text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Đề bài: Em hãy ghi lại một biên bản xử lí vi phạm trật tự an toàn giao thông Bài làm Sở GTCC Hà Nội Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Công an quận cầu Giấy Độc lập – Tự do – Hạnh phúc SỐ:………. BB/TLTV, PT BIÊN BẢN XỬ LÍ VI PHẠM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG – Căn cứ điều…, điều…, điều… Pháp lệnh xử lí vi phạm trật tự an toàn giao thông ngày… tháng… năm; – Căn cứ quyết định/ Biên bản số:……….. ngày…. tháng…… năm…… do: Ông (bà):…….. Chức vụ:……. Kí về việc:…… Hôm nay, hồi 12 giờ 15 phút, ngày 17 tháng 04 năm 2009 Tại ngã tư đường Xuân Thuỷ – Phạm Hùng Tôi Đặng Quang Nam Cấp bậc:……………… Chức vụ:…….. Đơn vị công tác: Phòng CSGT quận cầu Giấy – Tiến hành lập biên bản xử lí vi phạm trật tự an toàn giao thông đối với bà Ngô Thanh Tùng Là chủ sở hữu chiếc xe máy mang biển số 29 Z1 93XX Nơi cư trú (hoặc địa chỉ): Cầu Giấy, Hà Nội Nghề nghiệp (hoặc lĩnh vực hoạt động): Kinh doanh Vi phạm phần đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ gây cản trở trật tự an toàn giao thông. – Biện pháp xử lí: + Tạm thu giữ giấy tờ xe trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 17 tháng 04 năm 2009 đến ngày 17 tháng 05 năm 2009 + Thu phạt hành chính bằng tiền mặt trị giá 200.000d (hai trăm nghìn đồng chẵn) Biên bản được lập thành hai bản có nội dung và giá trị như nhau. Một bản đựơc giao cho cá nhân vi phạm và một bản lưu hồ sơ. Biên bản lập xong hồi 13 giờ 00 phút cùng ngày, đã đọc lại cho những người có tên nêu trên cùng nghe công nhận đúng và cùng kí tên dưới đây. Người vi phạm: Người lập biên bản Tùng Nam Ngô Thanh Tùng Đặng Quang Nam
Ghi lại một biên bản xử lí vi phạm trật tự an toàn giao thông
318
Ghi vào sổ tay những ý chính trong bài vươn tới các vì sao Gợi ý – Chuyến bay đầu tiên của con người vào vũ trụ là trên con tàu Phương Đông 1 của Nga. – Người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng là Am-xtơ-rông. – Người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ trụ là Phạm Tuân.
Ghi vào sổ tay những ý chính trong bài vươn tới các vì sao
56
Gia đình em chuyển đến nơi ở mới, cách xa ngôi trường cũ em đang học. Hãy viết một lá đơn gửi đến ban Giám hiệu trường em để được chuyển trường Gợi ý Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày…tháng…năm ĐƠN XIN CHUYỂN TRƯỜNG Kính gửi: Ban Giám hiệu Trường THCS Mai Hoàng, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Em tên là: Nguyễn Thị Mai Anh Học sinh lỚp 6D, Trường THCS Mai Hoàng, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Em viết đơn này xin trình bày một việc như sau: Hiện nay, gia đình em đang sinh sống tại quận Thanh Xuân, Hà Nội, rất thuận tiện cho em đến trường. Nhưng vào năm học mới, vì một số lí do, gia đình em sẽ chuyển tới nơi ở mới tại huyện Đông Anh, cách xa nơi em đang sống. Vì vậy, em viết đơn kính mong Ban Giám hiệu nhà trường tạo điều kiện cho em được chuyển trường về Trường THCS Ngọc Khê, Đông Anh, để thuận lợi cho việc học tập. Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường và các thầy cô giáo. Học sinh Mai Anh Nguyễn Thị Mai Anh
Gia đình em chuyển đến nơi ở mới, cách xa ngôi trường cũ em đang học. Hãy viết một lá đơn gửi đến ban Giám hiệu trường em để được chuyển trường
195
Gia đình em chuyển đến nơi ở mới, em muốn học tiếp lớp 6 ở trường nơi mới đến. Hãy viết lá đơn gửi đến Ban giám hiệu của ngôi trường mới Gợi ý Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN XIN NHẬP HỌC Kính gửi: Ban Giám hiệu Trường Trung học cơ sở Phương Đông Tên em là Nguyễn Văn Hùng Sinh ngày 13 tháng 08 năm 1998 Nguyên quán: xã A huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Em đang học lớp 6 tại trường THCS Mai Thúc Loan (xã A huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình). Nay, gia đình em chuyển đến xã B, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Việc tiếp tục theo học tại trường THCS Mai Thúc Loan của em gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, em làm đơn này, xin Ban giám hiệu nhà trường cho phép em được tiếp tục theo học tại quý trường. Nếu được nhận vào trường, em xin hứa sẽ chấp hành nội quy của trường và nỗ lực học tập. Kính mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô! Em xin chân thành cảm ơn! Thái Bình, ngày… tháng… năm… Người viết đơn (kí tên) Nguyễn Văn Hùng
Gia đình em chuyển đến nơi ở mới, em muốn học tiếp lớp 6 ở trường nơi mới đến. Hãy viết lá đơn gửi đến Ban giám hiệu của ngôi trường mới
197
Giá trị bản Tuyên ngôn độc lập Hướng dẫn Giá trị bản Tuyên ngôn độc lập Sau tám mươi năm sống với ách đô hộ chế độ thực dân ở Việt Nam, ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản “Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tuyên ngôn độc lập không chỉ là cột mốc quan trọng trong lịch sử đất nước Việt Nam mà còn mang những giá trị khác vô cùng to lớn cho văn chương cũng như cho đời sống con người Việt Nam và trên toàn thế giới. Đầu tiên, phải nói đến giá trị lịch sử của bản tuyên ngôn độc lập. Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện quan trọng đúc kết nguyện vọng của dân tộc Việt Nam về quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam nói riêng và của các dân tộc đang bị mất quyền tự do, bình đẳng nói chung. Mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập là hai câu trích dẫn từ Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc.” Tiếp theo, là tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của nước Pháp:” Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.” Tất cả các quyền ấy được quy tụ về lời khẳng định độc lập của dân tộc Việt Nam:”Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.” Đây là những quyền cơ bản đầu tiên tự nhiên của dân tộc. Bản tuyên ngôn độc lập là kết quả của quá trình đấu tranh hơn một trăm năm của dân tộc ta chống giặc ngoại xâm. Quy luật ấy khái quát chung cho toàn thể các dân tộc trên thế giới. Tuyên ngôn độc lập không chỉ tạo ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam_ kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sau khi giành độc lập năm 1945, quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Sau đó, ngày càng phát triển và được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ của đất nước ta. Đó là cơ sở pháp lý vững chãi để thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân trong chế độ mới.
Giá trị bản Tuyên ngôn độc lập
475
Giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh Hướng dẫn Giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh Lê Hữu Trác làm quan dưới thời chúa Trịnh được một thời gian,ông nhận thấy xã hội thối nát,cương thường lỏng lẻo, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất (1746), ông liền viện cớ cáo quan về nuôi mẹ già. Từ đó ông chuyên nghiên cứu y học vừa chữa bệnh cứu đời, vừa soạn sách và mở trường dạy học truyền bá y đức, y lí,y thuật. Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43(1782),Lê Hữu Trác nhận được lệnh chúa triệu về kinh xem mạch, kê đơn chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán.Sau đó một thời gian thì chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm. Những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong nhiều chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long đã thôi thúc ông cầm bút. Năm 1783 ông viết xong tập “Thượng kinh kí sự” bằng chữ Hán. Tập kí sự này là một tác phẩm văn học đích thực, đặc sắc giá, có giá trị sử liệu cao. Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” trong sách Ngữ văn 11-Nâng cao,tập 1(Nxb.Giáo dục,H,2007) thể hiện được đầy đủ những nét độc độc đáo trong bút pháp kí sự của Lê Hữu Trác. Như ta biết: kí là là tên gọi chung cho một nhóm thể loại có tính giao thoa giữa báo chí với văn học. Kí viết về cuộc đời thực tại,viết về người thật,việc thật. Người viết kí miêu tả thực tại theo tinh thần của sử học. Mẫu hình tác giả kí gần gũi với nhà sử học. Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh. Kí bao gồm nhiều thể văn như: bút ký, phóng sự, du kí, hồi kí,nhật kí, …Trong số đó kí sự thiên về ghi chép chi tiết, tỉ mỉ sự việc- câu chuyện có thật. Tất nhiên đan xen vào mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện nhận xét chân thực,tinh tường của nhà văn trước sự việc. Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý của chúa Trịnh. Lê Hữu Trác sử dụng người trần thuật ngôi thứ nhất,trực tiếp tiếp cận cung cách sinh hoạt xa hoa của chúa Trịnh. Nhà văn quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo. Mở đầu đoạn trích là một sự kiện cụ thể, chân thực. Tính chất kí trong bút pháp của Lê Hữu Trác thể hiện rõ ở cách ghi tỉ mỉ sự việc, thời gian.Nhà văn kết hợp biện pháp kể khách quan với nghệ thuật gợi không khí nhằm làm nổi bật hành động khẩn trương,gấp gáp của nhân vật: “ Mồng một tháng 2. Sáng tinh mơ, tôi nghe tiếng gõ cửa rất gấp. Tôi chạy ra mở cửa. Thì ra một người đầy tớ quan Chánh đường….”. ở đây “trong việc có người”, người gắn chặt với cảnh,với môi trường hoạt động cụ thể. Câu văn của Lê Hữu Trác ngắn gọn, giàu thông tin, được viết ra một cách nhẹ nhàng, tự nhiên,không một chi tiết thừa.Lời văn giản dị, chắc mà bay bổng, vừa “truyền cảm” vừa truyền nhận thức.Người đọc có thể hình dung được rất rõ một cảnh huống đặc biệt đang xảy ra Nhân vật “tôi” không hiện ra qua hình dáng cụ thể. Trước hết anh ta xuất hiện qua giọng nói, qua cảm nhận về âm thanh, và rõ hơn ở hành động. Nhân vật “tôi”” xuất hiện với tư cách một người trong cuộc, trực tiếp tham gia vào sự việc được miêu tả trần thuật. Vì thế ngay từ đầu truyện người đọc đãcó cảm giác đây không phải câu chuyện hư cấu, mà chính là bức tranh cuộc sống đang hiện hữu. Khi kể việc, tả người Lê Hữu Trác không vay mượn những khuôn mẫu, chất liệu có sẵn,tác giả hướng tới khai thác chất liệu đời thường, đời tư. Chẳng hạn lời đối thoại của nhân vật người đầy tớ được thể hiện một cách tự nhiên, đúng với vị thế chức phận của hắn: “có thánh chỉ triệu cụ vào. Quan truyền mệnh hiện đang ở nhà cụ lớn con,con vâng mệnh chạy đến đây báo tin…”. Lê Hữu Trác coi trọng việc kể lại có ngọn ngành. Nhà văn ưa sắp xếp sự việc cho đầy đủ mạch lạc có đầu có cuối, nên dường như cứ một đoạn hay một câu nói về hành động của tên đầy tớ lại tiếp đoạn tự thuật về hành động, cảm nhận của Lê Hữu Trác. “Nghe tiếng gõ cửa…..tôi chạy ra…”, “người đầy tớ nói…..tôi bèn”, “tên đầy tớ chạy…tôi bị xóc một mẻ,khổ không nói hết”. Mạch văn chặt chẽ nhờ sự thể hiện thành công cái lô gíc nhân quả của sự kiện, hành động.Ban đầu ta tưởng như nhân vật “tôi” chủ động, nhưng càng đọc càng thấy nhân vật “tôi” bị cuốn vào hết sự việc này đến sự việc khác. Mở đầu đoạn trích cấu trúc câu văn ngắn gọn. Mỗi câu văn tương ứng với một tâm tình, một sự việc, hành động. Người đọc vừa đồng cảm với nỗi vất vả và hành động bất đắc dĩ của nhân vật tôi vừa đồng tình với Lê Hữu Trác ở thái độ mỉa mai châm biếm sự lộng quyền,tiếm lễ của chúa Trịnh Sâm lúc bấy giờ. Quang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa được ghi lại khá tỉ mỉ qua con mắt quan sát của một thầy thuốc lần đầu tiên bước chân vào thế giới mới lạ. Không gian nghệ thuật của tác phẩm ngày càng được mở rộng hơn theo bước chân, và cách nhìn của nhân vật xưng “tôi”.Bức tranh toàn cảnh về phủ chúa Trịnh không chỉ có bề rộng mà còn có chiều sâu, với một sức gợi mạnh mẽ. Lê Hữu Trác khéo kết hợp tả tập trung với điểm xuyết, chọn lọc được những chi tiết đắt, nói lên quyền uy tối thượng cùng nếp sống hưởng thụ cực kì xa xỉ của gia đình chúa Trịnh Sâm. Giọng kể khách quan, trang nghiêm, đan xen với thái độ ngạc nhiên và hàm ý phê phán kín đáo chúa Trịnh.Nhà văn khéo kết hợp giữa văn xuôi và thơ ca. Bài thơ vịnh cảnh, tả việc của Lê Hữu Trác ý tứ sâu xa, lời thơ hóm hỉnh,ẩn giấu một nụ cười châm biếm, mỉa mai. Lời nhận xét trong văn phẩm khá đa dạng: Trước tiên Lê Hữu Trác đánh giá khái quát vẻ đẹp. Tiếp theo nhận xét về cảnh giàu sang. Tiếp nữa nêu ấn tượng về cách bày trí, kiến trúc kiểu cách. Nhà văn dừng lại bình giá tỉ mỉ,sắc sảo các đồ dùng xa hoa từ nhà Đại đường đến Gác tía. Lời đánh giá nào của lê Hữu Trác cũng đích đáng,tinh tế và có chừng mực. Nói tác phẩm giàu chất trữ tình vì thế. Tác giả quan sát các công trình kiến trúc, cảnh trí thiên nhiên qua hình khối, dáng vẻ kích cỡ, tả khuôn viên chủ yếu qua những ấn tượng về hương thơm âm thanh, kể về mức độ xuất hiện của thị vệ, quân sĩ để nhấn mạnh vẻ trang nghiêm của nơi đây. Lê Hữu Trác đặc biệt ưa tả đường đi, lối vào phủ chúa. Ta có cảm tưởng đằng sau mỗi cánh cửa là một bức tranh.Đoạn trích gồm nhiều bức tranh với những mảnh màu tối sáng, nhạt đậm khác nhau, nối liền nhau. Qua mấy lần cửa đầu tiên, trước mắt tác giả giống như một cảnh tiên huyền ảo, cây cối um tùm, hương hoa thơ mộng. Đi tiếp, cảnh giàu sang của phủ chúa được bày ra chân thật,đầy đủ hơn. Càng đi sâu vào trong, Lê Hữu Trác càng có dịp quan sát không gian nội thất, không gian cao rộng của lầu gác với các đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, nhất là được biết cái phong vị của nhà đại gia. Lê Hữu Trác tổ chức điểm nhìn trần thuật linh hoạt. Có đoạn sự việc được kể theo quan sát của nhân vật xưng tôi. Có đoạn nhà văn để cho nhân vật quan truyền chỉ miêu tả,giới thiệu. Người đọc có cảm tưởng không chỉ có Lê Hữu Trác dẫn ta vào phủ chúa để tự do quan sát ngắm nhìn mà cả những kẻ hầu cận chúa cũng đưa ta thâm nhập, khám phá sự thật ở “Đông cung”. Những đoạn nhân vật tôi độc thoại toát lên cái nhìn sắc sảo và sự cảm nhận tinh tế. Những đoạn kể tả, cho thấy nhân vật tôi bao quát được một không gian rộng lớn, nắm bắt được thần thái, bản chất của sự vật hiện tượng. Trong tư cách một người thầy thuốc quê mùa, nhân vật tôi luôn tỏ ra là một người hoà nhã kính nhường, ham học hỏi y thuật của đồng nghiệp. Sự đối lập về vị thế so với các vị lương y của sáu cung hai viện,không khiến nhân vật tôi trở nên nhỏ bé, trái lại càng tôn cao hơn nhân cách và tài năng của nhân vật này. Vẻ đông đúc của lương y nơi triều đình tự phơi bày hết sự thực ở phú chúa đang tồn tại một hệ thống quan lại bất tài, ăn bám Các nhà nho xưa ít khi nói về mình. Nhưng trong đoạn trích này,tác giả đã không ngần ngại để cái “Tôi”đóng một vai trò quan trọng. “Vào phủ chúa Trịnh” thể hiện trực tiếp cái tôi cá nhân người cầm bút. Qua đoạn trích ta thấy tác giả Lê Hữu Trác là một thầy thuốc giàu kinh nghiệm. Bên cạnh tài năng ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ. Lê Hữu Trác xem nghề thuốc vô cùng thiêng liêng cao quí,người làm thuốc phải nối tiếp lòng trung của cha ông mình,phải luôn giữ đức cho trong, giữ lòng cho sạch. Lê Hữu Trác yêu thích tự do, nếp sống thanh đạm. Vượt lên trên những danh lợi tầm thường ông trở về hành đạo cứu đời với quan niệm: “Thiện tâm cốt ở cứu người. Sơ tâm nào có mưu cầu chi đâu/ Biết vui, nghèo cũng hơn giàu/ Làm ơn nào phải mong cầu trả ơn”.
Giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh
1,775
Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” của Đỗ Phủ Hướng dẫn Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” của Đỗ Phủ Bài làm Đỗ Phủ là một trong những nhà thơ hiện thực vĩ đại của văn học Trung Hoa với những sáng tác chạm sâu vào trái tim người đọc. Thơ ông là những bức tranh sinh động, chân thực về xã hội phong kiến, về những mảnh đời cơ cực và về những khát khao có cuộc sống bình dị nhất. Ông hiểu và thấu nỗi đau của muôn kiếp vì chính bản thân mình cũng đã trải qua. “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” được sáng tác khi ông đã nếm trải biết bao nhiêu cay đắng ở đời, phản ánh được hiện thực khốc liệt và tình yêu thương đồng loại của Đỗ Phủ. Những năm tháng Đỗ Phủ phải sống trong cảnh nghèo khó, cơ cực. Cuộc sống gia đình ông túng thiếu, sông trong một mái nhà tranh bên cạnh khe Cán Hoa phía Tây Thành Đô. Những ngày mưa mùa thu gió lùa đã khiến cho mái nhà tốc mái. Có lẽ đây chính là cảm hứng, cũng chính là hiện thực để cho ông viết lên những dòng thơ này. Đoạn thơ đầu tiên viết về một trận cuồng phong tháng tám: Tháng tám, thu cao, gió thét gào Tranh bay sang sông rải khắp bờ Mảnh cao treo tót ngọn rừng xa Mảnh thấp quay lộn vào mương xa Chỉ với mấy câu thơ nhưng đã khái quát được hiện thực tàn khốc từ thiên nhiên, những cơn gió tháng tám đã lật tung mái nhà tranh nghèo. Thật cảm cảnh cho mái nha ftranh rách nát của Đỗ Phủ, ông đành bất lực nhìn thiên nhiên tàn phá. Một hiện thực đầy xót xa mà người đọc nhận ra chính là thiên nhiên cứ vô tình với cuộc đời nhiều đắng cay của một người vẫn mải miết cống hiến cho đời những vần thơ thật đẹp. Đây cũng chính là thời điểm loạn lạc mà nhân dân Trung hoa phải đối mặt và trải qua. Binh biến loạn lạc, người dân mất nhà mất cửa, mất người thân, đạo đức suy thoái nghiêm tròng. Đỗ Phủ bất lực nhìn xã hội đnag rơi vào ngõ cụt: Môi khô, miệng cháy gào chẳng được Quay về chống gậy lòng ấm ức Nhà thơ già dẫu có “gào” khô cả môi cũng không ai thấu, không ai hiểu, đành ngậm ngùi “chống gậy lòng ấm ức”. Nỗi xót xa hiển hiện ngay trong từng câu từng chữ càng khiến người đọc không kìn được cảm xúc. Xã hội tàn khốc, lòng người lạnh lẽo làm sao cứu vãn nổi. Và tác giả như trào ra sự căm tức và oán hận: Mở cõi nhà vua ý chưa bỏ Hiện thực chiến tranh tàn khốc đang phô bày ra trước mắt nhưng nhà vua nào đâu có thấu, có hiểu. Những năm tháng chinh phạt đã khiến cho cuộc sống của nhân dân thêm lầm than và rơi vào ngõ cụt không thể cứu vãn. Cảnh mưa gió ngày thu tàn phá căn nhà khiến cho Đỗ Phủ không thể chợp được mắt, thương vợ, thương con và thương chính bản thân mình: Từ trải cơn loạn ít ngủ nghê Đêm dài ướt át sao cho trót Câu thơ như cứa vào lòng người nỗi khắc khoải, xót xa cho một kiếp người, kiếp nghèo long đong lận đận. Nỗi đau đớn, tủi nhục của một người tài giỏi nhưng lận đận, tù tùng, cái nghèo cứ bám riết lấy. Ông tự trách bản thân mình vô dụng không thể đỡ dần, giúp đỡ cho vợ con. Đất nước chiến tranh loạn lạc, nhân dân lầm thân. Một bức tranh hiện thực xã hội trung hoa nhiều xót xa và nước mắt. Bằng ngòi bút chân thực, ông đã vẽ lên trước mắt người đọc hiện thực xã hội nhiều ám ảnh. Và rồi ông càng mong muốn, càng khát khao được ấm no và mong và nhân dân qua khỏi cơ cực, nhọc nhằn: Ước được nhà rộng muôn ngàn gian Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan Gió mưa chẳng núng vững vàng như thạch bàn Riêng lều ta nát chịu chết rét cũng được. Đây là một khổ thơ giàu giá trị nhân đạo, là tấm lòng cao cả, vị tha và đầy yêu thương của nhà thơ nghèo Đỗ Phủ dành cho nhân dân Trung Hoa.Niêm ao ước có căn nhà rộng “muôn ngàn gian” để giúp cho nhân dân đỡ lạnh, đỡ khổ trong những ngày mưa gió. Ước muốn nhỏ nhoi ấy đã nói lên tấm lòng yêu thương vô bờ bến của ông dành cho những người nghèo khổ như ông. Tuy nhiên điều đáng nói ở đây là ông không “ước’ cho mình, chỉ ước cho mọi người. Câu thơ cuối thực sự khiến người đọc nghẹn ngào: Riêng lều ta nát chịu chết rét cũng được Dù nghèo đói, dù cơ cực nhưng ông vẫn tràn đầy lòng vị tha. Dù chịu cánh “chết rét” ông cũng can tâm để mang lại cuộc sống ấm no cho nhân dân. Bài thơ “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” của Đỗ Phủ đã phản ánh được hiện thực của xã hội Trung Quốc thời bấy giờ, đồng thấy người đọc thấy được tấm lòng nhân ái, vị tha của ông đối với cuộc đời, với mọi người.
Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” của Đỗ Phủ
919
Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Chí Phèo Hướng dẫn Tiếng thét gào bất lực của con người trong đêm trường đau khổ qua câu chuyện cuộc đời Chí Phèo Truyện ngắn Chí phèo là một trong những tác phẩm nổi bậc nhất viết về đề tài người nông dân Việt Nam trước Cách mạmg. Tác phẩm có giá trị phản ánh hiện thực và giá trị nhân đạo hết sức to lớn. Một góc nhìn khác biệt về hiện thực cuộc sống giúp Nam Cao phát hiện và kịp thời ời phản ánh chân thực xã hội Việt Nam trong đêm trước Cách mạng. Giá trị hiện thực của truyện ngắn Chí Phèo Tác phẩm phản ánh những mâu thuẫn, xung đột gay gắt ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám trên bình diện rộng lớn và tầm khát quát lớn hơn. Trước hết là mâu thuẫn giữa nội bộ giai cấp thống trị ở cấp làng xã. Cụ thể là mâu thuẫn sống còn giữa phe cánh Bá Kiến và những kẻ có thế lực khác. Tại làng Vũ Đại – một mảnh đất “quần ngư tranh thực”, các phe nhóm tìm cách thanh trừng lẫn nhau. Chúng lún nhau xuống bùn và luôn ra sức tác oai tác oái. Chúng không trừ bất kì thủ đoạn nào để có thể hạ bệ lẫn nhau. Càng xung đột, chúng lại càng mạnh lên vì không ngừng tăng cường lực lượng và sức mạnh của mình để sinh tồn. Điều đáng nói là chính mâu thuẫn gay gắt giữa hai phe là nguyên nhân trực tiếp gây ra tai ương cho những người dân lương thiện. Tiếp đến là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp nông dân. Đây là mâu thuẫn xã hội quyết liệt nhất. Tiêu biểu cho giai cấp thống trị là nhân vật Bá Kiến. Bá Kiến hội tụ đủ những điều xấu xa và tàn bạo của một kẻ thống trị điển hình. Lão không những gian manh mà còn xằng bậy hết sức. Lão không những tàn bạo, độc đoán mà còn hết sức khôn ngoan, quỷ quyệt. Đây là một góc nhìn sâu sắc của nhà văn về giai cấp thống trị trong xã hội. Bá Kiến khác với một số nhân vật khác như Nghị Quế (trong Tắt đền – Ngô Tất Tố) hay Nghị Lại (trong Bước đường cùng – Nguyễn Công Hoan ), dù có tham lam nhưng không xảo trá. Bá Kiến giỏi che đậy. Lão sinh ra trong gia đình sáu đời làm lý trưởng. Lão giỏi trong việc trị dân. Trời phú cho lão cái giọng quát rất sang và nụ cười Tào Tháo. Trong phép trị người, lão có phương sách thống trị hẳn hoi: mềm nắn rắn buông, túm thằng có tóc chứ không túm thằng trọc đầu, lấy thằng đầu bò trị thằng đầu bò, dùng thằng liều trị thằng liều. Lão lại hết sức khôn ngoan, lọc lõi róc đời. Lão tìm mọi cách đẩy người khác xuống nước rồi giả vờ vớt lên. Hãm hại người ta nhưng cuối cùng lại để người ta mang ơn mà làm việc cho lão. Từ tội nhân mà lão biến thành ân nhân. Còn nạn nhân thì biến thành tội nhân phải ghi ơn cứu vớt của lão. Thật là cách đối nhân xử thế thâm hiểm vô cùng. Chí Phèo tiêu biểu cho số phận người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Chí Phèo vốn là người nông dân lương thiện nhưng xui rủi bị đẩy vào con đường tha hóa để rồi bị loại ra khỏi xã hội loài người và khi thức tỉnh lương tâm phải chết một cách thảm khốc. Nam Cao cũng phát hiện ra mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị thực dân và giai cấp nông dân là mâu thuẫn không thể điều hòa được. Giai cấp thống trị với tham vọng vơ vét thật nhiều tài sản và không ngừng đàn áp nông dân để củng có quyền thống trị của mình. Còn giai cấp nông dân trong cảnh sống bức bối, ngột ngạt không ngừng phản kháng mãnh liệt. Đó là một quy luật tất yếu của xã hôi. Hễ còn xã hội bất công, vô nhân đạo thì vẫn còn hiện tượng Chí Phèo. Hay rộng hơn là hiện tượng người thiện lương bị tha hóa rồi phải chết một cách thê thảm. Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Chí Phèo Chí Phèo là một bài ca cảm động về tình yêu thương con người Qua cuộc đời và số phận đầy bi thảm của nhân vật Chí Phèo, Nam Cao thể hiện sâu sắc tình yêu thương vô hạn của mình đối với những số phận khổ đau trong cuộc đời. Dù xuyên suốt tác phẩm chỉ là một giọng kể khách quan sắc lạnh. Nhưng ẩn sâu trong đó là một nỗi đau và niềm thương sót đối với bi kịch con người bị tước đoạt cả quyền được sống và quyền được làm người một cách chính đáng. Đó là nỗi đâu về hiện trạng con người bị chà đạp, bị hủy hoại cả nhân hình lẫn nhân tính. Từ tư cách con người phải sống như một con vật vô tri và đơn độc. Không những ở nhân vật Chí Phèo, cả nhân vật Thị Nở cũng là một thành công của Nam Cao. Bên trong con người đàn bà xấu xí đến “ma chê quỷ hờn” kia lại có một sự cảm thông cao quý mà những người bình thường, đẹp đẽ khác không có được. Trong người đàn bà ngờ nghệch, dở dở ương ương ấy lại có một tình yêu thánh thiện, vô tư đến thế. Có lẽ, chỉ có một tría tim không toan tính như Thị Nở mới thấu hiểu, mới không sợ hãi, thù ghét, mới có thể cảm hóa được con quỷ tàn bạo trong con người Chí Phèo. Chí Phèo là một bản cáo trạng đanh thép xã hội bất nhân đã chà đạp lên nhân phẩm con người, đẩy người nông dân hiền lành vào bước đường cùng không lối thoát. Chính cái xã hội vô nhân đạo và giai cấp thống trị bất nhân ấy đẩy những người nông dân lương thiện vào con đường tha hóa, biến dạng đến khủng khiếp. Bá kiến là một đại diện điển hình và hết sức sinh động cho cái xã hội “chó đểu” ấy. Hằng ngày, hắn cưỡng đoạt, cướp bóc, vun vét cho thật đầy túi tham của hắn. Ghét ai thì hắn làm cho điêu đứng. Thâm hiểm nhất là cái mưu trị người của hắn. Hắn âm thầm xô cho người ta ngã rồi đưa tây đỡ họ dậy để họ phải mang ơn. Mấy thằng cứng đầu không trị được thì hắn dùng, lấy “đầu bò trị mấy thằng đầu bò”. Quả thực, hắn là tên cáo già thâm hiểm, xảo quyệt và gian manh lừng lẫy. Bảy, tám năm sau hắn trở về làng, cái anh Chí hiền lành ngày xưa giờ không còn nữa. Hắn trở nên thô lỗ, ngang ngược và thích rạch mặt ăn vạ như bao kẻ côn đồ khác. Lần thứ nhất, Chí Phèo bị tước đoạt quyền sống và quyền làm người một cách trắng trợn và tàn bạo. Trong lòng Chí Phèo chất chứa hận thù. Nhưng hắn không thể nhận ra ai mới là kẻ thù đích thực của mình. Thế nên hắn mới chửi mọi thứ có liên quan tới hắn và hi vọng trong đó có cả kẻ thù của mình. Đó là một sự phản kháng mù quáng và tuyệt vọng của người nông dân trong bóng tối cuộc đời. Họ quá khổ nhưng không biết vì sao họ khổ, ai làm họ khổ? Lần thứ hai, khi tình yêu của Thị Nở đánh thức lương tri và khát vọng sống lương thiện của hắn trong chuỗi ngày say sỉn, Chí Phèo lại bị cướp mất đi cơ hội duy nhất. Thị Nở rời đi, cánh cửa bước vào cuộc đời đóng sầm lại trước mắt. Hắn rơi vào tuyệt vọng cùng cực. Trong phẫn uất, Chí nhận ra cái nguyên nhân đích thực gây nên bi kịch cho cuộc đời hắn. Đó chính là Bá Kiến. Và một kết cục bi thảm đã xảy ra như một quy luật tất yếu. Chí Phèo cầm dao đâm chết Bá Kiến rồi tự vẫn sau đó. Hắn chết trước ngưỡng cửa bước vào cuộc đời. Hình tượng nhân vật Chí Phèo là một minh chứng sinh động cho cái hiện thực tàn khốc của xã hội Việt Nam trước Cách mạng. Muốn tồn tại bằng nhân hình thì nhân tính mất đi, phải bán đi linh hồn của mình để tồn tại. Một khi nhân tính trở về thì nó không thể chấp nhận cái nhân hình ấy. Nó cự tuyệt, nó xua đuổi một cách quyết liệt. Cái chết của Chí Phèo là tất yếu, không thể khác được. Tác phẩm trân trọng, khẳng định và đề cao những phẩm chất tốt đẹp của con người Dù sống trong bối cảnh ngột ngạt nhưng bản chất lương thiện vẫn tiềm tàng trong những con người nghèo khổ. Xã hội dù khô héo tình người nhưng nhân tính trong Chí vẫn chưa cạn. Chí khóc khi được ăn cháo hành của thị Nở chính là minh chứng sinh động cho bản chất lương thiện trỗi dậy của y. Chí trở lại lương thiện bằng nước mắt. Tình thương của thị giúp bản tính thiện lương của Chí hiện hình. Rồi Chí lại khóc khi không níu kéo được Thị Nở ở lại. Một khi còn biết khóc, còn biết sợ hãi thì cái nhan tính con người hãy còn đó. Chính Thị Nở là phát hiện lớn nhất về Chí Phèo của nhà văn Nam Cao. Thị dở hơi, đần độn. Người đàn bà ấy là sản phẩm không hoàn thiện của tạo hóa nhưng ở thị có cái mà cả một xã hội lạnh lùng kia không có: ấy chính là tình thương. Tình thương của thị đánh thức lương tâm Chí, cứu vớt số phận Chí. Chính thị đã mang đến cho Chí cuộc sống đúng nghĩa một kiếp người, dù chỉ có năm ngày ngắn ngủi. Sự thức tỉnh lương tâm của con người lầm lỗi là nguồn cội của sức mạnh phản kháng quyết liệt, dữ dội như vũ bão. Cái chết của Chí chính là sự chiến thắng của lương tâm. Chí Phèo gắng gượng về với xã hội con người. Hắn đã rất cố gắng. Chỉ cần mở được cánh cửa là trở về. Nhưng nó lại đóng sầm lại trước mặt Chí. Nếu Chí không chết, Chí lại sẽ trở về cuộc sống của loài quỹ dữ. Chí chết trên ngưỡng cửa trở về với xã hội loài người. Sự thức tỉnh khiến y nhận ra được giá trị của sự lương thiện, thà chọn cái chết còn hơn là quay về cuộc sống loài quỹ, loài thú như trước đây. Tác phẩm Chí Phèo đặt ra một câu hỏi lớn: làm sao để con người được sống trong lương thiện? Ai cũng muốn sống lương thiện. Đó không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền lợi chính đáng của con người. Nhưng trong xã hội tàn bạo ấy, họ không thể có được một cuộc sống yên ổn như chính bản chất của họ. Bá Kiến và những phe cánh đối địch liên tiếp gây nên những nghịch cảnh đớn đau đối với người nông dân. Không chỉ Chí Phèo bị tha hóa, mà trước đó đã có những Binh Chức, Binh Thọ, Tư Lãng,… Một khi còn có những tên như Bá Kiến thì vẫn xuất hiện những người như Chí Phèo. Bởi thế, tìm kiếm sự lương thiện trong xã hội đen tối ấy quả thực còn khó hơn cả cái chết. Qua tác phẩm, Nam Cao đã chỉ ra, hãy ngăn chặn xã hội vô nhân đạo làm tha hóa con người là phải thay đổi, cải tạo xã hội để nó nhân đạo hơn. Chỉ khi đó lương thiện mới được xác lập.
Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Chí Phèo
2,032
Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong Vợ nhặt của Kim Lân Hướng dẫn Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong Vợ nhặt của Kim Lân Bài làm Người ta thường nói nghèo thường đi đôi với hèn. Nhưng khi đến với truyện ngắn “vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân, ta sẽ hiểu vẫn có những con người đã sống rất thanh cao, rất lương thiện trong cái đói khủng khiếp với cái nghèo bần cùng. Không những thế, tác phẩm còn ẩn chứa giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo vô cùng sâu sắc mà Kim Lân đã gửi gắm vào đó. Bản thân ông cũng là một người được sinh ra và lớn lên trong cảnh nghèo khổ, nên hơn ai hết, ông hiểu rất rõ sự kham khổ của mọi người. Vì thế, trong những trang văn của ông vẫn thường thấp thoáng bóng dáng của những người nông dân tuy sống khắc khổ nhưng tấm lòng trong sạch. Trong tác phẩm “Vợ nhặt” cũng vậy, Kim Lân cũng viết về cuộc sống cùng cực của vùng quê nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Khi đó, người sống và người chết xuất hiện lẫn lộn nhau. Người chết như ngả rạ, còn người sống dật dờ lang thang như những hồn ma. Kim Lân miêu tả rất chi tiết: những cái thây nằm còng queo bên đường, không khí vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người, xóm chợ về chiều xơ xác hắt hiu, hai bên dãy phố úp sụp tối om không nhà nào có ánh đèn ánh lửa. tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết… Cảnh đói được nhà văn miêu tả lại quá thê lương và xót xa. Chỉ qua một vài hình ảnh, người đọc cũng có thể hình dung ra ngay trước mắt mình cảnh những người chết đói nằm rải rác ngoài đường ngoài chợ, người ta không cả nghĩ đến chuyện chôn cất, ma chay. Cái đói còn làm cho người ta không dám nghĩ đến chuyện dựng vợ, gả chồng. Khiến cho Tràng – một người cùng khổ trong nạn đói ấy phải “nhặt” vợ. Trong bữa cơm ngày đầu của gia đình mới lẽ ra là một mâm cơm dù không thịnh soạn thì chí ít cũng có đẩy đủ chút cơm rau dưa muối. Nhưng không, không cơm, không rau, cũng chẳng dưa cà dưa muối. Bữa cơm ngày đói chỉ có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo. Mỗi người chỉ ăn được hai lưng bát là hết sạch. Mẹ Tràng phải mang cháo cám ra cho cả nhà ăn. Nồi cháo cám đắng xít nhưng lại trở thành một thứ đồ ăn hiếm có. Tất cả những điều trên đã làm nên giá trị hiện thực sâu sắc cho tác phẩm. Thế nhưng, giữa cảnh đói thê lương ấy, tình người và niềm ước mong hạnh phúc vẫn luôn rực sáng trong lòng mỗi người. Đây chính là giá trị nhân đạo rất lớn mà tác phẩm đã mang lại cho người đọc. Giữa những cái xác ven đường, giữa những người đói dật dờ như những bóng ma, Tràng và thị lại dắt díu nhau về. Có lẽ sự kiện này có điều gì đó rất nghịch lý. Ngay chính bản thân Tràng cũng chợn nghĩ ở cái thời buổi này đến bản thân mình còn không biết có lo nổi không mà còn đèo bòng. Nhưng rồi, Tràng vẫn bước qua mọi lo lắng, thậm chí là sự sợ hãi, Tràng chậc kệ một cái và cùng thị bước tiếp trong sự ngỡ ngàng của mọi người. Cuộc “nhặt” vợ chóng vánh đầy hài hước và rất ngẫu nhiên của Tràng tưởng như một chuyện đùa nhưng lại chính là điểm mấu chốt thể hiện niềm tin yêu vào cuộc sống, tin rằng ngày mai cuộc đời sẽ tươi sáng hơn, bớt khổ hơn. Hơn thế nữa, sự kiện này còn thể hiện tình thương yêu, niềm đồng cảm lớn lao giữa những con người cùng khổ. Đúng như câu tục ngữ lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều. Chỉ có điều trong cái xã hội này, có lẽ ai cũng rách như ai. Hai con người cùng chung một số phận nghèo nàn đói khổ, dắt nhau về dù chưa hề có dự tính gì cho tương lai. Trước mắt họ vẫn chỉ là những xác chết ngổn ngang, những bóng người đói dật dờ. Họ thật can đảm, hay nói một cách khác là quá liều lĩnh. Bởi trong lúc đói khổ như thế này, có được miếng ăn đã là một việc lớn lao lắm rồi. Vậy mà họ còn lấy vợ, lấy chồng – một việc quá lớn lao, quá sức tưởng tượng của mọi người. Nhưng dù sao, điều này cũng khiến cho những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rõ hẳn lên. Có cái gì đó lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ. Người dân càng khổ cực bao nhiêu thì lòng căm phẫn của họ dành cho bọn đế quốc càng sâu sắc bấy nhiêu. Trước sau gì bọn chúng cũng sẽ phải trả giá. Đó là một quy luật tất yếu: có áp bức ắt có đấu tranh. Và đấu tranh vì chính nghĩa vẫn luôn luôn giành thắng lợi. Như vậy, với giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc, tác phẩm đã gieo vào lòng những đọc sự xót xa, đồng cảm cho những kiếp nghèo cùng cực. Đồng thời cổ vũ họ hãy đoàn kết lại rồi tự đứng lên giải phóng cho cuộc đời mình. Kim Lân đã rất thành công khi xây dựng nên câu truyện hấp dẫn này. Cho đến nay, tác phẩm vẫn còn nguyên giá trị. Nguồn: Tài liệu trực tuyến
Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong Vợ nhặt của Kim Lân
1,008
Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong Vợ nhặt Hướng dẫn Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong Vợ nhặt Kim Lân là một nhà văn tài năng và đặc biệt ông bén duyên với những tác phẩm mang tính chất rất giản dị đặc biệt là các tác phẩm về những số phận khó khăn. Tác phẩm “Vợ nhặt “ là một trong số những tác phẩm tiêu biểu mà trong đó tác giả đưa ra cho ta những cách nhìn rất chân thực về người nông dân trong cảnh đói nghèo,tù túng. Tác phẩm đã thể hiện rát rõ hai giá trị,giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực rất sâu sắc. Với tư cách là một nhà văn của nông thôn, Kim Lân là người rất hiểu người nông dân, lại là người trong cuộc của cái nạn đói khủng khiếp này, Vợ nhặt được tái hiện là một bức tranh cô đọng mà đầy đủ, khái quát mà cụ thể, khắc sâu thành ấn tượng rõ nét. Qua tác phẩm ta có thể thấy bức tranh toàn cảnh về nạn đói khủng khiếp năm 1945 với cảnh người đói “bồng bế, dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ”, “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”, và sau đó là “người chết như ngả rạ”, “thây nằm còng queo bên đường”, “không khí vẩn lên mùi gây của xác người”, rồi “mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt” và “tiếng hờ khóc tỉ tê trong đêm khuya”…như thế cái đói đó đã tràn đến xóm ngụ cư, ùa vào gia đình anh Tràng, bủa vây và đe dọa số phận từng con người, không trừ một ai. Vợ nhặt của Kim Lân còn là niềm khát khao tới cháy bỏng với tổ ấm gia đình trọn ven. Niềm khát khao tổ ấm gia đình được thể hiện chân thực và có chiều sâu qua tâm trạng nhân vật Tràng: từ trên bờ vực thẳm của cái chết, họ đã dám khát khao đến tổ ấm gia đình, đến một cuộc sống đích thực và cao đẹp của con người. Cho nên, tuy “chợn” khi nghĩ “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”, nhưng Tràng vẫn “Chậc, kệ!” và dẫn vợ về nhà. Trong tác phẩm Vợ nhặt “Anh vừa xấu hổ lại vừa tự hào khi đưa vợ đi qua xóm ngụ cư, bởi vì có “một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy” dâng lên “ôm ấp, mơn man khắp da thịt..,”; và nhất là, trong buổi sáng đầu tiên khi có vợ, Tràng thấy cuộc đời mình bỗng nhiên thay đổi hẳn: “Hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”, “một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”, “bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”. Đây là đoạn văn đầy cảm hứng nhân đạo với các nhân vật của ông. Chính vì yêu thương chính vì khát khao có một mái ấm gia đình nên con người ta biết quí trọng những thứ xung quanh hơn. Không những truyện thể hiện giá trị hiện thực mà còn là giá trị nhân đạo sâu sắc. ở đây chúng ta có thể nhận ra tình thương yêu giai cấp, sự cưu mang lẫn nhau của những người nghèo khổ được thể hiện rất cao đẹp và cảm động qua tấm lòng bà cụ Tứ đối với con trai và con dâu. Vượt lên tình thương con – nhất là đổi với người đàn bà lạ bỗng nhiên thành con dâu mới – đó là tình thương yêu giai cấp của những người nghèo khổ. Bà cụ tứ đã gọi thị là “con”, tôn trọng thị, nói chuyện thân mật với thị ngay đêm đầu gặp mặt. Và sáng hôm sau, bà cụ tứ cố tạo ra niềm vui cho con trai và con dâu vui. Trong tác phẩm” Chi tiết nồi cháo cám thật cảm động trong bữa cơm ngày đói đón dâu mới. Không chỉ là tấm lòng người mẹ thương con mà trong tình thương ấy còn có cả đức vị tha cao cả. Nguồn: Bài văn hay
Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong Vợ nhặt
744
Giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Caọ Hướng dẫn Giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Caọ Bài làm Chí Phèo trải qua biết bao thời gian đến nay vẫn là một tác phẩm được người đọc yêu thích. Nó không hấp dẫn bởi những lời hoa mĩ sáo rỗng, không cầu kì nhân vật mà chỉ với giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc Chí Phèo đã lôi cuốn biết bao nhiêu thế hệ bạn đọc. Quả thật nhà văn Nam Cao đã có công rất lớn trong việc phản ánh số phận người nông dân trong xã hội cũ. Là nhà văn trung thành với chủ nghĩa hiện thực, cũng như các cây bút tả chân đương thời, Nam Cao quan tâm trước hết tới việc đi sâu thể hiện tình cảnh khốn khổ của người nghèo bị áp bức, trong đó có Chí Phèo. Tác phẩm gây ấn tượng đậm nét về bức tranh đời sống xã hội nông thôn. Đó là hệ thống tôn ti trật tự của làng Vũ Đại; là ấn tượng về tình trạng khép kín của làng xã phong kiến. Đặc biệt nó đã phơi bày các mối quan hệ xã hội phức tạp của hiện thực, đã miêu tả trung thực những quan hệ thực (Ăng-ghen). Đồng thời là tình thương đối với những con người bị xã hội đẩy vào con đường tha hóa, bị hắt hùi… Đó chính là giá trị hiện thực và nhân đạo của Chí Phèo Hẳn ai cũng biết đến tác phẩm nổi tiếng của ông đó chính là Chí Phèo, vẫn là một đề tài về người nông dân trong xã hội phong kiến thế nhưng Nam Cao không đi khám phá nhân vật về cuộc sống nghèo khooe phải bán chó bán con mà nhà văn nói về những số phận nông dân bị tước đoạt quyền làm người. Đặc biệt qua truyện ngắn này ta thấy được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm.Trước hết là giá trị hiện thực, vậy giá trị hiện thực là gì?. Có thể tạm định nghĩa là giá trị nói lên những bộ mặt hiện thực của cuộc sống mà từ đó khi nhìn vào đấy người ta biết rằng hiện thực nước ta lúc bấy giờ phải sống như thế nào. Chính vì thế nhà văn hiện thực Nam Cao đã xây dựng nhân vật Chí Phèo để từ một con số không tròn trĩnh để từ đó ta thấy được những bi kịch mà xã hội phong kiến thực dân đã gây nên cho một người dân lương thiện hiền lành.Giá trị hiện thực trong truyện ngắn đó là phản ảnh quy luật ở nước ta thời Pháp thuộc, người dân lương thiện bị xã hội xô đẩy vào con đường cùng trở thành lưu manh hóa bần cùng hóa, thành một con quỷ dữ và không thể quay trở lại làm người được nữa. Tất cả những điều nói trên được thể hiện rõ qua cuộc đời đầy những đau thương bi kịch của nhân vật Chí Phèo. Nam Cao đã xây dựng hình tượng điển hình về giai cấp thống trị ở nông thôn: Bá Kiến – lão cường hào cáo già với giọng quát rất sang, cái cười Tào Tháo cho thấy bản chất gian hùng, khôn róc đời. Và tư cách nhem nhuốc của cụ tiên chỉ thói ghen tuông. Bá Kiến nghiền ngẫm về nghề thông trị, rút ra phương châm: mềm nắn, rắn buông, bám thằng có tóc, ai bám thằng trọc đầu, thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ nhì sợ kẻ cố cùng liều thân… Với chính sách: lấy thằng đầu bò trị thằng đầu bò, thu dụng những thằng bạt mạng, không sợ chết, không sợ đi tù. Giữa lúc cả làng Vũ Đại không chấp nhận giao tiếp, xem Chí như quỷ dữ, thì một người đàn bà thuộc dòng giống ma hủi, xấu đến ma chê quỷ hờn lại có tấm lòng vàng, thấy Chí hiền lành, Thị Nở chính là chiếc cầu nối đưa Chí ở đáy sâu của sự tha hóa thức tỉnh bản chất người lao động. Bằng sự chăm sóc giản dị, tình yêu thương mộc mạc mà chân thành của người đàn bà khốn khổ đã khơi dậy linh hồn Chí Phèo. Chí nghe thấy những âm thanh cuộc sống thường ngày mà bấy lâu nay vùi trong những cơn say nên Chí không biết đến. Nó vang động sâu xa trong lòng Chí, trở thành tiếng gọi cuộc sống khẩn thiết, làm Chí nhớ đến ước mơ nho nhỏ ngày xưa. Có lẽ đây là lần đầu tiên sau bao nhiêu năm Chí tỉnh táo để tự ý thức về thân phận. Giá trị nhân đạo còn thể hiện ở tấn bi kịch tinh thần của Chí Phèo: bi kịch của con người bị từ chối không được làm người. Khi hiểu ra xã hội không công nhận mình, bà cô Thị Nở – định kiến xã hội đã không chấp nhận cho cháu bà đến với Chí. Đó chẳng phải là bản chất tốt đẹp bấy lâu nay của Chí, và anh đang hướng đến một tương lai tươi sáng hay sao?. Chí muốn làm hòa với mọi người và từ đó phần người trong Chí được trỗi dậy. Ngay đến khi cái kết cục thảm khốc kia Chí vẫn cứ khẳng định sự thức tỉnh và đòi quyền làm người của mình. Giá trị nhân đạo là ở đấy. Nguồn: Bài văn hay
Giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Caọ
943
Giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ Hướng dẫn Giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ Tây Bắc – mảnh đất đau thương mà anh dũng, đẫm nước mắt tủi hờn mà vời vời chất thơ. Tây bắc – “mảnh đất để thương để nhớ cho tôi nhiều quá”. Đó là những lời tri ân sâu sắc của nhà văn Tô Hoài dành cho Tây Bắc sau chuyến đi bộ đội giải phóng ở nơi này. Và cũng từ đó, “Vợ chồng A Phủ” (trích trong Truyện Tây Bắc) được ra đời. Tác phẩm đã ghi lại một cách chân thực nhất về cuộc sống của những con người nơi đây, đồng thời thấm đượm giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo mà Tô Hoài đã thể hiện trong đó. Cả cuộc đời Tô Hoài đã dành hơn sáu thập kỷ cho sáng tác nghệ thuật. Với ông, một khi đã viết văn là phải viết một cách chân thực nhất, dù cho sự thật có phũ phàng đến thế nào, có phá vỡ cả những nét đẹp của thần tượng trong lòng người đọc thì cũng phải tôn trọng sự thật. Bởi thế, Vợ chồng A Phủ đã trở thành một bức khắc họa rõ nét về cuộc sống khổ đau, cam chịu của những người nông dân lầm lũi sống dưới cường quyền áp bức bọc lột. Nhưng đồng thời, nhà văn cũng đã thể hiện niềm tin chiến thắng vào những con người yêu cuộc sống, khát vọng tự do dù có bị trà đạp đến thế nào đi nữa. Giá trị hiện thực và nhân đạo đã được Tô Hoài thể hiện rất sâu sắc qua những trang văn chân thực trong tác phẩm. Giá trị hiện thực ở đây được thấy rất rõ qua Mị, qua A Phủ, qua những thói đàn áp, ngang ngược của bọn cường quyền ác độc. Ngay từ những câu văn mở đầu, Tô Hoài đã để Mị xuất hiện như một cái xác không hồn: Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Tác giả cũng không quên kể về những công việc nhàm chán lặp đi lặp lại hàng ngày của Mị. Mị phải về làm dâu nhà thống lý để trừ nợ cho cha mẹ. Cha mẹ Mị lúc cưới không có tiền nên phải vay nhà hắn. Năm nào cũng trả nợ mà vẫn không hết nợ. Đến khi Mị lớn, nợ cũng vẫn chưa trả được hết. Bố Mị đành phải gượng ép gả Mị cho nhà thống lý để được hắn xóa nợ. Mị đã từng nghĩ đến cái chết nhưng nếu chết bố Mị còn khổ hơn bây giờ gấp trăm gấp nghìn lần nên Mị không dám chết nữa. Mị cam chịu. Như vậy, bọn cường quyền, đại diện ở đây là thống lý đã ép Mị, ép bố mẹ Mị, ép những người nông dân đến bước đường cùng, đến ngay cả cái chết họ cũng không được quyền lựa chọn. Mị vốn là một cô gái trẻ đẹp có sức sống tiềm tàng, đầy khát vọng tự do và bao hoài bão đẹp cho tương lai phía trước, nhưng tất cả đã bị vùi dập, bị trà đạp bởi sự tàn nhẫn của thống lý, của những người cầm quyền như thống lý. Trên danh nghĩa là làm dâu nhưng thực chất là làm người ở, làm nô lệ. Mị tưởng mình là con trâu, con bò làm suốt đêm, suốt tháng, suốt năm. Trái tim Mị trai lì, Mị quên mất cả cái ý thức về sự sống và cái chết. Mị bị giam cầm trong cái cường quyền áp bức. Có lẽ, cuộc đời Mị cũng mờ mờ ảo ào như cái lỗ bé bằng bàn tay ở phòng Mị, mỗi lần nhìn ra chỉ thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng. Tuy nhiên, dù ở trong hoàn cảnh bị áp bức ấy, dù phải sống giữa sự nhơ bẩn, trái tim Mị tưởng chừng như đã chết bỗng được hồi sinh trong đêm tình mùa xuân. Nhà văn đã dành những lời ngợi ca, những câu chữ đầy ưu ái dành cho Mị. Mị uống rượu. Men rượu đã đưa Mị về với những ngày tháng đầy tươi đẹp khi chưa về nhà thống lý làm dâu. Mị say. Say nhưng là tỉnh. Tiếng sáo, tiếng hát thiết tha bồi hồi làm tim Mị xao xuyến. Mị chợt nhận ra sự thật nghiệt ngã của cuộc đời mình hiện diện ngay trước mắt. Mị muốn chết. Chỉ có có chết mới có thể giải thoát Mị. Như vậy, giá trị hiện thực của tác phẩm đã thể hiện rất chân thực những khổ đau, những cam chịu của người nông dân lầm lũi, vất vả qua nhân vật Mị và A Phủ. Qua đó, lên án bọn cường quyền đã áp bức bóc lột người dân lao động, đã đẩy họ vào bước đường cùng đến nỗi không cả có quyền lựa chọn cái chết. Nhưng ở Mị và A Phủ còn toát lên giá trị nhân đạo đầy nhân văn, sâu sắc. Tô Hoài đã trao trọn niềm tin cho người con gái bạc mệnh ấy về một ngày mai tươi sáng. Trong Mị, sự sống vẫn âm thầm nhen nhóm. Đêm nào, Mị cũng trở dậy thổi lửa để sưởi. Dù có đêm bị A Sử đạp ngã ngay xuống cửa bếp cũng chẳng có ý nghĩa gì với Mị. Mị vẫn trở dậy, vẫn nhóm lửa, ngọn lửa của sự sáng, của sự hi vọng. Và rồi, cái đêm định mệnh cũng đến. Mị quyết định cởi dây trói cho A Phủ. Mị nghĩ nếu ở đây, dần dần Mị cũng chết, nếu nhà thống lý phát hiện Mị thả A Phủ, Mị cũng sẽ phải chết. Đằng nào cũng chết. Mà cái chết giờ đây chẳng còn nghĩa lý gì với một người đã phải cam chịu quá nhiều như Mị. Đoạn kết, Mị và A Phủ trở thành vợ chồng, họ tham gia vào chiến dịch đấu tranh chống lại phong kiến, chống lại cường quyền, áp bức. Như vậy, cả Mị và A Phủ từ thân phận nô lệ, bị phụ thuộc đã đứng dậy đấu tranh làm chủ cuộc đời mình. Hay như cách nói của Chế Lan Viên thì họ đã đi từ thung lũng đau thương đến cánh đồng bất tận. Hình ảnh Mị và A Phủ thật đẹp, đẹp từ cả hình thể đến nhân cách. Như vậy, giá trị hiện thực và nhân đạo đã được Tô Hoài thể hiện rất thành công qua hai nhân vật chính A Phủ và Mị. Nhà văn vừa cảm thông, xót thương cho những số phận phải chịu cảnh đời ngang trái, vừa ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp bền bỉ trong họ. Đồng thời, qua đó Tô Hoài đã chĩa thẳng ngòi bút vào thế lực cường quyền áp bức bóc lột, đã trao niềm tin, trao hi vọng cho người nông dân đứng lên tự giải phóng chính mình. Và rồi, tất nhiên chiến thắng luôn dành cho cái thiện, cho chính nghĩa.
Giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ
1,229
Giá trị hiện thực và nhân đạo trong Vợ chồng A Phủ Hướng dẫn Giá trị hiện thực và nhân đạo trong Vợ chồng A Phủ Nguyễn Minh Châu với tác phẩm tiêu biểu cho cả phong cách lẫn nghệ thuật là “Chiếc thuyền ngoài xa” – đây là tác giả thuộc trong số những nhà văn mở đường tài năng, tinh anh nhất cho văn học nước ta hiện nay. Quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật chuyển từ cảm hứng sử thi lãng mạn sang cảm hứng thế sự đời thường đã được thể hiện rõ ở “Chiếc thuyền ngoài xa”. Nhân vật Phùng là một người quý trọng và say mê nghề nghiệp nhiếp ảnh của mình, anh được trưởng phòng giao nhiệm vụ chụp một bức ảnh thuyền và biển trong sương mù vào giữa tháng bảy để in trong bộ lịch năm sau. Chính vì muốn tìm tới những điều mới lạ và đẹp đẽ cho nên Phùng đã tìm về vùng ven biển miền Trung nơi chiến trường xưa. Phùng còn là người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, yêu tha thiết cái đẹp. Trước vẻ đẹp toàn bích của cảnh vật, tâm hồn người nghệ sĩ trở nên khó tả: “tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì đó bóp thắt vào…tôi tưởng như chính mình vừa tham gia vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn. Trong giờ phút thăng hoa cùng cái đẹp anh cảm nhận cái đẹp chính là đạo đức”. Là người yêu cái đẹp khi mà được chứng kiến được chạm vào vẻ đẹp ấy thì quả là một điều tuyệt vời khó có thể diễn tả nổi Là người từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người. Anh vẫn giữ quan điểm từ thời chiến tranh “cái xấu ắt là từ phía địch”, vì thế anh đã ngộ nhận “gã đàn ông vũ phu kia hẳn là từng đi lính ngụy”, rồi đặt ra một câu hỏi “ lão ta trước hồi 75 có đi lính ngụy không?”, Anh cho rằng hành động của anh là hành động của một người anh hùng “ tôi nện hắn ta bằng tay không nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay của một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay của một người lính đã từng mười năm cầm súng”.. Hình ảnh người đàn bà hàng chài không có tên,một người vô danh như biết bao người đàn bà vùng biển khác.Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu,bao dung,giàu đức hi sinh.người đàn bà ấy thật đáng cảm thông trân trọng sâu sắc chính bởi vì đức bao dung chịu thương chịu khó của người..Chồng của bà la 1 người đàn ông trước kia là một “anh con trai cục tính nhưng hiền lành” nay là một người chồng độc ác. Ông vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ,vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho chính những người thân của mình. Với lời kể tự nhiên và giống như tác giả cũng đang là người chứng kiến tất cả những cảnh đó cho nên những cảnh và cảm xúc tới với độc giả thật tự nhiên và đầy những nghệ thuật điển hình giúp tác phẩm ngày một thành công và giàu ý nghĩa hơn.Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” thể hiện một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người:một cách nhìn đa dạng nhiều chiều,phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. Đồng thời tác phẩm in đậm phong cách tự sự-triết lí của Nguyễn Minh Châu: với cách khắc họa nhân vật,xây dựng cốt truyện độc đáo và sáng tạo.
Giá trị hiện thực và nhân đạo trong Vợ chồng A Phủ
656
Giá trị lịch sử và giá trị văn chương của bản Tuyên ngôn độc lập ( Hồ Chí Minh) Hướng dẫn Đề bài: Anh chị hãy phân tích giá trị lịch sử và giá trị văn chương trong tác phẩm “Bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh” I/ Mở bài: II/ Thân bài Nêu khái quát suy nghĩ của mình: _ Một tác phẩm văn học thường gắn với số phận của một cá nhân nào đó. Nhưng những áng thiên cổ hùng văn lại gắn liền với số phận của cả một dân tộc một quốc gia. Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là một tác phẩm như thế. _ Sau 80 năm quất khởi đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân ta lại ca khúc khải hoàn: Độc lập tự do. Tác phẩm không chỉ ghi dấu một thời hào hùng của lịch sử dân tộc mà còn tác động mạnh mẽ đến tâm trí muôn triệu người đọc, người nghe _ Nên cho rằng “ Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị lịch sử to lớn mà còn là một tác phẩm văn chương mẫu mực…” là rất chí lí ( đồng tình ) Phân tích và chứng minh làm sáng tỏ suy nghĩ trên 1/ Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh có giá trị lịch sử to lớn: a/ nó ra đời trong không khí và thời điểm trọng đại đối với vận mệnh của một dân tộc, lại được người con ú tú nhất của dân tộc ấy đại diện nói lên ý chí và khát vọng của đất nước mình – Sau bao nhiêu năm vùng lên phá bỏ xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp, ngày 19/8/45, chính quyền ở Hà Nội đã về tay nhân dân. Và ngày 26/8 Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn nhà 48 Hàng Ngang nNgười soản thảo Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 2/9/45, tại quảng trường Ba Đình Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước 50 vạn quốc dân đồng bào. – Đó là áng văn mở nước của thời đại cách mạng vô sản, mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc: kỉ nguyên độc lập tự do b/ Nó thực sự là một văn kiện lịch sử to lớn: – Khái quát đầy đủ, toàn diện về lịch sử Việt Nam của hơn 80 năm trước ngày Độc lập “…Hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa” – Chi tiết (thật ) cụ thể điển hình: “Trước ngày 9/3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Yhậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”. – Hồ Chí Minh đã phân tích thế cuộc trong và ngoài nước một cách sắc sảo và dự báo những gì sẽ diễn ra sau đó Khi đặt bút viết tác phẩm này, đối tượng hướng tới của Bác không chỉ là nhân dân trong nước, nhân dân thế giới và công luận quốc tế mà còn là trùng vây đế quốc Anh, Pháp Mĩ và bè lũ phản độngTrung Hoa Quốc dân đảng – những kẻ đang tung ra trước dư luạn thế giới những luận điệu xảo trá… Bên cạnh nhiệm vụ tuyên bố độc lập, Bác còn lật tẩy bản chất xấu xa đê hèn và đập tan những luận điệu xảo trá nhằm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp. Trong phần mở đầu trang trọng của bản Tuyên ngôn Bác trích dẫn hai câu nói nổi tiếng trong hai bản tuyên ngôn nổi tiếng thế giới… nhằm cảnh tỉnh bọn có dã tâm xâm lược bằng chính lời răn dạy của tổ tiên cha ông chúng. Đó là sự mền dẻo của sách lược lạt mềm buộc chặt Với tầm nhìn của một nhà chiến lược 2/ Tuyên ngôn Độc lập còn là một tác phẩm văn chương mẫu mực mà ở tác phẩm ta cảm nhận được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận với chất văn chương mang tư tưởng lớn lao của thời đại mới. a/ Tuyên ngôn Độc lập là bài văn chính luận mẫu mực: – Sức thuyết phục mạnh mẽ được toát ra từ lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép tác động mạnh đến lí trí người đọc người nghe Nhiệm vụ của phần mở đầu của một bản tuyên ngôn là nêu nguyên lí chung làm cơ sở tư tưởng cho toàn bài. Để xác định cơ sở pháp lí cho bản tuyên ngôn của mình Bác đã mở đầu bằng cách trích dẫn 2 câu nói nổi tiếng trong hai bản tuyên ngôn nổi tiếng thế giới Bản Tuyên ngôn Độc Lập 1776 của Mĩ viết:“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra có quyền tự do và bình đẳng về quyền lợi. Và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. –>Bằng cách ấy, Bác không chỉ đặt cơ sở tư tưởng vững chắc cho bản Tuyên ngôn Độc lập mà còn khéo léo và kiên quyết khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc ta bằng chính những lời lẽ của người Pháp người Mĩ, dùng gậy ông đập lưng ông nhằm rung lên hôi chuông cảnh báo ngăn chặn âm mưu xâm lược của chúng –>Bằng cách mở đầu như thế, Bác đã đặt ba cuộc cách mạng ngang nhau, ba nền độc lập ngang nhau. Bác đã nâng tầm vóc văn hóa Việt Nam sánh ngang với ánh sáng văn minh thế giới Nét sáng tạo mới mẻ trong ngòi bút chính luận Hồ Chí Minh không chỉ ở việc trích dẫn trong 2 bản tuyên ngôn nổi tiếng mà Bác còn suy rộng phát triển vấn dề lên thành một tư tưởng mới: + Những gì tuyên ngôn của người Pháp người Mĩ đưa ra đều đáp ứng cho nhu cầu thuộc về cá nhân, về cái tôi của mỗi người, không có bóng dáng của lập trường dân tộc + Tài lập luận của Bác là ở chỗ Bác cho rằng mọi người là tất cả con người, tất cả con người làm thành dân tộc. Do đó mọi người có thể thay thế bằng dân tộc: “Từ lời nói bất hủ ấy suy rộng ra có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều có quyền bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Óc suy luận của nhà chính trị Hồ Chí Minh quả là sáng suốt và lôgic, biết cách dùng từ và dùng đúng chỗ. Từ quyền con người Bác đã vận dụng thiết thực và sáng tạo vào quyền độc lập dân tộc, từ khái niệm con người cá nhân sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và đầy thuyết phục. Bác trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới về nền độc lập của dân tộc Và trong phân tuyên bố này cái tài lập luận của nhà chính trị Hồ Chí Minh là ở chỗ: + Lấy lời nói của các nước đồng minh để khéo léo thắt buộc các nước Đông minh: “Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhân nguyên tắc dân tộc bình đẳng quyết không thể không công nhận độc lập của nhân dân Việt Nam. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập” “Tin” là tỏ vẻ tôn trọng là giả định phẩm chất tốt đẹp của họ. Đó là cách Bác buộc họ không thể không công nhận quyền độc lập của nhân dân Việt Nam. Bác đã lùi một bước “tin” để tiến thêm hai bước dài “quyết không thể không công nhận…”, hai lần phủ định “không” để dẫn tới sự khẳng định mạnh mẽ “quyền độc lập của dân tộc Việt Nam” Một bài văn chính luận chặt chẽ không thể thiếu – Hệ thống luận điểm, luận chứng chặt chẽ toàn diện, tiêu biểu và đầy ấn tượng Để bóc trần bộ mặt giả danh khai hóa bảo hộ của thực dân Pháp, để chứng minh chúng là kẻ làm trái nguyên lí, Bác đã + Khái quát hai loại tội ác về chính trị … Về kinh tế … –>Với ngòi bút hiện thực sắc sảo, Bác không chỉ tái hiện sinh động chân dung tên khổng lồ thực dân Pháp với bàn tay sắt bóp chết một sinh vật nhỏ bé mà còn xé toang chiêu bài khai hóa bảo hộ giả dối bịp bợp bấy lâu nay của chúng Không chỉ khái quát hai loại tội ác trên, Bác còn: + Vạch trần bộ mặt hèn nhát và phản bội của chúng “…” . Quì gối đầu hàng mở cửa rước Nhật- bán nước ta 2 lần cho Nhật . Chúng quang thêm một ách lên đầu lên cổ nhân dân Việt Nan, kết quả là 2 triệu người chết đói . Chúng biến Việt minh thành kẻ thù chính và thẳng tay khủng bố Đối lập với cái dã man ti tiện của chúng là Nhân dân Việt Nam – những người làm đúng nguyên lí Đối với những kẻ bàn tay còn vấy máu + Việt minh vẫn đối xử nhân đạo “giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng tài sản cho họ”. –>Đến đây hình ảnh thực dân Pháp hoàn toàn nhỏ bé yếu đuối đáng thương. Ta hiện ra ở thể đối lập: Nhân hậu, anh hùng vị tha cao thượng –> Bằng thế đối lập ấy Bác khẳng định trước công luận quốc tế: chính thực dân Pháp là những kẻ làm trái nguyên lí đi ngược lại truyền thống văn hóa của cha ông chúng và của nhân loại, nhân dân Việt Nam là những người làm đúng nguyên lí. Vậy thì ai sẽ bảo hộ ai Không những tạo ra thế đối lập giữa ta và địch, Bác còn + Khẳng định sự thật lịch sử . Từ mùa thu 1940 nước ta trở thành thuộc địa của Nhật chứ không phải là thuộc địa của Pháp . Dân ta vùng lên giành chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp Phá chạy Nhật hàng vua Bảo Đại thoái vị –> Về lý một vật đã bán cho người khác tất thuộc quyền sở hữu của người đó. Ta lấy lại vật đã mất từ tay Nhật, như thế về mọi mặt, Pháp không có quan hệ gì với Việt Nam b/ Chất văn chương của Tuyên ngôn Độc lập cũng tác động rất lớn đến người đọc, người nghe – Bác xây dựng thực dân Pháp và dân tộc Việt Nam thành hai con người có thể hình dung diện mạo cốt cách và đối kháng nhau. Đó là hai hình tượng mang đầy tính thẩm mĩ của văn chương Các đoạn văn, câu văn được mở đầu bằng hàng loạt từ “chúng” gắn với hành động tàn bạo… Cách nói trùng lặp ấy tạo cho đoạn văn giọng điệu liên hoàn không chỉ thể hiện tội ác chồng chất mãi không thôi của kẻ thù mà còn là những nhát búa đập thẳng vào lớp vỏ bọc mĩ miều của thực dân Pháp Bên cạnh đó tác giả còn Sử dụng những điệp từ, điệp ngữ, trạng từ có sức nặng miêu tả bản chất của sự việc Hình thức đối lập kết hợp cách nói giàu hình ảnh làm cho từng câu từng chữ như dồn nén bao căm giận bao cảm xúc –> Cảm xúc hòa quyện với lí trí tạo lên sức mạnh chiến đấu sắc sảo trong văn phong chính luận Hồ Chí Minh – Để nêu bật chân dung tên khổng lồ Pháp đang bị teo tóp co quắp run sợ, Bác đã dùng nhiều động từ miêu tả: Quì gối, đầu hàng, mở cửa rước Nhật, bỏ chạy… Dùng từ nhấn mạnh cái ti tiện cái dã man của chúng: thậm chí, nhẫn tâm, giết nốt, số đông… – Khi đập lại luận điệu xảo trá của thực dân Pháp rằng Đông dương là thuộc địa của chúng, Bác đã dùng điệp ngữ, lặp cú pháp “sự thật là…chứ không phải”. Cách nói trùng lặp ấy khẳng định mạnh mẽ chiến thắng của ta và phủ nhận dắt khoát mọi sự bắt mối ảo tưởng về chủ quyền của Pháp trên đất Việt Nam – Tuyên bố với nhân dân thế giới về việc thành lập của một nhà nước mới, tác giả đã đanh thép và triệt để: “chúng tôi – lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ tất mọi đặc quyền của Pháp trên đất Việt Nam”. Những cụm từ “thoát li hẳn”, “xóa bỏ hết”, “xóa bỏ tất” như những nhát gươm chém sắc chém thẳng vào những dây dợ còn dính líu của thực dân Pháp, phủ nhận tuyệt đối mọi quan hệ lệ thuộc của Pháp và Việt Nam Bác còn sử dụng những câu văn có kết cấu song song: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập”àTao điệp khúc âm vang hào hùng. Bản tuyên ngôn kết thúc băng nhưng câu móc xích trùng điệp nêu bật ý chí khát vọng độc lập tự do của dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do độc lập và thực sự đã là một nước tự do độc lập.Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” Lời văn không khô khan mà trũ tình đanh thép. Mỗi từ mỗi câu đều chứa đựng trong đó sức nặng tinh thần của cả một dân tộc anh hùng quyết hi sinh để giữ độc lập tự do. Cụm từ độc lập tự do được lặp đi lặp lại ba lần như khắc sâu vào muôn triệu người Việt Nam, như tiếng kèn xung trận vang lên mạnh mẽ hào hùng. Lời tuyên bố mở nước cũng là lời thề sắt đá vừa thiêng liêng vừa khích lệ nhân dân ta vừa là lời cảnh báo đối với kẻ thù. Tác phẩm kết thúc những cũng là mở đầu cho một thời kì đấu tranh giữ vững chủ quyền độc lập tự do của dân tộc. III/ Kết luận
Giá trị lịch sử và giá trị văn chương của bản Tuyên ngôn độc lập ( Hồ Chí Minh)
2,605
Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ Hướng dẫn Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ Chủ nghĩa nhân đạo trong tác phẩm văn học rất phong phú và đa dạng: Đó là biểu hiện của lòng yêu nước thương nòi, lên án tố cáo các thế lực tàn bạo chà đạp lên con người. Đồng thời, khẳng định đề cao phẩm chất, tài năng, những khát vọng chính như khát vọng về quyền sống, quyền hạnh phúc, công lý và chính nghĩa, đề cao đạo lý tốt đẹp giữa người với người. Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài sáng tác năm 1952 đề cập tới số phận hai nhân vật Mị và A Phủ, thông qua việc lên án tố cáo sự tàn bạo của giai cấp thống trị ở niềm núi; đồng thời bênh vực, cảm thông sâu sắc với nỗi bất hạnh, khổ đau của họ. Bên cạnh đó, Tô Hoài còn trân trọng những khát vọng sống và đồng tình với tinh thần phản kháng mở ra một con đường mới. Đó chính là giá trị nhân đạo cao cả của tác phẩm. Từ cổ chí kim, tư tưởng nhân đạo là linh hồn, là thước đo giá trị tác phẩm văn học. Tư tưởng giá trị ấy được nhà văn thể hiện thông qua nhân vật trung tâm của tác phẩm. Tô hoài từng quan niệm nhân vật là linh hồn của tác phẩm để nhà văn bộc lộ tư tưởng, tình cảm, thái độ của tác giả với cuộc đời. Câu văn kể thản nhiên như phơi bày bản chất của kẻ làm tay sai cho đế quốc, vừa ức hiếp chính người dân của mình. Qua đó, hé mở cho người đọc hiểu vì sao Mị có mặt trong cái nhà quan lại giàu có nhất làng mà Mị vẫn phải làm việc quần quật, bị đối xử như nô lệ, thậm chí không bằng kiếp trâu, kiếp ngựa. Bởi Mị còn phải trả món nợ truyền thống của cha mẹ để lại cho nhà thống lý. Xây dựng nhân vật A Phủ, Tô Hoài tô đậm thêm bức tranh hiện thực cuộc sống. Từ một đứa trẻ mồ côi, vô tội, A Phủ lang thang kiếm sống, lớn lên và thành nô lệ nhà thống lí vì tội đánh lại con quan – con trời. Thật nực cười khi kẻ ngồi trên ghế quan tòa phán quyết lý lẽ đúng sai lại chính là một tên kẻ cướp. Cái lí lẽ vay trả đối với gia đình Mị và A Phủ chẳng phải là lí lẽ của kẻ thống trị chuyên quyền, áp bức, cướp đoạt sức lao động, cướp quyền làm người của những người dân vô tội? Khi nói về cuộc sống khổ đau, tăm tối của Mị và A Phủ, ẩn sâu trong ngòi bút Tô Hoài là sự bênh vực và cảm thông sâu sắc. Xót xa miêu tả cuộc đời Mị khi còn ở với cha mẹ. Lúc ấy còn là cô gái xinh đẹp, nết na, hiền thảo, có tâm hồn trong sáng và nhiều khát khao hạnh phúc. Mị còn có tài thổi sáo, kèn lá vì thế có nhiều chàng trai say mê. Thế mà bỗng chốc, Mị trở thành con dâu gạt nợ, thực chất là nô lệ. Còn A Phủ mới 10 tuổi đã bị người làng bán xuống vùng thấp lấy thóc để ăn. A Phủ bị quỳ, bị đánh chửi suốt một ngày một đêm mà vẫn phải câm như thóc, phải cầm dao giết lợn để phục vụ cho chính kẻ hành hạ mình, phải đóng cọc để tự trói mình vào, bất lực không thể làm gì khi cái chết đã đến kề bên… Viết về nỗi khổ đau, bất hạnh, ngòi bút nhà văn như có nước mắt, ông đã gieo vào lòng người đọc một niềm thương cảm sâu xa trước số phận con người. Giá trị nhân đạo của tác phẩm, sâu sắc nhất là sự trân trọng khát vọng tự do, hạnh phúc và phẩm chất tốt đẹp của người nông dân cùng khổ. Ngòi bút Tô Hoài từng bước rọi sâu khám phá vào miền thân u của thế giới nội tâm nhân vật, ông hiểu tâm tư, nỗi niềm và khát vọng của họ. Không chỉ trân trọng khát vọng tự do của Mị và A Phủ mà còn đồng tình với tinh thần phản kháng, đấu tranh của họ; đồng thời vạch ra cho họ con đường giải phóng. Với truyện ngắn “ Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài đã phải đi, phải nhìn, phải nghe, phải suy ngẫm, phải đào bởi bản chất con người vào các tầng sâu lịch sử. Đó là tấm lòng của một nhà văn lớn luôn đứng về phía người cùng khổ để sống và viết.
Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ
809
Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân Hướng dẫn Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân Trong những năm 1945, đất nước ta đã phải trải qua nạn đói vô cùng thảm hại, thê lương. Ranh giới giữa sự sống và cái chết dường như quá mong manh. Xác chết nằm đó, còn kẻ sống dật dờ như những bóng ma. Giữa lúc ấy, chỉ cần có được miếng ăn thôi cũng đã là một chuyện quá lớn lao rồi. Ấy vậy mà Kim Lân – một nhà văn lớn của dân tộc – lại táo bạo dựng nên cảnh “nhặt” vợ của một anh cu Tràng vừa xấu vừa nghèo xuất thân từ xóm ngụ cư. Câu chuyện có nhiều hình ảnh chân thực vừa hài hước vừa xúc động về nạn đói khủng khiếp năm 1945. Qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc mà tác giả đã gửi gắm vào tác phẩm của mình. Kim Lân cũng xuất thân từ một gia đình nghèo khó, ông là một trong những cây bút tài giỏi chuyên viết truyện ngắn về đề tài nông thôn và người nông dân. Ông đã có những trang viết rất đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê Bắc Bộ. Văn ông rất chân thực, xúc động về cuộc sống và người dân thôn quê bởi nhà văn có sự thấu hiểu cảnh ngộ và tâm lý của họ – những con người gắn bó tha thiết với quê hương và cách mạng. Trong những tác phẩm của Kim Lân, ta thường thấy những cảnh làng quê Việt Nam nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn yêu đời; thật thà chất phác mà thông minh, hóm hỉnh, tài hoa. Năm 2001 Kim Lân được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. “Vợ nhặt” là tác phẩm xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập “Con chó xấu xí” viết về cuộc sống khổ cực của những người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 với giá trị nhân đạo rất sâu sắc. Tác phẩm là tiếng lòng xót thương, cảm thông và đồng cảm cho số phận người nông dân trong nạn đói cùng cực thê lương. Đến ngay cả niềm hạnh phúc vốn có là lấy vợ lấy chồng cũng trở nên xa xỉ khi mà manh áo, bát cơm là niềm khát khao lớn của mỗi người. Ngay khi mở đầu tác phẩm, Kim Lân đã trực tiếp bộc bạch như một lời xót thương: Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Người dân tứ xứ dắt díu nhau đổ về xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không khí vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người. Ở thời điểm này, ranh giới giữa sự sống và cái chết dường như không còn. Đến nỗi, người chết còn không có người chôn, để mùi gây bốc lên hôi thối làm u ám cả một vùng. Những hình ảnh chân thực được xuất phát từ lòng cảm thương, xót xa của tác giả dành cho những người dân lương thiện đang đi dần vào ngõ cụt, họ không có cách nào hoặc đúng hơn là không đủ sức để chống lại cả một thế lực phong kiến tàn ác, bất nhân. Việc Tràng lấy vợ diễn ra hết sức ngẫu nhiên và hài hước. Chỉ qua vài câu hò, qua một lần đãi bánh đúc mà Trang nghiễm nhiên có vợ. Thật đúng là vợ “nhặt”. Vì trong một cuộc hôn nhân bình thường, hai người đến với nhau sau một thời gian tìm hiểu nhau, yêu thương nhau, có sự đồng ý của họ hàng hai bên rồi mới đi đến kết hôn. Nhưng ở đây, mọi chuyện hoàn toàn ngược lại. Tràng và thị chưa một lần hẹn hò, chưa một lần trò chuyện hay hỏi han về hoàn cảnh, tính cách của nhau. Có lẽ, trong thời buổi ấy, không cần phải hỏi mọi người cũng tự nhận biết được thân phận và hoàn cảnh của nhau như thế nào. Và rồi, ngay cả mẹ Tràng cũng không khỏi bất ngờ. Cuộc “nhặt” vợ đầy thú vị này vừa là tình huống hài hước trong truyện, vừa là sự cảm thông cho những số phận đói khổ đang lay lắt vượt qua từng ngày trong nạn đói thảm hại thê lương. Đồng thời, việc Tràng lấy vợ giữa nạn đói khủng khiếp còn là sự ngợi ca tinh thần yêu cuộc sống, bất chấp hoàn cảnh và dám vượt qua số phận để dành lấy hạnh phúc cho chính mình. Tràng không sợ khó khăn dù biết rõ trước mắt mình sẽ là những ngày tháng đói khổ, lay lắt. Thậm chí là có thể chết vì đói nhưng vì niềm hạnh phúc nhỏ nhoi ngày hôm nay, Tràng vô tư bỏ mặc những lo toan ấy và “chậc kệ” một cái rất điềm nhiên. Cuộc “nhặt” vợ đầy éo le nhưng lại là niềm hi vọng, là sự can đảm dám vượt lên số phận của Tràng, của những con người cùng khổ với Tràng. Đây có thể coi là một hiện tượng lạ trong làng khiến ai cũng ngỡ ngàng, từ người già đến trẻ nhỏ. Rồi ngay cả chính Tràng là người trong cuộc cũng chưa thực sự tin đây là sự thật. Hắn có những cảm giác đến lạ lùng. Giữa lúc đói như vậy mà hắn dám đãi thị một chập bốn bát bánh đúc liền. Rồi đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị một cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa thật no nê. Thì ra, Tràng tuy xấu xí, nghèo nàn túng thiếu nhưng cũng vẫn hào phóng và đầy tình thương. Đối với người khác có một miếng ăn là mừng rỡ lắm, xa xỉ lắm. Vậy mà, chỉ trong chốc lát, Tràng chẳng tiếc bỏ tiền ra đãi thị – một người vợ Tràng vừa “nhặt” được. Có thể nói, ở giữa cảnh thê lương ấy vẫn có những niềm vui, niềm tin và hi vọng. Tràng vui vui, phởn phơ, còn thị e thẹn, ngượng ngùng đúng kiểu “dâu mới về”. Còn một nhân vật nữa là bà cụ Tứ – mẹ Tràng. Biết con mình có vợ, bà vừa mừng vừa lo. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp con mình. Nhưng rồi bà cũng mừng vì đứa con vừa nghèo vừa xấu của mình cũng lấy được vợ. Mà thực chất là “nhặt” được vợ. Nhưng rồi, dù có thê lương đến mấy, thảm hại đến mấy, giữa những cái bóng dật dờ của người đói lang thang như những hồn ma, vẫn tồn tại những niềm hi vọng, niềm hạnh phúc dù nhỏ nhoi của Tràng, vợ Tràng và mẹ Tràng. Trong buổi sáng của ngày đầu tiên có vợ, mọi thứ đã thay đổi hẳn. Ngòi bút của Kim Lân cũng không xoáy vào những tiếng quạ réo, những làn khói u uất hay mùi gây thối của xác người chết nữa. Ngược lại, trong căn nhà nhỏ lụp xụp, bừa bộn trước đó nay đã trở nên gọn gàng, sáng sủa. Cả ba thành viên trong căn nhà ấy ai cũng mang một niềm phấn chấn, vui vẻ. Mỗi người một việc, không ai bảo ai. Nhất là anh cu Tràng, hắn chắp hai tay su lưng lững thững bước ra sân. Ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng lóa xói vào ai con mắt còn cay sè của hắn. Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh mình có cái gì vằ thay đổi mới mẻ, khác lạ. Rồi hắn tự ý thức được rằng hắn đã có một gia đình. Hai từ “gia đình” nghe sao thiêng liêng và ấm áp quá. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phẩn phải lo lắng cho vợ con sau này. Vậy đấy, đến ngay cả một kẻ xấu xí, ngờ nghệch như Tràng còn ý thức được những điều đó huống chi người bình thường. Những chi tiết này càng gieo vào lòng người đọc những tình cảm mến thương dành cho người nông dân tuy nghèo nhưng có tâm hồn thanh khiết. Mạch cảm xúc của Tràng lại khiến ta liên tưởng đến hình ảnh Chí Phèo của Nam Cao. Chí cũng từ một kẻ chuyên rạch mặt ăn vạ, sống chỉ biết đến rượu nhưng sau khi được Thị Nợ – một kẻ dở hơi để ý đến, hắn cũng trở nên thay đổi. Mà thực chất không phải thay đổi, là hắn quay trở lại với bản chất hiền lành, lương thiện của chính mình trước đây. Sau cơn say, sau bát hành tình nghĩa của Thị Nợ, Chí cũng đã cảm nhận được cuộc sống bình dị xung quanh mình mà bao lâu nay hắn chìm sâu vào rượu nên không nhận ra. Tác phẩm đã mang lại giá trị nhân đạo vô cùng sâu sắc cùng với nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, tạo ấn tượng mạnh cho người đọc. Với những ngôn từ hài hước, hóm hỉnh, khung cảnh xóm ngụ cư dù thê lương thảm hại trong nạn đói khủng khiếp nhưng vẫn toát lên bao niềm hi vọng về một ngày mai tươi sáng. Cho đến nay, đất nước đã hòa bình, độc lập tự do nhưng giá trị của tác phẩm vẫn còn nguyên vẹn.
Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
1,665
Đề bài: Phân tích giá trị nhân đạo trong bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương Bài làm Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ với phong cách thơ độc đáo của nền văn học cổ Việt Nam. Bà đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị. Thơ của bà là tiếng nói bênh vực người phụ nữ và đả kích chế độ nam quyền – thần quyền. Bài thơ Bánh trôi nước thể hiện rõ tiếng nói đồng cảm, tiếng lòng của nừ sĩ với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son Mượn hình ảnh chiếc bánh trôi nước, nhà thơ Hồ Xuân Hương bộc lộ tình cảm về số phận éo le, bạc bẽo của mình đồng thời chính là sự đồng cảm với số phận của người phụ nữ trong xã hội nói chung. Viên bánh trôi trắng mịn, xinh xắn là hình ảnh tượng trưng cho số phận người phụ nữ. Người phụ nữ với hình thể xinh dẹp khoẻ mạnh: Thân em vừa trắng lại vừa tròn Điệp từ vừa ở đây như muốn nhấn mạnh sự tự hào, kiêu hãnh của cô gái về mình: vừa trắng lại vừa tròn nhưng Bảy nổi ba chìm với nước non Cuộc đời của người phụ nữ không yên ả mà số phận chìm nổi lênh đênh. Câu thơ tả hình dạng chiếc bánh trôi và hình dạng ấy tròn méo thế nào là do người nặn. Người phụ nữ trong xã hội phong kiến cũng thế, được may mắn hay bất hạnh, sống sung sướng hay đau khổ là do những kẻ có quyền thế trong xã hội “thần quyền” nhào nặn. Cảnh chồng chúa vợ tôi trong xã hội phong kiến nó tồn tại hàng nghìn năm, cuộc sống của người phụ nữ xưa là như vậy. Sinh ra là một con người nhưng họ không làm chủ được cuộc đời mình. Nhà thơ Hồ Xuân Hương là nột trong những người chịu nhiều cay nghiệt như vậy, yêu Chiêu Hổ rồi bị phụ tình, làm vợ lẽ Tổng Cóc, làm lẽ Phủ Vĩnh Tường… Cuộc đời không chỉ dừng lại ở bảy nổi ba chìm mà có lẽ là hàng chục, hàng trăm điều cay đắng. Không riêng gì nữ sĩ mà chính Vũ Nương trong chuyện Người con gái Nam Xương cũng đức hạnh, nết na, hiếu thảo, thuỷ chung nhưng vẫn phải chịu kết cục trẫm mình xuống bến Hoàng Giang. Nguvễn Du đã từng chia sẻ, cảm thông với Thuý Kiều hồng nhan bạc phận. Mười lăm năm lưu lạc còn gì là thân phải chăng lời thơ sau đây cũng là lời của mọi người đàn bà trong xã hội cũ: Đau đớn thay phận đàn bà Lời ràng bạc mệnh cũng là lời chung Thương người như thể thương thân, thương cho số phận của mình, thương cho những người cùng cảnh ngộ. Bằng lời thơ tự bạch nữ sĩ đã nói lên những điều bức xúc nhất về cuộc đời của những người phụ nữ. Lời thơ cũng chính là lời phản kháng, lên án xã hội bất công. Đồng thời nữ sĩ còn lên án chế độ nam quyền độc đoán làm cho cuộc đời của họ là những chuỗi ngày đau khổ. Không những đại diện cho phụ nữ nói lên số phận của mình. Hồ Xuân Hương còn khẳng định phẩm giá của chính họ. Dù cuộc đời chao đảo ra sao nhưng: Mà em vẫn giữ tấm lòng son Sự thuỷ chung, đức hạnh, nhân phẩm, tài năng dù trong hoàn cảnh nào họ vẫn giữ trọn, vẫn sáng ngời, sáng chói như những hạt ngọc long lanh. Hơn thế nhà thơ còn hoàn toàn tin vào bản thân mình, tin vào phụ nữ, bởi họ đã chứng tỏ phẩm chất đáng quý đó. Như vậy ta thấy rằng bài thơ này không chỉ đơn thuần tả chiếc bánh trôi mà còn tượng trưng cho thân phận người phụ nữ. ẩn trong những dòng thơ đó là tiếng nói phản kháng lại cả một hệ thống chính trị xã hội, cả một ý thức hệ tư tưởng cổ hủ lạc hậu. Đồng thời là tiếng nói cảm thông chia sẻ. Ta nghe trong lời thơ của bà là những “tiếng lòng chung” đầy phẫn nộ. Lời thơ khảng khái, cứng cỏi nhưng tràn đầy tính nhân đạo cao cả.
Giá trị nhân đạo trong bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương
753
Giá trị nhân đạo trong Vợ nhặt Hướng dẫn Giá trị nhân đạo trong Vợ nhặt Nhắc tới nhà văn, chúng ta không thể quên,Kim Lân là một nhà văn tài năng.Đặc biệt ông bén duyên với những tác phẩm mang tính chất rất giản dị đặc biệt là các tác phẩm về những số phận khó khăn.“Vợ nhặt “ là một trong số những tác phẩm tiêu biểu của tác giả. Bên cạnh tác phẩm đã thể hiện rất rõ giá trị hiện thực rất sâu sắc thì giá trị nhân đạo trong tác phẩm cũng là một điều đáng chú ý. Bức tranh toàn cảnh về nạn đói khủng khiếp năm 1945 được tái hiện với cảnh người đói “bồng bế, dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ”, “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”, và sau đó là “người chết như ngả rạ”, “thây nằm còng queo bên đường”, không những chỉ có những cảnh tượng ghê rợn đó mà chính không khí xung quanh cũng khiến cho chúng ta cảm thấy thật kinh khủng sợ hãi “không khí vẩn lên mùi gây của xác người”, rồi “mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt” và “tiếng hờ khóc tỉ tê trong đêm khuya”…như thế cái đói đó đã tràn đến xóm ngụ cư, bủa vây và đe dọa số phận từng con người. Trong tác phẩm, điều nổi bật nhất là niềm khát khao tới cháy bỏng với tổ ấm gia đình trọn vẹn. Nó được thể hiện chân thực và có chiều sâu qua tâm trạng nhân vật Tràng:từ trên bờ vực thẳm của cái chết, họ đã dám khát khao đến tổ ấm gia đình, đến một cuộc sống đích thực và cao đẹp của con người. Tuy trong đầu óc của Tràng tuy “chợn” khi nghĩ “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”, nhưng Tràng vẫn “Chậc, kệ!” và dẫn vợ về nhà. “Anh vừa xấu hổ lại vừa tự hào khi đưa vợ đi qua xóm ngụ cư, bởi vì có “một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy” dâng lên “ôm ấp, mơn man khắp da thịt.., Giá trị nhân đạo còn ở chỗ tình thương yêu giai cấp, sự cưu mang lẫn nhau của những người nghèo khổ được thể hiện rất cao đẹp và cảm động qua tấm lòng bà cụ Tứ đối với con trai và con dâu. Vượt lên tình thương con – nhất là đối với người đàn bà lạ bỗng nhiên thành con dâu mới – đó là tình thương yêu giai cấp của những người nghèo khổ. Tràng dẫn thị về nhà, đói khổ không làm mâm cơm mâm cỗ như đám cưới truyền thống, Bà cụ tứ đã gọi thị là “con”, tôn trọng thị, nói chuyện thân mật với thị ngay đêm đầu gặp mặt. Chi tiết nồi cháo cám thật cảm động trong bữa cơm ngày đói đón dâu mới. Không chỉ là tấm lòng người mẹ thương con mà trong tình thương ấy còn có cả đức vị tha cao cả. Dưới ngòi bút tài hoa của tác giả Kim Lân chúng ta có cơ hội đắm chìm trong không gian ấy, và nhận ra những vẻ đẹp của giá trị nhân đạo cao cả. từ đó chúng ta có thể thấy sự đồng cảm sự xót thương nhưng cũng dấy lên một niềm khát khao về tương lai của tác giả về những con người này.
Giá trị nhân đạo trong Vợ nhặt
604
Giá trị văn chương của Bình ngô đại cáo Hướng dẫn Giá trị văn chương của Bình ngô đại cáo Bình Ngô Đại Cáo là một tác phẩm rất hay, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc. Bên cạnh đó tác phẩm còn mang tới những giá trị văn chương rất giá trị. Bình Ngô đại cáo là một văn kiện lịch sử sau đó Bình Ngô đại cáo không phải chỉ được tiếp nhận chủ yếu như một văn bản hành chính mà còn như một kiệt tác văn chương. Cáo là một thể trong loại văn chiếu lệnh, loại văn được người xưa coi trọng nhất. Luận ngữ ghi lời của đức Khổng Tử khen nước Trịnh cẩn trọng khi soạn thảo loại văn bản này: Tử viết: “Vi mệnh, Tỳ Thầm thảo sáng chi. Đông Lý Tử Sản nhuận sắc chi Thế Thúc thảo luận chi. Hành nhân Tử Vũ tu sức chi” (Đức Khổng Tử nói rằng: “Khi nước Trịnh làm tờ từ mệnh gửi cho nước khác, ông Tỳ Thầm khởi thảo, ông Thế Thúc khảo cứu bàn bạc, quan hành nhân là ông Tử Vũ sửa chữa thêm bớt, ông Tử Sản ở đất Đông Lý trau chuốt lại”). Tỳ Thầm, Thế Thúc, Tử Vũ, Tử Sản là những người tài nổi tiếng đương thời, cả bốn người hợp sức lại để viết cho thấy thái độ của người đương thời về loại văn liên hệ trực tiếp với chính sự này. “Chính giả, chính dã” (Chính trị là chính nghĩa – Luận ngữ). Một phương tiện để làm rõ chính nghĩa của các đế vương và các triều đại chính là văn chiếu lệnh. Văn chương thẩm mỹ để ngâm ngợi, chỉ cho thấy tài năng của cá nhân trong khi văn chiếu lệnh phục vụ đắc lực cho chính sự, gắn bó với sự hưng vong của vương triều và quốc thể. Văn chương thời trung đại khác văn chương hiện nay ở nhiều phương diện, trong đó bộ phận khác biệt lớn nhất là những thể loại chức năng, bởi như Đ.X. Likhatsôp đã chỉ rõ những thể loại này nhằm đáp ứng đồng thời nhiều nhu cầu xã hội, khác với hiện nay đã có sự khu biệt về thuộc tính và chức năng của các hình thái ý thức. Tìm hiểu những văn bản loại này cần kết hợp linh động giữa tư duy lịch đại và tư duy đồng đại. Hiển nhiên người ngày nay tiếp nhận chúng không giống người thời trung đại, nếu không có quan điểm lịch sử cụ thể sẽ bỏ qua hoặc không đánh giá đúng những giá trị đặc thù, mà đây lại là một trong những nguyên cớ để chúng có mặt trong chương trình dạy-học ngữ văn ngày nay. Cáo là một thể của loại văn học chức năng, loại trước tác có yêu cầu đầu tiên và cao nhất là “từ nghiêm nghĩa chính” (ngôn từ chuẩn mực, ý nghĩa chính đáng). Bình Ngô đại cáo là một tác phẩm đỉnh cao nên nó mang thuộc tính phổ quát của các hiện tượng điển hình, là nghiên cứu nó sẽ không chỉ biết về một cá thể mà còn nhận thức được một phạm vi rộng hơn thuộc cấp độ loại – ở đây là loại văn học chức năng. Trước tác này ra đời cách đây đã năm thế kỷ, khi ấy các thể loại văn học chức năng còn mang đậm tính chất nguyên hợp, bởi vậy bản đại cáo còn tích hợp nhiều giá trị khác, mà ở đây chúng ta quan tâm tìm hiểu là giá trị văn chương. Với đặc điểm của tư duy người đương thời, giá trị văn chương không ngăn trở, chế ước giá trị hành chính của văn bản, trái lại, như thực tế cho thấy, đã tạo thêm sức sống cho văn bản quan phương này. Giá trị của Bình Ngô đại cáo trước hết là ở phương diện một trước tác chính luận, loại văn bản được đánh giá cao khi có hệ thống lập luận chặt chẽ, thể hiện sâu sắc và sinh động những vấn đề có ý nghĩa trọng đại của quốc gia dân tộc. Với Bình Ngô đại cáo, không phải nhà chuyên môn cũng dễ nhận ra được lôgic lớn của toàn bài và sự thứ lớp trong lập luận của từng phần. Tiêu biểu cho tầm khái quát của văn bản là đoạn đầu (Nhân nghĩa chi cử… quyết hữu minh trưng). Đoạn này như một định nghĩa rất tiêu biểu về quốc gia phong kiến, được đánh giá là cống hiến có ý nghĩa thế giới, khiến cho các thế hệ sau thán phục, tự hào. Đây là thành tựu đột xuất của lịch sử tư tưởng Việt Nam thời ấy, nhưng với Nguyễn Trãi, là thành tựu tất yếu vì tất cả mọi ý niệm đó đều đã có trong Quân trung từ mệnh tập, đây chỉ là tập đại thành. Thành quả đó do ba nguyên nhân. Trước hết do tài năng siêu việt của nhà trí thức-người anh hùng Nguyễn Trãi vì chính ông chứ không ai khác đã từ tầm cao thời đại, khái quát những giá trị to lớn của đất nước và đồng bào, của văn hoá Việt. Nguyên nhân thứ hai thuộc thời đại đầy biến động to lớn, khiến vấn đề dân tộc dân chủ được đặt ra cực kỳ gay gắt. Người trí thức Nguyễn Trãi đã được tôi luyện trong hoàn cảnh đó, ông nhìn thấy giang sơn và dân nước mình trong máu và nước mắt trước khi thấy họ trong hào quang chiến thắng. Với một chút hài hước có thể nói nguyên nhân thứ ba thuộc “công” của giặc Minh. Chính vì trong thời gian dài phải thường xuyên đương đầu với kẻ thù mạnh, thâm độc và gian xảo như giặc Minh khiến tư duy Nguyễn Trãi thêm sắc sảo. Chẳng hạn luận điểm vĩ đại của ông Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân chính là để phản bác luận điệu xảo trá của quân Minh, vạch rõ bộ mặt thật của chúng đằng sau chiêu bài nhân nghĩa “hưng diệt kế tuyệt”, tư tưởng này đã được bộc lộ cụ thể hơn ở Hựu đáp Phương Chính thư (số 5)(3), Tái phục Phương Chính thư (số 8). Giá trị văn chương của Bình Ngô đại cáo thấm nhuần ở toàn bộ tác phẩm do người viết luôn nhìn nhận sự vật, hiện tượng cùng với một trí tuệ sắc sảo là một tâm hồn tinh nhạy, con tim giàu cảm xúc. Điều này thể hiện kín đáo nhưng mạnh mẽ ở ngay cả đoạn đầu, đoạn chứa đựng những khái quát về lịch sử dài lâu và quang vinh của đất nước, đoạn chứa đựng những tư tưởng lớn của một bản tuyên ngôn độc lập. Niềm tự hào to lớn, kiêu hãnh vì được làm con dân của một dòng giống anh hùng và văn hiến được tác giả thể hiện cô đúc qua những phó từ ngắn gọn: thực (Ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang = Nước Đại Việt ta thật là nước văn hiến)(4), ký (Sơn xuyên chi phong vực ký thù = Núi sông bờ cõi đã chia), diệc (Nam Bắc chi phong tục diệc dị = Phong tục Bắc Nam cũng khác). Ở những đoạn sau, khi lên án tội ác quân xâm lược, kể lại những khốn khó của nghĩa quân buổi đầu dựng nghiệp, miêu tả những bước đường thắng lợi của quân dân, đặc biệt đoạn bố cáo kết thúc chiến tranh… thì cảm xúc càng có điều kiện biểu lộ mạnh mẽ, phong phú. Nguyễn Trãi vâng mệnh của đấng chí tôn, soạn một văn bản hành chính, điều đó đã rõ ràng, nhưng cũng không kém phần hiển nhiên là trong tâm thế tác giả có cả hai mục đích đều lớn và không mâu thuẫn: soạn một văn bản hành chính và sáng tạo một công trình văn chương. (Ăngghen, trong Thư gửi Stáckenbua có viết rằng con người sáng tạo ra lịch sử của mình, nhưng là sáng tạo trong những điều kiện thực tế đương tồn tại và những quan hệ mà người ta phải thích ứng). Điều này biểu hiện ở chỗ ông sử dụng nhiều thủ pháp tu từ, nhiều chất liệu văn chương điển phạm và nhất là rất có ý thức, có năng lực tạo nên tính nhạc cho ngôn từ. Văn biền ngẫu chỉ yêu cầu cơ bản là mỗi câu gồm hai vế cân xứng còn độ dài câu văn, sự ngắt nhịp là do cảm quan của từng người viết. Có người chỉ thấy thuận lợi (do “có khuôn”) mà không thấy khó khăn đối với tác giả xưa. Trong cái khuôn chung ấy mà biểu lộ được thần thái riêng của từng nội dung và từng cá tính là điều khó khăn, tài năng lớn cộng với bản lĩnh cao mới tạo nên được. Nguyễn Trãi rất linh hoạt chính ở chỗ đầy bó buộc này. Nhạc tính của câu văn Bình Ngô đại cáo đa dạng, phù hợp với nội dung câu văn tự sự, trữ tình hay nghị luận. Ông tuyên ngôn bằng câu súc tích, chắc nịch Ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang. Miêu tả tội ác quân thù, ông lại sử dụng thủ pháp trùng điệp, như cố ghi hết tội ác to lớn, trời không dung, đất không tha của chúng. Chúng tôi quả rất băn khoăn trước nhận định: “Cáo thường được viết bằng văn biền ngẫu”(5). Nhận định này có thể làm cho người dạy- học Bình Ngô đại cáo ở trường phổ thông trung học hình dung theo hai hướng. Một là cho rằng ở nước ta, ngoài “thiên cổ hùng văn” này còn có những bản cáo khác nữa, thực ra, trong những bộ quốc sử hiện còn đều không nói tới các bản đại cáo nào khác. Đọc sử sách cũ đôi khi chúng ta gặp cụm từ “đại cáo thiên hạ” thì chỉ với ý nghĩa là nhà vua hoặc triều đình, hoặc người đứng đầu một phong trào ban bố rộng rãi điều gì đó, còn không dễ mà có được những bản đại cáo như thời kỳ đầu của nhà Hậu Lê. Phải có điều kiện song hành, bên cạnh một chiến công chính nghĩa lừng lẫy còn phải có một thiên tài văn chính luận. Ngoài thời Lê Lợi và Nguyễn Trãi, chúng ta thấy còn có thời Quang Trung Nguyễn Huệ và Ngô Thì Nhậm. Biết đâu vị hoàng đế anh hùng và thiên tài họ Ngô từng nghĩ đến điều này, nhưng đứng trước Bình Ngô đại cáo các vị lại có cảm nghĩ như Lý Bạch xưa lên lầu Hoàng Hạc cảm xúc dồi dào mà ngần ngại không đề thơ vì có thơ Thôi Hiệu trên đầu! Ngoài ra người dạy- học Ngữ văn ở phổ thông trung học có thể sẽ hình dung rằng trước Bình Ngô đại cáo, ở Trung Quốc thể văn này đã được viết bằng văn biền ngẫu và cùng với nó, đã có hình thức hoàn chỉnh, và theo cách ứng xử của văn chương thời trung đại, Nguyễn Trãi chỉ còn “lắp” câu chữ của mình vào. Thực ra, cho đến nay khi nói về thể cáo, ngoài Bình Ngô đại cáo các chuyên gia văn học trung đại Việt Nam cũng chỉ nhắc đến các bài cáo trong Thượng Thư. Các văn bản trong Thượng Thư ra đời trước công nguyên nhiều thế kỷ(6) còn văn biền ngẫu xuất hiện thời Hán, Ngụy và thịnh hành thời Lục triều. GS. Mai Quốc Liên cho rằng: “Nguyễn Trãi đã với tay ra hàng hai mươi thế kỷ để dùng lại một thể loại cổ xưa hầu như đã chết trong văn học Trung Quốc- cáo- và đưa vào đó một nội dung hoàn toàn mới”(7). Thật vinh dự cho Nguyễn Trãi và Bình Ngô đại cáo vì đã làm nên sự độc đáo trong văn học trung đại Việt Nam là chỉ một tác phẩm làm nên một thể loại, và nhìn trong sự liên thông thể loại văn học Việt-Trung thời trung đại, đã làm nên đỉnh cao của một thể loại. Với những gì chúng ta đã biết, có thể nói rằng Nguyễn Trãi chỉ kế thừa tên gọi và chức năng thể loại của thể cáo Trung Hoa. Bình Ngô đại cáo được viết để bố cáo việc hoàn tất một chiến công vệ quốc vĩ đại, bởi vậy đương nhiên phần lớn ngôn từ sẽ dành cho việc ghi chép lại quá trình chiến đấu gian khổ và chiến thắng của quân dân ta và quá trình thất bại dẫn đến thảm bại hoàn toàn của quân Minh. Giá trị sử học của đoạn văn này rất nổi bật thể hiện ở sự ghi chép trung thực nhiều sự kiện lịch sử và khái quát sâu sắc nhiều chân lý lớn của thời đại. Bên cạnh đó nghệ thuật sáng tạo văn chương của tác giả cũng hết sức xuất sắc. Những chặng đường chính của quá trình chinh chiến hàng chục năm được kể lại tường tận mà không bề bộn vì bút pháp của tác giả rất linh hoạt: vừa kể lại những chiến thắng của quân ta, vừa đúc kết những nguyên lý quân sự và những chân lý nhân sinh; vừa tự sự về những thất bại liên tiếp của quân giặc vừa kết hợp luận tội chúng, đặt chúng trong sự tương phản với quân ta. Sự lúng túng, thất bại của quân xâm lược không chỉ thấy qua những sự kiện mà còn thể hiện bằng những bức biếm họa từ vua quan đến tướng sĩ phương Bắc. Cho đến gần đây quả là vẫn còn có vấn đề trong cách ứng xử với một câu văn của Bình Ngô đại cáo, câu Thị do thiên địa tổ tông chi linh, hữu dĩ mặc tương âm hựu nhi trí nhiên dã (Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ mới được như vậy). Bản chữ Hán trong Nguyễn Trãi toàn tập tân biên (in theo Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích) có câu này, bản phiên âm Hán- Việt cũng có. Toàn tập sử dụng hai bản dịch, bản dịch thứ hai không dịch nghĩa câu này. Trước đây ba thập kỷ, cuốn Lịch sử Việt Nam tập I, do Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam biên soạn (Nxb. KHXH 1976) in gần như toàn bộ bản dịch Bình Ngô đại cáo (tr.258-261) chỉ lược bỏ câu trên, thay bằng dấu ba chấm (…). Một chuyên gia văn học Việt Nam trung đại coi câu văn này là “một tỳ vết nhỏ”(8). Những cách nhìn nhận như vậy cách đây hai, ba thập kỷ có thể hiểu được nhưng ngày nay thiết tưởng cần thay đổi cho tương xứng với các thành quả của khoa học xã hội và mặt bằng dân trí. Chúng ta cùng nhìn lại xem trong bản đại cáo, Nguyễn Trãi thể hiện lực lượng siêu hình như thế nào. Kết thúc bản cáo trạng quân xâm lược, tác giả viết: Thần nhân chi sở cộng phẫn, Thiên địa chi sở bất dung. (Lẽ nào trời đất dung tha, Ai bảo thần nhân chịu được). Khi nhìn lại khó khăn chồng chất của buổi đầu khởi nghĩa, Nguyễn Trãi cho rằng: Cái thiên dục khốn ngã, dĩ giáng quyết nhiệm/ Cố dư ích lệ chí, dĩ tế vu gian (Trời thử lòng giao cho mệnh lớn, Ta gắng chí khắc phục gian nan). Ở đoạn miêu tả cảnh hai bên giao tranh đẫm máu, tác giả viết: Phong vân vị chi biến sắc/ Nhật nguyệt thảm dĩ vô quang (Ghê gớm thay sắc phong vân phải đổi, Thảm đạm thay ánh nhật nguyệt phải mờ). Còn câu văn bị đánh giá tiêu cực, thậm chí bị lược bỏ là ở đoạn cuối, cắt nghĩa nguyên nhân của chiến công bình Ngô vĩ đại. Chúng ta đã thấy ở cảm nhận của Nguyễn Trãi thể hiện trong suốt bản đại cáo, lực lượng siêu hình luôn song hành, tương giao với con người. Ở thế kỷ XV mà không thụ cảm thế giới như vậy thì mới là lạ. Xoá bỏ hoặc đánh giá tiêu cực câu văn đó là chỉ phủ nhận một khâu trong cả chuỗi mắt xích, hơn nữa theo chúng tôi, đây lại là trường hợp dễ được người ngày nay cảm thông nhất. Suốt bản đại cáo Nguyễn Trãi đã trình bày một cách hệ thống và biện chứng những yếu tố vật chất và tinh thần đưa đến toàn thắng của quân ta, thảm bại của kẻ thù, bởi vậy câu văn này không nhằm phủ nhận sự nỗ lực chiến đấu hy sinh để chiến thắng của quân dân ta trong hàng chục năm trời, nó chủ yếu biểu lộ lòng tri ân tổ tiên, là một cách khẳng định chính nghĩa tất thắng (những điều đã trở thành nội dung đạo lý Việt Nam). Ngày nay tất nhiên các văn bản quan phương không còn viết như thế nhưng trong rất nhiều tình huống của đời sống, người Việt Nam thuộc nhiều tầng lớp còn trữ tình theo cách đó. Câu văn làm cho tính chất biểu cảm của văn bản thêm đậm đà, giá trị văn chương càng nổi bật. Đã có mấy cách giải thích về chữ Ngô trong Bình Ngô đại cáo, trong đó có người cho rằng Nguyễn Trãi sử dụng cách gọi của dân gian, “Nguyễn Trãi đã dùng một từ mà nhân dân quen dùng”, “để chỉ quân Trung Quốc, người Trung Quốc xấu xa, tàn ác, với hàm ý khinh bỉ, phê phán”(9). Cách hiểu này đầu tiên do một nhà nghiên cứu văn học dân gian nêu lên trong dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi (1980) và được một số nhà nghiên cứu tán đồng. Bản thân chúng tôi cũng có lúc tin như thế nhưng về sau, khi có điều kiện đọc trước tác của Nguyễn Trãi nhiều hơn, kết hợp với ngẫm nghĩ thêm thấy rằng cách giải thích đó chưa hợp lý. Trong Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi gọi kẻ thù bằng hai cách, Ngô và Minh, mỗi cách dùng một lần, Ngô dùng ở nhan đề và Minh ở câu Cuồng Minh tứ khích, nhân dĩ độc ngã dân (Giặc Minh thừa dịp tàn hại dân ta- Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Sđd, tr.37). Chỉ căn cứ vào Bình Ngô đại cáo thì sự đối lập về sắc thái ý nghĩa của hai cách gọi chưa rõ, chưa đủ để kết luận, bởi vậy cần nhìn nhận thêm hai cách gọi này trong các trước tác khác của Nguyễn Trãi, có ý nghĩa nhất là những văn bản viết trước bản đại cáo, trong Quân trung từ mệnh tập. Chúng tôi đã khảo sát tỷ mỉ và trình bày trong một tiểu luận(10), ở đây chỉ nêu vắn tắt một số kết luận. Trong Quân trung từ mệnh tập cả hai cách gọi đều được sử dụng nhiều lần (Những văn bản sưu tập được có lẽ chưa đầy đủ – có một khoảng trống mấy năm không thấy có văn bản nào- bởi vậy thống kê số lần sử dụng hai từ này không phản ánh đúng tình hình). Tình trạng một văn bản dùng cả hai tên gọi hoặc chỉ dùng một trong hai đều phổ biến. Có những trường hợp rất đáng lưu ý. Chẳng hạn nếu cách gọi là Ngô mang ý nghĩa trên thì trong văn bản có tính chất đối nội như Tấu cáo văn (số 22) hẳn sẽ dùng cách định danh này, nhưng không, ở đây chỉ dùng cách gọi Minh (hai lần: Minh tặc, cường Minh). Tuy nhiên trường hợp có sức nặng nhất để phản bác ý kiến cho rằng đương thời cách gọi Ngô đã mang ý khinh bỉ chính là văn bản Tái dụ Vương Thông thư (số 35). Trong thư này Nguyễn Trãi chỉ dùng cách gọi Ngô, ba lần: Kim Ngô chi cường bất cập Tần (Nay Ngô mạnh không bằng Tần), phi Ngô quốc sở năng đoạt dã (thì Ngô làm sao có thể cướp được), cập Ngô quốc chi nhân (cũng như người Ngô). Vương Thông là tổng binh, là viên quan có quyền cao nhất trong đám tướng lĩnh viễn chinh ở nước ta, là võ tướng nhưng y thuộc loại thông hiểu chữ nghĩa. Đối với tên này, Nguyễn Trãi luôn chủ trương binh vận (thư cho Vương Thông nhiều nhất, xưng hô nhã nhặn, viết dài, dùng nhiều tri thức kinh điển để bàn bạc, thuyết phục). Bức thư này viết lúc thế thắng đã thuộc về ta, nhưng Nguyễn Trãi vẫn giữ cách ứng xử lịch sự với một đại quan của thiên triều- một kiểu “lạt mềm buộc chặt”, là cách khéo léo nhắc nhở hắn cách hành xử cho hợp với một đại nhân, đề phòng “chó cùng rứt dậu”. Là người hiểu sâu sắc nhân tình thế thái, lẽ nào Nguyễn Trãi hành xử bằng cách miệt thị tổ tiên kẻ mà mình đang áp dụng chiến thuật “tâm công”? Trong Ngữ văn 10, bức thư này được in gần kề Bình Ngô đại cáo, nếu giải thích chữ Ngô trong bản đại cáo là cách định danh biểu thị sự khinh bỉ thì không thuyết phục được người dạy- học. Ngoài những trường hợp đã được các nhà nghiên cứu dẫn ra, chúng tôi thấy thêm vài trường hợp gọi người phương Bắc là Ngô với ý khinh thị. Đây là một câu trong bài Dăn đời phú (khuyết danh): Báng đầu thằng trọc, không nể đầu ông sư; cứng cổ cứng đầu, ai xá những ngu dại – Vắng mặt thằng Ngô, lúc có mặt ông sứ, sấp mày sấp mặt vẫn nghe nhời nói xưa nay. Về đoản ngữ Vắng mặt thằng Ngô, lúc có mặt ông sứ, soạn giả Vũ Khắc Tiệp giải thích: “Khi trước nước ta phải phục về nước Tàu, khi có quan sứ ở nước Tàu sang, thì ta phải chiều chuộng rất cung kính, nhưng khi vắng mặt thì lại gọi đó là thằng Ngô”(11). Và đây là câu mà theo tác giả Thượng Chi văn tập, là một câu ca dao: Ba mươi tết, tết lại ba mươi, Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú Khách. Ở một số nước như Trung Quốc,sáng tác dân gian được văn bản hoá rất sớm (ví dụ Kinh Thi), còn ở ta những ghi chép văn học dân gian xuất hiện muộn, tạo nên một khó khăn khi nghiên cứu mối quan hệ giữa hai bộ phận văn chương dân tộc-văn chương bác học và văn chương dân gian, là có những giá trị rất gần gũi, có thể khẳng định được rằng có sự tiếp thụ, nhưng không thể chỉ rõ được tác giả văn học viết sử dụng của dân gian hay sáng tác của họ được dân gian hoá. Riêng trường hợp chữ Ngô đang bàn, có thể phân định được bằng phép loại trừ. Trong tác phẩm của Nguyễn Trãi chữ Ngô chưa đối lập với chữ Minh về sắc thái ý nghĩa, điều này chỉ xuất hiện về sau, bởi vậy nên khẳng định trên cơ sở những chứng cớ khách quan, “chính những trước tác của Nguyễn Trãi mà tiêu biểu là Bình Ngô đại cáo đã góp phần quan trọng đối với việc lưu giữ ký ức lịch sử về quân Minh xâm lược thâm độc, tàn bạo và tư thế vĩ đại của nước Việt thời ấy góp phần hình thành trong tâm thức dân gian Việt Nam cách gọi người phương Bắc bằng từ Ngô với ý nghĩa như chúng ta đã thấy”(13). Chúng ta đều biết có nhiều cách để lưu giữ ký ức lịch sử trong đó tác phẩm văn chương đích thực có ưu thế các lĩnh vực khác khó bì, vì ở đây có sự hài hoà giữa nhận thức và cảm xúc, là “hình thức nhuần nhị nhất của tư tưởng”. Sức sống của chữ Ngô cũng là một cứ liệu khẳng định giá trị văn chương xuất sắc của Bình Ngô đại cáo. Tác phẩm này của Nguyễn Trãi đã trở thành một giá trị cổ điển, gắn với nó có một nhận định cũng đã trở thành cổ điển, rằng đây là một “thiên cổ hùng văn” (Vũ Khâm Lân, thế kỷ XVII). Với nhận định này cho thấy sự thụ cảm của người xưa về Bình Ngô đại cáo, xem nó như một sáng tác văn chương. Bình Ngô đại cáo đã được nhiều dịch giả thuộc nhiều thế hệ chuyển ra quốc ngữ và nhìn chung có thể thấy rằng người dịch đến với nguyên tác trước hết cũng không phải như một văn kiện lịch sử, qua việc theo các chuẩn mực tín, đạt, nhã của một văn bản văn chương. Điều này thấy rõ ở xu hướng triệt để bảo lưu tính chất biền ngẫu và nhạc tính của câu văn, ngay cả ở những trường hợp để đạt được điều đó phải dịch đảo câu trong nguyên tác (các câu Nhân tài thu diệp, tuấn kiệt thần tinh; Ẩm tượng nhi hà thuỷ can, Ma đao nhi sơn thạch khuyết). Có những câu dịch so với nguyên tác đã được hình tượng hoá (Tuấn sinh linh chi huyết, dĩ nhuận kiệt liệt chi vẫn nha được dịch thành “Thằng há miệng đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán”). Chỉ với Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã xứng đáng là nhà văn chính luận kiệt xuất. Ông đã làm nên một hiện tượng độc đáo trong văn học trung đại Việt Nam: Nguyễn Trãi là tác gia duy nhất có sự tương xứng kép, ở bậc cao, tương xứng giữa văn chính luận và văn chương thẩm mỹ, tương xứng giữa trước tác bằng chữ Hán và bằng quốc âm.
Giá trị văn chương của Bình ngô đại cáo
4,398
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tậpNgữ văn lớp 10: Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh, với nội dung đã được cập nhật một cách chi tiết sẽ là nguồn thông tin hữu ích dành cho các bạn học sinh tham khảo để học tốt hơn môn Ngữ văn 10. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh Văn thuyết minh nhằm giới thiệu, trình bày chính xác, khách quan về cấu tạo, tính chất, quan hệ, giá trị,… của một sự vật, hiện tượng, một vấn đề thuộc tự nhiên, xã hội và con người. Có nhiều loại văn bản thuyết minh. Ở đây chủ yếu nói về loại văn bản thuyết minh thiên về trình bày, giới thiệu một sự vật, hiện tượng, một vấn đề trong cuộc sống con người hoặc trong tác phẩm văn học. KẾT CẤU CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH Kết cấu văn bản là sự tổ chức, sắp xếp các thành tố của văn bản thành một đơn vị thống nhất, hoàn chỉnh, có ý nghĩa. Văn bản thuyết minh có thể dùng các hình thức kết cấu khác nhau tùy theo đối tượng cần trình bày, giới thiệu, miễn sao đạt được yêu cầu quan trọng nhất là người đọc (nghe) hiểu rõ được đối tượng thuyết minh, và không những thế, còn thích thú với nội dung thuyết minh về đối tượng đó. Các em đọc kĩ hai bài thuyết minh về Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân và Bưởi Phúc Trạch trong SGK, trả lời các câu hỏi để nhận ra hình thức kết cấu của từng bài. Dưới đây là những gợi ý để các em có thể tìm hiểu từng văn bản. a) Đối tượng thuyết minh: một phong tục hội hè dân gian độc đáo. Mục đích thuyết minh: người đọc (nghe) hiểu được và thích thú phong tục đó. b) Ý chính tạo thành nội dung thuyết minh: – Nội dung và các công đoạn của hội thổi cơm thi. – Ý nghĩa của phong tục thổi cơm thi. c) Cách sắp xếp các ý: – Theo ba phần: + Mở đầu: giới thiệu hội thi. + Thân bài: kể lại các công đoạn của hội thi. + Kết bài: nêu ý nghĩa của hội thi. – Các công đoạn của hội thi được trình bày theo trình tự thời gian: + Lễ dâng hương. + Lấy lửa trên ngọn cây chuối cao. + Giã thóc, giần sàng thành gạo, lấy nước thổi cơm. + Các đội thi biểu diễn nấu cơm trên sân đình (cần treo nồi, đuốc lửa đung đưa phía dưới). + Ban giám khảo chấm và trao giải. • Văn bản 2: Bưởi Phúc Trạch a) Đối tượng thuyết minh: một đặc sản nổi tiếng về hoa quả ở Hà Tĩnh. Mục đích thuyết minh: người đọc (nghe) nhận rõ đặc sản đó, muốn được thưởng thức nó. b) Ý chính tạo thành nội dung thuyết minh. – Đặc điểm, phẩm chất, những nét vượt trội của bưởi Phúc Trạch. – Giá trị của bưởi Phúc Trạch (trong nước, ngoài nước). c) Cách sắp xếp các ý: Cũng theo bố cục ba phần (mở bài, thân bài, kết bài) như ở bài 1, nhưng nếu ở bài 1 được kết cấu theo trình tự thời gian thì ở bài này lại được kết cấu theo trình tự hỗn hợp: đầu tiên là theo trình tự quan sát (trình tự không gian) từ hình dáng quả bưởi đến màu vỏ bưởi, đến màu hồng đào của múi bưởi, những tép bưởi chen chúc nhau mọng lên đầy ắp hương vị hấp dẫn; sau đó là những hồi ức kỉ niệm về bưởi Phúc Trạch đối với người ốm, người già, đối với thương binh và bộ đội trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ (giá trị đối với trong nước); cuối cùng nâng lên thành giá trị đối với thế giới với nhãn hiệu “Quả ngon xứ Đông Dương”. Ngoài hai hình thức kết cấu theo trình tự thời gian (bài 1), trình tự hỗn hợp (bài 2), còn có các hình thức kết cấu theo trình tự không gian, trình tự lôgic,… (xem phần Ghi nhớ cuối bài). LUYỆN TẬP 1. Gợi ý: Để thuyết minh bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, có thể chọn các hình thức kết cấu sau đây: – Theo trình tự khai – thừa – chuyển – hợp của bài tứ tuyệt. – Theo trình tự từ tác giả (con người) hiện hình thành tác phẩm (bài thơ). – Theo trình tự lôgíc, trình tự hỗn hợp,… 2. Gợi ý: Để thuyết minh một di tích, một thắng cảnh của đất nước, cần tiến hành như sau: – Giới thiệu các nội dung: + Nguồn gốc của di tích, thắng cảnh. + Vẻ đẹp của di tích, thắng cảnh. + Ý nghĩa, giá trị của di tích, thắng cảnh. —————————- Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Lập dàn ý bài văn thuyết minh. Để học tốt Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài soạn văn mẫu bài Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh
892
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Cảm xúc mùa thu Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 Để có kết quả cao hơn trong học tập, mời các bạn học sinh tham khảo bộ tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Cảm xúc mùa thu, với cách hướng dẫn đọc bài và gợi ý làm bài luyện tập sẽ là nguồn thông tin hữu ích để giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn lớp 10. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Cảm xúc mùa thu I. HƯỚNG DẪN ĐỌC BÀI Về Đỗ Phủ, các em đã được học bài Mao ốc vị thu phong sở phá ca (Bài ca nhà tranh bị gió thu phá) ở trung học cơ sở. Lên lớp 10, các em lại được học thêm bài Thu hứng (Cảm xúc mùa thu) của ông. Đây là bài Thu hứng thứ nhất trong chùm thơ Thu hứng 8 bài, được ông sáng tác năm 766 tại Quỳ Châu (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên – Trung Quốc). Để đi vào tìm hiểu bài thơ thu tiêu biểu và đặc sắc này, các em cần đọc kĩ Tiểu dẫn về tác giả, so sánh đối chiếu bản dịch thơ với bản dịch nghĩa, xem các chú thích để hiểu rõ hơn bài thơ, và điều quan trọng là phải đọc nhiều lần bản dịch thơ để có cảm nhận chung về tác phẩm. Dưới đây là những gợi ý để trả lời các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài 1. Tìm hiểu bố cục bài thơ và xác định nội dung từng phần Bài thơ có thể chia làm hai phần: – Bốn câu đầu tả cảnh thu, trong cảnh đượm tình thu. – Bốn câu sau thể hiện cảm xúc trước mùa thu nơi đất khách của tác giả. Kết cấu như vậy cân đối hài hòa, từ cảnh mà có tình và tình thấm sâu trong cảnh vật. – Tầm nhìn của nhà thơ trong 4 câu thơ đầu: + Tầm nhìn mở rộng ra xung quanh trong một không gian rộng và xa gồm rừng phong, Vu Sơn, Vu giáp, lưng trời, mặt đất, dòng sông, cửa ải, mây, sóng,… + Tuy tầm nhìn mở rộng nhưng nhà thơ vẫn phát hiện và nhận ra ngay những nét thu điển hình nơi núi non đất Thục: rừng phong đã đổi màu vì sương móc trắng, núi Vu, kẽm Vu hiu hắt hơi thu; dòng sông nước lũ mùa thu sóng vọt lên tận lưng trời; còn trên cửa ải, mây sa xuống giáp mặt đất. + Tầm nhìn chuyển từ cảnh tĩnh nơi núi rừng sang cảnh động của sóng trên sông, mây trên ải khiến cho bức tranh mùa thu thêm phong phú, sinh động, trong cảnh thu đượm cả tình thu. – Sự thay đổi của tầm nhìn từ bốn câu đầu đến bốn câu sau: + Từ tầm nhìn mở rộng ra xung quanh, con mắt của thi nhân tự thu về một không gian hẹp hơn: đó là cảnh vật trước mắt. Nhà thơ chỉ còn nhìn thấy khóm cúc và con thuyền lẻ loi. Sự thay đổi tầm nhìn ở đây là hợp với lẽ tự nhiên của tâm trạng con người trước cảnh vật – đặc biệt là cảnh thu: nhìn rộng ra xa để thấy nét thu bao quát của đất trời để rồi quay về nhìn gần trở lại để cảm thấu hết tình thu trong lòng mình. + Khóm cúc là loại hoa tượng trưng cho mùa thu, nhưng ở đây cúc không nở ra hoa mà tuôn ra hai lần dòng nước mắt ngày trước (Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ). Còn con thuyền lẻ loi thì buộc mãi tấm lòng nhớ nơi vườn cũ (Con thuyền buộc chặt mối tình nhà). Cảnh gợi tình và tình thấm sâu vào cảnh. + Không chỉ nhìn thấy mà còn nghe thấy. Đó là âm thanh đặc trưng của mùa thu: tiếng chày đập vải để may áo rét vang lên rộn ràng gợi nhớ người thân nơi phương trời giá lạnh và những người lính còn trấn thủ nơi biên cương quan ải. (Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước – Thành Bạch, chày vang bóng ác tà). 3. Xác định mối quan hệ giữa bốn câu thơ đầu với bốn câu thơ sau, mối quan hệ giữa toàn bài với nhan đề “Thu hứng”. – Mối quan hệ giữa bốn câu thơ đầu với bốn câu thơ sau: Là mối quan hệ giữa không gian rộng mở của cảnh thu trời đất, núi rừng với không gian thu hẹp của cảnh thu trước mắt, cũng có thể xem đây là mối quan hệ giữa cảnh thu (chủ yếu ở bốn câu đầu) và tình thu (chủ yếu ở bốn câu sau) mặc dù ở cả hai phần cảnh và tình đều hòa hợp, xuyên thấm vào nhau. Từ không gian rộng mà đi đến không gian hẹp một cách tự nhiên, từ cảnh thu mà nảy sinh tình thu – bốn câu thơ đầu có thể xem như một cái nền cảnh chung để trên đó nổi lên những cảnh vật cụ thể thấm đượm tình người da diết trước mùa thu ở bốn câu thơ sau. Phần đầu mở ra phần sau và phần sau tô đậm khắc sâu thêm phần đầu để hoàn chỉnh ý thơ trong toàn bài. – Mối quan hệ giữa toàn bài với nhan đề Thu hứng: Thu hứng là cảm xúc mùa thu, là nhan đề của bài thơ. Do vậy, mọi hình ảnh, chi tiết, cảnh vật, tình người trong bài thơ đều để nói lên cảm xúc mùa thu của thi nhân. Đó chính là mối quan hệ giữa toàn bài với nhan đề Thu hứng. Điều này đã được phân tích rõ trong câu 2 trên đây. Từng hình ảnh, chi tiết trong từng câu thơ (rừng phong, núi Vu, sóng sông, mây ải, khóm cúc, con thuyền, tiếng chày,…) đều tập trung vào việc bộc lộ cảm xúc mùa thu của nhà thơ để thể hiện chủ đề Thu hứng của tác phẩm. Đó là nỗi lo âu cho đất nước, nỗi buồn nhớ quê hương và nỗi ngậm ngùi, xót xa cho thân phận mình trước mùa thu nơi đất khách của tác giả. 1. Muốn trả lời đúng câu hỏi này, các em cần đọc lại bản dịch nghĩa câu thơ, kết hợp với cảm nhận của mình về câu thơ đó trong cảm hứng chung của tác giả về toàn bài thơ. Nếu đọc câu thơ dịch của Nguyễn Công Trứ: Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ, nhiều người có thể nghĩ “lệ” ở đây là nước mắt của “khóm cúc”. Nhưng đọc bản dịch nghĩa thì lại thấy không hoàn toàn như vậy: Khóm cúc nở hoa đã hai lần (làm) tuôn rơi nước mắt ngày trước. “Nước mắt ngày trước” ở đây là của thi nhân mà cũng có thể là của “khóm cúc”. Làm sao phân biệt được nước mắt thi nhân hay nước mắt hoa khi mà con người với ngoại giới chung một tâm tình, khi “vạn vật với ta là một”. Và đấy mới chính là chỗ hay của câu thơ, trong cả nguyên tác của Đỗ Phủ cũng như câu thơ dịch rất tài hoa của Nguyễn Công Trứ. 2. Bài tập này các em tự làm (có thể trao đổi vở nhau trong nhóm, tổ). ——————————- Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Cảm xúc mùa thu. Để học tốt Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài soạn văn mẫu bài Cảm xúc mùa thu và đọc lại bài thơ Cảm xúc mùa thu mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Cảm xúc mùa thu
1,307
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Cảnh ngày hè Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 Để học tốt Ngữ văn lớp 10, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Cảnh ngày hè, với nội dung tài liệu đã cập nhật một cách chi tiết sẽ là nguồn thông tin hữu ích dành cho các bạn học sinh khai thác để có kết quả cao hơn trong học tập. Mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Cảnh ngày hè I. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI a. Đọc Tiểu dẫn để biết xuất xứ của bài thơ (Chú ý: Đây là thơ Nôm của Nguyễn Trãi). b. Đọc bài thơ với giọng điệu vui, thanh thản. Chú ý ngắt nhịp đúng câu thơ sáu chữ (theo nhịp 3 – 3) và một số câu bảy chữ theo nhịp 3-4: Thạch lựu hiên / còn phun thức đỏ Hồng liên trì / đã tiễn mùi hương. c. Xem kĩ chú thích để hiểu đúng nội dung bài thơ (chú ý các điển tích và các từ cổ). • Sau đây là một số gợi ý để trả lời các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài: Trước khi đi vào từng câu hỏi, cần nhận rõ thời gian và thời điểm của cảnh trong bài thơ: – Thời gian vào cuối mùa hè: Hồng liên trì đã tiễn mùi hương – Thời điểm vào cuối ngày: (…) tịch dương: 1. Tìm những động từ diễn tả trạng thái của cảnh. – Động từ “đùn đùn”, “giương” trong câu thơ: Hòe lục đùn đùn tán rợp giương. – Động từ “phun” trong câu thơ: Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ. Cảnh vật đang ở vào cuối mùa, cuối ngày, nhưng sự sống thì không dừng lại. Có một cái gì thôi thúc từ bên trong, đang ứa căng, đang tràn đầy, không kìm lại được, phải đùn đùn, phải giương lên, phải phun ra, hết lớp này đến lớp khác, khiến cho cảnh vật sinh động, đầy sức sống. 2. Phân tích rõ sự hài hòa của cảnh trong bức tranh thơ này – Sự hài hòa giữa âm thanh và màu sắc: màu lục của lá hòe làm nổi bật màu đỏ của hoa thạch lựu, tiếng ve inh ỏi trong ánh mặt trời buổi chiều hòa cùng tiếng lao xao của chợ cá cuối ngày. – Sự hài hòa giữa cảnh vật và con người: người rỗi rãi hóng mát trước cảnh ngày hè tươi đẹp, chợ cá lao xao và những ngư phủ làng chài, ve kêu như tiếng đàn quanh lầu lúc mặt trời sắp lặn. 3. Nhà thơ đã cảm nhận cảnh vật bằng những giác quan nào? tấm lòng của ông đối với thiên nhiên ra sao? – Nhà thơ đã cảm nhận cảnh vật bằng nhiều giác quan: thị giác (màu sắc), thính giác (âm thanh), khứu giác (mùi hương), và cả sự liên tưởng (nghe tiếng ve kêu như một khúc đàn của thiên nhiên). 4. Tìm hiểu vẻ đẹp tâm hồn (bức tranh tâm trạng) của nhà thơ trong hai câu thơ cuối. – Không chỉ yêu thiên nhiên, Nguyễn Trãi còn là một con người yêu đời, yêu cuộc sống, một tấm lòng ưu ái với dân, với nước. Điều này được bộc lộ rõ rệt và sâu sắc trong hai câu thơ cuối: Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương. Ông ước có được chiếc đàn của vua Thuấn để gảy khúc Nam phong mong cho “dân giàu đủ khắp đòi phương”. Câu kết của bài thơ cô đúc trong sáu chữ, thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài. Điểm kết tụ của hồn thơ Nguyễn Trãi không phải ở thiên nhiên, tạo vật mà chính là ở con người, ở người dân. Ông mong cho dân giàu đủ nhưng đó phải là hạnh phúc cho tất cả mọi người, mọi nơi: khắp đòi phương. 5. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ Là cả ba điều như SGK đã gợi ý, nhưng nên hiểu theo lôgíc tâm trạng của thi nhân: trước cảnh ngày hè tươi đẹp, ông yêu thiên nhiên tha thiết, từ đó mà yêu đời, yêu cuộc sống và có khát vọng về cuộc sống thái bình, hạnh phúc cho nhân dân. Nhân dân vẫn là cội nguồn cho cảm hứng thơ Nguyễn Trãi và làm nên vẻ đẹp tâm hồn của thơ ông. Gợi ý bài 1: Yêu cầu cần đạt là nêu rõ vẻ đẹp của thiên nhiên và tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài thơ. – Vẻ đẹp của thiên nhiên: bức tranh ngày hè hài hòa màu sắc, âm thanh, đầy sức sống, quen thuộc gần gũi mà đẹp. – Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi: yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu cuộc sống. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng canh cánh bên lòng nỗi niềm ưu ái đối với dân, với nước. ——————————————– Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Cảnh ngày hè. Để học tốt môn Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài soạn văn mẫu bài Cảnh ngày hè mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Cảnh ngày hè
875
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Khái quát văn học Việt Nam từ X đến hết thế kỉ XIX Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Khái quát văn học Việt Nam từ X đến hết thế kỉ XIX, với nội dung đã được VnDoc cập nhật một cách chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn lớp 10. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Khái quát văn học Việt Nam từ X đến hết thế kỉ XIX Sau bài Tổng quan văn học Việt Nam và Khái quát văn học dân gian Việt Nam, các em tiếp tục học bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX. Đây là văn học viết tồn tại và phát triển trong xã hội phong kiến Việt Nam, còn được gọi là văn học trung đại. Bài khái quát này cung cấp cho các em một cái nhìn tổng quát và những kiến thức cơ bản về mười thế kỉ văn học để các em có thể học tiếp một loạt bài về văn học trung đại ở lớp 10 (và học kì I lớp 11). Do vậy, các em cần đọc kĩ để nắm chắc bài học quan trọng này. Cách học như sau: – Đọc một lần toàn bộ bài học để có một cái nhìn chung về văn học trung đại ở nước ta. – Sau đó, đọc chậm từng mục lớn, mục nhỏ của bài và chuyển bài viết trong SGK thành một dàn ý chi tiết để nhớ các kiến thức cơ bản của mười thế kỉ văn học này. Dưới đây là những gợi ý giúp các em thực hiện tốt phần Hướng dẫn học bài trong SGK: 1. Nêu những điểm chung và những điểm khác nhau của hai bộ phận văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. b) Những điểm khác nhau Văn học chữ Hán – Ra đời sớm (từ thế kỉ X). – Dùng chữ nước ngoài (chữ Hán). – Bao gồm cả thơ và văn xuôi. – Chịu ảnh hưởng nhiều của văn học Trung Quốc, đặc biệt về thể loại văn học. Văn học chữ Nôm – Ra đời muộn hơn (từ thế kỉ XIII). – Dùng chữ dân tộc (chữ Nôm). – Chủ yếu là thơ, rất ít tác phẩm văn xuôi. – Chịu ảnh hưởng văn học Trung Quốc ít, một số thể loại đã được Việt hóa, phần lớn là thể loại văn học dân tộc. c) Đây là hiện tượng song ngữ ở văn học trung đại Việt Nam Hai bộ phận văn học này không đối lập nhau mà bổ sung cho nhau trong quá trình phát triển của nền văn học dân tộc. 2. Lập bảng tổng hợp về tình hình phát triển của văn học Việt Giai đoạn văn học Nội dung Nghệ thuật Sự kiện văn học, tác giả, tác phẩm Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV Nội dung yêu nước với âm hưởng hào hùng Bắt đầu từ chữ Hán đến sáng tạ0 chữ Nôm. Thể loại văn học chủ yếu tiếp thu từ Trung Quốc Quốc tộ (Đỗ Pháp Thuận), Thiên độ chiếu (Lí Thái Tổ), Nam quốc Sơn hà, Hịch tướng Sĩ (Trần Quốc Tuấn), Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão), Bạch Đằng Giang phú (Trương Hán Siêu). Từ thế kỉ XV đến nửa đầu thế kỉ XVII Đi từ nội dung yêu nước mang âm hưởng gợi ca đến nội dung phản ánh, phê phán hiện thực xã hội phong kiến. Văn học chữ Hán phát triển với nhiều thể loại phong phú. Với thành tựu của Văn chính luận Và Văn Xuôi tự Sự. Văn học chữ Nôm. Việt hóa thể loại từ Trung Quốc, Sáng tạ0 các thể loại văn học dân tộc. Bình Wgô đại cá0, Quân trung từ mệnh tập, Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Thiên Wam ngữ lục, Tứ thời khúc Vịnh (Hoàng Sĩ Khải), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ). Từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX Sự xuất hiện của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa: đòi quyền Sống, đòi hạnh phúc và đấu tranh giải phóng con người, trong đó có phần con người cá nhân. Văn học phát triển mạnh cả ở Văn Xuôi và Văn vần, cả chữ Hán Và. Chữ Nôm. Văn học chữ Nôm được khẳng định và đạt tới đỉnh cao. Văn xuôi tự sự chữ Hán đạt thành tựu lớn. Thinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều), thơ Hồ Xuân Hương, thơ Bà Huyện Thanh Quan, thơ chữ Hán và Truyện Kiều của Nguyễn Du, Wam triều công nghiệp diễn chí (Nguyễn Khoa Chiêm), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia Văn phái), Thượng kinh kí Sự (Lê Hữu Trác),… Nửa cuối thế kỉ XIX Văn học yêu nước mang âm điệu bi tráng. Văn học chữ quốc ngữ xuất hiện nhưng văn học chữ hán, chữ nôm là chính với những thể loại thi pháp và truyền thống. Lục Vân Tiên, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Ngư tiều y thuật vấn đáp (Nguyễn Đình Chiểu) thơ văn yêu nước của Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Nguyễn Quang Bích, thơ trữ tình của Nguyễn Khuyến Tú Xương. 3. Nêu một số tác phẩm đã học trong chương trình trung học cơ sở để làm sáng tỏ những đặc điểm lớn về nội dung của văn học Việt Nam thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX: – Nam quốc sơn hà – Tụng giá hoàn kinh Sư – Thiên đô chiếu – Bình Ngô đại cáo (trích) – Hịch tướng sĩ ⇒ Nội dung yêu nước với âm hưởng hào hùn – Hoàng Lê nhất thống chí (hồi 14) – Chuyện người con gái Nam Xương – Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh – Sau phút chia li (Chinh phụ ngâm – Truyện Kiều ⇒ Phản ánh, phê phán hiện thực, xã hội phong kiến -> Nội dung nhân đạo chủ nghĩa 4. Những đặc điểm lớn về nghệ thuật của văn học Việt Nam thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX. a) Có ba đặc điểm lớn: – Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm – Khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị – Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài b) Chính vì vậy, cách đọc văn học cổ có những điểm khác biệt với cách đọc văn học hiện đại: Tư duy nghệ thuật thường theo kiểu mẫu có sẵn đã thành công thức; thể loại văn học có những quy định chặt chẽ về kết cấu; cách sử dụng thi liệu thường dẫn nhiều điển tích, điển cố, thi liệu của văn học Trung Hoa; cách diễn đạt thiên về ước lệ, tượng trưng. Tóm lại, đó là một hệ thống thi pháp mang tính quy phạm và khuynh hướng trang nhã của văn học trung đại. ——————————— Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Khái quát văn học Việt Nam từ X đến hết thế kỉ XIX. Để học tốt môn Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài soạn văn mẫu bài Khái quát văn học Việt Nam từ X đến hết thế kỉ XIX và đọc lại bài Tỏ lòng mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Khái quát văn học Việt Nam từ X đến hết thế kỉ XIX
1,231
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Lập dàn ý bài văn thuyết minh Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 Để học tốt Ngữ văn lớp 10, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Lập dàn ý bài văn thuyết minh, với nội dung đã được VnDoc cập nhật chi tiết sẽ là nguồn thông tin hữu ích phục vụ các bạn học sinh có kết quả cao hơn trong học tập. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Lập dàn ý bài văn thuyết minh I. ÔN TẬP VỀ DÀN Ý SGK nêu lên 4 câu hỏi ôn tập về dàn ý. Các em tự trả lời 4 câu hỏi này nhằm nhớ lại những điều đã học ở trung học cơ sở và ở lớp 10 (cần chú ý đến câu hỏi 4). II. LUYỆN TẬP TẠI LỚP Phần này SGK viết rất rõ và cụ thể, có thể giúp các em lập dàn ý bài văn thuyết minh theo hai bước: xác định đề tài và xây dựng dàn ý. Các em cần đọc kĩ và tận dụng những gợi ý, hướng dẫn của SGK để xây dựng thành dàn ý của mình. Cuối cùng, cần ghi nhớ ba điều sau đây trong việc lập dàn ý cho một bài văn thuyết minh: – Phải nắm vững các kiến thức về dàn ý và các kĩ năng xây dựng dàn ý. – Có đầy đủ những tri thức cần thiết và chuẩn xác về đề tài cần thuyết minh. LUYỆN TẬP SGK nêu lên 4 bài luyện tập về xây dựng dàn ý cho các bài văn thuyết minh: 1. Giới thiệu một tác giả văn học. 2. Giới thiệu một tấm gương học tốt. 3. Giới thiệu một phong trào của trường (hoặc của lớp) mình. 4. Trình bày một quy trình sản xuất (hoặc các bước của một quá trình học tập). Những bài tập này đều gần gũi và vừa sức đối với các em. Các em có thể tự làm, riêng bài tập 4 cần trao đổi thêm trong nhóm, tổ để bài làm được tốt hơn. ————————— Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Lập dàn ý bài văn thuyết minh. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo Giáo án Ngữ văn bài Lập dàn ý bài văn thuyết minh mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Lập dàn ý bài văn thuyết minh
402
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Lập kế hoạch cá nhân Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 Các bạn học sinh thân mến! Để phục vụ cho công việc học tập của các bạn được tốt hơn, xin giới thiệu tới các bạn tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Lập kế hoạch cá nhân, với những gợi ý giải bài tập một cách chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 10. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Lập kế hoạch cá nhân I. KIẾN THỨC CẦN NHỚ Nắm được kế hoạch cá nhân và biết cách lập kế hoạch cá nhân. 1. Sự cần thiết của việc lập kế hoạch cá nhân – Kế hoạch cá nhân là bản dự kiến nội dung, cách thức hành động và phân bố thời gian để hoàn thành một công việc nhất định. – Kế hoạch cá nhân giúp ta chủ động trong công việc để đạt hiệu qua cao. – Có thói quen lập kế hoạch cá nhân là thể hiện một phong cách làm việc khoa học. Ngay khi còn là học sinh, các em cần có kế hoạch cá nhân trong học tập và công tác để thích ứng với con người trong thời đại ngày nay. 2. Cách lập kế hoạch cá nhân – Ví dụ: Lập kế hoạch cá nhân về ôn tập môn Ngữ văn cuối học kì I. (1) Chuẩn bị các thông tin, tài liệu cần thiết để lập kế hoạch. (2) Định ra yêu cầu, nội dung, cách thức, thời gian,… (3) Viết thành bản kế hoạch cá nhân. – Tham khảo mẫu kế hoạch: KẾ HOẠCH ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN (Cuối học kỳ 1, năm học 2006 – 2007) Họ và tên: Lớp: Tổ: 1. Mục tiêu phấn đấu 2. Nội dung và kế hoạch ôn tập Môn Nội dung Cách thức tiến hành Biện pháp cụ thể Thời gian Văn Tiếng việt Làm văn Dựa vào mẫu trên, các em có thể bổ sung, thêm bớt cho phù hợp với kế hoạch cá nhân của mình và ghi chi tiết vào các ô trống để thành bản kế hoạch hoàn chỉnh. 3. Ghi nhớ Xem phần Ghi nhớ trong SGK. II. LUYỆN TẬP 1. Gợi ý: Đây là bản kế hoạch cá nhân đơn giản để ghi những công việc hàng ngày của mình có tính chất lặp lại, chưa có các phần như mục tiêu phấn đấu, kế hoạch thực hiện, dự kiến kết quả đạt được,… 2. Gợi ý: Bản kế hoạch có đủ các mục cần thiết nhưng nội dung còn chung chung, không cụ thể, khó thực hiện. Các em cần bổ sung thêm cho bạn những phần cụ thể trong các mục thì bản kế hoạch mới có thể thực hiện được. 3. Gợi ý: Những thông tin cần thiết cho việc lập kế hoạch đã được nêu đầy đủ. Dựa vào đó, các em suy nghĩ và sắp xếp lại để giúp cho bạn lập kế hoạch cá nhân (có thể thêm phần Mục tiêu phấn đấu, Cách thức tiến hành, Thời gian học tập,…). Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Lập kế hoạch cá nhân. Để học tốt Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài soạn văn mẫu bài Lập kế hoạch cá nhân mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Lập kế hoạch cá nhân
558
