version stringclasses 1 value | data dict |
|---|---|
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Vùng đất Kinh Bắc được bồi đắp và tưới tắm bởi phù sa sông Hồng cùng rất nhiều con sông khác trong vùng. Đặc biệt là bốn con sông cùng mang chữ Đức: Thiên Đức-sông Đuống, Nguyệt Đức-sông Cầu, Nhật Đức-sông Thương và Minh Đức-sông Lục Nam.\n\nCả bốn con sông này đều hợp lưu ở Lục Đầu Giang (Chí Linh, Hải Dương) rồi đổ ra biển bằng sông Thái Bình, qua cửa Bạch Đằng huyền thoại.\n\nSông Lục hay còn gọi là Lục Nam bắt nguồn từ trên những dãy núi của Đình Lập, Lạng Sơn rồi chảy về xuôi qua Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam. Về đến ngã ba Nhãn ở đất Yên Dũng thì hợp lưu với sông Thương cùng nhập vào Lục Đầu Giang.\n\nSông Thương lưu vực khá rộng, bắt nguồn từ cả Thái Nguyên và Lạng Sơn. Sông Cầu bắt nguồn từ mạn Bắc Cạn, Thái Nguyên rồi xuôi về qua Yên Phong, Quế Võ của Bắc Ninh để vào Lục Đầu Giang.\n\nNgắn nhất trong bốn dòng sông là sông Đuống - Thiên Đức. Sông dài chỉ khoảng 70 km nhưng là dòng sông cực kỳ quan trọng bồi đắp hai bờ thành một vùng đồng bằng trù phú. \n Một đoạn sông Lục Đầu, Hải Dương. Ảnh: Báo Hải Dương",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 149,
"text": "Thiên Đức-sông Đuống, Nguyệt Đức-sông Cầu, Nhật Đức-sông Thương và Minh Đức-sông Lục Nam.\n\nCả bốn con sông này đều hợp lưu ở Lục Đầu Giang (Chí Linh, Hải Dương) rồi đổ ra biển bằng sông Thái Bình, qua cửa Bạch Đằng huyền thoại.\n\nSông Lục hay còn gọi là Lục Nam bắt nguồn từ trên những dãy núi của Đình Lập, Lạng Sơn rồi chảy về xuôi qua Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam. Về đến ngã ba Nhãn ở đất Yên Dũng thì hợp lưu với sông Thương cùng nhập vào Lục Đầu Giang.\n\nSông Thương lưu vực khá rộng, bắt nguồn từ cả Thái Nguyên và Lạng Sơn. Sông Cầu bắt nguồn từ mạn Bắc Cạn, Thái Nguyên rồi xuôi về qua Yên Phong, Quế Võ của Bắc Ninh để vào Lục Đầu Giang.\n\nNgắn nhất trong bốn dòng sông là sông Đuống - Thiên Đức. Sông dài chỉ khoảng 70 km nhưng là dòng sông cực kỳ quan trọng bồi đắp hai bờ thành một vùng đồng bằng trù phú. \n Một đoạn sông Lục Đầu, Hải Dương. Ảnh: Báo Hải Dương"
}
],
"id": "32101",
"is_impossible": false,
"question": "Đất Kinh Bắc có năm con sông cùng có chữ Đức?"
}
]
}
],
"title": "Đất Kinh Bắc có năm con sông cùng có chữ Đức?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Mảnh đất Kinh Bắc - Bắc Ninh là nơi phát tích của nhà Lý - triều đại khai mở ra nền văn minh Đại Việt gắn liền với tên tuổi của những nhân vật lịch sử - văn hoá kiệt xuất như: Lý Công Uẩn, Lý Nhân Tông, Nguyên Phi Ỷ Lan, Lê Văn Thịnh. \nNăm 1009, Lý Công Uẩn được quần thần nhà tiền Lê tôn làm vua, sáng lập ra vương triều Lý. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ông là người châu Cổ Pháp (nay thuộc Từ Sơn, Bắc Ninh).\nLý Công Uẩn làm vua 19 năm, lấy hiệu là Lý Thái Tổ, rồi nhường ngôi cho con trai là Lý Thái Tông. Vương triều này kéo dài 217 năm với 9 đời vua. Đến năm 1226, Lý Chiêu Hoàng - nữ vương duy nhất của lịch sử phong kiến Việt Nam và là vị vua cuối cùng của triều Lý, đã nhường ngôi báu cho chồng là Trần Cảnh, sáng lập ra nhà Trần.\nDưới thời nhà Lý, đạo Phật rất phát triển. Nhiều công trình Phật giáo được xây dựng trong giai đoạn này, đặc biệt trên đất Bắc Ninh.\nTượng đài Lý Thái Tổ. Ảnh: Cổng thông tin điện tử Bắc Ninh",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 176,
"text": "Lý Công Uẩn, Lý Nhân Tông, Nguyên Phi Ỷ Lan, Lê Văn Thịnh. \nNăm 1009, Lý Công Uẩn được quần thần nhà tiền Lê tôn làm vua, sáng lập ra vương triều Lý. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ông là người châu Cổ Pháp (nay thuộc Từ Sơn, Bắc Ninh).\nLý Công Uẩn làm vua 19 năm, lấy hiệu là Lý Thái Tổ, rồi nhường ngôi cho con trai là Lý Thái Tông. Vương triều này kéo dài 217 năm với 9 đời vua. Đến năm 1226, Lý Chiêu Hoàng - nữ vương duy nhất của lịch sử phong kiến Việt Nam và là vị vua cuối cùng của triều Lý, đã nhường ngôi báu cho chồng là Trần Cảnh, sáng lập ra nhà Trần.\nDưới thời nhà Lý, đạo Phật rất phát triển. Nhiều công trình Phật giáo được xây dựng trong giai đoạn này, đặc biệt trên đất Bắc Ninh.\nTượng đài Lý Thái Tổ. Ảnh: Cổng thông tin điện tử Bắc Ninh"
}
],
"id": "32102",
"is_impossible": false,
"question": "Bắc Ninh là nơi phát tích vương triều nào?"
}
]
}
],
"title": "Bắc Ninh là nơi phát tích vương triều nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Lý Chiêu Hoàng tên thật là Lý Phật Kim, được sắc phong làm Chiêu Thánh công chúa. Bà là con gái thứ hai của vua Lý Huệ Tông và hoàng hậu Trần Thị Dung. Theo chính sử, Lý Phật Kim chào đời vào tháng 9 năm Mậu Dần 1218.\n\nTháng 10/1224, anh em họ hàng của hoàng hậu Trần Thị Dung, do Trần Thủ Độ đứng đầu, nhân cơ hội vua Lý Huệ Tông bệnh tình nặng, ép vua lập công chúa Chiêu Thánh làm hoàng thái nữ rồi nhường ngôi. Lý Huệ Tông sau đó xuất gia tu hành, lấy pháp danh là Huệ Quang đại sư.\n\nChiêu Thánh công chúa trở thành nữ vương khi mới 6 tuổi. \nTượng thờ vua bà Lý Chiêu Hoàng ở đền Rồng, Bắc Ninh. Ảnh tư liệu",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Lý Chiêu Hoàng tên thật là Lý Phật Kim, được sắc phong làm Chiêu Thánh công chúa. Bà là con gái thứ hai của vua Lý Huệ Tông và hoàng hậu Trần Thị Dung. Theo chính sử, Lý Phật Kim chào đời vào tháng 9 năm Mậu Dần 1218.\n\nTháng 10/1224, anh em họ hàng của hoàng hậu Trần Thị Dung, do Trần Thủ Độ đứng đầu, nhân cơ hội vua Lý Huệ Tông bệnh tình nặng, ép vua lập công chúa Chiêu Thánh làm hoàng thái nữ rồi nhường ngôi. Lý Huệ Tông sau đó xuất gia tu hành, lấy pháp danh là Huệ Quang đại sư.\n\nChiêu Thánh công chúa trở thành nữ vương khi mới 6 tuổi. \nTượng thờ vua bà Lý Chiêu Hoàng ở đền Rồng, Bắc Ninh. Ảnh tư liệu"
}
],
"id": "32103",
"is_impossible": false,
"question": "Nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Việt Nam là ai?"
}
]
}
],
"title": "Nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Việt Nam là ai?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Năm 1225, Trần Thủ Độ dàn xếp cho cháu mình là Trần Cảnh (vua Trần Thái Tông sau này) vào cung, hầu hạ Lý Chiêu Hoàng.\n\nVì cùng lứa tuổi nên Chiêu Hoàng thích gần gũi trò chuyện, trêu đùa với Trần Cảnh. Trần Thủ Độ lấy dịp đó dựng nên cuộc hôn nhân giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh rồi chuyển giao triều chính bằng cách để Lý Chiêu Hoàng nhường (thực chất là ép) ngôi cho chồng.\n\nTháng 11 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh. Một tháng sau, triều đình mở hội lớn ở điện Thiên An, Chiêu Hoàng ngự trên sập báu, các quan mặc triều phục vào chầu, lạy ở dưới sân. Chiêu Hoàng trút bỏ áo ngự mời Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế và trở thành vị vua đầu tiên của nhà Trần.\nHình vẽ Lý Chiêu Hoàng trong tranh truyện lịch sử Trần Thái Tông của Nhà Xuất bản Kim Đồng.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Năm 1225, Trần Thủ Độ dàn xếp cho cháu mình là Trần Cảnh (vua Trần Thái Tông sau này) vào cung, hầu hạ Lý Chiêu Hoàng.\n\nVì cùng lứa tuổi nên Chiêu Hoàng thích gần gũi trò chuyện, trêu đùa với Trần Cảnh. Trần Thủ Độ lấy dịp đó dựng nên cuộc hôn nhân giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh rồi chuyển giao triều chính bằng cách để Lý Chiêu Hoàng nhường (thực chất là ép) ngôi cho chồng.\n\nTháng 11 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh. Một tháng sau, triều đình mở hội lớn ở điện Thiên An, Chiêu Hoàng ngự trên sập báu, các quan mặc triều phục vào chầu, lạy ở dưới sân. Chiêu Hoàng trút bỏ áo ngự mời Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế và trở thành vị vua đầu tiên của nhà Trần.\nHình vẽ Lý Chiêu Hoàng trong tranh truyện lịch sử Trần Thái Tông của Nhà Xuất bản Kim Đồng."
}
],
"id": "32104",
"is_impossible": false,
"question": "Ở ngôi báu hơn một năm, bà nhường ngôi cho ai?"
}
]
}
],
"title": "Ở ngôi báu hơn một năm, bà nhường ngôi cho ai?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Sau khi nhường ngôi cho chồng, Chiêu Hoàng lúc đó mới 7 tuổi, được sắc phong làm hoàng hậu, gọi là Chiêu Thánh. Bảy năm sau (1232), khi 14 tuổi, bà sinh con trai nhưng không may thái tử mất ngay sau đó.\n\nHoàng hậu đau ốm liên miên. Lúc này Trần Thủ Độ đã ép Trần Cảnh lấy Thuận Thiên công chúa (đang là vợ của Trần Liễu, anh trai vua) và giáng Chiêu Thánh xuống làm công chúa.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Sau khi nhường ngôi cho chồng, Chiêu Hoàng lúc đó mới 7 tuổi, được sắc phong làm hoàng hậu, gọi là Chiêu Thánh. Bảy năm sau (1232), khi 14 tuổi, bà sinh con trai nhưng không may thái tử mất ngay sau đó.\n\nHoàng hậu đau ốm liên miên. Lúc này Trần Thủ Độ đã ép Trần Cảnh lấy Thuận Thiên công chúa (đang là vợ của Trần Liễu, anh trai vua) và giáng Chiêu Thánh xuống làm công chúa."
}
],
"id": "32105",
"is_impossible": false,
"question": "Sau khi nhường ngôi, bà bị giáng xuống vị trí gì?"
}
]
}
],
"title": "Sau khi nhường ngôi, bà bị giáng xuống vị trí gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ nhất (1257- 1258), tướng Lê Tần lập được nhiều chiến công, từng cứu Trần Thái Tông trong một trận đánh khốc liệt nên được vua đổi tên là Lê Phụ Trần. Sau khi đánh đuổi quân Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi, Trần Thái Tông không chỉ phong tước cho Lê Tần mà còn gả vợ cũ của mình cho ông.\n\nTheo một số tư liệu, như sách Việt Nam đại hồng sử, Chiêu Thánh theo Lê Phụ Trần về ở tại đất Bạch Hạc (nay thuộc tỉnh Phú Thọ), rồi tiếp tục về quê ông ở đất Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay).\n\nChiêu Thánh và Lê Phụ Trần được cho là sống hoà hợp, yêu thương nhau. Chỉ một năm sau ngày cưới, tức năm Kỷ Mùi (1259), Chiêu Thánh sinh hạ một người con trai đặt tên là Lê Tông, còn có tên khác là Lê Phụ Hiền. Sau này, bà sinh thêm một người con gái đặt tên là Lê Thị Ngọc Khuê (còn gọi là Minh Khuê).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ nhất (1257- 1258), tướng Lê Tần lập được nhiều chiến công, từng cứu Trần Thái Tông trong một trận đánh khốc liệt nên được vua đổi tên là Lê Phụ Trần. Sau khi đánh đuổi quân Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi, Trần Thái Tông không chỉ phong tước cho Lê Tần mà còn gả vợ cũ của mình cho ông.\n\nTheo một số tư liệu, như sách Việt Nam đại hồng sử, Chiêu Thánh theo Lê Phụ Trần về ở tại đất Bạch Hạc (nay thuộc tỉnh Phú Thọ), rồi tiếp tục về quê ông ở đất Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay).\n\nChiêu Thánh và Lê Phụ Trần được cho là sống hoà hợp, yêu thương nhau. Chỉ một năm sau ngày cưới, tức năm Kỷ Mùi (1259), Chiêu Thánh sinh hạ một người con trai đặt tên là Lê Tông, còn có tên khác là Lê Phụ Hiền. Sau này, bà sinh thêm một người con gái đặt tên là Lê Thị Ngọc Khuê (còn gọi là Minh Khuê)."
}
],
"id": "32106",
"is_impossible": false,
"question": "Bà được chồng gả cho ai?"
}
]
}
],
"title": "Bà được chồng gả cho ai?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Chiêu Hoàng là người có số phận lạ lùng nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam với 7 danh vị: Công chúa triều Lý, Hoàng thái tử nhà Lý, Nữ hoàng nhà Lý, Hoàng hậu nhà Trần, Công chúa nhà Trần, Sư cô (thời Trần) và Phu nhân tướng quân nhà Trần.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 94,
"text": "Công chúa triều Lý, Hoàng thái tử nhà Lý, Nữ hoàng nhà Lý, Hoàng hậu nhà Trần, Công chúa nhà Trần, Sư cô (thời Trần) và Phu nhân tướng quân nhà Trần."
}
],
"id": "32107",
"is_impossible": false,
"question": "Cuộc đời bà từng trải qua bao nhiêu danh vị?"
}
]
}
],
"title": "Cuộc đời bà từng trải qua bao nhiêu danh vị?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Trải qua nghìn năm Bắc thuộc và các triều đại phong kiến Việt Nam, vùng đất Quảng Ninh nhiều lần bị chia cắt, đổi tên. Tên gọi Quảng Ninh ngày nay gắn với việc sáp nhập tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng vào năm 1963.\n\nTỉnh Hải Ninh được thành lập theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 10/12/1906 với tỉnh lỵ là Móng Cái. Trước khi sáp nhập, tỉnh này còn có 6 huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu, Đầm Hà, Đình Lập (năm 1978 chuyển về thuộc tỉnh Lạng Sơn), Hà Cối, Tiên Yên.\nTrong khi đó, khu Hồng Quảng có 4 thị xã: Hồng Gai, Cẩm Phả, Quảng Yên, Uông Bí (thành lập tháng 10/1961) và 4 huyện: Cẩm Phả, Đông Triều (sáp nhập từ tỉnh Hải Dương vào khu Hồng Quảng tháng 10/1961), Hoành Bồ, Yên Hưng.\nTheo các tư liệu lữu trữ tại Quốc hội, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá II ngày 30/10/1963, Chính phủ xin Quốc hội phê chuẩn việc hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành một đơn vị hành chính mới.\n\nTrong thời gian này, kỳ họp liên tịch giữa Hội đồng nhân dân khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh về việc đặt tên tỉnh mới khi sáp nhập cũng có nhiều tranh luận, ý kiến sôi nổi.\nCác đại biểu phía Hải Ninh đề nghị đặt tên tỉnh là Hải Đông với cái lý là tên này đã tồn tại suốt mấy trăm năm thời Lý - Trần. Phía đại biểu khu Hồng Quảng có nhiều phương án như là Quảng Yên, An Quảng, Yên Quảng. Lại có ý kiến đề nghị là Hồng Hải, vì vừa có chữ Hồng của khu Hồng Quảng lại vừa có chữ Hải của tỉnh Hải Ninh, nhiều tỉnh khác cũng thường đặt tên như vậy. Nhưng có ý kiến phản bác, cho là tên gọi này không có nội dung gì. \n\nCuối cùng việc đặt tên để lại cho trung ương quyết định. Sau nhiều ý kiến, Quảng Ninh là cái tên được chọn, lấy mỗi địa phương một chữ cuối trong tên Hồng Quảng và Hải Ninh, ghép lại thành Quảng Ninh. Quảng là rộng lớn, Ninh là yên vui, bền vững. Quảng Ninh là một vùng rộng lớn, yên vui, bền vững.\nToàn cảnh trung tâm TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ trên cao. Ảnh: Ngọc Thành",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 372,
"text": "Ba Chẽ, Bình Liêu, Đầm Hà, Đình Lập (năm 1978 chuyển về thuộc tỉnh Lạng Sơn), Hà Cối, Tiên Yên.\nTrong khi đó, khu Hồng Quảng có 4 thị xã: Hồng Gai, Cẩm Phả, Quảng Yên, Uông Bí (thành lập tháng 10/1961) và 4 huyện: Cẩm Phả, Đông Triều (sáp nhập từ tỉnh Hải Dương vào khu Hồng Quảng tháng 10/1961), Hoành Bồ, Yên Hưng.\nTheo các tư liệu lữu trữ tại Quốc hội, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá II ngày 30/10/1963, Chính phủ xin Quốc hội phê chuẩn việc hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành một đơn vị hành chính mới.\n\nTrong thời gian này, kỳ họp liên tịch giữa Hội đồng nhân dân khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh về việc đặt tên tỉnh mới khi sáp nhập cũng có nhiều tranh luận, ý kiến sôi nổi.\nCác đại biểu phía Hải Ninh đề nghị đặt tên tỉnh là Hải Đông với cái lý là tên này đã tồn tại suốt mấy trăm năm thời Lý - Trần. Phía đại biểu khu Hồng Quảng có nhiều phương án như là Quảng Yên, An Quảng, Yên Quảng. Lại có ý kiến đề nghị là Hồng Hải, vì vừa có chữ Hồng của khu Hồng Quảng lại vừa có chữ Hải của tỉnh Hải Ninh, nhiều tỉnh khác cũng thường đặt tên như vậy. Nhưng có ý kiến phản bác, cho là tên gọi này không có nội dung gì. \n\nCuối cùng việc đặt tên để lại cho trung ương quyết định. Sau nhiều ý kiến, Quảng Ninh là cái tên được chọn, lấy mỗi địa phương một chữ cuối trong tên Hồng Quảng và Hải Ninh, ghép lại thành Quảng Ninh. Quảng là rộng lớn, Ninh là yên vui, bền vững. Quảng Ninh là một vùng rộng lớn, yên vui, bền vững.\nToàn cảnh trung tâm TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ trên cao. Ảnh: Ngọc Thành"
}
],
"id": "32108",
"is_impossible": false,
"question": "Tên gọi Quảng Ninh có nghĩa là gì?"
