text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Tiếng hát con tàu Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Để học tốt Ngữ văn lớp 12, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Tiếng hát con tàu, qua bộ tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh nắm chắc kiến thức bài Tiếng hát con tàu một cách dễ dàng hơn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Tiếng hát con tàu • Tác giả Chế Lan Viên (1920 – 1989) là một trong những nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam, có nhiều thành tựu về mặt sáng tác và những đóng góp về mặt lí luận, phê bình thơ ca cũng như lí luận phê bình về văn nghệ nói chung. Thơ Chế Lan Viên có phong cách độc đáo: có vẻ đẹp trí tuệ, luôn có ý thức khai thác triệt để những tương quan đối lập, giàu chất suy tưởng triết lí với thế giới, hình ảnh đa dạng, phong phú, đầy sáng tạo. Ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996. (Xem tiểu dẫn về tác giả trong SGK). • Tác phẩm: Tiếng hát con tàu (gợi ý tìm hiểu bài thơ) Bài thơ Tiếng hát con tàu rút từ tập Ánh sáng và phù sa (1960), một tập thơ xuất sắc, kết tinh tư tưởng và nghệ thuật thơ Chế Lan Viên trên con đường thơ cách mạng. Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu? Và khi đã đến với nhân dân thì đó là một sự hồi sinh thực sự, một hạnh phúc lớn của nhà thơ: Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa. Bởi nhân dân không chỉ là những kỉ niệm cảm động mà còn là những bài học sâu sắc, quý giá vô ngần đối với nhà thơ: người anh du kích “cởi lại cho con” chiếc áo nâu trong đêm công đồn cuối cùng, thằng em liên lạc “mười năm tròn chưa mất một phong thư”, và nhất là hình ảnh bà mẹ: Lửa hồng soi tóc bạc Năm con đau, mế thức một mùa dài, Con với mế không phải hòn máu cắt Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi. Chính vì thế, mà: Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn! Hai câu thơ giàu ý vị triết lí, mang đậm chất thơ trí tuệ của Chế Lan Viên, nhưng ngẫm cho cùng đó chính là kết quả của quá trình nhà thơ đến với Cuộc sống lớn của Nhân dân và Đất nước, từ đó mà hiểu sâu thêm Đất nước và Nhân dân để càng thêm yêu quý Đất nước và Nhân dân mình. Và có phải đó cũng chính là điều quan trọng nhất đã đem lại cảm hứng mới mẻ cho hồn thơ Chế Lan Viên như ông đã khẳng định một cách tự hào: Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ Tây Bắc ơi, ngươi là mẹ của hồn thơ, Mười năm chiến tranh vàng ta đau trong lửa, Nay trở về, ta lấy lại vàng ta. “Vàng” ở đây có nghĩa là tâm hồn thơ mà nhân dân, cuộc kháng chiến mười năm đã cho ông để đến lượt nhà thơ ông lại đem đến “chất mặn của đời” cho thơ và cho đời. Đến đây, cảm hứng bài thơ dâng lên cao trào để khép lại tác phẩm. Cả con tàu – biểu tượng cùng với thi nhân như đều say chếnh choáng, ngất ngây khi được tắm mình trong Cuộc Sống Lớn Của Nhân Dân Và Đất Nước tràn đầy sắc xuân: Ai bảo con tàu không mộng tưởng? Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng? Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Tiếng hát con tàu
686
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Tuyên Ngôn Độc Lập Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Để học tốt Ngữ văn 12, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Tuyên Ngôn Độc Lập, tài liệu đã được VnDoc cập nhật chi tiết nội dung về tác giả và tác phẩm bài Tuyên Ngôn Độc Lập, hy vọng các bạn học sinh sẽ có kết quả cao hơn trong học tập. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Tuyên Ngôn Độc Lập PHẦN 1: TÁC GIẢ I. VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ (xem SGK) Về tác giả Hồ Chí Minh, cần chú ý mấy điểm sau đây: – Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà yêu nước và cách mạng vĩ đại của dân tộc, đồng thời là một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế. – Người còn là một nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc với một sự nghiệp văn học phong phú và có giá trị về nhiều mặt. – Năm 1990, nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi nhận và suy tôn Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa. II. QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC VĂN HỌC NGHỆ THUẬT Hồ Chí Minh là người am hiểu sâu sắc quy luật và đặc trưng của hoạt động văn nghệ, từ phương diện nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật. Điều đó trước hết được thể hiện trực tiếp trong hệ thống quan điểm văn học nghệ thuật của Người. 1. Hồ Chí Minh coi văn nghệ là một vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sự nghiệp cách mạng. Nhà văn cũng phải có tinh thần xung phong như người chiến sĩ ngoài mặt trận. Quan điểm đó được Người nói rõ trong bài Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”: Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp, Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông, Nay ở trong thơ nên có thép, Nhà thơ cũng phải biết xung phong. Và khẳng định trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. 2. Hồ Chí Minh luôn chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn chương, coi tính chân thật như một thước đo giá trị của văn chương nghệ thuật. Người căn dặn nhà văn phải “Miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn” hiện thực phong phú của đời sống, và phải “giữ tình cảm chân thật”; “Nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc” và phải có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Người còn đề cao sự sáng tạo của nghệ sĩ, và nhắc nhở “chớ gò bó họ vào khuôn, làm mất vẻ sáng tạo…” Khi cầm bút, Hồ Chí Minh bao giờ cũng xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm văn học. Người luôn tự đặt câu hỏi: “Viết cho ai?” (đối tượng viết), “Viết để làm gì?” (mục đích viết); sau đó mới quyết định “Viết cái gì?” (nội dung) và “Viết thế nào?” (hình thức). Và tùy từng trường hợp cụ thể, Người đã vận dụng phương châm đó theo những cách khác nhau. Vì thế những tác phẩm của Người chẳng những có tư tưởng sâu sắc, nội dung thiết thực mà còn có hình thức nghệ thuật sinh động, đa dạng. Đó là ba điểm cốt lõi trong quan điểm sáng tác văn học nghệ thuật của Hồ Chí Minh. Người tự đề ra cho mình quan điểm sáng tác đó và Người đã tuân thủ đúng theo những điều đã đề ra. Toàn bộ sự nghiệp văn học lớn lao mà Người để lại cho dân tộc chính là những minh chứng hùng hồn và đẹp đẽ cho quan điểm sáng tác văn học nghệ thuật của Người. III. SỰ NGHIỆP VĂN HỌC Văn chương không phải là sự nghiệp chính của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, bên cạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người còn để lại một di sản văn học lớn lao về tầm vóc tư tưởng, phong phú về thể loại và đặc sắc về phong cách nghệ thuật. 1. Văn chính luận Do yêu cầu cách mạng, phần lớn những bài viết của Hồ Chí Minh thuộc loại văn chính luận, nhằm mục đích đấu tranh chính trị, tiến công trực diện kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm vụ cách mạng của dân tộc qua những chặng đường lịch sử. Văn chính luận của Người, dù viết bằng tiếng Pháp hay tiếng Việt, viết khi đang hoạt động cách mạng ở nước ngoài hay khi đã về nước lãnh đạo phong trào cách mạng, đều mang tính chiến đấu mạnh mẽ và có tác dụng to lớn. Bởi Người đã nhằm đúng đối tượng, để viết: với kẻ thù thì châm biếm, đả kích sắc sảo, giàu chất trí tuệ, tiêu biểu là Bản án chế độ thực dân Pháp viết bằng tiếng Pháp, xuất bản lần đầu ở Pa-ri năm 1925; với nhân dân thì phổ cập, đại chúng, ngắn gọn, dễ hiểu. Văn chính luận của Người kết hợp chặt chẽ giữa nội dung tư tưởng lớn lao với nghệ thuật nghị luận già dặn, giữa lí trí sáng suốt và tình cảm nồng nàn, giữa người viết và người đọc, đi thẳng vào lòng quần chúng nhân dân để dấy lên sức mạnh và hành động cách mạng. Có thể nói Hồ Chí Minh là một cây bút chính luận mẫu mực trong văn chính luận hiện đại nước ta với những tác phẩm đã đi vào lịch sử dân tộc như Tuyên ngôn Độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập, tự do (1966). 2. Truyện và kí Hồ Chí Minh còn là một cây bút văn xuôi đầy tài năng với những tác phẩm truyện và kí đặc sắc viết bằng tiếng Pháp khi Người hoạt động cách mạng ở Pháp trong những năm 20 của thế kỉ XX. Những truyện này đăng báo ở Pa-ri, sau này được tập hợp lại trong tập Truyện và kí của Nguyễn Ái Quốc: Pa-ri (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), “Vi hành” (1923), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925), v.v… Các tác phẩm này đều nhằm tố cáo tội ác dã man, bản chất tàn bạo và xảo trá của bọn thực dân và phong kiến tay sai đối với nhân dân lao động các nước thuộc địa, đồng thời đề cao những tấm gương yêu nước và cách mạng. Bằng một bút pháp rất hiện đại, Nguyễn Ái Quốc đã tạo nên được những tình huống truyện độc đáo, hình tượng góc cạnh, sinh động, sắc sảo, với nghệ thuật trần thuật linh hoạt. Truyện và kí đã đem đến cho văn học dân tộc một vẻ đẹp riêng độc đáo của Nguyễn Ái Quốc. Thơ ca thể hiện rõ nhất tâm hồn nghệ sĩ của nhà thơ Hồ Chí Minh. Do yêu cầu cách mạng, Người có viết một số thơ ca tuyên truyền hồi tiền khởi nghĩa, nội dung phổ cập, dễ hiểu nhưng trong đó vẫn có những bài có tính nghệ thuật cao như Ca sợi chỉ, Con sáo và tổ ong, Nhóm lửa,… Thơ nghệ thuật của Người nói lên tâm hồn tinh tế, nhạy cảm và nhân cách cao đẹp tuyệt vời của Bác trước thiên nhiên, con người và cuộc sống. Nhật kí trong tù là tập thơ chữ Hán nổi tiếng của Hồ Chí Minh vì đó chính là bức chân dung tự họa của Người trong những ngày bị giam cầm đau khổ và khắc nghiệt nhất. Đọc Nhật kí trong tù, Đặng Thai Mai “thực sự cảm thấy đứng trước một thi sĩ và một con người cao cả vĩ đại”; còn nhà văn Viên Ưng (Trung Quốc) thì khẳng định đã tìm thấy ở tập thơ “một tâm hồn vĩ đại của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng”. Thơ kháng chiến của Bác được tập hợp lại trong hai tập Thơ Hồ Chí Minh (1967) và Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (1990), vừa có màu sắc cổ điển, vừa hiện đại, nổi bật lên hình ảnh nhân vật trữ tình mang nặng “nỗi nước nhà” mà phong độ vẫn ung dung, tâm hồn luôn hòa hợp với thiên nhiên, thể hiện bản lĩnh của một nhà cách mạng vĩ đại luôn luôn làm chủ tình thế, tin vào tương lai tất thắng của cách mạng, tuy trước mắt còn biết bao gian nan, thử thách. IV. PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh độc đáo, đa dạng mà thống nhất. Nhìn chung, ở mỗi thể loại văn học, từ văn chính luận, truyện kí đến thơ ca, Hồ Chí Minh đều tạo được những nét phong cách riêng, độc đáo và hấp dẫn. Ví như: văn chính luận của Người thường ngắn gọn, súc tích, vừa có lí lại có tình, đi thẳng vào lòng người, đầy sức thuyết phục; truyện và kí lại rất hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén; còn thơ nghệ thuật thì có sự hòa hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại, giữa chất tình và chất “thép”, giữa trong sáng, giản dị và hàm súc, thâm trầm, sâu xa (trong khi thơ tuyên truyền cách mạng thường được viết bằng hình thức bài ca, lời lẽ giản dị, mộc mạc, dễ nhớ, mang màu sắc dân gian hiện