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Nhàn Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 Để học tốt Ngữ văn lớp 10, VnDoc mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Nhàn, chắc chắn tài liệu sẽ là nguồn thông tin hữu ích phục vụ các bạn học sinh có kết quả cao hơn trong học tập. Mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Nhàn I. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI Trước hết, cần đọc bài thơ vài lần để có cảm nhận chung về tác phẩm. Đọc với giọng nhẹ nhàng, thong thả, thoải mái. Chú ý ngắt nhịp đúng (nhịp 4/3), riêng câu đầu ngắt nhịp 2/2/3 (Một mai/một cuốc/một cần câu), câu 3,4 ngắt nhịp 2/5. Ta dại / ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn / người đến chốn lao xao. Sau đó đọc kĩ Tiểu dẫn và Chú thích để nắm được tác giả, xuất xứ tác phẩm và hiểu đúng, hiểu sâu hơn bài thơ (đặc biệt chú thích (3) về điển Thuần Vu Phần ở hai câu thơ cuối). Dưới đây là gợi ý trả lời các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài: 1. Hai câu đầu Một mai/một cuốc / một cần câu, Thơ thẩn dầu ai/vui thú nào. Câu 1 ngắt nhịp 2/2/3 cùng với cách dùng dùng số từ + danh từ liên tiếp (một…, một…, một…) như kể ra rành rọt những dụng cụ cho một cuộc sống đã sẵn sàng: mai để đào đất, cuốc để xới đất, cần câu để bắt cá. Câu thơ đưa ta về với cuộc sống nguyên sơ, thuần hậu, tự cung tự cấp của cái thời “tạc tỉnh canh điền” (nước đào giếng, cơm cày ruộng). Cụ Trạng Trình, một bậc đại khoa mà lại về với cuộc sống như vậy thì cũng là một sự ngông ngạo trước thói đời. Ngông ngạo mà không ngang, mà cứ ung dung, thanh thản như không – nhịp điệu nhẹ nhàng, thong thả của câu 2 đã nói rõ điều đó: Hoàn cảnh cuộc sống là như vậy nhưng nhà thơ đã sẵn sàng chấp nhận và như còn vui, thích thú với cuộc sống đó (Dù ai có cách vui thú nào cũng mặc, ta cứ thơ thẩn giữa cuộc đời này). 2. Hai câu 3, 4 Ta dại/ ta tìm nơi Uắng Uẻ, Người khôn/ người đến chốn lao xao. Hai câu thơ vừa mang vẻ đẹp nhân cách, lại mang vẻ đẹp trí tuệ của một bậc hiền sĩ, thức giả. Nơi vắng vẻ đối lập với chốn lao xao, ta không người cầu cạnh ta và ta cũng không cầu cạnh người. Nơi vắng vẻ là nơi tĩnh tại của thiên nhiên và nơi thảnh thơi của tâm hồn. “Người đến chốn lao xao” là đến chốn cửa quyền, đến vòng danh lợi. Ta thấy rõ nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm đối lập với danh lợi như nước với lửa. Ông còn là một bậc thức giả với trí tuệ tỉnh táo, sáng suốt – trong sự lựa chọn nơi vắng vẻ để sống, và cả trong cách nói đùa vui, ngược nghĩa, thâm trầm mà sâu sắc: nói ta dại nhưng thực chất là khôn, nói người khôn mà chính là dại. Câu thơ mang ý vị triết lý sâu xa về cách sống của con người. 3. Hai câu 5,6 Thu ăn măng trúc / đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen / hạ tắm ao. Hai câu thơ có âm điệu nhịp nhàng, hình ảnh đẹp, lại đối nhau rất chỉnh và cân xứng, tạo nên bộ tranh tứ bình về cuộc sống đạm bạc mà thanh cao qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông của nhà hiền sĩ. Ö đây, cuộc sống đạm bạc chứ không khắc khổ. Đạm đi với thanh. Thức ăn dân dã nhưng mùa nào thức ấy (Thu ăn măng trúc, đông ăn giá), cuộc sống giữa thiên nhiên mà thanh thản, thơ mộng (Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao). Một cuộc sống thanh đạm nhường ấy dễ mấy ai đã có được như nhà thơ! Rượu đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. Hai câu thơ cuối càng khẳng định mạnh mẽ nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông xem phú quý chỉ là giấc chiêm bao như giấc mộng của Thuần Vu Phần xưa. Ở đây, với cái nhìn thông tuệ của bậc thức giả, ông tìm đến say chỉ là để tỉnh. Cuộc sống nhàn dật này là kết quả của một nhân cách, một trí tuệ. Trí tuệ nhận ra danh lợi chỉ là giấc chiêm bao, nâng cao nhân cách để nhà thơ từ bỏ chốn lao xao tìm về nơi vắng vẻ, đạm bạc mà thanh cao. 5. Lựa chọn cách hiểu đúng về quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm SGK đưa ra bốn quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hai quan niệm trên không đúng với nhà thơ. Với ông, quan niệm sống nhàn là: – Xa lánh nơi quyền quý để giữ cốt cách thanh cao của nhà hiền sĩ. – Hòa hợp với tự nhiên, về với tự nhiên để di dưỡng tinh thần. Đó là quan niệm sống nhàn tích cực của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đặt trong hoàn cảnh xã hội phong kiến có những biểu hiện suy vi về đạo đức lúc bấy giờ, một quan niệm sống nhàn như vậy thật đáng trân trọng. Đó là chưa kể ông nhàn thân mà không nhàn tâm, nhàn mà vẫn canh cánh một niềm ưu ái với nước, với dân như trong phần Tiểu dẫn đã nói rõ. – Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao. – Nhân cách cao cả, vượt lên trên danh lợi. – Trí tuệ tỉnh táo, sáng suốt, sâu sắc. Đó là cuộc sống, nhân cách, trí tuệ cao đẹp của một bậc hiền sĩ, thức giả, của một nhà thơ lớn mang cốt cách một nhà hiền triết phương Đông. II. LUYỆN TẬP Dựa vào các phần phân tích 6 câu hỏi trên đây, các em tổng hợp lại để rút ra hai điểm: – Vẻ đẹp cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ. – Vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ (qua quan niệm sống nhàn). ——————————— Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Nhàn. Để học tốt hơn môn Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài soạn văn mẫu bài Nhàn và đọc lại bài Nhàn mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Nhàn
1,097
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 Mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, đã cập nhật những thông tin hữu ích nhất để phục vụ công việc học tập của các bạn học sinh được tốt hơn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt I. KIẾN THỨC CẦN NHỚ 1. Đọc đúng giọng điệu đoạn ghi chép một cuộc hội thoại trong sinh hoạt hằng ngày (SGK, tr.132) và trao đổi với nhau về khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt: – Ngôn ngữ của những con người cụ thể nào? Giọng điệu từng người ra sao? – Ngôn ngữ ấy nhằm những mục đích gì, đáp ứng những nhu cầu gì trong cuộc sống? 2. Khái niệm về ngôn ngữ sinh hoạt Ngôn ngữ sinh hoạt (còn gọi là khẩu ngữ, ngôn ngữ nói, ngôn ngữ hội thoại) là khái niệm chỉ toàn bộ lời ăn tiếng nói hằng ngày mà con người dùng để thông tin, suy nghĩ, trao đổi ý nghĩ, tình cảm với nhau, đáp ứng những nhu cầu tự nhiên trong cuộc sống. 3. Các dạng biểu hiện của ngôn ngữ sinh hoạt – Ngôn ngữ sinh hoạt thể hiện chủ yếu ở dạng nói: (độc thoại, đối thoại), nhưng một số trường hợp có cả ở dạng viết (nhật kí, hồi ức cá nhân, thư từ). – Ngoài ra còn có dạng lời nói bên trong, tức là suy nghĩ nhưng không nói ra, gồm các kiểu: + Độc thoại nội tâm: tự mình nói với mình nhưng không phát ra thành tiếng. + Đối thoại nội tâm: tưởng tượng ra một nhân vật nói chuyện với mình, đối đáp như một cuộc thoại. – Trong các tác phẩm nghệ thuật có dạng lời nói tái hiện, tức là dạng mô phỏng, bắt chước lời thoại tự nhiên, nhưng có sáng tạo theo các văn bản khác nhau: kịch, tuồng, chèo, truyện kể, tiểu thuyết,… (lời nói tự nhiên được biến cải theo thể loại văn bản và ý định chủ quan của người viết). II. LUYỆN TẬP a). Phát biểu ý kiến về hai câu tục ngữ: – Lời nói chẳng mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Câu tục ngữ nói lên vai trò quan trọng của lời nói (tức ngôn ngữ sinh hoạt) trong cuộc sống. Con người phải biết dùng lời nói một cách khéo léo, thích hợp để giao tiếp, ứng xử với nhau, tạo ra hiệu quả cao nhất trong cuộc sống cộng đồng (muốn “vừa lòng nhau” thì phải biết “lựa lời mà nói”) – Vàng thì thử lửa thử than, Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời. Giá trị một con người thể hiện ở lời nói của con người đó: “người ngoan thử lời.”. Lời nói trở thành một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá con người. Câu tục ngữ khuyên ta biết giữ gìn lời nói, nói năng đúng mực. b) Gợi ý: – Trong đoạn văn của Sơn Nam, ngôn ngữ sinh hoạt được biểu hiện ở dạng lời nói tái hiện, tức là dạng mô phỏng lời thoại tự nhiên, nhưng được người viết sáng tạo theo thể loại truyện thành lời nói của nhân vật Năm Hên trong tác phẩm Bắt sấu rừng U Minh Hạ. – Việc dùng từ ngữ ở đoạn văn này khá nhuần nhị, tự nhiên, in đậm sắc thái ngôn ngữ của vùng sông rạch đồng bằng sông Cửu Long ở cực Nam của Tổ quốc, và đây là ngôn ngữ của người đứng tuổi, từng trải trong nghề bắt cá sấu, có nét dân dã, bình dị: Có vậy thôi, là xong chuyện, bà con cứ tin tôi, rượt, ngặt, phú quới, miệt, cực lòng, không nói cá sấu mà nói sấu, với Sấu lợn, Đầu Sấu, Lưng Sấu,… Nhờ vậy, lời nói nhân vật sinh động, mang đậm phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. Nắm được các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. Ngôn ngữ sinh hoạt có một số đặc trưng cơ bản, rất tiêu biểu cho hành vi nói năng của con người trong cuộc sống. Các em xem lại đoạn hội thoại ở tiết học trước, nhận xét, trao đổi để rút ra những đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt có ba đặc trưng cơ bản sau đây: a) Tính cụ thể Dấu hiệu đặc trưng nhất của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt là tính cụ thể: cụ thể về hoàn cảnh, về con người và về những cách nói năng, từ ngữ diễn đạt. – Hoàn cảnh cụ thể: buổi trưa, khu tập thể. – Con người cụ thể: Lan, Hùng, Hương, mẹ Hương, ông hàng xóm. – Những cách nói năng, diễn đạt cụ thể: mỗi người nói và diễn đạt đều cụ thể bằng những từ ngữ cụ thể không giống nhau. b) Tính cảm xúc Dấu hiệu đặc trưng thứ hai của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt là tính cảm xúc. Không có một lời nói nào nói ra lại không mang tính cảm xúc, kể cả những lúc bình thường nhất. Tính cảm xúc của ngôn ngữ sinh hoạt được biểu hiện qua giọng nói của con người trong giao tiếp với nhau: – Giọng gọi Hương đi học của Lan, Hùng (thân mật, thúc giục). – Giọng khuyên bảo của mẹ Hương (thân mật, yêu thương). – Giọng thân mật trong sự trách móc (Gớm), trong so sánh (chậm như rùa,…) c) Tính cá thể Dấu hiệu đặc trưng thứ ba của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt là tính cá thể. Lời nói là vẻ mặt thứ hai, diện mạo thứ hai của con người để phân biệt người này với người khác, người quen hay kẻ lạ, thậm chí người tốt với người xấu. Qua âm thanh và giọng nói, ta biết được giới tính, tuổi tác, địa phương, cá tính, tâm trạng,… của người nói mà không cần nhìn thấy mặt. Có nghĩa là ta biết được nét riêng, tính cá thể của từng người qua ngôn ngữ sinh hoạt của họ. C đoạn hội thoại đã nêu, chỉ nghe lời nói ta có thể nhận ra nét riêng của từng người một cách dễ dàng. Ba đặc trưng cơ bản trên đây là những dấu hiệu để ta phân biệt phong cách ngôn ngữ sinh hoạt với các phong cách ngôn ngữ khác, như phong cách ngôn ngữ khoa học, hành chính, nghệ thuật,… Luyện tập Gợi ý: a) Tính cụ thể của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: – Hành vi: viết nhật kí (nhật kí thể hiện rất rõ nét phong cách ngôn ngữ sinh hoạt). – Từ ngữ: 8-3-69 ; ghi lại cụ thể sự việc đi thăm bệnh nhân về giữa đêm khuya (cảnh vật, âm thanh, và ý nghĩ của người viết). ———————————– Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. Để học tốt môn Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài soạn văn mẫu bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
1,218
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Thơ Hai-kư của Ba-sô Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 mời các bạn học sinh lớp 10 tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Thơ Hai-kư của Ba-sô, với nội dung tài liệu đã được cập nhật một cách chi tiết sẽ là nguồn thông tin hữu ích để giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 10. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Thơ Hai-kư của Ba-sô Ở lớp 10, trong phần văn học nước ngoài, ngoài sử thi Hi Lạp và Ân Độ, thơ Đường và tiểu thuyết Trung Quốc, các em còn được tiếp xúc với văn học Nhật Bản qua thơ hai-kư của Ba-Sô. Mặc dù chỉ được học 1 tiết bằng hình thức đọc thêm, nhưng đây là tiết học duy nhất về văn học Nhật Bản không chỉ ở lớp 10 mà cả bậc trung học phổ thông, vì vậy các em cần coi trọng và tận dụng tiết học này để bước đầu hiểu được một thể loại thơ độc đáo của Nhật Bản. I. Ở phần Tiểu dẫn, cần đọc kĩ để nắm được hai điểm: 1. Tác giả: Ba-sô (1644-1694), nhà thơ hàng đầu của Nhật Bản với những tác phẩm tiêu biểu của ông. Ngoài Ba-sô, ở Nhật Bản còn có nhiều nhà thơ hai kư nổi tiếng khác như Bu-son, Ít-sa, Si-ki,… – Có số từ vào loại ngắn nhất, chỉ gồm 17 âm tiết hay hơn một chút (tuyệt cú của thơ Đường là loại thơ cô đúc cũng có đến 20 chữ với thể ngũ ngôn và 28 chữ với thể thất ngôn), được ngắt ra làm 3 đoạn theo thứ tự thường là 5 âm – 7 âm – 5 âm (tuyệt cú có 4 câu – 4 phần). – Các bài thơ đều không có nhan đề. Mỗi bài thơ đều có một tứ thơ nhất định, thường chỉ ghi lại một phong cảnh với vài sự vật cụ thể, trong một thời điểm nhất định để từ đó khơi gợi lên một xúc cảm, một suy tư nào đó. Thời điểm trong thơ được xác định theo mùa qua quy tắc sử dụng “quý ngữ” (từ chỉ mùa). – Thơ hai-kư thấm đẫm tinh thần Thiền tông và tinh thần văn hóa phương Đông nói chung. Cảm thức thẩm mĩ của hai-kư có những nét rất riêng, rất cao và rất tinh tế: đề cao cái Vắng lặng, Đơn sơ, U huyền, Mềm mại, Nhẹ nhàng,… – Bài thơ hai-kư giống như một bức tranh thủy mặc, thường chỉ dùng những nét chấm phá để gợi chứ không tả, dành rất nhiều khoảng trống cho trí tưởng tượng của người đọc. II. Tìm hiểu 8 bài thơ hai-kư của Ba-sô: – Các em đọc nhiều lần 8 bài thơ này để có cảm nhận chung về thơ hai-kư của Ba-Sô. – Trả lời các câu hỏi trong phần Hướng dẫn đọc thêm: + Tự trả lời câu hỏi 1, 2 về các bài thơ 1, 2, 3, 4. + Trao đổi trong nhóm, tổ để tìm lời giải đáp cho các câu hỏi 3, 4, 5, 6 về các bài thơ 5, 6, 7, 8. ——————— Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Thơ Hai-kư của Ba-sô. Để học tốt Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài soạn văn mẫu bài Thơ Hai-kư của Ba-sô và đọc lại bài Thơ Hai-kư của Ba-sô mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Thơ Hai-kư của Ba-sô
602
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 Để học tốt Ngữ văn lớp 10, các bạn học sinh hãy tham khảo tài liệu: Giải bài tậpNgữ văn lớp 10: Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ, đã cập nhật chi tiết nội dung hướng dẫn các bạn học sinh làm bài tập Ngữ văn nhanh và hiệu quả nhất. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ I. ẨN DỤ 1. Tìm ẩn dụ trong hai câu ca dao (1) và (2) Các em dựa vào những gợi ý a và b để tìm hiểu, phân tích phép ẩn dụ trong hai câu ca dao và xác định các ẩn dụ trong từng câu. Gợi ý – Câu (1): + thuyền (di chuyển, thường chỉ người con trai ra đi và trở về). + bến (cố định, thường chỉ người con gái ở lại chờ đợi). – Câu (2): + con đò (như thuyền trong câu (1)) + cây đa bến cũ (như bến trong câu (1)). 2. Tìm và phân tích phép ẩn dụ trong các đoạn trích (1) Lửa lựu (hoa lựu đỏ như lửa) lập lòe đâm bông: hình ảnh hiện lên sinh động, rực rỡ nhờ phép tu từ ẩn dụ. (2)… những cuốn tiểu thuyết, những câu thơ thay đổi được cả cuộc đời người đọc… (đây chính là sức mạnh của văn nghệ). (4) Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời (chiếc thuyền – sức mạnh của cách mạng). (5). Xưa phù du mà nay đã phù sa (phù du – cuộc sống trôi nổi, phù phiếm, vô ích; phù sa – cuộc sống màu mỡ, lắng đọng, có ích). 3. Các em tự làm theo ba bước nối tiếp trong một quy trình sáng tạo để viết câu văn có dùng phép ẩn dụ: + Quan sát vật gần gũi, quen thuộc; + Liên tưởng đến một vật nào đó có điểm giống với vật trên; + Từ đó viết câu văn có dùng phép ẩn dụ. II. HOÁN DỤ 1. Phân tích và tìm các hoán dụ trong hai câu (1) và (2) Dựa vào gợi ý trong SGK, các em tìm hiểu, phân tích và xác định các hoán dụ. Gợi ý: – Câu (1): + Đầu xanh (tóc còn xanh, chỉ người trẻ tuổi). + Má hồng (lấy gò má ửng hồng để chỉ người đàn bà dęp). + Nguyễn Du dùng những cụm từ này để chỉ nhân vật Thúy Kiều. – Câu (2): + Áo nâu (lấy màu áo nâu để chỉ người nông dân). + Áo xanh (lấy màu áo xanh để chỉ người công nhân). 2. Tìm hiểu phép hoán dụ và ẩn dụ trong câu thơ của Nguyễn Bính Trong hai câu lục bát của Nguyễn Bính: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào. (Tuong tu) thì câu lục sử dụng phép hoán dụ, còn câu bát sử dụng phép ẩn dụ. So sánh với câu ca dao Thuyền ơi có nhớ bến chăng…, ta thấy: + “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”: Thôn Đoài, thôn Đông ở đây chỉ người thôn Đoài và người thôn Đông, tức là lấy địa danh, nơi ở (thôn) để chỉ con người ở đó: phép hoán dụ. + Còn câu “Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào” lại sử dụng phép ẩn dụ: cau ở đây được so sánh ngầm với người con trai, còn trầu không là ẩn dụ để chỉ người con gái. Nhà thơ Nguyễn Bính đã sử dụng phép hoán dụ và ẩn dụ nhuần nhị, tự nhiên như trong ca dao. 3. Các em tự làm như cách làm câu 3 trong phần Ấn dụ trên đây ——————————— Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ. Để học tốt hơn môn Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài soạn văn mẫu Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ
691
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Trình bày về một vấn đề Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 Để học tốt Ngữ văn lớp 10, các bạn học sinh hãy tham khảo bộ tài liệu: Giải bài tậpNgữ văn lớp 10: Trình bày về một vấn đề, với những kiến thức cơ bản đã được VnDoc cập nhật để phục vụ các bạn học sinh học tập hiệu quả môn Ngữ văn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Trình bày về một vấn đề I. KIẾN THỨC CẦN NHỚ Nắm được các yêu cầu cơ bản của trình bày một vấn đề và biết cách trình bày một vấn đề. 1. Tầm quan trọng của việc trình bày một vấn đề – Trình bày một vấn đề là nhu cầu thường có của con người trong cuộc sống xã hội, nhưng trình bày một cách có hiệu quả, thuyết phục được người nghe đồng tình với mình thì không phải là việc dễ dàng, đơn giản. – Vì vậy phải học cách trình bày qua một số thao tác cơ bản. 2. Công việc chuẩn bị Để trình bày chủ đề “Thời trang và tuổi trẻ” ở buổi sinh hoạt câu lạc bộ của lớp, các em phải chuẩn bị như thế nào? Phải chuẩn bị qua hai bước sau đây: a) Chọn vấn đề trình bày Chủ đề “Thời trang và tuổi trẻ” đặt ra nhiều vấn đề cho học sinh trao đổi, tranh luận. Mỗi em chỉ nên nói một khía cạnh nào đó. Khía cạnh đó phải là: – Phù hợp với đối tượng người nghe trong buổi sinh hoạt (các bạn trong lớp,…). – Quan trọng nhất đó phải là khía cạnh mà mình am hiểu, nắm vững, thích thú và thu thập được nhiều tư liệu để trình bày nhằm thuyết phục người nghe. b) Lập dàn ý cho bài trình bày Lập dàn ý nhằm hai mục đích: vừa đảm bảo nội dung cho bài trình bày, vừa chủ động trong lúc trình bày. Nội dung phải đủ ý, kết cấu bài trình bày phải lôgíc, chặt chẽ, dàn ý phải rõ, gọn để người trình bày có thể chủ động khi nói. Dàn ý bài trình bày như dàn ý một bài văn, gồm: – Các ý lớn, các ý nhỏ, các dẫn chứng minh họa. – Diễn đạt các ý trên thành ba phần: mở bài, thân bài và kết bài. – Vì là bài trình bày trước nhiều người (bài nói ở diễn đạt) nên cần có câu chào hỏi mở đầu, các câu chuyển ý để bài nói được mạch lạc, câu cám ơn kết thúc bài trình bày. Cũng nên dự kiến cách nói, giọng điệu, cử chỉ sao cho hùng hồn, hấp dẫn,… (Theo kinh nghiệm, nên viết đề cương vào một tờ giấy cứng, viết chữ to, các mục rõ, gọn để có thể dễ dàng nhìn vào nói một cách chủ động, tự nhiên). 3. Trình bày Khi trình bày, cần chú ý các yêu cầu của ngôn ngữ nói đã được học và bám sát vào đề cương đã chuẩn bị. a) Bắt đầu trình bày: Tạo không khí thoải mái, tự nhiên, hòa hợp với người nghe bằng cách chào cử tọa và tự giới thiệu mình, sau đó mở đầu giới thiệu bài nói. b) Trình bày nội dung chính: + Trình bày từng ý, từng phần của bài nói, có chuyển ý từ phần này đến phần khác cho đến hết bài nói. + Chú ý quan sát xem người nghe có phản ứng như thế nào để kịp thời điều chỉnh (cắt bớt nội dung nói hoặc bổ sung thêm ý, thay đổi cách nói, giọng điệu cho phù hợp,…) c) Kết thúc trình bày: + Tóm tắt, nhấn mạnh một số ý chính. + Nói lời cảm ơn người nghe. II. LUYỆN TẬP 1. Yêu cầu cần đạt là chọn đúng số thứ tự (đánh dấu các bước tiến hành trình bày) tương ứng với mỗi câu. Ví dụ: Ba câu 5, 6, 7 bắt đầu bằng “Chào các bạn.” và “Trước khi bắt đầu…” là ở số thứ tự (1) Bắt đầu trình bày. Các em tiếp tục đánh số thứ tự vào các câu còn lại. 2. Yêu cầu cần đạt là triển khai các đề tài đã cho thành những khía cạnh nhỏ để chuẩn bị nội dung cho bài trình bày của mình. Những đề tài này đều gần gũi và được các em quan tâm. Hãy suy nghĩ và tự làm bài tập này với yêu cầu càng triển khai được nhiều đề tài càng tốt. – Chọn đề tài thích hợp với mình và đáp ứng được yêu cầu của người nghe. – Lập dàn ý cho bài trình bày theo ba phần mở bài, thân bài, kết bài; sau đó tập nói nhiều lần ở nhà. ——————————- Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Trình bày về một vấn đề. Để học tốt Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài soạn văn mẫu bài Trình bày về một vấn đề mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Trình bày về một vấn đề
861
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Tóm tắt văn bản tự sự Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Tóm tắt văn bản tự sự, với những gợi ý hay mà đã tổng hợp để phục vụ các bạn học sinh làm bài tập Ngữ văn hiệu quả hơn. chắc chắn tài liệu sẽ giúp các bạn học tốt Ngữ văn 10. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Tóm tắt văn bản tự sự I. KIẾN THỨC CẦN NHỚ Nắm được cách tóm tắt văn bản dựa theo nhân vật chính để vận dụng vào bài làm. 1. Mục đích, yêu cầu tóm tắt văn bản tự sự dựa theo nhân vật chính Ở trung học cơ sở, các em đã học cách tóm tắt văn bản tự sự theo nội dung câu chuyện, tức là theo cốt truyện. Lên lớp 10, có một yêu cầu mới cao hơn: tóm tắt văn bản tự sự dựa theo nhân vật chính. Hai cách tóm tắt này không đối lập nhau nhưng vẫn có những chỗ khác nhau (do yêu cầu, mục đích khác nhau) cần chú ý. Tác phẩm tự sự có cốt truyện và nhân vật, trong đó có nhân vật chính và nhân vật phụ. Nhân vật chính gắn liền với một số sự việc cơ bản của cốt truyện và có mối quan hệ với các nhân vật khác trong truyện. Vì vậy, tóm tắt văn bản tự sự dựa theo nhân vật chính về cơ bản cũng là tóm tắt theo cốt truyện. Chỗ khác nhau là ở những điểm sau đây: – Tóm tắt văn bản tự sự dựa theo nhân vật chính là viết hoặc kể lại một cách ngắn gọn những sự việc cơ bản xảy ra với nhân vật đó. Như vậy, những sự việc (và những nhân vật) không liên quan đến nhân vật chính thì không cần phải kể lại trong bản tóm tắt này. Có nghĩa là, khi viết bản tóm tắt phải hướng đến, tập trung vào nhân vật chính để kể lại câu chuyện. 2. Cách tóm tắt văn bản tự sự dựa theo nhân vật chính Các em đọc Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy và thực hiện những yêu cầu trong SGK. a) Xác định những nhân vật chính của truyện. Gợi ý: Các nhân vật cụ già báo tin cho vua, Rùa Vàng, Triệu Đà là nhân vật phụ; còn lại ba nhân vật An Dương Vương, Mị Châu và Trọng Thủy. Các em trao đổi, xác định nhân vật nào là nhân vật chính? Theo nội dung diễn biến của truyện, căn cứ vào vai trò và hành động của từng nhân vật để tạo nên chủ đề của tác phẩm, ta thấy cả ba nhân vật đều là nhân vật chính (mỗi nhân vật đều có một ý nghĩa riêng góp phần bộc lộ chủ đề của truyện). b) Tìm hiểu và tóm tắt truyện dựa theo nhân vật An Dương Vương. Gợi ý – Lai lịch của nhân vật: vị vua mở ra thời đại Âu Lạc ở nước ta. – Hành động, việc làm của nhân vật trong diễn biến của cốt truyện: + Chủ quan để mất thành, mất nước (chi tiết “điềm nhiên đánh cờ” và câu nói về Triệu Đà). + Chạy về phương Nam, chém con gái. + Theo Rùa Vàng rẽ nước đi xuống biển. – Quan hệ giữa An Dương Vương với các nhân vật khác trong truyện: + Với Rùa Vàng (lúc xây thành và lúc cùng đường mất nước). + Với Triệu Đà (mắc mưu Triệu Đà mà không biết). + Với Mị Châu (yêu quý nhưng vẫn tuốt kiếm chém khi Rùa Vàng kết tội Mị Châu). + Với Trọng Thủy (không nghi ngờ, cho Trọng Thủy ở rể tại Âu Lạc – “nuôi ong tay áo”). – Từ ba điều tìm hiểu trên đây, các em viết văn bản tóm tắt bằng lời văn của mình. Như vậy, các chi tiết về buổi chia tay giữa Mị Châu – Trọng Thủy và đoạn cuối truyện (sau khi An Dương Vương đi xuống biển) không cần phải tóm tắt vì chúng không liên quan đến nhân vật An Dương Vương. c) Tìm hiểu và tóm tắt truyện dựa theo nhân vật Mị Châu. Các em dựa vào cách làm ở mục b trên đây về nhân vật An Dương Vương để tóm tắt truyện dựa theo nhân vật Mị Châu. d) Cho biết cách thức tóm tắt tác phẩm tự sự dựa theo nhân vật chính: – Đọc kĩ văn bản gốc, chọn được các sự việc cơ bản xảy ra với nhân vật chính và diễn biến của các sự việc đó; – Tóm tắt rõ các hành động, lời nói, tâm trạng của nhân vật theo diễn biến của cốt truyện (một vài chỗ có thể kết hợp dẫn nguyên văn từ ngữ, câu văn trong văn bản gốc). 1. Gợi ý: a). Xác định phần tóm tắt văn bản Chuyện người con gái Nam Xương trong đoạn trích (2): từ “Chàng Trương đi đánh giặc……. không kịp nữa”. – Mục đích tóm tắt: + Đoạn (1): ghi lại toàn bộ câu chuyện để giúp người đọc hiểu, nhớ văn bản. Đây là tóm tắt cốt truyện. + Đoạn (2): tóm tắt câu chuyện dùng làm dẫn chứng để làm sáng tỏ một ý kiến trong bài nghị luận. b) Cách tóm tắt: + Đoạn (1): tóm tắt đầy đủ câu chuyện theo diễn biến của cốt truyện. + Đoạn (2): chỉ lựa chọn một số sự việc, chi tiết tiêu biểu phục vụ cho việc làm sáng tỏ ý kiến trong bài nghị luận của mình. Cách tóm tắt rất cô đúc, gọn, rõ và nổi bật được các nội dung cần thiết. 2. Cách làm giống như tóm tắt truyện dựa theo các nhân vật An Dương Vương và Mị Châu trên đây 3. Gợi ý: Để tóm tắt truyện Tấm Cám dựa theo nhân vật Tấm, cần tiến hành theo các bước: – Đọc lại truyện để nắm được nhân vật Tấm. – Xác định các sự việc, hành động của nhân vật trong diễn biến cốt truyện để tóm tắt. – Xác định mối quan hệ của Tấm với mẹ con Cám, với Bụt, vua, bà lão hàng nước. – Từ những điều trên, viết bản tóm tắt bằng lời văn của mình. ———————————– Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Tóm tắt văn bản tự sự. Để học tốt môn Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài soạn văn mẫu bài Tóm tắt văn bản tự sự mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Tóm tắt văn bản tự sự
1,123
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng, tài liệu chắc chắn sẽ là nguồn thông tin hữu ích dành cho các bạn học sinh tham khảo để học tốt Ngữ văn 10. Mời các bạn và thầy cô tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng I. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI Về Lí Bạch, các em đã được học hai bài thơ Vọng Lư Sơn bộc bố (Xa ngắm thác núi Lư) và Tĩnh dạ tứ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) ở trung học cơ sở (một bài về vẻ đẹp của thiên nhiên, một bài về tình quê hương). Lên lớp 10, các em được học thêm bài thơ này của ông về tình bạn. Trước khi trả lời các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài, các em cần: – Đọc kĩ Tiểu dẫn để nắm được tác giả (chú ý phần “nội dung thơ Lí Bạch”). – Đọc bản phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ (so sánh bản dịch thơ với bản dịch nghĩa xem đã sát đúng chưa). – Xem ba chú thích về địa danh, tên người để hiểu rõ hơn nội dung bài thơ. – Đọc bản dịch thơ của Ngô Tất Tố nhiều lần để có cảm nhận chung về tác phẩm. Dưới đây là một số gợi ý để trả lời các câu hỏi. 1. Xác lập mối quan hệ giữa không gian, thời gian và con người trong bài thơ. Mối quan hệ ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện khung cảnh và tâm tình người đưa tiễn? – Thời gian: Lí Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng vào một buổi sáng mùa xuân trong sáng, đẹp trời giữa tiết tháng ba – mùa hoa khói. – Con người: cố nhân (bạn cũ). Trong thơ cổ, từ “cố nhân” bao giờ cũng hàm nghĩa rất thiết tha, sâu nặng. Ở đây là tình bạn tri âm giữa hai nhà thơ lớn thời Thịnh Đường. Mối quan hệ giữa không gian, thời gian và con người trong bài thơ là mối quan hệ vừa có sự đối lập lại hòa hợp với nhau để tạo ra một khung cảnh chia ly buồn và đẹp, nói lên tình bạn trong sáng và sâu nặng của nhà thơ trong buổi tiễn đưa. Thời tiết đẹp, phong cảnh đẹp càng khiến cho nỗi buồn chia li thêm thấm thía. Và người bạn cũ, như một cánh chim hoàng hạc ra đi làm tan cả niềm vui sum họp. Hai câu thơ tả cảnh mà man mác tình người li biệt. 2. Vì sao Lí Bạch chỉ thấy “cánh buồm lẻ loi” (cô phàm) của “cố nhân” trên sông Trường Giang tấp nập…thuyền bè xuôi ngược? – Đấy chính là tình bạn thiết tha và sâu nặng của Lí Bạch: Bạn đi rồi, tất cả tâm hồn nhà thơ như bị hút vào cánh buồm của Mạnh Hạo Nhiên mà không nhìn thấy thuyền bè nào khác nữa trên sông. Và ông thấy rõ đó là một “cánh buồm lẻ loi” (cô phàm) khi bạn ra đi không có mình bên cạnh. Một chữ “cô” mà chất chứa bao nỗi buồn cho bạn, cho mình trong buổi tiễn đưa ly biệt. 3. Tự đặt mình vào vị trí của người đưa tiễn để cảm nhận tâm tình của thi nhân. Các em tự đặt mình vào vị trí của người đưa tiễn, khi bạn đã đi rồi: – Nhìn theo cánh buồm dần xa và mất hút vào khoảng không xanh biếc. – Chỉ còn nhìn thấy dòng sông chảy vào cõi trời. để cảm nhận tâm tình của thi nhân, xem những điều Lí Bạch bộc lộ trong bài tứ tuyệt như vậy có đúng không, có chân thành, sâu sắc, cao đẹp không? (Từ suy nghĩ của bản thân, kết hợp với những điều phân tích trên đây để trả lời câu hỏi này). 1. Tìm “ý ở ngoài lời” qua bài thơ. Gợi ý “Ý ở ngoài lời” (ý tại ngôn ngoại) là những điều mà nhà thơ không nói đến trong bài thơ nhưng người đọc vẫn cảm thấy được nhờ cách nói hàm súc, ẩn ý, các yếu tố nghệ thuật trong bài thơ. Đó chính là cái hay của thơ Đường, một loại thơ cô đọng, hàm súc, dồn nén ý và kết cấu rất chặt chẽ. Dựa vào điều giải thích trên đây, các em nên trao đổi với nhau trong nhóm, tổ để tìm “ý ở ngoài lời” qua bài thơ của Lí Bạch (Thử xem, trong bài thơ, Lí Bạch có câu nào, chữ nào nói về tình bạn của mình không và bài thơ đã bộc lộ tình bạn sâu sắc của thi nhân như thế nào?). 2. Tự phát biểu những suy ngẫm của bản thân về vị trí và ý nghĩa của tình bạn trong cuộc sống ngày nay. ——————————- Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng. Để học tốt hơn môn Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài soạn văn mẫu bài Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng và đọc lại bài thơ Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng
949
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Tỏ lòng Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Tỏ lòng, với những gợi ý làm bài tập Ngữ văn một cách chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn lớp 10. Chắc chắn qua tài liệu các bạn học sinh sẽ có kết quả cao trong học tập. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Tỏ lòng I. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI • Đây là bài thơ Đường luật tứ tuyệt viết bằng chữ Hán. Để thâm nhập, tìm hiểu tác phẩm, các em cần: 1. Đọc văn bản: – Đọc to bản phiên âm để cảm nhận âm hưởng hùng tráng và giọng điệu tâm huyết của bài thơ. – Đọc kĩ bản dịch nghĩa để hiểu đúng nội dung tác phẩm. – Đọc bản dịch thơ, so sánh với bản dịch nghĩa xem đã sát đúng chưa (cần chú ý so sánh hai câu thơ đầu). 2. Đọc kĩ hai chú thích, đặc biệt là chú thích ở câu thơ thứ hai (“tam quân” và “khí thôn ngưu”). 3. Cũng cần xem lại Tiểu dẫn để hiểu tác giả Phạm Ngũ Lão là một con người như thế nào, từ đó có thể hiểu sâu hơn “nỗi lòng” mà ông đã bày tỏ trong bài thơ. • Sau đây là một số gợi ý để trả lời các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài: 2. Cách hiểu và cách cảm nhận về sức mạnh của quân đội nhà Trần trong câu thơ thứ hai. Hình ảnh ba quân là hình ảnh nói về quân đội nhà Trần, tượng trưng cho sức mạnh của dân tộc. Nghệ thuật so sánh vừa cụ thể hóa sức mạnh vật chất của ba quân vừa hướng tới sự khái quát hóa sức mạnh tinh thần của đội quân mang “hào khí Đông A”: Ba quân khí thế mạnh như hổ báo nuốt trôi trâu. Đó cũng chính là sức mạnh của dân tộc ta trong các cuộc chiến thắng Nguyên Mông đời Trần. Câu thơ có sự kết hợp giữa hình ảnh khách quan và cảm nhận chủ quan, giữa hiện thực và lãng mạn đã gây ấn tượng mạnh trong người đọc. (Còn có cách hiểu thứ hai về câu thơ như trong gợi ý của SGK nhưng nói chung thường nghiêng về cách hiểu trên đây). 3. Cách hiểu “nợ công danh” trong câu thơ thứ ba. SGK nêu lên hai nghĩa của “nợ công danh”. Cần phối hợp cả hai nghĩa đó để hiểu ý nghĩa của câu thơ này. Câu thơ nói lên cái chí của tác giả (cũng là của người anh hùng). Chí ở đây là chí làm trai mang tinh thần, tư tưởng tích cực của Nho giáo: lập công (để lại sự nghiệp), lập danh (để lại tiếng thơm). Lập công danh đã trở thành lý tưởng của trang nam nhi thời phong kiến. Vì vậy công danh được coi là món nợ đời phải trả của kẻ làm trai. Trả xong nợ công danh có nghĩa đã hoàn thành nghĩa vụ với đời, với dân, với nước. Trong hoàn cảnh lịch sử, xã hội lúc đó, chí làm trai có nội dung tích cực và có tác dụng to lớn. 4. Ý nghĩa của nỗi “thẹn” trong câu thơ cuối. Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu. Chưa trả xong nợ công danh mà nghe chuyện Vũ hầu xưa thì luống thẹn thùng. Đó là “nỗi thẹn” của một con người có nhân cách cao cả. Đó cũng là cái tâm rất đẹp mà tác giả đã bày tỏ trong bài thơ. 5. Vẻ đẹp của trang nam nhi thời Trần trong bài thơ và ý nghĩa của nó đối với thế hệ trẻ hôm nay Đây là câu hỏi tổng hợp cuối bài. Từ bốn câu trên, các em có thể tự giải đáp câu hỏi này theo suy nghĩ của mình. Bài tập bổ sung Phân tích ý nghĩa, giá trị nhân cách của nỗi “thẹn” trong bài thơ. Gợi ý: Yêu cầu cần đạt là phân tích làm rõ ý nghĩa, giá trị nhân cách của nỗi “thẹn” trong bài thơ. Dưới đây là một số gợi ý: – Đây là vẻ đẹp cái tâm của người anh hùng thể hiện qua nỗi “thẹn” của tác giả trong bài thơ. – Xưa nay, những người có nhân cách vẫn thường mang trong mình nỗi thẹn. Thử tìm hiểu xem vì sao khi nghe chuyện Vũ hầu, Phạm Ngũ Lão lại thẹn? (trong hệ thống ý tưởng của cả bài thơ). – Nỗi thẹn đó không làm con người thấp bé đi, trái lại càng nâng cao nhân cách của con người. (Liên hệ với nỗi thẹn của Nguyễn Khuyến khi nghĩ tới Đào Tiềm trong bài thơ Thu vịnh). ——————————— Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Tỏ lòng. Để học tốt môn Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài soạn văn mẫu bài Tỏ lòng và đọc lại bài Tỏ lòng mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Tỏ lòng
877
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Tổng quan văn học Việt Nam Hướng dẫn Ngữ văn lớp 10: Tổng quan văn học Việt Nam VnDoc xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Tổng quan văn học Việt Nam, hy vọng bộ tài liệu sẽ là nguồn thông tin hay để giúp các bạn học sinh nắm chắc hơn nội dung bài học một cách dễ dàng. Mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo. Học tốt Ngữ văn 10: Tổng quan văn học Việt Nam Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam đã sáng tạo nên nhiều giá trị vật chất và tinh thần to lớn, đáng tự hào. Trong những sáng tạo tinh thần đó, có nền văn học của dân tộc kết tinh tinh hoa của cha ông ta trong suốt trường kì lịch sử. I. CÁC BỘ PHẬN HỢP THÀNH CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM Văn học Việt Nam gồm hai bộ phận lớn: văn học dân gian và văn học viết. 1. Văn học dân gian – Trước khi có văn học viết, đã có văn học dân gian. Đó là những sáng tác tập thể và truyền miệng của nhân dân lao động. Khi văn học viết ra đời, văn học dân gian ở nước ta vẫn tiếp tục phát triển song song với văn học viết cho đến thời kì hiện đại theo những yêu cầu tự thân của nó (dĩ nhiên với số lượng chừng mực chứ không nhiều như ở những thời kì trước – đặc biệt khi chưa có văn học viết). – Văn học dân gian gồm nhiều thể loại phong phú và có giá trị to lớn về nhiều mặt, được xem như là bộ phận làm nền của văn học dân tộc (xem cụ thể ở bài sau). 2. Văn học viết Văn học viết ra đời từ thế kỉ X khi dân tộc Việt Nam giành được độc lập từ tay các thế lực đô hộ phương Bắc. Đó là sáng tác của những trí thức, được ghi lại bằng chữ viết. Là sáng tạo cá nhân, tác phẩm văn học viết mang dấu ấn của từng tác giả. a) Chữ viết của văn học Việt Nam Bộ phận văn học viết, về cơ bản được viết bằng ba thứ chữ: chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ: – Chữ Hán là văn tự của người Hán. Người Việt Nam đọc chữ Hán theo cách đọc Hán Việt. – Chữ Nôm là chữ viết cổ của tiếng Việt, dựa vào chữ Hán mà đặt ra. – Chữ Quốc ngữ là thứ chữ sử dụng chữ cái La-tinh để ghi âm tiếng Việt, dễ đọc và dễ học. Từ đầu thế kỉ XX, nó trở thành văn tự chính thống của dân tộc. Ngoài ra, một số tác giả còn sáng tác bằng tiếng Pháp (như Truyện, kí của Nguyễn Ái Quốc hồi đầu thế kỉ XX). Nhưng dù sáng tác bằng chữ Hán hay tiếng Pháp thì những sáng tác đó cũng đều là văn học Việt Nam, đều thuộc nền văn học viết của dân tộc. b) Hệ thống thể loại của văn học viết – Hệ thống thể loại của văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX: + Văn học chữ Hán: gồm văn xuôi, thơ, văn biền ngẫu. + Văn học chữ Nôm: thiên về thơ: thơ Nôm Đường luật, truyện thơ, ngâm khúc,.. – Hệ thống thể loại của văn học từ đầu thế kỉ XX đến nay: Các loại hình và loại thể văn học có ranh giới rõ ràng hơn: + Loại hình tự sự: tiểu thuyết, truyện ngắn, kí. + Loại hình kịch: kịch nói. II. HAI THỜI ĐẠI LỚN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM Văn học Việt Nam là một nền văn học thống nhất trong sự đa dạng. Bên cạnh những đặc trưng chung, văn học của các vùng, miền, các tộc người lại có một số bản sắc riêng làm phong phú cho nền văn học của cả dân tộc Việt Nam. Văn học viết Việt Nam đã vận động qua hai thời kì lớn: từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX gọi là văn học trung đại; từ đầu thế kỉ XX đến nay gọi là văn học hiện đại. 1. Thời kì văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX (văn học trung đại) Đây là nền văn học viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. a) Nền văn học chữ Hán hình thành từ thế kỉ X và tồn tại cho tới cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Nó tiếp nhận những học thuyết lớn của phương Đông (Nho giáo, Phật giáo, tư tưởng Lão Trang) và các thể loại văn học của Trung Quốc để tạo nên nền văn học chữ Hán của dân tộc. – Nhiều hiện tượng văn học lớn như thơ văn yêu nước và thơ thiện thời Lí – Trần, các thể loại văn xuôi như truyền kì (Truyền kì mạn lục), kí sự (Thượng kinh kí sự), tiểu thuyết chương hồi (Hoàng Lê nhất thống chí),… – Nhiều tác phẩm lớn, nhiều tác giả lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát,… – Thế kỉ XVIII, khi văn học chữ Nôm phát triển mạnh thì văn học chữ Hán vẫn có nhiều thành tựu. Đến thế kỉ XX, khi văn học chữ Quốc ngữ đã trở thành phổ biến thì thơ chữ Hán của các nhà nho yêu nước duy tân, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là những viên ngọc quí trong kho tàng văn học dân tộc. b) Văn học tiếng Việt viết bằng chữ Nôm bắt đầu phát triển mạnh từ thế kỉ XV và đạt tới đỉnh cao ở thế kỉ XVIII. Đây là sự vận động tất yếu của nền văn học dân tộc, đáp ứng nhu cầu phản ánh hiện thực đời sống và diễn tả tâm hồn của người Việt Nam, là bằng chứng hùng hồn cho ý chí xây dựng một nền văn hiến độc lập của dân tộc ta. – Nhiều thành tựu quan trọng của văn học Việt Nam nằm trong bộ phận văn học chữ Nôm: thơ thất ngôn xen lục ngôn của Nguyễn Trãi, thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan…; các thể thơ dân gian như lục bát, song thất lục bát, hát nói đã được sử dụng để sáng tác truyện thơ Nôm, ngâm khúc, hát nói. Hàng loạt bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, hàng loạt truyện Nôm bác học (Sơ kính tân trang, Truyện Kiều) và truyện Nôm bình dân (Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa), hàng loạt khúc ngâm, hát nói,… – Bộ phận văn học viết bằng chữ Nôm chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học dân gian. – Chữ Nôm là điều kiện quan trọng của quá trình dân tộc hóa và dân chủ hóa nền văn học viết thời trung đại. 2. Thời kì văn học từ đầu thế kỉ XX đến nay (văn học hiện đại) – Đây là nền văn học tiếng Việt, chủ yếu viết bằng chữ Quốc ngữ a) Trải qua một giai đoạn giao thời ngắn từ đầu thế kỉ XX đến đầu những năm ba mươi, văn học Việt Nam đã bước vào quỹ đạo của văn học hiện đại thế giới, tiếp xúc với các nền văn học châu Âu. Một mặt, nó kế thừa tinh hoa của văn học truyền thống; mặt khác, lại tiếp nhận ảnh hưởng của những nền văn học lớn trên thế giới để hiện đại hóa, đổi mới nền văn học dân tộc. Nó được phát triển mạnh trong giai đoạn 1930-1945. c) Thành tựu đặc biệt quan trọng của văn học Việt Nam thế kỉ XX thuộc về dòng văn học yêu nước cách mạng, gắn liền với công cuộc giải phóng dân tộc. Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ giành độc lập dân tộc là những sự kiện lịch sử vĩ đại đã đem lại những đề tài mới, nguồn cảm hứng mới, tạo tiền đề cho sự xuất hiện một nền văn học mới với những thành tựu nghệ thuật đáng tự hào. d) Hệ thống thể loại mới trong văn học không ngừng được phát triển và hoàn thiện, Thơ mới, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, văn xuôi hiện thực phê phán; rồi thơ kháng chiến chống Pháp, thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí trong chiến tranh chống Mĩ và xây dựng chủ nghĩa xã hội đều đạt những thành tựu lớn. Hiện nay, văn học Việt Nam đang tiếp tục phản ánh nhiều mặt công cuộc đổi mới của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. III. CON NGƯỜI VIỆT NAM QUA VĂN HỌC Văn học Việt Nam phản ánh tư tưởng, tình cảm, quan niệm chính trị, văn hóa, đạo đức, thẩm mĩ của con người Việt Nam trong nhiều mối quan hệ đa dạng: 1. Con người Việt Nam trong quan hệ với thế giới tự nhiên – Các tác phẩm văn học dân gian từ xưa đã kể lại quá trình ông cha ta nhận thức, cải tạo, chinh phục đầy gian khổ mà hào hùng thế giới tự nhiên hoang dã để xây dựng non sông đất nước tươi đẹp và tích lũy nhiều hiểu biết phong phú, sâu sắc về thiên nhiên. – Thiên nhiên còn là người bạn thân thiết của con người. Ca dao – dân ca và thơ trữ tình đã ghi lại biết bao hình ảnh tươi đẹp và đáng yêu của thiên nhiên Việt Nam. Tình yêu thiên nhiên cũng là một nội dung quan trọng của văn học Việt Nam. 2. Con người Việt Nam trong quan hệ quốc gia dân tộc – Lịch sử Việt Nam hàng ngàn năm, chủ yếu là lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập tự chủ của dân tộc. Phản ánh hiện thực lịch sử hào hùng ấy có một dòng văn học yêu nước phong phú và có giá trị nhân văn sâu sắc xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam, với những tác phẩm lớn kết tinh lòng yêu nước từ xưa đến nay như Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo, Tuyên ngôn Độc lập… với nhiều tác gia văn học yêu nước lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh, Tố Hữu,… đã xây dựng nên một hệ thống tư tưởng yêu nước hoàn chỉnh. Đáng chú ý là phẩm chất tiên phong chống đế quốc của nền văn học cách mạng Việt Nam thế kỉ XX. 3. Con người Việt Nam trong quan hệ xã hội – Trong các xã hội có giai cấp đối kháng, văn học Việt Nam đã lên tiếng tố cáo, phê phán các thế lực chuyên quyền và bày tỏ sự thông cảm với những người dân bị áp bức (truyện cười, ca dao, tục ngữ, thơ, truyện thơ, kí sự, tiểu thuyết,…). – Nhiều tác phẩm thể hiện ước mơ da diết về một xã hội công bằng, tốt đẹp. – Nhìn thẳng vào thực tại với tinh thần nhận thức, phê phán và cải tạo xã hội là một truyền thống lớn của văn học Việt Nam với những tên tuổi như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao trong dòng hiện thực phê phán trước Cách mạng tháng Tám. – Văn học xây dựng chủ nghĩa xã hội (sau năm 1954 trên miền Bắc và sau 1975 trên cả nước) với những lí tưởng nhân đạo cao đẹp cũng phản ánh quan hệ xã hội mới mẻ trong nhân dân ta. – Phản ánh quan hệ xã hội vừa tô đậm giá trị hiện thực vừa tạo nên chủ nghĩa nhân đạo trong văn học nước ta. 4. Con người Việt Nam và ý thức về bản thân – Trong mỗi con người đều có hai phương diện: ý thức cá nhân và ý thức cộng đồng. Văn học Việt Nam đã ghi lại quá trình lựa chọn, đấu tranh để khẳng định một đạo lí làm người của dân tộc Việt Nam trong sự kết hợp hài hòa hai phương diện đó. – Trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt như đấu tranh chống ngoại xâm, đấu tranh cải tạo thiên nhiên khắc nghiệt, con người Việt Nam thường đề cao ý thức cộng đồng hơn ý thức cá nhân. Nhưng trong hoàn cảnh khác như ở cuối thế kỉ XVIII hay giai đoạn 1930 – 1945, cái tôi cá nhân lại được đề cao. – Xu hướng chung của sự phát triển văn học dân tộc là xây dựng một đạo lí làm người với nhiều phẩm chất tốt đẹp như: nhân ái, thủy chung, tình nghĩa, vị tha, hi sinh vì sự nghiệp chính nghĩa, đề cao quyền sống của con người cá nhân nhưng không chấp nhận chủ nghĩa cá nhân cực đoan. LUYỆN TẬP (gợi ý trả lời phần Hướng dẫn học bài trong SGK) 1. Vẽ sơ đồ các bộ phận của văn học Việt Nam: 2. “Bút lông” dùng để viết chữ Hán (và cả chữ Nôm) • chỉ thời đại văn học trung đại. “Bút sắt” dùng để viết chữ Quốc ngữ • chỉ thời đại văn học hiện đại. 3. Câu này các em tự làm dựa theo vốn văn học của mình. ——————————————— Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Tổng quan văn học Việt Nam. Để có kết quả cao hơn trong học tập, VnDoc xin giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu giải bài tập Toán lớp 10, giải bài tập Toán lớp 12, Thi thpt quốc gia môn Toán, Thi thpt Quốc gia môn Văn, đề thi học kì 2 lớp 12, Thi thpt Quốc gia môn Lịch sử mà VnDoc tổng hợp và đăng tải.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Tổng quan văn học Việt Nam
2,322
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Đọc thêm – Lầu Hoàng Hạc, Nỗi oán của người phòng khuê, Khe chim kêu Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 Để học tốt Ngữ văn lớp 10, mời bạn đọc tham khảo tài liệu: Giải bài tậpNgữ văn lớp 10: Đọc thêm – Lầu Hoàng Hạc, Nỗi oán của người phòng khuê, Khe chim kêu, qua bộ tài liệu các bạn học sinh chắc chắn sẽ học tốt Ngữ văn 10 một cách đơn giản. VnDoc mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Đọc thêm – Lầu Hoàng Hạc, Nỗi oán của người phòng khuê, Khe chim kêu Để mở rộng thêm kiến thức về thơ Đường – đỉnh cao của thơ cổ điển Trung Quốc, đồng thời cũng là một thành tựu của thơ ca ưu tú của nhân loại, ngoài hai tác giả Lí Bạch và Đỗ Phủ được học các bài chính thức, SGK chọn thêm ba tác giả để đọc thêm, mỗi tác giả một bài. Đó là Thôi Hiệu (704–754), Vương Xương Linh (698-756), Vương Duy (701-761) với các bài Lầu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc Lâu), Nỗi oán của người phòng khuê (Khuê oán), Khe chim kêu (Điểu minh giản). Các em cần đọc kĩ Tiểu dẫn để nắm được tác giả, đọc bản phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ (so sánh đối chiếu bản dịch thơ xem đã sát đúng với bản dịch nghĩa chưa), đọc kĩ chú thích để hiểu rõ bài thơ, cuối cùng trả lời các câu hỏi trong phần Hướng dẫn đọc thêm để tìm hiểu giá trị nội dung và đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm. LẦU HOÀNG HẠC (Hoàng Hạc lâu) THÔI HIỆU Cái tên Lầu Hoàng Hạc (nhan đề bài thơ) chỉ là cái cớ, điểm xuất phát để từ đó nhà thơ nói lên tâm trạng của mình khi đứng trước lầu Hoàng Hạc: sự hoài niệm quá khứ, sự thất vọng trước hiện tại và nỗi lòng buồn nhớ quê hương. Tất cả đã được nói lên bằng những hình ảnh thơ chọn lọc, có sức gợi cảm lớn với một âm điệu thơ trữ tình da diết, lắng sâu. Lầu Hoàng Hạc được coi là một trong những bài thơ hay nhất thời Đường. NỖI OÁN CỦA NGƯỜI PHÒNG KHUÊ (Khuê oán) VƯƠNG XƯƠNG LINH Với cấu tứ đặc biệt theo lối “phản đề” nhằm thể hiện sự phát triển biện chứng của tâm lí nhân vật được dồn nén trong 28 chữ thơ, bài tuyệt cú là tiếng nói sâu sắc phản đối chiến tranh phi nghĩa của nhân dân Trung Quốc thời Đường, cũng là của nhân loại từ xưa đến nay. Nỗi oán của người phòng khuê của Vương Xương Linh đã trở thành một “thần phẩm”, đại biểu cho tiếng nói phản đối chiến tranh trong thơ Đường. KHE CHIM KÊU (Điểu minh giản) VƯƠNG DUY Cảnh đẹp thanh u của đêm xuân trong núi vắng nói lên tâm hồn nhà thơ cũng thật thanh tĩnh, có một sự giao hòa giữa tâm và cảnh, đó cũng là bóng dáng của một thời đại thái bình. Bài thơ được thể hiện bằng bút pháp đặc trưng của Đường thi: lấy động để nói tĩnh, lấy cái hữu thanh để gửi gắm cái vô thanh, đưa ta bước vào thế giới của sự hòa điệu. Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Đọc thêm – Lầu Hoàng Hạc, Nỗi oán của người phòng khuê, Khe chim kêu. Để học tốt Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo tài liệu đọc lại bài thơ Lầu Hoàng Hạc, đọc lại bài thơ Nỗi oán của người phòng khuê, đọc lại bài thơ Khe chim kêu mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Đọc thêm – Lầu Hoàng Hạc, Nỗi oán của người phòng khuê, Khe chim kêu
639
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Đọc thêm – Vận nước, Hứng trở về, Cáo tật thị chúng Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 Mời các bạn học sinh lớp 10 tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Đọc thêm – Vận nước, Hứng trở về, Cáo tật thị chúng. Tài liệu đã tổng hợp những kiến thức cơ bản liên quan đến chủ đề để phục vụ các bạn học sinh học tốt Ngữ văn lớp 10. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Đọc thêm – Vận nước, Hứng trở về, Cáo tật thị chúng Đây là ba bài đọc thêm về thơ trung đại để bổ sung thêm những tiếng thơ đa dạng khác nhau. SGK chọn hai bài của hai nhà sư (Đỗ Pháp Thuận đời Tiền Lê, Mãn Giác thiền sư đời Lí) và một bài của Thượng thư Nguyễn Trung Ngạn đời Trần. Cả ba bài thơ đều được viết bằng chữ Hán: một bài ngũ ngôn tứ tuyệt, một bài thất ngôn tứ tuyệt, một bài kệ (thể văn Phật giáo, dùng để truyền bá giáo lí Phật pháp, bằng văn vần). Các em đọc Tiểu dẫn, bản phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, chú thích và trả lời các câu hỏi trong phần Hướng dẫn đọc thêm để tìm hiểu vẻ đẹp riêng của từng tác phẩm. Để giúp các em định hướng trong việc tiếp cận các bài thơ, dưới đây giới thiệu tóm tắt giá trị nội dung và đặc sắc nghệ thuật của từng tác phẩm. (Quốc tộ) ĐỖ PHÁP THUẬN • Bài thơ ngắn gọn, cô đọng, phản ánh niềm lạc quan trước vận mệnh đất nước và lòng yêu chuộng hòa bình của nhân dân Việt Nam. CÁO BỆNH, BẢO MỌI NGƯỜI (Cáo tật thị chúng) MÃN GIÁC THIỀN SƯ • Mượn hình tượng hoa rụng, hoa nở, bài thơ vừa nói lên tư tưởng triết lí Phật giáo về quy luật hóa sinh, tuần hoàn, vừa phản ánh quan niệm nhân sinh cao đẹp: yêu đời, lạc quan trước cuộc sống. HỨNG TRỞ VỀ (Quy hứng) NGUYỄN TRUNG NGẠN (Bài thơ Quy hứng được sáng tác khi Nguyễn Trung Ngạn đang đi sứ ở Giang Nam – Trung Quốc). • Bằng những hình ảnh dân dã quen thuộc xúc động lòng người, bài tứ tuyệt bộc lộ sâu sắc và thấm thía nỗi nhớ quê hương của nhà thơ khi ở nơi đất khách quê người. Không đâu bằng quê nhà, dù nghèo vẫn tốt, vẫn muốn về – đó là nét riêng của lòng yêu nước và tự hào dân tộc trong bài thơ này. ——————————- Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Đọc thêm – Vận nước, Hứng trở về, Cáo tật thị chúng. Để học tốt hơn môn Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài soạn văn mẫu bài Vận nước, bài phân tích văn mẫu bài Hứng trở về, bài soạn văn mẫu bài Cáo tật thị chúng và đọc lại bài thơ Vận nước, đọc lại bài thơ Hứng trở về, đọc lại bài thơ Cáo tật thị chúng mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Đọc thêm – Vận nước, Hứng trở về, Cáo tật thị chúng
539
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Độc Tiểu Thanh Kí Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 10 Tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Độc Tiểu Thanh Kí đã được cập nhật chi tiết, tài liệu sẽ là nguồn thông tin hữu ích dành cho các bạn học sinh khai thác để học tốt Ngữ văn lớp 10. mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 10: Độc Tiểu Thanh Kí I. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI Để hiểu đúng nội dung sâu xa của nguyên tác được tạo nên từ một cảm hứng lớn trong sáng tác của Nguyễn Du, các em cần đọc kĩ phần Tiểu dẫn để nắm dược nhân vật trong bài thơ, đọc kĩ phần Dịch nghĩa để hiểu đúng nội dung từng câu chữ, sau đó so sánh phần Dịch nghĩa với phần Dịch thơ (bản dịch của Vũ Tam Tập) để xem bản dịch thơ đã sát đúng với nguyên tác chưa, có gì cần bổ sung không, cuối cùng xem kĩ phần Chú thích để hiểu rõ và hiểu sâu hơn bài thơ. Đọc thêm hai bản dịch thơ của Quách Tấn và của Vũ Hoàng Chương để tham khảo. Để có thể trả lời 4 câu hỏi trong SGK (trong đó có những câu ở dạng khái quát cần phải suy nghĩ), các em cần phải đọc bản dịch thơ nhiều lần và liên tưởng đến số phận nàng Tiểu Thanh (nhân vật trong bài thơ) và tác giả Nguyễn Du để có những cảm nhận về tác phẩm. Dưới đây là những gợi ý về hướng trả lời 4 câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài: 1. Chỉ ra lý do khiến Nguyễn Du đồng cảm với số phận của nàng Tiểu Thanh. Có thể có hai lí do sau đây: – Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa, có “trái tim lớn” (Hoài Thanh), có lòng thương người sâu sắc. Ông thương những người khổ cực, những số phận bất hạnh bị chà đạp trong xã hội cũ. Trong những con người đó, Nguyễn Du đặc biệt thương xót những người phụ nữ tài sắc mà bất hạnh, và nỗi thương xót đó đã thành một cảm hứng lớn trong sáng tác của ông (“Đau đớn thay phận đàn bà – Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” – Truyện Kiều). Đó là lí do chung khiến ông đồng cảm với nhiều số phận bất hạnh của những người phụ nữ tài sắc trong sáng tác của mình. + Nguyễn Du là người tài hoa, giỏi văn thơ nhưng cuộc đời lận đận, không may mắn. Ông đã trải qua những ngày khổ cực, cơm không có mà ăn, thuốc không có khi ốm đau, mới ba mươi tuổi mà tóc đã bạc trắng vì suy nghĩ, làm quan với triều Nguyễn một cách bất đắc dĩ…., có thể nói cuộc đời ông cũng đầy bất hạnh, đầy sóng gió. + Nàng Tiểu Thanh cũng vậy, cũng là người phụ nữ tài sắc, giỏi văn chương, âm nhạc, nhưng số phận cũng bất hạnh, chết sớm vì đau buồn ở tuổi 18; chết rồi mà thơ vẫn bị đốt. Đây là lí do chủ yếu, quan trọng nhất khiến Nguyễn Du đồng cảm với số phận của nàng Tiểu Thanh. Câu thơ “Phong vận kì oan ngã tự cư” đã nói rõ điều đó: Nguyễn Du đồng cảm với thân phận bất hạnh của nàng Tiểu Thanh vì ông cũng có thân phận tương tự (“Ta tự thấy là người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã”; dịch thơ: Cái án phong lưu khách tự mang. Đó là sự đồng cảm tự nhiên mà sâu sắc của những người “cùng hội cùng thuyền.” 2. Ý nghĩa của câu “Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi.” Nguyên văn câu thơ chữ Hán là “Cổ kim hận sự thiên nan vấn”. Hận sự mà dịch là nỗi hờn e có quá nhẹ không? Bởi đây không chỉ là nỗi hờn thông thường của con người trong cuộc sống mà là nỗi hận của cả một kiếp người trong thế gian. Đúng hơn là một sự hận (hận sự), một sự uất ức khổ đau của con người đến thành hận “Hận sự ” khái quát hơn “nỗi hận”, nó là hiện tượng – hận, vấn đề – hận của con người trong xã hội, là nỗi đau của con người một thời đã đúc lại thành hận! Lại là cổ kim hận sự! Đó mới đúng là mối hận của nàng Tiểu Thanh qua con mắt nhìn và tấm lòng đồng cảm của Nguyễn Du: một người con gái tài sắc nhường ấy mà phải chết oan, chết yểu khi mới 18 tuổi! Đau xót quá, uất ức quá, oan ức quá! Nhưng nó lại do con người gây ra và đã thành sự thật trong cuộc đời, thành một sự hận của cả một kiếp người tài hoa bạc mệnh trong xã hội, thế thì làm sao có thể hỏi trời được? Đâu phải trời gây ra, làm sao đấng cao xanh ấy có thể trả lời được, cho dù đấy là đấng nhiệm màu nhất. Cũng có nghĩa là cái cổ kim hận sự ấy ghê gớm quá, đau xót quá, đến ông trời cũng không hiểu nổi. Trời khôn hỏi thì nỗi đau ấy chỉ còn biết tích tụ trong lòng người để thành một mối hận thế gian. Nó được dồn nén lại trong một câu thơ bảy chữ như một tiếng kêu thương uất ức và não nuột của Nguyễn Du vang vọng mãi đến muôn đời sau. 3. Suy nghĩ về chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du qua tấm lòng thương xót và đồng cảm với nàng Tiểu Thanh Có thể thấy những nét chủ yếu của chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du qua bài thơ: – Trân trọng những con người tài sắc (câu 3, 4). – Đau xót, uất ức trước số phận con người tài sắc mà bất hạnh (câu 5). – Đồng cảm sâu sắc với người “cùng hội cùng thuyền” (câu 6). Tất cả đã tạo thành một cảm hứng lớn trong sáng tác của nhà thơ: thương xót cho số phận bất hạnh của những người phụ nữ tài sắc. Từ đó có thể thấy cái nét riêng (cũng là điểm sáng nhất ghi lại dấu ấn của nhà thơ thiên tài) trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du chính là: – Quan tâm đến số phận của người phụ nữ là người khổ nhất, bị chà đạp nhiều nhất trong xã hội cũ, để thương xót, bênh vực họ, đòi quyền sống cho họ (Đau đớn thay, phận đàn bà…). – Trong những người phụ nữ ấy, ông lại chú ý đến những người phụ nữ tài sắc mà số phận bất hạnh như Thúy Kiều, Tiểu Thanh, người ca nữ gảy đàn ở Long Thành,… để trân trọng, xót thương, đồng cảm. Và ông đã đem đến cho chủ nghĩa nhân đạo một cảm hứng riêng thật sâu sắc về người phụ nữ trong xã hội cũ: hồng nhan bạc mệnh,… Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. 4. Vai trò của mỗi đoạn thơ (khai, thừa, chuyển, hợp) đối với chủ đề toàn bài. – Khai (câu 1, 2): mở bài: nêu khung cảnh gợi cảm hứng và hoàn cảnh sáng tác bài thơ. – Thừa (câu 3, 4): nói về nhân vật của bài thơ (nàng Tiểu Thanh khi đã chết nhưng tài sắc và văn chương thì vẫn còn đó). – Chuyển (câu 5, 6): nghĩ về mối hận của nàng và tỏ lòng đồng cảm của người cùng một hội với nàng. – Hợp (câu 7, 8); trông người mà nghĩ đến ta, không biết số phận rồi sẽ sao đây? Bốn đoạn thơ đều nằm trong mạch cảm hứng chung của nhà thơ là xót thương và cảm thông với số phận của người con gái tài sắc mà bất hạnh, từ đó mà chạnh nghĩ đến số phận của mình trong cuộc đời. Sự nối tiếp và phát triển lôgíc của bốn đoạn thơ đã bộc lộ sâu sắc và thấm thía chủ đề của tác phẩm. II. LUYỆN TẬP Gợi ý: – Các em tìm đọc Truyện Kiều ở một số câu trước câu 107 để xác định đoạn thơ viết về nhân vật nào, lời nói trên là của ai? – Từ đó tìm ra điểm tương đồng với bài Đọc Tiểu Thanh kí. (Chú ý: Bốn câu thơ trong Truyện Kiều về mặt cảm hứng, giống với bốn câu 5, 6, 7, 8 trong bài Đọc Tiểu Thanh kí) và đề tài mà Nguyễn Du quan tâm trong các sáng tác của ông. ——————————— Trên đây đã giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 10: Độc Tiểu Thanh Kí. Để học tốt hơn môn Ngữ văn lớp 10. Cùng chủ đề này, mời bạn đọc tham khảo bài phân tích văn mẫu bài Độc Tiểu Thanh Kí và đọc lại bài Độc Tiểu Thanh Kí mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 10_ Độc Tiểu Thanh Kí
1,526
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Bài ca ngất ngưởng Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn lớp 11 các bạn học sinh hãy tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Bài ca ngất ngưởng, với nội dung tài liệu đã được cập nhật sẽ là nguồn thông tin hữu ích dành cho các bạn học sinh lớp 11 tham khảo để học tốt hơn môn Ngữ văn. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Bài ca ngất ngưởng 1. Trong Bài ca ngất ngưởng, từ “ngất ngưởng” được sử dụng mấy lần? Anh (chị) hãy xác định nghĩa của từ “ngất ngưởng” qua các văn cảnh sử dụng đó. Gợi ý trả lời Trong bài ca ngất ngưởng, từ “ngất ngưởng” được sử dụng 4 lần. Từ “ngất ngưởng” là phong cách sống nhất quán của Nguyễn Công Trứ, kể cả khi làm quan, ra vào nơi triều đình và khi nghỉ hưu, trở về cuộc sống đời thường. 2. Dựa vào văn bản Bài ca ngất ngưởng, anh íchị) hãy giải thích vì sao Nguyễn Công Trứ biết rằng việc làm quan là gò bó, mất tự do (vào lồng) nhưng vẫn ra làm quan. Gợi ý trả lời Vũ trụ nội mạc phi phận sự, Nghĩa vua tôi cho Uẹn đạo sơ chung. Nguyễn Công Trứ coi việc làm quan là một điều kiện, một phương tiện để thể hiện hoài bão vì dân, vì nước và tài năng của mình. Do đó, dẫu biết chốn quan trường gò bó, mất tự do song ông vẫn chọn con đường làm quan. Điều quan trọng là trong một môi trường có nhiều trói buộc, ông vẫn thực hiện được lí tưởng xã hội của mình và vẫn giữ được bản lĩnh, cá tính. Gợi ý trả lời Tìm hiểu cách Nguyễn Công Trứ tự thuật và kể, tự đánh giá bản thân. Giọng điệu tự thuật một lần nữa cho thấy ông sòng phẳng. thẳng thắn và có ý thức rõ ràng về phong cách sống của mình. Nguyễn Công Trứ tự hào vì đã có một cuộc sống hoạt động tích cực trong xã hội, cũng vì đã dám sống cho mình, bỏ qua sự gò bó của lễ và danh giáo (“Việt danh nhiệm tâm” [bỏ qua lễ giáo, theo đuổi cái tâm tự nhiên]). Nguyễn Công Trứ tự hào về phong cách, lối sống ngất ngưởng vì: Một mặt, với tư cách là một nhà nho, ông đã nháp thế tích cực, trải qua nhiều cương vị làm quan khác nhau, có mặt nhiều nơi trên đất nước, có những công lao đáng tự hào, mà vẫn giữ đúng nghĩa vua tôi. Nhưng mặt khác, ông lại giữ đuợc bản lĩnh cá nhân, giữ được cá tính. Ngất ngưởng mà Nguyễn Công Trứ nói đến ở đây là một quan niệm sống tích cực. 4. Đọc diễn cảm bài hát nói này. Hãy chỉ ra những nét tự do của thể tài hát nói so với thơ Đường luật và cho biết ý nghĩa của tính chất tự do đó. Thể hát nói có những nét tự do, nhất là so sánh với thể tho Đường luật. Về số câu, tuy thông thường trong một bài hát nói có 11 câu nhưng ngoại lệ khá nhiều (bài này có 19 câu). Số chữ của mỗi câu cũng không theo quy định cứng nhắc mà khá uyển chuyển. Câu dài có thể đến 10 chữ, câu ngắn 6 chữ. Về vần cũng có sự linh hoạt chứ không hạn vận. Có thể có những cặp đối xứng nhưng bài hát nói không quy định khắt khe về đối. Cũng không có luật chính thứ quy định chặt chẽ như thể thơ Đường luật. Do tính chất khá tự do nén bài hát nói thích hợp với việc diễn đạt những cảm xúc mạnh mẽ, khoáng đạt, phóng túng như lối sống ngất ngưởng. Luyện tập Theo anh (chị), so với Bài cạ phong cảnh Hương Sơn (bài đọc thêm, tr.50), Bài ca ngất ngưởng có sự khác biệt gì về mặt từ ngữ? Gợi ý trả lời Vẫn là thể thơ hát nói song nội dung và cảm hứng chủ đạo của Bài ca ngất ngưởng và Bài ca phong cảnh Hương Sơn khác nhau nên từ ngữ cũng khác nhau. Chẳng hạn, trong Bài ca ngất ngưởng có nhiều từ ngữ chỉ địa danh, quan chức, các từ ngữ chỉ sinh hoạt giải trí (ca, tửu, cắc, tùng,…); còn trong Bài ca phong cảnh Hương Sơn có rất nhiều từ ngữ tôn giáo (Bụt, niệm Nam mô Phật, cúng, nghe kinh, chày kình, từ bi, công đức,…). Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Bài ca ngất ngưởng, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu Bài ca ngất ngưởng và đọc lại bài thơ Bài ca ngất ngưởng mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Bài ca ngất ngưởng
838
