Dataset Viewer
Auto-converted to Parquet Duplicate
id
stringlengths
6
8
text
stringlengths
40
2.77k
10_1_1
Chương I Bài CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN (Từ giữa thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVIII) 1 CÁCH MẠNG HÀ LAN GIỮA THẾ KỈ XVI Vào giữa thế kỉ XVI, cuộc đấu tranh của nhân dân Nê-đéc-lan(1) chống lại ách thống trị của Vương quốc Tây Ban Nha đã trở thành cuộc cách mạng tư sản đầu tiên, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử loài người – thời cận đại. I – TÌNH HÌNH NÊ-ĐÉC-LAN GIỮA THẾ KỈ XVI 1. Sự phát triển kinh tế của Nê-đéc-lan Vào cuối thế kỉ XV – đầu thế kỉ XVI, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời ở châu Âu. Vùng đất Nê-đéc-lan lúc bấy giờ có nền kinh tế công thương nghiệp mạnh nhất châu Âu. Sản xuất trong các công trường thủ công phát triển, tiêu biểu là các xưởng nấu đường, làm xà phòng ở An-véc-pen ; dệt vải, luyện kim ở Lu-dơ. Nhiều thành thị trở thành trung tâm sản xuất, thương mại lớn như : Lay-đen, U-trếch, Am-xtéc-đam, An-véc-pen. Nhiều ngân hàng được thành lập và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước. Giai cấp tư sản sớm ra đời, có thế lực về kinh tế như ở Am-xtéc-đam và An-véc-pen. Đồng thời, thợ thủ công và nông dân bị phá sản trở thành công nhân làm thuê trong các công trường thủ công. Tầng lớp thị dân nghèo đông đảo hơn. Xã hội tư bản ở Nê-đéc-lan lúc bấy giờ đã bước đầu hình thành. Những sự kiện nào chứng tỏ kinh tế của Nê-đéc-lan phát triển ? (1) Nê-đéc-lan (nghĩa là “vùng đất thấp”) : tên gọi vùng đất bao gồm lãnh thổ hai nước Hà Lan và Bỉ ngày nay. 4
10_1_2
2. Cuộc đấu tranh của nhân dân Nê-đéc-lan chống ách thống trị Tây Ban Nha Cuối thế kỉ XV, Nê-đéc-lan còn lệ thuộc Áo, đến thế kỉ XVI lại chịu sự thống trị của Vương triều Tây Ban Nha. Hằng năm, nhân dân Nê-đéc-lan phải nộp thuế bằng 2/5 ngân sách chung (mà diện tích của vùng đất này chỉ bằng 6% tổng số diện tích cả Vương quốc). Vua Tây Ban Nha đàn áp những người chống lại đạo Thiên Chúa (xử chém đàn ông, chôn sống hoặc thiêu chết đàn bà, tịch thu tài sản của những người theo “dị giáo”...). Hàng hoá nhập vào Nê-đéc-lan phải chịu thuế rất cao, thương nhân Nê-đéc-lan bị hạn chế buôn bán với các thuộc địa của Tây Ban Nha. Các tầng lớp nhân dân Nê-đéc-lan nhiều lần nổi dậy chống ách thống trị của Tây Ban Nha. Họ dùng nhiều hình thức đấu tranh như : sử dụng thơ ca để chế giễu, đả kích nhà thờ Thiên Chúa, đập phá tượng Thánh, vũ trang chống chính quyền phong kiến... Tầng lớp quý tộc lập Thoả đức quý tộc, đòi giảm số lượng giám mục, triệu tập hội nghị các đẳng cấp. Giai cấp tư sản cũng lập Thoả đức thôơng nhân, đòi tự do kinh doanh. ? Những nguyên nhân nào dẫn tới cuộc đấu tranh của nhân dân Nê-đéc-lan chống chính quyền Tây Ban Nha ? II – DIỄN BIẾN CỦA CÁCH MẠNG Cách mạng Hà Lan trải qua 2 giai đoạn : 1. Giai đoạn 1566 - 1572 Tháng 8 – 1566, cuộc đấu tranh của nhân dân Nê-đéc-lan chống Tây Ban Nha trở thành một làn sóng mạnh mẽ. Họ phá nhà thờ Thiên Chúa, lùng bắt các giám mục (gọi là “Phong trào phá tượng Thánh”). Tháng 10 – 1566, phong trào lan rộng ra 12 tỉnh (trong số 27 tỉnh) của Nê-đéc-lan. Chính quyền Tây Ban Nha phải nhượng bộ (các toà án tôn giáo tạm ngừng hoạt động, cho phép đạo Canvanh hành lễ), nhưng vẫn tìm cách đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Nê-đéc-lan. Tháng 8 – 1567, 18 000 quân Tây Ban Nha được phái sang chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ Nê-đéc-lan. Chúng giết hại nhiều người, cướp bóc, đốt phá khắp nơi. 5
10_1_3
Hình 1. V. Ô-ran-giơ (1533_1584) Quý tộc lớp trên của Nê-đéc-lan, được sự giúp đỡ của nước ngoài, lập một đội quân đánh thuê đưa về nước để lật đổ ách thống trị Tây Ban Nha, song bị đánh tan vào năm 1568. Tuy vậy, cuộc chiến đấu của nhân dân Nê-đéc-lan vẫn tiếp diễn và thu được nhiều thắng lợi. Tháng 4 – 1572, quân khởi nghĩa giải phóng nhiều vùng rộng lớn ở miền Bắc. Một số quý tộc tư sản hoá ở Nê-đéc-lan, đứng đầu là Vin-hem Ô-ran-giơ, tham gia quân khởi nghĩa chống Tây Ban Nha và tìm cách giành quyền lãnh đạo phong trào đấu tranh. Những sự kiện nào thể hiện thái độ của nhân dân lao động, quý tộc, tư sản Nê-đéc-lan trong cuộc đấu tranh chống chính quyền Tây Ban Nha để giải phóng đất nước ? 2. Giai đoạn 1572 - 1648 Vương triều Tây Ban Nha tiếp tục điều quân sang Nê-đéc-lan để cướp phá, giết hại nhân dân. Tiêu biểu là vụ đốt cháy thành An-véc-pen ngày 4 – 11 – 1576, làm nhiều người chết, một trung tâm thương mại bị phá huỷ. Nhân dân Nê-đéc-lan thành lập Uỷ ban Quản lí xã hội, gồm đa số đại biểu là tư sản và bình dân, để thống nhất các lực lượng kháng chiến và quy định chế độ thuế. Họ đấu tranh chống khuynh hướng thoả hiệp, đầu hàng của quý tộc và tư sản lớp trên – những người chủ trương tin phục vua Tây Ban Nha. Ngày 23 – 1 – 1579, đại biểu các tỉnh miền Bắc Nê-đéc-lan họp ở U-trếch, tuyên bố thống nhất hệ thống tiền tệ, đo lường, tổ chức quân sự, xác định chính sách đối ngoại. Đạo Canvanh được công nhận là quốc giáo, quyền tự do tín ngưỡng được tôn trọng. Tháng 7 – 1581, vua Tây Ban Nha Phi-líp II với tư cách đồng thời là vua Nê-đéc-lan bị phế truất. Hội nghị Các đẳng cấp của những tỉnh miền Bắc trở thành cơ quan quyền lực tối cao. Trên thực tế, các tỉnh này trở thành một nước cộng hoà với tên gọi chính thức là Các tỉnh Liên hiệp hay Hà Lan (tên một tỉnh có vai trò quan trọng nhất trong Các tỉnh Liên hiệp) và Thủ đô là Am-xtéc-đam. 6
10_1_4
Việc thành lập Các tỉnh Liên hiệp đánh dấu bước thắng lợi của cuộc đấu tranh lâu dài chống sự thống trị của chính quyền phong kiến Tây Ban Nha. Nhưng chính quyền Tây Ban Nha chưa chịu công nhận Hà Lan và cuộc chiến tranh lại tiếp diễn. Năm 1609, Hiệp định đình chiến được kí kết, nhưng mãi đến năm 1648, Tây Ban Nha mới chính thức công nhận nền độc lập của Các tỉnh Liên hiệp. ? Trình bày những nét chính về diễn biến của Cách mạng Hà Lan qua các giai đoạn. III – KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ 1. Kết quả Cách mạng Hà Lan thắng lợi, chế độ thống trị của phong kiến Tây Ban Nha ở Nê-đéc-lan bị lật đổ, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển. Việc sản xuất trong các ngành nghề dệt len, dệt vải, nhuộm, in, thuỷ tinh và chế tạo kính quang học... được đẩy mạnh. Thương nghiệp phát triển, nhiều tàu thuyền của Các tỉnh Liên hiệp hoạt động nhộn nhịp trong và ngoài nước. Vào đầu thế kỉ XVII, Am-xtéc-đam có đến 10 vạn dân, tiếp nhận hàng nghìn tàu thuyền thường xuyên ra vào cảng, buôn bán với các nước Anh, Pháp, Nga, Ấn Độ... Các công ti thương mại của Hà Lan như : “Công ti Phương Đông”, “Công ti Đông Ấn”... không chỉ mở rộng việc buôn bán với nhiều nước trên thế giới mà còn tiến hành việc xâm chiếm thuộc địa. In-đô-nê-xi-a trở thành thuộc địa lớn nhất của Hà Lan. 2. Ý nghĩa Hình 2. Một góc hải cảng Am-xtéc-đam thế kỉ XVII Cuộc đấu tranh của nhân dân Nê-đéc-lan chống ách thống trị của Vương triều Tây Ban Nha là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đồng thời cũng là cuộc cách mạng tư sản đầu tiên trên thế giới, mở đầu thời đại mới – thời cận đại – với sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản đối với chế độ phong kiến. - 7
10_1_5
Động lực chủ yếu của cách mạng là quần chúng nhân dân (nông dân, thợ thủ công, thị dân nghèo) ; giai cấp tư sản là lực lượng lãnh đạo, chính quyền thuộc về tay giai cấp tư sản liên kết với quý tộc. Tuy mới chỉ giải phóng được các tỉnh miền Bắc, còn duy trì nhiều tàn tích phong kiến, nhưng một quốc gia độc lập đã ra đời và phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Nêu kết quả và hạn chế của Cách mạng Hà Lan. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1. Quan sát hình 2 và nêu những biểu hiện chứng tỏ sự phát triển kinh tế của hải cảng Am-xtéc-đam vào thế kỉ XVII. 2. Vì sao cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Nê-đéc-lan được xem là cuộc cách mạng tư sản ? PHẦN ĐỌC THÊM Chính quyền Tây Ban Nha đàn áp những người yêu nước Nê-đéc-lan Bất cứ ai, dù là tư sản, quý tộc hay bình dân ở Nê-đéc-lan, nếu chống lại Cựu giáo là bị tử hình. Đàn ông thì bị chặt đầu hay treo cổ, đàn bà thì bị chôn sống mà không cần xét xử, điều tra ; toàn bộ tài sản bị tịch thu... Tội ác của bọn xâm lược ngày càng chồng chất : “Hội đồng máu” của viên tướng An-va đã xét xử 15 000 người, kết tội 10 000 người, xử chém hơn 1000 người. (Theo : Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Hà Lan. Đất nước Con người Lịch sử, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, H., 1999, tr. 98) 8 Tuyên bố của Đồng minh U-trếch (1579) Cơ quan quyền lực cao nhất của Đồng minh là Hội nghị Ba cấp gồm đại biểu các tỉnh, có quyền quyết định những công việc quan trọng như tuyên chiến, đình chiến, kí hoà ước, ban hành pháp luật và chế độ thuế khoá. – Thống nhất hệ thống tiền tệ, đo lường, tổ chức quân sự và chính sách đối ngoại. – Theo đạo Canvanh, nhưng vẫn đảm bảo cho người dân được tự do tín ngưỡng. (Theo : Vũ Dương Ninh (Chủ biên), Lịch sử văn minh nhân loại, NXB Giáo dục, H., 1997, tr. 160 – 161)
10_2_1
Bài CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN ANH 2 GIỮA THẾ KỈ XVII Sau cách mạng Hà Lan gần một thế kỉ, một cuộc cách mạng khác đã nổ ra ở Anh. Đây là cuộc cách mạng tư sản có ảnh hưởng rộng lớn và có ý nghĩa sâu sắc đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. I – NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA CÁCH MẠNG 1. Sự phát triển kinh tế Dưới thời vua Sác-lơ I, thuộc Vương triều Xtiu-ớt, Anh là một nước quân chủ chuyên chế. Ruộng đất thuộc quyền sở hữu của quý tộc địa chủ. Tuy vậy, từ giữa thế kỉ XVI, quan hệ kinh tế tiền tệ đã thâm nhập vào nông thôn Anh, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và phương thức kinh doanh : lãnh chúa phong kiến và một bộ phận nông dân chuyển sang nuôi cừu, lấy lông để bán ; nhiều công trường thủ công chuyên sản xuất len dạ xuất hiện và phát triển. Một số địa chủ đuổi tá điền, biến ruộng đất thành một vùng rộng lớn rồi áp dụng phương thức canh tác mới, hoặc trồng cỏ nuôi cừu. Nông dân bị đuổi khỏi đồng ruộng, một bộ phận đi làm thuê cho địa chủ, quý tộc, được trả tiền công. Họ sản xuất nguyên liệu và thực phẩm để cung cấp cho thị trường ngày càng mở rộng. Ngoài ngành sản xuất len dạ nổi tiếng, nhiều ngành công nghiệp khác của Anh cũng lớn mạnh. Những năm trước 1640, sản lượng than khai thác ở Anh chiếm 4/5 tổng sản lượng than của châu Âu. Các ngành luyện sắt, thiếc, chế thuỷ tinh, làm xà phòng, đóng tàu cũng phát triển nhanh. Nhiều ngân hàng ra đời. Việc buôn bán phát đạt, nhưng phần lớn do thương nhân Anh chi phối. Thương nhân Anh nắm giữ việc xuất khẩu len, vải và việc nhập khẩu các loại sợi (bông của Ấn Độ và Bắc Mĩ ; tơ của Trung Quốc, I-ta-li-a và Tây Ban Nha ; lanh của Ai-len và Bắc Mĩ). Đầu thế kỉ XVII, Anh là nước có nền kinh tế phát triển nhất châu Âu. ? Quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa thâm nhập vào nông thôn Anh như thế nào và kết quả ra sao ? 9
10_2_2
2. Những biến đổi về xã hội Đông đảo nông dân bị đuổi khỏi ruộng đất phải ra thành thị, làm thuê trong các công xưởng hay di cư sang Tây bán cầu. Một số địa chủ, quý tộc chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa, trở thành những quý tộc mới. Tầng lớp quý tộc mới ở Anh bao gồm một số quý tộc cũ, vẫn duy trì những đặc quyền phong kiến nhưng đã chuyển hướng kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa. Trong số quý tộc mới này còn có thương nhân, người cho vay lãi, họ đã sở hữu ruộng đất và có tước vị quý tộc do nhà vua ban cho. Quý tộc mới là tầng lớp quý tộc đã tư sản hoá, giữ vai trò lớn trong quá trình cách mạng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhiều thành phố lớn mọc lên. Thủ đô Luân Đôn trở thành một trung tâm tài chính, công nghiệp và thương mại bậc nhất châu Âu, với số dân tương đối đông vào thời đó (64 vạn người). Hình 3. Quang cảnh Luân Đôn thế kỉ XVII Những biến đổi về kinh tế, xã hội làm cho mâu thuẫn trong nước thêm gay gắt. Nhà nước phong kiến dựa vào quý tộc và Giáo hội Anh đã cản trở việc kinh doanh của tư sản và quý tộc mới (nhiều thuế mới được đặt ra, Nhà nước nắm độc quyền thương mại...). Vì vậy, bên cạnh mâu thuẫn vốn có giữa nông dân và quý tộc địa chủ, đã nảy sinh mâu thuẫn giữa tư sản và quý tộc mới với chế độ quân chủ. Những mâu thuẫn này dẫn tới cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến chuyên chế, tạo điều kiện cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển, thể hiện qua những cuộc xung đột giữa Quốc hội và nhà vua. 10 ? Tình hình xã hội nước Anh trước cách mạng có những nét nổi bật nào ?
10_2_3
II – DIỄN BIẾN CỦA CÁCH MẠNG Cuộc cách mạng Anh diễn ra qua 2 giai đoạn chính: 1. Giai đoạn 1642 – 1648 Ở Anh, Quốc hội được thành lập vào thế kỉ XIII, nhưng từ đầu thế kỉ XVII không còn hoạt động vì sự chuyên chế của nhà vua. Tháng 4 – 1640, do cần tiền để đàn áp cuộc khởi nghĩa của người Xcốt-len chống lại việc họ bị cưỡng bức theo Anh giáo(1), vua Sác-lơ I buộc phải triệu tập Quốc hội. Quốc hội, gồm đa số là đại biểu quý tộc mới và tư sản, kịch liệt công kích những chính sách bạo ngược của nhà vua, không phê duyệt các khoản thuế mới và nêu ra một số yêu sách được nhân dân ủng hộ. Quốc hội cũng đòi kiểm soát quân đội, tài chính và Giáo hội. Tuy nhà vua phải nhượng bộ một số yêu sách của Quốc hội, nhưng vẫn chuẩn bị lực lượng chống lại. Nhân dân ủng hộ Quốc hội, phản đối nhà vua. Tháng 1 – 1642, Sác-lơ I chạy lên miền Bắc, dựa vào quý tộc phong kiến ở đây để chống lại Quốc hội. Ngày 22 – 8 – 1642, nhà vua tuyên chiến với Quốc hội. Cuộc nội chiến bắt đầu. Ban đầu, quân đội Quốc hội bị đánh bại vì lực lượng của nhà vua được trang bị tốt và thiện chiến. Những người chỉ huy quân đội Quốc hội lại chia rẽ, một số người muốn thoả hiệp với phe Bảo hoàng, họ thiếu một đường lối chiến lược và quyết tâm chiến đấu. Được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân, Ô-li-vơ Crôm-oen đã tiến hành cải cách quân đội. Ông tổ chức một đội quân, gồm chủ yếu là nông dân, có kỉ luật, có tính chiến đấu cao, được gọi là “Đội quân sườn sắt”. Ngày 14 – 6 – 1645, quân đội của Sác-lơ I thua trận và sau đó nhà vua bị bắt. Sau khi trốn thoát, đến mùa xuân 1648 nhà vua lại tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh chống Quốc hội, nhưng thất bại và bị kết án tử hình. Cuộc nội chiến kết thúc. Cuộc Cách mạng tư sản Anh diễn ra như thế nào trong những năm 1642 1648 ? (1) Anh giáo : Giáo hội ra đời vào thế kỉ XVI. Anh giáo dựa trên cơ sở giáo lí của đạo Kitô, nhưng về tổ chức thì tách khỏi Giáo hội Rô-ma. Người đứng đầu Anh giáo là vua Anh. Vì vậy, đã nảy sinh mâu thuẫn giữa Anh giáo (của thế lực phong kiến) với Thanh giáo (của tư sản, quý tộc mới). 11
10_2_4
2. Giai đoạn 1649 - 1688 Ngày 30 – 1 – 1649, theo nguyện vọng của nhân dân, vua Sác-lơ I bị xử tử. Quốc hội tuyên bố nền quân chủ là “không cần thiết” và nguy hiểm đối với tự do, an ninh và quyền lợi của nhân dân. Hình 4. Sác-lơ I (1600 _1649) bị xử tử Hình 5. Ô. Crôm-oen (1599_1658) Anh trở thành nước cộng hoà. Cách mạng đạt tới đỉnh cao, quyền hành trong nước thuộc về quý tộc mới và tư sản. Nông dân và binh lính không được hưởng quyền lợi gì nên tiếp tục đấu tranh đòi tự do và ruộng đất. Nhân dân đấu tranh đòi mọi nam công dân đều được quyền bỏ phiếu bầu Quốc hội, được tự do tín ngưỡng và có ruộng đất. Quý tộc mới và tư sản không những không đáp ứng các yêu cầu trên mà còn tiếp tục bao chiếm đất đai, đàn áp các cuộc đấu tranh. Để bảo vệ quyền lợi của mình, quý tộc mới và tư sản Anh đưa Crôm-oen lên làm Bảo hộ công vào năm 1653. Chế độ độc tài quân sự được thiết lập. Ngày 3 – 9 – 1658, Crôm-oen qua đời, nước Anh rơi vào tình trạng không ổn định về chính trị. Quý tộc mới và tư sản lo sợ nhân dân nổi dậy đấu tranh, nên chủ trương thoả hiệp với lực lượng phong kiến cũ, lập lại chế độ quân chủ. Năm 1660, con Sác-lơ I được đưa lên ngôi vua, tức Sác-lơ II. Triều đại Xtiu-ớt được phục hồi, chấp nhận điều kiện phải tôn trọng những thành quả cách mạng đã đạt được. Nhưng Sác-lơ II, sau đó là Giêm II (lên ngôi năm 1685) rắp tâm khôi phục chế độ quân chủ chuyên chế, giành lại những quyền lợi đã mất, trả thù những người cách mạng. Tháng 12 – 1688, Quốc hội dùng áp lực truất ngôi Giêm II. Sự kiện này thực chất là một cuộc đảo chính, được gọi là “cuộc cách mạng quang vinh”. 12
10_2_5
Đầu năm 1689, tư sản và quý tộc mới đưa Vin-hem Ô-ran-giơ III (1650 – 1702)(1), lên ngôi vua. Từ sau cuộc đảo chính 1688, chế độ quân chủ lập hiến được thiết lập ở Anh. ? Trình bày diễn biến chính và kết quả của cuộc Cách mạng tư sản Anh từ năm 1649 đến những năm 1688 – 1689. III – TÍNH CHẤT VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG Cuộc cách mạng Anh do tầng lớp quý tộc mới và tư sản lãnh đạo, đã lật đổ chế độ phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ ở Anh. Quần chúng nhân dân thợ thủ công, tư sản nhỏ, nhất là nông dân – giữ vai trò quyết định sự thắng lợi của cách mạng. Nhưng quý tộc mới và tư sản nắm chính quyền không đáp ứng những quyền lợi chính đáng của nhân dân mà còn đàn áp họ. Cách mạng kết thúc bằng sự nhượng bộ của quý tộc mới và tư sản cầm quyền đối với thế lực phong kiến cũ và thiết lập chế độ quân chủ lập hiến. Đó là cuộc cách mạng tư sản không triệt để. Tuy nhiên, cuộc cách mạng này không những đã xoá bỏ chế độ quân chủ chuyên chế ở nước Anh, xác lập chủ nghĩa tư bản mà còn có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của xã hội loài người trong buổi đầu chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản. Về thắng lợi của cách mạng Anh thế kỉ XVII, cũng như các cuộc cách mạng tư sản tiếp sau, C. Mác chỉ rõ : “Thắng lợi của giai cấp tư sản có nghĩa là thắng lợi của chế độ xã hội mới, thắng lợi của chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa đối với chế độ sở hữu phong kiến”. ? Vì sao nói : Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII là cuộc cách mạng tư sản không triệt để ? CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1. Nêu những tiền đề của Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII. 2. Lập niên biểu các sự kiện chính của cuộc Cách mạng tư sản Anh. 3. Tìm hiểu đôi nét về Ô-li-vơ Crôm-nen. (1) Vin-hem Ô-ran-giơ III là con rể Giêm II, trước khi lên ngôi vua Anh là Quốc trưởng Hà Lan. 13
10_2_6
PHẦN ĐỌC THÊM Xã hội Anh trước cách mạng Thời kì đó, nước Anh còn là một nước có số dân ít hơn nước Pháp (khoảng trên 5 triệu người), nhưng ngành chăn nuôi, công nghiệp và thương mại phát triển hơn nước Pháp nhiều. Nếu một phía là sự tồn tại của giai cấp đại địa chủ, đa số là những sủng thần được giàu có do ân huệ của triều đình, thì phía khác là một giai cấp đông đảo những người nghèo. Theo Luật đối với ngôời nghèo thì họ phải có nghĩa vụ phục dịch. Giữa hai giai cấp cực đoan đó, còn có thêm những giai cấp trung gian, hoạt động ở nông thôn. Họ là những thành viên của quý tộc nhỏ, sống trong những trang trại của mình, những địa chủ nhỏ tự do và những nông dân tự canh (Yeomen). Ở các thành phố, đặc biệt ở Luân Đôn, có một tầng lớp tư sản là những nhà buôn, nhà sản xuất vật dụng, những người làm áo giáp, dệt dạ, sản xuất bia. Nhờ họ mà một số đông thợ thuyền, người làm công, trẻ em trông coi cửa hiệu bám vào để sống. Những tầng lớp trung gian này quan tâm đặc biệt tới những việc công cộng. Họ có xu hướng độc lập và lo lắng đến việc bảo vệ quyền lợi của mình chống lại sự chuyên chế của vương triều. (Theo : A. Ma-lê và J. I-sa-ac, Thế kỉ XVII và XVIII, Pa-ri, 1938, tr. 128 – 129, tiếng Pháp) 14 Xử tử vua Sác-lơ I Ở giữa quảng trường đặt một bục gỗ cao, xung quanh có binh lính. Việc thi hành án tử hình bắt đầu. Nhà vua run sợ bước lên bục xử án ; vệ binh, đao phủ, linh mục theo sau. Một uỷ viên đọc bản cáo trạng, kết tội nhà vua phản bội đất nước. Sác-lơ bị bắt cúi xuống bục. Một nhát rìu giáng xuống cổ, chặt đứt đầu vua, người đao phủ giơ cao chiếc đầu tên vua chuyên chế. (Theo : Bách khoa toàn thể Xô viết, tập 7, tr. 292, tiếng Nga)
10_3_1
Bài 3 CHIẾN TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP CỦA CÁC THUỘC ĐỊA ANH Ở BẮC MĨ NỬA SAU THẾ KỈ XVIII Vào nửa sau thế kỉ XVIII, một biến động xã hội – chính trị đã diễn ra tại các thuộc địa của Anh ở Bắc Mĩ. Đó là cuộc chiến tranh giành độc lập, nhưng về bản chất là một cuộc cách mạng tư sản. I – VIỆC DI DÂN ĐẾN BẮC MĨ VÀ CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA ANH 1. Việc xâm chiếm thuộc địa của Anh ở Bắc Mĩ Từ năm 1603 đến năm 1732, thực dân Anh lần lượt xâm chiếm và lập 13 thuộc địa ở Bắc Mĩ với số dân khoảng 1,3 triệu người. Vùng Bắc Mĩ vốn là đất của thổ dân In-đi-an. Tổ tiên của họ từ châu Á di cư đến châu Mĩ từ khoảng 35 000 năm đến 12 000 năm trước. Khi người châu Âu đến Bắc Mĩ, người In-đi-an còn đang ở trong chế độ thị tộc. hồ Thượng LU-I-DI-A-NA S. Mit-si-xi-pi hồ Mi-si-gân GIOÓC GIA hồ Hu-rôn CA-NA-DA S. Xanh Lô-răng S. Ô-hai-6 PEN-XIN-VA-NI-A NIU CỐC XA-CHU-XÉT Xa-ra-to-ga Bo-xton Phi-la-den-phi-a ĐẠI VIẾC-GI-NI-A Ql-cóc-tạo TÂY CA-RÔ-LIN-NA BẮC CA-RO-LIN-NA NAM DƯƠNG SPHLORI-DA VỊNH MÊ-HI-CÔ Hình 6. Lược đồ 13 thuộc địa của Anh ở Bắc Mĩ 1 Rốt Ai-len 2 Con-nếch-ti-cát 3 Niu Giơ-xi 4 Do-la-oa 5 Mê-ri-len 6n Niu Hăm-sai 15
10_3_2
Trong hai thế kỉ XVII - XVIII, thực dân Anh đã tiêu diệt hoặc dồn đuổi người In-đi-an vào rừng sâu phía tây để chiếm các vùng đất đai phì nhiêu. Họ còn đưa người da đen từ châu Phi sang để khai khẩn đồn điền. Dựa theo lược đồ trên, xác định vị trí địa lí 13 thuộc địa của Anh ở Bắc Mĩ và trình bày đôi nét về vùng đất này. 2. Chế độ thực dân Anh ở Bắc Mĩ Các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ đều đặt dưới quyền của vua Anh, song mỗi thuộc địa lại có chế độ cai trị riêng. Các thuộc địa này là nguồn cung cấp nguyên liệu (bông, mía, thuốc lá...) và là thị trường tiêu thụ hàng hoá của chính quốc. Người dân Bắc Mĩ phải tuân theo các đạo luật khắt khe do Chính phủ Anh đề ra. Luật hàng hải năm 1651 quy định hàng của thuộc địa đưa về chính quốc hay ngược lại phải được chở bằng tàu Anh. – Luật về ruộng đất năm 1763 ngăn cấm dân di thực đi về phía tây, đến vùng châu thổ sông Mít-xi-xi-pi. _ Luật đường năm 1764 cấm các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ buôn bán đường và rượu với quần đảo Ăng-ti, không phải là thuộc địa của Anh. Luật tem năm 1765 buộc phải dán tem đối với các giấy tờ, tài liệu giao dịch thương mại. Luật chè năm 1770 quy định đánh thuế vào chè, đồ uống truyền thống của dân Anh khi đưa đến các cảng thuộc địa của Anh ở Bắc Mĩ. Kinh tế ở hai miền tuy phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, nhưng có điểm khác nhau. Ở miền Bắc, tư sản lập các công trường thủ công. Ở miền Nam, chủ nô lập đồn điền và sử dụng sức lao động nô lệ. Các công trường thủ công sản xuất nhiều mặt hàng, đáp ứng yêu cầu của nhân dân các thuộc địa, cạnh tranh với hàng hoá nhập từ châu Âu, chủ yếu là hàng của Anh (sắt, thép, dệt, đóng tàu...). Nông sản ở các đồn điền của chủ nô và trang trại của nông dân Mĩ có thừa để xuất khẩu. Nhiều trung tâm kinh tế hình thành như Bô-xtơn ở miền Bắc và cơ sở công nghiệp luyện kim ở miền Trung. Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Anh đã cản trở sự phát triển của xã hội Bắc Mĩ, gây nên mâu thuẫn ngày càng sâu sắc giữa nhân dân thuộc địa với chế độ thực dân. Mặc dù phần lớn dân số các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ là con cháu người Anh di cư sang, nhưng sau nhiều thế hệ đã dần dần hình thành một dân tộc riêng. Họ đấu tranh để thoát khỏi ách áp bức thuộc địa đang ngăn cản sự phát triển của vùng đất giàu có này. 16 Hãy nêu chính sách của Anh đối với các thuộc địa ở Bắc Mĩ và kết quả của nó.