}
]
}
],
"title": "Tên gọi Quảng Ninh có nghĩa là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Viết về sự kiện đặt tên cho tỉnh Quảng Ninh, cố nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, đồng tác giả của cuốn Địa chí Quảng Ninh, Tống Khắc Hài từng ghi lại lời kể của ông Hoàng Chính (1922-1990), nguyên Bí thư tỉnh uỷ Hải Ninh (giai đoạn 1946 -1948, 1955-1963); nguyên Chủ tịch Uỷ ban Hành chính tỉnh Quảng Ninh (1964 -1969).\n\nTheo lời kể của ông Hoàng Chính, ngày 30/10/1963, trong phiên họp toàn thể Quốc hội khoá II, kỳ họp thứ 7, tất cả các đại biểu đều nhất trí thông qua tờ trình của Chính phủ hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành một tỉnh mới lấy tên là tỉnh Quảng Ninh. Thế nhưng, thực ra trước đó ít nhất là 3 năm, Bộ Chính trị khi chuẩn bị Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III và Chính phủ soạn thảo kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961- 1965), vấn đề xây dựng vùng Đông Bắc thành một đơn vị hành chính vững mạnh đã được đặt ra một cách cấp bách.\n\nTrong lần tháp tùng Bác Hồ về thăm tỉnh Hải Ninh ngày 19 và 20/2/1960, khi ngồi trên máy bay, Bác nhắc \"Hải Ninh và Hồng Quảng núi sông biển trời liền một dải. An Quảng, Quảng Yên là đây, xa hơn nữa là An Bang, là Hải Đông\". Rồi Bác nói thêm: \"Thời Trần, Hải Đông lừng lẫy chiến thắng Bạch Đằng giang\". Nghe Bác nói vậy, ông Hoàng Chính nhớ mãi cái tên Hải Đông. \n\nTrong cuộc họp giữa nhân dân hai địa phương, cái tên Hải Đông cũng được đa số đồng ý. Ông Chính càng thêm đinh ninh tên này sẽ được chọn. Giữa tháng 9/1963, khi Bác Hồ hỏi về chuyện đặt tên tỉnh, ông Hoàng Chính báo cáo tên Hải Đông. \n\nÔng kể lại khi đó Bác cười, nói: \"Tên Hải Đông gợi nhớ thời Trần oanh liệt, nhưng thực chất nó chỉ có nghĩa chỉ vùng biển về phía Đông. Bác đã hỏi ý kiến nhiều đồng chí, Bác đề nghị lấy mỗi tỉnh một chữ cuối của khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, ghép lại thành Quảng Ninh, vừa dễ hiểu, vừa dễ nhớ, lại có nhiều nghĩa. Quảng là rộng lớn, Ninh là yên vui, bền vững. Quảng Ninh là một vùng rộng lớn, yên vui, bền vững. Ông cha ta đã chẳng từng đặt những tên An Bang, Ninh Hải, Hải Ninh, An Quảng, Quảng Yên đó sao? Chú thấy có được không?\".\n Bác Hồ về thăm Quảng Ninh vào ngày 4/10/1957. Ảnh: Tư liệu",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1112,
"text": "\"Thời Trần, Hải Đông lừng lẫy chiến thắng Bạch Đằng giang\". Nghe Bác nói vậy, ông Hoàng Chính nhớ mãi cái tên Hải Đông. \n\nTrong cuộc họp giữa nhân dân hai địa phương, cái tên Hải Đông cũng được đa số đồng ý. Ông Chính càng thêm đinh ninh tên này sẽ được chọn. Giữa tháng 9/1963, khi Bác Hồ hỏi về chuyện đặt tên tỉnh, ông Hoàng Chính báo cáo tên Hải Đông. \n\nÔng kể lại khi đó Bác cười, nói: \"Tên Hải Đông gợi nhớ thời Trần oanh liệt, nhưng thực chất nó chỉ có nghĩa chỉ vùng biển về phía Đông. Bác đã hỏi ý kiến nhiều đồng chí, Bác đề nghị lấy mỗi tỉnh một chữ cuối của khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, ghép lại thành Quảng Ninh, vừa dễ hiểu, vừa dễ nhớ, lại có nhiều nghĩa. Quảng là rộng lớn, Ninh là yên vui, bền vững. Quảng Ninh là một vùng rộng lớn, yên vui, bền vững. Ông cha ta đã chẳng từng đặt những tên An Bang, Ninh Hải, Hải Ninh, An Quảng, Quảng Yên đó sao? Chú thấy có được không?\".\n Bác Hồ về thăm Quảng Ninh vào ngày 4/10/1957. Ảnh: Tư liệu"
}
],
"id": "32109",
"is_impossible": false,
"question": "Tên gọi tỉnh Quảng Ninh do Bác Hồ đặt?"
}
]
}
],
"title": "Tên gọi tỉnh Quảng Ninh do Bác Hồ đặt?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh, Quảng Ninh là tỉnh ven biển, biên giới thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Diện tích của tỉnh là 6.110 km2, dân số 1,32 triệu người (số liệu năm 2019). Quảng Ninh có 250 km đường bờ biển với hơn 2.000 đảo lớn nhỏ, chiếm hai phần ba số đảo cả nước (2.779 đảo).\nQuảng Ninh nổi tiếng với vịnh Hạ Long, được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới năm 1994 và tái công nhận lần hai vào năm 2000. Địa danh này còn được bình chọn là một trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới, năm 2011.\nQuảng Ninh có nhiều di tích lịch sử như: bãi cọc Bạch Đằng - nơi diễn ra trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử Việt Nam (năm 1288); núi Yên Tử - nơi vua Trần Nhân Tông xuất gia tu hành và sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm.\nĐây là tỉnh đầu tiên của cả nước có bốn thành phố trực thuộc (Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí, Hạ Long).\nHoàng hôn trên vịnh Hạ Long, Quảng Ninh. Ảnh: Phạm Huy Trung",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 564,
"text": "bãi cọc Bạch Đằng - nơi diễn ra trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử Việt Nam (năm 1288); núi Yên Tử - nơi vua Trần Nhân Tông xuất gia tu hành và sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm.\nĐây là tỉnh đầu tiên của cả nước có bốn thành phố trực thuộc (Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí, Hạ Long).\nHoàng hôn trên vịnh Hạ Long, Quảng Ninh. Ảnh: Phạm Huy Trung"
}
],
"id": "32110",
"is_impossible": false,
"question": "Quảng Ninh có nhiều đảo nhất cả nước?"
}
]
}
],
"title": "Quảng Ninh có nhiều đảo nhất cả nước?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Thành lập năm 1149 dưới thời vua Lý Anh Tông, Vân Đồn (Quảng Ninh) là thương cảng đầu tiên của nước Đại Việt và là trung tâm buôn bán lớn của Đông Nam Á đến cuối thế kỷ XVII. \n\nCách đây 7-8 thế kỷ, thương cảng Vân Đồn không phải là một bến cảng như hiện nay mà là hệ thống bến thuyền thương mại trên nhiều đảo trong vịnh Bái Tử Long. Trên phạm vi khoảng 200 km2 có các bến: Cống Đông, Cống Tây (xã Thắng Lợi); Cái Làng, Cống Cái (xã Quan Lạn); Cái Cổng, Con Quy (xã Minh Châu); Cống Yên, Cống Hẹp (xã Ngọc Vừng), thuộc huyện Vân Đồn ngày nay.\n\nNăm 1149, thời vua Lý Anh Tông, thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Xiêm La, Lộ Lạc (Indonesia, Thái Lan…) vào Hải Đông (Quảng Ninh ngày nay) xin ở lại buôn bán. Vua đã cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, đặt nền móng cho thương cảng sầm uất bậc nhất Việt Nam.\n\nCuối thế kỷ XVII, Kẻ Chợ (Thăng Long), Phố Hiến (Hưng Yên), Hội An (Quảng Nam) mở cửa cho thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Anh… được vào sâu trong nội địa buôn bán. Thương cảng Vân Đồn mất hẳn vai trò trung tâm thương mại. Hoạt động ngoại thương vẫn diễn ra, nhưng không còn sầm uất. \n\nSuốt gần 7 thế kỷ, thương cảng Vân Đồn đông đúc tàu buôn đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ, Philippines và châu Âu. Hàng hóa theo tàu nước ngoài xuất đi chủ yếu là trầm hương, ngọc trai, ngà voi, vỏ quế, sừng tê giác, vàng, bạc, đồng, diêm tiêu, hải sản. Hàng hóa nước ngoài nhập vào là gấm vóc.\n Bức tranh của họa sĩ Tây Ban Nha phác hoạ bến Cái Làng thuộc Thương cảng Vân Đồn hiện được lưu giữ tại đình Quan Lạn. Ảnh: VOV",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 375,
"text": "Cống Đông, Cống Tây (xã Thắng Lợi); Cái Làng, Cống Cái (xã Quan Lạn); Cái Cổng, Con Quy (xã Minh Châu); Cống Yên, Cống Hẹp (xã Ngọc Vừng), thuộc huyện Vân Đồn ngày nay.\n\nNăm 1149, thời vua Lý Anh Tông, thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Xiêm La, Lộ Lạc (Indonesia, Thái Lan…) vào Hải Đông (Quảng Ninh ngày nay) xin ở lại buôn bán. Vua đã cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, đặt nền móng cho thương cảng sầm uất bậc nhất Việt Nam.\n\nCuối thế kỷ XVII, Kẻ Chợ (Thăng Long), Phố Hiến (Hưng Yên), Hội An (Quảng Nam) mở cửa cho thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Anh… được vào sâu trong nội địa buôn bán. Thương cảng Vân Đồn mất hẳn vai trò trung tâm thương mại. Hoạt động ngoại thương vẫn diễn ra, nhưng không còn sầm uất. \n\nSuốt gần 7 thế kỷ, thương cảng Vân Đồn đông đúc tàu buôn đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ, Philippines và châu Âu. Hàng hóa theo tàu nước ngoài xuất đi chủ yếu là trầm hương, ngọc trai, ngà voi, vỏ quế, sừng tê giác, vàng, bạc, đồng, diêm tiêu, hải sản. Hàng hóa nước ngoài nhập vào là gấm vóc.\n Bức tranh của họa sĩ Tây Ban Nha phác hoạ bến Cái Làng thuộc Thương cảng Vân Đồn hiện được lưu giữ tại đình Quan Lạn. Ảnh: VOV"
}
],
"id": "32111",
"is_impossible": false,
"question": "Vân Đồn là thương cảng đầu tiên của Việt Nam?"
}
]
}
],
"title": "Vân Đồn là thương cảng đầu tiên của Việt Nam?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Cầu Vàng tại núi Bà Nà ở Đà Nẵng không bắc qua sông, theo báo Đà Nẵng.\n\nCây cầu này chính thức đón khách từ tháng 6/2018, dài 150 m, nằm ở độ cao hơn 1.400 so với mực nước biển. Thiết kế ấn tượng với hình ảnh hai bàn tay của các vị thần nâng đỡ các nhịp cầu, cầu Vàng thường xuyên góp mặt trong các bảng xếp hạng thế giới về kiến trúc, trở thành một trong những biểu tượng du lịch nổi tiếng của Đà Nẵng và Việt Nam.\nCầu Vàng nổi tiếng của núi Bà Nà, Đà Nẵng. Ảnh: Sun Group",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 464,
"text": "Sun Group"
}
],
"id": "32112",
"is_impossible": false,
"question": "Cầu nào ở Đà Nẵng không bắc qua sông?"
}
]
}
],
"title": "Cầu nào ở Đà Nẵng không bắc qua sông?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Cổng thông tin điện tử Đà Nẵng, đây là thành phố của những cây cầu. Trong 25 năm kể từ khi chia tách Quảng Nam - Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chính, Đà Nẵng có khoảng 20 cây cầu quy mô lớn được xây mới, gồm cả cầu vượt cạn, vượt sông. \n\nTính riêng khu vực sông Hàn đã có 9 cây cầu, gồm cầu Rồng, cầu sông Hàn, cầu Thuận Phước, cầu Trần Thị Lý, cầu Nguyễn Văn Trỗi, cầu Tiên Sơn, cầu Cẩm Lệ và cầu Hoà Xuân.\nNhững cây cầu bắc qua sông Hàn, Đà Nẵng. Ảnh: Nguyễn Sanh Quốc Huy",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 459,
"text": "Nguyễn Sanh Quốc Huy"
}
],
"id": "32113",
"is_impossible": false,
"question": "Đà Nẵng có bao nhiêu cây cầu bắc qua sông Hàn?"
}
]
}
],
"title": "Đà Nẵng có bao nhiêu cây cầu bắc qua sông Hàn?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo ngôn ngữ Chăm, \"Đà Nẵng\" có thể được giải thích là \"sông lớn\", \"cửa sông lớn\". Cổng thông tin điện tử thành phố cho biết địa danh này đã được ghi chú trên các bản đồ được vẽ từ thế kỉ XVI trở đi. Điều đó có nghĩa là, từ rất sớm, trong cách hình thành tên gọi, tính chất cửa sông lớn, tính chất cảng thị đã được lưu ý như một điểm quan trọng của thành phố Đà Nẵng.\n\nCác hồ và sông lớn xung quanh và trong Đà Nẵng gồm hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn (Quảng Nam), sông Cu Đê và sông Hàn chảy qua thành phố, khu vực đầm phá Tam Giang (Thừa Thiên Huế). Những sông, hồ này tạo thành nguồn nước chính cho khu vực.\n Sông Hàn, Đà Nẵng, khi về đêm. Ảnh: Dreamtime",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 649,
"text": "Dreamtime"
}
],
"id": "32114",
"is_impossible": false,
"question": "Tên gọi Đà Nẵng nghĩa là gì?"
}
]
}
],
"title": "Tên gọi Đà Nẵng nghĩa là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Cổng thông tin điện tử Đà Nẵng, Bạch Đằng được mệnh danh là con đường đẹp nhất thành phố. \n\nThời Pháp thuộc, con đường này có tên Quai Courbet, từ năm 1955 được đổi thành Bạch Đằng. Đường chạy vòng cung theo bờ Tây của sông Hàn, được ví như ban công của Đà Nẵng. Đây cũng là con đường có nhiều toà nhà, là trụ sở của các cơ quan hành chính và các hoạt động văn hoá, nghệ thuật lớn như toà nhà UBND thành phố, Thư viện Khoa học tổng hợp, Bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm...\nMột đoạn đường Bạch Đằng, thành phố Đà Nẵng. Ảnh: Nguyễn Đông",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 530,
"text": "Nguyễn Đông"
}
],
"id": "32115",
"is_impossible": false,
"question": "Con đường nào được mệnh danh đẹp nhất Đà Nẵng?"
}
]
}
],
"title": "Con đường nào được mệnh danh đẹp nhất Đà Nẵng?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Gia Lai là tỉnh miền núi ở Bắc Tây Nguyên, trên độ cao trung bình 700-800 m so với mặt nước biển. Tỉnh này rộng 15.510 km2, theo Niên giám thống kê 2022. Phía bắc Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum, phía nam giáp Đăk Lăk, phía tây giáp Campuchia với 90 km đường biên giới, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.\n\nVới diện tích này, Gia Lai là tỉnh rộng nhất trong 5 tỉnh Tây Nguyên, gồm Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng. Đồng thời, đây cũng là tỉnh đứng thứ hai cả nước về diện tích, chỉ sau Nghệ An.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Gia Lai là tỉnh miền núi ở Bắc Tây Nguyên, trên độ cao trung bình 700-800 m so với mặt nước biển. Tỉnh này rộng 15.510 km2, theo Niên giám thống kê 2022. Phía bắc Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum, phía nam giáp Đăk Lăk, phía tây giáp Campuchia với 90 km đường biên giới, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.\n\nVới diện tích này, Gia Lai là tỉnh rộng nhất trong 5 tỉnh Tây Nguyên, gồm Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng. Đồng thời, đây cũng là tỉnh đứng thứ hai cả nước về diện tích, chỉ sau Nghệ An."
}
],
"id": "32116",
"is_impossible": false,
"question": "Tỉnh nào rộng nhất Tây Nguyên?"
}
]
}
],
"title": "Tỉnh nào rộng nhất Tây Nguyên?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Tỉnh Gia Lai hiện có 17 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó chỉ có một thành phố trực thuộc là thành phố Pleiku. Tỉnh có hai thị xã là An Khê và Ayun Pa, còn lại 14 huyện.\n\nTheo Cổng thông tin điện tử TP Pleiku, thành phố này nằm trên trục giao thông giữa quốc lộ 14 và 19 nối thông suốt cả nước, gần ngã ba Đông Dương, nằm trên cung đường Hồ Chí Minh, trong vùng tam giác tăng trưởng các tỉnh lân cận cũng như Lào và Campuchia. Tổng diện tích tự nhiên của Pleiku là gần 26.200 ha, gồm 14 phường và 7 xã.\nMột góc thành phố Pleiku trong sương mù. Ảnh: Hoàng Quốc Vĩnh",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 553,
"text": "Hoàng Quốc Vĩnh"
}
],
"id": "32117",
"is_impossible": false,
"question": "Tỉnh này có mấy thành phố trực thuộc?"
}
]
}
],
"title": "Tỉnh này có mấy thành phố trực thuộc?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Dân số Gia Lai tính đến năm 2022 là gần 1,6 triệu người, theo Niên giám thống kê. Tỉnh này là nơi sinh sống của 44 dân tộc. Trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 46,23% tổng dân số.\n\nJrai (hay Gia Rai, Jarai) và Bahnar (Ba Na) có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số của tỉnh. Trong đó, người Jrai chiếm 30,37%, Bahnar chiếm 12,51%. Các dân tộc khác có thể kể đến như Thái, Nùng, Tày, Ê đê, Xơ Đăng, Mông, Dao.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Dân số Gia Lai tính đến năm 2022 là gần 1,6 triệu người, theo Niên giám thống kê. Tỉnh này là nơi sinh sống của 44 dân tộc. Trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 46,23% tổng dân số.\n\nJrai (hay Gia Rai, Jarai) và Bahnar (Ba Na) có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số của tỉnh. Trong đó, người Jrai chiếm 30,37%, Bahnar chiếm 12,51%. Các dân tộc khác có thể kể đến như Thái, Nùng, Tày, Ê đê, Xơ Đăng, Mông, Dao."
}
],
"id": "32118",
"is_impossible": false,
"question": "Hai dân tộc thiểu số đông nhất ở tỉnh này là gì?"
}
]
}
],
"title": "Hai dân tộc thiểu số đông nhất ở tỉnh này là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Hồ T'nưng, hay còn gọi Biển Hồ, là hồ nước ngọt nằm ở phía tây bắc TP Pleiku, tỉnh Gia Lai. Đây là hồ nước ngọt quan trọng cấp nước cho thành phố này.\n\nTheo các nhà khoa học, hồ T'nưng là miệng núi lửa đã ngừng hoạt động từ hàng trăm triệu năm qua. Đứng từ xa nhìn hồ nước này vẫn thấy rõ hình dáng miệng núi lửa nhô cao. Hồ có hình bầu dục, rộng 2,28 km2, độ sâu khoảng 12-19 m.\n\nHồ T'nưng là nơi ẩn náu của các loài chim như bói cá, cuốc đen, kơ túc, kơ vông, le le, ngỗng trời. Hồ còn là vựa cá lớn của Tây Nguyên, gồm đủ loại như cá chép, cá trắm, cá trôi, cá đá, cá niềng, cá chày, cá ngựa. Hồ là một thắng cảnh của Gia Lai, thu hút đông khách du lịch.\nMột góc hồ T'nưng. Ảnh: Lê Nam",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 682,
"text": "Lê Nam"
}
],
"id": "32119",
"is_impossible": false,
"question": "Hồ nước ngọt nổi tiếng ở tỉnh này có tên là gì?"
}
]
}
],
"title": "Hồ nước ngọt nổi tiếng ở tỉnh này có tên là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo Đại tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, là vị vua thứ 13 và cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Ông sinh ngày 22/10/1913, tại Huế, là con trai duy nhất của vua Khải Định và bà Từ Cung.\n\nNăm 1922, khi được 9 tuổi, Vĩnh Thụy được lập làm Đông cung Hoàng Thái tử. Sau khi trở thành người kế vị, Vĩnh Thụy được trao cho Khâm sứ Jean François Eugène Charles đưa về Pháp đào tạo. Một năm sau ngày Vua Khải Định mất, năm 1926, Vĩnh Thụy lên ngôi vua, lấy hiệu Bảo Đại.\n Hình vua Bảo Đại diện long bào trong catalogue của nhà đấu giá Pháp. Ảnh: Delon - Hoebanx",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 582,
"text": "Delon - Hoebanx"
}
],
"id": "32120",
"is_impossible": false,
"question": "Vị vua cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam là ai?"