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Bài ca ngắn đi trên bãi cát Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để có kết quả cao trong học tập, các bạn học sinh cần có cách học tập riêng dành cho mình và kết hợp tham khảo các tài liệu để nắm chắc kiến thức môn Ngữ văn, hiểu được nhu cầu của các bạn học sinh, luôn cập nhật những thông tin hữu ích để giúp các bạn học tốt Ngữ văn lớp 11. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Bài ca ngắn đi trên bãi cát. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Bài ca ngắn đi trên bãi cát 1. Phân tích ý nghĩa tượng trưng của các yếu tố tả thực hình ảnh người đi trên bãi cát. Gợi ý trả lời Trước hết, là những yếu tố tả thực bãi cát, đúng hơn là tả thực cảnh đi trên bãi cát: Bãi cát, bãi cát dài! Mỗi bước lại như lùi. Mặt trời đã lặn đi chưa nghỉ, Khách bộ hành nước mắt tuôn rơi! Đi trên cát, chân bị lún dưới cát, ta có cảm giác như lùi lại. Nói chung đi trên cát khó khăn, mỏi mệt hơn đi trên đường đất bình thường. Đi trên cát đã khó, xét về không gian thì đường xa, xung quanh lại bị vây bởi núi, biển, xét về thời gian thì mặt trời đã lặn mà vẫn tất tả đi (bình thường, lúc ấy, con người đều tìm chốn nghỉ ngơi). Tuy nhiên, nhà thơ không bao giờ dừng lại ở việc tả thực. Hình tượng thơ luôn mang ý nghĩa khái quát cao. Đó chính là biểu tượng của bãi cát và người đi trên bãi cát. Bãi cát dài ở đây chính là con đường đầy khó khăn mà con người phải vượt qua để đi đến danh lợi (nhà nho xưa coi danh lợi là việc làm quan); nhưng người đi trên bãi cát (người đời) vẫn tất tả dấn bước vì cái mồi danh lợi, cái bả công danh đã lôi kéo con người, làm cho con người mê muội. Từ con đường thực đi trên cát mà nhiều lần từng đi qua vào kinh ứng thi, Cao Bá Quát đã sáng tạo thành con đường đến với danh lợi một cách mê muội của con người trong bài thơ này. Con đường thực đi trên cát đã thành con đường chạy theo danh lợi trong bài ca. – Trèo non, lội suối, giận khôn vơi! – Xưa nay, phường danh lợi – Tất tả trên đường đời. Đầu gió hơi men thơm quán rượu – Người say vô số, tỉnh bao người?”. (Chú ý: Danh lợi có sức cám dỗ như thế nào?) Gợi ý trả lời Nhận thức về con đường danh lợi của Cao bá Quát đuợc nói lên sâu sắc qua sáu câu thơ: Không học được tiên ông phép ngủ, Trèo non, lội suối, giận không nguôi. Xưa nay phường danh lợi, Bôn tẩu trên đường đời. Gió thoảng hơi men trong quán rượu, Say cả, hỏi tỉnh được mấy người? Trước hết, là nỗi chán nản của tác giả vì tự mình phải hành hạ thân xác của mình trên đường theo đuổi công danh (hai câu đầu). “Không học được tiên ông phép ngủ” đã đành, lại còn “trèo non / lội suối / giận không nguôi”. (Đăng sơn / thiệp thủy / oán hà cùng). Nhịp điệu câu thơ đã nói rõ ý chán nản đó. Cuộc mưu cầu danh lợi có thể hình dung như quán rượu: số người say vô số, người tỉnh táo rất hiếm. Một nỗi buồn, băn khoăn, chán nản ẩn chứa sau những hình ảnh thơ chọn lọc rất nghệ thuật đó. 3. Tâm trạng của lữ khách khi đi trên bãi cát là gì? Hãy cho biết tầm tư tưởng của Cao Bá Quát thể hiện qua tâm trạng đó. Gợi ý trả lời Nhìn dòng đời ngược xuôi, mải mê trên con đường danh lợi, tác giả quay về với chính mình. Tỉnh táo, trăn trở, ông nêu lên câu hỏi như thúc giục bản thân tìm tòi con đường khác cho những người trí thức: Hình ảnh bãi cát dài xuất hiện và câu hỏi “Tính sao đây?” vang lên đầy ám ảnh. Tính cái gì, tính như thế nào là câu hỏi mà câu trả lời còn bỏ ngỏ “Sao mình anh còn trơ trên bãi cát này?”. Câu thơ khép lại bài thơ vang lên day dứt, thiết tha, không chỉ là câu hỏi mà còn như một mệnh lệnh cho bản thân mình: phải thoát ra khỏi bãi cát danh lợi đầy nhọc nhằn, đầy chông gai mà không đem lại một điều gì có ích cho mình. Tầm tư tưởng cao rộng của Cao Bá Quát chính là ở chỗ đã nhận thấy rõ tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, của con đường công danh theo lối cũ. Tuy chưa thể tìm ra một con đường đi nào khác, song ông thấy không thể đi mãi trên bãi cát danh lợi đó. Gợi ý trả lời Điểm độc đáo của bài thơ là nhịp điệu mang tính hình tượng rất rõ. Những câu thơ năm chữ với nhịp 2 / 3 mô phỏng những bước đi khó nhọc trên bãi cát. Những lúc dừng lại suy nghĩ, câu thơ kéo dài ra với số lượng chữ lớn hơn nhưng nhịp thơ cũng biến hóa. Nghệ thuật sử dụng điệp ngữ trong bài thơ mang tính sáng tạo cao. Từ trường sa láy đi láy lại tạo sự ám ảnh về bãi cát mênh mông, vô tận. Để thể hiện sự bế tắc, hình ảnh núi Bắc, núi Nam láy lại gây cảm tưởng núi bao vây trùng điệp quanh người đi đường. Nhịp điệu của bài thơ này được tạo nên chủ yếu nhờ sự thay đổi độ dài của các câu thơ cũng như sự khác nhau trong cách ngắt nhịp của mỗi câu, đem lại khả năng diễn đạt phong phú. Có từng cặp đối xứng với số lượng chữ không đều nhau: 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ. Cách ngắt nhịp có thể là 2/3 (trường sa/phục trường Sa), là 3/5 (Quân bất học/tiên gia mĩ thụy ông), là 4/3 (phong tiền tửu điếm/hữu mĩ tửu). Câu cuối cùng không có cặp đối, như một câu hỏi buông ra đầy ám ảnh. Nhịp điệu diễn đạt sự gập ghềnh, trúc trắc của những bước đi trên bãi cát dài, tượng trưng cho con đường công danh đáng chán ghét. Qua bài thơ này, anh (chị) hãy thử lí giải vì sao Cao Bá Quát đã khởi nghĩa chống nhà Nguyễn. Gợi ý trả lời Có thể liên hệ khái niệm “danh lợi” ở đây với việc đi học, thi, ra làm quan vì trong thơ, Cao Bá Quát nhiều lần viết về việc học hành, khoa cử như là con đường tìm kiếm danh lợi. Ví dụ: “Dư sinh phù danh ngộ, -Thập niên trệ văn mặc” (Đời ta lầm lỡ vì cái danh hờ, -Hàng chục năm chìm đắm trong bút mực) (bài Đắc gia thư, thị nhật tác); “Vị luyến minh thì học tố quan -Nhất danh lạo đào vị năng nhàn” (Vì lưu luyến thời sáng sủa nên học làm quan, – Một chút danh mà lận đận mãi chưa thể nhàn được) (bài Đình thí hậu trình chư hữu). Trong nhiều bài thơ, ông cũng đã tỏ ra chán ghét việc học và thi văn chương để tìm kiếm công danh, danh lợi. Ví dụ: Tự tòng phiếm hải lịch Ba Sơn, Thuỷ giác lục hợp hà mang mang! Thướng tích văn chương đẳng nhi hí! Thế gian thuỳ thị chân nam tử? Uổng cá bình sinh độc thư sử. (Từ khi vượt bể qua đất Ba Sơn, Mới cảm thấy vũ trụ là bao la! Chuyện văn chương trước đây thực là trò trẻ con! Trong thế giới này có ai thật là bậc tài trai, Mà lại phí cả một đời đọc mấy pho sách cũ). Cao Bá Quát đã thấy phải làm được việc gì lớn lao hơn có ích cho đời hơn. Đó là lí do dẫn ông đến với cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Nguyễn. —————————- Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Bài ca ngắn đi trên bãi cát, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu Bài ca ngắn đi trên bãi cát và bài văn mẫu phân tích Bài ca ngắn đi trên bãi cát mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Bài ca ngắn đi trên bãi cát
1,444
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Bài ca phong cảnh Hương Sơn Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Bài ca phong cảnh Hương Sơn, tài liệu đã được cập nhật một cách chi tiết, chắc chắn đây sẽ là nguồn thông tin hữu ích để phục vụ các bạn học sinh học tốt Ngữ văn lớp 11. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Bài ca phong cảnh Hương Sơn 1. Tác giả Chu Mạnh Trinh (1862 – 1905) tự Cán Thần, hiệu Trúc Vân, người làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu (nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên), đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Thìn 1892, làm quan đến Án sát. Ông là người tài hoa, thạo đủ cầm kì thi họa, lại giỏi cả nghệ thuật kiến trúc, và đặc biệt say mê cảnh đẹp. Tác phẩm của ông có Trúc Vân thi tập (tập thơ chữ Hán), Thanh Tâm Tài Nhân thi tập (tập thơ Nôm đoạt giải nhất trong cuộc thi vịnh Kiều ở Hưng Yên tháng 3 – 1902) và một số bài thơ lẻ. Đóng góp nổi bật của Chu Mạnh Trinh là đã phát hiện rất tinh và diễn tả rất hay một số cảnh đẹp của đất nước, trong đó có bài Hương Sơn phong cảnh ca được nhiều người hâm mộ. 2. Trọng tâm bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca được viết theo thể hát nói (ca trù) gồm 19 câu, có thể chia làm ba phần: – Bốn câu đầu: diễn tả cái hăm hở như là tiếng reo vui gặp gỡ khi đến với Hương Sơn. – Mười câu tiếp: miêu tả cảnh đẹp mĩ lệ của quần thể nhiều tầng của Hương Sơn. – Năm câu cuối: cảm nghĩ của tác giả trước cảnh đẹp của Hương Sơn. Đây là một trong ba bài thơ Chu Mạnh Trinh viết về Hương Sơn vào dịp ông đứng trông coi trùng tu tôn tạo quần thể danh thắng này. (Hai bài kia được viết theo thể lục bát). Bài thơ ca ngợi phong cảnh đẹp của quần thể danh thắng Hương Sơn gồm gần 20 di tích, trong đó động Hương Tích được xem là “Nam thiên đệ nhất động” (động đẹp nhất trời Nam) tương truyền do chúa Trịnh Sâm tặng Hương Sơn mấy chữ khắc trên vách đá. Lần theo bài thơ, ta như lạc vào một cảnh Bụt, nơi “chim cúng trái”, “cá nghe kinh”, “đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt”, và nhất là đường lên động Hương Tích: Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt, gập ghềnh mấy lối uốn thang mây. Cái đẹp của Hương Sơn là cái đẹp của một quần thể nhiều tầng, thiên tạo lẫn nhân tạo; và đặc biệt là cái đẹp trong bầu không khí thoát tục đượm vị thiền đã khiến nhà thơ phải thốt lên từ đáy lòng mình: ———————————— Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Bài ca phong cảnh Hương Sơn, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu Bài ca phong cảnh Hương Sơn mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Bài ca phong cảnh Hương Sơn
564
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Bản tin Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn 11, mời các bạn học sinh hãy tham khảo bộ tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Bản tin, tài liệu sẽ hướng dẫn các bạn làm bài tập Bản tin một cách hiệu quả nhất, qua bộ tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh có kết quả cao hơn trong học tập. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Bản tin Gợi ý trả lời câu hỏi MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA BẢN TIN 1. Bản tin thông báo kết quả kì thi Ô-lim pích Toán quốc tế của đoàn học sinh Việt Nam. Kết quả dự thi (xếp thứ tư) khẳng định trình độ của học sinh Việt Nam, thành tựu của nền giáo dục nước ta trong việc bồi dưỡng nhân tài. 2. Bản tin trên có tính thời sự, vì sự việc mới xảy ra vào ngày 16 – 7 và ngay sau ba ngày (ngày 19 – 7) đã được đưa tin. 3. Các thông tin bổ sung trong bài tập là không cần thiết, thậm chí là thừa vì chúng vi phạm nguyên tắc ngắn gọn, súc tích của bản tin. 4. Các sự kiện trong bản tin như thời gian, địa điểm, kết quả của Cuộc thi đều được nêu một cách cụ thể, chính xác có tác dụng bảo đảm tính chính xác của báo chí nói chung, bản tin nói riêng, làm cho người đọc tin vào những tin tức được thông báo. 5. Yêu cầu cơ bản của một bản tin là: Bản tin phải bảo đảm tính thời sự (đưa tin kịp thời, nhanh chóng), tin phải có ý nghĩa xã hội, nội dung thông tin phải chân thực, chính xác. a) Tên của bản tin khái quát nội dung của tin: sự kiện và kết quả của sự kiện. – Ngoài cách nêu khái quát sự kiện và kết quả, nhan đề bản tin còn có thể chọn một chi tiết hấp dẫn nhất với cách diễn đạt đặc biệt gây hứng thú, tò mò cho người đọc (đặt câu hỏi, chơi chữ,…). – Bản tin thường đặt nhan đề ngắn gọn gồm một cụm từ (thường là cụm động từ hoặc danh từ). Cũng có thể là một câu trần thuật, câu nghi vấn ngắn gọn. b) Các em tìm phần mở đầu của ba bản tin. Phần mở đầu thường thông báo khái quát về sự kiện và kết quả. c) Phần triển khai có thể nêu cụ thể, chi tiết hơn sự kiện hoặc có thể cắt nghĩa cụ thể hơn nguyên nhân hoặc kết quả của sự kiện được đưa tin (hai bản tin đầu nêu cụ thể, chi tiết các sự việc, bản tin thứ ba cắt nghĩa nguyên nhân đưa đến kết quả của sự kiện). LUYỆN TẬP 1. Các sự kiện a, b, d, e là các sự kiện có thể viết bản tin. 2. Các em nêu được các đặc điểm giống nhau và khác nhau giữa bản tin với các thể loại báo chí khác như quảng cáo, phóng sự điều tra. – Giống nhau: Cung cấp tin tức. – Khác nhau: Bản tin đơn thuần chỉ thông báo tin tức. Quảng cáo, ngoài truyền tin còn có mục đích chủ yếu là chào mời khách hàng mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ. Phóng sự điều tra có độ dài lớn hơn bản tin nhiều, miêu tả cụ thể, chi tiết các sự việc, phân tích và bình luận sự kiện. Đội tuyển Việt Nam xếp thứ tư toàn đoàn trong cuộc thi Ô-limpích Toán quốc tế lần thứ 45 tại thủ đô A-ten, Hi Lạp từ ngày 14 đến 16 tháng 7. —————————- Trên đây đã giới thiệu bạn đọc bài: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Bản tin, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Bản tin.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Bản tin
677
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Cha con nghĩa nặng Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Cha con nghĩa nặng, đây là tài liệu hay dành cho các bạn học sinh tham khảo để học tốt Ngữ văn 11, mời các bạn học sinh cùng thầy cô tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Cha con nghĩa nặng 1.Tác giả Hồ Biểu Chánh (1885 – 1958) tên khai sinh là Hồ Văn Trung, quê ở làng Bình Thành (nay là xã Thành Công, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang). Thuở nhỏ học chữ Nho, sau học chữ quốc ngữ, làm công chức ở nhiều nơi, am hiểu cuộc sống và con người Nam Bộ. Năm 1909, ông viết truyện dài đầu tay U tình lục bằng thể thơ lục bát. Ông sáng tác đều đặn, cần mẫn, thử sức trong nhiều lĩnh vực (khảo cứu, phê bình, làm thơ, viết tuồng hát,…), nhưng nổi tiếng hơn cả trong lĩnh vực tiểu thuyết, được xem là một trong số ít những người tiên phong đặt nền móng cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Ông để lại 64 cuốn tiểu thuyết in dấu ấn Nam Bộ khá rõ, trong đó được độc giả nhớ nhất là hai cuốn Cha con nghĩa nặng (1929) và Con nhà nghèo (1930) (cuốn sách này đã được chuyển thể thành kịch bản điện ảnh). 2. Trọng tâm bài học Cha con nghĩa nặng là tác phẩm thứ 15 của Hồ Biểu Chánh, xuất bản năm 1929. Trần Văn Sửu là một nông dân hiền lành chăm chỉ. Sửu lấy Thị Lựu, sanh được ba người con là Tí, Quyên, Sung. Anh thương yêu vợ con, nhưng không may gặp phải người vợ lăng loàn, đàng điếm. Một hôm, Sửu bắt gặp vợ ngoại tình với Hương hào Hội, Thị Lựu không biết hối lỗi còn ăn nói hỗn láo, rồi níu giữ chồng cho tình nhân chạy thoát. Tức giận, Sửu xô vợ ngã, không may vợ chết. Sửu phải bỏ trốn. Mọi người tưởng anh đã nhảy xuống sông tự tử. Anh em thằng Tí về ở với ông ngoại là Hương thị Tào. Sung ốm chết, Tí và Quyên đi làm thuê cho bà Hương quản Tồn, được bà thương, gây dựng gia đình cho cả hai đứa, và Quyên trở thành con dâu của bà. Sau mười mấy năm trốn tránh, Sửu lẻn về quê thăm con, sau đó anh được xóa án và cha con đoàn tụ. b) Phân tích đoạn trích trong SGK Đoạn trích kể lại sự việc Sửu bỏ đi sau khi lẻn về thăm con, thằng Tí chạy theo cha và hai cha con gặp nhau trên cầu Mê Tức. – Trần Văn Sửu quyết định tự tử: định tự tử đến một cách tự nhiên, hợp lí đối với người cha tội nghiệp và thương con. Anh lẻn về thăm con sau mười mấy năm trốn tránh chỉ với mục đích xem con có hiểu mình không (việc đã làm mẹ nó chết) và cuộc sống hiện nay của chúng như thế nào. “Bây giờ mình biết rõ nó thương mình, nó còn kính trọng mình, mà nó lại gần được giàu có sung sướng hết thảy nữa”. Như vậy, đối với anh, chết là “được rồi, là mãn nguyện rồi, không còn phải bận tâm lo lắng gì nữa. Anh nhắm mắt lại, nhớ lại cảnh vợ nằm chết trên bộ ván, nhớ lại cảnh mấy đứa nhỏ chạy ra đón cha khi anh ở ngoài ruộng về. Đau đớn quá, chịu không được, anh nói lớn lên rằng: “Mấy con ơi! Cha chết nhé. Mấy con ở lại mạnh giỏi để cha theo mẹ con cho rồi”. Và khi anh chui đầu qua lan can cầu thì thằng Tí cũng vừa chạy đến. Câu chuyện thắt nút lại được mở nút để chuyển sang một tình tiết mới. – Nghệ thuật kể chuyện của tác giả Để thể hiện chủ đề “Cha con nghĩa nặng”, tác giả đã tạo ra những tình huống nghệ thuật có kịch tính cao (mâu thuẫn giữa tình cha thương con và hạnh phúc của con, giữa hạnh phúc của con với tình con thương cha); đặc biệt là tình huống khi người cha định tự tử thì đứa con cũng vừa lao tới. Lối kể chuyện của tác giả bình dị, mộc mạc như giọng kể của người dân Nam Bộ, khắc họa tính cách nhân vật chân thật, mang sắc thái Nam Bộ khá rõ với việc sử dụng khá thành thục ngôn ngữ của người dân lục tỉnh. Tuy vậy, có lẽ cũng nên hạn chế bớt một số phương ngữ chưa được phổ biến lắm để độc giả cả nước có thể tiếp nhận nội dung câu chuyện một cách dễ dàng hơn. Trên đây đã giới thiệu bạn đọc bài: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Cha con nghĩa nặng để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Cha con nghĩa nặng
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Cha con nghĩa nặng
868
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Chiếu cầu hiền Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Chiếu cầu hiền đã được cập nhật với nội dung chi tiết chắc chắn sẽ là nguồn thông tin hữu ích để giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 11. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Chiếu cầu hiền 1. Anh (chị) hãy cho biết bài chiếu gồm có mấy phần và nội dung của mỗi phần. Từ đó, hãy khái quát nội đung chính của một văn bản “cầu hiền”. Gợi ý trả lời Bài chiếu được chia làm 3 phần a). Phần 1: Mở đầu Bài chiếu mở đầu bằng việc nêu vai trò của người hiền và khẳng định vị trí của người hiền trong xã hội (ở đây là trong chế độ phong kiến thuộc triều đại vua Quang Trung). Đó là luận điểm đối với người hiền. Luận điểm đó đã được diễn đạt theo các ý sau: – Người hiền ở trên đời cũng như sao sáng trên trời: người hiền là của quý của đất nước, của xã hội, của nhân dân (“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” – Thân Nhân Trung), giống như “sao sáng trên trời”. Vai trò cửa người hiền đối với đất nước là rất quan trọng. – Chính vì thế, “người hiền tất phải do thiên tử sử dụng” cũng như “sao tất phải chầu về Bắc thần”, ý nói người hiền phải được sử dụng, và trong chế độ phong kiến thì phải do thiên tử sử dụng để người hiền được đem tài đức của mình mà phò giúp nước. Cách trình bày bài chiếu như thế nên các em cần lưu ý: – Tác giả đã mở đầu bài Chiếu cầu hiền bằng lời Khổng Tử để tăng thêm sức nặng và độ tin cậy cho luận điểm của mình. Người hiền trong chế độ phong kiến thường xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, coi đức Khổng Tử như vị thánh của mình. Vì vậy, dẫn lời Khổng Tử ở đây là rất đúng, có tác dụng lớn đối với các nho sĩ lúc bấy giờ: lời Khổng Tử là chân lí của họ, đem đến cho họ niềm tin vững chắc vào vai trò người hiền của mình và vị trí mà mình cần phải có mặt trong xã hội. Câu nói của Khổng Tử vừa bao hàm được cả hai ý đó, lại là một câu nói so sánh, có hình ảnh (“sao sáng phải chầu về Bắc thần”), hàm chứa ý nghĩa sâu sắc. – Nêu phản đề (ý trái ngược) để phủ định nhằm củng cố luận điểm. Đó là: “Nhược bằng giấu mình ẩn tiếng, có tài mà không để cho đời dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền tài” (khóa lại vấn đề, khẳng định mạnh mẽ luận điểm đã nêu). Như vậy, lôgic của luận điểm được tóm tắt như sau: Người hiền là của quý của đất nước – phải do thiên tử sử dụng, nếu giấu mình ẩn tiếng – không phải là ý trời sinh ra người hiền tài. Hai ý quan trọng nhất của bài Chiếu cầu hiền đã được tác giả đặt ra một cách gọn, rõ trong phần mở bài, báo trước hướng đi và nội dung sẽ nói của bài chiếu. – Trước việc Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc diệt chúa Trịnh, các nho sĩ Bắc Hà có nhiều cách ứng xử khác nhau. Đây là lúc “thời gấp vận cùng, trung châu lắm việc”, tâm trạng của họ chưa ổn định trước một sự đổi thay lớn. Tác giả không kể trực tiếp các cách ứng xử ấy mà dùng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc với giới nho sĩ để nói lên thái độ của họ trước thời cuộc lúc đó: + Người hiền ở ẩn, cố giữ tiết tháo như da bò bền (chỉ người cố chấp) + Người ở triều đường không dám nói năng như hàng trượng mã; (chỉ người lặng im) + Người đánh mõ giữ cửa (chỉ người làm cầm chừng) + Người ra bể vào sông (chỉ tình trạng phiêu tán) + Người chết đuối trên cạn (ám chỉ người đi ở ẩn, phí hoài tài năng) Cách nói như vậy (tránh nói thẳng sẽ không tế nhị với tầng lớp nho sĩ có học thức) vừa dễ cảm nhận, lại thấm thía, nên dễ thuyết phục người nghe. Không những thế, đây còn là một cách nói có tình của một ông vua đối với bề tôi của mình, đồng thời cũng là một cách nói khiêm tốn của một vị hoàng đế để thu phục nhân tâm. Và Ngô Thì Nhậm, hiểu lòng Nguyễn Huệ, đã thay lời vua viết nên những câu thật chí tình và xúc động trong bài chiếu: “Trẫm đương để ý lắng nghe, sớm hôm mong mỏi. Thế mà những người tài cao học rộng, chưa có ai đến. Hay trẫm là người ít đức, không xứng để người ấy phò tá chăng? Hay là đương thời loạn lạc, họ chưa thể phụng sự vương hầu?” Một ông vua mà viết được những câu như thế phải là người muốn cầu hiền biết bao! Đó cũng là một ông vua vì dân, vì nước, nên mới “sớm hôm mong mỏi” người hiền đến để giúp dân, giúp nước. – Lòng mong mỏi đó của vua Quang Trung lại được nhấn mạnh và khắc sâu hơn trong ý 2b. Bài chiếu nêu rõ triều đại mới, trong “buổi đầu nền đại định” còn nhiều khó khăn (“Công việc vừa mới mở ra. Kỉ cương nơi triều chính còn nhiều khiếm khuyết,…”). Đáng chú ý là câu “Dân còn nhọc mệt chưa lại sức, (…), trẫm nơm nớp lo lắng, ngày một ngày hai vạn việc nảy sinh.” Mới biết nhà vua lo cho dân, cho nước đến thế nào. Nhưng chính “khi trời còn thảo muội” mới “là lúc quân tử thi thố kinh luân” để vạch ra đường lối xây dựng đất nước. Bởi thế, nhà vua càng nóng lòng mong mỏi người hiền đến với mình – cũng là ra giúp triều đại mới – trong một niềm tin son sắt vào nhân tài của đất nước thời nào cũng có và có nhiều. Câu văn của Ngô Thì Nhậm đã bộc lộ chân thành tha thiết tấm lòng ưu ái đó của vua Quang Trung: c) Phần 3: Đường lối cầu hiền của Nguyễn Huệ Chính từ lòng mong mỏi thiết tha đó mà đường lối cầu hiền của Nguyễn Huệ hết sức rộng mở. Diện cầu hiền thật rộng rãi mà biện pháp cũng cụ thể, dễ làm, không hề có điều gì gây trở ngại, ảnh hưởng đến người hiền trong việc đem tài đức ra giúp dân, giúp nước, xây dựng triều đại mới. Nhà vua đã mở lòng ra để đón người hiền đến với mình một cách chân thành, thoải mái trên một mục tiêu chung là xây dựng đất nước. Trước hết là diện cầu hiền hết sức rộng mở, đến mọi người dân trong nước, từ “quan liêu lớn nhỏ và dân chúng trăm họ; ai có tài năng học thuật, mưu hay giúp ích cho đời, đều cho phép được dâng thư tỏ bày công việc”. Sau nữa là những biện pháp cầu hiền cụ thể, dễ làm, tạo cho mọi người sự an tâm, thoải mái, không có gì phải bận tâm, lo lắng: – Lời có thể dùng được thì đặc cách bổ dụng, lời không dùng được thì để đấy chứ không bắt tội vu khoát. – Các quan văn võ đều được tiến cử những người có tài nghệ, lại cho dẫn đến yết kiến, tùy tài bổ dụng. – Những người giấu tài ẩn tiếng, không ai biết đến cũng được dâng thư tự cử, chớ ngại thế là “đem ngọc bán rao”. Và những người hiền trong sự nghiệp xây dựng triều đại mới sẽ được mọi người biết đến và có một tiền đồ tốt đẹp: “Còn nay trời đất thanh bình, chính lúc người hiền gặp gỡ gió mây.” Bài chiếu kết thúc bằng một lời kêu gọi, động viên người hiền hãy đem tài đức ra giúp nước: “Những ai tài đức, nên đều gắng lên, để được rỡ ràng chốn vương đình; một lòng cung kính cùng hưởng phúc tôn vinh”. Lời kêu gọi trang trọng nhưng có sự gắn bó tha thiết giữa ông vua vì dân vì nước và những người hiền trong đất nước lúc bấy giờ. Tóm lại, Chiếu cầu hiền không chỉ nói lên chủ trương cầu hiền đúng đắn của vua Quang Trung mà còn cho ta thấy được tầm nhìn xa trông rộng và tấm lòng vì dân vì nước của nhà vua để xây dựng triều đại mới lúc bấy giờ. Gợi ý trả lời – Để trả lời câu 2 các em nên xem lại câu 1 và trích những ý phù hợp để trả lời. Bên cạnh đó các em có thể đặt câu hỏi về học vấn của các trí thức thời phong kiến (mười năm đèn sách, học và đọc kinh sử Trung Quốc), với một đối tượng như vậy, người viết đã có lí khi dùng nhiều điển cố văn học Trung Quốc để làm rõ hơn về đối tượng trong bài chiếu. – Nghệ thuật lập luận của bài chiếu được viết theo thể nghị luận. Lập luận của tác giả có thể tóm tắt như sau: Người hiền là của quý của đất nước, phải do thiên tử sử dụng để xây dựng đất nước. Nhưng khi Tây Sơn diệt họ Trịnh, tâm trạng của nho sĩ Bắc Hà chưa ổn định trước việc ra giúp triều đại mới. Triều đại mới lên nhiều khó khăn, rất cần người hiền ra giúp nước. Vua Quang Trung mở rộng con đường cầu hiền đến mọi người dân trong nước, mong mỏi người hiền sẽ đến với mình và kêu gọi những người tài đức hãy ra giúp dân, giúp nước. Bên cạnh lí, bài chiếu còn được viết có tình: đó là cái tình của một ông vua gắn bó với người hiền trong nhiệm vụ chung xây dựng đất nước. Giọng điệu, cách viết, cách dùng các lời nói của Khổng Tử rất phù hợp và có sức thuyết phục các nho sĩ. 3. Qua bài chiếu, anh (chị) hãy nhận xét về tư tưởng và tình cảm của vua Quang Trung. Gợi ý trả lời Để trả lời câu hỏi này các em nên đặt câu hỏi: Vì sao vua Quang Trung lại “cầu hiền” như vậy? Ông nghĩ gì về đất nước, về nhân dân trong bài chiếu này? Những hứa hẹn của vua Quang Trung thể hiện tầm tư tưởng và nhân cách của ông như thế nào? Các em trả lời những câu hỏi bằng lập luận của mình qua bài học trên sẽ hiểu rõ tư tưởng và tình cảm của vua Quang Trung. ————————- đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Chiếu cầu hiền, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Chiếu cầu hiền mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Chiếu cầu hiền
1,908
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Chí Phèo Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 xin giới thiệu tới các bạn học sinh lớp 11 tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Chí Phèo, với nội dung tài liệu đã được hướng dẫn giúp các bạn học sinh giải nhanh bài tập để học tốt Ngữ văn 11. Chắc chắn bộ tài liệu sẽ là nguồn thông tin hữu ích để các bạn học sinh có kết quả cao hơn trong học tập. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Chí Phèo Gợi ý trả lời câu hỏi 2. Trước sự săn sóc đầy ân tình và tình yêu thương mộc mạc, chân thành của thị Nở, tâm trạng Chí Phèo đã diễn biên khá phức tạp và rất lôgíc. Để chỉ ra sự lôgíc này, trước hết phải hiểu, lúc đầu thị Nở chỉ khơi dậy bản năng của Chí Phèo, nhưng sự săn sóc giản dị đầy ân tình và lòng yêu thương mộc mạc, chân thành của người đàn bà khốn khổ này đã làm thức dậy bản chất lương thiện của người nông dân trong Chí Phèo. Đoạn văn nói về sự thức tỉnh linh hồn của Chí Phèo sau đêm gặp thị Nở là một đoạn tuyệt bút thể hiện tư tưởng nhân đạo của một nhà văn lớn. Khi được thị Nở cho cháo hành, Chí Phèo ngạc nhiên và hết sức cảm động “thấy mắt hình như ướt ướt”. Điều này là dễ hiểu, vì như chính tác giả nói: “Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì”. Chí Phèo nhận thấy cháo hành rất ngon và thị Nở cũng “có duyên” (lưu ý, đây vốn là một người có ngoại hình xấu xí). Chí Phèo nghĩ tới hạnh phúc vợ chồng, thấy mình bị thiệt thòi vì chưa bao giờ được săn sóc bởi bàn tay của người đàn bà. Chí nhớ đến nỗi nhục khi trước đây phải chiều theo ham muốn xác thịt của con quỷ cái vợ ba bá Kiến. Cuối cùng, Chí Phèo hi vọng mình sẽ tìm được bạn đời. Và dĩ nhiên đấy chính là thị Nở. Hắn hi vọng “thị Nở sẽ mở đường cho hắn” vào cái xã hội “bằng phẳng thân thiện của những người lương thiện”. 6. Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao qua đoạn trích này sâu sắc và mới mẻ ở chỗ nhà văn đã phát hiện, miêu tả phẩm chất tốt đẹp của người lao động ngay khi tưởng như họ đã bị xã hội tàn ác cướp mất cả bộ mặt người lẫn linh hồn người. (Tư tưởng nhân đạo của phần lớn các cây bút hiện thực khác chủ yếu thể hiện sự đồng cảm với nỗi khổ của người nông dân, lên án cái xã hội thực dân nửa phong kiến bóc lột tàn tệ người lao động, đẩy họ vào con đường bần cùng, ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của họ). Ở đây, nên so sánh tư tưởng nhân đạo của Nam Cao với tư tưởng nhân đạo của một vài nhà văn hiện thực để thấy được chỗ mới mẻ và sâu sắc của ông. Luyện tập 1. Ý kiến nêu trên khẳng định yêu cầu hết sức quan trọng đối với tác phẩm văn chương, nói rộng ra là đối với tác phẩm nghệ thuật. Người nghệ sĩ là phải sáng tạo, phát hiện ra cái mới. Đây là ý kiến hoàn toàn đúng, phản ánh bản chất của nghệ thuật, được nhiều người khẳng định theo những cách diễn đạt khác nhau. (“Mỗi tác phẩm phải là một phát hiện về hình thức, một khám phá về nội dung” – Lê-ô-nít Lê-ô-nốp). Ở đây, Nam Cao đã diễn đạt một cách ngắn gọn, hàm súc và giàu hình ảnh. 2. Truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao được nhiều người khẳng định là một tác phẩm kiệt xuất của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại vì tác phẩm này có giá trị tư tưởng (nhân đạo, hiện thực) sâu sắc, độc đáo, mới mẻ và được thể hiện bằng nghệ thuật bậc thầy (trong xây dựng nhân vật, lối kết cấu, xây dựng cốt truyện, sử dụng ngôn ngữ,…) như đã phán tích kĩ ở trên. —————————— Trên đây đã giới thiệu bạn đọc bài: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Chí phèo, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Chí phèo và đọc lại tác phẩm Chí phèo mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Chí Phèo
773
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Chạy giặc Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn lớp 11, mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Chạy giặc, chắc chắn đây sẽ là nguồn thông tin hay dành cho các bạn học sinh khai thác để có kết quả cao hơn trong học tập. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Chạy giặc Hiện nay chưa thấy tài liệu nào nói rõ thời điểm ra đời của bài thơ Chạy giặc. Chạy giặc là một trong số những bài thơ Nôm xuất sắc của Nguyễn Đình Chiểu. Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử, cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu và nhất là nội dung tác phẩm, có người cho rằng bài thơ này đã được tác giả viết ngay sau khi thành Gia Định bị thực dân Pháp bắt đầu tấn công (ngày 17 – 2 – 1859). Chạy giặc (có sách ghi là Chạy Tây) là một trong những tác phẩm đầu tiên của văn học yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX. Trọng tâm của bài * Bức tranh hiện thực sâu sắc của cảnh chạy giặc Trong khuôn khổ của một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, Nguyễn Đình Chiểu đã ghi lại một bức tranh chạy giặc thật sinh động, vừa cụ thể vừa khái quát bằng một con mắt nhìn hiện thực sâu sắc. Có cái đột ngột, bàng hoàng, tan tác của cảnh chạy giặc khi tiếng súng xâm lược đã nổ: Một bàn cờ thế phút sa tay. Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy, Mất ổ bầy chim dáo dác bay. Và sau đó là cảnh mất mát đau thương do bọn giặc gây ra trên quê hương nhà thơ. Tội ác của quân cướp nước và nỗi đau của nhân dân ta đã được dồn nén trong hai câu thơ có sức khái quát cao: Bến Nghé của tiền tan bọt nước, Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây. *Nỗi lòng của nhà thơ trước cảnh chạy giặc Xen vào bức tranh chạy giặc là nỗi lòng của nhà thơ. Ông đau xót trước “bàn cờ thế phút sa tay”, trước cảnh “lũ trẻ lơ xơ chạy” và cả “bầy chim dáo dác bay”. Càng đau xót hơn là cảnh nhà cửa bị thiêu cháy và của tiền tan thành bọt nước. Trong nỗi đau đó, ta nhận ra lòng căm thù sâu sắc quân xâm lược của nhà thơ được bộc lộ một cách gián tiếp. Còn đối với triều đình phong kiến, tác giả bộc lộ trực tiếp nỗi lòng của mình qua một câu hỏi nhức nhối, đầy mỉa mai: Hỏi trang dẹp loạn rày đâu Uắng, Nỡ để dân đen mắc nạn này? Tất cả đã nói lên lòng yêu nước thiết tha và sâu sắc của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. ———————————– Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Chạy giặc, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Chạy giặc và đọc lại bài thơ Chạy giặc mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Chạy giặc
545
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Chữ người tử tù Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Chữ người tử tù để học tốt môn Ngữ văn 11, đã tổng hợp những câu hỏi và kèm theo lời giải chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh nắm chắc hơn bài Chữ người tử tù. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Chữ người tử tù Gợi ý trả lời câu hỏi 1. Tình huống truyện của truyện ngắn Chữ người tử tù: Tình huống là “cái tình thế xảy ra truyện”, là “một khoảnh khắc mà trong đó sự sống hiện ra rất đậm đặc”, là cái “khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người” (Nguyễn Minh Châu). Tình huống truyện còn được hiểu là mối quan hệ đặc biệt giữa nhân vật này với nhân vật khác, giữa nhân vật với hoàn cảnh và môi trường sống, qua đó, nhân vật bộc lộ rõ tâm trạng, tính cách hay thân phận của nó, góp phần thể hiện sâu sắc tư tưởng của tác phẩm. Trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo. Hai nhân vật Huấn Cao và quản ngục, trên bình diện xã hội, hoàn toàn đối lập với nhau. Một người là tên “đại nghịch”, cầm đầu cuộc nổi loạn nay bị bắt giam, đang chờ ngày ra pháp trường để chịu tội; còn một người là quản ngục, kẻ đại diện cho cái trật tự xã hội đương thời. Nhưng cả hai nhân vật này đều là những con người có tâm hồn nghệ sĩ, trên bình diện nghệ thuật, họ là tri âm, tri kỉ với nhau. Nguyễn Tuân đã đặt những nhân vật của mình vào chốn ngục tù tối tăm nhơ bẩn, tạo nên cuộc gặp gỡ kì lạ của họ. Nguyễn Tuân đã tạo ra một tình huống độc đáo: Mối quan hệ đặc biệt éo le, đầy trớ trêu giữa những tâm hồn tri âm, tri kỉ. Tác giả đã đặt những nhân vật này trong một tình thế đối địch: tử tù và quản ngục. Chính tình huống độc đáo này đã làm nổi bật vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao, làm sáng tỏ tấm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục, đồng thời cũng thể hiện sâu sắc chủ đề của tác phẩm. 2. Trong Chữ người tử tù, ngòi bút Nguyễn Tuân đã tập trung khắc hoạ vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao. Vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao là vẻ đẹp lãng mạn, một vẻ đẹp được lí tưởng hoá, được thể hiện một cách khác thường trong một hoàn cảnh tưởng chừng như không thể nào xảy ra được. Vẻ đẹp của Huấn Cao hiện lên một cách rực rỡ, sáng chói nhờ được tô vẽ bằng hàng loạt Sự tương phản gay gắt. Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao được thể hiện ở những phương diện sau: + Khí phách hiên ngang (Huấn Cao là một trang anh hùng, dũng liệt). + Nhân cách trong sáng, cao cả (Huấn Cao là người có “thiên lương” bản tính tốt lành trong sáng). – Các em tìm những chi tiết trong tác phẩm để làm rõ vẻ đẹp trên của hình tượng Huấn Cao. Lưu ý, khi phân tích hình tượng nhan vật Huấn Cao, cần phải đặt nhân vật này trong quan hệ với nhân vật viên quản ngục. – Qua hình tượng nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã bộc lộ quan niệm về cái đẹp. Huấn Cao không chỉ là người có tài mà còn có tâm, có “thiên lương” cao đẹp Huấn Cao không chỉ có thái độ hiên ngang, bất khuất, không sợ chết, coi khinh tiền bạc và đồng tiền phi nghĩa mà còn có một tấm lòng yêu quý cái thiện, cảm động trước “thiên lương” của viên quản ngục (sẵn lòng cho chữ khi hiểu rõ thiện căn và Sở thích cao quý của ông ta); biết sợ cái việc thiếu chút nữa mình “phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Đó là hai mặt thống nhất trong một nhân cách lớn. Như vậy, trong quan điểm của Nguyễn Tuân, cái tài phải đi đôi với cái tâm, cái đẹp và cái thiện không thể tách rời nhau. Đó là một quan điểm nghệ thuật tiến bộ. 3. Không chỉ Huấn Cao, qua ngòi bút Nguyễn Tuân, viên quản ngục cũng là một nhân vật độc đáo: Tuy không phải là người làm nghệ thuật, nhưng ngục quan là người có một tâm hồn nghệ sĩ của một kẻ liên tài (quý trọng người tài); say mê và quý trọng cái tài, cái đẹp. Viên quản ngục say mê cái tài, cái đẹp và nhân cách cao thượng của Huấn Cao nên chân thành, cung kính biệt đãi ông. Mặc dù Huấn Cao tỏ thái độ cao ngạo, khinh mạn đối với viên quản ngục, nhưng hằng ngày quản ngục vẫn sai người dâng rượu và thức nhắm, đồng thời nói năng với người tử tù nhất mực cung kính. Trước Huấn Cao, quản ngục tự thấy mình chỉ là một “kẻ tiểu lại giữ từ” thấp hèn. Chính vì say mê cái đẹp, cảm phục tài năng và nhân cách của Huấn Cao nên ngục quan đã bất chấp luật pháp, làm đảo lộn trật tự trong nhà tù, biến một kẻ tử tù thành một thần tượng để tôn thờ. Ở đây, vẻ đẹp của ngục quan được thể hiện ở thái độ sùng kính Huấn Cao – hiện thân của cái tài, cái đẹp, cái “thiên lương” cao cả. Và việc biệt đãi tử tù của ông cần được xem như một hành vi dũng cảm. Vẻ đẹp của quản ngục còn được thể hiện trong tư thế khúm núm, thái độ trân trọng đối với Huấn Cao qua hành vi vái người tù một vái, chắp tay nghẹn ngào nói: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” ở cuối tác phẩm. 4. Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao được bộc lộ một cách sáng chói, rực rỡ nhất trong cái đêm ông cho chữ viên quản ngục. Cảm hứng mãnh liệt trước một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” đã khiến Nguyễn Tuân say sưa sáng tạo những ngôn từ vừa sắc sảo góc cạnh, vừa trang trọng cổ kính, sống động như có hồn, có nhịp điệu riêng, giàu sức truyền cảm. Bút pháp dựng người, dựng cảnh của nhà văn đã đạt tới mức điêu luyện. Những nét vẽ của ông như khắc, như chạm, giàu giá trị tạo hình. Chi tiết nào cũng sinh động, cũng gợi cảm, đầy ám ảnh nghệ thuật. Thủ pháp tương phản được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả đã làm nổi bật hơn bao giờ hết vẻ đẹp trang trọng, uy nghi, rực rỡ hào quang bất tử của hình tượng nhân vật Huấn Cao. – Cảnh tượng ông Huấn Cao cho chữ viên quản ngục đúng là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”, bởi vì: + Việc cho chữ vốn là một việc thanh cao, một sáng tạo nghệ thuật lại diễn ra trong một căn buồng tối tăm, chật hẹp, ẩm ướt, hôi hám của nhà tù (tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián). Cái đẹp lại được sáng tạo giữa chốn hôi hám, nhơ bẩn; thiên lương cao cả lại toả sáng ở chính cái nơi mà bóng tối và cái ác đang ngự trị. + Trật tự, kỉ cương trong nhà tù bị đảo ngược hoàn toàn: Tù nhân trở thành người ban phát cái đẹp, răn dạy ngục quan; còn ngục quan thì khúm núm, vái lạy tù nhân. Như vậy, giữa chốn ngục tù tàn bạo, không phải những kẻ đại diện cho quyền lực thống trị làm chủ mà là người tử tù làm chủ. Qua cảnh tượng này, chủ đề của tác phẩm được thể hiện sâu sắc. Đó là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối của cái đẹp đối với cái xấu xa, nhơ bẩn, của cái thiện đối với cái ác,… Đó là sự tôn vinh cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả của con người bằng một bức tranh nghệ thuật dầy ấn tượng. 5. Dựa vào những ý đã trình bày ở những câu hỏi trên, các em cần nắm được những nét đặc sắc về bút pháp xây dựng nhân vật, bút pháp miêu tả cảnh vật (tạo không khí thiêng liêng, cổ kính) và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân. Luyện tập Các em viết một đoạn văn trình bày cảm nghĩ sâu sắc nhất của mình về nhân vật Huấn Cao. Không cần phải nói đầy đủ về hình tượng Huấn Cao, chỉ nói điều mình cho là có ý nghĩa nhất. —————————————- Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Chữ người tử tù, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu Chữ người tử tù và đọc lại tác phẩm Chữ người tử tù mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Chữ người tử tù
1,577
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Câu cá mùa thu Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Câu cá mùa thu đã được tổng hợp và đăng tải để phục vụ các bạn học sinh học hiệu quả hơn môn Ngữ văn, với những gợi ý hay để giúp các bạn học sinh trả lời câu hỏi bài tập chính xác nhất. mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Câu cá mùa thu 1. Điểm nhìn cảnh thu của tác giả có gì đặc sắc? Từ điểm nhìn ấy, nhà thơ đã bao quát cảnh thu như thế nào? Gợi ý trả lời Điểm nhìn cảnh mùa thu trong bài Thu điếu của tác giả có những điểm đặc sắc. Nếu ở Vịnh mùa thu, cảnh thu được đón nhận từ cao xa tới gần rồi từ gần đến cao xa thì ở Câu cá mùa thu, cảnh thu được đón nhận từ gần đến cao xa rồi từ cao xa trở lại gần: từ chiếc thuyền câu nhìn ra mặt ao, nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi lại trở về với ao thu, với thuyền câu. Từ một khung ao hẹp, không gian mùa thu, cảnh sắc mùa thu mở ra nhiều hướng thật sinh động. 2. Những từ ngữ, hình ảnh nào gợi lên được nét riêng của cảnh sắc mùa thu? Hãy cho biết đó là cảnh thu ở miền quê nào. Gợi ý trả lời Những từ ngữ, hình ảnh được tác giả gợi lên một nét riêng của ảnh sắc mùa thu. Đây là cảnh thu ở đồng bằng Bắc Bộ, ở vùng chiêm trũng Bình Lục – Hà Nam. Bài thơ vừa mang nét riêng của quê hương nhà thơ, lại rất điển hình cho cảnh thu của làng cảnh Viêt Nam. + Cảnh trong Câu cá mùa thu là cảnh đẹp nhưng tĩnh lặng và đượm buồn. Không gian trong Câu cá mùa thu là một không gian tĩnh, vắng người, vắng tiếng: “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”. Các chuyển động rất nhẹ, rất khẽ không đủ tạo âm thanh: sóng hơi gợn, mây lơ lửng, lá khẽ đưa. Tiếng cá đớp mồi càng làm tăng sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật. Về câu thơ cuối này, có hai cách hiểu: “đâu có cá” (từ đâu mang tính chất phủ định), hoặc hiểu là “cá đớp mồi đâu đó” (từ đâu mang tính chất khẳng định). Có lẽ nên hiểu theo cách thứ hai để thấy được nghệ thuật lấy động nói tĩnh – một thủ pháp quen thuộc của thơ cổ phương Đông. Cái tĩnh bao trùm lại được gợi lên từ cái động rất nhỏ là tiếng cá đớp mồi. 3. Anh (chị) có nhận xét gì về không gian trong Câu cá mùa thu qua các chuyển động, màu sắc, hình ảnh, âm thanh? Không gian trong Câu cá mùa thu góp phần diễn tả tâm trạng như thế nào? Gợi ý trả lời Cảnh thu trong Thu điếu là cảnh đẹp nhưng tĩnh lặng và đượm buồn. Đó là một không gian tĩnh, vắng người, vắng tiếng: “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”. Bảy câu thơ đầu dường như không có tiếng động, các chuyển động ở đây đều rất nhẹ, rất khẽ, không đủ tạo âm thanh: sóng chỉ hơi gợn, mây lơ lửng, lá khẽ đưa. Đến câu thơ cuối cùng mới có tiếng động khẽ: Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Cái tiếng động duy nhất ấy – tiếng cá đớp mồi – chỉ càng làm tăng thêm sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật. Cái tĩnh bao trùm được gợi lên từ một cái “động” rất nhỏ. Đây là nghệ thuật lấy động để nói tĩnh, một thủ pháp quen thuộc của thơ cổ phương Đông. Chỉ có điều nhà thơ đã vận động nó một cách thật tự nhiên bằng một hình ảnh quen thuộc ở làng quê mang đậm sắc thái dân gian – dân tộc. Qua cảnh thu ta thấy tình thu của thi nhân, bức tranh tâm trạng của con người được bộc lộ kín đáo mà sâu sắc qua bức tranh thiên nhiên. Qua những hình ảnh quen thuộc nhà thơ đã đem đến cho người đọc những vẻ đẹp dân dã thật đáng quý mà có khi ta không để ý đến. Không có một tâm hồn thanh cao và một một tình yêu quê hương tha thiết thì không thể viết nên bài thơ hay về một cái ao làng như thế. Nguyễn Khuyến có một tâm hồn gắn bó tha thiết với thiên nhiên đất nước, một tấm lòng yêu nước thầm kín nhưng không kém phần sâu sắc. 4. Cách gieo vần trong bài thơ có gì đặc biệt? Cách gieo vần ấy gợi cho ta cảnh giác gì về cảnh thu và tình thu? Bài thơ được gieo vần “eo” là một tử vận, rất khó làm, nhưng dưới ngòi bút tài hoa của nghệ sĩ, nó được hiện lên trong những chữ thơ thật có hồn: trong veo, tèo teo, đưa vèo, vắng teo, chân bèo. Điều là những từ thuần Việt, có giá trị gợi hình, gợi cảm cao. Vần “eo” còn góp phần diễn tả một không gian thu nhỏ, khép kín, phù hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc cá nhân. Vần “eo” cũng tạo nên nét riêng độc đáo của bài thơ thu này. 5. Qua Câu cá mùa thu, anh (chị) có cảm nhận như thế nào về tấm lòng của nhà thơ Nguyễn Khuyến đối với thiên nhiên, đất nước? Gợi ý trả lời Qua bài Câu cá mùa thu ta thấy được vẻ đẹp điển hình cho mùa thu làng cảnh Việt Nam. Cảnh đẹp nhưng phảng phất buồn, vừa phản ánh tình yêu thiên nhiên đất nước, vừa cho thấy tâm sự thời thế của tác giả. Ngôn ngữ trong Câu cá mùa thu giản dị, trong sáng đến kì lạ, có khả năng diễn đạt những biểu hiện rất tinh tế của sự vật, những uẩn khúc thầm kín rất khó giãi bày của tâm trạng. Trong tác phẩm, vần eo góp phần diễn tả một không gian vắng lặng, thu nhỏ dần, phù hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc cá nhân. ———————————– Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Câu cá mùa thu, để giúp các bạn học tốt Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Câu cá mùa thu và bài văn mẫu phân tích bài Câu cá mùa thu mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Câu cá mùa thu
1,128
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Hạnh phúc của một tang gia Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 xin giới thiệu tới bạn đọc bộ tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Hạnh phúc của một tang gia, với nội dung đã được cập nhật chi tiết để phục vụ các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 11, đặc biệt bộ tài liệu sẽ mang lại cho các bạn học sinh những kiến thức rất bổ ích. Mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Hạnh phúc của một tang gia Gợi ý trả lời câu hỏi 1. Nhan đề chương truyện hạnh phúc của một tang gia rất lạ, rất giật gân. Vì vậy, trước hết nhan đề này khiến người đọc phải chú ý. Nhưng điều đáng nói hơn là nó đã phản ánh rất đúng một sự thật mỉa mai, hài hước: con cháu của đại gia đình này thật sự sung sướng, hạnh phúc khi cụ cố tổ chết. Đây cũng là tình huống trào phúng chính yếu của toàn bộ chương truyện. Tang gia mà lại hạnh phúc! Có người chết mà lại vui vẻ, sung sướng! Đúng là hạnh phúc của một gia đình vô phúc, niềm vui của một lũ con cháu đại bất hiếu. Người ta thường nói “tang gia bối rối”, tác giả đã dựng lên đúng cái cảnh bối rối của gia đình cụ cố Hồng khi cụ cố tổ nằm xuống. Chẳng những bối rối mà còn lo lắng nữa và dĩ nhiên là hết sức bận rộn. Nhưng lo lắng, bận rộn để tổ chức cho chu đáo, cho thật linh đình một ngày vui, một đám hội chứ không phải một đám ma. Như vậy, tiêu đề Hạnh phúc của một tang gia vừa gây chú ý cho người đọc, vừa phản ánh rất đúng một sự thật mỉa mai, hài hước và tàn nhẫn. 2. Niềm vui lớn nhất chung cho cả đại gia đình bất hiếu này là tờ di chúc của cụ cố tổ thế là đã tới lúc được thực hiện. Nghĩa là khi cụ quy tiên thì cái gia tài kếch xù của cụ mới được chia cho con và cháu, trai và gái, dâu và rể… “chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa”! Tình huống này đã làm bộc lộ không biết bao nhiêu mâu thuẫn trào phúng khác dủ loại và làm đậm nét hàng loạt chân dung hài hước. Cụ cố Hồng tuy mới 50 tuổi nhưng lâu nay chỉ mơ ước được gọi là cụ cố. Dịp may đã tới, cụ nhắm nghiền mắt lại để nghĩ đến lúc được mặc áo xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu máo diễn trò già nua ốm yếu giữa phố đông người để cho thiên hạ phải trầm trồ: “Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa!”. Nhân vật này điển hình cho loại người ngu dốt, háo danh. (Lưu ý: Nếu người chết có nhiều con cháu và con cháu càng khôn lớn bao nhiêu thì càng được coi là gia đình có phúc bấy nhiêu. Do đó, để được những người đi đưa đám ma khen, cụ cố Hồng cố tình tỏ ra già yếu). Văn Minh – nhà cải cách y phục Âu hoá – được dịp lăng-xê những mốt y phục táo bạo nhất, “có thể ban cho những ai có tang đương đau đớn vì kẻ chết cũng được hưởng chút ít hạnh phúc ở đời”. Đây là cơ hội để ông quảng cáo hàng, để kiếm tiền. Cô Tuyết thì được dịp “mặc bộ y phục Ngây thơ – cái áo dài voan mỏng, trong có coóc-sê, trông như hở cả nách và nửa vú – nhưng mà viền đen, và đội một cái mũ mấn xinh xinh”, đồng thời “trên mặt lại hơi có một vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt một nhà có đám”. Khi trông thấy Tuyết, những ông bạn thân của cụ cố Hồng, trong đó có nhiều vị tai to mặt lớn “đều cảm động hơn những khi nghe tiếng kèn Xuân nữ ai oán, não nùng”! Cái chết của cụ cố tổ đúng là cơ hội để Tuyết chưng diện, phô bày sự hư hỏng của kẻ “chưa đánh mất cả chữ trinh”. Cậu tú Tân thì sướng điên người vì được dùng đến cái máy ảnh mới mua. (Khi chưa phát phục, cậu sốt ruột đến “điên người lên” vì cậu đã chuẩn bị mấy cái máy ảnh mà mãi không được dùng!) Đây là cơ hội hiếm có để cậu tú giải trí và chứng tỏ tài nghệ chụp ảnh của mình. Ông Phán mọc sừng cũng thật sung sướng vì không ngờ rằng cái sừng trên đầu mình lại có giá trị đến thế và ông tin chắc rằng mình sẽ được trả công xứng đáng. Bởi lẽ, cụ cố tổ sở dĩ lăn đùng ra và cấm khẩu vì biết tin con rể mọc sừng. Xuân tóc đỏ thì danh giá và uy tín càng cao thêm vì chính nhờ hắn mà cụ cố tổ chết (Xuân có công tố cáo việc ông Phán mọc sừng trước mặt cụ cố tổ). Hạnh phúc còn lây lan ra cả những người ngoài tang quyến nữa. Cảnh sát Min đơ và Min Toa đang lúc thất nghiệp, được thuê giữ trật tự cho đám tang (và có như vậy mới có tiền). Xã hội trưởng giả bè bạn cụ cố Hồng được dịp khoe các thứ huy chương, phẩm hàm nào là Bắc Đẩu bội tinh, Long bội tinh, nào là Cao Mên bội tinh, Vạn Tượng bội tinh,… và các thứ râu ria trên mép, dưới cằm, “hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm, loăn quăn…”. Và hàng phố thì được xem một đám ma to tát chưa từng có “đưa đến đâu làm huyên náo đến đấy”. 3. Đoạn tả dám tang diễn từ nhà cụ cố Hồng ra đến huyệt cũng rất hài hước. Đám ma mà như đám rước vậy và được tổ chức theo lối “hổ lốn”! Đủ cả kèn ta, kèn Tây, kèn Tàu. Lại có hàng trăm câu đối, vông hoa, bức trướng. Người đi đưa đông đúc, sang trọng, nam nữ “chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau, bằng những vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma”… “Thật là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu…!”. Tóm lại, đám tang diễn ra như một tấn đại hài kịch, nói lên sự lố lăng, dồi bại của cái xã hội thượng lưu ngày trước. Vũ Trọng Phụng mất khi chưa đầy 30 tuổi. Nhà văn Ngô Tất Tố, trước cái chết của tác giả Số đỏ, đã bàn luận về sự thọ yểu ở đời. Ông cho rằng đối với con người ta, thọ yểu không tính bằng tuổi tác, mà bằng những gì để lại mãi mãi cho đời. Nếu quan niệm như vậy thì Vũ Trọng Phụng là người rất thọ. Vì những tác phẩm của ông, trong đó đặc biệt là tiểu thuyết Số đỏ sẽ còn sống mãi với thời gian. Từ một tình huống trào phúng cơ bản (hạnh phúc của một gia đình có tang), nhà văn triển khai mâu thuẫn theo nhiều tình huống khác nhau tạo nên một màn đại hài kịch phong phú và rất biến hoá. Một trong những thủ pháp quen thuộc dược Vũ Trọng Phụng sử dụng là phát hiện những chi tiết đối lập nhau gay gắt nhưng cùng tồn tại trong một sự vật, một con người; để từ đó, làm bật lên tiếng cười. Ngoài ra, các thủ pháp cường điệu, nói ngược, nói mỉa,… đều được sử dụng một cách đan xen linh hoạt… và tất cả đều đã mang lại hiệu quả nghệ thuật đáng kể. Chẳng hạn, cụ cố tổ chết khiến cho mọi người trong đại gia đình bất hiếu này đều hạnh phúc, nhưng mỗi người lại có niềm hạnh phúc riêng, tuỳ theo hoàn cảnh của từng người, rất phong phú và đa dạng, từ con cháu trong nhà tới bè bạn của cụ, thậm chí đến cả bọn cảnh sát. Đặc biệt, đám ma được tổ chức rất nhố nhăng, lố bịch và cái đám ma này thực chất là một đám rước; đi đưa ma thành cơ hội để mọi người gặp gỡ, trò chuyện, đùa cợt nhau, tán tỉnh nhau. Luyện tập 2. Các em xem lại câu 1, câu 2, câu 5 ở phần trả lời ở trên để làm. ————————- Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Hạnh phúc của một tang gia, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Hạnh phúc của một tang gia và đọc lại tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Hạnh phúc của một tang gia
1,547
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945 Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn lớp 11, mời các bạn học sinh hãy tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945, VnDoc đã tổng hợp đặc điểm và thành tựu cơ bản của văn học Việt Nam sẽ giúp các bạn học sinh có kết quả cao hơn trong học tập. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945 * Có hai ý mà các em cần nắm sau: – Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. – Thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. * Tìm hiểu cụ thể: 1. Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 Các em cần tập trung phân tích và làm sáng tỏ những đặc điểm sau: (1) Văn học đổi mới theo hướng hiện đại hoá. Đây là đặc điểm nói về khuynh hướng phát triển của văn học thời kì này. – Ở phần này, trước hết, em cần phân tích, khắc hoạ để thấy được bối cảnh rộng lớn của văn học và những nguyên nhân làm cho nền văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hoá. Văn học thời kì này không tự nhiên mà có. Cơ sở, điều kiện hình thành và phát triển của nó chính là hoàn cảnh lịch sử – xã hội, văn hoá. Định hướng cho phần này là chỉ nói những gì thuộc về hoàn cảnh lịch sử – xã hội và văn hoá có liên quan, có tác động trực tiếp tới sự hình thành và phát triển của văn học. – Xã hội Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 biến đổi theo hướng hiện đại (về kinh tế, về cơ cấu xã hội, về văn hoá,…). – Trong sự thay đổi chung của xã hội, văn hoá Việt Nam thời kì này cũng có sự thay đổi. Từ đầu thế kỉ XX, văn hoá Việt Nam dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của phong kiến Trung Quốc, tiếp xúc với văn hoá phương Tây mà chủ yếu là văn hoá Pháp. Đây là thời kì “mưa Âu, gió Mĩ”, “Á – Âu xáo trộn”, cũ – mới giao tranh. Chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây ở cả hai chiều tiến bộ và lạc hậu, nền văn hoá Việt Nam thời kì này đã chuyển biến theo hướng hiện đại, từng bước lấn át nền văn hoá cổ truyền phong kiến có bề dày hàng nghìn năm. Một cuộc vận động văn hoá đã được dấy lên, chống lại lễ giáo phong kiến hủ lậu, đòi giải phóng cá nhân. – Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự phát triển nền văn hoá dân tộc (trong thời kì Mặt trận Dân chủ, nhất là sau khi có Đề cương văn hoá Việt Nam, 1943). Đây chính là nhân tố quan trọng làm cho nền văn hoá nước ta phát triển theo chiều hướng tiến bộ và cách mạng, bất chấp âm mưu của kẻ địch trong việc nuôi dưỡng một thứ văn hoá có tính chất cải lương và nô dịch. – Báo chí và nghề xuất bản phát triển mạnh; chữ quốc ngữ dần thay thế chữ Hán, chữ Nôm, phong trào dịch thuật phát triển, lớp trí thức “Tây học” thay thế lớp trí thức Nho học, đóng vai trò trung tâm trong đời sống văn hoá thời kì này. Sau đó, các em tìm hiểu đặc điểm thứ nhất của văn học thời kì này: Văn học đổi mới theo hướng hiện đại hoá. – Trước hết, phải xác định khái niệm hiện đại hoá: Hiện đại hoá được hiểu là quá trình làm cho văn học thoát ra khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại và đổi mới theo hình thức của văn học phương Tây, có thể hội nhập với nền văn học hiện đại trên thế giới. Nội dung hiện đại hoá văn học diễn ra trên mọi mặt, ở nhiều phương diện. Trước hết là sự thay đổi quan niệm về văn học: từ “văn chương chở đạo”, “thơ nói chí” của văn học trung đại chuyển sang quan niệm văn chương như một hoạt động nghệ thuật đi tìm và sáng tạo cái đẹp; văn chương để nhận thức và khám phá hiện thực. Văn học thời hiện đại đã tách ra khỏi các hoạt động trước tác khác, không còn tình trạng “văn, sử, triết bất phân” như trước nữa. Cũng từ đây, văn học thoát khỏi những quan niệm thẩm mĩ và hệ thống thi pháp của văn học trung đại (tính quy phạm chặt chẽ, hệ thống ước lệ tượng trưng, tính chất sùng cổ, phi ngã,…). Về mặt chủ thể sáng tạo, quá trình hiện đại hoá văn học cũng dẫn đến sự thay đổi kiểu nhà văn: từ các nhà nho sang kiểu nhà văn nghệ sĩ mang tính chuyên nghiệp; thay đổi về công chúng văn học: từ tầng lớp nho sĩ sang tầng lớp thị dân. Một nội dung quan trọng hàng đầu của hiện đại hoá văn học là xây dựng, phát triển nền văn xuôi tiếng Việt, nói rộng ra là hiện đại hoá hệ thống thể loại văn học. Ngoài ra, sự đổi mới còn được thể hiện qua việc xuất hiện các thể loại mới, chưa từng có trong văn học các giai đoạn trước như kịch nói, phóng sự và phê bình văn học. Dựa vào SGK, các em cần nắm được quá trình hiện đại hoá của văn học thời kì này diễn ra qua ba giai đoạn: + Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ XX đến khoảng năm 1920). + Giai đoạn thứ hai (khoảng từn ăm 1920 đến năm 1930). + Giai đoạn thứ ba (khoảng từ năm 1930 đến năm 1945). Ở mỗi giai đoạn, các em cần dẫn chứng để chỉ ra vài tác giả và tác phẩm tiêu biểu. Hiện đại hoá văn học là một quá trình. Ở hai giai đoạn đầu, đặc biệt là ở giai đoạn thứ nhất, văn học còn bị nhiều ràng buộc, níu kéo của cái cũ, tạo nên tính chất giao thời của văn học. Đến giai đoạn thứ ba, công cuộc hiện đại hoá mới thực sự toàn diện và sâu sắc, hoàn tất quá trình hiện đại hoá văn học. – Để làm rõ đặc điểm văn học phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hoá, các em có thể chọn, phân tích quá trình hiện đại hoá thơ ca của một số nhà thơ tiêu biểu cho từng giai đoạn: thơ Phan Bội Châu (giai đoạn thứ nhất), thơ Tản Đà (giai đoạn thứ hai) và thơ Xuân Diệu trong phong trào Thơ mới (giai đoạn thứ ba). (2) Văn học hình thành hai bộ phận và phân hoá thành nhiều xu hướng, vừa đấu tranh với nhau, vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển. Do đặc điểm của một nước thuộc địa, chịu sự chi phối mạnh mẽ và sâu sắc của quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 hình thành hai bộ phận: công khai và không công khai. Văn học công khai là văn học hợp pháp, tồn tại trong vòng pháp luật của chính quyền thực dân phong kiến. Văn học không công khai bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, phải lưu hành bí mật. – Do khác nhau về quan điểm nghệ thuật và khuynh hướng thẩm mĩ nên bộ phận văn học công khai lại phân hoá thành nhiều xu hướng, trong đó nổi lên hai xu hướng chính là văn học lãng mạn và văn học hiện thực. + Căn cứ vào SGK, các em cần nắm được đặc trưng của văn học lãng mạn: Làm rõ những đóng góp và hạn chế của dòng văn học này, chỉ ra sự phong phú, phức tạp, tính chất không thuần nhất cua nó. + Dựa vào SGK, các em chỉ ra được những nét đặc trưng của văn học hiện thực, những đóng góp cũng như hạn chế của nó. Điều đáng lưu ý là không nên có sự phân biệt quá rạch ròi giữa văn học lãng mạn và văn học hiện thực, – Ở bộ phận văn học không công khai có thơ văn cách mạng bí mật, đặc biệt là thơ của các chí sĩ và các chiến sĩ cách mạng sáng tác trong tù. Dựa vào SGK, các em nêu lên khái quát về giá trị tư tưởng và nghệ thuật của văn học cách mạng. Nhìn tổng quát, giữa các bộ phận, các xu hướng và trào lưu văn học luôn luôn có sự đấu tranh với nhau về xu hướng chính trị và quan điểm nghệ thuật. Nhưng trong thực tế, ít nhiều chúng vẫn có sự tác động lẫn nhau để cùng phát triển. (3) Văn học phát triển với một tốc độ rất nhanh. Đặc điểm này nói lên tốc độ phát triển của văn học thời kì này. – Căn cứ vào SGK, các em có thể hiểu được sự phát triển hết sức nhanh chóng của nhiều thể loại văn học (tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, tuỳ bút, thơ, lí luận và phê bình văn học). Sự phát triển mạnh mẽ của thơ qua phong trào Thơ mới. Trong vòng chưa đầy 15 năm, Thơ mới liên tục phát triển với những tác giả tiêu biểu nhất cho từng chặng: Thế Lữ (tiêu biểu nhất ở chặng 1932 – 1935), Xuân Diệu – nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ mới – đỉnh cao của Thơ mới ở chặng thứ hai (1936 – 1939),… Cũng có thể làm rõ sự phát triển nhanh chóng của văn học thời kì này qua tiểu thuyết hoặc truyện ngắn. – Những nguyên nhân làm cho văn học thời kì này phát triển hết sức nhanh chóng; do sự thúc bách của yêu cầu thời đại; sự vận động tự thân của nền văn học dân tộc (nguyên nhân chính); sự thức tỉnh, trỗi dậy mạnh mẽ của “cái tôi” cá nhân. Ngoài ra còn có thể nói đến một lí do khác: thời kì này, văn chương đã trở thành một thư hàng hoá, viết văn đã trở thành một nghề kiếm sống. Đây là lí do thiết thực, một nhân tố kích thích người cầm bút. 2. Thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ dầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 – Thành tựu về nội dung tư tưởng: Văn học Việt Nam có hai truyền thống lớn: Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo. Văn học từ đầu thế kỉ XX đến 1945 đã kế thừa và phát huy những truyền thống đó, đồng thời đem đến cho văn học thời kì này một đóng góp mới của thời đại: tinh thần dân chủ. Đến thời kì văn học này, chủ nghĩa nhân dạo có thêm nội dung mới gắn liền với sự thức tỉnh ý thức cá nhân. Dựa vào SGK, các em có thể phân tích làm rõ thành tựu về nội dung tư tưởng nói trên của văn học thời kì này. Lưu ý: Các bộ phận vă n học (công khai và không công khai), các xu hướng văn học (lãng mạn, hiện thực, yêu nước và cách mạng) đều mang nội dung tư tưởng trên, nhưng có những dạng biểu hiện khác nhau những mức độ khác nhau. Dựa vào SGK, các em cần nắm được những thành tựu về ngôn ngữ và thể loại văn học (chủ yếu nhấn mạnh thành tựu về thể loại). Đồng thời, thành tựu về sự cách tân hiện đại hoá, hai thể loại quan trọng nhất: tiểu thuyết và thơ. Lưu ý: Tiểu thuyết trung đại có những đặc điểm sau: thường vay mượn đề tài, cốt truyện của văn học Trung quốc, tập trung vào việc xây dựng cốt truyện li kì, hấp dẫn; kết cấu theo kiểu chương hồi và theo công thức (chẳng hạn: gặp gỡ – li biệt – đoàn tụ); kết thúc có hậu, truyện được thuật kể theo trình tự thời gian tự nhiên, nhân vật thường phân tuyến rạch ròi (chẳng hạn thiện – ác, trung – nịnh, khôn ngoan – ngu đần,…). Tiểu thuyết hiện đại xoá bỏ những đặc điểm trên của văn học trung đại. Nó lấy tính cách nhân vật làm trung tâm, chú trọng xây dựng tính cách hơn là cốt truyện, đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật. Tiểu thuyết hiện đại trần thuật không theo thời gian tự nhiên mà rất linh hoạt, kết thúc thường không có hậu, bỏ ước lệ, dùng bút pháp tả thực; lời văn tự nhiên gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày,… Thơ mới khác thơ trung đại ở chỗ nó phá bỏ các quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ của thơ trung đại (về niêm luật, điển cố, hình ảnh ước lệ,…). Thơ mới là tiếng nói của “cái tôi” cá nhân trước tạo vật và trước cuộc đời. Thoát ra khỏi những quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày đặc của thơ trung đại, “cái tôi” Thơ mới được giải phóng về tình cảm, cảm xúc, đồng thời nó trực tiếp nhìn thế giới bằng cặp mắt “xanh non” nên đã phát hiện ra nhiều điều mới lạ về thiên nhiên và lòng người. Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 có ba đặc điểm cơ bản: đổi mới theo hướng hiện đại hóa; hình thành hai bộ phận với nhiều xu hướng văn học, phát triển hết sức nhanh chóng. Thành tựu chủ yếu của văn học thời kì này là đã kế thừa và phát huy những truyền thống lớn nhất, sâu sắc nhất của Uăn học Việt Nam: chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo, đồng thời đem đến cho văn học một đóng góp mới của thời đại: tinh thần dân chủ. Về nghệ thuật, văn học thời kì này đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, gắn liền với kết quả cách tân về thể loại và ngôn ngữ. Có được 1 hưng thành tựu nói trên chủ yếu là do sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của dân tộc được nuôi dưỡng và phát triển trong các phong trào yêu nước cách mạng và do sự thức tỉnh, trỗi dậy mạnh mẽ của “cái tôi” cá nhân. Gợi ý trả lời câu hỏi Các em xem lại phần hướng dẫn học bài ở trên để trả lời các câu hỏi. ———————————– Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945 mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945
2,649
