text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Cảm nhận về bài thơ Viếng Lăng Bác
Hướng dẫn
Cảm nhận về bài thơ Viếng Lăng Bác
Bài làm
Viếng Lăng Bác của Viễn Phương là một trong những bài thơ vô cùng xúc động. Bài thơ ra đời trong khoảnh khắc xúc động, bài thơ là tấm lòng thành kính sót thương biết ơn vô hạn của nhà thơ cũng như đồng bào miền Nam đối với vị lãnh tụ, người cha già kính yêu dân tộc.
Lần đầu tiên nhà thơ được ra miền Bắc viếng Bác khi vào lăng viếng Bác.
” Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”
Câu thơ chất chứa biết bao tình cảm con người ra thăm lăng Bác. Lời thơ còn ẩn chứa nỗi niềm ra thăm Bác nào ngờ ngày hội thống nhất non sông Bác không còn nữa, nhà thơ không nói viếng mà nói thăm bởi không muốn nghĩ rằng Bác đã đi xa. Mọi người vè thăm Bác – thăm cha là lẽ tự nhiên. Ấn tượng đậm nét đầu tiên về cảnh qua nơi Bác nghỉ là hàng tre bát ngát trong sương sớm biết bao sức sống.
“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi!Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”
Xa xa nổi bật là hàng tre bát ngát một hình ảnh thân quen ở đâu tại Việt Nam cũng thấy. Tre kiên cường bất khuất, tre biểu tượng đẹp của con người Việt Nam dẻo dai bền bỉ kiên cường trước mọi phong ba bão táp lửa đạn kẻ thù. Tre kiên định anh hùng nay lại đứng bên Người bảo vệ cho người yên giấc, nỗi xúc động trào dâng khiến nhà thơ thốt lên ” Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam”
Khổ hai có hai câu đối xứng chứa hai hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ. Hình ảnh thực là hình ảnh mặt trời thiên nhiên rực rỡ vĩnh hằng, và hình ảnh ẩn dụ mặt trời trong lăng rất đỏ là Bác. Nếu mặt trời của thiên nhiên đem lại ánh sáng hơi ấm sự sống cho muôn loài thì Bác Hồ là mặt trời đem lại sự đổi thay dân tộc. Hai hình ảnh sánh đôi soi chiếu tỏa sáng cho nhau. Cũng như vậy nhà thơ lấy hình ảnh thật của đoàn người. Hằng ngày nối đuôi nhau thành hình ảnh ” Đi trong thương nhớ, kết tràng hoa” các so sánh vừa đẹp vừa lạ. Đoàn người kết thành dây hoa bất tận dâng người 79 mùa xuân. Cách dùng từ tinh tế và hình ảnh đẹp diễn tả tình cảm nhớ thương cũng như của nông dân Việt Nam miền Nam với Bác.
Nhà thơ diễn tả cảm xúc sót thương khi vào tới bên trong lăng. Khung cảnh trang nghiêm yên tĩnh như liên kết cả không gian thời gian và người nằm đó thanh thân bình yên.
” Bác nằm trong giấc ngủ bình yên”
Hình ảnh Bác ” giấc ngủ bình yên, giữa một vầng trăng sáng dịu hiền câu thơ thực và mộng gợi nhiều liên tưởng. Từ hình ảnh vầng trăng liên tưởng tới thơ Bác nhiều bài tràn ngập ánh trăng. Với hình ảnh trăng nhà thơ còn muốn tạo ra một hình ảnh kì vĩ Bác – Mặt trời – Vầng trăng – Trời xanh. Nếu mặt trời là biểu tượng của ánh sáng lí tưởng thì vầng trăng lại là tâm hồn trong sáng cao đẹp là tình yêu thương dịu hiền của Bác với mọi người. Vẫn biết Bác sống mãi với nhân dân đất nước như mặt trời, vầng trăng, bầu trời xanh nhưng sao vẫn nghe nhói đau trong tim. Nỗi đau trước một sự thật không khác được là Bác đã đi xa.
” Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏ hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”
Thương trào nước mắt đó là một tình cảm rất thực không chỉ ở nhà thơ mà bất cứ ai đến viếng Bác. Nước mắt không phải rưng rưng mà trào ra đó là cảm xúc mãnh liệt chính từ cảm xúc nhớ thương vô hạn ấy mà lời thơ trở lên dứt khoát diễn tả bao ước muốn ” Muốn làm chim hót, hoa tảo hương, cây tre”. Mọi ước muốn của nhà thơ đều quy tụ một điểm là mong được gần Bác. Bước chân trở về miền Nam mà lòng biết bao lưu luyến nhớ thương, hình ảnh cây tre tái hiện khép kín, bài thơ như một sự hô ứng khiến kết cấu bài thơ chặt chẽ giàu cảm xúc giày ý nghĩa.
Bài thơ ” Viếng Lăng Bác ” đã để lại cho bạn đọc rất nhiều cảm xúc sâu lắng và thiết tha. Với nhiều hình ảnh ẩn dụ vô cùng độc đáo và những biện pháp tu từ đặc sắc, nhà thơ Viễn Phương đã thể hiện một hồn thơ rất riêng. Qua bài thơ Viếng Lăng Bác, Viễn Phương đã thay mặt nhân dân miền Nam nói riêng và toàn thể nhân dân cả nước nói chung dâng lên Bác những nỗi niềm cảm xúc chân thành, sự tôn kính thiêng liêng. Bài thơ vẫn sẽ tiếp tục sống trong lòng người đọc và gợi nhắc cho những thế hệ mai sau kế tục thành quả rực rỡ của cách mạng một cách sống sao cho xứng đáng với sự hi sinh của một người vĩ đại mà vô cùng giản dị – Hồ Chí Minh, người đã sống trọn một đời tươi đẹp. | Cảm nhận về bài thơ Viếng Lăng Bác | 934 | |
Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu
Bài làm
"Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc một hồn thư rộng lớn như Thế Lữ. mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng trúng như Huy Thông, trong sáng như Nquyền Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên…. và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” (Thi nhân Việt Nam).
Khi đọc những câu văn này ta sẽ không hiểu tại sao Xuân Diệu lại được ưu ái như vậy. Giờ thì đã rõ! Đơn giản chỉ vì ông là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới’’. Xuân Diệu đã thể hiện đầy đủ nhất ý thức cá nhân của cái tôi mới và cũng mang đậm bản sắc riêng. Trong số những bài thơ của ông, chúng ta không thể không nhắc đến Vội Vàng. Bài thơ tiêu biểu cho sự bùng nổ mãnh liệt của cái tôi Xuân Diệu, in dấu khá đậm cho hồn thơ yêu đời, ham sống, “thiết tha, rạo rực, băn khoăn”. Và quan trọng hơn thế nữa, qua Vội vàng chúng ta nhận ra một quan niệm sống rất mới mẻ – bức thông điệp mà nhà thơ muốn gửi đến cho người đọc.
Cảm nhận về bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu
Vội vàng? Cái tên đã rất Xuân Diệu! Đây là một triết lí sống và cũng là tâm thế sống của nhà thơ: sống nhanh chóng, khẩn trương, mở rộng lòng mình đế ôm ghì, thâu tóm tất cả. Đã hơn một lần ta bắt gặp Xuân Diệu hối hả, cuống quýt, giục giã:
Mau với chứ, vội vàng lên chứ
Em, em ơi, tình non sắp già rồi!
Thời gian, mùa xuân, tình yêu tuổi trẻ luôn thường trực, trở đi trở lại trong nhiều trang thơ của Xuân Diệu. Ở Vội vàng ông đã nhận ra một thiên đường ngay trên mặt đất, nhà thơ yêu cuộc sống trần thế xung quanh và tìm thấy trong cuộc sống đó biết bao điều hấp dẫn, đáng sống và biết tận hưởng những gì mà cuộc sống ban tặng. Đây là một quan niệm sống rất người, mang ý nghĩa tích cực và có giá trị nhân văn sâu sắc. Nhà thơ muốn nhắn nhủ đến người đọc hãy sống hết mình khi đang còn trẻ tuổi, đừng để thời gian trôi đi phí hoài. Hãy sống gấp gáp để tận hưởng cuộc sống tươi đẹp. Hãy luôn giữ cho mình mùa xuân tình yêu của tuổi trẻ.
Thà một phút huy hoàng rồi vụt tắt
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
Bức thông điệp mà Xuân Diệu gửi đến cho người đọc được triển khai qua từng phần của bài thơ, theo mạch cảm xúc trong tâm hồn thi sĩ. Ngay từ đầu chúng ta đã bắt gặp một thái độ sống rất ngông, rất lạ:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Ý tưởng tắt nắng, buộc gió quả thật táo bạo, độc đáo mà chỉ Xuân Diệu mới nghĩ ra, xuất phát từ lòng yêu cuộc sống, thèm sống. Xuân Diệu muốn tắt, buộc nắng và gió cũng là để giữ lại cái đẹp, cái tươi thắm của sự vật, của màu, của hương. Xuân Diệu muốn thời gian là tĩnh tại mặc dù ông không nhìn đời với con mắt tĩnh. Cái vô lí đó chính là sự khao khát đến vô biên và tột cùng. Nhà thơ muốn níu giữ thời gian, cuộc sống ấy cho riêng mình.
Mọi chuyện đều có nguyên do của nó! Xuân Diệu thiết tha với cuộc sống như thế bởi ông đã tìm ra một thiên đường trên mặt đất. Cuộc sống đẹp nhất của cuộc sống trần thế. Với Thế Lữ thi nhân ta còn nuôi giấc mộng lên tiên, một giấc mộng rất xưa. Xuân Diệu đốt cảnh Bồng Lai và xua ai nấy về hạ giới (Thi nhân Việt Nam). Cuộc sống xung quanh ta đẹp nhất, vậy thì dại gì mà không hưởng. Nhà thơ nhìn mùa xuân với tất cả sự say mê, cuồng nhiệt vồ vập:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây là cửa cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si.
Vày đây… Này đây…Này đây… Tất cả như đang phơi bày ra trước mắt nhà thơ Bức tranh thiên nhiên đang độ viên mãn, tràn đầy, chứa chan xuân tình, vừa gần gũi thân quen lại vừa mượt mà đầy sức sống. Xuân Diệu như vồ vập. Ngấu nghiến, thâu tóm tất cả. Nhà thơ như con ong hút mật lạc vào vườn hoa đầy hương sắc. Với ông cái gì cũng hấp dẫn mới lạ. Và bằng cặp mắt xanh non của cái tôi cá nhân Xuân Diệu còn phát hiện ra thế giới này đẹp nhất, mê hồn nhất vẫn là vì có con người. Con người giữa tuổi trẻ và tình yêu. Nhà thơ lấy con người làm thước đo của cái đẹp. Cuộc sống trần thế đẹp nhất vào lúc xuân. Và con người chỉ tận hưởng được lúc đang còn trẻ. Song tuổi trẻ thì tàn phai theo thời gian, vì thế mà ông phải sống vội vàng, gấp gáp.
Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Nhà thơ tận hưởng cuộc sống một cách gấp gáp, vồ vập bởi một phút giây ra đi vĩnh viễn không trở lại. Mất mát sẽ đến nếu ta không chớp thời cơ. Có lẽ thế mà Xuân Diệu không chờ mùa hạ đến mới nhớ xuân mà ôm riết mùa xuân lúc tràn đầy, tươi non.
Ham sống, khát sống, Xuân Diệu càng băn khoăn hơn trước cuộc đời, thời gian. Ông đã nhận ra quy luật tuyến tính của thời gian, chống lại quy luật tuần hoàn của các cụ ngày xưa. Mỗi phút giây qua đi sẽ không bao giờ trở lại, tuổi trẻ cũng chỉ đến một lần. Nhà thơ mở lòng ra để yêu đời, yêu cuộc sống nhưng không được đời bù đắp, vì thế mà ông băn khoăn buồn chán cho thân phận của mình. Cảnh vật thiên nhiên giờ đây cũng mang đầy tâm trạng buồn bã, băn khoăn, lo sợ..
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Cơn gió xinh thì thào trong lác biếc
Phải chăng sợ đổ tàn phai sắp sửa?
Nhận thức ra quy luật của thời gian, khát khao sống đến mãnh liệt. Xuân Diệu đã ôm ghì lấy cuộc sống, tận hưởng cuộc sống để không phí hoài đi thời gian, tuổi trẻ. Tình yêu cuộc sống lại bùng lên cuồng nhiệt hối hả.
Ta muốm ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn biết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Hỡi xuân hồngg, ta muốn cắn vào người.
Lòng yêu đời tràn lên như một cao trào tình cảm. Hình ảnh thơ tươi mới, sức sống. Và có lẽ tình yêu cuộc sống của nhà thơ tăng dần theo từng từ muốn ôm đến riết là đã ghì chặt hơn. Và đã say – sự ngây ngất đến bất tỉnh vẫn chưa thỏa lòng – còn muốn thâu nghĩa là muốn thu hết tất cả để có sự hòa nhập một. Và cuối cùng là tiếng kêu của sự cuồng nhiệt chưa bao giờ có trong thơ:
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi.
Hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu của đoạn thơ đã bộc lộ rõ lòng yêu đời cuồng nhiệt khiến nhà thơ phải hối hả, vội vàng đến với cuộc sống.
Bài thơ là một quan niệm sống mới mẻ và táo bạo mà trước đó chưa từng có. Lối sống ở đây biết hưởng thụ một cách chính đáng, biết khẩn trương sống cho ra sống. Tuy nhiên ở Vội vàng, tác giả chỉ đề cập đến lối sống thiên về hưởng thụ chạy theo thời gian. Ông kêu gọi mọi người hãy biết yêu và tận hưởng những thứ cuộc sống ban tặng, hãy tranh thủ thời gian, tuổi trẻ để sống đủ đầy nhất. Ông đã quên đi nghĩa vụ kêu mọi người phải cống hiến cho cuộc đời. Và trong cuộc đời nhà ông, ông vội vàng cống hiến chứ không phải vội vàng hưởng thụ.
Đọc thơ Xuân Diệu, đặc biệt là qua bài thơ Vội vàng, ta càng thêm yêu cuộc sống hôm nay và càng góp phần làm cho cuộc sống đó thêm tươi đẹp, không chỉ vì cuộc sống hôm nay đã đổi mới, đã đẹp hơn nhiều lần so với cuộc sông ngày xưa của Xuân Diệu mà chủ yếu là không còn những bi kịch để thành những băn khoăn trước cuộc đời. Bức thông điệp nhà thơ gửi đến người đọc vẫn cònnguyên giá trị, được bồi đắp thêm qua thời gian và trường tồn vĩnh cửu.
Hãy sống hết mình, cống hiến tuổi trẻ cho Tổ quốc nhân dân, đừng phí hoài thời gian, hãy mở rộng lòng mình để đón nhận tất cả những vang động của cuộc đời. Đó là những gì mà Xuân Diệu còn giữ lại, nhắn gửi đến với người đọc của mình bức thông điệp xuyên qua thời gian, không gian, ngự trị muôn đời trong tâm hồn con người Việt Nam. | Cảm nhận về bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu | 1,586 | |
Cảm nhận về bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Hướng dẫn
Cảm nhận về bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Hàn Mặc Tử là nhà thơ có tâm hồn nhạy cảm, những sáng tác của ông được sáng tác và đi vào lòng người cũng một cách rất tự nhiên sâu lắng, để lại nhiều suy ngẫm cho độc giả. Một trong những bài thơ như thế chính là bài thơ “ Đây thôn vĩ dạ”, bài thơ nhắc tới miền quê xứ Huế thơ mộng, với vẻ đẹp vừa giản dị vừa yêu kiều như chính người con gái mà tác giả đang thầm thương trộm nhớ. Không những thế, bài thơ còn nói lên niềm khát khao, tình yêu quê và sự gắn bó thiết tha của thi sĩ.
Không giống với các bài thơ khác,mở đầu bài thơ “ đây thôn Vĩ Dạ” lại không phải là một câu miêu tả hay câu cảm thán, mà là câu hỏi tu từ:” Sao anh không về chơi thôn Vĩ”. Cảm hứng của bài thơ được khơi nguồn từ bức thư của Hoàng Thị Kim Cúc, viết cho Hàn Mặc Tử, những lời thơ khiến cảm xúc của tác giả ùa về, lại khơi gợi ra những nỗi nhớ về một miền thơ mộng hữu tình
Câu đầu của bài thơ, mở đầu một câu hỏi đã lạ, lại mở đầu với câu hỏi mà không có người trả lời,khiến mạch cảm xúc của bài thơ trở nên bâng khuâng khó tả. Tuy không ở gần, không được một lần về thăm Vĩ Dạ, nhưng bằng với nỗi nhớ diết da đã đưa Hàn Mặc Tử về với quê hương. Câu hỏi tu từ như một lời trách móc,hờn dỗi của một cô gái như thủ thỉ ràng, sao lâu rồi mà tác giả không về thăm quê lấy một lần. Câu hỏi vốn đưa ra không phải để trả lời, mà gợi ra cảm giác bâng khuâng, khó tả. Nó giống như một lời mời gọi, vừa như là một lời giới thiệu mà cũng là sự tiếc nuối của chính tác giả lâu không về thăm thôn Vĩ. “ Sao anh không về chơi thôn Vĩ” như một lời tự vẫn, tự trách móc mình.
Khung cảnh Vĩ Dạ dần hiện ra với bao nhiêu cảnh, vừa có nắng vừa màu sắc rực rỡ, lại vừa có hình ảnh của những cành trúc đung đưa trước ngõ nhà ai. Cái tài cái độc đáo của tác giả là gợi ra sự tưởng tượng mới lạ cho chính người đọc
Tác giả như dẫn dắt người đọc đi sâu hơn vào khung cảnh của thôn Vĩ, và với biện pháp so sánh, những vườn tược nơi đây đã trở thành những thứ mà dưới con mắt của một người nghệ sĩ được hóa thành chốn hữu tình:” vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. dường như cây cối ở thôn Vĩ quanh năm tốt tưới, từ “ mướt” được sử dụng ở đây quả thật không quá chút nào, xanh mướt, mơn mởn và đầy sức sống. Nhịp thơ uyển chuyển kết hợp với từ ngữ mang tính tượng hình cao, cảnh vật nơi đây như càng thêm huyền bí,đẹp đẽ, vừa có màu của nắng mới lên, vừa có màu xanh mướt của những khu vườn, mọi thứ đều tươi mới, đầy nhựa sống. Câu cuối của khổ 1 gợi ra nhiều suy nghĩ và liên tưởng nhất:” Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Phải chăng là hình ảnh lá trúc đang sà xuống những khu vườn vuông vắn tươi đẹp của xứ Huế, hay những cành trúc đang buông mình trước cửa của những ngôi nhà xứ Huế. Đâu đấy lại gợi ra vẻ e ấp của cô gái Huế với khuôn mặt phúc hậu, gợi ra vẻ đẹp duyên dáng mà cũng kín đáo.
Những câu thơ tiếp theo cho tôi thấy một nét khác của Huế, một sự chuyển biến về tâm trạng của nhân vật trữ tình:
“Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”
Những câu thơ cho ta thấy tâm trạng trữu nặng của Hàn Măc Tử, hai câu thơ đầu gợi cảnh chia li sầu não buồn đến sâu thẳm. Điệp từ” gió” và “mây” cùng với nhịp điệu của câu thơ càng khiến cho khung cảnh chia li hiện rõ. Gió mây thường là một cặp, thường quấn quýt bên nhau nhưng ở đây “gió theo lối gió, mây đường mây”. Hoa rơi nước cuốn là điều hiển nhiên nhưng lại ẩn chứa một tâm sự buông bã đến não lòng, sự chia li chia lìa ngày một hiện hữu. Nhìn cảnh hoa trôi gió cuốn mà chúng ta lại nhìn ra cả tâm trạng của thi nhân. Lòng buồn thiu, không có một nỗi niềm nào chất chứa. Hình ảnh trăng hiện ra, không chỉ ở bài thơ này mà còn nhiều bài thơ nổi tiếng của các nhà thơ khác.Ánh trăng là biểu tượng cho cái đẹp, tượng trưng cho hạnh phúc và thanh bình. Đối với Hàn Mặc Tử hình ảnh trăng trong thơ gợi cho người đọc một niềm hi vọng, một niềm tin. Chỉ có trong thơ mới có thể có sông trăng và thuyền chở trăng. Nghệ thuật ẩn dụ của tác giả ở đây thật thơ mộng, mang đến cho ta niềm khao khát, đợi chờ. Nhưng lại mang một dự báo, hay một nỗi phân vân rằng “Có chở trăng về kịp tối nay”. Lời thơ cất lên như một câu hỏi không có đáp án. Hai câu thơ đặc tả tâm trạng khát khao gặp gỡ nhưng đồng thời cũng thể hiện nỗi lo lắng khôn nguôi.
Khổ thơ cuối thể hiện một khung cảnh khi có lẽ nhà thơ đã tỉnh mộng, quay về với thực tại đang sống, đối mặt với chính mình để viết lên những vần thơ:
“Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra”
“ Khách đường xa ở đây chính là ai?” cùng với điệp ngữ “khách đường xa” vừa thể hiện tâm trạng nhớ thương khắc khoải lại như vô vọng của mối tình đơn phương xa vời. Thực tại tác giả đang đối mặt với căn bệnh hiểm nghèo, cắt đứt mọi giao tiếp với xung quanh nên ta có thể nhận thấy qua lời thơ ước mơ của tác giả vô cùng thiết tha mãnh liệt. Tác giả không mơ được trở về thôn Vĩ nữa mà mơ có một người khách nào đó đến thăm. Nhưng rồi giấc mơ ấy như nhòa đi như trong ảo mộng, sương khói làm nhòa hình ảnh ảo mộng: “Áo em trắng quá nhìn không ra”. Ở đây ta có thể thấy tác giả mơ về một người con gái, nhưng chỉ có thể thấy “áo” chứ “nhìn không ra”,hình ảnh tà áo trắng gợi ra hình ảnh dịu dàng mà cũng thanh khiết,có lẽ là dáng dấp của một người con gái xứ Huế. Chỉ biết đây là một hình ảnh rất đỗi gần gũi nhưng lại quá xa xôi. Gần gũi vì nó đã trở thành một hoài niệm thường trực, còn xa xôi là vì khoảng cách thời gian, không gian. Trong tâm trạng buồn bã cô đơn của thực tại và nhớ mong khắc khoải trong thơ, nhà thơ chợt khao khát cuộc sống đến tột cùng. Cái mà Hàn Mặc Tử tha thiết mong đợi như đọng lại tới vô cùng. “Ai biết tình ai có đậm đà”. Cái hay của câu thơ nằm ở đại từ phiếm chỉ “ai”, nghe như lời nghi ngờ, cũng như một tiếng thở dài vô vọng. Vừa là nỗi mong ước đến khát khao,câu hỏi bâng quơ nhưng gợi ra nhiều tâm trạng. Đó chính là sự bâng khuâng khó tả và sự nhẹ nhàng như tự nhủ với bản thân.
Nguồn: Bài văn hay | Cảm nhận về bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ | 1,332 | |
Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ
Bài làm
Minh Huệ với bài thơ Đêm nay Bác không ngủ là hiện tượng thi sĩ bất tử với một giai phẩm văn chương. Độc đáo bởi vì một nhà thơ xứ Nghệ, sử dụng làn điệu dân ca hát dặm Nghệ Tĩnh đã ca ngợi tình thương người mênh mông của một người con vĩ đại của xứ Nghệ – Bác Hồ kính yêu.
Bài thơ gần như một truyện cổ tích vừa thực vừa mộng dẫn hồn ta vào một không khí lung linh huyền thoại: một ông tiên với chòm râu im phăng phắc, bỗng cao lung linh trước ngọn lửa hồng chập chờn giữa rừng khuya. Một đêm đông lạnh lẽo mưa lâm thâm thời chiến tranh, loạn lạc. Xung quanh đông lửa là những chiến binh trẻ (tiên đồng) đang nằm ngủ. Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật ấy đá góp phần đặc sắc tạo nên sắc điệu ngữ trữ tình thẩm mĩ của bài thơ Đêm nay Bác không ngủ.
Tác giả đã sử dụng ngôn ngữ kể, ngôn ngữ tả, ngôn ngữ nhân vật, và bình luận trữ tình hoà quyện trong những vần thơ năm chữ dung dị, lắng đọng, liền mạch, mến thương.
Hình ảnh Bác Hồ được khắc hoạ rất đậm nét qua tâm hồn anh đội viên. Mối quan hệ giữa lãnh tụ với chiến sĩ trở thành tình bác – cháu, cha – con. Tố Hữu từng viết: Người là Cha, là Bác, là Anh – Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ (Sáng tháng Năm), ở đây Minh Huệ đã cảm nhận được:
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm
Rồi Bác đi dém chăn
Từng người từng người một
Sợ cháu mình giật thột.
Bác nhón chân nhẹ nhàng…
Việc làm đốt lửa, hành động đi đém chăn, cử chỉ nhón chân nhẹ nhàng – đã thể hiện sự chăm chút yêu thương của Người Cha mái tóc bạc đối với từng người lính như tình cha – con, tình ông – cháu.
Chú đội viên mơ màng trong khoảnh khắc hạnh phúc thần tiên. Chất thơ vừa thực vừa mơ đầy ân tượng:
Anh đội viên mơ màng Như nằm trong giấc mộng.
Ngoài trời thì mưa lâm thâm lạnh lẽo. Trong mái lều xơ xác, suốt đêm Lặng yèn bên bếp lửa – vẻ mặt Bác trầm ngâm. Bác vẫn ngồi… Bác vẫn không ngủ, Chí lo muôn mối như lòng mẹ… (Tố Hữu). Bác vĩ đại và ấm áp biết bao! Một so sánh rất đẹp, rất thơ đã ca ngợi tình nhàn ái Hồ Chí Minh:
Bóng Bác cao lồng lộng
Ấm hơn ngọn lửa hồng.
Tình huống thơ được đẩy tới cao trào. Chế Lan Viên trong Người đi tìm hình của nước từng viết: Hiểu sao hết tấm lòng lãnh tụ.. Anh đội viên cũng vậy, anh chưa hiểu vi sao đêm nay Bác trầm ngâm thao thức. Nghe Bác nói, anh đội viên vui sướng mênh mông. Tình nhân ái của lãnh tụ đã soi sáng tâm hồn người lính trẻ:
Bác thương đoàn dân công
Đêm nay ngủ ngoài rừng
Rải lá cây làm chiếu Manh áo phủ làm chăn Trời thì mưa lâm thăm Làm sao cho khỏi ướt!
Càng thương càng nóng ruột
Mong trời sáng mau mau….
Trong bài thơ Đêm nay Bác không ngủ, Minh Huệ đã sáng tạo nên một số chi tiết nghệ thuật rất cụ thể và điển hình về mái tóc, chòm râu, ngọn lửa, bóng Bác, vẻ mặt trầm ngâm, về hành động, cử chỉ (đốt lửa, dém chăn, nhón chân…) nhằm tô đậm và ca ngợi tình thương bao la của Bác Hồ kính yêu. Chòm râu là một nét vẽ thân tình bức chân dung lãnh tụ gợi lên sự gần gũi, thân thiết mà cao cả, thiêng liêng:
Bác vẫn ngồi đinh ninh
Chòm râu im phăng phắc.
Bên cạnh hình ảnh Bác Hồ là hình ảnh anh đội viên, được nhà thơ thế hiện khá đẹp. Anh chợt thức giữa đêm khuya, và vô cùng nhạc nhiên suy nghĩ:
Mà sao Bác vẫn ngồi – Đêm nay Bác không ngủ.
Thương Bác, anh khẽ nói: Bác ơi! Bác chưa ngủ? – Bác có lạnh lắm không?. Anh bồn chồn lo lắng:
Anh nằm lo Bác ốm….
Cảm xúc của anh đội viên phát triển theo chiều dài của thời gian đêm khuya:
Anh đội viên thức dậy –
Thấy trời khuya lắm rồi…
Lần thứ ba thức dậy…
Người lính trẻ nằng nặc, thiết tha:
Mời Bác ngủ Bác ơi!
Trời sắp sáng mất rồi
Bác ơi! Mời Bác ngủ!
Nghe Bác nói về tình thương và nỗi lo,… anh đội viên vô cùng hạnh phúc vì đã thấm hiểu tấm lòng và sự vĩ đại của lãnh tụ:
Lòng vui sướng mênh mông
Anh thức luôn cùng Bác.
Qua hình ảnh anh đội viên, Minh Huệ đã thể hiện một cách chân thành cảm động lòng kính yêu của đồng bào và chiến sĩ đói với Hồ Chủ tịch vĩ đại.
Đêm nay Bác không ngủ mãi mãi là một bài ca làm rung động trái tim muôn triệu con người. Hai nhân vật, hai tâm hồn chung đúc, chan hoà trong một tình yêu lớn: "yêu nước, thương người". Màu sắc dân ca kết hợp với không khí cổ tích thần kỳ làm nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ. Cảnh rừng đêm mưa lâm thâm, ngọn lửa hồng, mái tóc bạc, chòm râu im phăng phắc là bốn nét vẽ đầy ấn tượng về Bác Hồ và tấm lòng yêu nước, thương dân của Bác. | Cảm nhận về bài thơ Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ | 924 | |
Cảm nhận về bài thơ Đập đá ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh
Hướng dẫn
Cảm nhận về bài thơ Đập đá ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh
Bài làm
Côn Đảo trước kia được coi là “địa ngục trần gian”, nơi thực dân Pháp cho xây dựng những nhà tù giam cầm các chiến sĩ yêu nước. Bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn” được sáng tác khi nhà yêu nước Phan Chu Trinh bị bắt và giam cầm ở nơi đây. Bài thơ toát lên vẻ đẹp của người chiến sĩ kiên trung dù bị đày ải, khổ sai nhưng vẫn mang dáng vẻ chí khí, bất khuất trước kẻ thù.
Ngay từ những câu thơ đầu bài thơ, Phan Chu Trinh đã làm hiện lên hình ảnh một người anh hùng hiên ngang giữa đảo xa:
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn
Lừng lẫy làm cho lở núi non
Ông thể hiện niềm tự hào được “làm trai” – một đấng nam nhi đầu đội trời chân đạp đất, mạnh mẽ, dũng mãnh và được rạng danh tiếng tăm – “lừng lẫy” giữa đời. Mang sức mạnh của một thanh niên trai trẻ, những công việc khổ sai cũng trở nên quá đỗi tầm thường:
Xách búa đánh tan năm bảy đống
Ra tay đập bể mấy trăm hòn
“Xách búa”, “đánh tan”, “đạp bể” – động từ mạnh, dứt khoát, thể hiện một sức mạnh ghê gớm, tạo cho người tù yêu nước một tư thế ngạo nghễ hiên ngang. Công việc đập đá tưởng chừng như nặng nề, vất vả mà lại quá đỗi nhạ nhàng với người tù yêu nước. Thời gian sống trong tù tôi luyện thân thể họ, những khó khăn, thử thách lại càng làm ý chí của họ thêm vững vàng:
Mưa nắng càng bền dạ sắt son
Ông bày tỏ quan điểm cá nhân:
Những kẻ vá trời khi lỡ bước
Gian nan chi kể việc con con
Mượn câu chuyện thần thoại Nữ Oa đội đá vá trời, Phan Chu Trinh nói lên cái chí lớn của đời mình: tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Đối với ông, đập đã cũng chỉ là một “việc con con”, còn theo đuổi hoài bão mới thực sự là hành trình gian nan và thử thách. Ông coi thường những vất vả, nhọc nhằn trước mắt để giữ ý chí vững bền và hiên ngang trước kẻ thù.
“Đập đá ở Côn Lôn” – nhan đề bài thơ là về chuyện đập đá nhưng ý thơ không chỉ đơn giản là những cực nhọc trong cảnh tù đầy. Toàn bài thơ hiện lên hình ảnh người tù yêu nước cao lớn sừng sững, đứng hiên ngang giữa đất trờ, bất chấp mọi gian khổ để đi theo tiếng gọi của lý tưởng. Đó chính là tư thế hiên ngang của người anh hung Việt Nam trong những năm chiến đấu vì tự do, độc lập của nước nhà. | Cảm nhận về bài thơ Đập đá ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh | 486 | |
Đề bài: Cảm nhận về bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn” của Phan Châu Trinh
Bài làm
Phan Châu Trinh là một nhà thơ, nhà chính trị cách mạng lỗi lạc của dân tộc ta. Tác phẩm “Đập đá ở Côn Lôn” tái hiện hình ảnh những người tù cách mạng bị tù khổ sai, phải làm những công việc vô cùng nặng nhọc như đập đá, vác đá, ở vùng đảo Côn Lôn. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn ấy tinh thần cách mạng, ý chí của người chiến sĩ không bao giờ lung lay, lùi bước. Họ vẫn lạc quan yêu đời dù trong khó khăn thử thách.
Hình ảnh những người chiến sĩ cách mạng anh hùng dù bị gông cùm, xiềng xích nhưng vẫn ngẩng cao đầu, thể hiện khí thế hiên ngang niềm tin vào tương lai của dân tộc. Những người tù bị tra tấn, đánh đập dã man nhưng họ vẫn cất lời hát ngợi ca quê hương đất nước
Khi nói đến hòn đảo Côn Lôn, chúng ta đều liên tưởng ngay tới nhà tù Côn Đảo nơi đã giam giữ, tra tấn rất nhiều chiến sĩ cách mạng lừng lẫy của nhân dân ta. Nơi mà máu của những người chiến sĩ này rơi xuống để mở ra cánh cửa hòa bình độc lập dân tộc.
Trong những câu thơ đầu tiên thể hiện ý chí làm trai sống phải ngẩng cao đầu, hiên ngang đầu đội trời, chân đạp đất:
Lừng lẫy làm cho lở núi non
Hình ảnh người chiến sĩ cách mạng hiện lên thật hiên ngang, trong tư thế vươn cao thẳng người, ưỡn ngực không khúm núm, không cong lưng uốn gối. Dù cuộc sống ở Côn Đảo vô cùng khổ sở, bị tra tấn một cách dã man nhưng các chiến sĩ của chúng ta không hề nao núng,
Hành động những người tù khổ sai phải “đập đá” được tác giả Phan Châu Trinh thể hiện vô cùng sinh động, chân thực, nhưng không kém phần anh hùng, khí thế. Câu thơ có nhịp nhanh thể hiện khí thế oai hùng hào sảng của người chiến sĩ:
“Xách búa đánh tan năm bảy đống
Ra tay đập bể mấy trăm hòn”
Những hành động mạnh mẽ xuất hiện liên tục trong hai câu thơ thể hiện sự anh hùng, dứt khoát, mạnh bạo của người tù cách mạng trong công việc khổ sai là đập đá hàng ngày của mình. Tác giả đã khôn khéo tinh tế khi sử dụng hình ảnh ước lệ tương phản giữa số ít “năm bẩy đống” với số nhiều “Mấy trăm hòn” để nêu lên công việc nặng nhọc, khối lượng vô cùng nhiều của người tù cách mạng phải làm
“Tháng ngày bao quản thân sành sỏi
Mưa nắng càng bền dạ sắt son
Giữa nơi hoang sơ, xung quanh chỉ toàn là roi vọt, phải làm việc và đối xử như trâu như ngựa nhưng những người chiến sĩ vẫn hiên ngang không hề e ngại, vẫn tỏ rõ được khí chất của mình. Trong hoàn cảnh khó khăn họ càng thể hiện rõ tinh thần quyết tâm theo cách mạng của mình.
“Những kẻ vá trời khi lỡ bước
Gian nan chi kể việc con con”
Hành động đội đá vá trời của nàng nữ oa xưa đã khiến cho những người chiến sĩ hôm nay thấy mình cũng đang giống như bà Nữ Oa xưa, cũng đang đập đã để vá trời.
Hai từ ” lỡ bước” thể hiện sự sa cơ, khi chẳng may bị bắt bớ tù đầy nhưng cũng không làm lung lay ý chí kẻ anh hùng. Cho nên dù có khó khăn, nhưng cũng chẳng xá chi, với những người luôn có ý chí, vượt mọi khó khăn thử thách thì việc này chỉ là hành động cỏn con mà thôi. Một khí chất ngang tàng, một châm ngôn bất hủ khiến người đọc vô cùng nể phục, ngưỡng mộ ý chí sắt đá của những người chiến sĩ cách mạng ở Côn Đảo
Bài thơ “Đập đá ở Côn Lôn” được tác giả viết bằng ngòi bút khoáng đạt, lời thơ vô cùng khí thế, hào hùng thể hiện hình ảnh người chiến sĩ cách mạng hiên ngang, ý chí kiên định, không hề bị khó khăn, đòn roi làm cho lung lay tinh thần cách mạng, tinh thần yêu nước. Trong lòng họ ngọn lửa căm thù, chống giặc ngoại xâm thống nhất đất nước, làm cho đất nước bình yên, sạch bóng quân thù lớn lao hơn tất cả. Nên mọi gian nguy, khó khăn chỉ là những hạt cát vô cùng bé nhỏ. | Cảm nhận về bài thơ Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu Trinh | 771 | |
Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du
Bài làm
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư
(Vườn hoa bên Tây Hồ đã thành bãi hoang rồi
Trước song một mình nhớ tới người xưa qua một tờ giấy viết).
Câu thơ mở đầu như một tiếng thở dài não ruột. Không gian Tây Hồ vẫn còn đây, khuôn viên của một vườn hoa với những bông hoa thắm đẹp giờ đã không còn nữa. Vườn hoa đã thành gò hoang, gò hoang vắng đã thay thế cho vườn hoa. Cái “hữu” đã thành cái không, cái “đẹp” đã bị thay bởi cái “tàn tạ” hủy diệt. Từ “tận” mang ý nghĩa phủ định tuyệt đối; đã thay đối hết không còn một dấu vết gì nữa. Chứng thực một không gian đẹp là khoảng đất bên Tây Hồ, để đối chứng quá khứ vàng son với hiện tại hủy diệt, Nguyễn Du đã nhìn thấy cuộc thương hải tang điền trong chớp mắt “Trải qua một cuộc bể dâu”, “Thế gian biến cải vũng nên đồi”,một con người được ghi ở một tờ giấy viết thật mong manh. Tờ giấy viết đây chính là bài “kí” có khoảng 2300 chữ ghi lại chuyện Tiểu Thanh của người đời sau.
Nếu vườn hoa đã tận thành gò hoang là chứng tích của một thời thì mảnh giấy này là chứng tích còn sót lại của một đời người. Một oan hồn thông khổ trong hành lang hun hút của thời gian ba trăm năm trước. (Theo trong bài kí thì Tiểu Thanh chết 1492 và Nguyễn Du đi sứ nhớ tới nàng, khóc nàng năm 1813 nghĩa là hơn 300 năm).
Cái nhìn trầm ngâm của Nguyễn Du về cuộc bể dâu của sự vật và cái lẻ nhân sinh của kiếp người sao mà cô đơn đến thế. Cái đẹp bị hủy hoại cùng triệt, dòng thời gian cứ chảy vô tình. Cái lẻ loi và đơn độc của Nguyền Du không chỉ hiện hình ở cái cảnh buổi chiều tàn bên song cửa sổ, ngồi dọc chuyện buồn mà còn thể hiện ở hai chữ “độc” và “nhất” đó.
Hai câu thực:
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.
(Son phấn có thần sắc chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết).
Văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở
Trong truyện Tiểu Thanh kí tác giả kể, trước khi chết, Tiểu Thanh thuê họa sĩ vẽ chân dung mình. Bức hình thứ nhất nàng chê có hình tự mà không có thần, bức thứ hai có thần nhưng phong thái khô cứng, gò bó. Sang bức thứ ba nàng khen vừa có hình, có thần, lại dịu dàng yểu điệu. Tiểu Thanh treo bức hình mình lên tế rồi khóc đến chết. Người chồng nghe tin chạy đến nhìn sắc mặt vợ và bức tranh thấy như người còn sống thương tiếc và khóc lóc. Lúc vợ cả cái nạp tranh và thơ, người chồng chỉ nạp thơ và bức tranh thứ nhất. Do đó, Nguyễn Du đã viết rất thực tế để tả cái oan trong đời Tiểu Thanh. Sắc là thế nhưng chết rồi mới được chồng đoái thương, văn chương là thế mà cũng bị đốt, may còn sót lại mấy bài.
Ý nghĩa của hai câu thực còn chìm ấn bên trong tính chất luận. Bề ngoài thì Nguyễn Du dã nắm bắt hai chi tiết có thần nhất để làm nổi bật cốt truyện, nhưng bên trong thì nói lại một quan điểm. Dù có bị những lực lượng hắc ám phũ phàng tận diệt thì nhan sắc của giai nhân, tài hoa của con người không dễ gì bị tiêu diệt. Qui luật vô hình vẫn dành cho nó những cơ may để tồn tại. Nó không chết, nó vẫn cùng cây đời mãi mãi xanh tươi. Tuy nhiên, để tồn tại sắc tài vẫn phải vật vã và trầm luân đau khổ lắm!
Nếu như bốn câu trên có phần “hướng ngoại”, quan tâm tới câu chuyện Tiểu Thanh thì bốn câu sau tác giả suy ngẫm về mình. Cảm hứng bốn câu trên nằm trong cảm hứng chung của Nguyễn Du về sự thương xót và ngưỡng mộ những tài tử giai nhân: “Sắc tài sao mà chịu kiếp truân chuyên”. Bốn câu sau “hướng nội”. “Trông người lại ngẫm đến ta”, cảm xúc chủ đạo ỡ đây là sự cô độc tuyệt đối của Nguyễn Tiên Điền!
Hai câu luận:
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư.
(Những việc tiếc hận ngày xưa không hỏi trời
Ta tự ở vào cái oan kì lạ của phong vận)
Ở đây ta nên hiểu “hận sự” đó là những việc không hài lòng một cách sâu sắc có thể để hối tiếc mãi. Nó không phải là “thù hận” mà là “tiếc hận”. Vì thế nghĩa hàm ẩn của nó là: “Những việc tiếc hận xưa nay không thể truy tìm được nguyên nhân”. Ta nên lưu ý các nhà Nho không oán người, không trách trời, nên không thể coi đây là lời chỉ trích oán hận trời.
“Phong vận” là từ nói tắt của “lưu phong dư vận” nghĩa là gió thổi nước trôi, biểu hiện sự hài hòa rất mực, biểu hiện của tài tình, của bất diệt. Những kẻ “phong vận” thường có con đường hạnh phúc may mắn vạch ra phía trước, họ phong lưu tức họ bất diệt. Thế nhưng sao ở ta, ở số kiếp bao nhiêu người mà ta chứng kiến thì những người ấy thường gặp oan trái kì lạ khó hỏi trời. Các quy luật đã bị lộn ngược oái oăm đến mức không thể giải thích. Nghĩa hàm ẩn của câu này là: Những kẻ phong vận tài tình bị oan trái thì thông cảm được với nhau.
Ta thấy mình cũng chịu nỗi oan kì lạ như người phong vận đấy (Người thơ phong vận như thơ ấy). Nguyễn Du đã xếp mình đồng hội đồng thuyền với những số kiếp tài hoa bạc mệnh. Ông không lí giải được tại sao đời mình lại gặp nhiều trầm kha oán trái thế: “Tráng niên ngã dực vi tài giả” (Thời trẻ ta cũng là kè có tài mà). Ý thức được mình như thế, để hôm nay ngậm ngùi ngơ ngác hỏi vào thinh không. Thế mà sao ta cứ như những người phong vận mắc nỗi oan lạ lùng? Các câu thơ thúc ép nhau để rồi “thiên nan vấn”. Câu hỏi ấy va đập vào cái vô hình tạo thành một nỗi đau thấm đến gan ruột.
Hai câu kết:
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai nhỏ nước mắt khóc cho Tố Như chăng?)
Người xưa cho rằng những kẻ đồng thanh thì tương ứng, đồng khí thì sẽ gặp nhau. Vì thế chỉ cần Kiều tỏ lòng thành với Đạm Tiên: “Chớ nề u hiển mới là chị em”, thì: “Phút đâu ngọn gió cuốn cờ đến ngay”. Con người “đồng khí” thường tái sinh và gặp nhau ở tương lai. Nguyễn Du sống sau Tiểu Thanh hơn ba trăm năm, ông hiểu và đống nỗi oan kì lạ như Tiểu Thanh nên ông khóc nàng. Chẳng biết sau khi ta nhắm mắt ai là kẻ đồng oan khóc ta? (Hôm nay em khóc chị, ngày mai ai khóc em?).
Nguyễn Du quả nhắm mắt không yên khi không biết tương lai có ai hiểu ông không? Niềm khắc khoải ấy lại là một sự tiên cảm của thiên tài; ông mong chờ một tấm lòng hô ứng nhưng chỉ mới hai trăm năm trôi qua Nguyễn Du đã được đánh giá là đại thi hào dân tộc:
Tiếng tha ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
(Tố Hữu – Kính gửi cụ Nguyễn Du)
Con cháu của Nguyễn đã khóc Nguyễn thực lòng. Đã “khấp” tức là nhỏ nước mắt chân thành chứ không phải “khốc” tức là khóc to lên, nhiều lúc không cần nước mắt. | Cảm nhận về bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du | 1,375 | |
Cảm nhận về bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi.
Hướng dẫn
Cảm nhận về bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi.
Nguyễn Trãi( 1380-1442) là nhân vật lịch sử vĩ đại, là thiên tài trong quá khứ. Ông xứng đáng là người con ưu tú của dân tộc kể từ khi lập quốc. Về mặt văn học, Nguyễn Trãi là tác giả có vị trí lớn trong nền văn học trung đại Việt Nam.Ông không chỉ là tác giả của những áng hùng văn “ có sức mạnh bằng mười vạn quân” ( Bình Ngô đại cáo, quân trung từ mệnh tập) mà còn là tác giả của những bài thơ Nôm chứa chan cảm xúc, tình yêu nhiên nhiên, cuộc sống, nặng lòng với đất nước, nhân dân.
Tập thơ Nôm “ Quốc âm thi tập” của ông gồm 254 bài, là tập thơ Nôm sớm nhất hiện còn, đánh dấu bước phát triển của văn học chữ Nôm trong văn học trung đại. Cảnh ngày hè thuộc “ bảo kính cảnh giới” đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và lý tưởng của Nguyễn Trãi,dành tình yêu cho thiên nhiên, cuộc sống, con người và vươn tới khát vọng hoà bình, hạnh phúc cho nhân dân.
Bài thơ mở ra bằng hình ảnh của một bức tranh nhiên nhiên, cuộc sống rực rỡ sắc màu:
“ Rồi hóng mát thủa ngày trường
Hoè lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”
Câu thơ đầu đã thể hiên khá đầy đầy đủ về thời gian, hoàn cảnh, tâm trạng của nhà thơ. Tác giả gợi ra sự nhàn rỗi ngồi hóng mát và nét đặc trưng của ngày hè. Một ngày rảnh rỗi,khí trời mát mẻ, trong lành khiến cho tâm hồn con người trở nên thư thái, thanh thản. Đó là điều kiện lý tưởng để Nguyễn Trãi làm thơ và đắm mình vào cảnh sắc thiên nhiên.
Nguyễn Trãi đã mở rộng hồn thơ, huy động nhiều giác quan và sự liên tưởng để cảm nhận, diễn tả vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên, cuộc sống và cảnh ngày hè chân thực, sinh động, tràn đầy sức sống, vừa dân dã, giản dị, vừa gợi cảm. Điều đó cho thấy sự tinh tế, nhạy cảm, tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống của ông.
“Hoè lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”
Một thiên nhiên căng tràn, dồi dào sức sống được thể hiện qua độ rực rỡ của lá hoa, sắc màu. Màu xanh của tán lá hoè cứ đùn đùn tuôn, hình như lan rộng mãi ra thành bóng mát che rợp một khoảng sân rộng. Hoa sen hồng trong ao đã lan toả ngát hương. Sắc xanh của lá, sắc hồng của hoa hoà với mùi hương, với âm thanh (lao xao, dắng dỏi) tiếng người trò chuyện xa xa, con người và cảnh vật như hoà vào nhau. Các từ ngữ giàu tính tạo hình: “ đùn đùn, phun, tiễn” khiến cảnh vật trở nên sống động, có hồn. Đồng thời,mật độ dày đặc của các trạng thái cộng hưởng với độ gay gắt của gam màu nóng làm dậy lên sức sống của thiên nhiên mạnh mẽ, căng tràn. Thi nhân đón nhận ra giao cảm với cảnh vật bằng mọi giác quan.
Bức tranh chiều hè ở một làng đánh cá hiện lên thật chân thực và sinh động qua cảm nhận thanh thản của một ông già đang nhàn rỗi trong thời gian ở ẩn. Mùa hè hiện lên không chỉ với cảnh sắc mà với cả những âm thanh rất đỗi gần gũi, thân thuộc. Âm thanh “ lao xao chợ cá” gợi sự vui vẻ, yên bình, no đủ trong cuộc sống thường nhật nơi làng quê. Tiếng ve “ dắng dỏi” như bản nhạc gọi hè, xua tan không khí quạnh hiu của buổi chiều tà. Âm thanh vui vẻ, rộn rã ấy khiến lòng người trở nên thanh thản, yên bình.
Bức tranh nhiên nhiên ngày hè rất sinh động và giàu sức sống. Tuy là buổi chiều cuối ngày nhưng cuộc sống vẫn chưa ngừng lại. Có một cái gì đó thôi thúc từ bên trong ứa căng, tràn đầy, không kìm lại được, phải giương ra, đùn ra, phun ra… hết lớp này đến lớp khác. Cuộc sống vẫn luôn cựa quậy, vận động không ngừng. Nếu trong truyện Kiều của Nguyễn Du, Nguyễn Du viết “ đầu tường lửa lựu tập loè đơm bông” là thiên về màu sắc, thì ở câu thơ tả sen hồng, hoè xanh của Nguyễn Trãi lại thiên về sức sống của cảnh vật, nhiên nhiên. Cách ngắt nhịp ¾ khá mới mẻ đã gây ấn tượng là sự chú ý cho người đọc làm nổi bật cảnh chiều hè. Nét đặc sắc của bức tranh nhiên nhiên chiều hè còn thể hiện sự đồng cảm, giao cảm giữa con người và cảnh vật, qua đó thể hiện vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi.
Là một nhà chính trị, một nhà văn, sâu thẳm tâm hồn Nguyễn Trãi luôn mang nặng nỗi lo cho đất nước, nhân dân. Nguyễn Trãi yêu nhiên nhiên nhưng trên hết tấm lòng ông thiết tha với con người, với dân, với nước. Từ cảm giác thanh bình, no ấm của cảnh ngày hè đã dấy lên một khao khát có cây đàn của vua Ngu Thuấn để đàn khúc Nam Phong khiến cho mưa thuận gió hoà, nhân nhân no đủ.
Dân giàu đủ khắp đòi phương”
Nguyễn Trãi hiếm khi có giây phút thư nhàn, thanh thản. Nhưng ở trong bài thơ này, ông có cả một ngày trường thưởng thức thiên nhiên với tâm trạng lâng lâng, sảng khoái. Bởi niềm mơ ước, nỗi trăn trở giày vò tâm can ông, mục đích lớn nhất đời ông đã được hiện thực: nhân dân ấm no, hạnh phúc. Đó là khát vọng cao cả, đẹp đẽ của một con người hết lòng vì dân, vì nước. Câu cuối khép lại với âm điệu, gieo nhịp 2/2/2 thể hiện sự dồn nén cảm xúc của toàn bài. Bộc lộ khát khao về cuộc sống thái bình cho nhân dân.
Nguyễn Trãi là một thiên tài tầm cỡ như một cây đại thụ văn hoá toả bóng mát xuống nhiều thế hệ sau của nước Đại Việt. Bài thơ cảnh ngày hè cho ta thấy một Nguyễn Trãi vừa có tài, vừa có tâm. Ông miêu tả một cách đặc sắc về cảnh sắc thiên nhiên mùa hè thanh cao, tràn đầy sức sống ở cả nội dung và nghệ thuật. Tâm hồn yêu nhiên nhiên, cuộc sống, con người vẫn luôn thường trực trong lòng thi nhân. Trong bất cứ hoàn cảnh nào Nguyễn Trãi cũng canh cánh bên lòng nỗi niềm ưu ái đối với dân, với nước. | Cảm nhận về bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi. | 1,155 | |
Đề bài: Cảm nhận về bài thơ "Trong đầm gì đẹp bằng sen…Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"
Bài làm
Nét trong sáng, cao đẹp trong tâm hồn con người Việt Nam từ bao đời đã được ca ngợi và trở thánh chủ đề của nhiều câu tục ngữ, ca dao. Chúng ta không thể quên bài ca dao quen thuộc:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Bằng ngôn từ trong sáng, giản dị nhất, bài ca dao làm nổi bật hình ẩnh bông sen thơm ngát, đang nở trên đầm lầy. Bông sen đơn sơ, chân chất như người dân lao động mang nét đẹp bình dị, thôn dã, lúc nào cũng ngan ngát toa hương, một thứ hương thơm đặc biệt tinh khiết không pha lẫn mùi vị nào khác dù hoa sen trong đầm. Đầm lầy càng u tối, thối tha thi bóng hoa lại càng đẹp đẽ, sáng trói. Thông qua bài ca dao, hình ảnh của người dân lao động Việt Nam hiện lên một cách tự nhiên, hợp lý đến tài tình. Tâm hồn của mỗi con người được ví như một bông hoa thơm ngát, dù sống ở đâu, trong hoàn cảnh nào cũng giữ riêng cho mình nét trong trắng, thanh cao nguyên vẹn.
Sống trong sạch là quy tắc, luật sống cua con người Việt Nam từ bao đời nay. Nó trở thành đạo đức, nhân cách được bồi dưỡng và bổ sung truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngay từ chế độ phong kiến nhiễu nhương, thối nát, nhưng nhà nho, trí thức đã quan niệm giấy rách phải giữ lấy lề để sống một cách thanh bạch, giản dị nhưng vô cùng chân thật. Cuộc sống đầy những cạm bẫy, càng lúc càng phô bày đầy đủ những thói xấu của loài người. Nếu như ai cũng sống gần mực thì đen thì có lẽ cả xã hội này không còn tồn tại người tốt. Nhưng với truyền thống đạo lí cao đẹp từ xa xưa, người dân Việt Nam luôn ngẩng cao đầu, sử dụng nhân cách quí giá của chính mình để sống và hành động một cách chân chính nhất. Xã hội càng xấu xa thối nát chừng nào thì con người Việt Nam càng sáng trong chừng ấy. Chúng ta không thể quên bi kịch về cái chết của Lão Hạc, một nông dân chất phác, quê mùa thà chết để giữ được thanh danh không vướng bùn nhơ xấu xa. Chúng ta không thể quên được hình ảnh chị Dậu trong đêm tối đen như mực và như tiền đồ của chị quyết giữ lấy tiết hạnh, lòng thuỷ chung với chồng con. Và ta càng không thế quên được lời khẩn cầu tha thiết, xót xa, nức nở của con cò ăn đêm, quyết giữ tâm hồn trong trắng đến phút cuối cuộc đời
Có xáo thi xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con
Đây có phải là hiện thân của người dân lao động? Quả vậy, kế tục và phát huy truyền thống cao đẹp, họ luôn sống một cách ngay thẳng, chân thực trong bất cứ hoàn cảnh nào để trở thành những đoá sen thơm ngát giữa đầm.
Không thể không có những bông hoa rũ cánh, cúi xuống đầm lầy để vướng phải bùn nhơ. Cũng như trong xã hội, không thiếu những kẻ đứng trước hoàn cảnh khó khăn đã không giữ được mình. Tư tưởng hám danh hám lợi, cầu thân đã đưa họ đến những hành động đi ngược lại với lương tâm, đạo lí con người. Từ những việc nhỏ nhặt họ đã không giữ bản thân mình cho được trong sạch thì đến những việc quan trọng, to lớn hơn làm sao họ không trở nên xấu xa, nguy hiểm. Loại người như vậy là một gánh nặng, một căn bệnh của xã hội, càng trở nên trầm trọng trong cuộc sống hôm nay. Đất nước đang cần, hơn bao giờ hết những người mang đạo đức cách mạng, hết lòng vì dân mà phục vụ. Nối tiếp truyền thống xưa, các cán bộ chân chính hôm nay cũng trở thành những đoá hoa sen. Sống giữa khó khăn của xã hội đầy cạm bẫy, lọc lừa, họ vẫn xác định cho mình một lí tưởng đúng đắn. Để làm một đoá hoa sen cho mai sau, ngay từ bây giờ, ta phải tu dưỡng đạo đức, rèn luyện tinh thần, học hỏi thêm nhiều điều bồ sung lí trí nhằm có suy nghĩ chính xác khi đứng trước những ngã rẽ, biết đi trên những lối mòn quí giá của dân tộc, thêm vào những nhận thức mới mẻ của thời đại. Tất cả sẽ giúp ta trở thành người công dân tốt, không hổ thẹn với truyền thống xưa đồng thời ta cũng tự hào vì đã tiếp tục phát huy di sản tâm hồn quý báu của dân tộc.
Nói tóm lại, là người dân Việt Nam, chúng ta có quyền tự hào về tất cả những gì cao đẹp được ông bà xưa truyền lại, nhất là ở tâm hồn trong trắng, thanh cao, luôn rạng ngời dù ở bất kì hoàn cảnh môi trường nào. Cũng chính vì thế, ta buộc phải suy nghĩ, hành động một cách nghiêm túc đế không làm mai một đi truyền thống này. Muốn đạt được như thế, ngay từ khi còn là học sinh, ta phải tự nhắc nhở nhau sống như hoa sen.
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn | Cảm nhận về bài thơ “Trong đầm gì đẹp bằng sen …Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” | 948 | |
Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê- Hạ Tri Chương (Ngữ văn 7)
Bài làm
Tình yêu đối với quê hương đất nước vốn là tình cảm thiêng liêng cao quý nhất của con người. Dù đi đâu thì mỗi người vẫn luôn nhớ về quê nhà, nhớ nơi chôn nhau cắt rốn với những tình cảm thân thương nhất. Viết về đề tài tình yêu đối với quê hương, đặc biệt là những người xa quê, Hạ Tri Chương có bài Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê. Bài thơ ngắn gọn nhưng đã thể hiện khá rõ tình cảm tha thiết, nỗi lòng của một người con xa quê hương sau mấy chục năm nay mới trở lại.
Có lẽ trong cuộc đời mỗi con người, điều khiến người ta buồn nhất, khắc khoải nhất là phải sống xa quê. Mà sẽ là buồn hơn nữa nếu lại phải xa quê mấy chục năm trời không được một lần trở lại. Đến cuối đời may mắn được trở về thăm quê hương thì có lẽ sẽ chẳng còn ai nhớ đến, đứng giữa quê mình mà chẳng ai còn nhận ra, người ta cứ ngỡ khách lạ về làng. Và Hạ Tri Chương đã rơi vào tình cảnh ấy. Mở đầu bài thơ tác giả viết:
Thiếu tiểu li gia lão đại hồi (Trẻ đi, già trở lại nhà)
Câu thơ nói về một hoàn cảnh đối lập, đó là ngày Hạ Tri Chương ra đi và ngày trở về của ông. Trong cuộc đời con người sự ra đi hay trở vế sẽ chỉ là những chuyến đi bình thường nếu người ta đi vài ngày vài năm, nhưng sẽ là vấn đề nếu thời giàn ra đi kéo dài hàng mấy chục năm trời. Ngày ra đi, Hạ Tri Chương vẫn còn rất trẻ và cho đến ngày trở về đã thành một ông lão. Cả một quãng thời gian quá dài đủ khiến một con người tình nghĩa như nhà thơ nhớ quê đến mức độ nào. Có lẽ chúng ta cũng có thổ hiểu được đó là một nỗi nhớ quê da diết, dẫu cho cuộc sống của ông những ngày xa quê đẩy đủ và sung túc. Tình cảm gắn bó, tha thiết với quê hương được thể hiện ở câu tiếp theo.
(Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu)
Xa quê đã mấy chục năm nhưng tình cảm với quê hương ông vẫn giữ. Điều đó được thể hiện ở giọng quê ông vẫn giữ được, giữ được giọng quê đối với người xa quê mấy chục năm trời là một điều vô cùng quý giá. Thực ra trong cuộc sống có rất nhiều người xa quê thì dường như họ sẽ thay đổi tất cả từ giọng nói cho đến phong cách cử chỉ nhưng với Hạ Tri Chương thì điều đó không hề xảy ra. Chứng tỏ ông không hề quên nơi đã sinh ra mình, cho mình một cuộc sống, nơi có biết bao kỉ niệm, có người mẹ đã nuôi ông lớn lên bằng dòng sữa ngọt ngào, ru ông bằng những câu hát ân tình, tha thiết…Như vậy thời gian chỉ có thể làm thay đổi được mái tóc, được vẻ bên ngoài của con người chứ không thể thay đổi được những nét bên trong, nét quê ẩn chứa trong ông. Một con người yêu quê hương tha thiết như ông sẽ càng buồn hơn khi xa quê, nhớ quê mà chẳng được về thăm quê, để đến mấy chục năm sau mới được trở về, với biết bao bồi hồi và xúc động. Tuy nhiên, về đến làng, ông phải đối diện với một nghịch lý: Trước nơi đã sinh ra mình, ông chỉ là một người lạ:
Tiểu vấn: Khách tòng hà xứ lai
(Gặp nhau mà chẳng biết nhau
Trẻ cười, hỏi: “Khách từ đâu đến làng”
Có điều gì đó hóm hỉnh trong câu thơ này khiến ta phải bật cười nhưng dường như đó là một cái cười chẳng trọn vẹn bởi một người con được sinh ra chính từ mảnh đất ấy nay lại được xem như một người khách lạ. Cảnh cũ còn đây nhưng bạn cũ người xưa ai còn ai mất tác giả chẳng biết và dường như chẳng còn ai nhận ra mình nữa, dường như chẳng còn ai nhận ra tác giả là chàng Hạ Tri Chương năm xưa đã sinh ra từ ngôi làng này. Họ ngỡ đâu khách lạ về thăm làng. Có cái gì đó thật xót xa, người của làng mà lại trở thành khách lạ. Trẻ con hồn nhiên chào hỏi: có phải là khách lạ tờ phương xa đến. Đọc những câu thơ này, ta có thể tưởng tượng một người đàn ông đứng lạc lõng giữa làng, khuôn mặt vừa vui mừng, sung sướng vì được đứng trên mảnh đất thân yêu nhưng lại vừa thoáng nét buồn vì những người qua lại chẳng ai để tâm đến, một cảm giác thất vọng, hẫng hụt của tác giả khi đứng giữa quê mình. Bao năm xa quê mong ngày trở lại thăm quê vậy mà khi đứng trên mảnh đất thân yêu của mình thì dường như tất cả không còn là của mình nữa. Nhà thơ Tố Hữu cũng từng có câu thơ nói về tình cảm của người xa quê.
Mai về, dù bạc tóc anh cũng về.
Tình cảm quê hương là tình cảm thiêng liêng đối với mỗi con người và tác phẩm “Hồi hương cố tri” của Hạ Tri Chương là một bài thơ rất hay, tất cả tấm lòng nhà thơ được gói gọn trong bốn câu thơ đầy ý nghĩa. Tác giả đã rất thành công khi sử dụng thủ pháp nghệ thuật như tiểu đối hay tính hàm xúc nói ít gợi nhiều. Bài thơ đã giúp người đọc thấu hiểu hơn tâm trạng của người khách li hương. Bài thơ khép lại nhưng vẫn để lại dư âm khó quên trong lòng người đọc. | Cảm nhận về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê- Hạ Tri Chương | 1,012 | |
Cảm nhận về bài Tuyên ngôn độc lập
Hướng dẫn
Cảm nhận về bài Tuyên ngôn độc lập
Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập khẳng định quyền làm chủ của dân tộc ta, nước ta hoàn toàn độc lập, hòa bình. Tuyên ngôn độc lập mang nhiều ý nghĩa cách mạng, vững bền ý chí của các bậc anh hùng.
Nhìn lại những dấu ấn lịch sử của Việt Nam qua giai đoạn năm 1919-1930 ta sẽ thấy được sự thống khổ của nhân dân và ý chí sức mạnh không thể nào tiếp tục cam chịu sự nô lệ, sự áp bức của thức dân Pháp. Các tầng lớp nhân dân từ trí thức, tiểu tư sản, công nhân….đều đồng lòng đứng lên kêu gọi một phong trào yêu nước đã lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dan tham gia. Những người lãnh đạo đã tìm ra được một đường đi đúng đắn, tiếp thu được những lý luận giải phóng theo tư tưởng vô sản, tư tưởng của Mác-Lê Nin, để hệ quả của nó chính là thành lập ra được Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 03/02/1930.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng đã mở ra những cao trào cách mạng lớn và đỉnh cao là sự xuất hiện và tồn tại của các Xô viết ở Nghệ An, Hà Tĩnh và nhiều phong trào khác với quy mô ngày càng lớn, đông đảo quần chúng nhân dân tham gia đứng lên tạo một sức mạnh quật cường khiến bọn thực dân phải nhượng bộ và đáp ứng nhiều yêu sách của ta về dân sinh, dân chủ. Làm nền tảng cho sự ra đời của Mặt trận Việt Minh- Mặt trận đoàn kết dân tộc Việt Nam
Trước tình hình phát triển của cách mạng Việt Nam, bác Hồ trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Trước sự lãnh đạo tài tình của Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo yêu nước đã giành được chính quyền.Đáp lại tấm lòng và sự kêu gọi toàn dân đã tiến lên, làm nên cuộc thắng lợi vĩ đại của dân tộc.
Tuyên ngôn độc lập đã ra đời vào ngày 02/09/1945, một bước tiến mới cho đất nước Việt Nam, mở ra trang sử mới cho dân tộc Việt Nam đó là kết quả của cả một quá trình trăn trở, suy ngẫm trong hành trình tìm đường cứu nước của Bác, là kết quả của thực tiễn lãnh đạo tài tình đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi của Bác. Tuyên ngôn Độc lập đã thể hiện sự sáng suốt, nhạy bén và tầm nhìn chiến lược sâu rộng, khả năng dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc luôn gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân như Bác đã từng nói “…nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”.
Cách mạng tháng Tám, Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 đã diễn ra cách đây 68 năm nhưng bản Tuyên ngôn Độc lập vẫn vang vọng mãi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh.Từ đây dân ta sẽ không chịu bất kì một ách thống trị, áp bức nào, luôn được ấm no, hạnh phúc. | Cảm nhận về bài Tuyên ngôn độc lập | 576 | |
Cảm nhận về bài tùy bút ‘Mùa xuân của tôi’ của Vũ Bằng
Hướng dẫn
… Ông viết tác phẩm này tại Sài Gòn trong những năm tháng đất nước bị chia cắt, gửi gắm bao nỗi ‘sầu biệt li vơi sáng đẩy chiều’: nhớ vợ con gia đình, nhớ quê hương, nhớ miền Bắc, nhớ Hà Nội… Mỗi tháng ông có một nỗi nhớ, nhớ triền miên, nhớ dằng dặc suốt năm.
Tháng giêng và mùa xuân Hà Nội, mùa xuân miền Bắc đối với Vũ Bằng sao nhớ thế. Nỗi nhớ ấy, nỗi buồn đẹp ấy là của khách ‘thiên lí tương tu’.
‘Ai cũng chuộng mùa xuân’và ‘mê luyến mùa xuân’ nên càng ‘trìu mến’ tháng giêng, tháng đầu của mùa xuân. Tinh cảm ấy rất chân tình ‘không có gì lạ 186hết’.Cách so sánh đối chiếu của Vũ Bằng rất phong tình gợi cảm: ‘Ai bảo non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con; ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thi mới hết được người mê luyến mùa xuân’.Một cách viết duyên dáng, cảm xúc cứ trào ra qua các điệp ngữ: ‘ai bảo được…’, ‘ai cấm được… ai cấm được… ai cấm được…’.Chữ ‘thương’ được nhắc lại bốn lần, liên kết với chữ ‘yêu’, chữ ‘nhớ’ đầy ấn tượng và rung động.
Là một khách tài tử yêu cảnh sắc thiên nhiên ‘yêu sông xanh núi tím’, rất đa tình, yêu nhan sắc giai nhân ‘đôi mày như trăng mới in ngần’, yêu những ‘mộng ước của mình’. Nhưng Vũ Bằng đã tâm sự là mình ‘yêu nhất mùa xuân không phái vì thể. Câu văn như nhún nhảy: ‘tôi yêu… tôi yêu… và tôi cũng xây mộng… những yêu nhất..’. Thoáng gọi một câu thơ Kiều Nguyễn Du, một cách viết tài hoa.
Càng yêu cảnh bao nhiêu, tác giả càng yêu sự sống bấy nhiêu! ‘Cái mùa xuân thần thánh’rất diệu kì. Vũ Bằng đã sử dụng hai so sánh để nói lên cái diệu kì ấy: ‘Nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cói, nằm im mãi không chịu được, phải trỗi ra thành những cái lá nhỏ tí ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh’.
Thi sĩ Xuân Diệu đã từng viết:
‘Tháng giêng ngon như một cặp môi gần (…) Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!’
(‘Vội vàng’)
San sẻ với bao thương nhớ của Vũ Bằng, ta càng thấy rõ ông yêu mùa xuân, yêu cảnh vật, yêu con người cùa quê hương xứ sở, lại càng yêu sống, yêu đời hơn bao giờ hết.
Câu văn xuôi của Vũ Bằng rất giàu biểu cảm và chất thơ trữ tình. Chất thơ lắng dịu ngọt ngào. Ta hãy khẽ đọc và cùng nhau cảm thụ:
‘Đẹp quá đi, mùa xuân ơi-
mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến’
Yêu mùa xuân quê hương, nhưng tác giả ‘yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng’. Lúc ấy có biết bao xuân tứ, xuân tình. Bao cảnh sắc vương vấn. Đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ thì ‘nức một mùi hương man mác’. Con ong siêng năng bay đi kiếm nhị hoa trên giàn thiên lí. Sau cơn mưa xuân, bầu trời xuân rất đẹp. Buổi sáng sớm thấy ‘những vệt xanh tươi hiện ở trên trời’. Độ tám chín giờ ‘trên nền trời trong trong có những làn sáng hồng hồng rung động như cánh con ve mới lột’. Cà om thịt thăn điểm lá tía tô thái nhỏ hay bát canh trứng cua vắt chanh ăn mát như quạt vào lòng, là hương vị đậm đà bữa cơm giản dị gia đình. Đã mấy ai trong chúng ta được hưởng thụ như Vũ Bằng? Hương vị đậm đà ấy tưởng như được ướp hương xuân.
Với Vũ Bằng, tình yêu mùa xuân, yêu thiên nhiên miền Bắc, yêu mùa xuân Hà Nội rất nồng hậu đắm say; tình yêu ấy gắn bó với bao kỉ niệm, bao nỗi nhớ vơi đầy trong tâm hồn khách xa quê. Trong hoàn cảnh đất nước bị quân thù chia cắt, tác giả nhớ mùa xuân Hà Nội cũng là nỗi nhớ quê hương, nhớ gia đình vợ con đã bao ngày đêm năm tháng cách biệt. Tác giả đã kín đáo gửi qua ‘Thương nhớ mười hai’ một niềm tin sắt son chung thủy về cội nguồn, về ý chí thống nhất đất nước, về Bắc – Nam liền một dải, sum họp một nhà mà không thế lực nào, kẻ thù nào có thể chia cắt được. | Cảm nhận về bài tùy bút ‘Mùa xuân của tôi’ của Vũ Bằng | 791 | |
Cảm nhận về bài tùy bút ‘Sài Gòn tôi yêu’ của Minh Hương
Hướng dẫn
…Trước năm 1945, tác giả đã đến sinh sống ở Sài Gòn, trở thành một cư dân 184 của ‘hòn ngọc Viễn Đông’ mà ông gọi là ‘cái đô thị ngọc ngà’. Nhan đề bài kí đã thể hiện tình yêu thiết tha sâu nặng đối với Sài Gòn – ‘Sài Gòn tôi yêu’.
Mấy dòng đầu bài kí, tác giả nói một cách hóm hỉnh qua một số so sánh: ‘Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già’. Sài Gòn 300 tuổi so với cái tuổi 5.000 năm của đất nước ta thì Sài Gòn ‘còn xuân chán’, ‘như một cây tơ đương độ nõn nà…’.
Minh Hương thổ lộ tình yêu Sài Gòn trong mọi thời tiết và mọi thời gian. Tác giả ‘yêu nắng sớm, một thứ nắng ngọt ngào’’,yêu ‘buổi chiều lộng gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất ngờ’’,yêu thời tiết trái chứng: ‘trời đang iu iu buồn bã, bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh’.Tác giả yêu đêm khuya ‘thưa thớt tiếng ồn’’,yêu những giờ cao điểm, phố phường ‘náo động, dập dìu xe cộ’;yêu làn không khí ‘mát dịu, thanh sạch’vào buổi sáng tinh sương, trên một số con đường nhiều cây xanh. Tinh yêu Sài Gòn của Minh Hương được ông ví với tình cảm của ‘người đàn ông vẫn ôm ấp bóng dáng mối tình đầu chứa chan nhiều ngang trái’.
Sài Gòn rất bao dung và hào phóng ‘bao giờ cũng’dang hai cánh tay mở rộng mà đón nhiều người từ trăm nẻo đất nước kéo đến’. Người Bắc, người Trung, người Nam, người Hoá, người Khơ-me… đã đến ở Sài Gòn, ‘rồi thừa nhận nơi đây là quê quán của mình’. Minh Hương đã đến ở Sài Gòn hơn nửa thế kỉ sao không yêu Sài Gòn, sao không coi Sài Gòn là quê hương thứ hai của mình được?
Minh Hương đã nêu lên những nét đáng yêu của các cô gái ‘thị thiềng’ Sài Gòn ngày xưa. Tóc ‘buông thõng’ trên vai trên lưng. Đầu đội nón vải trắng rộng vành. Áo bà ba trắng… Quần đen rộng. Hoặc đi giầy bố trắng, hay xăng-đan da, hoặc đi guốc vông trơn trắng nõn, quai da… Rất dễ nhìn, dễ ưa: dáng đi ‘khỏe khoắn, mạnh dạn’; ‘cũng yểu điệu, thướt tha…’, ‘cũng e thẹn, ngượng nghịu..’. Nụ cười ‘thiệt tình, tươi tắn và ít nhiều thơ ngây’. Cái đẹp của cô gái Sài Gòn ‘thật đơn sơ, đôn hậu’.
Cách giao thiệp của thiếu nữ Sài Gòn rất duyên dáng. Chào người lớn, các cô ‘cúi đẩu, chắp hai bàn tay lại và xá’. Gập bạn bè thì ‘hơi cúi đầu và mỉm cười; cười ngậm miệng, cười chúm chím, cười mỉm mỉm, cười he hé,…’, tùy mức độ thân quen. Đặc biệt là cặp mắt cô gái Sài Gòn ‘sáng rỡ, nhí nhảnh, đôi lúc lại ánh lên vài tia hóm hỉnh’. Cách giao tiếp của thiếu nữ Sài Gòn có vẻ hơi ‘cổ xưa’ nhưng lại rõ ràng ‘dân chủ’, ‘không khúm núm hay màu mè’, ‘không chút mặc cảm, tự ti’. Nghĩa là họ vẫn giữ được phong cách dân tộc, nhưng không còn mang tư tưởng phong kiến, trái lại rất tân tiến.
Tính cách con người Sài Gòn rất đẹp và đáng yêu. Các cô gái, các chàng trai, các giới đồng bào giàu lòng yêu nước, bất khuất, dám xả thân vì chính nghĩa, vì cách mạng và kháng chiến, vì đất nước và nhân dân. Với Minh Hương, tình yêu Sài Gòn gắn liền với tình cảm trân trọng, quý mến, cảm phục những con người Sài Gòn.
Phần cuối bài kí, tác giả viết qua một so sánh đáng yêu: ‘Miền Nam là đất lành thì Sài Gòn cũng là một đô thị hiền hòa’. ‘Đất lành chim đậu’ (tục ngữ). Trước kia, Sài Gòn có nhiều chim, nhưng ngày nay rất ít chim. Những kẻ vô trách nhiệm với môi trường sống, đã ‘đang tay bắn giết chim và dơi của thành phố’.
Chim chóc thì ‘hiếm hoi dần’, dân số lại gia tăng ‘leo lên hơn năm triệu’. Thoáng một chút băn khoăn?
Minh Hương đã tâm sự: ‘yêu Sài Gòn và yêu cả con người ở đây’. Mối tình ấy ‘dai dẳng, bền chặt’. Tác giả ước mong ‘mọi người nhất là các bạn trẻ, đều yêu Sài Gòn như tôi’. Đó là một tiếng nói ‘chơn thành, bộc trực’. Sài Gòn, thành phố 300 tuổi, là Thành Đồng Tổ quốc, là thành phô’ mang tên Bác – thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng – ai mà chẳng tự hào, ai mà chẳng mến yêu.
‘Sài Gòn tôi yêu’là một bài kí duyên dáng có ít nhiều khám phá, tỏa sáng tính nhân văn. Hay đấy. Cần đọc để thưởng thức, để yêu Sài Gòn hơn nữa. | Cảm nhận về bài tùy bút ‘Sài Gòn tôi yêu’ của Minh Hương | 821 | |
Đề bài: Cảm nhận về bài Tự thuật của Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tuỳ bút
Bài làm
"Tự thuật" là một trang văn thâm trầm, đậm đà và cởi mở trích trong "Vũ trung tuỳ bút", đúng là tiếng lòng của một bậc tài danh, trung hậu. Đại từ "ta" gợi lên sự gần gũi thân mật, thanh thản và ung dung làm cho người đọc tưởng như đang được trực tiếp nghe cụ Tế Đan Loan tâm tình, tâm sự.
Đoạn thứ nhất tác giả kể về gia cảnh và chí hướng của mình. Tác giả cho biết, ông sinh năm Mậu Tý (1768) niên hiệu cảnh hưng thời Lê. Xuất thân trong một gia đình quý tộc quan lại, khi ông lên năm, sáu tuổi thì đấng tiên đại phu của ông đã thăng làm Tuần phủ Sơn Tây. Tuy là con quan, sống trong cảnh phú quý "dư thừa bổng lộc” nhưng ngay từ thuở ấu thơ, ông không thích ăn chơi đua đòi, không "ham mê" những cách chơi cây, đá, hoa, chim. Ông sống có chí hướng, coi việc ''lập thần hành đạo" (đạo trung, hiếu) là phận sự của kẻ làm trai; "được lấy văn thơ nổi tiếng ở đời để cho người ta biết con cháu nhà nọ, nhà kia" Biết rõ chí hướng của con, đăng tiên đại phu và bà cung nhân của ông rất hài lòng, "đều ban khen cả".
