và phân bố toàn bộ tải trọng xuống nền đất sao cho toàn bộ kết cấu đứng vững trên đất mà không bị phá hoại do nền đất bị vượt quá sức chịu tả
Gối cầu là bộ phận trung gian nằm giữa kết cấu nhịp và mố trụ cầu. Gối cầu có tác dụng như tấm đệm chịu tải trọng và giảm lực cắt ngang của kết cấu nhịp truyền xuống mố trụ. Đồng thời gối cầu giúp cho kết cấu làm việc theo mô hình tính toán, giúp kết cấu nhịp dịch chuyển, co giãn ít mà bị cản trở. Các loại gối cầu rất đa dạng nhưng chia ra hai loại chính là gối cố định và gối di động, gối có thể cứng (thép, gối chậu) hoặc đàn hồi (gối cao su, cao su bản thép).
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Họ Hà nu (danh pháp khoa học: Ixonanthaceae) là một họ thực vật có hoa, chứa khoảng 30 loài trong 4 hoặc 5 chi, phân bổ ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, châu Phi và châu Á. Loài được biết đến nhiều nhất ở Việt Nam là hà nu ("Ixonanthes cochinchinensis").
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Chi Cùm rìa (Xơ ri vuông) (danh pháp khoa học: Malpighia) là một chi của khoảng 45 loài cây bụi hoặc cây thân gỗ nhỏ trong họ Sơ ri (Malpighiaceae), có nguồn gốc ở khu vực Caribe, Trung Mỹ, và miền bắc Nam Mỹ. Các loài có thể cao tới 1–6 m, với tán lá dày, thường có gai. Lá thường xanh dạng lá đơn, dài 0,5–15 cm, với mép lá trơn hoặc có răng cưa. Hoa đơn hoặc mọc thành tán với từ 2 hoa trở lên trong một cụm, mỗi hoa có đường kính khoảng 1–2 cm với 5 cánh hoa có màu trắng, hồng, đỏ hay tía. Quả là loại quả mọng màu đỏ, da cam hay tía, chứa 2-3 hạt cứng. Nó là loại quả có vị ngọt và nhiều nước, rất giàu vitamin C.
|
Cầu nguyện tử đạo ngày 15 tháng 7
Cầu Bosphorus (Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: "Boğaziçi Köprüsü" hay "1. Boğaziçi Köprüsü") là cây ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ bắc qua eo biển Bosphorus, là eo biển nằm giữa 2 lục địa Á-Âu.
Cây cầu treo có chiều dài 1.510 m, chiều rộng 39 m. Khoảng cách giữa những tháp (giữa những nhịp chính) là 1.074 m (dài thứ 12 thế giới vào năm 2004). Chiều cao thông thuyền là 64 m.
|
Hạ calci máu (tiếng Anh: "hypocalcemia") được định nghĩa là nồng độ calci huyết tương toàn phần thấp hơn 2,2 mmol/l (hay 8,8 mg/dL). Một cách chính xác hơn, "hạ calci máu được định nghĩa khi nồng độ calci ion hóa trong huyết tương thấp hơn 1,16 mmol/l (hay 4,6 mg/dL)" bởi chính phần calci ion hóa này mới là phần calci lưu hành có tác dụng sinh học và được điều hòa bởi các hormone của cơ thể.
Calci là chất khoáng thiết yếu cho hoạt động bình thường của rất nhiều quá trình nội và ngoại bào khác nhau bao gồm co cơ, dẫn truyền thần kinh, phóng thích hormone và đông máu. Ngoài ra, ion calci còn đóng một vai trò then chốt trong hệ thống truyền tin nội bào và liên quan đến quá trình điều hòa hoạt động của nhiều enzyme khác nhau. Do đó duy trì hằng định nội môi calci có ý nghĩa sống còn đối với cơ thể.
Nồng độ calci nội và ngoại bào đều được kiểm soát và điều hòa một cách chặt chẽ nhờ quá trình vận chuyển calci theo hai hướng qua màng bào tương và màng các bào quan như hệ thống lưới nội bào tương, hệ thống lưới nội bào tương của tế bào cơ và ty lạp thể. Sự vận chuyển ra khỏi khu vực bào tương vào bên trong các bào quan chứa nhiều protein gắn calci này có tác dụng duy trì nồng độ ion calci trong bào tương ở mức rất thấp, chỉ ở mức μmol (thấp hơn 1/1000 so với nồng độ calci huyết tương). Bởi vì calci hiện diện trong bào tương ở nồng độ thấp như vậy nên nó rất thích hợp cho hoạt động của nó trong vai trò chất truyền tin nội bào thứ hai.
Mặc dù có vai trò nội bào rất quan trọng nhưng khoảng 99% lượng calci của cơ thể được dự trữ ở xương (khoảng 1 kg calci). Tại đây calci liên kết với các ion khác để tạo nên các dạng tinh thể hydroxyapatite. Khoảng 1% calci của xương có thể trao đổi tự do với dịch ngoại bào và như vậy lượng calci này có vai trò đệm, hạn chế những dao động trong cân bằng calci.
Thuật ngữ "calci máu" ("calcemia") là một thuật ngữ không chuẩn xác nhưng vẫn thường được dùng để miêu tả nồng độ của calci huyết tương. Nồng độ calci huyết tương toàn bộ dao động từ 8,8 đến 10,4 mg/dL (2,20 đến 2,60 mmol/L). Khoảng 40% calci toàn phần gắn với các protein huyết tương, chủ yếu là albumin. Khoảng 50% calci toàn phần ở dạng tự do ion hóa, là dạng có hoạt tính sinh học quan trọng nhất. Phần còn lại gắn với các hợp chất vô cơ khác như với phosphate và citrate. Định lượng calci ion hóa cung cấp những thông tin có giá trị chẩn đoán cao ở những bệnh nhân nghi ngờ có sự rối loạn nồng độ các protein gắn Ca.
Duy trì lượng calci dự trữ của cơ thể cũng như nồng độ calci huyết tương phụ thuộc vào lượng calci thu nhận hằng ngày qua ăn uống, hấp thu tại ống tiêu hóa và bài tiết ở thận. Mỗi ngày, lượng calci trong thức ăn được tiêu hóa vào khoảng 1000 mg. Cơ thể bài tiết vào ống tiêu hóa khoảng 200 mg/ngày theo dịch mật và các dịch tiết khác. Tùy thuộc vào nồng 1,25-dihydroxyvitamin D lưu hành mà có từ 200 đến 400 mg calci được hấp thu từ ống tiêu hóa. Phần còn lại từ 800 đến 1000 mg (20 to 25 mmol) mất qua phân. Cân bằng calci thực sự được duy trì thông qua sự bài tiết calci ở thận vào khoảng 200 mg/ngày (5 mmol/ngày).
Điều hòa chuyển hóa calci.
Chuyển hóa calci và phosphate (PO4-) có liên quan mật thiết với nhau. Điều hòa hằng định nội môi của cả Ca và PO4 chịu ảnh hưởng lớn bởi nồng độ lưu hành của hormone cận giáp (PTH), vitamin D, và các hormone khác như calcitonin, T3, glucocorticoide nhưng ở mức độ ít hơn. Nồng độ calci và phosphate vô cơ cũng phụ thuộc vào khả năng phản ứng giữa chúng với nhau để hình thành muối calcium phosphate. Bình thường thì tích số nồng độ của Ca và PO4 (tính theo mEq/L) trong cơ thể vào khoảng 60. Khi tích số của Ca và PO4 hòa tan vượt quá 70, nguy cơ kết tủa tinh thể calcium phosphate ở các mô mềm là rất lớn. Kết tủa tinh thể này tại tổ chức mạch máu có ý nghĩa bệnh lý rất lớn vì nó đẩy nhanh tốc độ hình thành bệnh xơ cứng mạch máu.
PTH là một polypeptide có 84 amino acid được sản xuất và giải phóng bởi tuyến cận giáp. Hormone này có một số chức năng khác nhau nhưng chắc chắn chức năng quan trọng nhất vẫn là chống hạ calci máu. Nồng độ Ca huyết tương sẽ tăng lên trong vòng vài phút dưới nhiều tác động khác nhau của PTH bao gồm tăng tái hấp thu Ca tại thận, tăng hấp thu Ca và nhanh chóng huy động Ca và PO4 từ xương ("bone resorption").
Vitamin D được biến đổi tại thận nhờ enzyme 1- -hydroxylase thành dạng hoạt động sinh học mạnh nhất là 1,25-dihydroxycholecalciferol [hay còn gọi là 1,25(OH)2D3]. 1,25(OH)2D3 tăng vận chuyển Ca qua ruột một phần thông qua khả năng điều hòa tổng hợp các protein gắn Ca ở niêm mạc ruột. PTH tăng cường hấp thu Ca từ ruột do thúc đẩy sản xuất 1,25(OH)2D3. Mặc dù PTH có tác dụng làm tăng hấp thu Ca tại đường tiêu hóa nhưng nếu PTH tăng cao kéo dài thì sẽ gây nên tình trạng hấp thu xương do ức chế chức năng của tạo cốt bào (osteoblast) và tăng cường chức năng của hủy cốt bào ("osteoclast").
Calcitonin là một hormone có bản chất polypeptide chứa 32 amino acid được bài tiết bởi tế bào C của tuyến giáp. Calcitonin có tác dụng làm hạ nồng độ Ca huyết tương thông qua kích thích tế bào thu nhận Ca, tăng thải qua thận và tăng hình thành xương. Các tác dụng của calcitonin trên xương yếu hơn nhiều so với PTH và vitamin D.
Hạ Ca máu xuất hiện khi lượng Ca mất từ khoang ngoại bào vượt quá lượng Ca cung cấp từ ruột và xương. Như vậy hạ Ca máu là hậu quả của ("1") hoặc là tình trạng mất quá nhiều Ca ion hóa lưu hành trong tuần hoàn (do lắng đọng vào các tổ chức, vào xương, mất qua nước tiểu, gắn kết quá nhiều với albumine hoặc các hợp chất vô cơ khác) ("2") hoặc là giảm lượng Ca đi vào tuần hoàn (ruột kém hấp thu, giảm huy động Ca từ xương).
Thiểu năng cận giáp là tình trạng giảm hoặc không có PTH. Bệnh được đặc trưng bởi hạ Ca máu và tăng phosphate máu và thường đi kèm với tetany mạn tính. Thiểu năng cận giáp thường là hậu quả của sự cắt bỏ nhầm hoặc sự tổn thương của một vài tuyến cận giáp trong phẫu thuật cắt tuyến giáp.
Các trường hợp thiểu năng cận giáp mắc phải khác rất hiếm gặp là do các bệnh lý lắng đọng tại tuyến cận giáp như nhiễm thiết sắc tố ("hematocromatosis"), bệnh Wilson, u hạt hay ung thư di căn.
Thiếu viatmin D là nguyên nhân quan trọng của hạ Ca máu. Thiếu vitamin D có thể do lượng cung cấp không đủ hoặc do giảm hấp thu là hậu quả của các bệnh lý gan mật hoặc kém hấp thu do nguyên nhân tại ruột. Thiếu vitamin D cũng có thể xảy ra do thay đổi chuyển hóa của vitamin D dưới tác dụng của một số thuốc (phenytoin, phenobarbital và rifampin) hoặc do da ít tiếp xúc với ánh nắng. Một số rối loạn di truyền có liên quan đến chuyển hóa vitamin D thành dạng hoạt tính cũng gây nên còi xương.
Các bệnh lý ống thận như hội chứng Fanconi do các chất độc thận chẳng hạn kim loại nặng và chứng nhiễm toan ống lượn xa ("distal renal tubular acidosis") có thể gây nên hạ Ca máu trầm trọng do mất Ca bất thường qua thận cũng như giảm chuyển vitamin D thành vitamin D dạng hoạt động. Đặc biệt cadmium gây hạ Ca máu do làm tổn thương các tế bào ống lượn gần và cản trở chuyển đổi vitamin D. Bệnh lý ống thận có thể gây nên chứng loãng xương nhưng chủ yếu loãng xương trong trường hợp này là của tình trạng nhiễm toan mạn tính.
Suy thận có thể gây nên hạ Ca máu, hậu quả của giảm hình thành 1,25(OH)2D3 do tổn thương trực tiếp các tế bào thận cũng như do tăng phosphate vì thận giảm bài tiết chất này.
Kém hấp thu từ đường tiêu hóa, chứng nghiện rượu kinh niên và điều trị bằng thuốc cisplastine là những nguyên nhân chính gây hạ magnesi máu. Có thể có thiếu PTH tương đối và các cơ quan đích kém nhạy cảm với PTH trong trường hợp thiếu hụt magnesi với nồng độ magnesi trong máu thấp hơn 1,0 mEp/L ( 0,5 mmol/L). Bù magnesi có tác dụng cải thiện nồng độ PTH và cải thiện khả năng giữ Ca của thận. Tình trạng hạ magnesi còn có thể thấy ở những bệnh nhân được nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch dài ngày, điều trị lợi tiểu và điều trị các kháng sinh thuộc họ aminoglycoside. Mặc dù có tình trạng kém đáp ứng với PTH, phần lớn bệnh nhân hạ Mg máu có nồng độ phosphate huyết thanh bình thường hoặc giảm có lẽ là do lượng phosphate trong thức ăn đưa vào thấp. Trong tất cả trường hợp vừa nói ở trên thì tình trạng hạ Ca máu không thể điều trị thành công bằng việc cung cấp Ca đơn thuần mà điều trị đặc hiệu là bù Magnesi. Do vậy khi đánh giá bệnh nhân nghi ngờ hạ Ca máu, việc xét nghiệm magnesi là bước không thể thiếu.
Viêm tụy cấp gây hạ Ca máu khi Ca tạo chelate với các sản phẩm phân hủy mỡ được giải phóng từ tổ chức tụy bị viêm.
Hạ protein máu do bất kỳ nguyên nhân gì cũng có thể làm giảm lượng protein gắn với protein. Hạ Ca máu do giảm lượng Ca gắn với protein không gây triệu chứng lâm sàng do lượng Ca ion hóa không thay đổi. Tình trạng này còn được gọi là hạ Ca máu giả tạo ("factitious hypocalcemia").
Tăng cường tạo xương trong khi lượng cung cấp không đủ cũng có thể gây nên hạ Ca máu. Bệnh thậm chí cũng có thể gặp ở những bệnh nhân điều trị nhiễm toan chuyển hóa dài ngày.
Nhiễm trùng huyết gây hạ Ca máu do ức chế giải phóng PTH cũng như ức chế quá trình chuyển 25(OH)D3 thành 1,25(OH)2D3.
Tăng phosphate máu gây nên hạ Ca máu do rất nhiều cơ chế nhưng không có cơ chế nào được biết rõ ràng. Bệnh nhân suy thận gây tăng ứ đọng phosphate thường có khuynh hướng hạ Ca máu.
Các thuốc gây hạ Ca máu là do những thuốc điều trị tăng Ca máu, thuốc chống co giật (phenytoin, phenobarbital) và rifampicin (các thuốc này biến đổi chuyển hóa của vitamin D), các thuốc cản quang chứa ethylenediaminetetraacetate, là một chất tạo chelate hóa trị 2.
Về mặt lý thuyết thì khi nồng độ calcitonin trong máu quá cao có thể gây hạ Ca máu nhưng trong thực tế người ta ít gặp trường hợp giảm Ca huyết tương ở bệnh nhân có lượng calcitonin rất cao lưu hành trong máu như trong carcinoma tủy tuyến giáp.
Quá trình tạo chelate nội mạch có thể xảy ra khi sử dụng các chất như citrate, lactate, foscanet làm giảm lượng Ca ion hóa mà không làm thay đổi nồng độ Ca toàn phần. Nhiễm toan hô hấp cấp làm tăng quá trình gắn Ca ion hóa vào albumin do đó làm giảm nồng độ Ca ion hóa.
Tăng phosphate máu do suy thận, do dùng phosphate, do ly giải cơ vân ("rhabdomyolysis") hoặc do ly giải khối u lớn (ví dụ trong hóa trị liệu chống ung thư) có thể gây nên hạ Ca máu cấp. Trong trường hợp tăng phosphate máu cấp tính, Ca có thể sẽ lắng đọng một lượng rất lớn ở xương nhưng cũng có thể lắng đọng ngoài xương.
Một số bệnh nhân ung thư di căn đến xương, đặc biệt là bệnh nhân ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến, có thể biểu hiện tình trạng hạ Ca máu khả năng là do lắng đọng Ca trong các khu vực di căn.
Hạ Ca máu thường không có triệu chứng lâm sàng. Các biểu hiện lâm sàng của hạ Ca máu là do rối loạn điện thế màng tế bào. Cũng tương tự như đối với trường hợp tăng calci máu, triệu chứng của hạ Ca máu phụ thuộc vào mức độ cũng như tốc độ của hạ Ca. Các triệu chứng chủ yếu là hậu quả của tăng kích thích thần kinh cơ. Bệnh nhân hạ Ca máu thường van co cứng cơ vùng lưng và chuột rút ở chân. Nếu hạ Ca máu hình thành trong một thời gian ngắn thì các triệu chứng lâm sàng thường xuất hiện rõ hơn. Nếu tốc độ hạ Ca máu chậm và âm ỉ thì có thể gây nên bệnh lý não lan tỏa mức độ nhẹ. Hạ Ca máu nặng với nồng độ Ca huyết tương 7 mg/dL ( 1.75 mmol/L) có thể gây nên cơn tetany, co thắt thanh quản hoặc co giật toàn thân.
Cơn Tetany là dấu hiệu đặc trưng của hạ Ca máu nặng nề. Nó cũng có thể xuất hiện khi nồng độ Ca ion hóa thấp mặc dù Ca máu toàn phần bình thường như trong trường hợp nhiễm kiềm nặng. Cơn tetany được đặc trưng bằng các trệu chứng cảm giác bao gồm dị cảm ở môi, lưỡi, ngón tay ngón chân, dấu bàn đạp ("carpopedal spasm": bàn chân duỗi ra như thể đang đạp xe đạp) có thể kéo dài và gây đau đớn. Trong cơn tetany còn có thể xuất hiện đau cơ toàn thân và co giật các cơ vùng mặt. Cơn tetany có thể là những biểu hiện tự phát hoặc tiềm tàng và cần có các kích thích mới biểu hiện rõ. Cơn tetany tiềm tàng xảy ra khi nồng độ Ca máu giảm nhưng ít trầm trọng hơn: từ 7 đến 8 mg/dL (tương ứng từ 1.75 đến 2.20 mmol/L).
Dấu Chvostek ("Chvostek's sign") đôi khi có thể gặp ở người có nồng độ calci máu bình thường (khoảng 10%). Dấu hiệu này được miêu tả khi gõ lên dây thần kinh mặt ngay ở trên xương gò má thì thấy miệng của bệnh nhân co giật tự phát nhẹ, không kiểm soát được. Dấu Chvostek thường không có trong hạ Ca máu mạn tính.
Dấu Trousseau ("Trousseau's sign") xuất hiện khi chúng ta đo huyết áp ở cánh tay bệnh nhân và duy trì áp lực cao hơn huyết áp tâm thu 20 mmHg trong vòng 3 phút. Dấu hiệu dương tính khi cổ tay gập lại, khớp bàn – ngón gập lại, ngón tay cái gập lại trong khi các ngón khác ở tư thế duỗi. Dấu Trousseau cũng xuất hiện trong nhiễm kiềm, hạ Mg máu, hạ kali máu, tăng kali máu và ở khoảng 6% những người không hề có biểu hiện rối loạn điện giải nào.
Rối loạn nhịp có thể xuất hiện trong một số trường hợp hạ Ca máu nặng. Điện tim điển hình của hạ Ca máu có QT và ST kéo dài. Thay đổi của quá trình tái cực như sóng T cao nhọn hoặc ngược lại sóng T âm cũng có thể gặp. Trường hợp nặng có thể đưa đến rung thất hoặc bloc nhĩ-thất.
Không có một dấu hiệu riêng rẽ nào đặc trưng cho tình trạng hạ Ca máu nhưng khi các dấu hiệu này cùng xuất hiện trên một bệnh nhân thì có ý nghĩa gợi ý chẩn đoán khá tốt. Các dấu hiệu rối loạn chức năng kể trên xảy ra khi hạ Ca máu và cải thiện rõ khi nồng độ Ca máu trở về bình thường.
Hạ Ca máu mạn tính gây nên nhiều bất thường khác nhau như da khô và bong vảy, móng tay dễ gãy và tóc khô. Nhiễm nấm candida da cũng có thể gặp trong hạ Ca máu mạn tính nhưng triệu chứng này thường là biểu hiện của thiểu năng cận giáp vô căn (xem phần nguyên nhân). Đục thủy tinh thể có thể gặp trong hạ Ca máu dài ngày và dấu hiệu này không hồi phục khi Ca huyết tương trở về bình thường.
Chẩn đoán hạ Ca máu khi Ca huyết tương toàn phần 8.8 mg/dL ( 2.20 mmol/L). Khi có biểu hiện lâm sàng thì Ca huyết tương toàn phần thường ≤ 7 mg/dL (≤ 1.75 mmol/L) nếu không có tình trạng nhiễm kiềm đi kèm. Thiếu hụt PTH được đặc trưng bằng hạ Ca huyết tương, tăng PO4 huyết tương và phosphatase kiềm bình thường. Mặc dù lượng Ca niệu thấp nhưng khi so sánh với mức độ giảm Ca máu thì lượng Ca niệu tăng tương đối.
Trong chứng loãng xương hay còi xương, có thể thấy các bất thường điển hình của xương. Nồng độ PO4 huyết tương thường giảm nhẹ và phosphatase kiềm tăng cao phản ánh sự gia tăng huy động Ca từ xương. Định lượng 25(OH)D3 và 1,25(OH)2D3 huyết tương có thể giúp phân biệt thiếu hụt vitamin D với các tình trạng phụ thuộc vitamin D. Còi xương hạ phosphate máu có tính chất gia đình là do mất PO4 qua thận.
Nguyên tắc điều trị.
Điều trị hạ calci máu được bắt đầu bằng dùng calci. Việc chọn lựa các dạng chế phẩm chứa calci cũng như cân nhắc sự cần thiết điều trị bằng các thuốc hỗ trợ hay không tùy thuộc vào mức độ của hạ calci máu cũng như các bệnh lý nguyên nhân.
Những bệnh nhân hạ calci máu có triệu chứng lâm sàng hoặc những bệnh nhân có nồng độ calci máu điều chỉnh thấp hơn 1,90 mmol/l (75 mg/l) có thể được điều trị bằng calci đường tĩnh mạch cho đến khi hết triệu chứng hoặc khi nồng độ Ca máu lên trên 1,90 mmol/l. Hạ calci máu mạn tính mức độ trung bình thường được điều trị bằng bù Ca đường uống. Vì calci liên kết với phosphate trong thức ăn và với oxalate để hình thành các dạng muối không hòa tan và không thể hấp thu được qua đường tiêu hóa cho nên Ca uống được hấp thu hiệu quả nhất khi dùng xa bữa ăn. Hiện tại chưa có chế phẩm PTH trên thị trường.
Điều trị hạ calci máu cấp tính.
Hạ calci máu cấp tính thường gây nên các biểu hiện lâm sàng. Bệnh nhân có nồng độ calci huyết tương dưới 1,9 mmol/l cần được điều trị bằng calci tĩnh mạch. Truyền 15 mg/kg (0,375 mmol/kg) calci nguyên tố trong vòng 4 đến 6 giờ có thể làm tăng nồng độ calci máu toàn phần lên 0,5 đến 0,75 mmol/l (20 đến 30 mg/l).
Nhiều dạng calci truyền tĩnh mạch khác nhau hiện có trên thị trường.
Gluconate de calcium 10% trình bày dưới dạng ống 10 ml chứa 94 mg calci nguyên tố. Trong trường hợp cấp cứu, có thể dùng nguyên ống bơm tĩnh mạch chậm trong 4 phút, sau đó truyền tĩnh mạch liên tục. Không nên dùng chế phẩm dịch truyền nồng độ cao (200 mg Ca trong 100 ml) vì có nguy cơ gây ảnh hưởng chức năng tĩnh mạch và hoại tử trong trường hợp dịch truyền thoát mạch ra tổ chức dưới da. Thông thường người ta hòa 10 ống gluconate de calcium trong 900 ml dung dịch glucose 5% để đạt được một dung dịch chứa 940 mg calci nguyên tố/lít và dung dịch này có thể truyền tốc độ 50 ml/giờ khi mới bắt đầu và sau đó điều chỉnh tốc độ cho phù hợp. Đôi khi trong trường hợp cần thiết, dung dịch này được duy trì trong 4 đến 6 giờ.
Glucoheptate de calcium 10% chứa 90 mg calci nguyên tố trong 5 ml dung dịch có thể hữu ích ở những bệnh nhân cần hạn chế dịch đưa vào.
Clorure de calcium 10% có nồng độ còn cao hơn nữa (272 mg calci nguyên tố trong 10 ml !!!) có thể làm tăng nhanh chóng nồng độ calci máu. Tuy nhiên chế phẩm này rất độc với tĩnh mạch cho nên không được truyền tĩnh mạch kéo dài.
Globionate de calcium sẵn có ở dạng uống chứa 23 mg calci nguyên tố trong 1 ml. Chế phẩm này được hấp thu và dung nạp rất tốt, là một chọn lựa thích hợp cho trẻ em hoặc người lớn không có đường truyền tĩnh mạch.
Một số bệnh nhân, đặc biệt là các bệnh nhân thẩm phân máu có tình trạng hạ calci máu nặng sau cắt bỏ bán phần hoặc toàn phần tuyến cận giáp cần được tiêm cấp cứu calci và vitamin D. Ban đầu, calci thường được cho bằng đường tĩnh mạch sau đó tiếp tục với dạng uống kèm với vitamine D. Liều cao vitamine D đường tĩnh mạch thường được sử dụng: 1 đến 3 μg/ngày và giảm dần liều trong các tuần tiếp theo. Việc cho calcitriol và Ca trước khi phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp có thể phòng ngừa được tình trạng hạ Ca máu trầm trọng và giảm thiểu phản ứng dội tăng PTH vào giai đoạn sớm trong trường hợp cắt bỏ bán phần tuyến cận giáp.
Điều trị hạ calci máu mạn tính.
Điều trị hạ calci máu mạn tính thường dựa trên cung cấp Ca đường uống và thường dùng kèm với vitamine D để tăng cao sự hấp thu qua đường tiêu hóa. Thông thường dùng một liều đầu tiên 1000 đến 2600 mg Ca (250 đến 650 mmol) chia thành 2–3 lần thậm chí đến 4 lần uống vào khoảng giữa các bữa ăn để tăng hấp thu. Các liều tiếp theo sau đó được điều chỉnh tùy theo nồng độ Ca máu mong muốn đạt được. Dạng thường dùng là carbonate de calcium, trình bày dưới dạng viên 500 đến 750 mg. Citrate de calcium cũng được hấp thu rất tốt nhưng nó lại làm tăng hấp thu nhôm qua đường tiêu hóa và có thể gây nguy cơ ngộ độc nhôm đặc biệt là ở bệnh nhân suy thận. Nên tránh dùng chế phẩm phosphate de calcium vì nó làm tăng phosphate máu cũng như tăng lắng đọng Ca ở di căn xương.
Trong trường hợp thiếu vitamine D, thường cần phải bổ sung hormone này. Calcitriol đường uống có tác dụng tức thì vì nó không cần phải chuyển hóa mới có tác dụng sinh lý. Một liều 0,5 đến 1 μg thường là đủ (ngoại trừ trường hợp hạ Ca máu sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến cận giáp, trong trường hợp này thì liều calcitriol cần tăng cao hơn nhiều). Dạng hoạt tính của vitamine D, tức là calcitriol, thường tốt hơn dạng tiền chất. Dạng tiền chất thường cần được chuyển đổi bởi quá trình 25-hydroxyl hóa ở gan hoặc 1α- hydroxyl hóa tại thận trong khi đó các quá trình này bị ảnh hưởng trong suy gan hoặc suy thận, trong thiểu năng tuyến cận giáp và còi xương phụ thuộc vitamine D type 1. Hơn nữa thời gian bán hủy ngắn của calcitriol có thể giảm nguy cơ ngộ độc vitamine D và nguy cơ tăng Ca máu thường kéo dài đối với các dẫn xuất chứa một nhóm hydroxyl.
|
Vòng đàm phán Uruguay
Vòng đàm phán Uruguay là một loạt các cuộc đàm phán thương mại nối tiếp nhau từ tháng 9 năm 1986 cho đến tháng 4 năm 1994. Đây là vòng đàm phán thứ tám của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) với sự tham gia của 125 nước. Vòng đàm phán này mang tính chất lịch sử vì nó đã chuyển GATT thành Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Nó bắt đầu diễn ra tại Punta del Este, Uruguay (vì thế có tên là Vòng đàm phán Uruguay), tiếp theo là các cuộc đàm phán tại Montréal, Genève, Bruxelles, Washington, D.C. và Tokyo. Cuối cùng, các hiệp định của nó được ký trọn gói tại Marrakech, Maroc bao gồm một hiệp định về thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới và các phụ lục đi kèm là các hiệp định quy định về các vấn đề khác nhau trong thương mại quốc tế.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Họ Đại kích hay họ Thầu dầu(Euphorbiaceae) là họ lớn thứ năm trong tất cả các họ thực vật có hoa. Nó gồm khoảng 7,500 loài chia thành 300 chi, 37 tông và ba phân họ. Phần lớn là cây thân thảo, nhưng ở khu vực nhiệt đới cũng tồn tại các loại cây bụi hoặc cây thân gỗ. Một số loài cây là mọng nước, và tương tự như các loài xương rồng, là do tiến hóa hội tụ.
Họ này phân bổ chủ yếu ở khu vực nhiệt đới và ôn đới ấm trên khắp thế giới, với phần lớn các loài tập trung trong khu vực Indomalaya và sau đó là khu vực nhiệt đới châu Mỹ. Tại khu vực nhiệt đới châu Phi cũng có nhiều loài, giống, thứ, nhưng không đa dạng như hai khu vực kể trên. Tuy nhiên, chi "Euphorbia" cũng có nhiều loài trong các khu vực không nhiệt đới, chẳng hạn như khu vực Địa Trung Hải, Trung Đông, miền nam châu Phi hay miền nam Hoa Kỳ.
Lá mọc so le, hiếm khi mọc đối, với các lá kèm. Hình dạng lá chủ yếu là lá đơn, nhưng cũng có loài có lá phức, chủ yếu là loại dạng chân vịt, không thấy dạng lông chim. Các lá kèm có thể bị suy thoái thành gai, lông tơ hay các tuyến nhỏ.
Hoa đối xứng xuyên tâm (tỏa tia) thường là đơn tính, với hoa đực và hoa cái thường cùng trên một cây. Như có thể dự đoán từ một họ lớn như thế này, ở đây có một sự đa dạng lớn về cấu trúc hoa. Chúng có thể là cùng gốc hay khác gốc. Các nhị hoa (cơ quan đực) có thể từ 1 tới 10 (hoặc nhiều hơn). Hoa cái là loại dưới bầu, có nghĩa là với bầu nhụy lớn.
Các chi "Euphorbia" và "Chamaesyce" có một dạng cụm hoa đặc biệt khác thường, được gọi là hoa hình chén ("cyathium"). Nó là một dạng tổng bao tựa như một đài hoa nhỏ chứa các tuyến mật ngoại biên hình móng ngựa bao quanh một vòng các hoa đực, mỗi hoa đực có một nhị hoa. Tại phần giữa của cyathium là hoa cái: một lá noãn đơn với các đầu nhụy phân nhánh. Sự phân bố tổng thể này tạo ra một sự tương tự như một bông hoa đơn độc.
Quả thường là loại quả nứt, đôi khi là quả hạch. Loại quả nứt điển hình là "regma", một loại quả nang với ba hoặc nhiều hơn các ô, mỗi ô tách ra khi chín thành các phần riêng biệt và sau đó nổ để phân tán các hạt nhỏ.
Các loài cây trong họ này chứa một lượng khá lớn độc tố thực vật (các chất có độc tính do cây tiết ra), chủ yếu là các este diterpen, ancaloit, glicozit. Hạt của quả thầu dầu ("Ricinus communis") chứa protein liên kết cacbohydrat rất độc là ricin.
Nhựa (mủ) dạng sữa hay latex là tính chất đặc trưng của các phân họ Euphorbioideae và Crotonoideae. Nhựa mủ này là độc hại ở phân họ Euphorbioideae, nhưng lại không độc ở phân họ Crotonoideae. Nhựa mủ của cây giá ("Excoecaria agallocha") sinh ra các vết phồng rộp ở chỗ tiếp xúc và gây mù lâm sàng nếu tiếp xúc với mắt. Các tên gọi khác là "buta buta" (tiếng Mã Lai), "gewa" (tiếng Bengali ở Bangladesh).
Các nghiên cứu phát sinh chủng loài phân tử chỉ ra rằng Euphorbiaceae theo định nghĩa truyền thống là đa ngành, tạo thành vài nhóm trong bộ Malpighiales. Xử lý trong bài này phản ánh các kết quả của các nghiên cứu này.
Các chi trước đây đặt trong phân họ Oldfieldioideae và Phyllanthoideae , với đặc trưng là 2 noãn trên mỗi ngăn, hiện nay được coi tương ứng là các họ Picrodendraceae và Phyllanthaceae, với 2 chi tách ra từ họ sau để lập thành họ Putranjivaceae; hai họ đầu dường như là các đơn vị phân loại chị em, có lẽ gần với phần còn lại của Euphorbiaceae truyền thống, trong khi đó họ thứ ba được đặt ở nơi khác trong bộ Malpighiales. Các chi còn lại, với đặc trưng 1 noãn trên mỗi ngăn, được coi như là Euphorbiaceae nghĩa hẹp và Peraceae .
Bốn phân họ hiện tại được công nhận trong họ Euphorbiaceae nghĩa hẹp. Theo truyền thống, ba phân họ Acalyphoideae , Crotonoideae và Euphorbioideae được công nhận dựa theo sự tồn tại hoặc không tồn tại của tế bào nhựa mủ và hình thái phấn hoa. Các phân tích phát sinh chủng loài các dữ liệu phân tử hỗ trợ tính đơn ngành của Euphorbioideae. Phần lớn các chi của Crotonoideae truyền thống có độ hỗ trợ vừa phải như là nhóm đơn ngành. Các nghiên cứu này cũng hỗ trợ mạnh tính đơn ngành của phần lớn các chi trong Acalyphoideae và sự tách ra của phân họ nhỏ thứ tư là Cheilosoideae . Các chi còn lại của Acalyphoideae và Crotonoideae được đặt trong vài nhánh nhỏ mà quan hệ của chúng với nhau và với phân họ thứ tư không được hỗ trợ tốt.
Một loạt các loài cây trong họ Đại kích có tầm quan trọng kinh tế đáng kể. Các loài cây đáng chú ý nhất là sắn ("Manihot esculenta"), thầu dầu ("Ricinus communis") và cao su ("Hevea brasiliensis"). Nhiều loài cây khác được trồng làm cây cảnh, chẳng hạn hoa trạng nguyên (hay nhất phẩm hồng, danh pháp "Euphorbia pulcherrima").
|
Tam quốc chí (giản thể: 三国志; phồn thể: 三國志; Wade-Giles: "Sanguo Chih"; bính âm: "Sānguó Zhì"), là một sử liệu chính thức và có căn cứ về thời đại Tam Quốc của Trung Quốc từ năm 189 đến năm 280, do Trần Thọ (陳壽) biên soạn vào thế kỉ thứ 3. Tác phẩm này hình thành từ các mẩu chuyện nhỏ kể về các nước Ngụy, Thục và Ngô của thời đại này, đồng thời là nền tảng cho cuốn tiểu thuyết lịch sử rất phổ biến là "Tam quốc diễn nghĩa" được viết vào thế kỉ 14. "Tam quốc chí" là một phần trong bộ Tiền tứ sử của tổng tập Nhị thập tứ sử, cùng với Sử ký, Hán thư và Hậu Hán thư.
Trần Thọ từng làm quan cho nhà Thục Hán, sau khi Thục Hán diệt vong, ông đến Lạc Dương làm quan cho nhà Tây Tấn. Trần Thọ đã căn cứ vào các sử liệu cơ bản như Ngụy thư của Vương Thẩm, Ngụy lược của Ngư Hoạ, Ngô thư của Vi Chiê, thuật lại lịch sử Trung Quốc từ khởi nghĩa Khăn Vàng vào cuối thời Đông Hán đến khi Tây Tấn thống nhất Trung Quốc, tức từ năm Trung Bình thứ nhất đời Hán Linh Đế (184) đến năm Thái Khang thứ nhất đời Tấn Vũ Đế (280). Tam quốc chí được chia làm 4 phần gồm 66 quyển: "Ngụy quốc chí" 30 quyển, "Thục quốc chí" 15 quyển, "Ngô quốc chí" 20 quyển, ngoài ra còn có 1 quyển "Tự lục" (lời tựa) nhưng đến nay đã bị thất truyền. Lúc đầu ba tác phẩm "Ngụy chí", "Thục chí" và "Ngô chí" tồn tại riêng rẽ, đến năm Hàm Bình thứ 6 thời Bắc Tống (1003) hợp nhất đổi tên thành "Tam quốc chí".
Lập trường chính trị.
Trần Thọ là quan nhà Tấn, do đó phải lấy triều đại đã nhường ngôi cho Tấn là Tào Ngụy làm chính thống.
Đồng thời để tôn trọng sự thống trị của nhà Tấn, Tam quốc chí không viết liệt truyện về các nhân vật Tư Mã Ý, Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu (do được Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm truy tôn là Tấn Tuyên Đế, Tấn Cảnh Đế, Tấn Văn Đế). Ngoài ra, tác giả cũng lược bỏ không viết liệt truyện về nhân vật Khổng Dung.
Bùi Tùng Chi chú thích.
Vào thời Đông Hán, sử học tiếp nhận ảnh hưởng từ trào lưu đơn giản hóa của kinh học nên xuất hiện trào lưu giản lược hóa các tài liệu lịch sử. Trong bối cảnh đó, đã xuất hiện "Tam quốc chí" của Trần Thọ với nội dung giản lược về thời đại Tam quốc. Sau khi Trần Thọ mất hơn trăm năm, nhiều sử liệu về thời Tam quốc xuất hiện, Tống Văn Đế thời Nam-Bắc triều thấy nội dung của Tam quốc chí quá sơ lược nên đã ra lệnh cho Bùi Tùng Chi chú thích. Bùi Tùng Chi đã tập hợp các sử liệu để bổ sung các phần mà Tam quốc chí không chép hoặc chép thiếu bằng 6 phương pháp:
Các tài liệu chủ yếu mà Bùi Tùng Chi sử dụng để chú giải Tam quốc chí có thể kể đến là:
Các tài liệu khác được Bùi Tùng Chi sử dụng để chú thích Tam quốc chí bao gồm:
Theo thống kê của một số học giả, thì số tư liệu mà Bùi Tùng Chi dùng để chú giải Tam quốc chí là khoảng 240 loại, gấp 3 lần so với nguyên bản Tam quốc chí. Mã Niệm Tổ trong tác phẩm "Thủy kinh chú đẳng bát chủng cổ tịch dẫn dụng thư mục vị biên" cho rằng số tư liệu mà Bùi Tùng Chi sử dụng là 203 loại. Hiện nay, theo thống kê bản hiệu đính Tam quốc chí tại Trung Hoa thư cục đã phát hiện phần chính văn của Trần Thọ có 366657 chữ và phần chú thích của Bùi Tùng Chi có 320799 chữ. Tống Văn Đế đương thời gọi công việc chú thích của Bùi Tùng Chi là "bất hủ". Các sử gia đời sau như Tư Mã Quang (thời Bắc Tống) khi biên soạn Tư trị thông giám đã tổng hợp các truyện ký trong Tam quốc chí của Trần Thọ và phần chú thích của Bùi Tùng Chi để miêu tả trận chiến Xích Bích.
Bản Tam quốc chí do Bùi Tùng Chi chú thích là bản thông dụng nhất hiện nay, còn gọi là "Trần chí, Bùi chú".
Các tác phẩm hậu thế bổ sung.
Tam quốc chí tập giải.
Lư Bật (1876 - 1967) đã tập hợp các phần chú thích, hiệu đính và khảo chứng Tam quốc chí của nhiều học giả ở các thời đại khác nhau, biên soạn thành "Tam quốc chí tập giải".
Thể loại và cấu trúc tác phẩm.
Tam quốc chí tuy gọi là "chí" nhưng thực chất chỉ có bản kỷ và liệt truyện chứ không chép gì về địa lý, kinh tế và chế độ chính trị.
Toàn bộ tác phẩm gồm 66 quyển như đã nói ở trên, cụ thể gồm có:
Ngoài ra còn có quyển 66: "Tự lục" (nay thất truyền).
Bản dịch tiếng Việt.
Trích dẫn tiêu biểu.
"Thời Vương dục hoàn, xuất lệnh viết"kê lặc", quan thuộc bất tri sở vị. Chủ bộ Dương Tu tiện tự nghiêm trang, nhân kinh vấn Tu:"Hà dĩ tri chi?""
"Tu viết:"Phù kê lặc, khí chi như khả tích, thực chi vô sở đắc, dĩ tỷ Hán Trung, tri Vương dục hoàn dã".
Khi Vương muốn rút về, mới ra lệnh rằng"kê lặc", các quan không hiểu ý gì. Quan chủ bộ là Dương Tu liền tự thu xếp hành trang, mọi người kinh ngạc hỏi Tu:"Làm sao ông biết?""
"Tu đáp:"Gân gà, bỏ đi thì tiếc, ăn vào thì không ra gì, lấy nó để ví với đất Hán Trung, biết Vương đã muốn lui rồi"" (時王欲還,出令曰「」,官屬不知所謂。主簿楊脩便自嚴裝,人驚問脩:「何以知之?」脩曰:「夫雞肋,棄之如可惜,食之無所得,以比漢中,知王欲還也。」
Tam quốc chí là chính sử ghi chép về thời Tam quốc của Trung Quốc, được xếp vào danh sách nhị thập tứ sử. Đương thời đại thần nhà Tấn là Trương Hoa đánh giá rất cao tác phẩm này. Sau khi Trần Thọ mất, Thượng thư lang Phạm Quân dâng biểu tâu rằng:
Lưu Hiệp, người thời Lương (Nam-Bắc triều) đánh giá Tam quốc chí của Trần Thọ như sau:
Thiếu sót lớn nhất của Tam quốc chí là chỉ có bản kỷ và liệt truyện, không có phần chí và biểu, do đó tác phẩm chủ yếu chép về các nhân vật thời Tam quốc chứ không chép về địa lý, kinh tế và chế độ chính trị. Tính khách quan của Trần Thọ khi viết sử cũng còn nhiều ý kiến phê bình khác nhau, như Tấn thư của Phòng Huyền Linh ghi lại rằng:
Lưu Tri Kỷ trong Sử thông, thiên "Trực thư" phê bình việc Trần Thọ không đề cập đến việc Tư Mã Ý gặp bất lợi khi tác chiến với Gia Cát Lượng và việc Tào Mao phát binh đánh Tư Mã Chiêu, bị Thành Tế giết:
Đường Canh, người thời Bắc Tống phê bình cách xưng hô quốc hiệu Thục Hán của Trần Thọ như sau:
Đường Canh còn ghi lại lời Vương An Thạch khuyên Âu Dương Tu biên soạn lại lịch sử thời Tam Quốc:
Tam quốc chí quyển 20: "Vũ Văn thế Vương Công truyện" có chép việc "Tào Xung cân voi", Hà Trác (người thời Thanh) nghi ngờ rằng việc này không chắc đã có thật:
Tam quốc chí quyển 30: "Ô Hoàn Tiên Ti Đông Di truyện" đã dựa vào các tư liệu từ Ngụy thư của Vương Thẩm và Ngụy lược của Ngư Hoạn để ghi chép về Nhật Bản - quốc gia ở phía đông Trung Quốc. Đây là sử liệu rất quan trọng ghi chép lịch sử Nhật Bản thời kỳ cổ đại.
Vào cuối thời Nguyên đầu thời Minh, La Quán Trung đã căn cứ vào các truyền thuyết dân gian, thoại bản, hý khúc cùng các tài liệu lịch sử là "Tam quốc chí" của Trần Thọ và "Tam quốc chí chú" của Bùi Tùng Chi để viết nên tác phẩm "Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa" (gọi tắt là "Tam quốc diễn nghĩa").
Tiểu thuyết này có ảnh hưởng rất lớn ở Trung Quốc và nhiều nước châu Á. Trong khi Tam quốc chí là chính sử, thì Tam quốc diễn nghĩa lại là tiểu thuyết văn học lịch sử, tác giả đã thêm thắt nhiều truyền thuyết, truyện kể dân gian để tăng thêm tính hấp dẫn; do đó Tam quốc diễn nghĩa có tính chất là "thất thực tam hư" (bảy phần thực, ba phần hư cấu), độ tin cậy về lịch sử dĩ nhiên không cao bằng Tam quốc chí.
|
Tế bào nội mô
Tế bào nội mô (tiếng Anh: "endothelial cell") có nguồn gốc từ lớp trung bì phôi. Các tế bào này lót mặt trong của tất cả các mạch máu trong cơ thể và tạo nên một lớp màng ngăn chống đông máu. Bên cạnh chức năng là một màng thấm chọn lọc, tế bào nội mô mạch máu có thể được coi là tế bào đa chức năng độc đáo có vai trò nội tiết cực kỳ quan trọng trong điều kiện sinh lý cũng như trong điều kiện bệnh lý. Tế bào nội mô phản ứng với các kích thích hóa học cũng như vật lý trong hệ tuần hoàn và điều hòa hằng định nội môi ("homeostasis"), trương lực mạch máu và các đáp ứng miễn dịch cũng như đáp ứng viêm. Ngoài ra tế bào nội mô còn có vai trò cực kỳ quan trọng trong các quá trình tạo mạch ("angiogenesis"). Ngày nay, nội mô (endothelium) không chỉ được xem là một cơ quan có chức năng vật lý đơn thuần mà là một cơ quan có chức năng cận tiết ("paracrine") và nội tiết ("endocrine") khổng lồ tham gia vào rất nhiều các quá trình khác nhau trong cơ thể như miễn dịch, đông máu, phát triển, điều hòa lưu lượng má("endothelium") chứa từ 1–6×1013 tế bào nội mô và có trọng lượng vào khoảng 1 kg.
Tổn thương tế bào nội mô, hoạt hóa hoặc rối loạn chức năng, là đặc trưng chính trong các tình trạng bệnh lý như xơ cứng mạch máu (atherosclerosis), mất chức năng thấm chọn lọc, huyết khối ("thrombosis") và đặc biệt là trong sinh lý bệnh của hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan ("Multiple Organ Dysfunction Syndrome", MODS) trong nhiễm trùng huyết và hội chứng đáp ứng viêm hệ thống ("Systemic Inflammatory Response Syndrome", SIRS).
|
Sữa mẹ là sữa tươi được tiết ra bởi các tuyến vú nằm trong vú của con người (thường là người mẹ đẻ) để nuôi con còn nhỏ (trẻ sơ sinh). Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng chính cho trẻ sơ sinh trước khi chúng có thể ăn và tiêu hóa các loại thực phẩm khác, trẻ sơ sinh lớn hơn và trẻ mới biết đi có thể tiếp tục được bú sữa mẹ nên kết hợp với thức ăn dặm cho trẻ bắt đầu từ sáu tháng tuổi.
Nuôi con bằng chính sữa từ bầu ngực của người mẹ là cách phổ biến nhất để tiếp nhận sữa mẹ, nhưng sữa có thể được bơm và sau đó được cho bú bằng bình sữa, cốc hoặc thìa, hệ thống nhỏ giọt bổ sung hoặc ống xông mũi. Ở những trẻ sinh non không có khả năng bú trong những ngày đầu đời, việc sử dụng cốc để bú sữa và các chất bổ sung khác được báo cáo chỉ ra mức độ và thời gian cho con bú tốt hơn sau đó so với bình và ống xông.
Sữa mẹ có thể được cung cấp từ một người phụ nữ khác không phải là mẹ đẻ của em bé, thông qua sữa được hiến tặng (từ ngân hàng sữa mẹ hoặc thông qua việc tặng sữa không chính thức), hoặc khi một phụ nữ nuôi con người khác bằng sữa của mình, một cách thức được gọi là nhũ mẫu. Tổ chức Y tế Thế giới khuyên người mẹ nên nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu đời, với thức ăn dặm dần dần được đưa vào giai đoạn này khi có dấu hiệu sẵn sàng. Nên cho con bú bổ sung cho đến khi ít nhất hai tuổi và tiếp tục miễn là mẹ và con muốn.
Nuôi con bằng sữa mẹ mang lại lợi ích sức khỏe to lớn cho mẹ và con ngay cả sau giai đoạn sơ sinh. Những lợi ích này bao gồm: tạo ra thân nhiệt riêng và phát triển mô mỡ, giảm 73% nguy cơ hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh, tăng trí thông minh, giảm khả năng mắc bệnh nhiễm trùng tai giữa, chống lại cúm và cảm lạnh, giảm nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở trẻ em, giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường khởi phát ở trẻ em, giảm nguy cơ hen suyễn và bệnh chàm, giảm các vấn đề về nha khoa, giảm nguy cơ béo phì sau này trong cuộc sống, và giảm nguy cơ phát triển rối loạn tâm lý, kể cả ở trẻ em được nhận nuôi, ngoài ra, cho trẻ ăn sữa mẹ có liên quan đến mức insulin thấp hơn và mức leptin cao hơn so với việc cho trẻ ăn bằng sữa bột. (Nguồn)
Nuôi con bằng sữa mẹ cũng mang lại lợi ích sức khỏe cho mẹ. Nó giúp tử cung trở lại kích thước trước khi mang thai và giảm chảy máu sau sinh, cũng như hỗ trợ người mẹ trở lại cân nặng trước khi mang thai. Cho con bú cũng làm giảm nguy cơ ung thư vú sau này trong đời. Cho con bú bảo vệ cả mẹ và con khỏi cả hai dạng của bệnh tiểu đường.
Cho con bú có thể bảo vệ trẻ sơ sinh khỏi bệnh tiểu đường típ 2 đặc biệt vì các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các thành phần hoạt tính sinh học trong sữa mẹ có thể ngăn ngừa tăng cân quá mức trong thời thơ ấu thông qua việc góp phần tạo cảm giác năng lượng và cảm giác no. Nguy cơ mắc bệnh tiểu đường khởi phát ở trẻ em thấp hơn có thể được áp dụng nhiều hơn cho trẻ sơ sinh được sinh ra từ các bà mẹ mắc bệnh tiểu đường. Lý do là bởi vì trong khi cho con bú ít nhất 6 tháng đầu đời sẽ giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tiểu đường típ 1 ở trẻ sơ sinh, việc cho con bú không đầy đủ ở trẻ sơ sinh bị phơi nhiễm trước khi mắc bệnh tiểu đường có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường sau này. Tuy nhiên, có thể lập luận rằng việc cho con bú của con người có thể góp phần vào tác dụng bảo vệ chống lại sự phát triển của bệnh tiểu đường típ 1 do thực tế là việc thay thế bú bình có thể khiến trẻ sơ sinh bị mất vệ sinh.)
Mặc dù hiện nay hầu như được quy định phổ biến, nhưng ở một số quốc gia trong những năm 1950, việc thực hành cho con bú đã trải qua giai đoạn không còn thịnh hành và việc sử dụng sữa bột trẻ em được coi là vượt trội so với sữa mẹ. Tuy nhiên, hiện nay mọi người đều công nhận rằng không có công thức thương mại nào có thể bằng sữa mẹ. Ngoài lượng thích hợp carbohydrate, protein và chất béo, sữa mẹ cung cấp các vitamin, khoáng chất, enzim tiêu hóa, và các hormone. Sữa mẹ cũng chứa kháng thể và tế bào lympho từ mẹ giúp bé chống lại nhiễm trùng. Chức năng miễn dịch của sữa mẹ được cá nhân hóa, khi người mẹ, thông qua việc chạm và chăm sóc em bé, tiếp xúc với mầm bệnh xâm nhập vào em bé, và do đó, cơ thể người phụ nữ tạo ra các kháng thể và tế bào miễn dịch thích hợp.
Tới khoảng bốn tháng tuổi, nguồn cung cấp sắt bên trong của trẻ sơ sinh, được giữ trong các tế bào gan trong cơ thể trẻ đã cạn kiệt. Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ khuyên rằng tại thời điểm này nên bổ sung chất sắt, tuy nhiên, các tổ chức y tế khác như Dịch vụ y tế quốc gia (NHS) tại Anh không có khuyến nghị như vậy. Sữa mẹ chứa ít chất sắt hơn sữa công thức, vì nó có sẵn sinh khả dụng hơn là lactoferrin, mang lại sự an toàn cho mẹ và con hơn so với sunfat sắt.
Cả hai tổ chức AAP và NHS khuyến nghị bổ sung vitamin D cho trẻ bú mẹ. Vitamin D có thể được tổng hợp bởi trẻ sơ sinh thông qua tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, tuy nhiên, nhiều trẻ sơ sinh bị thiếu do được giữ trong nhà hoặc sống ở khu vực không đủ ánh sáng mặt trời. Sữa công thức được bổ sung vitamin D vì lý do này.
Phản xạ tiết sữa.
Vú người mẹ không chứa nhiều sữa sẵn như vú bò cái. Khi cho con bú, sức mút của con tạo một phản xạ tại não mẹ cho ra hai kích thích tố prolactin và oxytocin. Prolactin kích thích tuyến tạo sữa tiết thêm sữa trong khi oxytoxin kích thích các tuyến này bóp sữa và đẩy sữa theo các mạch ra đầu núm vú. Do đó mà tính chất của sữa khi bắt đầu bú khác với tính chất của sữa sau khi đã bú một vài phút. Sữa đầu đặc hơn, có màu xanh xanh, nhiều chất đạm và lactose, ít mỡ. Sữa hậu có nhiều mỡ hơn. Sữa mẹ không hòa tan đồng đều, nên nếu lấy ra để và để lắng, sẽ phân ra chất béo đặc lên trên và chất lỏng như nước ở dưới.
Sữa mẹ có đầy đủ các chất mỡ, tinh bột, đạm, vitamin. Đặc biệt là:
So với sữa bột, dựa theo tiêu chuẩn sữa mẹ, các nhà sản xuất sữa bột cố gắng tạo sữa theo 1 công thức bao gồm các thành phần chất đạm, mỡ, tinh bột, sinh tố vitamin, chất khoáng và nước. Họ kết hợp nguyên liệu để sữa bột có chất dinh dưỡng với tỉ lệ gần giống sữa mẹ. Những nguyên liệu chính phần lớn lấy từ sữa bò, nhưng cũng có thể từ đậu nành hay các nguồn thực phẩm khác. Từ đó, họ cho thêm các chất khác vào, pha trộn cho thành phần sữa gần giống sữa mẹ. Sữa này người ta còn gọi là sữa công thức (infant formula). Sữa công thức không được khuyến khích dùng thay cho sữa mẹ. Tại Việt Nam, sữa công thức dành cho trẻ em dưới sáu tháng tuổi không được phép quảng cáo (ngoại trừ sữa đặc biệt dành cho trẻ bị suy dinh dưỡng nặng). Tất cả các quảng cáo sữa công thức và trên các hộp sữa đều phải có khuyến cáo: "Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ."
|
Lê Văn Hưu (chữ Hán: 黎文休;1230-1322) là một nhà sử học đời nhà Trần, tác giả bộ "Đại Việt sử ký", bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam. Bộ sách này không còn nhưng nhờ nó mà sử gia Ngô Sĩ Liên đã dựa vào để soạn bộ "Đại Việt sử ký toàn thư". Ông được cho là Bảng nhãn đầu tiên của Đại Việt, đỗ khi 17 tuổi, cùng khoa thi với trạng nguyên Nguyễn Hiền và thám hoa Đặng Ma La.
Lê Văn Hưu là người làng Phủ Lý (tên nôm là Kẻ Rị), huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nay thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Một giai thoại về Lê Văn Hưu thuở bé:
"Một hôm đi ngang qua lò rèn, thấy người ta đang làm những cái dùi sắt, Lê Văn Hưu muốn xin một cái để làm dùi đóng sách. Người thợ rèn thấy vậy, bèn ra một vế đối:"
- "Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi sắt."
"Lê Văn Hưu liền đối:"
- "Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi giành lấy khôi nguyên."
Năm Đinh Mùi (1247), niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình đời vua Trần Thái Tông; Lê Văn Hưu đi thi, đỗ Bảng nhãn khi mới 17 tuổi. Đây là khoa thi đầu tiên ở Việt Nam có đặt danh hiệu Tam khôi. Nguyễn Hiền 13 tuổi đỗ Trạng nguyên. Đặng Ma La 14 tuổi đỗ Thám hoa.
Sau khi thi đỗ, ông được giữ chức Kiểm pháp quan, rồi Binh bộ Thượng thư, sau đó được phong chức Hàn lâm học sĩ kiêm Giám tu quốc sử . Ông cũng là thầy học của Thượng tướng Trần Quang Khải.
Biên soạn sách Đại Việt sử ký.