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Khóc Dương Khuê Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để có kết quả cao mônNgữ văn lớp 11, các bạn học sinh cần chăm chỉ học tập và kết hợp tham khảo các nguồn tài liệu khác nhau để tổng hợp thành kiến thức của mình, xin giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Khóc Dương Khuê, tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 11. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Khóc Dương Khuê Dương Khuê (1839 – 1902) người làng Vân Đình, tổng Phương Đình, Tỉnh Hà Đông (nay là huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây), đỗ tiến sĩ năm 1868, làm quan đến chức Tổng đốc Nam Định, Ninh Bình. Ông là bạn thân của Nguyễn Khuyến. Dương Khuê cũng là một nhà thơ có tên tuổi cuối thế kỉ XIX. Bài Khóc Dương Khuê, Nguyễn Khuyến viết bằng chữ Hán, nhan đề Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương thượng thư, sau ông tự dịch ra thơ Nôm, bài thơ Nôm của ông nhiều người cho là có phần hay hơn bài thơ chữ Hán. – Bài thơ là tiếng khóc của một người bạn già đối với một người bạn già thân thiết đã đột ngột ra đi. Tiếng khóc đó trào lên chân thành, tha thiết thành một mạch tình cảm chảy suốt bài thơ: Bác Dương thôi đã thôi rồi, Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta. + Tiếng khóc hồi tưởng làm sống dậy những kỉ niệm đẹp với người đã khuất (câu 3 – 22). + Tiếng khóc ngược dòng trở về hiện tại, giọt lệ khóc bạn hòa lẫn giọt lệ thương thân (đoạn cuối). Hình tượng tiếng khóc trùm cả bài thơ. Đâu phải chỉ khóc bạn, tác giả khóc cả cho mình, cho đời. Tiếng khóc vừa mang ý nghĩa nhân thế, lại mang ý nghĩa thời thế. Và phải có một tâm lực lớn và một bút lực lớn thì mới tạo ra được một tiếng khóc như vậy. Qua nỗi đau của tiếng khóc mất bạn, bài thơ vẫn ấm áp những giá trị tinh thần cao quý. Nguyễn Khuyến đã góp cho văn học dân tộc một tiếng khóc có giá trị – tuy là tiếng khóc riêng tư nhưng vẫn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Bài thơ là một thành công của Nguyễn Khuyến trong thể thơ dân tộc (song thất lục bát) và ngôn ngữ dân tộc, đặc biệt là kĩ thuật láy từ, mà toàn láy hư từ. Có những câu thơ không thể nào quên: – Bác Dương thôi đã thôi rồi! – Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là! – Rượu ngon không có bạn hiền, – Không mua không phải không tiền không mua. ———————— Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Khóc Dương Khuê, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Khóc Dương Khuê và đọc lại bài thơ Khóc Dương Khuê mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Khóc Dương Khuê
533
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Luyện tập thao tác lập luận so sánh Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn lớp 11, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Luyện tập thao tác lập luận so sánh, qua bộ tài liệu chắc chắn các bạn học sinh sẽ có kết quả cao hơn trong học tập. Mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Luyện tập thao tác lập luận so sánh Gợi ý trả lời câu hỏi 1. Tình cảm khi về thăm quê hương trong hai bài thơ của Hạ Tri Chương và của Chế Lan Viên. – Điểm giống nhau: Cả hai tác giả đều rời quê hương ra đi lúc còn trẻ và trở về lúc tuổi đã cao. + Khi đi trẻ, lúc về già (Hạ Tri Chương) + Trở lại An Nhơn, tuổi lớn rồi (Chế Lan Viên) – Khi trở về, cả hai đều trở thành “người xa lạ” trên chính quê hương của mình. + Hỏi rằng: Khách chốn nào lại chơi? (Hạ Tri Chương) vì không còn ai nhận ra mình là người cùng quê cả. + Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người (Chế Lan Viên) vì quê hương đã biến đổi sau chiến tranh, không còn cảnh cũ người xưa nữa. – Kết luận: Hạ Tri Chương sống trước Chế Lan Viên hơn một nghìn năm. Cảnh vật, tình cảm con người đã có bao nhiêu biến đổi. Đó là điều dĩ nhiên. Tuy thế, giữa người xưa và người nay vẫn có những nét tương đồng. Đọc người xưa cũng là dịp để hiểu người nay sâu sắc hơn. 3. So sánh ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và ngôn ngữ thơ Bà Huyện Thanh Quan qua hai bài Tự tình (bài I) và Chiều hôm nhớ nhà. (Ở đây chỉ so sánh ngôn ngữ thơ chứ không bàn đến thân thế và tài năng của tác giả). – Trước hết, hai bài thơ có những điểm giống nhau: cùng là thơ bảy chữ, tám câu (thất ngôn bát cú); cả hai đều gieo vần, và tuân thủ nghiêm chỉnh luật đối (ở câu 3 + 4 và 5 + 6). – Nhưng hai bài thơ khác nhau ở cách dùng chữ: + Thơ của Hồ Xuân Hương dùng ngôn ngữ hằng ngày (tiếng gà văng vẳng, mõ thảm, chuông sầu, những tiếng thêm rền rĩ, khắp mọi chòm,…) kể cả những chữ có phần hiểm hóc (cớ sao Om, duyên để mõm mòm, chịu già tom) chỉ có một câu có nhiều từ Hán Việt: Tài tử văn nhân ai đó tá? + Bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan dùng nhiều từ ngữ Hán Việt: hoàng hôn, ngư ông, viễn phố, mục tử, cô thôn, kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ, nỗi hàn ôn. Nhiều từ là thi liệu quen thuộc trong văn chương cổ điển: ngàn mai, dặm liễu. Sự khác nhau về ngôn ngữ đó tạo ra sự khác nhau về phong cách: + Một phong cách trang nhã đài các, tiếng nói của văn nhân trí thức thượng lưu (Bà Huyện Thanh Quan). Cả hai bài thơ đều hay nhưng theo hai phong cách khác nhau. ———————————— Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Luyện tập thao tác lập luận so sánh, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu Viết đoạn văn lập luận so sánh mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Luyện tập thao tác lập luận so sánh
607
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Luyện tập viết bản tin Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn 12, VnDoc. con đã tổng hợp tài liệu: Giải bài tậpNgữ văn lớp 11: Luyện tập viết bản tin để giúp các bạn học sinh nắm chắc kiến thức bài Luyện tập viết bản tin, tài liệu sẽ là nguồn thông tin hữu ích dành cho các bạn học sinh học tập hiệu quả hơn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Luyện tập viết bản tin Gợi ý trả lời câu hỏi 1. Phân tích cấu trúc, dung lượng và loại bản tin. Việt Nam đứng đầu khu vực châu Á – Thái Bình Dương về bình đẳng giới – Về dung lượng: Độ dài trung bình, thông tin về kết quả (đứng đầu khu vực về bình đẳng giới) và các sự kiện (bình đẳng giới trong giáo dục, y tế, kinh tế, các hạn chế về bình đẳng giới). – Về cấu trúc: Bản tin có nhan đề, triển khai từ thông tin khái quát đến cụ thể chi tiết. Phần sau cụ thể hoá và giải thích cho phần trước. 2. Xác định nội dung chủ yếu và chỉ ra cách thức đọc nhanh, chính xác bản tin. Việt Nam lọt vào danh sách ứng viên cho giải thưởng “Môi trường và phát triển 2007”. • Nội dung chủ yếu của bản tin: Dự án phát triển và đưa cây dược liệu Việt Nam ra thị trường thế giới được lựa chọn vào danh sách 10 ứng cử viên đoạt giải thưởng “Môi trường và phát triển 2007”. – Cách thức đọc nhanh: + Căn cứ vào nhan đề của bản tin. + Căn cứ vào câu mang nội dung thông tin quan trọng nhất có liên quan đến sự kiện được nhắc trong nhan đề. Câu này thường đứng phần đầu bản tin. 3. Sắp xếp lại nội dung trong bản tin cho hợp lí. Đường tới thành công – sân chơi mới dành cho sinh viên – Để làm bài tập này, các em đọc bản tin thật cẩn thận để tìm ra thứ tự sắp xếp các sự kiện, phát hiện sự bất hợp lí và sắp xếp lại cho đúng. Việc đưa thông tin số lượng các trường đại học đăng kí dự thi vào vị trí trong bài là không hợp lí, vì trước và sau đó đều nói về thể thức cuộc thi. – Cách chữa: Đưa câu “Đến nay đã có 50 trường đại học trong cả nước đăng kí tham gia cuộc thi.” xuống cuối bản tin. 4. Tập viết bản tin theo các tình huống. – Các em chọn một tình huống trong các tình huống đã cho. – Thu thập và lựa chọn tư liệu để viết bản tin, các tư liệu đó bao gồm: + Thời gian, địa điểm diễn ra sự kiện. + Diễn biến, nội dung sự kiện. + Kết quả của sự kiện. – Đặt tên cho bản in, viết phần mở đầu, phần triển khai của bản tin theo sự hướng dẫn trong bài.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Luyện tập viết bản tin
518
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh, đã cập nhật những thông tin bổ tích để giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 11. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh Gợi ý trả lời câu hỏi 1. Đây là một mẫu mực về vận dụng kết hợp lập luận phân tích với lập luận so sánh trong một đoạn văn nghị luận. Tác giả đã lập luận như sau: + Nêu luận điểm của đoạn văn: Chớ tự kiêu tự đại. + Lập luận phân tích bằng các luận cứ (lí lẽ). – Tự kiêu tự tại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình. Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình. – Tự kiêu tự đại tức là thoái bộ. + Lập luận so sánh bằng các luận cứ (các đối tượng được so sánh với nhau): – Sông to, bể rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu. – Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ. – Sự kết hợp là ở chỗ: từ lập luận phân tích mà có lập luận so sánh văn dùng lập luận so sánh để làm sáng tỏ và nổi bật hơn các ý đã nêu trong lập luận phân tích. Trong đoạn văn này, hai thao tác phân tích và so sánh có tầm quan trọng ngang nhau và cùng kết hợp với nhau để làm cho cách lập luận thêm phong phú, đa dạng, chặt chẽ, có hiệu quả hơn. 2. Các em nên đọc gợi ý SGK để viết thành bài văn nghị luận hoàn chỉnh. – Sau đây là một dàn bài gợi ý một số đề nhỏ để các em tập viết thành đoạn văn nghị luận có kết hợp các thao tác lập luận: + Vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong bài thơ Tự tình II của Hồ Xuân Hương. + Nét đẹp dân gian – dân tộc trong bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương. + Nét đẹp mà em tâm đắc nhất trong hình ảnh người nghĩa sĩ đánh giặc qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu. 3. a), b) các em tự làm c) Trong chuỗi những câu chuyện thú vị về các vị lãnh đạo các nước đến thăm nước ta trong những ngày qua, bên cạnh những điều gây tò mò của đoàn Tổng thống Mĩ “tiền hô hậu ủng” đông đảo, ồn ào và… tốn kém, sự việc Thủ tướng Xinh-ga-po Lí Hiển Long đi máy bay thương mại, mà còn là máy bay giá rẻ, chỉ như một nốt nhạc trầm nhưng lại tạo nên nhiều vang hưởng trong dư luận. Mọi người ngạc nhiên Uà thú vị trước Uiệc Thủ tuởng Xỉnh-ga-po đi máy bay Tai-gơ E-uây, giá vé chỉ trên 100 đô-la Xinh-ga-po, loại máy bay không hề có hạng thương gia, và không có cả chuyện phục Uụ ăn uống, nghĩa là thật sự bình dân! Trong chuyến đi này, vị Thủ tướng chỉ có “đặc quyền” duy nhất là không phải xếp hàng lên máy bay giành chỗ (cô thư kí của ông làm điều này). Tuy nhiên, cái lợi này xem ra cũng chỉ là… chuyện nhỏ. Hình ảnh Thủ tướng Lí bước chân lên chiếc máy bay vẽ hình con cọp chắc chắn sẽ là một sự quảng bá hiệu quả cho hãng hàng không này. Việc ông Thủ tướng bay Uới Tai-gơ E-uây cũng xem như lời mời chào mọi người: “Nào còn ngại ngần gì mà không sử dụng dịch Uụ bay giá thấp”. Khi ông Thủ tướng “quảng cáo không công” cho một hãng hàng không “sinh sau đẻ muộn”, các doanh nghiệp nhỏ Uà Uừa khác của Xinh-ga-po coi như đã được cam kết rằng “Chính phủ sẩn sàng ủng hộ tối đa cho sự phát triển của các bạn.”. Như những cơn mưa rào rải đều khắp làm đồng ruộng, vườn tược tốt tươi, nền kinh tế của Xinh-ga-po sẽ có cơ hội phát triển đều khắp khi mỗi doanh nghiệp được đối xử công bằng Uà được trao cơ hội ngang nhau để cùng “làm ăn phát tài”. Và đây mới chính là cái lợi lớn đem đến cho nền kinh tế, cho sự phát triển chung. (Theo báo điện tử tuoitreonline, ngày 25 – Il- 2006). Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh
888
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Lẽ ghét thương Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Lẽ ghét thương, tài liệu đã được cập nhật chi tiết và kèm theo những gợi ý trả lời câu hỏi bài tập sẽ giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 11. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Lẽ ghét thương 1. Anh (chị) hãy đọc các chú thích, tìm những điểm chung giữa các đời vua mà ông Quán ghét và giữa những con người mà ông Quán thương. Từ đó hãy nhận xét về cơ sở của lẽ ghét thương theo quan điểm đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu. Gợi ý trả lời Các em cần đọc đoạn thơ về lẽ ghét và các chú thích. Từ đó có thể tìm ra điểm chung giữa các đối tượng ghét rồi nhận xét, bình giá. – Đoạn thơ có nhiều điển tích rút ra từ sử sách Trung Quốc. Cần cho HS thấy ý nghĩa nghệ thuật của những điển tích được sử dụng tập trung trong đoạn thơ có tính triết luận này. Điều đáng chú ý là các điển tích ở đây đều được dẫn giải cụ thể nội dung, làm cho người đọc, dù chưa hiểu rõ các điển tích đó, cũng có thể biết ông Quán ghét những gì. Đời Kiệt, Trụ thì hoang dâm vô độ (vua Trụ lấy rượu chứa thành ao, lấy thịt treo thành rừng rồi cho bọn con trai, con gái thả sức ăn chơi, dâm dật, xem đó là thú vui). Đời U, Lệ thì đa đoan, lắm chuyện rắc rối (U Vương say đắm Bao Tự, để mua vui cho người đẹp có thể sai người xé mỗi ngày hàng trăm tấm lụa – vì Bao Tự thích nghe tiếng lụa xé). Đời Ngũ bá, thúc quý thì lộn xộn, chia lìa, đổ nát, chiến tranh liên miên. Tất cả các triều đại đó đều có một điểm chung là chính sự suy tàn, Uua chúa thì say đắm tửu sắc, không chăm lo đến đời sống của dân. Vì ai mà ông Quán ghét? Phê phán các triều đại suy tàn cũng có thể xuất phát từ những lập trường khác nhau, hoặc là để bảo vệ trật tự xã hội phong kiến, vua ra vua, tôi ra tôi, bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến, hoặc vì trách nhiệm của một tôi trung,… Với Nguyễn Đình Chiều thì không hẳn như vậy. Ở đoạn thơ này, mỗi cặp câu lục bát là một tiếng dân được nhắc đến. Điều đó có ý nghĩa như thế nào? Tất cả những lời kết tội đều xoay quanh một ý: Ở các thời đại đó, chỉ có dân là phải gánh chịu mọi tai ách, khổ sở trăm chiều (“Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang,… khiến dân luống chịu lầm than muôn phần,… làm dân nhọc nhằn,… lằng nhằng rối dân”). Như vậy, tác giả đã đứng về phía nhân dân, xuất phát từ quyền lợi của dân mà phẩm bình lịch sử. Đó là cơ sở của lẽ ghét, ghét sâu sắc, mãnh liệt đến độ tận cùng của cảm xúc: “Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm”. – Lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu xuất phát từ tình cảm yêu thương nhân dân, mong muốn nhân dân được sống yên bình, hạnh phúc, những người tài đức có điều kiện thực hiện chí nguyện bình sinh. 2. Anh (chị) có nhận xét gì về cách dùng phép đối và phép điệp ở cặp từ ghét, thương trong đoạn thơ này? Tìm hiểu giá trị nghệ thuật của biện pháp tu từ đó. Gợi ý trả lời Các em nhận xét gì về biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ: + Điệp từ: tần số sử dụng lớn (từ ghét được lặp lại 12 lần, từ thương cũng 12 lần). + Đối từ: đối trong cả đoạn thơ “ghét… ghét..”, “thương. thương…” (10 câu về lẽ ghét, 14 câu về lẽ thương) và tiểu đối trong một câu thơ (“hay ghét… hay thương”; “thương ghét, ghét thương”; “lại ghét… lại thương”). – Biện pháp tu từ đó có ý nghĩa như thế nào trong việc biểu hiện cảm xúc? + Biểu hiện sự trong sáng, phân minh, sâu sắc trong tâm hồn tác giả: hai tình cảm ghét – thương cùng xuất phát từ một trái tim đa cảm tưởng như đối lập mà lại hoàn toàn thống nhất. Mở đầu đoạn thơ là một câu gắn kết: “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”, kết thúc cũng một câu như thế: “Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương”. Thương là cội nguồn của cảm xúc, ghét cũng là từ thương mà ra. Thương và ghét cứ đan cài, tiếp nối, không thể tách rời, rất sâu nặng trong tâm hồn tác giả; thương ra thương, ghét ra ghét, không mập mờ, lẫn lộn, cũng không nhạt nhoà, chung chung. + Tăng cường độ cảm xúc: yêu thương và căm ghét đều đạt đến độ tột cùng, yêu thương rất mực và căm ghét cũng đến điều. Các em có thể phân tích hai câu thơ 7 – 8; lời lẽ bình dị, không đẽo gọt cầu kì, nhờ biện pháp lặp từ (tới 4 lần trong 2 câu thơ) nghe như đay nghiến, như xiết vào lòng người; ta có thể cảm nhận được độ sâu nặng của cảm xúc, nỗi ghét dường như đạt đến độ tận cùng của tình cảm con người (“ghét vào tận tâm”). Luyện tập Theo anh (chị), câu thơ nào trong đoạn trích có thể thâu tóm toàn bộ ý nghĩa tư tưởng và tình cảm của cả đoạn? Hãy viết đoạn văn trình bày cảm nhận của mình về cấu thơ đó. Gợi ý trả lời Các em có thể lựa chọn tuỳ theo cảm xúc của các mình, có thể chọn câu 4 hoặc câu 7, 8. Những câu thơ đó đều đã được giảng trong bài. ——————————- Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Lẽ ghét thương, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài phân tích văn mẫu bài Lẽ ghét thương và đọc lại bài thơ Chạy giặc mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Lẽ ghét thương
1,091
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Ngữ cảnh Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn lớp 11, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Ngữ cảnh, với cách gợi ý trả lời câu hỏi bài tập mà đã tổng hợp chắc chắn đây sẽ là nguồn thông tin hữu ích để các bạn học sinh học có kết quả cao hơn trong học tập. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Ngữ cảnh Gợi ý trả lời câu hỏi Luyện tập 1. Đây là hai câu trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Cần căn cứ vào hoàn cảnh sáng tác bài văn tế để thấy được các chi tiết trong hai câu văn đều bắt nguồn từ hiện thực. HS cần xem lại các chú thích về hai câu văn trong bài học ở phần đọc hiểu. Câu văn trong bài văn tế xuất phát từ bối cảnh: tin tức về kẻ địch đến đã phong thanh mười tháng nay mà lệnh quan (đánh giặc) thì vẫn còn chờ đợi. Người nông dân đã thấy rõ hình ảnh dơ bẩn của kẻ thù và căm ghét chúng mỗi khi thấy bóng dáng tàu xe của chúng. 2. Hai câu thơ của Hồ Xuân Hương gắn liền với tình huống giao tiếp cụ thể: đêm khuya, tiếng trống canh dồn dập mà người phụ nữ vẫn cô đơn, trơ trọi… Câu thơ là sự diễn tả tình huống, còn tình huống là nội dung đề tài của câu thơ. Tất nhiên, ngoài sự diễn tả tình huống, câu thơ còn bộc lộ tâm sự của nhân vật trữ tình – của chỉnh tác giả, một người phụ nữ lận đận, trắc trở trong tình duyên. 3. Các em cần xem lại (hoặc nhớ lại) bài thơ Thương vợ của Tú Xương (cả phần Tiễu dẫn và các chú thích từ ngữ cuối bài thơ). Từ hoàn cảnh về cuộc sống của nhà thơ, có thể thấy vợ Tú Xương là một người tần tảo, chịu thương chịu khó làm ăn để nuôi chồng, nuôi con. Bà kiếm sống bằng nghề buôn bán nhỏ. Những chi tiết trong hoàn cảnh sống của gia đình Tú Xương chính là bối cảnh tình huống cho nội dung của các câu thơ trong bài (6 câu thơ đầu). Ví dụ việc dùng thành ngữ một duyên hai nợ không phải chỉ để nói đến nỗi vất vả của bà Tú, mà xuất phát từ chính ngữ cảnh sáng tác: bà Tú phải làm để nuôi cả con và chồng (ông Tú). 4. Các em cần xem lại (hoặc nhớ lại) bài thơ Vịnh khoa thi Hương ở phần Đọc thêm (cả phần Tiểu dẫn và các chú thích từ ngữ). Hoàn cảnh sáng tác chính là ngữ cảnh của các câu thơ trong bài Rõ nhất là sự kiện vào năm Đinh Dậu (1897), chính quyền mới do thực dân Pháp lập nên (nhà nước) đã tổ chức cho các sĩ tử Hà Nội xuống thi chung ở trường Nam Định. Trong kì thi đó, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương là Đu-me đã cùng vợ đến dự. Những sự kiện đó chính là ngữ cảnh tạo nên các câu thơ. ——————————– Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Ngữ cảnh, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Ngữ cảnh mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Ngữ cảnh
600
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Phong cách ngôn ngữ báo chí Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Phong cách ngôn ngữ báo chí đã được sưu tầm và đăng tải, với nội dung tài liệu hướng dẫn các bạn học sinh giải bài tập Ngữ văn một cách nhanh và chính xác sẽ là nguồn thông tin hữu ích dành cho các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 11. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Phong cách ngôn ngữ báo chí Gợi ý trả lời câu hỏi Luyện tập 1. Các em nên mang đến lớp một số tờ báo như: báo Tiền phong, báo Thanh niên, báo Nhân dân,… rồi chia ra thành nhóm đọc và dưới sự hướng dẫn của giáo viên giúp các em nhận diện một số thể loại văn bản báo thường gặp như: bản tin, phóng sự, tiểu phẩm,… đồng thời xác định đặc điểm của tờ báo (theo phương tiện, định kì xuất bản, lĩnh vực xã hội, đối tượng độc giả,…). 2. Gợi ý phân biệt: – Bản tin: + Thông tin sự việc một cách ngắn gọn. + Thông tin kịp thời, cập nhật, – Phóng sự: + Vừa thông tin sự việc, vừa miêu tả sinh động, cụ thể. + Yêu cầu: gợi cảm, gây được hứng thú. 3. Để viết được một tin ngắn phản ánh tình hình học tập ở lớp, cần có các yếu tố: – Địa điểm: tại lớp học. – Sự kiện: chú ý sự kiện nổi bật. – Ý kiến ngắn về sự kiện. Tin ngắn có những yêu cầu là: nội dung chính xác, khách quan và ngắn gọn, nhưng vẫn có đầy đủ thông tin cần thiết. Tin tức không cho phép bịa đặt, hư cấu, tô hồng hoặc bôi đen, thậm chí người viết phải kiểm tra kĩ nguồn tin trước khi viết. Tránh cách viết dài dòng, hoặc thiếu thông tin gây bất lợi cho người đọc. (Xem thêm các bài Bản tin, Luyện tập viết bản tin). 4. Chỉ một bản tin ngắn An Giang đón nhận danh hiệu di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia Ô Tà Sóc cũng thể hiện được đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí. – Tính thời sự: thời gian, địa điểm, ý kiến (những vấn đề cần thông tin). Mỗi chi tiết đều đảm bảo tính chính xác, cập nhật. – Tính ngắn gọn: mỗi câu là một thông tin cần thiết. 5. Muốn viết một bài phóng sự báo chí, trước hết cần phải xác định xem vấn đề gì, hiện tượng nào đang được dư luận quan tâm. Ví dụ: việc đi lại lộn xộn trên đường phố ảnh hưởng đến an toàn giao thông, vấn đề ô nhiễm môi trường,… Tiếp theo là ghi chép về người thực, việc thực, có địa điểm, thời gian cụ thể và tiến hành chọn lọc một số chi tiết tiêu biểu để miêu tả. Trên đây đã giới thiệu bạn đọc bài: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Phong cách ngôn ngữ báo chí, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Phong cách ngôn ngữ báo chí mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Phong cách ngôn ngữ báo chí
547
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn lớp 11, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận, với nội dung tài liệu đã được cập nhật chi tiết sẽ là nguồn thông tin hữu ích để giúp các bạn học sinh có kết quả cao hơn trong học tập. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận Luyện tập Đề 1 1. Phân tích đề: Đây là dạng đề định hướng rõ nội dung nghị luận. – Vấn đề cần nghị luận: Giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (trích Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác). – Yêu cầu về nội dung: + Bức tranh cụ thể, sinh động về cuộc sống xa hoa nhưng thiếu sinh khí của những người trong phủ chúa Trịnh, tiêu biểu là thế tử Trịnh Cán. + Thái độ phê phán nhẹ nhàng mà thấm thía cũng như dự cảm về sự suy tàn đang tới gần của triều Lê – Trịnh thế kỉ XVIII. – Yêu cầu về phương pháp: Sử dụng thao tác lập luận phân tích kết hợp với nêu cảm nghĩ; dùng dẫn chứng trong văn bản. Vào phủ chúa Trịnh là chủ yếu. a) Mở bài: Giới thiệu đoạn trích. b) Thân bài: – Bức tranh phủ chúa: + Cuộc sống xa hoa hưởng lạc tột độ * Dẫn chứng + Uy quyền tối thượng của nhà chúa * Dẫn chứng – Đánh giá về giá trị hiện thực của bức tranh phủ chúa: + Phản ánh đúng bản chất của hiện thực một cách sâu sắc. + Tỏ thái độ không đồng tình với hiện thực đó – mang ý nghĩa nhân văn. c) Kết bài: Nhấn mạnh giá trị hiện thực sâu sắc và ý nghĩa nhân văn của đoạn trích. Đề 2 a) Phân tích đề: – Vấn đề cần nghị luận: Tài năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc của Hồ Xuân Hương. – Yêu cầu về nội dung: + Dùng văn tự Nôm. + Sử dụng các từ ngữ thuần Việt đắc dụng. + Sử dụng hình thức đảo trật tự từ trong câu. – Yêu cầu về phương pháp: Sử dụng thao tác lập luận phân tích kết hợp với bình luận, dẫn chứng thơ Hồ Xuân Hương là chủ yếu. b) Lập dàn ý: GV hướng dẫn HS căn cứ vào kết quả phân tích đề để lập dàn ý. —————————- Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận, để giúp các bạn học tốt môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận
495
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn đã được cập nhật để phục vụ công việc học tập của các bạn học sinh được tốt hơn. Mời các bạn học sinh tham khảo để học tốt Ngữ văn 12 một cách dễ dàng. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn Gợi ý trả lời câu hỏi LUYỆN TẬP Câu 1 và 3 các em tự làm. 2. Có thể tham khảo lời khuyên sau: Cách hay nhất để trả lời câu hỏi này là thành thật chỉ ra điểm yếu của bạn mà đồng thời chỉ ra luôn cách thức mà bạn đã biến điểm yếu đó thành điểm mạnh của mình. Chẳng hạn nếu bạn từng yếu trong khâu tổ chức, lập kế hoạch, hãy chỉ ra cách mà bạn đã khắc phục nó, lập kế hoạch và kiểm soát thời gian của mình. Nhà tuyển dụng sẽ thấy khả năng biết mình biết người cũng như năng lực của bạn trong việc cải thiện bản thân.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn
199
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thao tác lập luận phân tích Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt hơn môn Ngữ văn lớp 11, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thao tác lập luận phân tích, với nội dung tài liệu đã được cập nhật chi tiết gồm những gợi ý hay để giúp các bạn học sinh làm bài tập Ngữ văn tốt hơn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Thao tác lập luận phân tích Luyện tập 1. Trong các đoạn trích dưới đây, người viết đã phân tích đối tượng từ những mối quan hệ nào? a) “Nỗi riêng, riêng những bàn hoàn” trong lòng Thuý Kiều đêm nay là vậy. Nàng chỉ có thức với ngọn đèn cho đến khi dầu khô trong đĩa mà dòng lệ vẫn không dứt đầm khăn. “Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn” bởi nàng chỉ có xót đau rồi đau xót chứ chưa tìm được phuơng kế nào. “Bàn hoàn” mang ý quanh quẩn, quẩn quanh, lại thêm “những bàn hoàn” nên càng thêm rối rắm. Âm điệu câu thơ lại xoáy sâu vào trong lòng cô độc, vào chỗ sâu kín nhất, chỉ mình biết mình hay (nỗi riêng, riêng những), càng tăng cái giày vò của tâm trạng đang hoàn toàn bế tắc. (Lê Trí viễn, Đến với thơ hay, NXB Giáo dục, 2001) Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt, Một cùng trong trong vắt lòng sông. Tả cảnh chung quanh thuyền sau khi người tì bà phụ vừa đánh đàn xong. Một cái cảnh lặng lẽ, lạnh lùng ẩn một nỗi buồn âm thầm, kín đáo. Thế Lữ có lẽ đã nhớ đến hai câu ấy khi viết: Tiếng diều sáo nao nao trong vắt, Trời quang mây xanh ngắt màu lơ. Mặc dầu hai chữ ‘nao nao” có đưa vào trong câu thơ một chút rung động, ta vẫn chưa xa gì cái không khí bình yên trên bến Tầm Dương. Với xuân Diệu cả tình lẫn cảnh trở nên xôn xao vô cùng. Người kĩ nữ của Xuân Diệu cũng bơ vơ như người tì bà phụ. Nhưng nàng không lặng lẽ buồn, ta thấy nàng run lên vì đau khổ: Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo; Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da. (Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 1988) Gợi ý trả lời Các quan hệ làm cơ sở để phân tích: a) Quan hệ nội bộ của đối tượng (diễn biến, các cung bậc tâm trạng của Thuý Kiều): đau xót, quẩn quanh và hoàn toàn bế tắc. b) Quan hệ giữa đối tượng này với các đối tượng khác có liên quan: Bài thơ Lời kĩ nữ của Xuân Diệu với bài Tì bà hành của Bạch Cư Dị. Gợi ý trả lời – Nghệ thuật sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc. Chú ý phân tích các từ ngữ: Uăng vẳng, trơ, cái hồng nhan, xiên ngang, dóm togc, ti, con con. – Nghệ thuật sử dụng từ trái nghĩa: say – tỉnh, khuyết – tròn, đi – lại. – Nghệ thuật sử dụng phép lặp từ (xuân), phép tăng tiến (san sẻ – ti – con con). -Phép đảo trật tự cú pháp trong câu 5 và 6: Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn. Lưu ý: Thoạt nhìn sự thay đổi: san sẻ – tí – con con là sự giảm dần (tiệm thoái) nhưng ở đây xét về mức độ cô đơn, sự thiệt thòi về tình cảm của tác giả thì lại tăng tiến. —————————- Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thao tác lập luận phân tích, để giúp các bạn học tốt môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Thao tác lập luận phân tích mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Thao tác lập luận phân tích
676
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thương vợ Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thương vợ, tài liệu đã được cập nhật nội dung chi tiết sẽ là nguồn thông tin hữu ích giúp các bạn học sinh lớp 11 khai thác vận dụng làm bài tập một cách hiệu quả hơn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Thương vợ 1. Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh bà Tú qua bốn câu thơ đầu? (Chú ý những từ ngữ có giá trị tạo hình, hình ảnh con cò trong ca dao được tác giả vận dụng một cách sáng tạo). Gợi ý trả lời Hình ảnh bà Tú qua bốn câu thơ đầu được thể hiện qua nỗi lòng thương vợ của ông Tú. Tình thương vợ sâu nặng của Tú Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả, gian truân và những đức tính cao đẹp của bà Tú. Mở đầu tác giả giới thiệu về hoàn cảnh làm ăn buôn bán của bà Tú, qua đó hiện lên hình ảnh bà Tú tần tảo, tất bật ngược xuôi: Quanh năm buôn bán ở mom sông. Hoàn cảnh vất vả, lam lũ được gợi lên qua cách nói thời gian, cách nêu địa điểm. “Quanh năm” là suốt cả năm, không trừ ngày nào, dù mưa hay nắng. “Quanh năm” còn là năm này tiếp năm khác đến chóng mặt, đến rã rời chứ đâu phải chỉ một năm. Địa điểm bà Tú buôn bán là “mom sông” – phần đất ở bờ sông nhô ra phía lòng sông. Như thấm thía nỗi vất vả, gian lao của vợ, Tú Xương mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú, Cần thấy được những sáng tạo của Tú Xương khi vận dụng hình ảnh, ngôn ngữ của văn học dân gian. Con cò trong thơ Tú Xương không chỉ xuất hiện giữa cái rợn ngợp của không gian (như con cò trong ca dao: “Con cò lặn lội bờ sông – Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”) mà còn trong cái rợn ngợp của thời gian. Chỉ bằng ba từ “khi quãng vắng” tác giả đã nói lên được cả thời gian, không gian heo hút, rợn ngợp, chứa đầy lo âu, nguy hiểm. Cách đảo ngữ – đưa từ lặn lội lên đầu câu, cách thay con cò bằng thân cò nhấn mạnh nỗi vất vả, gian truân của bà Tú, gợi nỗi đau thân phận. Câu thơ gợi cảnh chen chúc, bươn bả trên sông nước của những người buôn bán nhỏ. Sự cạnh tranh chưa đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. “Buổi đò đông” đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn “khi quãng vắng”. Trong ca dao, người mẹ từng căn dặn con: “Con ơi nhớ lấy câu này – Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua”, “Buổi đò đông” không chỉ có những lời phàn nàn, mặc cả, cáu gắt, những sự chen lấn xô đẩy mà còn chứa đầy bất trắc. Hai câu thực đối nhau về từ ngữ (“khi quãng vắng” đối với “buổi đò đông”) nhưng lại thừa tiếp nhau về ý để làm nổi bật sự vất vả, gian truân của bà Tú: đã vất vả, đơn chiếc, lại thêm sự bươn bả trong cảnh chen chúc làm ăn. Hai câu thơ nói thực cảnh bà Tú đồng thời cho ta thấy thực tình của Tú Xương tấm lòng xót thương da diết. 2. Phân tích những câu thơ nói lên đức tính cao đẹp của bà Tú. Gợi ý trả lời Đức tính cao đẹp của bà Tú được thể hiện qua bốn câu thơ sau: Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công. Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không. Bà Tú là người đảm đang, tháo vát, chu đáo với chồng con, duyên một mà nợ hai nhưng bà Tú không một lời phàn nàn, lặng lẽ chấp nhận sự vất vả vì chồng con. Tác giả mượn hình ảnh: nắng, mưa để chỉ sự vất vả của vợ. Các từ: năm, mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra tạo nên một thành ngữ cho (“năm nắng mười mưa”) vừa nói lên sự vất vả gian truân, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú. 3. Lời “chửi” trong hai câu thơ cuối là lời của ai, có ý nghĩa gì? Gợi ý trả lời Lời “chửi” trong câu thơ là lời Tú Xương tự rủa mát mình nhưng lại mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Ông chửi “thói đời” bạc bẽo, vì thói đời là một nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú phải khổ. Từ hoàn cảnh riêng, tác giả lên án thói đời bạc bẽo nói chung. 4. Nỗi lòng thương vợ của nhà thơ được thể hiện như thế nào? Qua bài thơ, anh (chị) có nhận xét gì về tâm sự và về vẻ đẹp nhân cách của Tú Xương? Gợi ý trả lời Qua bài thơ, Tác giả thể hiện sự yêu thương, quý trọng, tri ân vợ. Trong những bài thơ viết về vợ của Tú Xương, bao giờ ta cũng bắt gặp hình ảnh hai người: bà Tú hiện ra phía trước, ông Tú khuất lấp ở phía sau, nhìn tinh mới nhận ra. Ở bài thơ Thương Uợ, ông Tú không xuất hiện trực tiếp nhưng vẫn hiển hiện trong từng câu thơ. Đằng sau cốt cách khôi hài, trào phúng là cả một tấm lòng, không chỉ thương mà còn tri ân vợ. Qua tác phẩm ta thấy Tú Xương là một người có nhân cách qua lời tự trách mình. Ông không dựa vào duyên số để trút bỏ trách nhiệm. Bà Tú lấy ông là do duyên, nhưng duyên một mà nợ hai. Tú Xương tự coi mình là cái nợ đời mà bà Tú phải gánh chịu. Chữ “bạc” trong hai câu thơ: “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không” chính là sự trách mình, chửi mình nhưng lời trách, chửi ấy rất đỗi chân thành. Để rồi Tú Xương đi đến sự chế giễu cái “vô tích sự” của mình. Xã hội xưa “trọng nam khinh nữ”, coi người phụ nữ là thân phận phụ thuộc: “xuất giá tòng phu” (lấy chồng theo chồng), “phu xướng, phụ tuỳ” (chồng nói, vợ theo). Một nhà nho như Tú Xương dám sòng phẳng với bản thân, với cuộc đời, dám tự thừa nhận mình là “quan ăn lương vợ”, không những đã biết nhận ra thiếu sót, mà còn dám tự nhận khiếm khuyết. Một con người như thế là một nhân cách đẹp. Phân tích sự vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian trong bài thơ trên. Gợi ý trả lời Phân tích sự vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian trong bài thơ: – Vận dụng hình ảnh: + Hình ảnh con cò trong ca dao nhiều khi nói về thân phận người phụ nữ lam lũ, vất vả, chịu thương, chịu khó: “Con cò lặn lội bờ sông – Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”; thân phận người lao động với nhiều bất trắc, thua thiệt: “Con cò mà đi ăn đêm – Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao…”. + Hình ảnh con cò trong bài Thương vợ nói về bà Tú có phần xót xa, tội nghiệp hơn hình ảnh con cò trong ca dao. Con cò trong ca dao xuất hiện giữa cái rợn ngợp của không gian, con cò trong thơ Tú Xương ở giữa sự rợn ngợp của cả không gian và thời gian. Chỉ bằng ba từ “khi quãng vắng”, tác giả đã nói lên được cả thời gian, không gian heo hút, chứa đầy lo âu, nguy hiểm. Cách thay con cò bằng thân cò càng nhấn mạnh nỗi vất vả, gian truân của bà Tú và gợi nỗi đau thân phận. – Vận dụng từ ngữ: Thành ngữ “năm nắng mười mưa” được vận dụng sáng tạo: nắng, mưa chỉ sự vất vả, năm, mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra tạo nên một thành ngữ chéo, vừa nói lên sự vất vả gian truân, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng, vì con của bà Tú. ———————— Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thương vợ, để giúp các bạn học tốt môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Thương vợ và đọc lại bài thơ Thương vợ mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Thương vợ
1,506
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu, với nội dung đã được cập nhật chi tiết sẽ là nguồn tài liệu hữu ích để phục vụ các em học sinh học tốt Ngữ văn 11. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu Gợi ý trả lời câu hỏi TRẬT TỰ TRONG CÂU ĐƠN 1. a). Nếu sắp xếp theo trật tự “Đó là một con dao rất sắc, nhưng nhỏ” thì bản thân câu đó không sai về ngữ pháp và ý nghĩa, vì rất Sắc và nhỏ là các thành phần đẳng lập, đồng chức: cùng làm thành phần phụ cho danh từ con dao. Nhưng đặt vào đoạn văn thì trật tự sắp xếp như vậy không phù hợp với mục đích của hành động: mục đích đe doạ, uy hiếp đối phương. Cho nên cần đặt rất sắc ở cuối câu, vị trí thường thích hợp với thông tin quan trọng. b) Cách sắp xếp trật tự như tác giả Nam Cao đã làm là nhằm mục đích dồn trọng tâm thông báo vào cụm từ rất sắc, phù hợp với mục đích đe doạ, uy hiếp bá Kiến của Chí Phèo. Nếu đặt từ nhỏ ở cuối câu thì trong tình huống giao tiếp này, nó không thể là trọng tâm thông báo của câu, không thể phù hợp với mục đích uy hiếp và đe doạ đối phương của người nói (Chí Phèo). c) Trong tình huống khác, ngữ cảnh khác, thì sự sắp xếp ngược lại lại phù hợp. Trong ngữ cảnh (c), người nói nhằm thực hiện hành động và mục đích chế nhạo, phủ định tác dụng của con dao (con dao tuy có sắc nhưng nhỏ thì không thể chặt đứt cành cây to). Lúc đó lại cần đặt tính từ nhỏ ở sau, ở cuối câu. Như vậy, trong mỗi tình huống giao tiếp, mỗi ngữ cảnh, câu có một mục đích, một nhiệm vụ giao tiếp khác nhau. Đồng thời, người nói (người viết) thực hiện những hành động nói khác nhau (Về hành động nói, xem lại Ngữ văn 8, tập hai). Vì thế, cần xác định trọng tâm thông báo của câu ở mỗi tình huống, và trật tự sắp xếp các bộ phận trong câu chính là một trong những cách thức phục vụ cho mục đích này. 3. Ba đoạn trích đều có những bộ phận câu biểu hiện thời gian (trạng ngữ chỉ thời gian). Nếu từng câu đứng riêng ngoài văn bản thì các bộ phận đó đều có những khả năng như nhau: đều có thể đặt ở đầu câu, giữa câu hay cuối câu. Nhưng mỗi câu đều được dùng trong một ngữ cảnh nhất định, cho nên sự sắp xếp các bộ phận trong câu phải phụ thuộc vào từng ngữ cảnh, từng văn bản để phù hợp với nhiệm vụ thông báo trong từng ngữ cảnh. a) Trong đoạn văn này, câu đầu kể về một sự kiện (việc bắt Mị). Cho nên trước tiên nêu hoàn cảnh thời gian (Một đêm khuya, sau đó lần lượt kể các chi tiết diễn biến của sự kiện. Trật tự như thế là phù hợp. Còn ở câu tiếp theo, phần Sáng hôm sau cần đặt ở đầu câu để tiếp nối thời gian, để tạo sự liên kết với những câu đi trước. Nó không thể ở cuối câu hay giữa câu, vì như thế câu văn sẽ mất sự liên kết và các sự kiện được kể không liền mạch. b) Câu văn bắt đầu bằng bộ phận nêu chủ thể hành động (Một anh đi thả ống lươn), còn phần biểu thị thời gian (một buổi sáng tinh sương) lại đặt ở giữa câu. Điều đó cũng do sự liên kết ý với những câu đi trước đòi hỏi. Trước đó, các câu văn đang tập trung vào vấn đề: Ai biết người nào đẻ ra Chí Phèo? Cho nên cần nối tiếp đề tài đó bằng việc nêu chủ thể hành động chứ không phải thời gian hành động) lên đầu câu. Nghĩa là sự sắp xếp trật tự (chủ thể hành động – thời gian) ở trường hợp này là để phục vụ cho sự liên kết ý, đảm bảo mạch kể chuyện của các câu. c) Trong trường hợp này, bộ phận đã mấy năm đặt ở cuối câu, chứ không thể đặt ở đầu câu hay giữa câu. Điều đó do nhiệm vụ thông báo của nó quyết định: nó biểu hiện phần tin mới, phần trọng tâm thông báo. Về mặt ngữ pháp, nó không phải là thành phần chính của câu, mà thành phần chính là Cô Mị về làm dâu nhà Pá Tra (C – V). Nhưng các thành phần chính trong trường hợp này chỉ là một hình thức khác của việc lặp lại một thông tin đã biết (cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lí), nghĩa là một tin cũ. Điều quan trọng ở câu này là thời gian về làm dâu. Vì thế, tuy là thành phần thứ yếu về ngữ pháp nhưng lại quan trọng về mặt thông báo, do đó nó cần đặt ở cuối câu vị trí thường dành cho phần tin mới, tin quan trọng. TRẬT TỰ TRONG CÂU GHÉP 1. a) Vế chỉ nguyên nhân trong câu ghép này (là vì mẩu chuyện ấy nhắc cho hắn một cái gì rất xa xôi) cần đặt sau vì vế chính (Hắn lại nao nao buồn) cần đặt trước để tiếp tục nói về “hắn”; mặt khác, vế in đậm lại tiếp tục được khai triển ý ở những câu đi sau: cụ thể hoá cho một cái gì rất xa xôi. Nghĩa là vế chính đặt trước để liên kết dễ dàng với những câu đi trước, còn vế phụ đặt sau để liên kết dễ dàng với những câu đi sau. 2. Để lựa chọn được câu văn có trật tự tối ưu ở vị trí đầu đoạn, cần xem xét quan hệ của nó với các câu còn lại trong đoạn. Các câu còn lại trong đoạn đầu nói về việc: trong các thời kì khác nhau trước đây, nhiều người nổi tiếng đã phát triển phương pháp đọc nhanh và nắm vững nó. Nghĩa là các câu này nói về thời kì trước đây, còn câu đầu nói về những năm gần đây. Hơn nữa, các câu sau chỉ cụ thể hoá một ý quan trọng trong một vế của câu ghép đi đầu: phương pháp đọc nhanh không phải là điều mới lạ. Vì vậy, để liên kết chặt chẽ với các câu sau theo quan hệ diễn dịch thì câu đầu (ở vị trí để trống) cần: – Đặt trạng ngữ Trong những năm gần đây ở đầu câu để đối lập với trạng ngữ trong các thời kì khác nhau trước đây ở câu 2. – Giữa hai vế của câu ghép cần đặt vế “nó không phải là điều mới lạ” ở sau (vế trước là: “các phương pháp đọc nhanh đã được phổ biến khá rộng”) vì đó là vế chứa thông tin quan trọng nhất và liên kết ý với các câu sau. Như vậy, cần chọn lựa phương án C trong số 4 phương án nêu ra. —————————— Trên đây đã giới thiệu bạn đọc bài: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu
1,335
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn lớp 11, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng, tài liệu bao gồm cách gợi ý trả lời câu hỏi bài tập sẽ giúp các bạn học sinh học Ngữ văn 11 một cách dễ dàng hơn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng Gợi ý trả lời câu hỏi 1. Trong bài Câu cá mùa thu, tất cả các từ đều được dùng với nghĩa gốc, không có từ nào dùng theo nghĩa chuyển. a) Trong câu thơ Lá làng trước gió khẽ đưa lèo, từ lá được dùng theo nghĩa gốc. Đó là nghĩa: chỉ bộ phận của cây, thường ở trên ngọn hay trên cành cây, thường có màu xanh, thường có hình dáng mỏng, có bề mặt. Nghĩa này có ngay từ đầu khi từ lá xuất hiện trong tiếng Việt. b) – lá dùng với các từ chỉ bộ phận cơ thể người. – lá dùng với các từ chỉ vật bằng giấy. – lá dùng với các từ chỉ vật bằng vải. – lá dùng với các từ chỉ vật bằng tre, nứa, cỏ,… – lá dùng với các từ chỉ kim loại. Tuy trong các trường hợp trên, từ lá dùng ở các trường nghĩa khác nhau, nhưng vẫn có điểm chung: – Do đó các nghĩa của từ lá có quan hệ với nhau: đều có nét nghĩa chung (chỉ thuộc tính có hình dáng mỏng như lá cây). 2. Có nhiều từ có nghĩa gốc chỉ bộ phận thân thể người, nhưng có thể được chuyển nghĩa để chỉ cả con người. Thường dùng nhất là các từ: tay, chân, đầu, miệng, tim, mặt, lưỡi,… Ví dụ: – Trinh sát của ta đã tóm được một cái lưỡi, (Ý nói bắt được một tù binh để khai thác tin tức bí mật của đối phương – cái lưỡi là cơ quan nói năng của con người). – Nó thường giữ chân hậu vệ trong đội bóng của trường (cầu thủ). – Nhà ông ấy có năm miệng ăn (năm người). – Giăng Van-giăng trong truyện “Những người khốn khổ” là một trái tim nhân hậu (người nhân hậu). – Đó là những gương mặt mới trong làng thơ Việt Nam (người làm thơ). 3. Các từ chỉ vị giác là: mặn, ngọt, chua, cay, đắng, chát, bùi,… Một số ví dụ trong đó các từ này chuyển nghĩa để chỉ: Đặc điểm của âm thanh, lời nói: + Nói ngọt lọt đến xương. + Những lời mời mặn nồng, thăm thiết. – Mức độ của tình cảm, cảm xúc: + Tình cảm ngọt ngào của mọi người làm tôi rất xúc động. + Anh ấy đang mải mê nghe câu chuyện bùi tai. 4. Từ cậy có từ nhờ là từ đồng nghĩa. Chúng có sự giống nhau về nghĩa: “bằng lời nói tác động đến người khác với mục đích mong muốn họ giúp mình làm một việc gì đó”. Nhưng cậy khác từ nhờ ở nét nghĩa: dùng cậy thì thể hiện được niềm tin vào sự sẵn sàng giúp đỡ và hiệu quả giúp đỡ của người khác. Do đó, Thuý Kiều dùng từ cậy là thể hiện sự tin tưởng ở Thuý Vân trong sự thay thế mình. Từ chịu có các từ đồng nghĩa là nhận, nghe, vâng (kết hợp với từ lời) vì đều chỉ sự đồng ý, sự chấp thuận với lời người khác. Tuy thế, các từ đó vẫn có sắc thái khác nhau: + nhận: sự tiếp nhận, đồng ý một cách bình thường. + nghe, vâng: đồng ý, chấp thuận của kể dưới đối với người trên, thể hiện thái độ ngoan ngoãn, kính trọng. + chịu (lời): thuận theo lời người khác, theo một lẽ nào đó mà mình có thể không ưng ý. Thuý Kiều dùng từ chịu để nói rằng việc thay thế là việc có thể Thuý Vân không ưng ý nhưng hãy vì tình chị em mà nhận lời. 5. a) Chọn canh cánh vì: – Các từ khác, nếu dùng, chỉ nói đến một tấm lòng nhớ nước như một đặc điểm nội dung của tác phẩm Nhật kí trong tù. – Từ canh cánh khắc hoạ tâm trạng day dứt triền miên của tác giả Hồ Chí Minh. Khi dùng từ canh cánh thì cụm từ chủ ngữ “Nhật kí trong tù” được chuyển nghĩa: không chỉ thể hiện tác phẩm, mà còn biểu hiện con người, tức tác giả (nhân hoá Nhật kí trong tù). c) Cặc từ bầu bạn, bạn hữu, bạn, bạn bè đều có nghĩa chung là bạn, nhưng khác nhau chỗ: – Bầu bạn có nghĩa khái quát, chỉ cả một tập thể nhiều người, lại có sắc thái gần gũi của khẩu ngữ. Ở câu văn trong bài, chủ ngữ nói đến Việt Nam (số ít) nên không thể dùng từ bầu bạn. – Bạn hữu lại có ý nghĩa cụ thể, chỉ những người bạn thân thiết, cho nên không phù hợp để nói về quan hệ giữa các quốc gia. – Bạn bè cũng có nghĩa khái quát và còn có sắc thái thân mật, nhưng Việt Nam (số ít) nên không thể dùng từ này. Do vậy, câu này chỉ có thể điền từ bạn. ——————————- đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng
974
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn lớp 11, các bạn học sinh ngoài việc học trên lớp thì cần tìm có cách học riêng cho mình và tìm hiểu những tài liệu liên quan đến giải bài tập Ngữ văn, xin giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Gợi ý trả lời câu hỏi DÙNG KIỂU CÂU BỊ ĐỘNG 1. Câu bị động: Hắn chưa được một người đàn bà nào yêu cả. Mô hình chung của kiểu câu bị động. Đối tượng của hành động – động từ, bị động (bị, được, phải) – chủ thể của hành động – hành động. – Chuyển sang câu chủ động. Chưa một người đàn bà nào yêu hắn cả. Mô hình chung của câu chủ động: Chủ thể hành động – hành động – đối tượng của hành động. – Thay câu chủ động vào đoạn văn và nhận xét: Câu không sai nhưng không nối tiếp ý và hướng triển khai ý của câu đi trước. Câu đi trước trong đoạn đang nói về “hắn”, chọn “hắn” làm đề tài. Vì thế, câu tiếp theo nên tiếp tục chọn “hắn” làm đề tài. Muốn thế cần viết câu theo kiểu chủ động thì không tiếp tục đề tài về “hắn” được mà đột ngột chuyển sang nói về một người đàn bà nào”. Về câu bị động, các em xem lại Ngữ văn 7, tập hai. 2. Câu bị động: Đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi một bàn tay “đàn bà”. Tác dụng: tạo sự liên kết ý với câu đi trước, nghĩa là tiếp tục đề tài nói về “hắn”. Phân tích như ở bài tập 1. 3. Cần viết một đoạn văn về nhà văn Nam Cao, trong đó có dùng câu bị động. Sau đó giải thích lí do dùng câu bị động và phân tích tác dụng của câu bị động đó. Khi giải thích và phân tích, cần dựa vào sự liên kết về ý với các câu đi trước. 1. a) Câu có khởi ngữ: Hành thì nhà thị may lại còn. – Khởi ngữ: Hành Nhắc lại khái niệm khởi ngữ. Khởi ngữ là thành phần câu nêu lên để tài của câu, là điểm xuất phát của điều thông báo trong câu. Đặc điểm: + Khởi ngữ luôn luôn đứng đầu câu. + Khởi ngữ tách biệt với phần còn lại của câu bằng từ thì, hoặc từ là, hoặc quãng ngắt (dấu phẩy). + Trước khởi ngữ có thể có hư từ còn, về, đối với,… Về khởi ngữ, xem Ngữ văn 9, tập hai. b) So sánh câu trên (câu có khởi ngữ: “Hành thì nhà thị may lại còn”) với câu tương đương về nghĩa nhưng không có khởi ngữ: Nhà thị may lại còn hành”, ta thấy: – Hai câu tương đương về nghĩa cơ bản: biểu hiện cùng một sự việc. – Câu có khởi ngữ liên kết chặt chẽ hơn về ý với câu đi trước nhờ sự đối lập giữa các từ gạo và hành (hai thứ cần thiết để nấu cháo hành). Vì thế viết như nhà văn Nam Cao là tối ưu. 2. Các câu trong đoạn văn đều nói về “tôi”; quê quán, vẻ đẹp thể hiện qua bím tóc, cổ. Cho nên nếu câu tiếp theo nói về mắt thì cần dùng từ mắt ở đầu câu để biểu hiện đề tài, tạo nên mạch thống nhất về đề tài. Nếu viết câu đó theo phương án A thì không tạo được mạch ý vì đột ngột chuyển sang: đề tài các anh lái xe. Nếu viết theo như phương án B thì câu văn là câu bị động gây ấn tượng nặng nề. Nếu viết theo phương án D thì đảm bảo được mạch ý, nhưng không dẫn được nguyên văn lời các anh lái xe vì trong trường hợp này, việc dẫn nguyên văn lời các anh lái xe tạo nên ấn tượng kiêu hãnh của cô gái và sắc thái ý nhị của lời kể chuyện. Chỉ có phương án C là thích hợp nhất đối với đoạn văn. – Vị trí: Ở đầu câu, trước chủ ngữ. – Có quãng ngắt (dấu phẩy) sau khởi ngữ. – Tác dụng của khởi ngữ: Nêu một đề tài có quan hệ liên tưởng (giữa đồng bào – người nghe, và tôi – người nói) với điều đã nói trong câu trước (đồng bào – tôi). b) Câu thứ hai có khởi ngữ: Cảm giác, tình tự, đời sống cảm xúc. – Vị trí: Ở đầu câu, trước chủ ngữ (ấy). – Có quãng ngắt (dấu phẩy) sau khởi ngữ. – Tác dụng của khởi ngữ: Nêu một đề tài có quan hệ với điều đã nói trong câu đi trước (thể hiện thông tin đã biết từ câu đi trước): tình yêu ghét, niềm vui buồn, ý đẹp xấu (câu trước) → Cảm giác, tình tự, đời sống cảm xúc (khởi ngữ ở câu sau). DÙNG KIỂU CÂU CÓ TRẠNG NGỮ CHỈ TÌNH HUỐNG 1. a) Phần in đậm nằm ở vị trí đầu câu. b) Phần in đậm có cấu tao là cụm động từ. c) Chuyển: Bà già kia: thấy thị hởi, bật cười. Nhận xét: Sau khi chuyển, câu có hai vị ngữ, hai vị ngữ đó cùng có cấu tạo là các cụm dộng từ, cùng biểu hiện hoạt động của một chủ thể là Bà già kia. Nhưng viết theo kiểu câu có một cụm động từ ở trước chủ ngữ thì câu nối tiếp về ý rõ ràng hơn với câu trước đó. 2. Ở vị trí để trống trong đoạn văn, tác giả đã lựa chọn câu ở phương án C (Nghe tiếng An, Liên dị, ng dậy trả lời), nghĩa là lựa chọn kiểu câu có trạng ngữ chỉ tình huống, mà không chọn các kiểu câu khác, vì: Kiểu câu ở phươ.g án A (có trạng ngữ chỉ thời gian khi). – Kiểu câu ở phương án B (câu có hai vế, đều có đủ chủ ngữ và vị ngữ). Kiểu câu này lặp lại chủ ngữ (Liên) không cần thiết, gây cho câu văn ấn tượng nặng nề. – Kiểu câu ở phương án D (câu có 1 chủ ngữ và 2 vị ngữ). Kiểu câu này không tạo được mạch liên kết ý chặt chẽ với câu trước. Chỉ có kiểu câu C vừa đúng về ý, vừa liên kết ý chặt chẽ, vừa mềm mại, uyển chuyển. 3. a) Trạng ngữ: Nhận được phiến trát của Sơn Hưng Tuyên đốc bộ đường (câu đầu). b) Đây là câu đầu văn bản nên tác dụng của trạng ngữ này không phải là liên kết văn bản, cũng không phải là thể hiện thông tin đã biết, mà là phân biệt tin thứ yếu (thể hiện ở phần phụ đầu câu) với tin quan trọng (thể hiện ở phần vị ngữ chính của câu: quay lại hỏi thầy thơ lại giúp việc). TỔNG KẾT VỀ VIỆC SỬ DỤNG BA KIỂU CÂU TRONG VĂN BẢN – Thành phần chủ ngữ trong kiểu câu bị động, thành phần khởi ngữ và thành phần trạng ngữ chỉ tình huống đều chiếm vị trí đầu câu. – Các thành phần kể trên thường thể hiện nội dung thông tin đã biết từ những câu đi trước trong văn bản, hay thể hiện một nội dung dễ dàng liên tưởng từ những điều đã biết ở những câu đi trước, hoặc một thông tin không quan trọng. – Vì vậy, việc sử dụng những câu kiểu câu bị động, câu có thành phần khởi ngữ, câu có trạng ngữ chỉ tình huống có tác dụng liên kết ý, tạo mạch lạc trong văn bản.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản
1,327
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thực hành về thành ngữ, điển cố Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn lớp 11, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thực hành về thành ngữ, điển cố, với nội dung đã tổng hợp một cách chi tiết sẽ là nguồn thông tin hữu ích để giúp các bạn học sinh có kết quả cao hơn trong học tập. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Thực hành về thành ngữ, điển cố 1. Gợi ý trả lời + Một duyên hai nợ: ý nói một mình phải đảm đang công việc gia đình để nuôi cả chồng và con. + Năm nắng mười mưa: vất vả cực nhọc, chịu đựng dãi dầu nắng mufa. Nếu so sánh hai thành ngữ trên với các cụm từ thông thường (một mình phải nuôi cả chồng và con; làm lụng vất vả dưới nắng mưa) thì thấy các thành ngữ ngắn gọn, cô đọng, cấu tạo ổn định, đồng thời qua hình ảnh cụ thể, sinh động thể hiện nội dung khái quát và có tính biểu cảm. – Các thành ngữ trên phối hợp với nhau và phối hợp với cả các cụm từ có dáng dấp thành ngữ như lặn lội thân cò, eo sèo mặt nước đã khắc hoạ rõ nét hình ảnh một người vợ vất vả, tần tảo, đảm đang, tháo vát trong công việc gia đình. Cách biểu hiện rất ngắn gọn nhưng nội dung thể hiện được đầy đủ, lại sinh động, cụ thể. Điều đó là nhờ dùng thành ngữ. 2. Gợi ý trả lời – Thành ngữ đầu trâu mặt ngựa biểu hiện được tính chất hung bạo, thú vật, vô nhân tính của bọn quan quân đến nhà Thuý Kiều khi gia đình nàng bị vu oan. – Thành ngữ đội trời đạp đất biểu hiện được lối sống và hành động tự do, ngang tàng, không chịu sự bó buộc, không chịu khuất phục bất cứ uy quyền nào. Nó dùng để nói về khí phách hảo hán, ngang tàng của Từ Hải. Các thành ngữ trên đều dùng hình ảnh cụ thể và đều có tính biểu cảm: thể hiện sự đánh giá đối với điều được nói đến. 3. Gợi ý trả lời – Giường kia: gợi lại chuyện về Trần Phồn thời Hậu Hán dành riêng cho bạn là Từ Trĩ một cái giường khi bạn đến chơi, khi bạn về lại treo giường lên. – Đàn kia: gợi lại chuyện Chung Tử Kì nghe tiếng đàn của Bá Nha mà hiểu được ý nghĩ của bạn. Do đó sau khi bạn chết, Bá Nha treo đàn không gảy nữa vì cho rằng không có ai hiểu được tiếng đàn của mình. Cả hai điển cố trên đây đều được dùng để nói về tình bạn thắm thiết, keo sơn. Chữ dùng ngắn gọn mà biểu hiện được tình ý sâu xa, hàm súc. Điển cố chính là những sự việc trước đây, hay câu chữ trong sách đời trước được dẫn ra và sử dụng lồng ghép vào bài văn, vào lời nói để nói về những điều tương tự. Mỗi điển cố như một sự việc tiêu biểu, điển hình mà chỉ cần gợi nhắc đến là đã chứa đựng điều định nói. Cho nên, điển cố có tính ngắn gọn, hàm súc, thâm thuý. Tuy nhiên, muốn sử dụng và lĩnh hội được điển cố thì cần có vốn sống và vốn văn hoá phong phú. 4. Gợi ý trả lời – Ba thu: Kinh Thi có câu: “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề” (Một ngày không thấy mặt nhau lâu như ba mùa thu). Dùng điển cố này, câu thơ trong Truyện Kiều muốn nói khi Kim Trọng dã tương tư Thuý Kiều thì một ngày không thấy mặt nhau có cảm giác lâu như ba năm. – Chín chữ: Kinh Thi kể chín chữ nói về công lao của cha mẹ đối với con cái là sinh, cúc, phủ, súc, trưởng, dục, cố, phục, thúc. Dẫn điển cố này. Thuý Kiều nghĩ đến công lao của cha mẹ đối với bản thân mình, mà mình thì sống biền biệt nơi đất khách quê người, chưa hề báo đáp được cha mẹ. – Liễu Chương Đài: gợi chuyện xưa của người đi làm quan ở xa, viết thư về thăm vợ có câu: “Cây liễu ở Chương Đài xưa xanh xanh, nay có còn không, hay là tay khác đã vin bẻ mất rồi”. Dẫn điển cố này, Thuý Kiều mường tượng đến cảnh Kim Trọng trở lại thì nàng đã thuộc về người khác mất rồi. – Mắt xanh: Nguyễn Tịch đời Tấn quý ai thì tiếp bằng mắt xanh (lòng đen của mắt), không ưa ai thì tiếp bằng mắt trắng (lòng trắng của mắt). Dẫn điển cố này, Từ Hải muốn nói với Thuý Kiều rằng chàng biết Thuý Kiều ở chốn lầu xanh, hằng ngày phải tiếp khách làng chơi, nhưng chưa hề ưa ai, bằng lòng với ai. Câu nói thể hiện lòng quý trọng, đề cao phẩm giá của nàng Kiều. 5. Gợi ý trả lời a) – Ma cũ bắt nạt ma mới: người cũ cậy quen biết nhiều mà lên mặt, bắt nạt, doạ dẫm người mới đến. Có thể thay bằng cụm từ: bắt ηαι ηgιίοι ηιόι. – Chân ướt chân ráo: vừa mới đến, còn lạ lẫm. Nhìn chung, nếu thay các thành ngữ bằng các từ ngữ thông thường tương đương thì có thể biểu hiện được phần nghĩa cơ bản nhưng mất đi phần sắc thái biểu cảm, mất đi tính hình tượng, mà sự diễn đạt lại có thể phải dài dòng. 6. Gợi ý trả lời + Nói với nó như nước đổ đầu bịt, chẳng ăn thua gì. + Đó là bọn người lòng lang dạ thú, hãm hại người vô tội đến chết đi sống lại. + Nhà thì nghèo, nhưng lại quen thói con nhà lính, tính nhà quan. + Mọi người chả đi guốc trong bụng nó rồi ấy chứ! Các câu còn lại các em tự làm. 7. Gợi ý trả lời + Ở thời buổi bấy giờ thiếu gì những gã Sở Khanh chuyên lừa gạt những phụ nữ thật thà, ngay thẳng. + Lũ trẻ đang tấn công vào những lĩnh vực mới với sức trai Phù Đổng. + Chỗ ấy chính là cái gót chân A-sin của đối phương đấy. + Dạo này nó chẳng khác gì chúa Chổm. + Phải có bản lĩnh trong công việc, tránh tình trạng đẽo cày giữa đường. ————————- Trên đây, đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thực hành về thành ngữ, điển cố, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Thực hành về thành ngữ, điển cố mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Thực hành về thành ngữ, điển cố
1,149
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Tinh thần thể dục Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn lớp 11, các bạn học sinh cần chăm chỉ học tập và kết hợp tham khảo tài liệu liên quan đến Ngữ văn 11, sẽ giúp các bạn học tốt hơn Ngữ văn 11 bằng cách các bạn hãy tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Tinh thần thể dục. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Tinh thần thể dục 1. Tác giả Nguyễn Công Hoan (1903- 1977) quê ở làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Trước Cách mạng tháng Tám, ông vừa dạy học vừa viết văn. Là tác giả của hơn hai chục truyện dài nhưng Nguyễn Công Hoan đặc biệt thành công trong lĩnh vực truyện ngắn. Ông là một trong những nhà văn tiêu biểu của trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945. Sau Cách mạng, ông hăng hái tham gia hoạt động báo chí, văn học và là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa đầu tiên (năm 1957). Tác phẩm chính: Kép Tư Bền (1935), Bước đường cùng (1938), Đời viết văn của tôi (1971),… Với những đóng góp tíchcực trên nửa thế kỉ cầm bút, Nguyễn Công Hoan là một trong những nhà văn lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I, năm 1996. 2. Trọng tâm bài học a) Xuất xứ b) Chủ đề Bằng tiếng cười phê phán mỉa mai sâu cay, Nguyễn Công Hoan đã dựng lên cảnh bắt người đi xem đá bóng bằng cái “tinh thần thể dục” giả hiệu, hình thức của phong trào thể thao Đuy-cô-roa do thực dân Pháp vận động lúc bấy giờ để lừa bịp nhân dân ta. Truyện ngắn Tinh thần thể dục đã vạch trần cái trò hề “vui vẻ trẻ trung” của thực dân Pháp trong cảnh bắt người đi xem đá bóng mà như đi bắt giặc đã khiến họ phải tìm mọi cách để trốn tránh trước nhà chức trách. Tấn bi hài kịch đó đã tố cáo mạnh mẽ bộ mặt xảo trá, mị dân của chính quyền thực dân phong kiến đồng thời cho ta thấy số phận éo le, đáng thương của người nông dân trong cảnh đời nô lệ. c) Phân tích * Tấn bi hài kịch của “Tinh thần thể dục” Câu chuyện “Tinh thần thể dục” đã bộc lộ mâu thuẫn giữa bản chất với hiện tượng, giữa nội dung và hình thức của phong trào thể thao này. Để được lòng bọn thực dân, quan tỉnh thúc quan huyện, quan huyện ép hương lí các xã, bọn chức dịch này lại hành hạ nhân dân. Thật là hài hước: xem bóng đá mà phải đi bắt người cho đủ số quy định bắt người đi xem đá bóng mà như đi bắt giặc bởi mọi người đều trốn không ai muốn đi xem (đi xem thì mất việc, mà mất việc thì lấy gì ăn để sống!?). Do vậy, “được” quan trên cho đi xem đá bóng mà người dân sợ như phải đi phu, đi lính, tìm mọi cách để trốn. Làng xóm náo loạn, dân tình xao xuyến sợ sệt, bọn hương lí thừa cơ đục nước béo cò, bòn rút từng xu của người nông dân kiết xác. Đúng là một tấn bi hài kịch cười ra nước mắt. Và đằng sau tiếng cười ấy, tác giả còn cho ta thấy cảnh đời éo le, đáng thương của người nông dân trong chế độ thực dân phong kiến trước Cách mạng tháng Tám. * Nghệ thuật trào phúng bậc thầy của Nguyễn Công Hoan Từ hiện thực có thật lúc bấy giờ của phong trào thể thao Đuy-côroa, tác giả đã xây dựng được những tình huống truyện gay cấn, giàu kịch tính và có tác dụng gây cười. Cốt truyện đơn giản nhưng lại gồm nhiều cảnh, các cảnh chuyển tiếp nhanh như trong một cuốn phim sôi động với nhiều con người, nhiều cảnh đời, nhiều tình huống đặc sắc, thú vị, cảnh anh Mịch nhăn nhó với ông Lí; cảnh bác Phó gái dịu dàng, đặt cành cau lên bàn, ngồi xổm ở xó cửa, gãi tai, nói với ông Lí; rồi bà cụ Phó Bính, mắt kèm nhèm, vừa nói vừa cười rất vô duyên; rồi tiếng ông Lí quát tháo om sòm, tiếng dạ ran của những người tuần và những ngọn đuốc linh tinh kéo đi các ngả, cuối cùng là cảnh thằng cò nằm ẹp với con ở cạnh đống rơm, phủ lên mình đầy rơm cũng bị lôi ra để bắt đi xem đá bóng. Nhưng vẫn còn thiếu sáu người, và 94 người không trốn thoát đã xếp hàng năm bị ắp giải lên sân vận động như một đoàn tù binh… Tất cả đã tạo nên một tiếng cười trào phúng châm biếm sâu cay mang ý nghĩa phê phán mạnh mẽ. Đó là tiếng cười của Nguyễn Công Hoan, mang nét riêng của một cây bút trào phúng bậc thầy để ném tiếng cười đó vào cái chế độ thực dân phong kiến! Trên đây đã giới thiệu bài: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Tinh thần thể dục để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Tinh thần thể dục và đọc lại tác phẩm Tinh thần thể dục mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Tinh thần thể dục
948