đại),… (Anh (chị) có thể xem thêm những nét phong cách riêng của từng thể loại trong SGK). Tuy ở từng thể loại, phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có những nét riêng hết sức phong phú, đa dạng nhưng vẫn thống nhất ở một phong cách chung của Người. Đó là cách viết ngắn gọn, trong sáng, giản dị, sử dụng linh hoạt các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật khác nhau nhằm thể hiện một cách nhuần nhị và sâu sắc nhất tư tưởng của người cầm bút. V. KẾT LUẬN Văn thơ Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá, là một bộ phận gắn bó hữu cơ với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người. Văn thơ của Người không chỉ có tác dụng to lớn đối với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam mà còn có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử văn học và đời sống tinh thần của dân tộc. Tìm hiểu văn thơ của Hồ Chí Minh, người đọc thuộc nhiều thế hệ được trực tiếp soi vào thế giới tâm hồn rộng lớn của Người và có thể tìm thấy ở đấy những bài học cao quý. • HƯỚNG DẪN ĐỌC BÀI Dựa vào các mục II, III, IV trong bài học trên đây để trả lời các câu hỏi 1, 2, 3, trong phần Hướng dẫn học bài. Cuối cùng, đọc kĩ và học thuộc phần Ghi nhớ trong SGK để nắm được bài học. • LUYỆN TẬP Gợi ý làm bài tập: Bài 1 Đề bài yêu cầu phân tích bài thơ Chiều tối (Mộ) trong tập Nhật kí trong tù để làm sáng tỏ một nét phong cách của thơ Hồ Chí Minh: sự hòa hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại. Có thểxem lại bài thơ Chiều tối (Mộ) đã học ở lớp 11. Cách làm như sau: – Tìm những biểu hiện của bút pháp cổ điển trong bài thơ. – Tìm những biểu hiện của bút pháp hiện đại trong bài thơ. – Xét xem hai bút pháp đó đã hòa hợp với nhau trong bài thơ như thế nào? Bài 2 Những bài học thấm thía và sâu sắc mà anh (chị) tiếp thu được khi học và đọc những bài thơ trong tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh? Phạm vi, nội dung của bài tập rộng và đòi hỏi một sức khái quát cao để làm bài. Anh (chị) có thể tiến hành theo các bước: – Tìm đọc thêm một số bài trong tập Nhật kí trong tù (ngoài Mộ và Lai Tân đã học). – Suy nghĩ về nội dung các bài thơ đó. – Từ các bài thơ đó, khái quát thành những bài học thấm thía và sâu sắc của bản thân mình. PHẦN HAI: TÁC PHẨM I. TÌM HIỂU PHẦN TIỂU DẪN Phần Tiểu dẫn trong SGK được viết sáng rõ mà đầy đủ. Anh (chị) cần đọc kỹ để nắm được những ý cơ bản sau đây giúp cho việc đọchiểu văn bản: – Đoạn 1 là hoàn cảnh ra đời của tác phẩm: Tuyên ngôn Độc lập đã ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử thật đáng ghi nhớ: khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. – Bốn đoạn sau là những ý cơ bản cần nhớ để đi vào tìm hiểu bản Tuyên ngôn: + Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn. + Đối tượng hướng tới của bảng Tuyên ngôn Độc lập: đồng bào trong nước và cả thế giới, đặc biệt là với những lực lượng thù địch và cơ hội quốc tế đang mang dã tâm tái nô dịch đất nước ta (cần chú ý đến đối tượng thứ hai này của bản Tuyên ngôn). + Tuyên ngôn Độc lập là một tác phẩm chính luận đặc sắc. + Tuyên ngôn Độc lập còn là một áng văn tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN A. Đọc văn bản Văn bản không dài, cần chú ý tập đọc nhiều lần để bước đầu tiếp xúc với tác phẩm. Có thể tiến hành cách đọc như sau: – Đầu tiên, đọc thầm bằng mắt: đọc chậm, kĩ để bao quát nội dung toàn tác phẩm. – Sau đó, đọc to thành tiếng, và cố gắng đọc diễn cảm theo nội dung, cách viết từng đoạn: + Đoạn mở đầu: đọc với giọng trang trọng, nhấn mạnh các ý khẳng định của tác giả. + Đoạn giữa: – Phần tố cáo tội ác của thực dân Pháp đọc với giọng dồn dập, căm thù; – Phần nhân dân ta giành chính quyền đọc với giọng tự hào, khoan dung đối với kẻ thù. + Đoạn cuối (phần tuyên ngôn): đọc với giọng trang trọng, hùng hồn, tự hào, quyết tâm. B. Tìm hiểu văn bản 1. Bố cục của bản Tuyên ngôn Độc lập Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh được bố cục chặt chẽ theo cách bố cục của một bài văn nghị luận, gồm 3 phần ứng với loại văn tuyên ngôn như sau: a) Mở đầu (từ đầu đến “không ai chối cãi được”) Nêu nguyên lí làm cơ sở lí luận và tư tưởng cho bản Tuyên ngôn: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. b) Đoạn giữa (từ “Thế mà” đến “chứ không phải từ tay Pháp”) Chứng minh nguyên lí: Thực dân Pháp là kẻ làm trái nguyên lí (tố cáo tội ác về mọi mặt của chúng); nhân dân ta là người thực hiện đúng nguyên lí (đã tự đứng lên để giành lại chính quyền). c) Đoạn cuối (phần còn lại) Lời tuyên bố độc lập của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với thế giới và ý chí quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập của toàn thể dân tộc Việt Nam. 2. Việc trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập (1776) của nước Mĩ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (1793) của cách mạng Pháp trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập là một cách viết rất cao tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh đem lại những ý nghĩa sâu sắc cho bản Tuyên ngôn được viết ra trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt lúc bấy giờ. Như chúng ta đã biết, đối tượng hướng tới của Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là đồng bào trong nước mà cả với thế giới, đặc biệt là với những lực lượng thù địch và cơ hội quốc tế đang mang dã tâm tái nô dịch đất nước ta. (Xem thêm trong Tiểu dẫn). Trích dẫn hai bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp trong phần nêu nguyên lí mở đầu tác phẩm, một mặt, Bác đề cao truyền thống bình đẳng, nhân đạo, tư tưởng dân chủ tiến bộ của nhân dân hai nước Mĩ và Pháp lúc bấy giờ, mặt khác, lại có tác dụng ngăn chặn âm mưu xâm lược của chúng (Xem Tiểu dẫn); đồng thời, như thế cũng là cách Bác đặt cuộc cách mạng của nhân dân ta năm 1945 ngang hàng với cuộc cách mạng của Pháp và Mĩ, đặt bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam ngang hàng với hai bản Tuyên ngôn của hai nước lớn đó, khẳng định về quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới. Đây là nghệ thuật dùng “gậy ông đập lưng ông” – ngón võ dân gian rất hiệu nghiệm của nhân dân ta mà Bác đã sử dụng thật tài tình trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn. 3. Trong phần thứ hai của bản Tuyên ngôn Độc lập, tác giả tập trung tố cáo tội ác của thực dân Pháp trong hơn 80 năm đô hộ nước ta. Đó là do mối liên hệ giữa phương châm sáng tác của Hồ Chí Minh với tác phẩm: bao giờ Người cũng xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm. Đối tượng mà Người hướng tới khi viết bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là đồng bào trong nước mà còn với cả thế giới, đặc biệt là với những lực lượng thù địch và cơ hội quốc tế đang mang dã tâm một lần nữa nô dịch đất nước ta, trong đó có thực dân Pháp. Phải bằng mọi cách để ngăn chặn âm mưu xâm lược của chúng. Trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn, Người đã trích dẫn bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 để ngăn chặn một cách gián tiếp, thì ở đây, Người tập trung tố cáo mạnh mẽ tội ác của thực dân Pháp chính là một cách ngăn chặn trực tiếp hơn, có hiệu quả hơn. (…) Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. (…) Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu (…)”. 14 điệp từ “chúng”. Vang lên, dằn mạnh trong đoạn văn tố cáo cùng với cách nêu liên tiếp, dồn dập những tội ác của thực dân Pháp bằng lối viết khẳng định của tác giả, đã lên án mạnh mẽ chủ nghĩa thực dân Pháp trong bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử này. 4. Tuyên ngôn Độc lập là một tác phẩm tràn đầy tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khát vọng độc lập tự do của dân tộc, về vị thế bình đẳng của đất nước ta trên toàn thế giới. Trước hết cần thấy rằng khi soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử này, Người không chỉ dựng lên một văn bản tuyên ngôn đầy đủ, mẫu mực với tính lôgic và tính pháp lý chặt chẽ của nó, mà còn viết ra bằng tất cả tâm huyết của một người con yêu nước đối với đất nước và dân tộc mình. Tấm lòng đó đã làm nên chất văn cho tác phẩm, khiến Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là một bài văn chính luận hùng hồn, đanh thép, có sức thuyết phục cao, mà còn là một áng văn xúc động lòng người. Tâm huyết của Người được bộc lộ sâu sắc qua các mặt sau đây: a) Nói lên khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Đây cũng chính là khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con yêu nước số một của dân tộc Việt Nam, từng ra đi tìm hình cho nước (tức là đi tìm độc lập, tự do cho dân tộc) nên Người đã thấu hiểu khát vọng đó của dân tộc và tin tưởng sắt đá vào ý chí quyết tâm giữ vững nền độc lập, tự do của nhân dân ta. Ở đây, khát vọng của Bác cũng là khát vọng của nhân dân, và Người đã nói lên khát vọng và ý chí ấy của nhân dân ta một cách hào hùng, mãnh liệt, đầy niềm tin trong bản Tuyên ngôn mở nước này. Khát vọng ấy, ý chí ấy như mạch cảm hứng nồng nàn, như hào quang tư tưởng xuyên suốt bản Tuyên ngôn, càng lúc càng dâng trào và tỏa sáng trong phần tuyên ngôn ở cuối tác phẩm: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.” b) Vị thế bình đẳng của đất nước ta trên toàn thế giới Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập bằng một niềm tự hào dân tộc mãnh liệt. Ngay phần mở đầu, Người đã nêu lên nguyên lí: “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Việc trích dẫn hai bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp, như phân tích trong mục 2 trên đây, cũng là cách để Người đề cao vị thế của cách mạng Việt Nam, của Tuyên ngôn Độc lập nước ta trên toàn thế giới (cũng ngang hàng như các nước lớn). Ở đoạn giữa, Người đề cao thái độ khoan hồng và nhân đạo của nhân dân ta đối với người Pháp khi họ đã thất bại trước quân Nhật. Và sau đó, bản Tuyên ngôn đã khẳng định vị thế mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên toàn thế giới – một đất nước đã đánh đổ cả thực dân, phong kiến để có độc lập, tự do thực sự cho nhân dân. Từ đó mà có một niềm tin chắc chắn vào vị thế của đất nước ta: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”. 5. Tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập thể hiện phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh trong văn chính luận ở những điểm chủ yếu sau đây: – Ngắn ngọn – Súc tích; trong sáng – đanh thép; giản dị – sắc sảo Dựa vào những gợi ý trên đây, anh (chị) tự phân tích qua văn bản để làm sáng tỏ Cuối cùng, đọc kĩ phần Ghi nhớ trong SGK để nắm vững bài học. III. LUYỆN TẬP Gợi ý làm bài: – Do chất văn của tác phẩm đem lại, mà chất văn đó có được là do tấm lòng, tâm huyết của người viết từ lòng yêu nước nồng nàn và khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của dân tộc. – Ở đây có sự đồng cảm sâu sắc giữa người viết và người đọc (nghe). Lời Bác là ý dân, lãnh tụ đã nói lên đúng khát vọng thiêng liêng của quần chúng trong cái thời khắc lịch sử sang trang, mở ra một kỉ nguyên mới cho đất nước, khiến cho Tuyên ngôn Độc lập trở thành một áng văn xúc động lòng người.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Tuyên Ngôn Độc Lập