}
]
}
],
"title": "Vị vua cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam là ai?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Đó là bà Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh năm 1914 tại Gò Công, tỉnh Tiền Giang, trong một gia đình giàu có bậc nhất Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX. Bà Nguyễn Hữu Thị Lan mang quốc tịch Pháp với tên là Mariette Jeanne.\n\nNăm 12 tuổi, Thị Lan được gửi sang Pháp học trường nữ sinh danh tiếng tại Paris. Tốt nghiệp tú tài toàn phần năm 1932, Nguyễn Hữu Thị Lan về nước.\n\nHơn một năm sau, với sự bố trí của Toàn quyền Pháp Pasquier và Đốc lý Đà Lạt, Nguyễn Hữu Thị Lan gặp Vua Bảo Đại tại Đà Lạt. Cuộc gặp với Nguyễn Hữu Thị Lan đã để lại cho Bảo Đại ấn tượng rất sâu sắc. Sau này Bảo Đại đã nhớ lại: \"Lan có một vẻ đẹp thùy mị của người con gái miền Nam, hiền lành và quyến rũ làm tôi say mê\". \nHoàng hậu mặc triều phục năm 1939. Ảnh: Le Monde colonial illustré",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 591,
"text": "\"Lan có một vẻ đẹp thùy mị của người con gái miền Nam, hiền lành và quyến rũ làm tôi say mê\". \nHoàng hậu mặc triều phục năm 1939. Ảnh: Le Monde colonial illustré"
}
],
"id": "32121",
"is_impossible": false,
"question": "Người vợ đầu tiên của Bảo Đại là ai?"
}
]
}
],
"title": "Người vợ đầu tiên của Bảo Đại là ai?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, khi Vua Bảo Đại ngỏ ý lấy Nguyễn Hữu Thị Lan làm vợ, bà đã đưa ra bốn điều kiện:\n\n- Được tấn phong Hoàng hậu Chánh cung sau ngày cưới.\n\n- Được giữ nguyên đạo Công giáo, các con khi sinh ra phải được rửa tội theo giáo luật Công giáo và giữ đạo.\n\n- Riêng Bảo Đại vẫn giữ đạo cũ là Phật giáo.\n\n- Phải được tòa thánh cho phép hai người lấy nhau và giữ hai tôn giáo khác nhau.\n\nHôn lễ sau đó được tổ chức tại Huế ngày 20/3/1934. Năm đó, Vua Bảo Đại 21 tuổi, Nguyễn Hữu Thị Lan 20 tuổi. Sau ngày cưới, Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn phong Hoàng hậu tại điện Dưỡng Tâm với tước vị Nam Phương Hoàng hậu. Đây là một biệt lệ vì 12 đời vua trước của nhà Nguyễn, các bà chánh cung chỉ được phong tước hoàng quý phi, đến khi chết mới được truy phong hoàng hậu.\n\nVua Bảo Đại còn ra một chỉ dụ đặc biệt cho phép bà Nam Phương được phục sức màu vàng là màu chỉ dành riêng cho hoàng đế.\nVua Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương. Ảnh tư liệu",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 114,
"text": "- Được tấn phong Hoàng hậu Chánh cung sau ngày cưới.\n\n- Được giữ nguyên đạo Công giáo, các con khi sinh ra phải được rửa tội theo giáo luật Công giáo và giữ đạo.\n\n- Riêng Bảo Đại vẫn giữ đạo cũ là Phật giáo.\n\n- Phải được tòa thánh cho phép hai người lấy nhau và giữ hai tôn giáo khác nhau.\n\nHôn lễ sau đó được tổ chức tại Huế ngày 20/3/1934. Năm đó, Vua Bảo Đại 21 tuổi, Nguyễn Hữu Thị Lan 20 tuổi. Sau ngày cưới, Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn phong Hoàng hậu tại điện Dưỡng Tâm với tước vị Nam Phương Hoàng hậu. Đây là một biệt lệ vì 12 đời vua trước của nhà Nguyễn, các bà chánh cung chỉ được phong tước hoàng quý phi, đến khi chết mới được truy phong hoàng hậu.\n\nVua Bảo Đại còn ra một chỉ dụ đặc biệt cho phép bà Nam Phương được phục sức màu vàng là màu chỉ dành riêng cho hoàng đế.\nVua Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương. Ảnh tư liệu"
}
],
"id": "32122",
"is_impossible": false,
"question": "Vua Bảo Đại chấp nhận điều kiện gì để cưới người vợ đầu?"
}
]
}
],
"title": "Vua Bảo Đại chấp nhận điều kiện gì để cưới người vợ đầu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 30/8/1945, trước hơn 5 vạn nhân dân thành phố Huế tập trung ở cửa Ngọ Môn, Bảo Đại tuyên bố thoái vị, trao ấn kiếm, quốc bảo của hoàng triều cho ông Trần Huy Liệu, đại diện chính quyền cách mạng. Ông trở thành công dân Vĩnh Thụy.\n\nTrong tuyên bố thoái vị, ông có câu nói nổi tiếng: \"Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước bị trị. Từ nay trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập\".\nLầu Ngũ Phụng (Ngọ Môn) nơi diễn ra lễ thoái vị của vua Bảo Đại chiều 30/8/1945. Ảnh: Nguyễn Đông",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 319,
"text": "\"Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước bị trị. Từ nay trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập\".\nLầu Ngũ Phụng (Ngọ Môn) nơi diễn ra lễ thoái vị của vua Bảo Đại chiều 30/8/1945. Ảnh: Nguyễn Đông"
}
],
"id": "32123",
"is_impossible": false,
"question": "Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước bị trị được Bảo Đại nói ở đâu?"
}
]
}
],
"title": "Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước bị trị được Bảo Đại nói ở đâu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Tháng 10/1956, Bảo Đại sang Pháp sống trong một ngôi nhà vùng Alsace, miền Đông nước Pháp. Năm 1997, ông bị ốm và được đưa vào điều trị tại một bệnh viện quân y nổi tiếng của Paris.\n\nNgày 31/7/1997, vị vua cuối cùng của Việt Nam qua đời trên đất Pháp, thọ 85 tuổi. Đám tang cựu hoàng Bảo Đại được tổ chức tại nhà thờ Saint - Pièrre de chaillot, số 35 đại lộ Marceau, quận 16 của Paris. Linh cữu của ông được mai táng tại nghĩa trang Passy trên đồi Trocadéro.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Tháng 10/1956, Bảo Đại sang Pháp sống trong một ngôi nhà vùng Alsace, miền Đông nước Pháp. Năm 1997, ông bị ốm và được đưa vào điều trị tại một bệnh viện quân y nổi tiếng của Paris.\n\nNgày 31/7/1997, vị vua cuối cùng của Việt Nam qua đời trên đất Pháp, thọ 85 tuổi. Đám tang cựu hoàng Bảo Đại được tổ chức tại nhà thờ Saint - Pièrre de chaillot, số 35 đại lộ Marceau, quận 16 của Paris. Linh cữu của ông được mai táng tại nghĩa trang Passy trên đồi Trocadéro."
}
],
"id": "32124",
"is_impossible": false,
"question": "Cựu hoàng Bảo Đại qua đời ở đâu?"
}
]
}
],
"title": "Cựu hoàng Bảo Đại qua đời ở đâu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Quốc đảo Kiribati ở châu Đại Dương, nằm ở múi giờ GMT+13, là nơi bước sang năm mới 2024 đầu tiên trên thế giới, vào khoảng 17h ngày 31/12 giờ Hà Nội, theo trang Business Standard và Time and Date. Do nằm sát đường đổi ngày quốc tế nhất (về bên trái), đây là nơi đón năm mới sớm nhất trong số hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ.\n\n15 phút sau, quần đảo Chatham của New Zealand bước vào năm mới. Tới 18h, các thành phố còn lại của quốc gia này như Auckland, Wellington cũng đón giao thừa. Vì thế, New Zealand trở thành địa điểm du lịch lý tưởng cho những ai muốn đón năm mới sớm trên thế giới.\nPháo hoa. Ảnh: Freepik",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 605,
"text": "Freepik"
}
],
"id": "32125",
"is_impossible": false,
"question": "Nơi đón năm mới đầu tiên trên thế giới thuộc châu lục nào?"
}
]
}
],
"title": "Nơi đón năm mới đầu tiên trên thế giới thuộc châu lục nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Đảo Baker và đảo Howland, hai khu vực không có người ở của Mỹ, là nơi đón năm mới cuối cùng, vào 19h ngày 1/1/2024 giờ Hà Nội. Trước đó 30 phút, Hawaii và các đảo khác ở Polynesia thuộc Pháp đón chào năm mới.\n\nSở dĩ, trên Thái Bình Dương tồn tại đường đổi ngày quốc tế (International Date Line - IDL). Đây là một đường tưởng tượng dùng làm ranh giới giữa múi giờ UTC+14 và UTC-12. Nó không phải là một đường thẳng như kinh tuyến mà là đường gấp khúc, đảm bảo để một quốc gia không bị phân chia múi giờ theo hai ngày khác nhau. Các quốc gia cũng có thể lựa chọn việc nằm ở phía nào của đường đổi ngày cho thuận tiện.\n\nNằm sát đường đổi ngày quốc tế nhất (về bên trái) là Kiribati. Bên phải đường này là Mỹ và một số khu vực khác. \n Đường đổi ngày quốc tế. Ảnh: World Atlas",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 761,
"text": "World Atlas"
}
],
"id": "32126",
"is_impossible": false,
"question": "Nước nào đón năm mới cuối cùng?"
}
]
}
],
"title": "Nước nào đón năm mới cuối cùng?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Insider, tại Đan Mạch, bát hay cốc vỡ có ý nghĩa mang lại may mắn. Do đó, người dân địa phương thường đập vỡ những đồ sứ bị hỏng hoặc không dùng đến và để nó ở bậc thang trước nhà bạn bè hoặc người dân với mục đích mong họ có một năm nhiều tiền của, may mắn. Đống bát, đĩa vỡ càng lớn trước cửa thể hiện sự yêu mến chủ nhà nhận được.\nBát đĩa bị vỡ. Ảnh minh họa: Alamy",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 368,
"text": "Alamy"
}
],
"id": "32127",
"is_impossible": false,
"question": "Người dân Đan Mạch ném bỏ đồ vật gì trong đêm giao thừa?"
}
]
}
],
"title": "Người dân Đan Mạch ném bỏ đồ vật gì trong đêm giao thừa?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Người Tây Ban Nha quan niệm nếu có thể ăn hết 12 trái nho cùng lúc tiếng chuông chào đón năm mới vang lên, họ sẽ có một năm may mắn. Mỗi quả nho được người dân tin rằng đại diện cho một tháng trong năm và phải ăn ngay vào thời khắc giao thừa nếu không muốn gặp xui xẻo. \n\nTruyền thống này có từ những năm 1800, khi các chủ trang trại nho tại khu vực Aliccante muốn tăng doanh số bán nho vào cuối năm. Ý tưởng sau đó được người dân hưởng ứng rộng rãi.\nNgười Tây Ban Nha ăn nho trong khoảnh khắc sang năm mới. Ảnh: istock",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 513,
"text": "istock"
}
],
"id": "32128",
"is_impossible": false,
"question": "Người Tây Ban Nha ăn quả gì lúc tiếng chuông chào năm mới vang lên?"
}
]
}
],
"title": "Người Tây Ban Nha ăn quả gì lúc tiếng chuông chào năm mới vang lên?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Nam Phương Hoàng hậu tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh ngày 14/12/1914, tại Gò Công, tỉnh Tiền Giang, trong một gia đình giàu có bậc nhất Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX. Mặc dù quê ở Tiền Giang, Nguyễn Hữu Thị Lan mang quốc tịch Pháp với tên Pháp là Mariette Jeanne, sống và học tại Sài Gòn.\n\nNăm 12 tuổi, Thị Lan được gửi sang Pháp học trường nữ sinh danh tiếng tại Paris. Tháng 9/1932, sau khi tốt nghiệp tú tài toàn phần, Nguyễn Hữu Thị Lan về nước.\nNam Phương hoàng hậu mặc triều phục. Ảnh: NXB Tổng hợp TP HCM",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 538,
"text": "NXB Tổng hợp TP HCM"
}
],
"id": "32129",
"is_impossible": false,
"question": "Hoàng hậu cuối cùng của triều đại phong kiến là ai?"
}
]
}
],
"title": "Hoàng hậu cuối cùng của triều đại phong kiến là ai?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Hơn một năm sau khi về nước, với sự bố trí của Toàn quyền Pháp Pasquier và Đốc lý Đà Lạt, Nguyễn Hữu Thị Lan gặp Vua Bảo Đại tại Đà Lạt. Cuộc gặp với Nguyễn Hữu Thị Lan đã để lại cho Bảo Đại một ấn tượng rất sâu sắc. Sau này Bảo Đại đã nhớ lại: Lan có một vẻ đẹp thùy mị của người con gái miền Nam, hiền lành và quyến rũ làm tôi say mê.\nẢnh Hoàng hậu Nam Phương tại Đà Lạt vào tháng 8/1933, đăng trên tờ Le Monde colonial illustré năm 1934. Ảnh: Le Monde colonial illustré",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 245,
"text": "Lan có một vẻ đẹp thùy mị của người con gái miền Nam, hiền lành và quyến rũ làm tôi say mê.\nẢnh Hoàng hậu Nam Phương tại Đà Lạt vào tháng 8/1933, đăng trên tờ Le Monde colonial illustré năm 1934. Ảnh: Le Monde colonial illustré"
}
],
"id": "32130",
"is_impossible": false,
"question": "Bà gặp chồng lần đầu tiên ở đâu?"
}
]
}
],
"title": "Bà gặp chồng lần đầu tiên ở đâu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Bảo tàng Lâm Đồng, năm 1934, hôn lễ giữa vua Bảo Đại và bà Nguyễn Hữu Thị Lan đã được tổ chức trọng thể tại Điện Kiến Trung - Huế. Ngay ngày hôm sau, Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn phong làm Hoàng hậu, hiệu là Nam Phương (hương thơm phương Nam).\n\nSự kiện Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn phong Hoàng hậu ngay sau khi cưới là một biệt lệ đối với các đời vợ vua triều Nguyễn. 12 đời vua triều Nguyễn trước đó, người vợ chỉ được tấn phong là vương phi, đến khi mất mới được truy phong là hoàng hậu. \n\nVua Bảo Đại còn ra một chỉ dụ đặc biệt cho phép bà Nam Phương được phục sức màu vàng là màu chỉ dành riêng cho hoàng đế.\n Nam Phương hoàng hậu chuẩn bị tham gia \"Tấn nội đình\" (lễ nhập cung) năm 1934. Ảnh: L'Illustration",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 714,
"text": "L'Illustration"
}
],
"id": "32131",
"is_impossible": false,
"question": "Sau lễ cưới, bà được tấn phong là:"
}
]
}
],
"title": "Sau lễ cưới, bà được tấn phong là:"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Năm người con của vợ chồng Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương là Thái tử Bảo Long, Công chúa Phương Mai, Công chúa Phương Liên, Công chúa Phương Dung, Hoàng tử Bảo Thăng.\n Hoàng hậu Nam Phương và các con. Ảnh: Bảo tàng Lâm Đồng",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 212,
"text": "Bảo tàng Lâm Đồng"
}
],
"id": "32132",
"is_impossible": false,
"question": "Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương có mấy người con?"
}
]
}
],
"title": "Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương có mấy người con?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, sau khi Vua Bảo Đại thoái vị, ngày 1/1/1947, Nam Phương Hoàng hậu cùng các con rời Việt Nam sang Pháp. Ở đây, bà được nhận khối tài sản lớn do cha đẻ trao cho gồm một chung cư lớn tại Neuilly và Đại lộ Opera, cùng nhiều nhà đất khác… Bà chia cho các con, chỉ giữ lại một trang trại ở Chabrignac.\n\nBà bị bệnh tim nặng và ra đi năm 1963 sau lần bị cảm lạnh, sốt cao, khó thở. Lúc lâm chung, các con ở xa, Bảo Đại sống ở miền Nam nước Pháp, bên cạnh bà Nam Phương chỉ có hai người giúp việc.\n Hoàng hậu và các con vào tháng 5/1939 trên tờ Le Monde colonial illustré. Ảnh: Le Monde colonial illustré",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 608,
"text": "Le Monde colonial illustré"
}
],
"id": "32133",
"is_impossible": false,
"question": "Sau khi chồng thoái vị, bà sống những năm cuối đời ở đâu?"
}
]
}
],
"title": "Sau khi chồng thoái vị, bà sống những năm cuối đời ở đâu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Thông thường, Người Mông ăn Tết cổ truyền vào đầu tháng 12 âm lịch (trước Tết Nguyên đán của người Kinh một tháng). Tết năm mới của người Mông không cố định vào một ngày cụ thể, mà là khoảng ngày do Hội đồng già làng trưởng bản ấn định, trên cơ sở giao thời mùa vụ giữa năm cũ và năm mới, thời tiết thuận lợi. Vì vậy, từng bản, từng vùng có thể ăn Tết vào những ngày khác nhau trong khoảng thời gian đó. \nTết cổ truyền của người Mông kéo dài 3-5 ngày với các đồ lễ như: lợn, gà, bánh dày, hương, giấy dó. Lợn thường được các gia đình nuôi từ đầu năm, đến Tết mới thịt. Gà, đặc biệt là gà trống, là vật dâng cúng chính trong các nghi lễ ngày Tết của người Mông. Người Mông quan niệm và tin rằng con gà là giống vật thiêng, có khả năng trừ ma và sai khiến được cả hồn người, trâu, bò, lợn, hồn thóc lúa.\n\nBánh dày (tượng trưng cho mặt trăng, mặt trời, là vũ trụ, là nguồn gốc sinh ra con người và muôn loài trên trái đất) được làm từ gạo nếp nương, không bị pha tạp, dùng để cúng, ăn trong Tết và làm quà biếu. Hương thắp được đồng bào làm từ loại cây rừng có tên là lộng xeng. Giấy dó được làm từ cây giang bánh tẻ, dùng để trang trí nhà cửa, làm tiền âm phủ đốt trong nghi lễ.\n\nTrong những ngày Tết, người Mông thường đua ngựa, đánh quay, đẩy gậy, bắn nỏ, hội Gầu tào, ném pao. Thanh niên nam nữ ăn mặc đẹp, rủ nhau đi chơi, thổi kèn lá, kèn môi, ném pao, hát đúm. Ngày Tết còn là ngày hội giao duyên của các đôi trai gái.\nTrẻ con dân tộc Mông chơi đánh quay trong ngày Tết. Ảnh: Nguyễn Vũ Phước",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 470,
"text": "lợn, gà, bánh dày, hương, giấy dó. Lợn thường được các gia đình nuôi từ đầu năm, đến Tết mới thịt. Gà, đặc biệt là gà trống, là vật dâng cúng chính trong các nghi lễ ngày Tết của người Mông. Người Mông quan niệm và tin rằng con gà là giống vật thiêng, có khả năng trừ ma và sai khiến được cả hồn người, trâu, bò, lợn, hồn thóc lúa.\n\nBánh dày (tượng trưng cho mặt trăng, mặt trời, là vũ trụ, là nguồn gốc sinh ra con người và muôn loài trên trái đất) được làm từ gạo nếp nương, không bị pha tạp, dùng để cúng, ăn trong Tết và làm quà biếu. Hương thắp được đồng bào làm từ loại cây rừng có tên là lộng xeng. Giấy dó được làm từ cây giang bánh tẻ, dùng để trang trí nhà cửa, làm tiền âm phủ đốt trong nghi lễ.\n\nTrong những ngày Tết, người Mông thường đua ngựa, đánh quay, đẩy gậy, bắn nỏ, hội Gầu tào, ném pao. Thanh niên nam nữ ăn mặc đẹp, rủ nhau đi chơi, thổi kèn lá, kèn môi, ném pao, hát đúm. Ngày Tết còn là ngày hội giao duyên của các đôi trai gái.\nTrẻ con dân tộc Mông chơi đánh quay trong ngày Tết. Ảnh: Nguyễn Vũ Phước"
}
],
"id": "32134",
"is_impossible": false,
"question": "Dân tộc nào ăn Tết cổ truyền sớm nhất?"
