legalslm
Collection
VLSP 2025 challenge - LegalSLM (https://vlsp.org.vn/vlsp2025/eval/legalslm) • 11 items • Updated
question stringlengths 299 1.44k | answer stringlengths 0 3.56k |
|---|---|
Gia đình ông Ninh có nuôi một đàn bò. Một đêm mưa, do cài then chuồng trại không chặt, gió thổi mạnh làm bật cửa, một con bò đã xổng chuồng chạy sang ruộng lúa của nhà bà Hương gần đó ăn gần hết. Sáng ra, bà Hương phát hiện con bò nhà ông Ninh đang nằm no kễnh bên ruộng lúa nhà mình nên đã giữ lại và yêu cầu ông Ninh phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do con bò gây ra. Tuy nhiên, ông Ninh chỉ chấp nhận đền bù cho bà một nửa, vì ông cho rằng ông không cố ý thả bò vào phá ruộng lúa mà là do bò xổng chuồng tự phá hoại.
Hỏi quan điểm của ông Ninh có đúng hay không? Ông Ninh phải bồi thường thiệt hại do con bò của mình gây ra như thế nào? | Trả lời:Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra như sau:
“1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
4. Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”.
Theo quy định trên thì “Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác”, theo đó, quan điểm của ông Ninh chỉ bồi thường một nửa thiệt hại cho bà Hương là không đúng mà ông phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do con bò gây ra cho bà Hương. |
Nhà ông An và nhà bà Lan có ruộng ở gần nhau. Ruộng nhà ông An ở phía cao hơn nhà bà Lan, mỗi lần có nước thủy lợi về ông An thường chặn dòng chảy lại, chỉ cho nước chảy vào ruộng nhà mình mà không cho chảy xuống ruộng nhà bà Lan. Thấy vậy, bà Lan đã đề nghị ông An phải để đường cho nước chảy xuống ruộng nhà mình nhưng ông An không đồng ý vì cho rằng ruộng nhà mình thì mình có quyền đắp bờ lại không cho nước chảy xuống ruộng nhà bà Lan.
Hỏi quan điểm của ông An đúng hay sai, ông An và bà Lan có trách nhiệm gì trong việc đáp ứng nước canh tác cho ruộng nhà bà Lan? | Trả lời:Quan điểm của ông An “Ruộng nhà mình thì mình có quyền đắp bờ lại không cho nước chảy xuống ruộng nhà bà Lan” là sai, vì:
Ðiều 253, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác như sau:“Người có quyền sử dụng đất canh tác khi có nhu cầu về tưới nước, tiêu nước, có quyền yêu cầu những người sử dụng đất xung quanh để cho mình một lối dẫn nước thích hợp, thuận tiện cho việc tưới, tiêu; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó; nếu người sử dụng lối dẫn nước gây thiệt hại cho người sử dụng đất xung quanh thì phải bồi thường”.
Theo quy định trên, ruộng nhà ông An ở phía cao hơn, ông An phải có trách nhiệm để đường dẫn nước xuống ruộng nhà bà Lan, ông An không được đắp bờ lại để ngăn dòng nước chảy xuống ruộng nhà bà Lan; đồng thời bà Lan trong quá trình sử dụng lối dẫn nước cũng không được làm ảnh hưởng đến quá trình canh tác của ông An. |
Khi phát hiện có con trâu lạc vào đàn trâu của nhà, ông Thành đã báo cho cán bộ xã biết để thông báo trên loa truyền thanh của xã, rồi đưa trâu về nhà nuôi. 02 tháng sau, ông Bình là chủ của con trâu bị thất lạc đã đến gặp ông Thành để xin lại con trâu. Ông Thành đồng ý trả lại trâu và đề nghị ông Bình phải thanh toán tiền công và các chi phí nuôi giữ con trâu trong hai tháng.
Hỏi ông Bình có được nhận lại con trâu không và có trách nhiệm thanh toán tiền công và các chi phí nuôi giữ trâu như thế nào? | Trả lời:Điều 231 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc như sau:
“1. Người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau 06 tháng, kể từ ngày thông báo công khai hoặc sau 01 năm đối với gia súc thả rông theo tập quán thì quyền sở hữu đối với gia súc và số gia súc được sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia súc.
2. Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia súc bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được gia súc. Trong thời gian nuôi giữ gia súc bị thất lạc, nếu gia súc có sinh con thì người bắt được gia súc được hưởng một nửa số gia súc sinh ra hoặc 50% giá trị số gia súc sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia súc”.
Theo quy định trên, người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau 06 tháng, kể từ ngày thông báo công khai hoặc sau 01 năm đối với gia súc thả rông theo tập quán thì quyền sở hữu đối với gia súc và số gia súc được sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia súc. Trong trường hợp này ông Thành mới nuôi giữ con trâu được 02 tháng nên chưa xác lập quyền sở hữu đối với con trâu, do đó ông Bình có quyền nhận lại con trâu.
Về thanh toán tiền công và các chi phí nuôi giữ trâu: Ông Bình có trách nhiệm thanh toán tiền công và các chi phí nuôi giữ con trâu trong 02 tháng cho ông Thành.
4. TÌNH HUỐNG SỐ 04:
Nhà ông Quân và nhà ông Dũng có đầm nuôi thủy sản ở sát nhau. Đầm nhà ông Quân chuyên nuôi tôm, đầm nhà ông Dũng chuyên nuôi cá, mọi người trong làng đều biết việc này, tuy nhiên, sau trận mưa rào, nước lụt, tôm từ đầm nhà ông Quân nhảy tràn sang đầm nhà ông Dũng. Ngay sau khi thấy đầm nhà mình tự dưng rất nhiều tôm, ông Quân đã cất vó, bắt tôm đem bán, ông Dũng biết chuyện đã yêu cầu ông Quân trả lại số tôm đã bắt. Ông Quân không đồng ý vì cho rằng “cá vào ao ai người đó hưởng”, “tôm ở ao ông thì ông bắt”.
Hỏi quan điểm của ông Quân đúng hay sai, ông Quân có quyền đòi lại số tôm đã nhảy sang ao nhà ông Dũng không?
Trả lời:
Điều 233 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước như sau: “Khi vật nuôi dưới nước của một người di chuyển tự nhiên vào ruộng, ao, hồ của người khác thì thuộc sở hữu của người có ruộng, ao, hồ đó. Trường hợp vật nuôi dưới nước có dấu hiệu riêng biệt để có thể xác định vật nuôi không thuộc sở hữu của mình thì người có ruộng, ao, hồ đó phải thông báo công khai để chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau 01 tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì quyền sở hữu vật nuôi dưới nước đó thuộc về người có ruộng, ao, hồ”.
Trong trường hợp này, đầm nhà ông Quân chuyên nuôi cá, đầm nhà ông Dũng ngay sát bên cạnh chuyên nuôi tôm (đầm của hai ông có vật nuôi có dấu hiệu riêng biệt), khi trời mưa to, tôm tràn vào đầm, là vật nuôi có dấu hiệu riêng biệt khác với vật nuôi trong đầm nhà mình, do đó ông Dũng cần phải biết số tôm đó không thuộc sở hữu của mình và phải thông báo để chủ sở hữu là ông Quân đến nhận lại tôm.
Ngay sau khi thấy đầm nhà mình tự dưng rất nhiều tôm, ông Dũng đã cất vó, bắt tôm đem bán với quan điểm “cá vào ao ai người đó hưởng”, “tôm ở ao ông thì ông bắt” là không đúng mà ông Dũng phải có trách nhiệm trả lại số tôm đã tràn vào đầm nhà mình và ông Quân có quyền đề nghị ông Dũng trả lại tôm cho mình cho mình. |
Nhà bà Thoa có nuôi đàn vịt Bơ. Tối hôm đó khi đuổi vịt vào chuồng bà thấy có 10 con vịt Bầu lạc vào cùng với đàn vịt nhà mình, thấy vậy, ngay sáng hôm sau bà đã đến nhà bác Trưởng thôn và đến Uỷ ban nhân dân xã thông báo về việc có đàn vịt lạc vào nhà bà và đề nghị Trưởng thôn, Uỷ ban nhân dân xã thông báo để ai có vịt mất thì đến nhận lại; bên cạnh đó bà cũng sang các nhà hàng xóm lân cận để thông báo xem ai bị mất thì đến nhận lại. Trong thời gian chưa có người nhận lại, bà Thoa đã nuôi vịt và đàn vịt đẻ được 50 quả trứng. 20 ngày sau bà Thanh ở xóm bên có đến nhà bà Thoa nói rằng đàn vịt Bầu của nhà bà đi ăn ở cánh đồng không may bị lạc vào nhà bà Thoa và có ý xin lại đàn vịt Bầu và số trứng vịt đẻ ra, bà Thoa nhất trí trả lại vịt nhưng không nhất trí trả lại trứng và yêu cầu bà Thanh thanh toán cho mình tiền mua cám cho vịt ăn trong 20 ngày.
Hỏi bà Thanh có quyền nhận lại vịt và trứng không và có trách nhiệm gì đối với việc chăm sóc vịt của bà Thoa? | Trả lời:Điều 232 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc như sau:
“1. Trường hợp gia cầm của một người bị thất lạc mà người khác bắt được thì người bắt được phải thông báo công khai để chủ sở hữu gia cầm biết mà nhận lại. Sau 01 tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì quyền sở hữu đối với gia cầm và hoa lợi do gia cầm sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia cầm.
2. Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia cầm bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và chi phí khác cho người bắt được gia cầm. Trong thời gian nuôi giữ gia cầm bị thất lạc, người bắt được gia cầm được hưởng hoa lợi do gia cầm sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia cầm”.
Trong trường hợp này, sau khi thấy có đàn vịt Bầu lạc đến nhà mình, bà Thoa đã thực hiện thông báo công khai để ai có vịt mất thì đến nhận lại, trong thời hạn 20 ngày, bà Thanh đã đến đề nghị nhận lại đàn vịt và số trứng vịt đẻ, theo quy định trên, bà Thanh có quyền nhận lại đàn vịt Bầu nhưng không có quyền đòi lại 50 quả trứng vịt đẻ trong thời gian bà Thoa chăm sóc; đồng thời bà Thanh có trách nhiệm thanh toán tiền mua cám cho vịt ăn trong 20 ngày theo yêu cầu của bà Thoa. |
Nhà ông Bình ở phía sau và cao hơn nhà ông Thắng, toàn bộ nước thải sinh hoạt nhà ông Bình để chảy trên mặt đất nhà mình và tràn sang phía sân nhà ông Thắng. Thấy vậy, ông Thắng đã đề nghị ông Bình phải làm rãnh thoát nước để nước chảy ra cống thoát nước ở ngoài đường. Ông Bình không nhất trí làm rãnh thoát nước và cho rằng nước thải ông đang để chảy trên đất nhà mình, theo dòng chảy, nước có chảy sang nhà mình thì ông Thắng phải chịu vì ông ở vị trí đất thấp hơn.
Hỏi quan điểm của ông Bình đúng hay sai, ông Bình có trách nhiệm gì trong việc thoát nước thải nhà mình? | Trả lời:Điều 251 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước thải, như sau:
“Chủ sở hữu nhà, công trình xây dựng khác phải làm cống ngầm hoặc rãnh thoát nước để đưa nước thải ra nơi quy định, sao cho nước thải không chảy tràn sang bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề, ra đường công cộng hoặc nơi sinh hoạt công cộng”.
Theo quy định trên, ông Binh có trách nhiệm phải làm cống ngầm hoặc rãnh thoát nước để đưa nước thải ra nơi quy định, sao cho nước thải không chảy tràn sang bất động sản của nhà ông Thắng, do đó quan điểm của ông Bình “Nước thải ông đang để chảy trên đất nhà mình, theo dòng chảy, nước có chảy sang nhà mình thì ông Thắng phải chịu vì ông ở vị trí đất thấp hơn” là không đúng. |
Nhà bà Thảo ở phía sau và cao hơn nhà ông Quang, do toàn bộ phía trước nhà bà Thảo đã bị bao bọc bởi đất nhà ông Quang nên nhà bà Thảo không có lối thoát nước thải của nhà ra cống thoát nước ở ngoài đường, bà Thảo đã đề nghị ông Quang cho đặt cống thoát nước ngầm qua đất nhà ông Quang để dẫn nước thải của nhà bà chảy ra cống thoát nước chung. Ông Quang không nhất trí và cho rằng bà Thảo không có quyền yêu cầu ông dành cho lối thoát nước qua đất nhà ông.
Hỏi bà Thảo có quyền yêu cầu ông Quang dành lối thoát nước qua đất nhà mình không; bà Thảo, ông Quang có trách nhiệm gì trong việc tạo đường thoát nước của nhà bà Thảo? | Trả lời:Điều 252 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền về cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề như sau:
“Trường hợp do vị trí tự nhiên của bất động sản mà việc cấp, thoát nước buộc phải qua một bất động sản khác thì chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua phải dành một lối cấp, thoát nước thích hợp, không được cản trở hoặc ngăn chặn dòng nước chảy.
Người sử dụng lối cấp, thoát nước phải hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua khi lắp đặt đường dẫn nước; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trường hợp nước tự nhiên chảy từ vị trí cao xuống vị trí thấp mà gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua thì người sử dụng lối cấp, thoát nước không phải bồi thường thiệt hại”.
Trong trường hợp này, nhà bà Thảo ở phía sau và cao hơn nhà ông Quang, phía trước nhà bà Thảo bị bao bọc bởi đất nhà ông Quang nên nhà bà Thảo không có lối thoát nước thải ra cống thoát nước ở ngoài đường, theo quy định trên, bà Thảo có quyền đề nghị ông Quang dành một lối thoát nước thích hợp ra cống thoát nước chung và ông Quang có trách nhiệm dành lối thoát nước theo đề nghị của bà Thảo.
Khi làm đường thoát nước qua đất nhà ông Quang thì bà Thảo phải hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho nhà ông Quang, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. |
Cháu Phương – 14 tuổi, do có mâu thuẫn với cháu Thành học cùng lớp nên sau khi tan học, trên đường về Phương đã tìm Thành để nói chuyện, lời qua, tiếng lại dẫn đến xô xát, Phương đã đánh Thành gây thương tích phải nhập viện để cấp cứu. Sau khi điều trị cho Thành xong, bố mẹ của Thành đã đề nghị bố mẹ của Phương thanh toán tiền viện phí và tiền thuốc điều trị. Bố mẹ của Phương không nhất trí thanh toán vì cho rằng lỗi là do Phương gây ra nên phải đề nghị Phương thanh toán, nếu Phương không có tiền thì đành phải chịu, bố mẹ Phương không có lỗi nên không phải bồi thường.
Hỏi bố mẹ của Thành có quyền đề nghị bố mẹ của Phương thanh toán tiền viện phí và tiền thuốc điều trị không? Trách nhiệm bồi trường trong trường hợp này được quy định như thế nào? | Trả lời:Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau:
“1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”.
Điều 599 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý như sau:
“1. Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
2. Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
3. Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường”.
Trong trường hợp này, Phương mới 14 tuổi, gây thương tích cho Thành trong khoảng thời gian sau khi tan học, theo quy định tại khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì bố mẹ của Phương có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại do Phương gây ra, theo đó bố mẹ của Thành có quyền đề nghị bố mẹ của Phương thanh toán toàn bộ tiền viện phí và tiền thuốc điều trị. Trong trường hợp tài sản của cha, mẹ Phương không đủ để bồi thường mà Phương có tài sản riêng thì lấy tài sản riêng của Phương để bồi thường phần còn thiếu. |
Nhà ông Đoàn có nuôi một con chó Becgie to, tối hôm đó ông Dũng sang nhà ông Đoàn chơi không may bị con chó nhà ông Đoàn cắn vào chân và phải đi tiêm phòng bệnh dại. Sau khi tiêm phòng xong, ông Dũng có đề nghị ông Đoàn bồi thường cho mình tiền tiêm phòng do bị chó nhà ông Đoàn cắn.
Hỏi ông Đoàn có trách nhiệm bồi thường cho ông Dũng không? Tại sao? | Trả lời:Ông Đoàn có trách nhiệm bồi thường cho ông Dũng, vì:
Khoản 1 Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra như sau: “Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Theo đó, ông Đoàn là chủ sở hữu con chó Becgie, gây thiệt hại cho ông Dũng thì ông Đoàn phải bồi thường thiệt hại do con chó gây ra. |
Nhà bà Hoa có căn nhà cũ xây dựng từ lâu, do đã xây dựng nhà mới nên bà để căn nhà cũ đó làm kho để đồ. Sau trận mưa to căn nhà đó đổ sập, toàn bộ căn nhà đổ sang nhà bà Lan làm nứt tường, vỡ cửa kính và một khoảnh rau nhà bà Lan. Bà Lan đã sang nhà bà Hoa đề nghị bồi thường thiệt hại do căn nhà bị sập của bà gây ra.
Hỏi bà Hoa có trách nhiệm bồi thường cho bà Lan không? Tại sao? | Trả lời:Bà Hoa có trách nhiệm bồi thường cho bà Lan, vì:
Điều 605 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra như sau:
“Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác.
Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường”.
Theo đó, bà Hoa là chủ sở hữu căn nhà bị sập gây thiệt hại cho bà Lan, do đó bà Hoa phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do căn nhà sập của mình gây ra cho bà Lan. |
Bố đẻ tôi dân tộc Kinh còn mẹ tôi dân tộc Dao. Khi sinh tôi, được sự đồng ý của bố, mẹ tôi đã đi khai sinh cho tôi theo dân tộc của mẹ. Nay bố mẹ tôi đã ly hôn, tôi ở với bố, nên bố tôi muốn tôi sửa lại theo dân tộc Kinh của bố. Xin hỏi trong trường hợp này, tôi có quyền thay đổi dân tộc của mình không? | Điều 29 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền xác định, xác định lại dân tộc như sau: |
Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thoả thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn. | Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em. |
Chị M kết hôn với anh H được 10 năm nay. Do chịu nhiều áp lực từ công việc, cuộc sống và gia đình, đặc biệt là sau khi con gái chị bị tại nạn qua đời, chị M đã phát bệnh tâm thần. Biết chị M bị bệnh, gia đình anh H đã xua đuổi nên bố mẹ đẻ chị M đã đón chị về ở. Xin hỏi, trách nhiệm phải nuôi dưỡng chị M trong trường hợp này thuộc về ai? | Trả lời:
Thứ nhất, theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự 2015 thì: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.” Như vậy, chị M bị coi là mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự khi và chỉ khi có quyết định của Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Thứ hai, về việc xác định người có trách nhiệm trông nom, nuôi dưỡng người bị mất năng lực hành vi dân sự. Chị M bị bệnh tâm thần sau khi đã kết hôn. Vì vậy, việc xác định người giám hộ trong trường hợp này cần phải căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự. Điều 53 Bộ luật dân sự 2015 quy định về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự như sau:
Trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau: |
Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khoẻ của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. | Như vậy, gia đình bạn có quyền yêu cầu người chủ của con trâu đã húc dì của bạn phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định trên. |
Gia đình tôi chuyển về nhà mới ở từ cuối tháng 8/2017 đến nay. Giữa tháng 8/2017, nhà sát bên phải tiến hành xây dựng nhà, đến nay gần hoàn thiện thì bên nhà tôi xuất hiện vết nứt ngang, phía tường bên nhà đang xây lún dần và hiện tượng này tiếp tục xảy ra. Khi gặp chủ nhà kế bên thì họ gợi ý sẽ sơn đắp lại vị trí vết nứt, còn hiện tượng lún thì họ nói do nhà tôi xây chất lượng kém nên phải chịu. Vậy tôi cần phải làm gì trong trường hợp của mình? Khi nhà họ đã xây xong rồi thì tôi còn có quyền yêu cầu bồi thường nữa không? | Theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị quy định như sau: |
Tôi năm nay 19 tuổi và hiện đang học nghề tại một tiệm sửa chữa xe máy do ông Gh làm chủ. Ba ngày trước, tôi được giao sửa một chiếc xe của khách, sau khi sửa xong thấy khách chưa đến lấy nên tôi lấy xe của khách chạy đi công việc cá nhân. Do bất cẩn, tôi đã tông xe vào ông Ng làm cả hai xe máy đều bị hư hỏng, về người thì không bị thiệt hại gì. Sau đó, ông Ng và khách hàng sửa xe đều yêu cầu tôi bồi thường thiệt hại. Xin hỏi họ yêu cầu như vậy có đúng theo quy định của pháp luật không? | Điều 600 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra như sau:
Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các quy định trên, thì quyền yêu cầu bồi thường và trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hư hỏng của chiếc xe khách hàng và xe của ông Ng như sau:
Thứ nhất, đối với thiệt hại gây ra cho xe của ông Ng - người bị bạn tông vào, do bạn tự ý lấy xe của khách đi mà không được sự đồng ý của chủ tiệm và gây ra thiệt hại, tức là thiệt hại gây ra không phải khi đang thực hiện công việc được chủ giao mà hoàn toàn do lỗi của bạn vì bạn đã chiếm hữu, sử dụng chiếc xe đó trái pháp luật. Do vậy, ông Ng có quyền yêu cầu và bạn có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho ông Ng.