4,126
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Tây tiến Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Tây tiến, bài thơ đã được tổng hợp nội dung về tác giả và tác phẩm sẽ giúp các bạn học sinh nắm chắc bài thơ Tây tiến để học tốt Ngữ văn 12. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Tây tiến I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN A. Tác giả (xem GSK) Về nhà thơ Quang Dũng, cần chú ý những điểm sau đây: – Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh và soạn nhạc. Nhưng Quang Dũng trước hết là một nhà thơ, một hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa – đặc biệt khi ông viết về người lính Tây Tiến và xứ Đoài (Sơn Tây) của mình. – Quang Dũng chính là lính Tây Tiến; là người trong cuộc, nên ông rất hiểu chiến trường Tây Tiến và người lính mà ông từng yêu mến, gắn bó, nên đã thể hiện họ rất thành công trong bài thơ. B. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ (Xem SGK) Chú ý tâm trạng và cảm xúc của Quang Dũng khi sáng tác bài thơ: rời xa đoàn quân Tây Tiến chưa bao lâu, hồi ức kỉ niệm về chiến trường xưa và đồng đội cũ vẫn đầy ắp trong tim, cứ như thế mà trào ra theo nỗi nhớ, tuôn chảy thành bài thơ. Ban đầu, bài thơ có tên là Nhớ Tây Tiến, năm 1975, khi in lại bài thơ, tác giả đặt tên là Tây Tiến. C. Tác phẩm: Tây Tiến Cần đọc bài thơ nhiều lần để có cảm nhận chung về chiến trường và người lính Tây Tiến. Có thể đọc theo cách sau: – Đầu tiên, đọc thầm bằng mắt toàn bài thơ để lĩnh hội chung về nội dung của tác phẩm. – Sau đó, đọc to thành tiếng và cố gắng đọc diễn cảm bài thơ theo ý nhịp điệu và tình cảm của tác giả. Chú ý những câu thơ có âm điệu, nhịp điệu đặc sắc như: – Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. – Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Trôi dòng nước lũ hoa dong dưa. – Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lê húc độc hành. 1. Tìm hiểu bố cục bài thơ Theo văn bản, bài thơ tự nó “chia ra làm bốn đoạn: – Đoạn 1: Nỗi nhớ khung cảnh chiến trường Tây Tiến của nhà thơ – một chiến trường vừa dữ dội, ác liệt lại vừa thơ mộng, trữ tình. – Đoạn 2: Cảnh đêm liên hoan ở vùng biên giới Việt Lào tưng bừng, rộn rã và cảnh sông nước Châu Mộc huyền ảo, thơ mộng hiện lên qua nỗi nhớ của tác giả. – Đoạn 3: Chân dung người lính Tây Tiến hào hùng mà hào hoa với lí tưởng đẹp “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, với cái chết bất tử đầy bi tráng. – Đoạn 4: Hồn người Tây Tiến vẫn gắn bó với “Tây Tiến mùa xuân ấy” của một thời đánh giặc anh hùng rực lửa. Mạch liên kết giữa các đoạn văn chính là nỗi nhớ rất tự nhiên của nhà thơ về một chiến trường và những đồng đội một thời đánh giặc vô cùng gian khổ mà rất đỗi hào hùng. Nỗi nhớ ấy đã “xâu chuỗi” các ý thơ trong từng đoạn với nhau để thành bài ca Tây Tiến của một thời kỳ lịch sử không thể nào quên: từ nhớ khung cảnh chiến trường rồi nhớ đến những vùng đất đã đi qua đầy kỉ niệm, cuối cùng hội tụ lại trong chân dung người lính Tây Tiến mà hồn các anh vẫn gắn bó mãi mãi với mùa xuân của chiến trường đánh giặc đã đi vào lịch sử của dân tộc. Khung cảnh chiên trường Tây Tiến vừa hùng vĩ, dữ dội, lại vừa thơ mộng, trữ tình. Bên cạnh núi rừng hiểm trở với độ cao rợn người là một mái nhà thấp thoáng ẩn hiện trong màn mưa mỏng nơi lưng chừng núi, bên cạnh vùng đất hoang dại chứa đầy bí ẩn ghê gớm của rừng thiêng với thác gầm thét, với cọp trêu người là một bản làng có cơm lên khói, có mùi thơm nếp xôi và những cô gái xinh đẹp như những bông hoa rừng. Đây là khung cảnh thực của chiến trường Tây Tiến đã được khúc xạ qua tâm hồn lãng mạn, hào hoa của người lính Tây Tiến, phần đông là thanh niên Hà Nội, và được Quang Dũng miêu tả rất thành công bằng thủ pháp nghệ thuật, đặc biệt là thủ pháp đối lập. – Đối lập giữa hai câu thơ về cả hình ảnh, nhịp điệu, thanh điệu: Ngàn thước lên cao / ngàn thước xuống (hai thanh trắc ở cuối câu) Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi (toàn thanh bằng, chủ yếu là thanh không dấu) – Đối lập giữa hai cặp câu thơ: Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người ác liệt ⇒ (hoang dại, dữ dội) Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi ⇒ (nhẹ nhàng, tươi mát, thanh bình) – Thủ pháp nhân hóa, cường điệu: súng ngửi trời, cọp trêu người,… Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hiện ra trên nền cảnh thiên nhiên ấy cũng rất đẹp: – Có cái tinh nghịch, dí dỏm của các chàng trai Hà Nội – cũng là sự chiến thắng thiên nhiên ác liệt khi các anh đã “chạm” đến trời, đã lên đến đỉnh cao nhất của chiến trường miền Tây để đánh giặc: Heo hút cồn mây súng ngửi trời – Có sự hòa hợp thật đáng yêu trong tình quân dân kháng chiến: Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi. + Và ngay đến cái chết, sự ra đi của các anh cũng thanh thản, đẹp tuyệt vời: Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! 3. Bức tranh thiên nhiên ở đoạn 2 Bức tranh thiên nhiên và con người ở đây lại mang những vẻ đẹp mới khác với bức tranh trên, nhưng lại bổ sung cho bức tranh Tây Tiến thêm hoàn mĩ với những sắc màu đầy ấn tượng, khó quên. Đó là bức tranh mĩ lệ, duyên dáng và đặc biệt là rất thanh bình ngỡ như không còn tiếng súng, không còn chiến tranh, chết chóc của những nơi các anh đã đi qua in rõ tâm hồn người lính Tây Tiến lãng mạn, hào hoa, yêu đời. Có vẻ đẹp rực rỡ, mĩ lệ mang màu sắc của xứ lạ, phương xa trong một đêm liên hoan quân dân nơi biên giới Lào – Việt; có vẻ đẹp thơ mộng, huyền ảo của “thi trung hữu họa” trên sông nước Châu Mộc như một bức tranh thủy mặc phương Đông. Có thể xem đây là những nét bút rất tài hoa của Quang Dũng biểu hiện một hồn thơ lãng mạn, hào hoa, tinh tế: Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăm xây hồn thơ. Chiến tranh không còn nữa, ở đây chỉ có đuốc hoa, xiêm áo rực rỡ và tiếng khèn, điệu nhạc, hồn thơ quấn quýt với tình người, tình quân dân kháng chiến và tình nghĩa Việt – Lào gắn bó thủy chung. Cái đẹp ở đây là của xứ lạ phương xa, có nét man dại nên càng thêm đậm đà, hấp dẫn. Vẻ đẹp của bốn câu sau là vẻ đẹp của một bức tranh có gam màu nhạt với những đường nét uyển chuyển, những hình ảnh chấm phá mà đầy sức khơi gợi: Người đi Mộc Châu chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa dong dưa. Một cảnh sông nước huyền ảo, lung linh, đầy chất thơ của Tây Bắc nổi bật lên hình ảnh cô gái Thái chèo thuyền độc mộc uyển chuyển với bông hoa “đong đưa” như làm duyên trên dòng nước lũ. Trong một bài thơ viết về một chiến trường ác liệt nhất, về những người lính phi thường, một thời đánh giặc anh hùng rực lửa mà có cả một đoạn thơ tám câu mĩ lệ, thanh bình, êm ả như vậy – thì đó chính là niềm lạc quan, yêu đời, tâm hồn lãng mạn, hào hoa, và trên hết, đó chính là bản lĩnh của nhà thơ – chiến sĩ Quang Dũng. 4. Hình ảnh người lính Tây Tiến (đoạn 3) Trên cái nền cảnh thiên nhiên hùng vĩ, mĩ lệ của chiến trường miền Tây, hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên thật đẹp và đầy ấn tượng, được tác giả cô đúc lại trong tám câu thơ hàm súc, giàu sức gợi cảm và hàm chứa ý nghĩa. Quang Dũng miêu tả rất thật những đồng đội của anh (đoàn quân Tây Tiến không mọc tóc, da xanh màu lá,…) nhưng lại đem đến cho họ một vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa, đúng với cái chất lính của những chàng trai kinh thành “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Quả đúng như vậy, người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lẫm liệt, hào hùng và sang trọng. Sang trọng ở tư thế ra đi, coi cái chết nhẹ như lông hồng (“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”), sang trọng ở những giấc mơ lãng mạn của người thanh niên Hà Nội. Đây cũng là vẻ đẹp bi tráng của người lính, cả khi sống (những gương mặt tiều tụy vì 3ốt rét mà vẫn “dữ oai hùm”, vẫn “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” và khi đã hy sinh (được bọc trong những tấm chiến bào sang trọng, thiên nhiên tấu lên khúc nhạc dữ dội và oai hùng để đưa tiễn hương hồn người chiến sĩ). Ở đây, Quang Dũng không hề né tránh sự chết chóc, sự gian khổ của người lính; nhà thơ đã nói lên sự thật cái “bi” của chiến trường ác liệt nhưng đã lấy cái “tráng” để át cái “bi” thành chất “bi tráng” của người lính Tây Tiến. Và cái vẻ đẹp bi tráng ấy đã được đẩy tới đỉnh cao trong hai câu thơ tuyệt bút miêu tả cái chết – bất tử của các anh: Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Chỉ tám câu thơ mà Quang Dũng đã khắc họa được rõ nét chân dung người lính Tây Tiến như một bức tượng đài bất tử về người lính vô danh một thời đánh giặc không thể nào quên. 5. Nỗi nhớ Tây Tiến (đoạn 4) Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thắm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. Sông Mã xa rồi. Tây Tiến xa rồi. Ngồi ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ về chiến trường xưa và những người đồng đội cũ một thời chiến đấu vô cùng gian khổ mà rực lửa anh hùng. Giữa nhà thơ và những ngày Tây Tiến có cả một khoảng cách thời gian và không gian thăm thẳm (Đường lên thăm thẳm một chia phôi). Nhưng hồn người Tây Tiến thì vẫn gắn với “Tây Tiến mùa xuân ấy”: “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”, có nghĩa là gắn với những ngày tháng đẹp nhất của đoàn quân Tây Tiến, một đoàn quân đã đi vào lịch sử của dân tộc như một chứng tích không thể nào quên. 6. Bút pháp của Quang Dũng trong bài thơ Bút pháp của Quang Dũng trong bài thơ là bút pháp lãng mạn (khác với Chính Hữu dùng bút pháp tả thực trong bài Đồng chí). Bút pháp lãng mạn là vượt lên trên thực tại (thường là khắc nghiệt) để vươn tới cái đẹp của lý tưởng, tìm cảm giác ở những nơi xứ lạ, phương xa hoặc thiên nhiên hùng vĩ, mĩ lệ, thơ mộng. Nhà thơ thường dùng các thủ pháp phóng đại, cường điệu, đối lập để tô đậm cái phi thường, gây ấn tượng mạnh về cái hùng vĩ, dữ dội và cái thơ mộng, tuyệt mĩ. Có thể so sánh với bút pháp tả thực trong bài Đồng chí của Chính Hữu như sau: ĐỒNG CHÍ Áo anh rách vai Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi Đêm rét chung chăn, thành đôi tri kỷ TÂY TIẾN Áo bà ba thay chiếu anh về đất Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Với bút pháp lãng mạn, Quang Dũng mới phát huy được sở trường, hồn thơ của mình để đạt được thành công trong Tây Tiến, để lại cho đời một bài thơ bay bổng, say người, tràn đầy cảm hứng lãng mạn về hình ảnh một người lính đẹp và một chiến trường lịch sử hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc. Cuối cùng, đọc kĩ phần Ghi nhớ để nắm vững bài học. II. LUYỆN TẬP 1. Gợi ý phân tích khổ thơ: – Bút pháp của Quang Dũng trong bài thơ Tây Tiến là bút pháp lãng mạn. – Bút pháp của Chính Hữu trong bài thơ Đồng chí là bút pháp hiện thực (tả thực). – Anh (chị) tham khảo mục 6 trên đây để làm bài tập này. 2. Câu này anh (chị) tự làm theo cảm nhận riêng của mình (có thể tham khảo mục 4 trên đây).
