Search is not available for this dataset
text
stringlengths
1
25.3k
Sau khi mượn của bà L. gần 3 tỷ đồng, biết bà L. hết tiền nên Hải cố tình lảng tránh.
Đồng thời phủ nhận đã mượn tiền của bà L. Hải cho rằng số tiền trên là phí sinh hoạt trong thời gian bà L. về Việt Nam chung sống với Hải.
Cũng theo cáo trạng, Hải dùng nhiều thủ đoạn như đứng ra thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở với nhiều bị hại, sau đó nhờ mẹ ruột, em ruột, em dâu, người chung sống như vợ chồng với Hải đứng tên giùm trong các giấy tờ chuyển nhượng.
Hải đưa trước cho người bị hại số tiền ban đầu đúng cam kết để bị hại tin tưởng đưa tài sản, Hải nhanh chóng thực hiện thủ tục chuyển quyền và đem tài sản thế chấp vào ngân hàng hoặc làm tài sản đảm bảo cho các cá nhân khác để vay tiền rồi bỏ mặc hậu quả, chiếm đoạt phần tiền còn lại của những người bị hại và nói mình ...
Đã có 4 người bị Hải lừa với tổng số tiền là 2.138.000.000 đồng.
Võ Thanh Hải (giữa) cùng bị cáo Kim Anh và Văn Lộc Chiều 1/2, TAND TP Cần Thơ sau nhiều ngày xét xử sơ thẩm đã tuyên phạt Võ Thanh Hải 20 năm tù, Huỳnh Kim Anh (em dâu của Hải) bốn năm tù cùng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Lê Văn Lộc (em họ của Hải) hai năm tù treo về tội che giấu tội phạm.
HĐXX nhận định, bị cáo Hải là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội với thủ đoạn tinh vi, làm cho các bị hại lầm tưởng là các giao dịch dân sự, đã có bị hại khởi kiện ra tòa án.
Bị cáo còn lợi dụng sự nhẹ dạ của bà L. là bị cáo sẽ xây dựng hôn nhân với bà nên bà tin tưởng chuyển tiền và tài sản cho bị cáo.
Do đó cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Bị cáo Kim Anh là người phụ thuộc vào sự sắp xếp của bị cáo Hải, khi phạm tội bị cáo đang mang thai và sau đó đã tích cực khắc phục hậu quả nên được tòa xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ.
Bị cáo Lộc, chỉ vì bị cáo Hải là người thân nên đã cố gắng che giấu tội phạm của bị cáo Hải mặc dù biết rõ Hải đã nhận tiền của bà L. nên cần có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo.
Mỹ An (T/h) Lý giải nguyên nhân vì sao thường bị đau dạ dày dịp tết Năm lần bảy lượt cấp cứu vì đau dạ dày, tôi đã tìm ra giải pháp
Thái Hòa - Nghệ An: Vi phạm trong mua bán đất gây tranh chấp?.
Tình trạng tranh chấp liên quan đến nhà đất của vợ chồng ông Nguyễn Thanh Phượng xuất phát từ quan hệ vay mượn của gia đình ông Phượng với người dân mà không có khả năng chi trả.
Ông Nguyễn Thanh Phượng là nguyên Phó Chủ tịch xã Nghĩa Thuận thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhà, đất ở nhà ông Phượng có dấu hiệu chưa đúng với các quy định gây ra tranh chấp kéo dài, dẫn đến việc người mua cũng chưa chuyển được tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và những người cho vợ chồng ông...
Thửa đất số 561.2 tờ bản đồ số 8 tại xóm 8 xã Nghĩa Thuận cấp ngày 30/10/1999 có dấu hiệu mua bán sai pháp luật.
Chưa đủ điều kiện để chuyển nhượng tài sản của mình Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 28/04/2014, vợ chồng ông Nguyễn Thanh Phượng đã thực hiện việc chuyển nhượng đối với quyền sử dụng 203,3 m2 đất và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà hiện hữu trên thửa đất đó.