Thứ hai, đối với thiệt hại gây ra chiếc xe máy do khách hàng giao cho tiệm ông Gh sửa chữa thì ông Gh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng. Bởi vì ông Gh với tư cách là chủ tiệm có nghĩa vụ trông giữ, bảo quản khi thực hiện việc nhận sửa xe. Nếu ông Gh có yêu cầu thì bạn phải có trách nhiệm hoàn trả cho ông Gh một khoản tiền theo quy định vì trong trường hợp này bạn đã có lỗi tự ý lấy xe đi và bất cẩn gây tai nạn. |
Trưa ngày 10/11/2017 tôi đang lái xe ô tô đi đúng phần đường, làn đường và tốc độ theo quy định thì có một người đàn ông khoảng 40 tuổi chạy sang đường, do không để ý nên anh ta đã bị va vào sườn xe, phải đưa đi viện cấp cứu. Hiện người đàn ông này đã qua cơn nguy kịch và ăn uống bình thường. Nay, gia đình người đàn ông này đòi tôi phải bồi thường toàn bộ chi phí chữa bệnh và khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho anh ta. Xin hỏi yêu cầu của gia đình họ có đúng không? | Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra như sau: |
Ngay sau khi có con bò cái đang chửa lạc vào nhà mình, ông A đã báo ngay cho Ủy ban nhân dân xã để thông báo công khai về sự việc. Tuy nhiên, phải gần 05 tháng sau, ông H ở huyện bên mới biết và đến đề nghị ông A cho nhận lại bò của mình. Hỏi, con bò và con bê được đẻ ra trong thời gian này sẽ thuộc sở hữu của ông A hay ông B? | Trả lời:
Theo Điều 231 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc, thì người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau 06 tháng, kể từ ngày thông báo công khai hoặc sau 01 năm đối với gia súc thả rông theo tập quán thì quyền sở hữu đối với gia súc và số gia súc được sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia súc.
Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia súc bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được gia súc. Trong thời gian nuôi giữ gia súc bị thất lạc, nếu gia súc có sinh con thì người bắt được gia súc được hưởng một nửa số gia súc sinh ra hoặc 50% giá trị số gia súc sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia súc.
Như vậy, trong trường hợp trên, sau gần 05 thángkể từ ngày bắt được con bò cái có chửa bị thất lạc và trong thời gian ông A nuôi dưỡng con bò đã đẻ ra con bê thì quyền sở hữu đối với con bò và con bê vẫn thuộc về ông H.
Khi nhận lại bò cái và bê con, ông H có nghĩa vụ thanh toán cho ông A tiền công nuôi giữ và các chi phí khác phát sinh trong quá trình ông A nuôi giữ bò lạc. Ông A sẽ được hưởng 50% giá trị của con bê. |
Để tránh cho đám cháy lan rộng ra các nhà xung quanh gây thiệt hại lớn, anh A và mọi người có mặt tại hiện trường, nhưng không có anh B đã quyết định phá căn bếp nhà anh B để lấy lối vào chữa cháy. Trong trường hợp này việc phá bếp nhà anh B của anh A và những người có mặt lúc đó có được coi là tình thế cấp thiết không? Anh B có quyền yêu cầu những người này bồi thường thiệt hại không? | Trả lời:
Theo quy định tại Điều 171 Bộ luật dân sự năm 2015, thì tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn.
Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản bị thiệt hại trong tình thế cấp thiết được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 595 của Bộ luật dân sự.
Đối chiếu với trường hợp này, anh A và những người có mặt lúc đám cháy xảy ra vì muốn tránh nguy cơ lửa cháy lan sang nhiều nhà khác, gây thiệt hại lớn đến các nhà xung quanh mà không có cách nào khác phải phá căn bếp anh B để lấy lối vào chữa cháy. Sự việc xảy ra trong hoàn cảnh bất khả kháng, ngoài ý muốn của anh A và mọi người. Tuy bếp nhà anh B đã bị thiệt hại nhưng nếu anh A và mọi người không phá bếp nhà anh B, ngọn lửa sẽ cháy lan sang các căn nhà khác và khi đó sẽ rất nhiều căn nhà bị cháy, thiệt hại chắc chắn sẽ lớn hơn rất nhiều so với việc bếp nhà anh B bị phá.
Do vậy, việc phá bếp nhà B của anh A và mọi người trong trường hợp này được coi là tình thế cấp thiết nên anh A và những người tham gia phá bếp không có lỗi và không phải bồi thường thiệt hại cho anh B. Tuy nhiên, anh B có thể yêu cầu người đã gây ra đám cháy nêu trên phải bồi thường thiệt hại (khoản 2 Điều 595 Bộ luật dân sự năm 2015). |
Gia đình anh A có nghề nấu rượu. Để tận dụng bã rượu bỏ ra, gia đình anh A nuôi 15 lợn nhưng không xây dựng hệ thống xử lý phân và nước thải từ chuồng mà xả trực tiếp ra đường cống thoát nước phía sau nhà khiến các nhà xung quanh phải hít thở mùi hôi rất khó chịu. Hàng xóm đã nhiều lần góp ý nhưng gia đình anh A vẫn tiếp tục có hành vi xả trực tiếp nước thải và phân lợn ra đường cống thoát nước. Hỏi, hành vi của gia đình anh A có vi phạm pháp luật không? | Trả lời:
Theo Điều 172 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường thì khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tuân theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; nếu làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại.
Trong trường hợp này, hành vi xả trực tiếp nước thải và phân lợn ra đường cống thoát nước của gia đình anh A là nguyên nhân chính, trực tiếp gây ô nhiễm không khí của các hộ dân sống xung quanh, làm ảnh đến sức khỏe của người dân. Do vậy, gia đình anh A phải chấm dứt hành vi này, đồng thời, phải thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại cho khu dân cư (nạo vét lại đường cống thoát nước, xây dựng hệ thống thu gom và xử lý phân, nước thải theo công nghệ hầm Biogas…). Tùy theo tính chất và mức độ của hành vi vi phạm, anh A còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. |
Anh A và anh B có mua hai mảnh đất ở cạnh nhau. Năm 2010, để tiết kiệm diện tích, chi phí nên khi xây nhà, hai anh thống nhất xây chung vách tường ở giữa 2 căn nhà (mỗi bên ½ chiều dày của bức tường). Vừa qua, anh B đã xây thêm 01 tầng nữa nhưng lại xây chồng và lấn lên toàn bộ vách tường chung. Hỏi hành vi đó của anh B có vi phạm pháp luật không? | Trả lời:
Theo quy định tại Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015 thì không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng; mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung. Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.
Đồng thời, cũng theo quy định tại Điều 176 Bộ luật dân sự năm 2015 thì đối với mốc giới là tường nhà chung, chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ, lỗ thông khí hoặc đục tường để đặt kết cấu xây dựng, trừ trường hợp được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý. Trường hợp nhà xây riêng biệt nhưng tường sát liền nhau thì chủ sở hữu cũng chỉ được đục tường, đặt kết cấu xây dựng đến giới hạn ngăn cách tường của mình.
Do vậy, trong trường hợp này, anh B đã có hành vi xây lấn mốc giới ngăn cách giữa 2 căn nhà (xây lấn cả vách tường chung) nên đã vi phạm nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản. |
Ông A ủy quyền cho ông B quản lý căn hộ tập thể của mình trong thời gian ông Ađi thăm một người bạn thân ở nước ngoài. Nhưng đã hơn 20 năm nay, ông B không nhận được tin tức của ông A. Hỏi, theo quy định của pháp luật về quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản thì ông B có thể trở thành chủ sở hữu đối với căn hộ tập thể đó không? | Theo quy định tại Điều 187 Bộ luật dân sự năm 2015 thì khi chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản cho người khác thì người được ủy quyền thực hiện quyền chiếm hữu tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định. Tuy nhiên, người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao theo quy định về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật tại Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015.
Như vậy, mặc dù ông B đã quản lý căn hộ tập thể của ông A hơn 20 năm nhưng theo quy định của pháp luật ông B là người đã được ông A uỷ quyền quản lý nên ông B không thể trở thành chủ sở hữu đối với căn hộ tập thể đó. |
Để thuận lợi trong việc đi lại làm việc cũng như mỗi khi về quê thăm họ hàng đôi bên nội ngoại, vợ chồng anh A, chị B quyết định mua một chiếc xe ô tô và để anh A đứng tên. Một thời gian sau, anh A muốn góp vốn làm ăn chung với một người bạn nhưng chị B không đồng ý. Cho rằng mình là người đứng tên sở hữu xe, nên sẽ có mọi quyền quyết định đối với chiếc xe. Hỏi quan điểm của anh A có đúng không? Pháp luật quy định như thế nào về sở hữu chung của vợ chồng? | Trả lời:
Điều 213 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về sở hữu chung của vợ chồng như sau:
- Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.
- Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
- Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
- Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.
Theo đó, trong trường hợp này, mặc dù anh A, chị B thỏa thuận cho anh A đứng tên sở hữu chiếc xe ô tô, nhưng đây vẫn được xác định là tài sản thuộc sở hữu chung của anh chị, do hai vợ chồng cùng nhau tạo dựng lên. Vì vậy, nếu muốn bán chiếc xe này, anh A cần phải thống nhất thỏa thuận với chị B. |
Trong quá trình phá bỏ bụi tre sau nhà, ông H đã đào được 01 chiếc hộp gỗ, trong đó có một số tiền xu bằng vàng, bạc. Ông H định đi báo UBND xã về sự việc nhưng các con ông ngăn lại và cho rằng tài sản tìm thấy trên đất cha ông tổ nghiệp để lại nên đương nhiên thuộc sở hữu của gia đình ông. Hỏi, pháp luật quy định như thế nào về quyền sở hữu đối với tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp? | Trả lời:
Theo quy định tại Điều 229 Bộ luật dân sự năm 2015 về xác lập quyền sở hữu đối với tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy, thì người phát hiện tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phải thông báo hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu không biết ai là chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.
Tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc không xác định được ai là chủ sở hữu thì sau khi trừ chi phí tìm kiếm, bảo quản, quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
- Nếu tài sản được tìm thấy là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì thuộc về Nhà nước; người tìm thấy tài sản đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật;
- Nếu tài sản được tìm thấy không phải là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa mà có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì thuộc sở hữu của người tìm thấy; nếu tài sản tìm thấy có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người tìm thấy được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước.
Theo đó,việc xác định ai là chủ sở hữu đối với số tiền xu bằng vàng, bạc đào được sẽ căn cứ vào quy định trên của pháp luật.
Mặc dù số tiền xu bằng vàng, bạc được phát hiện trên mảnh đất do cha ông tổ nghiệp từ trước để lại nhưng nếu không chứng minh được số tài sản được tìm thấy là của cha ông ông H cất giấu thì nó vẫn là tài sản thuộc trường hợp không xác định được chủ sở hữu. Do đó, khi đào được số tiền xu bằng vàng, bạc như nêu trên, ông H có trách nhiệm thông báo cho UBND cấp xã hoặc cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật. Nếu số tiền xu bằng vàng, bạc tìm thấy có giá trị đến 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì sẽ thuộc sở hữu của người đã tìm ra là ông H. Nếu số tiền xu bằng vàng, bạc có giá trị lớn hơn 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì ông H chỉ được hưởng giá trị bằng mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, số tiền xu bằng vàng, bạc còn lại thuộc về Nhà nước. |
Trên đường đi làm về, chị M nhặt được chiếc đồng hồ đeo tay nam có giá khoảng 10 triệu đồng. Chị M đã liên hệ với công an phường nơi nhặt được chiếc đồng hồ để thông báo cho người bị mất biết đến nhận, đồng thời mang đồng hồ về nhà. Hơn một năm sau không có ai đến nhận nên chị M muốn cho bố mình sử dụng thì có được không? | Trả lời:
Điều 230 BLDS 2015 quy định về xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên như sau:
“1. Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu. |
Nhà anh H nuôi một đàn vịt có 100 con. Một hôm lùa đàn vịt về, anh đếm vịt thấy tăng lên 10 con. Anh H biết có vịt lạ lạc vào đàn vịt của mình, nhưng không thông báo cho các gia đình gần đó cũng như báo với chính quyền biết, mà anh mặc nhiên cho đó là vịt nhà mình. Hỏi, trong trường hợp trên, anh H có thể tự xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc như vậy không? | Trả lời:
Căn cứ Điều 232 Bộ luật dân sự năm 2015 về xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc, trường hợp anh H bắt được gia cầm của người khác bị thất lạc thì anh H phải thông báo công khai đến các hộ dân lân cận và chính quyền cơ sở để thông báo trên các phương tiện đại chúng nhằm giúp chủ sở hữu gia cầm biết mà nhận lại. Sau 01 tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì quyền sở hữu đối với gia cầm và hoa lợi do gia cầm sinh ra trong thời gian nuôi giữ mới thuộc về anh H.
Do vậy, việc anh H ngay khi bắt được 10 con vịt bị lạc đã tự cho là thuộc quyền sở hữu của mình là không đúng pháp luật. |
Ông Hải có 5 người con. Vì thương con gái út (chị Hồng) nhất nhà nên ông Hải đã tặng cho chị căn nhà đứng tên ông. Sợ các con trai trong nhà biết chuyện sẽ lời qua tiếng lại, ông Hải đã giả làm hợp đồng mua bán nhà với con gái út, có sự làm chứng của một người họ hàng. Một thời gian sau, anh Hanh – con trai cả của ông Hải biết chuyện đã tỏ ra không hài lòng về việc mình không có được căn nhà. Anh Hanh muốn hỏi, trong trường hợp này, hợp đồng mua bán giữa bố anh và chị Hồng có hiệu lực pháp luật không? Anh Hanh có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự này là vô hiệu không? | Trả lời :
Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015 thì khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.
Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.
Ở đây, ông Hải và chị Hồng đã giao kết với nhau một hợp đồng thực tế đáp ứng nguyện vọng cũng như mục đích của các bên khi thiết lập giao dịch hợp đồng tặng cho căn nhà. Tuy nhiên do lo sợ đến mối quan hệ của các con sẽ bất hòa nên ông Hải lại cùng con mình thiết lập một hợp đồng là mua bán căn nhà với giá thấp để người khác hiểu sai về bản chất sự việc. Do vậy hợp đồng tặng cho nhà của ông Hải và chị Hồng đã bị che giấu, nằm sau một giao dịch không có thật là mua bán nhà. Pháp luật quy định, ý chí đích thực bên trong phải thống nhất với ý chí bên ngoài thì mới đảm bảo yếu tố tự nguyện của các chủ thể trong giao dịch. Vậy tại thời điểm ký kết hợp đồng mua bán nhà các bên đã có ý định che giấu giao dịch đích thực là tặng cho căn nhà, trường hợp này được xem là giao dịch giả tạo liên quan đến hợp đồng.
Do đó, anh Hanh có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu bất kỳ lúc nào sau thời gian hai bên thiết lập giao dịch. |
Nam mới 15 tuổi nhưng đã a dua chơi bời theo đám bạn xấu. Một lần, vì bố mẹ không cho tiền mua điện thoại mới, Nam đã tự ý bán cho anh An chiếc máy tính xách tay của bố mẹ và nhận 5 triệu đồng. Nam đang định mang số tiền đó đi mua điện thoại mới thì bị bố mẹ phát hiện. Bố mẹ Nam muốn đem 5 triệu đến trả anh An và mang máy tính về nhưng An không đồng ý. Bố mẹ Nam muốn đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch giữa Nam và anh An là vô hiệu thì có đúng không? | Trả lời:
Do Nam mới 15 tuổi, nên theo Điều 20 Bộ luật dân sự 2015, Nam được xác định là người chưa thành niên.
Căn cứ Khoản 1 Điều 125 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”.
Do vậy, trong trường hợp này, bố mẹ Nam là người đại diện theo pháp luật của Nam. Việc Nam bán chiếc máy tính cho anh An mà không có sự đồng ý của bố mẹ là trái với quy định của pháp luật. Bố mẹ Nam có thể yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch đó là vô hiệu. |
Tôi và anh K có ký hợp đồng thỏa thuận với nhau về việc anh K bán cho tôi chiếc xe máy cũ hiệu Honda Lead của anh với giá 25 triệu đồng, anh K sẽ giao đầy đủ giấy tờ và xe cho tôi sau khi tôi trả đủ tiền. Hợp đồng đã được công chứng theo quy định. Do anh K chưa đưa giấy tờ xe nên tôi mới đưa anh 20 triệu đồng và nhận xe, hẹn anh 1 tuần nữa lấy giấy tờ và trả nốt số tiền còn lại. Tuy nhiên, khi tôi mang số tiền còn lại đến trả anh K thì biết được, anh K đã làm giả giấy tờ xe để bán cho tôi. Tôi quyết định trao đổi với anh K về việc tôi không muốn mua xe của anh nữa và muốn lấy lại số tiền 20 triệu đồng tôi đã đưa nhưng anh K không đồng ý và nói chỉ chấp nhận chấm dứt hợp đồng khi tôi phạt đền cho anh ấy 10 triệu đồng. Vậy xin hỏi, hiệu lực hợp đồng mua bán giữa tôi và anh K được xác định như thế nào? Tôi phải làm gì để chấm dứt hợp đồng và lấy lại số tiền đã đưa. | Trả lời:
Do anh K ý thức được việc mình không có giấy tờ xe máy và biển số xe là giả mạo nhưng lại nói dối là có đầy đủ giấy tờ xe để bán cho bạn, như vậy, chính vì vậy, trong trường hợp này, giao dịch mua bán xe máy giữa bạn và anh K bị vô hiệu do bị lừa dối, căn cứ theo quy định tại Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015.