Bố mẹ sớm qua đời, gia đình ngày một sa sút, phải sống lận đận giữa thời loạn lạc, ông càng thương nhớ mẹ cha, muốn noi gương chàng Tử Lộ ngày xưa mà không được, ông càng tủi cho thân phận cô đơn của mình. Câu văn của Phạm Đình Hổ như những tiếng than cất lên nhiều ai oán:
"Thấm thoắt đã hơn 20 năm trời mà lời dạy của cha mẹ vẫn văng vẳng bên tai. Nay đến bước đường cùng lận đận, biết còn đội gạo vì ai! Chỉ than thử cùng trời xanh, chứ biết gửi lòng mình vào đâu!''.
Nhắc lại điển tích Tử Lộ, một học trò nghèo mà học giỏi của Khổng Tử, thuở hàn vi từng đội gạo nuôi mẹ già, Đông Dã Tiều bộc lộ một cách cảm động lòng hiếu thảo của mình lúc nào cũng muốn được đền đáp công ơn của cha mẹ mà không thể nào được nữa.
Đoạn văn thứ hai, tác giả "Vũ trung tuỳ bút" chân thật nói lên một vài cái "tật" của mình mà ông vô cùng hối hận.
Thuở nhỏ, ông rất nghịch, thường hay lấy cái mũ trãi của bố ra đội và đùa bỡn, "dẫu cấm không cho chơi nghịch cũng không thể được". Một chút kỉ niệm ngây thơ hồn nhiên.
Ông cho biết thời trai trẻ "bịt tai lại không muốn nghe" khi có người rủ rê chơi đùa những trò thanh sắc, nghề cờ bạc. Tuy học vỡ được ít kinh sử mà chữ Nôm thì ông không biết hết; câu ca, bản đàn chẳng ham vì "chẳng hiểu gì cả". Năm Giáp Thìn (1784) lên 16 tuổi, người anh trưởng dạy ông đánh cờ, nhưng cờ thấp nên "hễ đánh với ai là thua". Những trò chơi cờ bạc, phán thán, ông "vốn không thích", dù có thử tập chơi, nhưng chẳng hiểu cái thuật nó ra thế nào! Thanh sắc, cờ bạc vốn là trò đam mê của nhiều người nhưng Phạm Đình Hổ tự cảm thấy "tư chất mình, trời cho có phần mờ tối, không thể cưỡng mà học được các nghề chơi". Một cách nói hóm hỉnh, chân thành, cũng chẳng dám chê ai mà cũng chẳng hợm mình.
Ông tự trách, tự phê phán mình về chuyện "mắc phải bệnh nghiện chè tàu" từ những ngày lưu lạc. Tuy khay chén thiếu thốn, tiền không đủ mua chè mà vẫn nghiện. Các thứ chè thơm tho đều mua nếm qua cả; muốn chừa mà không chừa được. Nhớ lời răn dạy của mẹ hiền ngày trước, ông vô cùng hối hận, mong tu chí "cố gắng sửa đổi". Đọc đoạn văn sau đây, ta cảm động biết bao trước tâm lòng thành thật của Phạm Đình Hổ:
"Còn nhớ khi bà cung nhân ta hãy còn, người thương lấy những điều cờ bạc, chè rượu làm răn, mà ta nay đã ngoài ba mươi tuổi, bốn điều răn ấy đã phạm mất ba. Đêm thanh vắng suy xét, hối hận vô chừng. Ta vẫn mong cố gắng sửa đổi để khỏi phụ lời tiên huấn''.
Chúng ta tưởng như tác giả đang cởi mở lòng mình để nhắn nhủ các bạn trẻ gần xa – những đứa con trong gia đình nên lấy làm răn về những chuyện rượu, chè, cờ bạc mà tu thân và lập chí, đừng ăn chơi đua đòi, sa ngã.
Hiện nay, ở xứ ta có quá nhiều tự truyện, hồi kí, hồi ức,… Hầu như tác giả của những "tác phẩm" ấy đang tự vẽ lại bộ mặt mình, tự khoe mẽ mình một cách lố bịch. Đọc “Tự thuật" của Đông Dã Tiều, ta càng thấy rõ đức tính khiêm tốn, chân thật, chân tình,… mới có thể làm nên nhân cách văn hóa.
Đoạn văn thứ ba trong bài "Tự thuật", tác giả nói lên sở thích và nếp sống văn hóa của mình từ thời trai trẻ. Lên 9 tuổi, ông đã học sách Hán thư được bốn năm; hồi cư tang bố "học hành bữa đực, bữa cái"; mãn tang mới học đến kinh. Vốn có năng khiếu văn chương và sớm có chí hướng "lấy thơ văn nổi tiếng ở đời" nên ông ham đọc sách cổ, thơ cổ, "không lúc nào rời tay". Trong nhiều năm ở lại quê nhà để hầu hạ mẹ già, ông sống với đèn sách, coi đèn sách là bầu bạn. Ngày nàơ cũng vậy, ăn cơm sáng xong, ông ra nhà khách đọc sách. Đêm nào cũng thức đến gà gáy (đọc sách) mới đi ngủ. Nếp tự học, tự nghiên cứu chuyên cần ấy mới tạo nên tầm vóc học vấn của tiên sinh sau này, để được tự hào nhận chiếu chỉ của vua Minh Mệnh ra làm Tế tửu Quốc tử giám.
Sinh trưởng trong một gia đình quyền quý, nên thuở nhỏ Phạm Đình Hổ được sống trong một môi trường lí tưởng, rất ít người thời bấy giờ được hưởng thụ. Dinh thự bao la: nhà trung đường bảy gian, nhà khách năm gian, nhà nội tẩm. Trong nhà khách, "chồng chất mấy giá sách, tuỳ ý muốn đọc quyển nào thì đọc". Vườn hoa, cây cảnh đẹp như một công viên. Chiếc ao vuông ở phía tây nhà khách thả sen hồng và sen trắng; liễu xanh và cam quýt trồng bốn xung quanh bờ. Hoa nhài, hoa hồng, hoa ngâu, hoa mẫu đơn trồng năm ha cây, vài ba khóm nơi phía trong giáp sân nhà. Phía xa là cánh đồng làng, cách hàng rào tre, thấp thoáng một cái quán trơ trọi. Chiều nào cũng vậy, khi mặt trời xế, tiếng hát, tiếng kèn lá của mục đồng thổi " ti toe". Tiếng hát xa xa trên đồng nội chợt đánh thức giấc ngủ ngày. Vị công tử con quan Tuần phủ cảm thấy bâng khuâng, rung động bởi "hồn Đường", bởi "tiếng ca thuyền chài" ánh ỏi ở đầu bến Nhược Gia. Những đêm trăng đẹp quê nhà như đưa tác giả vào cõi mộng. Đi tản bộ quanh bờ ao ngắm cảnh lúc trăng mọc. Ngâm nga mấy câu thơ Đường. Tựa gốc dừa, bẻ bông tước lá thử chơi khi cành hoa phơ phất trước mặt. Rồi thơ thẩn trở về nhà khách khi "bóng nquyệt hương hoa vẫn còn phảng phất trên án thư, tràng kỉ”.
Đoạn văn cuối bài "Tự thuật" đẹp như một bài thơ. Tâm hồn khách tài tử như được ướp hương hoa, nhưđược chiếu sáng bởi ánh trăng trên đồng nội, được ru bằng làn gió máu khúc đồng dao. Chính đó là suối nguồn cho bao cảm hứng đẹp để Phạm Đình Hổ trang trải và gửi gắm trên những trang văn thơ làm say lòng người ở " Vũ trung tuỳ bút",…
Nhưng rồi cuộc sống thanh nhàn ấy đâu có được mãi giữa thời loạn lạc, khi gia cảnh ngày một sa sút khi người thân yêu lần lượt qua đời. Vị công tử con quan Tuần phủ Sơn Tây ngày nào, mỗi ngày một dấn bước vào giang hồ lưu lạc. Tất cả chỉ còn lại là kỉ niệm; kỉ niệm càng đẹp bao nhiêu thì càng buồn đau bấy nhiêu. Trang tuỳ bút của Đông Dã Tiều như rung lên bao thổn thức, như thấm đầy nước mắt:
"Cuối mùa đông năm ấy, anh thứ hai ta từ phưowng xa trở về, lại cùng ta sớm tối được non một năm nữa. Nay anh hai đã mất rồi, cảnh gia đình tiêu diều, ta thì lưu lạc giang hồ, đoái nhìn non sông mờ mịt, khôn cầm giọt lệ".
Bài tuỳ bút "Tự thuật" của Phạm Đình Hổ để lại trong lòng chúng ta nhiều ấn tượng và cảm xúc. Ấn tượng về một vị con quan được nuôi dưỡng và giáo dục trong một nền nếp Nho gia. Ấn tượng về một đứa con giàu lòng hiếu thảo, hễ mỗi khi nhắc đến cha mẹ là biểu lộ cả một tấm lòng thương nhớ, kính yêu và biết ơn sâu sắc. Ấn tượng về một con người sớm có chí hướng tu thân, gắng sức và chuyên cần học tập, quyết làm nên sự nghiệp để cho cha mẹ và gia đình được vẻ vang.
Trang tuỳ bút của Phạm Đình Hổ còn thể hiện một cốt cách sống đẹp: chan hoà với thiên nhiên, biết lấy cái đẹp của thiên nhiên để nuôi dưỡng tâm hồn mình, phát huy tài năng, trí tuệ của mình.
Sống đẹp, hướng về tầm cao nhân văn, tầm cao trí tuệ là bài học, là tấm gương của Phạm Đình Hổ để lại cho đời mà chúng ta ngưỡng mộ. | Cảm nhận về bài Tự thuật của Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tuỳ bút | 1,690 | |
Đề bài: Cảm nhận của anh chị về bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
Bài làm
Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chói lọi diệu kì trong vòm trời rực rỡ lấp lánh nhiều tinh tú lạ. Thơ Hàn vừa thể hiện tình yêu khôn cùng với cuộc sống trần tục, vừa hướng về Chúa Trời với những niềm thanh khí thần tiên. Đã có nhiều hướng tiếp nhận kiệt tác Đây thôn Vĩ Dụ. Song, ai cũng thấy rằng bài thơ nói về tình ỹêu – một tình yêu đơn phương, thơ mộng, trong sáng, hồn huyền ảo. Tuy nhiên, khó phủ nhận được là Hàn Mặc Tứ đã nói khá hay về xứ Huế mộng và thơ.
Đây thôn Vĩ Dạ chi vẻn vẹn có 3 khổ, tổng cộng 12 câu thất ngôn. Bài thơ có lẽ là lời trách thầm, và cũng là lời nhắn nhủ nhẹ nhàng gửi gắm của nhân vật trữ tình, trong một tâm trạng vời vợi nhớ mong:
Sao anh không về chơi thôn Vi?
Nhìn nắng làng can nắng mới lên,
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền?
Nếu như mỗi tình yêu đều gắn với một không gian và thời gian cụ thể, thì mỗi hình ảnh của nhân vật trử tình trong bài thơ này gắn với vườn tược và con người Vĩ Dạ, đều những kỉ niệm thật khó quên. Có dịp, xin mời bạn hãy về thăm thôn Vĩ vào một buổi sớm mai Vĩ Dạ nằm ngay bên bờ sông Hương êm đềm thơ mộng, chỉ cách trung tâm cố đô Huế khoảng không đầy một giờ tản bộ. Từ xưa, thôn Vĩ Dạ đã nổi tiếng bởi cây cối xanh tươi, và những biệt thự nhỏ nhắn duyên dáng, thấp thoáng, tưới màu xanh của cây lá. Thôn Vĩ Dạ cũng nổi tiếng như sông Hương, núi Ngự. chùa Thiên Mụ… của xứ này. Bởi vậy, ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy nhiều nghệ sĩ tên tuổi như Nguyễn Bính, Bích Khuê, Nguyễn Tuân… đều có những cảm giác mà cảm hứng được náy sinh từ thốn Vĩ Dạ nên thơ.
Sớm mai, nắng mới long lanh trên những tàu cau còn ướt sương đêm. Khách từ xa tới sẽ thấy hàng cau trước nhất, vì nó thường cao hơn hẳn những cây cối xum xuê ở dưới. Đất đai Vĩ Dạ phì nhiêu, được con người cần cù chăm bón; quả thật, cây cối ở đây xanh tốt mơn mởn và sạch sẽ như được lau chùi, mài giũa thành như những cành vàng lá ngọc…
Câu thơ:
Lá trúc che ngang mặt chữ điền?
Thật là một sáng tạo độc đáo. “Mặt chữ điền” gợi cho người đọc nhớ tới hình ảnh ngươi dân có khuôn mặt vuông vức, thân hình cường tráng, đầy nam tính. Nhưng, khi hình tượng này đặt trong chính thể đoạn thơ và câu thơ: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” thì ấn tượng nổi bật lại là sự hài hòa, gắn bó mật thiết giữa con người với vườn tược quê hương. Như vậy, câu thơ còn khắc họa thành công một nét đáng nhớ; đáng yêu của thôn Vĩ: Cảnh đẹp đẽ, tốt tươi; con người đôn hậu giàu sức sống.
Tiếp nối mạch cảm xúc của khổ đầu, dườug như khổ thứ hai, nhà thơ có phần (lành để đặc tà cảnh sóng nước, mây trời xứ Huế và cũng bộc lộ niềm hoài vọng bâng khuâng:
Gió theo lối gió mây đường mây,
Dòng nước buồn thỉu hoa bấp bay;
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Nhịp diệu dịu dàng, khoan thai của xứ Huế được khắc họa thành công: gió và mây nhè nhẹ trôi đi; sông Hương nước chảy lặng lờ. Hoa ngô (hoa bắp) chi khẽ khàng đung đưa theo chiều gió. Khác với khố một, đến khổ thứ hai này, không gian được miêu tả như trong mộng ảo, tràn ngập ánh trăng. Nhá thơ không những chỉ ta, không những chỉ nhìn bàng mắt mà điều quan trọng hơn là còn “nhìn” bằng thế giới tâm linh của mình: Do đó, không có biên giới giữa thực và mộng và dường như càng về cuối thế giới tâm linh, thế giới mộng ao càng lấn át thế giới hiện thực. Vì là mộng ảo, nên có nỗi băn khoăn rất mộng mơ: 'Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó – Cỏ chở trăng về kịp tối nay?”. Thuyên trăng thì có nhiều thi nhân nhắc đến. nhưng “sông Trăng” thì có lẽ Hàn Mặc Tử là người sáng tạo đầu tiên. Dường như trong những câu thơ trên, có sự mong chờ, niềm hi vọng, lẫn nỗi buồn man mác của nhà thơ,ở đây rõ ràng, không có sự đặc sắc của một bút pháp phác họa đúng linh hồn của một xứ sớ, mà điều quan trọng nữa là: những nét phác họa ấy gợi lên ở người đọc một tình yêu thật dịu dàng, kín láo, mà sâu xa rộng mở đến khôn cùng.
Ấn tượng của người đọc về những điều nói trên sẽ được nhà thơ tô đậm qua khổ kết:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Đúng là xứ Huế vốn mưa nhiều, lắm sương khói. Do đó, phải chăng khổ thơ trên có nét tả thực, cũng giống như “hàng cau”, “lá trúc” “hoa bắp"… ở những khổ thơ trước? Sương khói trắng, và áo em cũng trắng: Bởi vậy, nếu nhà thơ chỉ nhìn thấy bóng người thôi (nhân ảnh), thì cũng là điều dễ hiểu. Tuy vậy, như đã nêu, Hàn Mặc Tử vốn là nhà thơ lãng mạn đích thực, cái chính là thi sĩ đã nói bằng tâm tưởng, gieo vào lòng người đọc một thoáng bâng khuâng: người thiếu nữ Huế tươi đẹp quá, kín đáo và huyền ảo quá; nào ai có biết tình yêu của họ bền chặt, hay cũng chỉ mờ ảo như khói sương xứ Huế? Ở đây, dường như tác giả cảm thấy mình chơi vơi hụt hẫng, trước một mối tình đơn phương lung linh, huyền ảo. Nếu nhận ra rằng. Hàn Mặc Tử vốn là người rất mực tài hoa, luôn khao khát yêu thương; nhưng căn bệnh phong hiểm nghèo đã làm ông không có được một tình yêu trọn vẹn. Nhà thơ đã từng phải sống có độc, lúc thì trong một con thuyền nhỏ lênh đênh chẩng có bến bờ, lúc thì khắc khoải bên dãy núi ven thành phố, và cuối cùng phải nằm vô vọng ở nhà thương Tuy Hòa chờ cái chết… Ta càng thông cảm cho một thoáng hờn dồi, trách móc tưởng như vô cớ của cây bút đa tài, mà bất hạnh này.
Phải yêu người Vĩ Dạ, nói rộng ra là phải yêu người xứ Huế; hiểu xứ Huế, gắn bó với xứ Huế sâu sắc đến độ nào, thì thi sĩ mới nói về tình yêu, về xứ Huế đứng và hay như thế!
Bài làm 2
Thời gian vừa qua, bài thơ lãng mạn gây ra nhiều nhận định bất đồng, thậm chí đối lập nhất là khi phân tích, bình giảng, 12 câu Đây thôn Vĩ Dạ. Nguyên nhân sự hạn chế của một số bài viết có nhiều. Thứ nhất, là thói quen xã hội học dung tục; như tác giả bài “Tiếng thở dài” – Chia sẻ với Hàn Mặc Tử đã nhận xét: “Tác phẩm nào, người phân tích cũng cố quy về giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo (…). Cái hay của văn chương nhiều hình nhiều vẻ, đâu phải chỉ có vài ba giá trị được khuôn sẵn rồi cứ thể ép tác phẩm cổ kim đông tây rào những gia trị ấy’"'. Thứ hai là do người nghiên cứu không thuộc phong cách nghệ thuật của đối tượng mà mình tìm hiểu; Ví dụ: ai cũng rõ một trong mấy nét cơ bản của tiếng thơ Hàn Mặc Tử là hưởng nội: “Hàn Mặc Tử luôn luôn có khuynh hướng quay vào nội tâm, ông rất ít tả, ít kể theo cái nhìn của con mắt " nói như Trần Đăng Thao: Hàn Mặc Tử thường “nhìn thấy bằng tâm tưởng”) nhưng bởi không thông thuộc phong cách thi pháp bao trùm này trong thơ Hàn Mạc Tứ, ngươi viết những dòng phân tích Đây thôn Vĩ Dạ, trong Soạn văn (tập I) chỉ hoàn toàn tập trung phân tích khách thể được tái hiện trong tác phẩm qua ba đề mục: Thôn Vĩ Dạ, Dòng sông Hương và Những cô gái Huế – Lê Bảo đã nhận xét đúng rằng: Giảng văn như vậy thì mới chỉ chủ đến “cái ý ở trong lời, ở tầng thứ nhất của ý nghĩa”, mà thật ra: “,di mạch trữ tình vừa thấm đậm hồn người vừa thể hiện bằng một thiên bẩm tài hoa; chính đầy mai là điều cần nói”' – Thứ ba là sự cảm thụ nghệ thuật thiếu nhạy bén.
Mai Văn Hoan (Sông Hương, số 2; tháng 2,3 – 1990)
Vẻ đẹp độc đáo trong thơ Hàn Mặc Tủ- Vũ Quần Phương (Giáo viên nhân dân, số đặc biệt; tháng 7-1989)
Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử (GVND, số đặc biệt; tháng 3-1990
Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội và NXB Giáo dục (1989)
(5 ) về bài thơ Dây thôn Vĩ Giạ của Hàn Mặc Tử (Giáo viên nhân dân, số đặc biệĩ tháng 11-1989 kết hợp với nguyên nhân thứ tư: thái độ tùy tiện thiếu nghiêm túc trong dã dẫn những ý kiến phân tích hoàn toàn sai như trường hợp Lê Đình Mai'". Bài viết của tác giả Lê Đình Mai khiến không gian nhất là những ai gắn bó với Huế đẹp và thơ không thể im tiếng: “Lẽ ra tôi nên viết bài này…Nhưng sao tôi thấy không đành! Không đành với Hàn Mặc Từ, đành với bà Hoàng Cúc, không đành với bạn đồng nghiệp, với bạn đọc xa “hồn mộ Hàn Mặc Tứ” Mai Văn Hoan; tác giả bài Nói thêm về bài thơ Thôn Vĩ Hàn Mặc Tử cũng có phản ứng tương tự…
Để định hướng tiếp cận đúng đắn và có điều kiện cảm nhận chính xác những lơ vừa xa cách nhau vữa mờ ảo của Đây thôn Vĩ Dạ thì một khi biết rằng nội bài thơ liên quan đến Hoàng Cúc (một thiếu nữ trong trắng, con nhà gia giáo lúc ấy giờ đang cư ngụ ở thôn Vĩ Dạ nên thơ nên họa, chứ không phải liên quan đến các cô gái “giang hồ” ở cái xóm bình khang Vĩ Dạ “dâm ô” theo một suy diễn tưởng tượng nào đó), ta không thể không nhắc lại đôi điều về mối quan hệ tình cảm tình Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc – căn cứ vào những tài liệu đáng tin cậy của Quách Tín người bạn thơ gần gũi nhất của Hàn Mặc Tứ) Đào Quốc Toản (cán bộ giảng văn Đại học ở Huế, trước đây khi hướng dẫn sinh viên làm khóa luận về thơ Hàn Mặc Từ đã tìm và gặp gỡ bà Hoàng Cúc) và thầy giáo Mai Văn Hoan, người hiện học ở đất núi Ngự sông Hương đã “có mặt trong đám tang” bà Hoàng Cúc: “Có thể nói là một trong những đám tang lớn nhất ở Huế gần đây mà tôi được biết”
Hoàng Cúc khi là một thiếu nữ mới lớn, sống ở Quy Nhơn. Cô con nhà quan, cô không đẹp nhưng có duyên và thùy mị nết na. Nhà cô đi chung một lối với nhà hàn Mặc Tử (lúc ấy đang làm việc ở Sở đạc điền). Giữa hai người hẳn có một mối thân thiết rất đơn giản nhẹ nhàng kiểu những ai gần ngõ. Nhà thơ đã viết những vần Hoàng Cúc (trong tập Gái quê) với tình cảm đơn phương vô vọng; vì không những Hòang Cúc là một thiêu nữ mới lớn, con nhà nề uếp, tính tình kín đáo, mà hoàn cảnh hai gia đình có một hố sâu ngăn cách: thán phụ Hoàng Cúc là viên chức cao áp, nhà theo đạo Phật… còn Hàn Mặc Từ mồ côi cha từ thuờ thiếu thời, gia đình
theo đạo Thiên Chúa, đời sống khó khăn, thêm nữa lúc ấy Hàn Mặc Tử chỉ là viên chức nhỏ Sở đạc điền, lại đang có nguy cơ thất nghiệp… Khoảng 1935, sau khi Hàn Mặc Từ từ giã Quy Nhơn vào Sài Gòn làm báo, thì gia đình Hoàng Cúc cũng chuyển từ Quy Nhơn ra Huế (ở thôn Vĩ Dạ). Cuối năm 1936, lúc chớm có hiện tượng sức khỏe không bình thường, tuy chưa khẳng định là bệnh phong, Hàn Mặc Tử từ Sài Gòn trở lại Quy Nhơn thì: “Trước sau nào thấy bóng người…”; nhà thơ coi như Hoàng Cúc đã bước lên xe hoa chung thân vĩnh biệt, (mặc dầu, không rõ đích xác vì li do gi, từ đó về sau, Hoàng Cúc khước từ mọi đám cầu hôn, sống độc thân ở Vĩ Dạ và hoạt động ở Hội Phật tử miền Nam cho đến lúc mất). Khoảng năm 1937. nghe tin Hàn Mạc Tử mắc bệnh nan y, Hoàng Cúc đã gửi về Quy Nhơn cho Hàn Mặc Tử một tấm hình chụp hồi còn mặc áo dài trắng trường Đông Khánh có kèm lời thăm hỏi sức khoẻ và “trách” Hàn Mặc Tứ sao lâu nay không ra thăm Vĩ Dạ? Không thăm lại đất cù người xưa? (Hàn Mặc Tử đã từng học Trung học Pellerin ở Huế)”.
Nhận được những dòng tình cảm chân thành quý giá của người thiếu nữ vốn có nếp sống kín đáo ấy, Hàn Mặc Tử xúc động mạnh, và Đây thôn Vĩ Dạ đã ra đời (hẳn ngay trong năm 1937). Bài thơ được gửi ra Huế cho Hoàng Cúc. Thời gian lặng lẽ trôi, rồi bà Hoàng Cúc đã giữ gìn bài thơ ki vật này cho đến lúc từ trần. Biết rõ nguồn gốc, hoàn cảnh ra đời của Đây thôn Vĩ Dạ là như vậy, chúng ta có thể lướt qua vùng giải về chữ nghĩa mờ ảo mơ màng, đặng xâm nhập được hậu ý tứ sâu xa của tác phẩm.
Tứ thơ cơ bản đích thực của Đây thôn Vĩ Dạ phải chăng là nỗi niềm âu lo cho hạnh phúc, trong khát vọng cái đẹp hóa giải trạng huống đau thương. Tứ thơ bao trùm này thể hiện tập trung trong hai câu thoáng ý vị nghi vấn: “Có chở trăng về kịp tối nay” (Có diễm phúc được hưởng nhận chăng, cái Đẹp của đất trời?), "Ai biết tình ai có đậm đà” (Có diễm phúc được hưởng nhận chăng, cái (Đẹp của tình người?).
Mở đầu bài thơ là câu: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Lời thơ khơi dòng thi tứ tương tự sự biến tấu tình cảm trong lời thơ cua người thôn Vĩ, như muốn khẳng định việc thăm hỏi ân cần ấy không phải trong mơ mà có thật; và như thế, đồng thời cũng để bản thân dược nhấm nháp thứ “tiên dược” không những đối với thời bệnh mà còn cả cho tâm bệnh nan y. Tiếp đó, lời thơ đã từ từ gợi thức những hình bóng thôn Vĩ ngày xưa – thời người thơ còn là cậu học trò Trung học Pellerin Huế:
nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc chê ngang mặt chữ điền.
Tờ thơ “tiên cược” của tấm lòng son thôn Vĩ quả đã có tác dụng nhiệm màu đối với người bệnh: Sinh lực hồi sinh; do đó dất trời đã mờ ra trán đầy sức sống: “nhìn nắng hàng cau nắng mới lên và cảnh tri xuất hiện đẹp tươi như trước mát trẻ thơ "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” về từ pháp mà nói, chữ “mướt” thật rất Hàn Mặc Tử; và khi so sánh “xanh như ngọc” thì rõ ràng thi trung hữu họa", mà đây la bút pháp của một danh họa trường phái ấn tượng nhân lực tinh tướng và trái tim đa cam). Hồi không rõ từ khơi dâu trong kí ức trở về một bức chân dung có bố cục hẳn hoi xóm thôn Vĩ Dạ: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”… Một đặc điểm thơ Hàn Mạc Tử là phong cánh hiện ra trong một số bài rất đậm đà sắc màu dân tộc. Không gắn bó máu thịt với quê hương xứ sở, khó có thể viết được những câu thơ như trong khổ Đây thôn Vĩ Dạ vừa rồi, và những câu hoặc ngọt lịm giai điệu dân ca Nhưng hỡi ôi! Niềm vui quá ngắn trước vẻ đẹp của tình người (Sao anh không vá của cảnh đời không tránh khỏi chia lìa và vinh quyết. Cái lối chuyến tứ rất nhanh, có khi rất xa. cũng là một
Tập thơ Hàn Mạc Tử; và khi ‘Những đột xuất ấy lặp lại với tấn số cao hiếu" (Vũ Quần Phương). Càng ở những tác phẩm cuối thơ Hàn Mặc Tử càng thể hiện rõ đặc đỉêm này. Chúng không lạ lùng điều ấy khi nhớ lại rằng: thơ Hàn Mặc Tử trong khoảng hơn 10 năm (từ đời Đường đến chủ nghĩa tượng trưng. Ngay từ tập Thơ Điêu, trong cóyếu tố tượng trưng đã thấp thoáng xuất hiện. Câu thơ thôn Vĩ phảng phất bút pháp của trường phái ấy không khỏi không gây thêm đôi chút rắc rối khó hiểu nữa (dẫn đến những cảm nhận phân tán) đối với độc giả.
Do trực cảm mối quan hệ giữa bản thân với Hoàng Cúc (có lẽ cũng là với không ít những người thân thiết, khác) trước sau sẽ là gió – mây đôi ngả; nên trừớc mắt nhà thơ: “nắng mới” thên Vĩ phút chốc đã lụi tàn, thay vì là hình ảnh "Dòng nước buồn thiu" của Tiêu Kim Thúy (nét 'hoa bắp lay” lại cũng là một hình tượng thơ xuất hiện đột ngột theo kiểu quen thuộc trong thi pháp Hàn Mặc Tứ – mặc dầu về phương diện luận lí có thể cho rằng: nghỉ về Vĩ Dạ là nhớ đến Cồn Hến giữa sông Hương đối diện Vĩ Dạ, trên cồn trồng nhiều vạt bắp với vùng hoa ngút ngát lay động theo gió)… Mông lung khuây phần nào mối sầu gió – mây đôi ngả, nhà thơ ngóng đợi một bạn cố tri có vẻ đẹp “huyền ảo”: Trăng Vàng Trăng Ngọc. Nhưng bạn cố tri vô cùng thân thiết ấy có về kịp không?… “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó – Có chở trăng về kịp tối nay mà cứu rỗi linh hồn bất hạnh này khống? – Kết thúc khổ thơ II là một tín hiệu mong chờ cứu nạn, nhưng lời khẩn cầu đồng thời lại đã chứa đựng niềm hồ nghi hiệu quả.
Khổ thơ III xuất hiệu tiếp theo cũng không hoàn toàn rồ mạch. Đọc thơ Hàn Mặc Tư nhiều khi như xem tranh đồng hiện: Sự vật, sự thể ở những thời gian không gian xa cách nhau đồng loạt xuất hiện và xâm nhập lẫn nhau không quan tâm luận lí – tinh luận lí ở đây chi tồn tại trong tinh thần toàn khối dòng tâm tưởng. Đọc Hàn Mạc Tử, người ta cũng dễ liên tưởng đến thơ Lamactin: thứ thơ vừa lãng mạn vừa chứa đựng mầm mống của chủ nghĩa tượng trưng, nhiều lúc ngẫu phát: cõi lòng nhà thơ có khi như chìm đắm vào một cõi mù sương, bởi vậy, cảnh trí ngoại giới được tái hiện chỉ có tính chất như những âm thanh của tâm hồn phán hưởng khi va chạm với sự vật đó là kiểu thơ “phong cánh nội tâm”… tương tự như vậy: "Mơ khách đường xa, khách đdường xa” là ai mơ? Theo mạch thơ và dựa vào ý tứ trong nội dung thơ Hoàng Cúc gửi Hàn Mặc Tứ, người mơ hẳn đang sống ở Vĩ Dạ, nhưng cũng không loại trừ ý nghĩa là chủ thể lãng mạn cũng mơ theo… Và rồi: “Áo em trắng quá (màu áo trắng trong bức ảnh Hoàng Cúc gửi Hàn Mặc Tử?), có nghĩa: tâm hồn em thánh thiện quá, hạnh phúc đến đột ngột quá… ta say men sắc màu trinh trắng đến choáng váng "nhìn không ra Hay chỉ hàm nghĩa là: Những nét chữ từ thôn Vĩ gửi về Quy Nhơn đã làm thao thức hình bóng xa xôi một nữ sinh Đồng Khánh thuở nào… Đến câu tiếp theo, đòi cảnh thơ với phong độ mơ màng quen thuộc vẫn như còn tiếp tục bay lượn kiếm tìm cái Đep của miền đất Thầu kinh sương khói mịt mờ – miền đất có:
Dòng Tiêu Kim thủy gà xao xác
Ngẩng thấy kinh ki khái vấn vương:
(Văn Cao – Một đêm dài lạnh trên sông Huế)
Cuối cùng, nếu ở khố thơ II, nhà thơ vừa muốn nhờ Trăng Vàng Trăng Ngọc làm tan biến nỗi sầu thương, vừa âu lo ước nguyện không thành
Có chở trăng về kịp tối nay,
thì chấm dứt khổ thơ thúc toàn bài nương nhờ cái đẹp của tình người làm liệu pháp cứu rồi, người thi nhân hoạn nạn của trần giới và đất trời này cũng vẫn không khỏi ngậm ngùi nghi ngại:
Ai biết tình ai có đậm dà
Bối cảnh hương sắc quê xứ Việt, phải chăng tỉ trọng chủ yếu trong khối thơ tứ Đây thôn Vĩ Dạ có ý nghĩa là những thẩm mĩ chứa đựng ước nguyện được cứu nạn – những tín hiệu tuy đứt nỗi mơ hồ mà thiết tha thấm thìa của một tấm linh hồn bất hạnh – chuỗi tín hiệu cầu cứu ấy tiếp khuyên thiện: cộng đồng con người hãy vị tha và chung thủy nhất là đối với những thân phận bi kịch đã không nên nói lời rên xiết:
Trời hỡi! Nhờ ai cho khói đói
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng
Bể trả thù duyên kiếp phũ phàng.
(Lang thang)
Bài làm 3
Trong số các thi sĩ Việt Nam hiện đại, Hàn Mặc Tử là người khổ nhất. Tạo hóa vốn rộng luợng, nhưng không hay đãi đăng khách văn chương. Nhà thơ chỉ sống vẻn vẹn 28 năm (1912-1940). 28 năm của một đời người, sao lại lắm truân chuyên khổ ải? Ông xuất hiện trên bầu trời thi ca Việt Nam như một vì sao băng, ngắn ngủi mà lóe sáng, và những ai một lần đã tiếp xúc với thơ Hàn Mặc Tử thì “dấu ấn” kia không thể xóa nhòa.
Mấy năm trở lại đây, vị trí của Hàn Mặc Tử trong lịch sử văn chương nước nhà đã dần hồi được trả lại đúng giá trị vốn có. Trong chương trình môn Văn bậc Trung học phổ thông, lần đầu tiên thơ Hàn Mặc Tử được đem ra giảng dạy cho học sinh qua bài Đây thôn Vĩ Dạ. Bài thơ chỉ có 12 câu, nhưng hồn vía Hàn Mặc Tử vẫn hiển hiện nguyên vẹn: tài hoa, thật thà và tha thiết dâng hiến. Thi sĩ Pháp, Elsa Triolet nói “nhà thơ là người cho máu”. Với Hàn Mặc Tử, đấy là tận cùng của dâng hiến.
Năm 1936, đang làm báo ở Sài Gòn, Hàn Mặc Tử biết mình mắc chứng nan y (bệnh phong), liền trở về thành phố Quy Nhơn. Khi đó bà Hoàng Cúc, người yêu đầu tiên của thi sĩ vừa mới ra Huế, ở chốn xa xôi, người tình năm cũ không biết chuyện nhà thơ bệnh, gửi thư hỏi thăm cùng với lời trách trên tấm ảnh của mình “Sao không về thăm Vĩ Dạ?”. Đây thôn Vĩ Dạ là lá thư tình giãi bày tâm trạng, có điều nó được diễn đạt bằng ngôn ngữ thi ca. Hai khổ thơ đầu, nhà thơ hóa thân thành người thiếu nữ thôn Vĩ, đang trách móc người yêu và kể về Vĩ Dạ:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Người thôn Vĩ mà cứ như ai đâu. Vĩ Dạ lúc gần, lúc xa. Ố, thì hóa ra, đấy là tâm trạng của người tương tư: chỉ thiếu-một người nhưng không gian trống rỗng (Lamactin)! Nhà thơ hóa thân hay thật. Màu xanh của lá, chút nắng mới lên vẫn chưa đủ ấm lòng người thiếu nữ.
Nàng buồn và “cảnh có vui đâu bao giờ”:
Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bấp lay…
Viết đến đây thi sự hóa thân của nhà thơ vào lòng người thiếu nữ cũng chấm dứt.. Thi sĩ, anh có thể trốn tránh mọi điều, trừ bản thân anh. Mà Thượng đế, bao phen lỡ tay, tâm hồn nhà thơ mới phức tạp, giàu ưu tư và đa cảm làm sao! Người đời có thế trách khách văn chương hay viển vông. Nhưng ở đây là ước mơ thật:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
một “bên sông trăng” hiện hữu ở ngoài đời thực. Và cũng có một “bến” tít tắp trong tâm tưởng con người. Khi “Trăng” không về cõi ấy hoang vắng buồn bã biết bao! Có người bình những câu: “Áo em trắng quá nhìn không ra:. sương khói mờ nhân ảnh…” là lúc nhà thơ nhìn tấm ảnh người yêu cũ, huyện cách xa bây giờ, hết thảy như muốn nhòa đi. Đấy mới chỉ là cái nghĩa của văn bản", chứ chưa phải của thơ hay tâm hồn Hàn Mặc Tử. Bất cứ nhà thơ tài hoa ở thời đại nào cũng thấy giữa mình và cuộc đời có nhiều lỗi nhịp ít nhiều, họ cô độc, đôi khi chỉ trong tâm hồn, chứ không nhất thiết giữa đám đông. Trường hợp Hàn Mặc Tử và những năm tháng ấy, điều đó càng rõ. Biết vậy, nhưng vẫn khát khao giãi bày, khát khao dâng hiến. Hình dung Đây thôn Vĩ Dạ là bức thư tình gửi một người yêu xứ Huế của Hàn Mặc Tử thì Ai biết tình ai có đậm đà? Là lời than thở về một hoàn cảnh không thể giãi bày đối với Hoàng Cúc. Song, hiểu Hàn Mặc Tử – một người tình làm thơ, đấy còn là tiếng nói của thi nhân với cuộc đời.
Ngày ấy, Hàn Mặc Tử đã muộn phiền Ai biết tình ai có đậm đà? Và, có lẽ, cho đến buổi trưa nghiệt ngã 11-11-1940, nhà thơ tài hoa này vẫn ôm trọn khối tình đau đớn với cuộc đời, ra đi, để lại: "Một nấm mồ bằng đất, một cây thánh giá bằng gỗ tạp, không vòng hoa, không hương khói, đìu hiu quạnh quẽ dưới một gốc cây phi lao!" (Quách Tấn). Đến nay, 50 năm đã trôi qua, khi người đời nhận ra Hàn Mặc Tử là ánh sao băng không thể xoa nhòa dấu ấn trên bầu trời thi ca dân tộc thì xin ai đừng trách "Sao anh không về?“, vì chẳng phải bao năm nhà thơ vẫn ở lại đó sao? Xin hãy rộng đường cho người năm cũ… | Cảm nhận về bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử | 4,602 | |
Cảm nhận về bài “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu
Hướng dẫn
Cảm nhận về bài “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu
Bài làm
Trương Hán Siêu là một người có học vấn uyên bác, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình và có nhiều đóng góp lớn cho hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông. Những tác phẩm của ông thường bộc lộ tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc. “Phú sông Bạch Đằng” là một tác phẩm như thế.
Phú là một thể văn cổ dùng để tả cảnh vật, phong tục hoặc tính tình. Phú thường đạm chất trữ tình. Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu viết bằng chữ Hán, theo lời phú có thể, có vần và đăng đối theo cặp câu thơ tạo nên tính quy phạm rất rõ trong thể phú. Bài ca ngợi con sông lịch sử: sông Bạch Đằng.
“Khách có kẻ:
Giương buồm giong gió chơi vơi,
Lướt bể chơi trăng mải miết.
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương,
Chiều lần thăm chừ Vũ huyệt.
Cửu Giang, Ngũ Hồ,
Tam Ngô, Bách Việt.
Nơi có người đi,
Đâu mà chẳng biết.”
“Khách có kẻ” trong “Bạch Đằng giang phú” là Trương Hán Siêu. Ông là một danh sĩ có tấm lòng ngay thẳng, cương trực và một tâm hồn phóng khóang. “Khách” mang cái thú vui hưởng ngoạn, ngao du trên con thuyền cùng trăng thăm thú những cảnh đẹp của đất trời. Biết bao nhiêu vùng miền “khách” đã đặt chân đến:
Câu thơ thể hiện cái hoài bão được đi khắp bốn phương của “khách”, không ngại những vùng đất xa lạ, kì bí.Đầm Vân Mộng là một thắng cảnh, vậy mà ‘Khách” cũng đã từng qua nhiều cảnh đẹp tương tự thế và mong mỏi được tiếp tục chuyến chu du:
“Đầm Văn Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều
Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”.
Theo cánh buồm, Trương Hán Siêu đến với con sông Bạch Đằng:
“Qua cửa Đại than, ngược bến Đông triều,
Đến sông Bạch Đằng, bồng bềnh mái chèo”
“Bát ngát sóng kình muôn dặm”
Con sông rộng và dài, mang một vẻ đẹp hùng vĩ. Cảnh núi non, bờ bãi tái hiện cảnh chiến trường một thời:
“ Bờ lau san sát.
Bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy
Gò đầy xương khô”
Khung cảnh hoang vu với những “bờ lau”, “bến lách”. “Giáo gãy”, “xương khô” – con sổng Bạch Đằng để lại những dấu tích lịch sử rợn người. Nhưng đó là những dấu tích oai hùng của lujch sử chóng giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Mang niềm tự hào, Trương Hán Siêu cũng bày tỏ nỗi niềm tiếc thương những anh hùng đã hi sinh vì đất nước:
“ Buồn vì cảnh thảm
Đứng lặng giờ lâu
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu.”
Những năm tháng của một thời oanh liệt cứ theo những con sóng Bạch Đằng lớp sau xô lớp trước mà trở về:
Cũng là bãi đát xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao.
Bạch Đằng một trận giao phong
Hoằng Thao lạc vía, Kiều công nộp đầu
Bạch Đằng một cõi chiến tràng,
Xương bay trắng đất, máu màng đỏ sông”.
Đó là những trang sử vàng chói lọi của dân tộc Việt Nam:
“Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ
Bầu trời đất chừ sắp đổi”.
Và con sông Bạch Đằng tồn tại như một chứng nhân lịch sử:
“Đến nay sông nước tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”.
Rồi nhà thơ có nhũng chiêm nghiệm, bài học quý giá. Những chiến thắng lấy lừng vẻ vang đó một phần có được là do địa thế, máu chốt quan trọng là nhờ những con người tài năng đã cống hiến, hi sinh mình để bảo vệ độc lập dân tộc:
“Quả là trời đất cho nơi hiểm trở
Cũng nhờ: Nhân tài giữ cuộc điện an”.
Trương Hán Siêu đồng thời ngợi ca Hưng Đạo Vương, người anh hùng vĩ đại thuở “bình Nguyên” oanh liệt:
“Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng
Bởi Đại Vương coi thế giặc nhàn”.
Kết thúc bài phú, ông ca ngợi hai vị vua Trần đã có công giữ gìn và bảo vệ đất nước:
“Anh minh hai vị thánh quân
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh”
Hai vị “Thánh quân” được nhắc đến ở đây là Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông, đã lãnh đạo cuộc kháng chiến lần thứ 2 và lần thứ 3 đánh thắng giặc Nguyên – Mông. Họ là những vị vua sáng suốt, anh minh, yêu nước thương dân đã khơi dậy sự đoàn kết, sức mạnh dân tộc để đem lại bài học giữ nước cho muôn đời sau. | Cảm nhận về bài “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu | 770 | |
Cảm nhận về bài “Thái sư Trần Thủ Độ” trích Đại Việt sử kí toàn thư
Hướng dẫn
Cảm nhận về bài “Thái sư Trần Thủ Độ” trích Đại Việt sử kí toàn thư
Một nhà chính trị Đại Việt thời cuối nhà Lý đầu nhà Trần, ông là người đóng vai trò quan trọng trong việc lật đổ nhà Lý, lập nên nhà Trần. Ông là Trần Thủ Độ, có thể coi Trần Thủ Độ ông là người khai quốc công thần, là trụ cột của nhà Trần. Có rất nhiều bài viết, viết về con người ông, viết về gia đình và viết về công lao của ông trong triều đại nhà Trần cũng như công lao của ông đối với đất nước. Trong đó tiêu biểu là tác phẩm Đại Việt sử kí toàn sư của Ngô Sĩ Liên. Qua đoạn trích “ Thái sư Trần Thủ Độ”, Ngô Sĩ Liên đã thể hiện trọn vẹn con người của Trần Thủ Độ ở từ chốn quan trường cho tới các quan hệ xã hội, gia đình.
Ngô Sĩ Liên mở đầu bài sử, ông dùng sự trang nghiêm, tôn kính để thông báo về cái chết của Thái sư Trần Thủ Độ, cái chết của ông là sự mất mát to lớn đối với dân tộc ta:
“Giáp Tí, năm thứ bảy
Mùa xuân, tháng giêng.
Thái sư Trần Thủ Độ chết, truy tặng Thượng phụ Thái sư Trung Vũ Đại Vương.”
Qua các tình huống mà Ngô Sĩ Liên đã chọn để làm rõ con người thật của Thái sư cho dù là người không quen biết hay chưa từng gặp mặt ông cũng sẽ hiểu rõ Thái sư Trần Thủ Độ là con người như thế nào.
Ở vào tình huống thứ nhất, với cách xử lí tài tình của Thái sư đã giúp cho mâu thuẫn của ông và vua Thái Tông được hòa giải nếu như ông không biết cách xử lí còn có thể dẫn đến những hậu quả hết sức khôn lường. Vì lúc này vua còn trẻ nên mọi việc triều chính hầu hết là do ông tiếp quản và xử lí nên người hặc đã sợ ông sẽ cướp nước hoặc cũng có thể một tay che trời để làm nhiều việc xấu bán nước hại dân. Vua lập tức dẫn người tới nhà Thái sư để hỏi rõ ngọn ngành xem xét sự việc ra sao. Thì trái với những gì nhà vua và người hặc đó nghĩ, rằng Thái sư sẽ chối tội, sẽ nổi giận trị tội người hặc kia. Nhưng Thái sư đã làm ngược lại điều đó làm cho tất cả mọi người ngạc nhiên. Khi nghe nhà vua hỏi xong Thái sư đầu tiên ông nhận lỗi “ đúng như lời người ấy nói”. Rồi ông tiếp tục đưa mọi người từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, ông lấy tiền thưởng cho người kia. Vào ở tình huống thứ nhất, mẫu thuẫn của ông với vua được giải quyết nhanh chóng và nhanh chóng dứt khoát. Sự khác thường của ông không phải là sự dị biệt, mà đó chính là “cây ngay không sợ chết đứng” cho thấy ông là người thẳng thắn, thật thà, chính trực thừa nhận lỗi lầm của mình, không ghen ghét, thù hận người khác đã vạch tội bản thân mà còn khích lệ tặng thưởng động viên cho người vạch tội. Người có quyền cao, chức trọng, có quyền cao hơn cả vua mà làm sai thì cũng không nên vì thế mà nịnh nọt vào hùa với nhau kết bè kéo phái. Nhưng với ông thì ông chỉ làm vậy với người có ý tốt, không lợi dụng, khiêu khích việc này làm tổn hại đến đất nước.
Ở tình huống thứ ba- là tình huống phu nhân của ông muốn xin cho một người họ hàng làm chức quan nhỏ- chức câu đương, một chức dịch trong xã và lo việc bắt giữ và áp giải phạm nhân. Thái sư không cần suy nghĩ mà gật đầu ngay lập tức, lấy giấy bút ra để biên lấy họ tên quên quán của người đó. Hắn thật sự bất ngờ ngạc nhiên, trong đầu suy nghĩ chẳng lẽ Thái sư Trần Thủ Độ chỉ được vẻ bề ngoài công minh chính trực ngay thẳng chứ thực ra cũng giống như các vị quan quyền cao chức trọng thối nát như trước kia. Đúng là “ một người làm quan cả họ được nhờ”. Nhưng khi Thái sư nói “Ngươi vì có công chúa xin cho được làm câu đương, không ví như người câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt”. Đó là cái kết khiến mọi người thán phục khen ngợi Thái sư với cách xử lí để răn đe, làm gương cho những người có ý là nhờ vả người thân làm quan để được thơm lây. Với cách xử lí đó Thái sư vừa không làm mất lòng vợ mình mà lại vừa giữ được trọng trách của mình đối với đất nước. Mặt khác ở tình huống này còn cho chúng ta thấy được ông luôn luôn đặt lợi ích quốc gia lên đầu, công bằng, minh bạch, tài trí hơn người, không chấp nhận thói xu nịnh hót, biếu xén để được làm quan kể cả đó là người thân, họ hàng.
Ngô Sĩ Liên ông đã cho chúng ta thấy con người thật của Thái sư còn thông qua tình huống thứ tư, tình huống cao trào và đặc sắc khi mà vua Thái Tông đề nghị phong tướng cho anh trai của Thái sư là An Quốc. Ông đã không chút suy nghĩ mà nói rằng: “An Quốc là anh thần, nếu là người hiền thì thần xin nghỉ việc, còn như cho thần là người hiền hơn An Quốc thì không nên cứ An Quốc. Nếu anh em cùng làm tướng trong triều thì sẽ ra sao?”. Với tài trí, suy tính trước sau hơn người, ông đã suy xét rằng nếu để hai anh em cùng làm tướng trong triều sẽ không ít những hoài nghi, dị nghị và trong triều ắt hẳn nội bộ sẽ lục đục. Cho chúng ta thấy được sự tài trí thao lược, công tư phân minh, thẳng thắn, chính trực của Thái sư Trần Thủ Độ.
Nhà sử học Ngô Sĩ Liên là một nhà sử học tinh tế, ông đã chọn những chi tiết đắt giá để người đọc chỉ cần đọc đoạn trích “Thái sư Trần Thủ Độ” là đã hiểu tính cách và con người của Thái sư thẳng thắn, công tư phân minh, xử lí các mâu thuẫn bằng sự thông minh nhanh nhẹn của mình. Ông có công rất lớn trong việc thành lập nhà Trần và gìn giữ nhà Trần để đến ngày hôm nay các thế hệ sau muôn đời ghi nhớ công ơn. | Cảm nhận về bài “Thái sư Trần Thủ Độ” trích Đại Việt sử kí toàn thư | 1,155 | |
Cảm nhận về bức tranh thiên nhiên trong Cảnh Ngày Xuân
Hướng dẫn
Cảm nhận về bức tranh thiên nhiên trong Cảnh Ngày Xuân
Bài làm
Một trong những nét đặc sắc nghệ thuật ” Truyện Kiều ” của Nguyễn Du là việc khắc họa tô điểm những bức tranh thiên nhiên tương xứng với hoàn cảnh và tâm trạng nhân vật chủ yếu là nhân vật Thúy Kiều. Đoạn trích ” Cảnh ngày xuân” là bức tranh phong cảnh mùa xuân và cảnh du xuân của chị em Thúy Kiều. Một bức tranh tươi đẹp sống động nhưng vẫn hàm ẩn những nét buồn dự cảm một tương lai gần của Thúy Kiều.
Bốn câu thơ đầu khái quát phong cảnh thiên nhiên với những nét đặc sắc của mùa xuân cùng bút pháp cổ điển cảnh thiên nhiên gợi lên theo trình tự thời gian, bút pháp chấm phá ước lệ:
“Ngày xuân con én đưa thoi
Thềm quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa ”.
Hai câu thơ mở đầu vừa gợi không gian mùa xuân vừa diễn tả sự chẩy trôi của thời gian. Ngày xuân thấm thoát qua mau chín trục ngày xuân nay tiết trời đã sang tháng ba. Tháng cuối cùng của mùa xuân. Nhưng trên bầu trời thoáng đạt cao rộng ấy những cánh én vẫn rộn ràng trao liệng như thoi đưa. Dưới mặt đất mùa xuân đang kì sung sức. Bức tranh mùa xuân tuyệt đẹp trên nền cỏ xanh non bát ngát tận chân trời, nổi bật lên cận cảnh là điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng. Nguyễn Du tả cảnh mùa xuân là cỏ xanh bát ngát mênh mông tận chân trời. Màu xanh làm nổi bật màu trắng của bông hoa lê mới nở, chữ trắng được thêm vào đảo lên trước động từ và danh từ. Tạo lên sự bất ngờ mới mẻ khiến nét vẻ cảnh sắc trở lên có hồn tinh khôi, thanh thoát hơn. Bốn câu thơ tả cảnh mùa xuân quả là tuyệt bút, ngôn ngữ giàu chất tạo hình chất gợi và biểu cảm. Qua bức tranh thơ này người đọc cảm nhận được tâm hồn nhạy cảm tha thiết trước cảnh sắc thiên nhiên trong trẻo, tươi tắm, ấm áp của mùa xuân.
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”.
Tám câu thơ tiếp theo tác giả tái hiện cảnh lễ hội trong tiết thanh minh và hoàn cảnh du xuân. Thanh minh trong tiết tháng ba áo quần như nêm. Lễ là tảo mộ đi thăm viếng sửa sang quét tước, rắc tiền giấy… Để tưởng nhớ người thân tổ tiên đã mất. Hội đạp thanh là vui chơi chốn đồng quê đạp lên những thảm cỏ xanh. Trong tiết thanh minh là sự giao hòa độc đáo giữa quá khứ và hiện tại.
“Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước áo quần như nêm ”.
Bốn câu thơ trên là ngôn ngữ tự sự tả bức tranh lễ hội. Một hệ thống danh từ, động từ, tính từ biểu hiện những hành động nhộn nhịp, náo nức, vui tươi của những người đi hội. Lễ viếng thăm xen kẽ ngày hội khiến cảnh ngày xuân càng thêm tưng bừng nhộn nhịp, vui tươi, ấm áp, người và cảnh quện hòa. Dường như ánh sáng mùa xuân, niềm vui lễ hội đang bao chùm tất cả nhân gian. Trong đó có hai chị em Thúy Kiều. Vậy thông qua chuyến du xuân của mọi người nhà thơ khắc họa một truyền thống văn hóa lễ hội xa xưa thật đẹp, thật sống động.
Sáu câu cuối tả cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về
Chị em thơ thẩn dan tay ra về
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảch có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”.
Khác với đoạn thơ mở đầu. Không còn không khí vui tươi hồ hởi, náo nức nữa. Âm điệu đoạn thơ trầm buồn bởi hội đã tan, cảnh sắc mùa xuân đã dần kết thúc. Sáng tiết trời còn trong trẻo tươi sáng, bầu trời nắng đã nhạt. Vậy bầu trời nắng đã nhạt khe nước nhỏ. Bước chân thơ thẩn đầy tâm trạng nhìn dòng nước uốn quanh khiến nao nao lòng. Cảnh vật lúc này đã nhuốm màu tâm trạng. Những từ láy tà tà, thanh thanh, nao nao không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày du xuân đang còn mà linh cảm về điều sắp tới đã xuất hiện, có gì đó vui buồn lẫn lộn.
Dường như mỗi bức tranh thiên nhiên trong Truyện Kiều đều nhuốm màu tâm trạng. Trong bức tranh thiên nhiên cảnh ngày xuân, tâm trạng con người cũng biến theo cảnh vật. Đầu hội – cuối hội và những linh cảm về tương lai đó là tài nghệ tả cảnh ngụ tình của nhà thơ Nguyễn Du. | Cảm nhận về bức tranh thiên nhiên trong Cảnh Ngày Xuân | 856 | |
Cảm nhận về bức tranh thiên nhiên và tâm hồn nhà thơ ẩn trong các tác phẩm – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Chợt đám mây dừng lại trên trời cao, chợt bông hoa nghiêng mình trong nắng sớm, chợt tiếng chim sơn ca náo nức gọi xuân về, tất cả đã thành thơ, tất cả đã bước vào trang thơ đầy hương, đầy sắc màu. Thiên nhiên đẹp lắm, bức tranh thiên nhiên như sống dậy bởi hồn người, như được dệt bằng những vần thơ sống động. Từ một nhành hoa, một vệt nắng, đều ẩn chứa tâm hồn sâu kín của nhà thơ. Thiên nhiên do đó là khía cạnh nội dung vừa phong phú vừa đẹp đẽ trong thi ca mọi thời và thơ ca Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám cũng vậy.
Các thi sĩ thường coi thiên nhiên là người bạn chia vui sẻ buồn. Hàn Mặc Tử đón nhận cảnh xuân sang bằng nắng ửng lên giàn hoa thiên lí, bằng làn gió tinh nghịch đùa giỡn bên tà áo ai đó:
Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí: bóng xuân sang.
(Mùa xuân chín)
Mùa xuân bước nhẹ trên vần thơ, mùa xuân là nơi để người thi sĩ say sưa gửi tâm hồn mình vào đó. Cảnh xuân đẹp là thế, sống động là thế, mang đến sự sống trẻ trung trên nhành cây, trên vạn vật. Mùa xuân về, sao không có bướm, có hoa xoan nở mà chỉ thấy nắng xuân lấm tấm trên mái nhà tranh, chỉ thấy làn gió xuân tinh nghịch, chỉ thấy giàn thiên lí thay màu lá mới và ngào ngạt hương thơm. Tâm hồn nhà thơ bay theo gió, hòa trong nắng mới vàng hoe, dập dờn trên cánh hoa thiên lí.
Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
(Đây thôn Vĩ Dạ)
Về nơi thôn Vĩ Dạ, cảnh phô ra bao sắc màu. Hàn Mặc Tử tưởng tượng thấy nắng mới lên trên hàng cau cao vút, thấy khu vườn xanh như ngọc bích thật đẹp, thật sáng trong, tinh khiết. Xứ Huế ơi! Nơi có thôn Vĩ Dạ, đẹp ban ngày, mộng về ban đêm.
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.
(Đây thôn Vĩ Dạ)
Cảnh Huế về đêm thật đẹp nhưng chất chứa nỗi buồn cô đơn. Gió đi một đằng, mây đi một nẻo, tản mạn chia li. Nước cũng buồn thiu, bên bờ sông có hoa bắp lay uể oải. Nhà thơ buồn, buồn vì “nhân tình thế thái” buồn vì mảnh tình riêng tư. Nỗi buồn đó trào ra từ cảnh:
Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đương chín trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào.
(Khi con tu hú)
Tiếng tu hú vang lên náo nức gọi bầy, báo hiệu hè về trên đồng quê yên ả. Tiếng tu hú vang vào trong tù lay động cảnh quan của Tố Hữu, người chiến sĩ cách mạng đang bị giam cầm trong đó. Qua tiếng chim, Tố Hữu cảm nhận được mùa hè bằng lúa chiêm đương mẩy hạt, bằng trái cây mộng quả lắc lư trên cành cao, bằng tiếng ve ngân rộn ràng, bằng bắp cây mang màu vàng mẩy, bằng sắc nắng hồng tươi và con diều sáo đang nhào lộn trên bầu trời xanh cao rộng.
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào tầng không.
(Khi con tu hú)
Không phải ở trên lầu để ngắm cánh đồng, vườn cây, sân bắp và đôi con diều sáo nhởn nhơ trên trời cao, mà nhà thơ đang nằm trong tù hình dung, tưởng tượng ra. Nhà tù chỉ giam cầm được thể xác chứ không ngăn cản được tâm hồn nhà thơ. Cảnh tù thật ngột ngạt, tâm hồn thi sĩ vẫn vượt ra ngoài, trong cảnh mùa hè, bồng bềnh, lửng lơ.
Thiên nhiên đẹp là thế, sống động là thế, cảnh có tình cảnh mới thực, mới gần gũi với con người. Bác Hồ – người chiến sĩ cách mạng tuy ở trong tù nhưng lòng mình vẫn hướng về quê hương đất nước, vẫn tha thiết với cảnh thiên nhiên đẹp đẽ bên ngoài:
Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
(Ngắm trăng)
Người xưa thường “uống rượu ngâm thơ chờ hoa quỳnh nở” đó là thú vui của những bậc hiền nhân quân tử, sống thanh bạch. Nhưng đối với Bác, rượu đâu có mà dùng, hoa quỳnh đâu có mà ngắm, chỉ có ánh trăng lửng lơ trên vòm trời cao, rải những tia nắng mờ ảo xuống chốn lao tù buồn tẻ âm u. Cảnh làm Bác quên đi những gì mệt nhọc, cảnh tìm đến Bác, xum vầy bên Bác. Ánh trăng và Bác hòa vào nhau gắn bó thiết tha, như người bạn tri kỉ, gần gũi. Và đây nữa, một bài thơ thiên nhiên thật hay của Bác.
Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng
Vui say ai cấm ta đừng
Đường xa âu cũng bớt chừng quanh hiu.
(Trên đường đi)
Niềm lạc quan là nét nổi bật trong thơ Bác. Dù chân tay bị trói, bị xiềng, nhưng Người vẫn hòa mình vào thiên nhiên. Đâu đó có tiếng chim ca rộn núi, đâu đó có hương thơm ngào ngạt của hoa rừng. Tất cả đều vui với Bác, tất cả đều quyện trong tâm hồn Bác, xa mà gần, tuy hai mà một.
Bác yêu thiên nhiên, mặc cho giam cầm về thể xác, mặc cho gian khổ của tù lao, có ai có thể tách thiên nhiên ra được, có ai có thể ngăn cản được tâm hồn Bác gắn bó với thiên nhiên?
Rõ ràng thiên nhiên bao giờ cũng đẹp, bức tranh thiên nhiên bao giờ cũng gắn bó với tâm hồn người thi sĩ. Thiên nhiên như một tinh hoa để con người hưởng thụ, và gửi gắm tình cảm của mình vào nó. Tự ngàn xưa đến nay, thiên nhiên đã và vẫn bước vào thơ ca, và thơ ca vẫn ca ngợi thiên nhiên như người bạn muôn đời của mình. Cảnh có đẹp thì vần thơ mới sáng, cảnh có tình thì vần thơ mới thực, mới lung linh. Thiên nhiên thực sự đã chắp cánh cho cảnh và cho tình bay bổng trong những trang thơ hay của muôn đời.
Tags:Văn 8 | Cảm nhận về bức tranh thiên nhiên và tâm hồn nhà thơ ẩn trong các tác phẩm – Đề và văn mẫu 8 | 1,117 | |
Đề bài: Cảm nhận của em về bức tranh thu trong Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến
Bài làm
Mùa thu là một trong những đề tài lớn của thơ ca nhân loại. Nói tới đề tài này trong thơ ca Việt Nam chúng ta có thể kể tới rất nhiều tác giả với những sáng tác xếp vào hàng kiệt tác, trong số đó có Nguyễn Khuyến với chùm ba bài thư thu. Mỗi bài trong chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến là một bức tranh thu đặc sắc, và Câu cá mùa thu được đánh giá là "điển hình hình cho thơ ca mùa thu của làng cảnh Việt Nam" (Xuân Diệu).
Cảnh thu trong bài được đón nhận từ nhiều góc độ khác nhau: từ gần đến xa, từ thấp lên caọ, từ hẹp đến rộng… Dưới nhiều góc độ như vậy, cảnh sắc mùa thu được mở ra nhiều hướng thật sinh động và gợi cảm. Từ ao thu đến trời thu rồi đến đường thôn xóm… tất cả đều toát lên cái hồn thu, cảnh thu xiết bao thân thuộc của làng quê đồng bằng Bắc Bộ. Cái hồn ấy được gợi lên từ những khung cảnh, những cảnh vật hết sức thanh sơ: ao nhỏ trong veo, thuyền câu bé tí, sóng biếc gợn, lá vàng khẽ đưa, tảng mây lơ lửng, ngõ trúc quanh co… sắc xanh của trời hoà lẫn cùng sắc xanh của nước tạo nên một không gian xanh trong, dịu nhẹ, một chút sắc vàng của lá rụng trên cái nền xanh ấy khiến cảnh thu, hồn thu càng thêm phần sống động. Những đường nét, màu sắc… gợi lên trong tướng tượng của người đọc khung cảnh của một buổi sớm thu yên bình trên một làng quê miền Bắc với bầu trời thu cao rộng, khoáng đạt, những ao chuông trong vắt phản chiếu màu trời, màu lá, thôn xóm với những con đường nhỏ quanh co hun hút xanh màu tre trúc, gió thu dịu mát khẽ làm xao động mặt nước, thỉnh thoảng một vài chiếc lá rụng cắt ngang không gian… Trong bức tranh thu này mọi cảnh vật hiện ra đểu rất đỗi bình dị, dân dã. Khung cảnh ấy vận thường hiển hiện vào mỗi độ thu về trên những làng quê và đi vào tâm thức của bao người, nhưng lần đầu tiên được Nguyễn Khuyến vẽ ra với nguyên cái thần thái tự nhiên của nó và khiến ta không khỏi ngỡ ngàng xúc động. Đó là một mùa thu trong trẻo, thuần khiết, mát lành đã bao lần đến trên quê hương của mỗi chúng ta.
Cảnh trong Câu cá mùa thu là cảnh đẹp nhưng cũng tĩnh lặng và đượm buồn. Một không gian vắng người, vắng tiếng: Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Sự vận động cũng có nhưng chỉ là những vận động rất nhẹ, rất khẽ: sóng hớt gợn, lá khẽ đưa mây lơ lửng… âm thanh tiếng cá đớp mồi thì mơ hổ. Những vận động này không làm cho không khí của bức tranh thu trở nên sôi động mà chỉ càng làm tăng thêm sự tĩnh lặng của nó. Mọi cảnh, mọi vật trong bức tranh thu này đều gợi cái tĩnh lặng và đượm buồn. Cái lạnh lẽo, trong veo của nước, cái biếc của sóng, cái xanh ngắt của trời… những trạng thái, màu sắc đó cho thây một sự tĩnh lặng đang bao trùm từ bầu trời cho đến mặt đất. Mọi cái dường như không chuyển động, dường như rơi vào trạng thái im vắng đến tuyệt đối. Cả con người ở đây cũng vậy. Người ngồi câu trong trạng thái tựa gối ôm cần, không câu được cá nhưng dường như vẫn không hề sốt ruột, cái không chi toát lên ở vẻ bề ngoài mà là ở chiều sâu của tâm tư – một tâm tư dường như cũng tĩnh lặng tuyệt đối. Con người và cảnh vật một cách tự nhiên đã hoà nhịp cùng nhau tạo nên linh hồn cho bức tranh thu. Cái tĩnh, cái buồn rõ ràng là trạng thái của cảnh vật ở đây tuy nhiên, đó không phải là cái tĩnh của sự chết lặng, thiếu vắng sức sống, cũng không phải là cái buồn của sự bi lụy, chán chường. Gắn với cái buồn, cái tĩnh này vẫn là sự trong sáng, thơ mộng và sức sống muôn đời bất diệt của thiên nhiên xứ sở.
Phải gắn bó tha thiết với quê hương, phải có một tâm hồn nhạy cảm đến độ nào thì Nguyễn Khuyến mới có thể tái hiện một cách tài tình tất cả vẻ đẹp xiết bao bình dị mà nên thơ của mùà thu làng quê Bắc Bộ vào trong những vần thơ tự nhiên, giản dị đến thế. Thơ thu Việt Nam giàu có, đặc sắc hơn bởi những vần thơ như thế của Nguyễn Khuyến. | Cảm nhận về bức tranh thu trong Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến | 831 | |
Đề bài: Cảm nhận về chuyện Con hổ có nghĩa
Bài làm
Con hổ có nghĩa nói về chuyện bà đỡ Trần và bác tiều thu gặp hổ, và đã được hổ đền ơn đáp nghĩa. Truyện đề cao đạo lí ân nghĩa thuỷ chung ở đời. Truyện gồm có hai phần, phần nào cũng tinh giản mà kì thú, gợi cảm.
Ở đây ta nói về mẩu chuyện bà đỡ Trần gặp hổ. Tình huống li kì hồi hộp: đêm, nghe tiếng gõ cửa, bà đỡ ra mở cửa, rồi bị con hố lao tới cõng bà đi. Bị hổ bắt làm sao mà sống được? Bà đỡ, ban đầu sợ đến chết khiếp. Hổ dùng một chân ôm lấy bà chạy như bay, hễ gặp bụi rậm, gai góc thì dùng tay rẽ lối chạy vào rừng sâu. Phải chăng hổ bắt được mồi, nên vội vã tha mồi về hang?. Nhưng cái cử chỉ một chân ôm lấy bà, một tay rẽ lối của hố thì có vẻ như nương nhẹ, cẩn trọng? Một tình tiết hồi hộp, hấp dẫn.
Cảnh thứ hai cũng đầy kịch tính. Bà đỡ nhìn thấy hố’ cái đang lăn lộn cào đất, bà đỡ run sợ không dám nhúc nhích. Bà sợ lắm vì tưởng là hổ định ăn thịt mình. Hổ đực dùng cử chỉ để thay lời nói. Nó nhỏ nước mắt, thương hổ cái lắm. Nó "cầm tay bà nhìn hổ cái" như kêu van, như xin được cứu giúp. Người và hổ đã tương tri, đã biết cảnh ngộ nhau, biết tấm lòng của nhau. Bà đỡ rất cần mẫn, có tay nghề giỏi, bà chỉ nhìn bụng hổ cái như có cái gì động đậy, thế là bà biết ngay hổ cái sắp đẻ. Thật nhân đức, bà đỡ hoà thuốc với nước suối cho hổ cái uống, bà còn dán xoa bụng cho hổ. Cử chỉ của bà đầy tình thương. Đã mấy ai trong thiện hạ dám đưa tay xoa bóp bụng hổ. Với bà đỡ Trần thì hổ cái là một sản phụ, đang đau đẻ, cần giúp đỡ để cứu cả mẹ lẫn con.
Cảnh thứ ba là cảnh hổ cái đẻ con và hổ đực đưa tiễn bà đỡ. Hổ đực rất tình cảm và có nghĩa. Nó vui mừng đùa giỡn với con. Nó quỳ xuống bên một gốc cây, lấy tay đào lên một cục bạc để tặng bà đỡ. Nó đứng dậy đi, quay nhìn bà để ra hiệu đưa tiến bà về. Nghe bà đỡ nói: Xin chúa rừng quay về, nó cúi đầu vẫy đuôi, rồi gầm lên một tiếng. Cảnh tiễn biệt đầy lưu luyến và sâu nặng tình nghĩa biết bao!.
Câu chuyện thật hay, thật hồi hộp cảm động. Người đỡ đẻ, giúp hồ cái mẹ tròn con vuông. Hổ đền ơn người một cục bạc, nhờ món quà ấy mà bà đỡ sống qua được năm mất mùa đói kém. Chuyện cũng là chuyện người. Bài học đền ơn đáp nghĩa thật kỳ thú, gợi cảm. | Cảm nhận về chuyện Con hổ có nghĩa | 508 | |
Cảm nhận về các em bé đáng thương trong các tác phẩm đã học – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Trẻ em là những mảnh hồn trong trẻo, là sự khởi đầu của những cuộc đời. Trong những trang văn: “Gió lạnh đầu mùa” của Thạch Lam, “Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng, “Bố của Xi-mông” của Mô-pa-xăng, trẻ em đều rất đáng yêu, đáng quý, đáng thương.
Đến với truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa”, người đọc có cảm giác ấm áp khi được chứng kiến sự thơm thảo của những tấm lòng trẻ thơ nhân hậu. Mùa đông đến, đem theo những cơn gió lạnh là nỗi lo sợ của những đứa trẻ nhà nghèo. “Chúng ăn mặc không khác ngày thường, vẫn những bộ quần áo nâu bạc rách vá nhiều chỗ”. Và thế là mùa đông lạnh lẽo đã hành hạ chúng: “Hôm nay, môi chúng tím lại và qua những chỗ áo rách, da thịt thâm đi, mỗi cơn gió đến, chúng lại run lên, hai hàm răng đập vào nhau” Cuộc đời đã không mỉm cười với những đứa trẻ nhà nghèo. Trong đám trẻ nhà nghèo, hình ảnh bé Hiên được mô tả tỉ mỉ nhất. Hiên đứng co ro bên cột quán: “chỉ mặc có manh áo rách tả tơi, hở cả lưng và tay”. Manh áo rách kia không đủ che ấm cho em trong thời tiết mùa đông khắc nghiệt. May mà cuộc sống còn có tình thương. Tình thương của chị em Sơn đem đến cho Hiên. Khi thấy Hiên đứng co ro chịu rét, áo rách tả tơi, Sơn đã động lòng thương. Sơn bàn với chị Lan lấy chiếc áo bông cũ của đứa em đã mất cho Hiên. Khi chị Lan hăm hở chạy về nhà lấy áo, “Sơn đứng lặng yên đợi, trong lòng tự nhiên thấy ấm áp vui vui”. Thì ra cái bản chất tự nhiên của con người là nhân hậu, là hướng thiện. Cái hăm hở của bé Lan mới đáng quý làm sao. Đó không chỉ là biểu hiện ngây thơ của tuổi trẻ mà còn là hành động của một tấm lòng ấm áp tình yêu thương. Giữa bao nhiêu giá rét của mùa đông vẫn còn sự ấm áp của những tấm lòng nhân hậu. Bằng việc làm của mình, bằng sự gần gũi thân thiết, Sơn và Lan đã vượt qua bức tường ngăn cách của hai tầng lớp giàu nghèo đến với đám trẻ nhà nghèo, trong vòng tay bè bạn.
Đọc “Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng, ta gặp phải một bé Hồng sớm phải chịu những mất mát, thiếu thốn về tình cảm, tuổi thơ của Hồng không được sống trong mái ấm gia đình. Từ bé, bé đã mất cha, xa mẹ. Chắc chỉ có Chúa mới biết chú đã khóc bao nhiêu lần trong nỗi đau khổ, dằn vặt. Và trái tim non nớt của chú đã bao lần nức nở trước những lời bàn tán về mẹ không lấy gì làm tốt đẹp, đầy tâm địa xấu xa của bà cô: “Hai tiếng em bé mà cô tôi ngân dài ra thật ngọt, quả nhiên đã xoắn chặt lấy tâm can tôi như ý cô tôi muốn”. Tuy vậy, Hồng đã tự khẳng định tình yêu thương mẹ của mình: “Nhưng đời nào tình yêu thương và lòng kính trọng mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến… Mặc dầu nom một năm ròng mẹ tôi không gửi cho tôi lấy một lá thư, nhắn người thăm tôi lấy một lời và gửi cho tôi lấy một đồng quà”. Hồng không ruồng rẫy mẹ. Em xót xa khi thấy mẹ chưa đoạn tang thầy mà đã phải xa quê để chửa đẻ với người khác. “Lòng tôi thắt lại, khóe mắt tôi cay cay”, rồi (nước mắt tôi đã ròng ròng rớt xuống hai bèn mép rồi chan hòa và đầm đìa ở cằm, ở cổ”. Nỗi đau đớn ấy đã khiến cho “cổ họng tôi đã nghẹn ứ không khóc ra tiếng”. Hồng đã khóc, khóc bởi thương mẹ bị đọa đày, bị đối xử một cách bất công, vô nhân đạo. Tuy nhiên từ tận đáy sâu tâm hồn Hồng vẫn còn le lói một ngọn lửa của niềm tin, niềm tin thiêng liêng của một người con luôn hướng về mẹ. Hồng đã cất lên tiếng khóc đầy hạnh phúc khi gặp lại người mẹ muôn vàn kính yêu của mình. Ta hiểu rằng để có được tiếng khóc ấy chú bé đã phải chờ đợi mỏi mòn suốt bao tháng ngày dài đằng đẵng.
Đọc những trang tác phẩm của Nguyên Hồng, chúng ta cảm thông trân trọng bé Hồng và thấm thía sâu sắc tấm lòng nhân đạo sáng ngời của nhà văn.
Đến với truyện ngắn “Bố của Xi-mông” của nhà văn Mô-pa-xăng, ta gặp chú bé Xi-mông không có bố. Em sống và lớn lên trong tình yêu thương và bàn tay chăm sóc của mẹ. Một lần, bị bạn bè chế giễu, quá đau đớn, em đã lang thang ra bờ sông và định tìm đến cái chết. Thế nhưng thiên nhiên đã thức tỉnh em: “Một chú nhái con màu xanh lục nhảy dưới chân em. Em định bắt nó, nó thoát được. Ém đuổi theo nó và lại vồ hụt ba lần liền”. Hình ảnh chú nhái gợi cho Xi-mông nhớ tới một thứ đồ chơi ở nhà, rồi gợi cho em nhớ đến nhà, đến mẹ và em đã khóc. “Người em run lên, em quỳ xuống và đọc kinh cầu nguyện như trước khi đi ngủ. Nhưng em không đọc hết được bài kinh vì những cơn nức nở lại trở lại, dồn dập, xốn xang, choáng ngợp lấy em”. Xi-mông hiện lên thật đáng thương. Em phải sống trong hoàn cảnh thiếu bàn tay chăm sóc của cha và chịu sự trêu chọc của bạn bè. Nỗi đau ấy như một bàn tay vô hình bóp lấy trái tim thơ ngây của em. Em chỉ biết khóc. Không biết em đã khóc bao nhiêu lần?
– Bố tớ đấy, bố tớ là Phi-lip Rê-mi (…) bố tớ hứa sẽ kéo tai tất cả những đứa nào bắt nạt tớ”.
Những tiếng nói thật mạnh mẽ và tự hào. Đó cũng là tiếng nói của lòng tin, đem đến cho người đọc cảm giác ngọt ngào, sưởi ấm lòng người, hướng lòng người vươn tới cái thiện, cái đẹp.
Thạch Lam, Nguyên Hồng, Mô-pa-xăng đã dẫn ta vào thế giới của trẻ em. Thế giới ấy có nắng nhẹ, trời trong, có cả những giọt nước mắt đau khổ nhưng trội lên là những tâm hồn trắng trong, nhân hậu. Các em thật đáng thương, đáng quý, đáng yêu. Qua hình ảnh các em, các nhà văn đã cất lên một tiếng nói phê phán xã hội xấu xa, vô nhân đạo đã chà đạp lên cả những tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên trong trắng, cướp đi cả cuộc sống và ước mơ bình dị của các em. Hôm nay, đọc lại những trang tác phẩm đó của nhà văn, chúng ta càng hiểu thêm những gì tốt đẹp mà xã hội mới đã đem lại cho tuổi thơ chúng ta, chúng ta thấy mình càng phải sống sao cho có ý nghĩa hơn, có ích cho đời hơn.
Tags:Văn 8 | Cảm nhận về các em bé đáng thương trong các tác phẩm đã học – Đề và văn mẫu 8 | 1,241 | |
Cảm nhận về cái chết của cô bé bán diêm trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn An-đéc-xen
Bài làm
Tác phẩm “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen khiến chúng ta sẽ không thể nào quên đi hình ảnh cô bé bán diêm với những ánh lửa diêm bé nhỏ le lói. Đó là một đêm giao thừa giá rét gắn với những mộng tưởng ngọt ngào và hạnh phúc nhất của cô bé nghèo khổ bất hạnh. Truyện đã kết thúc nhưng sức ám ảnh về những mộng ước và giấc mơ của cô bé vẫn đầy ắp, đặc biệt là cái chết của cô bé vẫn là sự hoài niệm trong tâm trí người đọc.
