source stringlengths 3 14.5k | summary keyword stringlengths 3 90 | summary stringlengths 265 1.86k |
|---|---|---|
Đọc đến những dòng chữ này thì chắc hẳn bạn đang có vài câu hỏi về Thiết kế đồ họa trong đầu rồi. Bài viết này sẽ phần nào khái quát để bạn hiểu hơn về thiết kế đồ họa và đưa ra danh sách những ngành con của thiết kế đồ họa và các sản phẩm cụ thể của nó. Đồ họa là một lĩnh vực truyền thông trong đó thông điệp được tiếp nhận qua con đường thị giác. Thiết kế đồ họa là tạo ra các giải pháp bằng hình ảnh cho các vấn đề truyền thông. Ở Việt Nam, việc dùng các thuật ngữ đồ họa chỉ là tương đối, bởi việc đặt tên các thuật ngữ đồ họa là dựa trên ý nghĩa sử dụng của nó. Ví dụ: đồ họa thương nghiệp, đồ họa vẽ tem, đồ họa quảng cáo vân vân…. Và thiết kế đồ họa thực sự là gì vẫn đang còn là vấn đề tranh cãi. Một số trường đại học vẫn theo quan điểm đào tạo đồ họa là trang trí gần với hội họa, một số các trung tâm đào tạo về sử dụng phần mềm đồ họa coi đồ họa là một phần của tin học và một số trường lại tiếp nhận quan điểm của phương Tây coi đồ họa và một lĩnh vực truyền thông. Bạn đã biết thiết kế đồ họa là gì rồi phải không. Theo như định nghĩa trên đây thì thiết kế đồ họa quả rộng lớn. Đụng cái gì cũng có sự góp mặt của thiết kế đồ họa, tuy nhiên bởi vị rộng lớn như vậy nên bạn sẽ bị đánh lừa rằng sẽ dễ có việc làm. Vậy bạn nghĩ bạn có thể cùng một lúc giỏi nhiều mảng không? Đấy chính là lý do bạn nên chọn vài mảng phù hợp với sở thích và đam mê để tập trung vào. Ông bà ta nói “Một nghề cho chín còn hơn 9 nghề” thì không có sai đâu. Ngay cả các trường Đại học còn phân chia đặt tên ngành toán loạn, các bài viết thì chủ yếu là PR cho ngành của trường nên mình chẳng biết lấy đâu làm chuẩn. Tạm thời, hãy cứ đặt niềm tin vào 99designs thì thiết kế đồ họa được chia làm các nhóm ngành thiết kế nhỏ như dưới đây. *99Design là một sàn việc làm lớn do dân thiết kế freelancer ở qui mô toàn cầu. Sản phẩm thiết kế thương là hình vẽ minh họa phục vụ cho nhu cầu cá nhân hoặc thương mại. Có bạn hỏi rằng Dựng phim & Kỹ xảo(VFX) có phải thuộc thiết kế đồ họa hay không ? Làm VFX thì cũng cần có những hiểu biết về nguyên lý thị giác (nền tảng chung với Đồ Họa). Cho nên có thể nói VFX cũng có liên quan đến thiết kế đồ họa, VFX là một ngành phát triển trên nền tảng chung với thiết kế đồ họa. Còn Motion Graphic thì sao ? Cũng tương tự như VFX, theo tìm hiểu của mình thì Motion Graphic là một dạng video để truyền tải các thông điệp – nó sử dụng các yếu tố thiết kế (Đường nét – màu sắc – mảng khối …) chuyển động để tạo ra một video clip thể hiện thông điệp muốn truyền tải. Mình thấy nhiều người cho rằng Motion Graphic là Video Explainer (video giải thích), nhưng khi tham khảo qua nhiều trang làm Video Explainer nổi tiếng thấy họ luôn đặt Motion Graphic vào 1 thể loại trong Video Explainer. Cái này chắc phải bàn luận nhiều thì mới ra được định nghĩa chính xác nên thôi mình dừng ở đây nhé. Mình đã cô đọng lại một cách ngắn gọn, hy vọng bạn sẽ thấy dễ hiểu hơn là đọc các bài viết chia ngành ngoài kia. Bài viết chỉ nhằm giải thích thêm cho các bạn newbie đang thắc mắc tự học thiết kế đồ họạ bắt đầu từ đâu. Việc hiểu và phân biệt rạch ròi giữa các tên gọi vẫn chưa thống nhất. Vì thế nên bạn cứ tự do đưa ra bình luận về quan điểm của bản thân nha, chúng ta sẽ cùng thảo luận. Ham học hỏi, học 1 hiểu 10 chỉ tội hơi nổ. Qua chặng đường 4 năm (2012-2016) với ngành đồ họa, blog Tôi học đồ họa này là nơi mình chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm về đồ họa. | Thiết kế đồ họa | Thiết kế đồ họa là cụm từ để chỉ một chuyên ngành thuộc về mỹ thuật. Trong đó danh từ "đồ họa" để chỉ những bản vẽ được hiển thị trên một mặt phẳng (đa chất liệu), và động từ "thiết kế" bao hàm ý nghĩa kiến thiết, sáng tạo. Từ đó có thể hiểu, "thiết kế đồ họa" là kiến tạo một hình ảnh, một tác phẩm lên một bề mặt chất liệu nào đó, mang ý nghĩa nghệ thuật nhằm mục đích trang trí, làm đẹp, phục vụ nhu cầu con người. Từ thời Đồ đá, ý thức về thiết kế đồ họa đã hình thành, nhưng tất nhiên còn rất sơ khai. Con người lúc này đã biết vẽ hoặc khắc hình lên đá, ban đầu nhằm mục đích truyền tin, đánh dấu hoặc ghi nhớ. Sau này, thiết kế đồ họa mới phát triển với ý nghĩa trang trí nghệ thuật, và dần trở thành một thành phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người. Ngày nay, thiết kế đồ họa đã trở thành một ngành dịch vụ quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến hầu hết các ngành nghề khác trong xã hội. |
Trong bài viết này, chúng mình muốn giới thiệu đến các bạn đọc thuật ngữ “Cối xay gió” trong tiếng anh. Cùng theo dõi bài viết dưới đây của Study tiếng anh để biết thêm các thông tin về tên gọi, định nghĩa cũng như các ví dụ cụ thể minh họa về từ vựng Cối xay gió trong tiếng anh nhé. Trong tiếng anh, chúng ta gọi cối xay gió là Windmill (Danh từ). Chúng ta cũng có thể gọi là a wind turbine (tuabin gió). Ngoài ra, chúng ta có thể hiểu đơn giản Cối xay gió là một loại máy chạy bằng sức gió và loại Máy cối xay gió được thiết kế để biến năng lượng gió thành các dạng năng lượng khác hữu dụng hơn. Ở châu Âu, người ta sử dụng cối xay gió với mục đích ban đầu là để xay bột, tuy nhiên sau đó, cối xay gió được dùng để bơm nước, và gần đây dùng để phát điện. Vào đầu thế kỷ 16, những khả năng mới đã được tiết lộ nhờ sự thích nghi của cối xay gió với mục đích bơm nước. Lý do chính khiến John trở nên nổi tiếng là vì những bước đi bất chấp cái chết của anh giữa cánh buồm cối xay gió, trong khi chúng đang quay. Trong phần này, chúng mình sẽ đi vào chi tiết của từ vựng bao gồm các thông tin về từ loại, phát âm, nghĩa tiếng anh cũng như nghĩa tiếng việt của Windmill (cối xay gió) trong tiếng anh. Nghĩa tiếng việt: Cối xay gió là một tòa nhà hoặc cấu trúc có các cánh quạt lớn ở bên ngoài, khi được quay bởi lực của gió, sẽ cung cấp năng lượng để lấy nước ra khỏi mặt đất hoặc nghiền nát ngũ cốc. Nhiều nhà máy được cho là hoạt động phần lớn bằng nước, mặc dù chúng có liên quan đến cối xay gió cuối cùng là năm 832. Tôi nhận thấy có một số bánh xe tròn làm cánh quạt, phản ứng với bánh của một chiếc thuyền hơi nước, và tác động lên không khí theo cách của một cối xay gió. Tham khảo một số các ví dụ anh việt về cách sử dụng của Windmill (cối xay gió) trong các câu sau đây. Cối xay gió phía nam đã được khôi phục vào đầu năm 1980, và việc khôi phục lại cối xay gió phía bắc vẫn đang tiếp tục. Đất nước tôi có nhiều khách sạn lớn vào mùa hè, những khu dân cư cũ được xây dựng từ thời thịnh vượng của nạn săn bắt cá voi, những ngôi nhà cổ kính, nghĩa địa cũ và một cối xay gió hình tháp bát giác được xây dựng vào đầu năm 1975. Chúng tôi đã chuẩn bị nhiều dự án để đảm nhận các nhiệm vụ phụ như xây dựng phòng thí nghiệm khoa học, viết sách giáo khoa hoặc xây dựng một cối xay gió. Tôi bắt buộc phải tiến lên phía trước như một hiệp sĩ ngây thơ nào đó đang chiến đấu với cối xay gió để thỏa mãn trí tò mò của mình. Bạn có thể thấy rõ cây cầu có từ thế kỷ 20, lâu đời nhất trong số 5 cây cầu bắc qua sông Giang và cối xay gió thế kỷ 19 chứa camera che và bảo tàng lịch sử địa phương. Hy vọng bài viết về Windmill (cối xay gió) trong tiếng anh trên của Study tiếng anh sẽ giúp các bạn đọc hiểu và vận dụng nó tốt hơn trong quá trình ôn tập và học tiếng anh. Chúc các bạn thành công! | Cối xay gió | Cối xay gió là một loại máy chạy bằng sức gió. Máy này được thiết kế để biến năng lượng gió thành các dạng năng lượng khác hữu dụng hơn. Ở châu Âu, ban đầu người ta dùng cối xay gió để xay bột, về sau, cối xay gió được dùng để bơm nước, và gần đây dùng để phát điện (tuốc bin gió). Cối xay gió được người Hồi giáo phát minh năm 634, dùng để xay bắp và thoát nước. Vào mùa khô, chỉ có một nguồn sức đẩy duy nhất là gió, thổi ổn định theo một hướng trong nhiều tháng. Cối xay gió có 6 – 12 cánh quạt được phủ vải hay cánh cọ. Nó có trước cối xay đầu tiên ở châu Âu 500 năm. Máy hơi nước của Heron của Alexandria được xem như động cơ hơi nước đầu tiên trong lịch sử . Chiếc cối xay gió thực thụ đầu tiên là loại cối xay gió có trục thẳng đứng được phát minh ra ở phía Đông Ba Tư, bởi nhà địa lý người Ba Tư Estakhri vào thế kỉ thứ Chín. Tính xác thực của giai thoại sớm sủa về cối xay gió phát triển vào đời Caliph thứ hai Umar (trước công nguyên 634–644) được đặt dấu hỏi lớn khi chúng xuất hiện trong những tài liệu vào thế kỉ thứ Mười. |
Lập trình game là nghệ thuật tạo trò chơi và mô tả thiết kế, phát triển và phát hành game. Nó có thể liên quan đến việc tạo ra khái niệm, thiết kế, xây dựng, thử nghiệm và phát hành. Trong khi bạn lập trình game, điều quan trọng là phải suy nghĩ về cơ chế game, phần thưởng, mức độ tương tác của người chơi và thiết kế cấp độ. Một lập trình viên game có thể là một lập trình viên, một nhà thiết kế âm thanh, một nghệ sĩ, một nhà thiết kế hoặc nhiều vai trò khác có sẵn trong ngành. Việc lập trình game có thể do một Studio lập trình game lớn hoặc một cá nhân đảm nhận. Nó có thể nhỏ hoặc lớn tùy thích. Miễn là nó cho phép người chơi tương tác với nội dung và có thể điều khiển các yếu tố của game, bạn có thể gọi nó là “game”. Nhà phát triển trò chơi điện tử, còn được gọi là lập trình viên game hoặc nhà lập trình trò chơi điện tử, viết code cho trò chơi cho nhiều định dạng, chẳng hạn như PC, trình duyệt web và điện thoại di động. Họ lấy ý tưởng, bản vẽ và quy tắc của lập trình viên game và biến chúng thành một trò chơi có thể chơi được với hình ảnh và âm thanh thông qua việc code. Tất cả những điều này được tạo ra thông qua phần mềm máy tính, trong đó nhà thiết kế sẽ nhập kịch bản máy tính, sau đó được phần mềm xử lý để tạo ra các lệnh, sự kiện, đối tượng và ký tự mà người chơi tương tác. Có nhiều kiểu lập trình viên game tập trung vào một khía cạnh cụ thể của lối chơi. Hầu hết các lập trình viên game sẽ dành ít nhất một chút thời gian của họ với tư cách là người thử nghiệm, nơi họ có thể thử nghiệm mã hóa và xem trực tiếp những sai lầm của người khác. Các lập trình viên game chính là người điều phối nhóm và chịu trách nhiệm giao tiếp trong và ngoài nhóm thiết kế, cũng như đưa ra các quyết định quan trọng. Một lập trình viên cơ chế trò chơi làm việc dựa trên sự cân bằng của trò chơi và hệ thống quy tắc của nó. Cuối cùng, một lập trình viên môi trường chịu trách nhiệm tạo ra các kịch bản và môi trường khác nhau của trò chơi. Một trò chơi sẽ trải qua hàng triệu thay đổi trong suốt quá trình thực hiện và các nhà thiết kế trò chơi được yêu cầu liên tục kiểm tra và mã hóa lại hàng nghìn dòng mã. Một nhà thiết kế cũng có thể được kêu gọi để phát triển một trò chơi tập trung vào một khía cạnh cụ thể, chẳng hạn như thị trường, thiết kế, công nghệ hoặc nghệ thuật. Lúc đầu, học cách lập trình game của riêng bạn có thể rất khó khăn. Bạn có thể bị nản và bỏ lại việc này cho các laọa trình viên game. Tuy nhiên, bạn đừng bỏ cuộc! Thay vào đó, bạn nên làm việc một chút để học những kiến thức cơ bản về tạo trò chơi điện tử. Nó sẽ không khó như bạn nghĩ. Với lưu ý này, đây là hướng dẫn từng bước rất chung để giúp bạn tìm hiểu cách tạo trò chơi điện tử. Lưu ý rằng quy trình chính xác thay đổi tùy theo loại trò chơi bạn đang xây dựng và nền tảng bạn muốn phát hành, nhưng điều này sẽ cung cấp cho bạn ý tưởng về những gì liên quan. Bước 1: Thực hiện một số nghiên cứu & khái niệm hóa trò chơi của bạnĐiều đầu tiên bạn cần làm khi cố gắng tạo trò chơi đầu tiên của mình là nghĩ về chính xác loại trò chơi bạn đang định tạo. Thực hiện một số nghiên cứu và tìm ra chính xác những kỹ năng bạn cần để xây dựng trò chơi này và những loại tính năng mà trò chơi cần có. Bước 2: Làm việc trên một tài liệu thiết kếKhi bạn đã tìm ra cách tạo một trò chơi điện tử, lên ý tưởng cho nó và bắt đầu nghĩ xem bạn muốn nó trông như thế nào, bạn cần phải tập hợp một tài liệu thiết kế. Đối với hầu hết mọi người, một tài liệu thiết kế là một bản phác thảo ngắn gọn về một trò chơi, nó trông như thế nào và bạn cần làm gì để xây dựng nó. Bước 3: Quyết định phần mềm bạn sẽ sử dụngĐiều cuối cùng bạn cần làm trước khi bắt đầu khám phá cách tạo một trò chơi điện tử là tìm ra phần mềm bạn cần. Phát triển trò chơi di động đơn giản không yêu cầu nhiều phần mềm ưa thích – trong nhiều trường hợp, bạn có thể sử dụng trình biên dịch và trình chỉnh sửa code. Tuy nhiên, các trò chơi nâng cao hơn có thể yêu cầu phần mềm rất mạnh và cụ thể như chương trình mô hình 3D và trình chỉnh sửa hình ảnh. Phần mềm tiên tiến này có thể tốn rất nhiều tiền, có nghĩa là bạn cần phải chú ý cẩn thận đến ngân sách của mình. Bước 4: Bắt đầu lập trìnhKhi bạn đã cài đặt đầy đủ các phần mềm cần thiết, đã đến lúc bắt đầu code! Mặc dù các trò chơi phức tạp hơn yêu cầu công cụ trò chơi chạy trên đó, các trò chơi di động đơn giản không cần bất cứ thứ gì như thế này. Đơn giản chỉ cần quyết định ngôn ngữ bạn sẽ viết trò chơi của mình và tham gia ngay vào nó!. Bước 5: Kiểm tra trò chơi của bạn và bắt đầu marketing!Biết cách tạo một trò chơi điện tử sẽ không thể thành công, để được như vậy bạn sẽ cần marketing. Điều đầu tiên bạn phải làm là đảm bảo rằng bạn kiểm tra mọi thứ về nó để có thể loại bỏ bất kỳ lỗi nào. Quá trình này có thể mất rất nhiều thời gian, vì vậy hãy đảm bảo rằng bạn đã sẵn sàng ngồi hàng giờ đồng hồ để kiểm tra mọi thứ. Notepad là một trình soạn thảo văn bản miễn phí được cài đặt sẵn trên tất cả các máy tính Windows. Bạn sẽ sử dụng Notepad để nhập mã của mình. Thêm văn bản tiêu đề cho trò chơi của bạn. Sao chép văn bản sau vào Notepad — đảm bảo thay thế “” bằng bất kỳ tên nào bạn muốn đặt tên trò chơi của mình — rồi nhấn Enter. Mình là Hoàng Long hiện đang là admin của nhiều website công nghệ, thủ thuật, game, phần mềm, hỏi đáp tại Việt Nam. Au3d.vn là Blog chia sẻ về công nghệ, hỏi đáp, thủ thuật máy tính thủ thuật mobile mới nhất hay nhất luôn được cập nhật tại AU3D.VN | Trò chơi lập trình | Trò chơi lập trình (tiếng Anh: Programming game) là một trò chơi máy tính mà người chơi không có ảnh hưởng trực tiếp vào tiến trình của game. Thay vào đó, một chương trình máy tính hay kịch bản được viết bằng một số ngôn ngữ lập trình tên miền cụ thể để kiểm soát các hành động của các nhân vật (thường là robot, xe tăng hoặc vi khuẩn sẽ tìm cách tiêu diệt lẫn nhau). Hầu hết các trò chơi lập trình có thể được coi là môi trường của các sinh vật kỹ thuật số, liên quan đến mô phỏng đời sống nhân tạo. Một vài tựa game lập trình đáng chú ý bao gồm RobotWar, Core War, Mouse Run và RoboCode. Có những giải đấu và liên minh khác nhau dành cho các trò chơi lập trình để các nhân vật có thể cạnh tranh với nhau. Thường là một kịch bản được tối ưu hóa cho một chiến lược đặc biệt. Ví dụ như trong trò Mouse Run, một lớp Java được viết bởi một lập trình viên sẽ cung cấp logic cho một con chuột để đi qua một mê cung và cạnh tranh với những con chuột khác để tìm kiếm và tiêu thụ miếng pho mát đầu tiên. |
Đây là sân vận động chính được xây dựng để phục vụ cho Thế vận hội Mùa hè 1988 và Đại hội Thể thao châu Á lần thứ 10 vào năm 1986. Đây là trung tâm của Khu liên hợp thể thao Seoul ở quận Songpa-gu, ở phía đông nam của thành phố, phía Nam sông Hán. Sân vận động đa năng này được thiết kế bởi Kim Swoo-geun. Các đường nét của mặt sân vận động mô phỏng những đường cong tao nhã của chiếc bình sứ thời kỳ triều đại Joseon của Hàn Quốc. Ghế ngồi của khán giả được phân bố trên hai tầng, có mái che hoàn toàn. Ban đầu được xây dựng với sức chứa khoảng 100.000 người, ngày nay sân có sức chứa 69.950 người. Trước khi xây dựng, các địa điểm lớn nhất tại Seoul là Sân vận động Dongdaemun và Sân vận động Hyochang. Số chỗ ngồi lần lượt là 30.000 và 20.000 chỗ ngồi, chúng quá nhỏ để tổ chức các sự kiện thể thao đẳng cấp thế giới. Việc xây dựng sân vận động mới bắt đầu vào năm 1977 với mục đích tổ chức Đại hội Thể thao châu Á vào năm 1986. Khi Seoul được trao quyền đăng cai Thế vận hội lần thứ XXIV vào tháng 9 năm 1981, sân vận động này đã trở thành tâm điểm. Sân vận động chính thức được khánh thành vào ngày 29 tháng 9 năm 1984 và là địa điểm tổ chức Đại hội Thể thao châu Á lần thứ 10 hai năm sau đó, sau đó là Thế vận hội vào năm 1988. Tuy nhiên, sân đã không được sử dụng để tổ chức một sự kiện thể thao thế giới lớn kể từ đó. Sân hiện không có đội thuê, mặc dù Hiệp hội bóng đá Hàn Quốc đã bày tỏ sự quan tâm đến việc sử dụng sân vận động cho các trận đấu của đội tuyển quốc gia. Các sự kiện do sân vận động tổ chức trong Thế vận hội là Lễ khai mạc và bế mạc, điền kinh, chung kết môn bóng đá, và trận chung kết cá nhân môn cưỡi ngựa. Từ trận đấu với Nhật Bản vào ngày 30 tháng 9 năm 1984 đến trận đấu với Nam Tư vào ngày 28 tháng 5 năm 2000, Sân vận động Olympic là sân nhà của đội tuyển bóng đá quốc gia Hàn Quốc. Sân vận động World Cup Seoul mới được xây dựng sau đó trở thành địa điểm trung tâm tổ chức trận đấu của đội tuyển Hàn Quốc. Tuy nhiên, trong một nỗ lực nhằm khôi phục lại phong trào bóng đá trên toàn quốc, Hàn Quốc đã sử dụng Sân vận động Olympic cho Cúp bóng đá Đông Á 2013 trong trận thua 1–2 trước Nhật Bản vào 28 tháng 7 năm 2013. KFA đã bày tỏ sự quan tâm đến việc tiếp tục sử dụng địa điểm cho đội tuyển quốc gia trong tương lai. Kể từ năm 2015, câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp mới thành lập Seoul E-Land FC đang sử dụng sân vận động này. | Sân vận động Olympic (Athens) | Sân vận động Olympic Athens "Spyros Louis" (tiếng Hy Lạp: Ολυμπιακό Στάδιο της Αθηνας "Σπύρος Λούης", Olympiakó Stádio "Spiros Louis") là một sân vận động thể thao ở Athens, Hy Lạp. Sân là một phần của Khu liên hợp thể thao Olympic Athens và được đặt theo tên của người giành huy chương vàng Olympic môn marathon hiện đại đầu tiên vào năm 1896, Spyros Louis. Sân vận động là sân nhà của hai trong số những câu lạc bộ thể thao lớn nhất ở Hy Lạp, Panathinaikos và AEK Athens. Sân vận động đóng vai trò là sân vận động chính trong Thế vận hội Mùa hè 2004. Nằm trong khu vực Marousi ở Athens, sân vận động ban đầu được thiết kế vào năm 1980 và được xây dựng vào các năm từ 1980–1982. Sân đã được hoàn thành trong thời gian để tổ chức Giải vô địch điền kinh châu Âu 1982. Sân được khánh thành bởi Tổng thống Hy Lạp vào thời điểm đó, Konstantinos Karamanlis, vào ngày 8 tháng 9 năm 1982. Một năm sau, năm 1983, sân vận động OAKA đã tổ chức trận chung kết Cúp C1 châu Âu 1983 giữa Hamburger SV và Juventus (1-0). |
C Sharp là ngôn ngữ lập trình được sử dụng phổ nhất trên thế giới hiện nay nhờ những lợi ích mà nó mang lại. Vậy C Sharp là gì?. Thời buổi công nghệ thông tin ngày càng phát triển, để dễ dàng hơn trong việc lập trình ứng dụng, phần mềm. Các nhà sản xuất liên tục cho ra đời những nền tảng lập trình vô cùng thông minh. Và C Sharp là một trong số đó, cùng tìm hiểu kỹ hơn về C Sharp ở bài viết này nhé. C sharp hay còn được biết đến với cái tên ngắn gọn hơn là C được sản xuất bởi Microsoft nhằm mang lại sự tiện lợi, dễ dàng hơn cho người sử dụng. Đây là dạng ngôn ngữ lập trình chạy trên nền tảng của Microsoft và máy tính cần được cài .NET framework có thể được coi như là sự kết hợp giữa ngôn ngữ C và C++. Từ đó phát huy tối đa được ưu điểm của hai ngôn ngữ này. Với khả năng vượt trội của mình, C có thể được sử dụng để lập trình ra bất kỳ ứng dụng nào. Tuy nhiên, thế mạnh nhất của nó chính là lập trình, phát triển các ứng dụng web, hiện ngày một phổ biến trên nền tảng di động. C được thiết kế cho Common Language Infrastructure (CLI), bao gồm Executable Code và Runtime Environment, cho phép chúng ta sử dụng các ngôn ngữ high-level đa dạng trên các nền tảng và cấu trúc máy tính khác nhau. Như đã nói ở trên, ngôn ngữ này được sử dụng khá đơn giản. Nếu bạn đã sử dụng quen những ngôn ngữ như C hay C++ hoặc thậm chí là Java thì C Sharp cũng khá tương đương khi dùng. Giao diện, cú pháp, biểu thức, toán tử và nhiều chức năng khác được làm ra dựa trên C và C++ nhưng lại dễ dàng hơn trong quá trình lập trình và sử dụng. Loại bỏ đi những dư thừa không cần thiết và cải thiện cú pháp cần thay đổi. Một ngôn ngữ đơn giản nhưng lại rất hiện đại, nó có chứa đầy đủ các đặc tính cần có. Những khái niệm mới mẻ, mơ hồ về lập trình mà các bạn được học như xử lý ngoại lệ, những kiểu dữ liệu mở rộng, bảo mật mã nguồn đều sẽ được trang bị ngay trong C Sharp. Và chắc chắn rồi, C Sharp sẽ hỗ trợ cho chúng ta đầy đủ những đặc tính trên một cách tiện lợi và thông minh nhất. C Sharp là ngôn ngữ giới hạn những từ khóa chỉ khoảng 80 từ khóa và hơn mười kiểu dữ liệu xây dựng sẵn nhưng những gì mà nó mang lại là vô cùng đa năng và mạnh mẽ có thể làm bất cứ nhiệm vụ nào. C Sharp với giao diện, cấu trúc ngôn ngữ được sản xuất tương tự như nhiều ngôn ngữ sử dụng phổ biến. Chính vì vậy nó dễ dàng trong việc tiếp cận với người dùng cũng như giúp họ nhanh chóng làm quen một ngôn ngữ lập trình mới. C Sharp được sử dụng để biên dịch trên đa dạng các nền tảng máy tính khác nhau. Thừa hưởng nhiều ưu điểm của các nền tảng như C, C++ hay Java. Là sản phẩm của Microsoft và là một phần của .NET Framework, phần mềm nhanh chóng đạt được lòng tin của người dùng và được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Ngoài ra, C Sharp cũng hỗ trợ IDE Visual Studio cùng nhiều plug-in vô cùng mạnh mẽ. Vậy là chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu để làm rõ hơn khái niệm C Sharp là gì? Cũng như những điều cần biết về ngôn ngữ này. Đây là một ngôn ngữ tiện dụng, thông minh mà thực sự bạn nên tìm hiểu để sử dụng đấy. | C Sharp (ngôn ngữ lập trình) | C (C Sharp, đọc là "xi-sáp") là một ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng đa năng, mạnh mẽ được phát triển bởi Microsoft, C là phần khởi đầu cho kế hoạch .NET của họ. Tên của ngôn ngữ bao gồm ký tự thăng theo Microsoft nhưng theo ECMA là C , chỉ bao gồm dấu số thường. Microsoft phát triển C dựa trên C++ và Java. C được miêu tả là ngôn ngữ có được sự cân bằng giữa C++, Visual Basic, Delphi và Java. C được thiết kế chủ yếu bởi Anders Hejlsberg kiến trúc sư phần mềm nổi tiếng với các sản phẩm Turbo Pascal, Delphi, J++, WFC. Phiên bản gần đây nhất là 9.0, được phát hành vào năm 2020 cùng với Visual Studio 2019 phiên bản 16.8. Cái tên "C sharp" được lấy cảm hứng từ ký hiệu âm nhạc, trong đó một dấu thăng sau nốt nhạc " " nghĩa là một nốt được chơi cao hơn nửa cung. Điều này tương tự như trường hợp đặt tên của ngôn ngữ của C++, trong đó "++" chỉ ra rằng giá trị của một biến nên được tăng lên 1. Biểu tượng cũng giống với bốn ký tự "+" (trong một lưới 2x2), ngụ ý rằng ngôn ngữ là một phiên bản tăng cường của C++ (gấp đôi C++). |
CBDC là một chủ đề nóng vào năm 2020, với các quốc gia tiếp tục theo đuổi vào năm 2021. Hôm nay TienDienTu86 sẽ giới thiệu cho bạn biết CBDC là gì nhé. CBDC là cụm từ viết tắt của Central Bank Digital Currency, có nghĩa là tiền điện tử của ngân hàng trung ương. CBDC là hình thức kỹ thuật số của tiền định danh (một loại tiền được thiết lập dưới dạng tiền theo quy định của Chính phủ, cơ quan tiền tệ hoặc luật pháp). CBDC sử dụng hồ sơ điện tử hoặc mã thông báo kỹ thuật số để đại diện cho dạng ảo của tiền tệ fiat của một quốc gia (hoặc khu vực) cụ thể. CBDC là trung tâm, nó được phát hành và quy định bởi cơ quan quản lý tiền tệ có thẩm quyền của đất nước. Trong những năm qua, ngày càng có nhiều sự quan tâm đến các loại tiền điện tử như Bitcoin và Ethereum, chúng hoạt động trên công nghệ sổ cái phân tán được gọi là mạng blockchain. Các loại tiền ảo như vậy đã trở nên phổ biến rộng rãi, do bản chất phi tập trung và không có quy định của chúng, với một số người coi sự gia tăng của họ là mối đe dọa có thể xảy ra đối với hệ thống ngân hàng truyền thống hoạt động dưới sự giám sát và kiểm soát của cơ quan quản lý của một quốc gia, chẳng hạn như ngân hàng trung ương. Không có sự rõ ràng về bất kỳ bảo trì dự trữ thích hợp nào để sao lưu các định giá của tiền điện tử. Ngoài ra, việc tiếp tục ra mắt các loại tiền điện tử mới cũng làm dấy lên lo ngại về khả năng lừa đảo, trộm cắp và hack. Không thể kiểm soát sự phát triển và ảnh hưởng của các loại tiền điện tử như vậy, nhiều ngân hàng trung ương hàng đầu trên toàn cầu đang làm việc hoặc dự tính tung ra các phiên bản tiền điện tử của riêng họ. Các loại tiền điện tử được quản lý này được gọi là tiền tệ kỹ thuật số của ngân hàng trung ương và sẽ được điều hành bởi các cơ quan quản lý tiền tệ tương ứng hoặc các ngân hàng trung ương của một quốc gia cụ thể. Còn được gọi là tiền tệ fiat kỹ thuật số hoặc tiền cơ sở kỹ thuật số, CBDC sẽ hoạt động như một đại diện kỹ thuật số cho tiền tệ fiat của một quốc gia và sẽ được hỗ trợ bởi một lượng dự trữ tiền tệ phù hợp như dự trữ vàng hoặc ngoại tệ. Mỗi đơn vị CBDC sẽ hoạt động như một công cụ kỹ thuật số an toàn tương đương với hóa đơn giấy và có thể được sử dụng như một phương thức thanh toán, một kho lưu trữ giá trị và một đơn vị tài khoản chính thức. Giống như một tờ tiền làm bằng giấy mang một số sê-ri duy nhất, mỗi đơn vị CBDC cũng sẽ có thể phân biệt được để tránh làm giả. Vì nó sẽ là một phần của nguồn cung tiền do ngân hàng trung ương kiểm soát, nó sẽ hoạt động cùng với các dạng tiền được quản lý khác, như tiền xu, tín phiếu, giấy bạc và trái phiếu. CBDC nhằm mục đích mang lại những gì tốt nhất của cả hai thế giới — sự tiện lợi và bảo mật của hình thức kỹ thuật số như tiền điện tử và việc lưu thông tiền được quản lý, bảo đảm của hệ thống ngân hàng truyền thống. Ngân hàng trung ương cụ thể hoặc cơ quan tiền tệ có thẩm quyền khác của quốc gia sẽ tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình. Cho đến nay, chưa có quốc gia nào chính thức ra mắt đồng tiền kỹ thuật số do ngân hàng trung ương hậu thuẫn. Tuy nhiên, nhiều ngân hàng trung ương đã khởi động các chương trình thí điểm và các dự án nghiên cứu nhằm xác định khả năng tồn tại và khả năng sử dụng của CBDC . Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) là đơn vị tiên phong khởi xướng đề xuất CBDC . Theo đó, các ngân hàng trung ương của các quốc gia khác, như Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC), Ngân hàng Trung ương Canada (BoC), và các ngân hàng trung ương của Uruguay, Thái Lan, Venezuela, Thụy Điển và Singapore, cùng những người khác, đang xem xét khả năng giới thiệu một loại tiền kỹ thuật số do ngân hàng trung ương phát hành. Nga đã và đang tiến lên với việc tạo ra “đồng rúp tiền điện tử“, được công bố bởi Vladimir Putin vào năm 2017. Người ta suy đoán rằng một trong những lý do chính khiến Putin quan tâm đến blockchain là các giao dịch được mã hóa và do đó dễ dàng hơn để gửi tiền một cách kín đáo. mà không phải lo lắng về các lệnh trừng phạt của cộng đồng quốc tế đối với đất nước. Lý thuyết này đã đạt được sức hút sau khi Financial Times đưa tin vào tháng 1 năm 2018 rằng một trong những cố vấn kinh tế của Putin, Sergei Glazyev, đã nói trong một cuộc họp chính phủ rằng “Công cụ này (tức là CryptoRuble) rất phù hợp với chúng tôi cho các hoạt động nhạy cảm thay mặt cho nhà nước . Chúng tôi có thể giải quyết các tài khoản với các đối tác của chúng tôi trên toàn thế giới mà không cần quan tâm đến các lệnh trừng phạt. Bản thân Glazyev đã bị Tổng thống Obama áp đặt các biện pháp trừng phạt khiến ông không thể kinh doanh hoặc du lịch đến Mỹ vào năm 2014. Venezuela đã được cho là đang làm việc trên một CBDC được gọi là “dầu mỏ” kể từ năm 2017, sẽ được hỗ trợ bởi các kho dự trữ vật chất là dầu thô. Chính phủ Venezuela cũng đã công bố “vàng dầu mỏ” vào năm 2018, được cho là gắn với giá trị của dầu, vàng và kim loại quý khác. | Tiền điện tử của ngân hàng trung ương | Tiền điện tử của ngân hàng trung ương (Central Bank Digital Currency - CBDC) là hình thức kỹ thuật số của tiền định danh (một loại tiền được thiết lập dưới dạng tiền theo quy định của Chính phủ, cơ quan tiền tệ hoặc luật pháp).Tiền điện tử của ngân hàng trung ương khác với tiền ảo và tiền mã hóa, những loại tiền mà không được Nhà nước phát hành và thiếu trạng thái đấu thầu hợp pháp do Chính phủ tuyên bố. Ngân hàng Anh là một trong những tổ chức đầu tiên khởi xướng một cuộc thảo luận toàn cầu về triển vọng giới thiệu tiền điện tử của ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, Ngân hàng trung ương Thụy Điển là nơi sớm xem xét việc thực hiện và bắt đầu thử nghiệm các giải pháp kỹ thuật cho tiền e-krona của mình vào năm 2020. Vào tháng 11 năm 2017, Ngân hàng trung ương Ugruquay đã tuyên bố bắt đầu một thử nghiệm để phát hành tiền Peso điện tử của Uruguay. Vào tháng 3 năm 2019, Ngân hàng trung ương Đông Caribbean tuyên bố sẽ tham gia vào một dự án thí điểm tiền điện tử của ngân hàng trung ương với công ty FinTech có trụ sở tại Barbados. |
Mô hình định giá tài sản vốn mô tả mối quan hệ giữa rủi ro hệ thống và lợi nhuận kỳ vọng của tài sản, đặc biệt là cổ phiếu. Trong đó, rủi ro hệ thống là rủi ro xảy ra ở toàn bộ thị trường hay một phân khúc nào đó của thị trường. Loại rủi ro này không thể dự đoán và tránh hoàn toàn được như việc thay đổi chính sách của chính phủ, bão lụt, hạn hán,…. KE: Chi phí sử dụng vốn cổ phần (hay tỷ suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư đối với cổ phiếu). Rf: Tỷ suất sinh lời phi rủi ro (thường được tính bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ). β: Hệ số rủi ro cổ phiếu (đo lường tương quan giữa sự biến thiên suất sinh lợi của cổ phiếu công ty với suất sinh lợi của danh mục thị trường). – Mô hình một yếu tố: Chỉ số rủi ro hệ thống trong mô hình CAPM được đáng giá bằng hệ số β. Trong khi sự biến động của các khoản đầu tư chịu ảnh hưởng của rất nhiều rủi ro khác. – Mô hình một giai đoạn: mô hình CAPM là mô hình một giai đoạn. Do đó, nhà đầu tư không thể nắm bắt các yếu tố thay đổi ở các kì tiếp theo. – Danh mục đầu tư: danh mục đầu tư theo mô hình CAPM bao gồm tất cả các tài sản (tài sản tài chính và phi tài chính). Nghĩa là nó cũng bao gồm nhiều tài sản không thể đầu tư, như nguồn vốn về con người và tài sản trong các nền kinh tế đóng. – Vấn đề ủy thác đầu tư: khi nhà đầu tư ủy thác đầu tư, các nhà phân tích khác nhau, các quốc gia khác nhau sẽ tạo ra lợi nhuận kỳ vọng khác nhau cho cùng một tài sản. – Ước tính hệ số rủi ro beta: nhà đầu tư cần có dữ liệu về lợi nhuận qua các năm (từ ba đến năm năm) để ước tính rủi ro beta. Ngoài ra, mô hình sử dụng các giai đoạn khác nhau để ước tính kết quả trong các ước tính beta khác nhau. Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) là một trong những đổi mới quan trọng nhất trong lý thuyết danh mục đầu tư. Mô hình giới thiệu bởi William Sharpe vào năm 1960 và được ứng dụng rất nhiều trong thực tiễn. Tuy nhiên các nhà đầu tư cần nghiên cứu kĩ, nắm rõ các ứng dụng và hạn chế của mô hình để tránh những sai lầm khi đưa ra các quyết định đầu tư. iDauTu ra đời nhằm chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức về quản lý tài chính và đầu tư cá nhân. xin hoan nghênh các ý kiến đóng góp, giúp xây dựng cộng đồng đầu tư tài chính ở Việt Nam trở nên minh bạch, phát triển bền vững. Trang Web đang trong quá trình thử nghiệm, chờ xin giấy phép hoạt động Mạng Xã Hội. iDauTu.com chọn lọc những báo cáo, nghiên cứu về đầu tư và quản lý tài chính cá nhân. | Mô hình định giá tài sản vốn | Trong tài chính, mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) được sử dụng để xác định tỷ suất sinh lợi yêu cầu của một tài sản khi tài sản đó được thêm vào một danh mục đã được đa dạng hóa tốt, với rủi ro không thể đa dạng hóa của tài sản đó được cho trước. Mô hình này đo lường độ nhạy cảm của tài sản với rủi ro không thể đa dạng hóa (cũng được gọi là rủi ro hệ thống hay rủi ro thị trường) mà thường được đại diện bởi hệ số beta (β) trong ngành tài chính, cũng như với lợi tức kỳ vọng của thị trường và lợi tức kỳ vọng của một tài sản lý thuyết phi rủi ro. Mô hình CAPM được giới thiệu một cách độc lập bởi Jack Treynor (1961, 1962), William F. Sharpe (1964), John Lintner (1964a,b) và Jan Mossin (1966), được xây dựng trên nền tảng nghiên cứu trước đó của Harry Markowitz về lý thuyết đa dạng hóa và danh mục đầu tư hiện đại. Fisher Black (1972) phát triển một phiên bản khác của CAPM, được gọi là Black CAPM hay zero-beta CAPM, không bao gồm giả định về sự tồn tại của tài sản không rủi ro. |
Phần mềm phân phối LOTUS DMS có những chức năng gì?1. Quản lý Kinh doanh của Doanh nghiệp2. Quản lý Kênh phân phối hàng hóa và hệ thống Nhà phân phối (NPP)3. Quản lý, giám sát, định vị trực tuyến từ Giám đốc Kinh doanh, giám sát đến nhân viên kinh doanh4. Quản lý Bán hàng, nhập hàng. Quản lý, giám sát, định vị trực tuyến từ Giám đốc Kinh doanh, giám sát đến nhân viên kinh doanh. Giúp nhân viên, giám sát, lên kế hoạch, đặt đơn hàng, bán hàng, chấm công, nghỉ phép từ xa. Theo dõi hình ảnh, video, radio, tuyến đường đi của nhân viên và Nhà phân phối. Theo dõi, viếng thăm nhà phân phối, giúp nhà phân phối quản lý các đơn đặt bán hàng. Tích hợp với phần mềm bán hàng Master Pro tạo thành một quy trình khép kín. Phần mềm quản lý phân phối LOTUS DMS là sản phẩm được phát triển từ nước ngoài. Khi về Việt Nam đã được chúng tôi gia công theo những đặc thù tại Việt Nam, do vậy hệ thống rất ổn định và chính xác về số liệu. Điều này đã được khẳng định bằng việc đã có hơn 50 Khách hàng từ lớn đến nhỏ đang dùng. Thêm nữa, việc thành lập các chi nhánh luôn là bước đi tất yếu để phát triển các công ty, doanh nghiệp lớn. Nhưng việc điều hành các doanh nghiệp không tập trung về mặt địa lý có những đặc thù riêng rất đa dạng về công nghệ và cơ cấu tổ chức hành chính. Để toàn bộ các chi nhánh đều hoạt động thống nhất, ăn khớp với nhau thì các nhà lãnh đạo thậm chí phải thành lập hẳn một bộ phận chuyên trách với nhiệm vụ kiểm soát hoạt động của tất cả các chi nhánh. Không có nhiều người thấy được sự hữu ích các hệ thống phần mềm có chức năng thay thế hoặc hỗ trợ rất nhiều cho nhiệm vụ của bộ phận này, giúp họ theo dõi hiệu quả hoạt động của các chi nhánh trong công ty. Phần mềm quản lý hệ thống phân phối LOTUS DMS chính là giải pháp chiến lược tổng thể giữa bán hàng và quản lý nhân sự thuộc chuỗi hệ thống đại lý phân phối. Một phần mềm bán hàng trực tuyến kết hợp việc quản lý định vị nhân viên kinh doanh sử dụng trên các thiết bị đầu cuối được kết nối Internet 3G và cáp quang, hỗ trợ cho các nhà quản trị quản lý và đưa ra quyết định kịp thời, chính xác. Giải pháp quản lý đại lý phân phối lotus DMS đã triển khai thành công cho hơn 20 doanh nghiệp với hệ thống phân phối lớn như 200 nhân viên kinh doanh của nước khoáng Lavie, 100 nhân viên kinh doanh của EUFood,300 nhân viên kinh doanh cho dược phẩm Tuệ Linh và nhiều công ty đối tác khác trên toàn quốc. HOSCO là công ty phần mềm uy tín với nhiều giải pháp phần mềm quản lý ưu việt đã được triển khai trên toàn quốc. Với nhiều danh hiệu đã giành được và quá trình hơn 06 năm trong việc triển khai hệ thống ERP và CRM, HOSCO luôn mong muốn mang lại cho Doanh nghiệp những giải pháp quản lý tối ưu nhất, hiệu quả nhất và tiết kiệm nhất. Cùng một đội ngũ nhân viên năng động, nhiệt tình và không kém phần chuyên nghiệp, HOSCO tự tin mang đến cho khách hàng sự hài lòng về sản phẩm và luôn luôn sát cánh, hỗ trợ khách hàng. | Phần mềm phân phối | Phần mềm phân phối đề cập đến phần mềm quản lý mọi thứ, từ xử lý đơn hàng và kiểm soát hàng tồn kho đến kế toán, mua hàng và dịch vụ khách hàng, quản lý chuỗi cung ứng, bán hàng, quản lý quan hệ khách hàng và quản lý tài chính. Các giải pháp tinh vi hơn có thể bao gồm các lĩnh vực như dự báo và bổ sung nâng cao, quản lý kho, chọn, đóng gói & vận chuyển, EDI hoặc trao đổi dữ liệu điện tử, Quản lý chi tiêu thương mại và nhiều hơn nữa. Phần mềm phân phối giúp các công ty quản lý tài nguyên bên trong và bên ngoài một cách hiệu quả bằng cách giảm thiểu hàng tồn kho nhưng đảm bảo quá mức không xảy ra. Phần mềm phân phối dựa trên đám mây bắt đầu nổi tiếng vào khoảng năm 2010. Lợi ích của các giải pháp phân phối dựa trên đám mây bao gồm khả năng truy cập ứng dụng từ bất kỳ thiết bị nào sử dụng trình duyệt web và tiết kiệm chi phí do giảm yêu cầu phần cứng. Nhiều nhà cung cấp ERP như Acumatica, Microsoft Dynamics NAV-X, Netsuite, Infor Distribution, SAP ERP và Epicor Software Corporation với Prophet 21 và Eclipse cung cấp phần mềm phân phối như một phần của hệ thống ERP của họ. |
PLM bắt đầu ở giai đoạn có khái niệm về sản phẩm, nơi các bộ phận chất lượng, đáng tin cậy với tuổi thọ dài và có thể đoán trước được sẽ được lựa chọn và cân nhắc. Khi quy trình kỹ thuật và xác nhận của sản phẩm bắt đầu, tất cả các thành phần quan trọng được quy định một cách an toàn thông qua một quy trình kinh doanh. PLM bao gồm tất cả các lĩnh vực quan trọng của thiết kế sản phẩm và phát triển dữ liệu, cùng với nhà cung cấp, quản lý thay đổi, v.v. Điều này giúp doanh nghiệp có thể giải quyết lĩnh vực cốt lõi của sự phát triển sản phẩm mạnh mẽ. Quản lý dữ liệu sản phẩm (PDM) – Một hệ thống được sử dụng trong suốt quá trình thiết kế sản phẩm để mua sắm và cũng thu thập thông tin để đảm bảo rằng các chi tiết còn nguyên vẹn trong suốt vòng đời của một mặt hàng. Khi họ cần, nó có lợi cho việc truy cập đồng thời trong khi duy trì quyền kiểm soát thông tin và cũng phân phối thông tin ngay lập tức cho những cá nhân cần nó. Lưu trữ, sắp xếp và phân tích dữ liệu thành phẩm sẽ có thể cồng kềnh nếu không có các công cụ phù hợp. Nhờ mô-đun quản lý dữ liệu sản phẩm (PDM), bạn có thể ghi lại các thiết kế sản phẩm, nhu cầu và quy trình cần thiết trong một khu vực trung tâm. Các bên liên quan bên trong và bên ngoài, nhà thiết kế và các thành viên khác trong nhóm trong toàn công ty của bạn cũng có thể tải lên và chia sẻ ghi chú sản phẩm để khuyến khích cộng tác. Dữ liệu BOM, tài liệu thiết kế có sự hỗ trợ của máy tính (CAD), thông tin về nhà cung cấp, dữ liệu vật liệu và vòng đời sản phẩm cũng có thể được xem xét bằng phụ kiện PDM. Ví dụ: nếu bạn sở hữu một công ty giày thể thao, bạn muốn giữ dữ liệu về những đôi giày thể thao đã bán trước đó để biết loại giày thể thao nào được khách hàng bán tốt và loại nào không, để bạn có thể lập kế hoạch và thực hiện dòng giày thể thao tiếp theo của mình tốt hơn. Khi có một nguồn thông tin chung trong toàn công ty của bạn là vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển sản phẩm. Đó là lý do tại sao hóa đơn nguyên vật liệu (BOM) là chìa khóa để đưa vào danh sách các yêu cầu quản lý vòng đời sản phẩm của bạn. Ít nhất, hệ thống của bạn phải cung cấp một định nghĩa duy nhất về một sản phẩm cụ thể và các thành phần của nó. Các tùy chọn nâng cao hơn bao gồm các tính năng được thiết kế đặc biệt cho các thành viên khác nhau trong nhóm như nhà thiết kế, kỹ sư và các chuyên gia khác thường xuyên cộng tác. Bạn cũng có thể tìm thấy các hệ thống cung cấp các tùy chọn hiển thị BOM nâng cao để xem nhanh thông tin về vật liệu và tài liệu. Các tính năng CAD, đôi khi được bán như một giải pháp độc lập, có thể hợp lý hóa quy trình thiết kế và kỹ thuật. Phụ kiện này hỗ trợ các nhà thiết kế sản phẩm và kỹ sư lập bản đồ và xây dựng các mô hình 2D và 3D của hàng hóa trên máy tính thay vì làm tất cả trên giấy. Quản lý quy trình sản xuất (MPM) định nghĩa một khái niệm áp dụng các công cụ quản lý quy trình kinh doanh của doanh nghiệp cho các vị trí quản lý hoạt động của nhà máy và chuỗi cung ứng trong và trên toàn doanh nghiệp. Chức năng mô phỏng cho phép bạn đánh giá các tệp CAD trước khi sản xuất mô hình. Phụ kiện này thường đi kèm với phần mềm CAD độc lập. Bạn có thể thử nghiệm thiết kế với các tình huống thực tế như thay đổi nhiệt hoặc hóa học thay vì tạo prototype để có thể tiết kiệm tiền mua nguyên liệu và đưa sản phẩm ra thị trường nhanh hơn. Nói một cách dễ hiểu, bộ công cụ này cung cấp cho người dùng cái nhìn sâu sắc về các hoạt động của sản phẩm. Người dùng có thể xác định các giai đoạn cho một dự án, cũng như chỉ định các mốc quan trọng để giữ cho các dự án đi đúng hướng. Một số hệ thống cho phép người dùng xem tất cả các thay đổi đang chờ xử lý và đã triển khai, cũng như tất cả các hạng mục phải chịu các tác động sau đó. Khả năng hiển thị này cũng mở rộng sang quản lý danh mục đầu tư và tài nguyên. Hệ thống PLM của bạn phải có thể xác định các rủi ro trong danh mục đầu tư của bạn, cho phép bạn đối phó với chúng trước khi chúng trở thành vấn đề lớn hơn. Hệ thống của bạn cũng có thể cung cấp thông tin chi tiết về việc phân bổ nguồn lực của bạn và ưu tiên cung cấp cho nhu cầu để tăng tỷ suất lợi nhuận với tương đối ít công việc bổ sung. Dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau thường cần thiết trong quá trình báo giá. Khả năng phối hợp vốn có của PLM thu thập và tổ chức dữ liệu liên quan đến thiết kế sản phẩm để hỗ trợ các nhóm kỹ sư của bạn. Điều này bao gồm các nhóm phát triển các sản phẩm kỹ sư theo đơn đặt hàng và định cấu hình theo đơn đặt hàng. Hệ thống chỉ chia sẻ dữ liệu cần thiết, có nghĩa là các thành viên trong nhóm của bạn có thể dành nhiều thời gian hơn để tập trung vào công việc của họ và ít tìm kiếm thông tin hơn. Điều này giúp hợp lý hóa các nỗ lực hợp tác của nhóm của bạn. Không tuân theo các tiêu chuẩn quy định và tuân thủ là một trong những cách nhanh nhất khiến doanh nghiệp của bạn bị mang tiếng xấu. Nhưng có các công cụ phù hợp được tích hợp trong hệ thống PLM của bạn có thể giúp việc tuân thủ dễ dàng hơn nhiều so với cách khác. Giải pháp PLM có khả năng tập trung thông tin và tài liệu liên quan, giúp các tổ chức doanh nghiệp đạt được và duy trì sự tuân thủ dễ dàng hơn. Bạn cũng có thể chọn một hệ thống có thể tuân thủ các tiêu chuẩn y tế, môi trường, an toàn, FSA và ISO tùy thuộc vào ngành của bạn. Quản lý chuỗi cung ứng (SCM) là quản lý quy trình làm việc đưa nguyên vật liệu và các bộ phận từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, sau đó đến nhà bán buôn, đến nhà bán lẻ và cuối cùng là khách hàng. Tất cả các tài liệu, thông tin và tài nguyên tiền tệ là một phần của SCM. Trong PLM, SCM là tất cả mọi thứ từ khi ra mắt đến khi phân phối, bao gồm cả sản xuất. Quản lý quan hệ khách hàng (CRM) là việc giám sát khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng, tương tác của họ với công ty của bạn và dữ liệu về họ và việc mua hàng của họ. CRM giúp bạn nhìn vào bức tranh toàn cảnh giữa khách hàng và sản phẩm. Trong PLM, CRM sẽ là mọi thứ sau khi khách hàng mua sản phẩm thông qua việc tái chế hoặc tái chế sản phẩm đó. Ngoài ra còn có một vòng đời gắn liền với khách hàng, được gọi là vòng đời khách hàng, cho phép bạn xác định các điểm quan trọng trong PLC nơi có cơ hội cung cấp các nhu cầu của khách hàng đã biết của bạn. Vòng đời này là các bước mà khách hàng trải qua với công ty của bạn: cân nhắc mua, mua, sử dụng sản phẩm và duy trì lòng trung thành với sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn. Cả ba hệ thống SCM, CRM và PLM đều có sự chồng chéo. Về lý thuyết, việc chạy SCM và CRM thông qua PLM sẽ thúc đẩy lợi nhuận và giảm chi phí không liên quan vì doanh nghiệp trở nên gắn kết. Đây là quản lý doanh nghiệp, không chỉ quản lý quy trình. Các doanh nghiệp quản lý tất cả các quy trình của họ một cách gắn kết và có quyền truy cập vào tất cả thông tin liên quan đến một sản phẩm, ai đang mua sản phẩm đó và những gì xảy ra với sản phẩm sau khi được sản xuất có lợi thế về sự nhanh nhẹn so với các đối thủ cạnh tranh. Hơn nữa, với các yêu cầu ngày càng cao về quy định và tính bền vững, việc có tất cả thông tin cho phép công ty của bạn có một bức tranh rõ ràng về “cái nôi lớn” cho các sản phẩm của họ. Chức năng đáng giá của hệ thống PLM có thể được cải thiện tốt hơn thông qua việc thống nhất các phương pháp giám sát dự án. Nó có thể được tận dụng để xử lý hoạt động phát triển sản phẩm mới do sự phát triển của CAD và các phê duyệt liên quan đến tài liệu này đều được hệ thống hóa trong hệ thống PLM. Ví dụ: người quản lý dự án có thể theo dõi trạng thái của các văn bản, quy trình, phê duyệt được kết nối với NPD và NPI cũng như theo dõi trạng thái của các giai đoạn phát triển sản phẩm khác nhau với bên liên quan được chỉ định tham gia vào dự án của họ. Bằng cách tận dụng hệ thống PLM để kiểm soát dữ liệu bổ sung như bảng kiểm soát, bảng quy trình, hướng dẫn công việc, báo cáo kiểm tra và cả báo cáo PPAP, người quản lý dự án có thể hiểu rõ về những mối quan tâm có thể ngăn cản nhóm của họ đạt được các mục tiêu mà họ yêu cầu hoàn thành. Với sự bao quát, những hiểu biết này có thể được đưa ra sớm hơn trong tiến trình công việc, cho phép người quản lý công việc giảm thiểu những thách thức trước khi chúng tác động xấu đến dự án. | Quản lý vòng đời sản phẩm | Quản lý vòng đời sản phẩm là các chiến lược được sử dụng để quản lý sản phẩm trong các giai đoạn (thể hiện xuyên suốt quá trình từ khi sản phẩm ra đời đến lúc bị vứt bỏ), bao gồm nhiều quy tắc chuyên nghiệp, và yêu cầu nhiều kĩ năng, công cụ và tiến trình. Chi phí rất thấp vì đã có chỗ đứng tốt trên thị trường và không cần quảng bá nữa. Giá bán, lợi nhuận giảmMột sản phẩm không nhất thiết phải trải qua tất cả các giai đoạn nêu trên. Một số sản phẩm có vẻ cứ mãi mãi ở trong giai đoạn mature (ví dụ như sữa). Những nhà Marketing có nhiều cách giữ cho tiến trình của sản phẩm không đi tới giai đoạn thoái trào. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, người ta có thể tính được tuổi thọ dự kiến của một nhóm sản phẩm nào đó. Các chiến lược marketing mix của những nhà Marketing thay đổi theo tiến trình mà sản phẩm của họ trải qua vòng đời của chúng. |
Docker là một công cụ đang dần phổ biến trong lĩnh vực thiết kế web và công nghệ thông tin, thuật ngữ Docker đang được sử dụng ngày càng nhiều hơn. Vậy Docker là gì?. Hôm nay, Mắt Bão sẽ giải thích cho bạn về Docker. Đồng thời phân tích nguyên lý hệ thống làm việc và những khái niệm liên quan để bạn có cái nhìn sâu hơn đối với việc phát triển doanh nghiệp của bạn. Docker là một công cụ đóng gói (Container) được vận hành bởi hệ điều hành ảo hóa, mục đích được sử dụng để đóng gói và chạy các phần mềm trong máy. Các Containers này tách biệt với nhau và “gói” những ứng dụng, những dữ liệu, thư viện, cơ cấu tổ chức thư mục của riêng nó. Những ứng dụng hay dữ liệu này được liên kết chặt chẽ với nhau thông qua kênh chuyên biệt. Với sự hỗ trợ của nền tảng này, nhà phát triển có nhu cầu Deploy lên Server chỉ cần Run Container được tạo bởi Docker, và Application sẽ lập tức khởi chạy. Đơn giản, nhanh chóng và dễ sử dụng là những ưu điểm khá nổi bật mà Docker mang lại. Sau khi hiểu được khái niệm Docker là gì thì bạn cần biết thêm những công dụng siêu tiện ích từ chúng. Việc Setup và Deploy Application lên một hoặc nhiều Server rất vất vả từ việc phải cài đặt các công cụ, môi trường cần cho Application đến việc chạy được ứng dụng chưa kể việc không đồng nhất giữa các môi trường trên nhiều Server khác nhau. Chính vì lý do đó Docker được ra đời để giải quyết vấn đề này. Đối với các máy chủ ảo hoạt động như một máy chủ vật lý, chúng chứa tổng hợp các thư mục, dữ liệu, các thư viện lên đến hàng chục GBs. Còn đối với các Docker, các Containers sắp xếp các dữ liệu thành các gói riêng biệt, tạo một mô hình lưu trữ, xử lý thông tin kiểu mới. Thời gian ‘Start’ và ‘Stop’ cực ngắn: Khác hẳn với các máy ảo, Docker tiến hành ‘Start’ và ‘Stop’ trong thời gian rất ngắn, chỉ vài giây. Các Container ngoài thao tác dễ dàng còn gói các dữ liệu khiến cho việc xử lý thông tin cũng như lưu trữ sẽ nhẹ đi rất nhiều. Docker còn chạy được các phần mềm Software vì thế chúng không gây nhiều khó khăn cản trở. Sự xuất hiện của công cụ tiện ích này, hỗ trợ cho các công việc như Developing, Testing, Coding trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn rất nhiều. Các môi trường phần mềm bên trong sở hữu nền tảng từ công cụ Docker sẽ dễ dàng trao đổi, chuyển giao thuận tiện hơn từ người này sang người khác mà không phải lo về sự thay đổi cấu hình bên trong. Về chuyên môn đây là một thuật ngữ có tên gọi là Provisioning. Đa năng trên nhiều môi trường, tương thích với các nền tảng Develop, vì vậy việc Coding sẽ trở nên rất thuận tiện. Việc tìm hiểu sâu hơn về Docker cũng rất có lợi và bạn cần phải hiểu sâu hơn các khái niệm liên quan của nó để sử dụng công cụ này một cách thành thạo. Trên DockerHub có hàng ngàn Public Images được tạo bởi cộng đồng cho phép bạn dễ dàng tìm thấy những Image mà bạn cần. Và chỉ cần Pull về và sử dụng với một số Config mà bạn mong muốn. Sau khi tìm hiểu Docker là gì và biết về cách thức hoạt động của nó. Hệ thống nền tảng này được thực hiện công việc theo các bước: Build, Push, Pull và Run. Build: Bước này bắt đầu với việc tạo một Dockerfile, bên trong Dockerfile là phần Code. File này được build trên máy tính đã được cài đặt ở Docker Engine. Build xong, bạn sẽ được sở hữu Container chứa các ứng dụng và bộ thư viện cần thiết. Push: Khi tạo Container thành công, bạn chỉ cần Push nó lên cloud rồi lưu trữ tại bộ nhớ đám mây. Pull, Run: Bước này sẽ được thực hiện khi một máy tính khác có nhu cầu dùng Container. Để sử dụng nó, bạn cần Pull Container về máy (máy đã cài đặt Docker Engine) rồi Run Container. Phát triển các ứng dụng, dịch vụ yêu cầu cài đặt quá nhiều thứ liên quan, hoặc có Version không tương thích với máy chủ hiện tại. Khi có nhu cầu Scale, mở rộng linh hoạt để đáp ứng nhanh. VD như bật/tắt nhanh các Container để hỗ trợ tăng tải cho hệ thống của bạn. Rất phù hợp với Microservices. Tin chắc chắn rằng bạn sẽ không muốn chạy từng Service nhỏ lên và cấu hình chúng bằng tay. Tăng tốc, hỗ trợ CI/CD tốt hơn. Vì lúc này Automation Server chỉ cần quan tâm Docker thay vì lại phải cài đặt đủ thứ vào. An toàn hơn vì mỗi Container là một môi trường hoàn toàn độc lập với bên ngoài. Qua những thông tin hữu ích trên, Mắt Bão tin rằng bạn đã nắm Docker là gì và hệ thống sử dụng của chúng, hơn thế nữa bạn còn có thể vận dụng những lợi ích của Docker giúp góp phần phát triển doanh nghiệp của bạn. Chuyên gia SEO và yêu thích lập trình Website, đặc biệt với nền tảng WordPress. | Docker (phần mềm) | Docker là một dự án mã nguồn mở giúp tự động triển khai các ứng dụng Linux và Windows vào trong các container ảo hóa. Docker cung cấp một lớp trừu tượng và tự động ảo hóa dựa trên Linux. Docker sử dụng những tài nguyên cô lập của Linux như cgroups, kernel, quản lý tệp để cho phép các container chạy độc lập bên trong một thực thể Linux. Các thay đổi được lưu trữ trong các Docker image, các lớp tệp hệ thống được tạo ra và lưu lại dựa theo từng lớp (layer). Điều này giúp cho ảnh Docker giảm dung lượng đáng kể so với máy ảo (VM). Các ứng dụng muốn chạy bằng Docker phải là ứng dụng chạy được trên Linux. Gần đây, Docker có hỗ trợ thêm việc chạy ứng dụng Windows trong các Windows container. Docker có thể được tích hợp vào các công cụ, bao gồm cả Amazon Web Services, Ansible, CFEngine, Chef, Google Cloud Platform, IBM Dấu, Jelastic, Jenkins, Microsoft Azure, OpenStack Nova, OpenSVC, HPE Helion Stackato, Puppet, Salt, Vagrant, và VMware vSphere Containers. Dự án Cloud Foundry Diego tích hợp Docker vào Cloud Foundry PaaS.Red Hat cũng tích hợp Docker vào OpenShift. |
Với hơn 80,000 đầu sách trong mọi lĩnh vực (và tiếp tục tăng mỗi ngày), Vinabook.com tự hào là nhà sách trên mạng có số lượng đầu sách lớn nhất Việt Nam, bạn có thể tìm được bất kỳ quyển sách nào cho mọi nhu cầu đọc sách của bạn. Thật bất ngờ đó là những câu văn được viết từ một cậu bé 11 tuổi: Nguyễn Bình, học sinh lớp 6 của Trường Tiểu học Nghĩa Tân (Cầu Giấy - Hà Nội). Trí tưởng tượng của em thật phong phú khi viết về cuộc chiến đấu với người ngoài hành tinh. Là người tiếp nhận bản thảo này, ông Phạm Sỹ Sáu - đại diện NXB Trẻ nhận xét:. "Đọc lướt qua tập bản thảo Cuộc chiến với hành tinh Fantom, cảm giác đầu tiên của tôi là bất ngờ. Thật sự bất ngờ. Không thể tin được đây là cuốn sách do một cậu bé viết ra. Nhưng khi đọc kỹ lại một lần nữa, tôi không còn nghi ngờ và bất ngờ nữa, bởi những tình tiết và đối thoại giữa những nhân vật trong tập sách là hoàn toàn trẻ thơ. Từ bất ngờ tôi chuyển sang thán phục. Thật sự thán phục. Câu chuyện trong tập 1 Cuộc chiến với hành tinh Fantom dẫn dắt người đọc hết đi từ Hi Lạp đến Mỹ rồi sang Ý với những chi tiết dường như không thể chính xác hơn. Đặc biệt là lối hành văn rất lưu loát, ngắn gọn và linh hoạt. Một trình độ tiếng Việt nhuyễn đến độ không nhiều người đã tốt nghiệp đại học hiện nay đạt tới. Là người biên tập nhưng hầu như tôi chẳng phải biên tập gì nhiều. Chỉ chỉnh lại một số thông tin chưa thật sự chính xác và một số từ dùng sai phổ biến trên các phương tiện thông tin hiện nay. Có thể nói là trong gần 200 trang sách tôi chỉ phải chỉnh sửa không quá 10 lỗi". Cuộc chiến với hành tinh Fantom kể về chuyến phiêu lưu của nhóm bạn Earth ở thành phố Philadelphia (Hoa Kỳ) chống lại những kẻ xâm lược đến từ hành tinh Fantom. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Frank William Wells - vốn là hậu duệ của nhà văn Anh nổi tiếng H. G. Wells. Ở tập 1 câu chuyện bắt đầu từ một buổi sáng mùa hè trên hòn đảo Hydra cho đến khi cả nhóm bạn Earth phát hiện ra đám mây UFO ở ngoài khơi, họ đã nhanh chóng trở về Florida (Mỹ) để bắt đầu cuộc chiến trực diện với bọn hành tinh Bóng Ma (Fantom), bảo vệ Trái Đất. Cả nhóm trải qua các cuộc đấu trí tại Venice, Philadelphia với nhiều khó khăn và thử thách. Từ đó, những chuyến phiêu lưu đầy kịch tính đến những miền đất rộng lớn với những nền văn minh xa lạ được thể hiện lại khá sinh động. Được biết "nhà văn nhí" Nguyễn Bình bắt đầu viết sách Cuộc chiến tranh với hành tinh Fantom từ năm 2011, đã xuất bản 3 tập và hiện đang tiếp tục hoàn thành tập 4 và 5. Trường hợp Nguyễn Bình có thể ghi nhận là hiện tượng xuất bản trong thời gian gần đây. | Cuộc chiến với hành tinh Fantom | Cuộc chiến với hành tinh Fantom là tiểu thuyết giả tưởng của Việt Nam, viết bởi Nguyễn Bình và phát hành năm 2011 bởi Nhà xuất bản Trẻ. Lấy bối cảnh nước Mỹ ở tương lai, bộ tiểu thuyết kể về chuyến phiêu lưu của nhóm bạn Earth ở thành phố Philadelphia, Hoa Kỳ chống lại những kẻ xâm lược xấu xa đến từ hành tinh Fantom. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Frank William Wells, vốn là hậu duệ của nhà văn Anh nổi tiếng H. G. Wells. Từ một buổi sáng mùa hè trên hòn đảo Hydra cho đến khi cả nhóm bạn Earth phát hiện ra đám mây UFO ở ngoài khơi, họ đã nhanh chóng trở về Florida (Mỹ) để bắt đầu cuộc chiến trực diện với bọn hành tinh Bóng Ma (Fantom), bảo vệ Trái Đất. Cả nhóm trải qua các cuộc đấu trí tại Venice, Philadelphia với nhiều khó khăn và thử thách. Nguyễn Bình đã khéo léo dẫn dắt người đọc vào một chuyến phiêu lưu đầy kịch tính đến những miền đất rộng lớn với những nền văn minh xa lạ. |
"Phụ nữ lấy chồng cũng như đánh bạc, thông minh xinh đẹp cũng không bằng may mắn". Với phụ nữ, có lẽ việc chọn được một người bạn đời yêu thương mình hết lòng là điều may mắn nhất. Bởi thế, họ luôn cân nhắc và xem xét thật cẩn trọng khi chọn cho mình đối tượng để yêu, để cưới. Chắc hẳn ai cũng mong muốn người mà mình gửi gắm hạnh phúc trọn đời sẽ hội tụ những đặc điểm này. Một mối quan hệ bền vững và hạnh phúc giữa hai người sẽ không bao giờ có sự che đậy hay giấu diếm bất cứ một điều gì kể cả là những tin nhắn điện thoại, email, facebook.nhưng điều đó không có nghĩa là người ấy của bạn được phép xâm phạm mọi điều riêng tư của bạn khi chưa được phép. Nếu anh chàng bạn đang hẹn hò có thói quen mở máy tính hay điện thoại của bạn để đọc trộm tin nhắn thì chứng tỏ anh ta không tin tưởng vào tình yêu của bạn. Anh ấy nghi ngờ sự chung thủy của bạn, do đó bạn cần phải lưu ý. Nếu bạn không làm gì sai trái mà anh chàng vẫn hành động như vậy, thì bạn nên chấm dứt với anh ta đi thôi, yêu một anh chàng quá tò mò và có tính hay nghi ngờ là không tốt một chút nào đâu. “Anh nghĩ em để tóc dài mới đẹp”, Em nên giảm cân đi”, “Em nên trang điểm đậm hơn một chút, như vậy trông mới quyến rũ”. Nếu một người đàn ông luôn phán xét ngoại hình của bạn gái, điều đó chứng tỏ anh ta đang hạ thấp giá trị bản thân bạn và khiến bạn cảm thấy thiếu tự tin. Ngược lại, nếu là người đàn ông tốt và yêu bạn thật lòng thì dù ngoại hình của bạn có xấu đến đâu thì anh ấy vẫn coi trọng và không bao giờ lấy đó làm điểm yếu để chê trách bạn. Một người đàn ông tốt sẽ luôn ở bên cạnh, sẵn sàng hỗ trợ và thúc đẩy mọi bước tiến quan trọng trong cuộc đời bạn. Họ coi thành công của bạn cũng chính là thành công của bản thân mình, nên chắc chắn họ sẽ không làm bất cứ điều gì khiến bạn nản lòng hay cản trở con đường bạn đi. Nếu anh chàng mà bạn đang hẹn hò luôn đòi hỏi bạn phải chứng minh tình yêu của mình dành cho anh ta thì bạn không nên lưu luyến mối tình đó làm gì. Bởi lẽ, người đàn ông tốt bụng đến với bạn vì họ coi trọng và đánh giá cao bạn chứ không phải những gì bạn làm hay cách bạn chứng minh điều đó. Ngoài chuyện tình cảm cá nhân, đàn ông cũng có nhiều mối bận tâm riêng cho công việc, gia đình hay những sở thích thú vui của bản thân. Tuy nhiên, một người đàn ông tốt sẽ biết cân bằng tất cả mọi chuyện, quan trọng là họ luôn coi trọng và đặt bạn lên vị trí hàng đầu. Họ sẵn sàng từ bỏ một buổi tụ tập bạn bè hay tạm hoãn công việc để đến bên bạn, điều đó chứng tỏ bạn có vai trò quan trọng trong tâm trí anh ấy. Mỗi mốc sự kiện quan trọng bạn đi qua hay khi gặp khó khăn bạn luôn được tiếp thêm sức mạnh bởi có sự hiện diện của người ấy. Chàng luôn bên cạnh tiếp sức và động viên bạn giúp bạn cảm thấy an tâm hơn rất nhiều. Và nếu bạn may mắn có một anh chàng như vậy thì hãy cố gắng giữ chân anh ấy, bởi chỉ người đàn ông yêu bạn thật lòng mới có thể sẵn sàng ở bên bạn mọi lúc mọi nơi và chắc chắn rằng họ sẽ không bao giờ bỏ mặc bạn bơ vơ một mình. Trong tình yêu, sự chân thành và thành thực là một trong những điều quan trọng để gắn kết hai người lại với nhau. Tình yêu đẹp sẽ không có chỗ cho những sự lừa dối lẫn nhau. Nếu người đàn ông bạn đang hẹn hò thường xuyên nói dối, lừa gạt bạn điều đó chứng tỏ anh ta không phải là người đáng tin cậy và đương nhiên khi ở bên cạnh họ, bạn sẽ bị cuốn vào vòng xoáy thật giả lẫn lộn. Người đàn ông tốt sẽ không bao giờ nói dối hay có hành động hủy hoại lòng tin của bạn. Một người đàn ông tốt luôn tôn trọng mọi người xung quanh và anh ta sẽ không bao giờ dùng quyền lực hay tiền bạc để khinh thường người khác. Trong tình yêu cũng vậy, nếu bạn nhận thấy người ấy của mình luôn tôn trọng mọi ý kiến, không ngừng tán dương thành quả của bạn và có cách cư xử bình đẳng với bạn, điều đó có nghĩa bạn đã chọn đúng người để yêu, để gửi gắm hạnh phúc trọn đời. Cho dù là cuộc nói chuyện trong gia đình hay trong tình yêu, người đàn ông tốt luôn hiểu rằng, vấn đề sẽ được giải quyết nếu như chúng ta ngồi lại nói chuyện, chia sẻ với nhau. Anh ấy luôn sẵn sàng đối diện với hiện thực mà không hề né tránh hoặc trì hoãn những cuộc nói chuyện quan trọng với bạn, bởi anh ấy biết rằng việc tránh né chỉ làm cho tình hình trở nên tồi tệ thêm mà thôi. Cuối cùng, một người đàn ông tốt sẽ không bao giờ lạm dụng bạn, kể cả trong ý nghĩ tư tưởng đó cũng không tồn tại. Họ sẽ tự nỗ lực phấn đấu bằng chính đôi chân và trí lực của mình mà không cần phải lợi dụng bạn hay bất kì một ai khác. Trong tình yêu cũng vậy thôi, nếu chàng yêu bạn thật lòng và sâu sắc thì đương nhiên anh ấy sẽ không nghĩ đến chuyện lợi dụng hay tận dụng cơ hội để đưa bạn lên giường khi bạn chưa đồng ý. | Người đàn ông tốt | Một người đàn ông tốt hay một chàng trai tốt, một người tốt là thuật ngữ được nhắc đến nhiều trong công luận nói chung, trong xã hội, báo chí và trong văn hóa đại chúng mô tả một người nam trưởng thành hoặc thanh niên với những đặc điểm tính cách thân thiện, tốt bụng nhưng không quá quyết đoán, lấn át trong bối cảnh của một mối quan hệ với một người phụ nữ. Sự mô tả tốt bụng được sử dụng cả hai nghĩa tích cực hay tiêu cực. Khi được sử dụng tích cực nó được dùng để ngụ ý một người đàn ông, người mà đặt nhu cầu của người khác trước khi chính mình tức luôn luôn quan tâm đến người khác nhất là với phụ nữ, một người luôn thấu hiểu, luôn quan tâm chia sẻ những tâm sự, tâm tư của người phụ nữ và luôn đem lại những cảm tình, thiệt cảm với phụ nữ. Trong bối cảnh của một mối quan hệ, nó cũng có thể là đặc điểm của sự trung thực, lòng chân thành, sự ân cần, lãng mạn, lịch sự, lịch lãm và tôn trọng. Khi được sử dụng trong một bối cảnh tiêu cực một chàng trai tốt ngụ ý một nam người không quyết đoán hoặc quá khờ khạo trong tình yêu, không thể hiện cảm xúc thật của mình. |
Tại Sài Gòn, có rất nhiều nhà thờ đẹp. Mỗi nhà thờ sẽ mang kiến trúc cùng phong cách thiết kế khác nhau. Giáo xứ Chợ Đũi – Nhà thờ Huyện Sỹ là một trong số đó. Nhà thờ này tuy mới được xây dựng, nhưng kiến trúc của nó vẫn mang vẻ đẹp truyền thống của dân tộc. Nhà thờ Huyện Sỹ là một nhà thờ có tuổi đời hơn 100 năm. Nhà thờ này được nằm tại số 1 đường Tôn Thất Tùng, phường Phạm Ngũ Lão, quận 1 thành phố Hồ Chí Minh. Đây là nhà thờ giáo xứ Chợ Đũi. Chính vì thế, cái tên giáo xứ Chợ Đũi- nhà thờ Huyện Sỹ luôn đi kèm với nhau. Nằm ở ngay quận 1, nơi sầm uất và đông đúc nhất tại Sài Gòn, nhà thờ này là nơi giáo dân Công giáo tụ họp lại với nhau để xem lễ, cầu nguyện. Vào những ngày lễ hoặc cuối tuần, nhà thờ này luôn nhộn nhịp người đi lại. Ngoài ra, các ngày trong tuần lượng người đến đây để tham quan cũng khá nhiều. Nhà thờ Huyện Sỹ được đánh giá là nhà thờ có khuôn viên rộng rãi thoáng đãng nhất Sài Gòn. Phía trước nhà thờ có tượng đài thánh tử đạo Việt Nam. Đây được xem là vị thánh có công lớn trong việc xây dựng nhà thờ. Gần cổng chính còn có đài thiên thần hộ thủ và tượng Thánh Giuse được làm ở hai bên. Bên trái khuôn viên nhà thờ là núi Đức Mẹ Lộ Đức. Núi này được xây dựng từ thế kỷ trước nhằm kính Đức Mẹ Lộ Đức. Vào những ngày tháng 2 dương lịch, sẽ có một lễ cầu nguyện được tổ chức ngay trên núi này. Phía bên phải khuôn viên là đồ Canve. Đây là ngọn đồi được dựng lại theo hình dáng ngọn đồi nơi Chúa Giêsu đã treo mình chịu chết. Mọi người thường nói nơi này đã xây dựng đầy đủ tất cả hành trình lịch sử của Hội thánh Công giáo. Nhà thờ có chiều dài 40m chia làm 4 gian và rộng 18m. Nhà thờ dùng đá hoa cương Biên Hoà để ốp mặt tiền và các cột chính điện, theo phong cách kiến trúc Gothic. Chính điện nhà thờ có vòm chịu lực dạng cung nhọn. Tường có nhiều cửa sổ dạng vòm và được trang trí bằng nhiều lớp kính màu ghép lại với nhau. Trên trong các gian tường có nhiều tượng thánh khác nhau. Trên vòm cửa chính có tượng thánh Philipphê bổn mạng nhà thờ bằng đá cẩm thạch, lúc này Thánh đang đứng cầm cây Thánh giá. Ngọn tháp chuông chính là điểm nhấn của nhà thờ. Bên trong tháp có 4 quả chuông gồm 2 quả lớn và 2 quả nhỏ. Mỗi lần rung chuông cả khu vực lân cận đều có thể nghe rõ ràng tiếng chuông ngân vang. Giáo xứ Chợ Đũi – Nhà thờ Huyện Sỹ chắc chắn sẽ là điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích kiến trúc độc đáo. Khuôn viên rộng lớn, không khí thoáng mát là điều ai cũng có thể cảm nhận và hài lòng khi đến với địa điểm này. Hy vọng các bạn sẽ có những trải nghiệm thú vị tại đây. Website đang hoạt động thử nghiệm, chờ giấy phép hoạt động của Bộ Thông Tin và Truyền Thông. | Nhà thờ Huyện Sỹ | Nhà thờ Huyện Sỹ (tên chính thức là: Nhà thờ Thánh Philipphê Tông đồ) là một nhà thờ Công giáo cổ hơn 100 tuổi, tọa lạc tại số 1 đường Tôn Thất Tùng, phường Phạm Ngũ Lão, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Đây là nhà thờ của giáo xứ Chợ Đũi thuộc Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà thờ do ông bà Lê Phát Ðạt, tức Huyện Sỹ, hiến đất và xuất 1/7 gia tài để xây dựng, thời giá lúc bấy giờ là khoảng trên 30 muôn (mười ngàn) đồng bạc Đông Dương. Khởi công xây dựng năm 1902 theo thiết kế của linh mục Bouttier, đến 1905 thì được khánh thành. Nhà thờ tọa lạc trên một khu đất cao và rộng hơn một mẫu, nằm ở góc đường Frère Louis (nay là đường Nguyễn Trãi) và Frère Guilleraut (nay là đường Tôn Thất Tùng). Ban đầu nhà thờ có tên là Nhà thờ Chợ Đũi do thuộc họ đạo Chợ Đũi. Mặt khác, do Thánh Philípphê tông đồ là bổn mạng của Huyện Sỹ nên còn được gọi là Nhà thờ Thánh Philípphê. Tuy vậy, dân gian vẫn gọi là Nhà thờ Huyện Sỹ, và sau đó dần trở thành tên thông dụng của nhà thờ này (tất nhiên, đối tượng thờ phượng ở đây không phải là ông Huyện Sỹ). |
Tôn Sách là người đặt nền móng hình thành nên nhà Đông Ngô thời Tam quốc. Tôn Sách, tự Bá Phù, được biết đến là một viên tướng và là một lãnh chúa trong thời kỳ cuối nhà Đông Hán và thời kỳ đầu Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người đặt nền móng quan trọng trong việc hình thành nên Đông Ngô, được người em trai Tôn Quyền kế thừa và hoàn thành nghiệp lớn. Trong Tam quốc diễn nghĩa, Tôn Sách được mô tả anh dũng khác người, không kém gì Tây Sở Bá vương Hạng Vũ, nên được gọi là Tiểu Bá vương. Tam Quốc Chí của sử gia Trần Thọ thời nhà Tây Tấn đánh giá: “Tôn Sách là bậc thiếu niên hào kiệt, dũng mãnh hơn người, mưu lược toàn tài, có chí nhất thống thiên hạ". Tôn Sách là mãnh tướng "có khí thế của Tiểu Bá Vương", nhưng tính tình nóng vội, không biết dùng người. Trương Hoành từng, mưu sĩ của Tôn Sách từng khuyên: "Chủ tướng là tính mệnh của ba quân, không nên khinh địch. Xin chủ tướng tự bảo trọng". Tôn Sách đáp:"Lời tiên sinh như vàng ngọc, chỉ e nếu ta không làm gương, tướng sĩ sao có thể hết mình". Ông là con trai cả trong số 4 con trai của Trường Sa thái thú Tôn Kiên, một viên tướng trung thành với nhà Hán, người đã tham gia Chiến dịch chống Đổng Trác của Viên Thuật và không may qua đời. Sau khi Tôn Sách theo Viên Thuật không lâu, Thích sử Dương Châu là Lưu Dao ỷ vào binh lực để chiếm Đan Dương. Vùng đất này vốn thuộc về Ngô Cảnh, cậu của Tôn Sách. Tôn Sách đề nghị Viên Thuật cho mang quân đi đánh Lưu Dao giúp cậu. Viên Thuật thấy việc làm của Lưu Dao cũng làm tổn hại đến lợi ích của mình, vừa muốn mượn danh Tôn Sách đi đánh Lưu Dao, vừa ngại Sách thoát ly khỏi mình, nên chỉ cho mượn một nghìn người ngựa. Tôn Sách tiến vào Giang Đông, trên đường không ngừng chiêu binh mãi mã. Đến nửa đường, Sách được người bạn là Chu Du giúp đỡ, bổ sung lương thảo và các đồ dùng cần thiết khác, tăng cường lực lượng. Năm 196, sau khi chiếm được Lưu Dao, Sách thừa thắng đánh vào Ngô Quận (Tô Châu tỉnh Giang Tô ngày nay), chiếm Cối Kê và 4 quận khác, tự phong là Thái thú Cối Kê. Nắm trong tay vùng đất lớn, Sách cắt đứt quan hệ với Viên Thuật, bắt đầu xưng bá ở Giang Đông. Có thể nói, từ một nghìn người ngựa làm vốn ban đầu, Tôn Sách nắm trong tay một vùng đất Giang Đông rộng lớn, điều mà Viên Thuật chưa bao giờ nghĩ tới. Tôn Sách chưa bao giờ hài lòng với việc chiếm được sáu quận ở Giang Đông, muốn vượt sông tranh giành đất đai với Tào Tháo. Năm 200, khi Tào Tháo đang có trận đánh quyết định với Viên Thiệu tại Trận Quan Độ, Sách dường như đã có kế hoạch tấn công trung tâm quyền lực của Tào Tháo ở Hứa Xương. Tuy nhiên, ông đã chết trước khi có cơ hội cụ thể hóa tham vọng này. Một số nhà nghiên cứu Trung Quốc bình luận, Tôn Sách là mẫu nhân vật nhà binh, cả đời thống lĩnh quân đội chinh chiến, hành tung của Sách là hết sức bất định. Việc Tôn Sách bị ám sát khi đi săn có nhiều điểm nghi vấn. Sử sách Trung Quốc chép rằng, Tôn Sách bị hành thích và qua đời khi mới 25 tuổi. Tôn Quyền sau đó được anh trai trao quyền bá chủ Giang Đông. Ba người em trai khác của nhà họ Tôn là Tôn Dực, Tôn Khuông, Tôn Lãng hầu như không được nhắc đến. Ngoài Tôn Quyền, Tôn Dực chẳng những không thể tiếp quản ngôi vị của huynh trưởng, mà về sau cũng bị ám sát. Bối Tùng Chi dẫn sách Ngô lịch rằng, “Dực ra vào đều mang đao, thường hay uống rượu, bị Biên Hồng từ đằng sau chém. Không ai cứu Dực. Hồng chạy trốn vào núi". Ngoài Tôn Sách và Tôn Dực bị ám sát, Tôn Khuông chết không rõ ràng, Tôn Lãng thì “bị Tôn Quyền giam giữ đến cuối đời". Đây được coi là những dấu hiệu cho thấy nhiều khả năng có bàn tay Tôn Quyền trong việc thanh trừng nội bộ Tôn gia, theo Qulishi. Cuối cùng, các nhà sử học Trung Quốc thời hiện đại nhận thấy những nhân vật có ảnh hưởng ở Đông Ngô thời Tôn Sách đều dần bị “thay máu” khi Tôn Quyền nắm quyền lực. Các tướng dưới quyền Tôn Sách như Chu Du, Tưởng Khâm, Chu Thái, Trần Vũ, Thái Sử Từ đều dần bị thay thế bằng những người mới như Lữ Mông, Lục Tốn, Từ Thịnh, Đinh Phong, Cam Ninh. Đây đều là những người do Tôn Quyền đưa lên, chỉ trừ đại đô đốc Chu Du còn dược trọng dụng từ thời Tôn Sách. Điều này cho thấy Tôn Quyền đã có sự chuẩn bị để tiếp quản quyền lực từ người anh trai “không may bị hãm hại”. 800 quân Tào Ngụy đẩy lùi 10 vạn quân Tôn Quyền là một trong những trận đánh được nhắc đến nhiều nhất trong Tam quốc, nhưng sự thật đằng sau câu chuyện này là như thế nào? Mời độc giả đón đọc bài dài viết kỳ tới. Tôn Quyền đã có nhiều cơ hội để xây dựng lực lượng, chờ thời cơ nắm lấy thiên hạ, tiếc rằng khi về già, hoàng. | Tôn Quyền | Tôn Quyền (giản thể: 孙权; phồn thể: 孫權; 5 tháng 7 năm 182– 21 tháng 5, 252), tự là Trọng Mưu (仲谋), thụy hiệu Ngô Đại Đế (吴大帝, tức là "Hoàng đế lớn của Ngô"), là người sáng lập của chính quyền Đông Ngô dưới thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Ông thừa hưởng quyền kiểm soát đất Giang Đông từ tay huynh trưởng, Tôn Sách, năm 200. Ông tuyên bố độc lập và cai trị Giang Đông từ năm 222 đến 229 với tước hiệu Ngô vương và từ 229 đến 252 với tước hiệu hoàng đế Ngô. Không như các đối thủ Tào Tháo và Lưu Bị, Tôn Quyền thường đóng vai trò trung lập trong các cuộc xung đột của Thục và Ngụy, và chỉ đứng về một trong phía hai bên còn lại nếu điều đó có lợi cho nước Ngô; cũng không bao giờ cố gắng để thống nhất ba nước, mặc dù nhiều sử gia cho rằng là do không đủ thực lực để làm điều đó. Tôn Quyền chào đời khi phụ thân ông là Tôn Kiên còn làm huyện thừa ở Hạ Bì. Sau cái chết của Tôn Kiên vào đầu năm 190, ông và gia đình di chuyển qua nhiều nơi ở phía nam Trường Giang, cho đến khi trưởng huynh Tôn Sách chiếm cứ được Giang Đông, với sự giúp đỡ của những người bạn thân thiết và các lãnh chúa địa phương. |
Nhà hát Lớn Hà Nội là nơi phục vụ biểu diễn nghệ thuật nổi tiếng ở Việt Nam. Đây cũng là địa điểm du lịch Hà Nội được nhiều du khách quan tâm, chú ý. Nhiều du khách thắc mắc không biết “Địa chỉ Nhà hát Lớn Hà Nội nằm ở đâu?” khi có ý định ghé thăm Nhà hát Lớn. Để trả lời cho câu hỏi này, Viet Fun Travel mời du khách cùng theo dõi bài viết dưới đây. Nhà hát Lớn Hà Nội tọa lạc ở số 01 Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Thủ đô Hà Nội. Trước mặt nhà hát là Quảng trường Cách mạng tháng Tám, bên phải là khách sạn Hilton Opera. Xung quanh nhà hát còn có các công trình ấn tượng như nhà khách Chính phủ, khách sạn Métropole, Bảo tàng lịch sử v.v. Với vị trí lý tưởng như vậy, du khách sau khi tham quan Nhà hát Lớn có thể ghé thăm các điểm lân cận. Quá trình tham quan sẽ giúp du khách rõ hơn về các công trình kiến trúc ở Hà Nội cũng như có sự hiểu biết nhất định về các địa điểm du lịch này. Nếu có dịp đi Tour Hà Nội du khách nên tìm đến Nhà hát Lớn Hà Nội. Nhà hát Lớn Hà Nội nằm ở vị trí đắc địa, ngay trung tâm thành phố nên rất thuận tiện cho du khách trong việc tham quan. Từ các tỉnh miền Trung và miền Nam, du khách có thể đi máy bay, tàu hỏa, xe khách hoặc ô tô đến Hà Nội. Sau đó, du khách có thể thuê xe máy hoặc đi xe buýt đến Nhà hát Lớn Hà Nội. Nếu di chuyển bằng xe máy hoặc ô tô tự lái thì du khách có thể đi theo chỉ dẫn sau: từ Hồ Hoàn Kiếm, du khách chạy thẳng đường Đinh Tiên Hoàng tới đường Lê Lai. Sau đó, du khách rẽ phải vào đường Lý Thái Tổ, đi qua vòng xoay là tới Nhà hát Lớn Hà Nội. Nếu di chuyển bằng xe buýt thì du khách có thể đi xe buýt 2 tầng với lộ trình từ Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục đến Quảng trường Nhà hát Lớn. Di chuyển bằng xe buýt 2 tầng không chỉ an toàn, thuận tiện mà du khách còn có cơ hội ngắm nhìn phố phường Hà Nội một cách chậm rãi, thoải mái. Ngoài ra, du khách cũng có thể ghé thăm Nhà hát Lớn Hà Nội bằng xe du lịch chất lượng cao qua các Tour du lịch Hà Nội của Viet Fun Travel. Sử dụng dịch vụ của Viet Fun Travel, quý khách sẽ được phục vụ tận tình bởi đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp và các bác tài vui tính, nhiệt tình. Theo kinh nghiệm đi du lịch Hà Nội của một số du khách thì du lịch bằng xe chất lượng cao của Viet Fun Travel rất thú vị, độc đáo. Khu đất xây dựng Nhà hát Lớn Hà Nội trước kia là một vùng đầm lầy hoang sơ, khô cằn. Đến năm 1899, Hội đồng thành phố đã xin phép những người có thẩm quyền để xây nhà hát. Sau khi được phê duyệt, năm 1901 công trình bắt đầu được khởi công xây dựng. Nhà hát Lớn Hà Nội được thiết kế bởi hai kiến trúc sư người Pháp là Harlay và Broyer. Công trình mô phỏng theo hình dáng nhà hát Opera Garnier nổi tiếng ở Paris. Nhà hát xây dựng 10 năm thì hoàn thành, trở thành công trình có quy mô nhất thời đó. Quá trình xây dựng nhà hát gặp nhiều khó khăn, bởi vì vùng đất nền là vũng lầy nên khó san lấp. Công trình cần khoảng 300 công nhân thi công mỗi ngày. Để có nền móng kiên cố và vững chắc, các thợ lành nghề phải nghĩ ra một cách là dùng 35.000 cây cọc tre đóng xuống trước khi đổ bê tông dày 0,9m. Phần móng của công trình được xây bằng đá tảng, khu vực sân khấu sử dụng gạch có khả năng chịu lửa để đề phòng hỏa hoạn. Phần mái của nhà hát được lợp bằng phiến thạch, trang trí kẽm thiếp vàng, đường vòng quanh mái trang trí gạch tráng men. Ngày nay ghé thăm nhà hát, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những nét trang trí đặc sắc này. Sảnh chính là nơi đầu tiên đưa du khách vào nhà hát, ở đây có một cầu thang hình chữ T nổi bật. Phía trên cầu thang có các đèn chùm nhỏ được mạ vàng, mạ đồng theo lối cổ điển. Du khách có thể đi theo cầu thang này để lên phòng khánh tiết ở tầng 2. Phòng khánh tiết là nơi diễn ra các lễ nghi quan trọng, lễ ký kết của Chính phủ hoặc đón tiếp các nhân vật cấp cao. Ngoài ra, phòng này còn dành cho các chương trình nghệ thuật thính phòng, họp báo hoặc hội nghi có quy mô vừa. Bên trong nhà hát có một khán phòng lớn với diện tích là 24x24, có ba tầng, chứa được hơn 500 người. Phía sau nhà hát còn có phòng quản trị, 18 buồng cho diễn viên hóa trang, 2 phòng tập hát, thư viện và phòng họp. Phía trước nhà hát có một hành lang dài và rộng, là nơi trưng bày hình ảnh các sự kiện diễn ra trước Quảng trường Cách mạng tháng Tám. Ngoài ra, nhà hát còn có các khu trưng bày hiện vật liên quan đến Nhà hát Lớn Hà Nội. Ngày nay, Nhà hát Lớn Hà Nội là địa điểm du lịch đẹp ở Hà Nội được nhiều người yêu thích. Với lịch sử lâu đời cùng kiến trúc Pháp cổ tuyệt đẹp, Nhà hát Lớn Hà Nội cùng Quảng trường Cách mạng tháng Tám đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử và kiến trúc quốc gia. Hi vọng những thông tin trên đây đã giúp du khách có được đáp án cho câu hỏi "Địa chỉ Nhà hát Lớn Hà Nội ở đâu?" và không còn băn khoăn thắc mắc nữa. Nếu cần tư vấn thêm bất cứ thông tin gì, mời quý khách liên hệ qua số điện thoại 1900 6749 hoặc 028 7300 6749. | Nhà hát Lớn Hà Nội | Nhà hát Lớn Hà Nội là một công trình kiến trúc tại thành phố Hà Nội, Việt Nam, phục vụ biểu diễn nghệ thuật. Nhà hát tọa lạc trên quảng trường Cách mạng tháng Tám, vị trí ở số 1A phố Tràng Tiền, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, không xa hồ Hoàn Kiếm và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, cạnh khách sạn Hilton Hanoi Opera, nhìn ra các vườn hoa Nhà hát Lớn và vườn hoa 19-8. Công trình được người Pháp khởi công xây dựng năm 1901 và hoàn thành năm 1911, theo mẫu Nhà hát Opéra Garnier ở Paris nhưng mang tầm vóc nhỏ hơn và sử dụng các vật liệu phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương. Tác phẩm của hai kiến trúc sư Harlay và Broyer mang nhiều màu sắc, đường nét kiến trúc của các nhà hát ở miền Nam nước Pháp, có cách tổ chức mặt bằng, không gian biểu diễn, cầu thang, lối vào sảnh. giống với các nhà hát ở châu Âu đầu thế kỷ 20. Mặc dù là một công trình kiến trúc mang tính chiết trung, được pha trộn nhiều phong cách, nhưng Nhà hát Lớn Hà Nội vẫn mang đậm dáng vẻ Tân cổ điển Pháp, đặc biệt ở kết cấu kiến trúc, kiểu mái hai mảng lợp ngói đá đen cùng các họa tiết trang trí bên trong. |