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Do đó, hợp đồng mua bán xe máy không làm phát sinh trách nhiệm giữa các bên, căn cứ theo quy định tại điều 132 Bộ luật dân sự năm 2015. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.
Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.
Như vậy, việc anh K không trả lại số tiền bạn đã đưa và yêu cầu phạt bạn 10 triệu đồng vì không thực hiện hợp đồng là không có căn cứ, bởi lẽ hợp đồng này đã bị vô hiệu. Chính vì vậy, để bảo vệ quyền lợi cho mình bạn nên gửi đơn ra tòa án yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán này là vô hiệu. Các bên có trách nhiệm hoàn trả lại hiện trạng ban đầu cho nhau. |
Bà Xuân đã 55 tuổi, vẫn còn chồng và hai con gái. Ngoài tài sản chung của vợ chồng, bà còn được bố mẹ cho một mảnh đất ở quê. Do mấy năm nay bà hay bị ốm nên bà sợ mình sống không được bao lâu. Bà Xuân muốn lập di chúc để lại tài sản cho chồng và các con. Xin hỏi, bà Xuân có quyền lập di chúc không? Nếu được lập thì di chúc phải có những nội dung gì? | Trả lời:
Điều 609 Bộ luật dân sự 2015 về quyền thừa kế có quy định, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.
Ngoài ra, Điều 610 Bộ luật dân sự 2015 về quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân cũng quy định, mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Căn cứ vào quy định nêu trên của pháp luật cho thấy, bà Xuân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho chồng và các con.
Về nội dung của di chúc, căn cứ Điều 631 Bộ luật dân sự 2015, gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản.
Ngoài ra, di chúc có thể có các nội dung khác.
Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa. |
Vợ chồng ông bà X không may qua đời vì bị tai nạn giao thông. Các con của ông bà đều đã trưởng thành. Tài sản ông bà để lại gồm 01 căn nhà 5 tầng, 01 sổ tiết kiệm trị giá 50 triệu đồng và hai chiếc xe máy. Nay các con ông bà muốn tiến hành chia tài sản thừa kế của bố mẹ. Các con ông bà X muốn hỏi, thời điểm và địa điểm mở thừa kế tài sản của bố mẹ họ được xác định như thế nào? Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này? | Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự 2015 thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật dân sự.
Tại khoản 2 Điều 71 Bộ luật dân sự quy định, tùy từng trường hợp, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết,cụ thể:
- Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
- Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
- Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự. Cụ thể, khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
Do đó, thời điểm mở thừa kế của ông X sẽ do Tòa án quyết định căn cứ vào quy định pháp luật nêu trên.
Về địa điểm mở thừa kế, khoản 2 Điều 611 Bộ luật dân sự 2015 quy định là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.
Theo đó, trong trường hợp này, địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của ông bà X, trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế sẽ là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản của ông bà X. |
Sau 2 năm đi làm ăn xa, anh Độ trở về quê thì được biết tin anh Mạnh đã mất cách đây hơn 1 năm. Anh Độ cho biết, trước khi đi làm, anh Độ đã cho anh Mạnh vay 20 triệu đồng bằng hợp đồng viết tay và có người làm chứng. Anh Độ muốn hỏi, mình có thể khởi kiện yêu cầu những người thừa kế của anh Mạnh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ được không? Pháp luật quy định như thế nào về việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại? | Trả lời:
Khoản 3 Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 có quy định, thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Do anh Mạnh mất được hơn 1 năm nên thời hiệu khởi kiện của anh Độ vẫn còn, vì vậy, nếu sự việc anh Mạnh vay anh Độ 20 triệu nhưng chưa trả là thật thì anh Độ có thể khởi kiện yêu cầu những người thừa kế của anh Mạnh thực hiện nghĩa vụ trả 20 triệu đồng thay anh Mạnh khi còn sống đã vay.
Về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, Điều 615 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:
i) Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
ii) Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.
iii) Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
iv) Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân. |
Bố tôi năm nay đã ngoài 70 tuổi, muốn chia tài sản là căn nhà đang ở và mảnh đất 70 m2 cho 3 anh em chúng tôi. Vì tuổi cao nên bố tôi không thể tự mình viết di chúc được, bố tôi có thể di chúc miệng được không hay bắt buộc phải lập di chúc bằng văn bản? Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này? | Trả lời:
Căn cứ Điều 627 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hình thức của di chúc thì di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng, do đó, bố của bạn hoàn toàn có thể di chúc miệng chia tài sản của ông cho anh em bạn.
Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 630 Bộ luật dân sự 2015 quy định, di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Theo đó, để di chúc miệng được công nhận là hợp pháp, bố bạn có thể nhờ hai người làm chứng cho việc lập di chúc và tiến hành các thủ tục pháp lý nêu trên. Tuy nhiên, để được làm chứng cho việc lập di chúc, người làm chứng phải đáp ứng được các điều kiện của người làm chứng quy định tại Điều 632 Bộ luật dân sự 2015, cụ thể người làm chứng không phải là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; hoặc người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; hoặc người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. |
Người cha mất để lại di chúc ủy quyền nhờ cơ quan pháp chứng phân chia tài sản. Người con và mẹ nghĩ rằng họ sẽ nhận được tài sản thì xuất hiện một đứa con riêng của người chồng và di chúc cũng phân chia tài sản cho người con. Hỏi: nếu ông để lại di chúc cho người con riêng mà 2 người kia trước đó không biết này mà không để lại cho 2 mẹ con thì 2 mẹ con có quyền được hưởng không, hình như có Điều luật nào đó quy định là người mẹ có quyền nhận không phụ thuộc vào di chúc (người con không được nhận này đã trên 18 tuổi)
Hỏi thêm: người con riêng này có ngang hàng với 2 mẹ con khi chia di sản không?
nếu ông để lại di chúc cho người con riêng mà 2 người kia trước đó không biết này mà không để lại cho 2 mẹ con thì 2 mẹ con có quyền được hưởng không, hình như có Điều luật nào đó quy định là người mẹ có quyền nhận không phụ thuộc vào di chúc (người con không được nhận này đã trên 18 tuổi)
người con riêng này có ngang hàng với 2 mẹ con khi chia di sản không? | Theo quy định tại Điều 644 BLDS 2015. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Vì vậy nếu người cha mất thì người vợ vẫn được hưởng theo quy định của người kia, còn người con đã thành niên và không thuộc khoản 2 Điều 644 thì không được hưởng vì người cha trong di chúc không cho người con hưởng.
Theo quy định tại Điều 651 BLDS 2015 thì người con riêng có quyền đứng ngang hàng thừa kế đối với việc phân chia di sản của người cha để lai. |
Ô A kết hôn với bà B sinh được 5 người con. Anh con cả đã chết để lại 2 con: 1 trai & 1 gái đã thành niên. Gia tài của Ô bà gồm 2 ngôi nhà: 1 ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng, 1 cái trị giá 200 triệu đồng. Trước khi chết Ô A lập di chúc cho bà B một ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng. Anh (chị) hãy chia tài sản của ông A? | Theo đề bài ta thì tài sản chung của ông A và bà B là 300 triệu. Di sản của ông A là 300/2 = 150 triệu.
Ông A để lại cho bà B 100 triệu. Như vậy giá trị tài sản còn lại sẽ được chia theo pháp luật là 150 – 100 = 50 triệu.
Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật gồm bà B và 05 người con; do anh con cả mất nên theo Điều 652 BLDS 2015 thì 02 con của anh cả sẽ được hưởng thừa kế kế vị. (Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống).
Mỗi suất thừa kế mà bà B và 4 người con được hưởng là 50/6 = 8,33 Mỗi người con của anh cả được hưởng 8,33/2 = 4,165. |
Sơn và Hà là vợ chồng có tài sản chung là 1,8 tỷ đồng. Họ có hai con là Hạnh(15 tuổi) và Phúc (20 tuổi). Vừa qua, Sơn và Hạnh đi xe bị tai nạn. Lúc hấp hối, Sơn có di chúc miệng trước nhiều người làm chứng là để lại toàn bộ tài sản cho Phúc và Hạnh. Sau khi để lại di chúc ông Sơn qua đời. Vài giờ sau Hạnh cũng không qua khỏi.
Hãy cho biết Hà sẽ được hưởng bao nhiêu từ di sản của hai bố con Sơn và Hạnh? Biết rằng Hạnh còn có tài sản trị giá 50 triệu do được bà ngoại tặng trước khi chết. | Nếu di chúc ông Sơn để lại là hợp pháp (Điều 629, 630 BLDS 2015) và Hạnh được xác định là chết sau ông Sơn (Điều 619 BLDS 2015) thì Hạnh được hưởng thừa kế theo di chúc ông Sơn để lại.
Bà Hà là người được hưởng thừa kế ko phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644 BLDS 2015) nên được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật.
Theo đó, bà Hà được hưởng 200 triệu từ di sản ông Sơn để lại (Điều 644 BLDS 2015) phần còn lại được thực hiện theo di chúc (Hạnh = Phúc = 350 triệu)
Nếu Hạnh chết không để lại di chúc thì di sản Hạnh để lại (350 triệu hưởng thừa kế từ ông Sơn + 50 triệu bà ngoại tặng cho) được chia theo pháp luật. Theo đó, bà Hà là người được hưởng thừa kế theo pháp luật của Hạnh (Điều 644651 BLDS 2015)
Hà được hưởng: 200 triệu (thừa kế theo Điều 644 BLDS 2015) + 400 triệu của Hạnh (Điều 644, 651 BLDS) |
Vợ chồng ông Minh có cô con gái (tên Ngọc) và vợ chồng ông Tùng có người con trai (tên Trung). Gia đình ông Minh và ông Tùng có mối quan hệ thân thiết từ lâu đời, khi con gái đến tuổi lấy chồng, vợ chồng ông Minh bắt Ngọc phải kết hôn với Trung để mối quan hệ đó bền chặt, khăng khít hơn, tuy nhiên Ngọc đã có người yêu hơn nữa cũng không có tình cảm với Trung, cô từ chối đề nghị lấy Trung của bố mẹ mình, nhưng vợ chồng ông Minh nói nếu Ngọc trái lời, họ sẽ từ mặt con.
Hỏi: Hành vi của vợ chồng ông Minh có phải là hành vi bạo lực gia đình không? Vì sao? | Hành vi của vợ chồng ông Minh là bạo lực gia đình, vì:
Điểm l, khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định:
“1. Hành vi bạo lực gia đình:
..l) Cưỡng ép tảo hôn, kết hôn, ly hôn hoặc cản trở kết hôn, ly hôn hợp pháp..”.
Khoản 9 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải thích: “Cưỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ”.
Do đó, hành vi trên của vợ chồng ông Minh và vợ chồng ông Tùng là hành vi bạo lực gia đình và đây cũng là một trong hành vi bị nghiêm cấm trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. |
Anh Bình và chị Thu là vợ chồng cùng làm ở 1 công ty may, là người mang nặng tư tưởng gia trưởng, luôn quản lý chặt chẽ nguồn tài chính của gia đình, mọi chi tiêu của vợ và con cái đều do ông quyết định và hạn chế tối đa, đến tháng lĩnh lương anh Bình bắt vợ phải đưa tiền cho mình quản lý. Mỗi lần cần tiền vào việc gì chị Thu phải xin và bị anh Bình tra xét từng khoản chi làm cho cuộc sống của chị trở nên bí bách, áp lực và phụ thuộc vào chồng. Chị Thu muốn biết, hành vi của chồng mình có phải là bạo lực gia đình không? | Hành vi của anh Bình là bạo lực gia đình, vì:
Điểm o, khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định:
“1. Hành vi bạo lực gia đình:
... o) Cưỡng ép thành viên gia đình học tập, lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát tài sản, thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần hoặc các mặt khác;...”.
Do đó, hành vi “bắt vợ đưa tiền lương đồng thời tra xét từng khoản chi tiêu của anh Bình là kiểm soát tài sản, thu nhập của vợ nhằm tạo ra tình trạng lệ thuộc về mặt vật chất” của anh Bình là hành vi bạo lực gia đình. Ngoài ra, hành vi trên của anh Bình còn vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình về chế độ tài sản của vợ chồng như sau:
“Điều 29. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng.
Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường”. |
Trước khi lấy anh Nam thì chị Vy đã có 1 đời chồng và có 01 con riêng, khi ly hôn con chị Vy ở với bố. Thương con nên chị Vy thường lén chồng gửi tiền, đồ ăn cho con, biết chuyện, Anh Nam đã chửi, mắng chị Vy và cấm chị không được qua lại chăm nom, chu cấp cho con nữa.
Hỏi: Hành vi của anh Nam có phải là hành vi bạo lực gia đình không? Và là hành vi nào trong số các hành vi bạo lực gia đình được quy định tại Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022? | Hành vi của anh Nam là hành vi bạo lực gia đình và là hành vi “Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa mẹ và con”. |
Mỗi khi nhậu nhẹt, say xỉn, về nhà anh Mạnh thường xuyên đánh đập vợ (chị Dung) nhưng khi tỉnh rượu thì anh Mạnh lại rất thương yêu chị Dung và xin lỗi vợ về hành vi trên. Chị Dung muốn biết đây có phải là hành vi bạo lực gia đình không? Chị Dung có quyền yêu cầu cơ quan chức năng can thiệp, ngăn chặn và bảo vệ mỗi khi chồng lại say xỉn rồi đánh đập mình hay không? | - Hành vi đánh đập vợ của anh Tùng là vi bạo lực gia đình, vì:
Điểm a, khoản 1 Điều 3 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định như sau:
“a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng,…”
- Khoản 1 Điều 9 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định như sau:
“Điều 9. Quyền và trách nhiệm của người bị bạo lực gia đình
1. Người bị bạo lực gia đình có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác có liên quan đến hành vi bạo lực gia đình;
b) Yêu cầu cơ quan, cá nhân có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, hỗ trợ theo quy định của Luật này;
c) Được bố trí nơi tạm lánh, giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;
d) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, kỹ năng để ứng phó với bạo lực gia đình, trợ giúp pháp lý và trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật;
đ) Yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường tổn hại về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và thiệt hại về tài sản;
e) Được thông tin về quyền và nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình, xử lý hành vi bạo lực gia đình;
g) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình;
h) Quyền khác theo quy định của pháp luật có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình”.
Căn cứ Khoản 1, Điều 9 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 thì Chị Dung có quyền yêu cầu cơ quan chức năng can thiệp, ngăn chặn, bảo vệ theo quy định nêu trên. |
Vợ chồng ông Nam và bà Nga có 02 người con; ông Nam không cho các con của mình đi học thêm, chỉ học buổi sáng và buổi chiều thường bắt 2 con của mình là cháu Đạt (12 tuổi) và cháu Vỹ (15 tuổi) đi rửa bát thuê trong làng để có tiền đưa cho ông mua rượu uống hàng ngày. Nhiều lần, phần vì sáng đi học, chiều đi làm, cũng có khi phải làm việc quá sức nên hai bé phải nhập viện điều trị. Thấy vậy, anh Vinh là hàng xóm gần nhà, cũng là Tổ trưởng tổ hoà giải đã cùng các thành viên trong Tổ hoà giải đến khuyên can và còn nói hành vi của ông Nam là “bạo lực gia đình”, ông Nam rất bực tức vì ông cho rằng, các con của mình cũng đã lớn, bây giờ ông nhờ vả một chút thì cũng phù hợp với đạo làm con. Ông Nam muốn rõ hơn, liệu hành vi của mình có phải là hành vi bạo lực gia đình như anh Vinh nói không để tự thay đổi bản thân? | Điểm o, khoản 1 Điều 3 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định như sau:
“Cưỡng ép thành viên gia đình học tập, lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát tài sản, thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần hoặc các mặt khác;”
Căn cứ quy định trên, việc ông Nam bắt 2 con của mình đi làm thêm trong khi 2 con đang trong độ tuổi ăn học, dẫn đến 2 cháu làm việc quá sức phải nhập viện điều trị là hành vi bạo lực gia đình. |
Anh Bảo và chị Lan ly hôn vì lý do anh Bảo ngoại tình, Tòa xử cho chị Lan nuôi con. Sau khi ly hôn, Anh Bảo vẫn chu cấp tiền để nuôi dưỡng và có mong muốn gặp, trò chuyện với con hàng tháng, tuy nhiên, trong quá trình nuôi con, chị Lan không cho anh Bảo gặp con vì cho rằng một người không chung thuỷ như anh Bảo không xứng đáng gặp lại con mình. anh Bảo muốn biết hành vi của chị Lan có phải là hành vi bạo lực gia đình? Vì sao? | Hành vi của chị Lan là bạo lực gia đình, vì:
Điểm g, khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định:
“1. Hành vi bạo lực gia đình:
... g) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;...”.
Do đó, hành vi “ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa cha và con” của chị Lan là hành vi bạo lực gia đình. Ngoài ra, hành vi trên của chị Lan còn vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:
“ Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”. |
Tuấn năm nay 17 tuổi, học lớp 11, một hôm ở trong lớp Tuấn có gây xích mích với bạn Luân, hai bạn có xô đẩy nhau, hậu quả làm vỡ chiếc đồng hồ thông minh Apple Watch của Luân trị giá 10.000.000 đồng, do Tuấn không có tiền bồi thường, chị Nguyệt là mẹ Luân muốn biết có thể yêu cầu cha mẹ Tuấn bồi thường thiệt hại trên thay Tuấn được hay không? | Khoản 1 Điều 21 Bộ Luật Dân sự năm 2015, quy định về người chưa thành niên như sau:
“Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”
Điều 74 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về bồi thường thiệt hại do con gây ra như sau:
“Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự”.
Như vậy, căn cứ quy định nêu trên thì Tuấn là con chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi), do đó, chị Nguyệt có thể thông báo đến cha mẹ Tuấn và yêu cầu cha mẹ Tuấn phải bồi thường thiệt hại trên. |
Bà Mai có hai người con trai là Trung và Nghĩa, khi chết, bà có để lại tài sản là một sổ tiết kiệm 100 triệu đồng, theo đó di chúc bà chia đều cho hai người con của mình mỗi người 50 triệu, tuy nhiên, trước khi phân chia di sản Nghĩa thấy anh Trung hoàn cảnh khó khăn, con cái lại ốm đau, thường xuyên phải vào viện nên muốn từ chối di sản của mẹ. Hỏi, anh Nghĩa có quyền từ chối nhận di sản của mẹ mình để lại không? Và việc từ chối nhận di sản có cần phải lập thành văn bản không? | Anh Nghĩa có quyền từ chối nhận di sản của mẹ mình để lại vì:
Điều 620 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về từ chối nhận di sản như sau:
“1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.
3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.”
Căn cứ quy định nêu trên, Anh Nghĩa hoàn toàn có quyền từ chối nhận di sản của mẹ mình để lại và việc từ chối nhận di sản này phải được lập thành văn bản đồng thời gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết. |
Ông Vĩnh có 02 người con (con trai tên Tiến và con gái tên My), là người có tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, ông luôn quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, cho nên bất cứ làm việc gì hay cho gì ông đều ưu tiên cho con trai. My cảm thấy rất buồn và tủi thân, em muốn biết hành vi đó của bố mình có phải là hành vi bạo lực gia đình không? Vì sao? Mức xử phạt vi phạm được quy định như thế nào để từ đó phổ biến cho bố mình? | - Hành vi của ông Vĩnh là bạo lực gia đình, vì:
Điểm đ, khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định:
“1. Hành vi bạo lực gia đình:
... đ) Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới, giới tính, năng lực của thành viên gia đình;...”.