}
]
}
],
"title": "Dân tộc nào ăn Tết cổ truyền sớm nhất?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Tết của người Mông có tên gọi Nào Pê Chầu, có nghĩa là \"Ăn Tết ngày 30\". Vì theo quan niệm của người Mông thì 30 Tết là ngày diễn ra các nghi lễ chính để bước sang một năm mới.\n\nĐể chuẩn bị, từ ngày 25 tháng Chạp (theo cách tính lịch của người Mông), người dân mổ những con lợn to để làm lễ tạ ơn tổ tiên, trời đất. Từ ngày 27 đến ngày 29 Tết, tại nhà thầy Mo, người Mông làm lễ \"thả âm binh\" (ua nênh tro khua) về ăn Tết với gia đình hoặc đi rong chơi ngày Tết. \nChiều 30 Tết, người Mông dọn dẹp xung quanh nhà để sẵn sàng đón Tết. Sau đó là lễ quét bồ hóng. Chủ nhà lấy chỉ trắng hoặc đỏ buộc vào 3 cành tre nhỏ, còn lá xanh tạo thành một cái chổi. Sau đó họ quét nhà, bắt đầu từ cột chính đến buồng ngủ của các thành viên trong gia đình, rồi đến gian bếp, cửa phụ, ra gian bàn thờ xử ca, qua cửa chính rồi vứt rác ra vườn với mong muốn vứt bỏ những gì không tốt trong năm cũ.\nNghi thức quan trọng tiếp theo trong Tết Nào Pê Chầu là lễ lập và thay bàn thờ xử ca. Theo quan niệm của người Mông, xử ca là ma có vị trí quan trọng trong hệ thống ma nhà của người Mông, đó là ma có nhiệm vụ cai quản của cải, tiền bạc, phù hộ độ trì cho gia đình làm ăn phát đạt.\n\nCũng vào ngày 30 Tết, thường là buổi chiều tối, người dân làm lễ cúng tổ tiên hay còn gọi là cúng tất niên, để mời ông bà, đến bố mẹ, chú bác, anh em ngang hàng với chủ nhà, người trong họ đã mất mà không nhớ tên tuổi về ăn Tết.\nGia chủ làm lễ quét bồ hóng trong ngày 30 Tết. Ảnh: Thanh Thuận/Báo Biên Phòng",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1442,
"text": "Thanh Thuận/Báo Biên Phòng"
}
],
"id": "32135",
"is_impossible": false,
"question": "Ngày Tết cổ truyền của dân tộc này có tên gọi là gì?"
}
]
}
],
"title": "Ngày Tết cổ truyền của dân tộc này có tên gọi là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Đêm 30 rạng sáng mồng một Tết, người Mông có tục đi lấy nước ở đầu bản về cân lên để đoán việc làm ăn trong năm mới. Khoảng 3h sáng, chủ nhà và những người đàn ông trong gia đình tập trung theo đoàn, đốt đuốc hoặc soi đèn mang theo mấy thẻ hương, một tập tiền âm phủ và xô đựng nước, đi ra đầu nguồn nước.\n\nĐến nơi, chủ nhà thắp hương và đốt tiền âm phủ rồi khấn cầu xin tiền lộc và xin lấy nước về nấu bữa sáng của năm mới. Sau đó, chủ nhà xách xô nước về, rồi cân lên so sánh với xô nước của năm cũ. Nếu cân nhỉnh hơn nước của năm cũ thì năm đó gia đình làm ăn phát đạt, mùa màng thuận lợi, nếu ngược lại, gia đình làm ăn sẽ gặp nhiều khó khăn.\n Người Mông cân lượng nước lấy về trong ngày đầu năm mới để đoán việc làm ăn, mùa màng trong một năm. Ảnh: Thanh Thuận/ Báo Biên Phòng \nSáng mồng một, chủ nhà chuẩn bị đồ lễ gồm thịt gà, cơm, canh và bánh dày, cúng mời tổ tiên, ma nhà, rồi cúng thần thổ địa và hồn vía các loại nông sản cùng những động vật nuôi trong nhà về ăn Tết.\nCác nghi thức cúng lễ trong tết Nào Pê Chầu của người Mông diễn ra chủ yếu vào ngày 30, sáng mồng một và chiều mồng 3 Tết. Theo quan niệm của người Mông, nếu để hương cháy hết không kịp thắp hoặc nến tắt không kịp thay, trong ba ngày đầu xuân, thì năm đó gia đình làm ăn sẽ gặp khó khăn, không may mắn.\n\nNgoài ra, họ còn có một số kiêng kỵ như: không đổ nước xuống nền nhà vì sợ gặp nước cản trở khi đi làm ăn; quét nhà không hốt rác đổ ra ngoài, chỉ dồn vào một chỗ vì sợ sẽ đổ đi may mắn của năm mới; không ăn rau vì sợ sẽ nghèo, thiếu ăn, nương rẫy nhiều cỏ; không được để bánh dày cháy khi rán, không ngủ trưa, không cãi vã trong gia đình.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 755,
"text": "Thanh Thuận/ Báo Biên Phòng \nSáng mồng một, chủ nhà chuẩn bị đồ lễ gồm thịt gà, cơm, canh và bánh dày, cúng mời tổ tiên, ma nhà, rồi cúng thần thổ địa và hồn vía các loại nông sản cùng những động vật nuôi trong nhà về ăn Tết.\nCác nghi thức cúng lễ trong tết Nào Pê Chầu của người Mông diễn ra chủ yếu vào ngày 30, sáng mồng một và chiều mồng 3 Tết. Theo quan niệm của người Mông, nếu để hương cháy hết không kịp thắp hoặc nến tắt không kịp thay, trong ba ngày đầu xuân, thì năm đó gia đình làm ăn sẽ gặp khó khăn, không may mắn.\n\nNgoài ra, họ còn có một số kiêng kỵ như: không đổ nước xuống nền nhà vì sợ gặp nước cản trở khi đi làm ăn; quét nhà không hốt rác đổ ra ngoài, chỉ dồn vào một chỗ vì sợ sẽ đổ đi may mắn của năm mới; không ăn rau vì sợ sẽ nghèo, thiếu ăn, nương rẫy nhiều cỏ; không được để bánh dày cháy khi rán, không ngủ trưa, không cãi vã trong gia đình."
}
],
"id": "32136",
"is_impossible": false,
"question": "Mồng một Tết, người dân tộc này sẽ thực hiện nghi thức gì?"
}
]
}
],
"title": "Mồng một Tết, người dân tộc này sẽ thực hiện nghi thức gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Nghi thức cuối cùng trong ngày Tết của người Mông diễn ra vào chiều mồng ba, có nhà làm vào sáng mùng 4 hay mùng 5 Tết, đó là lễ hạ mâm. Đó cũng là lúc báo hiệu Tết đã hết, mọi người lại cùng nhau bắt tay vào lao động, sản xuất.\n\nBánh dày đặt ở nóc cột chính (cột ma) trong nhà để cúng mời tổ tiên ăn bánh dày và tiễn tổ tiên về cõi âm. Chủ nhà bày mâm giữa nhà, cắt chiếc bánh dày thành các miếng nhỏ, người con trai lớn hay con dâu cả mang đi rán chín. Nếu nhà không có con trai và con dâu thì chủ nhà trực tiếp làm. Ngoài ra, chủ nhà còn nướng cháy một đoạn bắp ngô đã khô treo ở gác bếp, bỏ vào bát nước cúng, ngụ ý đó là thuốc dâng lên và mong năm mới tổ tiên phù hộ cho con cháu sức khỏe.\n\nCúng trong nhà xong, người cúng ra ngoài sân hắt chén rượu, ném chút thức ăn làm vía, mời các ma nhà cùng hưởng. Sau khi cúng xong, người cúng hóa giấy tiền cho bố hoặc mẹ đã mất ngay trước bàn thờ tại gian giữa, tiếp đó là đốt, hóa xử ca của năm cũ.\n Bánh dày là món ăn không thể thiếu trong ngày Tết của người Mông. Ảnh: pystravel.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1020,
"text": "pystravel."
}
],
"id": "32137",
"is_impossible": false,
"question": "Nghi lễ cuối cùng trong ngày Tết của dân tộc này tên là gì?"
}
]
}
],
"title": "Nghi lễ cuối cùng trong ngày Tết của dân tộc này tên là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Đỉnh Fansipan, Lào Cai, là nơi cao nhất Việt Nam, nhưng khối núi Mẫu Sơn, Lạng Sơn, mới là nơi lạnh nhất.\n\nMẫu Sơn là vùng núi cao chạy theo hướng đông - tây, cách thành phố Lạng Sơn 30 km về phía đông, giáp biên giới Việt - Trung. Đỉnh Phia Mè, một trong 80 ngọn núi thuộc khối núi Mẫu Sơn, cao hơn 1.540 m so với mặt biển. Đây là nơi cao nhất của tỉnh Lạng Sơn.\n\nDo cấu tạo địa hình có nhiều dãy núi hình cánh cung mở ra ở phía bắc, chụm đầu về phía Tam Đảo, Mẫu Sơn là cửa ngõ đón gió mùa ở Việt Nam. Về mùa đông nhiệt độ Mẫu Sơn xuống tới âm độ, thường xuyên có băng giá, thi thoảng có tuyết rơi. Nhiệt độ trung bình ở đây là 15,5 độ C, đỉnh núi này quanh năm có mây phủ.\nTuyết phủ trắng trên khối núi Mẫu Sơn mùa đông. Ảnh: Lưu Minh Dân",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 729,
"text": "Lưu Minh Dân"
}
],
"id": "32138",
"is_impossible": false,
"question": "Nơi nào lạnh nhất Việt Nam?"
}
]
}
],
"title": "Nơi nào lạnh nhất Việt Nam?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Ngày 7/5/2023, trạm Tương Dương, Nghệ An, ghi nhận nhiệt độ 44,2 độ C, cao kỷ lục tại Việt Nam.\n\nTương Dương là huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, cũng là huyện rộng nhất cả nước với diện tích hơn 2.800 km2. Huyện này có 58 km đường biên giới với Lào, địa hình đồi núi là chủ yếu. \n\nNgoài Tương Dương, một số điểm thường xuyên có nhiệt độ cao ở Việt Nam là Hồi Xuân (Thanh Hóa), Hương Khê (Hà Tĩnh). Những điểm này đều ở nơi chịu tác động mạnh nhất của vùng nóng phía tây và hiệu ứng gió phơn.\n Người dân Tương Dương (Nghệ An) ngồi nép sau bóng nhà lúc xế chiều để tránh nắng. Ảnh: Nguyễn Hải",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 581,
"text": "Nguyễn Hải"
}
],
"id": "32139",
"is_impossible": false,
"question": "Kỷ lục nhiệt độ cao nhất Việt Nam được ghi nhận tại địa phương nào?"
}
]
}
],
"title": "Kỷ lục nhiệt độ cao nhất Việt Nam được ghi nhận tại địa phương nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Niên giám thống kê 2021, tổng số giờ nắng một năm tại trạm đo đặt tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là hơn 2.610, cao nhất cả nước. Xét từng tháng, tỉnh này có hơn 266 giờ nắng vào tháng 3 và 6, trung bình mỗi ngày gần 9 giờ, các tháng còn lại chủ yếu hơn 200 giờ.\n\nBà Rịa - Vũng Tàu là tỉnh ven biển, thuộc vùng Đông Nam Bộ, với diện tích 1.989 km2, dân số 1,06 triệu. Tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, phía bắc giáp Đồng Nai, phía tây giáp TP HCM, phía đông giáp Bình Thuận, còn phía nam giáp biển Đông. \n\nBà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa; nhiệt độ trung bình năm là 27°C, tháng thấp nhất khoảng 24,8°C, tháng cao nhất khoảng 28,6°C. Tỉnh nằm trong vùng ít có bão.\n Biển Bãi Sau Vũng Tàu nhìn từ trên cao. Ảnh:Trường Hà",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 769,
"text": "Trường Hà"
}
],
"id": "32140",
"is_impossible": false,
"question": "Tỉnh, thành nào có số giờ nắng nhiều nhất?"
}
]
}
],
"title": "Tỉnh, thành nào có số giờ nắng nhiều nhất?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Cổng thông tin điện tử Ninh Thuận, tỉnh này có lượng mưa trung bình năm 700-800 mm, miền núi cao hơn, khoảng 1.100 mm. Trong khi đó, lượng mưa trung bình năm của Việt Nam dao động 1.500-2.000 mm. Ninh Thuận là địa phương có lượng mưa thấp nhất cả nước.\n\nTỉnh này có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với đặc trưng khô nóng, gió nhiều, bốc hơi mạnh. Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Ninh Thuận 26-27 độ C, độ ẩm không khí từ 75-77%. \n\nThời tiết ở Ninh Thuận có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau. Nguồn nước ở Ninh Thuận phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc và trung tâm tỉnh. Nguồn nước ngầm chỉ bằng một phần ba mức bình quân cả nước.\n\nTheo lý giải của các nhà khoa học, ba phần tư lãnh thổ Ninh Thuận được những dãy núi cao bao bọc, như chiếc bình phong chắn gió mang mây và mưa tới. Vùng trời Ninh Thuận luôn trong xanh, nắng chói chang và có số ngày mưa trong năm rất thấp.\n Cánh đồng nứt nẻ do hạn hán kéo dài ở Ninh Thuận, tháng 5/2020. Ảnh: TTXVN",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 481,
"text": "mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau. Nguồn nước ở Ninh Thuận phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc và trung tâm tỉnh. Nguồn nước ngầm chỉ bằng một phần ba mức bình quân cả nước.\n\nTheo lý giải của các nhà khoa học, ba phần tư lãnh thổ Ninh Thuận được những dãy núi cao bao bọc, như chiếc bình phong chắn gió mang mây và mưa tới. Vùng trời Ninh Thuận luôn trong xanh, nắng chói chang và có số ngày mưa trong năm rất thấp.\n Cánh đồng nứt nẻ do hạn hán kéo dài ở Ninh Thuận, tháng 5/2020. Ảnh: TTXVN"
}
],
"id": "32141",
"is_impossible": false,
"question": "Tỉnh nào có lượng mưa thấp nhất cả nước?"
}
]
}
],
"title": "Tỉnh nào có lượng mưa thấp nhất cả nước?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Việt Nam nằm bên bờ biển Đông, giáp biển này ở hướng đông, đông nam và tây nam. Bờ biển Việt Nam cong hình chữ S, dài trên 3.260 km, từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang), đứng thứ 27 trong 157 quốc gia ven biển, đảo quốc và các lãnh thổ trên thế giới, theo tài liệu của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.\n\nCả nước có 28 tỉnh, thành có biển. Trong đó, miền Bắc có 5 tỉnh giáp biển gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Việt Nam nằm bên bờ biển Đông, giáp biển này ở hướng đông, đông nam và tây nam. Bờ biển Việt Nam cong hình chữ S, dài trên 3.260 km, từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang), đứng thứ 27 trong 157 quốc gia ven biển, đảo quốc và các lãnh thổ trên thế giới, theo tài liệu của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.\n\nCả nước có 28 tỉnh, thành có biển. Trong đó, miền Bắc có 5 tỉnh giáp biển gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình."
}
],
"id": "32142",
"is_impossible": false,
"question": "Miền Bắc có bao nhiêu tỉnh, thành giáp biển?"
}
]
}
],
"title": "Miền Bắc có bao nhiêu tỉnh, thành giáp biển?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Ninh Bình có đường bờ biển ngắn nhất Việt Nam. Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh, đường bờ biển của Ninh Bình chỉ hơn 15 km. Vùng này thuộc 4 xã ven biển huyện Kim Sơn là Kim Trung, Kim Hải, Kim Đông, Kim Tân, diện tích khoảng 6.000 ha, chiếm 4,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.\n\nVì giáp biển, đất đai ở khu vực các xã này nhiễm mặn nhiều, chủ yếu phù hợp trồng rừng phòng hộ (sú, vẹt), trồng cói, trồng một vụ lúa và nuôi trồng thuỷ hải sản.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Ninh Bình có đường bờ biển ngắn nhất Việt Nam. Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh, đường bờ biển của Ninh Bình chỉ hơn 15 km. Vùng này thuộc 4 xã ven biển huyện Kim Sơn là Kim Trung, Kim Hải, Kim Đông, Kim Tân, diện tích khoảng 6.000 ha, chiếm 4,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.\n\nVì giáp biển, đất đai ở khu vực các xã này nhiễm mặn nhiều, chủ yếu phù hợp trồng rừng phòng hộ (sú, vẹt), trồng cói, trồng một vụ lúa và nuôi trồng thuỷ hải sản."
}
],
"id": "32143",
"is_impossible": false,
"question": "Tỉnh nào có đường bờ biển ngắn nhất?"
}
]
}
],
"title": "Tỉnh nào có đường bờ biển ngắn nhất?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Quảng Ninh có đường bờ biển dài 250 km trong khi đường bờ biển của Hải Phòng khoảng 125 km.\n\nTheo thông tin tổng hợp của Trung tâm phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam, vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là vùng địa hình độc đáo với hơn 2.000 hòn đảo, chiếm hơn hai phần ba số đảo cả nước. Ngoài những bãi bồi phù sa, vùng ven biển và hải đảo này còn có những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển. Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng.\n\nCòn với Hải Phòng, bờ biển dài trên 125 km kể cả bờ biển chung quanh các đảo khơi. Bờ biển có hướng một đường cong lõm của bờ vịnh Bắc Bộ, thấp và khá bằng phẳng, cấu tạo chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra. Trên đoạn chính giữa bờ biển, mũi Đồ Sơn nhô ra như một bán đảo. Ngoài khơi thuộc địa phận Hải Phòng có nhiều đảo rải rác trên khắp mặt biển, lớn nhất có đảo Cát Bà, xa nhất là đảo Bạch Long Vĩ.\n Đường bao biển Hạ Long - Cẩm Phả ở Quảng Ninh. Ảnh: Lê Tân",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1024,
"text": "Lê Tân"
}
],
"id": "32144",
"is_impossible": false,
"question": "Quảng Ninh hay Hải Phòng có đường bờ biển dài hơn?"
}
]
}
],
"title": "Quảng Ninh hay Hải Phòng có đường bờ biển dài hơn?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Biển Đồng Châu thuộc xã Đông Minh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, cách trung tâm thành phố Thái Bình khoảng 35 km và cách Hà Nội khoảng 140 km. Khu vực này còn nhiều nét hoang sơ, thu hút du khách và các nhiếp ảnh gia. \n\nBiển Đồng Châu có bãi tắm dài khoảng 5 km. Từ đây, du khách có thể đi tàu, xuồng gắn máy ra thăm và tắm biển ở Cồn Thủ và Cồn Vành, cách đất liền khoảng 7 km. Ba nơi này tạo nên khu du lịch biển Đồng Châu, hàng năm thu hút nhiều du khách.\nKhu vực các chòi cá, nơi neo đậu thuyền bè của dân đánh cá ở biển Đồng Châu. Ảnh: Đoàn Ngọc Anh",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 543,
"text": "Đoàn Ngọc Anh"
}
],
"id": "32145",
"is_impossible": false,
"question": "Biển Đồng Châu thuộc tỉnh nào?"
}
]
}
],
"title": "Biển Đồng Châu thuộc tỉnh nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Vào cuối thế kỷ XIX, Sài Gòn nổi lên tứ đại phú hào, tiếng tăm tới mức dân gian còn truyền nhau câu \"Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Hoả\". Huyện Sỹ là người đứng đầu nhóm tứ đại phú hộ Sài Gòn.\n\nHuyện Sỹ tên thật là Lê Nhứt Sỹ (1841-1900), sinh tại Cầu Kho (Sài Gòn) nhưng gốc ở Tân An (Long An) trong một gia đình theo đạo Công giáo. Ông được các tu sĩ người Pháp đưa đi du học ở Malaysia, được học ngôn ngữ Latinh Pháp, Hán và chữ quốc ngữ. Thời gian này, ông đổi tên thành Lê Phát Đạt, do tên cũ trùng với tên người thầy dạy.\n\nVề nước, ông được chính phủ Pháp bổ nhiệm làm thông ngôn. Từ năm 1880, ông làm Ủy viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, sau phong hàm lên cấp Huyện. \n Tượng bán thân ông Huyện Sỹ trong nhà thờ do chính ông hiến tài sản xây dựng. Ảnh: Quỳnh Trần",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 761,
"text": "Quỳnh Trần"
}
],
"id": "32146",
"is_impossible": false,
"question": "Phú hộ giàu nhất Sài Gòn thế kỷ XIX là ai?"