10_3_3
II – CUỘC CHIẾN TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP Ở BẮC MĨ 1. Nguyên cớ và khởi đầu chiến tranh Sự kiện “chè Bô-xtơn” làm bùng nổ cuộc chiến tranh ở Bắc Mĩ. Cuối năm 1773, nhân dân cảng Bô-xtơn tấn công 3 tàu chở chè của Anh cập bến và ném các thùng chè xuống biển để phản đối chế độ thuế của thực dân Anh đối với các thuộc địa Bắc Mĩ. Chính phủ Anh ra lệnh phong toả cảng Bô-xtơn, đưa quân chiếm đóng vùng này, làm cho việc buôn bán ngưng trệ, nhà máy phải đóng cửa, công nhân thất nghiệp. Hình 7. G. Oa-sinh-tơn (1732_1799) Từ ngày 5 – 9 đến ngày 26 – 10 – 1774, Đại hội lục địa lần thứ nhất, gồm đại biểu nhân dân các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ, khai mạc tại Phi-la-đen-phi-a. Họ yêu cầu vua Anh bãi bỏ chính sách hạn chế công thương nghiệp ở Bắc Mĩ. Chính quyền Anh không chấp nhận các yêu cầu này mà còn tuyên bố sẽ ra lệnh trừng phạt, nếu nhân dân thuộc địa Bắc Mĩ nổi dậy chống lại nhà vua. Chính phủ Anh chuẩn bị lực lượng để đàn áp cuộc đấu tranh của nhân dân Bắc Mĩ. Ngày 19 4 – 1775, trên đường hành - quân, một đội quân Anh lọt vào ổ phục kích của nghĩa quân, 200 binh lính Anh thiệt mạng. Đó là trận Le-xinh-tơn, mở đầu cuộc chiến tranh giữa các thuộc địa Bắc Mĩ và chính quốc. Quân khởi nghĩa chiến đấu rất dũng cảm, song trong giai đoạn đầu chịu nhiều thất bại vì lực lượng còn yếu, tổ chức không chặt chẽ, trong khi quân của Chính phủ Anh đông, được trang bị, huấn luyện đầy đủ và thiện chiến. Ngày 10 – 5 – 1775, Đại hội lục địa lần thứ hai họp, tuyên bố cắt đứt quan hệ với Anh, quyết định củng cố lực lượng vũ trang, thành lập “Quân đội thuộc địa”, đặt dưới sự chỉ huy của Gioóc-giơ Oa-sinh-tơn. Đến đầu năm 1776, nghĩa quân mới chiếm được Bô-xtơn. ? Từ sau sự kiện “chè Bô-xtơn” đến đầu năm 1776, cuộc Chiến tranh giành độc lập diễn ra như thế nào ? 17
10_3_4
2. Tuyên ngôn Độc lập và việc thành lập Hợp chúng quốc Mĩ Ngày 4 – 7 – 1776, Đại hội đại biểu của 13 bang đã thông qua bản Tuyên ngôn Độc lập(1). Tuyên ngôn khẳng định : Mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hoá ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, không thể tước bỏ. Trong số những quyền ấy có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Tuyên ngôn nếu tư tưởng về chủ quyền của nhân dân : Nhân dân có quyền thiết lập bộ máy nhà nước, có thể bãi miễn chính phủ khi không làm tròn nhiệm vụ và lập nên một chính phủ mới sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với hạnh phúc của mình. Tuyên ngôn khẳng định các quốc gia liên minh có thể trở thành quốc gia tự do và độc lập và nguyện cùng hiến dâng tính mạng, tài sản và danh dự thiêng liêng để bảo đảm cho bản Tuyên ngôn này. Hình 8. Đại hội 13 thuộc địa Anh thông qua bản Tuyên ngôn Độc lập (4 _ 7 _ 1776) Mặc dù còn những hạn chế, nhưng Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có ý nghĩa lịch sử tiến bộ. Lần đầu tiên, các quyền con người và quyền công dân được thừa nhận. Sau các chiến thắng lớn của quân khởi nghĩa ở Xa-ra-tô-ga (17 – 10 – 1777) và I-oóc-tao (1781), quân Anh suy yếu dần, cuộc chiến tranh chấm dứt. Tháng 9 – 1783, (1) Về sau, ngày 4 – 7 trở thành ngày Quốc khánh của nước Mĩ. 18
10_3_5
Anh kí Hiệp ước Vécxai, công nhận nền độc lập của 13 thuộc địa ở Bắc Mĩ. Cuộc chiến tranh giành độc lập của nhân dân các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ kết thúc thắng lợi với sự ra đời của một quốc gia mới : Hợp chúng quốc Mĩ (thường gọi là nước Mĩ hay Hoa Kì). Hiến pháp 1787 được thông qua (về cơ bản còn có hiệu lực đến nay), xác lập thể chế cộng hoà của nước Mĩ. Theo Hiến pháp, Mĩ là nước Cộng hoà liên bang. Quyền lực của chính quyền trung ương được tăng cường, nhưng các bang vẫn có quyền tự trị rộng rãi. Hiến pháp quy định nguyên tắc phân quyền. Tổng thống nắm quyền hành pháp, là Tổng Tư lệnh quân đội, được bổ nhiệm quan chức... Quyền lập pháp thuộc Quốc hội, gồm Thượng viện (mỗi bang hai đại biểu) và Hạ viện (đại biểu được bầu theo tỉ lệ số dân mỗi bang). Quyền tư pháp thuộc về Toà án tối cao. Hiến pháp 1787 nêu rõ : chỉ những người có tài sản, có học vấn theo quy định mới có quyền bầu cử. Phụ nữ không được bầu cử. Nô lệ và người In-đi-an không có quyền công dân. Sau này, những điều bổ sung Hiến pháp đã dần dần xoá bỏ những hạn chế về giới tính, màu da ; mọi công dân được quyền bầu cử. Năm 1789, G. Oa-sinh-tơn được bầu làm Tổng thống đầu tiên của nước Mĩ. ? –Trình bày ý nghĩa lịch sử bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mĩ. - Nêu những nội dung cơ bản của Hiến pháp 1787. III – TÍNH CHẤT VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ Cuộc đấu tranh của nhân dân các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ tuy diễn ra dưới hình thức một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, song thực chất là cuộc cách mạng tư sản, nổ ra ở ngoài châu Âu vào buổi đầu thời cận đại. Đây là “cuộc chiến tranh giải phóng thực sự, cách mạng thực sự” (V. I. Lê-nin). Cuộc cách mạng này đã giải phóng nhân dân các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ khỏi ách thực dân, lập nên một quốc gia mới, mở đường cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển. Nó ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh vì độc lập ở nhiều nước khác nổ ra vào cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX. - ? Hãy nêu kết quả và ý nghĩa cuộc Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ. 19
10_3_6
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1. Những nguyên nhân nào dẫn đến cuộc Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ ? 2. Lập niên biểu về diễn biến cuộc Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ. 3. Vì sao nói : Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ thực chất là một cuộc cách mạng tư sản ? PHÂN ĐỌC THÊM Tuyên ngôn Độc lập ngày 4 _ 7_1776 66 “... Chúng tôi khẳng định một chân lí hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hoá đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Rằng để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ.” (Theo: The Declaration of Independence & The Constitution of the United States of America (Tuyên ngôn Độc lập & Hiến pháp Hoa Kì), Embassy of the United States of America, tr.2) Về cách mệnh Mĩ “... Mĩ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay (tính đến năm 1924 – người trích chú thích), nhưng công nông vẫn cứ cực khổ... Ấy là vì cách mệnh Mĩ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản chưa phải cách mệnh đến nơi”. (Theo : Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, NXB Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 270) 20 20
10_4_1
Bài CÁCH MANG TU SẢN PHÁP 4 CUỐI THẾ KỈ XVIII Cách mạng tư sản Pháp nổ ra vào cuối thế kỉ XVIII là cuộc cách mạng xã hội sâu rộng, đã xoá bỏ chế độ phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển ở Pháp và có ảnh hưởng lớn đến cuộc đấu tranh dân tộc, dân chủ ở châu Âu. I – NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA CÁCH MẠNG 1. Tình hình kinh tế nước Pháp trước năm 1789 Trước cách mạng, nông nghiệp Pháp kém phát triển : công cụ, kĩ thuật canh tác còn thô sơ, một phần ba diện tích đất đai bị bỏ hoang, năng suất cây trồng thấp... Trong nhiều vùng, đặc biệt ở các tỉnh Đông Bắc, một số địa chủ lớn chuyển sang phương thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa (mở trang trại, thuê nhân công) nhưng không thành công. Nhìn chung, trong nông nghiệp Pháp, quan hệ phong kiến vẫn được duy trì cùng với phương thức bóc lột cũ. Vào cuối thế kỉ XVIII, công nghiệp Pháp đang trên đà phát triển. Nhiều thành thị như Boóc-đô, Năng-tơ, Ha-vrơ... lớn mạnh nhanh chóng do sản xuất và xuất khẩu tơ lụa, vải, hàng thêu, len, thảm, đồ sứ, nữ trang. Hàng mĩ phẩm của Pháp nổi tiếng trên thị trường châu Âu. Nét nổi bật là công trường thủ công ở Pháp khá lớn, mỗi công trường thu hút từ 40 đến 200 công nhân làm thuê. Một vài công trường dệt thảm thu hút đến 1 600 lao động. Phát triển nhất là các nghề dệt vải, tơ lụa, luyện kim, khai mỏ, chế tạo vũ khí. Thương nghiệp trong và ngoài nước phát đạt, các công ti thương mại Pháp mở rộng buôn bán với nhiều nước ở châu Âu và phương Đông. Song, sự giao lưu hàng hoá trong nước cũng như việc buôn bán với nước ngoài còn gặp nhiều cản trở : mỗi địa phương có chế độ thuế quan riêng, hệ thống đo lường không thống nhất... Những điều này đã ngăn cản việc hình thành thị trường dân tộc. Độc quyền của nhà nước về lúa mì, muối và một số hàng hoá khác cũng hạn chế việc buôn bán với nhiều nước châu Âu. Nền kinh tế nước Pháp trước cách mạng có những nét gì nổi bật ? 21
10_4_2
2. Tình hình chính trị – xã hội Trước cách mạng, Pháp là một nước quân chủ chuyên chế, với chế độ đẳng cấp rất khắt khe. Xã hội chia thành ba đẳng cấp : Tăng lữ, Quý tộc và Đẳng cấp thứ ba. Hai đẳng cấp trên, gồm tăng lữ cấp cao và quý tộc phong kiến, là những đẳng cấp hưởng nhiều đặc quyền. Họ không phải đóng thuế, nắm giữ các chức vụ quan trọng trong Giáo hội, bộ máy chính quyền và quân đội. Hình 9. Tình cảnh nông dân Pháp trước cách mạng (tranh biếm hoạ) Đẳng cấp thứ ba gồm nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội có những quyền lợi và nguyện vọng không giống nhau : Tổ sản có thế lực kinh tế mạnh nhưng không có quyền lực chính trị, bị nhà vua và các lãnh chúa địa phương ngăn cản hoạt động kinh doanh. Giai cấp tư sản cũng chia ra nhiều tầng lớp : đại tư sản (chủ ngân hàng, chủ các hãng buôn lớn), tư sản loại vừa (tư sản công thương) và tư sản nhỏ. Tuỳ theo địa vị và quyền lợi, mỗi tầng lớp trong giai cấp tư sản có thái độ chính trị và tinh thần đấu tranh chống phong kiến khác nhau. Nông dân chiếm hơn 90% dân số, phần lớn là những tá điền. Ngoài việc nộp tô, họ phải nộp nhiều loại thuế, chịu nhiều nghĩa vụ phong kiến. Nông dân phải nộp tô cho quý tộc phong kiến (bằng 50% số hoa lợi thu hoạch), nộp thuế thập phân (bằng 10% số hoa lợi thu hoạch) cho nhà thờ, nộp thuế đinh, thuế ruộng, thuế muối cho nhà nước. Họ còn phải chịu nhiều thứ lao dịch cho lãnh chúa và nhà nước : đắp đường, xây cầu, vận tải, cung cấp lương thực cho binh lính... Trên thực tế, phần hoa lợi còn lại cho nông dân chẳng được là bao. Công nhân tập trung ở các thành thị lớn (riêng Pa-ri có 30 vạn công nhân). Điều kiện lao động và đời sống của họ rất khó khăn (ngày làm việc kéo dài, lương thấp...). Những người bình dân thành thị khác như thợ thủ công, người buôn bán nhỏ, dân nghèo... sống tạm bợ, chen chúc trong những vùng ngoại ô. Mâu thuẫn giữa quý tộc phong kiến, nhà thờ với các tầng lớp nhân dân trong Đẳng cấp thứ ba ngày một gay gắt. Nhiều cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến 22
10_4_3
nổ ra, đặc biệt là các cuộc khởi nghĩa của nông dân và của công nhân ở Li-ông, Pa-ri vào những năm 80 của thế kỉ XVIII. ? – Lập sơ đồ và trình bày về chế độ ba đẳng cấp trong xã hội phong kiến Pháp. Quan sát hình 9 và trình bày nội dung lịch sử được phản ánh. 3. Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng Thế kỉ XVIII ở châu Âu được gọi là Thế kỉ Ánh sáng. Nhiều nhà văn, nhà tư tưởng tiến bộ đã lên án mạnh mẽ sự áp bức, bóc lột của chế độ quân chủ chuyên chế, đả kích Giáo hội Kitô, muốn dùng “ánh sáng” quét sạch bóng tối phong kiến và “khai sáng” cho nhân dân. Ở Pháp, vào thế kỉ này xuất hiện ba nhà tư tưởng tiêu biểu là : Mông-te-xki-ơ, Vôn-te(1) và Rút-xô. Hình 10. S. Mông-te-xki-ơ (1689 - 1755) Hình 11. Vôn-te (1694 - 1778) Hình 12. G. G. Rút-xô (1712 - 1778) Sác-lơ Lu-i Mông-te-xki-ơ chủ trương hạn chế quyền của vua, bảo đảm quyền tự do của công dân. Trong quyển Tinh thần luật pháp, ông đề ra nguyên tắc về phân chia rõ rệt ba quyền : lập pháp, hành pháp và tư pháp. Vôn-te chủ trương xây dựng chính quyền quân chủ, do một nhà vua sáng suốt đứng đầu. Ông bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, song lại lên án nhà thờ Kitô là trở ngại của tiến bộ. Ông cũng khẳng định quyền tư hữu là điều kiện cần thiết cho một xã hội có trật tự. Giăng Giắc Rút-xô chủ trương xoá bỏ triệt để nền quân chủ, phản đối chế độ tư hữu lớn. Trong quyển Khế ước xã hội, ông cho rằng trật tự xã hội đòi hỏi phải duy trì chế độ sở hữu nhỏ, chủ trương thành lập chế độ cộng hoà. (1) Tên thật là Phrăng-xoa Ma-ri A-ru-ê. 23
10_4_4
Ngoài các nhà tư tưởng tiêu biểu kể trên, còn có nhà tư tưởng cấp tiến Mê-li-ê và nhóm Bách khoa toàn thế. Giăng Mê-li-ê (1664 – 1729) là một cha đạo làng quê, xuất thân nông dân, lên án nghiêm khắc sự bất công của chế độ phong kiến, sự giả dối của Giáo hội. Ông kiên quyết đấu tranh xoá bỏ sự áp bức bóc lột, thủ tiêu chế độ tư hữu và coi ruộng đất phải là tài sản chung của nông dân. Nhóm Bách khoa toàn thở, do Đơ-ni Đi-đrô (1713 – 1784) lãnh đạo, chủ trương biên soạn và phổ biến rộng rãi kiến thức của các ngành khoa học theo quan điểm duy vật cho đông đảo quần chúng để họ giác ngộ, đấu tranh chống chế độ phong kiến và tôn giáo. Tư tưởng và quan điểm của những nhà Khai sáng có ý nghĩa tiến bộ, được quần chúng tin theo, tích cực chuẩn bị cho một cuộc cách mạng xã hội sắp tới. - Trình bày những quan điểm cơ bản của các nhà tư tưởng tiến bộ Pháp thế kỉ XVIII. Vì sao những quan điểm này có ý nghĩa chuẩn bị cho cuộc cách mạng sắp tới ? 4. Cách mạng bùng nổ Đầu năm 1789, những điều kiện cho cuộc cách mạng nổ ra đã chín muồi. Ngày 5 – 5 – 1789, Hội nghị ba đẳng cấp được triệu tập (từ năm 1614, Hội nghị này không được tổ chức), vì vua Lu-i XVI cần các đại biểu thoả thuận cho vay tiền và đánh thêm thuế mới để giải quyết tình hình khủng hoảng tài chính. Lúc này, số nợ của nhà vua lên tới 5 tỉ livrơ, mà số thu ngân sách lại giảm. Để phản đối ý đồ tăng thuế của nhà vua, ngày 17 – 6 – 1789, đại biểu Đẳng cấp thứ ba cùng một số quý tộc, tăng lữ họp và tự tuyên bố là Quốc hội lập hiến, cơ quan duy nhất có quyền thông qua các đạo luật tài chính. Nhà vua tập trung quân đội để chống lại Quốc hội, gây nên một làn sóng công phẫn trong quần chúng lao động. Ngày 14 – 7 – 1789(1), đông đảo quần chúng nhân dân Pa-ri, chủ yếu là công nhân, thợ thủ công, dân nghèo thành thị tự vũ trang, tấn công các trụ sở, cơ quan quan trọng của thành phố và chiếm nhà tù Ba-xti – biểu tượng của chế độ phong kiến chuyên chế. Cách mạng bùng nổ và giành thắng lợi ở Pa-ri rồi lan nhanh ra các thành phố và các vùng nông thôn trong nước Pháp. (1) Về sau, ngày 14 – 7 được lấy làm “Ngày Dân tộc”, rồi trở thành ngày Quốc khánh của nước Pháp. 24
10_4_5
Hình 13. Tấn công pháo đài _ nhà tù Ba-xti Hãy quan sát hình 13 và trình bày sự kiện được diễn tả. II – CHẾ ĐỘ QUÂN CHỦ LẬP HIẾN – NỀN CỘNG HOÀ THỨ NHẤT (1792) 1. Chế độ quân chủ lập hiến (từ 14 – 7 – 1789 đến 10 – 8 – 1792) Sau thắng lợi ngày 14 – 7, phái Lập hiến thuộc tầng lớp đại tư sản lên nắm quyền. Ngày 4 - 8. - 1789, Quốc hội Lập hiến tuyên bố xoá bỏ một số nghĩa vụ phong kiến của nông dân, song các đặc quyền cơ bản của quý tộc vẫn được duy trì. Quốc hội cũng quyết định tịch thu ruộng đất của Giáo hội, đem bán với giá cao. Ngày 26 – 8 – 1789, Quốc hội Lập hiến thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền với khẩu hiệu nổi tiếng : “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”. Tuyên ngôn xác định quyền bình đẳng giữa các công dân, thừa nhận quyền tự do dân chủ, nhấn mạnh quyền sở hữu tài sản là quyền bất khả xâm phạm và thiêng liêng. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền gồm Phần mở đầu và 17 điều. Điều 1. Mọi người sinh ra đều có quyền sống tự do và bình đẳng ; mọi sự phân biệt xã hội chỉ có thể đặt trên cơ sở lợi ích chung. 25
10_4_6
Điều 2. Mục đích của các tổ chức chính trị là gìn giữ các quyền tự nhiên và không thể tước bỏ của con người ; đó là quyền tự do, quyền sở hữu, quyền được an toàn và quyền chống áp bức. Điều 3. Nguyên tắc của mọi chủ quyền chủ yếu đặt trên cơ sở của dân tộc, không một tổ chức, không một cá nhân nào có thể sử dụng quyền hành mà không xuất phát từ nguyên tắc này. Điều 17. Quyền sở hữu là quyền bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có thể tước bỏ... Chế độ quân chủ chuyên chế bị lật đổ, song ngôi vua vẫn được duy trì, nhà vua vẫn tìm mọi cách chống lại cách mạng : không phê chuẩn Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, bác bỏ các sắc lệnh ảnh hưởng đến quyền lợi của quý tộc và tăng lữ... Tầng lớp đại tư sản đang cầm quyền muốn thoả hiệp với nhà vua để ngăn cản quần chúng tiếp tục đưa cách mạng phát triển. - Tháng 9 1791, Quốc hội Lập hiến thông qua Hiến pháp, xác định thể chế quân chủ lập hiến cho nước Pháp. Hiến pháp 1791 đã từ bỏ một số nguyên tắc tiến bộ của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789. Hiến pháp chia công dân thành hai loại : “công dân tích cực” (những người có tài sản, đóng thuế cao) có quyền bầu cử, ứng cử, làm việc trong bộ máy chính quyền và “công dân tiêu cực” (gồm đa số những người lao động nghèo) không có quyền chính trị. Phụ nữ đóng góp nhiều cho cách mạng, nhưng vẫn không có quyền công dân. Quốc hội còn ban hành nhiều đạo luật như : đạo luật cấm bãi công (Đạo luật Lơ Sapơliê), đạo luật duy trì chế độ nô lệ ở thuộc địa. Một số nhiệm vụ cơ bản của cách mạng không được giải quyết, trước hết là vấn đề ruộng đất cho nông dân, quyền tự do dân chủ cho nhân dân lao động. Các thế lực phản động trong nước tìm mọi cách phá hoại : quý tộc, tăng lữ di cư, cầu viện nước ngoài chống cách mạng hoặc xúi giục nhân dân (chủ yếu là nông dân mộ đạo) nổi dậy chống chính quyền. Giữa năm 1791, vua cùng hoàng hậu trốn ra nước ngoài, song đã bị bắt ở gần biên giới. Trong tình hình rối ren ấy, liên quân hai nước phong kiến Áo – Phổ chuẩn bị đem quân đàn áp phong trào cách mạng ở Pháp. - Qua một số điều khoản nêu trên của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, em có nhận xét gì ? – Những sự kiện nào chứng tỏ tầng lớp đại tư sản cầm quyền ở Pháp đã làm ngừng trệ sự phát triển của cách mạng ? 26 46
10_4_7