Do đó, hành vi “phân biệt đối xử về giới tính” của ông Vĩnh là bạo lực gia đình.
- Mức xử phạt cho hành vi đối xử bất bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính được quy định tại Khoản 1, Điều 13 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới như sau:
“1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Cản trở hoặc không cho thành viên trong gia đình thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì lý do giới tính;
b) Đối xử bất bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính”.
Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên, hành vi của ông Vĩnh là bạo lực gia đình, có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, mức xử phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. |
Người cha mất để lại di chúc ủy quyền nhờ cơ quan pháp chứng phân chia tài sản. Người con và mẹ nghĩ rằng họ sẽ nhận được tài sản thì xuất hiện một đứa con riêng của người chồng và di chúc cũng phân chia tài sản cho người con. Hỏi: nếu ông để lại di chúc cho người con riêng mà 2 người kia trước đó không biết này mà không để lại cho 2 mẹ con thì 2 mẹ con có quyền được hưởng không, hình như có Điều luật nào đó quy định là người mẹ có quyền nhận không phụ thuộc vào di chúc (người con không được nhận này đã trên 18 tuổi)
Hỏi thêm: người con riêng này có ngang hàng với 2 mẹ con khi chia di sản không? | Theo quy định tại Điều 644 BLDS 2015. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.
Vì vậy nếu người cha mất thì người vợ vẫn được hưởng theo quy định của người kia, còn người con đã thành niên và không thuộc khoản 2 Điều 644 thì không được hưởng vì người cha trong di chúc không cho người con hưởng.
Theo quy định tại Điều 651 BLDS 2015 thì người con riêng có quyền đứng ngang hàng thừa kế đối với việc phân chia di sản của người cha để lai. |
Ông Khải và Bà Ba kết hôn với nhau năm 1947 và có 3 con là anh Hải, anh Dũng, chị Ngân. Chị Ngân kết hôn với anh Hiếu và có con chung là Hạnh. Năm 2018, Ông Khải chết có để lại di chúc cho con gái và cháu ngoại được hưởng toàn bộ di sản của ông trong khối tài sản chung của ông và bà Ba. Một năm sau bà Ba cũng chết và để lại toàn bộ di sản cho chồng, các con người em ruột của chồng tên Lương. Năm 2009, anh Dũng chết do bệnh nặng và có di chúc để lại tất cả cho anh ruột là Hải. Sau khi Dũng chết thì những người trong gia đình tranh chấp về việc phân chia di sản.
Bộ luật Dân sự
Hãy giải quyết việc tranh chấp, biết rằng bà Ba và ông Khải không còn người thân thích nào khác, anh Hải có lập văn từ chối hưởng di sản của bà Ba và anh dũng theo đúng qui định của pháp luật, chị Ngân cũng từ chối hưởng di sản của anh Dũng, tài sản chung của ông Khải và bà Ba cho đến thời điểm ông Khải chết là 1.2tỷ, sau khi ông Khải chết, bà Ba còn tạo lập một căn nhà trị giá 300 triệu. | Tình huống của bạn có vài chỗ không ổn, này nhé:
– Thứ nhất, anh Dũng di chúc toàn bộ tài sản lại cho anh Hải, vậy có nghĩa là không có tên chị Ngân trong di chúc của anh Hải, vậy tại sao lại có chj chị Ngân từ chối hưởng tài sản anh Dũng để lại?
– Thứ hai, “các con người em ruột của chồng tên Lương”, chỗ này bạn viết như thế người đọc dễ hiểu nhầm, theo P hiểu thì đó là các con của bà Ba và người em ruột của chồng tên là Lương.
Rắc rối nhỉ. Theo P, khi ông Khải chết đã di chúc lại toàn bộ tài sản của mình trong khối tài sản chung của 2 ông bà cho con gái và cháu ngoại, như vậy một số tài sản của ông Khải (tạm xác định là 1/2×1,2t tỷ) sẽ được chia đều cho con gái vá cháu ngoại, mỗi người 300 triệu.
Vậy, sau khi thực hiện di chúc của ông Khải, số tiền còn lại thuộc tài sản của bà Ba là 600 + 300 = 900 triệu. Bà Ba chết để lại tài sản cho các con và người em ruột của chồng là Lương (tổng cộng 4 người), vậy số tiền 900 triệu sẽ được chia đều tiếp cho 4 người, mỗi người 225 triệu.
Anh Dũng thừa kế từ bà Ba 225 triệu, sau khi anh chết, di chúc toàn bộ tài sản này cho anh Hải, vậy anh Hải được hưởng thêm số tài sản này. Do anh Hải từ chối hưởng di sản của bà Ba và anh Dũng, nên còn dư ra 500 triệu. 500 Triệu này theo P sẽ được chia tiếp theo pháp luật, theo hàng thừa kế thứ nhất gồm chị Ngân, vợ con anh Hải (nếu có) |
Ông A, bà B có con chung là C, D (đều đã thành niên và có khả năng lao động). C có vợ là M có con X,Y. D có chồng là N có một con là K. Di sản của A là 900 triệu. Chia thừa kế trong các trường hợp riêng biệt sau:
1. C chết trước A. A di chúc hợp pháp để lại toàn bộ di sản cho X.
2. C chết trước A. D chết sau A (chưa kịp nhận di sản)
3. A chết cùng thời điểm với C. A di chúc để lại cho K ½ di sản | Di sản ông A để lại là 900 triệu.
Trường hợp 1. C chết trước A. A di chúc để lại toàn bộ di sản cho X.
A làm di chúc để lại toàn bộ di sản cho X. Tuy nhiên, bà B (vợ ông A) là người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644 BLDS 2015). Theo đó, bà B phải được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật (là 200 triệu). Theo đó, bà B sẽ được hưởng 200 triệu và phần còn lại sẽ được thực hiện theo nội dung di chúc (X được hưởng thừa kế của ông A là 700 triệu).
Trường hợp 2. C chết trước A, D chết sau A. A chết không để lại di chúc.
A chết không để lại di chúc thì di sản của A sẽ được chia theo pháp luật. Khi đó, bà B, D, C là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của A (Điều 651 BLDS 2015) nên mỗi người sẽ được hưởng một phần di sản bằng nhau là 300 triệu.
Do C chết trước A nên con của C là X, Y sẽ được hưởng thừa kế thế vị của C (theo Điều 652 BLDS 2015).
D chết sau A, nếu A để lại di chúc thì sẽ được thực hiện theo nội dung di chúc. Còn nếu A chết không để lại di chúc (hoặc phần tài sản mà D được nhận từ di sản của ông A không được định đoạt trong di chúc) thì di sản A để lại sẽ được chia theo pháp luật. Khi đó, bà B (mẹ D), anh N (chồng D), K (con D) sẽ được chia theo pháp luật mỗi người một phần bằng nhau.
Trường hợp 3. A chết cùng thời điểm với C. A di chúc để lại cho K ½ di sản.
Ông A chết cùng thời điểm với anh C nên ông A sẽ không được hưởng thừa kế từ di sản của anh C để lại (theo Điều 619 BLDS 2015).
Ông A chết để lại di chúc cho K hưởng ½ di sản của ông. Theo đó, K được thừa kế 450 triệu của ông A. Phần di sản không được ông A định đoạt trong di chúc (450 triệu) được chia theo pháp luật (điều 650, 651 BLDS 2015).
Theo đó, phần di sản này sẽ được chia cho bà B = C = D = 150 triệu. Anh C đã chết nên con anh C là X, Y sẽ được hưởng thừa kế thế vị phần của anh C.
Khi chia thừa kế trong trường hợp này, bà B là người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (theo Điều 644 BLDS 2015). Phần di sản không được ông A định đoạt trong di chúc khi chia theo pháp luật không đảm bảo cho bảo cho bà B được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật nên phần thiếu (50 triệu) sẽ được lấy từ phần mà K được hưởng theo nội dung di chúc. |
Năm 1950, Ô A kết hôn với bà B. Ô bà sinh được 2 người con gái là chị X (1953) & chị Y (1954). Sau một thời gian chung sống, giữa Ô A & bà B phát sinh mâu thuẫn, năm 1959 Ô A chung sống như vợ chồng với bà C. A & C sinh được anh T (1960) & chị Q (1963). Tháng 8/1979, X kết hôn với K, anh chị sinh được 2 con là M & N (1979-sinh đôi). Năm 1990, trên đường về quê chị X bị tai nạn chết. Năm 1993, Ô A mắc bệnh hiểm nghèo & đã qua đời. Trước khi chết, Ô A có để lại bản di chúc với nội dung cho anh T thừa hưởng toàn bộ tài sản do ông A để lại. không đồng ý với bản di chúc đó, chị Y đã yêu cầu tòa án chia lại di sản của bố mình. Qua điều tra tòa án xác định khối tài sản của Ô A và bà B là 500 triệu đồng. Hãy xác định hàng thừa kế đối với những người được hưởng di sản thừa kế của chị X & Ô A? | Theo dữ kiện bài ta thấy năm 1959 ông A chung sống như vợ, chống với bà C thì việc này pháp luật vẫn thừa nhận ông A và bà C là vợ chồng hợp pháp.
Năm 1990, chị X chết nhưng đề bài không nói tài sản của chị X là bao nhiêu nên ta xem bằng 0.
Năm 1993 ông A mất và có lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho anh T.
Tài sản của ông A và bà B có được là 500 triệu
Tài sản của ông A và bà C đề bài không nêu nên ta xem như bằng 0.
Di sản của ông A là 500/2 = 250 triệu.
250 triệu chính là giá trị tài sản mà ông A có quyền định đoạt.
Tài sản của anh T được hưởng là 250. Tuy nhiên theo quy định pháp luật thì những người sau đây được hưởng thừa kế gồm bà B và bà C mỗi người được hưởng 2/3 giá trị của một suất chia theo pháp luật.
Người được hưởng thừa kế chia theo pháp luật gồm bà B, bà C, anh T, Q, X, Y: 250/6 = 41,6 triệu.
Như vậy
Bà B = bà C = 2/3 (250/6) = 27,7 triệu.
Tài sản của anh T còn lại là 250 – (27,7×2) = 194,6 triệu.
Các trường hợp còn lại không được hưởng vì X đã mất, Y, Q đã thành niên và không bị mất năng lực hành vi. |
Ô A kết hôn với bà B sinh được 5 người con. Anh con cả đã chết để lại 2 con: 1 trai & 1 gái đã thành niên. Gia tài của Ô bà gồm 2 ngôi nhà: 1 ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng, 1 cái trị giá 200 triệu đồng. Trước khi chết Ô A lập di chúc cho bà B một ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng. Biết đứa con trai út của Ô bà đã sinh được 1 cháu trai đã thành niên. Sau đó anh con trai út này đã bị tai nạn & bị tâm thần. Anh (chị) hãy chia tài sản của ông A? | Theo đề bài ta thì tài sản chung của ông A và bà B là 300 triệu.
Di sản của ông A là 300/2 = 150 triệu.
Ông A để lại cho bà B 100 triệu.
Như vậy giá trị tài sản còn lại sẽ được chia theo pháp luật là 150 – 100 = 50 triệu.
Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật gồm bà B và 05 người con; do anh con cả mất nên theo Điều 652 BLDS 2015 thì 02 con của anh cả sẽ được hưởng thừa kế kế vị.
Mỗi người được hưởng là 50/6 = 8,33
Mỗi người con của anh cả là 8,33/2 = 4,165. |
Ông thịnh đã ly hôn với vợ và có 2 người con riêng là Hòa và Bình.
Xem: Khi nào thì phải đi kiện? Những loại vụ việc thế nào thì được gọi là vụ, việc dân sự?
Bà Nguyệt (chồng chết) có 2 người con riên là Xuân và Hạ.
Năm 1993 ông thịnh kết hôn với bà Nguyệt và sinh được 2 người con là Tuyết và Lê.
Để tránh sự bất hòa giữa mẹ kế và con chồng, ông Thịnh cùng bà Nguyệt mua một căn nhà để bà Nguyệt cùng các con là Xuân, Hạ, Tuyết, Lê ở riêng. Trong quá trình chung sống, ông Thịnh thương yêu Xuân và Hạ như con ruột, nuôi dưỡng và cho 2 người ăn học đến lớn.
Hòa kết hôn với Thuận có con là Thảo.
Xuân kết hôn với Thu có con là Đông.
Hòa bị tai nạn chết vào năm 2016. Ông thịnh bệnh chết vào năm 2017. Xuân cũng chết vào năm 2018.
Sau khi ông thịnh qua đời gia đình mâu thuẫn và xảy ra tranh chấp về việc chia di sản của ông thịnh
Qua điều tra được biết: Ông thịnh có tài sản riêng là 220 triệu đồng. và có tài sản chung với bà nguyệt (căn nhà bà nguyệt và các con đang sống) trị giá 140tr đồng.Hòa và Thuận có tài sản chung là 120tr đồng. Xuân và thu có tài sản chung là 100tr.
Hãy phân chia di sản của ông Thịnh. | – Tổng tài sản của Hòa có 120:2=60tr sẽ để lại cho Thịnh = mẹ của Hòa = Thuận = Thảo = 60:4 = 15tr
mà bà mẹ kế là Nguyệt không được thừa kế vì theo Điều 654 BLDS 2015 chưa có quan hệ như mẹ con.
– Thịnh xem con riêng của Nguyệt như con mình, chăm sóc, cho ăn học đây là mối quan hệ giữa con riêng với bố dượng theo Điều 654 BLDS 2015, thì Xuân và Hạ xem như trong hàng thừa kế thứ nhất.
– Ông Thịnh không để lại di chúc.
– Tổng tài sản ông Thịnh là 220 + 140:2 + 15(của Hòa) = 305 triệu
– Vậy những người thừa kế của ông Thịnh gồm 7 người : Nguyệt = Xuân = Hạ = Tuyết = Lê = Hòa (Thảo kế vị) = Bình = 305:7 = 43.57 triệu.
– Tổng tài sản Xuân có 43.57 + 100:2= 93.57tr sẽ để lại cho Nguyệt = Thu = Đông = 93.57:3 = 31.19 triệu.
Tóm lại là:
Nguyệt = 140:2 + 43.57 + 31.43=145 triệu
Hạ = 43.57 triệu
Thu = 100 : 2+ 31.19= 81.19 triệu
Đông = 31.19 triệu
Tuyết = 43.57 triệu
Lê = 43.57 triệu
Bình = 43.57 triệu
Thuận = 120 : 2 + 15 = 75 triệu
Thảo = 15 + 43.57 = 58.57 triệu
mẹ của Hòa = 15 triệu |
Du và Miên là 2 vợ chồng, có 3 con chung là Hiếu – 1982, Thảo và Chi sinh đôi – 1994.
Do bất hòa, Du và Miên đã ly thân, Hiểu ở với mẹ còn Thảo và Chi sống với bố.
Hiếu là đứa con hư hỏng, đi làm có thu nhập cao nhưng luôn ngược đãi, hành hạ mẹ để đòi tiền ăn chơi, sau 1 lần gây thương tích nặng cho mẹ, hắn đã bị kết án.
Năm 2007 Bà Miên mất, trước khi chết bà miên có để lại di chúc là cho trâm là e gái 1 nửa số tài sản của mình.
Khối tài sản chung của Du và Miên là 790 triệu
1. Chia thừa kế trong tr hợp này
2. Giả sử cô Trâm khước từ nhận di sản thừa kế, di sản sẽ phân chia thế nào. | Tài sản của bà miên = 790/2 = 395 triệu.
Do Hiếu bị tước quyền thừa kế nên những người thừa kế theo pháp luật của bà Miên gồm: ông Du, Thảo, Chi
Chia theo di chúc: Trâm = 395/2 = 197.2 triệu còn lại là 197.2 triệu không được định đoạt trong di chúc nên Chia theo pháp luật như sau:
Ông Du = Thảo = Chi = 197.2/3 = 65.8 triệu.
Giả sử toàn bộ tài sản được chia theo pháp luật: 1 suất thừa kế theo pháp luật = 395/3= 131.67 triệu.
1 suất thừa kế bắt buộc là = 131.67 * 2/3 = 87.78 triệu.
Vậy:
Ông Du = Thảo = Chi = 87.7 triệu.
Trâm = 131.66 triệu.
Nếu Trâm từ chối nhận tài sản thừa kế thì toàn bộ tài sản sẽ được chia theo pháp luật. |
A, B kết hôn năm 1950 có 4 con chung C,D,E,F. Vào năm 1957, A – T kết hôn có 3 con chung H,K,P. Năm 2017, A, C qua đời cùng thời điểm do tai nạn giao thông. Vào thời điểm C qua đời anh đã có vợ và 02 con G,N. Sau khi A qua đời để di chúc lại cho C ½ di sản, cho B,T mỗi người ¼ di sản. Sau khi A qua đời B kiện đến tòa xin được hưởng di sản của A. Tòa xác định tài sản chung A,B=720 triệu, A,T= 960 tr. Chia thừa kế trong trường hợp trên? | Ông A mất năm 2017, di sản A để lại là 840 triệu (trong đó: 360 triệu trong khối tài sản chung với bà B + 480 triệu trong khối tài sản chung với bà T). Do cuộc hôn nhân của ông A với bà B, ông A với bà T được xác lập trước thời điểm Luật hôn nhân gia đình năm 1959 có hiệu lực (13/01/1960 ở miền Bắc, 25/03/1977 ở miền Nam) nên việc có nhiều vợ, nhiều chồng không trái pháp luật (được coi là hợp pháp).
Ông A mất để lại di chúc cho C ½ di sản (=420 triệu); B,T mỗi người ¼ di sản (B=T= 210 triệu). Do C chết cùng thời điểm với A nên phần di chúc A để lại cho C không có hiệu lực pháp luật (điều 643, 619 BLDS 2015) và được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2015). Theo đó, B, C, D, E, F, T, H, K, P là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông A, mỗi người một phần bằng nhau là 52,5 triệu (C đã mất nên con của C là G, N là người được hưởng thừa kế thế vị của C (điều 652).
Ông A chết cùng thời điểm với C nên ông A không được hưởng thừa kế của C (điều 619 BLDS 2015). Nếu C chết không để lại di chúc thì di sản mà C để lại được chia theo pháp luật (điều 650, 651 BLDS 2015). |
Hãy chia tài sản thừa kế trong trường hợp sau.
Ông A và bà B kết hôn năm 1950 là có bốn người con chung là C, D, E, F. Vào năm 1959 ông A kết hôn với bà T, và có ba người con chung là H, K, P. Tháng 3 năm 2007 ông A và anh C chết cùng thời điểm do tai nạn giao thông. Vào thời điểm anh C qua đời anh đã có vợ là M và hai con là G và N. Ông A qua đời có để lại di chúc cho anh C 1/2 di sản, cho bà B và T mỗi bà 1/4 di sản. Biết tài sản chung hợp nhất của A và B là 720 triệu đồng, của A và T là 960 triệu đồng.
(Hôn nhân của ông A với bà T là hợp pháp) | Di sản của ông A là: 360 + 480 = 840 triệu.
Theo di chúc: bà B = bà T = 840/4 = 210
Do C chết cùng lúc với ông A nên C không được hưởng phần di sản mà ông A định đoạt trong di chúc là 1/2 di sản.mà phần di sản còn lại sẽ chia theo pháp luật.