}
]
}
],
"title": "Phú hộ giàu nhất Sài Gòn thế kỷ XIX là ai?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Trong cuốn Sài Gòn năm xưa, học giả Vương Hồng Sển cho rằng con đường giàu có của ông Huyện Sỹ chẳng qua vì ăn may. \"Tương truyền buổi đầu, Tây mới qua, dân cư tản mác. Pháp phát mại ruộng đất vô thừa nhận, giá bán rẻ mạt mà vẫn không có người đấu giá\".\n\n\"Hồi Tây qua, nghe nói lại, những chủ cũ đều đồng hè bỏ đất, không nhìn nhận, vì nhận sợ triều đình Huế khép tội theo Pháp. Vả lại, cũng ước ao một ngày kia Tây bại trận rút lui. Chừng đó ai về chỗ nấy, hấp tấp làm chi cho mang tội\", học giả Vương Hồng Sến giải thích thêm.\n\nNgười Pháp khi đó nài ép, Huyện Sỹ bất đắc dĩ phải chạy vạy mượn tiền khắp nơi mua đất. Nào ngờ vận đỏ, ruộng trúng mùa liên tiếp mấy năm liền, ông trở nên giàu có, tiền vàng không biết để đâu cho hết. Những vùng đất trù phú ở Gò Công, Long An, Tiền Giang kéo dài đến tận biên giới Campuchia đều do ông nắm giữ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Trong cuốn Sài Gòn năm xưa, học giả Vương Hồng Sển cho rằng con đường giàu có của ông Huyện Sỹ chẳng qua vì ăn may. \"Tương truyền buổi đầu, Tây mới qua, dân cư tản mác. Pháp phát mại ruộng đất vô thừa nhận, giá bán rẻ mạt mà vẫn không có người đấu giá\".\n\n\"Hồi Tây qua, nghe nói lại, những chủ cũ đều đồng hè bỏ đất, không nhìn nhận, vì nhận sợ triều đình Huế khép tội theo Pháp. Vả lại, cũng ước ao một ngày kia Tây bại trận rút lui. Chừng đó ai về chỗ nấy, hấp tấp làm chi cho mang tội\", học giả Vương Hồng Sến giải thích thêm.\n\nNgười Pháp khi đó nài ép, Huyện Sỹ bất đắc dĩ phải chạy vạy mượn tiền khắp nơi mua đất. Nào ngờ vận đỏ, ruộng trúng mùa liên tiếp mấy năm liền, ông trở nên giàu có, tiền vàng không biết để đâu cho hết. Những vùng đất trù phú ở Gò Công, Long An, Tiền Giang kéo dài đến tận biên giới Campuchia đều do ông nắm giữ."
}
],
"id": "32147",
"is_impossible": false,
"question": "Ông giàu có nhờ:"
}
]
}
],
"title": "Ông giàu có nhờ:"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Trưởng nam của Huyện Sỹ là Lê Phát An được vua Bảo Đại phong tước An Định Vương. Thời Nhà Nguyễn, Vương là tước vị cao nhất trong 20 bậc tôn tước phong cho hoàng tộc và chỉ dành cho người có công trạng, bình thường kể cả các Hoàng tử đều chỉ được phong là Công tước. Ông Lê Phát An là người duy nhất trong lịch sử Nam Kỳ không \"hoàng thân quốc thích\" nhưng được phong tước này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Trưởng nam của Huyện Sỹ là Lê Phát An được vua Bảo Đại phong tước An Định Vương. Thời Nhà Nguyễn, Vương là tước vị cao nhất trong 20 bậc tôn tước phong cho hoàng tộc và chỉ dành cho người có công trạng, bình thường kể cả các Hoàng tử đều chỉ được phong là Công tước. Ông Lê Phát An là người duy nhất trong lịch sử Nam Kỳ không \"hoàng thân quốc thích\" nhưng được phong tước này."
}
],
"id": "32148",
"is_impossible": false,
"question": "Người thân nào của Huyện Sỹ được vua Bảo Đại phong tước An Định Vương?"
}
]
}
],
"title": "Người thân nào của Huyện Sỹ được vua Bảo Đại phong tước An Định Vương?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Trong số con cháu của Huyện Sỹ, người nổi tiếng nhất là Nguyễn Hữu Thị Lan tức Nam Phương hoàng hậu - vợ vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam. Tương truyền, khi gả cho vua, gia đình Huyện Sỹ đã trao của hồi môn cho cháu ngoại hơn 20.000 lượng vàng. Vua Bảo Đại ngày trước cũng nổi tiếng tiêu xài hoang phí, ngân sách cạn đáy nên nhiều phen phải nhờ vả gia đình bên vợ.\n Nam Phương hoàng hậu mặc triều phục. Ảnh: NXB Tổng hợp TP HCM",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 440,
"text": "NXB Tổng hợp TP HCM"
}
],
"id": "32149",
"is_impossible": false,
"question": "Người nổi tiếng nhất trong số con cháu của Huyện Sỹ là ai?"
}
]
}
],
"title": "Người nổi tiếng nhất trong số con cháu của Huyện Sỹ là ai?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Năm 1900, Huyện Sỹ qua đời khi đang chuẩn bị xây dựng nhà thờ giáo họ Chợ Đũi. Trong di chúc, ông dành 1/7 tài sản của mình để xây nhà thờ. Sau đó, các con tiếp tục di nguyện, nhà thờ được khởi công năm 1902 theo thiết kế của linh mục Bouttier. Ba năm sau, nhà thờ được khánh thành.\nNhà thờ Huyện Sỹ, góc đường Tôn Thất Tùng, Nguyễn Trãi, quận 1, TP HCM. Ảnh: Quỳnh Trần",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 360,
"text": "Quỳnh Trần"
}
],
"id": "32150",
"is_impossible": false,
"question": "Trong di chúc, Huyện Sỹ dành bao nhiêu tài sản để xây nhà thờ?"
}
]
}
],
"title": "Trong di chúc, Huyện Sỹ dành bao nhiêu tài sản để xây nhà thờ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn thành lập, giải thể, sáp nhập, chia tách, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính địa phương. \n\nTheo thông tin tổng hợp của Bộ Nội vụ về quản lý địa giới đơn vị hành chính, thời điểm tháng 4/1975, Việt Nam có 72 đơn vị hành chính cấp tỉnh. Đến năm 1976, cả nước chỉ còn 38 đơn vị hành chính cấp tỉnh. Sau nhiều lần sáp nhập, chia tách, đến năm 2004, cả nước có 64 tỉnh, thành.\n\nGiữa năm 2008, Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết sáp nhập tỉnh Hà Tây; bốn xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình; huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc về thành phố Hà Nội. Từ đó đến nay, Việt Nam có 63 tỉnh, thành, trong đó có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc Trung ương.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn thành lập, giải thể, sáp nhập, chia tách, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính địa phương. \n\nTheo thông tin tổng hợp của Bộ Nội vụ về quản lý địa giới đơn vị hành chính, thời điểm tháng 4/1975, Việt Nam có 72 đơn vị hành chính cấp tỉnh. Đến năm 1976, cả nước chỉ còn 38 đơn vị hành chính cấp tỉnh. Sau nhiều lần sáp nhập, chia tách, đến năm 2004, cả nước có 64 tỉnh, thành.\n\nGiữa năm 2008, Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết sáp nhập tỉnh Hà Tây; bốn xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình; huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc về thành phố Hà Nội. Từ đó đến nay, Việt Nam có 63 tỉnh, thành, trong đó có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc Trung ương."
}
],
"id": "32151",
"is_impossible": false,
"question": "Việt Nam có 63 tỉnh, thành từ khi nào?"
}
]
}
],
"title": "Việt Nam có 63 tỉnh, thành từ khi nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Ngày 1/8/2008, Hà Nội chính thức mở rộng, trở thành thủ đô có diện tích lớn thứ 17 thế giới với hơn 3.300 km2 (gấp 3,6 lần trước đó). Thành phố tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía bắc; Hà Nam, Hoà Bình ở phía nam; Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên ở phía đông và Hoà Bình, Phú Thọ ở phía tây, theo Cổng giao tiếp điện tử TP Hà Nội.\n\nSau khi mở rộng, Hà Nội có 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã. Địa hình có cả đồng bằng, núi, đồi. Việc mở rộng địa giới hành chính nhằm bảo đảm không gian cho Hà Nội phát triển bền vững và tạo điều kiện để thủ đô phát triển toàn diện, xứng đáng là trung tâm đa chức năng của đất nước.\n Bản đồ Hà Nội khi sáp nhập. Đồ họa: Hoàng Khánh",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 680,
"text": "Hoàng Khánh"
}
],
"id": "32152",
"is_impossible": false,
"question": "Hà Nội đứng thứ bao nhiêu về diện tích trong số các thủ đô trên thế giới?"
}
]
}
],
"title": "Hà Nội đứng thứ bao nhiêu về diện tích trong số các thủ đô trên thế giới?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Ba Vì là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất Hà Nội với 424 km2. Đây là vùng bán sơn địa, nằm ở phía tây bắc Hà Nội. Toàn huyện có 31 xã và thị trấn, trong đó có 7 xã miền núi, một xã giữa sông Hồng, là nơi sinh sống của ba dân tộc Kinh, Mường và Dao.\n\nBa Vì nổi tiếng có vườn quốc gia Ba Vì với hệ động thực vật phong thú. Khu vực này còn nổi tiếng về phát triển mô hình trang trại.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Ba Vì là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất Hà Nội với 424 km2. Đây là vùng bán sơn địa, nằm ở phía tây bắc Hà Nội. Toàn huyện có 31 xã và thị trấn, trong đó có 7 xã miền núi, một xã giữa sông Hồng, là nơi sinh sống của ba dân tộc Kinh, Mường và Dao.\n\nBa Vì nổi tiếng có vườn quốc gia Ba Vì với hệ động thực vật phong thú. Khu vực này còn nổi tiếng về phát triển mô hình trang trại."
}
],
"id": "32153",
"is_impossible": false,
"question": "Huyện nào rộng nhất Hà Nội sau mở rộng?"
}
]
}
],
"title": "Huyện nào rộng nhất Hà Nội sau mở rộng?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Sau khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính năm 2008, thủ đô có thêm nhiều công trình mới, trong đó có đại lộ Thăng Long và cầu Nhật Tân.\n\nĐược đầu tư hơn 7.000 tỷ đồng, đại lộ Thăng Long hiện dài nhất Việt Nam với hơn 29 km, chiều rộng trung bình 140 m, điểm đầu là nút giao Trung Hoà và điểm cuối là nút giao Hoà Lạc. Công trình thông xe vào tháng 10/2010, đúng dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, kết nối đô thị vệ tinh Hoà Lạc với trung tâm Hà Nội.\n\nCầu Nhật Tân được xây dựng năm 2009 với tổng đầu tư 13.620 tỷ đồng và được khánh thành vào tháng 1/2015. Đây hiện là cầu dây văng lớn nhất Việt Nam. Cầu có 5 trụ tháp hình thoi và 6 nhịp dây văng, bắt đầu tại phường Phú Thượng, quận Tây Hồ đến điểm cuối giao với quốc lộ 5, xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh. \nCầu Nhật Tân. Ảnh: Huy Thành",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 784,
"text": "Huy Thành"
}
],
"id": "32154",
"is_impossible": false,
"question": "Công trình nào được hoàn thành sau khi Hà Nội mở rộng?"
}
]
}
],
"title": "Công trình nào được hoàn thành sau khi Hà Nội mở rộng?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Núi Cấm còn được gọi là Thiên Cấm Sơn, được xem là \"nóc nhà miền Tây\", với độ cao 710 m so với mực nước biển, tọa lạc tại xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.\n\nVới phong cảnh hữu tình, trùng điệp núi non bao quanh, cùng những huyền sử linh thiêng, núi Cấm là một trong những địa điểm du lịch được du khách yêu thích khi đến với An Giang. Ở đây còn có những công trình tâm linh như Vạn Linh tự, chùa Phật Lớn, tượng Phật Di Lặc, hồ Thanh Long, động Thủy Liêm.\n\nTrên đỉnh núi có tượng Phật Di Lặc, chiều cao từ chân đến đỉnh là 33,6 m, diện tích bệ 27x27 m, được tổ chức Kỷ lục châu Á công nhận là tượng Phật lớn nhất châu Á vào năm 2013. \n Quần thể núi Cấm ở An Giang. Ảnh: Mai Thương",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 680,
"text": "Mai Thương"
}
],
"id": "32155",
"is_impossible": false,
"question": "Ngọn núi nào được mệnh danh là 'nóc nhà miền Tây'?"
}
]
}
],
"title": "Ngọn núi nào được mệnh danh là 'nóc nhà miền Tây'?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Có nhiều giả thuyết về cái tên núi Cấm. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hầu, giả thuyết đáng tin cậy hơn cả là Đoàn Minh Huyên (tức Phật Thầy Tây An) đã cấm các tín đồ của mình lên đó cất nhà lập am, bởi sợ sẽ ô uế chốn núi thiêng.\n\nMột giả thuyết khác, Nguyễn Phúc Ánh tức vua Gia Long khi bị quân Tây Sơn truy nã, có lúc phải vào núi này nương thân. Muốn tung tích được giấu kín, các cận thần phao tin có ác thú, yêu quái, để cấm dân chúng vào núi.\n Tượng Phật Di Lặc trên núi Cấm. Ảnh: Gia Bảo",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 489,
"text": "Gia Bảo"
}
],
"id": "32156",
"is_impossible": false,
"question": "Có giả thuyết nào về tên gọi ngọn núi này?"
}
]
}
],
"title": "Có giả thuyết nào về tên gọi ngọn núi này?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Núi Sam hay còn gọi là Vĩnh Tế Sơn, là một trong 7 ngọn núi nổi tiếng của An Giang, tọa lạc tại thành phố Châu Đốc. Cái tên Vĩnh Tế Sơn được vua Gia Long cho đặt theo tên vợ của danh thần Thoại Ngọc Hầu là bà Châu Thị Tế. \n\nVùng đất An Giang - Kiên Giang ngày nay mang rất nhiều dấu ấn của Thoại Ngọc Hầu, trong các giai đoạn ông làm Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh, hay Án thủ Châu Đốc kiêm quản biên vụ trấn Hà Tiên. Ông cũng là người có công lớn trong việc đào kênh Vĩnh Tế. \n\nBà Châu Thị Tế là một phụ nữ đức hạnh, đảm đang, thương người, có công giúp chồng là Thoại Ngọc Hầu chăm lo hậu cần cho dân khi đào kênh Thoại Hà năm 1818 và kênh Vĩnh Tế năm 1819-1824.\nMiếu Bà Chúa Xứ do vợ chồng bà xây dựng đầu tiên. Chính vì thế, sau khi kênh đào xong vua lấy tên bà đặt cho tên kênh mới đào là kênh Vĩnh Tế, núi Sam cho đổi thành Vĩnh Tế Sơn, làng mới lập gọi là thôn Vĩnh Tế. \nNúi Sam được bao quanh bởi đồng lúa trù phú. Ảnh: Khu du lịch Núi Sam",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 922,
"text": "Khu du lịch Núi Sam"
}
],
"id": "32157",
"is_impossible": false,
"question": "Ngọn núi nào được đặt theo tên vợ Thoại Ngọc Hầu?"
}
]
}
],
"title": "Ngọn núi nào được đặt theo tên vợ Thoại Ngọc Hầu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Tọa lạc dưới chân núi Sam, phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, miếu Bà Chúa Xứ là điểm hành hương nổi tiếng nhất An Giang. Miếu được xây dựng với kiến trúc tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng, ngói xanh cùng với các hoa văn đậm nét nghệ thuật. Hàng năm, nơi đây đón trên 4,5 triệu lượt khách đến tham quan, cúng viếng.\n\nTương truyền rằng cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà (sau được gọi tôn là Bà Chúa Xứ) được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh núi Sam bằng 9 cô gái đồng trinh (có người nói 12 hay hơn nữa), theo như lời dạy của Bà qua miệng cô đồng, nên người dân đã lập miếu để tôn thờ.\n\nLễ hội Vía Bà bắt đầu từ tháng Giêng đến hết tháng 4 âm lịch. Những ngày lễ chính trong tháng 4, Châu Đốc đón hàng chục vạn người đổ về dự lễ và tham gia các chương trình biểu diễn nghệ thuật như: hát bội, múa võ, ca nhạc ngũ âm, múa lân, đánh cờ. Đây là lễ hội tín ngưỡng dân gian truyền thống đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.\n Miếu Bà Chúa Xứ tại Châu Đốc, An Giang. Ảnh: Mến Nguyễn",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 808,
"text": "hát bội, múa võ, ca nhạc ngũ âm, múa lân, đánh cờ. Đây là lễ hội tín ngưỡng dân gian truyền thống đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.\n Miếu Bà Chúa Xứ tại Châu Đốc, An Giang. Ảnh: Mến Nguyễn"
}
],
"id": "32158",
"is_impossible": false,
"question": "Miếu Bà Chúa Xứ đặt dưới chân ngọn núi nào?"
}
]
}
],
"title": "Miếu Bà Chúa Xứ đặt dưới chân ngọn núi nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Cổng thông tin điện tử tỉnh Khánh Hòa cho biết thành phố Nha Trang nằm ở vị trí trung tâm tỉnh; có tổng diện tích đất tự nhiên là 252,6 km2, dân số 430.000 người. Nha Trang được mệnh danh là hòn ngọc của biển Đông hay Viên ngọc xanh vì điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi.\n\nNha Trang có nhiều lợi thế về địa lý, thuận tiện về đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển trong nước và quốc tế, là cửa ngõ Nam Trung bộ và Tây Nguyên nên có nhiều điều kiện mở rộng quan hệ giao lưu và phát triển.\nĐảo Trí Nguyên trong vịnh Nha Trang. Ảnh: Khoa Trần",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 544,
"text": "Khoa Trần"
}
],
"id": "32159",
"is_impossible": false,
"question": "Thành phố biển nào được coi là viên ngọc xanh của Việt Nam?"
}
]
}
],
"title": "Thành phố biển nào được coi là viên ngọc xanh của Việt Nam?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Núi Cô Tiên nằm ở phường Vĩnh Hoà, cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 10 km về phía bắc.\n\nNúi cao khoảng 200-300 m, được tạo thành từ ba đỉnh núi liền kề nhau. Thời gian leo núi Cô Tiên khoảng 30-45 phút, được đánh giá vừa phải để du lịch, cắm trại và ngắm toàn cảnh thành phố Nha Trang từ trên cao.\nThành phố Nha Trang lên đèn lung linh về đêm, hướng nhìn từ đỉnh 1, núi Cô Tiên. Ảnh: DucHieumedia",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 393,
"text": "DucHieumedia"
}
],
"id": "32160",
"is_impossible": false,
"question": "Đâu là tên ngọn núi nằm ở phía bắc thành phố này?"
}
]
}
],
"title": "Đâu là tên ngọn núi nằm ở phía bắc thành phố này?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Khánh Hòa có nhiều vịnh đẹp và nổi tiếng nhưng Quảng Ninh mới là tỉnh có nhiều đảo nhất Việt Nam.\n\nQuảng Ninh có diện tích 6.110 km2, dân số hơn 1,3 triệu. Tỉnh này có 250 km đường bờ biển với hơn 2.000 đảo lớn nhỏ, chiếm hai phần ba số đảo cả nước (2.779 đảo).\nHoàng hôn trên vịnh Hạ Long, Quảng Ninh. Ảnh: Phạm Huy Trung",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 308,
"text": "Phạm Huy Trung"
}
],
"id": "32161",
"is_impossible": false,
"question": "Khánh Hòa nhiều đảo nhất Việt Nam, đúng hay sai?"
}
]
}
],
"title": "Khánh Hòa nhiều đảo nhất Việt Nam, đúng hay sai?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Học viện Hải quân, tiền thân là trường Huấn luyện bờ bể, được thành lập năm 1955 tại Nha Trang. Trong gần 70 năm, trường lần lượt trải qua các tên gọi Trường Hải quân Việt Nam (1961), Trường Sĩ quan Hải quân Việt Nam (1967), Trường Sĩ quan Chỉ huy-Kỹ thuật Hải quân (1980) và Học viện Hải quân (1993).\n\nHiện, Học viện Hải quân là một cơ sở giáo dục đại học thuộc khối trường quân đội; chịu trách nhiệm đào tạo cán bộ, sỹ quan cho Quân chủng Hải quân và quân đội; nghiên cứu khoa học quân sự...\n\nTrường Đại học Nha Trang thành lập năm 1959, trường Đại học Khánh Hòa 2015.\n Quang cảnh Học viện Hải quân. Ảnh: Website nhà trường",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 608,
"text": "Website nhà trường"
}
],
"id": "32162",
"is_impossible": false,
"question": "Cơ sở giáo dục đại học nào được thành lập sớm nhất ở Khánh Hòa?"
}
]
}
],
"title": "Cơ sở giáo dục đại học nào được thành lập sớm nhất ở Khánh Hòa?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo báo Quân đội nhân dân, trung tướng, PGS.TS, thầy thuốc nhân dân Lê Thu Hà sinh năm 1957, trong gia đình quân nhân cách mạng, có mẹ là bác sĩ quân y ở Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và bố là trung tướng Lê Hai, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. \n\nTừ nhỏ, bà Hà thường theo mẹ đến bệnh viện, tiếp xúc với bệnh nhân, với nghề y. Học xong cấp ba, bà thi vào Học viện Quân y và trở thành một trong những học viên xuất sắc được ở lại trường. Sau 10 năm công tác tại học viện, bà được cử đi nghiên cứu sinh tại Bulgaria. Năm 1996, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ y khoa, bà về nước công tác tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.\n\nNăm 2014, bà vinh dự được Đảng, Nhà nước thăng quân hàm trung tướng, trở thành nữ trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.\n Trung tướng, PGS.TS, thầy thuốc nhân dân Lê Thu Hà. Ảnh: Báo Quân đội nhân dân",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 862,
"text": "Báo Quân đội nhân dân"
}
],
"id": "32163",
"is_impossible": false,
"question": "Nữ trung tướng đầu tiên của quân đội Việt Nam là ai?"