Câu chuyện kết thúc khi cảnh đời đang vui vẻ nhưng cô bé bán diêm lại có cái chết bi thảm. Trong đêm giao thừa hôm ấy, em chịu đói chịu rét cả một ngày mà không dám về nhà vì sợ cha đánh. Vì quá đói rét mà em đã chết với đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười. Buổi sáng đầu năm mới, tuyết phủ kín mặt đất, khi mặt trời bắt đầu lên, bầu trời bắt đầu xanh, mọi người vui vẻ ra khỏi nhà.
Trong sự háo hức và vui vẻ của mọi người thì em đã chết ở một xó tường nơi vỉa hè, nằm giữa những bao diêm và que diêm đã quẹt, hình ảnh đó xoáy sâu vào tâm can người đọc, đó cũng là kết thúc khác hoàn toàn so với những kết thúc của truyện cổ tích. Cô bé bán diêm chẳng có cái kết có hậu, cũng chẳng tìm được hạnh phúc ngay trong cuộc sống thực tại, ngược lại em đã phải chết một cách bi kịch, đầy xót thương.
Tuy nhiên, cái tài của nhà văn chính là viết bi kịch nhưng không gợi ra bi thảm và nỗi buồn cuộc đời của nhân vật. Bởi cô bé bán diêm đã ra đi trong niềm hạnh phúc vô bờ, sự mãn nguyện khi em được đến bên bà, được bà yêu thương và hết mực che chở. Hình ảnh em đã chết nhưng đôi má vẫn hồng và đôi môi vẫn đang mỉm cười là minh chứng cho việc em không chết, em chỉ bước từ thế giới đầy đắng cay, đen tối sang một thế giới tươi đẹp hơn.
Cũng chỉ có cái chết mới giải thoát được cuộc đời em khỏi những nỗi khổ, niềm vui sướng và hạnh phúc của em khi được ở bên bà, được bay lên về với Thượng đế chí nhân. Nhà văn An-đéc-xen đã thấu hiểu và trân trọng một các sâu sắc, bởi ông có tấm lòng thuộc về những con người khốn khổ, bất hạnh trong xã hội. Kết thúc của truyện tuy bi kịch nhưng lại tỏa sáng giá trị nhân văn.
Đối lập với sự bất hạnh trong cái chết của cô bé bán diêm chính là sự thờ ơ của người đời. Khi nhìn thấy những que diêm cháy dở kia, con người ta trở nên lạnh lùng, vô cảm, thiếu tình thương, chỉ thốt ra được một câu lạnh lùng: “Chắc nó muốn sưởi ấm”. Cô bé bán diêm thật đáng thương, chính trong xã hội vô cảm, thiếu tình thương giữa con người với con người này, nhà văn An-đéc-xen đã viết nên truyện này. Một phần để bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn với cô bé bán diêm nói chung và số phận của những con người khốn khổ trong xã hội nói chung, an ủi và xoa dịu nỗi đau của họ. Một phần cũng là để lên án và tố cáo sự vô tâm của những con người thiếu tình cảm trong xã hội. | Cảm nhận về cái chết của cô bé bán diêm trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn An-đéc-xen | 628 | |
Đề bài: Cảm nhận về câu chuyện “Cô bé bán diêm” của An-Đéc-Xen
Bài làm
Nhà văn An Đéc Xen là một cây bút khá nổi tiếng trên khắp thế giới. Ông được biết qua nhiều tác phẩm, những câu chuyện của ông đều xoay quanh những số phận của các em bé nghèo khổ, có cuộc đời bất hạnh. Qua những lời văn đầy tình cảm, thể hiện tính nhân văn sâu sắc của mình tác giả đã gửi tới người đọc những dòng tâm sự chứa đầy nước mắt.
Câu chuyện “Cô bé bán diêm” là một tác phẩm vô cùng xúc động kể về một cô bé mồ côi làm nghề bán diêm dạo. Cô không có người thân nào bên cạnh vào đêm giáng sinh khi mọi nhà đều được hưởng hạnh phúc trong gia đình của mình cô bé vẫn lang thang khắp phố phường để bán từng bao diêm nhỏ.
Nhưng là đêm giáng sinh nên chẳng có ai ra đường, số lượng bao diêm cô bé còn rất nhiều. Giữa cái rét cái đói vây quanh, cô bé đáng thương của chúng ta đã đốt từng que diêm lên để sửa ấm trong mình. Trong ánh sáng của que diêm lung linh huyền ảo đó em nhìn thấy người thân yêu nhất đời mình. Rồi sáng hôm sau, khi mọi người thức dậy đã thấy cô bé đã đông cứng vì lạnh từ bao giờ.
Những dòng chữ của tác giả thấm đẫm nhiều nước mắt, số phận “cô bé bán diêm” thật bi thương, khiến cho người đọc phải rơi lệ. Nỗi ám ảnh về những em bé mồ côi, sự cô đơn của em trong xã hội khiến cho nhiều người trong chúng ta không khỏi đau xót.
Người thân duy nhất của cô bé chính là bà ngoại của em, người thương yêu duy nhất, chỗ dựa tình cảm duy nhất của em cũng đã qua đời khiến em bơ vơ một mình. Đói khát nghèo khổ bủa vây xung quanh em. Em có một người cha nhưng ông ấy không yêu thương em suốt ngày đánh đập em, rồi bắt em phải kiếm tiền về đưa cho ông ta. Nếu không bán được diêm, không có tiền đưa thì về nhà em sẽ bị đánh chửi.
Sự cô đơn trong tâm hồn lạnh lẽo của em. Trong một xã hội giàu, nhưng thật lạnh lẽo tình người chẳng ai quan tâm tới thân phận của cô bé đáng thương ấy. Kiếp sống của em thật nhỏ nhoi, cuộc sống của em như là địa ngục trần gian.
Trong những câu văn của mình tác giả đã vô cùng tinh tế khi miêu tả khoảng cách, và hai thế giới hoàn toàn khác nhau giữa một bên là những gia đình ấm áp, hạnh phúc bên bữa tối ngon miệng ánh nến linh linh và một bên là cô bé bán diêm nghèo khổ, vừa đói vừa rét, đang mong chờ sự kỳ diệu xảy ra.
Trong màn đêm u tối, trong sự lạnh lẽo của tâm hồn, thân thể rã rời vì đói rét, cô bé đáng thương của chúng ta lấy những bao diêm nhỏ ra quẹt thử từng chiếc một.
Lần thứ nhất thì chỉ là vô thức, trong lúc chán nản em lấy một que diêm ra quẹt thử “Em hơ đôi tay trên que diêm sáng rực như than hồng” cho bớt lạnh cóng. Cô bé thấy hiện lên hình ảnh chiếc lò sưởi ấm áp tỏa ra hơi nóng dịu dàng, sửa ấm cơ thể và tâm hồn em.
Khi ánh sáng que diêm tắt đi bóng đêm lại bao phủ quanh em, trả em về thực tế. Em không muốn như thế này rồi em tiếp tục lấy que diêm thứ hai ra và quẹt nó lên. Trong lần này em nhìn thấy một bữa ăn thịnh soạn có thịt ngỗng quay rất thơm ngon. Điều này hoàn toàn bình thường bởi lúc này em đang rất lạnh và đói nên mơ ước của em là được sưởi ấm cơ thể và có một bữa ăn no bụng. Một điều ước quá giản dị với những em bé bình thường có cha mẹ, người thân bên cạnh. Nhưng với em sao nó lại viển vông, xa vời đến vậy.
Rồi em lại quẹt que diêm tiếp theo lần này em nhìn thấy người mà em yêu thương nhất đó chính là bà ngoại của em. Em reo lên vui sướng, tiếng reo của em xóa tan đêm tối và những mảnh băng do tuyết phủ làm lay động lòng người đọc. Em đòi được đi theo bà.
Cứ như thế khi que diêm vụt tắt em lại lấy một que diêm khác quẹt lên, nhóm lên trong lòng những mơ ước của riêng mình cho tới khi que diêm cuối cùng cháy hết thì cô bé bán diêm của chúng ta cũng đã ra đi mãi mãi. Em đã biến thành một thiên thần nhỏ bay theo bà mình bỏ lại thế gian những đắng cay buồn tủi, nhưng cô đơn lạnh lẽo của tâm hồn và lòng người. Em đi tới nơi hạnh phúc
Câu chuyện “Cô bé bán diêm” đã khiến cho người đọc chúng ta vô cùng xúc động, cảm thương cho số phận của những em bé bất hạnh, phải sống lang thang thiếu tình thân. Nó cũng là hồi chuông cảnh tỉnh cho mỗi con người sống trong xã hội này bớt vô cảm với nỗi đau khổ của đồng loại. | Cảm nhận về câu chuyện Cô bé bán diêm của An-Đéc-Xen | 919 | |
Đề bài: Cảm nhận về cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục trong truyện Chữ người tử tù
Bài làm
Có thể nói chủ đề của truyện ngắn Chữ người tử tù và vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao đã được bộc lộ sáng ngời trong cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục. Đây không đơn thuần là cảnh cho chữ, mà “đây là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp, cái cao thượng đối với sự phàm tục, sự nhơ bẩn của tinh thần bất khuất trước thái độ cam chịu nô lệ.
Trước hết đó là sự chiến thắng của ánh sáng đôi với bóng tối. Chính Nguyễn Tuân đã viết trong truyện, cảnh cho chữ là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Vì sao vậy? bình thường sẽ không có cảnh cho chữ đẹp đẽ và trang nghiêm trong chốn tù ngục tăm tối và nhơ bẩn này. Nhưng ở đây lại có, vì ở đây có chiến thắng của “thiên lương” con người. Và nhà văn, với nghệ thuật đặc tả tài tình, với thủ pháp tương phản sắc xảo, đã dựng lên những cảnh tượng đối lập để nêu bật ý nghĩa sâu xa và thâm thúy của sự chiến thắng đó. Cảnh cho chữ đã xảy ra vào lúc đêm khuya trong nhà ngục. Nhà ngục vốn đã tối tăm, lại vào lúc đêm khuya khoắt, càng dày đặc bóng tối. Nhưng “trong một không khí khói tỏa như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn nền hồ” và “lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo". Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân đã miêu tả đến hai lần cái sáng đỏ rực”, cái "lửa đóm cháy rừng rực" đã xua lan và đẩy lùi cái bóng tối dày đặc trong phòng giam. Nhấn mạnh đến cái ánh áng của bó đuốc tẩm dầu ấy, rõ ràng đó là dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Ở đây, không chỉ là sự đối lập của ánh sáng và bóng tối theo ý nghĩa sắc màu vật lý, mà sâu xa hơn và khái quát hơn, đây là sự đối lập mang ý nghĩa nhân sinh của con người: ánh sáng của lương tri, thiên lương và bóng tối của tàn bạo, độc ác. Ánh sáng của thiên lương đã xua tan và đẩy lùi bóng tối của tàn bạo chính tại nơi tù ngục này. Ánh sáng ấy đã khai tâm, đã cảm hóa con người lầm đường trở về với cuộc sống thiện.
Cảm nhận về cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục
Không chỉ có chiến thắng của ánh sáng và bóng tối. Cảnh “xưa nay hiếm đó” còn là sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao thượng đối với sự phàm tục, sự nhơ bẩn. Cái phàm tục, sự nhơ bẩn ở đây được biểu thị rất rõ trong cảnh “một buồng chậi hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”. Còn cái đẹp, cái cao thượng lại được nói đến sâu sắc trong hai chi tiết mang ý nghĩa tượng trưng: mầu trắng tinh của phiên lụa óng và mùi thơm từ chậu mực bốc lên – đều dường như không thể có trong chốn tù ngục. Màu trắng của phiến lụa tượng trưng cho sự tinh khiết, còn mùi thơm của thoi mực là hương thơm của tình người, tình đời. Sự đối lập nói trên đã nêu bật, sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao thượng đối với sự phàm tục, sự nhơ bẩn. Tâm hồn Huấn Cao bát ngát đến chừng nào khi ông nói về mùi thơm của mực: “Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không”… Thế là không có nhà ngục nào tồn tại nữa, chẳng còn bóng tối, cũng chẳng còn mạng nhện, phân chuột phân gián nữa. Chỉ còn lại sự thơm tho của mực, sự tinh khiết của lụa – nó là sự thơm tho và tinh khiết của thiên lương con người.
Và trên hết đó là sự chiến thắng của tinh thần bất khuất trước thái độ cam chịu nô lệ. Đây là sự phối hợp giữa những con người trong cảnh cho chữ, đặc biệt ở đây, ta thấy có sự thay bậc đổi ngôi. Người tù lại như người làm chủ (đường hoàng, hiên ngang, ung dung, thanh thản), còn bọn quản ngục lại khúm núm sợ hãi và xúc động trước những lời khuyên dạy của tù nhân (viên quản ngục "khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ”. Thầy thơ lại “run run bưng chậu mực”). Sự chiến thắng của tinh thần bất khuất trước thái độ cam chịu nô lệ đã được khắc họa đậm nét trong cảnh cho chữ và những người trong cảnh ấy. Không còn là cảnh cho chữ bình thường mà là một cảnh thọ giáo thiêng liêng giữa người cho chữ và người nhận chữ. Lời khuyên dạy đĩnh đạc của Huấn Cao có khác gì một chúc thư về lẽ sống trước khi ông đi vào cõi bất tử. Và lời khuyên đầy tình người ấy có sức mạnh cảm hóa một tâm hồn bây lâu nay vẫn cam chịu nô lệ, một con người lầm đường trở về với cuộc sống lương thiện. Câu nói nghẹn ngào trong nước mắt của viên quản ngục đã nêu bật sự chiến thắng của cái đẹp, cái thiện, của thiên lương con người: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh".
Tóm những chiến thắng trong cảnh cho chữ đã giúp ta hiểu hơn khát vọng mà nhà văn Nguyễn Tuân gửi gắm. Biết bao người đã tìm thấy sự đồng cảm ở đó. Cảnh cho chữ cũng làm nổi bật ý nghĩa nhân văn và giá trị nhân đạo của những chiến thắng tuyệt vời đó. | Cảm nhận về cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục trong truyện Chữ người tử tù | 1,032 | |
Cảm nhận về giọng điệu vui đùa, tinh thần lạc quan, phong thái ung dung của người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Tức cảnh Pác Bó
Hướng dẫn
—HS nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ để thấy người chiến sĩ sống và làm việc trong hang Pác Bó – trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn, điều kiện sinh hoạt gian khổ, thiếu thốn. Trong hoàn cảnh đó, tinh thần và ý chí của người chiến sĩ như thế nào?
—Bốn câu thơ của bài thơ tự nhiên, bình dị thể hiện một giọng điệu vui đùa, hóm hỉnh. Giọng điệu, từ ngữ, hình ảnh thơ và cách nói của Người toát lên một niềm vui thích, sảng khoái cao độ của nhân vật trữ tình. HS phân tích để thấy giọng điệu thoải mái, hòa điệu nhịp nhàng với cuộc sống núi rừng của người chiến sĩ (câu thơ đầu), giọng điệu vui đùa, hóm hỉnh khi nói về lương thực của núi rừng: luôn sẵn sàng — những thực phẩm có sẵn của núi rừng (câu thơ thứ hai), giọng điệu mạnh mẽ (ba thanh trắc đi liền: dịch sử Đảng) khi nói về điều kiện làm việc thô sơ ở núi rừng: hàn đá chông chênh (câu thơ thứ ba).
—Tinh thần lạc quan, phong thái ung dung của người chiến sĩ cách mạng được thể hiện ở niềm vui, sự thích thú trong cuộc sống đầy gian khổ ở núi rừ.ig: ngủ trong hang tối, ăn cháo bẹ rau măng, bàn làm việc là tảng đá chông chênh. Người chiến sĩ ở đây cảm thấy: Cuộc đời cách mạng thật là sang. Sang ở đây là sang trọng, tức là người chiến sĩ không những cảm thấy dồi dào, giàu có về vật chất mà còn cảm thấy sự cao quý, đáng kính trọng. Đó là sự sang trọng, giàu có về mặt tinh thần của những cuộc đời làm cách mạng lấy lí tưởng cứu nước làm lẽ sống, không hề bị những khó khăn, gian khổ làm cho khuất phục. Đó cũng là cái giàu sang của một nhà thơ luôn tìm thấy sự hài hòa với tự nhiên, thư thái với thiên nhiên. Đó là tinh thần lạc quan, tin tưởng ở sự nghiệp cách mạng gian khổ nhưng sẽ giành thắng lợi. Tinh thần bài thơ được kết tinh và tỏa sáng ở từ sang cuối bài thơ. | Cảm nhận về giọng điệu vui đùa, tinh thần lạc quan, phong thái ung dung của người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Tức cảnh Pác Bó | 406 | |
Cảm nhận về hai đoạn cuối của bài thơ Đất nước
Hướng dẫn
Cảm nhận về hai đoạn cuối của bài thơ Đất nước
Đình Thi là một người có nhiều tài năng như là vẽ tranh, soạn nhạc, viết văn, làm thư… Và ở lĩnh vực nào ông cũng đạt được những thành tựu xuất sắc nhưng đáng kể đến nhất đó chính là thơ ca. Trong thơ ông chứa đựng nhiều suy tư và cảm xúc về chiến tranh, về con người tình yêu đất nước. Đặc biệt ông có bài thơ đằm thắm và thiết tha khi viết về quê hương đất nước trong đau thương đã vùng lên chiến đấu và giành thắng lợi. Và đất nước là một bài như thế. Đặc biệt ở hai đoạn cuối cùng của bài thơ đã nói lên được phần nào về hình ảnh đau thương của đất nước và những người áo vải đã đứng lên đấu tranh giành chiến thắng.
Đất nước là cảm hứng thi ca mang tính chất tổng hợp về chủ Đất Nước, đó là cảm xúc về mùa thu Hà Nội, chiến khu Việt Bắc và cao hơn nữa đó là những cảm xúc về ca dao cho đất nước từ trong thương đau.
Đây là hình ảnh về đất nước ta từ trong đau thương tiến lên đấu tranh giành được chiến thắng. Đầu tiên đó là hình ảnh đất nước ở trong đau thương, tác giả bắt đầu bằng những câu thơ có sức gợi tả cao:
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”
Bọn thực dân đã làm cho những cánh đồng quê của chúng ta chảy máu, đó là máu của hoàng hôn hay là tội ác của quân giặc làm nhuốm máu của đồng bào ta. Con đường hành quân của chúng ta đầy rẩy những bẫy của kẻ thù, những đồn bốt của địch. Những đồn ấy có những hàng thép gai đâm nát cả trời chiều, nó in đậm lên cả nền trời. Rồi những đêm dài trên đường hành quân làm cho những người chiến sĩ yêu nước nhớ tới mắt người yêu của mình.
Đất nước hiện lên khi đau thương nhưng từ cái đau thương ấy đất nước ta lại vùng lên để chiến đấu anh dũng hơn:
“Từ những năm đau thương chiến đấu
Đã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Đã bật lên những tiếng căm hờn”
Đất nước nhân dân ta phải chịu nhiều đắng cay tủi nhục
“bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta”
Đó là những tiếng khóc, tiếng than xé đau lòng, sự ngang tàng ấy đã làm cho dân ta thấy căm hờn, căm hờn đó nhân rộng ra cả một dân tộc, cả dân tộc đó đang rên xiết ở dưới mũi giày của chúng. Nhân dân ta quanh năm chỉ biết đến với lũy tre làng nhưng khi chúng đã xâm phạm tới thì những gốc lúa bờ tre ấy cũng quật lên để khởi nghĩa.
“Ôm đất nước những người áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng”
Dẫu biết rằng có thể hi sinh ngoài mặt trận nhưng mà nghĩ đến đất nước độc lập thì ý chí của những người chiến sĩ lại rực sáng lên soi sáng ngọn lửa đấu tranh. Đoạn thơ cuối chính là hình ảnh quật khởi chiến thắng của nhân dân ta. Một loạt việt Nam đau thương đứng lên khởi nghĩa có âm thanh của tiếng súng và tức nước thì vỡ bờ, người áo vải đã rũ bùn đứng dậy sáng lòa:
“Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”
Qua đây chúng ta có thể thấy được Nguyễn Đình Thi đã mang tới cho chúng ta một hình ảnh về đất nước vô cùng tươi đẹp, đó là một đất nước trải qua nhiều thương đau nhưng cuối cùng cũng thành công, mang đến niềm hi vọng vào tương lại tươi sáng hơn.
Nguồn: Bài văn hay | Cảm nhận về hai đoạn cuối của bài thơ Đất nước | 680 | |
Cảm nhận về hai đoạn đầu bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi
Hướng dẫn
Cảm nhận về hai đoạn đầu bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi
Nguyễn Đình Thi là một nhà thơ tỏa sáng trên nền trời văn học Việt Nam Và ở lĩnh vực nào ông cũng đạt được những thành tựu xuất sắc nhưng đáng kể đến nhất đó chính là thơ ca. Trong thơ ông chứa đựng nhiều suy tư và cảm xúc về chiến tranh, về con người,tình yêu đất nước. Đặc biệt ông có bài thơ đằm thắm và thiết tha khi viết về quê hương đất nước trong đau thương đã vùng lên chiến đấu giành thắng lợi. Và đất nước là một bài như thế. Riêng hai đoạn thơ đầu tiên, mùa thu của Hà Nội và mùa thu hiện tại ở Việt Bắc hiện lên thật đẹp.
Đất nước là cảm hứng thi ca mang tính chất tổng hợp về chủ Đất Nước, đó là cảm xúc về mùa thu Hà Nội, chiến khu Việt Bắc và cao hơn nữa đó là những cảm xúc về ca dao cho đất nước từ trong thương đau.
Trước hết tới với những câu thơ đầu tiên nói về cảm xúc của mùa thu Hà Nội, đó là những câu thơ mang chan chứa tình cảm yêu thương và gắn bó của nhà thơ đối với quê hương mình:
“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi màu thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Sau lưng thèm nắng lá rơi đầy”
Đây chính là Hà Nội trong con mắt hoài niệm. Vì những gì hoài niệm thường nhớ rõ nhất và sâu sắc nhất. Câu thơ mở ra với không gian buổi sáng sớm tinh khôi. Tác gỉa đang đứng ở chiến khu Việt Bắc và nhớ tới những tháng năm xưa ở Hà Nội. Mùa thu Hà Nội hiện lên có cả cảnh vật và cả con người. Cảnh vật lúc đó có cái chớm lạnh, chớm ở đây có nghĩa là chỉ mới se lạnh thoảng những cơn gió. Đây chính là khoảnh khắc giao mùa và phải chăng đây chính là cái lạnh tỏa ra từ lòng người?
Từ “lạnh” này gợi cho chúng ta liên tưởng về một Hà Nội đẹp, có lá vàng rơi, có hơi lạnh của đầu mùa nhưng cũng chưa thực sự là lạnh. Cái lạnh đang đến dần với người dân Hà Nội nhưng vẫn còn e ấp giống như một sự báo hiệu bắt đầu của thiên nhiên. Cái lạnh đó không phải là cắt da cắt thịt mà giống như một sự ban tặng từ thiên nhiên, đặc biệt là cho người nghệ sĩ.
Đến với câu thơ “ Những phố dài xao xác hơi may”, tác giả đã rất khéo léo khi sử dụng biện pháp đảo trật tự cú pháp cộng với từ láy tượng thanh, từ “xao xác” thể hiện cái buồn nhẹ của buổi chiều heo may.
Con người ở đây cũng hiện lên với một hình ảnh vô cùng đẹp, đó là tư thế “người ra đi đầu không ngoảnh lại” thể hiện được sự dứt khoát từ giã phố cũ trường xưa để đi chiến đấu. Bước đi đó dứt khoát nhưng vẫn có thể cảm nhận được sau lưng có tiếng lá rơi, không khỏi sự bịn rịn vấn vương.
Sang ở đoạn thơ thứ hai, nhà thơ đã thể hiện cảm xúc của mình về mùa thu hiện tại ở chiến khu việt Bắc:
“Mùa thu nay đã khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc tiếng nói cười thiết tha”
Câu thơ giống như lời chuyển đọan về cảm xúc của mùa thu. Cùng là một mùa thu nhưng ở chiến khu Việt Bắc tác giả cảm thấy lòng mình vui đến là, đó là tiếng vui reo của mùa thu đất trời tự do. Nó thể hiện được sự phấn chấn của thi nhân trước những đổi thay của đất nước. Ba câu thơ sau tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hóa,nhà thơ đã khoác lên mùa thu một chiếc áo mới được dệt bằng niềm hạnh phúc và sự tự do. Đặc biệt là ở câu cuối cùng có sự kết hợp giữa âm thanh và giai điệu để có thể mở ra một không gian rộng lớn hơn.
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về”
Bằng các điệp ngữ cùng với các thủ pháp điệp,nhà thơ đã khẳng định được chủ quyền của đất nước. đó là đất,là trời, là dòng sống đỏ nặng phù sa…tất cả đều là truyền thống chiến đấu quý báu của dân tộc ta. Và ở đoạn thơ này đã khắc họa rõ nét nhất về khí thế mới tươi vui của dân tộc và náo nức phấn chấn tự hào về đất nước
Như vậy, chỉ với hai đoạn thơ đầu tiên nhưng tác giả đã rất khéo léo trong việc miêu tả hoài niệm về mùa thu ở Hà Nội và mùa thu hiện tại ở Việt Bắc. Với lời thơ nhẹ nhàng tha thiết đã để lại được ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Nguồn: Bài văn hay | Cảm nhận về hai đoạn đầu bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi | 913 | |
Cảm nhận về hai đoạn đầu bài Đất nước
Hướng dẫn
Cảm nhận về hai đoạn đầu bài Đất nước
Bài làm
Nguyễn Đình Thi là một nhà thơ tỏa sáng trên nền trời văn học Việt Nam Và ở lĩnh vực nào ông cũng đạt được những thành tựu xuất sắc nhưng đáng kể đến nhất đó chính là thơ ca. Trong thơ ông chứa đựng nhiều suy tư và cảm xúc về chiến tranh, về con người,tình yêu đất nước. Đặc biệt ông có bài thơ đằm thắm và thiết tha khi viết về quê hương đất nước trong đau thương đã vùng lên chiến đấu giành thắng lợi. Và đất nước là một bài như thế. Riêng hai đoạn thơ đầu tiên, mùa thu của Hà Nội và mùa thu hiện tại ở Việt Bắc hiện lên thật đẹp.
Đất nước là cảm hứng thi ca mang tính chất tổng hợp về chủ Đất Nước, đó là cảm xúc về mùa thu Hà Nội, chiến khu Việt Bắc và cao hơn nữa đó là những cảm xúc về ca dao cho đất nước từ trong thương đau.
Trước hết tới với những câu thơ đầu tiên nói về cảm xúc của mùa thu Hà Nội, đó là những câu thơ mang chan chứa tình cảm yêu thương và gắn bó của nhà thơ đối với quê hương mình:
“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi màu thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Sau lưng thèm nắng lá rơi đầy”
Đây chính là Hà Nội trong con mắt hoài niệm. Vì những gì hoài niệm thường nhớ rõ nhất và sâu sắc nhất. Câu thơ mở ra với không gian buổi sáng sớm tinh khôi. Tác gỉa đang đứng ở chiến khu Việt Bắc và nhớ tới những tháng năm xưa ở Hà Nội. Mùa thu Hà Nội hiện lên có cả cảnh vật và cả con người. Cảnh vật lúc đó có cái chớm lạnh, chớm ở đây có nghĩa là chỉ mới se lạnh thoảng những cơn gió. Đây chính là khoảnh khắc giao mùa và phải chăng đây chính là cái lạnh tỏa ra từ lòng người?
Từ “lạnh” này gợi cho chúng ta liên tưởng về một Hà Nội đẹp, có lá vàng rơi, có hơi lạnh của đầu mùa nhưng cũng chưa thực sự là lạnh. Cái lạnh đang đến dần với người dân Hà Nội nhưng vẫn còn e ấp giống như một sự báo hiệu bắt đầu của thiên nhiên. Cái lạnh đó không phải là cắt da cắt thịt mà giống như một sự ban tặng từ thiên nhiên, đặc biệt là cho người nghệ sĩ.
Đến với câu thơ “ Những phố dài xao xác hơi may”, tác giả đã rất khéo léo khi sử dụng biện pháp đảo trật tự cú pháp cộng với từ láy tượng thanh, từ “xao xác” thể hiện cái buồn nhẹ của buổi chiều heo may.
Con người ở đây cũng hiện lên với một hình ảnh vô cùng đẹp, đó là tư thế “người ra đi đầu không ngoảnh lại” thể hiện được sự dứt khoát từ giã phố cũ trường xưa để đi chiến đấu. Bước đi đó dứt khoát nhưng vẫn có thể cảm nhận được sau lưng có tiếng lá rơi, không khỏi sự bịn rịn vấn vương.
Sang ở đoạn thơ thứ hai, nhà thơ đã thể hiện cảm xúc của mình về mùa thu hiện tại ở chiến khu việt Bắc:
“Mùa thu nay đã khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc tiếng nói cười thiết tha”
Câu thơ giống như lời chuyển đoạn về cảm xúc của mùa thu. Cùng là một mùa thu nhưng ở chiến khu Việt Bắc tác giả cảm thấy lòng mình vui đến là, đó là tiếng vui reo của mùa thu đất trời tự do. Nó thể hiện được sự phấn chấn của thi nhân trước những đổi thay của đất nước. Ba câu thơ sau tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hóa,nhà thơ đã khoác lên mùa thu một chiếc áo mới được dệt bằng niềm hạnh phúc và sự tự do. Đặc biệt là ở câu cuối cùng có sự kết hợp giữa âm thanh và giai điệu để có thể mở ra một không gian rộng lớn hơn.
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về”
Bằng các điệp ngữ cùng với các thủ pháp điệp,nhà thơ đã khẳng định được chủ quyền của đất nước. đó là đất,là trời, là dòng sống đỏ nặng phù sa…tất cả đều là truyền thống chiến đấu quý báu của dân tộc ta. Và ở đoạn thơ này đã khắc họa rõ nét nhất về khí thế mới tươi vui của dân tộc và náo nức phấn chấn tự hào về đất nước
Như vậy, chỉ với hai đoạn thơ đầu tiên nhưng tác giả đã rất khéo léo trong việc miêu tả hoài niệm về mùa thu ở Hà Nội và mùa thu hiện tại ở Việt Bắc. Với lời thơ nhẹ nhàng tha thiết đã để lại được ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. | Cảm nhận về hai đoạn đầu bài Đất nước | 903 | |
Đề bài: Cảm nhận về hình tượng Lor-ca trong bài thơ Tiếng đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo
Bài làm
Lor-ca là nhà thơ lỗi lạc, là chiến sĩ tiên phong chông phát xít của Tây Ban Nha trong thế kỉ XX. Ngày 19-8-1936, ông đã bị bọn phát xít Phrăng-cô sát hại dã man. Thanh Thảo đã nhắc lại câu thơ của Lor-ca “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn" vừa là đề từ cho bài thơ, vừa như nguyện cầu cho linh hồn Lor-ca, nhà nghệ sĩ tài ba.
Lor-ca đã nhiều năm ngồi vắt vẻo trên yên ngựa, mặc áo choàng đỏ như các lực sĩ đấu bò tót, khoác chiếc đàn ghi ta sau lưng đi rong ruổi ngược xuôi khắp đất nước Tây Ban Nha để sưu tầm dân ca, đế học tập những điệu hát đồng quê.Tiếng đàn của chàng nghệ sĩ cứ sưu tầm dân ca, để học tập những điệu hát đồng quê dân dã. Tiếng đàn của chàng nghệ sĩ cứ “tan” ra như bọt nước. Các hình ảnh “áo choàng đỏ gắt”, "vầng trăng chểnh choáng”, “yên ngựa mỏi mòn ” và các từ láy lang thang, đơn độc, chếnh choáng mỏi mòn phối âmvới tiếng đàn “li-la li-la li-la” như tan ra trong không trung, đã gợi lên bao lien tưởng về nhà thơ thiên tài, về nhạc sĩ Lor-ca xa xôi thuở ấy:
Những tiếng đàn bọt nước Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng trên yên ngựa mỏi món
Khổ thơ thứ hai, thứ ba tái hiện lại giây phút “kinh hoàng” khi Lor-ca người chiến sĩ đấu tranh cho tự do đã bị bọn phát xít Phrăng-cô dẫn ra pháp trường sát hại. Chàng nghệ sĩ “đi như người mộng du” giữa bầy ác quỷ, tiếng hát nghêu ngao và tiếng đàn cùa chàng “bỗng kinh hoàng", “đứt ngang giây”. chỉ còn lại, chỉ nhìn thấy “áo choàng bê bết đỏ’’.
Lor-ca đã ngã xuống trước làn đạn của bè lũ phát xít dã man, đã để lại một “bầu trời” thương nhớ mênh mông cho “cô gái ấy”, cho người yêu (nàng An-na Ma-ri-a)! “Tiếng ghi ta nâu”, “tiếng ghi ta lá xanh” là biểu tượng cho một tâm hồn nghệ sĩ mang một tình yêu tha thiết và yêu đời, gắn bó với quê hương, với nhân dân. Sau loạt đạn của quân thù, một tài năng đã bị hủy diệt; tiếng đàn bị “vỡ tan" như bọt nước, bị “đứt ngang dây”, với bao máu đỏ chảy “ròng ròng’ Thanh Thảo qua các ẩn dụ, so sánh, tượng trưng và điệp ngữ đã tạo nên những vần thơ giàu hình tượng và biểu cảm, bộc lộ nỗi tiếc thương Lor-ca, một thiên tài bị cái ác sát hại. Điệp ngữ “tiếng ghi ta” bốn lần vang lên như tiếng nói, tiếng nấc nghẹn nghào:
Tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mẩy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy
Phần cuối bài thơ (13) câu, Thanh Thảo dùng lối nói phủ định để khẳng định một chân lí, để ca ngợi sự bất tử của người nghệ sĩ. Không ai có thể chôn cất được tiếng đàn? Sắc đẹp cùa giai nhân, tài năng nghệ sĩ có thế lực nào có thế “chôn cất” được? Có gì nhiều bằng cỏ? Có gì xanh bằng cỏ? Có gì sống mãnh liệt bằng cỏ trên mặt đất bao la? Và vầng trăng thì vĩnh hằng cùng vũ trụ mênh mông. Lor-ca cũng vậy. Cuộc đời chỉ có 38 mùa xuân nhưng tài năng và tinh thần của nhà thơ, nhà nghệ sĩ mãi mãi bất diệt như tiếng đàn ghi ta. Như cỏ xanh trên thảo nguyên, như vầng trăng trên bầu trời lấp lánh soi đáy giếng. Thơ Thanh Thảo tuy hạn chế về vần điệu, nhưng anh đã tạo nên được một số hình ảnh, một số đường nét đầy ấn tượng để khẳng định Lor-ca “thác là thề phách, còn là tình anh”:
Không ai chôn cất tiếng đàn
Tiếng đàn như cỏ mọc hoang
Giọt nước mắt vầng trăng
Long lanh trong đáy giếng
Tài sắc cùa nàng Kiều còn mãi trong tâm hồn những chàng Kim trong cõi đời. Tiếng đàn, tiếng hát “thậm hay” của anh Trương Chi vẫn còn thổn thức tâm hồn thiếu nữ gần xa. Tiếng đàn diệu huyền của cô cầm mà thi hào Nguyễn Du đã nhắc tới trong bài thơ chữ Hán “Long Thành cầm giả ca” vẫn còn vang vọng khắp 36 phố phường Hà Nội hôm nay và ngày mai! Hình như Thanh Thảo đã “nghĩ tới” những tài năng và thân phận đầy bi kịch ấy khi viết những dòng thơ trên đáy?
Khi số phận đã hết, “đường chỉ tay đã đứt", Lor-ca bước sang thế giới bên kia, đã “bơi sang ngang” dòng sóng với chiếc ghi ta “màu bạc”. Chàng nghệ sĩ đã bỏ lại đời, “ném lại” tình yêu và số phận mình vào “xoáy nước” cuộc đời đầy máu và nước mắt. để ra đi. Và âm thanh “li-la li-la Li-la” diệu huyền của tiếng đàn ghi ta cứ vang vọng mãi, cứ “ròng ròng – máu chảy” mãi, đế lại bao đau đớn tiếc thương trong lòng người.
Lor-ca như một lực sĩ đấu bò tót. Lor-ca áo choàng bê bết máu đỏ trên pháp trường. Lor-ca đã đi vào cõi bất tử và để lại tiếng đàn ghi ta. Đó là cấu tứ của bài thơ, cũng là hình tượng Lor-ca qua bài thơ của Thanh Thảo mà chúng ta đã cảm nhận được.
Bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” là tiếng khóc thương, là tính đồng điệu thiên tài một nhà thơ xứ Quảng miền Trung Việt Nam gửi tới hương hồn nhà xứ sở Grê-na-đa bên trời Ảu. Có những câu thơ của Thanh Thảo cất lên khóc “ròng ròng máu chảy"… | Cảm nhận về hình tượng Lor-ca trong bài thơ Tiếng đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo | 1,004 | |
Đề bài: Cảm nhận về hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ khi đọc Hồi thứ mười bốn rút trong cuốn Hoàng Lê nhất thống chí
Bài làm
Nguyễn Huệ, vị chiến tướng dùng kì mưu hạ thành Phú Xuân. Nguyễn Huệ, vị thống tướng đã tiêu diệt 3 vạn quân Xiêm xâm lược tại Rạch Gầm – Xoài Mút trong một trận thuỷ chiến trời long đất lở. Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải đã đạp đổ ngai vàng chúa Trịnh ở Đàng Ngoài rồi kết duyên cùng công chúa Ngọc Hân làm chấn động Bắc Hà. Nguyễn Huệ – vua Quang Trung đã tiêu diệt 29 vạn quân Thanh xâm lược, xây nên gò Đống Đa lịch sử bất tử.
Đọc Hồi thứ 14 Hoàng Lê nhất thống chí, hình tượng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã để lại trong tâm hồn ta bao ấn tượng không phai mờ.
Những tác giả – người con ưu tú của dòng họ “Ngô Thì" ở Tả Thanh Oai đã mượn lời nói của người cung nhân cũ từ phủ Trường Yên tâu với thái hậu, rất khách quan, để giới thiệu Nguyễn Huệ với sự tâm phục và kinh sợ. Vì là người ở phía bên kia, phe đối địch, nên đại từ “hắn" mà người cung nhân này dùng để chỉ Nguyễn Huệ cũng chẳng hề làm mờ đi bức truyền thần vị chiến tướng trăm trận trăm thắng.
“Không biết rằng, Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân. Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết. Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Ván Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt hắn. Thấy hắn trỏ tay, đưa mắt là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu, sợ hắn hơn sợ sấm sét”.
Nên biết lúc bấy giờ, Tôn Sĩ Nghị và 29 vạn quân Thanh đã đóng chật Thăng Long, coi nước ta chỉ là quận huyện của chúng, Lê Chiêu Thống đã được thiên triều cho làm An Nam quốc vương, nhưng với cái nhìn sắc sảo, người cung nhân cũ đã chỉ ra sự bại vong tất yếu của bọn cướp nước và bè lũ bán nước: “E rằng chẳng mấy lâu nữa, hắn lại trở ra, tổng đốc họ Tôn đem thứ quân nhớ nhà kia mà chống chọi, thì địch sao cho nổi?”. Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa năm 1789 đã cho thấy lời nói ấy là một dự báo linh nghiệm, một chân lí lịch sử rất hùng hồn.
Nguyễn Huệ là một con người “biết nghe và quyết đoán”. Ngày 24 tháng chạp năm Mậu Thân (1788) nhận được tin cáo cấp do Nguyễn Văn Tuyết đưa vào, Nguyễn Huệ “giận lắm” định “cầm quân đi ngay" nhưng trước lời bàn “hay chính vị hiệu", ông đã nghe theo để “giữ lấy lòng người" rồi mới xuất quân đánh dẹp cõi Bắc. Việc đắp đàn ở núi Bân, tế trời đất, thần sông, thần núi, lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung chứng tỏ cái tầm nhìn chiến lược của người anh hùng áo vải khi Tổ quốc đứng trước họa xâm lăng.
Cứu nước như cứu lửa. Ngày 25 còn ở Thuận Hóa thế mà 29 đã hành quân tới Nghệ An: gặp cống sĩ Nguyễn Thiếp, mộ thêm một vạn tinh binh, tổ chức duyệt binh lớn và truyền hịch đánh giặc cứu nước để kích thích chí khí tướng sĩ và ba quân “đồng tâm hiệp lực, để đựng nên công lớn”, nghiêm khắc cảnh cáo những kẻ “ăn ở hai lòng… sẽ bị giết ngay tức khắc", (vạch trần thói tàn bạo tham tàn của người phương Bắc để kích thích lòng căm thù, kêu gọi tướng sĩ noi gương Trưng Nữ Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Trần Hưng Đạo, Lê Thái Tổ… để quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi….).
Chỉ hơn một ngày đêm, Nguyễn Huệ đã kéo quân tới Tam Điệp hội sư với cánh quân của Đại tư mã Ngô Văn Sở. Ông ra lệnh cho tướng sĩ ăn Tết trước, hẹn đến mùng 7 vào Thăng Long sẽ mở tiệc ăn mừng, rồi chia đại quân thành 5 đạo binh lớn “gióng trống lên đường ra Bắc".
Nguyễn Huệ thật “lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân”: Ông đã lấy yếu tố bất ngờ để đánh thắng giặc: bắt sống toàn bộ quân giặc do thám ở sông Thanh Quyết và đồn Hà Hồi, bao vây tiêu diệt đồn Ngọc Hồi, hàng vạn giặc bị giết “thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối". Tại đầm Mực làng Quỳnh Đô, giặc Thanh bị hợp vây, “quân Tây Sơn lùa voi cho giày đạp, chết đến hàng vạn người". Trong khi đó, một trận “rồng lửa” đã diễn ra ác liệt tại Khương Thượng, xác giặc chất thành 12 gò cao như núi. Nguyễn Huệ đã tiến công như vũ bão, khác nào “Tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên", làm cho Tôn Sĩ Nghị “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp… nhắm hướng bắc mà chạy". Trưa mùng 5, Nguyễn Huệ và đại quân đã kéo vào thành Thăng Long trước kế hoạch 2 ngày.
Nhãn quan quân sự – chính trị của Nguyễn Huệ vô cùng sâu rộng và sáng suốt. Trên đường tiến quân đánh giặc Thanh, ông đã giao cho Ngô Thì Nhậm “người khéo lời lẽ" để “dẹp nổi việc binh đao”, đem lại “phúc cho dân”.
Chiến thắng Đống Đa năm Kỉ Dậu (1789) là một trang sử chống xâm lăng vô cùng chói lọi của dân tộc ta. Nó thể hiện sức mạnh vô địch của lòng yêu nước và tinh thần quyết chiến quyết thắng giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Nó đã dựng nên tượng đài tráng lệ, hùng vĩ người anh hùng áo vải – vua Quang Trung để dân tộc ta đời đời tự hào và ngưỡng mộ:
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước xiết bao công trình.
(Ai tư vãn – Ngọc Hân công chúa)
Xây dựng và khắc họa hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ là một thành công đặc sắc. Nó làm cho trang văn Hoàng Lê nhất thống chí thấm đẫm chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng Đại Việt. | Cảm nhận về hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ khi đọc Hồi thứ mười bốn rút trong cuốn Hoàng Lê nhất thống chí | 1,082 | |
Cảm nhận về hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh
Hướng dẫn
Cảm nhận về hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh
Bài làm
Tình yêu – một đề tài từng làm rung động trái tim biết bao người và ngân lên thành biết bao lời thơ nhân loai. Mỗi một nhà thơ tìm đến một cách biểu hiện khác nhau: một tình yêu mang yếu tố triết lý trong thơ Tago, một tình yêu nồng nàn đắm say trong thơ Puskin, một tình yêu rạo rực tràn đầy cảm xúc trong thơ Xuân Diệu và đến với bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh tôi bắt gặp một cảm xúc tình yêu đầy trăn trở khát khao của tâm hồn người phụ nữ trong khát vọng hạnh phúc đời thường.
Là người phụ nữ nổi tiếng nhất trong nền thơ hiện đại Việt Nam, qua đời sớm nhưng Xuân Quỳnh đã kịp để lại cho những người yêu nghệ thuật những tác phầm thơ lớn và kịp hình thành cho mình một phong cách nghệ thuật riêng. Đến với thơ của chị, người ta thấy một Xuân Quỳnh hồn nhiên khi viết về đề tài thiếu nhi và đặc biệt một Xuân Quỳnh đằm thắm, nồng nàn trong xúc cảm tình yêu. Cảm xúc tình yêu trong thơ chị mang vẻ đẹp không thể hòa lẫn: đó là sự trân thành mãnh liệt nhưng không kém phần sâu sắc, đó là sự dung dị trong thế giới hình ảnh và giọng điệu. Và trên hết là hồn thơ nữ trăn trở, đầy âu lo trong những khát vọng hạnh phúc đời thường:
“Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Biết khát khao những điều anh mơ ước
Biết xúc động qua nhiều nhận thức
Biết yêu anh và biết được anh yêu”
“Sóng là một trong hàng trăm bài thơ tình nổi tiếng Việt Nam thế kỉ 20. Bài thơ được viết những năm 1967, trong khí thế của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Vì vậy, sóng được ví là “một bông lạ mà Xuân Quỳnh hái dọc chiến hào”. Sóng là lời bộc bạch của tâm hồn người phụ nữ về những cung bậc, sắc màu tâm trạng khi đang yêu: khát khao, trăn trở, lo âu, thủy chung và mong mỏi hoàn thiện mình trong tình yêu. Tất cả đều được thể hiện sinh động qua hình tượng ẩn dụ xuyên suốt bài thơ: hình tượng Sóng
Đến với bài thơ, bạn đọc cảm nhận được hình tượng sóng qua chính âm điệu của bài thơ. Xuân Quỳnh sử dụng thể thơ 5 chữ, những câu thơ liền mạch, không ngắt nhịp, các khổ thơ nối kết bằng cách hiệp vần từ câu cuối của khổ trước xuống câu đầu khổ tiếp theo khiến bài thơ có âm điệu dào dạt, nhịp nhàng, lúc sôi nổi trào dâng lúc thầm thì sâu lắng gợi âm hưởng những đợt sóng mien man vỗ vào bờ. Lắng nghe trong từng nhịp sống cũng là nhịp đập tâm hồn của con người với biết bao khát khao, rạo rực yêu đương đang muốn giãi bày, muốn được chia sẻ. Tôi thấy Xuân Quỳnh tạo nên một cấu tứ rất độc đáo. Cả bài thơ là sự đan xen, hòa quyện của hai hình tượng sóng và em. Hai hình tượng khi thì tách riêng đối diện soi chiếu vào nhau khi lại hòa quyện để diễn tả những cảm xúc, nỗi niềm của trái tim đang yêu. Đứng trước biển, lòng người phụ nữ cảm nhận những âm thanh xao động của tiếng sóng có sự đồng điệu với tiếng lòng người con gái. Vì vậy, hình tượng sóng chính là ẩn dụ cho thế giới nội tâm người phụ nữ trong cuộc hành trình lý giải, nhận thức tâm hồn mình khi yêu.
“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ”
Nhân vật trữ tình đã thổ lộ một cách chân thành những cảm nhận về tính khí của sóng. Sóng – hình tượng thiên nhiên với muôn vàn trạng thái đối cực: khi thì dữ dội, ồn ào xô vào bờ cát, lúc lại lặng lẽ, dịu êm. Hai trạng thái đối cực nhưng thống nhất trong một bản thể. Từ “và” kết nối hai vế thơ đã nói lên điều ấy. Một loạt hình ảnh tương phản đã vẽ nên trước mắt tôi vô vàn con sóng bao la của đại dương. Ở nơi này sóng có thể lăn tăn dịu dàng vỗ vào bờ cát, ở nơi kia sóng lại cồn lên với sức mạnh vô cùng. Đó cũng là trạng thái tâm hồn của người phụ nữ đang yêu. Lắng nghe trong nhịp điệu từng con sóng là nhịp điệu tâm hồn người phụ nữ: phong phú, phức tạp, đầy mâu thuẫn. Quy luật tình yêu ấy đã được không ít các nhà thơ trên thế giới nói đến: “Khi chưa yêu em / Anh mới sống cuộc đời một nửa / Chưa biết nỗi đắng cay ngọt ngào và sự lạnh lung bốc lửa” (Pneruda), Puskin cũng từng triết lý “Trái tim có những quy luật riêng mà lí trí không thể nào hiểu nổi”. Như vây, cảm xúc con người khi yêu luôn chứa đựng những trạng thái phong phú và phức tạp. Chính ở bàu thơ Thuyền và biển, Xuân Quỳnh cũng khẳng định “Những đêm trăng hiền từ / Biển như cô gái nhỏ / Thầm thì gửi tâm tư / Qua mạn thuyền sóng vỗ / Cũng có khi vô cớ / Biển ào ạt xô thuyền / Bởi tình yêu muôn thuở / Có bao giờ đứng yên”. Thơ Xuân Quỳnh là vậy, luôn là sự đối lập giữa bình yên và bão tố, ngọt ngào và đắng cay, đối lập nhưng thống nhất trong sóng và trong tâm hồn em.
Tình yêu chứa đựng biết bao nhiêu cảm xúc. Những cảm xúc ấy luôn luôn biến đổi, chính vì thế đón nhận tình yêu, thấu hiểu tình yêu với tâm hồn người phụ nữ đang yêu đâu phải điều dễ dàng. Con sóng của Xuân Quỳnh sẵn sang vượt khỏi không gian chật hẹp của dòng sông, tìm ra biển lớn để mong nhận thức và lý giải tận cùng về tâm hồn mình khi yêu “Sông không hiểu nổi mình / Sóng tìm ra tận bể”. Cuộc hành trình của sóng từ sông ra bể là hành trình dằng dặc xa xôi, đầy gian khổ. Con sóng đi từ giới hạn chật hẹp vươn đến không gian vô cùng của tình yêu. Chỉ khi trở về với biển khơi bát ngát, sóng mới thực sự tìm thấy mình, mới nhận thức được sức mạnh và khát khao cháy bỏng trong tâm hồn mình. Cuộc hành trình của sóng hay chính là những khát vọng mạnh mẽ, mãnh liệt với những trăn trở, khát khao khám phá hết tâm hồn mình của người phụ nữ khi yêu. Đến với thế giới thơ Xuân Quỳnh, bạn đọc hơn một lần bắt gặp khát vọng tha thiết ấy “Núi cao bể rộng sông dài / Tôi đi khắp chốn tìm người tôi yêu”. Có lẽ chính vì thế mà những con sóng của đại dương bao la đã trở thành khát vọng cho tình yêu vĩnh cửu “Ôi con sóng ngày xưa /Và ngày sau vẫn thế /Nỗi khát vọng tình yêu /Bồi hồi trong ngực trẻ”. Nhà thơ đã sử dụng một hệ thống từ ngữ để khẳng định sự tồn tại muôn đời của những con sóng ấy: ngày xưa, ngày sau, vẫn thế. Nỗi khát vọng tình yêu, khát vọng lý giải trái tim mình khi yêu đã trở thành khát vọng muôn đời như chị đã từng viết “Bởi tình yêu muôn thuở / Có bao giờ đứng yên”.
Từ nhận thức sự phức tạp trong tình yêu của người phụ nữ, Xuân Quỳnh mượn hình tượng Sóng để lí giải những xúc cảm trong tâm hồn chính mình. Sóng là lời giãi bày những cung bậc cảm xúc phong phú đến kì lạ trong tâm hồn người phụ nữ trong men say tình yêu. Trước tình yêu, con người luôn khao khát tìm về cội nguồn lí giải tình cảm lớn lao kì diệu đang tràn ngập trong trái tim mình. Nhu cầu ấy càng trở nên tha thiết hơn khi đối diện với đại dương bao la:
“Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau”
Sóng và em, biển cả mênh mông và tình yêu vô tận đã đan cài, hòa quyện với nhau thật khó tách rời. Dường như hình ảnh này gọi dậy hình ảnh kia: Nhìn sóng mà nhớ đến tình yêu, cảm nhận về xúc cảm tình yêu mà lien tưởng đến muôn vàn con sóng. Trong đoạn thơ, những từ “Em nghĩ” lặp đi lặp lại khiến lời thơ trùng xuống như một sự suy tư. Người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh trăn trở câu hỏi về sự khởi đầu của sóng và sự khởi nguồn của tình yêu “Từ nơi nào sóng lên” và “Khi nào ta yêu nhau”. Khoa học có thể lý giải được ngọn nguồn của sóng: Sóng bắt đầu từ gió. Nhưng nếu đi đến tận cùng nguồn gốc của thiên nhiên thì cũng là điều khó lí giải “Gió bắt đầu từ đâu? /Em cũng không biết nữa”. Câu thơ “em cũng không biết nữa” được Xuân Quỳnh đặt khéo léo giữa hai câu hỏi về nguồn gốc của sóng và tình yêu “Em cũng không biết nữa / Khi nào ta yêu nhau”. Phải chăng đó là lời thú nhận hồn hậu, chân thành của người phụ nữ về sự bất lực của mình khi cố gắng lí giải đến tận cùng nguồn gốc của thiên nhiên và cội nguồn của tình yêu. Thiên nhiên có những bí ẩn và tình yêu cũng vậy. Chính Xuân Diệu cũng đã từng trăn trở về những băn khoăn trong tình yêu “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?”. Và xa hơn, thi sĩ Tago cũng viết “Nhưng em ơi trái tim anh lại là tình yêu / Những vui sướng khổ đau của nó là vô biên / Những thiếu thốn và khổ đau của nó là trường cửu’, vậy nên “Em là nữ hoàng của vương quốc đó / Nhưng em chẳng hiều gì về biên giới của nó đâu”. Hòa chung trong nguồn mạch ấy, Xuân Quỳnh đã khẳng định sự huyền diệu của tình yêu “Em cũng không biết nữa / Khi nào ta yeu nhau”. Nguồn gốc của tình yêu rất lạ lung, khó ai có thể tìm thấy câu trả lời: Tình yêu bắt đầu từ đâu. Sự hấp dẫn, điều kì diệu của tình yêu chính là ở chỗ đó. Trong lời thơ Xuân Quỳnh, nghe vẳng một chất giọng trẻ trung, nũng nịu, dễ thương của người con gái | Cảm nhận về hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh | 1,876 | |
Cảm nhận về hình ảnh người mẹ trong tác phẩm của Nguyên Hồng
Hướng dẫn
Cảm nhận về hình ảnh người mẹ trong tác phẩm của Nguyên Hồng
Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ âu yêm như ngọn gió chiều rì rào. Có trái tim người con nào không rung lên thổn thức trước mẹ. Nguyên Hồng có thể coi là nhà văn của tình mẫu tử thiêng liêng. Sáng tác của ông tuy không dành tất cả để khắc họa trọn vẹn chân dung người mẹ nhưng qua trang văn của ông, hình ảnh người mẹ vẫn gợi lên mối thương cảm lớn cho người đọc. Bằng chính những rung động cực điểm của một linh hồn bé dại về người mẹ yêu dấu của mình, Nguyên Hồng đã thành công khi viết về người mẹ qua một số trang văn được trích giảng trong nhà trường như: Trong lòng mẹ (trích Những ngày thơ ấu), truyện ngắn Mợ Du, Huệ Chi trước lễ cưới ( trích Sóng gầm):
Có một điều người đọc dễ nhận thấy, hầu hết hình ảnh người mẹ trong các sáng tác của Nguyên Hồng đều là những phụ nữ bất hạnh, nạn nhân của đói nghèo, lễ giáo nghiệt ngã, tình đời đen bạc như: người mẹ phải đồng sàng nhưng dị mộng với người chồng tuổi nhiều gấp đôi, rồi chồng cờ bạc, nghiện ngập, chết, khiến người mẹ phải tha phương cầu thực kiếm sống (Những ngày thơ ấu) hoặc người mẹ vì lỗi lầm mà bị ruồng rẫy phải bỏ nhà, xa con, gặp con trong đau khổ, lén lút (Mợ Du), chỉ hiện về trong ký ức của người con bất hạnh (Huệ Chi trước lễ cưới).
Phải chăng khi viết về những người mẹ này, Nguyên Hồng đã dứt khoát đứng về phía những con người bất hạnh để cảm thông, bênh vực, yêu thương bằng chủ nghĩa nhân đạo thống thiết.
Có nhà nghiên cứu cho rằng: Không có người mẹ thánh mẫu, không có nhà văn Nguyên Hồng. Phải chăng vì thế mà mở đầu cho thiên hồi ký Những ngày thơ ấu có dòng đề từ ngắn gọn mà kính cẩn: Kính tặng mẹ tôi. Và những dòng viết xúc động nhất trong tác phẩm đặc sắc này cũng là những dòng tình cảm thiết tha hướng về người mẹ hiền từ, bất hạnh, kết tinh ở chương IV, đoạn trích Trong lòng mẹ.
Muốn về quê mẹ mà không có đò
Không biết không gian buổi chiều buồn thương dễ lay động tới tình mẹ, tình quê hương trong trái tim mỗi người con hay không mà cảnh mẹ gặp con qua trang viết của Nguyên Hồng thường được bao bọc trong không gian là: buổi chiều. Chiều hôm đó, tan học ở trường ra, tôi nhìn thấy người đàn bà ngồi trên xe kéo giống mẹ tội… (Trong lòng mẹ) còn trong đoạn trích Huệ Chi trước lễ cưới thì Trời chiều gió to thêm, những cành lá hoàng lan, khế, me, bưởi, sấu reo như nổi sóng….
Nhưng cũng có một không gian tràn ngập ánh trăng đêm: ánh trăng cuồn cuộn, tràn trề hương hoa cau và hoa lý…
Như vậy, cảnh ngộ người mẹ gặp con qua trang viết của Nguyên Hồng, thường được tắm đẫm trong một không gian trữ tình, phù hợp với tình mẹ con.
Thạch Lam cho rằng: Trên trang viết của Nguyên Hồng nổi lên hình ảnh người mẹ chịu khổ và âu yếm, một người mẹ hiền từ mà tác giả nói đến với tất cả tình yêu tha thiết của người con.
Nhà thơ Lưu Trọng Lư đã từng nhớ về người mẹ thuở thiểu thời như thế này:
… Hình dáng mẹ tôi chửa xóa mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa…
Người mẹ trong hồi ức, trong mơ của Huệ Chi (Huệ Chi trước lễ cưới) cũng mang vẻ đẹp dịu dàng, lung linh đầy ấn tượng như thế: Vấn khăn tóc đuôi gài, gương mặt ngăm ngăm nâu, mắt bồ câu nửa vui, nửa buồn, răng hạt huyền, mặc áo the màu gụ…
Người mẹ qua ánh mắt yêu thương của bé Hồng, cũng phúc hậu, dịu hiền đẹp một vẻ đẹp khó quên. Người mẹ (Mợ Du) trong truyện ngắn cùng tên với gương mặt trắng mát, gò má hơi cao, mắt có quầng thâm….
Có thể nói, người mẹ trong sáng tác của Nguyên Hồng đều mang nét đẹp dịu dàng, thuần hậu rất Á Đông, nhưng cũng ẩn hiện nỗi buồn. Người đọc như thấy hình ảnh người mẹ qua trang viết của Nguyên Hồng có ẩn hiện dáng hình người mẹ, người chị ta xưa.
Người mẹ trong sáng tác của Nguyên Hồng, dù trong tình cảnh nào, dù có bị vùi dập đến đâu nhưng họ vẫn như đóa sen thơm ngát giữa bùn lầy, thương con, yêu con đến da diết.
Trong lòng mẹ- Đoạn trích miêu tả hình ảnh người mẹ sụt sùi khi gặp con: Con nín đi, mợ đã về với các con rồi mà. Bé Hồng khát khao được bé lại để cảm nhận trực tiếp người mẹ có một êm dịu vô cùng khi bàn tay mẹ vuốt ve, gãi rôm ở sống lưng… Đúng như suy nghĩ của bé, phải chăng sự sung sướng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà người mẹ vẫn tươi đẹp như thuở còn sung tức. Đúng là, người mẹ sống được là nhờ có con, niềm vui của mẹ trong cõi đời này đó chính là con.
Người mẹ trong Huệ Chi trước lễ cưới lại hiện ra với biết bao âu yếm, yêu thương: Trưa nay, tối nay mẹ lại nấu chè ngô non, chè đỗ đãi, lại luộc ngồng cải, thổi xôi hoa cau, chưng mắm cáy… lại rang tép riu cho con ăn nhé….
Truyện ngắn Mợ Du lại khắc hoạ hình ảnh người mẹ trong cảnh ngộ gặp con thương cảm đến rơi lệ. Người mẹ ấy dù lầm lỡ, nhưng vẫn yêu thương con đến thắt lòng. Mỗi lần trở về gặp con, là mỗi lần ngòi bút của Nguyên Hồng cũng rung lên nức nở: ảnh trăng vằng vặc, gội xuống tràn trề hoi gương mặt đầm đìa nước mắt áp lên nhau… Tiếng khóc dồn đập vỡ lở ở một góc vườn, rì rì tiếng dế. Người mẹ ấy hôn hít vào mả, vào trán Dũng khóc nức nở:
– Giời ơi! Giời ơi! Mợ chết mất! Dũng ơi! Dũng ơi!
Thế rồi người mẹ ấy đã trút hơi tàn với một bộ xương hốc hác, gồ ghề, xám xịt không người thân nơi đất khách quê người.
Phải chăng Mợ Du y mẹ của Dũng; mẹ của Huệ Chi hay người mẹ của bé Hồng đều là sự hóa thân từ một người mẹ. Đó là những mảnh đời khác nhau của một người mẹ đã sinh ra nhà văn Nguyên Hồng, để từ đó mỗi trang viết của ông, chính là tiếng lòng nức nở của đứa con yêu với người mẹ khổ đau của mình.
Nguyên Hồng được mệnh danh là nhà văn của phụ nữ và nhi đồng là vì vậy. | Cảm nhận về hình ảnh người mẹ trong tác phẩm của Nguyên Hồng | 1,211 | |
Cảm nhận về hình ảnh quê hương trong thơ Tế Hanh
Hướng dẫn
Cảm nhận về hình ảnh quê hương trong thơ Tế Hanh
Bài làm
Quê hương trong xa cách là nguồn đề tài vô tận, là cả một dòng cảm xúc dạt dào, lấp lánh suốt đời thơ Tế Hanh.Cái làng quê nghèo ở một cù lao trên sông Trà Bồng đã nuôi dưỡng tâm hồn Tế Hanh, đã trở thành nguồn cảm xúc vô tận để ông viết nên những vần thơ tha thiết, lai láng như: “Nhớ con sông quê hương”, “Quê hương”, “Trở lại con sông quê hương”. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất miền Trung – Quãng Ngãi, một vùng đất cằn cỗi, quanh năm chỉ có gió và cát, một vùng quê nghèo. Do hoàn cảnh bắt buộc, ông rời xa quê hương từ thuở thiếu thời. Trong thời gian xa quê ông viết rất nhiều tác phẩm, chủ yếu là về quê hương, bằng tất cả những tình yêu, nỗi nhớ của mình. Một vùng đất đầy thơ mộng và rất đẹp trong thơ Tế Hanh. Trong đó có nói con sông quê mà ông gắn bó:
Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Xa quê, xa cả con sông. Có thể nói đó là nỗi đau của ông.
Qua những kỉ niệm, hồi tưởng về con sông trong “nỗi nhớ con sông quê hương”, Tế Hanh đã thể hiện một tình yêu quê hương tha thiết, mãnh liệt, một hình ảnh quê hương thân thiết, ruột rà.
– Làng tôi ở vốn nghề chài lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
– Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Thế đấy, quê hương trong thơ Tế Hanh hiện lên đẹp và mát dịu như vậy. Còn người dân quê thì mạnh mẽ, tinh tế, sống động:
Có thân hình nồng thở vị xa xăm
Chỉ có ai là con người của sông nước, vạn chài mới có thể tạo được hình ảnh người dân chài giữa đất trời lồng lộng gió với đủ hình khối, màu sắc và hương vị. Chất muối mặn nồng ngấm vào thân hình người dân quê hương cũng như ngấm sâu vào làn da, thớ thịt vào tận tâm hồn thơ Tế Hanh. Bằng giọng thơ giãi bày, phơi trải, ông đã kể về kỉ niệm tuổi thơ tươi đẹp:
Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy
Bạn bè tôi tụm năm tụm bẩy…
Tôi đưa tay ôm nước vào lòng
Sông mở nước ôm tôi vào dạ
Cao hơn, trong xa cách, nhưng với sức mạnh của tình quê, không chỉ có hình ảnh đặc trưng của quê hương “Màu nước xanh, cá bạc cánh buồm vôi / Thoảng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi” hiện ra mà nhà thơ còn cảm nhận được cả mùi vị quê:
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá
Quê hương Tế Hanh là một làng chài nghèo, người dân sống cần cù, khó nhọc, thế nhưng khi nhớ về quê, ông lại chỉ thấy vẻ đẹp tươi sáng. Phải chăng đó là nhờ làng quê ấy có con sông êm đềm, tuơi tắn, lại gần biển tự do, phóng khoáng và nhất là nhờ trái tim tuổi trẻ khoẻ khoắn? Mặt khác, cùng tình cảm đằm thắm, kỉ niệm sâu lắng, đẹp đẽ, lời kể theo lối giãi bày, thủ thỉ chân thật và khả năng miêu tả những cảm giác bên trong chân thành, mộc mạc, nên ở thơ Tế Hanh, con sông trở thành một hình tượng thẩm mĩ, gợi cảm, đầy chất trữ tình.
Đối với Tế Hanh, quê hương luôn là bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa. Ca dao, dân ca dường như cũng đã ngấm sâu vào hồn thơ Tế Hanh. Dù ở phương trời nào lòng ông vẫn nhớ quê hương, nó luôn dạt dào, cháy bỏng trong ông khiến nhà thơ thấy được hình ảnh quê hương liên tục hiện ra. Quê hương chính là sức sống của ông, ở một khía cạnh nào đó, ta lại thấy tình yêu quê hương của Tế Hanh rất đa chiều và phức tạp. Lúc da diết, ngập tràn với “Nhớ con sông quê hương”, nhưng lúc khác lại cho người đọc thấy một hồn thơ trẻ trung phơi phới của “Quê hương”. Nhưng dù ở góc độ, khía cạnh nào thì nó đều ẩn chứa một tình yêu, nỗi khát khao đoàn tụ, bày tỏ khát vọng gặp gỡ cụ thể. Không như thơ Huy Cận, Lưu Trọng Lư đầy chất mộng ảo, không như thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên hun hút sầu thương, thơ Tế Hanh trong sáng, khoẻ mạnh, đắm đuối rất thực. Bởi ông có một vùng quê bằng xương, bằng thịt, mà ông luôn dõi theo bằng đôi mắt rất thực, bằng trái tim có địa chỉ rõ ràng.
Suốt nửa đời người, do thời thế, Tế Hanh phải xa quê, khi trở lại sau mùa hè đại thắng, thống nhất đất nước – 1975, con sông và làng quê đã đổi thay nhiều:
Tôi nhìn sông bên lở bên bồi
Tre thưa thớt ngập tràn lau cỏ
Trong ánh sáng ngả nghiêng theo chiều gió
Thuyền máy dọc ngang tỏ trắng lòng sông
Nhà dân chài giăng những lưới ni lông
Màu xanh đỏ ngời ngời ánh nước
Kìa bãi sú nơi sáu năm về trước
Giặc Mĩ bao vây sát hai mốt trung đội dàn quân
Cây xanh trước đình thân chỉ còn một nửa
Tác giả thật sự ngỡ ngàng:
Tôi đi học bờ sông bỡ ngỡ
Quên cả khúc quanh rẽ lối vào nhà
Quê hương đẹp đẽ thơ mộng trong tâm trí tác giả nay trần trụi những vết thương chiến tranh, vết thương do chia cắt đất nước. Tác giả vừa vui vừa đau buồn một nỗi “hồi hương”.
Trở về, gặp lại, tuổi cũng đã cao, quê hương thì đổi thay như thế, nên sau này, dẫu quê nhà vẫn mến yêu, thổn thức trong trái tim nhà thơ, nhưng thơ về quê hương của Tế Hanh thì đã khác. Không còn cái sức hấp dẫn của vẻ đẹp trai tráng. Cho nên, có thể nói, người ta chỉ còn nhớ đến những bài thơ về quê hương, con sông quê của ông mấy mươi năm về trước. Dù sao thế cũng là quá đủ với một đời thơ.
Có thể nói những bài thơ về quê hương trước và hai mươi năm sau Cách mạng Tháng Tám của Tế Hanh đã cất lên một tiếng ca trong trẻo, nồng nàn, thơ mộng về con sông hiền hòa đã “tắm cả đời tôi”, về cái làng vạn chài từng ôm ấp, ru vỗ tuổi thơ ông. Mỗi chúng ta một lần nữa vui mừng khi được giao tiếp với một hồn thơ khoẻ mạnh, trong sáng song lại rất đỗi bình dị mà sâu sắc. Nó không hề làm nặng đầu ta với những bóng dáng siêu hình hay những vô thức u minh, nó chấp cánh mộng mơ, bồi đắp cho mỗi chúng ta tình yêu quê hương thắm thiết, là điểm trở về bình yên của ta trong cuộc đời nhiều bươn trải, cũng là sự thôi thúc ta vươn lên. | Cảm nhận về hình ảnh quê hương trong thơ Tế Hanh | 1,207 | |
Cảm nhận về hình ảnh đôi bàn tay Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu
Hướng dẫn
Cảm nhận về hình ảnh đôi bàn tay Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu
Rừng xà nu là một trong những tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Thành Trung và ông đã mang tới cho chúng ta tác phẩm này để thấy được nét đẹp về thiên nhiên mà nét đẹp ở đây chính là về thiên nhiên và con người nơi đây. Nổi bật nhất trong câu chuyện đó là hình ảnh về bàn tay của Tnú,nó mang tới những ấn tượng đặc biệt ở trong lòng người đọc.
Và bàn tay Tnú là một ý đồ nghệ thuật mà tác giả muốn gửi gắm tới chúng ta, qua đó chúng ta có thể thấy được đôi bàn tay ấy cũng có cả một cuộc đời,cuộc đời ấy giống như cuộc đời của Tnú vậy. Và cũng có những lúc anh ấy cũng phải hứng chịu biết bao nhiêu là đau thương mất mát. Thế nhưng đến cuối cùng thì bàn tay ấy cũng đã giết chết được biết bao nhiêu là kẻ thù để có thể báo thù cho tất cả, trong đó có chủ nhân của nó phải hứng chịu.
Bàn tay đó trước hết được miêu tả đó là một đôi bàn tay lành lặn và nhỏ bé. Chính đôi bàn tay nhỏ bé ấy đã cùng với Mai học chữ. Cũng bàn tay ấy đã nhanh nhẹn để cầm những bức thư liên lạc để có thể vượt được qua mọi thử thách, mọi gian nan với biết bao vòng vây độc áo của kẻ thù để có thể mang tới cho các cán bộ ở trong rừng. Qua đây thì chúng ta có thể thấy được đôi bàn tay nhỏ bé của Tnú hiện lên thật đẹp biết bao nhiêu. Tuy nó nhỏ bé là vậy nhưng làm việc nào cũng đều hoàn thành một cách xuất sắc, quả thực là đáng khen.
Chính những hình ảnh ấy làm nên một hình ảnh người anh hùng tây nguyên. Và có suy nghĩ rằng nếu như không học được chữ thì sẽ không giúp được gì cho đất nước,chính vì thế Tnú mới dùng bàn tay của mình để trừng trị, cho thấy đó là sự gan dạ, dũng cảm. Dũng cảm kể cả khi bị bắt thì đôi bàn tay ấy cũng không hề ngần ngại mà chỉ thẳng vào bụng mà rằng: “cộng sản ở đây này”.
Đôi bàn tay ấy còn mạnh dạn cầm tay của Mai hẹn hò khi lớn lên bên gốc cây vả. Đó chính là bàn tay ấm áp dịu dàng dắt mai qua những yêu thương.
Bàn tay ấy cũng rứt cả hàng chục trái vải trong lòng uất nghẹn khi thấy mẹ con Mai bị chúng tra tấn cho tới khi chết đi. Và khi vợ con ngã xuống thì bàn tay ấy cũng đỡ lấy. Qua đó chúng ta thấy được đó là đôi bàn tay rất vững chải, tràn ngập tình thương yêu.
Tuy bàn tay không còn được nguyên vẹn nữa nhưng vẫn có thể cầm chắc tay súng để giết chết biết bao nhiêu là quân thù. Đặc biệt là đã giết chết thằng Dục để có thể báo thù cho mẹ con của Mai.
Như vậy qua đây chúng ta có thể thấy được hình ảnh về đôi bàn tay của Tnú là một hình ảnh đầy tính nghệ thuật ở trong tác phẩm này. Trải qua bao đắng cay của cuộc đời nhưng nó vẫn hoạt động bình thường để giết chết bọn giặc tàn ác.
Nguồn: Bài văn hay | Cảm nhận về hình ảnh đôi bàn tay Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu | 607 | |
Cảm nhận về khổ thơ cuối bài thơ Ông đồ
Bài làm
Ở khổ cuối cùng, nhà thơ đọng lại một thời điểm:
Năm nay đào lại nở…
Đó là hiện tại, tất nhiên chỉ là một hiện tại giả thuyết cho nhà thơ (và bạn đọc). Sự xác định này giống như một cánh cửa khép lại đối với họ mà thôi. Còn với cuộc đời, guồng quay của nó bất tận (đào lại nở…). Ý niệm về sự tuần hoàn của nó vẫn được gợi lên qua hình ảnh của bông hoa, biểu tượng cho sự tái sinh vĩnh viễn. Ngoài ra, ý niệm ấy còn được biểu hiện qua việc gần như lặp lại toàn bộ câu đầu bài thơ, với một vài nét biến thái nhỏ (“Mỗi năm hoa đào nở… Năm nay đào lại nở…”).
Nghệ thuật trùng điệp – ở bài thơ hay — không bao giờ hoàn toàn là sự lặp lại. Khổ thơ cuối cùng vẫn đặt song song hai hình ảnh từng được chú ý rọi sáng từ đầu bài: “hoa đào” bên cạnh “ông đồ”. Tuy nhiên, ở đây, chỉ có sự chuyển hóa của một hình ảnh ngày càng mở rộng, mơ hồ, khó nắm bắt:
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Cảm nhận về khổ thơ cuối bài thơ Ông đồ
Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?
Tới đây ta đã thấy được trong hai hình ảnh ấy (“hoa đào” và “ông đồ”) đâu là điểm hội tụ ánh sáng của bài thơ. Hoa đào vẫn vậy. Nhưng hình ảnh mà nhà thơ dõi theo, đó chính là con người được vẽ lên trong sự chuyển hóa: ông đồ già – ông đồ xưa – những người muôn năm cũ – hồn.
Chỉ qua sự tiến triển, biến thái của một hình ảnh (ông đồ), ta đã thấy gợi lên âm hưởng khái quát của khổ thơ cuối cùng: đâu phải chỉ là số phận của ông đồ già.
Dường như tiếng vọng, âm hưởng mở rộng, lan xa ấy còn được gợi lên bởi một hiện tượng được thấy ở một số nhà thơ mới (như Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương). Đó là hiện tượng mà có người đã gọi là “đa âm” hiểu theo nghĩa nôm na và đơn giản nhất: trong khổ thơ cuối này, ta nghe thấy cả Thôi Hộ, Phrăng -xoa Vi-lông và Nguyên Du cùng cất tiếng tiếc thương cho tài hoa, cho hồng nhan bạc mệnh, thăng trầm. Điều này, chính bản thân Vũ Đình Liên cũng đã xác nhận ảnh hưởng.
Điều mà tôi muốn nói thêm đó chỉ là: ngay trong bài thơ này, Vũ Đình Liên trước sau vẫn là người si mê Bô-đơ-le. Điều đó không hiện lên bề nổi của câu chữ (như đặt một câu hỏi theo kiểu Phrăng-xoa Vi-lông: “Nhưng đâu rồi những áng tuyết xưa?” hoặc điệp lại gương mặt hoa đào của Thôi Hộ (Nguyễn Du). Nó nằm ở bè trầm, nhưng lan tỏa trong toàn bộ nhạc điệu bài Ông đồ: đó là âm hưởng về sự đơn côi của con người trong những đô thị hiện đại. Nói rộng ra, âm hưởng này ám ảnh những nhà thơ lớn của Pháp cuối thế kỉ XIX, kể cả Ranh-bô, Véc-lanh. Cảm hứng của Bô-đơ-le trong bài Chim thiên nga cũng được gợi lên từ một nhân vật cổ xưa, nàng Ảng-đrô-mác và sự điệp lại hình ảnh ấy qua một cánh thiên nga không tìm thấy nước, đang kết đôi cánh ngắc ngoải bên lề đường Pa-ri đầy bụi bẩn:
Ngoại ô cũ, tất cả với ta trở thành hiểu tượng,
Đá tảng đâu nặng tày kỉ niệm thân thương. | Cảm nhận về khổ thơ cuối bài thơ Ông đồ | 612 | |
Cảm nhận về loài cây em yêu.
Hướng dẫn
Tôi rất yêu hoa và loài hoa nào cũng đẹp cũng đáng yêu, nhưng điều đặc biệt làm tôi ấn tượng lại là những cánh hoa giấy mòng manh. Chính sự mỏng manh của hoa giấy lại làm lên sự quyến rũ của nó.
Mặc dù thuộc loại họ leo nhưng thân cây không mảnh mai mềm mại như hoa ti gôn hay tầm xuân. Khắp thân cây mang đầy những chiếc gai nhọn hoắt, lỡ sơ ý chạm vào là có thể bị đâm chảy máu. Những cánh hoa nhỏ bé mỏng tanh hình bầu dục trông rất dễ thương.
Cây hoa giấy được trồng ngay trước cổng nhà tôi, có lẽ đã từ rất lâu rồi, ba mẹ tôi cũng không nhớ được nó bắt đầu có mặt ở cổng nhà tôi tự khi nào. Bởi vậy thân cây có màu đồng gỉ và bắt đầu nổi lên những khối u sần sùi của sự già nua. Những cành lá chồng xếp lên nhau xòe ra như một cái dù che nắng cho một khoảng sân rộng trước nhà.