Người thừa kế theo pháp luật của ông A là: B, C (G và N thế vị), D, E, F, R, H, K, P
Di sản còn lại: 420 triệu.
Mỗi người được hưởng: 420/9 = 46,67 triệu.
Chia thừa kế |
– Anh Hải và chị Thịnh kết hôn năm 2005, họ có 2 con là Hạ sinh năm 2011 và Long sinh năm 2014
– Do cuộc sống vợ chồng không hoà thuận, vợ chồng anh đã ly thân. Hạ và Long sống với mẹ, còn anh Hải sống với cô nhân tình là Dương.
– Ở quê anh Hải còn người cha là ông Phong và em ruột là Sơn. Nhân dịp lễ 30/4-1/5/2016 anh về quê đón cha lên chơi nhưng không may bị tai nạn. Vài ngày trước khi chết trong viện, anh di chúc miệng (trước nhiều người làm chứng) là để lại toàn bộ tài sản của mình cho cô Dương.
– 5 ngày sau khi anh Hải chết, ông Phong cũng qua đời.
– Chị Dương đã kiện tới toà án yêu cầu giải quyết việc phân chia di sản thừa kế.
– Biết rằng :
Tài sản chung của anh Hải và chị Thịnh là 2400 triệu đồng
Tài sản của ông Phong ở quê là 600 triệu đồng.
– Giải quyết vụ việc trên?
– Giả sử :
Anh Hải có di chúc hợp pháp để lại toàn bộ tài sản của mình cho cô dương
Cả anh Hải và ông Phong đều chết cùng thời điểm trong bệnh viện(cái này khác với phía trên vì bài tập gồm nhiều phần nên em cứ đánh cả phần ông P chết sau a Hải 5 ngày)
Tài sản của 2 người sẽ được phân chia như thế nào? | – Đầu tiên, di chúc của anh Hải hoàn toàn hợp pháp (Trong trường hợp này là được những người làm chứng ghi chép lại và kí tên, trong thời hạn 5 ngày đã có công chứng khi di chúc miệng được người di chúc thể hiện ý chí cuối cùng). Xét 2 trường hợp xảy ra:
Thứ nhất: Anh Hải chết trước ông Phong. Di sản chia theo di chúc nhưng vẫn chia cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644 BLDS 2015)
Thì hàng thừa kế thứ nhất có 4 suất: Ô Phong, chị Thịnh, Hạ và Long (Chưa thành niên). Mỗi người sẽ nhận 2/3 mỗi suất = (2/3) x (1200/4) = 200 triệu (Trích từ phần hưởng di sản của chị Dương)
Vậy di sản anh Hải sẽ chia như sau:
Phong = 200 triệu
Thịnh = 200 triệu
Hạ = 200 triệu
Long = 200 triệu
Dương = 1200 – 4×200 = 400 triệu
Sau đó Ô Phong chết không có di chúc.
Thừa kế theo pháp luật phần di sản của Ô Phong gồm: Hải và Sơn.
Nhưng anh Hải chết trước Ô Phong thì 2 cháu nội là Hạ và Long sẽ nhận thừa kế của anh Hải khi còn sống mà vợ Hải không được nhận thừa kế (Điều 652 BLDS 2015).
Vậy tài sản Ô Phong 600 + 200 = 800 triệu sẽ chia như sau:
Sơn = 800/2 = 400 triệu
Hạ = 800/4 = 200 triệu
Long = 800/4 = 200 triệu
Tóm lại, trường hợp 1:
Thịnh = 1200 + 200 = 1400 triệu
Hạ = 200 + 200 = 400 triệu
Long = 200 + 200 = 400 triệu
Dương = 400 triệu
Sơn = 400 triệu
Thứ hai: Anh Hải và Ô Phong chết cùng lúc. Di sản của Ô Phong sẽ chia thừa kế theo pháp luật, người thừa kế gồm: Hải và Sơn.
Nhưng anh Hải chết cùng lúc Ô Phong thì 2 cháu nội là Hạ và Long sẽ nhận thừa kế của anh Hải khi còn sống mà vợ Hải không dược nhận thừa kế (Điều 652 BLDS 2015).
Vậy di sản Ô Phong 600tr sẽ chia như sau:
Sơn = 600/2 = 300 triệu
Hạ = 600/4 = 150 triệu
Long = 600/4 = 150 triệu
Phân chia di sản của anh Hải:
Di sản chia theo di chúc nhưng vẫn chia cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644 BLDS 2015).
Thì hàng thừa kế thứ nhất có 3 suất: Chị Thịnh, Hạ và Long (Chưa thành niên). Mỗi người sẽ nhận 2/3 mỗi suất = (2/3) x (1200/3) = 800/3tr (Trích từ phần hưởng di sản của chị Dương)
Vậy di sản anh Hải sẽ chia như sau:
Thịnh = 800/3 triệu
Hạ = 800/3 triệu
Long = 800/3 triệu
Dương = 1200 – 3×800/3 = 400 triệu
Tóm lại, trường hợp 2:
Thịnh = 1200 + 800/3 = 4400/3 triệu
Hạ = 800/3 + 150 = 1250/3 triệu
Long = 1250/3 triệu
Dương = 400 triệu
Sơn = 300 triệu |
Ông A kết hôn với bà B và có hai người con chung là C sinh năm 1976 và D sinh năm 1980. C bị tâm thần từ nhỏ, D có vợ là E và có con là F,G,H. Vợ chồng D không có tài sản gì và sống nhờ nhà của ông bà A – B. Năm 2015, bà B lập di chúc để lại cho D 1/3 tài sản của bà. Tháng 10/2016, D chết. Tháng 01/2017, bà B chết.
Chia di sản của bà B biết rằng, căn nhà là tài sản chung của ông A, bà B trị giá 1 tỷ đồng. Biết rằng, mẹ bà B là cụ G còn sống. | Di sản của Bà B là 500 triệu (trong khối tài chung với ông A). Năm 2015, B lập di chúc để lại cho D 1/3 di sản của bà.
Do D chết (tháng 10/2016) trước bà B (tháng 1/2017) nên di chúc bà B để lại cho D hưởng 1/3 di sản của bà không có hiệu lực (điểm a, khoản 2 Điều 643 BLDS 2015).
Khi đó, di sản bà B để lại được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2015). Khi đó, cụ G (mẹ bà B), ông A (chồng), C (con), D (con bà B nhưng đã chết nên F+G+H được hưởng thừa kế thế vị của D theo Điều 652 BLDS 2015) được hưởng thừa kế theo pháp luật của bà B (theo Điều 651 BLDS 2015). |
Ông A kết hôn với bà B năm 1952 sinh ra anh C (năm 1954) chị D (1956).
Năm 1965, ông A và bà B phát sinh mâu thuẫn và đã ly hôn. họ thống nhất thỏa thuận bà B nhận cả ngôi nhà đang ở (và nuôi chị D), ông A nhận nuôi anh C và được chia một số tài sản trị giá là 20 triệu đồng. năm 1968 ông A dùng số tiền trên để xây dựng 1 căn nhà khác.Tháng 9/1970 ông A kết hôn với bà T sinh ra được 2 người con là E (1972) vÀ F (1978). Hai ông bà sống trong căn nhà mới này và ông A tuyên bố nhà là của riêng không nhập vào tài sản chung.
Xem: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam - Đại học Luật Hà Nội
Tháng 10/1987 ông A chết để lại di chúc hợp pháp cho anh C hưởng 1/2 di sản của ông. Riêng ngôi nhà ông để lại cho bà T dùng làm nơi thờ cúng mà không chia thừa kế. Tháng 1/1991, anh C yêu cầu bà T chuyển nhà cho mình nhưng bà không chịu nên anh C đã hành hung gây thương tích cho bà T.
Đến tháng 5/2001, chị D có đơn gửi tòa án yêu cầu chia di sản thừa kế của bố. Qua điều tra xác định: ngôi nhà của ông A trị giá 30 triệu đồng, ông A và bà T tạo lập được khối tài sản trị giá 60 triệu đồng. Hãy chia di sản thừa kế trên. | Vì đây là chia tài sản của ông A nên trước tiên bạn phải biết ông A có bao nhiêu tiền để chia.
Tính tại thời điểm năm 2001: Ông A có 20 triệu tiền nhà (không nhập với bà T). và 1/2 của 60 triệu (là 30 triệu) mà ông A và bà T có. => ông A có 50 triệu.
Bắt đầu chia tiền nhé. Đầu tiên cần xác định là những ai được chia tiền đã. Danh sách chia tiền gồm có Anh C, chị D, bà T, E và F.
Theo di chúc: Anh C được hưởng 1/2 tài sản của ông A => C được hưởng 60/2 = 30 triệu.
Như vậy là tài sản còn lại 60 – 30 = 30 triệu. Anh C không có quyền hưởng tiếp trong phần này => đòi bà T là sai. |
Ông A, bà B kết hôn với nhau và có hai người con chung là C, D. Năm 2004, ông A bỏ nhà chung sống với bà H như vợ chồng và có con chung là E sinh năm 2005 và F sinh năm 2007. Năm 2016, ông A viết di chúc chia cho bà B ½ di sản, bà H ¼ di sản. Năm 2017, ông A chết. Tài sản chung giữa A và B là 200 triệu, ông A và bà H có tài sản chung là 600 triệu. Hãy chia di sản của ông A | |
Ông Quảng có một người con duy nhất là ông Đại, ông Đại có vợ là bà Tiểu. Hai người có với nhau được ba người con là anh Hảo, 34 tuổi, bị bệnh down; anh Hiều 28 tuổi và anh Hạo 9 tuổi. Anh Hiều có vợ là chị Xiếu và có được một người con gái 2 tuổi là Hiền. Ngày 24/01/2010 ông Đại lập di chúc chia cho anh Hảo 1 tỷ 200 triệu đồng và cho anh Hiều 800 triệu đồng. Ngày 28.07.2010 anh Hiều chết vì bị tai nạn giao thông. Một năm sau ngày anh Hiều chết thì ông Đại cũng qua đời vì bệnh ung thư. Anh chị hãy phân chi di sản của ông Đại. Biết rằng di sản ông Đại để lại là 4 tỷ đồng tiền mặt và di chúc mà ông Đại lập đủ Điều kiện đối với người lập di chúc, đúng hình thức và hợp pháp. | Di sản ông Đại để lại là 4 tỷ đồng.
Ông Đại chết để lại di chúc cho anh Hảo: 1 tỷ 200 triệu, anh Hiều: 800 triệu. Tuy nhiên do anh Hiều chết trước ông Đại nên phần di chúc ông Đại để lại di sản cho anh Hiều không có hiệu lực (điều 667 BLDS 2005).
Khi đó, phần di sản của ông Đại không được định đoạt, không có hiệu lực trong di chúc là 2 tỷ 800 triệu đồng; phần di sản này được chia theo pháp luật. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (theo Điều 676 BLDS 2005) của ông Đại gồm: cụ Quảng, bà Tiểu, anh Hảo, anh Hạo, anh Hiều (anh Hiều đã chết nên cháu Hiền – con anh Hiều sẽ được thừa kế thế vị (điều 677 BLDS 2005)). Theo đó, mỗi người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Đại sẽ được hưởng mỗi người 560 triệu đồng.
Trong trường hợp này, khi phần di sản của ông Đại không được định đoạt trong di chúc và phần di chúc không có hiệu lực được chia theo pháp luật thì cụ Quảng (bố ông Đại), bà Tiểu (vợ ông Đại), anh Hạo (con ông Đại – chưa thành niên) vẫn đảm bảo được hưởng 2/3 suất thừa kế nếu toàn bộ di sản ông Đại để lại được chia theo pháp luật (4 tỷ : 5) và anh Hảo – con ông Đại đã thành niên, bị bệnh down không có khả năng lao động được hưởng thừa kế theo di chúc và được hưởng lớn hơn 2/3 của một suất thừa kế nếu toàn bộ di sản ông Đại để lại được chia theo pháp luật nên không thuộc trường hợp quy định tại Điều 669 BLDS 2005. |
Vợ chồng A và B có 2 con chung là C và D. C có vợ là H và có 2 con chung là E và F. A và C chết cùng thời điểm. Di sản của A là 720 triệu.
Trường hơp 1: chia di sản của A cho những người có quyền thừa kế
Trường hợp 2: A để lại di chúc truất quyền thừa kế của B,C,D và cho K hưởng 2/3 di sản, 1/3 di tặng cho M. Bà B khởi kiện lên tòa xin thừa kế di sản của A. Hãy chia di sản của A cho người có quyền thừa kế. | Di sản ông A để lại là 720 triệu đồng.
Trường hợp 1: Chia thừa kế cho những người có quyền thừa kế được thực hiện theo pháp luật.
A chết không để lại di chúc, khi đó di sản A để lại sẽ được chia theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: B (vợ), D, C (C chết thì con của C là E + F sẽ được hưởng thừa kế thế vị của C – theo Điều 652 BLDS 2015) (điều 651 BLDS 2015). Theo đó di sản của A sẽ được chia làm ba phần B = D = E+F = 240 triệu.
Trường hợp 2: Nếu di chúc của A để lại là hợp pháp, thì sẽ có hiệu lực (K được 2/3 di sản=480 triệu; M được 1/3 di sản = 240 triệu). Tuy nhiên, nếu bà B không phải là người không có quyền hưởng di sản (theo quy định tại khoản 1 Điều 621 BLDS 2015) thì bà B là đối tượng được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644 BLDS 2015. Theo đó, bà B là người được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật.
Khi đó, để bà B được hưởng 2/3 suất thừa kế (=160 triệu) thì sẽ được lấy ra từ phần của bà K được hưởng theo nội dung di chúc. Lưu ý, không lấy từ phần di tặng theo quy định tại khoản 3, Điều 646 BLDS 2015. |
Ông A kết với bà B sinh ra 3 người con C, D, E. Năm 2000, anh C kết hôn với chị F; vào thời gian này 2 người tạo dự đc ngôi nhà 800 triệu. Anh C bàn với chị F thuế chấp ngôi nhà lấy 100 triệu làm ao nuôi cá basa, nhưng chị F khôg đồng ý. Sau đó anh C đi vay với hình thức tín chấp.
Năm 2009, anh C chết kô để lại di chúc.
Năm 2010, ông A chết để lại tài sản 1 tỷ 6. Ông có di chúc là cho anh C và D mỗi người 200 triệu…
Hãy chia thừa kế trong thời điểm trên? | C chết, di sản để lại trị giá: (800tr : 2) – 100tr = 300tr (100tr tiền C trả nợ vay tín chấp riêng)
C chết ko di chúc, di sản chia theo pháp luật (Điểm a khoản 1 Điều 650 BLDS 2015). Những ng` thừa kế di sản của C theo pháp luật gồm: A, B, F (Điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015).
Giá trị mỗi suất thừa kế trên tổng di sản: 300tr : 3 = 100tr/suất
Hay A, B, F mỗi ng` nhận được 100tr từ di sản của C
A chết, di sản để lại trị giá: 1600tr + 100tr = 1700tr
A chết, di chúc cho C, D mỗi ng` 200tr. Nhưng C chết trước A, nên C khôg được hưởng phần di sản mà
A định đoạt trong di chúc, mà phần di sản đó sẽ được chia theo pháp luật (Điểm c khoản 2 Điều 650 BLDS 2015).
Phần di sản còn lại của A: 1700tr – 200tr = 1500tr
Phần di sản này chia theo pháp luật, những ng` thừa kế di sản của A theo pháp luật gồm: B, D, E (Điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015).
Giá trị mỗi suất thừa kế trên tổng di sản: 1500tr : 3 = 500tr/suất
Hay B, D, E mỗi ng` nhận được 500tr từ di sản của A.
Tổng kết:
B : 100tr + 500tr = 600 triệu.
F : 100tr + 400tr = 500 triệu.
D : 200tr + 500tr = 700 triệu.
E : 500 triệu. |
Tháng 4 năm 2016, ông Nam đến phòng công chứng làm di chúc để định đoạt số tiền gửi tiết kiệm là 200 triệu đồng mà ông được hưởng thừa kế từ cha, mẹ ruột của ông. Theo di chúc, ông Nam để lại toàn bộ số tiền này cho Hoàng – 20 tuổi, là con của ông với vợ là bà Nguyệt. Phần căn nhà của vợ chồng ông Nam không được làm di chúc. Ngoài ra, ông Nam và bà Nguyệt còn có 1 người con là Hải (12 tuổi, vào thời điểm ông Nam chết), nhưng do nghi ngờ Hải không phải là con của mình nên trong di chúc ông Nam không nhắc đến Hải.
Hãy phân chia tài sản của ông Nam, giả sử tháng 2 năm 2017, ông Nam chết. | Di sản ông Nam để lại là: 200 triệu + 1/2 giá trị căn nhà của ông Nam, bà Nguyệt.
Giả sử: Di chúc ông Nam để lại là hợp pháp thì Hoàng được hưởng 200 triệu.
½ giá trị căn nhà là di sản ông Nam để lại chưa được định đoạt nên sẽ được chia theo pháp luật (điều 650, 651 BLDS 2015). Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật của ông Nam gồm: bà Nguyệt, Hoàng, Hải.
Khi chia theo pháp luật phần di sản (căn nhà) được chia nếu bà Nguyệt, Hải không được hưởng ít nhất bằng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật thì sẽ trích ra từ phần mà Hoàng được hưởng để đảm bảo cho Hải, bà Nguyệt được hưởng 2/3 suất thừa kế nếu di sản (toàn bộ di sản) được chia theo pháp luật. |
Ông A kết hôn với bà B, có 2 con là C và D. Khi D được 2 tuổi, ông A và bà B đã cho đi làm con nuôi gia đình ông X. Quá trình chung sống ông bà tạo dựng được tài sản chung trị giá 220 triệu. Năm 2008, bà B chết, ông A lo mai táng hết 20 triệu. Năm 2009, ông A kết hôn với bà M, sinh được 1 người con là N và cùng tạo lập khối tài sản chung trị giá 180 triệu. Năm 2016, ông A lập di chúc hợp pháp có nội dung “cho N hưởng 1/2 tài sản của ông A”. Năm 2017, ông A chết Sau đám tang ông A, chị C yêu cầu bà M cho mình hưởng thừa kế, Bà M không những không đồng ý mà còn tìm cách giết C. Rất may, sự việc được phát hiện kịp thời nên C chỉ bị thương nhẹ. Bà M bị toà án xử 3 năm tù giam
Anh/chị hãy giải quyết việc chia TK nói trên.
(Biết rằng: Cha mẹ ông A và bà B đều đã chết trước ông A và bà B. | Năm 2008, bà B chết. Di sản bà B để lại là 110 triệu (1/2 khối tài sản chung với ông A). Sau khi trừ đi chi phí mai táng (điều 658 BLDS 2015), di sản bà B dùng để chia thừa kế là 90 triệu. Do bà B chết không để lại di chúc nên di sản bà để lại sẽ được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2015). Theo đó, ông A, C, D là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà B và mỗi người được hưởng thừa kế của bà B là 30 triệu (điều 651 BLDS 2015). Lưu ý: Thời hiệu thừa kế là 10 năm với động sản; 30 năm với bất động sản (điều 623 BLDS 2015)
Năm 2017 ông A chết để lại di chúc “cho N hưởng ½ tài sản của ông A”.