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Tây tiến
2,283
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Tự do Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Để học tốt Ngữ văn lớp 12, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Tự do, tài liệu sẽ là nguồn thông tin hữu ích để giúp các bạn học sinh đạt kết quả cao môn Ngữ văn 12. Mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Tự do • Vài nét về tác giả Pôn Ê-luy-a (1895 – 1952), nhà thơ Pháp, sinh ở Xanh Đơ-ni, một thị trấn nhỏ ở phía Bắc Pa-ri. Trong Đại chiến thế giới lần thứ nhất, ông bị động viên vào lính và bị thương. Năm 1919, ông tham gia trào lưu siêu thực nhưng dần dần, ông nhận thức được rằng nghệ thuật không thể tách rời mà phải tham gia bảo vệ cuộc sống. Các sáng tác thơ của ông trong thời kì này mang nội dung chống chiến tranh đế quốc và giàu tính nhân đạo. Với hơn sáu mươi thi phẩm, ông đã tạo ra một hình thức thơ mới mẻ, giàu chất trí tuệ, tràn đầy khát vọng nhân văn. Thơ ông không chú trọng xây dựng các hình ảnh như thơ truyền thống mà hàm chứa suy luận trữ tình triết lí, và ít nhiều vẫn còn dấu ấn của chủ nghĩa siêu thực. (Xem chú thích về trào lưu siêu thực trong SGK, tr.161). 1. Hoàn cảnh ra đời của bài thơ Bài thơ Tự do của Pôn Ê-luy-a ra đời trong thời kì nước Pháp bị quân đội phát xít Đức xâm lược, in trong tập Thơ ca và chân lí, 1942 và được coi là thánh ca của thơ ca kháng chiến Pháp. Bài thơ gồm 21 khổ thơ, không kể dòng cuối cùng chỉ là chữ TƯ DO (được viết hoa). Văn bản trong SGK là bản dịch của Phùng Văn Tửu, có lược bớt một số khổ thơ rải rác ở giữa bài, chỉ còn 12 khổ thơ. 2. Chủ đề bài thơ Như nhan đề “Tự do”, chủ đề bài thơ cũng chính là tự do. Người đọc dễ dàng nhận ra chủ đề này nhờ cảm hứng “tự do” đã tuôn chảy ào ạt, nồng nhiệt và thiết tha trong tác phẩm xuyên suốt 21 khổ thơ để kết thúc bằng hai chữ TƯ DO ở cuối bài thơ. 3. Đặc sắc nghệ thuật Cảm hứng “tự do” tuôn chảy ào ạt, nồng nhiệt trong bài thơ nhờ hai thủ pháp nghệ thuật: – Điệp cấu trúc các khổ thơ bằng câu kết thúc “Tôi viết tên em” -> và tên em chính là TƯ DO. – Điệp từ “trên” được lặp lại nhiều lần ở các khổ thơ theo kiểu “xoáy tròn” (Trên… trên…), tất cả 60 lần, tạo cảm giác ở mọi nơi, mọi chỗ, mọi lúc. “tôi đều viết tên em”, đều có TƯ DO, đều khao khát và hành động cho TƯ DO. ‘ Trên ⇒ Mọi sự, mọi lúc, mọi hiện tượng, con người, thời gian ⇒ tôi viết tên em ⇒ tôi sinh ra để gặp em ⇒ để gọi tên em ⇒ TỰ DO. 4. Tính chất thánh ca của bài thơ Bài thơ do có sự lặp lại 20 lần câu kết thúc của 20 khổ thơ “Tôi viết tên em” khiến người đọc liên tưởng tới thánh ca, hay lời cầu nguyện bao giờ cũng kết thúc bằng “A-men” (có nghĩa là chấp thuận hoặc đồng ý). “Tôi viết tên em” do đó trở thành một xác tín, một niềm tin vững chắc trong hoàn cảnh nô lệ, mất tự do. “Tôi viết tên em” cũng thể hiện lời thề quyết tâm hướng tới tự do, giành và bảo vệ tự do. Trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống phát xít Đức của nhân dân Pháp lúc bấy giờ (1942), những đặc điểm trên đây của bài thơ dễ dàng đi vào lòng người đọc, được Ιηρί ηgμοί chấp nhận và nó đã trở thành thánh ca là như vậy.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Tự do
680
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Việt Bắc Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Việt Bắc Để học tốt Ngữ văn 12, xin giới thiệu tới các bạn học sinh tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Việt Bắc, bài thơ đã được tổng hợp đầy đủ nội dung về tác giả và tác phẩm sẽ giúp các bạn học sinh có kết quả cao môn Ngữ văn. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Việt Bắc PHẦN I: TÁC GIẢ Phần viết về nhà thơ Tố Hữu được SGK viết rõ ràng, đầy đủ và dễ hiểu. Anh (chị) cần đọc kĩ và chậm bài viết này để nắm được những nét cơ bản nhất về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của ông. Dưới đây là những gợi ý chính trong phần Hướng dẫn học bài và phần Luyện tập. I. HƯỚNG DẪN ĐỌC BÀI 1. Những nét lớn trong cuộc đời Tố Hữu – Vào tuổi thanh niên, tham gia phong trào cách mạng và trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Đoàn Thanh niên Dân chủ ở Huế; năm 1938 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. – Tháng 4 – 1939 đến tháng 3 – 1942 bị thực dân Pháp bắt giam qua nhiều nhà tù ở miền Trung và Tây Nguyên. -Tháng 3 – 1942 vượt ngục, tìm ra Thanh Hóa, tiếp tục hoạt động cách mạng. – Tháng Tám năm 1945 là Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa ở Huế. – Kháng chiến toàn quốc ra Việt Bắc công tác ở cơ quan Trung ương Đảng, đặc trách về văn hóa văn nghệ. – Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ cho đến năm 1986 liên tục giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước (từng là Üy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng). Năm 1996, được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật. 2. Những chặng đường thơ của Tố Hữu – Những chặng đường thơ của Tố Hữu gắn bó mật thiết với những chặng đường cách mạng của bản thân nhà thơ, với những giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam. Có thể nói đường đời, đường thơ Tố Hữu luôn song hành cùng con đường cách mạng của cả dân tộc, phục vụ có hiệu quả cho cuộc cách mạng đó. – Mối quan hệ khăng khít, gắn bó đó được thể hiện trong các chặng đường thơ của Tố Hữu: + 1937 – 1946: Cách mạng giải phóng dân tộc: tập thơ Từ ấy. + 1946 – 1954: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: tập thơ Việt Bắc. + 1955 – 1961: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước: tập thơ Gió lộng. + 1962 – 1975: Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ và ngày toàn thắng, thống nhất đất nước: tập thơ Ra trận (1962 – 1971), tập thơ MCáu Uà Hoa (1972 – 1977). + Từ 1986 trở đi: Đất nước bước vào công cuộc đổi mới: các tập thơ Một tiếng đờn (1992) và Ta với Ta (1999). 3. Tại sao nói thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị? – Vì nội dung thơ Tố Hữu đều hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui, lớn của con người cách mạng, của cả dân tộc. Ngay từ đầu cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu đã là cái tôi chiến sĩ, càng về sau càng xác định rõ là cái tôi nhân danh Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc. – Cảm ứng chủ đạo trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lịch sử – Dân tộc, chứ không phải cảm hứng thế sự – đời tư, nổi bật trong thơ Tố Hữu là vấn đề vận mệnh cộng đồng, chứ không phải vấn đề số phận cá nhân. -Những vấn đề chính trị lớn lao đó đã được Tố Hữu thể hiện qua giọng thơ tâm tình, đằm thắm, chân thành. 4. Tính dân tộc trong hình thức nghệ thuật Tố Hữu biểu hiện ở những điểm cơ bản nào? – Được biểu hiện ở các mặt chủ yếu như: + Thể thơ dân tộc: lục bát, thất ngôn,… + Hình ảnh, ngôn ngữ dân tộc, cách phô diễn dân tộc. + Nhịp điệu và nhạc điệu dân tộc. II. LUYỆN TẬP 1. Tự chọn bài thơ của Tố Hữu mà mình yêu thích để bình giảng một đoạn. 2. Gợi ý câu của Xuân Diệu: hai yếu tố chính trị và trữ tình trong thơ Tố Hữu đã hòa hợp với nhau một cách nhuần nhị, gắn bó máu thịt với nhau. Bởi những tình cảm chính trị đó vốn là lẽ sống của nhà thơ nên đã được ông nói lên một cách tự nhiên, chân thành bằng giọng thơ tâm tình đằm thắm (mà Xuân Diệu gọi là “thơ rất đỗi trữ tình”). PHẦN II: TÁC PHẨM I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN Trước khi tìm hiểu đoạn trích, cần đọc văn bản nhiều lần theo cách sau đây: – Đọc thầm bằng mắt văn bản một lần (đọc chậm, kĩ) để nắm được khái quát chung về đoạn trích. – Đọc to thành tiếng 1, 2 lần, cố gắng đọc diễn cảm theo lối đối đáp của nhân vật trữ tình trong đoạn trích để cảm nhận được tâm trạng của từng nhân vật cùng với cảnh vật và con người của Việt Bắc. 1. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ và sắc thái tâm trạng của nhân vật trữ tình trong đoạn trích a) Hoàn cảnh sáng tác bài thơ – Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7 – 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới. Một trang sử mới của đất nước được mở ra. – Tháng 10 – 1954, những người kháng chiến từ chiến khu Việt Bắc trở về miền xuôi. Trung ương Đảng và Chính phủ từ quê hương cách mạng về lại Thủ đô. Đó là một cuộc chia tay lịch sử để đưa đất nước tiếp tục đi lên trong giai đoạn mới. Nhân sự kiện có tính lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc, gồm hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến; phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân tộc. Đoạn trích học là phần đầu của tác phẩm. b) Sắc thái tâm trạng của nhân vật trữ tình trong đoạn trích Như trên đã nói, bài thơ ra đời trên cái nền của cuộc chia tay lịch sử giữa người ở lại (nhân dân các dân tộc Việt Bắc) và người về xuôi (Trung ương Đảng, Chính phủ, cán bộ và bộ đội đã từng kháng chiến ở Việt Bắc trong 15 năm gắn bó sắt son, nghĩa tình chung thủy). Tố Hữu đã dựng lên một cuộc chia tay như thế trong thiên tình ca cách mạng Việt Bắc. Địa điểm chia tay là một khung cảnh đầy bâng khuâng, lưu luyến, ánh lên một màu áo chàm bền vững, chung thủy của cả người đi và người ở: Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay… Người ở lại được nhà thơ biểu trưng (hình tượng hóa) là một cô gái dân tộc (có thể tưởng tượng thêm: cô gái đó mặc quần áo màu chàm, lưng đeo gùi); còn người về xuôi hiện lên trong khúc ca chính là anh bộ đội (mặc quân phục xanh thời kháng chiến chống Pháp, đội mũ lưới, đi dép cao su). Tố Hữu đã thể hiện cuộc chia tay đó bằng lối đối đáp giao duyên của nam nữ trong dân ca khiến cho khúc tình ca cách mạng này thêm đằm thắm, ân tình. Sắc thái tâm trạng của nhân vật trữ tình trong đoạn trích hiện lên rõ qua lời đối đáp: – Cô gái dân tộc (người ở lại) gợilại những kỉ niệm của cách mạng thời kì trứng nước còn nhiều khó khăn gian khổ nhưng vẫn một lòng đoàn kết xây dựng lực lượng, cùng nhau đánh giặc để giành lại độc lập, tự do (“Bát cơm chấm muối, mối thù nặng vai; Hắt hiu. lau xám, đậm đà lòng son”). Tâm trạng bùi ngùi, lưu luyến, nhớ nhung trong ân tình cách mạng của những người cùng chung lí tưởng. – Anh bộ đội (người về xuôi) đinh ninh trong một nỗi nhớ tha thiết quê hương cách mạng, một niềm thủy chung son sắt bền vững với những người con của Việt Bắc đã từng chia ngọt sẻ bùi, cưu mang, bảo vệ cách mạng. Nỗi nhớ và niềm tin đầy ắp trong lời đáp của anh: Ta với mình, mình với ta – Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh. Mình đi, mình lại nhớ mình – Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu… 2. Qua hồi tưởng của Tố Hữu, vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc hiện lên như thế nào? a) Cảnh Việt Bắc hiện lên mang vẻ đẹp vừa gần gũi, vừa nên thơ của quê hương cách mạng. – Cảnh bản làng ấm cúng: Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. – Cảnh thơ mộng trữ tình: Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương. – Nét đặc trưng của Việt Bắc: Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa. – Cảnh sinh hoạt kháng chiến ở chiến khu: Nhớ sao lớp học i tờ…. Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo. – Nhưng tiêu biểu nhất và cũng đẹp nhất là “bức tranh tứ bình” của Việt Bắc qua bốn mùa: + mùa đông: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi + mùa xuân: Ngày xuân mơ nở trắng rừng + mùa hạ: Ve kêu rừng phách đổ vàng + mùa thu: Rừng thu trăng rọi hòa bình – Nét chung: Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng. – Bà mę: Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô. – Người lên nương: Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. – Người đan nón: Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Cảnh và người Việt Bắc hiện lên đẹp qua hồi tưởng của Tố Hữu chính là do con mắt nhìn đúng đắn, tiến bộ của nhà thơ đối với quê hương cách mạng và tấm lòng của ông đối với con người Việt Bắc ân tình, thủy chung, một lòng gắn bó với cách mạng. 3. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu và vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến a) Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu đã được Tố Hữu khắc họa đẹp và đầy ấn tượng. – Đó là vẻ đẹp của “thế trận” rừng núi đã cùng ta đánh giặc: Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây. Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù. – Đó là bức tranh “Việt Bắc xuất quân” đầy hào khí, chỉ mới ra quân mà như đã cầm chắc chiến thắng trong tay: Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung ………………… Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên. b) Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến: – Trong cách mạng, đặc biệt là thời kì đầu khởi nghĩa: là căn cứ địa của cách mạng, cái nôi của cách mạng, nơi đầu nguồn cách mạng với những địa danh lịch sử. – Trong kháng chiến chống Pháp: là căn cứ địa, chiến khu của kháng chiến, nơi có các cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến, các binh đoàn chủ lực của cuộc kháng chiến. – Tóm lại, Việt Bắc có vị trí đặc biệt quan trọng, là “quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hòa”. 4. Nghệ thuật đậm đà tính dân tộc của bài thơ (qua trích đoạn này). Được thể hiện qua các mặt sau đây: a) Thể thơ dân tộc: Thể thơ lục bát được Tố Hữu sử dụng nhuần nhị, uyển chuyển và sáng tạo. b) Hình ảnh dân tộc: Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn; Nhớ người mẹ nắng cháy lưng… c) Lối phô diễn dân tộc: Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu; Mình về mình có nhớ ta… d) Ngôn ngữ dân tộc: Tiêu biểu là cặp đại từ xưng hô ta – mình dùng rất sáng tạo trong bài thơ. e) Nhịp điệu, nhạc điệu dân tộc: khi nhẹ nhàng, thơ mộng, khi đằm thắm, ân tình, khi mạnh mẽ, hùng tráng. (Anh (chị) có thể tìm thêm dẫn chứng trong bài thơ để minh họa cho 5 mặt trên đây). Cuối cùng, đọc kĩ phần Ghi nhớ để nắm vững bài học. II. LUYỆN TẬP 1. Thực hiện bài tập này theo hai bước: thống kê tất cả các trường hợp sử dụng ta – mình trong bài thơ; sau đó phân loại cách sử dụng các đại từ xưng hô đó để nêu rõ nét tài hoa của Tố Hữu. 2. Bài tập này anh (chị) tự làm theo cảm nhận riêng của mình.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Việt Bắc