}
]
}
],
"title": "Nữ trung tướng đầu tiên của quân đội Việt Nam là ai?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo báo Quân đội nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam có 7 nữ quân nhân được phong quân hàm cấp tướng, trong đó có một trung tướng và 6 thiếu tướng. Họ là:\n\n- Thiếu tướng, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Định\n\n- Thiếu tướng, PGS.TS, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Hồng Giang\n\n- Trung tướng, PGS.TS, thầy thuốc nhân dân Lê Thu Hà\n\n- Thiếu tướng Hồ Thủy\n\n- Thiếu tướng, tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Hà\n\n- Thiếu tướng Bùi Thị Lan Phương\n\n- Thiếu tướng, phó giáo sư, tiến sĩ, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Hoàng Ngọc",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 158,
"text": "- Thiếu tướng, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Định\n\n- Thiếu tướng, PGS.TS, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Hồng Giang\n\n- Trung tướng, PGS.TS, thầy thuốc nhân dân Lê Thu Hà\n\n- Thiếu tướng Hồ Thủy\n\n- Thiếu tướng, tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Hà\n\n- Thiếu tướng Bùi Thị Lan Phương\n\n- Thiếu tướng, phó giáo sư, tiến sĩ, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Hoàng Ngọc"
}
],
"id": "32164",
"is_impossible": false,
"question": "Quân đội nhân dân Việt Nam hiện có bao nhiêu nữ tướng?"
}
]
}
],
"title": "Quân đội nhân dân Việt Nam hiện có bao nhiêu nữ tướng?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Đó là thiếu tướng Nguyễn Thị Định, Phó tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà cũng là nữ Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.\n\nBà Nguyễn Thị Định sinh năm 1920, còn được gọi là Út Định, Ba Định. Bà là con út, trong gia đình có truyền thống yêu nước ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.\n\nNgay từ nhỏ, Nguyễn Thị Định đã chịu ảnh hưởng của phong trào cách mạng địa phương. Được người anh ruột Ba Chẩn trực tiếp dìu dắt, năm 16 tuổi bà đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ tại quê nhà bằng nhiều hình thức như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của bọn cường hào, ác bá.\n\nTháng 4/1946, bà được cử tham gia đoàn vượt biển bằng thuyền từ quận Thạnh Phú (nay là huyện Thạnh Phú, Bến Tre) ra miền Bắc để báo cáo với bác Hồ về tình hình chiến trường Nam Bộ, đồng thời, xin chi viện vũ khí đánh Pháp. Bà giữ vai trò thuyền trưởng đoàn vận chuyển 12 tấn vũ khí từ Bắc vào Nam an toàn. Chuyến vượt biển lịch sử từ Nam ra Bắc đầu tiên này đã mở ra con đường huyền thoại: Đường Hồ Chí Minh trên biển cho cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này.\n\nVới những đóng góp to lớn trong suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, tháng 4/1974, bà Nguyễn Thị Định được phong quân hàm thiếu tướng và trở thành nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.\nBà Nguyễn Thị Định. Ảnh: TTXVN",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1167,
"text": "Đường Hồ Chí Minh trên biển cho cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này.\n\nVới những đóng góp to lớn trong suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, tháng 4/1974, bà Nguyễn Thị Định được phong quân hàm thiếu tướng và trở thành nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.\nBà Nguyễn Thị Định. Ảnh: TTXVN"
}
],
"id": "32165",
"is_impossible": false,
"question": "Ai là nữ tướng duy nhất trong thời chiến?"
}
]
}
],
"title": "Ai là nữ tướng duy nhất trong thời chiến?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Thiếu tướng, tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Hà sinh năm 1957 ở xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Cha của bà là thiếu tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Kim Tuấn (Nguyễn Công Tiến), nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3, hy sinh tại chiến trường Campuchia năm 1979.\n\nKhi đó, Nguyễn Thị Thanh Hà đã tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội chuyên khoa Tâm lý giáo dục, rồi trở thành chiến sĩ. Bà là giảng viên Bộ môn Khoa học xã hội và Nhân văn của Học viện Quân y, từng có thời gian đảm nhiệm cương vị trưởng ban Phụ nữ Quân đội, nghỉ hưu năm 2017.\n Thiếu tướng, tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Hà. Ảnh: Phụ nữ Quân đội nhân dân Việt Nam",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 594,
"text": "Phụ nữ Quân đội nhân dân Việt Nam"
}
],
"id": "32166",
"is_impossible": false,
"question": "Nữ tướng nào là con của một vị tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân hy sinh tại Campuchia?"
}
]
}
],
"title": "Nữ tướng nào là con của một vị tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân hy sinh tại Campuchia?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Thiếu tướng, PGS.TS, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Hoàng Ngọc sinh năm 1967, hiện là Phó giám đốc Nội khoa, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Năm 1989, chị tốt nghiệp bác sĩ tại Học viện Quân y. Chị từng có thời gian học ở Pháp và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ y học năm 2003 tại Học viện Quân y, được phong Phó giáo sư năm 2014.\n\nThiếu tướng, Nguyễn Hoàng Ngọc có hàng chục công trình nghiên cứu được đăng tại các tạp chí chuyên ngành Nội Thần kinh và Đột quỵ trong nước và quốc tế. Chị cũng là thành viên hội đồng khoa học, làm chủ tọa và báo cáo khoa học tại nhiều Hội nghị Nội thần kinh, Đột quỵ của quốc gia và quốc tế.\n Thiếu tướng, PGS.TS, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Hoàng Ngọc. Ảnh: Phụ nữ Quân đội nhân dân Việt Nam",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 688,
"text": "Phụ nữ Quân đội nhân dân Việt Nam"
}
],
"id": "32167",
"is_impossible": false,
"question": "Nữ tướng nào vẫn đang công tác tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108?"
}
]
}
],
"title": "Nữ tướng nào vẫn đang công tác tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điện Biên thuộc vùng núi Tây Bắc, nằm cách Hà Nội hơn 500 km. Tỉnh này có diện tích hơn 9.500 km2; phía tây, đông và đông bắc giáp Sơn La; phía bắc giáp Lai Châu, phía tây bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía tây và tây nam giáp Lào. Đây là tỉnh duy nhất giáp cả Trung Quốc và Lào với tổng đường biên giới là 455 km, theo Cổng thông tin điện tử tỉnh.\n\nA Pa Chải thuộc xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé thuộc Điện Biên là ngã ba biên giới Việt Nam, Lào và Trung Quốc. Nơi này được mệnh danh là \"một con gà gáy ba nước cùng nghe\". Đây cũng là nơi có cột mốc biên giới đánh dấu điểm cực Tây của Tổ quốc.\n\nỞ phía nam, một tỉnh khác cũng giáp hai quốc gia là Kon Tum. Tỉnh này giáp Lào và Campuchia.\nCột mốc biên giới ở A Pa Chải. Ảnh: Cổng thông tin điện tử tỉnh Điện Biên",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 731,
"text": "Cổng thông tin điện tử tỉnh Điện Biên"
}
],
"id": "32168",
"is_impossible": false,
"question": "Tỉnh miền Bắc nào là nơi “một con gà gáy ba nước cùng nghe”?"
}
]
}
],
"title": "Tỉnh miền Bắc nào là nơi “một con gà gáy ba nước cùng nghe”?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Sơn La ở trung tâm vùng Tây Bắc, cách Hà Nội khoảng 300 km, có diện tích tự nhiên hơn 14.100 km2, gồm 12 đơn vị hành chính cấp huyện. Đây là tỉnh có diện tích lớn thứ ba cả nước, chỉ sau Nghệ An và Gia Lai.\n\nTỉnh này phía bắc giáp Lai Châu và Yên Bái; phía nam giáp Thanh Hoá và Lào; phía đông giáp Hoà Bình và Phú Thọ; phía tây giáp Điện Biên. Đường biên giới chung giữa Sơn La và Lào dài 250 km, theo Cổng thông tin điện tử tỉnh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Sơn La ở trung tâm vùng Tây Bắc, cách Hà Nội khoảng 300 km, có diện tích tự nhiên hơn 14.100 km2, gồm 12 đơn vị hành chính cấp huyện. Đây là tỉnh có diện tích lớn thứ ba cả nước, chỉ sau Nghệ An và Gia Lai.\n\nTỉnh này phía bắc giáp Lai Châu và Yên Bái; phía nam giáp Thanh Hoá và Lào; phía đông giáp Hoà Bình và Phú Thọ; phía tây giáp Điện Biên. Đường biên giới chung giữa Sơn La và Lào dài 250 km, theo Cổng thông tin điện tử tỉnh."
}
],
"id": "32169",
"is_impossible": false,
"question": "Tỉnh Tây Bắc nào có diện tích lớn thứ ba cả nước?"
}
]
}
],
"title": "Tỉnh Tây Bắc nào có diện tích lớn thứ ba cả nước?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Lai Châu là tỉnh miền núi Tây Bắc, cách Hà Nội khoảng 450 km, rộng gần 9.070 km2, đứng thứ 10 trong số 63 tỉnh, thành cả nước. Phía bắc tỉnh này giáp Trung Quốc; phía tây và tây nam giáp Điện Biên; phía đông giáp Lào Cai; đông nam giáp Yên Bái và phía nam giáp Sơn La.\n\nLai Châu có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm TP Lai Châu và các huyện Mường Tè, Sìn Hồ, Nậm Nhùn, Tam Đường, Phong Thổ, Tân Uyên, Than Uyên. Trong đó, Mường Tè là huyện biên giới, vùng sâu, có diện tích gần 2.680 km2, rộng nhất tỉnh. Huyện này có đường biên giới với Trung Quốc dài hơn 130 km, địa hình chủ yếu là đồi núi hiểm trở với độ cao trung bình 900-1.500 m. \nĐồi núi hiểm trở ở Mường Tè. Ảnh: Dương Thanh",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 673,
"text": "Dương Thanh"
}
],
"id": "32170",
"is_impossible": false,
"question": "Huyện Mường Tè thuộc tỉnh nào?"
}
]
}
],
"title": "Huyện Mường Tè thuộc tỉnh nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Hoà Bình nằm ở vị trí cửa ngõ của vùng Tây Bắc, cách trung tâm Hà Nội khoảng 76 km. Tỉnh này có diện tích khoảng 4.590 km2; phía đông giáp Hà Nội, phía bắc giáp Phú Thọ, phía tây giáp Sơn La và Thanh Hoá, phía đông nam giáp tỉnh Hà Nam và Ninh Bình.\n\nTheo Niên giám thống kê năm 2022, dân số tỉnh này khoảng 875.000 với nhiều dân tộc cùng chung sống như Kinh, Mường, Tày, Thái, Dao... Trong đó, người Mường đông nhất. Theo Uỷ ban dân tộc, có khoảng 549.000 người Mường sống ở Hoà Bình, chiếm khoảng 62,7% tổng dân số của tỉnh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Hoà Bình nằm ở vị trí cửa ngõ của vùng Tây Bắc, cách trung tâm Hà Nội khoảng 76 km. Tỉnh này có diện tích khoảng 4.590 km2; phía đông giáp Hà Nội, phía bắc giáp Phú Thọ, phía tây giáp Sơn La và Thanh Hoá, phía đông nam giáp tỉnh Hà Nam và Ninh Bình.\n\nTheo Niên giám thống kê năm 2022, dân số tỉnh này khoảng 875.000 với nhiều dân tộc cùng chung sống như Kinh, Mường, Tày, Thái, Dao... Trong đó, người Mường đông nhất. Theo Uỷ ban dân tộc, có khoảng 549.000 người Mường sống ở Hoà Bình, chiếm khoảng 62,7% tổng dân số của tỉnh."
}
],
"id": "32171",
"is_impossible": false,
"question": "Tại Hoà Bình, người dân tộc nào chiếm đa số?"
}
]
}
],
"title": "Tại Hoà Bình, người dân tộc nào chiếm đa số?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Tính tới cuối tháng 9/2021, tỉnh Bắc Kạn có 185 trường phổ thông, ít nhất cả nước. Trong số này, tỉnh có hơn 100 trường tiểu học, 56 trường THCS và chỉ 10 trường THPT. \n\nBắc Kạn là một tỉnh miền núi, nằm ở trung tâm vùng Đông Bắc Bắc Bộ, lần lượt giáp các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Tỉnh có diện tích 4.860 km2, nhưng dân số chỉ hơn 310.000 người, ít nhất cả nước. Đây cũng là tỉnh có ít học sinh phổ thông nhất, chỉ gần 60.000 em.\n\nXếp trên Bắc Kạn về số trường phổ thông là Đà Nẵng với 193 trường, Bạc Liêu 197 trường. Trong khi đó, Hà Nội hơn 1.600 trường, Thanh Hoá 1.320, TP HCM 1.004 trường.\n Một góc thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Ảnh: Cổng thông tin điện tử tỉnh",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 672,
"text": "Cổng thông tin điện tử tỉnh"
}
],
"id": "32172",
"is_impossible": false,
"question": "Tỉnh nào có ít trường phổ thông nhất cả nước?"
}
]
}
],
"title": "Tỉnh nào có ít trường phổ thông nhất cả nước?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Bắc Kạn có hơn 310.000 người, đến từ 34 dân tộc. Trong đó hơn một nửa là dân tộc Tày. Người Kinh tại tỉnh này chỉ chiếm 12%, còn lại chủ yếu là người Nùng, Dao, Mông, Sán Chay... Mật độ dân số của Bắc Kạn là 65 người/km2.\n Người Dao tại Bắc Kạn. Ảnh: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 252,
"text": "Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn"
}
],
"id": "32173",
"is_impossible": false,
"question": "Người dân tộc nào chiếm đa số tại địa phương này?"
}
]
}
],
"title": "Người dân tộc nào chiếm đa số tại địa phương này?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Năm 1900, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tách một phần đất thuộc tỉnh Thái Nguyên để thành lập tỉnh Bắc Kạn. Khi đó, Bắc Kạn có bốn châu, gồm Bạch Thông, Chợ Rã, Thông Hoá (sau đổi thành Na Rì) và Cảm Hoá (sau đổi thành Ngân Sơn).\n\nTới năm 1965, theo phê chuẩn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên hợp nhất thành tỉnh Bắc Thái. Hơn 30 năm sau, Quốc hội khoá IX chia tỉnhh Bắc Thái để tái thành lập tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn. Hai huyện Ngân Sơn, Ba Bể được chuyển từ tỉnh Cao Bằng về Bắc Kạn.\n\nHiện, tỉnh Bắc Kạn có một thành phố và 7 huyện.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Năm 1900, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tách một phần đất thuộc tỉnh Thái Nguyên để thành lập tỉnh Bắc Kạn. Khi đó, Bắc Kạn có bốn châu, gồm Bạch Thông, Chợ Rã, Thông Hoá (sau đổi thành Na Rì) và Cảm Hoá (sau đổi thành Ngân Sơn).\n\nTới năm 1965, theo phê chuẩn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên hợp nhất thành tỉnh Bắc Thái. Hơn 30 năm sau, Quốc hội khoá IX chia tỉnhh Bắc Thái để tái thành lập tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn. Hai huyện Ngân Sơn, Ba Bể được chuyển từ tỉnh Cao Bằng về Bắc Kạn.\n\nHiện, tỉnh Bắc Kạn có một thành phố và 7 huyện."
}
],
"id": "32174",
"is_impossible": false,
"question": "Bắc Kạn từng được sáp nhập với tỉnh nào?"
}
]
}
],
"title": "Bắc Kạn từng được sáp nhập với tỉnh nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Hồ Ba Bể nằm trong Vườn quốc gia Ba Bể của tỉnh Bắc Kạn. Nơi đây có hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với 417 loài thực vật, 299 loài động vật có xương sống, trong hồ có 49 loài cá nước ngọt.\n\nBa Bể là một trong những hồ kiến tạo đẹp và lớn nhất Việt Nam, thuộc top 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất thế giới. Diện tích mặt hồ Ba Bể khoảng 6,5 km2, là nơi hợp lưu của ba con sông Ta Han, Nam Cương và Cho Leng. Hồ có ba nhánh thông nhau nên gọi là Ba Bể.\n\nTheo Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn, hồ được hình thành cách đây hơn 200 triệu năm từ một vùng đá vôi bị sụt xuống do nước chảy ngầm đã đục rỗng lòng khối núi. Giá trị lớn nhất của Ba Bể là cảnh quan địa chất độc đáo, giá trị địa chất địa mạo và đa dạng sinh học. Hồ Ba Bể được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1996, xếp hạng là di tích danh thắng quốc gia đặc biệt năm 2012. \nHồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Ảnh: Cao Anh Tuấn",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 896,
"text": "Cao Anh Tuấn"
}
],
"id": "32175",
"is_impossible": false,
"question": "Hồ Ba Bể của tỉnh Bắc Kạn thuộc top 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất thế giới, đúng hay sai?"
}
]
}
],
"title": "Hồ Ba Bể của tỉnh Bắc Kạn thuộc top 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất thế giới, đúng hay sai?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Tỉnh Tiền Giang được thành lập vào tháng 2/1976 trên cơ sở hợp nhất tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho. Thời điểm này tỉnh Tiền Giang gồm thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công và 5 huyện: Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công. Tỉnh lỵ là thành phố Mỹ Tho.\n\nGò Công là tỉnh cũ ở Tây Nam Bộ, được thành lập năm 1900, tồn tại vào thời Pháp thuộc và bị giải thể vào cuối năm 1956. Sau đó tỉnh Gò Công tái lập vào năm 1963. Hiện, địa bàn tỉnh Gò Công cũ tương ứng với thị xã Gò Công và các huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây, Tân Phú Đông (tỉnh Tiền Giang).\n\nCòn Mỹ Tho là một phố thị phồn thịnh của miền Nam. Vào cuối thế kỷ thứ XVII, Mỹ Tho đã trở thành một trong hai trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ lúc bấy giờ. Trong quyển Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức mô tả sự phồn thịnh của Mỹ Tho như sau: \"Mỹ Tho đại phố có nhà ngói cột chạm, đình cao, chùa rộng ... ghe thuyền sông biển ở các ngã đến đậu đông đúc, làm thành một chốn đại đô hội, phồn hoa huyên náo ...\".\n\nVào năm 1808, trấn Định Tường được thành lập, Mỹ Tho vẫn là lỵ sở của trấn Định Tường. Đến năm 1900, Mỹ Tho là một tỉnh độc lập với hai trạm hành chính là Cái Bè và Cai Lậy. \n\nĐịa bàn tỉnh Mỹ Tho cũ hiện nay tương ứng với thành phố Mỹ Tho, thị xã Cai Lậy và các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, Tân Phước cùng thuộc tỉnh Tiền Giang ngày nay.\nKênh Chợ Gạo đi qua thị trấn Chợ Gạo, Tiền Giang. Ảnh: Hoàng Nam",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 194,
"text": "Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công. Tỉnh lỵ là thành phố Mỹ Tho.\n\nGò Công là tỉnh cũ ở Tây Nam Bộ, được thành lập năm 1900, tồn tại vào thời Pháp thuộc và bị giải thể vào cuối năm 1956. Sau đó tỉnh Gò Công tái lập vào năm 1963. Hiện, địa bàn tỉnh Gò Công cũ tương ứng với thị xã Gò Công và các huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây, Tân Phú Đông (tỉnh Tiền Giang).\n\nCòn Mỹ Tho là một phố thị phồn thịnh của miền Nam. Vào cuối thế kỷ thứ XVII, Mỹ Tho đã trở thành một trong hai trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ lúc bấy giờ. Trong quyển Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức mô tả sự phồn thịnh của Mỹ Tho như sau: \"Mỹ Tho đại phố có nhà ngói cột chạm, đình cao, chùa rộng ... ghe thuyền sông biển ở các ngã đến đậu đông đúc, làm thành một chốn đại đô hội, phồn hoa huyên náo ...\".\n\nVào năm 1808, trấn Định Tường được thành lập, Mỹ Tho vẫn là lỵ sở của trấn Định Tường. Đến năm 1900, Mỹ Tho là một tỉnh độc lập với hai trạm hành chính là Cái Bè và Cai Lậy. \n\nĐịa bàn tỉnh Mỹ Tho cũ hiện nay tương ứng với thành phố Mỹ Tho, thị xã Cai Lậy và các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, Tân Phước cùng thuộc tỉnh Tiền Giang ngày nay.\nKênh Chợ Gạo đi qua thị trấn Chợ Gạo, Tiền Giang. Ảnh: Hoàng Nam"
}
],
"id": "32176",
"is_impossible": false,
"question": "Tiền Giang được hợp nhất từ hai tỉnh nào?"