Hoa giấy có thể nở quanh năm, nhưng vào độ Tết đến xuân về là rực rỡ nhất. Những bông hoa giấy tầng tầng lớp lớp chồng xếp lên nhau làm trĩu cả cành chúc xuống mặt đất. Hoa giấy mọc thành từng chùm, những chùm hoa chúm chím úp vào nhau như búp sen bé nở chứ không xòe ra từng cánh như hoa mai, hoa đào, mỗi hoa có ba chiếc nhụy vươn nhô lên như những chiếc râu nhỏ của chu dế mèn. Điều riêng biệt của hoa giấy là cánh hoa giống y như chiếc lá chỉ có khác biệt về màu sắc. Hoa giấy có rất nhiều màu: trắng, đỏ sẫm, tím và hồng cánh sen. Em thích nhất là màu hồng cánh sen, vừa lộng lẫy lại vừa dịu dàng.
Dù thời tiết có nắng mưa gió rét thế nào cây hoa giấy vẫn cứ hiên ngang giữa trời và cho ra những chùm hoa đẹp, nó là loài hoa dễ tính nhất và có sức sống mãnh liệt nhất trong tất cả các loài hoa. Không cần phải chăm bón, thậm chí lãng quên mà hoa vẫn cứ sống được. Dù trồng ở đâu: trong chậu, bờ rào, đất khô, đất nước hay cằn cội sỏi đá, hoa vẫn cứ dẻo dai bền chặt và đơm bông khoe sắc. Em còn phát hiện thêm một điều thú vị: hoa giấy còn là một nữ vệ sĩ cừ khôi. Chính những cái gai của nó là một vũ khí cực kì lợi hại. Có một đêm, tên trộm lọt vào nhà em. Khi bị phát hiện, hắn đã cuống cuồng leo lên cổng để chuồn ra ngoài nhưng giàn hoa giấy đã làm cho tên trộm bị vướng và bị bắt ngay tại chỗ. Sau lần ấy chẳng còn có tên trộm nào dám bén mảng vào nhà em nữa.
Giàn hoa giấy trước cổng nhà đã trở nên quen thuộc đối với mọi người trong gia đình em. Nhiều lần mọi người góp ý về việc phá bỏ giàn hoa giấy, nhưng vì yêu loài hoa này và bó đã gắn bó với gia đình em trong nhiều năm nên không ai muốn phá bỏ. Em thường xuyên chăm sóc giàn hoa để hoa sống được lâu hơn và cho ra những cánh hoa đẹp hàng ngày. | Cảm nhận về loài cây em yêu. | 577 | |
Cảm nhận về mùa xuân trong thơ Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
Cảm nhận về mùa xuân trong thơ Hồ Chí Minh
Mùa xuân là mùa của sự sống, mùa của màu sắc tươi non mỡ màng nảy nở. Mùa xuân còn là mùa của những ngày lễ hội, mùa đẹp nhất của thiên nhiên cũng như con người. Thế nên chủ đề mùa xuân trong thơ ca luôn dạt dào vô tân. Và có lẽ nhà thơ nào cũng từng nói về xuân trong thơ mình. Hồ Chí Minh sinh thời không bao giờ tự nhận mình là nhà thơ song sáng tác của Người cũng dạt dào nguồn cảm hứng xuân ấy.
Bài thơ nói về cảnh mùa xuân quen thuôc mà ai cũng biết đến đó là Nguyên Tiêu:
“Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.”
Bác nói về trăng mùa xuân. Mùa đẹp ấy không chỉ đẹp vào ban ngày mà nó còn đẹp khi đêm về nữa. Ánh trăng xuân sáng soi lấp lánh chiếu xuống cả dòng nước in hình của mình lên đó. Như thế thì không những trăng xuân mà sông cũng xuân nữa. Một từ xuân mà được lặp lại hai lần trong một câu thơ nhằm nhấn mạnh vẻ đẹp tuyệt vời của mùa xuân ấy. Trong không gian ấy Người và các cán bộ Đảng vẫn bàn bạc việc quân. Trăng như thể hiện sự soi tỏ của mình cho các chiến sĩ và Bác nhìn rõ và thấu đáo công việc hơn. Trăng là biểu tượng cao đẹp, sáng láng của tự do. Con thuyền bát ngát trăng cũng bát ngát niềm vui cao đẹp tin tưởng vào bình minh sáng rỡ của dân tộc. Có thể nói bài thơ mang phong vị của thơ Đường cũng có trăng xuân, chiếc thuyền nhỏ, sông nước lững lờ trôi đấy nhưng mà khác ở một chỗ người thưởng thức trăng kia không có rượu hoa để uống, không làm thơ mà lại bàn việc quân.
“Nếu không có cảnh đông tàn
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân
Nghĩ mình trong bước gian truân
Gian nan rèn luyện tinh thần thêm hăng.”
Ngày xuân ở đây là ngày của bình minh nắng sáng. Ánh nắng kia nhẹ nhàng tinh khôi mang đến sự sống cho tất cả cây cối sự vật đã như chết lặng trong mùa đông giá lạnh tàn úa. Nói đến mùa xuân là người ta liên tưởng đến sự sống. Trong bài thơ này nhà thơ dùng ngày xuân để tượng trưng cho một ngày mai tự do tươi sáng của toàn dân tộc Việt Nam. Bác tự khuyên mình con người sinh sống khổ đau hay sướng vui cũng giống như sự tuần hoàn của bốn mùa. Có mùa đông thì mới có mùa xuân. Có đau khổ buồn bực thì mới có hạnh phúc vui vầy. Nhân dân ta có đau đớn trong nô lệ nhưng vẫn quyết chí đấu tranh thì cũng đến một ngày được tự do tươi sáng. Thế nên là một vị lãnh tụ càng phải tự khuyên chính bản thân mình để rèn luyện tinh thần ý chí của mình vượt qua khó khăn đến ngày tự do tươi sáng.
Nếu như mùa xuân ở hai bài thơ trên mùa xuân gắn liền với công việc đất nước thì đến bài thơ tiết xuân mậu thân chỉ còn thi nhân với xuân và trăng. Việc quân đã xong, và tất cả sự vật đều chìm vào yên tĩnh:
Tía tía hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời.
Trên trời mây đến rồi đi,
Miền Nam thắng trận báo về tin vui”.
Tháng tư là mùa xuân ở độ viên mãn đẹp đẽ nhất. Hoa nở một vườn đầy, nào màu tía, màu hồng màu nào cũng tươi. Mặc dù chiến tranh đang diễn ra ác liệt nhưng Bác vẫn ung dung tận hưởng được một cách trọn vẹn đầy đủ nhất. Điều đó chứng tỏ người là một vị lãnh tụ yêu thiên nhiên, muốn tận hưởng thiên nhiên, biết tính toán để vừa có thể hoàn thành việc quân lại vừa có thể thưởng thức bức tranh xuân tươi đẹp. Đồng thời thể hiện mùa xuân nước ta vô cùng đẹp.
Không chỉ thế Bác còn làm những bài thơ mùa xuân để chúc mừng cho nhân dân ta chiến thắng:
“Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa xuân”
Và đặc biệt mùa xuân còn được thể hiện qua những bài thơ chúc tết của Bác. Những bài thơ ấy mang đến một mùa xuân của năm mới lại mang đến một mùa xuân thắng lợi của đất nước:
“Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi,
Nǎm cũ qua rồi, chúc nǎm mới:
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong!
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!
Chúc Việt-minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong nǎm này
Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!
Nǎm này là nǎm Tết vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới.”
Lời thơ vừa là lời chúc tết lại vừa là lời khích lệ động viên nhân dân ta tiếp tục đấu tranh chống bọn đế quốc sừng sỏ. Đất nước sẽ được thắng lợi trong niềm hạnh phúc hân hoan của tất cả những con người Việt Nam. Năm chiến thắng chính là năm đất nước ta vẻ vang vui vầy ngày Tết.
Tóm lại thơ Bác không chỉ thấm đẫm chất tình, chất thép mà còn thấm đẫm chất thiên nhiên mùa xuân. Rõ ràng Hồ Chí Minh là một người yêu thiên nhiên quê hương đất nước. Chính vì thế mùa xuân – mùa đẹp nhất dạt dào trong thơ Bác là một lẽ rất đương nhiên. | Cảm nhận về mùa xuân trong thơ Hồ Chí Minh | 977 | |
Cảm nhận về Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu
Hướng dẫn
Cảm nhận về Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc của nền văn học Việt Nam giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Ông có nhiều tác phẩm giàu giá trị ý nghĩa. Trong số những tác phẩm đó phải kể đến truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng được ông viết khi đế quốc Mỹ nổ súng phá hoại miền Bắc nước ta. Truyện mang đến cảm hứng lãng mạn anh hùng. Nhà văn ca ngợi những con người kiên cường bất khuất trong chiến tranh ác liệt bảo vệ tổ quốc.
Mỗi một người sinh ra đều có một cái tên, bố mẹ chúng ta phải chọn những cái tên có ý nghĩa nhất để nói đặt cho chúng ta. Một tác phẩm văn chương cũng cần có một cái tên ý nghĩa như vậy. Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã đặt tên cho tác phẩm của mình là mảnh trăng cuối rừng. Đặt như thế nhà văn nhằm mục đích gì?. Nghĩa thực của nó là hình ảnh ánh trăng ở cuối rừng chập chờn tươi non và tinh khiết, thoắt ẩn thoắt hiện cuối rừng xa trong đêm Trường Sơn. Nhà văn như ghi lại cái khoảnh khắc thiên nhiên tươi đẹp ấy. Ở đây nhà văn dùng với nghĩa biểu tượng mảnh trăng chính là cô gái tên Nguyệt. Nó tượng trưng cho vẻ đẹp của cô gái ấy. Đó là sự yên tĩnh ngời sáng trẻ trung mặc cho bom đạn Mỹ muốn tàn phá hủy diệt.
Nguyễn Minh Châu đã xây dựng thành công tình huống truyện thất bất ngờ. Truyện kể về một cuộc gặp gỡ của một người lái xe quân sư và một người cô công nhân giao thông đi nhờ xe anh trong đoạn đường chiến đấu. Sự ngẫu nhiên được nhà văn xây dựng nên. Đó là cả hai người đều đến chỗ hẹn với người đính ước thế nhưng thật tình cờ vì chính Nguyệt lại là người con gái mà anh lái xe Lãm đang đi hẹn gặp. Hai người gặp nhau trong hoàn cảnh chiến tranh và Nguyệt tâm sự với anh mọi chuyện. Điều đó khiến anh đoán chắc rằng cô chính là người mà anh đang hẹn gặp. Đặc biệt con đường đi tới đó xảy ra biết bao nhiêu chuyện nguy hiểm và Nguyệt đã bộc lộ vẻ đẹp trong chính tâm hồn mình. Dù họ không đi được tới chỗ hẹn vì sư khó khăn của chiến tranh nhưng những điều Nguyệt chia sẻ với anh cũng khiến cả hai người cảm thấy hạnh phúc. Việc tạo nên một tình huống ngẫu nhiên như thế giúp cho nhân vật bộc lộ vẻ đẹp của mình một cách tự nhiên hơn không hề có chút nào là giả tạo.
Nguyệt là một co gái có ngoại hình đẹp. Vẻ đẹp ấy xuất hiện đầu tiên qua hình ảnh rất độc đáo đó là: “đôi gót chân bóng hồng”. Đây là một hình ảnh hết sức ý vị. Điều đó nhằm nói lên người con gái đẹp thì đến cái gót chân cũng đẹp. Và chính cái gót chân đẹp đẽ ấy đã tương phản hoàn toàn so với chiến tranh. Nó gợi lên một vẻ đẹp thanh tao, quyến rũ của một người co gái.
Người ta thường nói về vẻ đẹp của người con gái là nhất dáng nhì da thì ở đây người con gái này đã nhất vì có một dáng hình đẹp “Một vẻ đẹp giản dị và mát mẻ như sương núi tỏa ra từ nét mặt, lời nói và tấm thân mảnh dẻ”. Cô không chỉ đẹp dáng người mà còn đẹp ở nét mặt lời nói nữa. Gương mặt thể hiện sự mát mẻ dễ gần. Nguyệt cứ thế hiện lên như một áng thơ thanh thoát hiện lên trong khung cảnh chiến tranh. Hay cô giống một bông sen hồng tươi đẹp.
Nói tóm lại vẻ đẹp ngoại hình của Nguyệt khiến cho mỗi ai nhìn thấy phải xao xuyến lòng mình. còn ở trong truyện thì vẻ đẹp đó đã làm xao lòng người con trai lái xe tên Lãm.
Không chỉ đẹp ngoại hình người con gái ấy còn đẹp cả tâm hồn nữa. Và vẻ đẹp này chính là vẻ đẹp cốt lỗi nhất.
Thứ nhất, trong cuộc sống Nguyệt là một cô gái sống có lý tưởng. Cô xung phong nhận làm công nhân giao thông trên tuyến đường Trường Sơn gian khổ, ác liệt. Không những thế cô còn dày dạn kinh nghiệm trong việc đoán xét tọa độ ném bom của địch, để từ đó quân đội ta có thể tránh được. Cô dũng cảm tìm mọi cách cứu xe và cứu đồng đội. chiến tranh ác liệt và việc cô bị thương là chuyện đương nhiên. Tuy thế cô vẫn cứ lạc quan thản nhiên mà cười nói. Như vậy có thể thấy Nguyệt mang phẩm chất của một anh hùng.
Thứ hai trong tình yêu cô là người có tình yêu đặc biệt. Cô chấp nhận đính ước với một người lính chưa biết mặt biết tên chỉ vì cảm phục lý tưởng của anh. Cô chung thủy với tình yêu ấy qua bao nhiêu gian nan vất vả của chiến tranh. Qua đó ta thấy Nguyệt có một tình yêu kì diệu mang một vẻ đẹp lãng mạn. Đồng thời nó bộc lộ cái nhìn lãng mạn của nhà văn về những thanh niên trên chiến trường đánh giặc.
Nhân vật thứ hai là anh lái xe tên Lãm. Anh cũng giống như Nguyệt là một người sống có lý tưởng. Nếu Nguyệt chỉ đơn thuần là xung phong đi làm công nhân giao thông tại nơi nguy hiểm thì Lãm bỏ nhà để tình nguyện đi lính. Anh là một người lái xe dày dặn kinh nghiệm, trong mọi trường hợp anh luôn tỏ ra là một người bình tĩnh dũng cảm không sợ hi sinh. Anh sẵn sàng hi sinh để cứu lấy chiếc xe trong tọa độ bom của địch. Không những thế anh còn luôn đặt nhiệm vụ quân sự lên tình cảm riêng tư. Anh yêu cái đẹp và biết sống vì người khác. Tuy có lúc ạnh chủ quan với kinh nghiệm chiến đấu của mình, thoáng có chút thành kiến với phụ nữ nhưng từ khi gặp Nguyêt thì anh thay đổi.
Tóm lại Lãm chính là đại diện cho thế hệ trẻ Việt nam trong kháng chiến chống Mỹ. Sống có lý tưởng và nhiệt tình hăng hái trong chiến đấu.
Bằng những hình ảnh nghệ thuật đặc sắc như sợi chỉ xanh óng ánh, mảnh trăng cuối rừng…cùng với tình huống truyện ngẫu nhiên nhà văn Nguyễn Minh Châu đã mang đến cho chúng ta hình ảnh những con người thế hệ trẻ Việt Nam tươi trẻ, nhiệt huyết trong thời kháng chiến chống Mỹ. Đặc biệt là Nguyệt đại diện cho những cô công nhân giao thông xinh đẹp và hiên lành. Mảnh trăng cuối rừng vừa mang cảm hứng trữ tình lại vừa mang cảm hứng lãng mạn. | Cảm nhận về Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu | 1,205 | |
Cảm nhận về mẹ
Hướng dẫn
Nỗi vất vả của mẹ tôi
Mở bài:
Ngày ấy, mẹ tôi còn trẻ. Ở Ninh Thuận được năm năm, bố mẹ tôi quyết định chuyển về Đồng Tháp, quê nội tôi để sinh sống.
Thân bài:
Từ vùng cát trắng khô hanh, quen với cái gió nồm nam thổi suốt ngày đêm, lúc nào bên tai cũng nghe tiếng ù ù; quen với cái nắng hừng hực và ánh sáng gay gắt của miền cát trắng; đột ngột đối diện với những cơn mưa dầm dề, đối diện với cái không khí âm ẩm nóng đến khó chịu và những đàn muỗi lì lợm, cứ thấy người là liều lĩnh xông tới, mẹ tôi vất vả vô cùng.
Vì yêu chồng, thương con lại muốn được chăm sóc bà nội những ngày cuối đời, mẹ tôi đã cắn răng chịu đựng vượt qua tất cả khó nhọc. (Cảm nhân về mẹ). Ba đi làm trên thành phố. Thỉnh thoảng ba mới ghế về thăm nhà. Một mình mẹ gánh vác lo toan tất cả. Sáng bán rau, chiều chợ nổi. Cả ngày mẹ đi ngược về suôi kiếm tiền nuôi lớn anh em tôi.
Tôi nhớ có lần lúc hái rau muống ở ngoài đìa, một con đỉa to tướng đã bám vào chân mẹ mà không hay biết. Mẹ vốn rất sợ các loài thân mềm. Nên thấy con đỉa khuôn mặt mẹ tái nhợt vì sợ hãi. Loài đỉa vốn bám rất chặt nên khi bắt được nó ra, chân mẹ cũng chảy máu rất nhiều. Lúc ấy tôi còn bé lắm, chưa hiểu hết được những vất vả của mẹ. Khi lớn khôn rồi, mẹ tôi đã đỡ khổ nhọc hơn nhưng những lo âu vẫn còn hằn trên nét mặt. Càng nghĩ về những tháng ngày cơ nhọc, tôi càng thương mẹ nhiều.
Mỗi lần đi xa về, mẹ không quên mua cho anh em chúng tôi cái gì đó. Tôi nhớ lần mẹ từ thị xã về và mang cho anh em chúng tôi thật nhiều bánh lá dừa. Ôi, những chiếc bánh lá dừa ngọt ngào biết bao! Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ cái vị ngọt béo đến tê tê đầu lưỡi. Nhớ cái mùi thơm nồng nàn còn phản phất đâu đây.
Mẹ đã dành cả cuộc đời mẹ cho chồng, cho con. Mẹ tảo tần sớm hôm, đi sớm về khuya như thân cò lặn lội sương gió. Cả cuộc đời mẹ ít khi có niềm vui. Niềm vui lớn nhất của mẹ đó là được chăm sóc gia đình, nhìn những đứa con lớn lên. Rồi chúng tồi từng đứa đi xa. Đứa làm ăn nơi thành phố. Đứa lấy chồng về miền Cà Mau. Mẹ vui rồi thoáng chốc mẹ lại buồn.
Kết bài:
Mai này dù có ở chân trời góc bể, tôi cũng không sao quên được kí ức tuổi thơ có mẹ. Tình cảm ấy thiêng liêng như sông như bể, lung linh như những vì sao đêm đêm tỏa sáng trên bầu trời. Giờ đây mẹ tôi đã đi xa, xa lắm. Mẹ bỏ lại chúng tôi trơ trọi giữa cuộc đời. Đêm đêm, ngước nhìn những vì sao sáng tôi gọi thầm: “mẹ ơi”. | Cảm nhận về mẹ | 537 | |
Cảm nhận về người vợ trong tác phẩm Vợ nhặt
Hướng dẫn
Cảm nhận về người vợ trong tác phẩm Vợ nhặt
Nhắc đến Kim Lân chúng ta có thể nghĩ ngay đến tác phẩm ” Vợ nhặt ”, một trong những tác phẩm xuất sắc, để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Nổi bật trong đó không thể không nhắc đến nhân vật Thị trong câu chuyện. Tác giả đã khắc họa một cách chân thực, cụ thể nhân vật qua tính cách,chân dung, hoàn cảnh, để rồi từ đó nói lên triết lý cuộc sống mà tác giả muốn gửi gắm qua tác phẩm.
Ngay từ nhan đề cũng đã khiến người đọc cảm thấy đặc biệt. đi sâu vào câu chuyện, có thể cảm nhận nhân vật Thị là một nhân vật có số phận vô cùng thương cảm. Thị xuất hiện là một người nghèo, không ai thân thích, đến cái tên cũng không có, gọi bằng Thị rất suồng sã, dân dã, đói khát, rách tả tơi, chỉ nghe vài lời nói đùa mà chấp nhận theo không một người, mình chưa biết tính cách họ ra sao, gia cảnh như thế nào? Thị không đắn đo suy nghĩ mà quyết định nhanh chóng chỉ vì hoàn cảnh đói quá. Cái đói đã khiến cho Thị chao chát, chỏng lỏn, thô tục, cong cớn, nói lời ngọt ngào, tình tứ với người đàn ông mình gặp lần đầu tiên ( lời xưng hô thân mật: ” nhà tôi ơi, đằng ấy nhỉ “, thậm chí còn liếc mắt cười tít, chỉ vì cái đói, vì sự tồn tại mà Thị trở nên xưng xỉa: ” điêu, người thế mà điêu ” thậm chí đòi ăn:” có ăn gì thì ăn chả ăn giầu ” và cắm đầu ăn một chập bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì ” đúng là vì đói mà con người ta không còn ý thức về danh dự, không còn ý thức về hành động, về sự e thẹn, chỉ cốt làm sao khỏi đói, thoát chết. Họ trở nên trơ trẽn, liều lĩnh, thậm chí bóp méo cả nhân cách. Hoàn cảnh của Thị giống như người chết đuối giữa dòng đang chới với giữa sự sống và cái chết, họ sẽ bấu víu vào bất cứ cái gì, hi vọng có thể sống sót nhưng với Thị là chết đuối mà vớ phải ” cọc mục “
Vì khao khát được sống, vì muốn thoát khỏi lưỡi hái tử thần mà thậm chí người ta sẵn sàng chấp nhận làm vợ theo, vợ nhặt. Cưới chồng là việc trọng đại của một đời người, với nghi lễ sang trọng, vợ là bổn phận thiêng liêng của người con gái khi lấy chồng, nhưng với Thị chẳng có người mai mối, chẳng đám hỏi, treo cưới gì cả, tự nhiên theo không về hà chồng chỉ qua lời nói đùa tầm phào mà người nói vẫn tưởng là nói đùa thôi nhưng Thị vẫn theo về thật. Câu chuyện tưởng như là bịa, hơn nữa cũng không có gì gọi là lãng mạn như những câu chuyện tình ta vẫn thường gặp. Đúng là cười ra nước mắt gợi ra cho người đọc sự xót xa, ngậm ngùi trước số phận bị rẻ rúng, bèo bọt của những người nông dân nghèo giữa nạn đói thê thảm, đúng là sự khôn cùng của hoàn cảnh.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, Thị thay đổi hẳn từ vẻ ngoài cho đến cách cư xử, ăn nói, hành động: ” Tràng nom Thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực, không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh.
Qua đây, nhà văn muốn khẳng định con người thay đổi do hoàn cảnh, hoàn cảnh làm thay đổi tính cách con người như lời nhà văn Nam Cao đã từng nói trong truyện ngắn:” Sao lại thế này “: ” Giữa một người đàn bà tốt và một người đàn bà xấu khoảng cách chỉ bằng sợi tóc. Ở đây Thị vì đói, vì khao khát được sống mà trở nên đanh đá, chua ngoa, trơ trẽn, khi có điểm tựa, có mái ấm gia đình, Thị trở về đúng với bản chất tốt đẹp vốn có của Thị. Sự thay đổi ở Thị, đồng thời thể hiện tấm lòng cảm thông của nhà văn đối với nhân vật. Đây là tư tưởng nhân đạo cao cả. | Cảm nhận về người vợ trong tác phẩm Vợ nhặt | 757 | |
Cảm nhận về người đàn bà trong Chiếc Thuyền Ngoài Xa
Hướng dẫn
Cảm nhận về người đàn bà trong Chiếc Thuyền Ngoài Xa
Bài Làm
Trong cuộc sống phức tạp này, sự thật đội khi không phải là điều ngay trước mắt mà sự thật là cái ẩn giấu bên trọng. Vì vậy muốn nhìn nhận đúng về cuộc sống về con người, chúng ta phải nhìn vào cái bên trong, bản chất thật, nhìn cuộc sống một cách đa diện. Giống như nhân vật người đàn bà làng chài của Nguyễn Minh Châu trong truyện ngắn chiếc thuyền ngoài xa. Mang vẻ bề ngoài xấu xí, nhưng phẩm chất bên trong lại vô cùng tốt đẹp.
Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu được viết vào năm 1983 và đến 1985 trong tập “ Bến Quê” tác phẩm là sản phẩm con người đời thương. Truyện kể về việc nghệ sĩ nhiếp ảnh phùng đi tới vùng biên này mong tìm được một bức ảnh cho bộ lịch. Sau gần một tuần tìm kiếm, cuối cùng anh cũng tìm thấy một cảnh đắt trời cho “ Trước mắt tôi là một bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ”. Nhưng vừa như phát hiện một chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy khoản khắc trong ngần của tâm hồn thì bất ngờ anh phát hiện ra cảnh bao lực gia đình. Với sự xuất hiện người đàn bà làng chài gây ấn tượng lớn cho người độc và người nghe.
Người đàn bà làng chài, không được gọi tên. Chỉ được gọi bằng những đại từ” Người đàn bà, bà…” Người đàn bà chạc 40 tuổi, mang thân hình quen thuộc của người vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, mặt rỗ. Người đàn bà có ngoại hình thật xấu xí và phi thẩm mĩ. Trước kia, người đàn bà này sống ở phố. Con một gia đình khá, nhưng không ai lấy vì xấu. Chị đã có mang với anh làng chài và đã có cuộc sống hôn nhân với anh. Người khác nhìn vào cho rằng đây là địa ngục vì ba ngày chị bị một trận nhỏ, năm ngày chị bị một trận lớn. Đúng vậy cuộc sống của chị thật đang thương và khổ cực. Chị khổ cả về thể xác và tinh thần, giống bao gia đình làng chài khác, gia đình chị đông con. Nhà thì nghèo khó. Thuyền thì bé, có những lần da đình chị phải ăn xương rồng luộc chấm muối. Một cuộc sống không thể nào khổ hơn. Người ta nhiều khi khổ về vật chất, nhưng tinh thần đầy đủ cũng là hạnh phúc “ một túp lều tranh hai trai tim vàng”. Nhưng chị đâu được thế cuộc sống tinh thần của chị còn khổ hơn. Người đàn ông xấu xí- chồng chị, một phần vì cuốc sống làm cho tính cách hắn hung bạ. Hắn dùng cách giải thoát sự bức xúc bằng cách đánh đập chị, chửa rửa chị và các con chị “ Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết đi cho ông nhờ” Bị những trận đòn roi những cái quất mạnh của chông tàn bạo, nhưng chị vẫn “ Với vẻ mặt cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không tìm cách chống trả, không tìm cách chạy trốn. Trận đòn roi chỉ dừng lại khi thằng phác lao tới cứu mẹ và đánh lại bố” Cả hai mẹ con chỉ biết khóc. Người đàn bà kể trước kia khi con còn nhỏ, hắn đánh chị trên thuyền. Sau khi con lớn, chị xin hắn đưa lên bờ rồi đánh. Chúng ta thấy rằng cuộc sống của chị thật khó khăn, chị chỉ biết cam chịu và đôi khi chính là sự ngu dốt.
Nhưng thực chất bên trong còn nhiều điều mà mọi người chưa rõ. Khi chánh án đầu gợi ý li hôn, chị nhất định không chịu, van nài xin không li hôn, nhận hết trách nhiệm, tội nỗi lên đầu mình. Vì sao ư? Vì chị là một người am hiểu lẽ đời, cho dù thất học. Chị hiểu rằng tên con thuyền này cần một người đàn ông chèo chống vượt qua. Phong ba và nuôi cho sấp con của chị cũng rất cảm thông cho chồng chị, xưa là một con người cực tình nhưng không bao giờ đánh vợ. Nhưng cũng vì cuộc sống khó khăn, làm cho người đàn ông đam ra đánh vợ con, chị nhẫn nhục cam chịu, nhận hết trách nhiệm về bản thân minh. Nhận vì mình đẻ nhiều con mà cuộc sống khổ cực. Ngoài cam chịu, chấp nhận hi sinh, cuộc sống của chị còn có niềm vui đó là khi các con chị được ăn no, mặc ấm.
Người mẹ nào cũng vậy, thấy các con mình hạnh phúc, thì bản thân hạnh phúc gấp một trăm lần rồi. Và đôi khi gia đình chị cũng hòa thuận, đầm ấm, vui vẻ chị còn có lòng tự trọng cao. Chị biết xấu hổ khi có người khác biết truyện mình bị đánh, đặc biệt là thằng phác. Người chị yêu thương nhất “ Cái thằng con từ tính khí đến mặt mũi giống như lột từ cái lão đàn ông đã hành hạ mụ” Chị đã khóc khi phùng nhắc tới thằng phát. Chị thương con vô cùng, Chị cũng đem đến cho đẩu và phùng những bài học quý giá.
Qua hình ảnh người đàn bà trong truyện chúng ta thấy người phụ nữ Việt Nam vẫn giữ được những nhét đẹp truyền thống của người phụ nữ Á Đông. Dù vẻ ngoài không đẹp nhưng bên trong luôn có phẩm chất cao quý. Luôn nghĩ tới gia đình, hạnh phúc nhỏ của mình, sẵn sàng hi sinh mọi thứ để giữ gìn, chăm sóc gia đình, hạnh phúc đó chính là con cái của mẹ. Người phụ nữ mang một lòng vị tha cao cả, Những khác biệt của người phụ nữ làng chìa, phụ nữ ngày nay năng động hơn, làm chủ cuộc sống hơn, làm chủ được kinh tế.
Họ không còn phải nhẫn nhục chịu trận đòn roi của chồng. Họ yêu thương chồng con, họ cần một người đàn ông chèo kéo mái ấm gia đình, là người yêu thương gia đình, yêu thương vợ con. Nhưng nếu là người đàn ông vũ phu đánh đạp vợ con, họ sẵn sàng báo cơ quan chức năng để bảo vệ quyền lợi hạnh phúc của gia đình mình. Bên cạnh đó vẫn còn những người phụ nữ nhu mì, hèn nhắc, nhẫn nhục sẵn sàng chịu đựng đòn roi của chồng. Cố bấu víu lấy cái hạnh phúc chỉ có trong ảo tưởng, sống không có lập trường. Họ cần phải thay đổi cách sống, cách suy nghĩ tới giải pháp cuối cùng để giải thoát tìm hạnh phúc, cho mình cơ hội để đến với hạnh phúc đích thực. | Cảm nhận về người đàn bà trong Chiếc Thuyền Ngoài Xa | 1,171 | |
Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa–Pa của Nguyễn Thành Long
Hướng dẫn
Nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa–Pa” là nhân vật lý tưởng của nhà văn Nguyễn Thành Long
Mở bài:
Nguyễn Thành Long là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và ký. Ông thành công trong đề tài tìm kiếm, phát hiện và ca ngợi vẻ đẹp con người trong lao động và chiến đấu. Truyện ngắn của Nguyễn Thành Long nhẹ nhàng, tình cảm, thường pha chất, hình tượng đẹp, ngôn ngữ giàu chất thơ, trong trẻo và nhẹ nhàng. Văn ông thường ánh lên vẻ đẹp của con người nên có khả năng thanh lọc làm trong sáng tâm hồn, khiến chúng ta thêm yêu cuộc sống.
“Lặng lẽ Sa–Pa” là truyện ngắn đặc sắc, được Nguyễn Thành Long viết trong chuyến đi thực tế của tác giả ở Sa Pa năm 1970. Đây là một truyện ngắn tiêu biểu ở đề tài viết về cuộc sống mới hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Nguyễn Thành Long đã rất thành công trong việc xây dựng hình ảnh nhân vật anh thanh niên – một cán bộ làm công tác khí tượng thủy văn trên đỉnh Yên Sơn cao 2500m, hoàn toàn cách biệt với đời sống xã hội.
Thân bài:
Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” được xây dựng xoay quanh một tình huống truyện khá đơn giản mà tự nhiên. Đó chính là cuộc gặp gỡ tình cở của mấy người khách trên chuyến xe lên Sa Pa với anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn. Trên chuyến xe khách từ Hà Nội lên Lào Cai, ông họa sĩ già, bác lái xe, cô kĩ sư trẻ tình cờ quen nhau. Bác lái xe đã giới thiệu cho ông họa sĩ và cô kĩ sư làm quen với anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn. Trong cuộc gặp gỡ 30 phút đã để lại trong lòng các vị khách nhiều ấn tượng tốt đẹp về anh kĩ sư.
Tình huống gặp gỡ này là cơ hội thuận tiện để tác giả khắc họa “bức chân dung” nhân vật chính một cách tự nhiên và tập trung, qua sự quan sát của các nhân vật khác và qua chính lời lẽ, hành động của anh. Đồng thời, qua “bức chân dung” (cả cuộc sống và những suy nghĩ) của người thanh niên, qua sự cảm nhận của các nhân vật khác (chủ yếu là ông họa sĩ) về anh và những người như anh, tác giả đã làm nổi bật được chủ đề của tác phẩm: Trong cái lặng lẽ, vắng vẻ trên núi cao Sa Pa, nơi mà nghe tên người ta chỉ nghĩ đến sự nghỉ ngơi, vẫn có bao nhiêu người đang ngày đêm làm việc miệt mài, say mê cho đất nước.
Đây là nhân vật chính của truyện. Tuy nhiên tác giả không cho nhân vật xuất hiện ngay từ đầu mà chỉ gián tiếp qua lời giới thiệu rất ấn tượng của bác lái xe (rằng anh ta là “một trong những người cô độc nhất thế gian”, rằng anh ta rất “thèm người” và nếu họa sĩ đến gặp thì thế nào “cũng thích vẽ”; sau đó xuất hiện trực tiếp qua cuộc gặp gỡ, trò chuyện với các nhân vật khác trong khoảng thời gian ngắn ngủi (ba mươi phút).
Anh biết tạo ra một cuộc sống nền nếp văn minh và thơ mộng ngay giữa chốn rừng sâu núi thẳm.
Vốn là người lính, anh thanh niên lúc nào cũng biết sắp xếp cho cuộc sống của mình thật gọn gàng, ngăn nắp: “một căn nhà ba gian, sạch sẽ, với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm”. Không gian sống tuy nhỏ hẹp nhưng lúc nào cũng sạch sẽ, tươm tất hết mức. Tất cả chỉ “thu gọn lại một góc trái gian với chiếc giường con,một chiếc bàn học, một giá sách”. Đó là một tinh thần tự giác, biết làm cho cuộc sống của mình trở nên tiện nghi và văn hóa.
Dù sống cách biệt con người nhưng anh hằng ngày vẫn tuân thủ những chuẩn mực vốn có của xã hội. Một mặt là để làm cho cuộc sống trở nên dễ dàng hơn; mặt khác đó cũng là hành động tự giác tự rèn luyện mình.
Ngoài công việc, anh còn trồng hoa, nuôi gà, làm cho cuộc sống của mình thêm thi vị, phong phú về vật chất và tinh thần. Xung quanh ngôi nhà nhỏ lúc nào cũng có hoa tươi, cây cỏ xanh tốt, một vườn rau nhỏ. Anh muốn kéo cả cuộc sống về với mình và không bao giờ để cho những hình ảnh quen thuộc tách rời mình. Đó cũng là cách mà con người thường làm khi sống tách biệt, thiếu vắng hơi hướng cuộc sống con người.
Cuộc sống của anh không cô đơn, buồn tẻ vì anh có một nguồn vui đó là đọc sách. Anh coi sách như một người bạn để trò chuyện, để thanh lọc tâm hồn, để di dưỡng tinh thần, vượt qua cảm giác đơn điệu, nhàm chán. Thế giới trong sách sẽ làm tinh thần anh trở nên năng động, thấy mình gần hơn với cuộc sống, được hòa vui trong khí thế của cả dân tộc. Sách là nhịp cầu kết nối với thế giới nhộn nhịp bên ngoài. Bởi thế mà, khi được bác lái xe tặng sách anh đã vô cùng vui sướng, muốn nhảy cẫng lên reo hò.
Không gian sống của anh thanh niên là bằng chứng mạnh mẽ minh chứng một điều con người có thể sống tách biệt với xã hôi nhưng không bao giờ từ bỏ chính mình. Xây dựng một lối sống văn minh, biết tự sản xuất để cung cấp cho cuộc sống và làm phong phú thêm tinh thần là điều đáng cảm phục đối với những con người dám hi sinh hạnh phúc riêng, cống hiến sức mình vì lợi ích chung của đất nước.
Anh thanh niên là người rất yêu công việc, yêu đời, yêu cuộc sống; tận tụy, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc:
Hiện ra trong trang văn của Nguyễn Thành long, ta thấy anh thanh niên 27 tuổi sống và làm việc một mình trên đỉnh núi cao 2600m, quanh năm làm bạn với mây mù và cây cỏ. Anh làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu. Đó là một công việc tuy không khó nhưng phải hết sức chăm chỉ và tỉ mỉ. Bao nhiêu năm làm việc ở đây, chưa một lần anh lơ là công việc, lúc nào cũng gắn mình với công việc trong một trách nhiệm cao cả. Có lúc “Nửa đêm dù mưa tuyết, gió lạnh, đúng giờ ốp thì cũng phải trở dậy ra ngoài trời làm việc”.
Bốn lần ốp trong ngày: 4 giờ, 11 giờ, 19 giờ, lại 1 giờ, gian khổ nhất là lần báo lúc 1 giờ sáng, vậy mà anh chưa một lần trễ nãi. Anh tuân thủ nguyên tắc làm việc một cách nghiêm ngặt đã bốn năm nay. Công việc của anh không chỉ đòi hỏi tính chính xác mà còn tinh thần tránh nhiệm cao. Công việc tưởng chừng bình thường, đơn giản nhưng có ý chí, sức mạnh mới có thể thực hiện tốt được. Anh từng tâm sự: “Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc?”; “Công việc tuy gian khổ nhưng cất nó đi, cháu buồn đến chết mất!”
Hoàn cảnh sống khắc nghiệt vô cùng bởi sự heo hút, vắng vẻ; cuộc sống và công việc có phần đơn điệu, giản đơn…là thử thách thực sự đối với tuổi trẻ vốn sung sức và khát khao trời rộng, khát khao hành động. Nhưng cái gian khổ nhất đối với chàng trai trẻ ấy là phải vượt qua sự cô đơn, vắng vẻ quanh năm suốt tháng ở nơi núi cao không một bóng người. Cô đơn đến mức “thèm người”, phải lăn cây chặn đường dừng xe khách qua núi để được gặp gỡ, trò chuyện.
Đó cũng là nhu cầu cần thiết của con người để thể hiện và khẳng định tính xã hội của mình. Càng hình dung về hoàn cảnh sống của anh thanh niên chúng ta càng thêm cảm phục tinh thần dám hi sinh vì công việc của anh. Hằng ngày anh dường như câm lặng, chỉ có suy nghĩ và chân tay là vận động. Thế nhưng, anh vẫn luôn vui vẻ. Anh biết tạo ra niềm vui cho riêng mình để vượt qua sự đơn điệu của công việc và cuộc sống. Anh là biểu tượng của thế hệ thanh niên trong thời đại mới, sống có lý tưởng và yêu lý tưởng của mình! Sống có nghĩa là dâng hiến!
Anh thanh niên là người chân thành, cởi mở, hiếu khách và quan tâm chu đáo tới mọi người xung quanh:
Không phải bởi “thèm người” mà anh tỏ ra cởi mở, hiếu khách. Người thanh niên vốn luôn sẵn có một tình yêu mến dành cho mọi người từ lâu. Đó cũng là phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam trong thời đại xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Mấy lần gặp bác lái xe anh đã rất thân tình, ân cần và chu đáo. Anh còn nhớ tặng củ tam thất cho vợ bác vừa mới ốm dậy. Anh đếm từng phút vì sợ hết mất ba mươi phút gặp gỡ vô cùng quý báu và lưu luyến với khách khi chia tay, xúc động đến nỗi phải “quay mặt đi” và ấn vào tay ông hoạ sĩ già cái làn trứng làm quà, không dám tiễn khách ra xe dù chưa đến giờ “ốp”.
Tất cả không chỉ chứng tỏ tấm lòng hiếu khách của người thanh niên mà còn thể hiện sự cởi mở, chân thành, nhiệt tình đáng quí.
Anh thanh niên là người hết sức khiêm tốn, chân thành
Tuy đã xung phong làm việc nơi đỉnh cao vắng vẻ, một hành động dũng cảm nhưng anh tự nhận đó là trách nhiệm của mình, là bổn phận đối với nhân dân và đất nước, góp một phần nhỏ bé vào công cuộc chung của đất nước. Anh từ chối tất cả mọi lời đề nghị, mọi sự tôn vinh và thầm khâm phục những con người dũng cảm và tài giỏi hơn mình. Anh ngượng ngùng khi thấy bác họa sĩ vẽ mình và khéo léo từ chối và xin giới thiệu người khác xứng đáng hơn. Tấm lòng chân thành của anh càng khiến đoàn khách thêm mến yêu và cảm phục.
Tóm lại, chỉ bằng một số chi tiết và anh thanh niên chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc của truyện, nhưng tác giả đã phác hoạ được chân dung nhân vật chính với những nét đẹp về tinh thần, tình cảm, cách sống và những suy nghĩ về cuộc sống, về ý nghĩa của công việc. Anh thanh niên là hình ảnh tiêu biểu cho những con người ở Sa Pa, là chân dung con người lao động mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Kết bài:
Anh thanh niên, nhân vật trung tâm của tác phẩm, một trong những nhân vật “vô danh”, cao thượng, đáng quý của truyện ngắn này đang “âm thầm làm việc và lo nghĩ vì đất nước”.
Tình cảm yêu thương, trân trọng, cảm phục… của độc giả nói chung và của cá nhân em nói riêng dành cho anh thanh niên. Hình ảnh của nhân vật này cùng với những nét tính cách tốt đẹp sống mãi trong lòng bạn đọc. Sa Pa hoang sơ, lặng lẽ. Nhưng thật bất ngờ khi từng giây từng phút sự sống vẫn tuôn trào trong cái lặng lẽ ấy. | Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa–Pa của Nguyễn Thành Long | 1,999 | |
Cảm nhận về nhân vật Anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long
Hướng dẫn
Đề bài: Cảm nhận về nhân vật Anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long
Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên
Đây là một đề văn mở, tùy vào cảm nhận của mỗi người về nhân vật, song cần bám sát vào văn bản và phương pháp cảm nhận một nhân vật trong tác phẩm tự sự. Sau đây là một gợi ý:
Mở bài: Nêu cảm nhận chung về tác phẩm và nhân vật
-Lặng lẽ Sa Pa là một truyện ngắn nhẹ nhàng, trong trẻo, giàu chất thơ và xây dựng được hình tượng nhân vật đẹp. Truyện được viết năm 1970, sau chuyến đi thực tế ở Lào Cai của nhà văn Nguyễn Thành Long, có thể coi dây là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách của ông.
Truyện với những nhân vật không tên mà tiêu biểu là anh thanh niên trẻ cán bộ khí tượng trên đỉnh Yên Sơn. Nhà văn muốn giới thiệu với bạn đọc một điển hình trong công cuộc lao động xây dựng đất nước ở miền Bắc trên vùng cao khuất nẻo này.
Thân bài: Cần đạt được các nội dung sau:
Nhân vật anh thanh niên
Trước khi xuất hiện nhân vật chính, nhà văn đã giới thiệu cho người đọc một vùng đất đầy ấn tượng. Phong cảnh Sa Pa núi cao với thác đổ trắng xóa, đường núi quanh co, cây cối chen nhau hiện dần mỗi lúc một hấp dẫn. Nhân vật được khắc họa rõ nét dần dần, cảnh thơ mộng, con người mộng mơ, tất cả từ bác lái xe đến ông họa sĩ, cô kĩ sư trẻ… dường như trên chuyến xe ấy, mọi người đang đi tìm một điều giản dị nhưng thật quý giá, thiêng liêng. Vẻ đẹp của thiên nhiên Sa Pa đã làm nền cho vẻ đẹp của con người Sa Pa – những con người làm công việc nghiên cứu khoa học trong lặng lẽ mà rất khẩn trương vì lợi ích của đất nước, vì cuộc sống của con người, trong đó có anh thanh niên cán bộ khí tượng kiêm vật lí địa cầu.
Vẻ đẹp của anh được thể hiện trong hoàn cảnh sống và làm việc
Anh là “người cô độc nhất thế gian”, một mình làm việc trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m, quanh năm suốt tháng bốn bề mây phủ cây phong, lạnh rét. Anh cô độc đến thèm người và luôn nhớ người, bởi anh sinh ra có gia đình, cha mẹ, quê hương, làm sao không thèm, không nhớ? Nỗi nhớ khiến anh phải chặt cây chắn đường để được gặp người. Anh đã làm quen được với bác lái xe từ đó. Lần này qua bác lái xe, anh lại được làm quen với ông họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ, niềm vui ấy càng tiếp thêm cho anh tình yêu cuộc sống hơn bao giờ hết.
Công việc mỗi ngày của anh là: “Đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất” nhằm dự vào việc báo trước thời tiết hàng ngày phục vụ sản xuất và chiến đấu. Công việc đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác và có tinh thần trách nhiệm cao.
+ Hàng ngày, anh phải báo ốp về nhà vào các giờ 01 giờ sáng, 04 giờ, 11 giờ t rưa. 19 giờ tối. Gian khổ nhất là lúc 01 giờ sáng rét, mưa, tuyết rơi, đang nằm trong chăn ấm phải chui ra khi nghe tiếng chuông đồng hồ báo Ốp, chỉ muốn thò tay ra tắt ngay đi nhưng công việc chính xác đến không thể, đòi hỏi ý chí, tinh thẩn cao. Anh vùng dậy, xách đèn đi, gió, bão tuyết ào ào xô tới tấn công như chặt từng khúc, như muốn quét đi, bứt phá lung tung tất cả… xong việc, trở về không làm sao ngủ lại được.
+ Công việc thật gian khổ, vất vả nhưng anh vẫn yêu nó, làm việc hết mình và chính xác. Có lần anh đã phát hiện ra một đám mây khô nên không quân ta đã tiêu diệt được nhiều phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Anh thấy mình thật hạnh phúc. Chính lòng say mê công việc mà anh đã vượt qua nỗi cô đơn. buồn chán của bản thân. Anh tâm sự với ông họa sĩ về công việc của mình, có lẽ đây là những suy nghĩ chân thành và sâu sắc nhất của anh: “Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới, thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này, cháu không nghĩ như vậy nữa. Và khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi, công việc của cháu gắn liền với công việc của bao anh em đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất”… Đọc những lời tâm sự này, ta càng thấy đó là suy nghĩ và lối sống cao đẹp của anh, ta càng thấy mến yêu, quý trọng những con người như thế, biết làm chủ bản thân, ý thức sâu sắc được mục đích làm việc. Anh quả là con người mới, tiêu biểu cho lớp thanh niên: “Đâu cần thanh niên có – Đâu khó có thanh niên”, “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền / Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên” (Hồ Chí Minh).
Vẻ đẹp trong nếp sống, cách ứng xử
Anh thanh niên là người sống có nề nếp, nhân cách. Một mình trên núi cao, anh có thể sống tự do, thoải mái. Nhưng không, thật bất ngờ khi mọi người đến thăm lại thấy ngôi nhà của anh thật ngăn nấp, gọn gàng. Anh tự biết làm cho cuộc sống của mình vui vẻ, đầm ấm, thơ mộng, ý nghĩa và anh yêu sống nhường nào!
+ Anh trồng hoa: “Hoa dơn, hoa thược dược vàng, tím, đỏ, hồng phấn, tổ ong,…”, vườn hoa khoe sắc rực rỡ hàng ngày như động viên, tiếp sức, làm cho tâm hồn anh tươi mát, mộng mơ, thêm yêu cuộc sống.
+ Anh đọc sách, trò chuyện, giao tiếp với sách, lấy sách làm bạn tri âm tri kỉ
+ Anh nuôi gà vừa có thêm thực phẩm hàng ngày vừa tạo không khí gia đình vui tươi, đầm ấm.
+ Thế giới riêng của anh: “Một ngôi nhà ba gian sạch sẽ, với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm”, một cuộc đời riêng “thu gọn lại một góc trái gian với chiếc giường con, một chiếc bàn học, một giá sách”, và ở ngoài sân: đàn gà, vườn hoa,… đẹp, giản dị mà tao nhã biết bao! Có lẽ chính lối sống đẹp đẽ khiến anh quên đi hoàn cảnh cô độc, công việc nhàm chán, khắc nghiệi để thấy yêu nghề, yêu cuộc sống hơn.
Anh là người khiêm tốn, thành thực. Khi ông họa sĩ muốn vẽ chân dung của anh, anh từ chối bởi thấy công việc và những đóng góp của mình còn nhỏ bé, chưa thấm vào đâu so với những người mà anh rất cảm phục như “ông kĩ sư ở vườn rau dưới Sa Pa”, “người đồng chí nghiên cứu khoa học” cùng cơ quan đang nghiên cứu lập bản đồ sét, với tất cả niềm say mê, hào hứng… Anh nhiệt thành giới thiệu để ông họa sĩ vẽ chân dung của họ – những con người làm việc hết mình, thầm lặng, những cống hiến đáng trân trọng và khâm phục.
Anh là người có tấm lòng rộng mở, chân thành, gần gũi, thân thiết với tất cả mọi ngưòi.
+ Với bác lái xe dường như đã trở thành người bạn thân tình, anh chu đáo nhớ cả việc vợ bác mới ốm dậy, gửi củ tam thất về làm quà cho bác.
+ Với những người bạn mới như ông họa sĩ, cô gái trẻ, anh vui mừng đến luống cuống, hấp tấp khi biết họ sẽ lên thăm nơi ở và làm việc của mình. Anh bộc lộ tình cảm thật hồn nhiên, chân thành đến cảm động: tặng bó hoa tươi, đẹp rực rỡ cho cô gái trẻ, đếm từng phút vì thời gian gặp gỡ quý hiếm vô cùng, anh giới thiệu qua công việc của mình năm phút, còn hai mươi phút mời mọi người uống trà, trò chuyện. Anh thèm và khao khát được nghe chuyện dưới xuôi, anh tiếc: “Trời ơi, chỉ còn có năm phút”. Với anh không chỉ thèm người mà còn đói cả thông tin. Thời gian trôi đi thật nhanh, giờ phút chia tay đã đến, anh không dám tiễn hai người, xúc động “quay mặt đi” và ấn vào tay ông họa sĩ làn trứng gà làm quà cho mọi người ăn trên đường.
=> Chỉ bằng vài nét phác họa nhẹ nhàng, tác giả đã làm nổi bật hình ảnh anh thanh niên – bức chân dung với những vẻ đẹp về tinh thần, tình cảm, lối sống, những suy nghĩ về lí tưởng, công việc của anh. Thật đáng tiếc! Chính tác giả cũng đã nhận xét truyện ngắn này là “một bức chân dung” – chân dung được hiện lên ở một số nét đẹp, nhưng chưa được xây dựng thành một tính cách hoàn chỉnh và hầu như chưa có cá tính,
Quá khứ – chiến tranh và những đói nghèo của đất nước đã lùi xa. Chúng ta – thế hệ trẻ của thế kỉ XXI đang tiến công vào khoa học và hội nhập quốc tế, tiếp tục phải đốì mặt với bao khó khăn mới, chúng ta không có quyền lãng quên quá khứ của đất nước, của dân tộc nhất là những thế hệ cha anh đã cống hiến, hi sinh để có ngày nay. Những bài học về phẩm chất, về lí tưởng sống như anh thanh niên và những con người lao động vô danh trong Lặng lẽ Sa Pa vẫn mãi là tấm gương sáng cho thế hệ mai sau noi theo. Hãy cố gắng học tập, rèn luyện để sống có ích cho bản thân và xã hội, được mọi người yêu mến, quý trọng. | Cảm nhận về nhân vật Anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long | 1,756 | |
Cảm nhận về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng
Hướng dẫn
11 | Cảm nhận về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng | 20 | |
Đề bài: Cảm nhận về nhân vật chị Dậu trong Tắt đèn
Bài làm
Ngô Tất Tố là nhà văn của nông dân và là một trong những tác giả tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán. Ông có vị trí tương đối vẻ vang trong lịch sử văn học Việt Nam trước Cách mạng.
Tắt đèn là tác phẩm có giá trị hiện thực và sức mạnh tố cáo sâu sắc. Viết về nạn thuế thân, tập trung vào mấy ngày thu thuế, Ngô Tất Tố đã phản ánh hiện thực nông thôn đương thời một cách tập trung và điển hình. Qua mấy ngày “sưu thuế giới kỳ” này, tình cảnh thảm thương của người nông dân cũng như bản chát tham lam tàn ác của bọn thống trị phơi bày ra rõ nét hơn lúc nào hết.
Với số trang hạn chế, Tắt đèn mô tả khá đủ mặt những lực lượng thống trị ở nông thôn trước Cách mạng. Đấy là bọn cường hào tàn nhẫn đè nén ức hiếp nông dân, chỉ chờ có dịp “đục nước” để được “béo cò”. Chúng nịnh bợ quan trên bòn hút của người nghèo. Đây là bọn địa chủ “đầu trâu mặt ngựa ăn thịt người không biết tanh”, vừa dốt nát, vừa keo kiệt ti tiện, mà điển hình là Nghị Quế. Hắn làm giàu một cách rất “cổ điển” là cho vay nặng lãi và chiếm đoạt ruộng đất của nông dân. Luôn luôn tỏ ra “am hiểu thời thế”, “cái gì cũng nhắc đến Tây”. Là nghị viện hẳn hoi, nhưng hắn có đức “không thèm biết chữ”. Đó là bọn quan lại bỉ ổi dùng vợ làm một phương tiện thăng quan tiến chức như tri phủ Tư Ân. Đằng sau chúng. Ngô Tất Tô bằng ngòi bút thâm thúy của mình vẫn cho người đọc hình dung ra ít nhiều hình ảnh đen tối của bọn thực dân – tác giả của những tấm thẻ sưu. Bằng một ngòi bút hiện thực sắc sảo, chỉ cần một vài nét, nhà văn đã vạch trần bản chất xấu xa của chúng, mặc dù mỗi đứa lại có một dáng vẻ riêng.
Tuy vậy, giá trị to lớn độc đáo của tác phẩm Tắt đèn không phải ở chỗ phê phán xã hội đương thời, mà ở chỗ nhà văn đã xây dựng được một hình tượng chân ihực đẹp đẽ về người phụ nữ nông dân. Xây dựng thành công nhân vật chị Dậu, Ngô Tất Tố đã góp vào văn học Việt Nam một nhân vật hấp dẫn. Nói như Nguyễn Tuân, chị Dậu xứng đáng là “tất cả của Tắt đèn".
Chị Dậu có thể tiêu biểu cho hàng triệu phụ nữ Việt Nam trước Cách mạng. Hai vợ chồng chị “đầu tắt mặt tối không dám chơi ngày nào” mà vẫn “cơm không đủ no, áo không đủ mặc”, gia đình “lên đến bậc nhì, bậc nhất trong hạng cùng đinh”. Thế rồi, anh Dậu đau ốm, vụ thuế đến cùng với biết bao tai họa… Viết về số phận của người phụ nữ nông thôn, Ngô Tất Tố đã đặt ra được một vấn đề bức thiết nhất: cơm áo quyền sống của con người. Hình tượng chị Dậu có sức khái quát cao chính ở điểm này.
Giống như nhiều nhân vật phụ nữ trong văn chương truyền thống, chị Dậu vốn là một phụ nữ xinh đẹp nết na… Gặp hoàn cảnh hoạn nạn, nhân vật này trở thành “đốm sáng đặc biệt” (Nguyễn Tuân) khiến người đọc cảm thương trân trọng.
Chị Dậu một phụ nữ có tinh thần vị tha yêu chồng, thương con tha thiết. Việc chị tìm mọi cách đổ cứu chồng ra khỏi cảnh cùm kẹp, chị ân cần săn sóc anh Dậu, đặc biệt hành động dũng cảm lấy thân mình che chở cho người chồng đau ốm trước thái độ hung hãn của hai tên tay sai… cũng làm cho người đọc yêu mến và khâm phục. Chính tình yêu thương chồng đã tạo nên ở chị một sức mạnh quyết liệt bất ngờ.
Cũng như nhiều bà mẹ Việt Nam khác, chị Dậu rất mực thương con, chiều con. Cùng quẫn, buộc phải hán đứa con đầu, chị như đứt từng khúc ruột, lúc nào cũng nghĩ “còn có ngày nào đem được nó về nữa không”. Ngay đến khi bị giải lên huyện, nhịn đói với “sợi dày thừng gò ở hai cánh tay”, chị vẫn nghĩ đến cái Tỉu, thằng Dần, cái Tý.
Chị Dậu là một phụ nữ thông minh, sắc sảo. Chị không biết chữ, chẳng khi I hở ngỡ trước hao mufu ma chước quỷ của bọn thống trị, nhưng chị không phài lii người ngu đần. Chị không lạ gì bụng dạ của vợ chồng Nghị Quê', nhìn bọn tai 11 mật lổn ở đình làng chị hiểu ra nhiều điều… Quả thật, ta thấy chị bị ức hiếp nhiều hơn là chị bị lường gạt…
Đứng trước khó khăn bất ngờ, tưởng chừng không thể vượt qua – phải nộp "một lúc hai suất sưu, anh Dậu thì đau ốm, đàn con thì bé dại… tất cả trông chờ vào sự chèo chống của chị. Trên thực tế, chị thành chỗ dựa của cả gia đình.
Đây cũng là một phụ nữ có ý thức sâu sắc về nhân phẩm. Chị đã từng phài ':chịu đứng vì số" tiền nộp sưu, nhưng chị vẫn đủ can đảm ném thẳng nắm giây vào mặt tên tri phủ Tư Ân. Hai lần bị cưỡng hiếp, chị đều thoát ra được. Đây chính là những biểu hiện đẹp đẽ của nhân phẩm, của tinh thần tự trọng.
Thông minh sắc sảo, có tinh thần quật khởi, ý thức sâu sắc về nhân phẩm… nhân vật chị Dậu còn toát lên vẻ đẹp mộc mạc của người phụ nữ nông thôn. Chị vống ở nơi tăm tối bị ức hiếp đè nén, nhưng tâm hồn vẫn sáng trong như đóa hoa sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
Tóm lại, bằng thái độ trân trọng và sự hiểu biết sâu sắc về nông thôn và nông dân, Ngô Tất Tố đã xây dựng thành công nhân vật chị Dậu, với tất cả những nỗi khổ sở đau xót, và đặc biệt với những phẩm cách trong sạch. Chính những yếu tố tích cực này khiến cho chị Dậu trở thành một “chân dung lạc quan”, luôn muốn “tung ra, khỏi bóng tối” (Nguyễn Tuân), vượt qua cái nhìn bi quan bế tắc của tác giả về tiền đồ của người nông dân.
Về mặt nghệ thuật, tác phẩm Tắt đèn ghi nhận một thành tựu xuất sắc của tiểu thuyết truyền thống.
Tắt đèn có cốt truyện rõ ràng, tình tiết mạch lạc, chặt chẽ, lời văn gọn gàng. Giống như các tiểu thuyết truyền thông, hệ thống nhân vật được chia thành hai tuyến hoàn toàn đốì lập nhau: chính diện và phản diện. Nhân vật chính diện thường có ngoại hình đẹp với tư tưởng tình cảm trong sáng. Ngược lại nhân vật phản diện thường có ngoại hình xấu, hành vi tàn ác với tư tưởng tình cảm xấu xa.
Trong Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã khác họa được một số tính cách gần như những thuộc tính chung cho một giai cấp, một tầng lớp. Chị Dậu là nhân vật chính diện đẹp người, đẹp nết., tiêu biểu cho những người nông dân lao động. Nghị Quế là nhân vật phản diện ngu dốt, thô lỗ, tham lam, tàn nhẫn… tiêu biểu cho tầng lớp bóc lột. Nhân vật trong Tắt đèn ít khi có sự xung đột nội tâm và hầu như không biên đổi qua hoàn cảnh (chị Dậu trước sau vẫn là một người vị tha, đảm đang, chung thủy, thông minh…).
Nhân vật trong Tắt đèn, phần nhiều có sức khái quát cao, tuy vậy, các nhân vật này cũng khó tránh khỏi tình trạng công thức, lược đồ.
(Trước đây một số sách cho rằng: Qua Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã xây dựng được một nhân vật điển hình – chị Dậu, trong một hoàn cảnh điển hình – làng Đông Xá khi mùa sưu thuế đến. Đôn nay khái niệm “nhận vật điển hình” cần phải hiểu theo một cách chặt chẽ hơn).
Một hạn chế của tác phẩm Tắt đèn là nhà văn chưa nhìn thấy tiền đồ của những người nông dân mà ông trân trọng yêu quý. Tác giả đặt tên cho tác phẩm là Tắt đèn và kết thúc tác phẩm bằng cảnh “trời tối om như mực” và cái tiền đồ của chị Dậu.
Song, như đã phân tích ở trên, nhân vật chị Dậu có phần nào thoát khỏi cảm quan hiện thực đen lối của tác giả, gieo vào lòng người đọc ít nhiều niềm hy vọng ở sự đổi đời của người nông dân lao động. | Cảm nhận về nhân vật chị Dậu trong Tắt đèn | 1,493 | |
Cảm nhận về nhân vật Chử Đồng Tử trong truyện Chử Đồng Tử
Hướng dẫn
Cảm nhận về nhân vật Chử Đồng Tử trong truyện Chử Đồng Tử
Trong kho tàng văn học nước ta bên cạnh những tác phẩm của các tác giả nổi tiếng thì cũng có những tác phẩm mà dân dân ta sáng tác ra có sức ảnh hưởng lớn đến dân tộc và mãi in sâu trong tâm trí con người Việt Nam ta. Tiêu biểu là truyện Cử Đồng Tử. Đây là một câu truyện cổ tích khá hay và được rất nhiều người biết đến và nó được lưu truyền ở nhiều đời bởi sự li kì và hấp dẫn giữa cuộc hôn nhân của một anh chàng nghèo và một cô công chúa xinh đẹp.
Chử Đồng Tử là một chàng trai nghèo mồ côi. Vì gia đình rất nghèo nên Chử Đồng Tử với ba chỉ có một chiếc khố để mặc. Hai cha con thay nhau mặc chiếc khố đó ngày qua ngày. Cha của Chử Đồng Tử thì đã già mà còn có bệnh tật nên càng khốn khó thêm lại không có tiền mua thuốc cho cha. Trước khi người cha mất người cha còn dặn để lại chiếc khố cho Chử Đồng Tử. Như vậy ta thấy được tình yêu thương thiêng liêng mà người cha dành cho con trai của mình. Đây là một người cha hết mực thương con và luôn muốn giành những điều tốt đẹp đến cho con của mình.
Chử Đồng Tử là một người con ngoan biết nghe lời nhưng chỉ riêng việc không nghe lời khi để lại chiếc khố nhưng người đọc vẫn thấu hiểu rõ nỗi lòng và hành động của một người con ngoan. Khi lo cho cha mình xong Chử Đồng Tử sống ở ven biển và trên người không có một tấm vải để che thân. Trong một lần công chúa Tiên Dung đi dạo chơi đã vô tình gặp được Chử Đồng Tử và từ đó hai người bén duyên và làm nên những điều hạnh phúc. Nhưng cuộc đời thật trớ trêu vì hai người có xuất thân ở hai hoàn cảnh hoàn toàn khác nhau. Một người xuất thân trong gia đình dòng tộc danh giá sống trong nhung gấm lụa là con một người thì xuất thân nghèo khổ không có gì cả, có duy nhất một tấm khổ để che thân nhưng vì thương cha nên đã để cho cha mặc xuống xuống vàng còn mình không có gì ngoài cái thân xác không.
Đây là một hành động thấu tình đạt lý mang lại cho ta cái nhìn sâu sắc về tính cách con người. Chử Đồng Tử là người có phẩm chất tốt đẹp để lại cho người đọc có cái nhìn sâu sắc và những sự thấu đáo nhất định. Và bản thân mỗi người đọc cũng nhận ra những điều tốt đẹp ở Chử Đồng Tử cùng cách ứng xử rất đỗi phù hợp ở Chử Đồng Tử.
Qua câu chuyện này ta thấy được rằng nhân vật Chử Đồng tử là một người con ngoan và vô cùng có hiếu. Lại là người chăm chỉ cần cù do đó nên được thần tiên giúp đỡ. Nhưng Chử Đồng Tử không huyênh ho.ang mà vẫn cư xử rất là thấu tình đạt lý trong tình huống với vô cha. Để từ đó người đọc nhận ra được sự thương yêu vợ và sự có hiếu với vua cha dù không được vua cha chấp nhận đồng thời khiến cho Tiên Dung cũng không khó xử với cha hơn | Cảm nhận về nhân vật Chử Đồng Tử trong truyện Chử Đồng Tử | 605 | |
Đề bài: Cảm nhận về nhân vật cô em gái Kiều Phương trong truyện ngắn Bức tranh của em gái tôi của Tạ Duy Anh
Bài làm
Trong chương trình ngữ văn lớp 6 – tập II, em đã được học truyện ngắn Bức tranh của em gái tôi và nhân vật Kiều Phương – cô em gái với lòng nhân hậu đã toả sáng trong tâm trí em.
Học xong truyện, em vẫn biết rõ ràng truỵện không đơn giản khẳng định, ca ngợi những nét phẩm chất tốt đẹp của nhân vật cô em gái mà chủ yếu muốn hướng người đọc tới sự tự thức tỉnh ở nhân vật người anh qua việc trình bày những diễn biến tâm trạng của nhân vật này trong suốt truyện. Đây mới chính là chủ đề của tác phẩm. Nhân vật chính đóng vai trò chủ yếu trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề của văn bản (Ngữ văn 6
– Tập I, tr 3. Vì thế, người anh phải là nhân vật trung tâm” trong việc thể hiện chủ đề và tư tưởng của tác phẩm. Thế nhưng nhân vật Kiều Phương vẫn làm cho em vô cùng cảm phục và trân trọng biết bao!
Vẻ đẹp của Kiều Phương không phải do lời kể của tác giả, cũng không phải do nhân vật tự bộc bạch mà vẻ đẹp đó được hiện ra dần dần qua con mắt nhìn và lời kể truyện của chính người anh.
Một người anh luôn “coi thường” những việc làm của cô em gái, đố kị trước tài năng của em gái mình, vẻ đẹp đó càng ngày càng đẹp, cho đến cuối truyện thì vẻ đẹp ấy đọng lại một cách sâu sắc trong lòng người anh và gợi nhiều suy nghĩ cho người đọc.
Vẻ đẹp đó là gì? Phải chăng là sự hồn nhiên, hiếu động, tài năng hội hoạ, tình cảm trong sáng và lòng nhân hậu?
Không hồn nhiên thì sao khi có biệt hiệu là “Mèo”, “nó vui vẻ chấp nhận” và còn dùng cái tên đó để xưng hô với bạn bè. Sự hồn nhiên đó còn được thể hiện lúc ở nhà mèo hay lục lọi các đồ vật với một sự thích thú. Hồn nhiên hơn là “nó vênh mặt”- “Mèo mà lại! Em không phá là được…”. Khi người anh tỏ vẻ khó chịu Này, em không để chúng nó yến được à?. Khi chế xong bột vẽ, nó vừa làm vừa hát, có vẻ vui lắm. Đúng là một cô bé hồn nhiên quá! Hồn nhiên đến đáng yêu!
Điều đáng yêu hơn là cô còn có một tài năng hội hoạ, theo lời chú Tiến Lê, đấy còn là một thiên tài hội hoạ. Tài năng đó chính là sáu bức tranh do “Mèo” vẽ dấu người anh, không ngờ là những bứt tranh độc đáo “có thể đem đóng khung treo ở bất cứ phòng tranh nào”. Bố của “Mèo” đã phải thốt lên sung sướng: Ôi con đã cho bố một bất ngờ quá lớn. Mẹ em cũng không kìm được xúc động.
Tài năng của Kiều Phương được khẳng định bằng bức tranh được trao giải nhất, qua một tuần tham gia trại thi vẽ quốc tế,
khiến cho cả nhà “vui như tết”. Duy chỉ có người anh của Mèo thì lại rất buồn. Hiểu được điều này, Kiều Phương đã dành cho anh trai những tình cảm rất trong sáng. Nó lao vào ôm cổ tôi, nhưng tôi viện cớ đang dở việc đẩy nhẹ nó ra. Tuy thế, nó vẫn kịp thì thầm vào tai tôi: Em muốn cả anh cùng đi nhận giải. Một hành động, một lời nói thôi đã toát lên một tâm hồn ngây thơ trong sáng của một cô bé đáng yêu!
Con có nhận ra con không?…
Con đã nhận ra con chưa? Làm sao con trả lời được mẹ. Bởi đấy là tâm hồn và lòng nhân hậu của em con đấy. Phải chăng soi vào bức tranh ấy, cũng chính là soi vào tâm hồn trong sáng và nhân hậu của em gái, nhân vật người anh đã tự nhìn rõ hơn về mình để vượt lên được những hạn chế của lòng tự ái và tự ti: Dưới mắt em tôi, tôi hoàn hảo đến mức kia ư?. Đây chính là lúc nhân vật tự “thức tỉnh” để hoàn thiện nhân cách của mình.
Bức tranh của em gái tôi không được vẽ bằng chất liệu hội hoạ. Nó được vẽ bằng quá trình diễn biến tâm trạng của người anh, thông qua lời kể vô cùng xúc động của nhân vật. Đó là “Mèo con” có tấm lòng nhân hậu. Đấy cũng là vẻ đẹp của một em bé gái trong cuộc sống đời thường mà ta có thể gặp bất cứ ở đâu trên đất nước mình. | Cảm nhận về nhân vật cô em gái Kiều Phương trong truyện ngắn Bức tranh của em gái tôi của Tạ Duy Anh | 811 | |
Cảm nhận về nhân vật cụ Mết và chú Năm
Hướng dẫn
Cảm nhận về nhân vật cụ Mết và chú Năm
Bài làm
Cuộc kháng chiến chống Mỹ qua đi để lại biết bao đau thương, mất mát, hi sinh, nhưng cũng trở thành nguồn cảm hứng cho các nhà thơ, nhà văn sáng tạo ra những tác phẩm ca ngợi lòng yêu nước, quả cảm của người dân Việt Nam. Trong vô vàn tác phẩm ấy, nổi bật hơn cả là “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi và “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành. Nếu nhiều bạn đọc ấn tượng trước tinh thần yêu nước, dũng cảm của hai chị em Chiến, Việt, hay khâm phục sức mạnh, lòng trung thành của Tnú, thì tôi lại thích nhân vật chú Năm và cụ Mết. Tuy không phải là nhân vật trung tâm nhựng sự xuất hiện của chú Năm và cụ Mết lại quan trọng hơn cả.
Trước tiên là cụ Mết trong “Rừng xà nu”. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Trung Thành, cụ Mết hiện ra như một “cây xà nu lớn”- uy nghi, rắn rỏi, dáng người “quắc thước”, “râu dài tới ngực”, “mắt sáng và xếch ngược”, “vết sẹo ở má phải vẫn láng bóng”. Cụ Mết đã ngoài 60 nhưng ngoại hình của cụ không khắc họa hình ảnh một ông cun già lưng còng râu bạc hiền từ như ta thường biết, cụ Mết lại mang ngoại hình của một vị trưởng làng mạnh mẽ, của một chiến binh già dũng cảm, của một “cây xà nu” lớn hiên ngang, vững chắc che chở cho cả ngôi làng Xô Man. Khi Tnú đi chiến đấu được về làng một đêm, chính vị trưởng làng già đáng kính ấy đã chào đón, chăm sóc Tnú, đã động viên anh lực lượng bằng lời khen khi ông vừa ý nhất: “Được”. Đó là tấm lòng bao la của cụ Mết, ông không chỉ tự hào vì ngôi làng nhỏ bé của mình đã gửi vào quân đội một chiến sĩ quả cảm, trung thành như Tnú mà còn thể hiện lòng tự hào, tình yêu thương của một người ông đối với đứa cháu, đứa con của mình. Cụ Mết chính là người đã chứng kiến cuộc đời của Tnú, đã kể về cuộc đời đầy chiến công nhưng cũng nhiều đau thương ấy cho các thế hệ hiện tại tương lai noi theo, học tập. Cụ Mết nói như ra lệnh: “Người Strá ai cũng có cái tai, ai cũng có cái bụng thương núi, thương nước hãy lắng nghe, nhớ. Sau nay tai chết rồi, chúng mày phải kể lị cho con cháu nghe”. Có thể nói, cụ Mết đóng vai trò vô cùng quan trọng trong “Rừng xà nu”. Cụ chính là điểm nhìn trần thuật của tác giả, giúp tác giả khắc họa lại cuộc đời của người anh hùng Tnú một cách khách quan chính xac và sinh động nhất. Không những vậy, tôi còn vô cùng ấn tượng trước cảnh cụ Mết chỉ huy toàn bộ dân làng đứng lên chống lại bọn phản Cách mạng, cứu sông Tnú khỏi tay giặc với khẩu lệnh rắn rỏi: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Có nhiều ý kiến cho rằng, Nguyễn Trung Thành đã sáng tạo nhân vật cụ Mết chỉ để kể về cuộc đời Tnú. Nhưng tôi không cho là vậy. Cụ Mết không chỉ là nguồn động lực, là quê hương, là điểm tựa vững chắc trong tâm hồn Tnú, mà còn là người gìn giữ câu chuyện cuộc đời Tnú, lưu truyền nó như bài học về lòng trung thành, dũng cảm. Những cây xà nu con như Tnú được cụ Mết chở che, cho khôn lớn, nuôi dạy, cho ý chí sắt thép,trở thành những cây xà nu trưởng thành, rồi cả rừng xà nu như thế sẽ bao phủ dải đất Tây Nguyên, bảo vệ lãnh thổ đất nước Việt Nam dấu yêu. Tóm lại, đọc “Rừng xà nu” mà chỉ nhớ về Tnú, quên đi cụ Mết thì vẫn chưa tính là thấu hiểu tác phẩm này.
Nhân vật cũng gây ấn tượng không kém là chú Năm trong “Những đứa con trong gia đình”. Nguyễn Thi không miêu tả ngoại hình chú Năm, cũng không dành nhiều đất cho nhân vật xuất hiện. Bạn đọc biết về chú Năm chỉ gói gọn trong hai nội dung chính: là người lớn tuổi duy nhất còn lại trong một gia đình truyền thống Cách mạng, chú của hai chị em Chiến, Việt và là một cựu chiến binh. Nhưng từng ấy cũng đủ để tôi hình dung về chú Năm. Từ việc chú Năm sẵn sàng xin cho hai cháu đi tong quân đến việc dn dò hai cháu nếu bỏ về thì sẽ chặt đầu đều cho thấy chú Năm là một cựu chiến binh quả cảm, thẳng thắn và yêu nước, trung thành với Cách mạng. Không còn đủ khả năng tự mình cầm súng diệt giặc, chú Năm trở thành hậu phương, thành chỗ dựa vững chắc cho hai đứa cháu. Chú Năm trở thành hậu phương, thành chỗ dựa vững chắc cho hai đứa cháu. Chú Năm chăm sóc thằng Ú tem, chăm sóc ruộng mía, trông coi bàn thờ má cho chị em Chiến, Việt yên lòng lên đường hành quân diệt giặc. Nếu không có chỗ dựa là chú Năm, liệu chị em Chiến, Việt có đủ yên lòng lên đường hành quân diệt giặc, đủ yên lòng bỏ mặc nhà cửa, bàn thờ má hay đứa em còn nhỏ lị một mình? Chiến thắng vẻ vang mà ta dành được không chỉ dựa vào sức các chiến sĩ mà còn là cả hậu phương phía sau, dựa vào những người như chú Năm. Cứng rắn là vậy nhưng ngày hai cháu chính thức lên đường, chú Năm vẫn khóc, “đưa mấy ngón tay cứng còng chùi nước mắt”. Hơn ai hết, chú Năm hiểu, một khi đã vào chiến trường, trở về được hay không thật khó nói. Nhưng chú không muốn thể hiện sự lo lắng ấy, chú chỉ cười và động viên hai chị em bằng cách giao sổ gia đình cho hai cháu, hứa sẽ ghi chiến công từng ngày của hai chị em vào đó. Như sợ chưa đủ, chú Năm cất lời hò, “câu hò cất nổi lên giữa ban ngày nhắn nhủ, tha thiết, cuối cùng ngắt lại như một lời thề dữ dội”. Lời hò của quê hương ấy sẽ theo hai chị em Chiến, Việt vào chiến trường, sẽ vực dậy họ lúc gian khổ, tiếp thêm sức mạnh quyết tâm chiến đấu, sẽ nhắc cho hai chị em yên tâm rằng ở nhà, đã có chú Năm lo liệu mọi việc, nhắc rằng hai chị em là niềm tự hào tiếp theo của một gia đình truyền thống Cách mạng. Có thể nói, nhân vật chú Năm không nổi bật nhưng lại là mạch ngầm xuyên suốt tác phẩm, mang nhiều ý nghĩa không thể thiếu. | Cảm nhận về nhân vật cụ Mết và chú Năm | 1,191 | |
Cảm nhận về nhân vật Lão Hạc văn lớp 8
Hướng dẫn
Đề bài: Cảm nhận về nhân vật Lão Hạc
Bài văn mẫu cảm nhận về nhân vật Lão Hạc
Truyện ngắn Lão Hạc là một tác phẩm tiêu biểu trong dòng văn học hiện thực, phản ánh rõ xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử năm 1945. Nếu như có tìm hiểu qua có lẽ ai cũng biết rằng Nam Cao không chỉ là một nhà văn mà còn là một người chiến sĩ của Việt Nam. Ông đã viết không ít những tác phẩm phản ánh hiện thực, đi sâu vào cuộc sống khổ cực của người dân trong xã hội lúc bấy giờ mà điển hình là truyện ngắn Lão Hạc.
Nam Cao là một nhà văn rất thành công trong việc xây dựng nhân vật từ ngoại hình tính cách đến tâm trạng và cả ảnh hưởng xã hôi lúc bấy giờ đến nhân vật. Có lẽ nhân vật Lão Hạc được dựng trên tính cách, con người Việt Nam. Một nông dân hiền lành, chân chất sống trong áp bức bốc lột của xã hội phong kiến.