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Tình yêu và thù hận Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Tình yêu và thù hận, đây là bộ tài liệu hay dành cho các bạn học sinh tham khảo để học tốt Ngữ văn 11, với cách giải bài tập chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh có kết quả cao hơn trong học tập. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Tình yêu và thù hận Gợi ý trả lời câu hỏi 1. Sáu lời thoại đầu, về mặt hình thức, là các độc thoại. Các nhân vật nói về nhau chứ không nói với nhau. Độc thoại là nói một mình, tự mình nói với chính mình. Các em có thể đưa ra các dẫn chứng: “Ấy, khe khẽ chứ!”; “Ôi, đấy là người ta yêu? Ôi, giá nàng biết nhỉ!”; “Sao chàng lại là Rô-mê-ô nhỉ?”. Vì các độc thoại này là tiếng lòng của nhân vật, nên xét về bản chất, các lời thoại này là các độc thoại nội tâm. Nhân vật nói ra thành tiếng những suy nghĩ của mình về một đối tượng hay một hiện tượng nào đấy đang ám ảnh mình. Nhân vật nói một mình và chỉ để cho một mình mình nghe. Trong kịch, cho dù lời thoại là độc thoại nội tâm thì nhân vật cũng phải nói to (để khán giả nghe được) và giả định là nhân vật kia không nghe thấy những lời nói đó. – Vì là độc thoại nội tâm, nên sáu lời thoại đầu chứa đựng cảm xúc yêu thương chân thành, đằm thắm. Trên cơ sở ngôn từ mượt mà, cách nói đầy những so sánh, ví von phù hợp với tâm trạng phấn chấn, rạo rực chen lẫn bồn chồn của những người đang yêu, tuy là lời độc thoại nội tâm song không phải là kiểu phát ngôn đơn tuyến một chiều mà trong độc thoại đó cũng xuất hiện tính đối thoại. Các em đưa ra các dẫn chứng về cách nói của nhân vật Rômê-ô: lúc thì như nói với Giu-li-ét khi nàng vừa xuất hiện bên cửa sổ (“vừng dương đẹp tươi ơi…”; “Hỡi nàng tiên lộng lẫy, hãy nói nữa đi!”), lúc thì như đang đối thoại với chính mình (“Kìa! Nàng tì má lên bàn tay! Ôi! Ước gì ta là chiếc bao tay, để được mơn trớn gò má ấy!”; “Mình cứ nghe thêm nữa, hay mình nên lên tiếng nhỉ?”). Tính đối thoại trong độc thoại làm cho lời thoại thêm sinh động. – Mười lời thoại còn lại mang hình thức đối thoại tức là các lời thoại ấy hướng vào nhau, các nhân vật nói cho nhau nghe. Tính chất đối đáp xuất hiện. 2. Các dẫn chứng này có cả trong lời độc thoại lẫn đối thoại. Tính chất hận thù của hai dòng họ được phản ánh trong lời thoại của Giu-li-ét, năm lần (“Chàng hãy khước từ cha chàng và từ chối dòng họ của chàng đi”, “Chỉ có tên họ chàng là thù địch của em thôi”, “nơi tử địa”, “họ mà bắt gặp anh”, Em chẳng đời nào muốn họ bắt gặp anh nơi dây”); của Rô-mê-ô, ba lần (“từ nay, tôi sẽ không bao giờ còn là Rô-mê-ô nữa”, “tồi thù ghét cái tên tôi”, “chẳng phải Rô-mê-ô cũng chẳng phải Môn-ta-ghiu”). – Nỗi ám ảnh về hận thù giữa hai dòng họ xuất hiện ở Giu-li-ét nhiều hơn, cho thấy nỗi lo kèm theo sự ái ngại về hoàn cảnh của Gju-li-ét không chỉ lo cho mình mà còn lo cả cho người mình yêu. Thái độ của Rô-mê-ô đối với hận thù giữa hai dòng họ quyết liệt hơn. Chàng sẵn sàng từ bỏ dòng họ của mình, thể hiện sự dũng cảm để đến với tình yêu. Điều mà Rô-mê-ô sợ là sợ không có được, không chiếm được tình yêu của Giu-li-ét, sợ nàng nhìn mình bằng “ánh mắt” của sự thù hận (“ánh mắt của em còn nguy hiểm cho tôi hơn hai chục lưỡi kiếm của họ; em hãy nhìn tôi âu yếm là tôi chẳng ngại gì lòng hận thù của họ nữa đâu”). Cả hai đều ý thức được sự hận thù đó, song nỗi lo chung của hai người là lo họ không được yêu nhau, họ không có được tình yêu của nhau. Cả hai đều nhắc tới hận thù song không nhằm khơi dậy, khoét sâu hận thù mà chỉ để hướng tới vượt lên trên thù hận. d dây, sự thù hận của hai dòng họ là cái nền còn tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét không xung đột với hận thù ấy. Đây là sự khẳng định quyết tâm xây đắp tình yêu của hai người. 3. Phân tích ý nghĩa và cách liên tưởng so sánh của Rô-mê-ô. – Trước hết là bối cảnh đệm khuya – trăng sáng. Màn đêm thanh vắng với vầng trăng trên trời cao tạo ra chiều sâu cho sự bộc lộ tình cảm của đôi tình nhân. Thiên nhiên được nhìn qua các điểm nhìn của nhân vật. Thiên nhiên là thiên nhiên hòa cảm, đồng tình, trân trọng, chở che. – Mạch suy nghĩ của Rô-mê-ô hướng vào đôi mắt: “Đôi mắt nàng lên tiếng”. Đôi mắt lấp lánh của Giu-li-ét cảm nhận như sự mấp máy của làn môi khi nói. Sự liên tưởng này là hợp lí. – Nếu vẻ đẹp của Giu-li-ét được so sánh với “vừng dương” thì đôi mắt của Giu-li-ét được so sánh với các ngôi sao và đó là “hai ngôi sao đẹp nhất bầu trời”. Sự so sánh được đẩy lên cấp độ cao hơn bằng một sự tự vấn: “Nếu mắt nàng lên thay cho sao, và sao xuống nằm dưới đôi lông mày kia thì thế nào nhỉ?” Các em cần phân tích câu hỏi tự vấn này của Rô-mê-ô qua hai khía cạnh: “mắt nàng lên thay cho sao, và sao xuống nằm dưới đôi lông mày”. Khía cạnh thứ nhất chính là khẳng định vẻ đẹp của đôi mắt vì lúc đó “cặp mắt nàng trên bầu trời sẽ rọi khắp không gian một làn ánh sáng tưng bừng…”. với khía cạnh thứ hai “sao xuống nằm dưới đôi lông mày” thì lúc đó vẻ đẹp thứ hai của Giu-li-ét sẽ xuất hiện: “Vẻ rực rỡ của đôi gò má nàng sẽ làm cho các vì tinh tú phải hổ ngươi”. Các nét đẹp trên khuôn mặt Giu-li-ét lần lượt hiện lên: đẹp của đôi mắt, vẻ đẹp của gò má. Từ đó, dẫn tới một khát vọng yêu đương hết sức mãnh liệt: “Kìa! Nàng tì má lên bàn tay! Ôi! Ước gì ta là chiếc bao tay, để được mơn trớn gò má ấy!”. Sự suy nghĩ cũng như cách so sánh liên tưởng của Rô-mê-ô là hợp lí. – Lưu ý trong lời thoại mở đầu cảnh kịch khi Rô-mê-ô so sánh ánh trăng với các vì sao – hiển nhiên là còn ngầm so sánh với vẻ sáng ngời của đôi mắt, của nét mặt rạng ngời của Giu-li-ét với ánh trăng ấy. Trong bối cảnh ấy, Giu-li-ét hiện ra: dưới con mắt của Rômê-ô như một “nàng tiên lộng lẫy” “toả ánh hào quang, trên đầu ta, như một sứ giả nhà trời có cánh”. Đây là cảm xúc của một con người đang yêu và đang được tình yêu đáp lại, đây cũng là một sự cộng hưởng tình cảm kì lạ của những tâm hồn đang yêu mà Sếch-xpia đã quan sát và nhận biết một cách tài tình và ông cũng miêu tả hết sức thành công, đạt tới mức điển hình tâm trạng đang yêu ấy. Hiển nhiên, tình yêu này là tình yêu chân thành, không vụ lợi và cũng rất hồn nhiên trong trắng. Cái đẹp của bối cảnh làm nền cho sự phát triển của tình yêu trong trắng. – Sự so sánh được thể hiện dưới các dạng thức hoặc tương đồng hoặc tương phản. So sánh Giu-li-ét là “vừng dương”, là “phương đông”, là “mặt trời”… dù Rô-mê-ô chỉ nhìn thấy gương mặt mà chủ yếu qua đôi mắt, gò má của nàng nhưng cách so sánh đó không mang tính chất khuôn sáo, tán tụng mà là cách nói từ tình yêu rất chân thành. Các em cần chú ý là vào thời của Sếch-xpia, các vở kịch đều phải diễn ban ngày nên ngôn ngữ kịch phải lột tả tới mức tối đa tâm trạng, hoàn cảnh. 4. Các em cần chú ý vào ngữ cảnh khi Rô-mê-ô và Giu-li-ét đã gặp gỡ nhau trong lễ hội hoá trang trước đó không lâu. Cùng chính trong cuộc gặp gỡ này tình yêu giữa họ đã nảy sinh. Trong cuộc gặp đó, Rô-mê-ô đã thốt lên: “Nàng là họ Ca-piu-lét sao? Ôi oan trái yêu quý, đời sống của ta nay nằm trong tay người thù” và Giu-li-ét cũng nhận thức điều đó: “Một mối thù sinh một mối tình. – Vội chi sớm gặp, biết đành muộn sao! – Tình đâu trắc trở gian lao – Hận thù mà lại khát khao ân tình”. Cả hai đều đã nhận thức được cái tình cảnh oái oăm, hoàn cảnh thù địch mà họ bị đặt vào. – Sự nhận thức đó dẫn tới độc thoại của Giu-li-ét như là một sự băn khoăn day dứt một sự dằn vặt thể hiện tâm trạng rối bời trước hoàn cảnh éo le. Các lời độc thoại (2, 4, 6) của Giu-li-ét cho thấy tình yêu mãnh liệt đang bùng lên. Lời thoại thứ hai đơn giản chỉ là một cụm từ cảm thán “Ôi chao!” nhưng có cho thấy cảm xúc bị dồn nén không thể không thổ lộ ra thành lời, đồng thời cũng hàm chứa một tiếng thở dài mang dáng vẻ lo âu, vì hai lẽ; thứ nhất là hận thù giữa hai dòng họ, thứ hai là không biết Rô-mê-ô có thật sự yêu mình không. Lời thoại thứ 8, 10 (lời của Giu-li-ét) cho thấy sự bất ngờ của Giuli-ét khi biết có người đang nhìn mình, đang nghe mình thổ lộ. Sự bất ngờ của Giu-li-ét không tạo ra cảm giác sợ hãi, bởi vì, xét về mặt tâm lí, lúc đó Giu-li-ét cũng đang rất cần một sự đồng cảm, sẻ chia. Và khi biết được người đang ẩn nấp đó là Rô-mê-ô thì tâm trạng của Giu-li-ét trở nên phấn chấn: “Tai tôi nghe chưa trọn một trăm tiếng thốt từ miệng đó ra mà tôi đã nhận ra “tiếng ai rồi”. Song nỗi sợ về mối hận thù giữa hai dòng họ lại loé lên trong suy nghĩ của Giu-li-ét: “Chẳng phải anh Rô-mê-ô, và là họ nhà Môn-taghiu đấy ư?” Vế đầu của câu hỏi này vừa là để hỏi vừa trả lời khẳng định luôn, song vế hai được đưa ra, có vẻ không quan trọng, nhưng lại cho thấy nỗi ám ảnh của Giu-li-ét. Các lời thoại 7, 9, 11 của Rômê-ô mang tính khẳng định và quyết tâm được nhấn mạnh bằng các cụm từ: “nàng tiên yêu quý”, “nàng tiên kiều diễm” và các từ ngữ dứt khoát: “tôi thù ghét”, “tôi xé nát”. Nhưng Giu-li-ét vẫn e ngại và đưa ra câu hỏi: “Anh… tới làm gì thế?”. Câu hỏi này có vẻ như thừa song lại là thiếu mà Giu-li-ét cần biết: Rô-mê-ô có thực sự yêu mình không? Động cơ thúc đẩy Rô-mê-ô đến có phải tình yêu chân thành hay chỉ là sự bồng bột thoáng qua? Nàng sợ Rô-mê-ô không thành thật. – Khi không nghĩ về dòng họ Môn-ta-ghiu nữa thì Giu-li-ét lại nghĩ đến dòng họ Ca-piu-lét của mình và khẳng định vị trí nơi hai người đang nói chuyện là “nơi tử địa” “nếu anh bị họ hàng nhà em bắt gặp nơi đây”, “họ mà bắt gặp anh, họ sẽ giết chết anh”. Đó chưa kể là khó khăn cụ thể trước mắt đối với Rô-mê-ô: “Tường vườn này cao, rất khó trèo qua”. Như vậy, Giu-li-ét đã nhận thức được các bức tường đang ngăn cách họ: bức tường đá của vườn nhà, bức tường của hận thù giữa hai dòng họ liệu Rô-mê-ô có dám vượt qua không và bức tường – tình cảm của Rô-mê-ô có thật lòng không? – Các bức tường lần lượt được dỡ bỏ. Trước hết, điều mà Giu-li-ét cần nhất là tình yêu chân thành của Rô-mê-ô. Điều này được khẳng định ở lời thoại 13, lời của Rô-mê-ô, mà ở đó cụm từ “tình yêu” được nhấn mạnh bốn lần với một sự khẳng định dứt khoát: “Cái gì tình yêu có thể làm là tình yêu dám làm”. Bức tường thù hận được dỡ bỏ bởi chính quyết tâm của hai người, nhất là quyết tâm của Giu-li-ét trong lời thoại 16: “Em chẳng đời nào muốn họ bắt gặp anh nơi đây”. Còn bức tường đá của vườn nhà thì đã có “đôi cánh nhẹ nhàng của tình yêu” nâng đỡ. – Diễn biến nội tâm của Giu-li-ét phức tạp nhưng phù hợp với tâm lí của người đang yêu. Đồng thời cũng cho thấy sự chín chắn trong tình yêu của Giu-li-ét. Sự day dứt trong tâm trạng đó cho thấy sức ép nặng nề của hoàn cảnh, thấy được sự vây hãm của mối hận thù truyền kiếp giữa hai dòng họ, thấy được mối nguy hiểm đang đe doạ cả hai người. 5. Đối với câu hỏi này, các em cần tìm hiểu về xung đột kịch. Trong toàn vở Rô-mê-ô và Giu-li-ét, xung đột cơ bản là xung đột giữa tình yêu và thù hận. Tuy nhiên trong đoạn trích này, thù hận không xuất hiện như một thế lực cản trở tình yêu. Thù hận chỉ hiện ra qua suy nghĩ của các nhân vật, song không phải là động lực chi phối, điều khiển hành động của nhân vật. – Đối với Rô-mê-ô, chàng đã gặp Giu-li-ét, đã có được tình yêu của Giu-li-ét và sẵn sàng làm tất cả vì tình yêu ấy (các lời thoại 7, 9, 11). – Đối với Giu-li-ét, sự xuất hiện cảm thức về các bức tường cản trở là có thật. Điều này phản ánh sự chín chắn trong suy tư của nàng, song đây không phải là sự tính toán thiệt hơn. Điều mà Giuli-ét cần là tình yêu chân thực của Rô-mê-ô, và tình yêu của Rô-mêô dành cho nàng là tất cả. Cho nên, khi biết và khẳng định chắc chắn Rô-mê-ô đến với mình bằng tình yêu thì mọi nghi ngại không còn, các băn khoăn cũng chấm dứt. – Như vậy, trong đoạn trích gồm mười sáu lời thoại này, tình yêu không xung đột với thù hận mà chỉ diễn ra trên nền thù hận. Thù hận bị đẩy lùi, bị xoá đi vĩnh viễn, chỉ còn lại tình người tình đời bao la, phù hợp với lí tưởng nhân văn. Chính vì lẽ đó, tác phẩm Rômê-ồ và Giu-li-ét trở thành bài ca ca ngợi và khẳng định tình yêu cao đẹp. Vấn đề Tình yêu và thù hận về cơ bản đã được giải quyết. – Các em cần xác định cách hiểu về xung đột và xung đột kịch: xung đột là cuộc đấu tranh giữa những lực lượng đối lập. Xung đột là thành tố quan trọng nhất của truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch, bởi vì nó tạo ra những hành động mà từ đó tác giả xây dựng nên cốt truyện. Có hai loại xung đột: xung đột bên trong với cuộc đấu tranh diễn ra trong nội tâm nhân vật (tất nhiên đối với kịch thì cho dù là diễn ra bên trong tâm hồn nhân vật, xung đột đó vẫn phải được thể hiện bằng lời) và xung đột bên ngoài, ở đó nhân vật đấu tranh với những lực lượng bên ngoài để thực hiện ý nguyện ước mơ của mình. Có thể coi xung đột như là một sự đối lập, một sự mâu thuẫn với tư cách là một nguyên tắc tương tác giữa các hình tượng trong tác phẩm nghệ thuật. Xung đột nghệ thuật chỉ đơn thuần là sự va chạm của các nhân tố tình thần và đời sống đang đối chọi với nhau theo một cách thức nào đó tuỳ hoàn cảnh gắn với nhân vật. Xung đột không chỉ đơn thuần là sự va chạm bên ngoài giữa các đối lập của mâu thuẫn mà nó còn là phương tiện bộc lộ và khẳng định một tư tưởng nào đó mà tác giả muốn trình bày với người xem. Xung đột trong bi kịch là “xung đột không có lối thoát, kết quả của nó là một cuộc đấu tranh sẽ xảy ra và sẽ được kết thúc bằng cái chết của nhân vật”. Xung đột bi kịch là những xung đột có ý nghĩa xã hội, lịch sử, đạo đức, tâm lí. Nó liên quan tới lẽ sống và tình đời rộng lớn của con người. Các em cần phân tích cách nói, lối nói hồn nhiên của cả hai người, thấy được cách sử dụng lối nói của nhau để xoá đi sự ngăn cách mà hận thù tạo ra, đồng thời cho thấy sự lo lắng tràn đầy yêu thương mà Giu-li-ét dành cho Rô-mê-ô và sự dũng cảm khi Rô-mê-ô.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Tình yêu và thù hận
2,932
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân, với nội dung tài liệu bao gồm những gợi ý giải bài tập Ngữ văn một cách hay và chính xác sẽ giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn lớp 11. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân Luyện tập 1. Trong hai câu thơ dưới đây, từ thôi in đậm đã được tác giả sử dụng với nghĩa như thế nào? Bác Dương thôi đã thôi rồi, Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta. (Nguyễn Khuyến, Khóc Dương Khuê) Gợi ý trả lời Trong hai câu thơ của Nguyễn Khuyến, không có từ nào là từ mới. Các từ đều quen thuộc với mọi cá nhân trong cộng đồng người Việt. Nhưng có từ thôi thứ hai được nhà thơ dùng với nghĩa mới. Thôi vốn có nghĩa chung là chấm dứt, kết thúc một hoạt động nào đó (nó thôi học, hoặc thôi ăn, thôi làm), ở đây Nguyễn Khuyến dùng từ thôi (thứ hai) trong bài thơ với nghĩa chấm dứt, kết thúc cuộc đời, cuộc sống. Đó là sự sáng tạo nghĩa mới cho từ thôi, thuộc về lời nói của cá nhân Nguyễn Khuyến. 2. Nhận xét về cách sắp đặt từ ngữ trong hai câu thơ sau. Cách sắp đặt như thế tạo được hiệu quả giao tiếp như thế nào? Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn. (Hồ Xuân Hương, Tự tình- bài II). Gợi ý trả lời Hai câu thơ dùng toàn các từ ngữ quen thuộc với mọi người, nhưng sự phối hợp của chúng, trật tự sắp xếp của chúng thật khác thường, là cách sắp đặt của riêng Hồ Xuân Hương: – Các câu đều sắp xếp bộ phận vị ngữ (động từ + thành phần phụ: xiên ngang – mặt đất, đâm toạc – chân mây) đi trước bộ phận chủ ngữ (rêu trong đám, đá mấy hòn). Sự sắp xếp đó là cách phối hợp riêng của tác giả để tạo nên âm hưởng mạnh cho câu thơ và tô đậm các hình tượng thơ. 3. Tìm thêm những ví dụ thể hiện được quan hệ giữa cái chung và cái riêng như quan hệ giữa ngôn ngữ chung của xã hội và lời nói riêng của cá nhân. Gợi ý trả lời Quan hệ giữa ngôn ngữ chung của xã hội và lời nói riêng của cá nhân là quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Trong hiện thực, có nhiều hiện tượng cũng có mối quan hệ tương tự như vậy. Ví dụ: – Quan hệ giữa giống loài (chung) và từng cá thể động vật. Mỗi cá thể động vật, chẳng hạn một con cá cụ thể, là sự hiện thực hoá của loài cá, đồng thời mỗi con cá có thể có những nét riêng (về kích thước, về màu sắc,…) so với những đặc trưng chung của loài cá. -Quan hệ giữa một mô hình thiết kế chung với một sản phẩm cụ thể được tạo ra, chẳng hạn một kiểu áo sơ mi, là cơ sở chung để may ra những cái áo cụ thể (có thể khác biệt nhau về chất liệu vải, về màu sắc,…) 4. Từ nách là một từ phổ biến, quen thuộc với mọi người nói tiếng Việt với nghĩa “mặt dưới chỗ cánh tay nối với ngực” (Từ điển tiếng Việt – Hoàng Phê chủ biên). Nhưng trong câu thơ dưới đây, Nguyễn Du (trong Truyện Kiều) đã có sự sáng tạo riêng khi dùng từ nách như thế nào? Nách tường bông liễu bay sang láng giềng. Gợi ý trả lời Trong câu thơ của Nguyễn Du, nách chỉ góc tường. Nguyễn Du đã chuyển nghĩa cho từ nách từ nghĩa chỉ vị trí trên thân thể con người sang nghĩa chỉ vị trí giao nhau giữa hai bức tường tạo nên một góc. Đây là nghĩa chuyển, chỉ có trong lời thơ của Nguyễn Du, nhưng nó được tạo ra theo phương thức chuyển nghĩa chung của tiếng Việt phương thức ẩn dụ (tức dựa vào quan hệ tương đồng giữa hai đối tượng được gọi tên). – Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại. (Hồ Xuân Hương, Tự tình – bài II) – Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) – Chén quỳnh tương ăm đp bầu xuân. (Nguyễn Khuyến, Khóc Dương Khuê) – Mùa xuân là Tết trồng cây, Làm cho đất nước càng ngày càng xuân. (Hồ Chí Minh) Từ xuân trong ngôn ngữ chung đã được các tác giả dùng với nghĩa riêng: – Trong câu thơ của Hồ Xuân Hương, xuân vừa chỉ mùa xuân, vừa chỉ sức sống và nhu cầu tình cảm của tuổi trẻ. – Trong câu thơ của Nguyễn Du, xuân trong cảnh xuân để chỉ vẻ đẹp của người con gái trẻ tuổi. – Trong câu thơ của Nguyễn Khuyến, xuân trong bầu xuân chỉ chất men say nóng của rượu ngon, đồng thời cũng có nghĩa bóng chỉ sức sống dạt dào của cuộc sống, tình cảm thắm thiết của bạn bè. – Trong câu thơ của Hồ Chí Minh, từ xuân thứ nhất có nghĩa gốc chỉ mùa đầu tiên trong năm, từ xuân thứ hai chuyển nghĩa chỉ sức sống mới, tươi đẹp. 6. Cùng là từ mặt trời trong ngôn ngữ chung, nhưng mỗi tác giả trong những câu thơ sau đã có sáng tạo như thế I ào khi sử dụng? Sóng đã cài then, đêm sập cửa. (Huy Cận, Hoàn thuyền đánh cá) b) Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, Mặt trời chân lí chói qua tim. (Tố Hữu, Từ ấy) c) Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng. (Nguyễn Khoa Điềm, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ) Gợi ý trả lời Cùng là từ mặt trời trong ngôn ngữ chung, nhưng mỗi tác giả sử dụng theo những cách khác nhau, tạo nên nhưng ý nghĩa riêng, khác nhau: a) Trong câu thơ của Huy Cận, mặt trời dùng với nghĩa gốc (chỉ một thiên thể trong vũ trụ), nhưng dùng theo phép nhân hoá nên có thể xuống biển (hoạt động như người). b) Trong câu thơ của Tố Hữu, từ mặt trời chỉ lí tưởng cách mạng. c) Trong câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm, từ mặt trời đầu dùng với nghĩa gốc, từ mặt trời thứ hai dùng với nghĩa ẩn dụ, chỉ đứa con. —————————- Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân
1,180
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Tự tình Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Các bạn học sinh thân mến! Để giúp các bạn có kết quả cao hơn trong học tập, đã tổng hợp và đăng tải bộ tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Tự tình, tài liệu sẽ là nguồn thông tin hữu ích để phục vụ các bạn học sinh học tốt Ngữ văn lớp 11. Mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Tự tình 1. Bốn câu thơ đầu cho thấy tác giả đang ở trong hoàn cảnh và tâm trạng như thế nào? (Chú ý không gian, thời gian, giá trị biểu cảm của các từ ngữ: Uăng vẳng, dồn, trơ, cái hồng nhan, say lại tỉnh, mối tương quan giữa hình tượng trăng sắp tàn (bóng xế) mà vẫn khuyết chưa tròn với thân phận nữ sĩ). Gợi ý trả lời Bốn câu thơ đầu cho thấy tác giả đang ở trong cảnh cô đơn, tâm trạng buồn, xót tủi, một tâm trạng phẫn uất trước duyên phận của người phụ nữ trong đêm khuya thanh vắng. Ở hai câu đề, nỗi niềm buồn tủi của Xuân Hương được gợi lên giữa một đêm khuya. Chú ý cách cảm nhận thời gian, không gian của tác giả: Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non. Cái nhịp gấp gáp, liên hồi của tiếng trống canh vừa là sự cảm nhận vừa là sự thể hiện bước đi dồn dập của thời gian và sự rối bời của tâm trạng người phụ nữ. Xuân Hương cảm nhận sự bẽ bàng của duyên phận: Trơ cái hồng nhan với nước non. Phân tích ý nghĩa biểu cảm của từ trơ và cách kết hợp trong cụm từ “trơ cái hồng nhan”. Từ trơ đặt đầu câu có tác dụng nhấn mạnh. Trơ là tủi hổ, trơ là bẽ bàng. Thêm vào đó, hai chữ hồng nhan là để nói về dung nhan thiếu nữ mà lại đi với từ cái thì thật là rẻ rúng, mỉa mai. Cái hồng nhan trơ với nước non không chỉ là dầu dãi mà còn là cay đắng. Dù câu thơ chỉ nói về một vế hồng nhan nhưng vẫn gợi lên vế bạc phận, vì vậy nỗi xót xa càng thấm thía, càng ngẫm lại càng đau. Nhịp điệu câu thơ: “Trơ / cái hồng nhan / với nước non” cũng là để nhấn mạnh vào sự bẽ bàng. – Hai câu thực ta nghe thoảng men rượu từ cơn say trước đó nhưng đã thoảng bay đi. Hương rượu chỉ sự thề hẹn (gương thề, chén thề) nhưng hương đã bay đi dù tình còn vương vấn. Cá thể đã tỉnh rượu nên càng nhận ra nỗi trống vắng, bạc bẽo tình đời. Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn. Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên cái vòng quẩn quanh, tình duyên đã trở thành trò đùa của con tạo, càng say càng tỉnh, càng cảm nhận nỗi đau thân phận. Câu thơ là ngoại cảnh mà cũng là tâm cảnh, tạo nên sự đồng nhất giữa trăng và người. Chú ý mối tương quan giữa hình tượng trăng và thân phận của nữ sĩ. Cảnh tình Hồ Xuân Hương được thể hiện qua hình tượng thơ chứa đựng sự éo le: Trăng sắp tàn (“bóng xế”) mà vẫn “khuyết chưa tròn”. Tuổi xuân đã trôi qua mà nhân duyên không trọn vẹn. Hương rượu để lại vị đắng chát, hương tình thoảng qua để chỉ còn duyên phận hẩm hiu. 2. Hình tượng thiên nhiên trong hai câu 5 và 6 góp phần diễn tả tâm trạng, thái độ của nhà thơ trước số phận như thế nào? Gợi ý trả lời Nếu như mở đầu nhà thơ gửi nỗi đau duyên phận vào vầng trăng và chén rượu, thì trong hai câu 5 và 6, nữ sĩ cũng nhờ thiên nhiên nói lên niềm phẫn uất của mình, và thiên nhiên cũng đồng cảm với con người. Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn. Những sinh vật nhỏ bé hèn mọn, còn hèn mọn hơn cả “cỏ nội hoa hèn” như đám rêu kia mà cũng không chịu mềm yếu. Nó phải mọc xiên, lại còn “xiên ngang nặt đất”. Đá đã rắn chắc lại phải rắn chắc hơn, lại phải nhọn hoắt lên để “đâm toạc chân mây”. Biện pháp nghệ thuật đảo ngữ trong hai câu luận đã làm nổi bật sự phẫn uất của thân phận đất đá, cỏ cây, cũng là sự phẫn uất của tâm trạng. Bên cạnh đó, những động từ mạnh xiên, đâm được kết hợp với bổ ngữ ngang, toạc độc đáo thể hiện sự bướng bỉnh, ngang ngạnh. Rêu xiên ngang mặt đất, đá đâm toạc chân mây như vạch đất vạch trời mà hờn oán, không chỉ phẫn uất mà còn là phản kháng. Cách dùng từ “xiên ngang”, “đâm toạc” thể hiện phong cách rất Xuân Hương. Tác giả đặc biệt tài năng khi sử dụng các từ làm định ngữ và bổ ngữ. Những định ngữ, bổ ngữ này làm cảnh vật trong thơ Xuân Hương bao giờ cũng sinh động và căng đầy sức sống – một sức sống mãnh liệt ngay cả trong tình huống bi thương. 3. Hai câu kết nói lên tâm sự gì của tác giả? (Chú ý nghĩa của từ xuân, từ lại; nghệ thuật tăng tiến: Mảnh tình – san sẻ – tí – con con). Ở hai câu kết là tâm trạng chán chường, buồn tủi của nhân vật trữ tình Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sé tí con con! Ngán là chán ngán, là ngán ngẩm. Hồ Xuân Hương ngán lắm rồi nỗi đời éo le, bạc bẽo. Xuân đi rồi xuân lại, tạo hoá chơi một vòng quay luẩn quẩn. Từ xuân mang hai nghĩa, vừa là “mùa xuân” vừa là “tuổi xuân”. Mùa xuân đi rồi mùa xuân trở lại với thiên nhiên, với muôn nghìn hoa lá cỏ cây, nhưng với con người thì tuổi xuân qua là không bao giờ trở lại. Hai từ lại trong cụm từ “xuân đi xuân lại lại” mang hai nghĩa khác nhau. Từ lại thứ nhất nghĩa là “thêm lần nữa”, từ lại thứ hai nghĩa là “trở lại”. Sự trở lại của mùa xuân lại đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân. Thủ pháp nghệ thuật tăng tiến, nhấn mạnh vào sự nhỏ bé dần, làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn: Mảnh tình – san sẻ – tí – con con. “Mảnh tình” đã bé lại còn “san sẻ” thành ra ít ỏi, chỉ còn “tí con con” nên càng xót xa, tội nghiệp. Câu thơ được viết ra có thể là từ tâm trạng của người đã mang thân đi làm lẽ. Tuy nhiên, tầm khái quát của câu thơ lại lớn hơn một hoàn cảnh lấy chồng chung. Nó là nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hội xưa, khi với họ hạnh phúc luôn là chiếc chăn quá hẹp. 4*. Bài thơ vừa nói lên bi kịch duyên phận vừa cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương. Anh (chị) hãy phân tích điều đó. ———————————– Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Tự tình, để giúp các bạn học tốt Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Tự tình và đọc lại bài bài thơ Tự tình mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Tự tình
1,283
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Vi hành Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Vi hành, bộ tài liệu hứa hẹn sẽ giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 12 một cách đơn giản và có kết quả cao trong học tập. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Vi hành 1. Tác giả Từ năm 1920 đến năm 1923 là thời gian chủ yếu hoạt động cách mạng ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã viết một số truyện bằng tiếng Pháp nhằm lên án đế quốc thực dân, phong kiến, gửi gắm tinh thần yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc. Những truyện này được in trong tập Truyện và kí Nguyễn Ái Quốc, NXB Văn học. Hà Nội 1974. 2. Trọng tâm bài học a) Xuất xứ Cuối năm 1922, tên vua bù nhìn Khải Định sang Pháp dự cuộc đấu xảo (hội chợ) thuộc địa ở Mác-xây, do thực dân Pháp tổ chức nhằm ve vãn, lừa bịp các nước thuộc địa của chúng. Nhân sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc đã viết một loạt các bài đả kích tên vua bù nhìn này (như vở kịch Con rồng tre, truyện ngắn Lời than vãn của bà Trưng Trắc, bài báo Sở thích đặc biệt), trong đó có “Vi hành”. “Vi hành tiêu biểu cho bút pháp văn xuôi hiện đại và nghệ thuật châm biếm sắc sảo của truyện, kí Nguyễn Ái Quốc trong thời gian này. Tác phẩm được viết bằng tiếng Pháp, đăng trên báo Nhân đạo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp, số ra ngày 19-2-1923. Bản dịch tiếng Việt của Phạm Huy Thông, in trong tập Truyện và kí Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc viết truyện ngắn “Vi hành” với mục đích chính trị rõ rệt. Tác phẩm nhắm đến hai mục đích cụ thể sau đây: – Lên án, tố cáo bộ mặt xấu xa, lố bịch đê tiện của tên vua bù nhìn bán nước Khải Định khi y sang Pháp dự hội chợ thuộc địa Mác – xây. Đó là một kẻ ngu dốt, một tên vua bù nhìn vô dụng. – Đồng thời, qua đó, tố cáo bộ mặt giả nhân giả nghĩa của thực dân Pháp trong việc ve vãn lừa bịp các nước thuộc địa, để nhân dân Pháp thấy rõ những thủ đoạn xảo trá của thực dân Pháp. – Như vậy truyện ngắn này, giống như một mũi tên bắn trúng hai đích: vừa đả kích phong kiến tay sai lại vừa lên án thực dân cướp nước. Và bộ mặt thật của chúng đã được phanh phui thật rõ và cũng thật sâu sắc trong từng chi tiết của truyện ngắn độc đáo này. c) Phân tích * Hình tượng tên vua Khải Định qua cuộc nhầm lẫn của đôi thanh niên trai gái Pa-ri Trong truyện, tên vua không hề xuất hiện. Nhưng hình ảnh của hắn thì vẫn lưu lại rất đậm nét trong lòng người đọc. Đó là nhờ một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Ái Quốc: tác giả đã hư cấu thành một cuộc nhầm lẫn thật tài tình, như thật mà hàm chứa ý nghĩa sâu sắc. Đôi thanh niên trai gái Pa-ri đã gặp tác giả trong một toa xe điện ngầm và đã nhầm, tưởng tác giả là hoàng đế Khải Định đang “vi hành” để kiếm ăn (“ăn mảnh”) một cách xấu xa, đê tiện đến cả ở cái nơi “hang cùng ngõ hẻm” của Pa-ri hoa lệ này. Qua cuộc đối thoại của đôi thanh niên (tức qua cặp mắt nhìn của người dân Pa-ri), hiện lên rõ ràng bức chân dung thật của hoàng đế Khải Định. – Ngoại hình quê mùa, lố bịch, nhiều cái trật khớp, đáng cười, giống như một thứ đồ cổ. – Hành tung: mờ ám, đi “ăn mảnh” một mình một cách đê tiện, xấu xa ở những nơi “không đáng giá bằng một đồng xu nhỏ” (“hôm nay chúng mình có mất tí tiền nào đâu mà được xem vua đang ngay cạnh”). Khải Định, tóm lại, chỉ là một trò hề, một con rối không hơn không kém (“nghe nói ông bầu Nhà hát Múa rối có định kí giao kèo thuê đấy.”). Dưới cặp một nhìn của đôi thanh niên trai gái Pa-ri hình ảnh Khải Định là như thế! Thật là khách quan, tác giả để cho nhân dân Pháp tự nhìn ngắm, xét đoán và đánh giá tên vua bù nhìn đã sang dự hội chợ thuộc địa với những cuộc “vi hành” xấu xa, đê tiện để đời của y. * Những thủ đoạn xảo trá – bộ mặt giả nhân giả nghĩa của thực dân Pháp -Tổ chức hội chợ thuộc địa để ve vãn, lừa bịp nhân dân các nước thuộc địa của chúng. – Cảnh đón tiếp những người An Nam vừa nhiệt tình, chu đáo “phái tùy tùng đi hộ giá tuốt! Đó là những người phục vụ thầm kín, rụt rè, vô tư và hết sức tận tụy”. “chẳng nề hà chút công sức nào để bảo vệ bọn tôi”. “các vị bám lấy đế giày tôi, dính chặt với tôi như hình với bóng”… – “Đến nay, tất cả những ai ở Đông Dương có màu da trắng đều là những bậc khai hóa, thì bầy giờ đến lượt tất cả những ai có màu da vàng đều trở thành hoàng đế ở Pháp. Cách viết, cách dùng chữ hai nghĩa càng làm tăng ý mỉa mai sâu cay đối với bộ mặt giả nhân giả nghĩa của thực dân Pháp đối với các nước thuộc địa của chúng. * Nghệ thuật viết truyện ngắn già dặn, độc đáo, đầy sáng tạo – Sáng tạo độc đáo nhất là hư cấu ra cuộc nhầm lẫn của đôi thanh niên trai gái ở Pa-ri để lên án, tố cáo tên vua bù nhìn Khải Định. – Cách dựng cảnh sinh động, đối thoại hay, trần thuật chuyện linh hoạt. – Dùng hình thức bức thư gửi cô em họ để có thể dung nạp trong một truyện ngắn nhiều lối viết, nhiều giọng điệu phong phú, có thể có nhiều liên tưởng tạt ngang thú vị…. – Giọng điệu châm biếm sâu cay, sắc sảo, tài hoa qua những chi tiết chọn lọc đắt giá, những cách viết đa nghĩa, gợi nhiều liên tưởng cho người đọc, cách dùng ngôn ngữ hàm chứa ý nghĩa,… – Phong cách truyện ngắn hiện đại châu Âu thể hiện rất rõ trong “Vi hành”, từ cách vào truyện đột ngột dến cách dựng truyện linh hoạt và nhất là ở một đoạn “bình luận” khá dài cuối truyện. Tóm lại, có thể xem “Vi hành” là một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Ai Quốc giai đoạn này.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Vi hành
1,159
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Viết bài làm văn số 2 – Nghị luận văn học Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn lớp 11, mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Viết bài làm văn số 2 – Nghị luận văn học, qua bộ tài liệu các bạn học sinh sẽ viết bài làm văn số 2 được tốt hơn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Viết bài làm văn số 2 – Nghị luận văn học (Bài làm ở nhà) – Sau khi dạy các tác phẩm (đoạn trích): Vào phủ chúa Trịnh, Tự tình (bài II), Câu cá mùa thu, Thương vợ, Khóc Dương Khuê, Bài ca ngắn đi trên bãi cát, Bài ca ngất ngưởng,… các em cần nắm vững nội dung tác phẩm, hướng suy ngẫm về ý nghĩa xã hội của tác phẩm, về giá trị nhân sinh, về đặc sắc nghệ thuật. – Trước khi học bài này, các em ôn lại các bài làm văn đã học, nhất là bài Thao tác lập luận phân tích, Luyện tập thao tác lập luận phân tích. Sau khi đọc đề trong SGK xong, các em nghiêm túc làm bài theo hướng dẫn của SGK, trong đó chú ý: + Hướng dẫn chung. + Gợi ý cách làm bài. + Trước và trong quá trình làm bài, nên tham khảo văn bản đọc thêm trong SGK, nếu có điều kiện thì đọc một số tài liệu liên quan. Chú ý tránh những sai sót tương tự như bài làm văn số 1. – Bên cạch những đề trong SGK các em có thể tham khảo thêm một số đề sau: Đề 1: Tài năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc của Hồ Xuân Hương qua một bài thơ Nôm (Bánh trôi nước hoặc Tự tình – bài II). Đề 2: Cảm nghĩ của anh (chị) về ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ,… trong bài thơ Thương vợ (Trần Tế Xương). Đề 3: Anh (chị) hiểu và suy ngẫm được những điều gì sâu sắc qua bài Lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu? Để làm tốt bài làm văn số 2, các em cần chuẩn bị các phần sau đây: 1. Đọc lại các văn bản tác phẩm đã học và nắm chắc giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm đó để có đủ kiến thức làm bài nghị luận văn học. 2. Ôn lại các thao tác phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận và thao tác lập luận phân tích để có được kĩ năng làm bài nghị luận văn học. 4. Nếu có điều kiện, các em nên tham khảo thêm một số tài liệu liên quan chẳng hạn: những bài văn hay, những bài văn đạt điểm cao,… ———————————- Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Viết bài làm văn số 2 – Nghị luận văn học, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài văn mẫu số 2 đề 1, bài văn mẫu số 2 đề 2, bài văn mẫu số 2 đề 3 mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Viết bài làm văn số 2 – Nghị luận văn học
560
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Viết bài làm văn số 3 – Nghị luận văn học Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Viết bài làm văn số 3 – Nghị luận văn học, với nội dung mà tổng hợp bao gồm những gợi ý hay để giúp các bạn học sinh làm bài viết số 3 được tốt hơn. Qua bộ tài liệu này chắc chắn các bạn học sinh sẽ học tốt Ngữ văn 11. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Viết bài làm văn số 3 – Nghị luận văn học Gợi ý trả lời câu hỏi Đề 1 So sánh tài sắc của Thuý Vân và Thuý Kiều, Nguyễn Du đã tả Thuý Vân: Vân xem trang trọng khác Uời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Đó là vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu của Thuý Vân, nhưng Thuý Kiều còn đẹp hơn: Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn. Làn thu thuỷ, nét xuân Sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc dành đòi một, tài dành hoạ hai. Thuý Kiều chẳng những rất đẹp, nàng còn rất tài hoa (giỏi thơ, giỏi hoạ, giỏi đàn) và có tâm hồn đa sầu, đa cảm. Tâm hồn ấy còn tìm đến những khúc ca ai oán: Một thiên “Bạc mệnh” lại càng não nhân. Nguyễn Du quan niệm tạo hoá hay ghen ghét với những người tài sắc (Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen). Tài sắc của Thuý Kiều như báo trước số phận mười lăm năm lưu lạc của nàng. Đoạn trích này thể hiện kín đáo dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du. Đề 2 Nguyễn Khuyến và Tú Xương cùng sống trong một thời đại (buổi đầu của thời đại thực dân nửa phong kiến nước ta, với bao điều nhố nhăng, bất công, tàn ác,…). Cả hai đều có nỗi niềm chung: đau xót và căm ghét. Nhưng thân thế và hoàn cảnh của Nguyễn Khuyến và Tú Xương có chỗ khác nhau: Nguyễn Khuyến đỗ đạt, có khoa danh,… còn Tú Xương tám lần đi thi chỉ đỗ tú tài và không được bổ dụng, cảnh nhà nheo nhóc, túng thiếu. Giọng thơ của hai tác giả cũng khác nhau: Nguyễn Khuyến nhẹ nhàng, thâm thuý; Tú Xương mạnh mẽ, cay độc (tìm những câu thơ thích hợp để dẫn chứng). Đề 3 Đọc bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, ta thấy hình tượng người nông dân – nghĩa sĩ: mộc mạc, chất phác, không quen chiến đấu (dẫn chứng) nhưng rất mực nghĩa khí, căm thù quân xâm lược, xả thân chống giặc (dẫn chứng). Đây là hình tượng người nông dân – anh hùng chống ngoại xâm Xuất hiện lần dầu tiên trong một tác phẩm văn học Việt Nam. Các em chỉ nói một vài điều thấm thía và xúc động nhất khi tìm hiểu cuọc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. Mỗi cá nhân có một cảm nhận riêng, cần diễn đạt suy nghĩ và cảm nhận của mình một cách chân thành. Đây là dạng đề yêu cầu các em vừa phải vận dụng những kiến thức văn học sử, vừa phải trình bày những suy nghĩ riêng của mình. ————————- Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Viết bài làm văn số 3 – Nghị luận văn học, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài văn mẫu số 3 đề 1, bài văn mẫu số 3 đề 2, bài văn mẫu số 3 đề 3, bài văn mẫu số 3 đề 4 mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Viết bài làm văn số 3 – Nghị luận văn học
648
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Vào phủ Chúa Trịnh Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn lớp 11, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Vào phủ Chúa Trịnh, với nội dung đã được cập nhật chi tiết sẽ là nguồn thông tin hữu ích dành cho các bạn học sinh tham khảo để có kết quả cao hơn trong học tập. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Vào phủ Chúa Trịnh 1. Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa ra sao? Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa như thế nào? Gợi ý trả lời 1. a) Quang cảnh trong phủ chúa – Khi vào phủ phải qua nhiều lần cửa, với “những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp”, mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác, “ai muốn ra vào phải có thẻ”, trong khuôn viên phủ chúa có điếm “Hậu mã quân túc trực” để chúa sai phái đi truyền lệnh. Vườn hoa trong phủ chúa “cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”. – Bên trong phủ là những nhà “Đại đường”, “Quyển bồng”, “Gác tía” với kiệu son, võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng và “những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy”. Đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là “mâm vàng, chén bạc”. – Đến nội cung của thế tử phải qua năm, sáu lần trướng gấm. Trong phòng thắp nến, có sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm, màn là che ngang sân, “xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”… Quang cảnh phủ chúa cực kì tráng lệ, lộng lẫy, không đâu sánh bằng. b) Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa – Khi tác giả lên cáng vào phủ theo lệnh chúa thì có “tên đầy tớ chạy đàng trước hét đường” và “cáng chạy như ngựa lồng”. Trong phủ chúa “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi”. Những chi tiết trên cho thấy chúa giữ vị trí trọng yếu và có quyền uy tối thượng trong triều đình. Bài thơ của tác giả minh chứng rõ thêm quyền uy nơi phủ chúa (“Lính, nghìn cửa vác đòng nghiêm nhặt, Cả trời Nam sang nhất là đây!”). – Những lời lẽ nhắc đến chúa Trịnh và thế tử đều phải hết sức cung kính, lễ độ: “Thánh thượng đang ngự ở đấy”, “chưa thể yết kiến”, “hầu mạch Đông cung thế tử” (xem mạch cho thế tử), “hầu trà” (cho thế tử uống thuốc), “phòng trà” (nơi thế tử uống thuốc). – Chúa Trịnh luôn luôn có “phi tần chầu chực” xung quanh. Tác giả không được thấy mặt chúa mà chỉ làm theo mệnh lệnh của chúa do quan Chánh đường truyền đạt lại; xem bệnh xong cũng không được phép trao đổi với chúa mà chỉ được viết tờ khải để quan Chánh đường dâng lên chúa. Nội cung trang nghiêm đến nỗi tác giả phải “nín thở đứng chờ ở xa”, “khúm núm đến trước sập xem mạch”. c) Cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa – Đứng trước cảnh phủ chúa xa hoa lộng lẫy, tấp nập người hầu kẻ hạ, tác giả đã nhận xét: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường!” và vịnh một bài thơ tả hết cái sang trọng vương giả trong phủ chúa (với “gác vẽ”, “rèm châu, hiên ngọc”, “vườn ngự” có hoa thơm, chim biết nói, “nghìn cửa” lính gác nghiêm nhặt,…), trong đó có lời khái quát: “Cả trời Nam sang nhất là đây!”. – Khi được mời ăn cơm sáng, tác giả nhận xét: “Mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia”. – Đường vào nội cung của thế tử được tác giả cảm nhận: “Ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả”. Cảnh nội cung cũng được miêu tả chi tiết như củng cố thêm cho những nhận xét của tác giả khi vừa vào đến phủ. – Nói về bệnh trạng của thế tử, tác giả nhận xét: “Vì thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yêu đi”. Qua những chi tiết trên, có thể thấy mặc dù khen cái đẹp, cái sang nơi phủ chúa, song tác giả tỏ ra dửng dưng trước những quyến rũ vật chất nơi đây và không đồng tình với cuộc sống quá no đủ, tiện nghi nhưng thiếu khí trời và không khí tự do. 2. Phân tích những chi tiết trong đoạn trích mà anh (chị) cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm. Gợi ý trả lời Những chi tiết tuy nhỏ nhưng rất gây ấn tượng sau đây: Thế tử – một đứa bé – ngồi chễm chệ trên sập vàng để cho thầy thuốc – một cụ già – quỳ dưới đất lạy bốn lạy, rồi cười và ban một lời khen: “Ông này lạy khéo?”; khi đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch: “Đột nhiên, thấy ông ta mở một chỗ trong màn gấm rồi bước vào. Ở trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả. Đi qua độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy…”. Phòng ở của thế tử trong một khung cảnh vàng son nhưng tù hãm, thiếu sinh khí được tác giả miêu tả rất tỉ mỉ, khiến người đọc cũng cảm thấy ngột ngạt, khó thở. Tác giả chú ý cả đến chi tiết bên trong cái màn là, nơi Thánh thượng đang ngự “có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít. Đèn sáp chiếu sáng, làm nổi màu mặt phấn và màu áo đỏ. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”. Từ đó, có thể thấy con mắt quan sát tinh tế của tác giả. Việc ăn chơi hưởng lạc của nhà chúa tự nó phơi bày ra trước mắt người đọc, không cần thêm một lời bình luận nào. – Tác giả là một thầy thuốc giỏi, có kiến thức sâu rộng và già dặn kinh nghiệm. – Bên cạnh tài năng, ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ. – Hơn nữa, Lê Hữu Trác còn có những phẩm chất cao quý: khinh thường lợi danh, quyền quý, yêu thích tự do và nếp sống thanh đạm, gian dị nơi quê nhà. Mặc dù tận mắt chứng kiến sự quyến rũ của vật chất giàu sang (cảnh sống ở phú chúa lộng lẫy đến mức ông không thể tưởng tượng nổi – “Khác gì ngư phủ đào nguyên thuở nào”), và việc được hưởng thụ giàu sang đang nằm trong tầm tay, nhưng tác giả vẫn dửng dưng, không mảy may xúc động. Ý muốn “về núi” của Hải Thượng Lãn Ông là một sự đối nghịch gay gắt với quan điểm sống của gia đình chúa Trịnh và bọn quan quyền dưới trướng. Không bình luận nhiều, nhưng những thứ sơn son thếp vàng, võng điều áo đỏ, đèn đuốc lấp lánh, hương hoa ngào ngạt,… đặt bên cạnh cốt cách thanh đạm của một ông già áo vải “nơi quê mùa” tự nó đã phơi bày ra sự tương phản giữa trong và đục. Phân tích những nét đặc sắc đó. Gợi ý trả lời Từ những điểm vừa đề cập ở trên, các em chỉ ra những nét đặc sắc trong bút pháp kí sự của tác giả: quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, kể diễn biến sự việc khéo léo, lôi cuốn sự chú ý của người đọc, không bỏ sót những chi tiết nhỏ tạo nên cái thần của cảnh và việc. Có thể nói, tính chân thực của Thượng kinh kí sự, đặc biệt là đoạn trích. Vào phủ chúa Trịnh, có một giá trị hiện thực hết sức sâu sắc. Luyện tập So sánh đoạn trích. Vào phủ chúa Trịnh với một tác phẩm (hoặc đoạn trích) kí khác của văn học trung đại Việt Nam mà anh (chị) đã đọc và nêu nhận xét về nét đặc sắc của đoạn trích này. Gợi ý trả lời Các em có thể so sánh với đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh trong Vũ trung tuỳ bút (đã học ở lớp 9) của Phạm Đình Hổ – người cùng thời với Lê Hữu Trác như sau: Vào phủ chúa Trịnh (Lê Hữu Trác) Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (Phạm Đình Hổ) Giống nhau Giá trị hiện thực, thái độ của tác giả trước hiện thực của xã hội lúc bấy giờ. Khác nhau – Nhân việc được triệu về kinh chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán, Lê Hữu Trác đã ghi lại quang cảnh và cuộc sống trong phủ chúa. Tác giả đã vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa, quyền quý của chúa Trịnh, đồng thời cũng bộc lộ thái độ coi thường danh lợi. – Viết theo thể kí sự thể hiện cảm xúc, suy nghì của tác giả bộc lộ gián tiếp, sâu kín nhưng rất sắc sảo và tinh tế. – Kể lại những thú vui chơi của Trịnh Sâm: đi chơi ngắm cảnh đẹp, ngự ở các li cung, xây dựng núi non bộ, chậu hoa cây cảnh,… trong phủ chúa, vơ vét chiếm đoạt của cải, tiền bạc của nhân dân cùng với tệ nạn nhũng nhiễu của bọn hoạn quan một cách thô bạo, trắng trợn. – Viết theo thể tùy bút, nên nhà văn có thể bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ nhiều hơn, thậm chí có thể nói trực tiếp ra những suy của mình. Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Vào phủ Chúa Trịnh, để giúp các bạn học tốt Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Vào phủ Chúa Trịnh và bài văn mẫu phân tích Vào phủ Chúa Trịnh mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Vào phủ Chúa Trịnh
1,742
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 Để học tốt Ngữ văn lớp 11, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tậpNgữ văn lớp 11: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, với nội dung đã được cập nhật một cách chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh có kết quả cao hơn trong học tập. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc I. PHẦN MỘT: TÁC GIẢ 1. Nêu những nét chính về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu. Anh (chị) cảm nhận sâu sắc điều gì qua cuộc đời nhà thơ? Gợi ý trả lời Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, tục gọi là Đồ Chiểu, sinh tại quê mẹ – làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), xuất thân trong gia đình nhà nho, cha là Nguyễn Đình Huy quê ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông là lá cờ đầu của văn thơ yêu nước chống thực dân Pháp khi chúng mới bắt đầu xâm lược nước ta. Văn thơ ông hừng hực tinh thần yêu nước và khí thế chiến đấu chống Pháp và bè lũ tay sai, có ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân. Tác phẩm chính: Dương Từ Hà Mậu, Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Ngư tiều vấn đáp y thuật,… Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu là một trấm gương trong sáng, cao đẹp về nhân cách, nghị lực và ý chí, về lòng yêu nước, thương dân và thái độ kiên trung, bất khuất trước kẻ thù. Thơ văn ông là một bài ca đạo đức, nhân nghĩa, là tiếng nói yêu nước cất lên từ cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, là thành tựu nghệ thuật xuất sắc mang đậm sắc thái Nam Bộ. 2. Tìm hiểu giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: – Dựa vào những đoạn trích đã học về Truyện Lục Vân Tiên (ở lớp 9 và lớp 11), hãy cho biết lí tưởng đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu được xây dựng chủ yếu trên cơ sở tình cảm nào. – Nội dung trữ tình yêu nước trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu? Tác động tích cực của những sáng tác thơ văn ấy đối với cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp đương thời? – Theo anh (chị), sắc thái Nam Bộ độc đáo của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu biểu hiện ở những điểm nào? Gợi ý trả lời – Lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa: Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho, cho nên lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa của ông không thể không mang tinh thần Nho giáo. Nhưng ông cũng là một trí thức nhân dân, suốt đời sống ở nơi thôn xóm, giữa những người “dân ấp, dân lân” tâm hồn thuần hậu, chất phác. Họ cũng có cách hiểu dân dã của mình về nhân nghĩa: nhân là tình thương yêu con người, sẵn sàng cưu mang con người trong cơn hoạn nạn, nghĩa là những quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người trong xã hội, tình cha con, nghĩa vợ chồng, tình bạn bè, tinh thần hiệp nghĩa sẵng sàng cứu khốn phò nguy. Nguyễn Đình Chiểu thấm nhuần sâu sắc điều đó. Những nhân vật lí tưởng trong Truyện Lục Vân Tiên hầu hết là những người sinh trưởng nơi thôn ấp nghèo khó (những chàng nho sinh hàn vi như Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh, những ông Ngư, ong Tiều, ông Quán, chú Tiểu đồng, lão bà dệt vải.”), tâm hồn ngay thẳng, không màng danh, không tham phú quý, sẵn sàng ra tay cứu giúp người bị nạn. – Lòng yêu nước thương dân: Nguyễn Đình Chiểu sáng tác thơ văn yêu nước ở thời kì đầu chống thực dân Pháp của nhân dân ta. Đây là thời kì lịch sử mà cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gọi là “ khổ nhục nhưng vĩ đại” của dân tộc ta. Đất nước mất dần vào tay giặc, các phong trào chống Pháp lần lượt thất bại, người yêu nước thế hệ này nối tiếp thế hệ khác đã ngã xuống nơi chiến trường. Nhưng “súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”: thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sáng rõ chân lí đó. Ông khóc than cho Tổ quốc gặp buổi thương đau: “Khóc là khóc nước nhà cơn bấn loạn, hôm mai vắng chúa, thua buồn nhiều nỗi khúc nhôi, than là than bờ cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phường trẻ dại” (Văn tế Trương Định). Ông căm uất chửi thẳng vào mắt kẻ thù: “Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta, bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Ông hết lòng ca ngợi những sĩ phu như Trương Định, Phan Tòng đã một lòng vì nước, vì dân: “Viên đạn nghịch thần treo trước mặt – Lưỡi gươm định khái nắm trong tay” (Thơ điếu Phan Tòng). Ông dựng bức tượng đài bất tử về những người dân ấp dân lân: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Ngay cả lúc bờ cõi đã chia đất khác, Nguyễn Đình Chiểu vẫn nuôi giữ niềm tin vào ngày mai: “Một trận mưa nhuần rửa núi sông” (Xúc cảnh), vẫn kiên trì một thái độ bất khuất trước kẻ thù: “Sự đời thà khuất đôi tròng thị – Lòng đạo xin tròn một tấm gương” (Ngư Tiều y thuật vấn đáp). Với nội dung đó có thể nói thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã đáp ứng xuất sắc những yêu cầu của cuộc sống và chiến đấu đương thời, có tác dụng động viên, khích lệ không nhỏ tinh thần và ý chí cứu nước của nhân dân. 3*. Với những kiến thức đã học về Nguyễn Trãi và Nguyễn Đình Chiểu, anh (chị) cảm nhận được điều gì gần gũi về tư tưởng nhân nghĩa giữa hai nhà thơ này? Hãy trình bày ý kiến của mình. Gợi ý trả lời Nguyễn Trãi nhân nghĩa đã hướng tới người dân. Ông kêu gọi người cầm quyền nhân nghĩa với dân, thời chiến thì lấy nhân nghĩa để thắng quân giặc bạo ngược, thời bình thì đưa nhân nghĩa vào chính sự, xây dựng nền chính trị nhân chính, khoan thư sức dân. Đến Nguyễn Đình Chiểu, ông đặc biệt đề cao chữ nghĩa, biểu dương những truyền thống đạo đức tốt đẹp giữa con người với con người, quan tâm sâu sắc đến quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân, đặc biệt là cư dân vùng đất mới Nam Kì, vốn rất xem trọng mối liên hệ gắn kết giữa con người với con người trên cơ sở chữ nghĩa truyền thống. LUYỆN TẬP Căn cứ vào những kiến thức đã học về Nguyễn Đình Chiểu và các tác phẩm của ông, anh (chị) suy nghĩ như thế nào về nhận định của nhà thơ Xuân Diệu: “Cái ưu ái đối với người lao động, sự kính mến họ là một đặc điểm của tâm hồn Đồ Chiểu”? Gợi ý trả lời Có thể giải bài tập theo những gợi ý sau: a) Giải thích câu nói của nhà thơ Xuân Diệu. (Chú ý làm rõ “cái ưu ái”, “sự kính mến” đối với người lao động). b) Chứng minh nhận định đó qua cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu và những tác phẩm đã học (Truyện Lục Vân Tiên, Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc): – Những yếu tố nào trong cuộc đời đã góp phần hình thành nét đẹp tâm hồn đó ở Nguyễn Đình Chiểu? – Nhân vật người lao động đã chiếm lĩnh tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu như thế nào? (Họ là những ai trong Truyện Lục Vân Tiên và thơ văn yêu nước? Nguyễn Đình Chiểu đã đề cao những phẩm chất nhân cách gì của họ? Họ đã có những đóng góp tích cực cho cuộc đời như thế nào?) – Lập trường nhân dân, tấm lòng yêu thương, cảm thông, chăm lo đến quyền lợi nhân dân đã chi phối nguồn cảm xúc của Nguyễn Đình Chiểu như thế nào? (Chú ý phân tích Lẽ ghét thương, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). – Cái nhìn mới mẻ của Nguyễn Đình Chiểu về người nông dân – nghĩa sĩ biểu hiện qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc? c) Kết luận: Đánh giá chung về sức sống lâu bền của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu 2. PHẦN HAI: TÁC PHẨM 1. Đọc Tiểu dẫn, nắm những nét cơ bản về thể văn tế. Tìm bố cục của bài văn tế này. Gợi ý trả lời Vận dụng những hiểu biết về thể văn tế đã nói ở trên để tìm bố cục của bài này và ý nghĩa từng đoạn. Đoạn 1 – Lung khởi (câu l, 2): khái quát bối cảnh bão táp của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân – nghĩa sĩ. Đoạn 2 – Thích thực (từ câu 3 đến câu 15): tái hiện chân thực hình ảnh người nông dân – nghĩa sĩ, từ cuộc đời lao động vất vả, tủi cực đến giây phút vươn mình trở thành dũng sĩ, đánh giặc và lập chiến công. Đoạn 3 – Ai vãn (từ câu 16 đến câu 28): bày tỏ lòng tiếc thương, sự cảm phục của tác giả và của nhân dân đối với người nghĩa sĩ. Đoạn 4 – Kết (hai câu cuối): ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ. 2. Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ được tái hiện trong bài văn tế như thế nào? (Chú ý phân tích qua cả quá trình: hình ảnh họ trong cuộc sống bình thường, những biến chuyển khi quân giặc xâm phạm tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo vẻ đẹp hào hùng của đội quân áo vải trong trận nghĩa đánh Tây). Theo anh (chị), đoạn văn miêu tả này đạt giá trị nghệ thuật cao ở những điểm nào (về nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật ngôn ngữ, bút pháp trữ tình,…)? Gợi ý trả lời Đoạn 1 Có hai ý lớn: khung cảnh bão táp của thời đại, phản ánh biến cố chính trị lớn lao chi phối toàn bộ thời cuộc là sự đụng độ giữa thế lực xâm lăng tàn bạo của thực dân Pháp và ý chí kiên cường bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta (chú ý những từ chỉ các yếu tố không gian to lớn như đất, tròn và những động từ gợi sự khuếch tán âm thanh và ánh sáng như rền, tỏ); ý nghĩa bất tử của cái chết vì nghĩa lớn. Tất cả hợp thành một bệ đỡ hoành tráng cho bức tượng đài sẽ được dựng ở đoạn sau thành một chỉnh thể có tầm vóc to lớn, bài văn tế trở nên đậm chất sử thi. Đoạn 2 + Tái hiện hình ảnh người nông dân trước “trận nghĩa đánh Tây”. Các em đọc để tìm hiểu và phân tích các chi tiết diễn tả cái nhìn chân thực và chan chứa niềm cảm thông đối với cuộc đời lam lũ, tủi cực của người nông dân (câu 3, chú ý từ ngữ gợi cảm cui cút) và dụng ý nghệ thuật của tác giả khi nhấn mạnh vào đặc điểm họ hoàn toàn xa lạ với công việc binh đao (câu 4, 5), nhằm tạo sự đối lập để tôn cao tầm vóc người anh hùng ở đoạn sau. + Vẻ đẹp hào hùng của đội quân áo vải trong “trận nghĩa đánh Tây” (từ câu 10 đến câu 15). Có hai ý các em cần khai thác: * Hình ảnh của đội quân áo vải được khắc hoạ hoàn toàn bằng bút pháp hiện thực, không theo tính ước lệ của văn thơ trung đại, không bị chi phối bởi kiểu sáng tác lí tưởng hoá (các em dẫn chứng từ các câu 10, 11, 12). Đáng chú ý là những chi tiết chân thực đều được chọn lọc tinh tế, nên đậm đặc chất sống, mang tính khái quát, đặc trưng cao (ví dụ: manh áo vải, ngọn tầm bông, rơm con cúi, lưỡi dao phay gắn bó đến không thể tách rời trong cuộc sống những người nông dân thuở ấy). Do thế, bức tượng đài ánh lên một vẻ đẹp mộc mạc, giản dị mà không kém “chất” anh hùng bởi tấm lòng mến nghĩa, bởi tư thế hiên ngang, coi thường mọi khó khăn, thiếu thốn: nào đợi tập rèn, không chờ bày bố, nào đợi mang…, chi nài sắm… (Có thể so sánh với vẻ phi thường của người anh hùng Từ Hải trong Truyện Kiều: “Râu hùm, hàm én, mày ngài – Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao” và hình ảnh rạng ngời oai phong của Lục Vân Tiên khi cầm quân đánh giặc ngoại xâm: “Vân Tiên đầu đội kim khôi – Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô”). * Hình tượng những người anh hùng được khắc nổi trên nền một trận công đồn đầy khí thế tiến công. Các em đọc lại những câu 13, 14, 15, tìm những chi tiết miêu tả trận đánh, nhận xét về những biện pháp nghệ thuật: Hệ thống từ ngữ: dùng rất nhiều từ chỉ hành động mạnh (đánh, đốt, chém, đạp, xô, hè, ó,…), dứt khoát (đốt xong, chém đặng, trối kệ), nhiều khẩu ngữ nông thôn và từ ngữ mang tính địa phương Nam Bộ (nhà dạy đạo, như chẳng có, thằng Tây, hè, ó, trối kệ,…). Phép đối: đối từ ngữ (trống kì / trống giục, lướt tới / xông Uào; đạn nhỏ / đạn to; đâm ngang / chém ngược; hè trước / ó sau,…); đối ý (ta: manh áo vải, ngọn tầm Uông/địch: đạn nhỏ, đạn to, tàu sắt, tàu đồng; vũ khí thô sơ; rơm con cúi, lưởi dao phay / chiến thắng lớn: đốt xong nhà dạy đạo, chém rớt đầu quan hai; đối thanh bằng – trắc (kia/ nọ, kì/giục, tới/Uào, nhỏ / to, ngang / ngược, trutóc / sau,…). Hiệu quả nghệ thuật: tạo nhịp điệu đoạn văn nhanh, mạnh, dứt khoát, sôi nổi góp phần tái hiện một trận công đồn của nghĩa quân Cần Giuộc rất khẩn trương, quyết liệt, sôi động và đầy hào hứng. Trên cái nền trận đánh đó là hình ảnh những người nông dân nghĩa sĩ coi giặc cũng như không, liều mình như chẳng có, trối kệ tàu sắt, tàu đồng súng nổ, nào sợ… đạn nhỏ đạn to… Khí thế của họ là khí thế đạp lên đầu thù xốc tới, không quản ngại bất kì sự gian khổ, hi sinh nào, rất tự tin và đầy ý chí quyết thắng. Hình ảnh đó oai phong, lẫm liệt như hình tượng các dũng sĩ trong những thiên anh hùng ca thuở xưa, nhưng lại gần gũi, sống động, tưởng như họ vừa “Rũ bùn đứng dậy sáng loà” (Nguyễn Đình Thi). Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là tiếng khóc bi tráng cho một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tượng đài bất tử về những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì Tổ quốc. Bài văn cũng là một thành tựu xuất sắc về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực; ngôn ngữ bình dị, trong sáng, sinh động. 3. Tiếng khóc bi tráng của tác giả xuất phát từ nhiều nguồn cảm xúc. Theo anh (chị), đó là những cảm xúc gì? Vì sao tiếng khóc đau thương này lại không hề bi luỵ? Gợi ý trả lời Đoạn Ai vãn của bài văn tế. Ở đoạn này, các tình cảm đan cài vào nhau, nên chọn phương pháp khai thác theo hình tượng. Đây là đoạn văn bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc của tác giả và của nhân dân đương thời đối với người nghĩa sĩ, cho nên tính trữ tình bao trùm, nhưng xen kẽ vào đó vẫn có những yếu tố hiện thực, có giá trị làm tăng độ sâu nặng của cảm xúc. Trước hết, các em cần đọc và tìm hiểu những nguồn cảm xúc cộng hưởng trong tiếng khóc thương của tác giả, các em cần tìm và phân tích qua những chi tiết nghệ thuật của đoạn văn: – Niềm cảm phục và tự hào đối với những người dân thường đã dám đứng lên bảo vệ từng “tấc đất ngọn rau”, “bát cơm manh áo” của mình chống lại kẻ thù hung hãn (câu 19, 20), đã lấy cái chết để làm rạng ngời một chân lí cao đẹp của thời đại: thà chết vinh còn hơn sống nhục (câu 22, 23). – Biểu dương công trạng của người nông dân – nghĩa sĩ, đời đời được nhân dân ngưỡng mộ, Tổ quốc ghi công (câu 26, 28). Sau khi đã phân tích qua cả đoạn văn, các em nên chốt lại: Tiếng khóc không chỉ thể hiện tình cảm riêng tư mà tác giả đã thay mặt nhân dân cả nước khóc thương và biểu dương công trạng người nghĩa sĩ. Tiếng khóc không chỉ hướng về cái chết mà còn hướng về cuộc sống đau thương, khổ nhục của cả dân tộc trước làn sóng xâm lăng của thực dân. Nó không chỉ gợi nỗi đau thương mà cao hơn nữa, còn khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí tiếp nối sự nghiệp dang dở của những người nghĩa sĩ. Các em có thể tìm hiểu thêm đoạn Ai vãn trong Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (của Nguyễn Đình Chiểu, ra đời khi cả Nam Kì đã mất vào tay giặc) để thấy tiếng khóc trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc tuy rất bi thiết, nhưng không đượm màu tang tóc, thê lương kéo dài như bài kia chính là nhờ nó còn bao hàm nhiều nguồn cảm xúc khác (đặc biệt là niềm cảm phục tự hào) và sự khẳng định của tác giả về ý nghĩa bất tử của cái chết vì nước, vì dân mà muôn đời con cháu tôn thờ (câu 26, 28,30). Chi tiết không thể bỏ sót là khi viết Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu còn đang được tiếp sức bởi khí thế ngút trời của phong trào chống xâm lược những ngày đầu, khi nhân dân đang nhất tề nổi dậy khắp nơi. 4. Sức gợi cảm mạnh mẽ của bài văn tế chủ yếu là do những yếu tố nào? Hãy phân tích một số câu tiêu biểu. Gợi ý trả lời Câu hỏi có tính chất tổng kết về mặt nghệ thuật: – Những yếu tố làm nên sức gợi cảm mạnh mẽ của bài văn tế: cảm xúc chân thành, sâu nặng, mãnh liệt (câu 3, 25), giọng văn bi tráng, thống thiết (câu 22, 23, 24), hình ảnh sống động (câu 13, 14, 15). – Nghệ thuật ngôn ngữ: giản dị, dân dã nhưng được chọn lọc tinh tế, có sức biểu cảm lớn và giá trị thẩm mĩ cao (cui cút; tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo; chia rượu lạt, gặm bánh mì, mẹ già ngồi khóc trẻ, vợ yếu chạy tìm chồng,…), nhiều biện pháp tu từ được sử dụng thành công (câu 14, 15). – Giọng điệu thay đổi theo dòng cảm xúc: đoạn 2 sôi nổi, hào hứng như reo vui cùng chiến thắng của nghĩa quân, đoạn 3 chuyển sang trầm lắng, thống thiết, có lúc như nức nở, xót xa (câu 24, 25), có lúc như tiếng kêu thương ai oán (câu 27); đoạn 4 trang nghiêm như một lời khấn nguyện thiêng liêng. LUYỆN TẬP 1. Đọc diễn cảm bài văn tế. 2. Nói về quan niệm sống của ông cha ta thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, Giáo sư Trần Văn Giàu đã viết: “Cái sống được cha ông ta quan niệm là không thể tách rời với hai chữ nhục, vinh. Mà nhục hay vinh là sự đánh giá theo thái độ chính trị đối với cuộc xâm lược của Tây: đánh Tây là vinh, theo Tây là nhục. Anh (chị) hãy viết một đoạn văn phân tích những câu trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thể hiện đầy đủ, sâu sắc triết lí nhân sinh đó. Gợi ý trả lời Bài tập này yêu cầu: Hiểu nhận định của Giáo sư Trần Văn Giàu, biết vận dụng để tìm và phân tích những câu văn hay, thể hiện đầy đủ triết lí nhân sinh đó trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. a) Giải thích nhận định của Giáo sư Trần Văn Giàu. (Lưu ý: bối cảnh lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp những năm cuối thế kỉ XIX; mối tương quan giữa sự sống – chết của cá nhân với lẽ nhục – vinh; quan niệm về lẽ nhục – vinh ở thời đại đó). b) Tìm và phân tích những câu mà anh (chị) cho là hay và thể hiện đầy đủ, sâu sắc quan niệm sống đó. ———————————— Trên đây, đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, điển cố, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, điển cố mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
3,664