2,241
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Ôn tập phần văn học Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Để học tốt Ngữ văn lớp 12, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Ôn tập phần văn học, tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh nắm chắc kiến thức phần văn học thuộc chương trình Ngữ văn lớp 12. Mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Ôn tập phần văn học I. NỘI DUNG ÔN TẬP Phần văn học trong SGK Ngữ văn 12, tập một gồm một số tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến cuối thế kỉ XX, hai bài văn học nước ngoài (Đô-xtôi-ép-xki của S.Xvai-gơ, Tự do của P.Ê-luy-a), một bài văn nhật dụng (Thông điệp của Tống thư kí Liên hiệp quốc nhân Ngày thế giới phòng chống AIDS 1 – 12 – 2003). Các tác phẩm văn học Việt Nam được chọn giảng hay đọc thêm thuộc nhiều thể loại khác nhau: nhiều nhất là thơ, sau đó là văn chính luận, tùy bút, bút kí, hồi kí. Có hai bài học về tác giả là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Tố Hữu, một bài khái quát về thời kì văn học. Nội dung ôn tập phần văn học có mấy điểm cần lưu ý sau đây: 1. Về bài Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến cuối thế kỉ XX. Điều quan trọng nhất là phải hiểu được hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước ta từ năm 1945 đến năm 1975 (hai cuộc chiến tranh ái quốc vô cùng ác liệt) để có thể giải thích được các đặc điểm cơ bản của văn học, nắm được tiêu chí đánh giá thành tựu của giai đoạn văn học này theo quan điểm lịch sử, đồng thời hiểu được những hạn chế khó tránh khỏi của nó. Về giai đoạn văn học từ 1975 đến cuối thế kỉ XX, cần nắm được hoàn cảnh lịch sử xã hội và những chuyển biến bước đầu của giai đoạn văn học này về các mặt: ý thức sáng tác của nhà văn, những đổi mới trong các thể loại sáng tác và lí luận, phê bình văn học. 2. Về hai bài có tính chất khái quát về tác giả văn học: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Tố Hữu Hai bài này đều gắn với những bài học về tác phẩm cụ thể của các tác giả nói trên. Với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh được gắn với bài học về Tuyên ngôn Độc lập, còn Tố Hữu thì gắn với bài học về tác phẩm Việt Bắc. Đối với nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là một tác giả xuất hiện sớm với những truyện ngắn, kí và văn chính luận viết bằng tiếng Pháp từ đầu những năm 20 của thế kỉ XX. Tuyên ngôn Độc lập của Người là áng văn mở nước, đồng thời cũng mở đầu thời kì văn học từ sau Cách mạng tháng Tám. Sáng tác văn học của Người, từ truyện, kí, văn chính luận đến thơ ca có vị trí quan trọng đối với nền văn học hiện đại Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là nhà văn, nhà thơ cách mạng tiêu biểu nhất, đồng thời là nhà văn hóa lớn của dân tộc. Khi ôn tập về tác gia Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, cần lưu ý: quan điểm sáng tác nhất quán, sự nghiệp văn học đa dạng, phong phú, phong cách nghệ thuật độc đáo. Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng. Ông là nhà thơ trữ tình – chính trị lớn của nền thơ ca hiện đại Việt Nam mà mỗi chặng đường thơ đều gắn bó mật thiết với chặng đường cách mạng. Khi ôn tập về tác gia Tố Hữu, cần nắm vững: ông là nhà thơ trữ tình – chính trị lớn của thời đại mới, chủ đề xuyên suốt đời thơ của ông là ca ngợi lí tưởng cộng sản, nét nổi bật của phong cách nghệ thuật là đậm đà bản sắc dân tộc truyền thống. Khi ôn tập các tác phẩm này, cần phải nắm vững đặc trưng của từng thể loại văn học để vận dụng vào việc đọc tác phẩm. Đồng thời, cũng nên so sánh những tác phẩm cùng thể loại để nhận rõ hơn những nét riêng về phong cách của mỗi tác phẩm. II. BẢNG TỔNG HỢP CÁC TÁC PHẨM ĐÃ HỌC TRONG HỌC KỲ 1 STT TÁC PHẨM TÁC GIẢ THỂ LOẠI NGHI CHÚ 1 Tuyên ngôn Độc lập Hồ Chí Minh Văn chính luận 2 Nguyễn Đình Chiểu, ngôi Sao Sáng trong văn nghệ dân tộc Phặm Văn Đồng Văn Chính luận (Nghị luận văn học) Đọc thêm 3 Mấy ý nghĩ về thơ Nguyễn Đình Thi (Nghị luận văn học) Đọc thêm 4 Thông điệp của Tổng thư kí Liên hiệp quốc nhân Ngày thế giới phòng chống AIDS 1 – 12-2003 Cô – phi An – nan Văn Chính luận Văn nhật dụng 5 Tây Tiến Quang Dũng Thơ 6 Việt Bắc Tố Hữu Thơ 7 Đất nước (trích Mặt đường khát vọng) Nguyễn Khoa Điềm Thơ 8 Đất nước Nguyễn Đình Thi Thơ Đọc thêm 9 Dọn về làng Nông Quốc Chấn Thơ Đọc thêm 10 Tiếng hát con tàu Chế Lan Viên Thơ Đọc thêm 11 Đò lèn Nguyễn Duy Thơ Đọc thêm 12 Sóng Xuân Quỳnh Thơ 13 Đàn ghi-ta của Lor-ca Thanh Thảo Thơ 14 Bác ơi! Tố Hữu Thơ 15 Người lái đò sông Đà Nguyễn Tuân Tùy bút 16 Ai đã đặt tên cho dòng Sông? Hoàng Phủ Ngọc Tường Bút kí 17 Những năm tháng không thể nào quyên Võ Nguyên Giáp Hồi kí 18 Đô xtôi- ép -xki (văn học nước ngoài) S. Svai – cơ Chân dung văn học Đọc thêm 19 Tự do (văn học nước ngoài) P. Ê. luy -a Thơ Đọc thêm III. GỢI Ý ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP 1. Quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ 1945 đến cuối thế kỉ XX a) Văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 – Chặng đường từ 1945 đến 1954 – Chặng đường từ 1955 đến 1964 – Chặng đường từ 1965 đến 1975. b) Văn học Việt Nam từ 1975 đến cuối thế kỉ XX. – Chặng đường từ 1975 đến 1985 – Chặng đường từ 1986 đến cuối thế kỉ XX. 2. Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 Ba đặc điểm cơ bản: a). Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước. b) Nền văn học hướng về đại chúng. c). Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. 3. “Tuyên ngôn Độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh a) Mục đích và đối tượng của bản Tuyên ngôn Độc lập. – Đối tượng hướng tới: + Toàn thể dân tộc Việt Nam + Nhân loại tiến bộ + Thực dân Pháp và đế quốc Mĩ – Mục đích hướng tới: + Tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta và mở ra kỉ nguyên mới cho dân tộc – kỉ nguyên Độc lập và Tự do. + Tỏ rõ ý chí quyết tâm sắt đá bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc. b) Tuyên ngôn Độc lập vừa là một áng văn chính luận mẫu mực vừa là một áng văn chan chứa những tình cảm lớn. – Một áng văn chính luận mẫu mực: + Luận điểm xác đáng: mọi người, mọi dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền Sung sướng và quyền tự do. + Luận cứ sắc bén, tin cậy, thuyết phục (đoạn tố cáo tội ác của thực dân Pháp). – Một áng văn chan chứanhững tình cảm lớn: + Lòng yêu nước, thương dân, tự hào và tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc. + Lòng căm thù giặc cao độ, sâu sắc. + Khát vọng cháy bỏng về độc lập tự do và ý chí quyết tâm giữ vững nền độc lập tự do đã giành được. 4. Câu hỏi này anh (chị) trao đổi trong nhóm học tập và tự lập đề cương cho từng tác phẩm. 5. Vẻ đẹp của hình tượng người lính trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng Người lính Tây Tiến của Quang Dũng mang vẻ đẹp hào hùng – hào hoa của những chàng trai Hà Nội lên đánh giặc ở miền Tây Bắc trong một thời anh hùng rực lửa hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp: Vẻ đẹp của ngoại hình mang nét phi thường dữ dội nhưng độc đáo, in đậm dấu ấn “lính” Hà Nội: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc – Quân xanh màu lá dữ oai hùm”. Vẻ đẹp đó vừa đối lập – nhưng lại rất hài hòa – với vẻ đẹp nội tâm vừa phong phú vừa hào hoa lãng mạn của những chàng trai kinh thành: Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Nhưng đẹp nhất là vẻ đẹp của lí tưởng người lính: nó hồn nhiên, tự nhiên như không, như vốn đó là tâm hồn, máu thịt người lính, khiến các anh coi cái chết nhẹ tựa lông hồng: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Lúc sống đã đẹp, khi hi sinh cho đất nước lại càng đẹp bội phần trong cái chết trang trọng, đầy màu sắc bi tráng – cái chết – bất tử của người lính Tây Tiến: Áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Quang Dũng đã dùng bút pháp lãng mạn để khắc họa người lính của mình, làm cho hình tượng người lính Tây Tiến càng thêm bay bổng, lãng mạn, say người, khác với người lính trong Đồng chí của Chính Hữu được miêu tả bằng bút pháp tả thực. 6. Những biểu hiện của tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu. Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu đậm đà tính dân tộc. Biểu hiện ở những mặt sau đây a) Thể thơ: Thể lục bát truyền thống của dân tộc đã được Tố Hữu vận dụng một cách nhuần nhị, sáng tạo, linh hoạt trong bài thơ. (Dẫn chứng). b) Cấu tứ: Bài thơ được gợi cảm hứng từ một “cuộc chia tay lịch sử” sau chiến thắng giặc Pháp. Tố Hữu đã sáng tạo thành một cuộc đối đáp giao duyên của nam nữ trong ca dao dân ca để nói về cuộc chia tay với quê hương cách mạng trong 15 năm tình nghĩa gắn bó thủy chung. c) Hình ảnh: Hình ảnh bài thơ là những hình ảnh truyền thống của dân tộc, rất gần gũi thân quen, gợi thương gợi nhớ: mưa nguồn suốt lũ, bát cơm chấm muối, nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn, nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu,… d) Ngôn ngữ: Ngôn ngữ trong bài thơ là ngôn ngữ dân tộc, đậm sắc màu dân gian, mà tiêu biểu là cặp đại từ “mình – ta, ta – mình” được nhà thơ sử dụng rất linh hoạt, sáng tạo, tài hoa. (Phân tích). e) Nhạc điệu: Nhạc điệu trong bài thơ cũng là nhạc điệu dân tộc, nhờ thi nhân đã tận dụng và phát huy một cách sáng tạo nhạc điệu của thể lục bát dân gian vào câu thơ hiện đại của mình. (Phân tích một số câu thơ để chứng minh cho nhạc điệu dân tộc). 7. Những khám phá riêng của mỗi nhà thơ về Đất nước. a). Bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi – Nguyễn Đình Thi có sở trường viết về đất nước trong chiến tranh: đau thương nhưng anh hùng và xiết bao tình nghĩa. Bài thơ có những đoạn khắc họa rất thành công hình ảnh đất nước trong chiến tranh: Ôi những cánh đồng quê chảy máu Đã bật lên những tiếng căm hờn. b) Đoạn thơ “Đất Nước” trong trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm – Khác với một Đất nước tổng hợp – khái quát của Nguyễn Đình Thi, Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm được khám phá trên nhiều bình diện lịch sử, địa lí, văn hóa, phong tục… và cả trong cuộc sống đời thường của mỗi người dân, trong tình yêu đôi lứa của anh và em… Nhà thơ đã phát hiện ra những điều mới mẻ và kì thú về Đất Nước bằng một tư duy thơ sâu sắc: Ôi Đất Nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta. – Với cách nhìn mới mẻ ấy, Nguyễn Khoa Điềm đã đem đến cho bài thơ một tư tưởng lớn: Đất nước của Nhân dân bởi chính Nhân dân là người làm ra Đất nước: Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại. – Và như vậy, thi nhân đã dùng một Đất Nước của dân gian để nói lên tư tưởng lớn: Đất Nước của Nhân dân. Và ông đã thành công. Đây cũng là vẻ đẹp riêng có sức cuốn hút của đoạn thơ Đất Nước này. 8. Hình tượng “sóng” trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh – Là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của nhà thơ nữ để nói lên tình yêu của giới mình. – “Sóng” là một ẩn dụ toàn bài để diễn tả tâm trạng của người phụ nữ đang khao khát yêu đương và mong muốn được sống trong tình yêu vĩnh viễn. – Hình tượng sóng được xây dựng bằng hình ảnh và bằng cả âm thanh nhịp điệu tạo ra nhạc điệu của tình yêu. – Đặc điểm: là hình tượng sóng đôi: là “sóng”, cũng là “em”, tuy hai mà một, tuy một mà hai, xoắn xuýt, hòa hợp, cộng hưởng với nhau trong suốt bài thơ. (Phân tích để làm sáng tỏ). 9. Câu hỏi này anh (chi) tự làm để nêu lên những đặc sắc về nội dung Uà nghệ thuật của từng bài thơ. 10. Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua tùy bút “Người lái đò sông Đà”. – Một cây bút tài hoa, uyên bác, khám phá sự vật và con người ở phương diện văn hóa, mĩ thuật. – Một ngòi bút thiên về những cảm xúc mãnh liệt: hoặc thật dữ dội, hoặc tuyệt mĩ. W.W. – Một con mắt nhìn sự vật theo chiều lịch sử, gắn quá khứ với hiện tại và tương lai. – Một lối viết tùy bút vừa nghiêm túc, vừa phóng khoáng, tài hoa. – Một vốn ngôn ngữ giàu có, sáng tạo, có giá trị tạo hình cao. 11. “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường. – Chất thơ của bài bút kí nhờ tình yêu con sông và những phát hiện kì thú về con sông quê hương của tác giả”. – Lối viết hướng nội, tài hoa, kết hợp nhuần nhị giữa trữ tình và trí tuệ.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Ôn tập phần văn học