Tuy nhiên, trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Nghĩa Đàn cấp ngày 30/10/1999, Nhà nước chỉ mới công nhận quyền sử dụng đối với 126 m2 đất, ngoài ra không ghi bất kỳ tài sản nào khác.
Theo quy định của Luật Đất đai và Luật Nhà ở thì quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở là loại tài sản bắt buộc phải đăng ký.
Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở chỉ được phép chuyển nhượng khi các tài sản này đã được đăng ký hợp pháp.
Trong vụ việc liên quan đến ông Nguyễn Thanh Phượng, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở được công chứng ngày 28/4/2014.
Tại thời điểm này, Luật Đất đai 2003, Luật Nhà ở 2005 vẫn đang có hiệu lực.
Công chứng viên đã viết tay ghi lại số 136 mét vuông trong hợp đồng và đóng dấu ký tên bên cạnh nhưng trong Giấy chứng nhận chỉ ghi có 126m2.
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 107 Luật Đất đai 2003: Người sử dụng đất có nghĩa vụ sau đây: 2.
Đăng ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;... , đối chiếu với quy định này, vợ chồng ông Nguyễn Thanh Phượng chưa thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ đăn...
Trên Giấy chứng nhận QSDĐ, Nhà nước mới chỉ công nhận cho ông Phượng có quyền sử dụng đối với 126 m2 tuy nhiên ông đã thực hiện việc chuyển nhượng đến 203,3 m2.
Nghĩa là phần diện tích đất chênh lệch chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
Trong khi đó, theo quy định tại Khoản 1, Điều 106, Luật Đất đai 2003 thì: 1 .
Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 110; khoản 2 và khoản 3 Điều 112; các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 113; khoản 2 Điều 115; điểm b khoản ...
Như vậy, dấu hiệu vô hiệu của việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên đã rõ.
Còn đối với quyền sở hữu nhà ở, theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 11, Luật Nhà ở 2005 thì: 1) Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở được cấp cho chủ sở hữu theo quy định sau đây: a) Trường hợp chủ sở hữu nhà ở đồng thời là chủ sử dụng đất ở, chủ sở hữu căn hộ trong nhà chung cư thì cấp một giấy chứng nhận là...
Và cũng theo quy định tại Khoản 1, Điều 13 Luật Nhà ở 2015 về hiệu lực của Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở: 1) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quy định tại Luật này là cơ sở pháp lý để chủ sở hữu nhà ở thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhà ở đó theo quy định của pháp luật .
Đối chiếu với trường hợp cụ thể này thì ông Phượng cần phải làm các thủ tục theo quy định để được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu nhà của mình, để được ghi nhận tài sản gắn liền với đất trong Giấy chứng nhận và khi đó thì mới thực hiện được đầy đủ các quyền của mình theo quy định.
Và cũng theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 91, Luật Nhà ở 2005 về điều kiện đối với nhà ở được phép giao dịch: 1) Trong các giao dịch về mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì nhà ở phải có các điều kiện sau đây: a) Có giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở t...
Ngoài việc tuân thủ Luật Đất đai 2003, Luật Nhà ở 2005, để thực hiện việc đăng ký tài sản nói trên tại thời điểm chuyển nhượng cần tuân thủ theo các quy định tại Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cũng như các Thông tư hư...
Qua những tài liệu và dẫn chứng theo quy định của pháp luật thì trong trường hợp này, quyền sở hữu nhà ở của vợ chồng ông Nguyễn Thanh Phượng và bà Trần Thị Xuân chưa được pháp luật công nhận thông qua việc cấp Giấy chứng nhận, do đó tài sản này chưa đủ điều kiện pháp lý để chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 203,3...
Dư luận đang đặt câu hỏi về việc công chứng chuyển nhượng có đúng quy định hay không ?
Khi hành nghề công chứng, tổ chức hành nghề công chứng cũng như công chứng viên chắc chắn phải nắm vững các quy định của pháp luật về công chứng.