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, với nội dung chi tiết đã được cập nhật để phục vụ công việc học tập của các bạn học sinh được tốt hơn. Mời các bạn học sinh tham khảo để học tốt hơn Ngữ văn 11. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài Gợi ý trả lời câu hỏi 1. Đây là câu hỏi khó, mang tính chất khái quát về kịch Vũ Như Tô nói chung và đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài nói riêng. GV cần hướng dẫn, gợi mở cho HS trả lời câu hỏi này. – Mâu thuẫn thứ nhất: Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than với bọn hôn quân bạo chúa và phe cánh của chúng sống xa hoa, truỵ lạc. Mâu thuẫn này vốn có từ trước, đến khi Lê Tương Dực bắt Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài, thì mâu thuẫn này càng ngày càng căng thẳng. Để xây dựng Cửu Trùng Đài triều đình ra lệnh tăng thêm sưu thuế, bắt thêm thợ giỏi, tróc mã, hành hạ những người chống đối. Thợ phải làm việc cật lực mà vẫn đói khát vì bị ăn chặn. Dân căm phẫn vua làm cho dân cùng, nước kiệt: thợ oán Vũ Như Tô vì nhiều người chết bởi tai nạn, vì ông cho chém những kẻ chạy trốn. Trịnh Duy Sản can ngăn Lê Tương Dục, báo sẽ có loạn và đòi đuổi bọn cung nữ, giết Vũ Như Tô. Nhưng Lê Tương Dực chẳng những không nghe mà còn sai đánh đòn Trịnh Duy Sản (hồi III). Thế rồi, tin lụt lội, mất mùa, tin “dân gian đói kém nổi lên tứ tung” truyền đến Thăng Long. Vũ Như Tô bị đá đè bị thương vẫn hăng hái đốc thợ xây Cửu Trùng Đài. Thợ đinh nổi loạn. Lợi dụng tình hình rối ren và mâu thuẫn ấy, Trinh Duy Sản – kẻ cầm đầu phe cánh đối nghịch trong triều đình – đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ thuyền làm phản, giết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm và thiêu huỷ Cửu Trùng Đài (hồi IV và hồi V). Như vậy, mâu thuẫn này đến hồi V đã trở thành cao trào, lên tới đỉnh điểm ở hồi cuối cùng và được giải quyết: Hôn quân Lê Tương Dực bị Trịnh Duy Sản giết, Nguyễn Vũ tự sát, Kim Phượng và đám cung nữ bị những kẻ nổi loạn nhục mạ, bắt bớ. – Mâu thuẫn thứ hai: Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần tuý của muôn đời và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân. Mâu thuẫn này có nguồn gốc từ nguyên nhân sâu xa: Người nghệ sĩ thiên tài đầy hoài bão và tâm huyết cũng không thể thi thố tài nàng của mình để đem lại cái đẹp cho đời, niềm tự hào cho dân tộc trong một chế độ xã hội thối nát, trong một đất nước mà nhân dân còn phải sống triền miên trong đói khổ, lầm than. Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài có khả năng “tranh tinh xảo với hoá công” để xây dựng cho đất nước một toà lâu đài vĩ dại, để cho “dân ta nghìn thu còn hãnh diện”. Nhưng hoàn cảnh của đất nước không tạo điều kiện cho Vũ Như Tô thực hiện khát vọng sáng tạo vĩ đại, chân chính đó. Không có cách lựa chọn nào khác, Vũ Như Tô đã nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm – một cung nữ “đồng bệnh” với ông – đành phải mượn uy quyền và tiền bạc của tên hôn quân Lê Dương Dực, để thực hiện hoài bão lớn lao của mình xây dựng cho đất nước một công trình nguy nga, vĩ đại. Trớ trêu thay, chính niềm khao khát được cống hiến, được sáng tạo chân thành ấy đã đẩy Vũ Như Tô vào tình trạng đối nghịch với lợi ích trực tiếp và thiết thực của nhân dân. Mặc dù vốn yêu nhân dân, muốn cống hiến tài năng của mình để đem lại niềm tự hào và vinh quang cho đất nước, nhưng Vũ Như Tô lại bị nhân dân, nhất là những người thợ, coi ông như kẻ thù của họ. Muốn thực hiện lí tưởng nghệ thuật thì lại rơi vào tình trạng đi ngược lại quyền lợi trực tiếp của nhân dân, nếu xuất phát từ lợi ích thiết thực của nhân dân thì không thể thực hiện mơ ước nghệ thuật muôn đời của mình, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tấn bi kịch không lối thoát của thiên tài Vũ Như Tô. Hai mâu thuẫn nói trên của vở kịch có quan hệ mật thiết và tác động lẫn nhau. – Tính cách và diễn biến tâm trang của Vũ Như Tô + Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, là hiện thân cho niềm khát khao, say mê sáng tạo “cái đẹp”. Thiên tài của Vũ Như Tô chủ yếu được thể hiện ở những hồi trước của vở kịch, chủ yếu là qua lời của các nhân vật khác nói về ông. Vũ Như Tô là một thiên tài “ngàn năm chưa dễ có một”, “chỉ vẩy bút là chim, hoa đã hiện lên trên mảnh lụa thân tình biến hoá như cảnh hoá công”, có thể “sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây dựng lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ”. + Vũ Như Tô là một nghệ sĩ có nhân cách lớn, có hoài bão lớn, có lí tưởng nghệ thuật cao cả. Là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân, cho nên mặc dù bị Lê Tương Đực doạ giết, Vũ Như Tô vẫn ngang nhiên chửi mắng tên hôn quân và kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài (hồi I). Ông cũng không phải là người hám lợi (khi được vua ban thưởng vàng bạc, lụa là, ông đã đem chia hết cho thợ). Lí tưởng nghệ thuật của Vũ Như Tô chân chính, nhưng là lí tưởng nghệ thuật cao siêu, thuần tuý của muôn đời, thoát li khỏi hoàn cảnh lịch sử – xã hội của đất nước, xa rời đời sống hiện thời của nhân dân lao động. Vì quá say sưa với mơ ước xây dựng cho đất nước một toà lâu đài vĩ lại “bền như tràng sao” để cho “dán ta nghìn thu còn hãnh diện” mà Vũ Như Tô đã không nhận ra một thực tế tàn nhẫn: Cửu Trùng Đài xây bằng mồ hôi, nước mắt và xương máu của nhân dân! Hồi V của vở kịch không nói nhiều đến tài năng của Vũ Như Tô mà tập trung làm nổi bật tâm trạng bi kịch đầy căng thẳng của ông khi phải tìm kiếm câu trả lời. Xây Cửu Trùng Đài là đúng hay sai? Là có công hay có tội? Nhưng Vũ Như Tô đã không trả lời thoả đáng câu hỏi đó. Khát vọng nghệ thuật, niềm đam mê sáng tạo của ông có phần chính đáng vì xuất phát từ thiên chức của người nghệ sĩ, từ động cơ chân chính muốn khẳng định tài năng của mình, muốn tô điểm cho đất nước và làm đẹp cho đời, nhưng đã đặt lầm chỗ, lầm thời, xa rời thực tế nên dân phải trả giá bằng sinh mệnh của bản thân và của cả công trình nghệ thuật. + Vũ Như Tô đúng là một nhân vật bi kịch bởi đã mang trong mình không chỉ những say mê khát vọng lớn lao mà còn cả những lầm lạc trong suy nghĩ và hành động. Ông không nghĩ việc mình xây Cửu Trùng Đài cho đất nước lại bi xem là tội ác. Đến khi cuộc nổi loạn đã nổ ra, Đan Thiềm hốt hoảng báo cho Vũ Như Tô nguy cơ nếu không trốn thì ông sẽ bị giết, nhưng ông vẫn không chịu đi vì vẫn tin vào động cơ và việc làm “chính đại quang minh” của mình, vẫn hi vọng sẽ thuyết phục được An Hoà Hầu, một trong những kẻ cầm đầu phe nổi loạn. Song sự thực thật tàn nhẫn, mọi việc không diễn ra như ảo tưởng của Vũ Như Tô. Khi ông và Đan Thiềm bị bắt, Cửu Trùng Đài bị đập phá, thiêu huỷ thì ông mới bừng tỉnh, xiết bao đau đớn, kinh hoàng ngửa mặt lên trời mà kêu lên: “Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!”. Trong tiếng kêu ấy, mộng lớn, Đan Thiềm, Cửu Trùng Đài dồn dập vang lên, hoà nhập vào nhau thành nổi đau bi tráng. Đó chính là âm hưởng chủ đạo của đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài. – Tính cách và diễn biến tâm trạng của Đan Thiềm Nếu Vũ Như Tô là người nghệ sĩ đam mê sáng tạo cái đẹp thì Đan Thiềm là người đam mê cái tài, ở đây là tài sáng tạo ra cái đẹp. “Bệnh Đan Thiềm”, theo quan niệm của Nguyễn Huy Tưởng, chính là “bệnh” mê đắm tài hoa siêu việt của người sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo ra cái đẹp. Vì có tấm lòng liên tài nên lúc Vũ Như Tô mới bị bắt, ông nhờ Đan Thiềm “mách đường chạy trốn”, nàng đã khuyên ông ở lại, thuyết phục ông nhân cơ hội này, mượn uy quyền và tiền bạc của Lê Tương Dực để thực hiện dược hoài bão xây dựng cho đất nước một công trình nghệ thuật đồ sộ, Vĩnh cửu. Vì đam mê tài năng mà nàng luôn khích lệ Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài, sẵn sàng quên mình để bảo vệ cái tài ấy. Với nét tính cách ấy, Đan Thiềm xứng đáng là tri âm, tri kỉ của Vũ Như Tô. Nhưng nếu Vũ Như Tô đam mê sáng tạo đến mức không hề chú ý, không hề biết đến hoàn cảnh vây quanh mình, thì Đan Thiềm lại luôn tỉnh táo, sáng suốt trong mọi trường hợp. Biết chắc ước vọng xây đài lớn không thành, tâm trí nàng giờ đây chỉ còn tập trung vào việc bảo vệ an toàn tính mệnh cho Vũ Như Tô. Đan Thiềm khẩn khoản khuyên Vũ Như Tô đi trốn, năm lần bảy lượt thúc giục ông “trốn đi”, “lánh đi”, “chạy đi”, chắp tay lạy, van xin: “ông nghe tôi! Ông phải trốn đi mới được!” Nhưng không sao làm cho ông tỉnh ngộ; Vũ Như Tô vẫn bướng bỉnh chống lại số phận. Đến khi quân nổi loạn kéo vào, gươm giáo sáng loè, biết Vũ Như Tô “có trốn cũng không được nữa” thì nàng đã khóc. Nàng nói với Ngô Hạch, sẵn sàng đổi mạng sống của mình để cứu Vũ Như Tô: “Tướng quân nghe tôi. Bao nhiêu tội tôi xin chịu hết. Nhưng xin tướng quân tha cho ông Cả. Ông ấy là một người tài.” Biết không sao cứu nổi Vũ Như Tô, Đan Thiềm đau đớn buông lời vĩnh biệt: “Ông Cả! Đài lớn tan tành! Ông Cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt!”. Như vậy, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài đã làm sâu sắc hơn tính cách bi kịch của mỗi nhân vật, đồng thời cũng góp phần làm nổi bật chủ đề của tác phẩm. – Mâu thuẫn giữa nhân dân khốn khổ lầm than và bọn hôn quân bạo chúa cùng với phe cánh của chúng sống xa hoa trụy lạc đã được tác giả giải quyết dứt khoát theo quan điểm của nhân dân. Bạo chúa Lê Tương Dực bị giết, Nguyễn Vũ – đại thần của y – tự sát, đám cung nữ bị những kẻ nổi loạn nhục mạ, bắt bớ. – Mâu thuẫn thứ hai: Mâu thuẫn giữa quan điểm nghệ thuật cao siêu, thuần tuý của muôn đời và lợi ích thiết thực của quần chúng nhân dân chưa được tác giả giải quyết dứt khoát. Điều đó được thể hiện ở chỗ Vũ Như Tô cho đến lúc chết vẫn không nhận ra sai lầm của mình, vẫn đinh ninh là mình vô tội. Vũ Như Tô không đứng về phía hôn quân Lê Tương Dực nhưng lại muốn mượn uy quyền, tiền bạc của hắn để thực hiện hoài bão nghệ thuật của mình, trong thực tế, đã vô tình gây thêm nỗi khốn khổ cho nhân dân. Vũ Như Tô có tội hay là có công? “Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải?” Đó là những câu hỏi đầy day dứt mà chính tác giả cũng không thể giải quyết một cách rạch ròi, dứt khoát. Tác giả đã trực tiếp bày tỏ nỗi băn khoăn của mình qua lời đề từ: “Đài Cửu Trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc?”, “Than ôi! Như Tô phải hay những kế giết Như Tô phải? Ta không biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”. Cách nêu vấn đề của tác giả như vậy là hợp lí. Bởi lẽ, chân lí chỉ thuộc về Vũ Như Tô một nửa, còn nửa kia lại thuộc về quần chúng nhân dân. 4. Sau đây là gợi ý những nét đặc sắc về nghệ thuật của vở kịch được thể hiện qua đoạn trích còn dẫn chứng các em tự trích. – Mâu thuẫn kịch tập trung dẫn đến cao trào, phát triển thành đỉnh điểm với nhiều hành động kịch dồn dập đầy kịch tính. – Ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao. – Xây dựng nhân vật kịch sắc nét, khắc họa rõ tính cách, miêu tả đúng tâm trạng qua ngôn ngữ và hành động đặc biệt là hai nhân vật Vũ Như Tô và Đan Thiềm. – Chín lớp kịch trong hồi V được chuyển một cách linh hoạt, tự nhiên, lôgíc, liên mạch tạo nên sự hấp dẫn và lôi cuốn người đọc. LUYỆN TẬP Đây là phần cuối của lời đề tựa vở kịch Vũ Như Tô do chính Nguyễn Huy Tưởng viết ngày 6 tháng 2 năm 1942, sau khoảng một năm viết xong tác phẩm. Tựa là thành phần nằm ngoài văn bản của một tác phẩm, được viết ở đầu sách hoặc sau tiêu đề của mỗi chương trong cuốn sách nhằm hướng người đọc vào ý đồ nghệ thuật của tác giả hoặc tư tưởng của tác phẩm. Qua lời đề tựa trên, Nguyễn Huy Tưởng đã chân thành bộc lộ nỗi băn khoăn của mình: Lẽ phải thuộc về Vũ Như Tô hay những kẻ giết Vũ Như Tô? Và ông thú nhận “ta chẳng biết” tức là không thể đưa ra một lời giải đáp thoả đáng. Qua vở kịch, có thể thấy chân lí không hoàn toàn thuộc về phía nào: việc mất Cửu Trùng Đài vừa nên mừng, vừa nên tiếc. Đồng thời, nhà văn khẳng định: “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”, tức là vì cảm phục “tài trời”, nhạy cảm với bi kịch của những tài năng siêu việt.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài
2,595
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Xin lập khoa luật Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 xin giới thiệu tới bạn đọc bộ tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Xin lập khoa luật, với nội dung tài liệu đã được VnDoc cập nhật chi tiết sẽ là nguồn thông tin hữu ích dành cho các bạn học sinh tham khảo để học tốt môn Ngữ văn 11. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Xin lập khoa luật Hướng dẫn học bài 1. Tác giả Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871) người làng Bùi Chu, xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông thông thạo cả Hán học và Tây học nên có tri thức rộng rãi, tầm nhìn xa rộng hơn nhiều trí thức nho sĩ đương thời. Ông đã viết nhiều bản điều trần gởi lên triều đình nhà Nguyễn đề nghị thực thi các biện pháp cụ thể nhằm đổi mới và phát triển đất nước, để có thực lực đối phó với họa xâm lăng đến từ phương Tây. Những bản điều trần này không chỉ thể hiện kiến thức sâu sắc, uyên bác, mới mẻ về tình hình Việt Nam và thế giới khi ấy mà còn thấm đượm tinh thần yêu nước của tác giả, được viết bằng một văn phong rõ ràng, chặt chẽ. Hiện nay, giới nghiên cứu đã sưu tầm gần 60 bản di thảo của Nguyễn Trường Tộ. Trước cảnh nước ta mất dần vào tay thực dân Pháp, ông càng đau lòng, nên đã dồn tất cả sức lực và trí tuệ của mình vào việc cách tân đất nước bằng những bản điều trần đầy tâm huyết. Tiếc rằng, vua Tự Đức bấy giờ không tiếp nhận. Gần sáu mươi bản điều trần của ông đành bị xếp lại. Tuy vậy, tư tưởng đổi mới đất nước của ông vẫn là điều đáng ghi nhận, trân trọng và những bản điều trần ông đã viết ra vẫn có một giá trị lịch sử đối với hậu thế. a) Xuất xứ Bài Xin lập khoa luật được trích từ bản Điều trần số 27: Tế cấp bát điều (Tám việc cần làm gấp) do Nguyễn Trường Tộ viết ngày 20 tháng 10 năm Tự Đức thứ hai mươi (1867). Tám việc cần làm gấp của bản Điều trần gồm: Xin gấp rút sửa đổi việc võ trị Xin hợp tỉnh, huyện để giảm bớt số quan lại và khóa sinh Xin gây tài chính bằng cách đánh thuế xa xỉ Xin sửa đổi học thuật, chú trọng thực dụng Xin điều chỉnh thuế ruộng đất Xin sửa sang lại biên giới Xin nắm rõ nhân số Xin lập viện Dục anh và trại Tế bần Trong điều 4, tác giả đề nghị mở bốn khoa sau đây để dạy cho người Việt: 1. Khoa nông chính 2. Khoa thiên văn và địa lí 3. Khoa kĩ nghệ 4. Khoa luật học (đây là văn bản đọc thêm Xin lập khoa luật) b) Những nội dung cần chú ý Bản điều trần Xin lập khoa luật của Nguyễn Trường Tộ mang một nội dung tư tưởng tiến bộ: thấy được vai trò của luật là rất quan trọng “bất luận quan hay dân đều phải học”; luật là đức trời – đạo đức lớn nhất, đại diện cho lẽ công bằng, vì vậy cần lập khoa luật để dạy cho người Việt. (Cần hiểu đức trời ở đây cũng chính là đức của con người). Bản điều trần đã nói rõ tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ nhằm đổi mới đất nước. Đặt trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, khi chế độ phong kiến nước ta còn bảo thủ, trì trệ, thì tư tưởng canh tân của ông càng đáng ghi nhận, trân trọng. Nội dung bản điều trần gồm 8 ý lớn: – Đoạn 2: Tác giả phê phán Nho giáo chỉ nói suông trên giấy, không làm cũng chẳng bị ai phạt, có làm cũng chẳng được ai thưởng, học nhiều mà mấy ai đổi được tâm tính sửa được lỗi lầm? – Đoạn 3: Vai trò quan trọng của luật đối với con người và xã hội. c) Nghệ thuật điều trần của Nguyễn Trường Tộ Lập luận rõ ràng, chặt chẽ, triển khai các luận điểm lôgic, hợp lí, vận dụng đúng chỗ nhiều lời Khổng Tử, bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ đã có tác dụng, thuyết phục đến người nghe. ————————- đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Xin lập khoa luật, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Xin lập khoa luật mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Xin lập khoa luật
798
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Ôn tập phần Văn học Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Ôn tập phần Văn học, tài liệu sẽ là nguồn thông tin hữu ích dành cho các bạn học sinh ôn tập phần văn học hiệu quả hơn để học tốt Ngữ văn 11. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Ôn tập phần Văn học Gợi ý trả lời câu hỏi 1. Phát triển trong hoàn cảnh của một nước thuộc địa, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều chịu sự tác động mạnh mẽ sâu sắc của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 chia làm hai bộ phận: Văn học công khai và văn học không công khai. – Do khác nhau về quan điểm nghệ thuật và khuynh hướng thẩm mĩ nên bộ phận văn học công khai lại phân hoá thành nhiều xu hướng, trong đó có hai xu hướng chính nổi lên là văn học lãng mạn và văn học hiện thực. – Bộ phận văn học không công khai có thơ văn cách mạng, tiêu biểu nhất là thơ văn sáng tác trong tù. 2. Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng tám năm 1945 trong sách này, cần phân biệt tiểu thuyết hiện đại với tiểu thuyết trung đại, để ôn tập. 4. Các em nên xem lại những bài học có nêu trong câu hỏi những bài viết về các truyện ngắn trong sách này để hướng dẫn cho HS 5. Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một cuốn tiểu thuyết hiện thực trào phúng, dùng hình thức giễu nhại để lật tẩy tính chất giả dối, bịp bợm, chỉ biết chạy theo đồng tiền và lối sống ăn chơi đồi bại của xã hội trưởng giả những năm trước 1945. Đối tượng trào phúng ở chương Hạnh phúc của một tang gia là cái xã hội thượng lưu trí thức ấy, tự bản thân nó chứa đầy mâu thuẫn trào phúng. Nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích này được thể hiện ở những phương diện sau: phát hiện mâu thuẫn và tạo dựng được tình huống trào phúng độc đáo (“hạnh phúc” chung của tang gia và “hạnh phúc” riêng của từng người), nghệ thuật miêu tả đám tang, ngôn ngữ mang giọng mỉa mai, giễu nhại và những cách chơi chữ, so sánh bất ngờ, độc đáo,…
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Ôn tập phần Văn học
448
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Ôn tập văn học trung đại Việt Nam Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 11 mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Ôn tập văn học trung đại Việt Nam, với nội dung câu hỏi bài tập và kèm theo gợi ý trả lời câu hỏi sẽ giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 11. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Ôn tập văn học trung đại Việt Nam Gợi ý trả lời câu hỏi Nội dung 1. Bên cạnh những nội dung yêu nước đã có trong các giai đoạn văn học trước, ở hai giai đoạn văn học này (từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX và nửa cuối thế kỉ XIX) xuất hiện những nội dung mới: ý thức về vai trò của hiền tài đối với đất nước (Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm), tư tưởng canh tân đất nước (Xin lập khoa luật của Nguyễn Trường Tộ),… Chủ nghĩa yêu nước trong văn học nửa cuối thế kỉ XIX mang âm hưởng bi tráng qua các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu. 2. Có thể nói chủ nghĩa nhân đạo trong văn học giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX xuất hiện thành trào lưu bởi lẽ: những tác phẩm mang nội dung nhân đạo xuất hiện nhiều, xuất hiện liên tiếp với nhiều tác phẩm có giá trị lớn như: Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, thơ Hồ Xuân Hương,… Những nội dung nhân đạo chủ yếu trong văn học giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX: thương cảm trước bi kịch và đồng cảm với khát vọng của con người; khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm; lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên con người; đề cao truyền thống đạo lí, nhân nghĩa của dân tộc,… Cảm hứng nhân đạo trong văn học giai đoạn này có những biểu hiện mới so với giai đoạn trước: hướng vào quyền sống của con người, nhất là con người trần thế (Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương); ý thức về cá nhân đậm nét hơn (quyền sống cá nhân, hạnh phúc cá nhân, tài năng cá nhân,… qua Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du, Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương, Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ). – Trịnh phủ là nơi thâm nghiêm, đầy uy quyền. Uy quyền nơi phủ chúa thể hiện ở những tiếng quát tháo, truyền lệnh, những tiếng dạ ran, ở những con người oai vệ và những con người khúm núm, sợ sệt. Phủ chúa là một thế giới riêng biệt. Người vào phải qua rất nhiều cửa gác, mọi việc đều phải có quan truyền lệnh, chỉ dẫn. Thầy thuốc vào khám bệnh phải chờ, phải nín thở, khúm núm lạy tạ. Phủ chúa là nơi cực kì giàu sang và hết sức xa hoa. Giàu sang từ nơi ở đến tiện nghi sinh hoạt, Xa hoa từ vật dụng đến đồ ăn thức uống… – Cuộc sống nơi Trịnh phủ âm u, thiếu sinh khí. Sự thâm nghiêm kiểu mê cung càng làm tăng ám khí nơi phủ chúa. Ám khí bao trùm không gian, cảnh vật. Ám khí ngấm sâu vào hình hài, thể tạng con người. Vị chúa nhỏ Trịnh Cán cái gì cũng “quá” trong sự xa hoa nhưng lại thiếu một điều căn bản là sự sống, sức sống. 4. Những giá trị về nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu: – Về nội dung, đề cao đạo lí nhân nghĩa qua Truyện Lục Vân Tiên, nội dung yêu nước qua Ngư Tiều y thuật vấn đáp, bài thơ Chạy giặc và nhất là qua Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. – Về nghệ thuật, chú ý hai nét riêng và cũng là đóng góp nổi bật của Nguyễn Đình Chiểu: tính chất đạo đức – trữ tình, màu sắc Nam Bộ qua ngôn ngữ, qua hình tượng nghệ thuật. Để làm sáng tỏ điều này, các em có thể tìm và phân tích một số dẫn chứng trích từ Truyện Lục Vân Tiên. Các em cần nắm vững những kiến thức đã học về Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc và phân tích được vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người anh hùng nông dân – nghĩa sĩ trong bài văn tế này. Trước Nguyễn Đình Chiểu, văn học dân tộc chưa có một hình tượng hoàn chỉnh về người anh hùng nông dân – nghĩa sĩ. Hình tượng người anh hùng nông dân – nghĩa sĩ mang vẻ đẹp bi tráng bởi vì ở hình tượng này có sự kết hợp giữa yếu tố bi (đau thương) và yếu tố tráng (hào hùng, tráng lệ). Yếu tố bi được gợi lên qua đời sống lam lũ, vất vả, nỗi đau thương, mất mát của người nghĩa sĩ và tiếng khóc xót đau của người còn sống. Yếu tố tráng qua lòng căm thù giặc, lòng yêu nước, hành động quả cảm, anh hùng của nghĩa quân, sự ngợi ca công đức những người đã hi sinh vì quê hương, đất nước. Tiếng khóc trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc đau thương mà lớn lao, cao cả. – Nhìn lại những đặc điểm của văn học trung đại Việt Nam về tư duy nghệ thuật, quan niệm thẩm mĩ, bút pháp nghệ thuật. Các em cần phân tích một số dẫn chứng để làm nổi bật lên những đặc điểm đó. Ví dụ: Tư duy nghệ thuật thời trung đại nhiều khi theo kiểu mẫu đã thành công thức, bút pháp nghệ thuật thiên về ước lệ tượng trưng. Tuy nhiên, các tác giả tài năng một mặt tuân thủ theo tính quy phạm, mặt khác sáng tạo trong tính quy phạm. Có thể thấy điều này qua bài Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến: + Thơ ca trung đại khi nói về mùa thu thường có các hình ảnh ước lệ như thu thiên, thu thuỷ, thu hoa, thu diệp,… Ở Câu cá mùa thu cũng có những yếu tố này: thu thiên (“Tầng mây lở lửng trời xanh ngắt”), thu thuỷ (“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo”), thu diệp (“Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”), ngư ông (“Tựa gối buông cần lâu chẳng được”). + Sáng tạo trong những quy phạm, ước lệ: Cảnh thu mang nét riêng của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ. Chiếc ao làng với sóng hơi gợn, nước trong veo, lạnh lẽo. Lối vào nhà với ngõ trúc quanh co. Có thể tham khảo lời bình của Xuân Diệu: “Cả huyện Bình Lục là xứ đồng chiêm trũng kia mà. Nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà bé tẻo teo, sóng biếc gợn rất nhẹ…”. Đặt trong văn cảnh bài Câu cá mùa thu, vần eo gợi cảm giác không gian ngoại cảnh và tâm cảnh như tĩnh lặng, thu hẹp dần. Trên đây là một minh họa về ôn tập, các em có thể ôn theo SGK. ——————————- Trên đây đã giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Ôn tập văn học trung đại Việt Nam, để giúp các bạn học tốt hơn môn Ngữ văn 11. Cùng chủ đề này, mời các bạn tham khảo bài soạn văn mẫu bài Ôn tập văn học trung đại Việt Nam mà đã sưu tầm, tổng hợp.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 11_ Ôn tập văn học trung đại Việt Nam
1,279
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Bác ơi! Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Để học tốt Ngữ văn lớp 12, mời các bạn tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Bác ơi!, tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh nắm chắc hơn bài Bác ơi! Qua đó các bạn học sinh sẽ học tốt hơn Ngữ văn lớp 12. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Ngữ văn lớp 12: Bác ơi! • Gợi ý tìm hiểu bài thơ Trong các nhà thơ Việt Nam hiện đại, Tố Hữu là người sáng tác nhiều nhất, có nhiều tác phẩm hay, sâu sắc và cảm động về Bác Hồ: Hồ Chí Minh, Sáng tháng Năm, Cánh chim không mỏi, Theo chân Bác,… Những tác phẩm ấy không chỉ là cảm nghĩ của cá nhân nhà thơ mà còn là tấm lòng của mọi người Việt Nam hướng về vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Bài thơ Bác ơi! Được Tố Hữu viết ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ngày 6 – 9 -1969. Trong niềm đau xót, tiếc thương vô hạn đó, nhà thơ càng nhận rõ những phẩm chất đẹp tuyệt vời của Bác để ghi lại trong tiếng khóc tiễn biệt Người. Bác ơi! Được xem như bức tượng đài Hồ Chí Minh bằng thơ, khắc họa sâu sắc chân dung của một trong những con người đẹp nhất của thời đại ngày nay. Bác ơi, tim Bác mênh mông thế Ôm cả non sông, mọi kiếp người. Trái tim vĩ đại ấy đau “nỗi đau dân nước, nỗi năm châu” và lo “cho hôm nay và cho mai sau…”. Trong những ngày chống Mĩ cứu nước quyết liệt của dân tộc, trái tim Bác Hồ hướng về nửa nước đau thương, dành tình cảm của mình cho miền Nam thân yêu và lạc quan, tin tưởng vào tiền tuyến lớn anh hùng. Nhà thơ Tố Hữu đã viết nên những câu thơ đẹp để ca ngợi mối tình ruột thịt đó. Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha. Con người có trái tim lớn ấy lại là con người có một lẽ sống giản dị tự nhiên “như trời đất của ta”. Bác yêu thiên nhiên và con người cũng tự nhiên và tha thiết như lòng Bác vậy. Niềm vui của Bác cũng giản dị, tự nhiên như con người Bác, một niềm vui cao cả, luôn trân trọng, hướng về mọi người trên cả thế giới. Ở đây, Tố Hữu đã nhìn thấy sâu sắc, thấm thía vẻ đẹp tuyệt vời Hồ Chí Minh. Vui tiếng ca chung hòa bốn biển Nâng niu tất cả, chỉ quên mình. Và chính vì thế, Bác đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần quý giá nhất: một tình thương mênh mông, sâu sắc và một cuộc đời thanh bạch, giản dị. Nhà thơ nhìn thấy ở cuộc đời ấy một vẻ đẹp riêng của Bác: vẻ đẹp nằm ở phía tâm hồn, tinh thần con người: Hơn tượng đồng phơi những lối mòn. Đó là vẻ đẹp của một con người hết sức giản dị nhưng lại vô cùng vĩ đại. Hình tượng Bác Hồ hiện lên qua bài thơ thật thân quen, gần gũi bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người Cha già dân tộc, Người Bác kính yêu của tất cả chúng ta. Bác sống như trời đất của ta, như mọi con người, gần gũi với mọi con người. Nhưng trong cái “như mọi con người” ấy, Bác lại vượt lên cao hơn những con người bình thường để thành phẩm chất Hồ Chí Minh, vẻ đẹp riêng của Bác. Và chính vì thế, Bác đã vượt qua khỏi phạm vi dân tộc để đến với nhân loại, như trong trường ca Theo chân Bác, Tố Hữu đã viết: Vì sao trái đất nặng ân tình Nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh Như một niềm tin, như dũng khí Như lòng nhân nghĩa, đức hi sinh.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Bác ơi!
669
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận, với nội dung bài tập đã được giải một cách chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 12. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay Ngữ văn lớp 12: Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận I. LỖI LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NÊU LUẬN ĐIỂM a) Đoạn văn này mắc các lồi sau: – Nêu luận điểm không rõ: là cảnh vật trong bài Thu điếu hay nét bút của Nguyễn Khuyến đã tạo dựng thành công cảnh sắc ấy. – Cách triển khai luận điểm cũng chưa lôgic, hợp lí. Chữ “Bởi vậy” dùng không đúng, không có tác dụng nối liền ý giữa câu 3 và câu 4 trong đoạn văn (câu 3 là sắc thái cảnh vật; câu 4 là nét bút của Nguyễn Khuyến: nội dung hai câu không tương đồng với nhau, vì vậy không thể dùng chữ “Bởi vậy” để liên kết ý trong hai câu). Có thể chữa lại đoạn văn để cách nêu luận điểm và cách triển khai luận điểm được rõ hơn, như sau: Nét bút của Nguyễn Khuyến đã tạo dựng thành công cảnh sắc của bức tranh Thu điếu. Cảnh vật trong bài thơ hiện lên thật vắng vẻ, tĩnh lặng. Ao thu lạnh lẽo, chiếc thuyền câu bé tẻo teo, sóng nước gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, ngõ trúc vắng teo, tầng mây lơ lửng… cho đến cả người ngồi câu cũng dường như bất động. Đúng là cảnh sắc mùa thu ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, quê hương của nhà thơ: một cảnh thu tĩnh lặng, trong sáng, đượm buồn như tâm hồn thanh cao, đầy suy tư của thi nhân trước thời cuộc đất nước lúc bấy giờ. Cách chữa: Phải suy nghĩ để xác định luận điểm trong đoạn văn bằng một câu mang ý khái quát, khẳng định. Câu nêu luận điểm nên đặt ở đầu đoạn văn, tiếp theo là các câu triển khai luận điểm được liên kết với nhau theo một mạch lôgic để làm sáng tỏ luận điểm. Dựa vào cách trên, anh (chị) tự chữa lại đoạn văn. c) Lỗi ở đoạn văn này như sau: Nếu xác định luận điểm của đoạn văn là câu mở đầu: “Văn học dân gian ra đời từ thời xa xưa nhưng đến nay vẫn tiếp tục phát triển”, thì các câu tiếp theo phải làm nhiệm vụ giải thích, chứng minh để làm sáng tỏ cho luận điểm đó. Nhưng ở đoạn văn này, các câu sau đó lại nói về giá trị to lớn nhiều mặt của văn học dân gian: Chữ “Bởi lẽ” nối liền câu 1 và câu 2 ở đây dùng không đúng vì ý trong hai câu không tương đồng với nhau. Còn nếu cho rằng luận điểm nằm ở câu 2: “Văn học dân gian có giá trị to lớn về nhiều mặt”, thì câu 1 là thừa, vì nó không liên quan gì đến nội dung của luận điểm. – Đoạn từ “ví như câu tục ngữ” đến hết giải thích vụng theo lối khẩu ngữ không phù hợp với văn phong nghị luận. Dựa vào những gợi ý trên đây, anh (chị) tự chữa lại đoạn văn theo luận điểm đã được xác định. II. LỖI LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NÊU LUẬN CỨ a) Đoạn văn nêu luận cứ không chính xác, dẫn đến lời phân tích luận cứ cũng không đúng. Câu thơ phải nêu chính xác như sau: Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu. ;|’’ (Huy Cận – Tràng giang) “Sâu chót vót” chứ không phải “xanh bát ngát”. Từ đó, chữa lại lời phân tích cho đúng với câu thơ. Các đoạn văn b, c, anh (chị) đọc kĩ, phát hiện lỗi và tự chữa lại cho đúng. III. LỖI VỀ CÁCH LẬP LUẬN a) Nêu tác giả Nguyễn Khuyến ở đoạn văn này không chính xác vì ông không viết về vẻ đẹp và số phận người phụ nữ. Cần bỏ tác giả Nguyễn Khuyến trong đoạn văn. c) Đưa luận chứng bài Thu hứng của Đỗ Phủ vào đoạn thơ này không thích hợp vì đang nói đến mùa thu trong thơ ca trung đại Việt Nam. Cuối cùng, đọc kĩ phần Ghi nhớ để tránh một số lỗi thường mắc khi viết văn nghị luận.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận
773
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Dọn về làng Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Mời các em học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Dọn về làng, với nội dung tài liệu đã được cập nhật một cách chi tiết, chắc chắn đây sẽ là nguồn tài liệu giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn lớp 12. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Dọn về làng • Tác giả Nông Quốc Chấn (1923 – 2002) là nhà thơ dân tộc Tày có nhiều đóng góp cho văn học các dân tộc thiểu số cũng như nền văn học Việt Nam hiện đại, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 2000). Nhà thơ từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong công tác văn hóa, văn nghệ ở nước ta. (Xem Tiểu dẫn về tác giả trong SGK). • Tác phẩm: Dọn về làng (gợi ý tìm hiểu bài thơ) Dọn về làng được sáng tác năm 1950, là bài thơ viết về quê hương tác giả trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp nhiều đau thương mà anh dũng. Bài thơ được trao giải nhì tại Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới ở Béc-lin, sau đó được dịch đăng trên Tạp chí Châu Âu. Bài thơ viết bằng tiếng Tày, do tác giả dịch sang tiếng Việt. Bài thơ có một kết cấu khá hiện đại theo trình tự hiện tại – quá khứ – hiện tại. Nhà thơ đứng ở thời điểm hiện tại để viết bài thơ. Mở đầu là những câu thơ tràn đầy niềm vui chiến thắng khi quê hương hoàn toàn giải phóng, mọi người chuẩn bị “dọn về làng” để khôi phục lại cuộc sống. Mẹ! Cao – Lạng hoàn toàn giải phóng Tây bị chết bị bắt sống hàng đàn Vệ quốc quân chiếm lại các đồn Người đông như kiến, súng dầy như củi Sáng mai về làng sửa nhà phát cỏ Cày ruộng vườn trồng lúa ngô khoai. Từ niềm vui giải phóng, nhà thơ nhớ lại những năm cơ cực, khổ đau khi quê hương bị kẻ thù xâm lược giày xéo tàn bạo, đồng bào bị bắt giết dã man: Mấy năm qua quên tết tháng giêng, quên rằm tháng bảy Chạy hết núi lại khe, cay đắng đủ mùi. Đoạn hồi ức khá dài này là sự đan xen giữa khổ đau và căm thù mà hình ảnh cái chết đầy uất hận của người cha đã nói rõ. Cái chết đau thương (“Không ván, không người đưa cha đi cất – Mẹ tháo khăn phủ mặt cho chồng – Con cởi áo liệm thân cho bố”) đã tố cáo tội ác tày trời của quân cướp nước, và căm thù của tác giả (cũng là của nhân dân) đã thành lời nguyền phẫn nộ: Bằm xương thịt mày tan mới hả. Rồi từ hồi ức đau thương, cảm hứng thơ lại trở về với niềm vui giải phóng, với công việc “dọn về làng” tấp nập, vui vẻ trong cuộc sống hồi sinh của mọi người: Hôm nay Cao – Bắc – Lạng cười vang, Dọn lán, rời rừng, người xuống làng. Người nói cỏ lay trong rừng rậm, Cuốc đất dọn cỏ mẹ khuyên con Đường cái kêu vang tiếng ô tô, Trong trường ríu rít tiếng cười con trẻ. Đoạn thơ là một bức tranh đẹp của ngày “dọn về làng”. Dọn về làng là trở về với cuộc sống, là chiến thắng quân thù, là niềm vui giải phóng; bởi thế sự trở về với cuộc sống ở đây mang một ý nghĩa mới cao hơn, tốt đẹp hơn, nó có được là nhờ ba0 chiến đấu hi sinh gian khổ của bộ đội và nhân dân, nó là minh chứng hùng hồn cho mục đích chính nghĩa và sức sống mạnh mẽ của một cuộc kháng chiến của dân tộc. Cuộc sống ấy đẹp lắm, quí lắm, phải giữ lấy nó trong tay. Và người con đã lên đường vì lẽ đó: Mặt trời lên! Sáng rõ rồi mẹ ạ! Con đi bộ đội, mẹ ở lại nhà, Giặc Pháp, giặc Mĩ còn giết người, cướp của trên đất ta Đuổi hết nó đi, con sẽ về trông mẹ. Mở đầu bài thơ, tác giả gọi “mẹ” để báo tin Cao – Lạng giải phóng, kết thúc bài thơ lại từ giã “mẹ” để đi bộ đội giữ yên cho niềm vui đó. “Mẹ” ở đây vừa là người mẹ cụ thể, vừa được khái quát thành người mẹ chung, thành quê hương đất nước.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Dọn về làng
768
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Khái quát văn học Việt Nam từ đầu cách mạng tháng tám 1945 đến thế kỉ XX Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Để học tốt Ngữ văn lớp 12, mời các bạn học sinh và thầy cô cùng tham khảo tài liệu: Khái quát văn học Việt Nam từ đầu cách mạng tháng tám 1945 đến thế kỉ XX, với nội dung đã được cập nhật một cách chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh có kết quả cao hơn trong học tập. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Khái quát văn học Việt Nam từ đầu cách mạng tháng tám 1945 đến thế kỉ XX Đây là bài học rất quan trọng, mở đầu cho chương trình văn học lớp 12. Anh (chị) cần nắm vững những kiến thức cơ bản của bài khái quát một thời kì văn học hơn nửa thế kỉ được khai sinh và trưởng thành trong chế độ mới, kỉ nguyên mới của đất nước – từ đó có thể soi sáng cho việc học các tác phẩm cụ thể về thơ, truyện, kí, kịch, nghị luận,… trong suốt năm học. Bài viết khá dài, anh (chị) cần đọc kĩ để nắm được cấu trúc của bài viết, những nội dung cơ bản của bài khái quát, từ đó suy nghĩ để trả lời các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài. Dưới đây là những gợi ý chính: • CẤU TRÚC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BÀI VIẾT Bài viết được cấu trúc thành hai giai đoạn lớn: từ 1945 đến 1975 và từ 1975 đến hết thế kỉ XX, với những nội dung cơ bản sau đây: I. Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 1. Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa 2. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu: a) Chặng đường từ 1945 đến 1954 b) Chặng đường từ 1955 đến 1964 c) Chặng đường từ 1965 đến 1975 * Một số nét về văn học vùng địch tạm chiếm. 3. Đặc điểm cơ bản: a) Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước. b) Nền văn học hướng về đại chúng. c) Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. II. Vài nét khái quát văn học Việt Nam từ 1975 đến hết thế kỉ XX 1. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa 2. Những chuyển biến và một số thành tựu ban đầu (Bài viết nêu lên hai chặng đường: từ 1975 đến 1985 và từ 1986 đến cuối thế kỉ XX; và một số đặc điểm nổi bật: văn học vận động theo hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc; có tính chất hướng nội, có nhiều tìm tòi đổi mới về nghệ thuật). III. Kết luận Kế thừa, phát triển truyền thống và những thành tựu quý báu ở các thời kì trước của một nền văn học có lịch sử lâu đời, văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 đã hoàn thành sứ mệnh cao cả của một nền văn học trong một thời đại mới, thực hiện xuất sắc nhiệm vụ cổ vũ chiến đấu, giải phóng dân tộc. Từ 1975, nhất là từ 1986, cùng với đất nước, văn học bước vào công cuộc đổi mới. Trong hoàn cảnh lịch sử có nhiều thuận lợi, sự giao lưu văn hóa với các nước trên thế giới được mở rộng, với truyền thống văn học của một dân tộc có hàng nghìn năm văn hiến, nhất định chúng ta sẽ xây dựng thành công một nền văn học tiên tiến, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc. • HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1. Nêu những nét chính về tình hình lịch sử, xã hội, văn hóa có ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975. – Cách mạng tháng Tám 1945 đã mở ra một kỉ nguyên mới trên đất nước ta, khai sinh ra một nền văn học mới gắn liền với lí tưởng độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Đó là nền văn học của chế độ mới, phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chính đường lối văn nghệ của Đảng là nhân tố có tính chất quyết định để tạo nên một nền văn học thống nhất về khuynh hướng tư tưởng, thống nhất về tổ chức và về quan niệm nhà văn kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ. – Nền kinh tế nghèo nàn và chậm phát triển, điều kiện giao lưu văn hóa với nước ngoài không thuận lợi cũng ảnh hưởng ít nhiều đến sự phát triển của văn học. Tuy vậy, nhờ những thuận lợi cơ bản nói trên, văn học từ 1945 đến 1975 vẫn phát triển và đạt được những thành tựu to lớn. 2. Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 phát triển qua mấy chặng? Nêu những thành tựu chủ yếu của mỗi chặng. Chia làm ba chặng: a) Chặng đường từ 1945 đến 1954 – 1945 – 1946: Văn học ca ngợi Tổ quốc và quần chúng cách mạng trong những ngày đầu giành được độc lập với những tác phẩm Dân khí miền Trung (Hoài Thanh), Huế tháng Tám, Vui bất tuyệt (Tố Hữu), Ngọn quốc kì, Hội nghị non sông (Xuân Diệu), Tình sông núi (Trần Mai Ninh),… – 1947 – 1954: Văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng và kháng chiến, hướng tới quần chúng nhân dân, đạt những thành tựu mới trên nhiều thể loại truyện ngắn, kí, tiểu thuyết, thơ, kịch và lí luận, nghiên cứu, phê bình văn học (xem Sách Giáo Khoa). Có thể kể tên một số tác phẩm tiêu biểu như truyện ngắn. Đôi mắt của Nam Cao, Làng của Kim Lân, tiểu thuyết Vùng mỏ của Võ Huy Tân, Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, tập truyện Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, các bài thơ kháng chiến của Hồ Chí Minh (Cảnh khuya, Nguyên tiêu, Báo tiệp,…), Tây Tiến của Quang Dũng, Đồng chí của Chính Hữu,… và đặc biệt là bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam của Trường Chinh. b) Chặng đường từ 1955 đến 1964 – Chặng đường văn học trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Văn học tập trung thể hiện hình ảnh người lao động, ca ngợi những đổi thay của đất nước và con người trong bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội đồng thời thể hiện tình cảm sâu nặng với miền Nam ruột thịt, nói lên nỗi đau chia cắt và thể hiện ý chí thống nhất đất nước. – Văn xuôi mở rộng đề tài, bao quát được khá nhiều vấn đề, nhiều phạm vi của hiện thực đời sống. Thơ cũng phát triển mạnh mẽ với nhiều cảm hứng lớn từ đất nước, dân tộc trong sự hòa hợp giữa cái riêng và cái chung của nhà thơ, và đã có được một mùa gặt bội thu. – Văn học đạt nhiều thành tựu trên cả ba thể loại: truyện, thơ và kịch (xem SGK). c) Chặng đường từ 1965 đến 1975 – Chặng đường văn học chống Mĩ cứu nước trên cả hai miền Bắc và Nam với chủ đề bao trùm là ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. – Tiền tuyến lớn miền Nam được mùa đánh giặc, được mùa văn học với những tác phẩm truyện của Nguyễn Thi, Nguyễn Trung Thành, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Trần Hiếu Minh, Phan Tứ, với thơ của Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Giang Nam, Thanh Hải,… 3. Những đặc điểm cơ bản của Yán học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 Ba đặc điểm cơ bản: a) Văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước. – Nền văn học mới được kiến tạo theo mô hình “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” (Hồ Chí Minh) cùng với kiểu nhà văn mới: nhà văn – chiến sĩ. Ý thức, trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ được đề cao, nhà văn gắn bó với dân tộc, với nhân dân và đất nước, dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến, cổ vũ chiến đấu. – Văn học tập trung vào đề tài Tổ quốc: bảo vệ đất nước, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tổ quốc trở thành nguồn cảm hứng lớn xuyên suốt thơ ca và truyện kí. – Cùng với đề tài Tổ quốc, chủ nghĩa xã hội cũng là một đề tài lớn của văn học giai đoạn này. Văn học đề cao lao động, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, của con người mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc sau ngày giải phóng, hàn gắn vết thương chiến tranh. b) Nền văn học hướng về đại chúng. – Văn học, gắn bó sâu sắc với nhân dân lao động, hướng về đại chúng và trước hết là công nông binh. Cách mạng và kháng chiến đã làm thay đổi hẳn cách nhìn nhân dân của nhiều nhà văn, hình thành ở họ một quan niệm mới về đất nước: đất nước của nhân dân. Đó là cảm hứng chủ đạo, là chủ đề của nhiều tác phẩm viết về đất nước và nhân dân. – Văn học mang tính nhân dân sâu sắc, thể hiện ở chỗ quan tâm tới đời sống của nhân dân lao động, nói lên những nỗi bất hạnh của họ trong xã hội cũ cũng như niềm vui, niềm tự hào của họ về cuộc đời mới, phát hiện ở họ khả năng cách mạng và phẩm chất anh hùng, tập trung khắc họa hình tượng quần chúng cách mạng, diễn tả vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân lao động. c) Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lding тап. – Khuynh hướng sử thi là khuynh hướng tất yếu của nền văn học ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt kéo dài suốt 30 năm với vấn đề dân tộc nổi lên hàng đầu; nó không thể là tiếng nói riêng của mỗi cá nhân mà phải đề cập tới số phận chung của cả cộng đồng, của toàn dân tộc. Văn học mang đậm chất sử thi, tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn của đất nước: Tổ quốc còn hay mất, độc lập tự do hay nô lệ. Nó hướng tới những sự kiện có ý nghĩa lịch sử, hướng tới vẻ đẹp cao cả, lí tưởng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh chiến thắng của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam bằng lời văn trang trọng và đẹp một cách hào hùng, tráng lệ. Đó là vẻ đẹp của Người mẹ cầm súng, của Người con gái Việt Nam, của Dáng đứng Việt Nam,… – Khuynh hướng sử thi thường được kết hợp với cảm hứng lãng mạn làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan, tạo nên một nét thẩm mĩ đặc trưng cho nền văn học chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc trong suốt 30 năm kháng chiến thần thánh của một nhân dân anh hùng. – Ngày 30 – 4 – 1975, cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại chống đế quốc Mĩ đã kết thúc thắng lợi. Lịch sử dân tộc lại mở ra một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên độc lập, tự do và thống nhất đất nước. – Tuy nhiên, từ 1975 đến 1985, đất nước ta lại gặp những thử thách nghiệt ngã mới, nhất là khó khăn về kinh tế do hậu quả trầm trọng của chiến tranh tàn khốc kéo dài suốt 30 năm cộng thêm ảnh hưởng không nhỏ do hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu bị sụp đổ. Tình hình đó đòi hỏi đất nước phải đổi mới, “vấn đề có ý nghĩa sống còn” của toàn dân tộc. – Từ 1986, với công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản đề xướng và lãnh đạo, kinh tế nước ta cũng từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, văn hóa nước ta cũng có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với văn hóa nhiều nước trên thế giới. – Đất nước bước vào công cuộc đổi mới thúc đẩy nền văn học cũng phải đổi mới phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của nền văn học. 5. Hãy nêu những thành tựu ban đầu của văn học Việt Nam từ 1975 đến hết thế kỉ XX. Dựa vào SGK, anh (chị) nêu những thành tựu chủ yếu của văn học giai đoạn này theo 2 chặng: từ 1975 -1985 là chặng đường chuyển tiếp, trăn trở, tìm kiếm con đường đổi mới; từ 1986 trở đi là chặng đường văn học đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc và khá toàn diện. Đọc kĩ và học thuộc phần Ghi nhớ trong SGK để nắm được bài học. LUYỆN TẬP Bình luận ý kiến của Nguyễn Đình Thi: “Văn nghệ phụng sự kháng chiến, nhưng kháng chiến đem đến cho văn nghệ một sức sống mới. Sắt lửa mặt trận đang đúc nên văn nghệ mới của chúng ta.” (Nhận đường). Hướng dẫn làm bài Từ mối quan hệ giữa văn nghệ và kháng chiến (hiện thực cuộc sống) thấy rõ bản chất và đặc trưng của nền văn nghệ mới của chúng ta từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975. Có thể bình luận những ý sau đây: a) Văn nghệ phụng sự kháng chiến: đó là mục đích hướng tới của nền văn nghệ mới. Nó phải gắn bó mật thiết với vận mệnh chung của đất nước, phải phục vụ cuộc sống của nhân dân mà ở đây chính là cuộc sống đánh giặc để bảo vệ độc lập tự do cho đất nước. b) Kháng chiến đem đến cho văn nghệ một sức sống mới: Hiện thực cách mạng – kháng chiến của dân tộc đã đem đến cho văn nghệ những chất liệu sống phong phú, những cảm hứng nồng nàn để tạo ra tác phẩm tốt. Chính cuộc kháng chiến đã đem đến cho văn nghệ một sức sống mới trẻ trung, khỏe khoắn, để văn nghệ có thể phụng sự kháng chiến tốt hơn. Ý này đã được hình tượng hóa và nhấn mạnh thêm bằng câu: “Sắt lửa mặt trận đang đúc nên văn nghệ mới của chúng ta”. c) Như vậy là, qua mối quan hệ nói trên giữa văn nghệ và kháng chiến, ta thấy được bản chất và đặc trưng của nền văn nghệ mới: đó là một nền văn nghệ của nhân dân, gắn bó mật thiết với vận mệnh của đất nước, từ cuộc sống cách mạng của nhân dân và đất nước mà lớn lên, để rồi phục vụ cuộc sống đó của nhân dân, của đất nước theo mô hình “văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” và nhà văn là “chiến sĩ trên mặt trận ấy” (Hồ Chí Minh). d) Cách nói với hai ý “ngược” nhau nhưng lại thống nhất với nhau khiến luận điểm càng thêm sâu sắc.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Khái quát văn học Việt Nam từ đầu cách mạng tháng tám 1945 đến thế kỉ XX
2,643
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Kiểm tra tổng hợp cuối học kỳ 1 Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Kiểm tra tổng hợp cuối học kỳ 1, tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh làm bài tập trắc nghiệm và tự luận nhanh và đạt điểm số cao trong kỳ thi học kỳ 1 môn Ngữ văn. mời các bạn học sinh tham khảo để học tốt Ngữ văn 12. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Kiểm tra tổng hợp cuối học kỳ 1 I. Hướng dẫn chung 1. Những nội dung cần chú ý a) Về Văn: Đọc các văn bản và bài giảng các bài đã học. – Văn học Việt Nam: Tuyên ngôn Độc lập; Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc; Tây Tiến; Việt Bắc; Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm), Sóng, Đàn ghi-ta của Lor-ca, Người lái đò sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Lí luận văn học b) Về Tiếng Việt: Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt; Phong cách ngôn ngữ khoa học; Luật thơ, Thực hành một số phép tu từ ngữ âm; Thực hành một số phép tu từ cú pháp. c) Về Làm văn: Nghị luận về một tư tưởng đạo đức, Nghị luận về một hiện tượng đời sống, Nghị luận về một ý kiến đối với văn học; Nghị luận về một tác phẩm thơ, một đoạn thơ, Nghị luận về một tác phẩm truyện, một trích đoạn truyện; Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận chứng minh và giải thích, Luyện tập vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận, Sửa chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận. 2. Về cách ôn tập và làm bài kiểm tra a) Cách ôn tập – Đọc lại các văn bản văn học, các bài giảng và cố gắng hệ thống hóa các kiến thức đã học; học thuộc lòng các đoạn hay, nắm chắc phần Tiểu dẫn về những giá trị nội dung, nghệ thuật của các tác phẩm đã học. – Nắm chắc lý thuyết về phong cách ngôn ngữ khoa học, về yêu cầu giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt. – Chú trọng thực hành, luyện tập (xem lại các bài tập trong cả ba phần: Văn, Tiếng Việt và Làm văn). – Chú ý nắm được cách làm bài kiểm tra tổng hợp, ôn lại cách làm bài kiểm tra tổng hợp cuối lớp 12. – Bài kiểm tra gồm hai phần: Trắc nghiệm khách quan và tự luận. Tỉ lệ điểm đánh giá giữa hai phần này là 3/7. Bởi vậy, các em cần bố trí thời gian hợp lí cho từng phần. Cố gắng làm nhanh phần trắc nghiệm khách quan (khoảng 15 đến 20 phút). – Khi làm bài trắc nghiệm khách quan, nên cân nhắc nhanh nhưng thận trọng để tìm một phương án đúng trong bốn phương án đưa ra. – Cách làm phần tự luận giống như cách viết các bài làm văn trong học kì. Cần chú ý nắm chắc yêu cầu của đề bài, lập dàn ý đại cương trước khi viết và kiểm tra sửa chữa bài viết cho cẩn thận trước khi nộp bài. II. Đề tham khảo luyện tập (Thời gian làm bài 90 phút, không kể thời gian giao đề) Phần trắc nghiệm khách quan (12 câu, mỗi câu đúng được 0,25 điểm, tổng cộng 3 điểm) 1. Đối tượng hướng tới của Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh) là ai? A. Toàn thể dân tộc Việt Nam Cleleo” B. Nhân loại tiến bộ C. Thực dân Pháp và đế quốc Mĩ D. Tất cả các đối tượng trên. 2. Chọn phương án đúng và đủ nhất. Viết Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh hướng tới mục đích gì? A. Thể hiện tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc B. Tỏ rõ ý chí quyết tâm sắt đá bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc C. Tuyên bố việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta và mở ra kỉ nguyên mới cho dân tộc – kỉ nguyên Độc lập và Tự do D. Lên án tội ác của thực dân Pháp đối với dân tộc Việt Nam. 3. Bài Tây Tiến của Quang Dũng thể hiện: A. Cảm hứng lãng mạn về người lính Tây Tiến hào hùng mà tài hoa B. Cảnh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội mà mĩ lệ 130 C. Cuộc chiến đấu đầy cam go, gian khổ và vô cùng anh dũng của các chiến sĩ Tây Tiến D. Tình yêu thiên nhiên, quan hệ đầm ấm giữa người lính Tây Tiến với nhân dân. 4. Chọn câu trả lời đúng và đủ nhất trong các câu trả lời. Bài Việt Bắc của Tố Hữu thể hiện: A. Thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp của núi rừng Việt Bắc C. Khúc hùng ca và tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến D. Tình cảm gắn bó keo sơn giữa các chiến sĩ cách mạng với đồng bào Việt Bắc, giữa quần chúng với lãnh tụ. 5. Những nét nghệ thuật độc đáo trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu là gì? A. Thể thơ lục bát nhuần nhị, đầy truyền thống dân tộc B. Kết cấu đối đáp linh hoạt C C. Ngôn ngữ đậm sắc thái dân gian… D. Thể thơ lục bát, kiểu kết cấu đối đáp, ngôn ngữ đậm màu sắc dân gian. 6. Tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân thuộc thể loại nào? A. Truyện ngắn B. Bút kí C. Hồi kí D. Tùy bút. 7. Chọn câu trả lời đúng nhất trong các câu trả lời. Ngôn ngữ khoa học được sử dụng trong các lĩnh vực: A. Các văn bản khoa học B. Các văn bản khoa học, giao tiếp, thông tin và truyền thụ kiến thức khoa học C. Các luận văn, luận án, bài báo khoa học D. Thông tin và truyền thụ kiến thức khoa học. 8. Văn bản khoa học được chia thành mấy loại? A. Hai loại B. Ba loại C. Bốn loại D. Năm loại. 9. Khổ thơ sau đây sử dụng phép tu từ ngữ âm nào? Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. (Quang Dũng – Tây Tiến) A. Nhịp điệu các dòng thơ B. Sự phối ứng thanh điệu C. Cách gieo vần thơ D. Phối hợp sử dụng nhịp điệu các dòng thơ và sự phối ứng giữa các thanh điệu. 10. Chọn câu trả lời đúng và đầy đủ nhất. Đề tài văn nghị luận thường là: A. Một hiện tượng đời sống, một vấn đề văn học, một bài thơ, một khổ thơ B. Một tư tưởng đạo đức, một hiện tượng đời sống, một bài thơ hoặc đoạn thơ, một tác phẩm văn xuôi hoặc đoạn trích C. Một câu thành ngữ, tục ngữ, một cách ngôn, một bài thơ, một tác phẩm văn xuôi D. Một vấn đề văn học, một tác phẩm văn xuôi, một đoạn trích trong tác phẩm văn xuôi hoặc đoạn thơ. 11. Lập luận dưới đây sử dụng những thao tác lập luận nào? (Theo Lê Trí Viễn, trong Làm văn 12, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000) A. Thao tác lập luận bác bỏ và bình luận B. Thao tác lập luận phân tích và bác bỏ C. Thao tác lập luận so sánh kết hợp với phân tích và bác bỏ D. Thao tác lập luận so sánh kết hợp với bình luận 12. Lập luận dưới đây mắc lỗi nào? Sách […] thiệt là vừa hay lại vừa lành: hay vì nó không đến nỗi vô vị vô duyên, lành vì nó không có ảnh hưởng xấu đến tinh thần người đọc. A. Không đủ lí do B. Mâu thuẫn C. Không nhất quán D. Không có luận cứ. Phần 2: Tự luận (7 điểm – chọn một trong hai đề) Đề 1 a) Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác bài Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh. (2 điểm)’’ b) Phân tích nghệ thuật lập luận trong tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh. (5 điểm) Đề 2: a) Giới thiệu bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng (2 điểm) b) Nhân câu chuyện về một bé gái bị chủ cửa hàng bóc lột, hành hạ, đánh đập trong hơn 10 năm trời mới bị phát hiện, anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề “đồng cảm và sẻ chia trong xã hội ta ngày nay” (5 điểm) ĐÁP ÁN (phần trắc nghiệm khách quan) – Giới thiệu đáp án 6 cầu đầu: Câu 1:D Câu 2: C Câu 3: A Câu 4: C Câu 5:D Câu 6: D – 6 câu sau anh (chị) tự tìm phương án đúng nhất (nếu khó, có thể trao đổi trong nhóm học tập hoặc hỏi thầy, cô giáo).
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Kiểm tra tổng hợp cuối học kỳ 1
1,470
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Để học tốt Ngữ văn lớp 12, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận, tài liệu chắc chắc sẽ giúp các bạn học sinh tham khảo để có kết quả cao hơn trong học tập. Mời thầy cô và các bạn học sinh cùng tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận I. LUYỆN TẬP TRÊN LỚP Nhắc lại các thao tác lập luận đã học, cùng những đặc trưng cơ bản của từng thao tác. Anh (chị) xem lại các bài đã học về các thao tác lập luận sau đây và ghi vắn tắt đặc trưng cơ bản của từng thao tác: – Thao tác lập luận chứng minh. Đặc trưng cơ bản là:………. – Thao tác lập luận giải thích. Đặc trưng cơ bản là:………. – Thao tác lập luận phân tích. Đặc trưng cơ bản là:………. – Thao tác lập luận so sánh. Đặc trưng cơ bản là:………. – Thao tác lập luận bác bỏ. Đặc trưng cơ bản là:………. Thao tác lập luận bình luận. Đặc trưng cơ bản là:……… 2. Trong đoạn trích của SGK, tác giả đã vận dụng tổng hợp những thao tác lập luận nào? Cần đọc kĩ đoạn văn, suy nghĩ để xác định những thao tác lập luận mà tác giả đã vận dụng tổng hợp trong đoạn văn đó. Gợi ý: Tác giả đã vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận: chứng minh, giải thích và bình luận. Anh (chị) chỉ ra các thao tác đó trong đoạn trích của SGK. a) Bước thứ nhất – Xác định chủ đề của bài văn. – Xác định các ý kiến sẽ đưa ra trong bài phát biểu và sắp xếp chúng thành dàn ý. b) Bước thứ hai – Chọn luận điểm để trình bày. Vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận: + Thao tác nào đóng vai trò chủ yếu? + Thao tác nào đóng vai trò bổ trợ? + Cách kết hợp các thao tác ra sao? c) Bước thứ ba Viết thành một đoạn văn hoàn chỉnh, các câu có sự liên kết với nhau và thể hiện rõ phong cách ngôn ngữ chính luận. Đọc đoạn văn trước nhóm học tập (hay trước lớp), lắng nghe góp ý để sửa chữa. Anh (chị) cần đọc kĩ đoạn văn về đọc sách của Nguyên Ngọc để tham khảo, học tập cách viết. II. LUYỆN TẬP Ở NHÀ Luyện tập ở nhà gồm hai bài tập: 1. Sưu tầm những bài (đoạn) văn hay; trong đó, tác giả đã sử dụng kết hợp thành công nhiều thao tác lập luận khác nhau. Gρι ν: – Về nghị luận chính trị, có thể tìm ở các tác giả Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh,… 2. Viết một văn bản nghị luận ngắn, có vận dụng tổng hợp ít nhất ba thao tác lập luận khác nhau để trình bày quan điểm, ý kiến về: – Nét đặc sắc phát hiện từ một bài thơ (truyện, kịch bản văn học) mà mình yêu thích. – Một tác phẩm văn học mới ra đời đang được nhiều người quan tâm bàn luận. – Một nội dung kiến thức Ngữ văn cần được tìm hiểu kĩ và sâu hơn. 3. Đọc thêm đoạn viết về tiểu thuyết của Nguyễn Đình Thi trong SGK để học tập cách viết của tác giả.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận
594
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Luật thơ Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Các bạn học sinh thân mến! Để giúp các bạn học tốt Ngữ văn lớp 12, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Luật thơ, tài liệu sẽ giúp các bạn có kết quả cao trong học tập. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Luật thơ I. KHÁI QUÁT VỀ LUẬT THƠ 1. Luật thơ của một thể thơ là toàn bộ những quy tắc về số câu, số tiếng, cách gieo vần, phép hài thanh, ngắt nhịp,… được khái quát theo một kiểu mẫu nhất định. Ví dụ: Luật của các thể lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn và thất ngôn,… Nói chung, ta có thể phân chia các thể thơ Việt Nam thành 3 nhóm chính: a) Các thể thơ dân tộc gồm: thể lục bát, song thất lục bát và hát nói. b) Các thể thơ luật Đường gồm: ngũ ngôn, thất ngôn (tứ tuyệt và bát cú). c) Các thể thơ hiện đại gồm: thể năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, thể hỗn hợp, thể tự do, thơ – văn xuôi,… 2. Sự hình thành các luật thơ cũng như sự vay mượn, mô phỏng và cách tân các thể thơ đều phải dựa trên các đặc trưng ngữ âm của tiếng Việt, trong đó tiếng là đơn vị có vai trò quan trọng. Số tiếng và các đặc điểm của tiếng và cách gieo vần, phép hài thanh, ngắt nhịp,… là các nhân tố cấu thành luật thơ (xem trong SGK). II. MỘT SỐ THỂ THƠ TRUYỀN THỐNG 1. Thể lục bát (còn gọi là thể sáu – tám) Ví dụ: Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) – Số tiếng: Mỗi cặp lục bát gồm hai dòng: dòng lục (6 tiếng), dòng bát (8 tiếng). Bài thơ lục bát là sự kế tiếp của các cặp như thế. – Vần: Vần lưng hiệp vần ở tiếng thứ 6 của hai dòng và giữa tiếng thứ 8 của dòng bát với tiếng thứ 6 của dòng lục. – Hài thanh: Có sự đối xứng luân phiên B – T – B ở các tiếng 2, 4, 6 trong dòng thơ và đối lập âm vực trầm bổng ở tiếng thứ 6 và thứ 8 dòng bát. 2. Thể song thất lục bát (còn gọi là thể gián thất hay song thất) Ví dụ: Ngòi đầu cầu nước trong như lọc, Đường bên cầu cỏ mọc còn non. Đưa chàng lòng dặc dặc buồn, Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền. (Đoàn Thị Điểm (?), Chinh phụ ngâm) – Số tiếng: Cặp song thất (7 tiếng) và cặp lục bát (6 – 8 tiếng) luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài. – Vần: Gieo vần lưng ở mỗi cặp (lọc – mọc, buồn – khôn); cặp song thất có vần trắc, cặp lục bát có vần bằng. Giữa cặp song thất và cặp lục bát có vần liền (non – buồn). – Nhịp: 3/4 ở hai câu thất và 2/2/2 ở cặp lục bát. – Hài thanh: Cặp song thất lấy tiếng thứ 3 làm chuẩn, có thể có thanh bằng (câu thất – bằng) hoặc trắc (câu thất – trắc) nhưng không bắt buộc. Ví dụ: Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu. (Đoàn Thị Điểm (?), Chinh phụ ngâm) Còn cặp lục bát thì sự đối xứng bằng – trắc chặt chẽ hơn (giống như ở thể lục bát). 3. Các thể ngũ ngôn luật Đường Gồm 2 thể chính: ngũ ngôn tứ tuyệt (5 tiếng 4 dòng) và ngũ ngôn bát cú (5 tiếng 8 dòng). Thể ngũ ngôn bát cú có kết cấu 4 phần: đề, thực, luận, kết. Ví dụ một bài thơ ngũ ngôn bát cú: MẶT TRĂNG Vằng vặc bóng thuyền quyên, Mây quang gió bốn bên, Nề cho trời đất trắng, Quét sạch núi sông đen Có khuyết nhưng tròn mãi Tuy già vẫn trẻ lên Mảnh gương chung thế giới Soi rõ: mặt hay, hèn (Khuyết danh) – Số tiếng: 5 tiếng; số dòng: 8 dòng (thơ tứ tuyệt chỉ có 4 dòng). – Vần: 1 vần (độc vận), gieo vần cách (bên, đen, lên, hèn). – Nhịp lẻ: 2/3. – Hài thanh: có sự luân phiên B – T hoặc niêm B – B, T – T ở tiếng thứ 2 và thứ 4. Gồm 2 thể chính: thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú. Mỗi thể lại chia ra thất ngôn luật bằng (thể bằng) và thất ngôn luật trắc (thể trắc). Đây là hai thể thơ có kết cấu, niêm luật chặt chẽ, được nhiều người ưa thích và đến nay vẫn được nhiều người sử dụng để sáng tác. a) Thất ngôn tứ tuyệt (còn gọi là thể tứ tuyệt hay tuyệt cú) Ví dụ một bài thơ tứ tuyệt thể trắc: ÔNG PHỖNG ĐÁ Ông đứng làm chi đó hỡi ông? Trơ trơ như đá, vững như đồng. Đêm ngày gìn giữ cho ai đó? Non nước đầy vơi có biết không? (Nguyễn Khuyến) – Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 4 dòng. – Vần: 1 vần. Cách hiệp vần: vần chân, gieo vần cách (đồng – không). – Nhịp: 4/3. – Hài thanh theo mô hình sau: b) Thất ngôn bát cú Ví dụ một bài thất ngôn bát cú thể trắc: QUA ĐÈO NGANG Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông, chợ mấy nhà. Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia. Dừng chân đứng lại, trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta. (Bà Huyện Thanh Quan) – Số tiếng: 7 tiếng; số dòng: 8 dòng (chia thành 4 phần: Đề, thực, luận, kết). – Vần: Gieo vần chân, độc vận (hoa, nhà, gia, ta và tà ở dòng thơ thứ nhất). – Nhịp: 4/3. III. LUYỆN TẬP 1. So sánh những nét giống nhau và khác nhau về cách gieo vần, ngắt nhịp, hài thanh trong luật thơ ngũ ngôn truyền thống ở bài Mặt trăng (mục II.3 bài trước) với đoạn thơ năm tiếng trong bài Sóng của Xuân Quỳnh. a) Bài Mặt trăng – Gieo vần: 1 vần (độc vận), vần chân (cuối câu), gieo vần cách (bên, đen, lên, hèn). – Nhịp lẻ: 2/3 – Hài thanh: có sự luân phiên B-T hoặc niêm B-B, T-T ở tiếng thứ 2 và thứ 4. b) Đoạn thơ trong bài Sóng: – Gieo vần: + Vần chân, gieo vần cách trong từng khổ ở tiếng cuối câu thứ 2 và thứ 4: • Khổ 2: em, lên. + Khổ 1 gieo vần trắc (TV) thì khổ 2 gieo vần bằng (Bv). – Ngắt nhịp: 3/2. – Hài thanh: không theo quy luật luân phiên B-T như trong ngũ ngôn truyền thống mà chủ yếu là theo quy luật của tình cảm, cảm xúc. Chẳng hạn, ở khổ 1, ta thấy: B B Ôi con Sóng ngày xưa B T Và ngày sau vẫn thế T B Nỗi khát vọng tình yêu B T Bồi hồi trong ngực trẻ. 2. Phân tích cách gieo vần, ngắt nhịp khổ đầu bài Tống biệt hành của Thâm Tâm để thấy sự đổi mới, sáng tạo trong thể thơ bảy tiếng hiện đại so với thơ thất ngôn truyền thống. Đưa người, / ta không đưa qua sông, (2/5) Sao có / tiếng sóng ở trong lòng? (2/5) Bóng chiều không thắm, / không vàng vọt, (4/3) Sao đầy hoàng hôn / trong mắt trong? (4/3) – Cách gieo vần: gieo vần chân ở cuối câu thơ thứ 1, thứ 2 và thứ 4: sông, lòng, trong. Đây là vần bằng (Bv). – Cách ngắt nhịp; Hai câu 3 và 4 ngắt nhịp 4/3 theo cách ngắt nhịp của thơ thất ngôn truyền thống; nhưng hai câu 1 và 2 lại ngắt nhịp 2/5 cho phù hợp với tình cảm và cảm xúc của tác giả trong buổi đưa tiễn người bạn lên đường lúc bấy giờ. 3. Bài này anh (chị) tự làm. (Có thể trao đổi thêm trong nhóm học tập). 4. Tìm những yếu tố vần, nhịp và hài thanh của khổ đầu bài thơ Tràng giang của Huy Cận để chứng mình ảnh hưởng của thể thơ thất ngôn bát cú trong thơ mới. T B Τ Sóng gợn tràng giang / buồn điệp điệp, (4/3) B T B Con thuyền xuôi mái / nước song song, (4/3) B T B Thuyền về nước lại, / sầu trăm ngả; (4/3) T B T Củi một cành khô / lạc mấy dòng (4/3) – Gieo vần: vần chân, gieo vần cách (song, dòng) và là vần bằng (Bv). – Ngắt nhịp: 4/3 (như cách ngắt nhịp trong thể thơ thất ngôn bát cú). – Hài thanh: theo đúng mô hình của thể thơ thất ngôn bát cú (đã ghi các thanh bằng (B) và trắc (T) ở các tiếng thứ 2, 4, 6 trên bốn dòng thơ).