2. Chế độ cộng hoà (từ 21 - 9 - 1792 đến 2 - 6 - 1793) Ngày 20 – 4 – 1792, nước Pháp cách mạng tuyên chiến với Áo. Đứng về phía Áo là liên minh phong kiến châu Âu. Do tinh thần chiến đấu yếu kém của sĩ quan (phần lớn xuất thân quý tộc) và nội phản (hoàng hậu Pháp Ma-ri Ăng-toa-nét chuyển kế hoạch tác chiến cho quân địch), quân Pháp liên tiếp thua trận ; vùng Bắc và Tây Pháp bị xâm chiếm. - Trước tình hình đó, ngày 11 7 – 1792, Quốc hội tuyên bố “Tổ quốc lâm nguy”, và đề ra nhiều biện pháp cấp bách, trong đó có việc tuyển thêm 20 000 quân tình nguyện. Nhà vua bác bỏ các chủ trương này. Phẫn nộ, quân tình nguyện từ các tỉnh hát vang bài ca Mácxâye(1), tiến về Pa-ri, cùng nhân dân và “Đội quân quần dài”(2) ở Thủ đô khởi nghĩa ngày 10 – 8 – 1792. Họ tấn công Cung điện Tuy-lơ-ri, nơi ở của vua Lu-i XVI, bắt nhà vua và hoàng hậu. Chính quyền chuyển sang tay tư sản công, thương nghiệp, thuộc phái Girôngđanh(3). Một Quốc hội mới được bầu ra theo chế độ phổ thông đầu phiếu cho tất cả các công dân nam từ 21 tuổi trở lên. Quốc hội họp ngày 20 – 9 – 1792. Cùng ngày ấy, quân Pháp đánh thắng quân xâm lược ở Van-mi. Van-mi là một làng thuộc tỉnh Sam-pa-nhơ (ở Đông Bắc Pháp), gần biên giới Bỉ. Nơi đây diễn ra một trận ác chiến giữa quân Pháp và quân Phổ. Với tinh thần dũng cảm, quân Pháp lần đầu tiên đánh đuổi quân xâm lược Phổ khỏi đất nước. - Ngay hôm sau (21 – 9), Quốc hội quyết định thủ tiêu chế độ quân chủ, phế truất nhà vua và tuyên bố thành lập nền cộng hoà đầu tiên của nước Pháp – nền Cộng hoà thứ nhất. Dưới áp lực của quần chúng, ngày 21 – 1 – 1793 Lu-i XVI bị xử tử vì tội phản quốc. Lúc bấy giờ, tình hình nước Pháp lại căng thẳng. Nước Anh tư sản tham gia liên minh của các nước phong kiến châu Âu đánh chiếm nhiều vùng nước Pháp. Nông dân ở Văng-đê và cả miền Tây Bắc bị bọn phản động xúi giục, nổi loạn chống chính quyền cách mạng. Giá cả tăng cao. Nhân dân đói khổ, nhưng vẫn hăng hái chống ngoại xâm. Sau chiến thắng Van-mi, quân Pháp chuyển sang phản công, đuổi quân xâm lược ra khỏi biên giới ; trên đường truy kích địch, họ chiếm luôn Bỉ và vùng tả ngạn sông Ranh. Song, do những khó khăn về kinh tế, xã hội, chính trị trong nước, quân Pháp lại thua trận một lần nữa, phải rút khỏi Bỉ, về nước. (1) Sau này, bài ca Mácxâye trở thành Quốc ca của nước Pháp. (2) Đội quân của nhân dân, mặc quần dài, khác với quân đội của triều đình mặc quần chẽn. (3) Phái này đại diện cho phần lớn tư sản công thương ở quận Gi-rông-đơ, vùng Tây Nam nước Pháp. 27
10_4_8
Chính quyền của phái Girôngđanh không kiên quyết kháng chiến, vì sợ quần chúng tiếp tục đưa cách mạng đi xa, làm thiệt hại đến quyền lợi của giai cấp tư sản. ? Thái độ của nhân dân Pháp trước tình hình “Tổ quốc lâm nguy” như thế nào ? - Việc xử tử vua Lu-i XVI có ý nghĩa gì ? III – NỀN CHUYÊN CHÍNH DÂN CHỦ CÁCH MẠNG GIACÔBANH (1793 – 1794) Trước cuộc tiến công của quân xâm lược, ngày 31 – 5 – 1793, quần chúng cách mạng Pa-ri xuống đường đòi bắt và xét xử những người cầm quyền Girôngđanh về tội phản bội Tổ quốc, ngăn cản sự phát triển của cách mạng. Ngày 2 – 6 – 1793, Quốc dân quân cùng hàng vạn thợ thủ công, công nhân bao vây trụ sở Quốc hội, bắt giam những người cầm quyền Girôngđanh. Chính quyền chuyển sang tay những người Giacôbanh(), đứng đầu là Rô-be-spie. Cách mạng Pháp chuyển sang giai đoạn cao nhất – giai đoạn chuyên chính dân chủ cách mạng. Chính phủ Giacôbanh thực hiện nhiều biện pháp kiên quyết để chống thù trong giặc ngoài, ổn định đời sống nhân dân. Đạo luật tháng 6 – 1793 trả lại cho nông dân ruộng đất công đã bị phong kiến quý tộc chiếm đoạt. Chính phủ còn tịch thu ruộng đất của quý tộc, chia thành từng mảnh nhỏ bán cho nông dân nghèo, được trả dần trong thời hạn 10 năm. Các đặc quyền và phụ thu của phong kiến bị xoá bỏ hoàn toàn và vĩnh viễn. Chính phủ đưa các đội vũ trang về các tỉnh để trưng thu lúa mì của quý tộc địa chủ và phú nông, nhằm cung cấp bánh mì cho nhân dân các thành thị, đặc biệt là Pa-ri, đang thiếu lương thực. Tháng 6 – 1793, Hiến pháp mới được thông qua, quy định : thiết lập chế độ cộng hoà, xoá bỏ hoàn toàn sự bất bình đẳng về đẳng cấp, mọi công dân từ 21 tuổi trở lên được bầu cử. Trên thực tế, Hiến pháp 1793 chưa được thi hành, song là văn kiện pháp lí tiến bộ hơn so với Hiến pháp 1791. Để bảo vệ cách mạng, chống thù trong giặc ngoài, Uỷ ban Cứu nước do Rô-be-spie đứng đầu, đề nghị Quốc hội thông qua và thi hành nhiều biện pháp kiên quyết. Ngày 23 – 8 – 1793, Sắc lệnh tổng động viên toàn quốc được ban hành, huy động nhân dân tham gia quân đội cách mạng. Hưởng ứng lệnh tổng động viên, 42 vạn người đã tình nguyện tham gia quân đội cách mạng. (1) Lấy theo tên tu viện Thánh Gia-cốp, là nơi đặt trụ sở của câu lạc bộ Giacôbanh. 28
10_4_9
BIỂN BẮC BIỂN BAN TÍCH !!! ་་ Pa-ri Tu-lông DIA Brad Vùng nổi loạn Các nước đánh nhau với Pháp Các nước trung lập Quân các nước tấn công Pháp T R UN G H Hình 14. Lược đồ lực lượng phản cách mạng tấn công nước Pháp năm 1793 Đầu năm 1794, nước Pháp cách mạng có 14 đạo quân, được trang bị đầy đủ, do những viên tướng trẻ, trung thành với cách mạng chỉ huy. Quốc hội còn ban hành đạo luật Xét xử những người tình nghi, Luật giá tối đa đối với lương thực và thực phẩm để chống nạn đầu cơ, tích trữ, quy định mức tiền lương tối đa cho công nhân. Chỉ trong thời gian ngắn, các cuộc bạo loạn dần dần bị dập tắt, chính quyền cách mạng được thiết lập và bắt đầu được củng cố. Tình hình chiến sự cũng chuyển biến có lợi cho nước Pháp cách mạng : Cuối năm 1793 – đầu năm 1794, quân Pháp giành được thế chủ động trên chiến trường ; mùa thu năm 1794, các đội quân xâm lược lần lượt bị đuổi ra khỏi biên giới, hoạt động quân sự lại diễn ra trên lãnh thổ các nước thù địch. Cách mạng Pháp đạt tới đỉnh cao. - Phân tích ý nghĩa các biện pháp của Chính phủ cách mạng do phái Giacôbanh nắm quyền. – Lập bảng so sánh nội dung các hiến pháp năm 1791 và 1793. 29
10_4_10
IV – THỜI KÌ THOÁI TRÀO Mâu thuẫn giữa chính quyền cách mạng và các phái đối lập ngày càng gay gắt. Ngày 13 – 7 – 1793, một thành viên của phái Giacôbanh bị giết, tiếp đó nhiều nhà cách mạng bị sát hại. Vì vậy, việc trấn áp được tăng cường, nhiều người chống đối bị xử tử... Đồng thời, trong nội bộ phái Giacôbanh cũng nảy sinh mâu thuẫn giữa “phái hữu”, “phái tả” với chính quyền do Rô-be-spie đứng đầu. Điều quan trọng là quần chúng dần dần mất lòng tin và không còn ủng hộ chính quyền Giacôbanh nữa, vì nhiều biện pháp của Chính phủ không thực hiện triệt để (chỉ tịch thu ruộng đất của quý tộc lưu vong, quy định “mức tiền lương tối đa”...). Ngày 9 tháng Técmiđo (27 – 7 – 1794 dương lịch), các lực lượng đối lập đã bao vây Quốc hội, bắt Rô-be-spie cùng các bạn chiến đấu của ông. Ngày hôm sau, Rô-be-spie và nhiều nhà cách mạng Giacôbanh bị xử tử. Sau khi phái Giacôbanh bị lật đổ, giai đoạn phát triển cao của cách mạng đã chấm dứt. Uỷ ban Đốc chính được thành lập, tập trung quyền lực vào 5 uỷ viên. Dưới chế độ Đốc chính (1794 – 1799), nhiều thành quả cách mạng, đặc biệt là của giai đoạn chuyên chính Giacôbanh, bị thủ tiêu, như : xoá bỏ quy định về giá tối đa, lập lại chế độ tự do buôn bán lúa mì... Đời sống nhân dân ngày càng khốn khổ hơn và nhiều cuộc đấu tranh lại nổ ra ở Pa-ri đòi “bánh mì và Hiến pháp 1793”. Đồng thời, phái Bảo hoàng cũng nổi dậy nhằm khôi phục chế độ quân chủ. Một liên minh mới của các nước quân chủ châu Âu chống Pháp được thành lập. Tháng 11–1799, Na-pô-lê-ông Bô-na-pác, một viên tướng có tài, được giai cấp tư sản ủng hộ, tiến hành cuộc đảo chính, xoá bỏ chế độ Đốc chính. Cách mạng tư sản Pháp chấm dứt. ? Những nguyên nhân nào dẫn tới sự sụp đổ của nền chuyên chính dân chủ cách mạng Giacôbanh ? V – TÍNH CHẤT VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP Do sức mạnh đấu tranh của quần chúng nhân dân, Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII thành công và “phát triển theo đường đi lên”. Đây là cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất, đã lật đổ nền quân chủ chuyên chế, tuyên bố xác lập chế độ tư bản cùng các quyền tự do dân chủ, xoá bỏ chế độ đẳng cấp và quan hệ ruộng đất phong kiến, mở đường cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển... (1) Tháng Técmiđo (tháng Nóng), tên gọi tháng 7 theo lịch cách mạng – các tháng được đặt tên theo thời tiết hay mùa vụ trong năm. 30
10_4_11
Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII không chỉ có ý nghĩa đối với nước Pháp mà còn có ảnh hưởng to lớn đến nhiều nước khác : tư tưởng dân tộc, dân chủ được truyền bá rộng rãi ở châu Âu, chế độ quân chủ phong kiến nhiều nước bị lung lay, để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho phong trào cách mạng ở các nước. Tuy nhiên, Cách mạng tư sản Pháp cũng như các cuộc cách mạng tư sản khác có nhiều hạn chế : tiếp tục duy trì chế độ tư hữu, không giải phóng người lao động khỏi ách áp bức... Hãy nêu ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1. Vẽ sơ đồ minh hoạ diễn biến Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII. 2. Vai trò của quần chúng nhân dân thể hiện như thế nào trong Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII? PHẦN ĐỌC THÊM Về ý nghĩa của Cách mạng Pháp “Cách mạng Pháp xứng đáng là một cuộc đại cách mạng. Nó đã làm biết bao nhiêu việc cho giai cấp nó, tức là giai cấp tư sản, đến nỗi trọn thế kỉ XIX là thế kỉ đem lại văn minh và văn hoá cho toàn thể nhân loại được diễn ra dưới dấu hiệu của Cách mạng Pháp”. (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 29, NXB Tiến bộ, M., 1972, tr. 342, bản tiếng Nga) Về bài học của Cách mạng Pháp ... “Cách mệnh Pháp làm gương cho chúng ta về những việc gì ? 1. Dân chúng công nông là gốc cách mệnh... 2. Cách mệnh thì phải có tổ chức rất vững bền mới thành công. 3. Đàn bà, trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều. 4. Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”. (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, Sđd, tr. 274) 31
10_5_1
Chương II CÁC NƯỚC ÂU – Mĩ (Đầu thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX) Bài CHÂU ÂU TỪ CHIẾN TRANH NA-PÔ-LÊ-ÔNG 5 ĐẾN HỘI NGHỊ VIÊN Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII ảnh hưởng rất lớn đến tình hình châu Âu, nhất là cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến thống trị và sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. 1. Chiến tranh Na-pô-lê-ông Trong thời kì chiến tranh cách mạng bảo vệ nước cộng hoà, chống liên minh phong kiến, quân đội Pháp chiếm một số lãnh thổ ở Tây Âu và tác động đến tinh thần đấu tranh giải phóng nông dân khỏi ách phong kiến địa phương. Điều này có ý nghĩa tiến bộ, nhưng khi Na-pô-lê-ông Bô-na-pác tiến hành chiến tranh ở châu Âu thì cuộc chiến tranh mang tính chất xâm lược. Na-pô-lê-ông Bô-na-pác sinh năm 1769 ở đảo Coóc. Đảo này vốn thuộc I-ta-li-a, nhưng 3 tháng trước khi Na-pô-lê-ông ra đời thuộc về Pháp. Cha Na-pô-lê-ông là luật sư, vốn là một quý tộc bị phá sản. Năm 15 tuổi, Na-pô-lê-ông vào học Trường quân sự Pa-ri và tốt nghiệp loại ưu. Na-pô-lê-ông trở thành quân nhân chuyên nghiệp. Năm 1793, ông dùng lực lượng pháo binh đánh tan quân Anh chiếm đóng Tu-lông, giải phóng thành phố. Vì chiến công này, Quốc hội đã phong tướng cho viên sĩ quan tài năng 24 tuổi. Năm 1795, Na-pô-lê-ông lại dùng trọng pháo dẹp tan bọn bảo hoàng nổi loạn ở Pa-ri. Sau đó, ông được cử chỉ huy đoàn quân Pháp tiến vào Bắc I-ta-li-a, đánh quân Áo. Na-pô-lê-ông xây dựng kế hoạch chiếm toàn bộ châu Âu và phương Đông. Ông chọn I-ta-li-a làm điểm khởi đầu của kế hoạch này. Sau khi chiếm được I-ta-li-a, Na-pô-lê-ông tiến sát đến biên giới Áo, đánh tan quân đội Áo và kí với nước này Hoà ước 1797. Theo đó, Áo công nhận vùng tả ngạn sông Ranh thuộc về Pháp. Thụy Sĩ, Hà Lan cũng sáp nhập vào Pháp. 32
10_5_2
Nước Anh không chịu nhượng bộ. Na-pô-lê-ông chuyển sang đánh nhau với Anh. Ông quyết định hành quân sang Ấn Độ để cướp thuộc địa giàu có này của Anh. Bước đầu, ông tiến quân đánh chiếm Ai Cập và Xi-ri, song không thành công. Tháng 10 – 1799, Na-pô-lê-ông trở về Pa-ri. Hình 15. Na-pô-lê-ông trên ngai vàng Sau cuộc đảo chính tháng Sương mù (11 - 1799), Na-pô-lê-ông nắm chính quyền ở Pháp, đến năm 1804 lên ngôi Hoàng đế, thiết lập nền Đế chế thứ nhất (1804 - 1815). Lên cầm quyền, Na-pô-lê-ông tìm cách tập trung quyền lực vào chính quyền trung ương, cải tổ nền hành chính và tư pháp, mở mang trường học, khuyến khích phát triển công nghệ, thống nhất đơn vị đo lường và chế độ thuế... Chính quyền Na-pô-lê-ông củng cố các thành quả cơ bản của Cách mạng tư sản Pháp, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa. Sau khi trở thành Hoàng đế, Na-pô-lê-ông ra sức thực hiện tham vọng bá chủ của mình, đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược mới ở châu Âu mà đối thủ chính trước mắt là Anh, Áo, Nga. Mùa thu năm 1805, Na-pô-lê-ông tập trung 2 300 tàu chiến để tiến hành cuộc đổ bộ lên nước Anh, nhưng bị hải quân Anh, do Đô đốc Nen-xơn chỉ huy, đánh bại trong cuộc thuỷ chiến lớn ở mũi Tơ-ra-phan-ga (gần Tây Ban Nha). Năm 1806, Na-pô-lê-ông đánh bại quân Áo, rồi quân Phổ và tiến vào Béc-lin. Năm 1807, sau một vài trận chiến đẫm máu với quân Nga, Na-pô-lê-ông kí Hiệp ước Tin-dít với Nga và Phổ. Tháng 6 – 1812, không tuyên chiến, Na-pô-lê-ông đích thân chỉ huy 64 vạn quân, gồm binh lính nhiều dân tộc ở châu Âu, tiến đánh nước Nga. Trái với dự tính của Na-pô-lê-ông, quân Nga do Cu-tu-dốp chỉ huy, không nghênh chiến, sử dụng chiến thuật dụ địch vào sâu lãnh thổ Nga. Ngày 7 – 9 – 1812, trận Bô-rô-đi-nô(1) diễn ra rất ác liệt giữa khoảng 13 vạn quân Nga với 13,5 vạn quân Na-pô-lê-ông : hơn 4 vạn quân Nga hi sinh, gần 6 vạn quân Pháp tử trận. (1) Tên một làng, cách Mát-xcơ-va khoảng 120 km. 33
10_5_3
Để bảo toàn lực lượng chiến đấu lâu dài, Cu-tu-dốp quyết định rút khỏi Mát-xcơ-va. Quân Pháp vào chiếm đóng thành phố đang cháy lớn, không có người ở, không có lương thực. Na-pô-lê-ông dự định đánh chiếm vùng giàu có phía nam, nhưng đến đâu cũng gặp quân Nga và sức kháng cự mãnh liệt của nhân dân Nga. Cuối cùng, không thể tiếp tục chiếm đóng nước Nga, quân Na-pô-lê-ông phải rút về nước. Sau 12 ngày đêm vất vả, Na-pô-lê-ông mới về đến Pa-ri. - 6 - Thất bại của Na-pô-lê-ông ở Nga có ảnh hưởng quyết định đến số phận của Đế chế Pháp và Na-pô-lê-ông. Quân đội Na-pô-lê-ông lần lượt bị thất bại trên các chiến trường ở châu Âu. Ngày 18 1815, trong trận đánh lớn cuối cùng ở Oa-téc-lô, gần Brúc-xen (Bỉ), quân đội Na-pô-lê-ông bị tiêu diệt. Na-pô-lê-ông bị bắt làm tù binh và bị đày ra đảo Xanh Ê-len, rồi chết ở đây (năm 1821). ? Nguyên nhân thất bại của quân đội Na-pô-lê-ông là gì ? 2. Hội nghị Viên và tình hình châu Âu - Sau khi đánh bại nước Pháp và bắt Na-pô-lê-ông đi đày, các nguyên thủ quốc gia và bộ trưởng nhiều nước châu Âu họp ở Viên (1814 1815), thảo luận những điều kiện kí Hiệp ước hoà bình và vẽ lại bản đồ châu Âu theo hướng có lợi cho họ. Mọi việc tại Hội nghị Viên đều do “Uỷ ban 4 nước”, gồm đại biểu các nước thắng trận : Anh, Nga, Áo, Phổ quyết định. Theo quyết định của Hội nghị Viên, nước Pháp trở về biên giới cũ trước chiến tranh cách mạng. Pháp phải trả 700 triệu phrăng tiền bồi thường chiến phí và giao cho quân Đồng minh toàn bộ hạm đội của mình. Lu-i XVIII được công nhận là vua nước Pháp. Các nước thắng trận chia nhau đất đai chiếm được. Sau Hội nghị Viên, triều đại Buốc-bông, từng bị lật đổ trong Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII, được phục hồi. Nhằm chống lại các lực lượng cách mạng, năm 1815, theo đề nghị của Nga hoàng A-lếch-xan-đrơ I, vua các nước châu Âu thành lập Liên minh Thần thánh. Trên danh nghĩa tôn giáo, Liên minh Thần thánh quy định các vua phải giúp đỡ nhau và dùng “lực lượng chung” để đàn áp cách mạng nếu nổ ra ở bất cứ nơi nào. Lúc đầu mới có ba nước Nga, Áo, Phổ kí vào văn kiện. Lần lượt, hầu hết các nước châu Âu xin gia nhập Liên minh. Anh không phải là thành viên của Liên minh, song tích cực ủng hộ việc đàn áp cách mạng. Về thực chất, Liên minh Thần thánh là liên minh phản động của các vua chúa phong kiến châu Âu chống lại xu hướng cách mạng tư sản. 34
10_5_4
pape ga gare a qui y touchera PARIS O FRANCE (rain) le revenant Tithuanie Duche de Courlande SAXE &tat MAYENCE de Venise Lombardie pay to choses Hình 16. Bộ trưởng Ngoại giao Áo Mét-téc-ních (đứng giữa, cầm cân) trong Hội nghị Viên 1815 (tranh châm biếm đỏ ơng thời) Dù bị Liên minh Thần thánh tìm cách đàn áp, phong trào cách mạng vẫn diễn ra ở nhiều nước châu Âu, mạnh nhất là ở Tây Ban Nha. Năm 1820, một số trung đoàn Tây Ban Nha, bị điều sang đàn áp cuộc khởi nghĩa của các thuộc địa ở Nam Mĩ, đã nổi dậy đấu tranh. Những người khởi nghĩa đòi bỏ những luật lệ hà khắc, đánh thuế vào quý tộc và tăng lữ, đóng cửa tu viện, tịch thu ruộng đất của quý tộc và khôi phục Hiến pháp 1812. Cuộc khởi nghĩa lan nhanh ra nhiều địa phương trong nước, kể cả Thủ đô Ma-đrít. Vua Tây Ban Nha phải nhượng bộ : triệu tập Nghị viện, phục hồi Hiến pháp, giảm nhẹ hình phạt, tiến hành các cuộc cải cách tư sản. Năm 1823, Liên minh Thần thánh gửi 10 vạn quân Pháp, kết hợp với đội quân phản cách mạng của Giáo hội, đàn áp dã man cuộc khởi nghĩa và khôi phục quyền chuyên chế của nhà vua. Cách mạng ở Tây Ban Nha thất bại, không chỉ vì sự can thiệp vũ trang của Liên minh Thần thánh mà còn vì những người cách mạng không dựa vào nhân dân, chỉ lo đấu tranh quân sự. Vào những năm 20 của thế kỉ XIX, phong trào cách mạng tư sản còn nổ ra ở nhiều nơi khác, trong đó có I-ta-li-a, nhưng đều thất bại. Quan sát hình 16 và nêu ý đồ của Liên minh Thần thánh. 35 55
10_5_5
| CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1. Tình hình châu Âu từ sau Hội nghị Viên có những diễn biến quan trọng nào ? 2. Tại sao các nước châu Âu liên minh chống lại Na-pô-lê-ông ? PHẦN ĐỌC THÊM Mét-téc-ních Uyn-nơ-bua (1773 – 1859), nhà hoạt động chính trị và ngoại giao Áo. Bảo vệ chế độ quân chủ, chống Cách mạng tư sản Pháp 1789 và Đế chế Na-pô-lê-ông I. Năm 1806, làm Đại sứ Áo ở Pa-ri (Pháp) ; năm 1809, Bộ trưởng Ngoại giao(1). Thành lập Liên minh các nước châu Âu chống Na-pô-lê-ông, nhằm phục hồi triều đại Buốc-bông ở Pháp. Đóng vai trò quan trọng trong Hội nghị Viên (1815), đề ra chủ trương “cân bằng châu Âu” để hạn chế thế lực các nước lớn, thành lập Đồng minh Thần thánh (Liên minh Thần thánh) dưới ảnh hưởng của Áo. Cuộc Cách mạng 1848 ở Viên đã kết thúc vai trò chính trị của Mét-téc-ních Uyn-nơ-bua. Nguyên tắc ngoại giao của Mét-téc-ních Uyn-nơ-bua : 1) Không được làm cuộc thương lượng tan vỡ, nhất là trong trường hợp để cứu vãn hay lập lại hoà bình. 2) Phải chuẩn bị kĩ lưỡng tới mức tối đa mọi văn kiện ngoại giao, mọi cuộc họp bộ trưởng, lãnh đạo nhà nước, mọi việc thảo hiệp ước. 3) Không cam kết khi chưa chín muồi, giành lấy cho mình sự tự do hành động càng lâu càng hay. 4) Về mặt chính trị, không có việc gì nhỏ, mọi việc đều nằm trong hệ thống ; một cường quốc phải có mặt ở khắp nơi. 5) Cần nắm đến chi tiết nhỏ hoạt động của đồng minh và kẻ thù, nguyên nhân che đậy hoạt động đó. Những nguyên tắc này đã được Kít-xin-giơ (H. A. Kissinger) vận dụng một cách nghiêm ngặt trong các cuộc hội nghị và thương lượng quốc tế, trong đó có cuộc Hội nghị Pa-ri về Việt Nam. Mét-téc-ních Uyn-nơ-bua đã giành được nhiều nhượng bộ của những người đối thoại, đem lại nhiều thành quả cho các thế lực thống trị của Áo và châu Âu trong gần 40 năm kể từ Hội nghị Viên (1815). (Theo : Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 2, NXB Từ điển bách khoa, H., 2002, tr. 903) (1) Năm 1821, kiêm Thủ tướng Áo. 36
10_6_1
Bài CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 6 (Nửa sau thế kỉ XVIII _ giữa thế kỉ XIX) Từ những năm 60 của thế kỉ XVIII, ở Anh diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp, sau đó đã lan sang các nước Pháp, Đức... Quá trình này đã tạo ra những chuyển biến kinh tế, xã hội hết sức to lớn và sâu sắc. I – CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP Ở ANH 1. Những tiền đề của cách mạng công nghiệp Sau thắng lợi của cách mạng tư sản, kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Anh phát triển ngày càng mạnh mẽ. Nước Anh tăng cường xâm chiếm thuộc địa (Ấn Độ, Bắc Mĩ, Ô-xtrây-li-a...). Bằng hoạt động kinh doanh trong nước, buôn bán nô lệ, khai thác thuộc địa..., giai cấp tư sản Anh đã tích luỹ được lượng tổ bản khổng lồ để đầu tư phát triển công nghiệp. Cùng với sự phát triển kinh tế, việc tước đoạt ruộng đất của nông dân cũng được đẩy mạnh. Nông dân mất ruộng, thợ thủ công bị phá sản buộc phải bán sức lao động của mình. Vì vậy, ở Anh luôn sẵn nhân công hơn các nước khác. Mặt khác, những tiến bộ về kĩ thuật và tổ chức sản xuất trong công trường thủ công Anh, như phân công lao động ở trình độ cao, đã tạo điều kiện để phát minh ra máy móc. Ngoài ra, công trường thủ công còn sản sinh ra những công nhân lành nghề, có thể phát minh và sử dụng máy móc. Theo ghi chép của A-đam Xmít, nhà kinh tế chính trị học Anh (1723 – 1790), để làm một kim băng phải trải qua 18 công đoạn, công cụ lao động được chuyên môn hoá (riêng ở Bớc-minh-ham đã sản xuất khoảng 500 loại búa khác nhau, mỗi loại thích hợp cho một công việc đặc thù)... Như vậy, nước Anh sau cách mạng tư sản có đủ những tiền đề để tiến hành cách mạng công nghiệp : tư bản, nhân công và sự phát triển kĩ thuật. Anh vượt hẳn các nước Âu – Mĩ về những điều kiện trên, nên cách mạng công nghiệp khởi đầu sớm nhất. Những tiền đề làm cho cách mạng công nghiệp khởi đầu ở Anh sớm hơn các nước khác là gì ? 37
10_6_2
2. Sự phát minh và sử dụng máy móc Việc đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, phát triển buôn bán nhằm thu lợi nhuận cao đòi hỏi phải chuyển nền sản xuất thủ công sang sản xuất cơ khí. Vì vậy, việc phát minh và sử dụng máy móc trở thành một nhu cầu cấp thiết. Đó là nội dung quan trọng của cách mạng công nghiệp. Cách mạng công nghiệp ở Anh, cũng như ở một số nước tư bản khác sau này, được bắt đầu từ công nghiệp nhẹ, bởi vì đầu tư không nhiều, thu hồi vốn nhanh và kiếm được nhiều lãi. Từ những năm 60 của thế kỉ XVIII, máy móc được phát minh và sử dụng đầu tiên ở Anh, trước hết trong ngành dệt. Lúc bấy giờ, hàng dệt vải bông của Anh bán chạy làm cho nghề dệt rất phát đạt, mặc dù đang có sự mất cân đối giữa khâu kéo sợi và dệt vải (cứ 10 người kéo sợi mới đủ sợi cho một thợ dệt). Năm 1764, người thợ dệt Giêm Ha-gri-vơ phát minh ra máy kéo sợi Gien-ni (lấy tên con gái mình đặt cho máy). Lúc đầu, máy kéo được 8 cọc sợi bông (chiếc xa cổ truyền chỉ kéo được 1 cọc sợi), sau cải tiến dần lên đến 16 – 18 cọc sợi, năng suất tăng gấp nhiều lần. Tiếp đó năm 1769, Ác-crai-tơ chế ra máy kéo sợi chạy bằng sức nước. Nhờ những phát minh trên, sợi được sản xuất ra nhiều, khung cửi thủ công dệt không kịp, làm nảy sinh nhu cầu phải cơ khí hoá ngành dệt. Năm 1785, kĩ sư Ét-mơn Các-rai phát minh ra máy dệt chạy bằng sức nước, đưa năng suất tăng 40 lần so với dệt thủ công. Do máy móc chạy bằng sức nước nên có sự bất lợi, các nhà máy phải xây dựng gần những khúc sông chảy xiết, xa trung tâm dân cư và nơi giao thông tiện lợi ; vào mùa đông, khi nước đóng băng, nhà máy phải ngừng hoạt động. Hình 17. Máy hơi nô lớc của Giêm Oát 38 Chính trong khoảng thời gian đó, năm 1784, Giêm Oát (1736 – 1819), thực nghiệm viên một trường đại học ở Luân Đôn, đã hoàn thiện máy hơi nước để có thể ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất, lúc đầu trong ngành dệt, luyện kim, khai mỏ, sau lan nhanh sang các ngành khác.
10_6_3
Năm 1800, toàn nước Anh có 321 máy hơi nước (với tổng công suất 5 210 mã lực), năm 1825, tăng lên 15 000 máy hơi nước (với tổng công suất là 375 000 mã lực). Để tưởng nhớ công lao của Giêm Oát, người ta đã dựng tượng kỉ niệm tại Oét-xmin-tơ khi ông qua đời năm 1819, với dòng chữ : “Người đã nhân lên gấp bội sức mạnh của Con người”. Phương tiện vận chuyển trước đây chủ yếu dựa vào sức kéo của động vật (xe ngựa, xe bò) hoặc nhờ sức gió, sức nước (thuyền buồm). Để đáp ứng nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu đến nhà máy sản xuất và đưa hàng hoá đi các nơi, máy móc được sử dụng trong giao thông vận tải. Từ đầu thế kỉ XIX, tàu thuỷ và xe lửa xuất hiện với đầu máy hơi nước. Hệ thống đường sắt phát triển, mở rộng khả năng vận tải, nối liền các trung tâm công thương nghiệp. Năm 1814, Xti-phen-xơn chế tạo thành công đầu máy xe lửa đầu tiên. Năm 1825, nước Anh khánh thành đoạn đường sắt đầu tiên nối liền Man-chét-xtơ với Li-vơ-pun. Năm 1830, cả nước Anh chỉ có 108 km đường sắt, đến năm 1850 đã tăng lên 10 000 km. Hình 18. Đầu máy xe lửa Xti-phen-xơn Máy móc và đường sắt phát triển đòi hỏi phải đẩy mạnh sản xuất ở các ngành công nghiệp nặng : khai mỏ, luyện kim, chế tạo máy... Năm 1850, Anh sản xuất được một nửa số gang, thép và than đá của thế giới. Như vậy, từ giữa thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX, ở Anh đã diễn ra quá trình chuyển từ sản xuất nhỏ thủ công sang sản xuất lớn bằng máy móc, tạo ra những biến đổi to lớn về kinh tế và xã hội. Đây là cuộc cách mạng công nghiệp, diễn ra đầu tiên ở Anh, sớm hơn các nước khác từ 50 đến 100 năm, biến nước Anh từ một nước nông nghiệp thành nước công nghiệp phát triển nhất thế giới lúc bấy giờ. Nước Anh được mệnh danh là “công xưởng của thế giới”. 39
10_6_4
Trình bày những thành tựu nổi bật của cách mạng công nghiệp Anh. - Các phát minh kĩ thuật đã đáp ứng yêu cầu sản xuất, lưu thông hàng hoá như thế nào ? II – CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP Ở PHÁP VÀ ĐỨC Ở Pháp, cách mạng công nghiệp bắt đầu từ năm 1830, trước tiên trong công nghiệp nhẹ, rồi phát triển mạnh mẽ vào những năm 1850 – 1870. Chỉ trong 20 năm (1830 – 1850), các mặt sản xuất của Pháp tăng lên nhiều. Sản lượng gang, sắt tăng 3 lần, độ dài đường sắt tăng 100 lần (từ 30 km tăng lên 3 000 km, đến năm 1870 tăng lên 16 500 km). Giữa thế kỉ XIX, Pháp có trên 5 000 máy hơi nước, đến năm 1870 có trên 27 000 chiếc. Nhờ cách mạng công nghiệp, kinh tế Pháp phát triển, đứng thứ hai trên thế giới (sau Anh), hơn hẳn các nước khác trên lục địa châu Âu. Ở Đức, tuy đất nước chưa thống nhất, giai cấp tư sản chưa đóng vai trò chủ đạo nhưng cách mạng công nghiệp vẫn diễn ra từ những năm 40 của thế kỉ XIX. Trong những năm 1850 – 1860, kinh tế Đức phát triển với tốc độ rất cao. Hình 19. Cơ khí hoá nông nghiệp ở Đức thế kỉ XIX Sản lượng than, sắt, thép và độ dài đường sắt tăng từ 2 đến 3 lần, số máy hơi nước tăng 6 lần. Nhờ tiếp thu những thành tựu khoa học - kĩ thuật mới, 40
10_6_5
các ngành công nghiệp khai mỏ, hoá chất, luyện kim tăng nhanh và có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Đức. Từ năm 1860 đến năm 1870, sản lượng than đá của Đức tăng từ 12 triệu tấn lên 26 triệu tấn. Máy móc cũng được sử dụng trong nông nghiệp. Trên đồng ruộng đã xuất hiện máy cày, máy bừa, máy gặt đập. Đồng thời, phân bón hoá học được sử dụng rộng rãi, góp phần làm tăng năng suất cây trồng. ? Cách mạng công nghiệp ở Pháp và Đức diễn ra như thế nào ? III – HỆ QUẢ CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP Cách mạng công nghiệp làm thay đổi bộ mặt các nước tư bản : nhiều trung tâm công nghiệp mới với thành thị đông dân xuất hiện ; máy móc đã làm thay đổi căn bản quá trình sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tạo nguồn của cải xã hội dồi dào. Cách mạng công nghiệp đã thúc đẩy nhiều ngành kinh tế phát triển, đặc biệt là giao thông vận tải và nông nghiệp. Nhu cầu công nghiệp hoá khiến nông nghiệp chuyển sang phương thức chuyên canh hoặc thâm canh ; đồng thời quá trình cơ giới hoá nông nghiệp cũng góp phần giải phóng sức lao động của nông dân, bổ sung lực lượng lao động cho công nghiệp và dịch vụ. Về mặt xã hội, hệ quả quan trọng nhất của cách mạng công nghiệp là hình thành hai giai cấp cơ bản của xã hội tư bản : giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Qua cách mạng công nghiệp, giai cấp tư sản càng giàu lên nhanh chóng, trở thành giai cấp thống trị xã hội. Cách mạng công nghiệp đã làm cho đội ngũ vô sản ngày càng trở nên đông đảo. Với thân phận là người lao động làm thuê, chịu áp bức bóc lột, giai cấp vô sản mâu thuẫn quyền lợi với giai cấp tư sản, đứng lên đấu tranh chống áp bức bóc lột. ? Cách mạng công nghiệp đã dẫn tới những hệ quả gì ? | CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1. Tại sao cách mạng công nghiệp diễn ra đầu tiên ở Anh ? 2. Lập bảng thống kê về mốc thời gian và thành tựu chủ yếu của cách mạng công nghiệp ở Anh, Pháp và Đức. 41
10_6_6
PHẦN ĐỌC THÊM Bước khởi đầu của cách mạng công nghiệp Việc hoàn thiện và sử dụng máy hơi nước của Giêm Oát được coi là sự mở đầu của quá trình cơ giới hoá, mang ý nghĩa một cuộc cách mạng công nghiệp. Điều quan trọng nhất là máy hơi nước đã tạo ra nguồn động lực mới làm giảm nhẹ sức lao động cơ bắp của con người. Nó tạo điều kiện cho sự chuyển cách thức lao động bằng tay được thực hiện từ khi loài người xuất hiện sang sử dụng máy móc. Đó là yếu tố cơ bản của công nghiệp hoá, đánh dấu bước nhảy vọt cách mạng trong lịch sử sản xuất của nhân loại, bước chuyển cơ bản từ nền văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp. Trong quá trình tiến hành cách mạng công nghiệp, cơ cấu sản xuất công nghiệp dần dần được hoàn chỉnh. Để giải quyết nguồn nhiên liệu và nguyên liệu, ngành khai mỏ phát triển nhanh chóng. Nhờ vậy, người ta có thể khai thác than và các khoáng sản kim loại. Phát minh về phương pháp luyện than cốc năm 1735 là một đóng góp quan trọng cho việc luyện gang thép. Lò luyện gang đầu tiên được xây dựng năm 1784, làm tăng lên gấp nhiều lần khả năng sản xuất đồ kim loại, khiến cho các cầu ở nước Anh dần dần được thay bằng cầu sắt, các nhà máy dần dần được trang bị các loại máy công cụ và máy công tác cụ thể. Nhờ vậy hình thành cơ cấu công nghiệp nặng sản xuất máy cái và công nghiệp nhẹ cung cấp các loại hàng tiêu dùng. (Theo : Vũ Dương Ninh (Chủ biên), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo dục, H., 2000, tr. 312) 42
10_7_1
Bài HOÀN THÀNH CÁCH MẠNG TU SẢN 7 Ở CHÂU ÂU VÀ MỸ (giữa thế kỉ XIX) Trong các thập niên 50, 60 của thế kỉ XIX, nhiều cuộc cách mạng tư sản diễn ra dưới những hình thức khác nhau ở châu Âu và Bắc Mĩ, đem lại sự toàn thắng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ. I - CUỘC ĐẤU TRANH THỐNG NHẤT Ở ĐỨC VÀ I-TA-LI-A 1. Cuộc đấu tranh thống nhất nước Đức Các phong trào cách mạng những năm giữa thế kỉ XIX ở Đức thất bại, tuy không giải quyết được nhiệm vụ thống nhất đất nước (đang bị chia thành 38 vương quốc lớn nhỏ) nhưng cũng tạo điều kiện cho nền đại công nghiệp phát triển, nhất là ở Vương quốc Phổ (vương quốc lớn mạnh nhất ở Đức lúc bấy giờ). Từ một nước nông nghiệp, Đức dần trở thành một nước công nghiệp. Riêng ở Béc-lin, số lượng công nhân tăng từ 5 vạn lên 18 vạn trong vòng 10 năm (1849 – 1859). Sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa đặt ra một cách cấp thiết nhiệm vụ thống nhất đất nước. Tuy có những bước phát triển đáng kể về mặt tổ chức, giai cấp vô sản Đức chưa thể lãnh đạo quần chúng đấu tranh thống nhất đất nước “từ dưới lên” bằng con đường cách mạng. Mặt khác, từ sau Cách mạng 1848 – 1849, giai cấp tư sản ủng hộ giai cấp địa chủ quân phiệt Phổ, dùng vũ lực để thống nhất đất nước “từ trên xuống”. Năm 1862, Bi-xmác lên làm Thủ tướng Phổ, đảm nhận nhiệm vụ lãnh đạo công cuộc thống nhất đất nước. Ôt-tô Phôn Bi-xmác là một địa chủ quý tộc Phổ, một nhà hoạt động chính trị, ngoại giao nổi tiếng. Năm 1862, tại Quốc hội Phổ, Bi-xmác đã tuyên bố : “Những vấn đề lớn của thời đại sẽ được giải quyết không phải bằng diễn văn hoặc bằng số phiếu bầu của đa số, mà bằng sắt và máu” Quá trình thống nhất Đức được thực hiện thông qua các cuộc chiến tranh. Năm 1864, Phổ gây chiến với Đan Mạch. 43
10_7_2
44 Năm 1866, Phổ gây chiến với Áo và giành được thắng lợi. Sau đó, Phổ hoà hoãn với Áo để chuẩn bị chiến tranh chống Pháp. Năm 1867, Liên bang Bắc Đức được thành lập do Phổ đứng đầu. Hình 20. Ô. P. Bi-xmác (1815_1898) BIỂN BẮC DAN MACH Liên bang gồm 18 bang ở Bắc Đức và ba thành phố tự do. Quốc hội gồm ba viện, với quyền hành hạn chế. Chủ tịch Liên bang (vua Phổ) có quyền rất lớn. Bi-xmác vừa là Thủ tướng Phổ, vừa là Thủ tướng Liên bang, chỉ chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Liên bang. Liên bang Bắc Đức chỉ là kết quả bước đầu trên con đường thống nhất Đức của Bi-xmác. Song, khi tiến hành sáp nhập với các quốc gia miền Nam, Phổ bị Pháp ngăn cản vì Pháp không muốn có một quốc gia thống nhất, hùng mạnh bên cạnh. Pháp đã lôi kéo các nước Nam Đức chống lại Phổ. Bằng thắng lợi trong cuộc chiến tranh Pháp – Phổ (1870 – 1871), Bi-xmác đã hoàn thành việc thống nhất đất nước. BIỂN BAN TÍCH Bĺ NÊ-DEC-LAN 1866 NGA Biên giới các quốc gia đến năm 1864 Nước Phổ đến năm 1864 ÁO Vùng đất sáp nhập vào Phổ đến năm 1866 Các bang gia nhập Liên bang Bắc Đức PHÁP 1870 THỤY SĨ Hình 21. Lỗợc đồ quá trình thống nhất Đức Các bang gia nhập Liên bang Bắc Đức năm 1870 Quân đội Phổ tấn công vào Đan Mạch, Áo, Pháp Biên giới Liên bang Bắc Đức năm 1867 . Biên giới đế quốc Đức năm 1871
10_7_3
Cuộc đấu tranh thống nhất Đức được thực hiện “từ trên xuống”. Nó mang tính chất một cuộc cách mạng tư sản, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ hơn. Nước Đức thống nhất dần dần bị quân phiệt hoá theo kiểu Phổ và trở thành một trung tâm gây chiến ở châu Âu, lò lửa của hai cuộc chiến tranh thế giới sau này. Hình 22. Lễ đăng quang Hoàng đế nô lớc Đức thống nhất tại Phòng Gương Cung điện Véc-xai (Pháp) ngày 18 1 1871 2. Cuộc đấu tranh thống nhất I-ta-li-a Sau năm 1815, I-ta-li-a bị chia xẻ thành 7 nước lớn, nhỏ theo chế độ quân chủ chuyên chế và phần lớn phụ thuộc đế quốc Áo. Nhân dân I-ta-li-a nhiều lần đấu tranh chống ách thống trị phong kiến và sự đô hộ của Áo để thống nhất đất nước. Năm 1848, một cuộc cách mạng tư sản đã nổ ra trên bán đảo I-ta-li-a. Công nhân và dân nghèo thành thị, dưới sự lãnh đạo của phái tư sản cách mạng, đã nổi dậy đấu tranh. Nhưng cách mạng đã thất bại vì so sánh lực lượng giữa phản cách mạng và cách mạng quá chênh lệch, vì thiếu một trung tâm chỉ đạo phong trào. Khoảng 10 năm sau Cách mạng 1848, chủ nghĩa tư bản bắt đầu phát triển mạnh ở các xứ miền Bắc I-ta-li-a, đặc biệt ở Vương quốc Pi-ê-môn-tê. Vấn đề thống nhất đất nước lại được đặt ra. Giai cấp tư sản I-ta-li-a hướng về Pi-ê-môn-tê, nơi có chế độ chính trị và kinh tế tiến bộ hơn cả. Bá tước Ca-vua, Thủ tướng Pi-ê-môn-tê, từ khi lên cầm quyền chủ trương mở mang kinh tế và xây dựng quân đội. Đại diện cho quý tộc tư sản hoá và tầng lớp đại tư sản, Ca-vua cũng có tham vọng thống nhất I-ta-li-a “từ trên xuống”, lập ra một nhà nước quân chủ lập hiến dưới quyền vua Pi-ê-môn-tê. 45
10_7_4
Hình 23. G. Ga-ri-ban-đi (1807_1882) Từ tháng 4 1859, Ca-vua liên minh với Pháp để tiến hành chiến tranh với Áo, giành lại chủ quyền, thống nhất một số vùng miền Bắc và miền Trung I-ta-li-a. Tháng 4 – 1860, cuộc khởi nghĩa của nhân dân đảo Xi-xi-li-a (Nam I-ta-li-a) bùng nổ nhằm lật đổ ách thống trị của Áo và thống nhất đất nước. Theo thoả thuận với Ca-vua, Ga-ri-ban-đi đem quân xuống giúp nhân dân Nam I-ta-li-a. “Đội quân áo đỏ” hơn 1 000 người do Ga-ri-ban-đi chỉ huy, đã vượt biển, đổ bộ lên đảo Xi-xi-li-a. Giu-xép-pe Ga-ri-ban-đi xuất thân trong một gia đình thuỷ thủ. Năm 1833, ông gia nhập tổ chức “Nước I-ta-li-a trẻ”, tham gia khởi nghĩa chống Áo, rồi sang Nam Mi, trở thành chiến sĩ quốc tế đấu tranh vì quyền dân chủ. Năm 1848, Ga-ri-ban-đi về nước, tổ chức “Đội quân áo đỏ” tập hợp hàng nghìn người, tiến hành đấu tranh chống chế độ thống trị của Áo và ách phong kiến nhằm thống nhất đất nước. Nhân dân miền Nam I-ta-li-a đón chào Ga-ri-ban-đi. Chỉ trong 2 ngày, 4 000 người đã tình nguyện xin gia nhập “Đội quân áo đỏ”. Cuối tháng 5 – 1860, đạo quân Ga-ri- ban-đi giải phóng đảo Xi-xi-li-a. Tháng 8, quân cách mạng lại vượt biển tiến vào Na-pô-li (thủ phủ của Vương quốc Nam I-ta-li-a), giải phóng Nam I-ta-li-a. Chính quyền mới được thành lập do Ga-ri-ban-đi làm Chấp chính, ban hành những chính sách dân chủ : chia ruộng đất cho nông dân, bãi bỏ đặc quyền phong kiến. Nhưng quần chúng không được hưởng thành quả đấu tranh của mình. Trước sức ép của Ca-vua, tháng 10 – 1860 Ga-ri-ban-đi thoả thuận cho sáp nhập Nam I-ta-li-a vào Pi-ê-môn-tê. Phong trào nông dân khởi nghĩa bị dập tắt. Tiếp đó, Pi-ê-môn-tê tuyên bố thành lập Vương quốc I-ta-li-a, nhưng nước I-ta-li-a chưa được thống nhất hoàn toàn. Vê-nê-xi-a (thuộc Áo) và Rô-ma (đất của Giáo hoàng, dưới sự bảo hộ của Pháp) chưa được giải phóng. Năm 1866, liên minh với Phổ chống Áo, I-ta-li-a giải phóng được Vê-nê-xi-a ; thu hồi Rô-ma 46