Trong thời gian làm việc ở Quốc sử viện, theo lệnh vua Trần Thái Tông, Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu Lê Văn Hưu đã hoàn thành việc biên soạn "Đại Việt sử" (大 越 史) - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam - ghi lại những sự việc quan trọng chủ yếu trong một thời gian lịch sử dài gần 15 thế kỷ, từ Triệu Vũ đế - tức Triệu Đà - cho tới Lý Chiêu Hoàng. "Đại Việt sử ký", tất cả gồm 30 quyển, hoàn thành năm 1272 và được Trần Thánh Tông xuống chiếu ban khen.
Theo sử gia Trần Trọng Kim trong tác phẩm Việt Nam sử lược, bộ Đại Việt sử hay "Đại Việt sử ký" là bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam. Sau khi xâm lược Đại Ngu, nhà Minh đã đưa sách của nước Nam về Trung Quốc, trong đó có 30 quyển Đại Việt sử ký, những sách ấy đã thất lạc.
Trần Trọng Kim viếtː "Hai trăm năm mươi năm sau, sử quan Ngô Sĩ Liên, đời vua Lê Thánh Tông, soạn lại bộ Đại Việt sử ký chép từ họ Hồng Bàng đến vua Lê Thái Tổ. Nghĩa là từ ông Ngô Sĩ Liên, ở về thập ngũ thế kỷ trở đi, thì sử ta mới chép truyện về đời thượng cổ."
Đến nay bộ "Đại Việt sử ký" của Lê Văn Hưu không còn, nhưng những lời nhận xét của ông vẫn được ghi lại trong bộ "Đại Việt sử ký toàn thư", gồm 29 đoạn ghi: "Lê Văn Hưu viế". Trong bài tựa "Đại Việt sử ký ngoại kỉ toàn thư", Ngô Sĩ Liên viết: "Văn Hưu là người chép sử giỏi đời Trần, Phu Tiên là bậc cổ lão của thánh triều ta, đều vâng chiếu biên soạn lịch sử nước nhà, tìm khắp các tài liệu còn sót lại, tập hợp thành sách để cho người xem đời sau không có gì phải tiếc nữa, thế là được rồi."
Lê Văn Hưu mất ngày 23 tháng 3 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (tức 9 tháng 4 năm 1322), thọ 92 tuổi. Ông được an táng ở cánh đồng xứ Mả Giòm (ngôi mộ tọa Quý hướng Đinh), thuộc địa phận xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Hiện nay ở đó vẫn còn phần mộ với tấm bia dựng năm Tự Đức thứ 20 - 1867, khắc ghi tiểu sử và một bài minh ca tụng tài đức, sự nghiệp của ông.
Ở xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa, có Đền thờ Lê Văn Hưu. Ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh thành khác trên cả nước có đường đặt theo tên ông.
Năm 2022, kỷ niệm 700 năm ngày mất của Lê Văn Hưu, Bưu chính Việt Nam phát hành 01 mẫu tem có hình ảnh ông cùng tác phẩm Đại Việt Sử Ký.
|
Hội chứng mệt mỏi mãn tính
Hội chứng mệt mỏi kinh niên (tiếng Anh: "chronic fatigue syndrome", viết tắt CFS) cũng được gọi "myalgic encephalomyelitis" (viết tắt ME), hoặc là Myalgisk encefalopati là một tình trạng bệnh lý phức tạp, mệt mỏi, lâu dài được chẩn đoán bằng các triệu chứng và tiêu chí chính bắt buộc, thường bao gồm một loạt các triệu chứng. Phân biệt các triệu chứng cốt lõi là các đợt cấp kéo dài hoặc "bùng phát" bệnh sau hoạt động thể chất hoặc tinh thần nhỏ bình thường, được gọi là tình trạng khó chịu sau gắng sức (PEM); suy giảm đáng kể khả năng hoàn thành các công việc thường ngày trước khi bị bệnh; và rối loạn giấc ngủ. :7 Không dung nạp tư thế đứng (khó ngồi và đứng thẳng) và rối loạn chức năng nhận thức cũng được chẩn đoán. Các triệu chứng phổ biến khác có thể liên quan đến nhiều hệ thống cơ thể và đau mãn tính là thường xảy ra.
Trong khi nguyên nhân của bệnh này còn chưa được hiểu rõ, các cơ chế gây bệnh được đề xuất bao gồm căng thẳng sinh học, di truyền, truyền nhiễm và thể chất hoặc tâm lý ảnh hưởng đến sinh hóa của cơ thể. Chẩn đoán bệnh dựa trên các triệu chứng của bệnh nhân vì không có xét nghiệm chẩn đoán chính thức được xác nhận nào. Sự mệt mỏi trong hội chứng này không phải do gắng sức liên tục, không thuyên giảm nhiều khi nghỉ ngơi và không phải do tình trạng bệnh lý trước đó. Mệt mỏi là một triệu chứng phổ biến trong nhiều bệnh, nhưng tình trạng mệt mỏi không rõ nguyên nhân và mức độ nghiêm trọng của suy giảm chức năng ở hội chứng này tương đối hiếm ở những chứng bệnh khác.
Những người mắc bệnh này có thể phục hồi hoặc cải thiện theo thời gian, nhưng một số sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng và bị tàn tật trong một thời gian dài. Không có liệu pháp hoặc thuốc nào được chấp thuận để điều trị nguyên nhân gây bệnh; điều trị là nhằm vào triệu chứng học. CDC Hoa Kỳ khuyến nghị điều chỉnh nhịp độ (quản lý hoạt động cá nhân) để giữ cho hoạt động tinh thần và thể chất không làm cho các triệu chứng tồi tệ hơn. Bằng chứng hạn chế cho thấy rằng rintatolimod, tư vấn và tập thể dục được xếp loại đã giúp ích cho một số bệnh nhân.
Khoảng 1% bệnh nhân chăm sóc ban đầu bị hội chứng này; ước tính tỷ lệ mắc bệnh rất khác nhau vì các nghiên cứu dịch tễ học xác định bệnh không giống nhau. Người ta ước tính rằng 836.000 đến 2,5 triệu người Mỹ và 250.000 đến 1.250.000 người ở Vương quốc Anh có bệnh này. Hội chứng này xảy ra ở phụ nữ gấp 1,5 đến 2 lần so với nam giới. Nó thường ảnh hưởng đến người lớn từ 40 đến 60 tuổi; nó có thể xảy ra ở các lứa tuổi khác, kể cả thời thơ ấu. Các nghiên cứu khác cho thấy khoảng 0,5% trẻ em bị CFS và bệnh này phổ biến ở thanh thiếu niên hơn là ở trẻ nhỏ. :182 Hội chứng mệt mỏi mãn tính là nguyên nhân chính của việc học sinh nghỉ học. :183 Hội chứng này làm giảm sức khỏe, hạnh phúc và năng suất; nhưng có tranh cãi về nhiều khía cạnh của rối loạn. Các bác sĩ, nhà nghiên cứu và người bênh vực bệnh nhân quảng bá các tên gọi và tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau ; và bằng chứng về nguyên nhân và phương pháp điều trị được đề xuất thường là nghèo nàn hoặc mâu thuẫn nhau.
|
Trầm Tử Thiêng (1 tháng 10 năm 1937 - 25 tháng 1 năm 2000) là nhạc sĩ nhạc vàng tiêu biểu tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và cả sau này ở hải ngoại. Ông cũng viết nhạc thiếu nhi với bút hiệu Anh Nam.
Trầm Tử Thiêng tên thật là Nguyễn Văn Lợi, sinh ngày 1 tháng 10 năm 1937 tại Đại Lộc, Quảng Nam, nhưng trên giấy tờ ghi sinh năm 1940. Ông bắt đầu ca hát từ năm lên 10 ở các thôn quê miền Nam Việt Nam từ 1945 đến 1949. Sau đó, ông lên Sài Gòn học trung học.
Năm 1958, Trầm Tử Thiêng tốt nghiệp trường Sư phạm và bắt đầu dạy học.
Năm 1966, Trầm Tử Thiêng gia nhập Cục Tâm lý chiến thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Thời gian này ông viết các bản nhạc như: "Quân trường vang tiếng gọi", "Đêm di hành", "Mưa trên poncho". Sự kiện Tết Mậu Thân 1968, Trầm Tử Thiêng viết bài "Chuyện một chiếc cầu đã gãy" nói về cầu Trường Tiền bị giật sập. Năm 1970, ông viết "Tôn Nữ còn buồn" về trận bão tàn phá miền Nam. Ngoài ra, ông cũng tham gia vào phong trào Du ca Việt Nam.
Từ năm 1970, Trầm Tử Thiêng làm việc cho chương trình Phát Thanh Học Đường chung với Lê Thương, Hùng Lân, Vĩnh Bảo, Tống Ngọc Hạp, Xuân Điềm, Bảo Tố, Đắc Đă, ông sáng tác các bài nhạc thiếu nhi đề tài lịch sử, xã hội văn hóa để giáo dục cho học sinh tiểu học toàn quốc. Công việc chấm dứt khi xảy ra sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.
Sau nhiều lần vượt biên không thành, ông bị tù cải tạo một thời gian.
Năm 1985, sau khi ra tù, ông được ca sĩ Thanh Thúy bảo lãnh sang định cư tại Little Saigon, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Ông là cố vấn ban chấp hành Hội Ký giả Việt Nam Hải ngoại 2 nhiệm kỳ 1996 - 2000. Cuối năm 1999, ông cùng các bạn văn nghệ sĩ sáng tác lập Thư viện Việt Nam tại Little Saigon.
Ở Hoa Kỳ, ông cộng tác với Trung tâm Mây và Trung tâm Asia. Đặc biệt, Trầm Tử Thiêng đã cùng Trúc Hồ sáng tác nhiều ca khúc cho thể loại nhạc đồng ca như: "Bước chân Việt Nam", "Việt Nam niềm nhớ", "Một ngày Việt Nam", "Cám ơn anh"... và những tình khúc như "Cơn mưa hạ", "Đêm", "Đã qua thời mong chờ", "Tình đầu thời áo trắng"... Một bài hát khác của ông là "Đêm nhớ về Sài Gòn" viết năm 1987 cũng được nhiều người biết đến.
Tháng 8 năm 1996, Trầm Tử Thiêng viết "Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng" nhân sự kiện một làng Việt Nam được xây dựng ở Philippines dành cho người Việt lưu vong. Bài hát nổi tiếng với tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly.
Ngày 25 tháng 1 năm 2000, Trầm Tử Thiêng qua đời tại trung tâm y tế Anaheim Tây.
Năm 2007, Trung tâm Asia thực hiện chương trình Asia 54: Trầm Tử Thiêng Trúc Hồ / Bước Chân Việt Nam để vinh danh ông cùng nhạc sĩ Trúc Hồ.
Sáng tác riêng trước 1975.
|
Thuyết bất khả tri
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Thuyết bất khả tri (Tiếng Anh: "agnosticism") là quan điểm triết học cho rằng tính đúng hay sai của một số tuyên bố nhất định - đặc biệt là các tuyên bố thần học về sự tồn tại của Chúa Trời hay các vị thần - là chưa biết và không thể biết được hay không mạch lạc. Một số người theo thuyết bất khả tri suy diễn từ đó rằng các tuyên bố đó không liên quan đến ý nghĩa của cuộc sống.
Có lẽ nhà tư tưởng bất khả tri (hay hoài nghi) đầu tiên là Sanjaya Belatthiputta (Samjayin Vairatiputra), một người cùng thời với Phật Thích Ca Mâu Ni, như đã được ghi trong kinh Phật. Người ta kể rằng khi được hỏi có cuộc sống sau cái chết hay không ông đã trả lời là có thể có và có thể không, và từ chối phỏng đoán xa hơn.
Thuật ngữ "bất khả tri" ("agnosticism") được đưa ra năm 1869 bởi Thomas Henry Huxley (1825-1895), một nhà tự nhiên học người Anh, người đã lấy cảm hứng từ các tư tưởng của David Hume và Emmanuel Kant. Thuật ngữ này còn được dùng để miêu tả những người chưa bị thuyết phục hay cố tình chưa đưa ra quan điểm về sự tồn tại của các vị thần thánh cũng như các vấn đề tôn giáo khác.
Thuyết bất khả tri, khi tập trung vào những gì có thể biết, là một luận điểm nhận thức luận về bản chất và giới hạn của kiến thức con người; trong khi thuyết vô thần và thuyết hữu thần là các quan điểm bản thể học (một nhánh của siêu hình học nghiên cứu về các loại thực thể tồn tại). Không nên lẫn lộn thuyết bất khả tri với một cách nhìn đối lập với học thuyết về sự ngộ đạo và thuyết ngộ đạo - đây là các khái niệm tôn giáo nói chung không liên quan đến thuyết bất khả tri.
Những người theo thuyết bất khả tri có thể tuyên bố rằng không thể có tri thức tinh thần "tuyệt đối" hay "chắc chắn" hay, nói cách khác, rằng tuy những sự chắc chắn đó là có thể có nhưng cá nhân họ không có tri thức đó. Trong cả hai trường hợp, thuyết bất khả tri bao hàm một hình thức của chủ nghĩa hoài nghi đối với các khẳng định tôn giáo. Điều này khác với sự phi tín ngưỡng ("irreligion") đơn giản của những người không suy nghĩ về chủ đề này.
Thuyết bất khả tri khác với thuyết vô thần mạnh (còn gọi là "vô thần tích cực" - "positive atheism" hay "vô thần giáo điều" - "dogmatic atheism"). Thuyết này phủ nhận sự tồn tại của bất cứ thần thánh nào. Tuy nhiên, dạng vô thần phổ biến hơn - thuyết vô thần yếu - chỉ là sự không có mặt của đức tin vào thánh thần, không tương đương nhưng có tương thích với thuyết bất khả tri. Chủ nghĩa vô thần phê phán ("critical atheism") khẳng định cho rằng "Chúa Trời" hay "các vị thần" là các khái niệm có ý nghĩa, nhưng ta không có bằng chứng cho các khái niệm đó, do đó trong khi chờ đợi, ta phải chọn lập trường mặc định là không tin vào các khái niệm đó.
Một số ví dụ về khả năng:
- Con người không thể biết sự vật, hiện tượng nào đó có tồn tại không nếu không dùng giác quan cảm nhận hoặc đo đạc thông tin về vật, hiện tượng đó.
- Con người thậm chí có thể nhận những giác quan bị tác động bởi bên thứ ba (một vật, hiện tượng nào đó) sao cho con người không thể tìm thấy (tìm thấy ở đây là một dạng của một biểu hiện hay một hiện tượng trong triết học hiện đại) một nguyên tố mà ngành khoa học đang cần để lý giải thế giới chẳng hạn.
- Những khám phá lớn về vật lý thường được con người đo đạc qua những cỗ máy tinh vi, tuy nhiên, việc nhìn qua 1 màn hình để nói hiện tượng gì tồn tại hoặc không là một lỗ hổng dễ nhận thấy, và tất nhiên ảnh hưởng đến cả ngành khoa học.
|
Văn Phụng (tên đầy đủ: Nguyễn Văn Phụng, 1930 – 1999) là một trong những nhạc sĩ sáng tác ca khúc tiêu biểu của nền tân nhạc Việt Nam. Hoạt động nghệ thuật của ông tại Việt Nam trước sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 trải dài từ trước năm 1954 trong thời kỳ của dòng nhạc tiền chiến. Trong vai tròn một nhạc sĩ hòa âm, Văn Phụng được xem như một trong những nhạc sĩ hòa âm xuất sắc của miền Nam Việt Nam.
Ông sinh năm 1930, quê tại tỉnh Nam Định, trong một gia đình bốn anh em mà ông là thứ hai.
Thời nhỏ, ông cùng gia đình chuyển lên Hà Nội sinh sống. Ông là một học sinh xuất sắc tại trường. Ông theo bậc tiểu học tại trường Louis Pasteur, bậc trung học ở trường Albert Sarraut. Năm 16 tuổi, sau khi tốt nghiệp tú tài, Văn Phụng theo học ngành y thể theo ý muốn của cha ông nhưng chỉ được một năm là ông bỏ học để theo âm nhạc.
Bước vào âm nhạc.
Nhờ học dương cầm từ nhỏ lại thêm được sự chỉ dạy từ của hai giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng, năm 15 tuổi Văn Phụng đã đoạt giải nhất độc tấu dương cầm trong cuộc tuyển lựa tại Nhà hát Lớn Hà Nội với nhạc phẩm "La Prière d'une vierge" ("Lời cầu nguyện của trinh nữ") của Tekla Bądarzewska-Baranowska.
Năm 1946, trong một lần chạy loạn về Nam Định, Văn Phụng trú tại nhà thờ Tứ Trùng ở chợ Cồn và gặp linh mục Mai Xuân Đình. Vị này đã chỉ dạy cho ông về âm nhạc và giáo lý.
Năm 1948, Văn Phụng quay về Hà Nội. Theo lệnh tổng động viên của Pháp, ông gia nhập Ban Quân nhạc Đệ tam tiểu đoàn danh dự. Chính ở đây, Văn Phụng đã quen với những người mà về sau cũng trở thành những nhạc sĩ nổi tiếng của miền Nam như Nhật Bằng, Đan Thọ, Nguyễn Hiền, Văn Khôi, Vũ Thà, ông được nhạc trưởng người Pháp gốc Đức tên Schmetzer chỉ dẫn cho về hòa âm.
Năm 1948 cũng là năm Văn Phụng sáng tác ca khúc đầu tay "Ô mê ly" trong một lần vui đùa ca hát cùng bạn bè trong ban Quân Nhạc. Ông thường trình diễn nhạc phẩm này tại những vũ trường ở Hà Nội. Bài hát đã được hoan nghênh đón nhận và kể từ đó tên tuổi Văn Phụng được giới yêu nhạc chú ý. Về sau "Ô mê ly" còn nổi tiếng cùng tiếng hát nhóm bạn thân của ông là ban hợp ca Thăng Long với Thái Thanh, Phạm Đình Chương. Những năm thập niên 2000, ca sĩ Ánh Tuyết cũng thường trình diễn nhạc phẩm này.
Cuối năm 1954, Văn Phụng di cư vào Nam và trở thành nhạc trưởng của Đài Phát thanh Quân đội thuộc Nha Chiến tranh Tâm lý Việt Nam Cộng hòa, đồng thời phụ trách chương trình ca nhạc trên Đài Phát thanh Sài Gòn.
Văn Phụng đã sáng tác trên sáu mươi ca khúc, trong số đó có rất nhiều nhạc phẩm đặc sắc như: "Bức họa đồng quê", "Trăng sơn cước", "Yêu", "Tôi đi giữa hoàng hôn", "Mưa", "Tiếng dương cầm", "Giấc mộng viễn du", "Tình"... Những bài như "Suối tóc" hay "Mưa trên phím ngà" là do ông viết riêng tặng ca sĩ Châu Hà.
Dù được xem như là một trong số các nhạc sĩ theo trường phái nhạc cổ điển Tây phương nhưng Văn Phụng cũng viết những bản nhạc âm hưởng dân ca như "Trăng sáng vườn chè" (phổ thơ Nguyễn Bính), "Các anh đi" (thơ Hoàng Trung Thông), "Đêm buồn" (lấy ý ca dao), "Nhớ bến Đà Giang"...
Ông còn hòa âm cho nhiều băng đĩa nhạc và được xem như một trong những nhạc sĩ hòa âm xuất sắc nhất của Sài Gòn trước năm 1975 cùng với Nghiêm Phú Phi, Lê Văn Thiện và Y Vân.
Năm 1978, gia đình Văn Phụng vượt biển đến Malaysia. Sau 5 đến 6 tháng ở đây, gia đình ông qua định cư tại California, Hoa Kỳ.
Năm 1994, Trung tâm Thúy Nga thực hiện băng "Paris By Night 27: Văn Phụng – Tiếng hát với cung đàn" để vinh danh các tác phẩm của ông.
Ngày 17 tháng 12 năm 1999, ông qua đời do biến chứng của bệnh tiểu đường.
Ông có hai người con gái là Nguyễn Thị Hà Châu (Tina Văn Phụng) và Nguyễn Thị Hồng Hoa với người vợ thứ hai là ca sĩ Châu Hà. Ngoài ra, ông còn có 5 người con với người vợ trước.
|
Phân loại họ Đại kích
Bài này đưa ra phân loại đầy đủ nhất của họ Đại kích (Euphorbiaceae), phù hợp với các nghiên cứu di truyền ở mức phân tử mới nhất.
Họ phức tạp này trước đây bao gồm 5 phân họ: Acalyphoideae, Crotonoideae, Euphorbioideae, Oldfieldioideae và Phyllanthoideae. Ba phân họ đầu tiên là các phân họ đơn noãn (một noãn) trong khi hai phân họ sau là đôi noãn (hai noãn).
Hiện nay, họ Euphorbiaceae cũ đã bị tách ra thành 5 họ như sau:
Dưới đây là phân loại của họ Euphorbiaceae theo nghĩa mới (nghĩa hẹp).
Trước đây là tông Cheiloseae của phân họ Acalyphoideae: Có 2 chi
|
Họ Óc chó hay họ Hồ đào (danh pháp khoa học: Juglandaceae) là một họ thực vật có hoa bao gồm các loại cây thân gỗ trong bộ Dẻ ("Fagales"). Họ này có 9 chi, bao gồm nhiều loại cây có giá trị thương mại trong việc cung cấp các loại hạt giống như hạt dẻ là óc chó, hồ đào pêcan và mạy châu.
Các đặc trưng chung của tất cả các chi là các lá to hình lông chim, mọc so le, dài khoảng 20–100 cm, hoa dạng hoa đuôi sóc thụ phấn nhờ gió và quả là loại quả hạt dẻ thực thụ về mặt thực vật học.
Phát sinh chủng loài.
Phát sinh chủng loài phân tử gợi ý về các mối quan hệ như sau:
|
Anna Eleanor Roosevelt /ˈɛlɪnɔr ˈroʊzəvɛlt/ (11 tháng 10 năm 1884 – 7 tháng 11 năm 1962) là chính khách Mỹ, từng là Đệ Nhất Phu nhân Hoa Kỳ, từ năm 1933 đến 1945 để cổ xuý kế hoạch New Deal của chồng, Tổng thống Franklin D. Roosevelt, cũng như vận động cho quyền công dân. Sau khi Roosevelt từ trần, bà tự gây dựng sự nghiệp cho mình trong cương vị của một tác giả và diễn giả, ủng hộ Liên minh New Deal, bà cũng được xem như là phát ngôn nhân cho các quyền con người. Bà là nhà tiên phong trong phong trào ủng hộ nữ quyền (dù chống đối Tu chính án Quyền Bình đẳng), là người kiến tạo một hình mẫu mới cho vai trò Đệ Nhất Phu nhân. Roosevelt hoạt động tích cực trong nỗ lực hình thành nhiều định chế, đáng kể nhất là Liên Hợp Quốc, Hiệp hội Liên Hợp Quốc và Nhà Tự do. Bà chủ toạ uỷ ban soạn thảo và chuẩn thuận Bản Tuyên ngôn Nhân quyền. Tổng thống Harry S. Truman gọi bà là Đệ Nhất Phu nhân của Thế giới, nhằm tôn vinh người phụ nữ đặc biệt này vì những chuyến du hành đưa bà đến nhiều nơi trên thế giới để vận động cho quyền con người.
Anna Eleanor Roosevelt chào đời tại nhà số 56 Đường 37 Tây, Thành phố New York, con của Elliott Roosevelt và Anna Eleanor Hall, cũng là cô cháu yêu và cháu đỡ đầu của Tổng thống Theodore Roosevelt. Gia đình của Eleanor là hậu duệ của Claes Martenszen van Rosenvelt, di cư đến New Amsterdam (Khu Manhattan) từ Hà Lan trong thập niên 1640. Cháu nội của ông, Johannes và Jacobus, là tộc trưởng các chi phái Oyster Bay và Hyde Park ở New York thuộc gia tộc Roosevelt. Eleanor là hậu duệ của Johannes trong khi chồng của bà, Franklin, thuộc chi Jacobus.
Cựu tổng thống Theodore Roosevelt là người thay mặt người cha chăm sóc cô gái sau này trở thành Đệ Nhất Phu nhân Hoa Kỳ. Bà không chịu sử dụng tên Anna Eleanor trừ khi để ký chi phiếu và các văn kiện chính thức khác, nhưng luôn thích được gọi với tên Eleanor. Bà cũng là hậu duệ, về họ ngoại, của William Livingston, người đã ký tên vào Hiến pháp Hoa Kỳ.
Sau khi cha mẹ qua đời, cô bé Anna Eleanor được nuôi dưỡng bởi bà ngoại, một phụ nữ tính khí lạnh lùng, trong một ngôi nhà theo nề nếp nghiêm nhặt ở Đại lộ Newbridge (nay là Đại lộ East Meadow) ở East Meadow, New York. Mặc dù vẫn được chiều chuộng bởi bác Theodore, Eleanor cảm thấy mình xung khắc với người chị cả, Alice Roosevelt.
Nhờ sự khuyến khích của cô Anna "Bamie" Roosevelt, em gái của Theodore Roosevelt, Eleanor đến học tại một trường nữ sinh nội trú ở Anh từ năm 1899 đến 1902. Tại đây, cô gái trẻ chịu ảnh hưởng sâu đậm và bền bỉ từ cô hiệu trưởng, "Mademoiselle" Marie Souvestre. Souvestre đặc biệt yêu thích các lý tưởng tự do, thường có Eleanor bên cạnh trong những chuyến du hành khắp Âu châu cũng như khi nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ và văn chương. Trong thời gian này, nảy nở trong lòng Eleanor một sự quan tâm bền vững về lý tưởng công bằng xã hội, cùng tri thức và sự chững chạc cần thiết để có thể trình bày quan điểm của mình cách khúc triết với sức thuyết phục. Eleanor kể tên Souvestre trong số ba nhân vật có ảnh hưởng lớn trên cuộc đời cô. Ở trường, Eleanor thoát khỏi vỏ ốc đã từng giam hãm tuổi thơ của cô trong cô đơn, và cho cô cơ hội phát triển cả trong hai phương diện tình cảm và học thuật. Đến thời điểm phải từ giã trường học để trở về New York, người đỡ đầu của Eleanor, Cô Souvestre, đã làm hết sức mình để chuẩn bị cho cô gái trẻ trước khi trả cô về với thế giới riêng của dòng họ Roosevelt thuộc chi phái Hyde Park.
Năm 1902, Eleanor tình cờ gặp người chú họ của mình, Franklin Delano Roosevelt, sinh viên Đại học Harvard, để bắt đầu đến với nhau trước khi đính hôn vào tháng 11 năm 1903. Sara Delano Roosevelt, mẹ của FDR, kịch liệt chống đối cuộc hôn nhân và thành công trong nỗ lực dời hôn lễ lại đến 16 tháng.
Vào ngày lễ Thánh Patrick (17 tháng 3) năm 1905, Eleanor kết hôn với Franklin D. Roosevelt; Tổng thống Theodore Roosevelt thay mặt cha của cô dâu dẫn cô đến với người chồng tương lai. Ngay sau đám cưới, bà mẹ chồng lập tức tìm cách kiểm soát cuộc sống của đôi vợ chồng trẻ. Bà chọn nhà cho họ, cách nhà bà ba khu phố, trang trí và mua sắm nội thất cũng như thuê mướn người phục vụ trong nhà theo ý bà.
Ngoại trừ thời gian hạnh phúc ban đầu, cuộc hôn nhân bị tổn thương sâu sắc bởi mối tình nảy nở giữa Franklin và thư ký xã hội của Eleanor, Lucy Mercer (sau này là bà Lucy Mercer Rutherfurd) trong khi Eleanor vẫn phải tiếp tục mối quan hệ đầy sóng gió với bà mẹ chồng độc đoán, Sara Delano Roosevelt. Tuy nhiên, khi Franklin muốn li dị vợ để đến với Lucy, Sara đã phản đối kịch liệt bằng cách dọa sẽ tước quyền thừa kế tài sản của Franklin. Cuộc hôn nhân tiếp tục đến khi Franklin qua đời, nhưng tình cảm của vợ chồng Franklin không thể hàn gắn được như ban đầu. Eleanor đã trở nên độc lập hơn so với trước khi việc ngoại tình xảy ra. Với chiều cao 5’10’’ (177,8 cm), bà mẹ chồng chỉ chịu thua nàng dâu 2 inch (5,08 cm) về chiều cao.
Đệ Nhất Phu nhân và Hoa Kỳ.
Suốt trong nhiệm kỳ tổng thống của Franklin Roosevelt, Eleanor nói nhiều về Phong trào Dân quyền Mỹ và về quyền của người Mỹ gốc Phi. Mặc dù FDR không tỏ ra tích cực với lý tưởng dân quyền vì cần sự ủng hộ của đảng viên Dân chủ miền Nam (công khai ủng hộ phân biệt chủng tộc) để thúc đẩy những vấn đề khác trong nghị trình, chính nhờ mối quan hệ của Eleanor với cộng đồng người Mỹ gốc Phi đã giúp Franklin Roosevelt giành được nhiều phiếu.
Năm 1939, ca sĩ opera Marian không được phép trình diễn tại Constitution Hall ở Washington, Eleanor đã sắp xếp cho Anderson trình diễn trên những bậc thềm của Đài Tưởng niệm Lincoln trước đám đông khán giả lên đến 70.000 người, chưa kể hàng triệu thính giả trên toàn quốc trực tiếp nghe cô hát qua sóng phát thanh.
Eleanor chống lại quyết định của chồng khi ông ký sắc lệnh quản thúc 110.000 người Nhật Bản và công dân Mỹ gốc Nhật trong những trại quản chế đặt ở miền Tây. Năm 1943, cùng với Wendell Willkie và những người Mỹ khác quan ngại về những mối đe doạ cho hoà bình và dân chủ trong Chiến tranh thế giới thứ hai, bà ra sức vận động thành lập Nhà Tự do ("Freedom House").
Eleanor nhận được những số tiền lớn nhờ những hoạt động quảng cáo. Văn phòng Cà phê hãng hàng không Pan-American, được hỗ trợ bởi tiền thuế từ tám chính phủ nước ngoài, trả cho Eleanor mỗi tuần 1.000 USD tiền quảng cáo. Khi Bộ Ngoại giao phát hiện chuyện Đệ Nhất Phu nhân được các chính phủ ngoại quốc trả tiền quá hậu hĩnh đã tìm cách ngăn chặn hợp đồng này nhưng không thành công.
Rời toà Bạch Ốc.
Sau khi tổng thống Roosevelt từ trần năm 1945, bà lui về sống ở lãnh địa Hyde Park trong ngôi nhà Val-Kill mà chồng bà đã cho thiết kế lại cho bà, toạ lạc kế cận ngôi nhà chính.
Trước đó là một xưởng nhỏ sản xuất hàng trang trí nội thất cho công ty Val-Kill Industries, ngôi nhà Van-Kill cống hiến cho Eleanor cuộc sống biệt lập bà cần có trong suốt nhiều năm. Đối với bà, ngôi nhà giống như một nơi ẩn náu khỏi bà mẹ chồng độc đoán và áp chế, Sara Delano Roosevelt (Faber 1983). Ở đây bà tổ chức những buổi gặp mặt trong vòng bạn bè. Địa điểm này nay là Trung tâm Roosevelt tại Val-Kill, được quyên tặng cho "Niềm tin của Eleanor Roosevelt, đó là người ta có thể nâng cao phẩm chất cuộc sống qua những hành động có mục đích, lập nền trên sự đối thoại giữa những người thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau, tập trung chú ý vào những nhu cầu đa dạng của xã hội".
Sau Thế chiến Thứ hai, Eleanor Roosevelt, cùng với René Cassin, John Peters Humphrey, và những người khác, thủ giữ vai trò tích cực trong tiến trình soạn thảo Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hợp Quốc và là chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc (Glendon 2000). Đêm 28 tháng 11 năm 1948, Eleanor Roosevelt gọi bản Tuyên ngôn là "Hiến chương quốc tế của toàn thể nhân loại" (James 1948). Tuyên ngôn nhận được sự phê chuẩn đồng thuận của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào ngày 10 tháng 12 năm 1948 (Kenton 1948). Đây là thành quả rực rỡ nhất của Eleanor Roosevelt.
Từ thập niên 1920 cho đến khi qua đời năm 1962, Eleanor vẫn tiếp tục dính líu vào các vấn đề chính trị. Bà chống đối Tu chính án Quyền Bình đẳng vì cho rằng tu chính án này ngăn cản Quốc hội và các tiểu bang thông qua những đạo luật bảo vệ đặc biệt, theo quan điểm của bà, là cần thiết cho giới nữ công nhân.
Vấn đề Công giáo.
Trong tháng 7 năm 1949, thái độ không rõ ràng của Eleanor đối với người Công giáo tại Hoa Kỳ gây ra một cuộc đối đầu giữa bà với Hồng y Francis Spellman, Tổng Giám mục New York. Trong những bài báo của mình, Eleanor đả kích các đề án sử dụng trợ cấp liên bang cho các hoạt động không tôn giáo (như vận chuyển bằng xe buýt) dành cho học sinh các trường học Công giáo. Spellman chỉ ra rằng gần đây Tối cao Pháp viện đã tán thành các hỗ trợ như thế, và cáo buộc Eleanor có lập trường chống Công giáo. Nhưng vì đa số đảng viên Dân chủ ủng hộ Eleanor Roosevelt nên Spellman đã đến gặp bà tại nhà riêng ở Hyde Park để giải hoà. Tuy vậy, Eleanor vẫn kiên trì quan điểm cho rằng các trường học Công giáo – cũng giống giáo hội - là không hoàn toàn dân chủ, vì vậy không nên nhận trợ cấp liên bang. Không như chồng bà, Eleanor không được tín hữu Công giáo ưa thích.
New York và chính trường quốc gia.
Năm 1954, ông chủ của tổ chức Tammany Hall (một guồng máy chính trị thuộc Đảng Dân chủ, hoạt động tích cực ở thành phố New York từ thập niên 1790 đến thập niên 1960), Carmine DeSapio, vận động chống lại con trai của Eleanor, Franklin D. Roosevelt, Jr., trong cuộc chạy đua tranh chức bộ trưởng Tư pháp tiểu bang New York, và đánh bại Roosevelt, Eleanor qui trách nhiệm cho DeSapio và ngày càng tỏ ra khinh miệt đối với tư cách chính trị của DeSapio trong suốt những năm còn lại của thập niên 1950.
Dần dà, bà kết hợp với nhóm bạn cũ như Herbert Lehman và Thomas Finletter thành lập Ủy ban Cử tri Dân chủ New York, vận động đẩy mạnh tiến trình dân chủ bằng cách chống đối kế hoạch tái thiết tổ chức Tammany. Cuối cùng, họ cũng thành công và đến năm 1961 DeSapio bị buộc phải rời bỏ quyền lực.
Eleanor Roosevelt là bạn thân của Adlai Stevenson và nhiệt liệt ủng hộ ông trong nỗ lực trở nên ứng cử viên tổng thống Đảng Dân chủ vào những năm 1952 và 1956. Khi Tổng thống Truman ủng hộ Thống đốc bang New York, W. Averell Harriman, một đồng minh thân tín của Carmine DeSapio, đại diện Đảng Dân chủ tranh chức tổng thống, Eleanor Roosevelt tỏ vẻ thất vọng nhưng vẫn tiếp tục ủng hộ Stevenson, sau cùng Stevenson đã giành được sự đề cử. Bà ủng hộ Stevenson một lần nữa trong năm 1960, nhưng lần này John F. Kennedy giành được sự đề cử của Đảng Dân chủ.
Eleanor Roosevelt là người chịu trách nhiệm thành lập Công viên Quốc tế Roosevelt Campobello rộng 2.800 acre (11 km²) tại Đảo Campobello, New Brunswick, vào năm 1964, nguyên là lãnh địa mùa hè của Roosevelt tặng chính phủ Canada và chính phủ Hoa Kỳ.
Eleanor Roosevelt là người thích nói thẳng về nhiều vấn đề khác nhau, tiếp tục kích động thế giới với những lời bình phẩm và cung cách bày tỏ quan điểm của bà, ngay cả khi đã đến tuổi 70.
Eleanor Roosevelt giỏi bắn cung, là một trong những phụ nữ hiện đại đầu tiên tham gia vào môn thể thao săn bắn bằng cung tên. Tài bắn cung của bà được miêu tả trong các tác phẩm của những nhà thiện xạ đương thời như Fred Bear, Howard Hill và Saxton Pope như là nữ thần Diana của thế kỷ XX. Những câu chuyện về những chuyến đi săn của Eleanor Roosevelt luôn được công chúng đón nhận dù chúng không giúp ích gì nhiều cho lý tưởng giải phóng phụ nữ: để tuân thủ những định kiến hẹp hòi vào lúc ấy, các câu chuyện kể của Eleanor Roosevelt được xuất bản dưới một bút danh của nam giới "Chuck Painton" để tránh xúc phạm số lượng độc giả phái nam đông đảo của tờ tạp chí.
Năm 1961, một tuyển tập gồm toàn bộ sách tiểu sử của bà được phát hành dưới tên Tiểu sử Eleanor Roosevelt, vẫn tiếp tục được ấn hành cho đến nay.
Eleanor Roosevelt sống thêm gần 20 năm sau khi chồng qua đời. Bà mắc bệnh lao tuỷ xương, tái phát sau lần nhiễm bệnh năm 1919, và từ trần tại chung cư của bà ở Manhattan vào chiều tối ngày 7 tháng 11 năm 1962, hưởng thọ 78 tuổi.
Eleanor được an táng bên cạnh chồng, Franklin D. Roosevelt, ở Hyde Park, New York ngày 10 tháng 11 năm 1962. Sự ngưỡng mộ của công chúng dành cho bà lớn đến nỗi đã có một tranh vẽ tưởng niệm bà thể hiện hình ảnh hai thiên sứ nhìn xuống một khoảng trống giữa các đám mây, với hàng chữ "Bà ấy đang ở đây" mà không cần một lời chú thích nào.
Bà Roosevelt luôn trung thành với "Bác Ted", dù ông đã mất bốn mươi năm. Còn lại trong các đồ dùng riêng tư của bà là thẻ hội viên Hiệp hội Theodore Roosevelt.
Sau khi Eleanor mất, con trai bà, Elliot Roosevelt, viết một chuỗi truyện hư cấu, "Bí mật các vụ sát nhân", trở nên sách bán chạy nhất, trong đó bà thủ vai một thám tử giúp cảnh sát phá án, trong khi là Đệ Nhất Phu nhân. Các địa điểm thật và các nhân vật nổi tiếng có thật vào thời ấy đã được đem vào sách.
Năm 1968, bà được trao tặng Giải Nhân quyền của Liên Hợp Quốc. Sau khi bà mất, có một cuộc vận động trao giải thưởng Nobel Hoà bình cho bà, nhưng cho đến nay mới chỉ có một người được trao tặng giải này sau khi qua đời.
Theo thăm dò của Viện Gallup, Eleanor Roosevelt đứng hàng thứ chín trong số các nhân vật được ngưỡng mộ nhất trong thế kỷ XX.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Sarah Ann McLachlan, OC, OBC (sinh ngày 28 tháng 1 năm 1968) là nhạc sĩ, ca sĩ và nhà soạn nhạc người Canada. Cô là người sáng lập Lilith Fair, một tour ca nhạc tôn vinh các nghệ sĩ nữ vào cuối thập niên 1990.
Sarah McLachlan, tên đầy đủ là Sarah Ann McLachlan, sinh ngày 28 tháng 1 năm 1968, được nhận làm con nuôi tại một gia đình ở Halifax, Nova Scotia, Canada. Từ khi còn nhỏ, Sarah đã thích học hát, chơi piano và guitar. Năm 17 tuổi, Sarah được mời tham gia với ban nhạc October Game. Tại buổi trình diễn đầu tiên của nhóm tại Đại học Dalhousie, cô được Teddy Mcbride của hãng đĩa Nettwerk mời ký hợp đồng thu âm. Nhưng do sự ngăn cản của cha mẹ, Sarah đã dành 2 năm kế tiếp học và tốt nghiệp tại Nova Scotia College of Art and Design trước khi chính thức chuyển đến Vancouver, British Columbia thu âm album đầu tay "Touch". Album này phát hành năm 1988 đã mang lại thành công đầu tiên tại quê nhà. Một số single được phát hành từ album này là "Vox", "Steaming" và bản ballad đầy cảm động "Ben's Song", bài hát cô viết cho Ben, một cậu bé mà Sarah đã chăm sóc lúc còn nhỏ, qua đời vì bệnh ung thư.
Sarah phát hành tiếp album thứ hai, "Solace", vào năm 1991, album này mang lại thành công lớn cho cô tại quê nhà, với hai hit single: "Path of Thorns (terms)" và "Into The Fire". Cũng như "Touch", album này không được thành công tại các nước khác cho đến khi Sarah phát hành album thứ ba, "Fumbling Towards Ecstasy", vào tháng 11 năm 1993, sản xuất bởi Pierre Marchand, album này nhanh chóng trở thành một hit lớn tại Cananda. Với "Fumbling Towards Ecstasy", Sarah bắt đầu giành được thành công đáng kể tại các nước ngoại quốc, đặc biệt là Mỹ.
Năm 1997 tiếp tục hợp tác với Pierre Marchand, Sarah phát hành album thứ tư, "Surfacing", cùng với sự thành lập tour diễn Lilith Fair, một festival thành công nhất của thập niên 1990, tập hợp hầu hết các nghệ sĩ nữ có tên tuổi thời bấy giờ. Lilith Fair kéo dài đến hết năm 1999 vòng quanh các bang lớn nhỏ tại Mỹ, góp lại hơn $7 triệu cho các tổ chức từ thiện.
Ngày 7 tháng 2 năm 1997 Sarah cưới Ashwin Sood, người chơi trống cho cô tại Negrill, Jamaica. Thời gian dài nghỉ ngơi dành cho gia đình của cô chứng kiến sự kiện khủng bố tại Mỹ vào tháng 9 năm 2001, cái chết của mẹ cô vào tháng 12 năm 2001 do căn bệnh ung thư, và sự ra đời của đứa con gái đầu lòng, India, vào ngày 6 tháng 4 năm 2002. Những sự kiện trên đều ảnh hưởng đến Sarah và những tâm sự của cô đều được truyền đạt trong album sau đó.
Sau một thời gian dài vắng bóng Sarah trở lại với album thứ năm, "Afterglow", phát hành vào cuối năm 2003. Album và cuộc tour diễn Afterglow Live mang lại thành công lớn cho Sarah tại Mỹ và quê hương Canada.
Năm 1994 Sarah bị kiện bởi Uwe Vandrei, một người quá hâm mộ viết nhiều bức thư có nội dung quá đà về tình cảm của anh với Sarah. Uwe nói rằng Sarah đã dựa vào những bức thư đó viết lời cho hit single "Possession". Tuy nhiên Uwe đã tự sát trước khi vụ kiện được mang ra xét xử. Sau này, khi Sarah giải thích về ý nghĩa của bài hát, cô nói rằng cố viết bài hát vì cô muốn hiểu tại sao Uwe Vandrei lại có cảm xúc mãnh liệt với cô như vậy. Lời bài hát thể hiện tình cảm của người sắp mất đi người mà mình yêu thương. Bài hát là single đầu tiên phát hành từ "Flumbling towards Ecstasy".
Năm 1999 McLachlan và hãng đĩa Nettwerk bị kiện bởi Darryl Neudorf, một nhạc sĩ ở Vancouver. Daryl nói rằng anh đã góp phần lớn trong việc viết lời nhạc cho "Touch" những không được đền đáp và nhắc đến. Tất nhiên Sarah thắng kiện.
|
Đốt sách chôn nho
Đốt sách chôn Nho (chữ Hán: 焚書坑儒; bính âm: "Fénshūkēngrú"; Hán-Việt: "Phần thư khanh nho") là sự kiện Tần Thủy Hoàng cho đốt bỏ nhiều loại sách vở và chôn sống nhiều nho sĩ, diễn ra vào năm 213-212 TCN. Mục tiêu là để loại bỏ hết các tư tưởng, học thuyết tồn tại trong thời Xuân Thu Chiến Quốc (gọi là Bách gia chư tử), chỉ độc tôn thuyết Pháp gia phục vụ cho sự thống trị của vua chúa nhà Tần.
Tần Thủy Hoàng thống nhất lục quốc, không phong đất lập chư hầu để tránh lặp lại chuyện các nước đánh nhau. Có người nước Tề là Thuần Vu Việt lấy chuyện lục khanh chia đất Tấn, họ Điền cướp ngôi Tề để đề xin hoàng đế theo phép xưa mà lập chư hầu trong tông thất làm phên dậu. Lời tâu này bị Lý Tư phản bác. Lý Tư cho rằng chuyện nhiều người lấy chuyện xưa phê phán chuyện nay, lấy cái học riêng của nhà mình mà chê bai pháp luật của nhà vua sẽ khiến uy thế vua giảm sút, bè đảng nổi lên, làm nhiễu loạn thiên hạ. Lý Tư nhân đó xin hủy bỏ hết sách vở của trăm nhà, trừ sách thuốc, sách bói, sách trồng cây. Ai muốn học phải lấy quan lại nhà Tần làm thầy. Ai không nghe thì bị thích chữ và đày đi làm lính.
Thủy Hoàng nghe theo lời của Lý Tư, cho tịch thu hết các sách Kinh thi, Kinh thư, sách của bách gia, chỉ để lại các sách nêu trên, và không cho dùng chuyện xưa để chê bai việc thời nay. Các sách vở của trăm nhà không bị đốt bỏ hoàn toàn mà bản sao vẫn được cho lưu trữ trong tàng thư của triều đình, quan lại nhà Tần vẫn được phép giữ bên mình. Tuy nhiên sau này khi nhà Tần đổ, cung điện bị quân khởi nghĩa thiêu hủy, nhiều sách vở của Bách gia lưu trữ trong tàng thư cũng chịu chung số phận.
Lý Tư chỉ trích giới trí thức đang dùng dối trá để tạo ra phản loạn. Tần Thủy Hoàng tin vào triết học của Pháp gia và muốn tiêu diệt những triết học khác như Bách Gia Chư Tử hay Nho giáo.
Thêm vào đó, năm 212 TCN, Tần Thủy Hoàng phát hiện ở Hàm Dương có một số nho sinh đã từng bình phẩm về mình liền hạ lệnh bắt đến thẩm vấn. Các nho sinh không chịu nổi tra khảo, lại khai ra thêm một loạt người. Tần Thủy Hoàng hạ lệnh đem tất cả trên 460 nho sinh đó chôn sống ngoài thành Hàm Dương.
Sự sụp đổ của nhà Tần thường được cho là do chính sách này. Trong nhà Hán được hình thành sau khi nhà Tần sụp đổ, Nho giáo được phục hồi và trở thành quốc giáo, nhưng nhiều tư tưởng khác đã bị biến mất.
Câu "đốt sách chôn nho" đã trở thành một thành ngữ trong văn học Trung Hoa. Nhà thơ nhà Đường Chương Kiệt (章碣, "zhang jié") đã viết một bài thơ có câu:
Khanh hôi vị lãnh Sơn Đông loạn
Lưu Hạng nguyên lai bất độc thư
Trước khi hầm tro lạnh, Sơn Đông đã nổi loạn
Lưu Bang và Hạng Vũ đều không đọc sách được
|
Song Hào (20 tháng 8 năm 1917 - 9 tháng 1 năm 2004) là một Thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội, Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Chủ tịch lâm thời Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Ông tên thật là Nguyễn Văn Khương, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1917 tại làng Quảng Hán, xã Yên Hùng, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa (hồi ký "những năm tháng đã qua" của Thượng Tướng Song Hào). Nguyên quán: làng Trung Nghĩa, xã Hào Kiệt (nay là xã Liên Minh), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936 trong Phong trào Mặt trận bình dân. Năm 1937, ông phụ trách tổ chức Ái hữu thợ thêu, Thanh niên dân chủ (sau này là Mặt trận phản đế) tại quê hương.
Tháng 4 năm 1939, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử làm Thư ký Ban Thường trực Liên đoàn Lao động Hà Nội và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội.
Đầu năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam và kết án 7 năm tù, lưu đày qua các nhà tù Nam Định, Hà Nội, Sơn La, Hòa Bình, Chợ Chu. Năm 1943, ông được chỉ định làm Bí thư chi bộ tại nhà tù Chợ Chu. Tháng 8 năm 1944, ông vượt ngục khỏi nhà tù Chợ Chu về vùng Tuyên Quang, Thái Nguyên hoạt động, được chỉ định làm Chính trị viên Đội tuyên truyền Cứu quốc quân hoạt động ở các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên.
Tháng 12 năm 1944, ông được chỉ định làm Bí thư Khu căn cứ Nguyễn Huệ. Tháng 8 năm 1945, ông được cử làm đại biểu đi dự Đại hội quốc dân tại Tân Trào. Sau đó ông phụ trách Cứu quốc quân cướp chính quyền tại hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang.
Công tác chính trị trong quân đội.
Sau Cách mạng tháng 8, ông là Xứ ủy viên Bắc Kỳ của Kỳ bộ Việt Minh, phụ trách liên tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên.
Tháng 12 năm 1947, ông là Chính ủy Liên khu 10, Khu ủy viên, Bí thư Quân khu ủy.
Đến năm 1950, ông là Chính ủy khu Tây Bắc, Bí thư Ban cán sự bộ đội tình nguyện vùng Thượng Lào.
Năm 1951, ông là Chính ủy Đại đoàn 308, Bí thư Đại đoàn ủy.
Tháng 5 năm 1955, ông được giao công công tác xây dựng quân đội chính quy và được cử làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ủy viên Tổng Quân ủy.
Năm 1959, ông được phong quân hàm Trung tướng trong đợt phong hàm chính quy đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (cùng được phong Trung tướng đợt này còn có các tướng Nguyễn Văn Vịnh, Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà).
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần III (năm 1960), lần IV (năm 1976) và lần V (tháng 3-1982) của Đảng, ông được bầu làm ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng.
Ông được cử giữ chức ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, Trưởng ban kiểm tra Quân ủy trung ương (khóa III). Được Ban chấp hành Trung ương cử vào Ban Bí thư (khóa IV), phân công làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương.
Tháng 3 năm 1961, ông được cử giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (thay cho tướng Nguyễn Chí Thanh vào Nam), kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó bí thư Quân ủy trung ương.
Ông được thăng quân hàm Thượng tướng năm 1974 (vẫn cùng các tướng Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà).
Sau 1975, ông vẫn tiếp tục công tác trong quân đội cho đến tháng 4 năm 1982.
Khi chuyển sang công tác chính quyền, ông được phân công giữ chức Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội đến tháng 2 năm 1987.
Từ tháng 2 năm 1990 đến tháng 12 năm 1992, ông được chỉ định làm Chủ tịch lâm thời Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Ông đã được bầu làm đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa IV và khóa VI.
Ông qua đời lúc 1 giờ 22 ngày 9 tháng 1 năm 2004 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Hà Nội, hưởng thọ 87 tuổi. Lễ tang của ông được Nhà nước tổ chức lễ tang với nghi thức lễ tang cấp Nhà nước, an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà nội.
|
Các nước ACP là các nước ký kết Công ước Lomé. ACP là từ viết tắt tiếng Anh của "Châu Phi, Ca-ri-bê, và Thái bình dương" ("Africa, Caribbean, Pacific").
Công ước Lomé ra đời tại Lomé, Togo, vào năm 1975. Công ước được ký kết dựa trên ý muốn của châu Âu muốn có một sự tự đảm bảo đối với nguồn cung cấp nguyên liệu thô từ các nước khác, và nhằm duy trì một vị thế có lợi tại các thị trường nước ngoài. Nó cũng xuất phát một phần từ ý thức trách nhiệm của châu Âu đối với các thuộc địa cũ của nó.
Công ước Lomé là một chương trình hợp tác đầy hoài bão giữa 15 nước của Liên minh châu Âu và 71 nước ở Châu Phi, Caribbean, và khu vực Thái bình dương. Nó dựa chủ yếu trên một hệ thống thuế quan ưu đãi giúp các nước này tiếp cận được với thị trường Châu Âu và các quỹ đặc biệt nhằm bình ổn giá các mặt hàng nông sản và khai khoáng.
Công ước Lomé được thay thế bằng Hiệp định Cotonou, được ký tại Bénin vào tháng 6 năm 2000. Một trong những điểm khác biệt cơ bản của Hiệp định này với Công ước Lomé là tư cách đối tác được mở rộng cho các tổ chức phi chính phủ, khu vực tư nhân, công đoàn, chính quyền địa phươ, được tiếp cận với các nguồn tài chính, cũng như được tham gia vào việc thực hiện các chương trình.
Nhiều quốc đảo có diện tích nhỏ tham gia Công ước Lomé. Tại sửa đổi Công ước Lomé lần thứ tư vào năm 1995 tại Mauritius, Công ước Lomé có sự chú trọng đặc biệt đến những quốc đảo như vậy:
"Đối với những nước không có biển và những quốc đảo, hợp tác phải nhằm tới việc đưa ra và khuyến khích những hoạt động cụ thể giải quyết được vấn đề chậm phát triển bắt nguồn từ vị trí địa lý của những nước này."
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Natasha Bedingfield (sinh ngày 26 tháng 11 năm 1981) là một ca sĩ hát nhạc pop người Anh, và là em gái của ca sĩ Daniel Bedingfield. Đĩa đơn đầu tay của cô mang tên "Single" (phát hành năm 2004), được tiếp theo với bài hát "These Words" phát hành tiếp sau đó. Và các album "Unwritten", "Pocketful of Sunshine" được phát hành và đã mang lại cho Bedingfield một số thành công đáng kể. Cô cũng được đề cử một giải Grammy cho "Nữ ca sĩ trình diễn Pop" xuất sắc nhất" năm 2006.
Natasha Bedingfield sinh tại Lewisham, phía đông-nam Luân Đôn. Bố mẹ cô là người New Zealand và làm công tác từ thiện. Natasha sống trong một gia đình rất yêu âm nhạc. Natasha biết chơi hai loại nhạc cụ là piano và guitar.
Sự nghiệp âm nhạc.
Để chứng tỏ ý định kinh doanh của mình, Natasha đã dành nhiều thời gian ở Mỹ. Hiện cô đang thực hiện tour quảng cáo 4 tuần và sẽ tạm thời chuyển tới Los Angeles vào tháng 9 tới. "Mọi người cần chứng kiến sự thay đổi của tôi theo thời gian", nghệ sĩ người Anh này nói. "Với toàn bộ nội dung, hình ảnh và những lần quảng cáo trên truyền hình ngày nay, mọi người nghĩ họ luôn bị điều khiển. Tôi muốn họ hiểu rằng với tôi họ thực sự được chia sẻ".
Một lần Natasha đưa những cuốn băng "demo" của mình tới Phonogenic. Hãng thu âm này, có ấn tượng sâu sắc cả về âm nhạc và quan điểm đặc biệt của cô, đã quyết định ký hợp đồng. Natasha tới ngay Los Angeles trong 6 tháng để sáng tác và thu âm. Đĩa đơn đầu tiên của cô với tên gọi "Single", đã xuất hiện ngay trên các bảng xếp hạng Anh, vì vậy Natasha làm tiếp đĩa đơn thứ hai, "These Words". "Unwritten", single thứ ba đầy cảm hứng cô dành cho sinh nhật thứ 14 của cậu em trai Joshua. Tháng 9 năm đó, Natasha ra mắt album đầu tay, "Unwritten". Tháng 10/2004, "Unwritten" đã đạt được đĩa bạch kim.
Năm 2005, hãng Epic vừa phát hành Unwritten tại Mỹ, những người dân Mỹ say mê nhạc pop sẽ được biết tới "sự chia sẻ thực sự" này. Trong lần ra mắt đầu tiên tại Mỹ, album có sự thay đổi nhỏ. Các ca khúc "Stumble" và "The One That Got Away" thay cho "I'm a Bomb" và "Frogs and Princes", trong khi "These Words" được hoà âm lại. Ngoài ra, trong "Drop Me in the Middle" có sự kết hợp cùng nữ nghệ sĩ rap Estelle (thay cho Bizarre của nhóm D12), người được đánh giá cao trong nghệ thuật ứng tác. Natasha, cùng anh trai Daniel và Keith Naftaly - phó chủ tịch AR của hãng Sony Music - đã cải biên lại album cho phù hợp với thị hiếu khán giả Mỹ. Trong nhiều tháng kể từ lần phát hành này, Bedingfield tâm sự cô có nhiều thời gian hơn để chứng tỏ mình. "Ngay lúc xuất phát, bạn đặt chân vào một đôi giày hoàn toàn không thích hợp. Nhưng sau đó bạn học được cách làm thế nào để có thể đi được. Năm nay, với sự khởi đầu đầy tươi sáng tại Mỹ, chắc chắn đôi giày đó hoàn toàn xứng hợp với tôi". Trên phạm vi thế giới, "These Words", với phong cách hip hop đầy hứng thú, đã vươn lên vị trí dẫn đầu tại 12 quốc gia. Là single đứng đầu tại Mỹ, hit này đứng trong top 20 trên bảng xếp hạng Mainstream Top 40 của Billboard và tiếp tục vươn cao lên Pop 100, Pop 100 Airplay và tổng sắp Billboard Hot 100. Nhạc phẩm này đồng thời có tên trong top 10 ca khúc pop download tại dịch vụ iTunes của hãng Apple Computer. Bất chấp những gì sẽ có thể xảy ra trong tương lai, Natasha cảm thấy cô đã tiến khá xa: "Với một người Anh tới từ hòn đảo nhỏ, thật hồi hộp khi chứng kiến mọi người phản ứng ra sao với ca khúc của mình tại Mỹ. Với tôi, đó thực sự là điều quan trọng". Natasha Bedingfield được xem là mẫu phụ nữ hiểu rõ mình là ai và mình muốn gì. Là em gái của ngôi sao nhạc pop Daniel Bedingfield, Natasha đã không thua kém anh mình khi cô chinh phục sân khấu âm nhạc năm 2004 với các đĩa đơn "Single", "These Words" và "Unwritten". và i cant fly
Không đếm xỉa tới thành công của mình, Natasha vẫn chưa đính hôn cùng ai. "Trái với những gì một số tạp chí phụ nữ có thể kể với bạn", cô nói, "bạn vẫn chưa được coi là hoàn thiện nếu bạn thiếu một anh chà, độc thân vẫn là lý tưởng". Natasha Bedingfield tin rằng vẻ đẹp quyến rũ là tất cả những gì hoàn mỹ và hấp dẫn nhất, nhưng điều đó chẳng có nghĩa gì nếu bạn "thiếu đi vẻ đẹp tâm hồn". Cô cũng phần nào tự tin vào khả năng sẽ thực hiện được tất cả những khao khát của chính mình.