}
]
}
],
"title": "Tiền Giang được hợp nhất từ hai tỉnh nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Mỹ Tho là một thành phố thuộc tỉnh Tiền Giang, cách trung tâm TP HCM 70 km về hướng tây nam. Tên gọi của thành phố này được cho là bắt nguồn từ tiếng Khmer. Theo Di cảo Trương Vĩnh Ký, người Khmer gọi xứ này là \"Mi Sor\", nghĩa là xứ sở của con gái (mi) mang làn da trắng (sor). Người Việt đã đọc biến âm \"Mi Sor\" thành Mỹ Tho.\n\nNhiều người cho rằng vùng đất này có khí hậu ôn hoà, được sự ưu đãi của sông Tiền, nên con gái ở đây có da trắng, đẹp cũng là điều dễ hiểu. Vẻ đẹp người con gái Mỹ Tho cũng đi vào ca dao, dân ca, phổ biến nhất là đoạn: \"Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ/ Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu/ Em về em học chữ nhu/ Chín trăng anh đợi mười thu anh cũng chờ\".",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 547,
"text": "\"Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ/ Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu/ Em về em học chữ nhu/ Chín trăng anh đợi mười thu anh cũng chờ\"."
}
],
"id": "32177",
"is_impossible": false,
"question": "Tên gọi Mỹ Tho có nghĩa là gì?"
}
]
}
],
"title": "Tên gọi Mỹ Tho có nghĩa là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Thị xã Gò Công, huyện Gò Công Đông của tỉnh Tiền Giang là vùng đất gắn liền với tên tuổi Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định. Tại huyện Gò Công Đông có di tích lịch sử cấp quốc gia, gồm nhiều địa điểm liên quan đến cuộc khởi nghĩa của anh hùng dân tộc Trương Định, bao gồm: Đám lá tối trời (bản doanh của nghĩa quân), di tích Ao Dinh (nơi Trương Định hy sinh), đền thờ Trương Định (nơi người dân thờ ông).\n\nTrương Định còn có tên là Trương Công Định, ông sinh năm 1820 ở phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi (nay là xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi). Trương Định sống ở quê hương cho đến năm 24 tuổi mới theo cha là Trương Cầm, người giữ chức Chưởng lý Thủy sư, vào vùng đất Gia Định (thời vua Thiệu Trị). Trương Định được đánh giá là người chí dũng song toàn.\n\nNăm 1850, hưởng ứng chính sách khai hoang của triều đình, ông đứng ra chiêu mộ khoảng 500 dân nghèo khai hoang, lập ấp ở Gò Công, Gia Định. Với công lao đó, ông được triều đình Huế phong chức Quản cơ, hàm Lục phẩm, nên dân chúng còn gọi ông là Quản Định.\nNăm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Ngay lúc đó Trương Định đã đem nghĩa binh của mình lên đóng quân ở Gia định. Ông đã lập được nhiều chiến công trên phòng tuyến từ Gò Cây Mai đến Thị nghè và các trận đánh ở trung tâm Sài Gòn. Đầu năm 1861, Trương Định rút quân về Gò Công thuộc huyện Tân Hòa (Gia Định), quyết tâm chiến đấu lâu dài.\nNgày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình Huế ký kết Hiệp ước Nhâm Tuất với Pháp, buộc Trương Định ngừng bắn, giải tán nghĩa quân và bắt ông nhận chức lãnh binh tỉnh An Giang thuộc miền Tây Lục tỉnh. Nhưng Trương Định chống lại lệnh của triều đình ở lại Gò Công cùng nhân dân kháng chiến. Trong tình thế ấy, nhân dân và nghĩa quân đã tôn Trương Định làm Bình Tây Đại Nguyên soái.\n\nNăm 1864, trong một trận chiến đấu quyết tử với giặc, ông bị bắn gãy xương sống. Không để rơi vào tay giặc, Trương Định đã rút gươm tự sát để bảo tồn khí tiết khi mới 44 tuổi.\n\nTrong suốt những năm 1861-1864, nghĩa quân của Trương Định đã làm cho quân Pháp khiếp sợ với nhiều chiến thắng ở Gò Công, Rạch Giá, Quý Sơn, Tân An và nhiều vùng khác ở khắp tỉnh miền Đông. Ngay cả Vial- một quan cai trị cao cấp của Pháp thời ấy đã gọi Trương Định là \"Nhà đại lãnh tụ của quân khởi nghĩa\". Còn nhân dân xem Trương Định là người anh hùng dân tộc.\n Tranh “Nhân dân Gò Công suy tôn Trương Công Định làm Bình Tây Đại Nguyên Soái\". Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 275,
"text": "Đám lá tối trời (bản doanh của nghĩa quân), di tích Ao Dinh (nơi Trương Định hy sinh), đền thờ Trương Định (nơi người dân thờ ông).\n\nTrương Định còn có tên là Trương Công Định, ông sinh năm 1820 ở phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi (nay là xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi). Trương Định sống ở quê hương cho đến năm 24 tuổi mới theo cha là Trương Cầm, người giữ chức Chưởng lý Thủy sư, vào vùng đất Gia Định (thời vua Thiệu Trị). Trương Định được đánh giá là người chí dũng song toàn.\n\nNăm 1850, hưởng ứng chính sách khai hoang của triều đình, ông đứng ra chiêu mộ khoảng 500 dân nghèo khai hoang, lập ấp ở Gò Công, Gia Định. Với công lao đó, ông được triều đình Huế phong chức Quản cơ, hàm Lục phẩm, nên dân chúng còn gọi ông là Quản Định.\nNăm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Ngay lúc đó Trương Định đã đem nghĩa binh của mình lên đóng quân ở Gia định. Ông đã lập được nhiều chiến công trên phòng tuyến từ Gò Cây Mai đến Thị nghè và các trận đánh ở trung tâm Sài Gòn. Đầu năm 1861, Trương Định rút quân về Gò Công thuộc huyện Tân Hòa (Gia Định), quyết tâm chiến đấu lâu dài.\nNgày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình Huế ký kết Hiệp ước Nhâm Tuất với Pháp, buộc Trương Định ngừng bắn, giải tán nghĩa quân và bắt ông nhận chức lãnh binh tỉnh An Giang thuộc miền Tây Lục tỉnh. Nhưng Trương Định chống lại lệnh của triều đình ở lại Gò Công cùng nhân dân kháng chiến. Trong tình thế ấy, nhân dân và nghĩa quân đã tôn Trương Định làm Bình Tây Đại Nguyên soái.\n\nNăm 1864, trong một trận chiến đấu quyết tử với giặc, ông bị bắn gãy xương sống. Không để rơi vào tay giặc, Trương Định đã rút gươm tự sát để bảo tồn khí tiết khi mới 44 tuổi.\n\nTrong suốt những năm 1861-1864, nghĩa quân của Trương Định đã làm cho quân Pháp khiếp sợ với nhiều chiến thắng ở Gò Công, Rạch Giá, Quý Sơn, Tân An và nhiều vùng khác ở khắp tỉnh miền Đông. Ngay cả Vial- một quan cai trị cao cấp của Pháp thời ấy đã gọi Trương Định là \"Nhà đại lãnh tụ của quân khởi nghĩa\". Còn nhân dân xem Trương Định là người anh hùng dân tộc.\n Tranh “Nhân dân Gò Công suy tôn Trương Công Định làm Bình Tây Đại Nguyên Soái\". Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia"
}
],
"id": "32178",
"is_impossible": false,
"question": "Vùng đất Gò Công gắn với tên tuổi của ai?"
}
]
}
],
"title": "Vùng đất Gò Công gắn với tên tuổi của ai?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu tiền thân là trường Collé de My Tho, được thực dân Pháp thành lập vào năm 1879 - là trường trung học đầu tiên ở đất Nam bộ. \n\nBan đầu, trường được thành lập từ ý đồ của thực dân Pháp muốn đào tạo ra một lớp người phục vụ âm mưu thống trị lâu dài đất nước ta. Tuy nhiên, lịch sử hình thành và phát triển trường đã xây đắp \"truyền thống cách mạng - dạy giỏi - học giỏi\".\n\nNhiều tên tuổi kiệt xuất là cựu học sinh của trường là Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Phạm Hùng, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Huỳnh Tấn Phát, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Văn Hưởng, Bộ trưởng Bộ Canh nông Ngô Tấn Nhơn, nhà văn Hồ Biểu Chánh, nhà báo Nguyễn An Ninh, Thiếu tướng - Giáo sư Trần Đại Nghĩa, soạn giả cải lương Nguyễn Thành Châu - Năm Châu. \n\nQua nhiều lần đổi tên, từ năm 1953, trường được mang tên danh nhân Nguyễn Đình Chiểu. \nTrường THPT Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho. Ảnh: Duy Nhựt",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 915,
"text": "Duy Nhựt"
}
],
"id": "32179",
"is_impossible": false,
"question": "THPT Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, là trường trung học đầu tiên ở Nam Kỳ?"
}
]
}
],
"title": "THPT Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, là trường trung học đầu tiên ở Nam Kỳ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo kết quả thăm dò khoáng sản giai đoạn 2011-2020, được phê duyệt bởi Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản Quốc gia, Việt Nam có khoảng 25.084 kg vàng gốc. Trong đó, Quảng Nam là tỉnh nhiều vàng nhất cả nước, tập trung chủ yếu ở mỏ vàng Bồng Miêu và Phước Sơn. Năm 2011, theo khảo sát, hai mỏ vàng này có trữ lượng khoảng 20 tấn.\n\nMỏ vàng Bồng Miêu là một trong những mỏ có trữ lượng lớn nhất nước hiện nay. Do mỏ vàng không được quản lý chặt chẽ nên người dân từ nhiều nơi kéo về khai thác. Địa phương mất tài nguyên nhưng không thể thu thuế, đất đai bị đào bới, hóa chất, bùn thải ra môi trường gây ô nhiễm. Tình trạng này còn dẫn đến mất an ninh trật tự, tiềm ẩn nhiều nguy cơ sập hầm, sạt lở núi gây chết người.\n\nTháng 3/2022, Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt dự án đóng cửa mỏ vàng Bồng Miêu với kinh phí 19,5 tỷ đồng, giao địa phương thực hiện đến cuối năm 2024. \nMỏ vàng Bồng Miêu, xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh, bị vàng tặc dựng lán trại đào trộm ngày 25/11/2022. Ảnh: Đắc Thành",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 984,
"text": "Đắc Thành"
}
],
"id": "32180",
"is_impossible": false,
"question": "Tỉnh nào có trữ lượng vàng lớn nhất Việt Nam?"
}
]
}
],
"title": "Tỉnh nào có trữ lượng vàng lớn nhất Việt Nam?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo báo Quảng Nam, mỏ vàng Bồng Miêu nằm trong một thung lũng rộng được mệnh danh là \"cánh đồng vàng\". Theo các tài liệu lịch sử, mỏ vàng Bồng Miêu từng được người Chăm phát hiện và khai thác từ hơn 1.000 năm trước. Nhờ trữ lượng vàng khai thác tại đây khá lớn, các nghệ nhân Chăm xưa đã chế tác nên những đồ vật tinh xảo để làm vật thờ cúng, vật trang trí hay trang sức.\n\nSau một thời gian dài gián đoạn, đến thế kỷ XIV, Bồng Miêu được khai thác trở lại. Thực dân Pháp xâm lược đã biến nơi đây thành một mỏ khai thác vàng quy mô, triệt để khai thác để đem về Pháp.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo báo Quảng Nam, mỏ vàng Bồng Miêu nằm trong một thung lũng rộng được mệnh danh là \"cánh đồng vàng\". Theo các tài liệu lịch sử, mỏ vàng Bồng Miêu từng được người Chăm phát hiện và khai thác từ hơn 1.000 năm trước. Nhờ trữ lượng vàng khai thác tại đây khá lớn, các nghệ nhân Chăm xưa đã chế tác nên những đồ vật tinh xảo để làm vật thờ cúng, vật trang trí hay trang sức.\n\nSau một thời gian dài gián đoạn, đến thế kỷ XIV, Bồng Miêu được khai thác trở lại. Thực dân Pháp xâm lược đã biến nơi đây thành một mỏ khai thác vàng quy mô, triệt để khai thác để đem về Pháp."
}
],
"id": "32181",
"is_impossible": false,
"question": "Ai là người khai thác mỏ vàng Bồng Miêu đầu tiên?"
}
]
}
],
"title": "Ai là người khai thác mỏ vàng Bồng Miêu đầu tiên?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Au là ký hiệu nguyên tố hóa học của vàng trong bảng tuần hoàn các nguyên tố. Ký hiệu này được lấy từ từ Aurum trong tiếng Latinh, có nghĩa là vàng. Vàng có số nguyên tử 79, thuộc nhóm 11 và chu kỳ 6 trong bảng tuần hoàn. \n\nVàng là kim loại quý hiếm và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như trang sức, công nghệ, y học và nhiều ngành công nghiệp khác. \nVàng không bị xỉn bởi các lớp oxit trên bề mặt như đồng và bạc. Ảnh:Patrick Aventurier",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 420,
"text": "Patrick Aventurier"
}
],
"id": "32182",
"is_impossible": false,
"question": "Ký kiệu nguyên tố hóa học của vàng là gì?"
}
]
}
],
"title": "Ký kiệu nguyên tố hóa học của vàng là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Thông tấn xã Việt Nam, cả nước hiện có khoảng 500 điểm quặng và mỏ vàng gốc (quặng vàng thực thụ và các loại quặng khác có chứa vàng). Các mỏ vàng gốc tập trung tại miền núi phía Bắc.\nVùng có biểu hiện khoáng hóa vàng khá tập trung ở quanh Đồi Bù (Hòa Bình) như Cao Răm, Da Bạc, Kim Bôi... với tổng trữ lượng khoảng 10 tấn. Vùng Thái Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng, bao gồm các mỏ Pắc Lạng, Khau Âu (Bắc Kạn), mỏ Bồ Cu (Thái Nguyên) và Nam Quang (Cao Bằng). Vùng Nà Pái (Lạng Sơn) cũng có trữ lượng vàng đạt khoảng 30 tấn.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo Thông tấn xã Việt Nam, cả nước hiện có khoảng 500 điểm quặng và mỏ vàng gốc (quặng vàng thực thụ và các loại quặng khác có chứa vàng). Các mỏ vàng gốc tập trung tại miền núi phía Bắc.\nVùng có biểu hiện khoáng hóa vàng khá tập trung ở quanh Đồi Bù (Hòa Bình) như Cao Răm, Da Bạc, Kim Bôi... với tổng trữ lượng khoảng 10 tấn. Vùng Thái Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng, bao gồm các mỏ Pắc Lạng, Khau Âu (Bắc Kạn), mỏ Bồ Cu (Thái Nguyên) và Nam Quang (Cao Bằng). Vùng Nà Pái (Lạng Sơn) cũng có trữ lượng vàng đạt khoảng 30 tấn."
}
],
"id": "32183",
"is_impossible": false,
"question": "Khu vực nào tập trung nhiều mỏ vàng nhất Việt Nam?"
}
]
}
],
"title": "Khu vực nào tập trung nhiều mỏ vàng nhất Việt Nam?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Vùng Đồng bằng sông Hồng gồm 11 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình và Quảng Ninh; rộng khoảng 21.280 km2. Trong đó, Quảng Ninh rộng nhất với diện tích 6.208 km2. \n\nQuảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp với Trung Quốc. Trên đất liền, phía bắc của tỉnh giáp Quảng Tây (Trung Quốc) với hơn 132 km đường biên giới. Phía đông là vịnh Bắc Bộ; phía tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía nam giáp Hải Phòng. Bờ biển Quảng Ninh dài 250 km.\nToàn cảnh TP Hạ Long, Quảng Ninh. Ảnh: Ngọc Thành",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 49,
"text": "Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình và Quảng Ninh; rộng khoảng 21.280 km2. Trong đó, Quảng Ninh rộng nhất với diện tích 6.208 km2. \n\nQuảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp với Trung Quốc. Trên đất liền, phía bắc của tỉnh giáp Quảng Tây (Trung Quốc) với hơn 132 km đường biên giới. Phía đông là vịnh Bắc Bộ; phía tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía nam giáp Hải Phòng. Bờ biển Quảng Ninh dài 250 km.\nToàn cảnh TP Hạ Long, Quảng Ninh. Ảnh: Ngọc Thành"
}
],
"id": "32184",
"is_impossible": false,
"question": "Tỉnh nào rộng nhất đồng bằng sông Hồng?"
}
]
}
],
"title": "Tỉnh nào rộng nhất đồng bằng sông Hồng?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Ngày 30/10/1963, Quốc hội khóa 2 ra nghị quyết hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh. Tỉnh trải dài từ tây (Đông Triều) sang đông (Móng Cái) với trung tâm là TP Hạ Long và được ví là \"Việt Nam thu nhỏ\" với sự đa dạng về hình thái địa lý, kinh tế và xã hội; có vị trí, vị thế đặc biệt quan trọng ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc.\n\nTrong diễn văn tại lễ kỷ niệm 60 năm thành lập tỉnh Quảng Ninh hồi cuối tháng 10, Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Xuân Ký nêu sự kiện tỉnh Quảng Ninh được thành lập vào năm 1963 là kết quả của quá trình vận động lịch sử lâu dài về cả mặt hành chính và văn hoá, lãnh thổ và dân cư. Danh xưng Quảng Ninh được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt mang ý nghĩa lớn lao về trọng trách, sứ mệnh, tầm nhìn cho một địa phương rộng lớn về lãnh thổ, thoáng mở về tư duy, hào sảng về tính cách, yên ổn cho vùng biên viễn, sẵn sàng giao lưu và tiếp nhận tinh hoa văn hoá mọi vùng miền.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Ngày 30/10/1963, Quốc hội khóa 2 ra nghị quyết hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh. Tỉnh trải dài từ tây (Đông Triều) sang đông (Móng Cái) với trung tâm là TP Hạ Long và được ví là \"Việt Nam thu nhỏ\" với sự đa dạng về hình thái địa lý, kinh tế và xã hội; có vị trí, vị thế đặc biệt quan trọng ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc.\n\nTrong diễn văn tại lễ kỷ niệm 60 năm thành lập tỉnh Quảng Ninh hồi cuối tháng 10, Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Xuân Ký nêu sự kiện tỉnh Quảng Ninh được thành lập vào năm 1963 là kết quả của quá trình vận động lịch sử lâu dài về cả mặt hành chính và văn hoá, lãnh thổ và dân cư. Danh xưng Quảng Ninh được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt mang ý nghĩa lớn lao về trọng trách, sứ mệnh, tầm nhìn cho một địa phương rộng lớn về lãnh thổ, thoáng mở về tư duy, hào sảng về tính cách, yên ổn cho vùng biên viễn, sẵn sàng giao lưu và tiếp nhận tinh hoa văn hoá mọi vùng miền."
}
],
"id": "32185",
"is_impossible": false,
"question": "Năm 2023 là kỷ niệm bao nhiêu năm thành lập tỉnh này?"
}
]
}
],
"title": "Năm 2023 là kỷ niệm bao nhiêu năm thành lập tỉnh này?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Quảng Ninh nổi tiếng có vùng biển và hải đảo độc đáo. Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh, tỉnh này có hơn 2.000 hòn đảo, chiếm hơn hai phần ba số đảo cả nước. Đảo trải dài theo đường ven biển, chia thành nhiều lớp. Có những đảo rất lớn như Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ.\n\nHai huyện hoàn toàn là đảo là Vân Đồn và Cô Tô. Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, có hàng nghìn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình Karst bị nước bào mòn, tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú.\nMột góc huyện đảo Cô Tô. Ảnh: Thành Chung",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 556,
"text": "Thành Chung"
}
],
"id": "32186",
"is_impossible": false,
"question": "Đây có phải là địa phương có nhiều đảo nhất Việt Nam không?"