10_7_5
sau cuộc chiến tranh Pháp – Phổ (1870 – 1871). Từ đó, Rô-ma trở thành Thủ đô của nước I-ta-li-a thống nhất. THỤY SĨ ĐẾ Á O XA-VOA PHÁP 1859 Lôm-bác-đi-ai Về hệ-xi-a 1.866 Pi-ê-môn-tê n-de-na Xác-đi-ni-a Ro-ma-ni-a Tô-xca-na 1870 Ro-ma ĐỊA TRUNG Biên giới quốc gia đến năm 1859 Vùng lãnh thổ được sáp nhập vào Pi-ê-môn-tê năm 1860 Vùng lãnh thổ được sáp nhập vào I-ta-li-a năm 1870 1859 Cuộc tiến công của liên quân Pi-ê-môn-tê - Pháp chống quân Áo Xi-xi-li-a Vương quốc ĐẾ QUỐC ỐT-TÔ-MAN HẢI Đường tiến quân của đội quân “Áo đỏ" Những vùng diễn ra khởi nghĩa đòi thống nhất đất nước. 1870 Năm thống nhất lãnh thổ vào Vương quốc I-ta-li-a Nơi diễn ra các trận đánh chủ yếu Hình 24. Lược đồ tiến trình thống nhất I-ta-li-a Biên giới Vương quốc I-ta-li-a năm 1870 Việc thống nhất I-ta-li-a đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chủ nghĩa tư bản. Nhân dân đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp thống nhất đất nước nhưng chính quyền lại rơi vào tay tư sản và quý tộc tư sản hoá. – Tại sao những cuộc đấu tranh thống nhất ở Đức và ở I-ta-li-a có ý nghĩa như những cuộc cách mạng tư sản ? – Hãy so sánh con đường thống nhất Đức và thống nhất I-ta-li-a. 47
10_7_6
II – NỘI CHIẾN Ở MĨ (1861 – 1865) VÀ CẢI CÁCH NÔNG NÔ Ở NGA (1861) 1. Nội chiến ở Mĩ Năm 1783, cuộc Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ kết thúc thắng lợi, nước Mĩ ra đời gồm 13 bang. Song, nhiều nhiệm vụ của một cuộc cách mạng chưa hoàn thành. Cuộc đấu tranh nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại của nước Mĩ tiếp tục phát triển là một yêu cầu của xã hội Mĩ bấy giờ. A-LA-XCA NGA 557 Mua của Nga. Cham 1857 CA NA DA THÁI BÌNH DƯƠNG Ô-RI-GƠN ( Trước là vùng lãnh thổ tránh chấp giữa Anh Mĩ, Hà Lan; từ 1846 thuộc Mĩ) CA NA Ð A - Mua của Anh năm 1848, THÁI BÌNH D Ư ƠN G CA-LI-PHOÓC-NHA NIU MÊ-HI-CÔ ( Chiếm cứ của Mê-hi-cô năm 1848 ) LU-I-DI-A-NA ( Mua của Pháp năm 1803 ) (Chiếm cứ của Mê-hi-cô N Ư Ở C năm 1848 ) ( Chiếm cử của Mê-hi-cô TẾCH DÁT năm 1853 ) ( Thôn tỉnh năm 1845 - 1848 ) Anh ở Bắc Mĩ, Nước Mĩ năm 1873 MI 13 bang đầu ! PHLO-RI-DA ) Niu Oóc | Oa-sinh-tơn ĐẠI TÂY DƯƠNG ( Mua của Tây Ban Nha năm 1811 - 1818 ) MÊ HI CÔ VỊNH MÊ HI CÔ Hình 25. Nước Mĩ giữa thế kỉ XIX Sau chiến tranh giành độc lập, nước Mĩ đã mở rộng về phía tây, đến giữa thế kỉ XIX có 30 bang. Kinh tế phát triển nhanh chóng, dần dần nước Mĩ chia làm ba miền đất với cơ cấu kinh tế – xã hội khác nhau : – Miền Bắc là vùng công nghiệp phát triển, hai giai cấp chính trong xã hội là tư sản và công nhân. – Miền Nam là nơi kinh tế đồn điền chiếm ưu thế, chủ nô sử dụng nhân công nô lệ da đen ngày càng nhiều. – Miền Tây là vùng nông nghiệp của chủ trại. Với nhiều điều kiện thuận lợi, miền Bắc nước Mĩ tiến hành cách mạng công nghiệp, đưa nước Mĩ vươn lên đứng hàng thứ tư trong số các nước công nghiệp trên thế giới. 48
10_7_7
Hình 26. A. Lin-côn (1809-1865) Ở miền Nam, kinh tế đồn điền phát triển với các nghề trồng bông, thuốc lá, mía... dựa trên sự bóc lột lao động nô lệ da đen. Giới chủ nô đã làm giàu nhanh chóng, thế lực ngày càng mạnh. Tính đến năm 1860, chủ nô đã đưa 11 người của mình lên làm Tổng thống (trong số 16 Tổng thống Mĩ). Sự duy trì chế độ nô lệ đồn điền ở miền Nam đã cản trở sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Mĩ. Do vậy, mâu thuẫn giữa tư sản miền Bắc và chủ nô miền Nam ngày càng trở nên gay gắt. Phong trào đấu tranh đòi thủ tiêu chế độ nô lệ đã thu hút đông đảo tư sản, công nhân, chủ trại, nô lệ da đen tham gia. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nội chiến là cuộc bầu cử Tổng thống năm 1860. Lin-côn, người thuộc Đảng Cộng hoà (đảng của khối tư sản công nghiệp và chủ trại), đã trúng cử Tổng thống. A-bra-ham Lin-côn sinh ra trong một gia đình chủ trại nghèo ở Ken-tấc-ki. Hồi trẻ, ông làm nhiều nghề để sinh sống, tranh thủ thời gian học luật và trở thành luật sư. Năm 1848, Lin-côn được bầu làm đại biểu Quốc hội. Ông chủ trương xoá bỏ chế độ nô lệ ở miền Nam, lập trang trại ở các vùng đất mới khai khẩn tại miền Tây. Thất bại trong cuộc tuyển cử, mất ưu thế trong chính quyền, giới chủ nô kịch liệt chống đối ; 11 bang miền Nam tuyên bố tách khỏi Liên bang, thành lập Hiệp bang riêng(1). - - Ngày 12 – 4 – 1861, giới chủ nô gây ra cuộc nội chiến, hòng duy trì chế độ nô lệ đang có nguy cơ bị sụp đổ. Giữa năm 1862, Tổng thống Lin-côn kí sắc lệnh cấp đất ở miền Tây cho dân di cư để phát triển trang trại. Ngày 1 1 – 1863, Tổng thống ban hành sắc lệnh bãi bỏ chế độ nô lệ. Hàng vạn nô lệ được giải phóng, gia nhập quân đội Chính phủ Liên bang. Chiến tranh kéo dài 4 năm, từ tháng 4 – 1861 đến tháng 4 – 1865. Ngày 9 – 4 – 1865, trước nguy cơ thảm bại, tướng Tổng chỉ huy quân đội miền Nam phải đầu hàng, nội chiến kết thúc. (1) Vì vậy, cuộc Nội chiến ở Mĩ được gọi là Chiến tranh li khai. 49
10_7_8
50 50 Nội chiến ở Mĩ là cuộc chiến tranh giữa các lực lượng tiến bộ, do giai cấp tư sản miền Bắc lãnh đạo, chống lại giới chủ nô muốn duy trì chế độ nô lệ ở miền Nam. Quần chúng nhân dân bao gồm chủ trại, người da đen và các tầng lớp lao động khác đã tham gia tích cực, quyết định cho sự thắng lợi. Cuộc nội chiến có ý nghĩa như một cuộc cách mạng tư sản lần thứ hai, sau Chiến tranh giành độc lập. Song, trong cuộc nội chiến, Chính phủ Liên bang tuyên bố xoá bỏ chế độ nô lệ nhưng không giải phóng hoàn toàn cho người lao động da đen. Không có ruộng đất, họ lại phải đi làm thuê, hoặc đi ở. Chế độ phân biệt chủng tộc luôn luôn đe doạ cuộc sống của họ. ? Nguyên nhân và kết quả của cuộc Nội chiến ở Mĩ. 2. Cải cách nông nô ở Nga Nửa đầu thế kỉ XIX, Nga là nước phong kiến lạc hậu so với các nước tư bản phương Tây, cũng là nước duy nhất ở lục địa châu Âu không bị ảnh hưởng của Cách mạng 1848. Đến giữa thế kỉ XIX, Nga vẫn là một nước nông nghiệp, quan hệ phong kiến nông nô chiếm địa vị thống trị. Hầu hết ruộng đất trong tay quý tộc địa chủ và nhà nước chuyên chế. Nông dân, phần lớn là nông nô, phải lao động cưỡng bức với năng suất rất thấp. Công nghiệp không thể phát triển vì thiếu nhân công tự do và thị trường trong nước bị bó hẹp. Trong khi đó, từ cuối thế kỉ XVIII, công trường thủ công đã phát triển. Đến giữa thế kỉ XIX, ở Nga có gần 2 800 công trường thủ công, với khoảng 86 vạn công nhân. Công nghiệp cơ khí cũng bắt đầu phát triển nhưng bị chế độ nông nô kìm hãm. Nga còn lạc hậu hơn trong việc chế tạo máy móc, sản xuất nhiên liệu và giao thông vận tải (năm 1861, nước Nga rộng lớn chỉ có 1 500 km đường sắt). Về chính trị, Nga hoàng tăng cường quyền thống trị chuyên chế ở Nga. Trong khi mâu thuẫn giai cấp hết sức gay gắt, nước Nga lại lao vào cuộc chiến tranh ở vùng Crưm (với Anh, Pháp và Thổ Nhĩ Kì từ năm 1853 đến năm 1856), càng làm bộc lộ tình trạng lạc hậu về mọi mặt của nước Nga và làm cho quần chúng thêm căm thù chế độ phong kiến – nông nô. Từ năm 1858 đến năm 1860, ở Nga đã bùng nổ hơn 300 cuộc đấu tranh của nông nô chống địa chủ. Trước sức ép của phong trào nông nô, yêu cầu cải cách chế độ được đặt ra một cách bức thiết nhằm phát triển kinh tế và xã hội.
10_7_9
Sau một thời gian do dự, Nga hoàng A-lếch-xan-đrơ II quyết định tiến hành cải cách. Ngày 19 – 2 – 1861, Nga hoàng kí sắc luật giải phóng những nông dân lệ thuộc địa chủ và ra bản Tuyên ngôn về việc xoá bỏ chế độ nông nô. Nông nô được thừa nhận quyền tự do thân thể, sau khi nộp tiền chuộc, có quyền tư hữu, được tham gia các hoạt động công thương, được kí kết giao kèo với người khác. Việc giải phóng nông nô làm tăng nguồn cung cấp nhân công, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sức sản xuất. Nhưng trong thực tế, những quyền lợi của nông nô bị hạn chế khá nhiều vì họ không thể có đủ tiền ngay để trả tiền chuộc cho địa chủ. Tuy vậy, đây là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nước Nga. Sau khi chế độ nông nô bị thủ tiêu, chủ nghĩa tư bản ở Nga phát triển khá nhanh, trước tiên là trong công nghiệp, do dựa vào đầu tư của nước ngoài và nguồn nhân công rẻ mạt. ? Cuộc Cải cách nông nô ở Nga diễn ra như thế nào ? CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1. Vì sao có thể xem cuộc Nội chiến ở Mĩ (1861 – 1865) là cuộc cách mạng tư sản lần thứ hai ? 2. Tại sao nói : Cải cách nông nô ở Nga mang ý nghĩa một cuộc cách mạng tư sản ? 3. Vì sao phong trào cách mạng tư sản ở Đức, I-ta-li-a, Nga, Mĩ diễn ra dưới những hình thức khác nhau ? PHẦN ĐỌC THÊM Cuộc đấu tranh của người da đen ở Mĩ Trong cuộc đấu tranh tự giải phóng có tới 18 vạn người da đen đứng về phía Liên bang chống lại quân đội Hiệp bang miền Nam. Trong thời gian chiến tranh, đã có tới 5 vạn nô lệ da đen bỏ trốn để thoát khỏi chế độ nô lệ, hoặc tham gia chiến đấu tích cực chống lại chủ nô. Những binh sĩ da đen hi sinh trong cuộc đấu tranh giải phóng lên tới 37 vạn người. Công cuộc giải phóng nô lệ đã động viên cao độ lòng dũng cảm hi sinh và năng lực của người da đen. Có nhiều người trong số họ đã trở thành sĩ quan chỉ huy. (Theo : Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giới cận đại, NXB Giáo dục, H., 2001, tr. 194) 51
10_8_1
Bài CÁC NƯỚC TU BẢN CHUYỂN SANG 8 GIAI ĐOẠN ĐẾ QUỐC CHỦ NGHĨA Cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, các nước tư bản Âu – Mĩ phát triển sang giai đoạn mới với đặc trưng nổi bật nhất là sự xuất hiện các tổ chức độc quyền và việc tăng cường chính sách xâm lược thuộc địa. 1. Sự tiến bộ về khoa học – kĩ thuật và sự phát triển của súc sản xuất Khoảng 30 năm cuối thế kỉ XIX là thời kì chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền. Trong thời kì này, nền kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển cực kì nhanh chóng, một phần là do chú trọng phát minh khoa học và áp dụng những tiến bộ về khoa học – kĩ thuật vào sản xuất. - Các phát minh về điện của G. X. Ôm (1789 – 1854) người Đức, M. Pha-ra-đây (1791 – 1867) và G. P. Giun (1818 – 1889) người Anh, E. Kh. Len-xơ (1804 – 1865) người Nga, thuyết electron của Tôm-xơn (Anh), phát hiện về năng lượng hạt nhân của Pi-e Quy-ri và Ma-ri Quy-ri (Pháp), phát minh về tia X của V. Rơn-ghen (1845 – 1923) người Đức, phát hiện định luật tuần hoàn của Men-đê-lê-ép (Nga), thuyết tiến hoá của Đác-uyn (Anh), công trình về sinh lí học của Páp-lốp (Nga)... là những thành tựu to lớn, tạo điều kiện cho việc ứng dụng và đẩy mạnh sản xuất. Động cơ đốt trong đã được phát minh từ trước, nhưng mãi đến thập niên 90 của thế kỉ XIX, sau khi kĩ sư R. Đi-ê-den người Đức cải tiến, mới được ứng dụng rộng rãi. Động cơ đốt trong sử dụng nhiên liệu lỏng, không cần nồi hơi, so với máy hơi nước tiện lợi hơn nhiều. Việc sử dụng động cơ đốt trong tạo ra khả năng phát triển cho ngành ô tô và máy bay, đồng thời thúc đẩy ngành khai thác dầu mỏ. Năm 1870, lượng dầu mỏ được khai thác trên toàn thế giới là 80 vạn tấn, đến năm 1900 đã tăng lên 200 triệu tấn. Từ đó, cuộc tranh giành về dầu mỏ giữa các nhà tư bản ngày càng gay gắt. Những phát minh về điện trước tiên được sử dụng trong ngành điện thoại và điện báo. Năm 1879, Ê-đi-xơn thí nghiệm thành công việc thắp sáng, bóng đèn điện ra đời. Việc chế tạo các loại máy phát điện (đinamô, tuốcbin) và giải quyết khả năng chuyển tải điện đi xa đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sản xuất. Những ngành mới xuất hiện : thông tin vô tuyến điện (rađiô), điện ảnh... 52
10_8_2
Việc sử dụng lò cao Bétxme đã làm tăng sản lượng thép, tạo nên bước chuyển biến quan trọng trong ngành luyện kim, chế tạo máy... Công nghiệp hoá học (ngành công nghiệp mới) đạt nhiều thành tựu trong lĩnh vực sản xuất hoá chất, dược phẩm, thuốc nhuộm. Năm 1867, A. Nô-ben phát minh ra thuốc nổ. Đến thập niên 80 của thế kỉ XIX, ông cải tiến và chế tạo thành công loại thuốc nổ không khói. Điều đó đã thúc đẩy công nghiệp quân sự phát triển. Các loại vật liệu mới như : nhựa, chất cách điện, sợi nhân tạo... cũng bắt đầu được đưa vào sử dụng trong các ngành sản xuất. Giao thông vận tải chuyển biến mạnh mẽ. Tàu hoả được cải tiến, mạng lưới đường sắt mở rộng khắp châu Âu. Chiều dài đường sắt ở châu Âu năm 1850 là 15 000 km, năm 1875 : 143 000 km, năm 1900 : 283 000 km ; riêng ở Đức và Pháp : 100 000 km. Năm 1890, nước Nga khởi công xây dựng đường sắt xuyên Xi-bia, nhờ đó, hành khách có thể đáp tàu từ Pa-ri đến Vla-đi-vô-xtốc (dài 8 500 km) trong 2 tuần lễ. Xuất hiện lần đầu vào năm 1886, ô tô nhanh chóng trở thành phương tiện giao thông quan trọng. Máy bay được thử nghiệm thành công năm 1903. Tàu biển được trang bị mới, trọng tải 30 000 – 40 000 tấn. Công trình kênh đào Xuy-ê và kênh đào Pa-na-ma đã rút ngắn đường vận chuyển trên biển. Hình 27. Chiếc ô tô đầu tiên (1886) 53 53
10_8_3
Hình 28. Chiếc máy bay đầu tiên (1903) Kênh Xuy-ê dài 130 km, chảy qua Ai Cập, nối liền Địa Trung Hải với Hồng Hải, hoàn thành năm 1869. Kênh Pa-na-ma dài 79,6 km, cắt ngang Trung Mĩ, nối liền Đại Tây Dương với Thái Bình Dương, hoàn thành năm 1914. Hình 29. Đoàn tàu đầu tiên đi qua kênh đào Xuy-ê năm 1869 Việc ứng dụng các tiến bộ kĩ thuật cho phép mở rộng sản xuất trên quy mô lớn, sản phẩm được sản xuất hàng loạt, được tiêu chuẩn hoá về kích thước, mẫu mã và chất lượng. Sản lượng nông nghiệp tăng nhanh nhờ việc dùng phân bón hoá học, sử dụng các loại máy kéo, máy cày, máy gặt đập và tổ chức trạm máy bơm trong hệ thống thuỷ nông. 54
10_8_4
? Sử dụng các kiến thức đã học về Vật lí, Hoá học..., trình bày một số - - thành tựu về khoa học – kĩ thuật. - Vì sao đến khoảng năm 1900, mới diễn ra sự cạnh tranh gay gắt về dầu mỏ giữa các nhà tư bản ? – Trình bày những hiểu biết của em về A. Nô-ben và giải Nôben. 2. Sự xuất hiện chủ nghĩa tư bản độc quyền Trong 30 năm cuối thế kỉ XIX, việc sử dụng những nguồn năng lượng mới cùng những tiến bộ kĩ thuật tạo ra khả năng xây dựng các ngành công nghiệp trên quy mô lớn. Đồng thời, sự cạnh tranh đã làm phá sản nhiều cơ sở kinh doanh nhỏ, tài sản tập trung dần vào tay các nhà tư bản lớn. Xu hướng tập trung sản xuất, tập trung tư bản đã dẫn đến sự xuất hiện các tổ chức độc quyền như cácten, xanhđica ở Đức và Pháp, tơrớt ở Mĩ. Ở Pháp và Đức, những nhà công nghiệp cùng sản xuất một mặt hàng thoả thuận hợp thành cácten, xanhđica. Họ thống nhất về giá bán, khối lượng sản phẩm, thị trường tiêu thụ, điều kiện thuê nhân công, trao đổi bằng sáng chế để giảm bớt cạnh tranh : cácten thiếc, cácten hoá chất, xanhđica than... Tơrớt ở Mĩ là hình thức tổ chức độc quyền cao, hợp nhất nhiều ngành công nghiệp giống nhau hoặc những ngành khác nhau nhưng cùng thuộc hệ thống sản xuất. Chẳng hạn, tơrớt dầu lửa của Rốc-phe-lơ (Standard Oil Company) bao gồm các cơ sở khai thác dầu, mạng lưới ống dẫn dầu, các nhà máy lọc dầu và hoá dầu, hàng trăm tàu biển, bến cảng ; khống chế thị trường dầu lửa trong nước và thế giới, sau mở rộng sang ngành công nghiệp khí đốt và điện. Làn sóng công nghiệp hoá tác động mạnh mẽ vào nông nghiệp. Phân bón hoá học, máy cày, máy kéo, máy gặt đập được sử dụng rộng rãi. Sự chuyên môn hoá sản xuất tạo nên những nguồn hàng hoá nông nghiệp đặc biệt của từng vùng, đẩy mạnh việc buôn bán nông sản, cung cấp cho thị trường trong nước và nước ngoài. Sự tập trung sản xuất, tập trung tư bản làm tăng vai trò của ngân hàng. Lúc đầu, ngân hàng là nơi cho vay, sau trực tiếp đầu tư, tham gia chỉ đạo sản xuất, kinh doanh. Các ngân hàng ở Pa-ri, Luân Đôn, Phran-phuốc, Viên... đầu tư vào đường sắt, khai mỏ, nhà máy, hải cảng. Bên cạnh ngân hàng nhà nước còn có nhiều ngân hàng tư nhân. 55
10_8_5
56 56 Dần dần, trong ngành ngân hàng cũng có sự tập trung, hình thành những ngân hàng lớn. Một vài ngân hàng lớn khống chế mọi hoạt động kinh doanh trong cả nước. Nhiều chủ ngân hàng với số vốn khổng lồ đã nắm luôn cả các cơ sở sản xuất, trực tiếp kinh doanh công nghiệp. Sự dung hợp giữa tư bản ngân hàng với tư bản công nghiệp đã tạo nên tầng lớp tổ bản tài chính, trong đó có quyền lực nhất là tầng lớp đầu sỏ tài chính. Họ lập nên các “vương triều” tư bản như “vua dầu lửa” Rốc-phe-lơ, “vua thép” Moóc-gan, “vua ô tô” Pho... Cùng với việc xuất khẩu hàng hoá, tầng lớp tư bản tài chính đẩy mạnh xuất khẩu tư bản. Họ chuyển vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh ở các nước thuộc địa, phụ thuộc hoặc cho vay lãi để thu lợi nhuận cao. - Do nguồn lợi thu được quá lớn từ xuất khẩu tư bản (thị trường tiêu thụ mở rộng, nhiều nguồn nguyên liệu và nhân công rẻ mạt...), các nước đế quốc tăng cường xâm lược thuộc địa, khiến cho sự tranh chấp giữa các nước tư bản ngày càng căng thẳng. Như vậy, đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, sự xuất hiện các tổ chức độc quyền, sự ra đời của tư bản tài chính, sự tăng cường xuất khẩu tư bản và kéo theo sự tranh giành thuộc địa ngày càng căng thẳng... là những dấu hiệu cơ bản đánh dấu bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản tự do sang chủ nghĩa tư bản độc quyền hay chủ nghĩa đế quốc. Trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các mâu thuẫn giữa người lao động với chủ tư bản, giữa nhân dân các nước thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc, giữa đế quốc với đế quốc... càng trở nên sâu sắc, không thể điều hoà. Điều ấy đã dẫn đến chiến tranh thế giới và hàng loạt cuộc cách mạng trong 2 thập niên đầu của thế kỉ XX. Quá trình xuất hiện chủ nghĩa tư bản độc quyền diễn ra như thế nào ? |CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1. Trình bày những tiến bộ kĩ thuật nổi bật và tác động của chúng đối với sản xuất và đời sống. 2. Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, các nước tư bản Âu – Mĩ có những chuyển biến quan trọng gì ? Trong đó, chuyển biến nào đáng chú ý nhất ?