Tại giải MTV châu Âu, Natasha Bedingfield đã giành giải "Nghệ sĩ Anh và Ireland xuất sắc nhất". Cô được yêu cầu trình diễn trong "Top of the Pops" tại lễ trao giải BRIT Awards và MTV Europe Music Awards. Natasha bộc lộ sự quan tâm tới âm nhạc rất sớm. Daniel và em gái Nikola đã chia sẻ niềm đam mê cùng Natasha, và ba anh em nhà Bedingfield đã thành lập nhóm nhạc của riêng mình, nhóm DNA Algorithm, khi họ đều ở tuổi teen. Nhưng với riêng Natasha, âm nhạc vẫn là sở thích hàng đầu. Đắn đo giữa việc theo đuổi nghệ thuật hay nghiên cứu chuyên sâu về tâm lý tại trường, Natasha quyết định chọn tâm lý học. Sau hai năm cân nhắc giữa học tập và âm nhạc, Natasha rời khỏi trường đại học và dành toàn bộ thời gian sáng tác ca khúc. Chuyên tâm mài giũa kỹ năng guitar và piano, Natasha viết các bài hát và thu âm tại phòng thu của một số người bạn cô trong niềm hy vọng xây nên một hợp tuyển ca khúc có thể đưa tới một hãng thu âm. Trong khi chờ đợi, anh trai cô đã trở thành một ngôi sao nhạc pop, còn Natasha, với tài năng của mình được khích lệ từ tấm gương của anh trai, có nhiều cơ hội tiếp xúc trong ngành công nghiệp âm nhạc.
|
Brunei (phiên âm: "Bru-nây") hay trang trọng hơn là Brunei Darussalam; tên chính thức là Nhà nước Brunei Darussalam (, chữ Jawi: ), là một quốc gia có chủ quyền nằm ở bờ biển phía bắc của đảo Borneo tại Đông Nam Á. Ngoại trừ dải bờ biển giáp biển Đông, quốc gia này hoàn toàn bị bang Sarawak của Malaysia bao quanh. Huyện Limbang của bang Sarawak phân chia Brunei thành hai phần. Đây là quốc gia có chủ quyền duy nhất nằm hoàn toàn trên đảo Borneo, Malaysia và Indonesia phân chia phần lãnh thổ còn lại của đảo.
Lịch sử chính thức của quốc gia cho rằng Brunei có thể có bắt đầu từ thế kỷ VII, khi nó là một thuộc quốc tên là P'o-li của Đế quốc Srivijaya có trung tâm trên đảo Sumatra. Sau đó, nước này trở thành chư hầu của Đế quốc Majapahit có trung tâm trên đảo Java. Brunei trở thành một vương quốc hồi giáo vào thế kỷ thứ XIV, dưới quyền vị quốc vương (sultan) mới cải sang Hồi giáo là Muhammad Shah.
Vào thời kỳ đỉnh cao của Vương quốc Brunei, Sultan Bolkiah (trị vì 1485–1528) kiểm soát các khu vực phía bắc của đảo Borneo, bao gồm Sarawak và Sabah ngày nay, cũng như quần đảo Sulu ở ngoài khơi mũi đông bắc của Borneo, Seludong (Manila ngày nay), và các đảo ở ngoài khơi mũi tây bắc của Borneo. Đoàn thám hiểm Magellan của Tây Ban Nha viếng thăm quốc gia hàng hải này vào năm 1521, và Brunei chiến đấu chống lại Tây Ban Nha trong chiến tranh Castille vào năm 1578.
Vương quốc Brunei bắt đầu suy sụp; và đến thế kỷ XIX thì Sultan của Brunei nhượng lại Sarawak cho James Brooke để báo ơn người này vì công giúp đỡ dập tắt một cuộc nổi dậy và phong cho Brooke làm rajah; và nhượng lại Sabah cho Công ty Đặc hứa Bắc Borneo của Anh Quốc. Năm 1888, Brunei trở thành một lãnh thổ bảo hộ của Anh Quốc và một Thống sứ Anh Quốc được bổ nhiệm trong vai trò người quản lý thuộc địa vào năm 1906. Sau khi bị Nhật Bản xâm chiếm trong Chiến tranh thế giới thứ hai, một hiến pháp mới được thảo ra vào năm 1959. Năm 1962, một cuộc nổi dậy vũ trang chống lại chế độ quân chủ bị dập tắt với sự giúp đỡ của người Anh.
Brunei giành được độc lập từ Anh Quốc vào ngày 1 tháng 1 năm 1984. Quốc gia này trải qua quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong thập niên 1970 và 1990, đạt mức tăng trưởng bình quân 5.6%/năm trong giai đoạn từ 1999 đến 2008. Brunei hiện nay là một quốc gia công nghiệp mới. Quốc gia này trở nên thịnh vượng nhờ các mỏ dầu và khí đốt thiên nhiên có trữ lượng lớn. Brunei có chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức rất cao, xếp thứ 2 trong số các quốc gia Đông Nam Á chỉ sau Singapore, đồng thời được phân loại là một nước phát triển. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Brunei xếp hạng 5 thế giới về thu nhập bình quân đầu người theo sức mua tương đương. IMF cũng ước tính rằng vào năm 2011, Brunei là một trong hai quốc gia có nợ công ở mức 0% trong quy mô GDP danh nghĩa. Tạp chí Forbes cũng xếp hạng Brunei là quốc gia giàu thứ 5 trên thế giới.
Theo truyền thuyết, Brunei do "Awang Alak Betatar" thành lập. Ông đi từ Garang, một nơi tại huyện Temburong đến cửa sông Brunei, phát hiện ra Brunei. Theo truyền thuyết, trong lúc đổ bộ thì ông kêu lên "Baru nah!" ("chỗ đó"), tên gọi "Brunei" bắt nguồn từ đó.
Tên gọi được đổi thành "Barunai" vào thế kỷ XIV, có thể là do ảnh hưởng từ tiếng Phạn "#đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
" (), nghĩa là đại dương hay là "quan nhiếp chính của đại dương" thần thoại. Từ "borneo" cũng có cùng nguồn gốc. Tên đầy đủ của quốc gia, ', ' () nghĩa là "chốn hòa bình", trong khi "" nghĩa là "quốc gia" trong tiếng Mã Lai.
Lịch sử ban đầu.
Do thiếu vắng các bằng chứng khác, các học giả thuyết minh lịch sử ban đầu của Brunei dựa trên việc diễn giải từ các bản văn Trung Quốc. Các tư liệu Trung Quốc từ thế kỷ thứ VI đề cập đến một quốc gia được gọi là P’o-li () trên vùng bờ biển tây bắc của đảo Borneo. Trong thế kỷ thứ VII, các ghi chép Trung Hoa và Ả Rập đề cập đến một địa điểm được gọi là "Vijayapura" (), được cho là do các thành viên vương thất Phù Nam thành lập. Họ được cho là đổ bộ lên bờ biển tây bắc của Borneo cùng một số tùy tùng của mình. Sau khi chiếm Bà Lợi, họ đổi tên lãnh thổ thành 'Vijayapura', nghĩa là 'chiến thắng' trong tiếng Phạn). Năm 977, các ghi chép Trung Hoa bắt đầu sử dụng thuật ngữ "Po-ni" () thay vì Vijayapura để đề cập đến Brunei.
Năm 1225, một viên quan của nhà Tống là Triệu Nhữ Quách (趙汝适) ghi lại trong Chư Phiên chí (諸蕃志) rằng Bột Nê Quốc có 100 chiến thuyền đề bảo vệ ngành mậu dịch của mình, và có nhiều vàng tại vương quốc. Một ghi chép vào năm 1280 mô tả rằng Bột Nê Quốc kiểm soát một diện tích lớn trên đảo Borneo.
Đến thế kỷ XIV, Bột Nê Quốc trở thành một nước chư hầu của Majapahit, mỗi năm phải nộp 40 cân long não. Năm 1369, người Sulu tấn công Bột Nê Quốc, cướp bóc châu báu vàng. Một hạm đội từ Majapahit thành công trong việc đánh đuổi người Sulu, song Bột Nê Quốc trở nên yếu kém hơn sau cuộc tấn công này. Một ghi chép của Trung Quốc vào năm 1371 mô tả Bột Nê Quốc nghèo nàn và hoàn toàn chịu kiểm soát của Majapahit.
Sức mạnh của Vương quốc Brunei lên đến đỉnh điểm từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, khi thế lực của nước này trải rộng từ bắc bộ Borneo đến Nam bộ Philippines. Đến thế kỷ XVI, Hồi giáo đã bén rễ vững chắc tại Brunei, và quốc gia đã xây dựng một trong những thánh đường Hồi giáo lớn nhất của mình. Năm 1578, một lữ khách người Tây Ban Nha tên là Alonso Beltrán mô tả nó cao năm tầng và được xây trên nước.
Chiến tranh với Tây Ban Nha.
Thế lực của người châu Âu dần khiến cho một cường quốc khu vực đi đến hồi kết, Brunei bước vào một thời kỳ suy yếu kết hợp với xung đột nội bộ do xung đột kế vị trong vương thất. Nạn hải tặc cũng gây thiệt hại cho vương quốc. Tây Ban Nha tuyên chiến vào năm 1578, tiến công và chiếm được thủ đô khi đó của Brunei là Kota Batu. Điều này một phần là kết quả của việc hai quý tộc Brunei là Pengiran Seri Lela và Pengiran Seri Ratna yêu cầu giúp đỡ, Pengiran Seri Lela trước đó đi đến Manila- trung tâm thuộc địa của Tây Ban Nha trong khu vực, đề nghị Brunei trở thành nước triều cống cho Tây Ban Nha để đổi lấy sự giúp đỡ nhằm đòi lại vương vị bị người anh/em là Saiful Rijal chiếm lấy.
Vào tháng 3 năm 1578, hạm đội Tây Ban Nha bắt đầu đi từ Manila đến Brunei dưới sự lãnh đạo của Đề đốc De Sande. Đội quân viễn chinh gồm có 400 người Tây Ban Nha, 1.500 người Philippines bản địa và 300 người Borneo. Người Tây Ban Nha xâm chiếm kinh đô vào ngày 16 tháng 4 năm 1578, với sự giúp đỡ của Pengiran Seri Lela và Pengiran Seri Ratna. Sultan Saiful Rijal và Paduka Seri Begawan Sultan Abdul Kahar buộc phải chạy đến Meragang rồi Jerudong. Tại Jerudong, họ lên các kế hoạch nhằm đuổi quân xâm lăng ra khỏi Brunei. Quân của Tây Ban Nha chịu cảnh tử vong cao do bùng phát dịch tả hoặc lỵ, rồi quyết định từ bỏ Brunei và trở về Manila vào ngày 26 tháng 6 năm 1578, sau 72 ngày. Trước khi rút đi, họ đốt thánh đường Hồi giáo-một cấu trúc có năm tầng mái.
Các tường thuật bản địa tại Brunei có khác biệt lớn so với quan điểm được công nhận rộng rãi về sự kiện. Theo đó, sự kiện gọi là Chiến tranh Castille được nhìn nhận như một chương anh hùng, theo đó người Tây Ban Nha bị đẩy lui bởi Bendahara Sakam, được công khai là một người anh em của Sultan cầm quyền, và một nghìn chiến binh bản địa. Hầu hết các sử gia xem đây là một tường thuật anh hùng dân gian, mà có lẽ được phát triển trong các thập niên hoặc thế kỷ sau đó.
Trong thời gian trị vì của Sultan Muhammad Ali (1660-1661), có một bất đồng giữa con trai của Sultan là Pengiran Muda ("Vương tử") Bongsu và Pengiran Muda Alam- con trai của Pengiran Abdul Mubin về kết quả của một trận đá gà mà Pengiran Muda Bungsu thua. "Pengiran Muda" Alam chế nhạo Vương tử về việc thua cuộc. Vương tử Bongsu nổi cơn thịnh nộ và sát hại "Pengiran Muda" Alam rồi chạy trốn khỏi hiện trường.
Abdul Mubin cùng bộ hạ sát hại Sultan Muhammad Ali nhằm báo thù, Abdul Momin sau đó tự lập mình làm Sultan và chọn hiệu "Sultan Hakkul Abdul Mubin". Ông cố gắng xoa dịu các bộ hạ của Sultan tiền nhiệm bằng việc bổ nhiệm cháu trai của Muhammad Ali là Muhyiddin làm "Bendahara" ("Tể tướng") mới. Tuy nhiên, sau một thời gian, những người ủng hộ Muhammad Ali thực hiện trả thù bằng cách thuyết phục Bendahara Muhyiddin đứng lên chống lại Abdul Mubin. Bendahara Muhyddin ban đầu từ chối, song sau đó lại đồng ý. Những người ủng hộ Muhyiddin bắt đầu tạo nhiễu loạn. Sultan Abdul Hakkul Momin sau đó chuyển cung điện của mình đến Pulau Chermin theo lời khuyên của Muhyiddin với ý định chờ cho đến khi cuộc khủng hoảng kết thúc.
Tuy nhiên, sau khi Sultan Abdul Hakkul Mubin rời đi, Muhyiddin tự tuyên bố mình là Sultan. Một trận chiến giữa hai người xảy ra sau đó, cuộc nội chiến Brunei bùng nổ. Trong Nội chiến, Sultan Abdul Hakkul Mubin chạy đến Kinarut, ông ở đó trong 10 năm, đẩy lui các cuộc tiến công liên tiếp của Sultan Muhyiddin. Đội quân của Sultan Muhyiddin trở về Brunei sau khi thất bại trong một cuộc tấn công quyết định. Muhyiddin lo ngại rằng nội chiến kéo dài quá lâu và đề nghị Sultan của Sulu cử binh giúp đỡ. Muhyiddin hứa sẽ trao vùng đất phía đông Sabah để báo ơn giúp đỡ của Sulu. Muhyiddin cuối cùng giành được thắng lợi năm 1673, Sultan Abdul Hakkul Mubin bị giết trong nội chiến.
Anh Quốc can thiệp.
Người Anh nhiều lần can thiệp vào công việc của Brunei, họ tiến công Brunei vào tháng 7 năm 1846 trong một cuộc xung đột nội bộ tranh giành ngôi Sultan.
Trong thập niên 1880, Vương quốc Brunei tiếp tục suy yếu, Sultan trao vùng đất mà nay là Sarawak cho James Brooke vì có công giúp ông đàn áp một cuộc nổi dậy và cho phép James Brooke thành lập Vương quốc Sarawak. Theo thời gian, Brooke và các cháu trai của người này thuê hoặc sáp nhập thêm nhiều đất đai. Brunei mất đi phần lớn lãnh thổ của mình cho Vương quốc Sarawak.
Sultan Hashim Jalilul Alam Aqamaddin thỉnh cầu người Anh giúp ngăn chặn nhà Brooke xâm lấn hơn nữa. "Hiệp định Bảo hộ" do Hugh Low dàn xếp và được ký có hiệu lực vào ngày 17 tháng 12 năm 1888. Hiệp định ghi rằng Sultan "không thể nhượng hay cho thuê bất kỳ lãnh thổ nào cho thế lực ngoại bang mà không có sự tán thành của Anh Quốc"; cho phép Anh Quốc kiểm soát thực sự công việc đối ngoại của Brunei, biến Brunei thành một lãnh thổ bảo hộ của Anh Quốc. Tuy nhiên, đến khi Vương quốc Sarawak thôn tính vùng Pandaruan vào năm 1890, người Anh lại không tiến hành hành động nào để ngăn chặn. Người Anh không nhìn nhận Brunei hay Vương quốc Sarawak là 'ngoại quốc' (theo Hiệp định Bảo hộ). Lần sáp nhập cuối cùng này của Sarawak khiến cho Brunei chỉ còn lại vùng lãnh thổ nhỏ bé bị phân làm hai phần như hiện nay.
Các thống sứ Anh Quốc được đưa đến Brunei theo Thỏa thuận Bảo hộ Bổ sung vào năm 1906. Các thống sứ tham mưu cho Sultan trên tất cả các vấn đề quản lý. Theo thời gian, Thống sứ nắm giữ nhiều quyền hành chính hơn là Sultan. Hệ thống thống sứ kết thúc vào năm 1959.
Phát hiện ra dầu.
Dầu được phát hiện vào năm 1929 sau một số nỗ lực không có kết quả. Hai người là F.F. Marriot và T.G. Cochrane phát hiện ra dầu gần sông Seria vào cuối năm 1926. Họ thông báo sự việc cho một nhà địa vật lý học, người này chỉ đạo một cuộc nghiên cứu tại đó. Năm 1927, khí rỉ ra được ghi nhận trong khu vực. Giếng Seria số 1 (S-1) được khoan vào ngày 12 tháng 7 năm 1928. Giếng Seria số 2 được khoan vào ngày 19 tháng 8 năm 1929, và vẫn tiếp tục cho sản phẩm tính đến năm 2009. Sản lượng dầu tăng lên đáng kể vào những năm 1930 cùng với sự phát triển của thêm nhiều mỏ dầu. Năm 1940, sản lượng dầu là hơn 6 triệu thùng. Công ty Dầu lửa Malaya Anh được thành lập vào ngày 22 tháng 7 năm 1922. Giếng dầu ngoài khơi đầu tiên được khoan vào năm 1957. Dầu và khí đốt thiên nhiên là nền tảng cho sự phát triển và thịnh vượng của Brunei kể từ cuối thế kỷ XX.
Nhật Bản chiếm đóng.
Tám ngày sau khi tiến công Trân Châu Cảng, đến ngày 16 tháng 12 năm 1941 thì người Nhật xâm chiếm Brunei. 10.000 quân của Phân đội Kawaguchi từ vịnh Cam Ranh tiến vào Kuala Belait. Sau sáu ngày giao tranh, họ chiếm đóng toàn bộ quốc gia. Lực lượng duy nhất của Đồng Minh trong khu vực là Tiểu đoàn số 2 của Trung đoàn Punjab số 15 đóng tại Kuching, Sarawak.
Khi chiếm được Brunei, người Nhật tiến hành một thỏa thuận với Sultan Ahmad Tajuddin về việc cai quản quốc gia. Nguyên Thư ký của Thống sứ Anh Quốc Ernest Edgar Pengilly là Inche Ibrahim được bổ nhiệm là Trưởng quan hành chính dưới quyền Thống sứ Nhật Bản. Pengilly và những người dân tộc Anh khác vẫn ở lại Brunei bị người Nhật giam giữ tại trại Batu Lintang ở Sarawak.
Sultan duy trì ngôi vị của mình và nhận được trợ cấp cùng sự tôn kính của người Nhật. Trong giai đoạn sau của thời kỳ chiếm đóng, ông ở tại Tantuya, Limbang và có ít việc để làm với người Nhật. Chính phủ Brunei được tái tổ chức thành 5 tỉnh, bao gồm Bắc Borneo thuộc Anh. Các tỉnh bao gồm Baram, Labuan, Lawas, và Limbang.
Người Anh dự đoán được về một cuộc tiến công của người Nhật, song họ thiếu các nguồn lực để phòng thủ khu vực do đang phải giao chiến ở châu Âu. Binh sĩ từ Trung đoàn Punjab đổ bê tông vào các giếng dầu vào tháng 9 năm 1941 để ngăn người Nhật sử dụng chúng. Các thiết bị và máy móc còn lại bị phá hủy khi Nhật Bản xâm chiếm Malaya. Đến cuối chiến tranh, 16 giếng dầu ở Miri và Seria được tái khởi đầu, sản lượng đạt khoảng một nửa so với mức trước chiến tranh. Sản xuất than tại Muara cũng được khôi phục, song thành công với mức độ khiêm tốn.
Trong thời gian chiếm đóng, người Nhật dạy ngôn ngữ của họ trong các trường học, các viên chức chính quyền được yêu cầu học tiếng Nhật. Đồng nội tệ được thay thế bằng "duit pisang" (tiền chuối). Từ năm 1943, siêu lạm phát làm mất giá trị tiền tệ, và đến cuối chiến tranh thì loại tiền này không còn giá trị. Các cuộc tiến công vào thương thuyền khiến cho hoạt động mậu dịch phải ngưng lại. Thực phẩm và dược phẩm rơi vào cảnh thiếu hụt, người dân phải chịu cảnh đói và bệnh tật.
Ngày 10 tháng 6 năm 1945, Sư đoàn số 9 của Úc đổ bộ lên Muara trong Chiến dịch Oboe Six nhằm tái chiếm Borneo từ Nhật Bản. Họ nhận được hỗ trợ từ các đơn vị không quân và hải quân của Hoa Kỳ. Đô thị Brunei bị ném bom trên phạm vi rộng và bị Đồng Minh tái chiếm sau ba ngày quyết chiến. Nhiều tòa nhà bị phá hủy, bao gồm cả Thánh đường Hồi giáo. Quân Nhật tại Brunei, Bắc Borneo, và Sarawak, dưới quyền Trung tướng Masao Baba, chính thức đầu hàng tại Labuan vào ngày 10 tháng 9 năm 1945. Chính quyền quân sự Anh Quốc tiếp quản lãnh thổ từ tay người Nhật Bản và duy trì cho đến tháng 7 năm 1946.
Sau Thế Chiến II.
Sau Thế Chiến II, một chính phủ mới được hình thành tại Brunei dưới quyền Chính phủ quân sự Anh Quốc (BMA), chủ yếu gồm các viên chức và nhân viên người Úc. Việc quản lý Brunei được chuyển cho Chính phủ dân sự vào ngày 6 tháng 7 năm 1946. Hội đồng Quốc gia Brunei cũng được phục hồi vào năm này. BMA được giao nhiệm vụ khôi phục kinh tế của Brunei, phải dập tắt các đám cháy trên các giếng dầu ở Seria do người Nhật phóng hỏa trước khi bị đánh bại.
Trước năm 1941, Thống đốc Các khu định cư Eo biển tại Singapore chịu trách nhiệm về nhiệm vụ của Cao ủy Anh tại Brunei, Sarawak, và Bắc Borneo (nay là Sabah). Cao ủy Anh Quốc đầu tiên của Brunei là Thống đốc Sarawak, Charles Ardon Clarke. Barisan Pemuda ("Phong trào Thanh niên") là chính đảng đầu tiên được thành lập tại Brunei, vào ngày 12 tháng 4 năm 1946. Mục đích của đảng là "Bảo tồn chủ quyền của Sultan và quốc gia, và để bảo vệ quyền của người Mã Lai". Đảng bị giải thể vào năm 1948 do hoạt động kém.
Năm 1959, một bản hiến pháp mới được thảo ra, tuyên bố Brunei là một quốc gia tự trị, trong khi các vấn đề đối ngoại, an ninh và quốc phòng vẫn là trách nhiệm của Anh Quốc. Một cuộc nổi dậy nhỏ nhằm chống lại chế độ quân chủ bùng phát vào năm 1962, Anh Quốc hỗ trợ chính quyền Brunei dập tắt cuộc nổi dậy này. Cuộc Nổi dậy Brunei này góp phần vào thất bại trong việc thành lập Liên bang Bắc Borneo, và cũng ảnh hưởng một phần đến quyết định của Brunei là không tham gia vào Liên bang Malaysia. Brunei giành được độc lập từ Anh Quốc vào ngày 1 tháng 1 năm 1984.
Ngày 14 tháng 11 năm 1971, Sultan Hassanal Bolkiah đến Luân Đôn để thảo luận về các vấn đề liên quan đến việc sửa đổi Hiến pháp năm 1959. Một thỏa thuận mới được ký kết vào ngày 23 tháng 11 năm 1971 với đại diện của Anh Quốc là Anthony Henry Fanshawe Royle, theo đó Anh Quốc vẫn nắm giữ công việc đối ngoại và quốc phòng. Ngày 7 tháng 1 năm 1979, một hiệp định khác được ký kết giữa Brunei và Anh Quốc, đại diện cho Anh Quốc là Chúa công Goronwy-Roberts. Hiệp định này trao cho Brunei tiếp quản trách nhiệm quốc tế như một quốc gia độc lập. Anh Quốc chấp thuận giúp đỡ Brunei trên các vấn đề ngoại giao. Vào tháng 5 năm 1983, Anh Quốc tuyên bố Brunei sẽ độc lập từ ngày 1 tháng 1 năm 1984. Lúc nửa đêm ngày 1 tháng 1 năm 1984, Sultan Hassanal Bolkiah đọc bản Tuyên ngôn độc lập.
Chính trị và chính phủ.
Hệ thống chính trị tại quốc gia do hiến pháp và truyền thống Quân chủ Mã Lai Hồi giáo chi phối. Ba thành phần của Quân chủ Hồi giáo Mã Lai, "Melayu Islam Beraja" (MIB), là văn hóa Mã Lai, Hồi giáo, và khuôn khổ chính trị dưới quyền quân chủ. Brunei có hệ thống pháp luật dựa theo Hệ thống pháp luật Anh, song bị luật shariah Hồi giáo thay thế trong một số trường hợp.
Theo hiến pháp năm 1959 của Brunei, Paduka Seri Baginda Sultan Haji Hassanal Bolkiah Mu'izzaddin Waddaulah Điện hạ là nguyên thủ quốc gia với đầy đủ quyền lực hành pháp. Từ năm 1962, Sultan lại có thêm quyền lực tình trạng khẩn cấp, được gia hạn mỗi hai năm. Quốc gia được đặt dưới thiết quân luật kể từ Nổi dậy Brunei năm 1962. Sultan Hassanal Bolkiah cũng giữ vai trò là Thủ tướng, Bộ trưởng Tài chính và Bộ trưởng Quốc phòng của quốc gia. Gia đình vương thất vẫn được tôn kính trong quốc gia. Brunei có một Hội đồng lập pháp
Quan hệ đối ngoại.
Cho đến năm 1979, quan hệ đối ngoại của Brunei do chính phủ Anh Quốc quản lý. Từ sau đó, trách nhiệm thuộc về Cơ quan Ngoại giao Brunei. Sau khi độc lập vào năm 1984, Cơ quan này được nâng thành cấp bộ và nay gọi là Bộ Ngoại giao.
Về mặt chính thức, chính sách đối ngoại của Brunei là:
Brunei có mối quan hệ truyền thống với Anh Quốc, và trở thành thành viên thứ 49 của khối Thịnh vượng chung ngay vào ngày độc lập 1 tháng 1 năm 1984. Nhằm khởi đầu cho việc cải thiện các mối quan hệ cấp khu vực, Brunei gia nhập ASEAN vào ngày 8 tháng 1 năm 1984, trở thành thanh viên thứ sáu của Hiệp hội. Đến năm 1984, nhằm đạt được sự công nhận về chủ quyền và nền độc lập của mình, Brunei trở thành thành viên đầy đủ của Liên Hợp Quốc vào ngày 21 tháng 9
Là một quốc gia Hồi giáo, Brunei trở thành thành viên đầy đủ của Tổ chức Hội nghị Hồi giáo (nay là Tổ chức Hợp tác Hồi giáo) vào tháng 1 năm 1984 trong Hội nghị Thượng đỉnh Hồi giáo lần thứ tư tổ chức tại Maroc.
Sau khi tham gia vào Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 1989, Brunei tổ chức Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC vào tháng 11 năm 2000 và Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) vào tháng 7 năm 2002. Brunei trở thành một thành viên sáng lập của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 1 tháng 1 năm 1995, và là một thành viên chính của Khu vực Tăng trưởng Đông ASEAN (BIMP-EAGA)- được hình thành tại Davao, Philippines vào ngày 24 tháng 3 năm 1994.
Brunei chia sẻ mối quan hệ chặt chẽ với Philippines và Singapore. Vào tháng 4 năm 2009, Brunei và Philippines ký kết Biên bản Ghi nhớ (MOU) nhằm cố gắng tăng cướng quan hệ song phương giữa hai quốc gia trong các lĩnh vực nông nghiệp cùng mậu dịch và đầu tư liên quan đến trồng trọt.
Brunei là một trong nhiều bên tham gia vào tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa. Brunei không công nhận tình trạng của Limbang là một phần của Sarawak kể từ khi khu vực này bị thôn tính vào năm 1890. Vấn đề được tường trình là đã giải quyết xong vào năm 2009, theo đó Brunei đồng ý chấp thuận biên giới để đổi lấy việc Malaysia từ bỏ yêu sách đối với các mỏ dầu trên vùng biển của Brunei. Chính phủ Brunei phủ nhận điều này và nói rằng không bao giờ từ bỏ tuyên bố chủ quyền của họ đối với Limbang.
Brunei được chia thành bốn huyện ("daerah") và 38 phó huyện ("mukim").
Daerah Temburong về mặt tự nhiên tách biệt với phần còn lại của Brunei qua bang Sarawak của Malaysia.
templatestyles src="Legend/" / Belait
templatestyles src="Legend/" / Tutong
templatestyles src="Legend/" / Brunei-Muara
templatestyles src="Legend/" / Temburong
Brunei là một quốc gia Đông Nam Á gồm hai phần tách rời với tổng diện tích là trên đảo Borneo. Quốc gia có bờ biển giáp biển Đông, và có 381 km (237 mi) biên giới với Malaysia. Quốc gia có lãnh hải, và vùng đặc quyền kinh tế.
Khoảng 97% cư dân sinh sống ở phần phía tây rộng lớn hơn của quốc gia, và chỉ khoảng 10.000 dân sinh sống ở phần đồi núi phía đông. Tổng dân số của Brunei là khoảng 408.000 #đổi , trong đó khoảng 150.000 sống tại thủ đô Bandar Seri Begawan. Các đô thị lớn khác là thị trấn cảng Muara, thị trấn sản xuất dầu mỏ Seria và thị trấn lân cận Kuala Belait. Tại huyện Belait, khu vực Panaga là nơi sinh sống của một số lượng lớn người Âu tha hương, nhà ở của họ do Royal Dutch Shell và Quân đội Anh Quốc cung cấp, và có một số phương tiện giải trí được đặt ở đó.
Hầu hết lãnh thổ Brunei nằm trong vùng sinh thái rừng mưa đất thấp Borneo. Các khu vực rừng mưa vùng núi nằm ở vùng nội địa của quốc gia.
Brunei có khí hậu nhiệt đới xích đạo. Nhiệt độ trung bình năm là , trung bình là từ tháng 4-5 và từ tháng 10-12.
Brunei có một nền kinh tế quy mô nhỏ song thịnh vượng, pha trộn giữa các hãng ngoại quốc và nội địa, quy định của chính phủ, các biện pháp phúc lợi, và truyền thống làng xã. Sản xuất dầu thô và khí thiên nhiên đóng góp khoảng 90% cho GDP của quốc gia. Khoảng dầu được sản xuất mỗi ngày, biến Brunei trở thành nhà sản xuất dầu lớn thứ tư ở Đông Nam Á. Quốc gia cũng sản xuất ra xấp xỉ 25,3 triệu mét khối (#đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
) khí đốt thiên thiên hóa lỏng mỗi ngày, biến Brunei thành nước xuất khẩu đứng thứ chín về tài nguyên này trên thế giới.
Thu nhập đáng kể từ đầu tư ra hải ngoại bổ sung vào thu nhập từ sản xuất nội địa. Hầu hết các khoản đầu tư này do Cơ quan Đầu tư Brunei thực hiện, đây là một nhánh của Bộ Tài chính quốc gia. Chính phủ cung cấp toàn bộ các dịch vụ y tế, và trợ cấp gạo cùng nhà ở.
Brunei phụ thuộc nặng vào nhập khẩu các mặt hàng như nông sản, ô tô và sản phẩm điện tử từ các quốc gia khác. Hàng nhập khẩu đáp ứng 60% nhu cầu lương thực của Brunei, trong đó có khoảng 75% đến từ các quốc gia ASEAN.
Tính đến năm 2016, GDP của Brunei đạt 10.458 USD, đứng thứ 134 thế giới, đứng thứ 34 châu Á và đứng thứ 10 Đông Nam Á.
Tôn giáo tại Brunei
Dân số Brunei trong tháng 7 năm 2011 là 401.890, trong đó 76% sống tại các khu vực đô thị. Tuổi thọ bình quân là 76,37 năm. Năm 2004, 66,3% dân số là người Mã Lai, 11,2% là người Hoa, 3,4% là người bản địa, cùng các nhóm cư dân khác. Brunei cũng là quốc gia thưa dân nhất châu Á cũng như khu vực Đông Nam Á.
Ngôn ngữ chính thức của Brunei là tiếng Mã Lai. Bộ Văn hóa, Thanh niên và Thể thao khuyến khích một phong trào ngôn ngữ nhằm mục đích nâng cao việc sử dụng ngôn ngữ này tại Brunei. Khẩu ngữ chính tại Brunei là tiếng Mã Lai Brunei, tiếng Mã Lai Brunei khá khác so với tiếng Mã Lai tiêu chuẩn và các phương ngữ khác của tiếng Mã Lai, và tương tự ở mức khoảng 84% với tiếng Mã Lai tiêu chuẩn, và thường là không hiểu lẫn nhau. Tiếng Anh và tiếng Trung Quốc cũng được nói rộng rãi, tiếng Anh cũng được sử dụng trong kinh doanh với địa vị là ngôn ngữ làm việc, và là ngôn ngữ giảng dạy từ bậc tiểu học đến bậc đại học, và được một cộng đồng ngoại quốc tha hương tương đối lớn sử dụng. Các khẩu ngữ khác là Kedayan, Tutong, Murut, Dusun và Iban.
Hồi giáo là tôn giáo chính thức của Brunei, và hai phần ba cư dân tại quốc gia trung thành với Hồi giáo. Các tín ngưỡng khác cũng hiện diện là Phật giáo (13%, phần lớn là người Hoa) và Thiên Chúa giáo (10%). Những người theo tư tưởng tự do chiếm khoảng 7% dân số, hầu hết là người Hoa. Mặc dù hầu hết trong số họ thực hành các nghi lễ với các yếu tố của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo, song họ muốn biểu thị rằng mình không theo tôn giáo chính thức nào, do vậy được xếp là người vô thần trong thống kê chính thức. Những người theo các tôn giáo bản địa là khoảng 2%.
Nền văn hóa Brunei chủ yếu là văn hóa Mã Lai, với các ảnh hưởng lớn từ Hồi giáo, và được nhìn nhận là bảo thủ hơn so với Indonesia và Malaysia. Các nền văn hóa Mã Lai từ quần đảo Mã Lai ảnh hưởng đến văn hóa Brunei. Bốn giai đoạn ảnh hưởng về văn hóa đã diễn ra trong lịch sử Brunei, lần lượt là thuyết vật linh, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, văn minh phương Tây. Hồi giáo có ảnh hưởng rất mạnh, trở thành hệ tư tưởng và triết lý của Brunei.
Brunei là một quốc gia thi hành luật Sharia, theo đó cấm việc bán và tiêu thụ đồ uống có cồn công khai. Những người không theo Hồi giáo được phép đem một lượng đồ uống có cồn hạn chế từ bên ngoài vào để tự sử dụng.
Freedom House xếp Brunei vào tình trạng "Không tự do"; hiếm khi có việc báo chí chỉ trích chính phủ và nền quân chủ. Chính phủ cho phép một công ty in ấn và xuất bản là Brunei Press PLC hoạt động, công ty thành lập từ năm 1953. Công ty tiếp tục xuất bản nhật báo tiếng Anh "Borneo Bulletin", tờ báo này lúc đầu chỉ là một bài luận cộng đồng hàng tuần và trở thành nhật báo vào năm 1990 Ngoài "Borneo Bulletin", Brunei còn có các nhật báo tiếng Mã Lai là "Media Permata" và "Pelita Brunei". "The Brunei Times" là một tờ báo độc lập khác bằng tiếng Anh, được xuất bản tại Brunei kể từ năm 2006.
Chính phủ Brunei sở hữu và điều hành sáu kênh truyền hình kỹ thuật số sử dụng công nghệ DVB-T (RTB 1, RTB 2, RTB 3 (HD), RTB 4, RTB 5 và RTB New Media (thông tin thể thao) và năm kênh phát thanh là (FM quốc gia, Pilihan FM, Nur Islam FM, Harmony FM và Pelangi FM). Một công ty tư nhân có kênh truyền hình cáp (Astro-Kristal) và kênh phát thanh Kristal FM.
Brunei duy trì ba tiểu đoàn bộ binh trên toàn quốc. Hải quân Brunei có một số tàu tuần tra lớp "Ijtihad" mua từ một hãng chế tạo của Đức. Anh Quốc cũng duy trì một căn cứ quân sự tại Seria, trung tâm của ngành công nghiệp dầu tại Brunei. Tiểu đoàn Gurkha có 1.500 công nhân viên đang đóng quân tại đây. Một lực lượng quân đội Anh đóng tại đây dựa trên một thỏa thuận quốc phòng ký kết giữa hai quốc gia.
Cơ sở hạ tầng.
Các trung tâm dân cư tại quốc gia được kết nối thông qua một mạng lưới đường bộ có tổng chiều dài . Xa lộ dài nối từ Muara Town đến Kuala Belait được nâng cấp thành làn kép.
Có thể tiếp cận Brunei bằng đường không, đường biển, và đường bộ. Sân bay quốc tế Brunei là cửa ngõ chính của quốc gia. Royal Brunei Airlines là hãng vận chuyển quốc gia. Ngoài ra, Brunei còn có sân bay Anduki tại Seria. Bến phà ở Muara phục vụ các chuyến phà thường lệ đến Labuan (Malaysia). Các tàu cao tốc vận chuyển hành khách và hàng hóa đến huyện Temburong. Xa lộ chính chạy qua Brunei là Xa lộ Tutong-Muara. Hệ thống đường bộ của quốc gia phát triển tốt. Brunei có một cảng biển lớn nằm tại Muara.
Cứ 2,09 cư dân Brunei lại có một ô tô riêng, quốc gia này do vậy nằm trong số những nơi có tỷ lệ sở hữu ô tô cao nhất trên thế giới. Điều này được quy cho là do quốc gia không có một hệ thống giao thông hoàn thiện, thuế nhập khẩu thấp và giá xăng không chì chỉ là 0,53 đô la Brunei mỗi lít.
Một xa lộ dài nối giữa các huyện Muara và Temburong của Brunei dự kiến hoàn thành vào năm 2018, 14 km chiều dài của xa lộ sẽ băng qua vịnh Brunei.
Chăm sóc sức khỏe.
Do trong nước không có sẵn hỗ trợ về y tế, các công dân được đưa ra hải ngoại bằng kinh phí của chính phủ. Trong giai đoạn 2011–12, 327 bệnh nhân được điều trị tại Malaysia và Singapore với chi phí 12 triệu đô la do chính quyền chi trả. Bệnh viện lớn nhất tại Brunei là Bệnh viện Raja Isteri Pengiran Anak Saleha (RIPAS) với 538 giường bệnh, nằm tại thủ đô Bandar Seri Begawan. Có 2 trung tâm y tế tư nhân là Gleneagles JPMC Sdn Bhd. và Jerudong Park.
|
Björk Guðmundsdóttir (; [ˈpjœr̥k]#đổi ; sinh ngày 21 tháng 11 năm 1965) là một ca sĩ, nhà viết nhạc, nữ diễn viên, nhà sản xuất thu âm và DJ người Iceland. Trong sự nghiệp trải dài hơn bốn thập niên, cô đã phát triển một phong cách âm nhạc chung, nhờ trải nghiệm một loạt ảnh hưởng và thể loại đa dạng như nhạc điện tử, pop, nhạc thể nghiệm, nhạc cổ điển, trip hop, IDM và nhạc avant-garde. Cô cũng hợp tác với rất nhiều nghệ sĩ và khám phám ra một loạt dự án đa phương tiện.
Sinh ra và lớn lên tại Reykjavík, cô khởi nghiệp âm nhạc năm 11 tuổi và lần đầu giành được công nhận quốc tế với vai trò ca sĩ chính của ban nhạc alternative rock the Sugarcubes; đĩa đơn "Birthday" của nhóm năm 1987 trở thành hit tại các đài phát thanh độc lập ở Anh Quốc và Hoa Kỳ cũng như được các nhà phê bình âm nhạc yêu thích. Sau khi ban nhạc tan rã, Björk khởi nghiệp đơn ca vào năm 1993 với hai album nhạc pop "Debut" và "Post". Vào năm 1997, Björk cho ra mắt album thứ ba mang tên Homogenic.
|
Thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế (Tiếng Anh: "international trade/international commerce") là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên. Đối với phần lớn các nước, nó tương đương với một tỷ lệ lớn trong GDP. Mặc dù thương mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người (xem thêm Con đường Tơ lụa và Con đường Hổ phách), tầm quan trọng kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới được để ý đến một cách chi tiết trong vài thế kỷ gần đây. Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và xu hướng thuê nhân lực bên ngoài. Việc tăng cường thương mại quốc tế thường được xem như ý nghĩa cơ bản của "toàn cầu hoá".
Thương mại quốc tế với tư cách là một khoa học cũng là một nhánh của kinh tế học. Thương mại quốc tế hợp cùng tài chính quốc tế tạo thành ngành kinh tế học quốc tế.
Các lý thuyết thương mại quốc tế.
Nhiều nhà kinh tế học đã đưa ra những mô hình khác nhau để dự đoán cơ cấu trao đổi thương mại quốc tế và phân tích ảnh hưởng của các chính sách thương mại, chẳng hạn như chính sách thuế quan.
Mô hình Ricardo tập trung nghiên cứu lợi thế so sánh, một khái niệm được coi là quan trọng nhất trong lý thuyết thương mại quốc tế. Trong mô hình Ricardo, các nước tập trung chuyên môn hóa sản xuất vào mặt hàng mà họ có thể sản xuất hiệu quả nhất. Không giống như các lý thuyết khác, mô hình của Ricardo dự đoán rằng các nước sẽ chuyên môn hóa hoàn toàn vào một loại hàng hóa thay vì sản xuất nhiều loại hàng hóa khác nhau. Thêm vào đó, mô hình Ricardo không xem xét trực tiếp đến các nguồn lực, chẳng hạn như quan hệ tương đối giữa lao động và vốn trong phạm vi một nước.
Mô hình Heckscher-Ohlin được xây dựng thay thế cho mô hình cơ bản về lợi thế so sánh của Ricardo. Mặc dù nó phức tạp hơn và có khả năng dự đoán chính xác hơn, nó vẫn có sự lý tưởng hóa. Đó là việc bỏ qua lý thuyết giá trị lao động và việc gắn cơ chế giá tân cổ điển vào lý thuyết thương mại quốc tế. Mô hình Heckscher-Ohlin lập luận rằng cơ cấu thương mại quốc tế được quyết định bởi sự khác biệt giữa các yếu tố nguồn lực. Nó dự đoán rằng một nước sẽ xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó có thế mạnh, và nhập khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó khan hiếm.
Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu nhằm kiểm nghiệm mô hình H-O lại đưa ra những kết quả mâu thuẫn, trong đó có công trình của Wassili Leontief, còn được biết đến với tên gọi Nghịch lý Leontief. Sử dụng mô hình bảng cân đối liên ngành IO (input-output) của mình với số liệu của Mỹ năm 1947, Leontief đã phát hiện Mỹ mặc dù là quốc gia với tỉ lệ vốn/lao động cao nhưng tỉ lệ vốn/lao động của các mặt hàng tương đương hàng nhập khẩu của Mỹ lại cao hơn tỉ lệ vốn/lao động của các mặt hàng xuất khẩu.
Mô hình lực hấp dẫn.
So với các mô hình lý thuyết trên, mô hình lực hấp dẫn nghiêng về phân tích định lượng hơn. Ở dạng đơn giản, mô hình lực hấp dẫn dự đoán rằng trao đổi thương mại phụ thuộc vào khoảng cách giữa hai nước và quy mô của hai nền kinh tế. Mô hình phỏng theo định luật vạn vật hấp dẫn của Newton trong đó nói rằng lực hút của hai vật thể phụ thuộc vào khoảng cách giữa chúng và khối lượng của mỗi vật. Mô hình đã được chứng minh rằng nó có tính định lượng tương đối mạnh thông qua các phân tích kinh tế lượng. Các dạng mở rộng của mô hình này xem xét đến nhiều yếu tố khác như mức thu nhập, quan hệ ngoại giao giữa hai nước, và chính sách thương mại của mỗi nước.
Quy tắc điều chỉnh thương mại quốc tế.
Trước đây, thương mại quốc tế thường được điều chỉnh bằng các hiệp định thương mại song phương giữa hai nước. Trước thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa trọng thương còn chiếm ưu thế, đa số các nước áp đặt những mức thuế cao cùng nhiều hạn chế thương mại khác đối với hàng nhập khẩu. Kể từ thế kỷ XIX, tư tưởng về thương mại tự do dần dần nổi lên giữ vai trò chủ đạo ở các nước phương Tây, đặc biệt là ở Anh. Trong những năm kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, các hiệp định thương mại đa phương như GATT và WTO đã cố gắng xây dựng một cơ chế thương mại quốc tế có sự thống nhất điều chỉnh trên phạm vi toàn cầu.
Hướng tới thương mại tự do, các hiệp định thương mại không chỉ đàm phán việc giảm thuế mà còn đàm phán cả các biện pháp phi thuế như hạn chế số lượng nhập khẩu, cấp phép nhập khẩu, vệ sinh kiểm dịch, đầu tư nước ngoài, mua sắm chính phủ và tạo thuận lợi cho thương mại bằng cách đơn giản hóa các thủ tục hải quan.
Trong quá khứ, thương mại tự do thường tập trung vào các mặt hàng nông sản, trong khi các mặt hàng chế tạo thường mong muốn được bảo hộ. Tình hình trong hiện tại lại ngược lại, đặc biệt là ở các nước phát triển. Ở Hoa Kỳ, châu Âu và Nhật Bản, những cuộc vận động hành lang đối với các lĩnh vực nông nghiệp là nguyên nhân chính khiến cho trong đa số các hiệp định thương mại quốc tế, lĩnh vực nông nghiệp có nhiều quy định mang tính chất bảo hộ hơn là những lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ khác.
Thương mại quốc tế thường được điều chỉnh bởi các quy tắc có tính toàn cầu thông qua các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới, mặc dù cũng có một số thoả thuận thương mại khu vực như AFTA giữa các nước ASEAN; MERCOSUR giữa một số nước ở Nam Mỹ; NAFTA giữa Hoa Kỳ, Canada và México; Liên minh châu Âu giữa 25 quốc gia ở châu Âu. Có thể kể thêm một số thỏa thuận thương mại quốc tế thất bại như Khu vực Mậu dịch Tự do châu Mỹ (FTAA) hay Hiệp định Đa phương về Đầu tư (MAI).
Chức năng của hoạt động ngoại thương.
Là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, ngoại thương có các chức năng sau:
- Tạo vốn cho quá trình mở rộng vốn đầu tư trong nước
- Chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng chúng với nhu cầu của tiêu dùng và tích lũy
- Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh
Là một lĩnh vực kinh tế đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa giữa trong nước với nước ngoài, chức năng cơ bản của ngoại thương là: Tổ chức chủ yếu quá trình lưu thông hàng hóa với bên ngoài, thông qua mua bán để nối liền một cách hữu cơ theo kế hoạch giữa thị trường trong nước với thị trường nước ngoài, thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và của nhân dân về hàng hóa theo số lượng, chất lượng, mặt hàng, địa điểm và thời gian phù hợp với chi phí ít nhất.
Nhiệm vụ của ngoại thương.
- Nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa đất nước
Đây là nhiêm vụ quan trọng và bao quát của ngoại thương. Thông qua hoạt động xuất, nhập khẩu góp phần vào việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa
- Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước: Vốn, việc làm, công nghệ, sử dụng tài nguyên có hiệu quả
- Đảm bảo sự thống nhất giữa kinh tế và chính trị trong hoạt động ngoại thương
- Tổ chức quá trình lưu thông hàng hóa giữa trong nước với nước ngoài
Các rào cản của hoạt động ngoại thương.
Hiện nay, các nước đang sử dụng rất nhiều công cụ làm rào cản hoạt động ngoại thương, nhưng tựu trung lại có hai nhóm công cụ chính là: Thuế quan và phi thuế quan
Hàng rào Thuế quan.
Đây là một loại thuế đánh vào hàng mậu dịch, phi mậu dịch khi hàng hóa đi qua khu vực hải quan của một nước
Hiện nay, khi hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì các quốc gia tìm cách giảm dần và tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan
Hàng rào phi thuế quan.
Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng
Hàng rào phi thuế quan thường được áp dụng đối với hàng nhập khẩu
Hình thức của hàng rào phi thuế quan rất phong phú, gồm: Các biện pháp hạn chế định lượng, các biện pháp tương đương thuế quan, các rào cản kỹ thuật, các biện pháp liên quan đến đầu tư nước ngoài, các biện pháp quản lý hành chính, các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời
Ngày nay, ngoại thương thế giới có những đặc điểm mới: tốc độ tăng trưởng của ngoại thương thế giới tăng nhanh so với tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc dân. Tốc độ tăng trưởng của hàng hóa vô hình tăng nhanh so với tốc độ tăng trưởng hàng hóa hữu hình. Nhu cầu về đời sống vật chất giảm trong khi đó, nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng tăng. Tỷ trọng xuất khẩu hàng nguyên liệu thô giảm, trong khi đó dầu mỏ, khí đốt và các sản phẩm công nghệ chế biến tăng nhanh. Phạm vi, phương thức và công cụ cạnh tranh của thương mại quốc tế diễn ra ngày càng phong phú và đa dạng: chất lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các dịch vụ sau bán hàng. Chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng rút ngắn lại, hàng hóa có hàm lượng khoa học và công nghệ tăng cao. Quá trình thương mại quốc tế đòi hỏi, một mặt phải tự do hóa thương mại, mặt khác phải thực hiện bảo hộ mậu dịch một cách hợp lý.
Ngoại thương Việt Nam cũng ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán, tạo công ăn việc làm và giúp nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập với các nền kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới.
Rủi ro trong thương mại quốc tế.
Rủi ro trong thương mại quốc tế có thể được chia thành hai nhóm chính:
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Dido Florian Cloud de Bounevialle Armstrong (; sinh ngày 25 tháng 12 năm 1971), được biết đến rộng rãi với nghệ danh Dido, là một nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc nổi tiếng người Anh. Sau khi hợp tác cùng anh trai Rollo Armstrong trong album đầu tay của nhóm nhạc Faithless, cô bắt đầu theo đuổi theo sự nghiệp đơn ca của mình, khi ký kết hợp đồng cùng hãng thu âm Arista Records vào năm 1997. Cô cho phát hành album phòng thu đầu tay mang tên "No Angel" vào năm 1999 tại Hoa Kỳ. Album được khán giả và giới phê bình âm nhạc trên toàn cầu đón nhận nồng nhiệt sau hơn 1 năm phát hành, chủ yếu là nhờ lần xuất hiện của cô cùng bài hát "Thank You" trong đĩa đơn "Stan" của nam rapper người Mỹ Eminem vào năm 2000. Đến nay, album đã đạt ngưỡng doanh thu 21 triệu bản trên toàn cầu và đem về cho cô giải BRIT Awards cho "Album Anh Quốc xuất sắc nhất" vào năm 2002.
Album phòng thu thứ 2, "Life for Rent" (2003), tiếp tục là một thành công lớn về thương mại và chuyên môn của Dido, khi trở thành một trong những album có tốc độ bán nhanh nhất của một nữ nghệ sĩ tại thị trường Anh Quốc. Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "White Flag" mang về cho cô lần đề cử đầu tiên cho giải Grammy trong hạng mục "Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất" và giành giải BRIT Awards cho "Đĩa đơn Anh Quốc xuất sắc nhất". Cô trở lại sự nghiệp âm nhạc cùng album phòng thu thứ 3, "Safe Trip Home" (2008), với sự tán dương rộng rãi bởi các nhà phê bình âm nhạc, giúp cô giành thêm một đề cử Grammy nữa tại mùa giải lần thứ 52, đồng thời là album bán chạy thứ 44 trên toàn cầu trong năm 2008. Vào tháng 3 và tháng 11 năm 2013, cô liên tiếp cho phát hành album phòng thu thứ 4, "Girl Who Got Away" và album tuyển tập đầu tay "Greatest Hits".
Trong sự nghiệp âm nhạc kéo dài gần 2 thập kỷ, Dido đã bán ra hơn 30 triệu album trên toàn thế giới, giúp cô trở thành một trong những nữ nghệ sĩ Anh Quốc thành công nhất mọi thời đại. Cô hiện vẫn đang là nữ nghệ sĩ duy nhất có hai album xuất hiện trong danh sách những album bán chạy nhất trong lịch sử nước Anh, đồng thời cũng nằm trong những album bán chạy nhất trong thập kỉ 2000 ở đó. Cô còn nhận được nhiều đề cử và giải thưởng quan trọng, nổi bật có 2 đề cử cho giải Grammy, 1 đề cử cho giải Oscar, 6 đề cử cho giải Video âm nhạc của MTV, giành chiến thắng tại 4 giải World Music Awards, 4 giải BRIT Awards, 1 giải Âm nhạc châu Âu của MTV và 4 giải NRJ Awards. Tạp chí âm nhạc "Billboard" còn xếp cô vào danh sách nghệ sĩ của thập niên 2000 trên "Billboard 200", dựa trên những thành công vượt bậc của mình.
Dido được hạ sinh tại một bệnh viện có tên là St Mary Abbots tại Kensington, Luân Đôn, vào đúng ngày Giáng Sinh năm 1971. Họ tên đầy đủ trên giấy khai sinh của cô là Florian Cloud de Bounevialle Armstrong. Vì được sinh đúng vào ngày lễ Giáng Sinh nên hồi bé có một lần cô đã tổ chức sinh nhật theo truyền thống ở Vương quốc Anh đúng vào ngày "Sinh nhật chính thức" 25 tháng 6. Mẹ của Dido, bà Claire (tên tiếng Pháp là Collins), là một nhà thơ người Pháp còn bố cô, ông Williams O’Malley Amstrong (sinh ngày ngày 9 tháng 11 năm 1938 - mất ngày 22 tháng 12 năm 2006) từng là một chủ toà soạn và giám đốc điều hành công ty "Sidgwick Jackson". Cô có một người anh trai tên là Rowland Constantine O'Malley Armstrong, còn được biết đến rộng rãi hơn là một nhà sản xuất âm nhạc Rollo, tham gia trong nhóm tam ca Faithless. Không như tên đầy đủ của mình, họ nổi tiếng bởi tên gọi hồi còn nhỏ của mình - Dido và Rollo. Dido hiện nay đã đính chính cái tên "Dido" đã chính thức là tên thật của mình, và không còn chỉ đơn thuần là nghệ danh hay tên gọi nữa. Tên của cô được lấy cảm hứng từ truyền thuyết nữ hoàng Cathage huyền thoại. Vậy nên khi còn nhỏ, cô thường bị bắt nạt vì tính mơ hồ của tên tuổi, khiến cô phải giả vờ đó không phải là tên thật của mình. Cô giải thích:—
Dido học cấp I tại trường Thornhill, vào cấp II trường nữ sinh thành phố Luân Đôn và tốt nghiệp cấp III ở trường trung học Westminster, nơi cô đã được một nhạc công đương thời và cũng là Trưởng Học viện Âm nhạc ở đó, Sinan Savaskan giảng dạy. Lúc 5 tuổi cô từng lấy trộm một cây sáo của nhà trường, 6 tuổi cô vào học trường Guildhall School of Music ở Luân Đôn. Năm lên mười Dido đã học chơi piano, sáo và vĩ cầm, sau này cô còn biết chơi thêm ghi-ta và đã có cơ hội thể hiện khả năng của mình trong chuyến lưu diễn quảng bá cho album "Life for Rent" vào năm 2004. Trước khi quyết tâm theo đuổi âm nhạc, Dido đã từng tham gia các hoạt động văn học trong khi vẫn đang theo học ngành luật tại Birkbeck, University of London, mặc dù vậy cô chưa bao giờ hoàn thành khoá học của mình.
Sự nghiệp âm nhạc.
1995-1996: Những bản thu âm đầu tiên.