Đầu tiên trong truyện ngắn ta có thể thấy được Lão Hạc sống chung với con trai của mình, vợ mất sớm. Có lẽ vì vậy mà Lão rất thương con mình, để ý từng chút tâm trạng, biểu cảm và ngay cả khi con trai đã cố cười dấu đi cảm xúc thật ông vẫn có thể nhận ra. Ai cũng biết rằng người cha nào mà chẳng thương con, chẳng mong con được hạnh phúc nhưng cái cảm giác không cho con được điều mà con mong muốn nó khó tả đến nhường nào. Con trai Lão yêu và muốn lấy vợ nhưng tiền thách cưới lại quá cao, Lão từng nghĩ đến việc bán vườn nhưng có bán cũng không đủ Lão đành cố gắng khuyên con trai nhưng có ai biết được con trai Lão đi đăng kí làm đồn điền cao su khi cô gái lấy người khác có điều kiện hơn. Con trai Lão đưa Lão 3 đồng bạc rồi ra đi. Tâm trạng của Lão người đọc đều có thể cảm nhận được là sự buồn bã, dằn vặt mà trong đó còn mang một sự bất lực khi con trai Lão đi mà Lão thì không có cách gì níu giữ. Từ đó Lão sống chung với cậu Vàng, là con chó mà con trai Lão mua để dành khi lấy vợ. Lão quý nó như người bầu bạn của mình,cuộc sống sẽ vẫn bình lặng qua ngày nếu như Lão không bị bệnh. Đúng vậy, Lão bị ốm suốt 2 tháng liền không làm được gì, còn tốn tiền thuốc, Lão sống khó khăn lại đi đến quyết định bán cậu Vàng. Chắc rằng lão đã suy nghĩ rất nhiều vì việc này được Lão nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần với ông Giáo một người hay tâm sự cùng Lão. Có lẽ lão sẽ không đắn đo suy nghĩ quá nhiều khi bán cậu Vàng nếu đó không phải là do con trai Lão mua, cứ nhìn thấy nó là lão lại nhớ con trai mình chắc hẳn Lão xem nó là vật kỉ niệm duy nhất con trai để lại trước khi đi.
Như vậy Lão là một người sống rất tình cảm và có lẽ không chỉ vậy mà Lão còn là một người có tấm lòng nhân hậu. Lúc lão bán con chó, Lão đã chạy đến khóc trước mặt ông Giáo như một đứa trẻ. Lão buồn không chỉ vì mất đi con chó mà lão còn dằn vặt lương tâm mình vì đã lừa nó. Lão gọi nó về cho nó ăn và rồi nó bị bắt đi, với sự miêu tả trong truyện có vẻ như nó không kêu lên hay dẫy dụa mà chỉ đơn giản là một ánh mắt với tiếng ưng ửng phát ra cũng có thể vì thế mà Lão xót, không chỉ xót cho nó mà còn xót cho chính bản thân mình.
Sau khi bán chó Lão gửi lại tiền và vườn cho ông Giáo nhờ ông Giáo trông vườn giùm và tiền thì để lo ma chay cho Lão nếu lỡ có chuyện gì xảy ra. Mấy ngày sau chỉ thấy lão suốt ngày ăn khoai, hết khoai rồi thì chế được gì Lão ăn cái đó. Tuy khó khăn là vậy nhưng lão lại không nhận sự giúp đỡ từ ông Giáo, có thể thấy Lão còn là một người giàu lòng tự trọng. Vài ngày sau đó Lão chết, lão đã tự tử nhưng lại dùng một cái chết dằn vặt và đau đớn suốt hai giờ liền. Phải chăng lão chọn cách đó để tự dằn vặt bản thân mình đã lừa cậu Vàng và cũng là để lên án xã hội phong kiến lúc bấy giờ.
đã giới thiệu bài cảm nhận về nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao. Các em thấy thế nào, nếu hay hãy comment bên dưới nhé.
Võ Hạnh | Cảm nhận về nhân vật Lão Hạc văn lớp 8 | 854 | |
Cảm nhận về nhân vật Mị Châu
Hướng dẫn
Cảm nhận về nhân vật Mị Châu
Trong chuỗi những truyền thuyết hào hùng về thời kỳ dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, truyền thuyết về An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy là tác phẩm tâm đắc nhất. Đọc xong câu chuyện, người đọc không thể không suy tư về cuộc đời của Mị Châu, một cô gái dịu hiền xinh đẹp, trọng nghĩa trọng tình lại phải chịu một cái kết oan ức và xót xa hơn bao giờ hết.
“Tôi kể ngày xưa truyện mị châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”
Mị Châu là cô công chúa xinh đẹp tuyệt trần của An Dương Vương, ngây thơ và trong sáng. Nàng không thể giải quyết được lý và tình, giữa hiếu và nghĩa để rồi cuối cùng phải chịu cái chết oan ức. Qua truyền thuyết, người đọc cũng có thể cho rằng Mị Châu là một kẻ phản nghịch vì nàng đã trực tiếp tiếp tay cho giặc, bán nước hại cha nhưng sự thật là Mị Châu đã trở thành tội phạm vì nàng đã quá ngây thơ, tin tưởng người khác, tin vào tình yêu mà đã vô tình quên đi đất nước, quên đi cha mình. Chính sự tin yêu mù quáng đó cho nên Mị Châu đã trực tiếp tạo nên tấn bi kịch của lịch sử này.
Nàng vừa đáng thương lại vừa đáng trách bởi nàng đã đem bí mật, vận mệnh đất nước đề làm đẹp thêm tình vợ chồng nhưng đáng thương ở chỗ nàng cả tin ngây thơ yêu chàng, và muốn chiều theo ý chồng, lại là người phụ nữ ở xã hội xưa thì càng nói lên rõ về điều đó.
Lần thứ hai là trong ngày tiễn biệt, cũng chỉ vì chữ yêu, yêu tới mù quáng cho nên Mị Châu đã không hề mảy may nghi ngờ gì về câu hỏi đầy dụng ý, cũng không hề nhận ra âm mưu của chồng mình, nàng đã trả lời thành thật rằng: “Thiếp có cái áo lông ngỗng, hễ thiếp chạy phương nào, thiếp sẽ rắc long ngỗng dọc đường, chàng cứ theo dấu long ngỗng mà tìm”. Nàng cũng không hề biết rằng chính hành động đó đã dẫn đường cho giặc.
Và cũng suy cho cùng thì nàng cũng đáng thương bởi một cô gái ngây thơ, vô tư như nàng không hề nhận ra tâm địa đó mà chỉ luôn mong ngóng ngày chồng đi trở về bên mình, đó là ý nghĩ của nàng khi sợ chàng không tìm được cho nên đã nói như thế. Tình yêu đã làm u mê con người,u mê tới nỗi ngồi sau lưng nhưng mà nàng vẫn giữ lời hứa bứt lông ngỗng rải ở dọc đường đi, tới lúc này mà vẫn còn hành động mu muội như thế thì thực là một sai lầm nghiêm trọng không thể nào tha thứ được.
Hình ảnh ngọc châu mà Mị Nương nhắc tới không còn là biểu tượng của một tình yêu trong trắng nữa mà chỉ minh giải cho nỗi oan của nàng.
Bài học về Mị Châu là bài học chua xót vì đã quá cả tin thiếu suy nghĩ, là bài học cảnh tỉnh cho tất cả mọi người “trái tim để trên đầu” như nhà thơ Tố Hữu đã “tâm sự” một cách sâu sắc, thấm thía.
Nguồn: Bài văn hay | Cảm nhận về nhân vật Mị Châu | 587 | |
Cảm nhận về nhân vật Nhuận Thổ trong truyện ngắn “cố hương” của nhà văn Lỗ Tấn
Hướng dẫn
Cảm nhận về nhân vật Nhuận Thổ trong truyện ngắn “cố hương” của nhà văn Lỗ Tấn
Mở bài:
Lỗ Tấn là nhà văn cách mạng nổi tiếng của Trung Hoa. Ông thường quan niệm văn học là vũ khí lợi hại để biến đổi tinh thần dân chúng đang ở trong tình trạng “ngu muội và hèn nhất”. Chính vì vậy các tác phẩm của Lỗ Tấn thường có tác dụng thức tỉnh đồng bào của mình đứng dậy làm chủ cuộc đời, hướng về tương lai tươi sáng. Truyện ngắn “Cố hương” trích từ tập “Gào thét” là một ví dụ điển hình.
Tác phẩm đã ghi lại những xúc cảm và suy tư của nhân vật Tấn trước những đổi thay của cảnh vật và con người ở quê hương. Qua đó, ta thấy hiện lên hình ảnh người nông dân Trung Hoa nghèo khổ trong quá khứ. Nhân vật Nhuận Thổ từ một cậu bé hồn nhiên và tháo vát đã trở thành một người đàn ông khốn quẩn, bất lực. Đọc lại chuyện ta nhận ra sự thay đổi nhanh chóng ấy.
Thân bài:
Quê hương không chỉ là cảnh vật mà trong sâu thẳm tâm hồn của mọi người, quê hương còn là những kỉ niệm về tình bạn thưở thiếu thời. Hình ảnh cậu bé Nhuận Thổ dần sống lại trong kí ức nhân vật Tấn. Có thể thấy sự thay đổi sa sút của quê hương ở sự biến dạng của Nhuận Thổ.
Tác giả tạo ra sự tương phản trong thời gian quá khứ và hiện tại để lột tả những thay đổi đáng buồn của Nhuận Thổ, người đã từng là bạn với Tấn từ thủa thiếu thời. Trong kí ức của nhân vật Tấn sống dậy những hình ảnh tuyệt đẹp của quá khứ thần tiên hơn hai mươi năm trước, trong đó nổi bật hình ảnh một Nhuận Thổ khoẻ khoắn, lanh lợi “cổ đeo vòng bạc, tay lăm lăm cầm chiếc đinh ba”, “nước da bánh mật” với biết bao chuyện lạ, bao điều kì thú.
Trong quá khứ, Nhuận Thổ là một cậu bé khỏe mạnh, đẹp thông minh, tháo vát.
Đó là hình ảnh một đứa trẻ con nhà cũng không đến nỗi chật vật. So với những đứa trẻ khác cùng tràn lứa, Nhuận Thổ là một cậu bé khỏe mạnh, dễ thương với “khuôn mặt trờn trĩnh, nước da bánh mật đầu đội mũ long chiên bé tí tẹo, cổ đeo vòng bạc sáng loáng”. Vóc dáng ấy, làn da ấy, phải chăng là kết quả của những lao động từng trải?
Tưởng chừng như trong cái đầu nhỏ bé ấy là biết bao điều mới lạ, phong phú. Chính nhân vật Tấn đã từng nhận xét: “Trời! Nhuận Thổ hắn biết nhiều chuyện lạ lùng lắm, kể không xiết, những chuyện ấy bạn bè tôi từ trước tới nay không biết gì cả”
Mỗi lần nhắc đến tên Nhuận Thổ, trong đầu óc Tấn lại hiện ra một cảnh tượng thần tiên, kỳ dị: “giữa ruộng dưa bát ngát một cậu bé lăm lăm cầm chiếc đinh bà đang đuổi theo con tra. Hình ảnh ấy phần nào bộc lộ tính cách dũng cảm, cương nghị của một tiểu anh hùng”.
Nhuận Thổ là một cậu bé có tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, vô tư.
Tuy hoàn cảnh hai gia đình khác biệt: một bên là chủ một đằng là tớ, nhưng hai đưa trẻ ấy vẫn chẳng màn, chúng vẫn chơi đùa thân thiết với nhau, tình bạn giữa chúng không hề bị vẩn đục bởi một ý nghĩa đen tối nào. Khi nghe tin phải về quê, cậu bé Nhuận Thổ đã khóc mà không chịu về, những giọt nước mắt ấy đã làm xốn xao bao nhiêu tâm hồn độc giả nhỏ tuổi chúng ta.
Dù sau này cách mặt mà họ chẳng xa lòng, hai đứa trẻ vẫn gửi quà cho nhau trong khả năng có được. Làm sao ta có thể quên được những món quà nhà nghèo của Nhuận Thổ món quà gói chọn tất cả niềm thương và nỗi nhớ “một bọc vỏ sò mà mấy cái lông chim thật đẹp” món quà ấy thật vô giá bởi lẽ nó được đánh đổi bằng bao giọt mồ hôi, cống sức của Nhuận Thổ.
Để có được bằng ấy, Nhuận Thổ phải vận lộn trong những tháng ngày tuyết lạnh để bãy chim rồi chọn lựa những chiếc lông thật đẹp, trân trọng nâng niu cất giữ và cũng phải còng lưng vào những trưa hè trên baĩ biển để nhặt được những con sò đầy kì thú. Món quà đạm bạc ấy cùng với hình ảnh tiểu anh hùng đã đi theo Tấn trong suốt mười mấy nắm trời.
“Cố hương” của nhân vật Tấn là thế đấy, là người bạn thân và những kỉ niệm thật đẹp, thật khó phai nhạt. Chính vì thế mỗi lần nhắc tới Nhuận Thổ “ký ức Tấn bỗng dưng thấy bừng sáng trong chốc lát và tựa hồ thấy quê hương mình đep ở chỗ nào rồi”.
Trong hiện tại, hình ảnh Nhuận Thổ trước mắt nhà văn đã hoàn toàn đổi khác.
Sau ba mươi năm xa quê, trở lại lần này, Tấn không chỉ nhận thấy cảnh vật đổi thay mà ngay cả con người cũng thay đổi. Từ một đứa trẻ đẹp trai khỏe mạnh, tháo vát ngày nào, Nhuận Thổ hiện tại già nua, thô kệch, nặng nề, da dẻ “vàng xạm, lại có thêm những nếp nhăn sâu hoắm”. Nhuận Thổ bây giờ sống trong một tình cảnh bi đát, khốn khổ, thê luơng: “Con đông, mùa mất, thuế nặng, lính tráng, trộm cướp, quan lại, thân hào đày đoạ thân anh khiến anh trở thành đần độn, mụ mẫm đi!”.
Nước da bánh mật nào giờ đây chở nên vàng sạm, chiếc mũ long chiên bé tí tẹo xinh xắn ngày nao nay đã rách tươm. Cái vòng bạc sáng loáng ngày ấy không còn nữa mà thay vào đó là chiếc áo bông mỏng dính. Ngay cả đôi bàn tay lanh lẹ, mập mạp ngày nào cũng biến dạng, trở nên nứt nẻ như vỏ cây thông. Lớp bụi thời gian tàn nhẫn không chỉ làm thay đổi hình tính mà làm cho nhân tính của con người cũng đổi thay nhiều.
Tới nhà Tấn lần này, Nhuận Thổ đã có cử chỉ rụt rè, khép nép đến nỗi những nếp nhăn cũng không động đậy trên gương mặt im lìm như pho tượng đá. Con người ấy, giờ đây trở nên mụ mẫn, đần độn, anh chỉ còn biết phó thác số mệnh của mình vào thần linh. Người nông dân đó chỉ còn biết sung bái tượng gỗ và tin vào đó một cách mù quáng.
Nhuận Thổ vẫn nhớ tới bạn nhưng không quên vị trí của mình trong xã hội qua cách xưng hô đầy cách biệt. Giữa Tấn và Nhuận Thổ giờ đây có một khoảng cách quá lớn. Chính hai tiếng “Bẩm ông” đã làm Tấn điếng người, phút chốc không nói được gì. Sự sa xút của người nông dân khiến cho Tấn không thể hình dung về người bạn năm nào. Duy chỉ có vẻ chân thật trong Nhuận Thổ là thoát được sự sa sút, biến dạng vẫn còn nồng ấm: “Ngày đông tháng giá, chẳng có gì. Đây chỉ là ít đậu xanh của nhà phơi khô, xin ông…”.
Anh đem món quà tặng bạn nhưng món quà của anh cùng thái độ cung kính chỉ làm cho Tấn nghẹn ngào xót tủi hơn. Nhưng giá như không có cái điệu bộ khúm núm, không có những sáo ngữ thưa gửi thì đã không đáng buồn đến thế.
Nhuận Thổ là con người của quá khứ. Cái quá khứ đẹp đẽ ấy giờ đã phai mờ và khó có thể lấy lại được. Nhuận Thổ cũng là con người của hiện tại, một hiện tại điêu tàn, khốc liệt và tàn nhẫn. Nhân vật Tấn đau xót nhưng vẫn hi vọng ở tương lai. Cái hi vọng là cái chưa có, không ai hi vọng cái đang có bao giờ! Cái hi vọng cũng không là cái đã từng có, người ta phải hướng tới những cái mới, tốt đẹp hơn.
Cảnh tượng đẹp đẽ có phần giống những hình ảnh trong hồi ức tuổi thơ của Tấn với Nhuận Thổ hiện ra khi anh đang mơ màng là thực. Trong cuộc đời mới của thế hệ Hoàng – Thuỷ Sinh ngay cả vẻ đẹp ấy cũng sẽ khác. Cuộc đời mới ấy còn ở phía trước, có thể là xa vời, nhưng con người cứ mong ước, mong ước mãi để có được nó. Rồi cuộc sống mới ấy cũng sẽ đến, đúng như chân lí về sự hình thành của những con đường trên mặt đất vậy.
Kết bài:
Với lối kể chuyện đầy sáng tạo, tác giả đã khắc họa trong tâm trí chúng ta hình ảnh người nông dẫn chung hoa trong quá khứ mà Nhuận Thổ là nhân vật điển hình. Quảng đời tuổi thơ của Nhuận Thổ thật đẹp trong trắng nhưng sao ngắn ngủi quá. Hình ảnh cậu bé Nhuận Thổ đẹp, thông minh, am hiểu, tâm hồn luôn sáng trong sao chóng phai nhòa theo năm tháng. Sự vần xoai ấy đã để lại trong lòng em những nuối tiếc vô hạn và niềm chua sót cực kì của một kiếp người, kiếp đời,… | Cảm nhận về nhân vật Nhuận Thổ trong truyện ngắn “cố hương” của nhà văn Lỗ Tấn | 1,594 | |
Đề bài: Cảm nhận về nhân vật nàng Xi-ta trong đoạn trích Ra-ma buộc tội
Bài làm
Ra-ma-ya-na là bộ sử thi, niềm tự hào của người Ấn Độ. Người dân Ấn Độ tin rằng “chừng nào sông chưa cạn, đá chưa mòn thì Ra-ma-ya-na còn mãi làm say lòng người và cứu họ ra khỏi vòng tội lỗi”. Một nhà nghiên cứu phương Tây từng miêu tả về Ra-ma-ya-na: “Đó là tác phẩm chan chứa những âm điệu du dương, toát ra mội bầu không khí yên lành và một tình yêu thương vô bờ bến trong hoàn cảnh xã hội đầy sự mâu thuẫn và xung đột" (Michelet).
Một trong những hiện thân của vẻ đẹp làm say lòng người ấy là nhân vật Xi-ta. Nàng không chỉ là hình ảnh bổ sung cho sự kì vĩ của người anh hùng Ra-ma mà còn là minh chứng cho vẻ đẹp chân thực, toàn mĩ của người phụ nữ Ấn, từ hình dáng bên ngoài đến những phẩm chất tâm hồn bên trong.
Vẻ đẹp của nàng luôn được miêu tả gắn liền với cụm từ “gương mặt bông sen ” – đó là chi tiết ngoại hình luôn được láy đi láy lại trong tác phẩm. Hoa sen hay bông sen là biểu tượng của vẻ đẹp chuẩn mực, vẻ đẹp của cả hình dáng bề ngoài và chiều sâu nội tâm trong quan niệm thẩm mĩ của người Ấn Độ. Khuôn mặt bông sen, đôi mắt hình hoa sen… là những hình ảnh miêu tả quen thuộc về người phụ nữ trong văn học Ấn Độ. Miêu tả nàng bằng chi tiết ấy, dường như ngay từ đầu, người kể đã khẳng định vẻ đẹp toàn mĩ ở nàng.
Và vẻ đẹp toàn mĩ ấy cũng đã được thử thách trong suốt chiều dài các sự kiện của câu chuyện. Song lần thử thách cuối cùng nghiệt ngã nhất nhưng đồng thời cũng vinh quang nhất là sự kiện Ra-ma buộc tội nàng và nàng bước lên giàn lửa. Chương 78 kể lại những diễn biến đầy kịch tính của sự kiện này.
Đọc chương truyện cùng với những cảm thương trước nỗi oan uổng của nàng, ta còn có thể sẻ chia cùng nàng cái cảm giác bị ruồng bỏ, dù rằng đằng sau sự ruồng bỏ ấy là tình yêu. Và có lẽ, đó chính là dấu ấn bi kịch trong bộ sử thi tràn ngập cảm xúc ngợi ca này.
Ta có thể hiểu tâm trạng của Ra-ma trong những lời buộc tội Xi-ta: ban đầu vì sợ tai tiếng, về sau là cảm giác nghi ngờ, ghen tuông. Trong lời nói có đầy đủ sự giận dữ, sự ghẻ lạnh, sự xúc phạm và lăng nhục của chàng vẫn có tình yêu. Nhưng chính tình yêu lại càng làm cho những lời nói của chàng trở nên độc ác. Chàng đã không chỉ buộc tội nàng, chàng đã xúc phạm và hơn thế, lăng nhục nàng bằng những lời lẽ nặng nề nhất. Và Xi-ta đã nghe, đã cảm nhận được tất cả những trạng thái tình cảm ấy ở chồng mình. Còn gì đau đớn hơn khi người thân yêu nhất của mình lại xúc phạm mình nặng nề đến thế?
Trước lời buộc tội của chồng, nàng Xi-ta trái tim tan nát, đau đớn đến nghẹn thở, xấu hổ cho số kiếp…, nghĩa là nàng phải trải qua một loạt những cảm xúc của nỗi đau, nỗi tủi nhục, nàng phải tự minh oan cho mình. Và nàng quả thật thông minh khi lần lượt chứng minh những ngờ vực cùa Ra-ma là không căn cứ. Nàng lấy danh dự, rồi nguồn gốc xuất thân, lòng trung thành, tình yêu của mình để làm minh chứng. Nhưng, tất cả dường như đều không đủ, đều vô nghĩa trước cơn giận dữ cùa Ra-ma. Chàng ngồi đó, “trông khủng thiếp như thần chết vậy”. Tình huống sử thi, tính cách nhân vật sử thi hay tâm lí con người bình thường đả chi phối diễn biến của chuyện, chi phối tâm trạng của Ra-ma? Chàng Ra-ma cao quý khi ấy có khác gì những con người bình thường, tầm thường nhất?
Thái độ của Ra-ma đã tạo nên hoàn cảnh bi thảm của Xi-ta buộc nàng phải chứng minh bằng hành động thuyết phục cuốỉ cùng: bước lên giàn lửa. Thần lửa A-nhi sẽ là minh chứng cuối cùng, đủ sức thuyết phục nỗi nghi ngờ khổng lồ trong tâm hồn của chồng nàng. Lúc này, cho dù lâm vào hoàn cảnh nghiệt ngã ấy, ở nàng vẫn ngời lên một tình yêu thủy chung, trong sáng.
Có lẽ, chính tình yêu ấy làm nên lòng dũng cảm của nàng. Nàng bước vào ngọn lửa trong sự kêu khóc vang trời của muôn loài, trong nỗi thương xót cực độ của những người chứng kiến.
Thần lửa A-nhi đã khẳng định sự trong trắng của nàng: “Hỡi Ra-ma, Gia- na-ki của người đây. Nàng trong trắng. Nàng không phạm bất cứ tội lỗi nào, bằng lời nói, việc làm, hay ý nghĩ” (Dẫn theo SGK Ngữ văn 10, tập 1)
Sự trong trắng của nàng là sự trong trắng tuyệt đích. Cho dù bị xúc phạm, bị lăng nhục nhưng tình cảm của nàng, sự thủy chung của nàng vẫn không hề thay đổi. vẻ đẹp của nàng là vẻ đẹp của một tấm gương mà bất cứ một người phụ nữ nào trên trái đất này đều có thể soi và tự hoàn thiện mình. Nàng trở về trong vòng tay của Ra-ma sau sự chứng minh khóc liệt nhất. Đó là sự khẳng định cao nhất phẩm chất của nàng của sử thi.
Sức hấp dẫn của sử thi Ấn Độ một phần là bởi trong vẻ đẹp cùa huyền thoại vẫn lấp lánh những tính cách rất con người. Nhưng với Xi-ta, vẻ đẹp huyền thoại và vẻ đẹp con người dường như hoàn toàn thống nhất. Đó phải chăng là lời ngợi ca đẹp nhất về nàng.
Tuy thế, cảnh tượng bi tráng về nàng, nỗi đau của nàng vẫn còn để lại những dấu ấn không phai trong lòng người đọc. Nàng là biểu tượng của vẻ đẹp nhưng cũng là nỗi đau xót mà một người phụ nữ có thể gặp trong cuộc đời mình. Nhưng hơn hết, tình yêu vẫn luôn là phép màu kì diệu làm cho thế giới mãi mãi tốt đẹp hơn. Xi-ta là biểu tượng của sự hoàn thiện, hoàn mĩ về cả hình thức, tâm hồn và tình yêu cao cả. Nhưng bi kịch của nàng cũng tiêu biểu cho những gì mà người phụ nữ có thể gặp phải trong thế giới này.
Không khí trong lành và tình yêu thương vô bờ bến toát ra từ những trang sử thi Ra-ma-ya-na chính bởi vẻ đẹp thẳm sâu của nữ nhân vật: nàng Xi-ta. | Cảm nhận về nhân vật nàng Xi-ta trong đoạn trích Ra-ma buộc tội | 1,150 | |
Đề bài: Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa
Bài làm
Nhà văn tập trung chú ý vào thân phận con người, tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào ấn tượng tươi mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân thực và một giọng văn trữ tình trầm lắng ấp áp” (Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con người, T.C Văn học,1993, số 3, tr.20).
Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa
Có thể nói Chiếc thuyền ngoài xa là một biểu hiện của xu hướng tìm tòi khámphá trong văn của Nguyễn Minh Châu, trở về với đời thường, với mảnh đất miền Trung cằn cỗi và cơ cực, đau đáu đi tìm câu hỏi cho những phận người trong cuộc sống đời thường trăm đắng ngàn cay. Trên tinh thần quyết liệt đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã lấy con người làm đối tượng phản ánh thay cho hiện thực đời sống. Mặc dù không phủ nhận văn chương gắn với cái chung, với cộng đồng nhưng Nguyễn Minh Châu còn muốn thể hiện một quan niệm văn chương trước hết phải là câu chuyện của con người, với muôn mặt phức tạp phong phú với tất cả chiều sâu.
Hiện thực của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa không phải là bức tranh hoành tráng của mảnh đất chiến trường xưa A So từng ghi dấu bao chiến công, cũng không phải là những con người tạc dáng đứng hào hùng của mình vào lịch sử. Nhân vật Phùng trở về với mảnh đất từng chiến đấu, một người lính năm xưa giờ là phóng viên ảnh trở về ghi lại những vẻ đẹp cuộc sống đời thường cho bộ ảnh lịch quê hương đất nước, phản ánh cuộc sống lao động khoẻ khoắn tươi rói của những con người dựng xây đất nước, đi tìm vẻ đẹp bí ẩn của màn sương buổi sáng bổ sung cho tấm ảnh lịch hoàn chỉnh (!). Thế nhưng, những gì anh chứng kiến đã khiến anh và những người bạn của mình nhận ra một sự thật gắn với cuộc sống của những người dân chài lam lũ:
“Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ không cố kết vào một khoảnh đất nào”.
Từ cuộc sống ấy, những bi kịch tiềm ẩn khiến con người phải ngỡ ngàng. Một câu chuyện đơn giản nhưng đã chứa đựng những phát hiện mới mẻ hàm chứa quan niệm văn chương hướng về con người của Nguyễn Minh Châu. Nếu chỉ nghĩ suy một cách xuôi chiều đơn giản, cuộc sống khi có ánh sáng cách mạng sẽ đổi đời cho số phận người lao động, sẽ xoá tan những bi kịch đè nặng lên kiếp người. Thế nhưng Nguyễn Minh Châu đã chỉ rõ cho chúng ta: cách mạng không phải giải quyết bi kịch trong một sớm một chiều, con người vẫn phải đối diện với những bi kịch đời mình, dung hoà với nó. Cách lý giải về con người của Nguyễn Minh Châu còn ẩn chứa những suy ngẫm về số phận dân tộc phải trải qua những khổ đau để đối diện với hiện thực bao thách thức.
Người nghệ sĩ nhiếp ảnh đi tìm những vẻ đẹp đích thực của cuộc sống, ngỡ như anh đã phát hiện ra một khung cảnh thật đáng yêu đáng ca tụng, hướng người xem về cái đẹp có thể làm quên đi những phiền não cuộc sống: “Qua khuôn hình ánh sáng, tôi đã hình dung thấy trước những tấm ảnh nghệ thuật của tôi sẽ là vài ba chiếc mũi thuyền và một cảnh đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc trong bản hòa tấu ánh sáng và bóng tối, tượng trưng cho khung cảnh bình minh là một khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽ hiện lên trong tầm nhìn thật xa những đường nét của thân hình một người đàn bà đang cúi lom khom, sải cánh tay thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và phía sau lưng người đàn bà, hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng trên đầu mũi thuyền, dùng lực toàn thân làm đòn bẩy nâng bổng hai chiếc gọng lưới chĩa thẳng lên trời.”. Và những người dân vùng biển ấy hiện lên thật đáng yêu, đáng ca ngợi: cuộc sống lao động đầm ấm khoẻ khoắn, những con người gặp gỡ thật đáng yêu…
Tất cả những ấn tượng ấy sẽ không bị phá vỡ nếu như không có sự xuất hiện của chiếc – thuyền – ngoài – xa. Người đàn ông xuất hiện cùng với người đàn bà trong khung cảnh nên thơ đã nhanh chóng phá vỡ đi cảm giác thăng hoa nghệ thuật bằng trận đòn dây lưng quật thẳng tay vào người vợ không thương xót. Có lẽ khó ai hình dung cảnh tượng ấy lại diễn ra trong bối cảnh cuộc sống mới, nó hoàn toàn đối lập với điều chúng ta hằng xây dựng cho cuộc sống này “người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu). Điều bất công diễn ra nhức nhối trước mắt người lính từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người đã làm nên một cơn giận bùng phát. Bản thân anh nghĩ về người đàn ông kia như “gã đàn ông “độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian”, còn người phụ nữ xấu xí mặt rỗ kia đích thị là nạn nhân đáng thương nhất của nạn bạo hành trong gia đình. Hành động tấn công gã đàn ông khiến cho anh ngộ nhận mình là anh hùng: “Tôi nện hắn bằng tay không, nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay rắn sắt của một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng. Tôi đã chiến đấu trong mấy ngày cuối cùng chiến tranh trên mảnh đất này. Bất luận trong hoàn cảnh nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh”.
Nhưng phản ứng của người đàn bà trước ông chánh án đã khiến anh choáng váng: “Quí tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Hoá ra, người cần được thông cảm lại là những quan toà cách mạng có lòng tốt nhưng “các chú đâu có phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc”. Người đàn bà khốn khổ ấy đã không chối bỏ người đàn ông đích thực của mình, dù trong lòng đau đớn khi hàng ngày phải chịu những trận đòn, phải chứng kiến cảnh hai cha con đối xử với nhau như kẻ thù, phải chấp nhận cuộc sống đương đầu nơi gió bão.
Có người đã nhận định: Chiếc thuyền ngoài xa là hình tượng có ý nghĩa biểu tượng, như vẻ đẹp của một bức tranh toàn bích, nhưng đàng sau hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp là cuộc sống đầy khắc nghiệt, dữ dội và những số phận con người vật vã trong cuộc mưu sinh.
Hoá ra hành trình tìm kiếm hạnh phúc không hề đơn giản: người đàn ông kia dù cục súc nhưng trên chiếc thuyền phải có lúc có đàn ông, hạnh phúc đơn giản khi cả nhà quây quần trong bữa ăn trên chiếc thuyền khiến người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng tất cả. Hành trình của gia đình kỳ lạ kia vẫn tiềm ẩn những nguy cơ: đứa con yêu mẹ sẵn sàng đánh nhau với bố, thủ dao găm tìm dịp trả thù, những trận đòn tàn khốc có thể làm cho người đàn bà kia gục ngã bất cứ lúc nào…Thế nhưng trong cuộc sống nghèo khổ, chật vật và ngày ngày phải nuôi đủ cho mười miệng ăn trên chiếc thuyền ọp ẹp, người đàn bà ấy là hiện thân của một sự hy sinh vô bờ bến.Tình yêu chồng con được nhìn nhận từ cuộc đời trăm đắng ngàn cay có vẻ đẹp riêng khiến cho “một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển”. Sự vỡ lẽ ấy chính là sự phá vỡ những quan niệm giản đơn về tình yêu, hạnh phúc, về lòng nhân ái, sự khoan dung…mang giá trị nhân bản sâu sắc. Những kết hợp ấy trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đem đến cái nhìn đa diện về số phận con người.
Nếu như trước kia, trong văn học 1945 – 1975, khi đề cập đến số phận con người thì bao giờ các nhà văn cũng đề cao vào khả năng con người vượt qua nghịch cảnh và những tác động của môi trường, của xã hội mới sẽ giúp con người tìm thấy hạnh phúc. Khi diễn tả sự vận động của tính cách con người, các nhà văn cũng thường nói về sự vận động theo chiều hướng tích cực, từng bước vượt lên hoàn cảnh, hồi sinh tâm hồn. Cách minh họa tư tưởng ấy không tránh khỏi có phần giản đơn và phiến diện. Nguyễn minh Châu đã không đi theo con đường mòn đó. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn đã nói về những nghịch lý tồn tại như một sự thật hiển nhiên trong đời sống con người. Bằng thái độ cảm thông và sự hiểu biết sâu sắc về con người, ông đã cung cấp cho ta cái nhìn toàn diện về cái đẹp cuộc sống, hiểu cả bề mặt lẫn chiều sâu.
Nguyễn Minh Châu đã từng phát biểu: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” (Phỏng vấn đầu xuân 1986 của báo Văn nghệ), “Nhà văn tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đoạ đầy đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người vhà cuộc đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực” (Ngồi buồn viết mà chơi). Tư tưởng ấy được thể hiện trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa như một minh chứng cho tấm lòng hướng về con người, khả năng giải mã những mặt phức tạp của cuộc đời. Bức thông điệp trong tác phẩm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống là nhận thức thấm thía: “cuộc đời vốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, và rằng con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người và cuộc đời thì phải tiếp cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.”(Lê Ngọc Chương- Chiếc thuyền ngoài xa, một ẩn dụ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu).
Kết thúc tác phẩm, người nghệ sĩ đã hoàn thành kiệt tác của mình đem đến cho công chúng những cảm nhận về vẻ đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá, thế nhưng mấy ai biết được sự thật nằm sau vẻ đẹp tuyệt vời kia?
Phần kết của tác phẩm để lại nhiều suy ngẫm: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông.”
Cuộc sống vốn vậy, vẫn đẹp tươi, vẫn êm ả, nhưng nếu không có tấm lòng để nhận ra những uẩn khúc số phận thì những vẻ đẹp như màu hồng hồng của ánh sương mai kia cũng trở nên vô nghĩa, người nghệ sĩ phải nhận ra sự thật ẩn khuất sau màn sương huyền ảo kia, phải tiếp cận sự thật để nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống và con người. | Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa | 2,227 | |
Cảm nhận về nhân vật Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
Hướng dẫn
Cảm nhận về nhân vật Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn xuất sắt nhất trong việc thể hiện quá trình đổi mới về tư duy nghệ thuật chuyển từ cảm hứng sử thi lãng mạn sang cảm hứng thế sự đời thường.. “Chiếc thuyền ngoài xa “ là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng này. Ở tác phẩm này ông thực sự thành công với nghệ thuật miêu tả nhân vật, ông đã xây dựng được các nhân vật, để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng người độc và phùng chính là một nhân vật như thế.
Phùng là một người quý trọng, say mê với nghề nhiếp ảnh của mình, anh đã được trưởng phòng giao cho nhiệm vụ chụp một bức ảnh về thuyền và biển trong sương mù vào giữa tháng bảy để in trong bộ lịch năm sau. Phùng đã tìm đến với biển miền Trung nơi chiến trường xưa. Anh đã bỏ cả tuần để tìm kiếm để suy nghĩ, rồi phục kích mãi mới chụp được một bức ảnh ưng ý, có thể xem là một cảnh đắt trời cho. Anh còn là người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, yêu tha thiết cái đẹp. Trước vẻ đẹp toàn bích của cảnh vật, tâm hồn của người nghệ sĩ như rung lên nhiều cảm xúc rất khó tả: “tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì đó bóp thắt vào…tôi tưởng như chính mình vừa tham gia vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn. Trong giờ phút thăng hoa cùng cái đẹp anh cảm nhận cái đẹp chính là đạo đức”.
Sau khi hiểu ra câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện đã giúp cho Phùng hiểu ra được nhiều điều. Lúc đầu anh phẫn nộ nhưng lại trở nên thông cảm, chua xót cho số phận của người đàn bà. Anh đã hiểu được đằng sau vẻ đẹp lãng mạn của chiếc thuyền đó là sự thật đầy tăm tối, gai góc của cả cuộc đời. Người đàn ông độc ác kia cũng chỉ là một trong những nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh, người đàn bà thô kệch, xấu xí đầy cam chịu đó lại là người hiểu sâu sắc lẽ đời. Từ đây anh đã hiểu ra được môi quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Nghệ thuật không thể tách rời cuộc sống mà phải chính là cuộc sống, gắn bó mật thiết với cuộc sống.
Phùng còn là một người nghệ sĩ khát khao đi tìm kiếm cái đẹp nhưng anh không vì thế mà quay lại sự thật của cuộc đời. Điều đáng quý nhất ở phùng đó là tấm lòng giành cho con người trong cuộc sống.
Đọc truyện ngắn, ta thấy nổi bật lên ở Phùng đó là những nét đẹp của một nghệ sĩ đam mê cái đẹp, yêu tha thiết về sự công bằng. Qua câu chuyện của người đàn bà ở toàn án huyện, anh đã nhận ra được nhiều điều về hiện thực cuộc sống và từ đó có những phát hiện mới mẻ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời.
Nguồn: Bài văn hay | Cảm nhận về nhân vật Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu | 583 | |
Cảm nhận về nhân vật Rô-bin-xơn trong đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của Đi-phô
Hướng dẫn
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của Đi-phô.
Con người, mi là ai? Câu hỏi ấy giúp cho nhân loại tự ngắm mình trong những trường hợp biến dạng đến dường như không phải là con người. Rô-bin-xơn rơi vào một trong những nghịch cảnh không bình thường như thế. Hơn mười năm ròng rã sống trên hoang đảo, bị cắt đứt mọi liên lạc với con người, anh có còn là chàng thanh niên hai mươi bảy tuổi quê ở miền Y-oóc-sai nữa hay không? Thử thách vượt qua sức tưởng tượng này là một phép thử có hồi âm, một thông điệp không bi quan mà ngược lại.
1.Bản năng sống không cho phép con người bất lực khoanh tay. Dù thế nào, bằng cách nào cũng phải sống. Quyết tâm ấy, ý chí ấy có khả năng diệu kì biến không thành có. Nếu nghị lực là phẩm chất số một ở con người thì tại nơi đảo hoang này, ở Rô-bin-xơn nó luôn luôn toả sáng. Để định cư nơi đầu sóng ngọn gió, nơi góc bể chân trời xa lạ, những điều đầu tiên không thể không nghĩ đến: căn lều che nắng che mưa, cái ăn cái mặc hằng ngày. Căn lều chắc được dựng lên từ cây cối trong rừng bằng chiếc cưa nhỏ và chiếc rìu con mà lúc nào Rô-bin-xơn cũng đeo lủng lẳng bên người. Còn cái ăn chắc nhờ vào săn bắn và hái lượm, hình thái tự cung tự cấp sơ khai của người nguyên thuỷ cách đây hằng mấy chục ngàn năm nhờ khẩu súng trên vai cùng hai túi đựng thuốc súng và đạn ghém. Nhưng, những điều đó không phải "kì cục". Cái dị hình, dị tướng làm cho người ta "hoảng sợ", hoặc "phá lên cười sằng sặc" là ở hình ảnh của một thứ "người rừng" hay con gấu cô đơn Bắc Cực. Cách ăn mặc của Rô-bin-xơn quả thật là như thế. Thông thường quần áo được may bằng vải vóc hay len dạ tuỳ thuộc vào thời tiết ấm lạnh mỗi mùa, nhưng căn cứ vào cách ăn mặc của anh, ta cứ ngỡ thời gian ở đây không luân chuyển. Trái đất hình như đã ngừng quay để chỉ còn có một mùa đông lạnh giá quanh năm. Thôi thì mũ, giày, quần áo từ đầu đến chân chỉ có một thứ vật liệu đặc sản: da dê. Sự dung hoà giữa cái có ích và cái đẹp không còn. Cái mũ chỉ là một thứ để đội đầu với hình thù vượt khỏi khái niệm quy ước "to tướng cao lêu đêu chẳng ra hình thù gì", dính liền với nó rất lôi thôi là một mảnh da rủ xuống phía sau "vừa để che nắng, vừa để chắn không cho mưa hắt vào cổ". Cả hai chức năng cần đến hai loại trang phục, nhưng Rô-bin-xơn chỉ cần đến một chiếc mũ đa năng. Cố tình làm chiếc mũ như thế, anh có một dụng ý riêng "ở miền khí hậu này, chẳng gì tai hại bằng nước mưa luồn trong áo thấm vào da thịt". Áo và quần cũng thế, nghĩa là không cần kiểu mốt. Chúng lại không ăn khớp với nhau. Hình như cái áo thì quá dài (khoảng lưng chừng hai bắp đùi) còn quần lại quá ngắn, quần là dạng "quần loe" nhưng chỉ đến đầu gối mà thôi. Lại nữa, vì quần được may bằng da một con dê đực già trông nó khó mà phân biệt được quần dài hay quần ngắn vì "lông dê thõng xuống mỗi bên đến giữa bắp chân". Đôi giày dưới chân thì cũng như chiếc mũ trên đầu, không biết gọi là gì cho đúng vì giày đi không có tất, gọi nó là đôi ủng thì có lẽ đúng hơn vì dây của cái gọi là giày ấy không xỏ lỗ nơi mu bàn chân mà lên tới bắp chân.
Sự luộm thuộm không chỉ thế. Nó còn là đặc điểm trong cách trang bị trên người, lỉnh kỉnh như một cái nhà kho di động. Không đeo kiếm và dao găm như những nhà quý tộc thời Đôn Ki-hô-tê, về góc độ này mà quan sát, người ta có thể nhầm anh với người thợ sơn tràng với "lủng lẳng bên này một chiếc cưa nhỏ, bên kia một chiếc rìu con". Nhưng có lẽ anh là thợ săn với đầy đủ súng khoác trên vai và hai túi đựng thuốc súng và đạn ghém lúc nào cũng sẵn sàng nhả đạn. Cũng có thể nghĩ anh là một thổ dân da đỏ vào rừng trèo cây, đào củ với chiếc gùi đeo ở sau lưng.
Biết vượt lên mọi thử thách, khó khăn, Rô-bin-xơn đã tồn tại, dù hình thức của sự tồn tại hoang dã, thô sơ gần như một con người ở vào thời tiển sử.
2.Nhưng, tất cả chỉ là cái dáng dấp bên ngoài, đậng sau những nét "hết sức kì cục" trên đây vẫn là một con người đang sống. Danh hiệu con người cao quý, con người viết hoa được anh trân trọng giữ gìn. Vì sao Rồ-bin-xơn rất chú ý đến bộ ria, một bộ râu ria nếu để nó thả sức mọc dài phải đến "hơn một gang tay"? Ý thức về con người, mà ở đây là một người đàn ông cường tráng và đầy nam tính đã nhắc nhở Rô-bin-xơn, không cho phép anh tuỳ tiện, buông thả rất dễ bị coi thường cho dù anh không có nhu cầu giao tiếp với ai. Và trên thực tế là ngoài anh ra, ở đây trên chốn đảo hoang không một bóng người. Thậm chí cái cách "xén tỉa" thật cẩn thận, kĩ càng như một người khó tính, vì bộ ria mà anh muốn có là "một cặp ria mép to tướng kiểu Hồi giáo như ria vài gã Thổ Nhĩ Kì tôi gặp ở Xa-lê". Với gương mặt đầy hãnh diện ấy, Rô-bin-xơn có thể tự hào cũng như nước da sạm màu nắng gió của vùng đất "khoảng chín hoặc mười độ vĩ tuyến miền xích đạo" vẫn trông được, nghĩa là "nó không đến nỗi đen cháy như các bạn có thể nghĩ". Đó là niểm vui duy nhất lúc này mà Rô-bin-xơn tự cảm nhận được. Ý nghĩ ấy khoẻ khoắn, trong,trẻo biết bao. Đó mới là chân dung con người đích thực.
3.Về nghệ thuật, đây là một bức chân dung tự hoạ, nó đảm bảo tính chân thực, khách quan. Đọc một đoạn văn không dài, ta vẫn có thể hình dung được một con người cụ thể đến từng chi tiết. Bức vẽ chân dung ấy gắn với hoàn cảnh sống đầy rẫy gian truân khi một mình sống trên hoang đảo. Nhưng, một mặt khác, do sự đồng cảm và tài năng của người kể chuyên, bức tranh chân dung ấy rất sinh động, như có linh hồn. Ấn tượng mà chúng ta có thể cảm nhận được là nhờ ở giọng văn, một giọng văn không đơn điệu, một chiều mà vô cùng đa dạng. Chẳng hạn như miếu tả cách ăn mặc và trang bị của Rô-bin-xơn có ý vị hài hước, cường điệu, bông phèng, nhưng đoạn văn miêu tả diện mạo, gương mặt lại rất nghiêm trang, trân trọng. Chính sự đa dạng về giọng điệu của trích đoạn trên góp phần tạo nên một tính cách nhân vật không hời hợt mà có chiều sâu, vừa sôi nổi vừa trầm tư, vừa có những nét trần tục vừa có những nét thiêng liêng như một vị thánh. Những hàm nghĩa đa tầng ấy, trong nhiều trường hợp được thể hiện bằng cách so sánh. Khi thì nhà văn so sánh bộ ria theo kiểu Hồi giáo của mình trước cái nhìn của người Ma-rốc và người Anh (người Ma-rốc không để ria theo kiểu người Thổ, còn bộ ria ấy sẽ làm cho mọi người khiếp sợ nếu ở nước Anh). Cũng là cái cười, nhưng có nhiều cung bậc. Người nhìn tranh (bức chân dung tự hoạ) rất có thể vì ngạc nhiên hay hoảng sợ mà "phá lên cười sằng sặc", còn người được vẽ trong tranh Rô-bin-xơn, thì chỉ "mỉm cười" khi đứng lặng mà ngắm nghía bản thân. Một đoạn văn ngắn nhưng thật là đặc sắc. | Cảm nhận về nhân vật Rô-bin-xơn trong đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang của Đi-phô | 1,428 | |
Cảm nhận về nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”
Hướng dẫn
Cảm nhận về nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”
Bài làm
Thúy Kiều là nhân vật lí tưởng của Nguyễn Du với sự trọn vẹn về tài và sắc nhưng cuộc đời Kiều lại long đong, lận đận. Qua nhân vật Thúy Kiều, tác giả muốn gửi gắm những khát vọng sống, khát vọng yêu mạnh liệt nhất. Trong những năm tháng đày đọa bản thân, cảnh kiều sống ở lầu Ngưng Bích khiến người đọc rưng rưng. Nguyễn Du đã gợi tả thành công hình dáng và tâm lí của Thúy Kiều khi sống ở chốn lầu xanh qua đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.
Cuộc đời của Thúy Kiều sau khi rơi vào tay Mã Giám Sinh là những chuỗi ngày đằng đằng nhớ thương và nước mắt. Thúy Kiều bị chà đạp và vùi dập không xót thương. Những kẻ mua thịt bán người đã không từ mọi thủ đoạn để có được Kiều, và rồi để hành hạ Kiều. Thúy Kiều đã định tìm đến cái chết để giải thoát bản thân nhưng Tú Bà đã biết được và đem Kiều sống tại lầu Ngưng Bích – một nơi lạnh lẽo tình người. Thực chất hành động này của mụ chính là giam lỏng kiều, dần dần buộc Kiều tiếp khách.
Khung cảnh lầu Ngưng bích khiến người đọc phải xót xa:
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Cụm tù “Bát ngát xa trông” đã gợi lên sự vô tận của không gian, của thiên nhiên. Đâu là bến bờ, đâu là điểm dừng chân hình như là không có. Một khung cảnh cô liêu, hoang lạnh đến rợn người. Thúy Kiều nhìn xa chỉ thấy những dãy núi, những cồn cát bay mù trời. Nàng chỉ biết làm bạn với cảnh vật vô tri, vô giác, ảm đảm và quạnh quẽ đến thê lương. Chỉ một vài chi tiết nhưng Nguyên Du đã khắc họa thành công khung cảnh lầu Ngưng Bích đơn côi.
Trong khung cảnh này, Thúy Kiều vẫn luôn nhung nhớ về chốn cũ, về người xưa. Nỗi nhớ ấy da diết và day dứt:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Dù trong hoàn cảnh éo le như thế này nhưng tấm lòng son của Thúy Kiều vẫn nhung nhớ tới một người khi tưởng lại những kỉ niệm êm đẹp từng có. Kiều xót xa kkhi nghĩ tới cảnh Kim Trọng còn mong chờ tin tức của nàng. Rồi nhìn lại mình, thấy nhơ nhuốc và hoen ố. Thúy Kiều đã không thể giữ trọn lời hứa với chàng Kim. Nàng nằng “tấm son gột rửa bao giờ cho phai”, những gì nang chịu đựng, những gì kẻ xấu làm với này biết bao giờ chàng Kim thấu, biết bao giờ có thể gột rửa đây? Một tiếng lòng đầy đau đớn và thê lương.
Nghĩ về người yêu đã xót, Thúy Kiều còn xót xa hơn khi nghĩ về cha mẹ:
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấm lạnh những ai đó chờ
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi ngồi gốc tứ đã vừa người ôm
Thúy Kiều chua xót khi nghĩ cảnh cha mẹ đã già yếu, héo hon từng ngày. Nàng lo lắng không biết có ai chăm sóc cho cha mẹ hay không. Nàng ân hận và chua xót khi không được phụng dưỡng mẹ già. Một người con gái hiếu thảo, nhưng đành lặng lẽ nhớ và lặng lẽ chờ mong ngày đoàn tụ.
Thúy Kiều – một người con gái dù sống trong cảnh nhơ nhuộc nhưng chữ hiếu và chữ tình vẫn còn da diết trong trái tim của Kiều.
Con người đã buồn thê lương, nhìn ra cảnh bật dường như càng thê lương hơn:
Buồn trông của bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cảnh buồn xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Những câu thơ chua xót, cứa vào lòng người người đọc nhiều đớn đau mà Kiều phải trải qua. “Chiều hôm” là thời gian mà nỗi buồn cứ thế ùa về, hiển hiện bao nhiêu thương nhớ nhưng đành câm lặng. Điệp từ “Buồn trông” như khắc khoải, như chờ mong và như nén lại trong lòng. Thúy Kiều ví mình như “hoa trôi” vô định, không có điểm dừng, không biết về đâu.
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh
ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Một bức tranh chỉ có màu “buồn”, buồn đến thê thảm và buồn đến não nề. Dường như người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Màu cỏ, màu mây, màu nước, đều là màu “xanh xanh”, nhưng không phải màu xanh tươi mới mà là màu xanh đến rợn người, mờ mịt và đầy tối tăm.
Mỗi câu thơ, mỗi hình ảnh để khắc họa được tâm trạng đầy ngổn ngang giữa một khung cảnh ảm đạm, tái tê khiến người đọc không cầm được cảm xúc. Nguyễn Du với những nét vẽ tài tình đã vẽ lên một bức tranh tuyệt đẹp, một vẻ đẹp đến thê lương cuộc sống của Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích. | Cảm nhận về nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” | 884 | |
Cảm nhận về nhân vật Tnú trong Rừng Xà Nu
Hướng dẫn
Cảm nhận về nhân vật Tnú trong Rừng Xà Nu
Bài làm
Đọc truyện ngắn Rừng xà nu, người đọc có ấn tượng mạnh mẽ song trùng là vẻ đẹp của cánh rừng và những người anh hùng trên vùng đất Tây Nguyên huyền thoại. Rừng xà nu được khắc họa từ đầu đến cuối tác phẩm vừa mang nét tự nhiên, vừa tượng cho biết bao tính cách của con người. Trong đó, nổi bật là nhân vật Tnu. Tnu cũng xuất hiện ngay từ đầu rồi đi suốt văn bản, song hành, đầy biến động, để lại ấn tượng đậm nét trong lòng người đọc như rừng xà nu vậy. Một rừng cây – một đời người. Xà nu – loại cây thông chỉ có ở núi rừng nơi đây không chỉ “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho dân làng” mà còn góp phần sinh ra, nuôi lớn, bảo vệ và hóa thân vào tinh thần, ý chí, vào sức mạnh anh hùng của mỗi người dân, và đặc biệt là Tnu. Tnu là người con của dân làng cũng là người con của rừng xà nu.
Tnu mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Nhận xét về Tnu, cụ Mết nói “Nó là người Stra mình. Cha mẹ nó chết sớm, làng Xô man này nuôi nó. Đời nó khổ nhưng bụng nó sạch trong như nước suối làng ta”. Như vậy, khi còn nhỏ, số phận Tnu đã bất hạnh. Số phận bất hạnh nhưng tâm hồn anh trong sáng, dịu dàng vì tiếp nhận mạch nguồn của dòng suối quê hương. Từ đó, Tnu lớn lên trong tình thương yêu của dân làng, trong sự chở che của rừng núi. Cũng từ đó, Tnu tích hợp được trong trái tim, trong cõi lòng mình biết bao tình cảm yêu thương.
Với cánh rừng xà nu, từ đơn vị trở về làng, Tnu đứng hồi lâu ngắm nhìn, thấy hàng vạn cây xà nu “không cây nào không bị bom đạn kẻ thù bắn phá”. Rồi anh phát hiện ra vẻ đẹp của rừng cây, so sánh cây xà nu ở đất quê mình với loài cây khác, nghiệm ra rằng “rừng xa nu sinh sôi nảy nở khỏe hơn, ham ánh sáng mặt trời hơn”. Tnu như nhập hồn vào rừng cây, cảm nhận rừng xà nu như một sinh thể kì diệu, bất khuất, bất diệt. Thăm làng chỉ được một đêm, sáng hôm sau trước khi lên đường, Tnu lại đứng lặng hồi lâu ngắm rừng xà nu, lòng bang khuâng, bịn rịn như đối với người thân. Với Tnu, rừng cây, mảnh đất quê hương gắn bó bởi biết bao kỉ niệm lúc êm đềm, khi dữ dội, rừng xà nu là một phần máu thịt của anh. Với người dân làng Xô Man, Tnu coi như những người ruột thịt. Gặp cụ Mết sau ba năm xa cách, Tnu bồi hồi sung sướng “Ông cụ vẫn quắc thước như xưa…ngực căng như một cây xà nu lớn”. Tình yêu quê hương chan hòa trog tình thương mến những con người của quê hương, tình làng nghĩa xóm trong tâm hồn Tnu mặn mà, sâu nặng như tình cảm cha me, con cái trong một gia đình. Với vợ con, Tnu đặc biệt gắn bó, yêu thương. Anh xé tấm đồ của mình làm áo choàng ủ ấm cho con. Khi vợ con bị bọn ác ôn đánh đập, Tnu không sợ chết mà lao vào giữa bọn dã thú che chở và cứu vợ con “Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai”.
Khi đối diện với những kẻ cướp nước và bán nước, Tnu là hiện thân của một cây xà nu cường tráng, của rừng xà nu hiên ngang, bất khuất. Lần thứ nhất bị giặc bắt, giam cầm, tra khảo suốt ba năm, Tnu vẫn không khai, vẫn giữ trọn phẩm chất cách mạng. Rồi anh vượt ngục trở về làng. Vừa về làng, Tnu đã tham gia lập đội xung kích, tự nguyện đi bộ ba ngày lên núi Ngọc Linh gùi đá mài về mài gươm giáo, chiến đấu bảo vệ xóm làng. Trong tâm hồn anh, luôn cháy bỏng ngọn lửa cách mạng, quyết tâm tiêu diệt kẻ thù. Lần thứ hai, khi xông ra cứu vợ con, Tnu lại bị bắt. Lần này anh phải đối mặt với bọn ác ôn dã thú, đối mặt với cái chết dữ dằn. Mười ngón tay anh bị đốt bốc lửa rừng rực. Kẻ thù biến nhựa và cây xà nu thân thương thành ngọn lửa bạo tàn thiêu đốt anh. Nỗi đau thể xác biến thành lòng căm thù. Ngọn lửa mà bọn giặc ác ôn thiêu đốt anh trở thành ngọn lửa căm thù nung đỏ trái tim anh, thành lửa cách mạng cháy sáng trong tâm hồn anh. Không thấy ngọn lửa ở ngón tay, Tnu nghe tiếng lửa trong lồng ngực. Nhờ đó, Tnu vượt qua giây phút yếu mềm. Anh không kêu van mà nhớ tới anh Quyết, nhớ tới cách mạng để tự động viên mình chiến thắng chính mình. Trong giây phút ấy, Tnu thực sự là hóa thân của cây xà nu cường tráng, đúng như cụ Mết nói “Không gì mạnh như cây xà nu đất ta”. Với sức mạnh của người chiến sĩ cách mạng và sức sống bất diệt của cây xà nu, Tnu đã nghiến răng chịu đựng mọi đau đớn, bình tĩnh trước dã tâm tăm tối của kẻ thù. Anh bỗng nghe tiếng chân ai rầm rập bên nhà ưng. Tự hỏi “Ai thế?”, vào giây phút xuất thần, Tnu hiểu rằng, mình cần phải làm gì. Anh thét lên một tiếng. Đó là tiếng kêu trả thù, tiếng gọi chiến đấu. Tiếng thét của anh bỗng vang dội thành nhiều tiếng thét mạnh mẽ hơn. Tiếng “Giết!”, tiếng chân người, tiếng hò reo chiến đấu của dân làng. Vậy là từ thế bị động, bị dồn vào bi kịch, người con kiên cường của Xô Man đã chuyển thành chủ động, khích lệ, động viên cả làng vùng lên tiêu diệt kẻ thù, chuyển hóa bi kịch riêng – tay không trước bày sói có vũ khí đầy đủ – để tạo thành sức mạnh tổng hợp – gươm giáo, lòng căm thù, dũng khí của con người và tiềm tang của mảnh đất,…Nghe tiếng thét của Tnu, cụ Mết và đội du kích từ trong rừng xà nu ào xuống làng. Nhựa xà nu tẩm vào những ngọn đuốc, gỗ xà nu biến thành cây gậy, cây rựa, mũi giáo tấn công kẻ địch. Mười tên giặc ác ôn bị giết, Tnu được cứu sống, Tnu đã chiến thắng, chiến thắng bằng lòng trung thành, bằng ý chí kiên cường, tư thế hiên ngang, bất khuất, sự bình tĩnh, tỉnh táo của bản thân anh, bằng sức sống của rừng xà nu, bằng tinh thần chiến đấu quả cảm, có tổ chức của cụ Mết, của dân làng Xô Man,… | Cảm nhận về nhân vật Tnú trong Rừng Xà Nu | 1,197 | |
Đề bài: Cảm nhận về nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu
Bài làm
Rừng xà nu được Nguyễn Trung Thành viết vào mùa hè 1965 khi đến quối Mỹ bắt đầu đổ quân ào ạt vào miền Nam nước ta. Câu chuyện trở về những năm 60 nói về sự kiện đồng khởi của nhân dân Tây Nguyên với chân lý “chúng nó cầm súng, ta phải cầm giáo mác”. Việc nhắc lại sự kiện xảy ra trước 1965 có ý nghĩa cảnh tỉnh và vạch ra con đường duy nhất: phải cầm vũ khí để chống lại đội quân viễn chinh của Mỹ. Rừng xà nu là bản anh hùng ca mang đậm lính sử thi và cảm hứng lãng mạn về cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên, của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến tranh thần thánh chống đế quốc Mỹ. Nhân vật tiêu biểu nhất trong tác phẩm là Tnú.
Cảm nhận về nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu
Đây là một nhân vật anh hùng, là người con vinh quang của làng Xô Man đã được Nguyễn Trung Thành khắc họa bằng những đường nét độc đáo giàu chất sử thi. Tính chất sử thi được thể hiện rõ nhất ở chỗ cuộc đời ngỡ như có số phận riêng nhưng thực ra Tnú lại đại diện cho số phận và con đường đi lên của dân tộc. Đời Tnú sống chết với cộng đồng, gắn bó với những sự kiện có ý nghĩa nhất của cộng đồng. Anh là một cây xà nu trong muôn vàn những cây xà nu khác nằm dưới tầm đại bác của giặc. Không cây nào không bị thương vì thế mà số phận của cây xà nu – Tnú cũng phải chịu những thương tích do giặc gây ra. Làng Xô Man có bao nhiêu người đã trở thành nạn nhân của tội ác quân thù. Làng Xô Man có bao nhiêu người đã trở thành nạn nhân của tội ác quân thù: “ Bà Nhan bị chặt đầu, anh Xút bị bắn chết, cô bé Dít đã trở thành bia cho bọn giặc nhắm bắn vui cười… Tnú cũng có số phận như cộng đồng nhưng nghiệt ngã và cay đắng hơn, tiêu biểu hơn: Anh chứng kiến cảnh giặc dùng roi sắt quật cho vợ con mình chết, và chính mình khi lao vào cứu vợ con cũng bị giặc tẩm lửa xà nu vào mười đầu ngón tay… rồi Tnú cũng lên đường tham gia lực lượng cũng như cộng đồng người Xô Man của anh nhất tề cầm vũ khí và xây dựng làng chiến đấu.
Nhân vật Tnú có những nét tính cách tiêu biểu sau:
Trước hết anh là một thanh niên gan góc, dũng cảm kiên cường có lính kỷ luật cao.
Lúc nhỏ anh đã vào rừng nuôi cán bộ dù biết rằng bà Nhan, anh Xút đã bị bắt sát hại để cảnh cáo. Tnú đi liên lạc “thường xé rừng mà đi, lựa thác mạnh mà vượt”, học chữ chậm thua Mai, Tnú đã lấy “đá đập vào đầu máu chảy ròng ròng”. Bị giặc bắt tra khảo anh đã quyết không khai, anh đã chỉ vào bụng mình – nói “Cộng sản ở đây”. Ghê gớm nhất đó là khi giặc đốt mười đầu ngón tay, mình vẫn cắn răng không kêu van. Hành động xông ra cứu vợ con với hai bàn tay trắng phần nào cũng biểu hiện được sự gan góc bất chấp cái chết của Tnú.
Câu chuyện về Tnú được cụ Mết kể trong một đêm nhân sự kiện anh nhớ làng xin đơn vị về nghỉ phép trong một ngày, sáng mai Tnú đã lên đường, điều này chứng tỏ anh chấp hành rất đúng kỷ luật của đơn vị, tôn trọng kỷ luật của làng, ý chí kiên cường đã chiến thắng được tình cảm yếu mềm của anh.
Tính cách thứ hai của Tnú đó là con người giàu ý chí biết vượt lên bi kịch cá nhân để sống đẹp.
Từ nhỏ Tnú đã đi nuôi cán bộ, vượt ngục về anh lại cùng cộng đồng mình mài giáo mác chuẩn bị cho cuộc chiến đấu dữ dội ác liệt hơn trong nay mai.
Không gì đau đớn hơn có người vợ hiền thục có đứa con bụ bẫm, thế mà Tnú lại chứng kiến những đòn roi man rợ cùng với cái chết của vợ con. Không những thế, Tnú còn là nạn nhân của bọn giặc man rợ. Mười ngón tay tàn tật nhưng anh đã tình nguyện đi bộ đội chủ lực để giết được nhiều giặc hơn.
Nét tính cách thứ ba của Tnú là con người giàu tình nặng nghĩa. Anh gắn bó với cách mạng, hết lòng với anh Quyết, nghe theo lời anh Quyết năng học hành để làm cán bộ.
Đứa con vừa mới sinh, Tnú đã xé tấm chăn của mình làm địu. Dù không cứu được vợ con n nhưng anh xông ra trong tuyệt vọng để giặc bắt là một biểu yêu thương vợ con hết mức.
Tnú mồ côi cha mẹ lại mất vợ con cho nên buôn làng, cộng đồng đối với giờ đây là tất cả. Được về phép anh bồi hồi xao xuyến khi nghe một tiếng chày giã gạo khi nhận ra từng mặt người, từng sự thay đổi của quê hương.
Nói đến Tnú người ta thường nghĩ về chi tiết nghệ thuật giàu ý nghĩa tay Tnú. Đó là bàn tay đã từng cầm đá đập vào đầu mình, bàn tay dắt Mai làm nương rẫy, bàn tay chỉ vào bụng mình nói đó là cộng sản, bàn tay sau vượt ngục đã run run nắm lấy tay Mai ở đầu con nước lớn của làng, bàn tay mài rìu, rựa, giáo mác… và rồi cũng bàn tay ấy đã ngắt những trái vả. Hai cánh rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh đã ôm chặt lấy mẹ con Mai lần cuối, rồi mười đầu ngón tay của Tnú bốc lửa. Bàn tay thương tật ấy đã tham gia trận đánh đã giết những thằng chỉ huy đồn giặc, bàn tay ấy lại cầm đèn pin soi rõ mặt xác quân thù (bởi Tnú luôn coi mỗi cái xác thù mà anh giết là một thằng Dục).
Rừng xà nu dạt dào âm hưởng sử thi, nó đã sáng tạo ra một nhân vật sử anh hùng. Cuộc đời bi tráng của Tnú chính là cuộc đời của dân tộc Việt Nam mộ: thời điểm lịch sử trọng đại:
Chúng muốn đốt tu thành tro bụi
Ta hỏa vàng nhân phẩm lương tâm
Chúng muốn ta bán mình ô nhục
Ta làm sen thơm ngát giữa đầm.
(Tố Hữu) | Cảm nhận về nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu | 1,128 | |
Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ
Hướng dẫn
Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ
BÀI LÀM
Chuyện người con gái Nam Xương đã làm cảm động bao lòng người bởi số phận cay đắng và oan nghiệt của người thiếu phụ trẻ mang tên Vũ Nương. Nàng trong trắng, thùy mị nết na nhưng vì tính đa nghi, và vì chế độ trọng nam khinh nữ của xã hội phong kiến cũ mà nàng đã phải tự kết liễu cuộc đời để chứng minh cho tấm lòng trong sạch của mình. Qua đó, nhà văn Nguyễn Dữ muốn bày tỏ sự thương cảm, xót xa với Vũ Nương, với những người phụ nữ có số phận hẩm hiu giống nàng. Ông đã dùng cách dẫn dắt câu chuyện rất tài tình kết hợp với những yếu tố ly kỳ hấp dẫn khiến người đọc bị cuốn hút và đồng cảm với cuộc đời đầy bi kịch của người con gái Nam Xương trong chuyện.
Nguyễn Dữ đã xây dựng nên hình ảnh một người con gái, một người phụ nữ, một người vợ có đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp: Công – dung – ngôn hạnh. Vũ Nương tên thật là Vũ Thị Thiết, vốn tính thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Chính vì vậy nàng được Trương Sinh mến và xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Như vậy, dù đẹp cả người lẫn nết, nàng vẫn không có quyền được tự mình quyết định hạnh phúc riêng. Và dù Trương Sinh – chồng nàng là kẻ rất đa nghi, đối với vợ cũng phòng ngừa quá mức, Vũ Nương vẫn luôn giữ gìn đức hạnh, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa. Từ một người con gái ngoan ngoãn, nay Vũ Nương đã trở thành một người vợ hiền chu đáo và toàn diện. Thật hiếm có người nào được như nàng. Bởi thế, theo quan niệm của nhiều người, vợ chồng có thuận hòa hay không là do ở người vợ. Dù Trương Sinh có tính đa nghi nhưng với tấm lòng khiết tịnh và đức tính dịu dàng, ngoan hiền, Vũ Nương đã luôn gìn giữ được mái ấm gia đình.
Khoảng thời gian ở nhà cùng mẹ chồng, Vũ Nương cũng đã sống hết lòng với mẹ, không khác gì ruột thịt của mình. Lúc bà ốm, “nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn”. Một mình Vũ Nương vừa chăm con nhỏ vừa đỡ đần mẹ già yếu bệnh tật. Nhưng chưa bao giờ nàng kêu thản nửa lời. Một mình Vũ Nương cùng lúc đảm nhiệm cả bốn trọng trách cao cả: một người mẹ sớm nắng chiều hôm chăm sóc cho đứa con thơ, một người cha vỗ về lúc con quấy khóc, một người con dâu hiếu thảo hết lòng với mẹ chồng, đồng thời nàng cũng thay chồng làm một người con trai đỡ đần mẹ già yếu những lúc buồn lòng tủi phận. Dù vất vả, Vũ Nương đã làm rất tốt. Đến cả mẹ chồng cũng động lòng trước con dâu: “Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. “Bà cụ nói xong thì mất. Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”. Có được một người phụ nữ như Vũ Nương trong nhà quả là phúc đức lớn.
Nhưng sau tất cả, nào hiếu thảo, nào đức hạnh… những tưởng nàng sẽ được hưởng hạnh phúc trọn vẹn khi Trương Sinh trở về bình yên. Tai họa đã ập xuống người thiếu phụ hiền lành phúc đức và đáng thương. Trương Sinh khi nghe lời con trai ngây ngô nói trước đây đêm nào cũng có một người đàn ông đến với mẹ. Vốn tính đa nghi lại hay ghen tuông, dĩ nhiên Trương Sinh sẽ làm ầm lên với vợ, một mực không cho nàng được giải thích. Mọi niềm tin về một người vợ hiền thảo, thủy chung giờ đã tan biến trong giây phút. Khổ một nỗi là Trương Sinh nhất quyết không chịu nói ra là ai là người đã nói với chàng rằng Vũ Nương ở nhà hư hỏng. Về phía Vũ Nương, nàng giải thích nhưng không được nghe, không được thấu hiểu. Đến bước đường cùng, nàng phải tìm đến cái chết để mong chứng minh được sự trong sạch của mình. “Đoạn rồi, nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng: Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trê xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ. Nói xong nàng gieo mình xuống sông mà chết”. Như vậy, người thiếu phụ trẻ măng đã phải tìm đến cái chết một cách oan ức và đau thương. Cái chết của nàng do chính người chồng mà nàng đã hết lòng thương nhớ gây nên. Hơn hết, là do sự bất công của chế độ phong kiến cũ đã đẩy thân phận người phụ nữ xuống dưới cùng của xã hội. Họ dù có tốt đẹp đến mấy cũng không được công nhận, không được ai bênh vực, chở che. Thế nên, Vũ Nương chỉ còn một cách duy nhất để chứng mình được tấm lòng trong sạch của mình là cái chết.
Qua nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã vừa lên án chế độ xã hội phong kiến xưa đã đẩy người phụ nữ vào hoàn cảnh bất hạnh, đau thương, không cho họ có quyền được sống, được tự do. Ngược lại, người đàn ông luôn cậy quyền mà đàn áp phụ nữ. Mặt khác ông cũng ca ngợi những phẩm chất đạo đức cao quý của người phụ nữ truyền thống Việt Nam. Đó chính là tấm gương cho những người phụ nữ thế hệ sau noi theo. Sống hiền lành, tử tế, hết lòng thương yêu mọi người. Kết thúc có hậu của câu chuyện đã một lần nữa khẳng định quy luật bất di bất dịch của tự nhiên: ở hiền gặp lành. Vì vậy, em mong sao tất cả mọi người cùng nhau sống lành mạnh, giàu tình thương để cuộc sống này luôn được ấm êm, hạnh phúc. | Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ | 1,161 | |
Đề bài: Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương
Bài làm
Chuyện người con gái Nam Xương là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Nguyễn Dữ với độ phổ biến với công chúng rất lớn, đồng thời mang một tinh thần nhân đạo mà cả xã hội quan tâm- quyền của phụ nữ, địa vị của người phụ nữ trong xã hội. Câu chuyện được kể và tả thông qua hình tượng nhân vật Vũ Nương.
Nhân vật Vũ Nương là điển hình cho phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Nàng là người có phẩm chất ” thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”, là hiện thân về cái đẹp lý tưởng của người phụ nữ Việt Nam, có đủ tính tình, phẩm chất đến nhan sắc.
Khi lấy chồng, luôn “giữ khuôn phép, ko từng để vợ chồng phải đến thất hòa”.Là người cẩn thận, biết kính trên nhường dưới, nên gia đình lúc nào cũng hòa thuận.
Nàng cũng là một người con dâu hiếu thảo. Khi mẹ ốm thì lo ” thuốc thang, lễ bái thần phật” rồi ” lấy lời ngon ngọt để khuyên lơn”, nàng đã chăm sóc mẹ chồng tận tình như mẹ đẻ. Khi mẹ mất thì lo ” ma chay, tế lễ”. Tấm lòng của nàng cũng được mẹ chồng thấu hiểu, bà cũng thương yêu cô như con gái ruột của mình vậy.
Một người mẹ hiền, yêu thương con: ” trỏ bóng mình bảo đấy là cha Đản”, hành động đó chỉ là hành động muốn bù đắp sự thiếu vắng của người cha, nàng luôn nói với con rằng con trai còn có một người cha, nàng luôn muốn con gần gũi cha, nhớ đến cha để mai kia Trương Sinh trở về, dù là khoảng cách địa lý hay thời gian, con trai vẫn nhận được bố, đồng thời hành động đó cũng bày tỏ nỗi nhớ chồng.
Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương
Nhưng, không ngờ được, tai họa bất chợt ập đến, Trương Sinh trở về, nghi cho Vũ Nương một cái oan thảm khốc- phản bội- dùng những lời lẽ tàn nhẫn mà nhiếc móc nàng. Nhưng ngay cả khi ấy, Vũ Nương vẫn nói năng đúng mực, tha thiết bày tỏ nỗi niềm và ước mong về cuộc sống gia đình hạnh phúc. Bị chồng hiểu lầm, bị hàm oan tức tưởi, dẫu vẫn còn khao khát hạnh phúc trần gian nhưng Vũ Nương đã chọn cái chết để chứng minh phẩm tiết trong sạch của mình. Hành động này cho thấy lòng tự trọng, ý thức giữ gìn danh dự, tiết hạnh ở người phụ nữ đáng trân trọng này.
Vũ Nương hiện lên là điển hình cho người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa với nhiều phẩm chất cao đẹp song lại là điển hình cho số phận đầy bi kịch, thương tâm. Tác phẩm thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả, nội dung đó được thể hiện qua tấm lòng trân trọng của tác giả đối với những vẻ đẹp dung dị, cao cả của người phụ nữ cũng như đồng cảm với những bất hạnh mà cuộc đời họ phải hứng chịu, mà trong tác phẩm thì đó chính là nàng Vũ Nương.
Minh Anh | Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương | 560 | |
Cảm nhận về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân.
Hướng dẫn
Tình yêu làng sâu đậm hòa quyện với tình yêu nước thiết tha trong nhân vật ông Hai
Mở bài
Trong nền văn học hiện đaị Việt Nam, Kim Lân được biết đến qua những truyện ngắn về hình ảnh người nông dân và bức tranh sinh hoạt ở làng quê. Truyện ngắn “Làng” của Kim Lân đã khắc họa chân thực hình ảnh người nông dân trong buổi đầu đến với Cách Mạng. Họ không phải là những người suốt ngày sống quẩn quanh với mảnh vườn, cam chịu một cuộc sống bế tắc và bi thảm mà là những người nông dân đi tản cư kháng chiến có tình yêu làng gắn chặt với tình yêu Cách mạng, đất nước. Nhân vật ông Hai trong tác phẩm là một bằng chứng.
Thân bài:
Truyện “Làng” khai thác một tình cảm bao trùm và phổ biến trong con người Việt Nam thời kỳ kháng chiến: tình yêu quê hương, đất nước. Đây là tình cảm mang tính cộng đồng. Nhưng thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm, tâm lý chung ấy trong sự thể hiện cụ thể, sinh động ở một con người. Cụ thể là nhân vật ông Hai.
Tình yêu làng của ông ít nhiều thay đổi theo thời gian nhưng trước sau như một, ông vẫn gắn bó, chung thủy với làng chợ Dầu thân thiết của mình. Trước cách mạng, mỗi lần đi đâu xa, nói về làng của mình, ông chỉ đề cập đến “cái sinh phần” của viên tổng đốc làng ông. Lão có vẻ hãnh diện về cái sinh phần ấy lắm, bởi vì nó có bề dày lịch sử và một phần có sự đóng góp của ông: “Chết! Chết, tôi chưa thấy cái dinh cơ nào mà lại được như cái dinh cơ cụ Thượng làng tôi. Có lảm lắm là của, vườn hoa, cây cảnh nom như động ấy”.
Những từ sau ngày khởi nghĩa, vẫn có tính hay khoe về làng nhưng ông chẳng hề đả động đến cái lăng ấy nữa bởi vì xây cái lăng ấy bản thân ông và những người trong làng này đều phải chịu khổ sở. Bây giờ nói đến làng, lão lại đề cập đến “những ngày khởi nghĩa rồn rập ở làng mà ông gia nhập trong phong trào từ thời kỳ còn bóng tối. Những buổi tập quân sự, cả giới phu lão, có cu râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập một, hai”. Ông nhớ rành rọt trong tâm trí của mình “những hố, những u, những giao thông hào của làng”. Ông kể về làng của mình như một thứ tật nghiện chứ không cần chú ý đến người nghe có thích lắng nghe hay không.
Vì lẽ đó, tới những ngày phải đi tản cư, lòng ông cứ băn khoăn chẳng muốn rời xa cái làng thân yêu ấy một tý nào bởi vì theo lão “quê cha đất tổ một lúc rứt ruột bỏ đi làm gì mà không đau xót”. Xa làng rồi, ông Hai mới cảm thấy nhớ làng Dầu biết chừng nào. Lắm lúc đang nghĩ ngợi vẩn vơ, ông lại chợt nhớ đến những ngày cùng làm việc với anh em, và lại khao khát được quay trở về làng để cùng mọi người đắp ụ, xẻ hào, khuân đá. Nỗi mong ngóng ấy cứ dằn vặt và trào dâng trong lòng ông. Thật đúng là:
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”
(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)
Dõi theo tác phẩm, ta thấy ở nhân vật ông Hai tình yêu làng của ông thống nhất, hòa quyện với tình cảm yêu mến, thủy chung đối với cuộc Cách mạng của dân tộc, đối với đất nước.
