text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Đề bài: Cảm nhận về vẻ đẹp của Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây Bài làm Từ bao đời nay, người Ê-đê đã cùng quây quần bên bếp lửa, nghe không biết chán từ đêm này sang đêm khác khen Đăm Săn bài ca về người tù trưởng anh hùng của dân tộc mình với những chiến công hiển hách trong xây dựng phát triển buôn làng và bảo vệ cộng đồng chống lại bao kẻ thù hung hãn. Trong những chiến công lẫy lừng ấy, ngất ngây lòng người vẫn là đoạn Đánh thắng Mtao Mxây, chứng tỏ tài năng, bản lĩnh, lòng dũng cảm phi thường và sức mạnh vô địch của Đăm Săn. Sở dĩ xảy ra cuộc chiến này là do Mtao Mxây (tù trưởng sắt) đã cướp Hơ- Nhị – vợ của Đăm Săn. Đối với người Ê-đê theo chế độ mẫu hệ, việc bị kẻ thù cướp mất vợ là một nỗi sỉ nhục của cả cộng đồng Đánh thắng Mtao Mxây là lần thứ hai Đăm Săn phải chiến đấu với kẻ thù để giành lại người vợ chứng tỏ sự hùng mạnh của Đăm Săn. Chàng phải đối mặt với kẻ thù hung bạo và cũng có sức mạnh phi thường không kém. Hàng loạt những hình ảnh so sánh trong đoạn trích cho thấy rõ sự tương phản giữa Đăm Săn với kẻ thù, làm nổi bật lên sự hào hùng của chàng và sự thảm hại của Mtao Mxây. Đó chính là nét đặc sắc trong nghệ thuật đoạn trích này, tôn vinh vẻ đẹp người anh hùng Đăm Săn. Cảm nhận về vẻ đẹp của Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây Vẻ đẹp Đăm Săn hiện rõ ngay từ khi chàng bước chân vào lãnh địa của Mtao Mxây. Tù trưởng sắt hung bạo dù kiêu căng ngạo mạn cũng luôn phải dè chừng sự hiện diện của chàng. Hình ảnh Đăm Săn cùng những bạn bè đồng minh của chàng hiện lên dưới mắt kẻ thù thật dũng mãnh với khố màu sặc sỡ, đầu đội khăn đẹp cùng khí thế hừng hực: Gươm sáng như mặt trời. Thân mình ở trần như quả dưa, ở thế chờ sẵn như con sócằ Mắt sáng gấp đôi gấp ba mắt thường. Hình ảnh so sánh thật đặc trưng đã làm đậm nét phi thường của người anh hùng. Tư thế ấy lại gắn liền hành động thách thức chặt ống tre thành ba khúc, xô đổ hàng rào hàm chứa sức mạnh tuyệt luân của chàng. Khi giáp chiến cùng Đăm Săn, dù ngôn ngữ sử thi miêu tả Mtao Mxây cũng rất đẹp, rất dũng mãnh nhưng vẫn lộ ra sự khiếp nhược trước Đăm Săn. Lời nói của hắn với chàng lộ ra sự hèn nhát: Đừng đâm ta lúc ta đang xuống nhé. Đáp lại, Đăm Săn đã bộc lộ sự khinh bỉ kẻ thù tư thế đàng hoàng của mình: Sao ta lại đâm ngươi khi ngươi đang đi xuống nhỉ. Ngươi xem, đến con lợn nái của nhà ngươi dưới đất, ta cũng không thèm đâm nữa là. Cuộc đối đầu của Đăm Săn với Mtao Mxây là cuộc chiến đấu giữa, hai tù trưởng dũng mãnh. Phẩm chất anh hùng theo cách nhìn sử thi là ở sự chiến thắng bằng sức mạnh và sự can đảm. Cuộc đối đầu sinh tử ấy không có chỗ dung thân cho kẻ nào hèn nhát. Trong tình cảm tôn vinh người anh hùng cùa buôn làng, mọi cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của Đăm Săn đều nổi bật, vượt trội hơn kẻ thù. Chúng ta cùng được chứng kiến màn thi tài múa khiên thú vị: Mtao Mxây thể hiện rõ sự khoác lác khi lời nói của hắn được minh chứng bằng tiếng khiên kêu lộc cộc, lộp cộp như tiếng những quả mướp đập vào nhau, còn Đăm Săn đã dập tắt nhuệ khí của hắn bằng sức mạnh phi thường trong màn múa khiên độc đáo. Ngôn ngữ sử thi khoa trương sức mạnh ấy ngang sức mạnh tự nhiên: Một bước nhảy, chàng vượt qua mây đồi tranh. Một bước lùi, vượt qua mấy đồi mía. Tiếng gió khiên rít vù vù như dông bão, cây cối nhà cửa ở xung quanh cũng nghiêng ngả. Lần múa khiên thứ hai của chàng còn ghê gớm hơn bởi dồn chứa sức mạnh trừng phạt Mtao Mxây. Sức mạnh Đăm Săn có được còn nhờ sự trợ lực của người vợ Hơ Nhị khi nàng ném trầu và thuốc cho chàng để sức lực tăng lên gấp bội. Đăm Săn không hề đơn độc trong cuộc chiến vì danh dự này. Chính nghĩa thuộc về chàng khi các tù trưởng bạn hùng mạnh giúp chàng giành lại người vợ yêu quí. Đồng thời, chàng còn được sự trợ giúp của ông Trời. Người anh hùng sử thi luôn có mối quan hệ với lực lượng siêu nhiên. Trời đã giúp chàng đánh rơi áo giáp của Mtao Mxây. Khi không còn áo sắt, hắn thật thảm hại và hèn nhát, hắn lần lượt chạy trốn vào chuồng heo, chuồng trâu, khi sắp chết lại buông ra những lời hèn nhát. Ông trời chỉ đóng vai trò hỗ trợ Đăm Săn, còn chính chàng mới là người kết liễu kẻ thù, đòi lại danh dự, cướp lại người vợ được Trời tác thành. Giết Mtao Mxây, chính nghĩa thuộc về Đăm Săn. Chiến thắng được tôn vinh cùng với việc Đăm Sàn được sở hữu tất cả tài sản, dân làng, tôi tớ của hắn. Quyền sở hữu này là đặc trưng gắn với thời kì chuyển từ công xã thị tộc sang chiếm hữu nô lệ, làm nên vinh quang của người anh hùng. Bởi thế hình ảnh trong sử thi được mô tả với qui mô hoành tráng, mọi người tình nguyện theo Đăm Săn đông như bầy hươu nai, lố nhố như đàn kiến cánh, như bầy kiên đen, như đàn mối trắng. Chàng thêm quyền uy, thêm nhiều chiêng núm, chiêng bằng – của cải trở thành biểu tượng sức mạnh tuyệt đối của người anh hùng. Chính vì thế, để xứng đáng với chiến công cũng phải có một lễ ăn mừng chiến thắng thật kì vĩ. Lời kêu gọi của Đăm Săn có sức mạnh hiệu triệu muôn người như một, bởi chàng đem lại niềm vinh quang chiến thắng, đem lại sự bình yên cho bến nước buôn làng. Lễ cúng mừng chiến thắng hào phóng cũng là để tôn vinh xứng đáng: Hãy lây bảy chum rượu, bảy con trâu đực, bảy con heo thiến đế cúng cho Đăm Săn này đã chiến thắng Mtao Mxây, đê ta được như cây cổ thụ cao vút. Dấu ấn tâm linh sau chiến thắng cho thấy Trời đứng về phía Đăm Săn. Không khí hội còn náo nức tưng bừng với chiêng trỏng vang lừng khiến vỡ cả sàn nhà, làm bay mái tranh lợp nhà, con khỉ con vượn mãi nghe mà quên đi hái trái cây, những con voi và con tê giác cũng phải lắng nghe mà quên cả cho C011 bú. Nổi bật giữa đám đông hoan hỉ ấy tất yếu phải là người anh hùng Đàm Săn – tù trưởng hùng mạnh ít ai sánh kịp. Ngay cả trong không khí yên bình của cộng đồng, vẻ đẹp ấy vẫn nổi bật từ ngoại hình đến hành dộng: mái tóc dài cuồn cuộn thả xuống một cái chiêng, uồng rượu không bao giờ say, ăn uống không bao giờ thây no. Hơn thế nữa, ngôn ngữ phóng đại của sử thi đã so sánh chàng ngang sức mạnh thần linh: Oai linh vang đến tận thần núi phía Đông, đến tận thần núi phía Tây. Hình ảnh Đăm Săn sau chiến công này được mô tả phóng đại và như một điệp khúc vang vọng niềm tự hào về người anh hùng tiêu biểu của cộng đồng: Và người ta bàn tán không cùng, rằng Đăm Săn quả thật là một tù trưởng dũng cảm, không bao giờ chịu lùi bước. Chàng ta mang chăn choàng trên vai, tay đeo vòng, cầm gươm chạm trỗ sắc bén… Đăm Săn hùng cường ngay từ trong lòng mẹ,vẻ đẹp ấy chỉ có thể xuất hiện trong sử thi anh hùng, chỉ có ngôn ngữ sử thi mới đem lại những vẻ đẹp độc đáo đến thế. Đoạn trích đã đem lại cho ta những cách nhìn độc đáo về người anh hùng Đăm Săn trong chiến công bảo vệ buôn làng, đem lại bình yên cho bến nước. Lời kể chuyện hấp dẫn cùng ngôn ngữ miêu tả khoa trương tạo được dấu ấn đặc sắc, chứa đựng những giá trị nhân văn đặc trưng của sử thi. Sử thi anh hùng Đăm Săn quả thật đã hình thành ý thức và tình cảm cộng đồng vững bền của dân tộc Ê-đê, thành di sản quý báu của Tây Nguyên và dân tộc Việt Nam, đánh dấu thời đại sử thi rực rỡ với vẻ đẹp một đi không trở lại.
Cảm nhận về vẻ đẹp của Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây
1,534
Cảm nhận về vẻ đẹp khuất lấp của người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa Hướng dẫn Vẻ đẹp khuất lấp của người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa Cảm nhận của em về vẻ đẹp khuất lấp của người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu được sưu tầm và đăng tải trong bài viết này, mời các bạn tham khảo. Tóm tắt tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu Phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu Dàn ý: 1. MỞ BÀI – Kim Lân là nhà văn chuyên viết về nông thôn và cuộc sống người dân quê, có sở trường về truyện ngắn. Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc, viết về tình huống “nhặt vợ” độc đáo, qua đó thể hiện niềm tin mãnh liệt vào phẩm chất tốt đẹp của những con người bình dị trong nạn đói thê thảm. – Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu thời chống Mĩ, cũng là cây bút tiên phong thời đổi mới. Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn xuất sắc ở thời kì sau, viết về lần giáp mặt của một nghệ sĩ với cuộc sống đầy nghịch lí của một gia đình hàng chài, qua đó thể hiện lòng xót thương, nỗi lo âu đối với con người và những trăn trở về trách nhiệm của người nghệ sĩ. 2. THÂN BÀI a. Làm rõ đối tượng thứ nhất (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích) Nhân vật người vợ nhặt – Giới thiệu chung: Tuy không được miêu tả thật nhiều nhưng người vợ nhặt vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác phẩm. Nhân vật này được khắc hoạ sống động, theo lối đối lập giữa bề ngoài và bên trong, ban đầu và về sau. – Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu: + Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng, là một lòng ham sống mãnh liệt. + Phía sau vẻ nhếch nhác, dơ dáng, lại là một người biết điều, ý tứ. + Bên trong vẻ chao chát, chỏng lỏn, lại là một người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, biết lo toan. b. Làm rõ đối tượng thứ 2 (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích) Nhân vật người đàn bà chài – Giới thiệu chung: Là nhân vật chính, có vai trò quan trọng với việc thể hiện tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật này được khắc hoạ sắc nét, theo lối tương phản giữa bề ngoài và bên trong, giữa thân phận và phẩm chất. – Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu: + Bên trong ngoại hình xấu xí, thô kệch là một tấm lòng nhân hậu, vị tha, độ lượng, giàu đức hi sinh. + Phía sau vẻ cam chịu, nhẫn nhục vẫn là một người có khát vọng hạnh phúc, can đảm, cứng cỏi. + Phía sau vẻ quê mùa, thất học lại là một người phụ nữ thấu hiểu, sâu sắc lẽ đời. c. So sánh: nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích, so sánh) So sánh nét tương đồng, khác biệt – Tương đồng: Cả hai nhân vật đều là những thân phận bé nhỏ, nạn nhân của hoàn cảnh. Những vẻ đẹp đáng trân trọng của họ đều bị đời sống cơ cực lam lũ làm khuất lấp. Cả hai đều được khắc hoạ bằng những chi tiết chân thực… – Khác biệt: Vẻ đẹp được thể hiện ở nhân vật người vợ nhặt chủ yếu là những phẩm chất của một nàng dâu mới, hiện lên qua các chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh, trong nạn đói thê thảm. Vẻ đẹp được khắc sâu ở người đàn bà hàng chài là những phẩm chất của một người mẹ nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua các chi tiết đầy kịch tính, trong tình trạng bạo lực gia đình… d. Lý giải sự khác biệt: Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…( bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích) + Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình phát triển, biến đổi từ thấp đến cao(cảm hứng lãng mạn), trong khi đó người đàn bà chài lưới lại tĩnh tại, bất biến như một hiện thực nhức nhối đang tồn tại(cảm hứng thế sự-đời tư trong khuynh hướng nhận thức lại) + Sự khác biệt giữa quan niệm con người giai cấp (Vợ nhặt) với quan niệm con người đa dạng, phức tạp( Chiếc thuyền ngoài xa) đã tạo ra sự khác biệt này (có thể có thêm nhiều ý khác, tùy thuộc mức độ phân hóa của đề thi) 3. KẾT BÀI – Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu. – Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân. Bài mẫu 1: Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho người đọc là người đàn bà làng chài – người phụ nữ vô danh với tấm lòng bao dung, vị tha, đức hi sinh. Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước ra từ cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa để chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát hiện ra một bức tranh cảnh biển có một không hai: “trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù..Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới..toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa”. Cảnh đẹp ấy khiến cho người nghệ sĩ dường như vừa “khám phá thấy cái chân lí của sự hoàn thiện”. Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người chồng vũ phu, thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng. Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ sửng sốt. Nghịch cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ. Dường như cuộc sống chẳng có gì đáng nói nhưng trong chị lại chứa đựng nhiều điều kì diệu khiến người khác phải suy nghĩ. Người đàn bà trạc ngoài 40, hình dáng thô kệch, rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và gợi ấn tượng người đàn bà xấu xí, mệt mỏi dường như đang buồn ngủ. Và cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở nên thô kệch. Qua câu chuyện ở tòa án huyện người đọc hiểu hơn sự bất hạnh trong cuộc đời chị. Dường như mọi sự bất hạnh của cuộc đời đều trút cả lên chị, xấu, nghèo khổ, lam lũ, lại phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người chồng vũ phu, tổn thương, đau xót cho các con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ… Cái xấu đã đeo đuổi chị như định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ. Có mang với một anh hàng chài, đến mua bả về đan lưới, rồi thành vợ chồng. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh. Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,… Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ: ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, với lời lẽ cay độc” Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Khi bị đánh chị không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trôn mà coi đó là một lẽ đương nhiên. Người đàn bà ấy nhẫn nhục, cam chịu, thầm lặng chịu đựng mọi đau đớn tất cả vì những đứa con. Người đàn bà đã nhẫn nhục, cam chịu. Chị không muốn đàn con phải nhìn thấy cảnh cha đánh mẹ. Chị xin chồng lên bờ mà đánh khi con lớn. Chị xót xa đau đớn khi phải chứng kiến cảnh thằng Phác đánh cha: “như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, và làm rỏ xuống những dòng nước mắt…’ Người đàn bà ấy là người sâu sắc và thấu hiểu lẽ đời. Cái sự thâm trầm trong thấu hiểu lẽ đời dường như chị chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bên ngoài. Chị coi việc mình bị đánh đó như một phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình, chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy. Khi được đề nghị giúp đỡ thì: “Xin các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu”; “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó”. Chị ý thức được thiên chức của người phụ nữ:”Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn”. Trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề. Sự cần thiết của việc có người đàn ông làm chỗ dựa, để chèo chống khi phong ba bão táp, cùng nuôi dạy các con: ” Đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con, không thể sống cho mình như trên đất được”. Chị ” phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”. Có thấu hiểu được như vậy chúng ta mời hiểu hết tình cảm, tấm lòng của người đàn bà bất hạnh. Bởi nếu hiểu sự việc một cách đơn giản chỉ cần yêu cầu người đàn bà bỏ chồng là xong. Nhưng nhìn vấn đề một cách thấu suốt thì suy nghĩ và cách xử sự của người đàn bà là không thể khác được. Nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờ bến của chị. Người đàn bà ấy còn là người giàu lòng vị tha. Chị thấu hiểu nguyên nhân vì sao chồng lại trở nên như thế. Chị hiểu được trước đây chồng vốn là anh con trai cục tính nhưng hiền lành, cũng nghĩ cho vợ con nhưng rồi cuộc sống mưu sinh khổ nhọc làm cho anh tha hóa. Có thể chúng ta không chấp nhận cho hành vi tội lỗi của ông nhưng chúng ta phần nào cảm thông cho ông. Đằng sau sự nhẫn nhục ấy là bản năng sinh tồn mãnh liệt và một tấm lòng yêu thương đáng thương. Người đàn bà hàng chài vừa lam lũ, chất phác, có tình thương con vô bờ bến, vừa luôn mang nỗi đau, vừa có cái thâm trầm trong việc thấu hiểu các lẽ đời. Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh. Gấp trang truyện lại người đọc còn mãi ám ảnh bởi những câu hỏi: Cuộc đời người đàn bà ấy rồi sẽ kết thúc ra sau? Những đứa con tội nghiệp của bà có được cuộc sống hạnh phúc? Đó là những vấn đề nhà văn vẫn chưa đưa ra lời giải đáp. Câu trả nằm trong cuộc sống, hành động của mỗi người chúng ta. Điều đó nói lên giá trị của tác phẩm và tầm vóc to lớn của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong văn xuôi Việt Nam hiện đại. Bài 2: Ai đó đã từng nói “ Tác phẩm nghệ thuật chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo”. Phải chăng vì vậy mà ta có thể bắt gặp nhiều nghệ sĩ có phong cách hoàn toàn khác nhau trên cùng một giao lộ của hành trình kiếm tìm và khám phá vẻ đẹp tâm hồn con người. Kim Lân với truyện ngắn “Vợ nhặt” và Nguyễn Minh Châu với tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trường hợp như vậy. Nếu như với khả năng viết rất hay về nông thôn và cuộc sống của người dân quê, Kim Lân xây dựng thành công nhân vật người vợ nhặt qua tình huống truyện độc đáo thì với phong cách truyện đậm chất tự sự-triết lí, Nguyễn Minh Châu đã khám phá ra những nghịch lí trong cuộc sống của người đàn bà hang chài. Qua cả hai tác phẩm, các tác giả đều cho ta thấy được vẻ đẹp khuất lấp của người phụ nữ Việt Nam trong những hoàn cảnh khó khăn. Có thể nói, trong truyện ngắn “Vợ nhặt”, nhân vật người vợ nhặt tuy không phải là nhân vật chính nhưng vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác phẩm.Tuy là một con người vô danh nhưng nhà văn đã xây dựng cho nhân vật của mình một cá tính đậm nét. Được khắc họa sống động theo lối đối lập giữa bên trong và bên ngoài, ban đầu và về sau, người vợ nhặt hiện lên với đầy đủ những phẩm chất của con người bình dị trong nạn đói thê thảm Từ một cô con gái “ngồi vêu ra ở cửa nhà kho” chao chát, chỏn lỏn đến một nàng dâu hiền hậu, đảm đang, đúng mực là một hành trình đầy bất ngờ với bao biến động trong cuộc đời nhân vật. Nhà văn đã chọn được tình huống truyện thật độc đáo để nhân vật tự bộc lộ giá trị của mình. Ở đầu tác phẩm, những vẻ đẹp của người vợ nhặt bị che khuất bởi những con số không tròn trĩnh: không quê quán, không nghề nghiệp, không cả một cái tên, không nhan sắc, không lòng tự trọng. Cuộc sống đói khổ càng tô đậm sự xấu xí của thị: “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, người “gầy sọp”, “trên cái khuôn mặt xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Khi nghe tiếng hò của Tràng, thị “lon ton chạy theo” đẩy xe thóc cùng, hôm sau lại “sầm sập chạy đến”, “cong cớn” đứng trước mặt anh ta để đòi “nợ” rồi “cắm đầu ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc”. Giữa sự lựa chọn nghiệt ngã: hoặc chết đói để giữ sĩ diện hoặc bỏ lòng tự trọng sang một bên để bám víu lấy sự sống, thị đã chọn cách thứ hai. Song, qua tiến trình của câu chuyện, con người thực sự của nhân vật người vợ nhặt dần hiện ra dưới ngòi bút truyện tài hoa của Kim Lân. Thị “rón rén, e thẹn, đầu cúi xuống, chân bước díu vào nhau” khi đi qua xóm ngụ cư, trên đường về nhà Tràng. Ở đây, ta chỉ thấy một cô gái hiền hậu, biết ý tứ và ngượng ngùng một cách thật dễ thương chứ không còn cái “cong cớn” vô duyên lúc trước. Buổi sang sau khi về làm vợ Tràng, thị dậy sớm, quét tước, dọn dẹp, nấu cơm và cư xử, nói năng đúng mực khiến ngay cả Tràng cũng ngạc nhiên vì sự thay đổi ấy. Thị đã trở thành người vợ đảm, người con dâu đảm đang biết lo toan việc nhà. Phải chăng đây mới chính là bản chất tốt đẹp của con người vợ nhặt? Ngay cả trong chi tiết theo không Tràng về làm vợ của thị, nếu xét kĩ, ta sẽ thấy hành động ấy thực chất xuất phát từ khao khát tình yêu, hạnh phúc và tổ ấm gia đình cháy bỏng của những người nông dân bình dị. Tóm lại, với nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, Kim Lân đã xây dựng thành công nhân vật người vợ nhặt với những vẻ đẹp tâm hồn đáng được trân trọng và ngợi ca. Xuất hiện trước mắt độc giả, người đàn bà hang chài hiện lên với ngoại hình xấu xí, thô kệch: than hình cao lơn, “khuôn mặt mệt mỏi”, “tái ngắt”, “tấm lưng áo bạc phếch, rách rưới”. Cuộc sống của chị là một chuỗi những tháng ngày vừa lao động vất vả, vừa phải chịu đòn roi của chồng: “ ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Độc giả có thể thông cảm với hoàn cảnh bất hạnh nhưng rất dễ bất bình với sự nhẫn nhục, cam chịu quá đáng của nhân vật khi im lặng chấp nhận trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình. Nhưng phía sau ngoại hình xấu xí và sự nhẫn nhục ấy là cả một tấm lòng vị tha, độ lượng, đức hi sinh cao cả và sự cứng cỏi, can đảm hiếm có của người phụ nữ. Chị chấp nhận cuộc sống ấy bởi lẽ chị yêu thương các con, sẵn sàng hi sinh tất cả để bảo vệ tổ ấm gia đình. Đối với chị thì “đàn bà ở thuyền phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”. Và dù bị đánh đập, hành hạ bao nhiêu thì người đàn bà ấy vẫn cảm thông với những khó khăn của chồng, vẫn cứ chắt chiu từng giây phút hạnh phúc trong cuộc sống. Phía sau sự thất học, quê mùa, người đàn bà hang chài vẫn là người phụ nữ sâu sắc và thấu hiểu lẽ đời. Lí lẽ của chị là lí lẽ của con người từng trải bao song gió, khó khăn, không chỉ khiến chánh án Đẩu, nhiếp ảnh gia Phùng mà còn khiến tất cả chúng ta phải ngạc nhiên, cảm phục. Có thể thấy, cả hai nhân vật đều là những thân phận nhỏ bé, là nạn nhân của hoàn cảnh nhưng vẫn giữ được những phẩm chất tốt đẹp, lương thiện. Vẻ đẹp ấy, trong những lam lũ của đời thường, trong những khoảnh khắc khó khăn của cuộc sống có thể bị che lấp đi nhưng không bao giờ biến mất. Cả Kim Lân và Nguyễn Minh Châu đều thành công ở điểm này, khi miêu tả nhân vật bằng những chi tiết chân thực vô cùng, vừa làm toát lên số phận đau khổ, cảnh sống khốn cùng của họ, vừa khám phá ra vẻ đẹp khuất lấp bên trong những con người ấy. Tuy nhiên, giữa hai nhân vật cũng có nhiều điểm khác biệt. Vẻ đẹp của người vợ nhặt được khắc họa qua những phẩm chất của một nàng dâu mới, hiện lên qua các chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh trong nạn đói thê thảm. Thị như một luồng gió mới “lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối” của những người dân xóm ngụ cư cũng như gia đình Tràng. Trong khi đó, vẻ đẹp của người đàn bà hàng chài dưới ngòi bút của Nguyễn Minh Châu lại là phẩm chất của người mẹ nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua các chi tiết đầy kịch tính trong tình trạng bạo lực gia đình. Nhân vật này không khỏi khiến ta băn khoăn, trăn trở về cách nhìn nhận con người cũng như mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực cuộc sống. Sở dĩ có sự khác biệt ấy là do phong cách nghệ thuật và thời điểm sáng tác của hai nhà văn. Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình phát triển biến đổi từ thấp đến cao, mang cảm hứng lãng mạn, tiêu biểu cho văn học thời kì kháng chiến. Trong khi đó nhân vật người đàn bà hàng chài lại tĩnh tại, bất biến như một hiện thực nhức nhối đang tồn tại. Nhân vật này thể hiện rõ cảm hứng thế sự-đời tư trong ngòi bút truyện của Nguyễn Minh Châu sau 1975. Tóm lại, người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài là hai nhân vật được xây dựng rất thành công của Kim Lân và Nguyễn Minh Châu. Tuy có nhiều điểm khác nhau trong phong cách nhưng với tinh thần nhân đạo cao cả, hai nhà văn đều khám phá và nâng niu trân trọng những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Qua hai tác phẩm, các tác giả còn cho chúng ta thêm tin tưởng vào sự bất diệt của những phẩm chất tốt đẹp trong con người dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Với tất cả giá trị về nội dung và nghệ thuật ấy, chắc chắn cả hai nhân vật cũng như tên tuổi của Kim Lân và Nguyễn Minh châu sẽ có sức sống lâu dài trong kho tàng văn học dân tộc.
Cảm nhận về vẻ đẹp khuất lấp của người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
3,572
Cảm nhận về vẻ đẹp thơ mộng của cảnh và người miền Tây trong bài Tây Tiến Hướng dẫn Cảm nhận về vẻ đẹp thơ mộng của cảnh và người miền Tây trong bài Tây Tiến Nếu kể tên mười tác giả tiêu biểu và xuất sắc nhất của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp thì có lẽ chúng ta không kể đến tên nhà thơ Quang Dũng nhưng nếu kể tên mười tác phẩm tiêu biểu nhất thời kì này thì ta không thể không kể đến Tây Tiến của ông. Sức sống của bài thơ được khẳng định qua năm tháng. Đến với Tây Tiến ta không chỉ bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp hiểm trở của núi rừng, sự bất khuất hi sinh của người chiến sĩ mà ta còn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp thơ mộng của cảnh và người miền Tây trong bài thơ này. Nhà thơ Quang Dũng đứng ở Phù Lưu Chanh mà chạnh lòng nhớ đồng đội mình, Nỗi nhớ ấy không thể giữ nguyên trong lòng mà nhà thơ cũng chẳng biết chia sẻ cùng với ai vì thế con nên nhà thơ dùng hết tài hoa của mình để cất lên thành nỗi nhớ. Đoạn thơ đầu nhà thơ tập trung nói về nỗi nhớ Tây Tiến ấy và cảnh núi trừng hoang sơ, hùng vĩ hiểm trở. Người lính hiện lên với nét đẹp bất khuất kiên cường: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi …… Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” Thế nhưng đến với cảnh và con người nơi miền Tây này chúng ta không chỉ được đắm chìm trong khung cảnh của núi rừng hoang sơ hiểm trở mà chúng ta còn có thể say đắm với những cảnh đẹp thơ mông và ngây ngất trong tình quân dân. Đây chính là đoạn thơ thể hiện rõ nhất sự lãng mạn trong cảnh đẹp và con người miền Tây. “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ” Những người miền Tây không chỉ ấm áp đùm bọc lấy những chiến sĩ Tây Tiến, nấu cơm cho họ ăn hay giúp đỡ họ trong chiến đấu mà những con người thân thiện nơi đây còn tổ chức những đêm liên hoan văn nghệ để đón tiếp những người chiến sĩ Hà Thành. Đêm liên hoan ấy không diễn ra ở những nơi sang trọng quyền quý, tại các thành lầu mà nó diễn ra ngay chính núi rừng nơi đây. Động từ “bừng” thể hiện một vẻ đẹp lãng mạn như thắp sáng cả núi rừng. Sự “bừng” ấy còn thắp sáng cả những trái tim mộng mơ của những chàng trai trẻ tuổi. Đó không chỉ là ánh sáng của hội đuốc hoa mà nó là ánh sáng trong lòng con người nữa. Nói cách khác thì hội đuốc hoa kia đã thắp sáng tình quân dân thắm thiết gắn bó keo sơn. Khi cái “bừng” của hội đuốc hoa vừa mới khiến cho những người chiến sĩ ngạc nhiên thích thú thì “kìa” lại một sự ngạc nhiên nữa diễn ra. Những cô gái miền Tây xiêm áo từ bao giờ mà khi khèn lên điệu nhạc nàng lại e ấp trong thật đáng yêu. Người con gái Viên Chăn ngại ngùng trong điệu nhạc với một vẻ đẹp thật sự thơ mộng biết bao. Điều đó khiến cho những người chiến sĩ thấy ngạc nhiên và thích thú. Có thể nói cô gái chính là trung tâm của lễ hội, là linh hồn của vẻ đẹp xứ lạ. Cảnh tượng ấy, không khí ấy, âm nhạc ấy và những con người ấy khiến cho nhà thơ như muốn xây lên những hồn thơ về mảnh đất này. Cảm xúc như được thăng hoa và chắp cánh bay cao. Qủa thật hồn thơ Quang Dũng vô cùng hào hoa và lãng mạn. Như vậy có thể thấy con người miền Tây hiện lên với nét thơ mộng trong hình ảnh hội đuốc hoa với những cô gái xiêm áo lụa là ngại ngùng e thẹn khi điệu man cất lên. Con người thơ mộng, cảnh cũng thơ mộng. Hình ảnh cảnh vật trong sự chia li với những chiến sĩ Tây Tiến đã toát lên một vẻ đẹp thơ mộng trữ tình: “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” Cuộc vui nào cũng phải trải qua thời khắc chia tay. Hội đuốc hoa kết thúc những em gái Viên Chăn trở về thì người chiến sĩ cũng phải lên đường làm nhiệm vụ. Không chỉ con người nhớ thương mà đến cảnh vật cũng như có hồn níu lấy chân những người chiến sĩ mà không muốn buông ra. Cảnh chia tay không diễn ra khi bình minh lên mà tác giả chọn khung cảnh buổi chiều sương. Ở núi rừng này thì ban chiều lại đổ sương như khi mới sáng sớm. Cái không gian huyền ảo thực mà như mơ ấy khiến cho buổi chia tay có phần quyến luyến hơn. Giot sương hay giọt nước mắt buồn. Điệp từ “có” như nhấn mạnh vào câu hỏi của người miền tây dành cho những chiến sĩ. Điều đó khẳng đinh tình cảm mà họ dành cho Tây Tiến là rất lớn. Hồn lau cũng như nẻo bến bờ, chiếc thuyền độc mộc cũng tiễn người đi xa. Không những thế dưới dòng nước lũ kia hoa như đong đưa vẫy chào người chiến sĩ. Hoa ở đây tượng trưng ẩn dụ cho người con gái miến Tây xót xa yếu đuối khi phải chia tay những chàng lính Hà Thành. Ta thấy cảnh như có hồn có tâm trạng. Cũng không muốn người chiến sĩ ra đi. Đó chính là nét thơ mộng của cảnh vật nơi đây. Nó mang một màu huyền thoại cổ tích của sương núi rừng. Và có lẽ phải là người yêu thiên nhiên nơi đây lắm thì Quang Dũng mới có thể miêu tả bức tranh có hồn đến thế được.
Cảm nhận về vẻ đẹp thơ mộng của cảnh và người miền Tây trong bài Tây Tiến
1,042
Đề bài: Những cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp tình yêu trong sáng trong bài thơ Tôi yêu em (A.x. Puskin) Bài làm Puskin không chỉ là Mặt trời của nền thi ca Nga ở tư cách công dân mà còn là thi sĩ ca hát về tình yêu. Hầu như tình yêu, tình bạn luôn luôn là những tình cảm chi phối nhà thơ nhiều nhất và là ngọn nguồn trực tiếp nhất của hạnh phúc và đau khổ của cả đời ông. Bài thơ Tôi yêu em của Puskin đã gây một niềm xúc động lớn lao vì đã vươn tới những giá trị tinh thần chung của loài người: những tình cảm chân thành, cao thượng, nhân ái của tình yêu chứa đựng trong những lời giản dị, trong sáng nhất. Nhân vật tôi chưa thân thiết với cô gái đến mức xưng anh. khi xưng tôi, quan hệ tình yêu lại mang một sắc thái trầm tĩnh, tự tin, được bộc lộ qua hai đại từ nhân xưng tôi và em này. Tôi yêu em, một lời bộc lộ chân thành xuất phát từ một trái tim trung thực, báo hiệu một tình yêu thực sự. Tôi yêu em, lời lẽ giản dị mà mang bao nỗi quyến rũ: Tôi yêu em đến nay chừng có thể Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai Lời thơ chậm rãi, tình thơ thâm trầm, kín đáo. Một khẳng định pha chút cân nhắc, dè dặt với những từ có thể, chưa hẳn.Nhân vật trữ tình bày tỏ một tình yêu, một say mê mang dáng vẻ âm thầm, dai dẳng – dấu hiệu của những cảm xúc vững bền, của một trái tim chung thủy. Nhưng không để em bận lòng thêm nữa Hay hồn em phải gạn bóng u hoài Câu thơ toát lên cái điềm tĩnh của lí trí. cái dồn nén của cảm xúc. Lời thơ như một lời nhắc nhủ, một sự tự ý thức về tình yêu của mình và cũng như một lời nói bên trong dịu dàng, trân trọng với hồn em. Nhưng đằng sau những lời điềm tĩnh, đúng mực ấy là bao nỗi niềm, bao sắc thái của tình yêu: có cái chua xót của thân phận vì nếu tình yêu không đem lại hạnh phúc, niềm vui mà chi là nỗi băn khoăn, buồn bã cho người mình yêu thì nên chấm dứt tình yêu đó. Tình yêu có thể chấm dứt vì nhiều lí do, nhưng cái lí do dầy dịu dàng, trân trọng và cao thượng ấy đối với người phụ nữ dễ mấy ai có được. Tôi yêu em âm thầm không hy vọng Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen Nhịp thơ nhanh hơn với những từ lúc, khi, diễn tả những trạng thái tình yêu biến đổi vô cùng, dồn dập. Nhân vật trữ tình bộc lộ thẳng thán tâm hồn mình: một. tình yêu âm thầm, không hi vọng, khẳng định lại nét âm thầm nhấn mạnh không chút hi vọng, như tô đậm thêm nét đặc biệt của mối tình thầm lặng này.Sau lớp ngôn từ bình thản, điềm tĩnh thể hiện qua cách xưng hô, qua vè ngoài lặng lẽ, rụt rè, qua ý thức cố ghìm nén tình cảm, chỉ cho phép nói rằng tình yêu của mình chưa lụi tát chứ không phải là đang bùng cháy mãnh liệt. Nhân vật trữ tình không ngại ngần mà trung thực bày tỏ: Khi hậm hực lòng ghen, nghĩa là tôi cũng chỉ như muôn người khác, cũng bị những tình cảm khổ đau, u ám muôn thuở trong tình yêu vò xé trong tình yêu. Tôi yêu em, yêu chần, thành đằm thắm Cầu em được người tình như tôi đã yêu em. Cảm xúc dồn nén được giải tỏa, tuôn trào. Điệp khúc tôi yêu em dược láy lại lần thứ ba với một lời khẳng định bản chất của mối tình này: chân thành, đằm thắm. Chính là sự chân thành, dằm thắm không bao giờ nhạt phai ấy là cái gốc của tấm lòng cao thượng trong tình yêu này. Và đến cuối bài thơ lại có một lời chúc thiêng liêng, đầy vị tha: tôi cầu mong em có được một người yêu em cùng chân thành đằm thắm như tôi. Đó là tình yêu của một trái tim chân thật, độ lượng nhân hậu dù bị cự tuyệt, con người vẫn có thể có những xử sự cao thượng. Lời cầu mong cuối bài thơ cũng còn là lời nhắn nhủ của một trái tim giàu độ lượng và cao thượng. Tôi yêu em, bài thơ nổi tiếng của Puskin đã diễn tả một tình yêu vô vọng, thấm một sắc điệu buồn, nhưng hơn hết vẫn là sự mãnh liệt và cao thượng của trái tim đang yêu. Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, không có biện pháp tu từ nào ngoài diệp ngữ tôi yêu em. Chất thơ của bài thơ toát, ra từ những xúc cảm chân thành, ghìm nén, từ những lời nói giản dị nhưng đầy thiết tha, tế nhị và mãnh liệt.
Cảm nhận về vẻ đẹp tình yêu trong sáng trong bài thơ Tôi yêu em
850
Cảm nhận về ý nghĩa giáo dục từ câu chuyện “Ngọn gió và cây sồi” Hướng dẫn – thiếu phần phản đề nhỉ:v
Cảm nhận về ý nghĩa giáo dục từ câu chuyện “Ngọn gió và cây sồi”
21
Đề bài: Cảm nhận về đoạn Chí khí anh hùng trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du Bài làm Sập bẫy của Tú Bà, Thúy Kiều phải vào lầu xanh với tâm trạng: “Vui là vui gượng kẻo là, Ai tri âm đó mặn mà với ai?” Tại đây, Kiều gặp Thúc Sinh, người được xem là “tri âm” đối với Kiều. Nhưng vì nhu nhược, Thúc Sinh không giữ được Kiều khiến nàng lại rơi vào yay Bạc Bà, Bạc Hạnh, và phải làm gái lầu xanh lần nữa. Cuộc đời Kiều tưởng như bế tắc hoàn toàn thì Từ Hải bỗng xuất hiện và đưa Kiều thoát khỏi cảnh ô nhục. Hai người sống hạnh phúc “Trai anh hùng gái thuyền quyên – Phỉ quyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng”. Nhưng Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm bên cạnh nàng Kiều tài sắc, chàng muốn có sự nghiệp lớn nên sau nửa năm đã từ biệt Kiều ra đi. Đoạn trích (từ câu 2213 đến câu 22300 bao gồm ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ đối thoại cho thấy chí khí của Từ Hải. Trong “Truyện Kiều”, nếu nhân vật Thúy Kiều được Nguyễn Du xây dựng như một biểu tượng cho cái đẹp tinh túy, lí tưởng của hiện thực cuộc sống thì nhân vật Từ Hải, qua đoạn trích “Chí khí anh hùng”, lại được Nguyễn Du xây dựng như một hình tượng đầy tính chất lãng mạn, chất anh hùng ca. Mở đầu đoạn thơ. Nửa năm hương lửa đương nồng, Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương Trông vời trời bể mênh mang, Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong. Bốn câu thơ là lời của tác giả miêu tả về tâm trạng và hành vi của Từ Hải. Nhà thơ gọi Từ Hải là “trượng phu” – người đàn ông có tài, đáng trọng là đã thể hiện sự yêu quý trân trọng của ông với nhân vật này. Tình yêu và sự nghiệp, cả hai đều có trong con người của Từ Hải. Tình yêu ấy là “nửa năm hương lửa đương nồng”, sự nghiệp ấy là “động lòng bốn phương”. Những ngôn từ ước lệ ấy giúp người đọc nhận ra cả hai thứ tình ấy Từ Hải đều quý. Và chỉ ở bôn câu thơ trên mà xét thì “động lòng bốn phương”, muốn lập công danh sự nghiệp mạnh hơn “hương lửa đương nồng”. Cứ tưởng tượng ra hình ảnh của một tráng sĩ “râu hùm, hàm én, mày ngài” đứng khoanh tay lặng hướng tầm mắt vào cõi xa xăm thì người đọc sẽ hiểu phần nào tâm trạng lúc này của con người: Giang hồ quen thói vẫy vùng Gươm đàn nửa gánh, non sông một chào”. Những hình ảnh ước lệ, thậm xưng, đặc tả, kết hợp với các từ Hán Việt trang trọng, cùng với cách ngắt nhịp cân xứng, mạnh mẽ trong các dòng thơ chứa tầm vóc, tài năng, chí hướng nêu trên như đã khẳng định và in sâu tính cách một nhân vật phi thường với tâm hồn chứa chan lãng mạn ước mơ, tung hoành ngang dọc, muốn đổi thay thời thế nhân sinh… Trong ý nghĩa đó, phải chăng hình ảnh Từ Hải đã thành ước mơ khát vọng trong tâm hồn Nguyễn Du: Ông muốn cứu vớt đời Kiều, một tâm hồn, một vẻ đẹp, một tài năng tiêu biểu cho một tinh hoa của hiện thực cuộc đời? Sau lời của nhà thơ viết về tâm trạng và quyết định của “trượng phu” là lời đối thoại của đôi vợ chồng. Kiều thì muốn hành động theo luân lí đạo Nho truyền thống nên đã tâm sự với Từ Hải: Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng, Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi”. Kiều một lòng xin được theo Từ trên từng bước chàng đi cho tròn luân lí mà Nho giáo đã định ra: Là phận nữ nhi thì “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Ca dao ta cũng có câu: Đi đâu cho thiếp theo cùng Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam Đây là về lí luận. Thật ra có lẽ Kiều xin theo Từ Hải là vì tình, là vì sau bao năm bị vùi dập bởi sóng gió lầu xanh Kiều đã tìm được người bạn tri âm. Nhưng với Từ Hải thì khác. Chàng đã đáp lại: Từ rằng: “Tâm phúc tương tri, Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?” Từ Hải đã có ý trách Kiều, nhưng đó là lời trách đầy yêu thương: Đã là người hiểu biết nhau sâu sắc đến vậy sao cứ giữ mãi nếp suy nghĩ nông cạn của người phụ nữ bình thường! Sau lời trách nhẹ nhàng đầy tình thương yêu ấy, Từ Hải mới giải thích rõ ràng. Từ phải chiêu mộ binh sĩ giỏi, làm những việc xuất chúng. Người đọc có thể suy ra là Từ chiêu mộ tướng giỏi binh hùng để lập nước, trị quốc. Với ông việc như thế thì Bằng nay bốn bể không nhà, Theo càng thêm bận biết là đi đâu? Đấy là một hiện thực trong đời của con nhà lính. Từ đã trình bày cho Kiều hiểu rõ ngọn nguồn. Đó là về lí, mà cái lí ấy Từ nêu ra cũng vì tình. Từ đã khuyên Kiều: Đành lòng chờ đó ít lâu, Chầy chăng là một năm sau vội gì!” Cùng với lời hứa: Làm cho rõ mặt phi thường, Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia. Với lí lẽ và lời hứa rõ ràng ấy chắc Kiều chẳng nói thêm được điều gì. Và dù có nói điều gì chăng nữa thì Từ Hải cũng: Quyết lời dứt áo ra đi, Gió mây bàng đã đến kì dặm khơi. Mạnh dạn, dứt khoát và nhanh nhạy là vì nghĩa cùa hai câu thơ mang hình ảnh ước lệ trên. Đã một lần người đọc biết hành động cao đẹp nhanh gọn dứt khoát không tính toán của Từ Hải khi chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh. Nay cũng với tính cách ấy, Từ Hải hành động không chỉ vì tương lai của chàng mà còn vì cả Thúy Kiều. Trước mắt người đọc, hình ảnh Từ Hải cùng tinh binh phóng ngựa tiến về phía trước để lại đằng sau đám bụi mù thay cho hình ảnh ước lệ chim bằng bay lên cùng gió mây. Đã hơn một lần Nguyễn Du tập trung khác họa chân dung Từ Hải. Một chân dung mà ngoại hình thật khác thường. “Râu hùm, hàm én, mày ngài Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao”. Một chân dung mà tài năng cái thế: “Đường đường một đấng anh hào Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài". Một chân dung mà phong thái thật anh hùng, chí hướng bay bổng ước mơ: “Đội trời, đạp đất ở đời” Và bây giờ với đoạn trích Chí khí anh hùng, một lần nữa càng chứng tỏ tài miêu tả, khắc họa nhân vật của nhà thơ Nguyễn Du. Cũng với các biện pháp ước lệ, nghệ thuật tượng trưng kết hợp với đối thoại quen thuộc của thể văn cổ nhưng khi Nguyễn Du vận dụng vào việc khắc họa nhân vật Từ Hải. Trong đoạn trích trên thì nghệ thuật ấy lại được phối hợp sáng tạo tuyệt hảo để người đọc đâu thể dễ dàng quên ngay được một nhân vật cái thế anh hùng, một tâm hồn mang bao hoài vọng của nhà thơ.
Cảm nhận về đoạn Chí khí anh hùng trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du
1,235
Cảm nhận về đoạn cuối bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu Bài làm: Thời gian chẳng bao giờ chiều lòng người, con người thì nhỏ bé nhưng khát khao lại lớn lao, càng yêu đời, yêu người bao nhiêu thì lại càng thảng thốt khi nhận ra quy luật khắc nghiệt của tạo hóa. Là một nhà thơ mới có cái nhìn tinh tế và trái tim dễ say đắm nhưng cũng bộn bề lo sợ – Xuân Diệu hơn ai hết luôn dằn dặt trước sự trôi chảy của thời gian và tuổi xuân. Có lẽ thế mà nhà thơ luôn sống vội vàng, sống gấp gáp và cũng yêu đắm say. Bài thơ Vội Vàng được xem là châm ngôn sống của Xuân Diệu cũng là tác phẩm thể hiện cái tôi mãnh liệt trong cảm xúc và nhiều khám phá mới mẻ ở hình ảnh thơ. Trong đó khổ thơ cuối bài với tiết tấu nhanh và mạnh như một lời kết luận cho châm ngôn sống vội của ông. Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm, Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi; – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !” Ông hoàng thơ tình Xuân Diệu luôn khao khát sống và sống gấp, sống vội. Nếu ở khổ thơ đầu và khổ thứ hai là tình yêu mãnh liệt cùng với sự nuối tiếc chia lìa thì đoạn thơ cuối bài là lời giải đáp cho câu hỏi: sống vội vàng là như thế nào. Cụm từ “mau đi thôi” như một lời thúc giục khi tác giả nhận ra rằng vẫn còn kịp để yêu thương và sống trọn vẹn với tuổi xuân cho đến phút cuối cùng. Phải rồi! “mùa chưa ngã chiều hôm”, xuân vẫn còn đó, người đang yêu tha thiết thì tại sao phải nghĩ nhiều đến chia lìa để hao hụt niềm vui hiện tại. Vì thế mà Xuân Diệu bừng tỉnh và giọng điệu thơ trở lại sự nồng nhiệt thiết tha. Điệp từ “ta muốn” tạo thành một cấu trúc câu đều đặn, hối hả như thúc giục mọi người hãy yêu quý tuổi trẻ của mình, hãy làm những điều mà chỉ có tuổi trẻ mới làm được và trước hết là say đắm với thiên nhiên, tình yêu của mùa xuân. Thêm vào đó là các động từ chỉ tâm thế: ôm, riết, say, thâu, cắn diễn tả được tình cảm vồ vập và niềm khao khát tận hưởng đến tham lam. Các động từ này có sự tăng tiến rõ rệt trong ước muốn. Ban đầu chỉ là một cái ôm nhẹ nhàng nhưng ôm nào đủ cho sự khát khao, phải riết mạnh thì mới cảm nhận được tình yêu. Khi gần bên, nhà thơ say sưa thâu tóm tất cả vào mình và cuối cùng là hành động mạnh nhất là cắn, như muốn chiếm hữu làm của riêng. Những câu thơ tiếp theo, Xuân Diệu sử dụng điệp từ cho kết hợp với tính từ “no nê, chếnh choáng, đã đầy” để khẳng định tâm thế của một con người lúc nào cũng hòa mình vào thiên nhiên, cuộc sống. Không phải chỉ vừa đủ mà để cuộc đời hóa thân thành tâm hồn, tâm hồn thì chan chứa tình yêu. Sự cộng hưởng của điệp từ “và” tạo nên sự rộng lớn, bao quát như chính vòng tay tham lam muốn ôm trọn tất cả của nhà thơ. Bài thơ khép lại trong sự hóa thân từ cái tôi cá nhân nhỏ bé thành cái ta chung. Nhà thơ đi từ những khát vọng riêng tư vươn lên thành khát vọng muốn được sông đẹp và cống hiến trọn vẹn với vũ trụ, đất trời. “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào người“, câu thơ mới lạ và táo bạo. Cảm xúc được cụ thể hóa bằng hành động cũng là điều hợp lí trong trái tim của nhà thơ đang yêu điên cuồng.
Cảm nhận về đoạn cuối bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu
707
Cảm nhận về đoạn cuối bài thơ ‘Tiếng gà trưa’ của Xuân Quỳnh Hướng dẫn …Nghe tiếng gà trưa, người chiến sĩ bồi hồi, như được sống lại bao kỉ niệm tuổi thơ về người bà tần tảo, đôn hậu, như được mang theo tình hậu phương để ra trận: ‘Tiếng gà trưa Mang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng’ Câu thơ ‘Giấc ngủ hồng sắc trứng’ là một câu thơ hay có hình tượng đẹp và rất biểu cảm. Tiếng gà trưa làm sáng lên trong tâm hồn người chiến sĩ tình yêu xóm làng quê hương, tình yêu Tổ quốc, tình yêu bà và gia đình thân yêu. Tiếng gà trưa làm sáng lên trong trái tim người lính trẻ về lí tưởng chiến đấu cao đẹp với bao niềm tin. Chữ ‘vì’ được điệp lại bôn lần, làm cho cảm xúc và niềm tin trở nên tha thiết, mãnh liệt: ‘Cháu chiến đấu hôm nay, Vì lòng yêu Tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi, cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác 0 trứng hồng tuổi thơ’ Đọc đoạn thơ, ta nhớ đến những cha chú, những anh chị của chúng ta, những Giải phóng quân thời chống Mĩ. Nhớ đến để biết ơn và tự hào.
Cảm nhận về đoạn cuối bài thơ ‘Tiếng gà trưa’ của Xuân Quỳnh
213
Đề bài: Cảm nhận về đoạn Nỗi thương mình trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du Bài làm Đây là đoạn thơ miêu tả tâm trạng đau đớn, ê chề của Thúy Kiều sau khi buộc phải làm kĩ nữ, tiếp khách ở lầu xanh. Khi biết rơi vào nhà chứa, Kiều đã tự tử, nhưng không chết. Nàng định liều chạy trốn theo Sở Khanh nhưng lại bị Sở Khanh lừa, bị Tú Bà bắt lại, đánh đập tàn nhẫn, cuối cùng buộc phải tiếp khách. Kiều là một cô gái đẹp, cho nên nàng phải tiếp khách liên tục, cơ hồ như không dứt ra được. “Biết bao bướm lả ong lơi, Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm. Dập dìu lá gió cành chim, Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh”. Một không khí thật là náo nhiệt, ồn ào nơi chốn lầu xanh. Nhưng đó chỉ là bề ngoài, nó hoàn toàn tương phản với những nỗi lòng tê tái của nhân vật ở bên trong. Nguyễn Du rất biết khai thác các tương phán để miêu tả nỗi lòng, biết phân tích sự khác biệt bề ngoài và bề trong. Phải hiểu nỗi đau đớn trong tâm hồn mới hiểu được phẩm giá của Kiều. Cả đoạn thơ này tác giả không miêu tả cảm xúc của Thúy Kiều trong một thời điểm nào, một buổi nào, một ngày nào, mà miêu tả một tâm trạng triền miên trong chuỗi ngày tiếp khách liên tục Ngày tháng chỉ là một sự chồng chất và kéo dài. Khi cuộc sống trở nên vô nghĩa thì người ta tính ngày tháng cụ thể để mà làm gì? Nỗi thương mình của Kiều hiện lên những lúc vắng vẻ, những khi xong việc nàng tự đối diện với chính mình. Đó là nỗi đau thầm kín đằng sau các hoạt động tiếp khách ồn ào, rộn rã. Ở đây sự miêu tả kết hợp với thuật theo bút pháp tự (kể) tình. Tác giả lần lượt kể và tả những nỗi thương mình. Thứ nhất là nỗi thương thân, xót thân, tiếc thân: “Khi tỉnh rượu, lức tàn canh, Giật mình mình lại thương mình xót. xa. Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường? Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân! Mặc người mưa Sở, mây Tần, Những mình nào biết có xuân là gỉ?” Hai tiếng “giật mình” rất hay, nó nói lên cái thần của con người những lúc ngẫm lại những thay đổi quá lớn của cuộc đời. Ba chữ “mình” trong một câu nói lên sự cùng cực cô đơn: mụ chủ chỉ biết tiền, khách chơi chỉ biết sắc, gia đình ở xa, không ai biết là Kiều bị lừa, chẳng ai biết cho đời một người con gái tan nát! Nổi lên trên hết là sự nuối tiếc một phẩm giá bị chà đạp. Hình ảnh “phong gấm rủ là” nói lên hình ảnh của tấm thân vàng ngọc, được khoác gấm, rủ bức là, tức tấm thần bọc trong nhung lụa, quý báu, thế mà nay như hoa giữa đường, ai qua lại cũng có thể xéo lên tàn nhẫn! Thứ hai là nàng ghê tởm chính bản thân mình: con người khuê các vốn kín đáo, e thẹn, nay đã thành mặt dạn mày dày “dày gió dạn sương”, “bướm chán ong chường”. “Bướm chán ong chường” không phải là nói khách chơi chán chường Kiều, mà nói chính Kiều chán chường bản thân mình, sao mình lại trở thành con ngurời tiếp khách trơ trẽn, vô liêm sỉ như thế được? Từ đây Kiều chỉ sống như một món hàng, một thứ đồ chơi, không sống như một con người nữa. Nhiều sách chép câu “Những mình nào biết có xuân là gì” thành “Riêng mình nào biết có xuân là gì”. Chữ “những” có lẽ đứng hơn, hợp hơn. Đó là “những mình”, như loại mình… bao hàm cái ý chán mình ở trong ấy. Thứ ba là nỗi buồn và bẽ bàng: “Đòi phen gió tựa hoa kề, Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu”. Cảnh tượng nhìn qua quả là rất nên thơ, mà lòng nàng lại ủ dột: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ! Đòi phen nét vẽ câu thơ, Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa”. Cảnh quả là vui thú, tao nhã, phong lưu, nhưng đối với Kiều chi là vui gượng: “Ai tri âm đó, mặn mà với ai?”. Đó chẳng qua là các trò chơi để giết thì giờ không mảy may ý nghĩa. Thứ tư là sự cô đơn, đau đớn một mình, câu này tuy không có trong đoạn trích nhưng rất có ý nghĩa: “Thờ ơ gió trúc mưa mai, Ngẩn ngơ trăm nỗi, dùi mài một thân”. Những nỗi lòng thương thân, xót thân, chán mình, buồn khổ cô đơn, vui gượng gạo như thế đã chứng tỏ mạnh mẽ Kiều là một con người có phẩm giá, không phải người tà dâm, lấy việc tiếp khách làm chuvện vui thú. Có lẽ nói những nỗi lòng tan nát hợp hơn là những nỗi lòng tê tái chăng? Trong nỗi lòng Kiều, nổi lên tình cảm đau đớn vì tha hương lưu lạc và cảm giác thời gian kéo dài nặng nề vô nghĩa. Khi thuật lại nỗi thương mình của Kiều, nhà thơ dùng lời kể với điểm nhìn bên trong của nhân vật. Bốn câu đầu chỉ là miêu tả cảm giác của Kiểu về các sự việc diễn ra với nàng. Những câu còn lại đều có chủ ngữ là “mình", mình tự nhìn mình, mình nghĩ về mình. Thử hỏi lúc này ai có thế suy nghĩ thay cho nàng được? Với điểm nhìn ấy, khi đọc đoạn thơ, ta như trực tiếp đọc được những ý nghĩ thầm kín hết sức đau đớn của bản thân Kiều, chứ không phải nghe lời do ai đó thuật lại. Lẽ dĩ nhiên đó vẫn là lời thuật của Nguyễn Du, nhưng điểm nhìn trần thuật bên trong là của Kiều đã tạo ra hiệu quả đó. Nguyễn Du là nhà thơ rất tinh tế. Để miêu tả những cảnh tầm thường, dung tục nơi lầu xanh, tác giả chỉ gợi qua các biểu tượng với những cụm từ được cấu tạo đặc biệt. – bướm lả ong lơi – lá gió cành chim – bướm chán, ong chường – mưa Sờ, mây Tần – gió tựa, hoa kề Nếu nói ong bướm lả lơi thì có thể chỉ việc xảy ra một lần. Đảo lại thành ra nhiều lần. Bướm chán, ong chường cũng thế. Lá gió cành chim, gió tựa hoa kể đều chỉ các sự trăng gió, nhưng cách nói mới lạ và đa dạng, lại tao nhã. Nguyễn Du không chỉ kể, tả mà còn gợi, tạo cảm giác cho người đọc. Đây là đoạn văn tài hoa, tiêu biểu cho nghệ thuật miêu tả tâm lí của Truyện Kiều.
Cảm nhận về đoạn Nỗi thương mình trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du
1,153
Cảm nhận về đoạn thơ Thề nguyền của Nguyễn Du Hướng dẫn Cảm nhận về đoạn thơ Thề nguyền của Nguyễn Du Trong văn học trung đại xưa, các nhà văn, nhà thơ thường đề cập đến những vấn đề mang tính cộng đồng, xã hội, dùng thơ để nói chí “Thi dĩ ngôn chí”, “văn dĩ tải đạo” mà rất hiếm đề cập đến tình yêu đôi lứa. Tuy nhiên, trong kiệt tác Truyện Kiều của mình, Nguyễn Du không những viết về tình yêu mà còn ca ngợi tình yêu tự do của đôi lứa, tư tưởng này được thể hiện chân thực thông qua đoạn trích Thề nguyền. Thề nguyền là hành động hứa hẹn về tình cảm của đôi lứa, nó có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng bởi nó thể hiện được tình yêu, những cảm xúc tột độ của tình yêu. Thúy Kiều và Kim Trọng gặp gỡ hôm đi chảy hội mùa xuân thì hai người thì tình yêu đã chớm nở, để khẳng định tình yêu ấy hai người đã cùng nhau thề nguyền dưới trăng. Có thể thấy hành động thề nguyền này đã phá vỡ được mọi định kiến của xã hội để chạm tới tình yêu, là tình yêu vượt trên những định kiến của thời đại. “Cửa ngoài vội rủ rèm che Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình. Hành động “xăm xăm băng lối vườn khuya” của nàng Kiều thật táo bạo. Theo luân lí xã hội phong kiến thì hành động này không được phép có ở một người con gái, hành động giữa đêm trốn đến nhà người yêu là không thể chấp nhận. Tuy nhiên, hành động của Kiều cũng thể hiện được tình yêu cũng như sức mạnh của tình yêu có thể vượt qua mọi rào cản, kể cả việc đi ngược lại với những định kiến đương thời. “Nàng rằng: Khoảng vắng đêm trường Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa Bây giờ đỏ mặt đôi ta Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?” “Vì hoa” ở đây tức chỉ Kim Trọng, một con người tài hoa, phong nhã khiến nàng yêu say đắm sau lần gặp đầu tiên, chính tình yêu ấy đã thôi thúc nàng vượt bao nhiêu định kiến để đến gặp mặt, dãi bày. Thúy Kiều ngay từ khi còn sống trong cảnh êm đềm chướng rủ màn che đã luôn có những sự cảm không lành về một tương lai nhiều biến cố, đau khổ. Dù tình yêu đang ở lúc nồng nàn, say đắm nhất thì nàng luôn lo lắng liệu đó có phải giấc chiêm bao, mọi thứ phải chăng rồi sẽ tan biến. Hành động vội vã của nàng như muốn tranh thủ từng phút giây hạnh phúc được ở bên người mình yêu. Trước sự xuất hiện đường đột của Thúy Kiều, Kim Trọng đã hết sức bất ngờ: “Sinh vừa tựa án thiu thiu Dở chiều như tỉnh, dở chiều như mê Tiếng sen, khẽ động giấc hoè Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.” Bước chân của nàng Kiều đã đánh thức giấc mộng của chàng Kim, sự xuất hiện của nàng với vẻ đẹp thanh khiết, rực rõ khiến cho chàng Kim tưởng chừng vừa gặp tiên nữ ở núi Vu Giáp. Chính khung cảnh đêm khuya cùng sự xuất hiện bất ngờ của Thúy Kiều mà Kim Trọng không biết đây là cơn mộng mị hay thực tế đang diễn ra. Khi yêu người ta luôn nhìn cuộc đời bằng con mắt mơ mộng, hình ảnh của người trong lòng xuất hiện xinh đẹp,lộng lẫy ngay trước mặt khiến cho chàng Kim ngỡ ngàng như trong cơn mộng mị cũng là điều có thể hiểu được. Khi xác định được Thúy Kiều đứng trước mặt mình là thật, chàng Kim đã vô cùng vui mừng, hạnh phúc: “Vội vàng làm lễ rước vào Đài sen nối sáp lò đào thêm hương Tiên thề cùng thảo một chương Tóc Mây một món dao vàng chia đôi Vừng trăng vằng vặc giữa trời Đinh ninh hai miệng một lời song song.” Khung cảnh của đêm thề nguyền được tác giả Nguyễn Du khắc họa lên bằng những chi tiết vô cùng sinh động, ấn tượng với đầy đủ cả ánh sáng, màu sắc và hương thơm. Chính nét đặc sắc của không gian đêm thề nguyền đó đã trở thành một kỉ niệm thiêng liêng trong trái tim của hai người Kim, Kiều. Buổi thề nguyền được diễn ra với đầy đủ nghi thức: tiên thề, tóc mây, dao vàng, vầng trăng và lời thề nguyền. Trong buổi thề nguyền ấy, Thúy Kiều đã trao cho Kim Trọng tóc mây, đây không chỉ là nghi thức hẹn ước mà còn thể hiện được tình cảm sâu sắc mà Thúy Kiều trao cho Kim Trọng. “Đêm thâu khắc lâu canh tàn Gió cây trút lá trăng ngân ngậm sương. Vầng trăng cũng như mất mát, đau thương khi bị chia nửa trong đêm Thúy Kiều chia tay Thúc Sinh: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường. Như vậy, có thể thấy ánh trăng đã chứng kiến toàn bộ những biến cố trong cuộc đời Thúy Kiều, từ những giây phút hạnh phúc, nồng nàn khi thề nguyền cùng chàng Kim, cũng là những phút giây đau khổ, chia li sau này. Đoạn trích đã thể hiện đầy cảm động tình yêu sâu nặng của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng, cũng có thể thấy được đây là một trong những khoảnh khắc đẹp nhất trong cuộc đời bạc mệnh của nàng Kiều.