Di sản ông A để lại là: 110 triệu (trong khối tài sản chung với bà B) + 30 triệu (hưởng thừa kế của bà B) + 90 triệu (trong khối tài sản chung với bà M) = 230 triệu.
Theo di chúc, N được hưởng ½ di sản của ông A = 115 triệu. Còn 115 triệu không được ông A định đoạt trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2015). Bà M đã bị kết án về hành vi đối với C – là người không được quyền hưởng di sản (điểm c, khoản 1 Điều 621 BLDS 2015). Theo đó, 115 triệu được chia theo pháp luật cho C,D,N mỗi người một phần bằng nhau (38,3 triệu). |
Năm 1992, Ô A kết hôn với bà B. Ô bà sinh được 3 con là M, N, C. Năm 2015, M kết hôn với E sinh được H & X. N lấy chồng sinh được con là K & D. Tháng 3/2017 Ô A chết để lại di chúc cho X & N. Qua quá trình điều tra thấy rằng Ô A lập di chúc không hợp pháp. Biết rằng tài sản của ông A là 200 triệu VNĐ. Tài sản chung của Ô bà là 100 triệu VNĐ. Bà B mai táng cho ông A hết 40 triệu. Hãy chia tài sản thừa kế. | Theo đề bài ta được các dữ kiện sau:
Tài sản riêng của ông A là 200 triệu.
Tài sản chung của ông A và B là 100 triệu.
Di sản của ông A là 200 + (100/2) = 250 triệu.
Xem: Cơ sở pháp lý của việc định tội danh
Do bà B làm mai táng cho ông A hết 40 nên di sản của ông A còn lại là 250 – 40 = 210 triệu.
Theo luật định những người được hưởng tài sản thừa kế của ông A gồm bà B, M, N và C: 210/4 = 52,5 triệu. |
Năm 1973 Ô Sáu kết hôn với bà Lâm và có hai người con là Hoa (sinh năm 1975) và Hậu (Sinh năm 1977) đồng thời ông cũng tạo lập được một ngôi nhà thuộc sở hữu chung hợp nhất giá trị 180 triệu. Năm 1982, vì muốn có con trai nối dõi và có sự đồng ý của bà Lâm, ông Sáu sống như vợ chồng với bà Son và có hai con trai là Tấn (sinh năm 1983) và Thanh (sinh năm 1985) và cùng sống tại nhà bà Son.
Năm 1991 bà Lâm bị bệnh nặng, vì Hoa là người chăm sóc chính nên bà đã lập di chúc cho Hoa 2/3 di sản và hai năm sau thì bà Lâm chết. Năm 1997, Hoa kết hôn với Khôi và có một người con là Bôn. Cùng năm đó ông Sáu và bà Son tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND phường. Năm 1998, Hoa bị tai nạn xe máy chết đột ngột nên không để lại di chúc.
Ông Sáu lập di chúc cho Bôn là 2/3 di sản của ông. Năm 2000, ông Sáu chết, chi phí mai tang hết 5 triệu. Tháng 1 năm 2001 các con của ông Sáu khởi kiện đòi chia tài sản thừa kế của ông.
Qua điều tra, tòa án xác định được:
– Tài sản chung hợp nhất của ông Sáu và bà Son là 80 triệu.
– Tài sản của ông Sáu có trước khi kết hôn không nhập nào tài sản chung với bà Son.
Yêu cầu hãy chia thừa kế trong trường hợp trên. | Kết hôn của ông Sáu và bà son là hợp pháp
+ Năm 1993 bà lâm chết
Di sản của bà Lâm : 180/2 = 90 triệu.
Người thừa kế theo pháp luật của bà Lâm : ông Sáu, Hoa, Hậu
Theo di chúc hoa được hưởng = (90*2)/3 = 60 triệu.
Di sản con lại là 30tr không được định đoạt trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật
Ông Sáu = Hoa = Hậu = 30/3 = 10 triệu.
Giả sử toàn bộ di sản của bà lâm được chia theo pháp luật:
1STK = 90/3 = 30 triệu.
1STK bắt buộc = 30*2/3 = 20tr >10tr (ông Sáu, Hậu (16 tuổi) được hưởng theo Điều 644 BLDS 2015) mỗi suất thiếu 10 triệu sẽ được trừ vào phần của hoa
Vậy ông Sáu = Hậu = 20 triệu, Hoa = 50 triệu.
+ Năm 1998 Hoa chết
Di sản của Hoa 50 triệu.
Người thừa kế theo pháp luật của hoa là :ông Sáu,khôi,bôn
Do hoa chết không để lại di chúc nên sẽ được chia theo pháp luật
Ông Sáu = Khôi = Bôn = 50/3 = 16.67 triệu.
+ Năm 2000 ông Sáu chết
Di sản của ông Sáu: 90+80/2+20+16.67-5= 161.67 triệu.
Người thừa kế theo pháp luật của ông Sáu là: bà Son,Hoa(bôn thế vị),hậu,tấn,thanh
Theo di chúc: Bôn = 161,67*2/3=107,78 triệu.
Di sản còn lại 53,89 tr di chúc không định đoạt sẽ được chia theo pháp luật: 53,89/5= 10,78 triệu.
Giả sử toàn bộ di sản của ông Sáu sẽ được chia theo pháp luật
1STK = 161,67/5 = 32,33 triệu.
1STK bắt buộc= 32,33*2/3=21,56 triệu (bà Son = Tấn(17tuổi) = Thanh(15tuổi) theo Điều 669) >10,78 triệu. (mỗi người thiếu 10,78 triệu sẽ được trích từ phần của Bôn)
Vậy
Bà Son = Tấn = Thành = 21,56 triệu.
Hoa (Bôn thế vị) = Hậu = 10,78 triệu.
Bôn = 75,43 triệu.
Quyền thừa kế |
Ông A và bà B có 3 người con là C,D,E. tài sản chung của ông A và bà B là ngôi biệt thự trị gía 3.6 tỷ VĐN. Năm 2003 ông A lập di chúc với nội dung: “Để lại 1/3 di sản cho vợ và các con. 1/3 di sản cho E quản lý để lo cho việc thờ cúng. 1/3 di sản còn lại di tặng cho bà H”. Hãy giải quyết tranh chấp thừa kế giữa các bên trong các tình huống sau:
+ Năm 2006 di sản của ông A được phân chia cho các thừa kế. Trước khi chi di sản thừa kế của ông A, ông M đã xuất trình một biên nhận vay tiền có chữa ký của ông A, để ngày 01/01/2005, với nội dung ông A vay của ông M số tiền là 300tr đồng.
+ Năm 2006, di sản của ông A đưaợc phân chia cho các thừa kế. Sau khi phân chia di sản thừa kế của ông A xong (01/2007), thì ông M đã xuất trình một biên nhận vay tiền có chữ ký của ông A, để ngày 01/01/2005 với nội dung ông A vay của ông M số tiền là 300tr đồng. | Tổng tài sản của ông A là 3.6 tỷ:2 = 1.8 tỷ
Trường hợp 1: chưa chia di sản mà M đưa biện nhận vay tiền của ông A thì theo thỏa thuận của các thừa kế nếu sẽ trừ vào tài sản để lại của ông A thì còn lại 1.8 tỷ – 300tr = 1.5 tỷ.
Còn lại chia theo di chúc
Thứ nhất 1/3 chia cho vợ và các con: B=C=D=E=(1.5 tỷ :3) : 4 = 125tr
Thứ hai 1/3 giao cho E để thờ cúng = 1.5 tỷ : 3 = 500tr
Thứ ba 1/3 tặng cho H = 500tr
Trường hợp 2: chia di sản rồi ông M mới đưa biên nhận vay tiền của ông A thì ông A có vay ông M 300tr thì sẽ trừ vào phần thừa kế thứ nhất.Phần thứ nhất còn lại (1.8 tỷ : 3)-300=300tr chia lại cho B=C=D=E=300:4 = 75tr
Tổng:
B = 1.8 tỷ + 75 triệu = 1.875 tỷ
C = D = 75 triệu
E = 600+75 = 675 triệu
H = 600 triệu |
Hậu và Minh kết hôn năm 1983, có 2 con gái là Xuân sinh năm 1984, Yên sinh năm 1993. Năm 2000, Hậu đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc và chung sống như vợ chồng với Thủy, 2 người có 1 con chung là Sơn sinh năm 2003.
Ngày 11-2007,Hậu về nước và li hôn với Minh. Tòa án đã thụ lý đơn.
Ngày 8-1-2008, Hậu chết đột ngột và không để lại di chúc.
Thủy đến đòi chia tài sản thừa kế của Hậu, nhưng gia đình Hậu không đồng ý, Vì vậy Thủy làm đơn kiện.
Biết: Hậu và Thủy có khối tài sản chung là 3 tỷ, Hậu và Minh có tài sản chugn là 980 triệu, trong thời gian Hậu đi xuất khẩu lao động không gửi tiền về, Mai táng cho hậu hết 20 triệu.
1. Hãy chia thừa kế trong trường hợp trên
2. Giả sử anh Hậu để lại di chúc miệng và được nhiều người chứng kiến là để tài sản cho Thủy, Sơn, Xuân mỗi người một phần đều nhau. Chia thừa kế trong trường hợp trên. | Trường hợp 1: Hậu không để lại di chúc
Theo pháp luật hôn nhân, giữa Hậu và Thủy vi phạm nghĩa vụ một vợ một chồng và tài sản của Hậu và Thủy là tài sản chung hợp nhất theo phần và chia theo tỷ lệ vốn góp, tuy nhiên do không đủ cơ sở để phân chia nên số tài sản sẽ được chia Điều cho 2 người = 3 tỷ/2= 1.5 tỷ
Do Hậu và Minh chưa ly hôn theo quy định của pháp luật nên phần 1.5 tỷ này vẫn thuộc tài sản chung của vợ chồng.
Tổng tài sản hiện còn của Hậu là: (1500+980)/2 – 20 = 1220 triệu.
Tài sản được chia theo pháp luật:
Minh = Xuân = Yến = Sơn = 1220/4 = 305 triệu.
Trường hợp 2: Hậu có để lại di chúc
+ Chia theo di chúc: Thủy= Sơn = Xuân = 1220/3 = 406.6 triệu.
+ Giả sử toàn bộ tài sản được chia theo pháp luật
1 suất thừa kế theo pháp luật = 305 triệu.
1 suất thừa kế bắt buộc = 2*305/3 = 203.3 triệu.
Minh = Yến= 203.3 triệu.
Thủy = Sơn= Xuân = (1220-203.3*2)/3 = 271.1 triệu. |
Ông A và bà B là vợ chồng, 2 người có tài sản chung là 600tr. Bà B có tài sản riêng là 180tr. Họ có 3 người con, C (20t) đã trưởng thành, có khả năng lao động; D, E (14t) chưa có khả năng lao động. Bà B chết, di chúc hợp pháp cho M 100 triệu; hội người ngèo 200 triệu. Tính thừa kế của những người trong gia đình bà B? | Bà B chết, di sản của bà trị giá: 180 + 600/2 = 480 triệu.
Bà B di chúc hợp pháp cho M & hội người nghèo, không di chúc cho ông A cùng các con, nhưng ông A & D, E thuộc đối tượng phải được nhận di sản bắt buộc = 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật. Ta có:
Suất thừa kế theo pháp luật: 4 người (ông A, C, D, E)
Giá trị mỗi suất thừa kế theo pháp luật trên tổng di sản: 480tr/4 = 120tr/suất
Giá trị mỗi phần di sản bắt buộc: 120tr x (2/3) = 80 triệu.
=> ông A & D, E mỗi người nhận được 80 triệu. Phần di sản còn lại của bà B trị giá: 480 – (80 x 3) = 240 triệu.
Theo di chúc, tổng di sản bà B di tặng là: 100 + 200 = 300 triệu (> 240 triệu)
Ta thấy:
M/hội người nghèo = 100/200 = 1/2 (tức là theo di chúc, di sản di tặng cho M & hội người nghèo luôn theo tỉ lệ 1 : 2)
Suy ra, M nhận được: (240/3) x 1 = 80 triệu; hội người nghèo nhận được: (240/3) x 2 = 160 triệu.
Tổng kết:
Ông A : 300 + 80 = 380 triệu.
C : 0 triệu.
D = E = M = 80 triệu.
Hội người nghèo : 160 triệu. |
Sơn và Hà là vợ chồng có tài sản chung là 1,8 tỷ đồng. Họ có hai con là Hạnh(15 tuổi) và Phúc (20 tuổi). Vừa qua, Sơn và Hạnh đi xe bị tai nạn. Lúc hấp hối, Sơn có di chúc miệng trước nhiều người làm chứng là để lại toàn bộ tài sản cho Phúc và Hạnh. Sau khi để lại di chúc ông Sơn qua đời. Vài giờ sau Hạnh cũng không qua khỏi.
Hãy cho biết Hà sẽ được hưởng bao nhiêu từ di sản của hai bố con Sơn và Hạnh? Biết rằng Hạnh còn có tài sản trị giá 50 triệu do được bà ngoại tặng trước khi chết. (Lý giải vì sao?) | Nếu di chúc ông Sơn để lại là hợp pháp (Điều 629, 630 BLDS 2015) và Hạnh được xác định là chết sau ông Sơn (Điều 619 BLDS 2015) thì Hạnh được hưởng thừa kế theo di chúc ông Sơn để lại.
Bà Hà là người được hưởng thừa kế ko phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644 BLDS 2015) nên được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật.
Theo đó, bà Hà được hưởng 200 triệu từ di sản ông Sơn để lại (Điều 644 BLDS 2015) phần còn lại được thực hiện theo di chúc (Hạnh = Phúc = 350 triệu)
Nếu Hạnh chết không để lại di chúc thì di sản Hạnh để lại (350 triệu hưởng thừa kế từ ông Sơn + 50 triệu bà ngoại tặng cho) được chia theo pháp luật. Theo đó, bà Hà là người được hưởng thừa kế theo pháp luật của Hạnh (Điều 644651 BLDS 2015)
Hà được hưởng: 200 triệu (thừa kế theo Điều 644 BLDS 2015) + 400 triệu của Hạnh (Điều 644, 651 BLDS). |
A là một họa sỹ. A có ý định mở triển lãm trong thời gian 02 năm. B là một người khách đến xem tranh, rất thích bức tranh có tên “Êm” và đề nghị được mua bức tranh này. A và B thống nhất giá bán bức tranh là 2 triệu đồng, A sẽ hỗ trợ cho người giao tranh đến tận nhà cho B. Sau khi B trả đủ 2 triệu đồng cho A, ba ngày sau, A đã giao bức tranh cho B tại nhà B. Khi mở bức tranh ra xem thì B thấy bức tranh bị nhòe mực. Hỏi ra mới biết A trên đường vận chuyển gặp cơn mưa nhưng do có quá nhiều tranh phải vận chuyển nên C không dừng lại trú mưa. Vì vậy B yêu cầu A bồi thường thiệt hại. Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này? | : Theo Khoản 4 Điều 8 Bộ luật dân sự năm 2015 bức tranh là kết quả của hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ của A, do đó, A có quyền sở hữu đối với bức tranh, đồng thời, A cũng có quyền tác giả đối với bức tranh. Bức tranh là một tài sản hợp pháp, A và B giao kết hợp đồng mua bán bức tranh, theo Khoản 1 Điều 8, A có quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho chủ thể khác và B có quyền xác lập quyền sở hữu đối với tài sản hợp pháp thông qua hợp đồng. Hợp đồng xác lập giữa A và B là hợp đồng mua bán tài sản, một trong những loại hợp đồng thông dụng và rất phổ biến trong đời sống xã hội. Bức tranh đã bị thiệt hại là không còn giữ được toàn vẹn của tác phẩm. Nguyên nhân là do hành vi của C. Theo Khoản 7 Điều 8, Bộ luật dân sự năm 2015 B có quyền yêu cầu C phải bồi thường thiệt hại cho mình theo quy định của pháp luật. |
C là chủ sở hữu chiếc điện thoại Iphone 7 vừa mới được giới thiệu bán trên thị trường. B không đủ tiền mua nhưng rất thích chiếc điện thoại này nên mượn của C chiếc điện thoại để xem trong một ngày. Khi đang xem điện thoại thì bạn gái của B là E đến chơi. Do tính cách sĩ diện nên B nói đây là điện thoại của mình và tặng cho E chiếc điện thoại này. Sau đó, B nói với C là đã bị móc trộm điện thoại trên đường và hứa khi nào đủ tiền sẽ mua đền C chiếc điện thoại khác. Trong một lần đi sinh nhật, C nhận thấy chiếc điện thoại của mình đang do E dùng vì có một số đặc điểm của chiếc điện thoại chỉ mình C biết. Hai bên cãi vã to tiếng. Trong cơn nóng giận, E vứt chiếc điện thoại thẳng vào tường và chiếc điện thoại bị vỡ, hỏng nặng, không sử dụng được. C đã phát hiện ra sự thật và yêu cầu B phải mua đền cho mình chiếc Iphone 7 khác. | : Điều 11 BLDS năm 2015 quy định về các phương thức bảo vệ quyền dân sự. Theo đó, trong tình huống nêu trên, C đã bị xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản là chiếc điện thoại của mình. Do đó, C có quyền thực hiện các phương thức bảo vệ quyền dân sự. Trước hết, C có quyền tự bảo vệ quyền dân sự, yêu cầu E (người đang chiếm giữ chiếc điện thoại) trả lại điện thoại cho mình. C có quyền yêu cầu B bồi thường thiệt hại cho chiếc điện thoại mà B đã mượn, không trả lại và nay đã bị hỏng. Trường hợp B không thực hiện trách nhiệm của mình, C có quyền khởi kiện yêu cầu B bồi thường thiệt hại do đã xác lập hợp đồng mượn tài sản với mình nhưng đã không thực hiện nghĩa vụ trả lại tài sản, đã có hành vi chuyển giao trái pháp luật tài sản cho chủ thể khác và làm hỏng tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của C. |
: A 10 tuổi trở thành trẻ mồ côi sau một tai nạn bị mất cả cha và mẹ. M là cô ruột của A đã thực hiện các thủ tục để giám hộ cho A. M đồng thời quản lý căn nhà và các tài sản khác của bố mẹ A để lại. 3 năm sau, do A chơi với các bạn xấu, A về đòi cô giao các tài sản của bố mẹ để bán lấy tiền chơi điện tử. M không đồng ý và còn nghiêm khắc mắng A. A đã lén lút lấy một số tài sản và bán cho O. M biết chuyện yêu cầu O phải trả lại tài sản nhưng O cho rằng đây là tài sản của A, M chỉ là người giữ hộ nên M không có quyền gì đối với các tài sản này. A đã bán cho O thì các tài sản đương nhiên thuộc sở hữu của O. | Điều 19 BLDS năm 2015 quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Theo đó, trong tình huống nêu trên A chưa có đủ năng lực hành vi dân sự để có thể tự mình bằng hành vi của mình xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự, xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự. Do đó, việc A tự mình bán các tài sản của bố mẹ để lại cho O sẽ không là căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản cho O. M có quyền yêu cầu O phải trả lại các tài sản này. |
: Sau một tai nạn giao thông, H bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe tâm thần của H không được đảm bảo, lúc nhớ lúc quên và xuất hiện một số hiện tượng nổi nóng cũng như một số hành vi không kiểm soát. Để tránh tình trạng H sẽ gây thiệt hại cho người khác hoặc sẽ mang tài sản của gia đình đi bán, K là vợ của H đã yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xác định H trong tình trạng có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Căn cứ vào kết luận của giám định pháp y tâm thần, Tòa án đã ra quyết định tuyên bố H là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Tuy nhiên, để giữ thể diện trong gia đình, K không công khai chuyện này cho mọi người được biết. Trong một lần H đang thơ thẩn chơi quanh xóm, H đã gặp P là bạn cũ. Nói chuyện được vài câu, P phát hiện H không được minh mẫn nên đã gạ H cho mình chiếc đồng hồ H đang đeo. H liền cởi đồng hồ cho P. Phát hiện ra chuyện, K đã yêu cầu P trả đồng hồ nhưng P cho rằng H thành niên, có quyền xác lập hợp đồng tặng cho tài sản cho P và P là chủ sở hữu của chiếc đồng hồ này căn cứ vào hợp đồng thỏa thuận giữa P và H. | Điều 23 BLDS năm 2015 quy định về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Căn cứ theo Điều 23, trong tình huống nêu trên, H được xác định là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Bởi vì, H đáp ứng các điều kiện: (i) người thành niên do tình trạng tinh thần không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự; (ii) có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan là vợ; (iii) có kết luận giám định pháp y tâm thần; (iv) có quyết định của Tòa án tuyên H là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó, các giao dịch dân sự của H phải tuân theo quy định của pháp luật, cần có sự tham gia của người giám hộ. Việc H tự mình xác lập hợp đồng tặng cho tài sản với P, do đó, không thể phát sinh hiệu lực cho hợp đồng này và cũng không thể căn cứ trên hợp đồng này để xác lập quyền sở hữu cho P. Vì vậy, theo quy định của pháp luật, P phải trả lại chiếc đồng hồ. |