}
]
}
],
"title": "Đây có phải là địa phương có nhiều đảo nhất Việt Nam không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Dân số Quảng Ninh hiện hơn 1,36 triệu người. Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh, người Kinh chiếm 89,23% tổng số dân. Họ có gốc bản địa và nguồn gốc từ các tỉnh, đông nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ, sống đông đảo nhất ở các đô thị, các khu công nghiệp và vùng đồng bằng ven sông, ven biển. \n\nSau người Kinh là các dân tộc thiểu số có nguồn gốc từ lâu đời. Trong đó, người Dao đông nhất, chiếm 4,45% tổng số dân, chia làm hai nhánh chính là Thanh Y, Thanh Phán, thường cư trú ở vùng núi cao. Một số dân tộc khác có thể kể đến như Sán Dìu (1,8%), Sán Chỉ (1,11%), Hoa (0,43%).",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Dân số Quảng Ninh hiện hơn 1,36 triệu người. Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh, người Kinh chiếm 89,23% tổng số dân. Họ có gốc bản địa và nguồn gốc từ các tỉnh, đông nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ, sống đông đảo nhất ở các đô thị, các khu công nghiệp và vùng đồng bằng ven sông, ven biển. \n\nSau người Kinh là các dân tộc thiểu số có nguồn gốc từ lâu đời. Trong đó, người Dao đông nhất, chiếm 4,45% tổng số dân, chia làm hai nhánh chính là Thanh Y, Thanh Phán, thường cư trú ở vùng núi cao. Một số dân tộc khác có thể kể đến như Sán Dìu (1,8%), Sán Chỉ (1,11%), Hoa (0,43%)."
}
],
"id": "32187",
"is_impossible": false,
"question": "Người dân tộc thiểu số nào đông nhất ở tỉnh này?"
}
]
}
],
"title": "Người dân tộc thiểu số nào đông nhất ở tỉnh này?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Bản Đôn thuộc tỉnh Đắk Lắk là một địa danh nổi tiếng của Việt Nam, cũng được biết đến như là nơi có truyền thống săn bắt và thuần dưỡng voi rừng. Vua săn voi Y Thu Knul là người khai sinh ra địa danh Bản Đôn và có công lớn trong buổi đầu tạo lập, phát triển nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng (bằng dây da trâu).\nÔng từng bắt được khoảng 400 con voi, và là người tù trưởng có uy, giàu có nhất vùng, được các tù trưởng tộc người ở Tây Nguyên tôn quý khi bắt được bạch tượng (voi trắng, giá trị bằng 100 con voi đen) vào năm 1861. Ông được vua Thái Lan phong tặng danh hiệu Khunsanup - vua săn voi.\nChân dung vua săn voi Y Thu Knul. Ảnh: Tư liệu",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 638,
"text": "Tư liệu"
}
],
"id": "32188",
"is_impossible": false,
"question": "Ai được mệnh danh là vua săn voi?"
}
]
}
],
"title": "Ai được mệnh danh là vua săn voi?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Bài hát Chú voi con ở Bản Đôn gắn liền với tên tuổi nhạc sĩ Phạm Tuyên. Năm 1983, ông cùng nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, nhạc sĩ Hoàng Vân đi thực tế ở Đắk Lắk. Cán bộ tỉnh giới thiệu Buôn Đôn - nơi có truyền thống thuần dưỡng voi, đến khi ba nhạc sĩ lên Buôn Đôn, đàn voi lớn đi rừng làm việc hết, đi quanh bản chỉ toàn là voi con.\n\nNhạc sĩ Phạm Tuyên dí dỏm nói không có voi to thì viết về voi con, ai cũng ngỡ ông đùa, nhưng đến tối, ông mang bài hát Chú voi con ở Bản Đôn ra dạy cho các em thiếu nhi, giai điệu âm nhạc Êđê thân thuộc cùng với ca từ ngộ nghĩnh, đáng yêu đã chiếm trọn trái tim của cả trẻ em lẫn người lớn Buôn Đôn. Chú voi con ở Bản Đôn nhanh chóng trở thành biểu tượng của Đắk Lắk.\nTác phẩm sau đó được báo Thiếu niên Tiền phong giới thiệu trên số Tết Trung thu năm 1983, được Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam dàn dựng và phát rộng rãi, từ đó ca khúc trở nên phổ biến với thiếu nhi cả nước.\n Nhạc sĩ Phạm Tuyên. Ảnh: Đức Trí",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 950,
"text": "Đức Trí"
}
],
"id": "32189",
"is_impossible": false,
"question": "Bài hát Chú voi con ở Bản Đôn do ai sáng tác?"
}
]
}
],
"title": "Bài hát Chú voi con ở Bản Đôn do ai sáng tác?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Bản Đôn nằm trên địa bàn xã Krông Na, huyện Buôn Đôn của Đắk Lắk; cách Buôn Ma Thuột 50 km theo hướng tây bắc. Ngày xưa, Bản Đôn là một trong những điểm giao thương quan trọng của 3 nước Đông Dương. \n\nTên gọi Bản Đôn bắt nguồn từ tiếng Lào ngày xưa (buổi sơ khai người dân Lào chiếm đa số) có nghĩa là \"làng đảo\", là một ngôi làng được xây dựng trên một ốc đảo của sông Serepôk - con sông lớn của Tây Nguyên. Theo tiếng của người Êđê và M'nông thì vùng đất này được gọi là Buôn Đôn.\n\nHiện tại, Bản Đôn là cách gọi chung, chỉ hệ thống cụm du lịch của huyện Buôn Đôn gồm các khu du lịch thác Bảy Nhánh, vườn quốc gia Yok Đôn, khu du lịch Cầu treo, vườn cảnh Trohbư. \n Cưỡi voi trên dòng sông Serepốk. Ảnh: buondon.gov.vn",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 705,
"text": "buondon.gov.vn"
}
],
"id": "32190",
"is_impossible": false,
"question": "Tên gọi Bản Đôn có nghĩa là gì?"
}
]
}
],
"title": "Tên gọi Bản Đôn có nghĩa là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Buôn Đôn là một huyện của Đắk Lắk; cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 30 km về phía tây. \n\nBuôn Đôn có lịch sử hình thành và phát triển hơn 200 năm, từng là thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk cho đến tháng 8/1904. Vào những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã đẩy mạnh các họat động do thám với âm mưu xâm lược Tây Nguyên. Đến năm 1898, chúng tập trung lực lượng đánh chiếm Buôn Đôn và lần lượt mở rộng chiến tranh đánh chiếm toàn bộ cao nguyên Đắk Lắk.\nSau khi chiếm Đắk Lắk, thực dân Pháp bắt tay xây dựng bộ máy thống trị, đặt bộ máy hành chính tại Buôn Đôn. Sau này, để tiện cho việc phát triển kinh tế xã hội và chiếm giữ một vị trí an ninh quốc phòng chiến lược, người Pháp đã cho dời cơ quan hành chính về Buôn Ma Thuột.\nBuôn Đôn có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, các tộc người Êđê, M'nông là dân tộc bản địa đến quần cư sinh sống lập nên những buôn làng đầu tiên của vùng đất này. Về sau người Thái, Lào, Campuchia kéo đến tập trung buôn bán trao đổi hàng hóa, các sản vật của núi rừng và nơi đây nhanh chóng trở thành trung tâm buôn bán sầm uất với nhiều loại hàng hóa, sản vật quý hiếm. \n Du khách đi qua cầu treo bắc qua những con suối tại Bản Đôn, huyện Buôn Đôn. Ảnh: Cổng thông tin điện tử Đắk Lắk",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1175,
"text": "Cổng thông tin điện tử Đắk Lắk"
}
],
"id": "32191",
"is_impossible": false,
"question": "Buôn Đôn từng là thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk?"
}
]
}
],
"title": "Buôn Đôn từng là thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Nhà mồ là nơi chôn cất người đã khuất, là mảng đặc sắc của văn hóa cổ truyền, đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Trong thời gian gần đây, truyền thống dựng nhà mồ, tượng mồ chỉ còn tập trung ở các dân tộc Ba na, Êđê, Gia rai, M'nông, Xơ-đăng. \n\nNghĩa địa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thường được bố trí ở những cánh rừng già khá thâm u, cùng với vô vàn tượng gỗ đủ hình thù, tư thế, khiến người ta có cảm giác như lạc vào ranh giới giữa thế giới thực tại và thế giới tâm linh.\n\nTượng nhà mồ được các nghệ nhân làm ra để dùng cho lễ bỏ mả - cuộc chia tay cuối cùng giữa người sống và người chết, tiễn những linh hồn về thế giới ông bà. Sau lễ bỏ mả, tượng nhà mồ cũng nằm lại nghĩa địa cùng thời gian, mưa nắng.\n\nQuần thể tượng mô tả sự hình thành, ra đời và lớn lên của một đời người với đủ các cảnh sinh hoạt và các mối quan hệ của con người. Nhà mồ được xây trùm trên nấm mộ và là trung tâm của lễ bỏ mả. Nhà mồ có nhiều loại khác nhau, thường sử dụng 3 màu: đen, đỏ và trắng.\n\nTượng mồ là những tác phẩm điêu khắc độc đáo bậc nhất của đồng bào các dân tộc vùng đất này, trong đó tượng mồ Gia rai, Ba na phong phú và đặc sắc hơn cả.\nMô phỏng nhà mồ của dân tộc Gia rai tại Bảo tàng Dân tộc học. Ảnh: Như Bình",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 962,
"text": "đen, đỏ và trắng.\n\nTượng mồ là những tác phẩm điêu khắc độc đáo bậc nhất của đồng bào các dân tộc vùng đất này, trong đó tượng mồ Gia rai, Ba na phong phú và đặc sắc hơn cả.\nMô phỏng nhà mồ của dân tộc Gia rai tại Bảo tàng Dân tộc học. Ảnh: Như Bình"
}
],
"id": "32192",
"is_impossible": false,
"question": "Người Ba na gọi nơi chôn cất người chết là gì?"
}
]
}
],
"title": "Người Ba na gọi nơi chôn cất người chết là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Nhà dài là nơi cư trú người Êđê, được xây dựng chủ yếu từ gỗ, tre nứa các loại. Riêng mái thường lợp bằng cỏ dày trên 20 cm. Phần sàn cao hơn mặt đất chừng một mét, dưới để thoáng chứ không chăn nuôi như nhà sàn ở miền bắc. Mỗi nhà có đôi cầu thang chạm gỗ dẫn lên cửa. Một thang cho đàn ông, một cho phụ nữ. Cầu thang cho phụ nữ được trang trí hình bộ ngực.\n\nKhi một cô gái Êđê lấy chồng, ngôi nhà được dựng dài thêm làm nơi ở cho vợ chồng trẻ. Nhà càng dài càng thể hiện sự giàu có của gia chủ. Theo tài liệu tại Bảo tàng Dân tộc học, xưa kia từng có những nhà dài gần 200 m. Nhà có các cửa sổ thoáng, cách đều nhau để thông khí và lấy ánh sáng.\nNhà dài của người Êđê trong Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Ảnh: Vy An",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 712,
"text": "Vy An"
}
],
"id": "32193",
"is_impossible": false,
"question": "Nhà truyền thống của dân tộc Êđê có tên gọi là:"
}
]
}
],
"title": "Nhà truyền thống của dân tộc Êđê có tên gọi là:"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Nhà rông là một thiết chế văn hóa tiêu biểu độc đáo, có ý nghĩa quan trọng trong văn hóa tinh thần, đời sống xã hội và tín ngưỡng tâm linh của đồng bào các dân tộc Ba na, Gia rai, Xơ-đăng. \nKhông chỉ có kiểu kiến trúc sừng sững độc đáo, nhà rông còn mang ý nghĩa văn hóa thiêng liêng. Đây là không gian sinh hoạt chung của cả cộng đồng, nơi tổ chức lễ hội hay các lễ cúng thường niên và không thường niên như cúng mừng lúa mới, cúng lập làng mới, cúng mừng nhà rông. Ngoài ra, nhà rông còn là nơi phân xử các vụ kiện, tranh chấp, hòa giải của dân làng, đồng thời cũng là nơi tiếp đón khách quý đến buôn làng. \n\nNhà rông thường nằm ở vị trí trung tâm của buôn làng. Mỗi dân tộc đều có những nét riêng trong kiến trúc và trang trí. Nhà rông được làm chủ yếu bằng các vật liệu của núi rừng như cỏ tranh, tre, gỗ, mây, lồ ô, do các hộ gia đình trong làng cùng tham gia.\nNgười dân nhảy múa mừng nhà rông mới ở Kon Tum. Ảnh: Báo Kon Tum",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 919,
"text": "Báo Kon Tum"
}
],
"id": "32194",
"is_impossible": false,
"question": "Nhà rông là tên gọi nhà truyền thống của dân tộc nào?"
}
]
}
],
"title": "Nhà rông là tên gọi nhà truyền thống của dân tộc nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo quan niệm của người Gia rai và Ba na thì người chết có linh hồn, biến thành ma (atâu). Sau khi chết, linh hồn cứ lẩn quất gần nơi chôn, lưu luyến với cuộc sống dương thế, không siêu thoát được. Người thân hàng ngày phải mang cơm nước đến, quét dọn nhà mả, gọi là thời kỳ giữ mả.\n\nSau 1-3 năm thì gia chủ làm lễ bỏ mả, hay còn gọi là lễ Pơ thi. Nhà nào nghèo thì thường chỉ \"nuôi ma\" một năm là làm lễ bỏ mả, nhà giàu hơn thì có thể kéo dài đến 3 năm. Bởi đây là nghi lễ lớn và tốn kém nên các gia đình cần có sự chuẩn bị kỹ càng.\n\nChỉ sau khi làm lễ bỏ mả thì linh hồn mới được siêu thoát, trở về với thế giới bên kia một cách nhẹ nhàng, không còn lưu luyến gì với cuộc sống trước đây, mà người sống cũng yên tâm trở về làm ăn với ý nghĩ hồn ma đã yên nghỉ, không còn lẩn quất và quấy phá dương gian.\nĐể chuẩn bị chia tay người chết trong lễ bỏ mả, người dân thường vào rừng lấy gỗ, tre, mây, song, cỏ tranh mang về dựng các phần của nhà mồ. Sau đó, người sống sẽ mang tài sản được phân chia ra nhà mồ chôn cùng, bao gồm những đồ vật quý như chiêng, choé, vòng cườm, lục lạc đến các vũ khí, công cụ sản xuất như kiếm, cuốc và các vật dụng trong đời sống sinh hoạt thường ngày như nồi, tô, chén bát. Số của cải này tùy thuộc vào điều kiện của mỗi gia đình.\nNgoài những đồ vật dùng hàng ngày, quanh nhà mồ còn có những bức tượng mồ được khắc từ gỗ do người nhà chuẩn bị cho người đã khuất.\nTrai làng bôi bùn đất, hóa trang thành ma và cùng nhảy múa trong lễ Pơ thi. Ảnh: Vietnam+",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 1474,
"text": "Vietnam+"
}
],
"id": "32195",
"is_impossible": false,
"question": "Lễ bỏ mả của người Gia rai còn có tên gọi là gì?"
}
]
}
],
"title": "Lễ bỏ mả của người Gia rai còn có tên gọi là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Bộ Công thương, cây hồi phát triển tốt tại Lạng Sơn do phù hợp với loại đất và sinh trưởng ở địa hình cao. Hồi được trồng rải rác tại hầu hết các huyện Văn Quan, Bình Gia, Văn Lãng, Lộc Bình, Cao Lộc, với tổng diện tích hơn 35.000 ha, chiếm trên 70% diện tích hồi cả nước. Người dân xứ Lạng gắn bó với rừng hồi kiểu cha truyền con nối. Cây này có thể trồng một lần và cho thu hoạch cả trăm năm sau. \n\nNhiều năm qua, cây hồi được xác định là cây kinh tế mũi nhọn và chiến lược lâu dài của tỉnh Lạng Sơn, là nguồn hàng hóa xuất khẩu chủ yếu của tỉnh. Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lạng Sơn, tính riêng năm 2022, sản lượng thu hoạch ước đạt 13.000 tấn hồi khô, giá trị thu về khoảng 1.500 tỷ đồng. \n Hoa hồi khô được trưng bày tại Lễ hội hoa hồi ở Lạng Sơn. Ảnh: Hồng Vân",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 780,
"text": "Hồng Vân"
}
],
"id": "32196",
"is_impossible": false,
"question": "Tỉnh nào được mệnh danh là 'xứ sở hoa hồi'?"
}
]
}
],
"title": "Tỉnh nào được mệnh danh là 'xứ sở hoa hồi'?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo báo Lạng Sơn, hồi và các sản phẩm từ hồi có ứng dụng rất phong phú trong y, dược, thực phẩm, mỹ phẩm, thức ăn chăn nuôi, thuốc phòng sâu bệnh. Tại châu Âu, hồi được sử dụng để tạo ra các loại bánh kẹo, rượu có hương vị hồi, làm chất giữ mùi hương cho nước hoa… Đặc biệt, hồi là nguyên liệu chính để bào chế thuốc kháng virus cúm Tamiflu.\nQuả hồi tươi. Ảnh: Hồng Vân",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 362,
"text": "Hồng Vân"
}
],
"id": "32197",
"is_impossible": false,
"question": "Hồi là nguyên liệu chính để bào chế thuốc/vaccine nào?"
}
]
}
],
"title": "Hồi là nguyên liệu chính để bào chế thuốc/vaccine nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo Bộ Công thương, từ đầu thế kỷ 20, người Pháp đã xây dựng nhà máy chế biến tinh dầu hồi tại Lạng Sơn. Sau chiến dịch biên giới 1950, tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận cơ sở chế biến tinh dầu hồi, thị trường xuất khẩu lúc này chủ yếu là các nước Đông Âu và châu Á.\n\nSau năm 1979, nhà máy chế biến dầu hồi bị phá, thị trường dần dần bị thu hẹp, không ai chú ý trồng và chăm sóc cây hồi. Nhưng từ năm 1990 đến nay, hoa hồi dần lấy lại vị trí, sản phẩm tinh dầu hồi được xuất khẩu sang Trung Quốc, Bắc Mỹ, châu Âu... để chế các loại dược phẩm và mỹ phẩm.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo Bộ Công thương, từ đầu thế kỷ 20, người Pháp đã xây dựng nhà máy chế biến tinh dầu hồi tại Lạng Sơn. Sau chiến dịch biên giới 1950, tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận cơ sở chế biến tinh dầu hồi, thị trường xuất khẩu lúc này chủ yếu là các nước Đông Âu và châu Á.\n\nSau năm 1979, nhà máy chế biến dầu hồi bị phá, thị trường dần dần bị thu hẹp, không ai chú ý trồng và chăm sóc cây hồi. Nhưng từ năm 1990 đến nay, hoa hồi dần lấy lại vị trí, sản phẩm tinh dầu hồi được xuất khẩu sang Trung Quốc, Bắc Mỹ, châu Âu... để chế các loại dược phẩm và mỹ phẩm."
}
],
"id": "32198",
"is_impossible": false,
"question": "Nhà máy chế biến tinh dầu hồi tại Lạng Sơn do người Pháp xây dựng khi nào?"
}
]
}
],
"title": "Nhà máy chế biến tinh dầu hồi tại Lạng Sơn do người Pháp xây dựng khi nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Theo báo Lạng Sơn, hồi chính vụ thường cho thu hoạch khoảng tháng 7, tháng 9. Ngoài ra còn có loại hồi tứ quý cho thu hoạch vào sau Tết Nguyên đán.\n Rừng hồi ở Văn Quan, Lạng Sơn. Ảnh: Hồng Vân",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 186,
"text": "Hồng Vân"
}
],
"id": "32199",
"is_impossible": false,
"question": "Hồi có mấy vụ thu hoạch?"
}
]
}
],
"title": "Hồi có mấy vụ thu hoạch?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Lễ hội hoa hồi lần đầu tiên được tổ chức trong 2 ngày 27 và 28/5/1996 tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan, nhằm tuyên truyền, quảng bá những tiềm năng của địa phương, hướng phát triển và giá trị kinh tế của cây hồi.\n\nTham gia lễ hội, du khác được giới thiệu, tìm hiểu về cây hồi, tham quan các gian hàng trưng bày sản phẩm từ hồi. Hoa hồi thực chất là quả, mỗi hoa gồm 5-8 cánh hình thoi xếp thành hình sao hoặc nan hoa. \nLễ hội hoa hồi lần đầu tiên được tổ chức tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan, Lạng Sơn. Ảnh: Hồng Vân",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 519,
"text": "Hồng Vân"
}
],
"id": "32200",
"is_impossible": false,
"question": "Lễ hội hoa hồi được tổ chức lần đầu năm nào?"
}
]
}
],
"title": "Lễ hội hoa hồi được tổ chức lần đầu năm nào?"
} |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.