Cảm nhận về đoạn thơ Thề nguyền của Nguyễn Du
927
Cảm nhận về đoạn trích Con chó Bấc của G.Lân-đơn Hướng dẫn Đề bài: Cảm nghĩ của em sau khi đọc Con chó Bấc trích tiểu thuyết Tiếng gọi nơi hoang dã của G.Lân-đơn Bài làm Sự gắn bó đến mức yêu thương quyến luyến giữa con người với con vật và giữa con vật với con người là điều hết sức tự nhiên. Con người quý con vật vì chúng là những vật nuôi có ích, còn con vật thì hiền lành, nhớ bổn phận và biết đền ơn. Song quan hệ chỉ dừng ở đó, ở chỗ con vật nuôi dù quý chủ đến đâu cũng chỉ có tính chất bản năng. Tục ngữ có câu "Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng" thể hiện một phần tính chất bản năng đó. Tiểu thuyết Tiếng gọi nơi hoang dã với trích đoạn Con chó Bấc lần đầu tiên có một cái nhìn mới mẻ hơn, sâu sắc hơn, thấm thìa và cảm động hơn rất nhiều về mối quan hệ vốn giản đơn, quen thuộc ấy. Cái nhìn đậm chất nhân văn, sáng tạo trong cách thể hiện, mang đến cho con người một hạnh phúc nho nhỏ nhưng đáng quý biết bao. 1.Tình cảm của Thoóc-tơn với con chó Bấc là tình cảm yêu thương đậc biệt. Bấc là kẻ thấu hiểu và mang ơn. Trong ý nghĩ thầm kín và sâu xa, nó cảm thấy diễm phúc được gặp con người này, con người không chỉ cứu sống nó mà còn là một người cha. Chỉ là một người cha mới có khả năng chăm sóc "con cái" của mình như vậy, chăm sóc chu đáo, tận tình và không còn giới hạn của sự thương yêu. Vì sao lại như thế, Bấc chỉ còn biết tự trả lời "bởi vì anh không thể nào không chăm sóc. Và anh còn chăm sóc nhiều hơn nữa kia". Ấy là chưa nói cái cách chăm sóc của Thoóc-tơn không giống bất kì ai và hơn bất kì ai, hơn những cậu con trai của ông Thẩm, hơn những đứa cháu nhỏ của ông Thẩm đã đành, còn hơn cả cách đối xử "trịnh trọng và đường hoàng" của chính ông Thẩm nữa. Cái cách mà Thoóc-tơn chuyện trò, những lời mà anh rủ rỉ được gọi là "tầm phào" ấy làm cho cả hai (người nói và kẻ nghe) thích thú. Còn thích thú hơn nữa, ấy là cử chỉ thân ái của anh "túm chặt lấy đầu Bấc rồi dựa đầu anh vào đầu nó". Trong những phút cao hứng này, Bấc còn nghe những tiếng rủa từ miệng anh khe khẽ thốt lên mà nó cho là "những lời nói nựng âu yếm". Hạnh phúc lớn lao mà con Bấc có được từ Thoóc-tơn là không có gì so sánh được, "không có gì vui sướng bằng". Những lúc được "đẩy tới đẩy lui" như thế của Thoóc-tơn, nó tưởng như "quả tim mình nhảy tung ra khỏi cơ thể". Còn lúc buông ra rồi, nó như một đứa trẻ "bật vùng dậy trên hai chân, miệng cười, mắt long lanh". Những âm thanh trong họng Bấc rung lên "không thốt nên lời" làm cho chính Thoóc-tơn không chỉ ngạc nhiên và mừng rỡ: "Trời đất! Đằng ấy hầu như biết nói đấy!". Đó là một đứa trẻ đang học nói, đang muốn nói bằng một thứ ngôn ngữ riêng mà con người vẫn có khả năng hiểu được. Điều kì lạ này không phải lúc nào cũng có thể xảy ra. Tất cả từ tấm lòng của Thoóc-tơn với con vật của mình. Tình yêu ấy, qua cảm nghĩ của Bấc được miêu tả bằng biện pháp song hành: lúc thì cử chỉ, khi thì lời nói, mở ra nhiều bình diện và nâng cấp, mỗi lúc một trìu mến, thương yêu lại tăng lên một bậc, tình nghĩa của Thoóc-tơn thật dồi dào không còn gì là giới hạn nữa. 2.Tình cảm của con Bấc đối với Thoóc-tơn là tình cảm tương ứng với những gì nó nhận được. Đó là thái độ thật sự mang ơn và ý thức đền ơn sâu sắc. Về thái độ chịu ơn, là con vật, Bấc suy nghĩ như một con người. Nó phân biệt được đúng sai và mức độ khác nhau của lòng tốt. Trước lúc gặp Thoóc-tơn, với những cậu con trai ông Thẩm nó chỉ biết đến mối quan hệ "chỉ là chuyện làm ăn cùng hội cùng phường" với những cậu con trai ông Thẩm nó chỉ có trách nhiệm "ra oai hộ vệ". Riêng với ông Thẩm, nó nhận được tình bạn "trịnh trọng và đường hoàng" có nghĩa là vẫn có gì như xa cách, vẫn không có gì nhiều hơn cái "ý thức về nghĩa vụ và vể lợi ích kinh doanh". Chỉ tới khi gặp được Thoóc-tơn, nó mới lạ lùng và choáng ngợp trước một cái gì lớn lao chợt đến. Ấy là tình thương yêu. Câu văn miêu tả tâm trạng của Bấc như một tiếng reo vui: "Tình yêu thương, một tình yêu thương thực sự và nồng nàn lần đầu tiên phát sinh ra bên trong nó". Bấc ngẫm nghĩ để rồi xác nhận một cái gì được khơi lên trong cơ thể, trong tâm hồn từ trước vẫn ngủ yên của nó, một "tình thương yêu sôi nổi, nồng cháy, thương yêu đến tôn thờ, thương yêu đến cuồng nhiệt". Giữa cuộc đời rộng lớn, Bấc đã gặp không ít người, nhưng chỉ với Thoóc-tơn, nó mới nhận ra mái nhà của nó, nó mới thực sự thương yêu. Thái độ của nó là trách nhiệm của kẻ đền ơn, lấy thương yêu đền đáp lại thương yêu (chứ không phải là công lao kéo xe trượt tuyết giúp chủ tìm vàng ở vùng Bắc cực). Và cái cách đền ơn – nghĩa là ngôn ngữ của lòng thương yêu của nó cũng đặc biệt, trước hết vẫn là của một con vật tình nghĩa với con người, biểu lộ tình thương yêu gần giống nhừ làm đau người ta. Bấc thường "há miệng ra cắn lấy bàn tay Thoóc-tơn rồi ép răng xuống mạnh đến nỗi vết răng hàn vào da thịt một lúc lâu". Bởi nó hiểu cử chi cắn vờ ấy là "cử chỉ vuốt ve". Tuy vậy, Bấc cũng là một con vật có bản lĩnh, nó biết tiết chế sự "vuốt ve". Ở điểm này nó khác hẳn với cô ả Xơ-kít có thói quen "thọc cái mũi của nó vào dưới bàn tay" của chủ cho đến khi được vỗ vé, cũng khác với con Ních "thường chồm lên tì cái đầu to tướng của cu cậu lên đầu gối Thoóc-tơn". Không táo tợn mà lặng lẽ, thâm trầm "xem xét" và theo dõi "từng biểu hiện thoáng qua, mọi cử động hoặc đổi thay trên nét mặt" Thoóc-tơn không phải để ngờ vực hay xét đoán vu vơ mà bằng niềm sung sướng thầm thì với đôi mắt "háo hức, tỉnh táo, ngước nhìn lên" thật là mãn nguyện. Chỉ cần thế thôi, thậm chí còn "xa hơn", nó hiểu rằng cái gì sẽ đến. Giác quan đặc biệt từ sợi dây thần kinh mơ hồ mách bảo và nó đón nhận. Chỉ cần sức mạnh của ánh mắt Bấc không lời như thế, Thoóc-tơn sẽ quay đầu sang nhìn lại nó và đôi mắt anh "toả rạng tình cảm tự đáy lòng", còn nó, đôi mắt nó cũng "ngời lên" như thế. Chỉ có điều, hạnh phúc đến với nó vì quá to lớn nên rất đỗi mong manh. Nó sợ đến một lúc nào đó, một ngày nào đó, giấc mơ đẹp đẽ kia chỉ còn là ảo ảnh, sẽ biến mất, sẽ tuột khỏi tầm tay. Thực tế thường phũ phàng, cay đắng. Một con vật như nó nào có giá trị gì, việc thay đổi chủ nuôi như người thay áo, diễn ra luôn "xoành xoạch" như nó đã biết từ khi nó có mặt ở phương Bắc lạnh giá tới nay. Một ám ảnh, một cơn ác mộng vụt đến nếu như số phận của nó như những cuộc gặp gỡ vô duyên trước đó với Pê-rôn, Phư-răng-xoa, hay anh chàng người lai Ê-cốt. Vì thế, bằng cách của nó, theo cách nghĩ của nó, Bấc phải tìm cách đẽ phòng, phải gìn giữ. Cả ban ngày, lẫn ban đêm. Đêm đêm, trong nỗi lo sợ mơ hồ, Bấc thường đang ngủ vùng dậy "trườn qua giá lạnh đến tận mép lều, đứng đấy, lắng nghe tiếng thở đều đều của chủ". Chỉ có tiếng thở bình yên của chủ mới có thể làm cho thần kinh hoảng loạn của Bấc trở về với trạng thái thăng bằng. 3.Về nghệ thuật. Bài văn là trích đoạn của một tiểu thuyết, nó chỉ là một mảnh nhỏ của đời sống hiện thực, một tâm trạng ở vào khoảnh khắc trong mối giao lưu giữa con vật với con người. Tính độc lập và trọn vẹn của đoạn văn chỉ là tương đối. Tuy vậy, ta vẫn nhận ra một tài năng trên nhiều phương diện. Đặc điểm bao trùm về mặt thể loại sáng tác là miêu tả kết hợp với chứng minh. Chứng minh ấy tạo nên cái mạch kết cấu toàn đoạn bắt đầu từ một nhận định mở đầu về tình yêu thương ở một con vật như con Bấc. Cái cách mà con Bấc chịu ơn và tìm cách đền ơn dường như rất dễ chia đoạn cũng bởi phương pháp chứng minh như vừa nói. Nhưng đi sâu vào các chi tiết về ý nghĩ và tâm trạng của con Bấc, ta lại gặp một thiên tài. Ngòi bút miêu tả tâm trạng của con vật thật tinh tế mang nhiều màu sắc trữ tình tạo được ấn tượng sâu xa của lòng cảm mến. Biện pháp tu từ ở trích đoạn trên đây chủ yếu là biện pháp so sánh. So sánh tình cảm ớ những cung bậc khác nhau (ví dụ, giữa Bấc với gia đình Thẩm phán và giữa nó với người chủ mới Thoóc-tơn, so sánh giữa con vật này với con vật khác (so sánh với Xơ-kít, Ních), nhất là so sánh giữa con vật với con người khi Bấc vùng dậy trên hai chân với đôi mắt long lên đầy phấn khích. Trông nó không khác một con người chỉ có điều âm thanh mà nó phát ra chưa thật rõ ràng, rành mạch. Câu văn trong trích đoạn hầu hết là câu văn dài, nhiều vế, tạo nên sự trùng điệp cho cảm nghĩ đa tầng. Dụng ý ấy không ngoài mục tiêu khắc hoạ tính cách một con vât rất gần người – con Bấc. Chẳng hạn "con người này đã cứu sống nó, đó là một lẽ, nhưng hơn thế nữa…". "Những người khác chăm nom chó của họ… còn anh…". "Bấc thấy không có gì vui sướng bằng…". Những câu văn vừa gợi mở vừa trang trọng ấy gần với thơ ca, những vần thơ ca ngợi vẻ đẹp rất đáng ngợi ca. Tinh cảm cao quý geiữa con người với con vật và một hồi âm ít nhất là bằne như thế giữa con vật với con người.
Cảm nhận về đoạn trích Con chó Bấc của G.Lân-đơn=
1,895
Đề bài: Cảm nhận về đoạn trích Lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu Bài làm Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng trên bầu trời văn học trung đại Việt Nam. Các sáng tác của ông đã thể hiện rõ quan điểm nghệ thuật: Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà Đặc biệt vấn đề về đạo đức của con người được nhà thơ quan tâm và thể hiện ở nhiều góc độ. Và Lục Vân Tiên là tác phẩm tiêu biểu cho vấn đề này. Đó là điều cốt lõi, là khát vọng xây dựng mối quan hệ bè bạn giữa người với người. Trong hệ thống nhân vật lí tưởng của tác phẩm, ông Quán là một nhân vật hấp dẫn. Đó là một nhà Nho ở ẩn, thực chất cũng chính là bản thân Đồ Chiểu tự bộc bạch tình cảm của mình trước sự đời. Lục Vân Tiên không phải là tác phẩm đề cao trung, hiếu, tiết, hạnh mà là tác phẩm đề cao nhân nghĩa và phê phán tất cả những cái gì là bất nhân, bất nghĩa. Bao trùm tác phẩm là những tình cảm rất đẹp đẽ, hồn nhiên của những con người biết cứu giúp nhau trong hoạn nạn, yêu thương nhau lúc khó khăn, những con người sống chí tình chi nghĩa. Ngòi bút của nhà thơ bao giờ cùng sôi nổi, tràn đầy yêu thương. Viết Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu như có ý muôn nêu lên những tấm gương về luân lí đạo đức. Mà nói đến đạo đức phong kiến thì đều cơ bản là ái quốc. Trung quân là trung với nước, với lẽ phải, với lương tri con người. Đoạn trích Lẽ ghét thương trong Lục Vân Tiên gồm hai mươi sáu câu thơ lục bát, là lời của ông Quán. Trong lời ông Quán ta thấy rõ tư tưởng trung quân của Nguyễn Đình Chiểu trước hết không phải xuất phát từ vua mà từ dân, từ lợi ích của dân. Nhà thơ thấy chỉ có thể trung với những ông vua tốt, biết chăm lo cho dân, chứ đối với những tên vua xấu, vua ác làm hại dân, gây đau khổ cho dân thì ông lên án gay gắt. Bởi vậy cái ghét, tình thương của ông xuất phát từ một tấm lòng yêu thương sâu xa nồng thắm: Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương Lẽ ghét thương là những lời tâm huyết về nỗi ghét, tình thương nhân bản của Nguyễn Đình Chiểu. Trong đoạn trích nói về lẽ ghét thương có hai sáu mươi câu thơ trong đó có mười câu nói về lẽ ghét, mười sáu câu nói về tình thương, về lẽ thương (dài gần gấp đôi so với lời nói về ghét). Ta thấy căn nguyên, gốc rễ của cái ghét: ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm, những cái tầm phào, những cái đa đoan, những cái dối trá, những cái mê dâm là vì chúng làm dối dân, làm dân nhọc nhằn, dân luống chịu lầm than muôn phần, làm dân đến nỗi sa hầm sẩy hang. Như vậy căn nguyên của cái ghét là bởi vì tình thương sâu sắc đỗi với người dân. Những kẻ có quyền, có ô lọng đã lợi dụng chỗ dựa để lừa gạt, làm hại dân.. Thực ra là những ông vua bạo ngược, những kẻ kéo bè kéo phái gây chiến tranh hại dân… đời Kiệt, Trụ; đời U, Lệ; đời Ngũ Bá, đời Thúc, Quý. Trong số mười câu thơ nói về lẽ ghét thì bốn câu có từ dân nói về nỗi khổ của dân: Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang. Khiển dân luống chịu lầm than muôn phần. Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn. Sớm đâu tối đánh lằng nhằng dối dân. Nỗi ghét được giãi bày sâu đậm, cao độ. Bằng việc sử dụng điệp từ ghét trong câu thơ tám tiếng: Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm. Đã diễn tả thái độ căm thù, khinh bỉ cực sâu. Đặc biệt nghệ thuật tăng cấp: cay – đắng – vào tận tâm tả cụ thể màu sắc, mùi vị và độ sâu tăng dần của cái ghét: Từ cái ghét có vị cay, sang cái ghét có vị đắng, đến cái ghét có độ sâu của lòng người: ghét vào tận tâm. Như vậy, nhà thơ đã vận dụng quy luật chuyển đổi cảm giác: Từ vị giác (cay – đắng kết hợp với từ ghét tạo nên một thứ cảm xúc đặc biệt: ghét cay, ghét đắng, đến ghét vào tận tâm. Với cách diễn đạt tăng cấp này, Nguyễn Đình Chiểu cho thấy cái ghét của ông Quán chính là lòng căm cao độ, sâu cay. Ông căm thù tất cả những kẻ làm tổn hại đến cuộc sống, hạnh phúc của nhân dân. Chính điều này đã thể hiện rõ tính nhân dân sâu sắc của thơ Đồ Chiểu). Từ lẽ ghét, ông Quán bộc lộ tình thương bao la. Lời tự bạch của ông qua mười sáu câu thơ đã tỏ rõ thái độ kính yêu, trân trọng và tấm lòng cảm thương sâu sắc với những bậc hiền tài, đức hạnh, những người làm việc giúp dân. Mở đầu là ông nói tình thương của mình đối với Khổng Tử vất vả, gian lao trong công việc truyền đạo Nho: Thương là thương đức thánh nhân Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuông. Sau đó ông bộc lộ tình thương với thầy Nhan Tử, với Gia Cát, Đổng Tử, Nguyên Lượng, Hàn Dũ, Liêm, Lạc. Đó là những hiền nhân, quân tử, kiểu mẫu của đạo Nho, muốn hành đạo giúp vua cứu đời, cứu dân nhưng rút cục là gặp bất hạnh hoặc chết yểu, hoặc không được vua tin dùng… mơ ước và nguyện vọng hành đạo, cứu đời, cứu dân của họ không thành. Như vậy tình thương của ông Quán với những bậc quân tử cuối cùng cũng bởi tình thương dân, vì thương dân mà thương những người bị thất bại trong việc cứu giúp dân. Nếu đoạn thơ mười câu nói về lẽ ghét của ông Quán thì ở đoạn thơ mười sáu câu ông Quán lại bộc lộ lòng thương yêu trực tiếp đối với những người có tài caochí lớn, muốn cứu đời, giúp dân… mà gặp rủi ro bất trắc nên nguyện vọng cứu đời, cứu dân không thực hiện được trọn vẹn. Đoạn thơ mười sáu câu đã thể hiện rõ tính chất bác ái, nhân bản bao la, vẫn là nghệ thuật điệp từ thương lặp lại 9 lần với những cặp câu đối xứng hài hòa. Đặc biệt, mở đầu đoạn thơ nhà thơ dùng hai từ thương: Thương là thương đức thánh nhân.. Từ thương lặp lại nhiều lần đã biểu hiện niềm yêu thương tha thiết của ông Quán đối với Khổng Tử khi gặp gian nan, vất vả trên đường hành đạo. Lòng thương của ông Quán rộng lớn bao la, thương cả những người chết yểu khi công danh còn dang dở: Thương thầy Nhan Tử dở dang Ba mựơi mốt tuổi tách đàng công danh. Thương cả những người không gặp may trên đường đời: Thương ông Gia Cát tài lành Gặp cơn Hán mạt đã đành phui pha. Và cả những người bị oan khiên bị giáng chức, ngồi tù: Đổng Tử, Nguyên Lượng… Từ tình thương những người cụ thể, ông Quán bộc lộ tình thương đến số phận cay đắng của con người trước những quy luật khắc nghiệt của tạo hóa và xã hội. Đó cũng chính là tình cảm gắn bó máu thịt với nhân dân mà cốt lõi là mong cho dân tộc được hạnh phúc, bình an. Đoạn trích có bố cục chặt chẽ, mạch lạc và lô-gích. Có câu mở đầu nói về nỗi ghét: Quán rằng: Ghét việc tầm phào Ghét cay, ghét dắng, ghét vào tận tâm. Đối lập lại là nhừng câu nói về tình thương và cũng có câu mở đầu: Thương là thương đức thánh nhân Kết cho cả hai đoạn là câu nói về cả ghét – thương: Xem qua kinh sử mấy lần Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương. Những điệp từ ghét – thương trong các ý nhỏ vừa tách biệt, vừa liên kết các ý đã làm cho đoạn thơ liền mạch, chặt chẽ… tạo nên giọng thơ vừa trang nghiêm, vừa thống thiết xót xa. Thông qua lời ông Quán, Nguyền Đình Chiểu đã giãi bày tâm huyết của mình về lẽ ghét, tình thương với con người. Lời giãi bày đó thể hiện được quan điểm đạo đức yêu – ghét trước cuộc đời mà xuất phát của tình cảm đó là bởi vì cuộc sống của nhân dân. Bởi vậy có thế khẳng định tư tưởng cốt lõi của đoạn trích là ở tấm lòng yêu thương nhân dân sâu sắc, tha thiết của nhà thơ.
Cảm nhận về đoạn trích Lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu
1,486
Cảm nhận về đoạn trích Nước Đại Việt ta trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Hướng dẫn Cuộc kháng chiến chống xâm lược Minh do Lê Lợi lãnh đạo giành thắng lợi. Sau khi đuổi giặc ra khỏi bờ cõi, vâng mệnh Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết văn bản Bình Ngô đại cáo để công bốtrước dân chúng về sự nghiệp dẹp yên giặc Ngô đã hoàn thành. Bài cáo được ban bốvào đầu năm 1428, đây cũng là thời gian Lê Lợi lên ngôi vua lập ra nhà Lê. Bình Ngô đại cáo được xem như một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc ta, bài cáo ca ngợi tinh thần độc lập tự cường, lòng tự hào dân tộc trước thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược phương Bắc. Đoạn trích “Nước Đại Việt ta” nằm ở phần đầu của tác phẩm “Bình Ngô đại cáo”. Trong phần này, Nguyễn Trãi đã nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, đồng thời ca ngợi nền văn hiến lâu đời của dân tộc ta. Coi nhân nghĩa là cốt cách vàlà mục tiêu của dân tộc: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Yên dân, điếuphạt, trừ bạo là cốt lõi của tư tưởng nhân nghĩa, tất cả đều vì con người và cho con người, vì nhân dân đang bị áp bức lầm than. Thương dân, trừng phạt kẻ có tội (điếu phạt), tiêu diệt kẻ tham tàn, cứu nhân dân thoát khỏi đau thương, đem lại cuộc sống yên vui hạnh phúc cho nhân dân… đó chính là nhân nghĩa. Nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi nói đến là một tư tưởng vô cùng cao đẹp: đánh giặc để cứu nước cứu dân, vì độc lập đất nước, vì tự do của nhân dân. Việc nhân nghĩa bao giờ cũng chính nghĩa. Nhân nghĩa là sức mạnh để dân tộc ta chiến thắng quân xâm lược, đó là tư tưởng: Lấy chí nhân để thay cường bạo. Nhân dân ta đã lấy nhân nghĩa để xây dựng và phát triển nền văn hiến lâu đời. Đó là nền văn hiến đã trải qua các triều đại và được khẳng định một cách chắc chắn ngang tầm với phong kiến Trung Hoa: Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương, Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có. Tác giả đã dẫn chứng nhiều chi tiết để khẳng định nước ta cũng là một thực thể độc lập và ngang hàng với phong kiến phương Bắc. Đó là có nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ đã được chia, có thuần phong mĩ tục, có nền độc lập trải qua các triều đại, có nhân tài hào kiệt. Những yếu tốđó đã góp phần làm nên tầm vóc Đại Việt, đồng thời là sức mạnh của dân tộc để đương đầu thắng lợi trước những cuộc xâm lược của một thế lực hùng mạnh. Tác giả nhắc lại những chiến tích trong lịch sử để cảnh báo quân thù, đồng thời khẳng định sức mạnh và truyền thông bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta: Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong, Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã. Việc xưa xem xét Chứng cớ còn ghi. Giọng văn trong bài cáo hùng hồn, đĩnh đạc; lí lẽ sắc bén; cách diễn đạt sóng đôi, cân xứng của lối văn biến ngẫu đã khẳng định và ca ngợi tầm vóc lớn lao của Đại Việt, biểu hiện một ý chí tự cường cao độ. Phần đầu của văn bản đã góp phần thể hiện giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bản tuyên ngôn độc lập, áng thiên cổ hùng văn của dân tộc.
Cảm nhận về đoạn trích Nước Đại Việt ta trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.
664
Đề bài: Cảm nhận về đoạn trích trong bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh Bài làm Tình yêu đồng hành với nỗi nhớ và sự mong chờ, ngóng đợi. Yêu cuồng điên và nhớ thì cháy bỏng. Ta bắt gặp cảm xúc đó trong thơ Xuân Quỳnh – Một nữ hoàng của thơ tình yêu thế kỉ XX. Nỗi nhớ cứ duềnh lên, tầng tầng, lớp lớp qua đoạn thơ: Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhờ bờ Ngày đên không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Cảm nhận về đoạn trích trong bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh Giản dị thôi, đơn sơ thôi! Nhưng dường như đó lại là đoạn xuất thần của ngòi bút Xuân Quỳnh.Trong bài thơ, tác giả hiện ra như một người phụ nữ đang trầm ngâm suy cảm trước từng con sóng biển. Lần này, đối diện với đại dương, Xuân Quỳnh mới khám phá ra một điều giản dị mà cũng là chân lý sâu xa: biển gồm cả những con sóng nổi lẫn những con sóng chìm. Biển mang hai thứ sóng ấy trong lòng mà biển chẳng bao giờ nguôi yên. Thì ra đại dương là cả một tâm trạng lớn. Đại dương đang bị những khái khao, những mong nhớ dày vò đến cồn cào. Ở đoạn trên, băn khoăn tìm hiểu về nguồn gốc bí ẩn của sóng, thi sĩ thấy bất lực. Nhưng ở đoạn này, xem ra Xuân Quỳnh đã thấy một sự lý giải không ngờ: sóng bắt đầu từ nỗi nhớ: Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đên không ngủ được Sóng mang trong mình nỗi nhớ và sóng chính là nỗi nhớ. Tuy nhiên, điều thú vị là ở chỗ: đã là sóng thì bao giờ cũng thức. Sóng không ngủ. Bởi sóng ngủ thì sóng cũng không tồn tại. Vì lý do này mà người ta đã thấy sóng là nhịp đập của biển, là trái tim của biển, là sự sống của biển. Đối với Xuân Quỳnh, chì vì sóng nhớ bờ da diết mà sóng không ngủ được. Từ đó, thi sĩ liên tưởng đến trái tim người phụ nữ khi yêu. Và, thật bất ngờ, thi sĩ khám phá ra chính mình: Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Có lẽ thế, nếu sóng là sự sống của biển thì nhớ là sự sống của tình yêu. Nỗi nhớ đồng nghĩa với tình yêu. Một tâm hồn ngừng nhớ là dấu hiệu chắc chắn để khẳng định một trái tim đã ngừng yêu, một mối tình đã tắt. Sóng thức trong lòng biển đã cồn cào, sóng thức trong lòng em còn muôn vạn lần cồn cào hơn. Sóng chỉ nhớ bờ trong cõi này “Ngày đêm không ngủ được”. Người phụ nữ khi yêu là hiến dâng toàn tâm, toàn ý, toàn hồn. Cho nên ngay đến “Cả trong mơ còn Câu thơ cũng tựa như một con sóng đi xuyên qua cả hai cõi Thực và Mơ. Giới hạn của sóng là cõi thực. Còn người phụ nữ khi yêu thì nỗi nhớ đã trộn cả Thực và Mơ. Nếu còn một cõi nào khác nữa thì người phụ nữ ấy sẽ dành chọn cho tình yêu. Cả cuộc đời là nỗi trăn trở lớn! Đã không ngủ trong cõi thực lại thao thức cả trong cõi mộng để nâng niu, chắt chiu từng khoảng khắc hạnh phúc. Ngỡ như chỉ cần chợp mắt trong giây lát thế là một khoảng khắc đã trôi qua uổng phí, không kịp tận hưởng. Chẳng phải khi yêu, người ta cũng thường phấp phỏng, lo âu vì nỗi sợ mất nhau? Cơ hồ chì cần chợp mắt một chút thôi, thì e rằng, vì một lý do nào đó, người mình yêu bỗng nhiên tan biến. Cái hạnh phúc mình đang cầm nắm sẽ tuột khỏi lòng tay! “Cả trong mơ còn thức”, lời thơ thật phi lý mà khát khao thật cảm động. Muốn vào cả trong giấc mơ, đó không chỉ là khao khát của tình yêu, với Xuân Quỳnh đó còn là khao khát của tình mẫu tử, ở một bài khác, viết cho con, chị cũng bộc lộ ham muốn này, nếu không được thì đó là một đau khổ lớn: Con thức ban ngày mẹ chở che con Đêm còn mơ mẹ làm sao che chở Trong giấc mơ chỉ mình con bé nhỏ Chỉ mình con chống chọi với quân thù “Cả trong mơ còn thức” sự phi lý đã chứa đựng một chân lý. Chỉ có ai biết trân trọng tình yêu, biết yêu chân thành mãnh liệt mới có thể chia xẻ được điều đó. Tình yêu thứ tình cảm rất xưa mà không cũ. Mỗi đôi lứa đang yêu có một cách khám phá khác nhau về tình yêu. Suốt đời yêu, khát được yêu Xuân Quỳnh luôn trăn trở để đến được với một tình yêu đích thực, nồng nàn, chân thật và nâng niu, gìn giữ nó. Chị đã truyền đến cho những người đang yêu ở mọi thế hệ khát khao đó. Bởi thế mỗi người đều tìm thấy mình trong thơ Xuân Quỳnh và đồng cảm sâu sắc với chị.
Cảm nhận về đoạn trích trong bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh
871
Cảm nhận về đoạn trích “Thư dụ Vương Thông lần nữa” trong Quân Trung từ mệnh tập Hướng dẫn Cảm nhận về đoạn trích “Thư dụ Vương Thông lần nữa” trong Quân Trung từ mệnh tập Nguyễn Trãi vừa là nhà thơ vừa là nhà quân sự lỗi lạc cho vua Lê lợi. Thơ văn của ông thể hiện tình yêu thiên nhiên, cuộc sống và con người. Nguyễn Trãi tuy không trực tiếp ra trận nhưng ông đã dùng ngòi bút của mình để giúp vua. Ông có nhiều tác phẩm nổi tiếng nhưng tiêu biểu nhất là tác phẩm Quân trung từ mệnh tập có đoạn trích Thư dụ Vương Thông lần nữa thể hiện tài năng quân sự giỏi giang của Nguyễn Trãi. Đoạn trích thể hiện rõ khát vọng hòa bình và ý chí quyết thắng giặc ngoại xâm của nhân dân ta. Thư dụ Vương Thông lần nữa là lá thư số 35 trong Quân Trung từ mệnh tập. Chính lá thư này làm cho Nguyễn Trãi có được nguyện vọng “ta không đánh mà vẫn tan”. Về sau thư gửi của Nguyễn Trãi được vua gọi là biểu và tấu là ban công việc chiến, việc hòa bình mang đậm tính chất chính luận. Bức thư này được viết khi địch đang bị ta bao vây ở thành Đông Quan rất khốn đốn. Bức thư viết nhằm dụ địch ra đầu hàng và rút quân về nước “Các ông là những người xét rõ sự cơ, hiểu sâu thời thế, vậy nên chém đầu Phương Chính, Mã Kì đem đến cửa quân dâng nộp. Như vậy, trong thành sẽ tránh được nạn cá thịt, trong nước sẽ khỏi vạ đau thương, hoà hiếu lại thông, can qua xếp bỏ”. Sau đó Nguyễn Trãi nói rõ hơn thế nhà Minh ở Trung Quốc, Đông Quan và chỉ ra sáu nguyên nhân bại vong của giặc. Thế nhà Minh ở Trung Quốc có ba điều rất bất lợi đó là:: “Chính sách hà khất tất dẫn đến diệt vong. Phía Bắc có giặc Thiên Nguyên đe dọa. Trong nước có nội loạn ở Tầm Châu”.Khi nói đến những điều bất lợi đó Nguyễn Trãi cũng nhằm nêu lên tình hình rối ren của quân địch lúc bấy giờ. Rồi sau đó ông lại nói cái khốn khó của quân minh ở thành Đông Quan, chúng mệt mỏi rệu rã lương không có ăn, tinh thần chiến đấu giảm xuống. Khi đó quân ta chưa cần giết thì chúng cũng tự giết nhau rồi. Từ lúc bức thư được gửi đi đến sáu tháng sau thì quân do Liễu Thăng chỉ hauy vào Lạng Sơn, Mộc Thanh chỉ huy năm vạn quân vào Lào Cai và đều thất bại thê thảm. Từ đây ta thấy được tài nhìn xa trông rộng và ý chí lãnh đạo đúng đắn của Nguyễn Trãi. Như vậy qua thư dụ ta thấy được Nguyễn Trãi là mảng văn chương chính luận. Ông không những là nhà thơ văn yêu thiên nhiên cuộc sống và con người mà ông còn rất giỏi đề ra chiến lược chiến công khiến kẻ thù khiếp sợ. Nguyễn Trãi sử dụng ngòi bút của mình như một loại vũ khí đặc biệt để đánh bại kẻ thù.
Cảm nhận về đoạn trích “Thư dụ Vương Thông lần nữa” trong Quân Trung từ mệnh tập
543
Cảm nhận về đoạn đầu của bài thơ Khóc Dương khuê của Nguyễn Khuyến Hướng dẫn Cảm nhận về đoạn đầu của bài thơ Khóc Dương khuê của Nguyễn Khuyến Nguyến Khuyến là một nhà thơ lớn của nền dân tộc Việt Nam. Ông có nhiều bài thơ hay đã lại cho đời sau,bài thơ Khóc Dương Khuê được xếp vào hàng một trong những tác phẩm xuất sắc nhất viết về tình bạn. Bài thơ viết về nỗi đau khôn nguôi của tác giả sau khi bạn mình qua đời. Mở đầu cho bài thơ Nguyễn Khuyến mở đầu bằng câu thơ: “Bác Dương thôi đã thôi rồi Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” Khi nghe tin bạn thân của mình mất quá đột ngột khiến cho nhà thơ vô cùng bàng hoàng và chua xót không tin nổi vào mắt mình.qua cách xưng hô bằn bác Dương thì chúng ta đã đoán ra được đây là cách xưng hô của tuổi già với nhau,khi Dương Khuê mất thì Nguyễn Khuyến đã gần 70 tuổi. Đây là một cách nói giảm nói tránh,nhà thơ không nói trực tiếp nhưng câu thơ “thôi đã thôi rồi” thể hiện sự tiếc nuối và bất lực trước sự thực đau đớn của bạn mình. Mất bạn thân Nguyễn Khuyến cảm thấy dường như không gian rộng dài “nước mây man mác”. Sau giây phút bang hoàng thì nhà thơ đã có phần trấn tĩnh trở lại rồi hồi tưởng lại những kỉ niệm khi hai người còn kề bên nhau đó là thời đi học,đi thi,đỗ đạy…và nhà thơ cho đó như là duyên trời định sẵn rồi Kính yêu từ trước đến sau Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước Trong khi gặp gỡ, khác đâu duyên trời.” Bằng sự hồi tưởng này tác giả đã giúp cho người đọc có thể hình dung ra được đây là đôi bạn thân gắn bó keo sơn đã lâu năm lắm rồi cho tới lúc lâm hàn. Những kỉ niệm được tác giả trình bày theo trình tự thời gian tạo cho người đọc có cảm nhận sâu sắc về mối quan hệ này bền vững tới chừng nào. Trong tình bạn ấy xen lẫn sư kính trọng yêu mến trước sau đều như một vậy. Qua đoan đầu của bài thơ chúng ta đã thấy được sự tiếc nuối khi bạn mình ra đi,đó là một nỗi buồn và sự mất mát lớn đến nhường nào người đọc cũng có thể hình dung rất rõ ràng từng câu từng chữ trong tác phẩm Câu từ trong thơ của Nguyễn khuyến thật sự rất bình dị và mộc mạc đến chân thành với những lời thân mật như “tôi với bác” rồi “vẫn sớm hôm” Có thể khẳng định được rằng thơ Việt Nam có rất nhiều bài hay và sâu lắng thể hiện tình cảm chân thành đẹp đẽ nhưng cho tới nay thì chưa có bài nào nói về tình bạn đẹp chân thành và đáng trân trọng như bài khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến.Cái hay trong đoạn này đó là diễn tả ngôn ngữ dản dị tự nhiên,một nghệ thuật diễn đạt có thể nói là đạt tới đỉnh cao của thơ văn văn học Việt Nam. Lời thơ đầy tính dân tộc hồn hậu và nồng thắm làm cho người đọc bâng khuâng và da diết như được nhìn thấy mình trong đấy Nguồn: Bài văn hay
Cảm nhận về đoạn đầu của bài thơ Khóc Dương khuê của Nguyễn Khuyến
567
Đề bài: Cảm nhận về đất nước và nghệ thuật thể hiện của tác giả trong trích đoạn thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm Bài làm Đất nước là đề tài, nguồn cảm hứng bất tận của thơ văn. Mỗi nhà thơ, nhà văn cảm nhận và thể hiện về chủ đề đất nước một cách khác nhau tạo thành một mạch thơ đa dạng và phong phú. Trong nền thơ ca hiện đại của dân tộc, mỗi bài thơ viết về đất nước đều có một bản sắc riêng, mang một phong cách riêng của tác giả. Nguyễn Khoa Điềm trong đoạn trích “Đất nước” của trường ca Mặt đường khát vọng thể hiện sự cảm nhận đất nước một cách toàn vẹn trong cái nhìn tổng hợp theo chiều dài lịch sử, văn hóa, cũng như cuộc sống đời thường gần gũi, thân thiết hằng ngày. Đoạn thơ vừa giàu chất chất trữ tình vừa giàu chất suy tưởng với một giọng thơ vừa tha thiết vừa trang nghiêm, trầm lắng với những tìm tòi, khám phá mới lạ tiêu biểu cho bản sắc riêng của tác giả. Cảm nhận về đất nước và nghệ thuật thể hiện của tác giả trong đoạn thơ Đất Nước Trong đoạn trích này, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện những xúc cảm và suy tưởng về đất nước dưới dạng kể lể, trò chuyện tâm tình có vẻ phóng túng theo nguồn cảm xúc tuôn trào dưới ngọn bút nhưng thật ra đất nước đã được nhà thơ cảm nhận một cách thống nhất, tập trung trên nhiều bình diện. Tác giả cảm nhận và suy tưởng về đất nước theo chiều dài thời gian lịch sử – từ quá khứ đến hiện tại và hướng về tương lai. Đất nước hình thành từ xa xưa một quá trình suốt bốn ngàn năm lịch sử, trường tồn trong đời sống nhân dân, trong những sinh hoạt, những hình ảnh gần gũi của đời sống nhân dân: Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi. Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa ” của mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Nghĩ suy về lịch sử đất nước, tác giả không điểm lại các triều đại, các tên tuổi vua quan anh hùng mà coi trọng, nhấn mạnh vai trò công lao của những con người vô danh nhưng họ đã đóng góp biết bao công sức xây dựng và giữ gìn đất nước: Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ Nhưng em biết không Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và đã chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước Tác giả khẳng định nhân dân ta làm ra đất nước không chỉ giữ nước mà còn sáng tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần: Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó… Đất nước cũng còn là một không gian cụ thể, nơi sinh tồn của cả một cộng đồng dân tộc. Không gian, lãnh thổ ấy được tạo lập từ buổi sơ khai với những truyền thuyết về nguồn gốc tổ tiên: Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nơi chim về Nước là nơi rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng Đất nước còn là cái không gian gần gũi, hình ảnh quen thuộc, thiết tha trong cuộc sống hằng ngày của mỗi người chúng ta, rất bình dị và xiết bao trữ tình: Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Tư tưởng xuyên suốt đoạn thơ, bao trùm toàn đoạn là tư tưởng “Đất nước của nhân dân”, chính quan niệm này, tư tưởng này đã chi phối, gợi mở nguồn cảm hứng và giúp nhà thơ sáng tạo hơn những hình tượng thơ mang đậm chất liệu của văn học dân gian. Tư tưởng "Đất nước của nhân dân ” được biểu hiện bằng những hình ảnh, những chi tiết cụ thể. Mỗi hình tượng đều gợi nhớ những truyền thống của dân tộc, những sinh hoạt của nhân dân đậm đà tình nghĩa, đầy chất thơ: Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất tổ Hùng Vương Mỗi địa danh trên đất nước đều gắn với những tên tuổi nôm na, bình dị của nhân dân: Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, bờ bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao nước, một lối sống ông cha Tư tưởng ‘‘Đất nước nhân dân” còn là biểu hiện bằng những nhận thức khái quát sâu sắc: Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên, Đất Nước muôn đời Đi vào chiều sâu, bề dày của văn học dân gian, tác giả khám phá những vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của nhân dân – chính là những yếu tố làm nên cái hồn của đất nước. Những nét nổi bật của tâm hồn, tính cách dân tộc đó là những tâm hồn say đắm trong tình yêu, nhân hậu, nghĩa tình: Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi". Tâm hồn nhân dân thật nhân hậu nghĩa tình nhưng khi cần phải đối phó với kẻ thù thì tính cách lại vô cùng quyết liệt: Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm Có nội thù thì vùng lên đánh bại Để Đất Nước này là Đất Nước nhân dân Những cảm nhận và suy tưởng về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm được tác giả diễn tả bằng một hình thức thể hiện đặc sắc vừa quen thuộc vừa cách tân. Câu thơ với tiếng dài, ngắn linh hoạt tạo một nhịp điệu phóng khoáng cùng với giọng kể tâm tình góp phần biểu hiện mạch cảm xúc tuôn chảy dạt dào khá tự do. Giọng thơ có nhiều chỗ trầm bổng, sâu lắng, thiết tha, âm vang càng lúc càng thấm sâu vào tâm hồn người đọc như những cơn mưa ngâu rất nhẹ nhàng càng lúc càng thấm sâu vào lòng đất: Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi… Sự thay đổi kiểu câu, biến đổi giọng điệu linh hoạt làm tăng sức mạnh biểu hiện vừa trữ tình vừa giàu chất chính luận, khái quát, trí tuệ. Đoạn thơ rất giàu hình ảnh, vừa giản dị, gần gũi vừa có sức gợi cảm phong phú, gợi trí tưởng người đọc liên tưởng đến những hình tượng trong ca dao, truyện cổ, dân ca… Chỉ một câu thơ “Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm ” cũng đã gợi lên mấy câu ca dao ngọt ngào, đằm thắm biết bao: Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt trên vai Tóm lại đoạn trích Đất Nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã chứa đựng một nội dung sâu sắc: tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”. Nội dung tư tưởng này được thể hiện trong một hình thức nghệ thuật sinh động, thấm sâu vào từng hình ảnh, từng chi tiết, từng lời thơ. Cùng với các tác giả khác cùng thời, Nguyễn Khoa Điềm đã đóng góp một cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ mới lạ về chủ đề Đất Nước.
Cảm nhận về đất nước và nghệ thuật thể hiện của tác giả trong trích đoạn thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm
1,423
Đề bài: Cảm nhận về “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” của Hạ Tri Chương Bài làm Nhà thơ Hạ Trị Chương là một nhà thơ lập nghiệp xa quê từ kh còn nhỏ nên trong lòng ông nỗi nhớ quê hương luôn thường trực trong tim mình. Bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi về quê” là một cảm xúc chân thực, đầy nghẹn ngào của tác giả khi trở về thăm quê hương khi tuổi đã già nhìn thấy quê hương thay đổi mỗi ngày, lòng càng da diết Bài thơ là niềm cảm xúc trào dâng của một người con xa quê nhưng lúc nào cũng đầy vơi thương nhớ.. Nỗi nhớ nhà da diết luôn chất chứa trong trái tim người lữ khách. Nó chính là tiếng lòng thổn thức của tác giả khi đặt chân về lại nơi xưa nơi chôn rau cắt rốn của mình khi bóng chiều xế bóng. Trong những câu thơ đầu tiên người đọc cảm nhận được sự mênh mông của không gian, sự dài đằng đẵng của thời gian, thể hiện quãng thời gian xa quê của tác giả Hạ Trị Chương là vô cùng lớn. Cuộc sống vất vả, vật lộn nơi xa khiến cho con người ta luôn muốn quay trở lại nơi bình yên, thân thuộc của mình. Những năm tháng lập nghiệp nơi đất khách quê người nhưng lòng tác giả luôn hướng về quê hương của mình với những người bạn thủa còn để chỏm. (Khi đi trẻ, lúc về nhà) Một câu thơ thể hiện sự đối lập giữa ra đi và trở về, giữa già và trẻ thể hiện sự thay đổi của thời gian là vô cùng nhiều, thể hiện quãng thời gian dài xa cách của tác giả với quê hương của mình. Trong một câu thơ những tác giả đã sử dụng những từ ngữ đối nghịch đầy xót xa, thể hiện sự nuối tiếc của con người khi dòng thời gian trôi đi không chờ đợi một ai. Thời gian là thứ mà khi đã trôi đi không bao giờ có thể lấy lại được nó là một trong ba thứ quý giá và quan trọng nhất với cuộc đời một con người. Câu thơ chính là sự chua xót, ai oán, xót xa của tác giả trước những sự thật không thể thay đổi của đời người. Thể hiện tâm trạng nuối tiếc quá khứ, những thứ đã đi qua, tuột mất khỏi tay tác giả. Hương âm vô cải, mấn tao tồi (Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao) Trong câu thơ này tác giả thể hiện sự khẳng định của mình về những thứ không thay đổi trong tim tác giả. Tiếng nói, thói quen của quê hương vẫn ăn sâu bám rễ trong lòng tác giả, không hề thay đổi. Câu thơ thể hiện sự chua chát, xót xa tới nao lòng của tác giả khi về thăm quê, nhìn thấy quê hương thân yêu của mình, thấy những đứa trẻ ngây thơ buột miệng hỏi mình là khách nơi nào tới. Tiểu vấn: Khách tòng hà hà xứ lai (Trẻ con nhìn lạ không chào Hỏi rằng khách ở chốn nào tới chơi?) Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của tác giả Hạ Trị Chương thể hiện tiếng lòng tha thiết nhớ thương của tác giả khi về thăm lại mảnh đất quê hương nơi gắn bó những kỷ niệm thời thơ bé. Bài thơ là sự rung động mãnh liệt của tác giả trước những đổi thay của cuộc đời của quê hương, sau những năm dài xa cách.
Cảm nhận về “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” của Hạ Tri Chương
593
Cảm nhận vềnhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam. Hướng dẫn Cảm nhận vềnhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam. Nguyễn Tuân viết: “Nói đến Thạch Lam người ta vẫn nhớ đến truyện ngắn nhiều hơn là truyện dài”. Và truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là một trong những sáng tác truyện ngắn của Thạch Lam, mặc dù truyện không có cốt truyện nhưng vẫn để lại những dư vị sâu sắc trong lòng người đọc. Và đặc biệt, độc giả không thể nào quên được nhân vật Liên, một cô gái dịu dàng, đảm đang, tâm hồn lúc nào cũng đầy mộng mơ, mong ước về một tương lai tươi sáng cho phố huyện nghèo mặc dù hiện tại vẫn còn tăm tối. Trong tác phẩm, tác giả đã gửi điểm nhìn vào đôi mắt của Liên và An, đặc biệt là nhân vật Liên để khắc họa bức tranh thiên nhiên và những con người nơi phố huyện. Qua những cảm nhận của Liên về bức tranh chiều tối ta nhận thấy đây là một cô gái có tâm hồn nhạy cảm và rất tinh tế. Cảnh chiều tàn được khắc họa với rất nhiều hình ảnh và màu sắc: phương Tây đỏ rực như lửa cháy, những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn, dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời…Phép tu từ so sánh được dùng liên tiếp để cụ thể hóa rõ nét vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ của bầu trời chiều bùng lên trong khoảnh khắc trước khi tắt, diễn tả một cách gợi cảm bóng chiều theo bước đi của thời gian chùm lên không gian, nó nhuộm đỏ trời, nhuộm hồng những đám mấy và nhuộm đen dãy tre làng rồi sa xuống mặt đất. Tất cả những miêu tả đó gợi một cảm giác buồn man mác, khiến Liên giật mình hoảng hốt: “Chiều, chiều rồi”. Cùng với đó, là những âm thanh quen thuộc: văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, muỗi đã bắt đầu vo ve, tiếng trống thu không…Tác giả đã dùng nghệ thuật lấy động tả tĩnh kết hợp với các từ láy để nhấn mạnh âm thanh của cuộc sống con người đang tắt dần để nhường chỗ cho bản nhạc đồng quê. Ngoài âm thanh, còn có mùi vị đó là mùi âm ẩm bốc lên của rác rưởi, mùi cát bụi, mùi riêng của đất của quê hương này. Tất cả những điều này đã gieo vào tâm hồn Liên cái buồn của buổi chiều quê, thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị, chị thấy lòng buồn man mác trước giờ khắc của ngày tàn. Chính sự giao hòa giữa tâm hồn Liên với thiên nhiên đã giúp nhà văn vẽ nên một bức tranh đồng quê quen thuộc, gần gũi, bình dị, nghèo nàn mà vẫn thấm đượm hồn quê. Khi chuyến tàu đi qua, “Liên lặng theo mơ tưởng” về một “Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo”. Đó là Hà Nội trong kí ức tuổi thơ của Liên với những kỉ niệm sâu nặng mà bấy lâu nay Liên thiết tha muốn được sống lại những ngày xưa hạnh phúc ấy dù chỉ trong khoảnh khắc theo dòng mơ tưởng về Hà Nội. Sống ở phố huyện yên tĩnh, lặng lẽ này Liên cảm thấy rất buồn: “Đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn thơ ngây của chị”. Có lẽ vì vậy mà đêm nào Liên cũng đợi tàu ở Hà Nội như là một thói quen khó dứt bỏ. Liên muốn hưởng một chút cái náo nức, vui vui mà đoàn tàu như chở cả thế giới phồn hoa đô hội qua phố huyện nghèo – nơi mà Liên đang sống. Liên khát khao ánh sáng và sự nhộn nhịp biết bao! Và chỉ có đợi tàu mới giúp Liên thỏa mãn được khát khao đó. “Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua”, thế giới của đô thành sôi động, sầm uất, vang dội đủ thứ âm thanh của cuộc sống đời thường trong Liên. Chỉ cần như vậy thôi, Liên cũng đã thấy lòng mình thanh thản, niềm vui nhẹ khẽ len vào lòng. Nhưng rồi những cảm giác lắng lại trong tâm hồn Liên, “Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng được một vùng đất nhỏ”, thế giới thực tại nơi phố huyện của Liên thật tĩnh mịch và buồn tẻ, nó càng trở nên yên lặng hơn khi con tàu đi qua chấm dứt mọi hoạt động của một ngày. Thế giới thực tại của Liên là một thế giới khác hẳn với thế giới mà đoàn tàu đã chở qua phố huyện mỗi đêm, đó là một thế giới tràn đầy ánh sáng, sang trọng và đông vui nhộn nhịp, không như phố huyện cứ tĩnh lặng, tăm tối từ ngày này qua ngày khác. Nhìn theo đoàn tàu mang hơi thở của chốn Hà thành, Liên thấy xao xuyến biết bao, ánh sáng ấy vụt qua đưa Liên về cõi “mơ tưởng”. Liên nghĩ về quá khứ, tương lai và hiện tại. Quá khứ của Liên thật tươi đẹp nơi chốn Hà thành nhộn nhịp, huyên náo. Nhưng tương lai của Liên thì mờ mịt lắm, còn hiện tại thì bóng tối tràn đầy. Tuy vậy, nhưng trong Liên lúc nào cũng tồn tại những ước mơ, hoài bão về một cuộc sống mới mà ở đó có đầy đủ ánh sáng và âm thanh chứ không phải là một nơi tĩnh lặng, tù túng như phố huyện này. Thạch Lam đã dẫn dắt câu chuyện đi theo mạch tâm trạng của nhân vật, ông đi sâu vào đời sống nội tâm và đặc biệt trân trọng, nâng niu những ước mơ của họ như ước mơ muốn thay đổi cuộc sống của Liên và An cùng những con người nơi phố huyện.
Cảm nhận vềnhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam.
1,037
Cảm nhận đoạn thơ Hai chữ nước nhà – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Những năm 20 của thế kỉ trước, những bài thơ hát theo làn điệu dân ca, những bài thơ lục bát, song thất lục bát, thất ngôn… được truyền bá sâu rộng trong dân gian. Những gương anh hùng được Trần Tuấn Khải nói đến có giá trị khích lệ tinh thần yêu nước, nói lên nỗi đau nhục nô lệ lầm than, bày tỏ khát vọng độc lập tự do không bao giờ nguôi. Đoạn trích bài thơ “hai chữ nước nhà” gồm có 36 câu thơ song thất lục bát được Trần Tuấn Khải sáng tác vào năm 1926, in trong tập “Bút quan hoài”. Trong lời đề từ, nhà thơ nói rõ cảm hứng của mình là “nghĩ tới lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu”. Qua đó,ta cảm nhận được “Hai chữ nước nhà” là bài thơ mượn đề tài lịch sử để thể hiện cảm hứng yêu nước, kích thích lòng yêu nước cho quốc dân đồng bào khi đang làm thân trâu ngựa cho thực dân Pháp. Lời đề từ đưa chúng ta trở về những năm tháng đau thương của đất nước và dân tộc. Năm 1407, giặc Minh xâm lược nước ta, dìm đất nước ta vào trong máu lửa, chúng ta bắt cha con ông Hồ Quý Li và một số đại thần, trong đó có Nguyễn Phi Khanh giải về Tàu. Có thể nói bài thơ là lời cha dặn con về “Hai chữ nước nhà”, về mối thù nhà nợ nước. Trong phần đầu tiên của đoạn trích, tác giả đã gợi lên cảnh đất nước đau thương dưới ách thống trị của giặc Minh tàn bạo. Những hình ảnh nhân hóa rất gợi: “mây sâu ảm đạm”, “gió thảm đìu hiu” hổ thét chim kêu”… Cảnh vật núi sông như mang nỗi đau con người. Cả một không gian rộng lớn từ “chốn ải Bắc” đến “chốn ải Nam” và “khắp bốn bể” đều thấm máu và nước mắt của hàng triệu con người: Cõi trời Nam, gió thảm đìu hiu Bốn bể hổ thét chim kêu…”. Trước thảm cảnh “vong quốc”, người cha già trên con đường đi đày càng ngổn ngang nỗi niềm. Các chữ, các hình ảnh như: “bất bình”, “hạt máu nóng thấm quanh hồn nước”, “tầm tã châu rơi” đã nói lên một cách cảm động “di hận” của người anh hùng thất thế, một bi kịch lịch sử của cha con Phi Khanh và Nguyễn Trãi. Câu thơ như thấm đầy lệ, giọng thơ thiết tha não nùng: “Trông con tầm tã châu rơi Con ơi! Con nhớ lấy lời cha khuyên” Nguyễn Trãi có câu thơ chữ Hán “Anh hùng di hận kỉ thiên niên”, nghĩa là người anh hùng để lại mối hận đến nghìn năm. Phần đầu bài “hai chữ nước nhà”, Trần Tuấn Khải đã nói lên thật xúc động nỗi đau nước mất nhà tan, nỗi “di hận” của người anh hùng thất thế Nguyễn Phi Khanh. Phần thứ hai là những lời thống thiết cha dặn con. Nhớ “hai chữ nước nhà” là nhớ về dòng giống Hồng Lạc, là nhớ về lịch sử trường tồn “mấy ngàn năm” của dân tộc, là nhớ giang sơn “giời Nam riêng một cõi này”, là nhớ đến bao “anh hùng hiệp nữ” như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lí Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn… Nhớ “Hai chữ nước nhà” là để nâng cao lòng tự tôn, tự hào dân tộc: Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì!” Giọng thơ trở nên bừng bừng căm giận khi cha dặn con hãy khắc cốt ghi tâm những tội ác tày trời của quân “cuồng Minh”: “Bốn phương khói lửa bừng bừng Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông Nơi đô thị thành tung quách vỡ Chốn nhân gian bỏ vợ lìa con, Làm cho xiêu tán hao mòn (…) Khói Hùng Lĩnh như xây khói uất Sông Hồng Giang nhường vật cơn sầu. Những từ ngữ hình ảnh “khói lửa bừng bừng”, “xương rừng máu sông”, “thành tung quách vỡ”, “đất khóc giời than”, “xây khối nát”, “vật cơn sầu”… tuy mang tính ước lệ, nhưng trong văn cảnh vẫn có sức truyền cảm mạnh mẽ vì đã gợi lên bao nỗi nhục mất nước, lòng căm thù đối với quân xâm lược. Đặc biệt đoạn thơ của Trần Tuấn Khải đã đem đến liên tưởng cho người đọc về “Bình Ngô đại cáo” đoạn nói về tội ác giặc Minh tàn bạo: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế, Gây binh, kết oán, trải hai mươi năm Bại nhân nghĩa nát cả đất trời Nặng thuế khóa sạch không đầm núi…”. Người cha bị cùm trói, bị giải sang Tàu, nhìn cơ đồ giang san mà đau đớn như xé tâm can. Càng đau đớn, ông càng lo lắng cho vận mệnh của đất nước, tương lai của giống nòi. Câu cảm thán kết hợp với câu hỏi tu từ cất lên vô cùng thống thiết: “Con ơi! Càng nói càng đau Lấy ai tế độ đàn sau đó mà?”. Vần thơ như chứa đầy lệ, có lời than, có tiếng nức nở. Lời cha dặn con cũng là lời non nước. “Con nên nhớ tổ tông khi trước Đã từng phen vì nước gian lao Bắc Nam bờ cõi phân mao Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây…”. “Hai chữ nước nhà” là một bài thơ hay và cảm động. Nói lên một cách hàm súc cô đọng nỗi đau, nỗi nhục mất nước của dân tộc ta trong thế kỉ XV và căm thù đôi với giặc Minh cướp nước. Sâu xa hơn, bài thơ đã khích lệ lòng yêu nước của đồng bào, khêu gợi khát vọng độc lập tự do của dân tộc khi đang làm thân trâu ngựa cho thực dân Pháp. “Hai chữ nước nhà” vừa là lời cha dặn con, vừa là lời Tổ quốc kêu gọi. Từ ngôn ngữ, hình ảnh đến giọng thơ, vần thơ, từ những cặp câu thất ngôn đối nhau đến những hình ảnh nhân hóa, tượng trưng ước lệ đều cho thấy một bút pháp nghệ thuật rất già dặn, giàu bản sắc của Á Nam. Trong thời Pháp thuộc, bài thơ “Hai chữ nước nhà” đã làm lay động hàng triệu con người. Ngày nay, nó vẫn làm ta xúc động. Tags:Văn 8
Cảm nhận đoạn thơ Hai chữ nước nhà – Đề và văn mẫu 8
1,075
Cảm nhận đoạn thơ thứ 2 trong bài Tây Tiến Hướng dẫn Cảm nhận đoạn thơ thứ 2 trong bài Tây Tiến Bài Làm “ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Co nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” Qua 4 câu thơ trong đoạn thơ của đoạn thứ hai trong bài thơ Tây Tiến của tác giả Quang Dũng ta thấy nổi bật lên bức tranh sông nước ở Châu Mộc. Vào một chiều sương tại Châu Mộc một bức tranh thiên nhiên nổi bật lên có lau những lại là “ hồn lau” cách vật mờ ảo, chúng ta có thể thấy đây chỉ là hồn của cảnh vật. Tiếp đó là hòa, hoa đang đong đưa trên dòng nước lũ một cách vô địch. Trên dòng sông còn có một chiếc thuyền độc mộc. Hình ảnh, cảnh vật thiên nhiên chỉ được gợi chứ không tả cụ thể giúp người đọc người nghe có thể tưởng tượng ra cảnh vật đó hoặc chỉ là hồn cảnh vật. Bên cạnh bức tranh thiên nhiên ấy là dáng “người độc mộc” Dáng người độc mộc vừa có thể hiểu là cô gái với dáng điệu uyển chuyển vừa có thể hiện là dáng điệu mạnh mẽ, oai dũng của chàng trai. Bằng việc xuất hiện hình ảnh còn người làm hài hòa bức tranh thiên nhiên, góp phần làm cho bức tranh thêm đẹp và thêm phần ấm ấp.Quang Dũng sử dụng biện pháp nghệ thuật điệp cấu trúc câu, giọng trầm, sâu lắng bâng khuâng nhớ tiến đến lao lòng.
Cảm nhận đoạn thơ thứ 2 trong bài Tây Tiến
268
Cảm nhận đoạn thơ từ câu 43 – câu 52 trong bài thơ “Việt Bắc” – Tố Hữu Hướng dẫn Cảm nhận đoạn thơ từ câu 43 – câu 52 trong bài thơ “Việt Bắc” – Tố Hữu Bài làm Việt Bắc dạt dào nỗi nhớ thương: Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Câu trên là lời nhắn nhủ, ướm hỏi người ở lại. Câu dưới là lời giãi bày bộc bạch lòng mình lúc chia tay. Dù nhắn nhủ, ướm hỏi hay giãy bày, bộc bạch thì lời người về xuôi vẫn hằn lên nỗi bùi ngùi, xúc động một chút bâng khuâng, ngập ngừng, một nỗi thẫn thờ. Điệp ngữ « ta về » tách riêng thành một nhịp đã kín đáo diễn tả tâm trạng người đi. Bao trùm lên tất cả là nỗi nhớ da diết, khôn nguôi. Chia xa Việt Bắc, cán bộ về xuôi không bao giờ quên những gì đẹp nhất của mảnh đất này. Bốn cặp lục bát tiếp theo là những hoài niệm đẹp về « hoa và người » Việt Bắc trong bốn mùa tạo nên bộ tranh tứ bình độc đáo. Cứ câu sáu gợi tả thiên nhiên thì câu tám lại tái hiện vẻ đẹp con người Việt Bắc. Bắt đầu có lẽ là cảnh sắc mùa đông: Rừng xanh hóa chuối đỏ tươi Dèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Tại sao nói đây là bức tranh mùa đông? Trong kết cấu của đoạn thơ, ba cặp lục bát kế tiếp là cảnh mùa xuân nên có thể suy luận ra đây là cảnh mùa đông. Bài thơ ra đời vào thánh 10/1954, có lẽ đây là thời khắc chớm đông. Chia xa Việt Bắc, Tố Hữu nhớ ngay đến cảnh mùa đông có lẽ cũng là điều dễ hiểu. Cánh sắc mùa đông không trơ trụi, úa tàn, không lạnh lẽo, ảm đạm mà tươi sáng, rực rỡ, ấm nóng. Trên cái nền xanh biếc bát ngáy mênh mông của đại ngàn đột ngột bùng cháy lên những bông hoa chuối đỏ rực. Cả cánh rừng như được thắp lửa. Màu đỏ tươi của hoa chuối như nết son rực rỡ tạo điểm nhấn đầy ấn tượng cho bức tranh mùa đông Việt Bắc. Bức tranh Việt Bắc trở nên đẹp hơn khi có sự xuất hiện của con người. Hình ảnh « đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng » là một phát hiện mới mẻ và mang màu sắc « rất Việt Bắc ». Trên đèo cao, ánh sáng mặt trời chiếu vào lưỡi dao tạo nên sự phản quang rực rỡ lấp lánh. Chỉ một hình ảnh thơ, Tố Hữu đã là bật lên vẻ đẹp mạnh mẽ, khỏe khoắn, hào hùng, kiêu hãnh của những người lao động Việt Bắc, những con người làm chủ thiên nhiên đất trời. Phải có tâm hồn tinh tế, Tố Hữu mới có hình ảnh đắt giá như vậy. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Xuân về, những cánh rừng Việt Bắc khoác lên mình tấm áo choàng được đặt đệt bởi muôn ngàn tấm hoa mơ trắng muốt. Với tấm óa áo choàng tinh khôi ấy, núi rừng Việt Bắc bỗng trở nên hư ảo chẳng khác gì chốn thần tiên. « Trắng rừng » là một sáng tạo độc đáp của Tố Hữu. Tính từ « trắng » đã được nhà thơ động từ hóa (hoa làm trắng cả khu rừng). Chữ thơ ấy vừa gợi sự bừng sáng đột ngột củ núi rừng mùa xuân, vừa ghi lại cảm giác thích thú của người ngắm cảnh. Sắc trắng của núi rừng dường như đã hút hồn Tố Hữu. Cảnh xuân mơ mộng, con người giữa mùa xuân cũng thật duyên dáng: Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Nếu chữ « chuốt » đặc tả sự khéo léo tái hoa thì chữ « từng » lại gợi sự cần mẫn, tỉ mỉ của những người thiếu nữ Việt Bắc. Hình ảnh chuốt từng sợi giang giản dị mà hội tụ bao vẻ đẹp đáng quý của người chăm chỉ, tài hoa, cần mẫn, khéo léo, tài hoa. Những con người đó khác nào những người nghệ sĩ đang tô điểm sắc màu làm bức tranh xuân nên thơ hơn. Rời chiến khu về thủ đô Hà Nội, cán bộ quên sao được cảnh sắc mùa hè Việt Bắc ; Nhớ cô em gái hái măng một mình Nếu như sắc màu chủ đạo của mùa đông Việt Bắc là sắc xanh của rừng già, sắc đỏ tươi của hoa chuối ; mùa xuân là sắc trắng của hoa nở thì màu sắc nổi bật của mùa hè Việt Bắc là màu sắc vàng sáng chói lọi của rừng phách trong tiếng ve râm ran dưới nắng hè rực rỡ. Ai đã từng một lần gắn bó với Việt Bắc làm sao quên được hình ảnh rừng phách vào mùa hè. Cuỗi xuân, nụ phách còn náu mình trong kẽ lá ấm áp kín đáo. Thế mà khi những tiếng ve đầu tiên báo hiệu hè sang thì những nụ hoa vươn mình khỏi kẽ lá trổ bông vàng rực rỡ. Như một họa sĩ tài ba, Tố Hữu phối màu một cách khoéo léo, tinh tế. Thiên nhiên mùa hề được vẽ bằng những gam màu nắng chói gắt. Hìn hảnh con người được điểm xuyết nhẹ nhàng trong gam màu dịu mát giúp cân bằng cảm xúc người xem tranh. Đọc hai câu thơ của Tố Hữu ra có cảm giác đang giãi mình như cái nắng chói gắt bỗng được bước vào khu rừng ngập tràn sắc xanh của tre trúc: Nhớ cô em gái hái măng một mình. Hình ảnh thơ gợi vẻ đẹp dịu dàng, duyên dáng của thiếu nữ Việt Bắc. Lời thơ như nét trầm xao xuyến xen giữa bản nhạc hè sôi động khiến lòng người bân khuâng. Khép lại bộ tranh tứ bình là bức tranh đêm thu yên bình, mơ mộng: Rừng thu trăng rôij hòa bình Nhớ ai tiếnh hát ân tình thủy chung. Vậy là bằng nhưng sợ tơ lòng, bằng nỗi nhớ da diết, mênh mang, người về xuôi đã dệt nên bức tranh bốn mùa rõ rệt với những màu sắc thẩm mĩ, đầy quyến rũ: Thiên nhiên Việt Bắc sống động, trong màu sắc, đường nét, âm thanh, tươi tắmn. Nổi bật trên nền thiên nhiên là vẻ đẹp con người la động với nhiều màu sắc, dáng vẻ. Cảnh và người quấn quýt tạo nên bức tranh tươi đẹp, quyểnũ đến lạ thường. Khúc thơ thấm đẫm tình người, nỗi nhớ da diết thấm vào cảnh vật, trong lòng kẻ ở, người đi. Điệu thơ lục bát với giai điệu ngọt ngào, uyể n chuyển, nhịp nhàng, tình tứ những câu giao duyên “mình – ta” thuở nào. Hình ảnh thơ trong sáng, gợi cảm. Chữ thơ nhiều sáng tạo tinh tếm tài hoa. Tất cả tạo nên dư âm sâu lắng, sự lôi cuốn và sức sống lâu bên trong lòng người đọc
Cảm nhận đoạn thơ từ câu 43 – câu 52 trong bài thơ “Việt Bắc” – Tố Hữu
1,184
Cảm nhận đoạn thơ từ câu 53 – câu 62 trong “Việt Bắc” – Tố Hữu Hướng dẫn Cảm nhận đoạn thơ từ câu 53 – câu 62 trong “Việt Bắc” – Tố Hữu Bài làm: Ra đời sau cuộc kháng chiến chống Pháp, kết thúc thắng lợi, cán bộ cách mạng giã từ chiến khu Việt Bắc về tiếp quản Hà Nội, bài thơ Việt Bắc là khúc tình ca cũng là khúc hùng ca về cách mạng và con người kháng chiến. Góp phần tạo nên một khúc hùng ca phải kể đến đoạn thơ tái hiện Việt Bắc trong những ngày đầu kháng chiến. Dòng hồi ức về Việt Bắc những ngày đầu kháng chiến bắt đầu với không khí khủng khiếp của cách mạng khi quân tù tàn phá: Nhớ khi giặc đến giặc lùng. Không miêu tả chi tiết, cụ thể, chỉ nhắc lại sự kiện nhưng câu thơ đánh thức trong tâm trí người đọc bao kí ức đau thương, bao mất mát khủng khiếp mà đồng bào Việt Bắc nói riêng, nhân dân cả nước nói chung phải gánh chịu trong những năm kháng chiến. Hình ảnh thơ của Tố Hữu đã gợi dậy trong tâm tri người đọc hình ảnh giặc lùng, chạy giặc đầy thương tâm mà từng gặp trong “Dọn về làng”(Nông Quốc Chấn), “Bên kia sông Đuống”( Hoàng Cầm),… Trước sự tàn phá điên cuồng của kẻ thù, Việt Bắc không cúi đầu khuất phục mà anh dũng đứng lên chiến đấu: Núi giảng thành lũy sắt giày Đẹp biết bao kỉ niệm khí thế quật khởi thiên nhiên, con người Việt Bắc. Núi vươn lên hóa mình thành lũy sắt tường đồng, Rừng giang tay chở che cho bộ đội, rừng sải cánh tay bao vây quân thù. Núi rừng, trời đất hóa thành dũng si trong trận tuyến chống trả quân thù. Cùng với núi đá, rừng cây, đồng bào đã đồng tâm hợp lực vượt qua mọt gian nguy. Rừng cây, núi đá và nhân dân đã sát cánh tạo thành ba mũi giáp công. Trong phút chốc, con người, rừng núi đã hóa thành những anh hùng cứu quốc. Với sự đồng lòng, đồng sức, tất cả thành một khối đoàn kết vững chắc, Việt Bắc sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức: Mênh mông bốn mặt sương mù Đấy trời ta cả chiến khu một lòng Hình ảnh bốn mặt sương mù thật giàu ý nghĩa, vừa là đặc trưng thiên nhiên chiến khu Việt Bắc, vừa mang ý nghĩa biểu trưng cho khó khăn thách thức của buổi đầu kháng chiến Ai về ai có nhớ không Ta về ta nhớ phủ Thông, đèo Giàng Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng Nhớ từ Cao Lạng, nhớ sang Nhị Hà Câu hỏi tu từ ai về ai có nhớ không? vừa là cách gây sự chú ý người đọc, vừa là cái cớ cán bộ kháng chiến ôn lại chiến thắng, nhớ lại gian khổ. Đoàn kết anh dũng đứng lên, Việt Bắc dàng chiến thắng vang dội làm nức lòng nhân dân cả nước. Không miêu tả chi tiết, tỉ mỉ, cán bộ không chỉ gợi nhắc địa danh, trận đánh, chiến dịch. Đó là phủ Thông, đèo Giàng, phố Ràng, Cao – Lạng, Nhị Hà. Mỗi địa danh là một chiến công vang dội, mỗi trận đánh chiến dịch là thắng lợi vinh quang. Cách gợi nhắc thật hợp lí vì cả kẻ ở, người đi đều trực tiếp đóng góp sức mình vào từng trận đánh. Kết hợp nhịp điệu thơ ngắn, Tố Hữu đã gợi tả khí thế chiến thắng nối tiếp chiến thắng. Giọng thơ tràn đầy niềm tự hào kiêu hãnh. Khúc thơ khép lại bằng dấu ba chấm, lời thơ dừng nhưng âm hưởng chiến thắng còn vang mãi, nối dài bất tận.