2,469
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Đàn ghi ta của Lor-ca Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Đàn ghi ta của Lor-ca, với nội dung tài liệu đã được cập nhật đầy đủ sẽ giúp các bạn học sinh nắm chắc bài Đàn ghi ta của Lor-ca, qua đó sẽ giúp các bạn học sinh học tốt Ngữ văn lớp 12. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Đàn ghi ta của Lor-ca I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN A. Tác giả (xem trong SGK) Về tác giả Thanh Thảo, cần chú ý một số điểm sau đây: – Thanh Thảo thuộc thế hệ các nhà thơ chống Mĩ có thành tựu, có tiếng nói thơ riêng được công chúng chú ý, kể cả thơ viết về chiến tranh và thời hậu chiến. – Là một ngòi bút thơ luôn tìm tòi cái mới, nỗ lực cách tân thơ Việt, ông khước từ lối biểu đạt dễ dãi, tìm kiếm những cách biểu đạt mới và đề xuất một mĩ cảm hiện đại cho thơ. Đàn ghi-ta của Lor-ca rất tiêu biểu cho nỗ lực cách tâm thơ Việt của Thanh Thảo, mặc dầu bài thơ còn khó hiểu vì ít nhiều nhuốm màu sắc tượng trưng và siêu thực mà ông học tập ở chính nhà thơ hiện đại Tây Ban Nha: Ga-xi-a Lor-ca. B. Tác phẩm: Đàn ghi-ta của Lor-ca Trước khi tìm hiểu tác phẩm, cần đọc văn bản nhiều lần để có một cảm nhận chung ban đầu về bài thơ này. Chú ý đến cái chết bi thảm của Lor-ca được nói đến trong khổ thơ thứ hai của bài thơ (đọc kĩ chú thích (2) tr.162 để hiểu rõ về cái chết đó) và hình tượng tiếng đàn ghi-ta xuyên suốt tác phẩm, được nhà thơ miêu tả bằng nhiều hình ảnh mới lạ, hàm chứa ý nghĩa sâu sắc. 1. Cảm hứng từ cái chết bi thảm của nhà thơ lớn Tây Ban Nha Bài thơ được gợi cảm hứng từ cái chết bi thảm của Lor-ca (1898 – 1936). Lor-ca là nhà thơ lớn Tây Ban Nha, một trong những tài năng sáng chói của văn học hiện đại Tây Ban Nha. Ông đã ca ngợi, cổ vũ nhân dân trong cuộc đấu tranh với thế lực phản động, đòi quyền sống chính đáng với một nghệ thuật mới mẻ, gây ảnh hưởng xã hội to lớn trong nhân dân. Hoảng sợ trước điều đó, năm 1936, chế độ phản động cực quyền thân phát xít đã bắt giam và bắn chết ông. Tên tuổi của Lor-ca trở thành một biểu tượng, là ngọn cờ tập hợp các nhà văn hóa Tây Ban Nha và trên thế giới chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít bảo vệ văn hóa dân tộc và văn minh nhân loại. Lor-ca có một câu thơ nổi tiếng: “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”. Cái chết bi thảm ấy và cây đàn kì diệu này đã khơi nguồn cảm hứng cho Thanh Thảo viết bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca (bài thơ, như ta đã thấy, có đề từ là câu thơ của F.G.Lor-ca). Nếu cái chết bi thảm của Lor-ca gây cảm xúc mạnh cho Thanh Thảo thì tiếng đàn ghi-ta của Lor-ca đã trở thành hình tượng trung tâm xuyên suốt bài thơ của ông. Bởi Lor-ca là một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ lớn, và cái biểu trưng cho người nghệ sĩ ấy không gì đúng hơn là chính tiếng đàn của Lor-ca, tiếng đàn ghi-ta truyền thống của dân tộc Tây Ban Nha (guitare espagnol). Tiếng đàn ghi-ta là gương mặt, là cuộc đời, là tài năng và phẩm chất nghệ sĩ của Lor-ca, in đậm dấu ấn riêng của người nghệ sĩ tài hoa và khí phách, nhưng cũng phảng phất hồn dân tộc Tây Ban Nha trong đó. Hình tượng tiếng đàn được Thanh Thảo xây dựng rất độc đáo, công phu và sáng tạo, tuy ít nhiều có nhuốm màu sắc tượng trưng và siêu thực mà ông học tập ở chính nhà thơ Ga-xi-a Lor-ca. Bài thơ được cấu trúc theo diễn tiến của tiếng đàn, cũng là của cuộc đời nhà thơ lớn Tây Ban Nha: – Khổ 1: Tiếng đàn du ca của người nghệ sĩ lang thang. – Khổ 2 và 3: Lor-ca bị điệu về bãi bắn, tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy. – Khổ 4: Tiếng đàn gợi thương cảm về cái chết thê thảm của nhà thơ chiến sĩ nhưng đó lại là tiếng đàn bất tử của người anh hùng trong lòng dân tộc và nhân loại. – Khổ 6: Sự tự giải thoát, sự lìa bỏ tất cả của Lor-ca, nhưng linh hồn bất tử của ông vẫn ca hát, mãi mãi hát ca, và tiếng đàn ghi-ta kì diệu ấy vẫn vang lên thánh thót: li-la li-la li-la. 3. Cảm nhận về đoạn thơ: Không ai chôn cất tiếng đàn Tiếng đàn như cỏ mọc hoang Giọt nước mắt vầng trăng Long lanh trong đáy giếng. Hình ảnh hoán dụ (không ai chôn cất tiếng đàn), hình ảnh so sánh tiếng đàn như cỏ mọc hoang, gợi thương cảm về cái chết thê thảm của nhà thơ chiến sĩ trong tay bọn phát xít khi đất nước còn chìm trong sự thống trị dã man của chúng. Đặc biệt hình ảnh giọt nước mắt vầng trăng là một hình tượng thơ siêu thực đa nghĩa bắt nguồn từ một sự việc thực: Kẻ thù sau khi bắn nhà thơ đã vứt xác ông xuống giếng để phi tang. Nếu sử dụng bút pháp hiện thực thì chỉ diễn tả được đau thương và tội ác nhưng Thanh Thảo còn muốn nói nhiều hơn: tình thương, sự cao khiết, sự tỏa sáng. Nước mắt vầng trăng là nước mắt thương tiếc vầng trăng hay là nước mắt sáng đẹp và vĩnh cửu như vầng trăng, những giọt nước mắt anh hùng, như trong văn của Nguyễn Đình Chiểu (nước mắt anh hùng lau chẳng ráo), vầng trăng hay là sự hóa thân, sự thăng hoa của tâm hồn người liệt sĩ như Khoảng trời hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ (Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng / Những trì sao ngời chói lung linh). Giếng nước, nơi kẻ thù vứt xác anh, lại là nơi tỏa sáng long lanh tâm hồn anh như có vầng trăng soi vào. Sự dập vùi chuyển hóa thành sự thăng hoa, sự thê thảm chuyển hóa thành sự tôn vinh. Và đó là chiến thắng, là sự bất tử của người anh hùng. Khổ thơ đã hội tụ được cả cái chết bi thảm và tiếng đàn kì diệu của Lor-ca trong những hình tượng thơ sáng tạo cách tân để ca ngợi tiếng đàn bất tử của người nghệ sĩ Tây Ban Nha, để nói lên một chân lí: nghệ thuật của nhân dân sẽ trường tồn vĩnh cửu. 1. Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh Lor-ca được thể hiện qua bài thơ. Anh (chị) tự làm. 2. Viết lời bình khổ đầu bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo. • Giới thiệu đoạn văn tham khảo Mở đầu bài thơ là một hình tượng, một ngôn từ lạ: “Những tiếng đàn bọt nước”. Như một nghệ sĩ du ca Digan, Lorca đi đâu cũng cầm trên tay cây đàn ghi ta espagnol, đặc sản âm nhạc của dân tộc Tây Ban Nha. Đó cũng là cây đàn lia (lyre), cây đàn thơ của Lorca. Nhưng vì sao tiếng đàn lại như “bọt nước”?. Phải chăng vì tiếng đàn đã nổi lên tròn trịa, trẻ trung, nhảy nhót, nở bùng rồi lại tan đi, tan đi rồi lại nở bùng như những bọt nước mà cơn mưa rào to làm nảy lên trên mặt sân: “Trời mưa bong bóng phập phồng” (ca dao Việt Nam). Hình ảnh nhà thơ chiến sĩ, như một đấu sĩ trên đấu trường bò tót. Nhưng người mặc áo choàng đỏ ấy không phải là một đấu sĩ bò tót mà là một nghệ sĩ lang thang và cũng như nhiều nghệ sĩ lớn, nhiều thiên tài của nhân loại, chàng cô đơn, chàng “đi về miền đơn độc”. Chính là miền lí tưởng, lí tưởng của con người, của nghệ thuật là miền không mấy kẻ dấn thân và cũng không dễ tìm người đồng điệu. Trên con đường ấy có vầng trăng chếnh choáng, chếnh choáng như tâm trạng của chàng, người đang ngây ngất say, say đời, say nghệ thuật, say thơ, say lí tưởng. Con đường ấy cũng là con đường dài, con đường gian khổ và đau khổ. Hình ảnh hư cấu, ẩn dụ đã nói lên điều ấy. Ngay trong khổ đầu, hình ảnh Lorca đã là một hình tượng độc đáo, rất Lorca, rất Tây Ban Nha mà rất nhân loại, rất thời đại mà rất muôn thở.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Đàn ghi ta của Lor-ca
1,512
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Đò lèn Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Để học tốt Ngữ văn lớp 12, mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Đò lèn, tài liệu sẽ giúp các bạn học sinh nắm chắc kiến thức bài Đò lèn một cách chi tiết. Mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Đò lèn • Tác giả Nguyễn Duy sinh năm 1948, thuộc thế hệ những nhà thơ chống Mĩ, được độc giả biết đến năm 1973, khi ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ với chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt Nam. Thơ Nguyễn Duy có sự kết hợp tài hoa giữa cái duyên dáng, trữ tình với chất thế sự đậm đặc, giàu chiêm nghiệm và triết lí. Ông được đánh giá cao trong thể thơ lục bát, là một trong số không nhiều cây bút hiện nay đã góp phần làm mới thể thơ truyền thống này. Ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007. (Xem Tiểu dẫn trong SGK). • Tác phẩm: Đò Lèn (gợi ý tìm hiểu bài thơ) Bài Đò Lèn được viết năm 1983, trong một dịp nhà thơ trở về quê ngoại, sống với những hồi ức đan xen nhiều buồn vui thời thơ ấu. Mẹ mất sớm, Nguyễn Duy ở với bà ngoại từ bé. Trong tâm hồn nhà thơ, bà ngoại là hình ảnh gần gũi, thân thuộc nhất: níu váy bà đi chợ Bình Lâm. Tuổi thơ ông gắn liền với hình ảnh người bà là điều dễ hiểu, tạo nên chất trữ tình đằm thắm mà cảm động trong bài thơ. Đó là tuổi thơ của đứa cháu mồ côi nghịch ngợm, vừa sóng đôi, vừa có gì như tương phản với hình ảnh người bà âm thầm chịu đựng muôn vàn vất vả để nuôi dạy đứa cháu đó. Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế Bà mò cua xúc tép ở đồng Quan Bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn. “Tôi đâu biết” đã nối liền tuổi thơ nghịch ngợm của đứa cháu với đời bà cơ cực tần tảo sớm khuya nuôi cháu. Chỉ một khổ thơ dành cho bà mà chất chứa trong đó bao, thương cảm xót xa, bao ân tình sâu nặng của đứa cháu khi nhớ đến bà. Tưởng như những vùng đất quen thuộc của xứ Thanh – đồng Quan, Ba Trại, Quán Cháo, Đồng Giao – vẫn in hình bóng bà với bước chân “thập thững những đêm hàn”. Nhớ về bà, nhà thơ không chỉ thương tiếc, biết ơn mà còn kính trọng bà, một con người của đời thường, sống âm thầm chịu đựng trong cảnh đời thường nhưng lại đầy bản lĩnh, giàu nghị lực và lạc quan. Nghĩ về bà, Nguyễn Duy có một chút so sánh mang ý vị triết lí sâu xa: Giữa bà tôi và tiên, Phật thánh, thần. Để đi đến một đáp số thật đơn giản và dễ hiểu khi “bom Mĩ dội – nhà bà tôi bay mất, đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền”, lúc ấy đã xảy ra một sự đối lập sâu sắc: Thánh với phật rủ nhau đi đâu hết Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn. Trong sự tương phản của câu thơ, hình ảnh người bà hiện lên sừng sững giữa đời thường, giản dị mà đẹp. Có phải đó là ý chí, nghị lực, sức sống mạnh mẽ của người phụ nữ Việt Nam kết tinh trong bà mà người cháu trưởng thành đã nhìn thấy và thấu hiểu, để càng thêm yêu kính và biết ơn bà. Nhưng tất cả đều đã muộn, và khổ thơ kết thúc không nén nổi một niềm ăn năn, hối hận của người cháu – người lính khi nghĩ về bà của mình. Tôi đi lính… lâu không về quê ngoại Dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi Khi tôi biết thương bà thì đã muộn Bà chỉ còn là một nắm cỏ thôi!