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động không thể thiếu đối với các bạn học viên, sinh viên tại các trường đại học, cao đẳng. Nhiều người vẫn thắc mắc rằng nghiên cứu khoa học là gì? Đặc điểm, mục đích của nghiên cứu khoa học ra sao? Để có câu trả lời hãy cùng Luận Văn 24 theo dõi bài viết sau nhé. Nghiên cứu khoa học là gì? Nghiên cứu khoa học là một quá trình hành động, tìm hiểu, quan sát và thí nghiệm dựa vào các dữ liệu, tài liệu đã được thu thập giúp phát hiện ra những bản chất và quy luật chung của sự vật và hiện tượng. Thông qua đây, bạn có thể tìm hiểu về các kiến thức mới hay tìm ra những ứng dụng trong kỹ thuật, mô hình mới với ý nghĩa thực tiễn. Nghiên cứu khoa học được xem là một quá trình nhận thức hướng vào tất cả các góc cạnh trên thế giới nhằm đạt kết quả nghiên cứu mới hơn, cao hơn, giá trị hơn. Nghiên cứu khoa học là một hoạt động liên quan tới trí tuệ sáng tạo, giúp góp phần cải tạo về hiện thực, phát hiện ra những phương pháp kĩ thuật tân tiến để cải tạo thế giới. Nghiên cứu khoa học là việc khám phá về thuộc tính, bản chất của sự vật, hiện tượng nhằm phát hiện những quy luật vận động vốn có của những sự vật, hiện tượng có trong tự nhiên và xã hội. Tùy thuộc vào từng mục tiêu nghiên cứu và những sản phẩm thu được khác nhau người ta phân chia thành các loại hình nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học bao gồm những loại hình sau:. Đây là hoạt động nghiên cứu giúp phát hiện ra bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng có trong tự nhiên, xã hội và con người. Nhờ vào những phát hiện này để làm thay đổi về nhận thức của con người. Nghiên cứu cơ bản bao gồm nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hướng. Trong nghiên cứu cơ bản định hướng lại được chia làm nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu chuyên đề. Hoạt động nghiên cứu này sẽ vận dụng những quy luật đã được phát hiện bởi nghiên cứu cơ bản. Nhờ vào đó sẽ giúp giải thích được những vấn đề, sự vật, hiện tượng nhằm giúp hình thành nguyên lý công nghệ, sản phẩm, dịch vụ mới và áp dụng chúng vào hoạt động sản xuất và trong đời sống…. Hoạt động nghiên cứu triển khai là vận dụng những quy luật có được từ nghiên cứu cơ bản và những nguyên lý trong công nghệ, nguyên lý vật liệu được lấy từ nghiên cứu ứng dụng. Tất cả giúp đưa ra những hình mẫu về phương diện kỹ thuật, sản phẩm, dịch vụ với với các tham số mang tính chất khả thi đối với mặt kỹ thuật. Hoạt động nghiên cứu thăm dò nhằm xác định ra các phương hướng nghiên cứu, thăm dò thị trường giúp tìm kiếm cơ hội nghiên cứu. Nghiên cứu khoa học mang tới nhiều ý nghĩa cho người thực hiện nghiên cứu. Thông qua bài nghiên cứu sẽ giúp mọi người được chủ động hơn và hình thành được những phương pháp, tư duy mới. Từ đó sẽ giúp phát hiện ra vấn đề và giải quyết vấn đề một cách tốt nhất. Một công trình nghiên cứu khoa học thành công còn giúp mang tới niềm vui cho người thực hiện. Đồng thời đây cũng là một giai đoạn tiền đề tạo điều kiện cho các bạn thực hiện tốt những dự án, bài báo cáo sau này. Nghiên cứu khoa học giúp phát triển sâu và rộng hơn về nhận thức của con người có liên quan tới thế giới, giúp phát hiện ra các quy luật liên quan tới thế giới và phát triển kho tàng tri thức của nhân loại. Đây là mục đích tạo ra công nghệ mới đối với toàn bộ những lĩnh vực hoạt động có trong đời sống và xã hội nhằm nâng cao về trình độ văn minh và nâng cao năng suất đối với tất cả những lĩnh vực hoạt động. Nghiên cứu khoa học giúp mang tới hiệu quả kinh tế cao, từ đó làm tăng trưởng kinh tế trong xã hội. Hoạt động nghiên cứu khoa học giúp mở mang trí thức, nâng cao về trình độ văn hóa. Đây cũng là bước cơ bản giúp hoàn thiện con người, đưa xã hội phát triển lên một trình độ văn mình hơn. Đây là một thuộc tính quan trọng trong nghiên cứu khoa học. Một bài nghiên cứu khoa học cần phải hướng đến phát hiện mới và không có sự lặp lại của các thí nghiệm, cách lý giải và kết luận cũ,… Tính mới trong nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải có sự sáng tạo và tư duy nhạy bén. Bất kỳ một sản phẩm nào của bài nghiên cứu khoa học đều mang những đặc trưng liên quan tới thông tin. Nó chính là kết quả của một quá trình thực hiện và xử lý về thông tin… Đặc điểm này sẽ giúp phản ánh về trình độ và năng lực của những người nghiên cứu. Đó là phải làm sao để tìm thấy được các nguồn thông tin mang giá trị hữu ích nhất nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu…. Kết quả nghiên cứu nào đưa ra đều phải được kiểm chứng lại nhiều lần. Bởi trong một công trình nghiên cứu khoa học có thể được thực hiện bởi nhiều người, trong nhiều điều kiện khác nhau…. Kết quả nghiên quả cần phải đủ độ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật và hiện tượng. Tính khách quan trong bài nghiên cứu khoa học đó chính là sự trung thực. Vì vậy để đảm bảo được về tính khách quan, người nghiên cứu không được nhận định một cách vội vàng dựa theo cảm tính mà cần phải kiểm tra lại kết luận xem đã chính xác hoàn toàn chưa. Mục đích nghiên cứu khoa học là góp phần tăng hiệu quả kinh tế. Do đó đặc điểm không thể bỏ qua của nghiên cứu khoa học là tính kinh tế. Khi nghiên cứu khoa học, cần phải tính toán và cân nhắc một cách thận trọng. Tuy nhiên đôi lúc người thực hiện nghiên cứu khoa học cũng cần để ý tới những yêu cầu sau:. Người nghiên cứu cần mạnh dạn nhìn nhận vấn đề, đề tài chưa có ai thực hiện nghiên cứu hay những đề tài mang tính mới mẻ. Nắm bắt được tâm lý của các bạn sinh viên muốn tham khảo một số bài nghiên cứu khoa học mẫu để có hướng đi chính xác cho bài nghiên cứu của mình, Luận Văn 24 đã tổng hợp một số bài mẫu có chọn lọc trong link dưới đây. Nếu bạn còn bất kỳ câu hỏi nào có liên quan tới nghiên cứu khoa học hãy liên hệ ngay cho Luận Văn 24 theo hotline 0988 55 2424 hoặc gửi email tới địa chỉ luanvan24@gmail.com để được giải đáp chi tiết và nhanh chóng nhé. Tôi là Thu Trà, hiện tại tôi là Quản lý nội dung của Luận Văn 24 – Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn uy tín. Chúng tôi đặt lợi ích của khách hàng là ưu tiên hàng đầu. Chúng tôi chuyên nhận làm trọn gói dịch vụ viết thuê luận văn sẽ giúp bạn hoàn thành đề tài của mình. | Nghiên cứu y học | Nghiên cứu y học, nghiên cứu y sinh (hoặc y học thực nghiệm) bao gồm một loạt các nghiên cứu, mở rộng từ " nghiên cứu cơ bản ", – liên quan đến nguyên tắc khoa học cơ bản mà có thể áp dụng đối với một hiểu biết tiền lâm sàng – để nghiên cứu lâm sàng, trong đó bao gồm các nghiên cứu về những người có thể là đối tượng trong các thử nghiệm lâm sàng. Trong phạm vi dải nghiên cứu này này là nghiên cứu ứng dụng, hoặc nghiên cứu chuyển giao, được tiến hành để mở rộng kiến thức trong lĩnh vực y học. Cả hai giai đoạn nghiên cứu lâm sàng và tiền lâm sàng đều tồn tại trong các con đường phát triển dược phẩm của ngành dược phẩm, trong đó giai đoạn lâm sàng được biểu thị bằng thuật ngữ thử nghiệm lâm sàng. Tuy nhiên, chỉ một phần của nghiên cứu lâm sàng hoặc tiền lâm sàng được định hướng theo mục đích dược phẩm cụ thể. Nhu cầu hiểu biết cơ bản và dựa trên cơ chế, chẩn đoán, thiết bị y tế và liệu pháp phi dược phẩm có nghĩa là nghiên cứu dược phẩm chỉ là một phần nhỏ trong nghiên cứu y học. |
Rối loạn ăn uống có thể ảnh hưởng rất tiêu cực đến lao động, học tập, và cuộc sống thường ngày của người mắc. Ăn vô độ là một dạng rối loạn ăn uống và tác động xấu tới chất lượng cuộc sống người bệnh. Ăn vô độ (binge - eating disorder) là một loại rối loạn ăn uống nghiêm trọng, trong đó người mắc thường xuyên tiêu thụ một lượng thức ăn lớn bất thường và cảm thấy không thể ngừng ăn. Đa số người bình thường đều từng trải qua những lúc ăn rất nhiều, chẳng hạn như trong các bữa tiệc, buổi kỉ niệm, bữa liên hoan,. Nhưng một số người đã vượt qua lằn ranh bình thường, không thể tự kiểm soát được sự ăn uống quá mức của bản thân, để nó diễn ra lặp đi lặp lại, và tiến tới chứng ăn vô độ. Khi bị mắc chứng ăn vô độ, bản thân người mắc cũng cảm thấy xấu hổ về mức độ ăn của mình và cũng có ý muốn dừng lại, nhưng họ luôn bị một cảm giác thúc bách khiến việc ăn không thể dừng lại, dẫn tới ăn không ngừng. Thật may mắn là có thể can thiệp điều trị với chứng ăn vô độ. Nguyên nhân gây ra chứng ăn vô độ cho đến hiện nay vẫn chưa được biết rõ, tuy nhiên yếu tố di truyền, các yếu tố sinh học, chế độ ăn kiêng kéo dài và các vấn đề tâm thần có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện chứng ăn vô độ. Chứng ăn vô độ hay xuất hiện ở nữ giới hơn nam giới. Mặc dù có thể xuất hiện ở bất kỳ ai, ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhưng chứng ăn vô độ thường xuất hiện ở cuối tuổi vị thành niên hoặc đầu những năm tuổi 20. Tiền sử gia đình: nguy cơ xuất hiện rối loạn ăn uống sẽ tăng lên nếu trong gia đình có thành viên (cha mẹ, anh chị em) đã hoặc đang mắc rối loạn ăn uống. Điều này gợi ý rằng yếu tố di truyền có thể là nhân tố làm tăng khả năng xuất hiện các rối loạn ăn uống. Chế độ ăn kiêng: nhiều người bị ăn vô độ có tiền sử đã từng ăn kiêng. Ăn kiêng hoặc ăn theo chế độ giới hạn năng lượng trong ngày có thể khởi phát thèm muốn ăn vô độ, đặc biệt là khi bản thân có xuất hiện các dấu hiệu của trầm cảm. Các vấn đề tâm thần: nhiều người mắc chứng ăn vô độ có cảm giác tiêu cực về bản thân, về năng lực cũng như kết quả đã đạt được. Các yếu tố có thể gây khởi phát ăn vô độ bao gồm áp lực căng thẳng, tự ti về ngoại hình, có sẵn nhiều đồ ăn ưa thích,. Đa số những người mắc chứng ăn vô độ bị thừa cân hoặc béo phì, nhưng vẫn có những người có cân nặng bình thường. Các dấu hiệu về hành vi và cảm xúc của chứng ăn vô độ bao gồm:. Ăn một lượng thức ăn lớn bất thường trong một khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn như ăn quá nhiều trong hai giờ đồng hồ. Cảm thấy tuyệt vọng, chán ghét, xấu hổ, tội lỗi, hoặc buồn bã về hành vi ăn uống của bản thân. Không giống như người mắc chứng ăn ói (bulimia), sau khi trải qua cơn ăn, người mắc chứng ăn vô độ thường không cân bằng lại lượng năng lượng dư thừa đã thu nạp bằng cách nôn ra, sử dụng thuốc nhuận tràng hay tập luyện quá mức. Người mắc chứng ăn vô độ có thể cố gắng ăn kiêng hoặc ăn những bữa ăn ở mức bình thường, nhưng ăn kiêng nghiêm ngặt có thể lại dẫn tới khởi phát những cơn ăn vô độ. Mức độ nặng của chứng ăn vô độ được xác định bằng mức độ thường xuyên xảy ra cơn ăn vô độ trong một tuần. Nếu thấy xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào của chứng ăn vô độ, hãy đi thăm khám càng sớm càng tốt. Vấn đề ăn vô độ sẽ khác nhau tùy từng người, có thể xuất hiện những lần ngắn, sau đó tái diễn hoặc tồn tại dai dẳng nhiều năm nếu không được điều trị. Nếu không được điều trị, người mắc chứng ăn vô độ có thể xuất hiện các vấn đề liên quan về thể chất và tâm thần. Chứng ăn vô độ có thể gây ra các biến chứng sau:. Các vấn đề sức khỏe liên quan tới béo phì, chẳng hạn các vấn đề về khớp, tim mạch, đái tháo đường type 2, bệnh trào ngược dạ dày thực quản (gastroesophageal reflux disease - GERD), và một số rối loạn hô hấp trong giấc ngủ. Mục tiêu điều trị của chứng ăn vô độ là giảm thiểu sự ăn vô độ và tái lập thói quen ăn uống lành mạnh. Bởi vì chứng ăn vô độ có thể kèm theo các cảm xúc tiêu cực (như xấu hổ, tự ti về ngoại hình,.) nên việc điều trị cũng có thể nhắm đến những vấn đề tâm thần kèm theo, chẳng hạn như trầm cảm. Qua quá trình điều trị người mắc bệnh có thể lấy lại được sự kiểm soát đối với việc ăn uống. Tâm lý liệu pháp sẽ giúp người mắc chứng ăn vô độ (cũng như những người bị rối loạn ăn uống khác) thay đổi thói quen ăn uống, làm giảm số cơn ăn, tái lập và duy trì thói quen ăn uống lành mạnh. Lisdexamfetamine dimesylate (Vyvanse) vốn là thuốc điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý, đã trở thành loại thuốc đầu tiên được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (Food and Drug Administration - FDA) Hoa Kỳ phê chuẩn sử dụng cho những trường hợp người trưởng thành mắc chứng ăn vô độ mức độ trung bình và mức độ nặng, tuy nhiên Vyvanse cũng là một chất kích thích, có thể khiến người sử dụng bị phụ thuộc và lạm dụng. Tác dụng không mong muốn thường thấy của thuốc bao gồm khô miệng và mất ngủ, nhưng những tác dụng không mong muốn nghiêm trọng hơn cũng có thể xảy ra. Một số loại thuốc khác có thể sử dụng để làm giảm triệu chứng, ví dụ như:Topiramate (Topamax): là một thuốc chống co giật, tuy nhiên cũng có tác dụng làm giảm số cơn ăn vô độ. Thuốc có khá nhiều tác dụng không mong muốn.Thuốc chống trầm cảm: có thể làm giảm số cơn ăn vô độ dù chưa rõ cơ chế tác dụng. Topiramate (Topamax): là một thuốc chống co giật, tuy nhiên cũng có tác dụng làm giảm số cơn ăn vô độ. Thuốc có khá nhiều tác dụng không mong muốn. Thuốc chống trầm cảm: có thể làm giảm số cơn ăn vô độ dù chưa rõ cơ chế tác dụng. Rất nhiều người mắc chứng ăn vô độ có tiền sử giảm cân thất bại. Tuy nhiên kế hoạch giảm cân không nên đặt ra trước khi chứng ăn vô độ đã được điều trị, bởi chế độ ăn giảm cân có thể gây khởi phát các cơn ăn, khiến việc giảm cân không thành công. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ đầu ngành, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp; không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa. Ý tưởng và hành vi tự sát được hình thành do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó, căng thẳng tâm lý và các bệnh tâm thần như trầm cảm, tâm thần phân liệt là nguyên nhân thường gặp nhất. Xin chào bác sĩ ạ! Bé nhà em đã gần 11 tháng thích làm theo ý mình, ít nói chuyện, trêu đùa, giống triệu chứng của bệnh tự kỷ. Bé có thể nghe thấy những âm thanh dù là rất . Bác sĩ cho con hỏi rối loạn cảm xúc lưỡng cực là gì và điều trị thế nào? Bệnh này có nhiều người bị không thưa bác sĩ? Con cảm ơn bác sĩ. Thực tế có rất nhiều loại rối loạn lưỡng cực khác nhau nhưng tất cả đều liên quan đến các giai đoạn trầm cảm và hưng cảm ở một mức độ. Rối loạn lưỡng cực được nhận định là một . Chứng cuồng ăn vô độ tâm thần là tình trạng rối loạn ăn uống không kiểm soát, sau đó tìm cách để tránh tăng cân, gây ảnh hưởng tới sức khoẻ. Vậy ăn vô độ tâm thần có chữa được . | Rối loạn ăn uống | Rối loạn ăn uống (tiếng Anh: eating disorder) là một bệnh có nguồn gốc tâm lý, biểu hiện bằng việc người bệnh tự ép buộc mình phải ăn hoặc từ chối ăn mà không căn cứ theo nhu cầu tự nhiên của cơ thể, dẫn đến những tác hại tới sức khỏe thể chất và tinh thần. Bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, theo lời mô tả của tác giả cuốn sách "Sống sót sau khi mắc rối loạn ăn uống" thì các cảm giác về công việc, trường lớp, các mối quan hệ, hoạt động hàng ngày và cảm xúc bị phụ thuộc vào việc có ăn hay không và cân nặng là bao nhiêu. Người bệnh gặp phải những xáo trộn khủng khiếp trong hành vi ăn uống cũng như trong ý nghĩ và cảm xúc có liên quan tới các hành vi này. Chứng chán ăn tâm thần và ăn ói (bulimia nervosa) là hai rối loạn ăn uống phổ biến nhất được ghi nhận trong bảng phân loại bệnh tật. Cả hai đều có một số triệu chứng chung. Theo ước tính trong suốt cuộc đời mình một phụ nữ Hoa Kỳ có từ 5% đến 7% khả năng mắc bệnh. |
Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội là 2 khái niệm khác nhau, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau và trên thực tế thường hay bị sử dụng lẫn lộn. Nếu trách nhiệm xã hội là những nghĩa vụ một doanh nghiệp hay cá nhân phải thực hiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những tác động tích cực và giảm tối thiểu các hoạt động tiêu cực đối với xã hội thì đạo đức kinh doanh lại bao gồm những quy định và các tiêu chuẩn chỉ đạo hành vi trong kinh doanh. Trách nhiệm xã hội được xem như một cam kết với xã hội, trong khi đạo đức kinh doanh lại bao gồm các quy định rõ ràng về các phẩm chất đạo đức của tổ chức kinh doanh, mà chính những phẩm chất này sẽ chỉ đạo quá trình đưa ra quyết định của những tổ chức ấy. Nếu đạo đức kinh doanh liên quan đến các nguyên tắc và quy định chỉ đạo những quyết định của cá nhân và tổ chức thì trách nhiệm xã hội quan tâm đến hậu quả của những quyết định của tổ chức tới xã hội. Nếu đạo đức kinh doanh thể hiện những mong muốn, kỳ vọng xuất phát từ bên trong thì trách nhiệm xã hội thể hiện những mong muốn, kỳ vọng xuất phát từ bên ngoài. Mặc dù vậy, đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trên thực tế, đạo đức kinh doanh thẩm thấu vào tất cả các tầng bậc của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, nó trở thành sức mạnh, nhân tố chi phối trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Đạo đức kinh doanh đóng vai trò chi phối trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thể hiện qua ý thức đạo đức, sự thôi thúc nội tâm vươn lên cái thiện quy định các hành vi. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, ở một chừng mức nhất định, là cái cần phải hướng tới khi tìm kiếm những chuẩn mực chung trong kinh doanh, là sự hiện thực hóa những yêu cầu luật pháp và đạo đức. Nó đáp ứng tính toàn cầu hóa của thế giới hiện đại và muốn đi đến những thỏa ước chung mang tính toàn cầu, ở đó hiện thực hóa những phẩm chất của đạo đức kinh doanh. Xét về vai trò, chức năng, cả đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đều nhằm điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp theo hướng ngăn ngừa hành vi gây hậu quả với xã hội của cá nhân hay tổ chức trong kinh doanh, thông qua các quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ. Đạo đức kinh doanh là sức mạnh trong trách nhiệm xã hội vì tính liêm chính và sự tuân thủ đạo đức của các tổ chức phải vượt xa cả sự tuân thủ các luật lệ và quy định. Trên thực tế, trách nhiệm xã hội góp phần vào sự tận tụy của nhân viên và sự trung thành của khách hàng – những mối quan tâm chủ yếu của bất cứ một doanh nghiệp nào để có thể tăng lợi nhuận. Chỉ khi các công ty có những mối quan tâm về đạo đức trong cơ sở và các chiến lược kinh doanh của mình thì trách nhiệm xã hội mới có thể có mặt trong quá trình đưa ra quyết định hàng ngày được. Với tư cách là một nhân tố không thể tách rời của hệ thống kinh tế - xã hội, doanh nghiệp luôn phải tìm cách hài hòa lợi ích của các bên liên đới và đòi hỏi, mong muốn của xã hội. Khó khăn trong các quyết định quản lý không chỉ ở việc xác định các giá trị, lợi ích cần được tôn trọng, mà còn phải cân đối, hài hòa và chấp nhận hy sinh một phần lợi ích riêng hoặc lợi nhuận. Chính vì vậy, khi vận dụng đạo đức vào kinh doanh, cần có những quy tắc riêng, phương pháp riêng là đạo đức kinh doanh, và các trách nhiệm ở phạm vi và mức độ rộng lớn hơn trách nhiệm xã hội. Nếu trách nhiệm xã hội là những nghĩa vụ một doanh nghiệp hay cá nhân phải thực hiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những tác động tích cực và giảm tối thiểu các hoạt động tiêu cực đối với xã hội thì đạo đức kinh doanh lại bao gồm những quy định và các tiêu chuẩn chỉ đạo hành vi trong kinh doanh. Trách nhiệm xã hội được xem như một cam kết với xã hội, trong khi đạo đức kinh doanh lại bao gồm các quy định rõ ràng về các phẩm chất đạo đức của tổ chức kinh doanh, mà chính những phẩm chất này sẽ chỉ đạo quá trình đưa ra quyết định của những tổ chức ấy. Nếu đạo đức kinh doanh liên quan đến các nguyên tắc và quy định chỉ đạo những quyết định của cá nhân và tổ chức thì trách nhiệm xã hội quan tâm đến hậu quả của những quyết định của tổ chức tới xã hội. Nếu đạo đức kinh doanh thể hiện những mong muốn, kỳ vọng xuất phát từ bên trong thì trách nhiệm xã hội thể hiện những mong muốn, kỳ vọng xuất phát từ bên ngoài. Mặc dù vậy, đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trên thực tế, đạo đức kinh doanh thẩm thấu vào tất cả các tầng bậc của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, nó trở thành sức mạnh, nhân tố chi phối trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Đạo đức kinh doanh đóng vai trò chi phối trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thể hiện qua ý thức đạo đức, sự thôi thúc nội tâm vươn lên cái thiện quy định các hành vi. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, ở một chừng mức nhất định, là cái cần phải hướng tới khi tìm kiếm những chuẩn mực chung trong kinh doanh, là sự hiện thực hóa những yêu cầu luật pháp và đạo đức. Nó đáp ứng tính toàn cầu hóa của thế giới hiện đại và muốn đi đến những thỏa ước chung mang tính toàn cầu, ở đó hiện thực hóa những phẩm chất của đạo đức kinh doanh. Xét về vai trò, chức năng, cả đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đều nhằm điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp theo hướng ngăn ngừa hành vi gây hậu quả với xã hội của cá nhân hay tổ chức trong kinh doanh, thông qua các quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ. Đạo đức kinh doanh là sức mạnh trong trách nhiệm xã hội vì tính liêm chính và sự tuân thủ đạo đức của các tổ chức phải vượt xa cả sự tuân thủ các luật lệ và quy định. Trên thực tế, trách nhiệm xã hội góp phần vào sự tận tụy của nhân viên và sự trung thành của khách hàng – những mối quan tâm chủ yếu của bất cứ một doanh nghiệp nào để có thể tăng lợi nhuận. Chỉ khi các công ty có những mối quan tâm về đạo đức trong cơ sở và các chiến lược kinh doanh của mình thì trách nhiệm xã hội mới có thể có mặt trong quá trình đưa ra quyết định hàng ngày được. Với tư cách là một nhân tố không thể tách rời của hệ thống kinh tế - xã hội, doanh nghiệp luôn phải tìm cách hài hòa lợi ích của các bên liên đới và đòi hỏi, mong muốn của xã hội. Khó khăn trong các quyết định quản lý không chỉ ở việc xác định các giá trị, lợi ích cần được tôn trọng, mà còn phải cân đối, hài hòa và chấp nhận hy sinh một phần lợi ích riêng hoặc lợi nhuận. Chính vì vậy, khi vận dụng đạo đức vào kinh doanh, cần có những quy tắc riêng, phương pháp riêng là đạo đức kinh doanh, và các trách nhiệm ở phạm vi và mức độ rộng lớn hơn trách nhiệm xã hội. | Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp | Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (tiếng Anh: Corporate social responsibility, viết tắt: CSR) là một dạng hoạt động có quy tắc được các doanh nghiệp tự đưa ra nhằm giúp doanh nghiệp đóng góp cho các mục tiêu xã hội dưới vai trò là một doanh nghiệp nhân đạo, hoạt động vì cộng đồng bằng cách tham gia, hỗ trợ các hoạt động tình nguyện hoặc thực hiện những hoạt động mang tính đạo đức. Trước đây, thuật ngữ này từng được hiểu như là một chính sách nội bộ riêng của một tổ chức hay một chiến lược đạo đức kinh doanh, nhưng điều này không còn chính xác bởi sự phát triển của rất nhiều những bộ luật quốc tế và cả việc hàng loạt các tổ chức đã sử dụng khả năng của mình để đưa thuật ngữ này vươn ra khỏi việc chỉ là một sáng kiến hay lý tưởng của vài cá nhân hay thậm chí là của một ngành nghề kinh doanh nhất định. Sau đó, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) được coi như là một cách tự điều chỉnh của doanh nghiệp, tuy nhiên, trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, ý nghĩa của thuật ngữ này đã dần thay đổi, không còn chỉ là những quyết định mang tính tự nguyện dưới cấp độ của một cá thể tổ chức nào đó, mà đã trở thành một chính sách bắt buộc phải có của bất cứ tổ chức nào dù ở tầm cỡ khu vực, quốc gia hay quốc tế. |
Không bao lâu sau phát minh của Roentgen về các tia mang tên của chính ông, vào năm 1896 Becquerel đã tìm ra hiện tượng phóng xạ tự nhiên khi quan sát thấy muối uran và những hợp chất của nó có sức đâm xuyên khá mạnh và tính phát ra những tia không nhìn thấy được. Vào năm 1902 Curie tìm ra đồng vị phóng xạ Radium. Năm 1932 người ta xác nhận sự tồn tại của neutron và nhận ra rằng khi dùng neutrron bắn phá các hạt nhân khác thì sẽ thu được các hạt nhân phóng xạ mới. Vậy hiện tượng phóng xạ là gì? Hiện tượng hạt nhân nguyên tử biến đổi để từ đó trở thành một hạt nhân nguyên tử khác hoặc ở trong một trạng thái năng lượng khác gọi là hiện tượng phóng xạ. Trong quá trình biến đổi đó nếu hạt nhân phát ra những tia có năng lượng lớn thì gọi là các tia phóng xạ hay còn gọi là bức xạ hạt nhân. Phóng xạ là hiện tượng hạt nhân tự phóng ra những bức xạ gọi là tia phóng xạ và biến đổi thành các hạt nhân khác. Phóng xạ có khả năng phá hủy cơ thể rất mạnh ở cấp độ tế bào, nó sẽ làm hư hại phân tử AND. Các tế bào có AND nếu bị hư hại thì sẽ chết đi hoặc diễn ra quá trình sửa chữa. Khi đó trong quá trình sửa chữa tự nhiên cũng có thể xảy ra những sai lầm, điều đó dẫn đến sự hình thành của các tế bào ung thư. Ở các cấp độ khác nhau thì cơ thể của chúng ta sẽ bị ảnh hưởng khác nhau, dù ít hay nhiều. Mức độ tác hại phụ thuộc phần lớn vào thời gian tiếp xúc và cường độ của phóng xạ. Khi con người bị tác động bởi các bức xạ ion ở mức thấp thì việc gây tác hại không thể nhận biết ngay được. Chính vì vậy mà phải sau một thời gian chứng bệnh mới biểu hiện. Tuy nhiên nếu chiếu lên cơ thể một liều lượng quá lớn so với mức giới hạn tối đa cho phép thì chỉ khoảng sau 7 – 10 ngày thì tình hình bệnh trạng đã xuất hiện rõ. Đối với những người thường xuyên tiếp xúc với các bức xạ ion thì nguy hiểm nhất là dẫn đến ung thư. Đối với tuyến giáp: Có thể gây ra bệnh cường giáp, ung thư tuyến giáp. Huyết học và miễn dịch: Số lượng tế bào lympho của máu sẽ giảm đi, từ đó cơ thể sẽ dễ bị nhiễm trùng hơn. Thần kinh: Bức xạ giết chết các tế bào thần kinh và các mạch máu nhỏ, từ đó có thể gây co giật và thậm chí là chết ngay lập tức. Tim mạch: Làm hủy hoại trực tiếp đến các mạch máu nhỏ, có thể gây suy tim và có thể dẫn đến tử vong. Tủy xương: Ảnh hưởng trực tiếp tới tủy xương nơi có vai trò sản xuất ra các tế bào máu dẫn tới nguy cơ mắc các căn bệnh khó chữa như máu trắng, ung thư máu. Thông thường thì bệnh bức xạ cấp tính có biểu hiện khi tiếp xúc phóng xạ với một liều lượng lớn trong khoảng một thời gian ngắn. Nếu tiếp xúc lâu dài thì tình trạng này cũng xảy ra. Sau một thời gian sử dụng, bạn có thể gặp phải tình trạng máy bơm nước bị cháy. Vậy nguyên nhân của hiện tượng máy bơm bị cháy là gì? Liệu có cách nào sử dụng để giảm thiết hiện tượng này không? Bài viết này sẽ giúp khách hàng nhận biết và tìm hướng. Máy đo độ dày là một sản phẩm còn khá mới lạ với người dùng. Nhằm giúp khách hàng có những kiến thức cần thiết để sử dụng thiết bị hiệu quả, thietbikythuat sẽ giúp bạn hiểu máy đo độ dày là gì? Chúng có cấu tạo và tính ứng dụng thực tế trong thực. Que đo nhiệt độ thực phẩm có nhiều ứng dụng trong việc xác định chất lượng và tình trạng của các mặt hàng rau, củ quả hiện nay. Chúng được sử dụng trong gia đình và cả các cơ sở chế biến, bảo quản nông sản. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu que đo. Trước khi bắt đầu tìm hiểu cấu tạo của Thyristor, tôi muốn các bạn hiểu một cách đơn giản nhất . Thyristor còn gọi là linh kiện SCR hay Thyristor SCR chính là một Đi-ốt (Diode) có điều khiển. Tức là nó hoạt động chả khác gì diode, chỉ khác là có thêm một. Định nghĩa cảm biến siêu âm là gì? Định nghĩa tổng quan Cảm biến siêu âm là một thiết bị cảm biến hoạt động dựa trên sóng siêu âm. Sóng siêu âm được định nghĩa là loại sóng tần số cao vượt ngưỡng nghe thấy của con người. Ví dụ trong tự nhiên, một số. Cách chọn mua cảm biến nhiệt độ như thế nào? Khi chọn mua cần lưu ý những điều gì? Cách xác định nhu cầu trước khi chọn mua ? Bài viết dưới đây sẽ trình bày ngắn gọn và đơn giản các vấn đề trên. Các bạn củng theo dõi nhé Pt100 là gì?. Hiện tại có nhiều thiết bị đo lưu lượng theo nhiều cách. Vậy thì những thiết bị nào thông dụng nhất trên thị trường? Và vì sao nó lại được các doanh nghiệp, nhà máy lựa chọn nhiều nhất? Ứng dụng của các thiết bị đo lưu lượng cụ thể trong lĩnh vực nào?. Cảm biến đo mức nước HLM-25S là một thiết bị đo mức nước dựa vào nguyên lý chênh lệch áp suất hay còn gọi là Hydrotatic Level Meter của hãng Dinel. Cảm biến sẽ được thả chìm trong nước và nằm dưới đáy bể, sông, suối, hồ hay các bồn chứa nước. | Hạt nhân phóng xạ | Một hạt nhân phóng xạ (hoặc đồng vị phóng xạ) là một nguyên tử có năng lượng hạt nhân dư thừa, làm cho nó không ổn định. Năng lượng dư thừa này có thể được sử dụng theo một trong ba cách: phát ra từ hạt nhân dưới dạng bức xạ gamma; chuyển đến một trong số các electron của nó để giải phóng nó dưới dạng electron chuyển đổi; hoặc được sử dụng để tạo và phát ra một hạt mới (hạt alpha hoặc hạt beta) từ hạt nhân. Trong các quá trình đó, hạt nhân phóng xạ được cho là trải qua quá trình phân rã phóng xạ. Những phát thải này được coi là bức xạ ion hóa vì chúng đủ mạnh để giải phóng một electron khỏi một nguyên tử khác. Sự phân rã phóng xạ có thể tạo ra một hạt nhân ổn định hoặc đôi khi sẽ tạo ra một hạt nhân phóng xạ không ổn định mới có thể trải qua quá trình phân rã hơn nữa. Phân rã phóng xạ là một quá trình ngẫu nhiên ở cấp độ của các nguyên tử đơn lẻ: không thể dự đoán khi nào một nguyên tử cụ thể sẽ phân rã. |
Độ co giãn của cầu theo giá trong tiếng Anh là Price Elasticity of Demand. Độ co giãn của cầu theo giá là sự thay đổi của lượng cầu khi có sự thay đổi của giá. - Cầu về một hàng hóa được coi là co giãn với giá cả nếu lượng cầu thay đổi mạnh khi giá thay đổi. - Cầu được coi là không co giãn nếu lượng cầu chỉ thay đổi ít hoặc không thay đổi khi giá thay đổi. Do nhu cầu về một hàng hóa bất kì phụ thuộc vào sở thích của người tiêu dùng nên mức độ co giãn của cầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế, xã hội và tâm lí. Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như: sự cần thiết của hàng hóa đó với con người. Ví dụ: Hàng hóa thiết yếu có cầu không co giãn đối với giá cả, còn hàng xa xỉ có cầu co giãn mạnh. Những loại hàng hóa có hàng thay thế gần gũi thường có cầu co giãn mạnh hơn vì người mua dễ dàng chuyển từ việc sử dụng chúng sang hàng hóa khác, chẳng hạn như dầu thực vật và mỡ động vật. Để xác định mức độ co giãn của cầu người ta sử dụng hệ số co giãn. Hệ số co giãn phản ánh mức độ phản ứng của cầu trước sự thay đổi của giá. Các nhà kinh tế tính hệ số co giãn của cầu bằng cách lấy phần trăm thay đổi của lượng cầu chia cho phần trăm thay đổi của giá. Độ lớn hệ số co giãn của cầu bằng 2 cho chúng ta biết rằng sự thay đổi của lượng cầu lớn gấp hai lần sự thay đổi của giá cả. Do lượng cầu về một hàng hóa có quan hệ tỉ lệ nghịch với giá của nó, nên phần trăm thay đổi của lượng cầu luôn trái dấu với phần trăm thay đổi của giá. Vì vậy khi tính hệ số co giãn của cầu kết quả luôn là số âm. Hệ số co giãn của cầu theo giá càng lớn, mức độ phản ứng của lượng cầu với giá càng mạnh. Co giãn khoảng là sự co giãn trên một khoảng hữu hạn nào đó của đường cầu. Nếu tính hệ số co giãn của cầu giữa hai điểm trên một đường cầu, ta áp dụng phương phá trung điểm. Giả sử chúng ta tính hệ số co giãn của cầu giữa 2 điểm (P1,Q1) và (P2,Q2) như sau:. Co giãn điểm là sự co giãn của một điểm cụ thể trên đường cầu. Trên đường cầu xác định điểm A có giá 2.000 đồng và lượng là 120 sản phẩm, điểm B có giá 3.000 đồng và lượng là 80 sản phẩm. Điều này có nghĩa là nếu giá sản phẩm tăng lên 1% thì lượng cầu hàng hóa đó sẽ giảm 1%. | Độ co giãn theo giá cả | Để xem xét độ nhạy cảm của người tiêu dùng và người sản xuất khi có sự thay đổi giá cả của một sản phẩm, kinh tế học sử dụng độ co giãn theo giá cả. Gọi độ co giãn theo giá cả là E và nó chính là giá trị tuyệt đối của tỷ số giữa tốc độ biến đổi của lượng cầu (hoặc của lượng cung) với tốc độ biến đổi của giá cả sản phẩm. E sẽ nằm trong khoảng từ 0 tới vô cực. Nếu E bằng 0, có nghĩa là lượng cầu (hoặc lượng cung) hoàn toàn không co giãn theo giá cả. Giá cả tăng giảm thế nào cũng không làm lượng cung, hoặc lượng cầu thay đổi. Nếu E bằng vô cực, có nghĩa là lượng cầu (hoặc lượng cung) hoàn toàn co giãn theo giá cả. Nếu E lớn hơn 1 (tốc độ biến đổi của lượng cầu/cung lớn hơn tốc độ biến đổi của giá cả), có nghĩa là lượng cầu (hoặc lượng cung) co giãn theo giá cả. Nếu E nhỏ hơn hay bằng 1, có nghĩa lượng cầu (hoặc lượng cung) co giãn không đáng kể theo giá cả. Nếu xét riêng quan hệ giữa lượng cầu với giá cả sản phẩm, người ta gọi cụ thể là độ co giãn của cầu theo giá cả. |
Một trong những hiện tượng ngữ pháp phức tạp của Tiếng Việt là hiện tượng chuyển loại từ. Chuyển loại từ là hiện tượng một từ vốn hoạt động với chức năng của từ loại này lâm thời chuyển sang hoạt động bằng chức năng của một từ loại khác. Chuyển loại từ không chỉ diễn ra đối với thực từ mà còn đối với cả hư từ. Nhận biết tính chất từ loại của các thực từ chuyển loại đã khó, nhận biết các hư từ chuyển loại càng khó hơn. Trong số các hư từ, trợ từ là từ loại ít có sự cố định về "quân số". Rất nhiều trợ từ có tính chất lâm thời và là do các từ loại khác chuyển loại sang. 100), trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 1994), "có đến 66 trường hợp được ghi nhận là có sự chuyển loại giữa những từ thuộc các từ loại khác với trợ từ". Cũng vì thế mà việc xác định số lượng chính xác trợ từ của tiếng Việt là một công việc rất khó. Trong thực tế, sự chuyển loại giữa trợ từ với phó từ là rất khó phát hiện. Trong bài viết này, chúng tôi tập trung miêu tả sự khác biệt về đặc trưng ngữ pháp giữa hai từ loại này và nêu một số trường hợp cụ thể nhằm đưa ra khả năng phân biệt tính chất từ loại trong những trường hợp ấy. Chính vì trợ từ rất gần với phó từ, hay nói khác đi là phó từ luôn tiềm tàng một khả năng biểu đạt ý nghĩa tình thái cao, cho nên một số nhà nghiên cứu gọi trợ từ bằng những tên gọi có liên quan đến phó từ như: phụ từ (Hồ Lê, 1992); phụ từ tận cùng (Lẽ Văn Lý, 1972). Ngoài ra, trợ từ còn được gọi bằng nhiều cách khác: tiểu từ (Thompson, 1965; Hoàng Tuệ, 1962;), ngữ khí từ (Bùi Đức Tịnh, 1952), từ đệm (Hữu Quỳnh, 1980; Đái Xuân Ninh, 1978), hư từ giao tiếp (Panfilov, 1993). Loại trự từ thứ hai "chuyên dược dùng để nhấn mạnh" sự kiện, "biểu đạt những mối quan hệ có tính chất bộ phận giữa người nói với nội dung phát ngôn được xác lập với từng bộ phận của phát ngôn" (Đinh Văn Đức, 1986, tr. Trợ từ cho biết thái dộ chủ quan của người nói dối với sự tình. Các trợ từ điển hình như: chính, đích, cả, những, ngay, quả nhiên, tất nhiên, đương nhiên, bất dắc dĩ, kì thực, hẳn là, chắc là, có lẽ, v.v. Loại trợ từ này được không ít tác giả coi là phó từ. Nguyễn Kim Thản gọi đây là "phó từ phụ cho cả câu" . Diệp Quang Ban gọi đây là "phó từ tình thái" và đối lập với phó từ thông thường ("phó từ phi tình thái") (Diệp Quang Ban, 2004, tr. Một số tác giả khác cũng nhận xét về đặc trưng tình thái của phó từ. Trong Từ diển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 2003), những trợ từ này cũng được chú thích từ loại là "p." (phụ từ). Như trên đã trình bày, hiện nay trong giới Việt ngữ học, khuynh hướng quan niệm phó từ là những từ phụ cho vị từ được khá đông các nhà nghiên cứu hưởng ứng (Nguyễn Kim Thản, 1963; Ủy ban Khoa học xã hội, 1983; Diệp Quang Ban, 2004; Đào Thanh Lan, 2010; Nguyễn Hồng Cổn, 2003). Theo quan điểm này, phó từ không thể kết hợp dược với danh từ, đại từ mà chỉ có thể kết hợp với động từ, tính từ. Bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng, phó từ có thể kết hợp với các đơn vị khác như chủ từ (danh từ, đại từ); kết hợp trực tiếp với đơn vị ở bậc mệnh đề, câu. Ông cho rằng, các phó từ trên "có thể đi kèm với bất kì từ loại nào (danh từ, danh ngữ cũng như động từ, động ngữ, tính từ, tính ngữ) để dạng thức hóa từ loại đó, giúp từ loại đó có khả năng giữ một chức vụ cú pháp nào đấy (Nguyễn Tài Cẩn, 1975, tr. 263) nhưng rất khó mà gọi tên cái chức vụ cú pháp mà đã, cũng, đều đảm nhiệm là gì, chủ tố, vị tố, bổ tố, trạng tố hay định tố? (Diệp Quang Ban (2008) gọi thành phần này là biệt ngữ, về thực chất cũng chính là trợ từ: bộ phận từ ngữ đặc biệt chêm xen vào câu nói). Theo chúng tôi, trong các phát ngôn mà Nguyễn Tài Cẩn dẫn, các từ đã, cũng, đều không còn hoạt động với tư cách là phó từ mà đã chuyển loại thành trợ từ. Đây là hiện tượng một số phó từ chuyên dụng (đã, cũng, đều, chỉ, vẫn, v.v.) lâm thời đảm nhiệm vai trò tình thái của trợ từ. Chúng như một thành phần biệt lập gán thêm vào, chêm xen vào phát ngôn. Việc loại bỏ các trợ từ này không làm ảnh hưởng đến nội dung thông báo của câu mà chỉ ảnh hưởng đến ý nghĩa tình thái của phát ngôn. Ý nghĩa của chúng là ý nghĩa tình thái: nhấn mạnh sự nhận định và thái độ của người nói. Trong tất cả các phát ngôn trên, vị từ "là" đều đã bị tỉnh lược. Sở dĩ vị từ có thể tỉnh lược mà người nghe không cảm thấy thiếu chính bởi sự có mặt của các trợ từ có ý nghĩa tình thái này. Một số phó từ hạn định về số lượng, đã hàm chứa sẵn sác thái đánh giá nhận định trong nội hàm ý nghĩa của từ nên trong quá trình sử dụng đã chuyển loại thành các trợ từ. Tuy nhiên, do từ không thay đổi về hình thái nên tính chất từ loại của từ ở đa số các trường hợp là khó xác định. Hư từ mỗi là một ví dụ điển hình. Mỗi vốn là phó từ "chỉ một phần tử bất kì của một tập hợp những cái cùng loại được xét riêng lẻ, nhưng nhằm để qua đó nói chung cho mọi phần tử của tập hợp" (Viện Ngôn ngữ học, 2003, tr. - Làng nào cũng có nhiều cánh (danh từ tập hợp), mỗi cánh (danh từ phần tử) kết bè kết đảng chung quanh một nguời. (Nam Cao). Nhưng khi biểu thị ý nghĩa đánh giá ít về số lượng, ý nghĩa duy nhất, không còn gì khác, mỗi lại đóng vai trò của trợ từ. Ở trong những trường hợp này, mỗi thường kết hợp với số từ một đi kèm (mỗi một. ) Ví dụ:. Trong trường hợp này, mỗi không thể hiện ý nghĩa phần tử rút ra từ bộ phận (như "mỗi người trong chúng ta"), mà diễn đạt ý nghĩa hạn định về mặt số lượng, trong đó luôn bao hàm sắc thái biểu cảm. Mỗi có thể kết hợp với các số từ, hoặc các từ chỉ đơn vị, như: mỗi chiếc., mỗi con., mỗi cái., v.v. - . tôi thấy anh chui vào, một lát sau chui ra, thấy người khác hắn, trên người buộc đầy cành lá, mình mặc mỗi chiếc quần đùi. Thậm chí, mỗi có thể đứng trước các số từ hoăc danh từ số nhiều. Lúc này, mỗi biểu thị sự đánh giá chủ quan của người nói về số lượng được đề cập đến là ít, là chỉ có vậy không hơn nữa, không còn gì khác nữa. - Hay các bác về nhà chúng tôi? Nhà chỉ có mỗi hai vợ chồng son, cũng rộng rãi. - Ông Vỹ đông con, nhà nghèo, về mang theo mỗi chục quả tai chua với chai rượu trắng làm quà. - . trong khu trại tăng gia của huyện đội 67 đã nhiều năm bị bỏ quên trên bờ thác nước ấy chỉ có mỗi ba cô gái. (Bảo Ninh). Trong các ví dụ vừa dẫn, mỗi đóng vai trò là trợ từ, làm gia tăng săc thái biểu cảm, ý nghĩa đánh giá cho nội dung thông báo của câu. Ở đây, mỗi hoàn toàn có thể lược bỏ mà không ảnh hưởng đến cấu trúc ngữ pháp của câu. Hiện tượng nhầm lẫn giữa trợ từ và phó từ cũng khá phổ biến trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp. Có trường hợp trợ từ được coi là phó từ. Chẳng hạn, theo đánh giá của (Đào Thanh Lan, 2010, tr. 49), phó từ còn có thể phụ cho một ngữ đoạn bất kì (ngữ vị từ, ngữ danh từ, giới ngữ) thậm chí phụ cho một cú (ở đây tương đương với mệnh đề). Cách nhìn này tương tự với ngữ pháp châu Âu, phó từ (adverbs) có thể kết hợp và bổ sung ý nghĩa cho một phó từ khác hoặc bổ sung ý nghĩa cho toàn bộ câu. Để chứng minh, tác giả nêu một số trường hợp các phó từ quả nhiên, đương nhiên, cơ hồ có thể kết hợp với một cú (cụm chủ - vị), như:. (a) Nhậm được thư ấy liền nói: quả nhiên Duệ (CN)//làm phản rồi (VN). (c) Quân bên tả của Chúa (CN)/không chống nói cơ hồ muốn vỡ(VN). Chúng tôi cho rằng, trong các câu trên (a), (b), (c), quả nhiên, đương nhiên, cơ hồ hoàn toàn biệt lập với các sự tình được đề cập đến. Các yếu tố này góp phần thể hiện mục đích phát ngôn chứ không phải thể hiện nội dung phát ngôn. Chúng bao hàm những nhận định, đánh giá mang tính chủ quan của chủ thể phát ngôn và chúng không nằm trong cấu trúc của ngữ vị từ. Chúng đều là trợ từ chứ không phải phó từ. Bởi vì chúng mang lại những ý nghĩa tình thái và những tiền giả định như sau:. Ngược lại, có những phó từ đích thực lại được coi là trợ từ. Theo Diệp Quang Ban thì từ chỉ trong các câu dưới đây đều là trợ từ "nhấn mạnh sự hạn chế về số lượng vật, việc và đứng trước từ, tổ hợp từ cần nhấn mạnh" (Diệp Quang Ban, tr. Điều này hoàn toàn không phải khó hiểu vì có một số nhà nghiên cứu đã phát biểu về tính tình thái của phó từ. Đinh Văn Đức cho rằng: "các từ phụ của động từ và tính từ trong tiếng Việt đều đồng thời tham gia diễn đạt tính tình thái" (Đinh Văn Đức, 1986, tr. Chính Diệp Quang Ban trong khi phân loại phó từ cũng đã chia thành hai loại: phó từ tình thái và phó từ phi tình thái (tr. Vậy thì tại sao từ "chỉ" trong các ví dụ trên không phải phó từ tình thái mà lại gọi nó là trợ từ? Đối với câu (d), (e) thì ý nghĩa hạn định về số lượng được làm rõ bởi: "chừng ấy", "hai". Nhưng đối với câu (f) mà phân tích rằng chỉ là trợ từ "nhấn mạnh sự hạn chế về số lượng" của hành động "thích chơi bóng đá" thì không có cơ sở. Thật ra, trong cả 3 câu trên, chỉ có từ "thôi" ở cuối câu (d) là trợ từ mà thôi. Trong tiếng Việt còn có một số từ kiêm phó từ - trợ từ. Phải căn cứ vào ngữ cảnh mới xác định được tính chất từ loại của chúng. Chẳng hạn như các từ: chỉ, đã, v.v. trong các ví dụ sau đây:. Để phân biệt hai kiểu từ loại này, chúng tôi xác định những điểm khác biệt cơ bản giữa phó từ và trợ từ như sau:. - Phó từ luôn đi kèm với từ trung tâm, đứng trước hoặc sau liền kề với từ trung tâm; phó từ kết hợp trực tiếp với từ trung tâm. - Vị trí của trợ từ khá tự do: đầu câu, giữa câu hoặc cuối câu. Ví dụ: Tất nhiên, tôi biết việc đó; Tôi tất nhiên biết việc đó; Tôi biết việc đó tất nhiên. Trợ từ không quan hệ trực tiếp với bất kì thành phần nào của câu, là thành phần có thể lược bỏ mà không ảnh hưởng tới kết cấu ngữ pháp của câu. - Trợ từ mang lại sắc thái ý nghĩa cho toàn bộ câu. Trợ từ giúp biểu lộ thái độ, sự đánh giá, cảm xúc của người nói trước thực tại được phản ánh. - Phó từ bổ sung các ý nghĩa về thời gian, mức độ, phạm vi, phủ định, v.v. cho từ trung tâm (đoản ngữ hay mệnh đề). Giải quyết rạch ròi vấn đề chuyển loại giữa các hư từ sẽ giúp ích cho việc phân tích ngữ pháp vốn đã rất phức tạp của tiếng Việt. Trong những bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu sự chuyển loại của phó từ thành liên từ cặp đôi trong các câu ghép có kết từ. Đây cũng là một vấn đề hết sức lí thú khi nghiên cứu về hư từ tiếng Việt. Lê Biên (1996) Từ loại tiếng Việt hiện đại, Tnrờng Đại học Sư phạm Hà Nội. Nguyền Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt (tiếng - từ ghép - đoản ngữ) Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội. Đào Thanh Lan (2010), Về từ loại phó từ trong tiếng Việt. Đề tài NCKH cấp Đại học Quốc gia. Nguyễn Anh Quế (1988), Hư từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Uỷ ban Khoa học xã hội (1983), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học. Phạm Hùng Việt (2003), Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. | Từ loại | Trong Ngữ pháp học, từ loại (còn được gọi là lớp từ, lớp từ vựng hoặc bộ phận dùng trong lời nói trong Ngữ pháp truyền thống) là một lớp từ ngôn ngữ học (hay chính xác hơn là lớp các mục từ vựng) được xác định bằng các hiện tượng cú pháp hoặc các hiện tượng hình thái học của mục từ vựng trong câu nói. Phân loại ngôn ngữ học phổ biến gồm có danh từ, động từ và các từ loại khác. Có các lớp từ mở thường xuyên đòi hỏi các thành viên mới, và có các lớp từ đóng hiếm khi đòi hỏi các thành viên mới. Các ngôn ngữ khác nhau có các hình thức từ loại khác nhau, hoặc chúng có thể kết hợp nhiều tính chất vào một. Ví dụ, tiếng Nhật có tới ba loại tính từ trong khi đó tiếng Anh chỉ có một; tiếng Trung, tiếng Hàn, tiếng Việt và tiếng Nhật có các loại từ (hay được gọi là lượng từ) trong khi đó các ngôn ngữ châu Âu lại không từ loại hóa những đơn vị đo lường này (ví dụ: a pair of pants (một-cặp-của-quần dài = một cái quần dài), a grain of rice (một-hạt-của-gạo = một hạt gạo),. |
Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) là một hình thức tâm lý trị liệu giúp bệnh nhân hiểu rõ sự ảnh hưởng của suy nghĩ và cảm xúc lên hành vi. CBT thường được sử dụng để điều trị các rối liên quan đến sợ hãi, nghiện, trầm cảm và lo âu. CBT thường được áp dụng trong một khoảng thời gian ngắn và tập trung giúp bệnh nhân đương đầu với một vấn đề cụ thể. Trong suốt quá trình điều trị, bệnh nhân sẽ học cách xác định và thay đổi các suy nghĩ tiêu cực gây ảnh hưởng xấu lên hành vi và cảm xúc. Nội dung cốt lõi của CBT chính là suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta đóng một vai trò căn bản trong việc quyết định các hành vi mà ta thể hiện. Ví dụ, nếu một người dành nhiều thời gian suy nghĩ về một vụ rơi máy bay, tai nạn trên đường băng hay các thảm họa hàng không thì người này sẽ tránh né việc di chuyển bằng máy bay. Mục tiêu của CBT là dạy cho bệnh nhân rằng mặc dù không thể điều khiển tất cả mọi thứ nhưng họ có thể kiểm soát cách mà họ hiểu, tiếp nhận và giải quyết các vấn đề trong cuộc sống của chính họ. CBT đã trở nên phổ biến trong những năm gần đây, đối với cả những nhóm bệnh nhân gặp các vấn đề sức khỏe tinh thần lẫn các chuyên gia điều trị. Vì CBT là một lựa chọn điều trị ngắn hạn, giúp bệnh nhân tiết kiệm chi phí hơn các liệu pháp khác. CBT cũng được chứng minh tính hiệu quả thông qua thực nghiệm và có thể giúp bệnh nhân vượt qua và loại bỏ được hàng loạt các hành vi không tốt. Theo Hiệp Hội Tâm Lý Trị Liệu Nhận Thức Hành Vi Anh Quốc, “Liệu pháp nhận thức hành vi bao gồm một loạt các liệu pháp dựa trên các khái niệm và nguyên tắc xuất phát từ các hình mẫu tâm lý về cảm xúc và hành vi của con người. Liệu pháp bao gồm hình thức tiếp cận điều trị cho các rối loạn cảm xúc cùng với chuỗi các biện pháp hỗ trợ liên tục từ các liệu pháp tâm lý cá nhân đến các tài liệu tự lực.”. Con người ta thường có các suy nghĩ và cảm xúc củng cố hoặc tạo nên các niềm tin sai lệch. Những niềm tin này sẽ dẫn đến các hành vi không tốt ảnh hưởng lên nhiều khía cạnh của đời sống, bao gồm gia đình, các mối quan hệ tình cảm, công việc và học tập. Ví dụ, một người có lòng tự trọng thấp có thể có suy nghĩ tiêu cực về khả năng hoặc diện mạo của bản thân. Những suy nghĩ dạng này có thể khiến đối tượng bắt đầu lẩn tránh va chạm, không muốn tương tác với các tình huống xã hội hoặc bỏ lỡ các cơ hội phát triển về sự nghiệp lẫn học hành. Để chống lại các suy nghĩ và hành vi không tốt này, các nhà tâm lý trị liệu hành vi giúp khách hàng xác định những niềm tin không phù hợp. Giai đoạn đầu tiên này, còn được biết đến với tên gọi Giai đoạn phân tích chức năng, là cực kỳ quan trọng trong việc tìm hiểu quá trình các suy nghĩ, cảm xúc và tình huống góp phần hình thành các hành vi không tốt. Quá trình này khá khó khăn, đặc biệt đối với những bệnh nhân gặp khó khăn trong việc tự suy xét bản thân, nhưng chắc chắn nó sẽ giúp họ tự khám phá bản thân, hiểu rõ chính mình. Đây cũng là một phần thiết yếu trong quá trình điều trị. Giai đoạn thứ 2 của liệu pháp nhận thức hành vi tập trung vào các hành vi trong thực tế góp phần đưa đến các vấn đề xấu. Khách hàng bắt đầu học cách tìm hiểu và thực hành các kỹ năng mới có thể áp dụng trong thực tế thay cho các hành vi xấu. Ví dụ, một người nghiện ma túy có thể luyện tập các kỹ năng đối phó và tập luyện những cách để tránh hoặc đương đầu với những tình huống gợi nhớ thuốc và gây tái nghiện. Trong hầu hết các trường hợp, CBT là một quá trình từng bước dần dần giúp một người tiến đến thay đổi hành vi. Một số gặp phải các rối loạn lo âu mang tính xã hội có thể bắt đầu liệu pháp đơn giản chỉ bằng việc tưởng tượng bản thân đang bị đặt trong một tình huống xã hội tiềm ẩn yếu tố gây lo âu. Tiếp theo, khách hàng sẽ bắt đầu luyện tập trò chuyện với bạn bè, gia đình, và người quen của mình. Bằng cách tiếp cận từng bước một để đạt đến mục tiêu lớn cuối cùng, việc trị liệu sẽ không quá trở nên ám ảnh đối với bệnh nhân và những mục tiêu sẽ dễ dàng đạt được hơn. CBT đã và đang được sử dụng để điều trị cho một loạt các rối loạn bao gồm lo âu, sợ hãi, trầm cảm và nghiện. CBT là một trong những liệu pháp được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất, một phần là vì việc điều trị tập trung nhiều vào các mục tiêu cụ thể và kết quả có thể được đo lường khá dễ dàng. CBT phù hợp nhất với các đối tượng cảm thấy thoải mái với việc tự suy xét bản thân. Để CBT thực sự có hiệu quả, mỗi cá nhân cần sẵn sàng và sẵn lòng dành thời gian và công sức để phân tích suy nghĩ và cảm xúc của mình. Những hoạt động tự phân tích bản thân như vậy thường khá khó khăn, nhưng là cách tốt nhất để hiểu rõ quá trình các yếu tố nội tâm ảnh hưởng lên hành vi bên ngoài. CBT cũng phù hợp với những người đang tìm kiếm một lựa chọn điều trị ngắn hạn, không liên quan quá nhiều đến thuốc. Một trong những lợi ích tuyệt vời nhất của CBT là nó giúp bệnh nhân phát triển các kỹ năng hữu ích cho cả hiện tại lẫn tương lai về sau. Ngay từ đầu, một số bệnh nhân cho rằng mặc dù họ biết có một số suy nghĩ là không tốt hoặc vô lý, nhưng biết đến sự tồn tại của những suy nghĩ này cũng chẳng khiến việc thay thế chúng trở nên dễ dàng hơn. CBT thường không tập trung vào sự kháng cự vô thức tiềm ẩn bên trong mỗi bệnh nhân như các cách tiếp cận khác như liệu pháp phân tâm. Cần lưu ý rằng CBT không chỉ xác định những suy nghĩ không tốt mà nó còn tập trung vào việc sử dụng một loạt các kỹ thuật giúp bệnh nhân vượt qua những suy nghĩ đó. Những kỹ thuật như vậy có thể bao gồm ghi nhật ký, sắm vai, các cách thư giãn và các trò giúp xao lãng tâm trí. Em có dịch một bài về CBT-I Liệu pháp Hành vi nhận thức dành cho bệnh mất ngủ. Tình cờ em đọc được bài này của chị. Em thấy liệu pháp này hình như vẫn chưa phổ biến lắm ạ. Không biết là bên mảng tâm lý có tài liệu tiếng Việt về mảng này không ạ. Em cảm ơn chị nhiều. Các khóa học CBT có thể học được và tìm hiểu được, nhưng trước đó người học cần có những kiến thức cơ bản nhất định thì sẽ đi nhanh hơn. CBT can thiệp ở ngay bước Think, nếu Think tốt thì => Feel tốt=> Do cũng tốt, như 1 phản ứng dây chuyền. Mình có dịch nguyên 1 cuốn về chủ đề này + 2 khóa học về Counselling Practitioner và CBT Fundamental thì vai trò của nó rất quan trọng. Các khóa học CBT có thể học được và tìm hiểu được, nhưng trước đó người học cần có những kiến thức cơ bản nhất định thì sẽ đi nhanh hơn. CBT can thiệp ở ngay bước Think, nếu Think tốt thì => Feel tốt=> Do cũng tốt, như 1 phản ứng dây chuyền. Mình có dịch nguyên 1 cuốn về chủ đề này + 2 khóa học về Counselling Practitioner và CBT Fundamental thì vai trò của nó rất quan trọng. Bạn làm bằng wordpress à, nếu cần theme+ plugin thì báo mình, mình tài trợ cho theme và plugin xịn để bạn có giao diện web đẹp hơn. Em cám ơn anh nhiều lắm ạ. Nếu anh không ngại thì tốt quá ạ. Bạn làm bằng wordpress à, nếu cần theme+ plugin thì báo mình, mình tài trợ cho theme và plugin xịn để bạn có giao diện web đẹp hơn. Em cám ơn anh nhiều lắm ạ. Nếu anh không ngại thì tốt quá ạ. | Liệu pháp hành vi nhận thức | Trị liệu hành vi nhận thức hoặc Liệu pháp hành vi nhận thức (cognitive behavioral therapy-CBT) là một can thiệp tâm lý xã hội nhằm cải thiện sức khỏe tâm thần. CBT tập trung vào thách thức và thay đổi những biến dạng nhận thức không có ích (ví dụ như suy nghĩ, niềm tin và thái độ) và hành vi, cải thiện điều tiết cảm xúc, và phát triển các chiến lược đối phó cá nhân nhằm giải quyết các vấn đề hiện tại. Ban đầu, nó được thiết kế để điều trị trầm cảm, nhưng việc sử dụng nó đã được mở rộng để bao gồm điều trị một số tình trạng sức khỏe tâm thần, bao gồm cả lo lắng. Mô hình CBT dựa trên sự kết hợp của các nguyên tắc cơ bản từ tâm lý học hành vi và nhận thức. Nó khác với các cách tiếp cận lịch sử đối với tâm lý trị liệu, chẳng hạn như phương pháp phân tâm học, nơi nhà trị liệu tìm kiếm ý nghĩa vô thức đằng sau các hành vi và sau đó hình thành một chẩn đoán. Thay vào đó, CBT là một hình thức trị liệu "tập trung vào vấn đề" và "định hướng hành động", nghĩa là nó được sử dụng để điều trị các vấn đề cụ thể liên quan đến rối loạn tâm thần được chẩn đoán. |
Khi nhắc tới nghệ thuật, nhiều người sẽ đắn đo và suy nghĩ để tìm được cho mình một câu trả lời chính xác về định nghĩa của nó. Chính vì thế, bài viết dưới đây được xuất bản bởi mục định giúp độc giả hiểu rõ về định nghĩa nghệ thuật là gì? Hay giải thích về ngôn ngữ nghệ thuật là gì? Thôi không dài dòng nữa, bắt đầu nào!. Nghệ thuật cần phải thỏa mãn nhưng không nhất thiết phải có cảm xúc và ngẫu hứng. Nghệ thuật là sự sáng tạo, các hoạt động để tạo ra các sản phẩm (có thể là vật thể hoặc phi vật thể) mang lại những giá trị lớn về tinh thần, tư tưởng và có giá trị thẩm mỹ, mang giá trị văn hóa và làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm của khán giả (người thưởng thức tác phẩm nghệ thuật). Trong mỗi loại hình nghệ thuật lại có những quy định và ý nghĩa về nghệ thuật khác nhau, nhưng đều có chung quan điểm về giá trị tinh thần và tư tưởng. Nghệ thuật là cái hay cái đẹp để người ta chiêm nghiệm qua các giác quan từ đó ngưỡng mộ bởi trình độ, tài năng, kĩ năng, kĩ xảo cao vượt lên trên mức thông thường phổ biến. Theo nghĩa này thường là một tác phẩm nghệ thuật hoặc một nghệ sỹ cụ thể nào đó. Được gọi là nghệ thuật là khi một nghề nghiệp nào đó được thực hiện ở mức hoàn hảo với trình độ điêu luyện, thậm chí siêu việt. Chẳng hạn nghệ thuật viết báo, nghệ thuật diễn thuyết, nghệ thuật nấu ăn, nghệ thuật đắc nhân tâm, nghệ thuật dùng phím chuột của PC… Theo nghĩa này thường là một tài khéo đặc biệt nào đó. “Nghệ thuật đấy là ngữ cảnh địa phương của cá nhân và cộng đồng”. Đây là quan điểm đương đại về nghệ thuật và được đa số học giả chấp nhận. “Mọi sự miêu tả cảm tính bất kỳ một vật thể sống hay hiện tượng nào từ giác độ trạng thái cuối cùng của nó, hay là dưới ánh sáng của thế giới tương lai, sẽ là tác phẩm nghệ thuật.” Soloviev – nhà thơ triết gia vĩ đại người Nga. Loại hình nghệ thuật là những hình thức tồn tại ổn định của nghệ thuật. Tính tới nay thì có tất cả là 6 loại hình nghệ thuật, bao gồm:. Nguồn gốc sâu xa của sự phát sinh và phát triển của các loại hình nghệ thuật trong lịch sử là tính đa dạng của các quá trình, các hiện tượng trong thực tại, và sự khác biệt của những phương thức cũng như nhiệm vụ phản ánh thẩm mỹ và cải tạo hiện thực do nhu cầu nhiều mặt của con người. Mỗi loại hình nghệ thuật có những đặc trưng riêng, được quy định bởi đặc điểm của đối tượng miêu tả, phương thức tái hiện. nhiệm vụ nghệ thuật và bởi cả những phương tiện vật chất chủ yếu tạo nên hình tượng nghệ thuật. Ngôn ngữ ngữ thường được dùng trong văn trương đó là loai ngôn ngữ gợi cảm gợi hinh mang chức năng truyền đạt thông tin và thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ cho con người. Có nhiều người tin rằng nghệ thuật phải thể hiện tư tưởng. Số khác lại thích cảm nhận nghệ thuật bởi chính vẻ đẹp tự thân của nó. Các nghệ sĩ trường phái Ấn tượng có nhiều tranh luận cực đoan về vấn đề này. Một số cho rằng quan trọng nhất là vẽ lại khung cảnh cuộc sống hiện đại; có người lại chỉ hứng thú khảo sát tác động của ánh sáng lên vạn vật. Đến cả hình ảnh của thị dân cũng gây tranh cãi, như Georges Seurat đã vô tình khơi ra. Mọi người thường bất đồng gay gắt khi xác định giá trị của một tác phẩm. Vincent van Gogh đã chết trong cảnh nghèo đói vì không bán được tranh – ngay cả bạn bè cũng nói tác phẩm ông vẽ chẳng khác nào của một gã điên. Giờ đây, các bức họa ấy nằm trong số những tranh đắt nhất thế giới. Một ví dụ khác: nhà phê bình John Ruskin đã từng phải hầu tòa vì chê bai bức Cảnh đêm đen và vàng óng của James Whistler. Ông không tin nổi Whistler lại đòi 200 đồng vàng cho một thứ “như hắt cả bát sơn vào mặt công chúng”. Whistler đáp rằng: giá trị của tranh không ở chỗ vẽ bao lâu, mà nằm ở tài năng của họa sĩ và bao nhiêu năm miệt mài rèn giữa. Whisler thắng kiện và được bồi thường….25 xu. Có vẻ bồi thẩm đoàn cũng ngầm đồng tình với Ruskin. Có lẽ sẽ điều này sẽ gây chói tai cho nhiều người vì chúng ta đang sống chung với một số định kiến rằng: làm nghệ thuật phải nhiều cảm xúc, cần phải có hứng mới làm nên được tác phẩm… Tuy nhiên cảm xúc của con người, về mặt cơ bản, là sự chủ quan. Cảm xúc của một người nghệ sĩ chưa chắc tạo ra cảm xúc cho người xem. Trong khi sự ngẫu hứng cũng tương đương với may mắn. Có những lúc, chúng ta sẽ đi mua vé số vì muốn có nhiều tiền mà không phải làm gì cả. Vì thế, trở thành nô lệ của những yếu tố này sẽ khiến người nghệ sĩ không thể sáng tạo được. Câu chuyện rằng Marcel Duchamp, đã gửi chiếc bồn tiểu để ngược này đặt tên là “Đài phun nước” (Fountain) và kí tên dưới bút danh R.Mutt gửi đến Hội Nghệ sĩ độc lập (Society of Independent Artists). Vào thời điểm đó, Duchamp là thành viên hội đồng quản trị. Sau nhiều cuộc tranh cãi, tác phẩm đã không được giới thiệu trong triển lãm. Sau đó, Duchamp từ chức khỏi Hội đồng để phản đối. “Đài phun nước” được trưng bày và chụp ảnh tại studio của Alfred Stieglitz, và bức ảnh được xuất bản trong The Blind Man, nhưng bản gốc đã bị mất. Giờ đây, tác phẩm này được xem như một trong những tác phẩm tiêu biểu của thế kỉ 20. Đây cũng chính là sự thỏa mãn của một chuỗi câu hỏi, thách thức nằm trong tư duy nghệ thuật của Duchamp nói riêng và phong trào Dada nói chung. Tác phẩm thành công ở việc gây ra cảm xúc (có phần tiêu cực, một scandal), tranh luận. Nó khiến chúng ta tự vấn và phải tìm cách tự thỏa mãn chính chúng ta vì cái sự mới mẻ, thách thức các giá trị, tiêu chuẩn nghệ thuật thời bấy giờ. “Đài phun nước” chỉ là một ví dụ nhỏ của sự thỏa mãn. Câu hỏi tiếp theo đặt ra là: “Vào thời nay trong một nền nghệ thuật còn lạc hậu, những tác phẩm của sự thách thức khi nào sẽ xuất hiện?” | Nghệ thuật | Nghệ thuật (tiếng Anh: art) là một loạt những hoạt động khác nhau của con người và những sản phẩm do những hoạt động đó tạo ra. Bài viết này chủ yếu tập trung vào các môn nghệ thuật thị giác, bao gồm việc tạo ra những hình ảnh hay vật thể trong những lĩnh vực như hội họa, điêu khắc, đồ họa in ấn, nhiếp ảnh, và những phương tiện truyền thông hình ảnh khác. Kiến trúc thường được xem là một trong các nghệ thuật thị giác; tuy nhiên, giống như các loại hình nghệ thuật trang trí, nó liên quan đến sự sáng tạo ra các vật thể cho những công dụng cụ thể, một điều hoàn toàn khác với, chẳng hạn, hội họa. Âm nhạc, kịch, điện ảnh, múa, và những môn nghệ thuật trình diễn khác, cũng như văn chương, và những phương tiện truyền thông tương tác, được bao gồm trong một định nghĩa rộng hơn về nghệ thuật, gọi chung là các môn nghệ thuật. thông thạo nào, và không phân biệt khỏi các môn thủ công mỹ nghệ hay các ngành khoa học, như y học cũng được coi là một nghệ thuật. |
Giải thích ý nghĩa của sơ đồ bát quái, Bát quái đồ được xem như một công cụ để giúp chúng ta thực hiện được việc đó. Đồ hình bát quáinày được phân chia thành tám cung đại diện cho tám lĩnh vực của đời sống: Quan Lộc, Tình Duyên, Gia Đạo, Tài Lộc, Quý Nhân, Tử Tức, Học Thức và Danh Vọng và mỗi khu vực lại có những đồ vật phát huy năng lực riêng. Quái số được chia làm hai nhóm là Đông tứ trạch bao gồm 1, 3, 4, 9 và Tây tứ trạch bao gồm 2, 6, 7 và 8. Mỗi quái số đều bao hàm các hướng “Cát”, “Hung”, trong đó, các hướng Sinh Khí và Diên Niên là các hướng “Thượng cát”, hướng Thiên Y là hướng “trung cát”. Quái số được chia làm hai nhóm là Đông tứ trạch bao gồm 1, 3, 4, 9 và Tây tứ trạch bao gồm 2, 6, 7 và 8. Mỗi quái số đều bao hàm các hướng “Cát”, “Hung”, trong đó, các hướng Sinh Khí và Diên Niên là các hướng “Thượng cát”, hướng Thiên Y là hướng “trung cát” và hướng Phục Vị là hướng “tiểu cát”. Bát quái (zh: 八卦, bính âm: nghĩa là “tám biểu tượng”) là 8 quẻ (Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn) được sử dụng trong vũ trụ học Đạo giáo như là đại diện cho các yếu tố cơ bản của vũ trụ, được xem như là một chuỗi tám khái niệm có liên quan với nhau. Mỗi quẻ gồm ba hàng, mỗi hàng là nét rời (hào âm) hoặc nét liền (hào dương), tương ứng đại diện cho âm hoặc dương. Bát quái có liên quan đến triết học thái cực và ngũ hành. Bát quái được ứng dụng trong thiên văn học, chiêm tinh học, địa lý, phong thủy, giải phẫu học, gia đình, và những lĩnh vực khác. Kinh Dịch của Trung Quốc cổ đại có 64 quẻ được tạo ra từ cách bắt cặp 8 quẻ của bát quái, và có những lời bình giải cho từng quẻ này. Bát quái có thể hình thành từ 2 nguồn. Đầu tiên là từ triết lý âm dương. Những mối tương quan trong triết lý này được cho là của Phục Hy, như sau:. Nguồn thứ 2 là từ Văn Vương nhà Chu: “Khi thế giới bắt đầu, đã có trời và đất. Trời phối hợp với đất sinh ra tất cả mọi thứ trong thế giới. Trời là quẻ Càn và đất là Khôn. Sáu quẻ còn lại là con trai và con gái của họ.”. Bát quái có liên quan đến ngũ hành, được các nhà phong thủy và y học cổ truyền Trung Quốc sử dụng. Ngũ hành gồm kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Quái khảm (nước) và quái ly (lửa) tương ứng trực tiếp với hành thủy và hành hỏa. Hành thổ tương ứng với quái Khôn (địa) và Cấn (núi). Hành mộc tương ứng với quái Tốn (gió) và Chấn (sấm). Hành kim tương ứng với quái càn (trời) và đoài (đầm). Theo quy ước, có 4 hướng chính (Bắc, Nam, Đông, Tây) và 4 hướng phụ (Đông Bắc, Đông Nam, Tây Bắc, Tây Nam). Viet Architect Group (VAG) được thành lập với mục tiêu cung cấp toàn diện các dịch vụ có liên quan đến lĩnh vực kiến trúc, xây dựng và nội thất. Liên hệ với chúng tôi Hotline: 0989 149 805. Việt Architect Group là thương hiệu kiến trúc uy tín gồm các đơn vị thành viên: Kiến trúc Kinh Bắc tại Hà Nội. Các kiến trúc sư có trình độ và chuyên môn và đạt các giải thưởng kiến trúc uy tín: Năm 2010 Kts Phan Đình Kha và các Kts Lưu Hướng Dương ,Trần Trung Vương, Nguyễn Thị Quỳnh Nga đoạt giải nhất giải thưởng kiến trúc quốc gia: Sân bay Liên Khương – Đà Lạt. | Bát quái | Bát quái (chữ Hán: 八卦) là 8 quẻ được sử dụng trong vũ trụ học Đạo giáo như là đại diện cho các yếu tố cơ bản của vũ trụ, được xem như là một chuỗi tám khái niệm có liên quan với nhau. Mỗi quẻ gồm ba hàng, mỗi hàng là nét rời (hào âm) hoặc nét liền (hào dương), tương ứng đại diện cho âm hoặc dương. Bát quái có liên quan đến triết học thái cực và ngũ hành và cả ba đều của Kinh Dịch. Các mối quan hệ giữa các quẻ được thể hiện trong hai đồ hình là Tiên Thiên Bát Quái (先天 八卦) hay còn gọi là Phục Hy bát quái (伏羲 八卦), và Hậu Thiên Bát Quái (後天 八卦) hay còn gọi là Văn Vương bát quái. Bát quái được ứng dụng trong thiên văn học, chiêm tinh học, địa lý, phong thủy, giải phẫu học, gia đình, và những lĩnh vực khác. Kinh Dịch của Trung Quốc cổ đại có 64 quẻ được tạo ra từ cách bắt cặp 8 quẻ của bát quái, và có những lời bình giải cho từng quẻ này. Bát quái có thể hình thành từ 2 nguồn. |
Dép lốp (tiếng Anh: Tire Sandals) là một loại giày (dép) đơn giản được làm từ săm và lốp. Loại dép này khá phổ biến ở những nước thuộc thế giới thứ ba do tính đơn giản, dễ làm, rẻ tiền và độ bền của chúng. Đôi dép có hình dáng giống các đôi dép bình thường khác. Quai dép được làm bằng săm (ruột) xe ô tô cũ. Hai quai trước bắt chéo nhau, hai quai sau song song, vắt ngang cổ chân. Bề ngang mỗi quai khoảng 1,5 cm. Quai được luồn xuống đế qua các vết rạch vừa khít với quai. Đế dép được làm bằng lốp (vỏ) xe ôtô hỏng hoặc đúc bằng cao su, mặt dưới có xẻ những rãnh hình thoi để đi cho đỡ trơn. Dù nhiều nguồn tin gán cho Đại tá Hà Văn Lâu là tác giả của ý tưởng đôi dép lốp, nhưng chính ông cũng thừa nhận mình chỉ sử dụng lại cách thức của những người phụ xe dùng mo cau hay vỏ ruột xe kéo làm những đôi dép. Năm 1947, nhân thấy ông Nguyễn Văn Sáu (tức Sáu Đen) có một số săm lốp ô tô cũ, ông Hà Văn Lâu đã đề nghị ông Sáu Đen chế tạo những đôi dép lốp kiểu sandal tiện lợi, đi nhẹ và êm, lội nước và bùn rất thuận tiện, bảo vệ bàn chân trong hầu hết trường hợp giẫm lên cả mẻ chai, thép gai, lửa đỏ. Sự tiện lợi của đôi dép lốp dẫn đến việc nó trở nên phổ biến tại Việt Nam trong cả hai cuộc chiến tranh, trở thành một biểu tượng nổi tiếng của những người Cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến tranh giành độc lập và thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhiều lần sử dụng dép lốp trong sinh hoạt thông thường, thậm chí trong cả một số trường hợp ngoại giao. Noi gương lãnh tụ, nhiều lãnh đạo Cộng sản Việt Nam thời kỳ chiến tranh đều có ít nhiều sử dụng dép lốp. Mức độ phổ biến trong việc sử dụng dép lốp của Hồ Chí Minh và những người ủng hộ ông có ảnh hưởng đến nỗi nhiều người Mỹ gọi dép lốp bằng danh từ “Ho Chi Minh sandals”. Sự nổi tiếng của dép lốp Việt Nam dẫn đến rất nhiều tác phẩm mô tả về nó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Riêng bài thơ “Đôi dép Bác Hồ” được nhạc sĩ Văn An ở Nam Định phổ nhạc đã đi vào lòng người dân Việt Nam hơn nửa thế kỷ. Mặc dù dép lốp ngày nay không còn phổ biến tại Việt Nam như một biểu tượng của gian khổ, nhưng dép lốp vẫn còn được bán rất nhiều như một vật lưu niệm của khách du lịch hoặc những nhà sưu tập, thậm chí đôi khi được xem như một xu hướng thời trang của giới trẻ. Một phần lốp ô tô được cắt ra làm đế (thường là phần giữa), phần ngoài của lốp (tiếp xúc với đường) đặt phía dưới. Quai của dép lốp được cắt ra từ săm ô tô cũ, hẹp 1-1.5 cm, dài tùy ý sao cho phù hợp với chân. Để xỏ quai, người ta đục hay rạch trên đó tám cái khe ở mép (là 8 đầu nối quai và đế). Xỏ quai vào lỗ bằng cách dùng rút dép, kẹp đầu dây, luồn qua khe trên đế. (rút dép là một mảnh kim loại mảnh, dài, gập đôi lại). Trong những năm cuối của Chiến tranh Việt Nam và trong thời kỳ 1975 – 1990, người Việt Nam không chỉ sử dụng săm lốp ô tô hỏng để làm dép cao su mà còn sử dụng phương pháp đúc cao su thành đế dép và quai dép. Tuy loại dép này được gọi là “dép đúc” nhưng về cấu tạo, nó giống như dép lốp sản xuất bằng phương pháp thủ công. Trong những năm 1970 – 1985, một bộ trang phục gồm một mũ cối, một bộ quân phục xuân hè dài tay bằng vải kaki Tô Châu hay kaki Nam Định màu xanh lá cây tươi, một thắt lưng da quân dụng và đôi dép cao su đúc là “mốt” của thanh niên Việt Nam khi đó. | Dép lốp | Dép lốp (tiếng Anh: Tire Sandals, hay còn được gọi là Ho Chi Minh sandals) là một loại giày (dép) đơn giản được làm từ săm và lốp. Loại dép này khá phổ biến ở những nước thuộc thế giới thứ ba do tính đơn giản, dễ làm, rẻ tiền và độ bền của chúng. Đôi dép có hình dáng giống các đôi dép bình thường khác. Quai dép được làm bằng săm (ruột) xe ô tô cũ. Hai quai trước bắt chéo nhau, hai quai sau song song, vắt ngang cổ chân. Bề ngang mỗi quai khoảng 1,5 cm. Quai được luồn xuống đế qua các vết rạch vừa khít với quai. Đế dép được làm bằng lốp (vỏ) xe ôtô hỏng hoặc đúc bằng cao su, mặt dưới có xẻ những rãnh hình thoi để đi cho đỡ trơn. |
Gây thiệt hại 22.000 tỉ đồng, 2 nguyên Chủ tịch TP Đà Nẵng cùng Vũ "nhôm" và 18 đồng phạm hầu tòa. Truy tố 2 cựu chủ tịch Đà Nẵng "tiếp tay" cho Vũ "nhôm" gây thiệt hại 20.000 tỉ đồng. Sáng nay 3-1, TAND TP Hà Nội tiếp tục phiên tòa xét xử sơ thẩm 21 bị cáo trong vụ án bán đất công sản cho Phan Văn Anh Vũ (Vũ "nhôm"), Chủ tịch HĐQT công ty cổ phần xây dựng Bắc Nam 79, gây thất thoát hàng chục ngàn tỉ đồng xảy ra tại Đà Nẵng. Trong số 21 bị cáo này, có 2 cựu chủ tịch UBND TP Đà Nẵng là Trần Văn Minh và Văn Hữu Chiến. Theo cáo buộc, Phan Xuân Ít, cựu Trưởng phòng Quản lý đô thị, cựu Phó Chánh Văn phòng UBND TP Đà Nẵng, biết rất rõ Phan Văn Anh Vũ lợi dụng chính sách của Nhà nước để được mua chỉ định các nhà, đất công sản trái quy định của pháp luật và có mối quan hệ với lãnh đạo UBND TP Đà Nẵng trong đó có Trần Văn Minh, Chủ tịch UBND Đà Nẵng. Trong thời gian liên tục từ năm 2006 đến 2013, Phan Xuân Ít đã trực tiếp tham mưu, đề xuất, soạn thảo các công văn, quyết định có nội dung trái pháp luật về quản lý công sản và pháp luật về đất đai để Trần Văn Minh, Văn Hữu Chiến và Nguyễn Ngọc Tuấn cho phép bán 20 nhà, đất công sản, trong đó có 15 nhà, đất công sản liên quan đến Phan Văn Anh Vũ, gây thiệt hại cho Nhà nước hơn 2,2 ngàn tỉ đồng. Đối với 4 dự án bất động sản, ông Ít đã giúp sức tích cực cho Trần Văn Minh trong việc giao quyền sử dụng đất các Dự án đất này cho Phan Văn Anh Vũ trái quy định của pháp luật, gây thiệt hại cho Nhà nước hơn 6,3 ngàn tỉ đồng. Là người bị thẩm vấn đầu tiên, bị cáo Phan Xuân Ít cho biết bị cáo giúp việc cho các Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng qua các thời kỳ, gồm cả ông Trần Văn Minh và Văn Hữu Chiến. Ngoài ra, bị cáo cũng theo dõi 2 công ty quản lý đất đai và quản lý nhà của Đà Nẵng. "Chủ tịch TP là người quyết định chủ trương chuyển nhượng nhà đất công sản, quyết định đối tượng được nhận chuyển nhượng cũng như giá chuyển nhượng. Khi có chủ trương, chỉ đạo của Chủ tịch, bị cáo chỉ thảo văn bản, quy trình theo chỉ đạo đó" - ông Ít khai và cho biết thêm, các chủ trương được thông qua bằng hình thức bút phê vào văn bản đề nghị của người có nhu cầu nhận chuyển nhượng từ Chủ tịch chuyển xuống. Cựu Phó Chánh Văn phòng UBND TP Đà Nẵng khẳng định bản thân không có quan hệ với Phan Văn Anh Vũ, chỉ biết doanh nghiệp của Vũ "nhôm" là doanh nghiệp bình phong của Bộ Công an. Ngoài ra, bị cáo biết Vũ "nhôm" có quan hệ với lãnh đạo UBND TP nhưng quan hệ cụ thể như thế nào thì không biết. "Sau này bị cáo mới biết các dự án, nhà đất công sản đứng sau là Vũ nhận chuyển nhượng. Bị cáo chỉ làm theo chỉ đạo của cấp trên chuyển xuống, không có động cơ, mục đích gì, không nhận được gì từ người được chuyển nhượng. Chỉ đạo của lãnh đạo phải chấp hành, nghĩ là chỉ đạo của cấp trên đúng, bản thân bị cáo phải chấp hành, nếu không làm là làm trái" - ông Ít nói và mong tòa xem xét về cáo buộc bản thân ông tham mưu, đề xuất cho lãnh đạo TP Đà Nẵng bán chỉ định các nhà, đất công sản. Cũng tại phiên toà, bị cáo Huỳnh Tấn Lộc, cựu Giám đốc Công ty CP Công nghệ phẩm Đà Nẵng, cho rằng năm 2008, UBND TP Đà Nẵng có chủ trương bán nhà công sản đang cho thuê. Thời điểm đó, bị cáo làm doanh nghiệp nên việc gì lợi thì làm, không biết mình đã vi phạm pháp luật. "Doanh nghiệp có nhu cầu mua nên tôi đã làm đơn xin mua 4 dự án nhà công sản thì UBND TP chỉ giải quyết cho tôi 2 cái là 37 Paster và 57 Lê Duẩn"- bị cáo Lộc khai. Theo bị cáo Lộc, trước đó, bị cáo chưa quen biết gì Vũ "nhôm". "Sau khi UBND TP giải quyết cho mua 2 lô đất thì Bí thư Thành ủy TP Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh và Chủ tịch TP Đà Nẵng Trần Văn Minh (thời điểm đó - PV) gọi điện cho tôi nói cái nào không dùng thì bán cho Vũ. Sau đó Vũ "nhôm" liên hệ với tôi để gặp nhau và tôi chỉ đồng ý nhượng lại lô đất 37 Paster"- bị cáo Lộc trả lời HĐXX. Bị cáo Lộc cho biết thời điểm đó, bị cáo chỉ đồng ý bán tài sản trên đất, nếu Vũ muốn đất thì bị cáo sẽ làm thủ tục chuyển nhượng lô đất đó. Bị cáo Huỳnh Tấn Lộc cho biết tại cơ quan điều tra bị cáo đã nhận ra sai phạm của mình. Tuy nhiên, bị cáo không nghĩ mình bị xử lý nặng như vậy. Gây thiệt hại 22.000 tỉ đồng, 2 nguyên Chủ tịch TP Đà Nẵng cùng Vũ "nhôm" và 18 đồng phạm hầu tòa. Truy tố 2 cựu chủ tịch Đà Nẵng "tiếp tay" cho Vũ "nhôm" gây thiệt hại 20.000 tỉ đồng | Vụ án 2 cựu chủ tịch UBND TP Đà Nẵng | Vụ án 2 cựu chủ tịch UBND TP Đà Nẵng (hay vụ án Vũ "nhôm" kỳ 4) là việc hai cựu Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng là Trần Văn Minh (nhiệm kỳ 2006-2011) và Văn Hữu Chiến (2011-2015) cùng 18 bị cáo khác bị đưa ra xét xử vì bị cáo buộc phê duyệt chủ trương cho chỉ định mua các nhà, đất công sản có giá trị cao ở Đà Nẵng với giá rẻ; câu kết với đồng phạm để tạo điều kiện cho Phan Văn Anh Vũ (tức Vũ "nhôm"), cựu Thượng tá công an, doanh nhân bất động sản, đứng tên sở hữu trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở mà không qua đấu giá. Nhờ vậy Vũ "nhôm" đã thu lợi bất chính đặc biệt lớn thông qua việc nhận nhiều đất dự án, mua nhà thuộc sở hữu Nhà nước. Hậu quả, theo cáo trạng, số tiền Nhà nước bị thiệt hại tại 22 nhà đất công sản là trên 2.400 tỷ đồng; tại 7 dự án là trên 19.600 tỷ đồng. Tổng số tiền nhà nước bị thiệt hại là hơn 22.000 tỷ đồng. Trước tòa, ông Minh thừa nhận có vai trò quyết định trong việc chuyển nhượng nhà, đất và quy định mức giá. |
Một trong những khó khăn lớn nhất của chúng ta khi mới bắt đầu học tiếng Anh đó là việc chia động từ. Do động từ trong tiếng Anh khác với tiếng Việt là chúng có nhiều dạng nên dễ khiến các bạn hoang mang khi sử dụng. Vậy để biết được động từ sẽ được chia thành những dạng như thế nào và cách để chia một động từ về đúng dạng của nó thì hãy cùng Step Up tìm hiểu ngay dưới đây nhé. Định nghĩa: Động từ trong tiếng Anh là một trong các loại từ trong tiếng Anh dùng để diễn tả hành động, trạng thái của người, sự vật, sự việc. Trong một câu nếu là câu đơn và có một động từ thì việc chia động từ khá là đơn giản. Vì chỉ cần chia động từ theo chủ ngữ và căn cứ vào thì của câu để chia. Tuy nhiên khi trong câu xuất hiện từ hai động từ trở lên chúng ta sẽ thấy có những lúc hai động từ đó sẽ được chia khác nhau. Trong ví dụ thứ nhất ta có thể thấy động từ được chia rất dễ dàng. Trong ví dụ thứ hai, hai động từ “tell” và “leave” cùng xuất hiện trong câu nhưng lại được chia theo hai cách khác nhau. Tại sao lại như vậy. Điều đó căn cứ vào nguyên tắc chia động từ dưới đây. Đó là, chia động từ theo thì và chia động từ theo dạng. Động từ được chia theo thì của câu khì mà nó đứng ngay sau chủ ngữ của câu. Động từ “read” đứng ngay sau chủ ngữ “she” Do đó sẽ được chia theo thì của câu. Trường hợp người nói muốn diễn tả câu ở thì hiện tại hoàn thành, thì động từ sẽ được chia phù hợp với thì hiện tại hoàn thành đó là “has read”.Tương tự, vẫn là động từ “ read” nhưng người nói muốn diễn tả câu ở thì hiện tại tiếp diễn, lúc này “read” được chia ở thì hiện tại tiếp diễn phù hợp với chủ ngữ “she” đó là “is reading”. Lưu ý khi chia động từ theo các thì trong tiếng Anh đó là chú ý những động từ bất quy tắc cần nhớ. Tránh trường hợp nhầm lẫn không đáng có. Khác với động từ được chia theo thì, động từ được chia theo dạng sẽ tùy thuộc vào từng câu sẽ có các dạng khác nhau. Trong một câu sẽ chỉ có duy nhất động từ theo sau chủ ngữ được chia theo thì, còn lại các động từ khác sẽ được chia theo dạng (dạng của động từ sau khi chia sẽ là một trong bốn dạng phía trên). Nếu Theo sau V1 là một To inf (động từ nguyên mẫu có to) thì V2 sẽ được chia ở dạng To inf. Và tương tự với các dạng động từ khác. I heard him talking to another girl.Động từ “ hear” được chia theo thì do trước nó là chủ ngữ “I”. “talk” được chia ở dạng” talking” vì “hear” là một động từ chỉ giác quan. Và theo sau những động từ chỉ giác quan là một Ving. “Leave” được chia ở dạng “to leave” vì theo sau “want” bắt buộc là một To inf. Các bạn đã biết động từ được chia ở theo dạng khi nào. Nhưng lúc này không ít bạn sẽ có thắc mắc rằng: Làm sao để biết theo sau động từ đó là To inf hay Bare inf, là Ving hay PP? Không có một cách nào khác ở đây ngoài việc học thuộc và ghi nhớ chúng. Dưới đây là một số động từ mà theo sau nó là dạng To inf thường gặp. Tuy nhiên, đây không phải là tất cả mà còn rất nhiều những động từ khác. Công thức: V – To V hay còn gọi là cụm động từ nguyên mẫu trong tiếng Anh. Tương tự, dưới đây chỉ là một số động từ phổ biến mà theo sau nó sẽ là một Ving. Tuy nhiên không phải là tất cả . Có những động từ mà theo sau nó có thể là To inf hoặc V-ing tùy thuộc vào nghĩa của câu. Có những từ mà khi trong câu sẽ xuất hiện dạng To V-ing. Tuy nhiên đây không phải là chia động từ dưới dạng To V-ing mà “to” lúc này sẽ đóng vai trò là giới từ trong câu tiếng Anh. | Chia động từ | Trong ngôn ngữ học, sự chia động từ (tiếng Anh: conjugation ) là tạo nên những dạng biến đổi của một động từ bằng cách biến tố phần chính của từ (sự biến đổi này phải theo những quy tắc của ngữ pháp). Việc chia động từ có thể được ảnh hưởng bởi ngôi, số, giống, thì, thể, thức, trạng, và những thể loại ngữ pháp khác. Thường thì phần chính là gốc của từ. Tất cả những dạng khác nhau của cùng một động từ tạo nên một từ vị. Thuật ngữ conjugation chỉ dùng để chỉ được biến đổi của động từ (sự biến đổi của danh từ và tính từ được gọi là biến cách - declension). |
Doraemon và những người bạn của mình gặp một cậu bé robot kỳ lạ từ một cỗ máy đặt hàng tương lai. Qua một mê cung không gian thời gian khó khăn (có thể là một hố sâu), cuối cùng họ cũng đến được hành tinh của cậu bé, nhưng nhiều kho báu rơi xuống. Cả nhóm đến nhà của Tiến sĩ Capek và tìm hiểu về “Kế hoạch tái tạo robot” của Nữ hoàng Jane để loại bỏ cảm xúc của robot xuất phát từ việc mất người cha báo thù trước đó và sự hỗ trợ của Chỉ huy. Poko trẻ rời đi một mình để tìm kiếm Maria bị bắt, người bị quân đội của Nữ hoàng tấn công. Nhóm cứu cậu bé, nhưng Doraemon, một robot, bị bắt. Anh ta bị nhốt và gặp Maria. Nhờ “giải pháp cù lét”, anh ta đã đánh bại “Vua bất khả chiến bại” trong trận chiến ở đấu trường robot và gặp lại bạn bè của mình. Cả Doraemon và Poko đều lên đường đến Thung lũng Cầu vồng và vô tình cứu Nữ hoàng Jenna khỏi âm mưu giết người của Dister, người giờ đã trở thành Vua mới. Họ và người dân của vương quốc robot đã tấn công Dister ở Rome nhưng không ngờ đây là một robot khổng lồ. Nhờ có “vô lăng vạn năng”, Nobita điều khiển “Đấu trường Robot” để đánh bại Robot vào Drai nhưng nó biến thành một tên lửa mang cả Doraemon và Maria, chuẩn bị đâm vào mặt trăng – một vệ tinh tự nhiên của hành tinh này. Nhờ vào máy giao hàng, Doraemon đã đoàn tụ với bạn bè và mẹ của mình, Poko, được đoàn tụ; họ cũng phát hiện ra rằng Dister là em trai của Tiến sĩ Capek. Cuối cùng, vương quốc robot trở lại những ngày bình yên, hạnh phúc như trước. | Doraemon | Doraemon: Nobita và vương quốc robot (ドラえもん のび太とロボット王国 (キングダム), Doraemon Nobita to Robot Kingdom) hay còn được biết đến với tên Cuộc chiến ở xứ sở rôbôt là bộ phim hoạt hình Doraemon thứ 23 được ra mắt tại Nhật Bản. Ngoài ra, bộ phim còn có một số tên gọi không chính thức như Vương quốc rôbôt. Là phim khoa học viễn tưởng của đạo diễn Shibayama Tsutomu. Phim được công chiếu ở Nhật vào ngày 09 tháng 03 năm 2002. Sau Nhật Bản, phim được phát hành ở một số quốc gia trên thế giới: Hồng Kông (chiếu rạp 3 tháng 4 năm 2004), Thái Lan (chiếu rạp 30 tháng 9 năm 2004), Đài Loan (chiếu rạp 9 tháng 2 năm 2005), Tây Ban Nha (chiếu rạp 2 thámg 3 năm 2005) và Bồ Đào Nha (phát hành DVD 1 tháng 3 năm 2005). Tại Việt Nam, phim từng được Công ty Cổ phần Truyền thông Trí Việt mua bản quyền và phát sóng trên kênh HTV3 vào ngày 15 tháng 3 năm 2013. Tại Nhật Bản phim được phát hành dưới dạng băng VHS và DVD bởi Toho. Ca khúc mở đầu phim là "Doraemon no Uta" (ドラえもんのうた, dịch nghĩa Bài hát về Doraemon, "Doraemon no Uta") do Yamano Satoko trình bày, ca khúc lồng trong phim "Hitori Janai - I ll Be There" (ひとりじゃない 〜I ll Be There〜, dịch nghĩa Tôi sẽ ở đó, "Hitori Janai - I ll Be There") do KONISHIKI và Niiyama Chiharu trình bày và ca khúc kết thúc là "Issho ni Arukou - Walking Into Sunshine" (いっしょに歩こう 〜Walking Into Sunshine〜, dịch nghĩa Đi vào ánh Mặt Trời", "Issho ni Arukou - Walking Into Sunshine") do KONISHIKI trình bày. |