Năm 1995, Dido bắt đầu thực hiện album thu thử "Odds Ends" do "Nettwerk" phát hành. Dido gây được sự chú ý qua sự hợp tác của cô trong album đầu tay của nhóm nhạc Faithless (Dido đồng sáng tác và góp giọng vào các bài trong album như "Flowerstand Man" hay "Hem of His Garment") và phần nhảy minh hoạ do anh trai cô, Rollo Armstrong chỉ đạo, nhờ đó mà cô đã được ký hợp đồng với Nettwerk. Album tuyển tập này được Nettwerk phát hành năm 1995 dưới dạng đĩa CD-R, có sự phối lại giữa những sản phẩm đã hoàn thành với các bản thu thử mà sau này Dido định cho vào album đầu tay của mình phát hành năm 1999 – "No Angel". "Odds Ends" được hãng đĩa Arista Records để mắt tới cùng với hãng Cheeky Records của anh trai cô. "Aristy" chịu trách nhiệm phát hành "No Angel" ở Mỹ còn "Cheeky Records" đảm nhận phần công việc ở Anh. Trong số các bản nhạc của "Odds Ends", "Take My Hands" được đưa vào album "No Angel" làm bài hát đính kèm, "Sweet Eyed Baby" thì được phối lại và đổi tên thành "Don't Think of Me", còn "Worthless" và "Me" thì được thêm vào ấn bản phát hành riêng ở Nhật Bản. Peter Leak trở thành quản lý của Dido trong suốt thời gian ghi âm album "No Angel", từ sau khi Edge đã nghe được một vài bản thu chưa chính thức của cô và hoàn toàn "bị ấn tượng" bởi chúng.
1998-2002: "No Angel" và thành công vượt bậc.
Cheeky Records, hãng đĩa mà Dido ký hợp đồng, đã bị BMG Records mua lại vào năm 1999. Sự kiện này khiến cho "No Angel" bị hoãn phát hành tại Anh, nhưng đồng thời cũng giúp Dido có thời gian tập trung cho việc quảng bá album ở Mỹ, bao gồm có cả một chân trong chuyến lưu diễn Lilith Fair của nữ ca sĩ Sarah McLachlan. Nhờ việc đi lưu diễn, cả trước và sau khi album được phát hành, âm nhạc của Dido bắt đầu được gây được nhiều sự chú ý hơn. Đĩa đơn chính thức đầu tiên được chính cô và hãng đĩa chọn để phát hành, "Here with Me", gặp khó khăn trong việc gây chú ý trên các đài phát thanh, nhưng khi đang được hãng đĩa cân nhắc để đổi lại chiến lược quảng bá bằng một bài hát mang âm điệu alternative khác, thì ca khúc bất ngờ được chọn làm nhạc nền cho loạt phim truyền hình dài tập - Roswell, và gây được chú ý với khán giả của bộ phim. Quản lý của cô, Peter Leak có chia sẻ, ca khúc đã tăng từ 2.000 lên đến 9.000 bản chỉ trong tuần lễ xuất hiện trong tập cuối bộ phim. Tuy nhiên người ta cho rằng chính là vì video âm nhạc đầy sáng tạo (lấy bối cảnh là đường cao tốc NYC) của "Here With Me" liên tục được phát sóng trên MTV châu Âu đã tạo đà cho những thành công sau này của cô. Theo đó, bộ phim hài lãng mạn Anh, "Love Actually" cũng sử dụng bài hát này. Năm 1998, nhà sản xuất âm nhạc cho phim "Sliding Doors" có chọn bài hát "Thank You" của cô làm nhạc phim. Sau cùng, "No Angel" được phát hành lần đầu tiên vào năm 1999.
Rapper người Mỹ Eminem đã giúp cô giới thiệu album đầu tay đến thính giả, khi anh đưa một đoạn của "Thank You" vào đĩa đơn ăn khách mang tên "Stan" sau khi được Dido chấp thuận. Cô cũng xuất hiện trong vai cô bạn gái mang thai ở video ca nhạc của Stan. Ban đầu cô không muốn xuất hiện trong video, khi cảm thấy không thoải mái trong một cảnh quay, lúc cô bị trói lại và bị dính băng dính vào miệng, nhưng sau đó đã đồng ý nhận vai. Nhiều người sau đó đã tìm đến album của cô, giúp đưa nó lên các bảng xếp hạng ăn khách nhất châu Âu, album nhanh chóng đạt lên top 5 UK Albums Chart, trước khi được phát hành tái bản tại đó. "Thank You" cũng được dùng làm phần nhạc mẫu cho bài hát "Stanley Here I Am". Sau đó, bài hát có xuất hiện trong top 40 tại ỤK Singles Chart vào tháng 4 năm 2001.
"No Angel" trở thành album bán chạy nhất năm 2001, ở cả Anh và trên toàn thế giới, và có quay lại tại vị trí đầu bảng ở UK Albums Chart nhiều lần trong suốt năm đó. Nó đã cho ra hai đĩa đơn lọt vào top 10 UK Singles Chart là "Here with Me" và "Thank You", một đĩa đơn lọt vào top 20 là "Hunter", và đĩa đơn thứ 4 cũng là đĩa đơn cuối cùng từ album, "All You Want", cũng kịp lọt vào top 25. Album đạt chứng nhận đĩa bạch kim ở hơn 35 quốc gia khác nhau, và ước tính đã bán ra hơn 21 triệu bản trên toàn thế giới. Kiểu tóc của Dido cũng trở nên thịnh hành trong khoảng thời gian đó, và được biết đến rộng rãi với cái tên "Dido flip". Cô còn tham gia chuyến lưu diễn cháy vé cùng sự góp mặt của nghệ sĩ hip-hop Pete Miser trong vai trò DJ. "No Angel" đạt vị trí thứ 97 theo Bảng xếp hạng album bán chạy nhất thập kỷ của Billboard.
2003–2005: "Life for Rent" và Live 8.
Album phòng thu thứ hai của cô, "Life for Rent" được phát hành vào năm 2003. Với đĩa đơn mở đầu ăn khách của cô mang tên "White Flag", album này đã tiêu thụ hơn 102,000 bản chỉ trong ngày đầu tiên ở Anh, và tiếp tục lên đến con số hơn 400,000 bản trong tuần đầu tiên. Ba đĩa đơn tiếp theo, "Life for Rent", "Don't Leave Home" và "Sand in My Shoes", cũng lần lượt được trích từ album, cùng việc Dido khai màn chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới của mình để quảng bá cho album (một tư liệu DVD được trích từ chuyến lưu diễn đã được phát hành năm 2005 với tên gọi "Live at Brixton Academy").
Theo chuyến lưu diễn cháy vé năm 2004 của cô, Dido được mời trình diễn trong ba buổi diễn cho Live 8 vào ngày 2 tháng 7 năm 2005 - tại Luân Đôn, Cornwall, trước khi bay đến Paris, trình diễn độc diễn ("White Flag") và hát chung cùng Youssou N'Dour ("Thank You" v2 "Seven Seconds").
Cũng trong năm 2005, Dido cũng tham gia phần giọng nền cho dự án âm nhạc của anh trai cô cùng ban nhạc Dusted trong album "Safe from Harm". Cô có góp giọng trong các bài hát "Time Takes Time", "Hurt U" và "Winter" và đồng sáng tác ba bài hát: "Always Remember to Respect Honour Your Mother, Part 1", "The Biggest Fool in the World" và "Winter".
2007–2010: "Safe Trip Home" và sự gián đoạn.
Dido bắt đầu tham gia thực hiện album phòng thu thứ ba của mình vào tháng 10 năm 2005 tại Los Angeles. Album có sự tham gia sản xuất của Jon Brion và chính cô. Các cộng tác viên khác trong album còn có Brian Eno, Questlove, Mick Fleetwood, Rollo Armstrong và Matt Chamberlain. Công đoạn thu âm được diễn ra tại phòng thu Abbey Road và tại phòng thu tại nhà Jon Brion tại Los Angeles. Trong suốt quá trình thực hiện album, Dido đã tham gia các lớp học về âm nhạc và Anh ngữ vào ban đêm tại trường Đại học California, Los Angeles.
Trang mạng chính thức của Dido cũng đồng thời được mở ra cùng với thời điểm ra mắt album. Ngày phát hành của album bị hoãn lại nhiều lần, cho dù không có lý do chính thức nào được đưa ra. Đĩa đơn đầu tiên từ album, "Don't Believe in Love" bị rò rỉ từ cộng đồng mạng vào ngày 5 tháng 9 năm 2008 và được ra mắt bằng bản kĩ thuật số vào ngày 27 tháng 10 năm 2008. Sau đó, cả album bị rò rỉ trên mạng vào ngày 1 tháng 11 năm 2008, tức chỉ sớm 16 ngày trước khi phát hành chính thức. Vào ngày 13 tháng 11 năm 2008, album được ra mắt dưới dạng nghe tại iLike, mà sau này đã nâng cấp thành MySpace.
Vào ngày 22 tháng 8 năm 2008, trang mạng chính thức của Dido có xác nhận album mới của cô mang tên "Safe Trip Home", được dự định phát hành vào 13 tháng 11 năm 2008. Ca khúc được phát hành miễn phí từ album, "Look No Further" được ra mắt dưới dạng tải nhạc số từ trang mạng trên trong thời gian có hạn. Những ca khúc khác có trong album là: "It Comes And It Goes", "The Day Before the Day", "Never Want To Say It's Love" và "Grafton Street", ca khúc cô đồng sáng tác cùng Brian Eno. Ảnh bìa của album là tấm ảnh của phi hành gia Bruce McCandless II trong khi du hành ngoài không gian, trong nhiệm vụ của con tàu con thoi STS-41-B.
Vào tháng 12 năm 2008, ca khúc "Let's Do The Things We Normally Do" của Dido gặp phải sự chỉ trích bởi Gregory Campbell khi phần lời được cho là đã tham khảo từ ca khúc "The Men Behind the Wire". Campbell có diễn tả "The Men Behind the Wire" là một bài "được viết về những người từng là sát nhân, kẻ đốt phá và khủng bố". Campbell đã nói thêm "cô ấy [Dido] nên làm rõ vị thế của mình để những người hâm mộ của cô và cả cộng đồng biết cô ấy đã dựa trên những điều từ ca khúc này". Album này của cô tuy không thể đạt được doanh thu như các sản phẩm trước, nhưng lại mang về cho cô một đề cử cho giải Grammy trong hạng mục "Album xây dựng xuất sắc nhất, không thuộc cổ điển". Vào tháng 10 năm 2010, cựu phi hành gia NASA, Bruce McCandless II đâm đơn kiện Dido vì sử dụng hình ảnh ông đang du hành vũ trụ năm 1984 cho bìa album "Safe Trip Home" khi chưa được uỷ quyền. Vụ kiện - bao gồm cả tên của Sony Corp.'s Sony Music Entertainment và Getty Images Inc như là những bị cáo - không có bất cứ vi phạm nào về bản quyền mà chỉ vi phạm ở phạm vi cá nhân.
Dido có hé lộ về việc sáng tác nhiều bài hát mới tại phòng thu âm, nhấn mạnh vào dự án cho album phòng thu thứ 4 sắp tới của cô sau khi album "Safe Trip Home" được phát hành không lâu. Vào tháng 7 năm 2009, Dido khẳng định album mới của mình sẽ có nhiều giai điệu điện tử, nhằm khiến album này có hướng đi hoàn toàn khác so với những sản phẩm âm nhạc trước.
Vào tháng 9 năm 2010, Dido cho ra mắt đĩa đơn "Everything to Lose" dưới dạng tải về kĩ thuật số, mà trước đó đã xuất hiện trong phần nhạc phim của "Sex and the City 2". Vào tháng 1 năm 2011, Dido tiếp tục cho ra một bài hát khác mang tên "If I Rise", hợp tác cùng nhà sản xuất A.R. Rahman mà tiếp đó, một video ca nhạc đã được phát hành.
Dido thông báo qua trang web chính thức của cô rằng quá trình thu âm album mới của cô đã diễn ra tại Luân Đôn và California, và một vài bài hát mới đã được thu âm tại chính phòng khách sạn của cô, với một chiếc đàn điện tử và một chiếc mic-rô. Cô cũng mô tả album của mình là một sản phẩm "ngông cuồng đầy niềm vui với giai điệu điện tử". Trong buổi phỏng vấn cùng Daily Mail, cô cũng tiết lộ album mới sẽ có sự hợp tác sản xuất của Rollo Armstrong, Sister Bliss, Lester Mendez, A. R. Rahman, Rick Nowels, Greg Kurstin, Brian Eno, Jeff Bhasker, và album đang trong quá trình hoàn thành. Vào ngày 2 tháng 11 năm 2012, Dido có đăng một tấm ảnh lên trang Twitter chính thức của cô, thông báo album mới của mình đã hoàn thành. Không lâu sau đó, cô tiếp tục hé lộ về việc góp giọng của cặp đôi Rizzle Kicks trong một ca khúc mới nằm trong album sắp tới, mà sau đó đã tiết lộ rằng họ đã thu bài hát đó 2 năm trước, không lâu sau khi họ phát hành đĩa đơn đầu tay, "Down with the Trumpets", khi họ đã loại ca khúc ra khỏi danh sách ca khúc chính thức cuối cùng của album.
Dido đã thông báo tựa đề chính thức "Girl Who Got Away" của album vào ngày 8 tháng 11 năm 2012, sau khi tiết lộ cái tên này được đặt theo tên một ca khúc trong album. Trong cùng ngày hôm đó, trang mạng chính thức của Dido cũng cho biết vài chi tiết về album mới này. Hãng đĩa của Dido, Sony Music Entertainment cho phát hành album vào ngày 4 tháng 3 năm 2013 tại châu Âu và ngày 26 tháng 3 năm 2013 tại Bắc Mỹ. "No Freedom" được chọn làm đĩa đơn đầu của album vào ngày 18 tháng 1 năm 2013.
Những công việc khác.
Trong lúc đang hoạt động với vai trò đơn ca, Dido cũng tham gia đồng sáng tác và góp giọng nền cho một vài bản cùng với Faithless, có bao gồm "One Step Too Far" - ca khúc được phát hành dưới dạng đĩa đơn phiên bản có hạn tại Anh, nơi mà nó đã đạt tới vị trí thứ 6 - và "No Roots", ca khúc có tựa đề trùng với album thứ tư của Faithless. Rollo, anh trai của Dido cũng đồng sáng tác và đồng sản xuất cho rất nhiều bài hát mà Dido sử dụng trong quá trình hoạt động nghệ thuật của mình, bao gồm nhiều tác phẩm trong các album "No Angel", "Life for Rent" và "Safe Trip Home".
Cô còn tham gia góp giọng nền cho từng album trong từng album của Faithless, từ album năm 1996 "Reverence" đến "The Dance" năm 2010. Dido đã làm việc với anh trai của cô trong CD đi kèm với quyển sách dành cho thiếu nhi mà anh viết cùng Jason White, "Safe from Harm". Cô cũng đồng sáng tác trong bài hát ăn khách đạt vị trí đầu bảng trên toàn thế giới của Britney Spears - "I'm Not a Girl, Not Yet a Woman", cũng là ca khúc nhạc phim trong bộ phim đầu tiên mà Spears tham gia diễn vai chính.
Năm 2006, cô tái bản lại ca khúc "Christmas Day", cho dù nó không thể leo lên bảng xếp hạng tại Anh. Nó từng xuất hiện trong EP năm 2001 của cô mang tên "All You Want" (một bài hát trích trong album "No Angel").
Dido cũng tham gia góp giọng nền cho nhiều bài hát bởi nhiều nghệ sĩ khác nhau, bao gồm "Feels Like Fire" cho album năm 2002 của Carlos Santana, "Shaman", và bản song ca cùng Rufus Wainwright mang tên "I Eat Dinner (When the Hunger's Gone)" cho bộ phim . Một đoạn nhạc mẫu của ca khúc "Do You Have a Little Time" của cô cũng được dùng trong bài "Don't You Trust Me?" của Tupac, trong album "Loyal to the Game", được sản xuất hoàn toàn bởi Eminem năm 2004.
Annie Lennox đã cùng Dido và 22 nghệ sĩ nữ khác nâng cao tính nhận thức về vấn đề truyền nhiễm HIV từ mẹ sang con đến những đứa trẻ chưa ra đời tại châu Phi. Đĩa đơn "Sing" đã được phát hành trong Ngày AIDS thế giới (1 tháng 12 năm 2007), cùng sự xuất hiện của Annie Lennox tại đêm diễn Nelson Mandela 46664 ở Nam Phi.
Năm 2010, bài hát "Everything to Lose" được xuất hiện trong bộ phim "Sex and the City 2". Ca khúc được chắp bút bởi Dido tại quê nhà, nơi cô thu âm album thứ tư của mình.
Cũng trong năm 2010, Dido xuất hiện trong phần nhạc phim "127 Hours", một bộ phim ly kì do đạo diễn Danny Boyle thực hiện. Bài hát bao gồm phần trộn lẫn giữa guitar điện và dàn nhạc cùng với sóng âm thanh. Tác giả A.R. Rahman và Dido đã cùng nhau thu âm ca khúc mang tên "If I Rise" có xuất hiện trong đoạn cao trào của phim. Ca khúc được đề cử cho giải Satellite Award, Houston Film Critics Society Awards, Las Vegas Film Critics Society Award và Giải Oscar. Nó đã thắng giải Broadcast Film Critics Association Award cho Bài hát trong phim xuất sắc nhất. Một video ca nhạc cho ca khúc có sự xuất hiện của Dido và A. R. Rahman đã được phát hành vào ngày 17 tháng 2.
Sau khi phát hành "No Angel" năm 1999, Dido chính thức chia tay với hôn phu là luật sư giải trí Bob Page, sau mối quan hệ kéo dài 7 năm. Hiện cô đã kết hôn cùng Rohan Gavin và có một đứa con trai, tên là Stanley, sinh vào tháng 7 năm 2011.
|
Leucémie (phiên âm tiếng Việt: Lơ-Xê-Mi) hay bệnh bạch cầu. "Bệnh máu trắng" là tên gọi dân gian của các bệnh ung thư xảy ra ở tế bào máu, bao gồm bệnh ung thư máu và bệnh lymphoma, là các loại ung thư ác tính. Căn bệnh này xảy ra do bạch cầu trong cơ thể người bệnh tăng đột biến. Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định cụ thể, nhưng có thể là do các tác động của môi trường như ô nhiễm hóa học, nhiễm chất phóng xạ hoặc cũng có thể do di truyền.
Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nên chúng hoạt động khá mạnh. Khi loại tế bào này tăng số lượng một cách bất thường, chúng sẽ cạnh tranh nguồn dinh dưỡng và không gian sống với hồng cầu (tế bào máu vận chuyển oxy) và hoạt động không đặc hiệu (tiêu diệt tế bào bình thường trong cơ thể). Hồng cầu bị cạnh tranh nguồn sống và không thể hoạt động bình thường, vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết. Đây cũng là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra khối u rắn.
Hiện nay căn bệnh này đã có một số biện pháp điều trị nhưng hiệu quả không cao. Người dân ở các vùng nhiễm phóng xạ thường có tỉ lệ bị bệnh này rất cao (như 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki sau thời Chiến tranh Thế giới thứ hai ở Nhật).
Leucémie cấp tính hay mãn tính đều không liên quan đến yếu tố di truyền.
Khi dạng bạch cầu ung thư phát triển nhanh trong tủy làm đau nhức, đồng thời chiếm chỗ và làm giảm sự phát triển những tế bào máu bình thường khác.
Bệnh nhân có thể có những chứng sau:
Phân loại và chuẩn đoán.
Phân loại và chẩn đoán ung thư bạch cầu dựa trên các đặc tính hình thái học và miễn dịch của tế bào ung thư. Trong những năm gần đây, các đặc điểm di truyền và phân tử sinh học cũng ngày càng được coi trọng.
Tùy vào loại tế bào liên quan, ban đầu ta phân biệt ung thư tủy từ ung thư bạch cầu. Ung thư tủy xuất phát từ tế bào tiền sử của các tế bào vi khuẩn, trong một khía cạnh rộng hơn còn bao gồm cả tế bào hồng cầu và tiểu cầu, trong khi ung thư bạch cầu liên quan đến các tế bào lympho và các tế bào tiền sử của chúng.
Hơn nữa, ta phân biệt giữa ung thư bạch cầu cấp và mãn tính dựa trên mức độ không trưởng thành của các tế bào ung thư có trong tủy xương và máu. Trong trường hợp ung thư bạch cầu cấp, chủ yếu là các tế bào ở giai đoạn rất sớm, không trưởng thành, gần như không có chức năng. Trong ung thư bạch cầu mãn tính, ta có thể quan sát thấy tế bào ung thư tăng lên, chúng đã phát triển nhiều hơn và tương tự như các tế bào máu chín, nhưng vẫn chưa hoàn toàn có khả năng hoạt động.
Chẩn đoán nghi ngờ thường có thể được xác định dựa trên xét nghiệm máu và xét nghiệm phân loại bạch cầu, tuy nhiên phân loại chính xác thường đòi hỏi phải thực hiện thủ thuật lấy mẫu tủy xương.
|
Madonna Louise Ciccone (; [tʃikˈkoːne]; sinh ngày 16 tháng 8 năm 1958) là một nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc, diễn viên người Mỹ. Được gọi là "Nữ hoàng nhạc pop", Madonna gây chú ý vì liên tục sáng tạo và linh hoạt trong việc sản xuất âm nhạc, sáng tác và trình diễn trực tiếp. Bà còn được biết đến với việc vượt qua ranh giới của sự thể hiện nghệ thuật trong nền âm nhạc chính thống, đồng thời vẫn hoàn toàn nắm quyền tự chủ trong ngành công nghiệp thu âm. Các sản phẩm của bà thường nói về các chủ đề xã hội, chính trị, tình dục và tôn giáo, nhận được cả sự hoan nghênh lẫn tranh cãi của giới phê bình. Là một nhân vật đại chúng nổi bật của thế kỉ 20 và 21, bà là một trong những nhân vật được bàn tán nhiều nhất của thời kì hiện đại.
Madonna chuyển đến thành phố New York vào năm 1978 nhằm theo đuổi sự nghiệp khiêu vũ hiện đại. Sau khi giữ vai trò tay trống, nghệ sĩ guitar và giọng ca chính trong ban nhạc rock Breakfast Club và Emmy, bà đã trở thành nghệ sĩ solo với album phòng thu đầu tay, "Madonna" (1983), tiếp nối với một loạt các album thành công, bao gồm những album bán chạy nhất mọi thời đại "Like a Virgin" (1984) và "True Blue" (1986) cũng như album đoạt giải Grammy "Ray of Light" (1998) và "Confessions on a Dance Floor" (2005). Madonna có được nhiều đĩa đơn quán quân trong suốt sự nghiệp của mình, bao gồm "Like a Virgin", "La Isla Bonita", "Like a Prayer", "Vogue", "Take a Bow", "Frozen", "Music", "Hung Up" và "4 Minutes".
Sự nổi tiếng của Madonna được nâng tầm với các vai diễn trong những bộ phim như "Despeently Seeking Susan" (1985), "Dick Tracy" (1990), "A League of their Own" (1992) và "Evita" (1996). Trong khi "Evita" giúp bà giành được giải Quả cầu vàng cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất, nhiều bộ phim khác của bà lại bị đánh giá thấp. Là một nữ doanh nhân, Madonna thành lập công ty Maverick vào năm 1992; bao gồm Maverick Records, một trong những hãng đĩa do nghệ sĩ điều hành thành công nhất trong lịch sử. Các dự án khác của bà bao gồm thương hiệu thời trang, sách cho trẻ em, câu lạc bộ sức khỏe và làm phim. Bà còn đóng góp cho nhiều tổ chức từ thiện khác nhau, thành lập Ray of Light Foundation vào năm 1998 và Raising Malawi vào năm 2006.
Với doanh số hơn 300 triệu đĩa trên toàn thế giới, Madonna là nữ nghệ sĩ âm nhạc bán đĩa nhạc chạy nhất mọi thời đại. Bà là nghệ sĩ solo thành công nhất trong lịch sử bảng xếp hạng "Billboard" Hot 100 của Mỹ và giữ kỷ lục có nhiều đĩa đơn quán quân nhất của một nghệ sĩ nữ ở Úc, Canada, Ý, Phần Lan, Ireland, Tây Ban Nha và Vương quốc Anh. Với doanh thu 1,5 tỷ đô la Mỹ từ vé xem buổi hòa nhạc của mình, bà vẫn là nghệ sĩ lưu diễn solo có doanh thu cao nhất mọi thời đại. Madonna được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll vào năm 2008, năm đầu tiên bà đủ điều kiện. Bà được xếp hạng là người phụ nữ vĩ đại nhất trong âm nhạc bởi VH1 vào năm 2012 và là nghệ sĩ video âm nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại của "Billboard" vào năm 2020. "Rolling Stone" cũng liệt kê Madonna trong số 100 nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại và 100 nhạc sĩ xuất sắc nhất mọi thời đại.
Cuộc đời và sự nghiệp.
Madonna Louise Ciccone sinh ngày 16 tháng 8 năm 1958 tại Bay City, Michigan, Hoa Kỳ; là con của gia đình theo đạo Thiên Chúa giáo Silvio Anthony "Tony" Ciccone và Madonna Louise Fortin, ("k". 1933 – 1 tháng 12 năm 1963). Ông bà nội của bà có gốc gác từ Pacentro, Ý, trong khi mẹ bà mang dòng máu Pháp-Canada. Tony là một kỹ sư thiết kế cho hãng Chrysler và General Motors. Vì trùng tên với mẹ, các thành viên trong gia đình thường gọi bà bằng cái tên "Little Nonni". Bà có hai người anh trai, Anthony (sinh năm 1956) và Martin (sinh năm 1957), cùng 3 người em: Paula (sinh năm 1959), Christopher (sinh năm 1960) và Melanie (sinh năm 1962).
Từ khi được ban Bí tích vào năm 1966, bà lấy Veronica làm tên Thêm Sức của mình. Bà lớn lên ở ngoại ô thành phố Detroit, thuộc Pontiac và Avon Township (nay là Rochester Hills). Nhiều tháng trước khi mẹ bà qua đời vì bệnh ung thư vú, Madonna nhận thấy nhiều thay đổi trong hành vi và tính cách của bà, cho dù không biết nguyên nhân. Madonna tìm đến sự an ủi từ bà nội mình, trong khi các anh chị em nhà Ciccone trở nên nổi loạn trước bất kỳ ai tỏ vẻ thay thế mẹ mình trong nhà. Trên "Vanity Fair", Madonna chia sẻ tuổi trẻ của mình là một "cô gái đơn độc đang tìm kiếm một điều gì đó. Tôi không hề phiến loạn theo một cách nhất định. Tôi nỗ lực để trở nên xuất sắc về một điều gì đó. Tôi không tẩy nách và trang điểm như những cô gái khác. Nhưng tôi vẫn học và có điểm tố". Năm 1966, Tony kết hôn với quản gia của gia đình, Joan Gustafson; họ có hai người con, Jennifer (sinh năm 1967) và Mario (sinh năm 1968). Vào thời điểm này, Madonna bắt đầu oán giận ông trong suốt nhiều năm và có thái độ bất trị.
Madonna theo học tại Trường Tiểu học Công giáo St. Frederick's và St. Andrew's trước khi gia nhập tại trường West Middle School. Bà nổi tiếng vì số điểm trung bình cao và thường xuyên có những hành vi bất thường. Bà nhào lộn và thực hiện tư thế trồng cây chuối trong hành lang lớp, đu người trên thanh xà bằng đầu gối trong giờ giải lao và tốc váy trong lớp để các bạn nam nhìn thấy nội y. Madonna sau đó đến học tại trường Trung học Rochester Adams, nơi bà trở thành một học sinh loại A và là một thành viên của đội hoạt náo viên. Sau khi tốt nghiệp, bà giành một học bổng khiêu vũ của đại học Âm nhạc, Kịch nghệ và Khiêu vũ Michigan và tham dự Ngày hội Khiêu vũ Hoa Kỳ suốt mùa hè. Bà nài nỉ bố mình cho phép tham gia khóa học ba-lê, và được giáo viên ba-lê Christopher Flynn thuyết phục theo đuổi sự nghiệp khiêu vũ.
Vào năm 1978, bà dừng việc học và dời đến Thành phố New York. Vì gặp khó khăn về tài chính, bà làm công việc của một bồi bàn tại Dunkin' Donuts trong khi cùng vũ đoàn tham gia khóa học nhảy tại Alvin Ailey American Dance Theater. Bà chia sẻ, "Khi tôi tới New York, đó là lần đầu tiên tôi đi máy bay, lần đầu tiên tôi gọi một chiếc taxi, lần đầu tiên với tất cả mọi thứ. Và trong ví của tôi chỉ vẻn vẹn có 35 đô-la. Không nghề ngỗng, không bạn bè, không nhà cửa. Đó là việc dũng cảm nhất mà tôi từng làm trong đời". Trong một đêm trở về sau khi luyện tập, bà bị hai người đàn ông dùng dao khống chế và buộc phải quan hệ tình dục bằng miệng. Madonna sau đó cho rằng "câu chuyện ấy thể hiện sự yếu đuối của tôi, cho thấy tôi vẫn không thể tự bảo vệ mình dù khoác lên vẻ ngoài mạnh mẽ. Tôi không thể nào quên đi điều ấy."
Trong khi đang làm vũ công và hát bè cho nghệ sĩ disco người Pháp Patrick Hernandez trong chuyến lưu diễn năm 1979, Madonna có mối quan hệ tình cảm với tay guitar Dan Gilroy. Cả hai cùng nhau thành lập ban nhạc rock đầu tiên, Breakfast Club, nơi bà hát, chơi trống và ghi-ta. Vào năm 1980 hoặc 1981, bà rời khỏi nhóm và thành lập nên Emmy, một ban nhạc khác với tay trống là người tình cũ Stephen Bray. Cả hai bắt đầu sáng tác và Madonna sau đó quyết định đưa tên tuổi mình trở thành một nghệ sĩ đơn ca. Âm nhạc của họ khiến DJ và nhà sản xuất thu âm Mark Kamins bị thuyết phục, người sau đó sắp xếp một cuộc gặp gỡ giữa Madonna và nhà sáng lập hãng thu âm Sire Records, Seymour Stein.
Sau khi ký kết một hợp đồng thu âm cùng Sire, hai đĩa đơn đầu tiên của bà, "Everybody" và "Burning Up" lần lượt ra mắt vào tháng 10 năm 1982 và tháng 3 năm 1983. Cả hai đều là những bài hát ăn khách tại các hộp đêm Hoa Kỳ, đạt đến vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Hot Dance Club Songs của tạp chí "Billboard". Sau thành công này, bà bắt đầu phát triển album đầu tay "Madonna", dự định do Reggie Lucas của hãng Warner Bros. sản xuất chính. Dù vậy, bà lại không hài lòng với những bài hát đã hoàn thiện, bất đồng với kỹ thuật sản xuất của Lucas và quyết định tìm thêm sự giúp đỡ.
Madonna dọn đến cùng bạn trai John "Jellybean" Benitez, nhờ giúp đỡ hoàn thiện sản xuất album. Benitez phối lại hầu hết các bài hát và sản xuất nên "Holiday", đĩa đơn thứ ba và là bài hát ăn khách toàn cầu đầu tiên của bà. Âm thanh tổng thể của "Madonna" khá chói tai và mang hình thức của dòng nhạc disco tổng hợp tiết tấu nhanh, sử dụng một vài kỹ thuật tân tiến lúc bấy giờ, bao gồm máy đánh trống Linn, Moog bass và OB-X synthesizer. Album ra mắt vào tháng 7 năm 1983 và vươn lên vị trí thứ 8 trên "Billboard" 200 6 tháng sau đó, vào năm 1984. Album cho ra thêm hai đĩa đơn ăn khách khác, "Borderline" và "Lucky Star".
Vẻ ngoài và phong cách ăn mặc của Madonna, cùng những màn trình diễn và video âm nhạc của bà có sức ảnh hưởng đến phái nữ và những cô gái tuổi mới lớn, trở thành một trong những phong cách thời trang thịnh hành vào thập niên 1980. Do nhà tạo mẫu và thiết kế trang sức Maripol sáng tạo, phong cách bao gồm áo viền ren, váy cùng quần cộc, tất mắt lưới cho đến những đồ trang sức hình thánh giá, vòng tay lủng lẳng bằng nhựa, tóc nhuộm màu. Madonna được công chúng toàn cầu biết đến sau khi phát hành album phòng thu thứ hai, "Like a Virgin" vào tháng 11 năm 1984. Album dẫn đầu các bảng xếp hạng tại nhiều quốc gia và trở thành album đầu tiên của bà vươn đến ngôi quán quân "Billboard" 200. Bài hát chủ đề, "Like a Virgin" đạt vị trí số 1 trên "Billboard" Hot 100 trong 6 tuần liên tiếp. Nhiều tổ chức đưa ra những lời phàn nàn về video âm nhạc cùng bài hát này, khi được cho là ủng hộ tình dục trước hôn nhân và làm tổn hại giá trị gia đình, với mong muốn bài hát và video này bị cấm.
Màn trình diễn "Like a Virgin" của Madonna tại mùa giải Video âm nhạc của MTV (VMA) đầu tiên vào năm 1984 bị chỉ trích. Bà xuất hiện trên đỉnh một chiếc bánh cưới khổng lồ khi đang mặc một chiếc váy cưới và găng tay trắng. Màn trình diễn được MTV ghi nhận là một trong những khoảnh khắc đáng nhớ trong lịch sử VMA. Sau đó, bà xuất hiện trong video âm nhạc cho bài hát ăn khách "Material Girl" trong hình tượng của Marilyn Monroe khi trình bày "Diamonds Are a Girl's Best Friend", trích từ bộ phim "Gentlemen Prefer Blondes" (1953). Trong khi ghi hình cho video này, Madonna bắt đầu hẹn hò với nam diễn viên Sean Penn. Cả hai kết hôn trong ngày sinh nhật của bà vào năm 1985. "Like a Virgin" đạt chứng nhận Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ và chạm mốc 25 triệu bản bán ra trên toàn cầu. Vào tháng 2 năm 1984, theo đạo diễn Sir Richard Attenborough, Madonna tham gia dự tuyển tại Royale Theatre, Broadway cho một vai trong phiên bản điện ảnh của "A Chorus Line" và sử dụng tên khai sinh Ciccone của bà, nhưng ông đã từ chối.
Madonna lấn sân sang thể loại phim ảnh vào tháng 2 năm 1985, bắt đầu bằng một vai nhỏ là một cô ca sĩ hộp đêm trong "Vision Quest", một bộ phim lãng mạn chính kịch. Trích từ nhạc phim là hai đĩa đơn mới, "Gambler" và nhà quán quân bảng xếp hạng đĩa đơn Hoa Kỳ "Crazy for You". Bà tiếp tục tham gia phim hài "Desperately Seeking Susan" vào tháng 3 năm 1985, giới thiệu bài hát "Into the Groove" trước công chúng và trở thành đĩa đơn quán quân đầu tiên của bà tại Vương quốc Liên hiệp Anh. Tuy Madonna không phải là diễn viên chính của phim, đây lại được nhìn nhận rộng rãi là một công cụ đánh bóng và quảng bá cho tên tuổi của bà. Nhà phê bình Vincent Canby từ "The New York Times" liệt bộ phim vào danh sách xuất sắc nhất của năm 1985.
Bắt đầu từ tháng 4 năm 1985, Madonna khởi động chuyến lưu diễn đầu tiên tại Bắc Mỹ, The Virgin Tour cùng tiết mục mở màn của Beastie Boys. Cùng thời điểm trên, bà phát hành thêm hai đĩa đơn ăn khách khác trích từ album, "Angel" và "Dress You Up". Vào tháng 7, tạp chí "Penthouse" và "Playboy" cho xuất bản một vài bức ảnh khỏa thân của Madonna chụp tại New York từ năm 1978. Bà tạo mẫu cho những bức ảnh này trong thời gian túng thiếu, với mức tiền chỉ khoảng 25 đô-la Mỹ một bối cảnh. Lần xuất bản này khiến dư luận xôn xao, trong khi Madonna vẫn tỏ ra "không biện hộ và ngang ngạnh". Những bức ảnh này sau cùng được bán với số tiền khoảng 100.000 đô-la Mỹ. Bà nhắc đến sự kiện này trong một đêm nhạc từ thiện ngoài trời Live Aid vào năm 1985, phát biểu rằng bà sẽ không cởi áo khoác vì "[giới truyền thông] có thể dùng nó để kháng cự tôi vào 10 năm sau."
Lấy cảm hứng từ Sean Penn, album thứ ba của Madonna mang tên "True Blue" phát hành vào tháng 6 năm 1986. Tạp chí "Rolling Stone" lấy làm thuyết phục trước tác phẩm này, cho rằng album "nghe như tiếng nói đến từ tận trái tim". Album cho ra 3 đĩa đơn dẫn đầu "Billboard" Hot 100: "Live to Tell", "Papa Don't Preach" và "Open Your Heart", cùng với 2 đĩa đơn vươn đến top 5: "True Blue" và "La Isla Bonita". Album đứng đầu các bảng xếp hạng tại hơn 28 quốc gia trên toàn cầu, một thành tựu chưa từng thấy vào thời điểm đó và trở thành album phòng thu bán chạy nhất trong sự nghiệp của bà cho đến hiện nay, với doanh số đã vượt ngưỡng 25 triệu bản. Cùng năm đó, Madonna xuất hiện trong bộ phim bị chỉ trích "Shanghai Surprise," mang về cho bà giải Mâm xôi vàng cho "Nữ diễn viên chính tồi nhất". Bà lần đầu lộ diện trong một tác phẩm sân khấu trong vở "Goose and Tom-Tom" của David Rabe; cả bộ phim lẫn kịch đều có sự góp mặt diễn xuất của Penn. Năm tiếp sau, Madonna tham gia bộ phim "Who's That Girl" và đóng góp 4 bài hát trong phần nhạc phim, bao gồm bài hát chủ đề và "Causing a Commotion".
Madonna mở đầu chuyến lưu diễn Who's That Girl World Tour vào tháng 7 năm 1987 và tiếp tục cho đến tháng 9 cùng năm. Chuyến lưu diễn phá vỡ nhiều kỷ lục về khán giả tham dự, trong đó có đêm nhạc diễn ra gần Paris thu hút hơn 130.000 khán giả, hiện vẫn đang là lượng người xem buổi diễn đông đảo nhất của bà. Cuối năm đó, bà phát hành một album phối khí lại của những bài hát ăn khách dưới tựa đề "You Can Dance", vươn đến vị trí thứ 14 trên "Billboard" 200. Sau một cuộc hủy bỏ vào tháng 12 năm 1987, Madonna điền vào đơn ly hôn với Penn vào tháng 1 năm 1989, với lý do khác biệt không thể hòa giải.
Vào tháng 1 năm 1989, Madonna ký kết một hợp đồng chứng thực với hãng nước giải khát Pepsi và giới thiệu bài hát "Like a Prayer" trong quảng cáo cho hãng này. Video âm nhạc cho bài hát có xuất hiện những biểu tượng của Thiên chúa giáo như dấu Thánh hay đốt cháy cây Thánh giá, khiến Tòa Thánh lên tiếng kết tội báng bổ tôn giáo. Các Giáo hội đưa ra mong muốn hủy bỏ đoạn quảng cáo và tẩy chay sản phẩm của Pepsi. Pepsi sau đó chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ quảng cáo. Bài hát xuất hiện trong album phòng thu thứ tư của Madonna, "Like a Prayer", do Patrick Leonard và Stephen Bray đồng sáng tác và sản xuất. Các phản ứng đến album đa phần là tích cực, với lời ca ngợi của "Rolling Stone" cho rằng "âm hưởng pop [của album] đã đạt tới sự gần gũi với nghệ thuật". "Like a Prayer" đạt vị trí số 1 trên "Billboard" 200 và bán ra 15 triệu bản trên toàn cầu, bao gồm 4 triệu bản chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ. Có 6 đĩa đơn trích từ album, bao gồm đĩa đơn quán quân "Like a Prayer" và hai nhà Á quân "Express Yourself" và "Cherish". Đến cuối thập niên 1980, Madonna được MTV, tạp chí "Billboard" và "Musician" vinh danh là "Nghệ sĩ của thập niên".
"Trong "Like a Prayer", tôi đã phải đối mặt với nhiều vấn đề đặc biệt ý nghĩa với bản thân. Chúng là sự đồng hóa trước những trải nghiệm mà tôi có trong cuộc sống lẫn tình cảm. Chúng kể về mẹ tôi, cha tôi và sự gắn kết gia đình trước nỗi đau qua đời hoặc lớn lên và buông xả. [Album này] là một đĩa thu âm trưởng thành đối với tôi về mặt tinh thầ"
—Madonna kể về niềm cảm hứng đằng sau "Like a Prayer".
Madonna vào vai Breathless Mahoney trong bộ phim "Dick Tracy" (1990), cùng Warren Beatty trong vai chính. Vai diễn của bà mang về một đề cử giải Sao Thổ cho "Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất". Cùng với bộ phim, bà phát hành một album nhạc phim mang tên "I'm Breathless" cùng những bài hát lấy cảm hứng từ bối cảnh thập niên 1930 của bộ phim. Album có sự xuất hiện của đĩa đơn quán quân Hoa Kỳ "Vogue" và bài hát mang về cho tác giả Stephen Sondheim giải Oscar cho "Ca khúc trong phim hay nhất" vào năm 1991, "Sooner or Later (I Always Get My Man)". Trong khi ghi hình, Madonna bắt đầu có mối quan hệ tình cảm với Beatty, trước khi chấm dứt với ông vào cuối năm 1990. Vào tháng 4 năm 1990, Madonna mở đầu chuyến lưu diễn Blond Ambition World Tour, kéo dài đến tháng 8 cùng năm. "Rolling Stone" gọi chương trình "dàn dựng công phu, hoành tráng một cách khêu gợi" và tuyên bố đây là "chuyến lưu diễn xuất sắc nhất năm 1990". Chuyến lưu diễn vấp phải những phản ứng tiêu cực từ các Giáo hội bởi màn trình diễn "Like a Virgin" của Madonna, khi bà được hai vũ công nam vuốt ve cơ thể trước khi thực hiện các động tác như thủ dâm. Madonna trả lời "Chuyến lưu diễn này không hề tổn hại đến cảm xúc của bất kỳ ai. Nó dành cho những tâm hồn phóng khoáng và giúp họ nhìn nhận tình dục theo một cách khác biệt. Của chính họ và cả những người khác." Lần phát hành đĩa Laser của chuyến lưu diễn mang về cho Madonna giải Grammy năm 1992 cho "Video âm nhạc dài xuất sắc nhất."
"The Immaculate Collection", album tuyển tập đầu tiên của Madonna, ra mắt vào tháng 11 năm 1990. Album phát hành hai bài hát mới "Justify My Love" và "Rescue Me". Album đạt chứng nhận Kim cương bởi RIAA với doanh số chạm mốc 30 triệu bản toàn cầu, trở thành album tổng hợp bán chạy nhất bởi một nghệ sĩ đơn ca trong lịch sử. "Justify My Love" vươn đến ngôi vị cao nhất tại Hoa Kỳ và đạt đến top 10 trên toần cầu. Video âm nhạc của bài hát có chứa nội dung liên quan đến bạo dâm, đồng tính luyến ái và khỏa thân, khiến kênh truyền hình MTV ra thông báo cấm trình chiếu trên hệ thống. Madonna phản ứng trước sự việc, cho rằng "Tại sao mọi người sẵn sàng đến xem một bộ phim về một người bị bắn đến chết không vì một lý do nào cả, nhưng lại không ai muốn xem hai cô gái đang hôn và hai chàng trai đang ôm ấp nhau?" Vào tháng 12 năm 1990, Madonna quyết định rút khỏi bộ phim "Boxing Helena" của Jennifer Lynch sau khi nhận lời tham gia mà không có lời giải thích nào đến nhà sản xuất. Trong khoảng thời gian này, Madonna có mối tình kéo dài 8 tháng với rapper Vanilla Ice; ông chấm dứt mối quan hệ của cả hai sau khi bà phát hành quyển sách "Sex". Bộ phim tư liệu "" (còn được biết đến với tên gọi "In Bed with Madonna" bên ngoài Bắc Mỹ) xuất bản vào tháng 5 năm 1991, ghi chép lại chuyến lưu diễn Blond Ambition World Tour của bà.
Vào năm 1992, Madonna vào vai cầu thủ bóng chày Mae Mordabito trong "A League of Their Own". Bà thu âm bài hát chủ đề cho phim, "This Used to Be My Playground" đạt ngôi quán quân Hot 100 Hoa Kỳ. Cùng năm đó, bà sáng lập nên công ty giải trí Maverick, bao gồm một hãng thu âm (Maverick Records), một hãng sản xuất phim (Maverick Films) và liên kết xuất bản âm nhạc, quảng bá truyền hình, xuất bản sách và đơn vị bán hàng. Hợp đồng liên doanh với Time Warner này giúp Madonna thu về 60 triệu đô-la Mỹ, trong đó bao gồm 20% tiền hoa hồng từ thủ tục âm nhạc, một trong những mức giá cao nhất ngành công nghiệp, ngang bằng với số tiền bản quyền uy tín mà Michael Jackson nhận được một năm trước với Sony. Sản phẩm đầu tiên từ sự đầu tư này là quyển sách mang tựa đề "Sex" của Madonna. Quyển sách gây nên sự bất bình và phản đối mạnh mẽ từ công chúng, khi chứa nhiều hình ảnh minh họa mang tính gợi dục do Steven Meisel chụp lại, dù tiêu thụ 1.5 triệu bản với giá thành 50 đô-la Mỹ chỉ trong một ngày xuất bản. Cùng lúc đó, bà phát hành album phòng thu thứ 5 "Erotica", ra mắt tại vị trí thứ 2 trên "Billboard" 200. Bài hát chủ đề của album đạt đến vị trí thứ 3 trên "Billboard" Hot 100. "Erotica" cho phát hành 5 đĩa đơn khác: "Deeper and Deeper", "Bad Girl", "Fever", "Rain" và "Bye Bye Baby". Madonna mang hình tượng gợi cảm xuất hiện trong bộ phim tình ái ly kỳ "Body of Evidence", với những cảnh liên quan đến bạo dâm. Phim bị chỉ trích bởi các nhà phê bình. Bà còn góp mặt trong "Dangerous Game" phát hành trên định dạng video tại Bắc Mỹ. "The New York Times" mô tả bộ phim "giận dữ và đau khổ, với nỗi đau mang cảm giác chân thật."
Vào tháng 9 năm 1993, Madonna mở đầu chuyến lưu diễn The Girlie Show World Tour, nơi bà mặc quần áo ngắn bó sát cùng roi da và nhiều vũ công ngực trần. Tại Puerto Rico, bà chà xát lá cờ của đảo quốc này giữa hai chân trên sân khấu, gây ra làn sóng phẫn nộ trong khán giả. Vào tháng 3 năm 1994, bà xuất hiện với tư cách khách mời trong chương trình "Late Show with David Letterman", nơi bà sử dụng ngôn ngữ thô tục trước sự kiểm duyệt của nhà đài và đưa cho Letterman chiếc quần lót của mình, bắt ông phải ngửi chúng trong buổi phỏng vấn. Theo sau một loạt bộ phim, album và sách mang tính gợi dục cao, cùng sự xuất hiện gây tranh cãi lớn trên Letterman, Madonna khiến các nhà phê bình nghi ngờ bà là một kẻ phiến loạn tình dục. Các nhà phê bình lẫn người hâm mộ đều phản ứng một cách tiêu cực, cho rằng bà "đã đi quá xa" và sự nghiệp của bà đã chấm dứt.
Nhà viết tiểu sử J. Randy Taraborrelli mô tả bản ballad "I'll Remember" (1994) là một động thái làm dịu lại hình tượng nổi loạn của Madonna. Bà thu âm bài hát này cho bộ phim "With Honors" của Alek Keshishian. Sau đó, bà xuất hiện một cách dịu dàng cùng Letterman tại một buổi lễ trao giải và xuất hiện trên "The Tonight Show with Jay Leno" sau khi nhận ra mình cần phải thay đổi định hướng âm nhạc để tiếp tục giữ được sự yêu mến. Với album phòng thu thứ 6, "Bedtime Stories" (1994), Madonna sử dụng hình ảnh nhẹ nhàng hơn để cải thiện sự đón nhận của công chúng. Album mở đầu tại vị trí thứ 3 trên "Billboard" 200 và ra mắt 4 đĩa đơn, bao gồm "Secret" và nhà quán quân 7 tuần liên tiếp trên Hot 100, "Take a Bow", cũng là đĩa đơn có thời gian dẫn đầu lâu nhất của Madonna. Cùng thời gian đó, bà có mối quan hệ tình cảm với nhà huấn luyện thể hình Carlos Leon. "Something to Remember", một tập hợp các bản ballad, ra mắt vào tháng 11 năm 1995. Album này chứa 3 bài hát mới: "You'll See", "One More Chance" và phiên bản trình bày lại "I Want You" của Marvin Gaye.
"Đây là vai diễn để đời của tôi. Tôi đã cống hiến tất cả vì đây không chỉ là một vai diễn trong một bộ phim thông thường. Nó vừa hứng thú nhưng cũng rất đáng sợ. Và cũng là điều mà tôi phải nỗ lực sáng tạo nhất. Ở bất kể cấp độ nào, tôi cũng đều được học hỏi rất nhiều. Và tôi tự hào về Evita hơn tất cả những gì mà tôi đã thực hiện."
Trong "Evita" (1996), Madonna vào vai nhân vật chính Eva Perón. Trong một khoảng thời gian dài, Madonna có mong muốn nhận vai Perón và đã gửi thư đến đạo diễn Alan Parker để giải thích lý do vì sao bà là người hoàn hảo cho vai này. Sau khi trúng tuyển, bà tham gia khóa luyện giọng và tìm hiểu thêm về lịch sử của Argentina và Perón. Trong thời gian ghi hình, sức khỏe của bà bị suy sụp sau nhiều nỗ lực xúc cảm mãnh liệt khi nhập vai. Dù vậy, bà chia sẻ cùng Oprah rằng mình đã mang thai trong thời gian đó: "Tôi không thể thở sau mỗi cảnh quay. Tôi phải nằm trên trường kỷ mỗi 10 phút để có thể vực dậy sau những cơn chóng mặt, tôi lo mình đi lại quá nhiều và có thể làm tổn hại đứa bé." Madonna viết trong quyển nhật ký cá nhân vào thời điểm đó: "Trớ trêu thay, cảm giác mỏng manh và yếu ớt ấy đã giúp tôi thực hiện nên bộ phim. Tôi tin Evita cũng cảm thấy như vậy mỗi ngày kể từ khi biết mình bị ốm."
Sau khi ra mắt, giới phê bình đưa ra các đánh giá tích cực đến "Evita". Zach Conner từ "Time" có viết "Thật nhẹ nhõm khi khẳng định "Evita" khá ổn, tuyển vai tốt và có hình ảnh đẹp. Madonna lần nữa khiến ta bất ngờ trước những kỳ vọng trước đây. Bà vào vai Evita với vẻ mệt nhọc chua chát và có đôi chút khí chất của một ngôi sao. Dù có yêu hay ghét Madonna-Eva, bà ấy vẫn lôi cuốn mọi ánh nhìn." Madonna giành giải Quả cầu vàng cho "Nữ diễn viên chính phim hài hoặc nhạc kịch xuất sắc nhất". Bà cho ra mắt 3 đĩa đơn từ album nhạc phim "Evita", bao gồm "You Must Love Me" (giành giải Oscar cho "Bài hát trong phim xuất sắc nhất" vào năm 1997) và "Don't Cry for Me Argentina". Madonna sau đó trao giải Thành tựu Nghệ sĩ cho Tony Bennett tại "Billboard" Music Awards 1996. Ngày 14 tháng 10 năm 1996, Madonna hạ sinh Lourdes Maria Ciccone Leon, con gái của bà cùng Leon. Nhà viết tiểu sử Mary Cross viết rằng, cho dù Madonna thường xuyên ốm trong thời điểm quay phim và lo lắng việc mang thai có thể ảnh hưởng đến bộ phim, bà lại đạt được một vài mục tiêu cá nhân quan trọng: "Giờ đây ở tuổi 38, Madonna cuối cùng cũng giành được chiến thắng trên màn ảnh và thỏa ước mơ có một đứa con, chỉ trong đúng 1 năm. Bà đã đạt đến bước ngoặt của sự nghiệp, tái sáng tạo bản thân và hình tượng trước công chúng." Mối tình của bà cùng Carlos Leon chấm dứt vào tháng 5 năm 1997; bà chia sẻ rằng cả hai "nên làm bạn thì tốt hơn." Sau khi sinh Lourdes, Madonna có liên quan đến Đạo học phương Đông và Kabbalah. Bà được diễn viên Sandra Bernhard giới thiệu về Đạo học Do Thái vào năm 1997.
1998–2002: "Ray of Light", "Music", cuộc hôn nhân thứ hai và chuyến lưu diễn tái xuất.
Album phòng thu thứ 7 "Ray of Light" (1998) phản ánh sự thay đổi trong hình tượng của Madonna. Bà hợp tác cùng nhà sản xuất William Orbit, với mong muốn tạo nên một âm thanh hòa trộn nhạc dance cùng pop và British rock. Nhà phê bình âm nhạc Mỹ Ann Powers giải thích điều mà Madonna muốn tìm kiếm ở Orbit "là sự mới mẻ mà bà muốn ở bản thu âm này. Nhạc điện tử và rave đã xuất hiện vào thập niên 90 và hiện hữu ở nhiều biến thể khác nhau. Mọi thứ đều mang tính thử nghiệm cao, hạng nặng như Aphex Twin. Có không khí tiệc tùng như Fatboy Slim. Đó không phải là điều Madonna tìm kiếm. Bà ấy muốn điều gì đó mang tính cá nhân hơn. Và William Orbit đã giúp đỡ bà điều đó." Album được các nhà phê bình khen ngợi, với Slant Magazine gọi đây là "một trong những tuyệt phẩm pop thập niên 90". "Ray of Light" giành 4 giải Grammy và "Rolling Stone" liệt album này vào danh sách "500 album vĩ đại nhất". Về mặt thương mại, album này giành ngôi quán quân tại nhiều quốc gia và bán hơn 16 triệu bản toàn cầu. "Frozen", đĩa đơn đầu tiên của album, cũng là đĩa đơn đầu tiên của bà đạt vị trí số 1 tại Vương quốc Liên hiệp Anh, trong khi trở thành đĩa đơn thứ 6 giữ vị trí Á quân tại Mỹ, giúp Madonna lập thêm một kỷ lục khác cho nghệ sĩ có nhiều bài hát vươn đến vị trí thứ 2 nhất. Đĩa đơn thứ 2, "Ray of Light" ra mắt ở vị trí thứ 5 trên "Billboard" Hot 100.
"Kỷ lục Thế giới Guinness" phiên bản năm 1998 khẳng định: "Không một nữ nghệ sĩ nào có lượng đĩa tiêu thụ trên toàn cầu nhiều hơn Madonna". Vào năm 1999, Madonna ký kết nhận vai một giáo viên vĩ cầm trong "Music of the Heart" nhưng đã bỏ qua dự án, vì "những bất đồng sáng tạo" cùng đạo diễn Wes Craven. Bà thu âm đĩa đơn "Beautiful Stranger" cho bộ phim "" (1999). Bài hát vươn đến vị trí thứ 19 trên Hot 100, chỉ dựa trên lượng yêu cầu trên đài phát thanh. Madonna giành giải Grammy cho "Bài hát sáng tác cho phương tiện truyền thông xuất sắc nhất". Madonna xuất hiện trong "The Next Best Thing" (2000) và đóng góp 2 bài hát cho phần nhạc phim; "Time Stood Still" và phiên bản trình bày lại "American Pie" của Don McLean. Bà phát hành album phòng thu thứ 8, "Music" vào tháng 9 năm 2000. Album có sự góp mặt của các yếu tố nhạc nhảy điện tử-lấy cảm hứng từ thời kỳ "Ray of Light" và tiếp cận nhiều hơn đến bộ phận khán giả là người đồng tính. Hợp tác cùng nhà sản xuất người Pháp Mirwais Ahmadzaï, Madonna cho rằng: "Tôi thích làm việc cùng những kẻ lập dị mà chẳng ai biết tới—những người có tài năng thật sự và thực hiện âm nhạc không giống bất kỳ ai ngoài kia. "Music" là âm thanh của tương lai." Stephen Thomas Erlewine từ AllMusic cảm thấy ""Music" thành công bởi nét biến hóa khôn lường, kỹ thuật, phong cách và vật chất. Album có độ sâu và đa tầng nhiều đến nỗi đạt đến sự tự giác và nghiêm túc ở "Ray of Light"." Album này đạt đến vị trí đầu bảng tại hơn 20 quốc gia và đạt mốc 4 triệu bản chỉ trong 10 ngày đầu ra mắt. Tại Hoa Kỳ, "Music" ra mắt tại vị trí đầu bảng và là album quán quân đầu tiên của bà sau 11 năm, kể từ "Like a Prayer". Album cho ra 3 đĩa đơn: nhà quán quân Hot 100 "Music", "Don't Tell Me" và "What It Feels Like for a Girl". Video âm nhạc cho "What It Feels Like for a Girl" đề cập đến vấn đề tội ác và phá hoại, khiến kênh MTV và VH1 thông báo cấm khỏi hệ thống trình chiếu.