Cảm nhận đoạn thơ từ câu 53 – câu 62 trong “Việt Bắc” – Tố Hữu
630
Cảm nhận đoạn trích chiếc lá cuối cùng – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Ai đã từng đọc những truyện ngắn của nhà văn người Mĩ O. Hen-ri (1862– 1910) hẳn sẽ cảm nhận một điều: từ hiện thực cuộc sông đầy rẫy những bất công vô lí, đem đến bao bất hạnh cho những cuộc đời nghèo khổ, nhà văn luôn khơi dậy được vẻ đẹp tâm hồn những con người ấy qua những tình huống truyện bất ngờ, cảm động. Chiếc lá cuối cùng là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn ắp tràn tình thương yêu và niềm tin với con người, một bức thông điệp khẳng định sứ mạng và sức mạnh của nghệ thuật chân chính. Câu chuyện kể về cuộc sống chật vật của những người họa sĩ nghèo: hai nữ họa sĩ trẻ Xiu và Giôn-xi sống cùng căn hộ với người họa sĩ già Bơ-men. Những khó khăn về vật chất đã vắt kiệt sức sáng tạo, khiến họ lâm vào cảnh bi đát. Cụ Bơ-men suốt bốn chục năm mơ ước vẽ một bức kiệt tác mà không thực hiện được, đành phải ngồi làm mẫu cho các họa sĩ trẻ để kiếm chút tiền còm nuôi thân. Giôn-xi bị sưng phổi, bệnh tật và nghèo túng đã lấy nốt của cô niềm tin vào cuộc sống. Chỉ còn lại Xiu mòn mỏi với những bức vẽ và ám ảnh bởi suy nghĩ của Giôn-xi: cô gái bệnh tật ấy đang đếm từng chiếc lá rơi để chờ định mệnh phán quyết mạng sống của chính mình, với niềm tin khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì cô sẽ ra đi… Không gian cuộc sống của những con người khốn khổ ấy lạnh lẽo u ám như mùa đông, nặng trĩu những buồn lo. Đáng sợ làm sao khi mỗi ngày trôi đi trong gió tuyết và những cơn mưa lạnh lẽo dai dẳng, những chiếc lá thường xuân tiếp tục rơi xuống, chỉ còn lại một chiếc lá cuối cùng để Giôn-xi như nhìn thấy cái chết của mình đang đến gần. Có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy rối lòng, bất lực trước một con người đã buông xuôi, chán sống. Bởi thế nhà văn đã tập trung miêu tả khoảnh khắc căng thẳng của Xiu và cụ Bơ-men lúc Giôn-xi đang ngủ: “Họ sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì”. Có lẽ trong giây phút đó, họ đã nhìn thấy nhánh thường.xuân cuối cùng trụi lá rồi chăng? Dường như cùng với cái khắc nghiệt của trời đông, mưa gió, họ có thể đoán trước được điều gì khi Giôn-xi tỉnh dậy vào sáng hôm sau và thấy chiếc lá cuối cùng đã rụng. Trong hoàn cảnh này, người đau khổ nhất không phải là Giôn-xi mà chính là cô gái trẻ Xiu. Bởi lẽ, cô là người sẽ phải chứng kiến toàn bộ tấn bi kịch sắp diễn vào sáng hôm sau khi Giôn-xi lại nhìn ra cửa sổ. Nhà văn không mô tả cụ thể tâm trạng Xiu, chỉ cho biết cô “tỉnh dậy sau khi chợp mắt được một tiếng đồng hồ”, như vậy có nghĩa là cô đã phải trải qua một đêm trắng đầy âu lo thổn thức, trong sự bồn chồn và bất lực. Một đêm mưa gió ngoài trời dữ dội, một chiếc lá mong manh bám trên bức tường gạch chắc chắn sẽ bị vùi dập tơi tả, không chống chọi nổi sự tàn phá của tự nhiên. Điều đó có nghĩa là sau phút kéo mành lên, Giôn-xi sẽ nhìn thấy cái chết của chính mình. Nhưng Xiu cũng không thể chịu được khoảnh khắc nhìn thấy “Giôn-xi đang mở to cặp mắt thẫn thờ nhìn tấm mành màu xanh đã kéo xuống”. Không kéo mành lên cũng không được, vì như vậy Xiu sẽ mang mặc cảm chính mình mới là người gây ra cái chết của Giôn-xi. Ta hiểu tâm trạng của cô khi làm theo một cách chán nản, bản thân cô cũng không còn phương cách nào giúp cho người đồng nghiệp, người em gái kia từ bỏ suy nghĩ điên rồ đáng sợ kia. Giôn-xi thật đáng thương nhưng cô cũng thật đáng trách khi vẫn đeo đuổi ý định từ bỏ cuộc sống. Cô chìm đắm trong ý nghĩ kì quặc của mình, mặc kệ những sợi dây ràng buộc cô với tình bạn và với thế gian cứ lơi lỏng dần từng sợi một. Cô đã phụ lòng của Xiu, bởi lẽ cô đã xem nỗi đau của mình lớn hơn tất cả mọi sự quan tâm lo lắng của mọi người. Trong thời điểm ấy, sẽ không ai có thể giúp đỡ cô, ngoại trừ chính bản thân cô. Thời gian một ngày kéo dài đằng đẵng để Giôn-xi chứng kiến chiếc lá thường xuân chống chọi với mùa đông khắc nghiệt. Chiếc lá bướng bỉnh ấy không chấp nhận sự buông xuôi của một cô gái còn quá trẻ. Thế nhưng, khi con người ấy đã chấp nhận đầu hàng số phận, thì sức mạnh của màn đêm buông xuống, gió bấc ào ào, mưa đập mạnh vào cửa sổ lại có một uy lực khiến cho Giôn-xi không còn một niềm tin nào vào sự sống của chính mình. Sự cố chấp ấy quả thật đáng chê trách. Nhà văn đã tạo ra một tình huống thử thách trước số phận của Giôn-xi, để rồi, cuối cùng người đọc có thể thở phào nhẹ nhõm: “chiếc lá thường xuân vẫn còn đó”. Chiếc lá mong manh ấy đã chiến thắng được thời tiết khắc nghiệt, để tạo ra một bước ngoặt trong nhận thức của Giôn-xi. Cuối cùng, cô gái ấy đã nhận ra sự ích kỉ tồi tệ của bản thân mình. Chiếc lá cuối cùng đã cứu sống một sinh linh. Trước hết là thức tỉnh khát vọng sống tiềm ẩn trong tâm hồn Giôn- xi, để cô nhận ra: “Có một cái gì đấy đã làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó để cho em thấy rằng mình đã tệ như thế nào. Muốn chết là một tội”. Phép nhiệm mầu đã xảy ra, vượt qua tất cả những quy luật thường tình của thiên nhiên tạo hóa, khiến Giôn-xi không hiểu và không sao hiểu được. Phải chăng, Thượng đế chí công và nhân từ không nỡ để một cô gái trẻ phải sớm giã từ cuộc sống? Không những thế, sau thời khắc bừng tỉnh, cô gái Giôn-xi đã lại bắt đầu mơ ước về tương lai: “một ngày nào đó em sẽ vẽ được vịnh Na-plơ”. Thượng đế thật công bằng, vị thượng đế ấy có tên là… Bơ-men. Người họa sĩ già khôn khổ ấy không có quyền năng tối thượng của Thượng đế, nhưng ông có một trái tim giàu lòng thương cảm. Hóa ra, trong thời điểm làm mẫu cho Xiu, con người ấy đã đi đến một quyết định táo bạo, đoạt quyền của Đấng-Toàn-năng bằng chính khả năng của mình. Con người đã bốn mươi năm theo đuổi kiệt tác mà không thành công đã tạo nên một kiệt tác cuối cùng của đời mình: chiếc lá cuối cùng! Khi bắt tay vào công việc, người nghệ sĩ chân chính ấy đã âm thầm hành động với ước nguyện thật cao cả: trả lại niềm tin vào sự sống cho Giôn-xi. Không ai được biết có bao nhiêu tinh hoa đã phát tiết trong giờ phút vẽ nên chiếc lá trên tường của cụ Bơ-men. Tất cả đều diễn ra quá bất ngờ, đến nỗi cả Xiu là người đã chứng kiến giờ phút chiếc lá cuối cùng rụng xuống cùng cụ Bơ-men cũng phải bàng hoàng. Ta chợt hiểu những lời nói hối hả của cô với Giôn-xi: “Em thân yêu, thân yêu. Em hãy nghĩ đến chị, nếu như em không còn muốn nghĩ đến mình nữa. Chị sẽ làm gì đây?”. Cô đã hiểu tất cả, nhưng không dám nói rõ cho Giôn-xi, bởi lẽ cô chưa thể hình dung ra phản ứng của Giôn-xi trước một sự lừa dối bắt nguồn từ lòng tốt của người họa sĩ già. Lời nói ấy còn bộc lộ một niềm sung sướng vô biên của Xiu trước giải pháp tình thế mà cụ Bơ-men đã nghĩ ra trong đêm chiếc lá cuối cùng thực sự đã rụng xuống. Bởi thế, lần kéo mành vào hôm sau, ta không còn gặp tâm trạng chán nản đến cùng cực của Xiu nữa. Cuối cùng thì Giôn-xi đã vượt qua cửa ải của chính mình, trở lại với niềm tin sự sống nhờ niềm tin vào sức sống mãnh liệt từ chiếc lá cuối cùng – tác phẩm của cụ Bơ-men. Nhưng người nghệ sĩ già ấy đã phải trả một cái giá quá đắt bằng chính mạng sống của mình. Giôn-xi chỉ được biết điều ấy khi đã thật sự bình phục bằng nghị lực của chính mình. Qua lời thuật lại của Xiu, ta hiểu được lòng biết ơn của Xiu đối với người họa sĩ cao cả ấy, và cô muốn nhắc nhở Giôn-xi không thể vô ơn trước sự hi sinh của một con người chân chính, vì sự sống của đồng loại đã không ngần ngại xả thân. Cụ Bơ-men đã nhiễm chính căn bệnh sưng phổi của Giôn-xi vào lúc tạo nên chiếc lá cuối cùng giữa một đêm đông mưa gió lạnh lẽo. Chi tiết xúc động này khiến ta tin rằng Giôn-xi dù biết rằng chiếc lá ấy là một sản phẩm nhân tạo, nhưng chắc chắn cô sẽ không bao giờ hối hận trước một sự lừa dối cao cả như thế, Người họa sĩ già Bơ-men là hiện thân của sự cao thượng, lòng vị tha, đức hi sinh của một con người chân chính. Cầu chuyện kết thúc bằng một sự đảo ngược tình huống lần thứ hai. Chiếc lá cuối cùng là một sự lừa dối, nhưng lại là một sự lừa dối cao cả để đem lại niềm tin vào sự sống cho con người. Kiệt tác cuối cùng của người họa sĩ già đã được ra đời nằm ngoài tất cả mọi dự đoán của công chúng. Nhưng chiếc lá cuối cùng ấy mãi mãi là bằng chứng của tấm lòng yêu thương con người. Bởi thế, Chiếc lá cuối cùng sẽ mãi bất tử với thời gian. Tags:Văn 8
Cảm nhận đoạn trích chiếc lá cuối cùng – Đề và văn mẫu 8
1,766
Cảm nhận đoạn trích Hai Cây Phong – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm “Hai cây phong” là phần đầu của truyện “Người thầy đầu tiên” của nhà văn xứ Cư-gơ-rư-xtan – một nước Cộng hòa ở vùng Trung Á thuộc Liên Xô trước đây. Bài văn có hai mạch kể và tả xen lẫn vào nhau rất nhuần nhuyễn tạo nên một sắc thái đặc biệt về cảm nhận. Trước hết, bằng lối miêu tả đầy xúc động của một tâm hồn nhạy cảm, người kể chuyện tự giới thiệu mình là họa sĩ. Bức tranh vẽ giữa ngọn đồi có hai cây phong. Tuy nhiên đây không phải là nét vẽ bằng cây cọ, mà bằng lời kể và tả thật duyên dáng, sâu lắng. Bức tranh ấy chỉ thể hiện lên mỗi lần “chúng tôi” (lời xưng hô của chủ thể trữ tình) đi xa và nghĩ thầm với một nỗi buồn da diết: “Ta sắp được thấy chúng chưa, hai cây phong sinh đôi ấy? Mong sao chóng về đến làng, chóng lên đồi mà đến với hai cây phong!”. Như vậy, cảnh sắc quê hương được cảm nhận bằng những hình ảnh đậm nhạt, cao thấp, xa gần, khác nhau. Đó là tâm tình của người họa sĩ tài hoa trước phong cảnh đầy cảm xúc dâng trào. Nhưng ở một góc độ cảm nhận, tác giả (nhân vật trữ tình) đã kết hợp tự sự với miêu tả và biểu cảm tạo nên sức hút kì lạ. Bởi vì người kể đã khơi dậy hoài niệm của tuổi thơ. Chúng giương hết tầm mắt nhìn vào nơi xa biêng biếc của thảo nguyên. Chúng “nép mình ngồi trên các cành cây lắng nghe tiếng gió ảo huyền và tiếng lá cây đáp lại lời gió…”. Hai cây phong đã làm cho tuổi thơ rạo rực, bị quyến rũ về vẻ đẹp vừa uy nghi vừa hoang sơ của nó. Như vậy, đoạn trích Hai cây phong chan chứa một thi vị của quê hương. Nghệ thuật tả và kể của bài văn đã làm cho mạch kể hết sức sinh động. Đoạn văn thể hiện tâm hồn riêng của hai cây phong là hay nhất, rung động nhất. Đoạn trích chính là một bài ca về tình nghĩa quê hương và về người thầy vĩ đại đã “trồng cây và trồng người”. Tags:Văn 8
Cảm nhận đoạn trích Hai Cây Phong – Đề và văn mẫu 8
392
Cảm nhận đoạn trích Hạnh Phúc Của Một Tang Gia Hướng dẫn Cảm nhận đoạn trích Hạnh Phúc Của Một Tang Gia Bài làm Ngay khi tiểu thuyết số đỏ được ra mắt với độc giả, đoạn trích hạnh phúc của một tang gia gây được nhiều hiệu ứng từ phía độc giả và người theo dõi bởi hơi hướng trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực, tái hiện lại xã hội và tầng lớp con người thời kì bấy giờ. Cây bút Vũ Trọng Phụng đã nhiều lần khiến cho người ta cười nhưng cười vì sự thật chua chát của một xã hội lai tây, không rõ văn hóa và tinh hoa được hòa trộn như thế nào, con người đối xử và suy nghĩ với nhau thông qua đồng tiền. Đoạn trích đã bộc lộ một cách chân thực nhất xã hội con người thời kì bấy giờ Cái băn khoăn của độc giả, một dấu chấm hỏi lớn ngay từ nhan đề của đoạn trích. Đó là sự đối lập, đối lập một cách gay gắt mâu thuẫn từ hai phía “ hạnh phúc” và “ tang gia”. Theo lẽ thường tình, tang gia gắn với nỗi buồn vì mất mát đi người thân trong gia đình, nhà gặp điều chẳng lành, cái không khí tang thương đó không thể là hạnh phúc hay vui vẻ như tác giả đã nhắc vậy. Ấy vậy mà cái nhan đề không hề viết sai, cũng không phải là một câu nói đùa, nó chính là sự tóm lược cho cả một thế hệ, đại diện cho những thói đời đảo lộn. Trong đoạn trích đám tang cụ tổ nhưng ai nấy đều lấy làm vui mừng và mong chờ, một dịp hiếm có để khoe mẽ và thỏa mãn những ý đồ của bản thân mình. KHông ai nói ra nhưng với vẻ mặt thỏa mãn và mơ màng từ cụ cố Hồng cho tới nỗi buồn lãng mạn của cô Tuyết thì không ai có thể phủ nhận rằng, từ già tới trẻ ai cũng đang ăn mừng trên cái chết của cụ Tổ Con của cụ Tổ, cụ cố Hồng là người đầu tiên được nhắc đến, cụ mơ màng nghĩ đến lúc mình mặc bộ đồ đưa tiễn cha mình về nơi yên giấc ngàn thu, khóc mếu máo và cảm thấy vui mừng khi nghĩ được người đời chỉ trỏ bảo rằng đứa con có hiếu hay cụ cố Hồng đã già tới kia mà vẫn cố để đưa tiễn ông cụ tổ. Nhân vật Xuân tóc đỏ là nhân vật chính xuyên suốt trong tiểu thuyết số đỏ của Vũ Trọng Phụng. Điều đáng nói, cái chết của cụ Tổ công lớn là nhờ vào hắn. Bởi nhờ hắn vạch tội ngoại tình của vợ Phán mọc sừng mà ông cụ Tổ lăn đùng ra chết. Người nhà dường như cảm ơn vì đã đưa cụ Tổ toại nguyện tâm ý và cả nhà vui mừng vì được một phen khoe mẽ. Hắn càng có công to hơn khi làm cho đám tang thêm phần “ hoành tráng” bởi vì những điều mà cả gia đình cụ cố Hồng mong muốn chẳng có gì hơn thế. Xuân là kẻ lưu manh giả danh tri thức, thời thế thay đổi, một kẻ bịp bợm có tài phỉnh nịnh lại lên như diều gặp gió, nay được dịp, Xuân lại được mọi người kính nể. Những nhân vật khác cũng không khác đi là bao. Họ đang ăn mừng trên một thây ma. Cậu Tú Tân thì vui sướng vì được dịp trổ tài chụp ảnh của mình và khoe mẽ chiếc máy ảnh mới mà chưa có dịp nào dùng. Bà Văn Minh lại được dịp diện bộ đồ xô gái có mũ mấn trắng viền đen, mốt đồ tang mới du nhập và Phán mọc sừng lại được hưởng lợi từ cái chết của cụ tổ sau khi được rỉ tai chia thêm vài nghìn đồng. Không riêng gì mỗi gia đình này, tác giả còn chỉ ra những hành động nhố nhăng của những hạng người tự xưng là văn mình thượng lưu nhưng thực chất chỉ là những con sâu não rỗng đã quằn vào đất từ bấy lâu nay của xã hội. Cái chết kia được tổ chức một cách tưng bừng và linh đình thêm phần quý trọng và giống như người ta đang ăn mừng một điều gì đó mà bấy lâu nay tất cả mọi người đều mong mỏi. Kể cả không khí của buổi tang lễ, không có một chút trịnh trọng và thương tiếc người đã khuất, những người đi dự lễ nói cười khúc khích, chỉ trỏ, bàn luận, có khi lại được dịp chim nhau giữa đám đông. Một sự thật đáng mỉa mai là những người dân hay hai bên đường đổ ra để xem và chỉ trỏ, người ta khen rằng có cái đám ma to khiến cho những người trong gia đình thêm sung sướng và cosd dịp khoe mẽ, Qua chương Hạnh phúc của một tang gia, Vũ Trọng Phụng bộc lộ xuất sắc tài kể chuyện của mình. Bút pháp của Vũ Trọng Phụng giỏi ở chỗ phóng đại mà như không phóng đại, làm cho mọi việc đều như thật và hơn thật, ông chú ý đến các mâu thuẫn giữa hiện tượng và bản chất, khai thác triệt để nhằm gây nên những tràng cười có ý nghĩa phê phán sâu sắc. Cảnh đám ma hiện ra như một màn hài kịch sinh động, một bức biếm hoạ khổng lồ và chi tiết về cái xã hội tự xưng là thượng lưu, sang trọng ở Hà Nội thời đó đang phơi bày tất cả cái bản chất lố lăng và đồi bại trước mắt mọi người. Nguồn: Tài liệu trực tuyến
Cảm nhận đoạn trích Hạnh Phúc Của Một Tang Gia
974
Cảm nhận đoạn trích Nước Đại Việt ta trong Bình Ngô Đại Cáo – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Cuộc kháng chiến chống xâm lược Minh do Lê Lợi lãnh đạo giành thắng lợi. Sau khi đuổi giặc ra khỏi bờ cõi, vâng mệnh Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết văn bản Bình Ngô đại cáo để công bố trước dân chúng về sự nghiệp dẹp yên giặc Ngô đã hoàn thành. Bài cáo được ban bố vào đầu năm 1428, đây cũng là thời gian Lê Lợi lên ngôi vua lập ra nhà Lê. Bình Ngô đại cáo được xem như một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc ta, bài cáo ca ngợi tinh thần độc lập tự cường, lòng tự hào dân tộc trước thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược phương Bắc. Đoạn trích “Nước Đại Việt ta” nằm ở phần đầu của tác phẩm “Bình Ngô đại cáo”. Trong phần này, Nguyễn Trãi đã nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, đồng thời ca ngợi nền văn hiến lâu đời của dân tộc ta. Coi nhân nghĩa là cốt cách và là mục tiêu của dân tộc: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Yên dân, điếu phạt, trừ bạo là cốt lõi của tư tưởng nhân nghĩa, tất cả đều vì con người và cho con người, vì nhân dân đang bị áp bức lầm than. Thương dân, trừng phạt kẻ có tội (điếu phạt), tiêu diệt kẻ tham tàn, cứu nhân dân thoát khỏi đau thương, đem lại cuộc sống yên vui hạnh phúc cho nhân dân… đó chính là nhân nghĩa. Nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi nói đến là một tư tưởng vô cùng cao đẹp: đánh giặc để cứu nước cứu dân, vì độc lập đất nước, vì tự do của nhân dân. Việc nhân nghĩa bao giờ cũng chính nghĩa. Nhân nghĩa là sức mạnh để dân tộc ta chiến thắng quân xâm lược, đó là tư tưởng: Lấy chí nhân đề thay cường bạo. Nhân dân ta đã lấy nhân nghĩa để xây dựng và phát triển nền văn hiến lâu đời. Đó là nền văn hiến đã trải qua các triều đại và được khẳng định một cách chắc chắn ngang tầm với phong kiến Trung Hoa: Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương, Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có. Tác giả đã dẫn chứng nhiều chi tiết để khẳng định nước ta cũng là một thực thể độc lập và ngang hàng với phong kiến phương Bắc. Đó là có nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ đã được chia, có thuần phong mĩ tục, có nền độc lập trải qua các triều đại, có nhân tài hào kiệt. Những yếu tố đó đã góp phần làm nên tầm vóc Đại Việt, đồng thời là sức mạnh của dân tộc để đương đầu thắng lợi trước những cuộc xâm lược của một thế lực hùng mạnh. Tác giả nhắc lại những chiến tích trong lịch sử để cảnh báo quân thù, đồng thời khẳng định sức mạnh và truyền thông bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta: Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong, Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã. Việc xưa xem xét Chứng cớ còn ghi. Giọng văn trong bài cáo hùng hồn, đĩnh đạc; lí lẽ sắc bén; cách diễn đạt sóng đôi, cân xứng của lối văn biền ngẫu đã khẳng định và ca ngợi tầm vóc lớn lao của Đại Việt, biểu hiện một ý chí tự cường cao độ. Phần đầu của văn bản đã góp phần thể hiện giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bản tuyên ngôn độc lập, áng thiên cổ hùng văn của dân tộc. Tags:Văn 8
Cảm nhận đoạn trích Nước Đại Việt ta trong Bình Ngô Đại Cáo – Đề và văn mẫu 8
672
Cảm nhận đoạn trích Trong lòng mẹ – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Nói đến Nguyên Hồng, người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động kèm theo nỗi cay đắng vào trong những câu chuyện của ông. Hồi kí “Những ngày thơ ấu” là kỉ niệm xót xa của cậu bé Hồng, mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ. Cho đến tận bây giờ, khi đọc lại những trang viết này, người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm, để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kì, là nguồn an ủi và chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh. Đoạn trích Trong lòng mẹ là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn – cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn, chết rục bên bàn đèn thuốc phiện, người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực, cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay nghiệt, luôn luôn “tươi cười” – khiến ta hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”. Đáng sợ hơn, sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình. Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những kí ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ. Kì diệu thay, những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời, tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được. Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải gánh chịu. Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng có chừng mực. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau, cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay cho mẹ những ghẻ lạnh, thành kiến của người đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại, khoé mắt tôi đã cay cay”. Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ. Ta chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta, với trò tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ. Liệu ta có hòa chung giọt nước mắt này chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và cổ”. khóc”. Dường như khoảnh khắc cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu giếm. Trong thâm tâm, liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ, bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng thường trực trong lòng cậu bé. Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ mình nhận nhầm mẹ. Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu, để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ – cảm giác được chở che, bảo bọc, được thương yêu, an ủi. Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động, là sự diệu kì giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ. Mỗi khi đứng trước mẹ, có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình mẹ giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi, xoa đầu tôi hỏi thì tôi òa lên khóc rồi cứ thế nức nở”. Không khóc sao được, khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát, khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay mẹ. Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn, tràn trề cảm giác hạnh phúc: “Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy dịu dàng vô cùng”. Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu, để cậu bé được thỏa lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình. Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều, khi tất cả tình yêu với mẹ đã được nhà văn giãi bày trên trang giấy. Tags:Văn 8
Cảm nhận đoạn trích Trong lòng mẹ – Đề và văn mẫu 8
864
Cảm thụ văn học bài Ba điều ước – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Ba điều ước Ngày xưa, có một chàng thợ rèn tên là Rít. Chàng được một tiên ông tặng cho ba điều ước. Nghĩ trên đời chỉ có vua là sung sướng nhất, Rít ước trở thành vua. Phút chốc, chàng đã đứng trong cung cấm tấp nập người hầu. Nhưng chỉ mấy ngày, chán cảnh ăn không ngồi rồi, Rít bỏ cung điện ra đi. Lần kia, gặp một người đi buôn, tiền bạc nhiều vô kể, Rít lại ước có thật nhiều tiền. Điều ước được thực hiện. Nhưng có của, Rít luôn bị bọn cướp rình rập. Thế là tiền bạc cũng chẳng làm chàng vui. Chỉ còn điều ước cuối cùng. Nhìn những đám mây bồng bềnh trên trời, Rít ước bay được như mây. Chàng bay khắp nơi, ngắm cảnh trên trời dưới biển. Nhưng mãi rồi cũng chán, chàng lại thèm được trở về quê. Lò rèn của Rít lại đỏ lửa, ngày đêm vang tiếng búa đe. sống giữa sự quý trọng của dân làng, Rít thấy sống có ích mới là điều đáng mơ ước. Truyện cổ tích Ba-na Cách đọc Đọc với giọng kể chuyện, nhẹ nhàng, chậm rãi. Biết ngắt nghỉ đúng chỗ, nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả. Chú ý những từ ngữ tả hành động, tâm trạng, suy nghĩ của Rít, cần đọc thật chậm, chú ý diễn cảm để người nghe hình dung cụ thể, đồng thời cảm nhận được ý vị sâu xa của câu chuyện. Truyện Ba điều ước là một truyện cổ tích hay, giàu ý nghĩa của dân tộc Ba-na, một dân tộc thiểu số sống ở Tây Nguyên. Câu chuyện đưa ta vào giấc mơ với những ước ao chính đáng, rất tự nhiên của con người: ước được làm vua, ước có nhiều tiền, ước bay được như mây để đi đây đi đó, ngắm cảnh trên trời dưới biển. Câu chuyện được chia thành năm đoạn. Đoạn mở đầu giới thiệu nhân vật chính của câu chuyên: chàng thợ rèn tên là Rít với ba điều ước được tiên ông ban tặng. Ba đoạn văn tiếp theo nói về những ước mơ của Rít. Lời kể ngắn gọn, giản dị, tự nhiên nhưng thật hấp dẫn đã đưa người đọc vào câu chuyện của Rít. Được ông tiên cho ba điều ước, Rít đã sử dụng đúng mục đích: có quyền, nhiều tiền, đi ngao du bay nhảy. Đó vốn là những mong muốn thường tình của con người để đáp ứng nhu cầu của đời sống vật chất, đời sống tinh thần. Mặc dù ba điều ước của chàng thợ rèn được thực hiện dễ dàng, cầu được ước thấy nhưng chàng vẫn không hạnh phúc. Rít chán làm vua vì làm vua chỉ ăn không ngồi rồi. Rít chán cả tiền vì tiền nhiều thì luôn bị bọn cướp rình rập, ăn không ngon, ngủ không yên. Rít chấn cả thú vai bay lên trời vì ngắm cảnh đẹp mãi cũng hết hứng thú. Những vui thú ấy chỉ là nhất thời, là niềm vui trong chốc lát. Hai điều ước được thực hiện, nhưng Rít nhanh chóng nhận ra cách sống ấy không hợp với chàng. Rít hai lần thấy “chán”, rồi chàng “bỏ cung điện ra đi”, cùng nỗi nhớ quê da diết, không phải chỉ là “chẳng vui” nữa, mà “chàng thèm được trở về quê”. Các chi tiết được kể một cách sinh động, hấp dẫn, để lại được ấn tượng sâu xa, với một nhịp điệu kể khoan thai, vừa kể vừa ngẫm ngợi. Hạnh phúc không phải đâu xa, nó nằm ngay trong ngôi nhà của mỗi chúng ta, nơi chúng ta ăn, ở và đi lại mỗi ngày, nơi vang lên khúc nhạc diệu kì, mang hơi thở ấm nống của cuộc sống miệt mài lao động và học tập chăm chỉ. Mỗi chúng ta hãy nâng niu, nuôi dưỡng hạnh phúc của mình trong tình thương yêu của những người xung quanh. Câu kết truyện sáng ngời một chân lí của muôn đời: “Sống có ích mới là điều đáng mơ ước”. Truyện ngắn gọn, nhỏ xinh, lời văn giản dị nhưng ẩn chứa bao ý nghĩa sâu xa. Nhân dân ta đã gửi gắm trong đó những ước mơ, niềm lạc quan vui sống, tình yêu lao động, chân lí của muôn đời sau. XEM THÊM BÀI VỀ QUÊ NGOẠI TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Cảm thụ văn học bài Ba điều ước – Tiếng Việt 3
744
Cảm thụ văn học bài Rước đèn ông sao – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Rước đèn ông sao Tết Trung thu đã đến. Mẹ Tâm rất bận nhưng vẫn sắm cho Tâm một mâm cỗ nhỏ: một quả bưởi có khía thành tám cánh hoa, mỗi cánh hoa cài một quả ổi chín, để bên cạnh một nải chuối ngự và bó mía tím. Tâm rất thích mâm cỗ. Em đem mấy thứ đồ chơi bày xung quanh, nom rất vui mắt. Chiều rồi đêm xuống. Trẻ con bên hàng xóm bập bùng trống ếch rước đèn. Lúc đó, Tâm lại thấy không thích mâm cỗ của mình bằng đám rước đèn. Tâm bỏ mâm cỗ chạy đi xem. Tâm thích nhất cái đèn ông sao của bạn Hà bên hàng xóm. Cái đèn làm bằng giấy bóng kính đỏ, trong suốt, ngôi sao được gắn vào giữa vòng tròn có những tua giấy đủ màu sắc. Trên đỉnh ngôi sao cắm ba lá cờ con. Tâm thích cái đèn quá, cứ đi bên cạnh Hà, mắt không rời cái đèn. Hà cũng biết là bạn thích nên thỉnh thoảng lại đưa cho Tâm cầm một lúc. Có lúc cả hai cùng cầm chung cái đèn, reo: “Tùng tùng tùng, dinh dinh!…” Theo Nguyễn Thị Ngọc Tú Cách đọc Đọc hơi nhanh nhưng ngắt lâu, rõ ràng ở những câu ngắn đầu đoạn (Tết Trung thu đã đến. ; Chiều rồi đêm xuống) để thể hiện niềm vui háo hức của Tâm và các bạn trong đêm Trung thu. Đọc ngắt từng tiếng ở câu cuối: “Tùng tùng/ tùng//, dinh/ dinh!…” Tết Trung thu là dịp vui của thiếu nhi. Biết điều đó nên mẹ Tâm dù rất bận vẫn sắm cho Tâm một mâm cỗ. Mâm cỗ toàn hoa quả chứ không phải thịt cá như các mâm cỗ thường thấy trong những dịp tết khác. Không cần là hoa quả đắt tiền, mà bưởi, ổi, chuối, mía, toàn là thứ bình dị, quen thuộc ở làng quê. Tâm rất thích. Thích vì sự đẹp mắt, thích vì sự long trọng của nó. Tâm bày thêm đồ chơi xung quanh. Tuy nhiên, đêm Trung thu với trẻ con, chơi vẫn thích hơn ăn. Cho nên khi thấy các bạn bập bùng trống ếch là Tâm bỏ ngay mâm cỗ để nhập vào đám rước đèn. Đám rước đèn đông vui các bạn cùng trang lứa, lại có đèn ông sao, đồ chơi mà Tâm rất thích. Tâm không có đèn ông sao nhưng Hà đã chia sẻ niềm yêu thích đó cho Tâm. Niềm vui chia đôi không những không mất mà còn được nhân đôi. Đêm Trung thu vui đâu chỉ vì trăng sáng, vì quà nhiều mà vui bởi tình bạn chan hoà, cởi mở, đầm ấm. XEM THÊM BÀI ĐI HỘI CHÙA HƯƠNG TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Cảm thụ văn học bài Rước đèn ông sao – Tiếng Việt 3
470
Cảm tưởng của em khi đọc bài thơ Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ Hướng dẫn Thuở thơ ấu cháu được nghe thơ ông Minh Huệ trong lời ru của mẹ. Lớn lên cháu được đến trường và lại được học thơ của ông. Cháu xúc động đến trào nước mắt khi học bài thơ Đêm nay Bác không ngủ. Bài thơ đã cho cháu một niềm tự hào lớn, niềm tự hào của tuổi thơ được sinh ra và lớn lên trong thời đại Hồ Chí Minh. Bài thơ được cấu trúc dựa theo một câu chuyện kể về một anh bộ đội được ở cùng lán với Bác Hồ trong một đêm đi chiến dịch. Hai khổ thơ đầu nhà thơ đã thể hiện cả thời gian, khung cảnh và nhân vật: Anh đội viên thức dậy Thấy trời khuya lắm rồi Mà sao Bác vẫn ngồi Đêm nay Bác không ngủ Lặng yên bên bếp lửa Vẻ mặt Bác trầm ngâm Ngoài trời mưa lâm thâm Mái lều tranh xơ xác Khi anh đội viên thức dậy thì trời đã khuya lắm rồi, ngoài trời mưa lâm thâm. Cháu hình dung ra cái khắc nghiệt của một đêm có mưa và gió buốt của núi rừng. Hình ảnh Bác Hồ ngồi trầm ngâm bên bếp lửa đã sưởi ấm lòng người đọc, xua đi cái lạnh lẽo, tối tăm của rừng đêm và dâng lên trong ta một tình cảm rất đỗi thiêng liêng. Bác Hồ vĩ đại! Vĩ đại ngay trong những việc làm bình thường của Bác. Bác không ngủ, Bác ngồi đó, Bác đốt ngọn lửa sưởi ấm cho bộ đội ngủ ngon giấc. Trước mắt cháu hiện lên hình ảnh một người cha hiền hậu: Rồi Bác đi dém chăn Từng người từng người một Sợ cháu mình giật thột Bác nhón chân nhẹ nhàng … Người đi dém chăn cho từng đứa con mình thêm hơn ấm. Sợ con mình giật thột, người cha già nhón chân đi từng bước nhẹ nhàng. Từ hành động thiết thực của Bác, anh đội viên bỗng thấy người cha lớn lao quá. Anh thấy Bác như một ông tiên hiền hậu: Anh đội viên mơ màng Như nàm trong giấc mộng Bóng Bác cao lồng lộng ấm hơn ngọn lửa hồng Nhà thơ đã sử dụng nhiều câu thơ đối thoại. Ở đây ta thấy lời nói tình cảm của anh bộ đội là tình cảm của người con đối với người cha. Thái độ, tình cảm của Bác đối với bộ đội là thái độ, tình cảm của người cha đối với đứa con ngoan. Và lần thứ ba thức dậy, anh bộ đội hốt hoảng, giật mình khi nhìn thấy Bác vẫn ngồi đinh ninh. Bẳng cả nỗi lòng thương yêu, kính cẩn của mình, anh đã khẩn khoản, van nài mời Bác đi ngủ. Nhưng Bác làm sao ngủ được khi Bác thương đoàn dân công Đêm nay ngủ ngoài rừng Rải lá cây làm chiếu Manh áo phủ làm chăn Trời thì mưa lâm thâm Làm sao cho khỏi ướt Đọc đến đây khó ai có thể cẩm được nước mắt trước tấm lòng lãnh tụ. Cả giấc ngủ của mình Bác cũng dành cho cháu con, đất nước. “Anh đội viên nhìn Bác – Bác nhìn ngọn lửa hồng”. Bác đã truyền sang cho anh một sức mạnh, tiếp sức cho anh để ngày mai người lính – người con ấy lên đường và giành lấy thắng lợi. Bài thơ đã đưa người đọc trở về với cuộc kháng chiến chống Pháp đầy thiếu thốn, gian khổ, hi sinh. Bác ra trận cũng bình dị như muôn người chiến sĩ khác. Cũng dép cao su, cũng mũ nan, lội suối, bang rừng. Cũng chịu đựng gian khổ, hi sinh … Ta thật sự hạnh phúc, tự hào khi cuộc đời ta có Bác, được đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã chọn: Đêm nay Bác ngồi đó Đêm nay Bác không ngủ Vì một lẽ thường tình Bác là Hồ Chí Minh Bài thơ được kết thúc bằng một khổ thơ tuyệt đẹp và trong sáng. Đó cũng là một chân lí của hàng triệu con người khi nghĩ về lãnh tụ. Cháu tin rằng ông Minh Huệ viết bài thơ này trong một khung cảnh đặc biệt về nội tâm và hoàn cảnh. Để hoàn thành bài thơ, có lẽ là ông đã bao đêm thao thức, trăn trở. Ông đã viết bài thơ bằng cả trái tim mình, bằng cả tình thương vô bờ bế của mình đối với lãnh tụ. Bằng cả một cảm xúc thiêng liêng, ông đã viết lên những vần thơ bất hủ. Và chắc chắn ông cũng là một người lính được tôi luyện trong cách mạng. Chúng cháu xin thành kính cảm ơn ông Minh Huệ bằng bút pháp tài hòa và chân thực đã để lại cho đời, cho chúng cháu và muốn thế hệ mai sau một bức chân dung bằng thơ về Bác kính yêu. Anh chị hãy phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ Đêm nay bác không ngủ của Minh Huệ Bài làm Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ là một trong những bài thơ thành công nhất về Bác Hồ và đã trở nên quen thuộc với nhiều thế hệ. Bài thơ được viết dựa trên những sự kiện có thực. Năm 1950, trong chiến dịch Biên giới, Bác Hồ đã trực tiếp ra mặt trận chỉ huy chiến đấu. Đầu năm 1951, Minh Huệ đang ở Nghệ An thì được một người bạn là bộ đội vừa từ Việt Bắc về kể cho nghe chuyện được gặp Bác Hồ. Câu chuyện về một đêm không ngủ của Bác Hồ trên đường đi chiến dịch đã tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ và cảm xúc của nhà thơ, là nguồn thi hứng để Minh Huệ sáng tác nên bài thơ này. Bài thơ thể hiện tấm lòng yêu thương sâu sắc, rộng lớn của Bác đối với bộ đội và nhân dân, đồng thời thể hiện tình cảm yêu kính, cảm phục của người chiến sĩ đối với lãnh tụ. Mối quan hệ gắn bó giữa lãnh tụ cách mạng và quần chúng cách mạng cũng được phản ánh rất thành công trong tác phẩm. Trong thơ ca Việt Nam đã có nhiều bài thơ của nhiều tác giả viết về Bác Hồ với những cách thể hiện khác nhau. Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ sử dụng thể thơ năm chữ thích hợp với lối kể chuyện kết hợp miêu tả. Đây là bài thơ tự sự trữ tình có nhiều chi tiết giản dị và cảm động được trình bày như một câu chuyện về người thật việc thật. Có hoàn cảnh, không gian, thời gian, địa điểm, có diễn biến sự việc, có cả lời đối thoại giữa hai nhân vật (anh đội viên và Bác Hồ). Bài thơ có thể tóm tắt như sau: Trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, trên đường đi kiểm tra khâu chuẩn bị của chiến dịch Biên giới, Bác Hồ đến thăm một đơn vị chủ lực rồi nghỉ chân tại nơi đóng quân của bộ đội. Đêm khuya, trời mưa lâm thâm và rất lạnh. Anh đội viên thức dậy lần đầu, thấy Bác ngồi bên bếp lửa rồi đi dém chăn cho từng người, anh năn nỉ mời Bác đi ngủ. Lần thứ ba thức dậy, anh thấy Bác vẫn thức. Trời đã gần sáng, anh tâm tình với Bác và thức luôn cùng Bác. Trong bài thơ có hai nhân vật: Bác Hồ và anh đội viên chiến sĩ. Hình tượng trung tâm là Bác Hồ được miêu tả qua cái nhìn và tâm trạng của người chiến sĩ, qua những lời đối thoại giữa hai người. Qua đó, bài thơ phản ánh tấm lòng yêu thương rộng lớn của Bác Hồ với đồng bào, chiến sĩ và thể hiện tình cảm kính yêu, khâm phục của bộ đội, nhân dân đối với Bác Hồ. Cảm nghĩ về bài thơ Đêm nay Bác không ngủ Bài làm Hai khổ thơ đầu giới thiệu thời gian, không gian của câu chuyện, hình ảnh Bác Hồ và anh đội viên: Anh đội viên thức dậy Thấy trời khuya lắm rồi Mà sao Bác vẫn ngồi Đêm nay Bác không ngủ. Lặng yên nhìn bếp lửa Vẻ mặt Bác trầm ngâm. Ngoài trời mưa lâm thâm Mái lều tranh xơ xác. Đêm khuya, trời mưa, gió lạnh… Anh đội viên đã ngủ được một giấc. Lần đầu thức dậy, thấy Bác vẫn ngồi bên bếp lửa, anh băn khoăn thắc mắc, ngạc nhiên vì trời đã khuya lắm rồi mà Bác vẫn ngồi trầm ngâm bên bếp lửa. Từ ngạc nhiên đến xúc động, anh hiểu rằng Bác vẫn lặng lẽ đốt lửa để sưởi ấm cho chiến sĩ. Anh kín đáo dõi theo diễn biến tâm trạng trên nét mặt và trong từng cử chỉ ân cần của Bác. Trong lòng anh dấy lên tình cảm yêu thương, kính trọng Người vô hạn: Anh đội viên nhìn Bác Càng nhìn lại càng thương Người Cha mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm Rồi Bác đi dém chăn Từng người từng người một. Sợ cháu mình giật thột Bác nhón chân nhẹ nhàng Bác đốt lửa sưởi ấm căn lều rồi đi dém chăn cho từng người. Bác coi trọng giấc ngủ của chiến sĩ nên nhón chân nhẹ nhàng. Bác ân cần chu đáo không khác gì bà mẹ hiền yêu thương, lo lắng cho đàn con. Hành động này đã thể hiện tình yêu thương và sự chăm sóc ân cần, tỉ mỉ của Bác Hồ với chiến sĩ. Bác như người cha, người mẹ chăm lo cho giấc ngủ của những đứa con. Sự chăm sóc thật chu đáo, không sót một ai: Từng người, từng người một. Cử chỉ nhón chân nhẹ nhàng của Bác để không làm các chiến sĩ thức giấc là một chi tiết đặc sắc, thật giản dị mà xúc động, bộc lộ tấm lòng yêu thương sâu xa và sự tôn trọng, nâng niu của vị lãnh tụ đối với bộ đội. Anh đội viền mơ màng Như nằm trong giấc mộng Bóng Bác cao lồng lộng Ấm hơn ngọn lửa hồng. Hình ảnh và cử chỉ của Bác trong đêm khiến anh đội viện không phân biệt được cảnh trước mắt mình là thực hay là mộng. Ngọn lửa bập bùng soi bóng Bác khi mờ khi tỏ. Tâm trạng anh ngạc nhiên và xúc động. Đang tỉnh mà anh nghĩ là mình đang mơ. Anh mơ màng thấy bên ánh lửa bập bùng, bóng Bác cao lồng lộng in trên vách nứa đơn sơ, vừa chập chờn hư ảo, vừa ấm áp yêu thương. Bác như ông Bụt, ông Tiên xuất hiện giữa khung cảnh phảng phất không khí cổ tích (dưới mái lều tranh, trong đêm khuya, giữa rừng sâu). Từ Bác tỏa ra hơi ấm lạ kì: Ấm hơn ngọn lửa hồng. Đó là hơi ấm của tình thương bao la, nồng đượm, cao sâu hơn cả tình mẹ đối với con. Thực và mộng đan cài vào nhau, tạo nên hình ảnh tuyệt đẹp về Bác. Lồng lộng bóng hình nhưng cũng là lồng lộng chiều rộng, chiều cao của tấm lòng Bác. Anh đội viên thấy mình như đang được nằm trong lòng Bác và anh sung sướng bồi hồi. Càng bồi hồi anh càng lo lắng khi thấy đêm đã khuya rồi mà Bác vẫn chưa đi ngủ: Thổn thức cả nỗi lòng Thầm thì anh hỏi nhỏ: Bác ơi Bác chưa ngủ Bác có lạnh lắm không? Xúc động cao độ, anh đội viên tha thiết mời Bác đi nghỉ. Nỗi lo Bác ốm cứ bề bộn trong lòng anh. Bác không trả lời câu hỏi của anh mà ân cần khuyên nhủ: Chú cứ việc ngủ ngon Ngày mai đi đánh giặc Vâng lời anh nhắm mắt nhưng vẫn thấp thỏm không yên: Không biết nói gì hơn Anh nằm lo Bác ốm Lòng anh cứ bề bộn Vì Bác vẫn thức hoài Chiến dịch hãy còn dài Rừng lắm dốc lắm ụ Đêm nay Bác không ngủ Lấy sức đâu mà đi? Nỗi lo lắng của anh thật thiết thực, bởi trong suy nghĩ của anh, Bác là linh hồn chiến dịch. Lần đầu thức dậy, anh đội viên thấy Bác ngồi lặng yên bên bếp lửa, vẻ mặt Bác trầm ngâm như đang nghĩ ngợi chăm chú về một điều gì đó. … Lần thứ ba thức dậy, anh đội viên hốt hoảng giật mình khi thấy: Bác vẫn ngồi đinh ninh Chòm râu im phăng phắc. Tư thế ấy biểu lộ Bác đang tập trung suy nghĩ cao độ. Anh lo lắng vì sợ Bác mệt, không tiếp tục được cuộc hành trình. Sự lo lắng ở anh đã thành hốt hoảng thực sự và nếu lần trước anh chỉ dám thầm thì hỏi nhỏ thì lần này anh năn nỉ mạnh dạn hơn, tha thiết hơn: Anh vội vàng nằng nặc Mời Bác ngủ Bác ơi Trời sắp sáng mất rồi Bác ơi! Mời Bác ngủ! Cảm động trước nhiệt tình của người chiến sĩ, Bác thấy cần phải giải thích nguyên nhân mình không ngủ để cho anh yên tâm: Bác thức thì mặc Bác Bác ngủ không an lòng Bác thương đoàn dân công Đêm nay ngủ ngoài rừng Rải lá cây làm chiếu Manh áo phủ làm chăn. Trời thì mưa lâm thâm Làm sao cho khỏi ướt! Càng thương càng nóng ruột Mong trời sáng mau mau. Nếu như ở đoạn thơ trên, nguyên nhân Bác không ngủ chỉ nằm trong những phán đoán của anh chiến sĩ thì đến đoạn này, Bác đã giải thích rõ ràng: Bác không ngủ vì Bác lo cho bộ đội, dân công đang ngủ ngoài rừng. Tuy không thấy tận mắt, nhưng Bác cảm nhận rất cụ thể những gian lao vất vả của họ. Câu trả lời của Bác đã khiến cho anh đội viên thêm hiểu và thấm thía tấm lòng nhân ái mênh mông của vị Cha già dân tộc. Bác lo cho bộ đội, dân công cũng chính là lo cho cuộc kháng chiến gian khổ nhưng anh dũng của dân tộc nhằm giành lại chủ quyền độc lập, tự do, cơm áo, hòa bình. Được chứng kiến những hành động và lời nói biểu hiện tình thương và đạo đức cao cả của Bác Hồ, anh chiến sĩ thấy trong tâm hồn mình tràn ngập một niềm hạnh phúc. Bác đã khơi dậy tình đồng đội, tình giai cấp đẹp đẽ, cao quý. Khi đã hiểu rõ tâm trạng của Bác thì người chiến sĩ: Lòng vui sướng mênh mông, Anh thức luôn cùng Bác. Bài thơ thể hiện tình cảm chung của bộ đội và nhân dân ta đối với Bác Hồ. Đó là niềm hạnh phúc được đón nhận tình yêu thương và sự chăm sóc ân cần của Bác Hồ. Đồng thời là lòng tin yêu, biết ơn sâu sắc và tự hào về vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại mà bình dị. Tình cảm của tác giả được bộc lộ dàn trải suốt bài thơ. Riêng ở đoạn cuối, chúng ta thấy có sự hòa hợp khéo léo giữa suy nghĩ của nhà thơ và tâm trạng người chiến sĩ: Đêm nay Bác ngồi đó Đêm nay Bác không ngủ Vì một lẽ thường tình Bác là Hồ Chí Minh Nhà thơ đặt mình vào vị trí nhân vật anh đội viên để cảm nhận, suy nghĩ về Bác – người Cha già thân thiết của quân đội và nhân dân Việt Nam. Chính vì vậy nên cảm xúc của nhà thơ đạt tới mức chân thành và sâu sắc. Đoạn thơ cuối khẳng định một chân lí đơn giản mà lớn lao: Bác không ngủ vì một lí do bình thường, dễ hiểu: Bác là Hồ Chí Minh. Nói đến Bác là nói đến tình thương và trách nhiệm rộng lớn, cao cả. Yêu nước, thương dân là đạo đức thuộc bản chất của Bác Hồ. Đêm không ngủ được miêu tả trong bài thơ chỉ là một trong vô vàn những đêm không ngủ của Bác. Không ngủ vì lo việc nước và thương bộ đội, dân công là lẽ thường tình, vì Bác là Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ của dân tộc và người cha thân yêu của quân đội ta. Cuộc đời Người đã dành trọn vẹn cho nhân dân, Tổ quốc. Đó chính là lẽ sống nâng niu tất cả chỉ quên mình của Bác mà mọi người dân đều thấu hiểu và kính phục. Đêm nay Bác không ngủ là một trong những bài thơ thành công về đề tài lãnh tụ. Thông qua sự việc bình thường, với lối diễn dạt giản dị, trong sáng, những chi tiết chân thực, hình ảnh gợi cảm, tác giả giúp cho người đọc thấy được sự gắn bó chặt chẽ giữa Bác Hồ và đồng bào, chiến sĩ – đồng thời làm sáng tỏ phẩm chất cao đẹp của Người. Suốt một đời Bác có ngủ yên đâu (Hải Như). Trước lúc ra đi, Bác còn để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn Đảng, toàn dân. Chúng ta nguyện sống, học tập và làm việc sao cho xứng đáng với Bác kính yêu. Đây là bài viết mình đã từng đọat giải nhì cuộc thi Thuyết trình tác phẩm văn học, các bạn đồng ý thì xin cho 1 lời cảm ơn nêu là người lịch sự. Kính thưa quý vị đại biểu,quý thầy cô giáo và các bạn thân mến! Như mọi người đã biết,Bác Hồ -vị cha già kính yêu của dân tộc,Người đã lèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam cập bến bờ vinh quang. Trong tâm trí Bác luôn thường trực những nỗi lo,những suy nghĩ về dân,về nước:“Hôm nay,đồng bào miền Nam ngoài ấy như thế nào?” “Các chiến sĩ dân công đang ở trên rừng có rét lắm không?”… “Bác Hồ”,một cái tên mà hễ nhắc đến là mỗi người dân Việt Nam dù ở thành thị hay nông thôn,dù đồng bằng ha y miền núi,dù trong nước hay đang ở nước ngoài đều biết đến và dành riêng cho người một tình cảm sâu đậm nhất. Giống như một nhà thơ đã từng viết: “Bác ơi tim Bác mênh mông thế Ôm cả non sông mọi kiếp người” Kính thưa quý thầy cô cùng các bạn! Văn học hiện đại Việt Nam có rất nhiều bài thơ viết về chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.Trong số đó,có bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ”của nhà thơ Minh Huệ.Bài thơ được viết giữa năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra ác liệt.Bằng những vần thơ sâu lắng, thiết tha,Minh Huệ đã khắc hoạ lại hình ảnh một vị lãnh tụ qua cách nhìn của người chiến sĩ giữa rừng sâu Việt Bắc,Bác Hồ cùng chiến sĩ ra trận,cùng trú quân dưới một túp lều tranh đơn sơ trong khu rừng già rét buốt. Bài thơ đã làm dâng trào trong con tim bao người đọc một nỗi niềm xúc động “Đêm nay Bác không ngủ”đã đọng lại trong em hình ảnh Người cha già kính yêu của dân tộc đang thổn thức giữa trời đêm lạnh giá.Bác lo cho việc nước, việc quân, Bác không ngần ngại hi sinh giang khổ để trực tiếp chỉ huy bộ đội đánh giặc.Bác trầm ngâm,đăm chiêu lặng lẽ…trong khi mọi người đang ngủ ngon.Bác xem những chiến sĩ như những đứa con thân yêu của mình.Trong bài,nhà thơ đã viết: Người cha mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm Rồi Bác đi dém chăn Từng người, từng người một Bác nhóm lên ngọn lửa yêu thương từ con tim của mình để truyền hơi ấm cho con cháu.Điệp ngữ “từng người”đã thể hiện tình cảm bao la của Bác dành cho các chiến sĩ.Đối với ai Người cũng chia đều cho họ một tình cảm yêu thương,đằm thắm, nhẹ nhàng mà cao cả.Làm cho mọi người cảm thấy hạnh phúc,ấm áp biết bao cho dù đang ở nơi rừng núi sâu thẳm lạnh buốt.trong bài,Minh Huệ không tả cái lạnh ở rừng núi Việt Bắc mà chỉ viết rằng: Ngoài trời mưa lâm thâm Mái lều tranh xơ xác Chỉ qua hai câu thơ,tác giả đã thể hiện được sự thiếu thốn về vật chất của những chiến sĩ và Bác Hồ ở chốn rừng sâu Việt Bắc.Giữa làn mưa phùn dai dẳng,mọi người cùng nhau dựng lên lán trại bằng tranh đơn sơ,dưới tán cây xanh thẳm.Tuy thiếu thốn về vật chất,nhưng các chiến sĩ lại được.Bác thắp sáng ngọn lửa tâm hồn,Bác yêu thương,chăm sóc từng li từng tí cho mọi người, cho đất nước như người cha chăm sóc cho đàn con thân yêu của mình.người cha ấy đã trằn trọc suốt đêm lo lắng cho chiến dịch đang còn dở dang: Anh đội viên thức dậy Thấy trời khuya lắm rồi Mà sao Bác vẫn ngồi Đêm nay Bác không ngủ Đoạn thơ trên tuy mộc mạc,giản dị nhưng đã lột tả được tình cảm của bác đối với dân tộc,với đất nước.Bác thức suốt đêm với bao nỗi niềm,với bao tình thương.Bác như bức tường thành vững chãi bảo vệ cho các chiến sĩ ở ngoài mặt trận vượt qua bao thử thách.Bác là người cha già của đất nước với bao nỗi lo toan sớm hôm,đáng nhẽ ra Bác phải là người đi ngủ sớm nhất để có sức lo cho chiến dịch còn cả đoạn đường dài nhưng “không!”Người vẫn thức suốt đêm để giữ sự bình yên cho giấc ngủ của mọi người.Sự “trầm ngâm trên nét mặt”, “lặng yên bên bếp lửa”đã thể hiên một tâm hồn đang nặng trĩu những nỗi lo âu.Tuy bề ngoài nhẹ nhàng,lặng lẽ nhưng trong thâm tâm Bác là cả một khối suy nghĩ khổng lồ,Bác luôn ôm cả trăm công ngàn việc và điều đó đã làm cho anh đội viên cảm động về tình cảm của Bác với non sông,với mọi người: Anh đội viên nhìn Bác Càng nhìn lại càng thương Người cha mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm Càng nhìn Bác,anh đội viên càng khám phá ở Bác bao điều kì diệu về một con người nguyện hi sinh trọn cuộc đời vì dân tộc.Ánh lửa rừng mà Bác nhóm nên đã sáng rực lên tấm lòng nhân ái bao la của Bác.Người đã chăm sóc cho các anh chiến sĩ như tình cha con ruột thịt.Ánh lửa Bác nhóm lên không đơn giản chỉ là ánh lửa rừng mà còn là ánh lửa của lòng yêu nước từ tận đáy lòng,tình thương nồng ấm dành cho các anh chiến sĩ giữa màn đêm lạnh giá.Người đã truyền thêm sức mạnh cho con dân nước Việt Nam để đưa chiến dịch đi đến thành công.Chính sự chăm chút của Bác đã làm cho anh đội viên mơ màng trong giây phút thần tiên,cảm xúc dâng lên dạt dào trong lòng,anh cảm thấy hình ảnh Bác như kì vĩ hẳn lên: Bóng Bác cao lồng lộng Ấm hơn ngọn lửa hồng. Bằng biện pháp tu từ so sánh,tác giả đã thể hiện hình ảnh lớn lao của Bác Hồ trong mắt anh chiến sĩ và trong mắt mỗi người dân Việt Nam.Bác như một ông tiên trong những câu chuyện cổ tích,ông tiên to lớn,vĩ đại, bóng hình ông “lồng lộng”,ông tiên đã đem ánh lửa soi sáng mọi nẻo đường trên khắp dải đất hình chữ S.Bác đã mang phép màu đến cho nước Việt,đưa cả dân tộc đến bến bờ thành công.Tình cảm của người cha dành cho những đứa con của mình thật lớn lao và sâu nặng. Lần thứ ba thức dậy,anh đội viên hoảng hốt khi thấy Bác vẫn còn ngồi đó: Lần thứ ba thức dậy Anh hoảng hốt giật mình Bác vẫn ngồi đinh ninh Chòm râu im phăng phắc Lần thứ ba anh đội viên thức dậy,đã sau mấy giờ đồng hồ mà Bác vẫn còn ngồi đó với bao tâm tư.Chi tiết này đã thể hiện được sự quan tâm, lo lắng của anh chiến sĩ đối với Bác,đối với người cha của dân tộc.Cho dù nghe lời khuyên của Bác,anh chiến sĩ vẫn đi ngủ nhưng thỉnh thoảng lại tỉnh giấc.anh không thể ngủ được khi người cha của mình vẫn còn ngồi lặng lẽ ở đó.Và từ lần đầu,anh chỉ mới thầm thì hỏi nhỏ, sang đến lần thứ ba anh đã hoảng hốt nằng nặc mời Bác ngủ: Trời sắp sáng mất rồi Bác ơi! mời Bác ngủ! Đoạn thơ trên đã đảo trật tự ngôn từ,lặp cụm từ: “Mời Bác ngủ,Bác ơi”diễn tả tăng dần sự bồn chồn, lo lắng cho sức khoẻ Bác Hồ của anh chiến sĩ.Mặc dù đã ba lần anh đội viên tha thiết mời Bác ngủ nhưng Người vẫn cứ thức,Người còn động viên anh chiến sĩ: Chú cứ việc ngủ ngon Ngày mai đi đánh giặc Bác thức thì mặc Bác Bác ngủ không an lòng Bằng cách trả lời dứt khoát mà giản dị, mộc mạc,Bác đã động viên anh chiến sĩ đi ngủ để ngày mai đánh giặc. Còn Bác,Bác thức để lo cho non sông, đất nước,Bác ngủ không an lòng vì trong lòng còn bao nỗi lo âu.Cả một khối công việc đang chất đầy trong bộ não của Bác.Và để cho anh đội viên khỏi phải băng khoăn,muốn cho anh an lòng đi ngủ,bác đã giải thích: Bác thương đoàn dân công Đêm nay ngủ ngoài rừng Rải lá cây làm chiếu Manh áo phủ làm chăn Trời thì mưa lâm thâm Làm sao cho khỏi ướt! Một nỗi xúc động đột ngột dâng trào trong anh chiến sĩ.hiểu được tấm lòng của Bác,anh chiến sĩ vô cùng vui sướng.Anh muốn chia sẻ niềm lo toan với Bác và đã thức luôn cùng Bác.Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ vĩ đại,một người cha hiền hậu,Bác không chỉ lo những việc lớn mà còn nghĩ đến từng miếng ăn, giấc ngủ của người dân.Hình ảnh “Anh đội viên nhìn Bác,Bác nhìn ngọn lửa hồng”thật đẹp mà cao quý.Đó là cái đẹp của tình cảm cha con chân thành,cái đẹp của ánh lửa Bác nhóm lên trong lòng anh chiến sĩ và tất cả người dân Việt Nam.Ở đoạn kết,Minh Huệ đã viết: Vì một lẽ thường tình Bác là Hồ Chí Minh Lẽ thường tình ấy đơn giản,dễ hiểu mà sâu sắc.Vì tên Người là Hồ Chí Minh.Vì người đã từng ra trận, đồng cam cộng khổ với các chiến sĩ, dân công. Ba chữ “Lẽ thường tình” hiện ra trong lòng người đọc bao nhiêu liên tưởng tốt đẹp về vị lãnh tụ kính yêu.Ôi! Bác thật là một con người vì nước quên thân,đúng như nhà thơ Tố Hữu đã từng viết: Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta Thương cuộc đời chung,thương cỏ hoa. Chỉ biết quên mình cho hết thảy Như dòng sông chảy nặng phù sa. Văn học hiện đại Việt Nam có rất nhièu bài thơ viêt về Bác Hồ kính yêu, trong đó bài thơ Đêm nay Bác không ngủ của nhà thơ Minh Huệ đã gây xúc động cho bao người đọc. Bài thơ đã đọng lại cho tôi niềm kính yêu Bác vô hạn. Hình tượng Bác Hồ trong bài văn thật thiêng liêng, cao cả. Bác lo cho việc nước việc quân. Bác không ngần ngại hy sinh gian khổ để trực tiếp chỉ huy chiến dịch. Bác đã thức suốt đêm trầm ngâm, đăm chiêu, lặng lẽ,… trong lúc mọi người đang say giấc ngủ. Bác thức vì thương chiến sĩ trong khói lửa chiến tranh, thương đoàn dân công đang ngủ ngoài rừng ướt lạnh. Hình tượng Bác – hình tượng người cha của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam thật giàu lòng nhân ái. Bác xem từng chiến sĩ như những đứa con thân yêu của mình: Bác đốt lửa sưởi ấm cho anh chiến sĩ, Bác rón rén đi dém chăn cho từng người, từng người một. Bác đã đót ngọn lửa yêu thương từ nơi trái tim mình để truyền hơi ấm cho con cháu. Người lính nào cuãng được Bác chăm lo, chia phần yêu thương, một tình yêu thương đằm thắm, dịu dàng tựa như lòng mẹ đối với những đứa con thơ. Tình thương của Bác đã làm cho bao người hạnh phúc. Sự chăm chút của Bác đã làm anh đội viên mơ màng trong giây phút thần tiên, cảm xúc dâng lên dạt dào trong lòng, anh cảm thấy tự hào, sung sướng, thấy mình được truyền thêm tự tin sức mạnh để đi tới ngày mai. Người chiến sĩ cảm thấy Bác thật vĩ đại, tìh yêu thương của Bác thật bao la, sâu thẳm, Bác lo cho mọi người còn hơn Bác lo cho chính mình. Bác là một vị lãnh tụcua3 đất nước với bao nỗi lo toa, lại là tuổi đã cao nhưng Bác vẫn tham gia chiến dịch. Đáng lẽ Bác phải ngủ sớm để còn lo cho công việc ngày mai. Vậy mà Bác không ngủ, thức suốt đêm chăm sóc, lo lắng cho người khác. Bác đã làm cho người chiếc sĩ xúc động Anh đội viên nhìn Bác Càng nhìn lại càng thương Càng nhìn Bác, người chiến sĩ còn khám phá ở Bác bao điều kì diệu. Ánh lửa rừng Bác nhóm lên để sưởi ấm cho anh chiến sĩ đã sáng rực lên lòng nhân ái của Bác. Cử chỉ của Bác thật gần gũi, thiêng liêng chẳng khác nào tình cha con ruột thịt. Tầm vóc lớn lao của lãnh tụ đã vượt ra ngoài trí tưởng tượng của anh chiến sĩ. Bác không chỉ lo cho những người chiến sĩ ở trong lều mà còn bồn chồn lo lắng cho đoàn dân công đang ở ngoài rừng ướt lạnh. Dù đã ba lần người đội viên thiết tha mời bác ngủ nhưng Bác vẫn thức. Bác còn động viên anh chiến sĩ Chú cư việc ngủ ngon Ngày mai đi đánh giặc Việc làm cao đẹp của Bác đã làm cho an đội viên cảm phục. Hiểu được tấm lòng của Bác, anh tràn ngập niềm vui sướng. Anh muốn chia sẻ nỗi lo toan của Bác nên đã thức luôn cùng Bác. Tình cảm của Bác đối với đồng bào và các anh chị chiến sĩ đã đạt lên tới đỉnh cao. Tình cảm ấy cũng được đáp lại bằng tình yêu. Người chiến sĩ xem Bác như người cha ruột thịt của mình. Đây là bức tranh hài hòa về tình yêu giữa lãnh tụ và quần chúng, giữa người chiến sĩ và lãnh tụ. Hình tượng của Bác trong bài thơ Đêm nay Bác không ngủ ta tưởng chừng đó chỉ là một hình tượng văn học, nhưng nó lại là một hình tượng thật, một sự kiện có thật trong lịch sử. Hình tượng của Bác đã làm trái tim muôn triệu con người rung động. Tấm guơng đạo đức của Bác luôn soi sáng cho muôn đời, soi sáng cho bao thế hệ. Soạn Bài: Đêm Nay Bác Không Ngủ Bài làm I. VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 1. Thể loại “Thơ là một hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu)” (Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi: Từ điển thuật ngữ văn học, Sđd). Các bài học: Đêm nay Bác không ngủ (của Minh Huệ), Lượm (của Tố Hữu), Mưa (của Trần Đăng Khoa) thuộc thể loại thơ có yếu tố tự sự và miêu tả. 2. Tác giả Nhà thơ Minh Huệ tên khai sinh là Nguyễn Đức Thái, sinh năm 1927, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, quê ở thành phố Vinh. Tác phẩm đã xuất bản: Tiếng hát quê hương (thơ, 1959); Đất chiến hào (thơ, 1970); Mùa xanh đến (thơ, 1972); Đêm nay Bác không ngủ (thơ, 1985); Rừng xưa, rừng nay (bút kí, 1962); Ngọn cờ Bến Thuỷ (truyện kí, 1974-1979); Người mẹ và mùa xuân (truyện kí, 1981); Phút bi kịch cuối cùng (tiểu thuyết, 1990); Thưởng thức thơ viết về Bác Hồ (tiểu luận, 1992). Nhà thơ đã được nhận: Giải Nhất chi hội văn nghệ kháng chiến khu Bốn và Sở Thông tin tuyên truyền khu Bốn 1954 (thơ Dòng máu Việt Hoa); Giải thưởng Nguyễn Du của Nghệ – Tĩnh 1986 (tập thơ Đêm nay Bác không ngủ). II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ kể lại câu chuyện một đêm không ngủ của Bác Hồ trên đường Người đi chiến dịch trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp và cảm nghĩ của người chiến sĩ về Bác. Diễn biến câu chuyện có thể tóm tắt như sau: Thức dậy trong một đêm mưa ở giữa rừng, anh đội viên thấy Bác Hồ đốt lửa và hết sức tận tình chăm sóc cho giấc ngủ của bộ đội. Lần thứ ba thức dậy, anh mời Bác ngủ nhưng Bác vẫn từ chối. Chứng kiến cảnh đó, anh vô cùng cảm phục tấm lòng cao cả của Bác. 2. Hình tượng Bác Hồ trong bài thơ được miêu tả qua con mắt và cảm nghĩ của anh (đội viên) chiến sĩ. Anh vừa là người chứng kiến một đêm không ngủ của Bác, vừa trực tiếp được đối thoại với Bác cho nên câu chuyện được kể lại một cách tự nhiên, sinh động; đồng thời giúp cho hình tượng trung tâm của bài thơ là Bác Hồ được phản ánh vừa chân thực vừa khách quan. 3. Bài thơ kể lại hai lần anh đội viên thức dậy nhìn thấy Bác không ngủ. Mỗi lần tâm trạng và cảm nghĩ của anh đối với Bác có những điểm khác nhau: Lần thức dậy thứ nhất Lần thức dậy thứ hai – Tâm trạng: từ ngạc nhiên (Thấy trời khuya lắm rồi. Mà sao Bác vẫn ngồi) đến ái ngại, lo lắng không yên (Anh nằm lo Bác ốm. Lòng anh cứ bề bộn) và trào dâng niềm thương Bác: (Càng nhìn lại càng thương); đồng thời rất xúc động khi chứng kiến tình cảm của Bác (Bác đốt lửa sưởi ấm cho chiến sĩ, Bác nhẹ chân đi dém chăn cho từng người). Trong trạng thái như trong giấc mộng, anh cảm nhận được sự vĩ đại mà gần gũi của vị lãnh tụ (Bóng Bác cao lồng lộng. ấm hơn ngọn lửa hồng). – Tâm trạng: từ hốt hoảng (anh hốt hoảng giật mình), không chỉ “thầm thì anh hỏi nhỏ” như lần ttrước mà tha thiết “vội vàng nằng nặc” mời Bác ngủ (Mời Bác ngủ Bác ơi!… Bác ơi! Mời Bác ngủ). Trước câu trả lời của Bác, anh đội viên càng cảm nhận được tấm lòng yêu thương vô hạn của Bác đối với bộ đội và nhân dân, cho nên tâm trạng của anh thấy được lớn lên bêb Bác (Lòng vui sướng mênh mông. Anh thức luôn cùng Bác). Trong bài thơ, tác giả không kể lần thức dậy thứ hai của anh đội viên, nhưng lần thứ ba qua câu thơ Bác vẫn ngồi đinh ninh người đọc cũng thấy được: trong đêm ấy anh đội viên nhiều lần thức dậy và lần nào cũng chứng kiến Bác Hồ không ngủ. Từ lần một đến lần ba, tâm trạng và cảm nghĩ của anh có những biên đổi rất rõ rệt. 4. Trong đoạn kết bài thơ, tác giả viết: … Đêm nay Bác không ngủ Vì một lẽ thường tình Bác là Hồ Chí Minh. Trong suốt cuộc đời hoạt động Cách mạng của mình, Bác Hồ đã trải qua nhiều đêm không ngủ. Còn nhớ, thời kì bị giam cầm ở nhà lao của Tưởng Giới Thạch, Bác từng: “Một canh… hai canh… lại ba canh. Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành…”; rồi giữa rừng Việt Bắc chiến dịch Thu – Đông 1947, Bác từng: “Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ. Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Bởi vậy, việc “Đêm nay Bác không ngủ” là “một lẽ thường tình”, vì “Bác là Hồ Chí Minh” – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. – Mỗi dòng thơ có năm tiếng; mỗi khổ có bốn dòng thơ. – Cách gieo vần giữa các dòng trong một khổ thơ: chữ cuối câu thứ hai và chữ cuối câu thứ ba vần liền với nhau. – Chữ cuối của dòng cuối mỗi khổ vần với chữ cuối của dòng đầu của khổ tiếp theo. Chính cách gieo vần được nối nhau như trên cho nên thể thơ năm chữ này thích hợp với cách kể chuyện (tự sự) như bài “Đêm nay Bác không ngủ”. 6. Trong bài thơ, từ láy được sử dụng như một yếu tố nghệ thuật nổi bật, đem đến cho bài thơ một vẻ đặc sắc riêng: – Từ láy có tác dụng miêu tả tạo hình: + Vẻ mặt Bác trầm ngâm + Mái lều tranh xơ xác + Bác vẫn ngồi đinh ninh + Bóng Bác cao lồng lộng… – Từ láy làm tăng giá trị biểu cảm: + Anh đội viên mơ màng + Thổn thức cả nỗi lòng + Thầm thì anh hỏi nhỏ + Nhưng bụng vẫn bồn chồn + Anh hốt hoảng giật mình + Anh đội viên nằng nặc… III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Cách đọc Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ in trong tập Thơ Việt Nam 1945-1975 (NXB Tác phẩm mới, H., 1976). Đây là một tác phẩm thơ hiện đại có yếu tố tự sự, khi tìm hiểu cần thấy được nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố tự sự và trữ tình. Bài thơ được làm theo thể thơ năm chữ: mỗi dòng thơ có năm tiếng; mỗi khổ có bốn dòng thơ. Cách gieo vần giữa các dòng trong một khổ thơ: chữ cuối câu thứ hai và chữ cuối câu thứ ba vần liền với nhau; chữ cuối của dòng cuối mỗi khổ vần với chữ cuối của dòng đầu của khổ tiếp theo. Chính cách gieo vần được nối nhau như trên cho nên thể thơ năm chữ này thích hợp với cách kể chuyện (tự sự) như bài Đêm nay Bác không ngủ. Muốn đọc diễn cảm bài thơ, cần nhớ cách gieo vần như đã nói ở trên; đồng thời chú ý tiết tấu và nhấn giọng. Ví dụ với khổ thơ đầu: Anh đội viên thức dậy (đọc chậm) Thấy trời khuya lắm rồi (đọc nhanh hơn, nhấn bốn chữ sau) Mà sao Bác vẫn ngồi (đọc chậm) Đêm nay Bác không ngủ (đọc chậm, xuống giọng)… 2. Dựa theo bài thơ, em hãy viết bài văn ngắn bằng lời của người chiến sĩ kể về kỉ niệm một đêm được ở bên Bác Hồ khi đi chiến dịch. Gợi ý: Đây là một bài kể chuyện sáng tạo, ngoài việc cần phải duy trì ngôi kể (người kể đóng vai người chiến sĩ), còn cần phải nghĩ ra những sự việc, chi tiết cho bài kể ấy. Có thể nêu những chi tiết như: – Lí do nhân vật tôi (người chiến sĩ) được tham gia chiến dịch cùng với Bác. – Đêm ấy anh đã được nói chuyện với Bác khi: vừa mới thức giấc, vừa mới đi tuần tra về,… – Bác đã nói với anh về điều gì? (hoặc anh đã được chứng kiến Bác quan tâm đến những chiến sĩ khác ra sao?). – Cảm nhận của anh về con người của Bác. Câu truyên nhỏ trong đêm ko ngủ Bài làm Có bao giờ tôi quên được cái đêm mùa đông xúc động bất ngờ ấy, trong một căn nhà gianh ven sông Lam, quên cả gió buốt luồn qua phên nứa phả vào người, tôi ngồi nghe say mê câu chuyện của một người bạn cũ nay là một quân nhân vừa ở Chiến dịch Biên giới (1950) về. Chuyện anh kể là một câu chuyện đặc biệt và vô cùng thân thiết mà cả hậu phương đang mong đợi: Chuyện Bác Hồ đi chiến dịch. Vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, mặc dầu tuổi đã sáu mươi, vẫn mặc đồ lính, đội mũ nan, ăn cơm muối, lội suối, dầm sương, băng băng những dặm rừng Cao – Bắc – Lạng, trực tiếp chỉ huy chiến dịch lịch sử đầu tiên của cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp. Trong cái không khí chiến thắng tưng bừng anh bạn mang về cho tôi, hình ảnh Bác Hồ hiện lên đẹp lạ lùng, ấm lạ lùng… (Nhà văn nói về tác phẩm, Hà Minh Đức chủ biên). Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ ra đời từ tia chớp cảm xúc mãnh liệt của tác giả Minh Huệ trong hoàn cảnh đó. Trong niềm xúc động rưng rưng của đêm đông xứ Nghệ, nhà thơ đã hóa thân vào anh bộ đội kể chuyện chiến trường, để kể một câu chuyện về Bác trong những vần thơ sâu lắng, say mê, bồi hồi. Có thể nói, không chỉ ngay lúc ấy, khi những xúc cảm mãnh liệt được tuôn tràn lên trang giấy, cho đến nay, dù trong hoàn cảnh nào, bài thơ vẫn đem lại cho mỗi chúng ta niềm xúc động khi cùng tác giả sống lại kỉ niệm ấy. Anh đội viên thức dậy Thấy trời khuya lắm rồi Màsao Bác vẫn ngồi Đêm nay Bác không ngủ Lặng yên bên bếp lửa Vẻmặt Bác trầm ngâm Ngoài trời mưa lâm thâm Mái lều tranh xơ xác Câu chuyện được bắt đầu như thế. Trong một đêm mưa giữa rừng, khuya và lạnh. Trên chặng đường hành quân đi chiến dịch, trong mái lều xơ xác bập bùng ánh sáng và hơi ấm ngọn lửa, anh đội viên nhìn thấy Bác không ngủ, ngồi lặng yên bên bếp lửa. Không gian với bóng đêm và ánh lửa đã tạo nên sự đan xen giữa hai mảng sáng – tối, thành cái phông nền đặc biệt, làm nổi bật hình ảnh vị lãnh tụ đáng kính. Lần đầu thức dậy, anh đội viên thấy Bác hiện lên trong dáng ngồi lặng yên với vẻ mặt trầm ngâm nghĩ ngợi. Anh ngạc nhiên rồi mới vỡ lẽ. Trong sự tĩnh lặng của đêm rừng, Người đang trầm ngâm suy tính việc nước. Anh biết vậy, nên không muốn làm cắt đứt dòng suy tư của Bác, anh lặng lẽ đắm say ngắm nhìn người Cha già đang vun đống lửa sưởi ấm cho các anh nằm. Lòng yêu thương kính trọng càng sâu sắc hơn nữa khi anh nhận ra: Bác không chỉ lo việc nước, Bác còn đang chăm chút cho chính cuộc sống của các anh. Và cứ mỗi giây phút thời gian trôi đi, anh lại nhận ra có thêm biết bao ưu tư vương lại và đè nặng lên dáng hình của Bác. Những câu thơ như khắc như họa những nỗi niềm ấy. Nhà thơ như đang tạc vào không gian một bức tượng mà nét khắc là bóng đêm và sắc màu là ánh lửa. Để chợt khi, dáng hình ấy lay động, anh mới bừng tỉnh, xúc động: Rồi bác đi dém chăn Từng người, từng người một Sợ cháu mình giật thột Bác nhón chân nhẹ nhàng Đến đây thì anh biết rằng mình không thể giả vờ ngủ lâu hơn nữa để được nhận lấy niềm thương yêu chăm chút ấy, để được vị kỉ dành riêng cho mình quyền được lặng lẽ ngắm nhìn, chiêm ngưỡng Bác. Anh phải có trách nhiệm bảo vệ sức khỏe cho Người. Phút bừng ngộ khiến trong trái tim anh, hình ảnh Bác hiện lên không chỉ thiêng liêng, kì vĩ mà còn gần gũi, thân thuộc: “Bóng Bác cao lồng lộng/ Ấm hơn ngọn lửa hồng”. Anh hiểu được tấm lòng của người Cha già dân tộc, cao cả mà bình dị, nồng ấm. Tình cảm ấy kéo gần những khoảng cách xa xôi, chan hòa những tôn ti thứ bậc, nó khiến anh dám chia sẻ với Bác xúc cảm của mình. Nhưng anh đã không thuyết phục được Bác chợp mắt. Anh bồn chồn, lo lắng, thao thức bởi biết bao tình cảm đan xen, bộn bề. Anh đã chìm đi trong giấc ngủ với biết bao trằn trọc lo toan ấy để phải “hoảng hốt giật mình” khi lần thứ ba thức dậy, “Bác vẫn ngồiđinh ninh/ Chòm râu im phăng phắc”. Nỗi lo lắng đã bột phát thành hành động: Anh vội vàng nằng nặc: – Mời Bác ngủ Bác ơi! Trời sắp sáng mất rồi Bác ơi! Mời Bác ngủ! Đâu có phải riêng đêm nay Bác không ngủ. Đã biết bao đêm, ngay cả khi bị giam hãm trong ngục tù giam khổ của Tưởng Giới Thạch, Bác đã trằn trọc băn khoăn, Bác đã thức trắng đêm lo cho vận nước. Đã biết bao đêm Bác hóa thạch trong thế suy tư? Dáng ngồi bất động kia của Bác nói cho anh đội viên biết nhiều hơn tình yêu dành cho dân quân, bộ đội. Chất chứa trong ấy là bao nỗi lo lắng và thương cảm của Bác đối với nhân dân, đối với tiền đồ dân tộc. Khi trong lòng còn biết bao mối bận tâm như thế, liệu Người có thể ngủ ngon giấc? Song hành với sự tăng tiến trong tâm trạng của anh đội viên qua ba lần thức giấc: Từ ngạc nhiên đến hoảng hốt, lo lắng, từ thổn thức, nằn nì đến vội vàng, nằng nặc là sự tăng tiến trong tình cảm của Bác: Càng thươngcàng nóng ruột/ Mong trời sáng mau mau. Ở đỉnh cao của hai dòng tâm trạng ấy, anh đội viên đã bừng ngộ ra lẽ sống của Bác. Tấm lòng yêu thương bao la của Bác đã có sức lan tỏa và lay động lớn lao đối với tâm hồn người chiến sĩ trẻ tuổi: Anh đội viên nhìn Bác Bác nhìn ngọn lửa hồng Lòng vui sướng mênh mông Anh thức luôn cùng Bác Hai cái nhìn, hai ý nghĩ. Mỗi người đều đang theo đuổi tâm tư riêng của mình nhưng kết thúc câu chuyện là một sự đồng điệu. Trong niềm vui sướng và xúc động dâng trào, người chiến sĩ thức luôn cùng Bác để giữ mãi những phút giây bên Người: Đêm nay Bác ngồi đó Đêm nay Bác không ngủ Vìmột lẽ thường tình Bác là Hồ ChíMinh Câu chuyện đến đây, người đọc hiểu rằng, không chỉ đêm nay Bác không ngủ, Bác đã nhiều đêm không ngủ như thế. Vẫn là những câu chữ giản dị nhưng khổ kết của bài thơ lại có một sức ngân vang lớn. Điệp ngữ “đêm nay” được láy đi láy lại như kéo thời gian dài hơn, sâu hơn, không chỉ trong một đêm mà nhiều đêm trong chiến dịch này, trong những tháng ngày kháng chiến trước và sau đó nữa, như trong những đêm giá lạnh ở trời Tây tìm đường cứu nước, những đêm trằn trọc trong ngục tù Tưởng Giới Thạch, những đêm cảnh khuya vẽ người chưa ngủ ở Chiến khu Việt Bắc năm nào… Câu chuyện về một đêm không ngủ của Bác đã đưa người đọc tới một chân lí đơn giản mà sâu sắc: Việc Bác không ngủ vì lo nước thương dân đã trở thành một lẽ thường tình trong cuộc đời nâng niu tất cả chỉ quên mình của Người. Từ ý nghĩa khái quát ấy của khổ cuối, bài thơ đã tạc vào lòng người hình ảnh vĩ đại của một “người Việt Nam đẹp nhất”. Với thể thơ năm chữ, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các yếu tố tự sự, miêu tả và biểu cảm, Đêm nay Bác không ngủ mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ. Qua cái nhìn và tâm trạng của một anh chiến sĩ – vừa là người chứng kiến vừa là người tham gia vào câu chuyện – Minh Huệ đã khéo léo đan xen hai dòng cảm xúc: Nỗi lòng của vị lãnh tụ và tâm trạng của người chiến sĩ. Qua đó, tình cảm của Bác đối với nhân dân, đất nước cũng như tình cảm của quần chúng đối với Người đã được bộc lộ hết sức tự nhiên và sâu sắc. Đó là thành công không nhỏ của Minh Huệ khi đến với một đề tài vốn đã có nhiều dấu ấn của các tác giả khác.