Đăng ký hộ tịch, hay nói gọn là hộ tịch, là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thường là các cơ quan hành pháp, cơ quan quản lý hành chính nhà nước) ghi và lưu lại lại các sự kiện hộ tịch quan trọng của công dân. Hộ tịch được hiểu là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Sự kiện quan trọng thường được ghi nhận bao gồm việc khai sinh, khai tử, kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn, ly thân tư pháp, nhận nuôi con nuôi, hợp pháp hoá lãnh sự…. Ngoài ra, ở một số nước, việc nhập cư, di dân, và bất kỳ thay đổi nơi cư trú, chỗ ở có thể bị yêu cầu phải thông báo đến cơ quan nhà nước. Mục đích chính của đăng ký hộ tịch là để tạo ra hệ thống pháp luật (văn bản pháp luật thậm chí là văn bản quy phạm pháp luật) được sử dụng để thiết lập và bảo vệ các quyền dân sự của cá nhân. Mục đích thứ hai là tạo ra một nguồn dữ liệu cho việc biên soạn các số liệu thống kê quan trọng, phục vụ cho hoạt động thống kê dân cư của nhà nước. Mục đích quản lý hộ tịch là công việc thường xuyên của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện để theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, để từ đó góp phần tạo cơ sở xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình…. Cấp giấy tờ hộ tịch. Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo thủ tục, trình tự được quy định tại pháp luật mỗi nước và là bằng chứng, chứng cứ công nhận các sự kiện về hộ tịch, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức. Đăng ký hộ tịch tại Việt Nam là việc công dân, người nước ngoài làm các thủ tục về đăng ký hộ tịch tại các cơ quan nhà nước ở Việt Nam. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam sẽ xác nhận các sự kiện: sinh, kết hôn, tử, nuôi con nuôi, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch, xác định lại giới tính, xác định lại dân tộc. Các cơ quan này cũng sẽ ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con, thay đổi quốc tịch, ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, chấm dứt nuôi con nuôi…. Việc đăng ký và quản lý hộ tịch được xác định là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm không chỉ theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, dân số, kế hoạch hóa gia đình (các mãng lĩnh vực về dân sự) mà thậm chí còn phục vụ cho mục đích về an ninh quốc phòng. Chính vì vậy, quy định bắt buộc những người buộc thực hiện đăng ký hộ tịch phải tự giác đăng ký các sự kiện hộ tịch theo quy định. Việc đăng ký hộ tịch được thực hiện theo quy định mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một nơi. Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước Việt Nam cấp cho cá nhân là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó, trong đó Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Ngoài ra, các giấy tờ hộ tịch do Cơ quan đại diện Ngoại giao, Cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài cấp cũng có giá trị như giấy tờ hộ tịch được cấp ở trong nước. Đối với những Giấy tờ hộ tịch do nước ngoài cấp, khi sử dụng tại Việt Nam thì bắt buộc phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác riêng đối với Giấy tờ hộ tịch do Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự của nước ngoài tại Việt Nam cấp cho công dân nước đó để sử dụng tại Việt Nam được miễn hợp pháp hóa lãnh sự trên cơ sở nguyên tắc có đi, có lại. Đối với những loại giấy tờ hộ tịch bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt, bản dịch phải được công chứng. Đối với công dân Việt Nam ở trong nước, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký hộ khẩu thường trú, trong trường hợp nếu không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu. Đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký thường trú, trường hợp nếu không có nơi đăng ký thường trú, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký tạm trú. Sổ hộ khẩu, Giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể hoặc Giấy đăng ký tạm trú có thời hạn (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), các loại Thẻ thường trú, Thẻ tạm trú hoặc Chứng nhận tạm trú (đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam). Người dân nếu có việc hoặc không có điều kiện để đến trực tiếp cơ quan thì có thể uỷ quyền (bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực) cho người khác làm thay ngoại trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký việc nuôi con nuôi, đăng ký giám hộ, đăng ký việc nhận cha, mẹ, con). Nếu người được uỷ quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người uỷ quyền, thì không cần phải có văn bản uỷ quyền. Đăng ký khai sinh do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em. Nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì lấy nơi cư trú của người cha. Nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ lẫn người cha, thì lấy địa điểm nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh. Pháp luật Việt Nam quy định trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em. Người đi đăng ký khai sinh phải nộp Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn). Nếu không sinh ra tại bệnh viện hay cơ sở y tế thì có giấy tờ xác nhận của người làm chứng, nếu không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan. Sau đó nhân viên nhà nước sẽ ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, rồi cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh. Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Đối với đăng ký khai tử, Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Trong vòng 15 ngày, kể từ ngày chết, thân nhân của người chết có trách nhiệm đi khai tử; nếu người chết không có thân nhân, thì chủ nhà hoặc người liên quan nơi người đó cư trú hoặc công tác trước khi chết đi khai tử. Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký khai tử và Giấy chứng tử và cấp cho người đi khai tử một bản chính Giấy chứng tử. Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân. Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó. Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân. Sau khi nhận hồ sơ 5 ngày Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ. Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt. Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn. Hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên vợ, chồng một bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp theo yêu cầu của vợ, chồng. Người được giám hộ hoặc người giám hộ thực hiện đăng ký giám hộ tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của mình (có thể là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú). Những người là giám hộ đương nhiên của người được giám hộ phải làm một văn bản thỏa thuận về việc cử một người làm giám hộ đương nhiên (nếu có nhiều người giám hộ đương nhiên), văn bản này nộp kèm Tờ khai đăng ký giám hộ. Nếu người giám hộ do Ủy ban nhân dân cấp xã cử ra thì chỉ cần nộp Tờ khai đăng ký giám hộ. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ, nếu thấy đủ điều kiện theo quy định pháp luật thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch và cùng người đi đăng ký giám hộ ký vào Sổ hộ tịch, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu. Trường hợp chấm dứt giám hộ thì người giám hộ nộp Tờ khai đăng ký chấm dứt giám hộ cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký giám hộ. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ, công chức tư pháp – hộ tịch ghi việc chấm dứt giám hộ vào Sổ hộ tịch, cùng người đi đăng ký chấm dứt giám hộ ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu. | Đăng ký hộ tịch | Đăng ký hộ tịch, hay nói gọn là hộ tịch, là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thường là các cơ quan hành pháp, cơ quan quản lý hành chính nhà nước) ghi và lưu lại lại các sự kiện hộ tịch quan trọng của công dân. Hộ tịch được hiểu là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Sự kiện quan trọng thường được ghi nhận bao gồm việc khai sinh, khai tử, kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn, ly thân tư pháp, nhận nuôi con nuôi, hợp pháp hoá lãnh sự. Ngoài ra, ở một số nước, việc nhập cư, di dân, và bất kỳ thay đổi nơi cư trú, chỗ ở có thể bị yêu cầu phải thông báo đến cơ quan nhà nước. |
thienmaonline.vn – Với những ai mới tìm hiểu về bóng đá, thật khó khi bắt gặp những thuật ngữ, như AFC là gì. Sau đây là những thông tin về thuật ngữ ấy. Đó là tên viết tắt của Liên đoàn bóng đá châu Á (tiếng Anh: Asian Football Confederation), cơ quan chủ quản của hiệp hội bóng đá ở châu Á và Úc. AFC bao gồm 47 thành viên ở châu Á, chủ yếu nằm trên lục địa châu Á, và Úc, nhưng ngoại trừ các quốc gia có lãnh thổ ở cả châu Âu và châu Á như Azerbaijan, Gruzia, Kazakhstan, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ – những nước thay vào đó là thành viên của UEFA. Ba quốc gia khác nằm ở vị trí địa lý dọc theo rìa phía tây của châu Á – Cộng hòa Síp, Armenia và Israel – lại là thành viên của UEFA. Mặt khác, Úc trước đây thuộc OFC đã gia nhập Liên đoàn bóng đá châu Á vào năm 2006 và đảo Guam, một lãnh thổ hải ngoại của Hoa Kỳ, cũng là thành viên của AFC. Hồng Kông và Ma Cao, mặc dù không phải là quốc gia độc lập (cả hai đều là đặc khu hành chính đặc biệt của Trung Quốc), cũng là thành viên của AFC. AFC được thành lập ở Manila, Philippines năm 1954 và là một trong sáu liên đoàn châu lục của FIFA. Chủ tịch hiện nay là ông Sheikh Salman Bin Ibrahim Al-Khalifa, người Bahrain. Liên đoàn bóng đá nữ châu Á (ALFC) là một bộ phận của AFC. Liên đoàn được thành lập độc lập vào tháng 4/1968 trong một cuộc họp giữa Đài Loan, Hồng Kông, Malaysia và Singapore. Liên đoàn bóng đá nữ châu Á đã giúp tổ chức Cúp bóng đá nữ châu Á, lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1975, cũng như Giải vô địch bóng đá nữ U-19 châu Á và Giải vô địch bóng đá nữ U-16 châu Á. Trong khi đó, AFC Champions League lại là giải đấu lớn nhất cấp CLB của AFC.Các thành viên AFC. Liên đoàn bóng đá châu Á có 47 thành viên hiệp hội chia thành 5 khu vực. Một số quốc gia đề xuất thành lập Liên đoàn Tây Nam Á nhưng điều đó sẽ không can thiệp vào các khu vực AFC:. AFC điều hành Cúp bóng đá châu Á và Cúp bóng đá nữ châu Á, cũng như Cúp bóng đá Đoàn kết châu Á. Tất cả ba cuộc thi được tổ chức bốn năm một lần. AFC cũng tổ chức Giải vô địch Futsal châu Á, Giải vô địch bóng đá bãi biển châu Á, các giải bóng đá trẻ quốc tế ở độ tuổi khác nhau và giải đấu vòng loại châu Á cho FIFA World Cup, FIFA Women’s World Cup và cho bóng đá tại Thế vận hội mùa hè. Ngoài các giải đấu quốc tế do AFC điều hành, mỗi liên đoàn khu vực AFC còn tổ chức giải đấu riêng cho các đội tuyển quốc gia: Cúp bóng đá Đông Á, Giải vô địch bóng đá Nam Á, Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á, Giải vô địch bóng đá Trung Á và Giải vô địch bóng đá Tây Á. Giải đấu cấp câu lạc bộ hàng đầu của AFC là AFC Champions League, bắt đầu từ mùa giải 2002-2003 (sự kết hợp của Cúp vô địch bóng đá châu Á và Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc gia châu Á) và tập hợp các đội 1 trong 4 đội hàng đầu của mỗi quốc gia (số lượng các đội phụ thuộc vào thứ hạng của quốc gia đó); cuộc thi này chỉ tập hợp các đội từ các quốc gia hàng đầu. Một cuộc thi thứ hai, xếp hạng thấp hơn là Cúp AFC. Cuộc thi này đã được AFC phát động vào năm 2004. Một cuộc thi thứ ba, Cúp Chủ tịch AFC, đã bắt đầu vào năm 2005, đã được sáp nhập vào Cúp AFC vào năm 2014-2015. AFC cũng điều hành một cuộc thi câu lạc bộ futsal châu Á hàng năm, Giải vô địch câu lạc bộ Giải vô địch Futsal các câu lạc bộ châu Á. Hãy theo dõi thienmaonline.vn để đón đọc những bài viết hay tương tự câu chuyện AFC là gì, các bạn nhé!. Hiện nay là Thiên Hạ Vô Song (thvs.vn) trở thành một website chuyên về game, công nghệ và tin tức tổng hợp được yêu thích nhất hiện nay. Bởi vì các thông tin về game mà chúng tôi mang lại đều được tổng hợp từ nhiều nguồn uy tín, chất lượng. Và luôn cập nhật mới nhất. | Liên đoàn bóng đá châu Á | Liên đoàn bóng đá châu Á (tiếng Anh: Asian Football Confederation - AFC) là cơ quan chủ quản của các liên đoàn bóng đá quốc gia ở châu Á và Úc. AFC bao gồm 47 thành viên ở châu Á, chủ yếu nằm trên lục địa châu Á, và Úc, nhưng ngoại trừ các quốc gia có lãnh thổ ở cả châu Âu và châu Á như Azerbaijan, Gruzia, Kazakhstan, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ – những nước thay vào đó là thành viên của UEFA. Ba quốc gia khác nằm ở vị trí địa lý dọc theo rìa phía tây của châu Á - Cộng hòa Síp, Armenia và Israel - lại là thành viên của UEFA. Mặt khác, Úc trước đây thuộc OFC đã gia nhập Liên đoàn bóng đá châu Á vào năm 2006 và đảo Guam, một lãnh thổ hải ngoại của Hoa Kỳ, cũng là thành viên của AFC. Hồng Kông và Ma Cao, mặc dù không phải là quốc gia độc lập (cả hai đều là đặc khu hành chính đặc biệt của Trung Quốc), cũng là thành viên của AFC. AFC được thành lập ở Manila, Philippines năm 1954 và là một trong sáu liên đoàn châu lục của FIFA. |
Cầu mây (tên quốc tế: Sepak takraw, sepak nghĩa là “đá, sút” trong tiếng Malay, takraw (ตะกร้อ) nghĩa là “quả cầu mây” trong tiếng Thái) là một môn thể thao có nguồn gốc Đông Nam Á, cũng tương tự như bóng chuyền, ngoại trừ việc cầu mây sử dụng loại cầu làm bằng cây mây và chỉ cho phép cầu thủ sử dụng chân, đầu gối, ngực và đầu để chạm bóng. Tại các đại hội thể thao, Thái Lan là quốc gia mạnh nhất ở môn thể thao này. Môn cầu mây xuất hiện 500 năm về trước, như là môn bóng đá của người Xiêm, đã vun đắp mối liên hệ mở rộng tầm quốc tế một cách chậm rãi qua lối tấn công đầy xông xáo và luôn luôn biểu hiện hành động di chuyển nhanh nhẹn. Có môn cầu mây đơn giản hơn gọi là Luk Takraw sử dụng quả bóng đan bằng cây mây, cũng ẩn chứa tinh thần sôi động vẫn tiềm tàng trong quá khứ của quốc gia. Môn thể thao Luk Takraw diễn ra khắp các vùng đất nước, dành cho đàn ông cùng nhau tụ tập rèn luyện thân thể, sau khi công việc đồng áng kết thúc hay thời gian rảnh rỗi. Lối chơi môn này:trừ hai tay, sử dụng toàn bộ cơ phận thân thể – hai chân, đầu gối, cùi chỏ, hai vai và đầu giữa quả bóng di chuyển trên không lần luợt qua các vận động viên, bằng lối chuyền bóng uyển chuyển. Có hai hình thức chính của môn cầu mây. Môn cầu mây thứ nhất có lưới với hình thức tranh tài, rất giống quy tắc chơi bóng chuyền. Môn cầu mây thứ hai với biệt danh Regus, đội chơi bóng có bốn cầu thủ tranh tài với nhau – ba người chơi chuyền bóng cho nhau, trong lúc người thứ tư chờ đợi thay thế, có sự khác biệt giữa môn cầu mây có lưới và môn như bóng chuyền là mỗi bên được phép ba lần tiếp xúc bóng, sự kiện này có thể giữ bóng liên tiếp đối với bất kỳ cầu thủ nào. Lưới cao một mét rưỡi, phân cách hai đội bóng trong lúc phát bóng đi gồm hai cầu thủ. Đấu thủ phát bóng đi đứng cách xa làn trung tâm của sân bóng ba mét, còn môn Takraw – cầu thủ phát bóng đứng quay về phía lưới, dùng chân đá quả bóng bay đi chính xác, giúp cầu thủ phát bóng gần chân đá của mình, di chuyển nhanh nhẹn. Thái Lan và Malaysia chiếm ưu thế về môn thể thao này, khi hai quốc gia phát triển nó trong trường học, đời sống và các giải thi đấu chuyên nghiệp trong nước. Bằng nhịp độ chơi tiến triển chớp nhoáng hai quốc gia đã cùng nhau giao đấu chiếm vị trí tối cao về môn thể thao này trong nhiều năm qua. | Cầu mây | Cầu mây (tên quốc tế: Sepak takraw, sepak nghĩa là "đá, sút" trong tiếng Malay, takraw (ตะกร้อ) nghĩa là "quả cầu mây" trong tiếng Thái) là một môn thể thao có nguồn gốc Đông Nam Á, cũng tương tự như bóng chuyền, ngoại trừ việc cầu mây sử dụng loại cầu làm bằng cây mây và chỉ cho phép cầu thủ sử dụng chân, đầu gối, ngực và đầu để chạm bóng. Đây là một môn thể thao phổ biến tại Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Myanmar, Philippines, Campuchia, Lào. Tại các đại hội thể thao, Thái Lan là quốc gia mạnh nhất ở môn thể thao này. Môn cầu mây lần đầu tiên xuất hiện vào những năm thuộc thế kỷ 15 ở vương triều Mã Lai là kết hợp giữa bóng đá và bóng chuyền. Sau đó, môn thể nào này đã du nhập vô Xiêm (Thái Lan). Các triều đình Xiêm bắt đầu cải tiến luật bằng cách biến nó thành môn thể thao đồng đội (chứ không phải là cá nhân như lúc mới chỉ ở các vương triều Mã Lai). Các quốc gia Đông Nam Á đã bắt đầu phổ biến cầu mây ra tầm quốc tế tầm quốc tế một cách chậm rãi qua lối tấn công đầy xông xáo và luôn luôn biểu hiện hành động di chuyển nhanh nhẹn. |
Thuyết đa trí tuệ là một lý thuyết về trí thông minh của con người được nhìn nhận bằng nhiều cách, mang tính đa dạng, được nghiên cứu và công bố bởi tiến sĩ Howard Gardner. Theo Gardner, trí thông minh (intelligence) được ông quan niệm như sau “là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa” và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ. Năm 1983, ông đã xuất bản một cuốn sách có nhan đề Frames of Mind (tạm dịch Cơ cấu của trí tuệ), trong đó ông công bố các nghiên cứu và lý thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh (Theory of Multiple Intelligences). 1.2 Thứ hai: Mỗi trí thông minh đều có một lịch sử phát triển của riêng nó. 1.3 Thứ ba: Mỗi trí thông minh đều sẽ bị biến mất khi não bị tổn thương ở vùng đặc trưng. 1.4 Thứ tư: Mỗi trí thông minh đều có nền tảng và giá trị văn hóa riêng của nó. Là loại hình thông minh đối với những con số và sự logic, đây là trí thông minh của các nhà khoa học, kế toán viên và những người lập trình máy tính, nét tiêu biểu về trí thông minh logic toán học gồm có khả năng xác định nguyên nhân, chuỗi các sự kiện, tìm ra quy tắc dựa trên các khái niệm. Trí thông minh không gian liên quan đến việc suy nghĩ bằng hình ảnh, biểu tượng và khả năng cảm nhận, chuyển đổi và tái tạo các góc độ khác nhau của thế giới không gian trực quan, đó là mảnh đất sáng tạo của các kiến trúc sư, nhiếp ảnh gia, nghệ sỹ, các phi công và các kỹ sư cơ khi máy móc, những người đã thiết kế ra Kim tự tháp Ai Cập có rất nhiều trí thông minh này. Đặc điểm cơ bản của trí thông minh âm nhạc là khả năng cảm nhận, thưởng thức và tạo ra các tiết tấu nhịp điệu, đó là trí thông minh của các nhạc công hay những ca sĩ, ngoài ra trí thông minh âm nhạc còn có trong tiềm thức của bất cứ cá nhân nào, miễn là người đó có khả năng nghe tốt và hát theo giai điệu. Trí thông minh nội tâm là năng lực tự nhận thức về bản thân, một người có tư duy này có thể dễ dàng tiếp cận và nhìn rõ được những cảm xúc của bản thân mình, người có trí thông minh này họ thường hay xem xét bản thân và thích trầm tư suy nghĩ, được ở trạng thái tĩnh lặng hay các trạng thái tìm hiểu tinh thần một cách sâu sắc khác, họ thích làm việc một mình hơn làm việc cùng những người khác, họ là người có tính độc lập và tính tự giác tốt. Trí thông minh thiên nhiên là khả năng tinh thông trong việc nhận dạng và phân loại vô số chủng loại động thực vật trong môi trường. Đối với mỗi dạng trong bảy loại hình thông minh đầu tiên, có rất nhiều cách để thể hiện chúng ra thế giới bên ngoài. Có lẽ rõ rệt nhất, những người có cảm nhận về thiên nhiên bộc lộ trí thông minh của mình. Đó là sở trường của những người làm vườn, trồng cây cảnh, sáng tạo khung cảnh thiên nhiên, hay nói cách khác là thể hiện sự quan tâm tự nhiên của mình đối với thực vật. Trí thông minh hiện sinh có rất ít mối quan hệ với bất kỳ hệ tư tưởng nào. Hơn thế, định nghĩa trí thông minh hiện sinh là trí thông minh liên quan tới các vấn đề cơ bản của cuộc sống. Những câu hỏi như: “Cuộc sống là gì?” “Ý nghĩa của nó là gì?” “Vì sao lại có quỷ dữ?” “Loài người sẽ tiến tới đâu?” và “Chúa có tồn tại hay không?” là những điểm khởi đầu mạnh mẽ cho một cuộc khai phá tầm nhận thức sâu sắc hơn. định nghĩa khả năng của trí thông minh hiện sinh gồm hai phần:. – Xác định bản thân tới những tầm xa nhất của vũ trụ – nơi tận cùng, vô tận. – Xác định bản thân với những tính năng hiện hữu nhất của điều kiện con người – tầm quan trọng của cuộc sống, ý nghĩa của cái chết, số mệnh cuối cùng của thế giới vật chất, tinh thần, những trải nghiệm sâu sắc như là tình yêu của con người hoặc niềm đam mê nghệ thuật. Một số người có nhiều trí thông minh hiện sinh do họ đã tìm thấy một “chân lý cuối cùng”, trong khi những người khác kém hơn vì không tìm ra. Những người có trí thông minh hiện sinh có thể là nhà thần học, mục sư, giáo sỹ Do Thái, pháp sư, linh mục, thầy dạy Yoga, nhà sư và những thầy trưởng tế Hồi giáo. Mỗi người trong số họ có thể có những nhận thức khác nhau về bản chất của chân lý tuyệt đối. Nhưng cũng có những người theo thuyết bất khả tri, những triết gia theo phái hoài nghi, phái vô thần, phái châm chích, những người báng bổ hoặc những nhà dị giáo – những người thể hiện một trình độ cao hơn của trí thông minh hiện sinh bởi họ luôn cố xoay xở với những câu hỏi ở mức độ căng thẳng và phức tạp | Thuyết đa trí tuệ | Thuyết đa trí tuệ là một lý thuyết về trí thông minh của con người được nhìn nhận bằng nhiều cách, mang tính đa dạng, được nghiên cứu và công bố bởi tiến sĩ Howard Gardner. Theo Gardner, trí thông minh (intelligence) được ông quan niệm như sau "là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa" và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ. Năm 1983, ông đã xuất bản một cuốn sách có nhan đề Frames of Mind (tạm dịch Cơ cấu của trí tuệ), trong đó ông công bố các nghiên cứu và lý thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh (Theory of Multiple Intelligences). |
Indigo, hoặc indigotin, là thuốc nhuộm ban đầu được chiết xuất từ các giống cây chàm. Chàm là một trong những cây thuốc nhuộm lâu đời nhất, phổ biến nhất trong các loại màu nhuộm tự nhiên. Cây chàm được trồng và sử dụng ở khắp nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Chàm có những đặc tính thú vị mà không một loại thuốc nhuộm nào khác có được, nên dù là cũng là chất nhuộm tự nhiên, nhưng cách nhuộm chàm, cách chàm ăn màu vào vải đều hoàn toàn khác biệt. Màu chàm không xâm nhập hoàn toàn vào xơ sợi trong quá trình nhuộm vì tính chất hóa học của chàm, màu chỉ bám được trên bề mặt sợi, bên trong xơ sợi vẫn trắng nên vải nhuộm chàm tự nhiên sẽ có độ bền giặt thấp. Vải nhuộm chàm rất đa dạng trong tạo hình. Mảnh vải có thể được vẽ bằng sáp ong hay được buộc, thắt, gấp tạo nếp trước khi nhuộm, để cuối cùng cho ra những hoa văn đặc sắc và mềm mại. Hy vọng bài viết này có thể giúp chị em mình hiểu hơn về NHUỘM MÀU CHÀM, một kỹ thuật nhuộm màu vải hoàn toàn từ thiên nhiên. Vì là màu nhuộm thiên nhiên nên màu Chàm khó giữ được độ bền màu như những sản phẩm nhuộm công nghiệp khác. Các chị em sử dụng sản phẩm nhuộm màu Chàm nên biết cách giặt và bảo quản quần áo hợp lý để sử dụng sản phẩm được lâu bền nhé !. Hãy đăng ký email của bạn để cập nhật thông tin khuyến mãi nhanh nhất. | Thuốc nhuộm màu chàm | Thuốc nhuộm màu chàm hay thuốc nhuộm chàm hay bột chàm hoặc indigo là một loại thuốc nhuộm với màu xanh chàm (xem bài màu chàm) dễ nhận ra. Thành phần hóa học tạo ra thuốc nhuộm màu chàm là indigotin. Người cổ đại chiết lấy thuốc nhuộm chàm tự nhiên từ một vài loài thực vật cũng như một trong hai loài ốc biển (Hexaplex trunculus hay Haustellum brandaris) nổi tiếng của người Phoenicia, nhưng gần như tất cả thuốc nhuộm màu chàm ngày nay đều được sản xuất bằng phương pháp tổng hợp. Một dạng dẫn xuất của thuốc nhuộm màu chàm được gọi là indigo carmine. Khoảng 20.000 tấn được sản xuất mỗi năm, chủ yếu là để nhuộm màu cho đồ jeans màu lam. Khi dùng cho thực phẩm nó được liệt kê tại Hoa Kỳ như là FD&C Blue No. 2, và tại Liên minh châu Âu như là E132. Thuốc nhuộm màu chàm là một trong các loại thuốc nhuộm cổ nhất được sử dụng để nhuộm màu trong công nghiệp dệt vải và in ấn. Vải nhuộm chàm cổ nhất đã biết có nien đại tới 6.000 năm trước, được phát hiện năm 2009 tại Huaca Prieta, Peru. |
Nông nghiệp là tập hợp các mặt hoạt động của con người trong một môi trường khí hậu đất đai và sinh học cụ thể; trong những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể nhằm tạo ra sản phẩm thực vật và động vật cho đời sống, đặc biệt là lương thực thực phẩm. Ngày nay theo định nghĩa rộng hơn: “nông nghiệp bao gồm cả nội dung sản xuất, tiếp thị và phân phối các sản phẩm nông nghiệp”. Nông nghiệp còn được xem là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội sử dụng đất đai với cây trồng làm nguyên liệu chính để sản xuất ra lương thực, một số tư liệu cho công nghiệp (cao su, tơ tằm, thuốc lá thẻ, cà phê, trà, giấy, dược liệu). Ngoài ra, nông nghiệp còn thoả mãn các nhu cầu về vui chơi giải trí, tạo cảnh quan (hoa viên, cây kiểng, sân banh, sân golf). Quá trình sản xuất kinh tế với quá trình sinh học: có nghĩa là muốn hoàn thành quá trình sản xuất phải tùy thuộc vào chu trình sinh trưởng của sinh vật. Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, môi trường sống có thể tăng hoặc giảm tiềm năng sản xuất tùy theo cách sử dụng tức chế độ canh tác áp dụng trên ruộng đất. Nguyên liệu ban đầu là cây trồng, vật nuôi, những sinh vật có chu kỳ sinh trưởng và phát triển phụ thuộc vào đất đai, khí hậu và phương thức trồng trọt chăn nuôi. Sự phát triển của nền nông nghiệp thế giới đã gắn liền với sự phát triển của nền văn minh loài người và đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra nhiều lý thuyết giải thích và phân chia sự phát triển nông nghiệp dựa trên các tiêu chuẩn khác nhau. Chỉ bắt đầu vào thời đại đồ đá giữa, cách nay khoảng 14 -15 nghìn năm, khi con người bắt đầu các hoạt động trồng cây và thuần hóa động vật thành gia súc, hoạt động nông nghiệp và sự chuyển hóa thành đời sống nông nghiệp định canh mới bắt đầu diễn ra. Chủ yếu hái lượm các sản phẩm tự nhiên để sinh tồn. Lịch sử phát triển xã hội loài người đã chứng minh rằng từ kho xuất hiện đến thời đại đồ đá cũ, trong nhiều nghìn năm, con người sống chủ yếu bằng săn bắt động vật hoang dại trong tự nhiên và hái lượm các sản phẩm tự nhiên trong rừng, đồng cỏ, sông ngòi, ao hồ, biển làm thức ăn để tồn tại. Về sau, con người biết sử dụng cung tên để săn thú, bắt và phơi khô cá để tồn trữ. Rồi từ việc tồn trữ hạt, củ, quả để dùng dần dẫn đến nhận thức được mối liên hệ giữa hạt giống và cây. Việc chuyển từ hái lượm, săn bắt sang trồng trọt và chăn nuôi là một quá trình lâu dài, nhưng được thực hiện lần đầu tiên ở đâu thì vẫn còn là vấn đề tranh luận. Những chứng tích khảo cổ học cho thấy khoảng thiên niên kỷ thứ 6 TCN hoặc sớm hơn nữa đã xuất hiện bốn trung tâm hoạt động nông nghiệp lớn đó là:. Vùng Đông Nam Á cách đây 000 – 16.000 năm với việc cây họ ráy và cây lúa nước được thuần hóa và nuôi lợn và gà. Tây Á và Trung cận Đông cách đây từ 000 – 11.000 năm, cây lúa mì được thuần hóa đồng thời thuần hóa được cừu và dê. Trung Mỹ cách đây 000 – 8.000 năm, cây bắp được thuần hóa đầu tiên cùng với bí đỏ, đậu, khoai mì, đậu phộng, khoai tây. Bắc Trung Quốc cách đây 000 năm, cây kê và cây cao lương được thuần hóa. Con người với việc thuần hóa cây trồng và vật nuôi, bắt đầu tập trung thành làng mạc và bắt đầu canh tác nông nghiệp và chăn nuôi gia súc được thuần hóa, một số vẫn tiếp tục áp dụng hình thức chăn nuôi du mục. Trong giai đoạn này, phương thức trồng trọt chủ yếu là chọc lỗ bỏ hạt. Con người dùng một thanh cây vạt nhọn một đầu để chọc đất chỗ gieo hạt (rễ cỏ còn nguyên). Cây trồng ở giai đoạn này còn mang tính hoang dại quan hệ giữa cây trồng giống như ở đồng cỏ tự nhiên. Hình thức canh tác này vẫn tồn tại đến ngày nay qua hình thức phát ruộng làm rẫy của một số người dân tộc miền núi. Dần dần với sự cải tiến công cụ, con người phát minh cuốc bằng đá, đồng rồi bằng sắt đất gieo trồng được chọn lọc kỹ lưỡng hơn, được cuốc xới tốt hơn, chuẩn bị tốt hơn. Các cây trồng bắt đầu xuất hiện với việc tuyển chọn giống thô sơ. Sự ra đời của cây cày gỗ, rồi cày sắt cùng với việc sử dụng gia súc kéo (ngựa, trâu, bò …), cũng như sự phát triển các loại công cụ lao động khác (như liềm cắt lúa, gàu tát nước…) đã giúp giải phóng sức lao động con người đồng thời giúp tăng năng suất lao động, giúp đất được chuẩn bị tốt hơn. Các kinh nghiệm sản xuất được tích lũy đời này qua đời khác trong quá trình lao động và qua trao đổi, học tập lẫn nhau (như về cách xem thời tiết, thuỷ triều, cách chọn giống, chọn đất, cách bảo vệ chăm sóc cây trồng, vật nuôi, cách dẫn thuỷ nhập điền một cách chủ động, trao đổi các giống động thực vật…) góp phần làm tăng năng suất, sản lượng nông nghiệp. Thời kỳ này dần dần hình thành các trung tâm nông nghiệp lớn trên thế giới là nơi phát xuất các giống cây trồng vật nuôi sau này như: vùng Tây Á, Đông Nam Á, Châu Đại Dương, vùng Bắc và Nam Mỹ; nhưng nói chung, sản xuất tự cung tự cấp vẫn là chủ yếu. Thời kỳ này con người tác động vào thiên nhiên chủ yếu và phổ biến qua lao động sống, lao động cơ bắp giản đơn và sử dụng kinh nghiệm là chủ yếu. Vật tư kỹ thuật và công cụ lao động rất giản đơn, do vậy sản phẩm làm ra còn ít, chủ yếu là tự cung tự cấp. Cho nên con người phải sản xuất theo kiểu canh tác cộng đồng, sở hữu tư liệu sản xuất là công hữu . Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất (thông qua cải tiến công cụ lao động, tích lũy và phát triển kinh nghiệm lao động, kinh nghiệm sản xuất…). Chế độ tư hữu tư liệu sản xuất đã phát triển cùng với sự phát triển nông nghiệp. Sản phẩm nông nghiệp không những đủ cung cấp cho người sản xuất mà còn có dư thừa để có thể trở thành hàng hóa trao đổi (do người chủ nô lệ và địa chủ tiến hành trong thời kỳ của họ). Việc chọn giống động và thực vật cũng như thử nghiệm các biện pháp, kỹ thuật của họ được tiến hành theo nguyên tắc thử và sửa sai (trial and error). Tiếp sau đó có sự giao lưu trao đổi các giống cây con và kỹ thuật. Từ đó bắt đầu phát triển mạnh việc sản xuất hàng hóa. Từ thế kỷ XVII các phát minh, kiến thức về di truyền, giải phẫu học, lai tạo giống… làm cho sản xuất nông nghiệp mang tính khoa học hơn. Ở thế kỷ XVIII, con người đã phát minh ra máy hơi nước và tập trung vào cải tiến công cụ lao động, vật tư kỹ thuật nhờ vào công nghiệp cơ khí phát triển, sử dụng hóa chất và đầu tư năng lượng cao. Việc đổi mới công cụ lao động và tăng cường đầu tư vào nông nghiệp đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp và như thế nông nghiệp chuyển sang giai đoạn mới. Vào thời gian này áp lực dân số tăng nhanh chóng ở Châu Âu từ thế kỷ XVI I-XVIII dẫn đến sự di cư đến các vùng đất ” mới” và tốc độ tăng nhanh dân số ở các vùng Bắc và Nam Mỹ, Châu Úc, …. Từ giữa thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cùng với nhu cầu đáp ứng nguyên liệu cho các ngành công nghiệp cũng thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh ở các khu vực này. Giai đoạn này, đồng thời cũng là giai đoạn bắt đầu phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản. Việc khai phá các vùng đất mới, mà đi kèm với nó là chế độ thuộc địa đã làm cho bộ mặt nông nghiệp thế giới thay đổi nhanh chóng. Các nước tư bản ra sức xây dựng, phát triển các nước thuộc địa như là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm và nguyên liệu thô cho “mẫu quốc” qua việc xây dựng các đồn điền lớn, bóc lột nhân công bản xứ cho việc tập trung sản xuất các mặt hàng mà “mẫu quốc “ có yêu cầu (như trà đối với Ấn Độ và Sri Lanca; cao su đối với Mã Lai, Việt Nam; cà phê đối với Braxin, Columbia, Châu Phi; chuối dứa đối với các nước Trung Mỹ; mía đối với Cuba, Philippines. Điều này dẫn đến việc biến nền nông nghiệp trên thế giới thành dạng sản xuất hàng hóa thương mại. Trong đó mỗi vùng mỗi nước có thể tập trung sản xuất một số sản phẩm nông nghiệp nào đó và bị kiểm soát bởi các tập đoàn đa quốc gia. Từ khi phát triển các thuộc địa, việc phân công sản xuất các sản phẩm nông nghiệp dần mang tính quốc tế. Cày máy ra đời, giúp việc tăng năng suất làm đất và cũng từ đây bắt đầu xuất hiện các tiền đề cho cuộc cách mạng nông nghiệp. Cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu ở Anh và ở các nước ở châu Âu đã dần sớm công nghiệp hóa nền nông nghiệp ở các nước Âu, Mỹ. Cơ giới hóa, thuỷ lợi hóa, hóa học hóa điển hình là việc sử dụng phân hóa học (nhất là phân đạm) và các hóa chất bảo vệ thực vật từ đầu thế kỷ XX (bắt đầu việc sử dụng DDT trong nông nghiệp). Chọn giống hiện đại xuất phát từ việc tìm ra định luật di truyền của Mendel, điện khí hóa và sinh hóa học nông nghiệp. Nhờ các tiến bộ này mà sức mạnh của con người được nhân lên nhiều lần; năng suất lao động tăng lên rất nhanh. Vào cuối thập niên 40, các nghiên cứu đã dẫn tới sự phát triển rộng rãi các hóa chất nông nghiệp như thuốc diệt cỏ, thuốc diệt nấm và diệt côn trùng. Vào giữa thập niên 60 đến giữa thập niên 70, cuộc cách mạng xanh (Green revolution) được khởi xướng với mục tiêu là giải quyết vấn đề lương thực, đặc biệt là các nước đang phát triển, vì lý do dân số tăng nhanh sau thế chiến thứ II. Nó đã khởi đầu với việc phổ biến rộng rãi các giống năng suất cao (High yield varieties – HYV’S) thường là các giống mới hạt cốc, như lúa (IR8), bắp lai đơn, kép… các giống mới phát triển có xu hướng ngắn ngày (thí dụ như: lúa 100 – 110 ngày thay vì 150 – 160 ngày như các giống lúa mùa địa phương) thấp cây, lá thẳng đứng, hẹp, dày, có tỉ lệ bộ phận kinh tế thu hoạch cao. Do đó, cho phép tăng vụ, tăng mật độ cây (trồng dày) mà cây ít bị đổ ngã, đi kèm các yêu cầu tăng cường lượng phân bón hóa học tưới nước đầy đủ, đầu tư thuốc hóa học phòng trừ sâu bệnh để có năng suất cao. Sau đó là thời kỳ nghiên cứu và triển khai rộng rãi việc sử dụng các giống mới năng suất cao cả động vật và thực vật (bắp lai, lúa IR, gà công nghiệp, bò lai) cùng với đầu tư các biện pháp thuỷ lợi, tăng cường sử dụng phân bón hóa học, hóa chất trong nông nghiệp, thuốc kích thích thích sinh trưởng và tăng trọng. Các biện pháp kỹ thuật trọn gói (package technology) này đã cho phép tạo ra một bước nhảy vọt về năng suất cây trồng. Năng suất, sản lượng lương thực thực phẩm và diện tích canh tác đều không ngừng tăng lên, thoả mãn nhu cầu không ngừng tăng của dân số thế giới. Tuy nhiên, càng ngày con người cũng nhận thức được một số nguy cơ mang lại do các biện pháp kỹ thuật mới này. Do con người đã lạm dụng quá mức các nguồn năng lượng tự nhiên để làm vật tư sản xuất, mà chủ yếu là các nguồn năng lượng hóa thạch (dầu mỏ, khí đốt, than đá …) nên đã tác động vào tự nhiên một cách dữ dội và làm cho tự nhiên chịu nhiều tổn thất như gây ra hiệu ứng nhà kính, phá huỷ tầng ozone. Mặt khác, con người trong quá trình phát triển thiếu ý thức đã làm tổn hại và ô nhiễm môi trường sinh sống (tồn lưu độc phát phân bón, thuốc trừ sâu hóa chất trong đất và nguồn nước …) gây mất cân bằng sinh thái, phá vỡ sự đa dạng sinh học của tự nhiên, gây bộc phát các dịch hại trên cây trồng và vật nuôi. Độc canh một loại cây trồng nào đó cũng dẫn đến hậu quả tất yếu là năng suất cây trồng giậm chân tại chỗ nhưng yêu cầu đầu tư các mặt tăng lên dẫn đến năng suất thực tế giảm sút. Con người nhiều nơi không chỉ thiếu ăn, thiếu mặc mà còn thiếu cả môi trường trong lành. Những phản ảnh của tự nhiên buộc con người phải cân nhắc, thận trọng hơn trong các hoạt động cho sự ”phát triển” của mình đối với thiên nhiên. Làm mất sự đa dạng sinh học của giới tự nhiên do việc xây dựng các vùng chuyên canh, độc canh lớn nhằm sản xuất hàng hóa hoặc do việc tập trung chọn lọc vào các giống có năng suất cao – HYV, mà bỏ rơi làm mất đi nguồn gen qúy từ các giống có đặc tính quý như: chịu phèn, mặn, nước nổi… nhưng năng suất của những giống này chỉ ở mức trung bình thấp. Việc đốt phá rừng ồ ạt để canh tác cây lương thực và cây công nghiệp, dẫn đến xói mòn đất, thóai hóa và bạc màu đất, hậu quả là sự suy giảm tài nguyên đất, nước và sự sa mạc hóa. – Sự ô nhiễm nông sản ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và gây ra chết người do ngộ độc thực phẩm, rau, quả, thịt có các chất kích thích, kháng sinh quá liều, tồn dư kim loại nặng trong sản phẩm. Lạm dụng nông dược trong việc bảo vệ mùa màng, dẫn đến tiêu diệt các thiên địch (chim, côn trùng có ích, động vật hoang dã …) làm cho dịch hại bộc phát (chuột, rầy nâu …). Do những tác hại nghiêm trọng của nền nông nghiệp hiện đại. Cho nên từ những năm cuối thế kỷ XX người ta đã bắt đầu đề ra và xây dựng những cơ sở cho việc xây dựng một nền nông nghiệp bền vững phù hợp với các qui luật khách quan của tự nhiên. | Lịch sử nông nghiệp | Lịch sử nông nghiệp ghi lại quá trình thuần hóa các loại cây trồng và vật nuôi, phát triển và phổ biến các kỹ thuật chăn nuôi hiệu quả. Nông nghiệp bắt đầu xuất hiện một cách độc lập ở các khu vực khác nhau trên thế giới, và bao gồm một loạt các đơn vị phân loại. Ít nhất mười một khu vực riêng biệt của Cựu thế giới và Tân thế giới đã tham gia như những trung tâm nguồn gốc độc lập. Các loại cây lương thực hoang dã đã được thu thập và ăn từ ít nhất 105.000 năm trước. Tuy nhiên, quá trình thuần hóa chúng đã không xảy ra cho đến sau này. Bắt đầu từ khoảng năm 9500 TCN, tám cây trồng của người sáng lập thời đồ đá mới - lúa mì emmer, lúa mì einkorn, lúa mạch tách vỏ, đậu Hà Lan, đậu lăng, đậu tằm đắng, đậu gà và hạt lanh - được trồng ở Levant. Lúa mạch đen có thể đã được trồng sớm hơn, nhưng điều này vẫn còn gây tranh cãi. Lúa gạo được thuần hóa ở Trung Quốc vào năm 6200 TCN với cách trồng sớm nhất được biết đến từ năm 5700 TCN, tiếp theo là đậu xanh, đậu nành và đậu azuki. |
Nghiện tình dục hay hội chứng nghiện sex khá phổ biến trong cuộc sống, là vấn đề nghiêm trọng về hành vi, ảnh hưởng tới sức khoẻ, mối quan hệ xã hội nhưng ít người hiểu rõ về vấn đề này. Trong giới học thuật hiện nay, vẫn chưa có sự thống nhất trong tên gọi, chưa xác định chính xác phương thức, hành vi về vấn đề nghiện tình dục. Nghiện tình dục có biểu hiện nổi bật như khả năng chịu đựng giảm, khi bị tạm dừng, ngừng hẳn hành vi sẽ dẫn đến tâm trạng lo lắng, bất an. Đó phù hợp với đặc điểm của chứng “nghiện”. Điều này thực sự giống cái gọi là nghiện internet. Cùng với sự phát triển của thời đại, con người cũng phụ thuộc nhiều hơn vào internet, dẫn đến nghiện. Bên cạnh đó, còn có các hành vi nghiện khác như nghiện rượu, nghiện ma tuý. Cũng như các hành vi nghiện trên, nghiện tình dục sẽ ngày càng gia tăng về số lượng và cường độ. Bạn muốn kiểm soát hành vi tình dục của bản thân nhưng lại không thể kiểm soát được và tiếp tục thực hiện mặc dù biết hành vi đó sẽ gây hậu quả xấu. Điều này tương tự với một số người bị “ám ảnh” phải rửa tay nhiều lần, thực hiện một nghi lễ nào đó một cách rập khuôn, ngâm nga một bài hát liên tục hay ăn quá nhiều. Lý do sâu xa để giải thích cho hành vi này là để giảm bớt sự lo lắng, bất an của chính bản thân mình chứ không đơn giản là đạt được khoái cảm. Quan điểm này cho rằng sự xuất hiện của nghiện tình dục là sự thiếu kiểm soát hành động, cảm xúc chứ không phải là ham muốn quá độ. Điều này khác với quan điểm ở trên, cưỡng ép là để giải toả lo lắng còn kích động là để tìm kiếm khoái cảm. Mặc dù có nhiều quan điểm về vấn đề nghiện tình dục nhưng có một sự thống nhất rằng, nghiện tình dục là rối loạn tâm thần không có chất gây nghiện. Ham muốn và hành vi tình dục lặp đi lặp lại từ 6 tháng trở lên. - Tốn thời gian vào việc lên kế hoạch và thực hiện hành vi tình dục. - Thường xuyên ảo tưởng về hành vi và ham muốn tình dục dẫn đến tâm lý bất an (lo lắng, buồn chán, mệt mỏi, cáu kỉnh). - Luôn muốn khống chế sự ảo tượng, ham muốn và hành vi nhưng không thể kiểm soát được. - Thực hiện hành vi tình dục nhiều lần mà không để ý đến sức khoẻ thể chất và tinh thần của bản thân. Tăng tần suất và mức độ về ảo tưởng, ham muốn và hành vi tình dục. Ám ảnh, tăng tần suất và mức độ lo lắng về vấn đề quan hệ tình dục làm ảnh hưởng và mang lại nhiều phiền phức không nhỏ đến mọi mặt trong đời sống xã hội như hiệu quả, năng suất làm việc. Nghiện tình dục không phải do sử dụng các chất gây nghiện, chất kích thích như khi uống nhiều rượu gây nghiện rượu hay dùng ma tuý gây nghiện ma tuý. Các nhà khoa học đã có một số liệu pháp để chữa trị cho chứng nghiện tình dục này. Có thể kể đến như liệu pháp tâm lý giúp hiểu rõ nguyên nhân xảy ra sự việc, đồng thời khắc chế, quản lý và kiểm soát hành vi. Ngoài ra, thuốc cũng là một cách để giúp điều trị vấn đề rối loạn tâm thần về tình dục này như để giảm ham muốn tình dục có thuốc chống trầm cảm, thuốc giải tỏa áp lực, thuốc kích thích tiết serotonin hoặc progesterone hay thuốc đối kháng opioids (naloxone). | Nghiện tình dục | Nghiện tình dục hay, hội chứng nghiện tình dục, hội chứng nghiện sex chỉ hiện tượng cá nhân cho rằng mình không thể kiểm soát hành vi tình dục. Hiện tượng này cũng được gọi là phụ thuộc tình dục. Nhiều nhà tình dục học tranh cãi về sự tồn tại của hiện tượng này cũng như tên gọi, đặc tính của nó. Những giả thuyết về hiện tượng này có những mô tả khác nhau tùy vào mô hình mà chúng giả định. Nhiều bác sĩ chuyên khoa và nhà tư vấn đưa ra cách chữa trị nghiện tình dục. Ngoài ra, các nhóm tự giải quyết như các nhóm nặc danh nghiện tình dục như Sex Addicts Anonymous, Sexaholics Anonymous, Sexual Compulsives Anonymous và Sex and Love Addicts Anonymous. Đây là những nhóm lớn dựa trên hệ thống 12 bước của nặc danh nghiện rượu. Có nhiều diễn đàn hỗ trợ trực tuyến những nhóm này cũng như gặp gỡ ở thành thị. Những nhà tình dục học vẫn chưa đạt được sự đồng thuận về việc nghiện tình dục có thực tồn tại hay, nếu cho rằng nó tồn tại, làm cách nào để mô tả hiện tượng đó. |
Khoa học, văn hóa, giáo dục, tâm lý, thể thao và một lối sống lành mạnh. các Học thuyết Monroe đó là một tuyên bố về các nguyên tắc đã xác định mối quan hệ của Hoa Kỳ với Mỹ Latinh. Nó nhận được tên của nó từ Tổng thống James Monroe, người đã trình bày nó lần đầu tiên trong bài phát biểu trước Quốc hội, vào năm 1823. Trong bài phát biểu này, Monroe đã thúc đẩy ý tưởng rằng lục địa Mỹ nên độc lập với châu Âu. Do đó, ông tuyên bố ủng hộ các nước Mỹ Latinh, đảm bảo rằng mọi nỗ lực thực dân châu Âu sẽ được hiểu là một hành động thù địch chống lại Hoa Kỳ. Vào thời điểm đó, các quốc gia này đã giành được độc lập một vài năm trước đó và nền dân chủ của họ rất yếu. Đó là lý do tại sao chính phủ Bắc Mỹ sợ rằng các cường quốc châu Âu sẽ tìm cách giành lại quyền kiểm soát họ. Học thuyết Monroe đã được tóm tắt trong cụm từ "Nước Mỹ cho người Mỹ". Theo khái niệm này, Hoa Kỳ đảm nhận vị trí tích cực chống lại mọi can thiệp từ bên ngoài vào một quốc gia Mỹ. Trong những năm đầu tiên, bài phát biểu của Monroe không được coi là một học thuyết vì Hoa Kỳ không có khả năng thực hiện nó. Quốc gia Bắc Mỹ này không phải là một cường quốc và vũ khí của nó bị hạn chế, vì lý do đó không thể bảo vệ được sự độc lập của các quốc gia khác. Ví dụ, vào năm 1833, sự chiếm đóng của Anh tại Quần đảo Malvinas đã diễn ra ở Argentina mà không có Hoa Kỳ đưa ra bất kỳ sự kháng cự nào. Đã 10 năm kể từ khi tuyên bố của Monroe và đất nước này vẫn chưa thể đưa nó vào thực tế. Sau đó, vào năm 1845, khi Tổng thống James Polk nối lại bài phát biểu của Monroe và bắt đầu biến nó thành một học thuyết về ứng dụng thực sự. Chính trong chính phủ của ông, việc sáp nhập Texas đã được ký kết và một nỗ lực đã được thực hiện để mua hòn đảo Cuba cho vương miện Tây Ban Nha. Từ khi Polk đưa ra một cuộc sống mới cho Học thuyết Monroe, nó ngày càng được áp dụng. Tuy nhiên, nó đã có những thay đổi: một số tổng thống đã bổ sung các nguyên tắc mới có ý nghĩa quyết định đối với lịch sử của khu vực. Một trong những thay đổi này là Hệ thống Roosevelt, một đóng góp mà Tổng thống Theodore Roosevelt sẽ thực hiện vào đầu thế kỷ 20. Hệ thống Roosevelt tuyên bố rằng lý do duy nhất để can thiệp không phải là thuộc địa của châu Âu. Theo tổng thống này, Hoa Kỳ cũng có thể can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia khi nước này không tận dụng tốt chúng. Rõ ràng, ý tưởng về "quản lý nội bộ sai lầm" của Roosevelt đề cập đến các quyết định không phù hợp với chính sách của Hoa Kỳ. Vì lý do này, các can thiệp khác nhau đã xảy ra kể từ đó đã nhận được nhiều lời chỉ trích. Các nguyên tắc chính trị được tuyên bố trong Học thuyết Monroe đã được áp dụng vào các can thiệp quân sự khác nhau diễn ra trong thế kỷ 19 và 20. Một số trong số họ là:. Sự sáp nhập của Texas vào năm 1845. Hoa Kỳ ủng hộ độc lập và sau đó tiến hành chiến tranh với Mexico. Nhờ cuộc đối đầu này, ông đã chiếm được nhiều lãnh thổ hơn, bao gồm Arizona, New Mexico, California, Nevada, Utah và một phần của bang Utah. Hoa Kỳ đã giúp cuộc đấu tranh giành độc lập chống lại Tây Ban Nha và sau đó duy trì sự kiểm soát lớn đối với đất nước này. Sự chiếm đóng đầu tiên của Cộng hòa Dominican từ năm 1916 đến 1924. Tranh cãi về sự bất ổn chính trị ở đất nước này, Hoa Kỳ nắm quyền kiểm soát thông qua một chính phủ quân sự. Sự chia tách Panama năm 1903. Từ đó trở đi sẽ là một nước cộng hòa độc lập nhưng duy trì sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ cho đến năm 1999. Năm 1934, Tổng thống Franklin Roosevelt đã thiết lập chính sách Láng giềng tốt và chấm dứt Học thuyết Monroe. Theo tuyên ngôn mới này, không quốc gia nào có quyền can thiệp vào quyết định của người khác. Tuy nhiên, vào năm 1945, có hai sự thật góp phần làm suy giảm và biến mất chính sách này. Đầu tiên trong số này là cái chết của Tổng thống Roosevelt, người trong cuộc đời sẽ là người bảo vệ quyền tự quyết của các dân tộc. Nhưng thêm vào đó, năm đó đánh dấu sự kết thúc của Thế chiến II và khởi đầu Chiến tranh Lạnh. Những sự thật này đánh dấu một thực tế thế giới mới sẽ thúc đẩy sự phục hưng mới của Học thuyết Monroe. Năm 1962, Tổng thống John F. Kennedy tuyên bố rằng phong tỏa kinh tế Cuba là một cách để tránh sự can thiệp của các cường quốc nước ngoài trong khu vực. Trong trường hợp này, việc áp dụng Học thuyết Monroe là nhằm bảo vệ phần còn lại của lục địa khỏi "mối đe dọa cộng sản". Theo nguyên tắc tương tự, chính phủ Hoa Kỳ đã can thiệp vào các nước Mỹ Latinh khác có vẻ liên quan đến chủ nghĩa cộng sản. Đây là trường hợp của chính quyền Sandinista ở Nicaragua, cuộc nội chiến ở El Salvador, sự can thiệp vào Guatemala dưới chính phủ của Tổng thống Reagan và sự chiếm đóng thứ hai của Cộng hòa Dominican dưới thời chính phủ của Tổng thống Johnson. Học thuyết Monroe đã nhận được sự chỉ trích mạnh mẽ từ khắp châu Mỹ Latinh. Những câu hỏi này tố cáo sự can thiệp của nước ngoài vào vận mệnh của các quốc gia, nhưng đặc biệt là sự tàn phá do bản chất bạo lực của họ gây ra. Tuy nhiên, các quốc gia bị ảnh hưởng không phải là những người duy nhất phản đối: các nhà tư tưởng Mỹ như Noam Chomsky cũng đã đưa ra những bất đồng nghiêm trọng. Theo Chomsky, Học thuyết Monroe thực sự là một tuyên bố về sức mạnh của Hoa Kỳ đối với phần còn lại của các quốc gia trong lục địa. Theo ông, đó là một lời biện minh cho các hành động như sáp nhập Texas, độc lập của Panama và các can thiệp khác vào các quốc gia trong khu vực. Các nhà phê bình của học thuyết cũng quan sát thấy một số sự mơ hồ trong ứng dụng của nó. Theo những quan sát này, Hoa Kỳ chỉ can thiệp vào các tình huống phù hợp với lợi ích của mình. Trong các trường hợp khác, như Chiến tranh Falklands, nó đã quay lưng lại với các nước Mỹ Latinh. Nhân dịp đó, Tổng thống Reagan bày tỏ sự ủng hộ đối với chính phủ của Margaret Tatcher thông qua bộ trưởng ngoại giao của bà. Đó là lý do tại sao trong nhiều trường hợp, người ta đã khẳng định rằng khái niệm "Nước Mỹ cho người Mỹ", thực sự có nghĩa là "toàn bộ lục địa cho người Mỹ". Bách khoa toàn thư U * X * L của Hoa Kỳ Lịch sử (2009). Phục hồi từ bách khoa toàn thư.com. | Học thuyết Monroe | Học thuyết Monroe là một chính sách của Hoa Kỳ được trình bày vào ngày 2, tháng 12 năm 1823 bởi tổng thống Mỹ James Monroe trước quốc hội. Theo đó những nỗ lực trong tương lai của các nước Âu châu để lập thuộc địa hay can thiệp vào nội bộ của các nước ở Bắc hay Nam Mỹ sẽ bị xem là những hành động xâm lược, và như vậy đòi hỏi sự can thiệp của nước Hoa kỳ. Học thuyết này cũng chú giải là Hoa kỳ không những sẽ không can thiệp vào những thuộc địa hiện thời của các nước Âu châu mà cũng sẽ không xía vào nội bộ các nước Âu châu. Học thuyết này được đưa ra vào lúc hầu hết các thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha tại châu Mỹ Latin đã giành được độc lập ngoại trừ Cuba và Puerto Rico. Hoa kỳ, với sự đồng ý của Vương quốc Anh, muốn bảo đảm là sẽ không có cường quốc Âu châu nào can thiệp vào các vấn đề Mỹ châu. Dự định và tác động của học thuyết này kéo dài hơn 100 năm với vài sự thay đổi nhỏ. |
Tiếng việt lớp 3 cóc kiện trời là bài học hay cho con biết lòng dũng cảm, dám đấu tranh vì chính nghĩa của cóc và các loài vật. Vuihoc.vn sẽ hướng dẫn con trả lời các câu hỏi của tiếng việt lớp 3 cóc kiện trời, các con cùng tham khảo và học tập nhé. Ngày xưa, có một năm nắng hạn rất lâu, ruộng đồng nứt nẻ, cây cỏ trụi trơ, chim muông khát khô cả họng. Cóc thấy nguy quá, bèn lên thiên đình kiện Trời. Dọc đường, gặp Cua, Gấu, Cọp, Ong và Cáo. Tất cả đều xin đi theo. - Anh Cua bò vào chum nước này. Cô Ong đợi sau cánh cửa. Còn chị Cáo, anh Gấu, anh Cọp thì nấp ở hai bên. Sắp đặt xong, Cóc một mình bước tới, lấy dùi đánh ba hồi trống. Thấy chú Cóc bé tẹo dám náo động thiên đình, Trời nổi giận, sai Gà ra trị tội. Gà vừa bay đến, Cóc ra hiệu, Cáo nhảy xổ tới, cắn cổ Gà tha đi. Trời sai Chó ra bắt Cáo, Chó mới ra tới cửa, Gấu đã quật Chó chết tươi. Trời càng tức, sai thần Sét ra trị Gấu. Thần Sét cầm lưỡi tầm sét hùng hổ đi ra, chưa kịp nhìn địch thủ, đã bị Ong ở sau cửa bay ra đốt túi bụi. Thần nhảy vào chum nước, lập tức Cua giơ càng ra kẹp. Thần đau quá, nhảy ra thì bị Cọp vồ. - Muôn tâu Thượng đế! Đã lâu lắm rồi, trần gian không hề được một giọt mưa. Thượng đế cần làm mưa ngay để cứu muôn loài. Vì trời đã hạn hán rất lâu, ruộng đồng nứt nẻ, cây cỏ trơ trụi, muôn loài chim muông khát khô, muôn loài đều khổ. Thầy cóc đánh trống náo loạn thiên đình. Trời nổi giận sai Gà ra trị tội những người kêu oan, nhưng Gà vừa ra thì bị Cáo vồ luôn. Trời lại sai Chó ra bắt Cáo thì chó bị Gấu quật chết tươi. Chưa dừng lại Trời sai Thần Sét ra trị tội Gấu. Thần Sét bị Ong chích phải nhảy vào chum nước và bị Cua kẹp. Đau quá Thần Sét vội nhảy ra khỏi chum thì bị Cọp vồ. Cóc đã hoàn toàn làm chủ trận đánh và giành chiến thắng nhờ sự thông minh bài trí nhân sự. Sau khi ông Trời thất bại đã mời Cóc vào chầu sau đó an ủi rằng: “Thôi, cậu cứ về đi. Ta sẽ cho mưa xuống”. Giữ đúng lời hứa trời cho mưa xuống cứu sống muôn loài. Và kể từ đó ông Trời cho phép Cóc nghiến răng để báo hiệu xin mưa. Cóc biết quan tâm tới muôn loài, rất dũng cảm đứng lên đấu tranh, có sự thông minh biết tập hợp sức mạnh của các loài. Chủ động trong mọi tình huống để giành thắng lợi. Lẽ phải luôn chiến thắng, chúng ta cần phải biết đấu tranh để giành quyền lợi xứng đáng cho mình. Bài đọc cóc kiện trời là bài học rất hay và ý nghĩa ca ngợi sự thông minh, nhanh trí của Cóc. Tuy nhỏ bé nhưng có đã dũng cảm đứng lên đấu tranh, biết tập hợp và sử dụng đúng những tốt chất tốt của những đồng minh. Chum: Đồ gốm loại lớn, miện tròn, giữa phình ra, thót dần về phía đáy, dùng để chứa đựng. Học tốt tiếng việt lớp 3 cóc kiện trời giúp em có được bài học về sự dũng cảm, tự tin dám đấu tranh vì lẽ phải. Con có thể tham gia thêm khóa học tiếng việt online tại vuihoc.vn để học tốt hơn nhé. Gồm 171 clip bài giảng Tiếng Việt lớp 3 sinh động bám sát chương trình SGK. Rèn luyện cho con khả năng nghe, đọc hiểu và diễn đạt bằng lời các bài học Tiếng Việt 3 | Cóc kiện trời | Cóc kiện trời là một câu chuyện cổ tích Việt Nam. Chuyện giải thích một hiện tượng thiên nhiên là sau khi cóc nghiến răng thì trời mưa. Truyện đề cao sự đoàn kết, chính nghĩa. Truyện cũng khuyên người ta nên bảo vệ cóc là loài động vật tuy xấu xí nhưng có ích. Con cóc là cậu ông trời,Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho. Khởi đầu chỉ có một mình nhưng cóc không nản. Ði qua một vũng đầm khô, Cóc tía gặp Cua càng. Cóc bèn kể rõ sự tình, và rủ Cua cùng đi kiện Trời. Ban đầu Cua định bàn ngang. Thà chết ở đây còn hơn chứ,Trời xa thế đi sao kiện với tụng. Nhờ Cóc nài nỉ một hồi Cua tình nguyện cùng đi với Cóc. Ði được một đoạn nữa, Cóc lại gặp Cọp đang nằm phơi bụng thở thoi thóp. Gấu đang chảy mỡ ròng ròng và khát cháy họng. Cóc rủ Gấu và Cọp đi kiện trời. - Anh Cóc nói có lý, chẳng lẽ chúng mình cứ nằm ở đây đợi chết khát cả ư. Ðến ngang như anh Cua còn theo anh Cóc được thì tại sao chúng mình không theo. |
Không thuộc thể loại kinh dị như nhiều người lầm tưởng, tác phẩm mới của điện ảnh Thái Lan lôi cuốn người xem nhờ nhiều bài học cảm động về cuộc sống. Ở độ tuổi vị thành niên, các bạn trẻ thường chưa chín chắn về tâm lý, và rất dễ đưa ra quyết định sai lầm liên quan đến mạng sống của bản thân. Các tác phẩm nghệ thuật nếu có mô tả vấn đề kể trên hầu hết đều mang góc nhìn tiêu cực, u ám. Công chúng hẳn còn nhớ loạt phim truyền hình 13 Reasons Why của kênh Netflix từng “gây bão”, trong đó cô gái nhân vật chính sau khi tự sát đã để lại 13 cuộn băng nhằm “kể tội” từng người đã góp phần đẩy cô đến quyết định bi thương. Song, Homestay (tựa Việt: Linh hồn tạm trú) - tác phẩm điện ảnh Thái Lan được thực hiện dựa trên cuốn tiểu thuyết Colorful của nhà văn Nhật Bản Eto Mori - lại có cách tiếp cận vấn đề khác hẳn khi mở ra góc nhìn tích cực và đầy hy vọng cho những người không may gặp khó khăn trong cuộc sống. Mọi chuyện bắt đầu khi cậu nam sinh Min (Teeradon Supapunpinyo) thức tỉnh sau vụ tự sát thập tử nhất sinh. Tuy nhiên, bên trong thân xác Min lúc này lại là một linh hồn xa lạ, kẻ được vệ thần ra điều kiện rằng: trong vòng 100 ngày phải tìm ra lý do khiến Min tự sát, bằng không gã sẽ phải chết thêm lần nữa và không bao giờ có cơ hội đầu thai. Ban đầu, linh hồn mắc kẹt trải nghiệm cuộc sống của một cậu học sinh bình thường với cha mẹ yêu thương, bạn bè thân thiện, và cả cô bạn gái đáng yêu. Những tưởng không có lý do gì khiến Min chọn từ bỏ thế giới tốt đẹp ấy, song, càng về cuối, sự thật đằng sau càng bị phơi bày. Hoá ra lúc sinh thời, Min là kẻ lập dị không có bạn bè. Cô bạn gái của cậu đã dùng thân xác để đổi lấy thành công, cha Min là người đàn ông vô dụng, còn mẹ cậu thì đã rời xa gia đình từ rất lâu. Tuy nhiên, liệu đó có phải là những lý do đẩy Min đến bước đường cùng?. Được chuyển thể từ một tác phẩm văn học rất thành công, Homestay buộc phải lựa chọn lối đi riêng để tạo ra sự khác biệt, tránh gây nhàm chán cho khán giả. May mắn thay, đứng sau bộ phim là những tên tuổi “sừng sỏ” của điện ảnh Thái Lan. Đầu tiên là đạo diễn danh tiếng Parkpoom Wongpoom - người đã tạo nên kỳ tích Shutter (2004) - trực tiếp cầm trịch dự án. Cuối cùng, “nam thần” thế hệ mới Teeradon Supapunpinyo của loạt Hormones và Bad Genius được chọn mặt gửi vàng cho vai chính Min. Với bộ sậu ấy, người Thái hoàn toàn tự tin họ có thể mang đến màu sắc mới cho Colorful, khiến tác phẩm thêm một lần nữa “sống dậy” trong lòng khán giả. Phiên bản phim Thái Lan thực tế đã có một số chỉnh sửa so với bản gốc để phù hợp hơn với bối cảnh Đông Nam Á. Mở đầu phim là một trường đoạn “kinh dị” và gay cấn, khi Min tỉnh dậy và bị rơi khỏi toà nhà cao tầng. Tuy nhiên, nhiều tình tiết khó tin sau đó liên tục xuất hiện, giúp khán giả thêm thấm thía về cuộc sống của cậu học sinh. Sẽ có rất nhiều người trẻ thấy đồng cảm với Min bởi những khó khăn cậu gặp phải là rất phổ biến trong xã hội hiện đại: sự xa cách giữa các thành viên trong gia đình, bị cô lập ở trường học và lạc lõng, mất niềm tin ở chính mình…. Tuy nhiên, thông điệp cuối cùng của Homestay chính là lời động viên chí tình cho những người đang vấp phải khó khăn đến mức từng có, hoặc đang có, ý định bỏ cuộc. Có lẽ chính sự mất kết nối giữa người với người, cũng như tâm lý yếu đuối, tiêu cực của mỗi cá nhân, đã đẩy chúng ta lạc ra khỏi quỹ đạo của xã hội thông thường. Nhưng nếu mở lòng ra một chút, biết đâu mỗi người lại tìm thấy ít nhất một lý do để tiếp tục tồn tại trên cõi đời này?. Với diễn xuất tự nhiên của dàn diễn viên trẻ, cùng với âm nhạc, cảnh quay bắt mắt không thua kém gì phim Hàn, và đặc biệt là phần kỹ xảo nuột nà được ngợi khen “sánh tầm Hollywood”, Homestay đã không làm người hâm mộ thất vọng. Đây thực sự là một tác phẩm có tính nhân văn rất cao mà bất kỳ ai - đặc biệt là các khán giả trẻ - nên thưởng thức để tìm cho mình những bài học riêng. | Linh hồn tạm trú | Linh hồn tạm trú (tên gốc tiếng Thái: โฮมสเตย์, còn được biết đến với tên tiếng Anh: Homestay) là một bộ phim kinh dị bộ phim điện ảnh Thái Lan năm 2018 được sản xuất bởi Jor Kwang Films và được phân phối bởi GDH 559. Đồng sáng tác và đạo diễn bởi Parkpoom Wongpoom, bộ phim dựa trên cuốn tiểu thuyết Nhật Bản Colorful của Eto Mori. Phim nói về quá trình vén màn bí mật sau cái chết của cậu nam sinh Min, còn là hành trình linh hồn tạm trú nếm trải những dư vị, sắc màu khác nhau của cuộc sống mới, ngắn ngủi nhưng vô cùng ý nghĩa. Phim ra rạp tại Thái vào ngày 25 tháng 10 năm 2018. Mọi chuyện bắt đầu khi cậu nam sinh Min (Teeradon Supapunpinyo) thức tỉnh sau vụ tự sát thập tử nhất sinh. Tuy nhiên, bên trong thân xác Min lúc này lại là một linh hồn xa lạ, kẻ được vệ thần ra điều kiện rằng: trong vòng 100 ngày phải tìm ra lý do khiến Min tự sát, bằng không gã sẽ phải chết thêm lần nữa và không bao giờ có cơ hội đầu thai. |
Ngôn ngữ máy là một tập các chỉ thị được CPU trực tiếp, thực thi từng chức năng xác định. Ví dụ như tải dữ liệu, nhảy hay tính toán số nguyên trên một đơn vị dữ liệu của bộ nhớ. Tất cả các chương trình được thực thi trực tiếp bởi CPU, đều là các chuỗi các chỉ thị này. Mỗi chương trình viết bằng ngôn ngữ khác muốn thực hiện trên máy tính đều phải được dịch ra nó bằng một chương trình dịch. Những lệnh viết là các dãy bit hoặc biến thể của chúng theo cơ số 16. Một số ngôn ngữ máy tính thông dụng như Cobol, Algol, C, C++, Java. Đối với những người học lập trình, tự động hóa. sẽ thường xuyên sử dụng nó để hoàn thành công việc của mình. Mỗi loại máy tính đều có ngôn ngữ máy riêng của nó. Là cách thức duy nhất mà máy có thể trực tiếp hiểu, thực hiện. Các lệnh viết bằng ngôn ngữ máy ở dạng mã nhị phân hoặc mã hexa. Có khả năng khai thác triệt để tính năng phần cứng, trực tiếp hiểu và không cần phần mềm biên dịch. Cho phép người lập trình sử dụng một số từ để thể hiện các lệnh cần thực hiện. Nó khai thác triệt để kỹ năng phần cứng, nhưng chưa thích hợp với số đông lập trình viên. Những câu lệnh được viết tắt với ngón ngữ tự nhiên hơn, có tính độc lập cao, ít phụ thuộc vào các loại máy. Cụ thể, một chương trình dịch để dịch những chương trình viết bằng ngôn ngữ nà sang ngôn ngữ.máy. Các ngôn ngữ bậc cao đó là Fortran, Cobol, Algol, Basi Pascal, C, C++, Java… Nó dễ hiểu, chỉnh sửa và độc lập cao. Đây là châm ngôn tôi yêu thích nhất, để từng ngày nỗ lực theo đuổi ngành công nghệ thông tin. Quá lười để vào Tự Học Lập Trình mỗi ngày? Không sao hết, chúng tôi sẽ gửi bài cho bạn hàng tuần. Tự học lập trình là một trong những kỹ năng cần thiết nhất đối với lập trình viên để có thể bắt kịp sự thay đổi liên tục trong lĩnh vực công nghệ. | Ngôn ngữ máy tính | Trong khoa học máy tính, ngôn ngữ máy tính là hệ thống giao tiếp với máy tính. Các ngôn ngữ như vậy được sử dụng để tạo mã máy tính hoặc mã chương trình, tập hợp các hướng dẫn tạo thành một chương trình máy tính được thực hiện bởi máy tính. Ngôn ngữ máy tính là một trong hai thành phần của phần mềm chạy trên phần cứng máy tính, phần còn lại là dữ liệu. Máy tính chỉ có thể thực thi các lệnh mã máy là một phần của kiến trúc tập lệnh. Bởi vì những hướng dẫn này rất khó để con người đọc và viết các chương trình phức tạp bằng mã máy hoặc các ngôn ngữ lập trình cấp thấp khác là một công việc tốn thời gian, hầu hết các lập trình viên viết mã nguồn của họ bằng ngôn ngữ lập trình bậc cao. Mã nguồn này được dịch sang mã máy bởi trình biên dịch hoặc trình thông dịch, để máy tính có thể thực thi nó để thực hiện các tác vụ của nó. Trình biên dịch tạo mã đối tượng thường bằng ngôn ngữ máy, nhưng cũng có thể ở ngôn ngữ trung gian ở mức thấp hơn nguồn. |
Những thông tin đó cuối cùng sẽ được lưu trữ trong máy tính hoặc máy chủ dịch vụ. Thật không thể tượng tưởng được điều gì sẽ xảy ra nếu số dữ liệu cá nhân này bị kẻ xấu đánh cắp. Từ đó có thể thấy, việc bảo vệ dữ liệu cá nhân là điều cực kỳ quan trọng!. Trong thời đại kỹ thuật số – nơi mọi thứ đều được kết nối và có thể được truy cập, sử dụng dễ dàng – khả năng thông tin cá nhân bị rò rỉ là rất cao. Vì vậy, việc bảo mật thông tin là rất cần thiết. Chúng ta có thể mô tả khái niệm này như sau:. Bảo mật dữ liệu hay bảo mật thông tin là việc tiến hành các biện pháp bảo vệ nhằm đảm bảo không có thông tin cá nhân nào do một tổ chức thu thập bị bên thứ ba truy cập và sử dụng. Đây là một phần của CNTT giúp các cá nhân, tổ chức xác định xem thông tin nào trong hệ thống có thể được chia sẻ và cái nào thì không. Bất cứ dữ liệu cá nhân nhạy cảm hoặc dữ liệu nào có thể bị lợi dụng để gây hại đến người dùng đều cần được bảo mật. Có thể kể đến:. Bảo mật trực tuyến: Loại bảo mật này nhắm đến tất cả dữ liệu cá nhân mà bạn cung cấp trên các trang web trực tuyến. Hầu như mọi trang web đều có chính sách bảo mật về việc sử dụng dữ liệu do họ tự thu thập hoặc do người dùng chia sẻ. Bảo mật tài chính: Mọi thông tin tài chính bạn chia sẻ trực tuyến hay ngoại tuyến đều phải được bảo mật chặt chẽ vì chúng luôn là mục tiêu của các đối tượng lừa đảo. Bảo mật y tế: Tất cả thông tin về sức khoẻ và lịch sử điều trị đều là dữ liệu nhạy cảm không thể tiết lộ cho bên thứ ba. Hiện đã có những luật nghiêm ngặt về việc chia sẻ hồ sơ y tế. Quyền riêng tư chính trị: Điều này đang trở thành mối quan tâm hàng đầu hiện nay. Sở thích chính trị cũng nên được xem là một loại dữ liệu riêng tư. Bảo mật dữ liệu cá nhân không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Hầu hết các tổ chức đều gặp vấn đề trong việc cung cấp dịch vụ này. Với khối lượng dữ liệu tăng theo ngày nhiều như hiện nay, mọi tổ chức đều chạy đua để tạo ra các “tấm chắn” theo hệ thống thời gian thực và các chính sách bảo mật để bảo vệ tuyệt đối hệ thống dữ liệu. Khó khăn trong việc sàng lọc và xem xét dữ liệu từ một vị trí trung tâm với các công cụ lỗi thời và cơ sở dữ liệu cồng kềnh. Bảo mật dữ liệu cá nhân là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng đối với bất kỳ cá nhân, tổ chức nào. Việc dữ dữ liệu bị đánh cắp có thể gây ra những tổn thất tài chính nghiêm trọng. Vì vậy, tổ chức cần triển khai tốt bảo mật dữ liệu để:. Luật bảo mật dữ liệu cá nhân ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia là khác nhau tuỳ theo hệ thống pháp luật của nước sở tại. Tuy nhiên, vẫn có một điểm chung giữa tất cả, đó là: dữ liệu cá nhân chỉ được chia sẻ và dùng cho mục đích đã thông báo cho người dùng từ khi bắt đầu tiến hành thu thập. | Bảo vệ dữ liệu cá nhân | Bảo vệ dữ liệu cá nhân khởi đầu dùng để chỉ việc bảo vệ dữ liệu có liên quan đến cá nhân trước sự lạm dụng. Trong vùng nói tiếng Anh người ta gọi đó là privacy hay data privacy. Trong vùng theo luật lệ châu Âu khái niệm data protection được dùng trong luật lệ. Ngày nay mục đích của việc bảo vệ dữ liệu được xem là để bảo vệ từng cá nhân không bị thiệt thòi trong quyền tự quyết định về thông tin của chính mình thông qua việc sử dụng dữ liệu liên quan đến cá nhân của họ. Bảo vệ dữ liệu cá nhân ủng hộ ý tưởng là về nguyên tắc mỗi người đều có thể tự quyết định là người nào, khi nào và dữ liệu cá nhân nào của mình được phép cho người khác xem. Bảo vệ dữ liệu cá nhân muốn ngăn ngừa cái gọi là "con người bằng kính". Tầm quan trọng của việc bảo vệ dữ liệu cá nhân đã tăng liên tục từ lúc phát triển kỹ thuật số vì thu thập, lưu trữ, giao chuyển và phân tích dữ liệu ngày càng đơn giản đi. Các phát triển kỹ thuật như Internet, thư điện tử, điện thoại di động, giám sát bằng video và các phương pháp thanh toán điện tử tạo nên những khả năng mới để thu thập dữ liệu. |
(LLCT) - Quyền lực không phải là một vấn đề mới trong đời sống chính trị - xã hội. Cách thức sử dụng quyền lực trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử đánh dấu những đặc điểm xã hội và trình độ nhận thức khác nhau của từng thời kỳ. Ngày nay, người ta nói nhiều đến dân chủ và đi cùng với nó là những cách thức sử dụng quyền lực mới. Nhiều lý thuyết quyền lực ra đời, trong đó có lý thuyết về quyền lực mềm. Từ những năm 90 thế kỷ XX, lý thuyết này đã tìm được chỗ đứng trong quan hệ quốc tế và ngày càng thể hiện được sức lan toả của mình. Trong đời sống chính trị - xã hội, các quyền cũng như các cá nhân con người không tồn tại và vận động một cách cô lập. Quyền không phải là sở hữu riêng của cá nhân mà nó chỉ tồn tại khi được thừa nhận bởi các thành viên khác của xã hội. Các định nghĩa về quyền lực đều thống nhất rằng quyền lực hàm chứa năng lực của một chủ thể nhằm thay đổi hành vi của các chủ thể khác trong quan hệ quyền lực. Trong quan hệ quyền lực, có ba cách cơ bản để tác động tới hành vi của người khác để có được kết quả một chủ thể mong muốn: đó là ép buộc họ bằng sự đe dọa (bạo lực.), dụ dỗ họ bằng lợi ích (vật chất, danh vọng,.), thu hút, hấp dẫn họ (bằng sức hấp dẫn, các giá trị, tư tưởng,.). Hai cách trước thường được biết đến như dùng quyền lực cứng, cách thứ ba là cách dùng quyền lực mềm. Quyền lực cứng (hard power) là quyền lực có được dựa trên sức mạnh quân sự và kinh tế. Thomas Schelling đã chỉ ra hai nguồn chính của quyền lực cứng là sự đe dọa và dụ dỗ, và hai nguồn này có liên hệ rất gần gũi với nhau. Quyền lực mềm (soft power) là quyền lực được thực hiện thông qua sự hấp dẫn (attraction) và thuyết phục (persuation). Những tư tưởng cơ bản của "Quyền lực mềm" - coi sự hấp dẫn là một loại quyền lực -xuất hiện trong tư tưởng kinh tế - chính trị phương Đông cổ đại (năm 630 trước công nguyên, Lão Tử đã nói: “Một nhà lãnh đạo tốt nhất khi mọi người biết rõ ràng rằng anh ta tồn tại, không tốt lắm khi mọi người vâng lời và tôn anh ta lên, và tồi tệ nhất khi họ khinh miệt anh ta”). Nhưng quyền lực mềm chỉ thực sự phát triển thành một lý thuyết hiện đại vào cuối thế kỷ XX với những nghiên cứu của Joseph Nye và Lukes. Khái niệm này, sau đó, được Joseph Nye nghiên cứu và phát triển thành một học thuyết. Joseph Nye (nguyên là hiệu trưởng Trường Hành chính John F. Kennedy thuộc Đại học Havard. Ông từng là trợ lý của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Chủ tịch Ủy ban tình báo quốc gia, là cha đẻ của thuyết quyền lực mềm), ông cho rằng quyền lực mềm là khả năng đoạt lấy thứ mình muốn thông qua sự hấp dẫn thay vì ép buộc. Quan niệm về quyền lực mềm của phương Tây rất gần gũi với quan điểm đức trị của phương Đông: “dĩ đức phục nhân” (lấy nhân đức để thu phục người), hay là “Trị dân mà dùng đức thì như sao Bắc Đẩu, ở một nơi mà các ngôi sao khác hướng về cả”.Về bản chất, quyền lực mềm là khả năng tạo ra ảnh hưởng với người khác bằng cách tác động tới hệ thống giá trị của người khác, làm thay đổi cách suy nghĩ của người khác, và qua đó khiến người khác mong muốn chính điều mà mình mong muốn. Quyền lực cứng và quyền lực mềm có liên hệ với nhau. Chúng là hai khía cạnh thể hiện khả năng giành được mục tiêu của một người bằng việc tác động lên hành vi của những người khác. Quyền lực cứng rất quan trọng nhưng nó không thể giải quyết được mọi vấn đề. Quyền lực cứng là sự tác động từ bên ngoài đến các đối tượng của quyền lực, vì vậy chi phí để sử dụng và duy trì quyền lực cứng thường cao và tiềm ẩn nguy cơ chống đối. Quyền lực chỉ thực sự hiệu quả khi nó có được tính chính đáng. Quyền lực mềm nằm ở lẽ phải và sự thuyết phục, nó tác động đến các đối tượng của quyền lực, làm cho sự thay đổi nhận thức và hành vi diễn ra từ bên trong. Sự thuyết phục để tạo ra lòng tin, sự tin tưởng, được coi là tạo nên tính chính đáng. Vì vậy, quyền lực cứng và quyền lực mềm có tác động và có khả năng củng cố lẫn nhau. Quyền lực cứng là “hậu phương”, là một trong những cơ sở để phát huy quyền lực mềm. Quyền lực mềm hấp dẫn khi chúng bắt nguồn từ thành công về vật chất, những thứ do quyền lực cứng mang lại. Các loại quyền lực, tự nó, không thể được đánh giá là tốt hay không tốt hoặc loại nào tốt hơn, mà hiệu quả sử dụng quyền lực là do các chủ thể mang lại. Quyền lực mềm là sự bồi đắp cho những khiếm khuyết của quyền lực cứng chứ không phải là sự phản chiếu hay mặt đối lập của quyền lực cứng. Trong nhiều trường hợp, chỉ sử dụng quyền lực mềm là không đủ mà cần phải có sự kết hợp giữa quyền lực mềm và quyền lực cứng. Nói cách khác, quyền lực mềm là khả năng tự nâng cao tố chất để hấp dẫn và thuyết phục người khác, từ đó đạt được điều mình cần. Do đó, tính hiệu lực của quyền lực mềm không thể được đo lường chính xác. Trong rất nhiều trường hợp, quyền lực cứng không được trực tiếp sử dụng, nhưng nó là hậu phương để quyền lực mềm được thực thi hoặc làm tăng sức thuyết phục và hiệu quả của quyền lực mềm. Các nhà lãnh đạo hay thậm chí các cá nhân cũng đều sử dụng cả hai loại quyền lực này tuỳ theo thời điểm và hoàn cảnh. Khả năng kết hợp giữa “quyền lực mềm” và “quyền lực cứng” được gọi là “quyền lực thông minh” (smart power), một hình thức sử dụng quyền lực quan trọng ngày càng có ý nghĩa và ảnh hưởng trong thế giới hiện đại. Mặc dù quyền lực mềm ban đầu được nói tới trong quan hệ giữa các quốc gia, nhưng chủ thể của quyền lực mềm hiện nay không chỉ là các quốc gia mà là tất cả các chủ thể trong quan hệ quốc tế, chẳng hạn như các NGO, các thể chế quốc tế, các chủ thể khác trong các mối quan hệ quyền lực trong một quốc gia, trong các tổ chức và giữa các cá nhân. Quyền lực mềm thể hiện trong các mối quan hệ giữa các nước, giữa người lãnh đạo và nhân viên, giữa những người cầm quyền và nhân dân, giữa các thành viên của một tổ chức, giữa các tổ chức với nhau. Quyền lực mềm được sử dụng rộng rãi cả trong quan hệ đối ngoại và đối nội, cho dù cách gọi tên có khác nhau. Trong đối nội của các quốc gia, các nhà điều hành thông minh đều biết rằng việc lãnh đạo không chỉ là ra lệnh, mà nó còn liên quan đến việc lãnh đạo bằng cách làm gương và thu hút những người khác làm những điều mình muốn. Việc điều hành một tổ chức hay các cá nhân hiệu quả không phải lúc nào cũng bằng việc ra lệnh hoặc đe dọa. Quyền lực của một nhà lãnh đạo sẽ lớn hơn nếu người đó có thể làm cho những người khác chia sẻ và đóng góp vào hệ giá trị của mình. Điều này được thực hiện dần dần, kết hợp với những điều không nhìn thấy được, chẳng hạn như tính cách, các giá trị, sự định hướng và một tầm nhìn được xem là hợp lý và có đạo đức. Trong một nền dân chủ, sự cưỡng bức không bao giờ là một lựa chọn ưu tiên.Với ưu thế tạo ra sự đồng thuận, huy động được vốn xã hội với chi phí ít nhất và đặc biệt là huy động được sự tham gia tự nguyện lớn nhất, các mục tiêu như thúc đẩy dân chủ trong một quốc gia sẽ dễ đạt được hơn thông qua quyền lực mềm và trong đa số các trường hợp, hiệu quả hơn khi sử dụng được quyền lực thông minh. Trước hết phải khẳng định rằng quyền lực thông minh không phải là một loại quyền lực thứ ba. Quyền lực thông minh là sự kết hợp hay pha trộn giữa quyền lực mềm và quyền lực cứng. Đó là khả năng xác định bối cảnh, lợi dụng các xu hướng và sử dụng hợp lý quyền lực cứng và quyền lực mềm để đạt được hiệu quả cao nhất. Nó được coi là phù hợp hơn với các nền dân chủ, nơi mà sự tham gia có tính tự giác được đặt lên hàng đầu và mọi sự cưỡng bức đều bị coi là phá vỡ các nguyên tắc dân chủ. Diane Ravitch đã viết: “Dân chủ là một quá trình, một cách thức sống và làm việc cùng nhau. Đó là một quá trình luôn phát triển chứ không đứng im. Nó đòi hỏi sự hợp tác, thỏa hiệp, và dung hòa giữa các công dân. Làm cho dân chủ được thực hiện là một điều khó khăn chứ không dễ dàng. Tự do đồng nghĩa với nghĩa vụ chứ không phải tự do từ nghĩa vụ”. Quyền làm chủ của dân phải được nhận thức một cách tự giác, và người dân thực hiện quyền làm chủ của mình cũng dựa trên một trình độ cao của nhận thức và văn hoá công dân. Với tất cả sự tinh tế của nền dân chủ, bạo lực hay ép buộc không phải là lựa chọn tối ưu, và quyền lực thông minh đã tìm được một sân khấu lớn để thể hiện mặc dù sử dụng quyền lực thông minh là một vấn đề rất khó, nó đòi hỏi cùng lúc phải có một quyền lực cứng đủ mạnh để cưỡng chế hoặc thể hiện năng lực cưỡng chế khi cần thiết và sự nhạy cảm chính trị, sự sáng tạo và linh hoạt của người cầm quyền. Quyền lực thông minh phù hợp với nền dân chủ, vì dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Điều này không có nghĩa là quyền lực lãnh đạo không tồn tại trong nền dân chủ, mà nó tồn tại dưới một hình thức hợp lý hơn, phù hợp hơn với nền dân chủ. Phong cách lãnh đạo cũng đã có nhiều thay đổi, lãnh đạo bằng quyền lực cứng giảm dần, các nhà lãnh đạo chú trọng nhiều hơn đến việc tạo ra ảnh hưởng và thu hút người dân vào các mục tiêu chính trị của mình. Tuy vậy, quyền lực cứng vẫn giữ một vai trò quan trọng trong nền dân chủ, nó là điểm tựa cho quyền lực mềm thăng hoa. Việc sử dụng quyền lực thông minh là đặc trưng của nền dân chủ. Thứ nhất, nó thể hiện được sự tôn trọng các quyền con người, quyền cá nhân, những yếu tố quan trọng nhất trong nền dân chủ, vì vậy, nó dễ được chấp nhận hơn và tạo được hiệu ứng tâm lý tích cực hơn. Sự tôn trọng lẫn nhau giữa nhà nước và các công dân mang tính hai chiều. Khi nhà nước tôn trọng và bảo vệ các quyền cho các công dân thì các công dân cũng sẽ tôn trọng, bảo vệ và hỗ trợ nhà nước, coi việc ủng hộ nhà nước là trách nhiệm của mình để thực hiện các mục tiêu chung. Quyền lực mềm trong lãnh đạo là ở chỗ chính quyền có đủ uy tín và ảnh hưởng để người dân lắng nghe, chia sẻ, ủng hộ và hỗ trợ trong các vấn đề. Quyền lực mềm này chỉ có được trên cơ sở một chính quyền minh bạch và hiệu quả, hệ thống chính sách là pháp luật đầy đủ và có hiệu lực cao và một nền kinh tế phát triển bền vững. Thứ hai, nhà nước cũng phải thể hiện có đủ năng lực và nguồn lực để phục vụ nền dân chủ và đồng thời có đủ nguồn lực để duy trì các giá trị cơ bản, duy trì trật tự xã hội và mở ra một tầm nhìn cho sự phát triển chung. Việc sử dụng quyền lực thông minh sẽ đem lại hiệu quả cao nhất, huy động được sự đồng thuận và vốn xã hội. Mọi cơ quan nhà nước, những người lãnh đạo dù được bầu ra dưới hình thức nào cũng phải làm việc nhân danh người dân và chịu trách nhiệm trước dân. Vốn xã hội là cái vô tận và luôn sẵn có, nhưng không dễ nắm bắt, sử dụng và càng không thể thu hút được bằng sự cưỡng chế. Những chính sách, những vấn đề đưa ra có sự đóng góp của người dân sẽ vượt qua được khó khăn dễ dàng hơn và được sự ủng hộ và hỗ trợ của người dân nhiều hơn nhờ huy động được nội lực của xã hội và của từng cá nhân trong cộng đồng. Cơ chế phản hồi trong sử dụng quyền lực thông minh linh hoạt hơn. Người dân có điều kiện đưa ra các phản biện và yêu cầu, giúp cho các chính sách sát với thực tế hơn và đa dạng hơn. Cơ chế phản hồi này giúp cho chính quyền củng cố được cả quyền lực cứng và quyền lực mềm của mình theo hướng phù hợp hơn với yêu cầu thực tế và nguyện vọng của người dân. Việc xây dựng và củng cố quyền lực cứng và quyền lực mềm của cả chính quyền và người dân sẽ hoàn thiện dần các kỹ năng dân chủ, từ đó giúp cho việc phân tích các tình huống chính trị chính xác hơn và chất lượng của dân chủ được nâng cao hơn. Với một cơ chế phản hồi hiệu quả và thiết thực, sử dụng quyền lực thông minh là một phương thức để cân bằng giữa tính hiệu quả trong hoạt động của nhà nước và sự tham gia của người dân. Điều này sẽ tiết kiệm được chi phí triển khai các quyết định chính sách trong các đơn vị chính trị phù hợp và duy trì được sự chủ động và tích cực của người dân trong các vấn đề họ quan tâm. Một nền dân chủ bao gồm một chính phủ dân chủ và xã hội dân chủ. Quyền lực thông minh được nói đến ở đây là quyền lực thông minh trong lãnh đạo và quyền lực thông minh của người dân trong nền dân chủ, hay quyền lực thông minh của tổ chức và quyền lực thông minh của các cá nhân. Một quốc gia muốn có được quyền lực thông minh trong nền dân chủ thì bên cạnh sự hấp dẫn về chính sách và pháp luật, nền hành chính tinh gọn, hiệu quả và sự minh bạch trong hoạt động của chính quyền, cần có đội ngũ cán bộ lãnh đạo có trình độ, có trách nhiệm và đạo đức, biết và dám chịu trách nhiệm trước công dân. Việc sử dụng quyền lực thông minh dựa rất nhiều vào năng lực và uy tín, sức hấp dẫn của cá nhân người lãnh đạo, và vì sức hút của các cá nhân chỉ kéo dài chừng nào nó nhận được sự thừa nhận và có thể làm thoả mãn những người đi theo, nên đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo là cả một quá trình liên tục. Người lãnh đạo sẽ như một điểm sáng để thu hút những người khác về phía mục tiêu của mình, làm cho họ vượt qua sở thích cá nhân vì ích lợi cao hơn của cộng đồng. Bên cạnh đó, người lãnh đạo phải đánh giá được hoàn cảnh, biết được khi nào sử dụng quyền lực cứng và khi nào sử dụng quyền lực mềm để đạt được các mục tiêu một cách hiệu quả nhất với chi phí thấp nhất. Sự hiệu quả của các chính sách và nền hành chính trong thực tiễn, sự ổn định của xã hội là những yếu tố tạo nên uy tín và sức lôi cuốn cho quyền lực lãnh đạo. Vì dân chủ đi đôi với sự phát triển kinh tế và sự phát triển xã hội, sự thịnh vượng về vật chất kéo theo sự phát triển về ý thức, tư tưởng, nên để có một nền dân chủ phát triển, phải xây dựng được một nền kinh tế phát triển ở trình độ cao. Những quốc gia muốn tăng cường quyền lực mềm trong đối nội, cần có một đường lối phát triển kinh tế bền vững, hợp lý, được lòng dân, một hệ thống pháp luật đầy đủ, hiệu lực, bộ máy hành chính nhà nước gọn nhẹ, hiệu quả. Chỉ có như vậy mới kết hợp được trách nhiệm dân chủ của chính quyền và sự tham gia dân chủ của người dân. | Quyền lực thông minh | Quyền lực thông minh hay sức mạnh thông minh (tiếng Anh: smart power) là một thuật ngữ trong quan hệ quốc tế mà triết gia người Mỹ Joseph Nye định nghĩa như sau "khả năng kết hợp quyền lực cứng và quyền lực mềm vào một chiến lược mang lại thắng lợi." Theo Chester A. Crocker, Fen Osler Hampson, và Pamela R. Aall, quyền lực thông minh "có liên quan tới chiến lược sử dụng ngoại giao, thuyết phục, xây dựng năng lực và điều khiển các sức mạnh và sự ảnh hưởng trong những con đường đạt hiệu quả cao và có tính chính đáng cả về chính trị lẫn xã hội" – cốt yếu là tận dụng các sức mạnh quân sự và toàn bộ các kiểu ngoại giao. Thuật ngữ này được đưa ra sau cuộc tấn công của Mỹ vào Iraq năm 2003 như là một phản ứng lại chính sách đối ngoại ngày càng mang xu hướng tân bảo thủ của tổng thống Mỹ khi này là George W. Bush. Được coi là một phiên bản thứ hai của chính sách của Bush nhưng mang tính tự do hơn, các đề xuất của nó coi trọng các tổ chức quốc tế có vài trò lớn hơn, chống lại chủ nghĩa đơn phương một mình, đối với nước Mỹ. |
Koshik là một con voi ở châu Á có một tài năng đặc biệt. Nó có thể nói chuyện được bằng tiếng Người. Koshik có một vốn từ vựng nhỏ nhưng cực kỳ ấn tượng của xứ sở kim chi. Koshik dường như không hiểu những gì nó nói, nhưng khả năng bắt chước những từ ở trên là điều hoàn toàn có thật. Huấn luyện viên của Koshik cho biết nó đã biết bắt chước lời nói của con người từ năm 2004. Năm 1984, NOC là một chú cá voi lên 9 tuổi thuộc giống Beluga và đã có thể nói bằng tiếng người. NOC bị bắt vào năm 1977. Nó học bắt chước tiếng nói của con người để có thể trở thành một người bạn đồng hành trong chặng đường còn lại của cuộc đời. Tuy nhiên NOC chỉ bắt chước được cho tới khi phát dục. 4 năm sau đó, nó không còn khả năng này nữa. Alex là một chú vẹt màu xám châu Phi và được mua khi nó mới 1 tuổi để phục vụ cho một chủ đề nghiên cứu khoa học lớn kéo dài trong hơn 30 năm. Chủ sở hữu của Alex, Irene Pepperberg, là một nhà tâm lý học động vật tại Đại học Arizona. Trong thực tế, tên của Alex chính là một từ viết tắt của Pepperberg cho “Thí nghiệm động vật học”. Năm 2007, khi chú vẹt này qua đời, nó đã có thể nhận ra hơn 50 người khác nhau và có một vốn từ vựng khoảng hơn 100 từ. Thậm chí, các nhà khoa học còn so sánh Alex có trí thông minh ngang với một đứa trẻ 4 tuổi. Trước khi chết, chú vẹt này đã để lại cho chủ của mình một câu nói “Bạn tốt”. Sau khi tìm được “cha mẹ” loài người của mình, Hoover đã ăn uống và phát triển một cách nhanh chóng. Ban đầu, Hoover sống trong bồn tắm riêng của gia đình, tuy nhiên khi cơ thể đã lớn hơn, Hoover chuyển ra sống trong chiếc hồ của “cha mẹ”. Tại đây, Hoover đã được dạy và học cách nói chuyện bằng cách bắt chước giọng nói của loài người, đặc biệt là một loạt ngôn ngữ của New England Accent. Cuối cùng, Hoover đã được chuyển tới New England Accent để biểu diễn cho mọi người cùng xem. Hoover qua đời vào năm 1985. Mặc dù vốn từ vựng của Odie không nhiều, chỉ bao gồm ba chữ, nhưng từng đó cũng quá đủ để chiếm được sự yêu mến và quan tâm của dân Mỹ. Tại đó, Odie chỉ biết nói “I Love You” khiến mọi người trong show diễn hết sức thích thú. Thêm một giống vẹt Châu Phi tương tự như chú vẹt Alex biết nói. Nkisi có một vốn từ vựng nhiều hơn Alex và có vốn hiểu biết sâu rộng của thế giới xung quanh. Với vốn từ vựng 950 từ và ngày càng tăng, N’kisi còn có thể sử dụng chúng trong mọi bối cảnh và thường xuyên nói được những câu hoàn chỉnh. Mặc dù không có nghiên cứu khoa học nào liên quan đến chú mèo Blackie, nhưng với sự phát triển của internet ngày nay, nó đã có hàng triệu fan hâm mộ. Thậm chí, đây còn là một trong những con vật biết nói quan trọng nhất trên thế giới. Blackie được đào tạo để nói những câu như “I love you” (Tôi yêu bạn”, “I want my mama” (Tôi muốn mẹ tôi)… Nó cũng được xuất hiện trên chương trình truyền hình và đài phát thanh địa phương có trả tiền vào những năm 1970. Tuy nhiên, khi chương trình cuối cùng gần kết thúc, một tay guitar đã đánh Blackie bị thương trên phố ở Nashville. Chủ sở hữu của Blackie yêu cầu được cấp phép kinh doanh. Vấn đề đã được đưa ra tòa án và kết quả của sự việc trên là “sự vô lý và buồn cười” với một bên là sự tự do ngôn luận của một chú mèo và một bên là của một người muốn thu lợi nhuận. Mishka là một chú chó thuộc giống Husky. Mishka được biết đến nhiều qua internet với vẻ ngoài “đẹp và dễ thương” và đặc biệt là có thể “nói chuyện” với con người. Thực tế, “giọng nói” của Mishka là những tiếng “tru” dài với các vốn từ vựng quen thuộc như “Hello” (xin chào), “I love you” (Tôi yêu bạn), “Im hungry” (Tôi đói)…Thậm chí Mishka còn được chủ nhân lập hẳn fan page và cập nhật những hình ảnh, video mới nhất về chú chó này với cộng đồng mạng trên thế giới. Einstein là một chú vẹt thuộc giống châu Phi đang sống tại vườn thú Knoxville ở Tennessee. Einstein hiện đã 18 tuổi và có một vốn từ vựng khoảng 200 từ, có thể nhận biết được hơn 70 khuôn mặt khác nhau. Những chú vẹt xám châu Phi như Alex, NKisi, Einstein đã chứng minh rằng đây có thể là loài chim thông minh nhất trong lịch sử. Lucy Temerlin là một con tinh tinh thuộc sở hữu của Viện nghiên cứu động vật linh trưởng ở Oklahoma. Và được nuôi dạy bởi Maurice Temerlin, một giáo sư đại học và nhà tâm lý. Lucy Temerlin là một thử nghiệm gây tranh cãi trong giới khoa học khi cố làm lu mờ ranh giới giữa con người và động vật. Câu chuyện của Lucy được ghi lại trong cuốn tiểu thuyết của Temerlin "Lớn lên như một con người”. Temerlin và vợ ông đã dạy cho Lucy cách ăn với thìa, dĩa, ngồi ở bàn ăn, và thậm chí là tự mặc quần áo cho chính bản thân nó. Để giúp Lucy trong giao tiếp, nhà linh trưởng học Roger Fouts đã dạy ngôn ngữ ký hiệu thô sơ của mình cho nó. Cuối cùng Lucy đã học được nhiều hơn 140 từ và sử dụng thường xuyên. Mặc dù Lucy không bao giờ nói lớn song nó là một trong những loài khỉ đầu tiên biết sử dụng ngôn ngữ ký hiệu và có thể “nói” trôi chảy những gì nó đã được học. | Động vật biết nói | Động vật biết nói (talking animal) hay động vật nói tiếng người (speaking animal) là bất kỳ động vật không phải người nào có thể tạo ra âm thanh hoặc cử chỉ, điệu bộ, ký hiệu giống với ngôn ngữ của con người. Một số loài hoặc nhóm động vật đã phát triển các hình thức giao tiếp mà xét về bề ngoài có sự giống với ngôn ngữ lời nói của con người, tuy nhiên, chúng không được định nghĩa là ngôn ngữ vì chúng thiếu một hoặc nhiều đặc điểm xác định, tức là ngữ pháp, cú pháp, đệ quy và dịch chuyển. Các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc dạy và huấn luyện một số động vật thực hiện các cử chỉ tương tự như ngôn ngữ ký hiệu, ví dụ như dạy vẹt nói được tiếng người. Tuy nhiên, những con vật này không đạt được một hoặc nhiều tiêu chí được chấp nhận là ngôn ngữ xác định vì thực chất chúng chỉ nhại lại tiếng người và không có tư duy mà làm theo phản xạ, bản năng của chúng. Thuật ngữ động vật biết nói thực chất chỉ về những động vật có thể bắt chước (mặc dù không nhất thiết phải hiểu) hoặc nhại lại lời nói của con người và Vẹt là một ví dụ, chúng lặp lại những điều vô nghĩa thông qua tiếp xúc. |