Bà gặp gỡ người chồng thứ hai, đạo diễn Guy Ritchie, vào tháng 1 năm 1998 và hạ sinh người con trai Rocco John Ritchie vào ngày 11 tháng 8 năm 2000 tại Los Angeles. Rocco và Madonna đã phải trải qua nhiều biến chứng từ việc sinh nở do tình trạng nhau thai tiền đạo. Đứa bé được làm lễ rửa tội tại Dornoch Cathedral, Dornoch, Scotland vào ngày 21 tháng 12 năm 2000. Madonna kết hôn cùng Ritchie vào ngay ngày hôm sau gần Skibo Castle. Chuyến lưu diễn thứ năm của bà mang tựa đề Drowned World Tour mở đầu vào tháng 6 năm 2001, diễn ra tại nhiều thành phố tại Hoa Kỳ và châu Âu, trở thành chuyến lưu diễn của nghệ sĩ đơn ca thành công nhất trong năm, thu về 75 triệu đô-la Mỹ từ 47 đêm diễn cháy vé. Bà còn ra mắt album tuyển tập thứ 2 mang tên "GHV2", trùng khớp với thời điểm phát hành video tại gia của chuyến lưu diễn. "GHV2" mở đầu tại vị trí thứ 7 trên "Billboard" 200. Madonna vào vai chính trong bộ phim "Swept Away" (2002) do Ritchie đạo diễn. Ra mắt dưới định dạng video tại Vương quốc Liên hiệp Anh, bộ phim là một thất bại về doanh thu và bị chỉ trích nặng nề. Vào tháng 5 năm 2002, bà xuất hiện tại Luân Đôn trong vở diễn "Up For Grabs" tại Wyndhams Theatre (lấy tên là 'Madonna Ritchie'), với những phản hồi vô cùng tiêu cực và được mô tả là "sự thất vọng lớn nhất trong đêm". Tháng 10 năm đó, bà phát hành "Die Another Day", bài hát chủ đề cho bộ phim James Bond "Die Another Day", nơi bà cũng có góp mặt trong một vai khách mời, với lời nhận xét từ "The Guardian" cho rằng diễn xuất của bà "cứng nhắc một cách đáng kinh ngạc". Bài hát vươn đến vị trí thứ 8 trên "Billboard" Hot 100, trong khi mang về cả hai đề cử "Bài hát trong phim hay nhất" tại giải Quả cầu vàng và giải Mâm xôi vàng cho "Bài hát trong phim dở nhất".
Theo sau "Die Another Day", Madonna hợp tác cùng nhiếp ảnh gia thời trang Steven Klein vào năm 2003 trong triển lãm mang tên "X-STaTIC Pro=CeSS". Chương trình bao gồm những bức ảnh được chụp cho tạp chí "W" và 7 tiết mục video, diễn ra từ tháng 3 đến tháng 5 tại phòng triển lãm Deitch Projects đặt tại New York. Cùng năm đó, Madonna phát hành album phòng thu thứ 9 "American Life", dựa trên quan điểm của bà về xã hội Hoa Kỳ; mang về những phản hồi trái chiều. Bà chia sẻ, "["American Life"] giống như một chuyến đi trở về kỷ niệm, nhìn lại tất cả mọi thứ tôi đã hoàn thành và những điều tôi từng quý trọng và những thứ quan trọng với tôi." Larry Flick từ "The Advocate" gọi ""American Life" là một trong những album liều lĩnh và mang ca từ khôn ngoan nhất của bà" trong khi đánh giá đây là "một sản phẩm lười nhác, nửa vời để nhìn nhận bà và âm nhạc một cách nghiêm túc." Bài hát chủ đề của album vươn đến vị trí thứ 37 trên Hot 100. Video âm nhạc gốc của bài hát đã bị Madonna hủy bỏ do có nội dung liên quan đến bạo lực và chiến tranh, cùng lúc với thời điểm nước Mỹ đang có xung đột với Iraq. Với 4 triệu bản tiêu thụ trên toàn cầu, "American Life" từng là album có doanh số thấp nhất trong sự nghiệp của bà.
Không lâu sau, Madonna tham gia một màn trình diễn khêu gợi khác tại Giải Video âm nhạc của MTV 2003, trong khi trình bày "Hollywood" cùng Britney Spears, Christina Aguilera và Missy Elliott. Bà gây nên nhiều tranh cãi bằng một nụ hôn giữa Spears và Aguilera trên sân khấu. Vào tháng 10 năm 2003, Madonna tham gia làm khách mời trong đĩa đơn "Me Against the Music" của Spears. Sau đó, bà phát hành EP "Remixed Revisited", bao gồm phiên bản phối lại các bài hát trích từ "American Life" và "Your Honesty", một bài hát chưa ra mắt từ thời gian thu âm "Bedtime Stories". Madonna còn ký một hợp đồng cùng Callaway Arts Entertainment để trở thành tác giả cho 5 quyển sách dành cho trẻ em. Tác phẩm đầu tiên trong loạt sách này, mang tựa đề "The English Roses", ra mắt vào tháng 9 năm 2003, kể về lòng đố kỵ diễn ra giữa 4 nữ sinh người Anh. Kate Kellway từ "The Guardian" nhận xét "[Madonna] là một diễn viên đang lấn sân sang một lĩnh vực không phải là lợi thế—một JK Rowling, một đóa hồng người Anh." Quyển sách dẫn đầu trong danh sách bán chạy nhất của "New York Times" và trở thành tập sách ảnh dành cho trẻ em bán chạy nhất mọi thời đại.
Năm kế tiếp, Madonna và Maverick khởi kiện Warner Music Group và công ty mẹ Time Warner, khẳng định chính sự quản lý tài nguyên lỏng lẻo và giấy tờ eo hẹp đã làm công ty thất thoát hàng triệu đô-la. Cuộc tranh chấp được dàn xếp khi cổ phần của Maverick, do Madonna và Ronnie Dashev sở hữu, được Warner mua lại. Công ty của Madonna và Dashev trở thành chi nhánh thuộc quyền sở hữu hoàn toàn của Warner Music, nhưng Madonna vẫn ký kết cùng Warner dưới một hợp đồng thu âm riêng biệt. Vào giữa năm 2004, Madonna mở màn lưu diễn Re-Invention World Tour tại Hoa Kỳ, Canada và châu Âu, trở thành chuyến lưu diễn thành công nhất năm 2004, thu về 120 triệu đô-la Mỹ và là chủ đề cho bộ phim tư liệu của bà, "I'm Going to Tell You a Secret". Vào tháng 11 năm 2004, bà được bổ nhiệm vào Đại sảnh Danh vọng Âm nhạc Liên hiệp Anh như là một trong 5 thành viên sáng lập, cùng với The Beatles, Elvis Presley, Bob Marley và U2. Vào tháng 1 năm 2005, Madonna trình bày bài hát "Imagine" của John Lennon tại đêm nhạc "Tsunami Aid: A Concert of Hope". Bà còn trình diễn tại đêm hòa nhạc từ thiện Live 8 ở Luân Đôn.
Album phòng thu thứ 10 của Madonna mang tên "Confessions on a Dance Floor" phát hành vào tháng 11 năm 2005. Album mang kết cấu do một DJ hộp đêm biên soạn; Keith Caulfield từ "Billboard" gọi album này là "sự chào đón trở lại của Nữ hoàng nhạc pop." Album giành giải Grammy cho "Album nhạc điện tử/dance xuất sắc nhất". "Confessions on a Dance Floor" cùng đĩa đơn đầu tiên, "Hung Up" lần lượt đạt ngôi quán quân tại 40 và 41 quốc gia trên toàn cầu, lập nên một kỷ lục thế giới mới. Bài hát có chứa đoạn nhạc mẫu từ "Gimme! Gimme! Gimme! (A Man After Midnight)" của ABBA, đánh dấu lần thứ hai mà nhóm nhạc này cho phép trích dẫn tác phẩm của họ. Tác giả Björn Ulvaeus từ nhóm ABBA nhận xét "Đây là một bài hát kỳ diệu—100% đậm chất pop." Đĩa đơn thứ hai, "Sorry" trở thành đĩa đơn quán quân thứ 12 của bà tại Vương quốc Liên hiệp Anh. Madonna mở màn Confessions Tour vào tháng 5 năm 2006, với lượng khán giả trên toàn cầu đạt 1.2 triệu người và mang về 193.7 triệu đô-la Mỹ, trở thành chuyến lưu diễn có doanh thu cao nhất của một nữ nghệ sĩ cho đến thời điểm trên. Madonna sử dụng nhiều biểu tượng tôn giáo trong chương trình, như Thánh giá hay Vương miện lá gai trong màn trình diễn "Live to Tell", gây nên nhiều tranh cãi trong các Giáo hội và khiến họ lên tiếng kêu gọi tẩy chay đêm nhạc của bà. Cùng thời điểm đó, Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế (IFPI) chính thức công nhận Madonna bán được hơn 200 triệu album trên toàn cầu.
Trong khi lưu diễn, Madonna mở ra Raising Malawi, một tổ chức quyên góp cho trẻ em cơ nhỡ tại Malawi và đích thân bà đã đến thăm đất nước của họ. Tại đó, bà quyết định nhận nuôi một bé trai tên là David Banda vào tháng 10 năm 2006. Việc nhận nuôi gây nên những phản ứng mạnh mẽ từ công chúng, vì luật pháp Malawi quy định người nhận nuôi phải có 1 năm cư trú tại đó. Bà diễn giải trên "The Oprah Winfrey Show" rằng Malawi không có quy định nào về việc nhận con nuôi dành cho những đôi vợ chồng người nước ngoài. Bà mô tả cách mà Banda phải trải qua căn bệnh viêm phổi sau khi mắc sốt rét và lao khi bà gặp cậu bé. Cha đẻ của Banda, Yohane lên tiếng rằng "Cái gọi là hoạt động từ thiện ấy đã giày vò tâm trí tôi hằng ngày. Vợ chồng Madonna đã yêu cầu tôi ủng hộ họ trong phiên tòa nhưng tôi nghĩ là mình không thể." Vụ việc hoàn tất vào tháng 5 năm 2008. Một dòng thời trang mang tên "M by Madonna", thành quả hợp tác giữa Madonna với hãng bán lẻ HM của Thụy Điển, bày bán trên thị trường quốc tế vào năm 2006. Bộ sưu tập bao gồm áo khoác da cỡ lớn, váy liền thân, quần ngố màu kem và áo khoác ngắn đồng bộ. HM nhận xét bộ sưu tập phản ánh "phong cách trường tồn, độc nhất và luôn luôn thanh lịch" của Madonna.
2007–2011: Làm phim, "Hard Candy" và các dự án kinh doanh.
Madonna ra mắt bài hát "Hey You" cho chương trình hòa nhạc Live Earth dưới dạng tải nhạc số. Bà còn trình diễn bài hát tại đêm nhạc Live Earth tại Luân Đôn. Madonna thông báo rời khỏi Warner Bros. Records và ký kết một hợp đồng mới, trị giá 120 triệu đô-la Mỹ trong 10 năm cùng Live Nation. Bà sản xuất và sáng tác "I Am Because We Are", một bộ phim tư liệu về các vấn đề mà người dân Malawi phải đối mặt do Nathan Rissman đạo diễn. Bà còn đạo diễn bộ phim đầu tay, "Filth and Wisdom" kể về câu chuyện giữa ba người bạn và khát khao của họ. "The Times" nhận thấy bà đã "khiến bản thân mình hãnh diện" trong khi "The Daily Telegraph" mô tả bộ phim là "nỗ lực đầu tiên [của Madonna] tuy không hoàn toàn thất bại [nhưng] nhà đạo diễn sẽ làm tốt để níu giữ công việc hàng ngày của mình." Vào tháng 12 năm 2007, Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll công bố Madonna là một trong 5 người được bổ nhiệm vào năm 2008. Trong buổi lễ bổ nhiệm vào ngày 10 tháng 3 năm 2008, Madonna nói lời cảm ơn đến Christopher Flynn, thầy giáo dạy khiêu vũ của bà từ 35 năm trước, bởi sự khuyến khích của ông để bà theo đuổi giấc mơ của mình.
Album phòng thu thứ 11 của Madonna mang tên "Hard Candy" phát hành vào tháng 4 năm 2008. Với những ảnh hưởng của RB và urban pop, các bài hát trong "Hard Candy" đều mang tính tự truyện, hợp tác cùng Justin Timberlake, Timbaland, Pharrell Williams và Nate "Danja" Hills. Album này mở đầu tại vị trí đầu bảng tại 37 quốc gia và tại "Billboard" 200. Don Shewey từ "Rolling Stone" khen ngợi album là một "hương vị ấn tượng cho chuyến lưu diễn sắp tới." Các nhà phê bình đưa ra các đánh giá hầu hết là tích cực, mặc cho một vài ý kiến chê trách album như là "một hành động tiếp cận thị trường nhạc urban".
Đĩa đơn chủ đạo từ album, "4 Minutes" đạt vị trí thứ 3 trên "Billboard" Hot 100, đây là bản hit top 10 thứ 37 của Madonna trên bảng xếp hạng này—giúp bà vượt mặt Elvis Presley cho nghệ sĩ có nhiều bài hát vươn đến top 10 nhất. Tại Vương quốc Liên hiệp Anh, bà củng cố thêm cho kỷ lục của nữ nghệ sĩ có nhiều đĩa đơn đạt ngôi quán quân nhất; "4 Minutes" là đĩa đơn thứ 13 của bà làm được điều này. Tại giải Japan Gold Disc Awards lần thứ 23, Madonna lần thứ 5 mang về giải "Nghệ sĩ của năm" từ Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Nhật Bản, nhiều hơn bất cứ nghệ sĩ nào. Để quảng bá album, Madonna mở màn cho Sticky Sweet Tour; sự hợp tác lớn đầu tiên cùng Live Nation. Với doanh thu 280 triệu đô-la Mỹ, đây từng là chuyến lưu diễn thành công nhất của một nghệ sĩ đơn ca, phá vỡ kỷ lục trước đó của Madonna cùng Confessions Tour; trước khi bị vượt mặt lần nữa bởi The Wall Live của Roger Waters. Chương trình được mở rộng sang năm kế tiếp, với nhiều đêm diễn bổ sung tại châu Âu và mang về tổng doanh thu 408 triệu đô-la Mỹ sau khi kết thúc.
Vào năm 2008, Christopher Ciccone, em trai của Madonna, cho xuất bản cuốn tự truyện "Life with My Sister Madonna", đạt hạng hai trong danh sách bán chạy nhất của "New York Times". Quyển sách gây ra sự rạn nứt giữa hai chị em, vì không được bà cho phép phát hành. Các vấn đề cũng nảy sinh giữa Madonna và Ritchie, khi giới truyền thông cho rằng cả hai đang đứng trước bờ vực ly thân. Sau cùng, Madonna đệ đơn ly hôn với Ritchie, với lý do những bất đồng không thể hòa giải, được thông qua vào tháng 12 năm 2008. Bà quyết định nhận thêm một con nuôi từ Malawi. Tòa án tối cao của nước này lúc đầu ủng hộ việc nhận nuôi bé gái 4 tuổi có tên là Chifundo "Mercy" James, nhưng lại bác bỏ đơn xin nhận nuôi Mercy một lần nữa với lý do Madonna không phải là công dân Malawi. Khi luật sư của Madonna làm đơn kháng cáo, Tòa đã thay đổi quyết định và chính thức trao quyền nuôi Mercy James cho Madonna vào 12 tháng 6 năm 2009. Sau đó, Madonna phát hành "Celebration", album tuyển tập thứ ba của Madonna và là sản phẩm cuối cùng giữa bà và Warner Bros. Album bao gồm 34 ca khúc xuyên suốt sự nghiệp của bà cùng hai ca khúc mới mang tên "Celebration" và "Revolver". "Celebration" vươn đến vị trí số 1 tại Vương quốc Liên hiệp Anh, giúp bà sánh bằng Elvis Presley cho nghệ sĩ đơn ca với nhiều album quán quân nhất lịch sử xếp hạng tại đây. Bà xuất hiện tại giải thưởng Video âm nhạc của MTV ngày 13 tháng 9 năm 2009 trong chương trình tưởng nhớ đến cố ngôi sao nhạc pop Michael Jackson.
Nhiều tranh cãi diễn ra khi Madonna quyết định nhận nuôi thêm một đứa trẻ khác từ Malawi. Bà được trao quyền nhận nuôi Chifundo "Mercy" James vào tháng 6 năm 2009. Madonna làm quen với Marcy từ thời gian bà nhận nuôi David. Bà của Marcy ban đầu không ủng hộ việc nhận nuôi, nhưng sau đó lại đồng ý, thổ lộ rằng "Ban đầu, tôi không muốn bà ấy đến nhưng khi cả gia đình chúng tôi ngồi xuống và thỏa thuận chấp nhận để Marcy đi. Người đàn ông cứ nài nỉ nhận nuôi Mercy và tôi không thể khước từ được nữa. Tôi vẫn yêu mến Mercy. Cô bé là người tôi quý mến nhất." Cha của Mercy vẫn cứng rắn cho rằng mình không thể ủng hộ việc nhận nuôi khi còn sống. Kết thúc thập niên 2000, Madonna là nghệ sĩ đơn ca bán chạy nhất thập niên tại Hoa Kỳ và là nghệ sĩ được nghe nhiều nhất thập niên tại Vương quốc Liên hiệp Anh. "Billboard" còn vinh danh bà là nghệ sĩ lưu diễn thành công thứ ba của thập niên—chỉ đứng sau The Rolling Stones và U2—với doanh thu hơn 801 triệu đô-la Mỹ, từ 6.3 triệu khán giả và 244/248 đêm cháy vé.
Madonna trình bày tại đêm nhạc vào tháng 1 năm 2010. Vào tháng 4, bà phát hành album trực tiếp thứ 3, "Sticky Sweet Tour". Đây là sản phẩm đầu tiên của bà ra mắt thông qua hãng Live Nation, dù vẫn được phân phối bởi Warner Bros. Madonna cho phép chương trình truyền hình Mỹ "Glee" sử dụng toàn bộ mục lục âm nhạc của bà và nhà sản xuất dự định một tập phim độc quyền bao gồm những bài hát của Madonna. "", một EP chứa 8 phiên bản trình bày lại các bài hát của Madonna xuất hiện trong tập phim này được phát hành sau đó và mở đầu ở vị trí đầu bảng "Billboard" 200. Madonna trình làng dòng thời trang Material Girl mà bà thiết kế cùng con gái, Lourdes. Lấy cảm hứng từ thời trang thập niên 1980, Material Girl lấy phong cách cô gái nổi loạn của Madonna khi bà mới nổi vào thập niên 1980, được ra mắt dưới nhãn hiệu Macy's. Madonna còn mở một loạt trung tâm thể hình trên toàn cầu mang tên Hard Candy Fitness. Vào tháng 11 năm 2011, Madonna và MG Icon thông báo phát hành dòng thời trang thứ 2 mang tên Truth or Dare by Madonna, bao gồm giày dép, nội y và phụ kiện đi kèm.
"W.E.", bộ phim dài thứ 2 do bà đạo diễn, kể về mối tình giữa Edward VIII của Anh và Wallis Simpson; do Alek Keshishian làm đồng biên kịch. Phản ứng của giới phê bình và thương mại đối với bộ phim này là tiêu cực. Madonna đóng góp bản ballad "Masterpiece" trong phần nhạc phim, mang về cho bà giải Quả cầu vàng cho "Ca khúc trong phim hay nhất". Vào năm 2012, Madonna trình diễn tại chương trình giữa giờ Super Bowl XLVI, do Cirque Du Soleil và Jamie King dàn dựng, với khách mời đặc biệt gồm ban nhạc LMFAO, Nicki Minaj, M.I.A. và Cee Lo Green. Đây từng là chương trình giữa giờ Super Bowl có lượng người xem cao nhất trong lịch sử với 114 triệu người xem, cao hơn cả lượng khán giả trung bình của trận đấu. Bà cũng thông báo ký kết một hợp đồng gồm 3 album cùng Interscope Records, như là một phần của thỏa thuận với Live Nation.
Album phòng thu thứ 12 của bà, "MDNA", phát hành vào tháng 3 năm 2013. Trong album này, bà hợp tác cùng nhiều nhà sản xuất, mà nổi bật là sự tái hợp cùng William Orbit và Martin Solveig. Album mang về các đánh giá tích cực, với Priya Elan từ "NME" gọi đây là "một cuộc nô đùa thú vị một cách lố bịch" và là "một trong số những điều nội tâm nhất mà bà từng thực hiện." "MDNA" mở màn tại vị trí đầu bảng "Billboard" 200 và nhiều quốc gia khác trên toàn cầu. Madonna phá vỡ kỷ lục của Elvis Presley cho nghệ sĩ đơn ca có nhiều album quán quân nhất tại Vương quốc Liên hiệp Anh. Đĩa đơn đầu tiên "Give Me All Your Luvin'", với sự góp mặt của Minaj và M.I.A., trở thành bài hát thứ 38 của Madonna xuất hiện trong top 10 "Billboard" Hot 100.
Chuyến lưu diễn quảng bá album The MDNA Tour mở màn vào tháng 5 năm 2012 tại Tel Aviv, Israel. Chuyến lưu diễn nhận được những phản hồi tích cực, nhưng lại gặp nhiều vấn đề gây tranh cãi như yếu tố bạo lực, súng cầm tay, nhân quyền, khỏa thân và chính trị. Chuyến lưu diễn đạt thành công thương mại lớn, với doanh thu 305.2 triệu đô-la Mỹ từ 88 đêm diễn cháy vé, trở thành chuyến lưu diễn thành công nhất năm 2012 và là chuyến lưu diễn có doanh thu cao thứ 10 mọi thời đại. Tại giải thưởng Âm nhạc "Billboard" 2013, Madonna giành 3 giải cho "Nghệ sĩ lưu diễn hàng đầu", "Nghệ sĩ dance hàng đầu" và "Album dance hàng đầu". Madonna là nghệ sĩ bội thu nhất của năm do "Forbes" bình chọn, thu về ước tính 125 triệu đô-la Mỹ, dựa trên thành công của chuyến lưu diễn.
Tính đến năm 2013, tổ chức Raising Malawi của Madonna đã xây dựng nên 10 trường học để phục vụ cho 4.000 trẻ em tại Malawi, với số tiền 400.000 đô-la Mỹ. Khi Madonna đến thăm những ngôi trường vào tháng 4 năm 2013, Tổng thống Malawi Joyce Banda lên tiếng chỉ trích Madonna cùng tổ chức từ thiện của bà, cáo buộc bà thổi phồng những đóng góp của tổ chức. Trong bài phát biểu hồi âm, Madonna chia sẻ nỗi buồn khi Banda đối xử một cách tiêu cực trước những nỗ lực của bà. "Tôi không có ý định sao nhãng trước những luận điệu lố bịch này," bà nói thêm. Sau đó, Banda xác nhận mình không cho phép đưa ra phát biểu trên cùng nhóm báo chí của bà và "vô cùng giận dữ" qua vụ nhầm lẫn này.
Hợp tác với nhiếp ảnh gia Steven Klein, Madonna thực hiện một bộ phim dài 17 phút mang tên "secretprojectrevolution". Bà lựa chọn hợp tác cùng công ty BitTorrent trong quá trình phân phối, trước khi phát hành vào ngày 24 tháng 9 năm 2013, đi kèm với một loạt ảnh tĩnh, một bài phỏng vấn Vice và một thông điệp từ Madonna. Cùng với bộ phim, bà sáng lập nên dự án Art for Freedom, giúp quảng bá "nghệ thuật và tự do ngôn luận như là tiềm lực giải quyết các cuộc đàn áp và bất công trên toàn cầu." Trang mạng cho dự án có hơn 3.000 đệ trình nghệ thuật từ khi bắt đầu, trong khi Madonna thường xuyên kiểm tra và nhận được sự giúp đỡ từ các nghệ sĩ khác như David Blaine và Katy Perry trong vai trò quản lý khách mời.
Madonna xuất hiện tại lễ trao giải Grammy lần thứ 56 vào tháng 1 năm 2014 khi trình bày "Open Your Heart" cùng rapper Macklemore Ryan Lewis và ca sĩ Mary Lambert trong bài hát "Same Love", trong một đám cưới tập thể của 33 cặp đôi trên sân khấu, do Queen Latifah chủ trì. Nhiều ngày sau, bà góp mặt cùng Miley Cyrus trong chương trình "MTV Unplugged" đặc biệt, trình bày một bản mashup của "Don't Tell Me" và đĩa đơn của Cyrus, "We Can't Stop" (2013). Bà còn mở rộng đầu tư kinh doanh của mình và ra mắt dòng sản phẩm chăm sóc da MDNA Skin vào tháng 2 năm 2014 tại Tokyo, Nhật Bản. Sau khi đến thăm quê nhà tại Detroit vào tháng 5 năm 2014, Madonna quyết định quyên góp cho 3 tổ chức từ thiện trong thành phố để giúp đỡ xóa đói giảm nghèo.
Madonna bắt đầu thực hiện album phòng thu thứ 13 cùng Avicii, Diplo và Natalia Kills. Vào tháng 12 năm 2014, 13 bản thu thử cho album bị rò rỉ trên Internet. Bà đăng tải phản hồi, khẳng định phân nửa các bài hát trên sẽ không lọt vào phiên bản sau cùng, trong khi nửa còn lại đã "thay đổi và tiến triển". Album mang tựa đề "Rebel Heart" ra mắt vào tháng 3 năm 2015. Một trong những chủ đề chính trong đĩa nhạc này là sự mặc tưởng, cùng với "những phát biểu chân thực về bản thân và tham vọng sự nghiệp". Madonna giải thích với Jon Pareles của "The New York Times" rằng dù bà chưa bao giờ nhìn lại những nỗ lực trước đây, hồi tưởng về chúng lại là điều đúng đắn trong "Rebel Heart". Giới phê bình đưa ra nhiều đánh giá tích cực tới album, gọi đây là tác phẩm xuất sắc nhất của bà trong hơn một thập niên. "Rebel Heart" là album đầu tiên của Madonna hụt mất vị trí dẫn đầu tại "Billboard" 200 kể từ năm 1998, nhưng giành hạng nhất tại nhiều thị trường âm nhạc lớn như Úc, Canada, Đức và Ý. "Rebel Heart" phát hành 3 đĩa đơn đạt vị trí quán quân bảng xếp hạng Dance Club Songs Hoa Kỳ, "Living for Love", "Ghosttown" và "Bitch I'm Madonna".
Bà mở đầu chuyến lưu diễn Rebel Heart Tour từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016 để quảng bá cho album này. Chuyến lưu diễn vòng quanh Bắc Mỹ, châu Âu, châu Á và là lần đầu tiên Madonna đến thăm châu Úc trong hơn 23 năm, nơi bà tổ chức thêm dành tặng người hâm mộ. Chuyến lưu diễn thu về 169,8 triệu đô la Mỹ từ 82 đêm nhạc, với hơn 1.045 triệu vé tiêu thụ. Trong lúc lưu diễn, Madonna liên quan đến vấn đề pháp lý với Ritchie, khi tranh chấp quyền giám hộ con trai Rocco. Cuộc tranh cãi diễn ra khi Rocco quyết định sống tại Anh cùng bố và Madonna mong cậu quay lại với bà. Các phiên tòa lần lượt diễn ra ở New York và Luân Đôn, Madonna quyết định rút lại đơn xin giám hộ, mong muốn có một cuộc thảo luận giữa bà với Ritchie về Rocco.
Tháng 10 năm 2016, "Billboard" vinh danh Madonna là "Người phụ nữ của năm". Tại buổi lễ, bà đưa ra lời phát biểu "thẳng thắn và chân thực một cách tàn bạo" về con đường sự nghiệp và chủ nghĩa nữ quyền. Tháng tiếp theo, Madonna trình diễn trong một đêm nhạc tại Washington Square Park nhằm ủng hộ ứng cử viên Hillary Clinton trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016. Thất vọng vì Donald Trump thắng cử, Madonna đã lên tiếng phản đối Trump tại Cuộc tuần hành phụ nữ ở Washington, một ngày sau khi ông nhậm chức. Bà gây tranh cãi khi nói rằng "đã từng nghĩ đến việc muốn cho nổ tung Nhà Trắng". Ngày hôm sau, bà đính chính bản thân "không phải là người ưa bạo lực" và câu nói trên đã bị "xuyên tạc một cách khủng khiếp".
Bà dự định đồng biên kịch và đạo diễn bộ phim "Loved", chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết "The Impossible Lives of Greta Wells" của Andrew Sean Greer. Bộ phim kể về mối quan hệ giữa nhân vật chính và em trai Felix là người đồng tính. Tháng 2 năm 2017, Madonna được trao quyền nhận nuôi cặp chị em song sinh 4 tuổi từ Malawi, tên là Esther và Stella, và bà đã chuyển đến sống ở Lisbon, Bồ Đào Nha vào mùa hè năm 2017 với các con nuôi của mình. Vào tháng 7, cô đã mở Viện Phẫu thuật Nhi khoa và Chăm sóc Đặc biệt Mercy James ở Malawi, một bệnh viện dành cho trẻ em do tổ chức từ thiện Raising Malawi của bà xây dựng. Album trực tiếp thuật lại chuyến lưu diễn Rebel Heart Tour được phát hành vào tháng 9 năm 2017 và giành giải Video âm nhạc hay nhất cho nghệ sĩ phương Tây tại giải Japan Gold Disc Award lần thứ 32. Cùng tháng, Madonna ra mắt MDNA Skin tại một số cửa hàng ở Hoa Kỳ. Trước đó vài tháng, nhà đấu giá Gotta Have Rock and Roll đã rao bán những món đồ cá nhân của Madonna như bức thư tình từ Tupac Shakur, băng cát-xét, đồ lót và bàn chải tóc. Darlene Lutz, một nhà kinh doanh nghệ thuật đã khởi xướng cuộc đấu giá, đã bị người đại diện của Madonna khởi kiện. Madonna nói rằng tư cách người nổi tiếng của bà "không làm mất đi quyền riêng tư của tôi, bao gồm cả những vật dụng mang tính cá nhân cao". Madonna thua kiện và quan toà đã ra phán quyết có lợi cho Lutz, người đã chứng minh rằng vào năm 2004 Madonna đã thực hiện một thỏa thuận pháp lý với bà về việc bán các sản phẩm.
2018–nay: "Madame X", tái phát hành danh mục bài hát và phim tự truyện.
Khi sống ở Lisbon, Madonna gặp Dino D'Santiago, người đã giới thiệu bà với nhiều nhạc sĩ địa phương chơi nhạc fado, morna và samba. Họ thường xuyên mời bà đến "phòng khách" của họ, vì vậy bà có niềm cảm hứng để thực hiện album phòng thu thứ 14 của mình, "Madame X". Madonna bắt tay sản xuất album cùng một số nhạc sĩ, chủ yếu là những người cộng tác lâu năm với mình là Mirwais và Mike Dean. Album đã được giới phê bình đón nhận nồng nhiệt, "NME" cho rằng nó "táo bạo, kỳ quái và không giống bất cứ sản phẩm nào mà Madonna từng làm trước đây." Được phát hành vào tháng 6 năm 2019, "Madame X" ra mắt ở vị trí số một "Billboard" 200, trở thành album quán quân thứ chín của bà trên bảng xếp hạng này. Cả 4 đĩa đơn trong album — "Medellín", "Crave", "I Rise", and "I Don't Search I Find" — đứng đầu bảng xếp hạng "Billboard" Dance Club Songs, mở rộng kỷ lục của bà về hầu hết các đĩa đơn số một trên bảng xếp hạng.
Madonna xuất hiện với tư cách nghệ sĩ khách mời tại Eurovision Song Contest vào tháng 5 năm 2019; bà đã biểu diễn "Like a Prayer", và "Future" với rapper Quavo. Madame X Tour, một chuyến lưu diễn tại các thành phố được chọn trên khắp Bắc Mỹ và Châu Âu, bắt đầu vào ngày 17 tháng 9 năm 2019. Ngoài các địa điểm nhỏ hơn nhiều so với những chuyến lưu diễn trước đây, Madonna đã thực hiện nội quy không sử dụng điện thoại di động nhằm tối đa hóa sự thân mật trong buổi hòa nhạc. Theo "Pollstar", chuyến lưu diễn đã thu về 51,4 triệu USD tiền bán vé. Tháng 12 cùng năm, Madonna bắt đầu hẹn hò với Ahlamalik Williams, một vũ công đã đồng hành cùng bà trong Rebel Heart Tour vào năm 2015. Tuy nhiên, chuyến lưu diễn đã phải đối mặt với nhiều lần bị hủy bỏ do bà bị tái phát chấn thương đầu gối, và kết thúc đột ngột vào ngày 8 tháng 3 năm 2020, ba ngày trước buổi biểu diễn dự kiến cuối cùng, sau khi chính phủ Pháp ban hành lệnh cấm tụ tập trên 1.000 người do đại dịch COVID-19. Madonna sau đó thừa nhận rằng bà đã bị xét nghiệm dương tính với coronavirus, và quyên góp 1 triệu đô la cho Quỹ Bill Melinda Gates nhằm tài trợ nghiên cứu tạo ra một loại vắc xin mới.
Madonna và Missy Elliott là khách mời trong đĩa đơn "Levitating" của Dua Lipa, từ album remix năm 2020 "Club Future Nostalgia" của Lipa. Vào tháng 8 năm 2020, Madonna đã đăng một video trên Instagram của mình, nơi bà thảo luận về ý tưởng cho một kịch bản cùng với nhà văn Diablo Cody. Vào tháng 9, bà xác nhận trên một buổi phát trực tiếp trên Instagram rằng họ đang viết kịch bản cho một bộ phim nói về cuộc đời bà, sẽ được sản xuất bởi Amy Pascal. Vào tháng 6 năm 2021, Madonna đã mời nhà biên kịch Erin Wilson đến để giúp hoàn thiện kịch bản. Madonna sẽ phát hành "Madame X", một bộ phim tài liệu tường thuật lại chuyến lưu diễn cùng tên, trên nền tảng Paramount+ vào tháng 10 năm 2021. Vào ngày sinh nhật tuổi 63, bà tuyên bố chính thức trở lại với Warner trong một mối quan hệ đối tác toàn cầu, cung cấp cho hãng này toàn bộ danh mục bài hát đã thu âm trước đây của mình, bao gồm ba album cuối cùng dưới trướng Interscope (sau đó được công ty "Boy Toy, Inc." của Madonna nắm giữ bản quyền và chỉ được cấp phép cho Interscope thông qua Live Nation). Theo hợp đồng, Madonna sẽ tái phát hành một loạt các danh mục bài hát bắt đầu từ năm 2022, nhân kỷ niệm 40 năm sự nghiệp của bà.
Phong cách nghệ thuật.
Phong cách âm nhạc và sáng tác.
"[Madonna] là một tác giả và người viết lời nhạc pop lỗi lạc. Tôi bị sững sờ trước chất lượng sáng tác của bà [trong thời gian thu âm "Ray of Light"]. Ca từ của "The Power of Good-Bye" rất đáng kinh ngạc. Tôi yêu quý Madonna trong cương vị của một nghệ sĩ và người viết bài há, và đối với tôi, bà là hiện thân tốt nhất giữa cả hai. Bà là một nhà sáng tác giải tội tuyệt vời, đồng thời là một tác giả viết nên nhiều điệp khúc pop tráng lệ... Bà ấy không được ghi nhận xứng đáng trong vai trò là một nhà sáng tác."
—Rick Nowels, người đồng sáng tác với Madonna trong "Ray of Light", bình luận về khả năng sáng tác của bà.
Âm nhạc của Madonna là chủ đề cho nhiều phân tích và xem xét kỹ lưỡng. Robert M. Grant, tác giả của "Contemporary Strategy Analysis" (2005), cho rằng điều dẫn đến thành công của Madonna "chắc chắn không phải từ năng khiếu bẩm sinh. Trong vai trò của một ca sĩ, nhạc sĩ, vũ công, người viết bài hát hay diễn viên, tài năng của Madonna đều khá khiêm tốn." Ông khẳng định thành công của Madonna nằm ở tài năng của người khác, cùng những mối quan hệ riêng tư làm nền tảng cho nhiều sự biến hóa trong sự nghiệp kéo dài của bà. Ảnh hưởng của Madonna vượt xa tầm hiểu biết trong việc "Tìm nên một công thức thành công và làm đúng theo nó" của ngành công nghiệp âm nhạc. Sự nghiệp của bà là một sự thử nghiệm không ngừng nghỉ với nhiều ý tưởng âm nhạc và hình tượng mới mẻ và là một cuộc tìm kiếm đỉnh cao liên tiếp của danh vọng và sự tán dương. Grant tổng kết "quyết định đưa tên tuổi mình như là bà hoàng của dòng nhạc đại chúng, Madonna không chỉ dừng lại ở đó, mà còn tiếp tục tự tái sáng tạo mình." Nhà âm nhạc học Susan McClary viết "Chính bản thân nghệ thuật của Madonna đã liên tục mổ xẻ những quan niệm truyền thống về một chủ đề thống nhất với nhiều ranh giới bản ngã có giới hạn. Các tác phẩm của bà khai thác nhiều phương pháp cấu thành bản sắc, đồng thời chối bỏ tính ổn định, giữ nguyên dòng chảy và chống lại bất cứ sự định nghĩa nào."
Trong xuyên suốt sự nghiệp, Madonna tham gia sáng tác và sản xuất cho hầu hết âm nhạc của mình. Khả năng sáng tác sơ khai của Madonna được phát triển trong thời gian biểu diễn cùng Breakfast Club vào năm 1979. Theo tác giả Carol Gnojewski, ý định sáng tác đầu tiên của bà hình thành thông qua nhận thức về tầm quan trọng của việc tự mặc khải, khi Madonna chia sẻ: "Tôi không biết [những bài hát] xuất phát từ đâu. Chúng giống như ma thuật vậy. Tôi có thể viết một bài hát mỗi ngày. Tôi thốt lên rằng 'Ồ, đây là sứ mệnh của tôi'." Mark Kamins, nhà sản xuất đầu tiên của bà, tin rằng Madonna là "một nhạc sĩ và người viết lời bị xem nhẹ." "Rolling Stone" gọi bà là "một tác giả mẫu mực với năng khiếu sáng tác đoạn hook và lời ca đáng nhớ." Theo Freya Jarman-Ivens, khả năng phát triển những đoạn hook "đáng kinh ngạc" của Madonna trong những bài hát của mình đã giúp cho lời ca tạo được sự chú ý từ khán giả, mà không cần màng đến ảnh hưởng từ âm nhạc. Trong một ví dụ, Jarman-Ivens chỉ ra câu hát "Live out your fantasy here with me, just let the music set you free; Touch my body, and move in time, now I know you're mine" trong đĩa đơn năm 1985 "Into the Groove". Các sáng tác của Madonna thường mang tính tự truyện qua nhiều năm, mang các chủ đề trải dài từ tình yêu và các mối quan hệ, cho đến lòng tự trọng và ca ngợi vị thế của phụ nữ. Các bài hát của bà còn đề cập đến các vấn đề cấm kỵ và bất thường trong thời điểm phát hành, như về tình dục và AIDS trong "Erotica" (1992). Nhiều ca từ của bà có chứa nội dung ám chỉ và mang hai nghĩa, dẫn đến nhiều diễn giải từ giới phê bình âm nhạc lẫn học giả. Madonna từng hai lần được bổ nhiệm vào Đại sảnh danh vọng Sáng tác, trong buổi lễ năm 2014 và 2016.
Trước khi nổi danh là một ngôi sao nhạc pop, Madonna từng trải qua nhiều năm trong dòng nhạc rock cùng ban nhạc Breakfast Club và Emmy. Trong khi trình diễn cùng Emmy, bà thu âm khoảng 12-14 bài hát mang thể loại punk rock vào thời điểm đó. Gốc gác từ rock của Madonna có thể được nghe thấy từ album thu thử "Pre-Madonna". Stephen Thomas Erlewine nhận thấy ở album phòng thu đầu tay cùng tên của bà, Madonna bắt đầu sự nghiệp của một nữ diva disco, trong một thời kỳ không có nhiều nữ danh ca phổ biến đến thế. Vào đầu thập niên 80, disco bị tẩy chay khỏi dòng nhạc pop đại chúng, và theo Erlewine, Madonna góp công lớn trong việc truyền bá nhạc dance vào dòng nhạc đại chúng. Các bài hát từ album bộc lộ nhiều xu hướng chủ đạo, giúp bà tiếp tục định nghĩa nên thành công của mình, bao gồm cách diễn đạt phần lớn dựa trên dòng nhạc dance, những đoạn hook bắt tai, phần cải biên tao nhã và chất giọng độc nhất của Madonna. Album phòng thu thứ 2, "Like a Virgin" (1984) là báo hiệu cho nhiều xu hướng xuất hiện trong các tác phẩm sau này của bà, bao gồm nhiều sự tham khảo từ các tác phẩm cổ điển (dòng tổng hợp pizzicato mở đầu "Angel"); khả năng nhận được những phản ứng tiêu cực từ các nhóm xã hội ("Dress You Up" nằm trong danh sách đen của Parents Music Resource Center); và phong cách retro ("Shoo-Bee-Doo", bài hát tri ân đến Motown của Madonna).
Lời tuyên bố nghệ thuật trưởng thành của Madonna dễ dàng được nhìn thấy trong "True Blue" (1986) và "Like a Prayer" (1989). Trong "True Blue", bà kết hợp nhạc cổ điển nhằm tiếp cận đến đối tượng khán giả lớn tuổi hơn, những người thường tỏ vẻ hoài nghi đến âm nhạc của bà. "Like a Prayer" giới thiệu những ca khúc được thu âm trực tiếp và kết hợp nhiều thể loại âm nhạc, bao gồm nhạc dance, funk, RB và phúc âm. Tính linh hoạt của bà còn được thể hiện trong "I'm Breathless", nơi chủ yếu chứa những giai điệu showtune từ Broadway thập niên 1940-mang những ảnh hưởng từ jazz, swing và big band. Madonna tiếp tục sáng tác các bản ballad và dance tiết tấu nhanh trong "Erotica" (1992) và "Bedtime Stories" (1994). Cả hai album đều khám phá các yếu tố của new jack swing, với Jim Farber từ "Entertainment Weekly" khẳng định "bà có thể thật sự được nhìn nhận là mẹ đỡ đầu new jack swing." Bà cố gắng giữ vững nét hiện đại bằng việc kết hợp nhạc mẫu, mạch trống và hip hop vào âm nhạc của mình. Với "Ray of Light", Madonna khiến nhạc điện tử trở nên phổ biến hơn trong bối cảnh âm nhạc đương đại.
Madonna thể nghiệm với folk và acoustic trong "Music" (2000) và "American Life" (2003). Có thể nhận thấy sự thay đổi trong nội dung bài hát ở "Music", với hầu hết đều là những bản tình ca giản dị, nhưng mang giai điệu u sầu tìm ẩn. Theo tạp chí "Q", "American Life" mang đặc điểm của "một giai điệu điện tử sôi động, dòng keyboard trong trẻo, một đoạn điệp khúc acoustic và một đoạn rap kỳ lạ của Madonna." "Các bài hát rock thông thường" của album tràn ngập lời ca sâu sắc về lòng yêu nước và thỏa hiệp, bao gồm sự xuất hiện của ca đoàn phúc âm trong "Nothing Fails". Madonna trở lại dòng nhạc dance với "Confessions on a Dance Floor", chứa nhịp club và âm nhạc retro với lời ca mang phép ẩn dụ nghịch lý và đề cập đến các tác phẩm trước đây của bà. Madonna thay đổi sang hơi hướng urban cùng "Hard Candy" (2008), hòa hợp giữa RB và hip hop cùng giai điệu dance. "MDNA" (2012) phần lớn tập trung vào dòng nhạc dance điện tử mà Madonna hướng đến từ "Ray of Light".
Giọng hát và nhạc cụ.
Sở hữu chất giọng mezzo-soprano (nữ trung), Madonna luôn e thẹn về giọng hát của mình, đặc biệt khi so sánh trước những ca sĩ thần tượng như Ella Fitzgerald, Prince và Chaka Khan. Mark Bego, tác giả cuốn "Madonna: Blonde Ambition", gọi bà là "giọng ca hoàn hảo cho những bài hát nhẹ nhàng", dù không phải là một "tài năng nặng ký." Theo nhà phê bình Tony Sclafani của MSNBC, "giọng ca của Madonna là điểm then chốt đến gốc gác rock của bà. Ca sĩ nhạc pop thường hát những bài hát một cách 'chuẩn xác', nhưng Madonna lại dùng ẩn ý, sự trớ trêu, công kích và tất cả các loại giọng đặc biệt theo cách mà John Lennon và Bob Dylan đã thực hiện." Madonna sử dụng chất giọng timbre tươi sáng, nữ tính trong các album đầu tiên và thay thế điều đó trong những sản phẩm sau này. Sự thay đổi được cân nhắc từ khi giới phê bình thường xuyên đề cập đến giọng hát của bà như là "Chú chuột Minnie sử dụng khí heli". Trong thời gian ghi hình "Evita", Madonna tham gia các khóa luyện giọng nhằm tăng cường quãng giọng. Bà bình luận về trải nghiệm này rằng, "Tôi học cùng một huấn luyện viên cho "Evita" và nhận ra phần lớn giọng của mình vẫn chưa được sử dụng. Trước đó, tôi tin mình đã thực sự đạt đến giới hạn giọng hát và dự định sử dụng hầu hết chúng."
Bên cạnh ca hát, Madonna còn có khả năng chơi một vài nhạc cụ. Bà học chơi trống và guitar từ người bạn trai cũ Dan Gilroy vào cuối thập niên 1970 trước khi gia nhập làm tay trống trong Breakfast Club. Điều này giúp bà lập nên ban nhạc Emmy, nơi bà trình diễn trong vai trò của một tay guitar và ca sĩ chính. Sau khi đạt thành công bứt phá, Madonna chủ yếu tập trung vào ca hát nhưng vẫn được ghi nhận chơi chuông trong "Madonna" (1983) và đàn synthesizer trong "Like a Prayer" (1989). Vào năm 1999, Madonna học chơi vĩ cầm trong 3 tháng để phục vụ cho vai diễn trong "Music of the Heart", trước khi bỏ qua dự án. Sau hai thập niên, Madonna quyết định trình diễn bằng guitar lần nữa trong thời gian quảng bá "Music" (2000). Bà học các khóa chơi đàn từ tay guitar Monte Pittman để hoàn thiện thêm kỹ năng. Kể từ đó, Madonna thường xuyên chơi guitar trong các chuyến lưu diễn và album phòng thu. Tại giải Orville H. Gibson Guitar Awards 2002, bà được đề cử cho "Giải thưởng Les Paul Horizon" nhằm vinh danh những tay guitar có triển vọng.
Theo Taraborrelli, khoảnh khắc quyết định trong tuổi thơ của Madonna là cái chết bi thảm và không đúng lúc của mẹ bà. Bác sĩ tâm lý Keith Ablow cho rằng cái chết của mẹ bà có thể mang một ảnh hưởng quan trọng đến Madonna lúc thiếu thời, vào thời điểm mà cá tính của bà vẫn còn đang hình thành. Theo Ablow, đứa trẻ càng nhỏ trong thời điểm diễn ra mất mát lớn, thì ảnh hưởng đến chúng càng sâu sắc và kéo dài. Ông kết luận "một vài người không thể nào giảng hòa với bản thân vì một mất mát lớn ở thời niên thiếu, Madonna cũng không có khác biệt nào với họ." Ngược lại, tác giả Lucy O'Brien lại nhận xét chính những ảnh hưởng từ vụ cưỡng dâm đã là yếu tố thúc đẩy cho sự nghiệp của Madonna, thậm chí quan trọng hơn cả lúc mẹ bà qua đời: "Chỉ đôi chút đau buồn từ cái chết của mẹ là điều thúc đẩy bà, khi cảm giác bị bỏ rơi khiến bà không được chở che. Bản thân bà lại gặp phải tình huống xấu nhất lúc trở thành nạn nhân của bạo lực bởi nam giới và về sau toàn tâm đưa điều đó vào công việc của mình, lật lại thế cân bằng ở mọi cơ hội."
Khi lớn lên, chị em nhà Madonna cảm nhận được nỗi buồn sâu sắc khi những ký ức sinh động về mẹ mình bắt đầu phai nhạt dần. Họ nằm lòng những hình ảnh của bà ấy và bắt đầu tìm thấy nét tương đồng giữa bà cùng nhà thơ Anne Sexton và những nữ diễn viên Hollywood. Điều này giúp Madonna nuôi dưỡng niềm yêu thích với thơ ca, đặc biệt ở nhà thơ Sylvia Plath. Đến sau này, Madonna phát biểu rằng: "Chúng tôi đều bị tổn thương do [cái chết của bà ấy] và sau đó dành trọn cuộc đời còn lại để phản ứng, đối mặt hoặc cố biến chuyển nó thành một điều gì khác. Nỗi đau đớn khi mất mẹ khiến tôi cảm thấy cô độc và luôn khát khao một cách lạ thường về một điều gì đó. Nếu không cảm thấy trống trải đến thế, thì tôi đã không có được ngày hôm nay. Cái chết của bà rất quan trọng với tôi—sau khi vượt qua nỗi đau buồn—tôi tự nhủ mình phải thật mạnh mẽ nếu không có mẹ ở bên. Tôi sẽ tự chăm sóc cho mình." Taraborrelli cảm thấy trong thời gian đó, bởi sự suy sụp mà Madonna đã hứng chịu, bà không cho phép bản thân hoặc ngay cả đứa con gái của mình phải trải qua cảm giác bị ruồng bỏ mà bà phải trải qua trước kia. "Cái chết của bà ấy đã giúp [Madonna] rút ra một bài học quý giá, rằng bà sẽ phải tự đứng lên cho bản thân vì nỗi sợ yếu đuối—đặc biệt ở bản thân bà—và mong muốn trở thành nữ hoàng trong thành trì của riêng mình."
Vào năm 1985, Madonna tiết lộ bài hát đầu tiên gây ấn tượng mạnh đến bà là "These Boots Are Made for Walkin'" của Nancy Sinatra; bà mô tả bài hát tóm lược nên "thái độ kiểm soát" của chính mình. Khi còn trẻ, bà cố gắng mở rộng khiếu thẩm mỹ trong văn học, nghệ thuật và âm nhạc, đồng thời có niềm yêu thích đến nhạc cổ điển. Trong khi yêu thích nhạc baroque, Madonna còn cảm mến Mozart và Chopin vì "chất nữ tính" trong họ. Những ảnh hưởng lớn của Madonna bao gồm Karen Carpenter, The Supremes và Led Zeppelin, cùng các vũ công Martha Graham và Rudolf Nureyev. Buổi hòa nhạc đầu tiên mà Madonna có cơ hội đến dự là của David Bowie, người cũng được bà xem là nguồn cảm hứng lớn.
Xuất thân từ Ý và Thiên Chúa giáo cùng mối quan hệ với cha mẹ của Madonna được phản ánh trong album "Like a Prayer". Đây là điểm sáng của những ảnh hưởng về tôn giáo xuất hiện trong sự nghiệp của bà. Video cho bài hát cùng tên có chứa các biểu tượng Thiên Chúa giáo, như dấu Thánh. Trong chuyến lưu diễn The Virgin Tour, bà mang một bộ tràng hạt và cầu nguyện cùng nó trong video âm nhạc "La Isla Bonita". Trong video âm nhạc "Open Your Heart", nhân vật của bà bị ông chủ quở trách bằng tiếng Ý. Trong Who's That Girl World Tour, bà đặc biệt trình diễn "Papa Don't Preach" đến Giáo hoàng Gioan Phaolô II.
Thuở niên thiếu, Madonna tìm thấy cảm hứng ở các diễn viên, phát biểu "Tôi yêu mến Carole Lombard và Judy Holliday và Marilyn Monroe. Họ hài hước đến kinh ngạ, hiểu biết và sự trong trắng của tôi." Trong video "Material Girl", bà tái tạo lại hình ảnh của Monroe trong "Diamonds Are a Girl's Best Friend", trích từ bộ phim "Gentlemen Prefer Blondes" (1953). Bà tham khảo thể loại "kịch điên" ("screwball comedies") từ thập niên 1930, đặc biệt từ Lombard, để chuẩn bị cho bộ phim "Who's That Girl". Video cho "Express Yourself" (1989) lấy cảm hứng từ bộ phim câm "Metropolis" (1927) của Fritz Lang. Video "Vogue" làm sống lại thời kỳ hoàng kim của Hollywood những năm 1930, đặc biệt từ Horst P. Horst, và mô phỏng tạo hình của Marlene Dietrich, Carole Lombard và Rita Hayworth, trong khi lời bài hát có nhắc đến nhiều ngôi sao đã tạo nên động lực cho Madonna, bao gồm Bette Davis, người được bà xem là một thần tượng. Dù vậy, sự nghiệp điện ảnh của Madonna lại bị giới phê bình chê trách. Stephanie Zacharek, nhà phê bình của tạp chí "Time", khẳng định "[Madonna] trông cứng nhắc và gượng gạo khi là một diễn viên, và rất khó để xem vì bà rõ ràng đang cố làm quá sức mình." Theo nhà viết tiểu sử Andrew Morton, "Madonna mang một bộ mặt vững vàng trước những lời chỉ trích, nhưng bên trong bà thật sự bị tổn thương." Sau thất bại về doanh thu của "Swept Away" (2002), Madonna tuyên bố dừng nghiệp diễn xuất và hy vọng tai tiếng trong sự nghiệp điện ảnh của bà sẽ không bị đem ra bàn cãi lần nữa.
Các ảnh hưởng của bà cũng xuất phát từ hội họa, nổi bật là từ những tác phẩm của danh họa người Mexico Frida Kahlo. Video âm nhạc "Bedtime Story" có bao gồm nhiều hình ảnh lấy cảm hứng từ bức vẽ của Kahlo và Remedios Varo. Madonna còn là một nhà sưu tầm tranh Art Deco của Tamara de Lempicka và đem chúng vào những video âm nhạc và chuyến lưu diễn của mình. Video âm nhạc "Hollywood" (2003) là một sự thành kính gửi đến nhiếp ảnh gia Guy Bourdin; con trai của Bourdin sau đó đệ đơn kiện bà vì tự ý sử dụng các tác phẩm của cha mình. Các hình tượng mang tính bạo dâm trong các bộ phim underground của Andy Warhol được phản ánh trong các video âm nhạc "Erotica" và "Deeper and Deeper".
Madonna là một tín đồ của đạo Kabbalah; trong năm 2004, bà lấy tên Esther (theo tiếng Ba tư nghĩa là "ngôi sao"). Bà đã quyên góp hàng triệu đô-la Mỹ đến các ngôi trường dạy môn học này tại New York và Luân Đôn. Madonna phải đối mặt trước nhiều giáo sĩ, những người cảm thấy việc nhập đạo của bà là báng bổ và là sự ham mê không chính đáng của người nổi tiếng. Bà biện hộ cho hành động của mình, cho rằng "Mọi chuyện sẽ không ồn ào đến thế nếu tôi gia nhập Đảng Quốc xã" và sự liên quan đến đạo Kabbalah của bà "chẳng làm tổn hại gì đến ai cả". Những ảnh hưởng từ Kabbalah sau đó xuất hiện nhiều hơn trong âm nhạc của Madonna, đặc biệt ở các album "Ray of Light" và "Music". Ở một tiết mục xuất hiện trong chuyến lưu diễn Re-Invention World Tour, Madonna và các vũ công mặc những chiếc áo thun in dòng chữ "Kabbalists Do It Better".
Video âm nhạc và trình diễn.
Theo tác giả Allen Metz và Carol Benso trong "The Madonna Companion", Madonna đã sử dụng hệ thống MTV và các video âm nhạc để thiết lập nên tính phổ biến và đề bật nên các tác phẩm thu âm của mình, nhiều hơn bất kỳ một nghệ sĩ nhạc pop tân thời nào. Theo họ, nhiều bài hát của bà sở hữu hình tượng có bối cảnh vững chắc trong video âm nhạc. Nhà phê bình văn hóa Mark C. Taylor có nhắc đến Madonna trong quyển "Nots" (1993), khi cảm thấy nét tuyệt diệu trong hình thức nghệ thuật hậu hiện đại là từ video và Madonna là "nữ hoàng video" tại vị. Ông còn khẳng định "thành tựu đáng chú ý nhất của MTV chính là Madonna. Phản hồi trước các video gợi dục quá mức của bà là điều mẫu thuẫn có thể được dự đoán trước." Giới truyền thông và phản ứng của công chúng trước những bài hát gây tranh cãi nhất của Madonna như "Papa Don't Preach", "Like a Prayer" và "Justify My Love" có liên quan mật thiết đến các video âm nhạc, yếu tố quảng bá và mang ảnh hưởng nhiều nhất đến các bài hát của bà. Morton cảm thấy "theo một cách khéo léo, các sáng tác của Madonna thường bị lu mờ trước những video nhạc pop gây ấn tượng mạnh của bà."