: N là một nhà văn. Sau một lần ốm nặng không phát hiện và chữa trị kịp thời, N đã không còn nhận thức được bình thường. Vợ của N đã yêu cầu Tòa án tuyên N là mất năng lực hành vi dân sự và đã được Tòa án ra quyết định tuyên N mất năng lực hành vi dân sự. Một thời gian sau, do biết N đã không còn trí tuệ bình thường, bạn trong hội sáng tác của N là M đã sao chép gần như nguyên vẹn một tác phẩm của N và xuất bản, bán ra ngoài thị trường. Vợ của N đã yêu cầu M phải chấm dứt ngay hành vi này và có sự xin lỗi, cải chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng M phản đối và nói rằng đây chỉ là quyền của N. | Theo Điều 25 BLDS năm 2015 quy định về quyền nhân thân. Theo đó, căn cứ trên tình huống nêu trên, N là tác giả của các tác phẩm do N sáng tác do đó, N có quyền nhân thân là quyền tác giả đối với tác phẩm. Theo Luật Sở hữu trí tuệ, quyền công bố tác phẩm thuộc quyền tác giả là quyền nhân thân có thể chuyển giao cho chủ thể khác. Những quyền khác thuộc quyền tác giả là quyền gắn liền với tác giả, không thể chuyển giao. Khi N bị mất năng lực hành vi dân sự, quyền tác giả của N không chấm dứt. Căn cứ theo Điều 25, trường hợp này, việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của N sẽ do người đại diện theo pháp luật của N đồng ý. Do đó, M không được phép xâm phạm quyền tác giả của N. Nếu M muốn sử dụng các tác phẩm của N phải xác lập các quan hệ dân sự và được sự đồng ý của vợ N, trường hợp N là đại diện theo pháp luật. |
: A là người Hà Nội đi tình nguyện mùa hè và gặp B là người dân tộc Hà Nhì. Thấy B xinh xắn và dễ thương, lại được học hành tử tế, A đem lòng yêu mến và xin phép gia đình được cưới B. Một năm sau, B sinh một bé trai kháu khỉnh. A đi đăng ký khai sinh cho con và dự định sẽ đăng ký cho con thuộc dân tộc Kinh nhưng B phản đối. B cho rằng theo tập quán tại quê hương của B thì con đầu lòng phải xác định dân tộc theo dân tộc của mẹ. A không đồng ý vì cho rằng như vậy sẽ ảnh hưởng đến tương lai của đứa trẻ. Hai vợ chồng không thể thống nhất trong việc xác định dân tộc của đứa trẻ trong giấy khai sinh là như thế nào. | Điều 29 BLDS năm 2015 quy định về quyền xác định, xác định lại dân tộc. Theo đó, dân tộc của cá nhân được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ. Nếu hai người này không cùng dân tộc thì cần sự thỏa thuận của cha mẹ, hoặc theo tập quán nếu không thỏa thuận được. Tình huống nêu trên, A và B là hai người thuộc hai dân tộc khác nhau và không thể thống nhất về xác định dân tộc cho con của họ. Xét trên tập quán của hai dân tộc cũng không thể xác định được cho đứa trẻ. Do đó, theo Điều 29, dân tộc của đứa trẻ được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn. Nói cách khác, trường hợp này, dân tộc của đứa trẻ được xác định là theo dân tộc của mẹ. |
: A yêu và kết hôn với một người đàn ông Pháp. A sinh ra E là con gái đầu lòng. Do mâu thuẫn từ lâu với gia đình của A, B là hàng xóm đã sang chế giễu E không thể là người Việt Nam, là loại con lai, nên đi nước ngoài mà sống. Con của B là M làm tại ủy ban phụ trách việc làm giấy khai sinh cho cá nhân. Do bị sức ép từ B, M kiên quyết yêu cầu A phải khai quốc tịch của E là quốc tịch Mỹ hoặc M sẽ không đồng ý ghi nhận quốc tịch của E là Việt Nam. | Điều 31 BLDS năm 2015 quy định về quyền đối với quốc tịch. Theo đó, trong tình huống trên, E đương nhiên có quyền có quốc tịch. E được sinh ra tại Việt Nam, có mẹ là người mang quốc tịch Việt Nam. Do vậy, đương nhiên, E được quyền xác định quốc tịch của E là quốc tịch Việt Nam. Mọi hành vi cản trở việc ghi nhận quốc tịch của E trái pháp luật đều là sự vi phạm quyền đối với quốc tịch của E. |
: B là một nữ sinh đang theo học năm thứ hai tại Đại học X. Vốn có vẻ ngoài ưa nhìn, B thường xuyên tham gia các hoạt động ngoại khóa và chụp rất nhiều ảnh với bạn bè hoặc chụp các ảnh cá nhân tại các sự kiện, lễ hội. Những bức ảnh của B được rất nhiều các bạn trai cùng lớp hâm mộ và nhiều bạn đã tự ý sao chép ảnh của B để làm màn hình nền trên máy điện thoại hoặc máy tính cá nhân. D là một trong những bạn trai này. Một lần đến chơi nhà người họ hàng sắp mở Spa đang thiếu ảnh nền để treo quảng cáo tại Spa. D đã khoe ảnh của B và cho người họ hàng này in ảnh của B treo tại Spa để quảng cáo cho dịch vụ làm đẹp tại Spa. B biết được điều này đã yêu cầu tiệm Spa gỡ hết các ảnh của mình xuống vì chưa được sự cho phép của mình. Nếu thực sự muốn giữ lại các bức ảnh thì Spa phải có nghĩa vụ trả tiền cho B khi sử dụng các bức ảnh này. Tiệm Spa cho rằng bức ảnh này của B được tiệm Spa treo là làm nổi tên tuổi của B, đáng nhẽ B phải trả tiền quảng cáo cho tiệm Spa. Do đó, tiệm Spa từ chối trả bất kỳ khoản tiền gì cho B và cũng không chịu gỡ các bức ảnh này xuống. | Điều 32 BLDS năm 2015 quy định về quyền của cá nhân đối với hình ảnh. Theo đó, trong tình huống nêu trên, B hoàn toàn có quyền đối với các hình ảnh của mình. Đối với bất kỳ người nào sử dụng các bức ảnh của B phải được sự đồng ý của B. Việc tiệm Spa sử dụng hình ảnh của B để quảng cáo cho các dịch vụ làm đẹp là việc sử dụng vì mục đích thương mại, do đó, tiệm Spa phải trả thù lao cho B là người có hình ảnh. Trường hợp những người sử dụng hình ảnh của B và tiệm Spa không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền đối với hình ảnh của B dù đã được B yêu cầu thì B có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu những chủ thể này chấm dứt các hành vi xâm phạm. Nếu B chứng minh được vì các hành vi này mà B bị thiệt hại thì B còn có quyền yêu cầu các chủ thể này phải bồi thường thiệt hại cho B theo quy định của pháp luật. |
: Trong một năm liên tục, gia đình A phải chăm sóc E là bà nội trong gia đình bị bệnh nặng phải nằm liệt một chỗ. Bà E rất đau đớn vì bệnh tật mang lại. Suốt một năm, bà liên tục phải truyền thuốc, tiêm thuốc, người không hoạt động được, mọi sinh hoạt trong gia đình đều phải nhờ vào con cháu. Quá đau đớn về thể xác, chán nản về tinh thần và rất thương xót con cháu, bà E đã khẩn khoản xin con cháu cho mình được chết nhưng mọi người trong gia đình đều không đồng ý. Một lần, bạn của bà E đến chơi, bà E đã kể toàn bộ nỗi khổ cho bạn mình và có lời “nhờ” khi nào sức khỏe của bà yếu hơn nữa và phải thở bằng oxy thì nhờ bạn đến thuyết phục với gia đình cho bà E được chết, trường hợp gia đình không đồng ý thì bà E xin bạn mình tìm điều kiện để rút ống thở cho mình được chết. Một thời gian ngắn sau sức khỏe của bà E rất yếu, bà E hầu như không còn nhận biết được mọi việc và phải trợ thở bằng oxy. Theo đúng lời dặn dò của bà E, bạn bà đã thuyết phục gia đình A nhưng vẫn không nhận được sự đồng ý của gia đình. Cuối cùng, bạn bà E đã chờ lúc mọi người trong gia đình ra khỏi phòng để tranh thủ rút ống thở theo đúng tâm nguyện của bà E. Tuy nhiên, do để quên đồ nên A quay lại vừa lúc ống thở của bà E bị rút. A làm ầm lên, cắm lại ống thở và đòi đưa bạn bà E lên công an vì có ý định giết bà E. Bạn bà E phản đối và nói rằng chỉ làm theo tâm nguyện của bà E mà thôi. | Điều 33 BLDS năm 2015 quy định về quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể. Theo đó, trong tình huống nêu trên, quyền sống của bà E được pháp luật bảo hộ và quyền sống này không thể bị tước đoạt trái pháp luật bởi bất kỳ ai. Do đó, bạn bà E không được phép tự ý tước đoạt quyền được sống của bà E, dù là có được bà E nhắn nhủ trước đó. |
: C là một đầu bếp nổi tiếng tại nhà hàng X. Nhà hàng Y mới mở gần nhà hàng X vì muốn thực hiện việc cạnh tranh không lành mạnh đã thực hiện một cuộc phỏng vấn trên báo mạng và đưa tin rằng C là người thường xuyên sử dụng các thực phẩm không an toàn trong nấu nướng, dẫn đến nhiều vụ ngộ độc cho khách hàng đến ăn uống tại nhà hàng. Thông tin được lan truyền nhanh chóng trên mạng khiến cho số lượng khách hàng đến nhà hàng X giảm sút nghiêm trọng. Ngoài ra, tiếng xấu này của C lan đi khắp nơi ảnh hưởng đến công việc cũng như uy tín của C. C đã gặp người của nhà hàng Y đã đưa thông tin này và yêu cầu phải có hành vi xin lỗi và cải chính các thông tin thất thiệt đưa ra nhưng nhà hàng Y không chấp nhận. | Điều 34 BLDS năm 2015 quy định về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Theo đó, trong tình huống trên danh dự, uy tín của đầu bếp C đã bị xâm phạm nghiêm trọng bởi hành vi đưa tin thất thiệt. Theo Điều 34, các thông tin này ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của C được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng phải được gỡ bỏ. Trang báo mạng nào đăng thông tin này cần đăng cải chính công khai đối với các thông tin thất thiệt này. Ngoài ra, đầu bếp C còn có quyền yêu cầu người đã đưa ra thông tin thất thiệt làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của mình thông tin xin lỗi và bồi thường đối với những thiệt hại đã phải gánh chịu liên quan đến các thông tin thất thiệt đó. |
: Nguyễn Văn A, 35 tuổi bị TAND tỉnh Y kết án tử hình về hành vi cố ý giết người. Trước ngày thi hành án tử hình, A biết được B (bạn thân của A) đang bị suy thận cấp và cần có thận phù hợp để ghép và tiếp tục sự sống.A bày tỏ mong muốn trước khi chết được hiến thận cho bạn của mình và hiến xác cho y học. Hỏi: A có thể hiến thận cho B và hiến xác cho nền y học nước nhà được không? Tại sao? | Theo quy định của Điều 35, BLDS năm 2015 thì quyền hiến bộ phận cơ thể và hiến xác là quyền nhân thân của A. Nhưng quyền này phải được thực hiện theo các điều kiện và trình tự, thủ tục mà Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định. Theo quy định tại Điều 5 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác.” Trong các quy định của văn bản này không có quy định cấm tử tù hiến mô, bộ phận cơ thể hay hiến xác sau khi thi hành án tử. Tuy nhiên, việc hiến xác và bộ phận cơ thể của A sau khi chết khó có thể thực hiện được trên thực tế bởi lẽ tử tù sẽ bị thi hành án bằng hình thức tiêm thuốc độc sẽ ảnh hưởng đến cơ thể, nội tạng của tử tù. |
: Em Nguyễn Thị Thu M (thị xã Châu Đốc, An Giang), sinh ngày 02/5/2009, được cha mẹ làm giấy khai sinh giới tính là nữ. Vì khi sinh ra thấy bộ phận sinh dục của em M giống của con gái nên khai sinh cho em là giới tính nữ. Bé M được gia đình nuôi nấng như một bé gái, mẹ M thường cho em đeo hoa tai, mặc váy, chơi búp bê… nhưng hình dáng và tính cách bé lại bộc lộ nhiều thiên hướng về giới tính nam. Gia đình có nhiều nghi vấn và đưa em đi xét nghiệm, sau khi có kết quả xét nghiệm phân tích nhiễm sắc thể – Karyotype – em M được chẩn đoán chính xác mắc tật lỗ tiểu thấp thể bìu. Bé có dương vật cong nặng, có hai tinh hoàn, kèm theo chuyển vị dương vật bìu (dương vật nằm thấp hơn bìu).Bác sỹ tiến hành phẫu thuật lỗ tiểu thấp thể bìu. Hỏi: Anh/ Chị hãy xác định hậu quả pháp lý trong tình huống trên sau khi em M đã thực hiện xong quá trình điều trị em là nam hay nữ? Gia đình M phải làm gì để em được sống với giới tính đích thực của mình? | Theo các tình tiết của tình huống đưa ra thì trường hợp em M phù hợp với các quy định của BLDS năm 2015 về trường hợp xác định lại giới tính. Theo quy định tại Điều 36, BLDS năm 2015, em M có quyền xác định lại giới tính của em khi giới tính của em chưa được định hình chính xác và cần có sự can thiệp của y học. Việc xác định lại giới tính của em được pháp luật công nhận khi thực hiện theo các thủ tục pháp luật quy định tại Nghị định số 88/2008/ NĐ – CP về xác định lại giới tính. Trong tình huống này, gia đình đã thực hiện các thủ tục và bệnh viện đã tiến hành phẫu thuật cho em M. V,ì vậy theo quy định của pháp luật, gia đình em có quyền yêu cầu bệnh viện nơi đã thực hiện can thiệp y tế để xác định lại giới tính cho em M cấp giấy chứng nhận y tế sau khi đã xác định lại giới tính cho em theo mẫu của Bộ trưởng Bộ Y tế. Sau đó, người đại diện hợp pháp của em sử dụng giấy chứng nhận y tế này để làm căn cứ để đăng ký hộ tịch cho M.Thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch. Sau khi thực hiện xong thủ tục đăng ký hộ tịch em M sẽ được công nhận giới tính đích thực của mình là giới tính nam. |
: A sinh ra với đầy đủ các bộ phận cơ thể và hình dáng bên ngoài là nam, nhưng bên trong con người A lại luôn mong muốn mình có thể là con gái. A nói ý nguyện của mình với bố mẹ và thuyết phục bố mẹ đồng ý cho A sang Thái Lan để thực hiện các cuộc phẫu thuật để chuyển đổi giới tính nhưng bố mẹ A phản đối kịch liệt. Bố A thậm chí còn nhốt A, khóa trái của và bắt A viết cam kết không bao giờ được chuyển đổi giới tính. Mặc dù vậy, khao khát trở thành nữ trong A vẫn rất mãnh liệt. Ngày 1/12/ 2016, A bỏ trốn khỏi nhà và mua vé máy bay sang Thái Lan, sau rất nhiều lần phẫu thuật thành công, A trở về Việt Nam với diện mạo của một cô gái rất xinh đẹp, nhưng giấy tờ của A trước đây đều ghi họ tên của A là Trân Đức A, và giới tính nam, do đó khi qua trạm kiểm soát an ninh hàng không A bị giữ lại, việc di chuyển của A gặp rất nhiều khó khăn do giấy tờ và hình dáng bên ngoài của A không thống nhất. Ngày 15/01 năm 2017, A ra UBND xã nơi cư trú của mình để thực hiện việc đổi tên và thực hiện các thủ tục thay đổi nội dung về giới tính trong sổ hộ khẩu, giấy khai sinh…Nhưng bố của A biết chuyện đã gây áp lực với cán bộ tư pháp xã. B là cán bộ tư pháp xã khi gặp A đã trả lời với A rằng “trường hợp A tự ý đi phẫu thuật chuyển giới mà không được sự đồng ý của Bố mẹ là trái pháp luật, vì vậy UBND xã không thực hiện việc sửa đổi nội dung về hộ tịch cho A”. Hỏi: Quan điểm của cán bộ tư pháp xã trong tình huống trên đúng hay sai? Tại sao? | Quan điểm của cán bộ tư pháp xã nơi A cư trú trong tình huống trên là hoàn toàn sai. Theo quy định tại Điều 37, BLDS năm 2015, thì A có quyền chuyển đổi giới tính của mình. A đã chuyển đổi giới tính nên A có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan. Dó đó, bố của A và những người xung quanh phải tôn trọng quyền chuyển đổi giới tính của A không được cản trở, gây khó khăn hay trì hoãn quyền thay đổi các thông tin hộ tịch của A. |
: Năm 1995 A và B kết hôn với nhau có 3 người con chung là C, D, E. Năm 2015, trên đường về nhà sau khi tan ca làm việc, A phát hiện một chiếc làn bọc chăn bên đường có em bé bị bỏ rơi, A mang em bé về nuôi và đặt tên là Q, sau một thời gian A thông báo tới cơ quan chức năng nhưng không có ai tới nhận cháu bé. A muốn nhận Q làm con nuôi nhưng B không đồng ý. Hỏi: A có thể nhận Q làm con nuôi khi vợ không đồng ý được không? Tại sao? | Theo quy định tại Điều 39, BLDS năm 2015, thì trong quan hệ hôn nhân, gia đình, cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được làm con nuôi và quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác. Do đó, A có thể được thực hiện quyền nuôi con nuôi của mình theo quy định của BLDS năm 2015 và Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Đối chiếu với các quy định về điều kiện nhận nuôi con nuôi và các trường hợp không được nhận nuôi con nuôi tại Điều 14, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì A không thuộc các trường hợp pháp luật cấm nhận con nuôi. Tuy nhiên tại khoản 3, Điều 8, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định Q chỉ có thể trở thành con nuôi: “của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.” Do đó, anh A trong trường hợp này chỉ có thể nhận Q làm con nuôi nếu anh thực hiện quyền ly hôn với chị B hoặc cố gắng thuyết phục chị B cùng nhận nuôi cháu Q. |