Đa dạng sinh học là sự phong phú của nhiều nhiều dạng, loài và các biến dị di truyền của mọi sinh vật trong đời sống tự nhiên, sự đa dạng và phong phú này được chia làm nhiều cấp độ tổ chức sinh giới đặc biệt là với các dạng hệ sinh thái của môi trường trên trái đất. Thuật ngữ đa dạng sinh học cũng bao trùm mức độ biến đối của thế giới tự nhiên trong đó các sinh vật là đơn vị cấu thành. Thế nào là đa dạng sinh học? Đa dạng sinh học là bao gồm nhiều dạng và cá thể của các loài cùng với những biến dị di truyền của thế giới sinh vật, cũng như nhiều dạng của các cấp độ tổ chức sinh giới nhất là dưới dạng hệ sinh thái ở mọi môi trường trái đất, khái niệm này cũng bao gồm cả những mức độ biến đổi trong thế giới tự nhiên mà đơn vị cấu thành là những sinh vật. Trong đó các giá trị lợi ích của đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng và tính khác biệt của những loài sinh vật sống bao gồm cả những phức hệ sinh thái được tồn tại trong đó. Ngoài ra tính đa dạng của sinh học cũng được quy ước ở một số lượng xác định với nhiều đối tượng khác nhau, tính giá trị cũng được thể hiện ở tần số xác định của chúng, và đươc biểu trưng bằng nhiều cấp độ khác nhau chính và chúng có những chuyển biến từ phức tạp đến các cấu trúc hóa học là cơ sở phân tử của thế giới di truyền. Chúng ta cũng có thể tìm hiểu thêm về tính đa dạng và phong phú của chúng trên thế giới hay cụ thể hơn là tại Việt Nam. Tìm hiểu về khái niệm đa dạng sinh học là gì chúng ta có thể tìm hiểu thêm về thực trạng chung trên thế giới hiện nay, trong đó có 3 thực trạng cũng là 3 mối lo chính được xác định tính tới thời điểm hiện tại trước nguy cơ về đa dạng sinh vật đang bị giảm dưới mức an toàn. Song song với đó về tình hình mất đa dạng sinh học trên thế giới chính là sự biến mất của khoảng 45% chủng loại cũng như habitat của những chủng loại này từ nay cho đến thời điểm năm 2020 nếu như xu thế về đa dạng sinh học không được đảo ngược lại trong khoảng thời điểm hướng đến tương lai. Tìm hiểu về những nguyên nhất gây mất đa dạng sinh học thực vật là gì cho đến động vật chính là việc chúng ta phải đối mặt với nguy cơ mất đi khoảng 15% động thực vật, trong đó các đầm lầy hiện nay đã suy giảm chỉ còn một nửa. | Đa dạng sinh học | Đa dạng sinh học (tiếng Anh: biodiversity) là một chuyên ngành của sinh học nghiên cứu sự đa dạng và biến đổi của sự sống trên Trái Đất. Đa dạng sinh học biểu hiện ở ba đặc điểmː đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Đa dạng sinh học không được phân bố đều trên khắp Trái Đất và các vùng nhiệt đới thường có đa dạng sinh học cao hơn các khu vực khác. Đa dạng sinh học trên cạn cũng thường ở cao hơn ở các vùng gần đường xích đạo – đây là hệ quả của khí hậu ấm và sản lượng sơ cấp cao. Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở vùng này chiếm ít hơn 10% bề mặt Trái Đất nhưng là nơi 90% các loài sinh sống trên thế giới. Dọc theo các bờ biển ở phía Tây Thái Bình Dương, sinh học biển thường đa dạng hơn vì nơi này có nhiệt độ mặt biển đạt mức cao nhất và nằm ở dải vĩ độ trung bình trên tất cả các đại dương. Thường có những gradient vĩ độ trong đa dạng loài, trong đó độ đa dạng tăng ở vùng vĩ độ thấp hơn. |
Nếu ai đó chấp nhận được mình sẽ có nhiều lần kết hôn trong đời thì xin mời tự nhiên sống thử, còn ngược lại thì không nên. Tất cả mọi người đều biết rằng, sống thử không thể như là hôn nhân thực sự được vì nó không có ràng buộc về mặt pháp lý. Sau thời gian sống thử điều thiệt thòi sẽ là các bạn nữ, luôn là vậy. Có lẽ tôi hơi ích kỷ nhưng tôi sẽ không lấy vợ mà đã một thời sống thử với người khác. Vì thế tôi khuyên các bạn nữ đừng nên sống thử, các bạn đã nghe câu nói này chưa: "Ái tình là để nó đói thì nó sống, cho nó ăn no thì nó chóng chết". Tôi cũng là một người đàn ông và đã sống thử không chỉ với một cô gái và rồi chúng tôi vẫn cứ chia tay nhau mà chẳng thấy luyến tiếc điều gì. Và tôi nhận ra rằng hôn nhân chỉ có thể đến từ một tình yêu chân chính, hãy giữ gìn những gì có thể, với tình yêu bạn không nên và đừng bao giờ sống thử. Sinh viên mới ra trường cần ít nhất một vài năm để ổn định về nghề nghiệp trước khi đi đến hôn nhân. Đây là những người đã phần nào độc lập về tài chính, chín chắn hơn nhiều về suy nghĩ. Quyết định chung sống trước hôn nhân của họ nên được tôn trọng, thay vì phản đối, xã hội nên tiếp nhận một cách cởi mở. Hiện nay nhiều bạn sinh viên đang suy nghĩ, đắn đo nên hay không nên sống thử. Tác động của xã hội, của thời kinh tế mở cửa như lay chuyển những suy nghĩ mà trước đây không ai nghĩ tới rằng sẽ phải sống thử trước khi sống thật. Tôi đã đọc nhiều bài viết lên án "sống thử" với nhiều dẫn chứng cụ thể của vài đôi bạn. Tuy nhiên, hầu như chưa thấy các tác giả định nghĩa rõ ràng sống thử là gì? Để rồi cứ phân tích nhập nhằng "sống thử" như là "ăn cơm trước kẻng" và kết luận rằng phần thiệt thòi rơi vào phái nữ, rồi lên án cách sống này. Tôi hiện đang là kỹ sư, vừa tốt nghiệp một trường thuộc khối Kỹ Thuật ở TP HCM, cũng chỉ mới đi làm được vài tháng, thu nhập tạm ổn so với sinh viên mới ra trường. Tôi đến với chuyên mục này với vị trí của người trong cuộc. Khi lớn lên ai cũng có quyền mưu cầu hạnh phúc và đến tuổi yêu ai cũng có quyền chọn lấy một người để yêu. Tình yêu là thứ tình cảm đẹp nhất mà con người mới có. Tại sao chúng ta cứ phải sống thử mà không sống thật với chính mình. Khái niệm "sống thử" hiện nay được rất nhiều người quan tâm, trong đó các bậc cha mẹ thì hầu như hiếm người đồng tình với việc con cái mình "sống thử". Còn các bạn trẻ nói chung (trong đó đa phần là các bạn sinh viên) phần lớn đều đồng tình với việc này. Tôi tuy đã lớn tuổi, ở vào độ tuổi U60 rồi, cũng xin mạn phép các bạn trẻ bày tỏ quan điểm của các bậc phụ huynh và lớp già - nhất là suy nghĩ của các bà mẹ nói về vấn đề này. Tôi có quen nhiều cặp sống thử, phần lớn thì đổ vỡ nhưng không phải là tất cả. Trong xã hội mà con người phải luôn lo toan và tất bật, thì sự đổ vỡ trong tình yêu, trong cuộc sống không chỉ xảy ra với những người sống trước hôn nhân mà nó còn nhan nhản ở các cặp vợ chồng trẻ. Con người trong xã hội hiện đại ngày càng ích kỷ, nhỏ mọn so với người xưa. Phương Tây đã thực hiện sống thử và đã phải gánh chịu hậu quả của nó, tổ chức gia đình trở nên lỏng lẻo, mà như chúng ta đã biết, gia đình là tế bào của XH. Vì phụ nữ sẽ là người thiệt thòi hơn, đặc biệt là trong xã hội mà trinh tiết được xem trọng. Nó liên quan đến văn hóa, phong tục, đạo đức. Các bạn nghĩ ra sao về một người phụ nữ mất trinh tiết trước khi có chồng? Người chồng có chấp nhận không?. Nhiều bạn đã rong ruổi hết người này đến người khác mà vẫn chưa tìm được tình yêu đích thực, dường như tình cảm đã bị chai sạn. 90% các cặp lại quay về với con số không. Và một điều hợp lý là “nồi nào vung đó”, biết chấp nhận sống thử thì cũng phải chấp nhận người vợ (chồng) tương lai giống mình. Đều là con người với nhau, đều biết suy nghĩ, vui buồn hạnh phúc thì tại sao lại phân biệt Tây phương hay Á đông, rồi có cái nhìn tiêu cực, thiếu hiểu biết về xã hội phương Tây? Trừ phi có sự bình đẳng tôn trọng lẫn nhau giữa nam và nữ thì sẽ chẳng bao giờ có chuyện để bàn cãi về vấn đề này. Tôi không lên án sống thử, nhưng chỉ mong là giới trẻ nếu có suy nghĩ và đúng là người trưởng thành thì không bao giờ nghĩ rằng sống thử là có hạnh phúc. Thực tế chỉ là hạnh phúc hiện tại, còn tương lai thì sao?. Tôi có một bạn gái rất thân từng từ chối đi nước ngoài định cư khi đã có visa, chỉ vì không cầm lòng được khi thấy người yêu tiều tụy khổ sở. Thế là cùng sống thử 5 năm, cùng cai quản một cơ sở làm ăn do 2 người tạo lập, nhưng đùng một cái anh ấy kết hôn với một người đã có mang với anh 2 tháng. Không thể nói lối sống "tân thời" là sai, vì mỗi cách sống đều có mặt tích cực và tiêu cực. Không thể nói "tiền hôn nhân" sẽ dẫn đến các loại bệnh xã hội. Vì đó là những kiến thức trong y học, cho dù sống theo kiểu "truyền thống" mà không hiểu biết vẫn bất hạnh như thường. Theo tôi, ở Việt Nam chúng ta chưa nên có hình thức sống thử. Tôi tự nhận thấy đàn ông Việt Nam còn có rất nhiều người vô cùng gia trưởng. Hình thức sống thử cuối cùng chỉ đem đến khổ đau cho phụ nữ mà thôi và có lẽ cả đàn ông nữa. | Sống thử | Sống thử hay sống thử trước hôn nhân là một cụm từ thường được truyền thông Việt Nam, đặc biệt là báo mạng, dùng để chỉ một hiện tượng xã hội, theo đó các cặp đôi có tình cảm về sống chung với nhau như vợ chồng, nhưng chưa tổ chức hôn lễ cũng như đăng ký kết hôn. Các nguồn hàn lâm hơn (như nghiên cứu khoa học, luật pháp.) thì sử dụng cụm từ có khái niệm tương tự là Chung sống như vợ chồng phi hôn nhân. Tiến sĩ triết học, chuyên gia nghiên cứu gia đình trẻ và trẻ em Nguyễn Linh Khiếu cho rằng không nên dùng từ "sống thử", bởi khi các cặp đôi này sống chung với nhau thì họ đã giống như là vợ chồng, "Đấy không phải là sống thử mà là chung sống thật sự chứ không phải chuyện đùa. Tất cả từ tình cảm, tình dục, chi tiêu là đều thật". Có điều sự chung sống này thiên về thỏa mãn dục vọng, tình cảm tức thời, "thích thì chung sống, chán thì chia tay" chứ không đi liền với các nghĩa vụ và trách nhiệm như hôn nhân thực sự. |
Robinhood đã có đợt IPO (niêm yết lên sàn giao dịch) được mong đợi từ lâu. Nhưng đây có phải là khoản đầu tư tiềm năng có lợi? Chúng ta hãy cùng xem xét sự kiện. Robinhood được thành lập để đem lại quyền sở hữu cổ phần cho điều công ty gọi là “những người bình thường”. Các tính năng của nó bao gồm quyền sở hữu cổ phần theo phân đoạn. Điều này có nghĩa rằng thay vì người mua phải kiếm gần 4.000 đô-la Mỹ để mua chỉ 1 cổ phiếu của Amazon.com, ví dụ, họ có thể mua một nửa cổ phần với giá 2.000 đô-la Mỹ hoặc thậm chí 1/10 cổ phần với giá 400 đô-la Mỹ thông qua nền tảng Robinhood. Những năm gần đây, Robinhood đã tạo dựng danh tiếng như là điểm đến thích hợp cho những người thuộc thế hệ thiên niên kỷ muốn tiếp xúc với thị trường chứng khoán. Công ty hứa rằng cổ phiếu có thể được mua mà không cần hoa hồng, một động thái hoàn toàn trái ngược với các nền tảng đầu tư kiểu cũ thường tính phí cao để tạo điều kiện tiếp cận thế giới chứng khoán. Trang mạng lên tít đầu ngay khi nhóm Reddit r/WallStreetBets (WSB) đã đánh bại các quỹ đầu cơ đã bán khống những cái tên như GameStop, Nokia và AMC Entertainment. Trong trường hợp của GameStop, họ đã cố gắng đưa giá tăng vọt từ 17,25 đô la lên 483 đô la trong vòng chưa đầy một tháng. Nhưng tất cả những điều này đã tạo ra cơn đau đầu lớn về tài chính cho Robinhood, buộc nó phải hạn chế việc mua cổ phiếu của GameStop. Các nhà giao dịch và chính trị gia đã khóc thét với động thái này, và dẫn đến việc WSB đưa Robinhood vào danh sách đen và khuyến khích thành viên của họ sử dụng các nền tảng đối nghịch. Trong khi đó, công ty bắt đầu cố gắng hạn chế thiệt hại bằng cách huy động 3,4 tỷ đô-la Mỹ cho 2 đợt bơm tiền khẩn cấp để có thể đáp ứng các yêu cầu thanh toán bù trừ. Thương vụ WSB đã giúp đưa Robinhood đến với công chúng, và với lý lịch đẳng cấp hơn này, có lẽ không tránh khỏi việc công ty sẽ xem xét việc niêm yết cổ phiếu. Trong khi điều này đã được đồn đoán trong quá khứ, nó chưa bao giờ thành hiện thực. Mọi thứ thay đổi vào ngày 1 tháng 7 năm 2021, tuy nhiên, khi công ty công bố sẽ ra công chúng thông qua đợt chào bán công khai cổ phiếu Robinhood. Ngày niêm yết của Robinhood được ấn định vào ngày 29 tháng 7, và trước đó sẽ là một buổi roadshow trực tuyến dành cho các nhà đầu tư tiềm năng vào ngày 24 tháng 7. Bân hàng đầu tư hàng đầu Goldman Sách đang làm việc với Robinhood cho đợt IPO này, cho thấy nó sẽ được vận hành một cách chuyên nghiệp. Tin tức niêm yết Robinhood, trong khi không đáng ngạc nhiên, tạo ra rất nhiều sự quan tâm, đặc biệt giữa những người trở nên gắn bó với việc giao dịch trên nền tảng vì những lời bàn tán xoay quanh r/WallStreetBets. Căn cứ theo hồ sơ đăng ký pháp lý của công ty với Uỷ ban giao dịch chứng khoán (Securities Exchange Commission - SEC), giá cổ phiếu Robinhood được kỳ vọng nằm ở khoảng từ 38 đến 42 đô-la Mỹ, và nền tảng cho rằng nó có thể tăng lên đến 2,3 tỷ đô-la Mỹ thông qua việc bán 55 triệu cổ phần. Dù vậy, sự thật là thương vụ Robinhood lên sàn tạo nên sự quan tâm không hẳn là điều tốt cho các nhà đầu tư tiềm năng. Lần cuối Robinhood được định giá kín, nó được xác định trị giá 11,7 tỷ đô-la Mỹ, thấp hơn đáng kể so với giá trị IPO được ghi nhận lên đến 35 tỷ đô-la Mỹ. Và khi cuối cùng được tung ra thị trường, giá cổ phiếu thị trường đạt mức 38 đô-la Mỹ, ở mức đáy tuyệt đối của giá cổ phiếu được kỳ vọng. Điều này gây lo ngại vì nó đã xảy ra, nhưng trong ngày mọi thứ còn trở nên tồi tệ hơn, và giá đóng cửa ngày đầu tiên trên sàn chứng khoán ở mức 34,82 đô la, mất 8%. Đặt vào bối cảnh chung, CNN báo cáo rằng kết quả ngày đầu tiên trung bình của một doanh nghiệp vừa được niêm yết là tăng 33%. Khoảng một phần tư số đợt IPO chứng kiến cổ phiếu của họ giảm vào ngày đầu tiên ra mắt công chúng. Trong một công bố trên trang mạng của mình, Robinhood cho biết: "Chân thành cảm ơn các khách hàng của chúng tôi, những người đã nhắc nhở chúng tôi rằng Đoàn Kết là Sức Mạnh và truyền cảm hứng cho chúng tôi trở nên mạnh dạn, chấp nhận rủi ro, và liên tục tái hình dung hệ thống tài chính của chúng ta có thể trở thành những gì. Chúng tôi rất biết ơn khi có bạn trên cuộc hành trình này.". Bầu không khí cẩn trọng bắt đầu xuất hiện quanh việc Robinhood lên sàn. Trên thực tế, Robinhood thừa nhận điều này khá nhiều trong hồ sơ đăng ký pháp lý của mình, trong đó cho biết “mức độ quan tâm ban đầu cao đối với cổ phiếu của chúng tôi tại thời điểm chào bán này có thể dẫn đến việc giá giao dịch thiếu bền vững, trong trường hợp giá cổ phiếu phổ thông Hạng A của chúng tôi có thể giảm theo thời gian. Bên cạnh đó, nếu giá công bố của cổ phiếu phổ thông Hạng A của chúng tôi đạt mức mà các nhà đầu tư nhận định là hợp lý đối với cổ phiếu phổ thông Hạng A, một số nhà đầu tư có thể sẽ nỗ lực bán khống cổ phiếu phổ thông Hạng A sau khi bắt đầu giao dịch, điều sẽ tạo thêm áp lực giảm giá trên giá giao dịch cổ phiếu phổ thông Hạng A.”. Công ty cũng bày tỏ những nghi ngờ về khả năng kiểm soát tăng trưởng trong tương lai, họ cho biết: ”Chúng tôi đã tăng trưởng nhanh chóng trong những năm gần đây và có kinh nghiệm vận hành hạn chế tại quy mô vận hành hiện tại; nếu chúng tôi không thể quản trị tăng trưởng một cách hiệu quả, hoạt động tài chính của chúng tôi có thể phải gánh chịu và thương hiệu cũng như văn hoá công ty có thể bị tổn hại.”. Currency.com đã liên hệ Robinhood với 2 số điện thoại khác nhau và gửi họ một bức thư điện tử để xin bình luận về các vấn đề này nhưng đến nay vẫn chưa nhận được phản hồi. Các nhà phân tích cũng bày tỏ những quan ngại của họ về biểu hiện tiềm tàng của công ty trên Nasdaq. Forbes contributor David Trainer cho biết giá trị dự tính của công ty vào khoảng 35 tỷ đô-la Mỹ là quá cao hơn thực tế khoảng hơn 9 tỷ đô-la Mỹ. Lập luận này cho rằng Robinhood có thể gia tăng đối mặt với sự chú ý từ bên hành pháp. Thay vì lấy hoa hồng từ việc bán hàng, nền tảng này sử dụng thứ gọi là Thanh Toán Cho Luồng Đặt Hàng (Payment for Order Flow - PFOF). Phương thức này cho phép nhà môi giới, ở đây là Robinhood, nhận một khoản thanh toán khi gửi một lệnh đặt đến một nhà tạo lập thị trường cụ thể. Như đã được báo cáo trên Financial Times (Thời Báo Tài Chính) vào ngày 9 tháng 6, Gary Gensler, Chủ tịch của Uỷ ban chứng khoán và giao dịch Hoa Kỳ (US Securities and Exchange Commission - SEC) kiến nghị rằng SEC sẽ sớm rà soát hệ thống, dẫn đến việc một số nhà quan sát tin rằng sẽ có khả năng PFOF bị cấm. Nếu điều đó xảy ra thì sẽ là một tin xấu cho Robinhood, với 81% doanh thu của quý đầu năm 2021 tạo ra từ hệ thống này. Thật vậy, nhà phân tích của Forbes, David Trainer cho biết tình thế xoay quanh PFOF đang cản trở việc mở rộng ra ngoài phạm vi Hoa Kỳ của Robinhood, khiến giá trị của công ty có thể bị giảm sút. Nhà phân tích Anuradha Garg, viết trên tờ Market Realist, tranh luận rằng còn những vấn đề với nguồn gốc doanh thu giao dịch của Robinhood. Garg cho biết tổng số tiền giao dịch trên nền tảng liên quan đến dogecoin, cùng với định giá cao của công ty, có nghĩa nhà đầu tư nên tạm tránh đầu tư vào Robinhood trong thời điểm này. Tổng kết lại, có lẽ có những rủi ro cần tính đến khi mua cổ phiếu ở Robinhood. Có những lời đồn xoay quanh mô hình giao dịch tương lai và khả năng mở rộng quy mô của nó. Những điều này không hề chắc chắn, tuy nhiên, thị trường sẽ quyết định khi chúng ta thấy điều gì xảy ra sau khi Robinhood chào sân tại Nasdaq. Về lý thuyết thì bạn có thể. Bản thân Robinhood có một nền tảng gọi là truy cập IPO cho phép các nhà đầu tư nhỏ lẻ mua cổ phần của cổ phiếu công ty tại mức giá IPO, trước khi việc giao dịch bắt đầu được tiến hành công khai. Có thể có, có thể không. Có một số lo ngại nhất định, nhưng chúng ta không thực sự nắm chắc cho đến khi cổ phiếu này được giao dịch trên Nasdaq ít nhất vài ngày, tại thời điểm đó khi đợt chào bán công khai cổ phiếu Robinhood kết thúc và giá cổ phiếu Robinhood bắt đầu ổn định. Bạn nên thực hiện nghiên cứu tìm hiểu của riêng mình, nhớ rằng các cổ phiếu có thể tăng hay giảm và không bao giờ đầu tư nhiều hơn số tiền bạn có thể để mất. Cổ phiếu Robinhood sẽ có thể được mua từ các sàn hay nhà môi giới chứng khoán một khi được giao dịch công khai, bao gồm chính bản thân sàn Robinhood. Các mã kỹ thuật số (token) (sau đây gọi là "token") không phải là tiền pháp định và không bắt buộc phải được chấp nhận làm phương tiện thanh toán. Cộng hòa Belarus, cùng các đơn vị hành chính và lãnh thổ, Ban kiểm soát và chính quyền của Khu công nghệ cao không chịu trách nhiệm đối với các chủ sở hữu token về các thuộc tính kỹ thuật và pháp lý của token, như đã tuyên bố, trong cả quá trình khởi tạo và đầu tư token và cần thiết để chủ sở hữu token đạt được các mục tiêu họ đặt ra khi mua token. Việc mua bán token có thể dẫn đến thua lỗ toàn bộ tiền vốn và các đối tượng khác của quyền dân sự (tiền đầu tư) (bao gồm cả nguyên nhân do biến động giá token; lỗi kỹ thuật; các hoạt động bất hợp pháp, bao gồm cả hành vi trộm cắp). Công nghệ đăng ký khối giao dịch (blockchain), hệ thống thông tin phân tán khác và các công nghệ tương tự được đổi mới và cập nhật liên tục; do đó cần phải cập nhật định kỳ (cải tiến định kỳ) hệ thống thông tin của Money Com Bel LLC và sẽ có rủi ro về lỗi kỹ thuật trong quá trình hoạt động. Một số token do Currency Com Bel LLC bán chỉ có giá trị khi sử dụng hệ thống thông tin của Currency Com Bel LLC và (hoặc) các dịch vụ được cung cấp bởi Currency Com Bel LLC. Vì quan điểm đối với giao dịch (hoạt động) token của các quốc gia và cơ quan quản lý cũng như cách tiếp cận quy định pháp lý khác nhau, nên hợp đồng giữa Money Com Bel LLC và khách hàng hoặc các điều khoản và điều kiện cụ thể có thể không hợp lệ và (hoặc) không thể thực thi ở một số quốc gia. Với việc sử dụng trang web Currency.com website, bạn đã đồng ý sử dụng cookies. | Robinhood (công ty) | Robinhood Markets, Inc. là một công ty dịch vụ tài chính của Mỹ có trụ sở chính tại Menlo Park, California. Robinhood là nhà môi giới-đại lý được FINRA quản lý, đã đăng ký với Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ và là thành viên của Công ty Bảo vệ Nhà đầu tư Chứng khoán. Doanh thu của công ty đến từ ba nguồn chính: tiền lãi thu được từ số dư tiền mặt của khách hàng, bán thông tin đơn đặt hàng cho các nhà giao dịch tần suất cao (một thông lệ mà sau này là lý do SEC đã mở cuộc điều tra chính công ty này vào tháng 9 năm 2020) và cho vay ký quỹ. Tính đến năm 2020, Robinhood có 13 triệu người dùng. Robinhood được thành lập vào tháng 4 năm 2013 bởi Vladimir Tenev và Baiju Bhatt, những người trước đó đã xây dựng các nền tảng giao dịch tần suất cao cho các tổ chức tài chính ở Thành phố New York. Tên của công ty xuất phát từ sứ mệnh "cung cấp cho mọi người quyền tiếp cận thị trường tài chính, không chỉ những người giàu có". |
Phim "Em Gái Đến Từ Tương Lai" (Mirai no Mirai) là một bộ anime được sản xuất bởi Studio Chizu, do Mamoro Hosoda đạo diễn. Những bộ phim do Hosoda đạo diễn, có thể kể đến như "The girl who leapt through time", "Wolf Children", "Summer War" hay "The boy and the Beast".đều là những tác phẩm vô cùng ấn tượng và để lại biết bao ý nghĩa trong lòng người xem. Vậy trong bài viết này, mình sẽ phân tích những chi tiết mà mình cho là chứa nhiều ý nghĩa nhất mà có thể nhiều bạn đã bỏ qua. Bộ phim "Em Gái Đến Từ Tương Lai" (Mirai no Mirai) mở ra với hình ảnh của gia đình cậu bé Kun, sau khi mẹ cậu vừa hạ sinh một bé gái, cũng đồng thời là em gái của cậu, tất nhiên. Bạn nào có em trai/ gái thì hẳn hiểu rất rõ: cảm xúc của các bạn như thế nào khi có em? Câu chuyện trong phim đã bắt đầu như vậy, xoay quanh nhân vật chính là bé Kun với những vấn đề xảy ra sau khi cậu có em gái. Một câu chuyện rất đời thường, rất thực tế mà bạn có thể thấy chính bản thân mình ở những nhân vật trong phim. Tuy vậy, những yếu tố thực và ảo không ngừng đan xen với nhau, khiến bộ phim trở nên đầy màu sắc, dường như đây là thế giới dưới góc nhìn của một đứa trẻ đã được đạo diễn Hosoda khắc họa vô cùng tươi tắn. Bạn nào xem phim rồi thì hẳn sẽ biết, những điều kỳ diệu mà Kun trải qua, dường như đến từ Cây Sồi trong sân nhà cậu (theo Mirai của Tương Lai) . Điều diệu kỳ đầu tiên mà Kun nhận ra, đó là khi chú chó Yukko của gia đình cậu bỗng hóa thành người, và tự xưng là "Hoàng tử". Và chúng ta có một cảnh phim rất mang tính "trẻ thơ": Kun lấy đuôi của Yukko, hóa thành một chú chó và chạy lông bông thoải mái quanh nhà. Có gì đặc biệt?". Nếu như bạn để ý kỹ, ở đầu phim, trước khi bố mẹ Kun về nhà cùng em gái cậu (mới được sinh ra), Kun đã ở cùng bà, và có cảnh cậu bé đã giả tiếng kêu "Gâu Gâu" của con chó. Tuy nhiên, Kun đã không giả tiếng chó lần nào nữa từ lúc xuất hiện Mirai, và đến khi cậu bắt nạt em gái bé bỏng, bị mẹ đẩy ra khỏi sự quan tâm tạm thời, trong buồn bã vì thiếu đi sự quan tâm của bố mẹ, Kun đã gặp Yukko, được nghe tâm sự của nó và rồi mới biến thành chú chó, kêu "Gâu Gâu" như đã nói ở trên. Bạn nhận ra điều gì chưa? Khi bé Kun chưa có em gái, đối với một cậu nhóc, dường như đó là sự thoải mái, khi mà nhận được sự quan tâm từ cả bố và mẹ. Điều này được thể hiện qua chi tiết "tiếng sủa". Còn trong khi mất sự quan tâm, sự "độc tôn" của bản thân, "tiếng sủa" đã không còn, và chỉ xuất hiện lại sau khi cậu trò chuyện với Yukko - chú chó cũng có hoàn cảnh khá giống cậu. Dường như sự thoải mái đã quay lại với cậu, bởi phần nào cậu bé đã nhận ra mình không phải người duy nhất mất đi sự quan tâm, và trên một góc nhìn khác, em gái cậu hoàn toàn không có lỗi khi đã vô tình khiến cậu bị bố mẹ "quên". Hình ảnh bé Kun được vui vẻ, thoải mái chạy nhảy và sủa trong thân hình của một chú cún con, như dịu đi phần nào nỗi buồn của cậu khi bớt được bố mẹ quan tâm. Hình ảnh Mirai từ tương lai xuất hiện, đúng như với tên phim ("Em gái đến từ tương lai" hay "Mirai của tương lai") dường như mới làm người xem cảm thấy.tên phim đi kèm với nội dung =)) Mirai của tương lai xuất hiện, để cất những con búp bê mà bố của hai đứa đã quên làm. Cô bé đã rất lấy được cảm tình từ người anh trai mình với trò chơi "Làm ong" (à vâng, nó là cù đấy ạ). Với một trò chơi đơn giản vậy, tại sao Kun lại yêu thích nó đến thế? Ngay cả khi người kia là Mirai- em gái mà cậu không ưa? Bạn chắc cũng để ý, qua các câu thoại, Kun không hề thích nhà trẻ, bố mẹ thì luôn bận bịu công việc. Đặc biệt sau khi sinh cậu, bố Kun đã bỏ bê công việc làm tròn trách nhiệm của phụ huynh. Ngoại trừ chú chó Yukko làm bạn, Kun vô cùng cô đơn, cậu bé không hề có bạn, ngay cả khi cậu tập đạp xe, Kun cũng không thể nhanh chóng kết bạn hay thậm chí là trò chuyện với những đứa trẻ đồng trang lứa. Bắt nguồn từ vấn đề này, khi nhiều bậc phụ huynh vô tình khiến con cái trở nên cô đơn, hay không để ý nhiều tới tình trạng bạn bè của con cái, đạo diễn Hosoda đã rất tinh tế và khéo léo, khi đã lột tả được tình trạng này, mà không cần quá nhiều hình ảnh, mà chỉ cần vài câu thoại giữa các nhân vật. Để bé Kun vốn đã cô đơn, nay khi có em gái, lại càng mất đi sự quan tâm từ bố mẹ, và Mirai của tương lai xuất hiện, đối mặt và xin giúp đỡ từ người anh đang không ưa mình. Thông qua việc Kun đối mặt với Mirai của tương lai với sự chối bỏ, hay từ góc nhìn của Mirai, là gặp anh trai mình phiên bản trẻ con, đạo diễn Hosoda như muốn nhấn mạnh rằng: thật là trẻ con khi Kun đố kỵ chính em gái ruột của mình chỉ vì cô bé được bố mẹ quan tâm hơn. Dường như không chỉ riêng cậu bé Kun, ai trong chúng ta cũng vậy, ghen ghét, đố kỵ chính đứa em nhỏ hơn của mình sẽ khiến chúng ta trở nên thật "trẻ con", và đứa em không quan tâm tới vấn đề này lại thật "người lớn", giống hệt như khi Mirai của tương lai là "người lớn" so với bé Kun của hiện tại thật "trẻ con". Chi tiết tiếp theo là khi bé Kun gặp ông cố của mình, cậu đã học được cách vượt qua nỗi sợ để tập đi xe đạp. Đầu tiên, Kun muốn đi xe đạp 2 bánh không phải để cậu bé biết đi, mà là để "bằng bạn bằng bè". Với mong ước nửa vời như vậy, lại không được bố chăm chút kỹ càng, cậu bé nhanh chóng bỏ cuộc. Do cậu không được bố chú ý, do cậu không được hướng dẫn tận tình, và trên hết, do cậu sợ ngã xuống. Quay về với cây sồi diệu kỳ, cậu bé đã được đưa về quá khứ, gặp ông cố, được ông cố cho đi ngựa lần đầu tiên, được ông cố cho đi cùng trên chiếc xe máy hiếm hoi thời bấy giờ. Và các bạn hẳn còn nhớ câu nói của ông cố "phương tiện nào cũng như nhau, biết đi một loại là sẽ đi được những loại còn lại". Nếu thực tế một chút, chúng ta sẽ thấy câu nói này. sai quá sai. Tuy nhiên, đối với cậu bé Kun, nó lại đúng. "Phương tiện" dường như là ẩn dụ cho nỗi sợ của cậu, ẩn dụ cho rào cản cậu muốn vượt qua, khi mà cậu không thể đi được xe đạp 2 bánh, khi mà cậu hoảng sợ khi cưỡi ngựa. Nếu như vậy, chẳng phải, ý của ông cố, đối với Kun, dường như muốn nói: khi cậu bé vượt qua được nỗi sợ này, những nỗi sợ còn lại Kun đều có thể vượt qua. Bây giờ mọi chuyện đã khác. Câu nói ấy như tiếp thêm cho Kun sức mạnh, như khiến cậu có thể "nhìn xa, đừng nhìn xuống"- cậu vượt qua nỗi sợ của bản thân, cậu vượt qua chính mình, thay vì nghĩ về thất bại (nhìn xuống), cậu đã hướng đến thành công (nhìn xa). Và khi bé Kun tập đạp xe lần nữa, cậu bé với ánh mắt đầy quyết tâm này đã thành công. Bé Kun thực sự biết quan tâm tới mẹ. Lần thứ 2 gặp nhau, Mirai của tương lai đã hỏi Kun "Anh không quan tâm tới mẹ hay sao?". Khi cậu gặp mẹ mình thời còn nhỏ, cậu đã vỗ nhẹ lên đầu mẹ và nói "ngoan nào, ngoan nào" như một cách an ủi và thể hiện sự quan tâm(lúc này Kun chưa biết đó là mẹ). Và cậu cũng thực hiện hành động tương tự khi nhìn thấy mẹ ở hiện tại đang chảy nước mắt. Cậu thực sự quan tâm tới mẹ, thực sự yêu thương mẹ. Tuy nhiên, trong phân đoạn này, cũng có một chi tiết rất ẩn dụ mà nhiều bạn bỏ qua: hình ảnh đàn cá. Như ta đã biết, mẹ của Kun không được phép nuôi thú cưng. Nhưng nếu bạn để ý, sự thực là mẹ của Kun vẫn nuôi cá đấy thôi. Chắc hẳn nhiều bạn từng mong muốn được nuôi chó, mèo cho thỏa, nhưng thay vì vậy, bạn lại nhận được một bế cá từ bố mẹ. Dường như hình ảnh đàn cá đối với mẹ Kun không phải là "thú cưng", không phải những gì mà cô mong muốn. Và chi tiết Kun vừa khóc vừa hòa mình vào đàn cá (nhưng bơi ngược đàn) như phần nào khiến người xem cảm thấy cậu đang tự nghĩ mình thành những chú cá kia: một sự không mong muốn. Tuy vậy, cậu bơi ngược đàn cá, nên cậu không thuộc đàn cá ấy, chi tiết này như sự khẳng định rằng: bé Kun không phải đàn cá kia, bé Kun đang lầm tưởng rằng mình là đứa con mẹ không mong muốn. Một chi tiết ẩn dụ rất ít người nhận ra, tuy nhiên, ý nghĩa lại mang tính thực tế cao, khi mà sự đố kỵ với em trai/ gái sẽ khiến hầu như ai cũng từng có cảm giác như vậy. Không chỉ với mẹ, Kun còn biết quan tâm tới em gái mình, tới Mirai. Sự kỳ ảo của bộ phim dần được đẩy cao khi dần đến hồi kết. Khi mà Kun quyết định chọn "chiếc quần màu vàng ưa thích" thay vì chọn đi chơi với gia đình, cậu được kéo tới một thế giới khác, mà mình không dám khẳng định là dị giới, là tương lai, hay là do trí tưởng tượng của Kun phóng đại hết lên. Kun lạc trong nhà ga, giữa một rừng những người lạ không quen biết, được ẩn dụ bằng cách không vẽ mặt, hay vẽ sơ sài. Và cậu đã tự nhận mình là "vật bị thất lạc". Ta như thấy được trong những vấn đề không hồi kết mà bé Kun gặp phải, quả thật, cậu là "vật bị thất lạc", cậu đã lạc mất bản thân mình, cậu đã đẩy cái tôi cá nhân lên quá cao, quan tâm đến sở thích cá nhân lên trên những điều thực sự sẽ đem lại niềm vui, những điều cậu thực sự muốn. Và nếu bạn để ý kỹ hơn chút, bé Kun được khắc họa với đam mê tàu hỏa, đến mức thuộc tên từng con tàu một. Tàu hỏa như tượng trưng cho bản thân cậu, cho ước mơ và tương lai của cậu. Và khi chuyến tàu đáng sợ dẫn đến sự cô đơn gọi mời, cậu đã chối từ nó, và cậu đã kiên quyết bảo vệ Mirai- em gái cậu khỏi nó. Lại là một hình ảnh ẩn dụ nữa, vâng. Đạo diễn Hosoda cực kỳ tinh tế trong phân đoạn này, khi mà lúc đầu, Kun từ chối gia đình vì muốn thỏa mãn bản thân, tuy nhiên, khi chính vì điều đó, bản thân Kun sẽ trở nên cô đơn như chiếc tàu hỏa kia: không ai cạnh bên nó, lúc nào cũng trở nên đáng sợ, cậu sẽ từ chối tương lai đấy, và thừa nhận trách nhiệm làm anh của mình, bảo vệ Mirai khỏi tương lai ấy, khỏi chuyến tàu cô đơn ấy. Ngay sau hành động đó, bé Kun không còn là "vật bị thất lạc nữa", cậu tìm lại được chính bản thân mình, và cậu đã lựa chọn được điều gì mình thực sự mong muốn, cái tôi cá nhân hay gia đình. Cậu cũng dần yêu quý Mirai hơn, cậu đã dần trưởng thành. Kết lại, đây là những ý nghĩa mà có thể bạn đã bỏ qua. Liệu mình có thiếu chi tiết nào không nhỉ? Hãy góp ý cho mình trong phần comment dưới đây để bài review được hoàn chỉnh hơn nhé! | Mirai | Mirai: Em gái đến từ tương lai (未来のミライ, Mirai no Mirai) là một bộ phim hoạt hình Nhật Bản thuộc thể loại chính kịch, phiêu lưu kỳ ảo do Hosoda Mamoru đạo diễn và biên kịch, được Studio Chizu sản xuất. Nội dung kể về cuộc sống của cậu bé Kun sau khi cô em Mirai ra đời. Phim được công chiếu lần đầu tại Liên hoan phim Cannes vào ngày 16 tháng 5 năm 2018 và bắt đầu công chiếu tại Nhật Bản từ ngày 20 tháng 7 năm 2018. Kun, một cậu bé sinh ra từ một gia đình mà trong đó cha cậu là kiến trúc sư. Ngôi nhà Kun sống được thiết kế xung quanh một cái cây, tại đây Kun dành thời gian vui chơi với chú chó Yukko và bộ đồ chơi xe lửa của cậu. Khi Kun lên bốn tuổi, mẹ cậu sinh hạ em gái Mirai (未来, nghĩa là "tương lai"), Kun không vui vẻ khi thấy mẹ về nhà cùng người em mới. Cha mẹ cậu ngày qua ngày dành tình thương và chỉ tập trung vào Mirai, khiến Kun cảm thấy xa lánh và cậu quyết đánh cô em bằng một tàu xe lửa trong bộ đồ chơi. |
Bảo hiểm xã hội là gì ? Khái niệm và các quy định pháp luật mới nhất về bảo hiểm. Quyền và nghĩa vụ khi tham gia bảo hiểm xã hội như thế nào. Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Có 03 loại bảo hiểm xã hội chính: Bảo hiểm xã hội bắt buộc, bổ sung và hưu trí bổ sung. Bảo hiểm hưu trí bổ sung là chính sách bảo hiểm xã hội mang tính chất tự nguyện nhằm mục tiêu bổ sung cho chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, có cơ chế tạo lập quỹ từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật. – Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội. – Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn. – Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội. Người lao động có quyền và trách nhiệm khi tham gia đóng bảo hiểm xã hội. Được tham gia và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định. Nhận lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời, theo một trong các hình thức chi trả sau:. d) Đang hưởng trợ cấp ốm đau đối với người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành. Được chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 45 của Luật này và đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội; được thanh toán phí giám định y khoa nếu đủ điều kiện để hưởng bảo hiểm xã hội. Định kỳ 06 tháng được người sử dụng lao động cung cấp thông tin về đóng bảo hiểm xã hội; định kỳ hằng năm được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận về việc đóng bảo hiểm xã hội; được yêu cầu người sử dụng lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội. Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội. Giới thiệu người lao động thuộc đối tượng quy định của Luật bảo hiểm xã hội đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật. Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, cơ quan bảo hiểm xã hội. Định kỳ 06 tháng, niêm yết công khai thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động; cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu. Hằng năm, niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động do cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp theo quy định. Người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội sẽ được hưởng rất nhiều quyền lợi. | Bảo hiểm xã hội | Bảo hiểm xã hội (viết tắt: BHXH) là sự đảm bảo thay thế được bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Bảo hiểm xã hội là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội ở mỗi nước. Các chế độ của bảo hiểm xã hội đã hình thành khá lâu trước khi xuất hiện thuật ngữ an sinh xã hội. Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên được thiết lập tại nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) dưới thời của Thủ tướng Otto von Bismarck (1850) và sau đó được hoàn thiện (1883-1889) với chế độ bảo hiểm ốm đau; bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp; bảo hiểm tuổi già, tàn tật và sự hiện diện của cả ba thành viên xã hội: người lao động; người sử dụng lao động và Nhà nước. |
Mác bê tông là gì?1. Mác bê tông là gì?2. Mác bê tông tiếng anh là gì?3. Cường độ chịu nén của bê tông là gì?. Cấp độ bền bê tông là gì?1. Cấp độ bền của bê tông là gì?2. Bảng quy đổi cấp độ bền và mác bê tông. Bảng tra cường độ của mác bê tông1. Mác bê tông quy đổi ra cường độ nén2. Cường độ bê tông theo ngày tuổi3. Cường độ bê tông ở 7 ngày và 28 ngày tuổi. Mác bê tông có ký hiệu theo tiêu chuẩn Việt Nam và được dịch lại từ tiêu chuẩn của Liên Xô. Là cường độ chịu nén của mẫu bê tông có hình lập phương với kích thước 15x15x15 cm và được bảo dưỡng trong điều kiện tiêu chuẩn là 28 ngày. Sau thời gian 28 ngày thì bê tông đạt cường độ gần như hoàn toàn là khoảng 99%. Mác bê tông có thể chịu được trọng lực rất lớn. Đối với những loại bê tông để xây dựng nhà cửa và cầu đường, ngoài việc chịu được lực nén thì chúng còn có thể chịu được các lực khác như lực uốn, kéo và trượt. Cường độ chịu nén là áp suất nén phá của bê tông và nó được tính bằng lực trên 1 đơn vị diện tích như là kg/cm2 hay là N/mm2. Ta chỉ chú ý tới cường độ chịu nén của bê tông, còn cường độ chịu kéo của bê tông thường là rất thấp. Nên thường bị bỏ qua. Nhưng kết cấu bê tông có thể chịu được uốn tốt là vì nó được sử dụng cốt thép. Sử dụng khả năng chịu kéo cao của thép để bù đắp cho sự chịu kéo thấp của bê tông. Đặt thép vào trong vùng bê tông chịu kéo để tối ưu khả năng chịu lực và từ đó có thuật ngữ là bê tông cốt thép. Người ta dựa vào loại công trình để phân chia thành các loại tiêu chuẩn thi công. Quy trình lấy mẫu bê tông được tiến hành như sau:. Đối với các khối bê tông mà có kết cấu lớn với khối lượng lớn mỗi trung chuyển 6-10m3 thì chúng ta sẽ lấy một mẫu. Đối với các loại bê tông của công trình mà có kết cấu đơn khối vừa thì >30m3 chúng ta sẽ lấy 1 mẫu. Đối với dầm móng khối lượng khổng lồ thì ta sẽ lấy gấp đôi. Bên cạnh đó, đối với mặt đường thì ta sẽ lấy khoảng 200m3 một mẫu. Các loại bê tông còn lại thì kỹ sư sẽ căn cứ vào các tài liệu để lấy mẫu một cách phù hợp và chính xác nhất. Tiêu chuẩn mới của Việt Nam hiện nay không dùng kí hiệu mác bê tông – M, mà sẽ dùng kí hiệu B – cấp độ độ bền của bê tông. Cấp độ bền của bê tông (B) được xác định từ kết quả của nén mẫu hình trụ. Tức là thay vì lấy mẫu lập phương thì ta sẽ lấy mẫu hình trụ. Sau đó nén mẫu và đưa ra kết quả cường độ chịu nén. Tùy thuộc vào từng công trình để ta có thể có cách chọn mác bê tông phù hợp với công trình. Các công trình thường được tính toán kỹ lưỡng để lên kế hoạch và thiết kế bản vẽ chi tiết lúc đó sẽ được các kỹ sư quyết định. Và có văn bản hồ sơ về mác bê tông gửi xuống công trình. Sau đó các kỹ sư dựa trên thông số Mác và tính toán rồi mới thực hiện thi công đổ bê tông. Nếu như công trình thuộc loại nhỏ, lẻ thì các được các nhà thầu lựa chọn theo kinh nghiệp của họ. Mác bê tông được chia thành 3 loại chính là : Mác thấp, Mác trung bình, Mác cao. Mác cao là loại bê tông được thiết kế cấp phối và trộn tại nhà máy. | Mác bê tông | Khi nói đến mác bê tông là nói đến khả năng chịu nén của mẫu bê tông. Theo tiêu chuẩn xây dựng cũ của Việt Nam (TCVN 3105:1993, TCVN 4453:1995), mẫu dùng để đo cường độ là một mẫu bê tông hình lập phương có kích thước 150 mm × 150 mm × 150 mm, được dưỡng hộ trong điều kiện tiêu chuẩn quy định trong TCVN 3105:1993, trong thời gian 28 ngày sau khi bê tông ninh kết. Sau đó được đưa vào máy nén để đo ứng suất nén phá hủy mẫu (qua đó xác định được cường độ chịu nén của bê tông), đơn vị tính bằng MPa (N/mm²) hoặc daN/cm² (kG/cm²). Trong kết cấu xây dựng, bê tông chịu nhiều tác động khác nhau: chịu nén, uốn, kéo, trượt, trong đó chịu nén là ưu thế lớn nhất của bê tông. Do đó, người ta thường lấy cường độ chịu nén là chỉ tiêu đặc trưng để đánh giá chất lượng bê tông, gọi là mác bê tông. Mác bê tông được phân loại từ 100, 150, 200, 250, 300, 400, 500 và 600. Khi nói rằng mác bê tông 200 chính là nói tới ứng suất nén phá hủy của mẫu bê tông kích thước tiêu chuẩn, được dưỡng hộ trong điều kiện tiêu chuẩn, được nén ở tuổi 28 ngày, đạt 200 kG/cm². |
Việc tạo dựng mà phát triển một thương hiệu mới trên thị trường sẽ làm tốn khá nhiều thời gian, công sức và tiền của để gây dựng một thương hiệu có chỗ đứng, được nhiều người biết tới. Chính vì thế, một hình thức rất được nhiều người lựa chọn đó là nhượng quyền kinh doanh từ những thương hiệu đã có sẵn. Nhượng quyền cho phép chủ đầu tư kiếm tiền nhanh chóng ngay từ những thương hiệu đã được xây dựng sẵn từ trước của người khác. Bài viết này sẽ giúp quý bạn đọc hiểu được nhượng quyền kinh doanh là gì và những mô hình nhượng quyền phổ biến hiện nay. Các mô hình nhượng quyền thương hiệu phổ biến hiện nay** Nhượng quyền kinh doanh toàn diện** Nhượng quyền (Franchise) không toàn diện** Nhượng quyền có đầu tư vốn** Nhượng quyền thương hiệu có tham gia quản lý. Nó còn được gọi là Franchise, bản chất của nó có thể hiểu đơn giản là một giao dịch mà trong đó bên nhượng cho phép bên mua (một cá nhân, tổ chức nào đó) kinh doanh sản phẩm, mô hình, cách thức kinh doanh dựa trên hình thức và phương pháp kinh doanh đã có trên thị trường từ trước của mình. Đổi lại, bên mua sẽ phải trả một số tiền nhất định hoặc một phần trăm doanh thu nào đó từ việc kinh doanh sản phẩm cho bên nhượng quyền. Nhìn chung, các điều kiện trao đổi sẽ tùy theo thỏa thuận của hai bên dựa trên tình hình thực tế và được ghi nhận trong hợp đồng nhượng quyền. Hợp đồng nhượng quyền kinh doanh ở mô hình này có thể lên tới 30 năm. Bên mua sẽ phải trả các loại phí như:. – Nhượng quyền phân phối sản phẩm: Bên nhận quyền không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm mà chỉ tập trung vào khâu phân phối ra thị trường. – Nhượng quyền công thức sản xuất và tiếp thị: Bên bán cung cấp quyền kinh doanh và hỗ trợ các hoạt động tổ chức, vận hành, tiếp thị cho bên mua. – Nhượng quyền theo kiểu dùng chung tên hiệu: Loại hình này thường xuất hiện ở các công ty cung cấp dịch vụ chuyên môn cao, các loại tư vấn kinh doanh, pháp lý. – Cấp phép sử dụng thương hiệu: Hình thức này nhượng quyền sử dụng thương hiệu, cho việc sản xuất các mặt hàng không chung ngạch. Mô hình nhượng quyền này được hiểu đơn giản là việc người bán tham gia góp vốn vào cơ sở nhượng quyền. Bằng cách này, người bán có thể tham gia sâu hơn vào công việc kinh doanh của bên mua. Mô hình nhượng quyền này đặc biệt so với các mô hình trên bởi bên nhượng quyền sẽ cung cấp cả quản lý và bộ phận điều hành cho bên mua. Nó phù hợp với những bên bán có nhu cầu quản lý chất lượng chuỗi nhượng quyền thương hiệu. Điển hình có chuỗi khách sạn Marriott đã và đang áp dụng mô hình nhượng quyền kinh doanh này. Là một luật sư giỏi trong lĩnh vực Sở Hữu Trí Tuệ. Đặc biệt bà Nhung là chuyên gia tư vấn giải đáp mọi thắc mắc về nhãn hiệu, thương hiệu nổi tiếng, hiện bà là Trưởng Phòng Nhãn hiệu của văn phòng luật TGS. Là một luật sư giỏi trong lĩnh vực Sở Hữu Trí Tuệ. Đặc biệt bà Dinh là chuyên gia tư vấn giải đáp mọi thắc mắc về nhãn hiệu, thương hiệu nổi tiếng,Hiện bà là Trưởng Phòng Nhãn hiệu của văn phòng luật TGS. Là chuyên gia pháp lý về lĩnh vực Sở Hữu Trí Tuệ. Đã tham gia tư vấn cho các Khách hàng trong và ngoài nước về các vấn đề về đăng ký bảo hộ và giải quyết tranh chấp về Nhãn hiệu, Thương hiệu, Kiểu dáng, Sáng chế | Nhượng quyền kinh doanh | Nhượng quyền kinh doanh (nguyên văn từ tiếng Pháp: franchise, nghĩa là trung thực hay tự do) là việc cho phép một cá nhân hay tổ chức (gọi là bên nhận nhượng quyền) được kinh doanh hàng hoá hay dịch vụ theo hình thức và phương pháp kinh doanh đã được thử thách trong thực tế của bên nhượng quyền ở một điểm, tại một khu vực cụ thể nào đó trong một thời hạn nhất định để nhận một khoản phí hay một tỷ lệ phần trăm nào đó từ doanh thu hay lợi nhuận. Bên nhượng quyền (franchisor) phải đảm bảo cung cấp đúng, đủ và hỗ trợ thành viên gia nhập hệ thống đó; còn bên nhận nhượng quyền (franchisee) phải đảm bảo thực hiện theo đúng các khuôn mẫu, tiêu chuẩn nghiêm ngặt của hệ thống, từ cách trang trí đến nội dung hàng hóa và dịch vụ, giá cả được chuyển giao. Các tài sản hữu hình và vô hình khác, như quảng cáo, tập huấn quốc tế và quốc nội cũng như các dịch vụ hỗ trợ khác nói chung được bên nhượng quyền thực hiện, và trên thực tế có thể được bên nhượng quyền yêu cầu, nói chung là đòi hỏi sổ sách kế toán phải được kiểm toán và buộc bên nhận nhượng quyền và/hoặc các đại lý phải chấp nhận việc kiểm tra định kỳ và đột xuất. |
Ưu điểm và nhược điểm của dân chủ trực tiếpBài liên quan trên Thống Kê Nhà Đất:. Dân chủ trực tiếp là khái niệm xuất hiện khá sớm trong lịch sử tư tưởng chính trị thế giới. Ở nước ta, Hiến pháp năm 2013 ra đời đã đánh dấu bước phát triển mới khi ghi nhận rõ quyền con người, quyền tự do dân chủ và phương thức hiện dân chủ trực tiếp của nhân dân. Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng, tự do và quyền con người. Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định. Là hình thức tổ chức chính trị của Nhà nước, dân chủ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, như vậy dân chủ là một phạm trù lịch sử, cũng như các biểu hiện khác của hình thái ý thức xã hội, dân chủ do tồn tại xã hội quyết định, do phương thức sản xuất vật chất của xã hội quyết định; và do đó, trình độ của phương thức sản xuất khác nhau tất yếu dẫn đến sự khác nhau về trình độ dân chủ (mức độ thực hiện dân chủ và dân chủ hoá trong xã hội). Dân chủ biến đổi và phát triển không ngừng cả về chất và lượng trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người. Tuy nhiên, dân chủ với tính cách là giá trị xã hội, là thành quả giá trị nhân văn trước hết được sinh ra từ phương thức tổ chức hợp tác sản xuất vật chất và cấu kết cộng đồng giữa người với người thì đã tồn tại ngay từ xã hội cộng sản nguyên thuỷ. Và do đó, với ý nghĩa này, dân chủ sẽ tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của con người, là một trong những phương thức tồn tại của con người ngay cả khi Nhà nước đã biến mất. Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện là hai hình thức biểu hiện của cùng thực thể dân chủ, cả hai hình thức này đều đóng một vai trò quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện dân chủ, là hai hình thức không thể thiếu được của việc quản lý, điều hành, kiểm soát và thực thi quyền lực của nhân dân. Việc vận dụng chúng hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình cụ thể. Giữa hai hình thức này có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại và chuyển hoá cho nhau. Để thực hiện được dân chủ đại diện thì phải cần đến dân chủ trực tiếp, chẳng hạn việc bầu cử lựa chọn ra các đại biểu Quốc hội hay đại biểu Hội đồng nhân dân, nghĩa là trước khi mỗi công dân chuyển giao quyền lực của mình cho người đại diện ư những đại biểu dân cử và cho Nhà nước thì họ đã phải thực hiện dân chủ trực tiếp bằng cách:. Thứ nhất, tham gia vào hội nghị hiệp thương nhân dân để lựa chọn các ứng cử viên hoặc thông qua tiếp xúc trực tiếp với một hay một số ứng cử viên mà mình sẽ lựa chọn; thứ hai, thông qua việc bỏ phiếu kín, trên nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, công bằng, công khai và minh bạch, để lựa chọn cho mình một đại biểu ưu tú dựa trên ý chí quyết định của chính mình. Ngược lại, đến lượt mình, các đại biểu Quốc hội (nghị sĩ) khi thực hiện quyền lực của công dân (cử tri) giao cho thì lại cần phải dựa trên phương thức dân chủ trực tiếp, nghĩa là tham gia một cách trực tiếp và thể hiện ý chí của mình trong việc lập pháp cũng như các công việc quan trọng khác của Nhà nước. Dân chủ trực tiếp là một trong hai hình thức chính của dân chủ. Với dân chủ trực tiếp, người dân tự mình quyết định các luật lệ và chính sách quan trọng của cộng đồng và đất nước. Theo nghĩa đó, dân chủ trực tiếp gắn liền với nguồn gốc, bản chất của khái niệm dân chủ ((demokratia/ƌƞµο- ĸρтіⱭ tiếng Hy Lạp) có nghĩa là “quyền lực/sự cai trị của nhân dân”)… Chính vì vậy, dân chủ trực tiếp còn được gọi là dân chủ đích thực/nguyên nghĩa và được xem là biểu hiện cho chính quyền của dân, do dân và vì dân. Ở Việt Nam, qua bốn bản Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 đến Hiến pháp năm 4992 đều có quy định về trưng cầu ý dân (Hiến pháp năm 1946 – Điều 32. 70; Hiến pháp năm 4959 – Điều 53; Hiến pháp năm 1980 – Điều 100; Hiến pháp năm 1992 – Điều 84). Do những điều kiện khách quan, chủ quan, cho đến nay, chưa có cuộc trưng cầu ý dân nào được tiến hành. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XI đã có dự án luật về trưng cầu ý dân. Bầu cử các đại biểu thay mặt mình ở cơ quan đại diện như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp là hình thức dân chủ trực tiếp quan trọng. Nghị quyết của các cuộc họp dân chủ trực tiếp ở cơ sở cũng là hình thức dân chủ trực tiếp khá phổ biến ở nhiều nước. Các cuộc tổ chức lấy ý kiến của nhân dân về các dự án luật tuy không trực tiếp, nhưng cũng là hình thức dân chủ được coi trọng. Ở nước ta, quan niệm về dân chủ trực tiếp có nhiều cách hiểu khác nhau. Nhưng tựu chung lại, các quan điểm đều thống nhất cho rằng: Dân chủ trực tiếp cần được hiểu là sự thể hiện ý chí một cách trực tiếp của người dân về một vấn đề nào đó thuộc phạm vi quyền lực nhà nước mà không cần thông qua tổ chức hay cá nhân nào. Sự thể hiện ý chí này có ý nghĩa quyết định, bắt buộc phải được thi hành ngay. Theo cách hiểu này, trưng cầu ý dân và Hội nghị nhân dân của nam giới ở các thành bang Hy Lạp cổ đại là hai hình thức duy nhất của dân chủ trực tiếp. Tuy nhiên, chế độ dân chủ trực tiếp ở Aten (Hy Lạp-508-322 trước Công nguyên), đế quốc La Mã cổ đại (509-27 trước Công nguyên) chưa hoàn chỉnh, bởi quyền bỏ phiếu chỉ được trao cho các công dân nam, còn phụ nữ, người nước ngoài và nô lệ không được hưởng quyền này. Dân chủ trực tiếp là phương thức tôn trọng và thực hiện dân chủ trong các tổ chức, cộng đồng hay xã hội, theo đó quyền dân chủ của các thành viên trong tổ chức, hội đó được thực hiện một thành viên đó. Dân chủ trực tiếp là việc Nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước.Tức là Nhân dân thể hiện một cách trực tiếp ý chí của mình (với tư cách là chủ thể quyền lực nhà nước) về một vấn đề nào đó mà không cần thông qua cá nhân hay tổ chức thay mặt mình và ý chí đó có ý nghĩa bắt buộc phải thi hành. Hình thức biểu hiện cụ thể của dân chủ trực tiếp như ứng cử, bầu cử Quốc hội, HĐND, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, trưng cầu dân ý… Các cuộc đối thoại trực tiếp của nhân dân với cơ quan Nhà nước hiện nay cũng là hình thức biểu hiện của dân chủ trực tiếp. Phương thức thực hiện dân chủ trực tiếp còn có nhiều quan niệm khác nhau xuất phát từ góc độ tiếp cận. Tuy nhiên, về cơ bản, khoa học chính trị và pháp lý Việt Nam có sự đồng thuận tương đối trong việc thừa nhận những hình thức dân chủ trực tiếp phổ biến nhất gồm: bầu cử, bãi miễn đại biểu, trưng cầu ý dân, thực hiện quyền sáng kiến lập pháp; bỏ phiếu toàn dân và lấy ý kiến có tính quyết định tại cơ sở. Bên cạnh đó, một số hình thức khác thể hiện ý chí của công dân cũng mang dấu hiệu của dân chủ trực tiếp (tính trực tiếp thể hiện ý chí, tính tự mình thực hiện, tính quyền lực) cũng có thể được xem là các biểu hiện đa dạng của dân chủ ở Việt Nam: khiếu nại, tố cáo, phản biện xã hội, tư vấn xã hội, dân nguyện. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ tiếp cận, phân tích những phương thức cơ bản nhất, mang đầy đủ những đặc trưng của dân chủ trực tiếp là: là một chế độ gắn liền với Nhà nước, phân biệt với các quyền cụ thể; là cách thức làm chủ của nhân dân: thể hiện ý chí trong các lĩnh vực liên quan đến việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội; được thể hiện ý chí một cách trực tiếp, không phải thông qua một chủ thể trung gian nào và có hiệu lực trực tiếp, phải được thi hành ngay. Trên thực tế, ở mức độ nhất định, một số hình thức hoạt động quyền lực khác của người dân cũng phản ánh những đặc trưng mang tính bản chất của dân chủ trực tiếp ở các mức độ khác nhau. Các hình thức đó cũng cần được nhận diện như là những biểu hiện đa dạng và đặc thù của dân chủ trực tiếp trong cơ chế thực hiện quyền lực ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá các phương thức thực hiện dân chủ trực tiếp cơ bản, có tính phổ biến được pháp luật thực định Việt Nam quy định. Các hoạt động cụ thể nhằm thực hiện dân chủ trực tiếp có thể là việc đóng góp ý kiến vàc các quyết sách và văn bản quản lí của chính t6 chức đó hoặc bầu cử trực tiếp dân chủ trực tiếp đượi một loạt các thiết chế pháp lí cụ thể về các hình thức. phương tiện, cơ chế, thông qua đó, nhân dân trực tiếp thực hiện quyền dân chủ, thể hiện quyền làm chủ xã hội của mình. Thông thường, trong chế định dân chủ trực tiếp, trưng cầu ý dân là hình thức dân chủ trực tiếp cao nhất, qua đó, nhân dân trực tiếp biểu thị ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề có tính quốc sách. Trên thế giới, Ở nhiều nước, trưng cầu ý dân được xem là hình thức dân chủ thuần khiết. Ưu điểm của dân chủ trực tiếp: Đây là hình thức dân chủ thuần khiết nhất: Mọi thành viên của cộng đồng, xin nhấn mạnh là mọi thành viên, đều có quyền ra quyết định. Tất cả đều được trình bày quan điểm và lợi ích mà không phải thông qua chính trị gia hay đảng phái, tổ chức nào. Ai ai cũng được tiếp cận thông tin, có thông tin và có cơ hội hiểu biết. | Dân chủ trực tiếp | Dân chủ trực tiếp, hay còn gọi là dân chủ thuần túy (pure democracy) là một hình thức nhà nước dân chủ trong đó các công dân của một quốc gia trực tiếp bỏ phiếu thông qua luật pháp của quốc gia đó thay vì bầu ra các đại diện để chấp thuận các luật đó. Lịch sử dân chủ La Mã cổ đại bắt đầu khoảng năm 449 TCN cũng có liên quan. Trong nền Cộng hòa La Mã cổ đại, việc làm luật của công dân (citizen lawmaking)"— sự phát biểu và thông qua luật của công dân; cũng như quyền phủ quyết của công dân về luật do lập pháp đưa ra— bắt đầu vào khoảng năm 449 TCN và kéo dài khoảng 400 năm đến khi Julius Caesar chết năm 44 TCN. Nhiều sử gia đánh dấu sự kết thúc của nền cộng hòa đó vào thời điểm thông qua luật có tên Lex Titia vào ngày 27 tháng 11 năm 43 TCN (Cary, 1967). Tuy nhiên, từ thời dân chủ Athen, hình thức chính quyền này hiếm khi được dùng (chỉ một số chính phủ thi hành một phần chứ không như thời Athen cổ). Các nền dân chủ đầu phiếu hiện đại nhìn chung chỉ dựa trên các đại diện dân chủ được nhân dân bầu ra và thường được gọi là dân chủ đại diện. |
Vua Juan Carlos của Tây Ban Nha sẽ thoái vị, theo thông báo của Thủ tướng Mariano Rajoy. Nhà vua Juan Carlos nay 76 tuổi, lên ngôi vua vào năm 1975, chứng kiến cảnh đất nước chuyển từ thời kỳ độc tài dưới tướng Francisco Franco sang chế độ dân chủ. Trong hầu hết khoảng thời gian trị vì của mình, ông được coi là một trong những quân vương được ưa chuộng nhất trên thế giới, nhưng gần đây nhiều người dân Tây Ban Nha đã dần mất lòng tin vào ông. Tên tuổi của vị vua Tây Ban Nha bị hoen ố do cuộc điều tra tham nhũng kéo dài đối với con gái và con rể. Sự ủng hộ ông càng xuống thấp vì thông tin và hình ảnh ông tham gia cuộc săn voi hoang phí ở Botswana trong lúc Tây Ban Nha trong cảnh khủng hoảng tài chính. Ông Rajoy nói vua Juan Carlos từ chức vì lý do cá nhân. Sức khỏe của ông ngày càng giảm sút và ông đã phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật hông trong những năm gần đây. Thủ tướng Tây Ban Nha nói nhà vua là “người bảo vệ lợi ích của chúng ta một cách không mệt mỏi”. “Tôi tin rằng đây là thời khắc tốt nhất cho sự thay đổi,” ông nói thêm. Các bộ trưởng sẽ tham gia một cuộc họp liên quan tới vấn đề này, theo Thủ tướng Rajoy. Hồi đầu tháng Một năm nay, chỉ số trưng cầu dân ý được đưa ra cho thấy 62% người dân Tây Ban Nha muốn ông thoái vị, và chưa đầy nửa còn lại vẫn muốn có hoàng gia. Tuy nhiên, cũng cuộc trưng cầu dân ý của Sigma Dos thực hiện cho báo El Mundo cho thấy rằng đa số ủng hộ Thái tử Felipe và tin ông sẽ lấy lại được danh tiếng của họ tộc. Công chúa Infanta Cristina phải ra hầu tòa hồi đầu năm nay do có liên quan tới một số vụ làm ăn của chồng, ông Inakin Urdangarin. Đây được cho là lần đầu tiên một người có liên quan trực tiếp tới Hoàng gia phải hầu tòa do cáo buộc về những việc làm sai trái. Bà Infanta Cristina là con giữa trong gia đình, bà có một chị gái, Infanta Elena, và một em trai, Thái tử Felipe, người kế vị ngôi vua trong tương lai. | Juan Carlos I của Tây Ban Nha | Juan Carlos I (phát âm tiếng Tây Ban Nha: ; tiếng Aragon: Chuan-Carlos I; tiếng Asturian: Xuan Carlos I; tiếng Basque: Jon Karlos Ia; tiếng Catalunya: Joan Carles I; tiếng Galicia: Xoán Carlos I; tên rửa tội Juan Carlos Alfonso Víctor María de Borbón y Borbón-Dos Sicilias; sinh ngày 5 tháng 1 năm 1938 tại Roma, Ý) là vua Tây Ban Nha từ 1975 cho đến khi thoái vị vào ngày 18 tháng 6 năm 2014. Ngày 22 tháng 11 năm 1975, 2 ngày sau cái chết của Francisco Franco, Juan Carlos đã được đưa lên ngôi vua theo luật kế vị được Franco ban hành. Ông đã thành công trong việc chuyển đổi Tây Ban Nha sang một nước có thể chế quân chủ lập hiến. Các cuộc điều tra năm 2000 cho thấy ông là người được dân chúng Tây Ban Nha tán thành. Các tước hiệu của Juan Carlos bao gồm vua Jerusalem (tranh chấp với những người khác), là người kế vị của hoàng gia Napoli. Ông cũng là người có dòng dõi của nữ hoàng Victoria của Anh thông qua bà của ông, Victoria Eugenie; của Louis XIV của Pháp thông qua Dòng họ Bourbon; của Hoàng đế Karl V, người thuộc về triều đại Habsburg của Đế quốc La Mã Thần thánh; của Dòng họ Savoie của Ý.vv. |
Giới phân tích tin rằng nguyên nhân trực tiếp đẩy Nhật Bản vào thập niên mất mát là sự hình thành và đổ vỡ bong bóng bất động sản, kéo theo diễn biến tương tự trên các thị trường chứng khoán, tín dụng. Nhưng gốc rễ của vấn đề vẫn là những sai lầm về chính sách. Bong bóng tài sản Nhật Bản hình thành sau thời gian dài nở rộ kinh tế hậu chiến tranh và bắt đầu tăng tốc vào nửa cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, một phần vì những chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ). Với việc tiếp cận tín dụng dễ dàng, các doanh nghiệp nhanh chóng biến nền kinh tế đất nước chuyển sang đặt nền tảng trên công nghệ, đặc biệt trong ngành điện tử tiêu dùng, viễn thông và tài chính. Nhu cầu đối với các sản phẩm công nghệ mới và tiên tiến hơn, cộng với mức sống gia tăng, đã nuôi dưỡng “cơn điên đầu tư tài sản” được biết đến với tên “cơn sốt Heisei”, theo tên của vị Nhật Hoàng lên ngôi năm 1989. Giá trị của đồng yen tăng mạnh trong thời kỳ này nhờ Tokyo vươn lên thành một trung tâm tài chính quốc tế, cộng với tác động từ Thỏa thuận Plaza 1985 - một thỏa thuận điều chỉnh tỷ giá USD giảm so với yen. Thị trường chứng khoán Nhật Bản tăng đột biến trong thời gian này, với chỉ số Nikkei 225 tăng hơn 300% từ năm 1985 đến 1989. Thị trường bất động sản Nhật Bản lên cơn sốt khi giá nhà ở bình quân tăng 51%/năm, trong khi giá bất động sản thương mại tăng 80%/năm trong giai đoạn1985-1991. Điều này khiến niềm tin của giới đầu tư lên cao quá mức khi họ sẵn sàng đổ tiền mà không cần cân nhắc, dẫn đến nhiều quyết định đầu tư xấu. Các ngân hàng cũng sôi động không kém, đã vay gần 200.000 tỷ yen (3.400 tỷ USD) từ các thị trường nước ngoài trong giai đoạn này. Tính đến năm 1991, các ngân hàng Nhật Bản chỉ dự trữ 3.000 tỷ yen để dự phòng cho 450.000 tỷ yen đã cho vay. Điều nguy hiểm là việc quản lý rủi ro hầu như chả mấy ai bận tâm, khi chỉ cần vung tiền hôm nay là ngày mai kiếm được một khoản lời to. Giới đầu tư bỏ ngoài tai mọi cảnh báo. Cơn sốt trên thị trường bất động sản đã khiến thị trường chứng khoán (TTCK) Nhật Bản hình thành bong bóng. Chỉ số Nikkei 225 từ 13.000 điểm năm 1986 tăng tới mức 38.975 điểm năm 1989. Và khi thị trường bất động sản vỡ bong bóng, chỉ số này nhanh chóng lao dốc, từ 38.975 điểm năm 1989 xuống còn 15.025 điểm vào tháng 7-1992 và tiếp tục rơi tự do trong thập niên mất mát. Tính đến tháng 4-2003, chỉ số Nikkei 225 chỉ còn 7.603 điểm, hiện nay dao động quanh mức 9.000 điểm. Mặc dù các ngân hàng/định chế tài chính đóng một vai trò chủ yếu trong việc hình thành và vỡ bong bóng ở Nhật Bản, chính sách tiền tệ cũng là một nguyên nhân gốc rễ. BoJ tạo tiền đề cho cơn sốt tài sản khi nới lỏng tín dụng và đưa lãi suất dần đến những mức thấp giả tạo. Điều này khuyến khích cá nhân và doanh nghiệp chấp nhận mang nợ mà bình thường họ không dám mang, hay quyết định đầu tư những thứ lẽ ra không nên đầu tư. Khi một ngân hàng trung ương tăng cung tiền và hướng lãi suất xuống dưới mức lẽ ra ở một thị trường tự do, nó gửi đi dấu hiệu sai lầm khiến các doanh nghiệp vay mượn và đầu tư nhiều hơn vào các dự án tư bản và các loại hàng hóa bình thường họ không nghĩ đến. Tương tự, người tiêu dùng sẵn sàng đi vay nhiều hơn để mua nhà thế chấp, chi tiêu mạnh tay hơn qua các loại thẻ tín dụng, tiết kiệm ít, chi tiêu nhiều. Nhưng bữa tiệc tín dụng không thể kéo dài mãi và khi lãi suất tăng trở lại, các khoản đầu tư xấu lộ diện - một sự thật đau đớn được làm rõ: hầu hết các khoản tín dụng thoải mái vay mượn trước đây không dễ trả. Từ tháng 1-1986 đến tháng 2-1987, BoJ hạ lãi suất chiết khấu từ 5% xuống 2,5%, dẫn đến sự bùng nổ giá bất động sản và chứng khoán. Nhận thấy bong bóng đang hình thành, BoJ sau đó tăng lãi suất 5 lần chỉ trong 2 năm 1989 và 1990, lên mức 6%. Sự gia tăng này khiến các khoản đầu tư tồi, nợ xấu lộ diện, chứng khoán bắt đầu chuỗi trượt giá kéo dài và đau đớn. Khi suy thoái bắt đầu manh nha vào năm 1990 sau khi TTCK sụp đổ, Nhật Bản đáp lại bằng cách đảo ngược chính sách tiền tệ thắt chặt thành nới lỏng, hạ lãi suất xuống 4,5% năm 1991; 3,25% năm 1992; 1,75% năm 1993 và 1994; 0,5% từ năm 1995-2000 và thấp kỷ lục 0,1% từ tháng 9-2001. Các nhà hoạch định chính sách thời hậu bong bóng đều tin rằng hạ lãi suất sẽ giúp tín dụng dễ tiếp cận, từ đó tái tạo môi trường từng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhưng có một điều phi lý là các nhà chức trách đã chữa một cuộc vỡ bong bóng gây ra bởi chính sách tín dụng dễ dãi bằng tín dụng dễ dãi hơn. Bài học được rút ra: Khi chính sách tiền tệ được dùng để xoa dịu hay điều chỉnh thị trường, hậu quả khó tránh khỏi là trong một số trường hợp có thể gây tổn hại cho tăng trưởng kinh tế dài hạn. | Thập niên mất mát (Nhật Bản) | Thập niên mất mát (tiếng Nhật: 失われた10年 - ushinawareta jūnen) là tên gọi thời kỳ trì trệ kinh tế kéo dài của Nhật Bản suốt thập niên 1990. Sau khi bong bóng tài sản vỡ vào những năm 1990-1991, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản thấp hẳn đi. Bình quân hàng năm trong suốt thập niên 1990, tổng sản phẩm quốc nội thực tế của Nhật Bản lẫn tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người chỉ tăng 0,5%, thấp hơn so với hầu hết các nước công nghiệp tiên tiến khác. Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng nhanh qua từng năm. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của GDP trên đầu người của Nhật Bản giảm xuống mức thấp trong những năm 1990 có thể là do mức tăng của năng suất tổng nhân tố (TFP) giảm. Sở dĩ mức tăng của TFP ở Nhật Bản thời kỳ 1991-2000 lại giảm mạnh là do chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động thiếu hiệu quả. Việc này khiến cho các nhà sản xuất thiếu hiệu quả lại sản xuất được một phần sản lượng nhiều thêm. Chính sách này còn hạn chế đầu tư tăng năng suất. |
Ngành công nghiệp đang phát triển như vũ bão hiện nay, đưa nước ta đến một tầm cao mới so với khu vực và trên thế giới. Thế nhưng, bên cạnh đó thì tình trạng không khí độc hại gây ảnh hưởng đến sức khỏe người công nhân, bầu khí quyển dần nóng lên làm cho khí hậu ngày một nóng, làm giảm năng suất làm việc. Vì vậy, thông gió công nghiệp được các chủ nhà máy sản xuất áp dụng hàng đầu hiện nay. Thông gió: là quá trình thay đổi hoặc thay thế không khí trong bất kỳ không gian nào về cung cấp không khí chất lượng cao bên trong (tức là kiểm soát nhiệt độ, bổ sung oxy, hoặc loại bỏ hơi ẩm, mùi hôi, khói, hơi nóng, bụi, vi khuẩn trong không khí, và cacbon dioxit). Hệ thống thông gió được sử dụng để loại bỏ những mùi khó chịu và hơi ẩm quá mức, đưa không khí bên ngoài vào, ngăn chặn tình trạng trì trệ của không khí bên trong. Vậy thông gió công nghiệp là dùng quạt công nghiệp gắn lên tường và hút các không khí nóng, khí thải độc hại từ bên trong ra bên ngoài. Đồng thời tạo áp xuất âm để không khí tươi tràn vào làm mát cho nhà xưởng. Lưu ý đối diện với quạt hút là cửa sổ hay lỗ thông gió để gió đi vào. Thứ nhất: nhiệt độ, khí hậu trong nhà xưởng ảnh hưởng rất lớn đến mặt hàng sản xuất. Thứ hai: Số lượng công nhân đông đòi hỏi phải có môi trường làm việc tốt để đảm bảo sức khỏe. Thứ ba: lượng khói, bụi, mùi phát ra từ máy móc thiết bị, mặt hàng sản xuất rất lớn và cần được xử lý triệt để. Như chúng ta biết, các tòa nhà, nhà xưởng công nghiệp, thường thải ra một số lượng khí rất lớn, đa số các khí đó là khí độc hại. Không khí này luôn phải được thay thế, nếu không, các luồng khí này sẽ luôn có ở các ngóc ngách nơi làm việc của công nhân tạo ra một môi trường ngột ngạt, khó thở cho người lao động tại đây. Việc sử dụng thông gió không nghiệp với mức chi phí thấp đem lại hiệu quả cao được các nhà xưởng áp dụng, có các tính năng chính sau đây:. Tạo gió công nghiệp và trao đổi không khí trong lành hơn thì có thể chia biện pháp thành thông gió tự nhiên và thông gió nhân tạo. Dựa vào phạm vi và tác dụng, thông gió công nghiệp có thể chia thành thông gió tự nhiên và thông gió nhân tạo:. Là trường hợp thông gió công nghiệp nhà máy công nghiệp mà sự lưu thông không khí bên ngoài vào nhà và từ nhà thoát ra ngoài được nhờ những yếu tố tự nhiên như nhiệt thừa và gió tự nhiên. Dựa vào nguyên lý nóng trong nhà đi lên cùng không khí ngụi xung quanh đi vào thay thế, thì người ta thiết kế và bố trí hợp lý các cửa vào và gió ra, và các cửa có cấu tạo lá chớp khép mở được để làm lá hướng dòng và thay đổi diện tích cửa. Mục đích thay đổi được hướng đi của gió cũng như hiệu chỉnh được lưu lượng gió vào hay ra ngoài dễ dàng. Thông gió nhân tạo là thông gió công nghiệp có sử dụng máy quạt chạy bằng động cơ điện để làm không khí vận chuyển từ chỗ này đến chỗ khác. Có hai phương pháp thông gió nhân tạo sau:. Thông gió chung: là hệ thống thông gió thổi, hút khói bụi công nghiệp vào hoặc hút ra có phạm vi tác dụng trong toàn bộ không gian xưởng. Thông gió cục bộ: là hệ thống thông gió hút khói bụi công nghiệp có phạm vi tác dụng trong từng vùng hẹp riêng biệt của phân xưởng. Lắp đặt ở những nơi đông người, các khu sản xuất, khu chế xuất, hóa chất,… để loại bỏ được mùi độc hại gây nguy hiểm cho sức khỏe con người. Quạt thông gió công nghiệp được lắp đặt để giảm nhiệt độ mùa hè, mang đến không gian thoáng mát nhất cho mọi người làm việc trong các nhà máy sản xuất. Sử dụng quạt thông gió công nghiệp trong các trang trại chăn nuôi, sử dụng trong các kho chứa đồ nơi mà chứa rất nhiều đồ đạc. Thiên Phong chúng tôi đã lắp đặt hệ thống thông gió công nghiệp trên nhiều nơi, luốn đảm bảo uy tín, chất lượng. Quý khách hàng đến với Thiên Phong đều rất hài lòng và hứa hẹn những lần tiếp theo cùng hợp tác. Hãy liên hệ với chúng tôi để biết thêm thông tin chi tiết. | Thông gió | Thông gió (chữ V trong HVAC, hệ thống điều hòa không khí) là quá trình "thay đổi" hoặc thay thế không khí trong bất kỳ không gian nào để cung cấp không khí chất lượng cao bên trong (tức là để kiểm soát nhiệt độ, bổ sung oxy, hoặc loại bỏ hơi ẩm, mùi hôi, khói, hơi nóng, bụi, vi khuẩn trong không khí, và carbon dioxide). Hệ thống thông gió được sử dụng để loại bỏ những mùi khó chịu và hơi ẩm quá mức, đưa không khí ở bên ngoài vào, duy trì sự lưu thông không khí trong các tòa nhà, và để ngăn chặn tình trạng trì trệ của không khí bên trong. Thông gió bao gồm cả việc trao đổi không khí với bên ngoài cũng như lưu thông không khí trong một tòa nhà. Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất để duy trì chất lượng không khí bên trong các tòa nhà ở mức có thể chấp nhận được. Các phương pháp thông gió một tòa nhà có thể được chia thành hai dạng là cơ khí hoặc tự nhiên. Thông gió "cơ khí" hay "bắt buộc" được sử dụng để kiểm soát chất lượng không khí bên trong. |
Chứng khoán hóa (tiếng Anh: Securitization) là nghiệp vụ phát hành những công cụ tài chính mới bằng cách kết hợp các tài sản tài chính khác lại với nhau, sau đó bán những sản phẩm này cho các nhà đầu tư. Chứng khoán hóa (Securitization) là nghiệp vụ phát hành những công cụ tài chính (financial instruments) mới bằng cách kết hợp các tài sản tài chính khác lại với nhau (“đóng gói” chúng lại rồi chia nhỏ ra), sau đó bán những sản phẩm này cho các nhà đầu tư. Quá trình có thể bao gồm bất cứ loại tài sản tài chính và thúc đẩy tính thanh khoản trên thị trường. – Trái phiếu được chứng khoán hóa từ các khoản vay thế chấp bất động sản (Mortgage backed securities – MBS): là loại chứng khoán được tạo ra từ việc tập hợp (“đóng gói”) các khoản vay được đảm bảo bằng tài sản thế chấp lại (thông thường là bất động sản) hình thành nên một khoản nợ với giá trị lớn (a pool of mortgages) và chia nhỏ khoản nợ này thành những phần nhỏ bằng nhau (shares or participation certificates in pool). – Trái phiếu được chứng khoán hóa từ các khoản vay tài sản (Asset-Backed Securities – ABS): là loại chứng khoán được đảm bảo bởi giá trị của một số lượng các khoản vay hay các khoản phải thu gộp lại (a pool of loans or receivables). Đây là một công cụ có thu nhập cố định và nguồn thu cũng dựa trên nguồn thu dự kiến từ tài sản cơ sở (các khoản vay hay các khoản phải thu đó). – Trái phiếu được chứng khoán hóa từ các nghĩa vụ nợ có đảm bảo (CDOs): là một sản phẩm có lợi suất cố định, là một phần của thị trường giao dịch các chứng khoán đảm bảo bằng các tài sản. Nếu hàng hóa cơ sở của các trái phiếu CDOs bao gồm các loại trái phiếu (trái phiếu công ty, trái phiếu ở thị trường mới nổi) thì trái phiếu CDOs còn được gọi theo thuật ngữ tiếng Anh là collateralized bond obligation (CBO). Khi hàng hóa cơ sở của trái phiếu CDOs gồm các khoản vay ngân hàng trái phiếu CDOs được gọi theo thuật ngữ tiếng Anh là collateralized loan obligation (CLO). + Chứng khoán hóa giúp cho dòng vốn được luân chuyển liên tục, giúp cung ứng vốn kịp thời cho các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là những chủ sở hữu ban đầu của các tài sản cơ sở (các khoản vay). Theo đó, thông qua việc chứng khoán hóa các khoản cho vay có cùng tính chất, lãi suất và thời hạn của các ngân hàng thương mại giúp cho đồng vốn trên thị trường được lưu thông nhanh hơn không phụ thuộc vào những khoản cho vay hiện thời. Đồng thời chính công cụ này cũng sẽ thu hút, khai thác mọi nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong nền kinh tế, tránh tình trạng vốn nằm bất động, tạo khả năng sinh lợi cao, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. + Chứng khoán hóa giúp những người cho vay có thể thu hồi được vốn sớm hơn, nên giúp họ giảm thiểu chi phí, tăng khả năng sinh lời trong tương lai khi sớm tái đầu tư. Mặt khác, nhà đầu tư sở hữu công cụ chứng khoán hóa được hưởng cả lãi và gốc chia đều định kì hàng tháng nên thu hồi vốn nhanh hơn so với việc sở hữu trái phiếu coupon chẳng hạn thì định kì 6 tháng hoặc 1 năm chỉ được hưởng phần lãi phát sinh, đến kì trả lãi cuối mới được nhận phần lãi kì cuối và nợ gốc. + Chứng khoán hóa tạo thêm nhiều loại chứng khoán mới cung ứng cho thị trường tài chính, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư, làm tăng tính thanh khoản cho thị trường tài chính, giúp các chủ thể phát hành các khoản nợ có cơ hội huy động những nguồn vốn mới. + Quá trình thực hiện chứng khoán hóa chính là quá trình hoán chuyển và chia sẻ rủi ro mà theo đó, rủi ro ban đầu của chủ thể cho vay này sẽ được phân tán cho các chủ thể tham gia trong quá trình chứng khoán hóa. Do đó, chứng khoán hóa giúp giảm thiểu rủi ro các khoản nợ, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng. + Với người sở hữu các công cụ chứng khoán hóa này, rủi ro thanh toán cũng được giảm thiểu do có sự tham gia của người quản lí các khoản nợ (the asset manager), chủ thể đặc biệt và tổ chức xếp hạng tín nhiệm (rating agencies) tư vấn tái cấu trúc các dòng tiền và có thể nâng cao mức xếp hạng tín nhiệm của các công cụ chứng khoán hóa này so với mức xếp hạng cũ của các khoản nợ gốc. + Vì các chủ sở hữu ban đầu của những khoản nợ đã sớm “bán” các khoản nợ này cho chủ thể đặc biệt làm cho thông tin thể hiện trên báo cáo tài chính của họ cũng tốt hơn, đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe về hệ số nợ, hệ số an toàn vốn trong hoạt động kinh doanh. – Với các khoản nợ được thanh toán lãi và gốc định kì hàng tháng, người đi vay vẫn có quyền được trả trước một phần nợ gốc hoặc toàn bộ nợ gốc; do đó, thời hạn của các khoản nợ bị rút ngắn lại, làm cho lãi tính trên dư nợ của tháng tiếp theo có thể thấp hơn dẫn đến rủi ro trả trước (prepayment risk) đối với người sở hữu khoản nợ đó, tạo ra tính không chắc chắn của dòng thu nhập trong tương lai. – Vì khoản nợ được chuyển hóa qua nhiều công đoạn, có thể dẫn đến sự vỡ nợ dây chuyền của những chủ thể có liên quan nếu như người đi vay không thanh toán được các khoản nợ gốc và lãi định kì. | Chứng khoán hóa | Chứng khoán hóa là một quá trình tài chính cơ cấu, tại đó các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùng làm đảm bảo để phát hành các trái phiếu (gọi chung là trái phiếu đảm bảo bằng tài sản). Tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến các tổ chức tài chính cho vay thế chấp để các tổ chức này cho người đem thế chấp tài sản vay tiền. Chứng khoán hóa chính là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp nơi mà chúng có thể trao đi đổi lại. Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản thành những chứng khoán thanh khoản cao. Chứng khoán hóa xuất hiện đầu tiên ở Hoa Kỳ vào năm 1970. Fannie Mae và Freddie Mac - hai công ty được chính phủ Mỹ bảo trợ - là những công ty đầu tiên và cho đến nay vẫn luôn là những công ty tích cực nhất trong hoạt động chứng khoán hóa. Hồi thập niên 1970, hai công ty này đã phát minh ra chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (hay MBS). |
Như bạn đã biết bitcoin là tên của một đồng tiền mã hóa xuất hiện từ năm 2009 với giá không bằng 1 USD. Tính tới thời điểm ngày hôm nay 28/04/2021, giá trị của đồng tiền này đã là 55,040.37 USD/1 bitcoin (Theo coinmarketcap). Đây thực sự là một sự phát triển quá ấn tượng. Ngoài bitcoin, còn có rất nhiều đồng tiền mã hóa khác cũng đã và đang phát triển với tốc độ đáng kinh ngạc. Vậy rốt cuộc Tiền mã hóa là gì? Và nó có thực sự là tiền?. Tiền mã hóa tên tiếng anh là Cryptocurrency hay còn được biết tới cái tên như: tiền điện tử, tiền kỹ thuật số, tiền ảo,… là một sản phẩm kỹ thuật số được thiết kế để hoạt động như một phương tiện trao đổi, hoạt động dựa trên nền tảng của công nghệ Blockchain. Khác với tiền điện tử pháp định (loại tiền do nhà nước quản lý được số hóa). Tiền mã hóa không thuộc sự quản lý của nhà nước hay bất kỳ tổ chức nào. Nó sử dụng kiểm soát phi tập trung, dựa trên công nghệ Blockchain – một sổ cái phân tán được thực thi bởi các mạng lưới máy tính khác nhau. Điều này khiến chúng về mặt lý thuyết miễn nhiễm với sự thao túng của chính phủ. Khi bạn mua bán, giao dịch bằng tiền mã hóa trên internet, tất cả những giao dịch này đều được mã hóa để đảm bảo tính bảo mật. Đó cũng là lý do vì sao loại tiền này được gọi là Cryptocurrency. Tính chia nhỏ được: tiền tệ phải có các loại mệnh giá khác nhau từ nhỏ tới lớn. Tính bền lâu:Tiền tệ phải lâu bền thì mới thực hiện được chức năng cất trữ giá trị cũng như có ích trong trao đổi. Tính khan hiếm: Để dễ được chấp nhận, tiền tệ phải có tính chất khan hiếm vì nếu có thể kiếm được nó một cách dễ dàng thì nó sẽ không còn ý nghĩa trong việc cất trữ giá trị và không được chấp nhận trong lưu thông nữa. Tháng 5 năm 2010, Laszlo Hanyecz đã mua hai chiếc pizza lớn từ Papa John’s với giá 10.000 bitcoin. Thực sự mục đích ban đầu khi tạo ra tiền mã hóa là để trở thành trung gian cho các giao dịch (hay đồng tiền thật sự). Việc mua thành công hai chiếc bánh pizza của Laszlo Hanyecz năm 2010 đã cho thấy thành công bước đầu trong việc đạt được mục đích đó. Tuy nhiên trong quá trình phát triển của mình, tiền mã hóa hay cụ thể hơn là bitcoin đã lớn quá nhanh. Từ một đồng tiền không đáng 1 xu khi mới ra mắt, năm 2018 giá trị của bitcoin đạt 17.000 USD. Và chỉ 3 năm sau, tháng 4 năm 2021, giá bitcoin tăng gấp 3,7 lần, đạt mức 64.000 USD. Điều này vô tình tình biến đồng tiền này trở này một tài sản đầu cơ, một nơi để người ta hi vọng làm giàu. Sẽ chẳng có ai muốn tiêu một đồng bitcoin khi biết đâu đó năm sau giá trị của nó sẽ tăng gấp đôi. (Không có tính lưu thông). Ngoài việc không được chấp nhận trong lưu thông, 6 yếu tố còn lại “tính dễ nhận biết, tính chia nhỏ được, tính bền lâu, tính dễ vận chuyển, tính khan hiếm, tính đồng nhất” tiền mã hóa đều thỏa mãn được. Tiền mã hóa có tiềm năng để trở thành một đồng tiền thực sự. Nhưng ở thời điểm hiện tại, chúng không có khả năng lưu thông và đóng vai trò giống một tài sản đầu cơ hơn. Trong tương lai, khi giá trị của tiền mã hóa ổn định và được chấp nhận rộng rãi trong lưu thông thì chúng sẽ trở thành những đồng tiền thực sự. Do không chịu sử ảnh hưởng của chính phủ nên tính hợp pháp của tiền mã hóa sẽ phụ thuộc vào quy định của từng quốc gia. Hiện nay ở Việt Nam, việc sử dụng tiền mã hóa không bị chính phủ cấm đoán. Bitcoin là đồng tiền mã hóa phổ biến nhất hiện nay, chiến hơn 62% tổng giá trị vốn hóa thị trường. Trong khi đó một đồng tiền mã hóa tưởng chừng chỉ là trò đùa – Đồng Dogecoin – lại xếp hạng thứ 6 trong bảng xết hạng này. Rõ ràng giá trị của tiền mã hóa vẫn phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của các nhà đầu tư. Tôi sẽ không nói rằng không nên đầu tư vào tiền mã hóa bởi ngoài kia thực tế có những người đang kiếm cả tỷ đồng nhờ đầu tư vào loại tiền này. Hãy nhìn lại biểu đồ giá của bitcoin, năm 2020 giá bitcoin không chạm nổi 15.000 USD nhưng đến tháng 4 năm 2021 giá trị của nó đã tăng hơn 4 lần, đạt 64.000 USD. Quả thực là một con số không tưởng. Tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, sau khi đạt đỉnh giá trị của bitcoin lại đang giảm và chỉ còn 55,040.37 USD. Sự thiếu ổn định của tiền mã hóa vừa là thách thức vừa là cơ hội cho bất cứ ai. Có một câu nói nói tiếng trong đầu tư tài chính “Rủi do luôn tỷ lệ thuận với lợi nhuận”. Nếu bạn am hiểu thị trường, biết quản trị rủi do tốt thì thị trường tiền mã hóa là mảnh đất vàng cho bạn. Một số loại tiền mã hóa, bao gồm cả bitcoin, có sẵn để mua bằng đô la Mỹ. Nhưng một số loại tiền khác lại yêu cầu bạn thanh toán bằng bitcoin hoặc tiền mã hóa khác. Để mua tiền mã hóa, bạn sẽ cần một ví blockchain – một ứng dụng trực tuyến có thể chứa tiền của bạn. Nói chung, bạn tạo một tài khoản trên một sàn giao dịch và sau đó bạn có thể chuyển tiền thật để mua các loại tiền mã hóa như Bitcoin hoặc Ethereum. Lưu tên, email và trang web của tôi trong trình duyệt này cho lần tiếp theo tôi nhận xét. Nguyenthanhnam.net là website chia sẻ thông tin mới nhất, cập nhật 24h về Blockchain và các ứng dụng của công nghệ này. Mọi thông tin trên web là ý kiến chủ quan của tác giả, không phải là một lời khuyên đầu tư. | Tiền mã hóa | Tiền mã hóa (cryptocurrency) là một dạng của tiền mật tính điện tử hoặc tiền kỹ thuật số, tiền ảo, là một tài sản kỹ thuật số được thiết kế để làm việc như là một trung gian trao đổi mà sử dụng mật mã để đảm bảo các giao dịch của nó, để kiểm soát việc tạo ra các đơn vị bổ sung và để xác minh việc chuyển giao tài sản. Mật tính (cryptographic computation) là từ được tạm dịch từ các thuật toán mã hóa tư liệu thông tin kỹ thuật số để bảo toàn nội dung và chữ ký của những tư liệu thông tin đó. Tiền mã hóa được phân loại như là một tập con của các loại tiền kỹ thuật số và cũng được phân loại là một tập con của các loại tiền tệ thay thế (Altcoin). Tuy nhiên danh từ tiền ảo không nên được sử dụng quá phổ biến vì nó chứa đựng một hàm ngữ mang tính chất phi thực tế và không có tính năng hoặc công dụng thật ngoài đời sống. Bitcoin, được tạo ra trong năm 2009, là tiền mã hoá đầu tiên. Kể từ đó, nhiều loại tiền mã hóa khác đã được tạo ra. |