Các video âm nhạc đầu tiên của Madonna phản ánh phong cách Mỹ pha trộn Latin bụi bặm cùng nét khoa trương rực rỡ. Bà chuyển giao phong cách tiên phong trong thời trang trung tâm New York đến khán giả Mỹ. Hình tượng cùng sự sáp nhập văn hóa Latin và biểu tượng Thiên Chúa giáo tiếp tục xuất hiện trong các video kỷ nguyên "True Blue". Theo tác giả Douglas Kellner, "động thái 'đa văn hóa' của bà đạt thành công đến mức tạo được sự yêu mến trong cộng đồng khán giả trẻ to lớn và đa dạng." Diện mạo mang nét Tây Ban Nha của Madonna trong các video trở thành một xu hướng thời trang vào thời gian đó, với điệu nhảy bolero và những chiếc váy nhiều lớp, cùng chuỗi tràng hạt và cây thánh giá trong video "La Isla Bonita".
Các học giả nhận thấy trong các video của Madonna, bà thường hoán đổi vai trò thường thấy của đàn ông như là giới tính chiếm ưu thế một cách tinh vi. Biểu trưng và hình tượng này xuất hiện nhiều nhất trong video âm nhạc "Like a Prayer", bao gồm nhiều cảnh của một ca đoàn nhà thờ Mỹ Phi, khi Madonna bị sao nhãng bởi một bức tượng thánh màu đen và trình bày trước một cây Thánh giá đang bốc hỏa. Sự hòa trộn giữa thiêng liêng và phàm tục này khiến Tòa thánh giận dữ và dẫn đến sự chấm dứt trong chiến dịch quảng bá cùng Pepsi. Vào năm 2003, MTV vinh danh bà là "Ngôi sao video âm nhạc vĩ đại nhất" và nhận xét "sự cải tiến, sáng tạo và đóng góp của Madonna đến hình thức video âm nhạc nghệ thuật đã giúp bà giành giải thưởng này."
Madonna bắt đầu nổi danh trong thời điểm bùng nổ của MTV; Chris Nelson từ "The New York Times" cho rằng "MTV, với các video hầu như chỉ nhép môi, mở ra một kỷ nguyên nơi người hâm mộ âm nhạc có thể vui vẻ dành cả ngày xem ca sĩ hát nhép." Mối quan hệ cộng sinh giữa video âm nhạc và nhép miệng dẫn đến mong muốn tái tạo hình tượng và bối cảnh trong video âm nhạc lên sân khấu trực tiếp. Ông nói thêm, "Các nghệ sĩ như Madonna hay Janet Jackson đã thiết lập nên tiêu chuẩn mới trong nghệ thuật quảng cáo, với những đêm nhạc không chỉ xuất hiện trang phục công phu và pháo hoa hẹn giờ chuẩn xác mà còn có vũ đạo vô cùng phức tạp. Các hiệu ứng này có thể ảnh hưởng đến chất lượng ca hát trực tiếp." Thor Christensen từ "Dallas Morning News" khẳng định khi Madonna bị phát hiện hát nhép trong Blond Ambition World Tour 1990, bà sau đó cải tổ lại phần trình diễn của mình bằng cách "hầu như đứng im trong những đoạn ca hát mãnh liệt nhất và dành lại phần vũ đạo cho vũ đoà"
Nhằm cử động uyển chuyển hơn khi đang hát và nhảy, Madonna là một trong những người tiên phong sử dụng bộ tai nghe micro tần số vô tuyến rảnh tay, với bộ ống nghe kẹp chặt bên tai hoặc trên đỉnh đầu, và micro dạng viên nang trên trục nối đến miệng. Vì được bà sử dụng thường xuyên, thiết kế microphone này trở nên nổi tiếng với cái tên "Madonna mic". Dù Madonna được nhìn nhận là một nhà trình diễn trong suốt sự nghiệp, với phần lớn diễn xuất điện ảnh bị chỉ trích, thì các màn trình diễn trực tiếp của bà lại được các nhà phê bình khen ngợi. Madonna là nghệ sĩ đầu tiên có các chuyến lưu diễn tái hiện lại những video âm nhạc của mình. Tác giả Elin Diamond giải thích khi tái tạo lại hình tượng từ video của Madonna trong dàn dựng trực tiếp, nét chân thực trong video gốc lại càng được gia tăng. Các màn trình diễn trực tiếp của bà cũng trở thành phương pháp đại diện quảng bá một cách tự nhiên. Taraborrelli cho rằng nhờ bao quát môi trường đa truyền thông, công nghệ và hệ thống âm thanh tân tiến, mà các đêm nhạc và những màn trình diễn của Madonna được xem là một "chương trình hoang phí và mang dáng dấp nghệ thuật."
Nhiều nhà báo âm nhạc, nhà lý luận phê bình và tác giả gọi Madonna là nữ nghệ sĩ thu âm có ảnh hưởng nhất mọi thời đại. Tác giả Carol Clerk có viết "trong sự nghiệp của mình, Madonna đã vượt xa danh nghĩa của một 'ngôi sao nhạc pop' để trở thành một hiện tượng văn hóa trên toàn cầu." Tạp chí "Rolling Stone" Tây Ban Nha khẳng định "Bà trở thành hiện tượng Bậc thầy nhạc pop đầu tiên trong lịch sử, nhiều năm trước khi Internet được biết đến rộng rãi. Madonna ở khắp mọi nơi; trên các hệ thống truyền hình âm nhạc rộng lớn, đài phát thanh, trang bìa tạp chí và ngay cả trong các hiệu sách. Là một biện chứng chưa từng có của dòng nhạc pop, kể từ sự thống trị của The Beatles, cho phép bà giữ vững thăng bằng giữa xu hướng và tính thương mại." Laura Barcella trong quyển "Madonna and Me: Women Writers on the Queen of Pop" (2012) có viết rằng "thật vậy, Madonna đã thay đổi mọi thứ trong bối cảnh âm nhạc, diện mạo "du jour" những năm 80 và đáng kể nhất là những gì mà một nữ ngôi sao nhạc pop đương đại có thể (hoặc không thể) nói, thực hiện, hay hoàn thành trước con mắt dư luận." William Langley từ "The Daily Telegraph" cảm thấy "Madonna đã thay đổi lịch sử xã hội thế giới và thực hiện được nhiều điều hơn bất cứ ai khác." Alan McGee từ "The Guardian" cảm thấy Madonna là một thể loại nghệ thuật hậu hiện đại mà ta không còn được chứng kiến thêm lần nào nữa. Ông khẳng định chính Madonna và Michael Jackson đã sáng tạo nên danh hiệu Nữ hoàng và Ông hoàng nhạc pop.
Tony Sclafani từ MSNBC nhận thấy "trước Madonna, nhiều ngôi sao âm nhạc lớn đều là nam nhạc sĩ rock; sau khi bà đạt thành công, hầu hết họ đều là ca sĩ nữ... Khi The Beatles mang về vinh quang tại Mỹ, họ thay đổi mô hình của nghệ sĩ từ đơn ca sang ban nhạc. Madonna đã lật ngược tình thế—với sự nhấn mạnh ở nữ giới." Howard Kramer, giám đốc giám tuyển của Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll, khẳng định "Madonna và sự nghiệp bà gầy dựng nên đã giúp nhiều nữ ca sĩ nhạc pop khác có cơ hội tiếp nối thành cô" Theo Fouz-Hernández, nhiều nữ ca sĩ tiếp sau như Britney Spears, Christina Aguilera, Kylie Minogue, Spice Girls, Destiny's Child, Jennifer Lopez và Pink đều lớn lên cùng âm nhạc của Madonna và "quyết định trở thành một người như bà." Tạp chí "Time" xếp bà vào danh sách "25 người phụ nữ quyền lực nhất thập kỷ qua", nơi bà là một trong hai ca sĩ duy nhất xuất hiện, cùng với Aretha Franklin. Bà còn dẫn đầu trong danh sách "100 người phụ nữ vĩ đại nhất trong âm nhạc" và "50 người phụ nữ vĩ đại nhất kỷ nguyên video" do VH1 bình chọn.
Hình tượng gợi cảm của Madonna không chỉ giúp sự nghiệp của bà đạt thành công mà còn xúc tác cho nhiều cuộc đàm luận của công chúng về tình dục và chủ nghĩa nữ quyền. Theo tư liệu của Roger Chapman trong "Culture Wars: An Encyclopedia of Issues, Viewpoints, and Voices, Volume 1" (2010), bà là đối tượng gây nên nhiều tranh cãi từ các Giáo hội, nhóm bảo thủ xã hội và bảo vệ trẻ em trước việc sử dụng lời ca và hình tượng gợi dục, biểu tượng tôn giáo và hành vi "không đúng mực" trong các màn trình diễn trực tiếp. "The Times" có viết bà "đã tạo nên cuộc cách mạng giữa phụ nữ trong âm nhạ, khỏa thân, phong cách và giới tính buộc dư luận phải ngồi xuống và chú ý." Giáo sư John Fiske nhận thấy tinh thần tự trao quyền mà Madonna mang lại có gắn bó chặt chẽ đến nỗ lực định nghĩa nên bản thân, tình dục và quan hệ xã hội cá nhân. Tác giả quyển "Doing Gender in Media, Art and Culture" (2009) có chú ý đến cách mà Madonna, một nữ ngôi sao, nghệ sĩ trình diễn và biểu tượng nhạc pop, có khả năng thay đổi quan niệm phản ánh và tranh cãi về chủ nghĩa nữ quyền. Theo nhà hoạt động chủ nghĩa nữ quyền đồng giới Sheila Jeffreys, Madonna đại diện cho sự thống trị của nữ giới về điều mà Monique Wittig gọi là thể loại giới tính, cũng như sự hùng mạnh và hân hoan đón nhận trách nhiệm tình dục về mình. Giáo sư Sut Jhally gọi Madonna "gần như là một biểu tượng thiêng liêng cho nữ quyền."
Madonna được ca ngợi trong vai trò của một nữ doanh nhân, khi "sở hữu được quyền kiểm soát tài chính mà nữ giới đã phải đấu tranh lâu dài trong ngành công nghiệp" và mang về doanh thu hơn 1.2 tỉ đô-la Mỹ ở thập kỷ đầu tiên trong sự nghiệp. Giáo sư Colin Barrow từ Cranfield School of Management mô tả Madonna là "nữ doanh nhân thông minh nhất nước Mỹ... người vươn đến đỉnh cao của ngành công nghiệp và giữ vững vị thế bằng cách tự tái sáng tạo chính mình." Viện hàn lâm London Business School gọi bà là một "doanh nhân năng động" đáng để học tập; họ xác định tầm nhìn thành công, sự thấu hiểu của bà về ngành công nghiệp âm nhạc, khả năng nhận biết giới hạn trình diễn (và mang lại sự giúp đỡ), sự tự nguyện nỗ lực chăm chỉ và khả năng tiếp nhận là những điểm then chốt dẫn đến thành công thương mại của bà. Morton có viết "Madonna biết nắm bắt cơ hội, lôi cuốn và tàn bạo—một người không chùn bước cho đến khi đạt được những gì mình muốn—và đó là điều nên học hỏi khi có thể phải khiến bạn mất đi những người thân yêu nhất. Nhưng điều đó không hề hấn gì với bà ấy." Hazel Blackmore và Rafael Fernández de Castro trong quyển "¿Qué es Estados Unidos?" từ Fondo de Cultura Económica ghi nhận: "Madonna rõ ràng là người phụ nữ quan trọng nhất trong lịch sử âm nhạc đại chúng và bản thân cũng là một nữ doanh nhân vĩ đại; tạo nên xu hướng thời trang, phá vỡ những điều cấm kỵ và là đề tài gây tranh cãi."
Madonna đã bán được hơn 300 triệu đĩa thu âm trên toàn cầu. "Sách Kỷ lục Guinness" cho biết bà là nữ nghệ sĩ thu âm bán chạy nhất và là nghệ sĩ bán chạy thứ 4 mọi thời đại, đứng sau The Beatles, Elvis Presley và Michael Jackson. Theo Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA), bà là nữ nghệ sĩ rock bán chạy nhất thế kỷ 20 và là nữ nghệ sĩ có album bán chạy thứ hai tại quốc gia này, với 64.5 triệu chứng nhận album. Madonna là nghệ sĩ được chứng nhận nhiều nhất mọi thời đại tại Vương quốc Liên hiệp Anh, với 45 giải thưởng từ Công nghiệp ghi âm Anh, tính đến tháng 4 năm 2013. "Billboard" vinh danh Madonna là nữ nghệ sĩ lưu diễn thành công nhất mọi thời đại. Vào tháng 5 năm 2014, tạp chí này xếp bà là nghệ sĩ lưu diễn có doanh thu cao thứ 4 kể từ năm 1990 và đứng thứ 3 trong danh sách "Billboard" Boxscore mọi thời đại, với doanh thu 1.31 tỷ đô-la Mỹ, chỉ đứng sau The Rolling Stones (1.84 tỷ đô-la Mỹ) và U2 (1.67 tỷ đô-la Mỹ). Madonna đã mang về 20 giải Video âm nhạc của MTV, bao gồm giải Thành tựu trọn đời Video Vanguard Award vào năm 1986.
Madonna nắm giữ kỷ lục đạt nhiều vị trí quán quân nhất trên tất cả các bảng xếp hạng "Billboard", bao gồm 12 bài hát đầu bảng "Billboard" Hot 100 và 9 album dẫn đầu "Billboard" 200. Với 46 bài hát đứng đầu Hot Dance Club Songs, Madonna trở thành nghệ sĩ có nhiều bài hát quán quân nhất trong một bảng xếp hạng "Billboard" còn hoạt động, phá vỡ kỷ lục 44 bài hát của George Strait trên Hot Country Songs. Bà còn có 38 đĩa đơn đạt top 10 trên Hot 100, nhiều hơn bất kể một nghệ sĩ nào trong lịch sử. Vào năm 2008, tạp chí "Billboard" xếp bà ở vị trí thứ 2, chỉ sau ban nhạc The Beatles, trong danh sách ""Billboard" Hot 100 All-Time Top Artists", giúp bà là nghệ sĩ đơn ca thành công nhất lịch sử bảng xếp hạng đĩa đơn Hoa Kỳ.
Sự nghiệp điện ảnh.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Phùng Khắc Khoan (chữ Hán: 馮克寬;1528-1613), tự là Hoằng Phu, hiệu là Nghị Trai, Mai Nham Tử, tục gọi là Trạng Bùng (mặc dù chỉ đỗ Nhị giáp tiến sĩ, tức Hoàng giáp); là quan nhà Lê trung hưng và là nhà thơ Việt Nam.
Thân thế và sự nghiệp.
Phùng Khắc Khoan sinh năm 1528 tại làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, trấn Sơn Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội). Tương truyền, ông là em cùng mẹ khác cha với Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm
Thuở nhỏ, ông được cha rèn cặp, sau theo học Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tuy nổi tiếng là người có văn tài, kiêm thông cả thuật số, nhưng ông không đi thi và không chịu ra làm quan với triều Mạc.
Đầu đời vua Lê Trung Tông (ở ngôi: 1548-1556), ông theo Lê Bá Lỵ tham gia công cuộc phù Lê diệt Mạc.
Năm Đinh Tỵ (1557), Phùng Khắc Khoan đỗ đầu khoa thi Hương ở Yên Định (Thanh Hóa) lúc 29 tuổi. Thái sư Trịnh Kiểm biết ông là người có mưu lược, có học thức uyên bác cho giữ chức Ký lục ở ngự dinh, trông coi quân dân bốn vệ, và cho tham dự việc cơ mật.
Từ năm 1558 đến 1571 đời Lê Trung Tông, ông vâng mệnh đi các huyện chiêu dụ lưu dân về làm ăn như cũ. Khi về được thăng Cấp sự trung Binh khoa, rồi đổi sang Cấp sự trung bộ Lễ. Vì trái ý vua, ông phải giáng chức ra thành Nam thuộc Nghệ An, ít lâu sau lại được triệu về.
Năm Canh Thìn (1580) đời Lê Thế Tông, bắt đầu mở thi Hội ở Vạn Lại (Thanh Hóa), ông xin dự thi và đỗ Hoàng giáp, được thăng làm Đô cấp sự.
Năm 1582, ông xin từ quan về nhà riêng ở Vạn Lại, vua cho. Song đến năm sau (1583), thì vời ông ra làm Hồng lô tự khanh.
Năm 1585, đổi ông sang làm Hữu thị lang bộ Công, rồi cử làm Thừa chính sứ Thanh Hoa (tức Thanh Hóa). Theo bài tựa "Ngôn chí thi tập" do ông làm năm 1586, thì chức tước của ông lúc bấy giờ là: "Công thần Kiệt tiết Tuyên lực, đặc ân Kim tử vinh lộc đại phu, làm chức Tán trị thừa chánh sứ ty các xứ Thanh Hoa".
Năm 1592, nhà Lê trung hưng đánh đuổi được nhà Mạc, trở về kinh đô Thăng Long.
Năm 1593 Phùng Khắc Khoan được phong chức Kiệt tiết tuyên lực, công thần, năm 1595, được thăng Công bộ Tả thị lang.
Năm Đinh Dậu (1597), ông đang làm Tả thị lang bộ Công và đã 69 tuổi, thì được cử làm Chánh sứ sang triều Minh (Trung Quốc). Về nước, ông được thăng làm Tả thị lang bộ Lại, tước Mai Lĩnh hầu .
Năm 1599, vua Lê Kính Tông lên nối ngôi, Phùng Khắc Khoan được thăng làm Thượng thư bộ Công. Năm 1602, thăng ông làm Thượng thư bộ Hộ, tước Mai Quận công .
Ít lâu sau ông xin về quê trí sĩ, và nhiệt tình tham gia xây dựng làng xã. Đáng kể là việc ông đã tổ chức đào mương dẫn nước vào các cánh đồng quanh núi Thầy, đưa nước về tưới cho các cánh đồng Phùng Xá và Hoàng Xá .
Phùng Khắc Khoan mất năm Quý Sửu (1613), thọ 85 tuổi, được truy tặng chức Thái phó.
Các tác phẩm chính.
Tác phẩm bằng chữ Nôm.
Ngoài ra, ông còn để lại một vài bài tựa (viết cho một vài tập thơ), và văn bia. Tương truyền, một số tập sách sau đây cũng là của ông: Phùng Thượng thư sấm (Lời sấm của Thượng thư họ Phùng), Binh gia yếu chỉ (Những phương lược trọng yếu của nhà binh), Tư thiên gia truyền chú (Chú giải bộ sách gia truyền về việc xem xét thiên văn)
Tác phẩm bằng chữ Hán.
Tương truyền, ông đã gặp thần nữ là Liễu Hạnh công chúa cả thảy hai lần, và đều có xướng họa thơ: một lần gặp ở chùa Thiên Minh (Lạng Sơn) khi ông đi sứ về, một lần ở Hồ Tây (nay thuộc Hà Nội) khi ông cùng với hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi thuyền. Lần ở Hồ Tây, người tiên kẻ tục bèn làm thơ xướng họa liên ngâm, sau được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chép trong truyện "Vân Cát thần nữ" ở tập "Truyền kỳ tân phả" của bà. Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, thì bài thơ ấy được đặt tên là Tây Hồ quan ngư (Xem cá Hồ Tây). Bản tiếng Việt do Phan Kế Bính dịch có tên là Hồ Tây tức cảnh.
Thành tựu nổi bật và ghi công.
Việc đi sứ nhà Minh.
Trong "Lịch triều hiến chương loại chí", phần "Nhân vật chí", Phan Huy Chú đã viết về Phùng Khắc Khoan như sau:
...""Bấy giờ nhà Minh nhận hối lộ của con cháu nhà Mạc, (nên) không chịu nhận sứ. Ông lúc còn đợi mệnh (vua Minh), liền đưa thư cho Súy ty nhà Minh, kể rõ việc nhà Mạc cướp ngôi (nhà Hậu Lê)... Người Minh khen là có nghĩa mới cho sứ thần qua cửa quan. Khi đã đến Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay), Lễ bộ đường (triều Minh) trách về việc người vàng ta đem cống không làm theo mẫu cũ làm cúi đầu, nên lại ngăn không cho sứ vào chầu. Ông cãi lại rằng: 'Nhà Mạc cướp ngôi, danh nghĩa là nghịch; nhà Lê khôi phục lại, danh nghĩa là thuận. Nhà Mạc dâng người vàng hình cúi đầu thay mình, đã là may lắm. Còn như đời Lê bao đời làm công thần: kiểu người vàng ngửa mặt, quy chế cũ còn đó. Nay lại bắt theo lệ nhà Mạc, thì lấy gì để khuyên việc chiêu an và trừng giới việc trách phạt được'. Việc đến tai vua Minh (Minh Thần Tông), cuối cùng lại cho theo thể thức cũ của nhà Lê buổi trước (tức tượng không cúi đầu) . Bấy giờ ông mới được vào chầu, lĩnh ấn sắc đem về nước. Người Trung Quốc đều khen là sứ giỏ, ông làm dâng lên 30 bài thơ, được vua Minh phê rằng: '(Thế mới biết) nhân tài không chỗ nào là không có'...Ông lại cùng làm thơ với sứ Triều Tiên là Lý Toái Quang. Ông cầm bút viết xong ngay được, (khiến) Toái Quang rất phục tà, chúa Trịnh Tùng rất kính trọng, gọi ông là "Phùng tiên sinh" mà không gọi tên, và người trong nước đều gọi ông là Trạng nguyên, vì kính mến tài năng của ô, sáng suốt, có tài, cái gì cũng biết được chỗ cốt yếu. Văn chương ông thanh nhã, dồi dào, có các tập truyền ở đời."
Việc đáng kể nữa, đó là trong thời gian ở Trung Quốc, Phùng Khắc Khoan đã học bằng cách nhập tâm cách dệt the lượt mỏng , cách trồng ngô (bắp), vừng (mè). Về nước, ông truyền dạy lại cho dân, vì vậy mà được tôn làm ông tổ các nghề ấy. Ngoài ra, ông còn đem về được một số giống lúa tốt, mang lại lợi ích cho dâ
Giao lưu với sứ thần Triều Tiên.
Năm 1597, trong thời gian đi sứ nhà Minh, sứ thần Đại Việt là Phùng Khắc Khoan đã gặp gỡ và trao đổi thơ văn với sứ thần Triều Tiên là Lý Túy (Toái) Quang.
“ "Khắc Khoan đến Yên Kinh, vừa gặp tiết Vạn Thọ của vua Minh, dâng 30 bài thơ lạy mừng. Anh vũ điện đại học sĩ thiếu bảo kiêm thái tử thái bảo Lại bộ thượng thư nhà Minh là Trương Vị đem tập thơ Vạn Thọ ấy dâng lên. Vua Minh cầm bút phê rằng: 'Người hiền tài ở đâu mà không có. Trẫm xem thơ, thấy hết lòng trung thành của Phùng Khắc Khoan, rất đáng khen ngợi'. Liền sai đưa xuống khắc in để ban hành trong nước. Khi ấy, sứ Triều Tiên là Hình tào tham phán Lý Toái Quang viết tựa cho tập thơ... ”— Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển XVII, Kỷ Nhà Lê, Thế Tông Nghị Hoàng Đế, phần 2. /div
Sách Chi Phong loại thuyết của Lý Túy Quang chép (lược dịch và phiên âm):
“ 贈安南國使臣二首萬里來從瘴癘鄕。遠憑重譯謁君王。提封漢代新銅柱。貢獻周家舊越裳。山出異形饒象骨。地蒸靈氣產龍香。卽今中國逢神聖。千載風恬海不揚。聞君家在九眞居。水驛山程萬里餘。休道衣冠殊制度。却將文字共詩書。來因獻雉通蠻徼。貢爲包茅覲象輿。回首炎州歸路遠。有誰重作指南車。brTặng An Nam quốc sử thần nhị thủ
Vạn lý lai tòng chướng lệ hương. Viễn bằng trọng dịch yết quân vương.
Đề phong hán đại tân đồng trụ. Cống hiến chu gia cựu Việt Thường.
Sơn xuất dị hình nhiêu tượng cốt. Địa chưng linh khí sản long hương.
Tức kim Trung Quốc phùng thần thánh. Thiên tái phong điềm hải bất dương.
Văn quân gia tại cửu chân cư. Thủy dịch sơn trình vạn lý dư.
Hưu đạo y quan thù chế độ. Khước tương văn tự cộng thi thư.
Lai nhân hiến trĩ thông man kiếu. Cống vi bao mao cận tượng dư.
Hồi thủ viêm châu quy lộ viễn. Hữu thùy trọng tác chỉ nam xa. ”— 李睟光, 《芝峰先生集》·卷八·安南使臣萬壽聖節慶賀詩集序 Lý Túy Quang 《 Chi Phong tiên sinh tập 》· quyển bát · An Nam sử thần vạn thọ thánh tiết khánh hạ thi tập tự /div
Bài thơ Phùng Khắc Khoan tặng lại Lý Túy Quang:
“ 答朝鲜国使李睟光義安何地不安居。禮接誠交樂有餘。彼此雖殊山海域。淵源同一聖賢書。交鄰便是信為本。進德深惟敬作輿。記取使軺回國日。東南五色望雲車。 Đáp Triều Tiên quốc sứ Lý Tuý Quang
Nghĩa An hà địa bất an cư,
Lễ tiếp thành giao lạc hữu dư.
Bỉ thử tuy thù sơn hải vực,
Uyên nguyên đồng nhất thánh hiền thư.
Giao lân tiện thị tín vi bản,
Tiến đức thâm duy kính tác dư.
Ký thủ sử diêu hồi quốc nhật,
Đông nam ngũ sắc vọng vân xa. ”— Phùng Khắc Khoan, Hoàng Việt thi tuyển, quyển 5. /div
Về phương diện văn học, nhìn chung thơ văn Phùng Khắc Khoan là tiếng nói chân thành của một trí thức dân tộc có tâm huyết, có tấm lòng yêu nước thương đời. Tuy sống trong thời buổi suy vi, nhưng vẫn tin tưởng ở tương lai xán lạn của đất nước, vẫn tin tưởng sức người có thể đổi loạn thành trị, cứu nguy thành , giàu phong vị, có tác dụng đẩy mạnh sự phát triển của thơ Nôm Việt Nam. Thơ chữ Hán của ông cũng có phong thái hồn hậu, mực thước, được Phan Huy Chú khen ngợi (như trên)...
Các công trình gắn liền với tên tuổi của Phùng Khắc Khoan.
Ghi nhận công đức của Phùng Khắc Khoan, người dân Phùng Xá đã lập đền thờ ông, thành phố Hà Nội có phố Phùng Khắc Khoan (thị xã Sơn Tây và quận Hai Bà Trưng), và ở Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh có đường Phùng Khắc Khoan. Tại xã Bình Phú, Thạch Thất, Hà Nội có trường THPT Phùng Khắc Khoan-Thạch Thất
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Amanda Leigh Moore, thường được biết đến với nghệ danh Mandy Moore (sinh ngày 10 tháng 4 năm 1984 tại Nashua, New Hampshire, Hoa Kỳ), là một nữ ca sĩ kiêm diễn viên người Mỹ. Cô bắt đầu nổi tiếng và được khán giả biết đến sau khi phát hành album đầu tay "So Real".
Moore sinh ngày 10 tháng 4 năm 1984 tại Nashua, New Hampshire, Hoa Kỳ. Bố cô, Don Moore, là phi công cho Hàng không Mỹ và mẹ cô, Stacy, là nguyên phóng viên nhà báo. Cô là một ca sĩ, nhạc sĩ diễn viên và một nhà tạo mẫu. Cô lớn lên tại Florida. Moore trở nên sớm nổi tiếng vào cuối những năm 1990, sau khi phát hành những album So Real, I Wanna Be with You, và Mandy Moore. Moore bắt đầu sự nghiệp diễn xuất từ năm 2002 khi tham gia phim A Walk to Remember và sau đó đóng chính trong nhiều phim khác dành cho đối tượng thiếu niên. Hai phim sau này của Moore, American Dreamz và Saved!, bị châm biếm. Trong cuộc sống riêng, bao gồm mối quan hệ với vận động viên quần vợt Andy Roddick cùng với diễn viên Wilmer Valderrama và Zach Braff đã được thảo luận nhiều trên các phương tiện truyền thông. Album mới của cô Amanda Leigh, được phát hành vào 26 tháng 5 năm 2009. Mandy Moore đã bán được hơn 10 triệu bản trên toàn thế giới. Năm 2009, Mandy Moore đã đính hôn với rocker Ryan Adams. Năm 2010 cô lồng tiếng cho nhân vật chính Rapunzel trong bộ phim Công chúa tóc mây (Tangled). Cô song ca với Zachary Levi cũng là người lồng tiếng vai nam chính cho Eugene Fitzherbert (Flynn Rider) các ca khúc "I see the lịght", "I've Got a Dream" được sử dụng trong phim.
|
Cameron Michelle Diaz (sinh ngày 30 tháng 8 năm 1972) là một cựu diễn viên, nhà sản xuất, tác giả và người mẫu người Mỹ. Cô trở thành ngôi sao màn bạc nhờ đóng trong các phim "The Mask" (1994), "My Best Friend's Wedding" (1997) và "There's Something About Mary" (1998), cũng như vai lồng tiếng Công chúa Fiona trong loạt phim "Shrek" (2001-10). Danh sách một số phim nổi tiếng khác của cô bao gồm "Charlie's Angels" (2000) và phần tiếp nối "" (2003), "The Sweetest Thing" (2002), "In Her Shoes" (2005), "The Holiday" (2006), "What Happens in Vegas" (2008), "My Sister's Keeper" (2009), "Knight and Day" (2010), "Chiến binh bí ẩn" (2011), "Cô giáo lắm chiêu" (2011), "Tâm sự bà bầu" (2012), "Ngài luật sư" (2013), "Vợ, người yêu, người tình", "Sex Tape", và " Annie" (ba bộ phim đều vào năm 2014).
Diaz đã nhận bốn đề cử Quả cầu vàng cho diễn xuất trong "Being John Malkovich" (1990), "Vanilla Sky" (2001), "Gangs of New York" (2002) và "There's Something About Mary" (1998) - bộ phim sau đó giúp cô giành giải của Hội phê bình phim New York cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Năm 2013, Diaz được chọn là nữ diễn viên trên 40 tuổi được trả lương cao nhất ở Hollywood. Tính đến năm 2015, tổng doanh thu phòng vé nội địa Hoa Kỳ trong các phim của Diaz đã vượt ngưỡng 3 tỷ USD, với tổng doanh thu toàn cầu vượt mức 7 tỷ USD, giúp cô trở thành nữ diễn viên có doanh thu phòng vé nội địa cao thứ ba (chỉ sau Scarlett Johansson và Emma Watson).
Diaz còn là tác giả hai cuốn sách về sức khỏe: "The Body Book" (2013), cuốn sách bán chạy nhất của The New York Times và "The Longevity Book" (2016)
Diaz sinh ra tại San Diego, California. Mẹ cô là Billie (nhũ danh Early), một người chủ đại lý xuất/nhập khẩu, còn cha cô là Emilio Diaz, làm ở vị trí quản đốc trong công ty dầu mỏ Unocal ở California. Diaz có một người em gái tên là Chimene. Họ hàng nội của Diaz là người gốc Cuba, và tổ tiên của Diaz lúc đầu chuyển từ Tây Ban Nha đến Cuba. Sau đó họ đến định cư tại thành phố Ybor, Tampa trước khi chuyển đến California sống, nơi Emillio chào đời. Mẹ cô là người có gốc từ Anh, Đức và Cherokee. Diaz lớn lên tại Long Beach, đồng thời theo học trường tiểu học Los Cerritos, rồi chuyển đến trường trung học đa ngành Long Beach với rapper Snoop Dogg.
Cô khởi nghiệp làm người mẫu thời trang năm 16 tuổi và đã tiến hành thỏa thuận với công ty người mẫu Elite Model Management. Trong năm tiếp theo, Diaz đã xúc tiến hợp đồng toàn thế giới với một số đối tác, như Calvin Klein và Levi's. Năm 17 tuổi, cô được chọn lên trang bìa tạp chí "Seventeen" số ra vào tháng 7 năm 1990. Diaz cũng làm người mẫu trong hai-ba tháng tại Úc và quay một đoạn quảng cáo cho thương hiệu Coca-Cola ở Sydney năm 1991. Năm 21 tuổi, Diaz thử vai ca sĩ nhạc jazz ngọt ngào gợi cảm Tina Carlyle trong "The Mask", nhờ lời khuyên từ người đại diện của Elite. Sau đó Elite đã gặp các nhà sản xuất phim trong khi họ đang tìm kiếm nữ diễn viên chính. Vì không có kinh nghiệm diễn xuất nên cô đã bắt đầu học diễn sau khi được tuyển vai. "The Mask" trở thành một trong mười phim điện ảnh có doanh thu cao nhất năm 1994, qua đó đưa Diaz thành một biểu tượng sex.
Bên cạnh việc tham gia những phim kén người xem như "A Life Less Ordinary", Diaz trở lại công chúng vào năm 1997 với phim hài lãng mạn "My Best Friend's Wedding". Trong phim cô thủ vai một vị hôn thê giàu có của một nhà báo thể thao, đối nghịch với Julia Roberts, đóng một người bạn thân lâu năm của vị nhà báo. Phim trở thành bom tấn phòng vé toàn cầu và được coi là một trong những phim lãng mạn hài hay nhất mọi thời đại. Năm 1998, Diaz tham gia đóng trong "There's Something About Mary" trong vai chính là một người phụ nữ đang có nhiều đàn ông cạnh tranh theo đuổi cô. Sleeper hit này là phim hài có doanh thu cao nhất năm 1998 cũng như phim có doanh thu cao thứ tư trong năm. Phim thu về 176 triệu USD tại nội địa và 369 triệu USD toàn cầu. Cô còn nhận một đề cử giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất.
Diaz tham gia phim "Being John Malkovich" (1999), phim đạo diễn đầu tay của Spike Jonze khi thủ vai một người vọ bị ám ảnh động vật, còn người chồng là một thợ làm rối thất nghiệp. Thông qua một cánh cửa vào trí não, người chồng tìm thấy chính mình trong trí óc của nam diễn viên John Malkovich. Phim nhận được lời khen ngợi rộng rãi và đạt thành công về mặt nghệ thuật. Với vai diễn, Diaz đem về các đề cử Nữ diễn phụ xuất sắc nhất tại giải Quả cầu vàng, BAFTA và giải SAG.
Trong tác phẩm chuyển thể "Charlie's Angels", Diaz, Drew Barrymore và Lucy Liu thủ vai bộ ba nhà thám tử tại Los Angeles. Đây là một trong những phim có doanh thu cao nhất năm với doanh thu 264.1 triệu USD. Năm 2001, Diaz tham gia đóng trong phim chính kịch độc lập ra mắt tại Sundance "The Invisible Circus", trong vai một cô gái trẻ đã tự sát ở châu Âu vào thập niên 1970; và trong năm kế tiếp, cô xuất hiện trong "Vanilla Sky" với vai người yêu cũ của một nhà trùm xuất bản tự đắc và bê tha (Tom Cruise). Cô đã đem về cho mình các đề cử Nữ diễn phụ xuất sắc nhất tại lễ trao giải Quả cầu vàng, giải SAG, giải Lựa chọn của Nhà phê bình Điện ảnh và giải Viện phim Mỹ với vai diễn trong phim.
Cũng vào năm 2001, Diaz lồng tiếng Công chúa Diana trong phim hoạt hình "Shrek" giúp cô thu về 10 triệu USD. Trong phim, vai công chúa của cô bị cản trở bởi một lời nguyền biến cô thành một ông kẹ mỗi khi hoàng hôn. Bị nhốt trong tòa lâu đài có rồng canh giữ trong nhiều năm, cô được "giải cứu" bởi một chàng hiệp sĩ và sau đó yêu vị hiệp sĩ này. Ngoài thành công về mặt phê bình, phim cũng thu về 484.4 triệu USD tại phòng vé toàn cầu. Năm 2002, cô đóng trong phim sử thi chính kịch lịch sử "Gangs of New York" (2002) của Martin Scorsese, lấy bối cảnh vào thế kỉ 19 tại quận Five Points của thành phố New York. Cô đảm nhiệm vai kẻ móc túi và người yêu của nhân vật do Leonardo DiCaprio thủ vai. Trên toàn thế giới, phim thu về tổng cộng 193 triệu USD và cũng nhận được đánh giá tốt từ giới phê bình.
Năm 2010, tạp chí "Forbes" xếp Diaz là nhân vật nữ nổi tiếng giàu có nhất, cũng như vị trí thứ 60 của cô trong danh sách 100 người giàu nhất. Trong cùng năm đó, Diaz đảm nhận vai lồng tiếng Công chúa Diana trong "Shrek Forever After", phần thứ tư trong loạt phim "Shrek". Dù nhận được đánh giá trái chiều từ giới phê bình, phim vẫn thu về 752 triệu USD trên toàn cầu và trở thành phim có doanh thu cao thứ năm được phát hành trong năm đó. Cũng trong năm 2010 Diaz hội ngộ với bạn diễn trong "Vanilla Sky" Tom Cruise trong tác phẩm hành động hài "Knight and Day". Trong phim, Diaz thủ vai một người sửa chữa xe cổ vô tình bắt gặp đặc vụ bí mật lập dị Roy Miller (do Cruise đóng) đang trên đường chạy trốn Cơ quan Mật vụ Hoa Kỳ. "Knight and Day" nhận đánh giá phê bình trái chiều và trong khi màn ra mắt của phim tại phòng vé khá ảm đạm, phim đã trở thành một sleeper hit tại phòng vé toàn cầu với doanh thu 262 triệu USD.
Năm 2011, Diaz vào vai nhà báo Lenore Case trong bản phim làm lại từ thập niên 1940 "Chiến binh bí ẩn". Do Michel Gondry đạo diễn, cô tham gia đóng cùng với Seth Rogen, Châu Kiệt Luân và Christoph Waltz trong phim siêu anh hùng hành động hài này. Phim phát hành và nhận được phản hồi tiêu cực từ giới phê bình, sau đó kết thúc đợt chiếu rạp vào ngày 21 tháng 4 năm 2011 với tổng doanh thu toàn cầu 228 triệu USD. Cùng năm đó, cô đóng cùng Justin Timberlake và Jason Segel trong phim hài người lớn "Cô giáo lắm chiêu" của Jake Kasdan. Dù tiếp tục bị giới phê bình chỉ trích dữ dội, tác phẩm nhãn R thể loại hài này vẫn thu về 216 triệu USD trên toàn cầu. Cũng trong năm 2011, Diaz cũng được điền tên trong danh sách "Những nhà giải trí nữ xuất sắc" của tạp chí "CEOWorld Magazine".
Năm 2012, Diaz được tuyển vai trong phim "Tâm sự bà bầu" do Kirk Jones đạo diễn và dựa trên cuốn cẩm nang mang thai cùng tên. Trong phim, cô đóng các cảnh của mình trong thời gian 2 tuần, với vai Jules Baxer, một thí sinh trên chương trình khiêu vũ nổi tiếng và người dẫn chương trình thể dục giảm cân mang bầu với bạn nhảy. Khi phát hành, phim hài này đã nhận đa số phản hồi tiêu cực, nhưng lại giành thành công về mặt thương mại mức trung bình với doanh thu toàn cầu 84.4 triệu USD.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Chi Sen (danh pháp khoa học: Nelumbo) là một chi thực vật có hoa thuộc bộ Quắn hoa. Từ "Nelumbo" (tiếng Hindi: कमल) có nguồn gốc từ tiếng Sinhala නෙළුම්, "neḷum", để chỉ loài sen "Nelumbo nucifera".
Các loài trong chi Nelumbo có hoa rất giống với các loài hoa súng trong họ Nymphaeaceae (họ Súng). Lá của các loài sen có thể phân biệt được với lá của các loài trong họ Nymphaeaceae, do lá sen có hình khiên (lá tròn), trong khi đó Nymphaeaceae có vết khía hình chữ V đặc trưng từ mép lá vào tâm của lá. Quả ở trung tâm chứa các hạt của các loài cũng có đặc trưng phân biệt và được gọi là bát sen.
"Nelumbo nucifera" được biết đến nhiều như là một loại hoa linh thiêng của Ấn giáo và Phật giáo và là quốc hoa của Ấn Độ. Thân rễ (ngó sen) của nó cũng được sử dụng nhiều trong ẩm thực châu Á. Nhà thờ của Bahá'í giáo tại Ấn Độ có hình dạng của hoa sen.
"Nelumbo lutea" là loài sen thứ hai có màu trắng thấy phổ biến ở Bắc Mỹ.
"Trong đầm gì đẹp bằng sen"
"Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng"
"Nhị vàng, bông trắng lá xanh
"Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"
"Trên đời gì rẻ bằng Bèo, "
"Chờ khi nước lụt, Bèo trèo lên Sen. "
"Trên đời gì tốt bằng Sen, "
"Quan yêu dân chuộng, rã bèn cũng hư. "
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Jessica Ann Johnson (nhũ danh Simpson, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1980) là ca sĩ, diễn viên và nhà thiết kế thời trang người Mỹ. Jessica kí hợp đồng thu âm với hãng Columbia Records khi chỉ mới 16 tuổi và ra mắt album đầu tay vào năm 1999. Album được tiêu thụ hơn 4 triệu bản toàn thế giới, bài hát nổi bật nhất của album là "I wanna love you forever" (1999) trụ top 3 trong khoảng thời gian dài. Hi vọng sẽ đạt được thêm thành công với album thứ hai, Jessica thử nghiệm hình ảnh trưởng thành hơn cho album Irresistible (2001), đĩa đơn cùng tên với album trụ hạng 2 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Album cũng đạt được chứng nhận vàng của Hiệp hội thu âm Mỹ. Jessica kết hôn với ca sĩ Nick Lachey vào ngày 26 tháng 10 năm 2002 sau 4 năm hẹn hò. Cặp đôi cùng nhau xuất hiện trong chương trình truyền hình thực tế Newlyweeds: Nick và Jessica (2003-05) trên kênh MTV, kể về cuộc sống hôn nhân và sự nghiệp. Chương trình trở nên nổi tiếng và làm tên tuổi của Jessica và Nick được nhiều người biết đến. Tuy nhiên cuộc hôn nhân của họ không kéo dài, vào tháng 11 năm 2005, cả hai công bố đã ly thân; Jessica đệ đơn ly dị theo sau đó vì những bất đồng không thể giải quyết.
Album phòng thu thứ 3 mang tên In This Skin (2003) là album thành công nhất trong sự nghiệp của Jessica, đạt doanh thu hơn 7 triệu bản trên toàn thế giới. Album được xem là phần tiếp theo của đĩa đơn thành công trước đó là "With you" (2003) vốn đạt chứng nhận vàng của Hiệp hội thu âm Mỹ. Cô cũng bắt đầu sự nghiệp diễn xuất với vai diễn Daisy Duke trong bộ phim "The Dukes of Hazzard" (2005); bộ phim thành công về mặt thương mại nhưng lại nhận rất nhiều ý kiến và nhận xét tiêu cực. Cô cũng thu âm ca khúc chủ đề cho bộ phim là "These Boots Are Made for Walking" (2005), bài hát cũng đạt thứ hạng cao trong top 20 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100.
Bên cạnh sự nghiệp âm nhạc, cô cũng cho ra mắt bộ sưu tập The Jessica Simpson vào năm 2005, đây là dòng quần áo thời trang và những mặt hàng khác. Thương hiệu có doanh thu hơn 1 tỉ đôla và được xem là một trong những thương hiệu bởi người nổi tiếng thành công nhất. Album phòng thu thứ năm của cô là A Public Affair (2006) không đạt được doanh thu và thành công như mong đợi. Sau đó Jessica cũng tham gia bộ phim Employee of the Month (2006). Jessica ra mắt album thứ 6 theo phong cách đồng quê. Kế hoạch này bị nhiều nhà phê bình chỉ trích nhưng vẫn đạt thứ hạng đầu tiên trên những bảng xếp hạng nhạc đồng quê. Jessica tham gia chươn trình thực tế The Price of Beauty (2010) và là thành viên của ban giám khảo cho hai mùa của chương trình Fashion Star (2012-13). Cô tái hôn với Eric Johnson và có hai con. Jessica cũng thông báo về việc sẽ phat hành album thứ 8 của mình, dự kiến sẽ được ra mắt trong năm 2018.
Cuộc sống và sự nghiệp.
1980-98: Thời thơ ấu và bắt đầu sự nghiệp.
Jessica Ann Simpson được sinh ra ở Abilene, bang Texas. Cô là con đầu của bà Tina Ann (nhũ danh Drew), làm nghề nội trợ, và ông Joseph "Joe" Simpson, là nhà tâm lý học và hội trưởng hội Baptist. Hai người kết hôn vào năm 1978 và đã ly hôn vào năm 2013. Jessica kể rằng cô lớn lên ở Dallas nhưng ba mẹ của cô hiện giờ đang sinh sống ở McGregor, Texas. Jessica là con đầu và cô còn có một em gái là ca sĩ Ashlee Simpson. Cô theo học ở Trung học J. J Pearce nhưng bỏ học sau đó ngay khi sự nghiệp cất cánh, sau đó cô theo học để lấy GED. Là con gái của hội trưởng hội Thánh, Jessica được nuôi dạy kĩ lưỡng với niềm tin mãnh liệt. Ba cô tặng cô chiếc nhẫn trinh tiết vào năm 12 tuổi. Cô cùng gia đình di chuyển thường xuyên do tính chất công việc của ba cô, mặc dù chủ yếu dành thời gian ở Texas. Ba thường nhận những người mẹ đơn thân cho họ ở nhà của mình trong một thời gian ngắn.
Jessica tham gia nhóm hát ở nhà thờ lúc còn bé. Khi cô 11 tuổi, cô nhận ra rằng mình muốn trở thành ca sĩ lúc còn ở nhóm hát. Cô tham gia thử giọng cho Câu lạc bộ Mickey Mouse lúc 12 tuổi bằng màn trình diễn ca khúc "Amazing Grace" và nhảy theo ca khúc "Ice Ice Baby" (1990). Cô lọt vào nhiều vòng, trở thành một trong những tham dự vòng tứ kết cùng với Britney Spears, Christina Aguilera và Justin Timberlake. Jessica thừa nhận rằng đó mình đã rất lo lắng trong phần trình diễn chung kết của mình sau khi thấy Christina Aguilera trình diễn, tuy nhiên Jessica đã không được chọn. Jessica sau đó đã trình diễn lại màn biển diễn của mình là nhà thờ và nhận được sự chú ý của người đứng đầu hãng thu âm thuộc dòng. Người đó đã đề nghị Jessica đi thử giọng và ngay lập tức kí hợp đồng với cô sau khi nghe cô trình diễn bài "I Will Always Love You" (1973) của Dolly Parton. Jessica bắt đầu thu âm album đầu tiên với hãng Proclaim Records, và đi tour để quảng bá album. Cha của Jessica sau đó đã công bố rằng cô dừng việc đi tour quảng bá vì nghĩ rằng kích cỡ ngực của cô khiến nhiều người đánh giá rằng nó quá "gợi cảm" với dòng nhạc cô đang theo đuổi.
Album đầu tiên của cô tên Jessica không bao giờ được ra mắt do hãng Proclaim phá sản; dù vậy, bà của cô đã tự tay gây quỹ để giúp cô ra mắt album. Khoảng thời gian ngắn sau đó, Jessica nhận được nhiều lời mời thử giọng sau khi Jessica được gửi đến nhiều hãng thu âm và nhà sản xuất nhạc. Nhưng cô lại ấn tượng nhất với Tommy Mottola, người bấy giờ là chồng của Mariah Carey và chủ hãng Columbia Records. Tommy kí hợp đồng thu âm với cô và nói rằng "cô ấy có vẻ ngoài thật tuyệt vời và thái độ nghiêm túc, khác lạ hơn so với Britney Spears và những người còn lại; cô ấy có thể hát được". Jessica bắt tay làm việc cho album đầu tya ở Orlando, Florida. Tommy mong muốn sẽ quảng bá Jessica khác hơn sơ với Britney và Christina vốn đang nổi tiếng khi theo thể loại nhạc khá gợi cảm. Trong thời gian chú tâm cho album đầu tay, Jessica nhận cha của mình là ông Joe thành trợ lý và mẹ là bà Tina làm stylist. Trong một buổi tiệc Giáng Sinh năm 1998, Jessica gặp gỡ thành viên của nhóm nhạc 98 Degrees là Nick Lachey, cả hai bắt đầu hẹn hò; Nick sau này tiết lộ sau khi rời bữa tiệc, anh trở về nhà và thông báo với mẹ của mình rằng một ngày nào đó anh sẽ lấy Jessica.
1999-2001: Thành công đột phá với album đầu tay..
Jessica bắt tay làm album đầu tiên vào năm 1998. Tommy muốn Jessica truyền tải hình ảnh "không gợi cảm" trong suốt thời gian quảng bá, như một cú chọi lại với Britney Spears và Christian Aguilera. Tommy tin rằng hình ảnh này sẽ giúp nhiều người nghe cảm thấy "đồng cảm" hơn, dẫn tới doanh thu sẽ tăng cao. Jessica cũng thông báo về việc sẽ không quan hệ tình dục cho tới khi kết hôn như Tommy quyết định. Đĩa đơn đầu tiên của cô là "I Wanna Love You Forever" (1999) được phát hành vào ngày 28 tháng 9. Đĩa đơn đạt nhiều thành công ở nhiều nơi khác nhau, phải kể đến là đạt thứ hạng 3 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 ở Mỹ. Bài hát cũng nhận được chứng nhận bạch kim từ Hiệp hội thu âm Mỹ vì đã đạt doanh số hơn 1 triệu bản toàn quốc. Album cũng đạt được thành công ở nhiều nơi khác nhau, bao gồm những nước ở Châu Âu.
Album phòng thu đầu tay là Sweet Kisses được ra mắt vào ngày 23 tháng 11 năm 1999. Album đạt doanh số hơn 65,000 bản ở tuần đầu phát hành, đạt thứ hạng 65 trên bảng xếp hạng Billboard 200 ở Mỹ. Để quảng bá cho ca khúc "Where You Are" (2000) là đĩa đơn tiếp theo, bạn trai lúc bấy giờ của Jessica là Nick Lachey cũng góp giọng trong ca khúc. "I Think I'm In Love With You" (2000) là đĩa đơn thứ 3 và cũng là cuối cùng, cũng đạt được thành công ở thị trường Mỹ. Với thành công của ca khúc thứ ba trong album, Sweet Kisses đạt thứ hạng 25 trên bảng xếp hạng Billboard 200 vào tháng 8 năm 2000. Album bán được hơn 2 triệu bản ở Mỹ và nhận chứng nhận bạch kim đôi từ Hiệp hội thu âm M; đồng thời cũng bán hơn 4 triệu bản toàn thế giới. Jessica cũng tham gia tour lưu diễn cùng với nhóm nhạc của bạn trai Nick là 98 Degrees, như một hành động để quảng bá cho Sweet Kisses suốt năm 2000 sau đó.
Jessica bắt đầu thu âm album thứ hai vào năm 2000, hi vọng sẽ có nhiều bài hát thích hợp để phát trên radio cũng như có giai điệu sôi động. Trong suốt thời gian chuẩn bị cho album mới, Jessica bắt đầu hình ảnh trưởng thành hơn, được cho là quyết định của lẫn Jessica và hãng thu âm với hi vọng đạt được thành công như Britney Spears. Trong quá trình thu âm, Jessica chia tay với Nick để tập trung mở rộng sự nghiệp; cả hai sau đó đã quay lại vào tháng 9 cùng năm. Vào tháng 7 năm 2001, trong một bài phỏng vấn cho báo Coventry, Jessica nói rằng "tôi làm album Sweet Kisses lúc chỉ mới 17 tuổi và bây giờ tôi đã sắp 21 tuổi cho nên sẽ có sự thay đổi lớn 4 năm cho album lần này". Jessica ra mắt bài hát đầu tiên tên "Irresistible" (2001) làm đĩa đơn vào tháng 4. Đĩa đơn nhận được nhiều ý kiến khác nhau từ nhà phê bình do chủ đề lần này có hơi hướng "gợi dục", mặc dù đây là ca khúc đạt thứ 2 trong top 20 những bài hát hay nhất trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100.
Jessica ra mắt album phòng thu thứ 2 mang tên Irresistible (2001) vào tháng 5. Album đạt doanh số hơn 127 ngàn bản ở Mỹ trong tuần đầu phát hành, đạt thứ hạng 6 trên bảng xếp hạng Billboard 200. Mặc dù doanh số kì này gần như gấp đôi doanh số của album đầu tiên nhưng Irresistible gần như không thể bằng với album đầu tiên; đĩa đơn cũng nhận được chứng chỉ vàng từ Hiệp hội thu âm Mỹ cho 500,000 bản đã được bán ra. "A Little Bit" (2001) là đĩa đơn thứ hai và cũng là cuối cùng, cũng không đạt được thành công như mong đợi. Để quảng bá bài hát, Jessica làm người hát mở màn cho Total Request Live Tour cùng với Destiny's Child và Nelly. Sau đó Jessica rời chương trình để làm tour DreamChaser của mình (2001), Jessica cũng mời vũ công phụ họa cho màn trình diễn; tuy nhiên tour lưu diễn bị hủy bỏ vì vu tấn công này 11 tháng 9.
2002-05: Kết hôn với Nick và danh tiếng vươn xa..
Jessica tuyên bố đính hôn với Nick vào tháng 2 năm 2002, buổi lễ được cử hành ở Austin, Texas vào ngày 26 tháng 10. Jessica bắt đầu thu âm album thứ 3 vào năm 2002. Đĩa đơn đầu tiên của album là "Sweetest Sin" (2003) được cho là có lời bài hát ẩn ý về việc Jessica trao trinh tiết của mình cho Nick. Tuy nhiên bài hát lại không đạt thành công thương mại như mong đợi. Cha của Jessica gợi ý kênh MTV sản xuất một chương trình thực tế cho Jessica và Nick, show truyền hình Newlyweeds: Nick và Jessica được lên kế hoạch. Chương trình này vốn dĩ chú trọng về mối hôn nhân giữa Michael Jackson và Lisa Marie Presley nhưng sau đó cả hai dừng ghi hình và cho phép Nick và Jessica thay thế họ. Chương trình chủ yếu về cuộc hôn nhân của Nick và Jessica cũng như quá trình thu âm album thứ ba của Jessica, được lên sóng vào ngày 19 tháng 8 năm 2003. Chương trình trở thành chương trình ăn khách nhất với việc khắc họa hình tượng "cô nàng tóc vàng hoa" của Jessica, điều này đã giúp cả hai có thêm danh tiếng. Series này là thành công rực rỡ của MTV và được phát sóng 3 mùa liên tiếp cho tới năm 2005.
Album thứ ba là In This Skin (2003) được phát hành vào ngày côn chiếu show truyền hình của cả hai, được dùng làm công cụ quảng bá cho album. In This Skin đạt thứ hạng thứ 10 trên bảng xếp hạng Billboard 200, bán được 64 ngàn bản trong tuần đầu tiên. Tuy nhiên doanh số này được xem là thấp nhất trong sự nghiệp của Jessica lúc bấy giờ. In This Skin nhanh chóng tụt hạng và chỉ bán được 565 ngàn bản tính tới tháng 1 năm 2004. Jessica tiếp tục ra mắt đĩa đơn "With You" (2003) vào tháng 10. Đĩa đơn này nhanh chóng trở thành hit, đạt top 20 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và đứng hạng đầu trên bảng xếp hạng Mainstream Top 40 dựa trên lượt người nghe trên radio. Jessica cũng trình diễn bài hát này trong hiệp giải lao của giải Super Bowl. Cô bắt đầu thu lại nhiều ca khúc cho In This Skin, được phát hành lần nữa vào tháng 3 năm 2004. Điều này đã giúp doanh số tăng đột biến; In This Skin bán được hơn 4 triệu bản ở thị trường Mỹ. Cả hai bài hát "Take my breath away" (2004) và "Angels" (2004) là hai đĩa đơn trong album làm lại này.
Jessica cùng Nick góp mặt trên chương trình đặc biệt của đài ABC mang tên The Nick and Jessica Variety Hour vào tháng 4, cùng với nhiều sự góp mặt của nhiều người nổi tiếng khác như Jewel và Mr. T. Cùng tháng đó, cô ra mắt dòng sản phẩm mang tên Jessica Simpson Desserts by Jessica Simpson Cosmetics hợp tác với Randi Shinder, nhấn mạnh tất cả sản phẩm đều ăn được. Jessica bắt đầu tour lưu diễn mang tên Reality (2004) suốt thị trường Bắc Mỹ vào tháng 6; tour lưu diễn thành công về mặt doanh thu và kết thúc vào tháng 10 cùng năm. Suốt khoảng thời gian này, Jessica và chồng thường xuyên xuất hiện với vai trò khách mời trên show The Ashlee Simpson, được xem là bệ phóng sự nghiệp của em gái Jessica là Ashlee. Album thứ tư của Jessica là album nhạc Giáng Sinh tên ReJoyce: The Christmas Album (2004) được ra mắt vào ngày 23 tháng 11. Album đạt thứ hạng 14 trên bảng xếp hạng Billboard 200, và nhận chứng chỉ vàng của Hiệp hội thu âm Mỹ vì đã bán được 500 ngàn bản. Vào tháng 2 năm 2005, Jessica cùng Randi Shinder ra mắt dòng sản phẩm trang điểm có thể ăn được mang tên Dessert Treats, hướng tới người tiêu dùng trẻ. Tuy nhiên cả hai dòng sản phẩm bị ngưng sản xuất cho vấn đề kiện cáo.