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Luật thơ
1,458
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Mấy ý nghĩ về thơ Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Mấy ý nghĩ về thơ, hy vọng qua bộ tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh tham khảo để học tốt Ngữ văn lớp 12. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo để có kết quả cao hơn trong học tập. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Mấy ý nghĩ về thơ • Tác giả: Xem ở bài đọc thêm Đất nước • Gợi ý tìm hiểu văn bản Tháng 9-1949, có một sự kiện văn nghệ đáng chú ý: đó là Hội nghị tranh luận văn nghệ ở Việt Bắc nhằm đẩy mạnh phong trào sáng tác văn nghệ theo đường lối của Đảng để phục vụ nhân dân, phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp. Cùng với kịch của Lộng Chương, văn của Nguyễn Tuân, Hội nghị còn tranh luận về thơ của Nguyễn Đình Thi và mở rộng ra một số vấn đề thuộc quan niệm về thơ. Nguyễn Đình Thi đã phát biểu quan niệm của mình về thơ trong bài Mấy ý nghĩ về thơ đăng trên Văn nghệ số 10 – 1949. Bài tiểu luận này của Nguyễn Đình Thi nêu lên những quan niệm mới mẻ, có chiều sâu về thơ, trong đó có những suy nghĩ, đề xuất của tác giả có thể gọi là táo bạo trong hoàn cảnh năm 1949 lúc bấy giờ: – Sau đó, tác giả phân tích những yếu tố đặc trưng khác của thơ: + Hình ảnh phải từ cảm xúc mà có, mà lóe sáng trong thơ và hiện lên một cách tự nhiên trong lòng nhà thơ. + Nhịp điệu, nhạc điệu trong thơ quan trọng nhất là nhịp điệu, nhạc điệu bên trong tâm hồn nhà thơ. + Ngôn ngữ trong thơ phải có hồn, có sức gợi, phải kết tinh trong đó tình cảm, cảm xúc của thi nhân. + Đường đi của thơ là con đường đưa thẳng vào tình cảm, từ trái tim nhà thơ đến với trái tim người đọc. – Tác giả quan niệm thơ là tổng hợp, kết tinh. Văn xuôi cho phép không mười phần hoàn hảo, nhưng thơ thì luôn luôn đòi hỏi sự toàn bích. – Về thơ tự do, thơ không vần, Nguyễn Đình Thi có một số quan niệm rất mới, có thể nói là rất táo bạo trong bối cảnh lúc bấy giờ; “Không có vấn đề thơ tự do, thơ có vần và thơ không vần. Chỉ có thơ thực và thơ giả, thơ hay và thơ không hay, thơ và không thơ.” Điều này là một sự “phá cách” đối với thơ truyền thống.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Mấy ý nghĩ về thơ
465
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Để học tốt Ngữ văn lớp 12, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ, bộ tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh học tập môn Ngữ văn một cách hiệu quả hơn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ I. CÁCH VIẾT BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ 1. Nghị luận về một bài thơ Đề: Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh. (Xem toàn văn bài thơ trong SGK). Đối với một bài thơ, các bước làm bài có thể như sau: a) Đọc chậm nhiều lần bài thơ để có cảm nhận chung về tác phẩm: bài thơ nói về vấn đề gì, tình cảm của tác giả bộc lộ trong bài thơ như thế nào?,… b) Tìm hiểu sâu về bài thơ: – Về nội dung: đề cập đến những ý gì, điều gì trong cuộc sống của con người. – Về nghệ thuật: có những điểm nào cần chú ý: về hình ảnh, âm điệu, ngôn ngữ, thể thơ,.. – Điểm đặc sắc nhất của bài thơ là gì? (Về bước b, có thể sử dụng các câu hỏi gợi ý trong SGK để tìm hiểu bài thơ). – Nêu các luận điểm để phân tích bài thơ. Có thể có nhiều luận điểm khác nhau tùy theo cảm nhận và suy nghĩ của từng người viết. Các luận điểm đó được sắp xếp trong một lập luận lôgic của bài làm. – Trình tự bài có thể có nhiều cách. Ví dụ: + Cách 1: Theo trình tự các đoạn thơ, câu thơ + Cách 2: Theo trình tự nội dung – nghệ thuật – đánh giá bài thơ. + Cách 3: Nêu nét đặc sắc nổi bật của tác phẩm – phân tích cái hay, vẻ đẹp – đánh giá bài thơ. d) Viết bài theo dàn ý đã lập bằng phong cách nghị luận văn học với cảm hứng của mình. Chú ý: – Nghị luận về một bài thơ không chỉ đơn thuần làm công việc giảng giải, phân tích bài thơ đó mà quan trọng hơn là phải phẩm bình, thưởng thức, đánh giá bài thơ bằng những cảm nhận riêng, rung động riêng và chủ kiến của mình về bài thơ đó. – Nghị luận về một bài thơ (mà đề bài không nêu yêu cầu cụ thể), người viết có thể nghị luận về toàn bộ bài thơ đó, hoặc chỉ chọn một hoặc vài ba điểm đáng nói nhất, thích thú nhất để bình luận. 2. Nghị luận về một đoạn thơ Đề: Phân tích đoạn thơ trong bài Việt Bắc của Tố Hữu (xem văn bản trong SGK). Nghị luận về một đoạn thơ, xét chung, về cách làm cũng giống như nghị luận về một bài thơ. Chỉ có điều, ở một tác phẩm thơ thì ý tưởng và chủ đề trọn vẹn hơn, còn ở một đoạn thơ thì có khi cũng là một ý tiêu biểu cho cả bài thơ, nhưng cũng có trường hợp nó lại là một ý đặc sắc nào khác chưa hẳn đã là ý bao trùm cho chủ đề của tác phẩm. Vì vậy, điều căn cứ vào để nghị luận chính là văn bản của đoạn thơ chứ không phải bài thơ. Bài thơ ở đây chỉ là một tài liệu để giúp ta soi sáng thêm đoạn thơ nhằm hiểu sâu sắc thêm đoạn thơ. Vì vậy, trong điều kiện có thể, cũng nên tìm đọc bài thơ có đoạn thơ cần nghị luận. Anh (chị) có thể dựa vào các bước làm bài của dạng bài nghị luận về một bài thơ trên đây để làm dạng bài này (nghị luận về một đoạn thơ). Anh (chị) cần đọc kỹ, tham khảo những gợi ý trong SGK để làm bài này và cố gắng tập viết thành một bài nghị luận văn học bằng cảm hứng và những suy nghĩ riêng của mình. II. LUYỆN TẬP Phân tích đoạn thơ trong bài Tràng giang của Huy Cận (xem văn bản trong SGK). Gợi ý: – Cảnh chiều xuống trên sông: đẹp nhưng đượm buồn. – Tâm trạng thi nhân: nỗi buồn nhớ nhà dâng lên sâu thăm thẳm. – Nghệ thuật: + Hình ảnh đối lập, gợi cảm: núi mây hùng vĩ / cánh chim bé nhỏ. + Âm điệu phù hợp: dập dềnh như sóng nước trên Tràng giang. + Tứ thơ mới mẻ: học tập thơ xưa và sáng tạo thêm cái mới. – Nét đặc sắc: sự kết hợp giữa bút pháp cổ điển của thơ Đường với bút pháp lãng mạn của Thơ mới.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
807
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Nghị luận về một hiện tượng đời sống Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Bạn đọc thân mến! xin giới thiệu tới các bạn tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Nghị luận về một hiện tượng đời sống, với nội dung tài liệu đã được cập nhật chi tiết sẽ là nguồn tài liệu hữu ích để giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 12. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Nghị luận về một hiện tượng đời sống I. CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG 1. Dạng đề bài (xem SGK) – Đề bài nêu lên một hiện tượng trong đời sống qua một số thông tin vắn tắt về một câu chuyện lạ lùng của một con người có thật (chàng thanh niên trẻ tiêu biểu Thành phố Hồ Chí Minh 2007 Nguyễn Hữu Ân). – Yêu cầu của đề: bày tỏ ý kiến của mình về hiện tượng đó. 2. Các bước thực hiện Có thể thực hiện theo 3 bước sau đây: a) Tìm hiểu đề bài – Xác định hiện tượng cần bàn luận: một tấm gương tốt của tuổi thanh nih họa những dẫn chứng nào? (luận cứ) – Xác định cách lập luận: vận dụng những thao tác lập luận nào? b) Lập dàn ý – Mở bài: giới thiệu hiện tượng cần nghị luận, nhấn mạnh đặc điểm của nó. + Đúng, đẹp như thế nào? vì sao lại là câu chuyện lạ lùng? + Đáng ghi nhận, ngợi ca, đáng học tập như thế nào? + Ở góc độ riêng của mình (ên rất đáng học tập. – Suy nghĩ về nội dung bàn luận: + Bàn luận những ý gì: (luận điểm) + Min học sinh lớp 12), sẽ đi sâu bàn luận điều gì đặc biệt? + Có cho đó là hiện tượng “phi thường”, cá biệt, khó có thể học tập không?, vv… – Kết bài: Nêu suy nghĩ sâu sắc nhất của bản thân trước hiện tượng đó. c) Viết bài – Dựa vào dàn ý đã lập (có thể khác dàn ý này) để viết thành bài văn mang suy nghĩ riêng của mình. – Có thể bàn luận toàn diện, cũng có thể chỉ đi sâu vào suy nghĩ tâm huyết nhất của mình. (Để bài viết cập nhật, cần đọc kĩ tư liệu tham khảo về câu chuyện của Nguyễn Hữu An). 3. Rút ra kết luận Có thể rút ra hai kết luận sau: – Nghị luận về một hiện tượng đời sống là bàn về một hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội. – Bài nghị luận cần nêu rõ hiện tượng, phân tích mặt đúng, mặt sai, mặt lợi, mặt hại, chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của người viết bằng các thao tác lập luận phù hợp; cần chọn góc độ riêng để bàn luận nhằm nêu lên những suy nghĩ của riêng mình. 1. Đọc văn bản của Nguyễn Ái Quốc và trả lời câu hỏi. a) Điều mà tác giả Nguyễn Ái Quốc bàn là hiện tượng thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ (những năm 20 của thế kỉ XX): sống không có lí tưởng, mục đích, thiếu nghị lực, chí tiến thủ, chỉ biết vui chơi, hưởng thụ cá nhân mà không biết học tập cho bản thân, cho nước nhà, cho dân tộc. Ngày nay, hiện tượng đó không phải không còn ở một số thanh niên nhất định. Cần phải cảnh báo và chấn chỉnh lại. b) Trong văn bản, Bác Hồ đã sử dụng các thao tác lập luận: so sánh, phân tích và bình luận. c) Cách viết của Bác rõ ràng, trong sáng, lập luận chặt chẽ, giọng văn tâm huyết, đầy thuyết phục. 2. Bàn về hiện tượng “nghiền” ka-ra-o-kê và in-tơ-net trong nhiều bạn trẻ hiện nay. Bài này anh (chị) tự làm và cần nêu rõ chủ kiến của mình trước hiện tượng đời sống đó. III. TƯ LIỆU THAM KHẢO Tư liệu tham khảo này là một tài liệu tốt, giúp ích thiết thực cho việc làm đề tài trên đây. Cần đọc kĩ, tự rút ra những điều cần thiết (về ý, về dẫn chứng) cho bài làm của mình.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Nghị luận về một hiện tượng đời sống
711
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, qua tài liệu các bạn học sinh sẽ làm bài bập Ngữ văn 12 một cách đơn giản hơn và hiệu quả hơn, từ đó các bạn sẽ học tốt Ngữ văn 12 và đạt kết quả cao hơn trong học tập. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí I. CÁCH LÀM MỘT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI 1. Đọc đề văn và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới: a) Đề văn: Hãy viết bài nghị luận để trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu: Ôi, sống đẹp là thế nào hỡi bạn? (Một khúc ca) b) Thực hiện các yêu cầu: Các yêu cầu về tìm hiểu đề và lập dàn ý đã được SGK hướng dẫn trả lời cụ thể, chi tiết bằng một hệ thống câu hỏi. Anh (chị) đọc, suy nghĩ và tự trả lời các câu hỏi đó để thực hiện bài làm. 2. Từ kết quả bài luyện tập trên, phát biểu về bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo đức. Từ việc trả lời 4 câu hỏi trong SGK, rút ra một số điểm sau đây: – Bài nghị luận bàn về tư tưởng, đạo đức nhằm trình bày quan điểm, suy nghĩ của mình để thuyết phục người khác, đồng thời tự mình nâng cao nhận thức, rèn luyện phẩm chất theo vấn đề mình đang nghị luận. – Bài nghị luận kiểu này thường có một số nội dung: + Giới thiệu, trình bày, giải thích rõ vấn đề về tư tưởng, đạo đức cần nghị luận. + Phân tích các mặt đúng sai, lợi hại của vấn đề đang xem xét đối với cuộc sống. + Nều ý nghĩa, rút ra bài học trong tư tưởng, đạo đức và hành động. II. LUYỆN TẬP 1. Đọc văn bản của G.Nê-ru và thực hiện các yêu cầu ở dưới. a) Vấn đề mà G.Nê-ru bàn luận là “văn hóa của con người”. Đặt tên cho văn bản: Bàn về văn hóa của con người. b) Tác giả đã sử dụng các thao tác lập luận như phân tích, so sánh, bình luận. c) Cách diễn đạt trong sáng, dứt khoát, cuốn hút sự chú ý của người đọc (xem đoạn đầu văn bản). 2. Thực hiện đề văn nghị luận về câu nói của nhà văn Nga Lép Tôn – xtôi. Có thể tiến hành theo 3 gợi ý trong SGK, hoặc bàn luận theo các ý trong câu nói của Lép Tôn – Xtôi: – Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. – Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định. – Không có phương hướng thì không có cuộc sống.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
490
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học, tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 12 một cách đơn giản hơn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học I. CÁCH VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT Ý KIẾN BÀN VỀ VĂN HỌC 1. Giới thiệu đề Đề 1: Giáo sư Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn học Việt Nam phong phú, đa dạng, nhưng nếu cần xác định một chủ lưu, một dòng chính, quán thông kim cổ, thì đó là văn học yêu nước. (Dẫn theo GS. Trần Văn Giàu, Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam). Bình luận ý kiến trên. Đề 2: Bàn về thơ Tố Hữu, nhà phê bình Hoài Thanh viết: “Thái độ toàn tâm toàn ý vì cách mạng là nguyên nhân chính đưa đến sự thành công của thơ anh”. (Tuyển tập Hoài Thanh, NXB Văn học, 1982). Bình luận ý kiến trên. 2. Cách làm bài a) Tìm hiểu đề Tìm hiểu đề ở đây là tìm hiểu nội dung của ý kiến đối với văn học (câu văn trích) và yêu cầu của đề. • Đề 1: – Làm rõ nghĩa các từ, cụm từ: phong phú, đa dạng, chủ lưu, quán thông kim cổ. – Xác định nội dung cơ bản của ý kiến (chú ý cụm từ: “nhưng nếu cần xác định…”). Có thể xác định ý kiến như sau: Tuy phong phú, đa dạng, nhưng dòng chính xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam là văn học yêu nước. (ý trước là ý phụ, ý sau mới là ý chính mà người viết nhấn mạnh). • Đề 2: – Chú ý làm rõ nghĩa các cụm từ: toàn tâm toàn ý, nguyên nhân chính. – Xác định nội dung cơ bản của ý kiến: Nguyên nhân chính đưa đến sự thành công của thơ Tố Hữu là thái độ toàn tâm toàn ý vì cách mạng của nhà thơ. Như vậy, bên cạnh “nguyên nhân chính” còn có những nguyên nhân khác nữa như năng khiếu thơ ca, tình thương, sự từng trải của nhà thơ,… nhưng ý kiến của Hoài Thanh là nhằm nhấn mạnh để khẳng định cái “nguyên nhân chính” đó. (Anh (chị) có thể tham khảo thêm những gợi ý trong SGK về việc tìm hiểu hai đề này). – Yêu cầu của đề: Cả hai đề đều có cùng một yêu cầu là “bình luận ý kiến trên”. Như vậy, bài làm không chỉ dừng lại ở chỗ giải thích, chứng minh các ý kiến đó, mà còn cần bàn luận và mở rộng thêm về ý kiến đó. (ý kiến đó đúng, sai như thế nào; có ý nghĩa ra sao; giá trị và tác dụng đối với hiện nay). Trên cơ sở của việc tìm hiểu đề, anh (chị) tiến hành lập dàn bài, tức là xác định lại các luận điểm và những luận cứ, từ đó xây dựng một lập luận theo suy nghĩ, chủ kiến của mình bằng các thao tác lập luận phù hợp với từng bài làm. Dàn bài cần có đủ cả ba phần: mở bài, thân bài, kết bài. (Anh (chị) có thể tham khảo những gợi ý về việc lập dàn bài của hai đề này trong SGK). c) Viết thành bài văn Dựa vào dàn bài để viết, thành bài văn của mình. Cần chú ý đây là bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học, vì vậy cách viết cần có sự rõ ràng, chặt chẽ về mặt lập luận, đồng thời cũng cần có màu sắc văn học, và sự hài hòa, nhuần nhị giữa hai mặt đó là phẩm chất cần đạt được để tăng thêm sức thuyết phục cho bài nghị luận thuộc dạng này. II. LUYỆN TẬP Gợi ý bình luận ý kiến của Thạch Lam về văn chương: Có thể sơ đồ hóa cách hiểu ý kiến của Thạch Lam để tiến hành bình luận như sau: Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có ⇒ tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
750
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc, với nội dung đã được tổng hợp một cách đầy đủ sẽ là nguồn tài liệu hữu ích giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 12. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN A. Tác giả Đọc kĩ Tiểu dẫn để nắm được những nét cơ bản về tác giả. Cần lưu ý hai điểm sau đây: – Phạm Văn Đồng (1906 – 2000) là nhà chính trị, ngoại giao tài ba đồng thời cũng là nhà giáo dục tâm huyết, nhà lí luận văn hóa văn nghệ lớn, có nhiều cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. – Riêng trong lĩnh vực văn học, ông để lại cho nền văn học nước nhà nhiều tác phẩm có giá trị, mà tiêu biểu là cuốn sách nổi tiếng: Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ (in lần thứ 5, 1983). B. Tác phẩm Tác phẩm “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” là bài viết của Phạm Văn Đồng đăng trong Tạp chí Văn học số 7-1963 nhân kỷ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (3-7-1888). Đây là bài viết có những phát hiện mới mẻ và những định hướng nghiên cứu đúng đắn về nhà thơ lớn Nguyễn Đình Chiểu. Bằng sự từng trải cách mạng, sự gắn bó sâu sắc với đất nước, với nhân dân và cách nghĩ sâu rộng của một nhà văn nghệ lớn, tác phẩm đã nhìn nhận cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trong mối liên hệ khăng khít với hoàn cảnh của Tổ quốc lúc bấy giờ và với thời đại hiện nay – từ đó mà phát hiện ra những điều mới mẻ giúp ta điều chỉnh lại cách nhìn về nhà thơ yêu nước lớn ở miền Nam, để càng thêm yêu quý con người và tác phẩm của nhà thơ lớn đó. Bài viết ra đời từ 1963, cách đây hơn 40 năm nhưng vẫn còn nguyên giá trị cả về mặt khoa học và mặt tư tưởng. 1. Những luận điểm lớn nhất của bài văn Dõi theo văn bản, ta thấy bài viết gồm ba phần, ứng với ba luận điểm lớn: – Phần 1: Đặt vấn đề cho bài viết. Tác giả nêu luận điểm xuất phát: phải có một cách nhìn đúng đắn về Nguyễn Đình Chiểu và thơ văn của ông. Cách nhìn đó là: “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy.” – Phần 2: Giải quyết vấn đề. Tác giả nêu các luận điểm bổ sung để chứng minh cho luận điểm xuất phát; cách nhìn đúng đắn đó được cụ thể hóa qua cách đánh giá (của tác giả) về: + Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu (chủ yếu là bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). + Tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (cả nội dung và nghệ thuật). – Phần 3: Kết thúc vấn đề: Luận điểm kết luận, cái đích của bài viết: đánh giá đúng vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học dân tộc theo cách nhìn mới mẻ đã nêu ở phần mở đầu: “Nguyễn Đình Chiểu là một chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta. Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa và tư tưởng”. Nhìn chung, cách sắp xếp các luận điểm như vậy là phù hợp với lôgic – nội dung của bài viết. Nếu có điều khác với trật tự thông thường (nghiên cứu các tác phẩm theo trình tự thời gian xuất hiện) thì ở đây, tác giả lại nói về thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu trước, sau đó mới nói đến truyện Nôm Lục Vân Tiên. Phải chăng, tác giả muốn người đọc chú ý hơn đến thơ văn yêu nước của Đồ Chiểu? 2. Tác giả cho rằng văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng giống như “những vì sao có ánh sáng khác thường”, “con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy”. Đó là một phát hiện có ý nghĩa phương pháp luận trong cách nhìn về nhà thơ yêu nước lớn này. – “Những vì sao có ánh sáng khác thường”: Ánh sáng đẹp nhưng ta chưa quen nhìn nên khó phát hiện ra vẻ đẹp ấy. Cái ánh sáng khác thường ở đây chính là vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, dân dã của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, vẻ đẹp của loại văn chương hướng về đại chúng, gắn bó máu thịt với nhân dân, phục vụ cuộc sống của người dân, mang tính nhân dân sâu sắc. Văn chương Đồ Chiểu không óng mượt, nõn nà mà chân chất, phác thực, có chỗ tưởng như thô kệch, nhưng lại chứa đựng trong đó những tư tưởng, tình cảm nồng hậu, cao quý của nhân dân. “Nó không phải là vẻ đẹp của những cây lúa xanh uốn mình trong gió nhẹ. Nó đẹp vẻ đẹp của đống thóc mẩy vàng” (Nguyễn Đình Chú). Vẻ đẹp khác thường này đáng quý lắm, và đáng quý hơn khi ta biết nhà thơ đã sáng tác trong hoàn cảnh mù lòa, cuộc sống gặp nhiều khó khăn và bất hạnh. – “Con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy” chính là vì thế! Bởi lâu nay, chúng ta đã quen nhìn loại ánh sáng khác, vẻ đẹp khác. Đó là văn chương trau chuốt, gọt giũa, lời lẽ hoa mỹ với hình tượng hùng vĩ, tráng lệ, phi thường… Cách nhìn như vậy thật khó đến với văn chương Đồ Chiểu, nói chi đến việc cảm nhận được tình ý sâu xa để thấy hết vẻ đẹp đích thực của văn thơ ông. Vì vậy “phải chăm chú nhìn mới thấy”, tức phải dày công, kiên trì nghiên cứu thì mới khám phá được vẻ đẹp ấy, nhưng phải chăm chú nhìn theo một cách nhìn khoa học, đúng đắn về Nguyễn Đình Chiểu. 3. Tác giả đã giúp chúng ta nhận ra những “ánh sáng khác thường” nào của ngôi sao sáng Nguyễn Đình Chiểu trên bầu trời văn nghệ Việt Nam? Phần này anh (chị) có thể dựa vào văn bản, suy nghĩ để tự làm. Ở đây, chỉ gợi ý một số nét chính: – Cuộc sống và quan niệm sáng tác của nhà thơ: một cuộc sống đẹp, đầy nghị lực, dù gặp nhiều khó khăn và bất hạnh, nhưng vẫn đứng thẳng, ngẩng cao đầu mà sống, không phải vì mình mà vì dân vì nước, theo lý tưởng “Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã!”, tỏ thái độ bất khuất, bất hợp tác quyết liệt trước sự mua chuộc của thực dân Pháp. Cùng với cuộc sống đẹp đó là quan niệm sáng tác đúng đắn và tiến bộ: Chở bao nhiều đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà! Đó là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng. Đối với Nguyễn Đình Chiểu, cầm bút, viết văn là một thiên chức. Và ông đã làm đúng thiên chức đó. – Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu phục vụ đắc lực cuộc chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ năm 1860 về sau, suốt hai mươi năm trời, với những bài văn tế mà tiêu biểu là Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, những bài điếu, tác phẩm Ngư Tiều y thuật vấn đáp,… Đó là những tác phẩm sôi sục lòng căm thù và dạt dào lòng yêu nước với những hình tượng cao đẹp của người nông dân nghĩa sĩ đánh giặc, những lãnh tụ của nghĩa quân, những tấm gương bất khuất cao độ trước kẻ thù,… – Truyện thơ Lục Văn Tiên là một bài thơ hào hùng mà thiết tha về lí tưởng đạo đức của nhân dân, ca ngợi những con người trọng nghĩa, khinh tài, trước sau một lòng, mặc dầu khổ cực, gian nguy, quyết phấn đấu vì nghĩa lớn như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Tiểu đồng, Vương Tử Trực, Hán Minh,… Bằng cách nhìn mới mẻ mà đúng đắn, tác giả đã có sự nhìn nhận và đánh giá lại “giá trị văn nghệ của bản trường ca thật là hấp dẫn từ đầu đến cuối” này. Đây là một sự “điều chỉnh” cần thiết để khôi phục lại giá trị nghệ thuật như vốn có của tác phẩm. – Cho đến nay, vẫn còn nhiều người chưa hiểu hết giá trị văn chương Nguyễn Đình Chiểu, trong đó không ít người còn nhìn nhận phiến diện về thơ văn ông, thậm chí còn “chê” văn thơ ông là thô ráp, nôm na. – “Phải sáng tỏ hơn nữa trong thời đại hiện nay” là để khôi phục lại giá trị đích thực của nhà thơ yêu nước lớn miền Nam từng có tác dụng to lớn và sâu rộng trong nhân dân ta, không chỉ trong thời bấy giờ mà ngay cả trong cuộc sống hiện nay. 5. Bài nghị luận này không hề khô khan mà đầy sức hấp dẫn, lôi cuốn là nhờ những yếu tố sau đây: – Cách nghị luận không chỉ xác đáng, chặt chẽ, mà còn xúc động, thiết tha, với nhiều hình ảnh, ngôn từ đặc sắc, khiến người đọc còn nhớ mãi. (Phân tích và chứng minh qua văn bản). – Cách nhìn mới mẻ, có giá trị phát hiện của tác giả đã lôi cuốn người đọc vào bài viết của mình. – Nhưng quan trọng nhất là tấm lòng của người viết đối với cuộc đời cao đẹp và thơ văn có giá trị đích thực của Nguyễn Đình Chiểu. Đó cũng là tấm lòng gắn bó sâu sắc của tác giả đối với vận mệnh đất nước và cuộc sống của nhân dân lúc bấy giờ. Chính tấm lòng này đã làm nên chất văn cho bài viết, và qua bài viết, ta thấy được hơi thở của cuộc sống thấm trong từng câu chữ, để người viết có thể làm sống lại một thời kỳ lịch sử đau thương mà anh hùng của dân tộc, trên cái nền đó mà biểu dương ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu – một người trọn đời dùng cây bút làm vũ khí chiến đấu cho dân, cho nước, nêu cao tấm gương của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa và tư tưởng. Cuối cùng, đọc kĩ phần ghi nhớ trong SGK để nắm vững bài học. II. LUYỆN TẬP Gợi ý làm bài: – Phân tích rõ vì sao văn thơ Nguyễn Đình Chiểu không xa lạ với giới trẻ ngày nay (về nội dung, về nghệ thuật). – Trên cơ sở bác bỏ quan niệm không đúng về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, xây dựng một lập luận về việc cần thiết phải học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc trong nhà trường: để làm gì? Có lợi như thế nào? (về mặt tư tưởng và văn học),… Anh (chị) có thể xem lại bài học về tác phẩm này ở lớp 11 để làm bài tập này.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc
2,023
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Người lái đò sông đà Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 mời các bạn và thầy cô tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Người lái đò sông đà, qua bộ tài liệu các bạn học sinh sẽ nắm chắc nội dung bài Người lái đò sông đà để học tốt Ngữ văn lớp 12. Chắc chắn đây là nguồn tài liệu bổ ích dành cho các bạn học sinh. Mời bạn đọc tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Người lái đò sông đà I. VÀI NÉT VỀ TẬP TÙY BÚT SÔNG ĐÀ VÀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN TUÂN Người lái đò Sông Đà là áng văn được in trong tập tùy bút Sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân. Về tác giả Nguyễn Tuân, anh (chị) có thể xem lại trong Ngữ văn 11, tập một ở bài học Chữ người tử tù. Dưới đây, giới thiệu thêm vài nét về tập tùy bút Sông Đà và phong cách nghệ thuật của tác giả. 1. Tập tùy bút Sông Đà – Sông Đà, với 15 thiên tùy bút và một bài thơ phác thảo, vẫn được nhiều người đánh giá là kiệt tác. Đây là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi, không chỉ để thỏa mãn cái thú tìm đến những miền đất lạ cho thỏa chí tang bồng, mà còn, và chủ yếu còn để tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên và chất vàng mười, “thứ vàng được thử lửa” ở tâm hồn của những con người lao động và chiến đấu trên miền núi sông hùng vĩ và thơ mộng đó. Vì thế, Sông Đà nói chung và bài tùy bút Người lái đò Sông Đà nói riêng, cho ta nhận ra diện mạo của một nhà văn Nguyễn Tuân mới mẻ, khát khao được hòa nhịp với đất nước và cuộc đời này, không giống với một Nguyễn Tuân khinh bạc, ngông nghênh trước Cách mạng tháng Tám, con người chỉ muốn xê dịch cho khuây cảm giác “thiếu quê hương”. 2. Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân Sông Đà và Người lái đò Sông Đà tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyên Tuân: – Một cây bút tài hoa và uyên bác: thiên nhiên hay con người đều được chú ý khám phá ở phương diện văn hóa, mĩ thuật của nó. Tính tư liệu phong phú, đầy giá trị thông tin về địa lí, lịch sử, văn hóa, phong tục,… – Một ngòi bút có thiên hướng thể hiện những cảm giác mãnh liệt, gây những ấn tưởng đậm nét, hoặc đẹp tuyệt vời hoặc thật dữ dội… – Một con mắt nhìn sự vật ở chiều lịch sử, gắn quá khứ, hiện tại với tương lai. II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN • Đọc văn bản Cần đọc toàn văn đoạn trích bài tùy bút để nắm được ý tưởng và mạch văn bản, cảm xúc của tác giả, như cần chú ý đọc kĩ, đọc chậm để suy ngẫm và thưởng thức vẻ đẹp của các đoạn văn sau đây (từ tr.182 đến tr.182 đến tr:186); – Đoạn tả con Sông Đà hung bạo với thác nước gầm réo và thạch trận giăng bẫy đòi ăn chết cái thuyền, cũng là đoạn tả người lái đò vượt thác, chiến thắng thạch trận, đưa chiếc thuyền về nơi sông nước thanh bình. – Đoạn tả con Sông Đà thơ mộng trữ tình như một áng tóc tuôn dài. Khi đọc các đoạn này, cần đặc biệt lưu ý đến việc sử dụng ngôn ngữ của tác giả để miêu tả con sông và người lái đò (ngôn ngữ giàu có và sáng tạo như thế nào, có giá trị tạo hình ra sao, cách dùng của tác giả táo bạo và độc đáo như thế nào). • Tìm hiểu văn bản Cần tìm hiểu hai hình tượng chính trong bài tùy bút: – Hình tượng con sông Đà: + Con sông hung bạo. (câu hỏi 2) + Con sông trữ tình. (câu hỏi 3) – Hình tượng người lái đò vượt thác, chiến thắng thạch trận, “tay lái ra hoa” (câu hỏi 4) 1. Hình tượng con sông Đà Hình tượng con sông Đà in đậm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: Con sông Đà, dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, không còn là con sông của thiên nhiên – địa lí, mà được miêu tả như một sinh vật có tính cách vừa hung bạo vừa trữ tình: a) Con sông hung bạo (đoạn người lái đò vượt thác) – Con sông được miêu tả như một con quái vật điên cuồng, hung dữ đang nhe nanh, múa vuốt hòng bóp chết và nuốt chửng con thuyền và người lái đò: + Thác nước gầm réo vang trời thanh la não bạt: khi thì “rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng…”, lúc lại “hồng hộc tế mạnh trên sông đá”, có khi “đội cả thuyền lên” và “mặt sông rung tít lên như tuốc bin thủy điện nơi đáy hầm đập”… + Thạch trận giăng trên sông thành 3 vòng vây như thiên la địa võng đòi “ăn chết cái thuyền”, đá “nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền” hoặc “xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử”. – Tác giả đã thể hiện những cảm giác mãnh liệt, gây những ấn tượng thật dữ dội khi miêu tả con sông Đà và trận thủy chiến trên cái thạch trận có một không hai ấy với người lái đò: “nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra..”, sóng thác “bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò, hột sinh dục vụt muốn thọt lên cổ” và “mặt sông trong tích tắc lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng”… – Dưới con mắt nhìn nghệ sĩ của Nguyễn Tuân, con sông Đà hiện ra thật đẹp và trữ tình: + Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai… + Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ. + Con sông Đà gợi cảm như một cố nhân, xa thì nhớ nhung lưu luyến. – Tâm hồn nghệ sĩ ấy lại đưa con sông về với thời gian xa xưa, với không gian tĩnh lặng để nó càng thêm thơ mộng trữ tình: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Sông Đà còn gắn với truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh, với câu thơ của Lý Bạch và Tản Đà… gợi bao hoài niệm và thương nhớ bâng khuâng. – Tóm lại, hình tượng con sông Đà đã in đậm nhiều nét phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân mà nổi bật nhất là ở chỗ nhìn thiên nhiên ở phương diện văn hóa, thẩm mĩ, và ở chỗ nhà văn dễ có cảm hứng trước những hiện tượng gây cảm giác mạnh, hoặc dữ dội hoặc đẹp tuyệt vời, khiến cho con sông Đà trở thành một con sông vừa hung bạo vừa trữ tình. 2. Hình tượng người lái đò sông Đà (qua đoạn người lái đò vượt thác) Nói chung, nhân vật chính diện của Nguyễn Tuân đều được mô tả như những con người tài hoa nghệ sĩ. Nhưng nếu trước Cách mạng tháng Tám, đó là một số ít con người đặc tuyển trong xã hội, có tài xuất chúng kiểu như Huấn Cao trong Chữ người tử tù, thì sau Cách mạng, những con người tài hoa ấy có thể tìm thấy trong nhân dân, ở những con người bình thường trên mọi lĩnh vực của cuộc sống: anh bộ đội, cô dân quân, thậm chí chị hàng cốm, người giã giò, bán phở, vv… Ở đây là người lái đò – nghệ sĩ, người nghệ sĩ trên sông nước. Chở đò mà là cả một nghệ thuật cao cường đầy tài hoa (được gọi là “tay lái ra hoa”). Nghệ thuật ở đây, như tác giả nói, là nắm chắc “quy luật tất yếu của dòng nước sông Đà”. Và vì làm chủ được quy luật ấy nên “trên thác hiên ngang một người lái đò. Sông Đà có tự do”, nhờ vậy họ đã chiến thắng dòng thác dữ. Qua bài tùy bút, đặc biệt là qua đoạn tả cuộc vượt thác nói trên của người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân muốn nói với ta rằng, chủ nghĩa anh hùng đâu chỉ có ở nơi chiến trường. Nó ở ngay trong cuộc sống của nhân dân ta, hàng ngày phải vật lộn với thiên nhiên vì miếng cơm manh áo. Và trí dũng tài ba không phải tìm ở đâu, mà ở ngay những người dân lao động bình thường kia. Cuộc đời của ông lái đò vô danh nơi ngọn thác hoang vu khuất nẻo kia là cả một thiên anh hùng ca, là cả một pho nghệ thuật tuyệt vời. Cuối cùng, đọc kĩ phần Ghi nhớ trong SGK để nắm vững bài học. III. LUYỆN TẬP 1. Tìm đọc trọn vẹn tùy bút Người lái đò sông Đà trong Tuyển tập Nguyễn Tuân, NXB Văn học, Hà Nội, 1982. 2. Tìm đoạn văn anh (chị) yêu thích, say mê nhất trong thiên tùy bút để phân tích rõ cái hay, cái đẹp (đặc biệt về sử dụng ngôn ngữ của tác giả) và phát biểu cảm nghĩ về đoạn văn đó (tự làm theo cảm nhận của mình). 3. Tìm đọc bài Người lái đò sông Đà, vẻ đẹp một dòng sông chữ của Đỗ Kim Hồi, in trong cuốn Nghĩ từ công việc dạy văn, NXB Giáo dục, 1999).
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Người lái đò sông đà
1,659
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Những ngày đầu của nước Việt Nam mới Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Những ngày đầu của nước Việt Nam mới, với nội dung tài liệu đã được cập nhật đầy đủ sẽ giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn lớp 12. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Những ngày đầu của nước Việt Nam mới Tác giả Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị tướng tài hoa lỗi lạc của Quân đội nhân dân Việt Nam, một trong những nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam. Cuộc đời ông luôn song hành cùng những chặng đường lịch sử của dân tộc trong thế kỉ XX. Với tầm tư tưởng và tầm văn hóa lớn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tái hiện những chặng đường ấy trong nhiều tác phẩm hồi kí: Những năm tháng không thể nào quên, Chiến đấu trong vòng vây, Điện Biên Phủ – điểm hẹn lịch sử,… Hồi kí của Võ Nguyên Giáp là những trang viết chân thực, sinh động, vừa có giá trị lịch sử vừa có giá trị văn học, truyền niềm tin và niềm tự hào dân tộc đến nhiều thế hệ người đọc, đặc biệt là thế hệ trẻ trong những ngày hôm nay. Đoạn trích thuộc chương XII của tập hồi kí Những năm tháng không thể nào quên mang tên Những ngày đầu của nước Việt Nam mới (do người biên soạn đặt) đã tái hiện chân thực và cụ thể những ngày đầu của chính quyền cách mạng còn non trẻ, “nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới sinh, nằm giữa bốn bề hùm sói, phải tự dốc sức mình đấu tranh dũng cảm, mưu trí, phải tìm mọi cách để sống còn”. Tình hình mọi mặt đều hết sức khó khăn, cuộc xâm lăng của giặc Pháp nổ ra rất sớm tại Nam Bộ, làm cho khó khăn càng thêm trầm trọng. Trong hoàn cảnh như vậy, phải làm gì để xây dựng xã hội mới, công việc đó còn khó khăn hơn là phá bỏ nền móng của xã hội cũ. Vấn đề đặt ra cấp bách lúc này là phải củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng. Trong những ngày đầu sóng gió đó, Hồ Chủ tịch đã truyền niềm tin cho nhân dân cả nước và mọi người đều đoàn kết xung quanh Bác và Chính phủ lâm thời để bảo vệ chính quyền cách mạng. “Đồng bào ta đã nhận thấy ở Bác Hồ, hình ảnh tượng trưng cao đẹp nhất của dân, của nước, của cách mạng, của chính quyền mới, chế độ mới”. Khi Bác kêu gọi đồng bào cả nước tích cực hưởng ứng Tuần lễ vàng thì nhiều người đã sốt sắng đem tới góp cả những vật kỉ niệm thân thiết nhất của mình, và chỉ trong một thời gian ngắn, các tầng lớp nhân dân đã quyên góp vào Quỹ Độc lập và Tuần lễ vàng được hai mươi triệu đồng và ba trăm bảy mươi ki-lô-gam vàng. “Hạnh phúc cho dân”, đó là mục đích của việc giành lấy chính quyền và giữ vững, bảo vệ chính quyền ấy. Đó là lí tưởng của Người. Đó cũng là tấm lòng của Người. Chính vì thế mà nhân dân cả nước đều đoàn kết xung quanh Hồ Chủ tịch, phát huy tinh thần yêu nước để bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, xây dựng chế độ mới. Và một nước Việt Nam mới đã vượt lên bao gian khó để tồn tại, đứng vững và khẳng định vị thế của mình. Đoạn trích hồi kí càng làm ta thêm thấm thía câu thành ngữ “Vạn sự khởi đầu nan” khi dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, đã vượt qua được những sóng gió ban đầu để xây dựng đất nước và chế độ mới.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Những ngày đầu của nước Việt Nam mới
691
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Phong cách ngôn ngữ khoa học Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Phong cách ngôn ngữ khoa học, tài liệu sẽ là nguồn thông tin bổ ích giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 12 một cách dễ dàng hơn, qua đó các bạn chắc chắn sẽ có kết quả học tập cao hơn. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Phong cách ngôn ngữ khoa học I. VĂN BẢN KHOA HỌC VÀ NGÔN NGỮ KHOA HỌC 1. Văn bản khoa học Đọc kĩ và nắm bắt cách diễn đạt của các văn bản sau: a) Văn bản về một đất nước thống nhất của Phan Ngọc. b) Văn bản về định nghĩa véctơ trong Hình học 10, 2006. c) Văn bản về trẻ em suy dinh dưỡng của Lê Thị Hải. Nhận xét: Các văn bản trên đều được diễn đạt bằng ngôn ngữ khoa học (khoa học xã hội nhân văn hoặc khoa học tự nhiên); chúng đều là văn bản khoa học, một kiểu văn bản rất thông dụng và cần thiết trong cuộc sống hiện đại ngày nay của chúng ta. (Tìm thêm những văn bản khoa học khác để minh họa). Tuy đều sử dụng ngôn ngữ khoa học và phục vụ giao tiếp trong lĩnh vực khoa học, nhưng các văn bản khoa học có thể phân chia thành ba loại: a) Các văn bản chuyên sâu, bao gồm: chuyên khảo, luận án, luận văn, tiểu luận, báo cáo khoa học, dự án,… Những văn bản này đòi hỏi phải chính xác về thông tin, lôgic trong tập luận, phải chặt chẽ nghiêm ngặt trong kiến giải. Loại văn bản này thường giới hạn trong những chuyên ngành khoa học. (văn bản a) b) Các văn bản dùng để giảng dạy các môn khoa học, bao gồm: giáo trình, giáo án… giảng dạy các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn. Những văn bản này ngoài yêu cầu về khoa học còn có yêu cầu về sư phạm, tức là phải trình bày nội dung từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, phù hợp với trình độ học sinh theo từng cấp, từng lớp, có định lượng kiến thức từng tiết, từng bài. (văn bản b) Chú ý: – Các kiểu đề văn về nghị luận (giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận) là những bài tập luyện kỹ năng lập luận nhằm tạo các văn bản khoa học từ dễ đến khó, từ thấp đến cao. 2. Ngôn ngữ khoa học – Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong các loại văn bản khoa học, trong phạm vi giao tiếp và truyền thụ kiến thức khoa học: khoa học tự nhiên (Toán, Lí, Hóa, Sinh,…) và khoa học xã hội nhân văn (Triết học, Xã hội học, Giáo dục học, Tâm lí học, Sử học, Chính trị kinh tế học,…). – Ngôn ngữ khoa học phần lớn sử dụng dạng viết, cũng có thể sử dụng ở dạng nói (hội thảo, diễn giải, nói chuyện,…), nhưng dù ở dạng nào cũng có những đặc trưng của phong cách ngôn ngữ khoa học. II. ĐẶC TRƯNG CỦA PHONG CÁCH NGÔN NGỮ KHOA HỌC Ngôn ngữ khoa học khác ngôn ngữ thuộc các phong cách về mặt từ ngữ và cú pháp, đặc biệt là cách trình bày, lập luận trong một văn bản khoa học. a) Từ ngữ trong các văn bản khoa học phần lớn cũng là những từ ngữ thông thường. Ví dụ: Ta hãy, Thế nào là, và luôn thể… (đoạn văn của Hoài Thanh). Nhưng những từ ngữ này chỉ có một nghĩa. Văn bản khoa học không dùng từ đa nghĩa, không dùng từ theo nghĩa bóng và ít dùng các biện pháp tu từ. b) Văn bản khoa học có một số lượng nhất định các thuật ngữ khoa học. Ví dụ: vectơ, đoạn thẳng (hình học); thơ, thơ cũ, thơ mới, thơ tự do… (nghiên cứu văn học). Thuật ngữ khoa học là những từ chứa đựng khái niệm cơ bản của chuyên ngành khoa học, là công cụ để tư duy khoa học. Những thuật ngữ đó có thể được xây dựng từ những từ ngữ thông thường, ví như trong hình học có: điểm, đường, đoạn thẳng, góc,…, cũng có thể vay mượn từ hệ thống ngôn ngữ khoa học nước ngoài như: ôxi, hiđrô, cacbonat canxi (hóa học),… Thuật ngữ về lớp từ vựng khoa học chuyên ngành mang tính khái quát, tính trừu tượng và tính hệ thống, không giống với từ ngữ thông thường mà người dân sử dụng khi giao tiếp hằng ngày. c) Ngoài ra, trong văn bản khoa học còn sử dụng các kí hiệu bằng chữ số Ả Rập (1, 2, 3,…), chữ số La Mã (I, II, III,…), những con chữ (a, b, c,…), những biểu đồ, công thức trừu tượng. Như vậy, tính trừu tượng là một đặc trưng khái quát của ngôn ngữ khoa học. d) Câu văn trong văn bản khoa học là một đơn vị thông tin, đơn vị phán đoán, lôgic, được xây dựng từ hai khái niệm khoa học trở lên theo một quan hệ nhất định. Ví dụ: – Quả đất là một hành tinh quay xung quanh mặt trời. Câu văn trong văn bản khoa học đòi hỏi tính chính xác không phải bằng cảm nhận mà bằng phán đoán lí trí chặt chẽ, đúng đắn. Câu phải dựa trên cú pháp chuẩn, không dùng câu đặc biệt, không dùng biện pháp tu từ cú pháp. Văn bản khoa học phải chính xác về từ ngữ, khái niệm, các nhận định đánh giá cũng phải chuẩn xác (xem các ví dụ về cách viết sai của học sinh trong sách giáo khoa). Như vậy, tính lí trí là một đặc trưng của phong cách ngôn ngữ khoa học. e) Nét chung nhất của ngôn ngữ khoa học là thứ ngôn ngữ phi cá thể: ít mang màu sắc cá thể. Tính phi cá thể trong sử dụng ngôn ngữ là đặc trưng thứ ba của ngôn ngữ khoa học, trái với phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật mang dấu ấn cá thể của người sử dụng. Phong cách ngôn ngữ khoa học là phong cách ngôn ngữ trong các văn bản khoa học mang các đặc trưng cơ bản là tính trừu tượng, tính lí trí và tính phi cá thể, thể hiện ở những yêu cầu dùng từ đặt câu và tạo văn bản. LUYỆN TẬP 1. Đọc lại bài Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX để trả lời ba câu hỏi trong bài tập. 2. Giải thích và phân biệt những từ ngữ khoa học với từ ngữ thông thường qua các ví dụ trong môn Hình học: điểm, đường thẳng, đoạn thẳng, mặt phẳng, góc, đường tròn, góc vuông,… (Gợi ý: Căn cứ vào ba đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ khoa học ở lĩnh vực hình học để phân biệt với từ ngữ thông thường tương ứng.) 3 và 4. Hai bài tập này anh (chị) tự làm theo yêu cầu của SGK.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Phong cách ngôn ngữ khoa học
1,221
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Phát biểu theo chủ đề Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Phát biểu theo chủ đề, với nội dung tài liệu đã được cập nhật chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh giải bài tập và học tốt Ngữ văn 12 một cách dễ dàng hơn. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Phát biểu theo chủ đề Chủ đề: Chi đoàn tổ chức hội thảo “Thanh niên, học sinh làm gì để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông?” Anh (chị) hãy phát biểu ý kiến tham gia hội thảo. Đây là hình thức phát biểu theo chủ đề thường gặp trong nhà trường. Để có thể phát biểu theo chủ đề trên đây, cần có 2 bước: chuẩn bị phát biểu và phát biểu ý kiến. I. CHUẨN BỊ PHÁT BIỂU 1. Xác định nội dung cần phát biểu – Chủ đề cuộc hội thảo trên có thể bao gồm những nội dung cụ thể nào? – Anh (chị) chọn nội dung nào để phát biểu? Tại sao? (Gợi ý: Có thể gồm những nội dung sau đây: – Phải học tập để nắm được luật lệ giao thông – Vấn đề then chốt là phải có ý thức chấp hành đúng luật lệ giao thông – Vai trò của thanh niên, học sinh trong việc tham gia giao thông – Tai nạn giao thông do những nguyên nhân nào? Cách khắc phục ra sao? 2. Dự kiến đề cương phát biểu Giả dụ, anh (chị) định chọn nội dung: “Khắc phục tình trạng đi ẩu, nguyên nhân chủ yếu của tai nạn giao thông”, hãy dự kiến đề cương cho lời phát biểu. – Lời phát biểu gồm những nội dung nào? – Các nội dung đó được sắp xếp ra sao? (Gợi ý: Đề cương phát biểu có thể như sau: – Tình trạng đi ẩu của thanh niên, học sinh hiện nay: đi xe máy, xe đạp, đi bộ. – Tình trạng đó đã gây ra tai nạn giao thông như thế nào? (số liệu cụ thể). – Nguyên nhân của tình trạng đi ẩu (phân tích rõ các nguyên nhân). – Biện pháp khắc phục tình trạng đi ẩu: + Đối với nhà trường, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh + Đối với gia đình +Đối với bản thân từng thanh niên, học sinh) II. PHÁT BIỂU Ý KIẾN – Có thể nhắc lại và nhận xét về ý kiến của những người phát biểu trước, sau đó giới thiệu nội dung mà mình sẽ phát biểu. – Trình bày nội dung theo đề cương dự kiến – Nói lời kết thúc và cảm ơn. Chú ý: Trong quá trình phát biểu, cần quan sát người nghe để điều chỉnh thái độ, cử chỉ, giọng nói cho hợp lí và thuyết phục. Đọc kĩ phần Ghi nhớ trong SGK để nắm được bài học. Cả hai bài luyện tập nội dung đều là những vấn đề gần gũi và thiết thân đối với thanh niên, học sinh; SGK lại gợi ý, hướng dẫn khá cụ thể. Anh (chị) tự làm.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Phát biểu theo chủ đề
521
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Quá trình văn học và phong cách văn học Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Quá trình văn học và phong cách văn học, tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 12 một cách dễ dàng, qua đó các bạn học sinh sẽ có kết quả cao hơn trong học tập. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Quá trình văn học và phong cách văn học I. QUÁ TRÌNH VĂN HỌC 1. Khái niệm quá trình văn học – Văn học là một loại hình nghệ thuật, một hình thái ý thức xã hội đặc thù luôn vận động, biến chuyển. Diễn tiến của văn học như một hệ thống chỉnh thể với sự hình thành, tồn tại, thay đổi, phát triển qua các thời kì lịch sử được gọi là quá trình văn học. Các thời kì gồm có: cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại, đương đại; trong từng thời kì lại có các giai đoạn cụ thể nối tiếp nhau. Từng thời kì và các giai đoạn gắn với văn học nhân loại nói chung và văn học mỗi dân tộc nói riêng. (Liên hệ với các giai đoạn của văn học trung đại và văn học hiện đại Việt Nam đã học ở THPT). – Quá trình văn học là sự vận động của văn học trong tổng thể, bao gồm tác phẩm (chép tay, in ấn, truyền miệng), tác giả, độc giả, các tổ chức hội đoàn, các hạt động nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, xuất bản, ảnh hưởng qua lại giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác, các hình thái ý thức xã hội khác, v.v… – Quá trình văn học luôn luôn theo những quy luật chung. Trước hết, văn học gắn bó với đời sống, thời đại nào văn học ấy, những biến động lịch sử của xã hội thường tạo nên những chuyển biến trong lịch sử phát triển của văn học. Thứ hai, văn học phát triển trong sự kế thừa và cách tân: văn học dân gian là cội nguồn của văn học viết, người sau thâu nhận giá trị văn học của người trước và tạo nên những giá trị mới. Thứ ba, văn học của một dân tộc tồn tại, vận động trong sự bảo lưu và tiếp biến: giữ gìn, phát huy những tinh hoa của truyền thống; tiếp thu có chọn lọc và cải biến cho phù hợp những tinh hoa của văn học thế giới. – Hoạt động nổi bật trong quá trình văn học là trào lưu văn học, một hiện tượng có tính chất lịch sử, ra đời và mất đi trong một khoảng thời gian nhất địnn. Đó là một phong trào sáng tác tập hợp những tác giả, tác phẩm gần gũi nhau về cảm hứng, tư tưởng, nguyên tắc miêu tả hiện thực, tạo thành một dòng rộng lớn, có bề thế trong đời sống văn học của một dân tộc, hoặc của một thời đại. Một trào lưu văn học có thể có nhiều khuynh hướng hoặc trường phái văn học; cũng có khi nền văn học của một dân tộc không có trào lưu văn học, nhưng lại có các khuynh hướng, các trường phái văn học khác nhau. – Trong lịch sử văn học thế giới có một số trào lưu văn học lớn: + Văn học thời Phục hưng châu Âu thế kỉ XV, XVI. + Chủ nghĩa cổ điển ở Pháp thế kỉ XVII. + Chủ nghĩa lãng mạn hình thành ở các nước Tây Âu sau Cách mạng tư sản Pháp 1789. + Chủ nghĩa hiện thực phê phán thế kỉ XIX. + Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa thế kỉ XX. + Chủ nghĩa siêu thực ra đời năm 1924 ở Pháp. + Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong văn học Mĩ La tinh sau Đại chiến thế giới II. + Chủ nghĩa hiện sinh ra đời ở châu Âu sau Đại chiến thế giới II. (Xem kĩ các trào lưu văn học này trong SGK tr.171 – 172) + Trào lưu lãng mạn: phong trào Thơ mới và một số truyện lãng mạn. + Trào lưu hiện thực phê phán: tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự. Sau cách mạng Tháng Tám 1945, ở Việt Nam đã hình thành trào lưu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. (Xem thêm các trào lưu văn học này trong SGK, tr. 172) II. PHONG CÁCH VĂN HỌC 1. Khái niệm phong cách văn học – Phong cách văn học là những nét riêng biệt, độc đáo của một tác giả trong quá trình nhận thức và phản ánh cuộc sống, những nét độc đáo ấy thể hiện trong tất cả các yếu tố nội dung và hình thức của từng tác phẩm cụ thể. Nói cách khác, phong cách là sự thể hiện tài nghệ của người nghệ sĩ trong việc đưa đến cho độc giả một cái nhìn mới mẻ về cuộc đời thông qua những phương thức, phương tiện nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân của người sáng tạo. “Phong cách chính là người” – nhà văn Pháp Buy-phông đã khẳng định như vậy. – Quá trình văn học được đánh dấu bằng những nhà văn kiệt xuất với phong cách độc đáo của họ. Quá trình văn học mang tính lịch sử cho nên phong cách văn học cũng in đậm dấu ấn dân tộc và thời đại. Văn hào Vôn-te nói: “Cũng giống như từ gương mặt, ngôn ngữ, hành động cụ thể có thể nhận ra quốc tịch của con người, thì cũng có thể từ phong cách sáng tác nhận ra một số là người Ý, người Pháp, người Anh hay người Tây Ban Nha một cách dễ dàng”. Ô Viêt Nam, trong những năm 30 của thế kỉ XX, dù mỗi người có một “gương mặt” riêng, nhưng các nhà văn của Tự lực văn đoàn và các nhà thơ của phong trào Thơ mới đều góp phần tạo nên diện mạo chung của văn học lãng mạn lúc đó, và “mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời” (Tô Hoài). – Phong cách văn học biểu hiện ở những phương tiện sau đây: + Cách nhìn, cách cảm thụ có tính chất khám phá, giọng điệu riêng biệt của tác giả. + Sự sáng tạo các yếu tố thuộc nội dung tác phẩm: lựa chọn đề tài, xác định chủ đề, thể hiện nhân vật, triển khai cốt truyện, xác lập tứ thơ, hình ảnh thơ,… + Hệ thống phương thức biểu hiện và các yếu tố nghệ thuật của tác phẩm: thể loại, kết cấu, ngôn ngữ, hình ảnh, âm điệu, cách kể chuyện, miêu tả, bộc lộ nội tâm, câu văn, giọng điệu, nhạc điệu,… – Phong cách văn học là cái thống nhất trong sự đa dạng của sáng tác. Cái độc đáo, vẻ riêng có tính chất bền vững, nhất quán; nhưng thống nhất từ cốt lõi, còn sự triển khai phải đa dạng, đổi mới: + Nguyễn Trãi trong Đại cáo bình Ngô, Quân trung từ mệnh tập rất hào hùng, đanh thép, sắc bén, nhưng trong Quốc âm thi tập lại u hoài, trầm lắng, suy tư. + Hồ Chí Minh trong truyện và kí hiện đại, như thơ chữ Hán lại mang sắc thái phương Đông cổ kính, thơ tiếng Việt đậm cốt cách dân gian. – Phong cách còn phải có phẩm chất thẩm mĩ, nó phải đem lại cho người đọc một sự hưởng thụ mĩ cảm dồi dào qua những tác phẩm giàu tính nghệ thuật. Chỉ khi đó vẻ đẹp của phong cách từng tác giả mới được lưu giữ bền vững trong lòng người đọc từ thế hệ này sang thế hệ khác và trường tồn cùng với thời gian và lịch sử. LUYỆN TẬP Hai bài tập trong SGK đều không khó. Anh (chị) có thể trao đổi trong nhóm và tự làm.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Quá trình văn học và phong cách văn học
1,345
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Sóng Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Để học tốt Ngữ văn lớp 12, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Sóng, qua bộ tài liệu các bạn học sinh sẽ nắm chắc cách giải bài tập Ngữ văn trong SGK bài Sóng một cách đơn giản. Mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Sóng I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN A. Tác giả Xuân Quỳnh (1942 – 1988) là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường. Một số bài thơ về tình yêu của Xuân Quỳnh đã được bạn đọc đón nhận và yêu thích. Năm 2001, nhà thơ được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. (Xem thêm về tác giả trong Tiểu dẫn của SGK). B. Tác phẩm: Sóng Sóng là một bài thơ xuất sắc, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh về tình yêu, được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi vùng biển Diêm Điền. Bài thơ rút từ tập Hoa dọc chiến hào, 1968. Trước khi tìm hiểu bài thơ, rất cần đọc bài thơ nhiều lần: đọc khe khẽ và lắng nghe âm điệu, nhịp điệu của bài thơ, từ đó có thể có cảm nhận chung về tác phẩm do nhịp điệu riêng của bài thơ mang lại. 1.Âm điệu, nhịp điệu của bài thơ Sóng đến với người đọc, trước tiên, có lẽ chưa phải là hình tượng mà là âm điệu, nhịp điệu. Cái hấp dẫn, truyền cảm đầu tiên của tác phẩm cũng là nhạc điệu bài thơ. Đó là nhạc điệu của sóng biển trên đại dương, cũng là nhạc điệu của sóng tình trong lòng người phụ nữ đang yêu. Đứng trước biển, trái tim phụ nữ Xuân Quỳnh tuôn chảy thành những sóng – thơ – tình yêu và những đợt “sóng tình”. Ấy cứ dập dềnh suốt bài thơ, khi thì “dịu êm lặng lẽ”, lúc lại “ồn ào dữ dội” trong “khát vọng bồi hồi” và da diết khắc khoải trong nỗi “nhớ bờ không ngủ được”. Cái nhạc điệu êm êm, đều đều ấy ru ta, đưa ta về với vương quốc của tình yêu trước khi ta đến với ẩn dụ toàn bài: hình tượng sóng. Sóng không được miêu tả bằng màu sắc, đường nét mà được vẽ lên bằng âm điệu, nhạc điệu của tình yêu. Cái tài của Xuân Quỳnh là chỉ bằng nhạc điệu đã vẽ lên đúng hình ảnh của sóng biển, và càng đúng hơn, là sóng tình trong lòng người phụ nữ trẻ đang khao khát yêu đương. Nhạc điệu của bài thơ, tự nó, đã có giá trị truyền cảm mạnh mẽ. Có lúc bồi hồi trong khát vọng: Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế (T) Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ (T) Có khi nghĩ suy trong tình yêu: Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu? (B) Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau (B) Để rồi nhớ nhung da diết khắc khoải: Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước (T) Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được (T) Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức (T) Khổ thơ này dài đến 6 câu, gieo vần trắc là để diễn tả sự da diết, khắc khoải của nỗi nhớ nhung trong tình yêu (qua nỗi nhớ của con sóng nhớ bờ). 2. Hình tượng “sóng” trong bài thơ (cho cả câu 2 và câu 3 trong SGK) Bài thơ có nhan đề Sóng và hình tượng bao trùm, xuyên suốt bài thơ cũng chính là “sóng”. “Sóng” là một ẩn dụ toàn bài, vừa là thi tứ, vừa là hình tượng – nó là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của thi phẩm, xuất phát từ trái tim nồng nàn khao khát yêu đương của nhà thơ. Đứng trước biển, đối diện với “sóng”, Xuân Quỳnh thấy rất rõ tình yêu đang trào dâng trong trái tim phụ nữ của mình thật dạt dào, mãnh liệt. Và rất tự nhiên, nhà thơ đã bắt gặp “sóng” như gặp chính mình, đã tìm ra trong hình ảnh “sóng” những âm vang của nhịp điệu trái tim mình. Tất cả đã làm nên hình tượng “sóng” trong bài thơ. – Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức. – Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh – một phương… Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở. Cứ thế, “sóng” và “em” xoắn xuýt sóng đôi, cộng hưởng với nhau trong suốt bài thơ, qua nhiều cung bậc của tình yêu, để rồi cuối cùng nhập vào nhau, hòa tan với nhau ở khổ thơ kết thúc: Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ. Đó chính là ước vọng đời thường trong tình yêu của người phụ nữ qua hình tượng “sóng” của Xuân Quỳnh. 3. Tâm hồn người phụ nữ đang yêu trong bài thơ (câu 4 trong SGK) Anh (chị) nêu cảm nhận của mình khi tìm hiểu bài thơ. Ở đây, gợi một số ý để tham khảo: – Trước hết, đó là sự chân thành, tha thiết, nồng nàn, mãnh liệt trong tình yêu. Tình yêu là một mặt không thể thiếu trong đời sống của con người, là một biểu hiện tự nhiên mà ai cũng có, vì vậy khi đã yêu thì họ yêu hết mình, không có gì ngăn trở được. Ai cũng vậy, người phụ nữ lại càng như vậy. – Tình yêu của người phụ nữ rất phong phú, với nhiều cung bậc của tình yêu: khát vọng, suy tư, nhớ nhung, chung thủy,… Qua những biểu hiện của các cung bậc này, ta thấy được những phẩm chất cao đẹp của họ trong tình yêu: khát vọng mãnh liệt, nhớ nhung da diết và đặc biệt là niềm chung thủy sắt son, bền vững trong tình yêu (đây là những phẩm chất truyền thống của người phụ nữ). – Xuân Quỳnh còn nói đến những điều có thể xem là “mới mẻ” trong tình yêu của người phụ nữ mới ngày nay có giá trị như là những “phát hiện”: tình yêu của họ rất đời thường, từ cực này sang cực khác (Dữ dội và dịu êm – Ồn ào lặng lẽ) ước vọng của họ cũng rất khiêm nhường, chỉ mong được làm “con sóng nhỏ giữa biển lớn tình yêu để ngàn năm còn vỗ”, nhưng đó không phải là thứ tình yêu chật hẹp, tầm thường mà luôn vươn tới một tình yêu rộng lớn, cao đẹp hơn: khi “sông không hiểu nổi mình” thì dứt khoát “sóng tìm ra tận bể”. Có thể xem đây là một tư duy mới trong thơ tình yêu của Xuân Quỳnh? Cuối cùng, đọc kĩ phần Ghi nhớ trong SGK để nắm vững bài học. II. LUYỆN TẬP Có thể tìm dẫn liệu trong thơ của Xuân Diệu, Hữu Thỉnh, Trần Nhương,…
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Sóng
1,224
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Thông điệp Ngày Thế giới phòng chống AIDS 1-12-2003 Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Để học tốt Ngữ văn lớp 12, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Thông điệp Ngày Thế giới phòng chống AIDS 1-12-2003, với nội dung đã được cập nhật chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh học tập hiệu quả môn Ngữ văn. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Thông điệp Ngày Thế giới phòng chống AIDS 1-12-2003 I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN A. Tác giả – Cô-phi An-nan sinh ngày 8-4-1938 tại Ga-na, một nước Cộng hòa thuộc châu Phi. Ông là người thứ bảy và là người châu Phi da đen đầu tiên được bầu làm Tổng thư kí Liên hợp quốc. Ông đảm nhiệm chức vụ này hai nhiệm kì, từ tháng 1-1997 cho tới tháng 1-2007. – Năm 2001, tổ chức Liên hợp quốc và cá nhân Tổng thư kí Cô-phi An-nan được trao giải thưởng Nô-ben Hòa bình. B. Văn bản – Nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS 1-12-2003, Tổng thư kí Liên hiệp quốc Cô-phi An-nan đã gởi bức thông điệp này đến toàn thế giới nhằm kêu gọi mọi quốc gia, tổ chức và mọi người hãy nỗ lực ngăn chặn, phòng chống đại dịch này trên toàn cầu. – Bức thông điệp mang ý nghĩa sống còn của nhân loại được nói lên bằng những lời lẽ khẩn thiết, tâm huyết và đầy trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức lớn nhất hành tinh. Bức thông điệp đã thông báo đến mọi người những nội dung quan trọng trong cuộc chiến đấu cam go chống lại đại dịch AIDS, gồm những điểm sau đây: Nhắc lại việc cam kết của các quốc gia trên thế giới để đánh bại căn bệnh HIV/AIDS vào năm 2001 và Tuyên bố về cam kết phòng chống HIV/AIDS của quốc gia đó. 2. Nhìn lại tình hình thực hiện phòng chống AIDS – Đã có một số dấu hiệu của chúng ta về nguồn lực, ngân sách, chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS. – Song hành động của chúng ta vẫn quá ít so với yêu cầu thực tế, dịch HIV/AIDS vẫn hoành hành gây tử vong trên toàn thế giới và có rất ít dấu hiệu suy giảm. Trong năm qua, mỗi phút có khoảng 10 người bị nhiễm HIV, và đại dịch này đang lây lan với tốc độ báo động ở phụ nữ, đang lan rộng nhanh nhất ở chính những khu vực mà trước đây hầu như vẫn còn an toàn – Đặc biệt là Đông Âu và toàn bộ châu Á, từ dãy núi Uran đến Thái Bình Dương. – Không hoàn thành được một số mục tiêu đề ra trong Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS và với tiến độ như hiện nay, chúng ta sẽ không đạt được bất cứ mục tiêu nào vào năm 2005. 3. Nhiệm vụ cấp bách, quan trọng hàng đầu là tích cực phòng chống AIDS – Phải nỗ lực thực hiện cam kết của mình bằng những nguồn lực và hành động cần thiết. – Phải đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động. – Không được kì thị và phân biệt đối xử đối với những người sống chung với HIV/AIDS. – Đừng để một ai có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các bức rào ngăn cách giữa “chúng ta” và “họ”. – Trong thế giới AIDS khốc liệt này không có khái niệm “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết. Có nghĩa là phải hành động để chống lại đại dịch AIDS đang đe dọa mọi người trên hành tinh này, không trừ một ai. 4. Kết thúc: Lời kêu gọi phòng chống AIDS – Tôi kêu gọi các bạn hãy cùng với tôi lên tiếng thật to và hãy dõng dạc về HIV/AIDS. – Hãy cùng tôi giật đổ các thành lũy của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử đang vây quanh bệnh dịch này. – Hãy sát cánh cùng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt đầu từ chính các bạn. Những nội dung trên đây đã được diễn đạt bằng một văn phong chính luận rõ ràng, trong sáng, dễ hiểu, với một lập luận lôgíc, chặt chẽ, cùng với tâm huyết và trách nhiệm của người viết đã làm nên sức thuyết phục cao cho bức thông điệp lịch sử này. II. LUYỆN TẬP 1. Viết một bản báo cáo về tình hình phòng chống HIV/AIDS ở địa phương anh (chị).
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Thông điệp Ngày Thế giới phòng chống AIDS 1-12-2003
786
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Thực hành chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Thực hành chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận, tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh giải bài tập Thực hành một cách chính xác nhất. Mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo tài liệu để học tốt Ngữ văn 12. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Thực hành chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận Đây là bài thực hành sửa chữa lỗi lập luận. SGK đưa ra 7 bài tập với yêu cầu phát hiện và phân tích các lỗi lập luận trong các đoạn văn và chữa lại để lập luận chặt chẽ, lôgic và có sức thuyết phục. Đọc 7 đoạn văn trong bài tập đã nêu của SGK, ta có nhận xét chung như sau: Lập luận trong các đoạn văn đó đều chưa chặt chẽ, lôgíc, thiếu sức thuyết phục, do còn mắc các lỗi: – Nêu luận điểm không rõ. – Ý trong đoạn văn không nhất quán trong một hệ thống, còn lộn xộn, rời rạc (đây là lỗi phổ biến nhất). – Triển khai các ý (luận cứ) không lôgíc theo một lập luận chặt chẽ. – Diễn đạt có chỗ còn vụng, chưa mang văn phong nghị luận. Bài tập 1 Đoạn văn mắc các lỗi sau đây: – Câu nêu luận điểm không chính xác (chữ “quan trọng nhất” ở đây chưa chính xác). – Lập luận để chứng minh, giải thích luận điểm chưa rõ và chưa toàn diện. (Chưa giải thích rõ vì sao văn học dân gian lại có giá trị nhận thức, chỉ nêu thể loại ca dao, tục ngữ để chứng minh). – Ý “vừa tác động mạnh mẽ đến tâm hồn con người” không nhất quán với luận điểm. – Câu cuối (“Ví dụ như câu:…… ”) chưa mang văn phong nghị luận. Có thể chữa lại như sau: Một trong những giá trị quan trọng của văn học dân gian là giá trị nhận thức. Là sáng tác tập thể của quần chúng, văn học dân gian mang trí tuệ, kinh nghiệm của nhân dân được đúc kết qua trường kì lịch sử. Vì thế, tri thức trong văn học dân gian phong phú, toàn diện và sâu sắc, bao gồm những tri thức về tự nhiên, xã hội và con người. Văn học dân gian được xem là “túi khôn” của nhân dân, là cuối bách khoa toàn thự về cuộc sống. Nó cung cấp cho ta những hiểu biết, những kinh nghiệm, những cách thức để sống tốt hơn. Trong cuộc sống hàng ngày, nhân dân ta thường lấy những câu ca dao, tục ngữ để khuyên bảo nhau; trong nhà trường, dạy học sinh từ những câu chuyện cổ – đó chính là giá trị nhận thức của văn học dân gian. Đoạn văn mắc các lỗi sau đây: – Câu nêu luận điểm không lôgíc và không chính xác. (liên từ “rên” và cụm từ “việc bảo tồn”) – Lập luận không chặt chẽ, ý triển khai không nhất quán (“Văn học dân gian còn là kho tàng về nghệ thuật”?) – Phân tích các luận cứ dài dòng, không đúng văn phong nghị luận. – Câu cuối đoạn lại tiểu kết sang một ý khác, không lôgic với ý của đoạn văn. Có thể chữa lại như sau: Văn học dân gian có giá trị trong việc nuôi dưỡng tâm hồn nhân dân. Vì sao như vậy? Văn học dân gian là tiếng lòng của quần chúng lao động, kết tinh những tình cảm cao đẹp của nhân dân, là tấm gương tâm hồn trong sáng của con người Việt Nam. Vì thế nó có tác dụng sâu sắc trong việc nuôi dưỡng, nâng cao tâm hồn con người. Từ câu hát “ầu ơ” mẹ ru khi ta ra đời, đến cô Tấm hiền lành, xinh đẹp từ quả thị bước ra trong truyện cổ tích, cho đến câu hát giã bạn “Người ơi, người ở đừng về..” khi ta đã lớn; văn học dân gian, như dòng sữa ngọt cứ thấm dần vào máu thịt ta, nuôi dưỡng tâm hồn ta cho ta khôn lớn thành người: Đó là giá trị giáo dục to lớn, sâu sắc và lâu bền của văn học dân gian trong việc nuôi dưỡng tâm hồn nhân dân.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Thực hành chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận
746
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Thực hành một số phép tu từ cú pháp Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Thực hành một số phép tu từ cú pháp, với nội dung câu hỏi đã được cập nhật cách giải bài tập Ngữ văn 12 sẽ giúp các em học sinh học tốt Ngữ văn 12 một cách dễ dàng. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Thực hành một số phép tu từ cú pháp I. PHÉP LẶP CÚ PHÁP Bài tập 1 a) Xác định những câu có lặp kết cấu cú pháp trong đoạn văn trích từ Tuyên ngôn Độc lập: – Sự thật là… chứ không phải…, Sự thật là… chứ không phải. – Dân ta đã đánh đổi… để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ… mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa. Phép lặp đó có tác dụng nhấn mạnh ý (khắc sâu một ý) khiến câu văn hùng hồn, khẳng định. c) Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan. Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo. Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa… Lặp kết cấu Nhớ sao ⇒ a (….); b (….); c (….) Phép lặp đó tác dụng làm cho nỗi nhớ của người về xuôi (cũng là của tác giả) đối với quê hương cách mạng Việt Bắc thêm thiết tha, sâu nặng. Bài tập 2 Kết cấu của những thể loại dưới có nhiều điểm khác biệt với ba ví dụ ở bài tập 1: a) Tục ngữ – Bán anh em xa / mua láng giềng gần Kết cấu đối lập để nhấn mạnh ý cần nói: + Đối lập từ: bán / mua; anh em / láng giềng, xa / gần. Nhờ kết cấu đối lập mà ý ở vế 2 được nhấn mạnh: láng giềng gần còn quan trọng, cần thiết hơn anh em xa nhiều. – Gần mực thì đen / gần đèn thì rạng. Cũng là kết cấu đối lập 2 vế để nhấn mạnh ý nhưng ở câu tục ngữ này có khác chút ít: ở hai vế có 2 từ giống nhau (gần, thì) và 2 từ đối lập nhau về nghĩa (mực / đèn, đen / rạng) để nêu bật ý: cần chọn môi trường tốt đẹp để sống. b) Câu đối Cụ già ăn củ ấu non Chú bé trèo cây đại lớn Có sự đối lập giữa + Hai vế đối + Từ ngữ trong hai vế đối Cụ già / Chú bé, ăn / trèo, củ ấu non / cây đại lớn). + Đối lập về nghĩa trong từng vế: Cụ già (lại) ăn củ ấu non (ấu có nghĩa là non bé). Chú bé (lại) trèo cây đại lớn (đại có nghĩa là lớn). c) Thơ Đường luật Đối rất chỉnh trong cặp câu thơ: Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn, người đến chốn lao xao. d) Văn biền ngẫu Đối trong từng bộ phận của câu văn: Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh, bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ. Bài tập 3: Tự làm II. PHÉP LIỆT KÊ a) Đoạn văn trong Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn Trong đoạn văn này, tác giả đã kết hợp phép lặp cú pháp với phép liệt kê để bày tỏ nỗi lòng của mình cho tướng sĩ biết nhằm động viên khích lệ tướng sĩ dốc lòng học tập binh thư, đoàn kết một lòng đánh giặc bảo vệ đất nước. Tác giả đã liệt kê rất nhiều sự việc như cho áo, cho cơm, thăng chức, cấp bổng, cho thuyền, cho ngựa, cùng nhau sống chết, cùng nhau vui cười,… khiến cho giọng văn nhiệt tình, truyền cảm, có tác dụng thuyết phục người đọc (người nghe). (Xem và phân tích cụ thể phép liệt kê và hiệu quả của nó trong đoạn văn này). Đây là đoạn Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án và tố cáo tội ác về chính trị của thực dân Pháp đối với nhân dân ta. Đoạn tố cáo này lời lẽ hùng biện, giọng văn đanh thép chính là do người viết đã sử dụng rất thành công phép lặp cú pháp kết hợp phép liệt kê. Những tội ác giả man về chính trị của thực dân Pháp đã được tác giả kể ra dồn dập, liên tiếp, từ những luật pháp dã man đến việc lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta, tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu, thi hành chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược,… Tất cả, không chỉ tố cáo, vạch mặt kẻ thù một cách rõ ràng, đanh thép mà còn truyền tới người đọc (người nghe) lòng căm thù cao độ và sâu sắc của Bác khi Người viết đoạn văn này. Sự kết hợp giữa phép lặp cú pháp và phép liệt kê được thể hiện qua công thức mà Người đã dùng trong đoạn văn: Chúng – tội ác 1 Chúng – tội ác 2 Chúng – tội ác 3, v.v… III. PHÉP CHÊM XEN 1. Phép chêm xen cũng thường được dùng trong văn hiện đại. Phân tích các câu văn nêu trong SGK ta thấy: – Vị trí và vai trò ngữ pháp tr u: trạng ngữ cho vị ngữ: “thị hỏi hắn” och – Dấu câu tách biệt bộ phận đó: đấu ngoặc đơn (…) – Tác dụng của bộ phận đó: để bổ sung thông tin cho cái khoảnh khắc “Thị Nở đặt bàn tay lên ngực hắn” (tức Chí Phèo). Câu b: – Vị trí và vai trò ngữ pháp trong câu: bổ ngữ cho từ “cô độc” đứng truóc nó. – Dấu câu tách biệt bộ phận đó: dấu phẩy (,). – Tác dụng của bộ phận đó: giải thích, làm rõ ý nghĩa của từ “cô độc” đối với nhân vật Chí Phèo lúc bấy giờ (trong tương quan với đói rét và ốm đau). Câu c và d: Dựa vào cách làm của hai câu a và b trên đây, anh (chị) tự làm hai câu này. 2. Gợi ý: – Câu đầu tiên trong đoạn thơ văn về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc, trong đó có sử dụng phép chêm xen: Tháng 10-1954, khi về lại Thủ đô sau chiến thắng giặc Pháp, Tố Hữu – nhà thơ trữ tình chính trị, người đã gắn bó sâu sắc với quê hương cách mạng trong 15 năm tình nghĩa thiết tha mặn nồng – đã viết nên bài thơ Việt Bắc, khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. (Phép chêm xen ở câu văn này (phần giữa hai dấu gạch ngang) có tác dụng thuyết minh rõ cho chủ ngữ trong câu là Tố Hữu). – Anh (chị) viết tiếp các câu khác có sử dụng phép chêm xen để thành một đoạn văn.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Thực hành một số phép tu từ cú pháp
1,183
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Thực hành một số phép tu từ ngữ âm Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Thực hành một số phép tu từ ngữ âm, với nội dung đã được cập nhật chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 12 một cách đơn giản hơn. Mời thầy cô cùng các bạn tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Thực hành một số phép tu từ ngữ âm I. TẠO NHỊP ĐIỆU VÀ ÂM HƯỞNG CHO CÂU Bài tập 1 (gợi ý cách làm) – Sự phối hợp nhịp ngắn và nhịp dài: Một dân tộc/ đã gan góc/ chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay: 3 – 3 – 11. Một dân tộc/ đã gan góc/ đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay: 3 – 3 – 11. Dân tộc đó/ phải được tự do: 3 – 4. Dân tộc đó/ phải được độc lập: 3 – 4. – Sự thay đổi thanh bằng, thanh trắc cuối mỗi nhịp: + tộc (T), góc (T), nay (B) (hai bộ phận câu này đều giống nhau, cân xứng với nhau). + đó (T), do (B) + đó (T), lập (T) -Tính chất mở hay đóng của âm tiết kết thúc mỗi nhịp: + tộc, góc (đóng); nay (mở) + đó (đóng); do (mở) + đó (đóng); lập (đóng) Bài tập 2: Dựa vào cách làm bài tập 1 trên đây, anh (chị) đọc kĩ nhiều lần đoạn văn của Bác và tự làm bài này. Nhịp điệu thay đổi tạo ra âm hưởng thích hợp để diễn tả đúng nội dung của đoạn văn nhằm ca ngợi cây tre, hình ảnh tượng trưng cho sức mạnh, ý chí kiên cường của con người Việt Nam: Gậy tre/ chông tre/ chống lại sắt thép của quân thù: 2 – 2 – 7 Tre xung phong vào xe tăng/đại bác: 6 – 2 Tre giữ làng/ giữ nước/ giữ mái nhà tranh/ giữ đồng lúa chín: 3 – 2 – 4 – 4 Tre hi sinh/ để bảo vệ con người: 3 – 5 Tre/ anh hùng lao động: 1 – 4 Tre/ anh hùng chiến đấu: 1 – 4 II. ĐIỆP ÂM, ĐIỆP VẦN, ĐIỆP THANH Bài tập 1: (gợi ý cách làm) a) Phân tích điệp âm đầu của ẩn dụ! trong cụm từ lửa lựu lập lòe (nêu hiệu quả nghệ thuật)”. b) Phân tích điệp âm đầu của phụ âm l trong câu thơ Làn ao lóng lánh bóng trăng loe (nêu hiệu quả nghệ thuật). Bài tập 2: (gợi ý cách làm) Trong đoạn thơ của Tố Hữu, vần ang được lặp lại nhiều nhất (trong 7 từ): bàng, dang, giang, mang, dang, ngang, Sang. Vần ang là vần mở rộng (ở đây lại là thanh bằng) nên tạo được cảm giác mở rộng, lan xa ra một không gian rộng lớn, mênh mang thích hợp với không gian của mùa xuân đang về với mọi người, với không khí của bài thơ Tiếng hát sang xuân. Tác dụng gợi cảm có được là nhờ phép điệp vần. Xem lại bài học về Tây Tiến của Quang Dũng. Đoạn thơ được xem là những câu thơ tuyệt bút, nhờ những yếu tố nghệ thuật sau đây: – Từ ngữ: từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút) (điệp phụ âm đầu) phép đối (Ngàn thước lên cao / ngàn thước xuống) phép lặp từ ngữ (dốc, ngàn thước) phép nhân hóa (súng ngửi trời) – Phép lặp cú pháp (câu 1, câu 3) – Nhịp điệu của các dòng thơ: 3 câu trên nhịp 4 – 3 Câu cuối dường như không có nhịp. – Thanh điệu: + Sự phối hợp các thanh trắc và bằng ở ba dòng đầu rất hài hòa, đặc biệt ở dòng 3: Ngàn thước lên cao (B), ngàn thước (T) xuống (T). + Điệp thanh toàn thanh bằng ở dòng cuối tạo cảm giác nhẹ nhàng, êm ả, mênh mang: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Thực hành một số phép tu từ ngữ âm
666