Bản thân ông luôn tự hào làng của mình là làng kháng chiến, những người dân trong làng từ già đến trẻ đều là những con người có tinh thần quả cảm và bất khuất.
Chính lòng yêu nước đã làm cho ông cảm thấy vui mừng, tự hào về tinh thần dũng cảm cũng như thành tích chiến đấu của đồng bào dân tộc mà ông theo dõi được trên báo chí hằng ngày: “Ruột gan ông cứ múa cả lên…”
Quá đỗi hãnh diện về truyền thống anh hùng của làng và lòng yêu nước sâu sắc vốn có của mình, ông Hai đã quá bàng hoàng, sửng sốt, đau đớn trước cái tin chợ Dầu: “Việt gian từ thằng chủ tịch mà đi”. Thế là bao nhiêu niềm kiêu hãnh về truyền thống bất khuất của mảnh đất “chôn nhau cắt rốn”, bao nhiêu mơ ước được quay về làng bỗng hoàn toàn sụp đổ… Ông đau khổ như vừa lạc vào một vùng bóng tối dày đặc. Là người dân của làng chợ Dầu, ông Hai cảm thấy mình có tội nhục nhã xiết bao: “nước mắt ông giàn ra”.
Đó là những giọt nước mắt câm hờn, khổ đau, tủi nhục của con người sắt son, chung thủy với cuộc cách mạng. Trước kia, ông yêu làng là thế, bây giờ mới chớm nghĩ trở về, ông đã lập tức phản đối ngay “Về làm gì cái làng ấy nữa, chúng nó theo Tây cả rồi!Về tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ”. Cao quý biết bao những lời lẽ đó của ông Hai! Đã thế, ông còn nguyền rủa đối với những ai có tư tưởng bán nước hạ mình: “Chúng bay ăn cơm hay ăn cái giống gì vào mồm mà lại làm việc bán nước để nhúc nhã thế này?”
Đến lúc bị mụ chủ nhà đuổi khóe về làng, ông Hai lại càng khổ sở và đau đớn hơn nữa, lòng căm thù cái làng Việt gian ấy bỗng trổi dậy ở đáy lòng ông: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi, thì phải thù”. Bao nhiêu khao khát trở về làng, ông đành nén lại mà tìm về nẻo chánh: “Ủng hộc cụ Hồ Chi Minh muôn năm!”.
Qua những lời tâm sự với đứa con nhỏ, ta thấy rõ ở ông tấm lòng chung thủy chung với kháng chiến, với cách mạng mà biểu tượng là cụ Hồ: “Anh em đồng chí biết cho bố con ông, cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”.
Càng buồn tuổi bao nhiêu, ông Hai lại càng trở nên tươi vui, rạng rỡ hẳn lên khi nghe tin cải cính về làng Dầu của mình. Ông vui mừng lịm người và đi thông báo cho cả xóm biết. Đồng thời lấy ngay việc Tây đốt nhà mình là một bằng chứng có giá trị hùng hồn và đầy sức thuyết phục nhất: “Tây nó đốt nhà tôi rồi, đốt nhẵn… Láo, láo hết, toàn là sai sự mục đích cả”.
Thanh minh cho tin đồn bậy đó, chắc hẳn lòng ông thanh thản biết bao. Người nông dân đáng cảm phục ấy chấp nhận hy sinh tất cả chứ không chịu khuất thân với giặc. Họ sẵn sàng hy sinh của cải và tính mạng mình vì Tổ quốc. Điều ấy đã trở thành truyền thống tốt đẹp từ bao đời nay của dân tộc ta.
Nhắc đến Kim Lân người ta thường nghĩ đến hai tác phẩm đặc sắc: “Vợ nhặt” và “Làng”. Ở hai tác phẩm ấy, ông đều tỏ ra sắc sảo khi xây dựng hình tượng người nông dân trong nạn đói khủng khiếp của Cách Mạng Tháng Tám và hình ảnh người nông dân bước đầu đến với cách mạng.
Hình ảnh ông Hai có thể được xem là gạch nối giữa người nông dân trong quá khứ và người nông dân đang làm chủ cuộc đời mới. Họ vẫn giữ trong tâm hồn mình những tình cảm tốt đẹp đối với làng quê, ruộng vườn, con trâu, cái cày… nhưng tâm hồn họ khỏe khoắn, lành mạnh chứ không sống cam chịu, bất lực như anh Pha trong “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan, Chị Dậu trong “Tắt đèn” của cụ Ngô Tất Tố hoặc hình ảnh của một Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao phải chọn lấy cái chết để giải quyết số phận bi thảm và bế tắc của mình.
Từ tình cảm gắn bó với mảnh đất “chôn nhau cắt rốn” họ đã dần dần gắn bó thủy chung với cách mạng, với cụ Hồ, với dân tộc. Có thể nói trong số những người nông dân xuất hiện trong nền văn học sau những ngày Cách Mạng Tháng Tám, người ta không thể nào quên được hình ảnh ông Hai của nhà văn Kim Lân.
Lần giở lại những trang văn trong những năm kháng chiến của dân tộc, ta đã không ít lần bắt gặp hình ảnh người nông dâ n yêu nước như ông Hai. Đó còn là hình ảnh ông Tư vườn chim trong truyện ngắn “Giấc mơ ông lão vườn chim” của nhà văn Anh Đức với những “cơn đau rừng” quặn thắt ruột gan khi rừng tràm, vườn chim bị bọn xâm lược bắn giết tàn phá. Nguồn vui của ông đơn sơ bình dị: “Cái chi tao dứt bỏ được chớ cái vườn chim này với mấy thằng bộ đội thì tao không dứt ra được đâu”.
Chính họ, những người nông dân yêu nước ấy đã góp phần không nhỏ vào những kỳ tích oan hùng, những thắng lợi rực rỡ trong cuộc trường chinh giữ nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam.
Góp phần vào thành công của truyện ngắn “Làng” ta còn phải kể đến nét đặc sắc của ngôn ngữ nghệ thuật tiêu biểu là ngôn ngữ nhân vật. Kim Lân vốn đã rất am hiểu và gần gũi với những nhân vật quần chúng của mình, nhà văn đã để họ được nói năng, suy nghĩ, hành động một cách hết sức tự nhiên mà bộ lộ được tâm lý, cá tính rất sinh động.
Ngôn ngữ của ông Hai – cả trong những đối thoại và lời độc thoại – đều tỏ ra lời ăn tiếng nói, cách nghĩ của một ông lão nông dân vốn gắn bó tha thiết với làng quê và rất thành tâm với cách mạng, với kháng chiến. Đây là tấm lòng chung thủy với kháng chiến được bộc bạch qua những lời tâm sự của ông với đứa con và cũng là tự nhủ: “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai”…
Kết bài
Qua việc tạo dựng tình huống truyện độc đáo, bất ngờ; bút pháp miêu tả tâm lý, nhân vật đặc sắc; cách sử dụng ngôn ngữ nhân vật điển hình…, tác phẩm đã khắc họa cụ thể sinh động hình ảnh nhân vật ông Hai có tình yêu làng quê thắm thiết thống nhất với lòng yêu nước để từ đó tác giả nhằm ca ngợi tình cảm và tình thần kháng chiến của những người nông dân phải rời làng tản cư trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Đọc truyện, ai trong chúng ta lại chẳng cảm thấy yêu mến, tự hào về lớp lớp cha ông đi trước… Với nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng, nhà văn Kim Lân đã góp thêm một bằng chứng về tinh thần yêu nước và tình yêu quê hương xứ sở của người dân Việt Nam. | Cảm nhận về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân. | 1,921 | |
Đề bài: Cảm nhận về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng
Bài làm
Sinh ra và lớn lên nơi làng quê Việt Nam, giữa những người nông dân chất phác, nhà văn Kim Lân đã sớm gắn bó và am hiểu sâu sắc về cuộc sống ở nông thôn, sáng tác nhiều tác phẩm về đề tài này. Trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, khi người dân miền Bắc được lệnh tản cư, ông lại một lần nữa khắc họa hình ảnh người nông dân trong truyện ngắn “Làng”, Đó chính là nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” với tình yêu làng quê và lòng yêu nước sâu đậm, tha thiết.
Tác phẩm Làng được coi tác phẩm đánh dâu bước chuyển biến tích cực trong hình tượng người nông dân và nhân thức của họ, đặc biệt qua nhân vật ông Hai. Với nhân vật ông Hai, ngôi làng của ông thuộc về phần thiêng liêng và thân thương nhất. Làng không chỉ là quê hương, nơi chôn rau cắt rốn của ông mà còn là cuộc sống, cuộc đời của ông
Ông Hai có tính hay khoe làng với tất cả niềm hãnh diện. “Ông nói về cái làng ấy một cách say mê và náo nức lạ thường. Hai mắt ông sáng hẳn lên, khuôn mặt biến chuyển hoạt động.”Trong ông thời gian và tâm trí để nghĩ về cái làng của mình chiếm phần lớn, cứ mối lần nhăc đến. “Ông lại nghĩ về cái làng của ông, lại nghĩ đến những ngày cùng làm việc với anh em… Ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá.” Những ký ức về làng xưa, xóm cũ trở thành niềm an ủi, động viên ông Hai mỗi khi chán nản. Chỉ cần được ở lại làng, cùng chiến đấu với anh em thì như có một luồng sinh lực mới chảy dồi dào trong ông, và dù có gian khổ, khó nhọc, nguy hiểm đến bao nhiêu ông cũng chịu được. Hình ảnh đó hoàn toàn trái ngược với ông Hai lúc nào cũng buồn chán, bức bối, không biết làm gì trong căn bếp tản cư. Trong ông lại trào dâng một nỗi nhớ khôn nguôi : “Ông Hai nhớ cái làng, nhớ cái làng quá.” Với ông, ngôi làng của ông vốn đã là một điều gì đó vô cùng thiêng liêng và đẹp đẽ. Nay ở trong căn bếp tản cư chật hẹp, cái làng ấy lại càng đẹp hơn, trở thành một niềm mong ước, khao khát mãnh liệt. Điều đó hoàn toàn không phải phóng đại. Tâm sự của ông Hai là tâm sự của một người gắn bó với làng tha thiết, yêu làng bằng một niềm tự hào chân chính.
Cảm nhận về nhân vật ông Hai
Bên cạnh tình yêu làng, nhân vật ông Hai còn ghi dấu trong mắt người đọc bằng lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến. Ông luôn theo sát tin tức kháng chiến và tự hào về những chiến công mà nhân dân ta đã lập nên. “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá !” Nhưng đến khi phải lựa chọn giữa làng và nước, tình yêu ấy mới bộc lộ rõ rệt. Dù bị tin đồn làng mình theo Tây dồn vào “tuyệt đường sinh sống”, ông vẫn nhất quyết không trở về làng. Đến đây, ta mới hiểu rõ về con người hay chuyện tưởng chừng rất đơn giản, bộc trực kia. Tình yêu làng giờ đây đã trở thành tình yêu có ý thức, hòa nhập và lòng yêu nước. “Về làm gì cái làng ấy nữa. Về làng là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ”
Đến khi tin làng chợ Dầu theo giặc được cải chính, tình yêu làng, yêu nước của ông Hai mới được vẽ lên hoàn chỉnh. Ông Hai như sống lại. “Cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên.” Một lần nữa, tình yêu làng, yêu nước của ông được thể hiện một cách chân thực, cảm động. Nguồn sinh lực ngày nào lại trở về trong ông. Ông Hai lại là ông Hai xưa. Ông lại nói về làng mình, về “Tây nó đốt nhà tôi rồi, đốt nhẵn !” Niềm vui sướng của ông được thể hiện thật hồn nhiên, chân thật và rất mãnh liệt. Có lẽ không ai trên đời lại đi khoe, đi mừng việc nhà mình bị đốt như thế.
Truyện ngắn “Làng” đã xây dựng thành công nhân vật ông Hai, đặc biệt qua tình huống làng Chợ Dầu bị đồn là theo Tây. Nó đã cho ta thấy chiều sâu của nhân vật ông Hai, những nét tính cách, những chuyển biến trong nhận thức và tính cảm của ông, và hơn hết là tình yêu làng, yêu nước tha thiết. | Cảm nhận về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng | 822 | |
Đề bài: Cảm nhận về nhân vật Đan Thiềm qua hồi 5 vở kịch Vũ Như Tô
Bài làm
Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960) là nhà văn Hà Nội viết thành công tiểu thuyết, kịch sân khấu, kịch bản phim, truyện thiếu nhi. “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”, truyện “Sống mãi với Thủ Đô", kịch "Vũ Như Tô”, kịch “Bắc Sơn”, kịch “Những người ở lại”… của ông là những tác phẩm đầy tâm huyết, đem lại niềm vinh dự to lớn cho cây bút rất đỗi tài hoa này.
“Vũ Như Tô” là vở kịch lịch sử 5 hồi được Nguyễn Huy Tưởng sáng tác vào năm 1941. Vũ Như Tô, Lê Tương Dực, Nguyễn Vũ, Trịnh Duy Sản, An Hòa Hầu, Nguyễn Hoằng Dụ… là những nhân vật lịch sử, những nguyên mẫu mà tác giả đã dựa vào “Đại Việt sử kí toàn thư” để sáng tạo nên. Nhân vật Đan Thiềm mang màu sắc lãng mạn, lí tướng nhằm làm nổi bật chất nghệ sĩ của Vũ Như Tô, đẩy xung đột kịch tới cao trào, đỉnh điểm. Trong lời đề tựa vở kịch “Vũ Như Tô”, Nguyễn Huy Tưởng có viết:
“Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết, cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”.
Vở kịch “Vũ Như Tô” đã nêu lên một vấn đề lịch sử – xã hội để mọi người cùng suy nghĩ. Đó là chức năng, vai trò của người nghệ sĩ, và mục đích của nghệ thuật. Người nghệ sĩ đem tài năng phục vụ ai? Mọi công trình nghệ thuật đều vì ai? Đọc vở kịch “Vũ Như Tô”, ta càng cảm hiểu và thấm thìa về những nội dung và ý nghĩa ấy. Ở đây, chuyện lịch sử, chuyện sân khấu cũng là chuyện đời chuyện hôm qua và cả chuyện hôm nay.
Xung đột kịch ở Hồi V chủ yếu xoay quanh giữa Đan Thiềm với Vũ Như Tô giữa Trịnh Duy Sản với Lê Tương Dực, Nguyễn Vũ, giữa Kim Phượng và cả cung nữ với Đan Thiềm, giữa Nguyễn Hoằng Dụ, quân khởi loạn, những người thợ xây Cửu Trùng Đài với Vũ Như Tô và Đan Thiềm.
Bối cảnh lịch sử được phản ánh trong vở kịch “Vũ Như Tô” là từ năm 1510 đến năm 1516 dưới triều vua Lê Tương Dực, “vua lợn ” hoang dâm và xa hoa cực độ. Giặc giã nổi lên như ong. Thăng Long trở thành chiến địa. Lê Tương Dực giết vua Lê Uy Mục (vua quỷ) để giành ngôi báu. Trịnh Duy Sản giết Lê Tương Dực rồi đốt xác. Nguyễn Hoàng Dụ đốt phá kinh thành Thăng Long, bắt Vũ Như Tô là người xây Cửu Trùng Đài cho Lê Tương Dực, đem chém ở ngoại thành. Trần Cao khởi loạn, cướp phá lung tung. Triều đình chia thành năm bè bảy mối, ai cũng chỉ chăm chắm một điều “được làm vua, thua làm giặc”, dân bị “rán mỡ” vô cùng đau khổ điêu linh. Một câu ca được lưu truyền khắp làng quê, kẻ chợ thuở ấy:
“Trời làm một trận lăng nhăng,
Vua hóa ra thằng, thằng hóa ra vua”.
Giữa thời buổi hỗn quân, hỗn quan ấy, có bao chuyện buồn nôn. “Vua quỷ” vừa bị giết thì “Vua lợn" đã ủn ỉn bò lên ngai vàng. Em giết anh, thái tử thông dâm với thứ phi của cha, nghịch thần nhan nhản trong triều, gian phu dâm phụ nhung nhúc trong hậu cung. Có kẻ đem lòng thương muốn cứu người mà gây mầm tai họa. Có bao kẻ ngu trung làm đau khổ dân lành. Đan Thiềm và Vũ Như Tô là những con người đáng thương hại, luẩn quẩn mãi trong vòng chữ tình và chữ danh cuối cùng bị bao thế lực căm phẫn, bị khinh bỉ rồi bị giết chết, thật đáng thương!
Đan Thiềm là một cung nữ có chút ít nhan sắc và lòng nhân hậu, biết quý trọng nhân tài. Nàng đã dành cho Vũ Như Tô bao tình cảm đặc biệt. Vũ Như Tô lúc đầu không muốn đem tài năng phục vụ tên hôn quan “tướng lợn” vì hắn xa xỉ và hoang dâm. Người nghệ sĩ này có thể bị giết, bị tru di. Trước tình cảnh đó, Đan Thiềm đã mách đường cho Vũ Như Tô chạy trốn, đã khuyên “không nên trái lệnh vua”. Nhưng khi quân khởi loạn đốt phá kinh thành, lùng sục kẻ xây dựng Cửu Trùng Đài, cho đó là “thủ phạm” thì Đan Thiềm chạy hớt ha hớt hải, mặt cắt không còn hột máu đi tìm Vũ Như Tô. Đan Thiềm thiết tha van xin vị công trình sư tài ba: “Ông phải trốn đi. Ông phải trốn đi… trốn đi để chờ cơ hội khác. Đại sự hỏng rồi”. Khi tiếng quân ầm ầm, tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng tù và, tiếng ngựa hí nổi lên, khi quân khởi loạn truy tìm “thủ phạm” để giết, để phá Cửu Trùng Đài, thi Đan Thiềm không hề lo đến tính mạng cùa mình mà chỉ lo Vũ Như Tô bị sát hại. Nàng đã hết lời van xin: “Tài kia không nên để uổng. Ông mà có mệnh hệ nào thì nước ta không còn ai tô điểm nữa”. Lòng nhân ái và sự quý trọng nhân tài của Đan Thiềm thật đáng trọng. Nhưng cách suy nghĩ của người cung nữ này thì nông nổi, phiến diện, đáng thương. Có đúng là, nếu Vũ Như tô bị giết chết thì “nước ta không còn ai tô điểm nữa” không? Có đúng là “khi dân nổi lên, họ nông nổi vô cùng. Họ không phân biệt phải trái?”.
Đan Thiềm có biết hay không biết, vua Lê Tương Dực đã ra sức vét thuế, đã “rán mỡ dân” xây dựng Cửu Trùng Đài để sống xa hoa, hưởng lạc giữa hàng trăm, hàng nghìn cung nữ. Đan Thiềm có biết hay không biết, vì xây dựng Cửu Trùng Đài mà hàng vạn dân phu, thợ thuyền bị lao dịch vất vả, bị đói rét, bị chết vì ốm đau, bị tai nạn, nhiều người bỏ trốn đã bị Vũ Như Tô bắt giết?
Đan Thiềm quá thương Vũ Như Tô, quá trọng cái tài của ông Cả, mà nàng như mê, càng ngày càng trở nên “lẩn quẩn”. Khi quân khởi loạn đã đốt phá kinh thành, đập phá tan tành Cửu Trùng Đài, nhưng bà ta còn quỳ lạy, van xin Ngô Hạch (một võ sĩ, một đứa tiểu nhân): “Tướng quân tha cho ông Cả. Nước ta còn cần nhiều thợ tài để tô điểm”. Lửa đã cháy đến chân, đầu sắp lìa khói cổ, nhưng bà ta vẫn “lẩn thẩn", u mê, van lạy: “Tướng quân hãy nghe tôi, đừng phạm tội ác. Đừng giết ống Cả. Tôi xin chịu chết”.
Đan Thiềm quá thương Vũ Như Tô, quá quý trọng cái tài của Vũ Như Tô mới có ngôn từ và cách hành xử ấy. Nhưng tình cảnh đất nước loạn lạc, vua thì xa xỉ, hoang dâm, nhân dân lầm than đau khổ, một trong những "thủ phạm” làm cho dân chúng oán hận là Vũ Như Tô, kẻ đã xây Cửu Trùng Đài, bà ta có biết hay không? Trước dư luận, trước những lời khen chê của đồng loại (dù đó là lời thị phi) thì cũng phải biết lắng tai nghe mà suy ngẫm. Nhưng Đan Thiềm vẫn bỏ ngoài tai tất cả, Thậm chí cho đến lúc đầu sắp lìa cổ vẫn lẩn thẩn, u mê!
Xây Cửu Trùng Đài, phá Cửu Trùng Đài là chuyện đại sự quốc gia. Thế mà một cung nữ (cũng như hàng trăm hàng nghìn cung nữ khác chỉ biết đem nhan sắc thỏa mãn dục vọng bọn quân vương), trí lực có là bao, thế mà vẫn “nói nhảm”, vẫn “dây vào” những chuyện tày đình! Cái chết của Đan Thiềm là một bi kịch: bi kịch về tình thương và lẽ phải, bi kịch về nhận thức mơ hồ, bi kịch giữa nghệ thuật và tội ác! Cái chết của Đan Thiềm là một bi kịch. Đúng như câu ca của dân gian đã lưu truyền:
“Giúp người mà chẳng lo xa,
Gây mầm tai họa, máu sa ngập đường”.
Đan Thiềm đã “giúp”, đã “thương" Vũ Như Tô, bà ta đã quý trọng tài năng người thợ giỏi, bà ta muốn bảo vệ Cửu Trùng Đài, nhưng bà ta có biết hay không vì Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài mà công khố hao hụt, dân gian lầm than! Xét cho cùng, Đan Thiềm cũng là một “đồng thủ phạm” với Vũ Như Tô, là kẻ đã “gây mầm tai họa”.
Nghệ thuật không phải là sự lừa dối. Nghệ thuật cũng không chỉ để thỏa mãn cuộc sống xa hoa, ăn chơi trụy lạc của những vua quỷ, vua lợn, của bọn cường quyền, của một thiểu số người trong xã hội. Nghệ thuật không phải là cái bánh vẽ. Nghệ thuật càng không thể gây đau khổ cho dân chúng. Và những chuyện đại sự quốc gia không phải ai cũng có thể can dự vào. Đó là bài học, không chỉ cho những Đan Thiềm xưa nay mà còn là những điều cần suy nghĩ nghiêm túc cho bất cứ ai trong xã hội. Bởi vậy, Đan Thiềm là một nhân vật đáng thương hại.
Trong bài thơ “Dại khờ” (Tập “Gửi hương cho gió”), thi sĩ Xuân Diệu có viết:
“Người ta khổ vi thương không phải cách,
Yêu sai duyên, và mến chẳng nhằm người.
Có kho vàng nhưng chẳng tặng tùy nơi,
Người ta khổ vì xin không phải chỗ”
Qua cuộc đời đầy bi kịch và cái chết của nhân vật Đan Thiềm trong lịch sử. trong vở kịch "Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng, ta càng thấm thìa những vần thơ trên đây của Xuân Diệu. | Cảm nhận về nhân vật Đan Thiềm qua hồi 5 vở kịch Vũ Như Tô | 1,660 | |
Cảm nhận về nhân vật Đăm Săn trong đoạn trích chiến thắng Mtao Mxây
Hướng dẫn
Cảm nhận về nhân vật Đăm Săn trong đoạn trích chiến thắng Mtao Mxây
Cùng với những sử thi nổi tiếng trên thế giới là I-li-at, Ô-đi-xê, thì ở Việt Nam sử thi Đăm Săn cũng được coi là một trong những báu vật thiêng liêng, là hòn ngọc quý giá trong bảo tàng di sản văn học. Đặc biệt bằn tình cảm yêu mến và khát khao của thế hệ mình vào tương lai, dân gian đã xây dựng hình tượng Đăm Săn, nhân vật chính của bộ sử thi bằng vẻ đẹp sử thi lãng mạn, hào hùng.
Trước hết với mong muốn vẻ đẹp mạnh mẽ, oai phong lẫm liệt, hình tượng Đăm Săn hiện lên với vẻ đẹp phi thường, hiên ngang lãm liệt, rất xứng đáng với phong thái của một tù trưởng. Vẻ đẹp Đăm Săn hiện rõ ngay từ khi chàng bước chân vào lãnh địa của Mtao Mxây. Tù trưởng sắt hung bạo dù kiêu căng ngạo mạn cũng luôn phải dè chừng sự hiện diện của chàng, thậm chí hắn còn lộ rõ vẻ bạt nhược đớn hèn của một tên tù trưởng vô dụng, yếu ớt. Hình ảnh Đăm Săn hiện lên dưới mắt kẻ thù thật dũng mãnh với khố màu sặc sỡ, đầu đội khăn đẹp cùng khí thế hừng hực: “Gươm sáng như mặt trời. Thân mình ở trần như quả dưa, ở thế chờ sẵn như con sóc. Mắt sáng gấp đôi gấp ba mắt thường”. Hình ảnh so sánh thật đặc trưng đã làm đậm nét phi thường của người anh hùng.
Và vẻ đẹp của Đăm Săn còn được bộc lộ rõ hơn qua cuộc đối đầu của Đăm Săn với Mtao Mxây, đấy là cuộc chiến đấu giữa, hai tù trưởng dũng mãnh, là cơ hội để Đăm Săn khẳng định được tài năng và sức mạnh của bản thân. Bằng thủ pháp tương phản, đối lập hình ảnh người anh hùng Đăm Săn hiện ra như một vị dũng tướng thiện chiến.Trong tình cảm tôn vinh người anh hùng, mọi cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của Đăm Săn đều nổi bật, vượt trội hơn kẻ thù. Chúng ta cùng được chứng kiến màn thi tài múa khiên thú vị: Mtao Mxây thể hiện rõ sự khoác lác khi lời nói của hắn được minh chứng bằng tiếng khiên kêu lộc cộc, lộp cộp như tiếng những quả mướp đập vào nhau, còn Đăm Săn đã dập tắt nhuệ khí của hắn bằng sức mạnh phi thường trong màn múa khiên độc đáo. Ngôn ngữ sử thi khoa trương sức mạnh ấy ngang sức mạnh tự nhiên: Một bước nhảy, chàng vượt qua mây đồi tranh. Một bước lùi, vượt qua mấy đồi mía. Tiếng gió khiên rít vù vù như dông bão, cây cối nhà cửa ở xung quanh cũng nghiêng ngả. Lần múa khiên thứ hai của chàng còn ghê gớm hơn bởi dồn chứa sức mạnh trừng phạt Mtao Mxây. Sức mạnh Đăm Săn có được còn nhờ sự trợ lực của người vợ Hơ Nhị khi nàng ném trầu và thuốc cho chàng để sức lực tăng lên gấp bội. Chi tiết Đăm Săn nhận miếng trầu của người vợ còn thể hiện sự đề cao vai trò của người phụ nữ xưa trong chế độ mẫu hệ cũng như ngợi ca và khẳng định vai trò, sức mạnh cộng đồng. sau khi chiến thắng Mtao Mxây, chàng mở tiệc ăn mừng. tất cả, từ già trẻ, giá trai tôi tớ trong buôn làng đều đến góp vui, rượu thịt ăn không ngớt, tiếng chiêng, tiếng kèn, tiếng sao vang lừng làm rộn ràng cả buôn làng. Khắp nơi ai ai cũng đều nghe tin đồn của vị dũng tướng hùng dũng, hiên ngang dù biết rõ chết mười mươi vẫn không sợ chết. khung cảnh đông vui, giàu có ấy cũng chính là mơ ước ngàn đời của nhân dân ta, mong muốn sự đoàn kết, yên vui hạnh phúc sẽ đến với con người. Đăm săn chính là hình tượng tiêu biểu cho niềm khát khao ấy của người dân. | Cảm nhận về nhân vật Đăm Săn trong đoạn trích chiến thắng Mtao Mxây | 705 | |
Cảm nhận về những tâm sự của Nguyễn Du gửi gắm qua bài thơ Độc Tiểu Thanh kí
Hướng dẫn
Độc Tiểu Thanh kí được tác giả Nguyễn Du sáng tác dựa trên nỗi đồng cảm, xót xa về thân phận của nàng Tiểu Thanh tài hoa đoản mệnh. Bài thơ cũng là lời tâm sự của Nguyễn Du về người nghệ sĩ và nghệ thuật. Anh chị hãy trình bày cảm nhận của mình về những tâm sự của Nguyễn Du gửi gắm qua bài thơ Độc Tiểu Thanh kí.
I. Dàn ý chi tiết
1. Mở bài
-Giới thiệu đôi nét về Nguyễn Du
-Giới thiệu đôi nét về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
2. Thân bài
-Hai câu đề: Tâm sự về bi kịch người con gái
+ Tây Hồ: cảnh đẹp đã hóa gò hoang, chôn vùi thanh xuân, thể xác, tài năng người con gái
+ Tác giả: Đồng cảm, nhớ đến cô, bên khung của sổ, những tác phẩm của cô còn lại sau khi bị đốt
-Hai câu thực: Suy tư về số phận qua những thứ còn vương vấn
+ Son phấn: Vật dụng với người con gái đẹp, xinh đẹp nhưng bạc mệnh
+ Văn chương: Vô tri vô giác, không có số mệnh, vẫn bị đốt
+ Vật dụng còn vương vấn tới tận bây giờ
-Hai câu Luận: Day dứt, băn khoăn của Nguyễn Du về sự bất công của xã hội
+ Tự trách: Trách trời, xã hội bất công với người tài, sắc
+ Gửi tâm tư của mình của câu thơ
-Hai câu kết: Câu hỏi đặt ra cho bản thân về số phận mai sau
+ Câu hỏi ngậm ngùi xót thương, đồng cảm
+ Nàng tiểu Thanh: Bạc mệnh, tủi nhục, áp bức, đâu khổ nhưng được nhớ đến, được xót thương thay
+ Tác giả: Tự hỏi không biết sau này nhân gian có ai nhớ tới.
3. Kết bài
Cảm nhận về bài thơ: Xót thương người phụ nữ, lên án xã hội sâu sắc.
II. Bài tham khảo
Nhắc đến đại thi hào dân tộc không ai không nhắc tới cái tên Nguyễn Du, một nhà thơ mang phong cách hiện thực và nhân đạo sâu sắc, xuyên suốt những tác phẩm của ông là những cảm xúc, sự đồng cảm, bày tỏ sự bất bình, thể hiện nỗi niềm qua những nguồn cảm hứng gần gũi nhất chính là con người Việt Nam, đặc biệt là người con gái, từ đó mà tác phẩm Độc Tiểu Thanh Kí ra đời, tác phẩm ông dùng ngòi bút của mình bày tỏ tâm tư, sự thương xót đối với người con gái trong xã hội xưa.
Tiểu Thanh người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng lại phải chịu số phận đắng cay dưới xã hội phong kiến, xã hội không coi trọng thân phận người phụ nữ, trà đạp những con người nghèo khó, từ đây mà nhà thơ thể hiện tâm sự của mình về số phận bi kịch đó
Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Tây Hồ cảnh đẹp nhẹ nhàng, sâu lắng nay đã hóa gò hoang, nơi chôn giấu tuổi thanh xuân của người con gái, nơi chôn giấu cả thể xác, tài năng và sắc đẹp của cô. Chỉ có tác giả là thương xót nàng, thương xót những gì còn sót lại chỉ là những bài thơ còn lại sau khi bị đốt, nhưng những thứ còn xót lại nhỏ nhoi đó lại chứa đựng nỗi lòng u uất mãnh liệt, bên khung của sổ tác giả dành trọn một tấm lòng với sự đồng cảm dành cho cô, trong tâm trí ông luôn suy tư, trăn trở về cái định mệnh nghiệt ngã mà cô không tránh khỏi, có phải vì cô đẹp, cô tài năng nên sự bất công đến với cô, nhưng không phải chính xã hội mà cô đang sống đã đưa cô trở thành như thế, và những con người có tài, có sắc như cô đều phải chịu chung một số phận đau thương do chính xã hội mang lại. Hai câu thơ tiếp theo Nguyễn Du tiếp tục suy nghĩ về số phận của cô, những thứ còn vương lại cho tới ngày nay.
Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương
Son phấn vật dụng luôn bên cạnh những người con gái biết trang điểm, xinh đẹp nhưng đối với cô người con gái đẹp đó dù đã ra đi nhưng vẫn khiến người đời thương xót, văn chương cô viết bày tỏ tầm lòng mình trong quãng thời gian cô đơn, chỉ là một vật vô chi vô giác, một vật dụng không có tội tình gì, không mệnh số như con người nhưng vẫn bị đốt bỏ, và dù có đốt đến như nào thì vẫn còn vương vấn sót lại, vẫn vương vấn trong tâm hồn nhà thơ. Khi đã suy nghĩ về số phận của cô, tác giả lại thể hiện sự băn khoăn day dứt trong lòng.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Một nỗi hận từ xa xưa tới nay vẫn đang ai oán, từ Tiểu Thanh cho đến tác giả, tại sao những con người tài năng, những con người có ích cho xã hội lại phải chịu những bất công như vậy, ông vừa trách trời đất, vừa trách xã hội tại sao lại để Tiểu Thanh rơi vào tình cảnh như vậy, một người con gái đáng lẽ phải được hạnh phúc chứ không phải là sự tủi nhục, chà đạp, rồi ông oán trách tại sao chính ông cũng rơi vào tỉnh cảnh tương tự như thế. Một con người gửi gắm tâm sự của mình vào chính những câu từ xuất phát từ câu chuyện của người khác, điều đó đẩy cao hơn những gì mà ông muốn nói, muốn truyền đạt tới người đọc. Cuối cùng ông đặt mình vào trường hợp của người con gái mà tự hỏi bản thân mình đã làm được gì và sẽ ra sao trong tương lai.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố như chăng?
Một câu hỏi không phải nghĩ là có thể đưa ra đáp án, người con gái ấy bất hạnh là vậy, đau khổ là vậy, chịu nhiều áp bức, chịu nhiều tủi nhục nhưng sau hơn 300 vẫn có người nhớ đến, vẫn còn người khóc thương cùng chia sẻ, nhưng tác giả đặt mình vào đó và tự hỏi rằng sau này có ai nhớ đến ông không, có ai nhớ đến hai từ Nguyễn Trãi không, hay sau khi ông mất ông sẽ chỉ trở về với cát bụi tự nhiên. Câu hỏi mang đầy sự trăn trở về số phận của chính mình, và cho đến ngày nay chẳng ai là không biết đến đại thi hào của dân tộc ta.
Qua bài thơ cho ta thấy được sự đồng cảm trong số phận, sự xót thương đối với người phụ nữ, lên án xã hội cũ bất công trà đạp lên những con người có đức có tài. Bài thơ cũng bày tỏ khao khát hạnh phúc, quyền được làm người, được hạnh phúc của bất cứ ai trên thế giới này.
Theo | Cảm nhận về những tâm sự của Nguyễn Du gửi gắm qua bài thơ Độc Tiểu Thanh kí | 1,191 | |
Cảm nhận về những vẻ đẹp khất lấp của nhân vật người vợ nhặt (Vợ Nhặt – Kim Lân) và người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu)
Hướng dẫn
Những vẻ đẹp khất lấp của nhân vật người vợ nhặt (Vợ Nhặt – Kim Lân) và người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu)
Mở bài:
Giới thiệu hai nhân vật người: “vợ nhặt” trong truyện “ Vợ nhặt” của Kim Lân và nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện “ Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu.
Thân bài
Giới thiệu khái quát về tác giả và tác phẩm.
Kim Lân là nhà văn chuyên viết nông thôn và cuộc sống người dân quê, có sở trường về truyện ngắn. Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc, viết về tình huống “nhặt vợ” độc đáo, qua đó thể hiện niềm tin mãnh liệt vào phẩm chất tốt đẹp củ những con người bình dị trong nạn đói thê thảm.
Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu thời chống Mĩ, cũng là cây bút tiên phong thời đổi mới “Chiếc thuyền ngoài xa” là truyện ngắn xuất sắc ở thời kì sau, viết về lần giáp mặt của một nghệ sĩ với cuộc sống đầy nghịch lí của một gia đình hàng chài, qua đó thể hiện lòng xót thương, nổi lo âu đối với con người và những trăn trở về trách nhiệm của người nghệ sĩ.
Nhưng nhìn sâu vào bên trong tâm hồn của họ, chúng ta sẽ nhìn thấy được những nét cao đẹp đáng quý.
Cảm nhận về hai nhân vật:
Người vợ nhặt:
Tuy không được miêu tả thật nhiều nhưng người vợ nhặt vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác phẩm. Nhân vật này được khắc họa sống động, theo lối đối lập giữa bề ngoài và bên trong, ban đầu và về sau.
Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu:
Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng, là một lòng ham sống mãnh liệt.
Phía sau vẻ nhếch nhác, dơ dáng, lại là một người biết điều, ý tứ.
Bên trong vẻ chao chát, chỏng lỏn, lại là một người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, biết loa toan.
Người đàn bà hàng chài:
Là nhân vật chính, có vai trò quan trọng với việc thể hiện tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật này được khắc họa sắc nét, theo lối tương phản giữa bề ngoài và bên trong, giữa thân phận và phẩm chất.
Bên trong ngoại hình thì xấu xí, thô kệch là một tấm lòng nhân hậu, vị tha, độ lượng, giàu đức hi sinh.
Phía sau vẻ cam chịu, nhẫn nhục vẫn là một người có khát vọng hạnh phúc, can đảm, cứng cỏi.
Phía sau vẻ quê mùa, thất học lại là một người phụ nữ thương chồng, thương con hết mực và thấu hiểu, sâu sắc lẽ đời.
Tiêu biểu cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.
So sánh:
Tương đồng: Cả hai nhân vật đều là những thân phận bé nhỏ, nạn nhân của hoàn cảnh, … Những vẻ đẹp đáng trân trọng của họ đều bị đời sống cơ cực lam lũ làm khuất lấp. Họ là những người phụ nữ nhân hậu, hiền thục của những người phụ nữ Việt Nam. Những hình ảnh đó mang lại cho người đọc những cảm nhận sâu săc và bài học quý giá để noi gương.
Khác biệt: Vẻ đẹp được thể hiện ở nhân vật người vợ nhặt chủ yếu là những phẩm chất của một nàng dâu mới, hiện lên qua csc chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh, trong nạn đói thê thảm. Vẻ đẹp được khắc sâu ở người đàn bà hàng chài là những phẩm chất của một người mẹ gánh nặng mưu sinh, hiện qua các chi tiết đầy kịch tính, trong tình trạng bạo lực gia đình…..
Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình phát triển, biến đổi từ thấp đến cao (cảm hưng lãng mạn), trong khi đó người đàn bà chài lưới lại tĩnh tại, bất biến như một hiện thực nhức nhối đang tồn tại (cảm hứng thế sự – đời tư trong khuynh hướng nhận thức lại).
Kết bài:
Khẳng định lại vẻ đẹp của hai nhân vật. Nêu suy nghĩ riêng. | Cảm nhận về những vẻ đẹp khất lấp của nhân vật người vợ nhặt (Vợ Nhặt – Kim Lân) và người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu) | 721 | |
Cảm nhận về sức sống tiềm tàng trong tâm hồn của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ
Bài làm
“Vợ chồng A Phủ” là một trong ba tác phẩm đặc sắc viết về đề tài miền núi rút ra từ tập truyện “Tây Bắc” (1953) của nhà văn Tô Hoài. Tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc và đầy xúc động về số phận của nhân vât Mị- cô con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra với những vẻ đẹp về ngoại hình, tinh thần cũng như sức sống tiềm tàng mãnh liệt.
Trước khi về làm dâu nhà thống lí Pá Tra, Mị là cô gái Mèo xinh đẹp, trẻ trung với khao khát chính đáng về cuộc sống tự do, khao khát tình yêu. Trong tác phẩm, tác giả Tô Hoài đã làm nổi bật hình tượng một cô gái miền núi không những xinh đẹp mà còn rất tài hoa, chăm chỉ. Vẻ đẹp của Mị khiến cho mỗi khi mùa xuân đến trai làng đứng nhẵn cả đầu vách buồng Mị. Như vậy, cô hoàn toàn có những phẩm chất đáng tôn trọng và rất xứng đáng được hưởng hạnh phúc.
Kể từ khi về làm con dâu thống lí Pá Tra, nhân vật Mị hiện lên với số phận bất hạnh và được thể hiện rõ ngay từ phần mở đầu tác phẩm với hình ảnh “ai ở xa về bao giờ cũng thấy một người con gái ngồi quay sợi bên cạnh một tảng đá trước cửa chuồng ngựa”. Vì cha mẹ không trả nổi món nợ vay thống lí để làm đám cưới lúc trẻ nên Mị đã bị A Sử bắt về và chấp nhận kiếp “làm dâu gạt nợ” cho nhà thống lí. Kể từ đó, cô trở thành một nô lệ bị đọa đày, bị hành hạ, bị tước đoạt hết mọi quyền sống và rồi, cô cam chịu cuộc sống đó như một cái xác vô hồn. Mị mất dần những ý niệm về thời gian và chỉ nhận thức thế giới qua các ô cửa sổ bằng bàn tay “mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay nắng”, cô sống một cuộc sống không còn ý nghĩa.
Những tưởng hoàn cảnh nghiệt ngã đã tiêu diệt khát vọng về cuộc sống trong Mị. Nhưng không! Tình yêu, khát vọng cuộc sống chỉ bị lụi tắt chứ không hề lụi tàn. Mỗi khi vào buồng, Mị lại ngồi xuống trông ra cửa sổ. Chi tiết này cho thấy tâm hồn Mị vẫn luôn hướng ra bên ngoài và luôn tồn tại những khát khao dù là mỏng manh mơ hồ, chỉ cần có chất xúc tác là sẽ sẵn sàng trỗi dậy. Vì thế nên trong một đêm xuân tại Hồng Ngài, tiếng sáo đã đánh thức tâm hồn Mị nhớ lại thời xa xưa. Quá khứ tươi đẹp của tuổi thanh xuân hiệ hữu chân thực, rõ nét qua tiếng sáo gọi bạn văng vẳng bên tai. Đó là tiếng sáo của tình yêu, của tuổi thanh xuân căng tràn sức sống và dường như lúc này, Mị không còn là cô con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra nữa: “Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị. Nhưng thực tế, Mị vẫn còn ở nhà thống lí Pá Tra và chịu kiếp đạy đòa, vì thế Mị ước có nắm lá ngón trong tay, Mị sẽ ăn cho chết ngay. Và hành động phản kháng lần thứ nhất đã diễn ra khi quyết định đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn thêm một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng, quấn lại tóc và với tay lấy cái váy hoa. Nhưng rồi tất cả đã bị dập tắt khi A Sử nhìn thấy, đoán được ý định của Mị, hắn trói Mị đứng vào cột. Nhưng hành động phi nhân tính của A Sử chỉ có thể giam cầm được thể xác của Mị chứ không thể trói buộc tâm hồn đang bay theo tiếng sáo của Mị.
Sức sống mãnh liệt trong tâm hồn nhân vật Mị đã được khẳng định một lần nữa thông qua hành động cắt dây cởi trói cho A Phủ. Cuộc sống đọa đày trong nhà thống lí Pá Tra sẽ vẫn tiếp diễn nếu như không có chuyện A Phủ- người từng đánh lại A Sử bị phạt vì làm mất một con bò. Trong những ngày đầu, Mị hoàn toàn thờ ơ và vô cảm trước việc A Phủ bị trói. Nhưng rồi sau đó, khi nhìn thấy giọt nước mắt lăn trên má A Phủ, Mị chợt nhớ đến đêm năm trước A Sử trói mình và Mị đã nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không lau đi được. Mị xót xa cho A Phủ và trong cô diễn ra sự đấu tranh lo sợ mình sẽ bị trói thay. Nhưng rồi khát vọng sống tự do đã khiến Mị theo cởi trói và chạy theo A Phủ, cũng là giải thoát cho bản thân mình. Hành động táo bạo và bất ngờ ấy là kết quả tất yếu của sức sống tiềm tàng khi người con gái yếu ớt phải chống lại cả cường quyền và thần quyền.
Như vậy, bằng ngòi bút sắc sảo cùng tài năng miêu tả tâm lí nhân vật, tác giả Tô Hoài đã xây dựng hình tượng nhân vật Mị với những nét đẹp về ngoại hình lẫn tâm hồn, đặc biệt là sức sống tiềm tàng nhưng hết sức mãnh liệt. Qua nhân vật này, tác giả đã đặt ra những vấn đề về giá trị hiện thực thông qua bức tranh xã hội đè nén, trói buộc giam hãm con người. Từ đó tác giả bộc lộ thái độ đồng cảm, sẻ chia đối với những thân phận bị áp bức và đặt niềm tin vào sức sống mãnh liệt tiềm ẩn bên trong con người. | Cảm nhận về sức sống tiềm tàng trong tâm hồn của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ | 1,019 | |
Cảm nhận về thiên nhiên trong Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
Cảm nhận về thiên nhiên trong Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà cách mạng vĩ đại mà còn là một thi sĩ một yhi sĩ với nhiều đóng góp không chỉ văn học mà còn ở thơ ca. Những chủ đề mà Người viết nhiều chủ yếu được lấy cảm hứng từ thiên nhiên, cho dù dừng chân nơi đâu, nghĩ về điều gì thì chính thiên nhiên là nền tảng của sáng tạo và góp phần làm giàu lên tâm hồn của người thi sĩ
Nói tới hình ảnh thiên nhiên và tập thơ Nhật Kí trong tù người ta không thể nào quên những mảnh ghép thiên nhiên vừa sống động lại vừa có hồn
“Núi ấp ôm mây mây ấp núi
Lòng sông gương sáng bụi không mờ. ”
HÌnh ảnh núi non trùng điệp sông nước hữu tình chính là điều mà người ta nói tới nhiều nhất. KHông chỉ là hình ảnh của sông núi mà còn là hình ảnh của mấy trời sương bao phủ.
Cho dù trong mọi hoàn cảnh thì hình ảnh thiên nhiên và tình yêu thiên nhiên vẫn khắc khoải trong tâm hồn của một người nghệ sĩ. Đó là hình ảnh của một người tù cách mạng trên đường đi giải sang lao tù mới Người vẫn thấy được một hình anhe đầy sống động của cảnh vật của sự chuyển động của không gian và thời gian
Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn”
Hơn thế hình anh thiên nhiên thật đẹp khi nó chuyển dần từ bóng tối sang ánh sáng. Ánh sáng của sự sống của những niềm tin lí tưởng và của những sức sống luôn luôn muốn trỗi dậy để bừng sáng
“Phương đông màu trắng chuyển sang hồng,
Bóng tối đến tàn, quét sạch không”
HÌnh ảnh mặt trời dần ló ra ửng hồng cả một phía báo hiệu cho một ngày sắp bắt đầu, Nó như bao phủ lấy cả tâm hồn và mắt nhìn của người nghệ sĩ
Khong chỉ là hình ảnh của bình minh mà còn là hình ảnh của buổi chiều tà
“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng”
Hay là ánh trăng mơ ảo thủy chung lúc nòa cũng soi sáng một tâm hồn yêu thiên nhiên nhưng cuãng vô cùng yêu nước thương dan của Người. Ánh trăng đó mặc dù lấp ló ở ngoài khung cửa sổ nhưng thứ ánh sáng của nó lại soi sáng tới từng ngóc ngách tâm hồn của một người thi sĩ một người chiến sĩ. Hình ảnh quả thực thi vị và lãng mạn biết chừng nào
“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. ”
Hay
“Chẳng được tự do mà hưởng nguyệt
Hình ảnh thiên nhiên trong thơ bác thật là thi vị và hết sức phong phú đa dạng. Nó không dừng lại ở bất cứ một điêm nào hết và sức sáng tạo của nó cũng chưa bao giờ khiến con người ta nhàm chán. Con người vĩ đại ấy dù bận tram công nghìn việc nhưng tình yêu dành cho thiên nhiên lại không bao giờ dứt. HÌnh ảnh thiên nhiên và sự chuyển động cảu nó hết sức tinh tế, đặc biệt ánh sáng lửa hồng hay bình minh phía đông là những bước chuyển mình và một ngụ ý sâu xa bác dành cho lí tưởng cách mạng và tinh thần chiến đấu
Nguồn: Bài văn hay | Cảm nhận về thiên nhiên trong Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh | 603 | |
Đề bài: Cảm nhận về thiên nhiên và con người lao động qua văn bản vượt thác của nhà văn Võ Quảng
Bài làm
Văn bản Vượt thác được trích từ chương XI truyện Quê nội (1974) của Võ Quảng – nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi. Đoạn trích đưa ta về cảnh thiên nhiên sông nước trên sông Thu Bồn trong một cuộc vượt thác gian nan, vất vả cửa con người.
Vượt thác đã đưa bạn đọc cùng với hành trình của con thuyền do dượng Hương Thư chỉ huy, từ vùrg đồng bằng trù phú, vượt qua những thác ghềnh ở vùng núi để tới thượng nguồn lấy gỗ về dựng trường học cho làng Hoà Phước sau Cách mạng 1945 thành công.
Vượt thác là bức tranh thiên nhiên trên dòng sông Thu Bồn. Bức tranh đó được miêu tả có sự thay đổi theo từng chặng đường của con thuyền, theo điểm nhìn của tác giả. Nhà văn đã chọn vị trí quan sát là ở trên thuyền nên có thể nhìn thấy cảnh quan hai bên bờ cũng như dòng nước trên sông: con thuyền đi đến đâu thì cảnh hiện ra đến đấy. Có thể nói đó là một vị trí quan sát thích hợp nhất để tả cảnh. Tác giả đã tìm ra được những nét tiêu biểu, đặc sắc của từng vùng con thuyền đã đi qua: vùng đồng bằng êm đềm thơ mộng, trù phú bao la với những bãi dâu trải ra bạt ngàn đến tận những làng xa tít; đoạn sông có nhiều thác dữ thì từ trên cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng chảy đứt đuôi rắn. Khi con thuyền vượt qua thác dữ thì nhiều lớp núi, đồng ruộng lại mở ra.
Ở đây, cảnh vật được nhân hoá, so sánh khiến cho bức tranh thiên nhiên sông nước có hồn, sinh động và gợi cảm. Con thuyền như đang nhớ núi rừng phải lướt cho nhanh để về cho kịp… Nước từ trên cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng chảy đứt đuôi rắn… Rồi thuyền vượt qua khỏi thác cổ Cò. Dòng sông cứ chảy quanh co dọc những núi cao sừng sững. Nhưng hàm chứa nhiều ý nghĩa là hình ảnh những cây cổ thụ trên bờ sông mà tác giả đã miêu tả đến hai lần ở đoạn đầu và cuối bài văn. Khi con thuyền đã qua đoạn sông êm ả, sắp đến chỗ có nhiều thác dữ thì dọc bờ sông hiện ra những chòm cổ thụ dáng mãnh liệt đứng trầm ngâm lặng nhìn xuống nước như là cảnh báo con người: phía trước là khúc sông có nhiều thác dữ, cần phải chuẩn bị tinh thần để vượt qua. Đến khi con thuyền vượt qua nhiều thác dữ thì dọc sườn núi lại hiện ra Những cây to mọc giữa những bụi lúp xúp nom xa như những cụ già vung tay hô con cháu tiến về phía trước. Một hình ảnh so sánh đầy sức sáng tạo nhưng vẫn không mất đi độ chính xác và gợi cảm. Trong cách nhìn của người vượt thác, những cây to so với những cây thấp nhỏ lại giống như những cụ già đang hướng về phía con cháu họ mà động viên, thúc giục họ tiến về phía trước. Ân sau cách nhìn ấy là tâm trạng phấn chấn của những con người vừa vượt qua nhiều khó khăn, nguy hiểm.
Điều đặc sắc hơn là những cây cổ thụ đều được ví với người để biểu hiện thêm những tầng nghĩa mới. Song điều đặc biệt ở đây là mỗi hình ảnh so sánh đều có nét riêng độc đáo không gây sự nhàm chán. Cho nên, nếu hình ảnh ở đoạn cuối văn bản là một hình ảnh so sánh rõ ràng (có từ so sánh “như”) thì hình ảnh ở đoạn trước (đầu văn bản) là một sự so sánh kín đáo, được thể hiện bằng một cách nhân hoá (qua cái dáng đứng trầm ngâm lặng nhìn – đặc điểm chỉ có ở con người để miêu tả cho những chòm cổ thu). Tạo được những hình, ảnh giàu sức biểu hiện như vậy là một thành công của Võ Quảng.
Khung cảnh thiên nhiên dù có đẹp đến đâu cũng chỉ là một cái nền để tôn vẻ đẹp của con người bởi con người bao giờ cũng là trung tâm của cảnh. Đó là chú Hai, vi tiêu biểu nhất, đẹp nhất là dượng Hương Thư ở cảnh vượt thác dữ. Nhà văn đã đặc tả nhân vật này với những chi tiết đầy ấn tượng thể hiện một quyết tâm lớn để chiến thắng hoàn cảnh. Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cẩn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào, giống như một hiệp sĩ của Trường sơn oai linh hùng vĩ. Biện pháp so sánh được sử dụng nối nhau liên tiếp trong đoạn đã khắc hoạ vẻ đẹp rắn chắc, dũng mãnh của nhân vật, biểu thị sức mạnh, sự cố gắng hết sức tập trung tất cả tinh thần và nghị lực để chiến đấu với dòng thác. Người đọc ngỡ như hình ảnh huyền thoại anh hùng xưa với tầm vóc phi thường của những Đam San, Xinh Nhã bằng xương, bằng thịt đang hiển hiện ra trước mắt. Phải chăng thông qua nghệ thuật so sánh tài tình nhà văn làm nổi bật cái “thần” nhằm tôn vinh hình ảnh con người trước thiên nhiên rộng lớn.
Lại một so sánh tưởng chừng như lạc lõng: Dượng Hương Thư đang vượt thác khác hẳn dượng Hương Thư ở nhà, nói năng nhỏ nhẹ, tính nết nhu mì, ai gọi cũng vâng vảng dạ dạ, thực chất đã mang lại hiệu quả bất ngờ. Nó không những chỉ đối lập và thống nhất hai tư thế, hai hình ảnh khác nhau của cùng một con người mà còn hé mở cho người đọc biết thêm những phẩm chất đáng quí của người lao động: khiêm tốn, nhu mì đến nhút nhát trong cuộc sống đời thường, nhưng lại dũng mãnh, nhanh nhẹn, quyết liệt trong công việc, trong khó khăn thử thách.
Đoạn văn là sự thống nhất cao độ và thành công tột bậc giữa tả thiên nhiên và tả người, tả chân dung con người trong hoạt động, giữa kể và tả với hai biện pháp nghệ thuật phó biến: nhân hoá và so sánh.
Võ Quảng đã thành công trong việc thể hiện chủ đề của bài văn qua cảnh vượt thác của dượng Hương Thư, chú Hai và thằng Cù Lao. Nhà văn ca ngợi cảnh thiên nhiên miền trung đẹp, hùng vĩ, ca ngợi con người lao động Việt nam hào hùng mà khiêm nhường, giản dị. | Cảm nhận về thiên nhiên và con người lao động qua văn bản vượt thác của nhà văn Võ Quảng | 1,155 | |
Cảm nhận về thân phận người phụ nữ Việt Nam thủa xưa
Hướng dẫn
Cảm nhận về thân phận người phụ nữ Việt Nam thủa xưa
Bài làm
Thân phận người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến là một đề tài được rất nhiều nhà thơ, nhà văn lựa chọn làm đề tài sáng tác của mình. Qua các tác phẩm ấy, trước mắt chúng ta hiện lên hình ảnh những con người với vẻ ngoài xinh đẹp, cũng như nhân cách cao đẹp, thế nhưng số phận lại bị phụ thuộc vào rất nhiều người khác. Sự bó buộc của xã hội phong kiến, sự tàn ác của những thế lực đen tối đã khiến cho cuộc đời của họ đầy những chông gai, sóng gió. Nhưng dù khó khăn đến đâu, ở họ vẫn luôn ánh lên một vẻ đẹp của nhân cách, của tình yêu thương, của niềm lạc quan, niềm tin vào cuộc sống.
Người phụ nữ thuở xưa, thường không được tự làm chủ cuộc sống của mình. Quan niệm “tam tòng, tứ đức” khiến cho họ từ khi sinh ra cho đến khi từ rã cuộc sống, luôn phải sống, phải lo lắng, hi sinh cho rất nhiều người khác. Hồ Xuân Hương là một nhà thơ nữ tiêu biểu, và dĩ nhiên, những lời thơ của bà cũng là những lời bộc bạch, những lời lên tiếng bảo vệ cho người phụ nữ Việt Nam thuở xưa:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son…”
Họ là những người đẹp về cả ngoại hình và tâm hồn. Đầu tiên, đó là những người con gái trong trắng, xinh đẹp. Thế nhưng, họ cũng giống như hình ảnh của viên bánh trôi nước. Cuộc sống của họ phụ thuộc vào quá nhiều điều, quá nhiều người. Họ không có quyền tự quyết định cuộc sống của mình. Chỉ có một thứ họ có thể tự quyết định, đó là, dù cho khó khăn đến đâu, vất vả đến đâu, họ vẫn quyết tâm giữ tấm lòng son sắt, thủy chung của mình. Chính Hồ Xuân Hương cũng phải tức giận mà thốt lên rằng:
“Giá đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?”
Họ là phái yếu, nhưng họ cũng có khả năng làm được những điều mà nam giới làm. Thế nhưng xã hội không cho phép. Có mấy ai dám ngông ngênh nói như Hồ Xuân Hương. Không nói đến văn hay, nhiều người còn quan niệm con gái không cần đi học, không cần biết chữ. Vậy thì họ làm sao có thể làm chủ được số mệnh của mình?
Tuy vậy, sống trong hoàn cảnh nghèo khó, nhưng họ vẫn là những người phụ nữ thương chồng, thương con, biết chăm lo, vun vén cho cuộc sống gia đình. Họ vất vả, tảo tần những không một lời oán thán. Tú Xương – một nhà thơ rất bất mãn với tình cảnh đất nước lúc bấy giờ, cũng như với những gò bó của xã hội phong kiến, đã lên tiếng “bênh vợ”, cũng như bênh cho cả một xã hội phụ nữ không được lên tiếng, không được bảo vệ:
Nuôi đủ năm con với một chồng”
Xã hội phong kiến bất công, xã hội mà con người trở thành nô lệ của đồng tiền, khiến cho người phụ nữ phải vất vả, tần tảo đi chợ sớm hôm nuôi chồng, nuôi con. Thế nhưng họ coi đó là niềm vui, niềm hạnh phúc chứ không phải là gánh nặng. Ta bỗng nhớ đến hình ảnh mẹ cò trong câu ca dao của ông cha ta thuở trước:
“Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”
Họ là những người giàu đức hi sinh. Dù có gian khổ đến mấy nhưng họ không một lời oán trách.
Thế nhưng, có mấy người thương vợ được như Tú Xương. Thuở xưa, chế độ đa thê vô cùng phổ biến. Một người phụ nữ có thể phải chịu làm lẽ cho một gia đình giàu có nào đó. Họ phải chịu sự ghen ghét của người vợ cả và những người vợ lẽ khác. Cuộc sống chung chồng ấy, thật vô cùng cực khổ. Hồ Xuân Hương đã phải thốt lên rằng: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!”. Nhưng bà cũng không tránh khỏi guồng quay của số phận, cũng phải đi làm vợ lẽ người ta, chỉ có thể hưởng một hạnh phúc không trọn vẹn. Sự ngang tàng, bướng bỉnh, vùng lên của bà, cũng chỉ là một hạt cát giữa sa mạc.
Đại thi hào Nguyễn Du đã từng viết:
Dù rằng bạc mệnh vẫn là lời chung”
Đó là những đau khổ mà người phụ nữ trong thời đại phong kiến. Họ đẹp, đẹp cả về ngoại hình và nhân cách. Thế nhưng cuộc sống của họ không do họ làm chủ, phải sống kiếp sống lênh đênh, trôi dạt, không định trước được tương lai của mình. Tuy nhiên, họ vẫn vượt lên nhưng đau đớn, tủi nhục ấy, để kiếm tìm hạnh phúc cho mình. | Cảm nhận về thân phận người phụ nữ Việt Nam thủa xưa | 856 | |
Đề bài: Cảm nhận về thầy cô mà em yêu quý
Bài làm
Ai trong cuộc đời của chúng ta cũng đều có một người thầy hay một người cô giáo mà mình kính trọng nhất. Tôi cũng vậy trong những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường Trung học cơ sở, tôi cũng mang trong lòng sự tôn trọng và kính yêu đến với một người thầy, một người với phẩm chất tốt đẹp đã giúp cho tôi trưởng thành hơn rất nhiều.
Thầy giáo của tôi tên là Hoàng, chính thầy là người đã mang lại cho tôi nhiều kỉ niệm trong những ngày tháng học tập tại trường Trung học cơ sở
Ngày đâu tiên gặp thầy, khi thầy bước vào lớp tôi đã rất ấn tượng với vẻ ngòa rất thư sinh của thầy, dáng thầy gầy gầy cộng thêm cặp kính nghiêm nghị, nhưng đằng sau đó là một ánh mắt vô cùng hiền từ, thầy luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến thân thương.
Thầy có vóc dáng cao ráo, hơi gầy với trang phục giản dị quần tây, áo sơ mi. Gương mặt thầy có nét gì đó ẩn chứa sự trầm mặc của cuộc sống. Giọng thầy giảng rất đàm ấm thân thương, trìu mến. Mỗi bài học thầy đều mang đến cho học trò những điều mới mẻ, cả một bầu trời kiến thức nhiệt huyết ở trong đó.
Tôi vốn dĩ không thích môn văn tôi cảm thấy nó thật nhàm chán và buồn ngủ thế nhưng ngay từ tiết học đầu học đầu tiên tôi đã có cảm nhận khác về môn Văn. Và đến tận sau này, tôi lại trở thành một cô học sinh rất nhiệt tình học môn văn, cứ đến tiết văn của thầy là tôi lại thấy phấn khởi vô cùng. Mỗi một buổi học đều là sự đầu tư tâm huyết của thầy, thầy chuẩn bị bài giảng rất kĩ, qua mỗi bài học,thầy đã dạy cho chúng tôi biết được thế nào là tình yêu, về tình cảm trong xã hội. Trong giờ đây thầy sẽ giúp chúng tôi có định hướng hơn trong học tập và có phương pháp như thế nào để học tốt hơn. Thầy không chỉ là một người thầy giỏi chuyên môn, tận tâm với công việc mà còn như là một người cha đối với tất cả chúng tôi. Mỗi bài giảng của thầy là một bài học quý giá đối với chúng tôi. Những kiến thức của thầy không chỉ là kiến thức trong sách vở mà còn cả cách sống, cách đối nhân xử thế với cuộc đời. Những thế hệ học trò đi qua thầy càng ngày càng già đi, mái tóc in hằn sương gió nhưng đối với thầy tâm huyết với học trò như vậy.
Cảm nhận về thầy cô
Thầy không chỉ là một người thầy, mà thầy còn như một người bạn của chúng em vậy. Các bạn con trai trong lớp còn nói rằng thầy như anh trai của họ vậy. Cả lớp em ai cũng yêu mến thầy. Thầy làm chủ nhiệm lớp em 2 năm, hai năm với biết bao kỉ niệm vui buồn khó quên.
Thầy là chủ nhiệm lớp nhưng thầy không đặt nặng vấn đề thành tích. Thầy khuyên nhủ cả lớp rất nhẹ nhàng là học sinh nên chú trọng vào việc học tập, học để có kiến thức, có kiến thức sẽ giúp ích cho cuộc sống. Nhưng cũng cần biết cân bằng giữa việc học và chơi. Thầy luôn lắng nghe lời của các bạn rồi đưa ra những lời động viên cho các học trò của mình. Thầy từng nói, nghề giáo này không chỉ là ước mơ từ thuở nhỏ của thầy mà bây giờ, đó là điều quý giá nhất trong cuộc đời thầy, chỉ cần thấy học sinh của mình chăm ngoan là thầy đã cảm thấy mãn nguyện lắm rồi
Có một lần những bạn con trai lớp em chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt mà thành ra xích mích lớn, các bạn lao vào đánh nhau, tình hình rất gay cấn cả lớp nhốn nháo hẳn lên. Thầy vào lớp nhưng không mắng mỏ gì nhẹ nhàng gọi các bạn ra ngoài để nói chuyện riêng, nhẹ nhàng khuyên bảo không nên làm vậy nữa. Các bạn sau khi nghe thầy phân tích, giảng giải đã ngộ nhận ra, thấy rất hối hận, các bạn xin lỗi thầy, xin lỗi nhau, bắt tay giảng hòa. Lớp tôi từ khi có thầy làm chủ nhiệm tất cả đều ngoan hơn, có ý thức trách nhiệm hơn và đặc biệt là đoàn kết hơn. Đối với tôi thầy giáo luôn là một người thầy đáng kính nhất, người đã giúp chúng tôi trưởng thành và có được ngày hôm nay. | Cảm nhận về thầy cô mà em yêu quý | 806 | |
Cảm nhận về triết lí bài thơ Đi đường – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài tham khảo
Trong thơ của Bác Hồ có nhiều bài viết về đề tài Đi đường. Đặc biệt trong Nhật kí trong tù có tới gần chục bài (Giải đi sớm, Trên đường đi, Đáp thuyền tới huyện Ung Ninh, Mới đến nhà lao Thiên Bảo…). Con đường Bác đi trong Nhật kí trong tù là con đường chuyển lao. Bác bị giải đi từ nhà tù này đến nhà tù khác ở tỉnh Quảng Tây.
Trên con đường đó Bác đã xúc động, đã suy ngẫm thành thơ – trong đó có bài Đi đường:
Đi đường mới biết gian lao
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng
Núi cao lên đến tận cùng
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
Nguyên tác:
Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan
Trùng san chi ngoại hựu trùng san
Trùng san đăng đáo cao phong hậu
Vạn lí dư đồ cố miện gian.
Mở đầu bài thơ là một phán đoán: Đi đường mới biết gian lao.
Một phán đoán luận lí có nội dung và hình thức rất gần với phán đoán hiện thực (chỉ thêm một chữ “mới”). Đó là một nhận thức, một nhận thức có tính khái quát rút ra từ thực tiễn, rất phù hợp với quy luật của nhận thức: “Thực tiễn – nhận thức – thực tiễn”. Câu thơ tiếp là hình ảnh miêu tả cụ thể khách quan về đường đi gian khó, cũng là luận cứ của câu thứ nhất: Núi cao rồi lại núi cao trập trùng. Con đường ấy là con đường chuyển lao nhưng cũng là con đường cách mạng, con đường sự nghiệp, con đường đời.
Nếu hai câu đầu là nhận thức về gian lao của đường đi thì hai câu sau lại là kết quả của quá trình trải qua gian lao đó: Núi cao lên đến tận cùng / Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
Đỉnh cao của đường đi cũng là đỉnh cao của gian lao chuyển hóa thành đỉnh cao của cảm xúc và nhận thức. Một hình ảnh thực (núi cao tận cùng), kết quả thực của tri giác, chuyển hóa thành một thu hoạch của tâm hồn, trí tuệ (thu vào tầm mắt…). Câu thơ là một kết luận triết học nhưng trước nhất vẫn là một cảm giác sảng khoái, cảm giác thực của con người khi lên tới đỉnh núi sau một chặng đường dài khó nhọc, được đứng lại nhìn cảnh vật thiên nhiên tươi đẹp trải rộng dưới chân đến hút tầm mắt. Nhưng cảm giác đó mặc dù rất nhân bản vẫn không hẳn là đích của bài thơ. Đích của bài thơ là một bài học, một quy luật: Muốn có tầm cao về tâm hồn, trí tuệ phải chịu khó vượt qua nhiều gian lao thử thách. Gian lao càng nhiều, thử thách càng cao thì tâm hồn, trí tuệ càng được nâng cao, mở rộng. Đỉnh cao của gian khó chuyển thành đỉnh cao của tâm hồn, trí tuệ, cũng là đỉnh cao của hạnh phúc, hạnh phúc của “đại giác”. Gian khó được coi là cái giá của tầm cao tư tưởng và tâm hồn. Cao Bá Quát xưa cũng viết:
An tri vạn lí tâm
(Nếu không thấy ba đào hùng tráng,
Thì biết sao được tấm lòng muôn dặm).
Những tư tưởng lớn gặp nhau, nhưng Hồ Chí Minh nói giản dị hơn. Vương Chi Hoán, nhà thơ đời Đường xưa trong bài Đăng quán tước lâu, cũng có câu: “Dục cùng thiên lí mục – Cánh thượng nhất tằng lâu”. (Muốn tầm mắt nhìn thấu ngàn dặm. Hãy lên cao thêm một tầng lầu).
Nhưng kết quả thu nhận ở đây giành được có vẻ dễ dàng hơn vì đó là thu nhận, dẫu có tính triết học, cũng là của người ngoạn cảnh, còn trong bài Đi đường của Hồ Chí Minh, sự thu hoạch thuộc về người tự xác định mình là “chinh nhân” ở trên “chinh đồ” (Giải đi sớm). Người đó là chiến sĩ nhưng cũng là thi sĩ nên đã trải trái tim mình trên suốt chặng đường đi. Người ấy cũng là triết nhân nhưng không hề tư biện, không minh họa tư tưởng có sẵn bằng hình ảnh sáo mòn mà suy ngẫm trong sự sống đầy cảm xúc của chính mình. Điều đó làm cho bài thơ triết lí vẫn rung động lòng người và tư tưởng của nó đã đi sâu vào tâm trí người đọc và ở lại đó như một điều tâm đắc, một điều chiêm nghiệm và từ đó trở thành phương châm sống, thành ý chí và hành động của con người. Và đó cũng là một bí quyết thành công, một đặc điểm thi pháp thơ triết lí, thơ suy tưởng của nhà thơ Hồ Chí Minh. | Cảm nhận về triết lí bài thơ Đi đường – Đề và văn mẫu 8 | 812 | |
Đề bài: Cảm nhận về truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy
Bài làm
Mị Châu – Trọng Thủy là một truyền thuyết bi tráng nhất. Ý nghĩa lịch sử của nó luôn luôn mới mẻ đối với dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam chúng ta trong bất cứ thời đại lịch sử nào. Bài học về cảnh giác với kẻ thù trong sự nghiệp giữ nước cũng suy ngẫm, cũng thấy đau xót và thấm thía.
Xây thành ốc, chế nỏ thần là kì công của An Dương Vương. Tướng Cao Lỗ với kì công làm nỏ, lấy vuốt rùa thần làm lẫy không bao giờ phai mờ trong tâm hồn nhân dân và lịch sử của dân tộc. Thần Kim Quy là nhân vật huyền thoại xuất hiện đầu – cuối truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy đã tô đậm yếu tố thần kì, huyền diệu trong kì tích yểm trừ yêu quái để xây dựng Loa Thành, để chế nỏ thần Kim Quy, và việc vạch mặt chỉ tên: Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó.
Nỏ thần Kim Quy thật vô cùng lợi hại. Khi Triệu Đà từ phương Bắc đem quân sang cướp phá nước Âu Lạc, An Dương Vương đã lấy nỏ thần ra bắn chết hàng vạn tên giặc, quân Triệu Đà thua to, chạy về Trâu Sơn, không dám đối chiến, xin giảng hòa.
Có thành cao, hào sâu, lại có nỏ thần linh nghiệm, nhà vua còn lo gì nữa? Việc An Dương Vương nhận lời cầu hôn của họ Triệu Phương Bắc – kẻ thù mới năm nào từng mang quân sang xâm lược nước mình, tàn sát nhân dân mình, việc An Dương Vương còn cho Trọng Thủy – con trai Triệu Đà ở rể, hành động ấy cho thấy nhà vua Âu Lạc đã mất cảnh giác cao độ, đúng là nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà.
Nỏ thần là bí mật quốc gia, nhưng làm sao mà An Dương Vương và Triều đình nước Âu Lạc lại để cho Mị Châu biết đến, để người con gái lá ngọc cành vàng đem cho Trọng Thủy xem trộm. Thậm chí đến lức kẻ gian tế ngầm làm một cái lẫy nỏ khác thay vuốt Rùa Vàng mà nhà vua cũng chẳng hay biết gì. Và khi Trọng Thủy ăn cắp được lẫy nỏ thần đem về nước, Triệu Đà lại đem quân sang xâm lược Âu Lạc,cảnh đất nước lâm nguy, nhưng An Dương Vương vẫn điềm nhiên đánh cờ, tự đắc cười lên giọng: Đà không sợ nỏ thần sao?. Còn gì đáng trách hơn là khi cha con Triệu Đà mang quân sang, tiến sát kinh thần Cổ Loa thì vua Âu Lạc mới cầm lấy nỏ thần bắn, và khi thấy nỏ thần không linh nghiệm nữa bèn bỏ chạy. Bị giặc là chàng rể truy kích đến đường cùng. An Dương Vương mới kêu to: Trời hại ta, thần Kim Quy ở đâu, mau lại cứu. Đâu phải Trời hại. Cảnh thành vỡ nước tan, núi xương sông máu dưới vó ngựa xâm lăng của cha con Triệu Đà, thảm kịch ấy là do An Dương Vương mất cảnh giác và chủ quan khinh địch.
Sau khi nghe Rùa Vàng hiện lên thét lớn: Kẻ ngồi sau lưng là giặc đó thì nhà vua mới tỉnh ngộ, hiểu ra cơ sự và chỉ còn biết tuốt kiểm chém Mị Châu. Cái chết của nhà vua đâm đầu xuống biển, ôm theo mối thù hận, đau buồn thiên thu đã được người kể chuyện bao phủ một lớp sương mờ huyền thoại: Vua cầm sừng tê bảy tấc. Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển. Nhà vua phải là người chịu trách nhiệm nặng nề trước lịch sử. Nhưng qua truyền thuyết, nhân dân ta đã dành cho An Dương Vương một tình thương, vừa đánh giá công lao dựng nước xây Loa Thanh, chế nỏ thần, vừa cảm thông cho tẩm lòng thành thực của người đứng đầu nước Âu Lạc trong việc bang giao với phương Bắc, không muôn chiến tranh. Ý định chân thành ấy đã bị quân thù tham lam, nham hiểm lợi dụng gây nên thảm họa cho đất nước, bi kịch cho gia đình. Cái chết của An Dương Vương là một hình phạt. Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển là tình thương.
Với Rùa Vàng thì Mị Châu là giặc, một thứ giặc đang ngồi sau lưng nhà vua. Với An Dương Vương thì Mị Châu là kẻ trọng tội, gây nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu nên phải chém. Vì ngây thơ và quá tin yêu chồng, mà nàng đã cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần, và để hắn ăn cắp lẫy nỏ thần. Vì ngây thơ và quá tin yêu Trọng Thủy mà Mị Châu đã rắc lông ngỗng trên đường chạy giặc, để cha con Triệu Đà thúc quân truy kích An Dương Vương đến tận bờ biển phương nam đất Dạ Sơn, tổng Cao Xá, phủ Diễn Châu. Lời khấn cùa Mị Châu trước khi bị vua cha chém chết cho thấy nàng đã bị lừa dối. Đó cũng là mối hận nghìn đời: Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù. Mị Châu chết đi đã hóa thành ngọc. Máu nàng được các loài trai dưới biển hút, nên mới có ngọc trai. Sự thân hóa kiếp ấy là một minh chứng nàng là cô gái một lòng trung hiếu mà bị lừa dối. Dù ngây thơ, dù vô tình, Mị Châu là kẻ có tội đối với đất nước Âu Lạc và đối với vương phụ. Dù có tội, nhưng nàng thật đáng thương. Mị Châu biến thành ngọc trai ngàn năm sáng mãi là cách nhìn nhận đầy nhân tình, nhân hậu đôi với nàng. Sự phán xét của lịch sử và của nhân dân thật nghiêm khắc và công bằng.
Hơn hai nghìn năm đã trôi qua, người đọc truyền thuyết vẫn cảm thây sợ hãi và ghê tởm đối với Trọng Thủy. Vị phò mã của An Dương Vương, người chồng yêu quý của Mị Châu là một tên gián điệp, một tên lừa đảo, một tên ăn cắp. Hắn còn là một kẻ đầy tham vọng, muốn biến Âu Lạc thành quận huyện của phương Bắc. Việc Trọng Thủy lao đầu xuống giếng là một hành động ân hận, sám hối, hay đó là sự trừng phạt nghiêm khắc, một sự báo oán nhãn tiền.
Tình tiết ngọc trai đem rữa nước giếng Trọng Thủy nơi cổ Loa sẽ sáng thêm đã làm sáng tỏ tâm lòng trung hiếu của người con gái Âu Lạc đã bị lừa dối.
Nhiều nhà thơ đã viết về truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy. Thi sĩ Tản Đà đã để lại vần thơ ngậm ngùi:
Hạt châu giếng nước ngàn năm khói nhang
Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy nhắc nhở chúng ta đừng có mơ hồ. | Cảm nhận về truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy | 1,204 | |
Cảm nhận về truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy
Hướng dẫn
Cảm nhận về truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy
Thành Cổ Loa
Thành quách còn mang tiếng Cổ Loa
Trải bao gió táp với mưa sa
Nỏ thiêng hờ hững dây oan buộc
Giếng ngọc vơi đầy hạt lệ pha
Cây cỏ vẫn cười ai bạc mệnh
Cung đình chưa sạch bụi phồn hoa
Hưng vong biết chửa, người kim cổ
Tiếng cuốc năm canh bóng nguyệt tà.
Bài thơ vang lên một truyền thuyết rất đỗi quen thuộc xuất hiện “An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy”. Dân ta không ai là không biết đến truyền thuyết này. Cô công chúa Mị Nương ngốc nghếch trao nhầm niềm tin cho người chồng nội gián (Trọng Thủy). vua An Dương Vương chủ quan do có nỏ thần mà không phòng bị binh lính, chiếc nỏ thần bị trộm mất mà không hay biết, khi quân Triệu Đà đánh tới trở tay không kịp, kết cục nước mất nhà tan. Chàng rể Trọng Thủy chính là nội gián, kẻ trộm mất chiếc nỏ thần sau khi Mị Nương chết thì quyên sinh cùng. Trong truyền thuyết này kết cục của các nhân vật chính thật đáng thương.