Jessica trình diễn ca khúc "The Star-Spangled Banner" ở chương trình Indy năm 2005. Jessica tiếp tục cho ra mắt dòng sản phẩm mang tên The Jessica Simpson Collection, hợp tác với Tarrant Apparel Group cho ra mắt dòng sản phẩm thời trang mang tên Princy and JS by Jessica Simpson. Công ty tiếp tục phát triển qua từng năm, và vào năm 2014 đạt doanh thu hơn 1 tỉ đôla. Jessica bắt đầu sự nghiệp diễn xuất của mình với vai diễn Daisy Duke trong bộ phim The Dukes of Hazzard (2005). Bộ phim nhận nhiều ý kiến tiêu cực từ các nhà phê bình phim, mặc dù có doanh thu hơn 111 triệu đôla Mỹ toàn thế giới. Cô cũng thu âm ca khúc chủ đề "These Boots Are Made For Walking" (2005) để quảng bá cho bộ phim; ca khúc được triển khai từ bài hát gốc có cùng tựa đề của Nancy Sinatra. Bài hát lọt vào top 20 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100, trở thành đĩa đơn thành công nhất của cô tới thời điểm bấy giờ. Video nhạc có sự góp mặt của Jessica trong vai Daisy Duke, gây nhiều ý kiến tranh cãi về việc Jessica mặc bikini trong lúc đang diễn rửa xe. Video bị cấm chiếu ở một vài quốc gia. Vào tháng 11 năm 2005, Jessica và Nick tuyên bố cả hai li thân. Jessica đệ đơn ly hôn vào tháng 12 năm 2005 vì những hòa hợp không thể hòa giải được. Cuộc ly hôn của cả hai được nhiều người biết đến và được hoàn thành vào ngày 30 tháng 6 năm 2006. Có tin cho rằng Jessica đã phải trả 12 triệu đôla cho Nick vì cô đã không kí đơn không chia tài sản trước khi kết hôn. Vào một cuộc phỏng vấn năm 2015, Jessica nói rằng cuộc hôn nhân với Nick là "một sự tổn thất kinh tế".
2006-09: Trì hoãn hợp đồng quảng cáo và chỉ trích từ truyền thông.
Jessica hẹn hò với ca sĩ-người viết nhạc John Mayer nhưng mối quan hệ giữa hai người liên tục nóng lạnh cả năm trời, từ tháng 8 năm 2006, 9 tháng kể từ sau li hôn với chồng cũ. Cô bắt tay vào thu âm album thứ 5 vào năm 2005. Mãi cho đến tháng 3 năm 2006, Jessica mới xác nhận là đã dừng hợp đồng với hãng Columbia Records mà cô từng gắn bó lúc mới bắt đầu sự nghiệp, Jessica sau đó đã kí hợp đồng thu âm mới với hãng Epic Records. Jessica cùng stylist Ken Paves cùng nhau ra mắt dòng sản phẩm chăm sóc tóc trên kênh Home Shopping vào năm 2006. Cô cũng phát hành đĩa đơn mới là "A Public Affair" (2006) vào này 29 tháng 6. Bài hát lọt vào top 20 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và nhận chứng chỉ vàng từ Hiệp hội thu âm Mỹ cho doanh số bán hơn 500 ngàn bản ở Mỹ. Đĩa đơn có giai điệu sôi động mặc dù ám chỉ về việc chia tay được phát hành chỉ trước một ngày đơn li hôn của Jessica và Nick được thông qua. Bài hát cũng lọt top 10 trên iTune Store cùng thời điểm với đĩa đơn của em gái Jessica là "Invisible" (2006), đánh dấu lần đầu tiên có hai chị em có bài hát xuất hiện cùng lúc trong top 10.
Album "A Public Affair" (2006) đạt vị trí thứ năm trên bảng xếp hạng Billboard 200 với số lượng đĩa bán ra vào tuần đầu tiên là 101 ngàn bản. Tuy nhiên, đây lại không được xem là thành công đáng kể so với những gì mà album In This Skin (2003) đạt được với doanh số bán hơn 500 ngàn bản ở thị trường Mỹ. Bản hành khúc mạnh mẽ tên "I Belong To Me" (2006) là đĩa đơn thứ hai cũng là cuối cùng trong album không đạt được thành công thương mại như mong đợi. Jessica tham gia bộ phim hài Employee of The Month (2006) ra rạp vào tháng 10. Bộ phim nhiều chỉ trích từ các nhà phê bình phim và không đạt được thành công thương mại như mong đợi. Cô trình diễn bài hát "9 to 5" (1980) của ca sĩ Dolly Parton như một hành động tri ân tới nữ ca sĩ tại Lễ trao giải Kenndey Center vào tháng 12 năm 2006. Tuy nhiên màn trình diễn nhận nhiều chỉ trích thậm tệ do Jessica quên lời bài hát; Jessica thậm chí còn được ghi hình lại lần nữa nhưng cuối cùng màn trình diễn cũng bị cắt lúc phát sóng. Màn trình diễn không tốt của hai chị em nhà Simpson bị các nhà phê bình đánh giá, dẫn đến việc sự nghiệp của em gái Jessica bị đi xuống.
Vào tháng 11 năm 2007, Jessica bắt đầu hẹn hò với cầu thủ của đội Dallas Cowboy là Tony Romo. Người hâm mộ lại chỉ trích mối quan hệ này và đổ lỗi Jessica là người làm Tony mất phong độ thi đấu. Một số người còn mỉa mai Jessica là "Yoko Romo" ám chỉ như việc Yoko Ono là nguyên nhân khiến nhóm The Beatles tan rã. Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là George W. Bush cũng có ý kiến về mối quan hệ của Jessica và Tony, ám chỉ rằng Jessica là nguyên do của việc Tony thi đấu mất phong độ. Vào tháng 7 năm 2009, cả hai đã chia tay. Jessica nhận vai trong phim Blone Ambition (2008) cùng với diễn viên Luke Wilson; bộ phim được ra rạp một thời gian ngắn trước khi được chiếu trên đài truyền hình. Cô cũng góp vai trong phim theo phong cách quay video tên Private Valentine: Blonde and Dangerous (2008), thủ vai một diễn viên nữ tham gia quân đội. Bộ phim nhận được rất nhiều ý kiến tiêu cực sau công chiếu. Jessica hợp tác với Parlux Fragrances để ra mắt dòng nước hoa mới của mình tên Fancy vào năm 2008. Fancy nhận được rất nhiều nhận xét tích cực từ người tiêu dùng.
Album phòng thu thứ 6 được Jessica thực hiện vào năm 20017, cha của cô cũng thông báo là album lần này sẽ mang thể loại nhạc đồng quê. Jessica nói rằng cô lớn lên dưới sự ảnh hưởng của nhạc đồng quê cho nên muốn được trả đáp lại. Jessica phát hành bài hát "Come On Over" (2008) là đĩa đơn chính vào ngày 20 tháng 6. Bài hạt leo lên hạng 41 trên bảng xếp hạng nhạc đồng quê Billboard, trở thành bài hát có thứ hạng cao nhất của nghệ sĩ chỉ mới thử nghiệm phong cách nhạc đồng quê như Jessica. "Do you know" được phát hành vào ngày 9 tháng 9, có doanh số bán ra hơn 200 ngàn bản ở Mỹ tính trong năm 2012. Jessica cũng mở đầu tour diễn Bob That Head (2009) của nhóm nhạc đồng quê Rascal Flatts từ tháng 1 tới tháng 3 năm 2009. Việc Jessica có ý định chuyển sang phong cách nhạc đồng quê bị nhiều nhà phê bình lên tiếng phản đối. Nhất phải kể đến việc Jessica bị đám đông khán giả phản đối trong lúc đang trình diễn ở Lễ hội nhạc đồng quê ở Wisconsin.
2010-nay: Làm mẹ, cuộc hôn nhân thứ hai và tập trung vào kinh doanh.
Series The Price of Beauty của Jessica được lên sóng vào tháng 3 năm 2010. Series chủ yếu về việc theo chân Jessica khắp nơi trên thế giới để tìm hiểu góc nhìn về cái đẹp ở nhiều vùng và nhiều miền văn hóa khác nhau. Tập đầu tiên thu hút hơn 1 triệu lượt người xem, Jessica cũng tiết lộ là series sẽ trở lại vào năm 2011 với sự thay đổi về format; tuy nhiên kế hoạch này không bao giờ được thực hiện. Jessica lên kế hoạch thu âm album phòng thu thứ 7 và cũng là album cuối cùng được ra mắt dưới trướng của hãng Epic Records mặc dù trước đó album tên tuyển tập những bài hát hay nhất của Jessica đã được ra mắt vào năm 2011. Album ra mắt mà không có quảng bá và không thành công mấy. Sau đó cô kí hợp đồng thu âm với eleven và hãng Primary Wave Music và bắt tay vào thực hiện album chủ đề nhạc Giáng Sinh thứ 7 của mình. Happy Christmas (2010) được ra mắt vào ngày 22 tháng 11; chỉ xuất hiện mấp mé ở bảng xếp hạng Billboard trước khi biến mất khỏi bảng xếp hạng. Jessica hẹn hò với cựu cầu thủ NFL Eric Johnson vào tháng 5 năm 2010; cặp đôi tuyên bố đính hôn vào tháng 11 năm 2010 sau đó.
Jessica cùng với Nicole Richie đảm nhận vai mentor của chương trình truyền hình thực tế Fashion Star của kênh NBC. Nội dung của chương trình là một nhóm các nhà thiết kế sẽ tạo ra các mẫu trang phục mỗi tuần theo chủ đề, mỗi tuần sẽ có người bị loại. Mùa thứ hai của series được lên sóng vào 2013, mặc dù bị hủy không lâu sau đó. Sau nhiều tháng bị đồn đoán, Jessica cũng xác nhận là mình đang mang thai con đầu lòng vào mùa Halloween năm 2011. Cô kí hợp đồng trị giá triệu đô với Weight Watchers vào năm 2012, cam kết thực hiện kế hoạch ăn kiêng của hãng để cân bằng cân nặng suốt thai kì. Jessica cũng ghi hình quảng cáo của hãng và lên sóng vào tháng 9 năm 2012. Con trai đầu lòng của Jessica là Maxwell Drew Johnson ra đời vào ngày 1 tháng 5 năm 2012. Cô cũng ra mắt dòng sản phẩm quần áo dành cho thai phụ vào năm 2012. Đồng thời giới thiệu nước hoa mới mang tên Vintage Bloom được truyền cảm hứng khi Jessica được làm mẹ. Cô cũng lên tiếng về việc đang mong chờ đứa con tiếp theo với Eric vào tháng 12 năm 2012. Theo sau đó, Weight Watchers cũng thông báo là Jessica sẽ dừng mọi hoạt động quảng bá cho hãng. Jessica sinh con trai thứ hai tên Ace Knute Johnson vào ngày 30 tháng 6 năm 2013. Cô cho ra mắt dòng sản phẩm trang trí nội thất phòng ngủ bao gồm trải giường với phong cách bohemian họa tiết hoa. Vào tháng 8 năm 2014, nước hoa mới cũng được giới thiệu. Jessica và Eric chính thức kết hôn vào này 5 tháng 7 năm 2014 ở Montecito, California.
Jessica xác nhận rằng mình sẽ thực hiện album mới vào năm 2015, sau khi hợp đồng với Primary Waves kết thúc. Jessica hợp tác với Linda Perry được cô tiết lộ vào năm 2016. Vào tháng 8 năm 2015, cô đảm nhận vai trò dẫn chương trình trên kênh HSN đồng thời cũng quảng bá sản phẩm của riêng mình. Doanh thu rất thành công dẫn tới việc Jessica ra mắt dòng thời trang thể thao tên Warm Up, có mặt bày bán ở khắp các hệ thống bán lẻ ở Mỹ. Dòng sản phẩm được mở rộng vào thán 8 năm 2016 bao gồm giày thể thao, Jessica nói rằng cô sẽ tập trung hơn vào dòng sản phẩm này trong tương lai.
Phong cách âm nhạc.
Những người có ảnh hưởng tới phong cách âm nhạc của Jessica là Mariah Carey, Aretha Franklin, Sade và Whitney Houston. Lúc mới đầu Jessic định hình phong cách âm nhạc của mình là ca sĩ dòng nhạc nhà thờ, sau này cô cũng hoàn thành album nhạc nhà thờ. Khi cô kí hợp đồng thu âm với hãng Columbia Records, Jessica lại làm album nhạc pop. Jessica cũng từng thu âm vài ca khúc nhạc nhà thờ trong vài năm sau đó, bao gồm "Pray Out Loud" (2008). Album đầu tay của cô là album toàn bài hát nhạc pop và ballads, chủ yếu để nhấn mạnh giọng hát của Jessica. Ấn tượng nhất phải kể đến bài hát "I Wanna Love You Forever" (1999). Phong cách âm nhạc của cô được so sánh rất nhiều với Mariah Carey. Trong album Irresistable (2001), Jessica bắt đầu thu âm các ca khúc sôi động hơn, giống như phong cách âm nhạc của Britney Spears. Ca khúc "Irresistible" và "A Little Bit" có lời bài hát táo bạo hơn những bài trước, như Jessica đã từ mô tả rằng từng album giống như đánh dấu thời gian trưởng thành của cô. Trong thời gian diễn ra tour Total Request Live (2001) và tour DreamChaser (2001), Jessica cũng mời nhiều vũ công nhảy phụ họa cho màn trình diễn của mình.
Album phòng thu thứ ba của cô được thu âm vào năm 2002, dự Missy Elliott đảm nhận phần sản xuất. Tuy nhiên sau đó kế hoạch bị chuyển hướng, chồng lúc bấy giờ là Nick mô tả đây là "rất mộc mạc" so với những album trước đó. Jessica cũng tham gia sáng tác viết lời, điều mà cô rất lo lắng trong quá khứ. Kết quả là In This Skin (2003) ra đời mà trang AllMusic đã mô tả là "vẫn trong giới hạn nhạc dance pop trong khi hơi hướng tới phong cách diva mà Jessica vẫn luôn mong muốn trở thành". Cô trải nghiệm phong cách nhạc đồng quê với ca khúc "These Boots Are Made for Walkin" (2005) cho phim "The Dukes of Hazzard" (2005). Cô tiếp tục thử nghiệm phong cách nhạc đồng quê trong ca khúc "Push Your Tush" (2006). Đa số các ca khúc trong album thứ 5 đều có giai điệu sôi động như "A Public Affair" và bản cover "You Spin Me Round (Like a Record)". Do bị ảnh hưởng bởi các nghệ sĩ như Faith Hill, Shania Twain và Martina Mcbride, Jessica cho ra đời album nhạc đồng quê tên Do You Know (2008). Trong suốt sự nghiệp âm nhạc của mình, Jessica cũng trải nghiệm nhiều phong cách âm nhạc khác nhau như hai album nhạc Giáng sinh năm 2004 và 2010.
Hình ảnh công chúng.
Ra mắt "Sweet Kisses" (1999), Jessica cùng nhóm quản lý của mình quảng bá hình ảnh "không gợi cảm" nhưng một mặt đối lập với những nghệ sĩ lúc bấy giờ là Britney Spears và Christina Aguilera vốn nổi tiếng với concept như vậy khi mới ra mắt. Đa số các ca khúc trong album hát về "tình yêu", Jessica từng nhấn mạnh rằng mình sẽ không quan hệ tình dục cho tới khi kết hôn. Mặc dù bán ra 4 triệu bản toàn thế giới nhưng con số này lại không như hãng Columbia Records mong đợi; kết quả là hãng mong muốn Jessica sẽ hướng tới hình ảnh trưởng thành hơn cho album thứ 2. Hình ảnh sau đó của Jessica cũng được điều chỉnh lại với việc Jessica hát nhiều bài hát có lời táo bạo và mặc quần áo khá hở hang. Sự thay đổi này nhận nhiều chỉ trích từ các nhà phê bình, cho rằng Jessica đang "cố quá" để đạt được thành công như Britney Spears.
Trở nên nổi tiếng hơn với show truyền hình cùng Nick, Jessica bị xem là "cô gái tóc vàng hoe ngốc nghếch" vì những phát ngôn của mình trong chương trình. Trong đó, Jessica cũng tiết lộ là mình chỉ quan hệ sau đám cưới; Jessica ra mắt ca khúc "Sweetest Sin" (2003) về việc trao sự trinh trắng cho Nick. Trong khi tiếp tục đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp, Jessica được xem là biểu tượng gợi cảm bởi truyền thông, cô đứng hạng thứ 53 trên bảng xếp hạng Maxim Hot 100. Jessica đứng hạng nhất vào năm 2004. Jessica cũng thổ lộ rằng "thật vui vì được nhiều thanh niên yêu thí". Năm kế tiếp, cô đứng hạng 9. Năm 2006, cô xuất hiện ở hạn 18. Jessica cũng làm gương mặt ảnh bìa cho tuần báo lần đó. Hình tượng Daisy Dukes khiến cho nhiều người nghĩ cô là quả bom gợi cảm, cô cũng ghi hình quảng cáo Pizza Hut với hình tượng Daisy Dukes được chiếu trong lúc diễn ra Super Bowl năm 2006 và 2007. Ngoài ra hình tượng Daisy Dukes còn xuất hiện trên DirectTV.
Cân nặng của Jessica cũng là chủ đề bàn tán trong giới truyền thông bắt đầu từ năm 2007 và càng lúc càng thậm tệ về sau. Mặc dù việc chỉ trích cân nặng của Jessica kéo dài trong suốt năm 2008, đỉnh điểm là năm 2009 khi Jessica đang chuyển hướng sang phong cách nhạc đồng quê. Jessica mặc một bộ trang phục bao gồm quần jeans, thắt lưng cùng áo không tay đã làm dấy lên phê bình của khắp mọi người rằng bộ trang phục này "không tôn đágg" cô. Jessica lên tiếng chống trả, cùng với em gái nói rằng cô vẫn rất tự tin với những gì cô có. Việc chỉ trích cân nặng kéo dài cho tới khi Jessica có con, mặc dù Jessica nói rằng cô đã giảm cân nhiều sau khi sinh con. Jessica là người theo đảng Cộng Hòa và cô công khai ủng hộ cựu tổng thống George W. Bush trong chiến dịch tranh cử năm 2004, mặc dù có lần Jessica cũng đã hủy việc xuất hiện ở buổi lễ gây quỹ cho đảng Cộng Hòa năm 2006 vì cô cho rằng nó "không phù hợp". Dù là người theo đảng Cộng Hòa, Jessica lại ủng hộ cựu phu nhân tổng thống Mỹ Michelle Obama trong suốt thời gian tại vị, cô nói rằng "Bà ấy là một người phụ nữ phi thường và ở bên cạnh một người đàn ông quyền lự".
Từ năm 2003, cô là đại sứ thanh niên quốc tế của chương trình phẫu thuật nụ cười.
Danh sách đĩa hát.
|
Bác sĩ Nhi khoa, sinh 1871, tại Ann Arbor, Michigan; mất 1945.
Tên của ông được dùng để gọi một số bệnh thiếu máu của trẻ em:
Cha của Thomas Benton Cooley là một quan tòa ở Tòa án Tối cao và là Trưởng Khoa Luật của Trường Đại học Michigan. Tốt nghiệp đại học y tại trường Đại học Michigan năm 1895, Thomas Benton Cooley trở thành bác sĩ nội trú tại Bệnh viện Thành phố Boston rồi sau đó trở lại làm việc và giảng dạy tại Trường Y Khoa Michigan.
Năm 1900 ông ra nước ngoài một năm và tiếp tục làm bác sĩ nội trú thêm một năm nữa tại Bệnh viện Thành phố Boston. Năm 1903, ông được phong làm trợ giáo sư chuyên ngành Vệ Sinh tại Đại học Michigan và làm việc tại đây cho đến năm 1905. Vào năm này Cooley chuyển đến Detroit, nơi ông ta là bác sĩ nhi khoa đầu tiên.
Cooley hoạt động tích cực trong lĩnh vực Nhi Khoa Cộng đồng trong cương vị giám đốc Quỹ Sữa Cho Nhũ Nhi (Babies Milk Fund) và cộng tác với các đồng nghiệp có cùng khuynh hướng trong Hiệp hội Nghiên cứu và Phòng chống Tử vong Nhũ nhi ("Association for the Study and Prevention of Infant Mortality"). Nhóm này đã đạt được những thành công đáng kể trong việc hạ thấp tỉ lệ tử vong do bệnh tiêu chảy ở nhũ nhi. Trong Thế Chiến thứ nhất, ông là trợ lý trưởng Phòng Nhi Đồng của Hội Chữ Thập Đỏ Hoa kỳ đóng tại Pháp. Nhờ những đóng góp này mà năm 1924, Cooley được chính phủ Pháp trao tặng Bội Tinh Danh Dự.
Sau chiến tranh, ông trở lại Detroit và trở thành trưởng khoa nhi tại Bệnh viện Nhi Michigan từ năm 1921 đến năm 1941. Ông cũng là giáo sư tại Đại học Wayne từ năm 1936 đến 1941. Chuyên ngành sâu của ông trong nhi khoa là huyết học và ông đặc biệt chú ý đến các bệnh thiếu máu ở trẻ em được gọi dưới tên "Thiếu máu Cooley", một cái tên mà tự trong lòng mình ông rất không thích.
Cooley là một người cao lớn. Ngoài y khoa, ông cũng rất quan tâm đến nghệ thuật, âm nhạc. Ông rất thích câu cá và chơi golf. Năm 1941, khi nghỉ hưu, ông được phong Tiến sĩ Khoa học Danh dự. Ông mất năm 1945 sau một vài năm mắc chứng bệnh tim do tăng huyết áp.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Ashley Nicole Simpson (sinh ngày 3 tháng 10 năm 1984) là ca sĩ pop rock, nhạc sĩ kiêm diễn viên người Mỹ. Cô là em gái ca sĩ nhạc pop Jessica Simpson.
Những năm đầu đời.
Ashlee sinh ra tại Texas và lớn lên tại Richardson, Texas, ngoại ô của thành phố Dallas. Cô là con gái của ông Joe Truett Simpson (người quản lý hiện thời của cô) và Tina Ann Drew. Ashlee có một chị gái là Jessica Simpson.
Từ năm 3 tuổi, Ashlee đã học những điệu múa ballet đầu tiên. Đến năm 11 tuổi, cô trở thành học viên nhỏ nhất trong lịch sử trường School of American Ballet tại Thành phố New York. Trong thời gian này cô từng phải chịu đựng chứng biếng ăn và nhanh chóng bị sụt cân nghiêm trọng vì căn bênh này. Sau khi tốt nghiệp, Ashlee trở thành người múa minh hoạ cho Jessica trong các buổi biểu diễn. Sau khi gia đình chuyển đến Los Angeles, sự nghiệp diễn xuất của Ashlee bắt đầu. Từ những vai diễn nhỏ trong các film "7th heaven", "Malcome in the middle", "The hot chick", Ashlee nhận được các vai lớn hơn trong "Undiscovered"...
Album đầu tay và những thành công đầu tiên.
Năm 2003, ca khúc "Just let me cry" của Ashlee được lấy làm nhạc film "Freaky Friday" của kênh Disney do Lindsay Lohan đóng. Sự nghiệp ca hát của Ashlee bắt đầu.
Năm 2004, Ashlee cho ra đời Album đầu tay của mình mang tên Autobiography. Trong Album này, Ashlee đã định hình cho mình một phong cách Punk Rock khá mới mẻ. Thật sự những bài hát trong album này đều khai thác khá triệt để cái chất giọng đặc biệt của Ashlee. Tuy xuất hiện với hình ảnh khá cá tính nhưng những bài hát của Ashlee không hề khó nghe. Các ca khúc chủ yếu là những bài sôi động luôn khiến người ta phải nhún nhảy theo. Có lẽ những bài hát như Autobiography, LaLa, Better Off, Love Me For Me là thể hiện rõ nhất cá tính muốn thể hiện mình của Ashlee. Bên cạnh đó thì vẫn còn những ca khúc sâu lắng thể hiện nỗi niềm của cô như Love Make The World Go Around, Shadow, Surrender, Unreachable, Undiscovered. Điều đấy có nghĩa là trong album không chỉ có một Ashlee phá cách trong âm nhạc và cảm xúc mà vẫn còn bóng dáng không thể xoá nhoà của một cô gái mới lớn với đủ sự nữ tính để chinh phục cả những người nghe đa cảm nhất.
Trước khi album ra đời, cô đã cho ra mắt single đầu tay "Pieces of me" và đạt được thành công vang dội, góp phần quảng bá cho album. Với album đầu tiên này, Ashlee nhanh chóng nhận được giải thưởng bạch kim với hơn 5 triệu bản bán được trên toàn cầu. Trong album này, Ashlee còn phát hành thêm 2 single là "Shadow" và "La La". Tuy không thành công như "Pieces of me" nhưng 2 single này cũng giúp làm tăng thêm tên tuổi của cô gái mới 19 tuổi này.
Cùng thời gian này, Ashlee cũng thực hiện show thực tế về cuộc sống của mình là Ashlee Simpson Show. Show này được đón nhận nồng nhiệt và thu hút hơn 5 triệu người xem thường xuyên, góp phần đưa tên tuổi Ashlee lên đến đỉnh cao. Show này được phát 8 lần trong năm 2004 và 10 lần trong năm 2005).
"Undiscovered" và album thứ hai.
Đầu năm 2005, Ashlee được mời vào vai thứ chính Clea trong bộ phim điện ảnh "Undiscovered". Tuy bộ phim không thành công như mong đợi, nhưng tài năng ca hát của Ashlee cũng đã được thể hiện phần nào bằng việc thể hiện hai ca khúc "Undiscovered" và "Stupid in a smart way".
Tháng 10 năm 2005, Ashlee tiếp tục sự nghiệp ca hát bằng album thứ hai "I Am Me". Album này tập hợp các ca khúc do Ashlee đồng sáng tác với các nghệ sĩ khác. Cũng giống như album trước, I Am Me cũng là sự pha trộn giữa pop và rock. Bản thân Ashlee cũng muốn album này gần gũi với album đầu tiên của mình. Tuy nhiên nó cũng có nhiều điểm khác biệt để tạo sự mới lạ hơn cho người nghe. Điều đầu tiên là I Am Me có phần chịu ảnh hưởng của âm nhạc những năm 80. Bởi theo như Ashlee thì cô rất yêu âm nhạc của thập niên 80: "Nó rất dịu dàng và tạo cảm giác vui vẻ". Đó cũng chính là điều Ashlee muốn đưa vào âm nhạc của mình. Điều khác biệt thứ hai đó là vol 2 này có phần "gây hấn" hơn Autobiography. Nó giúp người nghe thấy được rõ hơn style âm nhạc của Ashlee: Năng động và đầy tham vọng. Nhưng Ashlee cũng cố gắng tìm cho mình những âm thanh mới trong quá trình làm album, một ví dụ là ca khúc "Burning Up" được đánh giá cao
Lyric Album này phản chiếu phần nào kinh nghiệm cuộc sống của Ashlee đồng thời cũng cho thấy những cảm xúc không giống nhau ở những thời điểm khác nhau. Đặc biệt là hai bài hát "Catch Me When I Fall" và "Beautifully Broken" đề cập đến những cảm xúc của Ashlee khi "trượt ngã" tại chương trình "Saturday Night Live" (10/2004). Chính bởi "tai nạn" này mà Ashlee đã phải trả giá rất nhiều khi nhận được sự đả kích của rất nhiều phía. Ashlee nói về album: "Tôi cảm thấy rằng ai cũng có mặt tối và album này chính là sự gặp gỡ của bóng tối và ánh sáng trong tiềm thức". Ashlee cũng tâm sự rằng sở dĩ cô chọn tựa đề của album này I Am Me là vì "Tôi đã từng trải qua rất nhiều thăng trầm trong năm qua và dù có điều xảy ra đi chăng nữa thì tôi vẫn luôn biết mình là ai", ngoài ra Ashlee còn chia sẻ: "Chúng tôi đôi khi cảm thấy buồn nhưng chúng tôi cũng cảm thấy muốn đi nhảy và tham dự Party"
Bên cạnh đó Ashlee tiếp tục khẳng định tính cách mạnh mẽ của mình qua những ca từ như "tôi không cướp bạn trai của cô, chính anh ta đã tìm đến tôi đấy chứ" trong single "Boyfriend", hay "vì tôi là chính tôi, và tôi sẽ không phải thay đổi vì bất cứ ai" trong ca khúc chủ đề "I Am Me". Với album này, Ashlee tiếp tục dẫn đầu Billboard tuy album chỉ bán được 3 triệu bản. Ashlee cũng phát hành thêm 3 single là "Boyfriend", "L.O.V.E" và "Invisible". Đặc biệt với "L.O.V.E", Ashlee đã thành công vang dội trên các bảng xếp hạng uy tín như của Mỹ, Úc, Na Uy, TRL...
Bê bối Những tin đồn.
Sau khi bắt đầu nổi danh, một sự cố trong âm nhạc đã khiến nhiều fan quay lưng lại với cô. Cuối năm 2004, Ashlee được mời tham gia chương trình Saturday Night Live. Tuy nhiên, vì sức khoẻ, Ashlee đã không thể hát live như dự tính và đã phải hát nhép theo một đĩa nhạc. Khi bắt đầu biểu diễn, đĩa nhạc bài "Pieces of me" bị lỗi và Ashlee đã không thể tiếp tục. Tuy nhiên, sau sự cố này năm 2005, Ashlee vẫn quyết định tham gia lại chương trình và tìm được cảm hứng để viết nên 2 ca khúc: Catch me, When I Fall và Beautiful Broken.
Năm 2005 là năm nhiều tin đồn đến với Ashlee nhất. Khi cho ra đời ca khúc đầu tiên trong Vol 2, Boyfriend, Ashlee bị đồn là cướp bạn trai Wilmer Valderrama của Lindsay Lohan. Ca khúc này chính là lời đáp lại của Ashlee đối với lời buộc tội của Lohan rằng "I Don't steal your boyfriend" - "Tôi không cướp bạn trai của cô".
Tháng 10/2005, ngay sau khi tung ra album I Am Me, Ashlee lại phải đối mặt với báo giới khi cuốn băng ghi hình cô đang say rượu và có hành vi thô lỗ với nhân viên quán ăn McDonald ở Toronto (Canada)Ashlee Simpson, nhã nhặn sau những tai tiếng . Ashlee nói rằng đó là do nhân viên ở đó đã có lời nói xúc phạm đến cô và khiến cô tức giận.
Tiếp đến năm 2006, Ashlee phải chịu búa rìu của tạp chí Marie Claire về việc cô đi sửa mũiAshlee Simpson sửa mũi. Họ buộc tội Ashlee đã phát ngôn bịa đặt và giả tạo về việc cô nàng hoàn toàn chấp nhận những thiếu sót trên cơ thể mình bởi trước đó cô đã trả lời phỏng vấn Marie Claire về vẻ đẹp tự nhiên. Ashlee cho rằng việc sửa mũi làm cô cảm thấy tự tin hơn.
Ashlee cũng từng bị dư luận nghi ngờ đã từng đụng dao kéo ở ngực nhưng cô khẳng định mình không có ý định bơm ngực dù so với cô chị, bộ ngực của cô chẳng thấm vào đâu. Ashlee lên tiếng rằng "Tôi yêu bộ ngực của mình, nó thật hoàn hảo. Chị Jessica được trời phú cho vòng một lớn hơn tôi nhiều. Đàn ông khoái cái đó và thường xuyên dán mắt vào nó, nhưng thật phiền phức khi phải đeo tận hai cái rổ bóng trên ngực"
Năm 2006, Nick Carter tuyên bố mình đã từng có những thời khắc "vui vẻ" với Ashlee Simpson chỉ vì muốn trả đũa cô nàng Paris Hilton. Nhưng ngay lập tức Ashlee đã trả lời với báo giới rằng điều mà anh ta nói là nhảm nhí và cô đã "gần như chết ngất vì cười" khi nghe thấy điều đóAshlee Simpson 'bật lại' Nick Carter
Vở nhạc kịch Chicago và những hợp đồng mới.
Giữa năm 2006, Ashlee được mời vào vai chính Roxie Hart trong vở nhạc kịch "Chicago", làm lại từ vở kịch kinh điển cùng tên tại sân khấu Broadway. Vai diễn của Ashlee Simpson là vai người phụ nữ hiểm độc Roxie Hart, đã "lỡ tay" bắn chết chồng mình, sau đó bị vào tù nhưng nhờ những thủ đoạn và mánh khóe, cô ta sớm được ra tù và nhanh chóng hòa nhập vào thế giới của những người nổi tiếng. Vở nhạc kịch đã thành công ngoài dự đoán. Trong hơn một tháng, các suất diễn tại nhà hát đều kín chỗ và kết thúc buổi diễn là những tràng vỗ tay liên tục dành cho Ashlee. Jessica Simpson đã khóc khi xem em gái mình trình diễn. Ashlee Simpson đã thổi một làn gió mới mẻ của miền Texas hoang dã lên sân khấu nhạc kịch ở London. Các báo ở Anh đều đưa tin với những bài như: "Cô gái Texas hâm nóng bầu không khí ở Anh"... Sau sự kiện này, tên tuổi của Ashlee bắt đầu được nhắc đến nhiều hơn ở Anh cũng như Châu Âu.
Sau khi về nước, Ashlee nhận được 2 hợp đồng quảng cáo cho 2 nhãn hiểu nổi tiếng là Victoria's Secret, hãng đồ lót nổi tiếng và Skechers, hãng chuyên sản xuất đồ phụ kiện dành cho đôi chân của chị em vào tháng 8/2006. Tạp chí Playboy cũng đề nghị 4 triệu đô nếu ashlee chịu làm người mẫu cho nhưng cô đã thẳng thừng từ chối vì không muốn mất đi hình tượng của mình.
Ngày 21/4/2008 Ashlee chính thức phát hành album thứ 3 trong sự nghiệp ca hát của mình mang tên Bittersweet World. Đây là 1 album mang phong cách nửa punk-rock, nửa 80's, khá khác biệt so với hai album trước của cô. Trong album này, Ashlee cộng tác với khá nhiều nhà sản xuất danh tiếng như Timbaland, Chad Hugo, và Kenna, Album được miêu tả là một "bữa tiệc vui nhộn" và được giành trọn để viết về tình yêu của cuộc đời cô. Album đứng vị trí thứ 4 trên U.S. Billboard 200
Vào ngày 19/12/2007 vừa qua, Ashlee cũng đã phát hành single đầu tiên trích từ album này với tên gọi Outta my head (Ay ya ya) với sự hợp tác của Timbaland. Video của ca khúc này ra mắt vào tháng 12 và đã có đến hơn năm triệu lượt xem trên Youtube. Đây là một bài hát vui nhộn và sôi động và chịu ảnh hưởng của âm nhạc những năm 80, viết về tất cả những con người trong cuộc đời của cô.
Single thứ hai của Ashlee là Little Miss Obsessive được tung ra vào tháng 3, được miêu tả là một ca khúc Pop-Rock tiêu biểu cho dòng nhạc trước đây của cô. Bài hát được phát rộng rãi trên sóng radio nhưng Ashlee không thực hiện một video nào cho nó. Bài hát có sự góp giọng của thành viên ban nhạc Plain White T's - Tom Higgenson
Bài hát đứng vị trí 96 trong bảng xếp hạng U.S. Billboard Hot 100
Hình ảnh và Cuộc sống riêng tư.
Khi cho ra đời album đầu tay, Ashlee luôn xuất hiện với hình ảnh một cô nàng rock-chick với những trang phục cá tính nhưng không quá bụi bặm khi kết hợp, móng tay sơn đen kỹ càng và mái tóc sẫm màu cho thấy rõ sự khác biệt giữa cô và những nữ ca sĩ tóc vàng khác, đặc biệt là với cô chị Jessica. Đến album thứ hai, Ashlee càng chứng tỏ sự cá tính và nổi loạn của mình cùng với tuyên ngôn "I Am Me" bằng việc quay trở lại với mái tóc vàng thủơ nào vì theo Ashlee, cô cảm thấy không thật sự thoải mái với mái tóc đen. Năm 2008, không còn bóng dáng một Ashlee nổi loạn nữa, mà thay vào đó là một cô gái trưởng thành và nhạy cảm với những ca khúc mang đậm phong cách những năm 80. Ashlee chuyển sang một style thời trang mới nữ tính và ít Rock-chick hơn với mái tóc đỏ suôn dài tạo sự mềm mại và gợi lên một cách chuyển hướng mới về cuộc sống cũng như âm nhạc của Ashlee.
Cũng giống như những cô gái mới lớn khác, Ashlee có tới 7 hình xăm ở cổ tay và mắt cá chân. Hình xăm mới nhất là một bông hoa hồng ấn tượng ở một bên cổ tay vào đầu tháng 3/2008.
Tuy được bình chọn vị trí thứ 16 trong danh sách Hot 100 của tạp chí Maxim năm 2007 nhưng Ashlee chưa từng "cởi đồ" trên tạp chí nào. Thậm chí cô từng từ chối chụp ảnh trên tạp chí Playboy với giá 4 triệu USD.
Ashlee Simpson từng có thời gian qua lại với Josh Henderson được gần 2 năm nhưng mối tình này nhanh chóng chấm dứt trong tập đầu của The Ashlee Simpson Show. Sau đó, simpson bắt đầu hẹn hò với nhạc sĩ, ca sĩ Ryan Cabrera. Cô từng tham gia trong MV On the Way Down của Ryan. Cặp đôi này không bên nhau được lâu với lý do công việc và đi đến chia tay vào tháng 8 năm 2004.
Năm 2004, Simpson vướng vào tin đồn tình cảm với bạn trai cũ của Lindsay Lohan, Wilmer Valderrama nhưng anh chàng lên tiếng rằng chuỵện giữa anh và Ashlee không liên quan đến cuộc chia tay với Lohan.
Vào cuối năm 2006, sau khi kết thúc mối tình với tay guitar Braxton Olita (người bạn thân thiết trong 7 năm và cũng là thành viên trong ban nhạc của cô), Ashlee bắt đầu mối quan hệ bền vững với Pete Wentz, thành viên của ban nhạc đình đám Fall Out Boy và cả hai đã tiến tới hôn nhân vào 18 tháng 5 năm 2008. Simpson cũng tuyên bố sẽ lấy họ của Pete ghép vào tên của mình như một điều mà các cô dâu vẫn thường làm khi về nhà chồng. Vào ngày 20/11 vừa qua, Ashlee đã sinh cho Pete một bé trai kháu khỉnh có tên Bronx Mowgli Wentz
Tổng kết xếp hạng các single ở TRL.
Các thông tin được lấy từ chương trình Total request live của MTV
|
Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc
Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc viết tắt là UNICEF (tiếng Anh: "United Nations International Children's Emergency Fund") là một quỹ cứu tế được thành lập bởi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 11 tháng 12 năm 1946.
Năm 1953, Liên Hợp Quốc thay tên của nó từ Quỹ Khẩn cấp Nhi đồng Quốc tế Liên Hợp Quốc (tiếng Anh: "United Nations International Children's Emergency Fund") mà được biết dưới tên tiếng Việt là Cơ quan Cứu trợ Nhi đồng Liên Hợp Quốc, nhưng nó vẫn được gọi tắt theo từ chữ đầu UNICEF bắt nguồn từ tên cũ.
Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc đã thực hiện một số hoạt động sau:
Các ngày lễ quốc tế về trẻ em.
Các ngày lễ quốc tế và năm hành động về trẻ em, trong đó phần lớn do Liên Hợp Quốc ban hành trong các Nghị quyết được Đại hội đồng thông qua.
Hàng năm vào tháng Tư hoặc tháng Năm, Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc (ECOSOC) bầu từ các thành viên Liên Hợp Quốc từ năm khu vực, để chọn ra các thành viên của "Ban điều hành UNICEF".
Thành viên mới được bầu bắt phục vụ từ đầu năm dương lịch với nhiệm kỳ ba năm. Mỗi năm chỉ bầu một số lượng nhất định thành viên mới vào Ban chấp hành, để đảm bảo tính liên tục của kinh nghiệm điều hành. Phân phối lượng ủy viên cho 5 khu vực, nêu trong bảng.
Các thành viên Ban điều hành UNICEF gần đây:
Đại sứ thiện chí quốc tế.
Đại sứ thiện chí quốc tế đang còn hoạt động
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Các nước và vùng có cơ quan UNICEF.
Các nước và vùng lãnh thổ có cơ quan UNICEF
templatestyles src="Div col/"/* Lê Huỳnh Đức, Đại sứ Thiện Chí UNICEF tại Việt Nam
|
Hoàng Quý (31 tháng 10 năm 1920 – 26 tháng 6 năm 1946) là một nhạc sĩ Việt Nam thuộc thời kì nhạc tiền chiến. Ông được xem là một trong những nhạc sĩ tiên phong của phong trào Tân nhạc. Ông còn là trưởng nhóm nhạc Đồng Vọng, một trong những nhóm nhạc có tầm ảnh hướng lớn tới nền âm nhạc Cách mạng của Việt Nam.
Cũng như một số nhạc sĩ đương thời ở Việt Nam, Hoàng Quý chịu ảnh hưởng từ trào lưu âm nhạc lãng mạn thời bấy giờ. Tuy vậy, thể loại chủ yếu trong sáng tác của ông vẫn là thể loại yêu nước và cách mạng. Ông được biết tới là một nhạc sĩ tiên phong sáng tác thể loại nhạc hùng, hát cộng đồng. Hoàng Quý còn là nhạc sĩ đầu tiên đã Việt hóa nhịp vanxơ của âm nhạc cao cấp phương Tây thành nhịp làng quê của Việt Nam.
Hoàng Quý qua đời vì bệnh phổi bột phát vào ngày 26 tháng 6 năm 1946. Trong cuộc đời và sự nghiệp hoạt động nghệ thuật ngắn ngủi của mình, Hoàng Quý để lại nhiều ca khúc ở các trào lưu âm nhạc khác nhau với trên 70 tác phẩm.
Hoàng Quý sinh ngày 31 tháng 10 năm 1920 tại Hải Phòng nhưng ông có nguyên quán từ phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay là Hà Nội). Tên khai sinh của ông là Hoàng Kim Hải, về sau đổi thành Hoàng Kim Quý. Cha ông là một thầy thuốc tên Hoàng Văn Khang xuống Hải Phòng để làm công việc y tế, nhưng lại có niềm đam mê với đàn bầu. Từ tiếng đàn bầu cũng là cơ duyên giúp ông được truyền cảm hứng âm nhạc những ngày còn bé.
Mẹ Hoàng Quý mất sớm khiến ông phải tự gánh vác mọi việc trong cuộc sống và chăm lo cho các em, trong đó có Hoàng Phú (về sau là nhạc sĩ Tô Vũ). Ông chủ yếu sống và làm việc tại Hải Phòng. Ngay từ khi còn nhỏ, Hoàng Quý có niềm đam mê hội họa và âm nhạc.
Trong thời gian học ở lớp Cao đẳng tiểu học tại trường tư thục Lê Lợi, Hoàng Quý chịu nhiều ảnh hưởng từ nhạc sĩ Lê Thương. Lê Thương lúc đó đang là giáo viên môn văn học Pháp của trường. Ông cùng em trai là Hoàng Phú đã tự học nhạc cụ cổ truyền Việt Nam, về sau ông học đàn nguyệt với một nghệ nhân. Chỉ sau một thời gian ngắn, Hoàng Quý đã chơi được các bản nhạc cổ truyền dân tộc như "Bình bán", "Lưu thủy", "Kim tiền". Tuy ban đầu là một người yêu thích việc học và chơi đàn dân tộc cũng nhưng cũng giống như nhiều thanh niên xung quanh thời bấy giờ, Hoàng Quý bị tò mò và thu hút bởi âm nhạc phương Tây đang được truyền bá rộng rãi ở các thành phố lớn khắp Việt Nam.
Được chính nghệ nhân dạy đàn nguyệt khuyến khích, Hoàng Quý chuyển sang học vĩ cầm. Ở Hải Phòng thời gian này chỉ có duy nhất nhà hàng "Orphée" của một góa phụ người Pháp là nhận dạy vĩ cầm nhưng với mức học phí rất cao. Để tránh việc tốn kém, hai anh em Hoàng Quý và Hoàng Phú phải rủ thêm hai người bạn nữa cùng học trong một giờ. Họ chia ra mỗi người học trong 15 phút, người này học còn những người khác sẽ lắng nghe thật kỹ để về nhà tự luyện tập. Mặc dù vậy, sau 6 tháng họ không còn khả năng học vì hết tiền. Đầu những năm 1930 tại Hải Phòng, các phòng trà và vũ trường bắt đầu được xây dựng nhiều hơn. Những quán này thường thuê nhạc công ngoại quốc đến biểu diễn. Hoàng Quý cùng một số người bạn thường trèo lên tường của quán "Mèo Đen" để học lỏm những nhạc công người Philippines đang biểu diễn những điệu nhạc châu Âu đang thịnh hành thời bấy giờ như Marcia, Tango, Valse, Foxtrot cùng các nhạc cụ như Guitar, băng cầm, saxophone,
Từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng ở Việt Nam. Đến những năm 1936 đến 1939 là thời kỳ Mặt trận Dân chủ, trong đời sống ở âm nhạc Việt Nam đã nảy sinh khuynh hướng dân tộc, yêu nước. Nội dung chủ yếu của dòng ca khúc này là "tình cảm yêu nước và lòng tự hào với lịch sử Việt Nam". Trong khuynh hướng này, ông đã viết nhiều ca khúc gắn liền với các sinh hoạt tập thể của thanh niên như "Tiếng chim gọi đàn", "Nắng tươi", "Vui ca lên", "Xuân về".
Hoạt động âm nhạc và Nhóm nhạc Đồng Vọng.
Năm 1939, Hoàng Quý cùng Phạm Ngữ cho xuất bản bài hát "Nhớ quê hương", được xem là tác phẩm đầu tay của ông. Là học trò được Lê Thương yêu mến, khi biết Hoàng Quý có ý định ra mắt nhóm nhạc Đồng Vọng, Lê Thương đã đứng ra làm cố vấn về chuyên môn. Sau này, trong các cuộc trò chuyện về nghệ thuật, Lê Thương gọi nhóm Đồng Vọng bằng cái tên thân mật là "nhóm hip-pi tiền chiến". Chính sức trẻ và tinh thần dân tộc của nhóm Đồng Vọng đã thôi thúc ông viết bản trường ca "Hòn vọng phu". Mùa hè cùng năm, nhóm Đồng Vọng có buổi biểu diễn đầu tiên tại Nhà hát lớn Hải Phòng. Nhóm nhạc hoạt động chỉ trong 3 năm từ 1943 đến 1945 nhưng cũng đã phát hành được 12 tập nhạc, mỗi tập từ 8 đến 12 bài với khoảng 70 tác phẩm, nhưng chủ yếu là các ca khúc có nội dung ca ngợi đất nước Việt Nam. Trong số 70 bài nhạc đó, Hoàng Quý đã sáng tác đến 60 bài. Ngoài ca khúc, ông còn viết nhạc cảnh, đáng chú ý nhất là bài "Tiếng hát chinh phu".Từ năm 1940, do hoàn cảnh không thể học tiếp nữa, Hoàng Quý đã dốc hết sức vào hoạt động nghệ thuật. Kiến thức về sáng tác âm nhạc mà ông có được chủ yếu là nhờ tự học qua một số cuốn sách giáo trình phổ thông của Pháp đang lưu hành tại Việt Nam thời bấy giờ. Cũng trong thời gian này, ông xây dựng đoàn Hướng đạo sinh "Bạch Đằng" và làm trưởng đoàn cho đến lúc qua đời. Trong các hướng đạo sinh của đoàn có một nhạc sĩ như Văn Cao, Vũ Thuận, Đỗ Hữu Ích. Đây là một môi trường sinh hoạt tập thể của thanh thiếu niên giúp cho Hoàng Quý đi vào đề tài âm nhạc tuổi trẻ. Mục tiêu của nhóm Đồng Vọng cũng là sáng tác cho phong trào Hướng đạo sinh theo những chủ đề về non sông đất nước, về lịch sử và các vị anh hùng Việt Nam, đồng thời các tác phẩm phải gắn với hoạt động của phong trào Hướng đạo là tình yêu thiên nhiên, yêu lao động và sự năng động trong cuộc sống.
Hoạt động cách mạng và tiếp tục sáng tác nhạc.
Để có tiền trang trải cuộc sống, Hoàng Quý đã thành lập nhóm nhạc "Violetta" chuyên chơi nhạc trong các vũ trường ở Hải Phòng. Trong giai đoạn tiền khởi nghĩa của Cách mạng tháng Tám, Hoàng Quý là cảm tình viên của phong trào Việt Minh đang hoạt động bí mật. Nhà của ông từng là cơ sở hoạt động cách mạng của Dương Đức Hiền, Nguyễn Văn Phú, Phan Hiề"Tiến quân ca" của Văn Cao, "Du kích ca" của Đỗ Nhuận, "Cùng nhau đi hồng binh" của Đinh Nhu, các ca khúc thời kỳ này của Hoàng Quý đựoc sáng tác với mục đích động viên phong trào yêu nước, cổ vũ, động viên phong trào Nam tiến của vệ quốc quân Việt Nam. Trong những ngày khởi nghĩa của cuộc Cách mạng Tháng Tám, ông sáng tác một số bài hát mang tính chất cách mạng như "Sa trường tiến hành khúc", "Cảm tử quân" và nhạc cảnh "Tiếng hát chinh phu".
Giữa năm 1946, khi tình hình chiến sự ở Hải Phòng trở nên căng thẳng, trong đoàn người biểu tình hô vang các khẩu hiệu ủng hộ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có một chiếc cáng do các thanh niên khuân vác. Hoàng Quý nằm trên chiếc cáng. Ông đã nhờ anh em thanh niên đưa ra dự cuộc hội họp quần chúng ủng hộ cách mạng. Ông vốn bị mắc bệnh phổi, và bệnh này bột phát vào năm 1945. Hoàng Quý qua đời trên giường bệnh ngày 26 tháng 6 năm 1946.
Hoàng Quý kết hôn với ca sĩ Hoàng Oanh năm 1944, người được cho là nguyên mẫu trong bài "Cô láng giềng" nổi tiếng của ông. Hầu hết những ca khúc của nhóm Đồng Vọng đều do Hoàng Oanh hát thử lần đầu tiên. Nhạc sĩ Văn Cao đã thừa nhận ông cũng từng có tình cảm với Hoàng Oanh. Không có thông tin nào cho thấy số phận của bà về sau như nào.
Cũng như một số nhạc sĩ đương thời ở Việt Nam, Hoàng Quý chịu ảnh hưởng từ trào lưu âm nhạc lãng mạn thời bấy giờ, cùng với đó là sự cộng hưởng của nỗi buồn xuất phát từ tình cảm cá nhân đã khiến ông để lại một dấu ấn trong các ca khúc trữ tình như "Chiều quê", "Chừa Hương", "Trong vườn dâu"... Tuy vậy, thể loại chủ yếu trong sáng tác của ông vẫn là thể loại yêu nước và cách mạng. Ông được biết tới là một nhạc sĩ tiên phong sáng tác thể loại nhạc hùng, hát cộng đồng (tráng ca). Ông là nhạc sĩ đầu tiên đã Việt hóa nhịp vanxơ của âm nhạc cao cấp phương Tây thành nhịp làng quê của Việt Nam qua tác phẩm "Chiều quê". Mặc dù chưa được đào tạo âm nhạc qua một trường lớp chính quy nào nhưng Hoàng Quý dược xem là một trong những nhạc sĩ tiên phong của nền âm nhạc mới Việt Nam.
Một số ca khúc của ông được viết theo nhịp điệu các điệu nhảy thịnh hành tại Việt Nam thời bấy giờ như boston, slow. Ca khúc của Hoàng Quý thường có cấu trúc ngắn gọn, súc tích, nhiều bài chỉ là một đoạn nhạc gồm hai câu. Phần lớn ca khúc của ông viết ở hình thức 2 đoạn đơn tái hiện hay 2 đoạn đơn phát triển. Ông không sử dụng hai đoạn đơn tương phản.
Đánh giá chuyên môn.
Giai điệu trong các ca khúc của ông thường theo điệu thức trưởng – thứ bảy âm. Bên cạnh những bước đi âm điệu liền bậc theo mô hình làn sóng, Hoàng Quý thường xây dựng giai điệu bằng các âm hình hợp âm rải. Trong những tác phẩm trữ tình, Hoàng Quý sử dụng phong phú các thủ pháp mô phỏng và mô tiến khi xây dựng giai điệu, đem lại cho các ca khúc của ông tính thống nhất cao. Với những bản hành khúc, ông sử dụng thủ pháp nhắc lại một âm nhiều lần nhằm tạo nên tính chất thôi thúc, dồn dập. Trong giai điệu bài hát, Hoàng Quý thường sử dụng nhiều các bước nhảy quãng 4 và quãng 5, giúp cho dòng giai điệu trở nên mạnh mẽ, dứt khoát. Các bước nhảy rộng như quãng 6, quãng 8 thi thoảng có xuất hiện, nhưng các bước nhảy quãng nghịch như quãng 7 thường không có trong giai điệu của ông. Mặc dù sử dụng điệu thức 7 âm của phương Tây là chủ yếu, song Hoàng Quý cũng kết hợp một cách tự nhiên những âm giai của điệu thức ngũ cung phương Đông.
Tiết tấu trong sáng tác của Hoàng Quý mang tính đơn giản, rõ ràng và có tính chất chu kỳ. Bên cạnh những tiết tấu phổ biến gồm những nốt móc đơn, nốt đen, nốt trắng, đôi khi ông còn sử dụng những tiết tấu chùm ba hay đảo phách. Các tiết tấu này khi nằm ở tốc độ chậm sẽ tạo nên âm hưởng da diết, trữ tình. Trong những bài hành khúc, ông sử dụng tiết tấu chấm giật nhằm diễn tả khí thế hùng dũng, linh hoạt cho giai điệu. Một dạng âm hình tiết tấu cũng được ông sử dụng trong nhiều bài hành khúc là sau khi sử dụng vài nốt lấy đà sẽ là ba nốt đen để tạo tính chất chững chạc, khỏe khoắn.
Trào lưu âm nhạc lãng mạn.
Theo Phó giáo sư, tiến sĩ âm nhạc Phạm Tú Hương, ca khúc lãng mạn của Hoàng Quý được chia làm 2 mảng đề tài, trong đó những ca khúc trữ tình diễn tả thiên nhiên, cảnh nông thôn và nông dân, còn mảng đề tải còn lại là những bản tình ca. Trong nhiều bản tình ca mà ông sáng tác, ca khúc nổi tiếng nhất là "Cô láng giềng". Trong các bản tình ca, ông diễn tả những khát vọng tuổi trẻ về một tình yêu lí tưởng, những tâm trạng đau buồn, đắng cay khi tình yêu tan vỡ, cũng như tình cảm xót thương trước cảnh bị chia ly, xa cách. Theo em trai ông là Tô Vũ, Hoàng Quý đã xếp những bản tình ca cũng như những ca khúc lãng mạn vào loại "nhạc tâm tình" không phải để phổ biến rộng rãi, mà khuynh hướng chủ đạo của ông là dòng nhạc thanh niên của thời kì Tân nhạc.
Trào lưu âm nhạc yêu nước – tiến bộ.
Là người yêu thích sinh hoạt tập thể, Hoàng Quý tham gia phong trào Hướng Đạo từ năm 1939. Trong thời gian này, ông đã viết rất nhiều ca khúc gắn liền với các sinh hoạt tập thể của thanh niên. Những ca khúc này đã nhanh chóng được tầng lớp thanh thiếu niên, học sinh nồng nhiệt đón nhận và hát trong những buổi sinh hoạt tập thể. Những ca khúc được đánh giá mang cảm xúc lạc quan, vui vẻ nhằm thúc giục động viên thanh niên tham gia công tác xã hội, dấn thân cho đất nước. "Trên sông Bạch Đằng" sáng tác năm 1938 của ông là một trong những ca khúc về đề tài lịch sử sớm nhất trong dòng ca khúc yêu nước – tiến bộ của Việt Nam. Do đó, bài hát này cũng có thể là một trong những bài hành khúc ra đời sớm nhất trong trào nhạc cải cách của Việt Nam. Hành khúc của Hoàng Quý có đặc điểm nổi bật là ngắn gọn, súc tích nhằm dễ phổ cập.
Trào lưu âm nhạc cách mạng.
Từ tinh thần yêu nước, Hoàng Quý đến với cách mạng bằng những hoạt động như giúp đỡ cán bộ Việt Minh bí mật hoạt động, tổ chức biểu diễn gây quỹ ủng hộ Cách mạng. Ông đã sáng tác nhiều ca khúc cách mạng với âm điệu "hào hùng, tràn đầy khí phách", và là nguồn động lực cho phong trào cách mạng đang ngày một dâng cao ở các thành phố, làng quê Việt Nam thời bấy giờ. Nổi bật trong các ca khúc cách mạng của ông là "Cảm tử quân". Sau "Cảm tử quân", trong những ngày Cách mạng Tháng Tám đang diễn biến căng thẳng, ông viết nhiều ca khúc phục vụ cách mạng như "Đường vào Nam" đã theo quân đội Việt Nam vào miền Nam tham gia chiến tranh hay như "Tuần lễ vàng" là ca khúc cổ động phong trào toàn dân ủng hộ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tác phẩm tiêu biểu.