Tuy nhiên tại thời điểm công chứng hợp đồng ngày 28/04/2014 (thời điểm áp dụng Luật Công chứng 2006) thì tại Điểm d, Khoản 1, Điều 35, Luật Công chứng có quy định về hồ sơ công chứng rõ ràng: 1.
Người yêu cầu công chứng nộp một bộ hồ sơ yêu cầu công chứng, gồm các giấy tờ sau đây: d) Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên qu...
Như vậy cũng như đã phân tích ở trên về chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở nhưng không hiểu rằng công chứng viên đã dựa vào cơ sở nào để công chứng cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trong việc chuyển nhượng của vợ chồng ông Phượng (?!).
Điều này khiến dư luận đặt câu hỏi: Có lẽ đã phát hiện ra sai sót hay nhằm che dấu sai sót mà công chứng viên đã thực hiện việc sửa chữa một phần sai sót cũng theo cách riêng của mình mà không dựa vào cơ sở pháp lý?
Trong một số bản của hợp đồng mà chúng tôi có được, công chứng viên đã viết tay ghi lại số mét vuông trong hợp đồng và đóng dấu ký tên bên cạnh nhưng trong Giấy chứng nhận chỉ ghi có 126m2 nhưng công chứng viên lại sửa thành 136m2.
Còn quyền sở hữu nhà ở thì vẫn giữ nguyên.
Và trong lời chứng của công chứng viên có ghi rõ: Nội dung thỏa thuận của các bên không trái với pháp luật và đạo đức xã hội .
Hơn nữa, việc chữa như vậy hoàn toàn không căn cứ vào các quy định tại Điều 43 về sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng, Điều 44 về công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch.
Chính vì căn cứ vào hợp đồng quá nhiều lỗi như vậy nhưng cơ quan đăng ký QSDĐ lại tiếp nhận hồ sơ thực hiện một loạt các công việc lẽ ra chưa được phép và làm cho tình hình thêm phức tạp, dẫn đến việc các cơ quan chức năng tại địa phương đã phải chạy theo hệ lụy của Cơ quan đăng ký QSDĐ ở Thái Hòa, làm cho người mua cứ...
Thái Quảng - Văn Thành
Làm sao khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu?.
Khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì phải làm sao?
Trả lời: Hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật Đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người...
Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: 1.
Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan; 2.
Việc thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định, việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau: a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, ...
Như vậy, Bộ Luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013 quy định hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là phải bằng văn bản, được công chứng hoặc chứng thực và được đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất mới phát sinh hiệu lực.
Do đó, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà chuyển nhượng bằng miệng hoặc không công chứng, chứng thực thì thì hợp đồng chuyển nhượng đó sẽ vô hiệu.
Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau: Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập; Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoà...
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả; Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó; Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường; Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này,...
Theo đó, khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Nếu không thỏa thuận được với nhau, các bên có thể gửi đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi và lợi ích của mình.
Theo Luật sư nguyễn thanh Hà, Chủ tịch Công ty luật SBlawBáo Đầu tư Bất động sản
Sau TP.HCM, đến lượt Long An 'tuýt còi' vì rao bán đất nền trái phép.
Dù chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa được cấp giấy phép hạ tầng kỹ thuật nhưng một số chủ đầu tư vẫn xây nhà, rao bán đất nền trên các trang mạng, trang thông tin điện tử và còn nhận tiền đặt chỗ của khách hàng.
Trước tình trạng nhiều dự án vùng ven ăn theo sốt đất nền, rao bán rầm rộ khi chưa đủ điều kiện pháp lý, mới đây, Sở Xây dựng tỉnh Long An đã kiểm tra chấn chỉnh, xử lý vi phạm.
Theo đó, tại dự án khu dân cư Trần Anh Riverside (huyện Bến Lức), dù chưa có giấy phép xây dựng nhưng đã nhận đặt cọc giữ chỗ.