: Ngày 17/01/2017, A là sinh viên trường đại học Luật Hà Nội đến trung tâm điện máy Nguyễn Kim trên đường Nguyễn Chí Thanh mua 1 chiếc lò vi sóng trị giá 2 triệu đồng, A thanh toán tiền cho nhân viên bán hàng và yêu cầu nhân viên giao tài sản vào ngày 19/01/2017 nhưng không nói rõ địa điểm vận chuyển. Căn cứ vào các thông tin về địa chỉ A ghi trên phiếu mua hàng nhân viên vận chuyển của Trung Tâm Nguyễn Kim đã vận chuyển chiếc Lò vi sóng đến cổng trường đại học Luật Hà Nội. Khi đến nơi, nhân viên vận chuyển gọi cho A nhưng A không ra nhận vì A cho rằng pháp luật dân sự Việt Nam quy định trong trường hợp không thỏa thuận về địa điểm thực hiện nghĩa vụ thì bên bán phải vận chuyển tài sản đến nơi cư trú của A, trụ sở của trường Đại học Luật Hà Nội không phải nơi cư trú của A. Hỏi: Nhận định của A đúng hay sai? Tại sao?Giải quyết tình huống trên? | Nhận định của A trong trường hợp này hoàn toàn chính xác. Địa chỉ trường Đại học Luật Hà Nội chỉ là nơi A đang theo học không phải là nơi A thường xuyên sinh sống, cũng không phải nơi A đang sinh sống theo quy định tại Điều 40, BLDS năm 2015. Giải quyết tình huống trên: Theo quy định tại khoản 2, Điều 277, BLDS năm 2015 thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ giao hàng của bên bán là tại nơi cư trú của A. Do đó, trung tâm điện máy Nguyên Kim phải xác định được nơi A thường xuyên sinh sống, tuy nhiên trong trường hợp này, A có nghĩa vụ phải cung cấp nơi cư trú của mình cho bên bán để bên bán giao tài sản. |
: A (16 tuổi) bố mẹ của A đã ly hôn, theo quyết định của Tòa án, A sống với mẹ tại xã X huyện Y tỉnh Nam Định. Nhưng A lại thích sống với bố và thường xuyên ở với bố trong một khoảng thời gian dài. Bố của A cư trú tại xã N huyện M tỉnh Ninh Bình. Ngày 06/01/ 2017, A đánh bạn và gây thương tích cho bạn học cùng lớp là C khiến C bị thương tật suy giảm 12 % sức khỏe, bố mẹ C muốn kiện A thì phải nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nơi A cư trú. Hỏi: Trong tình huống trên nơi cư trú của A là nơi nào? Tại sao? | Theo quy định tại Điều 41 BLDS năm 2015, vì A 16 tuổi, A là người chưa thành niên nên nơi cư trú của A là nơi cư trú của cha, mẹ A. Nhưng trong tình huống này cha, mẹ của A đã ly hôn nên có nơi cư trú khác nhau, theo quyết định của Tòa án, A ở với mẹ tại xã X huyện Y tỉnh Nam Định. Mặc dù A thường xuyên sống với bố tại xã N huyện M tỉnh Ninh Bình, nhưng không có thủ tục đăng ký thường trú tại nơi cư trú của bố, do đó nơi cư trú của A vẫn được xác định theo nơi cư trú của mẹ. Căn cứ quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, bố mẹ C có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện huyện Y tỉnh Nam Định. |
: A bị Tòa án nhân dân huyện TD tỉnh Hưng Yên tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Anh A có vợ là B và có bố mẹ anh A là hai cụ C, D, hai cụ đã già và không có thu nhập ổn định, hàng tháng phải trông chờ vào số tiền trợ cấp ít ỏi. Tuy nhiên, do bệnh của anh A rất nặng, anh thường xuyên la hét và đập phá đồ đạc trong nhà, quá sức kiểm soát gia đình, mọi người đều nhất trí gửi anh A đến trại tâm thần huyện Y tỉnh Hưng Yên cách nhà 100 km để anh A được điều trị bởi các bác sỹ có kinh nghiệm và chuyên môn. Ngày 01/03/2017, vì bệnh tái phát anh A cắn lưỡi chết, các bác sỹ không biết phải gửi giấy báo tử về đâu vì bố mẹ anh A ở xã TS huyện M, còn chị B cư trú tại xã YN huyện TD nơi vợ chồng anh A trước đây ở; anh A chết ở bệnh viện có trụ sở tại xã MB tại huyện Y. Hỏi: Hãy xác định nơi cư trú của anh A trong tình huống trên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục khai tử cho anh A ? | Nơi cư trú của anh A là nơi cư trú của chị B tại xã YN huyện TD tỉnh Hưng Yên. Vì: Anh A là người bị Toà án tuyên mất năng lực hành vi dân sự, vợ của anh A là chị B sẽ là người giám hộ đương nhiên của anh A theo quy định tại Khoản 1, Điều 53, BLDS năm 2015. Theo quy định tại Điều 42, BLDS năm 2015 nơi cư trú của anh A (người được giám hộ) là nơi cư trú của chị B (người giám hộ). Theo Điều 32 Luật hộ tịch 2014 thì cơ quan có thẩm quyền khai tử quy định như sau: “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử”. Như vậy, UBND xã YN là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục khai tử cho anh. |
:A và B là vợ chồng, cả hai đều là bộ đội và đang đóng quân tại Thị xã Tam Điệp, tỉnh ninh Bình. Anh A quê ở Nghệ An, còn chị B quê ở Thanh Hóa. Khi chị B sinh con chị về Thanh Hóa để sinh, nhưng khi hai vợ chồng chị đi đăng ký khai sinh thì cán bộ hộ tịch từ chối đăng ký khai sinh cho cháu bé với lý do Chị B và anh A đều đã cắt hộ khẩu không cư trú tại Thanh Hóa hay Nghệ An.Và hướng dẫn anh chị đến nơi cư trú của cha hoặc mẹ để đăng ký khai sinh cho cháu bé. Hỏi: Nơi cư trú của anh A và chị B ở đâu? Anh Chị có thể đăng ký khai sinh cho con mình tại đâu? | Theo quy định tại Khoản 2, Điều 44, BLDS năm 2015 và điều 16, Luật Cư trú thì nơi cư trú của anh A , chị B - cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân được xác định là nơi đơn vị của anh A, chị B đóng quân, trừ trường hợp họ có nơi cư trú theo quy định của luật. Và theo quy định tại Điều 13, Luật Hộ tịch 2014 quy định về thẩm quyền đăng ký khai sinh như sau: “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh.” Như vậy, theo quy định trên, thì vợ chồng anh A có thể làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đơn vị của anh A hoặc chị B đóng quân. |
: Ngày 03/01/ 2017 M và N là đều mất do tai nạn giao thông trên đường đi làm về. M và N có hai con là A (17 tuổi) và B (6 tuổi). Kể từ năm 15 tuổi A đã bắt đầu hoạt động kinh doanh bán hàng online trên mạng và có thể tự đóng học phí cho mình, doanh thu của hoạt động kinh doanh mang lại cho A 3 triệu/ 1 tháng. Khi bố mẹ A chết, có để lại cho chị em của A số tiền là 200 triệu, A muốn tự tay mình nuôi em trai khôn lớn nên ra UBND xã X nơi cư trú của A để thực hiện việc đăng ký làm người giám hộ đương nhiên cho B đến khi B tròn 18 tuổi. Hỏi: Trong tình huống trên A có thể là người giám hộ đương nhiên của em trai mình không? Tại sao? | Trong tình huống này A không thể trở thành người giám hộ đương nhiên cho em trai mình được vì A không thỏa mãn điều kiện của cá nhân làm người giám hộ được quy định tại điều 49, BLDS năm 2015. Theo đó, A chỉ có thể trở thành người giám hộ của B khi: - A có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. - A có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ. - A không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác. - A không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên. Tuy nhiên, A mới chỉ mới 17 tuổi, A chưa thành niên nên A phải là người có năng lực hành vi dân sự nên không đủ điều kiện để trở thành người giám hộ cho B. |
: Câu lạc bộ tình nguyện do A khởi xướng mang tên TÌNH THƯƠNG đã thành lập được 06 năm và hoạt động ổn định. Hàng năm, câu lạc bộ của A vẫn nhận được sự tài trợ, đóng góp của ba công ty cổ phần sản xuất bánh kẹo trên địa bàn A cư trú, số tiền và hiện vật ước tính lên tới 20 triệu/ tháng. Trong một chuyến đi tình nguyện tại tỉnh Hà Giang, câu lạc bộ tình nguyện của A phát hiện hoàn cảnh đặc biệt của em B cha mất sớm, mẹ bỏ đi; ông bà nội ngoại đều đã già yếu và hầu như không có thu nhập đảm bảo cho cuộc sống. Các bạn trẻ trong câu lạc bộ đều rất thương B và muốn tìm cho em một người giám hộ, tuy nhiên cuộc sống của những người dân nơi cư trú của em B rất khó khăn vì vậy không ai tự nguyện là người giám hộ cho em. Cuối cùng, các thành viên của Câu lạc bộ quyết định sẽ là người giám hộ cử cho em B. Hỏi: ý định của các thành viên câu lạc bộ TÌNH THƯƠNG có thực hiện được không? Tại sao? | Trong tình huống này câu lạc bộ TÌNH THƯƠNG không thể trở thành người giám hộ cử cho em B được vì câu lạc bộ này không có tư cách pháp nhân, chỉ là tổ chức được thành lập với mục đích hoạt động thiện nguyện, nguồn tài chính hoạt động hoàn toàn phụ thuộc vào sự đóng góp của 3 công ty nhưng cũng không có cơ sở để xác định sự tài trợ đó là kéo dài và bền vững. Hơn nữa, ngay cả khi có tư cách pháp nhân thì điều kiện pháp nhân làm người giám hộ vẫn phải tuân thủ theo các quy định: - Pháp nhân đó phải có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ. - Pháp nhân đó phải có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ. |
: Gia đình Nguyễn Văn A (sinh năm 1996) và Nguyễn Thị B (sinh năm 2004) bao gồm 4 người: bố, mẹ và hai anh em A, B. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, A đi làm công nhân ở nhà máy da giày cách nhà 20km Năm 2015, bố mẹ của A và B đã qua đời trong một vụ tai nạn. Nhà A và B ở gần ông bà nội nên sau cái chết của bố mẹ, hai anh em về ở với ông bà để tiện cho việc đi học của B khi A đi làm xa. Hỏi Nguyễn Thị B mới 12 tuổi có cần người giám hộ không và ai sẽ là người giám hộ cho B? | Theo quy định tại Khoản 1 Điều 21 BLDS năm 2015 thì: “Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”. Trong tình huống này, B là người chưa thành niên (11 tuổi) khi bố mẹ B chết, vì vậy đòi hỏi phải có người giám hộ cho B ( theo Điểm a Khoản 1 Điều 47 BLDS năm 2015). Dựa trên tình huống trên thì: B có một người anh ruột là Nguyễn Văn A đã 19 tuổi và hiện đang đi làm công nhân ở nhà máy da giày. Do đó đáp ứng được các điều kiện của cá nhân làm người giám hộ theo quy định tại Điều 49 BLDS năm 2015. Vì vậy A sẽ là người giám hộ đương nhiên cho Nguyễn Thị B theo quy định tại Khoản 1 Điều 52 BLDS năm 2015. Tuy nhiên, nếu A không đủ điều kiện làm người giám hộ cho B thì theo Khoản 2 Điều 52 BLDS năm 2015 thì ông nội, bà nội là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc cả hai làm người giám hộ cho B theo quy định tại Khoản 2 Điều 52 BLDS năm 2015. |
: Năm 1995, Nguyễn Văn A và Lê Thị B kết hôn với nhau, họ có hai người con là Nguyễn Thị C (sinh 1996) và Nguyễn Văn D ( sinh 2000). Đến năm 2015, do bị bệnh nặng, B dần dần không nhận thức và làm chủ hành vi của mình. Đến năm 2016, theo yêu cầu của chồng là Nguyễn Văn A thì B được tòa án tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự. Hiện bố mẹ B rất muốn đón con gái về nhà mình cho tiện việc chăm sóc con vì A thường xuyên đánh đập B. Vậy bố mẹ B có là người giám hộ cho B được hay không? | Dựa trên tình huống trên thì B là người mất năng lực hành vi dân sự, do đó B cần có người giám hộ cho mình theo quy định tại Điều 53 BLDS năm 2015. Vì B không lựa chọn người giám hộ cho mình khi còn ở tình trạng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo Khoản 2 Điều 48 BLDS năm 2015 nên người giám hộ đương nhiên cho B trong tình huống này là chồng B là anh A. Tuy nhiên, anh A thường xuyên đánh đập vợ nên không đáp ứng được các điều kiện của cá nhân làm người giám hộ theo quy định tại Điều 49 BLDS năm 2015. Vì vậy, A không được thừa nhận là người giám hộ đương nhiên cho B. Mặc dù bố mẹ B muốn đón con gái về chăm sóc và làm người giám hộ đương nhiên cho con nhưng vì con của B là Nguyễn Thị C đã đủ tuổi thành niên. Nếu C có đủ điều kiện làm người giám hộ cho mẹ mình là chị B thì C sẽ là người giám hộ cho B (theo Khoản 2 Điều 53 BLDS năm 2015). Trong trường hợp C không đủ điều kiện là người giám hộ thì bố, mẹ B là người giám hộ cho B theo quy định tại Khoản 3 Điều 53 BLDS năm 2015. |
Nguyễn Văn A là chủ một nhà hàng hải sản rất nổi tiếng ở phường X thuộc thành phố Y. Nhờ chịu khó học hỏi và chăm chỉ mà A cùng với vợ là chị B đã gây dựng thêm được hệ thống nhà hàng ăn uống ở phường X. Tuy nhiên vợ chồng A, B lại khó khăn trong việc sinh con nên sau 10 năm kết hôn, họ quyết định nhận cháu Nguyễn Văn C (sinh năm 2001 làm con nuôi. Đến năm 2015, trong một lần tai nạn giao thông, A bị rơi vào hoàn cảnh không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn B thì mất luôn sau đó. Do khối tài sản mà vợ chồng A, B gây dựng lên rất lớn nên trong gia đình A, mọi người đều muốn mình là người giám hộ cho A để hòng chuộc lợi cho bản thân, kết quả là con trai nuôi của AB và anh chị em của A đều nhận mình là người chăm sóc cho A. Theo anh chị, trong trường hợp này thì giải quyết như thế nào? | Theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 47 BLDS năm 2015 thì A là người mất năng lực hành vi dân sự, do đó A là trường hợp cần có người giám hộ. Việc giám hộ cho A theo quy định tại Điều 53 BLDS năm 2015 về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự, theo đó: Người giám hộ đương nhiên của A lần lượt là : vợ của A là chị B ( tuy nhiên chị B lại đã chết ngay sau đó); con của AB ( tuy nhiên C mới 15 tuổi chưa đủ điều kiện là người giám hộ cho cha mình); bố mẹ của A (tuy nhiên bố mẹ A không còn nữa). Vì vậy theo quy định tại Khoản 1 Điều 54 BLDS năm 2015 thì do không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 53 BLDS năm 2015 nên Ủy ban nhân dân phường X nơi cư trú của A có trách nhiệm cử người giám hộ. Theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 54 BLDS năm 2015 thì việc cử người giám hộ phải có sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ. Việc cử người giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền và nghĩa vụ của thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ. |
Cháu Nguyễn Văn A (sinh năm 2005) mồ côi bố mẹ từ nhỏ nên A ở với gia đình chú ruột là Nguyễn Văn B (sinh năm 1972). Do điều kiện công việc nên năm 2015, gia đình của B phải rời Việt Nam sang Đức sống lâu dài, tuy nhiên B không đưa được A theo cùng mình. Vì vậy, B đã đề nghị C (sinh năm 1975) là cô ruột của A làm người giám hộ cho A và C đồng ý. Hỏi trong trường hợp này có thể thay đổi người giám hộ cho A được không? | Nguyễn Văn A (sinh năm 2005) là người chưa thành niên do đó đòi hỏi phải có người giám hộ theo quy định tại Điều 47 BLDS năm 2015. B là chú ruột của A vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục làm người giám hộ cho A (gia đình sang Đức sống lâu dài). Trong trường hợp này, B đề nghị được thay đổi và C (sinh năm 1975) là cô ruột nhận làm giám hộ cho A (theo điểm d khoản 1 Điều 60 BLDS năm 2015) nên có thể thay đổi người giám hộ. Thủ tục thay đổi người giám hộ được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Khi thay người giám hộ thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày C là người giám hộ mới, B đã thực hiên việc giám hộ phải chuyển giao giám hộ cho C là người thay thế mình.Việc chuyển giao giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do chuyển giao và tình trạng tài sản, vấn đề khác có liên quan của người được giám hộ tại thời điểm chuyển giao. Cơ quan cử, chỉ định người giám hộ lập biên bản, ghi rõ tình trạng tài sản, vấn đề khác có liên quan của ngườ dược giám hộ,quyền , nghĩa vụ phát sinh trong quá trình thực hiện việc giám hộ để chuyển giao cho người giám hộ mới với sự chứng kiến của người giám sát việc giám hộ. |
: Cháu Nguyễn Thị A (sinh năm 2006) mồ côi mẹ từ khi 2 tuổi, sống với bố là anh Nguyễn Văn B (sinh năm 1975). Năm 2010, sau một trận ốm, anh B đột nhiên không nhận thức và làm chủ hành vi của mình và theo yêu cầu của gia đình, tòa án tuyên bố B bị mất năng lực hành vi dân sự. Vì A còn nhỏ và bệnh tình của B cần có người chăm sóc nên hai bố con A về ở với ông bà nội của A. Đến năm 2015, sau một thời gian dài điều trị tích cực, B dần khôi phục lại tình trạng sức khỏe của mình và có kết quả của bệnh viện xác nhận B đã hoàn toàn nhận thức và làm chủ được hành vi của mình như trước đây. Hỏi trong tình huống này, ông bà nội của A có tiếp tục là người giám hộ cho A và anh B không? | Năm 2010, B mất năng lực hành vi dân sự và A vẫn là người chưa thành niên nên đòi hỏi phải có người giám hộ. Trong tình huống này thì ông bà nội của A là người giám hộ cho A và anh B. Năm 2015, sau thời gian điều trị, B đã hoàn toàn khôi phục lại tình trạng ban đầu: nhận thức và làm chủ được hành vi. Vì vậy theo yêu cầu của B hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Theo quy định tại điểm a và c khoản 1 Điều 62 BLDS năm 2015 thì việc giám hộ chấm dứt trong trường hợp: “Người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”; “Cha, mẹ của người được giám hộ là người chưa thành niên đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình” nên ông bà nội của A không còn là người giám hộ cho con mình là anh B, đồng thời khi anh B có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình thì ông bà nội của A không là người giám hộ cho A. |