Trong quãng thời gian tuổi đôi mươi, Hoàng Quý cũng có nhiều mối tình gắn liền với sự ra đời của một số nhạc phẩm trữ tình. "Cô láng giềng" được xem là tác phẩm trữ tình nổi tiếng và làm nên tuổi của ông. Tác phẩm là kỷ niệm khắc ghi sâu đậm nhất về mối tình của ông với một cô gái người Hải Phòng. Khi Hoàng Quý đã bí mật theo Việt Minh hoạt động cách mạng, họ tạm cách xa, nhưng luôn trao đổi thư từ. Sau đó, có thông tin cho rằng mối tình đã tan vỡ do cô gái đã phản bội tình yêu của ông. Một đêm, Hoàng Quý ra khỏi giường, bật đèn, sáng tác vội vàng những cảm xúc âm nhạc, "Cô láng giềng" được sáng tác từ đó. Bái hát bộc lộ tình cảm nội tâm của nhạc sĩ. "Cô láng giềng: được công chúng, đặc biệt là tầng lớp thanh niên đón nhận và nhanh chóng được phổ biến rộng rãi. Về sau, nhạc sĩ Tô Vũ viết thêm lời 2.
Nhiều người cho rằng nhân vật cô láng giềng trong ca khúc của Hoàng Quý đã phụ tình chàng trai. Nhưng theo báo "Công an nhân dân", trên thực tế, họ có một mối tình đẹp. Nhân vật cô láng giềng trong ca khúc được cho là nữ ca sĩ Hoàng Oanh. Hoàng Quý đã cưới Hoàng Oanh ngay sau khi trở về Hải Phòng năm 1944. Nhạc sĩ Tô Vũ cho biết, trong đám cưới ấy, chính nhạc sĩ Hoàng Quý đã đệm đàn cho vợ mình hát "Cô láng giềng".
Trên sông Bạch Đằng.
"Trên sông Bạch Đằng" được xem là ca khúc đầu tiên mà Hoàng Quý viết về đề tài lịch sử – yêu nước. Đây cũng được coi là một trong những bản hành khúc sớm nhất của phong trào Tân nhạc Việt Nam. Ông diễn đạt lại chiến công của quân đội nhà Trần trước chiến thắng quân Nguyên với "niềm tự hào", qua đó nhằm nhắc nhở thế hệ thanh niên nên "noi theo gương tổ tiên". Bên cạnh lòng tự hào khi sáng tác bài hát, Hoàng Quý tỏ ra cảm xúc "đau thương, uất hận" trước thực trạng Việt Nam đang bị thực dân Pháp đô hộ.
"Cảm tử quân" được Hoàng Quý sáng tác vào tháng 6 năm 1944 trong không khí sục sôi của những ngày chuẩn bị Cách mạng Tháng Tám. Đây là ca khúc cách mạng nổi bật nhất trong các ca khúc Cách mạng của Hoàng Quý. Cấu trúc của bài hát này chỉ là một đoạn nhạc có 2 câu. Với tiết tấu chấm giật, giai điệu tiến hành trên âm điệu hợp âm rải của giọng Fa trưởng nhằm tạo nên được tính chất hùng tráng và tự tin cần có. Ngay từ khi mới ra đời, ca khúc đã được dân chúng đón nhận, đặc biệt là tầng lớp thanh niên. Trong cả 2 cuộc chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam sau này, bài hát luôn được sử dụng rộng rãi.
Danh sách tác phẩm.
Hoàng Quý chỉ chủ yếu sáng tác cho thanh nhạc mà không có sáng tác cho khí nhạc. Các tác phẩm của ông được chia làm 3 trào lưu, tương ứng với 3 giai đoạn sáng tác trong cuộc đời của ông. Dưới đây chỉ liệt kê những tác phẩm đã từng được công bố.
Trong cuộc đời và sự nghiệp hoạt động nghệ thuật ngắn ngủi của mình, Hoàng Quý để lại nhiều ca khúc ở các trào lưu âm nhạc khác nhau, trong đó khoảng thời gian cuối đời ông thường sáng tác những tác phẩm mang tính cách mạng. Ông là người đầu tiên biểu diễn nhạc của Lê Thương tại Nhà hát lớn Hải Phòng. Trong cả cuộc đời, ông có di sản âm nhạc trên 70 ca khúc. Trong đó có 11 ca khúc, hành khúc lâu nay bị thất lạc đã được em trai ông phát hiện và phổ biến lại vào năm 2006. Sáng ngày 20 tháng 1 năm 2022, tại Nhà hát lớn Hải Phòng, Hội đồng nghệ thuật thành phố Hải Phòng đã tổ chức thẩm định chương trình nghệ thuật "Ký ức Đồng Vọng" do Đoàn Ca múa Hải Phòng chủ trì thực hiện nhằm biểu diễn những tác phẩm của nhóm Đồng Vọng.
Hoàng Quý là nhạc sĩ đầu tiên được đặt tên cho đường/phố ở Việt Nam.
|
Trong toán học, dãy là một họ có thứ tự các đối tượng toán học và cho phép lặp lại các phần tử trong đó. Giống như tập hợp, nó chứa các phần tử (hay còn gọi là "số hạng"). Số các phần tử (có thể vô hạn) được gọi là độ dài của dãy số. Trái với tập hợp, một phần tử có thể xuất hiện nhiều lần trong dãy và cũng trái với tập hợp, thứ tự trong dãy cũng quan trọng. Trong định nghĩa chính thức, dãy được định nghĩa là hàm số từ tập các số tự nhiên (số vị trí các phần tử trong dãy) sang các phần tử tại vị trí đó. Thuật ngữ dãy được tổng quát hoá thành họ sắp chỉ số (họ sắp chỉ số được định nghĩa là hàm số từ một tập chỉ số "tuỳ ý").
Thứ tự của phần tử trong dãy rất quan trọng. Trong dãy, có thể có một hoặc không phần tử đứng trước (hoặc sau) các phần tử còn lại, trong khi đó các phần tử còn lại sẽ luôn có ít nhất một phần tử đứng trước và ít nhất một phần tử đứng sau. Lấy ví dụ, (M, A, R, Y) là dãy các chữ cái với chữ 'M' đứng trước và chữ 'Y' đứng cuối, do đó chữ 'M' có ba phần tử đứng sau nhưng không có phần tử đứng trước. Dãy này khác với (A, R, M, Y).
Dãy (1, 1, 2, 3, 5, 8), mặc dù chứa số 1 ở hai vị trí khác nhau, vẫn được coi là một dãy hợp lệ. Một dãy có thể "hữu hạn", như những ví dụ trên, hoặc "vô hạn", như dãy các số nguyên dương chẵn (2, 4, 6, ...).
Vị trí của một phần tử trong dãy được gọi là "số vị trí", "hạng" hay "chỉ số". Phần tử đầu tiên có chỉ số 0 hoặc 1, dựa trên nội dung đang thảo luận. Trong giải tích,dãy số thường được đánh ký hiệu bằng các chữ cái viết thường dưới dạng formula_1, formula_2 và formula_3, trong đó chữ "n" viết dưới chỉ phần tử thứ "n" trong dãy; ví dụ chẳng hạn, phần tử thứ "n" trong dãy Fibonacci "formula_4" thường được ký hiệu là "formula_5".
Trong điện toán và khoa học máy tính, dãy hữu hạn đôi khi được gọi là xâu, từ hay danh sách, các tên khác biệt với nhau thường là vì chúng tương ứng với các cách khác nhau trong biểu diễn dãy hữu hạn trong bộ nhớ máy tính; dãy vô hạn thì hay được gọi là dòng hay "stream".Dãy rỗng ( ) được bao gồm trong hầu như mọi khái niệm của dãy, song có thể bỏ dựa theo bối cảnh.
Ví dụ và ký hiệu.
Dãy có thể được coi là danh sách các phần tử dưới một thứ tự cụ thể nào đó. Dãy rất hữu dụng trong một lượng lớn môn học nghiên cứu các hàm số, không gian, và các cấu trúc toán học khác có sử dụng tính hội tụ của dãy. Cụ thể, dãy là cơ sở để học và nghiên cứu chuỗi, và cả hai đều là thành phần quan trọng trong các phương trình vi phân và trong giải tích. Dãy nói riêng cũng là chủ đề thú vị của riêng chúng, một số được nghiên cứu riêng và một số được dùng để làm câu đố, ví dụ như nghiên cứu dãy các số nguyên tố.
Có nhiều cách để ký hiệu dãy, nhưng có một số trong đó chỉ có ích cho một số dãy đặc biệt. Một trong những những cách đơn giản nhất để biểu diễn dãy là liệt kê các phần tử trong dãy ra. Ví dụ chẳng hạn, dãy bốn số tự nhiên lẻ đầu tiên có thể viết là (1, 3, 5, 7). Ký hiệu này cũng có thể dùng cho dãy vô hạn. Ví dụ chẳng hạn, dãy vô hạn của các số nguyên dương lẻ được viết là (1, 3, 5, 7, ...). Song vì dấu ba chấm có thể mơ hồ, nên ký hiệu liệt kê hữu dụng nhất với các dãy mà có thể nhận dạng chúng qua các phần tử đầu tiên trong dãy, các cách ký hiệu khác sẽ được thảo luận sau các ví dụ.
Các số nguyên tố là các số tự nhiên lớn hơn 1 và không có ước nào ngoại trừ 1 và chính nó. Xét chúng trong thứ tự tự nhiên, ta được dãy (2, 3, 5, 7, 11, 13, 17, ...). Các số nguyên tố được nghiên cứu rộng rãi trong toán học, chủ yếu nằm trong lý thuyết số với nhiều kết quả quan trọng gắn với nó.
Các số Fibonacci tạo thành một dãy trong đó ngoại trừ phần từ đầu tiên và phần tử thứ hai trong dãy, mỗi phần tử còn lại đều là tổng của hai phần tử đứng ngay trước nó. Hai phần tử đầu tiên có thể la 0 và 1 hoặc 1 và 1. Dãy các số Fibonacci được gọi là dãy Fibonacci và thường được viết như sau (0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, ...).
Các ví dụ khác bao gồm các dãy chứa các số hữu tỉ, số thực và số phức. Dãy (.9, .99, .999, .9999, ...), chẳng hạn, chạm dần đến số 1. Thậm chí, mọi số thực có thể viết thành giới hạn của dãy các số hữu tỉ (qua biển diễn thập phân của nó chẳng hạn. Lấy ví dụ, π là giới hạn của dãy tăng dần (3, 3.1, 3.14, 3.141, 3.1415, ...). Một dãy khác có liên quan là dãy các chữ số thập phân của π, tức dãy (3, 1, 4, 1, 5, 9, ...). Không giống như dãy trước, dãy này không có mẫu nhận dạng dễ nhìn.
Một ví dụ không bao gồm số của dãy là dãy các hàm số, trong đó mỗi phần tử của dãy là hàm số có hình dạng được xác định bởi chỉ số của hàm số đó trong dãy.
Bảng tra cứu dãy số nguyên trực tuyến bao gồm một lượng lớn dãy các số nguyên.
Cách viết chỉ số.
Các cách ký hiệu khác có ích đối với các dãy có mẫu nhận dạng không dễ đoán hoặc không có ngay từ đầu như dãy các chữ số của π. Một trong những cách ký hiệu là viết một công thức tổng quát để tính phần tử thứ "n" trong dãy là hàm số của "n", đóng nó trong dấu ngoặc rồi bao gồm thêm một đoạn chữ nhỏ viết dưới chỉ ra các tập các giá trị mà "n" có thể nhận. Lấy ví dụ, trong ký hiệu này, dãy các số tự nhiên chẵn có thể ký hiệu thành formula_6. Dãy các số chính phương có thể viết là formula_7. Biến "n" được gọi là chỉ số, và tập các giá trị nó có thể nhận được được gọi là tập chỉ số.
Bằng việt kết hợp cách ký hiệu này với kỹ thuật coi các phần tử trong dãy là các biến độc lập. Ta có thể viết các biểu thức như formula_8, biểu thức này ký hiệu dãy trong đó phần tử thứ "n" lấy từ biến formula_1. Ví dụ:
Bên cạnh đó, ta còn có thể xét nhiều dãy khác nhau trong cùng một lúc bằng cách sử dụng tên biến khác; chẳng hạn formula_11 có thể là dãy khác với formula_8. Ta cũng có thể xét dãy của các dãy: formula_13 ký hiệu dãy trong đó phần tử thứ "m" là dãy formula_14.
Một cách khác để viết miền trong đoạn viết dưới của dãy là viết khoảng giá trị mà nó có thể nhận bằng cách chỉ ra giá trị nhỏ nhất và lớn nhất nó có thển hận. Ví dụ chẳng hạn, ký hiệu formula_15 chỉ dãy 10 số chính phương formula_16. Các giới hạn formula_17 và formula_18 đều được cho phép, nhưnng nó không biểu diễn giá trị hợp lệ cho chỉ số, mà chỉ là cận trên đúng hay cận dưới đúng của các giá trị đó, tương ứng. Ví dụ chẳng hạn, dãy formula_19 giống với dãy formula_8, và không chứa phần tử nào "tại vô hạn". Dãy formula_21 là dãy vô hạn hai bên, và được ký hiệu theo liệt kê là formula_22.
Trong trường hợp tập các chỉ số đã được ngầm hiểu trước, thì có thể bỏ cả đoạn chỉ số trên và dưới. Khi đó, ta thường hiểu formula_23 ký hiệu cho một dãy tuỳ ý. Thường thì chỉ số "k" được ngầm định chạy từ 1 đến ∞. Tuy nhiên, các dãy thường có chỉ số bắt đầu từ 0, tức là
Trong một số trường hợp khi các phần tử trong dãy có quan hệ gần gũi với các số tự nhiên và có mẫu nhận dạng dễ nhìn, thì tập chỉ số có thể suy ra được bằng cách liệt kê vài phần tử đầu tiên. Lấy ví dụ, tập các bình phương của các số lẻ có thể ký hiệu theo một trong năm cách sau.
Hơn nữa, đoạn chỉ số dưới và trên có thể bỏ đi trong cách thứ ba, thứ tư và thứ năm, nếu tập chỉ số đã được hiểu là tập các số tự nhiên. Trong cách thứ hai và thứ ba, có dãy đã được định nghĩa formula_30, nhưng nó không giống với dãy ký hiệu theo biểu thức.
Định nghĩa dãy bằng đệ quy.
Dãy mà phần tử có quan hệ với phần tử đứng trước nó thường được định nghĩa bằng đệ quy. Cách định nghĩa này khác với định nghĩa dãy có các phần tử là giá trị của hàm số của vị trí của chúng.
Để có thể định nghĩa bằng đệ quy, ta cần một luật, hay quy tắc, được gọi là "quan hệ lặp lại" để xây dựng mỗi phần tử trong dãy dựa trên các phần tử đứng trước đó. Bên cạnh đó yêu cầu cần phải định nghĩa hay xác định trước phần tử đứng đầu (hay còn gọi là phần tử khởi tạo) để các phần tử đứng sau có thể được tính bằng quan hệ. Công thức suy ra được từ quan hệ đó được gọi là công thức truy hồi hoặc hệ thức truy hồi.
Dãy Fibonacci là một ví dụ hay thường gặp, và được định nghĩa theo công thức truy hồi sau
với hai phần tử ban đầu formula_32 và formula_33. Qua vài bước tính toán, 10 phần tử đầu tiên của dãy này sẽ là 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, và 34.
Một ví dụ phức tạp về dãy được định nghĩa theo quan hệ đệ quy là dãy Recamán, dãy này được định nghĩa như sau:
với phần tử khởi tạo formula_35
"Hệ thức truy hồi tuyến tính có hệ số hằng" là công thức có dạng
trong đó formula_37 là các hằng số. Có công thức tổng quát để biểu diễn các phần tử formula_1 thành hàm số của n; xem truy hồi tuyến tính. Trong trường hợp của dãy Fibonacci, ta có formula_39 và hàm của n lấy từ công thức Binet.
Dãy holonom là dãy được định nghĩa bằng công thức hồi quy dưới dạng
trong đó formula_41 là các đa thức biến n. Hầu như đối với mọi dãy holonom không có công thức cụ thể nào để biểu diễn formula_1 bằng hàm số của n. Mặc dù vậy, các dãy holonom vẫn đóng vai trò quan trọng trong nhiều nhánh của toán học. Ví dụ chẳng hạn, nhiều hàm đặc biệt có chuỗi Taylor với các hệ số là phần tử của dãy holonom. Sử dụng đệ quy cho phép tính nhanh chóng giá trị của các hàm đặc biệt đó.
Không phải mọi dãy đều có thể định nghĩa bằng đệ quy. Một ví dụ là dãy các số nguyên tố theo thứ tự tự nhiên (2, 3, 5, 7, 11, 13, 17, ...).
Theo quan điểm của lý thuyết tập hợp, dãy là một ánh xạ "a": "X" formula_43 "Y", trong đó X là tập hợp số tự nhiên, hoặc tập con của tập số tự nhiên nhỏ hơn / lớn hơn một số tự nhiên "m" nào đó.
Khi đó thay cho "a"(n) ta dùng ký hiệu an.
Nếu X là hữu hạn ta có dãy hữu hạn:
Ngược lại nó được xem là vô hạn.
Đôi khi, dãy hữu hạn cũng có thể được xem là vô hạn với các phần tử thừ thứ "m" trở đi là bằng nhau.
Nếu Y là tập hợp số, dãy "a" được gọi là dãy số.
Nếu Y là tập các số thực (hoặc phức) ta có dãy số thực (hoặc phức)
Nếu Y là tập hợp các hàm số ta có dãy hàm.
Nếy Y là tập hợp số tự nhiên ta có dãy số tự nhiên (ít dùng)
Khi bắt đầu từ phần tử formula_44 dãy thường được ký hiệu:
formula_45 với "x""n" là phần tử thứ "n".
Người ta thường xét hơn các dãy bắt đầu từ phần tử formula_46.
formula_47 với "x""n" là phần tử thứ "n"
Khi các phần tử của dãy nhận giá trị trong một tập hữu hạn n phần tử, các bài toán về dãy hữu hạn được xem xét trong toán học tổ hợp (với các khái niệm chỉnh hợp, hoán vị, dãy có lặ) gồm bài toán đếm, bài toán liệt kê và bài toán tồn tại.
Khi các phần tử của một dãy vô hạn thuộc một không gian metric (trong không gian có khái niệm khoảng cách giữa hai phần tử) chẳng hạn các dãy số thực,dãy hàm hoặc không gian tôpô (trong đó có khái niệm lân cận) các bài toán về dãy liên quan tới khái niệm giới hạn, tính hội tụ, phân kỳ.
Dãy trong khoa học học máy tính.
Trong khoa học máy tính, khái niệm dãy (hữu hạn) thể hiện cụ thể thành các danh sách (tuyến tính), mảng, ngăn xếp, hàng đợ
Các khái niệm về giải thuật, máy Turing cũng đều liên quan đến các dãy.
|
Sen (tên khoa học: "Nelumbo nucifera"), còn gọi là sen hồng, là một loài thực vật thủy sinh thân thảo sống lâu năm thuộc chi sen. Trong thời kỳ cổ đại nó đã từng là loại cây mọc phổ biến dọc theo bờ sông Nin ở Ai Cập cùng với một loài hoa súng có quan hệ họ hàng gần gũi có tên gọi dài dòng là hoa "sen" xanh linh thiêng sông Nin ("Nymphaea caerulea"); và hoa, quả cũng như các đài hoa của cả hai đã được họa lại khá rộng rãi như là một kiểu kiến trúc ở những nơi cần các hình ảnh linh thiêng. Người Ai Cập cổ đại sùng kính hoa sen và sử dụng nó trong các nghi thức tế lễ. Từ Ai Cập nó đã được đem đến Assyria và sau đó được trồng rộng rãi khắp các vùng Ba Tư, Ấn Độ và Trung Quốc. Nó cũng có thể là loài cây bản địa ở khu vực Đông Dương, nhưng ở đây có sự nghi vấn về điều này. Năm 1787, lần đầu tiên nó được đưa tới Tây Âu như một loài hoa súng dưới sự bảo trợ của Joseph Banks và có thể thấy được trong các vườn thực vật hiện nay mà ở đó có sự cung cấp nhiệt. Ngày nay nó hiếm hoặc đã tuyệt chủng tại châu Phi nhưng lại phát triển mạnh ở miền nam châu Á và Australia.
Củ sen thực chất là rễ mọc trong các lớp bùn trong ao hay sông, hồ còn các lá thì nổi ngay trên mặt nước. Các thân già có nhiều gai nhỏ. Hoa thường mọc trên các thân to và nhô cao vài xentimet phía trên mặt nước. Thông thường sen có thể cao tới 1,5 m và có thể phát triển các rễ củ bò theo chiều ngang tới 3 m, một vài nguồn chưa kiểm chứng được cho biết nó có thể cao tới trên 5 m. Lá to với đường kính tới 60 cm, trong khi các bông hoa to nhất có thể có đường kính tới 20 cm.
Có nhiều giống sen được trồng, với màu hoa dao động từ màu trắng như tuyết tới màu vàng hay hồng nhạt. Nó có thể chịu được rét tới khu vực 5 theo phân loại của USDA. Loài cây này có thể trồng bằng hạt hay rễ củ.
Từ "sen" là một từ Hán Việt cổ, bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán thượng cổ của một từ tiếng Hán được viết bằng chữ Hán là "蓮". Chữ Hán "蓮" có âm Hán Việt hiện hành là "liên". William H. Baxter và Laurent Sagart phục nguyên cách phát âm trong tiếng Hán thượng cổ của từ "蓮" là "*k.[r]ˤe[n]".
Sen là loại cây cảnh đẹp, được nhiều người yêu thích. Cây thường được trồng làm cây cảnh ngoại thất, trồng trong ao hồ nhân tạo hay tự nhiên.
Hoa, các hạt, lá non và rễ củ ăn được. Tại châu Á, các cánh hoa đôi khi được sử dụng để tô điểm món ăn, trong khi các lá to được dùng để gói thức ăn. rễ củ (ngó sen) có thể dùng chế biến nhiều món ăn (súp, canh, món xào) và là phần được dùng nhiều nhất. Các cánh hoa, lá non và rễ củ có thể ăn sống, mặc dù cần quan tâm tới việc truyền các loại ký sinh trùng sang người (chẳng hạn sán lá "Fasciolopsis buski").
Các nhị hoa có thể phơi khô và dùng để ướp chè. Các hạt nhỏ lấy ra từ bát sen có nhiều công dụng và có thể ăn tươi (khi non) hoặc sấy khô và cho nổ tương tự như bỏng ngô. Hạt sen già cũng có thể luộc cho đến khi mềm và được dùng trong các món như chè sen hay làm mứt sen.
Tâm sen nằm trong các hạt sen được lấy ra từ bát sen cũng được sử dụng trong y học truyền thống châu Á như là một loại thuốc có tác dụng an thần và thanh nhiệt.
Lá sen có đặc điểm không thấm nước. Hiện tượng này được ứng dụng trong khoa học vật liệu, gọi là hiệu ứng lá sen, để chế tạo các bề mặt tự làm sạch.
Một số thành phần của sen được sử dụng như các vị thuốc:
Hoa sen là thứ hoa nhất hạng, nở ở những vùng nước tù đọng và bẩn đục, bông sen toàn mỹ một cách tột bậc, là sự sống xuất hiện đúng lần đầu tiên trên khoảng mênh mông không rõ sắc màu của những vùng nước khởi nguyên. Trong tranh hình Ai Cập nó đã xuất hiện với ý nghĩa như vậy, trước tất cả, sau đó tạo hóa và vầng thái dương mới lóe ra từ trái tim rộng mở của nó. Như vậy hoa sen trước hết là bộ phận sinh dục, là âm hộ mẫu gốc, bảo đảm cho các cuộc sinh thành và tái sinh truyền lưu mãi mãi. Từ Địa Trung Hải cho đến Ấn Độ và Trung Hoa, tầm quan trọng về mặt trần tục cũng như về mặt linh thiêng đều bắt nguồn từ hình ảnh cơ bản này.
Hoa sen xanh được coi là linh thiêng nhất trên vùng đất Ai Cập, là loại hoa tỏa ra hương thơm của cuộc sống thần thánh.
Hoa sen với màu sắc trong trắng trên bùn nhơ được hiểu với nghĩa đạo đức ở Ấn Độ. Những người theo Ấn giáo gắn hoa sen với niềm tin tín ngưỡng của họ và thường gắn với các vị thần như Vishnu, Brahma hay Lakshmi. Từ thời cổ đại thì hoa sen đã là biểu tượng thiêng liêng của người Hindu. Nó thường được sử dụng như là một ví dụ về vẻ đẹp linh thiêng, chẳng hạn Sri Krishna thông thường được miêu tả như là "người có mắt sen". Các cánh hoa đã nở được coi là sự mở rộng của tâm hồn và là biểu tượng của sự thăng hoa tinh thần. Vẻ đẹp của hoa sen tương phản với nguồn gốc từ bùn lầy của nó thể hiện một sức mạnh tinh thần. Người ta cũng cho rằng cả Brahma và Lakshmi, các vị thần của sức mạnh và sự giàu có, có biểu tượng hoa sen gắn liền với họ tại chỗ ngồi của họ. Trong tiếng Hindi nó được gọi là कमल(Kamal), đây cũng là tên gọi phổ biến cho phụ nữ cũng như là một phần trong tên gọi của đàn ông tại Ấn Độ.
Hoa sen cũng được trích dẫn nhiều trong các văn bản Puranas và Vệ Đà.
"Người thực hiện bổn phận của mình mà không có sự quyến luyến, dâng các kết quả cho Đấng tối cao, sẽ không bị ảnh hưởng bởi các tác động tội lỗi, giống như lá sen không bị nước dính vào". Bhagavad Gita 5.10
Mặc dù chỉ là một loài hoa, nhưng hoa sen có nhiều huyền thoại nói về nguồn gốc thần thoại của nó, mà từ đó địa vị và ý nghĩa tinh thần lớn của nó đã được sáng tạo ra. Đáng chú ý nhất có lẽ là huyền thoại về "Samudra-manthana" - khuấy đảo đại dương.
Người ta kể rằng ngày xưa có một thời các vị thần thánh và quỷ dữ đã đạt được thỏa thuận là họ có thể cùng nhau khuấy đảo đại dương để lấy rượu tiên ẩn giấu dưới lòng đại dương. Khi họ đang khuấy tung đại dương lên thì biển cả đã để lộ ra 14 vật báu và bông hoa sen với Lakshmi ngồi trên đó là một trong số 14 vật báu này.
Vì hoa sen trong truyền thuyết có 8 cánh giống như không gian có 8 hướng, sen còn được coi là biểu tượng của sự hài hòa vũ trụ. Nó được dùng nhiều theo nghĩa này trong hình vẽ của nhiều mandala và yantra.
Vay mượn các ý nghĩa của hoa sen trong Ấn giáo, trong Phật giáo hoa sen tượng trưng cho sự tinh khiết của thể xác, lời nói và tinh thần, vượt ra ngoài ái. Đức Phật thông thường được vẽ trong tư thế ngồi trên đài sen khổng lồ tỏa sáng lung linh.
Văn chương Trung Hoa, vốn kết hợp lối chuộng phúng dụ với một chủ nghĩa hiện thực sâu sắc, đã dùng từ sen để chỉ đích danh âm hộ, và danh hiệu phỉnh nịnh dành tặng những cô gái lầu xanh là Sen vàng.
Trong một giải thích tầm thường hóa hơn, văn học Nhật Bản thường coi loài hoa này, trong trắng đến thế giữa vùng nước bẩn, là một hình ảnh đức hạnh, vẫn có thể thanh khiết và nguyên vẹn giữa xã hội đầy những điều đê tiện, mà chẳng cần phải lui về một nơi hoang vắng như hoa lan (lan sinh u cốc, kỳ hương doanh dã), hoa cúc (biểu tượng của thú vui ở ẩn của kẻ sĩ).
Tương đồng như Nhật Bản, hoa sen là biểu tượng cho sự trong sạch thanh cao ở Việt Nam. Ca dao có câu:
"Trong đầm gì đẹp bằng sen,"
"Lá xanh bông trắng, lại chen nhị vàng."
"Nhị vàng bông trắng lá xanh,"
"Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn."
Vẻ đẹp của sen cũng có thể được nhìn dưới khía cạnh Phật giáo:
"Lá xanh thăm thẳm lòng Bi,"
"Dũng cành vươn thẳng, thoát ly bùn sình."
"Nâng nụ sắc Trí kết tinh,"
"Nở thành hoa thắm, lung linh giữa đời."
Năm 2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam tổ chức bầu chọn quốc hoa Việt Nam. Theo kết quả của cuộc bầu chọn này thì hoa sen là loài hoa được nhiều người bầu chọn làm quốc hoa của Việt Nam nhất. Cuộc bầu chọn đã không đưa hoa sen trở thành quốc hoa chính thức của Việt Nam vì sau cuộc bầu chọn không có văn bản pháp quy nào của Việt Nam được ban hành quy định quốc hoa của Việt Nam là hoa sen.
|
Hãng phim truyện Việt Nam
Hãng phim truyện Việt Nam (tên đầy đủ là Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Hãng phim truyện Việt Nam, tên giao dịch tiếng Anh: Vietnam Feature film Studio, viết tắt là VFS), là hãng phim nhà nước lớn nhất Việt Nam ra đời dưới tên Doanh nghiệp Quốc doanh chiếu bóng và chụp ảnh, do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập ngày 15 tháng 3 năm 1953. Hãng hiện thuộc sở hữu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Việt Nam). Tiền thân của VFS qua các thời kỳ là Xưởng phim Hà Nội, Xí nghiệp phim truyện Việt Nam.
Ngày 29/6/2010, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định số 2238/QĐ-BVHTTDL phê duyệt phương án chuyển đổi Hãng phim truyện Việt Nam thành "Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Hãng phim truyện Việt Nam". Tháng 6/2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định thành lập "Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Phim truyện Việt Nam" thay thế cho "Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Hãng phim truyện Việt Nam."
Từ khi không còn được hưởng chế độ bao cấp của Nhà nước và chuyển sang mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn trong thời kì kinh tế mới, Hãng phim truyện Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn về tài chính, cơ sở vật chất xuống cấp nghiêm trọng. Ngoài ra, những khuất tất trong quá trình cổ phần hóa hãng phim dưới tên "Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Phim truyện Việt Nam" đang dấy lên những nghi ngờ và tạo ra làn sóng phản đối từ các nghệ sĩ, diễn viên có tên tuổi.
Một số bộ phim nổi bật.
Ngày 7/12/1959, hãng sản xuất bộ phim truyện đầu tiên của điện ảnh Cách mạng "Chung một dòng sông". Tính đến thời điểm này, hãng đã sản xuất được hơn 400 bộ phim với nhiều thể loại như phim nhựa điện ảnh, phim truyền hình, phim nghệ thuật và phim tài liệu. Là một trong những hãng phim lâu đời tại Việt Nam, những bộ phim do Hãng phim truyện Việt Nam sản xuất qua nhiều mốc thời gian đều để lại ấn tượng tốt trong lòng khán giả, gây tiếng vang và giành được nhiều danh hiệu, giải thưởng danh giá trong nước và quốc tế.
|
Đêm thu là ca khúc đầu tay của nhạc sĩ Đặng Thế Phong được ông viết cho đêm lửa trại của học sinh Hà Nội năm 1940.
Nhận xét của Phạm Duy.
Bài "Đêm thu" được soạn với nhạc thuật Tây Phương dùng nhịp valse chậm để diễn tả lòng người trước cảnh đêm thu vắng vẻ:
"Vườn khuya trăng rãi hoa đứng im như mắt buồn"
"Lòng ta xao xuyến lắng nghe lời hoa"
"Cánh hoa vương buồn trong gió"
"Ánh hương yêu nhẹ nhàng say, gió lay"
Với một nét nhạc mineure rất đẹp, Đặng Thế Phong dẫn ta vào một vườn trăng để, cũng như Lê Thương trong "Bản đàn xuân", tình tự với các loài hoa. Nhưng có lẽ Đặng Thế Phong thấy trước được mệnh yểu của mình nên muốn mở lòng ra thật rộng để thâu tóm vào đó tất cả cảnh vật chung quanh, từ tiếng côn trùng trong gió tới ánh sao trong vũ trụ. Ca khúc có hai phần, một phần theo âm hưởng mineure của Tây Phương, một phần nghiêng hẳn về nhạc ngũ cung Việt Nam (Ré Mi Sol La Si):
"Đêm lắng buồn tiếng thu như thì thầm"
"Trong hàng cây trầm mơ"
"Làn gió lướt tới cuốn đưa hồn ta phiêu diêu"
"Theo mây trắng trôi lờ lững"
"Ngàn muôn tiếng réo rắt"
"Côn trùng như than van"
"Mơ hồ theo gió lan"
"Trăng xuống dần cỏ cây thêm âm thầm"
"Dâng buồn trong ánh sao"
"Như chiếu nhìn mắt ta bao lạnh lùng"
"Lay hồn ta rồi tan"
|
Chi Nhót (tên khoa học Elaeagnus) là một chi của khoảng 50-70 loài thực vật có hoa trong họ Nhót (Elaeagnaceae). Phần lớn các loài có nguồn gốc ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới của châu Á, với một loài ("E. triflora") sinh trưởng tận phía nam tới vùng đông bắc Úc và một loài khác ("E. commutata") chỉ sinh trưởng ở khu vực Bắc Mỹ. Một loài khác ("E. angustifolia") có thể có nguồn gốc ở miền cực đông nam của châu Âu mặc dù có thể là do con người đem nó đến đây trong thời kỳ ban đầu.
Chúng là các loài cây bụi hay cây thân gỗ nhỏ, lá sớm rụng hoặc thường xanh với các lá mọc so le. Lá và thân cây thông thường có phủ một lớp vảy nhỏ màu trắng bạc hay ánh nâu, làm cho cây có màu ánh trắng hoặc nâu-xám khi nhìn từ xa. Các hoa nhỏ, với đài hoa 4 thùy và không có cánh hoa; chúng thông thường có mùi thơm. Quả là loại quả hạch mọng chứa một hạt; ở nhiều loài thì quả ăn được, mặc dù nói chung thiếu hương vị thơm ngon.
Các loài trong chi "Elaeagnus" bị ấu trùng của một số loài sâu bọ thuộc bộ Lepidoptera phá hại, như "Coleophora elaeagnisella" và "Naenia typica".
|
"Giọt mưa thu" là nhạc phẩm cuối cùng của cố nhạc sĩ Đặng Thế Phong được ông viết vào những ngày cuối đời trên giường bệnh năm 1942. Ban đầu bản nhạc mang tên "Vạn cổ sầu", nhưng theo ý một vài người bạn, ông đặt lại là "Giọt mưa thu" cho bớt sầu thảm hơn. Một số ý kiến cho rằng ca khúc này có sự tham gia viết lời của cố nhạc sĩ Bùi Công Kỳ.
Hoàn cảnh sáng tác.
"Giọt mưa thu" được xếp vào những ca khúc hay nhất của tân nhạc Việt Nam. Phạm Duy cho rằng "Giọt mưa thu" cùng hai nhạc phẩm khác của Đặng Thế Phong khởi đầu cho dòng "nhạc thu" Việt Nam
đã được Văn Cao và Đoàn Chuẩn tiếp nối. Nhạc phẩm này cũng là cảm hứng để Hoàng Dương sáng tác bài "Tiếc thu" nổi tiếng[#endnote_]. Nhiều ý kiến cho rằng Trịnh Công Sơn đã ảnh hưởng bởi "Giọt mưa thu" khi viết bản nhạc đầu tay "Ướt mi".
Về hoàn cảnh ra đời của "Giọt mưa thu", theo một bài viết[#endnote_] của nhạc sĩ Lê Hoàng Long: "Thế rồi, một hôm mưa rơi tầm tã, giọt mưa lộp bộp trên mái lá, thánh thót từng giọt xuống đường, Đặng Thế Phong buồn quá, con tim như thắt lại, máu trào lên để có được một nhạc hứng lai láng, tràn trề khiến ông gượng ngồi dậy viết một hơi điệu nhạc buồn da diết, não nề. Ông viết xong bèn đặt tên cho sáng tác mới ấy là Vạn cổ sầu. Chập tối ông Thọ về có thêm dăm người bạn đến thăm, Đặng Thế Phong ôm đàn hát cho mọi người nghe. Nét mặt của mọi người nín thở nghe, đều buồn như muốn khóc. Nghe xong, ai nấy đều khen bài hát thật hay, xoáy vào tim vào óc nhưng cái tên bài bi thảm quá, nên sửa lại thì hơn. Chính vì thế mà Đặng Thế Phong, đổi tên là Giọt mưa thu. Có lẽ đây là cái điềm báo trước, là lời di chúc tạ từ nên Đặng Thế Phong lấy mưa ngâu, mùa mưa là dòng nước mắt tuôn chảy lênh láng của Chức Nữ với Ngưu Lang để ví cuộc tình Phong - Tuyết cũng phải cùng chung số phận phũ phàng giống vậy chăng? Đến một ngày cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi lưỡi hái của tử thần, Đặng Thế Phong mới ngỏ ý trở về Nam Định để được chết tại quê nhà và muốn ông Thọ dìu ông về."
Phạm Duy viết trong hồi ký:[#endnote_] "Bùi Công Kỳ là người Nam Định, bạn thân của Đặng Thế Phong. Nó nói nó soạn lời ca cho bài Giọt mưa thu, một điều mà tôi vẫn chưa tin là đúng hoàn toàn, vì Đặng Thế Phong chết đã từ lâu, làm sao mà mình kiểm chứng được? Tôi rất yêu nó vì nó có một lối sống bất cần đờ"
Nhạc sĩ Phạm Duy.
Từ khu vườn nhỏ ra tới sông dài, sông rộng, bây giờ Đặng Thế Phong còn đi xa hơn nữa, đi tới cuối cuộc đời của mình qua một ca khúc mà mới đầu anh định đặt tên là "Vạn cổ sầu". Đó là bài "Giọt mưa thu":
"Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi"
"Trời lắng u sầu mây hắt hiu ngừng trôi"
"Nghe gió thoảng mơ hồ"
"Trong mưa thu ai khóc ai than hờ..."
Bây giờ mùa thu đối với anh là một sự chia ly, sự chết chóc. Dương thế trong mùa thu bao la sầu, gió xa xôi vẫn về, mưa giăng mù lê thê và lũ chim non chiêm chiếp kêu trên cành hay vợ chồng Ngâu sẽ mãi mãi khóc vì
"Vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành"
"Như nhủ trời xanh"
"Gió ngừng đi, mưa buồn chi"
"Cho cõi đời lâm ly"
"Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây"
"Lòng vắng muôn bề không liếp che, gió về"
"Ai nức nở thương, đời châu buông mau"
"Dương thế bao la sầu."
"Giọt mưa thu" nghe như bản "Nhạc sầu" trong thơ Huy Cận:
"Ai chết đó, nhạc buồn chi lắm thế"
"Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường"
"Từng tiếng lệ, ấy mộng sầu lá úa"
"Chim vui đâu, cây đã gãy vài cà"
Trong bài Giọt mưa thu, Đặng Thế Phong dung hợp cả hai âm giai thất cung Tây Phương và ngũ cung Việt Nam để nói lên cái hắt hiu, cái lâm ly, cái xa xôi của mùa thu ngoài đời và trong đời mình. Với "Giọt mưa thu", Đặng Thế Phong còn cho ta thấy sự chuyển thể khéo léo trong ca nhạc Việt Nam loại mới, xứng đáng là sự nối dài của nhạc cổ truyền. Lối hành âm từ giọng Mi mineur qua La majeur ở nhiều đoạn trong bài "Giọt mưa thu" chẳng khác chi lối chuyển thể trong loại hát bồng mạc, sa mạc nhưng phong phú hơn. Nếu nghiên cứu theo lối Tây Phương thì ca khúc được xây dựng trên mode dorien rất gần gũi với một dạng trong ngũ cung Á Đông. Âm vực của bài này rất rộng, nét nhạc đi từ nốt Si trầm lên tận Sol cao, cốt ý diễn tả cái sầu thiên cổ trong mùa thu, có mưa rơi không bao giờ ngừng.
Nhạc sĩ Trần Minh Phi.
...Phong cách sáng tác này được ông tiếp tục trong ca khúc "Giọt mưa thu". Nghĩa là thất cung kết hợp nhuần nhị với ngũ cung, nhưng trong bài này, ông viết có học thuật hơn khi ứng dụng kỹ thuật métabole (chuyển hệ) làm cho âm điệu bài hát trở nên nhiều màu sắc hơn. Bài này, hồi mới lớn cứ mỗi khi mưa, tôi lại bật máy cassette lên nghe, nhất là những đêm mưa nỉ non rơi không nhỏ không to, nghe hoài băng nhão khiến bài hát nghe càng…não nề, nghe mưa như thê thiết hơn.
|
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X
Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương khóa X gồm 160 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết.
Ban Chấp hành Trung ương khóa X gồm các Ủy viên chính thức và dự khuyết với nhiệm kỳ tới tháng 1/2011.
Các hội nghị Trung ương Đảng.
Hội nghị Trung ương Đảng là phiên họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương. Thành viên tham dự Hội nghị Trung ương gồm ủy viên chính thức và ủy viên dự khuyết.
Tổng Bí thư là chủ trì Hội nghị Trung ương, khi Tổng Bí thư vắng mặt sẽ ủy nhiệm thành viên chủ trì thay thế.
Đảng bộ trực thuộc Trung ương.
Các Đảng bộ được tình từ đại hội đảng bộ
Ủy viên Trung ương Dự khuyết.
"Chú thích: TUV = Tỉnh ủy viên/Thành ủy viên; TVTU = Thường vụ Tỉnh ủy/Thành ủy
|
Nguyễn Quý Đức (chữ Hán: 阮貴德, 1648 -1720), húy là Tộ (祚), tự Bản Nhân (体仁) hiệu Đường Hiên (堂軒); là nhà thơ, nhà giáo, nhà sử học, nhà chính trị Việt Nam thời Lê trung hưng
Thân thế và sự nghiệp.
Nguyễn Quý Đức sinh tại làng Thiên Mỗ, thuộc Thăng Long (tức làng Đại Mỗ, nay thuộc phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, cha ông đỗ sinh đồ, khi ông đỗ Thám hoa cha được ấm phong Đô đài Ngự sử Nguyễn Quý Cường.
Năm lên 8 tuổi, Nguyễn Quý Đức theo học với chú họ (tự là Đạo Thông, nguyên là Tri huyện), và nổi tiếng là "kỳ đồng" ngay từ thuở nhỏ.
Năm 15 tuổi (1663), ông đỗ Hương cống (cử nhân), được thụ chức Hàn lâm viện Hiệu thảo. Sau đó, ông theo học với Tiến sĩ họ Lê (người làng Tam Lộng, huyện Lôi Dương, Thanh Hóa).
Năm 22 tuổi (1670), ông đỗ khoa thi Hoành từ, được thăng làm Thị nội văn chức.
Năm 28 tuổi (1676), đời vua Lê Hy Tông, Nguyễn Quý Đức đỗ Đình nguyên Thám hoa. Khoa này không chấm đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn nên chỉ mình ông đứng tên trong bảng Tam Khôi. Sau đó, ông được thăng làm Hàn Lâm viện đãi chế.
Năm 1678, ông giữ chức giám thị trường thi Nghệ An.
Năm 1680, Nguyễn Quý Đức lĩnh chức Đốc đồng Cao Bằng. Ở đây, ông cùng quan Trấn thủ trấn ấy, phá được cuộc nổi dậy Phù Canh .
Năm 1681, cha từ trần, ông về quê cư tang trong 3 năm, từ năm Tân Dậu (1681) dến năm Giáp Tý (1684). Trở lại triều, ông được thăng làm Thiêm sai Bồi tụng, Lễ khoa cấp sự trung.
Năm 1686, ông được thăng làm Thiêm đô ngự sử (cố vấn và can gián vua).
Năm 1690, ông được cử làm Chánh sứ dẫn đầu đoàn sứ bộ sang tuế cống triều Thanh (Trung Quốc). Về nước, được thăng chức Lễ bộ Tả thị lang , tước Liêm Đường nam.
Năm 1694, thăng ông làm Tả thị lang bộ Lễ, tước Liêm Đường bá, rồi sung làm Bồi tụng trong phủ chúa Trịnh Căn.
Năm 1695, thăng ông làm Đô ngự sử.
Năm 1696, vì người thân ông nhận hối lộ, ông bị giáng làm Tả thị Lang bộ Binh, nhưng vẫn lo việc Bồi tụng .
Năm 1697, chúa Trịnh Căn sai ông cùng Lê Hy xem xét và sửa chữa bộ sử cũ, rồi viết tiếp bộ "Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên", bao gồm lịch sử 13 năm từ đời vua Lê Huyền Tông (1663-1671) đến đời vua Lê Gia Tông (1672-1675).
Năm 1698, đổi ông làm Tả thị lang bộ Lại.
Năm 1703, chúa Trịnh Căn lập Trịnh Cương làm Thái tử theo lời khuyên của Nguyễn Quý Đức.
Năm 1708, thăng ông làm Thượng thư bộ Binh, rồi làm Tham tụng (tương đương chức Tể tướng).
Năm 1709, chúa Trịnh Căn mất. Trước khi mất, chúa giao cho ông làm cố mệnh, để giúp Trịnh Cương lên nối ngôi chúa. Sau đó, ông đổi sang giữ chức Thượng thư bộ Hộ, thăng Thiếu bảo, tước Liêm Đường hầu, kiêm Đông các Đại học sĩ, gia phong Tá lý công thần.
Năm Giáp Ngọ (1714), Nguyễn Quý Đức được thăng làm Thiếu phó.
Năm 1716, ngày 10 tháng 7, Nguyễn Quý Đức dâng tờ khải xin và được chấp thuận việc lập bia Tiến sĩ (21 bia) tại nhà Thái học (tức Văn Miếu-Quốc Tử Giám ở Hà Nội ngày nay) từ các khoa Bính Thân (1656) cho đến khoa Ất Mão (1715), và việc dựng bia được tiến hành vào năm sau (1717). Ngoài việc này, trong thời gian kiêm lĩnh chức Tri Quốc Tử Giám , ông còn lo trùng tu, xây dựng thêm các công trình ở đây như dựng điện Đại Thành, trang trí cho nhà Thái họ
Tháng 10 năm đó (1717), ông dâng thư xin trí sĩ mấy lần mới được chúa Trịnh Cương ưng cho. Trước khi về quê, ông được gia phong Thái phó Quốc lão, vẫn được tham dự chính sự, được chúa ban 2 bài thơ tiễn, lại cấp cho xe ngựa và ruộng lộc (lộc điền).
Nguyễn Quý Đức về trí sĩ tại quê nhà là làng Thiên Mỗ. Thường ngày, ông dạo chơi quanh vùng, dựng đình Lạc Thọ để có chỗ họp bạn xướng họa thơ văn. Cuối năm Kỷ Hợi (1719), chúa Trịnh Giang nhân lên chơi Sài Sơn, có ghé ông thăm và mời ông cùng đi .
Danh thần Nguyễn Quý Đức mất vào tháng 5 năm Canh Tý (1720), thọ 72 tuổi , được truy tặng là Thái tể, ban tên thụy là "Trịnh Mục". Sau lại truy tặng ông là Đại tư không, sắc phong làm Cung thần tuấn đạt định sách Đại vương, và được dân làng thờ làm Phúc thần thưởng đẳng.
Ngoài ra, ông còn đề tựa sách "Việt sử thông khảo" và cùng với Lê Hy soạn tiếp bộ "Đại Việt sử ký bản kỉ tục biên". Ông có đến 72 bài thơ được chép trong "Toàn Việt thi lục" do Lê Quý Đôn biên tập .
Đánh giá và ghi công.
Sách "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú chép về Nguyễn Quý Đức như sau:
"Ông đã làm tể tướng 10 năm, về chính sự chuộng khoan hậ, tha cho người trốn tránh và thiếu thuế, bớt tạp dịch, giúp nhà nông; dân được nhờ ơ, trầm tĩnh. Ngày thường, thù tiếp ai thì dễ dàng, vui vẻ. Khi bàn luận trước mặt chúa, việc gì chưa thỏa đáng, ông cố giữ ý kiến mình (rồi) bàn ba bốn lần, không ai ngăn được. Ông làm văn không cần trau chuốt mà ý sâu. Triều đình có chế tác gì lớn phần nhiều do tay ông (thảo). Bàn đến ông, ai cũng
Đánh giá khái quát sự nghiệp của ông, trong "Từ điển bách khoa Việt Nam", mục từ "Nguyễn Quý Đức", có đoạn:
"Nguyễn Quý Đức là "bề tôi xã tắc" nổi tiếng nhân đức, khoan hậu: "Tể tướng Quý Đức, thiên hạ yên vui"; là bậc thầy đạo cao đức trọng, dạy ở trường Quốc Tử Giám, đào tạo hàng nghìn học trò; là nhà sử học nghiêm túc, luận bàn xác đáng, khen chê minh bạch. Tham gia biên soạn "Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên", đề tựa "Việt sử thông khảo", sao lục "Quần hiền phú tập", soạn bia tiến sĩ và phụ trách tu tạo Quốc Tử Giám. Tác giả "Thi châu tập", "Hoa trình thi tập" và nhiều bài thơ chữ Hán, chữ Nôm. Thơ Nguyễn Quý Đức mực thước, bình dị, tình cảm khoan hoà, hồn hậu, không dụng công trau chuốt mà ý tứ vẫn sâu .
Hiện nay ở làng Đại Mỗ có từ đường thờ Nguyễn Quý Đức. Nơi ấy, còn lưu giữ được tấm bia ca ngợi công đức của ông do Bảng nhãn Hà Tông Huân soạn. Tên ông cũng được đặt cho một con đường tại quận Thanh Xuân, Hà Nội.
|
Hà Tông Huân (何宗勳, 1697-1766) là đại thần nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.
Hà Tông Huân người xã Kim Vực, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, nay là xã Yên Thịnh huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa.
Năm 1724 đời Lê Dụ Tông, ông đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh (bảng nhãn) khoa thi đình. Vì khoa thi này không có trạng nguyên và thám hoa, nên ông đỗ thủ khoa (đình nguyên bảng nhãn). Người đương thời vẫn quen gọi ông là ông Bảng Vàng, tức là bảng nhãn làng Vàng.
Hà Tông Huân được làm Thị thư viện Hàn lâm, sau đó ra Đốc đồng Sơn Nam, kế đó ra trấn thủ An Quảng. Hà Tông Huân giỏi giải quyết việc biên cương khiến người Trung Quốc phải khuất phục.
Đầu thời Lê Hiển Tông (1740-1786), Hà Tông Huân được phong làm Tả thị lang bộ Hộ, ít lâu sau làm Phỏng sát sứ ở Tây đạo và Nam đạo.
Năm 1745, chúa Trịnh Doanh cho Hà Tông Huân vào nội các, hỏi việc cơ yếu. Trịnh Doanh nghe ý kiến của ông xong rất vừa ý, bèn cho làm Tham tụng trong phủ chúa, tước Kim Khê bá.
Ít lâu sau đó, Hà Tông Huân lại đổi sang ban võ quan, lĩnh chức Tham đốc nhưng vẫn đồng thời làm Tham tụng. Khi ông trấn thủ Thanh Hóa, có quân nổi dậy chống triều đình. Hà Tông Huân mang quân đi dẹp, nhờ quân đội nghiêm chỉnh nên nhanh chóng dẹp yên quân nổi dậy. Nhờ công lao này, ông được phong làm Thượng thư bộ Binh, vào triều làm Tham tụng, kiêm việc ở Quốc Tử Giám, tước Huy Xuyên hầu.
Năm 1760, tình hình Đàng Ngoài tương đối yên ổn. Ông đã 64 tuổi, xin về hưu, được gia thăng hàm Thiếu bảo, tước Huy quận công.
Khi đã nghỉ hưu, ông làm nhà bên sông và chiều chiều ra uống rượu, sống hòa mình với nhân dân trong vùng. Ít lâu sau Trịnh Doanh lại mời ông ra làm Ngũ lão cố vấn.
Ông mất tháng Giêng năm Cảnh Hưng thứ 27 (1766), thọ 70 tuổi. Sau khi ông mất nhân dân lập đền thờ ông. Có đôi câu đối của người xưa ca tụng tài đức của ông:
""Sự nghiệp tam khôi thần báo trước"
""Văn chương bậc nhất được vua khen".
Học trò của ông đỗ đạt rất nhiều, khi ông nghỉ hưu đã có nhiều người thăng lên tướng phủ.
Sử gia Phan Huy Chú nhận định về ông như sau:
"Ông bụng dạ thản nhiên, rộng rãi, không câu nệ nhỏ nhặt. Khi thi thố những việc to tát, việc gì cũng xong. Ở triều hơn 30 năm, trải làm tướng văn, tướng võ, công danh hiển hách. Lại thích tác thành người hậu tiến, học trò của ông đỗ đạt rất nhiều."
|
Vì nhân dân quên mình
Vì nhân dân quên mình là một hành khúc do nhạc sĩ nghiệp dư Doãn Quang Khải sáng tác vào tháng 5 năm 1951 có nội dung ca ngợi quan hệ gắn bó giữa quân đội với nhân dân và sự tin yêu của nhân dân với quân đội. Bài hát được giải thưởng của Hội văn nghệ Việt Nam. Đây là bài hát truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, được sử dụng làm nhạc hiệu cho các chương trình phát thanh quân đội nhân dân và truyền hình quân đội nhân dân.
Nhạc sĩ Doãn Quang Khải (1925–2007), từng học tại Trường Sĩ quan lục quân. Khi đó, ông giữ chức tiểu đội trường, từng vượt qua các chiến trường Lào, Bình Trị Thiên. Năm 1951, ông tham gia một cuộc thi sáng tác văn nghệ do trường phát động. Đọc báo của quân đội, ông chú ý khẩu hiệu ở trang nhất "Vì nhân dân phục vụ". Hình ảnh ông cùng đồng đội trong đoàn quân Tây Tiến vượt rừng vượt núi, phải trải qua sự đói khát, sốt rét rừng khiến cho nhiều người đã qua đời đã làm nên hình tượng để ông sáng tác. Ngay đêm hôm đó, với chiếc kèn Harmonica và chỉ với ba giờ đồng hồ, ông sáng tác xong ca khúc. Ngày hôm sau, dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ, toàn thể học viên đã hát bài này trước trường, sau đó bài hát được đăng lên báo tường. Cũng trong lần tới thăm trường, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát phát hiện ca khúc, mang về chỉnh sửa, hoàn thiện để phổ biến trong toàn quân. Bài hát đoạt giải Nhì trong cuộc thi Văn học - Nghệ thuật toàn quốc khoảng năm 1952 và 1953.
Vào thời điểm bài hát ra đời, bộ đội chủ lực của Việt Nam mang tên Vệ quốc quân đã được đổi thành Quân đội nhân dân, là một sự kiện quan trọng của chính trị và lịch sử Việt Nam, trở thành nguồn cảm hứng của Doãn Quang Khải với ý định viết một bài hát về Quân đội nhân dân để dăng lên báo tường để đồng đội cùng hát.
Bài hát được viết ở nhịp , giọng Đô trưởng cùng tốc độ vừa phải, mô phỏng "theo bước đi hùng tráng". Ca khúc này là một sáng tác tiêu biểu của ngôn ngữ âm nhạc hệ 7 cung trưởng – thứ. Trong những ca khúc viết về người chiến sĩ Việt Nam sau năm 1945, đây là lận đầu tiên mà từ tiêu đề đến nội dung ca từ, một bài hát đã thể hiện được nội dung truyền đạt là phẩm chất, ý chí và mục tiêu chiến đấu của chiến sĩ Việt Nam cùng mối quan hệ gắn bó với nhân dân Việt Nam. Bài hát này còn mang lại một vai trò lịch sử khác khi tuy là hình mẫu tiếp theo của phương thức sáng tác nghiệp dư đã có ở quốc gia này trong giai đoạn trước năm 1945 nhưng lại là sự mở đầu cho phong trào tự biên tự diễn trong phong trào văn nghệ quần chúng tại Việt Nam thời điểm này.
Sử dụng và vinh danh.
Dù báo "Quân đội Nhân dân" khẳng định ông có sáng tác thêm một số ca khúc sau này nhưng báo "Hànộimới" và VOV đều cho biết suốt cuộc đời binh nghiệp, Doãn Quang Khải chỉ có duy nhất "Vì nhân dân quên mình", cũng là ca khúc được chọn làm bài hát truyền thống của quân đội Nhân dân Việt Nam. Bài hát còn được sử dụng làm nhạc hiệu của Chương trình phát thanh và Chương trình truyền hình Quân đội nhân dân. Tên ông và bài hát này được ghi danh trong cuốn "Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam". Tuy vậy, sau khi ca khúc này được phổ biến trên báo chí và liên tiếp nhận được các giải thưởng, sau này chính Doãn Quang Khải mới được biết. Một chương trình giao lưu nghệ thuật nhân kỉ niệm 70 năm Ngày toàn quốc kháng chiến được tổ chức tại Trường Quân sự Quân khu 7, Thành phố Hồ Chí Minh vào tối ngày 19 tháng 12 năm 2016 cũng đã lấy tên bài hát làm nhan đề cho chương trình.
|
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.