Cảm tưởng của em khi đọc bài thơ Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ
7,972
Cảm xúc của em sau khi kết thúc học kỳ I Hướng dẫn Thật nhanh, một học kỳ của năm học đầu cấp THCS đã kết thúc. Em ngỡ ngàng rồi vỡ òa vui sướng khi cô giáo chủ nhiệm thông báo kết quả học tập của học kỳI. Đối với các bạn học sinh lớp 6D và cả em nữa. Một học kỳ đã qua. Một quá trình học tập, rèn luyện và phấn đấu của chúng em! Em vẫn chưa quên ngày đầu tiên vào lớp 6, cảm giác lo lắng, sợ hãi trước ngôi trường mới và nếp sinh hoạt, phương pháp học tập mới dường như thật khó khăn! Em bản tính nhút nhát, ngại giao tiếp nên lại càng bị áp lực nhiều hơn. Em cũng không biết mình sẽ học tập và phấn đấu như thế nào với sự lo lắng thường trực khi chuẩn bị bước vào ngôi trường mới, học những thầy cô giáo, gặp các bạn bè mới. Nhưng, thật bất ngờ, chỉ trong một thời gian ngắn, nhờ sự tận tình của cô giáo chủ nhiệm, sự giúp đỡ, chia sẻ của các bạn trong lớp và sự nỗ lực của bản thân mình, em đã vượt qua được sự nhút nhát và hay e ngại. Cô giáo giúp em tham gia các hoạt động tập thể của lớp, các bạn cũng không để em một mình trong các hoạt động ngoại khóa và em đã dần tự tin hơn. Gặp những bài tập khó em đã không ngần ngại hỏi bạn, hỏi thầy cô giáo. Em cũng chủ động tham gia các hoạt động do nhà trường tổ chức, tham gia đội văn nghệ của lớp. Kết quả học tập của em cũng từ đó mà có nhiều tiến bộ. Hết học kỳ I, trong buổi Sinh hoạt “Sơ kết học kỳ” ở lớp vào thứ 7 tuần vừa qua, cô giáo đã thông báo em đã đạt danh hiệu “Học sinh giỏi”! Với kết quả đó, em tự hứa sẽ tiếp tục cố gắng trong học kỳ II. Em sẽ tiếp tục cùng các bạn trong lớp thi đua, cùng chia sẻ kinh nghiệm học tập để có thêm nhiều bạn cùng đạt danh hiệu học sinh giỏi và hơn hết là để không phụ lòng mong mỏi của thầy cô giáo, của ông bà, cha mẹ!
Cảm xúc của em sau khi kết thúc học kỳ I
394
Cảm xúc của em trước nụ cười của mẹ – văn lớp 7 Hướng dẫn Cảm xúc của em trước nụ cười của mẹ – văn lớp 7 Bài làm ‘’Riêng mặt trời chỉ có một mà thôi Và mẹ em chỉ có 1 trên đời’’ Đúng thế,mẹ người chỉ có một trên đời,người yêu thương chúng ta vô điều kiện.Con yêu đôi mắt luôn nhìn con hiền từ,yêu bàn tay luôn ôm con thật chặt.Nhưng con yêu nhất nụ cười mỗi khi mẹ cười với con. Nụ cười của mẹ là đẹp nhất.Nụ cười ấy đã cho con bao cảm giác thần kì để con càng yêu mẹ hơn.Có lần con mắc lỗi bị cô giáo mắng,có lần con không ngoan không nghe lời mẹ…Con biết mẹ buồn lắm,nhưng mẹ không trách con lâu.Thấy con khóc thì mẹ nở nụ cười bao dung.Ôi! Nụ cười ấy như xóa tan bao buồn phiền của mẹ làm con thấy như nhận được tia nắng trong những ngày gió rét. Nụ cười ấy làm con tự hứa với bản thân mình rằng phải ngoan,không được mắc lỗi để mẹ luôn được vui,luôn được nhìn thấy nụ cười của mẹ. Mỗi lần đạt được thành tích gì đó.Được điểm cao trong kì thi,giúp đỡ người khác hay bất cứ điều gì.Người con muốn khoe ngay lúc đó chính là mẹ.ÔI!Sao mẹ cười rạng rỡ và đẹp đến thế.Lúc đấy trong con mẹ đẹp nhất nụ cười ấy như thôi thúc con phải thật cố gắng hơn.Nó thắp sáng tâm hồn con.Mẹ biết không? nó ý nghĩa hơn tất cả những phần thưởng mẹ cho con,Vì nụ cười ấy cho con sự sẻ chia,cho con sức mạnh.Qua nụ cười ấy con biết mẹ yêu con biết chừng nào.Con chỉ muốn mãi nằm trong vòng tay âu yếm ấy trông thấy mẹ cười.Và nói rằng ‘’Con mẹ giỏi quá’’. Đó la món quà quý giá nhất với con.Con cảm ơn mẹ. Nụ cười ấy đã theo con từ khi con sinh ra.Mẹ không kể cho con biết nhưng con được nghe bố kể lại.Lúc sinh con ra mẹ mệt lắm nằm lịm lại không nói được với ai câu nào.Nhưng khi được bác sĩ trao con vào tay thì mẹ chợt nở một nụ cười yêu thương nhất.Nụ cười ấy là nụ cười đầu tiên mẹ dành cho con phải không mẹ? Tuy con không biết đến nụ cười đầu tiên ấy.Nhưng con cảm ơn mẹ đã sinh ra con,và đón nhận con bằng nụ cười đó. Con vốn là một đứa bé nhút nhát đi đâu cũng cần mẹ đi theo.Thế nhưng trên đường đời đâu phải lúc nào mẹ cũng theo con được.Con nhớ như in ngày con bước vào lớp 1.Khi các bạn đã bước hết vào lớp rồi.Chỉ còn mình con còn khóc ngoài,mẹ dỗ mãi không nín được.Con sợ với những cái mới đó con sợ khi không có mẹ bên cạnh.Thế rồi mẹ ôm con,hôn con và nói’’Con gái à,bên trong kia là thế giới đày thú vị cho con có bạn bè, thầy cô và có mẹ luôn bên con,hãy mạnh mẽ lên cô bé’’ Rồi mẹ nở một nụ cười.Ôi! Chính nụ cười đó đã giúp đôi chân em không không chùng lại.Con biết mình phải làm gì.Mẹ biết không chính nụ cười đó đã cho con sức mạnh.Chính nụ cười đó đã giúp con vượt qua thử thách,khó khăn của những ngày đầu không có mẹ. Con sẽ luôn trân trọng và khắc sâu trong lòng mình nụ cười đó.Một mai khi con lớn khi con không ở bên mẹ được nhiều.Chắc con sẽ buồn lắm.Con chỉ cần mẹ vẫn hãy ở đó và mỗi lần đón con về nhà mẹ chỉ cần nở một nụ cười.Vì đó là tất cả với con.
Cảm xúc của em trước nụ cười của mẹ – văn lớp 7
619
Đề bài: Cảm xúc của em trước nụ cười của mẹ. Bài làm “Riêng mặt trời chỉ có một mà thôi Và mẹ em chỉ có một trên đời” Trong mỗi chúng ta đều có một người mẹ, người đã theo chúng ta từ khi chúng ta chào đời, khi chúng ta chập chững bước đi và cho đến khi chúng ta trưởng thành mẹ vẫn luôn dõi theo chúng ta. Có lẽ sau bao vất vả nhọc nhằn, nụ cười của mẹ vẫn luôn là đẹp nhất. Nhưng nụ cười ấy chất chứa bao điều vui buồn đều có cả. Nụ cười hạnh phúc của mẹ là khi những đứa con của mình trưởng thành, biết khôn lớn hơn từng ngày. Đôi khi chỉ là thấy những đứa con mình ngoan và học giỏi cũng đủ để mẹ vui lòng và nở nụ cười hạnh phúc. Mỗi chúng ta, ai cũng đều trải qua những ngày tháng chập chững bước vào đời với đầy lo lắng, nhưng mẹ luôn bên ta. Và em cũng vậy, trên mỗi bước em đi luôn có sự đồng hành của mẹ và tất nhiên có cả nụ cười ấm áp hiền từ của mẹ. Em còn nhớ, khi em còn nhỏ ngày đầu tiên đi học em cũng hồi hộp lắm chỉ muốn ở nhà với mẹ thôi. Mẹ đưa em đến trường em cứ nắm chặt lấy tay mẹ, nũng nịu xin về cùng mẹ không muốn xa mẹ đâu. Mẹ lại nở nụ cười hiền dịu nói: “không sao đâu con à, mẹ tin con sẽ ở lại học ngoan ở lớp có cô giáo và các bạn nữa mà, rồi con sẽ thấy thích đi học ngay thôi. Ngoan nha, chiều mẹ sẽ đón con về, và hãy kể cho mẹ nghe hôm nay con đã học được gì nha!” Ôi! Chính câu nói ấy, nụ cười ấy của mẹ đã tiếp cho em bao nhiêu động lực mạnh dạn hơn vào lớp học. Kết thúc buổi học, mẹ đứng chờ em ở cổng và nở nụ cười thật tươi khi thấy em mẹ nói: “mẹ biết con sẽ làm được mà, ngoan lắm”. Bước đi đầu đời của em có mẹ bên cạnh, nụ cười ấm áp và những lời động viên khích lệ ấy của mẹ khiến em nhận thấy mình sẽ phải cố gắng thật nhiều để không là mẹ buồn để nụ cười ấy sẽ luôn trên môi của mẹ. Mẹ mỉm cười khi thấy em biết lễ phép, biết nghe lời. Mẹ cười khi thấy em đạt điểm cao, khi thấy em biết phụ giúp việc nhà dù là nhỏ nhất vì mẹ biết em đã trưởng thành hơn. Với em, không có nụ cười nào có thể ấm áp bằng nụ cười của em. Em thích nhìn mẹ cười, em hạnh phúc khi mẹ cười hạnh phúc. Nhưng đôi khi mẹ cười nhưng nụ cười ấy mang một nét suy tư, buồn bã. Đó là khi em mắc lỗi. Có một lần, em chót làm lỡ bình hoa mà mẹ thích nhất, nhưng lại nói dối là con mèo chạy qua làm vỡ bình hoa. Mẹ nhìn em một hồi lâu, và nói: “mẹ tin con mèo làm đổ bình hoa và con của mẹ sẽ không nói dối mẹ đâu”. Lúc ấy, em thấy trong lòng thật hối hận bởi mẹ đã tin tưởng em như vậy mà em lại nói dối. Vội vàng em nhận lỗi với mẹ và nói sự thật. Mẹ không trách mắng gì em mà lại nở nụ cười và nói không sao đâu biết lỗi là tốt rồi. Nhưng em hiểu nụ cười ấy của mẹ chứa đựng một nỗi buồn. Em ân hận lắm và tự hứa sẽ không bao giờ làm mẹ buồn nữa. Có lẽ trên đời này không có gì quý hơn nụ cười của mẹ, nụ cười ấy là động lực cho em cố gắng. Em mong sao mẹ sẽ mãi luôn cười nụ cười hạnh phúc. Vì đối với em, nụ cười hạnh phúc của mẹ là cả một “gia tài” đối với em.
Cảm xúc của em trước nụ cười của mẹ
684
Cảm xúc của em về ngôi trường mới Hướng dẫn Chia tay với mái trường Tiểu học thân yêu một thời, em bước vào ngưỡng cửa trường Trung học cơ sở, thấy lòng mình xốn xang, bồi hồi thật khó tả. Mới ngày nào em còn là cô học trò bậc Tiểu học bé nhỏ, đầy bỡ ngỡ mà hôm nay đã là một học sinh Trung học cơ sở. Ngôi trường mới hiện ra trước mắt em với bao cảm giác lạ lẫm, lo nghĩ vẩn vơ về tất cả những gì trong ngôi nhà mới: trường mới, bạn mới, thầy cô giáo mới, phương pháp học mới và cả những chân trời tri thức mới. Ngày đầu tiên đi học, em đến lớp sớm hơn thường lệ. Ngôi trường mới khang trang với tấm biển màu xanh nổi bật dòng chữ: “TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LÊ QUÝ ĐÔN”, phía trên là những lá cờ tam giác đủ màu trông thật đẹp! Bên trong cánh cổng là khoảng sân rộng, với nhiều tán cây rộng, mát. Khuôn viên trường rộng rãi, những cây bàng, cây phượng chắc đã có nhiều năm tuổi. Bên dưới tán cây là những chiếc ghế đá kê lấy chỗ cho học sinh ngồi giải lao hay học nhóm trước khi vào tiết học. Ngôi trường được thiết kế theo kiểu chữ U với 24 lớp học san sát bên nhau. Tất cả các phòng học đều thoáng đãng, sạch sẽ và trang nghiêm. Phòng học của lớp chúng em cũng có đầy đủ trang thiết bị dạy học hiện đại phục vụ hiểu quả cho hoạt động dạy và học. Giờ học đầu tiên là giờ Ngữ văn của cô giáo chủ nhiệm, khi chúng em ổn định tổ chức thì cô giáo bước vào. Dáng người thon thả, nụ cười trên môi, cô cất lời chào cả lớp và cho chúng em ngồi. Bài học đầu tiên, là bài học về cội nguồn dân tộc – Truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên”. Bài học bồi đắp cho em lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, thân ái đồng thời cũng nhắc nhở em về trách nhiệm của em khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Cô giảng bài dường như không chỉ bằng giọng nói khi trầm khi bổng, bằng kiến thức văn chương lấp lánh mà bằng cả ánh mắt ấm áp, dịu dàng của cô khiến cả lớp chăm chú lắng nghe. Cảm giác lo lắng, sợ hãi ban đầu của em khi tới lớp dần được thay bằng cảm giác gần gũi, thương yêu trong từng lời giảng của cô. Trường mới, thầy cô giáo mới và bao bạn bè mới, kiến thức mới nhưng em tin rằng mình sẽ nhanh chóng hòa nhập và bắt nhịp với không khí học tập ở trường. Em thấy mình như đã lớn thêm lên, chững chạc hơn và em hứa sẽ quyết tâm phát huy kết quả học tập mà em đã đạt được trong năm năm học vừa qua. Em sẽ tiếp tục cố gắng rèn luyện, nỗ lực học tập để xứng đáng với mong đợi của mẹ cha, xứng đáng với công ơn của thầy cô và truyền thống của nhà trường.
Cảm xúc của em về ngôi trường mới
541
Đề bài: Cảm xúc của em về nụ cười của mẹ. Bài làm Nhà thơ Chế Lan Viên từng viết: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con.” Đi suốt cả cuộc đời, dù ta có lớn hơn bao nhiêu, trưởng thành hơn ít nhiều thì trước tình thương bao la, không bến không bờ của người mẹ chúng ta vẫn thật nhỏ bé, càn được che chở và bảo vệ. Vậy thì, với bạn, in sâu nhất là khi mẹ bạn như nào? Với tôi có lẽ hạnh phúc, sung sướng nhất vẫn là khi mẹ cười. Nụ cười ấy của mẹ như ngọn lửa thổi bùng lên khát vọng trong tôi, là động lực để tôi sẵn sàng cho con đường phía trước. Cả cuộc đời mẹ tấn tảo sớm hôm, dãi nắng dầm mưa nuôi tôi ăn học. Thi thoảng có đôi lúc nhìn mẹ gầy đi, nhìn dôi bàn tay xương xương của mẹ, tôi dấy nên một niềm xót xa vô cùng. Càng tự nhủ mình phải cố gắng học thật tốt để không phụ lòng mong đợi của mẹ. Vậy nên, với tôi thật hạnh phúc khi được ngắm mẹ cười. Nụ cười ấy có thể là khi ta đang mệt mỏi, gặp khó khăn trong học tập nó sẽ là nguồn động viên để ta cố gắng hơn. Nụ cười ấy cũng có khi là khi ta làm sai, làm buồn lòng mẹ về một việc gì đó, thì đấy là nụ cười cảm thông của người mẹ nhân hậu, bao la. Nó là nguồn suối ngọt lành, tưới mát tâm hồn thơ ngây, trong trẻo non nớt của chúng ta biết mấy. Mỗi khi mẹ cười, đuôi mắt nheo lại mẹ có hai má núm đồng tiền nên nhìn càng duyên dáng, xinh tươi. Bạn biết gì không, nụ cười của mẹ như một loại thần dược chữa được bách bệnh của tôi. Khi tôi buồn, nụ cười ấy là nguồn an ủi, sẻ chia, là sự tin tưởng vào bản lĩnh rằng tôi sẽ vượt qua. Khi tôi thất bại, nụ cười ấy thắp lên trong lòng tôi ngọn lử của niềm tin, chiến thắng. Khi tôi mệt mỏi, nụ cười ấy làm vơi đi gánh nặng, nhẹ bớt cơn sầu để không cho mình được ủ rũ, đáng thương. Nụ cười của những cái gì đã qua của một con người từng trải, từng nếm mọi cay đắng ở đời được kết tinh hết lại tinh hoa, tinh túy nhất trong đó. Nụ cười mở ra một chân trời mới trong tâm hồn non nớt của tôi. Là chỗ dựa tinh thần vững chắc để tôi không được phép run sợ trước bất kì thử thách nào. Nụ cười đã cho tôi tất cả những điều ấy. Mỗi người yêu mẹ với những nét riêng, với tôi đó là nụ cười. Hơn cả đó là suối nguồn yêu thương chưa bao giờ vơi vạn, chưa bao giờ thôi ấm nóng, sáng rực. Nụ cười của mẹ, giống như ngọn lử thần, như là ánh trăng dịu mát thanh lọc tâm hồn tôi, tỏa bóng cho tôi đi về.
Cảm xúc của em về nụ cười của mẹ
528
Cảm xúc ngày vào Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh Bài làm Từ lâu, em đã mong ước được đứng trong hàng ngũ của Đội. Hàng ngày em học bài và làm bài đầy đủ, để được vào Đội. Ngày kết nạp Đội đã đến. Cô Tổng phụ trách nêu tên của từng bạn rồi các bạn đứng lên sân khấu. Cuối cùng cô tổng phụ trách đọc tên em rất vui bước lên sân khấu. Cô hiệu trưởng quàng khăn cho chúng em. Quàng khăn xong, một bạn lên đọc đơn xin vào Đội. Em thật tự hào và vinh dự được cô phát cho chiếc khăn quàng đỏ. Trên vai của em là chiếc khăn quàng đỏ. Em xúc động và thầm hứa sẽ học thật giỏi để không phụ lòng thầy cô và cha mẹ. Tiếp theo là chương trình văn nghệ. Buổi lễ diễn ra rất long trọng, được đứng trong hàng ngũ của Đội em rất tự hào. Em sẽ cố gắng học giỏi và giúp đỡ các bạn khác vào Đội. Dù thời gian có trôi qua nhanh nhưng hình ảnh ngày kết nạp đội không bao giờ quên trong trái tim em.
Cảm xúc ngày vào Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh
199
Đề bài: Cảm xúc trữ tình trong bài Cây tre Việt Nam của Thép Mới Bài làm Cây tre Việt Nam được nhà văn, nhà báo Thép Mới viết để làm lời bình cho bộ phim cùng tên của các nhà điện ảnh Ba Lan. Bài văn có chất kí, nhưng tác giả đã khéo kết hợp miêu tả, thuyết minh với trữ tình và bình luận nên bài văn không khô khan. Có thể nói Cây tre Việt Nam là một bài tuỳ bút- trữ tình đặc sắc, một bài thơ – văn xuôi đẹp và hàm chứa nhiều ý nghĩa. Bộ phim Cây tre Việt Nam được thực hiện sau khi cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi. Thông qua hình ảnh cây tre, bộ phim thể hiện đất nước và con người Việt Nam. Có lẽ khi viết bài văn này, Thép Mới đã “hoà” dòng cảm xúc dạt dào vào ngòi bút của mình để viết lên những dòng vãn, trang văn trữ tình đến như vậy! Phải chăng đó là cảm xúc kiêu hãnh, tự hào với những phẩm chất đáng quí của dân tộc Việt Nam đã được kết tinh và hội tụ từ bao đời nay, từ thuở vua Hùng dựng nước Văn Lang cho tới hôm nay và mãi mãi mai sau. Nó trở thành tượng trưng cao quí của dân tộc. Cảm xúc này được duy trì trong suốt bài văn với những, yếu tô' trữ tình xen kẽ hệ thống luận điểm được minh học hình ảnh, nhạc điệu, câu văn, những câu ca dao, câu thơ trữ tình, tục ngữ… Đọc câu văn xuôi mà cứ ngỡ là thơ bởi hình ảnh đối nhịp nhàng, câu văn có nhạc tính: Tre Đồng Nai, nứa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, luỹ tre thân mật làng tôi… đâu đâu cũng có nứa tre làm bạn. Chỉ một câu văn thôi đã gợi lên được tre ở khắp mọi miền Tổ quốc. Tiếp đó là những đức tính đáng quí của tre. Sức sống bền vững, dẻo dai; dáng vẻ thanh cao, giản dị của tre cũng được thể hiện trong câu văn giàu nhạc tính, cân xứng nhịp nhàng: Vào đâu tre củng sống và ở đâu tre cũng xanh tốt. Dáng tre vươn mộc mạc màu tre tươi nhã nhặn. Thể hiện sự gắn bó của tre hàng ngàn đời, và “mối tình” chung thuỷ mà nhà văn đã viết: Tre ăn ở với người đời đời kiếp kiếp… Suốt một đời người, từ thuở lọt lòng trong chiếc nôi tre, đến khi nhắm mắt xuôi tay, nằm trên giường tre, tre với mình, sống có nhau, chết có nhau, chung thuỷ. Giọng văn bỗng dưng thay đổi nghe như lời kể chuyện cổ tích “Ngày xửa, ngày xưa” lắng sâu vào lòng người đọc. Rồi giọng văn lại trở lên mạnh mẽ lạ thường khi diễn tả tre gắn bó với dân tộc trong cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước…. Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù… Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hy sinh để bảo vệ con người. Lời văn khẳng khái, hùng hồn, gợi phẩm chất thẳng thắn bất khuất của tre. Nhà văn đã tôn vinh tre bằng những danh hiệu cao quí của con người: Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu. Không phải ngẫu nhiên Thép Mới lại ça ngợi cây tre bằng những ngôn từ “đẹp” đến như vậy, mà từ nơi sâu thẳm nơi trái tim tác giả đã dạt dào cảm xúc kiêu hãnh, tự hào về những phẩm chất cao quí của dân tộc mình. Hai câu: Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến dấu! rõ ràng là văn xuôi nhưng đọc lên nghe như “thơ”. Bởi cấu trúc lặp lại của nó kết hợp với hai chấm than ở cuối cùng đã làm nên chất trữ tình, truyền cảm sâu sắc tới người đọc. Càng trữ tình hơn khi tác giả đưa ra một vấn đề có ý nghĩa: vai trò của cây tre khi đất nước bước vào thời kì xây dựng và đổi mới (thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá), giai đoạn hiện tại và tương lai, và khẳng định tre mãi mãi là người bạn “chia bùi sẻ ngọt” với con người. Tác giả bắt đầu từ hình ảnh nhạc của trúc, của tre, hình ảnh sáo tre, sáo trúc biểu lộ tâm tình của con người nhằm nói lên sự gắn bó của cây tre với đời sống tinh thần của người Việt Nam. Những câu văn viết về nhạc của trúc, của tre thiết tha, bay bổng như một đoạn thơ- vàn xuôi giàu nhạc:… Nhạc của trúc, nhạc của tre là khúc nhạc của đồng quê. Nhớ một buổi trưa nào, nồm nam cơn gió thổi, khóm tre làng rung lên man mác khúc nhạc đồng quê. Tre là phương tiện để con người biểu lộ những rung động, cảm xúc bằng âm thanh, bằng tiếng sáo: Trời cao lồng lộng, đồng ruộng mênh mông hãy lắng nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc, của tre. Bàn về tre trong tương lai của đất nước: Các em, các em rồi đây lớn lên, sẽ quen dần với sắt thép và xi măng cốt sắt. Đọc đến đây, ta nghe tưởng chừng câu văn rất khô khan. Nhưng ngay sau đó là những câu văn nối tiếp nhau, uốn lượn mềm mại, bay bổng, dạt dào trữ tình như thơ, ngân nga êm dịu lòng người: Ngày mai, trên đất nước này, sắt thép có thể nhiều hơn tre nứa. Nhưng trên đường trường ta dấn bước, tre xanh vẫn là bóng mát. Tre vẫn mang khúc nhạc tâm tình. Tre sẽ càng tươi những cổng chào thắng lợi. Những chiếc đu tre vẫn dướn lên bay bổng. Tiếng sáo diều tre cao vút mãi. Cây tre với những phẩm chất quí báu của nó đã lưu giữ biết bao giá trị lịch sử, giá trị văn hoá. Tượng trưng cao quí của dân tộc Việt Nam vẫn còn mãi mãi với các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau. Để thuyết minh cho người đọc hiểu ý bao quát của bài văn: cây tre Là người bạn thân của nông dân Việt Nam,bạn thân của nhân dân Việt Nam, nhà văn đã đưa ra một hệ thống dẫn chứng rất rõ và đầy đủ nhưng lại không hề khó khăn bởi tác giả đã lồng được cảm xúc vào hình ảnh chọn lọc mang ý nghĩa biểu trưng, nhạc điệu trong câu văn, cấu trúc câu, từ ngữ gợi cảm… Một yếu tố trữ tình nữa không thể không nói đến đó là các, câu thơ trữ tình, câu ca dao, tục ngữ được tác giả đưa vào đúng lúc. Bản giao hưởng Cây tre Việt Nam có những câu thơ như những nốt nhấn sâu lắng: Bóng tre trùm mát rượi Đây là một hình ảnh hết sức quen thuộc đối với mỗi làng quê Việt Nam. Không những thế bóng tre đã trở thành một hoán dụ để chỉ nền văn hoá lâu đời của dân tộc Việt Nam. Nó được xuất hiện rất nhiều trong văn chương của dân tộc. Tố Hữu đã viết rất nhiều về tre trong bài Cá nước: Gặp nhau lưng đèo Nhe ' Bóng tre trùm mát rượi Nhớ biết bao nhiêu những câu hát cũ cứ vọng về trong trí nhớ của ta mỗi buổi chiều vàng, mỗi trưa nắng lửa: Làng tôi xanh bóng tre, Từng tiếng chuông ban chiều, Tiếng chuông nhà thờ rung… (Văn Cao) Làng tôi sau luỹ tre mờ xa Tình quê yêu thương những nếp nhà… (Hồ Bắc) Gợi nỗi vất vả của tre và con người trong cuộc sống đời thường: Cánh đồng ta năm đôi ba vụ Tre với người vất vả quanh năm. Chỉ một câu thơ thôi mà nhà văn không cần viết nhiều cũng đủ để diễn tả sâu sắc mối quan hệ khăng khít “đời đời kiếp kiếp” của tre và người. Những câu văn như giai điệu tình ca thánh thót: Giang chẻ lạt, buộc mềm, khăng khít như những mối tình què, cái thuở ban đầu tìuiờng nỉ non dưới bóng tre, bóng nứa: Lạt này gói bánh chưng xanh Cho mai lấy trúc, cho anh lấy nàng… Những hình ảnh như xuyên suốt cả chiều dài quá khứ: Cối xay tre nặng nề quay, từ nghìn đời nay, xay nắm thóc. Với cách ngắt nhịp ngắn, khá đều đặn 3/3/4/3, vần lưng “ay” láy bốn lần. Câu thơ có chất tạo hình: Từng vòng, từng vòng, quay nặng nề, chậm chạp như chiếc cối xay tre đã gợi cho người đọc hình dung cuộc sống nghèo khổ, vất vả, lam lũ, quanh quẩn, nặng nề của đời sống người nông dân Việt Nam chúng ta bao thế kỉ qua. Bản giao hưởng lại được vút lên với câu Trúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng như một nốt nhạc nhấn mạnh phẩm chất của tre: Tre là thẳng thắn, bất khuất. Rồi lại trùng xuống bởi khúc nhạc đồng quê man mác rung lên. Bao trùm lên tất cả bài văn là một giọng điệu nhịp nhàng cân xứng với những câu văn có nhạc tính cao tạo lên chất trữ tình đằm thắm, thiết tha. Đó chính là cái hay của bài văn, cái tài của nhà văn. Cây tre Việt Nam là một bài văn tràn đầy cảm xúc trữ tình. Đọc lên ta thấy trong đó như có nốt nhạc trầm bổng đang du dương, ngân nga làm rung động lòng người, phảng phất đâu đó âm điệu của những câu ca dao, tục ngữ quen thuộc từ hàng nghìn đời nay. Nhưng đẹp hơn là chất tạo hình của các câu văn cứ nối tiếp nhau uốn lượn mềm mại, bay bổng, dạt dào trữ tình như tiếng thơ, lời ca ngân nga mãi. vẻ đẹp nhần hoá trong bài cũng góp phần tạo lên sự truyền cảm sâu sắc và thấm thìa người đọc. Quả thật tính trữ tình đã làm lên sự thành công của bài kí.
Cảm xúc trữ tình trong bài Cây tre Việt Nam của Thép Mới
1,707
Đề bài: Kể về con trâu nhà em Bài làm Đầu xuân năm nay, ở hội thi nuôi trâu bò béo khỏe của làng, con trâu tơ nhà em đã giành được giải nhất. Em vui mừng và hãnh diện vì bao công lao vất vả chăm sóc nó nay đã được đáp đền xứng đáng. Cách đây hai năm, bố em lặn lội sang tận Phú Thọ để tìm mua một con nghé tốt. Em còn nhớ hôm bố dẫn nghé về, cả xóm kéo đến xem, nhiều người trầm trồ khen con nghé đẹp. Bô tươi cười bảo em: – Bô giao nó cho con đấy! Con có thích không? Em nhảy cẫng lên mừng rỡ. Thế là từ nay, em đã có thêm một người bạn mới. Nghé con dễ thương vô cùng! Trên đầu, cặp sừng non mới nhú. Đôi mắt to tròn ngơ ngác nhìn cảnh vật lạ lẫm xung quanh. Thân hình nó mập mạp, cân đối, bốn chân vững chãi, cái đuôi ngắn phe phẩy đuổi ruồi. Giữa đám đông ồn ào, ý chừng cu cậu sợ nên cứ hốt hoảng kêu: – Nghé ọ! Nghé ọ… ọ… ọ! Em đỡ lấy sợi thừng từ tay bố, dắt nghé vào chiếc chuồng mới ở góc vườn. Trên nền đất nện, em đã rải một lượt rơm. Bó cỏ tươi non và máng nước sạch đặt ngay cạnh cửa. Đêm ấy lạ nhà, nghé con không ngủ được. Nó bồn chồn giậm chân gõ móng rồi lại cất tiếng gọi mẹ. Em vuốt ve cổ nghé rồi thì thầm vào tai nó: – Anh biết là em đang nhớ mẹ! Ngoan nào! Ăn no ngủ kĩ rồi sáng mai anh cho ra đồng chơi nhé! Chẳng biết là nghé có hiểu gì không nhưng sau đó nó cúi xuống ngoạm một nắm cỏ tươi, lặng lẽ nhai. Nhìn nó, tự dưng trong lòng em dâng lên một tình thương mến lạ lùng! Sáng sớm hôm sau, em dắt nghé ra đồng. Dưới làn mưa xuân bay lất phất, cỏ hai bên vệ đường xanh mướt, lún phún như mạ non. Không gian trong lành, thoang thoảng mùi hương man mác của đồng quê. Nghé con tung tăng gặm cỏ, chốc chốc lại chạy quẩng lên vài bước. Xuân qua, hè đến. Chiều chiều, em dắt nghé ra triền sông gần nhà cho nghé tắm. Nghé ngâm mình trong làn nước mát, chỉ hở cái đầu. Em lấy nắm rơm kì cọ cho nghé thật sạch. Nô giỡn chán chê, em dắt nghé lên bờ. Cu cậu rùng mình vẩy nước, hai lỗ mũi đen ướt thở phì phì, ra vẻ thích thú và khoan khoái lắm. Thấm thoắt hai năm đã trôi qua, nghé con đã lớn thành chú trâu tơ cường tráng. Cặp sừng cong vút, đầu lớn, trán gồ, tai to, mắt sáng. Các bắp thịt ở lưng, ở vai nổi lên săn chắc dưới làn da đen bóng. Trâu tơ khỏe và biết nghe lời chủ. Nó đỡ đần cho gia đình em rất nhiều trong công việc nhà nông. Em rất thích được nằm ngửa trên cái lưng rộng như cánh phản của chú trâu tơ, ung dung hóng mát vào những chiều hè lồng lộng gió nồm nam; tha hồ ngắm những đám mây đủ hình đủ dạng đang lãng đãng bay về phía trời xa. Chú trâu tơ thong dong gặm cỏ. Mùi cỏ gấu, cỏ mật hăng hăng thơm ngọt hòa cùng hương lúa trổ đòng… tạo nên mùi thơm quen thuộc của quê hương.
Cảm xúc về một con vật nuôi của nhà em
587
Đề bài: Em hãy viết bài văn cảm xúc về một người thân trong gia đình. Bài làm Đêm mùa hè, gió nồm nam lồng lộng thổi trong những lũy tre ven làng, đem theo hương lúa chín nồng nàn vào đến tận ngóc ngách xóm thôn. Trên bầu trời đêm thăm thẳm, muôn vạn vì sao nhấp nháy tinh nghịch như mắt trẻ thơ. Trăng non đầu tháng cong cong như lưỡi liềm bạc, tỏa ánh sáng mờ mờ xuống mặt đất ẩm sương. Trong vườn, tiếng côn trùng rỉ rả hòa cùng tiếng ếch nhái uôm oam văng vẳng ngoài đồng. Làng quê đang chìm dần vào giấc ngủ an lành sau một ngày làm lụng vất vả. Trên chiếc võng đay mắc giữa hai gốc xoan trước sân nhà, em nằm sát bên bà, lắng nghe bà kể chuyện. Bà em là một kho tàng cổ tích, ca dao. Bà thuộc làu nhiều chuyện và kể rất hay! Đã thành thói quen, trước khi đi ngủ, bao giờ em cũng vòi bằng được bà kể cho nghe vài chuyện. Bà em năm nay tuổi đã ngoài bảy mươi nhưng sức khỏe vẫn dẻo dai và trí óc còn minh mẫn lắm! Mái tóc bạc trắng búi gọn sau đầu. Gương mặt đầy đặn, phúc hậu. Đôi mắt nheo nheo với ánh nhìn ấm áp hiền từ cùng nụ cười độ lượng tạo cho bà vẻ cởi mở, thân thiện, rất dễ gần. Ông em mất từ lúc bà còn rất trẻ. Một nách hai con nhỏ, bà quần quật làm việc nuôi con. Bố em kể rằng lúc học hết cấp hai, thấy bà quá vất vả, bố đã xin nghỉ học để đỡ đần nhưng bà nhất quyết không cho. Bà chỉ có một mong ước là các con học hành nên người để cuộc sống sau này đỡ khổ. Hiểu lòng bà, bố em đã phấn đấu trở thành kĩ sư nông nghiệp và cô Thủy giờ đây là giáo viên dạy Toán ở trường phổ thông trung học của huyện. Tuy cuộc sống vật chất còn khó khăn so với nhiều nhà trong làng nhưng bà em rất tự hào về những người con thành đạt và hiếu thảo. Trong sự chở che, bảo bọc và dạy dỗ của bà, em thấy mình vô cùng hạnh phúc! Nhà nghèo, của cải chẳng có gì đáng giá nhưng em vẫn tự hào với truyền thống tốt đẹp của gia đình: Đói cho sạch, rách cho thơm. Đấy là thứ tài sản quý báu nhất mà bà em để lại cho con cháu.
Cảm xúc về một người thân trong gia đình
431
Cảm xúc về ngày khai trường của em Hướng dẫn Sáu giờ sáng, tôi đang ngủ thì bỗng nghe thấy tiếng mẹ gọi “Dậy đi con, chuẩn bị còn đi khai trường”. Nghe thấy hai từ “khai trường” tôi bật dậy, nhào ra khỏi giường. Hôm nay là ngày khai trường đầu tiên của tôi khi tôi bước vào mái trường THCS Gia Cẩm. Chia tay với mái trường tiểu học, tôi bước vào cánh cửa trường THCS với nhiều bỡ ngỡ, trường mới, thầy cô mới, bạn bè mới. Tôi không biết mình sẽ phải thích nghi với nó như thế nào nữa? Chỉ sau ba tháng hè, mọi thứ đến với tôi thay đổi quá nhiều. Bước vào trường mới, tôi choáng ngợp với quang cảnh của trường. Trường rộng hơn nhiều so với suy nghĩ của tôi. Tôi đảo mắt nhìn xung quanh để tìm đâu đó một đứa bạn cũ trong đám đông kia. Nhưng tôi càng tìm thì tôi càng thấy thất vọng, đâu đâu cũng đều là bạn mới. Bạn nào bạn nấy quần áo gọn gàng, gương mặt hớn hở chờ được thầy cô đưa vào lớp học. Xa xa, phía mấy hàng ghế ở gốc cây bàng giữa sân trường, tôi thấy mấy anh chị lớp trên đang nói chuyện rôm rả. Tôi tự hỏi “Không biết lúc mới vào trường anh chị có hồi hộp như tôi không?”. Tiếng trống vang lên, tôi vội vàng xếp hàng như các bạn khác để vào lớp. Mặc dù nhiều bạn mới nhưng vì tính cách dễ hòa đồng nên ngày đầu khai trường tôi đã làm quen được rất nhiều bạn.
Cảm xúc về ngày khai trường của em
274
Cảm xúc về ngày khai trường – Bài 1 Vậy là thấm thoắt đã 4 lần em được dự lễ khai giảng dưới mái trường Tiểu học Nghĩa Tân thân yêu! Thật khó có thể quên được niềm vui và những cảm xúc tràn đầu của những ngày khai giảng ấy. Có lẽ cũng như các trường khác, trường Tiểu học Nghĩa Tân của chúng em luôn lấy ngày mông 5 tháng 9 hàng năm làm ngày khai giảng. Khác với những ngày thường, hôm đó mặc dù em dậy rất sớm, nhưng lạ thay, cái cảm giác uể oải buồn ngủ không còn nữa. Mọi thủ tục vệ sinh cá nhân được em hoàn tất một cách nhanh chóng, rồi khoắc trên mình bộ đồng phục chỉnh tề để được bố đưa đến trường. Trong lòng em lúc này cảm thấy vô cùng hân hoan khi vừa tới cổng trường, trước mắt em là một rừng cờ, hoa rực rỡ màu sắc cùng với tiếng cười nói ríu rít của các bạn học sinh… Lúc này hổi trống tập trung cũng đã vang lên, em và các bạn nhanh chân về vị trí lớp mình chỉ loáng một cái, toàn sân trường đã xếp thành những hàng dọc thẳng tắp. Chương trình được bắt đầu, cô tổng phụ trách tuyên bố lí do và giới thiệu các vị đại biểu tham dự trong tiếng vỗ tay nồng nhiệt của toàn thể các thầy cô và các bạn. Nối tiếp những giây phút hân hoan đó là khoảnh khắc trang nghiêm với nghi lễ chào cờ cùng với hai bài hát Quốc ca và Đội ca của các bạn học sinh toàn trường vang lên hòa quyện vào nhau làm cho những ca khúc thêm hào hùng hơn. Mọi ánh mắt lúc này đều hướng lên lá cờ đỏ sau vàng và Bác Hồ kính yêu đang mỉm cười trìu mến. Có thể nói giây phút xúc động được mong đợi nhất của buổi lễ là cô hiệu trưởng Lê Thị Thanh Thủy lên đọc diễn văn khai giảng và uyên bố bắt đầu năm học mới. Với giọng đọc trầm ấm, chứa đựng đầy sự quyết tâm như thúc giục chúng em cố gắng không ngừng học tập phấn đấu trong một năm học mới thành công. Những tiết mục văn nghệ cũng diễn ra vô cùng hấp dẫn và sôi động với những bộ trang phục lộng lẫy về sắc màu khiến cho vẻ đẹp hồn nhiên của các bạn thật đáng yêu. Từng câu hò, điệu nhảy rộn rang vang lên, những quả bóng bay cùng nhún nhảy trên tay các bạn như muốn được hát cùng. Buổi lễ đã kết thúc trong sự nuối tiếc của em cũng như các bạn. Nhưng niềm vui nào cũng sẽ qua đi. Với em, buổi lễ đã đọng lại trong tâm trí em rất nhiều cảm xúc xen lẫn những quyết tâm để đạt được kết quả tốt trong học tập. Cảm xúc về ngày khai trường – Bài 2 Hôm nay là ngày đặc biệt, đó là ngày khai giảng năm học mới 2016 – 2017. Các thầy cô, các anh, chị, em và các bạn đều đến từ rất sớm. Cô giáo mặc áo dài truyền thống, học sinh thì mặc đồng phục, tiếng cười nói ríu rít cả sân trường. Sân khấu được trang hoàng lộng lẫy với cờ hoa rực rỡ. Hồi trống tập trung vang lên, các bạn nhanh chân về vị trí lớp mình, chỉ loáng một cái cả trường đã xếp hàng thẳng đều tăm tắp. Bắt đầu chương trình, cô tổng phụ trách lên tuyên bố lí do rồi tiếng nhạc nổi lên và những tiết mục văn nghệ chào mừng diễn ra vô cùng hấp dẫn và sôi động. Khiến cho mọi người càng háo hức. Sau tiết mục văn nghệ là lễ chào cờ. Học sinh toàn trường hát vang bài Quốc ca và Đội ca. Cảnh vật xung quanh cũng như hiểu đang diễn ra nghi lễ và nghiêm trang cùng chúng em. Mọi ánh mắt hướng về lá cờ đỏ sao vàng và Bác Hồ kính yêu đang mỉm cười nhìn chúng em. Em thầm hứa với Bác cố gắng học tập để xứng đáng con ngoan trò giỏi. Giây phút xúc động nhất của buổi lễ là lúc cô hiệu trưởng đọc diễn văn khai giảng phát động thi đua chào mừng năm học 2016 – 2017 và tuyên bố bắt đầu năm học mới. Tùng! Tùng! Tùng!… Tiếng trống ngân vang. Trong không khí vui tươi rộn rang bạn nào cũng cảm thấy yêu trường, yêu lớp hơn. Cảm xúc về ngày khai trường – Bài 3 Kì nghỉ hè đã trôi qua với bao kỉ niệm, em bắt đầu bước vào năm học mới. Buổi tối trước hôm đó, em rất hồi hộp chờ đến sáng để được gặp lại bạn và được gặp cô giáo mới. Em còn rất muốn dự lễ khai giảng nữa. Sáng vừa mới tỉnh dậy, em đã nhanh chóng đánh răng, rửa mặt và mặc quần áo chỉnh tề để đến trường. Vừa đến, em đã thấy những quả bóng bay được treo ở các cột, trên các bạt màu trắng có dòng chữ: Mùa khai trường là mùa vui và sân khấu được trang hoàng rất đẹp. Em lên lớp, gặp các bạn, vừa nhìn thấy nhau, chúng em ùa lại nói chuyện với nhau rất vui vẻ. Lớp em bắt đầu xuống sân, các lớp khác cũng ở đó. Cả sân trường đông vui, náo nhiệt. Ai cũng mặc những chiếc áo trắng, pha vào là những cô giáo mặc những bộ áo dài đủ màu sắc. Lễ khai giảng năm học đã bắt đầu. Một giọng nói êm dịu vang lên, đó là cô Hải. Đầu tiên là lễ đón đại biểu. Có rất nhiều đại biểu đến dự lễ khai giảng của chúng em. Tiếp đó là lễ đón các em học sinh lớp một. Các em đi trên tay cầm một chiếc cờ đỏ vẫy. Sau đó là cô Hiệu trưởng lên đọc thư Chủ tịch nước. Em đã khắc sâu những lời nói của cô và tự nhủ sẽ cố gắng học tập. Tiếp theo cô đánh những tiếng trống: Tùng, tùng, tùng,… Báo hiệu một năm học mới bắt đầu. Bác trống trường em cũng đã được gặp lại những em học sinh. Em thích nhất là lúc nổ pháo giấy và thả những quả bóng bay. Cuối cùng là những tiết mục văn nghệ. Sau đó chúng em vỗ tay và hát vang bài hát: Nghĩa Tân mái trường em yêu. Ngày khai trường hôm đó em thấy thật vui vẻ.