Nước Sở từ khi bị Tần đánh thua, luôn bị Tần ức hiếp. Sở Hoài Vương lại muốn liên hiệp với Tề. Tần Chiêu Tương Vương lên ngôi, liền viết thư cho Sở Hoài Vương, lời lẽ rất khiêm tốn, mời Sở Hoài Vương đến Vũ Quan (nay ở Đông nam huyện Đan Phượng, tỉnh Thiểm Tây) để họp và ký kết minh ước. Sở Hoài Vương nhận được thư, thấy rất khó xử: nếu không đi thì sợ Tần mất lòng, nếu đi lại sợ nguy hiểm, liền bàn bạc với các đại thần. Đại phu Khuất Nguyên nói với sỏ Hoài Vương: “Nưóc Tần tàn bạo như lang sói, chúng ta bị họ ức hiếp đã nhiều lần. Nếu đại vương đến đó, nhất định sẽ bị mắc lừa’1. Nhưng con của Sở Hoài Vương là công tử Tử Lan lại một mực khuyên sở Hoài Vương nên đi, và nói: “Vì chúng ta coi nước Tần là kẻ thù, kết quả đã chết bao nhiêu người, lại mất nhiều đất đai. Nay nước Tần muốn hoà hảo với ta, tại sao ta lại từ chối họ?. Quả nhiên, sự việc diễn ra như Khuất Nguyên đã dự đoán, Sỏ Hoài Vương vừa đến Vũ Quan, liền bị binh mã của Tần mai phục từ trước, chặn mất đường về. Trong cuộc hội kiến, Tần Chiêu Tương Vương buộc Sở Hoài Vương phải cắt nhượng đất Kiềm Trung cho Tần. sở Hoài Vương không đồng ý, Tần Chiêu Tương Vương liền đưa sở Hoài Vương về giam lỏng tại Hàm Dương, yêu cầu đại thần nước Sở mang đất đai đến chuộc mới thả ra. Các đại phu nước Sở nghe tin quốc vương bị bắt, liền lập thái tử lên ngôi vua và cự tuyệt việc cắt nhượng đất đai. Đó là sỏ Khoảnh Tương Vương. Công tử Tử Lan được cử làm Lệnh Doãn. Sở Hoài Vương bị giam ở Tần hơn một năm, rất khổ sở, tìm cách trốn khỏi Hàm Dương, nhưng bị quân Tần đuổi theo bắt lại. Ông lo buồn sinh bệnh, chẳng bao lâu sau chết ở nước Tần. Người nước Sở rất bất bình về chuyện Sở Hoài Vương bị nước Tần ức hiếp, bỏ thân ở nước ngoài, Đặc biệt là Khuất Nguyên, càng căm uất, ông khuyên Sở Khoảnh Tương Vương chiêu tập nhân tài, xa rồi bọn tiểu nhân, khuyến khích tướng sĩ, thao luyện binh mã để báo thù cho đất nước và cho Sở Hoài Vương. Nhưng những lời khuyên của ông không những không có tác dụng gì, mà lại làm cho công tử Tử Lan và Cận Thượng căm ghét. Bọn người này ngày ngày vu cáo Khuất Nguyên với Sở Khoảnh Tương Vương:. “Đại vương có nghe thấy lời kể tội của Khuất Nguyên không? Ông ta luôn nói với mọi người là đại vương đã quên mất môi thù với nước Tần, là kẻ bất hiếu, các đại thần không chủ trương chống Tần, là bất trung. Nước Sở sản sinh loại vua tôi bất hiếu bất trung đó thì làm sao mà không mất nước? Đại vương, lời lẽ gì đó thật là khi quân phạm thượng!”. Sỏ Khoảnh Tương Vương nổi giận, cách chức Khuất Nguyên và đày xuống vùng Tương Nam. Khuất Nguyên ôm ấp hoài bão cứu nước cứu dân và chỉ nghĩ cách phú quốc cường dân lại bị bọn gian thần bài xích, thì uất giận điên người. Sau khi đến Tương Nam ông thường đi ven bờ sông Mịch La (nay ở Đông bắc tỉnh Hồ Nam), vừa đi vừa cất lên lời ca ai oán. Những nông dân vùng đó biết ông là một đại thần yêu nước đều rất thương cảm. Có một ông lão đánh cá trên sông Mịch La, rất khâm phục nhân cách của Khuất Nguyên, nhưng không tán thành tình cảm sầu muộn của ông. Một lần, Khuất Nguyên gặp ông lão đánh cá đó. Ông lão nói với Khuất Nguyên: “Ngài là quan đại phu của nước Sở, tại sao lại đến nông nỗi này?”. Khuất Nguyên nói: “Rất nhiều người là kẻ bẩn thỉu, chỉ có ta là người sạch sẽ. Rất nhiều người đều say khướt, chỉ có một mình ta tỉnh táo, cho nên ta bị đuổi đến đây”. Ông lão không cho thế là phải, và nói lại: “Nếu ngài đã thấy mọi người là bẩn thỉu, thì không nên giữ cho được mình thanh cao. Nếu nhiều người đều say, thì ngài cần gì phải tình một mình!”. Khuất Nguyên phản đối: “Ta nghe người ta nói rằng: Người mới gội đầu, thường hay chải tóc; Người mới tắm giặt, thường hay phủi bụi trên quần áo. Ta thà nhảy xuống sông, vùi xác trong bụng cá, chứ không thể nhẫn tâm thân sạch sẽ trong bùn nhơ, làm ô uế cả thân mình”. Do Khuất Nguyên không chịu trôi nổi theo thói đời, nên tới năm 278 trước Công nguyên, vào ngày mồng năm tháng năm âm lịch, ông ôm một hòn đá, nhảy xuống sông Mịch La trẫm mình. Nông dân xung quanh được tin đó, đều bơi thuyền đi tìm cứu Khuất Nguyên. Nhưng nước sông mênh mông, không tìm đâu thấy xác ông. Mọi người mò lặn suốt ngày vẫn không có tăm hơi gì. Ông lão đánh cá rất buồn rầu, liền lấy cơm trong giỏ rắc xuống sông, coi như hiến cho linh hồn Khuất Nguyên. Lịch sử Trung Quốc ngày mồng năm tháng năm năm sau, dân ven sông nhớ tới .ngày Khuất Nguyên tự trầm, liền bơi thuyền rắc cơm xuống sông để tế lễ ông. về sau, họ thay cơm bằng bánh trôi, thay thuyền thường bằng thuyền rồng. Lâu dần mãi trở thành một phong tục. Cứ đến mồng năm tháng năm âm lịch hằng năm, gọi là tết Đoan Ngọ, họ lại tiến hành tục lệ trên. Khuất Nguyên mất đi, nhưng ông để lại một số tác phẩm thi ca ưu tú, trong đó, nổi tiếng nhất là “Ly Tao”. Trong tác phẩm, ông lên án gay gắt bọn tiểu nhân bán nước, biểu lộ tình cảm yêu nước thương dân của mình, gửi gắm tình cảm vô cùng sâu đậm với mỗi gốc cây ngọn cờ của nước Sở. Người đời sau đều công nhận Khuất Nguyên là một nhà thơ yêu nước kiệt xuất của Trung Quốc thời cổ. Bienniensu.com đang trong quá trình xây dựng. Nếu có sai sót rất mong mọi người thông cảm và góp ý cho chúng tôi. | Khuất Nguyên | Khuất Nguyên (chữ Hán: 屈原, 340 TCN - 278 TCN), tên thực Bình (平), biểu tự Nguyên, lại có biệt tự Linh Quân (霛均), là một chính trị gia, một nhà thơ yêu nước nổi tiếng thời Chiến Quốc thuộc nước Sở trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người trong hoàng tộc nước Sở, làm chức Tả Đồ cho Sở Hoài vương. Ông học rộng, nhớ kĩ giỏi về chính trị, lại có tài văn chương. Lúc đầu ông được vua yêu quý, sau có quan lại ganh tài ông, tìm cách hãm hại. Sở vương nghe lời gièm pha nên ghét ông. Ông âu sầu, ưu tư viết thiên Ly Tao để tả nỗi buồn bị vua bỏ. Ngoài tập Ly tao là tập thơ bất hủ của ông để lại, ông còn có nhiều sáng tác thơ khác như Sở từ, Thiên Vấn (Hỏi trời). Đến cuối đời ông bị Sở Tương Vương đày ra Giang Nam (phía nam sông Dương Tử). Ông thất chí, tự cho mình là người trong sống trong thời đục, suốt ngày ca hát như người điên, làm bài phú Hoài Sa rồi ôm một phiến đá, gieo mình xuống sông Mịch La tự tử. |
Hệ sinh thái (Ecosystem) Trong bài viết này được hiểu là một phức hệ động giữa các quần xã động, thực vật và vi sinh vật, cùng với môi trường vô sinh, tương tác lẫn nhau như một đơn vị chức năng (UNEP, 2004). Như vậy, có thể hiểu hệ sinh thái là sự tích hợp giữa các quần xã với sinh cảnh. Chức năng hệ sinh thái (Ecosystem function) là một đặc tính nội tại của HST liên quan đến một tập hợp các điều kiện và tiến trình để duy trì tính toàn vẹn của HST (như năng suất sơ cấp, chuỗi thức ăn, chu trình địa hóa). Các chức năng của HST gồm có các tiến trình như phân hủy, sản xuất, chu trình dinh dưỡng, dòng dinh dưỡng và năng lượng (UNEP, 2004). Dịch vụ hệ sinh thái (Ecosystem services) là những lợi ích mà con người có được từ HST. DVHST bao gồm: dịch vụ cung cấp, ví dụ lương thực và nước; dịch vụ điều tiết, ví dụ kiểm soát lũ và dịch bệnh; dịch vụ văn hóa, ví dụ tinh thần, giải trí, văn hóa; và dịch vụ hỗ trợ, ví dụ chu trình dinh dưỡng giúp duy trì các điều kiện sống trên trái đất. Hệ sinh thái đới bờ (Coastal ecosystem) là một phần diện tích nơi mà đất và nước tham gia để tạo ra một môi trường có một cấu trúc, sự đa dạng và dòng năng lượng riêng biệt. HST đới bờ bao gồm các đầm muối, rừng ngập mặn, đất ngập nước, cửa sông và các vịnh, và là nơi trú ngụ của nhiều loài động thực vật khác nhau. Các HST đới bờ rất nhạy cảm với những thay đổi môi trường (The Environmental Literacy Council, 2015). Hệ đới bờ (Coastal system) là các hệ thống bao gồm phần diện tích mặt đất bị ảnh hưởng bởi thủy triều và bãi cát, kết hợp với các vùng biển gần bờ. Hệ sinh thái đới bờ thuộc phần đất liền được xác định tối đa 100km tính từ bờ biển hoặc 100m độ cao (tùy giới hạn nào gần biển hơn), và phần biển gần bờ được giới hạn bởi độ sâu 50m tính từ bờ biển (UNEP, 2006). Là các HST có năng suất sinh học cao nhất, đồng thời cũng là các HST bị đe dọa nhất trên thế giới. Thành phần bao gồm các HST trên cạn (ví dụ HST cồn cát), các HST nước lợ, các HST ven bờ và các HST đại dương. Cơ sở để xác định ranh giới các HST là dựa vào khái niệm hệ đới bờ theo UNEP, 2006. Các tác giả De Groot, Wilson và Boumans (2002) đã tổng hợp được 22 chức năng chính của các HST đới bờ chia thành 4 nhóm, gồm: Điều tiết (10 chức năng), sinh cảnh (2 chức năng), sản xuất (5 chức năng), và thông tin (5 chức năng). Từ 22 chức năng chính này, các tác giả cũng đề xuất môt số DVHST phổ biến đang được con người khai thác trên thế giới. Các DVHST được các tác giả ghi nhận (bảng 1) là những DV có tính bền vững về mặt sinh thái vì chúng được tạo ra từ các chức năng của hệ sinh thái. Các tác giả này bỏ qua các hoạt động khai thác kém bền vững, ví dụ hoạt động khai thác dầu khí và các nguồn tài nguyên không tái tạo khác (tất cả đều là hàng hóa liên quan đến thị trường). Đối với các hoạt động này, chúng tôi sẽ bàn đến trong nội dung phản DVHST. Căn cứ vào phân loại sinh cảnh đới bờ theo UNEP (Bảng 1) và đối chiếu với thực tế khảo sát, chúng tôi ghi nhận bốn HST điển hình theo tuyến thực tập đới bờ như sau (bảng 2). Đọc tiếp “GIỚI THIỆU DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI ĐỚI BỜ THEO TUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ” →. Chuyện thật như đùa ở Bình Định: Doanh nghiệp phá rừng, huyện báo cáo lấn chiếm đất!Trong quá trình triển khai thi công dự án, Công ty CP Phát triển tầm nhìn năng lượng sạch đã phá rừng phòng hộ ven biển ở Bình Định với 5,26 ha. Thế nhưng, khi báo cáo với cấp trên, huyện Phù Mỹ chỉ nói doanh nghiệp lấn chiếm đất nên đề xuất xử phạt hành chính. Tình tiết bất ngờ vụ phá “nhầm” 5,26 ha rừng phòng hộ ven biển Bình ĐịnhNhân chứng đầu tiên phát hiện vụ phá 5,26 ha rừng phòng hộ ven biển xã Mỹ An, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định cho biết đã gọi điện thoại báo các cơ quan chức năng nhưng khoảng 10 ngày sau mới có đoàn công tác đến hiện trường. Chuyện thật như đùa ở Bình Ðịnh: Phá rừng do. nhầm lẫn ! ?Một diện tích không nhỏ rừng phòng hộ ở Bình Ðịnh bất ngờ bị đốn hạ nhưng những người liên quan nói là do. nhầm lẫn. Những người bảo vệ san hô ở vịnh Quy NhơnDọn rác, bắt sao biển gai - loài ăn san hô, quan trắc, cắm phao khoanh vùng. là những hoạt động của các tổ bảo vệ san hô ở Quy Nhơn. Việt Nam tiên phong xây dựng thỏa thuận toàn cầu về rác thải nhựa đại dươngÔ nhiễm môi trường biển do rác thải nhựa đã trở thành vấn đề môi trường cấp bách ở phạm vi toàn cầu khiến nhiều quốc gia kêu gọi một Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa. Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án Việt Nam chủ động chuẩn bị và tham gia xây dựng Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa đại dương. Nước ta đã thể hiện quan điểm tiên phong trong. Xử lý rác thải y tế do COVID-19 ở "điểm nóng" Bình DươngThời gian qua, dịch COVID-19 bùng phát khiến tỉnh Bình Dương phát sinh nhiều khu cách ly, khu phong tỏa, do vậy lượng rác thải y tế cũng tăng đột biến. Với mục tiêu không để ù ứ, tồn đọng rác thải y tế, bảo đảm an toàn và bảo vệ môi trường, tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị liên quan tăng cường công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế phát sinh do dịch. Nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nướcLuật Tài nguyên nước có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2013. Qua hơn 8 năm được thi hành Luật Tài nguyên nước đã đi vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước, việc chấp hành quy định của luật và nhận thức của các tổ chức, cá nhân nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước đã có nhiều chuyển. Robot Trung Quốc trên sao Hỏa mất liên lạcRobot Chúc Dung chuyển sang "chế độ an toàn" tự theo dõi sức khỏe và đánh giá sự cố trong thời kỳ giao hội Mặt Trời. NASA sắp phóng vệ tinh viễn thám 750 triệu đôCông ty Hàng không Vũ trụ Mỹ đã hoàn tất các bước chuẩn bị để phóng vệ tinh quan sát Trái Đất mạnh mẽ nhất vào đầu tuần tới. Giáo sư 95 tuổi tạo ra đường siêu ngọt tốt cho sức khỏeBằng cách tạo ra đường ngọt gấp đôi với cùng lượng calo, nhà khoa học người Israel Avraham Baniel có thể giúp chúng ta ăn uống lành mạnh hơn. Siêu sao băng phá hủy thành cổ cách đây 3.600 nămNghiên cứu mới cho thấy một vụ nổ lớn trên không với sức công phá tương đương 1.000 quả bom nguyên tử đã xóa xổ thành phố cổ Tall el-Hammam. Những con non lớn nhất trong vương quốc động vậtCá voi xanh mới chào đời nặng 1.360 kg, tương đương một chiếc xe nhỏ và tăng 90 kg/ngày nhờ nguồn sữa đặc biệt giàu chất béo của con mẹ. | Dịch vụ hệ sinh thái | Các dịch vụ hệ sinh thái là rất nhiều và nhiều lợi ích khác nhau đối với con người được ban tặng bởi môi trường tự nhiên và từ các hệ sinh thái lành mạnh. Các hệ sinh thái như vậy bao gồm, ví dụ, hệ thống nông nghiệp, hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái đồng cỏ và hệ sinh thái dưới nước. Các hệ sinh thái này, hoạt động trong mối quan hệ lành mạnh, cung cấp những thứ như thụ phấn tự nhiên của cây trồng, không khí sạch, giảm thiểu thời tiết khắc nghiệt, nâng cao sức khỏe tinh thần và thể chất của con người. Nói chung, những lợi ích này được gọi là "dịch vụ hệ sinh thái", và thường không thể thiếu trong việc cung cấp nước uống sạch, phân hủy chất thải, khả năng duy trì và năng suất của hệ sinh thái thực phẩm. Trong khi các nhà khoa học và các nhà môi trường đã thảo luận về các dịch vụ hệ sinh thái ngầm trong nhiều thập kỷ, thì Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ (MA) vào đầu những năm 2000 đã phổ biến khái niệm này. Ở đó, các dịch vụ hệ sinh thái được nhóm thành bốn loại lớn: cung cấp, chẳng hạn như sản xuất thực phẩm và nước; điều tiết, chẳng hạn như kiểm soát khí hậu và bệnh tật; hỗ trợ, như chu trình dinh dưỡng và sản xuất oxy; và văn hóa, chẳng hạn như lợi ích tinh thần và giải trí. |
Quốc kỳ Canada được chọn vào năm 1965 với hai gam màu chỉ đạo là trắng và đỏ. Điểm nhấn là hình ảnh một chiếc lá phong Canada. Lá phong là một đặc trưng của đất nước Canada. Chiếc lá phong được thiết kế với 12 đỉnh và được in ở giữa lá cờ Canada. Quốc kỳ Thánh giá Thánh George của Anh là quốc kỳ đầu tiên được biết đến là được thượng tại Canada. Năm 1534, Jacques Cartier đóng một thánh giá tại bán đảo Gaspe’ mang hiệu kỳ vương thất Pháp với hoa bách hợp. Tàu của ông treo một hiệu kỳ đỏ cùng một chữ thập trắng. Đương thời là quân kỳ của Hải quân Pháp. Quốc kỳ Liên hiệp là quốc kỳ pháp lý của Anh Quốc. Nó được sử dụng tại Canada từ khi xuất hiện khu định cư của người Anh tại Nova Scotia năm 1621. Nó tiếp tục được sử dụng sau khi Canada độc lập vè lập pháp khỏi Anh Quốc vào năm 1931 cho đến khi thông qua quốc kỳ hiện tại vào năm 1965. Sau năm 1867, Quốc kỳ Canada đầu tiên được sử dụng là Hiệu kỳ của Toàn quyền Canada. Đây là Quốc kỳ Liên hiệp với một phù hiệu ở giữa. Bao quanh là một vòng lá phong. Đến 09/5/1946, có 2.695 thiết kế được đệ trình. Ủy ban báo cáo lại cùng một đề nghị “Quốc kỳ của Canada nên là hồng thuyền kỳ Canada với một lá phong màu vàng thu trong một nền viền trắng”. Nữ vương Canada Elizabeth II công bố quốc kỳ mới vào ngày 28/01/1965. Nó bắt đầu được sử dụng từ ngày 15/02/1965. Quốc kỳ Canada được chọn vào năm 1965 với hai gam màu trắng và đỏ. Điểm nhấn là hình ảnh chiếc lá phong Canada.Chiếc lá phong được thiết kế với 12 đỉnh được in giữa lá cờ Canada. 12 đỉnh nhọn trên chiếc là tượng trưng cho 2 tiểu bang và 10 bang của đất nước Canada. Phần màu trắng tượng trưng cho sự bao phũ của tuyết trắng và khí hậu khắc nghiệt vào mùa đông của Canada. Phần màu đỏ hai bên của là cờ Canada tượng trưng cho Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Và để mô tả sự rộng lớn của đất nước Canada, quốc kỳ đươc thiết kế với tỉ lệ là 1:2 thay vì 2:3 như các nước khác. Trước khi được chọn để in lên lá cờ Canada thì lá phong là biểu tượng của người Canada gốc Pháp. Và xuất hiện cả trên quốc huy của đất nước này. Vào mùa thu Canada khoảng tháng 9 và tháng 10 ở khắp các thành phố đặc biệt là thành phố Montreal các con đường, công viên sẽ chuyển sắc từ màu đỏ kiêu hãnh và màu vàng cam long lanh phủ khắp mọi nơi. Chính vì vậy mà vẻ đẹp của lá phong khó có thể diễn tả bằng lời, lá phong phổ biến khắp mọi nơi trên đất nước Canada. Đây chính là nguyên nhân mà người dân Canada chọn lá phong làm biểu tượng của đất nước. Ngoài việc mang trên mình là một biểu tượng nét đẹp đặc trưng của đất nước, quốc kỳ Canada còn thể hiện những ý nghĩa khác về sự gắn kết mọi sắc tốc trên quốc gia đa văn hòa này, sự hòa đồng. Dù là người Canada gốc châu âu, gốc Pháp, gốc Anh, gốc Châu á… đến từ đâu đi chăng nữa chỉ cần là công dân Canada thì mọi người đều đang sống dưới một lá phong, dưới một màu cờ. Trích lời dẫn của phát ngôn viên thượng viện ngài Maurice Bourget:. Những nơi thường trưng bày quốc kỳ Canada thông thường là những cơ quan chính phủ Canada vận hành như căn cứ quân sự, sân bay và văn phòng ngoại giao… Trong quân đội Canada có một nghi lễ rất đặc biệt để gấp quốc kỳ Canada. Khi quốc kỳ Canada được treo rủ chứng tỏ một thời kỳ để tang. Thông qua bài viết này trung tâm tư vấn du học vnsava.com giúp bạn đọc hiểu thêm phần nào về đất nước Canada xinh đẹp cũng như những ý nghĩa sâu xa của lá cờ Canada. Giúp bạn hiểu hơn về xứ sở lá phong để chuẩn bi thật tốt cho hành trình định cư Canada , du học Canada, du lịch và làm việc tại Canada… | Quốc kỳ Canada | Quốc kỳ Canada (tiếng Anh: Flag of Canada; tiếng Pháp: Drapeau du Canada), cũng gọi là Lá phong (tiếng Anh: Maple Leaf) hay Một lá (tiếng Pháp: l Unifolié) gồm một nền đỏ và một ô màu trắng tại trung tâm của nó, ở giữa ô này có đường nét một lá phong đỏ cách điệu với 11 đầu nhọn. Thiết kế này được thông qua vào năm 1965 nhằm thay thế quốc kỳ Liên hiệp. Hồng thuyền kỳ Canada được sử dụng không chính thức từ thập niên 1890 và đến năm 1945 thì được Xu mật viện thông qua để sử dụng "ở bất cứ nơi nào hoặc sự kiện nào có thể giương lên một hiệu kỳ đặc trưng của Canada".Năm 1964, Thủ tướng Lester B. Pearson thành lập một ủy ban để giải quyết vấn đề, thổi bùng một cuộc tranh luận nghiêm trọng về việc thay đổi quốc kỳ. Trong số ba lựa chọn, thiết kế lá phong của George Stanley được lựa chọn, nó dựa trên hiệu kỳ của Học viện quân sự Vương thất Canada. Quốc kỳ xuất hiện chính thức lần đầu tiên vào ngày 15 tháng 2 năm 1965; ngày này hiện được kỷ niệm thường niên với tên gọi là ngày Quốc kỳ Canada. |
Một trong những viên đá quý ngoạn mục nhất thế giới là viên kim cương Hope (Hy vọng). Đó là viên kim cương màu xanh tuyệt đẹp nặng hơn 45 carat. Với kích thước tương tự như một quả óc chó, viên kim cương được ước tính trị giá một phần tư tỷ USD. Tuy nhiên, có nhiều người sẽ nghĩ hai lần về việc mua nó cho dù họ vô cùng giàu có, vì Hope được cho là đã bị nguyền rủa. Tác giả Karl Shuker trong cuốn sách "The Unexplained" đã viết về nguồn gốc của viên đá nguy hiểm này: "Nó lấp lánh trên trán của một tượng thần ở đền thờ Ấn Độ - cho đến khi bị một linh mục Ấn giáo đánh cắp, mà hình phạt cho hành động vô đạo đức này là cái chết chậm chạp và đau đớn. Hope dường như được khai quật ở mỏ Golconda bên sông Kistna, Tây Nam Ấn Độ, và xuất hiện lần đầu tại châu Âu vào năm 1642, khi nó được mua bởi một thương gia người Pháp - người đã bán nó cho Vua Louis XIV vì lợi nhuận cực lớn. Tuy nhiên, ông này sau đó lại bị một bầy chó hoang giết chết". Viên kim cương bị đánh cắp khỏi Hoàng gia vào năm 1792 trong Cách mạng Pháp. Vua Louis XIV và Nữ hoàng Marie Antoinette đều bị chặt đầu và họ cũng thường được coi là nạn nhân của lời nguyền kim cương. Viên kim cương đã mất tích trong vài thập kỷ trước khi tái xuất dưới hình dáng một viên đá quý nhỏ hơn. Có những báo cáo chưa được xác nhận rằng nó thuộc về Vua George IV của Anh, người đã bị buộc bán đi để trả những khoản nợ khổng lồ của mình. Năm 1839, viên kim cương đã được nghị sĩ Henry Thomas Hope mua lại và có cái tên Hope kể từ đó. Ông Hope cũng qua đời sau đó không lâu, viên kim cương tiếp tục qua tay một số chủ sở hữu khác. Nỗi bất hạnh được gán cho viên kim cương Hy vọng xuất hiện trong nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật. Có những câu chuyện về các chủ sở hữu tự sát, bị sát hại và không còn một xu dính túi thông qua các khoản đầu tư tệ hại. Những người tiếp xúc với viên kim cương đã trải qua những cuộc hôn nhân thất bại, những đứa trẻ chết yểu, nghiện ma túy, điên rồ. Viên kim cương Hope là viên kim cương bị nguyền rủa nổi tiếng nhất thế giới, nhưng nó chỉ là một trong số rất nhiều. Trong thực tế có vô số viên kim cương khác nữa. Theo "Cuốn sách mê tín khổng lồ" của tác giả Claudia de Lys, "sự mê tín liên quan tới kim cương hiện được ghi nhận ở khắp mọi nơi trên thế giới". "Niềm tin điển hình của phương Đông là việc sở hữu những viên kim cương cực lớn luôn mang đến bất hạnh. Lịch sử lâu dài về máu, trộm cắp, mưu mô, mất đế chế, mất mạng và các thảm họa khác thuộc về mỗi viên kim cương nổi tiếng nhất, và phần lớn các câu chuyện đều đúng trong lịch sử. Thực tế này chỉ củng cố niềm tin vào suy nghĩ của những người mê tín rằng những viên kim cương lớn là nguyên nhân gây ra sự bất hạnh cho chủ nhân của chúng". Lời nguyền kim cương cho rằng những người sở hữu đều chết thảm hoặc gặp bất hạnh. Lời nguyền Hope lan rộng vì các cây bút đã thêu dệt thêm, tạo nên một câu chuyện giật gân vào cuối những năm 1800. Trong khi một số chủ sở hữu được biết là thực sự đã chết đau đớn (Nữ hoàng Marie Antoinette bị chặt đầu bởi máy chém là một ví dụ điển hình), nhiều thảm kịch khác được cho là có thể không liên quan. Nếu lời nguyền chỉ đơn giản là bất cứ ai sở hữu nó sẽ sớm chết một cái chết thê thảm, điều đó sẽ vừa đáng sợ vừa siêu nhiên. Tuy nhiên, lời nguyền kim cương Hy vọng trở nên ít bí ẩn hơn khi chúng ta nhận ra rằng đó không chỉ là cái chết mà là vô số sự bất hạnh tồn tại trên đời: vỡ nợ, tự tử, bị chặt đầu và bị chó hoang ăn thịt. Với một nhóm lớn hàng trăm người sở hữu, không phải ai cũng trải qua thảm kịch như thế. Câu chuyện về lời nguyền kim cương Hy vọng bằng một cách nào đó là câu chuyện ngụ ngôn về đạo đức và tội lỗi của lòng tham. Kẻ trộm ban đầu, theo truyền thuyết, đã chết một cái chết chậm chạp và đau đớn, trong khi những người chủ sau đó, không biết gì về lời nguyền cho đến khi quá muộn, cũng phải chịu đựng. Người ta nói rằng chỉ có một người có trái tim thuần khiết mới có thể thoát khỏi số phận cam chịu - trong trường hợp này "trái tim thuần khiết" có nghĩa là một người không cố bán nó mà thay vào đó đã hào phóng cho đi. Do đó, lời nguyền - nếu thực sự đã từng có - kết thúc khi thợ kim hoàn Harry Winston tặng cho Viện Smithsonian năm 1958, nơi nó được trưng bày ngày nay. TP.HCM tiếp tục điều chỉnh quy định về đi đường, áp dụng từ ngày mai 29/8. Để tạo thuận lợi hơn cho hoạt động lưu thông nhằm thực hiện công vụ, Công an TP.HCM đã có một số điều chỉnh và được áp dụng từ ngày mai 29/8. Tối qua (ngày 27/8), cả dàn sao Việt đã đồng lòng hướng về ca sĩ Phi Nhung để cầu mong đồng nghiệp tai qua nạn khỏi vì tình trạng sức khoẻ diễn biến nặng do nhiễm Covid-19. Đến đêm cùng ngày, cư dân mạng không khỏi xôn xao khi Khánh Thi đã bất ngờ livestream và có loạt hành động lạ, ôm mặt khóc. Bức ảnh muốn xoá nhất cuộc đời Triệu Vy: Trái ngược với hình tượng "Én nhỏ" trong lòng công chúng . Nguyên Phó Hiệu trưởng ĐH Bách Khoa TP.HCM phân tích, so sánh hoạt động từ thiện của bà Phương Hằng . Quả bí ngô "ngang ngược" nhất thế giới: Mọc đúng kiểu "đố anh bắt được em" thế này thì ai mà chịu . Bức ảnh muốn xoá nhất cuộc đời Triệu Vy: Trái ngược với hình tượng "Én nhỏ" trong lòng công chúng . Nguyên Phó Hiệu trưởng ĐH Bách Khoa TP.HCM phân tích, so sánh hoạt động từ thiện của bà Phương Hằng . Quả bí ngô "ngang ngược" nhất thế giới: Mọc đúng kiểu "đố anh bắt được em" thế này thì ai mà chịu . Khánh Thi liên tục có động thái lạ gần đây: Để chế độ "độc thân", đăng status tiêu cực, chi tiết về . Khánh Thi livestream giữa đêm với màn hình tối đen, liên tục ho, khóc nức nở và nói những câu tiêu . Nhiệt Ba đã thoát nhưng màn thanh trừng vẫn tiếp tục: Triệu Lệ Dĩnh "lên thớt", một tiểu Hoa có dấu . Khánh Thi liên tục có động thái lạ gần đây: Để chế độ "độc thân", đăng status tiêu cực, chi tiết về . Khánh Thi livestream giữa đêm với màn hình tối đen, liên tục ho, khóc nức nở và nói những câu tiêu . Nhiệt Ba đã thoát nhưng màn thanh trừng vẫn tiếp tục: Triệu Lệ Dĩnh "lên thớt", một tiểu Hoa có dấu . Nhà Meghan muốn được tự chọn tước hiệu hoàng gia cho con trai Archie nhưng lại bị "dội gáo nước . Chuyện gì xảy ra với nước Mỹ: Hơn 100.000 người nhập viện dù phân nửa dân số đã tiêm chủng Covid, . Bắt được “quái vật” không đầu không đuôi, ông lão bất ngờ vì lời chuyên gia: Đừng động tới, đó là . Vụ án rúng động Hàn Quốc: Thanh niên đánh đập bạn gái dã man đến chết, bằng chứng đầy đủ nhưng . Mất 2 chân vì bố mẹ nổ bom tự sát, bé gái gốc Việt được cặp đôi Mỹ nhận nuôi, 18 năm sau gây ngỡ . Phóng to 10 lần bức tranh đơn giản trong Bảo tàng Quốc gia Trung Quốc, chuyên gia giật mình: Tác . Tìm thấy hàng loạt bộ phận thi thể của nhiều người nhét trong tủ lạnh nhà cựu cầu thủ bóng đá, cảnh . 6 năm sau thảm án thiên tài sát hại mẹ ruột rồi dùng than hoạt tính che giấu, cái kết của nghịch tử . Nhà Meghan muốn được tự chọn tước hiệu hoàng gia cho con trai Archie nhưng lại bị "dội gáo nước . Chuyện gì xảy ra với nước Mỹ: Hơn 100.000 người nhập viện dù phân nửa dân số đã tiêm chủng Covid, . Bắt được “quái vật” không đầu không đuôi, ông lão bất ngờ vì lời chuyên gia: Đừng động tới, đó là . Vụ án rúng động Hàn Quốc: Thanh niên đánh đập bạn gái dã man đến chết, bằng chứng đầy đủ nhưng . Mất 2 chân vì bố mẹ nổ bom tự sát, bé gái gốc Việt được cặp đôi Mỹ nhận nuôi, 18 năm sau gây ngỡ . Phóng to 10 lần bức tranh đơn giản trong Bảo tàng Quốc gia Trung Quốc, chuyên gia giật mình: Tác . Tìm thấy hàng loạt bộ phận thi thể của nhiều người nhét trong tủ lạnh nhà cựu cầu thủ bóng đá, cảnh . 6 năm sau thảm án thiên tài sát hại mẹ ruột rồi dùng than hoạt tính che giấu, cái kết của nghịch tử . Kenh14.vn rất hoan nghênh độc giả gửi thông tin và góp ý cho chúng tôi. Tầng 21, tòa nhà Center Building, Hapulico Complex, số 1 Nguyễn Huy Tưởng, p. Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, Hà Nội. | Viên kim cương Hope | Viên kim cương Hope là một trong những món đồ trang sức nổi tiếng nhất thế giới, với lý lịch quyền sở hữu có niên đại gần bốn thế kỷ. Màu xanh lam hiếm hoi được ngưỡng mộ do một lượng nhỏ nguyên tử boron. Với trọng lượng 45,52 cara, kích thước đặc biệt của viên kim cương đã tiết lộ những phát hiện mới về sự hình thành đá quý. Món trang sức được cho có nguồn gốc từ Ấn Độ, được biết đến đã cắt gọt từ viên Màu Xanh nước Pháp (Le bleu de France), dâng nộp lên vua Louis XIV. Người ta thu nhận tên nó khi xuất hiện trong danh mục sưu tập đá quý thuộc sở hữu của một gia đình ngân hàng London gọi là Hope năm 1839. Sau đó viên kim cương được bán cho nhà xã hội Washington Evalyn Walsh McLean thường đeo viên kim cương lên người. Kể từ năm 1958, nó đã được triển lãm tại bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia của Washington. Viên kim cương Hope từ lâu được đồn đại mang theo một lời nguyền, có thể do những tác nhân cố gắng khơi dậy mối quan tâm đến viên đá. |
đại lượng đặc trưng mức độ phụ thuộc của tốc độ phản ứng vào nồng độ các chất tham gia phản ứng. BPƯ bằng tổng số mũ của nồng độ các chất tham gia phản ứng trong phương trình tốc độ phản ứng viết ở dạng hàm số mũ theo nồng độ. 1: v = kCA; ở đây, v là tốc độ phản ứng; k – hằng số tốc độ; CA – nồng độ chất A tham gia phản ứng; số mũ bằng 1 thì phản ứng là bậc 1. 3: tổng số mũ là 3/4, phản ứng có bậc phân số là 3/4. Định luật tác dụng khối lượng. | Tốc độ phản ứng | Tốc độ phản ứng là độ thay đổi nồng độ của một trong các chất tham gia hoặc sản phẩm trong một đơn vị thời gian. Thực nghiệm cho thấy rằng có những phản ứng xảy ra gần như ngay tức khắc, như phản ứng nổ, nhưng cũng có những phản ứng xảy ra rất chậm, thường là phản ứng giữa các hợp chất cộng hóa trị, nhất là những hợp chất hữu cơ. Tốc độ phản ứng được xác định bằng độ biến thiên nồng độ của chất trong đơn vị thời gian, đơn vị là mol/ls hoặc mol/lh, mol/l. trong đó mol/l là đơn vị của nồng độ còn s, h, phút là đơn vị thời gian. Người ta phân biệt tốc độ trung bình với tốc độ tức thời của phản ứng hóa học. thì tốc độ phản ứng có thể được xác định bằng độ giảm nồng độ hoặc của chất A hoặc của chất B hay bằng độ tăng nồng độ hoặc của chất M hoặc của chất N nhưng với quy ước lấy độ biến thiên nồng độ của chất chia cho hệ số của chất đó ở trong phương trình phản ứng. Tốc độ phản ứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như bản chất và nồng độ của các chất phản ứng, áp suất (nếu trong phản ứng có chất khí tham gia),nhiệt độ, bản chất của dung môi (nếu phản ứng được thực hiện trong dung dịch, sự có mặt của chất xúc tác. |
Đồ uống có cồn những loại thức uống có chứa ethanol được sản xuất bằng những phương pháp chưng cất, lên men từ các loại ngũ cốc, trái cây, đường và một số chất khác. Ở Việt Nam các loại thức uống có cồn được sản xuất và sử dụng rộng rãi trên thị trường với nhiều kích thước, mẫu mã đa dạng khác nhau. Từ thời tiền sử, các loại thức uống có cồn đã xuất hiện bắt nguồn từ người Ai Cập và người Sumer chính là những tộc người đầu tiên đã tìm ra cách sản xuất ra bia, tiếp đến là rượu vang. Theo các nhà khảo cổ học cho rằng, người Trung Hoa đã biết sản xuất rượu từ 5000 năm TCN. Bên cạnh đó, thời Hy Lạp rượu vang còn được sử dụng trong các bữa sáng và bữa tối. Vào thế kỷ thứ 1 TCN người La Mã đã sử dụng phổ biến rượu vang trong tất cả các bữa ăn của họ, họ còn pha loang ra để dùng như nước uống. Cho đến thế kỷ thứ 8 và thứ 9, rượu mạnh đã được chế tạo ra từ các nhà giả kim thuộc đạo Hồi, cũng trong thời gian này rượu được dùng nhiều để chữa bệnh từ đây xuất hiện “ rượu thuốc”. Tồn tại song song với sự hiện đại và văn mình của xã hội, rượu đã trở thành một nền văn hóa trên khắp thế giới. Ethyl Alcohol (Ethanol) là loại cồn thực phẩm, sạch có thể uống được, màu trong suốt, cháy được với ngọn lửa màu xanh, có vị hơi ngọt. Có thể hòa tan với nước với mọi tỷ lệ, loại cồn này thường được dùng trong quy trình nấu rượu, bia và các loại nước giải khát lên men khác. Methyl Alcohol hay Methanol là một loại cồn công nghiệp, không màu và không thể uống được dùng trong công nghiệp để xử lý hóa chất, sát trùng. Nồng độ rượu chính là phần trăm (%) độ cồn nguyên chất có trong rượu tính theo thể tích. Rượu Cognac 40% ALC/VOL có nghĩa là: Trong một lít rượu Cognac thì có 0,4 lít cồn nguyên chất, còn lại là những chất khác. Bia 5% ALC/VOL: Trong 1 lít bia sẽ có 0,05 lít cồn nguyên chất và còn lại là những thành phần khách. Bên cạnh đó, đôi khi chúng ta sẽ bắt gặp những kí hiệu khác như: ALC, ABV vậy ALC là gì? Tùy theo vào mối quốc gia khác nhau, quy định về ký hiệu về nồng độ cồn cũng khác nhau. Và ALC chính là một đơn vị xác định nồng độ cồn theo quy ước của nước Anh. Dân nhậu thường hay nhìn vào chỉ số nồng độ cồn trong rượu này để đánh giá chúng là loại rượu nặng hay nhẹ. Mỗi loại rượu sẽ có nồng độ cồn và cách thức sản xuất khác nhau, tất cả các yếu tố đó sẽ tác động vào hương vị, chất lượng của từng loại rượu. Rượu vang là loại thức uống được thiên nhiên ban tặng từ thời xa xưa đến giờ với vẻ đẹp tinh tế và vô cùng sang trọng. Hiện nay có rất nhiều loại vang mà bạn có thể lựa chọn như rượu vang đỏ, rượu vang trắng, rượu vang hồng,. sử dụng từ nhiều giống nho nổi tiếng khác nhau để ủ, vì thế hương vị của chúng cũng sẽ mang nét đặc trưng riêng. Nhắc đến rượu chúng ta sẽ nhắc đến cái tên đại diện Tequila, nhóm rượu mạnh này bạn có thể sử dụng trực tiếp hoặc pha chế thành những món cocktail độc đáo. Bạn có thể tìm kiếm trên thị trường những loại rượu mạnh khác như: Whisky, Gin, Vodka, Brandy, Rum. Bia cũng là một loại thức uống có cồn khả quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam chúng ta, các loại bia thường được làm từ lúa lên men, đậm đà hương vị truyền thống. Ngày nay có rất nhiều thương hiệu bia nổi tiếng trên thị trường bạn có thể thoải mái lựa chọn. Nồng độ của bia nằm ở khoảng vào 5%. Rượu khai vị là loại thức uống được sử dụng kèm với các món ăn khai vị trong một bữa ăn, tạo cảm giác ngon miệng hơn trong cả bữa ăn. Thường chúng được dùng trong các bữa tiệc sang trọng ở nhà hàng - khách sạn với sự đa dạng về thương hiệu, hương vị và màu sắc. Ban đầu rượu mùi được sử dụng như rượu thuốc được pha chế đầu tiên từ nước Ý vào thế kỷ thứ 13 bởi các thầy tu. Đến nay, rượu mùi đã được phát triển và phổ biến khắp mọi nơi trên thế giới với nhiều sản phẩm đa dạng khác nhau. Bạn có thể thưởng thức bằng cách uống trực tiếp, uống kèm đá, uống kèm cà phê, pha với kem hoặc các nguyên liệu khác,. Bài viết trên là những thông tin bổ ích về nồng độ rượu mà bạn cần biết đã được SanGia VN tổng hợp được, chúc các bạn có được những giây phút thưởng rượu tuyệt vời bên người thân của mình. Để lấy lại mật khẩu bạn vui lòng nhập địa chỉ email của mình vào đây. | Thức uống có cồn | Bài này viết về các loại thức uống có chứa cồn (êtanol). Trong Wikipedia tiếng Việt còn có bài viết về rượu nhìn theo phương diện hóa học. Thức uống có cồn là một loại thức uống có chứa ethanol, một loại rượu được sản xuất bằng cách lên men ngũ cốc, trái cây hoặc các nguồn đường khác. Việc tiêu thụ rượu đóng một vai trò xã hội quan trọng trong nhiều nền văn hóa. Hầu hết các quốc gia đều có luật điều chỉnh việc sản xuất, bán và tiêu thụ đồ uống có cồn. Một số quốc gia cấm các hoạt động như vậy hoàn toàn, nhưng đồ uống có cồn là hợp pháp ở hầu hết các nơi trên thế giới. Ngành công nghiệp đồ uống có cồn toàn cầu có doanh thu vượt quá 1 nghìn tỷ đô la vào năm 2018. Rượu là một chất gây trầm cảm, ở liều thấp gây hưng phấn, giảm lo lắng và cải thiện tính xã hội. Ở liều cao hơn, nó gây ra say rượu, choáng váng, bất tỉnh hoặc tử vong. Sử dụng lâu dài có thể dẫn đến lạm dụng rượu, ung thư, lệ thuộc về thể chất và nghiện rượu. |
Nếu bạn chưa là hội viên hãy trở thành hội viên của quantri.vn để được hỗ trợ và chia sẽ thông tin nhiều hơn. Lý thuyết Quản Trị là hệ thống mà Quantri.vn đã số hoá toàn bộ Sách giáo khoa của chương trình. Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt. Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ chia cho số dư bình quân các khoản phải thu trong kỳ. Khoản tiền phải thu từ khách hàng là số tiền mà khách hàng hiện tại vẫn còn chiếm dụng của doanh nghiệp. Chỉ đến khi khách hàng thanh toán bằng tiền cho khoản phải thu này thì coi như lượng vốn mà doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng mới không còn nữa.Việc chiếm dụng vốn này thoạt nhìn không mấy quan trọng, vì theo logic thông thường, khách hàng nợ rồi khách hàng cũng sẽ phải trả cho doanh nghiệp, không trả lúc này thì trả lúc khác, cuối cùng thì tiền vẫn thuộc về doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng nếu khách hàng chiếm dụng ngày càng cao, trong khi đó do yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp cần tăng lượng hàng sản xuất, điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng mua nguyên vật liệu, kéo theo yêu cầu phải có lượng tiền nhiều hơn, trong khi thời điểm đó lượng tiền của doanh nghiệp không đủ và đáng ra nếu khách hàng thanh toán những khoản nợ với doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ có đủ số tiền cần thiết để mua đủ số lượng nguyên vật liệu theo yêu cầu. Do đó, trong trường hợp này, doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng để bổ sung vào lượng tiền hiện có hoặc chỉ sản xuất với số lượng tương ứng với số lượng nguyên vật liệu được mua vào từ số tiền hiện có của doanh nghiệp, điều này đương nhiên sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.Để tính toán hệ số này chính xác hơn, người ta dùng doanh thu không thanh toán ngay trong kỳ thay cho doanh thu trong kỳ. Số dư bình quân các khoản phải thu trong kỳ được tính bằng cách lấy trung bình của số dư đầu kỳ các khoản phải thu của tháng đầu tiên, số dư cuối kỳ các khoản phải thu của tháng đầu tiên và số dư cuối kỳ các khoản phải thu của các tháng tiếp theo trong kỳ. Nếu không có số liệu về số dư các khoản phải thu hàng tháng, có thể thay số dư bình quân các khoản phải thu bằng số dư cuối kỳ các khoản phải thu.Nói chung, hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động này.Từ chỉ số vòng quay các khoản phải thu ta tính được hệ số ngày thu tiền bình quân bằng cách lấy số ngày trong kỳ chia cho vòng quay các khoản phải thu. Ngược lại với chỉ số vòng quay các khoản phải thu, chỉ số ngày thu tiền bình quân càng nhỏ thì tốc độ thu hồi công nợ phải thu của doanh nghiệp càng nhanh. Trong mỗi ngành khác nhau thì chỉ số này cũng khác nhau và để đánh giá hiệu quả quản lý của doanh nghiệp, cần so sánh hệ số ngày thu tiền bình quân với số ngày thanh toán cho các khoản công nợ phải thu mà doanh nghiệp đó quy định. Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt. Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ chia cho số dư bình quân các khoản phải thu trong kỳ. Khoản tiền phải thu từ khách hàng là số tiền mà khách hàng hiện tại vẫn còn chiếm dụng của doanh nghiệp. Chỉ đến khi khách hàng thanh toán bằng tiền cho khoản phải thu này thì coi như lượng vốn mà doanh nghiệp bị khách hàng chiếm dụng mới không còn nữa.Việc chiếm dụng vốn này thoạt nhìn không mấy quan trọng, vì theo logic thông thường, khách hàng nợ rồi khách hàng cũng sẽ phải trả cho doanh nghiệp, không trả lúc này thì trả lúc khác, cuối cùng thì tiền vẫn thuộc về doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng nếu khách hàng chiếm dụng ngày càng cao, trong khi đó do yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp cần tăng lượng hàng sản xuất, điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng mua nguyên vật liệu, kéo theo yêu cầu phải có lượng tiền nhiều hơn, trong khi thời điểm đó lượng tiền của doanh nghiệp không đủ và đáng ra nếu khách hàng thanh toán những khoản nợ với doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ có đủ số tiền cần thiết để mua đủ số lượng nguyên vật liệu theo yêu cầu. Do đó, trong trường hợp này, doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng để bổ sung vào lượng tiền hiện có hoặc chỉ sản xuất với số lượng tương ứng với số lượng nguyên vật liệu được mua vào từ số tiền hiện có của doanh nghiệp, điều này đương nhiên sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.Để tính toán hệ số này chính xác hơn, người ta dùng doanh thu không thanh toán ngay trong kỳ thay cho doanh thu trong kỳ. Số dư bình quân các khoản phải thu trong kỳ được tính bằng cách lấy trung bình của số dư đầu kỳ các khoản phải thu của tháng đầu tiên, số dư cuối kỳ các khoản phải thu của tháng đầu tiên và số dư cuối kỳ các khoản phải thu của các tháng tiếp theo trong kỳ. Nếu không có số liệu về số dư các khoản phải thu hàng tháng, có thể thay số dư bình quân các khoản phải thu bằng số dư cuối kỳ các khoản phải thu.Nói chung, hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động này.Từ chỉ số vòng quay các khoản phải thu ta tính được hệ số ngày thu tiền bình quân bằng cách lấy số ngày trong kỳ chia cho vòng quay các khoản phải thu. Ngược lại với chỉ số vòng quay các khoản phải thu, chỉ số ngày thu tiền bình quân càng nhỏ thì tốc độ thu hồi công nợ phải thu của doanh nghiệp càng nhanh. Trong mỗi ngành khác nhau thì chỉ số này cũng khác nhau và để đánh giá hiệu quả quản lý của doanh nghiệp, cần so sánh hệ số ngày thu tiền bình quân với số ngày thanh toán cho các khoản công nợ phải thu mà doanh nghiệp đó quy định. | Số vòng quay khoản phải thu | Số vòng quay khoản phải thu (hay Hệ số quay vòng các khoản phải thu) là một trong những tỷ số tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nó cho biết các khoản phải thu phải quay bao nhiêu vòng trong một kỳ báo cáo nhất định để đạt được doanh thu trong kỳ đó. Có thể tính ra số vòng quay khoản phải thu bằng cách lấy doanh thu thuần (doanh thu không bằng tiền mặt) chia cho trung bình cộng đầu kỳ và cuối kỳ của giá trị các khoản phải thu. Tỷ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là cao. Quan sát số vòng quay khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiệp. |
Bệnh Alzheimer là một bệnh thần kinh thường gặp ở người già với triệu chứng điển hình là mất trí nhớ, suy giảm nhận thức, thay đổi tính cách cảm xúc. Tuy nhiên hiện nay bệnh có xu hướng trẻ hóa hơn khiến nhiều người còn trẻ cũng đã mắc phải căn bệnh này. Cần tìm hiểu rõ và nguyên nhân, cơ chế gây bệnh để mỗi người có biện pháp phòng ngừa càng sớm càng tốt. Cả hai bộ phim đều đã tái hiện hoàn hảo về những bệnh nhân mắc căn bệnh này và đã đem đến rất nhiều cảm xúc cho người xem khiến mỗi người không ngừng day dứt về căn bệnh Alzheimer. Alzheimer là một bệnh thần kinh được điển hình bằng các triệu chứng suy giảm trí nhớ, rồi dần mất trí nhớ, không nhớ được bản thân mình và những người xung quanh. Bệnh thường gặp chủ yếu ở người già, tuy nhiên hiện nay cũng có xu hướng trẻ hóa dần, rất nhiều người trẻ cũng mắc bệnh này. Nhiều người thường nhầm lẫn Alzheimer với chứng suy giảm trí nhớ ở người già tuy nhiên mức độ của Alzheimer thường cao hơn rất nhiều. Không chỉ mất trí nhớ, khả năng nhận thức, tư duy của người bệnh cũng suy giảm, xu hướng tính cách cũng dần thay đổi gây rất nhiều khó khăn cho người thân khi chăm sóc. Alzheimer chính thức được phát hiện và nghiên cứu từ năm 1906 do vị tiến sĩ Alois Alzheimer tìm ra khi ông nhận thấy có sự thay đổi bất thường mô não của một phụ nữ đã tử vong do bệnh thần kinh bất thường. Ở giai đoạn sớm bệnh tiến triển khá chậm, thường chỉ là hay quên nhưng càng về sau tốc độ tiến triển càng nhanh mà các biện pháp y khoa cũng không can thiệp được. Ở giai đoạn cuối người bệnh hầu như chỉ có thể nằm trên giường cho tới khi tất cả các cơ quan đều ngưng hoạt động. Hiện tại vẫn chưa có phương pháp để điều trị Alzheimer nên những người mắc bệnh phải sống cùng nó đến suốt đời. Tuy nhiên nếu được can thiệp sớm bác sĩ sẽ đưa ra các biện pháp phù hợp để làm chậm tiến triển bệnh và giúp bệnh nhân có ngày tháng còn lại vui vẻ, hạnh phúc hơn. Còn rất nhiều bí ẩn lớn xoay quanh Alzheimer mà các nhà khoa học vẫn đang không ngừng tìm kiếm lời giải. Trong đó việc đâu là nguyên nhân gây bệnh hay vì sao bệnh hầu như chỉ xuất hiện ở người già vẫn là một câu hỏi lớn còn đang bỏ ngỏ. Các nghiên cứu về hình ảnh bộ não có thể cho thấy những bất thường tại đây ở những người mắc Alzheimer, cụ thể là những khối bất thường chính là các đám rối sợi thần kinh ( đám rối “tau”) cùng những mảng vón amyloid. Thông qua các nghiên cứu này, các nhà khoa học cho rằng cơ chế gây bệnh có thể do các vấn đề sau. “Tau” là một protein là một thành phần trong các ống truyền dưỡng chất đi nuôi các neuron thần kinh. Tuy nhiên sự rối loạn tại đây khiến chúng bị ứ đọng và tích tụ lại làm cản trở còn đường vận chuyển dưỡng chất đi đến các bộ phận khác trong não bộ và gây thoái hóa các sợi dây thần kinh. Beta-amyloid cũng là một loại protein quan trọng trong não bộ. Bình thường các amyloid β này sẽ nằm trong bao mỡ màng của tế bào não, tuy nhiên vì một lý nào nào đó nó lại bị bong ra, vón lại và tạo thành những mảng keo trên não. Điều này cũng làm ngăn cản đường truyền dẫn của chất trung gian dẫn truyền thần kinh acetylcholin và làm trí nhớ, khả năng nhận thức của người bệnh dần suy giảm. Theo thời gian, quá trình lão hóa của cơ thể dẫn diễn ra ở khắp các cơ quan, bao gồm cả hệ thần kinh. Điều này có thể làm phá hủy các bao myelin ở các sợi thần kinh và cản trở quá trình dẫn truyền thần kinh, làm chết các tế bào thần kinh nên tình trạng suy giảm nhận thức, suy giảm trí nhớ là điều không thể tránh khỏi. Sự rối loạn trong quá trình oxy hóa cơ thể cũng sẽ khiến các protein beta-amyloid gây tổn thương cho não và gây bệnh. Hệ thần kinh đóng vai trò chi phối các hoạt động khác của cơ thể, bao gồm cả lời nói hay hành động do đó sự tổn thương tại đây sẽ gây ra những hệ lụy tới các cơ quan khác. Ngoài ra bệnh Alzheimer thường có xu hướng gặp nhiều ở những đối tượng sau. Ngoài ra ở những người ít giao tiếp xã hội hay có mức độ giáo dục thấp thường cũng được đánh giá là có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn bình thường. Hiểu rõ nguyên nhân và cơ chế gây bệnh sẽ giúp việc phòng tránh hay làm chậm nguy cơ tiến triển của bệnh đạt kết quả tốt nhất. Ban đầu triệu chứng của bệnh Alzheimer chỉ là hay quên, chẳng hạn đột nhiên quên mất đường về nhà, đột nhiên không biết mình là ai. Tuy nhiên người bệnh hay chính những người trong gia đình thường chủ quan cho rằng đây là triệu chứng giảm trí nhớ thường gặp ở người già nên chậm trễ trong việc thăm khám và điều trị khiến bệnh ngày càng nặng hơn. Tình trạng suy giảm, mất trí nhớ ngày càng tăng. Đôi khi người bệnh có thể đi chợ nhưng khi đến chợ lại không biết vì sao mình lại ở đây và trở nên hoảng loạn. Bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu suy giảm chức năng về ngôn ngữ. Chẳng hạn như thiếu vốn từ, không còn lưu loát khi nói, đang nói phải ngưng giữa chừng để suy nghĩ, sử dụng những từ ngữ hay cụm từ không phù hợp với ngữ cảnh, khiến người khác không thể hiểu họ đang muốn nói gì, có thể phải viết ra để thể hiện ý kiến của bản thân nhưng cũng khó để bộc lộ chính xác ý muốn của mình. Thay đổi thói quen, sở thích, tính cách. Một người có thể trở nên khó tính, dễ la hét hoặc trở nên hiền dịu hơn. Thường xuyên đi lang thang khắp nơi, tính khí trở nên hung hăng, khó tính hơn, không chịu sự chăm sóc của người thân vì cho rằng họ là người lạ. Giai đoạn này gia đình sẽ gặp rất nhiều khó khăn để thích nghi và biết cách chăm sóc người bệnh. Bên cạnh đó một số triệu chứng điển hình khác của bệnh như mất định hướng, người bệnh khó khăn trong định hướng không gian, thời gian, thậm chí là bị lạc trong chính ngôi nhà của mình. Họ cũng không thể thực hiện các công việc quen thuộc hằng ngày như dọn dẹp nhà cửa, mất khả năng chăm sóc chính mình. Ngoài ra người bệnh cũng khó khăn trong việc đưa ra quyết định, luôn hoài nghi với những điều xung quanh. Theo các bác sĩ, các giai đoạn sớm của bệnh diễn biến khá chậm nhưng khi tiến đến giai đoạn nặng có thể tiến triển nhanh hơn. Tuy nhiên nếu sớm có biện pháp can thiệp thời, bệnh nên có thể làm chậm quá trình phát bệnh và kéo dài cuộc sống trung bình từ 6- 10 năm. Để xác định chính xác bệnh nhân có bị Alzheimer hay không, phòng tránh nguy cơ nhầm lẫn với các bệnh lý khác, người bệnh sẽ được chỉ định kiểm tra tổng quát, xem xét tiền sử bệnh nền, tiền sử gia đình. Bởi các triệu chứng sa sút trí tuệ, giảm nhận thức hoàn toàn có thể do tuổi già hay các bệnh lý khác như trầm cảm, tim mạch, chảy máu não gây ra nên cần đảm bảo kiểm tra toàn diện để có thể đưa ra kết luận chính xác nhất. Chụp cắt lớp CT và chụp cộng hưởng từ MRI là phương pháp tốt nhất để xác định những bất thường trong bộ não. Tuy nhiên chỉ khi bệnh diễn ra trên 6 tháng mới có thể đưa ra kết luận chuẩn xác nhất. Do đó nếu nghi ngờ bản thân hay gia đình mắc bệnh người bệnh nên tiến hành thăm khám định kỳ trở lại để đảm bảo sức khỏe tốt nhất. Một số bài test tầm soát khác như (ADL- Activity of Daily Living), (IADL- Instrumental Activity of Daily Living), Mini-Cog và MoCA, đánh giá hành vi tâm thần cũng được yêu cần thực hiện nhằm đảm bảo kết quả chẩn đoán chính xác tuyệt đối. Như đã nói, Alzheimer hiện là bệnh chưa có thể điều trị được. Các biện pháp điều trị chỉ giúp kiểm soát bệnh tạm thời, giúp bệnh tiến triển chậm hơn để người bệnh có đời sống ổn định hơn. Nếu các can thiệp có hiệu quả, người bệnh hoàn toàn có thể kéo dài cuộc sống từ 6- 10 năm nhưng không thể sống 1 mình và rất cần sự hỗ trợ từ những người thân. Việc điều trị cho bệnh cũng gặp nhiều khó khăn do người bệnh có thể mắc bệnh nền hay các biến chứng khác. Mặt khác một số người bệnh có thể từ chối điều trị vfa gia đình rất khó khăn trong việc giúp người bệnh uống thuốc nên cũng có thể làm bệnh tiến triển theo chiều hướng xấu nhanh chóng. Tùy từng tình trạng bệnh, bác sĩ sẽ chỉ định những loại thuốc phù hợp để làm chậm tiến triển của bệnh. Những loại thuốc được chỉ định phổ biến như. Các thuốc điều trị triệu chứng : các nhóm thuốc này sẽ giải quyết các triệu chứng kèm theo để người bệnh có chất lượng cuộc sống tốt hơn. Một số loại thuốc thường dùng như thuốc an thần, thuốc trầm cảm, chống thuốc loạn thần, thuốc ngủ với liều mạnh | Bệnh Alzheimer | Bệnh Alzheimer, hoặc đơn giản là Alzheimer, là một bệnh thoái hóa thần kinh thường khởi phát từ từ và ngày càng trở nên nghiêm trọng. Bệnh chiếm 60–70% nguyên nhân dẫn đến mất trí. Triệu chứng ban đầu phổ biến nhất là việc khó nhớ lại những sự kiện gần đây. Khi bệnh trở nặng, người bệnh có thể gặp khó khăn về ngôn ngữ, mất phương hướng (bao gồm việc dễ đi lạc), thay đổi tâm trạng thất thường, mất động lực, bỏ bê bản thân và gặp vấn đề về hành vi. Khi tình trạng của người bệnh xấu đi, họ thường thu mình khỏi người thân và xã hội. Dần dần, người bệnh mất các chức năng của cơ thể và cuối cùng tử vong. Mặc dù tốc độ phát triển của bệnh có thể khác nhau, người bệnh thường sống thêm được từ 3 đến 9 năm sau khi được chẩn đoán mắc bệnh. Nguyên nhân gây ra Alzheimer chưa được hiểu rõ. Sự phát triển của bệnh có liên hệ với nhiều yếu tố nguy cơ mang tính môi trường và di truyền. Yếu tố nguy cơ di truyền lớn nhất bắt nguồn từ một alen của APOE. |
Nói đến năng lượng hạt nhân là nghĩ đến thảm họa Chernobyl và Fukushima lần lượt xảy ra vào năm 1986 và 2011. Nó là một loại năng lượng tạo ra một nỗi sợ hãi nhất định do tính nguy hiểm của nó. Tất cả các loại năng lượng (ngoại trừ năng lượng tái tạo) đều tạo ra tác động đối với môi trường và con người, mặc dù một số tác động như vậy ở mức độ lớn hơn các loại khác. Trong trường hợp này, năng lượng hạt nhân không thải ra khí nhà kính trong quá trình sản xuất, nhưng điều này không có nghĩa là nó không ảnh hưởng tiêu cực đến cả môi trường và con người. Có rất nhiều ưu nhược điểm của năng lượng hạt nhân và con người phải đánh giá từng người trong số họ. Do đó, trong bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung vào việc giải thích những lợi thế và bất lợi của năng lượng hạt nhân và nó ảnh hưởng như thế nào đến dân số. Điều đầu tiên của tất cả là phải biết loại năng lượng này là gì. Năng lượng hạt nhân là năng lượng mà chúng ta thu được từ sự phân hạch (phân chia) hoặc hợp nhất (kết hợp) của các nguyên tử tạo nên vật chất. Trên thực tế, Năng lượng hạt nhân mà chúng ta sử dụng thu được từ sự phân hạch của các nguyên tử uranium. Được sử dụng rộng rãi nhất là U-235. Ngược lại, mặt trời mọc mỗi ngày là một lò phản ứng tổng hợp hạt nhân khổng lồ có thể tạo ra nhiều năng lượng. Cho dù nó có sạch và an toàn đến đâu, thì năng lượng hạt nhân lý tưởng vẫn là nhiệt hạch lạnh. Nói cách khác, một quá trình hợp nhất, nhưng nhiệt độ gần với nhiệt độ phòng hơn nhiệt độ cực đoan của mặt trời. Mặc dù nhiệt hạch đang được nghiên cứu, nhưng thực tế là loại năng lượng hạt nhân này chỉ được coi là lý thuyết và có vẻ như chúng ta chưa gần đạt được nó. Đó là lý do tại sao năng lượng hạt nhân mà chúng ta luôn nghe và đề cập ở đây là sự phân hạch của các nguyên tử uranium. Mặc dù nó có ý nghĩa tiêu cực, nhưng không nên đánh giá chúng ta bằng tin tức và thậm chí là phim ảnh về các vụ tai nạn và chất thải phóng xạ. Thực tế là điện hạt nhân có rất nhiều lợi thế. Điều quan trọng nhất là những điều sau:. Năng lượng hạt nhân là sạch trong quá trình sản xuất của nó. Trên thực tế, hầu hết các lò phản ứng hạt nhân chỉ thải hơi nước vô hại vào khí quyển. Nó không phải là carbon dioxide hoặc methane, hoặc bất kỳ khí gây ô nhiễm nào khác hoặc khí gây ra biến đổi khí hậu. Do sức mạnh của năng lượng hạt nhân, một lượng lớn năng lượng có thể được tạo ra trong một nhà máy duy nhất. Nó gần như không cạn kiệt. Trên thực tế, một số chuyên gia tin rằng chúng ta nên phân loại nó là năng lượng tái tạo, bởi vì trữ lượng uranium hiện tại có thể tiếp tục sản xuất năng lượng như bây giờ trong hàng nghìn năm. Thế hệ của anh ấy không đổi. Không giống như nhiều nguồn năng lượng tái tạo (chẳng hạn như năng lượng mặt trời không thể tạo ra vào ban đêm hoặc gió không thể tạo ra nếu không có gió), sản lượng của nó là rất lớn và không đổi trong hàng trăm ngày. Trong 90% thời gian của năm, không bao gồm việc nạp lại theo lịch trình và ngừng hoạt động bảo dưỡng, điện hạt nhân đang hoạt động hết công suất. Như bạn có thể mong đợi, điện hạt nhân cũng có những nhược điểm nhất định. Những điều chính sau đây là:. Chất thải của nó rất nguy hiểm. Nói chung, chúng là tiêu cực cho sức khỏe và môi trường. Chất thải phóng xạ bị ô nhiễm nghiêm trọng và gây chết người. Sự xuống cấp của nó diễn ra hàng nghìn năm, điều này làm cho việc quản lý của nó trở nên rất tinh vi. Trên thực tế, đây là một vấn đề mà chúng ta vẫn chưa giải quyết được. Tai nạn có thể rất nghiêm trọng. Các nhà máy điện hạt nhân được trang bị các biện pháp an toàn tốt, nhưng tai nạn có thể xảy ra, trong trường hợp này tai nạn có thể rất nghiêm trọng. Đảo Three Mile ở Hoa Kỳ, Fukushima ở Nhật Bản hay Chernobyl ở Liên Xô cũ là những ví dụ về những gì có thể xảy ra. Họ là những mục tiêu dễ bị tấn công. Dù là thiên tai hay hành động khủng bố, nhà máy điện hạt nhân đều là mục tiêu, nếu bị phá hủy hoặc hư hại, nó sẽ gây ra những tổn thất to lớn. Mặc dù trước đó có vẻ như nó là một năng lượng không thải ra khí nhà kính, Điều này không hoàn toàn đúng. Nếu so sánh với các loại nhiên liệu khác, nó hầu như không tồn tại khí thải, nhưng chúng vẫn hiện diện. Trong nhà máy nhiệt điện, khí chính được thải vào khí quyển là CO2. Mặt khác, trong một nhà máy điện hạt nhân, lượng khí thải thấp hơn nhiều. CO2 chỉ được thải ra trong quá trình khai thác uranium và vận chuyển nó đến nhà máy. Cần một lượng lớn nước để làm nguội các chất được sử dụng trong quá trình phân hạch hạt nhân. Điều này được thực hiện để ngăn chặn nhiệt độ nguy hiểm đạt được trong lò phản ứng. Nước được sử dụng được lấy từ sông hoặc biển. Trong nhiều trường hợp, bạn có thể tìm thấy các loài động vật biển trong nước sẽ chết khi nước được làm nóng. Tương tự, nước bị trả lại môi trường có nhiệt độ cao hơn khiến động thực vật chết. Tai nạn trong nhà máy điện hạt nhân rất hiếm, nhưng rất nguy hiểm. Mọi tai nạn đều có thể tạo ra một thảm họa có quy mô to lớn, cả ở cấp độ sinh thái và con người. Vấn đề của những vụ tai nạn này nằm ở chỗ bức xạ bị rò rỉ ra môi trường. Bức xạ này có thể gây chết người đối với bất kỳ thực vật, động vật hoặc người nào bị phơi nhiễm. Ngoài ra, nó có khả năng tồn tại trong môi trường hàng thập kỷ (Chernobyl vẫn chưa thể sinh sống được do mức độ phóng xạ của nó). Ngoài các tai nạn hạt nhân có thể xảy ra, chất thải được tạo ra có thể tồn tại hàng nghìn năm cho đến khi không còn phóng xạ. Đây là một mối nguy hiểm đối với hệ động thực vật của hành tinh. Ngày nay, việc xử lý những chất thải này là phải đóng cửa trong các nghĩa trang hạt nhân. Các nghĩa trang này giữ cho chất thải được niêm phong, cách ly và được đặt dưới lòng đất hoặc dưới đáy biển để không gây ô nhiễm. Vấn đề với việc quản lý chất thải này là nó là một giải pháp ngắn hạn. Đây là, khoảng thời gian mà chất thải hạt nhân vẫn còn phóng xạ dài hơn thời gian tồn tại của các hộp trong đó chúng được niêm phong. Bức xạ, không giống như các chất ô nhiễm khác, bạn không thể ngửi hay nhìn thấy. Nó có hại cho sức khỏe và có thể duy trì trong nhiều thập kỷ. Tóm lại, năng lượng hạt nhân có thể ảnh hưởng đến con người theo những cách sau:. Nó gây ung thư, đặc biệt là tuyến giáp, vì tuyến này hấp thụ iốt, mặc dù nó cũng gây ra các khối u não và ung thư xương. Các vấn đề về tủy xương, do đó gây ra bệnh bạch cầu hoặc thiếu máu. Dựa trên tất cả những gì đã thấy, lý tưởng là tìm ra sự cân bằng giữa các mục đích sử dụng năng lượng khác nhau trong khi tăng năng lượng tái tạo và thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng. Tôi hy vọng rằng với những thông tin này, bạn có thể hiểu thêm về những lợi thế và bất lợi của năng lượng hạt nhân. địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố. Các trường bắt buộc được đánh dấu bằng *. Truyền thông dữ liệu: Dữ liệu sẽ không được thông báo cho các bên thứ ba trừ khi có nghĩa vụ pháp lý. Quyền: Bất cứ lúc nào bạn có thể giới hạn, khôi phục và xóa thông tin của mình. | Hạt nhân phóng xạ | Một hạt nhân phóng xạ (hoặc đồng vị phóng xạ) là một nguyên tử có năng lượng hạt nhân dư thừa, làm cho nó không ổn định. Năng lượng dư thừa này có thể được sử dụng theo một trong ba cách: phát ra từ hạt nhân dưới dạng bức xạ gamma; chuyển đến một trong số các electron của nó để giải phóng nó dưới dạng electron chuyển đổi; hoặc được sử dụng để tạo và phát ra một hạt mới (hạt alpha hoặc hạt beta) từ hạt nhân. Trong các quá trình đó, hạt nhân phóng xạ được cho là trải qua quá trình phân rã phóng xạ. Những phát thải này được coi là bức xạ ion hóa vì chúng đủ mạnh để giải phóng một electron khỏi một nguyên tử khác. Sự phân rã phóng xạ có thể tạo ra một hạt nhân ổn định hoặc đôi khi sẽ tạo ra một hạt nhân phóng xạ không ổn định mới có thể trải qua quá trình phân rã hơn nữa. Phân rã phóng xạ là một quá trình ngẫu nhiên ở cấp độ của các nguyên tử đơn lẻ: không thể dự đoán khi nào một nguyên tử cụ thể sẽ phân rã. |
Bảng cân đối kế toán là một tài liệu tài chính vô cùng quan trọng. Nó giúp nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp theo dõi tình hình của doanh nghiệp đó, sau đó đưa ra các chiến lược kinh doanh phù hợp. Thực hiện lập bảng cân đối kế toán là công việc hết sức quen thuộc đối với các kế toán viên. Tuy nhiên, ngoài việc thành thạo lập bảng cân đối kế toán, các kế toán còn cần phải nắm vững ý nghĩa cũng như hiểu được các yếu tố có mặt trong bảng cân đối kế toán. Bảng cân đối kế toán thể hiện tình hình kinh doanh của một doanh nghiệp tại thời điểm nhất định. Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính của doanh nghiệp, tóm tắt ngắn gọn về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm có/sở hữu (tài sản) và những khoản nợ ở một thời điểm nhất định. Bạn không thể tự ý thay đổi biểu mẫu bảng cân đối kế toán vì nó phải được lập theo mẫu dành cho DNNVV được Bộ Tài chính quy định. Trong đó, tài sản cố định gồm: tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Tài sản hữu hình: là các tài sản như nhà xưởng, đất đai, máy tính, máy móc, và các tài sản vật chất khác. Tài sản vô hình đó chính là quyền sở hữu trí tuệ, phát minh sáng chế, uy tín, thương hiệu, tên miền Website và các khoản đầu tư dài hạn của mỗi doanh nghiệp. Tài sản vãng lai được hiểu là những tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Trong đó giá trị của tài sản vãng lai có thể dao động theo ngày, bao gồm: Cổ phiếu, bán thành phẩm, tiền nợ của khách hàng, tiền mặt tại ngân hàng, các khoản đầu tư ngắn hạn và các khoản trả trước (ví dụ tiền thuê). Ngoài tài sản vãng lai, bạn còn cần phải biết các khoản nợ vãng lai là gì. Nó được hiểu là các khoản nợ mà doanh nghiệp phải trả trong vòng một năm, bao gồm: tiền doanh nghiệp nợ các nhà cung cấp, các khoản vay dài hạn, rút quá ở ngân hàng hoặc các khoản mục tài chính khác và thuế phải trả trong một năm. Trái ngược với các khoản nợ vãng lai thì các khoản nợ dài hạn là khoản nợ có kỳ hạn sau một năm gồm các khoản vay hoặc tài chính đến hạn phải trả sau một năm. Cuối cùng, vốn chủ sở hữu và dự trữ: đó chính là vốn cổ phần và lợi nhuận để lại. Mỗi yếu tố trong bảng cân đối kế toán đều có ý nghĩa về mặt pháp lý và kinh tế riêng. Tất cả các tài sản được nhắc đến trong bảng cân đối kế toán đều phải được tài trợ bằng một nguồn tài trợ nào đó như vốn nợ hay vốn chủ sở hữu. Chúng đều có ý nghĩa riêng về mặt kinh tế lẫn tính pháp lý. Cụ thể ý nghĩa của chúng như sau:. Ý nghĩa pháp lý: Nó phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp ở thời điểm lập báo cáo. Ý nghĩa kinh tế: Tài sản phản ánh quy mô và kế các loại vốn, tài sản hiện có tại thời điểm lập báo cáo của doanh nghiệp. Nó tồn tại dưới hình thái vật chất hoặc phi vật chất chẳng hạn là vốn bằng tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản cố định…. Thông các số liệu về tài sản chúng ta có thể đánh giá quy mô vốn và mức độ phân bổ sử dụng vốn của doanh nghiệp một cách tổng quát. Ý nghĩa pháp lý: Nguồn vốn phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản hiện có tại thời điểm báo cáo của doanh nghiệp. Nhờ đó, chúng ta có thể biết được doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm pháp lý phải trả đối với khoản nợ nào và các chủ nợ biết được giới hạn trách nhiệm của chủ sở hữu đối với các khoản nợ của doanh nghiệp. Ý nghĩa kinh tế: phản ánh quy mô và cơ cấu các nguồn vốn được đầu tư và huy động vào hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp. Nhờ vậy, chúng ta có thể đánh giá mức độ tự chủ về tài chính và khả năng rủi ro tài chính của doanh nghiệp một cách khái quát. Tài sản ngắn hạn là yếu tố thể hiện tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có thể chuyển đổi thành tiền, có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường tại thời điểm báo cáo của một doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn bao gồm: Tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác. Tài sản dài hạn là các tài sản mà tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc sử dụng trên 12 tháng. Chẳng hạn là tài sản cố định, các khoản phải thu dài hạn, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác. Yếu tố này thể hiện trị giá các loại tài sản không được phản ánh trong chỉ tiêu tài sản ngắn hạn. Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng trị giá tài sản tại thời điểm báo cáo mà doanh nghiệp hiện có. Tổng tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Tại thời điểm báo cáo, đây là yếu tố phản ánh toàn bộ số nợ phải trả của doanh nghiệp. Nó gồm tổng nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn phản ánh tổng giá trị các khoản nợ của doanh nghiệp còn phải trả có thời hạn thanh toán không quá 12 tháng hoặc dưới một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường. Chẳng hạn như: Phải trả người bán, phải trả người lao động, doanh thu chưa thực hiện, các khoản vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, chi phí phải trả, phải trả nội bộ, dự phòng phải trả…Chúng đều được đánh giá tại thời điểm lập báo cáo. Vay và nợ thuê tài chính dài hạn được coi là nợ dài hạn của doanh nghiệp. Nợ dài hạn là tổng giá trị các khoản nợ dài hạn bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh toán còn lại từ 12 tháng trở lên hoặc trên một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo. Đó là các khoản phải trả người bán, vay và nợ thuê tài chính dài hạn, phải trả nội bộ, các khoản phải trả dài hạn khác, … tại thời điểm báo cáo kế toán. Đây là yếu tố phản ánh toàn bộ vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo. Nó gồm vốn chủ sở hữu và nguồn chi phí khác. Vốn chủ sở hữu phản ánh các khoản vốn kinh doanh thuộc sở hữu của cổ đông, thành viên góp vốn. Bao gồm: các quỹ trích từ lợi nhuận sau thuế và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, vốn đầu tư của chủ sở hữu, chênh lệch tỷ giá, chênh lệch đánh giá lại tài sản…. Nguồn chi phí khác phản ánh tổng số kinh phí sự nghiệp, dự án được cấp để chi tiêu cho hoạt động sự nghiệp, dự án (sau khi trừ đi các khoản chi sự nghiệp, dự án); Nguồn kinh phí đã hình thành tài sản cố định tại thời điểm báo cáo. Tổng cộng nguồn vốn thể hiện các nguồn vốn hình thành tài sản của doanh nghiệp. Tổng cộng nguồn vốn là yếu tố phản ánh tổng số các nguồn vốn hình thành tài sản tại thời điểm báo cáo của doanh nghiệp. Tổng cộng nguồn vốn bao gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Sử dụng nội dung ở trang này và dịch vụ tại Mắt Bão có nghĩa là bạn đồng ý vớiThỏa thuận sử dụng và Chính sách bảo mật của chúng tôi.Công ty cổ phần Mắt Bão - Giấy phép kinh doanh số: 0302712571 cấp ngày 04/09/2002 bởi Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Tp. Hồ Chí Minh. Giấy phép cung cấp dịch vụ Viễn thông số 1683/GP - BTTTT cấp ngày 01 tháng 12 năm 2009 | Bảng cân đối kế toán | Trong kế toán tài chính, bảng cân đối hoặc báo cáo tình hình tài chính hoặc báo cáo tình hình tài chính là bản tóm tắt các số dư tài chính của một cá nhân hoặc tổ chức, cho dù đó là doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty quốc doanh, công ty TNHH tư nhân hoặc các tổ chức khác chẳng hạn như Chính phủ hoặc tổ chức phi lợi nhuận. Bảng cân đối liệt kê tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu vào một ngày cụ thể, chẳng hạn như ngày kết thúc năm tài chính của công ty. Bảng cân đối kế toán thường được mô tả là "cách nhìn nhanh về tình trạng tài chính của công ty". Trong bốn báo cáo tài chính cơ bản, bảng cân đối kế toán là báo cáo duy nhất áp dụng cho một thời điểm duy nhất trong năm của doanh nghiệp. Một bảng cân đối công ty tiêu chuẩn có hai phía: tài sản ở phía bên trái và tài chính ở bên phải. Tài chính bao gồm có hai phần, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Các loại tài sản chính thường được liệt kê đầu tiên và thường theo thứ tự thanh khoản. |
Khi điều tồi tệ xảy ra, chúng ta luôn muốn tin rằng ta sẽ làm tất cả mọi thứ để thay đổi hoàn cảnh. Nghiên cứu về cái gọi là “bất lực tập nhiễm” đã chỉ ra rằng khi con người ta cảm thấy mình không thể kiểm soát được những gì xảy ra thì họ có xu hướng đơn giản là từ bỏ và chấp nhận sự an bài của số phận. Bất lực tập nhiễm xuất hiện khi một sinh vật chịu một kích thích khó chịu lặp đi lặp lại mà nó không thể trốn chạy được. Rốt cuộc, con vật sẽ dừng việc né tránh kích thích đó và hành xử như thể mình bất lực hoàn toàn và không thể thay đổi được hoàn cảnh. Thậm chí khi có cơ hội trốn thoát thì hành vi bất lực do học tập mà thành này sẽ ngăn chủ thể thực hiện bất kỳ hành động nào để thoát khỏi tình huống. Mặc dù khái niệm này cực kỳ phổ biến trong hành vi và tâm lý học về động vật nhưng nó cũng có thể áp dụng trong nhiều tình huống liên quan đến con người. Khi con người ta cảm thấy mình không thể kiểm soát được tình huống diễn ra, họ bắt đầu hành xử như thể mình hoàn toàn thua cuộc, bất lực toàn tập. Sự ì ạch này có thể khiến con người ta bỏ qua những cơ hội để thay đổi hoặc hành động để bản thân cảm thấy tốt hơn. Khái niệm về bất lực tập nhiễm vô tình được khám phá bởi nhà tâm lý học Martin Seligman và Steven F. Maier. Ban đầu họ quan sát hành vi bất lực ở chó trong thí nghiệm về điều kiện hóa cổ điển, khi những chú chó này bị cho sốc điện sau mỗi lần nghe thấy tiếng chuông. Về sau, những chú chó này được đặt trong một cái hộp cửa chớp có 2 khoang riêng biệt được phân cách nhau bởi một hàng rào thấp. Sàn hộp một bên bị tích điện, một bên thì không. Những chú chó trong thí nghiệm điều kiện hóa cổ điển trước đó đã không tìm cách trốn thoát, thậm chí ở đây là chúng chỉ cần nhảy qua cái hàng rào nhỏ kia là đã không bị sốc điện rồi. Để tìm hiểu hiện tượng này, các nghiên cứu viên sau đó đã thực hiện thêm một thí nghiệm khác. Trong nhóm một, các chú chó bị bắt mặc đai yếm trong một khoảng thời gian và sau đó được cởi ra. Các chú chó trong nhóm thứ hai cũng được đóng mặc cùng bộ đai yếm nhưng sau đó bị cho sốc điện, và chúng hoàn toàn có thể tránh được cú sốc điện này bằng cách dùng mũi nhấn vào bảng điều khiển. Nhóm thứ ba cũng bị sốc điện như nhóm hai, ngoại trừ một điều rằng những chú chó trong nhóm này không thể điều khiển được cú sốc điện đó. Đối với nhóm này, việc sốc điện được thực hiện hoàn toàn không theo quy luật và nằm ngoài tầm kiểm soát của chủ thể. Các chú chó này sau đó bị nhốt trong một chiếc hộp cửa chớp. Những chú chó trong nhóm một và nhóm hai nhanh chóng học được cách nhảy qua hàng rào nhỏ để không bị sốc điện. Còn nhóm thứ ba lại không có mảy may nỗ lực cố gắng thoát khỏi cú sốc. Vì trải nghiệm học được trước đó, chúng đã hình thành một mong đợi về mặt nhận thức rằng chúng không thể làm được gì để ngăn ngừa hoặc loại bỏ các cú sốc điện lên mình. Tác động của bất lực tập nhiễm đã được mô tả trong nhiều loài động vật, nhưng tác động của nó cũng có thể được tìm thấy ở con người. Hãy cùng cân nhắc một ví dụ thường gặp sau: Một đứa trẻ làm bài thi và bài tập môn Toán kém sẽ dần cảm thấy mình không thể tác động gì lên kết quả môn Toán. Sau này cứ mỗi lần đối mặt với một bài tập hay bài thi Toán nào, cậu ta có thể sẽ trải nghiệm hiện tượng bất lực tập nhiễm. Bất lực tập nhiễm cũng có mối liên hệ với một số rối loạn tâm lý khác. Trầm cảm, lo âu, ám ảnh sợ, nhút nhát và cô đơn có thể trở nên trầm trọng hơn bởi bất lực tập nhiễm. Ví dụ, một người phụ nữ hay rụt rè trong các tình huống tương tác xã hội về sau sẽ bắt đầu cảm thấy mình chẳng thể làm gì để vượt qua những triệu chứng này. Cảm giác này không nằm trong tầm kiểm soát trực tiếp của cô và có thể khiến cô này ngừng tham gia vào các hoạt động tương tác xã hội, từ đây sự nhút nhát rụt rè của cô ta ngày càng nặng thêm. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng bất lực tập nhiễm không phải lúc nào cũng xuất hiện, ở tất cả các bối cảnh và tình huống. Một học sinh bị bất lực tập nhiễm với môn Toán không phải lúc nào cũng trải nghiệm tình trạng bất lực tương tự khi phải đối mặt với một bài tập tính toán trong thực tế. Trong một số trường hợp khác, con người ta có thể trải nhiệm bất lực tập nhiễm khá chung chung cho rất nhiều các tình huống khác nhau. Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng cách giải thích hay quy kết đóng một vai trò trong xác định cách con người ta bị ảnh hưởng bởi bất lực tập nhiễm. Quan điểm này cho rằng phong cách giải thích đặc trưng của một người về các sự kiện giúp xác định người này có hay không có hình thành bất lực tập nhiễm. Người nào có phong cách giải thích bi quan sẽ dễ bị bất lực tập nhiễm hơn. Những người có kiểu giải thích này có xu hướng quy kết những thứ tiêu cực là lúc nào cũng khó tránh và khó trốn khỏi được, từ đó có xu hướng tự gánh trách nhiệm về những sự kiện tiêu cực đó. Vậy ta có thể làm gì để vượt qua bất lực tập nhiễm? Liệu pháp nhận thức hành vi là một kiểu trị liệu tâm lý có thể có hiệu quả giúp vượt qua lối suy nghĩ và những dạng thức hành vi góp phần gây bất lực tập nhiễm. Bất lực tập nhiễm có thể có tác động lớn lao lên sức khỏe tình thần của chúng ta. Những người gặp bất lực tập nhiễm cũng có thể trải nghiệm những triệu chứng trầm cảm, các mức độ căng thẳng gia tăng, và giảm bớt động lực chăm sóc sức khỏe thể chất. Nếu bạn cảm thấy tình trạng bất lực tập nhiễm có thể đang tác động tiêu cực lên cuộc sống và sức khỏe thì hãy cân nhắc trao đổi với bác sĩ về những việc bạn có thể làm để giải quyết lối tư duy thiếu lành mạnh này. Mình là Thông, sinh năm 1999. Người có đam mê về tâm lý học, khoa học - tâm linh. Sở thích của mình là âm nhạc, đọc sách, du lịch và được trò chuyện với mọi người xung quanh. Mong rằng trang web này có thể truyền tải được nguồn tri thức vô tận đến cho các bạn. Đây là trang tổng hợp các tài liệu về ngành tâm lý học, khoa học tâm linh và sách các kiểu con đà điểu nhằm chia sẻ kiến thức đa dạng, bí ẩn về ngành học lý thú này cho những cá nhân có cùng chung sở thích cũng như đam mê tìm hiểu, khám phá cả bầu trời tri thức vô tận. Các bài viết được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau trên Internet. Mình không chịu trách nhiệm nếu có xảy ra sai sót trong lúc truyền đạt đến các bạn. Mong rằng các bạn sẽ cảm nhận được những giây phút trải nghiệm đắm mình vào những dòng suy tư của màu sắc tri thức. Vậy thì, ta cùng lắng lại tâm hồn và nhìn sâu vào nội tâm của bản thân mình nhé! | Bất lực tập nhiễm | Bất lực tập nhiễm hay bất lực do học được (Learned helplessness) hay là sự bất lực có điều kiện là hành vi được biểu hiện ra bên ngoài của một đối tượng sau khi đã chịu đựng những kích thích thù địch, trái với ý muốn hoặc gây khó chịu mà chúng được lặp đi lặp lại ngoài tầm kiểm soát của đối tượng này. Ban đầu, người ta cho rằng nguyên nhân là do đối tượng chấp nhận sự bất lực này bằng cách ngừng cố gắng trốn thoát hoặc tránh các kích thích thù địch, bất lợi, khó chịu, ngay cả khi có các lựa chọn thay thế như vậy một cách rõ ràng. Khi thể hiện hành vi như vậy, đối tượng được cho là đã học được sự chịu đựng một cách bất lực (ví dụ hiệu ứng chú voi bị cột vào gốc cây, muôn thú chán nản trong vườn thú khi cố gắng trốn không được). Sự bất lực tập nhiễm là một tư duy được khám phá bởi nhà tâm lý học Martin Seligman và Steven F. Maier khi họ quan sát hành vi ở cả động vật và con người. Sự bất lực tập nhiễm là khái niệm dựa trên quan điểm cho rằng hành vi của con người và con vật được học thông qua những liên kết và phản ứng. |
Chính phủ của mỗi quốc gia hiểu rằng tiêu chuẩn sống của toàn tiểu bang phụ thuộc vào nền kinh tế. Vì lý do này, điều rất quan trọng là không mắc sai lầm khi lựa chọn. Một nền kinh tế hỗn hợp là một trong những lựa chọn hiệu quả nhất. Các đặc điểm của nền kinh tế hỗn hợp là gì và lợi thế và bất lợi của nó là gì?. Nhờ nền kinh tế hỗn hợp, các doanh nhân và thậm chí các cá nhân có thể đưa ra các quyết định độc lập trong lĩnh vực tài chính. Quyền tự chủ của họ bị hạn chế bởi thực tế rằng xã hội hoặc nhà nước có ưu tiên trong những vấn đề tài chính này. Một nền kinh tế hỗn hợp là một hệ thống mà cả nhà nước và khu vực tư nhân đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu thụ tất cả các nguồn lực, tài sản giàu có trong nước. Thông thường, ý tưởng của một nền kinh tế hỗn hợp trung thành với chủ nghĩa xã hội dân chủ. Trong khuôn khổ của hệ thống này, các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, cũng như các tập đoàn khác nhau, có thể quản lý tài sản sản xuất, xử lý chuyển động hàng hóa, giao dịch bán hàng, thuê và sa thải nhân viên, trên thực tế là người chơi bình đẳng trên thị trường. Hệ thống này có những nhiệm vụ quan trọng riêng. Các chuyên gia gọi không phải là một mục tiêu của nền kinh tế hỗn hợp:. Ở nhiều nước có thu nhập rất cao, một hệ thống kinh tế hỗn hợp được sử dụng. Ở đây, các pháp nhân và cá nhân có thể quyết định phân phối và chuyển tiền một cách độc lập. Cư dân của các quốc gia đó biết đặc điểm của một nền kinh tế hỗn hợp là gì:. Tích hợp một phần sản xuất trong phạm vi cả nước và xa hơn nữa. Có một nền kinh tế bóng tối và hàng hóa bị cấm bởi chính phủ. Không ai trong số các hệ thống hiện đại không thể được gọi là lý tưởng. Loại hình kinh tế này có cả lợi thế và bất lợi của nó. Trong số những lợi thế của một nền kinh tế hỗn hợp:. Sự vắng mặt của sự độc quyền và thâm hụt, có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nhà nước. Nó, không giống như truyền thống, không thể thoát khỏi những điểm tiêu cực như lạm phát, thất nghiệp, một khoảng cách xã hội có thể nhìn thấy giữa người giàu và người nghèo. Sự ức chế quá trình thoát khỏi các nhà sản xuất sang các thị trường mới. Nhà nước và người sản xuất, người tiêu dùng là quan trọng trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của hệ thống kinh tế - cái gì, như thế nào, cho ai và khối lượng nào là cần thiết để sản xuất. Điều này mang lại cơ hội như vậy để kết hợp hiệu quả kinh tế với sự hài lòng của nhu cầu của toàn bộ dân số, có thể làm giảm căng thẳng xã hội trong toàn tiểu bang. Trong hệ thống, mọi thứ đều được cân bằng và không có độc quyền, và không thiếu thâm hụt có thể lay chuyển trạng thái từ bên trong. Định hướng xã hội của nền kinh tế, kết hợp bảo tồn cạnh tranh, tự do thị trường và bảo vệ dân số ở cấp bang từ những người tham gia thị trường không tận tâm và những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Nó không thể loại trừ lạm phát , thất nghiệp, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Có thể suy giảm chất lượng hàng hóa và tài sản sản xuất trì trệ. Giảm tốc độ xuất khẩu của các nhà sản xuất sang các thị trường mới. Neo-ethatist hỗn hợp nền kinh tế - với nó khu vực quốc hữu hóa được phát triển, chính sách là hoạt động ngược và cấu trúc, hệ thống của cái gọi là thanh toán chuyển giao được phát triển. Nền kinh tế hỗn hợp neoliberal được đặc trưng bởi các chính sách đối kháng. Ở đây nhà nước phấn đấu để cung cấp điều kiện cho công việc hiệu quả của thị trường. Mô hình hành động phối hợp dựa trên một số công việc phối hợp nhất định và sự hợp tác của đại diện các cấu trúc xã hội - chính phủ, công đoàn và nhà tuyển dụng. Khả năng của tất cả các thị trường hoạt động độc lập, không theo dõi hoạt động của chính phủ. Khả năng của cả pháp nhân và cá nhân sở hữu tài sản tư nhân mà không có sự kiểm soát của chính phủ. Các nhà sản xuất có thể làm việc trên cơ sở cạnh tranh, có thể cung cấp dịch vụ chất lượng và giá thấp. Người tiêu dùng có thể xác định nhu cầu của mình về sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Mô hình Đức có đặc thù riêng của nền kinh tế hỗn hợp. Trong số các khác biệt đặc trưng của nó:. Nguồn bảo trợ xã hội cho dân cư không phải là lợi nhuận của các doanh nghiệp, mà là ngân sách xã hội và ngân sách ngoài ngân sách. Mô hình của nền kinh tế Thụy Điển đã thu hút sự chú ý trở lại vào những năm sáu mươi nhờ vào sự tăng trưởng kinh tế đáng kể kết hợp với một bộ cải cách và một xã hội ổn định. Mô hình này có hai mục tiêu chính:. Ở đây đặc điểm của nền kinh tế hỗn hợp dựa trên sự ổn định chính trị và kinh tế, tăng trưởng tiến bộ và mức sống cao của con người. Điều này trở thành hiện thực sau khi giới thiệu ở cấp tiểu bang của các nguyên tắc như vậy:. Đất nước này có cả văn hóa doanh nghiệp và chính trị ở mức cao, cho phép giải quyết ngay cả những tranh chấp khó khăn nhất, dựa vào các cuộc đàm phán ngoại giao và nhượng bộ lẫn nhau. Khả năng cạnh tranh của ngành, tương tác đồng thời với các tổ chức khoa học, tư nhân và công cộng. Chính phủ hỗ trợ trong việc phát triển các công nghệ tiên tiến, được định hướng theo hướng tối ưu hóa các quy trình kinh tế. Cư dân của đất nước mặt trời mọc nói rằng nền kinh tế hỗn hợp ở Nhật Bản có những chi tiết riêng. Trong số các tính năng của nó:. Truyền thống quốc gia rất mạnh, ảnh hưởng của nó có thể được truy tìm ở nhiều giai đoạn của quá trình kinh tế. Một nền kinh tế thị trường hỗn hợp được mô tả trong tài liệu. Trong số những cuốn sách thú vị và phổ biến nhất:. "Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân của sự giàu có của các quốc gia" Adam Smith . Ở đây những ý tưởng và suy nghĩ của những người đương thời của tác giả được khái quát hóa, một hệ thống các thể loại, nguyên tắc và phương pháp kinh tế được phát triển. "Chủ nghĩa tư bản và tự do" Milton Friedman . Ấn phẩm mô tả nhiều giả thuyết rằng trong tương lai có thể trở thành nền tảng thực sự dựa trên nhiều cải cách tự do. Một nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ viết về các vấn đề phổ biến nhất của Mỹ và cách giải quyết chúng. | Khu vực một của nền kinh tế | Khu vực thứ nhất của nền kinh tế hay khu vực/lĩnh vực sản xuất sơ khai là một bộ phận của nền kinh tế, bao gồm các hoạt động biến đổi tài nguyên thiên nhiên thành sản phẩm sơ khai, sơ khởi. Những sản phẩm này là nguyên liệu cho các ngành kinh tế khác. Các hoạt động kinh tế chủ yếu của lĩnh vực này gồm nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, khai mỏ, khai khoáng và khai thác đá. Các ngành công nghiệp chế tạo mà quá trình sản xuất gắn chặt với nguyên liệu thô như thu gom, bao gói, làm sạch, xử lý ban đầu và đặc biệt là các nguyên liệu này còn ở dạng thô sơ, chưa sử dụng được hoặc khó chuyên chở đi xa được coi thuộc về khu vực sản xuất sơ khai. Khu vực sản xuất sơ khai chiếm phần quan trọng trong nền kinh tế các nước đang phát triển, ví dụ ngành chăn nuôi phổ biển ở Châu Phi nhưng chiếm tỷ lệ nhỏ ở Nhật Bản. Ngành khai mỏ ở miền nam xứ Uên là một điển hình cho thấy một nền kinh tế, một cộng đồng sẽ ra sao khi chỉ dựa vào một hoạt động kinh tế sơ khai. |