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Đò lèn
697
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Đô-xtôi-ép-xki Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Để học tốt Ngữ văn lớp 12, mời bạn đọc tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Đô-xtôi-ép-xki, với nội dung chi tiết đã được cập nhật để phục vụ các bạn học sinh đạt hiệu quả cao trong học tập. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Đô-xtôi-ép-xki • Tác giả Xtê-phan Xvai-gơ (1881 – 1942) là nhà văn quốc tịch Áo gốc Do Thái, đã trưởng thành trong môi trường tri thức của Viên – một trung tâm văn hóa nghệ thuật thời trước Đại chiến thế giới thứ hai và thấm sâu phân tâm học Phrớt. Ông từng làm thơ, viết kịch, truyện. Đặc biệt, những tiểu luận và chân dung văn học của ông đã được biết tới rộng rãi ở Châu Âu và thế giới. Xvai-gơ đã dựng nên được những chân dung văn học đầy ấn tượng. Cuốn Ba bậc thầy: Đô-xtôi-ép-xki, Ban-dắc, Đic-kinx rất tiêu biểu cho loại sách chân dung văn học của ông. Văn bản dưới đây trích trong phần mang tên Đô-xtôi-ép-xki, lấy từ bản dịch tiếng Pháp sang tiếng Việt của Nguyễn Dương Khư, NXB Giáo dục, 1996. • Gọi ý tìm hiểu văn bản Văn bản là một đoạn trích trong bức chân dung văn học về Đôxtôi-ép-xki. Cuộc đời nhà văn Nga lỗi lạc này hiện lên bằng những chi tiết sống động, đầy ấn tượng của một số phận nghiệt ngã khó có thể tìm thấy ở những sách chuyêI. viết về “tiểu sử nhà văn”. “Trái tim ông chỉ đập vì nước Nga còn thân thể ông sống leo lét trong một thế giới đối với ông là xa lạ”. Ông đã từng khóc lóc và kêu van vì một vài đồng tiền khốn khổ, từng cầm cố cả đến cái quần đùi cuối cùng để đánh một bức điện về Xanh Pê-téc-bua…, suốt đêm viết tác phẩm trong tiếng rên rỉ của người vợ trong cơn đau đẻ, trong sự đe dọa của chủ nhà đòi tiền nhà, bà đỡ đòi tiền nợ. Vậy mà ông vẫn viết, vẫn kiên trì, say mê viết nên những Tội ác và trừng phạt, Thằng ngốc, Lũ người quỷ ám, Con bạc, những tác phẩm đồ sộ của thế kỷ XIX, đã tạo hình cho tất cả thế giới tinh thần của chúng ta. “Lao động là sự giải thoát và là nỗi thống khổ của ông, nhờ nó ông sống trong Tổ quốc mình”. Và khi trở về Tổ quốc, lúc năm mươi hai tuổi, thì vinh quang đã đến với ông. Các sách của ông đã biện hộ cho sự nghiệp của ông. Nước Nga chỉ còn đổ dồn mắt vào ông. Tác giả đã kể lại hai sự đáng ghi nhớ về Đô-xtôi-ép-xki: bài phát biểu tượng niệm của ông trong dịp kỉ niệm một trăm năm ngày sinh của Pu-skin đã gây ấn tượng và xúc động mạnh mẽ trong công chúng lúc bấy giờ, và đặc biệt là đám tang ông đã thu hút cả nước Nga về với ông – về với người mà họ yêu thương, khâm phục, kính trọng. Và “trong một tiếng đồng hồ, giấc mơ thiêng liêng của Đô-xtôi-ép-xki được thực hiện trong đám tang ông: sự đoàn kết của tất cả những người Nga”. Đó là sự vinh danh ông, là phần thưởng quý giá nhất mà nhân dân Nga đã tưởng niệm ông. Thật khó có một đám tang nào như thế khi người quá cố đã vĩnh viễn ở trong lòng dân, thuộc về dân.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Đô-xtôi-ép-xki
616
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm) Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 Mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm), với nội dung tài liệu đã được cập nhật chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh học tốt môn Ngữ văn 12. Mời thầy cô và các bạn học sinh cùng tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm) I. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN A. Tác giả (xem SGK) Tác giả Nguyễn Khoa Điềm, cần chú ý các điểm sau: – Là nhà hoạt động chính trị và văn nghệ, từng là Trưởng ban Tư tưởng văn hóa Trung ương, Tổng thư kí Hội Nhà văn khoa V, Bộ trưởng Bộ văn hóa – Thông tin. – Thuộc thế hệ nhà thơ giai đoạn chiến tranh chống đế quốc Mĩ. Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa xúc cảm nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam. Ông đã được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (năm 2000). B. Tác phẩm: Đất Nước • Xuất xứ Đoạn trích Đất Nước rút từ phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng lâu nay vẫn được xem là một trong những đoạn thơ hay về đề tài đất nước trong thơ Việt Nam hiện đại. Bản trường ca được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị – Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. • Đọc đoạn trích Cần đọc nhiều lần đoạn trích để có những cảm nhận ban đầu về “Đất nước” qua con mắt nhìn và suy nghĩ của Nguyễn Khoa Điềm trước khi đi sâu vào tìm hiểu từng phần của tác phẩm. 1. Bố cục và trình tự triển khai mạch suy nghĩ và cảm xúc của tác giả trong đoạn thơ a) Bố cục Đoạn thơ được viết thành hai phần: – Phần một: từ đầu đến “Làm nên Đất. Nước muôn đời..”; những cảm nhận của tác giả về Đất Nước -t rên các phương diện cuộc sống của con người, địa lí – lịch sử, văn hóa, phong tục,… b) Trình tự triển khai mạch suy nghĩ và cảm xúc của tác giả trong bài thơ Có thể thấy trình tự triển khai đó như sau: – Trước hết là những cảm nhận về Đất Nước: + Đất Nước ở ngay trong cuộc sống của mỗi gia đình chúng ta thật gần gũi, thân thiết, bình dị (lời kể chuyện của mẹ, miếng trầu bà ăn, hạt gạo, cái kèo cái cột,…). + Đất Nước cũng là nơi anh và em hò hẹn, gặp nhau trong tình yêu đôi lứa. + Đất Nước được cảm nhận từ các phương diện địa lí – lịch sử, không gian và thời gian: Thời gian đằng đẳng – Không gian mênh mông – Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ,… + Tất cả là để dẫn đến một suy nghĩ mấu chốt: Đất Nước kết tinh, hóa thân trong mỗi con người: Trong anh và em hôm nay – Đều có một phần Đất Nước… vì vậy phải có trách nhiệm với Đất Nước. – Từ những cảm nhận toàn diện về Đất Nước, mạch suy nghĩ vươn tới một tư tưởng lớn về Đất Nước: Đất Nước là của Nhân dân và Nhân dân là người làm ra Đất Nước. Tư tưởng này là điểm quy tụ mọi cách nhìn về Đất nước của nhà thơ. + Trong những thắng cảnh, những địa danh trên mọi miền của Đất Nước + Trong lịch sử giữ nước và dựng nước bốn ngàn năm của nhân dân. + Trong lĩnh vực văn hóa, phong tục của dân gian về vật chất và tinh thần. Tất cả là để khẳng định mạnh mẽ tư tưởng đó trong phần 2 đoạn thơ. 2. Tìm hiểu phần đầu của đoạn thơ – Trong phần đầu, tác giả đã cảm nhận về Đất Nước trên nhiều phương diện: Đất Nước ở” ngay “trong cuộc sống của mỗi gia đình chúng ta, thật gần gũi, thân thiết, bình dị, từ “miếng trầu bà ăn” đến “tóc mẹ thì bới sau đầu, cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”, đến “Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”,… Nhưng Đất Nước cũng là “thời gian đằng đẳng, không gian mênh mông” (địa lí – lịch sử), là những điều thiêng liêng, tôn kính của cội nguồn dân tộc: Đất là nơi Chim về Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng ……………. Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ. – Ở trên chiều rộng của không gian địa lí và chiều dài của thời gian lịch sử, Đất Nước được cảm nhận như sự thống nhất của các phương diện văn hóa, truyền thống, phong tục, cái hàng ngày và cái vĩnh hằng, trong đời sống mỗi cá nhân và cả cộng đồng… Cách cảm nhận ở đây vừa cụ thể vừa khái quát, lại có chiều sâu và có giá trị phát hiện. Ví như, Đất Nước không chỉ có và được tạo nên bởi những giá trị vật chất (kèo cột dựng nhà, hạt gạo một nắng hai sương…) mà còn được kết tinh bằng những giá trị tinh thần, tình cảm như tình cha mẹ thương nhau, tình yêu đôi lứa…; hoặc cảm nhận Đất Nước từ những cái bình thường hàng ngày là cách cảm nhận có chiều sâu bởi chính từ những cái đó tích lũy lại qua hàng ngàn năm mà tạo nên Đất Nước (không cảm nhận Đất Nước từ những cái to tát, trang trọng, hoặc những tên tuổi đã đi vào lịch sử mà cảm nhận theo cách của dân gian). – Từ những cảm nhận trên, tác giả đi đến một phát hiện thật bất ngờ, thú vị và sâu sắc về Đất Nước: Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước. Mới nghe ngỡ có gì là lạ, nhưng ngẫm lại thì thật đúng. Đất Nước không ở đâu xa, kết tinh, hóa thân trong mỗi con người, từ dáng đi, lời nói, mái tóc, tà áo… cho đến nếp cảm, nếp nghĩ trong mỗi chúng ta đều có “Đất Nước”, đều là của Đất. Nước cho ta để ta là người Việt Nam. Vì vậy mà mỗi cá nhân phải có trách nhiệm với Đất Nước, “phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở” để “làm nên Đất Nước muôn đời.”. 3. Tìm hiểu phần sau của đoạn thơ – Ở phần sau, tác giả tập trung làm nổi bật tư tưởng lớn: “Đất Nước của nhân dân”. Đây là điểm quy tụ mọi cách nhìn về Đất Nước của nhà thơ, đưa đến những phát hiện sâu và mới về Đất Nước: + Những thắng cảnh đẹp, những địa danh nổi tiếng của Đất Nước đều do nhân dân tạo ra, đều là của nhân dân. Những núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, núi Bút, non Nghiên, Hạ Long thắng cảnh… đều gắn liền với đời sống dân tộc, nó chỉ trở thành thắng cảnh khi đã gắn liền với con người, được tiếp nhận, cảm thụ qua tâm hồn và qua lịch sử của dân tộc, như tác giả đã khái quát sâu sắc: Những cuộc đời đã hóa núi sông ta… + Khi nghĩ về bốn nghìn năm của Đất Nước, nhà thơ không điểm lại các triều đại, các anh hùng nổi tiếng mà nhấn mạnh đến vô vàn những con người vô danh, bình dị – chính là Nhân dân đã làm ra Đất Nước: Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước. + Và cũng chính họ đã gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ sau mọi giá trị văn hóa, văn minh tinh thần và vật chất của Đất Nước, của dân tộc: hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, cả tên xã tên làng…; và cái tài sản quý giá nhất mà Đất Nước đã cho mỗi chúng ta chính là truyền thống cao đẹp về đạo lí, tình cảm của người Việt Nam: say đắm trong tình yêu, quý trọng tình nghĩa nhưng cũng thật quyết liệt trong căm thù và chiến đấu. (Xem đoạn thơ: Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi” đến “Đi trả thù mà không sợ dài lâu”. – Tư tưởng lớn này được nhấn mạnh lại trong câu thơ được xem là chủ đề của cả đoạn trích: Để Đất Nước này là Đất Nước nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại. Đây là một đóng góp của Nguyễn Khoa Điềm làm sâu sắc thêm ý niệm và Đất Nước của thơ chống Mĩ. 4. Cách sử dụng chất liệu văn hóa và văn học dân gian trong đoạn thơ – Sử dụng khá đậm nhưng có chọn lọc chất liệu văn hóa, văn học dân gian: ca dao, thần thoại, tục ngữ, thành ngữ, ngôn ngữ dân gian,… – Vận dụng những yếu tố đó hòa nhập trong cách diễn đạt và tư duy hiện đại, tạo ra màu sắc thẩm mĩ vừa quen thuộc lại vừa mới mẻ. Cuối cùng, đọc kĩ phần Ghi nhớ SGK để nắm vững bài học.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)