Cảm xúc về ngày khai trường
1,119
Cảnh mùa đông quê em Hướng dẫn Đề bài: Cảnh mùa đông quê em – văn lớp 2 Bài làm “Lạnh quá!” Tôi giật mình khi nghe tiếng mẹ kêu nên vội vàng cời lại cái liễn đựng than, thổi phù phù cho liễn than hoa hồng lên rồi lại thở dài dựa vào tường. Cái liễn đã nóng, chiếc nắp đồng đậy ở trên hừng hực những lửa, ánh lên một màu đỏ quạch và hơi xỉn. Tôi hơ tay qua trên lửa, xoa xoa hai bàn tay vào nhau rồi xách cái liễn đặt đến gần giường mẹ. Gian buồng sáng lên và ấm màu lửa, mẹ cũng không trở mình nữa, chắc đã bớt sốt. Tôi dém lại chăn cho mẹ, lặng lẽ bước đến bên cửa sổ… ngoài kia, mùa đông giá rét đang ngự trị. Văn tả cảnh mùa đông quê em – văn lớp 2 Bố tôi bảo chưa có mùa đông nào lạnh ghê gớm như năm nay. Quả thật, mấy ngày nay không gian chỉ toàn màu xám xịt. Gió cuộn thành từng luồng bàng bạc, cuốn theo bao nhiêu là đất, bụi và iá vụn đã queo quắt màu nâu xỉn. Con đường làng phía xa lấp ló trong sương mù. Thỉnh thoảng lại nghe có tiếng cành cây gãy răng rắc. Một cơn gió lùa qua khe cửa mang thêm cái lạnh giá khiến tôi rùng mình dù đã mặc áo ấm và đang đứng trong nhà. Thường những đêm mùa đông, tôi nghe thấy nhiều tiếng động. Đó là tiếng giàn mướp xác xơ, cành quắt lại vỗ vào cọc, là tiếng chân người khách bộ hành đi ngoài đường giẫm lên lá khô giòn tan, là tiếng tranh trên mái nhà bị gió khua chạm vào nhau ràn rạt, là tiếng đứa trẻ hàng xóm khóc vì lạnh. Tôi gọi đó âm thanh mùa đông. Phải có mùa đông tôi mới có thể có được cảm giác vui sướng mỗi khi thấy vầng thái dương ấm áp xuất hiện Đã hơn sáu giờ sáng, tôi lấy chiếc khăn len dài quấn quanh cổ và đi ra ngoài. Trời sáng hẳn nhưng vẫn chưa nhìn thấy ánh mặt trời. Hơi nước vẫn còn đọng trên các lá cây ướt lạnh. Vậy mà bố tôi đã đi ra đồng từ lúc nào. Tôi lấy thóc cho lũ gà ăn và bỏ thêm ít rơm khô vào ổ cho con gà mái ấp. Rồi tôi đi quét dọn sân và ngõ. Sau mấy phút lao động, tôi cảm thấy nóng người lên. Đứng ở ngõ mà nhìn ra xa, mới thấy được toàn cảnh quê tôi. Những mái nhà tranh nấp dưới lũy tre xanh. Đôi nóc nhà có dòng khói lặng lẽ bay lên. như cố xua đi những cơn gió lạnh. Phía xa là cánh đồng loáng thoáng đám xanh đám nâu. Đám xanh là chỗ ươm mạ còn đám nâu là mảnh ruộng đang chờ được cấy. Con đường từ làng ra đồng có rặng phi lao xanh mướt giờ cùng ngả lướt theo chiều giổ. Ngoài đồng giờ chắc lạnh và nhiều gió lắm. Tự nhiên tôi thấy chán mùa đông vì cái lạnh của nó làm đôi chân bố tôi tím bầm mỗi khi bố ở đồng về. Và nó cũng là nguyên nhân làm mẹ tôi ốm. Ngày hôm kia mẹ đã bị cảm lạnh khi đi cấy. (LÊ HUYỀN TRANG, Trường THCS Tứ Cường, Hải Dương)
Cảnh mùa đông quê em
571
Cấu trúc và tính chất đề thi THPTQG môn ngữ văn Hướng dẫn Cấu trúc đề thi THPTQG môn Văn Ngữ văn là một môn thi bắt buộc trong kì thi Trung học phổ thông quốc gia (THPT QG). Bắt đầu từ năm 2015, kết quả các môn thi THPT QG không chỉ là căn cứ quan trọng nhất để xét tốt nghiệp THPT cho những học sinh đã trải qua 12 năm học tập ở trường phổ thông, mà còn được xem là tham số đáng tin cậy để các trường trung cấp, cao đẳng và đại học trong cả nước tham khảo khi xét tuyển sinh. Điều đó nói lên tầm quan trọng của việc học và thi môn Ngữ văn đối với tất cả học sinh lớp 12 hệ phổ thông hoặc giáo dục thường xuyên. Thực hiện chủ trương đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp dạy học và cách thức, hình thức kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của học sinh, trong khoảng mười năm trở lại đây, việc ra đề thi môn Ngữ văn cho các kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng đã có những thay đổi khá cơ bản. Một số cuộc hội thảo đã được tổ chức nhằm trao đổi về việc ra đề thi môn Ngữ văn theo hướng “mở”, theo chuẩn đánh giá của PISA để tạo nên bước đột phá cho hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực của người học. Trước năm 2015, thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh đại học, cao đẳng là hai kì thi riêng rẽ. Đề thi Ngữ văn cho các kì thi có sự phân biệt về tính chất, do đó, độ khó cũng như cấu trúc chung của các loại đề đó không hoàn toàn giống nhau. Từ năm 2008 trở về trước, đề thi tốt nghiệp THPT thường có từ hai đến ba câu, tất cả đều kiểm tra kiến thức văn học, trong đó có một câu hỏi về văn học nước ngoài, được dành 2,0 điểm. Dĩ nhiên, 8,0 điểm còn lại được dành cho việc kiểm tra hiểu biết về văn học Việt Nam hiện đại. Ban đầu, số điểm này chỉ là của một câu. Một thời gian sau, nó được chia cho hai câu với sự phân bố: 3,0 điểm và 5,0 điểm. Từ năm 2008 trở đi, đề thi không đơn thuần kiểm tra kiến thức văn học nữa. Vói cấu trúc gồm ba câu, câu 3,0 điểm được dành để bàn về một vấn đề xã hội, được gọi là câu nghị luận xã hội, đứng song song với câu nghị luận văn học vốn chiếm 5,0 điểm. Lúc đó, câu 2,0 điểm chỉ là câu tái hiện kiến thức, kiểm tra trí nhớ về một tác phẩm hay tác giả văn học nước ngoài. Riêng với kì thi tuyển sinh đại học và cao đẳng, trong khoảng thời gian từ năm 2001 (năm Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện phương án thi “ba chung”) đến năm 2008, đề thi môn Ngữ văn (cho cả hai khối thi C và D) có cấu trúc tương đối ổn định, gồm 3 câu, tập trung kiểm tra kiến thức văn học Việt Nam hiện đại với mức điểm cho các câu là 2,0; 3,0 và 5,0. Câu 2,0 điểm gần như chỉ yêu cầu tái hiện kiến thức đã học (tương tự như tính chất của câu 2,0 điểm trong đề thi tốt nghiệp THPT), thường hỏi về ý nghĩa nhan đề tác phẩm, đặc điểm phong cách tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm,… Câu 3,0 điểm chỉ xoáy vào một khía cạnh nào đó thuộc giá trị nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm. Câu 5,0 điểm chứa đựng nhiều thử thách hơn, đòi hỏi học sinh phải bộc lộ được năng lực cảm thụ và đánh giá của mình về những tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại có trong chương trình Ngữ văn lớp 11, 12. Bắt đầu từ năm 2009, câu 3,0 điểm đã được xác định là câu nghị luận xã hội, tương ứng với những thay đổi đã có từ năm 2008 của đề thi tốt nghiệp THPT. Nhìn chung, sự thay đổi về nội dung của đề dành cho hai kì thi là tương đối đồng bộ. Người ra đề ngày càng nhận thức một cách sâu sắc về sự cần thiết của việc bồi dưỡng kiến thức xã hội cho học sinh bên cạnh kiến thức văn học. Việc yêu cầu học sinh viết một bài nghị luận xã hội để hoàn thành câu 3,0 điểm trở thành chuyện đương nhiên. Năm 2014 là năm đánh dấu sự thay đổi khá căn bản nội dung và cấu trúc đề thi môn Ngữ văn của hai kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng. Đề thi tôt nghiệp THPT được chia thành hai phần là Đọc hiểu (một câu, chiếm 3,0 điểm) và Làm văn (một câu, chiếm 7,0 điểm). Nội dung mang màu sắc nghị luận xã hội được hoà tan vào cả hai phần với những câu hỏi hoặc yêu cầu riêng. Cùng lúc đó, mặc dù vẫn giữ lại cấu trúc gồm ba câu và ktíông chia đề ra thành hai phần, đề thi môn Ngữ văn cho từng khối c và D đã dành hẳn câu 1 cho yêu cầu đọc hiểu (2,0 điểm), hai câu còn lại, một là câu nghị luận xã hội (3,0 điểm) và một là câu nghị luận văn học (5,0 điểm). Đến đây, đã có thể nhận ra chủ trương của người ra đề: cần phải có câu kiểm tra năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh. Như vậy, từng bước một, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa định hướng dạy học phát triển năng lực cho học sinh vào công việc ra đề. Trong những năng lực cần có của người học, người ta đã xác định rằng năng lực đọc hiểu văn bản có vị trí rất quan trọng. Tất nhiên, theo đó, việc phát triển năng lực thẩm mĩ, năng lực giải mã ý nghĩa của tác phẩm văn học, năng lực giao tiếp xã hội cũng được quan tâm đặc biệt. Các câu hỏi bớt mang tính chất tái hiện kiến thức thuần tuý mà chứa đựng những đòi hỏi ngày càng cao đối với năng lực huy động kiến thức tổng hợp, năng lực thể hiện quan điểm riêng về các vấn đề văn học hoặc xã hội được nêu trong đề. Năm 2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết cấu trúc đề thi môn Ngữ văn trong kì thi THPT QG vẫn giữ nguyên như cấu trúc đề thi năm 2015, chỉ có nội dung (cách hỏi, cách nêu yêu cầu, cách chọn văn bản,…) là sẽ được hoàn thiện thêm. Bởi vậy, thí sinh cần nghiên cứu kĩ cấu trúc của đề thi nãm 2015 để có sự chuẩn bị tốt nhất chọ kì thi sắp tới (vì đề thi dài, xin không dẫn ra đây). Phần Đọc hiểu của đề thi năm 2015 đưa ra hai văn bản đọc hiểu, một thơ, một văn xuôi, kèm theo 8 câu hỏi (chia đều cho việc đọc hiểu từng văn bản một). Trong hai văn bản, văn bản thơ hoàn toàn nằm ngoài sách giáo khoa cũng như các loại sách phục vụ học tập đi kèm. Đó là một đoạn thơ trích từ bài thơ Hát về một hòn đảo của Trần Đăng Khoa. Văn bản văn xuôi là một đoạn trích của bài Nguồn gốc sâu xa của hiểm hoạ lấy từ sách Bài tập Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014. Điều này chứng tỏ nguồn ngữ liệu dùng cho cầu hỏi đọc hiểu có thể rất đa dạng và văn bản được chọn có thể là văn bản mà thí sinh chưa từng được làm quen (xin lưu ý: khái niệm văn bản ở đây chỉ định cả những đoạn trích văn bản, hoặc thơ hoặc văn xuôi). Rõ ràng, đối với việc trả lời các câu hỏi đọc hiểu, vấn đề cơ bản không phải là nhớ, tái hiện những kiến thức đã học, mà là việc vận dụng năng lực đọc hiểu của bản thân một cách thực sự linh hoạt để giải quyết các yêu cầu cụ thể của đề. Tất nhiên, để trả lời được các câu hỏi, thí sinh phải chú ý ôn tập những kiến thức từng được học về thể loại, kiểu văn bản, các phương thức biểu đạt, các phong cách ngôn ngữ, các thao tác nghị luận, các phép tu từ,… Những kiến thức này sẽ giúp thí sinh đọc văn bản một cách thuận lợi, trên cơ sở nhận diện được các yếu tố cấu thành của nó, hiểu được nội dung cốt yếu mà văn bản thể hiện. Trong các câu của phần Đọc hiểu, câu cuối thường yêu cầu thí sinh phát biểu suy nghĩ của mình về vấn đề được văn bản đề cập trong một đoạn văn ngắn (theo như đề thi năm 2015 là chỉ cần khoảng 5 đến 7 dòng). Phần Làm văn trong đề thi năm 2015 có một câu nghị luận xã hội và một câu nghị luận văn học. Nếu câu nghị luận xã hội chỉ đòi hỏi thí sinh viết một bài văn khoảng 600 chữ (âm tiết) thì câu nghị luận văn học không hạn định số dòng, số trang, vấn đề cần nghị luận ở câu nghị luận văn học trước hết liên quan đến một tác giả, tác phẩm của văn họcViệt Nam hiện đại được học trong chương trình (cụ thể là tác giả Nguyễn Minh Châu và tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa). Nhìn vào nội dung của đề thi năm 2015, có thể thấy rõ: Để làm tốt câu nghị luận xã hội, thí sinh phải có ý thức quan tâm đến các vấn đề đời sống đang diễn ra xung quanh mình, hằng ngày vẫn đập vào tri giác của mình qua những kênh khác nhau; báo chí, truyền hình, phát thanh hay chính cuộc sống đòi thường mà ta đang trải nghiệm. Tất nhiên, sự quan tâm nói trên phải hàm chứa các yếu tố: nắm được một cách tương đối chi tiết về nội dung vấn đề và biết bày tỏ sự đánh giá độc lập của bản thân về vấn đề ấy, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc giao tiếp và các chuẩn mực đạo đức. Còn để làm tốt câu nghị luận văn học, thí sinh phải học kĩ các tác giả, tác phẩm của vặn học Việt Nam hiện đại có trong chương trình Ngữ văn lóp 11 và 12. Tuy nhiên, nếu chỉ ôn và học chừng ấy tác giả, tác phẩm, thí sinh khó có thể có được một bài văn hay, sâu sắc, vì việc mở rộng liên hệ, đối sánh bao giờ cũng cần thiết. Nói chung, nếu thiếu đi vốn văn học sâu rộng (bao gồm kiến thức về nhiều thời kì văn học, loại hình văn học, nền văn học và đặc biệt là kiến thức về lí luận văn học) thì ý tứ bài văn hay hệ thống luận điểm trong bài văn sẽ nghèo nàn, đơn giản, khó hi vọng có kết quả cao. Khi tìm hiểu đề thi năm 2015, không nên máy móc cho rằng: vậy là trong đề thi từ đây trở về sau, phần Đọc hiểu đưa ra hai văn bản, một thơ, một văn xuôi. Sự thực, số lượng văn bản là bao nhiêu không có quy định cứng nhắc. Có thể, thí sinh sẽ chỉ phải trả lời các câu hỏi xoay quanh một văn bản duy nhất. Tất nhiên, độ khó của một số câu hỏi có thể sẽ tăng lên chút ít so với đề thi năm 2015. Ở trên đã nói tói dạng thức, cấu trúc đề thi môn Ngữ vàn sẽ được sử dụng trong thời gian trước mắt. Còn tính chất của đề thi? Có thể nói ngay đó là tính chất “mở”. Chính tính chất này tạo ra khái niệm đề mở lâu nay đã trở nên quen thuộc với cả người dạy lẫn người học. Có thể hình dung sơ bộ về đề mở như sau: 1. Về nội dung, một đề mở không trói chặt thí sinh vào những định đề, những tín niệm cũ kĩ; nó có thể yêu cầu – cho phép người làm bài bàn luận về những vấn đề thiết thân đối với mình hoặc vấn đề nóng hổi của cuộc sống đương đại đang, va đập hằng ngày vào nhận thức của mỗi người; nó được xây dựng trên tinh thần phế bỏ quan niệm “học gì thi nấy”. 2. Về hình thức, một đề “mở” chú trọng cách diễn đạt mềm dẻo, linh hoạt; không quy định trước thao tác nghị luận; tránh dùng những từ, những câu mang tính định hướng lộ liễu. 3. Về mục đích, đề văn “mở” hướng đến việc khắc phục khoảng cách quá xa giữa nhà trường và cuộc sống sôi động bên ngoài; tạo cho thí sinh cơ hội thể hiện mình, bộc lộ tinh thần chủ động của mình trước nhiệm vụ học tập và trước cuộc đời,… Theo quan niệm trên, có thể đánh giá đề thi năm 2015 là đề thi mang tính chất “mở” (xin lưu ý, “mở” là một tính chất tổng hoà của cả đề thi chứ không chỉ được thể hiện ở riêng một, hai câu nào đó, như hai câu thuộc phần Làm văn chẳng hạn). Việc chọn một văn bản nằm ngoài sách giáo khoa làm ngữ liệu đọc hiểu, việc đưa ra những câu hỏi yêu cầu thể hiện được quan điểm, đánh giá cá nhân về vấn đề, việc sử dụng những kiểu diễn đạt như “đoạn thơ đã gợi cho anh (chị) tình cảm gì…”, “anh (chị) suy nghĩ như thế nào…”, “hãy bày tỏ suy nghĩ của mình…”, “nêu cảm nhận của anh (chị) về…”,… đềụ là những dấu hiệu hiển nhiên cho thấy nỗ lực ra đề theo hướng “mở”. I. Phần Đọc hiểu (3,0 điểm) Đọc bài thơ: Những bó hoa mang tới chúc tụng Thành công một con người Hằng ngày hằng ngày Xây thành cái mồ chôn Con người thành công ấy Người ta đôi khi bị giết bắng những bó hoa. (Văn Cao, Những bó hoa, rút từ tập thơ Lá, NXB Tác phẩm mói, H, 1988, tr. 25) Trả lời các câu hỏi sau: 1. Bài thơ được viết theo thể thơ gì? 2. Nhà thơ đã nói như thế nào về chức năng của những bó hoa và hệ luỵ mà chúng gây ra cho “con người thành công”? 3. Anh (chị) hiểu như thế nào về hàm ngôn của bài thơ? 4. Hãy phát biểu suy nghĩ của anh (chị) về bài học cuộc sống mà bài thơ đưa lại. II. Phần Làm văn (7,0 điểm) Câu 1 (3,0 điểm): Sống ảo và sống thật. Anh (chị) hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) bàn về vấn đề trên. Câu 2 (4,0 điểm): Trong truyện Một người Hà Nội của Nguyễn Khải, người kể chuyện đã đánh giá nhân vật bà Hiền là “giỏi quá”, “khiêm tốn và rộng lượng quá” và ví bà như “một hạt bụi vàng của Hà Nội”. Thế nhưng, cũng có những ý kiến cho rằng, bà Hiền không phải là nhân vật tích cực, vì quá khôn, quá thực tế, chỉ biết toan tính cho lọi ích của bản thân và gia đình. Anh (chị) hãy trình bày cảm nhận và đánh giá riêng của mình về nhân vật này. Nhận diện và mô tả cấu trúc của đề thi: – Đề thi gồm có hai phần: Đọc hiểu và Làm văn. Phần Đọc hiểu được dành 3,0 điểm; phần Làm văn được dành 7,0 điểm. Phần Làm văn gồm 2 câu: câu nghị luận xã hội được dành 3,0 điểm; câu nghị luận văn học được dành 4,0 điểm. – Phần Đọc hiểu có thể đưa ra từ một đến hai văn bản (hoặc thơ hoặc văn xuôi, lấy trọn vẹn cả tác phẩm hay chỉ trích một đoạn). Các văn bản này có thể được lấy từ sách giáo khoa, từ các cuốn sách hỗ trợ học tập môn Ngữ văn như Bài tập Ngữ văn; Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học,… hay từ những nguồn khác như sách, báo, internet,… Kèm theo văn bản đọc hiểu là một hệ thống câu hỏi có độ khó khác nhau, yêu cầu nhận diện được thể loại, phong cách ngôn ngữ của văn bản, các phương thức biểu đạt, các thao tác nghị luận, các phép tu từ được sử dụng trong văn bản; yêu cầu phát biểu về chủ đề hay nêu được những nội dung chính mà văn bản đề cập. Cao hơn, câu hỏi có thể yêu cầu chỉ ra những điểm độc đáo về nghệ thuật của văn bản hay phát biểu cảm nghĩ về vấn đề mà văn bản nêu lên. – Câu nghị luận xã hội (thuộc phần Làm văn) có hình thức diễn đạt đa dạng, yêu cầu bày tỏ ý kiến về một tư tưởng, đạo lí hoặc về một vấn đề, hiện tượng xã hội nào đó. Tư tưởng, đạo lí có thể được chứa đựng trong các lời phát biểu hoặc các danh ngôn, vấn đề, hiện tượng xã hội thường được nêu dưới dạng trực tiếp. Cũng có khi, nó được nêu dưới dạng gián tiếp, thông qua một mẩu tin hay một đoạn trích tác phẩm văn học, báo chí,… – Câu nghị luận văn học (thuộc phần Làm văn) yêu cầu bàn luận, phát biểu cảm nhận, suy nghĩ về những vấn đề, tác giả, tác phẩm của văn học Việt Nam hiện đại được học trong chương trình Ngữ văn THPT. số lượng tác giả hoặc tác phẩm được nhắc tới trong câu này không hạn định. Có khi cả hai, ba tác giả, tác phẩm cùng được nhắc đến để yêu cầu người làm bài phải so sánh, nhằm thể hiện năng lực bao quát vấn đề và kiến thức văn học phong phú của mình. Sau này, phạm vi hỏi về các vấn đề văn học chắc sẽ được mở rộng thêm nữa, không chỉ giới hạn ở văn học Việt Nam hiện đại.
Cấu trúc và tính chất đề thi THPTQG môn ngữ văn
3,088
Cấu tạo của tiếng – Ôn tập tiếng việt lớp 5 thi vào lớp 6 Hướng dẫn Ôn tập tiếng việt lớp 5 thi vào lớp 6 Cấu tạo của tiếng – Mỗi tiếng thường có 3 bộ phận: âm đầu, vần, thanh. – Tiếng nào cũng phải có vần và thanh. Có tiếng không có âm đầu. (M: ầm, ốm, ổi,…) I. BÀI TẬP Bài tập 1. Đọc câu sau và trả lời câu hỏi: Trời mát mẻ, dễ chịu. Rừng văng vẻ, yên ắng. Mùa quả đã hết. Bầy vẹt đã bỏ đi nơi khác kiếm ăn, Gió làm mạn suối gợn lăn tăn và đồi gianh như cuộn sóng. (Theo Vũ Hùng) a) Đoạn văn trên có mấy câu? Mỗi câu có mấy tiếng? b) Những tiếng nào không có âm đầu? c) Phân tích cấu tạo của các tiếng trong câu “Rừng vắng vẻ, yên ắng”. Ghi kết quả phân tích vào bảng theo mẫu sau: Bài tập 2. Phân tích cấu tạo vần của từng tiếng trong câu ca dao theo mẫu sau: Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương. Bài tập 3. Tìm các tiếng bắt vần với nhau trong câu ca dao sau: Thuyền về có nhớ bến chăng? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền. II. HƯỚNG DẪN GIẢ BÀI TẬP Bài tập 1. Câu a, b học sinh tự làm Câu c: Bài tập 2: Cấu tạo vần của từng tiếng trong câu ca dao Bài tập 3: Các tiếng bắt đầu với nhau: chăng- khăng Tags:Bồi dưỡng học sinh vào lớp 6 môn Tiếng Việt · Cấu tạo của tiếng · Tiếng Việt 5
Cấu tạo của tiếng – Ôn tập tiếng việt lớp 5 thi vào lớp 6
256
Cấu tạo của từ – Ôn tập tiếng việt lớp 5 thi vào lớp 6 Hướng dẫn Ôn tập tiếng việt lớp 5 thi vào lớp 6 Cấu tạo của từ 1. Từ đơn-Từ phức – Tiếng cấu tạo nên từ. Từ chỉ gồm một tiếng gọi là từ đơn (M: vui). Từ gồm hai hay nhiều tiếng gọi là từ phức(M: vui mừng, vui vẻ). – Từ dùng để tạo nên câu. Bài tập 1. Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi: Rung rinh chùm quà mùa xuân Nhìn xa thì ấm, nhìn gần thì no Quả nào quả ấy tròn vo Cành la cành bổng thơm tho khắp vườn. (Tạ Hữu Yên) 1. Dùng dấu gạch chéo (/) để phân cách các từ trong mỗi câu. 2. Đoạn thơ trên có mấy từ đơn? Đó là những từ nào? 3. Đoạn thơ trên có mấy từ phức? Đó là những từ nào? 4. Từ phức nào do các tiếng có nghĩa tạo thành? Từ phức nào do những tiếng có âm đầu lặp lại tạo thành? Bài tập 2. Hãy tìm và ghi lại 5 từ đơn, 5 từ phức nói về thời tiết. M: nóng ( từ đơn) – nóng bức ị(từ phức) Bài tập 3. Đặt 1 câu với một từ đơn và 1 câu với một từ phức tìm được. Bài tập 4. Hãy tạo ra các từ phức chứa tiếng cho dưới đây: a) gió b) nóng c) bão d) mưa 2. Từ ghép – Từ láy Có 2 cách chính để tạo từ phức là: – Phối hợp những tiếng có âm đầu hoặc vần giống nhau (M: nhanh nhẹn, lộp độp,…); hoặc cả âm đầu và vần giống nhau (M: xinh xinh, hiu hiu,…). Đó là các từ láy. Bài tập 1. Trong các từ phức (được in đậm) trong đoạn văn dưới đây, từ nào là từ ghép, từ nào là từ láy? Lên Trường Sơn, bọn sẽ nghe thấy rất nhiều tiếng động vang vọng khắp núi rừng: gà gáy, đa đa kêu, khướu hót, mang gào,… Nổi bật lên là tiếng hú lanh lảnh của bầy vượn. Để chào đón bình minh, chúng ngồi trên những ngọn cây chót vót, nhìn về phía nắng lên, con đầu đàn cầm nhịp kêu từng đợt ba tiếng “tủa… tủa… tủa…” và sau đó cá bầy liền hú theo rộn rã. (Theo Đất nước ngàn năm – Tập một) Bài tập 2. Ghép tiếng thích hợp với tiếng đã cho để tạo thành từ ghép hoặc từ láy (theo mẫu): Bài tập 3. Đặt câu với một từ ghép hoặc một từ láy tìm được. Bài tập 4. Xếp các từ ghép dưới đây vào bảng thích hợp: a) hoa quá, hoa hồng, hoa lá b) ruộng vườn( vườn rau, vườn cây) c) mưa gió, mưa rào, mưa bão d) lúa gạo, lúa nếp, lúa ngô Bài tập 5. Tìm các từ láy có trong đoạn văn sau: (Theo Vũ Hùng) Bài tập 6. Phân loại các từ láy dưới đây và xếp vào bảng thích hợp. nhè nhẹ, lóc đác, lọ lùng, thênh thang, thênh thênh, bộp bềnh, xù xì, lành lạnh, ngơ ngác, chen chúc, lất phất, mập mạp, lộp độp, lồng lộng, hổng hào, lay láy, mơn mởn, lăn tăn, lóng lánh, rực rỡ Bài tập 7. Các từ dưới đây là từ ghép hay từ láy? mệt mỏi, nóng nực, sấm sét, dẫn dắt HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP Bài tập 1. – Từ ghép: núi rừng, chào đón – Từ láy: lanh lảnh, chót vót, rộn rã. Bài tập 2. M Bài tập 3. Học sinh tự làm Bài tập 4. Phân loại như sau Bài tập 5. Các từ láy: chon von, thấp thoáng, lóc cóc. len lỏi, chênh vênh Bài tập 6. Phân loại như sau: – Từ láy âm: lạ lùng, thênh thang, bộp bềnh, xù xì, ngơ ngác, chen chúc, mập mạp, hồng hào, lóng lánh, rục rỡ – Từ láy vần:lác đác, lất phất, lộp độp, lăn tăn Bài tập 7. Các từ: mệt mỏi, nóng nực, dẫn dắt, sấm sét đều là từ ghép. >>Xem thêm: Các từ loại chủ yếu – Ôn tập tiếng việt lớp 5 thi vào lớp 6 tại đây. Tags:Bồi dưỡng học sinh vào lớp 6 môn Tiếng Việt · Cấu tạo của từ · Tiếng Việt 5
Cấu tạo của từ – Ôn tập tiếng việt lớp 5 thi vào lớp 6
676
Cần cù là một tính tốt đẹp và quan trọng của con người. Hướng dẫn Cần cù là một tính tốt đẹp và quan trọng của con người. Cần cù là một đức tính tốt đẹp và cần có ở mỗi con người chúng ta. Đức tính cần cù trong lao đọng được Bác Hồ nhắc tới đề cao và coi trọng,không có một thành quả nào bền vững được nếu như không được tích lũy sự siêng năng chịu khó lao động của người làm ra nó. Cần cù đóng một vai trò quan trọng đã được đúc rút từ bao đời nay. Đầu tiên nếu muốn hiểu được rõ hơn thì chúng ta phải biết được cần cù là gì? đó là sự chịu thương chịu khó siêng năng cần cù chịu khó làm việc tự lực cánh sinh mà không hề có chỗ cho sự lười biếng. Cần đó còn là một cách làm việc sáng tạo,khoa học và có kế hoạch. Một người cần cù sẽ luôn hoàn thành tốt công việc được giao một cách tốt nhất có thể cho dù công việc đó gian lao,khó khăn và vất vả đến như thế nào. Đúng như câu tục ngữ có câu kiến tha lâu cũng đầy tổ,nước chảy đá mòn. Chính điều này cũng được Bác nhắc tới trong quá trình xây dựng xã hội Bác hồ đã từng nói:“Lao động là vinh quang”. Người nhỏ thì làm những công việc nhỏ,mỗi người một việc thì mới làm được nên việc lớn. Chính vì thế mà trong phong trào kháng chiến chống đế quốc và chiến dịch sản xuất thì chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn nhờ vào sự cần cù chịu khó,làm việc có kế hoạch để đạt được mức năng suất cao nhất. Còn với thời xã hội chủ nghĩa thì chúng ta hạn chế dùng sức người, cơ bắp mà lại áp dụng sang những thành tựu khoa học kĩ thuật trong lao động. Sự cần cù và chịu thương chịu khó của con người còn được thể hiện qua những câu ca dao,ngợi ca phẩm chất cao quý của những người dân Việt Nam như là: “Lao xao gà gáy rạng ngày, Vai vác cái cày, tay dắt con trâu. Bước chân xuống cánh đồng sâu, Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu ra cày. Ai ơi, bưng bát cơm đầy, Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng. ” Trên đời này, thứ đáng quý nhất là chúng ta được lao động, lao động là vinh quang. Nhờ tính siêng năng và cần cù thì chúng ta vượt qua được mọi gian khó không sơ khổ, bền bỉ,kiên trì và nhẫn nại trong học hành. Thế hệ trẻ chúng ta hiện nay cần phải hiểu được sức mạnh to lớn của cự càn cù trong lao động và học tập, phải cố gắng học thật giỏi và tích cực lao động làm cho dân giàu nước mạnh. Đất nước chúng ta hiện tại tuy đã phát triển nhưng so với một số nước khác vẫn còn thua kém, chính vì thế cho nên chúng ta phải biết đoàn kết, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau, không ngừng vươn lên và không ngừng học hỏi để tiếp thu và phát minh ra những tiến bộ của khoa học kĩ thuật
Cần cù là một tính tốt đẹp và quan trọng của con người.
549
Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử (Ngữ văn 6) Hướng dẫn I. Đọc – hiểu chú thích: 1. Tác giả: Thúy Lan 2. Tác phẩm a. Xuất xứ: in trên báo Người Hà Nội. b.Thể loại: bút kí → Văn bản nhật dụng (SGK/126) c. Phương thức biểu đạt: biểu cảm, nghị luận kết hợp miêu tả d. Bố cục: 3 phần + Từ đầu… thủ đô Hà Nội: Giới thiệu vai trò chứng nhân của cầu Long Biên. + Tiếp… dẻo dai, vững chắc: Biểu hiện chứng nhân lịch sử của cầu Long Biên. – Còn lại: Cầu Long Biên chứng nhân của tình yêu đất nước II. Đọc- hiểu văn bản: 1. Giới thiệu Cầu Long Biên – Vị trí: Cầu Long Biên bắc qua sông Hồng. – Khởi công 1898. Sau 4 năm xây dựng mới hoàn thành. – Chiếc câu do kiến trúc sư người Pháp nổi tiếng thiết kế (Alexandre Gustave Eiffel) → Cách giới thiệu ngắn gọn, khái quát đầy đủ 2. Cầu Long Biên qua những chặng đường lịch sử – Tên lúc ban đầu cầu có tên là Doumer, đặt theo tên của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer – Chiếc cầu là kết quả của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp trên toàn cõi ĐÔng Dương. – Tháng 8/1945, cầu được đổi tên là: Long Biên vf được sử dụng cho tới ngày nay. – Cầu Long Biên là chứng nhân của lịch sử vì nó đã chứng kiến bao sự kiện lịch sử, chứng kiến cuộc sống lao động của nhân dân. – Chiếc cầu trở thành mục tiêu ném bom ác liệt của máy bay Mĩ. → Dù bị kẻ thù luôn tìm cách hủy hoại, cầu Long Biên vẫn sừng sững tồn tại. * Hình ảnh cụ thể gợi lại giai đọan lịch sử ác liệt, đau thương và anh dũng của người dân thủ đô Hà Nội và của cả nước. 3. Cầu Long Biên trong hiện tại: – Ngày nay, cầu Long Biên rút về vị trí khiêm nhường. – Là nơi để du khách đến thăm. – Tác giả: Bắc nhịp cầu vô hình → ý tưởng đẹp, mới, có tính nhân văn. * Chiếc cầu là tình yêu, là niềm tự hào và nơi tìm về lịch sử của con người Việt Nam. Chiếc cầu mang nặng tình yêu mà tác giả dành cho Hà Nội và đất nước. Yêu quý, trân trọng, tự hào về chiếc cầu đẹp đẽ, anh hùng của đất nước. III. Tổng kết 1. Nghệ thuật: – Kết hợp thuyết minh với miêu tả, tự sự, biểu cảm. – Nêu số liệu cụ thể. – Sử dụng phép so sánh nhân hóa. 2. Nội dung: Bài văn cho thấy ý nghĩa lịch sử trọng đại của cầu Long Biên; chứng nhân đau thương anh dũng của dân tộc ta trong chiến tranh và sức mạnh vươn lên của đất nước ta trong sự nghiệp đổi mới. bài văn là chứng nhân cho tình yêu sâu nặng của tác giả đối với cầu Long Biên cũng như đối với thủ đô Hà Nội. * Ghi nhớ SGK/128
Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử (Ngữ văn 6)
496
Cốm Vòng – Đặc sản Hà Nội, đặc sản Việt Nam – Bình giảng văn 7 Hướng dẫn Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Trên mảnh đất Việt Nam, cây lúa – hạt gạo đã trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp kì diệu của mảnh đất và tâm hồn tinh tế của con người. Bằng một tình yêu đằm thắm, nhà thơ Nguyễn Đình Thi trong tác phẩm Bài ca Hắc Hải đã ca ngợi đồng lúa, đất trời Việt Nam trong hai câu thơ rất truyền cảm như trên. Trước Nguyễn Đình Thi có một nhà văn, bằng thiên tuỳ bút văn xuôi cũng đã dành tình yêu và biết bao ngôn từ đẹp như thơ để ca ngợi cây lúa Việt Nam. Đó là Thạch Lam (1910 — 1942) với bài: Một thứ quà của lúa non: cốm. Cốm là sản vật được tạo nên bởi những hạt lúa nếp non, một sản vật độc đáo của ruộng đồng nhiều miền quê Việt Nam, nhung không đâu làm ra được loại cốm thơm, dẻo, ngọt ngon bằng làng Vòng, trước kia là ngoại thành, nay thuộc quận Cầu Giấy, nội thành thủ đô nước ta. Xin mời bạn cùng tôi đọc văn Thạch Lam, thưởng thức cốm Vòng – đặc sản Hà Nội, đặc sản Việt Nam. Tuỳ bút là một thể loại văn xuôi miêu tả hình ảnh, ghi chép sự việc, từ đó biểu hiện những suy nghĩ, cảm xúc của tác giả. Tuy gần với văn tự sự, nhưng tuỳ bút thiên về biểu cảm, ngôn ngữ giàu hình ảnh, đậm chất trữ tình. Bài tuỳ bút: Một thứ quà của lúa non: Cốm của Thạch Lam là như thế. Bài văn nói vể cốm Vòng Hà Nội bình dị, thanh nhã, bằng một ngòi bút đa dạng, phong phú, lúc miêu tả, khi kể chuyện, vừa tả vừa biểu cảm, vừa kể vừa suy ngẫm, bình luận,… Cái tôi trữ tình của nhà văn ẩn sau câu chữ, hoà vào ngôn từ, cuốn theo, trôi nổi chập chờn trong nhạc điệu, thanh sắc của văn chương. Tuy viết theo tuỳ hứng, ngẫu hứng, nhưng bài văn vẫn bố cục mạch lạc. Do đó ta có thể cảm nhận bài văn theo ba đoạn: Đoạn một: Từ đầu đến “… chiếc thuyền rồng”. Từ hương thơm của lúa non mùa thu, nhà văn nhớ đến cốm và sự hình thành của cốm Vòng – một thứ quà tinh tuý của thiên nhiên hoà quyện bàn tay khéo léo của người dân làng Vòng. Đoạn hai: Từ “Cốm là thức quà riêng biệt….” đến “… kín đáo và nhũn nhặn”. Nhà văn nêu những giá trị của cốm. Bên cạnh trái hồng đỏ, cốm trở thành vật phẩm thanh nhã, trong những sinh hoạt cộng đồng mang thuần phong mĩ tục Việt Nam. Đoạn còn lại. Từ “Cốm không phải thức quà…” đến hết. Nhà văn bàn về cách thưởng thức, cách ăn cốm sao cho tinh tế, nhũn nhặn, phù hợp với những đặc điểm thanh khiết, tao nhã của thứ sản phẩm kết tinh nhiều giá trị của đất trời quê hương nước Việt. Sang đoạn thứ hai, nhà văn tiếp tục cảm nhận, đánh giá rồi miêu tả những vẻ đẹp của cốm. Ông gọi cốm là “quà riêng biệt” là “thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát”. Cốm “mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ An Nam”. Cốm dùng làm quà sêu tết với sự “vương vít của tơ hồng”… Cốm còn đẹp hơn nữa, duyên hơn nữa khi gặp gỡ và vương vít với những trái hồng chín. Nhà văn đã dùng bao nhiêu ý hay, lời đẹp để so sánh, miêu tả cặp bạn bè “tốt đôi” giữa cốm và hồng. “Màu xạnh tươi của cốm như ngọc thạch quý, màu đỏ thắm của hồng như ngọc lựu già. Một thứ thanh đạm, một thử ngọt sắc, hai vị nâng đỡ nhau để hạnh phúc được lâu bền”. Đúng là một đoạn thơ bằng văn xuôi, đã nâng giá trị của cốm, thứ quà đồng quê lên tầm ngọc quỷ biểu tượng cho hạnh phúc lứa đôi, góp phần vun xới cho biết bao đôi lứa Việt Nam bền lâu, chung thuỷ. Những suy ngẫm của chúng ta về vệ đẹp và giá trị của cốm sau đoạn một đã được Thạch Lam minh hoạ bằng những câu văn bình luận đẫm chất trữ tình. Ông không chỉ trân trọng hạt cốm mà còn trân trọng cả những tập quán có tính truyền thống mang bản sắc văn hoá Việt Nam. Lời văn và ý tường của ông cách chúng ta hơn nửa thế kỉ mà vẫn nóng hổi tính thời sự, nhất là mấy câu ông viết trong ngoặc đơn, ngỡ như chỉ điểm xuyết tình cờ mà biết bao day dứt có ý nghĩa cảnh tỉnh nghiêm khắc: “Thật đáng tiếc… những thức quý của đất mình thay dần bằng những thức bóng bảy hào nhoáng và thô kệch bắt chước người ngoài…”. Nếu ở đoạn thứ nhất, ngòi bút nhà văn vừa miêu tả vừa biểu cảm, thì đến đoạn thứ hai này vẫn vừa tả vừa biểu cảm, nhưng bổ sung thêm một chút bình luận. Tuỳ bút là như thế, ngòi bút nhà văn vừa ngẫu hứng trôi theo cảm xúc nhưng vẫn lắng sâu những suy luận, triết lí, thơ và văn xuôi hài hoà, mạch văn thông thoáng mà vẫn tập trung vào chủ đề… Đến đoạn văn cuối, chất tuỳ bút tiếp nối. Ngòi bút Thạch Lam vừa tiếp tục ca ngợi vẻ đẹp và giá trị của cốm, vừa bình luận, nhắn gửi bặn đọc về cách thưởng thức, cách ăn cốm. “Cốm không phải thức quà của người ăn vội ; ăn cốm phải ăn từng chút ít, thong thả và ngẫm nghĩ…”. Đoạn văn mở đầu bằng câu chốt như thế. Ý tưởng và cảm xúc của tác giả tập trung ở cụm từ “ăn cốm phải … thong thả và ngẫm nghĩ”. Vì sao thế? Vì cốm chứa trong nó sự tinh tuý của hương sen mang thêm mùi ngan ngát của hoa sen, của đầm nước và được chào mời bởi cô gái làng Vòng có đôi tay mềm mại “giở từng lớp lá sen, chúng ta thấy hiện ra từng “lá cốm” sạch sẽ và tinh khiết, không có mảy may một chút bụi nào”. Cốm, Vòng Hà Nội mang tinh hoa của đất Tràng An thanh lịch như thế không thể chấp nhận bất cứ cách đối xử thô bạo, tầm thường, thiếu thanh lịch nào! Thạch Lam nâng niu từng từ ngữ, trau chuốt từng câu văn mà ở đó mỗi từ, mỗi câu còn vương mùi thơm thoang thoảng tinh khôi, thanh đạm của thứ quà đặc sản thủ đô. Do đó, nghe lời căn dặn về cách ăn cốm của nhà văn, chúng ta dễ dàng đồng tình và thầm hứa với nhà văn sẽ làm như vậy “Hãy nhẹ nhàng mà nâng đỡ… Phải nên kính trọng cái lộc của Trời, cái khéo léo của người, và sự cố sức tiềm tàng và nhẫn nại của thần Lúa…” để con người “được trang nhã và đẹp đẽ hơn…”..Với Thạch Lam, ăn cốm là thưởng thức những giá trị kết tinh của bao nhiêu báu vật trên đất trời Việt Nam. Đấy là cái nhìn văn hoá của cách ăn uống, chúng ta gọi là văn hoá ẩm thực. Đấy cũng là tình yêu và niềm tự hào của nhà văn đối với quê hương, đồng ruộng, cây lúa và con người Việt Nam nói chung, mảnh đất và con người Hà Nội nói riêng. Tuy chưa được ăn cốm, nhưng lúc đọc văn Thạch Lam, chúng ta như đang được thưởng thức thứ quà tinh khiết, thanh cao, quà của lúa non, quà của bàn tay lao động và quà ngôn ngữ tiếng Việt rất tinh tế, tài hoa trong thiên tuỳ bút. Văn Thạch Lam cũng là một loại cốm dịu dàng, thanh đạm của tâm hồn người nghệ sĩ Việt Nam, những giọt sữa tinh khiết của tiếng Việt chúng ta… Xem lại bài bình giảng Tiếng gà trưa – Tiếng gọi về tuổi thơ
Cốm Vòng – Đặc sản Hà Nội, đặc sản Việt Nam – Bình giảng văn 7
1,398
Cổng trường mở ra của Lí Lan Hướng dẫn Văn bản Cổng trường mở ra của Lí Lan I. Tác giả, tác phẩm: 1. Tác giả – Lý Lan sinh ngày 17/6/1957, quê ở Bình Dương. – Trước làm giáo viên dạy các trường ở Long An, Hùng Vương (Tp HCM), sau dạy ở trường Đại học Văn Lang. – Thường viết truyện cho thiếu nhi. – Các tác phẩm như: “Ngôi nhà trong cỏ” đạt giải Văn học Nghệ thuật. – Là người đã dịch truyện “Harry Potter” sang tiếng Việt. 2. Tác phẩm – Thể loại: văn bản nhật dụng. – Xuất xứ: Trích báo “Yêu trẻ”. – Bốc cục: 2 phần + Đoạn 1: từ đầu tới “mà mẹ bước vào”. + Đoạn 2: còn lại – Tóm tắt: Vào đêm trước ngày khai trường đầu tiên của con, người mẹ không ngủ được, nghĩ đến giây phút cánh cổng trường mở ra để đón đứa con vào thế giới kì diệu. Tình yêu con sâu nặng của người mẹ gắn liền với niềm tin vào vai trò to lớn của nhà trường và niềm hi vọng toàn xã hội sẽ quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ cho tương lai đất nước. – Đại ý: Viết về tâm trạng của người mẹ trong đêm không ngủ trước ngày khai trường của con. II. Tìm hiểu văn bản: 1. Tâm trạng của người mẹ và con trong đêm trước ngày khai trường Hoàn cảnh nảy sinh tâm trạng: Đêm trước ngày khai trường của con: a. Con – Háo hức như trước một chuyến đi xa nhưng giấc ngủ đến một cách nhẹ nhàng. – Không có mối bận tâm nào khác ngoài việc ngày mai dạy cho kịp giờ. b. Mẹ – Không tập trung được vào việc gì cả. – Trằn trọc không ngủ được. – Xem lại những thứ đã chuẩn bị cho con. – Nhớ lại kỉ niệm ngày khai trường đầu tiên của mình. Tâm trạng nôn nao, hồi hộp, chơi vơi, lo lắng. Mẹ suy nghĩ triền miên. Nghệ thuật: Sử dụng từ láy, từ ghép, tương phản. Nội dung: Là một người mẹ rất thương con, một người có tâm hồn tinh tế và nhạy cảm. 2. Suy nghĩ của người mẹ về nhà trường. – Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con, bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra. – Người mẹ nhận thức rất rõ về vai trò của nhà trường, của giáo dục đối với thế hệ trẻ. – Đôc thoại, giọng tâm tình. Ghi nhớ Sgk/9 III. Luyện tập. * Bài tập 1/9: Ngày khai trường để vào lớp Một là ngày có dấu ấn sâu đậm nhất trong tâm hồn của mỗi con người * Bài tập 2/9: Viết đoạn văn: Hãy nhớ lại và viết thành đoạn văn về một kỷ niệm đáng nhớ nhất trong ngày khai trường đầu tiên của mình?
Cổng trường mở ra của Lí Lan
466
Cổng trường mở ra – Tình mẹ dạt dào, sâu nặng – Bình giảng văn 7 Hướng dẫn Cổng trường mở ra là một bài bút kí ghi lại tâm trạng của một người mẹ trong đêm chuẩn bị cho con trước ngày khai trường để vào lớp Một. Không có sự việc, không có cốt truyện, nhưng văn bản này vẫn hấp dẫn chúng ta, bởi vì từng câu văn, từng dòng chữ dạt dào biết bao nỗi niềm tâm sự của một người mẹ rất mực thương yêu con, không nguôi nghĩ tới trách nhiệm của mình đối với đứa con bé bỏng. Đứa con trong bài văn là một cậu bé chuẩn bị vào lớp Một. Còn chúng ta, những học sinh lớp 7, đã qua lớp Một từ lâu. Vậy mà khi đọc bài văn cổng trường mở rạ, lòng ta vẫn rạo rực những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến, cứ như đang được một chiếc máy thời gian dẫn về những ngày ấu thơ đẹp đẽ thuở xưa… Đêm trước ngày khai trường, tâm trạng của người mẹ và đứa con rất khác nhau. Hình ảnh cậu học sinh lớp Một được miêu tả ở phần đầu bài văn thật ngây thơ, đáng yêu quá. Gương mặt cậu thanh thoát tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo. Ngày mai khai trường, ngày mai được đi học, được vào lớp Một. Vậy mà đêm nay, cậu bé vẫn ngủ một cách thanh thản, bởi vì cậu đã được mẹ giúp chuẩn bị mọi việc, mọi thứ sẵn sàng. Cũng có niềm háo hức như trước những chuyến đi xa, nhưng giờ đây trong lòng cậu bé không có mối bận tâm nào khác ngoài chuyện ngày mai thức dậy cho kịp giờ. Như vậy, trong cái đêm trước ngày khai trường, tâm hồn đứa con, cậu học sinh lớp Một ấy thật là thanh thản, nhẹ nhàng, hồn nhiên, vô tư,… Biết đâu, trong đêm nay, cậu bé sẽ mơ một giấc mơ đẹp, giấc mơ về gia đình hạnh phúc, về cuộc đời tươi sáng. Đứa con, cậu học sinh lớp Một ấy và tất cả chúng ta, nhũng học sinh tiểu học, trung học cơ sở,… có được những giây phút thanh thản, vô tư để mơ giấc mơ đẹp là nhờ đâu? Phải chăng, trước hết là nhờ tình thương yêu, sự chăm sóc dạy dỗ của người mẹ. Nhà văn Lý Lan, chắc cũng là một người mẹ, đã ghi lại biết bao suy nghĩ, tình cảm, tâm trạng của một người mẹ như thế trong đêm chuẩn bị cho con vào lóp Một. Mọi việc chuẩn bị đã xong, mẹ tự bảo mình cũng nên đi ngủ sớm. Nhưng lên giường nằm, mẹ cứ “trằn trọc” mãi. Nhà văn đã dùng một động từ ghép đẳng lập đúng chỗ – trằn trọc. “Trằn trọc là trở mình luôn, cố ngủ mà không ngủ được vì có nhiều điều phải lo nghĩ”. Người mẹ ấy đã lo nghĩ những điều gì? Sau những hồi tưởng và mong ước, người mẹ ấy mở rộng ý nghĩ, liên tưởng tới một nét văn hoá rất đẹp của nước Nhật. “Mẹ nghe nói ở Nhật, ngày khai trường là ngày lễ của toàn xã hội… không có ưu tiên nào lớn hơn ưu tiên giáo dục thế hệ trẻ cho tương lai… Ai cũng biết rằng mỗi sai lầm trong giáo dục sẽ ảnh hưởng đến cả một thế hệ mai sau, và sai lầm một li có thể đưa thế hệ ấy đi chệch cả hằng dặm sau này…”. Nghĩ về chuyện của thế giới, để hiểu rõ và ghi nhớ trách nhiệm vinh quang và nặng nề của chính bản thân mình đối với việc chăm lo, giáo dục con cái nói riêng và cả thế hệ trẻ của đất nước mình nói chung. Tấm lòng người mẹ ấy đẹp đẽ, cao cả biết bao. Ý tưởng này của nhà văn Lý Lan sâu sắc và nhân văn biết bao! Toàn bộ bài văn là tiếng nói nội tâm của nhân vật người mẹ. Người mẹ không trực tiếp nói với con hoặc với ai cả. Người mẹ nhìn con ngủ, như tâm sự với con, nhung thực ra là đang nói với chính mình, đang tự ôn lại kỉ niệm của chính mình. Cách viết này làm nổi bật được tâm trạng, ý nghĩ, tình cảm của nhân vật, cũng chính là của tác giả. Nói khác đi, đây là một kiểu văn chương trữ tình, có tác dụng truyền cảm mạnh mẽ. Nhân vật người mẹ trong bài văn cứ thủ thỉ tâm tình tự nói với mình, theo kiểu “Một mình mình biết, một mình mình hay”. Nhà văn cũng vậy, không có ý răn bảo ai bằng những lời khô cứng mà hoá thân vào nhân vật để tâm sự với bạn đọc, rất nhẹ nhàng, rất tinh tế mà vô cùng thấm thìa, lay mạnh ý nghĩ và tình cảm người đọc. Đọc bài Cổng trường mở ra, trí tuệ và tâm hồn của những học sinh lớp 7 chúng ta được mở rộng, hiểu biết và rung cảm biết bao điều quý giá. Chúng ta hiểu rằng: Trong quãng đời đi học, hầu như ai cũng trải qua ngày khai trường đầu tiên. Nhưng ít ai để ý xem trong đêm trước ngày khai trường, mẹ mình đã lùm gì và nghĩ những gì. Đọc bài văn này, ta hiểu và thấm thìa tấm lòng thương yêu, tình cảm sâu nặng của mẹ đối với ta và vai trò to lớn của nhà trường đối với cuộc sống mỗi con người, cổng trường mở rộng bao nhiêu, tình mẹ dạt dào sâu nặng bấy nhiêu. Mẹ cha, gia đình, thầy cô, bè bạn, trường lớp luôn luôn hài hoà gắn bó với nhau, để đưa chúng ta vào một thế giới tuổi trẻ kì diệu, vô cùng đẹp đẽ, cao cả và… không ít những gian truân. “Hãy can đảm lên, người lính nhỏ của đạo quân… Sách vở là vũ khí, lớp học là đơn vị, trận địa là cả hoàn cầu và chiến thắng là nền văn minh nhân loại…”.
Cổng trường mở ra – Tình mẹ dạt dào, sâu nặng – Bình giảng văn 7
1,050
Tôi là một đứa trẻ mồ côi cha mẹ. Năm tôi 2 tuổi cha mẹ tôi đột ngột xa lìa tôi sau một tai nạn thảm khốc. Bóng đen trùm lên cuộc sống của hai bà cháu tội nghiệp. Nhưng hồi ấy, còn bé quá, tôi chưa cảm nhận được sự mất mát lớn lao ấy.Tôi sống cùng bà nội trong căn nhà nhỏ do cha mẹ tôi để lại. Lên sáu tuổi tôi không thể đến trường vì hai bà cháu tôi quá nghèo, bà tôi lại đã già yếu. Lên sáu tuổi, tôi phải đi mò cua bắt ốc để phụ giúp bà tiền đong gạo. Hai bà cháu tôi sống đắp đổi qua ngày. Năm tôi lên tám tuổi, bà tôi qua đời. Tôi kinh hoàng trước tai hoạ ấy. Tôi thành đứa trẻ bơ vơ, như con chim non mất tổ. Tôi vẫn sống ở căn nhà nhỏ. Và hàng ngày, ban ngày đi mò cua bắt ốc bán lấy tiền đong gạo, đêm về thui thủi một mình. Nhiều đêm nhớ bà, nước mắt tôi ướt đầm gối. Trong cơn thổn thức tôi mong có một phép nhiệm mầu đem bà về cho mình. Nhưng đó chỉ là ước mơ mà thôi. Mỗi lần thấy bọn trẻ cùng trang lứa đến trường, vừa đi vừa chuyện trò ríu rít, trong lòng tôi lại ánh lên bao thèm muốn. Những lúc ấy, tôi thấy lòng nặng trĩu, một đám sương mù lớn bao phủ trước mắt tôi. Một lần, như có sức hút vô hình, tôi đi theo bọn trẻ đến tận cổng trường. Bọn chúng thản nhiên bước qua cánh cổng sắt đi vào bên trong, cổng trường vẫn mở rộng mà tôi không dám bước qua. Tôi đứng trân trân bên ngoài nhìn vào. Trong cánh cổng kia là một thế giới kì lạ và bí ẩn, thế giới đầy hấp dẫn mà tôi hằng khao khát. Bỗng nhiên, tôi thấy cổ họng mình nghẹn lại, nước mắt trào ra. – Sao em không vào đi, sắp đến giờ học rồi?- Một giọng nói nhỏ, trìu mến… Tôi giật mình quay lại, trước mặt tôi là một cô giáo trẻ rất dễ thương. Không hiểu sao tôi bật khóc thành tiếng và bỏ chạy. Hôm sau, đi bán cua về, tôi đã thấy cô giáo đứng chờ ở sân nhà. Trông thấy cô, tôi toan bỏ trốn nhưng cô đã kịp giữ tôi lại. Từ đấy cô thành người đỡ đầu của tôi. Và tôi được cắp sách đến trường. Đến tận bây giờ, khi đã trưởng thành, tôi vẫn in đậm trong kí ức mình cái ngày ấy. Ngày đầu tiên đến trường của mọi người thường bắt đầu vào tuổi lên sáu, vào ngày khai trường đầu tiên của năm học. Nhưng với tôi lại khác, tôi cắp sách đến trường khi tôi đã lên mười và lớp học đã khai giảng được hơn hai tháng. Đêm hôm trước, tôi thao thức không sao ngủ được, lòng bâng khâng bao nỗi niềm, vừa háo hức mong trời mau sáng để đi học, vừa phấp phỏng lo sợ một điều gì đó không cụ thể. Tiếng côn trùng ngoài bãi sông vọng vào khiến lòng tôi càng thêm bối rối. Nhưng rồi tôi cũng thiếp đi lúc nào mà không hay. … Mạt trời đã lên cao. Tôi chạy vội tới trường. Đến nơi, tôi thấy cổng trường đã đóng chặt. Tôi gọi mãi mà không ai mở cổng cho tôi vào. Tiếng đọc bài đồng thanh trong các lớp học vọng ra như bỡn cợt, trêu tức tôi. Tôi oà khóc nức nở…. Tôi giật mình tỉnh giấc. Thì ra đó chỉ là một giấc mơ. Nước mắt tôi chảy trong mơ vẫn ướt đầm má. Tôi ngồi dậy với khăn lau nước mắt. Trời vẫn chưa sáng nhưng tôi không sao ngủ lại được. Trời vừa tảng sáng tôi đã vùng dậy, đánh răng rửa mặt và chẳng thiết ăn uống gì, khoác cặp chạy thật nhanh tới trường. Gió bấc thổi ù ù, tạt vào mặt tôi rát rạt. Nhưng tôi không cảm thấy lạnh. Lòng tôi ấm áp lạ thường, như có ngọn lửa đang nhóm lên trong lòng tôi. Tôi đến trường quá sớm. Bác bảo vệ vẫn chưa mở cổng. Sân trường vắng lặng. Tôi đứng ngoài cổng mà tim đập thình thịch. Kia rồi, cổng trường đã mở rộng. Nhưng tôi vẫn ngập ngừng chưa dám bước vào. Vừa lúc đó cô tôi xuất hiện. Cô dắt tay tôi âu yếm dẫn tôi bước qua cổng trường. Tôi khép nép đi bên cô như một đứa trẻ lên ba khép nép theo mẹ đến nơi xa lạ và trang nghiêm. Cô dắt tôi vào lớp, xếp cho tôi một chỗ ngồi cẩn thận rồi an ủi tôi. Sau đó cô về phía khu nhà làm việc của các thầy cô giáo để chuẩn bị cho một buổi học mới. Tôi ra sân trường, lòng đâm lo sợ vẩn vơ Một lúc sau, sân trường đã ồn ào bởi không biết bao nhiêu là trẻ con. Chúng nô đùa một cách vô tư và hình như chẳng chú ý gì đến tôi. Trống xếp hàng vang lên. Cô giáo đến và cho xếp hàng điếm danh vào lớp. Khi cô bảo tôi đứng vào cuối hàng tổ một thì bao nhiêu tiếng “ồ” đầy ngạc nhiên cất lên. Bao ánh mắt tò mò và hiếu kì nhìn tôi. Tôi e ngại cúi đầu. Cô giáo kể nhanh về hoàn cảnh của tôi và cho bọn tôi vào lớp. Tôi vẫn ngơ ngác, đầu cúi gằm. Bỗng một bàn tay nhỏ nhắn nắm lấy tay tôi, tôi ngẩng đầu lên, bao nhiêu ánh mắt trìu mến nhìn tôi. – Vào lớp đi anh. Một giọng nói vang lên. Rồi tất cả ùa nói theo. Tôi thấy lòng ngập tràn hạnh phúc. Rồi tự tin bước vào lớp. Sau lưng tôi, cổng trường vẫn rộng mở.
Cổng trường vẫn rộng mở
985
Danh và thực trong cuộc sống hiện nay Hướng dẫn Danh và thực trong cuộc sống hiện nay Danh ngày xưa là chức tước được vua ban, xứng với tiếng thơm được mọi người tôn vinh, quý trọng. Ngày nay được hiểu là bằng cấp, chức vụ được Nhà nước trao cho. Còn thực là năng lực, trí tuệ, việc làm, hành động của mỗi người. Những đóng góp của họ mang lại lợi ích thực sự cho cá nhân, cộng đồng, cho quê hương, đất nước. Theo lẽ thường tình, muốn có được danh thì phải có thực tài, có trí tuệ, năng lực mới được cất nhắc. Đúng nghĩa danh và thực phải gắn liền với nhau, bởi thực là bản chất, cốt lõi còn danh là hình thức, bên ngoài. Thực tỏa sáng cho danh, vì thế danh và thực luôn phải thống nhất chứ không thể chênh lệch. Nhưng danh cũng thường gắn với lợi, bởi thế xưa nay chữ danh và chữ lợi đã trở thành miếng mồi vinh hoa để bao người đua chen, giành giật. Người ta chỉ nghĩ có danh là có lợi, có chức tước là có quyền, có quyền là có tất cả, nên chẳng ngại ngần làm mọi điều để đạt được nó. Nhưng khi đã có chức tước, có vị trí thì chỉ là “tiến sĩ giấy” – hữu danh, vô thực, là trò cười cho thiên hạ Danh và thực trong cuộc sống xưa – nay “Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi’ Chỉ vì cái danh có lợi nên khiến nhiều kẻ dốt nát, vô tài phải cố chạy vay không chỉ bằng tiền mà có khi bằng cả nhân cách để đổi lấy tấm bằng thạc sĩ, tiến sĩ hay chiếm được vị trí quan trọng nào đó để leo cao, chui sâu đục khoét của dân của nước. Khiến cho xã hội đảo điên, trắng đen, thật giả lẫn lộn. Bệnh háo danh, hám lợi bất chấp thực tại là căn bệnh thâm căn cố đế của xã hội từ bao đời nay. Xã hội hiện đại đòi hỏi con người phải có thực tài, có trí tuệ. Trí tuệ là nền tảng của con người, hiền tài là nguyên khí quốc gia. Vậy tại sao nạn háo danh vẫn còn tồn tại mà còn tinh vi hơn, thủ đoạn hơn? Nhiều cha mẹ học sinh cũng phải chạy vạy cho con được cái giấy khen loại giỏi để khoe với mọi người, được mang đến cơ quan lĩnh thưởng nhưng thực chất chỉ là cái đầu rỗng tuếch. Rồi nhiều học sinh đi thi nhờ quay cóp, chạy chọt nhưng rồi chứng nào tật nấy, vẫn cứ lười học, ham chơi vậy cha mẹ lại phải mất tiền để có được tấm bằng hữu danh vô thực. Sự kém cỏi của bộ máy lãnh đạo còn đáng sợ hơn cả thảm họa thiên tai, địch họa. Bởi đã là thảm họa không lường, ảnh hưởng tới mọi mặt của cuộc sống xã hội, làm tiêu tan hy vọng, thực tài của bao người, làm mất lòng tin của lớp trẻ, làm rối loạn xã hội, gây bức xúc và bất bình. Vì thế, cần nhận thức được những mặt sáng – tối của xã hội để từ đó xây dựng được nhân cách của mình. Đừng sa lầy vào bệnh hữu danh, vô thực.
Danh và thực trong cuộc sống hiện nay
564
Diễn biến tâm lí hành động của nhân vật bé Thu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng Hướng dẫn Câu chuyện xoay quanh chiếc lược ngà do tác giả ghi lại qua lời kể của một chiến sĩ cách mạng lớn tuổi. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông Sáu thoát li đi kháng chiến lúc bé Thu, con gái ông chưa đầy một tuổi. Hòa bình lập lại, ông về thăm gia đình. Con gái ông không nhận ra cha, vì vết sẹo trên mặt ba em không giống người trong bức ảnh chụp mà em biết. Suốt ba ngày ở nhà, bé Thu tìm cách xa lánh. Giận dỗi, nhất định không chịu gọi ông là ba. Mãi cho đến lúc ông Sáu gần lên đường, cô bé mới nhận cha và đeo chặt lấy ông. Trước lúc xa con, ông Sáu hứa tặng con một chiếc lược ngà. Trong những năm tháng ở căn cứ, xa nhà, ông Sáu thương nhớ con vô hạn và làm một chiếc lược ngà cho Thu như lời hứa trước lúc ra đi. Trước lúc hi sinh, ông chỉ kịp trao chiếc lược cho người bạn thay cho lời trăng trối. – Trước khi nhận ra ông Sáu là cha: Trong những ngày đầu, vì thấy người tự nhận là ba mình có vết sẹo trên má, không giống với người cha trong hình, bé Thu không tin. Chính vì rất yêu thương người cha qua ảnh mà bé Thu khăng khăng không nhận là con của người xa lạ kia. Thái độ vùng vằng vụt chạy, nói trổng “vô ăn cơm”, những hành động quyết liệt (không trả lời, không gọi ông Sáu bằng cha, hất trứng cá, bơi xuồng qua nhà ngoại…) không thể coi là hành động thể hiện sự ương ngạnh, cứng đầu, hỗn láo. Trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh, bé Thu còn quá nhỏ để hiểu được những tình cảnh khắc nghiệt và éo le của cuộc sống. Hơn nữa bé Thu cũng không lường được để giải thích rõ sự việc, cho nên bé Thu phản kháng và xa lánh cũng là một lẽ tự nhiên. – Khi nhận ra ông Sáu là cha: Trong đêm bỏ về nhà ngoại, bé Thu được bà giải thích rõ và sự nghi ngờ cũng được giải tỏa. Dường như trong lòng nó dâng lên tình cảm mới, yêu thường cha pha lẫn nỗi ân hận: nghe bà kể, nó nằm im lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn. Cho nên trong buổi sáng cuốicùng khi chia tay cha, tình thương yêu và nỗi nhớ mong người cha xa cách đã dồn nén từ lâu, nay bỗng bùng lên thật mạnh mẽ. Diễn biến tâm lí và hành động của bé Thu cho thấy tình cảm của em thật sâu sắc, mạnh mẽ nhưng cũng thật dứt khoát, rạch ròi. Ở em còn có nét cá tính cứng cỏi, một bản lĩnh riêng đến mức tưởng như ương ngạnh, nhưng bé Thu vẫn là một đứa trẻ với tất cả vẻ hồn nhiên, ngây thơ của trẻ con. Tâm lí và hành động của bé Thu được mô tả thật sinh động, sát với tâm lí ở tuổi của em. Nêu cảm nghĩ của em vềnhân vật bé Thu và ông Sáu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng. Bài làm Chiếc lược ngàcủa Nguyễn Quang Sáng là một truyện ngắn viết về tình phụ tử sâu nặng của cha con ông Sáu thời kì chiến tranh. Đây là một truyện ngắn giản dị nhưng chứa đầy sự bất ngờ như ta thường thấy ở văn của Nguyễn Quang Sáng. Đoạn trích trong sách giáo khoa đã cho thấy một khoảnh khắc nhỏ mà trong đó tình phụ tử nổi lên như một tình cảm thiêng liêng, cao cả. Truyện ngắn này được viết năm 1966, khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Nội dung truyện là tình cha con của ông Sáu trong bối cảnh ngặt nghèo, éo le của chiến tranh. Tuy đây là một đề tài muôn thuở trong văn chương nhưng chính vì thế, giá trị nhân văn của truyện càng trở nên sâu sắc. Truyện xoay quanh đề tài tình cảm cha con ông Sáu, Tác giả Nguyễn Quang Sáng đã chú ý đặc biệt đến nhân vật bé Thu, một nhân vật có nội tâm đầy mâu thuẫn. Thu là một cô bé phải sống xa cha từ nhỏ. Tuy vậy, trong tâm tưởng của Thu, hình ảnh người cha phải xa cách từ lâu luôn tồn tại qua những tấm ảnh. Mặc dù rất yêu cha nhưng khi gặp lại cha, Thu lại có những tâm trạng hết sức mâu thuẫn thể hiện qua hành động. Khi nghe ông Sáu gọi con, Thu đã không hề mừng rỡ như ông tưởng, nó giật mình, tròn mắt nhìn, ngơ ngác, lạ lùng, chớp mắt như muốn nhìn hỏi, thậm chí mặt nó bỗng tái mét rồi vụt chạy và kêu lên. Đó đều là những cử chỉ mà không ai ngờ tới, những cử chỉ thể hiện sự sợ hãi khác thường giữa cha và con. Không chỉ cóthế, hành động của Thu còn chứa đầy sự lạnh nhạt và lảng tránh. Kịch tính câu chuyện được đẩy lên cao khi bé Thu nấu cơm. Nógóp phần tạo nên độ căng thẳng của mạch kể. Cái nồi cơm quá to, con bécần có sự giúp đỡ của người lớn nhưng nó đã nhất quyết không chịu gọi ba, không chịu nhờ vả. Đỉnh điểm nữa là khi bé Thu cả gan hất cái trứng cá mà anh Sáu đã gắp cho. Đây là một hành động rất tự nhiên và hợp lí của bé Thu, thể hiện cá tính mạnh mẽ và quyết liệt của em. Thương con là thế nhưng ông Sáu vẫn không giữ nổi bình tĩnh. Đó là hành động cho thấy một kịch tính đã được đẩy lên đến đỉnh điểm, lòng thương con của ông Sáu đã bộc phát thành một hành động rất đỗi bình thường của cha mẹ. Bị đánh nhưng bé Thu không khóc như mọi đứa trẻ khác, nó chỉđứng dậy và lặng lẽ sang nhà ngoại. Có lẽ không ai biết được tại sao bé Thu lại cứng đầu đến thế nếu không có hành động em bỏ qua nhà bà ngoại. Vết thẹo trên mặt ông Sáu là nguyên nhân của tất cả vấn đề. Đối với người lớn thì vết thẹo kia không có gì khác lạ, nhưng đối với một tâm hồn non nớt như bé Thu, thì vết thẹo là một sự khác lạ. Em chưa đủ lớn để hiểu được sự ác nghiệt của chiến tranh. Người cha trong những tấm ảnh và người cha ở ngoài khác nhau. Và bản tính trẻ thơ trong em chỉ đinh ninh người cha trong ảnh. Chính chi tiết này đã làm cho câu chuyện rất thật. Chi tiết bé Thu nằm im và lăn lộn nghe ngoại kể về vết thẹo của ba, thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn đã cho thấy sự chuyển biến trong suy nghĩ non nớt của em. Câu chuyện đã giúp em giải tỏa nỗi lòng, đồng thời cũng cho thấy sự ân hận của em vì trong những ngày qua em không nhận ông Sáu là ba. Cao trào của câu chuyện được đẩy lên một lần nữa khi vào thời điểm mà không ai ngờ tới – ông Sáu sắp trở về đơn vị – bé Thu lại nhận cha. Tiếng thét của bé Thu như giải tỏa bao nỗi lòng, bao sự thương nhớ của em. Cùng với những biểu hiện vội vã, hối hả, tác giả đã để Thu bộc lộ hết những tình cảm, nỗi nhớ của mình. Đây là một chi tiết biết nói. Không có chi tiết này câu chuyện sẽ mất đi một phần giá trị và trở nên nhạt nhẽo. Niềm vui sướng khi tìm thấy tình cha con tưởng như không bao giờ tìm thấy nữa, nỗi sung sướng vượt ra ngoài sức tưởng tượng của ông Sáu. Những giọt nước mắt của ông đã vượt qua mọi khoảng cách khiến người đọc không thể cầm lòng. Mỗi lần đọc đến đoạn này, lòng tôi như run lên vì những tiếng nói của bé Thu, của ông Sáu. Đó là niềm vui, niềm hạnh phúc, nó dâng trào. Cõi lòng tôi như mở ra để đón nhận sự hạnh phúc của cha con ông Sáu, sự bất diệt của tình cha con. Tiếng thét của bé Thu là lời minh chứng cho sự bất tử của tình phụ tử. Qua nhân vật ông Ba, Nguyễn Quang Sáng đã dành cho bé Thu bao tình cảm quý mến và trân trọng. Ông cảm thông với cái ương bướng, cứng đầu của một đứa trẻ. Hình ảnh bé Thu hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba, cùng với cử chỉ dang cả hai chăn cấu chặt lấy ba nó mãi mãi là hình ảnh biểu trưng cho tình cha con thời máu lửa. Giâyphút từ biệt ấy đã trở thành vĩnh biệt. Nỗi buồn từ câu chuyện làm ta thấm thìa thêm sự ác nghiệt của chiến tranh. Trong truyện, tác giả không chỉ chú ý đến tình cảm của nhân vật bé Thu mà còn làm nổi bật tình thương con của ông Sáu. Ngày ông đi bộ đội, Thu còn rất bé, nhưng tình cha con trong ông luôn tồn tại mãnh liệt. Lần nào vợ đến thăm ông cũng hỏi thăm con. Đây chính là tình yêu thương của người cha làm cách mạng xa nhà dành cho con. Khi về thăm nhà, những tưởng được gặp con, được nghe con gọi ba với sự thương yêu nhất. Nhưng bom đạn đã làm cho tình cha con suýt trở thành một nỗi đau trong lòng ông Sáu. Khi không đón nhận được tình cảm từ đứa con, ông Sáu trở nên suy sụp, đau đớn và đáng thương. Tuy nhiên, trước sự ứng xử lạnh nhạt của con, ông Sáu vẫn luôn dành cho con những tình cảm yêu thương nhất, trong ánh mắt của ông vẫn luôn tràn đầy tình yêu thương, ông đã làm mọi cách để xóa tan bức tường đang ngăn cách giữa hai cha con. Hành động đánh con của ông Sáu như để giải tỏa nỗi bức xúc tinh thần, đó cũng là một hành động cho thấy tình thương con của ông Sáu. Khao khát gặp lại vợ con luôn ngự trị trong lòng ông Sáu, nhưng khi gặp mặt con lại trở thành nỗi đau trong lòng ông. Đó chính là cái bi kịch thời chiến tranh. Bé Thu còn quá bé để có thể nhận ra những gì đã xảy ra trong cuộc đời của ông Sáu cũng như của bao nhiêu con người phải ngày đêm ở chiến trường xa xôi. Giây phút hạnh phúc nhất trong đời ông Sáu có lẽ là tiếng gọi ba của bé Thu lúc ông sắp trở lại đơn vị. Tiếng gọi như xé lòng, như ăn sâu vào tâm khảm của bất cứ ai dù không chứng kiến cảnh tượng ấy. Đối với bé Thu thì đó là tiếng gọi của tất cả tình cha con dành cho ông Sáu, còn đối với ông Sáu thì tiếng gọi đó là tiếng gọi của thứ tình cảm thiêng liêng và vĩ đại nhất. Tất cả tình thương con của ông Sáu thể hiện qua các hành động chỉ diễn ra trong chốc lát: ông ôm con, rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con. Còn nữa, ông còn dành tình cảm của mình vào chiếc lược ngà mà ông hứa tặng con trước lúc lên đường. Đến đây thì chủ đề câu chuyện mới được hé lộ. Chiếc lược ngà là tất cả tình cảm của ông dành cho con, chính vì thế mà khi có được khúc ngà, ông Sáu hớn hở như bắt được quà. Tác giả đã dùng những chi tiết rất đắt để thể hiện tình cảm của ông Sáu dành cho con, từ việc ông Sáu có được khúc ngà, các công đoạn làm lược, mài lược, đến khi trao lại cây lược cho người bạn trước lúc hi sinh. Cái nhìn của ông Sáu trước lúc hi sinh như ẩn chứa bao nhiêu điều muốn nói. Hình ảnh ông Sáu trong truyện sẽ mãi đọng lại trong lòng người đọc. Chiếc lược ngà với dòng chữ khắc trên đó sẽ mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, về bi kịch thời chiến tranh. Nó buộc người đọc phải suy nghĩ vềnhững đau thương, mất mát mà chiến tranh đã gây ra. Bên cạnh đó, hình ảnh ông Sáu, bé Thu mãi mãi là biểu tượng của tình cha con trong kháng chiến. Truyện ngắn Chiếc lược ngà đã rất thành công trong việc kết hợp kểchuyện với miêu tả nội tâm nhân vật, xây dựng nội tâm mâu thuẫn nhưng nhất quán về tính cách. Truyện được kể ở ngôi thứ nhất dưới góc nhìn của ông Ba. Điều đó làm cho câu chuyện trở nên khách quan và nhiều tính chân thực, và người đọc cũng dễ chia sẻ, đồng cảm đối với từng nhân vật. Truyện có sự sắp xếp rất chặt chẽ nhiều tình huống bất ngờ làm cho người đọc cảm thấy hứng thú và lôi cuốn khi đọc. Truyện ngắn Chiếc lược ngà làm sống lại quãng thời gian đánh giặc giữ nước nhiều mất mát nhưng cũng rất hào hùng của dân tộc. Lớp trẻ chúng ta hôm nay được sống trong hòa bình không thể không nhớ đến sự hi sinh của những người đi trước như ông Sáu. Nguồn:
Diễn biến tâm lí hành động của nhân vật bé Thu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng
2,337
Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng của Mị trong đoạn trích Đêm tình mùa xuân Dàn ý 1. Mị đã bước vào cái đêm đáng ghi nhớ ấy, thoạt tiên, như một tâm hồn tâm câm lặng. Cái cô Mị xưa kia trẻ đẹp, khao khát yêu đương và cũng đã được yêu đương, cô Mị ấy tưởng như đã chìm hẳn vào dĩ vãng. Chỉ còn một người đàn bà “không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, người đàn bà bị cầm tù trong một ngục thất tinh thần (hình ảnh cái buồng có một cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay, lúc nào trông ra cũng chỉ thấy mờ mờ trăng trắng). Đã bao năm rồi, người đàn bà ấy chẳng biết đến mùa xuân, chẳng đi chơi Tết. 2. Vậy mà vào đúng cái đêm tình mùa xuân năm ấy, Mị thốt nhiên lại muốn đi chơi, và đã sửa soạn đi chơi thực sự. Vì sao vây? Khó có thể cho là tại đất trời. Thời tiết mùa xuân năm nào chẳng đại loại như thế. Diễn biến tâm trạng của Mị trong đoạn trích Đêm tình mùa xuân Lí giải sự đột biến khác thường của Mị trong đêm ấy, là một thử thách thật đối với Tô Hoài. Hãy xem bằng cách nào mà nhà văn vượt qua thử thách. – Với một người như Mị, muốn đi chơi nghĩa là muốn phá phách, nghĩa nổi loạn. Cũng với một người như Mị để có thể nổi loạn, thì phải có cái gì có khả năng làm quên đi hiện tại để sống trở về những tháng năm xưa. Cái đó là men rượu mà Tết năm ấy, Mị đã lén “uống ực từng bát”. “Rồi Mị lịm mặt ngồi đấy… nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước”… Rõ nhất là tiếng sáo. Mỗi lần tiếng sáo trở lại truyện là mỗi lần nó được biến đổi đi từ âm thanh của hiện tại dần dần thành tiếng của những mùa xuân trước. Từ chỗ ở ngoài Mị, ở xa Mị, dần dần như tiếng ai mời gọi, hồn ai chờ đợi ngoài đường, để cuối cùng rập rờn trong đầu người thiếu phụ. Tiếng sáo dìu hồn Mị hay là bước đi của hồn Mị được ghi dấu bằng tiếng sáo. – Như thế là sức sống lòng, lòng ham sống đã thức dậy trong lòng người thiếu phụ. Nhưng sự vượt khỏi hoàn cảnh hiện tại của nhân vật không hề đơn điệu dễ dàng. Một thời gian dài, Mị sống trong sự giao tranh giữa quá khứ và hiện tại. Quá khứ đẩy đưa đi, hiện tại trì níu lại. (Nên lòng phơi phới mà Mị vẫn theo quán tính bước vào buồng, ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Và lòng ham sống trào dậy đầu tiên trong ý nghĩ muốn chết ngay không buồn nhớ lại…). Nhưng sức sống cứ lớn dần, sức ám ảnh của tuổi xuân cứ mạnh dần, cho đến khi nó dường như chiếm trọn tâm hồn Mị. Phải tới lúc đó, Mị mới hành động như một kẻ mộng du, không thấy, không nghe A Sử nói. 3. Rồi Mị bị A Sử trói trong trạng thái mơ hồ. Mãi về sau, Mị mới cảm thấy cái hiện tại tàn khốc khi vùng bước đi mà lay chân không cựa được. Nhưng nếu cái mơ không đến một lần, ngay tức khắc thì sự tỉnh ra cũng vậy. Lại một giai đoạn chập chờn nữa giữa hơi rượu, tiếng sáo với cái đau nhức của dây trói và tiếng chân ngựa đạp vào vách. Nhưng bây giờ thì theo chiều ngược lại, tỉnh dần ra, đau đớn dần lên, tê dại dần đi, để dần dần trở lại với vị trí của con rùa lùi lũi trong xó cửa. 4. Một làn sóng tình cảm đã tan đi, không làm thay đổi mảy may đời Mị. Nhưng cái gì Tô Hoài đã viết về đêm hôm ấy vẫn đầy ý nghĩa. Nó cho thấy: thứ nhất, sức sống cùa con người dù bị giẫm đạp, đè nén đến đâu cũng vẫn không bị mất đi. Ý nghĩ ấy khiến ta thêm tin, thêm yêu mến con người. Thứ hai, chế độ phong kiến là chế độ buộc trói, giam hãm chống lại con người và sự sống. Chế độ ấy đáng căm thù, lên án cả từ phía nhân danh quyền sống của con người, tình tiết nghệ thuật giàu chất nhân đạo và chất thơ.