Hiện tại, công ty này còn triển khai xây dựng đầu tư hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch.
Dự án này có tổng diện tích đất khoảng 11,2ha do Công ty cổ phần Bất động sản Trần Anh làm chủ đầu tư, phần đất dự án này công ty nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ Công ty cổ phần sản xuất Thương mại Đông Dương.
Khu dân cư trên cũng đã được UBND huyện Bến Lức phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500.
Về mặt pháp lý đất đai, hiện Công ty đang lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Sở Tài nguyên và Môi trường, chưa được cấp giấy phép xây dựng hạ tầng kỹ thuật dự án.
Như vậy, theo quy định tại Điều 9 luật Kinh doanh bất động sản thì dự án chưa đủ điều kiện được phép đưa vào kinh doanh.
Do đó, đề nghị Công ty lập tức dừng thi công đầu tư hạ tầng kỹ thuật và gỡ tất cả thông tin rao bán trên các trang đăng tin quảng cáo qua mạng thông tin điện tử xuống cho đến khi dự án đủ điều kiện được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo luật Kinh doanh Bất động sản và luật Đất đai.
Tổ chức công bố quy hoạch bằng pano tại dự án để người dân nắm biết và thực hiện các thủ tục pháp lý về cấp phép đầu tư hạ tầng dự án theo quy định , bà Đặng Thị Thúy Hà, Phó giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Long An thông tin.
Tương tự, dự án khu dân cư Bảo Ngọc Residence của Công ty Trần Anh (xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa) cũng bị Sở Xây dựng tỉnh này sờ gáy và yêu cầu gỡ tất cả thông tin rao bán khi dự án chưa đủ điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Qua khảo sát thực tế, hạ tầng dự án khu dân cư Bảo Ngọc Residence đã được đầu tư hoàn chỉnh khoảng 70%, còn lại khoảng 30% đang tiếp tục bồi thường.
Một số lô nền chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa đầu tư hạ tầng kỹ thuật.
Thế nhưng, Công ty Trần Anh vẫn xây dựng đầu tư hạ tầng một cách rầm rộ, thậm chí đã xây đổ cột bê tông xây dựng cả dãy nhà và đã quảng cáo, rao bán trên các trang mạng điện tử, thậm chí là nhận đặt cọc giữ chỗ cho 14 trường hợp.
Vì vậy, Sở Xây dựng tỉnh Long An yêu cầu, đối với những lô nền chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa hoàn thành đầu tư hạ tầng, chủ đầu tư phải gỡ tất cả thông tin rao bán đến khi dự án đủ điều kiện được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo luật Kinh doanh Bất động sản và luật Đất đai.
Phan Diệu
Huyện Côn Đảo: Cán bộ làm sai được bỏ qua trách nhiệm, dân lãnh đủ hậu quả.
Khu đất vàng ở trung tâm huyện Côn Đảo (được gọi tắt là lô K) rộng hơn 6.600m2, là nơi sinh sống của khoảng 30 hộ dân từ gần 30 năm trước.
Tuy nhiên, cách đây vài năm, bà con bất ngờ phát hiện mảnh đất mình đang sống đã được chính quyền lập dự án, phân lô và cấp sổ đỏ cho nhiều người, trong đó chủ yếu là cán bộ huyện.
Cấp và chuyển nhượng đất trong thầm lặng Nhiều năm liền, các hộ dân nơi đây xin làm thủ tục cấp chủ quyền, nhưng đều bị chính quyền từ chối với lý do đất thuộc quy hoạch.
Đến cuối năm 2016 đầu 2017, khi có nhiều người mang sổ đỏ đến đòi đất thì các hộ dân đang sinh sống ở khu K mới biết đất của họ đã được chính quyền Côn Đảo cấp cho một số đông cán bộ công chức.
Từ năm 2003-2007, UBND H.Côn Đảo đã có quyết định giao đất cho 22 trường hợp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 21 hộ (đa phần là cán bộ, công chức của huyện).