Truyện xưa kể rằng, vua An Dương được thần Kim Quy giúp đỡ sau khi xây thành Cổ Loa xong đã tặng thêm cho một chiếc móng để làm lẫy nỏ thần, chiếc nỏ đó sẽ bắn trăm phát trúng cả trăm và có thể giết hàng ngàn tên địch. Triệu Đà nhăm nhe sang xâm lược nước Âu Lạc, nhưng lần nào đánh là bại lần đấy. Dân Âu lạc kể từ khi có nỏ thần không lo chiến tranh, sống trong thái bình, no ấm. Nhưng Triệu Đà liệu có dừng lại âm mưu cướp nước Âu Lạc hay không? Là một vị vua ông muốn nhân dân của mình sống trong cảnh no ấm, không có chiến tranh, không đổ máu, muốn hai nước sống trong hòa thuận. Chính điều đó cho ta thấy ông là một vị vua nhân hậu, cũng chỉ vì nước vì dân. Mà đâu hay biết âm mưu của Triệu Đà thật thâm sâu. Biết dùng binh không được, Triệu Đà đã dùng kế điệu hổ ly sơn, sang Âu Lạc cầu xin giảng hòa và xin hỏi cưới Mị Châu con gái của An Dương Vương cho Trọng Thủy là con trai của mình. Vua An Dương Vương cứ nghĩ rằng Triệu Đà là có thành ý và không hề nghi ngờ gì. Liền gả con gái của mình cho Trọng Thủy, từ quyết định của vua An Dương Vương đã dẫn đến câu chuyện bi thảm nước mất nhà tan. Trọng Thủy là một tên nội gián, Triệu Đà vì muốn cướp nước ta nên đã cho Trọng Thủy ở lại làm rể bên đất nước Âu Lạc để dò bí mật của An Dương Vương một ngày nào đó sẽ quay trở lại xâm chiếm Âu Lạc. Trọng Thủy vì nghe lời cha đã trở thành một tên nội gián, tên phản bội. An Dương Vương vì không đề cao cảnh giác đã nuôi ong tay áo, Trọng Thủy chính là tên vong ơn bội nghĩa dù yêu Mị Châu nhưng mục đích hàng đầu của Trọng vẫn là giúp cha dò la bí mật của vua An Dương Vương để xâm chiếm nước Âu Lạc.
“Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”
-Tố Hữu-
Nàng đã vô ý trao nước mình cho giặc, mà cũng không ngờ rằng người đầu ấp tay gối với mình mà lại có thể phản bội mình. Trọng Thủy khi biết về nỏ thần đã mau chóng, chế tạo ra một chiếc nỏ giống vậy và đánh tráo chiếc nỏ thần thật sự của vua An Dương Vương mà không hề bị nghi ngờ. Khi thực hiện thành công âm mưu của mình Trọng đã lấy lí do về thăm cha xin được về nước. Trước khi về, chàng đã nói với Mị Châu: “Tình nghĩa vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa cha mẹ không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?” Tình yêu làm con người trở nên mù quáng, nếu là một người thông minh đáng lẽ Mị Châu phải nghi ngờ và đặt ra dấu chấm hỏi, tại sao lại nói như vậy trong khi hai nước vẫn đang hòa thuận, tại sao lại thất hòa? Nàng lúc nào cũng chỉ nghĩ về chuyện lứa đôi hạnh phúc, mong chờ đến ngày đoàn tụ mà đáp rằng: “Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt ly thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy có thể tìm được nhau”. Với chi tiết này ta thấy Mị Nương là một người nhu nhược chỉ biết răm rắp nghe theo lời chồng nói, về sau cũng vì chiếc áo lông ngỗng này mà chính Mị Châu đã đưa cha mình tới bước đường cùng, để dấu cho quân xâm lược biết đuổi theo cha. Trọng Thủy mang nỏ thần về cho cha, Triệu Đà sau khi lấy được nỏ thần đã đem quân sang xâm lược Âu Lạc, khi quân địch đánh đến nơi vua An Dương Vương vẫn ung dung ngồi đánh cờ. Vì sự chủ quan đó Trọng Thủy mang nỏ thần về cho cha, Triệu Đà sau khi lấy được nỏ thần đã đem quân sang xâm lược Âu Lạc, khi quân địch đánh đến nơi vua An Dương Vương vẫn ung dung ngồi đánh cờ. Vẫn không hề hay biết nỏ thần đã bị Trọng tráo mất, khi mang ra bắn lỏ không có tác dụng. Vua An Dương Vương dẫn theo Mị Châu cưỡi ngựa bỏ trốn. Mị Châu khoác theo chiếc áo rồi đi cùng vua cha, nàng không quên lời Trọng đi đến đâu rắc lông ngỗng đến đó. Đến bên bờ sông vua An Dương Vương phát hiện quân thù đuổi theo cầu cứu thần Kim Quy. Khi rùa vàng hiện lên đã chỉ rõ sự thật: “Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó”, vua An Dương Vương rút gươm chém đầu Mị Châu. Trước khi chết nàng đã nói rằng: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha sẽ biến thành hạt cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người ta lừa dối khi chết đi sẽ biến thành ngọc châu để rửa sạch mối nhục thù”. Sau khi chết xác nàng biến thành ngọc thạch, máu biến thành ngọc châu. Điều đó chính là sự cảm thông của nhân dân ta đối với nàng công chúa xinh đẹp, khờ dại tin kẻ dã tâm, vô tình đưa nước ta vào ngàn năm nô lệ. Vua An Dương Vương sau khi chém đầu con gái, rùa vàng rẽ nước đưa ông xuống biển sâu. Trọng Thủy sau khi thấy xác vợ đã ôm nàng và khóc rồi không lâu sau cũng chết bên giếng ngọc. | Cảm nhận về truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy | 1,222 | |
Cảm nhận về truyện Bến quê của Nguyễn Minh Châu
Hướng dẫn
Đề bài: Cảm nhận về truyện Bến quê của Nguyễn Minh Châu.
Đặt tên cho truyện ngắn này là Bến quê, điều ấy vừa bình thường, vừa có gì khác thường. Nó bình thường ở chỗ: người ta ai chẳng có một quê hương, để một đời gắn bó, nhất là với người đã từng đi đây đi đó nhiều năm, đã lưu lạc, giang hồ. Còn khác thường là ở chỗ: cái bến quê ấy, cái bãi bồi bên kia sông mà nhân vật Nhĩ hướng về chưa hẳn là nơi chồn rau cắt rốn của anh? Có lẽ đó là quê hương của những người mà anh nhìn thấy: cả một đám khách đợi đò, quê hương của những người đi bộ hay dắt xe đạp, rõ hơn nữa, trong số ấy có "một vài tốp đàn bà đi chợ về đang ngồi kháo chuyện hoặc xổ tóc ra bắt chấy" đằng kia. Với nhân vật Nhĩ, đây chỉ là một miền tưởng nhớ, một mơ ước xa xôi. Tính biểu tượng của tác phẩm, một đặc điểm nghệ thuật bao trùm của Bến quê không chỉ thấm đẫm trong mọi chi tiết, trong cách dựng truyện, mà trước hết trong việc lựa chọn đề tài. Chính nó tạo nên một cách hiểu đa dạng, những ý nghĩa nhiều tầng của thiên truyện.
1. Hoàn cảnh sống hiện thời của Nhĩ thật đáng thương. Gia đình anh là một gia đình nghèo khó. Mang tiếng là dân thành phố, nhưng nơi anh ở không phải là nhà cao cửa rộng mà chỉ là căn hộ tập thể chật hẹp một phòng, lại ở tận tầng hai. Cái nhìn và cái nhớ dù có vượt thời gian„ không gian đến mấy, nó vẫn tù túng trong cái khuôn viên nhỏ bé ấy thôi. Nhìn vợ bước xuống cầu thang, anh đã xót xa "suốt cả một đời người đàn bà trên những bậc gỗ mòn lõm". Nhớ đến vợ anh thời con gái còn mặc áo nâu, chít khăn mỏ quạ nay đã là một phụ nữ thị thành mà cuộc đời nào có khấm khá gì hơn. Cái nghèo không che giấu được của cả gia đình là chiếc áo vá Liên mặc, điều ấy không khỏi làm Nhĩ ngạc nhiên, buồn bã. Đứa con trai, niềm hi vọng của vợ chồng anh đi học xa, tận một thành phố phía Nam được gọi trở về phải chăng cũng là dấu hiệu không vui? Cái nghèo khó, cái ốm đau từ "tiếng nước rót ra lẫn mùi thuốc bắc bay vào" làm cho cái không gian chật chội kia càng thêm ngột ngạt. Sự thắt ngặt của hoàn cảnh khách quan được thể hiện bằng những dồn nén chủ quan, ngòi bút miêu tả tâm lí của người viết thật là tinh tế. Nó lắng đọng ở chiều sâu. Riêng sức khoẻ của mình, Nhĩ tự biết. Tuy ngày nào cũng uống thuốc, bệnh tình không thuyên giảm, hôm nay "cũng thấy như hôm qua". Nhấc mình ra được bên ngoài tấm nệm đang nằm, Nhĩ cảm thấy như mình "vừa bay được một nửa vòng trái đất". Lạc quan, hi vọng như Liên làm sao được. Anh chỉ còn biết hài hước đùa vui để đêm đêm con người thực của anh thao thức lắng nghe, cái âm thanh mà vợ anh giả vờ không nghe: ấy là cái bờ đất lở phía bên này "cùng với con lũ nguồn đã bắt đầu dồn về, những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ". Có lúc Nhĩ thảng thốt giật mình như bấm đốt ngón tay "Hôm nay đã là ngày mấy rồi em nhỉ?". Rõ ràng con người suy kiệt về thể xác nhưng lại tỉnh táo, sáng suốt về tinh thần trong hoàn cảnh ấy rất dễ rơi vào tâm trạng bế tắc, bi quan, hoặc khao khát, chiêm nghiệm về một cái gì lớn lao thuộc về chân lí.
2. Sang được bờ sông bên kia, với Nhĩ vừa là ước mơ vừa là suy ngẫm về cuộc đời. Tính biểu tượng từ "cái bên kia sông" mở ra hai tầng ý nghĩa, trước hết, nó là một ước mơ: con người ta hãy đi đến cái "bên kia sông" của cuộc đời mà mình chưa tới. Hình ảnh con sông Hồng phải chăng là ranh giới giữa cái thực và cái mộng mà chiếc cầu nối là con đò qua lại mỗi ngày chỉ có một chuyến mà thôi. Muốn đến với cái thế giới ước mơ kia đừng có do dự, vòng vèo mà bỏ lỡ. Thế giới của ước mơ chẳng qua chỉ là một vùng nhận thức (tâm thức) trong tượng tưởng của con người. Nó tuyệt đích và hoàn mĩ, nhưng nó chẳng là những gì cụ thể cả. Tuy vậy, nó lại là cái đích mà con người ta phải bôn tẩu, kiếm tìm, vượt qua bao nhiêu gian truân, khổ ải mà chắc gì đã đến được. Vả lại không đạt đến độ chín đó của sự thăng trầm, hoặc quá ngây thơ, người ta không sao hiểu nổi. Chẳng hạn như Tùấn, con trai anh, do không hiểu được cái thế giới ước mơ kia của Nhĩ, vâng lời bố mà đi nhưng không hề biết vì sao nó phải đi, ở bên kia sông có gì lạ? Nó sẵn sàng "sà vào đám người chơi phá cờ thế trên hè" là lẽ dĩ nhiên. Còn Nhĩ, khi biết thằng bé đã đi, tâm hồn anh trào dâng bao nhiêu náo nức. Nó cũng là "một cánh buồm vừa bắt gió căng phồng lên". Hình ảnh đứa con, hình ảnh của ước vọng từ "cái mũ cói rộng vành và chiếc sơ mi màu trứng sáo" cứ chập chờn, khi là đứa con, khi chính là mình, vì thế. Hình ảnh tuyệt vời, trẻ trung này là mơ ước của anh.
Miền đất ấy là ước mơ. Miền đất ấy cũng gợi trong Nhĩ bao nhiêu suy ngẫm vể cuồc đời có thực. Hình ảnh có thực về cuộc đời (chứ không phải danh lam thắng cảnh, nước biếc non xanh), cuộc đời có thực ấy thật nguyên vẹn, "cả trong những nét tiêu sơ". Một khi đã là cái thực, nó đôi lập với sự cầu kì. Nó cần đến sự giản dị, hồn nhiên. Nhưng để hiểu được cuộc đời, người ta phải có một "con mắt xanh" nhìn nó, phải "in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia". Ý nghĩ: bến quê, bến đời, nơi người ta không tới được đậm màu sắc triết lí là ý nghĩ về con đường nhận thức tưởng như đã đến mà thực tế còn rất xa xôi. Cái nghịch lí này không triết luận dài dòng, nó nằm ngay trong tâm trạng, một tâm trạng giày vò mà "lời lẽ không bao giờ giải thích hết giữa "say mê" và "ân hận, đau đớn". Tuy nhiên, đến được với cái đích ấy, con người hạnh phúc lại theo một cách riêng không phải như "một chú bé mới đẻ đang toét miệng cười" thích thú vì được chăm sóc mà là một nhà thám hiểm "đang chậm rãi đặt từng bước chân lên cái mặt đất dấp dính phù sa" trên một miền xa lạ. Phát hiện ra cuộc đời ở chiều sâu, được đi tìm nó, đối với Nhĩ là một sự hồi hộp vô biên. Hai con mắt của con người say mê và đau khổ ấy sáng lên, "long lanh" một cách khác thường. Những ngón tay bám vào cửa sổ như bám vào hạnh phúc cũng run lên. Còn cánh tay gầy guộc giơ ra phía ngoài khuôn cửa như "đang khẩn thiết ra hiệu cho người nào đó". Người nào đó là ai? Căn cứ vào văn cảnh thì người đó chắc chắn là Tuấn, con anh. Nhưng có lẽ không chỉ có thế, hiệu lệnh tiến lên còn dành cho Nhĩ, cho mọi người, cho bạn đọc đông đảo chúng ta. Cụm từ mơ hồ "một người nào đó" được hiểu như "con người", hiểu là tất cả. Và chặng đường đến với cuộc đời như cuộc chạy tiếp sức hết thế hệ nọ đến thế hệ kia…
3.Về nghệ thuật, trong quan niệm truyền thống, khi nói đến truyện ngắn, người ta nghĩ ngay đến cốt truyện, nghĩa là một hệ thống chi tiết hành động, tất cả được kể lại một cách rành mạch, thứ tự, tạo kích thích và hứng thú cho người nghe. Bến quê đã không đi theo hướng ấy. Nhân vật trong truyện, loại truyện thế sự đời tư có lô gích bên trong, không hoàn toàn trùng khớp với thế giới bên ngoài. Thế giới bên trong này tạo nên một thứ mạch ngầm văn bản ở chiểu sâu, tạo được những dư âm thú vị. Con người ở đây là con người tự nhận thức, tự đối thoại. Vì sao loài hoa bằng lăng vốn nhợt nhạt, sắp hết mùa sao lại đậm sắc hơn? "ừcũng chả phải,… thời tiết đã thay đổi, đã sắp lập thu rồi". Mặt sông thì rộng ra, vòm trời cao hơn. Còn màu sắc của không gian, thời gian cứ lẫn vào giữa mơ với thực, hôm nay với hôm qua như một sự rượt đuổi, kiếm tìm "Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất" mà lại không nghĩ ra và không đật chân đến "cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình". Ý nghĩ ấy trở đi trở lại như một tiếc nuối, xót xa. Chính là đi vào đời sống nội tâm của nhân vật, Nhĩ không khỏi cảm thấy cô đơn, cái cô đơn vốn có của con người. Mặc dù chịu ơn vợ, hi vọng vào con, yêu quý mọi người nhưng hình như mơ ước của anh, khao khát của anh ít người hiểu được. Họ lo cho anh, nhưng không ai có thể tri kỉ cùng anh. Nhĩ như một kẻ độc hành cô đơn trên con đường vạn dặm. Tuy vậy, được hi vọng, ước mơ, được vui sống đến phút cuối cùng, anh không phải là một con người bất hạnh. Một phương diện khác của nghệ thuật là vấn đề kết cấu. Ở một truyện ngắn lấy cảm nghĩ làm phưong tiện để nhân vật hiện lên để có nguy cơ tản mạn.
Bến quê không rơi vào tình trạng trên đây nhờ có sự kết hợp giữa chiều dọc và chiểu ngang của nó. Nếu cảm nghĩ là chiều ngang thì thời gian vẫn là trục dọc để những cảm nghĩ ấy bám vào. Mạch dọc của truyện lại khá dễ hình dung: Nhĩ từ tư thế nằm, nhích dần ra khỏi tấm nệm đến lúc ngồi được lên nhờ có sự giúp đỡ vô tư của bọn trẻ. Con thuyền từ bờ bên kia, sang quá nửa sông, rồi chạm mũi vào đất phía bên này… Sự sắp xếp không có gì khiên cưỡng làm cho sự tiếp nhận thoát ra sự gò bó, nó đạt đến sự hồn nhiên. | Cảm nhận về truyện Bến quê của Nguyễn Minh Châu | 1,904 | |
Cảm nhận về truyện Chiếc lá cuối cùng
Hướng dẫn
Câu chuyện kể về cuộc sống chật vật của những người hoạ sĩ nghèo: hai nữ họa sĩ trẻ Xiu và Giôn-xi sống cùng căn hộ với người họa sĩ già Bơ-men. Những khó khăn về vật chất đã vắt kiệt sức sáng tạo, khiến họ lâm vào cảnh bi đát. Cụ Bơ-men suốt bốn chục năm mơ ước vẽ một bức kiệt tác mà không thực hiện được, đành phải ngồi làm mẫu cho các họa sĩ trẻ để kiếm chút tiền còm nuôi thân. Giôn-xi bị sưng phổi, bệnh tật và nghèo túng đã lấy nốt của cô niềm tin vào cuộc sống. Chỉ còn lại Xiu mòn mỏi với những bức vẽ và ám ảnh bởi suy nghĩ của Giôn-xi: cô gái bệnh tật ấy đang đếm từng chiếc lá rơi để chờ định mệnh phán quyết mạng sống của chính mình, với niềm tin khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì cô sẽ ra đi… Không gian cuộc sống của những con người khốn khổ ấy lạnh lẽo u ám như mùa đông, nặng trĩu những buồn lo.
Đáng sợ làm sao khi mỗi ngày trôi đi trong gió tuyết và những cơn mưa lạnh lẽo dai dẳng, những chiếc lá thường xuân tiếp tục rơi xuống, chỉ còn lại một chiếc lá cuối cùng để Giôn-xi như nhìn thấy cái chết của mình đang đến gần. Có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy rối lòng, bất lực trước một con người đã buông xuôi, chán sống. Bởi thế nhà văn đã tập trung miêu tả khoảnh khắc căng thẳng của Xiu và cụ Bơ-men lúc Giôn-xi đang ngủ: “Họ sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì”. Có lẽ trong giây phút đó, họ đã nhìn thấy nhánh thường xuân cuối cùng trụi lá rồi chăng? Dường như cùng với cái khắc nghiệt của trời đông, mưa gió, họ có thể đoán trước được điều gì khi Giôn-xi tỉnh dậy vào sáng hôm sau và thấy chiếc lá cuối cùng đã rụng.
Trong hoàn cảnh này, người đau khổ nhất không phải là Giôn-xi mà chính là cô gái trẻ Xiu. Bởi lẽ, cô là người sẽ phải chứng kiến toàn bộ tấn bi kịch sắp diễn ra vào sáng hôm sau khi Giôn-xi lại nhìn ra cửa sổ. Nhà văn không mô tả cụ thể tâm trạng Xiu, chỉ cho biết cô “tỉnh dậy sau khi chợp mắt được một tiếng đồng hồ”,như vậy có nghĩa là cô đã phải trải qua một đêm trắng đầy âu lo thổn thức, trong sự bồn chồn và bất lực. Một đêm mưa gió ngoài trời dữ dội, một chiếc lá mong manh bám trên bức tường gạch chắc chắn sẽ bị vùi dập tơi tả, không chống chọi nổi sự tàn phá của tự nhiên. Điều đó có nghĩa là sau phút kéo mành lên, Giôn-xi sẽ nhìn thấy cái chết của chính mình. Nhưng Xiu cũng không thể chịu được khoảnh khắc nhìn thấy “Giôn-xi đang mở to cặp mắt thẫn thờ nhìn tấm mành mành màu xanh đã kéo xuống”. Không kéo mành lên cũng không được, vì như vậy Xiu sẽ mang mặc cảm chính mình mới là người gây ra cái chết của Giôn-xi. Ta hiểu tâm trạng của cô khi làm theo một cách chán nản, bản thân cô cũng không còn phương cách nào giúp cho người đồng nghiệp, người em gái kia từ bỏ suy nghĩ điên rồ đáng sợ kia.
Chính vào lúc ấy, một hình ảnh bất ngờ đã làm đảo lộn mọi dự đoán, đảo ngược cả tình huống tưởng như chắc chắn trong dự định của Giôn-xi, trong nỗi lo của Xiu và trong sự thất vọng của mọi người. Tình huống ấy đã thắp lại niềm hy vọng như một phép màu: vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch. Có lẽ người vui mừng nhất lúc này là Xiu, vì chiếc lá cô nhìn thấy không phải là một ảo ảnh: “Đó là chiếc lá cuối cùng trên cây. Ở gần cuống lá còn giữ màu xanh sẫm, nhưng với rìa lá hình răng cưa đã nhuốm màu vàng úa, chiếc lá vẫn dũng cảm treo bám vào cành cách mặt đất chừng hai mươi bộ”. Còn Giôn-xi? Cô cũng nhận ra: “Đó là chiếc lá cuối cùng”, thừa nhận sự thật một cách miễn cưỡng và tiếp tục suy nghĩ: “Hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó thì em sẽ chết”.
Giôn-xi thật đáng thương nhưng cô cũng thật đáng trách khi vẫn đeo đuổi ý định từ bỏ cuộc sống. Cô chìm đắm trong ý nghĩ kỳ quặc của mình, mặc kệ những sợi dây ràng buộc cô với tình bạn và với thế gian cứ lơi lỏng dần từng sợi một.Cô đã phụ lòng của Xiu, bởi lẽ cô đã xem nỗi đau của mình lớn hơn tất cả mọi sự quan tâm lo lắng của mọi người. Trong thời điểm ấy, sẽ không ai có thể giúp đỡ cô, ngoại trừ chính bản thân cô. Thời gian một ngày kéo dài đằng đẵng để Giôn-xi chứng kiến chiếc lá thường xuân chống chọi với mùa đông khắc nghiệt. Chiếc lá bướng bỉnh ấy không chấp nhận sự buông xuôi của một cô gái còn quá trẻ. Thế nhưng, khi con người ấy đã chấp nhận đầu hàng số phận, thì sức mạnh của màn đêm buông xuống, gió bấc ào ào, mưa đập mạnh vào cửa sổ lại có một uy lực khiến cho Giôn-xi không còn một niềm tin nào vào sự sống của chính mình. Sự cố chấp ấy quả thật đáng chê trách.
Nhà văn đã tạo ra một tình huống thử thách trước số phận của Giôn-xi, để rồi, cuối cùng người đọc có thể thở phào nhẹ nhõm: “chiếc lá thường xuân vẫn còn đó”. Chiếc lá mong manh ấy đã chiến thắng được thời tiết khắc nghiệt, để tạo ra một bước ngoặt trong nhận thức của Giôn-xi. Cuối cùng, cô gái ấy đã nhận ra sự ích kỷ tồi tệ của bản thân mình. Chiếc lá cuối cùng đã cứu sống một sinh linh. Trước hết là thức tỉnh khát vọng sống tiềm ẩn trong tâm hồn của Giôn-xi, để cô nhận ra: “có một cái gì đấy đã làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó để cho em thấy rằng mình đã tệ như thế nào. Muốn chết là một tội.”. Phép nhiệm màu đã xảy ra, vượt qua tất cả những quy luật thường tình của thiên nhiên tạo hoá, khiến Giôn-xi không hiểu và không sao hiểu được. Phải chăng, Thượng đế chí công và nhân từ không nỡ để một cô gái trẻ phải sớm giã từ cuộc sống? Không những thế, sau thời khắc bừng tỉnh, cô gái Giôn-xi đã lại bắt đầu mơ ước về tương lai: “một ngày nào đó em sẽ vẽ được vịnh Na- plơ”. Thượng đế thật công bằng, vị thượng đế ấy có tên là… Bơ-men.
Người hoạ sĩ già khốn khổ ấy không có quyền năng tối thượng của Thượng đế, nhưng ông có một trái tim giàu lòng thương cảm. Hoá ra, trong thời điểm làm mẫu cho Xiu, con người ấy đã đi đến một quyết định táo bạo, đoạt quyền của Đấng-toàn-năng bằng chính khả năng của mình. Con người đã bốn mươi năm theo đuổi kiệt tác mà không thành công đã tạo nên một kiệt tác cuối cùng của đời mình: chiếc lá cuối cùng! Khi bắt tay vào công việc, người nghệ sĩ chân chính ấy đã âm thầm hành động với ước nguyện thật cao cả: trả lại niềm tin vào sự sống cho Giôn-xi. Không ai được biết có bao nhiêu tinh hoa đã phát tiết trong giờ phút vẽ nên chiếc lá trên tường của cụ Bơ-men. Tất cả đều diễn ra quá bất ngờ, đến nỗi cả Xiu là người đã chứng kiến giờ phút chiếc lá cuối cùng rụng xuống cùng cụ Bơ-men cũng phải bàng hoàng. Ta chợt hiểu những lời nói hối hả của cô với Giôn-xi: “Em thân yêu, thân yêu. Em hãy nghĩ đến chị, nếu như em không còn muốn nghĩ đến mình nữa. Chị sẽ làm gì đây?”. Cô đã hiểu tất cả, nhưng không dám nói rõ cho Giôn-xi, bởi lẽ cô chưa thể hình dung ra phản ứng của Giôn-xi trước một sự lừa dối bắt nguồn từ lòng tốt của người hoạ sĩ già. Lời nói ấy còn bộc lộ một niềm sung sướng vô biên của Xiu trước giải pháp tình thế mà cụ Bơ-men đã nghĩ ra trong đêm chiếc lá cuối cùng thực sự đã rụng xuống. Bởi thế, lần kéo mành vào hôm sau, ta không còn gặp tâm trạng chán nản đến cùng cực của Xiu nữa.
Vì sự sống của một cô gái, cụ Bơ-men đã bất chấp thử thách của thời tiết khắc nghiệt, quên đi sự sống của bản thân mình. Có lẽ bản thân cụ cũng không ngờ đó là bức vẽ cuối cùng của cuộc đời mình, nhưng chắc chắn một điều khi người hoạ sĩ ấy vẽ chiếc lá, bức vẽ ấy không nhằm để lưu lại tên tuổi nghệ sĩ với đời. Điều đáng quan tâm lúc đó là sự sống đã tắt trong tâm hồn một cô gái trẻ, làm thế nào để cô thôi không bị ám ảnh bởi quy luật lạnh lùng của tạo hoá, để rồi vươn lên giữa cuộc đời bằng chính sức sống tiềm tàng trong tâm hồn cô. Đó là lúc người hoạ sĩ già ấy hiểu thấu sứ mạng vinh quang và cao cả của nghệ thuật: hướng về con người chứ không phải là nhằm tạo chút danh tiếng hão huyền, nghệ thuật chỉ thật sự bắt đầu khi sáng tạo của người nghệ sĩ giúp ích cho đời.
Cuối cùng thì Giôn-xi đã vượt qua cửa ải của chính mình, trở lại với niềm tin sự sống nhờ niềm tin vào sức sống mãnh liệt từ chiếc lá cuối cùng – tác phẩm của cụ Bơ-men. Nhưng người nghệ sĩ già ấy đã phải trả một cái giá quá đắt bằng chính mạng sống của mình. Giôn-xi chỉ được biết điều ấy khi đã thật sự bình phục bằng nghị lực của chính mình. Qua lời thuật lại của Xiu, ta hiểu được lòng biết ơn của Xiu đối với người hoạ sĩ cao cả ấy, và cô muốn nhắc nhở Giôn-xi không thể vô ơn trước sự hy sinh của một con người chân chính, vì sự sống của đồng loại đã không ngần ngại xả thân. Cụ Bơ-men đã nhiễm chính căn bệnh sưng phổi của Giôn-xi vào lúc tạo nên chiếc lá cuối cùng giữa một đêm đông mưa gió lạnh lẽo. Chi tiết xúc động này khiến ta tin rằng Giôn-xi dù biết rằng chiếc lá ấy là một sản phẩm nhân tạo, nhưng chắc chắn cô sẽ không bao giờ hối hận trước một sự lừa dối cao cả như thế, Người hoạ sĩ già Bơ-men là hiện thân của sự cao thượng, lòng vị tha, đức hy sinh của một con người chân chính.
Câu chuyện kết thúc bằng một sự đảo ngược tình huống lần thứ hai. Chiếc lá cuối cùng là một sự lừa dối, nhưng lại là một sự lừa dối cao cả để đem lại niềm tin vào sự sống cho con người. Kiệt tác cuối cùng của người họa sĩ già đã được ra đời nằm ngoài tất cả mọi dự đoán của công chúng. Nhưng chiếc lá cuối cùng ấy mãi mãi là bằng chứng của tấm lòng yêu thương con người. Bởi thế, Chiếc lá cuối cùng sẽ mãi bất tử với thời gian. | Cảm nhận về truyện Chiếc lá cuối cùng | 2,003 | |
Cảm nhận về truyện cô bé bán diêm của An Đéc Xen
Hướng dẫn
An-đéc-xen là một nhà văn nổi tiếng trên toàn thế giới. Ông được biết dến qua những câu chuyện kể dành cho trẻ em. Đến với “Cô bé bán diêm”- một câu chuyện cổ tích đượm buồn, ta thấy sáng lên tấm lòng yêu thương con người của nhà văn xứ Bắc Âu. Tác phẩm đã truyền cho ta lòng thương cảm sâu sắc với những kiếp đời đau khổ bất hạnh.
Đêm giao thừa, đó là cái đêm mà ai cũng háo hức, chờ mong, là đêm mà Chúa trời ban phúc lành tới muôn nơi: “Trong phố sực nức mùi ngỗng quay”, nhà nhà rực sáng ánh đèn, khung cảnh đẹp xiết bao! Nhưng có ai hay chăng ngoài trời mưa tuyết trắng xóa kia, một em bé đang lầm lũi bước đi, đầu trần chân đất, bụng đói cật rét. Từng câu chữ chan chứa những giọt lệ của nhà văn. Lòng ta không khỏi se lại, xót xa, ngậm ngùi. Lời mời chào tha thiết đến như cầu khẩn, van xin mua diêm của em chẳng khiến cho bao người qua đường động lòng trắc ẩn. Sự vô tình của người đời còn tàn nhẫn hơn cả giá rét. Cái đói cái lạnh đang hành hạ em bé tội nghiệp nhưng đó mới chỉ là nỗi đau về thể xác, còn nỗi đau về tinh thần mà em phải chịu đựng còn nghiệt ngã hơn nhiều. Ở cái tuổi hồn nhiên nhất, em đã phải nói lời tạm biệt với người mẹ yêu quý. Ngay cả bà ngoại- chỗ dựa tinh thần duy nhất của em cũng không còn trên cõi đời này. Đói khát, nghèo khổ cứ bám riết lấy em, người cha suốt ngày chửi mắng, đánh đập em. Chính vì thế mà em phải bươn trải, vật lộn với sóng gió cuộc đời. Chao ôi! Cái xã hội cao sang giàu có đã đày đọa những kiếp người, những kiếp đời nhỏ bé vào hố sâu khốn cùng. Một xã hội mà ai cũng chỉ có biết đến mình thì khác chi đâu “địa ngục trần gian”. Một đoạn văn không dài nhưng đã vẽ lên hai bức tranh đối lập khiến cho những con chữ tựa như những lời tố cáo.
Lần quẹt diêm thứ hai đưa em tới một bàn ăn thịnh soạn, “trên bàn toàn bát đĩa bắng sứ quý giá và có cả một con ngỗng quay”. Kì diệu hơn, “ ngỗng ta nhảy ra khỏi đĩa và mang cả dao ăn, phuốc-sét cắm trên lưng” tiến về phía em. Điều này thật ngộ nghĩn nhưng cũng dễ hiểu thoi vì em đang đói mà. Que diêm thứ hai tắt, mang đi mong ước nhỏ nhoi của em, chỉ còn cảnh” phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trứng xáo, gió bấc vi vu” và vài người đến nơi hẹn hò. Họ đều cuốn theo cuộc sống của riêng mình, hạnh phúc của riêng mình.
Em quẹt tiếp một que diêm nữa, cây thông xanh tươi, lộng lẫy bỗng hiện ra. Cây thông Nô-en là biểu tượng của sự sum họp, hạnh phúc và cũng chính là điều mà em đang ao ước, nó giúp em bớt đi cảm giác cô dơn. Nhưng rồi cây thông cũng tan biến theo vết khói diêm mỏng manh, tất cả các ngọn nến trang trí “bay lên, bay lên mãi rồi biến thành những ngôi sao trên trời”. “ Khi có một vì sao đổi ngôi là có một linh hòn bayleen trời với Thượng Đế”, đọc đến đây ta cảm nhận dược tâm hồn trong sáng của em, em đâng nghĩ tới nhứng gì lung linh, cao đẹp nhất.
Có thể nói những que diêm là hình ảnh tượng trưng cho các mong ước nhỏ nhoi, bình dị của trẻ thơ: được ăn ngon, được vui chơi, được sống trong tình thương gia đình. Còn nhớ trong bài thơ truyện cổ tích về loài người”, Xuân Quỳnh đã viết:
“Trời sinh ra trước nhất
Chỉ toàn là trẻ con”
Rồi sau đó, vì những nhu cầu phát triển của trẻ mà cha, mẹ, thầy giá, ông mặt trời… mới ra đời. Cách viết độc đáo ấy nhấn mạnh trẻ em là đối tượng cần được quan tâm, yêu thương nhiều nhất. Vậy nhưng trong câu chuyện này lại ngược lại. Em bé chỉ có được sự quan tâm yêu thương từ những mộng tưởng. Và cũng qua sự đối lập giữa mộng tưởng và hiên tại, nhà văn An-đéc-xen đã gián tiếp lên á, vạch trần xã hội Đan mạch đen tối lúc bấy giờ. Đồng thời ông ca ngợi những con người nghèo khổ nhưng có tâm hồn trong sáng như cô bé bán diêm. Chi tiết em bé chết cóng mà” đôi má ửng hồng và đôi môi đang mỉm cười” gợi cho ta bao ý nghĩa. Em bé ra đi thật thanh thản bởi thế gian này chẳng còn gì níu kéo em ở lại. Kết thúc câu chuyện tuy bi kịch nhưng vẫn rất có hậu. Háy để linh hồn em được ra đi còn hơn là phải sống trong sự thờ ơ của xã hội. Cũng qua đây, phải chăng nhà văn đã gióng lên hồi chương cảnh tỉnh con người? Lời nhắn nhủ phải chăng là đừng lạnh lùng trước nỗi đau của đồng loại? | Cảm nhận về truyện cô bé bán diêm của An Đéc Xen | 906 | |
Đề bài: Cảm nhận về truyện cổ tích Thạch Sanh
Bài làm
Thạch Sanh là một truyện cổ tích kì diệu nhất trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam. Hình ảnh chàng dũng sĩ chém Trăn tinh, bắn Đại bàng; cây đàn thần, niêu cơm thần của chàng dũng sĩ đã đem đến cho thế giới tuổi thơ bao kỳ thú, bao giấc mơ đẹp.
Thạch Sanh là con Trời. Vợ chồng Lục ông hiền lành, tốt bụng, gần xa ai ai cũng quý mến. Ngọc Hoàng đã thương tình cho thái tử xuống trần đầu thai. Khác với người trần, Thạch Sanh nằm trong bụng mẹ (Lục bà) nhiều năm mới cất tiếng chào đời. Yếu tố hoang đường ấy tạo nên chất kỳ diệu của truyện ca ngợi tính phi thường của Thạch Sanh. Vợ chồng Lục ông đã được Ngọc Hoàng thương cho đứa con trai khôi ngô tuấn tú nối dõi tông đường. Đó là niềm tin của dân gian: ở hiền gặp lành.
Mọi thứ hạnh phúc đều có giá và phải trả giá. Con đường của Thạch Sanh cũng đầy gian truân. Phải chăng Ngọc Hoàng thử thách Thái tử? Mồ côi cả bố lẫn mẹ. Nhà nghèo, một túp lều ở gốc đa. Chỉ một chiếc búa cùn, chỉ có một nghề kiếm củi độ thân. Tuổi thơ chàng bơ vơ, thật đáng thương! Thiên thần đã đến với đứa con mồ côi: dạy võ nghệ, các phép thần thông biến hoá, và trao cho chiếc búa thần. Qua các chi tiết hoang đường ấy, nhân dân gửi gắm bao ước mơ: phải có sức mạnh vô địch để sống, để tồn tại, để chiến thắng!
Cuộc đời Thạch Sanh là những năm tháng đầy gian truân thử thách, chiến công nối tiếp chiến công.
Thạch Sanh đến miếu thần là để thế mạng cho Lý Thông. Nhưng chàng đâu có biết? Trăn tinh là một yêu quái khổng lồ, có nanh sắc, có nọc độc, có sức mạnh ghê gớm, lại biết tàng hình, lắm phép lạ, người đời khiếp sợ, vua quan chịu bó tay. Trăn tinh xuất hiện bất ngờ khi Thạch Sanh đang lim dim mắt nằm ngủ… Trong thế bị động, nhưng Thạch Sanh cực kỳ dũng cảm, tài trí đã dùng phép lạ và búa thần giáng trả quái vật. Trăn tinh bị Thạch Sanh chém giết, bị cắt đầu, bị bổ xác. Chàng thu được một bộ cung tên vàng. Thạch Sanh đã diệt trừ quái vật, trừ hậu hoạ cho nhân dân. Chàng dũng sĩ có thêm vũ khí mới: cung tên thần. Thạch Sanh đã có búa thần đế đánh gần, đánh ở tầm thấp, giờ đâý lại có thêm cung tên thần, đế đánh ở tầm cao, tầm xa. Thử hỏi, kẻ thù nào địch nổi chàng dũng sĩ?.
Đại bàng là một kẻ thù rất nguy hiểm vì nó ở trên trời, lại có hang sâu bí mật. Thái tử con vua Thuỷ tề còn bị Đại bàng bắt sống, giam giữ trong cũi sắt! Công chúa con vua còn bị Đại bàng quắp đi giữa thanh thiên bạch nhật trong lễ hội kén phò mã trước mắt bá quan văn võ và đông đủ anh tài trong thiên hạ! Thạch Sanh chỉ bắn một mũi tên vàng đã làm cho Đại bàng bị trọng thương. Lần theo vết máu, dũng sĩ tìm đến hang ổ ác điểu. Đại bàng có mỏ sắc, vuốt nhọn, có sức mạnh ghê gớm lao tới mổ, cắn xé Thạch Sanh. Vung búa thần giáng trả, dùng cung tên thần bắn mù hai mắt quái vật. Đại bàng bị giết, bị phanh xác. Một kẻ thù nguy hiểm nữa của nhân dân đã bị chàng dũng sĩ tiêu diệt! Chiến công diệt Đại bàng là một kì tích vì Thạch Sanh đã cứu được nàng công chúa và Thái tử con vua Thuỷ tề. Chiến công chấn động cõi đời mà còn vang động tới vương quốc Thuỷ tề. Từ thuỷ phủ trở về, Thạch Sanh chỉ cầm trong tay một cây đàn thần làm kỉ niệm một chuyến viễn du thú vị. Chàng lại trở về gốc đa, chốn cũ yêu thương. Với chàng dũng sĩ thì vàng bạc châu báu cũng như dinh thự nguy nga, của ngon vật lạ đều trở nên xa lạ. Túp lều gốc đa là nơi chàng đã sinh ra, lớn lên, với bao kỷ niệm buồn vui. Thạch Sanh trở về gốc đa, một tình tiết, phải chăng nói lên quan niệm nhân sinh tốt đẹp của nhân dân thời xưa: Một túp lều tranh, một trái tim vàng?
Với Thạch Sanh, cây đàn thần không phải là một nhạc cụ để mua vui mà là một vũ khí vô cùng linh nghiệm. Nơi chàng đánh đành, gảy đàn là trong ngục. Tiếng đàn để giãi bày. Tiếng đàn như một thứ "thần dược" làm cho công chúa đang bị câm nghe tiếng đàn mà nói lên được! Nhờ tiếng đàn mà chàng dũng sĩ đưọc gặp lại người đẹp, rồi được minh oanh, để vạch trần bộ mặt thật của Lý Thông, tên bán rượu xảo quyệt, cướp công, độc ác, âm mưu hãm hại người… Thạch Sanh không dùng búa thần, cung tên thần để giao tranh với tướng sĩ 18 nước chư hầu, mà chỉ dùng đàn thần để lui giặc. Đó là tiếng đàn hoà bình. Niêu cơm Thạch Sanh là niêu cơm hàng vạn người ăn mãi không hết; niêu cơm ấm no, hạnh phúc. Đàn thần và niêu cơm thần đã góp phần tô đậm vẻ đẹp kì diệu truyện Thạch Sanh.
Thạch Sanh tha tội cho Lý Thông, kẻ đã cướp công và hãm hại mình. Hành động ấy thể hiện đức dộ lượng, lòng nhân ái bao dung cao đẹp.
Nhân vật Thạch Sanh thật đẹp. Với búa thần, cung tên vàng, đàn thần, với võ nghệ và phép thần thông biến hoá, chàng dũng sĩ đã chém Trăn tinh, giết Đại bàng, trừ diệt cái ác, tai hoạ cho nhân dân, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, đem lại hoà bình. Thạch Sanh đã trải qua bao gian truân thử thách, lấp lánh bao chiến công hiển hách. Anh đã được kết duyên với công chúa, chàng đã thể hiện ước mơ của nhân dân, những ước mơ hồn nhiên, trong sáng và rất đẹp. Thật vậy, truyện Thạch Sanh là một truyện cổ tích thần kì, nói lên một giấc mơ đẹp của nhân dân ta bao đời nay. | Cảm nhận về truyện cổ tích Thạch Sanh | 1,093 | |
Cảm nhận về truyện ngắn Chiếc Thuyền Ngoài Xa
Hướng dẫn
Cảm nhận về truyện ngắn Chiếc Thuyền Ngoài Xa
Bài làm
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa là một phát hiện về đời sống và con người của Nguyễn Minh Châu theo tư duy đổi mới. Với bao nghịch lý cuộc đời, bao nghiệt ngã của cuộc sống hiện thực được tác giả mở ra, khiến người đọc vỡ lẽ từ một tờ lịch “tĩnh vật” thuần túy của người nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng trong chuyến đi thực tế để gửi gắm chiêm nghiệm sâu sắc về nghệ thuật và về cuộc đời.
Trước khi thống nhất đất nước, văn học chủ yếu tập trung vào sự cống hiến, hy sinh cho cách mạng, các tiêu chuẩn đạo đức cách mạng được thể hiện trong các mối quan hệ. Nhưng kể từ sau năm 1975, văn học nước nhà đã có nhiều cái nhìn mới, trở về với cuộc sống đời thường, khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức và yêu cầu người nghệ sĩ phải phát hiện, nhận diện những mối quan hệ xã hội phức tạp để hướng cho độc giả nhận thức về cuộc sống và hình thành nhân cách.
Trung tâm của truyện ngắn là nhân vật Phùng, và điểm nhìn của Phùng cũng chính là điểm nhìn của Nguyễn Minh Châu. Qua nhân vật này, nhà văn muốn gửi gắm những suy nghĩ, chiêm nghiệm của mình về nghệ thuật và cuộc đời. Người nghệ sĩ có khi bắt gặp những mâu thuẫn, éo le trong nghề nghiệp vì vậy cần phải có cái nhìn đúng đắn, nhiều chiều và đa diện, phát hiện bản chất sự thật sau vẻ bề ngoài của hiện tượng.
Nhân vật Phùng vốn là người lính vào sinh ra tử, căm ghét mọi bất công và sẵn sàng xả thân vì lẽ công bằng vì thế anh thực sự xúc động trước vẻ đẹp tinh khôi trước ánh nắng ban mai của thuyền và biển nhưng trái tim anh cũng thắt lại trước nỗi đau của con người. Trong lúc tâm hồn bay bổng của người nghệ sĩ thì anh phải chứng kiến người đàn bà mệt mỏi bị đàn ông đánh đạp thô bạo, chửi rủa độc địa và đứa con trai vì không kìm được đã đánh lại cha khiến người nghệ sĩ từ ngạc nhiên đến hụt hẫng, chết lặng và không dám tin vào mắt mình.
Đằng sau sự toàn bích của thiên nhiên mà anh bắt gặp thì cái ác hiện hữu ngay trong đó, hạnh phúc con người luôn tiềm ẩn những bất hạnh. Và nhân vật Phùng cũng hiểu rằng không thể đánh giá bản chất con người hoặc sự vật bằng vẻ bên ngoài được. Bởi như vậy là hời hợt và thiếu sâu sắc, đặc biệt là người nghệ sĩ phải nhìn thấu suốt vấn đề, không thể dễ dãi và đơn giản trong mọi sự vật và hiện tượng được.
Cái đẹp là bản thân cuộc sống với nhiều gam màu sáng tối khác nhau và cái hồn của nghệ thuật chính là vẻ đẹp bình thường của những con người lam lũ, vất vả trong cuộc sống thường nhật. Phàm là người nghệ sĩ cần phải có cái nhìn đa diện trước cuộc sống, phải có tâm hồn và trái tim biết rung động trước mọi lẽ đời, biết yêu, ghét, vui,buồn trước cuộc sống để hành động sao cho đúng. | Cảm nhận về truyện ngắn Chiếc Thuyền Ngoài Xa | 580 | |
Đề bài: Cảm nhận về truyện Thầy thuốc giỏi cốt ở tấm lòng
Bài làm
Tác giả của Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng là một tác phẩm nói về việc cũ của quê hương đất nước, ký thác nỗi sầu xa xứ qua những hồi ức của người đang sống nơi đất khách quê người. Tác phẩm hiện còn 28 thiên, có một số thiên mang yếu tố ly kì như những truyền kỳ, giai thoại, một số thiên gần như những "thi thoại" khá lý thú. Tất cả sự việc, cảnh vật và con người được tác giả nhớ đến thấp thoáng một số nét về xã hội, lịch sử, văn hoá thời Lý – Trần.
Thiên thứ 8, nhan đề chữ Hán là Y thiên dụng tâm (Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng) kể chuyện Phạm Bân, một thầy thuốc giỏi, qua đó ca ngợi y đức, kín đáo biểu lộ niềm tự hào về ông cha, tổ tiên mình.
Phạm Bân là cụ tổ bên ngoại của Hồ Nguyên Trừng, một thầy thuốc giỏi "có nghề y gia truyền" giữ chức Thái y lệnh dưới thời Trần Anh Tông (1293 – 1314). Ông là một thầy thuốc có địa vị cao sang, lại còn giàu lòng nhân ái. Ông không tích của mà tích đức, đã đem hết của cải trong nhà ra mua các loại thuốc tốt và tích trữ thóc gạo để chữa bệnh giúp người, ông không "né tránh" máu mủ dầm dề của bệnh nhân. Bệnh nhân chữa trị "tới khi khoẻ mạnh rồi đi”, ông không lấy tiền. Trong Ngư tiều y thuật vấn đáp, ta cũng bắt gặp một cụ lương y cao đẹp như thế:
Đứa ăn mày củng trời sinh,
Bệnh còn cứu đặng, thuốc đành cho không.
(Nguyễn Đình Chiểu)
Những năm đói kém dịch bệnh nổi lên, Phạm Bân còn dựng thêm nhà đón những kẻ khốn cùng đói khát và bệnh tật đến ở. Ông đã cứu chữa được hơn ngàn người. Nhà ông đã trở thành một bệnh viện làm phúc. Quan Thái y lệnh không làm giàu mà chỉ làm phúc. Y đức của ông toả sáng, cho nên được người đương thời trọng vọng. Tác giả nêu lên một số sự việc rất điển hình để làm nổi bật y thiện dụng tâm của Phạm Bân với bao tự hào ngợi ca của mọi người.
Truyện Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng có một tình huống gây cấn, đầy xung đột giữa tâm đức và danh lợi, giữa cái sống và cái chết, giữa an và nguy. Qua đó, tính cách, nhân cách, bản lĩnh xử thế của người thầy thuốc được tỏ rõ. Cùng một lúc có hai bệnh nhân, người đàn bà thì nguy kịch máu chảy như xối, mặt mày xanh lét bậc quý nhân trong cung đang bị sốt. Một bên là người đến gõ cửa mời gấp, một bên là vương triệu đến khám. Đã mấy ai dám trái lệnh vua? Phạm Bân đã có một cách ứng xử rất đẹp. Ông đã đi ngay đến cứu bệnh nhân khi mệnh sống… chỉ ở trong khoảnh khắc, còn bệnh của quý nhân thì không gấp, sẽ đến vương phủ sau: Tôi cứu họ trước, lát nữa sẽ đến vương phủ. Cứu mệnh sống cho con bệnh nguy kịch là trên hết, trước hết. Phạm Bân đã ứng xử theo lương tâm người thầy thuốc, cho dù phận làm tôi không trọn vẹn, có thể nguy hiểm đến tính mệnh mình. Câu đối đáp của quan Thái y lệnh với quan Trung sứ đã thể hiện tầm vóc cao đẹp của một vị danh y. Trái mệnh vua là tội lớn: Tôi có mắc tội, cũng không biết làm thế nào. Ông thật là người dũng cảm, giàu đức hy sinh, có tâm đức, giàu y đức mới có sự lựa chọn vô cùng dũng cảm và đầy tình người như thế, như ông nói: Nếu người kia không được cứu, sẽ chết trong khoảnh khác, chẳng biết trông vào đâu-. -Ông nói lên niềm tin và sự anh minh của đức vua: Tính mệnh của tiểu thần còn trông cậy vào chúa thượng may ra thoát. Vì trái lệnh vua triệu, ông dũng cảm nhận: Tội tôi xin chịu. Qua đó, ta thấy Phạm Bân đã có "một tấm lòng" cao cả khi đứng trước sự lựa chọn giữa y đức và danh lợi, giữa mệnh sống bệnh nhân và sự nguy hiểm của bản thân mình. Câu nói của Phạm Bân vừa có lý vừa có tình, rất nhân bản, toả sáng một nhân cách cao quý. Có phần thưởng nào to lớn hơn khi Phạm Bân được Trần Anh Tông ngợi khen: Ngươi thật là bậc lương y chân chính, đã giỏi về nghề nghiệp lại có lòng nhân đức….
Phạm Bân là hình ảnh tuyệt đẹp về người thầy thuốc giàu tình thương người, toả sáng tâm đức, y đức, để lại bao lánh yêu và ngưỡng mộ trong lòng ta. Lương y như từ mẫu. Cùng với các bậc danh y như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông, Lê Hữu Trác… nhân vật Phạm Bân sống mãi trong thời gian và lòng người. Đây là một truyện giản dị mà hấp dẫn, chứa chan tình người, nêu cao đạo đức của người thầy thuốc chân chính. | Cảm nhận về truyện Thầy thuốc giỏi cốt ở tấm lòng | 899 | |
Cảm nhận về truyện Tịch phương bình
Hướng dẫn
Cảm nhận về truyện Tịch phương bình
Truyện Tịch Phương Bình” là một truyện đặc sắc trong “Liêu trai chí dị” nói về cuộc đấu tranh đầy nước mắt và chống lại cái ác để bảo vệ công lí. Thể hiện một cách hấp dẫn niềm mơ ước về công lí của nhân dân. Truyện “Tịch Phương Bình” trích trong “Liễu trai chí dị” là kiệt tác của văn học Trung Quốc.
Để minh oan cho cha Tịch đã tìm cách xuống tận địa ngục để tìm hiểu mọi chuyện và vạch trần tội ác của tên họ Dương. Khi xuống tới âm ti trước mắt Tịch là cảnh cha đang nằm dưới thềm ngục, bị tra khảo “đùi vế dập nát”.
Tịch đã tìm đến cửa quan, đơn của Tịch đã gửi đến Thành hoàng, nhưng họ Dương đã đút lót từ trong đến ngoài rồi mới ra công đường đối chất nên vị quan tham Thành hoàng đã cho lời tố cáo của Tịch là “không có bằng cớ chẳng coi ra gì.
Từ đây Tịch ấm ức lắm, Tịch “Mò mẫm ” hơn một trăm dặm, anh đã tìm đến quận. Nhưng khi đến đây tên họ Dương đã dùng tiền bạc để đút nót hết từ trên xuống dưới nên Tịch đến phải hứng bao trận đòn nên xuống. Mà gia cảnh Tịch thì nghèo làm gì có tiền đút nót nên phải ngậm đắng nuốt cay âm thầm quyết định phải làm rõ mọi chuyện cho đến cùng.
Tịch kiên quyết không chịu khuất phục trước cường quyền nên quyết định xuống âm ti lần thứ hai. Lần này Tịch đến tìm gặp Diêm Vương. Quan ấp và quận đã mật sai người đến gặp anh để “thu xếp” chuyện, hứa biếu anh ngàn vàng. Tịch không chịu, “không nghe”. Đúng như chủ nhà trọ đã nói với anh về sự “khăng khăng” giữ ý và “cố chấp”, nhất định sẽ “hỏng việc” vì quan ấp, quan quận “người nào cũng đều có thư riêng dâng lên Diêm Vương”.
Mặc dù bị tra tấn đến dã man và rùng rợn như vậy tịch vẫn không chịu khuất phục khi chưa tìm ra công lí chưa minh oan được cho cha. Tịch lại nói: “Oan to chưa giải, tấc lòng này vẫn không nguôi lạnh!… Nhất định còn kiện nữa! Điều này càng cho ta thấy rõ Tịch là một con người kiên cường dù có phải chịu nỗi đau như thế nào vẫn mong tìm được công lí minh oan cho cha mình.
Qủy sứ dưới âm ti là lũ “mặt đen, mồm máu, tay có vuốt nhọn… ” rất đáng sợ, ấy vậy mà chúng cũng phải “động lòng” trước con người Tịch. Lúc cưa Tịch làm đôi, chúng nói với nhau: “Gan thay anh chàng này” Lúc lưỡi cưa xoèn xoẹt gần đến ngực Tịch, một tên quỷ lại nói: “Người này chí hiếu, không có tội gì, cho chệch lưỡi cưa đi một tí, đừng để hại đến quả tim của hắn Lúc Tịch bị cưa làm hai mảnh, rồi lại được “hợp ngay lại ”, đau nhức nhối, đi được một bước lại ngã dúi thì được một tên quỷ đưa cho một dải thắt lưng bằng dây tơ, và nói: “Tặng cái này để đền đáp lòng hiếu’thảo của ngươi”. Nhờ cái dây lưng ấy mà Tịch thấy mình khỏe hẳn lên. Qua các tình tiết ấy chúng ta đã thấy rõ lòng hiếu thuận sự dũng cảm đi tìm công và thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc tố cáo tội ác man rợn của xã hội cũ và nơi âm ti đi ngục.
Sau đó Tịch lại được dẫn đến gặp Diêm Vương, nếu Tịch nói kiện tiếp chắc chắn lại bị dùng cực hình tiếp nên Tịch bèn nói thôi không kiện và tìm cách khác. Tịch nghĩ “Các cóng sà dưới cõi âm lại còn mờ ám hơn ở trên trần thế”. Tuy vậy, với Tịch thì con đường đi tìm công lý vẫn chưa phải là bế tắc, là tuyệt lộ. Anh lại nghĩ đèn thần Nhị Lang ớ Quán Khẩu mà thế gian vẫn truyền tụng là một vị thần “công minh chính trực “, nếu đến đấy để kể “tất có linh ứng khác thường”.
Đường đi về nhân gian là hướng Bắc nhưng Tịch lại ngoặt hướng Nam và bị bắt lại. Diêm Vương hứa cho Tịch mọi thứ gia sản đáng giá ngàn vàng, cho anh tuổi thọ, và báo cho biết Liêm, cha anh đã được đầu thai vào nhà giàu sang… Ân tứ ấy đã được Diêm Vương “ghi vào sổ, đóng ấn lớn”, bọn lính đã đưa cho anh “xem tận mắt”. Nhưng với anh công lí vẫn là trên hết anh âm thầm đi về để tìm cách gặp Nhị Lang.
Trên đường về anh bị bọn lính sai lừa rồi sau đó đầu thai làm trẻ con ở một gia đình. Sinh ra ba ngày liền không bú rồi chết. Vong hồn anh vẫn tìm nhị Lang. Tình tiết này càng chứng tỏ ý chí quật cường vượt qua gian khó để đi tìm bằng được cái gọi là công lí dù anh phải chấp nhân hi sinh như thế nào đi chăng nữa.
Sau đó Tịch phiêu dạt trong một lần trách va chạm với một vị đại quan thì bị mấy người bắt lại. Sau khi Tịch kể hết mọi chuyện thì vị quan đã thả Tịch ra và cho đi cùng. Vị quan này chính là Cửu Vương điện hạ. con trai Thượng Đế. Ngài đã chỉ vào một vị quan ra đón mà dặn dò: “Đây là người dưới ám, đang muốn lên đây tô’ tụng. Nén giúp anh ta làm rõ trắng đen ngay”. Vị quan được dặn dò là thần Nhị Lang, vị thần mà đã bao lâu nay Tịch từng mong ước được gặp gỡ. Và cuối cùng Tịch cũng tìm được người cần gặp. Đúng là trời không tuyệt lòng người.
Diêm La là “loài dê độc lang tham phải vóc nước Tây Giang để ” rửa ruột”, phải đốt giường Đông Bích để thiêu, thiêu rồi đem bỏ vào vò.
Thành hoàng, quận thú là ” quỷ đói”, ” giảo hoạt gian manh” nên phải ” rút tủy nhổ lông…lột xác xé da”
Bọn sai nha phải chặt tay chặt hết, ném vào nước sôi trong vạc, rút hết gân xương.
Tên họ Dương giàu có mà bất nhân, ranh ma thêm điều tra, đem vàng chóe che trùm địa phủ… phải tịch thu gia sản.
Tịch Liêm vì có con hiếu thảo, tính hiền lành, nên cho tặng tuổi thọ thêm ba kỷ nữa.
Chính sự kiên cường, lòng dũng cảm của Tịch đã chiến thắng cái xấu cái ác mang lại công bằng. Cái kết của Tịch thật có hậu anh và cha xuống lại và gia đình ngày càng trở nên giàu có hơn.
Truyện thật hay và ý nghĩa nó đã nói lên khát vọng công bằng của nhân dân và đức tính ở hiền gặp lành. Chỉ cần dũng cảm kiên cường vượt qua khó khăn ắt sẽ thành công đồng thời thể hiện đức tính có hiếu của những người con trong xã hội. Không những vậy truyện còn lên án tố cáo gay gắt sự tham ô, quan liêu nhận hối lộ ức hiếp những người nghèo khó trong xã hội. Truyện này đặc biệt ý nghĩa cho đến tận bây giờ trong việc chống lại tham ô trong xã hội hiện đại. | Cảm nhận về truyện Tịch phương bình | 1,263 | |
Cảm nhận về truyện “Chiếc lá cuối cùng”
Hướng dẫn
Cảm nhận về truyện “Chiếc lá cuối cùng”
Bài làm
Chiếc lá cuối cùng là một trong những truyện ngắn xuất sắc của nhà văn O’Hen-ri. Cậu chuyện là hiện thực cuộc sống đầy rẫy những bất công vô lý, đem đến bao bất hạnh cho những cuộc đời nghèo khổ. Tuy vậy, nhà văn lại tìm thấy và khơi dậy được vẻ đẹp tâm hồn những con người ấy qua những tình huống truyện bất ngờ, cảm động.
Câu chuyện kể về cuộc sống nghèo của ba người hoạ sĩ nghèo: Xiu, Giôn-xi, Bơ-men. Cụ Bơ-men suốt bốn chục năm mơ ước vẽ một bức kiệt tác mà không thực hiện được, đành phải ngồi làm mẫu cho các họa sĩ trẻ để kiếm chút tiền còm nuôi thân. Xiu vẫn mòn mỏi với những bức vẽ. Giôn-xi bị sưng phổi, dần mất niềm tin vào cuộc sống: cô đếm từng chiếc lá rơi, với niềm tin khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì cô sẽ ra đi…
Mỗi ngày trôi đi với mưa gió lạnh lẽo và khắc nghiệt, cây thường xuân cứ thế trút dần những chiếc lá trên cành để rồi còn một chếc duy nhất. Giôn-xi như nhìn thấy cái chết của mình đang đến gần. Sự sống của cỗ bỗng trỏe nên mong manh hơn bao giờ hết. Cô bất lực và buông xuôi, càng khiến cho cụ Bơ-men và Xiu lo lắng: “Họ sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì”cam nhan cua em ve truyen ngan chiec la cuoi cung. Đặc biệt là Xiu. Cô âu lo thổn thức, bồn chồn “tỉnh dậy sau khi chợp mắt được một tiếng đồng hồ”.
Đêm mưa gió dữ dội, chiếc lá kia chắc cũng đã bị vùi dập. Cái khoảnh khắc Giôn-xi nhìn tấm mành kéo xuống thật đáng sợ. Không một ai có thể khiến cho cô từ bỏ suy nghĩ sẽ lấy số lá còn sót lại trên cành thường xuân làm thước đo mạng sống của mình. Bản thân Xiu có lẽ cũng không thể chịu nổi cái ý nghĩ rằng đã đến lúc phải chia tay người bạn đồng nghiệp của mình trong mãi mãi. Nhưng điều kì diệu đã xảy ra: vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch. Niềm vui trong Xiu như vỡ òa. Còn đối với Giôn-xi, cô cũng có chút ngạc nhiên, miễn cưỡng chấp nhận sự thật để rồi lại chìm đắm trong suy nghĩ từ bỏ cuộc đời: “Hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó thì em sẽ chết”. Ta thấy Giôn-xi vừa đáng trách mà lại đáng thương.
Mùa đông khắc nghiệt vẫn kéo dài. Thế nhưng chiếc lá thường xuân vẫn còn đó. Rồi một ngày kia, mưa gió tràn về trong đêm. Vậy mà “chiếc lá thường xuân vẫn còn đó”. Chống chọi với thiên nhiên khắc nhiệt, chiếc lá vượt qua mọi khó khăn, bám vững trên cành cây khẳng khiu. Giôn-xi cảm thấy khó hiểu, và cũng như bừng tỉnh. Cô mơ ước: “một ngày nào đó em sẽ vẽ được vịnh Na- plơ”. Điều đó chứng tỏ cô đã có niềm tin vào cuộc sống. Chiếc lá thường xuân kia đã tiếp thêm cho cô sức mạnh vô hình để chống chọi bệnh tật.
“Chiếc lá cuối cùng” mang đậm tình cảm giữa con người với con người trong tình cảnh nghèo khó. Đồng thời, tác phẩm còn mang đến một thông điệp: Nghệ thuật vị nhân sinh. | Cảm nhận về truyện “Chiếc lá cuối cùng” | 603 | |
Cảm nhận về truyện “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen
Hướng dẫn
Cảm nhận về truyện “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen
Bài làm
Truyện cổ An-đéc-xen đã từng đi qua biết bao tuổi thơ của con người. Nó gợi lên cho người đọc trí tưởng tượng phong phú, đồng thời cũng gửi gắm trong đó nhiều thông điệp của tác giả. Không ai có thể quên những ánh lửa diêm nhỏ nhoi bùng lên giữa đêm giao thừa giá rét gắn với một thế giới mộng tưởng thật đẹp của cô bé nghèo khổ trong “Cô bé bán diêm” cùng một kết thúc buồn nhưng nhẹ nhàng, giàu tình người.
Trong mùa đông giá rét năm ấy, có một cô bé mồ côi đôi môi tím tái, bụng đói cồn cào đang lần từng bước chân trần trên hè phố. Em không dám về nhà vì nếu chưa bán được diêm, em sẽ bị cha đánh. Trong đêm giao thừa, em đã “ngồi nép trong một góc tường”, “thu đôi chân vào người”. Em không thể về vì biết “nhất định cha em sẽ đánh em”. Một cô bé đáng thương vừa thiếu đi hơi ấm của ngọn lửa vừa thiếu đi hơi ấm của tình người.
Em thầm mong có một que diêm để quẹt lấy hơi ấm. Ước ao bé nhỏ ấy em không dám thực hiện chỉ đơn giản bởi em sợ mình sẽ làm hỏng mất bao diêm. Nhưng rồi cô bé ấy cũng “đánh liều quẹt một que”. Nhờ vậy, em như được nhìn thấy phép màu quá ngọn lửa bé nhỏ: “lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt”. Em nhận ra có “một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng”. Có lẽ giữa sự khắc nghiệt của hoàn cảnh thực tại đã khiến em có một ước mơ giản đơn nhưng lại quá xa vời. Que diêm vụt tắt là lúc giác mơ của em cũng kết thúc và em được trở về với hiện tại. Em tự mình hình dung ra những lời mắng chửi thậm tệ của cha. Nỗi lo sợ vây kín tâm hồn em.
Và một lần nữa, que diêm lại sáng bừng lên, cho em “một cây thông Nô-en”, như trả lại tuổi thơ cho em: “Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong tủ hàng”. Niềm vui của em vừa trỗi dậy rồi cũng vụt tắt như que diêm kia. Tất cả những gì em nhìn thấy cũng chỉ là ảo ảnh. Em không thể đưa tay chạm vào, mà chỉ có thể cảm nhận trong phút chốc qua trí tưởng tượng của bản thân. Trước đêm đông giá rét, em đang dần kiệt sức và gục ngã.
Kết thúc câu chuyện là hình ảnh “ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể em bé ngồi giữa những bao diêm”. Không ai biết được điều gì đã thực sự xảy ra trong đêm đông hôm đó. Một cái kết buồn trong lòng người đọc nhưng lại là niềm hạnh phúc bé nhỏ của em bé bán diêm bất hạnh. | Cảm nhận về truyện “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen | 545 | |
Cảm nhận về tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
Hướng dẫn
Cảm nhận về tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
Nguyễn Minh Châu với tác phẩm tiêu biểu cho cả phong cách lẫn nghệ thuật là “Chiếc thuyền ngoài xa” là thuộc trong số những nhà văn mở đường tài năng, tinh anh nhất cho văn học nước ta hiện nay. Quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật chuyển từ cảm hứng sử thi lãng mạn sang cảm hứng thế sự đời thường đã được thể hiện rõ trong “Chiếc thuyền ngoài xa”.Ở tác phẩm này ông thật sự thành công với nghệ thuật miêu tả nhân vật, ông đã xây dựng được các nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Nhân vật Phùng là một người quý trọng và say mê nghề nghiệp nhiếp ảnh của mình, anh được trưởng phòng giao nhiệm vụ chụp một bức ảnh thuyền và biển trong sương mù vào giữa tháng bảy để in trong bộ lịch năm sau. Chính vì muốn tìm tới những điều mới lạ và đẹp đẽ cho nên Phùng đã tìm về vùng ven biển miền Trung nơi chiến trường xưa. Phùng còn là người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, yêu tha thiết cái đẹp. Trước vẻ đẹp toàn bích của cảnh vật, tâm hồn người nghệ sĩ trở nên khó tả: “tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì đó bóp thắt vào…tôi tưởng như chính mình vừa tham gia vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn. Trong giờ phút thăng hoa cùng cái đẹp anh cảm nhận cái đẹp chính là đạo đức”. Là người yêu cái đẹp khi mà được chứng kiến được chạm vào vẻ đẹp ấy thì quả là một điều tuyệt vời khó có thể diễn tả nổi
Là người từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người. Anh vẫn giữ quan điểm từ thời chiến tranh “cái xấu ắt là từ phía địch”, vì thế anh đã ngộ nhận “gã đàn ông vũ phu kia hẳn là từng đi lính ngụy”, rồi đặt ra một câu hỏi “ lão ta trước hồi 75 có đi lính ngụy không?”, Anh cho rằng hành động của anh là hành động của một người anh hùng “tôi nện hắn ta bằng tay không nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay của một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay của một người lính đã từng mười năm cầm súng”.
Hình ảnh người đàn bà hàng chài không có tên,một người vô danh như biết bao người đàn bà vùng biển khác.Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu,bao dung,giàu đức hi sinh.người đàn bà ấy thật đáng cảm thông trân trọng sâu sắc chính bởi vì đức bao dung chịu thương chịu khó của người..Chồng của bà la 1 người đàn ông trước kia là một “anh con trai cục tính nhưng hiền lành” nay là một người chồng độc ác. Ông vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho chính những người thân của mình.
Với lời kể tự nhiên và giống như tác giả cũng đang là người chứng kiến tất cả những cảnh đó cho nên những cảnh và cảm xúc tới với độc giả thật tự nhiên và đầy những nghệ thuật điển hình giúp tác phẩm ngày một thành công và giàu ý nghĩa hơn.Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” thể hiện một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người:một cách nhìn đa dạng nhiều chiều,phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. Đồng thời tác phẩm in đậm phong cách tự sự-triết lí của Nguyễn Minh Châu: với cách khắc họa nhân vật,xây dựng cốt truyện độc đáo và sáng tạo. | Cảm nhận về tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa | 679 | |
Đề bài: Cảm nhận về tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ
Bài làm
Nguyễn Dữ là nhà văn lỗi lạc của đất nước ta trong thế kỷ 16. Vốn là học trò giỏi của Trạng Trình – Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngoài thơ, ông còn để lại tập văn xuôi viết bằng chữ Hán, gồm có 20 truyện ghi chép những mẩu chuyện hoang đường lưu truyền trong dân gian; cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả. Đằng sau mỗi câu chuyện thần kỳ. “Truyền kì mạn lục" chứa đựng nội dung phê phán những hiện thực xã hội đương thời được nhìn dưới con mắt nhân đạo của tác giả.
"Chuyện người con gái Nam Xương" trích trong "Truyền kì mạn lục” ghi lại cuộc đời thảm thương của Vũ Nương, quê ở Nam Xương thuộc tỉnh Nam Hà ngày nay.
.Vũ Nương là một người đàn bà nhan sắc và đức hạnh “có tư dung tốt đẹp” tính tình “thuỳ mị nết na". Trương Sinh xin mẹ trăm lạng vàng cưới nàng về, sum họp gia thất. Thời buổi chiến tranh loạn lạc, chồng phải đi lính đánh giặc Chiêm. Vũ Nương ở nhà lo bề gia thất. Phụng dưỡng mẹ già nuôi dạy con trẻ, đạo dâu con, nghĩa vợ chồng, tình mẹ con, nàng giữ trọn vẹn, chu tất. Khi mẹ chồng già yếu qua đời, một mình nàng lo việc tang ma, phận dâu con giữ tròn đạo hiếu. Có thể nói Vũ Nương là một người đàn bà có phẩm chất tốt đẹp, đáng được trân trọng ngợi ca. Ước mơ của nàng rất bình dị. Tiễn chồng ra trận, nàng không hề mơ tưởng “đeo ấn phong hầu", chỉ mong ngày đoàn tụ, chồng trở về "được hai chữ bình yên”.
Cũng như số đông người phụ nữ ngày xưa. Cuộc đời của Vũ Nương là những trang buồn đầy nước mắt. Năm tháng trôi qua, giặc tan, Trương Sinh trở về, con thơ vừa học nói. Tưởng rằng hạnh phúc sẽ mỉm cười với đôi vợ chồng trẻ. Nhưng rồi chuyện “cãi bóng" từ miệng đứa con thơ đã làm cho Trương Sinh ngờ vực, "đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có ý gỡ ra được”. Vốn tính hay ghen, lại gia trưởng, vũ phu, ít được học hành, Trương Sinh đã đối xử với vợ hết sức tàn nhẫn. Giấu biệt lời con nói. Trương Sinh đã “ mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi". Vợ phân trần, không tin; hàng xóm khuyên can cũng chẳng ăn thua gì cả! Chính vì chồng và con – những người thân yêu nhất của Vũ Nương đã xô đẩy nàng đến bên bờ vực thẳm. Thời chiến tranh loạn lạc, nàng đã trái qua những năm tháng cô đơn, giờ đây đứng trước nỗi oan, nàng chỉ biết nuốt nước mắt vào lòng…Vũ Nương chỉ có một con đường để bảo toàn danh tiết: nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử để làm sáng ngời “ngọc Mị Nương ", toả hương "cỏ Ngu Mĩ”.
Vũ Nương tuy không phải “làm mồi cho tôm cá”, được các nàng tiên trong thủy cung của Linh Phi cứu thoát. Thế nhưng, hạnh phúc của nàng ở trần thế bị tan vỡ “trâm gãy bình rơi". Nàng tuy được hầu hạ Linh Phi, nhưng quyền làm mẹ, làm vợ của nàng vĩnh viễn không còn nữa. Đó là nỗi đau đớn nhất của một người phụ nữ. Gần ngàn năm đã trôi qua, miếu vợ chàng Trương vẫn còn đó, đêm ngày “nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương" (Lê Thánh Tông), nhưng lời nguyền về cái chết của Vũ Nương vẫn còn để lại nhiều ám ảnh, nỗi xót thương trong lòng người. Nguyễn Dữ đã ghi lại câu chuyện cảm động thương tâm này với tất cả tấm lòng nhân đạo. Cái chết đau thương của Vũ Nương còn có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc. Nó lên án chiến tranh phong kiến đã làm cho lứa đôi phải ly biệt, người vợ trẻ sống vất vả cô đơn; lên án lễ giáo phong kiến khắt khe với tệ gia trưởng độc đoán, gây nên bi kịch gia đình, làm tan vỡ hạnh phúc. Vì lẽ đó mà “Chuyện người con gái Nam Xương” có giá trị nhân bản sâu sắc.
Phần hai của truyện đầy ắp những tình tiết hoang đường: Phan Lang nằm mộng rồi có người đem biếu con rùa xanh; Phan Lang chạy giặc, bị chết đuối, được Linh Phi cứu sống đặng trả ơn; Phan Lang gặp người làng là Vũ Nương trong bữa tiệc nơi cung Thuỷ cung; Vũ Nương gửi đôi hoa vàng về cho chồng. Trương Sinh lập đàn tràng trên bến Hoàng Giang, đợi gặp vợ, nhưng chỉ thấy bóng Vũ Nương với năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn lúc hiện, vv…
Chi tiết Trương Sinh gọi vợ, rồi chỉ nghe tiếng nói ở giữa sông vọng vào: "Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa” đó là một chi tiết, một câu nói vô cùng xót xa, đau đớn. Hạnh phúc bị tan vỡ khó mà hàn gắn được vì hai cõi âm – dương là một khoảng trống vắng mênh mông, mù mịt. Trương Sinh ân hận vì mình nông nổi, vũ phu mà vợ chết oan, bé Đản mãi mãi mồ côi mẹ… Qua đó, ta thấy đằng sau cái vỏ hoang đường, câu chuyện về cái chết của Vũ Nương thấm đẫm tình cảm nhân dạo.
Nguyễn Dữ là một trong những cây bút mở đầu nền văn xuôi dân tộc viết bằng chữ Hán. Ông đã đi tiếp con đường của thầy mình: treo ấn từ quan, lui về quê nhà "đóng cửa, viết sách”. Ông là nhà văn giàu tình thương yêu con người, trân trọng nền văn hoá dân tộc.
“Truyền kì mạn lục” là kiệt tác của nền văn học cổ Việt Nam, xứng đáng là “thiên cổ kỳ bút". Người đọc mãi mãi thương cảm Vũ Nương, thương cảm những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh. “Chuyện người con gái Nam Xương ” tố cáo hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam trong thế kỷ 16, nêu bật thân phận và nỗi đau bất hạnh của người phụ nữ trong bi kịch gia đình.
Gần 500 năm sau, "Chuyện người con gái Nam Xương” mà nỗi xót thương đối với số phận bi thảm người vợ, người mẹ như được nhân lên nhiều lần khi ta đọc bài thơ “Miếu vợ chàng Trương” của vua Lê Thánh Tông:
“Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương,
Miếu ai như mếu vợ chàng Trương.
Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ,
Cung nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt
Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng." | Cảm nhận về tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ | 1,168 | |
Cảm nhận về tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt
Hướng dẫn
Cảm nhận về tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt
Bài làm
Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một vở kịch rất nổi tiếng, đã từng được nhiều lần biểu diễn trên sân khấu với ý nghĩa truyền tải rất sâu sắc. Đó là một cuộc đại mâu thuẫn giữa linh hồn và thể xác với những quan niệm sống trái ngược nhau. Linh hồn trong sáng nhưng thể xác đui mù, đắm chìm trong những đam mê tầm thường, đen tối. Cuộc đấu tranh ngang sức ngang tài là một bài học giáo dục mang nhiều triết lý sâu xa cho người xem những khoảng lặng ngẫm nghĩ lại cuộc đời mình.
Tác giả của vở kịch là Lưu Quang Vũ – một nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Ông đã trở thành một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỷ XX. Trước đó, ông từng làm thơ, sáng tác truyện ngắn và vẽ tranh. Thơ Lưu Quang Vũ không sắc sảo và dữ dội như kịch nhưng giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao. Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ, đã công diễn nhiều lần trong và ngoài nước. Nhân vật chính trong đó là Trương Ba, ông đánh cờ giỏi nên bị Nam Tào bắt chết nhầm. Vì muốn sửa sai, Nam Tào và Đế Thích cho hồn Trương Ba sống lại, nhập vào xác hàng thịt vừa mới chết. Trú nhờ linh hồn trong thể xác hàng thịt, Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái: lý tưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng, gia đình Trương Ba cũng cảm thấy xa lạ… mà bản thân trương Ba thì đau khổ vì phải sống trái tự nhiên, giả tạo. Đặc biệt thân xác hàng thịt làm Trương Ba nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu vốn không phải của chính bản thân ông. Trước nguy cơ tha hóa về nhân cách và sự phiền toái do mượn thân xác của kẻ khác, Trương Ba quyết định trả lại xác cho hàng thịt và chấp nhận cái chết.
Đến giây phút này, Hồn Trương Ba không còn khát khao được tồn tại, được sống nữa. Bởi sống mà không được làm chính mình cũng chẳng có ích chi. Thậm chí còn gây thêm rắc rối cho mọi người xung quanh. Ông lại tìm đến Đế Thích để mong được giải quyết. Ông cầu cứu “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Toàn vẹn nghĩa là thể xác và tâm hồn phải hòa nhập vào nhau, thống nhất với nhau. Tâm hồn nghĩ sao thì thể xác sống như vậy. Chứ không phải như bây giờ. Linh hồn trong sáng nhưng lại không thể nào chế ngự lại được những ham muốn của thể xác. Hồn Trương Ba thà là được chết nhưng chết để được làm chính mình còn hơn là sống như thế này. Cái Tí chết, nhưng suy cho cùng, Hồn Trương Ba cũng không thể nhập vào cái Tí được. Rồi mọi chuyện sẽ lại càng rắc rối hơn. Dù cái Tí cũng tốt, cũng được mọi người yêu quý. Nhưng vẫn là bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo. Trương Ba vẫn không được sống toàn vẹn.