Diễn biến tâm trạng của Mị trong đoạn trích Đêm tình mùa xuân
764
Diễn biến tâm trạng ông Hai trong truyện ngắn Làng – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Diễn biến tâm trạng ông Hai Đề bài: Truyện ngắn Làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp. 1. Yêu cầu – Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong truyện ngắn. – Cần làm rõ ý nghĩa của “những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam”. + Chuyển biến của nhân vật ồng Hai (trọng tâm). + Chuyển biến của các nhân vật khác (tự vệ làng, người phụ nữ tản cư, bà chủ nhà,…). – Cần trình bày rõ trình tự của các luận điểm để làm nổi bật sự phát triển một cách hợp lí trong nhận thức cũng như hành động của nhân vật trong hoàn cảnh lịch sử của dân tộc. 2. Gợi ý – Chuyển biến của nhân vật chính trong nhận thức: từ tình cảm yêu làng xóm quê hương thuần tuỹ trở thành tình cảm có sự giác ngộ Cách mạng, có hiểu biết. – Từ đó những biểu hiện về tính cách của ông Hai cũng có chuyển biến: phê phán địa chủ, quan lại phong kến ; tham gia tự vệ bảo vệ làng, tản cư để giúp cho kháng chiến ; toàn bộ niềm vui, nỗi buồn của nhân vật gắn vào mối quan hệ mật thiết giữa làng Chợ Dầu và cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập, tự do của toàn dân tộc,… – Chú ý chọn lọc những dẫn chứng, từ ngữ, câu nói, hành động thật tiêu biểu và sát thực với quá trình chuyển biến từ nhận thức tới hành động cụ thể của nhân vật. 3. Lập dàn ý a. Mở bài – Làng của kim Lân đã thể hiện tinh thần yêu nước, yêu Cách mạng qua những biểu hiện nhổ bé, bình dị nhất của những người dân quê chất phác, giản dị. – Các nhân vật trong truyện đã thể hiện sống động và sâu sắc tình cảm của mình, đặc biệt là ông Hai. b. Thân bài – Giải thích: “Chuyển biến mới” trong tình cảm của người nông dân yêu nước trong kháng chiến chống Pháp được hiểu là tình cảm yêu làng xóm quê hương mang tính truyền thống của người nông dân Việt Nam đã mang những nét mới (gắn bó với cuộc Cách mạng tháng Tám, với kháng chiến chống Pháp,…). Tình cảm đó ở ông Hai thể hiện cụ thể và sinh động hơn khi nhân vật đi tản cư. Tình cảm trở nên sâu sắc hơn trong nhận thức và hành động. Chúng hoà vào dòng chảy chung của cuộc chiến đấu một mất một còn của dân tộc để trở thành lòng yêu nước nồng nàn. – Chứng minh những chuyển biến mới: Những biểu hiện mang tính truyền thống (yêu làng, tự hào về làng) Những biểu hiện mới mẻ (trọng tâm): Yêu làng với những biểu hiện mới. Cách khoe mới (phê phán giai cấp bóc lột). Tham gia tự vệ bảo vệ làng. Đi tản cư “cũng là kháng chiến”, (nhân vật đã có ý thức giác ngộ so với trước kia) Biểu hiện rõ nét nhất là khi đi tản cư xa làng (nhớ làng khôn nguôi, kể chuyện về làng luôn gắn với tin tức thời sự, kháng chiến, mong đợi được trở về). – Những nhận thức sâu sắc: Đau khổ, căm thù khi làng theo giặc: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Các nhân vật khác: bà chủ nhà hằng ngày xấu tính, kháng chiến khiến cởi mở, nhường nhà cho người khác ở ; đuổi khéo khi biết đó là dân của làng theo giặc. Người đàn bà tản cư cho con bú: một câu chửi đổng, bâng quơ,… c. Kết bài: Trân trọng những người nông dận Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám yêu làng xóm, yêu quê hương đất nước với tình cảm và nhận thức mới. 4. Bài làm minh hoạ Bài 1 Tình yêu làng xóm quê hương là một phẩm chất truyền thống của người dân Việt Nam đã được thể hiện rõ trong các tác phẩm văn học. Trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân, nhân vật Ông Hai vừa có lòng yêu làng tha thiết như truyền thống vốn có của người dân Việt Nam lại vừa có nhũng nét mới mẻ đáp ứng không khí sồi nổi, quyết tâm của cuộc kháng chiến chống Pháp lúc bấy giờ. Cũng như bao người nông dân khác, sống êm ả sau luỹ tre làng, ông Hai yêu làng Chợ Dầu của mình với một tình yêu thật đặc biệt. Tình cảm đó trong ông biểu hiện bằng tính hay khoe về cái hay, cái giỏi của làng quê mình, cứ như không đâu bằng được như vậy. Ông khoe làng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào. Ông nói về sự giàu có, trù phú của làng mình với một niềm say mê và náo nức lạ thường: “Hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt biến chuyển…”. Ông kể về cái làng của ông như một người nông dân tự hào về những thửa ruộng xanh ngút ngàn do chính tay mình cày cấy, như một trọc phú khoe về cơ ngơi giàu có của mình, ông tự hào khoe về làng mình như khoe của cải quý giá của cá nhân mình vậy. Thật là một tình cảm chân tình, mộc mạc nhưng đáng trân trọng vô cùng. Tất cả những điều đáng kiêu hãnh đó đã chứng tỏ rằng người dân làng ông đều là những con người cần cù trong lao động, có ý thức đóng góp cho quê hương mình ngày càng giàu đẹp. Những phẩm chất đáng quý đó không chỉ của riêng người nông dân làng Chợ Dầu mà còn là của những người dân Việt Nam trên muôn ngàn làng quê khác. Sau Cách mạng, khi đã được giác ngộ ý thức giai cấp, tình yêu làng của ông Hai có những biến chuyển sâu sắc. Nếu trước kia ông coi cái “sinh phần của cụ Thượng” là niềm hãnh diện trước con mắt ngạc nhiên của dân làng khác thì bây giờ ông đâm ra căm thù nó vì “cái lăng ấy nó làm khổ ông, nó còn làm khổ bao nhiêu người trong làng này nữa”. Ông còn biết tham gia tự vệ để chiến đấu chống Pháp bảo vệ làng quê, và còn làm nhiều việc khác để phục vụ cho kháng chiến. Lúc này, ông kể về làng một cách hả hê, nào là làng có nhà thông tin, chòi phát thanh cao lớn nhất vùng, rồi những buổi tập dân quân tự vệ có cả phụ lão tham gia, khoe những đường hào, những ụ… Tuy chỉ là cách nghĩ, cách nói của người nông dân hồn nhiên, chất phác, nhưng ông vẫn luôn luôn tâm niệm: bảo vệ làng tức là đi theo kháng chiến. Khi phải xa làng đi tản cư ông lão cũng nghĩ rằng: “Tản cư cũng là kháng chiến”. Xa làng khi nghe tin giặc đánh Chợ Dầu, ông đã hỏi ngay: “Ta giết bao nhiêu thằng?”. Câu hỏi đó chứng tỏ quyết tâm chống giặc, góp một mặt trận nhỏ cho chiến trường chung của cả nước. Lòng yêu làng, nhớ làng chuyển thành sự quan tâm tới chiến sự, tới chính phủ của Cụ Hồ. Đó là biểu hiện cao đẹp về lòng yêu nước của những người dân quê Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đến đây ta thấy rằng tình cảm làng xóm quê hương đầy tính truyền thống của người dân quê Việt Nam từ bao đời nay đã mang những nét mới của thời đại. Ông Hai khoe làng trong cuộc kháng chiến chống Pháp của đất nước chính là ông đã đặt làng trong phong trào cách mạng chung. Đó là cơ sở để ông Hai tự hào về sự hoà nhập cuộc chiến đấu bảo vệ làng, không theo địch của làng Chợ Dầu với cuộc kháng chiến vĩ đại của cả nước. Đây là điều mới mà cách mạng đã đem lại cho ông. Nét đẹp này đã tạo nên bản lĩnh vững vàng để nhân vật có thể trải qua nhiều bão tố và những trắc trở ở đời mà vẫn vững vàng, kiên định. Thử thách đầu tiên xảy ra trong một hoàn cảnh đặc biệt. Đó là khi tin làng Chợ Dầu theo giặc – tuy mới chỉ phong thanh từ miệng mấy người dân tản cư cũng đủ khiến ông vô cùng bàng hoàng, đau xót. Hàng loạt diễn biến tâm trạng giằng xé tâm can ông. “Da mặt ông tê rân rân”, “cổ nghẹn ắng hẳn lại” chứng tỏ rằng ông đang đì tới cực điểm của sự đau khổ và mất hết niềm tin. Nhớ làng, mong được trở về làng đến khắc khoải, đau đớn vậy mà lúc này người nông dân chân chất này đã phải thốt ra những lời đau xót: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Từ trong tâm thức, ông Hai đã không cho phép dân làng đi ngược với lí tưởng của nhân dân, đất nước, đi ngược với cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của dân tộc. Lần thử thách thứ hai là khi nghe tin cải chính về làng Chợ Dầu, ông như được hồi sinh, sung sướng như trẻ con, bô bô đi khoe khắp nơi. Những mất mát do giặc gây ra với ông và làng Chợ Dầu được ông mang đi khoe như những bằng chứng về lòng trung thành của mỗi người nông dân làng ông sau Cách mạng tháng Tám, trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Người ta vẫn quan niệm nông dân là những người có đặc tính tư hữu, nhưng ở đây, khói lửa của cuộc chiến, sinh mệnh của đất nước đã khiến họ sẵn sàng hi sinh tất cả cho cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc. Họ sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho nhau, sẵn sàng cống hiến công sức, tài sản, thậm chí cả xương máu cho thắng lợi cuối cùng của đất nước. Ông Hai là nhân vật điển hình cho người nông dân Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám, có lòng yêu làng tha thiết, hoà vào tình yêu nước thiêng liêng, sâu sắc. Họ sẵn sàng hi sinh tất cả, kể cả ngôi nhà, hay cả làng quê yêu dấu, tổ ấm tâm linh của mình cho kháng chiến. Truyện ngắn Làng đã thể hiện cách nhìn mới mẻ, đúng đắn của nhà văn Kim Lần về người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp trường kì và anh dũng, ớ đó, lịch sử hào hùng của đất nước đã lay động trái tim chân thật của mỗi người, khiến cho những phẩm chất đáng quý trong tâm hồn họ trở nên tốt đẹp hơn, cao quý và sâu sắc hơn. (Đào Phan Vũ Hồng Vân, lớp 91, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Biết cách làm văn nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn xuôi. Người viết đã tập trung làm rõ những chuyển biến mới về tình cảm với làng của người nông dân qua nhân vật ông Hai. Không dừng lại ở đọc đoạn trích trong sách giáo khoa, bạn đã đọc cả truyện để có thể so sánh chuyển biến trước và sau Cách mạng. Ngay cả sau Cách mạng thì thử thách về tình cảm là tin đồn làng theo giặc, làng Việt gian cũng được phân tích để thấy được nỗi dằn vặt giữa làng và kháng chiến của nhân vật. Những nhận xét như thế này thể hiện chiều sâu của bài viêt: Xa làng khi nghe tin giặc đánh Chợ Dầu, ông đã hỏi ngay : “Ta giết bao nhiêu thằng?”. Câu hỏi đó chứng tỏ quyết tâm chống giặc, góp một mặt trận nhỏ cho chiến trường chung của cả nước. Lòng yêu làng, nhớ làng chuyển thành sự quan tâm tới chiến sự, tới chính phủ của Cụ Hồ. Hoặc những mất mát do giặc gây ra với ông và làng Chợ Dầu được ông mang di khoe như những bằng chứng uề lòng trung thành của mỗi người nông dân làng ông sau Cách mạng tháng Tám, trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài 2 Trong văn học hiện đại Việt Nam, Kim Lân được xem là nhà văn của nông thôn, của những người lao động bình thường, chân chất. Làng của ông là một minh chứng cho những truyện ngắn đặc sắc của ông về mảng đề tài đó. Câu chuyện xảy ra trong kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó người nông dân đã có những chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của mình về làng quê, về đất nước, về cách mạng,… Điều đó đã đem đến cho trang sách của ông những tình cảm đẹp đẽ, tươi mới về người nông dân Việt Nam sau Cách mạnh tháng Tám. Có lẽ sau khi đọc truyện Làng, ai cũng bị ấn tượng bởi tình yêu làng của ông Hai. Đó là một tình yêu sâu nặng, chân thành. Một tình yêu mộc mạc mà chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp ở mọi người dân quê Việt Nam. Nhưng đặc biệt ở chỗ, tình yêu làng ở ông Hai trở thành niềm say mê, hãnh diện, thể hiện rõ ở thói quen “khoe làng” của ông. Trước Cách mạng tháng Tám, ông Hai khoe làng Chợ Dầu của mình đẹp, giàu có, trù phú “nhà ngói san sát, đường làng lát toàn đá xanh, khi đi trời mưa, bùn không bén gót chân”. Trong mắt ông Hai, làng Chợ Dầu là ngôi làng đẹp nhất, sầm uất nhất, là niềm tự hào, hãnh diện của mình. Ông có thể ngồi hàng giờ nói về làng của mình, thậm chí gặp ai ông cũng kể về làng Chợ Dầu. Tình yêu làng Dầu khiến ông Hai trở nên mụ mẫm đến nỗi tất cả những gì thuộc về làng Dầu đều là một niềm kiêu hãnh, cả cái dinh quan tổng đốc làng ông, cái công trình khiến bao người dân vô tội như ông phải đổ mồ hôi thậm chí cả máu để xây dựng nên nhiftig cuối cùng “cái đình ấy như của riêng mấy thằng kì lí chuyên môn khua khoét, hống hách”. Cái đình chứa bao “sự ức hiếp đè nén” trong mắt ông cũng rất đẹp, đẹp như chính làng Chợ Dầu của ông vậy. Nhưng khi đã được giác ngộ cách mạng, ông Hai không còn khoe về sự giàu có của làng Dầu. Ông khoe về tinh thần chiến đấu của làng mình, về các “cụ già râu tóc bạc phơ mà vẫn tập một hai“, về các “anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…”, về cái đài phát thanh, thậm chí cả cái chòi gác dựng ở đầu làng ông. Chính Cách mạng tháng Tám đã làm thay đổi con người ông, từ sau khoá bình dân học vụ, ông đã biết đọc, biết viết và quan trọng hơn, ông đã có nhận thức về kháng chiến, về Đảng, Bác Hồ. Ở nơi tản cư, ông trở nên bận rộn hơn và đường như lúc nào ông cũng làm việc quan trọng: ông vào phòng thông tin nghe đọc báo, ngồi nói chuyện với mọi người. Tâm trạng ông lúc nào cũng vui mừng, náo nức, nhất là khi nghe tin đột kích. Chúng ta có thể nhận thấy tình yêu làng của người nông dân như ông Hai đã trở thành tình yêu đất nước, Tổ quốc. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, ở đâu, lòng ông cũng hướng về làng Chợ Dầu. Khi ngồi nói chuyện với mấy người mới đến tản cư, nhắc đến làng Chợ Dầu ông “quay phắt lại, lắp bắp hỏi” thông tin. Và tình yêu làng của ông được bộc lộ rõ nét nhất khi ông Hai nghe tin đồn làng Dầu theo Tây, làm Việt gian. Khi nghe tin ấy, ông Hai sững sờ: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được”. Khi trấn tĩnh lại được phần nào, ông còn cố không chịu tin vào cái tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên” làm ông không muốn tin cũng phải tin. Từ lúc ấy, trong tâm trí ông Hai chỉ còn cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh day dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúị gằm mặt xuống mà đi”, về đến nhà, ông nằm vật ra giường rồi tủi thân nhìn đàn con “nước mắt ông lão giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”. Rồi ông “Nắm chặt hai tay lại mà rít lên” chửi bọn ở làng “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này?”. Có lẽ chúng ta không thể tin được một con người như ông Hai, một người vui vẻ, suốt ngày chỉ ra ngoài để nói về chuyện đột kích, chuyện làng Dầu nay lại ru rú ở nhà than khóc, chửi bới. Tâm trạng ông rối bời, nửa tin nửa ngờ vào cái chuyện khủng khiếp ấy. Suốt mấy ngày hôm sau, ông không dám đi đâu, chỉ quanh quẩn ở nhà nghe ngóng tình hình bên ngoài. Vợ ông nhắc đến chuyện đó, ông gạt đi. “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam-nhông,.., là ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi! Lại chuyện ấy rồi.”. Khi nghe tin cải chính làng Dầu không theo Tây, ông “tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy”. Ông vội vã đi hết nhà này đến nhà khác để báo tin “Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng em vừa mới lên trên này cải chính… cải chính tin làng Chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả.”. Chúng ta tự hỏi điều gì khiến cho ông Hai vui mừng khi làng Dầu thân yêu của ông bị “đốt nhẵn”? Đó là bằng chứng cho danh dự của làng ông, cho tấm lòng son sắt, thuỷ chung của người dân làng Dầu. Và cũng từ hôm đó, ông Hai lại đi kể cho hàng xóm chuyện làng Dầu. Chuyện “hôm Tây vào khủng bố. Chúng nó có bao nhiêu thằng, bao nhiều Tây, bao nhiêu Việt gian, đi những đường nào, đốt phá những đâu đâu, và dân quân tự vệ làng ông bố trí, cầm cự ra sao, rành rọt, tỉ mỉ như chính ông lão vừa dự trận đánh giặc ấy xong thật… ” Chúng ta có thể gặp một ông Hai như thế trong bất kì người nông dân Việt Nam nào. Tác giả Kim Lân rất tài tình khi tạo tình huống truyện vặ miêu tả tâm lí nhân vật. Có lỗ ông phải rất gần gũi với những người nông dân mới xây dựng nên một nhân vật ông Hai giần dị mà thân thuộc đến vậy. Qua nhân vật ông Hai, chúng ta thấy rõ tình yêu làng, yêu nước của những người nông dân Việt Nam thời kháng chiến đã có sự chuyển biến. Nó trở thành một tình cầm thiêng liêng, cao đẹp, một trách nhiệm của người công dân. Đọc xong truyện ngắn Làng chúng tá có thêm niềm tin vào sự thắng lợi của cuộc kháng chiến vì có những người như ông Hai. (Nguyễn Thu Ngân, lớp 9B, Trường THCS Nguyễn Công Trứ, Quận Ba Đình, Hà Nội) Nhận xét Bài viết đã so sánh làm nổi bật được sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của người nông dân. Bám sát cốt truyện và những tình huống cụ thể, bạn đã làm rõ những thay đổi, những dằn vặt, thử thách trong tình cảm của ông Hai đối với làng. Từ chỗ khoe làng giàu, khoe cái sinh phần cụ Thượng (làm khổ cả làng) đến chỗ khoe làng kháng chiến, rồi đau khổ vì làng Việt gian, dứt khoát “thù” làng, rồi vui mừng vì tin đồn được cải chính. Cần chú ý trong tác phẩm, Kim Lân viết làng Chợ Dầu chứ không phải là làng Dầu. Ông Hai khoe nhà ông bị dốt nhẵn chứ không phải làng ông bị đốt nhẵn. Bài 3 Làng của Kim Lân là một trong những truyện ngắn đặc sắc về đề tài người nông dân, về chủ nghĩa yêu nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thần thánh xưa kia. Trong truyện, ta thấy được tình yêu làng xóm quê hương được nâng lên thành tinh thần yêu nước, yêu Tổ quốc sâu nặng trong tâm hồn những người nông dân bình dị, chân chất. Chuyển biến tốt đẹp đó chỉ có thể thấy được trong những hoàn cảnh nóng bỏng quyềt tâm đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Truyện được tác giả viết vào những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Nói về người nông dân nhưng chủ yếu câu chuyện xoay quanh nhân vật ông Hai, một lão nông cần cù, chất phác như bao nhiêu người khác. Chỉ có điều đáng nói là ông lão yêu làng quê mình chả giống ai, yêu bằng một thứ tình cảm rất I iêng biệt. Kim Lân đã nắm bắt được nét đáng quý đó để thể hiện một cách chân thực nhưng cũng rất độc đáo và thú vị trong truyện ngắn của mình. Ông Hai yêu cái làng Chợ Dầu của mình vô cùng, tình yêu đó khiến ông trở thành người thích khoe khoang. Cái gì của làng Dầu cũng hay cũng khéo, nào là con đường làng lát toàn đá xanh, trời muầ trời gió thì sạch mà trời nắng phơi rơm rạ thì chả cái gì bằng được, nào là cái sinh phần củạ cụ Thượng,… Có khoe như vậy, người dân nơi khác mới trầm trổ, mới thán phục. Trong tất cả các câu chuyện của ông luôn luôn có đề tài về nơi “chôn rau cắt rốn” và cũng chỉ khi ấy trông ông mới trở nên sáng sủa, tinh nhanh. Quả thật, niềm hãnh diệri về chốn “quê cha đất tổ” ở con người này thật hồn nhiên, trong sáng. Cách mạng về, đem đến cho mọi người cuộc sống mới, không còn áp bức bóc lột, người dân cày được làm chủ ruộng đồng, làng quê và nhận thức của những người nông dân như ông được mở mang, hiểu biết hơn xưa… Rồi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ đã thổi bùng ngọn lửa yêu nước trong lòng toàn thể dân tộc và tất cả những người dân quê như ông Hai. Ông sớm nhận thức ra được giá trị đích thực của làng quê mình, con người quê hương mình. Cho nên nếu có nghe ông khoe về làng Dầu bây giờ chúng ta cũng thấy thật hồ hởi, phấn chấn. Nào là khí thế cướp chính quyền, nào là tập tự vệ, đào hào, đắp ụ, chuẩn bị chiến đấu,… tấm lòng chân thực và niềm tự hào chân chính của ông đã thể hiện một bước chuyển mình sâu sắc của người nông dân từ tình cảm cục bộ, cá nhân với làng quê của mình hoầ thành lòng quyết tâm đánh giặc, bảo vệ quê hương, giành độc lập cho đất nước. Nhưng phải đợi cho đến lúc ông Hai bộc lộ các cảm xúc buồn vui, yêu ghét một cách mạnh mẽ và quyết liệt của mình trước những tình huống bất ngờ xảy ra ta mới thấy hết được mức độ chuyển biến sâu sắc của người nông dân Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Bắt đầu bằng việc cái tin làng Chợ Dầu theo giặc làm Việt gian qua các người dân đi tản cư mang đến. Tiếp nhận tin dữ đó, ông nghe như tiếng sấm đột ngột nổ bên tai, “cổ họng ông nghẹn ắng hẳn lại” rồi tiếng nói của ông không thoát ra nổi để trở thành “rặn è è trong cổ”. Bên ngoài ông cố tỏ ra bình thường nhưng tâm hồn ông bấn loạn khiến da mặt “tê rân rân” của sự xấu hổ xen lẫn hoài nghi và đau khổ. Cuộc sống của ông thay đổi hoàn toàn, từ lời ăn tiếng nói đến cách cư xử hằng ngày. Hình như ông không muốn ai nhìn thấy sự xuất hiện của mình ở trên đời này, ông đầm ra hay suy luận, bán tín bán nghi… khó có ai thấy lại được con người lao động cởi mở, hồn hậu, ăn to nói lớn của ống trước kia nữa. Ông đau đớn, tủi hổ vì cái làng mà ông tự hào trước đây đã có hành động xấu hổ, nhục nhã như vậy. Những ý nghĩ đen tối, những nỗi đau khổ vật vã túc trực trong ông. Mới trước đấy còn thiết tha hướng về làng quê, chỉ lo không được trở lại làng nữa, vậy mà trong phút chốc ông đau đớn đi đếri quyết định trái ngược lại: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Cuộc trò chuyện tâm tình với đứa con út và những giọt nước mắt của ông đã cho chúng ta thấy tình cảm gắn bó, yêu thương làng quê của người nông dân xưa kia không thể tách rời tình yêu Tổ quốc, lòng căm thù không đội trời chung với giặc Pháp xâm lược. Lúc này, yêu làng là phải sát vai, chung sức đánh đuổi quân thù để đất nước được giải phóng, quê hương được yên bình. Nếu làm ngược lại là hành động phản bội không thể tha thứ được! Tình hình nghiêm trọng đến mức ông chủ tịch làng Chợ Dầu phải lên tận nơi tản cư của dân làng mình để cải chính. Nghe tin đó ai cũng mừng, riêng ông Hai như được hồi sinh, trẻ ra chục tuổi. Niềm vui đến khiến ông trở thành trẻ con, hai tay “cứ múa lên” mà khoe, ông cuống quýt chạy từ người này sang người khác mà nói, mà khoe, mà thânh minh, cải chính,… Có lẽ, ông là người duy nhất trên thế gian này đi khoe làng mình cháy hết cả và cả nhà ông cũng cháy hết sạch, không còn gì. Thoáng nghe thấy lạ lùng, nhưng có như vậy mới khiến ta vỡ lẽ ra, tất cả sự mất mát mà ông đang ra sức khoe kia lại là minh chứng hùng hồn nhất cho cái làng Chợ Dầu của ông đã đánh Pháp đến cùng. Có thế mới bị chúng tàn phá dã man “cháy tàn cháy rụi” như vậy. Ông Hai cũng như mọi người nông dân Việt Nam khác sẵn sàng đánh đổi mọi thứ hay thà mất hết tất cả miễn sao đánh đuổi được quân thù, giành lại độc lập tự do cho đất nước. Có vậy, ông mau được trở lại làng quê, để ông lại có biết bao nhiêu thứ giỏi, thứ tài mà khen, mà khoe thoải mái! Chuyển biến sâu sắc này là biểu hiện cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước chân chính mà ông Hai cũng như những người nông dân ở mọi làng quê Việt Nam đã bộc lộ. Bên cạnh nhân vật chính, chúng ta còn thấy nhiều người nông dân khác cũng thể hiện tấm lòng của mình. Dù ít hay nhiều, dù thoáng qua hay đầy góc cạnh… họ cùng tô điểm cho truyền thống yêu nước của người nông dân nói riêng hay của người Việt Nam nói chung. Một mụ chủ nhà ngoa ngoắt, tham lam nhưng khi kháng chiến nổ ra đã tự nguyện sẻ nhà sẻ cửa cho người tản cư. Vậy mà sẵn sàng đuổi khéo khi nghe tin làng quê của họ theo giặc phản bội nhân dân, phản bội Tổ quốc. Một ông chủ tịch xã lặn lội bao nhiêu đường đất, không quản nguy hiểm để đưa tin cải chính, bảo vệ thanh danh cho quê hương mình, đảm bảo tiếng tốt cho dân làng mình. Không coi trọng tình cảm đối với kháng chiến, với cách mạng thì sao đủ dũng cảm làm như thế được! Một câu chửi bâng quơ của người đàn bà tản cư dừng chân cho con bú cũng nói lên được tấm lòng sâu sắc của họ với đất nước: “Cha mẹ tiên sư nhà chúng nó! Đói khổ ăn cắp, ăn trộm bắt được người ta còn thương. Cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát!”. Những cử chỉ của họ tuy khác nhau nơi việc làm nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng, nàn yêu nước ghét giặc. Như vậy, bất kể người già hay trẻ, bất kể phụ nữ hay nam giới, cuộc kháng chiến chống Pháp đã lôi cuốn họ hoà vào dòng thác cách mạng để họ có điều kiện đem “thứ của quý” đó ra khỏi rương hòm và có dịp “trưng bày trong tủ kính hay bình pha lê” như lời Hồ Chủ tịch đã nói. Tác phẩm đã nói lên sự mở rộng và thống nhất của tình yêu quê hương trong tình yêu đất nước và đó cũng là nét mới trong nhận thức và tình cảm của người nông dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm xưa. Họ đã cùng với nhân dân cả nước tô điểm cho trang sử oanh liệt chống ngoại xâm của cha ông ta. (Nguyễn Quy Vũ, lớp 9 A4, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Bạn đã nêu được những ý cơ bản của bài về sự chuyển biến trong tình cảm của người nông dân đối với làng, với cuộc kháng chiến của dận tộc. Chính cách mạng và kháng chiến đã đem lại sự chuyển biến đó. Nhân vật ông Hai là người thể hiện đầy đủ sự chuyển biến tình cảm trước và sau Cách mạng, trong kháng chiến ở làng và khi đi tản cư, trước khi có tin đồn và sau khi tin đồn được cải chính. Bên cạnh nhân vật ông Hai, bạn đã phân tích về tình cảm của nhân vật bà chủ nhà và người phụ nữ con mọn khi tản cư để nhấn mạnh tình cảm với kháng chiến của người nông dân. Việc bạn viện dẫn câu văn trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta của Bác Hồ là thích hợp.
Diễn biến tâm trạng ông Hai trong truyện ngắn Làng – Ngữ Văn 9
5,266
Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, em viết đơn gửi Ban Giám hiệu nhà trường xin được miễn giảm học phí Gợi ý Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày…tháng…năm ĐƠN XIN MIỄN GIẢM HỌC PHÍ Kính gửi: Thầy Hiệu trường Trường THCS Tô Hiệu, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Đồng kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 6B Em tên là: Nguyễn Thị An Học sinh lóp 6B Trường THCS Tô Hiệu, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Em viết đơn này xin trình bày một việc như sau: Gia đình em hiện nay gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế. Bố em là thương binh hạng 2/ 4, vết thương thường xuyên bị tái phát; mẹ em đang ốm nặng phải nằm bệnh viện; em còn hai em nhỏ đang đi học. Vì vậy, em viết đơn xin nhà trựờng cho em được miễn học phí trong năm học này. Em cam đoan những điều trên là đúng sự thật, nếu có gì sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Em xin chân thành cảm ơn thầy cô. Học sinh An Nguyễn Thị An
Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, em viết đơn gửi Ban Giám hiệu nhà trường xin được miễn giảm học phí
183
Do một lỗi lầm em buộc biến thành con gà trống trong một thời gian Hướng dẫn Những bài văn mẫu hay lớp 6 Văn mẫu lớp 6: Do một lỗi lầm em buộc biến thành con gà trống trong một thời gian bao gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng kể chuyện bằng lời của nhân vật trong truyện. Mời các em học sinh cùng tham khảo. Đề bài: Do một lỗi lầm em buộc biến thành con gà trống trong một thời gian Tôi là một chú gà trống. Nhưng trước đây, tôi là một cậu bé. Các bạn biết vì sao tôi biến thành gà trống không? Nghĩ lại chuyện đó, tôi thấy thật buồn! Ngày đó, tôi hay trốn tiết để đi chơi. Cô giáo thấy tôi vắng nhiều buổi nên đến nhà tôi thông báo với gia đình. Bố mẹ tôi xin lỗi cô và nói sẽ khuyên tôi đi học đầy đủ. Lúc đó tôi không những không nghe lời mà còn nói hỗn rằng: ”Chuyện của con, bố mẹ đừng có xía vào”. Nói xong tôi chạy vào phòng, đóng chặt cửa, không nghe bố mẹ khuyên nhủ. Tôi nghĩ lại những trò vui khi bỏ học đi chơi. Nhưng tôi bỗng giật mình vì có tiếng ai gọi tên mình. Tôi bật dậy thì thấy cô Tiên Xanh đang đứng với vẻ mặt buồn rầu. Tôi hỏi: “A! Cô Tiên Xanh, cô đến để làm gì thế?”. Cô Tiên nói: “Ta đến để trừng phạt con, vì con hỗn láo với cha mẹ, ta sẽ biến con thành con gà trong một tuần lễ, nếu con biết sửa đổi thì con sẽ mau chóng biến thành người”. Hằng ngày, tôi chỉ đứng một chỗ, người ta cho tôi thóc, tôi cũng không ngó đến. Nhưng rồi hai hôm, tôi đói lả ra, nhìn mấy hột thóc mà thèm, bèn ăn luôn. Thấy cũng ngon lắm. Ăn xong, khoái chí, tôi gáy một tràng. Thế là cứ sáng sáng, tôi lại nhảy lên cây rơm để gáy. Đã một tuần trôi qua, tôi vẫn chỉ là gà trống, tôi hơi buồn nhưng cũng từ đó tôi không muốn nhớ đến chuyện tôi từng là người. Liền mấy tháng trời ăn uống xô bồ, trông tôi mập mạp hẳn lên. Tôi được thả đi chơi rong hằng ngày nên rất vui. Có lúc còn giỡn với mấy chú gà con. Tôi nghĩ: “Được làm gà và chơi cùng gà con sướng thật”. Nhưng rồi một hôm, tôi đang ngủ thì có một tên trộm bắt tôi và bóp cổ làm tôi không kêu lên được. Rồi hắn đưa tôi về nhà, nấu nước sôi để chuẩn bị làm thịt. Tôi hốt hoảng, cố tìm mọi cách để thoát thân nhưng vô hiệu, hắn tóm chặt hai chân tôi, để đầu tôi chúc xuống. Tôi nhắm nghiền mắt nghĩ: “Đời mình đến đây hết rồi sao? Chỉ tại mình không vâng lời mẹ, bây giờ bị biến thành gà và còn bị làm thịt nữa. Mình tưởng, mình làm gà là vui sướng. Nhưng… mẹ ơi! Vĩnh biệt mẹ thân thương của con.” Nước mắt tôi trào ra. Tôi giật bắn mình khi thấy gã ăn trộm cầm con dao sắc. Bỗng nghe có tiếng gọi, tôi mở mắt thì thấy cô Tiên Xanh. Tôi nói: “Cô Tiên Xanh ơi! Hãy cho cháu trở thành người. Cháu biết hối hận rồi cô ạ!’ Cô nói: “Con biết hối hận là tốt. Đến bây giờ, tôi vẫn nhớ lại ngày ấy, ngày mà tôi biến thành gà. Các bạn có biết vì sao tôi xin cô Tiên cho trở thành người không? Lý do rất đơn giản, bởi vì tôi muốn sống với cha mẹ, sống một cuộc sống đầm ấm và hạnh phúc.
Do một lỗi lầm em buộc biến thành con gà trống trong một thời gian
639
Do một lỗi lầm em bị phạt buộc phải biến thành con chuột trong thời hạn 3 ngày. Trong 3 ngày em đã gặp những điều thú vị và rắc rối gì.Vì sao em mong chóng hết hạn để trở lại làm người Gợi ý Tôi đang nức nở thì có một anh Chuột Nhắt đến bên cạnh hỏi thăm “Chít… chít… làm sao mà cậu khóc thế?”. Thấy có người an ủi, tôi càng tủi thân khóc to hơn. Thật bất hạnh cho tôi, đang là một cô bé được bố mẹ cưng chiều, trong chốc lát đã bị biến thành một con chuột nhắt… Trong lúc khó khăn có anh Chuột Nhắt ở bên thật may mắn. Tôi kể cho anh nghe ngọn nguồn câu chuyện, vì sao tôi lại ra thế này…. Hôm đó, lớp học của tôi có bài kiểm tra sử một tiết. Vì hôm trước mải đi chơi với bạn tôi đã không học bài. Ngồi trong lớp lo sợ điểm kém sẽ bị bố mẹ mắng, tôi đành liều lĩnh mở vở ra quay. Việc làm hôm đó của tôi trót lọt, không bị ai phát hiện. Đến hôm trả bài kiểm tra, tôi được chín, nguời bạn thân của tôi chỉ được bốn. Thấy lạ, bạn ấy hỏi tôi. Vì muốn trốn tránh việc làm sai trái của mình nên nhất định tôi không chịu nhận. Tôi còn chắc chắn rằng, nếu nói dối ngay lập tức tôi sẽ bị biến thành con chuột nhắt trong ba ngày, loài vật mà bạn tôi ghét nhất. Vừa nói xong, tôi thấy người mình có sự thay đổi. Càng ngày tôi càng bé dần đi, trên miệng có những sợi râu dài, phía sau còn có một cái đuôi… Hốt hoảng, lo sợ tôi vội chạy đến nhìn vào trong gương. Thật không thẻ tin được, tôi đã thực sự biến thành một con chuột nhắt… Từ giờ phút đó, tôi phải sống trong thế giới của họ hàng nhà chuột mà thường ngày tôi vẫn sợ. Anh Chuột Nhắt thông cảm và cho tôi đi cùng. Anh giới thiệu với tôi cuộc sống của loài Chuột, nghe vô cùng hấp dẫn. Trên đường đi,, tôi gặp rất nhiều loại chuột. Chuột cống oai phong bệ vệ. Những chú chuột nhắt nhanh nhẹn, tinh khôn. Mấy cậu chuột chù lúc nào cũng lấm lét. Anh chuột nhắt dẫn tôi ra đồng, gặp họ hàng chuột đồng vui tính. Các anh hoạt bát lắm lại rất hiếu khách nữa. Các anh an ủi tôi thời gian ba ngày sẽ trôi qua thật nhanh. Nếu không sống trong hoàn cảnh này có lẽ tôi không bao giờ tưởng tượng được loài chuột cũng tình cảm như thế. Tối đến, tôi đuợc các anh chuột dẫn đi dạo quanh đồng, ăn tối, uống sương và ngắm trăng lên. Chưa bao giờ tôi thức khuya để được ngắm ánh trăng đẹp đến vậy. Vừa ngắm trăng, chúng tôi còn vừa ca hát nhảy múa quanh đống lửa bập bùng. Tôi mạnh dạn hát tặng tất cả một bài ca về mẹ. Bài hát tình cảm quá khiến nhà chuột ai cũng sụt sùi xúc động… Chơi mãi đến khi ông mặt trời sắp ló trên ngọn lúa, chúng tôi mới trở về đi ngủ. Một đêm trôi qua thật bình yên, giản dị và hạnh phúc. Buổi sáng hôm sau, lần đầu tiên tôi đón bình minh muộn đến thế. Ở trong hang tối, tôi cũng không biết mặt trời đã dậy từ bao giờ. Chỉ thấy có một chị chuột nhắt đến bên đánh thức và tặng tôi một khay thức ăn đầy. Đang đói bụng, tôi ăn ngấu nghiến, ngon lành. Xong bữa sáng, chúng tôi lại tiếp tục rong ruổi khắp mọi nơi. Họ nhà chuột kháo nhau, hôm nay bếp nhà bà lão nọ có món cá kho ngon lắm. Anh chuột nhắt rủ tôi cùng đi chinh phục. Tôi lao ra ngoài chỉ mong chạy càng xa nơi ấy càng tốt. Tôi cứ cắm đầu chạy mà không biết mình đang đi đâu, đến khi dừng lại chỉ thấy một bụi cây rậm rạp, hoang sơ. Sợ quá, tôi quay đầu chay về thì “phì… phì…”, một con rắn to tướng, dài ngoằng ngay sau lưng. Tôi sợ tưởng ngất ngay đi được, ôi, số phận tôi thật trớ trêu, nhà đã ngay kia rồi mà không thể quay về được. Nhắm mắt lại chờ tử thần mang đi, tôi đợi! mãi mà rắn ta không hành động. Tĩnh lặng quá. Mở mắt ra đã không thấy nó đâu rồi. Thì ra một anh săn rắn đã mang nó đi. Hình phạt này với tôi thật quá sức tưởng tượng nhưng đó là một cơ hội quí giá cho tôi và những ai lầm đường. Sau lần này sẽ không bao giò tôi nói dối nữa. Tôi cũng sẽ dũng cảm hơn trước sai trái của mình.
Do một lỗi lầm em bị phạt buộc phải biến thành con chuột trong thời hạn 3 ngày. Trong 3 ngày em đã gặp những điều thú vị và rắc rối gì.Vì sao em mong chóng hết hạn để trở lại làm người
826
Do một lỗi lầm nào đó mà em bị phạt biến thành con cá vàng trong 3 ngày. Trong 3 ngày đó em đã gặp những điều thú vị và nguy hiểm. Tại sao em mong trở lại thành người Gợi ý “Xoảng!” – Chiếc lọ hoa rơi khỏi tay tôi, vỡ tan. Bố hoảng hốt chạy vào: “Có chuyện gì vậy con?”. Tôi tái mét mặt, chả là cái bình này bố tôi quý lắm. Đang không biết nói sao thì con Miu đi qua, tôi đổ ngay cho nó làm vỡ. Thế là con mèo nhỏ không được ăn cơm tối, ánh mắt nó như trách tôi: “Cô chủ! Sao lại đổ lỗi cho Miu?”. Nhưng tôi lờ đi, về giường ngủ. Đột nhiên, một thứ ánh sáng kỳ ảo xuất hiện, một ông lão có bộ râu trắng dài, cầm cây gậy lóng lánh bước tới: “Con đã làm một điều sai trái! Con sẽ phải biến thành cá vàng trong ba ngày” – Nói rồi ông vung gậy biến mất. Tôi lo lắng nhìn lại, tay, chân vẫn còn đủ cả, vậy là tôi yên chí đi ngủ vì nghĩ rằng đó chỉ là một giấc mơ. Sáng hôm sau, khi vừa tỉnh giấc, tôi đã thấy mọi người ngồi ăn sáng, kể cả con Miu cũng đã được phần cá riêng. Tôi vừa chạy ra vừa nói: “Bố kỳ quá! Sao không gọi con dậy?”. “Binh!” – Tôi xoa đầu khi đập vào tấm kính trong, đau quá! Ai lại để kính ở đây? Tôi chột dạ nhìn lại. ồ, không! Tôi đang ở trong cái bình thủy tinh nhỏ, có cả rong nữa. “Chẳng lẽ cụ già ấy nói đúng?” – Tôi tự hỏi rồi nhìn lại. Trời ơi, cả người tôi phủ một lớp vảy vàng óng với những vây mỏng. Ôi! Tôi còn đang sống được ở trong nước nữa. Bỗng một con quái vật xuất hiện với cái mặt to lớn khủng khiếp, mắt xanh và cái lưỡi đỏ lòm… Tôi đứng như trời trồng đợi chết. “Miu! Không được trêu cá vàng!” – Tiếng em tôi – nó bế con quái vật ấy đi rồi. Hóa ra con quái vật đó là Miu, thường nó hiền vậy mà cũng có lúc trông dữ tợn quá. Tôi vội hét lên: “Thu ơi! Thu ơi! Giúp chị với! Giúp chị thoát khỏi đây với!”. Hỏng rồi, nó không nghe thấy tiếng tôi. Tôi cảm thấy tuyệt vọng quá! Tôi còn phải đi học, tôi còn bạn bè, thầy cô, hôm nay tôi đã hẹn tụi bạn đến sinh nhật tôi rồi mà! Đến mọi người trong nhà cũng còn không nhận thấy sự biến mất của tôi, giống như tôi đã nổ tung như bong bóng xà phòng vậy… Rồi cả một ngày đằng đẵng trôi qua: không học, không chơi, không làm gì cả. Cả một ngày chỉ được mấy hạt thức ăn cho cá hồng hồng trông như thuốc chuột, chẳng dám ăn. Và một nỗi sọ hãi bám lấy tôi, ánh mắt của con Miu nhìn tôi như căm giận, tôi cố lờ đi. Ngày thứ hai, không có gì, tôi vẫn không ăn, không uống mặc dù bụng đã đói meo và vẫn là đôi mắt đáng sợ của Miu con đang nhìn tôi chằm chằm. Tôi có cảm giác nó sắp vồ lấy tôi nhưng còn e sợ điều gì đó… Và ngày thứ ba, ngày cuối cùng tôi phải là cá vàng đã tới, tôi cảm giác như thời gian trôi thật chậm và tôi muốn giục nó phải nhanh lên, nhanh nữa lên để tôi có thể biến lại thành người. Hôm nay là chủ nhật, bố mẹ và em tôi sẽ đi chơi công viên, tôi cũng muốn lắm nhưng tôi biết rằng có la lên thì cũng chẳng được gì nên đành cắn răng chịu vậy. “Rầm” – Cánh cửa vừa đóng vào con Miu lao ngay đến chỗ tôi, qua mạt kính trông nó to hơn, dữ tợn hơn, mắt nó nhe những chiếc răng nhọn hoắt ra và để lộ một cổ họng đỏ lòm. “Méo!” – Một tiếng kêu chát chúa, nó giơ móng vuốt lên… “Không! Tao là chủ mày cơ mà! Nhận ra đi! Đừng đụng vào tao! á!.á!” – Tôi hét lên. “Bốp!” Cái bình vỡ tan, tôi rơi ra: “Khó thở quá! Khó thở quá! Ai giúp tôi với!”. Tôi nhận ra cái chậu nước trước mặt: “Phải đến được đó! Mình chưa muốn chết khi chưa biến thành người đâu!”. Tôi cố giãy giụa, đến rồi nhưng cái chậu cao quá làm sao đây. Bỗng cái chậu nghiêng về phía tôi, không còn thời gian suy nghĩ tôi nhảy lên, lấy hết sức nhảy vào chậu nước: “Tõm”. Con Miu lao về phía tôi. “Cạch” – Cửa mở ra, tiếp theo là cái giọng the thé của em tôi: “Đang vui thì mưa!”. Con Miu biến mất từ lúc nào. May quá! cảm ơn trời! “Trang ơi! Dậy! Con!” – Tôi mở mắt và thấy mẹ đang ngồi bên cạnh. “Tối qua con cứ nói lung tung, làm mẹ lo quá!” – Mẹ nói. Hóa ra chuyện đêm qua chỉ là giấc mơ thôi sao? Tôi chạy vội ra bếp, ôm lấy Miu: “Miu oi! Xin lỗi! Chị sẽ không bao giờ làm vậy nữa đâu!”.
Do một lỗi lầm nào đó mà em bị phạt biến thành con cá vàng trong 3 ngày. Trong 3 ngày đó em đã gặp những điều thú vị và nguy hiểm. Tại sao em mong trở lại thành người
896
Do một lỗi lầm nào đó mà em bị phạt phải biến thành một con cá vàng trong thời hạn 3 ngày. Trong 3 ngày đó, em đã gặp những điều thú vị và nguy hiểm gì? Tại sao em mong trở lại thành người? Gợi ý “Xoảng!” – Chiếc lọ hoa rơi khỏi tay tôi, vỡ tan. Bố hoảng hốt chạy vào: “Có chuyện gì vậy con?”. Mặt tôi tái mét, chả là cái bình này bố tôi quý lắm. Đang không biết nói sao thì con Miu đi qua tôi đổ ngay cho nó làm vỡ. Thế là con mèo nhỏ không được ăn cơm tối, ánh mắt nó như trách tôi: “Cô chủ! Sao lại đổ lỗi cho Miu?”. Nhưng tôi lơ đi, về giường ngủ. Đột nhiên, một thứ ánh sáng kỳ ảo xuất hiện, một ông lão có bộ râu trắng dài, cầm cây gậy lóng lánh bước tới: “Con đã làm một điều sai trái! Con sẽ phải biến thành cá vàng trong ba ngày” – Nói rồi ông vung gậy biến mất. Tôi lo lắng nhìn lại, tay, chân vẫn còn đủ cả, vậy là tôi yên chí di ngủ vì nghĩ rằng đó chỉ là một giấc mơ. Sáng hôm sau, khi vừa tỉnh giấc, tôi đã thấy mọi người ngồi ăn sáng, kể cả con Miu cũng đã được phần cá riêng. Tôi vừa chạy ra vừa nói: “Bố kỳ quá! Sao không gọi con dậy?”. “Binh!” – Tôi xoa đầu khi đập vào tấm kính trong, đau quá! Ai lại để kính ở đây? Tôi chột dạ nhìn lại. Ồ, không! Tôi đang ở trong cái bình thủy tinh nhỏ, có cả rong nữa. “Chẳng lẽ cụ già ấy nói đúng?” – Tôi tự hỏi rồi nhìn lại. Trời ơi, cả người tôi phủ một lớp vảy vàng óng với những vây mỏng. Ôi! Tôi còn đang sống được ở trong nước nữa. Bỗng một con quái vật xuất hiện với cái mặt to lớn khủng khiếp, mắt xanh và cái lưỡi đỏ lòm… Tôi đứng như trời trồng đợi chết. “Miu! Không được trêu cá vàng!” – Tiếng em tôi – nó bế con quái vật ấy đi rồi. Hóa ra con quái vật đó là Miu, thường nó hiền vậy mà cũng có lúc trông dữ tợn quá. Tôi vội hét lên: “Thu ơi! Thu à! Giúp chị với! Giúp chị thoát khỏi đây với!”. Hỏng rồi, nó không nghe thấy tiếng tôi. Tôi cảm thấy tuyệt vọng quá! Tôi còn phải đi học, tôi còn bạn bè, thầy cô, hôm nay tôi đã hẹn tụi bạn đến sinh nhật tôi rồi mà! Đến mọi người trong nhà cũng còn không nhận thấy sự biến mất của tôi, giống như tôi đã nổ tung như bong bóng xà phòng vậy… Rồi cả một ngày đằng đẵng trôi qua: không học, không chơi, không làm gì cả. Cả một ngày chỉ được mấy hạt thức ăn cho cá hồng hồng trông như thuốc chuột, chẳng dám ăn. Và một nỗi sợ hãi bám lấy tôi, ánh mắt của con Miu nhìn tôi như căm giận, tôi cố lơ đi. Ngày thứ hai, không có gì, tôi vẫn không ăn, không uống mặc dù bụng đã đói meo và vẫn là đôi mắt đáng sợ của Miu con đang nhìn tôi chằm chằm. Tôi có cảm giác nó sắp vồ lấy tôi nhưng còn e sợ điều gì đó… Đêm đã buông. Tôi cảm thấy thật hồi hộp làm sao. Bụt hiện lên gõ xuống đất ba cái, tôi lớn lên làm người. “Cảm ơn Bụt! Cảm ơn cô Chậu nhé! Tôi đi đây!”. “Trang ơi! Dậy! Con” – Tôi mở mắt và thấy mẹ đang ngồi bên cạnh. “Tối qua con cứ nói lung tung, làm mẹ lo quá!” – Mẹ nói. Hóa ra chuyện đêm qua chỉ là giấy mơ thôi sao? Tôi chạy vội ra bếp, ôm lấy Miu: “Miu ơi! Xin lỗi! Chị sẽ không bao giờ làm vậy nữa đâu!”. ——————————– Tôi là chú gà trống. Các bạn biết vì sao tôi biến thành chú gà trống không? Rất dễ hiểu. Các bạn nghe tôi kể sẽ rõ: Ngày đó, tôi có nghỉ học nhiều tiết để đi chơi. Cô giáo thấy tôi vắng nhiều ngày nên đến nhà tôi thông báo với cha mẹ. Cha mẹ tôi xin lỗi cô và nói sẽ khuyên tôi đi học đầy đủ. Lúc đó tôi nói với cha mẹ rằng: “Chuyện của con, cha mẹ đừng có xía vào”. Nói xong tôi vào phòng, tôi nghĩ lại những ngày vui nhộn khi đi chơi. Nhưng tôi bỗng giật mình vì có ai gọi tôi. Tôi bật dậy thì thấy cô Tiên Xanh đang đứng với vẻ mặt buồn rầu. Tôi hỏi: “A! Cô Tiên Xanh, cô đến để làm gì thế?”. Cô Tiên nói: Ta đến để trừng phạt con, vì con hỗn láo với cha mẹ, ta sẽ biến con thành con gà trong một tuần lễ, nếu con biết sửa đổi thì con sẽ mau chóng biến thành người. Tức thì, tôi thấy người mình như nhỏ lại, tôi đưa tay lên thì tay tôi biến thành cánh gà và người tôi nữa. Tôi ngẩng đầu thì cô Tiên đã biến mất. Từ đấy tôi trở thành chú gà trống. Tôi được thả đi chơi rong hằng ngày nên rất vui. Có lúc còn giỡn với mấy chú gà con. Tôi nghĩ: “Được làm gà và chơi cùng gà con sướng thiệt”. Nhưng rồi một hôm, tôi đang ngủ thì có một tên trộm bắt tôi và bịt miệng tôi, rồi đưa tôi về nhà, nấu nước sôi để chuẩn bị làm thịt. Tôi hốt hoảng, cố tìm mọi cách để thoát nhưng vô hiệu. Tôi nhắm nghiền mắt nghĩ: “Đời mình đến đây hết rồi sao? Chỉ tại mình không vâng lời mẹ, bây giờ bị biến thành gà và còn bị làm thịt nữa. Mình tưởng, mình làm gà là vui sướng: Nhưng… mẹ ơi! Vĩnh biệt mẹ thân thương của con. Bỗng nghe có tiếng gọi, tôi mở mắt thì thây cô Tiên Xanh. Tôi nói: “Cô Tiên Xanh ơi! Hãy cho cháu trở thành người. Cháu biết hối hận rồi cô ạ! Cô nói: “Con biết hối hận là tốt. Thôi được ta cho con trở về với mẹ”. Trong chớp mắt, tôi nhìn thấy mình đứng trước ngôi nhà thân thương. Nhìn lại thì thấy tôi không phải là gà nữa mà là một con người thực sự. Tôi liền chạy vào nhà và ôm lấy cha mẹ nói: “Cha mẹ ơi! Con xin lỗi cha mẹ! Từ nay, con sẽ chăm ngoan học hành, vâng lời cha mẹ và không phụ lòng mong mỏi của cha mẹ, thầy cô”. Đến bây giờ, tôi vẫn nhớ lại ngày ấy, ngày mà tôi biến thành gà. Các bạn có biết vì sao tôi xin cô Tiên cho trở thành người không? Lý do rất đơn giản, bởi vì tôi muốn sống với cha mẹ, sống một cuộc sống đầm ấm và hạnh phúc.
Do một lỗi lầm nào đó mà em bị phạt phải biến thành một con cá vàng trong thời hạn 3 ngày. Trong 3 ngày đó, em đã gặp những điều thú vị và nguy hiểm gì_ Tại sao em mong trở lại thành người_
1,182
Dàn bài hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời kháng chiến chống Pháp trong bài thơ tây Tiến của Quang Dũng Hướng dẫn Đề bài:Về hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, có ý kiến cho rằng: người lính ở đây có dáng dấp của người chiến sĩ thuở trước. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời kháng chiến chống Pháp. Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, anh chị hãy bình luận những ý kiến trên. Dàn ý tham khảo: Mở bài: Giới thiệu về Quang Dũng và tác phẩm Tây Tiến. Trích dẫn ý kiến: Đánh giá chung về ý kiến. Thân bài: Giải thích: “Dáng dấp tráng sĩ thuở trước” là nói đến những nét đẹp trượng phu giàu tính ước lệ kiểu văn chương trung đại trong hình tượng người lính. “Mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời chống Pháp” là muốn nói ở hình tượng người lính có nhiều nét đẹp thân thuộc chắc lọc từ đời sống chiến trường của những anh vệ quốc quân thời Pháp. Đây là hai nhận xét khái quát về hai bình diện khác nhau của hình tượng người lính Tây Tiến: ý kiến trước chỉ ra vẻ đẹp truyền thống, ý kiến sau chỉ ra vẻ đẹp hiện đại. Bình luận và chứng minh ý kiến: Vẻ đẹp người lính mang dáng dấp của các tráng sĩ thuở trước: Người lính trong Tây Tiến có dáng vẻ oai phong, lẫm liệt, đầy hào khí, tinh thần chinh chiến kiêu dũng, xả thân, thái độ ngang tàn, ngạo nghễ, xem cái chết tựa như lông hồng. Hình tượng người lính đặt trong miền không gian đầy không khí bi hùng cổ xưa với cuộc sống trường chinh vào nơi lam chướng nghìn trùng, với chiến trường là miền viễn xứ chốn biên ải, gắn với chất liệu ngôn ngữ trang trọng, hình ảnh ước lệ.. Hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời chống Pháp. Người lính với tinh thần vệ quốc của thời đại chống Pháp cảm tử cho tổ quốc quyết sinh, không tiếc đời mình, không thoái chí sờn lòng, không bỏ cuộc, đời sống quân ngủ gian khổ mà vẫn trẻ trung, tinh nghịch, lăn lộn trận mạc đầy mất mát hi sinh mà vẫn đa cảm đa tình, dồi dào tình yêu thiên nhiên, tình quân dân và tình đôi lứa. Hình tượng người lính gắn chặt với một sự kiện lịch sử là cuộc hành binh Tây Tiến, một không gian thực là miền Tây, với những địa danh xác thực, những cảnh trí đậm đặc sắc thái riêng của xứ sở vốn hiểm trở mà thơ mộng, với ngôn ngữ đậm chất đời thường của những người lính trẻ… Hai ý kiến đều đúng, tuy có nội dung khác nhau, tưởng đối lập, như thực ra là bổ sung nhau, cùng khẳng định những đặc sắc của hình tượng người lính Tây Tiến: đó là sự hòa hợp giữa vẻ đẹp tráng sĩ cổ điển với vẻ đẹp chiến sĩ hiện đại để tạo nên một hình tượng toàn vẹn. Kết bài. Khẳng định đúng đắn của ý kiến. Nêu giá trị của ý kiến với văn học và cuộc sống.
Dàn bài hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời kháng chiến chống Pháp trong bài thơ tây Tiến của Quang Dũng
548
Dàn bài phân tích đoạn thơ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc… độc hành trong bài Tây Tiến của Quang Dũng Hướng dẫn Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Dàn ý tham khảo Mở bài: – Giới thiệu tác giả Quang Dũng. – Giới thiệu bài thơ Tây Tiến. – Giới thiệu đoạn thơ: Bằng bút pháp lãng mạn và vẻ đẹp bi tráng, đoạn thơ đã tạc lên bức tranh tượn đài người lính Tây Tiến với vẻ đẹp lẫm liệt, hào hùng, hào hoa, lãng mạn bất tử với thời gian. – Trích dẫn đoạn thơ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc….. Sông Mã gầm lên khúc độc hành Thân bài: – Giới thiệu khái quát: + Mạch cảm xúc chung: Bài thơđược viết trên nổi nhớ da diết của Quang Dũng về đồng đội, về những kỷ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, đầy thơ mộng. Mỗi phần của một bài thơ là một nỗi nhớ, một nét Tây Tiến. + Vị trí đoạn trích: Kết cấu bài thơ logic của mạch hồi tưởng, từ thực tại vọng về hoài niệm để trở lại với thực tại. Trong trật tự ấy, tượng đài người chiến sĩ Tây Tiến được trân trọng khắc họa ở phần thứ ba của bài thơ. + Vẻ đẹp lẫm liệt, hào hùng: Bút pháp lãng mạn khiến chân dung người lính Tây Tiến toát lên vẻ đẹp phi thường, khác lạ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc. Quân xanh màu lá dữ oai hùm. + Hình ảnh “đoàn binh không mọc tóc”, “ quân xanh màu lá” a Hiện thực tàn khốc: Những ngừi lính Tây Tiến ăn đói mặc rét, gian khổ, khó khăn đến cùng cực, và bệnh sốt rét hoành hành khiến họ phải xanh da, trụi tóc. + Mượn hình ảnh ẩn dụ để gợi tả chất kiêu hùng: đối lập giữa cái yếu đuối về thể chất ( xanh xao tiều tụy) là sức mạnh của tinh thần, ý chí, ngang tadn, lẫm liệt ( “ dữ oai hùm”). + Vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn: Mắt trừng gửi mộng qua biên giới. Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Ở những người lính Tây Tiến, ta thấy vẻ đẹp của bản lĩnh, nét can trường hài hòa với trái tim đa cảm, mộng mơ: Ở sự phẫn nộ sục sôi của nội tâm hướng về nhiệm vụ chiến đấu “ Mắt trừng”. Ở khát vọng lập công cháy bóng dõi về tiền phương với giấc mộng chiến trường “gửi mộng qua biên giới”. Ở tâm hồn lãng mạn, hào hoa, luôn rạo rực khao khát yêu đương: “ mơ Hà Nội dáng kiều thơm” a khát vọng tình yêu, hạnh phúc. + Vẻ đẹp bi tráng: Rải rác biên cương mồ viễn xứ. Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thân chiếu anh về đất Sông mã gầm lên khúc độc hành + Sự bi thương: Người lính phải hy sinh nơi rừng hoang biên giới, di hài phiêu bạc nơi đất khách quê người. Khi chôn cất không cả mảnh chiếu để bọc thân. Cái hùng tráng được thể hiện ở: Những từ Hán Việt trang trọng. Lí tưởng quên mình, cống hiến đời xanh cho Tổ Quốc, phảng phất chí khí anh hùng của người chiến sĩ xưa coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Cách nói sang trọng “ áo bào thay chiếu anh về đất” Âm hưởng trầm hùng của tiếng “ gầm” con sông Mã Giọng điệu chủ đạo của đoạn thơ này là trang trọng, thể hiện tình cảm đau thương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng đội. * Đáng giá: – Đoạn thơ viết về chân dung người lính là đoạn thơ độc đáo nhất trong bài Tây Tiến. Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn được nhà thơ vận dụng sáng tạo trong miêu tả và bộc lộ cảm xúc, tạo nên những câu thơ có hồn. Người lính đã sống anh dũng, chết vẻ vang. Hình tượng người Tây Tiến mãi là một tượng đài nghệ thuật bi tráng in sâu vào tâm hồn dân tộc. Kết bài: – Khẳng định vị trí bài thơ Tây Tiến trong bài Quang Dũng.