10_8_6
PHÂN ĐỌC THÊM Sự tiến bộ về kĩ thuật thế kỉ XIX Về mặt kĩ thuật, nét nổi bật là những phát minh về điện. Phát minh của Moóc-xƠ (Morse – Mĩ) về điện báo, của Ê-đi-xơn (Thomas Edison – Mĩ) về bóng đèn điện và xây dựng nhà máy điện ; tiếp theo là những phát minh về điện thoại, điện ảnh, vô tuyến điện truyền thanh (radio) và tia X đã đưa nguồn năng lượng mới vào các lĩnh vực của cuộc sống. Việc sử dụng lò Bétxme và lò Máctanh đánh dấu một bước cách mạng trong ngành luyện kim. Trong những năm 80 của thế kỉ XIX, những sáng chế ra máy tuốcbin phát điện chạy bằng sức nước và tuốcbin phát điện cùng việc chuyển tải điện đi xa đã tạo những điều kiện rất quan trọng để nâng cao năng suất lao động vượt bậc và mở rộng hơn nữa quy mô sản xuất. Những phát hiện về dầu mỏ ở Mĩ và ở Nga đem lại cho loài người một nguồn nhiên liệu mới ngoài than, sau này được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp. Do những tiến bộ kĩ thuật trên, sản lượng các ngành công nghiệp tăng lên nhanh chóng. So sánh trong khoảng thời gian 1870 – 1900, có thể thấy mức sản xuất thép từ 25 vạn tấn lên 28,6 triệu tấn, dầu mỏ khai thác từ 0,8 triệu tấn lên 20 triệu tấn, chiều dài đường sắt tăng gấp 4 lần. Cũng nhờ có điện, xăng dầu và động cơ tuốcbin, nhiều phương tiện giao thông mới xuất hiện như ô tô, máy bay, tàu biển, tàu ngầm. (Theo : Vũ Dương Ninh (Chủ biên), Lịch sử văn minh thế giới, Sđd, tr. 326) 57
10_9_1
Bài 9 CÁC NƯỚC TU BẢN CHUYỂN SANG GIAI ĐOẠN ĐẾ QUỐC CHỦ NGHĨA (Tiếp theo) Trong quá trình chuyển từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền, Anh, Pháp, Đức, Mĩ là những nước phát triển mạnh nhất và thể hiện rõ nhất những đặc trưng của chủ nghĩa đế quốc. 1. Nước Anh a) Tình hình kinh tế Trước năm 1870, nước Anh đứng đầu thế giới về công nghiệp. Khi đó Anh được gọi là “công xưởng của thế giới” vì sản phẩm công nghiệp Anh luôn chiếm ưu thế về số lượng, chất lượng, không nước nào theo kịp. Sau năm 1870, tốc độ phát triển về công nghiệp của nước Anh chậm lại. Vào những thập niên cuối của thế kỉ XIX, nước Anh mất dần địa vị độc quyền công nghiệp, bị Mĩ rồi Đức vượt qua. Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do công nghiệp Anh phát triển sớm, hàng loạt máy móc, trang thiết bị, công nghệ dần trở nên lạc hậu, hiệu suất thấp, đòi hỏi đầu tư để đổi mới rất tốn kém. Trong khi đó, giai cấp tư sản Anh chỉ chú trọng xuất khẩu tư bản sang các nước thuộc địa, Hoa Kì và các nước Mĩ Latinh hơn là đổi mới và phát triển công nghiệp vì bóc lột thuộc địa thu lợi lớn hơn và nhanh hơn nhiều. Tuy mất địa vị bá chủ thế giới về công nghiệp, Anh vẫn đứng đầu về tài chính, xuất khẩu tư bản, thương mại, hải quân và thuộc địa. Vào cuối thế kỉ XIX, quá trình tập trung tư bản ở Anh cũng được đẩy mạnh. Nhiều tổ chức độc quyền được thành lập và kiểm soát các ngành kinh tế, chủ yếu là công nghiệp luyện kim, đóng tàu, khai thác mỏ. Việc tập trung tư bản trong các ngân hàng cũng đạt đến mức cao. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), các công ti độc quyền công nghiệp lớn liên kết mật thiết với 5 ngân hàng lớn nhất khu Xi-ti (Luân Đôn), chi phối toàn bộ đời sống kinh tế của nước Anh. Nông nghiệp không chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Anh. Phần lớn lương thực và nguyên liệu nông nghiệp phải nhập của nước ngoài, chủ yếu là các nước thuộc địa. Trong những năm 60 của thế kỉ XIX, Anh tự túc được 3/4 số lúa mì 58
10_9_2
hằng năm ; từ thập niên 70 trở đi, chỉ tự cung cấp được 1/3 số lúa mì cho nhu cầu trong nước. b) Tình hình chính trị Về danh nghĩa, Anh là một nước quân chủ lập hiến, song thực chất là một quốc gia theo chế độ đại nghị, gồm Thượng viện và Hạ viện. Đảng Tự do và Đảng Bảo thủ thay nhau cầm quyền tuỳ theo kết quả bầu cử Nghị viện, đảng nào chiếm đa số ghế thì được cử người giữ chức Thủ tướng. Hai đảng tuy cạnh tranh chính trị với nhau, khác nhau về những chính sách và biện pháp cụ thể, song đều thống nhất trong việc bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, đàn áp phong trào quần chúng và đẩy mạnh xâm lược thuộc địa. Nước Anh có hệ thống thuộc địa rộng lớn, được gọi là “đế quốc mà mặt trời không bao giờ lặn”, trải dài từ Niu Di-lân, Ô-xtrây-li-a, Ấn Độ, Ai Cập, Xu-đăng, Nam Phi, Ca-na-đa, cùng nhiều vùng đất khác ở châu Á, châu Phi và các đảo trên các đại dương. Lê-nin gọi chủ nghĩa đế quốc Anh là chủ nghĩa đế quốc thực dân. Năm 1914, thuộc địa Anh rộng tới 33 triệu km2 với 400 triệu người, chiếm 1/4 diện tích và 1/4 dân số thế giới, gấp 12 lần thuộc địa của Đức và 3 lần thuộc địa của Pháp. Vì sao từ năm 1870 trở đi, tốc độ phát triển công nghiệp của Anh chậm lại ? 2. Nước Pháp a) Tình hình kinh tế Trước năm 1870, Pháp là một nước công nghiệp tiên tiến đứng thứ hai thế giới, sau Anh. Từ sau năm 1871, kinh tế Pháp phát triển trong điều kiện khó khăn. Sản lượng công nghiệp tuy có tăng nhưng tốc độ phát triển công nghiệp chậm so với Mĩ, Đức, Anh, trang bị kĩ thuật của Pháp lạc hậu rõ rệt so với nền công nghiệp của các nước tư bản trẻ. Nguyên nhân của tình trạng đó là do hậu quả của Hiệp ước Vécxai (Pháp phải bồi thường cho Đức 5 tỉ phrăng, cắt cho Đức hai tỉnh giàu nguyên liệu là An-dát và Lo-ren), quần chúng đói nghèo nên sức mua kém, thiếu nguyên liệu, đội tàu buôn nhỏ bé không cạnh tranh được trên thị trường thế giới. Tuy vậy, vào cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, công nghiệp Pháp cũng có nhiều tiến bộ đáng kể. Hệ thống đường sắt lan rộng cả nước đã đẩy nhanh sự phát triển 59
10_9_3
của các ngành khai mỏ, luyện kim, thương mại... Một số ngành công nghiệp mới ra đời đạt được nhiều thành tựu như : điện khí, hoá chất, chế tạo ô tô, điện ảnh... Từ năm 1852 đến năm 1900, số xí nghiệp sử dụng máy móc tăng 9 lần, số động cơ chạy bằng hơi nước tăng 12 lần. Năm 1893, số công nhân tăng lên 3 triệu người... Nông nghiệp ở trong tình trạng phân tán với 40% cư dân sống bằng nghề nông nên gặp khó khăn trong việc sử dụng kĩ thuật mới. Nông dân bị phụ thuộc vào các hãng buôn nông sản và chủ nợ. Trong thời kì này, một số công ti độc quyền đã ra đời và dần dần chi phối nền kinh tế đất nước. Công ti Snay-đơ Crơ-dô độc quyền về công nghiệp quân sự, đóng tàu. Tổng công ti đường sắt và điện khí cùng 6 công ti khác quản lí toàn bộ mạng lưới đường sắt trong nước. Công ti Xanh Gô-ben và Cu-man kiểm soát toàn bộ công nghiệp hoá chất. Nhiều công ti khai thác thuộc địa : Công ti kinh doanh đồn điền trồng nho ở An-giê-ri, Công ti đồn điền cao su ở Đông Dương... Đặc điểm của tổ chức độc quyền Pháp là việc tập trung ngân hàng đạt mức cao (ngân hàng lớn ở Pa-ri nắm 70% tư bản của các ngân hàng trong cả nước). Pháp là nước đứng thứ hai (sau Anh) về xuất khẩu tư bản, nhưng khác Anh ở chỗ tư bản được đem cho các nước chậm tiến (chủ yếu là Nga, Thổ Nhĩ Kì, các nước Mĩ Latinh) vay lấy lãi nặng. Vì vậy, chủ nghĩa đế quốc Pháp được gọi là chủ nghĩa đế quốc cho vay lãi. b) Tình hình chính trị Sau khi Đế chế thứ hai sụp đổ (4 – 9 – 1870), chính thể cộng hoà (nền Cộng hoà thứ ba)(1) được thiết lập. Tuy vậy, tình hình chính trị Pháp rất phức tạp, thể hiện rõ ở việc đàn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân lao động và các vụ tham và bê bối chính trị. Trong vòng 40 năm (1875 – 1914), đã có tới 50 lần thay đổi chính phủ ở Pháp. Về đối ngoại, sau chiến tranh Pháp – Phổ (1870 – 1871), quan hệ giữa hai nước tiếp tục căng thẳng. Từ năm 1870 đến năm 1893, Pháp ở vào tình thế bị cô lập. Song Pháp vẫn tăng cường xâm lược thuộc địa ở châu Á và châu Phi : hoàn thành xâm lược Việt Nam (1884), chiếm Lào (1893), thôn tính Ma-đa-ga-xca, Ma-rốc... (1) Nền Cộng hoà thứ nhất ra đời năm 1792, trong thời kì Cách mạng tư sản Pháp ; nền Cộng hoà thứ hai ra đời trong Cách mạng 1848 – 1849 ở Pháp ; nền Cộng hoà thứ ba tồn tại đến năm 1940, khi phát xít Đức xâm chiếm Pháp. 60
10_9_4
Đến năm 1914, hệ thống thuộc địa của Pháp rộng gần 11 triệu km, với 55,5 triệu dân, đứng thứ hai trên thế giới. Tình hình kinh tế, chính trị của Pháp vào những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX như thế nào ? 3. Nước Đức a) Tình hình kinh tế Vào giữa thế kỉ XIX, Đức vẫn là một nước nông nghiệp, đa số dân cư tập trung ở nông thôn và các thành thị nhỏ. Tuy vậy, công nghiệp đã khá phát triển, nhất là ở vùng Tây Nam. Sau khi nước Đức thống nhất (18 – 1 – 1871), chủ nghĩa tư bản ở đây phát triển rất nhanh. Công cuộc thống nhất đất nước đã tạo nên một thị trường dân tộc với chế độ hành chính, hệ thống quan thuế, đo lường và tiền tệ thống nhất. Theo Hiệp ước Vécxai, Đức chiếm được của Pháp 5 tỉ phrăng, hai tỉnh giàu nguyên liệu là An-dát và Lo-ren, nên có một nguồn vốn quan trọng để xây dựng và mở rộng kinh doanh. Trên lãnh thổ Đức cũng có nhiều nguyên liệu, nhất là ở miền Tây Nam như vùng Rua có nhiều mỏ than và kim loại. Nước Đức cũng đã từng có một cơ sở kinh tế công thương nghiệp nhất định từ giữa thế kỉ XIX. Do phát triển sau, nước Đức tiếp nhận những thành tựu kĩ thuật mới, xây dựng công nghiệp theo quy trình mới làm tăng nhanh sản lượng. Cư dân thành thị tăng nhanh là nguồn nhân lực quan trọng cho công nghiệp. Đến cuối thế kỉ XIX, nhiều khu công nghiệp đồ sộ xuất hiện. Chỉ trong một thời gian ngắn, Đức vượt Pháp và Anh, đứng đầu châu Âu và thứ hai thế giới, sau Mĩ. Đến năm 1913, sản lượng gang thép của Đức đã gấp đôi Anh. Do việc cạnh tranh trong sản xuất công nghiệp, nhất là trong công nghiệp nặng, quá trình tập trung sản xuất và tư bản ở Đức diễn ra mạnh mẽ. Nhiều doanh nghiệp lớn phát triển nhanh chóng, làm phá sản hoặc thu hút dần những xí nghiệp nhỏ. Sự tập trung sản xuất và tư bản dẫn đến sự ra đời những công ti độc quyền lớn trong các ngành công nghiệp then chốt. Các tổ chức độc quyền ở Đức xuất hiện dưới hình thức phổ biến là cácten và xanhđica. Xanhđica than đá Rai-nơ – Vét-xpha-len thành lập năm 1893, đánh dấu bước chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa của Đức. Năm 1913, với sản lượng 10 triệu tấn than, xanhđica này kiểm soát 95% tổng sản lượng than ở vùng Rua (vùng công nghiệp lớn nhất ở Đức) và hơn 55% tổng sản lượng than cả nước. 61
10_9_5
Đến năm 1905, Đức đã có 385 tổ chức độc quyền, bao gồm 12 000 xí nghiệp lớn và nắm giữ các ngành sản xuất chủ yếu. Do công nghiệp phát triển, quý tộc địa chủ Đức có điều kiện sử dụng máy móc và kĩ thuật mới trong nông nghiệp. b) Tình hình chính trị Đức là một liên bang gồm 22 bang và 3 thành phố tự do, theo chế độ quân chủ lập hiến ; trong đó, quý tộc địa chủ liên kết chặt chẽ với tư bản độc quyền thống trị nhân dân, chống phong trào công nhân, chạy đua vũ trang và xâm chiếm thuộc địa. Hoàng đế đứng đầu Liên bang có quyền cao nhất (Tổng chỉ huy quân đội, bổ nhiệm và cách chức Thủ tướng, triệu tập và giải tán Quốc hội...). Quyền lập pháp thuộc hai viện – Hội đồng Liên bang (Thượng viện, gồm đại biểu các bang) và Quốc hội (Hạ viện, do bầu cử, nhiệm kì 3 năm). Nước Đức bước vào con đường tư bản chủ nghĩa tương đối muộn, nên khi trở thành cường quốc công nghiệp thì phần lớn đất đai trên thế giới đã là thuộc địa hoặc nửa thuộc địa của Anh, Pháp... Ngay từ thập niên 90 của thế kỉ XIX, Đức đã công khai đòi dùng vũ lực chia lại thế giới. Vì thế, mâu thuẫn giữa Đức với Anh và Pháp – những nước có nhiều thuộc địa nhất – trở nên hết sức gay gắt, dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Tính chất quân phiệt hiếu chiến là đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa đế quốc Đức. - Nêu một số sự kiện chứng tỏ kinh tế Đức phát triển mạnh. Nguyên nhân của sự phát triển đó. 4. Nước Mĩ a) Tình hình kinh tế Sau cuộc nội chiến (1861 – 1865), chủ nghĩa tư bản ở Mĩ phát triển vượt bậc. Những nguyên nhân chủ yếu là : Việc giải phóng nô lệ tạo nên nguồn lao động phong phú và năng động, lại thêm nguồn nhập cư từ châu Âu và châu Á càng làm tăng thêm nhân công và trí tuệ cho các ngành sản xuất. Chế độ kinh tế đồn điền và trang trại cùng những cánh đồng mênh mông làm cho nước Mĩ trở thành vựa lúa, có nguồn nông phẩm rất phong phú và đa dạng. Trên lãnh thổ rộng lớn từ bờ Đại Tây Dương đến bờ Thái Bình Dương, nước Mĩ đã tìm thấy và khai thác các mỏ vàng, than, dầu lửa cùng nhiều khoáng sản khác. Do đặc điểm lịch sử, nước Mĩ 62
10_9_6
không bị ràng buộc bởi tàn dư của chế độ phong kiến lạc hậu, không gặp trở ngại về quyền lực chính trị và kinh tế của giới quý tộc. Công nghiệp Mĩ xây dựng muộn, có thể áp dụng ngay kĩ thuật tiên tiến nên năng suất khá cao. Với những thuận lợi ấy, chỉ từ năm 1865 đến năm 1894, Mĩ từ hàng thứ tư đã vươn lên hàng đầu thế giới về sản xuất công nghiệp. Đến giữa những năm 90 thế kỉ XIX, sản lượng công nghiệp Mĩ tăng 4 lần, bằng 1/2 tổng sản lượng của các nước Tây Âu gộp lại và gấp 2 lần nước Anh. - Sự cạnh tranh và những cuộc khủng hoảng kinh tế chu kì đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tập trung sản xuất và tư bản ở Mĩ. Các ngành công nghiệp lần lượt rơi vào tay một số nhà tư bản kếch sù, liên minh với nhau thành những tơrớt – một hình thức độc quyền cao và phổ biến ở Mĩ. Tiêu biểu cho các tơrớt Mĩ là “vua dầu mỏ” Rốc-phe-lơ, “vua sắt thép” Moóc-gan... Những “vua kĩ nghệ” vừa lũng đoạn công nghiệp, vừa là chủ các ngân hàng lớn, vừa chi phối toàn bộ đời sống chính trị và xã hội nước Mĩ. Hình 30. Tranh đương thời nói về quyền lực của các tổ chức độc quyền ở Mĩ Moóc-gan thành lập công ti thép Mĩ (1903) kiểm soát 60% ngành sản xuất thép. Công ti còn sở hữu 5 000 ha đất mỏ chứa than cốc, 1 600 km đường sắt, 100 tàu thuỷ. Tơrớt dầu mỏ của Rốc-phe-lơ kiểm soát 90% ngành sản xuất dầu mỏ với 7 vạn km đường ống dẫn dầu, hàng trăm tàu biển và kho hàng ở trong và ngoài nước. Rốc-phe-lơ còn chinh phục các ngành hơi đốt, điện khí, các công ti kẽm, đồng, chì. Hai tập đoàn trên lũng đoạn ngành ngân hàng, nắm trong tay 1/3 toàn bộ số vốn ngân hàng nước Mĩ. 63
10_9_7
b) Tình hình chính trị Đứng đầu Chính phủ Mĩ là Tổng thống. Hai đảng tư sản – Cộng hoà và Dân chủ cứ 4 năm một lần đưa người ra tranh cử chức Tổng thống và đại biểu Quốc hội, gồm hai viện – Hạ viện và Thượng viện. So với các nước đế quốc khác, Mĩ chậm trễ trong việc xâm chiếm thuộc địa, vì mải lo chinh phục các vùng đất đai rộng lớn ở miền Trung và miền Tây đất nước. Từ những năm 80 của thế kỉ XIX trở đi, khi biên giới nước Mĩ đã chạm bờ Thái Bình Dương, Mĩ lập tức vươn ra ngoài lãnh thổ của mình. Năm 1898, Mĩ gây chiến với Tây Ban Nha để cướp Phi-líp-pin và Cu-ba. Bằng đôla và sức mạnh quân sự, Mĩ can thiệp vào nội bộ các nước Mĩ Latinh. Đối với Trung Quốc, Mĩ đề ra chính sách “mở cửa” để xâm nhập vào đất nước rộng lớn và giàu có này. Trình bày những nét nổi bật trong nền kinh tế, chính trị Mĩ cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1. Vì sao sau năm 1870, Anh mất địa vị độc quyền công nghiệp, còn công nghiệp Pháp thì phát triển chậm ? 2. Tại sao nói chủ nghĩa đế quốc Anh là chủ nghĩa đế quốc thực dân, còn chủ nghĩa đế quốc Pháp là chủ nghĩa đế quốc cho vay lãi ? 3. Vì sao giới cầm quyền Đức ráo riết chuẩn bị chiến tranh thế giới ? 4. Những nguyên nhân nào khiến kinh tế Mĩ phát triển vượt bậc ? 5. Hoạt động bành trướng của Mĩ diễn ra như thế nào ? PHẦN ĐỌC THÊM 64 54 Sự phát triển kinh tế Anh đầu thế kỉ XX và bước chuyển sang chủ nghĩa đế quốc Đến đầu thế kỉ XX, nước Anh vẫn giữ địa vị hàng đầu trong nền kinh tế thương nghiệp và trong những hoạt động tín dụng thế giới. Luân Đôn đóng vai trò một trung tâm tài chính và đồng bảng Anh (livrơ xtecling) vẫn là đơn vị tiền tệ thông dụng trong mậu dịch quốc tế. So với hồi cuối thế kỉ XIX, tốc độ phát triển công nghiệp có nhanh hơn, đặc biệt là các ngành đóng tàu, hoá chất, điện khí. Nhưng trong cuộc cạnh tranh
10_9_8
tư bản chủ nghĩa, độ tăng trưởng của Anh vẫn tiếp tục lạc hậu so với các nước khác, nhất là so với Mĩ và Đức. Tỉ lệ sản phẩm của công nghiệp Anh trong toàn bộ sản lượng thế giới từ năm 1900 đến năm 1913 giảm sút rõ rệt : than từ 29,7% xuống 21,8%, gang từ 22,1% xuống 13%, tiêu thụ bông từ 28,5% xuống 23,2%. Nhiều công ti lũng đoạn xuất hiện trong hầu hết các ngành công nghiệp : khai thác than, dệt, thuốc lá, hoá chất, luyện kim, vận tải. Nhưng quá trình tập trung ở Anh diễn ra nhanh và mạnh mẽ, nhất là trong ngành ngân hàng. Năm 1913, 27 nhà ngân hàng đã tập trung trong tay một số vốn bằng 85% tổng số vốn tư bản trong nước. Có thế lực nhất là 5 nhà ngân hàng ở Luân Đôn chiếm 40% số tư bản của nước Anh. Những nhà ngân hàng đều có chi nhánh ở thuộc địa. Sự phát triển của ngân hàng thúc đẩy việc xuất khẩu tỏ bản. Nếu năm 1900, nước Anh đầu tư ra bên ngoài 2 tỉ livrơ xtécling thì đến năm 1913 lên gần 4 tỉ. Nếu năm 1899 tiền lãi của số vốn xuất khẩu là 90 triệu livrơ xtécling thì đến năm 1912 lên tới 176 triệu. Thị trường đầu tư chủ yếu của nước Anh là các thuộc địa và một số nơi như Trung Quốc, Nga, các nước Mĩ Latinh... (Theo : Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giới cận đại, Sđd, tr. 231) 65 65
10_10_1
Chương III PHONG TRÀO CÔNG NHÂN (Từ đầu thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX) Bài PHONG TRÀO ĐẤU TRANH 10 CỦA CÔNG NHÂN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX Giai cấp công nhân ra đời và lớn mạnh cùng với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Do đối lập về quyền lợi, mâu thuẫn giữa tư sản với công nhân đã nảy sinh, dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt. 1. Sự ra đời và tình cảnh của giai cấp vô sản công nghiệp - Chủ nghĩa tư bản ra đời và phát triển thì sự phân chia xã hội thành hai giai cấp cơ bản đối lập nhau – giai cấp tư sản và giai cấp vô sản – ngày càng rõ rệt. Giai cấp tư sản bao gồm những chủ công xưởng, nhà máy, chủ đồn điền, quý tộc mới... Họ tích luỹ tài sản thông qua bóc lột những người lao động nghèo khổ và tiến hành buôn bán nô lệ. Những người vô sản xuất thân từ những nông dân bị phá sản, mất đất, phải rời bỏ quê hương ra thành thị tìm đường sinh sống, phải làm thuê trong các công xưởng, nhà máy. Bổ sung cho đội ngũ này có cả những thợ thủ công ở thành thị bị phá sản. Giai cấp vô sản hoàn toàn không có tư liệu sản xuất, chỉ dựa vào việc bán sức lao động của mình cho tư sản để sinh sống. Giai cấp vô sản công nghiệp ra đời từ nửa cuối thế kỉ XVIII, trước tiên là ở Anh, khi cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu. Về sau, khi cách mạng công nghiệp phát triển, lan nhanh ở nhiều nước thì giai cấp vô sản ở các nước này cũng xuất hiện và ngày càng lớn mạnh. Do bị giai cấp tư sản áp bức bóc lột nặng nề nên đời sống của công nhân hết sức cơ cực. 66 66 Ở nước Anh, mỗi ngày công nhân trong các xưởng dệt (kể cả phụ nữ và trẻ em) phải lao động 14 15 giờ, thậm chí có nơi 16 – 18 giờ. Điều kiện làm việc rất tồi tệ, với môi trường luôn ẩm thấp, nóng nực, bụi bông phủ đầy những căn phòng chật hẹp. Tiền lương của công nhân rất thấp, lương của phụ nữ và trẻ em còn rẻ mạt hơn. Trong vòng 20 năm (1815 – 1835), tiền lương thực tế giảm 3 lần.