Chỉ khi con người ta được sống tự nhiên, sống đúng là mình, sống trọn vẹn những giá trị mình vốn có thì mới có ý nghĩa, mới thực sự là cuộc sống. Vì vậy, dù khi không còn tồn tại trong xác hàng thịt nữa, nhưng những đức tính tốt đẹp của Trương Ba vẫn còn được nguyên vẹn, được mọi người thương nhớ. Ông không hiện hữu như một con người bình thường nữa nhưng ông ở “ngay trên bậc cửa nhà ta, trong ánh lửa bà nấu cơm, cầu ao bà vo gạo, trng cái cơi bà đựng trầu, con dao bà giãy cỏ… Không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu…”. Chỉ cần mọi người không quên thì Trương Ba vẫn luôn tồn tại, luôn hiện hữu. Và cũng chỉ có như vậy, ông mới giữ gìn được nguyên vẹn sự trong sáng của mình. Sau những rắc rối quanh co, Lưu Quang Vũ đã giàn xếp cho mọi chuyện trở lại bình thường. Con người ta có thể chấp nhận nỗi đau mất mát nhưng sẽ khó mà thay đổi được những điều đã ăn sâu trong tiềm thức mình. Thế nên, Trương Ba thà là chết hẳn còn hơn phải sống chập chờn như lúc còn trú ngụ trong xác hàng thịt.
Như vậy, vở kịch đặc sắc của Lưu Quang Vũ đã mang đến một bài học đắt giá cho người xem. Được sống làm người thật quý giá, nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn những giá trị mình vốn có và theo đuổi còn quý giá hơn. Sự sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên với thể xác và tâm hồn. Con người phải luôn luôn biết đấu tranh với những nghịch cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục, để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.
Nguồn: Tài liệu trực tuyến | Cảm nhận về tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt | 938 | |
Cảm nhận về tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn
Hướng dẫn
Cảm nhận về tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn
Lỗ Tấn sinh Năm 1881 và mất năm 1936,ông được xem là một danh thủ truyện ngắn trên thế giới và đã cống hiến cho nhân loại những hình thức mà dân tộc không thể nào mà bắt chước được.
Thuốc là một tác phẩm trong vô vàn những tác phẩm mà ông đã để lại cho thế hệ mai sau. Thuốc kể về câu chuyện của vợ chồng lão Hoa đi mua bánh bao tẩm máu tử tù cho con trai ăn hi vọng sẽ khỏi được bệnh lao-một căn bệnh quái ác không có thuốc chữa lúc bấy giờ,Hạ Du làm cách mạng mà bị chết chém
Qua tác phẩm này tác giả đã lột trần được tình trạng u mê,mê muội của quần chúng và bi kịch của người cách mạng xã hội Trung Quốc vào những năm của đầu thế kỉ 20. Truyện Chia làm 4 phần
Phần thứ nhất là lão Thuyên đi mua bánh bao tẩm máu người về cho con trai ăn.
Phần thứ hai là vợ chồng lão Thuyên nướng bánh bao cho con ăn và con trai ăn “thuốc” bánh bao
Phần ba là cuộc nói chuyện giữa khách ngồi uống trà và bác cả Khang bàn về tên tử tù
Phần cuối là bà Hoa và mẹ của người tử tù đi thăm mộ của con mình và gặp nhau trong nghĩa địa nhân ngày thanh minh
Cảnh lão Hoa nướng bánh cho con ăn,cảnh ngọn lửa bốc lên một mùi thơm lạ cả quan trà,cảnh thằng con ngồi một góc ăn chiếc bánh”thuốc” và bà Hoa khẽ nói”ăn đi con,con sẽ khỏi ngay” tất cả đều phản ánh hết tất cả hình ảnh mê muội của quần chúng lúc đó,tin vào một điều kì diệu sẽ xảy ra với con mình,họ tin tưởng một cách chắc chắn và tuyệt đối
Với cách viết đơn giản mộc mạc nhưng những lời văn của ông đã lột tả được hết xã hội thời đó,tất cả chi tiết đều xoay quanh việc mua thuốc,bán thuốc rồi ăn thuốc với niềm tin đó là thuốc thánh sẽ chữa khỏi bệnh lao.. Qua đó đã phê phán rõ được sự mê tín,tập quán chữa bệnh lạc hậu một cách mù quáng không có căn cứ
Nnững người như Hạ Du là nhà cách mạng tiên phong dung cảm luôn luôn vì đại nghĩa,hi sinh vì sự nghiệp giải phóng của đất nước. giữa một đất nước u mê thì họ một mình chiến đấu đơn độc mà không có sự ủng hộ của ai. Hạ du thật dung cảm biết bao. Ngay cả mẹ của Hạ Du không biết làm gì chỉ biết kêu than khóc lóc là “oan cho con lăm Du ơi” “Trời còn có mắt, chúng nó giết con rồi thì trời báo hại chúng nó thôi! Du ơi!…”
Biết bao nhiêu người còn lấy máu của Hạ Du để chữa bệnh,quần chúng bị tê liệt và u mê không còn gì để nói nữa. đã thể hiện sâu sác bi kịch của một nhà cách mạng tiên phong
Phần cuois của câu truyện viết về những gì đã diễn ra ở trên nghĨa địa vào tiết thanh minh. Chỉ có một con đường mà cũng ngăn cách một bên là của người chết vì tử tù còn một bên là dân thường
Chi tiết bà Hoa sang bên kia để đỡ mẹ tử tù dậy và nói chuyện,cho thấy sự chia sẻ của những người mẹ bất hạnh mất con,một người là ăn bánh bao tẩm máu người mà chết còn một người thì là tên tội phạm bị chém đầu. Hai người đã bước qua sự ngăn cách của ranh giới mà chia sẻ xót thương cho nhau
Tiếng vạc kêu,rồi chim kêu ai oán cũng biết được sự thương tâm như thế nào. Chỉ có vài nhân vật,chỉ có vài chi tiết xoay quanh một câu chuyện nhưng mà đã lột tả được hết một nước trung hoa tì trệ lúc đó
Truyện ngắn đã thể hiện được giá trị nhân đạo sâu sắc và đi vào lòng người mãi hôm nay và mai sau
Nguồn: Bài văn hay | Cảm nhận về tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn | 703 | |
Cảm nhận về tác phẩm Vợ Chồng A Phủ
Hướng dẫn
Cảm nhận về tác phẩm Vợ Chồng A Phủ
Bài làm
Tô Hoài là nhà văn của sự thật đời sống với lối văn trần thuật hóm hỉnh, sinh động, cách sử dụng từ ngữ đắc địa. Vốn sống phong phú, hiểu biết sâu rộng về phong tục, tập quá các vùng miền, truyện ngắn Vợ chồng A Phủ(1953) in trong tập Truyện Tây Bắc là tấm lòng nhân ái của nhà văn đối với những con người cùng khổ.
Tiếp cận tác phẩm Vợ chồng A Phủ, ta thấy được tấm lòng yêu thương con người của nhà văn qua việc lên án, phê phán hiện thực xã hội lúc bấy giờ, tố cáo sự tàn bạo của giai cấp thống trị miền núi đồng thời cảm thông với nỗi bất hạnh của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Tây Bắc; nhà văn trân trọng những khát vọng và mở ra cho họ con đường giải phóng bản thân, giải phóng đồng bào. Truyện ngắn vừa mang giá trị hiện thực sâu sắc và giá trị nhân đạo cao cả.
Với lối kể truyện lôi cuốn, miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật tinh tế với cách dựng cảnh sinh động, ngôn ngữ giàu chất thơ, nhà văn Tô Hoài đã viết lên những trang văn sinh động trên vốn hiểu biết văn hóa sâu rộng về đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Bắc.
Thành công trước hết của tác phẩm là nghệ thuật xây dựng nhân vật. Với nhân vật A Phủ, Tô Hoài làm đậm thêm bức tranh hiện thực cuộc sống thời bấy giờ. A Phủ là đứa bé mồ côi phải lang bạt kiếm sống nuôi thân và khi lớn lên trở thành nô lệ nhà thống lí vì đánh lại con quan. Với nhân vật Mị, tác giả sử dụng thủ pháp tương phản để nói lên mâu thuẫn giữa hoàn cảnh và số phận, giữa ngoại hình với nội tâm và sự phát triển tính cách nhân vật.
Tính cách của hai nhân vậy này được Tô Hoài thể hiện độc đáo, A Phủ và Mị mang phẩm chất tiêu biểu của người Mông, đó là sự âm thầm và mãnh liệt, mộc mạc mà dữ dội đến không ngờ. Họ sống tự nhiên, phóng khoáng và đầy bản lĩnh. Trang văn miêu tả sinh động, hấp dẫn nếp sống, phong tục tập quá và phong vị đặc trưng của đất và người Tây Bắc; đó là tục cướp vợ, lễ cúng trình ma, tục xử kiện,… thể hiện vốn sống, am tường về vùng đất mà nhà văn gắn bó, yêu mến.
Với nhân vật Mị, số phận và tâm lý được ông phác họa như đồ thị hình sin, đi xuống để tạo sức nén cho lần sau vút cao và giải phóng chính mình. Mị từ một cô gái hồn nhiên, yêu đời bỗng trở thành nô lệ, sống với người chồng không yêu mình, bị bóc lột cả về thể xác lẫn tinh thần khiến tâm hồn người thiếu nữ bị tê liệt, phải sống như cái xác không hồn, như con rùa lầm lũi trong xó cửa… tưởng chừng không bao giờ thoát ra được. Tâm hồn Mị được thức tỉnh trong đêm tình mùa xuân, nảy sinh hành động cắt dây trói cứu A Phủ, giải phóng cuộc đời khỏi ách thống trị, khỏi sự khổ đau và mở ra tương lai cho chính mình.
Viết về A Phủ, Tô Hoài thương cảm cho cuộc đời của cậu bé mồ côi bị bán lấy thóc. A Phủ bị quỳ, bị đánh chửi suốt ngày mà vẫn phải câm như thóc; phải phục vụ cho kẻ đã tra tấn, lăng nhục mình… Có lẽ viết về nỗi đau, nỗi bất hạnh của hai nhân vật này, ngòi bút Tô Hoài thấm ướt trang giấy, ông đã gieo vào lòng người đọc niềm thương cảm trước số phận con người. Ngòi bút của nhà văn đi sâu khám phá và sâu bên trong thế giới nội tâm nhân vật, ông hiểu nỗi niềm và trân trọng những khát vọng của họ. Miêu tả quá trình diễn biến nội tâm nhân vật tự nhiên và sống động, mở ra cho họ lối thoát. | Cảm nhận về tác phẩm Vợ Chồng A Phủ | 719 | |
Cảm nhận về tác phẩm “ Chiếc lá cuối cùng” của O. Henry.
Hướng dẫn
Cảm nhận về tác phẩm “ Chiếc lá cuối cùng” của O. Henry.
Bài làm
Nhà văn O- Henry ( 1862- 1910) là nhà văn nổi tiềng của nền văn học nước Mỹ đầu thế kỷ XX, với những tác phẩm văn học nhẹ nhàng, sâu lắng, mang giá trị nhân văn sâu sắc. Các tác phẩm của ông đều mang đến cho người đọc những cảm nhận riêng về tình yêu, tình cảm giữa người với người. “ Chiếc lá cuối cùng” là một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất của ông. Truyện chỉ có ba nhân vật và đều là những họa sĩ nghèo: Xiu, Giôn-xi và cụ Bơ-men.
Truyện kể vẻ cuộc sống chật vật của những họa sĩ nghèo, đó là hai nữ họa sĩ trẻ Xiu và Giôn xi, họ sống cùng căn hộ với người họa sĩ già Bơ- men. Những con người ấy gắn bó với nhau nhờ những sở thích và nghệ thuật. Và vào mùa đông ấy, khi chứng bệnh viêm phổi hoành hành, “ đánh ngã hàng chục nạn nhân”. Cô gái trẻ Giôn-xi cũng bị mắc bệnh cảm lạnh, nằm liệt giường. Tất cả mọi thuốc men đều trở thành vô dụng, cô nghĩ rằng mình “ không thể khỏi được”. Giôn-xi nghĩ rằng, khi chiếc lá cuối cùng của cây thường xuân phía cửa sổ rụng xuống thì cô cũng ra đi thôi. Sự mất niềm tin vào cuộc sống, sụp đổ về tinh thần của cô họa sĩ trẻ bất hạnh làm cho bệnh tình ngày càng thêm trầm trọng.
Cô đã cố gắng hết sức để săn sóc cho đứa em nuôi. Lúc thì pha sứa với rượu Booc đô, lúc thì quấy súp gà, khi thì đặt thêm gối, rồi mời bác sĩ, rồi cầu cứu bác Bơ-men. Cô dường như chạy đua với tử thần để giành giật sự sống cho đứa em gái nuôi bé bỏng tội nghiệp. Có thể thấy, cô gái này là hiện thân của tâm lòng vị tha, giàu đức hy sinh và có một trái tim thật nhân hậu. Cô làm cho người đọc thật sự xúc động và ngượng mộ cái tình cảm bạn bè, chị em sâu sắc, cao quý. Xiu có lẽ chính là nhân vật tỏa sáng trong “ Chiếc lá cuối cùng” về tính nhân văn. | Cảm nhận về tác phẩm “ Chiếc lá cuối cùng” của O. Henry. | 403 | |
Đề bài: Cảm nhận về tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng” của O. Hen-ri
Bài làm
O-hen-ri là nhà văn sinh ra ở đất nước Mỹ xa xôi. Ông có lối viết vô cùng nhẹ nhàng, tinh tế, giàu cảm xúc, giá trị nhân văn nhân đạo,. Trong mỗi dòng chữ của mình tác giả luôn hướng tới người đọc những điều tốt đẹp trong cuộc sống, những câu văn của ông thể hiện tấm lòng bao dung, cao thượng với mỗi số phận của con người
Tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng” là một tác phẩm hay, nhẹ nhàng sâu lắng. Nó được đánh giá là kiệt xuất để lại nhiều tiếng vang lớn trong nền văn học nước Mỹ trong thời kỳ ông sống và cả sau này. Tác phẩm xoay quanh những người nghệ sĩ nghèo sống lay lắt từng ngày trong xã hội. Trong một nhà trọ nhỏ có ba người nghệ sĩ hai cô gái trẻ là Xiu, Giôn xi và cụ Bơ Men.
Cụ Bơ Men là người già nhất những ông luôn yêu nghệ thuật luôn muốn có một tác phẩm kiệt tác để lại tên tuổi của mình. Nhưng cuộc đời không như tranh vẽ, ông luôn phải đối diện với cuộc sống mưu sinh cùng cực, khốn khó nên phải tạm thời nghỉ vẽ để đi làm mẫu cho những sinh viên trường nghệ thuật, kiếm vào đô la sống qua ngày.
Tuy nhiên trong thâm tâm cụ Bơ Men luôn ấp ủ một tác phẩm của riêng mình. Một tác phẩm có sức sống mãnh liệt xuyên thời gian. Trong ngôi nhà trọ đó có hai cô gái khác họ cũng làm nghệ thuật đó là Xiu và Giôn xi. Nhân vật Xiu là một người giàu tình cảm, nhiều nhiệt huyết trong sự nghiệp. Cô ở cùng người bạn thân tên là Giôn xi trong cùng một phòng trọ tồi tàn, trật hẹp, nhưng Giôn xi chẳng may bị ốm. Một căn bệnh viêm phổi cấp tính khiến cho Giôn xi ngày càng yếu đi, cuộc sống của cô trở nên lay lắt như ngọn đèn trước gió. Cô chỉ chờ thời gian trôi đi để vĩnh biệt cuộc đời.
Trong bối cảnh mùa đông nước Mỹ vô cùng rét mướt, những cơn bão tuyết đổ xuống từng đêm khiến cho những chiếc lá mỏng manh rơi rụng nhiều sau mỗi đêm Giôn xi buồn lắm.
Rồi đến một ngày khi nhân vật Giôn xi mở mắt ngủ dậy nhìn qua khoảng trống nơi có những chiếc lá mà cô thường nhìn ngắm và đếm nó. Thì thấy trên cành cây chỉ còn duy nhất một chiếc lá cuối cùng. Một chiếc lá mong manh, làm sao mà chống chọi lại cả mùa đông lạnh giá “rồi nó sẽ rơi xuống thôi” Giôn xi vô cùng lo lắng, buồn rầu cho số phận hẩm hiu của mình. Cô suy nghĩ thời gian mình còn được sống trên đời cũng không còn nhiều nữa có lẽ chỉ hết đêm nay hoặc qua ngày mai khi chiếc lá cuối cùng trên cây rụng xuống là cô sẽ ra đi vĩnh viễn.
Cô sẽ từ biệt cõi đời này để tới một thế giới khác khi tuổi đời còn quá trẻ. Những lo lắng của Giôn xi được cô bạn Xiu tâm sự với ông Bơ Men, khiến cho ông vô cùng cảm động lo lắng cho bệnh tình của Giôn xi và lo lắng cho suy nghĩ tiêu cực có trong đầu cô.
Đêm hôm trước khi chiếc lá cuối cùng còn sót lại trên cây Giôn xi trằn trọc mãi không ngủ được. Cô lo lắng suy nghĩ rất nhiều, cô sợ qua đêm nay thì mình sẽ không thể nào tỉnh dậy nữa, những suy nghĩ của cô cứ lởn vởn ám ảnh bởi cái chết rình rập xung quanh mình. Cô nghĩ mãi rồi thiếp đi lúc nào không hay
Sáng hôm sau khi tỉnh dậy điều đầu tiên Giôn xi làm là nhìn ra chiếc lá cô tin rằng nó đã bị bão tuyết mưa gió đêm qua làm rụng mất rồi. Nhưng không chiếc lá vẫn còn đó, vẫn nguyên xi không hề đi đâu cả. Rồi
Giôn xi vui vẻ bất thường cô hy vọng mình cũng như chiếc lá sẽ sống sót qua mùa đông lạnh giá này.Cô bắt đầu mơ mộng trở lại, bắt đầu hy vọng vào tương lai
Lúc này Giôn xi mới biết được bức tranh đó do cụ Bơ Men vẽ ông lão đó đã đứng cả đêm trong gió tuyết để hoàn thiện bức tranh “chiếc lá cuối cùng” một kiệt tác để đời mà ông ao ước bấy lâu nay, để rồi sáng mai khi người ta phát hiện ra xác ông lão đã chết cóng từ bao giờ trong gió tuyết.
Ông lão Bơ Men ra đi mang tới cho Giôn xi sự hy vọng vào cuộc sống, bức tranh ông vẽ giống như thật nó có sức sống thần kỳ truyền tinh thần cho Giôn xi khiến cô chiến thắng bệnh tật. Một tinh thần nhân văn sâu sắc, khiến cho người đọc phải nghẹn ngào xúc động.
Kiệt tác “Chiếc lá cuối cùng” là những trang viết vô cùng lay động lòng người, thể hiện tinh thần nhân văn, nhân đạo của tác giả và thể hiện tính nghệ thuật cực kỳ độc đáo. Thông qua tác phẩm tác giả muốn thể hiện cái nhìn nhân sinh quan của mình và gửi gắm tới người đọc thông điệp hay yêu cuộc sống này và tự tin vượt qua nó. Bởi trong cuộc sống luôn chứa những điều thần kỳ. | Cảm nhận về tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng” của O. Hen-ri | 941 | |
Cảm nhận về tâm trạng của người mẹ trước ngày khai trường của con trong bài cổng trường mở ra của tác giả Lí Lan.
Hướng dẫn
Trong ngày đầu tiên khai trường, không chỉ người con mà người mẹ cũng có những lo âu, hồi hộp, tựa như mẹ là người cũng phải đến trường. Những lo âu ấy đã cho thấy sự hi sinh cao cả của người mẹ đối với con.
Trước ngày khai trường, mẹ đã chuẩn bị cho con mọi hành trang để con bước vào thế giới mới. Đó là cái thế giới mà mẹ không thể bên con mãi như những ngày qua. Mẹ đã sắm cho con những thứ cần thiết để ngày mai con đến trường, từ quần áo, giày dép, nón đến cặp sách, tập vở: “Việc chuẩn bị quần áo mái, giày nón mới, cặp sách mới, tập vở mới, mọi thứ đâu đó đã sẵn sàng, khiến con cảm nhận được sự quan trọng của ngày khai trường”. Khi người con đãyên giấc ngủ thì người mẹ vẫn còn làm nốt những công việc trong ngày và không quên: “đắp mền cho con, buông mùng, ém góc cẩn thận”. Mọi hôm, khi con đã ngủ thì mẹ “lượm những chiếc xe thiết giáp dưới gầm ghế, cạnh chân bàn, những chú rô-bốt bằng nhựa đứng ngồi khắp nơi, và giữa nhà là đoàn quân thùdàn trận trong một cuộc chiến tranh Sư Tử – Khủng Long mà ngày nào con cũng bày ra”.
Tuy nhiên, mẹ không ngủ được không phải chỉ vì mẹ lo lắng cho việc ngày mai con đến trường mà chính ngày khai trường của con đã gợi lại cho mẹ những kỉ niệm không thể nào quên trong cái ngày đầu tiên đi học của chính mẹ. Đó là những kỉ niệm đã ăn sâu vào lòng mẹ và nó lại được gợi ra mỗi khi có những dịp như thế. “Cứ nhắm mắt lại là dường như vang lên bên tai tiếng đọc bài trầm bổng”. Những kỉ niệm của người mẹ giờ trở thành thực tế của con vào ngày hôm sau.
Người mẹ như muốn nói với con, muôn khắc ghi những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến trong ngày khai trường vào lòng con: “Mẹ muốn nhẹ nhàng, cẩn thận và tự nhiên ghi vào lòng con. Để rồi bất cứ một ngày nào đó trong đời, khi nhớ lại, lòng con lại rạo rực những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến”. Cứ ngỡ những lời này mẹ nói với con, nhưng không phải, đó là lời mẹ nói với chính mình, mẹ đang tự ôn lại những kỉniệm của tuổi thơ mẹ. Những kỉ niệm ấy đã tạo nên một ấn tượng sâu đậm trong lòng người mẹ: “Ngày mẹ còn nhỏ, mùa hè nhà trường đóng cửa hoàn toàn, và ngày khai trường đúng là ngày đầu tiên học trò lớp Một đến trường gặp thầy mới, bạn. mới. Cho nên ấn tượng của mẹ về buổi khai trường đầu tiên ấy rất sâu đậm” và kỉ niệm ấy vẫn sống mãi trong lòng người mẹ đến bây giờ: “Mẹ còn nhớ sự nôn nao, bồi hồi khi cùng bà ngoại đi tới gần ngôi trường và nỗi chơi vơi hốt hoảng khi cổng trường đóng lại, bà ngoại đứng bên ngoài cánh cổng như đứng bên ngoài cái thế giới mà mẹ vừa bước vào”. Lời kể của mẹ như một sự luyến tiếc pha lẫn chút tự hào, đồng thời sâu xa trong lòng mẹ, mẹ muốn con mình hãy khắc sâu những kỉ niệm mà con sẽ trải qua và sẽ trở thành quá khứ. | Cảm nhận về tâm trạng của người mẹ trước ngày khai trường của con trong bài cổng trường mở ra của tác giả Lí Lan. | 616 | |
Đề bài: Cảm nhận về tâm trạng của tác giả khi nhớ về miền Tây Bắc trong bài thơ Tây Tiến
Bài làm
Ai đã từng là người lính, ai đã từng đi qua một thời trận mạc trong lòng thường lưu giữ những kỉ niệm khó quên. Kỉ niệm ấy thao thức và sống dậy mỗi khi nhắc nhớ. Quang Dũng cũng vậy. Những năm tháng gắn bó với binh đoàn Tây tiến anh hùng của người lính- nhà thơ này đã thôi thúc ông viết Tây tiến – bài thơ với những vần thơ đậm chất anh hùng ca bay lên từ hiện thực tàn khốc. Đoạn đầu bài thơ chính là đoạn ghi lại những kỉ niệm những kỉ niệm đầy ắp và nỗi nhớ của nhà ihơ về những ngày tháng gắn bó cùng binh đoàn:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
…..Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Hai câu thơ mở đầu đã tạo ngay ấn tượng về nỗi nhớ:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.
Thì ra đã có một khoảng lùi xa thời gian để thành ám ảnh, để thành nỗi nhớ và tiếc nuối nữa. Những tiếng “xa rồi Tây Tiến ơi!” thốt lên từ trong lòng nhà thơ như một niềm nuối tiếc. Tiếng lòng đó cất lên sao mà tha thiết đến thế, đồng thời như có tiếng vọng đáp lại vào vách núi, ngân nga không dứt trong không gian bởi “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!". Những hình ảnh thiên nhiên như đột ngột hiện lên trong không gian. Đó là con sông Mã kì vĩ và kiêu hãnh chảy từ thượng Lào về đất Việt, đó là rừng, là núi điệp trùng, những nơi đã in dấu chân của binh đoàn Tây Tiến một thời trận mạc, thế mà giờ đây đã xa rồi thì làm sao tránh khỏi nỗi nhớ dâng lên trong lòng người chiến sĩ Tây Tiến năm xưa. Nỗi nhớ ây có địa chỉ, địa danh như đã bắt rễ trong lòng người, nỗi nhớ ấy lại trong một trạng thái thật diệu vợi, mơ hồ như một thoáng buồn xa xôi… Có lẽ nhà thơ đã đạt được cái tài và cái tình ấy trong cầu thơ "Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi!".
Cảm nhận về tâm trạng của tác giả khi nhớ về miền Tây Bắc
Từ hai câu thơ khơi nguồn ấy, mạch chảy dòng tâm sự hoài niệm của nhà thơ mở ra lan toả như mỗi chuỗi kỉ niệm giờ đây thức dậy, lay động và xôn xao trong lòng. Và đây, hình ảnh “đoàn quân mỏi” giữa Sài Khao sương lấp đập mạnh gây ân tượng. Sự chân thực sinh động của hình ảnh thơ khiến ta như hình dung Thấy tư thế, dáng vẻ của đoàn quân trong gian lao, cơ cực của những ngày phải đương đầu với trận mạc, đối đầu với thiếu thốn, khó khăn. Chân thực song cũng rất lãng mạn khi hình ảnh đoàn quân mỏi lại được miêu tả trong một khung cảnh đẹp huyền ảo của thiên nhiên. Những tiếng sương lấp, hoa về, đêm hơi….. khiến cho toàn bộ cảnh thực chợt nhoà đi, gây được ân tượng nhiều chiều trung, tâm trí người đọc. Cũng với hình ảnh đoàn quân cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhà thơ Tô Hữu lại mở ra một trường liên tưởng khác: Những đường Việt Bấc của ta,
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay.
Thiên nhiên như cùng hát lên, cùng âm điệu với khúc quân hành của người lính ra trận.
Còn với Quang Dũng, bối cảnh thiên nhiên hiện ra trong kí ức và tâm trạng là những hình ảnh sóng đôi của sự trái ngược:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
Bước hành quân gian lao của người lính vệ quốc mở ra trong không gia nhiều chiều. Ta như nghe thấy bước chân và hơi thở trên đường trường chiến gian lao của người lính qua câu thơ đầy những vần trắc: "Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm". Ta cũng thấy hiển hiện một lộ trình đầy gian lao, đầy bất ngờ khi Quang Dũng viết:
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống,
Đặc biệt hơn nữa, hình ảnh "Heo hút cồn mây, súng ngửi trời" thì câu thơ không phải chỉ diễn tả bước gian lao trên đường hành quân đánh giặc mà ta còn thấy cả chất lính, tính của lính qua sự liên tưởng bất ngờ mà thú vị: súng ngửi trời.
Biết bao nhiêu gian lao thử thách, vừa như muốn quật ngã người lính cách mạng, lại vừa như kích thích họ đi tới, dẫn tới của sự chinh phục. Cảnh rừng núi hiểm trở với dốc lên khúc khuỷu, với hun hút cồn mây, với độ cao thấp đến choáng ngợp của "ngàn thước lên cao ngàn thước xuống", thế mà hình ảnh của sự sống vẫn chợt hiện ra như tạo nên thế cân bằng: "Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi". Bên cái hiểm trở dữ dội của thiên nhiên là sự sống thanh bình của con người khiến cho giọng điệu và tâm tình trong thơ Quang Dũng chợt như lại, tạo nên sự linh hoạt đã thành rất đỗi tài hoa trong bút pháp thể hiện:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Với những kỉ niệm về binh đoàn Tây Tiến rất khó mờ phai trong tâm trí, lại thêm bút pháp hoài niệm rất đỗi tài hoa, qua hàng loạt những hình ảnh trái ngược mà hài hoà bổ sung cho nhau, Quang Dũng đã làm sống dậy hình ảnh nười lính Tây Tiến, rừng núi Tây Tiến trong nỗi nhớ thật chơi vơi về Tây Tiến.
Những chuỗi kỉ niệm về thiên nhiên và con người đó như những thước phim vừa chân thực sinh động vừa rất huyền ảo, tình cảm và tài hoa đã góp phần tạo nên thành công cả về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.
Có người nhận định rằng với bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng đã dựng nên bức tượng đài bằng thơ về hình tượng người lính đánh Pháp trong cuộc kháng chiến mà dũng cảm và cũng đầy chất thơ của nhân dân ta.
Đọc đoạn thơ, ta hiểu thêm về người lính Tây Tiến, hiểu thêm những điều ẩn phía sau của “đoàn binh không mọc tóc” và hiểu hơn về nguồn cội của sức mạnh mà người lính đem vào trận chiến. Yêu quý, khâm phục, tự hào là những du vang tha thiết trong lòng người đọc khi biết về binh đoàn Tây Tiến qua vẩn thơ của Quang Dũng. | Cảm nhận về tâm trạng của tác giả khi nhớ về miền Tây Bắc trong bài thơ Tây Tiến | 1,163 | |
Cảm nhận về tâm trạng của Tản Đà trong bài thơ Muốn làm thằng Cuội – Ngữ Văn 9
Hướng dẫn
Phân tích bài thơ Muốn làm thằng cuội
Đề bài: Cảm nhận về tâm trạng của Tản Đà trong bài thơ Muốn làm thằng Cuội
1. Yêu cầu
– “Cảm nhận về tâm trạng” thực chất là viết bài văn nghị luận về một bài thơ.
– Vấn đề cần nghị luận (phân tích, cảm nhận) là tâm trạng tác giả trong bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà.
– Phân tích cảm nhận về cái hay, cái đẹp của nội dung và hình thức các khổ thơ để thể hiện tâm trạng của người viết.
– Những điều cảm nhận, phân tích phải đặt trong tương quan giữa các khổ với nhau và với toàn bài, đồng thời làm nổi rõ tư tưởng chủ đề của bài thơ.
2. Gợi ý
– Đọc kĩ cả bài thơ.
– Tham khảo các bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình về bài thơ.
– Cảm nhận về nỗi buồn của tác giả, sự “chán nửa” euộc đời trần thế.
– Tiếng gọi thiết tha với chị Hằng để bày tỏ tình cảm.
– Ước muốn lên cung trăng để xa lánh cõi đời.
– Sự lãng mạn, phong tình và cái “ngông” của Tản Đà trong ước muốn lên mặt trăng.
– Kết hợp nghị luận với biểu cảm.
3. Lập dàn ý (dàn ý sơ lược)
a. Mở bài: Tản Đà với bài thơ Muốn làm thằng Cuội.
b. Thân bài
– Nỗi buồn và chán của Tản Đà
Buồn trong đêm thu, buồn lắm.
Chán nửa trần thế (vì sự bon chen, tầm thường, nhộn nhạo).
– Mong ước lên cung trăng để làm thằng Cuội lớn
Muốn hỏi và đề nghị chị Hằng.
Muốn bầu bạn với chị Hằng để quên nỗi buồn nơi trần thế.
– Tính chất lãng mạn, phong tình và cái “ngông” của Tản Đà: sánh vai với chị Hằng, làm người trên cung trăng, cười thế gian tầm thường, nhỏ bé.
– Thành công của thơ Đường luật, nhưng lời lẽ phóng túng, tình cảm lãng mạn.
c. Kết bài: Nhấn mạnh nỗi buồn và tinh thần thoát li, bất hoà với thực tại xã hội thực dân phong kiến là một điều tiến bộ.
4. Bài làm minh hoạ
Nước gợn sông Đà con cá nhảy
Mây trùm non Tản cánh diều bay.
Tản Đà là bút danh cửa nhà thơ Nguyễn Khắc Hiếu, được ghép từ tên núi Tản (núi Tản Viên hay còn gọi là núi Ba Vì) và sông Đà, thuộc địa phận tỉnh Sơn Tây cũ, quê hương tác giả. Trên văn đàn Việt Nam đầu thế kỉ XX, tên tuổi Tản Đà nổi lên như một hiện tượng đột xuất, dồi dào năng lực sáng tạo. Ông đã đem lại cho thi ca Việt Nam một sức sống mới, một khẳng định cho sự cách tân mạnh mẽ của trào lưu Thơ mới lúc đó và mãi mãi sau này.
Thoát trần lên trăng là chủ đề của bài thơ Muốn làm thằng Cuội in lần đầu trong tác phẩm Khối tình con vào năm 1917. Thông qua bài thơ, tác giả thể hiện khát vọng được thoát khỏi cõi đời ô trọc đương thời để đến với một thế giới đẹp đẽ, tự do. Bài thơ đã bộc lộ rõ nét đặc trưng về phong cách thơ Tản Đà, điểu mà người ta quen gọi là lãng mạn, phong tình và “ngông”.
Muốn làm thằng Cuội được viết theo thể thất ngôn bát củ của thơ Đường, niêm luật rõ ràng, đối ý, đối thanh rất chuẩn, giọng điệu chung của bài thơ là thể hiện tâm tình tha thiết của thi sĩ. Ngay ở hai câu đề:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế em nay chán nửa rồi.
Đã bộc bạch tâm trạng buồn chán của nhà thơ trong đêm thu trăng sáng. Thi sĩ, một mình than thở với vẻ đẹp huyền ảo của cảnh vật mà cũng không khoậ lấp được nỗi buồn canh cánh bên lòng. Nhà thơ bất bình trước thực tại một xã hội tối tăm, bế tắc. Cuộc sống ngột ngạt, tù túng làm sao dung nạp được một tâm hồn phóng khoáng, yêu tự do như Tản Đà? Trái tim muốn cất cánh bay xa, nhưng đi đâu khi xã hội thực dân phong kiến đương thời như một nhà tù lớn giam hãm con người! Để cách biệt hẳn với cõi tục trần gian lắm nhiễu nhương, buồn khổ, thi sĩ đã chọn mặt trăng, một địa điểm tuyệt vời và hoàn toàn tĩnh lặng để tha hồ giãi bày tâm sự.
Nhà thơ gọi trăng là “chị” Hằng, xưng là “em” nghe mới êm ái và dịu ngọt làrri sao! Nếu chị Hằng nghe được chắc chị cũng xao xuyến, bồi hồi bởi giọng điệu thơ tha thiết của nhà thơ khi ướm hỏi xem có kẻ nào chán đời đã trốn lên cõi tiên trước mình:
Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Rồi mới khẩn khoản thỉnh cầu:
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.
Dường, như nhà thơ ước muốn trở lại làm trẻ con như thuở nào để cứ mỗi đêm Trung thu rước đèn, phá cỗ trông trăng, lại thi nhau tìm cây đa, chú Cuội và thầm mong ước được chị Hằng “nhắc lên chơi” để vui vầy thoả thích với trăng sao, mây gió. Ước trở lại tuổi thơ ấu hồn nhiên trong sáng là để giũ sạch bụi trần, gõ bỏ ngoài tai, ngoài mắt “những điều trông,thấy mà đau đớn lòng” trong suốt nửa đời người. Bỗng chốc, nhà thơ trở lại tuổi thơ với giọng điệu nũng nịu, thiết tha của lời thỉnh nguyện đặc biệt có một không hai này. cảnh và tình trong hai câu đề là nỗi buồn thấm thìa nhưng giọng điệu lại lộ ra nét cười hóm hỉnh.
Có bầu có bạn, can chi tủi
Cùng gió cùng mây, thế mới vui.
Nhà thơ muốn làm thằng Cuội để giải thoát nỗi buồn tích tụ bấy lâu nay. Sống trên cung trăng, thi sĩ vùng thoát khỏi cảnh đục trong của chốn nhân gian, vừa thoả mãn thú tiêu dao được bầu bạn “cùng mây gió”. Nhưng thích nhất vẫn là được kề vai sát cánh với người đẹp tiên nga mà ngắm, mà nhìn, mà vui buồn.
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng Tám
Tựa nhau trông xuống thế gian, cười.
Tâm trạng nhà thơ khi đã thoát tục thành tiên, nhìn xuống trần gian thấy thế giới thật nhỏ bé, chật chội, tù túng với đủ mọi chuyện nực cười. Nhà thơ muốn được thành tiên để “cười” vào thói bon chen danh lợi và cảnh lo toan miếng cơm manh áo chật vật của kiếp người nơi trần thế.
Hai câu luận giống như lời tự nhủ: “Có bầu có bạn can chi tủi” thì cái cười ờ câu kết đã bật lên thành tiếng “Tựa nhau trông xuống thế gian, cười”. Sau chuỗi cười dài ấy, thi sĩ từ cõi mộng trở về với cõi thực thì nỗi buồn lại đầy ắp trái tim ; mong được lên tiên chỉ là niềm vui tinh thần để được tự do của Tản Đà. Nó là ảo giác, là khát vọng ám ảnh bởi nhà thơ suốt đời phải sống trong một thực tế phũ phàng. Bài thơ không gây ra cảm giác bi quan, yếu thế mà gợi lên nỗi buồn man mác, thôi thúc người đọc đến với tự do, đến với những gì đẹp, đẽ, hoàn mĩ nhất.
Muốn làm thằng Cuội là bài thơ khá tiêu biểu cho hồn thơ Tản Đà, một nhà thơ nổi tiếng là “ngông”. Cùng thời với ông và muộn hơn một chút, Chế Lan Viên tìm đến chốn “Điêu tàn”, đổ nát, sống cô đơn với quá khứ đau thương ; còn Xuân Diệu say đắm với tình yêu đôi lứa ; Huy Cận giấu mình vào “Vũ trụ ca”, Vũ Hoàng Chương triền miên với thơ “Say”,… thì Tản Đà lại xin chị Hằng cho trốn lên cung Quảng để vui thú với cõi tiên.
Tản Đà “ngông” vì muốn được làm bạn với Hằng Nga, với gió, với mây và được thành tri âm tri kỉ với chị Hằng. Trỏng xã hội thối nát đương thời bấy giờ, bao kẻ vì ham chữ “danh”, chữ “lợi” mà đánh mất hết nhân cách, nhà thơ “ngông” của chúng ta muốn thoát tục để giữ mình được trong sạch, để hướng tới một sự tự do cao cả. Đó là cái trái khoáy đáng quý, đáng trân trọng về nhân cách của thi sĩ.
Đọc Muốn làm thằng Cuội, chúng ta thấy toát lên một nỗi buồn chán trước toàn cảnh thực tại của xã hội đương thời. Nhà thơ muốn thoát li khỏi hiện thực đen tối bằng mộng tưởng. Đây là giấc ảo giác táo bạo, hợp với tính cách con người nhà thơ. Nỗi buồn của Tản Đà không dừng ở nỗi buồn thời thế của riêng ai mà là nỗi buồn cho thời đại, cho viễn cảnh của xã hội, cho tâm trạng chung của tầng lớp trí thức, nghệ sĩ trong xã hội bấy giờ.
(Trần Minh Trang, lớp 9A9, Trường THCS Ngô Sĩ Liên,
Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội)
Nhận xét
Một bài viết về bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà khá thành công. Người viết đã lần lượt phân tích, cảm nhận từng cặp câu thơ, chỉ ra sự nhất quán của chúng với phong cách lãng mạn, phong tình và ngông của Tản Đà. Bạn đã có những so sánh để làm rõ cái riêng của Tản Đà: Cùng thời với ông và muộn hơn một chút, Chế Lan Viên tìm đến chốn “Điêu tàn” đổ nát, sống cô dơn với quá khứ đau thương ; còn Xuân Diệu say đắm với tình yêu đôi lứa ; Huy Cận giấu mình uào “Vũ trụ ca”, Vũ Hoàng Chương triền miên với thơ “Say”,… thì Tản Đà lại xin chị Hằng cho trốn lên cung Quảng để vui thú với cõi tiên. Tuy vậỳ, cũng có nhữhg chỗ suy diễn: Dường như nhà thơ ước muốn trở lại làm trẻ con như thuở nào […]. Ước trở lại tuổi thơ ấu hồn nhiên trong sáng là dể giũ sạch bụi trần, gỡ bỏ ngoài tai, ngoài mắt “những điều trông thấỵ mà đau đớn lòng” trong suốt nửa đời người. Bỗng chốc, nhà thơ trở lại tuổi thơ với giọng điệu nũng nịu, thiết tha của lời thỉnh nguyện đặc biệt có một không hai này. Tản Đà muốn lên mặt trăng, chứ không ước muốn bé lại làm trẻ con. | Cảm nhận về tâm trạng của Tản Đà trong bài thơ Muốn làm thằng Cuội – Ngữ Văn 9 | 1,774 | |
Cảm nhận về tình cảm quê hương đất nước trong bài thơ Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng
Hướng dẫn
Cảm nhận về tình cảm quê hương đất nước trong bài thơ Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng
“Mùa xuân của tôi” trích từ đầu thiên tùy bút “Tháng giêng mơ về trăng non rét ngọt” – một bài tùy bút hay trong tập tùy bút – bút ký nổi tiếng “Thương nhớ mười hai” của Võ Bằng. Nó là niềm thương nỗi nhớ mà nhà văn gửi về Bắc Việt, gửi về quê hương, gia đình yêu dấu của mình.
Thiên tùy bút được viết trong hoàn cảnh đất nước bị cắt chia, tác giả lại đang sống xa quê hương Bắc Việt. Vì thế mà dường như tháng giêng, mùa xuân Hà Nội và mùa xuân Bắc Việt luôn cồn lên trong niềm thương nhớ của Vũ bằng.
“Mùa xuân của tôi” mở đầu bằng những dòng, văn so sánh đầy trìu mến. Ai cũng chuộng mùa xuân. Vũ Bằng cắt nghĩa đó là một tình cảm rất nhân tình “không có gì lạ hết” và không ai có thể ngăn cản được. Đoạn văn ngắn mà có tới bốn chữ thương gắn với chữ yêu và chữ nhớ đủ mới lên sự ngọt ngào và cuốn hút của mùa xuân.
Người ta yêu xuân theo nhiều cách, riêng Vũ Bằng yêu mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân Hà Nội theo những cảm nhận rất riêng. Mùa xuân mà Vũ Bằng thương nhớ, nơi ấy có vợ con, có gia đình ông, nơi ông có nhiều năm xa cách là mùa xuân có mưa rêu rêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tinh của cô gái đẹp như thơ mộng.,.”. Tình thương và nỗi nhớ của Vũ Bằng quả là tinh tế nồng nàn và cháy bỏng. Nó trài ra khắp cảnh sắc, con người, từ thôn xóm đến bầu trời, từ tiếng trống chèo đến những câu hát mê đắm lòng người của những cô thôn nữ.
Mùa xuân không chỉ được nhìn, được nghe mà mùa xuân còn hiện vẻ rõ rệt trong tâm hồn của Vũ Bằng thông qua cảm nhận. Nó là nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai”. Trong “cái rét ngọt ngào” của mùa xuân, “tim người ta dường như trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn. Và hình như nó khiến người ta “thèm khát yêu thương thực sự”. Trong không khí ấy, người ta mơ về ngoài đoàn tụ êm êm cùng gia đình giữa ngày xuân. Chỉ cần nghĩ đến như thế, nghĩ đến lúc đứng trước bàn thờ của ông bà thắp nén nhang trầm và cây đèn nến mà “lòng anh ấm lạ ấm lùng”. Nó mở ra bao nhiêu vui sướng, hạnh phúc và say mê. Ôi! Cái tình đối với mùa xuân, đối với gia đình sao mà da diết.
Yêu mùa xuân quê hương, nhưng tác giả yêu nhất mùa xuân “là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng. Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong…”. Mùa xuân quả thực rất đê mê và đầy sức sống. Lúc ấy nếu ngồi giữa trời xuân mà thưởng một món ngon rẻ tiền mà dân dã thì tuyệt diệu biết nhường nào. Lúc ấy mùa xuân còn về với hồn ta trong hương, trong vị.
Mùa xuân của tôi là một áng văn rất tài hoa. Câu chữ văn phong rất mượt mà, uyển chuyển, ngọt ngào mơn man như chính cái đẹp mùa xuân. Bài tuỳ bút là tình yêu quê hương da diết, nồng hậu và đắm say. Nó là những kỷ niệm và cũng là ước mơ non sông được thống nhất, người người được sum họp êm ấm cùng với gia đình, làng xóm, quê hương. | Cảm nhận về tình cảm quê hương đất nước trong bài thơ Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng | 663 | |
Đề bài: Cảm nhận về tình mẫu tử từ tác phẩm Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng
Bài làm
Nói đến Nguyên Hồng, người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động đắng xót vào trong những câu chuyện của ông.Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ niệm xót xa của cậu bé Hồng, mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ.
Cho đến tận bây giờ, khi đọc lại những trang viết này, người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm, để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kỳ, là nguồn an ủi và chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh.
Đoạn trích ” Trong lòng mẹ” là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn – cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn, chết rục bên bàn đèn thuốc phiện, người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực, cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay nghiệt, luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”. Đáng sợ hơn, sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình. Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ. Kỳ diệu thay, những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời, tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được.
Trước khi gặp mẹ: Nói một cách công bằng, nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cuộc sống của cậu bé Hồng, có thể nói cậu bé ấy vẫn còn may mắn hơn bao đứa trẻ lang thang vì còn có một mái nhà và những người ruột thịt để nương tựa sau khi cha mất và mẹ bỏ đi. Nhưng liệu có thể gọi là gia đình không khi chính những người thân – mà đại diện là bà cô ruột lại đóng vai trò người giám hộ cay nghiệt. Tấm lòng trẻ thơ ấy thật đáng quí. Đối với bé Hồng, bao giờ mẹ cũng là người tốt nhất, đẹp nhất. Tình cảm của đứa con đã giúp bé vượt qua những thành kiến mà người cô đã gieo rắc vào lòng cậu.
“Vì tôi biết rõ, nhắc đến mẹ tôi, cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi, một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng, nợ nần cùng túng quá, phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. Nhưng đời nào lòng thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…”
Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải gánh chịu. Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng có chừng mực. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau, cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay cho mẹ những ghẻ lạnh, thành kiến của người đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại, khoé mắt tôi đã cay cay”
Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ. Ta chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta, với trò tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ. Liệu ta có hoà chung giọt nước mắt này chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và cổ”.
Càng thương cho cậu bé Hồng, ta lại càng căm uất sự ghẻ lạnh của người đời trước những số phận bất hạnh. Từ nhận thức non nớt, cậu bé ấy cũng đã kiên quyết bảo vệ mẹ mình, bất chấp những thành kiến ác độc: “Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi, để sinh nở một cách giấu giếm… Tôi cười dài trong tiếng khóc”. Dường như khoảnh khắc cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu giếm Trong thâm tâm, liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ, bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng thường trực trong lòng cậu bé.
Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ mình nhận nhầm mẹ. Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu, để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ – cảm giác được chở che, bảo bọc, được thương yêu, an ủi. Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động, là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ. Mỗi khi đứng trước mẹ, có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi, xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”. Không khóc sao được, khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát, khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay mẹ.
Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn, tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng”. Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu, để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình. Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều. | Cảm nhận về tình mẫu tử từ tác phẩm Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng | 1,140 | |
Đề bài: Cảm nhận về tình yêu trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Bài làm
Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao xưa và nay vẫn được xem là một truyện ngắn tiêu biểu, xuất sắc của văn học sáng tác theo khuynh hướng hiện thực phê phán. Tác phẩm được chú ý khai thác ở các khía cạnh tố cáo xã hội phi nhân tính, sự áp bức của giai cấp thống trị, số phận con người bị tha hoá… nhiều hơn là nhìn từ góc độ tình yêu.
Toàn bộ nội dung, kết cấu tác phẩm gắn liền với cuộc đời của nhân vật chính là Chí Phèo, có một chi tiết đáng lưu ý là: các biến cố làm nên những đổi thay to lớn, những bước ngoặt trong cuộc đời Chí Phèo cũng như trong kết cấu tác phẩm lại đến từ hình bóng những người đàn bà. Tuy nhiên có bóng dáng đẩy Chí Phèo vào chốn tăm tối những cũng có gương mặt tuy xấu xí nhưng lại đưa Chí Phèo ra nơi ánh sáng của cõi minh triết.
Cuộc đời Chí Phèo đột nhiên chuyển hướng do việc tiếp xúc miễn cưỡng với bà Ba Bá Kiến, một người “đàn bà phốp pháp, má hây hây”, để từ một anh nông dân hiền lành chất phác trở thành một tên tù, một tên lưu manh mất hết nhân tính, mất luôn cả ý thức về mình lẫn ý thức làm người. Tuy nhiên, lần gặp gỡ với Thị Nở lại mang đến một hệ quả ngược, nó làm đảo lộn tất cả. Chính cuộc gặp gỡ với Thị Nở chứ không phải một biến cố xã hội nào đã làm thay đổi toàn bộ cuộc đời Chí Phèo và quyết định số phận của cả Chí Phèo lẫn Bá Kiến.
Chút tình cảm tưởng chừng rất vu vơ giữa Chí Phèo và Thị Nở ấy đã tác động, chi phối một cách sâu sắc đến quan hệ giữa Chí Phèo và Bá Kiến. Từ đó có thể thấy không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao đã xây dựng nhân vật Chí Phèo bắt đầu từ buổi tối trước khi gặp Thị Nở, cái buổi tối mà hắn “vừa đi vừa chửi”, để rồi từ đó mối quan hệ dây mơ rễ má với Bá Kiến, những khúc, đoạn trong cuộc đời Chí Phèo như một cuốn phim quay chậm được tái hiện. Tất cả những chi tiết này có tính chất như một đường truyền, một lời đề dẫn hay như những hoạ tiết có tính chất phông nền để làm nổi bật tác động của tình yêu, tình người đến cuộc đời Chí qua nhân vật Thị Nở.
Một trong những đặc trưng phong cách của Nam Cao là sử dụng những yếu tố trái khoáy, ngược nhau để mô tả hiện thực. Tên của tác phẩm cũng thường hàm chứa một điều trái khoáy như Lang rận, Chí Phèo, Tình già… Bản thân sự tồn tại nhếch nhác của nhân vật Lang rận cùng với vẻ bề ngoài bẩn thỉu là một sự trái ngược, mâu thuẫn với nghề nghiệp, vị thế xã hội mà nhân vật mang vác. Tất cả những đối nghịch đó được thâu tóm trong một cái tên: Lang rận, và được khắc sâu hơn trong sự tương phản giữa vẻ bên ngoài nhếch nhác, thấp kém với đời sống tâm hồn cao đẹp. Hay trong truyện Nửa đêm, người cha có tên là Thiên Lôi nhưng lại đặt tên con là Đức – như hai mặt của một quá trình biện chứng nhân quả…v.v.
Từ những chi tiết đó có thể hiểu tại sao Nam Cao lại lạ hoá câu chuyện tình Chí Phèo – Thị Nở như vậy. Không lãng mạn thơ mộng như các câu chuyện tình của Tự Lực Văn Đoàn, buổi tối gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở bắt đầu bằng hình ảnh Chí Phèo “vừa đi vừa chửi… chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo”, cuộc đời hắn chìm trong những cơn say.
Chưa bao giờ hắn tỉnh táo để “nhớ rằng hắn có ở đời”. Tức trong hắn chỉ tồn tại không phải ý thức mà là một khối u u mê mê, tối tăm đặc quánh, vô cảm, vô thức. Ngay cả sự hiện hữu của bản thân, hắn cũng không nhận thức được, hắn chỉ kinh ngạc rồi cười ngặt nghẽo, cười rũ rượi khi phát hiện ra mình dưới dạng một cái bóng trên đường trăng nhễ nhại, méo mó, xệch xạc. Chính hình ảnh này hướng đến sự ẩn dụ về một dạng tồn tại bất toàn của con người trong xã hội cũ. Con người không được sống thực là chính mình mà chỉ là những cái bóng, nhưng cũng không được là cái bóng của chính mình mà là bóng của giai cấp thống trị nên thành “cái vật xệch xạc, một cái gì đen và méo mó trên đường trăng nhễ nhại”. Với cái bóng đó, với ý thức hiện hữu về sự méo mó của chính mình, Chí Phèo đến với Thị Nở. Đó là cuộc gặp gỡ tất yếu là hệ quả từ hai cuộc đời trống rỗng và bất toàn của hai con người.
Thị Nở trước khi gặp Chí Phèo vốn chỉ là một thực thể không có đường nét cá tính gì đặc biệt mà còn khùng khùng dại dại, còn dung nhan là những đường nét tự nhiên, thô mộc đến mức dị hợm: trên một khuôn mặt ngắn ngủn, có cái mũi “vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành” và một đôi môi “cũng cố to cho không thua cái mũi” hơn nữa, lại dày và có “màu thịt trâu xám ngoách”. Toàn bộ “nhan sắc” của Thị Nở được Nam Cao tóm lại trong một nhận xét là “xấu đến ma chê quỷ hờn”. Từ hai cuộc đời, hai thân phận khiếm khuyết, hai trí tuệ mông muội tăm tối của Chí Phèo – Thị Nở, Nam Cao đã để cho họ kết hợp lại như một sự liên kết hoàn hảo để tạo ra một con người mới thống nhất trong sự bừng nở trở lại của một trí tuệ minh triết. Đó là Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở.
Với Nam Cao, tình yêu không đi liền với sự lý tưởng hoá đối tượng, với sự hâm mộ sùng bái người yêu mà bắt đầu chỉ thuần tuý là bản năng. Ánh trăng trong mắt của Chí Phèo đêm gặp Thị Nở mang đầy màu sắc nhục thể, cứ “xanh rời rợi như là ướt nước”. Cây dâu tây gần bờ sông thì “thân mềm oặt”, những tàu chuối trong vườn nhà hắn thì “nằm ngửa, ưỡn cong cong lên” thỉnh thoảng lại “giẫy lên đành đạch như là hứng tình”. Cái bóng – dấu ấn về sự hiện hữu méo mó của bản thân Chí Phèo cũng được phát hiện trong lúc này. Hành động chiếm đoạt Thị Nở của Chí Phèo lúc đầu chỉ thuần tuý là bản năng nhưng chính trong cõi âm u của bản năng ấy một ánh loé diệu kỳ đã bùng dậy hé mở cho ta nhìn thấy bản thể tốt đẹp của con người.
Nam Cao đã vượt trước những nhà văn của thời đại ông ở chỗ không dừng lại ở những tình yêu lý tưởng thuần tuý tinh thần như của Loan và Dũng trong Đoạn Tuyệt (Khái Hưng), Lan và Ngọc trong Hồn bướm mơ tiên(Khái Hưng), Thanh và Ngọc trong Dòng sông Thanh Thuỷ (Nhất Linh), mà ông đã hợp nhất tình yêu trong sự hoà hợp tinh thần và thể xác. Đó là những chi tiết làm căn cứ để khẳng định đây là tình yêu chứ không thuần tuý là bản năng khi Nam Cao tiếp tục miêu tả thêm lúc Chí Phèo đau bụng và ói mửa, được Thị Nở dìu về lều… Hành động ban đầu là bản năng đã làm sống dậy tình yêu, sống dậy phần nhân tính tưởng không có hay đã chết trong con người của cả Chí Phèo lẫn Thị Nở. Ở đây có sự tái sinh, phục sinh của tinh thần nhờ tình yêu và sự gắn kết hai thân xác. Nó đã cải hóa, tái sinh Chí Phèo, tình yêu cho Chí Phèo và Thị Nở ý thức về chính mình.
Trước đây, họ chỉ là hai khối mông muội, Chí Phèo thì hung bạo và triền miên trong vô thức và những cơn say vô tận:“Ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say, đập đầu rạch mặt chửi bới dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say để rồi say nữa, say vô tận”. Vậy nhưng trong tình cảm với Thị Nở, Chí Phèo đã tìm thấy chính mình, khám phá ra chính mình, hơn thế nữa khám phá ra sự sống. Con người ý thức, con người cảm xúc của Chí Phèo sống dậy. Lần đầu tiên hắn tỉnh hẳn rượu, đó là cái tỉnh của ý thức.
Tại sao Chí Phèo “càng uống lại càng tỉnh ra?”. Bởi vì tình yêu của hắn và Thị Nở đã làm thay đổi tâm điểm cuộc sống của hắn. Tâm điểm đó đã trượt từ cõi u minh của vô thức những ngày trước đây về với cõi thực tại, bắt Chí Phèo thừa nhận một thực tại cuộc sống đang tồn tại dù có hay không có hắn. Nó định vị tâm điểm cuộc sống của Chí Phèo từ những cơn say nghiêng ngả vào một cuộc sống bình thường. Chính vì vậy mà hắn tỉnh, hắn đã nhìn thấy chính bản thân mình. Thấy “bâng khuâng” rồi “lòng mơ hồ buồn”rồi “nghĩ vẩn vơ”… Thị Nở cũng thế, lần đầu tiên Thị lắng nghe cảm xúc của tâm hồn mình để “trằn trọc” “nghĩ ngợi” “tưởng tượng bâng quơ”.v.v..
Những giới hạn của cuộc đời Chí Phèo như đã được phá bỏ, nó mở rộng, liên thông với cuộc đời bên ngoài. Chính tình yêu đã mở thông lối về với cuộc đời của Chí Phèo, hắn cảm nhận được cuộc sống xung quanh:“Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy… Chao ôi là buồn!”.
Tình yêu cũng gia tăng thêm kích thước cho cuộc đời hắn. Trước đây Chí Phèo vô cảm, vô tâm, không có ý thức về chính bản thân mình nhưng nay hắn có cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó là quá khứ với những kỷ niệm yêu thương đầm ấm, là mùi hương từ bát cháo hành và những săn sóc ân cần của Thị Nở, những kỷ niệm xa xưa cũng hiện về. Hắn từng mơ tới một viễn cảnh bình yên với chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải… hắn còn sợ già, sợ cô độc và muốn làm hòa với mọi người, muốn làm người lương thiện. Sự chuyển vị này là hệ quả tất yếu do tình yêu đem lại, nó khắc họa một cách sâu sắc bản thể bất toàn và cô độc của Chí Phèo lẫn Thị Nở trước khi yêu và được yêu. Chính tình yêu đã bù đắp khiếm khuyết trong tâm hồn, tái sinh một cuộc đời và làm giàu có đời sống nội tâm của nhân vật này rất nhiều.
Chính vì thức tỉnh, vì đã được khai hóa và giàu có nhờ tình yêu nên khi bị Thị Nở từ chối “và ngoay ngoáy cái mông đít ra về”, Chí Phèo mới cảm thấy tuyệt vọng và đau khổ. Sức mạnh của tình yêu đã đưa hai nhân vật này đến một tâm điểm tuyệt đối của cuộc sống, trong khi thực tại lại không như vậy, nó vẫn tồn tại những định kiến xã hội không dễ buông tha cho con người nên thiên đường tình yêu, khát vọng làm người của Chí rơi tõm vào hiện thực trần trụi và vỡ toang, buộc Chí Phèo phải đối diện với hiện thực với nỗi đau khổ, tuyệt vọng để vùng lên cầm dao giết chết Bá Kiến.
Lời chì chiết của bà cô Thị Nở như là một chi tiết “giải thiêng” tình yêu của Chí Phèo. Nó thực tế, trần trụi đến tàn nhẫn. Đó là cái giá mà Chí Phèo và Thị Nở phải trả để đến với nhau, những thành trì xung quanh tình yêu ấy không dễ gì phá nên Chí Phèo tự kết liễu đời mình là một cách chọn lựa thích hợp nhằm chối bỏ sự thỏa hiệp, quay lại cuộc sống trước kia.
Sau những tác phẩm về tình yêu của Tự Lực Văn Đoàn của chủ nghĩa lãng mạn thì Chí Phèo của Nam Cao là một khám phá. Bởi Nam Cao vẫn viết về tình yêu nhưng không phải về bản thân tình yêu Chí Phèo – Thị Nở, mà sâu xa hơn, Nam Cao muốn hướng người đọc đến những vấn đề ngoài tình yêu. Đó là vấn đề về văn hóa, về con người và xã hội, về bản năng và vô thức, những ý niệm về thân phận con người, sự tự do thoát khỏi những buộc ràng của định kiến xã hội, khao khát làm người.
Chính vì vậy tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao không mang dáng dấp của truyện tình theo nghĩa thông thường ta vẫn hiểu, cũng không chuyển tải nội dung tình yêu theo cách thông thường mà theo một cách rất trái khoáy, rất nghịch dị mang dấu ấn riêng của Nam Cao. Nó làm cho hiện thực cuộc sống không còn bị gò ép trong cái khuôn khổ thông thường, quen thuộc trong cái nhìn của mọi người mà hiện ra một cách đột ngột bất ngờ tạo sự ngạc nhiên trong cảm nhận. | Cảm nhận về tình yêu trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao | 2,350 | |
Cảm nhận về tính triết lí trong bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
Trong thơ của Bác Hồ có nhiều bài viết về đề tài Đi đường. Đặc biệt trong Nhật kí trong tù có tới gần chục bài (Giải đi sớm, Trên đường đi, Đáp thuyền tới huyện Ung Ninh, Mới đến nhà lao Thiên Bảo…). Con đường Bác đi trong Nhật kí trong tù là con đường chuyển lao. Bác bị giải đi từ nhà tù này đến nhà tù khác ở tỉnh Quảng Tây.
Trên con đường đó Bác đã xúc động, đã suy ngẫm thành thơ – trong đó có bài Đi đường.
Đi đường mới biết gian lao
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng
Núi cao lên đến tận cùng
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
Nguyên tác:
Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan
Trùng san chi ngoại hựutrùng san
Trùng san đăng đáo cao phong hậu
Vạn lí dư đồ cố miện gian.
Mở đầu bài thơ là một phán đoán: Đi đường mới biết gian lao.
Một phán đoán luận lí có nội dung và hình thức rất gần với phán đoán hiện thực (chỉ thêm một chữ “mới”). Đó là một nhận thức, một nhận thức có tính khái quát rút ra từ thực tiễn, rất phù hợp với quy luật của nhận thức: “Thực tiễn – nhận thức – thực tiễn”. Câu thơ tiếp là hình ảnh miêu tả cụ thể khách quan về đường đi gian khó, cũng là luận cứ của câu thứ nhất: Núi cao rồi lại núi cao trập trùng. Con đường ấy là con đường chuyển lao nhưng cũng là con đường cách mạng, con đường sự nghiệp, con đường đời.
Nếu hai câu đầu là nhận thức về gian lao của đường đi thì hai câu sau lại là kết quả của quá trình trải qua gian lao đó: Núi cao lên đến tận cùng/ Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
Đỉnh cao của đường đi cũng là đỉnh cao của gian lao chuyển hóa thành đỉnh cao của cảm xúc và nhận thức. Một hình ảnh thực (núi cao tận cùng), kết quả thực của tri giác, chuyển hóa thành một thu hoạch của tâm hồn, trí tuệ (thu vào tầm mắt…). Câu thơ là một kết luận triết học nhưng trước nhất vẫn là một cảm giác sảng khoái, cảm giác thực của con người khi lên tới đỉnh núi sau một chặng đường dài khó nhọc, được đứng lại nhìn cảnh vật thiên nhiên tươi đẹp trải rộng dưới chân đến hút tầm mắt. Nhưng cảm giác đó mặc dù rất nhân bản vẫn không hẳn là đích của bài thơ. Đích của bài thơ là một bài học, một quy luật: Muốn có tầm cao về tâm hồn, trí tuệ phải chịu khó vượt qua nhiều gian lao thử thách. Gian lao càng nhiều, thử thách càng cao thì tâm hồn, trí tuệ càng được nâng cao, mở rộng. Đỉnh cao của gian khó chuyển thành đĩnh cao của tâm hồn, trí tuệ, cũng là đỉnh cao của hạnh phúc, hạnh phúc của “đại giác”. Gian khó được coi là cái giá của tầm cao tư tưởng và tâm hồn. Cao Bá Quát xưa cũng viết:
An tri vạn lí tâm
(Nếu không thấy ba đào hùng tráng,
Thì biết sao được tấm lòng muôn dặm).
Những tư tưởng lớn gặp nhau, nhưng Hồ Chí Minh nói giản dị hơn. Vương Chi Hoán, nhà thơ đời Đường xưa trong bài Đăng quán tước lâu, cũng có câu: “Dục cùng thiên lí mục – Cánh thượng nhất tằng lâu”. (Muôn tầm mắt nhìn thấu ngàn dặm. Hãy lên cao thêm một tầng lầu).
Nhưng kết quả thu nhận ở đây giành được có vẻ dễ dàng hơn vì đó là thu nhận, dẫu có tính triết học, cũng là của người ngoạn cảnh, còn trong bài Đi đường của Hồ Chí Minh, sự thu hoạch thuộc về người tự xác định mình là “chinh nhân” ở trên “chinh đồ” (Giải đi sớm). Người đó là chiến sĩ nhưng cũng là thi sĩ nên đã trải trái tim mình trên suốt chặng đường đi. Người ấy cũng là triết nhân nhưng không hề tư biện, không minh họa tư tưởng có sẵn bằng hình ảnh sáo mòn mà suy ngẫm trong sự sống đầy cảm xúc của chính mình. Điều đó làm cho bài thơ triết lí vẫn rung động lòng người và tư tưởng của nó đã đi sâu vào tâm trí người đọc và ở lại đó như một điều tâm đắc, một điều chiêm nghiệm và từ đó trở thành phương châm sống, thành ý chí và hành động của con người. Và đó cũng là một bí quyết thành công, một đặc điểm thi pháp thơ triết lí, thơ suy tưởng của nhà thơ Hồ Chí Minh. | Cảm nhận về tính triết lí trong bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh | 808 | |
Đề bài: Cảm nhận về Từ ấy của nhà thơ Tố Hữu
Dàn ý
1.Mở bài
Tố Hữu – một tiếng thơ trữ tình chính trị xuất sắc nhất của dòng văn học cách mạng Việt Nam. Người đã thổi vào thơ ca cách mạng một luồng sinh khí nồng nàn – rạo rực hăm hở tâm huyết của người lính trẻ, bằng chất giọng đằm thắm chân thành ngọt ngào của người dân xứ Huế mộng mơ. Thơ Tố Hữu dường như đã thấm đẫm chân lí của thời đại, chân lí khi giác ngộ cách mạng, khi bắt gặp lí tưởng Đảng mà vẫn rất “Huế” – rất ngọt ngào.
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân li chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.
Cảm nhận về Từ ấy của nhà thơ Tố Hữu
2.Thân bài
a) Từ ấy là tập thơ đầu tiên của Tố Hữu (1937 – 1946). Đây là chặng đầu mười năm thơ Tố Hữu cũng là mười năm hoạt động sôi nổi, say mê từ giác ngộ, qua thử thách, đến trưởng thành của người thanh niên cách mạng trong một giai đoạn lịch sử sôi động đã diễn ra nhiều biến cố to lớn làm rung chuyển và đổi thay sâu sắc của xã hội Việt Nam.
Có thể nói, với Từ ấy đã đánh dấu sự trưởng thành của hồn thơ Tố Hữu, đây sự khẳng định lí tưởng của một chiến sĩ trẻ khi đã có Đảng dẫn lối soi đường.
b) Ở bài thơ này, Tố Hữu đã bày tỏ cảm xúc mãnh liệt đột ngột, cảm xúc thực của một trái tim đang khao khát được giác ngộ, để đi theo chân lí cách mạng, để tìm ra một hướng đi cho tương lai. Mở đầu bài thơ, tác giả đã dùng từ Từ ấy rất độc đáo – không hiểu là từ khi nào, thói quen không được xác định rõ ràng, cũng không phải là dạo ấy, dạo đó, hay từ ngày đó… mà người chỉ dùng một cụm từ ấy, để diễn tả tâm trạng của mình khi đã bắt gặp lí tưởng của cuộc đời. Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ – là câu thơ như chợt tỉnh giấc sau một đêm dài mộng mị, qua từ bừng câu thơ như trở nên có hồn hơn, đầy tâm trạng khi xao xuyến, khi thì rạo rực băn khoăn hớn hở. Tố Hữu đã rất tinh tế khi dùng câu thơ này để diễn tả một cái tôi bản ngã của một chàng thanh niên mới 19 tuổi đã băn khoăn đứng giữa cuộc đời: Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước – Chọn một dòng hay để nước trôi. Thì cùng lúc đó người đã giác ngộ lí tưởng cách mạng, ánh sáng lí tưởng đã chiếu rọi vào tâm hồn trẻ làm bùng nổ một thế giới đầy hương sắc, tràn trề sức sống và niềm vui. Sự gặp gỡ lí tưởng đã dẫn đến sự đổi thay cơ bản mối quan hệ của con người với toàn bộ thế giới, đem lại sự gắn bó ruột thịt với muôn người lao khổ để tạo thành sức mạnh to lớn của cách mạng. Sự gặp gỡ lí tưởng cũng đã tạo nên một cái tôi trữ tình kiểu mới trong thơ: Cái tôi tự ý thức sâu sắc về mình đồng thời là cái tôi gắn bó với muôn người, ở giữa mọi người. Cái tôi đã hoà chung vào với cộng đồng khi đã thấy:
Mặt trời chân lí chói qua tim.
Mặt trời – là biện pháp tu từ ẩn dụ, để chiếu sáng lí tưởng cách mạng, mặt trời ấy đủ sức mạnh và ánh sáng chân lí để soi rọi bao con người, bao chiến sĩ trẻ, bao thanh niên trí thức chưa được giác ngộ. Chỉ có mặt trời ấy mới đủ chân lí vĩnh cửu để soi rọi mọi nẻo đường, chiếu sáng mọi ngõ ngách trong sâu thẳm của trái tim.
c) Niềm vui tràn trề của một tâm hồn trang trạng thái nổ oà vào niềm hân hoan của một thế hệ thanh niên cách mạng cũng tạo nên một cảm xúc ngây ngất say mê, trong bài Hy vọng, Tố Hữu đã viết:
Ỏ vui quá! Rộn ràng trên vạn nẻo
Bốn phương trời vào theo dấu muôn chân Cũng như tôi, tất cả tuổi đương xuân Chen bước nhẹ trong gió đầy ánh sáng.
Tố Hữu đã bộc lộ một cảm xúc, một niềm tin vào tương lai:
Người thanh niên cách mạng tự cảm thấy:
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.
d) Tâm hồn của cái tôi trữ tình lúc này đã được mở rộng, để đón nhận những chân lí tuyệt vời của Đảng đã đem lại, những hương vị tuyệt vời của cuộc sống đang nô nức reo vui vào một niềm vui mới, niềm vui khi đã có Đảng dẫn đường. Tố Hữu đã dùng biện pháp so sánh ví hồn tôi lúc này như là một vườn hoa lá – lại có cả hương thơm và rộn rã tiếng chim. Hương vị ngọt ngào của cuộc đời thực đã pha màu trong suy nghĩ của người thanh niên cách mạng, niềm tin của thanh niên cách mạng mặc dầu mang màu sắc lí tưởng hoá, nhưng lại rất chân thành và trong trẻo, là tâm huyếi mãnh liệt của người chiến sĩ trẻ.
3. Kết bài
Từ ấy đã thể hiện được bầu nhiệt huyết mãnh liệt của người chiến sĩ trẻ, của cái tôi trữ tình buổi đầu nặng trĩu những ưu tư, Ưu phiền của cuộc đời, song đã bắt gặp được lí tưởng cách mạng. Bài thơ là tiếng reo vui của con người đối cuộc đời, của niềm tin vào một tương lai tươi sáng huy hoàng, vào chân lí cách mạng. | Cảm nhận về Từ ấy của nhà thơ Tố Hữu | 987 | |
Đề bài: Cảm nhận về văn bản Cây tre Việt Nam của Thép mới
Bài làm
Cây tre Việt Nam được Thép Mới viết để làm lời thuyết minh cho bộ phim cùng tên của các nhà điện ảnh Ba Lan. Thông qua hình ảnh cây tre, bộ phim đã thể hiện đất nước và con người Việt Nam, ca ngợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta. Lời thuyết minh đã góp phần làm lên giá trị của bộ phim, nó được coi như là một bài tuỳ bút đặc sắc, một bài thơ – văn xuôi đẹp của nhà báo, nhà văn Thép Mới.
Câu mở đầu Thép Mới viết: Cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam, bạn thân của nhân dân Việt Nam. Phải chăng tác giả đã xác lập mối quan hệ gắn bó lâu đời, đặc biệt giữa tre với người Việt Nam – nông dân Việt Nam. Chính vì thế mà tre có mặt khắp nơi trên đất nước: Tre Đồng Nai, nứa Việt Bấc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, luỹ tre thân mật làng tôi… đâu đâu cũng có tre nứa làm bạn. Chỉ có một câu văn thôi mà đã gợi lên được tre ở mọi miền Tổ quốc. Hình ảnh đối xứng nhịp nhàng, câu văn có nhạc tính, đọc lên nghe rất thích thú. Tiếp ngay sau đó, nhà văn ca ngợi những đức tính đáng quí của tre: Vào đâu tre cũng sống, ở đâu tre củng xanh tươi. Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn. Sức sống bền vững, dẻo dai; dáng vẻ thanh cao, giản dị của tre một lần nữa được nói lên trong những câu văn giàu nhạc tính, cân xứng nhịp nhàng. Đọc đến câu Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người thì ta bỗng hiểu ra cái ý vị sâu sắc: cây tre chính là con người Việt Nam,- là tượng trưng cho dân tộc Việt Nam và những phẩm chất cao quí của tre cũng là những đức tính đẹp đẽ của con người.
Nhận định tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam, bạn thân của nhân dân Việt Nam là tư tưởng xuyên suốt bài văn. Để chứng minh cho nhận định này, tác giả đã đưa ra một hệ thống luận điểm với nhiều dẫn chứng. Luận điểm thứ nhất như đã nói ở phần mở đầu, sự gắn bó của cây tre với con người Việt Nam. Cây tre có mặt ở khắp nơi trên đất nước. Hơn thế nữa, tre ăn ở với người đời đời kiếp kiếp. Đã từ lâu đời, dưới bóng tre xanh con người Việt Nam đã làm ăn sinh sống và gìn giữ một nét văn hoá cổ truyền. Tre còn giúp người trăm nghìn công việc khác nhau như là cánh tay của người nông dân:
Cánh đồng ta năm đôi ba vụ
Tre với người vất vả quanh năm.
Trong cuộc sống đời thường, tre gắn bó với con người thuộc mọi lứa tuổi: với tuổi thơ, tre là nguồn vui – các bạn nhỏ chơi chuyền đánh chắt bằng tre; với lứa đôi nam nữ thì dưới bóng tre là nơi hò hẹn tâm tình; với tuổi già hút thuốc làm vui thì có chiếc diếu cày… Suốt một đời người, từ thuở lọt lòng trong chiếc nôi tre, đến khi nhắm mắt xuôi tay, nấm trèn giường tre, tre với mình sống có nhau, chết có nhau, chung thuỷ.
Trong cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước, tre cũng gắn bó cùng dân tộc. Ta kháng chiến, tre lại là đồng chí chiến đấu của ta… Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù… Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hy sinh để bảo vệ con người. Chính trong hoàn cảnh chiến đấu, tre bộc lộ nhiều phẩm chất cao quí khác: thẳng thắn, bất khuất Trúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng. Tre lại vì ta mà cùng ta đánh giặc. Trong lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, cây tre càng gắn bó khăng khít, chặt chẽ hơn với con người Việt Nam. Từ truyền thuyết cây tre đằng ngà cùng anh hùng làng Gióng đánh tan giặc Ân, đến câu ca dao:
Trồng tre nên gậy, gặp đâu đánh què!
Cho tới cuộc kháng chiến chống Pháp… cây tre rất xứng danh anh hùng bất khuất, như dân tộc Việt Nam bất khuất anh hùng.
Đế tổng kết vai trò lớn lao của cây tre đối với đời sống con người và dân tộc Việt Nam, tác giả đã khái quát: Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu.
Cây tre tiếp tục gắn bó thân thiết với dân tộc Việt Nam trong hiện tại và mãi mãi sau này. Phần kết của bài kí, tác giả đặt ra một vấn đề có ý nghĩa: vai trò của cây tre khi đất nước bước vào thời kì mới (Công nghiệp hoá – hiện đại hoá) trong giai đoạn hiện tại và tương lai, khẳng định tre mãi mãi là người bạn chia bùi, sẻ ngọt với con người. Để đưa người đọc đến vấn đề này, tác giả bắt đầu từ hình ảnh nhạc của trúc, của tre, hình ảnh sáo tre, sáo trúc biểu lộ tâm tình của con người Việt Nam. Những câu văn viết về nhạc của trúc, của tre thiết tha bay bổng như một đoạn thơ – văn xuôi giàu nhạc tính. Sau đó, tác giả lấy câu tục ngữ tre già măng mọc và hình ảnh măng non trên phù hiệu đội viên thiếu nhi làm phương tiện chuyển ý rất tự nhiên để khẳng định vị trí của cây tre trong tương lai của đất nước: Nứa tre… còn mãi với dân tộc Việt Nam, chia ngọt sẻ bùi của những ngày mai tươi hát… Ngày mai, trển đất nước này, sắt thép có thể nhiều hơn tre nứa. Nhưng trên đường đời ta dấn bước, tre xanh mãi là bóng mát. Tre vẫn mang khúc nhạc tâm tình… Nghĩa là cây tre với những phẩm chất quí báu của nó lưu giữ biết bao giá trị lịch sử, giá trị vàn hoá, tượng trưng cao quí của dân tộc Việt Nam vẫn còn mãi với các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau, với bao niềm tự hào và kiêu hãnh:
Mai sau Mai sau Mai sau…
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh…
(Nguyễn Duy, Tre Việt Nam)
Bài Cây tre Việt Nam với nhiều chi tiết, hình ảnh chộn lọc mang ý nghĩa biểu tượng, phép nhân hoá sử dụng thành công, lời văn giàu cảm xúc và nhịp điệu, Thép Mới đã đem đến cho người đọc vẻ đẹp bình dị và những phẩm chất cao quí của cây tre. Cây tre đã trở thành một biểu tượng của đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam. | Cảm nhận về văn bản Cây tre Việt Nam của Thép mới | 1,176 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.