Dàn bài phân tích đoạn thơ_ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc… độc hành trong bài Tây Tiến của Quang Dũng
747
Dàn bài: Suy nghĩ về nếp sống văn minh Hướng dẫn Năm 2008 là năm thành phố phát động phong trào “Năm học thực hiện nếp sống văn minh đô thị”. Hãy viết một bài văn nêu cảm nghĩ của em về việc thực hiện của người dân thành phố. (Không xả rác – không khạc nhổ – không phóng uế bừa bãi – không nói tục – không ăn mặc hở hang thiếu lịch sự nơi công cộng). Dàn bài:Suy nghĩ về nếp sống văn minh I. MỞ BÀI Nêu sự việc, hiện tượng cần bình luận. – Nhìn vào bộ mặt của các đô thị, người ta có thể đánh giá trình độ văn minh và mức độ phát triền của một quốc gia. – Ở các nước tiên tiến, vấn đề giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, bảo vệ môi trường sạch đẹp được quan tâm thường xuyên. – Người dân được giáo dục kỹ càng và có ý thức chấp hành rất tốt những quy định chung của xã hội. – Ở nước ta, chuyện vứt rác, xả nước bẩn, làm ô uế nơi công cộng khá phổ biến, ăn mặc hở hang.Có thể gọi hiện tượng này là nếp sống thiếu văn hóa, văn minh. II. THÂN BÀI 1. Nêu các biểu hiện của những hiện tượng thiếu văn minh trong xã hội, nhà trường. 2. Các tác hại của lối sống thiếu văn minh như thế nào đối với cuộc sống chung. – Do lối sống ích kỷ chỉ nghĩ đên mình mà không nghĩ đến người khác. – Do thói quen xấu đã có từ lâu. – Do không nhận thức hành vi của mình là vô ý thức, thiếu văn hóa, văn minh, là phá hoại môi trường sống. – Do việc giáo dục cho người dân ý thức bảo vệ môi trường chưa được làm thường xuyên và việc xử phạt chưa nghiêm. 4.Cần làm gì để chấm dứt nguy cơ trên? – Vai trò của việc tuyên truyền giáo dục trong việc này? – Thanh niên học sinh cần có những hành động thiết thực gì để bảo vệ cuộc sống ngày càng sạch đẹp và văn minh hơn? – Đối với xã hội: nhắc nhở, tuyên truyền – Đói với bản thân: gương mẫu, vận động người thân trong gia đình. III. KẾT BÀI Muốn xây dựng cuộc sống tốt đẹp, văn minh, mỗi công dân đều có ý thức gìn giữ, bảo vệ và phát huy nếp sống “Mình vì mọi người” nâng cao trách nhiệm đối với cộng đồng.
Dàn bài_ Suy nghĩ về nếp sống văn minh
410
Dàn bài: Suy nghĩ về thành tích huy chương của học sinh Việt Nam ở các cuộc thi quốc tế Hướng dẫn Việt Nam tuy điều kiện kinh tế hạn chế, cơ sở vật chất chưa phát triển, nhưng đã có nhiều học sinh đoạt huy chương vàng tại các cuộc thi quốc tế về Toán, Lý, Ngoại ngữ…Năm 2004, sinh viên Việt Nam lại đoạt giải vô địch cuộc thi Robocon châu Á tại Hàn Quốc. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về hiện tượng đó. Dàn bài: Suy nghĩ về thành tích huy chương của học sinh Việt Nam ở các cuộc thi quốc tế I. MỞ BÀI – Truyền thống hiếu học và truyền thống ngàn năm văn hiến của dân tộc (hoặc trích dẫn lời Nguyễn Thiếp, hoặc thơ văn) – Học sinh đạt giải trong các kì thi quốc tế luôn là niềm tự hào của thế hệ trẻ nói riêng và cả nước nói chung. II. THÂN BÀI 1. Các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế là một sân chơi trí tuệ cho những người trẻ tuổi: Học sinh Việt Nam được đánh giá như thế nào trong cuộc thi này? (Dự thi các môn nào? Thành tích đạt được? Thứ hạnh và những giải đặc biệt.) – Xưa: Lương Thế Vinh đi sứ sang Trung Quốc, nổi tiếng vưới bài toán cân voi khiến triều đình Trung Hoa nể phục. Tuy vẻ bề ngoài xấu xí nhưng tài năng cảu Mạc Đình Chi thể hiện cốt cách thanh tao của con người đất Việt. – Nay: Cuộc thi Toán quốc tế tháng 9/2004 ở Ấn Độ của học sinh tiểu học với 20 huy chương, trong đó 14 huy chương vàng, giải nhất toàn đoàn. Đỗ Hoài Anh – học sinh trung học phổ thông, với bảng thành tích khiến mọi người phải thán phục: giải nhất kỳ thi học sinh giỏi cấp trường phổ thông Đông Bắc Mĩ; là một trong năm học sinh có điểm tổng kết cao nhất toàn Đông Bắc Mĩ với số điểm 99,7/100, chưa kể số điểm tuyệt đối 800/800 của môn Toán trong kỳ thi đại học. Cô gái trẻ tuổi anyf đã nhận được “GIải thưởng giáo dục” của Tổng Thống Mỹ dành cho những học sinh trung học xuất sắc nhất toàn Mỹ và có tên trong “Who is who among America High School Students” (Cuốn sách viết về những học sinh xuất sắc nhất của Mỹ), nhận được học bổng của ba trường đại học Mỹ. * Ba học sinh của khối chuyên trường đại học Khoa học tự nhiên đã đoạt giả nhì AGAES – một cuộc thi sáng tạo lập trình cho Liên minh công nghệ truyền thông – thông tin Châu Á (AIC) tổ chức. * GIải ba của các anh chị đội Học viện Bưu chính Viễn thông giành được trong nội dung Micro Mouse. * giải nhất toàn quốc cuộc thi Viết thư quốc tế (UPU) lần thứ 36 do Bộ Bưu chính Viễn thông tổ chức hàng năm của Quận Bình Thạnh. Học sinh Hồ Bảo Duy trương THCS Lê Văn Tám (lớp 9 năm học 2006 – 2007), hoàn cảnh gia đình khó khăn vẫn chăm học. 2. Suy nghĩ của bản thân: – “Nhân tài là do 99% của sự cần cù chăm chỉ, còn 1% của sự thông minh.” – Xúc động sâu sắc, tự hào khi quốc kì, quốc ca Việt Nam cất lên ở lễ trao giải. – Suy nghĩ về truyền thống cần cù, chăm chỉ tạo nên trí thông minh linh hoạt và sáng tạo của dân tộc Việt Nam – đặc biệt thanh niên học sinh Việt Nam (liên hệ với bản thân “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới”). – Suy nghĩ về việc tham gia các kì thi học sinh giỏi quốc tế, vượt qua muôn ngàn khó khăn khách quan, chủ quan bởi hoàn cảnh của học sinh nước ta. – Suy nghĩ về thành tích đạt được: vui sướng, tự hào. – Mong muốn nhà nước quan tâm tạo điều kiện cho thế hệ trẻ được bộc lộ tài năm và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng. III. KẾT BÀI – Hãnh diện, tự hào, khâm phục và ước mơ. – Hành động thiết thực bằng việc cố gắng học tập trau dồi trình độ kiến thức.
Dàn bài_ Suy nghĩ về thành tích huy chương của học sinh Việt Nam ở các cuộc thi quốc tế
711
Dàn bài: Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì mãi chơi làm sao nhãng học tập và còn phạm những sai lầm khác Hướng dẫn Đề bài: Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì mãi chơi làm sao nhãng học tập và còn phạm những sai lầm khác. Hãy nêu ý kiến của em về hiện tượng đó. Dàn bài: I. MỞ BÀI – Khoa học, công nghệ ngày càng phát triển, nhu cầu giải trí của con người càng tăng cao. – Trò chơi điện tử (gảe online) là một trong những hình thức giải trí thu hút nhiều người nhất. – Hiện nay, một số hiện tượng không hay đã xuất hiện từ giới trẻ bởi những trò chơi điện tử. II. THÂN BÀI 1. Thực trạng của việc phát triển trò chơi điện tử. – Trò chơi điện tử phát triển mạnh, có mặt tại mọi nơi, từ thành thị đến nông thôn, từ khu phố đến khu vực trường học. – Từ người lớn đến trẻ nhỏ, nam hay nữ, học sinh, sinh viên, đủ mọi thành phần trong xã hội đều biết tới khái niệm trò chơi điện tử. Do tính hiếu kỳ, tò mò và sự hấp dẫn của các trò chơi đã cuốn hút người chơi ngay từ gian đầu. – Tình trạng “nghiện game” ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Một số học sinh ham chơi điện tử đến mức bỏ học hành, kết quả học tập giảm sút, nói dối, lấy tiền của gia đình, bạn bè; có hại cho sức khỏe một “game thủ” đã gục ngã sau mấy giờ liền “chiến đấu”; mâu thuẫn nhau. 2. Nguyên nhân của những hiện tượng trên là gì? – Tính hấp dẫn của trò chơi điện tử/ – Không loại trừ mặt tích cực của người sáng tạo, và nội dung trò chơi – Ý thức tự giác của mỗi học sinh chưa cao. – Một số gia đình chưa có sự quan trâm con đúng mức. 3. Phương pháp giải quyết vấn đề – Bản thân cần có ý thực hiện tối nhiệm vụ học tập, có thời gian học tập và giải trí thích hợp. – Cần tránh những trò chơi không phù hợp với lừa tuổi, nội dung không lành mạnh. – Cha mẹ cần quan tâm và có sự hướng dẫn con em mình. – Cần có sự tiếp tay của chính quyền, xã hội quản lý các dịch vụ điện tử. III. KẾT BÀI Trò chơi điện tử hấp dẫn, nhưng tác hại mà nó đem lại là không nhỏ, vì vậy chúng ta hãy thưởng thức nó đúng cách và đúng mực.
Dàn bài_ Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì mãi chơi làm sao nhãng học tập và còn phạm những sai lầm khác
434
Dàn ý biểu cảm về cây phượng sân trường em Hướng dẫn a) Mở bài Cây phượng – người bạn đồng hành của mỗi lứa tuổi học trò chúng ta. – Cứ đến hè mỗi chúng ta lại thấy những sắc màu của hoa phượng đỏ rực, có đôi lúc ta chợt cảm thấy mình đang đứng giữa một rừng hoa bát ngát, thơ mộng và ngọt ngào làm sao. – Để nói cảm nhận về cây phượng tôi không biết phải như thế nào? Với tôi, nó là người bạn, người thân, người tri kỉ và là người luôn dõi theo từng bước chân của mỗi học trò như tôi. b) Thân bài – Miêu tả về cây phượng: thân cây? Lá cây? Hoa phượng? Rễ cây?…. – Phượng đẹp nhưng nhìn mỗi cánh hoa phượng, tôi cảm thấy chứa đựng một điều gì đó buồn. + Buồn khi xa những tiếng cười của học trò về nghỉ hè. + Buồn khi lại phải tiễn đưa một thế hệ học trò. + Buồn khi phượng lại phải cô đơn, buồn hiu, khi không ai ngắm mình. + Nhạc sĩ Vũ Hoàng có câu: “những chiếc xe chở đầy hoa phượng Em chở mùa hè của tôi đi đâu?” – Các hoạt động vui chơi, giải trí dưới góc cây phượng: nhảy dây, đá cầu,…=>phượng che chở, đùm bọc và bảo vệ đẻ chúng ta đc vui chơi thoiar mái, đem lại cảm giác an toàn. – Cảm nhận của bản thân: + Tôi hi vọng tất cả các bạn phải biết quý trọng và nâng niu cây phượng, đừng làm hại đến cây phượng. c) Kết bài: – Tổng kết lại cảm nhận cây phượng như thế nào? + Có thể ngày hôm nay ta vô tư là vậy, nhưng sau này ta sẽ nhớ lại”cây phương” chính là nơi ta cảm thấy an toàn, tuyệt vời và luôn cất giấu những kỉ niệm tươi đẹp tuổi học trò của chúng ta.
Dàn ý biểu cảm về cây phượng sân trường em
313
Dàn ý biểu cảm về tình bạn Hướng dẫn Mở bài: Dùng một câu thơ, ca dao hay lời bài hát, câu danh ngôn để dẫn vào tình bạn. Ví dụ câu: “tình bạn của một người là thước đo tốt nhất giá trị của anh ta” – Charles Darwin, hoặc câu thơ “rồi sẽ có một ngày ta ngoái lại/ bạn bè ơi, khi ấy có còn nhau” của Đinh Thị Thu Vân. Khẳng định tình bạn là tình cảm quan trọng, cần thiết của mỗi con người. Thân bài: Cơ sở để hình thành tình bạn Tình bạn bắt đầu từ nhu cầu chia sẻ, trò chuyện, tâm sự và giúp đỡ nhau trong học tập, cuộc sống. Sự chân thành là cơ sở bền vững của tình bạn và là thước đo để đánh giá một người bạn tốt. Tình bạn dễ dàng có được ở những người đồng trang lứa, cùng chung lí tưởng, hợp nhau về tính cách, sở thích hoặc những người chịu thấu hiểu và sẻ chia cùng chúng ta. Biểu hiện của tình bạn chân thành Xuất phát từ mục đích tốt cần người chia sẻ, tâm sự hoặc giúp đỡ nhau chứ không vụ lợi, toan tính. Người bạn tốt là người bên cạnh ta dù ta có nghèo khổ, túng thiếu, xấu xí hay đau bệnh cũng không quay lưng. Người bạn tốt sẽ chẳng ngại ngần giúp ta vượt qua những trở ngại trong học tập hoặc cuộc sống bằng những việc làm cụ thể mà không đòi hỏi trả ơn. Bạn chân thành sẽ tức giận và thẳng thắng đóng góp khi ta sai và cũng sẽ tha thứ, mĩm cười khi ta nhận lỗi. Người bạn ấy sẽ không bỏ mặc ta đi trên con đường sai trái, người ấy sẽ tìm cách giúp ta nhận ra lối đi đúng trong cuộc đời. là người không cố tình tách ta ra khỏi tập thể hay lôi kéo ta vào một tổ chức cá nhân tách biệt nào đấy mà là người hào nhã với tất cả mọi người nhưng dành tình cảm đặc biệt với ta. Làm thế nào để có một tình bạn đẹp và lâu bền Mỗi người phải mở rộng lòng mình để đón nhận, nhìn rõ và thấu hiểu cho những người bạn xung quanh. Đừng đòi hỏi bạn mình phải làm bất cứ thứ gì vì mình hay chứng tỏ tình bạn mà hãy đòi hỏi chính bản thân mình đã làm được những gì để gắn kết bạn bè. Không cần phải sở hữu bạn ấy mà thay vào đó là đặt bạn ấy vào vị trí quan trọng trong lòng mình. Học cách quan tâm người khác và tha thứ khi bạn mình lầm lỗi. Học cách khuyên nhủ đúng tâm lý để bạn nhận ra lỗi sai và thay đổi. Học theo những điều tốt của bạn và đừng bao giờ để ghen hờn, tị nạnh phá hỏng mối quan hệ bạn bè. Liên hệ với tình bạn của bản thân mình Nói sơ lược về người bạn của mình (tuổi, quen khi nào, vì sao lại thân nhau) Kể những kỉ niệm vui buồn hai người đã có và những gì người bạn ấy mang đến cho mình. Cảm nghĩ chung về vai trò của tình bạn đối với riêng em và đối với mỗi người. Ví dụ: Không ai là không có một người bạn vì chẳng ai muốn sống trong cô độc. Thật đáng tiếc cho những kẻ coi rẻ tình bạn hoặc lấy tình bạn để làm những việc sai trái….
Dàn ý biểu cảm về tình bạn
579
Dàn ý bài thơ Phong Kiều dạ bạc Hướng dẫn I. Mở bài: – Trương Kế, thi sĩ đời Đường có tài tả cảnh. Bài thơ ‘Phong Kiều dạ bạc’ là bài thơ kiệt tác của ông được người đời ca ngợi. Viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, có bao nhiêu cảnh là bấy nhiêu tình: niềm thao thức buồn của li khách lúc nửa đêm trên bến Phong Kiều. – Trích dẫn nguyên tác hoặc bài thơ dịch. II. Thân bài: 1. Hai câu đầu: cảnh buồn, tình buồn. – Trăng xế, trăng tà; ánh trăng nhạt nhòa, vàng úa. – Tiếng quạ kêu não nùng. – Ngọn lửa chài chập chờn trên bến sông. – Những lùm cây phong trên bờ sông ẩn hiện mờ tỏ. – Sương phủ trắng đầy trời, mênh mông bao la. – Giữa khung cảnh ấy, màu sắc, ánh sáng, âm thanh ấy, du khách năm trong con thuyền đã buồn lại càng thêm buồn. Năm chi tiết nghệ thuật trong bức tranh đêm bến [1] Phong Kiểu rất chọn lọc, điển hình và biểu cảm. Ba chữ ‘đối sầu miên’ đã thể hiện rõ tâm cảnh của du khách: ‘Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên, Giang phong ngư hỏa đối sầu miên’ (Trăng tà chiếc quạ kêu sương, Lửa chài cây bến; sầu vương giấc hồ) 2. Hai câu 3, 4 gợi tả tâm trạng thao thức của người lữ khách. – Đêm đã khuya, du khách vẫn trằn trọc. Vì lưu lạc. Vì loạn lạc. Vì nhớ quê. Vì con đường công danh… Một tiếng chuông chùa Hàn Sơn từ núi cao, núi xa vọng đến thuyền khách. Giữa đêm khuya thanh vắng tiếng chuông chùa nghe càng rõ. Li khách nghe tiếng chuông chợt tỉnh hồn mai. – Thi sĩ đã lấy động để tả tĩnh, lấy tiếng chuông chùa Hàn Sơn để làm nổi bật cảnh thanh vắng bến Phong Kiều vào lúc nửa đêm, đồng thời thể hiện nỗi buồn cô đơn, niềm thao thức của kẻ xa quê. Con thuyền trong bài thơ tượng trưng cho một cuộc đời lưu lạc: ‘Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền’ (Thuyền ai đậu bến Cô Tô, Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn) III. Kết bài: – ‘Phong Kiều dạ bạc’là một bài thơ rất hay. Hay về chi tiết nghệ thuật, nhất là tiếng quạ kêu, tiếng chuông chùa gợi buồn. – Cảnh vật buồn, tâm trạng buồn. Lấy động để tả tĩnh, lấy không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật để diễn tả tâm trạng nghệ thuật, đã tạo nên giá trị nhân văn của bài thơ.
Dàn ý bài thơ Phong Kiều dạ bạc
423
Dàn ý bài văn phân tích năm câu cuối bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá Hướng dẫn I. Mở bài: – Đỗ Phủ (712 – 770) là nhà thơ hiện thực lớn nhất, không chỉ của đời Đường mà của cả lịch sử thi ca cổ Trung Quốc. Ông để lại hàng nghìn bài thơ tuyệt tác, được người đời mệnh danh là ‘thi thánh’. – Cuộc đời ông lưu lạc lênh đênh, nếm trải nhiều đau khổ, nên tâm hồn ông chan hòa với nhân dân lầm than trong xã hội loạn lạc. Ông là ‘nhà thơ dân đen’ (Phan Ngọc). – ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá’là một kiệt tác của Đỗ Phủ. Năm câu thơ cuối là những câu thơ đẹp nhất trong bài thơ, lấp lánh tư tưởng nhân đạo sâu sắc của thi hào Đỗ Phủ: … ‘ước gì ngàn vạn gian nhà rộng Che khắp thế gian, dân rét mừng. Vững như núi, gió mưa, chẳng chuyển Than ôi, bao giờ mắt thấy ngôi nhà ấy Dẫu lều tan, riêng ta chết cũng cam lòng’. II. Thân bài: 1. Để thấy được cái hay, cái đẹp của năm câu thơ cuối ta cần phải biết qua một vài nét của phần đầu bài thơ. Những dòng thơ tự sự chân thật, cảm động kể chuyện ‘gió thu tốc nhà’. Tai họa dồn dập trút lên gia đình nhà thơ trong một ngày đêm. Gió thu thổi tốc nhà ‘tranh bị rải khắp ven sông…’. Bao nhiêu tranh bị trẻ con xóm Nam cướp sạch. Nhà thơ ‘khản tiếng, rát hầu, đành chịu mất’. Thời loạn lạc đạo lí suy đồi. Tai họa dồn dập, nỗi khổ tưởng chừng không thể nào chịu đựng nổi. Mưa gió suốt đêm, nhà dột, chăn cũ mỏng và rách, rét lạnh thấu xương, thêm tuổi già bệnh tật: Đoạn thơ như cuốn phim làm sống lại một cảnh lầm than cực khổ của một nhà thơ tài ba mà bất hạnh trong xã hội loạn li. 2. Trước nỗi đau ấy, con người gục xuống khóc than? Không! Tâm hồn nhà thơ sáng ngời. Quên hết nỗi đau của riêng mình, lòng ông hướng về bao người cần lao trong xã hội. Ông mơ ước, khát khao: có ngôi nhà ngàn vạn gian’Che khắp thế gian dân rét mừng, Vững như núi, gió mưa chẳng chuyển’. Thật vô cùng cảm động, nhà thơ nguyện quên minh cho hạnh phúc của nhân dân: ‘Than ôi, bao giờ mắt thấy ngôi nhà ấy Dẫu lêu tan, riêng ta chết cóng cũng cam lòng’ – Cái hay, cái sâu sắc của đoạn thơ là bằng bút pháp tương phản: cảnh đời và tấm lòng, nỗi khổ và niềm mong ước. Đoạn thơ như một lời tâm sự, chân thực và cảm động được diễn tả qua hình ảnh ngôi nhà to lớn trong ước mơ của tác giả Yếu tố hiện thực, yếu tố trữ tình lãng mạn kết hợp một cách hài hòa làm sán° u tư tưởng, tình cảm nhân ái, lí tưởng nhân đạo bao la của Đô Phủ. – Ở năm dòng cuối bài thơ, ước vọng nhân đạo chân thành thấm đượm tình người của Đỗ Phủ sáng mãi cùng thời gian. Giả sử nếu bài thơ dừng lại câu thơ tả thực ở phần trên thì có lẽ không phải là tác phẩm của bậc ‘thi thánh’ nữa. Thi pháp cổ gọi năm câu thơ ấy là loại câu ‘cảnh cú’ (làm rung chuyển lên cả bài thơ). Câu thơ để lại dấu ấn một hồn thơ, một tấm lòng, đi dọc thời gian từ đó đến nay đã 13 thế kỷ mà ta đọc lên vẫn xiết bao cảm động! – Đọc ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá’, ta như thấy hiện lên trước mắt hình ảnh một ông già gầy yếu ngồi trong một gian nhà bị dột dưới mưa gió tầm tã, tấm chăn mỏng ướt sũng, đôi mắt đăm chiêu, tư lự nhìn xa xăm… Hình ảnh ấy như một ám ảnh chập chờn mãi trong lòng ta. – Năm dòng thơ cuối vừa đẹp về tư tưởng, vừa đẹp về hình ảnh, bừng sáng tấm lòng nhân đạo của tác giả. Khát vọng che chở cho dân lành đói khổ đã chắp cánh cho thơ Đỗ Phủ đến với mọi tâm hồn nhân ái và làm cho con người nhân ái hơn. Chữ ‘tâm’ trong thơ ông đã giúp cho chữ ‘tài’ trở nên bất tử. Đọc bài thơ, ta khâm phục và kính yêu một hồn thơ vĩ đại, một trái tim nhân hậu bao la.
Dàn ý bài văn phân tích năm câu cuối bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá
768
Dàn ý bài văn tả cánh đồng lúa chín vào buổi sáng đẹp trời trên quê em Hướng dẫn 1. Mở bài: – Quê em là một vùng nông thôn yên bình có nhiều cảnh đẹp. – Em thích nhất là cánh đồng lúa chín vào buổi sáng. 2. Thân bài: a) Trời chưa sáng hẳn: – Cánh đồng trải dài như tấm thảm nhung mềm mại. – Làn sương mờ ảo chập chờn. – Những con đường nhỏ uốn cong như dải lụa, cỏ non ướt đẫm sương đêm. b) Mặt trời lên: – Cánh đồng hiện lên với tất cả vẻ đẹp của nó. – Màu vàng óng ả của lúa chín bao phủ trên các thửa ruộng. – Bông lúa cong oằn vì trĩu hạt. – Lá lúa chuyển sang màu úa. – Sóng lúa nhấp nhô khi làn gió thoảng qua. – Mùi hương lúa mới thơm ngọt. – Hơi nước ruộng hoà quyện cùng hơi sương sớm tạo cảm giác mát mẻ. – Tiếng chim chiền chiên lảnh lót trên cao. – Những chú cò đáp cánh xuống bờ ruộng để tìm mồi. – Thấp thoáng bóng người đi thăm đồng. – Những tốp người đang bàn chuyện ở đầu làng. – Ai cũng vui trước một vụ mùa bội thu, no ấm. 3. Kết bài: – Em rất yêu cánh đồng làng ở quê em. – Em thầm biết ơn bố mẹ và biết ơn những người lao động đã tạo nên một vụ mùa trù phú. Cánh đồng lúa quê em vào mùa này như một tấm thảm khổng lồ màu vàng tươi. Tinh mơ, những giọt sương còn đọng lại trên những bông lúa như những hạt ngọc. Chị gió nhẹ nhàng lưởt qua làm cho biển vàng lung linh gợn sóng. Lúa nặng trĩu bông với những hạt tròn, chắc mẩy, ngả đầu vào nhau thì thầm trò chuyện, hứa hẹn một vụ mùa bội thu. Xa xa, những chú chim ngủ quên, vụt bay lên, chao liệng và cất tiếng hót lanh lảnh gọi ông mặt trời thức dậy.
Dàn ý bài văn tả cánh đồng lúa chín vào buổi sáng đẹp trời trên quê em
323
Dàn ý bài văn tả cảnh đẹp của quê hương em lớp 6 Hướng dẫn Mở bài: Giới thiệu cảnh đẹp quê hương em (Cảnh gì? Ở đâu?) Em được sinh ra và lớn lên tại Hòa Bình, nơi có công trình thế kỉ – nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á. Trong cụm công trình này, không thể không nhắc đến tượng đài Bác Hồ. Em rất tự hào về công trình ý nghĩa này. Thân bài a)Tả bao quát: •Tượng đài Bác Hồ được xây dựng trên đồi ồng Tượng, cao 18m, nặng hơn 400 tấn, làm bằng chất liệu bê tông granit. •Tượng Bác đặt trên đồi cao và ở vị trí cao đẹp nhất của công trình thuỷ điện Hòa Bình, b)Tả chi tiết: •Miêu tả cảnh cụ thề qua không gian, thời gian. + Bức tượng được sáng tác dựa theo ý tưởng khi Bác về thăm Hòa Bình năm 1960. + Dưới chân tượng là 79 bậc thang tượng trưng cho 79 mùa xuân của cuộc đời Bác. + Phía sau chân tượng Bác là hình tượng những đám mây bồng bềnh hòa quyện làm cho hình tượng Bác Hồ nổi lên hoành tráng, nên thơ giữa không gian sồng nước, mây trời hùng vĩ. + Ở nhiều vị trí trong khu vực thành phố Hòa Bình vẫn có thể ngắm nhìn tượng Bác khi màn đêm buông xuống nhờ hệ thống điện đèn chiếu sáng. •Ý nghĩa của cảnh đẹp đối với quê hương em. + Vào đêm giao thừa, bố mẹ thường cho em lên đó xem pháo hoa và thắp hương báo công ơn Bác, câu mong năm mới nhiều điều may mắn, tốt lành. + Tượng đài Bác nhiều năm nay đã trở thành một điểm du lịch nổi tiếng ở địa phương em. + Cuối mỗi năm học, cô trò chúng em đều đến dâng hương đề báo cáo thành tích đã đạt được trong năm học vừa qua với Bác. Kết bài: Nêu cảm nghĩ của em về cảnh đẹp. (Em rất tự hào về công trình tượng đài Bác Hồ và khâm phục sự sáng tạo của các kiến trúc sư tài năng Nguồn:
Dàn ý bài văn tả cảnh đẹp của quê hương em lớp 6
350
Dàn ý bài văn tả người hàng xóm của em Hướng dẫn II. Thân bài – Cô đã ngoài bốn mươi tuổi. – Vóc người mảnh khảnh. – Dáng đi thong thả, nhẹ nhàng. – Thường mặc những bộ âu phục khi đi làm ở công sở. – Khuôn mặt tròn, làn da trắng mịn. – Mái tóc màu hạt dẻ, uốn lượn thả ngang lưng. – Đôi mắt to, sáng long lanh; hàng mi cong vút. – Mũi cao, rất hợp với đôi mắt đẹp của cô. – Đôi môi đỏ hồng, hàm răng trắng nõn, đều đặn. – Đôi tay thon dài, làm việc nhanh nhẹn. – Giọng nói ấm áp, nhẹ nhàng, có sức thuyết phục. – Cô thường kể những chuyện vui ở cơ quan và ở gia đình cô cho em nghe. III. Kết bài – Cô Hoa là người giàu tình cảm, rộng lượng. – Em xem cô như người thân trong gia đình em.
Dàn ý bài văn tả người hàng xóm của em
144
Dàn ý chi tiết biểu cảm về dòng sông quê em Hướng dẫn Mở bài: “Quê hương tôi có con sông xanh biếc/ nước gương trong soi tóc những hàng tre”. Mỗi lần nghe ai đó ngân nga bài câu thơ là lòng tôi lại miên man nhớ đến dòng sông quê ngoại. Tôi đã gắn bó với dòng sông những năm còn học tiểu học nên dòng sông ấy chính là quê hương của tôi… Thân bài: Giới thiệu khái quát dòng sông và hoàn cảnh gắn bó của em với sông Dòng sông quê em ở đâu, nó có tên hay không, tên là gì Dòng sông bắt nguồn từ đâu, chảy qua những nơi nào, là sông nước mặn hay nước ngọt. Ngôi nhà em ở vị trí nào của sông (ven sông quay mặt ra sông..) Em sinh ra và lớn lên gắn bó với sông hay chỉ những kì nghĩ mới về thăm ngoại, thăm sông hoặc nơi em đã từng gắn bó… Biểu cảm chi tiết về dòng sông Biểu cảm con sông từ cái nhìn ở xa và cao. Ví dụ: nhìn từ xa, con sông dài ngoằn ngoèo như một con trăn dài mà đầu và mình lấp lánh những vảy sóng màu bạc. Biểu cảm con sông khi đến gần + Biểu cảm về chiều rộng, dài, độ sâu, màu nước, vị nước theo màu và theo thời gian sáng trưa, chiều, tối (lưu ý: nên đan xen giữa tả và cảm bằng những biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh, ẩn dụ. Ví dụ: Dòng sông quê em mùa nước lũ trắng đục một màu như cậu bé nghịch ngợm đổ ly sữa xuống nước. Rồi đến mùa nắng cháy, sông chẳng chịu khuất mình, dang đôi tay ôm ấp những hàng cây, đem dòng nước ngọt lành cho cây trái… + Biểu cảm về phong cảnh xung quanh như hàng cây dừa, cây tre ven sông kết hợp những nếp nhà, ruộng rẫy, triền đê, bãi sông…. Biểu cảm về vai trò, ý nghĩa của sông đối với đời sống quê em Ngày chưa có đường lớn và xe cộ nhiều, sông là phương tiện đi lại, buôn bán… Sông là người mẹ mang phù sa, nước mát đến cho vùng đất quê em được trù phú. Sông nhiều tôm cá là nguồn thực phẩm chính của người dân và gắn với cuộc mưu sinh của bao người. Biểu cảm về những kỉ niệm tuổi thơ mà em gắn bó Lần đầu tiên tập bơi trên sông Những buổi cùng bạn bè thả thuyền, hái lục bình, câu cá… Những lần bị đánh đòn, vui buồn ra bờ sông thút thít, sông vỗ sóng an ủi. Kết bài: Dòng sông hôm nay có thay đổi gì và những thay đổi ấy khiến em vui hay buồn. Em mơ ước và mong muốn điều gì cho dòng sông quê mình.
Dàn ý chi tiết biểu cảm về dòng sông quê em
468
Dàn ý chi tiết biểu cảm về loài cây em yêu Hướng dẫn Mở bài: Liên tưởng hình ảnh gợi nhớ đến loài cây em yêu quý, ví dụ: mùa lại về trong tiếng ve sầu nức nở gọi những cuộc chia tay, mỗi lần nghe tiếng ve kêu, tôi lại nhớ đến màu hoa phượng đỏ, loài cây đã gắn cả tuổi thơ tôi. Tình cảm của bản thân dành cho loài cây ấy và giá trị tinh thần mà nó mang lại. Thân bài Biểu cảm về hình dáng, đặc điểm của loài cây Biểu cảm từ cái nhìn bao quát đến chi tiết Chọn những đặc điểm điển hình để nêu cảm nghĩ. Để tránh nhầm lẫn với văn miêu tả, khi biểu cảm về hình dáng đặc điểm của cây, cần dùng nhiều phương pháp gợi tả, nhân hóa, ẩn dụ và đưa tình cảm của mình vào. + Ví dụ biểu cảm về lá dừa: nếu có thể tôi muốn được ôm bàn tay uyển chuyển ấy để ngủ ngon lành trong giấc ban trưa. + Biểu cảm về hoa phượng: Có phải những ước mơ điểm 10 của lũ học trò đã hóa thân vào màu hoa phượng để hoa phượng cứ đỏ rực, tinh khôi… Biểu cảm những đặc điểm của từng loại cây: gốc, vỏ, thân, cành, lá, hoa, quả… Biểu cảm về công dụng, vai trò của cây với cuộc sống và với bản thân em Công dụng về thân, gốc, lá, hoa, quả…đối với đời sống người nông dân Biểu cảm về vai trò của loài cây ấy với gia đình, trường học của em. Giá trị tinh thần mà loài cây ấy mang lại + Tình cảm thủy chung, gắn bó, son sắt…của loài cây với con người. Vai trò của loài cây với bản thân em + Người bạn tuổi thơ, gắn bó từng kỉ niệm + Dạy em bài học làm người, cùng em lớn lên.. Kết bài: loài cây ấy có còn vị trí như ngày xưa nữa không. Khẳng định lại tình cảm của em dành cho loài cây dù thời gian đã ca nhưng kí ức tươi đẹp và những kỉ niệm mà cây mang lại vẫn trong lòng của em. Mở rộng vấn đề, mơ ước của em và hi vọng gắn với loài cây ấy.
Dàn ý chi tiết biểu cảm về loài cây em yêu
374
Dàn ý chi tiết biểu cảm về món quà tuổi thơ Hướng dẫn Mở bài: Dẫn dắt từ chung đến riêng hoặc liên hệ trực tiếp suy nghĩ của bản thân liên quan đến món quà, ví dụ: Tuổi thơ là một cuốn sách dày mà không ai nỡ đánh rơi… Giới thiếu được món quà đó là gì và tình cảm chung với nó (gắn bó, yêu thích, mang nhiều kỉ niệm…) Thân bài: Khái quát hoàn cảnh có được món quà Hoàn cảnh của bản thân lúc ấy để thấy được món quà có ý nghĩ như thế nào với em. Hoàn cảnh nhận được món quà (dịp sinh nhật, đầu năm học hay môt ngày bất ngờ vì lời hứa…) Ai tặng quà, món quà gì Tâm trạng của em khi nhận được món quà Biểu cảm về hình dáng, đặc điểm, tính chất, công dụng của món quà Biểu cảm theo trình từ từ bao quát đến cụ thể: hình dáng, màu sắc, đường nét, kiểu dáng, chất liệu, giá thành (chú ý: lựa chọn những nét tiêu biểu kèm theo cảm nghĩ của bản thân. + Ví dụ biểu cảm chiếc cặp: Chiếc cặp chỉ làm bằng một loại vải bình thường nhưng với em nó là chiếc cặp quý nhất trước giờ… + Biểu cảm về con gấu bông: Ôi, cái màu xanh dương trên lớp lông mềm mại của chú gấu mà em cứ ngỡ được ôm cả những đám mây xanh trên trời vào lòng… Chọn đặc điểm nổi bật của món quà đó để phân biệt những món quà khác, ví dụ: Chiếc cặp được mẹ tỉ mỉ thêu tên của em bằng chỉ màu đỏ trên nền xanh… Công dụng của món quà đó với em + Gấu bông: là người bạn bên cạnh em để em tâm sự, là chiếc gối mềm em ôm vào lòng… Biểu cảm về một kỉ niệm về món quà khiến em nhận ra giá trị tinh thần của món quà đó gắn với kỉ niệm tuổi thơ Ví dụ: một lần chiếc cặp bị xém cháy vì em bất cẩn hay bị rớt xuống sông do em nghịch ngợm… Người tặng món quà đó giờ ra sao Món quà đó em gìn giữ thế nào. Kết bài: Khẳng định lại tình cảm em dành cho món quà và người đã tặng quà cho em. Ý nghĩa lớn từ món quà đã mang đến cho em. Mong ước bà hứa hẹn.
Dàn ý chi tiết biểu cảm về món quà tuổi thơ
396
Dàn ý chi tiết biểu cảm về người thân (cha, mẹ, ông, bà, anh, chị, em..) Hướng dẫn Mở bài: Dùng một câu thơ, câu ca dao, bài hát hay một ý trong câu chuyện nổi tiếng để dẫn dắt đề tài. Ví dụ: nói về mẹ dùng câu hát“riêng mặt trời chỉ có một mà thôi và mẹ em chỉ có một trên đời”. Biểu cảm cha “công cha nặng lắm ai ơi/ nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang”- ca dao. Biểu cảm về chị “nhà tôi trên bến sông…chị tôi trông dễ thương bán rau chợ cầu Đông, chị tôi chưa lấy chồng”…. Mỗi lần nghe ai đó hát bài hát về mẹ/chị/ông…là lòng tôi lại trỗi dậy một tình yêu vô bờ dành cho mẹ/ba.. của mình. Người đã dùng cả tuổi xuân để mang đến cho tôi cuộc sống đủ đầy. Người đã dạy tôi thành một con người đúng nghĩa và chính người đã để lại trong tôi một thời tươi đẹp nhất cuộc đời. Thân bài: Biểu cảm về ngoại hình Sơ lược về tên tuổi, hoàn cảnh sống, công việc của người thân ấy, ví dụ: Mẹ tôi là một người nông dân chân bùn, tay lắm, sinh ra ở một vùng biển nghèo khó và lấy theo cha làm dâu nơi đồng bằng đất mặn, phèn chua…. Biểu cảm về những chi tiết tiêu biểu của gương mặt, vóc dáng, đôi mắt, nụ cười, giọng nói (lưu ý: nên chọn những chi tiết đắc không miêu tả liệt kê như văn tả mà phải gắn với tình cảm) Tùy thuộc vào đối tượng biểu cảm mà chọn những chi tiết khác nhau, Ví dụ người thân là cô giáo chọn biểu cảm dáng đi, ánh mắt, giọng nói. NGười thân là nông dân chọn biểu cảm thân hình, cánh tay, bàn tay, nụ cười… + Về mẹ: Mẹ tôi không son phấn, không làm đẹp vì bao nhiêu tiền bà để dành nuôi tôi ăn học, những nếp nhăn trên trán in hằn dấu vết của thời gian… Biểu cảm về tính cách, sở thích, lối sống, trang phục… Biểu cảm những nét tiêu biểu về tính cách, sở thích, lối sống + Ví dụ: Cả một cuộc đời lam lũ nên đã hình thành tính tiết kiệm ở mẹ tôi. Dù bây giờ cuộc sống đã khấm khá hơn nhưng chẳng bao giờ tôi thấy mẹ phung phí từ hạt cơm đến tấm áo. Ấy vậy mà mẹ lại luôn rộng rãi với những người xung quanh… + Ví dụ về ông: là một cụ chiến binh, ông vẫn giữ nề nếp sinh hoạt đúng giờ. Tôi học đươc ở ông thói quen dậy sớm, tập thể dục và siêng lao động… Nên chọn những nét đặc biệt trong tính cách, sở thích, lối sống của đối tượng để phân biệt người ấy với những người khác. Tránh viết gập khuôn nên đem hình ảnh thực tế của người thân mình vào một cách khéo léo. Biểu cảm về cách đối xử của người thân với những người trong gia đình, đối với em và với mọi người Là trung tâm của sự hòa giải trong gia đình, là tiếng cười hạnh phúc mỗi khi có người ấy. Người thân của em đã giúp đỡ em, yêu thương em thế nào (biểu cảm những việc làm cụ thể mà chọn 1 kỉ niệm ấn tượng thể hiện sự quan tâm, chăm sóc của người ấy với em). Cách đối đãi của người ấy với hàng xóm, đồng nghiệp… Vai trò và bài học mà đối tượng mang lại cho em Là người nuôi dưỡng, lo lắng, giúp đỡ em để em trưởng thành và có cuộc sống sung túc. Là người thấu hiểu, cảm thông, nguồn động lực to lớn để em vượt mọi khó khăn. Người dạy cho em bài học quý về cách sống. Ví dụ: Nếu chỉ còn một ngày để sống, em sẽ đem ngày cuối cùng của mình để được bên cạnh mẹ, nấu cho mẹ bữa cơm, khiến mẹ cười…
Dàn ý chi tiết biểu cảm về người thân (cha, mẹ, ông, bà, anh, chị, em..)
664
Dàn ý chi tiết bảo vệ môi trường là bảo vệ cuộc sống của chúng ta Hướng dẫn Đề: Môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sức khỏe của cộng đồng, nhưng hiện nay môi trường đang bị đe dọa một cách nghiêm trọng do chính bàn tay con người. Vì vậy chúng ta cần ý thức và hiểu được rằng: bảo vệ môi trường là bảo vệ cuộc sống của con người. Mở bài: Khẳng định con người bắt nguồn từ thế giới tự nhiên và sống gắn bó, tác động đến thiên nhiên, môi trường. Con người không thể tách rời khỏi môi trường sống nhưng lại có những tác động tiêu cực đến môi trường. Nhất là khi dân số càng đông, xã hội càng phát triển thì môi trường lại chịu ảnh hưởng nặng nề. Chúng ta muốn sự sống tồn tại lâu dài thì phải ý thức rằng: bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta. Thân bài: Giải thích: môi trường là gì: môi trường là những yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ở đây chúng ta đang nói đến môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố: không khí, nước, đất đai, thảm động, thực vật.. Vai trò của môi trường sống đối với con người: – Con người sống được là nhờ vào khí oxy trong không khí và sử dụng những khí khác để phục vụ cho đời sống. – Thảm động thực vật là thức ăn, là mái nhà che chắn con người, đặc biệt vai trò của rừng đối với đời sống: rừng cung cấp gỗ, dược liệu, động vật quý hiếm, là lá phổi lọc khí, rừng che chắn bão, giữ đất, làm mạch nước ngầm… – Nguồn nước: con người không thể sống thiếu nước, nước uống, nước sinh hoạt, tưới tiêu… => Tóm lại: nhân tố nào của môi trường đều gắn bó mật thiết và không thể thiếu đối với đời sống. Phản đề: nêu thực trạng môi trường ngày càng bị phá hủy và tác hại của nó: – Chứng minh không khí bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người: + Nguyên nhân: khói bụi nhà máy, đốt rác thải sinh hoạt, khói bụi phương tiện giao thông, đốt rừng.. + Tác hại: con người hít phải khí độc gây ngộ độc, dị ứng, bệnh ngoài da, lâu dần gây ung thư vòm họng… – Chứng minh đất đai bị ô nhiễm + Nguyên nhân: Mất rừng, đất bị xói mòn, đồi trọc, xử lý rác thải không hợp lí, chôn rác thải xuống đất, sử dụng phân thuốc độc hại trong trồng trọt.. + Tác hại: Nông nghiệp khó khăn, cây cối khó sinh trưởng – Chứng minh rừng và các loài động vật đang dần cạn kiệt + Tác hại: Biến đổi khí hậu khu vực, gây thiên tai, bão lụt nguy hiểm, sinh vật khác mất nơi ở dần bị khai thác và tiệt chủng. – Chứng minh nguồn nước bị ô nhiễm: + Nguyên nhân: nước thải các nhà máy chưa qua xử lý, nước thải sinh hoạt, chất hóa học… + Tác hại: cạn kiệt nguồn nước ngầm, nước ao hồ, nước biển bị ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, làm các loài động vật dưới nước chết… Biện pháp bảo vệ môi trường trước nguy cơ bị xâm hại: – Về phía chính quyền địa phương: xử phạt nặng với hành vi xấu, tăng cường bảo vệ môi trường nhất là bảo vệ rừng – Về phía mỗi người: ý thức bảo vệ chung, trồng cây, lên án những hành vi xấu, tuyên truyền vai trò của môi trường sống… – Liên hệ đến việc làm bảo vệ môi trường ở địa phương hoặc trường lớp của em Kết bài: Rút ra bài học cho bản thân và kêu gọi các bạn có những hành động thiết thực ngay hôm nay.
Dàn ý chi tiết bảo vệ môi trường là bảo vệ cuộc sống của chúng ta
646
Dàn ý chứng minh đức tính giản dị của Bác Hồ Hướng dẫn Mở bài: – Giới thiệu về Bác Hồ và tình cảm thiêng liêng mà cả dân tộc dành cho Người: Bác là vị lãnh tụ dân tộc, là danh nhân văn hóa thế giới, đồng thời cũng là vị cha già kính yêu của mỗi người Việt Nam. Nhân dân Việt Nam và bạn bè thế giới luôn dành cho Bác sự ngưỡng mộ và lòng tôn kính. – Giới thiệu về lối sống giản dị, thanh bạch của Bác mặc dù Bác trên cương vị tối cao của đất nước. Thân bài: Chứng minh Bác giản dị qua các phương diện: – Bác giản dị trong cách ăn: + Bữa ăn chỉ có vài ba món rau, dưa, khi ăn Bác không để rơi một hạt cơm nào + Dịp lễ tết, có món gì lạ, ngon Bác đều mời anh chị phục vụ ăn cùng +Thức ăn còn lại Bác sắp xếp tươm tất, Bác không muốn để người khác ăn phần thừa của mình. – Bác Hồ giản dị trong cách mặc: + Bộ quần áo cũ sờn vai, đôi dép lốp đã mòn + Được tặng nhiều quần áo mới nhưng Bác đem tặng lại những chiến sĩ, đồng bào thiếu thốn. – Giản dị trong cách ở: + Ở nhà sàn, căn phòng bày trí đơn giản nhưng gọn gàng ngăn nắp “nhà lá đơn sơ một góc vườn/gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn” + Những ngày ở Việt Bắc Bác sống trong hang đá, cuộc sống cháo bẹ, rau măng nhưng vẫn lạc quan. + Khi đất nước thống nhất Người được đó về dinh chủ tịch nhưng Người vẫn muốn sống ở ngôi nhà sàn đơn sơ. – Bác giản dị, tiết kiệm trong chi tiêu, sinh hoạt. Bác tự trồng rau, nuôi cá, nếu có chi tiêu gì Bác cũng trích từ lương của mình. – Bác còn thể hiện sự giản dị trong lời nói và bài viết: + Khi sáng tác văn, thơ Bác đặt ra câu hỏi viết cho ai và viết như thế nào. Bác sử dụng lời ăn tiếng nói hằng ngày rất gần gũi với người dân. + Lúc người đọc Tuyên Ngôn ĐL, Người đã dừng lại và hỏi một câu rất thân tình “Tôi nói mọi người có nghe rõ không” – Khẳng định lại lối sống giản dị, thanh bạch của Bác – Rút ra bài học về tính giản dị cho học sinh và mọi người.
Dàn ý chứng minh đức tính giản dị của Bác Hồ
405
Dàn ý cảm nghĩ về cô giáo mà em yêu quý Hướng dẫn Mở bài – Hình ảnh ngôi trường thân thương, lớp học với những bạn bè thân thiêt, với những thầy cô giáo quý mến là hình ảnh quen thuộc trong mỗi một cô cậu học sinh chúng ta – Nhưng đi qua những hình ảnh đó ta đọng lại được bao nhiêu – Còn tôi hình ảnh trong tâm trí đọng lại nhiều nhất là hình ảnh cô giáo dạy văn năm lớp sáu Thân bài – Cô là người giáo viên đầu tiên dạy tôi năm tôi lên bậc trung học cơ sở + Tôi may mắn được học dưới sự dạy dỗ của cô + Bước từ cấp tiểu học lên trung học còn khá nhiều bỡ ngỡ với chúng tôi lúc đó + Sợ tiếp nhận với chương trình mới nên lo lắng không biết tiếp nhận sao cho thật hiệu quả + Môn đầu tiên chúng tôi được học lúc đó là môn Ngữ văn + Bước vào lớp học cô với giọng điệu dễ mến, gương mặt nhân hậu, thanh thoát. Cô chào chúng tôi với lời chào thân thương: Chào các em lớp sáu! – Hình ảnh cô ngay từ buổi đầu dạy lớp làm tôi ấn tượng sâu sắc cho tận bây giờ: + Cô tên Trang, năm nay cô tôi hai bảy tuổi, tôi đã quen thân với cô được ba năm nay + Tình cảm tôi dành cho cô luôn giống như lúc đầu đó là sự yêu quý, là sự ngưỡng mộ, là sự kính trọng đối với cô +Hình ảnh mái tóc dài mượt cùng với chiếc áo dài thướt tha. Chao ôi! Hình ảnh đó của cô đẹp làm sao? + Cô chắp cánh tri thức, chắp cánh ước mơ cho chúng tôi + Tôi mơ ước sau này được như cô ; với phấn trắng, bảng xanh, với những con chữ,với sự tận tâm dạy những đứa học trò quý mến – Tôi yêu quý cô không chỉ bởi những điều đó, mà còn vì cô có một trái tim thiện nguyện + Cô thường dành dụm tiền mua những món quà nhỏ tặng cho các bạn có sự vươn lên trong học tập + Cô ân cần, quan tâm, giúp đỡ những bạn có hoàn cảnh khó khăn – Chính cô là người truyền cảm hứng, niềm yêu thích văn chương cho tôi đến tận bây giờ Kết bài – Cảm ơn cô đã cho em một tâm hồn văn thơ đẹp đẽ – Cảm ơn cô đã cho em hiểu được phần nào về cuộc sống này thông qua những bài học trên lớp – Trong mắt em, cô là cô giáo mà em yêu quý vô cùng!
Dàn ý cảm nghĩ về cô giáo mà em yêu quý
440
Dàn ý Cảm nghĩ về mùa thu Hướng dẫn a) Mở bài – Nếu Sang thu của Hữu Thỉnh là: “Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về” + Với Hữu Thỉnh, mùa thu được cảm nhận bởi hương ổi, bởi giọt sương + Bản thân cảm nhân mùa thu: bắt đầu bằng cảm giác se se lạnh, những chiếc lá bắt đầu úa vàng, những cơn gió nhẹ thoảng qua b) Thân bài: – Có ai đó từng nói rằng, mùa thu là mùa đa sầu, đa cảm, là mùa mà đem lại cho ta nhiều cung bậc cảm xúc nhất: + có lúc vui:….. + có lúc buồn:… + có lúc lại xao xuyến bồi hồi: ……. => tùy vào tâm trạng của mỗi người mà giải thích và cảm nhận cung bậc cảm xúc, vui, buồn,.. như thế nào – So sánh mùa thu với các mùa còn lại trong năm: + Mùa thu với mùa đông: không ảm đạm, buồn hiu và cô quạnh như mùa đông: + Mùa thu có trời xanh, nắng nhạt nhưng đủ cho ta thấy được sự tồn tại của nắng… …. + Mùa thu với mùa xuân và mùa hạ:có chút trầm lắng, nhịp sống có vẻ không ồn ào, tấp nập như mùa xuân và mùa hạ. + Nếu mùa xuân và mua hạ cây cối thi nhau đua sắc nở hoa thì mùa thu lại là nhưng chiếc lá úa vàng, những chiếc lá đang bắt đầu rụng một cách nhẹ nhàng=> cảm nhận thu đã thực sự như thế nào? + Đẹp trong từng âm thanh, đẹp trong tưng hơi thở và đẹp trong chính con mắt của mỗi một con người biết nhìn và cảm về mùa thu. + Mùa thu là mùa của ấm áp, mùa của hạnh phúc, mùa của nhưng trái tim đang cùng nhau suwoir ấm, mùa của sự ấm cúng. Ấm cúng như thế nào? Hạnh phúc như thế nào? ……….. – Cảm nhận của mỗi người: c) Kết bài: – Cùng nói vè mùa thu đẹp như thế nào? Ta cảm nhận bằng trái tim của một con người yêu thiên n hiên, một đôi mắt của một thi sĩ và đôi tai của một nhạc sĩ => Mùa thu đẹp đến lạ lùng, đẹp đến nỗi mà muốn níu giữ mãi mãi chỉ có mùa thu.
Dàn ý Cảm nghĩ về mùa thu
378
Dàn ý cảm nghĩ về mẹ bài văn lớp 7, 10 Hướng dẫn Bài dàn ý cảm nghĩ về mẹ hay và không trùng lặp sẽ giúp các bạn hoàn thành bài văn cảm nghĩ về mẹ. Chủ đề về mẹ thường xuyên xuất hiện trong rất nhiều bài kiểm tra tại lớp. Gợi ý viết văn cảm nghĩ về mẹ Mở Bài: Giới thiệu về mẹ Mẹ, người phụ nữ tảo tần, nuôi dạy chúng ta lớn khôn, chỉ một từ mẹ mà sao lại cảm thấy thiêng liêng đến thế, thiêng liêng ngay cả trong suy nghĩ và cũng là ngay lúc chúng ta mở miệng gọi một tiếng mẹ ơi. Mẹ, người mà nâng niu nuôi dưỡng ta, là người mà cả đời chỉ có một lần duy nhất hạnh phúc và vui vẻ khi thấy ta khóc đó là lúc ta trào đời, đó cũng là lúc ta đến với thế giới này, thế giới tràn ngập tình yêu của mẹ. Thân Bài: Cảm nghĩ về mẹ với ngoại hình, tính cách, kỉ niệm về mẹ. Mẹ với mái tóc màu đen tuyền dài mượt sau những năm tháng cũng thay đổi dần, mái tóc không biết từ lúc nào đã điểm vài sợi bạc cũng chẳng còn óng ả như xưa cũng dần sơ yếu đi như chính con người mẹ vậy. Mẹ với đôi mắt màu nâu mang theo tình thương, sự bao dung, có vẻ như tất cả những gì mẹ muốn cất giữ lại đều thể hiện bên trong ánh mắt mình. Ánh mắt buồn có vui có, buồn vì thấy con khóc vui vì con đã lớn khôn. Trên mắt cũng dần xuất hiện những nếp nhăn như đó là sự đánh dấu của thời gian để lại. Thân hình mẹ cũng chẳng còn mảnh mai và thon thả, trên bụng hay đâu đó tại vùng đùi là những vết rạn, vết rạn đó chẳng đẹp nhưng mẹ lại thấy vui khi nhìn vào nó, mẹ bảo mỗi khi thấy những vết rạn đó mẹ chẳng buồn chút nào vì mang thai con nên mẹ có chúng như vậy mỗi lần nhìn thấy nó mẹ lại nhớ đến con, nhớ lúc con còn trong bụng mẹ, nhớ những ngày tháng mà đối với mẹ là hạnh phúc nhất cuộc đời. Đôi bàn tay mẹ cũng chai sạn từng vết, cũng dần thô nhám hơn, mẹ lao động tay chân nên dần bàn tay chẳng còn mềm mại như trước nhưng đối với bản thân mỗi người chắc rằng bàn tay mẹ mãi là bàn tay đẹp nhất, bàn tay nuôi ta lớn, bàn tay chăm cho ta từng chút một, dạy ta viết từng chữ một, bàn tay của gia đình, bàn tay đó xây dựng nên mái ấm gia đình. Mẹ kể cho ta nghe thật nhiều câu chuyện nhưng câu chuyện khiến mẹ hoài niệm nhất chính là câu chuyện của cuộc đời mình, mẹ hay la mắng nhưng vì thương ta, lo cho ta. Mẹ hay nhắc nhở ta đủ thứ cũng chỉ vì mẹ mong muốn ta sau này có thể tự lập, mẹ dạy ta thật nhiều điều chỉ mong ta sau này có thể một mình bước chân vào xã hội mà không lo vấp ngã hay cho dù có vấp ngã thì cũng biết đứng dạy và bước tiếp. Có khi nào bạn tình cờ nhìn thấy những hình ảnh của mẹ lúc xưa, thời mẹ còn trẻ, còn là một thiếu nữ độ đôi mươi. Tôi đã từng thấy một tấm ảnh trắng đen của mẹ, tấm ảnh không màu nhưng sao nét đẹp của mẹ lại rõ ràng như thế. Trong tấm hình là một cô gái trẻ với khuông mặt quen thuộc, mái tóc dài đen và mượt mà. Đôi mắt to tròn thể hiện ánh cười theo đó là đôi môi đang nở nụ cười mỉm duyên dáng, trên người là một tà áo dài thể hiện lên những đường nét của một cô gái mới lớn, thon thả và nhẹ nhàng. Tôi nhìn vào tấm hình và với mẹ của hiện tại, cùng là một người nhưng sao lại khác nhau đến thế, sao lại thay đổi nhiều đến thế, chỉ cần nhìn thôi là đã biết mẹ hi sinh bao nhiêu và hi sinh những điều lớn lao như thế nào. Thế đó, mẹ hi sinh và yêu thương chúng ta vô điều kiện, chẳng cần ta đền đáp chỉ mong cho ta lớn khôn thành người. Tình mẹ bao la và ấm áp mang cho ta một tuổi thơ đẹp nhất, cho ta tình yêu thương vô bờ bến, hi sinh cho ta cả tuổi đời, cả thanh xuân của chính mình. Con cảm ơn mẹ là điều mà tôi muốn nói với mẹ nhất, cảm ơn mẹ đã đưa con đến với cuộc đời này cho con tình yêu và niềm hạnh phúc, cho con cơ hội tìm hiểu thế giới này và đặc biệt nhất là cho con có được một người mẹ tuyệt vời. Con yêu mẹ.
Dàn ý cảm nghĩ về mẹ bài văn lớp 7, 10
837
Dàn ý cảm nghĩ về một đêm trăng rằm trung thu Hướng dẫn Mở bài Trong mỗi chúng ta ai cũng cất giữ những hoài niệm cho riêng mình. Và tôi hoài niệm mà tôi luôn ghi nhớ cho tận bây giờ là đêm trung thu năm tôi lên chín.Đó là đêm trung thu tràn ngập tiếng cười, tình thương yêu của Bố dành cho tôi. Thân bài – Tết trung thu được xem như là cái tết mà tất cả mọi trẻ thơ mong đợi, đó cũng là mong ước của tôi khi tôi còn thơ bé: + Mong đợi là vì đó là lúc những chiếc đèn lồng được thắp lên đi qua mỗi làng, mỗi xóm nhỏ + Mong đợi là vì sẽ được ăn bánh trung thu đặc sệt vị ngọt lịm và tất nhiên mỗi trẻ em đều thích vị ngọt cả bánh + Ngoài ra, đó cũng chính là lúc chúng tôi được xem múa rồng, phá cỗ + Là lúc trăng sắp khắp các nẻo đường, để tụi tôi có thể chạy nhảy chơi cùng bạn bè – Đáng nhớ nhất đêm trung thu năm đó là vì sự xuất hiện của bố: + Bố tôi đi làm xa, ở nhà chỉ có mẹ và anh tôi. Trung thu của tôi mọi năm đều không có bố, tôi chỉ được chơi trung thu bên bạn bè, mẹ và anh trai tôi + Năm đó cũng chính là năm mẹ tôi bận việc ở chỗ làm, anh tôi thì đi qua nhà bạn hỏi bài tập về nhà + Chỉ còn mình tôi lúc đó nên tôi phải ở nhà giữu nhà không được đi phá cỗ cùng bạn bè, cảm xúc tôi lúc đó buồn lắm + Và rồi điều tuyệt vời xuất hiện, trong lúc quay quắt ngồi chơi nagwms trăng một mình thì hình ảnh bố hiện ra + Bố về! bố đem theo bánh trung thu, lồng đèn! + Tôi quá ngạc nhiên vì sự xuất hiện của bố ngay lúc này nên tôi chạy và ôm chầm lấy ông – Món quà bố tặng tôi nhân dịp tết trung thu: + Đó là một cái bánh nhân trứng ngọt lịm như tình thương ông dành cho con gái của mình + Đó là chiếc lồng đèn mà mỗi đứa trẻ mơ ước có nó mỗi đêm rằm trung thu -Trung thu năm đó là trung thu tôi cùng chơi với bố dưới ánh trăng sáng trước sân nhà – Hình ảnh đó mỗi khi nhớ đến tôi lại thấy bồi hồi, xao xuyến Kết bài -Chao ôi! Giá được quay về lúc đó, thì tôi không chỉ ôm ông và sẽ dành tặng ông nụ hôn của một bé gái dành tặng cha mình – Cảm ơn ông đã đem lại cho tôi những xúc cảm ngọt ngào nhất của tuổi thơ – Chưa bao giờ tôi đòn trung thu vui như đêm năm ấy.
Dàn ý cảm nghĩ về một đêm trăng rằm trung thu
471
Dàn ý cảm nghĩ về quê hương thân yêu của em Hướng dẫn Mở bài: Liên hệ trực tiếp bản thân để gợi mở về quê hương hoặc đi từ một bài ca dao, bài hát…Ví dụ: “Quê hương là chùm khế ngọt/cho con trèo hái mỗi ngày” Thuở nhỏ tôi thường được mẹ hát cho câu ca ngọt ngào ấy và lớn lên tôi mới hiểu lòng mình cũng nặng trĩu tình yêu với quê hương thân thuộc… Thân bài: Định nghĩa về quê hương theo cách hiểu của bản thân Quê hương là nơi ta sinh ra, lớn lên, là nơi ta chập chứng bước những bước đầu tiên. Là nơi có gia đình của ta, có những bạn bè, hàng xóm, mái trường…với biết bao kỉ niệm. Là nơi dù đi đến đâu ta cũng muốn quay về. Biểu cảm về quê hương của chính mình Quê hương em ở đâu, nơi đó là đồng bằng hay vùng núi, là nông thôn hay thành thị. Cảm nghĩ những đặc trưng tiêu biểu của quê em về địa lí, lịch sử + Ví dụ: quê em là vùng đất trải dài theo con sông Cửu Long bốn mùa nước ngọt. Chẳng ai trong xóm em nhớ rõ người đầu tiên đã đặt chân lên vùng đất này và ghi những cái tên địa danh quen thuộc mà em vẫn nằm lòng. Chỉ biết rằng bao nhiêu thế hệ đã ngã xuống vì cuộc sống ấm no hôm nay…. + Ba kể ngày xưa quê em chỉ là một vùng đồng bằng trù phú, nhiều cây trái nhưng đất nước càng phát triển, đô thị mọc lên và quê em giờ đây cũng là một thành phố lớn…. Cảm nghĩ về thiên nhiên, phong cảnh nơi em sống (chọn những nét tiêu biểu cho mỗi địa phương, ví dụ biểu cảm về thành thị thì rực rỡ ánh đèn, đường phố ngày rộng lớn, những khu vui chơi…Biểu cảm về nông thôn thì chọn loài cây, dòng sông, địa danh nổi tiếng như Bến Tre là xứ dừa, Cà Mau bạt ngàn tôm cá… Cảm nghĩ về con người và lối sống của người dân quê em + Tính cách chân thành, hiếu khách, hào sảng của người Nam Bộ +Sự cần cù, tiết kiệm, giỏi giang của người miền Trung + Cảm nghĩ về tình làng nghĩa xóm của mọi người quê em. Cảm nghĩ về vai trò, vị trí của quê hương đối với bản thân em + Những kỉ niệm tuổi học trò gắn với từng địa điểm, từng gương mặt quen thuộc + Quê hương đã dạy em bài học làm người phải trọng nghĩa tình, sống biết trước, biết sau. Kết bài: Biểu cảm trực tiếp về tình cảm mà em dành cho quê mình. Nguồn động lực mà quê hương đã mang lại cho em suốt cuộc hành trình vươn đến tương lai cùng mong ước và hứa hẹn.
Dàn ý cảm nghĩ về quê hương thân yêu của em
475
Dàn ý Khi còn trẻ nếu không chịu khó học tập thì lớn lên chẳng làm được gì có ích Hướng dẫn Đề cao truyền thống học tập của người xưa hoặc thông qua lời răn dạy của những vĩ nhân trên thế giới. Khẳng định việc học là rất quan trọng trong xã hội ngày nay. Phủ nhận tình trạng một số bạn còn lơ là học tập và đưa ra hậu quả của việc lơ là ấy. ví dụ: người xưa đã đề cao việc học và xem đó là việc phải làm của người quân tử muốn giúp ích cho nước nhà “ngọc không mài không sáng, người không học không biết được đạo”. Đạo ở đây chính là con đường tương lai của mỗi người và cũng là đạo lí ở đời. Khi xã hội ngày văn minh thì việc học lại càng quan trọng. Ấy vậy mà có không ít bạn học sinh lại lơ là việc học, các bạn đâu nghĩ rằng khi còn trẻ không chịu khó học hành, lớn lên sẽ chẳng làm được việc gì có ích. Thân bài: Giải thích: học là gì? – Học là con đường tiếp thu tri thức, là quá trình lâu dài giúp mỗi chúng ta chiếm lĩnh tri thức của thế giới để làm giàu học thuật cho chính mình và để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống. Ý nghĩa của việc học: – Đối với bản thân: Học tập là chìa khóa giúp con người mở cánh cửa tương lai, giúp con người làm giàu vật chất lẫn tinh thần, giúp chúng ta hòa nhập được trong xã hội cần tri thức, không bị lạc hậu Nêu một số dẫn chứng chứng minh tinh thần học tập – Truyền thống hiếu học của dân tộc từ thời Mạc Đỉnh Chi, Cao Bá Quát đến vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh: vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn để học vì học tập là con đường duy nhất để cứu nước. – Một số tấm gương tiêu biểu cho những người thành công vì cố gắng học: Nguyễn Ngọc Kí bị liệt hai tay viết chữ bằng chân mà vẫn thành nhà văn, thầy giáo, bác sĩ Huỳnh Minh Toán chuyên khoa Nhi ở bệnh viện Nhi Cà Mau phấn đấu tự học, rèn luyện phẩm chất nghề nghiệp để phụng sự cho nhân dân… Con đường học tập rất đa dạng: – Học ở trường phổ thông – Học nghề – Học nâng cao, chuyên môn… Học ở nhà trường, học trên sách vở, báo đài, học ngoài thực tế học ở bạn bè… Học không chỉ để lấy bằng cấp xin việc mà học còn để tự lập, hoàn thiện mình: không thể sửa bóng đèn hư nếu không biết kiến thức cơ bản về vật lí. Phản đề: nêu lên thực trạng hiện nay có nhiều học sinh lơ là học tập – Biểu hiện: Học qua loa, đối phó cha mẹ, thầy cô; đến trường để chưng diện, đua đòi và gặp bè bạn vui chơi; chơi game, nghiện mạng xã hội, sống ảo; tham gia các trò quậy phá làm mất trật tự an ninh; sa ngã vào thuốc lắc, vũ trường, hút chích… Hậu quả của việc không cố gắng học tập: Hình thành thói quen lười biếng, ỷ lại; không làm được việc gì lớn lao có ích; nếu tham gia vào các trò nguy hiểm sẽ trở thành tệ nạn xã hội, gánh nặng cho gia đình, xã hội… Lời cảnh tỉnh các bạn ngay từ bây giờ hãy cố gắng học tập để sau này không hối hận Kết bài: Khẳng định lại con đường ngắn nhất dẫn đến thành công là học tập. Tương lai của chúng ta là do bản thân chịu trách nhiệm, vì thế nên hãy học tập vì bản thân mình trước tiên.