10_10_2
Hình 31. Lao động trẻ em trong hầm mỏ ở Anh Việc sử dụng máy móc ngày càng rộng rãi làm cho nhiều công nhân có nguy cơ mất việc làm. Trước tình hình ấy, công nhân đã đứng lên đấu tranh chống giai cấp tư sản. Tình cảnh của công nhân ở các nước tư bản như thế nào ? 2. Phong trào đấu tranh của công nhân trong nửa đầu thế kỉ XIX Lúc đầu, do nhận thức còn hạn chế, công nhân cho rằng máy móc là nguồn gốc gây nên sự đói nghèo, đau khổ và thất nghiệp. Phong trào đập phá máy móc, đốt công xưởng là hình thức đấu tranh tự phát đầu tiên của giai cấp vô sản. Phong trào này diễn ra trong thời gian cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, trước hết ở Anh rồi lan ra các nước khác. Song, việc đập phá máy móc không đem lại kết quả gì ngoài sự tăng cường đàn áp của giai cấp thống trị. Qua thực tiễn, công nhân ngày càng nhận thấy rõ rằng chính giai cấp tư sản mới là kẻ bóc lột họ và mục tiêu đấu tranh nhằm vào giai cấp tư sản. Ở Anh, trong những năm 20 – 30 của thế kỉ XIX, công nhân đấu tranh đòi quyền bầu cử. Năm 1832, Quốc hội Anh phải thông qua đạo luật cải cách tuyển cử ; theo đó, điều kiện tài sản của cử tri được hạ thấp, song vẫn không đem lại quyền bầu cử cho công nhân, tiểu tư sản và tư sản hạng trung. Trong những năm 1836 – 1848, một phong trào công nhân rộng lớn, có tổ chức đã diễn ra – phong trào Hiến chương. - Công nhân tổ chức mít tinh, lấy chữ kí, đưa kiến nghị đến Nghị viện, đòi quyền phổ thông đầu phiếu, tăng lương và giảm giờ làm cho người lao động. Mặc dù bị đàn áp và kiến nghị của công nhân không được chấp nhận, song đây là “phong trào cách mạng đầu tiên thực sự có tính quần chúng, có ý thức chính trị” (Lê-nin). 67
10_10_3
BOECON Hình 32. Phong trào Hiến chỗ lơng ở Anh Ở Pháp, năm 1831, do bị bóc lột nặng nề và đời sống quá khó khăn, công nhân dệt thành phố Li-ông khởi nghĩa đòi tăng lương, giảm giờ làm. Những người khởi nghĩa đã làm chủ thành phố trong 10 ngày. Quyết tâm đấu tranh của họ thể hiện trong khẩu hiệu : “Sống trong lao động hoặc chết trong chiến đấu !”. Năm 1834, công nhân các nhà máy tơ ở Li-ông lại khởi nghĩa, đòi thiết lập nền cộng hoà. Cuộc chiến đấu ác liệt đã diễn ra suốt 4 ngày, cuối cùng bị dập tắt. Ở Đức, đời sống của công nhân và thợ thủ công rất cơ cực, do sự phát triển của nền đại công nghiệp và sự cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu từ Anh vào. Công nhân Đức, ngoài việc bị nhà tư bản (chủ công trường thủ công) bóc lột tàn nhẫn, còn bị “chủ cũ” (địa chủ) áp bức nặng nề. Để được đi làm trong các nhà máy, công nhân phải đóng thuế đặc biệt cho địa chủ. Năm 1844, công nhân dệt vùng Sơ-lê-din khởi nghĩa, phá huỷ nhà cửa của chủ tư bản. Cuộc khởi nghĩa mặc dù không duy trì được lâu nhưng mang tính quần chúng rõ rệt, có tác dụng mở đầu phong trào đấu tranh sôi nổi của công nhân Đức sau này. Những cuộc đấu tranh trên của vô sản Anh, Pháp, Đức đều thất bại vì thiếu sự lãnh đạo đúng đắn và chưa có đường lối chính trị rõ ràng, song đã đánh dấu sự trưởng thành của phong trào công nhân quốc tế, tạo điều kiện quan trọng cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học. Nêu những nét chủ yếu của phong trào công nhân vào nửa đầu thế kỉ XIX. 68 80
10_10_4
3. Chủ nghĩa xã hội không tưởng Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ngày càng phơi bày những mặt tiêu cực của nó trong việc bóc lột tàn nhẫn người lao động và gây ra nhiều tệ nạn xã hội. Điều này tác động tới ý thức của một số nhà tư tưởng tiến bộ nhất lúc bấy giờ như : Xanh Xi-mông, S. Phu-ri-ê ở Pháp và R. Ô-oen ở Anh... Họ nêu tư tưởng về xây dựng một xã hội mới, không có chế độ tư hữu, không bóc lột, nhân dân làm chủ mọi phương tiện sản xuất. Xanh Xi-mông _ nhà tư tưởng Pháp, cho rằng động lực phát triển của lịch sử là kiến thức khoa học, đạo đức và tôn giáo. Ông chủ trương xây dựng một xã hội đang tồn tại chế độ tư hữu, vô sản và tư sản chung sống hoà bình với nhau. Sác-lơ Phu-ri-ê – nhà xã hội không tưởng Pháp, phê phán mạnh mẽ chế độ tư bản, vạch kế hoạch xây dựng một xã hội phát huy mọi khả năng của con người. Ông cho rằng trong xã hội tương lai, lao động là nghĩa vụ, là nguồn vui và nhu cầu của tất cả mọi người, không có ai ăn bám. Rô-be Ô-oen – nhà xã hội không tưởng Anh, đề ra kế hoạch cải thiện đời sống của công nhân trong khuôn khổ chế độ tư bản. Ông chủ trương xoá bỏ tư hữu, giai cấp, sự bóc lột bằng con đường hợp tác và giúp đỡ nhau. Hình 33. Xanh Xi-mông (1760 1825) Hình 34. S. Phu-ri-ê (1772 1837) Hình 35. R. Ô-ben (1771_1858) Tuy tố cáo mạnh mẽ chế độ tư bản chủ nghĩa, ước mơ một xã hội tốt đẹp, công bằng hơn, song các ông lại không vạch ra con đường đúng đắn để thủ tiêu bóc lột, xây dựng xã hội mới. Kế hoạch của họ không thể thực hiện được khi xã hội tư bản không bị xoá bỏ. Họ là những người xã hội không tưởng. Sự phát triển của phong trào công nhân đòi hỏi sự ra đời một học thuyết thực sự khoa học, định hướng cho cuộc đấu tranh xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội mới tốt đẹp. 69
10_10_5
Chủ nghĩa xã hội không tưởng ra đời trong điều kiện nào ? CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1. Hãy phân tích các mặt mạnh, yếu của phong trào công nhân nửa đầu thế kỉ XIX. 2. Tìm hiểu thêm nội dung tư tưởng của Xanh Xi-mông, Phu-ri-ê, Ô-oen. Vì sao gọi là “chủ nghĩa xã hội không tưởng” ? PHẦN ĐỌC THÊM Tình trạng lao động của trẻ em trong các nhà máy dệt ở Anh đầu thế kỉ XIX Thường trẻ em phải đi làm từ 4 giờ sáng trong thời tiết khắc nghiệt, gió thổi mạnh, tuyết hoặc mưa rơi và chỉ được trở về lúc chiều tối cũng trong những điều kiện như vậy, sau khi bị giam giữ nhiều tiếng đồng hồ trong xưởng có nhiệt độ rất cao. Sự thay đổi nhiệt độ như thế đối với thân thể mềm yếu của trẻ em khiến cho chúng rất ốm yếu, mắc nhiều bệnh hiểm nghèo. Lúc này, phần lớn trẻ em là dưới 16 tuổi, quần áo mong manh... Không khí trong xưởng rất khó thở vì ở đó trong một thời gian lâu có nhiều người thở, dầu mỡ máy móc làm bẩn môi trường, hơi nhả ra lại thêm bụi bông rất độc. (Theo : Lu-kin và Da-lin, Tổ liệu lịch sử cận đại thế giới, Mát-xcơ-va, tr. 87, tiếng Nga) Về chủ nghĩa xã hội không tôi ởng Chủ nghĩa xã hội không tưởng phát sinh vào thời kì mà nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự đối kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản chưa phát triển. Những lí luận chưa chín muồi của chủ nghĩa xã hội không tưởng phù hợp với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chưa chín muồi và với tình trạng quan hệ giai cấp chưa phát triển mấy. Tầm quan trọng của những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đối với phong trào công nhân là ở chỗ họ đã kịch liệt công kích chế độ tư bản chủ nghĩa bằng cách phơi trần những mâu thuẫn của chế độ đó. (Theo : V. E-phi-mốp và M. Khơ-vô-xtốp, Lịch sử cận đại, NXB Sự thật, H., 1963, tr. 161) 70 70
10_11_1
Bài SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC _ QUỐC TẾ THỨ NHẤT 11 Chủ nghĩa xã hội không tưởng không đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu đấu tranh của giai cấp công nhân. Phong trào công nhân phát triển, đòi hỏi một lí luận khoa học cách mạng mới. Trong điều kiện ấy, chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời, do Các Mác và Phri-đrích Ăng-ghen sáng lập. 1. C. Mác và Ph. Ăng-ghen – những người sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học Các Mác sinh ngày 5 – 5 – 1818 trong một gia đình trí thức tiến bộ, ở thành phố Tơ-ri-ơ (Đức). Năm 23 tuổi (1841), Mác đỗ Tiến sĩ với luận án xuất sắc về đề tài triết học cổ đại Hi Lạp. Hình 36. C. Mác (1818_1883) Năm 1842, Mác làm cộng tác viên, rồi Tổng biên tập Báo sông Ranh – một tờ báo có xu hướng dẫn chủ tư sản tiến bộ. Dưới sự chỉ đạo của Mác, Báo sông Ranh đã đề cập những vấn đề bức thiết của nước Đức thời bấy giờ : cuộc sống khổ cực của người nông dân, vấn đề thống nhất nước Đức, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa quân phiệt Phổ... Vì tính chất tiến bộ, chống chế độ phản động của Phổ nên Báo sông Ranh bị đóng cửa. Năm 1843, Mác cùng vợ là Gien-ni phải rời Đức sang Pa-ri (Pháp), rồi đến Brúc-xen (Bỉ) và cuối cùng cư trú lâu dài ở Luân Đôn (Anh). Tại Pa-ri, Mác thường xuyên tiếp xúc với những nhà hoạt động cách mạng của phong trào công nhân, nghiên cứu lịch sử công nhân Pháp, các tác phẩm triết học duy vật... và tham gia xuất bản tạp chí Biên niên Pháp Đức. Trong những bài viết của mình, Mác đã khẳng định rằng : Giai cấp vô sản được vũ trang bằng lí luận cách mạng là giai cấp sẽ đảm đương sứ mệnh lịch sử giải phóng loài người khỏi mọi sự áp bức bóc lột. Phri-đrích Ăng-ghen sinh ngày 28 – 11 – 1820, trong một gia đình chủ xưởng ở thành phố Bác-men (Đức). Ông căm ghét chế độ chuyên chế cùng những thủ đoạn làm giàu của giới kinh doanh và sớm tham gia phong trào cách mạng của công nhân. 71
10_11_2
? Trong cuốn Tình cảnh giai cấp công nhân Anh, Ăng-ghen miêu tả cụ thể, sinh động sự bóc lột tàn bạo của giai cấp tư sản đối với công nhân. Từ đó, ông rút ra kết luận : Giai cấp vô sản không chỉ là nạn nhân của chủ nghĩa tư bản, mà còn là lực lượng có thể đánh đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và tự giải phóng khỏi mọi xiềng xích. Hình 37. Ph. Ăng-ghen (1820 1895) Năm 1844, Ăng-ghen sang Pa-ri và gặp Mác. Cuộc gặp gỡ này đã mở đầu tình bạn cảm động và sự cộng tác chặt chẽ giữa hai nhà cách mạng vô sản vĩ đại, những người sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học. Trong thực tiễn phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, Mác và Ăng-ghen đã cùng nhau nghiên cứu lí luận và thành lập một tổ chức quốc tế của giai cấp vô sản. Về lí luận, hai ông xây dựng học thuyết về chủ nghĩa xã hội khoa học, nêu rõ con đường phát triển hợp quy luật của xã hội loài người và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản. Trình bày những nét chính về buổi đầu hoạt động cách mạng của C. Mác và Ph. Ăng-ghen. 2. Đồng minh những người cộng sản và Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Trong những năm sống ở Anh, Mác và Ăng-ghen đã liên hệ với Đồng minh những người chính nghĩa – một tổ chức bí mật của công nhân Tây Âu, được thành lập ở Pa-ri năm 1836, và cải tổ cho phù hợp với mục tiêu đấu tranh của giai cấp công nhân. Tháng 6 – 1847, tại đại hội của Đồng minh những người chính nghĩa, một tổ chức mới - Đồng minh những người cộng sản – được thành lập. Đây là tổ chức đầu tiên của giai cấp vô sản quốc tế, nhằm : “đoàn kết vô sản tất cả các nước, để ... lật đổ giai cấp tư sản, xác lập sự thống trị của vô sản, thủ tiêu xã hội tư bản”. Đại hội lần thứ hai của Đồng minh những người cộng sản họp cuối tháng 11 – đầu tháng 12 – 1847 đã thông qua Điều lệ và giao cho Mác, Ăng-ghen soạn thảo Côơng lĩnh, dưới hình thức một bản tuyên ngôn – Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là bản cương lĩnh trình bày cơ sở lí luận, xác định vai trò của giai cấp vô sản trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh, nhằm lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và xây dựng chuyên chính vô sản. 72
10_11_3
Nội dung cơ bản của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được trình bày trong 4 chương : Chương I – Tổ sản và vô sản, nêu lên một cách khái quát quy luật phát triển của xã hội tư bản, vạch rõ lợi ích đối lập giữa tư sản, vô sản và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, đồng thời chỉ ra quy luật phát triển của lịch sử xã hội có giai cấp là lịch sử đấu tranh giai cấp đối kháng. (Về sau Ph. Ăng-ghen chú thích : lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp). Chương II – Vô sản và cộng sản, trình bày mối quan hệ giữa những người cộng sản và giai cấp vô sản, vạch rõ tính chất, nhiệm vụ trước mắt, mục đích cuối cùng của Đảng Cộng sản và những biện pháp cách mạng để thực hiện những nhiệm vụ và mục đích ấy. Chương III - Sách báo xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, phê phán sâu sắc trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa phi vô sản — tư sản và tiểu tư sản. Tuyên ngôn cũng nêu lên những mặt tích cực của chủ nghĩa xã hội không tưởng, đồng thời chỉ rõ những hạn chế của nó. Chương IV – Quan hệ của những ngô lời cộng sản đối với các đảng đối lập, trình bày những nguyên tắc chiến lược và sách lược của Đảng Cộng sản. Wanifeft ter Kommuniſtiſchen Partei. Beröffentlicht im Zebruar 1648 Proletarier eller fänder vereinigt run. Cordon. Gebrudt in dat u wer „Bitburgs-@etylffchaft für Acheitre Burghard tom 45, LAVENDO STHAT BESIG Hình 38. Bìa “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” lần xuất bản đầu tiên (1848) Tuyên ngôn kết thúc bằng lời kêu gọi : “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại !”. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là một văn kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn, nêu những luận điểm cơ bản về chủ nghĩa xã hội khoa học, thể hiện sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân. Tư tưởng cơ bản của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã soi sáng con đường đấu tranh của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Như vậy, phong trào công nhân các nước tư bản đã chuyển dần từ tự phát sang tự giác, giai cấp công nhân đã nhận thức được sứ mệnh lịch sử của mình. 73
10_11_4
- C. Mác và Ph. Ăng-ghen có vai trò như thế nào trong việc thành lập Đồng minh những người cộng sản ? Nêu ý nghĩa lịch sử bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. 3. Quốc tế thứ nhất Đến giữa thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản đã được xác lập trên phạm vi thế giới. Mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt, dẫn đến các cuộc khởi nghĩa của công nhân và nhân dân lao động trong những năm 1848 – 1849 ở nhiều nước châu Âu, đặc biệt ở Pháp và Đức. Cuộc khởi nghĩa tháng 6 – 1848 ở Pháp là “cuộc xung đột đầu tiên giữa hai giai cấp phân chia xã hội hiện nay... Nó nêu ra phương hướng đánh đổ giai cấp tư sản và thiết lập nền chuyên chính vô sản” (C. Mác). Cuộc đấu tranh của công nhân Pháp diễn ra rất quyết liệt (hàng trăm chiến sĩ hi sinh, khoảng 2 000 người bị bắt). Trong những năm 1848 – 1849, phong trào cách mạng nổ ra ở nhiều bang thuộc Đức : khởi nghĩa tháng 3 – 1848 ở Béc-lin, các cuộc khởi nghĩa ở Xắc-xông, vùng sông Ranh đòi công bố hiến pháp, đấu tranh thống nhất nước Đức. Các cuộc đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động các nước lần lượt thất bại vì nhiều nguyên nhân như : thiếu đoàn kết, chưa có tổ chức thống nhất... Trong bối cảnh ấy, ngày 28 – 9 – 1864, khoảng 2 000 đại biểu công nhân từ Anh, Pháp, I-ta-li-a, Ba Lan... tổ chức mít tinh lớn tại Luân Đôn, quyết định thành lập Hội Liên hiệp lao động quốc tế (Quốc tế thứ nhất). Mác được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được giao nhiệm vụ dự thảo Tuyên ngôn và Điều lệ của Quốc tế thứ nhất. 74 74 Hình 39. Quang cảnh buổi thành lập Quốc tế thứ nhất
10_11_5
Tuyên ngôn nêu nhiệm vụ của giai cấp công nhân là : giành chính quyền cách mạng, xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất, đoàn kết quốc tế, giáo dục những nguyên lí của chủ nghĩa xã hội khoa học. Điều lệ quy định kết nạp rộng rãi các tổ chức công nhân lẫn các cá nhân riêng lẻ. Quốc tế thứ nhất đấu tranh chống các trào lưu tư tưởng xa lạ với lập trường của giai cấp công nhân, truyền bá rộng rãi chủ nghĩa Mác, chủ trương đòi ngày làm việc 8 giờ, giảm bớt thời gian lao động của phụ nữ và trẻ em... Nó đóng góp nhiều cho phong trào đấu tranh của công nhân (ủng hộ công nhân bãi công, phản đối các chính phủ khủng bố, tàn sát các cuộc đấu tranh của công nhân...). Sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình – đoàn kết, thống nhất lực lượng công nhân quốc tế, truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác, chuẩn bị thành lập các chính đảng công nhân ở châu Âu và Bắc Mĩ – Quốc tế thứ nhất chính thức tuyên bố giải tán ngày 15 – 7 – 1876. Quốc tế thứ nhất được thành lập trong điều kiện lịch sử như thế nào ? |CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1.Trình bày sơ lược tiểu sử của C. Mác và Ph. Ăng-ghen. 2. Nêu những nội dung cơ bản của Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. 3. Quốc tế thứ nhất đóng góp những gì cho phong trào công nhân những năm 60 – 70 của thế kỉ XIX ? PHẦN ĐỌC THÊM Giá trị của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Cuốn sách mỏng đó đáng giá hàng tập sách. Tư tưởng của nó làm sống và làm hoạt động cho tới ngày nay toàn bộ giai cấp vô sản có tổ chức và chiến đấu của thế giới văn minh. Quốc tế thứ nhất (Theo : V.I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 10, tr. 10, tiếng Nga) Đệ nhất quốc tế tuy chỉ đứng được 10 năm, nhưng khẩu hiệu Toàn thế giới vô sản giai cấp liên hợp lại và tinh thần cách mạng vẫn truyền đến bây giờ. Tuy không làm được nhiều việc, nhưng cái công dạy cho thợ thuyền trong thế giới cách mạng thì rất to. (Theo : Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, Sđd, tr. 283) 75
10_12_1
Bài 12 CÔNG XÃ PA-RI (1871) Vào những năm 1850 – 1860, phong trào công nhân, dưới sự lãnh đạo của Quốc tế thứ nhất, phát triển đến đỉnh cao. Cuộc Cách mạng năm 1871 ở Pháp đã đưa tới sự thành lập nhà nước vô sản đầu tiên của giai cấp công nhân thế giới. 1. Cuộc Cách mạng 18 - 3 - 1871 Cuộc Chiến tranh Pháp – Phổ nổ ra ngày 19 – 7 – 1870. Quân Pháp bị thất bại. Ngày 2 – 9, Na-pô-lê-ông III cùng toàn bộ quân chủ lực Pháp, gồm 10 vạn người, bị bắt tại thành Xơ-đăng (gần biên giới Pháp – Bỉ). - Ngày 4 9 – 1870, quần chúng công nhân và các tầng lớp dân nghèo Pa-ri đứng lên khởi nghĩa, đòi thiết lập chế độ cộng hoà và thành lập các đơn vị Quốc dân quân, chuẩn bị lực lượng chống quân Phổ xâm lược. Nhưng giai cấp tư sản Pháp đã thành lập chính phủ lâm thời với tên gọi “Chính phủ Vệ quốc”. Thực ra, “Chính phủ Vệ quốc” không tổ chức chống trả khi quân Phổ ngày càng tiến sâu vào đất Pháp và bao vây Pa-ri, ngược lại đã xin đình chiến, tìm cách phá hoại cuộc kháng chiến của nhân dân, ra lệnh chấm dứt phòng thủ đất nước. Trước thái độ đầu hàng của “Chính phủ Vệ quốc”, quần chúng nhân dân đứng lên khởi nghĩa, “nhanh chóng cứu nguy cho Pa-ri !”. Ba giờ sáng 18 – 3 – 1871, “Chính phủ Vệ quốc” do Chi-e đứng đầu cho quân đánh chiếm đồi Mông-mác (ở phía bắc Pa-ri), nơi tập trung đại bác của Quốc dân quân. Nghe tiếng chuông nhà thờ báo động, quần chúng nhân dân đã kịp thời kéo đến hỗ trợ cho Quốc dân quân, bao vây quân của Chính phủ. Âm mưu chiếm đồi Mông-mác của Chính phủ bị thất bại. Trưa 18 – 3, theo lệnh của Uỷ ban Trung ương Quốc dân quân, các tiểu đoàn tiến vào trung tâm thủ đô, chiếm các cơ quan Chính phủ, nhà ga, sở cảnh sát và toà Thị chính. Chiều 18 – 3, cờ đỏ phấp phới bay trên nóc toà Thị chính. Quân Chính phủ phải rút chạy về Véc-xai để củng cố lực lượng. Quân cách mạng làm chủ thành phố và ngày 26 – 3, đã tổ chức bầu cử Hội đồng Công xã. Ngày 28 – 3, Hội đồng Công xã làm lễ ra mắt, đánh dấu thắng lợi của cuộc cách mạng. 76