Năm 2003, UBND H.Côn Đảo thực hiện giao đất cho ông La Thành Triệu; năm 2004, Phó chủ tịch UBND H.Côn Đảo Nguyễn Hoàng Tùng ký quyết định giao đất cho 4 trường hợp gồm: Nguyễn Bình Diệp, Lưu Hữu Chung, Võ Tấn Phong, Nguyễn Văn Chương.
Tất cả đều không có tờ trình tham mưu giao đất.
Năm 2005, Phó chủ tịch UBND H.Côn Đảo Nguyễn Hoàng Tùng tiếp tục ký 16 quyết định giao đất cho 16 cán bộ gồm: Châu Vũ, Nguyễn Thị Minh Thiện, Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Đăng Khoa, Nguyễn Hoàng Kiệt, Trần Văn Nhàn, Kim Thị Thu Vân, Nguyễn Trọng Can, Trần Ngọc Thương, Nguyễn Văn Hãnh, Trần Quang Thọ, Phạm Hữu Trí, Phạm Kỳ Dư...
Năm 2007, ông Bùi Văn Bình Phó chủ tịch UBND H.Côn Đảo ký quyết định giao đất cho 1 trường hợp là bà Huỳnh Thị Thanh Liên.
Khu đất hiện có hàng chục hộ dân sinh sống tại lô K, H.Côn Đảo đã bị UBND cấp cho các cán bộ - Ảnh: Ngọc Thạnh Trong khi hàng chục hộ dân đã sinh sống ổn định, lâu dài trong khu K không được hợp thức hóa quyền sử dụng đất, thì những người được giao đất lại không hề sinh sống ở đây.
Tất cả hộ dân lô K đều tỏ ra bức xúc vì "hàng chục năm chúng tôi đều làm thủ tục xin cấp chủ quyền thì chính quyền H.Côn Đảo nói rằng đất quy hoạch, nay vì lẽ gì mà mấy chục cán bộ huyện lại được cấp chủ quyền trên đất chúng tôi đã và đang sinh sống hàng chục năm?".
Chị Đàm Thị Ánh cho biết gia đình chị đã nhiều lần làm đơn thư gửi các cơ quan chức năng xin được xem xét cấp đất ở tại địa điểm gia đình đã và đang sinh sống ổn định, nhưng UBND H.Côn Đảo trả lời là đất thuộc quy hoạch nên không xem xét giải quyết.
Bất ngờ, năm 2016 ông Nguyễn Trọng Can, nguyên Đồn trưởng đồn biên phòng 540, ông Nguyễn Anh Kiệt, cán bộ QLTT H.Côn Đảo mang giấy chứng nhận chủ quyền khu đất gia đình chị đang ở để đòi đất.
Chị Đậu Thị Thu Hương cũng nêu việc gia đình chị ra Côn Đảo từ năm 1990 và sinh sống cho đến nay.
Năm 1994, gia đình được H.Côn Đảo đồng ý cho làm thủ tục hợp thức hóa nhà ở nhưng rồi chỉ nói suông, không chịu cấp sổ đỏ.
Lý do UBND H.Côn Đảo đưa ra là đất thuộc quy hoạch.
Năm 2016, một số cán bộ bỗng nhiên đến đòi đất, yêu cầu gia đình chị trả đất, họ đưa ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp từ rất lâu trước đó.
Đến nay, trong 22 cá nhân được cấp đất nói trên có 8 trường hợp đã về đất liền, 9 trường hợp đương chức tại Côn Đảo, 5 người đã về hưu.
Điều đáng nói, trong số 22 người được cấp đất nói trên có đến 13 người đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác.
Cán bộ làm sai được bỏ qua, dân lãnh đủ Đơn kêu cứu của các hộ dân đề nghị UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu làm rõ việc phân lô và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên diện tích đất mà các hộ dân đang sinh sống ổn định để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân ở đây.