Dàn ý Khi còn trẻ nếu không chịu khó học tập thì lớn lên chẳng làm được gì có ích
635
Dàn ý miêu tả ngôi trường khi mùa xuân về Hướng dẫn MB: Giới thiệu trường em. Khung cảnh xuân ở khắp nơi nói chung và trường em nói riêng. TB: Tả bao quát đến cụ thể: – Khi mùa xuân đến, ngôi trường như được khoác trên mình chiếc áo rực rỡ. Cảnh vật tươi mới, tràn đầy sức sống. + Bầu trời trong xanh, cao vời vợi + Cô cậu mây bồng bềnh như những que kẹo bông đang chơi đùa với gió. + Ông mặt trời vàng rực chiếu những tia nắng vàng ấm áp,mượt mà xuống mặt đất. + Khẩu hiệu chúc mừng năm mới đỏ rực, chữ vàng -> năm mới may mắn + Cây cối đều đâm chồi,nảy lộc, những chồi non như những ngọn lửa tí xíu màu xanh + Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới + Khu vườn hoa ở giữa sân trường thu hút đầy ong bướm + Các bạn học sinh trò chuyện ríu rít, khuôn mặt ai cũng vui tươi, hớn hở… + Chim kéo đến hót vang cùng với tiếng gió tạo thành bản nhạc mùa xuân du dương. KB: Phát biểu cảm nghĩ của em về cảnh ngôi trường khi mùa xuân về.
Dàn ý miêu tả ngôi trường khi mùa xuân về
193
Dàn ý phân tích bài văn Tụng giá hoàn kinh sư Hướng dẫn I. TÁC GIẢ Trần Quang Khải (1241 – 1294) là thượng tướng, một trong những người có công lớn nhất trong cuộc kháng chiến (lần thứ 2 và thứ 3) đánh thắng giặc Nguyên – Mông. Học rộng, giỏi thơ văn, có tài thao lược và ngoại giao. Ông có tập thơ ‘Lạc Đạo’, nổi tiếng nhất là bài thơ ‘Tụng giá hoàn kinh sư’. II. XUẤT XỨ, CHỦ ĐỂ Tháng 4-1285 Trần Nhật Duật chém đầu Toa Đô tại Hàm Tử quan. Tháng 6- 1285 Trần Quang Khải đại phá giặc Nguyên Mông tại Chương Dương độ, thừa thắng quân ta tiến lên giải phóng Kinh thành Thăng Long. Bài thơ ‘Tụng giá hoàn kinh sư’ được viết sau chiến thắng Chương Dương độ. Bài thơ biểu lộ niềm tự hào, niềm vui thắng trận và nói lên khát vọng đem tài trí xây dựng đất nước thanh bình bền vững muôn đời. III. PHÂN TÍCH Bài thơ được viết theo thế thơ ngũ ngôn tứ tuyệt. Hai câu đầu bình đối như hai trang kí sự chiến trường. Vị ngữ ‘đoạt sáo’ (cướp giáo) và ‘cầm Hồ’ (bắt giặc Mông Cố) được đật ở đầu câu, thể hiện hai thế đánh, hai cú đánh liên tiếp giáng xuống đầu giặc với sức mạnh ‘Sát Thát’ của tướng sĩ đời Trần. Chương Dương độ và Hàm Tử quan, hai địa danh, hai chiến công đã được ghi vào sử sách và thơ ca dân tộc trở nên trường tồn, chói lọi: ‘Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan’ Càu thơ như một bản tin chiến sự, có một sức nén và vang xa, dào dạt tự hào. Phải là người tham dự, chỉ huy trận đánh mới viết hàm súc và đĩnh đạc, hào hùng như vậy. Hai câu cuối, xuất hiện một ý thơ mới. Trong khói lửa chiến trường, trong niềm vui chiến thắng giải phóng Kinh thành Thăng Long, trên đống tro tàn do lũ giặc gây ra, nhà thơ đã nghĩ đến nhiệm vụ mới: ‘Thái bình tu trí lực, Vạn cổ thử giang san’ Trước mắt mọi người, từ vua tôi tướng sĩ đến trăm họ, toàn dân, ai ai cũng phải đem tài trí, sức lực của cải (trí lực) để xây dựng giang san đất nước bền vững trong thanh bình đến muôn đời. Nhãn quan chính trị của Trần Quang Khải vô cùng sáng suốt. Câu thơ trên có ý nghĩa thời sự mới mẻ đối với chúng ta hiện nay. Tóm lại, ‘Tụng giá hoàn kinh sư’là bài thơ kiệt tác. Bản dịch của học giả Trần Trọng Kim rất đặc sắc.
Dàn ý phân tích bài văn Tụng giá hoàn kinh sư
442
Dàn ý phân tích nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Hướng dẫn Mở bài: Nguyễn Thi là một nhà văn chiến sĩ trong thời kì chống Mỹ. Ông vừa cầm bút sáng tác, vừa cầm súng chiến đấu và co nhiều tác phẩm thành công như: Người mẹ cầm súng, Những đứa con trong gia đình,… Mặc dù quê ở Nam Định nhưng Nguyễn Thi có nhiều năm sống gắn bó với miền Nam, nhất là mảnh đất Nam Bộ. Ông được mệnh danh là “nhà văn của người nông dân Nam Bộ”. Những đứa con trong gia đình là một truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Nguyễn Thi. Đây là tác phẩm được viết năm 1966 và cũng là truyện ngắn thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật của Nguyễn Thi. Thân bài: Phân tích nhân vật Việt: Nhân vạt Việt là một thành công của Nguyễn Thi trong tác phẩm này. Việt sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống Cách Mạng, có mối thù sâu sắc với bọn thực dân đế quốc (bố bị bọn giặc Pháp chặt đầu, Mẹ thì ngã xuống vì bom đạn giặc Mỹ). Lúc xung phong đi tòng quân đánh giặc, Việt còn rất trẻ (chưa đầy 18 tuổi) cho nên Việt có nhiều nét hồn nhiên, ngây thơ của tuổi mới lớn, thậm chí còn “trẻ con”. Việt thường tranh giành phần hơn với chị: từ chuyện bắt ếch, thành tích bắn tàu chiến Mỹ, cho đến việc xung phong tòng quân,… Đánh giặc dũng cảm, không sợ chết nhưng lại sự ma. Giấu anh em trong đơn vị mình có chị gái “vì sợ mất chị”. Bị lạc trong rừng, khi gắp lại đồng chí thì vừa khóc vừa cười “ giống hệt thằng Út em ở nhà”. Tuy ít tuổi, nhưng Việt chiến đấu rất dũng cảm và lập được nhiều chiến công (một mình bắn cháy một xe bọc thép của địch). Đằng sau vẻ hồn nhiên ngây thơ, thậm chí là vô tâm của Việt là một tâm hồn nhạy cảm, phong phú, có tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương, với những người thân trong gia đình, với đồng đội. Chính vì vậy, khi bị thương một mình nằm lại nơi chiến trường thì những kĩ niệm về quê hương, về những người thân cứ hiện lên tâm trí anh một cách cụ thể, rõ nét. Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt Nhà văn đặt nhân vật của mình vào tình huống truyện đọc đáo, hợp lí: khi Việt bị thương nặng, hai mắt không nhìn thấy gì, bị lạc đơn vị,… Chính thông qua tình huống này mà con người, tính cách của Việt được bộ lộ rõ nét. Nhà văn Nguyễn Thi đã nhìn nhận miêu tả nhân vật Việt trong những mối quan hệ và từ nhiều góc độ khác: trong quan hệ với ba má, với chú Năm, với chị Chiến, với đồng đội,… Chính vì thế mà nhân vật này cứ hiện lên một cách đầy đủ, trọn vẹn, rõ nét. Cách suy nghĩ, nói năng, đối thoại của nhân vật mang đậm chất Nam Bộ, đồng thời thể hiện rõ nét cá tính, con người Việt. Nhà văn lựa chọn những chi tiết tiêu biểu, có ý nghĩa. Kết bài: Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình thể hiện chân thực và sinh động đời sống và chiến đấu của nhân dân Nam bộ. Truyện có bút pháp kể chuyện già dặn, nghệ thuật miêu tả tâm lí đặc sắc; xây dựng tình huống gây cấn, đầy sức lôi cuốn; ngôn ngữ ngọt ngào đậm chất Nam Bộ; đặc biệt là cách xây dựng nhân vật tự nhiên nhưng hết sức tỉ mỉ Nguyễn Thi góp phần làm nổi bậc đề tài.
Dàn ý phân tích nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
632
Dàn ý thuyết minh về con chó lớp 9 Hướng dẫn Dàn ý thuyết minh về con chó lớp 9 – văn mẫu lớp 9 I. Mở bài: Giới thiệu về con chó Một trong những con vật thân thiết và trở thành người bạn trung thành của con người là con chó. Chó là loài vật thông minh và sống tình cảm và có ích với con người. II. Thân bài 1. Nguồn gốc – Tổ tiên của chó là cáo và sói – Vì thế mà chó được con người thuần hóa và tồn tại đến bây giờ – Qua nhiều lần lai tạo thì ngày nay chó có rất nhiều loại 2. Phân loại Chó ta, chó tây, chó béc, Chihuahua v.v… 3. Đặc điểm + Đặc điểm ngoại hình: – Là động vật thuộc bộ thú – Có bộ lông rậm rạp – Thị thính và thính giác rất phát triển – Có bốn chi, rất linh hoạt và nhanh nhẹn – Mắt chó 3 mí + Đặc điểm sống – Đặc điểm sinh sản: Chó sinh sản theo lứa, tùy vào mỗi con mà mỗi lứa có số con khác nhau. – Đặc điểm sinh sống: Chó thường sống theo bầy đàn, nhưng chó nhà thì tùy vào chủ nhà – Đặc điểm sống: Chúng rất biết nghe lời và trung thành 4. Vai trò của con chó – Là vật nuôi: Do chó dễ gần, thân thiện với con người nên nó được làm vật nuôi trong mỗi gia đình – Là người bạn: Chó trở thành người bạn thân thiết đối với con người – Chó đặc vụ, chó cảnh-sát: Chính vì sự nhanh nhẹn, trung thành mà chó rất hữu ích trong những công việc này. 5. Quan hệ với con người Chó luôn là người bạn, thân thiết, trung thành với con người. III. Kết bài: Nêu cảm nghĩ về con chó Con chó luôn ở bên cạnh con người trong những lúc khó khăn cũng như giàu có, khi khoẻ mạnh cũng như lúc ốm đau. Dù có thế nào chó vẫn luôn bên cạnh con người, là người bạn thân thiết và trung thành của con người. I. Mở bài: Giới thiệu về con chó mà em rất yêu quý. Chú chó nhà em là một con vật rất dễ thương và thông minh, ngoài việc coi nhà chó cũng là động vật thông minh và luôn trung thành với con người. II. Thân bài 1. Nguồn gốc – Tổ tiên của chó là cáo và sói. – Chó được con người thuần hóa. – Sau nhiều lai tạo ngày nay cho có nhiều giọng khác nhau. 2. Phân loại Nhiều giống chó khác nhau ví dụ chó ta, chó Béc, chihuahua, husky,… 3. Đặc điểm + Ngoại hình – Có bộ lông rậm rạp – Thị thính và thính giác rất phát triển – Có bốn chi, ngửi mùi tốt và nhanh nhẹn, thị giác lại kém. + Đặc điểm sống của loài chó – Về sinh sản: Chó sinh sản theo lứa. – Về sinh sống: Chó sống theo bầy đàn, chó nhà thì thường có 1 con. 4. Vai trò – Chó loài vật thông minh, dễ gần, nuôi chó thường giữ nhà rất hay. – Chó trở thành người bạn trung thành và gần gũi với con người. – Chó còn làm nhiệm vụ trong đặc vụ, chó cảnh sát. III. Kết bài Đưa ra cảm nghĩ riêng của em về con chó mà em yêu quý. Chó luôn trung thành và thân thiết với con người, hãy luôn bảo vệ loài động vật này và chúng chắc chắn sẽ không làm bạn thất vọng. Dàn ý thuyết minh về con chó mẫu 3 I.Mở bài: Học sinh tự làm II.Thân bài: • Nguồn gốc: – Chó là giống vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa cách đây 12000 năm vào cuối kỉ băng hà – thời kì đồ đá. Tổ tiên loài chó gồm cả cáo và chó sói. • Miêu tả: – Trọng lượng từ 1 – 80kg. Là động vật 4 chân, ngực nở bụng thon, chân thường có 4 ngón và 1 ngón treo (gọi là ngón con). Những con chó có 4 móng treo gọi là Tứ túc huyền đề (một loài chó rất khôn). “Chó khôn tứ túc huyền đề. Tai thì hơi cúp, đuôi thì hơi cong” – Não chó rất phát triển nên rất thông minh Mắt chó có 3 mí, 1 mí trên, 1 mí dưới và một mí thứ 3 nằm ở giữa hơi sâu vào phía trong, bảo vệ mắt khỏi bụi bẩn. So với mũi thì tai và mắt chó không tốt bằng – Tai chó cực thính, chúng có thể nhận ra được 35 nghìn âm rung trong một giây. Khứu giác (mũi) chó rất tuyệt vời, con người có thể ngửi thấy mùi thức ăn ở đâu đó trong nhà bếp nhưng chó có thể phân biệt từng gia vị trong nồi, thậm chí những chú chó săn có thể tìm ra những cây nấm con con nằm trong rừng sâu. Vào mùa đông lạnh thỉnh thoảng chó hay lấy đuôi che cái mũi ướt, đấy là cách chúng giữ ấm cho mình. – Chó có 2 lớp lông, lớp ngoài mượt mà mọi người dễ thấy còn lớp nhỏ ở trong giúp chúng giữ ấm và khô ráo trong những ngày khô rét. Nó còn có nhiệm vụ hạ nhiệt trong những gày oi bức. – Đuôi chó là bộ phận thể hiện tình cảm (Tự kể chuyện ) – Chó có bộ tiêu hóa rất tốt, hàm răng rất cứng nên thích gặm xương, lúc mới ra đời chó con không có răng nhưng chỉ sau 4 tuần tuổi, chúng có đến 28 chiếc răng. Bộ hàm đầy đủ của chó là 42 chiếc. – Chó Phốc: Là loại chó nhỏ, gọn và cơ bắp, có bộ lông bóng mượt và một cơ thể cân đối, là giống chó đặc biệt ương ngạnh và bướng bỉnh. Sống lâu Khoảng 15 năm và có thể hơn nữa. – Chó Chihuahua: Trọng lượng chỉ từ 3kg. Nhanh nhẹn, thông minh và không gây nguy hiểm, tấn công người, thân thiện với trẻ con. – Có hai loại Chihuahua: Lông ngắn và lông dài, mắt hơi lồi, to, sáng trong, nhanh nhẹn trông thật ngộ nghĩnh với đôi tai luôn “vểnh” và hướng theo tiếng động. Màu lông: Khá phong phú với trắng vàng, nâu, đen,… – Chó Béc-giê Đức: Là loại chó dũng cảm, thông minh, thích nghi cao, tính cảnh giác cao đó là những đức tính cần thiết nhất mà chó phải có. Vì những đức tính trên nên chó rất thích hợp với việc bảo vệ kho tàng, làm nghiệp vụ cho quân đội, công an. Nhờ mũi thính nó cũng được làm chó săn, phát hiện chất nổ và ma túy cho các lực luợng chuyên nghiệp. • Lợi ích: – Chó là loài gần gũi với con người là loài rất thông minh, chân thành, sống có tình nghĩa, trung thành với chủ. Giúp con người nhiều việc như: Trông nhà, săn bắt, cứu hộ, kéo xe, trinh thám,… – (Tự kể một câu chuyện) – Chó là đề tài của phim ảnh: (Kể tên một số bộ phim) “Sói hoang”, “Một trăm lẻ một chú chó đốm” – Thịt chó: Có tính ấm, nhiều đạm, là đặc sản của một số nước ở châu Á, có tên gọi: Cầy tơ, Mộc tôn, cây Còn,.. – Lông chó dễ bám bụi, chứa nhiều vi khuẩn, phải tắm rửa sạch sẽ cho chó, tiêm phòng dại ……. III.Kết bài: Đánh giá chung và riêng về nó..
Dàn ý thuyết minh về con chó lớp 9
1,217
Dàn ý thuyết minh về cái kéo Hướng dẫn Dàn ý bài văn thuyết minh về cái kéo – Ngữ văn lớp 8 Bài tham khảo 1 Bố cục một bài văn thuyết minh về cái kéo ai chả biết gồm có 3 phần không biết mới lạ 1/ Mở bài: Giới thiệu chung về cái kéo hoặc tình huống để đối tượng xuất hiện 2/ Thân bài: Định nghĩa về cái kéo là một dụng cụ như thế nào – Sơ lược về nguồn gốc của cái kéo (có thể đưa ra một số câu danh ngôn liên quan đến kéo) – Liệt kê số lượng, đặc điểm, cấu tạo (càng chi tiết càng tốt) – Họ nhà kéo đông đúc và có nhiều loại ra sao. Mỗi loại có công dụng và cấu tạo như thế nào? (vd kéo cắt vải, nên ta mới có quần áo thẳng thớm, tơm tất; còn có kéo dùng trong y tế, chỉ cần thiếu chúng thì bạn sẽ khó lòng mà hoàn tất được ca mổ trong gang tất và có thể gây nguy hiểm cho người bệnh..v…v) 3/ Kết bài: Cảm nghĩ của bạn về cái kéo trong cuộc sống hiện tại Tác dụng: Cắt những vật liệu nhỏ, mảnh, đòi hỏi 1 lực không lớn để cắt, ví dụ như giấy, vải dây nhựa mỏng, miếng kim loại mỏng. Thường được dùng trong nhà bếp, làm vườn, thủ công, ngoài ra có thể dùng trong một số lĩnh vực đặc biệt khác. Bài tham khảo 2 I. Mở bài – Trong đời sống thường ngày của con người, có nhiều đồ vật giúp cho cuộc sống của chúng ta trở nên dễ dàng, thuận tiện hơn. – Một trong số những vật dụng đó là cái kéo. II. Thân bài 1. Nguồn gốc, xuất xứ – Kéo là dụng cụ cầm tay để cắt đồ vật. – Cây kéo có lịch sử xuất hiện từ khá lâu đời. Tiền thân của cây kéo hiện đại đã được tìm thấy ở đồng bằng sông Nile, Ai Cập với niên đại hơn 3500 năm. – Sau đó, nó tiếp tục được các nền văn hóa cải tiến, biến đổi. Nhưng bước nhảy vọt quan trọng nhất của lịch sử cây kéo chính là vào khoảng thế kỉ 18, Robert Hinchliffe, một người Anh đã sáng tạo ra cây kéo có hình dạng hoàn chỉnh như ngày nay. 2. Cấu tạo – Cái kéo bao gồm một cặp kim loại cạnh sắc xoay xung quanh một trục cố định, được phân chia thành lưỡi kéo và cán kéo. Phần cán của kéo thường được bọc nhựa cứng hoặc bọc vải để cầm cho êm tay. Phần cán này đôi khi được thiết kế riêng biệt cho người thuận tay phải hoặc tay trái dễ sử dụng. – Lưỡi kéo thường được làm bằng thép không rỉ, mài rất sắc phần lưỡi. – Nguyên lý hoạt động của kéo cơ bản dựa trên nguyên lý đòn bẩy, trục cố định chính là điểm tựa. Dựa vào đó, người ta tạo ra nhiều loại kéo phù hợp với chức năng cụ thể. 3. Công dụng – chủng loại – Kéo được sử dụng để cắt mỏng vật liệu khác nhau, chẳng hạn như giấy, bìa các tông, lá kim loại, nhựa mỏng, vải, sợi dây thừng và dây điện. Kéo cũng được sử dụng để cắt tóc và thực phẩm. – Dựa theo công dụng mà người ta chia kéo thành nhiều loại. Loại kéo phổ biến nhất là kéo văn phòng thông thường, dùng để cắt giấy, thường nhỏ gọn. Kế đến là các loại kéo phục vụ nhu cầu làm đẹp như kéo cắt tóc, tỉa lông mày, cắt móng… Ngoài ra, một loại kéo có chức năng đặc biệt và yêu cầu cao trong chế tạo là kéo dùng trong y tế, nhất là loại kéo kẹp mạch máu dùng trong phẫu thuật. 4. Cách bảo quản – Bảo quản kéo không khó, cần để kéo nơi khô thoáng, không có độ ẩm cao để tránh sét rỉ. – Quan trọng nhất là giữ cho mũi kéo và lưỡi kéo không bị va chạm, sứt mẻ. Loại kéo nào chỉ dùng để cắt vật liệu tương ứng, không dùng sai chức năng để lưỡi kéo được bền. – Nếu trong nhà có trẻ nhỏ, cần cất giữ kéo cẩn thận để không gây tai nạn đáng tiếc. Bài tham khảo 3 I. Mở bài: Giới thiệu về cái kéo Tay cầm cây kéo cây kim Vai mang gối lụa đi tìm người thương. Tay cầm cây kéo, cây kim Vai mang đồ lụa đi tìm thợ may Kho tàng ca dao, tục ngữ luôn chứa đựng những gì bình dị và gần gũi với đời sống con người Việt Nam. Ca dao, tục ngữ là những giá trị văn hóa, truyền thống được đúc kết từ bao đời. Những thứ bình dị, quá đỗi tự nhiên cũng được đưa vào trong ca dao tục ngữ. Không biết tự bao giờ cái kéo, cây kim đã đi vào thơ văn của Việt Nam. Cái kéo như một vật dụng hữu ích được sử dụng trong mọi lĩnh vực, mọi công việc đời sống như nấu ăn, thợ cắt tóc, thợ may hay học sinh cũng dùng kéo. Để biết rõ hơn thì ta cùng đi tìm hiểu về cái kéo. II.Thân bài: Thuyết minh chi tiết về cái kéo – Sơ lược về nguồn gốc của cái kéo Việc dùng kéo cũng bắt đầu đồng thời của việc dùng dao. Kéo có 2 lưỡi dao, sử dùng 2 ngón tay để cầm nắm. Những di vật ở thế kỷ 2 – 3 sau Công nguyên (CN) tìm thấy ở khu vực La Mã – sông Ranh đã cho thấy sự xuất hiện của kéo. Chính vì thế mà kéo có thể xuất hiện sớm hơn. – Cấu tạo và hình dạng của kéo: Kéo được cấu tạo bằng hai thanh kim loại được mài sắc tạo thành lưỡi kéo, phần đuôi uốn cong tạo thành tay cầm. 2 bộ phận: Lưỡi kéo: Được làm từ bằng sắt hay một hợp chất sắt pha gang, tùy theo công dụng mà có kích cỡ to nhỏ khác nhau. Phần tay cầm: Được làm từ nhựa dẻo hoặc nhựa cứng. – Từng thời kì phát triển của kéo Kéo chốt đuôi Kéo kẹp Kéo khớp – Công dụng của kéo: Kéo dùng trong may mặc: Kéo cắt vải để thợ may tạo nên quần áo đẹp, đa dạng và hợp thời trang,…. Kéo dùng trong học tập: Các em bé thì dùng kéo cắt giấy để cắt giấy xếp tàu bay, tên lửa…. Kéo dùng trong cắt tóc: Thợ hớt tóc không thể tỉa ra các mô-đen nếu không có kéo Kéo dùng trong công nghiệp: Kéo cùng để cắt tôn cắt sắt và các vật dụng cứng hơn Kéo dùng trong nấu ăn: Kéo phục vụ cho việc bếp núc để cắt cá, cắt bánh tráng, khô bò… Kéo trong y học: Còn có kéo dùng trong y tế khi phẫu thuật…. So sánh từng loại kéo với công dụng và áp dụng vao những công việc khác nhau. Kéo có nhiều công dụng khác nhau như cắt giấy, cắt vải,… dù là công dụng nào thì kéo cũng rất thân thuộc và hữu ích với đời sống con người. Kéo là một vật dụng không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày của con người. Tuy nhỏ nhưng kéo thường được sử dụng trong trong nhiều ngành như ngành công nghiệp, nông nghiêp, thủ công nghiệp và sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, kéo có rất có ích cho cuộc sống của con người, không có kéo, chúng ta sẽ rất vất vả khi xử lý một việc nào đó mà dùng dao hoặc sức bằng tay của chúng ta không thể làm tốt được.
Dàn ý thuyết minh về cái kéo
1,274
1, Mở bài Nhà văn Nguyễn Khải từng phát biểu: “ Tôi không tin rằng Nguyễn Tuân viết chữ người tử tù cũng như Kim Lân viết về Làng và Vợ Nhặt. Đó là thần viết, thần mượn tay người để viết nên những trang bất hủ”. Xét riêng truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân quả xứng với lời khen đó. Thiên truyện viết về bóng tối và cái chết mà làm lộ ra ánh sáng, sự sống và tình người bất diệt Xuât xứ quá trình sáng tác Tiền thân của Việt Nam là tiểu thuyết xóm ngự cư được Kim Lân viết ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công và bị mất bản thảo. Đến năm 1954 nhân số báo văn nghệ khái niệm của cách mạng tháng 8 thành công, Kim Lân đã nhớ lại đã viết thành truyện ngắn: “ Vợ Nhặt”. thể hiện sự chiêm ngưỡng của nhà văn về tư tưởng và nghệ thuật. Dàn ý tác phẩm Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân 2, Thân bài Tình huống truyện Tràng Nghèo mẹ Tràng Ngụ cư => Vợ Nhặt-> ngạc nhiên xóm ngụ cư Xấu xí Tràng Đùa hóa thân: Chỉ thả câu hò buâng quơ trong ngày đói giữa chợ mà Tràng đã có vợ. Đúng là nhặt được vợ, câu hò với người đàn ông chỉ có người đùa vui nhưng cô gái đó là cái phao cứu sinh đưa cô ra khỏi cảnh trì trệ ngồi chờ. thật mà như đùa -> nhan đề: “Vợ” gắn với những gì thiên liêng cao quý, “nhặt” đồng ý với sự tầm thường. Thế mà giờ đây hai chữ ngược nghĩa nhau ấy đã đứng chung thành một từ ghép -> Thật trở thành đùa, sự thiêng liêng trở thành rẻ rúng tầm thường. Ý nghĩa -> Lạ hóa câu chuyện ( gây ra sự ngạc nhiên) là có cơ sở để nhà văn khám phá tâm lý của nhân vật Lời tố cáo tội ác của thực dân Pháp và Phát xít Nhật là những kẻ đã gây ra nạn đói khủng khiếp năm ấy đã đẩy nhân dân ta đến thảm họa Điều đáng nói là trong bóng tối của hoàn cảnh nhân vật đã phát hiện chất người kì diệu nơi những người đói khát khổ sở vì nạn đói Nhân vật Tràng – Giới thiệu: là một gã trai nghèo, xấu xí, lại là dân ngụ cư. Anh âm thầm sống cùng mẹ già trong nếp nhà xiêu vẹo bên mảnh vườn rúm ró những đám cỏ dại. Trong xã hội phong kiến thân phận Tràng chỉ là một loại cỏ bồng ở chốn hương thôn. Tuy nhiên đây cũng là một chàng trai đáng yêu đáng mến mà ngòi bút Kim Lân tỏ ra hết sức trân trọng. Anh thật thân thiện dễ mến nên được lũ trẻ con coi như người bạn. Đó cũng là chàng trai lao động khỏe khoắn yêu đời giữa cuộc sống đói nghèo lam lũ. Giữa ngày đói câu hò của anh như xua tan mệt mỏi, mang cảm giác vui vui. Anh cũng thật hào phóng khi mời cô gái món quà quê. – Ý định rủ cô vợ về nhà chỉ thực sự nảy sinh sau khi Tràng chứng kiến cô ta ăn uống một cách khổ sở. -> Tràng lấy vợ về hình thức nghệ thuật nhưng từ trong sâu thẩm tình yêu anh là sự mủi lòng trước cảnh ngộ éo le của người khác. Tràng tỏ ra là một chú rể chu đáo trong việc sắm cho cô vợ mới món quà cưới gồm cái thúng đựng kim chỉ lặt vặt và không quên mua một chai dầu hai hào dành cho đêm tân hôn * Rước râu – nhà cửa: úp xụp, tối thui à sáng sủa – trẻ con: ủ rũ – người lớn: hốc hác, u tốià rạng rỡ – Một cuộc rước râu chỉ có hai người rách rưới khổ sở đi bên nhau đã thổi một luồng sinh khí vào đang hấp hối. Những mái nhà úp xụp tối thui bỗng sáng sủa. Những đứa trẻ đang ủ rũ bỗng trở lên hiếu động và thích thú reo “ Chồng vợ hài”. Khuôn mặt người lớn từ “ hốc hác u tối” bỗng trở lên rạng rỡ. Họ mừng cho Tràng và cũng lo cho anh “ Giời đất này còn đi rước của nợ đời về”. Lo cho Tràng và lo cho sự sống. Song song đang phải đối mặt với cái chết mà vẫn hy vọng vượt lên trên cái chết”. Không phải ngẫu nhiên ngòi bút Kim Lân đã hơn một lần miêu tả Tràng cười – cười để quên đi những gì lo lắng quên những ngày tháng ê chề trước mắt. – Thực a ở Tràng không phải không có những mỗi lo trước thực tại. Nhìn khuôn mặt lưỡi cày không có gì hấp dẫn của người Việt Nam. Tràng đã chọn “ Thóc gạo này không bán thân mình có nuôi nổi mình không mà lại đèo bòng”. Vậy mà chỉ sau một cái chậc lưỡi đầy nhân tính Tràng lại thấy trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình người với người đàn bà đi bên cạnh. Không gì khác, chính tấm lòng hồn hậu của gã trai ngụ cư đã xua đi những lo lắng trong anh. * Về nhà Tối hôm trước bà Cụ Tứ chưa xuất hiện Cụ Tứ xuất hiện -> reo lên như một đứa trẻ: ngây thơ Sáng hôm sau à ngỡ ngàng: lặn vào tâm linh Về nhà chàng trai hào phóng, tự tin khi bước vào chính ngôi nhà của mình lại trở lên ngượng nghịu lúng túng. Anh thanh minh với cô vợ về: “ không có người đàn bà nhà cửa thế đấy”. Anh lo lắng nhìn người đàn bà “ cái ngực gầy lép nén một tiếng thở dài”, anh băn khoăn tự hỏi “ Sao nó buồn thế nhỉ”, rồi anh bồn chồn đi lại, chờ đợi sự xuật hiện của cụ Tứ. Những cử chỉ ấy của Tràng đang ẩn chứa trạng thái tâm lý bối rối, chờ đợi: Cụ Tứ liệu có chấp nhận cô con dâu? Thấy mẹ về, Tràng reo lên như một đứa trẻ “…”. Nét trẻ thơ ấy lập tức chuyển hóa thành chững chạc. Ấy là khi Tràng mời cụ Tứ ngồi lên giường để anh ta thưa chuyện “ Nhà tôi mới về làm bạn với tôi đấy cụ ạ. Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau, tại cái sổ cả”. Duyên kiếp – số là những ý niệm thiêng liêng trong tâm linh người Việt được Tràng dùng đề giải thích cho sự có mặt của người vợ nhặt. Điều đó còn là lời an ủi để cô gái lạ bước qua mặc cảm tủi hổ của cảnh ngộ Việt Nam – Nhà văn miêu tả đêm đầu tiên của hai vợ chồng bằng những chi tiết gây ấn tượng: Họ lặng lẽ bên nhau trong bóng tối cũng không yên, nó dội lên bởi những tiếng hờ khóc tỉ tê, văng vẳng từ những nhà có người chết đói. Trong mùi khét lẹt của những đống rơm đốt đồ người chết để lại, chút hành phúc nhỏ nhoi của hai người bị bủa vây bởi cái chết và bóng tối. Nhưng bóng tối là bất diệt – trong cái chết hạnh phúc vẫn ươm mầm – Sáng hôm sau, hạnh phúc đích thực đã tạo mọt chấn động tâm lý. Khởi đầu là ngỡ ngàng, cái ngỡ ngàng lăn vào tâm linh: “ trong người êm ái như lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Phải chăng vì có một sự đổi thay kì diệu trong ngôi nhà của hắn: nhà cửa, sân vườn ddwuocj quét tước sạch sẽ gọn gàng, mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa được đem ra sân hong, hai cái ang nước được đổ đầy, đống rác trước lối được quét sạch sẽ. – Cảnh tượng thân thương đã mang đến cho anh niềm vui hữu hình, cụ thể – niềm vui về một mái ấm gia đình: “Hắn đã có một gia đình, hắn sẽ cùng vợ sinh con để cái ở đây. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Ý niệm hạnh phúc hiện lên thật giản dị mà thiêng liêng trong suy nghĩ của người đàn ông ngụ cư. Phải đặt vào hoàn cảnh lay lắt vì nạn đói như mẹ con Tràng, mới thấm thía thứ hạnh phúc giản dị mà cao quý của người lao động nghèo khổ – Hắn xăm xăm đi ra ngoài sân so với dáng ngật ngã mở đầu tác phẩm, bước đi xăm xăm này là sựu thay đổi cả ý thức lẫn số phận: từ ngây dại sang ý thức, từ đau khổ sang hạnh phúc. Dường như đến đây, nhà văn đã đủ tin tưởng đặt vào dòng suy nghĩ nhân vật một bổn phận sau sắc lo lắng chuyện vợ con sau này Có thể nói niềm hạnh phúc đã mang đến cho Tràng sự trưởng thành – Bên mâm cơm ngày đói, trong tiếng trống thúc thuế dồn dập, câu chuyện của người vợ nhặt đánh thức trong Tràng hình ảnh: “ Đám người đói và lá cờ đỏ bay phất phới”. Lá cờ đỏ kia biểu hiện một sự đổi đời hứa hẹn thanh toán triệt để sự vật bế tắc bằng việc người nhân dân sẽ có mặt tgn đội ngũ quần chúng cách mạng. Đây không phải là một mơ ước viển vông, một ảo tượng cổ tích mà có một cơ sở vững chắc trong chính hiện thực. Nếu thiếu chi tiết này truyện chuyển sang kết cấu mở: truyện đã kết thúc mà sự vật nhân vật vẫn tiếp tục vận động * giá trị nhân đạo + Cuộc sống thê thảm của nhân dân ta trong nạn đói – Không gian nạn đói – Nhân vật . Tràng: Lưng, mắt, sống cùng mẹ . bà cụ Tứ: lọng khọng, mắt lèm nhèm, đón nhận hành phúc của con à cúi đầu . vợ nhặt: quần áo tả tơi, rách như tổ đỉa, khuôn mặt lưỡi cày, cái ngực gầy lép Cử chỉ hành động: ngồi yên trước của nhà kho vì đói mà trở lên dạn dĩ, vì đói chủ động làm quen, gợi ý mời ăn, theo không, không có tên tuổi + Phẩm chất tốt đẹp của những người ( quan trọng) – Khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, tình thương và sự chia sẻ -Tràng: chăm chỉ, cần cù, tốt bụng, vui tính đến tiếng hò. Nhân hậu mủi lòng trân trọng người vợ thúng kim chỉ, trân trọng khi giới thiệu với bà cụ Tứ, sáng hôm sau: sự trưởng thành – Bà cụ Tứ: bà mẹ nghèo, từng trải, nhân hậu đón nhận hạnh phúc của con trong tủi xót xa nhưng trên hết là tấm lòng bao dung và tâm thương vô bờ bến. Sáng hôm sau: tâm thương và sự liên quan của người mẹ khiến cái chết chóc ảm đạm như bị xua tan muối gà, nòi cháo cám – Vợ nhặt: đằng sau vẻ lẳng lơ dạn dĩ là những phẩm chất tốt đẹp của một người phụ nữ khao khát sống. Sáng hôm sau, đưa bát cháo cám -> trân trọng mẹ chồng câu chuyện trong mâm cơm -> đánh thức trong Tràng khát vọng đổi đời. Đối mặt với cái chết những người ấy vẫn đang hướng về sự sống Nhân vật bà cụ Tứ Cơ sở tâm lý: là bà mẹ nghèo, từng trải và nhân hậu, có người con trai -> ngỡ ngàng Tối hôm trước. Bà đón nhận hạnh phúc của con bằng cử chỉ cúi đầu nín lặng. Cái cúi đầu thể hiện một nỗi lo vô hình và nặng lòng. Bà chấp nhận hạnh phúc của con như là một sự đã rồi: Bà mừng vì con đã có vợ và tủi thân vì phận làm cha mẹ không lo được hạnh phúc cho con. Bà nghĩ đến ông lão, đến đứa con gái út, những thân phận đã bỏ rơi bà vì nghèo khổ Tình thương lại trào lên “Chúng mày lấy nhau lúc này…”, bà nhìn cô gái vừa xót xa vừa biết ơn- tình thương giữa những nghèo khổ Bà cụ trở lên tươi tỉnh rạng rỡ Bên mâm cơm ngày đói, bà toàn nói những chuyện vui, chuyện sung sướng ngày sau. Cảm động thay ngày vui của bà mẹ tỏa ra từ nồi cháo cám: “ ngon đáo để” ->chọn hình ảnh cám – Kim Lân chứng minh chất người kì diệu * Người vợ nhặt – Không có tên – Ngoại hình – Hành động – Về nhà: không giấu nỗi thất vọng. – Sáng hôm sau: quét tước nhà cửa, sự ý tứ, đánh thức khát vọng đổi đời
Dàn ý tác phẩm Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân
2,119
Dàn ý tả bà của em lớp 6 đầy đủ chi tiết I. Mở bài Giới thiệu qua về đối tượng miêu tả Ai cũng có một người bà để mà thương mà nhớ, ai cũng có một người bà để làm chốn đi về. Tình bà cháu, có lẽ là tình cảm ấm áp và nồng hậu nhất, vượt qua khoảng cách về tuổi tác, suy nghĩ, tất cả chỉ còn là tình thân kết nối lại với nhau. II. Thân bài a. Tả ngoại hình của bà Bà em năm nay đã ngoài bảy mươi tuổi, nên lưng bà đã còng hẳn xuống. Mái tóc của bà chỉ còn điểm những sợi đen trên nền trắng xoá, là bước đi của thời gian hiện diện lên trên đó. Làn da không còn trắng hồng mà đã sạm đi vì màu nắng gió, vì những vết đồi mồi, trên đó hằn sâu những vết chân chim. Mắt bà không còn sáng trong như xưa mà đã trở nên đục ngầu, đứng từ xa bà không nhận ra ai nữa. Chân tay bà chỉ còn toàn những xương, lúc nào cũng run lẩy bẩy. Trên đôi tay gầy ấy lại chằng chịt thêm những vết đồi mồi đen sạm Tuy vậy, dáng đi và động tác của bà vẫn rất nhanh nhẹn, chưa bao giờ thấy bà kêu một tiếng mệt. Những nét vẽ ấy về bà, chắc chắn không bao giờ em quên. b. Tính cách của bà Bà rất hay cười, chuyện vui hay buồn bà đều nở một nụ cười đôn hậu. Bà gọi đó là cách để bình tâm vượt qua mọi chuyện. Bà là một người phụ nữ Việt Nam truyền thống, không cổ hủ nhưng giữ lại được những nét riêng nhất của con người Việt Nam Bà là một người ham công tiếc việc, chưa thấy bà ngồi im bao giờ. Cả cuộc đời bà chịu nhiều vất vả, rèn cho bà tính chịu thương chịu khó. Bà đặc biệt yêu thương con cháu, nên mỗi lần có đồ ăn ngon, bà thường phần lại cho các cháu. Bà được lòng hàng xóm vì sự đôn hậu, tốt bụng của mình. Lúc nào, bà cũng muốn gia đình được đoàn tụ, hạnh phúc dù các con làm ăn xa nhà. c. Cảm xúc riêng của em về bà Em là người được gần gũi với bà từ bé, nên tuổi thơ của em gắn với sự yêu thương từ bà. Đó là người lo cho em, chăm bẵm em từng bữa ăn giấc ngủ… Đến bây giờ, khi cuộc sống cuốn em đi vào những mối bận tâm khác, đôi lúc em quên đi có một người bà đang đứng ở nhà chờ mình. Bà vẫn thấy, vẫn hiền hậu và bao dung, luôn là chốn chở che cho tâm hồn con trẻ. Nhưng càng yêu bà, em lại càng sợ ngày phải xa bà mãi mãi. Em sẽ cố gắng học tập thật tốt để bà có thể vui lòng, tự hào về con về cháu. Nêu suy nghĩ chung của em về người bà. Dù thời gian có tuần hoàn miên viễn, cuộc sống có đổi thay, em tin rằng luôn có người bà ở lại bên em, nâng em dậy theo một cách rất riêng. Em sẽ mãi giữ bà ở trong tim mình, trong ngăn sâu kín và ngọt ngào nhất
Dàn ý tả bà của em lớp 6 đầy đủ chi tiết
544
Dàn ý Tả con chó lớp 6 chi tiết đầy đủ 1. Mở bài Giới thiệu đối tượng cần miêu tả Trong gia đình em nuôi rất nhiều con vật cưng như mèo, thỏ, chó… nhưng trong đó em yêu quý nhất con chó bởi đó còn là kỉ niệm theo suốt tuổi thơ em, là người bạn thân từ những ngày thơ bé và là niềm yêu quý của các thành viên trong gia đình. 2. Thân bài – Con chó rất đáng yêu đó là món quà sinh nhật bố tặng em nhân dịp sinh nhật tròn ba tuổi. Đến nay chú chó nhỏ ngày nào đã năm tuổi và em thường gọi nó với cái tên là Milu. a, Đặc điểm: Bộ lông trắng muốt, mềm mại bao phủ lên toàn thân trông mới đáng yêu làm sao! Mỗi khi rảnh rỗi, em thường vuốt ve bộ lông ấy, cảm giác thân thương đến lạ kì như một người bạn. Tuần nào cũng vậy, Milu rất sạch sẽ nên cứ đến chủ nhật là em lại cho chú đi tắm. Nằm trong chậu nước, được em kì cọ mà chú cứ nằm im thin thít, tỏ vẻ thích thú và còn lấy đôi chân chọc ghẹo em. Cái đầu tròn xoe, nổi bật với hai đôi mắt rất nhanh nhạy, lúc nào cũng quan sát rất tinh nhạy những thứ xảy ra xung quanh. Vào ban đêm, đôi mắt ấy lại sáng lên như hai chiếc đèn pha oto để trông nhà hay rình chuột. Chiếc mũi đen nhưng rất thính, bên cạnh là những chiếc ria ngắn như những chiếc cần ăng ten để bắt tín hiệu kẻ thù. Hàm răng thật là sắc nhọn, là vũ khí của một kẻ săn mồi tài ba và cũng là nỗi ám ảnh với lũ chuột phá hoại mùa màng. Bốn chân cao và dài. Cũng giống như mèo, Milu có lớp đệm thịt ở dưới chân nên đi lại rất nhẹ nhàng, hầu như không gây ra tiếng động. Nhưng giấu đằng sau lớp đệm thịt ấy là những chiếc móng cong, nhọn và sắc để chú săn mồi. Như những vận động viên điền kinh, Milu chạy rất nhanh, thoăn thoắt lướt trên mặt đất. Những lúc rảnh rỗi, Milu rất thích chơi đùa với em, thích được em âu yếm và vuốt ve. Mỗi lần như vậy, Milu như trở thành một đứa trẻ nũng nịu đòi quà. Sáng sớm khi ánh nắng ban mai chiếu xuống qua kẽ lá, Milu thường nằm ngửa bụng giữa sân để sưởi ấm. hình ảnh chú lúc này trông mới đáng yêu làm sao, như một đứa trẻ thả lỏng toàn thân để tận hưởng cuộc sống tươi đẹp. Milu không chỉ trông coi nhà rất tốt, chú còn bắt chuột rất tài và làm bạn thân với mọi thành viên trong gia đình. Nhờ có sự chăm chỉ hằng đêm của Milu, với tiếng sủa rất lớn mà bố em một lần đã bắt được tên trộm có ý định lẻn vào nhà ăn cắp. Milu rất thích ăn cá nướng giống mèo nên em thường xuyên nướng cá thơm phức cho chú ăn. 3. Kết bài Nêu cảm nghĩ về chú chó, tình cảm dành cho những chú chó của mình Không chỉ em mà cả nhà ai cũng yêu quý Milu vì vậy mà em luôn tự nhủ sẽ chăm sóc thật tốt chó chú chó nhỏ, để chú luôn mạnh khỏe, đùa giỡn vui vẻ với mọi người.
Dàn ý Tả con chó lớp 6 chi tiết đầy đủ
577
Dàn ý Tả con mèo lớp 6 chi tiết đầy đủ 1. Mở bài Giới thiệu đối tượng cần miêu tả Trong cuộc sống của con người, các loài vật đã trở thành một phần không thể thiếu, không chỉ mang lại nhiều lợi ích mà còn là người bạn thân thiết trong gia đình. Và đối với em, em rất yêu quý chú mèo nhà mình, coi đó như một người bạn thân thiết theo suốt những bước đi trong đời. 2. Thân bài a, Nguồn gốc Chú mèo này là món quà tặng em nhân dịp bố đi công tác xa. Biết em rất thích có một con mèo để nô đùa như các bạn nhỏ khác nên bố đã mua tặng em. Mới ngày nào còn bé xíu, giờ đây chú méo đã lớn lên trông thấy, thoắt cái đã 5 tuổi. b, Hình dáng Đây là chú mèo tam thể nên bộ lông rất đẹp. Gam màu chính là màu vàng ấm nóng hòa cùng màu đen kiêu sa và màu trắng thanh khiết một cách rất hài hòa. Bộ lộng mềm và mượt như tấm nhung lụa khiến em luôn say mê vuốt ve chú mèo. thỉnh thoảng, bộ lông ấy lại xù lên như một tấm thảm nhỏ trông mới đáng yêu làm sao. Cái đầu tròn tròn xinh xinh chỉ bé bằng quả bưởi con. Trên đầu hai hai chiếc tai hình tam giác, mỏng và nhỏ nhưng lúc nào cũng dựng đứng để nghe động tĩnh của lũ chuột phá hoại. chiếc tai nhỏ mà lại rất thính, đôi lúc lại động đậy khi nghe những âm thanh lạ. Đôi mắt tròn xoa như hai hòn bi ve, long lanh và trong sáng. Vào ban đêm, đôi mắt ấy sáng lên như hai chiếc đèn pha, soi tỏ mọi ngóc ngách. Cũng nhờ chính đôi mắt này mà nhiều bọn chuột đã bị mèo phát hiện. Nổi bật trên khuôn mặt là chiếc mũi hồng nhưng lúc nào cũng ươn ướt như đứa trẻ bị cảm cúm. Hai bên mép là bộ ria rất thính, như chiếc ăng ten để bắt tín hiệu kẻ thù. Chiếc đuôi cong và dài. Mỗi bước đi cái đuôi ấy lại ve vẩy hai bên trông mới đáng yêu làm sao. Từ ngày có chú mèo, nhà em không còn một bóng chuột. Hằng ngày, chú đều chăm chỉ và cần mẫn bắt chuột. Đó là một thợ săn mồi đầy tàu ba và thông minh. Có lần em được chứng kiến chú mèo rình chuột. Đứng từ xa với những bước nhón chân rất nhẹ và khẽ, ánh mắt chú mèo chăm chú ở con chuột đang ăn thóc. Bỗng nhiên chú nhún chân, đẩy người về phía sau và phi như bay đến chỗ con chuột kia. Khi ấy, chú chuột đã nằm gọn trong nanh vuốt của mèo ta, ngoan ngoãn như một kẻ đang cận kề cái chết. Chú mèo còn làm vui cho cả gia đình với những trò rất trẻ con. Chú hay vờn bố mẹ em rồi nũng nịu em đòi vuốt ve. d, Sở thích: Món ăn yêu thích nhất của chú mèo là cá nướng. Em thường đi câu vào những khi rảnh rỗi, về nướng cá thật thơm thưởng cho chú mèo. Sáng nào cũng vậy, khi những tia nắng trải vàng sân nhà, chú lại ra nằm ngửa bụng và sưởi nắng. Một hình ảnh thật là thú vị, chú mèo như thả lỏng mọi giác quan để tận hưởng. 3. Kết bài – Cách chăm sóc – Tình cảm dành cho chú mèo. Không chỉ em mà mọi thành viên trong nhà đều yêu quý chú mèo. Em tự nhủ sẽ chăm sóc thật tốt cho chú mèo để chú luôn khỏe mạnh và sống vui vẻ cùng mọi người.
Dàn ý Tả con mèo lớp 6 chi tiết đầy đủ
625
Đề bài: Em hãy lập dàn ý tả con mèo nhà em lớp 4 Bài làm: I. Mở bài: Giới thiệu khái quát dẫn dắt vào đề – Mèo là một trong những loài vật nuôi gần gũi và thân thuộc với con người. Con mèo rất hữu ích, nó giúp con người bắt chuột và trở thành một thành viên trong gia đình. – Nhà em có nuôi một con mèo và em rất yêu quý nó. II. Thân bài: Tả con mèo 1. Tả bao quát – Giới thiệu nguồn gốc của con mèo: Do mèo mẹ sinh ra, mèo được một người quen cho, mèo được mua về,… – Giới thiệu về giống mèo, con mèo này thuộc giống mèo gì. – Con mèo có bộ lông màu gì: mèo tam thể, mèo mun, mèo trắng,… 2. Tả chi tiết – Đầu: đầu con mèo nhỏ xinh và tròn như quả bóng tennis. – Mắt: hai mắt màu xanh biếc, tròn như hai hòn bi ve. – Hai cái tai: hai tai nhìn như hai lá quất, lúc nào cũng vểnh lên lắng nghe. – Mũi: cái mũi nhỏ xíu màu hồng nhạt nhìn lúc nào cũng có cảm giác ươn ướt. – Những sợi ria mép dài đâm sang hai bên nhìn như những sợi râu ăng ten khiến con mèo trở nên oai vệ hơn. – Đuôi dài khoảng 15cm lúc nào cũng phe phẩy. – Chân: dưới bàn chân có thịt dầy giúp cho mèo có thể chạy nhảy mà không bị đau. Bàn chân có những móng vuốt sắc nhọn. Dàn ý tả con mèo lớp 4 3. Hoạt động và tính nết của mèo – Ban ngày, mèo thường đi lại xung quanh nhà. Mèo nằm dưới nắng để sưởi. Thi thoảng mèo lăn qua lăn lại đùa nghịch với chính cái đuôi của mình. – Mèo ăn uống từ tốn, gọn gàng. Món ăn khoái khẩu của mèo là cá. – Khi bắt chuột, mèo nằm im bất động, đôi mắt mở to hướng thẳng về phía con mồi. Chỉ cần coi mồi xuất hiện là mèo sẽ lao đến vồ rất chính xác làm con mồi không kịp trở tay. III. Kết bài – Nêu cảm nghĩ của em về con mèo. Em yêu quý con mèo nhà em như thế nào, sẽ chăm sóc mèo ra sao. Nhã Đan
Dàn ý tả con mèo nhà em lớp 4
375
Dàn ý tả cây bàng trên sân trường Bài làm 1. Mở bài: giới thiệu vài nét về cây bàng Trong trường em có trồng một cây bàng, cây to lớn đồ sộ và tỏa bóng mát khắp sân trường đây cũng là nơi chúng em vui chơi mỗi khi giải lao trong giờ học. 2. Thân bài a) Miêu tả cây bàng – Thân cây to và thẳng, vỏ cây xù xì, màu đen. – Gốc cây lớn bằng vòng tay của học sinh lớp 7, dưới gốc cây rễ mọc tạo ra những hình thù quái dị. – Lá bàng hơi dày, tròn. Mỗi nhánh có nhiều lá, trong những tán lá có những chùm quả đung đưa trong gió. – Mỗi mùa lá bàng có nhiều màu sắc khác nhau rất đẹp. b) Miêu tả cây bàng vào mùa xuân – Những chiếc lá già rụng, nhường chỗ cho chồi non lấm tấm xuất hiện. – Vài ngày sau cây bàng như khoác chiếc áo xanh của mùa xuân, chồi non vươn mình đón ánh nắng mùa xuân. – Trên cây những chú chim chuyền cành, hót líu lo. – Mùa xuân đến cây trái đua nhau nở rộ, hòa mình vào sắc xuân. c) Miêu tả cây bàng mùa hè – Tán lá rộng, sum suê cây bàng che chở tạo bóng mát cho cả sân trường. – Cây bàng như chiếc ô che nắng che mưa. – Lá bàng xanh thẫm, thấp thoáng hoa bàng trắng li ti. – Mùa hè đến học sinh nghỉ hè. d) Miêu tả cây bàng vào mùa thu – Cây bàng như có sự chuyển mình, lá có nhiều màu: lá xanh thẫm, lá ngả vàng xen kẽ nhau. – Quả bàng có màu vàng, len lỏi giữa vòm lá, thỉnh thoảng gió thổi quả rụng lả tả xuống mặt đất. – Nhìn từ xa cây bàng như nhuộm màu vàng của sắc thu. – Thỉnh thoảng có những cơn gió mát lạnh của mùa thu. e) Miêu tả cây bàng vào mùa đông – Thân cây sần sùi, khô rát, thiếu sức sống. – Trên cao chỉ còn vài lá bàng đang cố bám víu vào nhánh cây. – Gió mùa đông thổi qua se lạnh, càng khiến cho không khí thêm u sầu. – Học sinh tránh rét,đi học vội vã vào lớp, cây bàng lẻ loi u buồn. 3. Kết bài – Cây bàng là người bạn gắn bó, che chở cho học sinh. – Em rất yêu quý cây bàng, loài cây hữu ích và gắn bó với nhiều thế hệ học sinh.
Dàn ý tả cây bàng trên sân trường
406
Dàn ý tả cô giáo đang giảng bài trong giờ học mà em nhớ nhất Hướng dẫn I. Mở bài Giờ học cuối của ngày thứ tư hôm ấy đã để lại cho em nhiều ấn tượng nhất. II. Thân bài – Tả vài nét về cô giáo: cô mặc chiếc áo dài màu vàng, dáng người nhỏ nhắn, mái tóc dài, đôi mắt to,… – Lớp em học tiết Tập đọc, bài Hạt gạo làng ta. – Giọng cô ấm áp, truyền cảm khi đọc bài thơ. Cả lớp lắng nghe cô đọc. – Lời cô giảng bài đã gợi lên trong lòng em về hình ảnh của làng quê Việt Nam, những người nông dân lao động cần cù, dũng cảm. – Cô đem đến cho em cảm nhận về vai trò của người nông dân khi làm ra hạt gạo. III. Kết bài – Giờ học đã kết thúc nhưng em vẫn còn đang say sưa với bài giảng của cô. – Đây chính là giờ học mà em có ấn tượng nhất về cô.
Dàn ý tả cô giáo đang giảng bài trong giờ học mà em nhớ nhất
166
Dàn ý tả cảnh biển Vũng Tàu lớp 6 đầy đủ chi tiết I. Mở bài Giới thiệu chung về đối tượng miêu tả Ai về với Vũng Tàu thân thương, sẽ đều bị cuốn hút bởi những bãi biển trải dài đẹp như tranh. Biển Vũng Tàu mang theo gió mát, sóng nhẹ, nước xanh, để người ta khi về còn nhớ mãi không quên. Trong các bãi biển ở Vũng Tàu, bãi Thuỳ Vân để lại cho em một dấu ấn đậm nét hơn cả. II. Thân bài a. Giới thiệu chung về cảnh biển Vũng Tàu và bãi Thuỳ Vân Vũng Tàu là một thành phố lớn, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 100km Người ta biết đến Vũng Tàu với những bãi biển xanh rì rào sóng, cát trắng nắng vàng đẹp như mơ. Ở Vũng Tàu, có các bãi tắm nổi tiếng như bãi Tầm Dương, bãi Thuỳ Vân, bãi Dứa, biển Hồ Cốc hay bãi Vọng Nguyệt. Mỗi vùng biển đều có một vẻ đẹp khác nhau, nhưng bãi Thuỳ Vân được người ta nhắc đến nhiều hơn cả. Bãi Thuỳ Vân nằm ở phía Đông Nam Vũng Tàu, kéo dài từ chân núi Nhỏ đầu ngã 3 đường Thuỳ Vân và Phan Chu Trinh đến Chí Linh. Bãi biển dài khoảng 10km, nằm tựa lưng vào những đồi cát trắng và rừng phi lao ngút ngàn, được mệnh danh là một trong những bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Mùa hè năm nay, em mới có cơ hội được đến với Vũng Tàu và bãi biển Thuỳ Vân. Vừa chạy dọc hết con đường lớn, em đã ngửi thấy mùi nồng nồng của gió biển đâu đây. Bước xuống xe, một làn gió nhẹ lướt qua, em đưa người hít trọn bầu không khí ấy. Thời tiết ở đây không gay gắt như trong thành phố. Nắng vẫn vàng, nhưng là màu vàng ươm nhảu nhót trên bờ cát. Hơi biển lành lạnh xua tan đi không khí ngột ngạt, biển phả vào đất liền một luồng mát rượi. Em nhẹ đặt chân bước đi trên bờ cát trắng. Cát thật mềm mại và mịn màng, bàn chân như được thư giãn hết mức có thể. Xuống gần đến nơi, em mới thấy nước biển thật xanh và trong quá. Dường như có thể nhìn thấy những chú cá nhỏ bơi tung tăng. Bãi Thuỳ Vân nổi tiếng với những rặng phi lao ngút ngàn trở thành cả một rừng dương. Cây cối càng làm không khí ở đây trở nên yên bình và xanh ngát hơn. Nước biển mát rượi, thấm vào da thịt làm xua tan đi những mệt mỏi nơi thành phố. Trên kia là những căn nhà sàn nhỏ xinh để du khách nghỉ ngơi, những dọc đường đầy hoa làm tăng thêm vẻ thơ mộng cho bãi biển. c. Con người trên bãi biển Vì cảnh sắc và không khí đều tuyệt đẹp, nên du khách kéo đến đây rất đông. Dưới biển, người người nô nức đắm mình xuống dòng nước để cảm nhận sự mát lành. Trên bờ, trẻ con thả điêu, xây lâu đài cát, chạy nhảy nô đùa thật vui vẻ. Khuôn mặt ai cũng rạng rỡ sự tươi vui thoả mãn, như được trút bỏ tất cả mọi lo âu mệt mỏi của cuộc sống. Khi phố lên đèn cũng là lúc những hoạt động vui chơi giải trí diễn ra. Những quán ăn tấp nập người ra vào, những người trượt patin, đi xe đạp đôi cứ thế dạo quanh cả thành phố xinh đẹp. Biển đem lại cho con người sức sống mới mẻ như vậy. Với em, biển vừa là người mẹ ấm áp nhân hậu, vừa là đứa em nhí nhảnh tươi vui. Biển cho em được quên đi áp lực học hành, những buồn vui tuổi học trỏ, cho em trở thành trẻ thơ. Rời Vũng Tàu, lòng em vẫn có chút bồi hồi lưu luyến, vẫn muốn hưởng thụ vitamin biển ấy. III. Kết bài Nêu suy nghĩ của em Nhớ về Vũng Tàu, là nhớ về những kí ức đẹp nhất của em. Em càng yêu biển hơn, càng muốn trở thành một đứa con của biển. Nhất định, sẽ có ngày em trở về vùng biển thân yêu này, để một lần này được đắm chìm vào những cảm xúc đắm say.
Dàn ý tả cảnh biển Vũng Tàu lớp 6 đầy đủ chi tiết
705
Dàn ý tả cảnh buổi sáng trên đường phố nơi em ở Hướng dẫn I. Mở bài Đường phố ở quê em vào buổi sáng thật đẹp. II. Thân bài a. Trời chưa sáng hẳn – Không khí mát mẻ, dễ chịu. – Đường phố thưa người. – Một số nhà còn đắm chìm trong giấc ngủ say. – Một số nhà dã thức giấc, ánh đèn hắt chiếu ra đường phô’. – Ánh đèn cao áp bên vệ đường vẫn còn tỏa sáng. – Có những người đi tập thể dục buổi sáng. – Hàng cây bên vệ dường còn ướt dẫm sương đêm. – Chim chóc vẫn còn đang ngái ngủ. – Vang vọng tiếng chó sủa trong những ngõ phô”. – Văng vẳng tiếng gà gáy sáng. b. Trời sáng rõ – Cây cối như bừng tỉnh giấc. – Tiếng chim sơn ca ríu rít trên cành. – Xe chở hàng hoạt động trên đường. – Đèn điện tắt, ánh mặt trời rạng dần ở đăng đông. – Các cửa hàng cửa hiệu hai bên đường mở cửa. – Mọi nhà thức giấc. c. Một trời lên (giờ cao điểm) – Ánh nắng rải nhẹ trên đường. – Cây cối òa tươi trong nắng sớm. – Từng đàn chim bay lượn trên cao. – Xe cộ qua lại đông đúc trên đường. – Các bà, các cô bán rau quang gánh đến chợ. – Học sinh tung tăng cắp sách đến trường. – Những chiếc xe đủ loại, chở hàng tấp nập trên đường. III. Kết bài – Em tự hào vì đường phố quê hương em mỗi ngày một tươi đẹp, khang trang. – Em nguyện chăm ngoan, học giỏi để góp phần xây dựng quê hương.
Dàn ý tả cảnh buổi sáng trên đường phố nơi em ở
258
Dàn ý Tả cảnh sân trường lúc ra chơi Hướng dẫn Dàn ý Tả cảnh sân trường lúc ra chơi lớp 6 Dàn ý Tả cảnh sân trường lúc ra chơi được VnDoc sưu tầm và chọn lọc. Những dàn bài văn tả cảnh sân trường lớp 6 này bao gồm các dàn bài văn tả về cảnh ra chơi của các em học sinh với ngôn từ súc tích, truyền cảm, gần gũi, làm nổi bật lên những hình ảnh của các em học sinh trong giờ giải lao. Sau đây mời thầy cô cùng các bậc phụ huynh tham khảo để hướng dẫn các em hoàn thiện bài viết hiệu quả hơn. Dàn ý tả cảnh sân trường lúc ra chơi – Văn mẫu lớp 6 Bài tham khảo 1 1- Mở bài: Giới thiệu giờ ra chơi: Thời gian, địa điểm… 2- Thân bài: a- Tả bao quát: – Cảnh sân trường lúc bắt đầu ra chơi (ồn ào, náo nhiệt hẳn lên). – Hoạt động vui chơi của mọi người trong cảnh (các trò chơi được bày ra thật nhanh… ) b- Tả chi tiết: – Hoạt động vui chơi của từng nhóm (trai: Đá cầu, rượt bắt,…. nữ: Nhảy dây, chuyền banh…. ) – Đâu đó vài nhóm không thích chơi đùa ngồi ôn bài, hỏi nhau bài tính khó vừa học. – Âm thanh (hỗn độn, đầy tiếng cười đùa, la hét, cãi vã….) – Không khí (nhộn nhịp, sôi nổi…) c- Cảnh sân trường sau giờ chơi: Vắng lặng, lác đác vài chú chim sà xuống sân trường nhặt mấy mẩu bánh vụn. Nêu ích lợi của giờ chơi: – Giải tỏa nỗi mệt nhọc. – Thoải mái, tiếp thu bài học tốt hơn. Bài tham khảo 2 I. Mở bài: Giới thiệu giờ ra chơi của trường em đang học Trong cuộc đời mỗi chúng ta, ai cũng đều trải qua thời cắp sách đến trường. Mười hai năm học, một quãng thời gian vô cùng dài của một đời người. Quãng thời gian đó, mang lại cho chúng ta vui buồn, bao cảm xúc khác nhau. Nhưng dù bạn học bất kì trường nào bạn đã từng trải qua những giây phút thư thái và thoải mái của giờ ra chơi. Đó thời gian gian chúng ta có thể làm rất nhiều điều với bạn bè, thầy cô và mái trường thân yêu của chúng ta. II. Thân bài: Tả trường em giờ ra chơi 1. Tả bao quát giờ ra chơi – Sân trường tấp nập ngươi – Tiếng ồn vang khắp nơi – Ai cũng vui vẻ chơi cùng các bạn 2. Tả chi tiết giờ ra chơi a. Tả người giờ ra chơi – Mọi người chơi các trò chơi khác nhau – Người thì chơi đá cầu, người thì bịt mắt bắt dê, người thì nhảy dây,… – Những ai không thích chơi thì ngồi ghế đá tám với bạn bè hoặc đọc sách,…. – Trường lúc này âm thanh hỗn độn, ồn ào, không phân biệt được giọng của ai – Cả sân trường nhộn nhịp vui vẻ – Cây cối đong đưa theo gió, thổi những cơn gió mát lành khiến giờ ra chơi thêm phấn khởi – Chim kêu rả rích c. Cảnh sân trường sau giờ ra chơi – Sân trường yên ắng hẳng – Không một bóng người – Chỉ nghe những tiếng giảng bài của thầy cô giáo III. Kết bài: Nêu cảm nghĩ của em về trường về giờ ra chơi – Em rất thích giờ ra chơi – Giờ ra chơi giúp em bớt căng thẳng, mệt mỏi sau giờ học Bài tham khảo 3 Mở bài + Buổi chiều, tiết hè oi bức. + Tiếng trống báo giờ ra chơi ở tiết thứ hai. Thân bài – Bắt đầu giờ ra chơi: + Các học sinh đổ ra từ các cánh cửa lớn của lớp học. + Tập thể dục. + Tản mát khắp nơi, những chiếc áo trắng và những khăn quàng đỏ xuất hiện cùng trường. + Không khí vui nhộn. – Những hình ảnh và sinh hoạt trong giờ ra chơi: + Dưới bóng me tây, các bạn nữ đang nhảy dây. + Đằng xa, bụi bốc mù mịt, tiếng nói huyên náo, các bạn nam đang chơi trò “mèo bắt chuột” + Bãi cỏ rộng: Thủ thành đang cố gắng bắt những quả phạt mười một mét. Những đám cổ động viên reo cười, vỗ tay ủng hộ, khen ngợi thành tích của đội bóng. + Các hành lang: Thầy cô đang nhìn chúng em vui chơi. – Hình ảnh đặc biệt: KẾT BÀI + Trông báo giờ học. + Xếp hàng vào lớp. + Những con chim ngơ ngác bay đi. Bài tham khảo 4 1. Mở bài: * Giới thiệu chung: – Tiếng trống báo giờ ra chơi. – Sân trường vắng vẻ bỗng chốc rộn rã tiếng nói cười. 2. Thân bài: * Tả cảnh sân trường: + Cảnh tập thể dục: – Học sinh nhanh nhẹn xếp hàng tập thể dục giữa giờ. – Động tác đều và đẹp. – Tiếng hô Khoẻ vang động cả sân trường. + Cảnh vui chơi: – Các trò chơi nhảy dây, kéo co, đá cầu được nhiều bạn ưa thích. 3. Kết bài: * Cảm nghĩ của em: – Giờ ra chơi vui vẻ khiến cho đầu óc thư giãn, thoải mái, chúng em tiếp thu bài tốt hơn.
Dàn ý Tả cảnh sân trường lúc ra chơi
835