Hẳn là có nhiều bạn từng nghe nói quang hợp ở cây xanh là thu khí cacbonic và nhả ra khí oxy. Vậy thực chất quang hợp là gì và vai trò của quang hợp như thế nào? Cùng DINHNGHIA.VN tìm hiểu cụ thể về chủ đề quang hợp là gì qua bài viết sau nhé!. Quang hợp là quá trình tổng hợp hợp chất hữu cơ của nhóm thực vật, tảo và một số vi khuẩn nhờ thu nhận ánh sáng từ năng lượng mặt trời. Ở thực vật, quá trình quang hợp được là nhờ chất diệp lục (chlorophyll) có trong lục lạp. Một số loài vi khuẩn không sử dụng chlorophyll để quang hợp mà dùng một loại sắc tố tương tự có tên là bacteriochlorophylls. Trong bài viết này, sẽ chủ yếu tập trung tìm hiểu về quang hợp ở các nhóm thực vật. Vậy quang hợp ở thực vật là gì? Đó là quá trình chất diệp lục có trong lá cây hấp thụ ánh sáng từ mặt trời để tổng hợp carbohydrat, giải phóng khí oxy và nước. Quá trình quang hợp đóng vai trò quan trọng đối với sự sống của các sinh vật trên Trái đất, đặc biệt là quá trình quang hợp ở cây xanh, tạo ra khí Oxy – là nguồn sống của hầu hết các sinh vật. Dưới đây là 3 vai trò quan trọng nhất của quá trình quang hợp ở các nhóm thực vật. Tổng hợp chất hữu cơ: sản phẩm của quang hợp tạo ra hợp chất hữu cơ cung cấp nguồn thức ăn cho tất cả các sinh vật, dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp và chế tạo ra thuốc chữa bệnh cho con người. Tích lũy năng lượng: chuyển hóa năng lượng ánh sáng mặt trời thành các liên kết hóa học, cung cấp và tích lũy năng lượng cho các hoạt động sống của sinh vật. Điều hòa không khí: quá trình quang hợp ở cây xanh hấp thụ khí CO2, giải phóng khí O2 và nước có tác dụng điều hòa không khí, giảm hiệu ứng nhà kính đem lại không khí trong lành cho trái đất. Cây quang hợp như thế nào? Đó là nhờ vào chất diệp lục có trong hệ sắc tố quang hợp ở lá cây cùng với Carotenoit. Bề mặt lá cây tiếp xúc với ánh sáng mặt trời giúp các sắc tố diệp lục hấp thụ được năng lượng và thực hiện quá trình quang hợp ở cây xanh. Hệ sắc tố quang hợp của lá gồm có 2 thành phần chính là diệp lục và carotenoit. Ở nhóm tảo và thực vật thủy sinh thì có thêm sắc tố phụ phycobilin. Chất diệp lục là một sắc tố rất quan trọng trong quá trình quang hợp để hấp thụ được các ánh sáng có màu xanh lam và đỏ. Chất diệp lục được chia thành hai nhóm khác nhau:. Diệp lục a: Đây vốn là những phân tử P700 và P680 có trong chất diệp lục a. Những phân tử này sẽ tham gia trực tiếp vào quá trình chuyển hóa các năng lượng của ánh sáng thành năng lượng ATP và NADPH. Diệp lục b: Chất diệp lục b sẽ kết hợp với chất diệp lục a còn lại hỗ trợ các phân tử P700 và P680 tại trung tâm qua cách truyền năng lượng của ánh sáng và hấp thụ cho chúng. Nhìn chung, khi tìm hiểu quang hợp là gì cùng những thông tin liên quan, hẳn nhiều người quan tâm đến khái niệm Carotenoid là gì. Carotenoid được biết đến là một chất có tác dụng truyền các năng lượng cho chất diệp lục a và diệp lục b. Bên cạnh đó, Carotenoid còn được chia ra thành xantôphin và carôten (đây chính là các sắc tố phụ của quá trình quang hợp). Trong trường hợp ánh nắng có cường độ cao thì carotenoid còn có công dụng bảo vệ các hệ thống quang hợp không bị cháy nắng. Nhìn chung sản phẩm được quá trình quang hợp sản xuất đều có thể là nguồn cung cấp thức ăn. Quang hợp cũng là nguồn cung cấp quan trọng các nguyên liệu cho ngành công nghiệp và dược liệu. Sau khi nắm được khái niệm quang hợp là gì, bạn cũng cần biết đến các đặc điểm của lá cây khi tham gia quang hợp. Lá cây khi tham gia quang hợp sẽ có diện tích bề mặt lớn để có thể dễ dàng hấp thụ các tia sáng. Bên cạnh đó thì phiến là mỏng rất thuận tiện cho việc hấp thụ và thải ra cách dễ dàng. Ngoài ra thì trong lớp biểu bì của mặt lá có khí khổng để khí CO2 có thể dễ dàng khuếch tán đến lục lạp. Lá cây khi tham gia quang hợp sẽ có diện tích bề mặt lớn để có thể dễ dàng hấp thụ các tia sáng. Bên cạnh đó thì phiến là mỏng rất thuận tiện cho việc hấp thụ và thải ra cách dễ dàng. Ngoài ra thì trong lớp biểu bì của mặt lá có khí khổng để khí CO2 có thể dễ dàng khuếch tán đến lục lạp. Các tế bào mô của lá chứa nhiều chất diệp lục được phân bố ở bên dưới lớp biểu bì mặt trên của chiếc lá nhằm hấp thụ trực tiếp được các tia sáng chiếu lên bề mặt của chiếc lá. Tế bào mô khuyết chứa rất ít chất diệp lục hơn so với mô giàu, đồng thời nằm ở phía dưới của phiến lá. Một số đặc điểm như trong mô khuyết có rất nhiều khoảng rỗng để tạo điều kiện cho khí O2 có thể dễ dàng phân tán đến các tế bào có chứa các sắc tố quang hợp. Hệ gân lá cũng được tủa ra đến tận các tế bào nhu mô của lá. Đây được xem là một con đường cung cấp nước cùng với các ico khoáng cho quá trình quang hợp. Không những thế thì mạch Libe là con đường dẫn các sản phẩm quang hợp ra khỏi lá cây. Ngoài ra thì trong lá có rất nhiều tế bào, trong đó có chứa chất lục lạp với các hệ sắc tố quang hợp ở bên trong được gọi là bào quan quang hợp. Các tế bào mô của lá chứa nhiều chất diệp lục được phân bố ở bên dưới lớp biểu bì mặt trên của chiếc lá nhằm hấp thụ trực tiếp được các tia sáng chiếu lên bề mặt của chiếc lá. Tế bào mô khuyết chứa rất ít chất diệp lục hơn so với mô giàu, đồng thời nằm ở phía dưới của phiến lá. Một số đặc điểm như trong mô khuyết có rất nhiều khoảng rỗng để tạo điều kiện cho khí O2 có thể dễ dàng phân tán đến các tế bào có chứa các sắc tố quang hợp. Hệ gân lá cũng được tủa ra đến tận các tế bào nhu mô của lá. Đây được xem là một con đường cung cấp nước cùng với các ico khoáng cho quá trình quang hợp. Không những thế thì mạch Libe là con đường dẫn các sản phẩm quang hợp ra khỏi lá cây. Ngoài ra thì trong lá có rất nhiều tế bào, trong đó có chứa chất lục lạp với các hệ sắc tố quang hợp ở bên trong được gọi là bào quan quang hợp. Có thể nói nếu như không có quá trình quang hợp diễn ra thì không có sự sống trên toàn bộ Trái đất. Quá trình quang hợp của nhóm thực vật diễn ra liên tục và hàng ngày. Mong rằng với bài viết trên, bạn đã nắm được những thông tin cốt lõi về chủ đề quang hợp là gì cũng như ý nghĩa của quá trình này. | Quang hợp | Quang tổng hợp hay gọi tắt là quang hợp là quá trình thu nhận và chuyển hóa năng lượng ánh sáng Mặt trời của thực vật, tảo và một số vi khuẩn để tạo ra hợp chất hữu cơ phục vụ bản thân cũng như làm nguồn thức ăn cho hầu hết các sinh vật trên Trái Đất. Quang hợp trong thực vật thường liên quan đến chất tố diệp lục màu xanh lá cây và tạo ra oxy như một sản phẩm phụ. Năng lượng hóa học này được lưu trữ trong các phân tử carbohydrate như đường, và được tổng hợp từ carbon dioxide và nước. Trong hầu hết các trường hợp, oxy cũng được tạo ra như là một sản phẩm phụ. Hầu hết các thực vật, tảo và vi khuẩn cyanobacteria thực hiện quang hợp, và các sinh vật như vậy được gọi là photoautotrophs. Quang hợp giúp duy trì nồng độ oxy trong không khí và cung cấp tất cả các hợp chất hữu cơ và hầu hết các năng lượng cần thiết cho sự sống trên Trái Đất. Mặc dù quá trình quang hợp được thực hiện khác nhau với các loài thực vật khác nhau, quá trình này luôn luôn bắt đầu khi năng lượng từ ánh sáng được hấp thụ bởi các protein được gọi là trung tâm phản ứng có chứa sắc tố diệp lục màu xanh lá cây. |
Rất vui mừng chào đón bạn đọc ghé thăm 3D MASTER và cho dù bạn là người mới tìm hiểu về công nghệ in 3D hay chỉ đơn giản là tìm kiếm để trau dồi kiến thức thì chúng tôi đều rất vui mừng khi bạn đã ghé qua đây. Hầu hết chúng ta đã được nghe nói tới, hay đã biết một mức độ nào đó về tiềm năng của công nghệ in 3D rồi. Nhưng với hướng dẫn này chúng tôi sẽ cung cấp đầy đủ thông tin nhất về lịch sử ra đời, quá trình in 3D thực tế, vật liệu in và các ứng dụng tốt nhất của công nghệ in 3D. Chúng tôi hy vọng bạn sẽ thấy đây là một nguồn tài liệu chi tiết nhất, toàn diện nhất về in 3D, giúp ích để nâng cao kỹ năng cho bạn. Công nghệ in 3D – còn được hiểu là quá trình tạo mẫu nhanh – nó đã được quảng cáo trên internet rất nhiều. Một số người tin là sự thật. Nhiều người khác cho rằng đây là một sản phẩm quảng bá hơi cường điệu, không có thật tồn tại xung quanh lĩnh vực công nghệ thú vị này. Bởi thế In 3D thực chất là gì ?ai sẽ sử dụng công nghệ này? và ứng dụng nó như thế nào?. Công nghệ in 3D bao gồm một loạt các quá trình và công nghệ cung cấp đầy đủ khả năng để sản xuất các chi tiết và sản phẩm từ các loại vật liệu khác nhau. Về cơ bản, tất cả các quy trình công nghệ đều có điểm chung là cách thức thực hiện sản xuất, là quá trình điền đầy các lớp của chất phụ gia, nó trái ngược hoàn toàn với quy trình sản xuất truyền thống như làm khuôn .Ứng dụng của công nghệ in 3D đang phát triển rộng rãi từng ngày, nó thâm nhập sâu tới các lĩnh vực công nghiệp, nhà máy sản xuất, các nghành tiêu dùng. Hầu hết các nhà nghiên cứu có uy tín trên thế giới trong lĩnh vực công nghệ này đều đồng ý rằng , chỉ tính đến ngày hôm nay chúng ta mới bắt đầu thực sự nhìn thấy tiềm năng của công nghệ in 3D. 3D MASTER là một nguồn tin cậy để in 3D, mang đến cho bạn nhưng tin tức mới nhất,cái nhìn tổng quan nhất, quá trình phát triển và các ứng dụng khi chúng xuất hiện trong lĩnh vực thú vị này. Bài viết tổng quan này nhằm cung cấp cho bạn đọc sự tin cậy về thông tin công nghệ, quá trình sản xuất, vật liệu hay như lịch sử, phạm vi ứng dụng và lợi ích của công nghệ này. Công nghệ in 3D là quá trình tạo ra các mô hình vật lý (mẫu thực) từ mô hình số hóa (file thiết kế 3D trên máy tính) một cách tự động thông qua các máy in 3D. In 3D là gì ?. Có những cách khác nhau để in ra 1 đối tượng bằng việc sử dụng công nghệ in 3D. Chúng ta sẽ biết về nó trong phần hướng dẫn phía dưới. Công nghệ in 3D mang tới 2 sáng kiến cơ bản: các thao tác của các đối tượng trong định dạng mô hình số và sản xuất các mô hình mới bằng quá trình tạo mẫu nhanh. Gần đây công nghệ này đã có ảnh hưởng tới lịch sử loài người nhiều hơn bất cứ lĩnh vực khác. Hãy thử nghĩ xem một chiếc bóng đèn, một động cơ hơi nước, hay về sau này như xe hơi, máy bay, đó là chưa kể sự phát triển nhanh của các trang web trên toàn thế giới. Những công nghệ này đã tạo nên cho cuộc sống của chúng ta ngày một tốt hơn, đa dạng hơn bằng nhiều cách, mở ra con đường mới về khả năng, sự lựa chọn nhưng thường sẽ phải mất thời gian dài, đôi khi là cả vài thập kỷ , trước khi xuất hiện bởi sự đột phá của công nghệ này. Công nghệ in 3D được tin tưởng rằng có tiềm năng lớn để trở thành nghành công nghệ hàng đầu. In 3D phủ sóng rộng rãi trên nhiều kênh truyền hình, báo chí và các mạng xã hội trực tuyến lớn. In 3D thực chất là gì mà một số người đã quyết định sẽ thay nó để thế vào quá trình sản xuất truyền thống, cách mạng quá trình thiết kế,áp dụng tới khoa học kỹ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội, dân số, môi trường, an ninh cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta như thế nào ?. Về cơ bản,để phân biệt nguyên lý phía sau công nghệ in 3D đó là quá trình sản xuất chất phụ gia.Và điều này thực sự là chìa khóa vì in 3D là một phương pháp hoàn toàn khác dựa trên công nghệ tiên tiến là xây đắp xếp chồng các lớp vật liệu để tạo ra mô hình sản phẩm . Điều này là khác với bất kỳ kỹ thuật sản xuất truyền thống nào hiện có. Ở đó có một số hạn chế của sản xuất truyền thống,…Tuy nhiên thế giới sản xuất đã phải có sự thay đổi , và quá trình tự động hóa về gia công, khuôn mẫu đòi hỏi phải cần có máy móc, máy tính, robot công nghiệp để hoàn thành. Đối với nhiều ứng dụng của quá trình thiết kế truyền thống và quá trình sản xuất vẫn có những hạn chế chưa thể khắc phục được như việc bao gồm chi phí đắt tiền để mua dụng cụ cắt, máy móc thiết bị, đồ gá,…có thể dẫn tới 90% vật liệu ban đầu sử dụng bị lãng phí. Ngược lại, công nghệ in 3D là quá trình tạo ra đối tượng một cách trực tiếp, bằng cách xếp tầng các lớp vật liệu theo các cách khác nhau tùy thuộc vào công nghệ sử dụng trong in 3D. Cách hiểu đơn giản về công nghệ in 3D cho bất cứ ai đang cố gắng để hiểu về khái niệm này thì công nghệ in 3D giống như việc xây dựng một số thứ với các khối Lego một cách tự động. Công nghệ in 3D cho phép khuyến khích và thúc đẩy sự đổi mới trong tư duy, tự do thiết kế các ý tưởng mới, đó là một quy trình tiết kiệm được cả về chi phí lẫn thời gian. Các phần chi tiết sản phẩm có thể được thiết kế đặc biệt để tránh các các yêu cầu lắp ráp với sản phẩm có hình dạng hình học phức tạp hay các tính năng có độ khó cao mà không cần phải trả thêm chi phí khác. In 3D cũng đang nổi lên như một công nghệ tiết kiệm năng lượng, hiệu suất cao, thân thiện môi trường , vật liệu in sử dụng có tới 90% là đạt tiêu chuẩn trong suốt quá trình hoạt động, vật liệu có trọng lượng thấp hơn và có kết cấu vững chắc hơn các loại vật liệu truyền thống. Trong những năm gần đây, công nghệ in 3D đã có những bước tiến xa hơn trở thành nghành công nghiệp tiêu biểu và đưa vào quá trình sản xuất bằng việc công nghệ đã dễ tiếp cận hơn với các công ty quy mô nhỏ hay từng cá nhân. Một số lĩnh vực lớn hơn, một tập đoàn đa quốc gia có quy mô và kinh tế có sở hữu máy in 3D, nhiều máy in 3D cỡ nhỏ có giá dưới 1000 usd.Điều này đã mở ra sân chơi công nghệ cho rất nhiều đối tượng có thể tham gia, và được tăng lên theo cấp số nhân trên mọi lĩnh vực, nhiều và nhiều hơn các hệ thống, các loại vật liệu, các ứng dụng, dịch vụ được xuất hiện. Tạo mô hình 3D (CAD Model Creation): Trước tiên, đối tượng được mô hình hóa bằng cách sử dụng một thiết kế với sự trợ giúp của máy tính, lập mô hình khối 3D bằng các phần mềm như: Solidworks, ProE, Zbrush, Sketchup,. Các nhà thiết kế có thể sử dụng một tập tin CAD có từ trước hoặc tạo mới theo mục đích tạo mẫu. Quá trình này giống hệt nhau đối với các loại kỹ thuật tạo mẫu nhanh khác nhau. Chuyển đổi sang định dạng STL (Conversion to STL format): Các phần mềm 3D khác nhau sử dụng thuật toán khác nhau để thể hiện vật thể 3D (Solid part), để thiết lập tính thống nhất – định dạng STL (stereolithography) đã được áp dụng như là tiêu chuẩn của ngành công nghiệp tạo mẫu nhanh. Định dạng này là quỹ tích của các mặt tam giác liên kết liên tục với nhau thể hiện bề mặt của vật thể trong không gian ba chiều. Do định dạng STL sử dụng các yếu tố mặt phẳng (planar triangles) nên nó không thể hiện bề mặt cong một cách chính xác. Tăng số lượng mặt tam giác có thể cải thiện độ mịn của bề mặt cong nhưng sẽ làm dung lượng file tăng. Các chi tiết lớn, phức tạp sẽ cần nhiều thời gian cho khâu tiền xử lý và xây dựng định dạng STL. Do đó, người thiết kế phải cân nhắc giữa yếu tố thời gian, dung lượng file và độ chính xác để có được một file STL tối ưu nhất. Cắt file STL (Slice the STL file): trong bước này, một chương trình tiền xử lý file STL sẽ được xây dựng, một số chương trình có sẵn và hầu hết cho phép người dùng điều chỉnh kích thước, vị trí và hướng mô hình. Xác định hướng đặt rất quan trọng với nhiều lý do: – Tính chất của mẫu tạo thành sẽ thay đổi tương đồng với phương hướng gá đặt. Ví dụ: mẫu sẽ yếu hơn và chính xác không cao theo phương Z so với phương XY – Hướng đặt mô hình quyết định thời gian in mô hình. Vì thế nên đặt phương ngắn nhất của vật thể theo hướng Z của thiết bị để giảm số lượng các lớp do đó rút ngắn thời gian in. – Mỗi lát cắt (layer) có bề dày dao động từ 0.016mm đến 0.7mm. tùy theo công nghệ khác nhau. Chương trình cũng đồng thời tạo ra một cấu trúc vật liệu hỗ trợ đỡ các mô hình trong quá trình in (gọi là vật liệu support). Nó hỗ trợ hữu ích cho các tính năng của mô hình như: phần nhô ra không chân (beam); lỗ rỗng bên trong và phần vách mỏng. Mỗi nhà sản xuất máy in 3D cung cấp phần mềm lập trình in 3d của riêng mình. Xây dựng mô hình (Layer by layer): đây là bước chủ đạo của quy trình tạo mẫu nhanh, nó sử dụng một trong những kỹ thuật khác nhau (RP techniques). Hệ thống xây dựng từng lớp vật liệu từ: polyme, dung dich nhựa lỏng, giấy, bột kim loại … Hầu hết là tự động, ít có sự can thiệp của con người. Làm sạch và kết thúc: đây là bước cuối cùng của quy trình, bước này liên quan đến việc loại bỏ các phần từ phụ trợ (có đề cập ở bước số 3). Nguyên mẫu có thể yêu cầu phải làm sạch và xử lý bề mặt bằng phương pháp: đánh nhám, Sơn phủ để cải thiện độ thẩm mỹ của mẫu sau khi in 3D. | Ứng dụng của in 3D | In 3D có nhiều ứng dụng. Trong sản xuất, y học, kiến trúc, trong nghệ thuật và thiết kế tùy biến. Một số người sử dụng máy in 3D để tạo thêm máy in 3D. Hiện nay, phương pháp in 3D đã được sử dụng trong các lĩnh vực sản xuất, y tế, công nghiệp và văn hóa xã hội, tạo điều kiện cho in 3D trở thành công nghệ thương mại thành công. |
Trên bầu trời, còn điều gì đẹp đẽ và lôi cuốn hơn Mặt Trăng? Nó đã trở thành một đối tượng mà loài người trên khắp thế giới tôn thờ từ thời cổ đại bởi họ cảm nhận được sự ảnh hưởng của Mặt Trăng lên Trái Đất và hệ sinh thái của hành tinh. Gần đây, một vài quan niệm được cho là “mê tín dị đoan” về Mặt Trăng đã được các nhà khoa học, xã hội học cùng cảnh sát khám phá và chứng minh có giá trị xác thực. Trong chiêm tinh, chúng ta đều nhận ra ảnh hưởng mạnh mẽ của Mặt trăng đối với một cá nhân dù là qua lực hấp dẫn, các nguồn năng lượng huyền bí hay những điều mà chúng ta chưa hề biết tới. Trong chiêm tinh của người phương Tây, Mặt trăng chỉ đứng sau Mặt Trời trong việc định hình nên nhân cách của mỗi người. Trong chiêm tinh học Vệ Đà, một loại hình chiêm tinh đầy tính minh triết của người Ấn Độ thì Mặt Trăng còn được xem trọng hơn cả Mặt Trời. Biểu tượng Mặt Trăng trong chiêm tinh học và các lĩnh vực khác thuộc thế giới huyền học là một trong những kí hiệu được mọi người nhận biết nhiều nhất. Nhưng bạn có khi nào thắc mắc rằng, vì sao người ta lại chọn một giai đoạn đặc biệt của Mặt Trăng gọi là Lưỡi liềm để tượng trưng cho Mặt Trăng không? Tại sao không phải là một pha khác? Esther Harding đã giải thích trong cuốn Women’s Mysteries rằng vì Mặt Trăng mang ý nghĩa về sự tăng trưởng và sinh sôi của người xưa, khi Mặt Trăng ở dạng Lưỡi liềm là lúc nó có nhiều không gian để phát triển nhất(2). Ngoài ra, Kì Trăng non cũng là khoảng thời gian tốt để gieo cấy cây trồng, vì lúc này hội tụ nhiều điều kiện cho sự sinh trưởng. Như những bài học mà ta đã đúc kết được khi phân tích Mặt Trời, để trí tưởng tượng và trực giác của bạn tự do xuôi dòng theo một hình ảnh nào đó sẽ giúp bạn khai thác nhiều tầng lớp ý nghĩa hơn. Ví dụ, tôi từng nhận ra rằng màn hình của một chiếc radar có hình dáng giống như biểu tượng Mặt trăng. Khi lựa chọn hình dáng cho radar, các nhà khoa học đã vô tình sử dụng một nguyên lí trong các chức năng của Mặt Trăng. Nguyên lí này hoạt động giống như màn hình radar vậy, biểu hiện qua cách chúng ta quét, nhận biết và phản hồi các đối tượng đang lẩn tránh trong phạm vi của radar. Sự nhạy cảm và khả năng phản ứng này mang lại cho những người có Mặt Trăng trội (mà một vài nơi khác người ta gọi là tuýp người Mặt Trăng) một trực giác đầy mạnh mẽ(3). Rod Chase – người cố vấn về chiêm tinh học cho tôi đã chỉ ra rằng tàu thuyền có hình dáng giống như Mặt Trăng. Tàu thuyền bao bọc và bảo vệ chúng ta, cũng giống như chức năng bảo vệ của Mặt Trăng. Mặt Trăng cũng thể hiện cách mà chúng ta xử lí cảm xúc. Sự giống nhau giữa Mặt Trăng và tàu thuyền đã làm Rod hiểu được cách duy nhất để kiểm soát cảm xúc là phải làm sao để bản thân nổi lên trên đại dương còn hơn là bị nó nuốt chửng và làm mình chết đuối. Biểu tượng của Mặt trăng đã xuất hiện trong rất nhiều nghiên cứu về huyền học. Trong thần thoại cổ đại, Nữ thần Mặt trăng là Diana, người cai quản thiên nhiên và sinh sản. Những người phụ nữ muốn có con thường cúng dường vị thần này. Phụ nữ mang thai tin rằng thần Diana sẽ luôn phù hộ, giúp họ có được một cuộc vượt cạn dễ dàng hơn. Diana là vị thần quan trọng và có liên quan đến thiên chức của người phụ nữ. Mặc dù tôi đã được biết về những tín ngưỡng này qua chiêm tinh học và thần thoại, tôi vẫn ngạc nhiên khi khám phá ra sự ảnh hưởng từ quá trình tiến động(4) của Mặt Trăng trong lá số tử vi của mình. Nhiều lần khi Mặt Trăng tạo góc chiếu với Cung Mọc hay Thiên đỉnh, hoặc khi các hành tinh vòng ngoài transit tại nơi mà Mặt trăng của tôi trú ngụ thì nhất định sẽ có một người phụ nữ quan trọng bước vào cuộc đời tôi. Tôi đặt tên cho những người phụ nữ đó là Diana!. Khi tôi thực nghiệm một số loại hình chiêm đoán khác nhau, tôi đã rất thích thú khi nhận thấy hình ảnh của Mặt trăng đều có mặt ở hầu hết các loại hình này. Ví dụ, Những nhà Thần số học tin rằng số 2 có nguồn gốc từ biểu tượng của Mặt Trăng. Ý nghĩa của số 2 trong Thần số học cũng tương tự như ý nghĩa của Mặt Trăng trong chiêm tinh – đó là sự nữ tính, hợp tác và giúp đỡ. Trong Thần số, số 2 tượng trưng cho cảm xúc và trực giác, giống với Mặt Trăng trong chiêm tinh. Nếu bạn phân tích cái tên Diana bằng Thần số học, bạn sẽ thấy nó cũng liên quan đến số 2. Đây không thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Mặt trăng và số 2 đều có mặt trong Tarot. Lá 2 trong bộ ẩn chính là The High Priestess, có vẻ như hình tượng này cũng liên quan đến Diana. Lá bài này cho thấy một người phụ nữ đầy bí ẩn và sâu sắc, được dạy dỗ bằng khối trí tuệ minh triết của huyền học cổ đại như Wicca. Mặt trăng lưỡi liềm ở dưới chân, và cô ngồi giữa hai cây cột tượng trưng cho thiện- ác. Mỗi bộ bài Tarot đều chứa trong mình 4 loại nguyên tố, nếu bạn phân tích cả bốn nguyên tố này trong lá số 2, chúng dường như thể hiện tính biến đổi không ngừng về sự hợp tác – giúp đỡ giữa các nguyên tố hoặc sự thiếu sót nào đó. Tôi cũng tìm thấy một quẻ hình (hexagram) giống với Mặt trăng trong Bói Kinh dịch. Tên của quẻ này là The Receptive và nó được tạo thành từ những đường Yin – Âm (phái nữ) trong hình âm dương. Quẻ hình này chỉ sự tôn kính, tính bổ sung và những phẩm chất vĩnh cửu của người phụ nữ. Điều đáng nói là, quẻ hình này ở vị trí số 2. Đến đây, chúng ta thấy được Mặt Trăng có rất nhiều ý nghĩa huyền bí. Cuốn Women’s Mysteries mà tôi đã đề cập ở trên rất quan trọng đối với cá nhân tôi. Cuốn sách không chỉ giúp chúng ta thấu hiểu Mặt Trăng và những ý nghĩa huyền bí của nó mà còn giúp chúng ta nhìn nhận được mặt nữ tính trong mỗi người dù bạn là nam hay là nữ. Quyển sách này mô tả sự phát triển một cách tự nhiên và riêng biệt của những loại hình tín ngưỡng về Mặt Trăng trên thế giới, cùng với đó là tài liệu về cách những tôn giáo này tồn tại, phát triển qua các biến động của nền văn hóa nhân loại. Trong tất cả tín ngưỡng được nhắc đến trong sách, Mặt Trăng đều được cho là có nét nữ tính và đặc biệt quan trọng với người phụ nữ. The First Sex của Elizabeth Davies là một trong những cuốn sách quan trọng ở những năm 1970 đã cung cấp cho chúng ta bằng chứng rằng: Trong lịch sử, những tín ngưỡng về Mặt Trăng đã chi phối con người từ thời cổ đại với chế độ mẫu hệ và những tín ngưỡng thờ phụng Mặt Trời không được đề cao cho đến khi chế độ phụ hệ được hình thành(5). Sau khi đọc xong, tôi thật sự bị cuốn sách này thu hút. Tôi đã thử làm thí nghiệm tại lớp học chiêm tinh của mình với học viên là một nhóm người nghiện rượu đang phục hồi tại trung tâm điều trị ở khu vực Bedford Stuyvesant, Brooklyn. Tôi đã yêu cầu họ giả vờ đóng vai một bộ lạc cực kì nguyên thủy và tách biệt, với mục đích để họ tự thiết lập nên loại hình tôn giáo nào đó. Họ dần tiến sâu hơn vào thí nghiệm, mỗi người được giao vai trò riêng trong bộ lạc và tự loại bỏ đi những kiến thức mà một người nguyên thủy không thể có được từ thành quả của quá trình quan sát thiên nhiên lâu dài. Thật đáng ngạc nhiên làm sao, kết quả là những suy đoán mà họ hình thành được đều ăn khớp với quan niệm của người xưa trong cuốn sách Davies đã viết. Họ quyết định thờ cúng Mặt Trời và Mặt Trăng bởi hai sự vật này nằm ngoài tầm kiểm soát của họ, những người này kết luận rằng hai thiên thể đang sống vì chúng chuyển động. Mặt Trời biểu thị cho nam giới vì nó mạnh mẽ và chiếm ưu thế hơn. Mặt Trăng được xem là nữ vì tính dịu dàng, bản chất lãng mạn cũng như thay đổi liên tục. Quá trình tiến động của Mặt Trăng và các pha của nó được ví như sự mang thai và chu kì kinh nguyệt ở người phụ nữ. Thay vì phản biện về sự phân biệt giới tính và sự chia tách vai trò mang tính nữ cho Mặt Trăng trong lớp học của tôi cũng như cuốn sách của Davies như mình đã từng làm, tôi buộc phải kết luận rằng có điều gì đó đã dẫn đến quan niệm trên. Như chúng ta thấy, Mặt Trăng chi phối rất nhiều khía cạnh trong tử vi, nhưng chúng ta có nên gán những vai trò dành cho phụ nữ của nó vào lá số một người đàn ông? Nhiều nhà chiêm tinh cổ xưa đã bác bỏ Mặt Trăng trong bản đồ sao của phái nam và cho rằng nó là biểu hiện của một người phụ nữ quan trọng nhất cuộc đời họ. Tuy nhiên, Mặt Trăng cai quản các chức năng tâm lí như cảm xúc và lòng tin. Thật không lành mạnh nếu một người đàn ông bỏ qua một trong hai thứ này. Cả hai tồn tại ở nam giới cũng nhiều như ở phụ nữ, nhưng văn hóa của chúng ta đã buộc người đàn ông phải kìm nén chúng. Nói chung, chấp nhận nó giờ đây là một điều khó khăn với họ. Sẽ tốt hơn nếu chúng ta xem Mặt Trăng như một phần nữ tính trong tâm hồn của người đàn ông (trong bản ngã, theo trường phái Tâm lí học của Carl Jung), giống như Sao Hỏa đại diện cho những mâu thuẫn đầy chất nam tính trong tâm hồn của một người phụ nữ. Trong lúc mà sự phân biệt nam nữ vẫn còn tồn tại, rất tiếc chúng không thể được nhìn nhận một cách đúng đắn cho đến khi sự phân biệt này kết thúc. Có lẽ chức năng quan trọng nhất của con người được mô tả bởi Mặt Trăng, đó chính là sự chăm sóc – bạn nhận được sự nuôi dưỡng từ ai đó và bạn sẽ phải săn sóc một ai khác. Chúng ta sẽ thấy điều này không thể tách rời nhau. Từ tốt nhất để miêu tả cho chức năng này là dưỡng dục. Sau quá trình chúng ta được nhận sự chăm sóc, thức ăn và cả tình yêu từ cha mình cùng những người khác, khi trưởng thành, nhiều người đàn ông có xu hướng chăm sóc một ai đó (bạn bè, người thân hay trẻ em). Đây là một trong những chức năng của Mặt trăng nằm trong lá số một người đàn ông, mặc dù nó không được chấp nhận và bị che đậy trước nền văn hóa phương Tây. Khi ấn bản đầu tiên của cuốn sách này được viết, hầu hết mọi người đều nhận được sự dạy dỗ theo cách truyền thống. Trong đó, những người mẹ đẻ phải thực hiện đầy đủ chức năng của Mặt Trăng đối với con cái họ. Do vậy, Mặt Trăng trong bản đồ thường được đánh đồng với người mẹ. Khi phụ nữ ngày càng đảm nhiệm nhiều công việc trong xã hội như hiện nay, con cái thời hiện đại sẽ được nhiều người chăm sóc bằng những thỏa thuận lớn nhỏ như người giúp việc, nhằm đáp ứng các nhu cầu cần thiết của trẻ. | Diana (thần thoại) | Nữ thần Diana (trong tiếng La Mã có nghĩa là "trên trời" hoặc "thiên thần") là một thần nữ trong thần thoại La Mã, Diana là nữ thần săn bắn đồng thời là nữ thần Mặt Trăng và tượng trưng cho sự sinh sản. Diana thường được cho là bản sao của nữ thần săn bắn Artemis và đánh đồng với vị thần này mặc dù cô đã có một nguồn gốc độc lập ở Ý. Diana được thờ cúng trong tôn giáo La Mã cổ đại và được tôn kính ở La Mã, Neopaganism và Stregheria. Nữ thần này thường kết hợp với động vật hoang dã và những vùng đất trồng cây, cô có sức mạnh siêu nhiên, có thể nói chuyện và thương thông với các loài động vật và có thể kiểm soát nó. Diana đã được biết đến là một nữ thần đồng trinh và một trong biểu tượng của phụ nữ. Cô là một trong ba nữ thần thời con gái là Diana, Minerva và Vesta những người đã thề không bao giờ kết hôn. Theo thần thoại, Diana đã được sinh ra cùng với Apollo anh trai sinh đôi của cô trên đảo Delos, con gái của Jupiter và Latona. |
Đại học Khoa học Ứng dụng HAN được thành lập năm 1996, là 1 trong 5 trường đại học khoa học ứng dụng lớn nhất Hà Lan. Trường tọa lạc tại phía Đông Hà Lan, gần biên giới Đức, cách thủ đô Amsterdam hơn 1 giờ đi tàu. HAN hiện cung cấp gần 90 khóa học cử nhân và thạc sĩ cho trên 30.000 sinh viên đến từ hơn 60 quốc gia khắp thế giới. Nhờ vào tính chất quốc tế của chương trình học, bạn có thể dễ dàng tìm được một công việc với công ty trong nước và quốc tế sau khi tốt nghiệp. Học và làm việc trong một môi trường giàu thông tin và phát triển nhanh của thế kỷ 21. Cơ hội nghề nghiệp tuyệt vời sau khi tốt nghiệp. Hai đợt thực tập có lương trong suốt năm 3 và năm 4 tương đương 5 hoặc 6 tháng. Tại các công ty thực tập như là Volkswagen Emden, IKEA và các công ty logistics quôc tế. Với hơn 70 năm kinh nghiệm về đào tạo lĩnh vực ô tô, Đại học KHUD HAN sẽ cung cấp cho bạn kiến thức tổng quan cần thiết cũng như một loạt kỹ năng về tự động hóa và kỹ thuật (như cơ khí, thiết kế khung gầm.). Nhờ vào tính chất quốc tế của chương trình học, bạn có thể dễ dàng tìm được một công việc với công ty trong nước và quốc tế sau khi tốt nghiệp. Cử nhân ngành Quản lý khách sạn quốc tế chuẩn bị sinh viên cho các vị trí quản lý và điều hành. Sau khi tốt nghiệp, bạn có thể làm việc trong một môi trường hiện đại, đầy biến đổi, linh hoạt và đa văn hóa. Đại học Khoa học Ứng dụng (KHUD) HAN là một trong ba trường chuyên ngành hàng đầu của Hà Lan, liên tiếp hai năm liền được vinh danh là nơi cung cấp những khóa học Kinh tế tốt nhất Xứ sở hoa Tulip. Trong các bảng xếp hạng giáo dục toàn quốc, HAN luôn nắm giữ những vị trí cao về chất lượng đào tạo, mang đến cho sinh viên chìa khóa thành công cho công việc tương lai. Luôn dõi theo tình hình công việc thực tế trong bối cảnh toàn cầu, HAN hoạt động với mục tiêu đưa sinh viên đến với sự nghiệp mang tầm vóc quốc tế. Trường xây dựng mạng lưới đối tác rộng lớn với các học viện danh tiếng tại Phần Lan, Mỹ, New Zealand, Nhật Bản, Canada, Argentina, Úc, Anh. HAN cung cấp chương trình đào tạo chất lượng những chuyên ngành luôn khan hiếm nguồn nhân lực trình độ cao như: Khoa học Đời sống, Truyền thông, Logistics, Kinh doanh Quốc tế, Điện – Điện tử, Kỹ sư Tự động hóa.tại cấp độ cử nhân và thạc sĩ, phù hợp với nhu cầu học tập đa dạng của HSSV quốc tế. HAN là một trong số ít các trường đại học tại Hà Lan có chương trình học bổng kéo dài 4 năm cho sinh viên quốc tế theo học cấp độ cử nhân với giá trị lên đến 2.500 Euro/ suất. Bên cạnh đó, trường còn tham gia chương trình học bổng Chính phủ Hà Lan – Holland Scholarship trị giá 5.000 Euro, giúp du học sinh giảm bớt áp lực tài chính, tập trung cho việc học. Hiểu rõ tầm quan trọng của việc thành thạo chuyên môn ngay trong quá trình học tập, HAN đã đầu tư nhiều phòng thí nghiệm và trung tâm thực hành hiện đại cho từng chuyên ngành khác nhau, tạo điều kiện để sinh viên rèn luyện tay nghề, luôn trong tư thế sẵn sàng cho công việc thực tế sau tốt nghiệp. Là điểm đến học tập lý tưởng của hơn 30.000 sinh viên đến từ 70 quốc gia khác nhau trên toàn thế giới, HAN sở hữu một cộng đồng đa văn hóa, thân thiện và cởi mở. Đến với HAN, sinh viên sẽ có cơ hội trau dồi thêm vốn hiểu biết đa dạng, tiền đề cho sự nghiệp mang tầm vóc quốc tế trong tương lai. | Đại học Khoa học Ứng dụng HAN | Trường Đại học Khoa học Ứng dụng HAN (Hogeschool van Arnhem en Nijmegen) là một trong ba trường Đại học chuyên ngành hàng đầu với hai khu học xá nằm tại thành phố Arnhem và Nijmegen. Trường hiện cung cấp 63 khóa học cử nhân, 19 khóa học thạc sĩ cho hơn 33.000 SV. Trong đó có khoảng 3.000 SV đến từ 70 quốc gia khác nhau. Khu học xá ở Arnhem chủ yếu đào tạo các ngành về lĩnh vực kinh tế và công nghệ. Trong khi đó khu học xá Nijmegen đào tạo ngành nghề thuộc mảng chăm sóc sức khỏe, thể thao, xã hội và hành vi, giáo dục. Hợp tác quốc tế là một trong những chính sách mũi nhọn của trường. Chính vì vậy HAN có mối quan hệ rất gần gũi với các công ty, viện nghiên cứu kinh doanh cả ở Hà Lan và châu Âu cũng như nhiều mối quan hệ với những trường đại học trong nước và quốc tế như Thuỵ Sĩ, Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Canada. HAN được thành lập vào năm 1996 sau một loạt sự sáp nhập từ các trường khác nhau. Trường hoạt động trong 13 tòa nhà trên hai cơ sở - một ở Arnhem và Nijmegen. |
Hồ Hùng Anh – chủ tịch HĐQT ngân hàng Kỹ thương Việt Nam Techcombank là 1 trong 2 “tân binh” vừa được tạp chí Forbes vinh danh top tỷ phú đô la của Việt Nam năm 2019 với tổng giá trị tài sản ròng lên đến 1,7 tỷ USD. Cùng Bstyle xem qua lý lịch của vị tỷ phú đô la kín tiếng này nhé!. Hồ Hùng Anh (sinh ngày 08/06/1970, 49 tuổi) được sinh ra tại Hà Nội, nguyên quán ở Thừa Thiên Huế, là doanh nhân, tỉ phú USD người Việt Nam. Ông Hùng Anh hiện đang giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) sau khi rút khỏi Massan tháng 4/2018. Ông là một trong những tỷ phú đô la giàu nhất giới ngân hàng Việt Nam với tốc độ tăng trưởng khối tài sản một cách nhanh chóng. Ông tốt nghiệp kỹ sư điện tại đại học Bách khoa Kiev (Ukraine), từng là cộng sự thân thiết với ông Nguyễn Đăng Quang – chủ tịch công ty Massan. Ngày 5/3/2019, Hồ Hùng Anh chính thức được Forbes xếp hạng trong danh sách 5 tỉ phú USD người Việt Nam năm 2019 với tổng giá trị tài sản đến thời điểm hiện tại là 1,7 tỷ USD. Ông cũng là tỷ phú USD đầu tiên trong ngành ngân hàng Việt. Ngoài ra, ông Hồ Hùng Anh cũng là người giàu thứ 3 trên sàn chứng khoán Việt sau tỷ phú Phạm Nhật Vượng và chủ tịch VietJet Air – Nguyễn Thị Phương Thảo. Năm 1987, Hồ Hùng Anh thi đỗ vào khóa 22 đào tạo Kỹ sư tại Học viện Kỹ thuật Quân sự. Sau một năm học tập tại Học viện KTQS, ông đạt kết quả xuất sắc và được Bộ Quốc phòng tuyển chọn đi du học ngành kỹ thuật quân sự tại Liên Xô. Hồ Hùng Anh tốt nghiệp ngành kĩ sư điện tử trường Đại học Bách khoa Kiev, Ukraina. Từ tháng 6 năm 1994 đến tháng 3 năm 1997, Hồ Hùng Anh là Giám đốc Công ty SANMEX Cộng hòa liên bang Nga. Theo ghi nhận của Forbes, trong thời gian ở Đông Âu, ông Hùng Anh có mối quan hệ thân thiết với chủ tịch Massan Nguyễn Đăng Quang, và là “hai đối tác kinh doanh thân thiết, có môi quan hệ đan xen”. Từ tháng 3 năm 1997 đến tháng 6 năm 2004, Hồ Hùng Anh giữ chức Tổng giám đốc Công ty Masan Rus Trading tại Cộng hòa liên bang Nga. Trong thời gian đó, ông Hùng Anh cũng buôn bán hàng hóa giữa Việt Nam và Đông Âu. ‘Bộ đôi’ tỷ phú Hồ Hùng Anh và Nguyễn Đăng Quang được biết đến là một trong những gương mặt thành công nhất của nhóm doanh nhân khởi nghiệp tại Đông Âu. Họ là những người từng thành công với lĩnh vực mì gói, tương ớt tại thị trường Nga. Sau khi trở về Việt Nam, ông Hồ Hùng Anh vẫn tiếp tục hỗ trợ ông Quang để xây dựng Massan. Ông liên tục giữ các chức vụ quan trọng trong tổ chức này như: phó chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tập đoàn Masan, Công ty Cổ phần Hàng tiêu dùng Masan và Công ty Cổ phần Masan (tên cũ là Công ty Cổ phần Đầu tư Masan). Công ty cổ phần Hàng tiêu dùng Massan là công ty chiếm vị trí thứ 7 trong danh sách top 50 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam 2016, và đứng thứ 2 trong ngành tiêu dùng. Năm 2005, ông Hồ Hùng Anh tham gia vào hội đồng quản trị ngân hàng Techcombank sau khi 2 chủ tịch HĐQT là ông Lê Kiến Thành và bà Nguyễn Thị Nga. Đến tháng 5 năm 2008, Hồ Hùng Anh được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank). Tuy nhiên, đến tháng 4/2018 thì ông Hùng Anh từ bỏ mọi chức vụ tại Masan sau 10 năm gắn bó để tập trung cho Techcombank. Tuy nhiên, đây là quyết định nhằm đảm bảo việc thực thi quy định của luật các tổ chức tín dụng sửa đổi có hiệu lực từ tháng 1/2018, rằng một cá nhân không được kiêm nhiệm chức vụ lãnh đạo ngân hàng và doanh nghiệp. Sau khi rời Massan, ông Hùng Anh cùng gia đình đả tạo nên một loạt thương vụ mua bán cổ phần Techcombank. Techcombank trở thành ngân hàng tư nhân đầu tiên của Việt Nam đạt mức lợi nhuận sau thuế đến 10.000 tỷ đồng sau hơn 10 năm dưới sự lãnh đạo của ông Hùng Anh. Năm 2018, lợi nhuận trước thuế của Techcombank đạt 10.661 tỷ đồng, tăng 86% so với năm 2013 và chỉ kém duy nhất Vietcombank trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam. Không những vậy, 2018 còn là thời điểm đánh dấu mốc quan trọng của Techcombank khi ngân hàng này chính thức được niêm yết trên sàn chứng khoán. Quá trình IPO này đã huy động được 923 triệu USD về Techcombank, cao thứ hai trong năm chỉ sau sự kiện IPO của Vinhomes với 1,34 tỷ USD thu về. Có thể thấy mặc dù đang nắm giữ chức chủ tịch của Techcombank nhưng cổ phần của ông Hùng chỉ ở mức 1,12% với hơn 39,3 triệu cổ phiếu tại ngân hàng này. Song, những thành viên trong gia đình ông Hồ Hùng Anh đang nắm giữ khoảng 600 triệu cổ phiếu TCB, trên tổng cộng khoảng 3,5 tỷ cổ phiếu TCB đang lưu hành, tương đương 17% vốn điều lệ của ngân hàng Techcombank, lớn hơn cả cổ đông lớn nhất là Massan. Mặt khác, nguồn tài sản ông Hùng Anh có được lại đến từ công ty cổ phần Tập đoàn Massan. Cụ thể, một nguồn tin cho biết ông Hồ Hùng Anh và ông Nguyễn Đăng Quang chính là 2 cổ đông lớn nhất của Massan đến thời điểm hiện tại với tỷ lệ sở hữu mỗi người khoảng 48%. Nếu tính tỷ lệ sở hữu chéo, ông Hùng Anh có thể liên quan khoảng 21,5% vốn tại Tập đoàn Masan, tương đương hơn 22.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Massan lại là cổ đông lớn nhất của Techcombank với 15% vốn. Như vậy, ông Hùng Anh có thêm 3,2% trong cổ phần tại Techcombank, tương đương với 3,000 tỷ đồng. Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy là vợ của tỷ phú Hồ Hùng Anh, hiện đang nắm giữ 10% cổ phần tại Massan Corp, 2,3% cổ phần Massan Group và 5,53% cổ phần tại Techcombank, tổng giá trị tài sản hiện tại là 428 tỷ đồng. Bà là người giàu thứ 110 trong sàn chứng khoán Việt Nam. | Hồ Hùng Anh | Hồ Hùng Anh (sinh năm 1970) là doanh nhân, tỉ phú USD người Việt Nam. Ông hiện là Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank). Hồ Hùng Anh sinh ngày 8 tháng 6 năm 1970 tại Hà Nội. Nguyên quán của ông ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Năm 1987, ông thi đỗ vào khóa 22 đào tạo Kỹ sư tại Học viện Kỹ thuật Quân sự. Sau một năm học tập tại Học viện KTQS, đạt kết quả xuất sắc, ông được Bộ Quốc phòng tuyển chọn đi du học ngành kỹ thuật quân sự tại Liên Xô. Ông tốt nghiệp Kỹ sư Điện kỹ thuật tại trường Đại học Bách khoa Kiev, Ukraina và Thạc sỹ Quản trị nguồn nhân lực của Đại học Giao thông Đường bộ Moskva (MADI), Liên bang Nga. Ông Hồ Hùng Anh khởi nghiệp ở Liên bang Nga. Từ tháng 6 năm 1994 đến tháng 3 năm 1997, ông làm Giám đốc Công ty SANMEX Cộng hòa liên bang Nga. Từ tháng 3 năm 1997 đến tháng 6 năm 2004, Hồ Hùng Anh là Tổng giám đốc Công ty MASAN RUS TRADING tại Cộng hòa liên bang Nga. |
Hài kịch tình huống hay sitcom (viết tắt của từ tiếng Anh: situation comedy) là một thể loại của hài kịch, lúc đầu được sản xuất cho radio nhưng hiện nay được trình chiếu chủ yếu trên ti vi. Sitcom có nhiều tập với những tình huống hài hước được lồng ghép vào nội dung câu chuyện phim và được thực hiện hầu hết trong trường quay, thu thanh đồng bộ, sử dụng cùng lúc 3 đến 4 máy quay phim ghi hình và bắt buộc phải dựng hình ngay tại trường quay để bảo đảm thời gian thực hiện một tập phim (khoảng 50 phút) chỉ trong thời gian 3 đến 4 ngày. Hài kịch tình huống xuất hiện trên đài phát thanh ở Hoa Kỳ từ thập niên 1920. Chương trình đầu tiên có tên gọi là Sam and Henry phát trên đài phát thanh WGN ở Chicago vào năm 1926 lấy cảm hứng từ các câu truyện tranh hay các tình huống gây cười để đưa lên sóng. Sau đó có chương trình truyền thanh hài kịch tình huống Amos & Andy, xuất hiện lần đầu trên hệ thống CBS năm 1928. Chương trình này là một trong những chương trình sitcom phổ biến nhất của thập niên 1930. Theo từ điển Merriam-Webster Collegiate tái bản lần thứ 12 thì thuật ngữ sitcom bắt đầu hình thành từ năm 1951 cùng lúc với vở kịch I Love Lucy trên tivi. Ngay từ những ngày đầu ra mắt, hài kịch tình huống đã từng là một phần thiết yếu của các chương trình truyền hình ở Hoa Kỳ. Ở Âu châu thì đài BBC của Anh đã phát sóng Pinwright’s vào cuối năm 1946 và sang những năm kế tiếp. Sitcom ra mắt ở Mỹ lần đầu tiên có thể là Mary Kay and Johnny, với thời lượng phát sóng 15 phút trên hệ thống truyền hình DuMont vào tháng 11 năm 1947. Tại buổi giao lưu truyền hình 2006, Sitcom đứng cuối bản danh sách các chương trình mang tính đại chúng nhất của thị trường Mỹ. Đây là kỹ thuật làm phim truyền hình được quay bằng nhiều máy, thu tiếng trực tiếp tại phim trường, không phân cảnh trước và dựng phim tại chỗ. Cứ vài tập phim chuyển tải một câu chuyện có tính độc lập với nhiều tình tiết hài hước, tuy nhiên dàn diễn viên thì cố định suốt toàn phim. Hài kịch tình huống tại Việt Nam là điều khá mới mẻ. Bộ phim đầu tiên được làm theo công nghệ này là Lẵng hoa tình yêu do Hãng phim Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh hợp tác với Công ty FNC (Hàn Quốc) thực hiện, tiếp theo là Vòng xoáy tình yêu (được chiếu trên HTV9). Cuối năm 2005, VFC bấm máy quay 300 tập phim Gia đình họ Vạn. Các tiểu phẩm của chương trình Gặp nhau cuối tuần trên VTV như: Chuyện của sếp (20 tập), Chuyện Giang Còi, Quang Tèo (20 tập), Chuyện hàng xóm cũng là những sitcom. Mới đây, hai bộ phim thể loại sitcom mới là Cô gái xấu xí (Hãng phim Việt) và Những người độc thân vui vẻ. (VFC).Cô gái xấu xí được mua bản quyền từ Colombia kể về một cô gái tốt tính nhưmg quá xấu xí. Những người độc thân vui vẻ được mua bản quyền từ Trung Quốc kể về cuộc sống của nhân viên, ban quản lý và các vị khách của tòa nhà Chung cư vui vẻ. Năm 2014, Căn hộ số 69 – một bộ sitcom series đóng mác 18+ đầu tiên của Việt Nam vừa mới ra mắt đã ngay lập tức thu hút sự chú ý của cư dân mạng vì nội dung độc đáo. Bối cảnh phim không rộng, hầu hết chỉ xoay quanh một căn hộ mang số 69 của anh chàng Kỳ Nam, vốn là nhân viên bảo hiểm. Vì không đủ tiền thuê nhà, Kỳ Nam đã phải đăng thông báo tìm người ở chung. Người tìm đến căn hộ của Kỳ Nam là Ngọc Thảo, cô nàng với tính tình quái gở, bị chủ nhà trọ “tống cổ” 12 lần chỉ trong vòng 1 tháng. Video cách nấu nước dùng phở ngon – 0220 Phở bò nước dùng chất lượng, siêu ngon. | Hài kịch tình huống | Hài kịch tình huống hay sitcom (viết tắt của từ tiếng Anh: situation comedy) là một thể loại của hài kịch, lúc đầu được sản xuất cho radio nhưng hiện nay được trình chiếu chủ yếu trên ti vi. Sitcom có nhiều tập với những tình huống hài hước được lồng ghép vào nội dung câu chuyện phim và được thực hiện hầu hết trong trường quay, thu thanh đồng bộ, sử dụng cùng lúc 3 đến 4 máy quay phim ghi hình và bắt buộc phải dựng hình ngay tại trường quay để bảo đảm thời gian thực hiện một tập phim (khoảng 50 phút) chỉ trong thời gian 3 đến 4 ngày. Hài kịch tình huống xuất hiện trên đài phát thanh ở Hoa Kỳ từ thập niên 1920. Chương trình đầu tiên có tên gọi là Sam and Henry phát trên đài phát thanh WGN ở Chicago vào năm 1926 lấy cảm hứng từ các câu truyện tranh hay các tình huống gây cười để đưa lên sóng. Sau đó có chương trình truyền thanh hài kịch tình huống Amos & Andy, xuất hiện lần đầu trên hệ thống CBS năm 1928. Chương trình này là một trong những chương trình sitcom phổ biến nhất của thập niên 1930. |
Asiad là đại hội thể thao lớn của các nước Châu Á hay còn được gọi là Á vận hội. Đây là sự kiện thể thao lớn của khu vực được tổ chức thường niên 4 năm 1 lần với sự góp mặt của tất cả các quốc gia đến từ Châu Á. Giải thể thao Asiad này do hội đồng Olympic châu Á (OCA) tổ chức và nó thực hiện dưới dự chỉ đào và giám sát của Uỷ ban Olympic quốc tế (IOC). Asiad là sự kiện bao gồm rất nhiều môn thể thao được tổ chức thi đấu giữa các quốc gia và nó lớn thứ 2, chỉ sau thế vận hội Olympic trên thế giới. Giải bóng đá này được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1951 dành cho những cầu thủ nam và đến năm 1990 thì bóng đá dành cho nữ mới được đưa vào thi đấu. Asiad trải qua rất nhiều năm thi đấu thì vào năm 2002 các đội tuyển bóng đá nam của các nước chỉ được sử dụng cầu thủ lứa U23 và cho phép được thêm 3 cầu thủ thuộc U23 + 3. Môn bóng đá nam Asiad không có vòng loại trực tiếp và mọi đội bóng trong khu vực đều có thể tham dự. Cho nên số lượng đội tuyển thi đấu tại giải này thường không được cố định qua các năm. Cụ thể những đội tuyển bóng đá yếu trong khu vực như Lào, Brunei,. đều có thể tham dự giải đấu lớn của khu vực Châu Á nếu muốn. Để quý khán giả yêu thích bóng đá không bị bỏ lỡ những trận đấu hay hấp dẫn nhất, chúng tôi mang đến lịch thi đấu Euro chính xác nhất cho bạn. Hiện nay số nước tham dự giải đấu Asiad đã lên tới 45 quốc gia và đang có có hàng chục nghìn vận động viên đến từ các quốc gia khác nhau trong khu vực. Hứa hẹn đây sẽ là một giải đấu mà thu hút không chỉ các fan hâm mộ tại Châu Á mà còn được nhiều quốc gia khác trên thế giới theo dõi nữa. Cụ thể các nước tham dự đại hội thể thao khu vự Châu Á như sau:. Đại hội thể thao Châu Á – Asiad được tổ chức 4 năm một lần với sự tham gia góp mặt của các đoàn vận động viên các nước trong khu vực châu Á. Có tổng số 46 nước tham gia thế vận hội. Đối với những người yêu thể thao vua không thể bỏ lỡ những trận đấu hấp dẫn, chúng tôi mang đến thêm cho bạn đọc lịch copa america mới nhất được chúng tôi cập nhật liên tục. | Đại hội Thể thao châu Á | Đại hội thể thao châu Á hay Á vận hội (tiếng Anh: Asiad hay Asian Games), là một sự kiện thể thao được tổ chức 4 năm 1 lần với sự tham gia của các đoàn vận động viên các nước châu Á. Giải thể thao này do Hội đồng Olympic châu Á (OCA) tổ chức và dưới sự giám sát của Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) và được coi là sự kiện thể thao nhiều môn lớn thứ hai thế giới, chỉ đứng sau Thế vận hội (Olympic). Tiền thân của ASIAD là Giải vô địch các quốc gia Viễn Đông, một sự kiện thể thao nhỏ được tổ chức lần đầu tại Manila, Philippines năm 1913, để nhấn mạnh tình đoàn kết thống nhất, và hợp tác của ba quốc gia: Trung Hoa Dân Quốc, Đế quốc Nhật Bản và Philippines. Sau đó, số lượng các nước châu Á tham gia giải đấu tăng lên. Năm 1938, giải bị hủy và từ đó ngừng tổ chức do Nhật Bản xâm lược Trung Quốc và ảnh hưởng bởi chiến tranh thế giới thứ hai ở Thái Bình Dương. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, một số nước ở châu Á giành được độc lập và họ mong muốn có một sân chơi phi bạo lực để hiểu biết lẫn nhau. |
Nhắc đến sự bất tử và tái sinh, người ta không thể không nhắc đến 1 loài chim chỉ có trong truyền thuyết: Phượng Hoàng. Phượng Hoàng là sự kết hợp các đặc điểm xinh đẹp nhất của nhiều giống chim: đầu gà, chiếc cổ cao của chim hạc, và bộ đuôi thướt tha rực rỡ của loài công. Tiếc rằng chúng chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của con người. Truyền thuyết phương Đông và phương Tây đều mô tả Phượng Hoàng là một loài chim kì diệu. Ngoài việc có thể mang những vật có khối lượng lớn hơn trọng lượng của mình nhiều lần, nước mắt còn có tác dụng chữa lành các vết thương. Phượng Hoàng sở hữu một tiếng ca du dương, có tác dụng thần diệu về tinh thần, giúp người nghe bình tâm và lấy lại can đảm. Máu và thịt phượng hoàng có thể giúp con người trường sinh bất tử. Lông phượng hoàng được sử dụng như 1 loại bùa hộ mệnh hoặc vũ khí lợi hại để chống lại cái ác. Phượng Hoàng là sinh vật bất tử. Vòng đời của chúng không bao giờ kết thúc. Khi bị thương nặng hoặc cảm thấy mình quá già yếu (không dưới 500 tuổi), phượng hoàng sẽ tự xây một cái tổ bằng lông của mình, rồi tự thiêu bằng chính nguồn nhiệt của bản thân. Và, từ trong đám tro tàn, nó sẽ tái sinh dưới hình dạng một chú chim non. Vì khả năng tái sinh này mà phượng hoàng là biểu tượng của cả sự sống và cái chết. Vì thiêng liêng cao quý nên loài chim này thường sống trên những ngọn núi cao, xa xôi mà con người không thể vươn tới. Nếu có ai đó muốn tìm được chúng để mưu cấu sức mạnh hoặc sự bất tử sẽ phải vượt qua những thử thách chết người. Tuy là một sinh vật thuần khiết, chỉ ăn trái cây, nhưng vì dễ dàng đọc được ý nghĩ của người ta, nên khi phượng hoàng phát hiện kẻ đến tìm có mưu đồ xấu, nó sẽ vươn dài những móng vuốt cực kỳ sắc bén để chống trả đến cùng. Ngược lại, với những người tốt cần hỗ trợ, chỉ cần chứng tỏ được long quyết tâm bằng cách vượt qua chặng đường cam khổ, tìm được tổ phượng hoàng, nó sẽ ân cần và hết long giúp đỡ. Chỉ có 1 khác biệt nhỏ về ngoại hình và tính cách của phượng hoàng Tây và Đông phương. Phượng hoàng Trung Hoa có bộ lông ngũ sắc thướt tha, và tính cách cao quý thanh lịch (có phần yểu điệu). Loậi chim này chia làm 2 loại, con trống gọi là “phượng”, con mái gọi là “loan”, chính vì vậy, phượng hoàng (tức là vua của loài) là con chim trống đầu đàn. Còn Phượng hoàng phương Tây (Phoenix) lại có bộ lông màu lửa, vàng rực và tính cách bộc trực, thẳng thắng, có phần nóng nảy. Chim lửa trong các truyện cổ tích Nga cũng là dạng phượng hoàng này. Theo như truyền thuyết , một con Phượng Hoàng có thể tồn tại hơn 500 năm . Khi đã quá mệt mỏi , Phượng Hoàng thu nhặt những nhánh cây thơm và chất thành một cái tổ lớn ở nơi cao đến mức không ai có thể đến được. Nằm trong cái tổ ấy và Phượng Hoàng sẽ nổi lửa , tự thiêu chính mình. Tuy nhiên, sau 3 ngày, Phượng Hoàng sẽ tái sinh từ đống tro tàn. Người ta cũng nói rằng những giọt nước mắt của phượng hoàng có thể chữa lành vết thương. Phượng Hoàng được mô tả như 1 loài chim có lông vũ óng ánh. Có thể có màu vàng sắc đỏ , đỏ tía …đôi khi có quầng lửa bao quanh . Tiếng hót có thể khiến kẻ khác bị mê hoặc . Đuôi của Phượng Hoàng được miêu tả khác nhau trong sách cổ Ai Cập , Hy Lạp , La Mã …nhưng có điểm chung là có 4 nhánh dài – đại diên cho các hướng và gần giống như đuôi Công . Ngoài ra , đuôi Phượng Hoàng còn có nhìu sợi lông nhỏ xung quanh và tăng lên sau mỗi đêm. Theo thần thoại Trung Quốc , Phượng Hoàng là biểu tượng của ân sủng và đức tinh , còn là linh vật thứ hai chỉ sau Rồng . Hình ảnh về phượng hoàng đã xuất hiện tại Trung Quốc cách đây trên bảy nghìn năm, thông thường trong các miếng ngọc và trên các tôtem (vật tổ) may mắn. Nó là tôtem của các bộ lạc miền Đông thời cổ đại ở Trung Quốc. Chim phượng hoàng thường được mô tả có đầu gà, hàm én, cổ rắn, lưng rùa, đuôi cá với năm màu và cao sáu thước. Nó tượng trưng cho sáu vật: đầu là bầu trời, mắt là Mặt trời, lưng là Mặt trăng, cánh là gió, chân là đất và đuôi là các hành tinh. Lông của nó đại diện cho màu sắc của ngũ hành (đen, trắng, đỏ, xanh và vàng). Phượng hoàng còn là biểu tượng của đức hạnh và vẻ duyên dáng, thanh nhã, cũng biểu thị cho sự hòa hợp âm dương. Theo truyền thuyết, nó xuất hiện trong thời kỳ hòa bình và thịnh vượng. Tại Trung Hoa thời cổ đại, có thể tìm thấy hình ảnh của phượng hoàng trong các trang trí của đám cưới hay của hoàng tộc cùng với con rồng. Điều này là do người Trung Quốc coi rồng và phượng (hoàng) là biểu tượng cho quan hệ hạnh phúc giữa chồng và vợ, một kiểu ẩn dụ khác của âm và dương. Tại Nhật Bản, cùng với mặt trời, chim phượng hoàng là một trong những biểu tượng của Đế quốc Nhật Bản. Trong những thiết kế hình Xăm Phượng Hoàng của Nhật Bản , thường kết hợp với Rồng , tượng trưng cho âm và dương , sự kết hợp hài hòa của đức tính tốt nhất của phụ nữ và nam tính. Phượng Hoàng được tìm thấy trong những hình khắc trên thanh gươm , hay được thêu trên kimono. Trong thần thoại Ai Cập thì phượng hoàng (phoenix hay phœnix) là một dạng chim lửa thần thánh và linh thiêng. Phượng hoàng cũng được cho là sẽ phục sinh sau khi bị thương, vì thế nó gần như là bất tử và không thể bị đánh bại; một biểu tượng của lửa và thánh thần. Trong thần thoại Ai Cập thì phượng hoàng (phoenix) là biểu tượng của lửa và thánh thần. Thuở quá khứ xa xưa, có một kiếp nọ Như-Lai làm chim Phượng-hoàng chúa với năm trăm người vợ đẹp theo hầu hạ, cuộc sống vinh hoa phú quý quyền uy hạnh phúc như thế, tưởng đã êm đềm với ngày tháng trôi qua. Nhưng bỗng một ngày kia Phượng-hoàng chúa bay dạo trên khu rừng già để thưởng ngoạn những hoa thơm trái lạ, chợt thấy một nàng Phượng-hoàng trẻ đẹp sắc xanh da trời với bộ lông tuyệt mỹ, dáng bay dịu dàng, tiếng hót thanh tao, khiến cho Phượng-hoàng chúa khởi tâm đắm sắc, mê mẩn dục tình, bỏ năm trăm vợ hiền trẻ đẹp để theo nàng Phượng-hoàng yêu kiều diễm lệ kia. Nàng Phượng-hoàng trẻ đẹp mới nầy khó tánh, kén ăn kén ở lại thích chiều chuộng, làm cho Phượng-hoàng chúa phải chiều lòng để cho đẹp dạ nàng. Vì thế, ngày ngày Phượng-hoàng chúa phải bay đi khắp đó đây để tìm những trái cây ngon ngọt thơm tốt đem về để làm đẹp lòng nàng Phượng-hoàng tình nhân. Lúc bấy giờ Hoàng-hậu thành Vương-Xá đau nặng, nhà vua đã mấy phen cho mời các ngự y, danh y trong nước đến xem bệnh hột thuốc, nhưng bệnh tình Hoàng-hậu vẫn không thuyên giảm chút nào. Một hôm, Hoàng-hậu bị cơn bệnh hoành hành mê sảng thiếp đi, trong cơn mê sảng chiêm bao thấy có người đến mách rằng, bệnh của lệnh bà chỉ có ăn thịt Phượng-hoàng chúa mới hết, bằng không thì chẳng bao lâu nữa sẽ phải chết. Khi thức giấc, Hoàng-hậu lo sợ khóc lóc đem điềm chiêm bao tâu cho vua nghe. Vua lấy làm lo âu liền triệu tập quần thần để đoán mộng. Các thầy đoán mộng tâu vua rằng: “Nếu căn cứ vào điềm chiêm bao của Hoàng-hậu, thì chỉ còn có cách là ăn thịt chim Phượng-hoàng chúa, hoàng hậu mới hết bệnh”. Thế rồi, nhà vua truyền lệnh rằng: “Ai bắt được chim Phượng-hoàng chúa về dâng lên vua thì sẽ được trọng thưởng ngàn lượng vàng và gả công chúa làm vợ”. Khi lệnh nhà vua vừa truyền ra, các người thợ săn vội vã thi đua nhau đi khắp núi rừng để tìm bắt chim Phượng-hoàng chúa với hy vọng được trọng thưởng và làm chồng công chúa. Những thợ săn không quản ngại ngày đêm đi lùng tìm, họ dùng đủ trăm phương ngàn kế bủa vây khắp nơi để tìm cách bắt cho được Phượng-hoàng chúa. Chẳng bao lâu, một trong số những thợ săn đã theo dõi biết được tông tích nơi ẩn trú của Phượng-hoàng chúa và nàng Phượng-hoàng tình nhân. Gã thợ săn này biết rằng con Phượng-hoàng chúa không dễ gì bắt được nó. Trong lúc suy tư tìm phương cách, thì anh ta nghĩ ra một diệu kế, lấy mật và bánh bột nhồi trộn lẫn nhau rồi tự trét lên thân mình anh ta. Ðồng thời chọn mua trái cây thơm ngọt gắn dính lên khắp mình anh nhìn như một đống trái cây. Xong rồi, gã thợ săn giả trang ngồi yên bất động trên một cành cây cổ thụ, kiên nhẫn đợi chờ mấy ngày liền. Bỗng vào một buổi mai khi ánh bình minh vừa rạng chiếu chân trời, chim chóc khắp nơi trên cành cây kẽ lá reo hò thi đua nhau bay đi tìm mồi, thì Phượng-hoàng chúa cũng như mọi ngày bay đi tìm trái cây ngon ngọt cho tình nhân. Khi Phượng-hoàng chúa bay qua đám rừng già, thoạt ngửi thấy mùi thơm ngọt thoảng trong gió, liền tìm bay đến chỗ phát ra mùi thơm, lượn mấy vòng trên không quan sát kiếm tìm. Phượng-hoàng nhìn kỹ thì thấy trên cây cổ thụ một đống trái cây thơm tốt, nên lòng rất mừng rỡ tự nhủ rằng: “Ðỡ quá! Sao mà nhiều trái cây ngon ngọt thế nầy! Từ đây ta sẽ không còn phải mất thì giờ khổ công ngày ngày tìm kiếm trái cây cho người yêu quý của ta nữa!”. Chẳng ngần ngại, Phượng-hoàng đáp nhanh xuống cây cổ thụ quán sát một hồi thấy rõ một khối trái cây tươi tốt thơm ngọt. Tin chắc không còn ngại ngùng e sợ, Phượng-hoàng liền bay đến đậu trên đống trái cây, đúng ngay vị trí bả vai của gã thợ săn ngụy trang kia, miệng vừa cắn trái cây, chân dính mật. Nhanh như chớp, gã thợ săn chụp lấy. Phượng-hoàng kinh hãi thét lên mấy tiếng vùng vẫy. Nhưng đã quá chậm rồi. Phượng-hoàng run rẩy van xin: “Ông ơi! Chắc ông đã phải khổ cực lắm mới bắt được tôi. Vì tôi mà ông đã phải ngồi bất động cực nhọc như thế nầy. Chắc là để đổi lấy điều gì lợi ích lớn lao lắm đây, nên ông mới tốn hao khổ công thế nầy? Nếu ông chịu thả tôi ra, tôi sẽ dẫn chỉ cho ông một núi vàng. Nơi đó, ông sẽ trở thành giàu sang triệu phú. Còn mạng tôi đây có đáng gì đâu! Xin ông thương xót tha cho”. Gã thợ săn đáp: “Sao lại không đáng? Nhà vua đã hứa rằng, hễ ai bắt được ngươi đem nộp, thì sẽ được thưởng ngàn lượng vàng và được gả công chúa làm vợ. Còn núi vàng kia làm sao bằng công chúa? Bộ ngươi muốn đùa với ta sao chớ?”. Nói xong, kẻ thợ săn trói chặt Phượng-hoàng đem về dâng nạp lên vua. Ðược chim Phượng-hoàng chúa, nhà vua rất đỗi vui mừng, liền truyền lệnh làm thịt nấu cho Hoàng-hậu ăn để hết bệnh. Thánh thượng là bậc chí tôn trong thiên hạ, ân đức trùm khắp cả bốn phương. Nay vì cứu mạng sống của Hoàng-hậu mà tôi phải hy sinh, thì tôi cũng không lấy gì làm tiếc cái thân mạng hèn hạ nầy. Nhưng tâu Thánh-thượng, tôi vốn biết bùa phép linh thiêng kỳ diệu, có thể cứu Hoàng-hậu ra khỏi ngặt nghèo mà không cần phải ăn thịt tôi. Nếu Thánh-thượng tin thương, thì xin cho một thau nước, tôi sẽ vẽ thần chú linh phù trong nước rồi đem dâng cho Hoàng-hậu uống và tắm thì bệnh hết ngay. Nhược bằng không hiệu nghiệm, tôi xin chịu tội mất mạng cũng chẳng muộn. Còn nếu Hoàng-hậu lành bệnh, xin Ngài thả tôi về lại với núi rừng”. Nhà vua lấy làm ngạc nhiên, nhưng vẫn nhận lời và ra lệnh cận thần bưng thau nước đến. Quả đúng như vậy. Sau khi Hoàng-hậu uống và tắm nước linh phù xong, thì cảm thấy mạnh khỏe và sắc diện Hoàng-hậu trở nên trẻ đẹp hơn trước. Nỗi sầu lo ưu buồn của nhà vua và của cả hoàng triều cũng liền theo đó không còn nữa. Ðược tin Hoàng-hậu bình phục như thường, từ trong thành nội cho đến ngoài nhân gian, khắp mọi cõi lòng tràn ngập nguồn vui. Sau khi Hoàng-hậu trở nên mạnh khỏe trẻ đẹp hơn xưa, nhà vua vô cùng mừng rỡ và thầm khen tài nghệ thần bí của Phượng-hoàng. Nhà vua muốn giữ Phượng-hoàng ở lại hoàng cung. Nhưng trước đó nhà vua đã hứa thả Phượng-hoàng về với núi rừng, khi Hoàng-hậu lành bệnh. Trong lúc đó, Phượng-hoàng để thử ý nhà vua, xem có con thiết tha cần mình nữa không, nên xin nhà vua giữ lời hứa. Riêng về nhà vua lúc nầy thì mải bận vui với Hoàng-hậu, nên chẳng còn để ý tới Phượng-hoàng nữa. Trước khi rời khỏi cung vua để bay về núi rừng sống lại cuộc đời mây nước trời cao rừng thẳm bao la, Phượng-hoàng còn tâu với vua lần chót rằng: “Muôn tâu Bệ-hạ! Ðể trả ơn Bệ-hạ tha sống, xin Bệ-hạ cho phép tôi được đáp xuống hồ sen bán nguyệt đọc thần chú linh phù, để nhân dân trong nước của Ngài nếu ai có bệnh tật mà uống nước hồ nầy thì cũng sẽ được tiêu trừ”. Nhà vua cả mừng bằng lòng ngay. Từ đấy, nhân dân trong nước, hễ ai có bệnh tật gì đến xin lấy nước hồ sen uống thì đều được lành bệnh ngay. Phượng-hoàng bay đậu trên nóc cung điện bái chào nhà vua và hoàng triều lần cuối trước khi từ biệt. Từ trên nóc cung điện, Phượng-hoàng nói lớn lên rằng: “Trên đời nầy có ba kẻ điên: Kẻ thứ nhất là tôi. Kẻ thứ nhì là gã thợ săn, và kẻ thứ ba là Bệ-hạ”. Nói xong thấy nhà vua và cả hoàng triều nhìn chim Phượng-hoàng với dáng điệu ngơ ngác ngạc nhiên, Phượng-hoàng liền nói tiếp: “Chư Phật đã từng nói, nữ sắc cắt giết mạng người. Tôi vì mê sắc đẹp của tình nhân mà bội bạc bỏ năm trăm người vợ hiền chung tình ngày đêm săn sóc cho tôi. Tôi vốn là vua của loài Phượng-hoàng, trời cao mây nước vốn là giang sơn của tôi. Thế mà vì nữ sắc, tôi phải ngày ngày đem thân làm tôi mọi đi kiếm tìm thức ăn ngon ngọt để về cung phụng cho một con Phượng-hoàng mái, để đến nỗi phải rơi vào tay gã thợ săn xuýt nữa toi mạng. Ấy là tôi điên. Còn gã thợ săn kia, tôi đã thật tình khẩn khoản chỉ núi vàng cho gã để đổi lấy mạng sống của tôi, để gã trở nên người giàu sang triệu phú. Nhưng gã vì quá ước mơ được lấy công chúa. Lời hứa của đàn bà chẳng khác sương sáng cành hoa, mây chiều lãng đãng, có chắc gì đâu? Nghe thì hay ho êm dịu, thấy thì đẹp như hoa nở bướm lượn, nhưng tất cả đều là ảo tưởng huyễn mộng, không có gì thật cả. Sự nghiệp danh giá của kẻ nam nhi sẽ lại tan tành trong nháy mắt vì nữ sắc. Như gã thợ săn kia, vì nghe lời hứa của nhà vua, say sưa sẽ được công chúa, mà mất cả núi vàng, mất cả giàu sang và mất cả công chúa. Ấy là kẻ điên thứ hai. Còn Bệ-hạ được một danh y cứu sống Hoàng-hậu, cứu bệnh tật muôn dân, đem lại sự an lành cho thiên hạ. Ấy thế mà Bệ-hạ để cho danh y ấy ra đi không một lời khẩn khoản nài nỉ, không một chút tiếc nuối. Bệ-hạ chỉ biết vui với Hoàng-hậu, sẵn sàng chém đầu bất cứ ai, miễn là được Hoàng-hậu vui vẻ bên vua. | Phượng hoàng (phương Tây) | Phượng hoàng (tiếng Latinh: phoenīx; tiếng Hy Lạp: φοῖνῐξ phoînix) là một dạng chim lửa thần thánh và linh thiêng trong một số thần thoại phương Tây như thần thoại Hy Lạp, thần thoại Ai Cập và các thần thoại khác có liên quan hay chịu ảnh hưởng. Người ta nói rằng phượng hoàng có thể sống tới 500 hay 1.400 năm (phụ thuộc vào nguồn), nó là loại chim với bộ lông màu vàng và đỏ rất đẹp. Khi chuẩn bị từ giã cõi đời, phượng hoàng xây cho nó một cái tổ từ những cọng quế và sau đó tự bốc cháy; cả tổ và chim đều cháy dữ dội để sau đó chỉ còn một nắm tro tàn, từ đó một con chim phượng hoàng mới ra đời. Con chim phượng hoàng mới cũng sống lâu như con phượng hoàng cũ. Tuy nhiên, trong một số truyền thuyết thì điều này lại không phải như vậy. Con phượng hoàng mới ướp tro của con phượng hoàng cũ trong quả trứng làm từ nhựa thơm và đem nó tới thành phố Heliopolis ("thành phố Mặt Trời" trong tiếng Hy Lạp) cổ đại của Ai Cập. Phượng hoàng cũng được cho là sẽ hồi sinh sau khi bị thương, vì thế nó gần như là bất tử và không thể bị đánh bại; phượng hoàng hồi sinh từ đống tro tàn là một hình ảnh ấn tượng trong văn hóa phương Tây. |
Cuộc chiến dưới tháp cổ (tựa gốc tiếng Anh: Alien vs. Predator hay còn được gọi là AVP: Alien vs. Predator) là một bộ phim hành động khoa học viễn tưởng năm 2004 được biên kịch và đạo diễn bởi Paul W. S. Anderson cùng với sự tham gia của Sanaa Lathan, Raoul Bova, Lance Henriksen và Ewen Bremner. Đây là phần đầu tiên của loạt phim Alien vs Predator, chuyển thể từ những quái vật cùng tên của hai loạt lhim Alien và Predator, ban đầu được bắt nguồn từ một cuốn truyện tranh năm 1989 do Randy Stradley và Chris Warner sáng tác. Kịch bản của họ bị ảnh hưởng bởi thần thoại Aztec, loạt truyện tranh và các tác phẩm của Erich von Däniken. Trong phim, các nhà khoa học bị cuốn vào một cuộc chiến giữa Người ngoài hành tinh và Kẻ săn mồi khi họ cố gắng thoát khỏi một kim tự tháp cổ đại. Cuộc chiến dưới tháp cổ được phát hành vào ngày 12 tháng 8 năm 2004 và nhận được những đánh giá tiêu cực từ giới phê bình, thu về 177,4 triệu USD trên toàn thế giới so với ngân sách sản xuất là 60 triệu USD. Năm 2004, một vệ tinh phát hiện một đợt bức xạ bí ẩn bên dưới Bouvetøya, một hòn đảo cách bờ biển Nam Cực khoảng 1.000 dặm (1.600 km). Nhà công nghiệp giàu có Charles Bishop Weyland (Lance Henriksen) phát hiện qua hình ảnh nhiệt rằng có một kim tự tháp chôn 2.000 ft (610 m) bên dưới lớp băng. Anh ta cố gắng khám phá nó để nâng tầm công ty truyền thông đa quốc gia của mình là Weyland Industries bằng cách tập hợp một nhóm các chuyên gia để điều tra và nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà khảo cổ học, chuyên gia ngôn ngữ học, thợ khoan, lính đánh thuê và một hướng dẫn viên tên Alexa “Lex” Woods (Sanaa Lathan). Trong khi đó một con tàu của Kẻ đã mồi tiến đến quỹ đạo Trái đất và bắn một chùm năng lượng nhắm vào vị trí kim tự tháp. Khi nhóm nghiên cứu đến trạm săn cá voi bị bỏ hoang phía trên nguồn nhiệt, họ tìm thấy một đường hầm không tự nhiên chạy trực tiếp bên dưới lớp băng về phía kim tự tháp. Weyland khẳng định hình ảnh vệ tinh của đội cho thấy rằng lối đi không có ở đó 24 giờ trước. Nhóm thám hiểm xuống đường hầm để xác định vị trí kim tự tháp bí ẩn và bắt đầu khám phá nó, sớm tìm thấy bằng chứng về một nền văn minh cổ đại và một phòng hiến tế chứa đầy bộ xương người, tất cả các bộ xương dường như đều có lồng xương sườn bị vỡ. Trong khi đó, ba Kẻ săn mồi – Scar, Celtic và Chopper – đến và giết các thành viên còn lại trên bề mặt. Họ tìm đường xuống kim tự tháp và đến nơi khi nhóm vô tình kích hoạt cấu trúc kim tự tháp và bị mắc kẹt trong đó. Nữ hoàng Alien thức dậy và bắt đầu đẻ trứng. Khi trứng nở, những sinh vật kí sinh tấn công những người đang mắc kẹt trong buồng tế lễ. Chúng chui ra từ ngực họ và nhanh chóng phát triển thành Xenomor trưởng thành. Xung đột nổ ra giữa các loài thú ăn thịt, Xenomor và con người, dẫn đến nhiều cái chết. Scar giết một Xenomor bằng shuriken trước khi lột mặt nạ và đánh dấu mình bằng máu của Alien. Lex và Sebastian quyết định rằng Kẻ săn mồi phải chiến thắng để các Xenomor không trốn thoát lên bề mặt. Scar sử dụng các bộ phận của một Xenomor đã chết để làm vũ khí cho Lex và cả hai hợp thành một liên minh. Nữ hoàng Xenomor sử dụng máu axit của chính mình để giải thoát khỏi sự kìm hãm và cùng với các Xenomor khác bắt đầu đuổi theo Lex và Scar. Ngay khi họ chuẩn bị trốn thoát, Scar tách ra và sử dụng một quả bom trong cổ tay của mình để phá hủy kim tự tháp, các Xenomor còn lại và những quả trứng. Lex và Scar chạy tới bề mặt, tuy nhiên Nữ hoàng Xenomorph vẫn sống sót và tiếp tục đuổi theo họ. Họ đánh bại Nữ hoàng bằng cách móc dây xích của mình vào bể nước của cá voi và đẩy nó xuống một vách đá, kéo xuống đáy đại dương. Tuy nhiên, Scar đã bị cái đuôi của Nữ hoàng Xenomor đâm vào và chết vì vết thương. Một con tàu của Kẻ săn mồi xuất hiện. Họ đưa đồng đội đã hi sinh lên tàu và một Kẻ săn mồi tặng cho Lex ngọn giáo của họ như một món quà. Những Kẻ săn mồi khác nhận ra kỹ năng của cô qua biểu tượng Scar đốt cháy trên má cô trước khi anh chết, sử dụng máu của Alien. Tàu vũ trụ bay đi. Lex cũng rời khỏi khu vực. Một lát sau, một sinh vật có hình dạng lai của Xenomor và Kẻ săn mồi chui ra từ ngực của Scar. Sanaa Lathan vai Alexa “Lex” Woods, một hướng dẫn viên giàu kinh nghiệm đã dành nhiều thời gian khám phá môi trường Bắc Cực và Nam Cực. Raoul Bova vai giáo sư Sebastian De Rosa, một nhà khảo cổ học người Ý và là thành viên của nhóm thám hiểm, người có khả năng dịch các chữ tượng hình của kim tự tháp. Colin Salmon vai Maxwell Stafford, trợ lý cho ông Weyland và cựu sĩ quan Lực lượng đặc biệt Anh Quốc. Tommy Flanagan vai Mark Verheiden, một thành viên của đội hộ tống vũ trang đi cùng với đội thám hiểm. Joseph Rye vai Joe Connors, một thành viên của đội hộ tống vũ trang đi cùng với đội thám hiểm. Agathe de La Boulaye vai Adele Rousseau, một thành viên của đội hộ tống vũ trang đi cùng với đội thám hiểm. Sam Troughton vai Thomas Parks, nhà khảo cổ học thứ hai của nhóm thám hiểm, trợ lý của De Rosa. Petr Jákl vai Stone, một thành viên của đội hộ tống vũ trang đi cùng với đội thám hiểm. Liz May Brice là người giám sát tại trạm tiếp nhận vệ tinh Nebraska phát hiện sự nở nhiệt ở Nam Cực. Karima Adebibe trong vai một thiếu nữ hiến tế trong hồi tưởng về thời kỳ cổ đại. Alien do Woodruff thủ vai được gọi là Grid trong danh đề, có vết sẹo hình chữ thập trong trận chiến với Kẻ săn mồi có tên là “Celtic”. Ian Whyte vai The Predator / “Scar”, một trong ba Kẻ săn mồi chính đến Trái đất để tạo ra và săn lùng Alien trong kim tự tháp như một nghi thức thông hành. Whyte đóng vai Kẻ săn mồi chính, được gọi là Scar trong danh đề của bộ phim do nó đánh dấu mình bằng máu axit của Alien. Whyte cũng đóng ba Kẻ săn mồi khác là “Chopper”, “Celtic” và “Elder” (thủ lĩnh của Kẻ săn mồi ở cuối phim). Trước khi 20th Century Fox bật đèn xanh cho Alien vs Predator, nhà văn / đạo diễn người ngoài hành tinh James Cameron đã thực hiện một câu chuyện cho bộ phim Alien thứ năm. Đạo diễn người ngoài hành tinh Ridley Scott đã nói chuyện với Cameron, nói rằng “Tôi nghĩ nó sẽ rất vui, nhưng điều quan trọng nhất là làm cho câu chuyện trở nên đúng đắn.” Trong một cuộc phỏng vấn năm 2002, khái niệm của Scott về một câu chuyện là “quay trở lại nơi các sinh vật ngoài hành tinh lần đầu tiên được tìm thấy và giải thích cách chúng được tạo ra”; dự án này cuối cùng đã trở thành bộ phim Prometheus của Scott (2012). Khi biết rằng Fox có ý định theo đuổi Alien vs Predator, Cameron tin rằng bộ phim sẽ “giết chết tính hợp lệ của nhượng quyền thương mại” và ngừng làm việc với câu chuyện của anh ta, “Đối với tôi, đó là Frankenstein Meets Werewolf. Đó là Universal chỉ lấy tài sản của họ và bắt đầu chơi với nhau… Vắt sữa. “ Tuy nhiên, sau khi xem Alien vs Predator, Cameron nhận xét rằng “nó thực sự khá hay. Tôi nghĩ đến năm bộ phim Alien, tôi đánh giá nó là thứ ba. Tôi thực sự thích nó. Tôi thực sự thích nó rất nhiều.” Ngược lại, Ridley Scott không có hứng thú với các bộ phim Alien vs Predator. Khi được hỏi vào tháng 5 năm 2012 nếu anh ấy đã xem chúng, Scott đã cười, “Không. Tôi không thể làm điều đó. Tôi không thể thực hiện bước đó.” Đạo diễn Neill Blomkamp cuối cùng sẽ tiếp tục giới thiệu phần tiếp theo của mình cho Người ngoài hành tinh. Tuy nhiên, Scott tuyên bố vào năm 2017 rằng dự án đã bị hủy bỏ. Nó cũng được gợi ý khi một hộp sọ Người ngoài hành tinh xuất hiện trong trường hợp chiến lợi phẩm trên tàu Predator trong Predator 2. Ngay sau khi phát hành Predator 2, Jim Thomas, đồng tác giả của Predator đã thảo luận về khả năng nhượng quyền của Predator và nhận xét về triển vọng của một bộ phim crossover, nói rằng “Tôi nghĩ rằng Predator vs Alien là một ý tưởng tốt có lẽ sẽ không bao giờ xảy ra”. Nhà biên kịch Peter Briggs đã tạo ra kịch bản gốc đặc tả vào năm 1990-1991, dựa trên loạt truyện tranh đầu tiên. Năm 1991, ông đã đưa ra ý tưởng thành công cho 20th Century Fox, người sở hữu nhượng quyền phim, mặc dù công ty đã không tiến hành dự án cho đến năm 2002. Dự án bị trì hoãn chủ yếu vì hãng phim đang làm việc cho Alien: Resurrection. của James DeMonaco và Kevin Fox đã bị nhà sản xuất John Davis từ chối, họ hy vọng sẽ cho bộ phim một cách tiếp cận nguyên bản bằng cách đặt nó trên Trái đất. Vì có sáu nhà sản xuất giữa các thương hiệu phim, nhà sản xuất của Predator John Davis gặp khó khăn trong việc đảm bảo các quyền vì các nhà sản xuất lo lắng về một bộ phim có hai sinh vật. Paul W. S. Anderson đã kể cho Davis một câu chuyện mà anh đã làm việc trong 8 năm và cho anh xem khái niệm nghệ thuật được tạo ra bởi Randy Bowen. Ấn tượng với ý tưởng của Anderson, Davis nghĩ rằng câu chuyện giống như Jaws ở chỗ nó “vừa lôi cuốn bạn vào, nó lôi cuốn bạn vào”.Anderson bắt đầu thực hiện bộ phim sau khi hoàn thành kịch bản cho Resident Evil: Apocalypse, với Shane Salerno đồng sáng tác. Salerno đã dành sáu tháng để viết kịch bản quay, hoàn thành quá trình phát triển và tiếp tục chỉnh sửa trong suốt quá trình sản xuất bộ phim. Dan O’Bannon và Ronald Shusett đã nhận được tín dụng câu chuyện về bộ phim dựa trên các yếu tố từ tác phẩm của họ trên Alien nguyên bản. Bị ảnh hưởng bởi công việc của thần thoại Erich von Däniken và người Aztec, Anderson đã đưa Kẻ săn mồi đến Trái đất trong tàu vũ trụ và dạy con người cách xây dựng kim tự tháp. Kết quả là, họ được đối xử như những vị thần. Các báo cáo ban đầu khẳng định câu chuyện là về những người cố gắng dụ dỗ động vật ăn thịt bằng trứng Alien, mặc dù ý tưởng đã bị loại bỏ. Bị ảnh hưởng bởi công trình của Erich von Däniken, Anderson đã nghiên cứu các lý thuyết của von Däniken về cách ông tin rằng các nền văn minh ban đầu có thể xây dựng các kim tự tháp khổng lồ với sự giúp đỡ của người ngoài hành tinh, một ý tưởng được rút ra từ thần thoại Aztec. Anderson đưa những ý tưởng này vào Alien vs Predator, mô tả một kịch bản trong đó Kẻ săn mồi đã dạy người cổ đại xây dựng kim tự tháp và sử dụng Trái đất để thực hiện nghi thức vượt qua cứ sau 100 năm họ sẽ săn lùng Người ngoài hành tinh. Để giải thích làm thế nào những nền văn minh cổ đại này “biến mất không một dấu vết”, Anderson đã đưa ra ý tưởng rằng Kẻ săn mồi, nếu bị người ngoài hành tinh áp đảo, sẽ sử dụng vũ khí tự hủy để giết tất cả mọi thứ trong khu vực. Cuốn tiểu thuyết của H. P. Lovecraft Tại Dãy núi điên rồ (1931) là nguồn cảm hứng cho bộ phim, và một số yếu tố của loạt truyện tranh Aliens vs Predator được đưa vào. Kịch bản ban đầu của Anderson kêu gọi năm Kẻ săn mồi xuất hiện trong phim, mặc dù số lượng sau đó đã giảm xuống còn ba. Vì Alien vs Predator được dự định là phần tiếp theo của các bộ phim Kẻ săn mồi và tiền truyện của loạt phim Alien, Anderson thận trọng với sự liên tục mâu thuẫn trong các nhượng quyền thương mại. Ông đã chọn đặt bộ phim trên hòn đảo Bouvet ở Nam Cực xa xôi của Na Uy bình luận: “Đó chắc chắn là môi trường thù địch nhất trên Trái đất và có lẽ là gần nhất với bề mặt người ngoài hành tinh mà bạn có thể có được.” Anderson nghĩ rằng việc đặt bộ phim trong một môi trường đô thị như Thành phố New York sẽ phá vỡ sự liên tục với loạt phim Alien vì nhân vật chính, Ellen Ripley, không biết gì về các sinh vật tồn tại. “Bây giờ bạn không thể có một Người ngoài hành tinh chạy quanh thành phố, vì nó đã được viết lên và mọi người sẽ biết về nó. Vì vậy, không có gì trong bộ phim này mâu thuẫn với bất cứ điều gì đã tồn tại.”. Diễn viên đầu tiên được chọn cho Alien vs Predator là Lance Henriksen, người thủ vai nhân vật Giám mục trong Người ngoài hành tinh và Người ngoài hành tinh 3. Mặc dù các bộ phim Alien được thiết lập 150 năm trong tương lai, Anderson muốn tiếp tục với loạt phim bằng cách bao gồm một bộ phim quen thuộc diễn viên. Henriksen đóng vai tỷ phú và kỹ sư tự học Charles Bishop Weyland, một nhân vật có mối quan hệ với Tập đoàn Weyland-Yutani với tư cách là người sáng lập và CEO ban đầu của Weyland Industries. Theo Anderson, Weyland trở nên nổi tiếng nhờ phát hiện ra kim tự tháp, và kết quả là Tập đoàn Weyland-Yutani mô hình hóa android android trong các bộ phim Alien sau anh ta; “khi Android android được tạo ra sau 150 năm, nó được tạo ra với khuôn mặt của người sáng tạo. | Cuộc chiến dưới tháp cổ | Cuộc chiến dưới tháp cổ (tựa gốc tiếng Anh: Alien vs. Predator hay còn được gọi là AVP: Alien vs. Predator) là một bộ phim hành động khoa học viễn tưởng năm 2004 được biên kịch và đạo diễn bởi Paul W. S. Anderson cùng với sự tham gia của Sanaa Lathan, Raoul Bova, Lance Henriksen và Ewen Bremner. Đây là phần đầu tiên của loạt phim Alien vs Predator, chuyển thể từ những quái vật cùng tên của hai loạt phim Alien và Predator, ban đầu được bắt nguồn từ một cuốn truyện tranh năm 1989 do Randy Stradley và Chris Warner sáng tác. Anderson cùng với những người tạo ra Alien, Dan O Bannon, Ronald Shusett, Anderson và Shane Salerno đã chuyển thể câu chuyện thành kịch bản. Kịch bản của họ chịu ảnh hưởng từ thần thoại Aztec, loạt truyện tranh và các tác phẩm của Erich von Däniken. Trong phim, các nhà khoa học bị cuốn vào một cuộc chiến giữa Người ngoài hành tinh (Alien) và Kẻ săn mồi (Predator) khi họ cố gắng thoát khỏi một kim tự tháp cổ đại. Cuộc chiến dưới tháp cổ được phát hành vào ngày 12 tháng 8 năm 2004 và nhận được những đánh giá tiêu cực từ giới phê bình, thu về 177,4 triệu USD trên toàn thế giới so với ngân sách sản xuất là 60 triệu USD. |
Vòi xịt vệ sinh Inax là một phần không thể thiếu trong không gian nhà vệ sinh hiện đại, chúng thường được thiết kế kết hợp với bồn cầu. Tuy nhiên không phải ai cũng biết cách sử dụng vòi xịt vệ sinh Inax đúng cách, đảm bảo vệ sinh và an toàn cho sức khỏe. Vòi xịt vệ sinh Inax là một loại vòi rửa được kích hoạt bằng tay được lắp gắn liền với bồn cầu. Đây là sản phẩm thiết bị vệ sinh có tác dụng dùng để xịt rửa, làm sạch bộ phận sinh dục sau khi đi vệ sinh và có thể thay thế giấy vệ sinh. Mặt khác, với áp lực nước khá lớn loại vòi này còn được sử dụng để xịt rửa bồn cầu, những ngóc ngách, vết bẩn trong nhà vệ sinh mà bàn chải không thể tới. Cấu tạo của một sản phẩm vòi xịt vệ sinh Inax sẽ bao gồm các bộ phận chính như: Đầu vòi xịt, dây vòi xịt chống xoắn, gioăng cao su và giá đỡ gắn tường. Vì được sản xuất với dây chuyền công nghệ hàng đầu Nhật Bản nên các sản phẩm vòi xịt vệ sinh Inax được người tiêu dùng khá ưa chuộng, đánh giá cao bởi chất lượng cùng với đó là giá thành vô cùng phải chăng. Hiện nay trên thị trường, thương hiệu Inax đang phân phối 2 dòng vòi xịt vệ sinh inax đó là: vòi xịt vệ sinh Inax bằng inox và vòi xịt vệ sinh Inax bằng nhựa. Vòi xịt vệ sinh bằng inox được làm bằng chất liệu bền bỉ, có độ bền cao, không bị gỉ sét trong thời gian dài sử dụng. Bề mặt sản phẩm phụ kiện inax này được mạ Crom/Niken sáng bóng, chống bong tróc trầy xước trong thời gian dài sử dụng. Vì vậy tuổi thọ của dòng vòi xịt này sẽ cao hơn các sản phẩm thông thường. Vòi xịt vệ sinh Inax bằng nhựa được làm bằng chất liệu nhựa ABS bền bỉ. Không bị ăn mòn, giá thành rẻ, phù hợp sử dụng cho nhiều công trình như: nhà vệ sinh văn phòng, nhà hàng, công cộng, rạp chiếu phim. Cách sử dụng vòi xịt vệ sinh Inax đúng cách hướng dẫn của chuyên gia. Bước 4: Xịt xung quanh hậu môn tránh xịt trực tiếp để làm sạch toàn bộ phần phía dưới. Có thể xịt từ trước ra sau, từ dưới lên trên kết hợp lấy tay làm sạch. Bước 5: Sau khi vệ sinh xong bằng vòi xịt có thể sử dụng giấy vệ sinh để lau xung quanh những nơi bị ướt. Bước 6: Sau khi vệ sinh xong hãy rửa tay thật sạch bằng xà phòng trước khi rời khỏi nhà vệ sinh. Những lưu ý cần thiết cần nắm rõ khi sử dụng vòi xịt vệ sinh Inax để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho sức khỏe. Sử dụng vòi xịt có áp lực nước phù hợp, các chuyên gia khuyến cáo nếu sử dụng vòi xịt vệ sinh có áp lực nước quá lớn có thể ảnh hướng đến các mô mềm phía dưới cơ thể. Đặc biệt là vùng hậu môn nếu bị tác động bởi áp lực nước quá mạnh sẽ gây ra những triệu chứng rát, buốt, khó chịu khi đi vệ sinh. Vì vậy, hãy sử dụng vòi xịt với nguồn nước nhẹ nhàng, êm ái, áp lực vừa phải để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho sức khỏe. Cũng như các sản phẩm thiết bị vệ sinh khác trong nhà vệ sinh, vòi xịt cũng cần được vệ sinh thường xuyên để đảm bảo luôn sạch sẽ, vi khuẩn không sinh sôi và phát triển được. Đồng thời, khi sử dụng cũng sẽ phòng chống những căn bệnh nguy hiểm về đường tiêu hóa, viêm đường sinh dục. Nên sử dụng các sản phẩm vòi xịt chất lượng của thương hiệu uy tín, nổi tiếng. Khách hàng có thể tham khảo các sản phẩm vòi xịt Inax đang được phân phối tại Showroom Hải Linh phân phối, cam kết giá tốt, chất lượng cao, hàng chính hãng. Liên hệ ngay để được báo giá sản phẩm ưu đãi nhất thị trường. Bài viết trên đây chúng tôi đã giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng về sản phẩm vòi xịt vệ sinh Inax đang được phân phối trên thị trường. Cùng với đó là hướng dẫn cách sử dụng vòi xịt đúng cách để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho sức khỏe. Hy vọng qua bài viết trên khách hàng đã có thêm nhiều kinh nghiệm hữu ích khi lựa chọn sản phẩm cho gia đình. | Vòi xịt vệ sinh | Vòi xịt vệ sinh (tiếng Anh: "bidet sprayer", hoặc "bidet shower") là một vòi phun nước kích hoạt bằng tay, tương tự như vòi xịt nước trên bồn rửa chén bát ở nhà bếp, xịt nước để trợ giúp trong việc làm sạch hậu môn và làm sạch các bộ phận sinh dục sau khi đi vệ sinh và đi tiểu. Vòi xịt vệ sinh là dụng cụ cho những người thích sử dụng nước hơn là vật liệu làm sạch khác như giấy sau khi đi vệ sinh hoặc đi tiểu. Vòi xịt vệ sinh là một sự thay thế tương đối hiện đại cho các nguồn nước truyền thống cho hành động này, như nồi đồng hoặc xô và cốc, vệ sinh và nhỏ gọn hơn. Không có sự tiếp xúc giữa nước phun và nước thải đã sử dụng. |