10_12_2
COMMUNE Hình 40. Quần chúng Pa-ri hân hoan đón chào Hội đồng Công xã ? - - Trước tình thế “Tổ quốc lâm nguy”, thái độ của quần chúng nhân dân Pa-ri và Chính phủ tư sản như thế nào ? Nêu diễn biến cuộc Cách mạng 18 – 3 – 1871. 2. Công xã Pa-ri _ Nhà nước vô sản đầu tiên Để thay thế cho chính quyền tư sản, một chính phủ cách mạng được bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Cơ quan cao nhất của nhà nước mới là Hội đồng Công xã, tập trung trong tay quyền lập pháp và quyền hành pháp. Các uỷ ban được thành lập(), đứng đầu mỗi uỷ ban là một Uỷ viên Công xã, chịu trách nhiệm trước nhân dân và có thể bị bãi miễn. Quân đội và bộ máy cảnh sát của chính quyền cũ bị giải tán, thay vào đó là lực lượng vũ trang và lực lượng an ninh nhân dân. Công xã quyết định tách nhà thờ ra khỏi những hoạt động của trường học và nhà nước ; nhà trường không dạy Kinh Thánh. Công xã còn thi hành nhiều chính sách xã hội tiến bộ khác như : thực hiện quyền làm chủ của công nhân đối với những xí nghiệp chủ bỏ trốn ; những xí nghiệp còn chủ ở lại thì Công xã kiểm soát chế độ tiền lương, bớt lao động ban đêm, cấm cúp phạt và đánh đập công nhân. Công xã giải quyết nạn thất nghiệp, ra lệnh hoãn trả tiền thuê nhà, hoãn trả nợ. Công xã đề ra chế độ giáo dục bắt buộc, không mất tiền cho toàn dân, lập vườn trẻ, cải thiện điều kiện làm việc cho nữ công nhân. Nhiều tổ chức quần chúng ra đời, các câu lạc bộ trở thành nơi liên hệ giữa uỷ viên Công xã với nhân dân v.v... (1) Công xã bao gồm các uỷ ban : Quân sự, An ninh xã hội, Đối ngoại, Tư pháp, Tài chính, Lương thực, Thương nghiệp, Giáo dục, Công tác xã hội ; đến ngày 1– 5 – 1871, thành lập thêm Uỷ ban Cứu quốc. 77
10_12_3
Cơ cấu tổ chức, các chính sách và hoạt động của Công xã Pa-ri chứng tỏ đây là một nhà nước khác hẳn các kiểu nhà nước của những giai cấp bóc lột trước kia, một nhà nước kiểu mới – nhà nước vô sản, của dân, do dân và vì dân. - ? Trình bày những chính sách của Công xã Pa-ri. 3. Cuộc chiến đấu bảo vệ Công xã Pa-ri Chính phủ tư sản và các thế lực phản động Pháp tìm mọi cách tập hợp, củng cố lực lượng để bóp chết Công xã Pa-ri. Từ tháng 4, quân Véc-xai bắt đầu tấn công Pa-ri. Ngày 21–5, quân Véc-xai tiến vào Pa-ri qua cửa Xanh Clu. Từ đó diễn ra các trận đánh ác liệt ở các đường phố, kéo dài trong một tuần (từ ngày 21 đến ngày 28 – 5 – 1871), được gọi là “Tuần lễ đẫm máu”. Các chiến sĩ Công xã đã anh dũng chiến đấu bảo vệ từng khu phố, từng căn nhà, từng tấc đất. Đặc biệt, cuộc chiến đấu của gần 200 chiến sĩ Công xã cố thủ trong nghĩa địa Cha La-se-dơ tiêu biểu cho tinh thần anh dũng của giai cấp công nhân. Bị bao vây từ 4 giờ sáng, các chiến sĩ Công xã dùng mọi thứ vũ khí chống trả quân thù, cho đến khi vài chục người cuối cùng bị bắt, bị dẫn tới sát bức tường nghĩa địa và bị bắn chết tại đây. Từ đó, bức tường nghĩa địa Cha La-se-dơ được gọi là “Bức tường chiến sĩ Công xã”, nơi mà hằng năm vào ngày kỉ niệm Công xã (28 – 5), nhân dân lao động Pa-ri đến đặt hoa tưởng niệm. ? Dựa vào bài học, viết bài tường thuật về cuộc chiến đấu của các chiến sĩ Công xã ở nghĩa địa Cha La-se-dơ. 4. Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của Công xã Pa-ri Công xã Pa-ri thất bại chủ yếu vì giai cấp công nhân Pháp chưa đủ lực lượng và kinh nghiệm để đánh bại hoàn toàn giai cấp tư sản. Họ chưa có một chính đảng để lãnh đạo cuộc đấu tranh đi tới thắng lợi. Giai cấp tư sản và các thế lực phản động lại câu kết với nhau để tiêu diệt cách mạng. Công xã Pa-ri còn phạm một số sai lầm như : bỏ lỡ thời cơ, thiếu kiên quyết trấn áp kẻ thù và chưa thực hiện được liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân. Ý nghĩa lịch sử của Công xã Pa-ri vô cùng to lớn. Đây là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên nhằm xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa và thiết lập nền chuyên chính vô sản. 78
10_12_4
Công xã Pa-ri cổ vũ tinh thần cách mạng cho giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình và để lại nhiều bài học quý giá. Đó là sự thử nghiệm đầu tiên về một nhà nước kiểu mới, một xã hội mới. Đó là những kinh nghiệm về việc cần thiết phải có sự lãnh đạo của Đảng vô sản, về liên minh công – nông, về việc đập tan bộ máy nhà nước cũ, thiết lập nhà nước mới của dân. ? Phân tích nguyên nhân thất bại của Công xã Pa-ri. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1. Vẽ sơ đồ bộ máy Hội đồng Công xã. 2. Vì sao Công xã Pa-ri được gọi là Nhà nước kiểu mới ? 3. Ý nghĩa và bài học lịch sử của Công xã Pa-ri. PHẦN ĐỌC THÊM Mục đích của Công xã ấy thế nào ? Khi vừa lấy được Pa-ri rồi thì Công xã lập nên chính phủ của dân và tuyên bố rằng Công xã sẽ thực hiện những việc sau này : 1. Bao nhiêu cơ quan sinh sản(*) riêng đều đem làm của công. 2. Tất cả trẻ con trong nước, bất kì con trai, con gái, đều phải đi học. Học phí nhà nước phải cho. 3. Dân có quyền tự do tổ chức, làm báo, khai hội, xuất dương v.v... 4. Bất kì đàn ông, đàn bà ai cũng được quyền chính trị, tuyển cử và ứng cử. 5. Chính phủ tự dân cử lên và dân có quyền thay đổi chính phủ. Bài học Công xã Pa-ri a) Trong ba lần cách mệnh, 1789, 1848, 1870, đều vì dân can đảm nhiều, nhưng tri thức ít, cho nên để tư bản nó lợi dụng. b) Pa-ri Công xã vì tổ chức không khéo và vì không liên lạc với dân cày, đến nỗi thất bại.... (Theo : Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, Sđd, tr. 273 – 274) (*) Tức là công xưởng, máy móc, nguyên vật liệu, sản phẩm... (tác giả SGK chú thích). 79
10_13_1
Bài 13 PHONG TRÀO CÔNG NHÂN QUỐC TẾ (Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX) Sau khi Công xã Pa-ri thất bại (1871) và Quốc tế thứ nhất giải tán (1876), phong trào công nhân ở các nước tư bản bị khủng bố nặng nề, nhưng vẫn từng bước được phục hồi và phát triển. Trên cơ sở ấy, Quốc tế thứ hai được thành lập. 1. Phong trào công nhân quốc tế cuối thế kỉ XIX Từ thập niên 70 của thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ ở châu Âu và Bắc Mĩ. Đội ngũ giai cấp công nhân các nước tăng nhanh về số lượng và chất lượng. Sự bóc lột nặng nề của giai cấp tư sản và chính sách chạy đua vũ trang, chuẩn bị chiến tranh để phân chia lại thế giới của chính phủ các nước làm cho đời sống nhân dân lao động ở các nước tư bản càng thêm khó khăn. Công nhân ở nhiều nước đã đấu tranh đòi tăng lương, cải thiện đời sống, ngày làm 8 giờ... Ở Pháp, do hậu quả của khủng hoảng kinh tế (1882 – 1888), nhiều cuộc bãi công, biểu tình của công nhân liên tiếp diễn ra. Riêng năm 1886, tại các trung tâm công nghiệp, đặc biệt là vùng mỏ, công nhân đấu tranh đòi tăng lương và quyền dân chủ. Ở Anh, những cuộc bãi công của công nhân đòi tăng lương, thực hiện ngày làm 8 giờ và cải thiện đời sống liên tục diễn ra, điển hình là cuộc bãi công của hàng vạn công nhân khuân vác ở bến tàu Luân Đôn vào cuối thập niên 80. Ở Đức, phong trào đấu tranh đòi cải thiện đời sống cho người lao động phát triển mạnh mẽ, buộc giai cấp tư sản phải bãi bỏ “Đạo luật đặc biệt”(I) vào năm 1890. Công nhân đòi quyền tuyển cử, đòi cải thiện đời sống, ngày làm 8 giờ, đòi quyền bãi công v.v... Nổi bật nhất là phong trào công nhân Mĩ vào cuối thế kỉ XIX, gắn liền với những cuộc đình công và bãi công sôi nổi khắp cả nước. Đỉnh cao của phong trào là cuộc Tổng bãi công của công nhân Si-ca-gô ngày 1 – 5 – 1886 đòi ngày làm 8 giờ đã buộc giới chủ phải nhượng bộ. Ngày này sau đó trở thành ngày Quốc tế lao động và chế độ làm việc 8 giờ mỗi ngày dần được thực hiện ở nhiều nước. (1) Đạo luật này được ban hành vào tháng 10 – 1878. Theo đó, các tổ chức công nhân bị giải tán, các toà báo công nhân bị đóng cửa, hàng loạt đảng viên Đảng Công nhân xã hội dân chủ Đức bị bắt bớ và tra tấn. 80
10_13_2
Hình 41. Cuộc Tổng bãi công của công nhân Si-ca-gô ngày 1 _ 5 _ 1886 Nhìn chung, phong trào công nhân quốc tế vào cuối thế kỉ XIX phát triển mạnh mẽ nhưng chưa có sự thống nhất trong lãnh đạo và phối hợp đấu tranh. Tuy nhiên, phong trào đấu tranh cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá học thuyết Mác ở nhiều nước tư bản tiên tiến. Nhờ đó, các đảng công nhân, các đảng xã hội hay các nhóm có khuynh hướng cách mạng của giai cấp công nhân được thành lập : Đảng Công nhân xã hội dân chủ Đức (1875), Đảng Công nhân xã hội Mĩ (1876), Đảng Công nhân Pháp (1879), nhóm Giải phóng lao động Nga (1883), Liên minh xã hội dân chủ ở Anh (1884)... Sự ra đời của các đảng và các tổ chức công nhân đánh dấu bước trưởng thành của phong trào, đòi hỏi phải thành lập một tổ chức quốc tế mới của giai cấp vô sản thế giới. Sau khi Mác qua đời (1883), Ăng-ghen đảm nhiệm vai trò lãnh đạo phong trào công nhân quốc tế. Phong trào công nhân quốc tế vào cuối thế kỉ XIX có những nét nổi bật nào ? 2. Quốc tế thứ hai Ngày 14 – 7 – 1889, Đại hội thành lập Quốc tế thứ hai được tổ chức ở Pa-ri. Đại hội khai mạc đúng vào ngày kỉ niệm 100 năm cuộc Cách mạng tư sản Pháp 1789. Tham dự đại hội có hơn 300 đại biểu nổi tiếng của phong trào công nhân quốc tế. Chỉ đạo đại hội có Ăng-ghen và các nhà hoạt động ở Pháp, Đức, Anh, Nga... Mọi người đều nhất trí phải thành lập một tổ chức quốc tế mới, bởi vì nó sẽ là “một đảm bảo cho hoà bình” và hướng dẫn “cuộc đấu tranh không khoan nhượng của những người lao động”. Đại hội đã thông qua nhiều nghị quyết quan trọng : sự cần thiết phải thành lập chính đảng của giai cấp công nhân ở mỗi nước, đề cao vai trò đấu tranh chính trị, 81
10_13_3
xem đấu tranh hợp pháp là điều kiện để thực hiện mục đích đấu tranh giai cấp, tăng cường phong trào quần chúng, đấu tranh giành chính quyền, đòi tăng lương, ngày làm 8 giờ và hằng năm lấy ngày 1 – 5 làm ngày Quốc tế lao động để đoàn kết và biểu dương lực lượng của giai cấp vô sản thế giới. Cũng như Quốc tế thứ nhất, Quốc tế thứ hai tồn tại và hoạt động chủ yếu dưới hình thức đại hội. Nhờ hoạt động tích cực của Ăng-ghen, Quốc tế thứ hai đã có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển phong trào công nhân thế giới cuối thế kỉ XIX : tiếp tục truyền bá học thuyết Mác, đoàn kết phong trào công nhân các nước, thúc đẩy việc thành lập các chính đảng vô sản ở nhiều nước... Năm 1895, Ph. Ăng-ghen qua đời. Đây là một tổn thất lớn đối với phong trào công nhân. Lúc này xuất hiện một số người có xu hướng phủ nhận học thuyết cách mạng của Mác và Ăng-ghen, đó là trào lưu cơ hội chủ nghĩa. Người đại diện cho trào lưu cơ hội chủ nghĩa cuối thế kỉ XIX là E. Béc-xtai-nơ (1850 – 1932) ở Đức. Dưới danh nghĩa “xét lại” học thuyết Mác, Béc-xtai-nơ muốn gạt bỏ những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác về đấu tranh giai cấp. Những người theo chủ nghĩa xét lại chủ trương thoả hiệp với giai cấp tư sản, đề cao đấu tranh nghị trường, xem đó là hình thức chủ yếu để giành chính quyền về tay giai cấp công nhân. Tiếp tục sự nghiệp của Ăng-ghen, một số lãnh tụ phái tả trong các đảng công nhân như Plê-kha-nốp (Nga), La-phác-giơ (Pháp), Bê-ben, Rô-da Lúc-xăm-bua (Đức)... đã lên tiếng phê phán chủ nghĩa xét lại Béc-xtai-nơ, song cuộc đấu tranh này không được tiến hành triệt để nên kết quả rất hạn chế. Trong những năm đầu thế kỉ XX, cuộc đấu tranh tư tưởng qua các đại hội tiếp theo của Quốc tế thứ hai diễn ra gay gắt và phức tạp giữa khuynh hướng cách mạng và khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa về những vấn đề cơ bản. Đó là : vấn đề giành chính quyền của giai cấp vô sản, thái độ đối với vấn đề thuộc địa và chiến tranh đế quốc... Khuynh hướng cách mạng, đại diện là V. I. Lê-nin, kiên quyết lên án ách thống trị của đế quốc đối với thuộc địa và tích cực đấu tranh cho quyền tự quyết của dân tộc. Quốc tế thứ hai đi dần đến chỗ phân hoá và tan rã khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Đa số thủ lĩnh các đảng cơ hội trong Quốc tế thứ hai ủng hộ chính phủ tư sản nước mình, từ bỏ quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đẩy quần chúng nhân dân và vô sản các nước vào cuộc chiến tranh vì lợi ích của chủ nghĩa đế quốc. Đến đây, Quốc tế thứ hai tan rã, nhưng phong trào cách mạng thế giới vẫn tiếp tục phát triển, chuyển sang một thời kì mới. Nêu những hoạt động và đóng góp quan trọng của Quốc tế thứ hai đối với sự phát triển của phong trào công nhân (đến năm 1895). - Vì sao chủ nghĩa cơ hội dần dần chiếm ưu thế trong Quốc tế thứ hai ? 82
10_13_4
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1. Sưu tầm tài liệu để viết bài tường thuật về cuộc tổng bãi công của công nhân Si-ca-gô ngày 1 – 5 – 1886. 2. Chủ nghĩa cơ hội trong Quốc tế thứ hai vào đầu thế kỉ XX thể hiện như thế nào trong tư tưởng và hành động ? 3. Hãy giải thích câu nói của Lê-nin : “Quốc tế thứ hai đã chết vì bị chủ nghĩa cơ hội đánh bại”. PHÂN ĐỌC THÊM Cuộc đấu tranh của công nhân Si-ca-gô ngày 1 – 5 – 1886 Ngày 1 – 5 – 1886, gần 40 vạn công nhân cả nước Mĩ đình công, xuống đường biểu tình đòi ngày làm 8 giờ. Cuộc đình công lan ra trên 11 000 nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ. Tiêu biểu là cuộc đình công, biểu tình của 8 vạn công nhân Si-ca-gô do Liên đoàn lao động lãnh đạo. Cảnh sát nổ súng vào công nhân trên quảng trường, những người cầm đầu bị bắt và bị xử tử. Mặc dù vậy, Chính phủ buộc phải ban hành đạo luật ngày làm 8 giờ, nhưng mới chỉ áp dụng cho khoảng 1 − 2 vạn người. Cuộc chiến đấu anh dũng và thắng lợi bước đầu của công nhân Mĩ được giai cấp công nhân quốc tế chào mừng. Từ năm 1889, ngày 1 – 5 được ghi vào lịch sử loài người – ngày Quốc tế lao động. (Theo : Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giới cận đại, Sđd) 83
10_14_1
Bài V.I. LÊ-NIN VÀ PHONG TRÀO CÔNG NHÂN NGA ĐẦU THẾ KỈ XX 14 CÁCH MẠNG NGA 1905 | 1907 Đầu thế kỉ XX, kế tục sự nghiệp của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, V. I. Lê-nin đã tiến hành cuộc đấu tranh chống các trào lưu tư tưởng cơ hội chủ nghĩa, làm cho chủ nghĩa Mác ngày càng ảnh hưởng sâu rộng trong phong trào công nhân Nga và phong trào công nhân quốc tế. Cách mạng 1905 – 1907 ở Nga nổ ra, có ảnh hưởng lớn đến phong trào đấu tranh của nhân dân các nước. I – V. I. LÊ-NIN VÀ SỰ THÀNH LẬP CHÍNH ĐẢNG CÔNG NHÂN Ở NGA Từ sau cuộc Cải cách nông nô năm 1861, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Nga phát triển nhưng vẫn chậm chạp so với nhiều nước Âu – Mĩ khác. Cuối thế kỉ XIX, nước Nga bắt đầu chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa mặc dù nền quân chủ phong kiến vẫn tồn tại. Dưới chế độ Nga hoàng, tình cảnh của giai cấp công nhân, nông dân và các dân tộc khác trong đế quốc Nga vô cùng khốn khổ. Công nhân phải lao động 12 – 14 giờ một ngày nhưng với đồng lương thấp. Nông dân không có ruộng, phải cày thuê, quanh năm đói kém. Các dân tộc trong đế quốc Nga bị nhiều tầng bóc lột và sống trong tình trạng lạc hậu. Hình 42. V.I. Lê-nin (1870_1924) Phong trào đấu tranh chống chế độ Nga hoàng ngày một phát triển mạnh mẽ, đi đầu là giai cấp công nhân. Nhiều cuộc bãi công lớn, xung đột vũ trang của công nhân liên tiếp nổ ra. Yêu cầu xây dựng chính đảng của giai cấp công nhân Nga được đặt ra. Lê-nin giữ vai trò to lớn trong việc này. Vla-đi-mia I-lích U-li-a-nốp, tức Lê-nin, sinh ngày 22 – 4 – 1870 trong một gia đình nhà giáo tiến bộ. Lê-nin sớm giác ngộ cách mạng và tham gia phong trào đấu tranh chống chế độ Nga hoàng từ hồi còn học ở trường trung học. Năm 1893, Lê-nin tới Xanh Pê-téc-bua và trở thành người đứng đầu một nhóm mácxít ở đây. ळ 84
10_14_2
Mùa thu năm 1895, Lê-nin thống nhất những nhóm mácxít Pê-téc-bua thành một tổ chức chính trị duy nhất, lấy tên là “Liên hiệp đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân”. Những năm 1895 – 1900, Lê-nin bị bắt và bị đày đi Xi-bia. Hết hạn đày, ông đã tích cực hoạt động chuẩn bị thành lập chính đảng cho giai cấp vô sản Nga. Năm 1900, Lê-nin cùng các đồng chí của ông ra báo Tia lửa. Năm 1903, Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga chính thức ra đời (1), đánh dấu bước ngoặt trong phong trào cách mạng Nga. Khác với các đảng xã hội dân chủ ở châu Âu, Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga là đảng vô sản kiểu mới, thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, lật đổ chế độ Nga hoàng, thiết lập chuyên chính vô sản, giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân... Đầu thế kỉ XX, khi các nước đế quốc chuẩn bị chiến tranh, những phần tử cơ hội trong Quốc tế thứ hai ngả theo chính phủ tư sản thì đảng của Lê-nin – Đảng Bônsêvích – kiên quyết lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đấu tranh cách mạng, từng bước giành thắng lợi. - Nêu tiểu sử tóm tắt của V. I. Lê-nin. – Tại sao nói Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga là đảng kiểu mới ? II – CÁCH MẠNG NGA 1905 – 1907 1. Cách mạng bùng nổ Từ cuối năm 1904, ở Nga nhiều cuộc bãi công và biểu tình của quần chúng đã diễn ra với khẩu hiệu : “Đả đảo chế độ chuyên chế !”, “Đả đảo chiến tranh !”. Các cuộc đấu tranh của quần chúng đã châm ngòi lửa cho cách mạng. Ngày chủ nhật 9 – 1 – 1905, 14 vạn công nhân Xanh Pê-téc-bua và gia đình tay không vũ khí, mang theo cờ xí và ảnh của Nga hoàng, tiến đến Cung điện Mùa Đông để cầu xin Nga hoàng cải thiện đời sống. Nhưng quân đội và cảnh sát đã xả súng vào đoàn biểu tình của quần chúng, hơn 1 000 người chết và gần 5 000 người bị thương. Đó là “Ngày Chủ nhật đẫm máu”. Lòng tin của nhân dân vào Nga hoàng bị tiêu tan và họ nhận thấy rằng : “Nga hoàng đã đánh chúng ta, chúng ta phải đánh trả lại !”. Cách mạng bùng nổ. Công nhân Xanh Pê-téc-bua nổi dậy vũ trang, dựng chiến luỹ, chuẩn bị khởi nghĩa. Công nhân nhiều nơi bãi công. Nông dân cũng nổi dậy ở nhiều nơi, đập phá dinh thự của địa chủ, thiêu huỷ văn tự, khế ước, lấy của cải chia cho nhau. (1) Đại hội lần thứ nhất được tiến hành vào năm 1898, nhưng trên thực tế Đại hội lần thứ hai (1903) mới được coi là Đại hội thành lập Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga. 85
End of preview. Expand in Data Studio
README.md exists but content is empty.
Downloads last month
4