Khoa học, văn hóa, giáo dục, tâm lý, thể thao và một lối sống lành mạnh. các văn hóa truyền thống là những thứ được tổ chức xung quanh các yếu tố của quá khứ, chẳng hạn như phong tục và thói quen của các xã hội trước đây. Theo nghĩa này, họ rất coi trọng sự kế thừa của tổ tiên. Các nền văn hóa truyền thống được tổ chức trong các cộng đồng nhỏ, chủ yếu là các bộ lạc, cho phép bảo tồn các giá trị (nghi lễ, thực hành tôn giáo, trong số những người khác) hiệu quả hơn. Trong các xã hội lớn hơn, việc truyền tải các giá trị sẽ khó khăn hơn. Văn hóa truyền thống tương phản với các nền văn hóa hiện đại (tuân theo các giá trị đương đại nhưng sẵn sàng thay đổi) và ngay cả với các nền văn hóa mới nổi (đề xuất thay đổi là văn hóa). Về vấn đề này, Claude Lévi-Strauss chỉ ra rằng các nền văn hóa truyền thống là "xã hội lạnh" vì họ không cho phép các quá trình lịch sử sửa đổi các giá trị của họ. Điều này có nghĩa là chúng ít nhiều tĩnh. Một số nền văn hóa truyền thống nổi tiếng nhất là văn hóa thổ dân ở Châu Đại Dương và văn hóa thổ dân ở Trung Mỹ. Văn hóa của thổ dân Châu Đại Dương là truyền thống vì nó bảo tồn các giá trị của tổ tiên của họ. Dưới đây là một số giá trị. Hầu hết các nhóm thổ dân ở Châu Đại Dương là người bán du mục. Mỗi nhóm "sở hữu" một vùng đất rộng lớn và di chuyển trên đó theo sự thay đổi của các mùa. Mỗi nhóm đều biết hệ động vật và thực vật địa phương và sự thay đổi của nó tùy theo điều kiện khí hậu xảy ra trong suốt cả năm. Nguồn gốc của các ngôn ngữ thổ dân ở Châu Đại Dương là không rõ. Tuy nhiên, nó được coi là các ngôn ngữ được sử dụng trên lục địa đến từ một tổ tiên chung, trong khi các ngôn ngữ được sử dụng trên các đảo đã đi xuống từ một nhánh ngôn ngữ khác. Trong thời kỳ thuộc địa của Châu Đại Dương, hơn 270 ngôn ngữ thổ dân đã được sử dụng. Tuy nhiên, hiện tại, chỉ có 30 đến 70 trong số này được bảo tồn. Cốt lõi của truyền thống của thổ dân là tâm linh, con người và mối quan hệ của anh ta với thiên nhiên. Theo thổ dân ở Châu Đại Dương, Giấc mơ, Thế giới của những giấc mơ hay Thời gian của những giấc mơ, là khoảng thời gian vô tận mà quá khứ, hiện tại và tương lai hội tụ. Thế giới của những giấc mơ nằm ngoài những mặt phẳng vật lý và thời gian. Quan niệm về Thế giới của những giấc mơ được truyền tải qua những câu chuyện, trong đó những lời giải thích được đưa ra cho bất kỳ khía cạnh nào của cuộc sống, từ việc tạo ra Trái đất cho đến cách mà nhím được hình thành. Những câu chuyện trong giấc mơ giải thích làm thế nào các linh hồn của thế giới, tổ tiên, lang thang trên Trái đất và định hình bầu trời, nước và vỏ trái đất. Ví dụ, một trong những câu chuyện trong mơ giải thích rằng mặt trời mọc lên từ một quả trứng emu khổng lồ bị đốt cháy trong bầu khí quyển. Khi đám cháy trứng bị dập tắt, các vị thần trên trời quyết định giữ lửa trên bầu trời vào ban ngày, để ghi nhớ độ sáng của trứng emu. Lúc đầu, con người và linh hồn cùng tồn tại trong sự hòa hợp, nhưng theo thời gian, người sau đã rời khỏi Trái đất. Một số người trở về ngôi nhà tâm linh của họ và những người khác hòa nhập với các yếu tố của cảnh quan (sông, núi, cây cối, trong số những người khác). Một khía cạnh tinh thần khác của thổ dân Châu Đại Dương là niềm tin rằng mỗi người được sinh ra với một vật tổ. Vật tổ có thể là một yếu tố cụ thể (như thực vật, động vật, dòng sông) hoặc một ý tưởng trừu tượng (như niềm vui, tình bạn, ham muốn tình dục, trong số những người khác). Vật tổ của một cá nhân được chỉ định tại thời điểm người mẹ nhận ra rằng mình đang mang thai. Ví dụ, nếu một người phụ nữ phát hiện ra việc mang thai của mình khi tắm dưới sông, dòng sông này sẽ là vật tổ của con trai cô ấy. Trong các gia đình, hệ thống sau đây được áp dụng: anh chị em cùng giới là "bằng nhau". Để minh họa cho nguyên tắc này, hãy tưởng tượng rằng có hai anh em. Một trong những anh em này có một cô con gái. Theo quy định, hai anh em đều bình đẳng, nên cả hai đều là cha mẹ của cô gái. Tuy nhiên, có một sự phân biệt giữa cha ruột và cha thứ hai. Với những người anh em khác giới, người mẫu phương Tây được theo dõi. Đó là để nói rằng, chị em của cha là dì của cô gái. Ở Trung Mỹ, chủ yếu ở Mexico và Guatemala, có các bộ lạc thổ dân. Ở Mexico, có 56 nhóm bản địa và mỗi nhóm đại diện cho một nền văn hóa truyền thống. Các nhóm này tạo thành các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau, vì mỗi người trong số họ trình bày / hiển thị một phương ngữ đa dạng phục vụ để đặt tên cho bộ lạc. Ví dụ, tiếng Nahualt là ngôn ngữ của người Nahua. Liên quan đến tôn giáo, văn hóa thổ dân Mexico không bảo tồn nhiều khía cạnh của tổ tiên của họ. Một số yếu tố tôn giáo của các nền văn hóa tiền Columbus đã được đồng bộ hóa (pha trộn) với tín ngưỡng Công giáo. Đối với các bộ lạc thổ dân Guatemala, họ bảo tồn ít hơn 20 phương ngữ là di sản ngôn ngữ của người Maya. Trong số các ngôn ngữ này, kaqchikel, kekchi và man. Nhiều thổ dân Guatemala không nói tiếng Tây Ban Nha, điều này thể hiện sự gắn bó của họ với các giá trị của tổ tiên họ. Đối với tôn giáo, nhiều nền văn hóa thổ dân này bảo tồn việc thực hành các nghi lễ nhất định để chữa bệnh, để tôn vinh sự sống, cái chết và tất cả các sự chuyển tiếp của nó (rửa tội, hôn nhân, trong số những người khác). Ở một số bộ lạc, vẫn còn hình bóng của pháp sư, một thầy phù thủy hoặc linh mục có thể liên lạc với các đấng tối cao. | Văn hóa ở động vật | Văn hóa ở động vật (Animal culture) liên quan đến lý thuyết về hành vi học tập hiện nay ở động vật không phải con người, thông qua các hành vi trao truyền kiến thức mang tính xã hội. Khái niệm văn hóa ở động vật bắt nguồn từ Aristotle từ thời cổ đại và gần đây hơn là Charles Darwin, nhưng sự liên kết hành động của động vật với từ "văn hóa" thực sự bắt nguồn từ những khám phá của các nhà linh trưởng học của Nhật Bản về hành vi trao đổi thức ăn trong những năm 1940. Trong những năm gần đây, nhiều đặc tính đã từng được cho là của riêng con người, từ đạo đức cho đến văn hóa, đã được phát hiện ở vương quốc động vật. Câu hỏi về sự tồn tại của cái gọi là văn hóa trong các xã hội các loài động vật không phải là con người đã trở thành một chủ đề gây tranh cãi trong nhiều thập kỷ, phần lớn là do thiếu một định nghĩa ngắn gọn cho từ "văn hóa". Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học hàng đầu đồng ý coi văn hóa là một quá trình, chứ không phải là một sản phẩm cuối cùng. |
Kịch bản Harry Potter và Đứa trẻ bị nguyền rủa được viết dựa trên câu chuyện của J.K. Rowling, Jack Thorne và John Tiffany. Từ những nhân vật quen thuộc trong bộ Harry Potter, kịch bản nói về cuộc phiêu lưu của những hậu duệ, sự can thiệp vào dòng thời gian đã gây ra những thay đổi không ngờ cho tương lai tưởng chừng đã yên ổn sau khi vắng bóng chúa tể Voldermort. Không đánh giá cao bản thân tác phẩm này về mặt văn chương và cả về sự hợp lý của nó trong thế giới Harry Potter. Nếu xem trực tiếp vở kịch có lẽ khán giả sẽ thấy hào hứng hơn, văn phong thể loại thoại kịch không phù hợp với một thế giới tưởng tượng kỳ ảo như series gốc. Về phần cốt truyện và nhân vật thì hoàn toàn kém hẳn, có những nhân vật mà tính cách chẳng còn gì giống với bản gốc, hoặc đã bị biến chất thành một dạng giễu nhại, còn tình tiết thì rắc rối hỗn loạn và ngược logic với bản gốc. Rowling và các đồng tác giả dường như không tôn trọng khá nhiều những chi tiết và luật lệ từ bản gốc. Vậy có điểm sáng nào không? Thực ra là có, tình tiết khá hấp dẫn, nếu đưa vào một bối cảnh khác với những nhân vật khác hẳn có lẽ càng hay hơn, tình bạn của Albus và Scorpius đẹp chân thành, Draco trưởng thành không tệ, Đứa trẻ bị "nguyền rủa" trong tác phẩm thực ra không chỉ có một, và những thông điệp về quan hệ gia đình, giữa người lớn và trẻ em, danh vọng và cuộc sống thường ngày. Tuy thế, có lẽ nên để Harry và cuộc chiến chống cái ác mãi ở lại tuổi thơ, các độc giả mong chờ đọc tiếp những cuộc phiêu lưu của Harry người lớn đã được thỏa mãn, nhưng chưa hề trọn vẹn. Sách bìa mềm, giấy xốp, độ dày tương đương tập 1 và 2 nhưng thực ra đọc mau hết hơn nhiều vì chủ yếu là lời thoại, thời lượng một vở kịch chỉ có vài tiếng. Tôi biết tôi đã cho 4 sao, nhưng thành thật mà nói, J. K. Rowling có thể viết một cuốn từ điển với hình minh họa Harry Potter và có lẽ tôi sẽ cho nó 4 sao. Điều này là, nó thật dễ thương, thật ngọt ngào, nó hoàn toàn hoài cổ khi gặp lại phi hành đoàn cũ, nhưng tôi ghét định dạng chơi. Là một người lớn lên cùng Harry Potter và hiện đang ở độ tuổi 30, tôi cảm thấy như mình lớn lên cùng Harry Potter và đoàn làm phim, và thực tế, với sự ra đời của cuốn sách này, trên thực tế, tôi đã già đi cùng họ. Thật là đáng yêu khi gặp lại họ. Nó giống như gặp gỡ những người bạn cũ. Tôi không cảm thấy già. Tôi là một người có trách nhiệm hơn, chắc chắn, nhưng tôi cảm thấy trẻ trung. Khi chúng ta còn trẻ, trưởng thành, có trách nhiệm, chỉ là viễn cảnh trưởng thành dường như rất đáng ngại. sau đó người ta sẽ đến đó và nó giống như, tôi vẫn chưa trưởng thành như tôi từng có. Tôi yêu niềm vui nhiều như tôi từng làm. Già đi không phải là xấu. Và nhìn thấy phi hành đoàn cũ nhiều như họ đã từng mang niềm vui vào trái tim chưa già của tôi. Tôi có thể làm mà không có những đứa trẻ, phải trung thực. Ồ, chắc chắn, họ là Potter và Granger-Weasley nhỏ bé, nhưng thôi nào, không ai từng có và sẽ không ai giành được tôi nhiều như cha mẹ của họ, người mà tôi yêu quý ngay khi chúng tôi gặp họ trên Hogwarts Express. Đối với những độc giả đã quen thuộc với lối viết thiên theo hướng tiểu thuyết có cốt truyện lớp lang cùng những chi tiết miêu tả cầu kỳ của tác giả J. K. Rowling trong 7 tập truyện trước đó thì có lẽ sang đến tập này, họ sẽ gặp đôi chút bỡ ngỡ. Bởi vì cuốn sách này được viết dưới dạng một kịch bản dựng sẵn cho một vở kịch, và ngoài ra còn có thêm sự hợp tác của hai cây bút khác nữa. Cốt truyện lần này xoay quanh con trai của Harry Potter – cậu bé Albus Severus Potter, khi cậu được chọn vào nhà Slytherin. Câu chuyện bắt đầu khi cậu cùng người bạn thân Scorpius Malfoy – con trai của Draco Malfoy – tìm cách ăn trộm chiếc Xoay thời gian của Hermione để quay về quá khứ để cứu Cedric Diggory. Thế nhưng, cả hai lại rơi vào cái bẫy của Delphi – con gái Voldemort – và do đó bị mắc kẹt ở quá khứ. Mỗi lần cả hai quay ngược dòng thời gian, thay đổi một số sự kiện trong quá khứ thì lại dẫn đến một tương lai hoàn toàn khác. Cuốn sách còn cho ta thấy những nhân vật thơ bé ngày nào như Harry, như Draco nay đã trưởng thành ra sao, đã biết chăm lo cho con cái như thế nào. Tuy vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, nhưng cả cuốn sách vẫn đọng lại nhiều dư vị đáng suy ngẫm về những bài học sâu sắc về tình cảm gia đình, tình cảm bạn bè,. – mình là potterhead, từ lâu đã rất thích Harry Potter, mồm luôn miệng nói : " Ước gì có thêm phần nữa nhỉ ? " và giờ đã thành sự thật. Cuốn sách thật sự rất thu hút người đọc, văn phong đậm chất huyền bí , mạch truyện cuốn hút , mình như chìm vào thế giới của Harry Potter khi đọc nó. Quả thật, Harry Potter Và Đứa Trẻ Bị Nguyền Rủa: Phần Một Và Hai được xác nhận không phải là một cuốn sách quá xuất sắc. Cuốn sách này có thể được xem như một dự án phụ của sự sắp xếp Harry Potter, tuy nhiên nó được viết như một vở kịch nên nó sẽ không có gì khó hiểu ngoài việc đọc. Cuốn sách xoay quanh đứa con thứ hai của Harry Potter: Albus Severus Potter. Câu chuyện bắt đầu với một giả thuyết: hãy tưởng tượng một kịch bản mà vẫn còn đó Vòng quay thời gian còn sót lại sau cuộc chiến hai mươi năm trước. Hãy tưởng tượng một viễn cảnh trong đó những đứa trẻ nhà Potter quay trở lại thời gian và thay đổi quá khứ. Những thay đổi nào sẽ xảy ra? Hơn nữa, liệu tương lai có thay đổi không? Từ các nhân vật tự nhiên trong sự sắp xếp của Harry Potter, tình huống này nói về trải nghiệm của những người thân, trở ngại trong thời gian biểu đã tạo ra những thay đổi không lường trước được. Cuốn sách là kịch bản của một vở kịch theo đúng nghĩa. Khi đọc cuốn sách này người đọc sẽ trở thành người xem chứ không còn đơn thuần là đọc nữa. Lấy bối cảnh 20 năm sau cuộc chiến tại Hogwarts, nội dung câu truyện xoay quanh Harry Potter và cậu con trai thứ 2 Albus Severus Potter. Câu truyện gắn kết rất tốt với các sự kiện từ 7 tập trước, và nó đưa người xem tới các sự kiện cũ với một góc nhìn mới hoàn toàn khác biệt. Một trải nghiệm hoàn toàn mới và hấp dẫn. Cuộc đấu tranh giữa thiện và ác trong câu truyện chỉ là phụ, mà xuyên suốt cuốn sách là cuộc đấu tranh nội tâm của 2 nhân vật chính với chính bản thân mình. Cuốn sách như một "tưởng ký" mà người xem sẽ được trải nghiệm lại cuộc hành trình cùng với Harry từ 1997 tới 2007. Sẽ khá khó hiểu với ai chưa từng đọc Harry bởi khung cảnh và thời gian sẽ liên tục thay đổi đôi khi là song song cùng lúc, nhưng rất đáng đọc để hồi tưởng lại những cuộc phiêu lưu ngày ấy! Rất mong một lần được xem tận mắt vở kịch này!. Nếu bạn là một Potterhead – một fan của bộ sách Harry Potter của tác giả J. k Ronwling thì cuốn sách này sẽ không thể thiếu trong giỏ hàng của bạn. Cuốn sách là một phần ngoại truyện của bộ 7 tập Harry Potter, và được viết theo kiểu kịch bản truyện diễn ra trên sân khấu. Đó là cuộc phiêu lưu của những thế hệ sau – con của Harry Potter và Draco. Khi những người cha đã có sự nghiệp của mình, tưởng rằng cuộc sống sẽ yên bình sau khi chúa tể hắc ám bị tiêu diệt, những không những vấn đề mới này sinh và đòi hỏi những đứa trẻ đưa ra những lựa chọn. Phần kịch bản này chưa đáp ứng được yêu cầu của tất cả các Potterhead nhưng cũng phần nào thoả mãn nhu cầu của những người yêu sách Harry Potter. Cuốn sách có cốt truyện rất thú vị và đầy sự khám phá, vẫn là câu chuyện về các phù thuỷ nhưng ở góc nhìn của tình thương. Đối với những độc giả đã quen thuộc với lối viết thiên theo hướng tiểu thuyết có cốt truyện lớp lang cùng những chi tiết miêu tả cầu kỳ của tác giả J. K. Rowling trong 7 tập truyện trước đó thì có lẽ sang đến tập này, họ sẽ gặp đôi chút bỡ ngỡ. Bởi vì cuốn sách này được viết dưới dạng một kịch bản dựng sẵn cho một vở kịch, và ngoài ra còn có thêm sự hợp tác của hai cây bút khác nữa. Cốt truyện lần này xoay quanh con trai của Harry Potter – cậu bé Albus Severus Potter, khi cậu được chọn vào nhà Slytherin. Câu chuyện bắt đầu khi cậu cùng người bạn thân Scorpius Malfoy – con trai của Draco Malfoy – tìm cách ăn trộm chiếc Xoay thời gian của Hermione để quay về quá khứ để cứu Cedric Diggory. Thế nhưng, cả hai lại rơi vào cái bẫy của Delphi – con gái Voldemort – và do đó bị mắc kẹt ở quá khứ. Mỗi lần cả hai quay ngược dòng thời gian, thay đổi một số sự kiện trong quá khứ thì lại dẫn đến một tương lai hoàn toàn khác. Cuốn sách còn cho ta thấy những nhân vật thơ bé ngày nào như Harry, như Draco nay đã trưởng thành ra sao, đã biết chăm lo cho con cái như thế nào. Tuy vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, nhưng cả cuốn sách vẫn đọng lại nhiều dư vị đáng suy ngẫm về những bài học sâu sắc về tình cảm gia đình, tình cảm bạn bè,. Không đánh giá cao bản thân tác phẩm này về mặt văn chương và cả về sự hợp lý của nó trong thế giới Harry Potter. Nếu xem trực tiếp vở kịch có lẽ khán giả sẽ thấy hào hứng hơn, văn phong thể loại thoại kịch không phù hợp với một thế giới tưởng tượng kỳ ảo như series gốc. Về phần cốt truyện và nhân vật thì hoàn toàn kém hẳn, có những nhân vật mà tính cách chẳng còn gì giống với bản gốc, hoặc đã bị biến chất thành một dạng giễu nhại, còn tình tiết thì rắc rối hỗn loạn và ngược logic với bản gốc. Rowling và các đồng tác giả dường như không tôn trọng khá nhiều những chi tiết và luật lệ từ bản gốc. Vậy có điểm sáng nào không? Thực ra là có, tình tiết khá hấp dẫn, nếu đưa vào một bối cảnh khác với những nhân vật khác hẳn có lẽ càng hay hơn, tình bạn của Albus và Scorpius đẹp chân thành, Draco trưởng thành không tệ, Đứa trẻ bị "nguyền rủa" trong tác phẩm thực ra không chỉ có một, và những thông điệp về quan hệ gia đình, giữa người lớn và trẻ em, danh vọng và cuộc sống thường ngày. Tuy thế, có lẽ nên để Harry và cuộc chiến chống cái ác mãi ở lại tuổi thơ, các độc giả mong chờ đọc tiếp những cuộc phiêu lưu của Harry người lớn đã được thỏa mãn, nhưng chưa hề trọn vẹn. Sách bìa mềm, giấy xốp, độ dày tương đương tập 1 và 2 nhưng thực ra đọc mau hết hơn nhiều vì chủ yếu là lời thoại, thời lượng một vở kịch chỉ có vài tiếng. Dù cuốn này là cuốn thứ 8 của series Harry Potter nhưng thật sự thì người ta thường không coi nó là một phần trong chính truyện, có lẽ là bởi cái lối viết không đúng với phong cách miêu tả chi tiết tạo ra thế giới , bối cảnh sống động mà thay vào đó là đây lại là kịch bản của tác phẩm kịch mà Rowling sáng tác. | Harry Potter và đứa trẻ bị nguyền rủa | Harry Potter và đứa trẻ bị nguyền rủa (tiếng Anh: Harry Potter and the Cursed Child) là tên của cuốn sách và một vở kịch 2 phần của tác giả Jack Thorne dựa trên mạch truyện của tác giả J. K. Rowling, Jack Thorne và đạo diễn John Tiffany. Vở kịch được trình diễn vào ngày 30 tháng 7 năm 2016 tại Nhà hát Palace (London, Anh) và Nhà hát Broadway vào ngày 22 tháng 4 năm 2018. Đã qua rồi 19 năm sau trận chiến ở Hogwarts, thế giới đã thay đổi rất nhiều và tốt lên khi không có Voldemort. Hermione Granger và Ron Weasley đã kết hôn và họ có với nhau 2 đứa con là Rose Granger Weasley và Hugo Granger Weasley, Hermione cũng chính là Bộ trưởng Bộ Pháp Thuật hiện tại còn Ron thì ở nhà chăm sóc và giáo dục các con. Harry Potter và Ginny Weasley cũng đã kết hôn và có với nhau 3 đứa con lần lượt là James Sirius Potter, Albus Severus Potter và Lily Luna Potter. Harry cũng là một viên chức của Bộ Pháp Thuật ở vị trí là Cục Trưởng Cục Thi Hành Luật lệ Pháp Thuật. |
Chuỗi cung ứng lạnh là một quy trình quản lý logistics cho các sản phẩm yêu cầu nhiệt độ lạnh. Đó là một quá trình vì nó liên quan đến việc thực hiện một chuỗi các công việc từ chuẩn bị, lưu trữ và vận chuyển các sản phẩm dọc theo chuỗi cung ứng lạnh. Thất bại trong việc giữ lạnh các sản phẩm trong chuỗi cung ứng lạnh sẽ làm cho các sản phẩm hư hỏng (không thể sử dụng được), dẫn đến lãng phí sản phẩm. Một chuỗi cung ứng lạnh thành công đảm bảo các sản phẩm nhạy cảm với nhiệt độ được giữ trong phạm vi nhiệt độ tối ưu và duy trì trạng thái mong muốn từ đầu đến cuối. Ví dụ, kem phải được giữ đông lạnh để bảo quản sản phẩm trong thời hạn sử dụng. Nếu nhiệt độ vượt quá 0oC, sản phẩm sẽ mất trạng thái rắn và được coi là không sử dụng được nữa. Các nhà cung cấp thực phẩm và dược phẩm chủ yếu dựa vào chuỗi cung ứng lạnh để đảm bảo lô hàng vận chuyển không bị hư hỏng trước khi đưa ra thị trường. Họ luôn muốn thống nhất hóa (streamline) việc quản lý chuỗi cung ứng lạnh của mình nhưng điều đó có thể không phải là sở trường của họ. May mắn thay, họ luôn có thể sử dụng dịch vụ của các công ty vận chuyển chuyên biệt (thuê ngoài) để đảm bảo giao hàng tới người tiêu dùng kịp thời và hiệu quả. Dịch vụ thuê ngoài làm giảm nhu cầu của các công ty thực phẩm và dược phẩm trong việc cam kết nguồn lực của họ vào quản lý chuỗi cung ứng được kiểm soát nhiệt độ. Nó cũng cho phép các công ty này tập trung vào lĩnh vực cốt lõi của doanh nghiệp nếu họ có một đối tác đáng tin cậy, sẵn sàng duy trì chuỗi cung ứng lạnh và thực thi theo đúng kế hoạch của họ. Các sản phẩm nhạy cảm với nhiệt độ phải được giữ lạnh tại mọi công đoạn của chuỗi cung ứng lạnh. Chuỗi có nhiều thành phần, bao gồm như sau:. Trái với suy nghĩ của nhiều người, chuỗi cung ứng lạnh không bắt đầu tại thời điểm các sản phẩm nhạy cảm với nhiệt độ rời khỏi cơ sở của nhà sản xuất. Nó bắt đầu với việc bảo quản các sản phẩm tại một cơ sở làm lạnh. Nếu các nhà sản xuất sản phẩm trong chuỗi cung ứng lạnh không có thiết bị bảo quản cần thiết để giữ lạnh sản phẩm của mình, họ sẽ phải triển khai chuỗi cung ứng lạnh của mình cho một đối tác có thể cung cấp thiết bị. Nhiều công ty logistics bên thứ 3 (3PL) cung cấp cơ sở vật chất nhà kho để lưu trữ các sản phẩm chuỗi cung ứng lạnh trong một khoảng thời gian tại một địa điểm trung gian để dễ dàng phân phối đến thị trường địa phương hoặc chờ vận chuyển đến thị trường xa. Một số loại thiết bị và phương tiện bảo quản lạnh phổ biến bao gồm thùng chứa lạnh, phòng lạnh, thiết bị làm lạnh, hộp lạnh, tủ đông lạnh và thùng chứa vắc xin. Đối với các sản phẩm cần được kiểm soát nhiệt độ thì để duy trì chất lượng của sản phẩm trong quá trình vận chuyển, chúng phải được đóng gói đúng cách. Việc đóng gói phù hợp giúp giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm sản phẩm nhưng cũng đảm bảo việc bảo quản sản phẩm tiết kiệm năng lượng dọc theo chuỗi cung ứng lạnh. Các nhà cung cấp sản phẩm chuỗi cung ứng lạnh có thể cần theo dõi các loại thông tin cụ thể về lô hàng vận chuyển của mình, tùy thuộc vào loại sản phẩm mà họ sản xuất. Thông tin này bao gồm phạm vi nhiệt độ và các thông số môi trường khác, chẳng hạn như mức độ ẩm có thể ảnh hưởng đến tính toàn vẹn của hàng hóa nhạy cảm với nhiệt độ. Được trang bị các thông tin này, người gửi hàng có thể kiểm tra các quy trình chuỗi cung ứng của mình để phát hiện các điều kiện môi trường và hoạt động dẫn đến sự kém hiệu quả. Ghi dữ liệu là một trong những công nghệ có thể được sử dụng để giúp việc quản lý chuỗi cung ứng lạnh dễ dàng hơn rất nhiều. Công nghệ này giúp đảm bảo giám sát chuỗi cung ứng lạnh hiệu quả đối với hàng hóa nhạy cảm với nhiệt độ. Nó cũng giúp đảm bảo chất lượng vì mọi vấn đề về chất lượng đều có thể được phát hiện và giải quyết trước khi quá muộn. Bộ ghi dữ liệu có thể là không dây, hoạt động độc lập, dựa trên web hoặc dựa trên máy tính. Mỗi tùy chọn đều có những tính năng, ưu và nhược điểm riêng biệt mà bạn phải xem xét cẩn thận trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Tham khảo ý kiến của nhà cung cấp dịch vụ có thể giúp người gửi hàng xác định công nghệ ghi dữ liệu tốt nhất cho nhu cầu chuỗi cung ứng lạnh của mình. Vận chuyển lạnh liên quan đến việc triển khai các giải pháp vận chuyển khác nhau để di chuyển các sản phẩm nhạy cảm với nhiệt độ từ điểm lưu kho đến thị trường tiêu thụ. Các sản phẩm chuỗi cung ứng lạnh có thể được vận chuyển bằng đường bộ, đường sắt, đường hàng không và / hoặc đường biển. Nhiều phương tiện và thiết bị vận tải chuyên dụng, chẳng hạn như xe thùng lạnh, xe tải tủ lạnh và thùng chứa lạnh được sử dụng để vận chuyển và giữ lạnh cho lô hàng. Từ quan điểm địa lý, chuỗi cung ứng lạnh có thể là diễn ra tại địa phương, khu vực hoặc toàn cầu. Chuỗi cung ứng lạnh mang tính địa phương khi điểm thu hoạch hoặc sản xuất gần điểm tiêu thụ. Đó là khu vực khi điểm sản xuất và điểm sử dụng ở các vùng khác nhau của cùng một quốc gia. Chuỗi lạnh trở nên toàn cầu khi các sản phẩm phải được chuyển ra nước ngoài để đến tay người tiêu dùng. Trong trường hợp cung cấp chuỗi cung ứng lạnh toàn cầu, các nhà cung cấp sản phẩm nhạy cảm với nhiệt độ có thể cần phải thông quan với hải quan trước khi các sản phẩm có thể được phép giao hàng đến các khu vực ở nước ngoài. Một nhà cung cấp dịch vụ chuỗi cung ứng lạnh chuyên dụng có thể xử lý các thủ tục giấy tờ hải quan để giảm sự chậm trễ vận chuyển có thể phát sinh do không đáp ứng tất cả các yêu cầu vận chuyển quốc tế liên quan. Chuỗi cung ứng lạnh liên quan đến việc di chuyển các sản phẩm được kiểm soát nhiệt độ dọc theo các điểm khác nhau của chuỗi. Điều này đòi hỏi phải sử dụng thiết bị như thùng vận chuyển, hộp và pallet, cũng như hệ thống băng tải. Nếu không có thiết bị như vậy, các chủ hàng sẽ mất rất nhiều thời gian để hoàn thành việc giao các sản phẩm chuỗi cung ứng lạnh. Điều này sẽ gây khó khăn cho họ trong việc giao hàng nhanh mà lại cần thiết để tránh thất lạc hàng hóa. Quản lý chuỗi cung ứng lạnh cũng có thể liên quan đến việc phân phối lô hàng theo các cách thức ưu tiên của người tiêu dùng cuối cùng. Lĩnh vực chuỗi cung ứng lạnh không ngừng phát triển để bắt kịp nhu cầu của người gửi hàng và người tiêu dùng. Khi mọi người thay đổi mô hình tiêu dùng của mình, các nhà cung cấp sản phẩm chuỗi cung ứng lạnh không có lựa chọn nào khác ngoài việc thích ứng để đáp ứng nhu cầu thay đổi. Các hoạt động quản lý chuỗi cung ứng lạnh cũng phải thích ứng với những thay đổi này. Trong một thế giới mà các nhà sản xuất hàng hóa chuỗi cung ứng lạnh luôn tìm cách quản lý chi phí vận hành, dịch vụ vận tải LTL là một giải pháp đáng hoan nghênh. Với giải pháp vận tải mới này, các công ty bán các sản phẩm thực phẩm và dược phẩm không còn phải trả tiền cho toàn bộ chuyến xe để vận chuyển lô hàng của họ đến thị trường tiêu dùng. Tất cả những gì họ cần làm là trả tiền cho dung lượng mà họ sử dụng. Để được hưởng lợi từ vận chuyển LTL, các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm chuỗi cung ứng lạnh phải đảm bảo lô hàng của mình được chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc bảo quản và vận chuyển để các nhà vận chuyển không phải tốn nguồn lực của mình để xử lý hàng hóa được đóng gói không chính xác. Họ cũng có thể cần đầu tư vào hệ thống quản lý vận tải vì nhiều chủ hàng LTL là những người chấp nhận công nghệ chậm. Các doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm chuỗi cung ứng lạnh muốn theo dõi tình trạng lô hàng của mình. Họ muốn biết rằng mọi thứ đang diễn ra theo đúng kế hoạch và chuyến hàng sẽ đến địa điểm được giao đúng giờ. Các công ty vận chuyển chủ yếu dựa vào công nghệ GPS để theo dõi hàng hóa của khách hàng trong thời gian thực. Bằng cách này, họ có thể thông báo cho khách hàng về tiến trình vận chuyển sản phẩm của họ. Nhiều người tiêu dùng sẵn sàng trả thêm tiền để có được sự tiện lợi khi nhận đơn đặt hàng ngay trước cửa nhà thay vì phải đi bộ tới các cửa hàng địa phương để có thể nhận được sản phẩm họ muốn. Các công ty vận tải đang thích ứng với nhu cầu này bằng cách cung cấp dịch vụ giao hàng chặng cuối như một dịch vụ bổ sung. Trong ngữ cảnh quản lý chuỗi cung ứng, thuật ngữ “chặng cuối” được sử dụng để chỉ bước cuối cùng trong hành trình của sản phẩm từ kệ kho đến cửa của người tiêu dùng. Đó là quá trình mà qua đó các sản phẩm của chuỗi lạnh được phân phối trực tiếp đến người tiêu dùng cuối cùng, bỏ qua các trung gian bán lẻ. Kết quả của việc không duy trì nhiệt độ tối ưu ở mọi công đoạn của chuỗi cung ứng lạnh, ngay cả trong thời gian ngắn có thể dẫn đến nhiều kết quả không mong muốn. Chúng bao gồm những điều sau:. Khi lô hàng chuỗi cung ứng lạnh không được giữ lạnh ở mọi công đoạn của chuỗi, chất lượng của lô hàng có thể bị ảnh hưởng, dẫn đến sản phẩm hư hỏng. Điều này có thể gây hậu quả lớn trong trường hợp vận chuyển vắc xin, dược phẩm và các mặt hàng thực phẩm thiết yếu. Khi hàng hóa chuỗi cung ứng lạnh bị hỏng do không cung cấp nhiệt độ phù hợp cần thiết để bảo quản, chủ lô hàng sẽ mất tiền. Mức độ thiệt hại tài chính có thể phụ thuộc vào một loạt các yếu tố bao gồm loại và số lượng sản phẩm liên quan. Ví dụ, tác động tài chính của tổn thất từ một chuyến hàng xe tải đầy sẽ lớn hơn một chuyến hàng LTL nhỏ hơn. Tương tự, các sản phẩm đông lạnh có giá trị cao sẽ dẫn đến tổn thất lớn hơn so với các sản phẩm cùng tải trọng rẻ hơn. Khi chủ hàng bị thiệt hại nặng nề vì những sai lầm của đối tác vận chuyển, họ nhất định phải khởi kiện. Họ cũng có thể cắt đứt quan hệ với đối tác của mình. Điều này có thể dẫn đến các cuộc chiến pháp lý mất thời gian để giải quyết mà còn gây lãng phí thời gian và nguồn lực tài chính quý báu của các bên. Khi các sản phẩm của chuỗi cung ứng lạnh không tiếp cận được thị trường tiêu dùng do các vấn đề về chất lượng, người tiêu dùng ở cuối chuỗi cung ứng chắc chắn sẽ không hài lòng. Việc thất bại trong duy trì nhiệt độ tối ưu cho chuỗi cung ứng y tế loại bỏ bất kỳ lợi ích kinh doanh nào mà người gửi hàng có thể có. Đó là lý do tại sao điều quan trọng là phải xem xét riêng chuỗi cung ứng lạnh đối với các nguồn cung cấp y tế như vắc xin. Lãng phí tiền bạc – việc sản xuất và cung cấp vắc xin liên quan đến đầu tư đáng kể vào nghiên cứu, phát triển sản phẩm và hệ thống phân phối. Các bên liên quan đến việc vận chuyển và phân phối vắc xin phải đảm bảo chuỗi cung ứng lạnh được duy trì chính xác để tránh những rủi ro nêu trên. Không phải tất cả các sản phẩm nhạy cảm với nhiệt độ đều tương tự nhau. Mỗi sản phẩm là duy nhất và yêu cầu xử lý chuyên biệt để duy trì tính toàn vẹn của nó dọc theo chuỗi cung ứng lạnh. Có một số quy định và hướng dẫn mà các cơ quan quản lý ngành đặt ra cho các công ty vận tải biển phải tuân theo trong suốt chuỗi cung ứng lạnh. Ngoài các hướng dẫn này, người gửi hàng cá nhân phải có tiêu chuẩn chất lượng nội bộ. Nhu cầu hiểu các quy định về ngành, địa phương, khu vực, toàn cầu và môi trường, cũng như ước tính thời gian vận chuyển hàng hóa một cách chính xác, đang khiến nhiều nhà sản xuất sản phẩm nhạy cảm với nhiệt độ phải thuê ngoài chuỗi cung ứng lạnh của mình cho các công ty vận chuyển chuyên biệt có thể xử lý nhu cầu vận chuyển hàng hóa. Quy mô thị trường dịch vụ gọi xe (ride hailing) của Việt Nam có thể đạt 4 tỷ USD vào năm 2024, trong khi thị trường này được dự báo sẽ tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 16% từ năm 2020 đến năm 2025. Cần có một chuỗi cung ứng được vận hành tốt để đảm bảo rằng một nhân viên pha cà phê (barista) sẽ rót ra một tách cà phê Starbucks ngon. Đó là bởi vì hành trình từ hạt cà phê đến cốc cà phê là một hành trình phức tạp. Cà phê và các nguyên vật liệu khác phải có nguồn gốc từ khắp nơi trên thế giới và sau đó được giao hàng thành công tới 16.700 cửa hàng bán lẻ của Tập đoàn Starbucks, phục vụ mỗi tuần khoảng 50 triệu khách hàng tại 51 quốc gia. | Chuỗi cung ứng lạnh | Một chuỗi lạnh hay chuỗi cung ứng lạnh hoặc chuỗi mát là một chuỗi cung ứng có kiểm soát nhiệt độ. Chuỗi lạnh không bị gián đoạn là một chuỗi các hoạt động sản xuất, lưu trữ và phân phối lạnh không bị gián đoạn, cùng với các thiết bị và hậu cần liên quan, duy trì phạm vi nhiệt độ thấp mong muốn. Nó được sử dụng để bảo quản và kéo dài và đảm bảo thời hạn sử dụng của các sản phẩm, như nông sản tươi, hải sản, thực phẩm đông lạnh, phim ảnh, hóa chất và dược phẩm. Các sản phẩm như vậy, trong quá trình vận chuyển và khi lưu trữ tạm thời, đôi khi được gọi là hàng hóa mát mẻ. Không giống như các hàng hóa hoặc hàng hóa khác, hàng hóa chuỗi lạnh dễ hỏng và luôn luôn hướng đến mục đích sử dụng hoặc đích đến, ngay cả khi được giữ tạm thời trong các cửa hàng lạnh và do đó thường được gọi là hàng hóa trong toàn bộ chu kỳ hậu cần. Hậu cần chuỗi lạnh bao gồm tất cả các phương tiện được sử dụng để đảm bảo nhiệt độ ổn định cho sản phẩm không ổn định nhiệt, từ khi sản xuất đến khi sử dụng cho đến khi sử dụng. |
Bê tông cốt thép là một loại vật liệu xây dựng phức tạp là loại hỗn hợp các vật liệu xây dựng kèm với các loại hỗn hợp các loại phụ gia và thép tạo thành bê tông cốt thép sự kết hợp này tạo cho vật liệu xây dựng có khả năng chịu lực tốt đảm bảo chất lượng cho các công trình nên nó được sử dụng khá rộng rãi. Bê tông cốt thép sẽ có những tiêu chuẩn được đặt ra để đánh giá và thực hiện. sau đây là một số tiêu chuẩn của bê tông cốt thép:. – Phạm vi áp dụng: tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu thiết kế kết cấu bê tông và bê tông cốt thép của các công trình khác nhau, nó chịu tác động của nhiệt độ và làm việc trong điều kiện môi trường không được bị xâm thực. tiêu chuẩn phạm vi sẽ không quy định các yêu cầu về thiết kế liên hợp thép và bê tông. – Tài liệu viện dẫn: các tài liệu bày cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn này. tiêu chuẩn này đặt ra các số liệu về thiết kế cho bê tông cốt thép. Các tài liệu được viết và ghi chép rất đầy đủ bạn có thể tìm đọc được một cách dễ dàng. – Để đánh giá thì người ta dựa vào cường độ chịu kéo của bê tông được tính bằng megapascal đảm bảo chế độ khi đổ bê tông cốt thép. – Sử dụng bê tông cốt thép sẽ giúp tiết kiệm chi phí trong việc xây dựng các công trình. – Bê tông cốt thép có cường độ nén cao hơn so với các loại vật liệu xây dựng khác nên nó có thể có khả năng chống chịu lực tốt hơn các loại vật liệu xây dựng khác. – Bê tông cốt thép còn có khả năng chống cháy tốt hơn so với các loại vật liệu xây dựng khác nên khi sử dụng loại bê tông cốt thép các công trình có khả năng sẽ được bảo vệ và chống cháy cho công trình hơn hết là các công trình còn có khả năng chống chịu thời tiết tốt hơn. – Các cấu trúc như móng, đập hay cột trụ, trần nhà thì bê tông cốt thép là loại vật liệu được xem là chất lượng nhưng tiết kiệm nhất. – Bê tông cốt thép có một ưu điểm nổi bậc là nó có thể được đổ theo mọi hình dáng đều được nên bê tông cốt thép được sử dụng khá rộng rãi trong các công trình. – Bê tông cốt thép khá đơn giản và gọn nhẹ nên nó không đòi hỏi phải có nhiều nhân công để thực hiện. – Độ bền của bê tông cốt thép rất cao vì nó có khả năng chống chịu các tác nhân của môi trường nên độ bền của bê tông cốt thép rất cao. – Các công trình trung tâm văn hóa: đó là các công trình có diện tích lớn trên 100m mét vuông dùng để tụ họp đông người hay là các hoạt động cộng đồng. – Các công trình như nhà xưởng, nhà máy hay các xí nghiệp : khung nhà công nghiệp là một dàn bê tông cốt thép và dầm thép để có thể toàn bộ bằng thép để khi cần trục hoặc nhà cao. – Hệ thống đường và cầu cống: đây là các công trình yêu cầu về độ bền vững cao và khi thực hiện thi công cũng đòi hỏi tiết kiệm chi phí nên việc sử dụng bê tông cốt thép là một điều tất yếu cho các công trình này. – Khung nhà nhiều tầng: khi xây dựng nhà nhiều tầng thì đòi hỏi phải có sự chắc chắn nên thường người ta sẽ sử bê tông cốt thép để làm nó tạo sự bền vững cho công trình. | Bê tông cốt thép | Bê tông cốt thép (BTCT) là một loại vật liệu composite kết hợp bởi bê tông và thép, trong đó bê tông và thép cùng tham gia chịu lực. Sự kết hợp giữa bê tông và cốt thép xuất phát từ thực tế bê tông là loại vật liệu có cường độ chịu kéo thấp (chỉ bằng từ 1/20 đến 1/10 cường độ chịu nén của bê tông ), do đó hạn chế khả năng sử dụng của bê tông và gây nên lãng phí trong sử dụng vật liệu. Đặc điểm này được khắc phục bằng cách thêm vào trong bê tông những thanh cốt, thường làm từ thép, có cường độ chịu kéo cao hơn nhiều so với bê tông. Cốt, do đó thường được đặt tại những vùng chịu kéo của cấu kiện. Ngày nay cốt có thể được làm từ những loại vật liệu khác ngoài thép như polyme, sợi thủy tinh, hay các vật liệu composite khác. Kết cấu bê tông cốt thép, với cốt là các thanh thép, là loại kết cấu bê tông có cốt lâu đời và được sử dụng rộng rãi nhất trong xây dựng với đặc điểm độc đáo là biến dạng do nhiệt độ của hai loại vật liệu bê tông và cốt thép là tương đương với nhau. |
Thăm dò điện từ miền thời gian (tiếng Anh: Time-Domain Electromagnetics, viết tắt là TDEM; hoặc Transient Electromagnetics, viết tắt là TEM) là một phương pháp của Địa vật lý Thăm dò, bố trí vòng dây phát trường điện từ dạng xung ngắn vào môi trường đất đá, và thu nhận tín hiệu cảm ứng điện từ theo diễn biến thời gian. Diễn biến này phản ánh tính dẫn điện, và cũng nhạy cảm với các tính chất từ, của môi trường bên dưới. Nó được sử dụng cho lập bản đồ địa chất, tìm kiếm khoáng sản, tìm nước ngầm, địa chất môi trường, khảo sát tai biến tự nhiên, tìm vật chưa nổ (UXO)… trên đất liền và trên biển gần bờ. Các nhà chế tạo máy thăm dò điện từ miền thời gian đã dùng thuật ngữ Time Domain Electromagnetics để gọi tên thiết bị của mình. Tuy nhiên trong vật lý-toán, thuật ngữ này đã được dùng với nghĩa hoàn toàn khác, nên các nhà vật lý gọi phương pháp này là Transient Electromagnetics. Tại Việt Nam TEM / TDEM quen gọi là Phương pháp trường chuyển, là tên rút gọn từ thuật ngữ Phương pháp quá trình chuyển tiếp trong tiếng Nga là Метод Переходных Процессов (viết tắt là МПП), khi nó du nhập năm những năm 1970, và đã được sử dụng cho tìm kiếm thăm dò các vùng triển vọng quặng đa kim quý hiếm và quặng sulfide. Năm 2006 phương pháp đã được nghiên cứu ứng dụng ở dạng đề tài cấp bộ về đánh giá khả năng phương pháp trong tìm kiếm nước dưới đất và xây dựng quy trình ứng dụng và được quy chuẩn trong TCVN 9424: 2012. Phương pháp sử dụng vòng dây đủ lớn để phát một nhảy bậc trường từ vào môi trường đất đá. Theo các Định luật cảm ứng Faraday và Định luật Lenz, trong đất đá xuất hiện các dòng điện xoáy cản trở biến thiên của trường từ ngoài. Dòng điện xoáy này phụ thuộc vào điện trở suất của các lớp đất đá, trong đó các lớp nông phản ứng trước, còn các lớp sâu phản ứng sau. Quá trình tiếp diễn theo tắt dần của dòng xoáy, đến khi mức trường từ mới được thiết lập. Đo tín hiệu cảm ứng điện từ theo diễn biến thời gian tính từ lúc nhảy bậc sẽ tính được cột điện trở suất của các lớp đất đá. Vì lý do này, phương pháp được gọi là Quá trình chuyển tiếp, hoặc Đo sâu điện từ (Electromagnetic Sounding). Cơ sở lý thuyết để giải ngược là Phương trình Helmholtz với trường từ nhảy bậc trong nửa không gian phân lớp ngang, được các nhà lập phần mềm phân tích vận dụng để lập giải thuật tính ra cột điện trở suất tại điểm đo từ dãy số liệu quan sát được. Các bài báo của McNeill trong trang web của hãng Geonics (Canada) diễn giải những điều cơ bản của phương pháp, trong đó có cả phần theo dạng trực quan phổ thông. Hệ thống đo đạc gồm máy phát dòng (Transmitter, Tx), phát dòng xung ITx vào vòng dây phát (Transmitter Loop) để tạo nhảy bậc trường từ trong đất. Cuộn dây thu (Receiver Coil) đặt tại vị trí đo, thu nhận tín hiệu điện cảm ứng URx, đưa đến máy thu (Receiver, Rx). Cách bố trí cuộn dây phát & thu rất đa dạng, có thể đo trong hay ngoài vòng dây phát. Cách bố trí thường được gọi là Cấu hình đo (Configuration), và một số cấu hình hay dùng được đặt tên là Central Loop, Slingram, Turam,… Trong hình vẽ là cấu hình Central Loop (Vòng trung tâm) (Hình a, Typical Layout). Dù cấu hình và cách chế tạo máy đo khác nhau, thì Lược đồ xung đo đạc của các bộ máy đo TEM giống nhau (Hình b, Timing). Dòng xung ITx có dạng xung vuông đảo cực với tỷ suất ½, đặc trưng bởi tần số làm việc f. Mỗi chu kỳ T có 4 kỳ dài bằng nhau. Vì lý do kỹ thuật điện tử, việc cắt dòng phát không thực hiện được ngay lúc có lệnh cắt, mà diễn ra trong khoảng gọi là Thời gian cắt dòng (Turn Off Time), từ cỡ vài μs đến 200 μs, tức là thời điểm cắt dòng phát thật sự t0 bị trễ. Máy thu khuếch đại và số hóa tín hiệu ở các thời gian thích hợp tG tính từ lúc cắt dòng phát thật sự. Thời gian này được gọi là Trễ (Delay) hay Cổng (Gate). Số cổng có từ 10 đến 32, phân bố theo quy tắc hình học (trị ti+1 bằng cỡ 1,4142 lần ti). Thông thường phép đo thực hiện ở kỳ cắt dòng phát và gọi là Chuẩn (Standard Gates). Một số máy như của hãng Geonics thiết kế có thêm chế độ Đo ở kỳ phát dòng (On-time Gates). Các bộ máy công suất nhỏ có khối phát và thu đặt chung hộp, dùng cho khảo sát nông hoặc trong hố khoan, làm việc ở tần số cao hoặc vừa (10 đến 300 Hz). Các bộ máy lớn có công suất vài KVA thì tách máy phát và thu, và làm việc ở tần số cực thấp để khảo sát độ sâu lớn. Vòng dây phát có thể rải một hay nhiều vòng, dạng chữ nhật, đa giác đều, hay tròn, oval. Các vòng phát nhỏ thường chế sẵn. Vòng lớn có thể đến 2000 x 2000 m. Vòng phát tự rải tốt nhất là rải 1 đến 3 vòng. Nếu rải nhiều vòng hơn, phải san thành dạng solenoid có dãn cách vòng đủ lớn để giảm ký sinh điện dung và điện cảm; nếu không nó sẽ làm kéo dài và ảnh hưởng đến đặc trưng của quá trình cắt/phát dòng, gây sai lệch định thời các gate và số liệu đo (Hình c, Mutlticore Cable). Tín hiệu cảm ứng điện từ là đại lượng vector, nên một cuộn dây thu chỉ thu nhận thành phần dọc theo trục cuộn. Các đo đạc thường đo thành phần Z, đặt cuộn nằm ngang có cân bằng bọt thủy. Các kiểu máy từ Liên Xô cũ thời kỳ trước 1980 không chế sẵn cuộn dây thu, mà rải vòng dây thu cùng với vòng dây phát để đo thành phần Z. Dùng cuộn dây thu 1 thành phần, nhưng đo lần lượt đặt trục cuộn nằm theo hướng Z, X và Y. Vì rằng tín hiệu đo TEM suy giảm nhanh, ở các trễ lớn thì tín hiệu siêu nhỏ, nên để thu được số liệu thật trên nền nhiễu cao, kỹ thuật tích lũy tín hiệu được vận dụng. Nội dung của nó là cộng tích lũy số đo của nhiều/rất nhiều kỳ đo, và đặc trưng bởi Thời gian tích phân (Integration Time). Dùng đôi dây nối máy đo với máy phát, gọi là chế độ REF, máy đo điểu khiển trực tiếp tiến trình phát dòng. Dùng đồng hồ thạch anh ổn định cao, gọi là chế độ XTAL, máy phát và đo được trang bị đồng hồ thạch anh và ủ trong lò sấy cỡ 60 °C. Trước khi làm việc, máy phát và đo được nối với nhau để chuẩn tần số và pha cho đồng hồ, rồi tách rời nhau để đo. Nó cho phép nhiều máy đo cùng làm việc với 1 máy phát, nhưng dễ bị lỗi đồng hồ nếu nhiệt độ môi trường lên cao và/hoặc thiết bị già cỗi. Vì đo TEM không cần tiếp đất, nên có thể lắp thiết bị lên phương tiện cơ giới để đo nhanh. Hệ thống kéo trên mặt đất có tên là PATEM (Hình d, Pulled Array TEM) do Hydro-Geophysics Group, Đại học Aarhus (Đan Mạch) phát triển, trong đó dùng lồng khung phát 8x 3 x 5 m, khung dây thu kéo sau khung phát 25 m, có lắp các bánh xe, lập thành cấu hình lưỡng cực (Dipol). Hệ thống này cho ra kết quả đến độ sâu 100–120 m. Hệ thống đo bằng trực thăng, được phát triển ở nhiều nước, và là xu hướng tiềm năng cao, nhưng thuộc về các công ty lớn. Đo bằng tàu thủy, ví dụ hệ thống thu phát Geonics EM61S (Submersible) có thể làm việc dưới nước ở độ sâu trên 60m. Khi phương pháp TEM mới ra đời, phải phân tích bằng so sánh kết quả đo sâu (Sounding) tại từng điểm với tập đường cong mẫu (Palette) do các nhà lý thuyết biên soạn ra, để chọn cột điện trở suất. Đầu những năm 1990 thì các phần mềm phân tích đơn điểm (1-D) ra đời, như Temix của hãng Interpex (Mỹ) chạy trên máy PC DOS. Hiện nay các phần mềm phân tích thực hiện xử lý đa điểm. Người sử dụng cần chỉ định tập con các Sounding có mô hình chờ đợi của môi trường tương tự nhau cho một phân tích. Tập con có thể là tuyến hay mảng diện tích. Khi đó chọn ra một điểm có đường cong biểu kiến điển hình, phân tích đơn điểm (Hình e, 1-D Sounding Inversion), sau đó gán mô hình thu được cho các điểm còn lại của tập, rồi phân tích đa điểm (Hình f, Group Sounding Inversion). Vì trong phân tích tài liệu thăm dò điện thuộc nhóm đo sâu có nhiều phần giống nhau, nên nhiều hãng phần mềm gộp chung thành “phần mềm phân tích tài liệu thăm dò điện”, trong đó mỗi phương pháp thăm dò chiếm 1 modul phân tích, ví dụ phần mềm Interpex IX1D (Mỹ). Hiện có những ý kiến khác nhau về Độ sâu khảo sát (ĐSKS) tin cậy của phương pháp. Một số thiên về dùng “kích thước thiết bị” lớn, ví dụ vòng phát 800 x 800 m để khảo sát đến độ sâu 300 m. Trong khi đó hệ thống PATEM của Đại học Aarhus (Đan Mạch) lại đạt được ĐSKS 100–120 m với kích thước Dipol 25 m. | Thăm dò điện phân cực kích thích | Thăm dò Điện Phân cực kích thích, viết tắt là PKKT, (tiếng Anh: Induced Polarization, IP) hay Phân cực cảm ứng là một phương pháp của địa vật lý thăm dò, trong đó bố trí hệ điện cực đo như trong thăm dò điện trở, nhưng phát dòng điện vào đất đá và đo hiệu điện thế theo cách thức thích hợp, để thu được thông tin về phân bố độ nạp (Chargeability) hay độ phân cực của môi trường đất đá. Đo trong miền thời gian (Time Domain IP): Phát dòng một chiều và đo suy giảm hiệu điện thế trên đôi cực thu sau khi cắt dòng phát. Đo trong miền tần số (Frequency Domain IP): Phát dòng dạng sin, đo giá trị và độ lệch pha của hiệu điện thế trên đôi cực thu. Thông thường thì đo với dãy tần số có chủ đích. Nếu quét phổ tần từ cỡ 0,01 đến 10000 Hz thì gọi là Đo phổ phân cực cảm ứng (Spectral Induced Polarisation, SIP).Trong thạch quyển chỉ một số đất đá hay khoáng vật quặng có khả năng nạp điện. Đo được độ nạp sẽ xác định sự có mặt và phân bố của chúng trong tầng đất đá. |
Viện bảo tàng Louvre tiếng Pháp: Musée du Louvre, phát âm myze dy luvʁ là một viện bảo tàng nghệ thuật và lịch sử. Viện bảo tàng Louvre nằm tại Quận 1, thành phố Paris, nước Pháp. Thông báo: Tổng khai giảng khoá học online tiếng Anh, Hàn, Hoa, Nhật, tương tác trực tiếp với giáo viên 100%, học phí 360.000đ/tháng, liên hệ: 0902 516 288 cô Mai >> Chi tiết. Có vị trí ở trung tâm lịch sử thành phố, bên bờ sông Seine, Viện bảo tàng Louvre vốn là một pháo đài được vua Philippe Auguste cho xây dựng vào năm 1190. Cuối thế kỷ XIV, dưới thời Charles V, Viện bảo tàng Louvre trở thành cung điện hoàng gia và sau đó tiếp tục được mở rộng qua các triều đại. Từ năm 1672, khi triều đình Pháp chuyển về lâu đài Versailles, bộ sưu tập hoàng gia được lưu trữ tại Louvre. Thời kỳ Cách mạng Pháp, cung điện trở thành bảo tàng, mở cửa vào ngày 10 tháng 8 năm 1793. Ngày nay, Louvre là một trong những viện bảo tàng nổi tiếng nhất thế giới, nơi trưng bày các hiện vật về những nền văn minh cổ, nghệ thuật Hồi giáo và nghệ thuật châu Âu từ thế kỷ XIII cho tới giữa thế kỷ XIX. Với diện tích 210 ngàn mét vuông, Louvre trưng bày 35.000 trên tổng số 380.000 hiện vật. Trong bộ sưu tập của bảo tàng Louvre hiện nay có những tác phẩm nổi tiếng bậc nhất của lịch sử nghệ thuật, như Tượng thần Vệ Nữ, Tượng thần chiến thắng Samothrace, Mona Lisa, Nữ thần Tự do dẫn dắt nhân dân, cùng các hiện vật giá trị về những nền văn minh cổ, như phiến đá ghi bộ luật Hammurabi, tấm bia Mesha. Năm 2008, Louvre đón 8,5 triệu lượt khách, giữ vị trí địa điểm thu phí được viếng thăm nhiều nhất Paris, đồng thời cũng là bảo tàng thu hút nhất trên thế giới. Ngày 10 tháng 8 năm 1793, bảo tàng Trung tâm nghệ thuật được mở cửa và do Bộ Nội vụ quản lý. Là một trong những bảo tàng lớn nhất và quan trọng nhất của thế giới, Bảo tàng Louvre trải dài ở 3 dãy nhà thuộc Cung điện Louvre rộng lớn. Sau này bảo tàng xây dựng thêm Kim tự tháp bằng kính Louvre với dáng vẻ rất hiện đại, ấn tượng. Nhưng khi nói đến bảo tàng Louvre, chúng ta không thể không nhắc đến mô hình Kim Tự Tháp bằng kính pyramid nằm ở chính giữa sân Napoleon. Qua mô hình Kim Tự Tháp bằng kính này, bảo tàng Louvre vốn đã nổi bật với những họa tiết điêu khắc này sự nổi bật đó càng được nhân lên với sự chiếu rọi của những tia nắng qua lăng kính. Viện bảo tàng Louvre có rất nhiều cái nhất: Là bảo tàng lớn nhất thế giới, cung điện của nhiều triều đại nhất, biểu tượng của sức mạnh và sự giàu có nhất, bảo tàng sở hữu nhiều bộ sưu tập khổng lồ nhất, bảo tàng được truy cập nhiều nhất thế giới, bảo tàng đón nhiều khách tham quan nhất thế giới, bảo tàng có kiến trúc độc đáo nhất, là nơi lưu giữ nhiều kiệt tác nghệ thuật vô giá nhất, bảo tàng có kim tự tháp bằng kính độc đáo nhất. Bài viết viện bảo tàng Louvre ở đâu được tổng hợp bởi giáo viên trung tâm tiếng Anh Sài Gòn Vina. | Viện bảo tàng Louvre | Louvre (tiếng Anh: ), hoặc Viện bảo tàng Louvre (tiếng Pháp: Musée du Louvre ( nghe)), là một viện bảo tàng nghệ thuật và di tích lịch sử tại Paris, Pháp. Có vị trí ở trung tâm lịch sử thành phố, bên bờ sông Seine, Viện bảo tàng Louvre vốn là một pháo đài được vua Philippe Auguste cho xây dựng vào năm 1190. Cuối thế kỷ XIV, dưới thời Charles V, Viện bảo tàng Louvre trở thành cung điện hoàng gia và sau đó tiếp tục được mở rộng qua các triều đại. Từ năm 1672, khi triều đình Pháp chuyển về lâu đài Versailles, bộ sưu tập hoàng gia được lưu trữ tại Louvre. Thời kỳ Cách mạng Pháp, cung điện trở thành bảo tàng, mở cửa vào ngày 10 tháng 8 năm 1793. Những hiện vật ban đầu của Louvre chủ yếu từ bộ sưu tập hoàng gia và tài sản của giáo hội bị tịch thu trong thời kỳ cách mạng. Dưới thời Đệ Nhất Đế chế Pháp, nhờ những cuộc chinh phạt của Napoléon, nhiều tác phẩm nghệ thuật và hiện vật khảo cổ giá trị được chuyển về Louvre. Nhưng sau thất bại của quân đội Pháp trong trận Waterloo, phần lớn các hiện vật này đã trở về với những quốc gia chủ nhân cũ. |
Khi làm việc trong ngành điều khiển có hai tín hiệu được dung nhiều nhất đó chính là tín hiệu analog và tín hiệu Digital. Việc xử lý tín hiệu analog S7-1200 và xử lý tín hiệu Analog trong S7-1500 cần phải hiểu rõ bản chất của hai loại tín hiệu số và tín hiệu tương tự một cách chính xác nhất. Bài viết chia sẻ phân biệt tín hiệu Analog hay còn gọi là tín hiệu tương tự và tín hiệu Digital hay còn gọi là tín hiệu số. PLC là một thiết bị điện tử hoạt động dựa trên nguyên lý nhị phân & chỉ xử lý được các tín hiệu dạng 0 hoặc 1. Nhưng khi ghép nhiều bit nhị phân với nhau thì giá trị lưu trữ dạng nhị phân được nâng lên. Do đó, cần phải có những Modul mở rộng để biến đổi tín tương tự thành tín hiệu số dưới dạng chuỗi bit logic giúp PLC đọc và hiểu được. Để tìm hiểu tín hiệu analog là gì trước tiên chúng ta cần phải biết tín hiệu là gì ? Chúng ta hãy quên đi các khái niệm sách vở mà đọc vào chẳng hiểu nói về cái gì. Tôi thì định nghĩa tín hiệu một cách đơn giản nhất . Khi chúng ta nghe mộc bản nhạc bài “ Cát bụi “chẵng hạn. Chúng ta biết ngay đó là mộc bản nhạc của Trịnh Công Sơn. Như vậy, bản chất tín hiệu là một hình ảnh, âm thanh hoặc một hiện tượng nào đó mà con người có thể cảm nhận được. Đó gọi là tín hiệu. Tín hiệu Digital hay còn gọi là tín hiệu số bản chất chỉ là hai trạng thái 0 – 1 hay ON-OFF được hiểu đơn giản dưới dạng nhị phân Logic 0-1. Có nghĩa là , khi ở trạng thái 1 / tức là ON , 0 tức là OFF. Chúng ta cùng xem ví dụ :. Tín hiệu ON tương ứng với mức 1 và tín hiệu OFF tương ứng với mức 0 . Nếu tôi là một người chưa biết gì về kỹ thuật thì thật khó hiểu. Hãy xem tiếp nó là cái gì nhé . Tín hiệu Digital sẽ tương ứng với hai mức nước Min và Max trong hình. Trong đó, mực nước Max tương ứng với bơm ngừng hoạt động ( OFF ) và khi mức nước Min sẽ tương ứng với bơm chạy ( ON ). Như vậy, Motor ON ( motor chạy ) – OFF ( motro tắt ) chính là tương ứng với hai mức 1 – 0 trong hệ nhị phân. PLC hay các sơ đồ điện điều khiển cũng hoạt động dựa trên Logic 1-0 này. Tóm lại, tín hiệu Digital hay còn gọi là tín hiệu số tương ứng với hai mức 1 và 0 . Tín hiệu tương tự là một dạng của tín hiệu Digital nhưng tương tự ở đây chính là tín hiệu lúc nào cũng có dạng tương tự như trước đó. Điều đó có nghĩa là tín hiệu Digital truyền về với một tần số nhất định cũng là tín hiệu tương tự. Chúng ta, rất hay nhầm lẫn giữa tín hiệu tương tự chỉ là tín hiệu Analog bởi tín hiệu Analog 4-20mA & 0-10V được dung phổ biến trong công nghiệp. Tín hiệu analog là một tín hiệu liên tục biểu diễn trạng thái là một đường liên tục Sin , Cos hoặc đường cong lên xuống bất kỳ. Như vậy , tín hiệu analog là một tín hiệu tương tự về bản chất nhưng khác nhau về cường độ tín hiệu so với thời điểm trước đó. Tín hiệu Analog 4-20mA là một đường cong lên xuống nhưng bản chất là sự thay đổi tín hiệu liên tục của sự giao động của tần số liên tục. Mô tả này cho chúng ta thấy bản chất của tín hiệu Analog để hiểu rõ tín hiệu Analog là gì. Ưu điểm của tín hiệu analog là độ chính xác cao & truyền nhanh nhưng lại có nhiều chuẩn khác nhau. Chúng ta cùng tìm hiểu các chuẩn tín hiệu analog trong công nghiệp. Trong các loại tín hiệu trên chỉ có tín hiệu 4-20mA được dùng phổ biến nhất. Tại sao tín hiệu 4-20mA được dùng nhiều nhất ? Các bạn tự tìm hiểu nhé. Tới đây các bạn rất dể nhầm lẫn giữa tín hiệu Analog và Digital bởi bản chất tín hiệu Analog cũng là một tín hiệu tương tự. Nhưng chúng ta phải hiểu rõ hai tín hiệu này hoàn toàn khác nhau bởi tín hiệu Digital không có tính lắp lại liên tục còn tín hiệu analog luôn luôn có tính lặp lại dù tần số hoặc biên độ khác nhau. Ngày nay, chuẩn tín hiệu Analog được dùng phổ biến trong hầu hết các thiết bị đo và điều khiển. Trong một số trường hợp chúng ta lại chỉ muốn tín hiệu ngõ ra là tín hiệu Digital trên tín hiệu ngõ ra tương tự 4-20mA hoặc 0-10V đó. Việc này khá đơn giản nếu chúng ta dùng tới PLC và các khối lênh Logic bên trong PLC. Tuy nhiên, một ứng dụng đơn giản lại dùng tới PLC thì lại quá phí tài nguyên của PLC nên chúng ta có giải pháp là dùng bộ chuyển đổi tín hiệu Analog sang Digital. Giải pháp đặt ra là dùng một bộ chuyển đổi tín hiệu Analog sang Digital Z109REG2-1 để biến đổi tín hiệu Analog 4-20mA / 0-10V từ các cảm biến thành giá trị Digital theo mong muốn để báo động bằng còi hoặc đóng ngắt động cơ. Các tín hiệu từ Encorder , đồng hồ đo lưu lượng truyền tín hiệu về dạng Digital – xung với tần số cao nhưng các thiết bị đọc chỉ có thể đọc được tín hiệu Analog chuẩn. Lúc này chúng ta phải dung thiết bị chuyển đổi Digital sang Analog. Để sử dụng đúng chức năng chuyển đổi chúng ta cần phải xác định rõ loại tín hiệu Digital cần chuyển sang Analog. PLC nhận được tín hiệu Digital nhưng với tần số cao thì không thể đọc được chính vì thế bộ chuyển đổi Digital sang analog được xem là giải pháp tối ưu nhất. Bên cạnh những ưu điểm của tín hiệu analog được sử dụng trong công nghiệp chúng ta lại gặp phải các rắc rối khi sử dụng tín hiệu analog 4-20mA hoặc 0-10V. Đó là việc suy giảm tín hiệu 4-20mA hoặc 0-10V trong việc truyền tín hiệu và điều khiển. Giải pháp đặt ra là phải truyền tín hiệu bị suy giảm đó thành tín hiệu đúng trước khi vào PLC. Bộ khuếch đại tín hiệu Analog 4-20mA / 0-10V nhận tín hiệu từ cảm biến đo có tín hiệu ngõ ra analog bị suy giảm, sau đó khuếch đại tín hiệu lên đúng với tín hiệu ngõ ra ban đầu của cảm biến. Ngoài khả năng khuếch đại tín hiệu analog 4-20mA / 0-10V thì bộ Z109REG2-1 còn tích hợp chức năng chống nhiễu tín hiệu Analog giữa tín hiệu đầu vào, tín hiệu ngõ ra và nguồn cấp. | Tín hiệu analog | Tín hiệu analog hay tín hiệu tương tự là bất kỳ tín hiệu liên tục nào có tính năng thay đổi thời gian (biến) của tín hiệu là đại diện cho một số lượng thay đổi thời gian khác, nghĩa là tương tự với tín hiệu thay đổi thời gian khác. Ví dụ, trong tín hiệu âm thanh analog, điện áp tức thời của tín hiệu thay đổi liên tục theo áp suất của sóng âm. Nó khác với tín hiệu số, trong đó đại lượng liên tục là biểu diễn của một chuỗi các giá trị rời rạc, chỉ có thể đảm nhận một trong số các giá trị hữu hạn. Thuật ngữ tín hiệu tương tự thường đề cập đến tín hiệu điện tử; tuy nhiên, cơ khí, khí nén, thủy lực, lời nói của con người và các hệ thống khác cũng có thể truyền tải hoặc được coi là tín hiệu tương tự. |
Giống với những môn võ trong khu vực Đông Nam Á như Pencak silat hay Arnis, Muay cũng là một hình thức chiến đấu cổ xưa của một đại bộ phận dân tộc được đúc kết qua các cuộc chiến. Sự kiện võ sĩ Nai Khanomtom (Thái Lan) dùng Muay Thái đánh bại 10 võ sĩ Miến Điện được xem là ngày lịch sử Muay Thái thực sự bắt đầu (17/3/1774). Chính người Thái gọi ngày này là “ngày sinh” của Muay Thái. Thế nhưng, đó là về mặt lịch sử chính xác, với các mốc thời gian và bằng chứng lịch sử rõ ràng. Dựa trên nhiều tài liệu lịch sử khác, lịch sử Muay Thái có thể bắt đầu trước đó tận… 500 năm, tức là khoảng những năm 1200, thời kì Sukhothai của Thái Lan. Muay Thái là một môn võ thuật cổ truyền đồng thời là một môn thể thao phổ thông của Thái Lan. Người phương Tây gọi môn này là quyền Thái, tuy nhiên nó khác nhiều so với môn boxing của phương Tây. Môn thể thao này đã hiện diện từ năm 1500, với tên gọi là Muay Boran (Ancient Boxing) dưới triều đại quốc vương Naresuan, tất cả binh lính đều được rèn luyện võ thuật này, xem như điển hình trong cuộc chiến tay không chống trả với địch. Muay Thái là môn thể thao có tính cách tâm linh và theo đúng nghi thức tôn giáo cao cả. Võ sĩ được các vị sư dạy dỗ tài nghệ, ban cho một danh xưng riêng, được sát nhập vào các danh sách các đệ tử thọ giáo nơi võ đường. Trước giờ giao đấu, các võ sĩ tranh tài cúi mình cung kính quay về hướng nơi mình chào đời (nghi thức này được gọi là Ram Muay), sau đó quay theo bốn hướng, để tỏ lòng tôn kính các bậc thầy cố sức huấn luyện và thần linh võ đài (nghi thức này được gọi là Wai Kru). Khi người phương Tây tìm ra những mảnh đất Đông Nam Á, họ đã vô cùng ấn tượng và kính nể võ thuật Thái Lan. Đã có nhiều cuộc đấu giữa võ sĩ châu Âu và Thái Lan diễn ra, có cả những trận đấu mà đích thân vua Thái Lan đến xem và đặt tiền thưởng cho bất cứ ai thắng cuộc. Vậy nên trong nhiều tài liệu lịch sử châu Âu, ta thường tìm thấy cụm từ Thai Boxing. Điều này không có nghĩa là Muay Thái chỉ có các cú đấm như Boxing. Sự thật là vào thời điểm đó, người châu Âu gần như xem từ “Boxing” mang ý chỉ võ thuật nói chung vì cho tới thời gian này, người châu Âu chưa biết đến sự phong phú của võ thuật châu Á, còn môi trường võ thuật châu Âu vẫn chưa phân hóa nhiều. Gặp khó khăn giống đội tuyển Futsal nữ, ĐT Futsal nam Việt Nam đối đầu với ĐT Thái Lan, ngay vòng đầu tiên tại SEA Games. Kết quả ĐT Futsal của chúng ta thất bại với tỷ số đận 1 - 4. Luật chơi Bowling đơn giản, dễ hiểuLuật chơi Bowling là kiến thức nền tảng giúp người chơi có thêm nhiều kiến thức để hiểu hơn về bộ môn này. Vậy, Bowling được quy định gồm những điều luật quan trọng nào?. Luật chơi Bowling là kiến thức nền tảng giúp người chơi có thêm nhiều kiến thức để hiểu hơn về bộ môn này. Vậy, Bowling được quy định gồm những điều luật quan trọng nào?. Điền kinh mang về tấm HCB thứ 3 cho đòn thể thao Việt NamSáng nay 19/8, Đoàn thể thao Việt Nam đã có thêm 1 HCB ở bộ môn marathon. Đây cũng là tấm huy chương đầu tiên của đội tuyển điền kinh Việt Nam ở SEA Games 29 này. Sáng nay 19/8, Đoàn thể thao Việt Nam đã có thêm 1 HCB ở bộ môn marathon. Đây cũng là tấm huy chương đầu tiên của đội tuyển điền kinh Việt Nam ở SEA Games 29 này. Lịch thi đấu của đoàn thể thao Việt Nam SEA Games 29 ngày 19/8Hôm nay, ngày 19/9 sẽ là tâm điểm của Đoàn Thể Thao Việt Nam với bộ môn thế mạnh chính là bộ môn Marathon Nam và Nữ. Hy vọng Việt Nam sẽ có trong tay được tấm HCV đầu tiên mang lại niềm tự hào cho TTVN. Hôm nay, ngày 19/9 sẽ là tâm điểm của Đoàn Thể Thao Việt Nam với bộ môn thế mạnh chính là bộ môn Marathon Nam và Nữ. Hy vọng Việt Nam sẽ có trong tay được tấm HCV đầu tiên mang lại niềm tự hào cho TTVN. Công ty Cổ phần Động Lực ( Tên viết tắt: Động Lực Group ), được thành lập từ việc chuyển đổi Công ty TNHH Động Lực cùng với việc sát nhập các công ty thành viên để hình thành một tập đoàn lớn mạnh hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất – phân phối – xuất nhập khẩu trang thiết bị dụng cụ thể dục thể thao, trang thiết bị dụng cụ chăm sóc sức khoẻ, sản xuất và kinh doanh thiết bị giáo dục, tư vấn và xây dựng công trình thể dục thể thao. | Muay Thái | Muay Thái (tiếng Thái: มวยไทย, chuyển tự: Muai Thai, IPA: mūɛj tʰāj) là một môn võ thuật cổ truyền đồng thời là một môn thể thao phổ thông của Thái Lan. Người phương Tây gọi môn này là quyền Thái (Thai boxing), tuy nhiên nó khác nhiều so với môn boxing của phương Tây. Môn thể thao này đã hiện diện từ năm 1500, với tên gọi là Muay Boran (Ancient Boxing) dưới triều đại quốc vương Naresuan, tất cả binh lính đều được rèn luyện võ thuật này, xem như điển hình trong cuộc chiến tay không chống trả với địch. Binh sĩ Xiêm La phải ôn luyện thực hành để tranh tài với nhau tại từng địa phương hay từng vùng. Không chỉ riêng Thái Lan mới có Muay, ở mỗi quốc gia trong khu vực Châu Á cũng có Muay, thế nhưng ở mỗi quốc gia, tên gọi Muay có sự khác biệt. Nhưng cũng có nguồn cho rằng Muay Thai do Nai Khanomtom - một binh sĩ Xiêm La sáng lập khi bị bắt làm tù binh Miến Điện. Khi bi bắt, ông đã được yêu cầu giao đấu với 10 võ sĩ hàng đầu Miến Điện và ông đã thắng toàn bộ bằng cách sử dụng những chiêu thức được học trong quân đội. |
Phim Bí Mật Trái Đất Diệt Vong lấy bối cảnh vào năm 2077, sau khi thế giới bị người ngoài hành tinh xâm lược thì tất cả loài người được đưa đến đám mây sống, chỉ còn chàng chiến binh Jack Harper là được giữ lại. Trong phim này, anh và người yêu mình được lệnh hợp tác với nhau để chiến đấu chống lại bọn quái vật hung tợn, sau này Jack tình cờ cứu mạng một cô gái xinh đẹp tên Julia trong chiếc phi thuyền bị hỏng, cô ta đã cho anh nhớ lại những ký ức bí ẩn của anh và cùng anh đi khám phá nó. Xem phim Bí Mật Trái Đất Diệt Vong và hy vọng bộ phim sẽ mang lại những giờ phút thư giãn cho các bạn! | Bí mật Trái Đất diệt vong | Bí mật Trái Đất diệt vong (tựa tiếng Anh: Oblivion) là một bộ phim viễn tưởng - hành động - tâm lý Mỹ năm 2013 do Joseph Kosinski làm đạo diễn và sản xuất. Phim dựa theo một tiểu thuyết cùng tên của Kosinski, có sự tham gia của dàn diễn viên Tom Cruise, Olga Kurylenko, Andrea Riseborough và Morgan Freeman. Phim được chiếu ra các rạp vào ngày 12 tháng 4 năm 2013 ở Việt Nam và ngày 19 tháng 4 năm 2013 tại Mỹ. Bộ phim lấy bối cảnh năm 2077, sau khi thế giới bị người ngoài hành tinh xâm lược thì tất cả loài người được đưa đến những đám mây sống, chỉ còn chàng chiến binh Jack Harper là được giữ lại Trái Đất. Anh và người yêu mình là Victoria được lệnh hợp tác với nhau để chiến đấu chống lại bọn quái vật hung tợn, sau này Jack tình cờ cứu mạng một cô gái tên Julia trong chiếc phi thuyền bị hỏng, cô ấy đã giúp anh nhớ lại những ký ức bí ẩn của anh và cùng anh đi khám phá chúng. Jack nhận ra Julia mới chính là người vợ thật sự của mình, và sự thật là Jack đang bị người ngoài hành tinh lợi dụng với việc tạo ra hàng nghìn bản sao giống anh nhằm chống lại chính loài người. |
TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP – Lời khuyên chọn ngành chọn trường, sinh viên phải chủ động như thế nào. Mô hình kinh doanh sách Cũ giữa thời 4.0 (tưởng như ít ai còn đọc sách cũ). Bán hàng cá nhân là quá trình giao tiếp, trao đổi, tương tác trực tiếp, trong đó nhân viên bán hàng cố gắng thuyết phục khách hàng tiềm năng của mình mua sản phẩm/dịch vụ của công ty, hoặc hỗ trợ cung cấp thông tin, tư vấn nhằm tạo thiện cảm, xây dựng mối một quan hệ tốt, từ đó tạo ra cơ hội bán hàng trong tương lai. Đối với vai trò chiến lược, bán hàng cá nhân là một trong 4 công cụ Promotional Tools/Mix, được ưu tiên cân nhắc sử dụng ở hầu hết các doanh nghiệp. Bán hàng cá nhân giúp kết nối công ty và khách hàng mục tiêu, vừa là kênh quảng cáo, vừa là kênh bán hàng, vừa là công cụ chăm sóc khách hàng hiệu quả. Trong đó 4 công cụ Promotional Toos/Mix, bán hàng cá nhân là công cụ có tính tương tác cao nhất, bởi trong quá trình các nhân viên bán hàng truyền tải thông tin, các nhân viên bán hàng có thể cảm nhận trực tiếp thái độ, cảm nhận của khách hàng, từ đó có những điều chỉnh phù hợp trong nội dung, ngôn từ, cách thức trao đổi và truyền đạt, cũng như có thể tiếp nhận ý kiến phản hồi của khách hàng. Khó thống nhất về thông điệp mà công ty muốn truyền tải, bởi cách hiểu và diễn đạt của từng nhân viên bán hàng là khác nhau. Có thể xảy ra hiện tượng cạnh tranh và xung đột giữa các nhân viên bán hàng trong một công ty, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của công ty. Chi phí để thuê và vận hành một đội ngũ bán hàng cá nhân cao, không phù hợp với các sản phẩm tiêu dùng phổ thông. TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP – Lời khuyên chọn ngành chọn trường, sinh viên phải chủ động như thế nào. Tuyên bố miễn trừ bản quyền: Trang web này không lưu trữ bất kỳ tệp nào trên máy chủ của nó. Chúng tôi chỉ lập chỉ mục và liên kết đến nội dung được cung cấp bởi các trang web khác. Vui lòng liên hệ với các nhà cung cấp nội dung để xóa nội dung bản quyền nếu có và gửi email cho chúng tôi, chúng tôi sẽ xóa các liên kết hoặc nội dung có liên quan ngay lập tức. | Bán hàng cá nhân | Bán hàng cá nhân xảy ra khi đại diện bán hàng gặp gỡ khách hàng tiềm năng với mục đích giao dịch bán hàng. Nhiều đại diện bán hàng dựa vào quy trình bán hàng tuần tự thường bao gồm chín bước. Một số đại diện bán hàng phát triển các kịch bản cho một phần hoặc tất cả quy trình bán hàng. Quy trình bán hàng có thể được sử dụng trong các cuộc gặp mặt trực tiếp và tiếp thị qua điện thoại. Bán hàng cá nhân có thể được định nghĩa là "quá trình giao tiếp trực tiếp giữa nhân viên bán hàng và khách hàng tiềm năng, trong đó trước đây tìm hiểu nhu cầu của khách hàng và tìm cách đáp ứng nhu cầu đó bằng cách cung cấp cho khách hàng cơ hội mua thứ gì đó có giá trị, chẳng hạn như hàng hóa hoặc dịch vụ." Thuật ngữ này cũng có thể được sử dụng để mô tả một tình huống mà một công ty sử dụng lực lượng bán hàng là một trong những cách chính để giao tiếp với khách hàng. |
Giới phê bình đã được xem trước Người Nhện Xa Nhà và phần đông đều hài lòng, bằng chứng là phim đạt độ tươi 90% từ Rotten Tomatoes từ 103 đánh giá. Tiếp nối thành công của phần trước, Marvel tiếp tục cho ra mắt Người Nhện Xa Nhà. Phim kể về cuộc tham quan Châu Âu của Peter Parker và những người bạn và anh chàng lại bị cuốn vào nhiệm vụ giải quyết hậu quả mà cú búng tay 5 năm trước của Thanos để lại, và lần này có thêm sự trợ giúp từ Mysterio, một người chưa xác định được là bạn hay thù. Phim do John Watts đạo diễn với sự tham gia của Tom Holland, Jake Gyllenhaal, Samuel L. Jackson cùng các diễn viên trong vai gia đình, bạn bè của Peter trong phần một. “Một sự bổ sung cần có cho một thương hiệu danh tiếng, phim làm vừa đủ tốt để nổi bật so với các phần trước đây.”. “Tuy chất liệu khá đơn giản và khiêm tốn nhưng phim lại tận dụng chúng rất tốt.”. “So với việc trừ gian diệt bạo của Spider-Man, khán giả sẽ hứng thú hơn với màn tỏ tình vụng về của Peter và MJ, và đó chắc chắn là hướng đi đúng của phim.”. “Việc phim sẽ có doanh thu khủng là không phải bàn cãi, nhưng đây chỉ là sản phẩm thương mại chứ không thể gọi là tác phẩm nghệ thuật được.”. “Phim thỏa mãn khán giả khi Tom Holland tiếp tục vào vai Spider-Man nhí nhảnh nhất, mặc cho những thuốc thử mà phim đưa vào một cách đầy mạo hiểm.”. “Một bộ phim tươi sáng và vui nhộn, rất phù hợp để mở ra một chương mới cho MCU.”. “Không có một giây phút thừa nào nhằm câu giờ giữa các cảnh chiến đấu. Rất đáng ghi nhận khi phim đem lại cảm giác của một phim hài tình cảm tuổi teen bất ngờ chuyển thành phim siêu anh hùng.”. "Spider-Man không trưởng thành hay khác biệt gì mấy sau bộ phim. Cậu hoàn toàn có thể trải nghiệm những thứ như vậy ngay tại Queens và không cần làm phí thời gian của khán giả.”. Người Nhện Xa Nhà chính thức công chiếu từ ngày 05.07 và có lịch chiếu sớm từ 19h ngày 03.07. | Người Nhện xa nhà | Người Nhện xa nhà (tên gốc tiếng Anh: Spider-Man: Far From Home) là phim siêu anh hùng năm 2019 của Mỹ dựa trên nhân vật Peter Parker của Marvel Comics, do Columbia Pictures và Marvel Studios đồng sản xuất và Sony Pictures Releasing phân phối. Phim là phần tiếp theo của Người Nhện: Trở về nhà (2017), đồng thời là phim điện ảnh thứ hai mươi ba của Vũ trụ Điện ảnh Marvel. Người Nhện xa nhà do Jon Watts đạo diễn, với kịch bản do Chris McKenna và Erik Sommers đảm nhiệm. Phim có sự tham gia của Tom Holland trong vai Peter Parker, cùng với Samuel L. Jackson, Zendaya, Cobie Smulders, Jon Favreau, J. B. Smoove, Jacob Batalon, Martin Starr, Marisa Tomei và Jake Gyllenhaal. Trong Người Nhện xa nhà, Peter Parker và Nick Fury phải hợp tác với Mysterio để ngăn chặn nhóm Elementals trong khi Peter và nhóm bạn của cậu đang đi du lịch ở châu Âu. Tháng 10 năm 2016, kế hoạch cho phần tiếp theo của Người Nhện: Trở về nhà bắt đầu được thảo luận. Ngày công chiếu của phim được quyết định vào cuối năm đó. Holland xác nhận trở lại vai Peter Parker vào tháng 7 năm 2017, Watts xác nhận trở lại vị trí đạo diễn vào tháng 12 năm 2017, và Jake Gyllenhaal gia nhập dàn diễn viên với vai phản diện Mysterio vào tháng 6 năm 2018. |
Chứng khoán là gì, cách chơi chứng khoán thắng lợi luôn là điều NĐT mới muốn tìm hiểu trước khi bước vào TTCK. Bài viết này CophieuX – Ngọ sẽ trả lời cho bạn!. Bài viết này, sẽ không chỉ giúp bạn hiểu được khái niệm chứng khoán là gì mà còn vai trò của chứng khoán, 3 loại chứng khoán chính & cách chơi chứng khoán của nhà đầu tư Việt Nam. Một chứng khoán tức là một sản phẩm tài chính có thể giao dịch trên thị trường. Chứng khoán là một công cụ tài chính có giá trị, có thể mua bán và nắm giữ như tiền. Chứng khoán là xác nhận bằng chứng chỉ (certificate), bút toán sổ sách (book-entry) hay dữ liệu điện tử thể hiện quyền và lợi ích về sở hữu tài sản hoặc phần vốn đối với các công ty cổ phần. Chứng khoán thể hiện mối quan hệ sở hữu đối với công ty (được xem là cổ phiếu), thể hiện mối quan hệ chủ nợ (trái phiếu…) hay chứng khoán lai (trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi) hoặc các loại quyền chọn. Chứng khoán vốn được biết đến nhất là cổ phiếu phổ thông. Tức là cổ phiếu nhà đầu tư cá nhân hay mua trên các sàn chứng khoán. Vì chứng khoán vốn xem như là cổ phiếu, nên nó có vai trò và đặc điểm như là cổ phiếu: được trả cổ tức nếu công ty hoạt động kinh doanh tốt, được hưởng lợi từ việc bán chênh lệch giá (mua thấp bán cao), chứng khoán vốn cũng có quyền biểu quyết các hoạt động quan trọng của công ty. Trong trường hợp phá sản, giải thể thì cổ đông sẽ nhận lại các khoản tiền còn lại, khi công ty thanh toán xong các khoản nợ. Chứng khoán nợ được biết đến nhiều nhất là trái phiếu. Khi bạn sở hữu chứng khoán nợ, hay trái phiếu công ty, điều đó thể hiện bạn là chủ nợ của công ty. Khi bạn sở hữu chứng khoán nợ, thì xác lập tiền bạn cho công ty vay và công ty phải có tránh nhiệm hoàn trả (trừ trường hợp phá sản, mà không đủ tiền trả nợ). Chứng khoán nợ thể hiện số tiền cho vay, lãi suất, kỳ hạn, gia hạn…. Chứng khoán nợ ngoài sản phẩm chủ đạo là trái phiếu (trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp), chứng chỉ tiền gửi (CD), chứng khoán được thế chấp. Nếu bạn hay gửi ngân hàng, thì cái sổ tiết kiệm bạn có thể xem là chứng khoán nợ. Chứng khoán nợ sẽ được trả lãi thường xuyên, bất chấp công ty hoạt động tốt hay xấu. Và được ưu tiên thanh toán trước nhất trong trường hợp công ty phá sản. Chứng khoán lai: Có thể bạn sẽ nghe một số thuật ngữ cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu chuyển đổi. Đó là dạng của chứng khoán lai. Nó có đặc tính của cả chứng khoán vốn và chứng khoán nợ. Thực tình mà nói thì nó vẫn có xu hướng thiên về chứng khoán nợ (trái phiếu nhiều hơn). Đây là hình thức phức tạp hơn. Hiện tại thị trường chứng khoán Việt Nam đã có giao dịch chứng khoán phái sinh, nó phụ thuộc giá vào chỉ số VN30. Nhưng đó cũng chỉ là 1 dạng của chứng khoán phái sinh, ngoài ra còn có hợp đồng quyền chọn. Quyền chọn thì có quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán. Ví dụ Cổ Phiếu X hiện có mức giá 50.000 đồng, và bạn dự đoán nó sẽ lên 60.000 đồng. Thay vì bỏ ra 50.000 đồng mua Cổ Phiếu X với kỳ vọng sẽ lãi 10.000 đồng (tương đương 20%). Thì bạn có thể đặt chi phí quyền chọn giả định 1.000 đồng. Bạn sẽ mua được 50 quyền mua Cổ Phiếu X, khi Cổ Phiếu X tăng giá lên 60.000 đồng, thì bạn sẽ lãi: 50 (cổ phiếu) X 10.000 đồng (lãi 10.000 đồng/cổ phiếu) – 50.000 đồng (chi phí mua quyền) = 450.000 đồng. Nhưng ngược lại, chứng khoán phái sinh luôn tồn tại mức rủi ro cao hơn rất nhiêu so với chứng khoán thường. Dù thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời năm 2000, nhưng hiện tại thị trường cổ phiếu là tương đối nhiều nhà đầu tư giao dịch nhất. Tiếp theo thị trường phái sinh (ra đời năm 2018) cũng thu hút nhà đầu tư cá nhân. Thị trường trái phiếu cho nhà đầu tư cá nhân hiện chưa phát triển. Một thị trường chứng khoán phát triển có tác động hỗ trợ cho nền kinh tế phát triển. Điều này cũng thể hiện rõ qua thị trường tài chính các nước phát triển rất lơn như Mỹ, Anh, Nhật…. Ngay từ đầu năm 2019, Kỷ Dậu, Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đánh cồng khai mạc phiên giao dịch đầu năm, và đề ra những mục tiêu, định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam. Chứng khoán giúp cho những người có tiền tìm đến những nơi cần vốn để đầu tư. Khi dễ dàng hơn trong việc tiếp xúc giữ 2 bên có tiền và cần để mở rộng kinh doanh, khi đó chứng khoán làm cho thị trường hiệu quả và phát triển hơn. Nhờ thị trường chứng khoán, giúp các nhà đầu tư dễ dàng nhìn thấy những công ty nào hoạt động tốt, công ty nào không hiệu quả. Tiền sẽ được đẩy vào những công ty phát triển, giúp nó mở rộng hoạt động kinh doanh và thúc đẩy nền kinh tế. Những chứng khoán tăng trưởng mạnh mẽ quá, cũng tạo ra những biến động lớn trong chu kỳ kinh doanh. Mọi thứ tràn lan, ai cũng có thể mua 1 cách bốc đồng, không dựa trên những kiến thức đúng khoa học và quản trị rủi ro thường cũng sẽ trả giá lớn. Ở Mỹ nổi tiếng nhất là ngày thứ 5 đen tối, dẫn đến Đại suy thoái 1929. Ở Việt Nam với việc nhà đầu tư nhắm mắt nhắm mũi mua mà không có những kiến thức đúng khoa học để phân tích và đánh giá sẽ trả giá rất đắt. Ví dụ thời kỳ đen tối từ lên đỉnh mua vô tội vạ năm 2007 và xuống hơn 80% năm 2008. Mà nhà đầu tư Hà Nội lâu năm cũng là học viên của Ngọ chia sẻ hình ảnh anh và đồng nghiệp. “Chẳng còn/có gì ngoài 1 ngôi nhà, những người không có nhà thì vội rút tiền ra mua 1 ngôi nhà, còn người 10 ngôi nhà cũng có 1 ngôi nhà” – Lúc sốt, một ngày khi đó bằng cả năm làm việc”. Dù chứng khoán sẽ luôn tăng trưởng trong lâu dài, là phong vũ biểu của nền kinh tế. Nhưng sẽ có những lúc thị trường giảm điểm 10% hoặc 20%, có thể nói là năm nào cũng diễn ra. Đối với NĐT cá nhân, chứng khoán là kênh đầu tư nên tất yếu phải có rủi ro (nếu không muốn rủi ro hãy gửi ngân hàng), nhưng kèm theo nó là phần thưởng lớn. Bạn có thể gia tăng tài sản nhanh hơn nhiều so với nhiều kênh đầu tư khác, nếu bạn có kiến thức và sự hiểu biết khoa học. Thị trường chứng khoán sơ cấp: người mua chứng khoán lần đầu từ nhà phát hành (chính phủ, doanh nghiệp, quỹ đầu tư). Thường huy động nguồn vốn nhàn rỗi thành vốn dài hạn để phục vụ sản xuất kinh doanh. Cụ thể: các đợt IPO, phát hành ra công chúng lần đầu, các đợt phát hành riêng lẻ. Thị trường sơ cấp KHÔNG hoạt động liên tục, chỉ khi doanh nghiệp cần huy động vốn. Thị trường chứng khoán thứ cấp: Là nơi mua qua bán lại các chứng khoán, sau khi đã bán thị trường sơ cấp. Thực tế, điều mà chúng tìm hiểu và nghiên cứu chứng khoán, thì chủ đạo vẫn là giao dịch thứ cấp. Khi bạn mua/bán chứng khoán, thì tức là những nhà đầu tư cá nhân, tổ chức bán/mua với bạn. Một thị trường chứng khoán phát triển thì doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu để tăng vốn đầu tư vào các hoạt động kinh doanh phát triển. Cũng như những NĐT góp vốn kinh doanh có nhu cầu thoái vốn để thực hiện hóa lợi nhuận…. Chứng khoán phái sinh mới ra đời nhưng dần dần đã thu hút đông đảo nhà đầu tư cá nhân tham gia. Bởi đặc tính của chứng khoán phái sinh là “Nhanh thấy” – Tức là dễ thắng lớn hoặc thua nhanh. Chứng khoán phái sinh sử dụng đòn bẩy rất cao nên chứa đựng rủi ro lớn. Có thể bán khống và mua dựa vào chỉ số cơ sở VN30. Có thể giao dịch trong ngày, mua rồi bán ngay hoặc ngược lại, điều này khác với cổ phiếu, nên thu hút khá nhiều nhà đầu tư. Tuy nhiên, vì không có kiến thức đúng nên RẤT nhiều NĐT Việt Nam đã cháy tài khoản và thua lỗ ở thị trường này. Phân tích kỹ thuật dựa vào biến động giá và khối lượng cổ phiếu. Phân tích kỹ thuật có rất chỉ báo mà bạn có thể tìm hiểu ở CophieuX như Khối lượng, đường xu hướng MA, đường MACD, đường RSI, đường kháng cự hỗ trợ… (Bạn click vào mục Phân tích kỹ thuật mà đọc). Phân tích kỹ thuật dựa vào 3 giả định chính: Giá phản ánh tất cả, giá chuyển động theo xu hướng, quá khứ sẽ lặp lại. Đầu tư lướt sóng thường áp dụng phân tích kỹ thuật, nhưng không hoàn toàn 100% mà đi kèm có thể là thông tin ngành, hành vi nhà đầu tư, vĩ mô. Những nhà đầu tư lướt sóng thành công thường là những nhà đầu tư kỷ luật cao và tính kiên nhẫn lớn, thường thì ở Việt Nam sẽ có 1-2 con sóng. Phân tích cơ bản bao gồm đầu tư giá trị & đầu tư tăng trưởng. Cũng có một số trường phái khác như đầu tư theo chu kỳ hay theo vĩ mô. Đầu tư thụ động được phổ biến nhất là đầu tư theo chỉ số, dựa vào chỉ số index, hoặc bạn có thể đầu tư vào các quỹ đầu tư, ETF hay ủy thác đầu tư cho người giàu kinh nghiệm. Đầu tư chứng khoán có rất nhiều phương pháp đầu tư, ngoài những phương pháp trên, Ngọ liệt kê thêm 4 phương pháp nữa. Trước khi Ngọ chia sẻ, phần cuối: Ngọ tuyên bố 100% các bài viết ở CophieuX thuộc bản quyền của CophieuX.com. Đa phần NĐT cá nhân, đầu hoạt động chính trong lĩnh vực không phải chứng khoán như Ngọ. Do đó để đầu tư chứng khoán thành công, bạn phải xây dựng 1 phương pháp đảm bảo: đúng khoa học; đơn giản; ít tốn thời gian & toàn diện. Sau đó, bạn phải tuân thủ phương pháp đúng khoa học để đầu tư trong chứng khoán. Khi đó thì bạn mới nắm chắc phần thắng trong tay. | Chứng khoán | Chứng khoán (tiếng Anh: securities) là một bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán với tài sản hoặc phần vốn của công ty hay tổ chức đã phát hành. Chứng khoán có thể là hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hay dữ liệu điện tử. Chứng khoán bao gồm các loại như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và các hình thức khác. Chứng khoán cũng được coi là một phương tiện hàng hóa trừu tượng có thể thỏa thuận và có thể thay thế được, đại diện cho một giá trị tài chính. Chứng khoán là tài sản, bao gồm các loại như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký; chứng khoán phái sinh và các loại chứng khoán khác. Chứng khoán là một tài sản tài chính có thể giao dịch. Thuật ngữ này thường đề cập đến bất kỳ hình thức công cụ tài chính nào, nhưng định nghĩa pháp lý của nó khác nhau tùy theo thẩm quyền. Ở một số quốc gia và ngôn ngữ, thuật ngữ "chứng khoán" thường được sử dụng theo cách nói hàng ngày để chỉ bất kỳ hình thức công cụ tài chính nào, mặc dù chế độ pháp lý và quy định cơ bản có thể không có định nghĩa rộng như vậy. |
Kinh nguyệt ra ít là một hiện tượng rối loạn kinh nguyệt, có thể xảy ra với bất kỳ phụ nữ nào, cho dù là lứa tuổi mới lớn, trước và sau khi có con. Nếu không được chữa trị kịp thời, bệnh này sẽ gây ra các biến chứng, ảnh hưởng tới việc mang thai và sinh con. Rối loại kinh nguyệt là cụm từ để miêu tả chung tất cả các hiện tượng như rong kinh, mất kinh, kinh nguyệt không đều và kinh nguyệt ra ít. Kinh nguyệt ra ít rất dễ nhận biết – lượng kinh bỗng dưng ít hẳn đi so với các tháng trước và có xu hướng giảm dần đều. Kinh nguyệt đều, ổn định là một chu kỳ kéo dài khoảng từ 28-32 ngày, thời gian có kinh từ 3-7 ngày. Lượng máu tiêu chuẩn mất đi trong một kỳ kinh nguyệt là từ 60-80ml. Kinh nguyệt ra ít thì lượng máu kinh mất đi hàng tháng chỉ bằng một nửa hoặc một phần ba so với trước đó, dao động từ 20-30ml. So sánh lượng máu kinh, số lượng băng vệ sinh sử dụng để biết có phải mắc kinh nguyệt ít không. Phụ nữ nói rằng rất khó để xác định lượng kinh nguyệt giảm mỗi tháng. Để biết kinh nguyệt ít đi hay không, bạn có thể dựa vào số ngày “đèn đỏ”. Nếu số ngày đèn đỏ của bạn chỉ có 2 ngày hoặc 3 ngày nhưng số lượng máu thấm ra băng vệ sinh quá ít thì đó chính là biểu hiện dễ nhận thấy nhất của kinh nguyệt ra ít. Ngoài ra màu máu kinh cũng sẽ phản ánh việc kinh nguyệt của bạn có bình thường hay không? Kinh nguyệt thường ra nhiều trong những ngày đầu và có màu đỏ, khi gần hết sẽ chuyển sang đỏ sậm, hơi nâu một chút vẫn là bình thường. Nếu kinh nguyệt ra ít màu nâu hoặc có màu nâu đen thì đó là hiện tượng bất thường, cần để ý xem xét. Lưu ý: Nếu kinh nguyệt ra ít và có màu nâu đen, kéo dài nhiều ngày thì lại là dấu hiệu nhận biết hiện tượng rong kinh. Niêm mạc tử cung bị bong ra bất thường: Đây là dấu hiệu của các bệnh như u xơ tử cung, viêm cổ tử cung hoặc các bệnh lý có liên quan tới buồng trứng. Sự thay đổi của hoocmon Estrogen sẽ hiến những mảnh niêm mạc tử cung bị bong ra gây hiện tượng xuất huyết. Viêm nhiễm vùng kín lâu ngày cũng có thể dẫn tới tình trạng kinh nguyệt ra ít. Chế độ ăn uống không điều độ, thức ăn thiếu đạm và các vitamin như vitamin E, C, A… khiến cơ thể thiếu chất, máu kinh ra ít. Kinh nguyệt mang đến nhiều phiền toái cho phái nữ nhưng sự có mặt của chúng là vô cùng quan trọng. Khi kinh nguyệt xuất hiện chứng tỏ người con gái đã dậy thì, cơ quan sinh sản đã phát triển và có khả năng sinh sản. Kinh nguyệt ít hay nhiều đều đem lại các ảnh hưởng xấu. Cụ thể, dưới đây là các ảnh hưởng của kinh nguyệt ra ít:. Dấu hiệu chứng tỏ rằng sức khỏe sinh sản của bạn đang gặp vấn đề. Rất có thể các mầm bệnh như u xơ, u buồng trứng, viêm cổ tử cung… đang ẩn giấu bên trong. Kinh nguyệt ra ít sẽ làm ảnh hưởng tới chức năng sinh sản, gây vô sinh thứ phát trong tương lai gần. Các rối loạn sinh lý sẽ làm giảm khoái cảm, tăng chứng lãnh cảm, gây giảm ham muốn và dần dần sợ quan hệ chăn gối. Bạn không nên xem nhẹ hiện tượng kinh nguyệt bỗng dưng ra ít. Khi thấy bản thân xuất hiện triệu chứng này, nhanh chóng đến cơ sở y tế chuyên khoa để được khám và chữa bệnh. “Kinh nguyệt ra ít có thai không?” – Đây thường là thắc mắc của những bạn gái có quan hệ tình dục trong chu kỳ kinh nguyệt của mình. Poliva xin trả lời cho bạn như sau:. Nếu trong chu kỳ kinh nguyệt bạn có quan hệ tình dục sau đó sử dụng thuốc tránh thai khẩn cấp thì có thể gây ra các tác động nho nhỏ tới ngày “đèn đỏ”. Cụ thể là bạn dễ bị rong kinh, kinh nguyệt ra ít, máu kinh thay đổi màu sắc như nâu, đen… Đây được coi là tác dụng phụ của thuốc tránh thai khẩn cấp. Kinh nguyệt ra ít có màu đen cũng có thể là dấu hiệu mang thai, nhưng là mang thai ngoài tử cung. Hãy theo dõi sự thay đổi của cơ thể. Nếu có triệu trứng đau bụng dữ dội thì nên đến bệnh viện sớm. Nếu âm đạo chỉ ra một ít máu, có màu đỏ hoặc hồng thì chưa chắc đã là hiện tượng kinh nguyệt ra ít. Đó có thể là máu báo thai. Rất nhiều phụ nữ nhầm lẫn giữa máu kinh nguyệt ra ít và máu báo thai. Nếu bạn chưa có kiến thức về vấn đề này thì tham khảo ngay => Cách phân biệt máu báo thai, máu kinh nguyệt và máu báo sảy thai. Phụ nữ nên chú ý tới kỳ “đèn đỏ” hàng tháng để phát hiện các thay đổi lạ. Ngủ đúng giấc, đúng giờ: Công việc này rất dễ thực hiện. Khi bạn có giấc ngủ đủ, say và ngon thì đầu óc sẽ minh mẫn hơn, giảm stress. Bổ sung các chất dinh dưỡng bị thiếu: Xây dựng cho mình một thực đơn đầy đủ các chất dinh dưỡng. Nên ăn đồ luộc, hấp, hạn chế thực phẩm chiên, xào có chứa nhiều dầu mỡ, thức ăn quá mặn. Vệ sinh sạch sẽ cho vùng kín: Việc vệ sinh sạch sẽ cho vùng kín sẽ làm giảm nguy cơ bị viêm nhiễm vùng kính. Mặc dù khi kinh nguyệt ra ít, lượng máu dính trên băng vệ sinh là không nhiều nhưng bạn vẫn cần duy trì việc thay băng vệ sinh thường xuyên, đảm bảo thay sau 3-4 tiếng sử dụng để ngăn chặn vi khuẩn và nấm ngứa phát triển. Sử dụng các viên uống tăng cường sinh lý nữ bằng thảo dược: Trong thiên nhiên có rất nhiều loại thảo dược quý đã được các lang y tin dùng hàng ngàn năm qua. Với y học hiện đại, các loại thảo dược này được cô lại thành viên, bào chế thành thuốc để giúp người dùng tiện lợi sử dụng hơn. Thêm vào đó, nội tiết tố nữ được tăng cường sẽ gia tăng cảm hứng ân ái, khoái lạc khi làm chuyện ấy. Hiện tượng kinh nguyệt ra ít hoàn toàn có thể khắc phục được nếu bạn tuân theo sự chỉ dẫn của bác sỹ và thực hiện lối sống lành mạnh kể trên. Đọc ngay Cách làm chậm kinh, trì hoãn kinh nguyệt an toàn hiệu quả để biết cách lùi lại ngày đèn đỏ, giúp bạn thoải mái đi chơi, du lịch hay tham gia các hoạt động thể thao. Máy sấy tay ngày càng được dùng phổ biến trong các nhà hàng, khách sạn, hộ gia đình… Lắp đặt ngay dòng máy sấy tay gắn tường thông minh của Poliva để cải thiện và nâng cao vấn. Xem chi tiết Máy sấy tay gắn tường. Xà bông sữa gạo – sản phẩm vừa làm sạch, vừa chăm sóc da mịn màng, hương thơm nhẹ nhàng và vô cùng quyến rũ. Sản phẩm xà bông được dùng phổ biến trong các khách sạn, resort. Xem chi tiết Xà bông sữa gạo. Gối trang trí giường là vật dụng khiến căn phòng sang trọng, đẳng cấp hơn. Sử dụng gối trang trí giường Poliva tạo cho bạn không gian sống hiện đại hơn, êm ái hơn. Thông tin chi tiết. Xem chi tiết Gối trang trí giường. Xích đu sắt mỹ thuật giúp trang trí không gian đẹp hơn, giúp bạn có thêm địa điểm vui chơi thư giãn, đọc sách sau những ngày làm việc căng thẳng. Mẫu xích đu thường được các khách. Xem chi tiết Xích đu sắt mỹ thuật | Kinh nguyệt | Kinh nguyệt là tập hợp các thay đổi sinh lý lặp đi lặp lại ở cơ thể phụ nữ dưới sự điều khiển của hệ hormone sinh dục và cần thiết cho sự sinh sản. Ở phụ nữ, chu kỳ kinh nguyệt điển hình xảy ra hàng tháng giữa thời kỳ dậy thì và mãn kinh. Trong chu kỳ kinh nguyệt, cơ thể phụ nữ trưởng thành về giới tính phóng thích một trứng (đôi khi 2 trứng, có thể dẫn đến hình thành 2 hợp tử và sinh đôi khác trứng) vào giai đoạn phóng noãn (rụng trứng). Trước khi phóng noãn, nội mạc tử cung, bao phủ bề mặt tử cung, được xây dựng theo kiểu đồng bộ hoá. Sau khi phóng noãn, nội mạc này thay đổi để chuẩn bị cho trứng thụ tinh làm tổ và hình thành thai kỳ. Nếu thụ tinh và thai kỳ không xảy ra, tử cung loại bỏ lớp nội mạc và chu kỳ kinh mới bắt đầu. Quá trình loại bỏ nội mạc được gọi là hành kinh và biểu hiện ra bên ngoài là kinh khi phần nội mạc tử cung và các sản phẩm của máu ra khỏi cơ thể qua âm đạo. |
Xi măng có lẽ là nguyên vật liệu không thể thiếu trong thi công xây dựng. Trong đó, xi măng pooclăng là loại vật liệu xây dựng được sử dụng nhiều nhất hiện nay. Vậy bạn đã biết xi măng pooclăng là gì và có bao nhiêu loại hay chưa?. Xi măng pooclăng hay xi măng Portland (PC), là loại vật liệu được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới, ứng dụng để làm bê tông, vữa, hồ. Đây là loại vật liệu có thành phần chủ yếu là clinker (chiếm 95 – 96%) và thạch cao (chiếm 4 – 5%). Ngoài ra, khi cho thêm các chất phụ gia khác vào thành phần xi măng pooclăng thường như: Tro than, xỉ lò cao, puzolan tự nhiên… sẽ cho ra sản phẩm là xi măng pooclăng hỗn hợp (PCB). Theo đó, xi măng pooclăng hỗn hợp có khả năng chịu mặn, chịu phèn tốt. Vậy nên, nó rất thích hợp để sử dụng cho các công trình ngăn mặn, công trình thoát lũ ra biển,…. Đây là loại xi măng được sản xuất từ đất sét trắng và đá vôi. Hầu như không có các oxit sắt, oxit tạo màu và oxit mangan. Xi măng pooclăng trắng được nung bằng nhiên liệu có ít hàm lượng tro bụi (khí đốt và dầu) và thường dùng bi sứ để nghiền nhằm hạn chế lẫn tạp chất bụi sắt. Theo độ bền nén, xi măng pooclăng trắng được chia là 3 mác: PCW25, PCW30, PCW40. Trong đó, các chỉ số 25, 30, 40 là thời gian tối đa chịu nén của các mẫu sau 28 ngày đêm bảo dưỡng. Loại xi măng này thường được dùng để chế tạo vữa granito, vữa trang trí và sản xuất gạch hoa,…. Đây là loại xi măng được sản xuất bằng cách nghiền mịn hỗn hợp clinker với phụ gia hoạt tính puzolan và 1 lượng thạch cao phù hợp. Tỷ lệ pha clinker được quy định dựa trên bản chất của phụ gia hoạt tính puzolan, thường từ 15 – 40% khối lượng. So với xi măng pooclăng thường, loại xi măng này khi thủy hóa sẽ tỏa ra lượng nhiệt ít hơn, khả năng chống ăn mòn cũng tốt hơn. Đây là sản phẩm được nghiền mịn từ clinker xi măng bền sunfat và thạch cao. Theo đó, clinker xi măng pooclăng bền sunfat được chế tạo như clinker xi măng pooclăng thường. Song thành phần khoáng được quy định khắt khe hơn. Đặc biệt là phải giảm tối thiểu thành phần C3A. Tương tự như xi măng pooclăng puzolan, loại xi măng này khi thủy hóa sẽ tỏa ra lượng nhiệt ít hơn, khả năng chống ăn mòn cũng tốt hơn xi măng pooclăng thường. Đây là sản phẩm được nghiền mịn từ clinker xi măng ít tỏa nhiệt và thạch cao. Theo đó, clinker xi măng pooclăng ít tỏa nhiệt được chế tạo như clinker thường. Nhưng thành phần khoáng, hóa được quy định theo TCVN 6069-1995. Loại xi măng thường được dùng để thi công các công trình giao thông, thủy điện, thủy lợi, công trình có thể tích bê tông khối lớn. Đây là loại xi măng được sản xuất bằng cách nghiền mịn clinker xi măng pooclăng với xỉ hạt lò cao và 1 lượng thạch cao phù hợp. Hoặc trộn xi măng pooclăng thường với xỉ hạt lò cao đã nghiền mịn. Xi măng pooclăng xỉ hạt lò cao có lượng nhiệt tỏa ra ít nên thường được sử dụng để xây dựng các công trình có thể tích bê tông khối lớn. Phuong Nguyen – Ðược đánh giá là chuyên gia am hiểu và nhạy bén với thị trường tài chính và bất động sản. Không chỉ là một người có nhiều kinh nghiệm, hiểu sâu về lĩnh vực BDS, Phuong Nguyen còn là cây bút viết về thị trường Bất Động Sản cực kỳ ấn tượng | Xi măng Portland | Xi măng Portland, còn gọi là Xi măng Portland thường (OPC), là loại vật liệu được sử dụng phổ biến nhất trên toàn thế giới, nó là thành phần cơ bản của bê tông, vữa, hồ. Có thành phần chủ yếu là clinker Portland chiếm tỉ lệ 95 - 96% và thạch cao chiếm tỉ lệ 4-5%. Ngoài ra, khi thêm các chất phụ khác vào thành phần của xi măng Portland (xỉ lò cao, xỉ hạt lò cao nghiền mịn, tro than, pouzzolan tự nhiên, v.v., nhưng hàm lượng phụ gia kể cả thạch cao không quá 40% và trong đó phụ gia đầy không quá 20%), thì những loại xi măng Portland này được gọi là xi măng Portland hỗn hợp. Xi măng Portland chính thức đi vào lịch sử ngày 21 tháng 10 năm 1824 khi Joseph Aspdin được cấp bằng sáng chế cho quá trình thực hiện một xi măng mà ông gọi là xi măng Portland. Cái tên được đặt như vậy là do loại đá ở đảo Portland miền Nam nước Anh có màu xám giống màu loại xi măng của ông. |
Nuôi rùa cảnh phong thủy là một trong những cách được dân gian cho rằng sẽ mang lại phong thủy tốt cho gia đình. Hiện nay, có rất nhiều người mua và nuôi rùa trong nhà. Vậy nuôi rùa phong thủy có thật sự may mắn và hiệu quả như nhiều người vẫn nghĩ? Đừng bỏ qua bài viết sau đây để tìm hiểu ý nghĩa của việc nuôi rùa nhé. 2 Rùa phong thủy hợp với những tuổi nào, mệnh nào?2.1 Rùa phong thủy hợp với những người tuổi gì?2.2 Rùa phong thủy hợp với những người mệnh gì?2.3 Nuôi rùa phong thủy hợp hướng mang lại may mắn. 3 Hướng dẫn nuôi rùa cạn và rùa nước đúng cách3.1 Cách nuôi rùa cạn3.2 Cách nuôi rùa nước trong nhà. Hiện nay, có rất nhiều ý kiến thắc mắc rằng có nên nuôi rùa trong nhà không, nuôi rùa theo phong thủy có mang lại may mắn cho chủ nhà? Câu trả lời là CÓ, nuôi rùa chính là một trong những cách để giúp gia đình có thêm nhiều vận may. Khi nói đến lợi ích của việc nuôi rùa trong phong thủy, không thể không kể đến việc cải thiện sức khỏe. Trong những câu chuyện cổ tích mà chúng ta thường được nghe kể, rùa tuy là loài động vật di chuyển chậm nhất, tốn nhiều thời gian nhất nhưng cũng là con vật có sự kiên nhẫn cao và giành được chiến thắng sau cùng của tất cả mọi cuộc thi. Với đặc điểm này, người ta tin rằng nuôi rùa phong thủy sẽ giúp bảo vệ sức khỏe, tuy mất nhiều thời gian rèn luyện nhưng đến cuối cùng, thể chất sẽ được cải thiện đáng kể và tránh khỏi nhiều bệnh tật. Cầu tài là một trong những lý do khiến cho nhiều gia đình bắt đầu nuôi rùa phong thủy. Và đúng như nguyện vọng của gia chủ, việc nuôi rùa đã giúp nhiều người gặp may mắn về tiền bạc, gấp đôi tài lộc. Không chỉ trong gia đình, đặt rùa phong thủy tại các văn phòng làm việc sẽ giúp cho công việc kinh doanh gặp nhiều thuận lợi, thăng quan tiến chức cũng như có thêm nhiều cơ hội hợp tác, các hợp đồng lớn với khách hàng. Cụ thể, bạn hãy đặt rùa (có thể là tượng rùa hoặc các bức tranh rùa) tại những khu vực thuộc phía Đông Nam trong nhà hoặc tại văn phòng. Bên cạnh việc giúp gia chủ thoát khỏi nhiều vận rủi, rùa còn có thể thu hút tiền bạc, mang đến thành công cho những dự án đầu tư. Mai rùa được cho rằng mang những họa tiết giống một chiếc vòng bát quái – biểu tượng thường thấy trong phong thủy. Đặc biệt, người ta tin rằng việc nuôi những con rùa bò lên từ các lòng sông sẽ mang đến những may mắn đặc biệt bởi những ý nghĩa về mặt bát quái mà chúng mang lại. Ngoài ra, bát quái trên mai rùa cũng được cho là nguồn gốc của những quan niệm về phong thủy. Bên cạnh việc mang lại may mắn và sức khỏe, nuôi rùa phong thủy cũng là một cách giúp mang lại giấc ngủ ngon. Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, hãy đặt một con rùa xuống gầm giường của bạn. Rùa được cho là sẽ thu hút những tinh túy của vũ trụ vào ban đêm, giúp cho giấc ngủ của bạn được cải thiện hơn nhờ việc tái tạo lại những năng lượng đã mất đi sau một ngày hoạt động mệt mỏi. Bên cạnh những thắc mắc về nuôi rùa có hợp phong thủy, nhiều bạn đọc còn đặt ra những câu hỏi về những tuổi và vận mệnh hợp để nuôi rùa. Vậy việc nuôi rùa thích hợp với những người tuổi gì và có mệnh gì?. Trên thực tế, trong số 12 con giáp, dân gian cho rằng việc nuôi rùa phong thủy thích hợp với những người mang tuổi Tý và tuổi Hợi – 2 con giáp đầu và cuối. Những người thuộc các con giáp này nên nuôi các loại rùa đại dương bởi chúng sẽ giúp thu hút danh tiếng cũng như nhân đôi tài lộc, giúp cho con đường sự nghiệp trở nên thuận lợi hơn. Ngược lại, trong 12 con giáp, tuổi Dậu và tuổi Thân là những tuổi không thích hợp với việc nuôi rùa phong thủy, những con giáp này nếu nuôi rùa sẽ rất dễ dẫn đến những vận rủi, gặp phải khủng hoảng trong cuộc sống. Bên cạnh tuổi, bạn cũng cần phải quan tâm đến vận mệnh, ngũ hành trước khi quyết định nuôi rùa phong thủy. Vậy việc nuôi rùa cảnh phong thủy hợp với những người mệnh gì?. Trong phong thủy: Rùa là một loài động vật mang mệnh Hỏa. Chính vì thế, những người có vận mệnh có thể thắng được mệnh Hỏa sẽ là người phù hợp để nuôi rùa, điển hình là người mang mệnh Thủy. Ngoài ra, những người có mệnh Hỏa (là mệnh tương thích với mệnh Hỏa của các loại rùa) và mệnh Thổ (mệnh mang tính tương sinh với mệnh Hỏa) sẽ có thể nuôi rùa trong nhà. Người mang trọn vẹn mệnh Thổ và Hỏa nuôi rùa sẽ mang lại nhiều tài lộc, sự may mắn cũng như tất cả mọi việc đều diễn ra như ý. Trong ngũ hành: Những người mang trong mình mệnh Kim là những người không được khuyến khích nuôi rùa trong phong thủy. Trong ngũ hành, mệnh Kim là mệnh mang tính tương khắc với mệnh Hỏa, việc người có mệnh Kim nuôi rùa trong nhà sẽ mang đến những vận xui, bất hạnh. Nói về vấn đề nuôi rùa và phong thủy, không chỉ phải quan tâm đến tuổi và vận mệnh mà bạn còn cần phải chú ý hướng đặt rùa khi mang về nhà. Rùa là loài động vật thích hợp để sinh sống ở hướng Bắc. Chính vì thế, dù là đối với tượng rùa hay rùa nuôi sống, bạn nên đặt chúng vào chậu, để ở hướng Bắc để hút tài lộc và may mắn. Việc nuôi rùa theo tuổi, vận mệnh và hướng nuôi đúng sẽ giúp cho phong thủy của gia chủ có nhiều khởi sắc. Để việc nuôi rùa cảnh mang lại nhiều may mắn và tránh khỏi những vận xui, bạn cần phải nắm rõ cách nuôi cũng như những lưu ý cần thiết . Rùa là một sinh vật có sức sống vô cùng bền bỉ, chính vì thế mà việc nuôi rùa sẽ không quá khó khăn. Rùa không kén ăn và cũng có thể nhịn ăn trong một khoảng thời gian rất dài. Tuy nhiên, đừng bỏ qua những lưu ý quan trọng để giúp rùa của bạn khỏe mạnh hơn. Rùa cũng được chia thành 2 loại là rùa nước (loại rùa ăn tạp với thức ăn thường là giun, cá, tôm, thịt, rau,…) và rùa cạn (rùa chỉ ăn những món chay như rau củ, hoa quả). Bạn cũng cần phải quan tâm đến loại rùa đó là rùa lành tính hay dữ để nắm được cách nuôi chúng. Rùa cạn còn được gọi là rùa núi, là một giống bò sát thuộc họ rùa, có 4 chân và thường hoạt động vào ban ngày, vô cùng nhạy cảm với môi trường. Thức ăn của rùa cạn là đồ ăn chay như hoa quả và rau củ, khá dễ nuôi và không đòi hỏi cao. Rùa cạn là giống rùa phát triển chậm, so với rùa nước, việc nuôi rùa cạn tốn kém chi phí hơn (chi phí dùng để mua thức ăn, chăm rùa đẻ trứng và rùa con,…). Tuy nhiên, rùa cạn lại phù hợp với việc nuôi để làm cảnh hơn là những loại rùa nước. Bể chuyên dụng dùng cho việc nuôi rùa cạn, có bán tại các cửa hàng kinh doanh vật dụng nuôi rùa và rùa giống. Những vật dụng trên đều có thể sử dụng được để nuôi rùa. Tuy nhiên, khi thả rùa vào các loại bể này để nuôi, bạn cần phải ghi nhớ việc đổi bể hoặc thùng xốp có kích thước lớn hơn khi rùa dần phát triển. Ngoài ra, khi nuôi rùa cạn tại những loại bể này, bạn có thể đầu tư để mua đất nền, trang bị ánh sáng và xây dựng nơi vui chơi, trú ẩn để giúp nơi sinh sống của rùa trở nên đẹp mắt hơn, tạo điều kiện cho rùa phát triển tốt. Để chăm sóc tốt cho rùa cạn, bạn cần phải nắm được khẩu phần ăn của chúng. Thức ăn yêu thích của rùa cạn là trái cây (dưa, đu đủ), rau xanh,… và chỉ ăn 1 lần mỗi ngày. Để giúp rùa phát triển tốt hơn, bạn cũng có thể nghiên cứu những loại thức ăn chuyên dành cho rùa cạn nhé. Tuy rùa cạn là loài động vật dễ nuôi và có thể sống trong một thời gian dài. Tuy nhiên, để tránh điều xui và giúp rùa sống tốt, sống lâu, bạn không nên để chúng đói trong thời gian quá lâu nhé. Hãy cho rùa ăn đúng lúc và đúng khẩu phần. Rùa nước là loại rùa xuất hiện ở những khu vực nước ngọt và có mặt tại rất nhiều nơi, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp rùa nước. Chính vì thế mà rất nhiều người lựa chọn nuôi rùa nước để hợp với phong thủy và vận mệnh. Tuy rằng so với rùa nước, rùa cạn thích hợp để nuôi làm thú cảnh hơn, nhưng chi phí để nuôi các loại rùa nước lại thấp hơn rất nhiều. Rùa nước rất dễ nuôi, không cần bạn phải tìm hiểu nhiều về cách chăm sóc chúng cũng như không đòi hỏi về nguồn thức ăn. Tuy nhiên, bạn cần lưu ý rằng rùa nước chỉ sinh sống được trong những môi trường có nước. Chúng chỉ ăn khi ở trong nước vì cần nước để rửa sạch thực phẩm trước khi ăn. Dù là món ăn đã được bạn làm sạch nhưng khi không có nước, rùa sẽ không muốn ăn. Khi nuôi rùa, bạn cần lưu ý phải chuẩn bị sẵn bể nước hay xây nên các hồ nước để rùa có thể sinh sống. So với rùa cạn, việc xây dựng nơi ở cho rùa nước sẽ có nhiều điểm phức tạp hơn. Để môi trường sống của rùa sạch sẽ, giúp rùa phát triển toàn diện và mang đến nhiều vận may trong phong thủy, bạn cần phải chú ý đến việc xây dựng nơi sống của rùa. Bể nuôi rùa tuyệt đối không được chứa clo và nước phải thật trong và sạch. Khi nuôi rùa có kích thước nhỏ, không gây hại, bạn hoàn toàn có thể nuôi chúng cùng với một số loài cá khác. Tuy nhiên, nếu rùa bạn nuôi là giống rùa lớn hoặc nguy hiểm như rùa tai đỏ, bạn chỉ nên nuôi chúng trong một chiếc bể riêng. Những giống rùa dữ thường ăn tạp, ăn cá, thịt và chúng có thể sẽ ăn hết cá trong bể nếu nuôi chung. Tương tự như rùa cạn, khi rùa nước ngày càng phát triển, bạn nên nuôi đổi bể nuôi (thông thường, bể nuôi cần phải có kích thước lớn gấp 3 hoặc 4 lần so với kích thước của rùa). Rùa nước rất dễ ăn, chúng là động vật ăn tạp với những món ăn thường thấy là hoa quả, rau củ, thịt, cá, tôm và những sinh vật nhỏ khác,… Tùy vào điều kiện mà bạn có thể cho rùa ăn bất cứ món ăn nào. Tuy nhiên, như đã đề cập, rùa chỉ ăn được trong môi trường nước, chính vì thế, tuyệt đối không nhấc chúng ra khỏi mặt nước trong quá trình cho rùa ăn. Ngoài những món ăn kể trên, bạn có thể cho rùa ăn một số món ăn chuyên dành để nuôi rùa nước nếu muốn rùa của bạn phát triển tốt hơn. Ngoài ra, nên tham khảo thêm các thông tin hữu ích khi chăm sóc rùa để giúp rùa khỏe mạnh. Đặc biệt, khi chăm sóc cho rùa, bạn nên lưu ý đến mùa sinh sản của chúng. Khi rùa chuẩn bị để trứng, chúng sẽ trở nên rất nhạy cảm, đặc biệt là vào mùa đông. Khi thời tiết trở lạnh, rùa dễ dàng bị cảm và bệnh, hãy lưu ý giữ ấm cho bể nuôi, giúp rùa vệ sinh thường xuyên. Hãy giữ cho bể nuôi luôn sạch sẽ, thoáng mát để cho rùa con có môi trường phát triển tốt, khỏe mạnh. Tiếp theo, các bạn đọc sẽ được giải đáp những thắc mắc thường thấy khi nuôi rùa phong thủy. | Nuôi rùa | Nuôi rùa là việc thực hành chăn nuôi các loại rùa khác nhau về mặt thương mại. Động vật nuôi được bán để sử dụng làm thực phẩm cho người sành ăn, thành phần y học cổ truyền, hoặc được sử dụng làm vật nuôi. Một số trang trại cũng bán các loại rùa giống cho các trang trại khác. Những nông dân trên toàn thế giới nuôi rùa nước ngọt là chủ yếu (chủ yếu như rùa mai mềm Trung Quốc (ba ba) như một nguồn thực phẩm và rùa tai đỏ được sử dụng làm vật nuôi, làm cảnh hoặc để phóng sinh do nhìn chung loài rùa hiền lành và là biểu tượng của tuổi thọ) do đó, việc nuôi rùa thường được phân loại như là một hoạt động nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, một số rùa trên cạn (ví dụ như loài Cuora mouhotii) cũng được nuôi ở các trang trại cho buôn bán vật nuôi. |
Cấu trúc liên kết mạng là mô tả về sự sắp xếp của các nút (ví dụ: bộ chuyển mạch và bộ định tuyến) và các kết nối trong mạng, thường được biểu thị dưới dạng biểu đồ. Cho dù hai tổ chức giống hệt nhau như thế nào, không có hai mạng giống hệt nhau. Tuy nhiên, nhiều tổ chức đang dựa vào các mô hình cấu trúc mạng được thiết lập tốt. Các cấu trúc liên kết mạng phác thảo cách các thiết bị được kết nối với nhau và cách dữ liệu được truyền từ nút này sang nút khác. Một cấu trúc liên kết mạng logic là một đại diện khái niệm về cách các thiết bị hoạt động ở các lớp trừu tượng cụ thể. Một cấu trúc liên kết vật lý chi tiết cách các thiết bị được kết nối vật lý. Các cấu trúc liên kết logic và vật lý đều có thể được biểu diễn dưới dạng sơ đồ trực quan. Một bản đồ cấu trúc mạng là một bản đồ cho phép quản trị viên xem bố cục vật lý của các thiết bị được kết nối. Có sẵn bản đồ cấu trúc liên kết mạng trên mạng rất hữu ích để hiểu cách các thiết bị kết nối với nhau và các kỹ thuật tốt nhất để khắc phục sự cố. Có nhiều loại cấu trúc liên kết khác nhau mà mạng doanh nghiệp đã xây dựng ngày nay và trong quá khứ. Một số cấu trúc liên kết mạng mà chúng tôi sẽ xem xét bao gồm cấu trúc liên kết xe buýt, cấu trúc liên kết vòng, cấu trúc liên kết sao, cấu trúc liên kết lưới, và cấu trúc liên kết lai. Cấu trúc liên kết bus là một loại mạng trong đó mọi thiết bị được kết nối với một cáp duy nhất chạy từ đầu này đến đầu kia của mạng. Loại cấu trúc liên kết này thường được gọi là cấu trúc liên kết dòng. Trong cấu trúc liên kết bus, dữ liệu chỉ được truyền theo một hướng. Nếu cấu trúc liên kết bus có hai điểm cuối thì nó được gọi là cấu trúc liên kết tuyến tính. Các mạng nhỏ hơn với loại cấu trúc liên kết này sử dụng cáp đồng trục hoặc cáp RJ45 để liên kết các thiết bị với nhau. Tuy nhiên, bố cục cấu trúc liên kết xe buýt đã lỗi thời và bạn không thể gặp phải một công ty sử dụng cấu trúc liên kết xe buýt ngày hôm nay. Cấu trúc liên kết bus thường được sử dụng trong các mạng nhỏ hơn. Một trong những lý do chính là họ giữ bố cục đơn giản. Tất cả các thiết bị được kết nối với một cáp duy nhất, do đó bạn không cần quản lý một thiết lập cấu trúc liên kết phức tạp. Bố cục cũng giúp làm cho cấu trúc liên kết xe buýt có hiệu quả chi phí vì chúng có thể chạy với một dây cáp. Trong trường hợp cần thêm nhiều thiết bị thì bạn chỉ cần nối cáp của mình với cáp khác. Tuy nhiên, dựa vào một dây cáp có nghĩa là cấu trúc liên kết xe buýt có một điểm thất bại duy nhất. Nếu cáp bị lỗi thì toàn bộ mạng sẽ ngừng hoạt động. Một sự cố cáp sẽ khiến các tổ chức tốn rất nhiều thời gian trong khi họ cố gắng tiếp tục dịch vụ. Hơn nữa, lưu lượng mạng cao sẽ làm giảm hiệu suất mạng bởi vì tất cả dữ liệu truyền qua một dây cáp. Hạn chế này làm cho cấu trúc liên kết bus chỉ phù hợp với các mạng nhỏ hơn. Lý do chính là bạn càng có nhiều nút, tốc độ truyền của bạn sẽ càng chậm. Cũng cần lưu ý rằng các cấu trúc liên kết xe buýt bị hạn chế theo nghĩa là bán song công, điều đó có nghĩa là dữ liệu có thể được truyền theo hai hướng ngược nhau cùng một lúc. Trong các mạng có cấu trúc liên kết vòng, các máy tính được kết nối với nhau theo dạng vòng tròn. Mỗi thiết bị trong mạng sẽ có hai hàng xóm và không hơn không kém. Các cấu trúc liên kết vòng thường được sử dụng trong quá khứ nhưng bạn sẽ khó tìm thấy một doanh nghiệp vẫn sử dụng chúng ngày nay. Nút đầu tiên được kết nối với nút cuối cùng để liên kết vòng lặp với nhau. Do hậu quả của việc đặt ra trong định dạng này, các gói cần phải đi qua tất cả các nút trên đường đến đích của chúng. Trong cấu trúc liên kết này, một nút được chọn để định cấu hình mạng và giám sát các thiết bị khác. Cấu trúc liên kết vòng là bán song công nhưng cũng có thể được thực hiện song công hoàn toàn. Để tạo cấu trúc liên kết vòng hoàn chỉnh song công, bạn cần có hai kết nối giữa các nút mạng để tạo thành một Cấu trúc liên kết vòng kép. Như đã đề cập ở trên, nếu cấu trúc liên kết vòng được cấu hình là hai chiều thì chúng được gọi là cấu trúc liên kết vòng kép. Cấu trúc liên kết vòng kép cung cấp cho mỗi nút với hai kết nối, mỗi kết nối theo một hướng. Do đó, dữ liệu có thể chảy trong chiều kim đồng hồ hoặc là ngược chiều kim đồng hồ phương hướng. Trong cấu trúc liên kết vòng nguy cơ va chạm gói rất thấp do việc sử dụng các giao thức dựa trên mã thông báo, chỉ cho phép một trạm truyền dữ liệu tại một thời điểm nhất định. Điều này được kết hợp bởi thực tế là dữ liệu có thể di chuyển qua các nút ở tốc độ cao có thể được mở rộng khi thêm nhiều nút. Cấu trúc liên kết vòng kép cung cấp thêm một lớp bảo vệ vì chúng chống lại sự thất bại. Chẳng hạn, nếu một vòng đi xuống trong một nút thì vòng kia có thể bước lên và sao lưu nó. Cấu trúc liên kết vòng cũng chi phí thấp để cài đặt. Một trong những lý do tại sao cấu trúc liên kết vòng được thay thế là vì chúng rất dễ bị thất bại. Các ftình trạng của một nút có thể khiến toàn bộ mạng không hoạt động. Điều này có nghĩa là các mạng cấu trúc liên kết vòng cần phải được quản lý liên tục để đảm bảo rằng tất cả các nút có sức khỏe tốt. Tuy nhiên, ngay cả khi các nút có sức khỏe tốt, mạng của bạn vẫn có thể bị đánh sập ngoại tuyến do lỗi đường truyền!. Cấu trúc liên kết vòng cũng tăng mối quan tâm về khả năng mở rộng. Chẳng hạn, băng thông được chia sẻ bởi tất cả các thiết bị trong mạng. Ngoài ra, càng nhiều thiết bị được thêm vào vào một mạng càng chậm trễ giao tiếp các kinh nghiệm mạng. Điều này có nghĩa là số lượng thiết bị được thêm vào cấu trúc liên kết mạng cần phải được theo dõi cẩn thận để đảm bảo rằng tài nguyên mạng được kéo dài vượt quá giới hạn của chúng. Thay đổi cấu trúc liên kết vòng cũng phức tạp vì bạn cần phải tắt mạng để thay đổi đến các nút hiện có hoặc thêm các nút mới. Điều này là xa lý tưởng vì bạn sẽ cần phải tính đến thời gian chết mỗi khi bạn muốn thay đổi cấu trúc tôpô!. Cấu trúc liên kết sao là cấu trúc liên kết trong đó mọi nút trong mạng được kết nối với một công tắc trung tâm. Mọi thiết bị trong mạng được kết nối trực tiếp với công tắc và kết nối gián tiếp với mọi nút khác. Mối quan hệ giữa các yếu tố này là thiết bị mạng trung tâm là một máy chủ và các thiết bị khác được coi là máy khách. Nút trung tâm có trách nhiệm quản lý truyền dữ liệu trên mạng và hoạt động như một bộ lặp. Trong cấu trúc liên kết hình sao, máy tính được kết nối với cáp đồng trục, cáp xoắn hoặc cáp quang. Cấu trúc liên kết sao được sử dụng phổ biến nhất vì bạn có thể quản lý toàn bộ mạng từ một vị trí: công tắc trung tâm. Kết quả là, nếu một nút không phải là nút trung tâm bị hỏng thì mạng sẽ vẫn hoạt động. Điều này mang lại cho các cấu trúc liên kết sao một lớp bảo vệ chống lại các thất bại mà aren luôn luôn có mặt với các thiết lập cấu trúc liên kết khác. Tương tự như vậy, bạn có thể thêm máy tính mới mà không cần phải lấy mạng ngoại tuyến như bạn sẽ phải làm với một cấu trúc liên kết vòng. Về cấu trúc vật lý, cấu trúc liên kết hình sao yêu cầu ít cáp hơn các loại cấu trúc liên kết khác. Điều này làm cho họ đơn giản để thiết lập và quản lý trong thời gian dài. Sự đơn giản của thiết kế tổng thể giúp quản trị viên dễ dàng chạy xử lý sự cố hơn khi xử lý các lỗi hiệu suất. Mặc dù cấu trúc liên kết sao có thể tương đối an toàn từ thất bại, nếu công tắc trung tâm ngừng hoạt động thì toàn bộ mạng sẽ ngừng hoạt động. Do đó, quản trị viên cần quản lý chặt chẽ tình trạng của nút trung tâm để đảm bảo rằng nó không bị hỏng. Hiệu suất của mạng cũng vậy gắn với các cấu hình và hiệu suất nút trung tâm. Cấu trúc liên kết hình sao dễ quản lý theo hầu hết các cách nhưng chúng không phải là rẻ để thiết lập và sử dụng. Như tên cho thấy, cấu trúc liên kết cây là một cấu trúc mạng có hình dạng giống như một cái cây với nhiều nhánh của nó. Cấu trúc liên kết cây có một nút gốc được kết nối với hệ thống phân cấp nút khác. Các thứ bậc là cha mẹ trong đó chỉ có một kết nối lẫn nhau giữa hai nút được kết nối. Theo nguyên tắc chung, một cấu trúc liên kết cây cần có ba cấp độ để phân cấp để được phân loại theo cách này. Hình thức cấu trúc liên kết này là được sử dụng trong Mạng diện rộng để duy trì nhiều thiết bị dàn trải. Lý do chính tại sao cấu trúc liên kết cây là được sử dụng là để mở rộng cấu trúc liên kết xe buýt và sao. Theo định dạng phân cấp này, thật dễ dàng để thêm nhiều nút vào mạng khi tổ chức của bạn tăng kích thước. Định dạng này cũng cho vay tốt để tìm lỗi và xử lý sự cố bởi vì bạn có thể kiểm tra các vấn đề về hiệu năng một cách có hệ thống trên toàn cây. Điểm yếu đáng kể nhất của cấu trúc liên kết cây là nút gốc. Nếu nút gốc thất bại thì tất cả các cây con của nó sẽ được phân vùng. Vẫn sẽ có kết nối một phần trong mạng giữa các thiết bị khác, chẳng hạn như nút cha mẹ bị lỗi. Duy trì mạng cũng không đơn giản vì bạn càng thêm nhiều nút, việc quản lý càng trở nên khó khăn hơn mạng lưới. Một nhược điểm khác của cấu trúc liên kết cây là số lượng cáp bạn cần. Cáp được yêu cầu để kết nối mọi thiết bị trong toàn bộ phân cấp làm cho bố cục phức tạp hơn khi so sánh với cấu trúc liên kết đơn giản hơn. Cấu trúc liên kết lưới là kết nối điểm-điểm trong đó các nút được liên kết với nhau. Trong hình thức cấu trúc liên kết này, dữ liệu được truyền qua hai phương thức: định tuyến và ngập lụt. Định tuyến là nơi các nút sử dụng logic định tuyến để tìm ra khoảng cách ngắn nhất đến đích gói tin. Ngược lại, ngập lụt là nơi dữ liệu được gửi đến tất cả các nút trong mạng. Lũ lụt không yêu cầu bất kỳ hình thức logic định tuyến nào để hoạt động. Có hai hình thức cấu trúc liên kết lưới: cấu trúc liên kết một phần lưới và fcấu trúc liên kết lưới. Với cấu trúc liên kết lưới một phần, hầu hết các nút được liên kết với nhau nhưng có một số chỉ được kết nối với hai hoặc ba nút khác. Cấu trúc liên kết lưới đầy đủ là nơi mọi nút được liên kết với nhau. Cấu trúc liên kết lưới được sử dụng đầu tiên và quan trọng nhất bởi vì chúng đáng tin cậy. Các khả năng kết nối của các nút làm cho chúng cực kỳ chống lại các thất bại. Không có lỗi máy nào có thể làm sập toàn bộ mạng. Sự vắng mặt của một điểm thất bại duy nhất là một trong những lý do tại sao đây là một lựa chọn cấu trúc liên kết phổ biến. Thiết lập này cũng an toàn không bị xâm phạm. Tuy nhiên, cấu trúc liên kết lưới là xa hoàn hảo. Họ đòi hỏi một lượng lớn cấu hình một khi chúng được triển khai. Bố cục tô pô phức tạp hơn nhiều cấu trúc liên kết khác và điều này được phản ánh qua thời gian thiết lập. Bạn cần phải cung cấp một loạt các hệ thống dây mới có thể khá tốn kém. Khi một cấu trúc liên kết bao gồm hai hoặc nhiều cấu trúc liên kết khác nhau, nó được gọi là cấu trúc liên kết lai. Cấu trúc liên kết lai là thường gặp nhất trong các doanh nghiệp lớn nơi các bộ phận riêng lẻ có cấu trúc liên kết mạng khác với cấu trúc liên kết khác trong tổ chức. Kết nối các cấu trúc liên kết này với nhau sẽ dẫn đến một cấu trúc liên kết lai. Do đó, các khả năng và lỗ hổng phụ thuộc vào các loại cấu trúc liên kết với nhau. Có nhiều lý do tại sao các cấu trúc liên kết lai được sử dụng nhưng chúng đều có một điểm chung: Uyển chuyển. Có một vài ràng buộc về cấu trúc mà một cấu trúc liên kết lai không thể đáp ứng, và bạn có thể kết hợp nhiều cấu trúc liên kết vào một thiết lập lai. Kết quả là, cấu trúc liên kết lai rất có khả năng mở rộng. Khả năng mở rộng của các thiết lập lai làm cho chúng phù hợp với các mạng lớn hơn. Thật không may, cấu trúc liên kết lai có thể khá phức tạp, tùy thuộc vào cấu trúc liên kết mà bạn quyết định sử dụng. Mỗi cấu trúc liên kết là một phần của cấu trúc liên kết lai của bạn sẽ phải được quản lý theo các yêu cầu duy nhất của nó. Điều này làm cho các quản trị viên các công việc khác trở nên khó khăn hơn bởi vì họ sẽ phải cố gắng quản lý nhiều cấu trúc liên kết chứ không phải một cấu trúc đơn lẻ. Ngoài ra, thiết lập cấu trúc liên kết lai cuối cùng có thể khá tốn kém. Có một loạt các yếu tố mà bạn cần tính đến khi chọn sử dụng cấu trúc liên kết. Trước khi chọn một cấu trúc liên kết, bạn sẽ muốn xem xét chặt chẽ những điều sau đây:. Trước tiên, bạn cần phải tính đến chiều dài của cáp bạn cần để cung cấp dịch vụ cho tất cả các thiết bị mạng của bạn. Một cấu trúc liên kết xe buýt là nhẹ nhất về nhu cầu cáp. Theo nghĩa này, đây sẽ là cấu trúc liên kết đơn giản nhất để cài đặt và mua cáp cho. Điều này liên quan đến yếu tố thứ hai, bạn cần phải hãy xem xét loại cáp bạn sẽ sử dụng. Các loại cáp có phạm vi từ cặp twister đến cáp đồng trục và cáp quang. Chi phí cài đặt cấu trúc liên kết cũng rất quan trọng. Cấu trúc liên kết bạn chọn càng phức tạp, bạn càng cần phải trả nhiều hơn về mặt tài nguyên và thời gian để tạo thiết lập đó. Yếu tố cuối cùng mà bạn sẽ muốn tính đến là khả năng mở rộng. | Cấu trúc liên kết mạng | Cấu trúc liên kết mạng là sự sắp xếp các phần tử khác nhau (liên kết, nút mạng, vân vân.) Chủ yếu, đó là cấu trúc tô pô của một mạng máy tính, và có thể mô tả theo tính vật lý và lôgíc. Cấu trúc liên kết vật lý (tô pô vật lý) là sự sắp đặt các thành phần mạng khác nhau, bao gồm nơi chứa thiết bị và cài đặt dây cáp nối, trong khi cấu trúc liên kết lôgíc (tô pô lôgíc) chỉ ra cách hoạt động của dòng dữ liệu trong mạng. Khoảng cách giữa các nút mạng, điểm giao vật lý, tỉ lệ truyền tải, và/hoặc dạng tín hiệu có thể khác nhau giữa hai mạng cho dù cấu trúc tô pô của chúng có thể giống hệt nhau. |
Sự phát triển nhanh chóng của Ebook hay còn gọi là sách điện tử đã dẫn đến sự ra đời của một thiết bị thông minh có tên gọi là máy đọc sách. Sau đây Á Châu Book xin đưa tới cho bạn đọc kiến thức về máy đọc sách. Máy đọc sách hay thiết bị đọc sách điện tử là một thiết bị điện tử được thiết kế chuyên dụng dành cho việc đọc sách điện tử và các tạp chí. Dưới đây là một số ưu, nhược điểm của máy đọc sách. Chỉ với một lần sạc là bạn đã có thể sử dụng máy đọc sách liên tục trong một khoảng thời gian tương đối dài mà không cần sử dụng các loại pin sạc dự phòng như smartphone hay tablet. Theo Amazon thì model Kindle PaperWhite của hãng nếu như tắt kết nối mạng và điều chỉnh độ sáng về mức 10 thì có thể sử dụng liên tục tối đa 6 tuần/mỗi ngày 30 phút. Đa phần các máy đọc sách hiện nay đều sử dụng công nghệ mực điện tử (E-Ink), công nghệ này mang đến chất lượng hiển thị cực kỳ sắc nét không gây ra tình trạng lóa bóng cho mắt người đọc. Nếu bạn đã từng trải nghiệm đọc sách vào ban đêm bằng smartphone thì sẽ có cảm giác lóa mắt và khó ngủ. Nhưng với E-reader, đều được trang bị đèn nền rất thân thiện nên bạn sẽ không bị tình trạng lóa bóng hay cảm giác mỏi mắt khi đọc. Thật ra tính năng chống nước này chỉ được trang bị trên các dòng cao cấp của Kindle như Oasis hay model Aura H2O của hãng Kobo, tính năng chống nước giúp bạn có thể thoải mái đọc sách ngay cả khi đang ngâm mình trong bồn tắm. Máy đọc sách được ví như một thư viện khổng lồ cho phép bạn đọc được rất nhiều đầu sách điện tử khác nhau, bên cạnh đó so với video thì các file sách điện tử có dung lượng rất nhẹ chỉ khoảng vài chục MB. Giá bán tương đối cao, chiếc máy đọc sách rẻ nhất hiện nay cũng đã có mức giá dao động trên 2,5 triệu đồng, do đó không phải ai trong chúng ta cũng có khả năng để sử dụng sản phẩm này. Nếu chỉ có nhu cầu cơ bản thì tốt hơn hết bạn không nên mua vì sẽ rất tốn kém, ngược lại bạn là một người yêu thích đọc sách, điều kiện kinh tế khá giả và muốn cập nhật kiến thức mọi lúc mọi nơi thì nên trang bị cho mình một chiếc máy đọc sách. | Máy đọc sách điện tử | Máy đọc sách điện tử (tiếng Anh: e- reader or e-book device, hay được gọi là thiết bị đọc sách điện tử) là một thiết bị di động được thiết kế chủ yếu cho mục đích đọc e-books và các tác phẩm từ xuất bản điện tử. Máy đọc sách điện tử được thiết kế với một công nghệ màn hình khác biệt hoàn toàn với hầu hết các thiết bị điện tử còn lại nó được gọi là màn hình mực điện tử (e-ink), màn hình e-ink giúp cho người đọc có cảm giác giống với giấy thật nhất, cơ chế hiển thị và ánh sáng được bố trí hợp lý và gần như mắt bạn không bị ảnh hưởng bởi nguồn sáng xanh gây mỏi mắt, gây giảm thị lực như ở các màn hình điện tử khác. Khi đọc sách bằng máy đọc sách bạn không còn bị làm phiền bởi các thông báo, nguồn ebook hiện nay rất đa dạng, phong phú đầy đủ tất cả các thể loại. |
Tế bào mầm là loại tế bào duy nhất có khả năng tạo ra một sinh vật hoàn toàn mới. Để thực hiện các chức năng dành riêng cho dòng mầm và duy trì khả năng toàn năng, tế bào mầm ức chế sự phân hóa soma, tương tác với một môi trường vi mô chuyên biệt và sử dụng mạng lưới điều hòa RNA dành riêng cho mầm tế bào. Tế bào mầm là bất kỳ tế bào sinh học nào làm phát sinh giao tử của một sinh vật có khả năng sinh sản hữu tính. Ở nhiều loài động vật, tế bào mầm có nguồn gốc từ nguyên thủy và di chuyển qua ruột của phôi thai đến các tuyến sinh dục đang phát triển. Ở đó, chúng trải qua quá trình phân chia tế bào theo hai loại nguyên phân và meiosis, sau đó là sự phân hóa tế bào thành các giao tử trưởng thành, trứng hoặc tinh trùng. Không giống như động vật, thực vật không có tế bào mầm từ giai đoạn phát triển ban đầu. Thay vào đó, tế bào mầm có thể đến từ tế bào xôma ở người trưởng thành. Trong hầu hết các sinh vật đa bào, tế bào mầm là nguồn gốc của các sinh vật mới cung cấp sự kế thừa thông tin di truyền và biểu sinh ở các thế hệ sau. Dòng tế bào mầm là nguồn gốc của sự toàn năng, cung cấp cho việc tạo ra các sinh vật mới. Vào thế kỷ 19, August Weismann đã công bố giả thuyết, theo đó, sự hiện diện của các yếu tố quyết định tế bào mầm đã hình thành sẵn (tế bào mầm) chỉ được di truyền thông qua các tế bào mầm đảm bảo tính toàn năng và tính liên tục của dòng mầm. Điều này đã được chứng minh ở động vật không xương sống và động vật có xương sống thấp hơn, nơi mà tế bào mầm cần thiết để hình thành tế bào mầm, trong khi ở động vật có vú, quá trình này liên quan đến cơ chế biểu sinh chứ không phải quá trình hình thành. Một số ảnh hưởng từ môi trường đóng một vai trò quan trọng và tính toàn năng được duy trì thông qua dòng mầm, cho phép phát triển hơn nữa ở thế hệ sau. Tế bào mầm trải qua hai giai đoạn phát triển khác nhau đáng kể. Giai đoạn đầu tiên xảy ra trong quá trình hình thành phôi sớm, khi các tế bào mầm nguyên thủy (PGCs) được hình thành và tích cực di chuyển đến rãnh sinh dục. Trong giai đoạn thứ hai, các tế bào mầm nhận được các tín hiệu thích hợp từ môi trường của chúng và bắt đầu một trong hai chương trình phân chia tế bào có kiểm soát, quá trình meiosis, và biệt hóa - sinh trứng hoặc sinh tinh, để hình thành giao tử. Cơ sở phân tử của cả hai quá trình và sự phát triển tế bào mầm ban đầu được hiểu rất rõ ở hai loài Drosophila và Caenorhabditis elegans, nơi các đánh giá di truyền có hệ thống đã xác định được nhiều gen cần thiết trong quá trình này. PGCs ở người chưa được nghiên cứu nhiều vì những trở ngại về kỹ thuật và đạo đức trong việc lấy các tế bào như vậy từ phôi ban đầu. Phần lớn kiến thức thu thập được về đặc điểm kỹ thuật PGC của động vật có vú thu được từ các nghiên cứu sử dụng phôi chuột ban đầu, trong đó, số tế bào mầm được tạo ra trong các tế bào biểu mô gần đa năng ngay sau khi được cấy vào thành tử cung. Ở động vật có vú, nguồn gốc của dòng tế bào mầm trong quá trình phát sinh phôi ban đầu không rõ ràng do không có dòng tế bào mầm đặc trưng có trong trứng như ở các sinh vật khác như X. laevis và D. melanogaster. Nguồn gốc và sự phát triển của tế bào mầm lần đầu tiên được xác định ở động vật có vú bởi Chiquoine vào năm 1954. Ông đã tìm thấy một quần thể các tế bào thuộc dòng tế bào mầm có khả năng tạo ra cả tế bào trứng và tinh trùng ở gốc của đồng phân mới nổi ở E7.25 trong nội bì của túi noãn hoàng của phôi chuột, ngay bên dưới vệt nguyên thủy, được xác định bởi phosphatase kiềm cao (AP) hoạt động. Mặc dù những ràng buộc về đạo đức làm hạn chế những kiến thức của chúng ta về đặc điểm kỹ thuật của PGC ở người nhưng rõ ràng là các con đường tín hiệu chung hoạt động trên các loài động vật có vú và có thể là tất cả các động vật có xương sống. Dựa trên việc nhuộm AP, các nghiên cứu khác nhau đã gợi ý các vị trí nguồn gốc đa dạng cho PGC bao gồm cả vệt nguyên thủy phía sau. Quần thể sáng tạo của tế bào mầm có số lượng ít và sâu, điều này gây khó khăn lớn trong việc nghiên cứu cơ sở di truyền cho đặc điểm của dòng tế bào mầm. Các tế bào mầm, ngay sau khi hạn chế dòng dõi của chúng, có được hình thái phản ánh các đặc điểm phân tử cơ bản. Saitou và cộng sự đã thiết lập một hệ thống để xác định các yếu tố chính quyết định số phận tế bào mầm ở chuột và để hiểu các đặc điểm khác biệt mà tế bào mầm có được ở cấp độ phân tử. Họ đã tách ra một vùng phôi với khoảng 300 tế bào có chứa tế bào mầm sáng lập ở E7.5 (giai đoạn EB) và phân tách nó thành các tế bào đơn lẻ. Các tế bào này giống nhau về mặt hình thái nhưng thuộc hai lớp có thể phân biệt được bằng sự biểu hiện khác biệt của hai gen đặc trưng cho tế bào mầm, Stella và Fragilis. Cụm 300 tế bào thể hiện sự biểu hiện phổ quát của Fragilis nhưng sự biểu hiện Stella bị giới hạn trong một tập hợp con các tế bào ở trung tâm của cụm. Do đó, cả hai gen dường như đều có vai trò chính trong sự phát triển tế bào mầm và khả năng biệt hóa của chúng. Stella là gen đầu tiên được biểu hiện trong quần thể tế bào được coi là tế bào mầm hạn chế dòng dõi cũng cho thấy sự biểu hiện cao của AP không đặc hiệu ở mô (Tnap), một gen cho hoạt động AP của PGC. Tế bào mầm di cư tiếp tục biểu hiện rõ ràng và đặc hiệu của Stella nhưng lại biểu hiện sự đàn áp mạnh mẽ của tất cả các gen homeobox được khảo sát, mặc dù mức độ biểu hiện cao của các gen này ở các tế bào soma lân cận. Vì vai trò của gen homeobox là xác định danh tính khu vực của các tế bào dọc theo trục cơ thể hoặc tạo ra sự khác biệt của tế bào đối với các dòng tế bào soma cụ thể, điều này cho thấy rằng tế bào mầm có khả năng tránh đặc điểm soma bằng cách ngăn chặn hoặc ức chế sự biểu hiện của gen homeobox. Đây có thể là một trong những đặc điểm chính mà tế bào mầm của động vật có vú sở hữu cho phép chúng duy trì hoặc lấy lại sức mạnh và sự khác biệt với các tế bào xung quanh khác trong ngách. Khái niệm này được hỗ trợ bởi sự biểu hiện liên tục của Oct4 và các gen đa năng khác trong tế bào mầm. Trái ngược với D. melanogaster và cá ngựa vằn, người ta biết rất ít về sự di cư của PGC và bắt đầu quá trình đó ở chuột. Ngay sau khi đặc tả, các tế bào bắt đầu biểu hiện hình thái phân cực và sự mở rộng tế bào chất cũng như bắt đầu di chuyển qua vệt nguyên thủy vào nội bì phôi sau liền kề, nội bì ngoại phôi, và đồng phân. Bước đầu tiên trong quá trình di chuyển PGC của chuột là sự di chuyển của các tế bào từ vệt nguyên thủy sau đến nội bì tại E 7.5. Giữa E 8.5 và E 13.5, các PGC dương tính Tnap sinh sôi và di chuyển qua nội bì sau và mạc treo, di cư song phương đến các gờ sinh dục. Sau đó, chúng có thể xâm nhập vào meiosis ở con cái hoặc bắt đầu phân bào ở con đực và bắt đầu sự phân hóa thành tế bào trứng hoặc tinh trùng. Trong quá trình di cư, thời gian nhân đôi của “dân số” PGC khá đồng đều, vào khoảng 16 giờ từ 8,5 đến 13,5 ngày. Phôi chuột E 13.5 nên có khoảng 24000 PGC trong các gờ sinh dục của chúng. Trong giai đoạn di cư này, PGC trải qua quá trình tái lập trình rộng rãi bộ gen và thay đổi thông tin biểu sinh, chẳng hạn như sự methyl hóa DNA và các mẫu sửa đổi histone. Chúng cũng xóa dấu vết gen có thể cần thiết để khôi phục toàn năng cho dòng tế bào mầm. Hiện tại, không có bằng chứng về sự khác biệt cụ thể về giới tính trong quá trình di cư của PGC ở bất kỳ sinh vật nào. Một tập hợp con các tế bào mầm trong tuyến sinh dục có được khả năng hoạt động như các tế bào gốc của dòng mầm, trải qua quá trình meiosis để tạo ra tinh trùng và trứng, đồng thời thúc đẩy thế hệ tiếp theo của sự phát triển phôi và di chuyển PGC. Protein Vasa là một thành phần thiết yếu của tế bào mầm và đại diện cho một phức hợp RNA và protein chưa được nghiên cứu rõ ràng cần thiết để xác định tế bào mầm. Đột biến rỗng dẫn đến bất dục ở chuột cái do những khiếm khuyết nghiêm trọng trong quá trình sinh sản. Ở người, sự biểu hiện VASA bắt đầu vào cuối giai đoạn di cư của quá trình phát triển PGC. Tilgner và cộng sự đã tạo ra và đặc trưng cho các dòng tế bào gốc phôi người (hESC) với cấu trúc trong đó sự biểu hiện của gen pEGFP-1 được điều khiển bởi trình tự DNA đại diện cho VASA report. Họ đã chứng minh rằng, hESC có thể được sử dụng như một hệ thống mô hình phát triển cho đặc điểm kỹ thuật PGC trong tương lai. Ngoài ra, họ có thể thiết lập một số lượng nhỏ các PGC nữ giả định được phân lập trên cơ sở phát huỳnh quang GFP do promoter VASA điều khiển. Những kết quả này và thực tế là sự biểu hiện cụ thể của Vasa trong dòng tế bào mầm trong quá trình thực dân của rãnh sinh dục cho thấy rằng Vasa là cần thiết để duy trì chức năng của tế bào mầm. Các PGC di cư duy trì một chương trình gen liên quan đến tính đa năng. Chúng biểu hiện các gen đa năng lõi (Oct4, Nanog và Sox2) và có khả năng hình thành u sau khi tiêm vào tinh hoàn của chuột sau sinh. Bên cạnh đó, các PGC di cư biểu hiện kháng nguyên phôi thai đặc hiệu giai đoạn 1 (SSEA1). Khi đến tuyến sinh dục, protein liên kết RNA đặc hiệu của tế bào mầm DAZL (bị xóa ở dạng azoospermia) là yếu tố cần thiết để phát triển PGC. Nhiều nghiên cứu cho thấy DAZL có chức năng như một chất tăng cường dịch mã dẫn đến những thay đổi nghiêm trọng về kiểu hình cho thấy DAZL có thể có các vai trò bổ sung trong giai đoạn PGC của quá trình phát sinh giao tử ở động vật có vú. DAZL cũng là tác nhân bảo vệ quá trình apoptosis ở PGC và điều chỉnh sự biểu hiện của các Caspase chính hoạt động như một cơ chế an toàn ngăn PGC lạc chỗ hình thành các khối u và loại bỏ PGC không ổn định. Trong trường hợp không có DAZL, các tế bào mầm không thể phát triển ngoài giai đoạn PGC như được thể hiện bằng cách tiếp tục biểu hiện các dấu hiệu đa năng. Những phát hiện này cho thấy DAZL là một “yếu tố cấp phép” cần thiết để phân biệt giới tính của PGC. Các PGC sau di cư, được đánh dấu bằng sự biểu hiện của một số protein liên kết RNA như MVH, DAZL và NANOS3, trải qua quá trình phát triển lưỡng hình hữu tính. Ở chuột, tế bào mầm cái nhanh chóng bắt đầu quá trình meiosis và bắt giữ ở giai đoạn meiosis I, trong khi những con đực phân chia nguyên phân trong vài vòng và sau đó bước vào giai đoạn tĩnh lặng khi chúng được gọi là tế bào sinh dục. Cụ thể, các PGC điều chỉnh một bộ gen cho phép chúng trải qua quá trình phân hóa giới tính và hình thành giao tử trong khi ngăn chặn sư hoạt động đa năng của chúng. Trong phôi giới nữ XX, các PGC tiếp tục tăng sinh tỷ lệ và sau đó tham gia vào giai đoạn giảm phân I. Sau khi sinh ra, các tế bào sinh dục được bao bọc bởi các tế bào từ lớp kẽ vỏ và trở thành tế bào trứng sơ cấp trong các nang nguyên thủy, từ đó chấm dứt tiềm năng tăng sinh tiền nhân và kìm hãm quá trình phát triển của chúng cho đến tuổi dậy thì. Sau tuổi dậy thì, sự kích thích nội tiết tố trong quá trình rụng trứng gây ra sự trưởng thành và phóng thích tế bào trứng từ buồng trứng vào ống dẫn trứng, tiếp theo là sự hoàn thành của phân chia meiotic đầu tiên đồng thời với sự phát triển của cơ thể. Khi thụ tinh với tế bào sinh tinh đơn bội, tế bào trứng hoàn thành lần phân chia cộng sinh thứ hai và tạo ra thể cực thứ hai. Ngược lại với nữ, PGC của nam giới XY bắt đầu phân bào khi xâm nhập vào các gờ sinh dục và ở trạng thái tĩnh lặng trong giai đoạn của chu kỳ tế bào trong thời kỳ phôi thai còn lại như một phôi thai, trong khi vẫn giữ được tiềm năng tiền sinh sản. Vào khoảng ngày thứ 5 sau khi sinh, nhiều pro spermatogonia tiếp tục tăng sinh tích cực, trong khi một số di chuyển đến màng đáy của ống bán lá kim và hình thành các điểm nối chặt chẽ với các tế bào Sertoli, do đó hình thành các tế bào gốc sinh tinh (SSC) được kết hợp vào ngách thích hợp của chúng. So với kích thước rất hạn chế của bể tế bào trứng, tế bào tinh trùng có thể thu được từ sự biệt hóa của SSC. | Tế bào mầm | Tế bào mầm là tế bào có thể khởi tạo ra giao tử của động vật đa bào hữu tính qua quá trình hình thành giao tử. Thuật ngữ "tế bào mầm" bắt nguồn từ tiếng La Tinh Cellula germinativa, đã được dịch là: "germ cell" (tiếng Anh), "cellules germinales" (tiếng Pháp), "célula germinal" (tiếng Tây Ban Nha), "Urkeimzelle" (tiếng Đức) v.v đều có nội hàm như vậy. Tuy nhiên cũng có một số quan niệm khác:Một vài tài liệu lại cho rằng tế bào mầm là giao tử có bộ nhiễm sắc thể đơn bội - nói cách khác, tế bào mầm là tế bào sinh dục đơn bội. Lại có tài liệu cho rằng: tế bào mầm là tế bào sinh dục ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình phát triển từ tế bào sinh dục nguyên thủy cho đến giao tử trưởng thành. Ở Việt Nam, trong một thời gian dài trước kia và cả trong trình độ phổ thông hiện hành, nội dung khái niệm này (nội hàm) còn được gọi bằng tên (ngoại diên) là tế bào sinh dục sơ khai. Cách gọi này dễ hiểu, hàm ý so sánh với tế bào sinh dưỡng, tuy nhiên có thể gây bỡ ngỡ (xem tế bào xôma và tế bào sinh dục). |
Mục tiêu của các doanh nghiệp là thấu hiểu hành vi, nhu cầu cũng như mong muốn của khách hàng để đưa ra những chiến lược bán hàng phù hợp, từ đó doanh nghiệp có thể thúc đẩy họ sử dụng sản phẩm, dịch vụ và tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chính vì thế mà thuật ngữ hành trình khách hàng (Customer Journey) rất được tất cả các marketers đặc biệt quan tâm, và nó được coi như một công cụ hữu ích trong các chiến lược kinh doanh không thể bỏ qua của nhiều thương hiệu trên thị trường hiện nay. Bản đồ hành trình khách hàngBản đồ hành trình khách hàng là gì?Lợi ích của bản đồ hành trình khách hàngCác bước xây dựng hành trình khách hàngBước 1. Tạo hồ sơ khách hàng và xác định mục tiêu của họBước 3. Chọn chân dung khách hàng mục tiêuBước 4. Liệt kê tất cả các điểm chạm (touch-point)Bước 5. Nhận diện những yếu tố bạn muốn thể hiện trên bản đồBước 6. Xác định nguồn lực Bước 7. Bắt tay vào hành độngBước 8. Thay đổi, điều chỉnh trên thực tế. Các bước xây dựng hành trình khách hàngBước 1. Tạo hồ sơ khách hàng và xác định mục tiêu của họBước 3. Chọn chân dung khách hàng mục tiêuBước 4. Liệt kê tất cả các điểm chạm (touch-point)Bước 5. Nhận diện những yếu tố bạn muốn thể hiện trên bản đồBước 6. Xác định nguồn lực Bước 7. Bắt tay vào hành độngBước 8. Thay đổi, điều chỉnh trên thực tế. Hành trình khách hàng (Customer Journey) mô phỏng quá trình khách hàng trải nghiệm một thương hiệu theo thời gian hay hành trình kết nối khách hàng với thương hiệu. Việc mô tả hành trình khách hàng giúp doanh nghiệp nắm bắt chính xác những điểm tiếp xúc (touch-point) và những gì khách hàng suy nghĩ, tương tác với thương hiệu, đồng thời đảm bảo tính nhất quán ở tất cả các điểm tiếp xúc và trên tất cả các kênh. Trong kỷ nguyên kết nối, hành trình khách hàng trở nên phức tạp hơn nhờ sự kết hợp của mua hàng online và offline. Khách hàng tương tác với thương hiệu dựa trên nhiều nền tảng, theo nhiều cách khác nhau từ những xuất phát điểm khác nhau, chẳng hạn từ các chiến dịch marketing, được giới thiệu (referral), công cụ tìm kiếm tối ưu (search engine), mạng xã hội (social networks) hoặc các kênh marketing truyền thông nhằm xây dựng hình ảnh, tính cách và chủ đề cho thương hiệu. Bản đồ hành trình khách hàng (sơ đồ hành trình khách hàng) là sự mô tả trực quan về trải nghiệm mà khách hàng có với doanh nghiệp. Nó có thể hiểu là câu chuyện về trải nghiệm khách hàng với thương hiệu từ sự tương tác đầu tiên và trong mối quan hệ dài hạn. Việc phân giai đoạn trong quá trình tương tác đó sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt rõ ràng vấn đề, xác định “đúng bệnh” và tối ưu hóa từng hoạt động. Cuối cùng, nhiệm vụ của bạn không chỉ là đáp ứng mục tiêu được đề ra trước đó (là bán được sản phẩm, dịch vụ, nâng cao nhận thức về thương hiệu), mà còn là giải quyết triệt để vấn đề khách hàng gặp phải, và xây dựng mối quan hệ lâu bền giữa khách hàng và doanh nghiệp. Vẽ bản đồ hành trình khách hàng giúp doanh nghiệp thấu hiểu hành vi khách hàng. Nó giúp doanh nghiệp thu được những hiểu biết sâu sắc về điểm đau của khách hàng và cách doanh nghiệp cải thiện trải nghiệm khách hàng, và xác định khách hàng tiềm năng lẫn khách hàng có nhu cầu mua hàng để ra quyết định mua hàng. Ở bước này, bạn cần tiến hành các khảo sát để có được phản hồi, góp ý (feedback, review) từ phía khách hàng (khách hàng thực tế hoặc khách hàng tiềm năng) thông qua bảng câu hỏi. Một số các câu hỏi có thể là:. Đề xuất của bạn để điều chỉnh quá trình tương tác của bạn thuận tiện hơn. Khi bạn hiểu được những đặc điểm của mỗi loại khách hàng khác nhau tương tác với doanh nghiệp, chỉ cần thu hẹp, tập trung vào một hoặc hai tập khách hàng trong số đó. Điểm chạm là tất cả những nơi trên trang web mà khách hàng tương tác với doanh nghiệp. Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình vẽ bản đồ hành trình khách hàng vì nó giúp chúng ta có cái nhìn sâu hơn về hành vi khách hàng. Đừng dừng lại nghiên cứu hành vi khách hàng chỉ ở website, bạn có thể nhìn rộng ra các kênh khác như các mạng xã hội, quảng cáo có trả phí, email marketing và các kênh chuyên review, đánh giá sản phẩm, dịch vụ. Liệt kê tất cả các hành động khách hàng thực hiện xuyên suốt quá trình tương tác với thương hiệu, chẳng hạn,công cụ tìm kiếm Google từ khóa liên quan, click vào email bạn gửi… Đây là cơ hội để doanh nghiệp hợp lý hóa thông tin sau này. Mọi hành vi khách hàng thực hiện đều được thúc đẩy bởi cảm xúc. Và cảm xúc đó thay đổi tùy theo mỗi giai đoạn khác nhau trên hành trình khách hàng. Còn yếu tố ảnh hưởng tới cảm xúc trong mỗi hành vi của khách hàng chính là điểm đau hay vấn đề họ gặp phải. Hiểu được những điều này sẽ giúp bạn xây dựng hành trình khách hàng xuyên suốt, đúng thời gian. Một trong những trở ngại có thể thấy là chi phí, chẳng hạn khách hàng thích sản phẩm của bạn nhưng khi vào giỏ hàng lại phát sinh chi phí giao hàng khá cao. Nên việc hiểu rõ những trở ngại, vấn đề đó và xử lý chúng của doanh nghiệp sẽ làm cho trải nghiệm của khách hàng trên hành trình mượt mà hơn. Đây là loại phổ biến dùng để mô phỏng những hành động, suy nghĩ, cảm xúc khách hàng trải qua khi tương tác với công ty. Bản đồ này rất hữu ích có thể giúp cải thiện liên tục hành trình khách hàng. Bản đồ này diễn tả những hành động, suy nghĩ, cảm xúc mà khách hàng trải qua trong mọi hoạt động diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Loại này đem lại góc độ rộng hơn, sâu hơn về cuộc sống của khách hàng, những điểm đau của họ. Chúng thường được dùng để giải quyết những nhu cầu chưa được đáp ứng trước cả khi khách hàng nhận thức được nhu cầu đó. Loại này mô tả các hành động, suy nghĩ, cảm xúc mà bạn tin khách hàng sẽ trải qua khi tương tác với doanh nghiệp trong tương lai. Loại này thường dùng để minh họa tầm nhìn và thiết lập mục tiêu rõ ràng trong tương lai gần. Bản đồ này bắt đầu với phiên bản đơn giản như những loại bên trên, nhưng làm rõ những yếu tố chịu trách nhiệm đem đến trải nghiệm như con người, công nghệ, chính sách, và quy trình. Bản đồ này thường được dùng để nhận dạng nguyên nhân gốc rễ trong hành trình khách hàng hiện tại hoặc nhận diện những bước cần phải làm cho hành trình khách hàng trong tương lai. Phần này làm rõ những nguồn lực bạn sẽ cần để tạo ra hành trình trải nghiệm khách hàng như mong muốn. Vì vậy, bạn cần liệt kê và tận dụng mọi nguồn lực mình hiện có và những cái mình sẽ cần để cải thiện hành trình. Ví dụ, bản đồ của bạn cho thấy phát sinh một số lỗi trong dịch vụ khách hàng và bộ phận chăm sóc không có công cụ hữu ích để theo dõi khách hàng sau khi họ mua và sử dụng dịch vụ. Nhờ vậy bạn cũng đoán chính xác hơn tác động của việc có thêm nguồn lực tác động như thế nào tới doanh thu, hiệu quả kinh doanh để thuyết phục bộ phận quản trị. Chỉ vẽ xong bản đồ hành trình khách hàng chưa chắc đã hoàn thành nhiệm vụ , mà còn phải phân tích kết quả nữa. Phân tích kết quả sẽ cho biết những chỗ mà nhu cầu khách hàng chưa đáp ứng được, như vậy doanh nghiệp mới có thể cung cấp trải nghiệm khách hàng đúng nghĩa. Với mỗi một nhóm khách hàng khác nhau sẽ có loại hành trình riêng mà khách hàng trải nghiệm thông qua việc đọc email, tìm kiếm online. Các dữ liệu được phân tích sẽ cho doanh nghiệp biết mình cần làm gì tiếp theo, ví dụ như điều chỉnh trên trang web, hoặc tạo nút Call to Action nổi bật hơn, hay có phần mô tả dài hơn để làm rõ tính năng hay lợi ích. Bên cạnh đó, bản đồ của bạn cũng cần được đánh giá lại đều đặn mỗi tháng hoặc mỗi quý để tìm ra những lỗ hổng hoặc cơ hội để cải thiện trải nghiệm khách hàng tốt hơn. Hubspot là công ty phần mềm Mỹ về lĩnh vực bán hàng, marketing,… Bản đồ hành trình khách hàng cung cấp outline chi tiết để các doanh nghiệp am hiểu về hành trình khách hàng. Bản đồ hình trình khách hàng này chỉ rõ 5 bước mà khách hàng sẽ trải qua khi tiếp cận sản phẩm. Có thể thấy rằng giai đoạn mua hàng thực tế hình thành bởi sự kết hợp giữa việc nghiên cứu hành vi khách hàng ban đầu do Dapper Apps khảo sát và nhu cầu khách hàng. Bản đồ giả lập này mô tả hành trình khách hàng tương tác với một nhà hàng ảo. Dạng bản đồ này chắc chắn sẽ chi tiết hơn các loại khác bởi nó chỉ rõ những tương tác trực tiếp/gián tiếp của khách hàng với doanh nghiệp, cũng như quá trình chăm sóc KH. Bản đồ này có phần phức tạp hơn, nhưng nó đưa ra mọi hành động liên quan đến trải nghiệm khách hàng, bao gồm cả hành vi của khách hàng, nhân viên phục vụ và nhân viên làm việc hậu trường. Bằng cách phân tích từng yếu tố ảnh hưởng đến hành trình của khách hàng như thế nào, một công ty có thể tìm ra nguyên nhân gốc rễ của những rủi ro và giải quyết vấn đề này cho tương lai. Dựa trên nền tảng của AIDA*, một số marketers đã phát triển mô hình 5A (trước đây là mô hình 4A) – được sử dụng khá phổ biến trong xây dựng chiến lược hay giảng dạy về hành trình khách hàng. *Được giới thiệu lần đầu năm 1898, AIDA là mô hình tiên phong mô phỏng hành trình khách hàng (customer journey) với 4 giai đoạn: “Attention” (chú ý), “Interest” (quan tâm), “Desire” (mong muốn) và “Action” (hành động). Ở giai đoạn này, khi nảy sinh nhu cầu, khách hàng sẽ nhớ đến tên một số thương hiệu, tùy theo cường độ của từng yếu tố như trải nghiệm ở quá khứ, thị hiếu, hay truyền thông marketing bên ngoài của doanh nghiệp với mức độ nhận biết thương hiệu nhiều hay ít. Ở đây giai đoạn này, những thương hiệu đem đến những khung bậc cảm xúc mạnh cho khách hàng thì sẽ dễ thực hiện các bước tiếp theo. Những thương hiệu không có tầm ảnh hưởng mờ nhạt sẽ bị tụt về phía sau. Cho nên, trong những ngành hàng có yếu tố cạnh tranh lớn, ví dụ như FMCG thì mức độ hấp dẫn phải càng mạnh (Omo, Sunsilk, Neptune…), dễ thấy là việc chạy các chiến dịch quảng cáo nhắc nhớ liên tục trong một thời gian dài nhằm tăng tương tác với khách hàng, hoặc những quảng cáo chạm vào con tim, nhận thức của khách hàng. Với nhóm khách hàng trẻ, họ thường là nhóm phản hồi sớm nhất hơn các nhóm khác. Vì vậy nhóm khách hàng trẻ này thường được xem là nhóm khách hàng tiên phong trong kỷ nguyên số. Ở bước này, khách hàng cần chủ động tìm hiểu thông tin về thương hiệu. Họ sẽ tìm hiểu qua bạn bè, diễn đàn, hội nhóm, Google, Cốc Cốc, Bing,… hay tạp chí, sách báo…. Bước “Tìm hiểu” này trong mô hình 5A khác với mô hình 4A ở chỗ có sự giao thoa giữa online và offline. Khi khách hàng hài lòng với thông tin mình có được, sẽ tiếp tục đến bước Hành động. | Bản đồ hành trình khách hàng | Bản đồ hành trình khách hàng (Customer Journey Mapping) hay Bản đồ hành trình trải nghiệm của khách hàng là một công cụ trực quan để hiểu những gì thúc đẩy khách hàng tương tác với mỗi doanh nghiệp - nhu cầu của họ là gì, sự do dự và mối quan tâm của họ. Mặc dù hầu hết các tổ chức rất giỏi trong việc thu thập dữ liệu về khách hàng của họ, nhưng một mình dữ liệu không thể truyền đạt được sự thất vọng và trải nghiệm khách hàng. Một câu chuyện có thể làm điều đó, và một trong những công cụ kể chuyện tốt nhất trong kinh doanh là bản đồ hành trình của khách hàng. Bản đồ hành trình của khách hàng sử dụng cách kể chuyện và hình ảnh để minh họa mối quan hệ của khách hàng với doanh nghiệp trong một khoảng thời gian. Câu chuyện đang được kể từ góc độ của khách hàng, cung cấp cái nhìn sâu sắc về tổng số trải nghiệm của khách hàng. Nó giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn và giải quyết các nhu cầu của khách hàng và các điểm tiếp xúc khi họ trải nghiệm sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp. |
Phụ trách mục Tư Vấn Tâm Lý Học Đường trên báo Phụ Nữ TP Hồ Chi Minh từ tháng 3-2003, cô Nguyễn Thị Oanh - cử nhân Xã hội học, thạc sĩ Phát triển cộng đồng đã có những trao đổi hết sức thú vị với các bạn trẻ, và cả một số bậc phụ huynh, về các vấn đề mà tuổi trẻ quan tâm : những khó khăn trong đời sống gia đình, việc học hành và định hướng nghề nghiệp, tình yêu tuổi học trò, những thắc mắc lo âu về bản thân .đồng thời đưa ra cách giải quyết, tư vấn hợp lý để giúp các em có cái nhìn sáng suốt, sâu sắc trong mọi vấn đề nhằm tìm ra lựa chọn tối ưu nhất cho bản thân. Mỗi vấn đề được đặt ra ở các chuyên mục, bằng giọng văn giản dị, nhẹ nhàng theo quan điểm hiện đại nhưng vẫn dựa trên nền tảng giá trị của dân tộc, tác giả đưa ra những lời tư vấn, những lời khuyên hết sức chân tình và khoa học. Đối với độc giả trẻ (tuổi mới lớn), bộ sách Tư Vấn Tâm Lý Học Đường là cẩm nang để các em tự khám phá và làm chủ bản thân. Với các bậc phụ huynh, nó lại là tài liệu tham khảo để cha mẹ có thể hiểu hơn về tâm tư nguyện vọng của con trẻ; đồng thời tìm ra những giải pháp hiệu quả để giáo dục cho con em tốt hơn. Điều lý thú và hấp dẫn là, với vốn kiến thức xã hội hết sức phong phú, với tinh thần làm việc nghiêm túc nhưng hết sức gần gũi, thân tình, những quan niệm phóng khoáng nhưng cũng rất Á đông, cô Nguyễn Thị Oanh đã biến những lời tư vấn thành những cuộc đối thoại cởi mở, giúp bạn đọc giải tỏa những băn khoăn, bức xúc không phải bằng cách “lên lớp” hay những lời khuyên chung chung. Tuổi mới lớn đọc Tư Vấn Tâm Lý Học Đường để tự khám phá và làm chủ bản thân còn các bậc cha mẹ, thầy cô thêm hiểu con em, và thấy tầm quan trọng trong việc đào tạo những người chủ tương lai của đất nước. Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh (1931-2009) là nhà công tác xã hội nổi tiếng củaViệt Nam, là người phụ nữ đầu tiên lấy bằng thạc sĩ ngành Phát triển cộng đồng tại Philippines và đưa ngành học này về Việt Nam. Cô là người tích cực hoạt động xã hội, giúp đỡ người nghèo. Cả cuộc đời, Nguyễn Thị Oanh là người tích cực hoạt động xã hội, giúp đỡ người nghèo, người yếu kém, như tập trung đông đảo những trẻ em, phụ nữ nghèo lại để dạy họ làm nghề thủ công và nhận những sản phẩm ấy bán ra thị trường. Cô cũng thành lập Trung tâm tư vấn nghiên cứu Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng (thành lập năm 1989) tại TP Hồ Chí Minh trong hơn 20 năm qua. "Cái tên Nguyễn Thị Oanh luôn xuất hiện trên mặt báo với những nỗi đau đáu về chuyện giáo dục, chuyện gia đình, về giá trị sống, những lệch lạc hành vi của giới trẻ. Mái đầu bạc và nụ cười thơ trẻ của cô luôn xuất hiện tại các buổi tọa đàm, các buổi thảo luận, các nhóm hoạt động xã hội. Và luôn luôn là những câu chuyện dí dỏm, những lời khuyên chân tình, những ngọn lửa cháy bỏng được truyền sang người đọc, người nghe, "để từng người, từng nhóm lớn lên, và cộng đồng phát triển." - Tuổi Trẻ. "Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, cô có kiến thức sâu sắc và có khả năng chuyển tải tri thức một cách nhẹ nhàng, gần gũi, dễ hiểu. Không chỉ là giảng viên uy tín tại các đại học trong nước, cô còn là một diễn giả đầy thu hút, một nhà báo sung sức với hàng trăm bài viết mổ xẻ, phân tích các vấn đề nhức nhối trong xã hội liên quan đến giáo dục, lối sống, tình yêu và định hướng nghề nghiệp cho giới trẻ. Cô là nhà giáo mẫu mực và rất tâm huyết, đã góp công đào tạo nhiều thế hệ giảng viên, nhân viên Công tác xã hội, Phát triển cộng đồng cho các trường Đại học. Nhiều học trò của cô đã trở thành những chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực công tác xã hội, tâm lý, giáo dục hiện nay. Cô cũng là cây bút có uy tín cộng tác thường xuyên với nhiều tờ báo. Cô là người rất quan tâm đến giới trẻ nhất là học sinh và sinh viên thông qua những bài viết, trang tư vấn của cô trên báo Tuổi Trẻ và Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời là tác giả của nhiều đầu sách về giáo dục thanh thiếu niên và các vấn đề xã hội" - Thoại Hà, VnExpress. | Nguyễn Thị Oanh (sinh 1931) | Nguyễn Thị Oanh (1931–2009) là nhà công tác xã hội nổi tiếng của Việt Nam, là người phụ nữ đầu tiên lấy bằng thạc sĩ ngành Phát triển cộng đồng tại Philippines và đưa ngành học này về Việt Nam. Bà là người tích cực hoạt động xã hội, giúp đỡ người nghèo. Bà sinh ngày 25 tháng 12 năm 1931, quê quán tỉnh Gò Công (nay là tỉnh Tiền Giang). Bà theo đạo Công giáo và có tên Thánh là Lucia Nguyễn Thị Oanh. Bà tốt nghiệp cử nhân xã hội học năm 1955 tại Hoa Kỳ và sau đó học thạc sĩ về phát triển cộng đồng tại Philippines. Về lại Sài Gòn vào thập niên 60, bà hoạt động trước tiên trong các hội đoàn Công giáo tại Việt Nam và là Trưởng phòng học vụ của Trường Quốc gia Công tác Xã hội Sài Gòn (1971–1973).Sau 1975, bà tham gia Hội Trí thức yêu nước, Hội Tâm lý, có vai trò quan trọng trong việc thành lập nhóm nghiên cứu công tác xã hội, tiền thân của Trung tâm Nghiên cứu – Tư vấn Công tác Xã hội và Phát triển Cộng đồng hiện nay. Từ những năm 1989, 1990 bà thành lập nhóm công tác xã hội tại TP Hồ Chí Minh, dù lúc ấy xã hội học còn rất xa lạ với người dân. |
Đại học Quốc gia Pukyong tọa lạc tại thành phố Busan – thành phố cảng lớn nhất của Hàn Quốc. Với dân số khoảng 4 triệu người, Busan là thành phố lớn và sôi động thứ hai tại Hàn Quốc chỉ sau Seoul. Bên cạnh đó, do là thành phố cảng nên Busan hòa quyện giữa nét hiện đại của một đô thị lớn với cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp và đường bờ biển trải dài – mang tới trải nghiệm lý thú cho những sinh viên học tập tại đây. Trường Đại học quốc gia Pukyong được thành lập năm 1996 trên cơ sở hợp nhất Đại học Thủy sản Quốc gia Busan (1941) và Đại học Công nghệ Quốc gia Busan (1924). Trước sự biến đổi thăng trầm của lịch sử cũng như kinh tế, Trường Đại học Quốc gia Pukyong vẫn đào tạo ra được những thế hệ sinh viên tài năng – những con người cống hiến cho sự phát triển của đất nước. Đại học Quốc gia Pukyong được coi là trường có năng lực nghiên cứu xuất sắc trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, ngư nghiệp, công nghệ kết hợp làm lạnh, công nghệ hệ thống tàu biển, công nghệ môi trường. Cũng chính nhờ chất lượng đào tạo và dịch vụ hỗ trợ sinh viên của mình mà Trường nằm trong top những trường có tỷ lệ sinh viên tìm được việc làm cao nhất trong các trường đại học Quốc gia ở Hàn Quốc. Trường Đại học Quốc Gia Pukyung bao gồm 6 phân viện (campus) khác nhau. Mỗi campus sẽ có một tòa nhà hội sinh viên và đều được trang bị cơ sở vật chất hiện đại. Có khu ăn uống, ngân hàng, hiệu sách, bưu điện, khu in ấn,…. Ngoài ra còn có các khu bán văn phòng phẩm, đồ lưu niệm và thiết bị điện tử. Kí túc xá của trường cũng được trang bị đầy đủ tiện nghi với wifi, phòng máy tính, giặt là, gym, phòng tự học, hệ thống sưởi ấm… Giúp sinh viên có môi trường học tập thuận lợi và an toàn nhất. Trường cung cấp tới 78 chuyên ngành với 26.353 sinh viên đại học và 2.823 sinh viên sau đại học; đào tạo hàng ngàn sinh viên mỗi năm. Đặc biệt, trường còn có các chương trình học quốc tế tại cơ quan xúc tiến thương mại và đầu tư Hàn Quốc cùng với Đại sứ quán Hàn Quốc trên toàn thế giới. Tạo điều kiện cho các sinh viên xuất sắc tham gia học tập và trau dồi kinh nghiệm thực tế. Sinh viên học tập tại trường cũng được nhận sự hỗ trợ nhiệt tình về việc xin học bổng. Hay đưa đón tại sân bay, mua bảo hiểm, tìm nhà ở ngoài kí túc xá,…. Trường có phòng ở ký túc xá cho các học sinh quốc tế với chi phí hợp lý. Có 2 giường ngủ, nhà ăn, cửa hàng tiện lợi, phòng giặt đồ chung. Dự tính chi phí của học sinh quốc tế tại Hàn Quốc sẽ như sau:. Nhập học sau khi hoàn tất chương trình học tiếng. (Đi học đầy đủ trên 85% số tiết trong 6 tháng và có TOPIK cấp 4). Nhập học sau khi hoàn tất chương trình học tiếng. (Đi học đầy đủ trên 85% số tiết trong 6 tháng và có TOPIK cấp 3). 7% dành cho sinh viên nước ngoài có thứ hạng cao phụ thuộc vào từng khoa 7%~30% dành cho sinh viên nước ngoài có thứ hạng cao phụ thuộc vào từng khoa (Tuy nhiên điểm tích lũy bình quân tính từ học kỳ trước phải trên 3.0). – Căn cứ quyết định đề cử của giáo sư hướng dẫn Cao học– Hoặc theo quy định của trường với các bạn đạt Topik 4 sẽ được giảm 80% học phí và Topik 5 được miên 100% học phí đối với năm đầu và sang năm tiếp theo sẽ dựa vào điểm của học của kỳ trước để trường xét cấp học bổng. Trường Đại học Quốc gia Pukyong Hàn Quốc – 부경대학교 nằm trong TOP những trường có tỷ lệ sinh viên tìm được việc làm cao nhất trong các trường đại học Quốc gia tại Hàn Quốc.Chính vì vậy, nếu bạn đang muốn đăng ký học thì hãy tìm hiểu thật kỹ những thông tin trên nhé!. Năm 2021, trường đại học Chongshin là một cái tên trường góp mặt trong. xem thêm. I. Giới thiệu chung về trường Đại học Korea Catholic (Hay còn gọi là đại. xem thêm. I. Thông tin chung về trường cao đẳng Shingu Tên trường: Shingu College Tên tiếng. xem thêm. Kết nối liên tục với BGC bằng cách đăng ký nhận các thông tin mới nhất qua Email. | Đại học Quốc gia Pukyong | Đại học Quốc gia Pukyong là một trường đại học quốc gia nằm ở Busan, thành phố lớn thứ hai của Hàn Quốc, vị trí của cảng Busan, Cầu Lớn Gwangan, Bãi biển Haeundae, và Jagalchi. Trường có hai cơ sở chính Daeyeon-dong và Yongdang-dong. Trường nằm gần ven biển của quận Nam Busan. Đại học Pukyong có một truyền thống tập trung vào khoa học thủy sản và các lĩnh vực hàng hải khác. Đại học Quốc gia Pukyong được hình thành vào năm 1996 từ sự hợp nhất của hai trường đại học quốc gia với lịch sử lâu dài, Đại học Quốc gia thủy sản của Busan được thành lập vào năm 1941 và Đại học Công nghệ Busan được thành lập vào năm 1924. Mặc dù chủ yếu là một trường đại học thủy sản, PKNU có 6 trường đại học bao gồm 1 trường Khoa xã hội và nhân văn, 4 chương trình sau đại học với các khóa học thạc sĩ trong 60 phòng ban trong 15 chương trình liên ngành và các khóa học tiến sĩ ở 56 khoa và 12 chương trình liên ngành. Ngoài ra còn có 8 viện nghiên cứu. |
Sân vận động mùng 1 tháng 5 Rungrado được coi là một sân vận động đa năng nằm ngay tại đảo Rungra, Bình Nhưỡng, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên với sức chưa của nó lên tới 150000 người. Sân vận động này đã được mở cửa vào ngày 1 tháng 5 năm 1989, với sự kiện lớn đầu tiên được tổ chức tại đây là Lễ hội Thanh niên và Sinh viên thế giới lần thứ 13. Sân vận động AT&T trước đây có tên là Sân vận động Cowboys. Đây là một sân vận động có mái che với sức chứa có thể lên tới 105000 người tọa lạc ở Arlington, Texas, Hoa Kỳ. Với thiết kế mái nhà của nó rất linh hoạt có thể thu vào. Đặc biệt là ở giữa sân vận động có treo một màn hình tivi khổng lồ có độ nét cao cho khán giả có thể xem được toàn bộ trận đấu. Tọa lạc tại Melbourne, Australia, sân vận động được thiết kế cũng để tổ chức các sự kiện khác ngoài các trận đấu bóng đá. Năm 1997, nơi đây đã tổ chức trận đấu bóng đá quốc tế đầu tiên được FIFA công nhận, đó là trận đấu vòng loại World Cup giữa 2 đội là Australia và Iran. Sân Cricket Melbourne có sức chứa lên đến xấp xỉ hơn 100000 người. Được mở cửa vào năm 1957 và nơi đây cũng chính là sân nhà của FC Barcelona. Với sức chứa gần 100000 chỗ ngồi, đây cũng được coi là sân vận động lớn nhất ở Tây Ban Nha và Châu Âu, và là sân vận động bóng đá hiệp hội lớn thứ tư trên thế giới về sức chứa. Sân vận động First National Bank hay đơn giản còn được gọi tắt là Sân vận động FNB hoặc Soccer City và The Calabash. Đây được coi là một sân vận động của hiệp hội bóng đá và bóng bầu dục nằm ở Nasrec, giáp với khu vực Soweto của Johannesburg, Nam Phi. Với sức chứa của nó lên tới 94736 chỗ ngồi cũng được coi là sân vận động lớn trên thế giới. Rose Bowl được mệnh danh là một sân vận động thể thao lớn ngoài trời của ngoại ô nước Mỹ, cụ thể nằm ở Pasadena, California, Los Angeles. Khai trương vào tháng 10 năm 1922, sân vận động được công nhận là Địa danh Lịch sử Quốc gia và Địa danh Lịch sử Công trình Xây dựng của California. Đặc biệt nó có thể chứa được 92542 người. Sân vận động Wembley là sân vận động được kết nối bởi EE với lý do tài trợ, là một sân vận động bóng đá ở Wembley, Luân Đôn và được khai trương năm 2007. Đây cũng được coi là sân nhà thi đấu của đội tuyển bóng đá quốc gia nước Anh. Đồng thời với sức chứa khoảng 90.000 người. Estadio Azteca là một sân vận động đa năng nằm ở Thành phố Mexico. Với sức chứa chính thức là 87.523, đây là sân vận động lớn nhất ở Mexico. Và đây cũng là sân nhà chính thức của đội tuyển bóng đá quốc gia Mexico. Sân vận động quốc gia Bukit Jalil nằm ở Bukit Jalil trong Khu liên hợp thể thao quốc gia trung tâm thành phố thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia, là sân vận động đa năng toàn chỗ ngồi và là sân nhà của đội tuyển bóng đá quốc gia Malaysia. Đặc biệt là sức chứa với hơn 87000 người. Sân vận động Borg El Arab hay còn được gọi là Sân vận động Quân đội Ai Cập hoặc Sân vận động El Geish - Alexandria. Đây là một sân vận động được đưa vào hoạt động kể từ năm 2005. Sức chứa gần 86000 người cũng được coi là một trong những sân vận động lớn trên thế giới. Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm | Sân vận động mùng 1 tháng 5 Rungrado | Sân vận động mùng 1 tháng 5 Rungrado (tiếng Triều Tiên: 릉라도 5월1일 경기장/ 綾羅島 5月1日 競技場 (Lăng La Đảo ngũ nguyệt nhất nhật cạnh kỹ trường)/ Rŭng ra-do o-wŏl il-il Kyŏnggijang), còn được gọi là Sân vận động 1 tháng 5, là một sân vận động đa năng tọa lạc tại đảo Rungra, Bình Nhưỡng, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Sân được khai trương vào ngày 1 tháng 5 năm 1989, với sự kiện lớn đầu tiên là Lễ hội Thanh niên và Sinh viên thế giới lần thứ 13. Đây là sân vận động lớn nhất thế giới tính theo sức chứa. Sân vận động có diện tích 20,7 ha (51 mẫu Anh). Sau khi Thế vận hội Mùa hè 1988 được trao cho Seoul, Bắc Triều Tiên lo sợ vị thế so với phia Hàn Quốc bị suy giảm nên đã nhân đôi nỗ lực để thể hiện mình là quốc gia hợp pháp của bán đảo Triều Tiên. Là một phần của những nỗ lực này, họ đã thành công trong việc giành quyền đang cai Lễ hội Thanh niên và Sinh viên thế giới lần thứ 13 tại Bình Nhưỡng vào năm 1989. |
Đoàn Việt Nam có 4 thí sinh dự thi Olympic Hóa học quốc tế 2020 thì cả 4 em đều đạt huy chương vàng, lập thành tích cao nhất của đội tuyển Việt Nam tham dự Olympic Hóa học quốc tế từ trước đến nay. Đây là thông tin vừa được Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết sáng nay, ngày 31/7. Các học sinh đạt huy chương vàng gồm em Lý Hải Đăng (học sinh lớp 12, Trường Trung học phổ thông chuyên Trần Phú, Thành phố Hải Phòng); em Nguyễn Hoàng Dương (học sinh lớp 11, Trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội); em Phạm Trung Quốc Anh (học sinh lớp 12, Trường Trung học phổ thông chuyên Phan Bội Châu, tỉnh Nghệ An); em Đàm Thị Minh Trang (học sinh lớp 12, Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, tỉnh Nam Định.). Kết quả chung của toàn đội tuyển Việt Nam xếp thứ hai sau Hoa Kỳ. Kỳ thi Olympic Hoá học quốc tế năm 2020 lần thứ 52, được tổ chức tại Thổ Nhĩ Kỳ trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp. Các đội tuyển quốc gia dự thi theo hình thức thi trực tuyến (Remote Access Exam) theo đúng Quy chế của Olympic Hóa học quốc tế. Đội tuyển Việt Nam dự thi tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và được quản lý, theo dõi trực tuyến qua hệ thống camera với chế độ thời gian thực của Ban Tổ chức Olympic Hóa học tại Thổ Nhĩ Kỳ. Kỳ thi năm nay có các đội tuyển của 60 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự (so với năm 2019, số đội tuyển tham gia dự thi đã giảm đi hơn 20 do ảnh hưởng của dịch COVID-19). Việt Nam tham dự Olympic Hóa học quốc tế lần đầu tiên năm 1996, được tổ chức tại Liên bang Nga. Ở năm đầu tiên này, đoàn Việt Nam đạt ba huy chương đồng và một giải khuyến khích. Năm 2020 là lần đầu tiên Việt Nam đạt cả 4 huy chương vàng. Trước đó, các năm 2005 và 2017, đoàn Olympic Hóa học quốc tế của Việt Nam cũng có thành tích rất ấn tượng với ba huy chương vàng và một huy chương bạc. Năm 2019, kỳ thi Olympic Hóa học diễn ra tại Cộng hòa Pháp. Đoàn Việt Nam giành hai huy chương vàng và hai huy chương bạc. Trong đó, em Trần Bá Tân là thí sinh đạt điểm cao thứ 4 của kỳ thi và được trao giải cho thí sinh xuất sắc nhất điểm thi thực hành với điểm tuyệt đối 40/40. Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam có một thí sinh đạt điểm tuyệt đối cho phần thi thực hành, phần thi vốn được xem là điểm yếu của các đội tuyển của Việt Nam so với các đội tuyển Olympic quốc tê, không chỉ ở môn hóa học mà ở các các môn thi khác. Năm 2018, đội Olympic Hóa học quốc tế của nước ta giành một huy chương vàng, hai huy chương bạc và một huy chương đồng./. | Việt Nam tại Olympic Hóa học Quốc tế | Việt Nam bắt đầu tham dự kỳ thi Olympic Hóa học Quốc tế từ năm 1996, tương đối muộn. Tuy nhiên, những năm gần đây, đoàn Việt Nam luôn ở nhóm các quốc gia có kết quả thi cao nhất. IChO lần thứ 46 đã được tổ chức ở Việt Nam vào năm 2014. Đây là lần thứ ba Việt Nam đăng cai tổ chức một kỳ thi Olympic Khoa học Quốc tế dành cho học sinh trung học phổ thông. Trước đó Việt Nam đã tổ chức Olympic Toán học Quốc tế vào năm 2007 và Olympic Vật lí Quốc tế vào năm 2008. Cho đến nay đã có 3 học sinh Việt Nam từng đạt 2 HCV Olympic Hóa học Quốc tế là Vũ Minh Châu (năm 2008; 2009), Đinh Quang Hiếu (năm 2016; 2017) và Phạm Đức Anh (năm 2017; 2018), các bạn đều là học sinh trường THPT chuyên KHTN, ĐHQG Hà Nội. Năm 2020, đoàn Việt Nam lập kỷ lục với 4/4 Huy chương Vàng. Năm 2021, đoàn Việt Nam dành được 4/4 huy chương trong đó 3 HCV, 1 HCB. |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.