1,613
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Đất nước (Nguyễn Đình Thi) Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn lớp 12 mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 12: Đất nước (Nguyễn Đình Thi), tài liệu sẽ là nguồn thông tin hữu ích dành cho các bạn học sinh học tốt Ngữ văn 12. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo. Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 12: Đất nước (Nguyễn Đình Thi) • Tác giả: – Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, soạn nhạc, viết tiểu thuyết, kịch và tiểu luận phê bình; ở thể loại nào cũng có đóng góp. Tuy nhiên, thơ vẫn là thể loại có những thành công nổi bật. – Thơ Nguyễn Đình Thi có phong cách nghệ thuật độc đáo: như lời nói thường mà dào dạt cảm xúc, vừa tự do phóng khoáng vừa hàm súc sâu lắng suy tư, có những tìm tòi theo xu hướng hiện đại về hình ảnh, nhạc điệu,… về chủ đề “đất nước”, Nguyễn Đình Thi có nhiều bài thơ được bạn đọc ghi nhận, yêu thích như Đất nước, Quê hương Việt Bắc, * Quê hương Việt Nam (trong Bài thơ Hắc Hải). – Có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại. Năm 1996, Nguyễn Đình Thi được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Như thời gian ghi dưới tác phẩm (1948- 1955), bài thơ Đất nước được tác giả ấp ủ, thai nghén trong 8 năm, gần như suốt chiều dài của cuộc kháng chiến chống Pháp, để đến những ngày chiến thắng kẻ thù, hòa bình lập lại trên miền Bắc nước ta, thì đứa con tinh thần ấy mới ra đời năm 1955. Cảm hứng về “Đất nước” đã được nhà thơ tích lũy, trải nghiệm sâu sắc trong cuộc kháng chiến của dân tộc để tạo ra một tượng đài Đất nước bằng thơ vừa đằm thắm, thiết tha vừa bất khuất, anh hùng và Đất nước ấy đã trưởng thành, tỏa sáng: Nước Việt Nam từ máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng lòa. Cảm hứng thơ về “Đất nước” được bắt đầu từ một hoài niệm đẹp về mùa thu Hà Nội: Sáng mát trong như sáng năm xưa Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy. Mùa thu đẹp và trong sáng nhưng có đượm chút buôn dịu nhẹ của “người ra đi” khi phải xa Hà Nội. Mạch thơ chuyển sang một mùa thu khác, mùa thu ở chiến khu Việt Bắc lộng gió với niềm vui phơi phới, rộn rã của những người kháng chiến: Mùa thu nay khác rồi …………………. Trong biếc nói cười thiết tha. Chính ở thời điểm lịch sử này, nhà thơ đã có những cảm nhận thật thiết tha và sâu sắc về Đất nước: Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về. Từ những cảm nhận này mà có những suy tư thật sâu lắng về gương mặt của Đất nước. Đó là một Đất nước đau thương trong chiến tranh hủy diệt của quân thù (“Ôi những cánh đồng quê chảy máu – Dây thép gai đâm nát trời chiều”) nhưng cũng là một Đất nước bất khuất, kiên cường trong chiến đấu chống xâm lăng. Nhà thơ đã phát hiện ra, đã nhìn thấy những phẩm chất cao đẹp của Đất nước mình: một Đất nước hiền hòa mà bất khuất, tình nghĩa mà anh hùng. Gương mặt Đất nước ấy được tượng hình trong hình ảnh người lính đánh giặc: Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu Và trong một biểu trưng giàu ý nghĩa của quê hương Việt Nam: Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu Đã bật lên những tiếng căm hờn. Đó là Đất nước của “những người áo vải, đã đứng lên thành những anh hùng” để làm nên một chiến thắng lừng lẫy giữa thế kỉ XX, đưa Đất nước ta lên một tầm cao mới: Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Chưa bao giờ gương mặt Đất nước lại tỏa sáng rạng rỡ như vậy trong thơ Nguyễn Đình Thi.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 12_ Đất nước (Nguyễn Đình Thi)
733
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10: Danh từ (tiếp theo) Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 10: Danh từ (tiếp theo) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10: Danh từ (tiếp theo). Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Danh từ (tiếp theo) – Ngữ văn lớp 6 Danh từ chỉ sự vật gồm danh từ chung và danh từ riêng. Danh từ chung là tên gọi một loại sự vật. Danh từ riêng là tên riêng của từng người, từng vật, từng địa phương. • Khi viết danh từ riêng, ta phải viết hoa chữ cái đầu tiên của mỗi bộ phận tạo thành tên riêng đó. Cụ thể: Đối với tên người, tên địa lí Việt Nam, tên địa lí nước ngoài phiên âm qua Hán Việt: Viết hoa chữ cái đầu của mỗi tiếng – Đối với tên người, tên địa lí nước ngoài phiên âm trực tiếp, không qua âm Hán Việt: Viết hoa chữ cái đầu tiên của mỗi bộ phận tạo thành tên riêng đó; nếu bộ phận gồm nhiều tiếng thì giữa các tiếng cần có gạch nối. • Tên riêng của các cơ quan, tổ chức, giải thưởng lớn, danh hiệu, huân chương… thường là một cụm từ. Chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành cụm từ này đều được viết hoa. 1. Điền danh từ trong câu sau vào bảng phân loại Vua nhớ công ơn tráng sĩ, phong là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở Làng Gióng, nay thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. (Thánh Gióng) Bảng phân loại Danh từ chung Vua, làng, tráng sĩ, xã, huyện, đền thờ, công ơn Danh từ riêng Hà Nội, Phù Đổng Thiên Vương, Gióng, Gia Phù Đổng II. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Tìm danh từ chung và danh từ riêng trong câu sau Ngày xưa /ở /miền /đất /Lạc Việt/ cứ/ như/ bây giờ/ là/ Bắc Bộ/ nước/ ta/ có/ một vị /thần/thuộc/nòi/rồng/con trai/ thần/ Long/ Nữ/ tên/ là/ Lạc Long Quân/ (Con Rồng, cháu Tiên) + Danh từ chung: Ngày xưa, miền, đất, nước, thần, nòi, rồng, con trai, tên. + Danh từ riêng: Lạc Việt, Bắc Bộ, Long Nữ, Lạc Long Quân. Câu 2. Các từ in đậm dưới đây có phải là danh từ riêng không? Vì sao? a) Chim, Mây, Nước, và Hoa đều cho rằng tiếng hót kì diệu của Hoạ Mi đã làm cho tất cả bừng tỉnh giấc. b) Nàng Út bẽn lẽn dâng lên nhà vua mâm bánh nhỏ. (Nàng út làm bánh Ốt) c) […]. Khi ngựa thét ra lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng đó về sau gọi là làng Cháy. (Thánh Gióng) + Các từ: Chim, Mây, Nước, Hoa, Hoạ Mi, Út, vốn là danh từ chung – tên gọi một loại sự vật – nhưng trong trường hợp này lại là danh từ riêng vì được dùng để gọi tên của nhân vật trong truyện. Câu 3. Có bạn chép đoạn thơ sau của nhà thơ Tố Hữu, mà quên viết hoa một số danh từ riêng. Em hãy viết lại các danh từ riêng ấy cho đúng. Muốn sửa lại đúng lỗi của bạn chúng ta cần ghi nhớ quy tắc viết hoa, bài sửa: Ai đi Nam Bộ Tiền Giang, Hậu Giang Ai vô thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng. Ai về thăm bưng biền Đồng Tháp Việc Bắc, miền Nam, mồ ma giặc Pháp Nơi chôn rau cắt rốn của ta! Ai đi Nam – Ngãi, Bình – Phú, Khánh Hoà Ai vô Phan Rang, Phan Thiết Ai lên Tây Nguyên, Công Tum, Đắc Lắc Khu Năm dằng dặc khúc ruột miền Trung Ai về với quê hương ta tha thiết Sông Hương, Bến Hải, Cửa Tùng Ai vô đó nói với đồng bào, đồng chí Nói với nửa – Việt Nam yêu quý Rằng: Nước ta là của chúng ta Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà! Mời các bạn tham khảo tài liệu liên quan: Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10: Thầy bói xem voi Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10: Luyện nói, kể chuyện
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10_ Danh từ (tiếp theo)
702
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10: Luyện nói, kể chuyện Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 10: Luyện nói, kể chuyện Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10: Luyện nói, kể chuyện. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Bài 10: Luyện nói, kể chuyện – Ngữ văn lớp 6 1. Lập dàn bài cho các đề sau: Đề 1: Kể về một chuyến về quê. Đề 2: Kể về một cuộc thăm hỏi gia đình liệt sĩ neo đơn. Đề 3: Kể về một cuộc đi thăm di tích lịch sử. Đề 4: Kể về một chuyến ra thành phố. Bài tham khảo Đề 1: Kể về một chuyến về quê. Sau chín tháng học hành vất vả, cuối cùng chúng em cũng được nghỉ hè. Mùa hè đến, bố mẹ thường hay đưa em đi chơi công viên nước hoặc đi xem vườn thú. Nhưng em thích nhất là được về quê thăm ông bà nội. Như mọi năm, cứ đầu mùa hè là gia đình em dành khoảng 3 – 4 ngày cùng nhau về quê chơi. Quê em đẹp lắm. Đi trên con đường đất gập ghềnh sỏi đá, ngồi trong xe nhìn ra xa, là cánh đồng lúa rộng bao la mang màu xanh của mạ non. Xa xa, một vài chú bò đang khoan thai gặm cỏ. Một vài cậu bé đang chạy đuổi nhau để giành lấy cánh diều đang bay cao trên trời xanh rộng lớn. Chốc chốc, một đàn chim lại đua nhau chuyền cành. Nhà ông bà nội em nằm trên một con đường nhỏ, ô tô không đi vào được. Nhà ông bà lợp mái ngói đỏ, mang màu rêu phong cổ kính. Trước nhà là một mảnh vườn nhỏ, là nơi ông em trồng rau và nuôi gà. Cành đó là một ao đầy cá. Khi thấy em và bố mẹ đến, ông bà phấn khởi lắm. Ông ôm em một cái thật chặt sau đó dắt em ra vườn chơi rồi cầm cần rẻ em ra câu cá. Hai ông cháu nói chuyện rôm rả. Ông hỏi thăm tình hình học tập của em và kể cho em nghe rất nhiều chuyện. Thấy hai ông cháu đang vui vẻ với nhau, bà em dắt bố mẹ em vào nhà và pha chè. Tối đến, bà cùng mẹ chuẩn bị bữa cơm “cây nhà lá vườn”: Cá kho, thịt luộc cùng canh chua – toàn thịt rau mà ông bà nuôi trồng trong ao vườn. Có lẽ bởi thế nên em thấy bữa ăn rất ngon. Xong, em ra nằm võng ở ngoài vườn và ngủ đi lúc nào không hay. Mời các bạn xem tiếp tài liệu: Em hãy kể về một chuyến thăm quê Đề 2: Kể về một cuộc thăm hỏi gia đình liệt sĩ neo đơn. Hàng năm cứ vào dịp kỉ niệm ngày thương binh liệt sĩ, trường em lại tổ chức đi thăm các mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình thương binh liệt sĩ. Chúng em phân công nhau mỗi lớp đi một nhà, lớp em được cử đi thăm gia đình mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Lan. Mẹ quê ở xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Mẹ sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo giàu lòng yêu nước. Thế rồi, truyền thống yêu nước ấy được nhân lên. Mẹ lập gia đình và một lòng đi theo cách mạng. Chồng và con của mẹ tham gia hoạt động cách mạng, luôn nêu cao tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, họ đã làm rạng rỡ truyền thống kiên cường, bất khuất của nhân dân Quảng Ngãi. Với tinh thần đó, chồng và hai con của mẹ đã hi sinh trong một cuộc tiến công và nổi dậy ở Tây Nguyên, để lại trong lòng mẹ một nỗi đau thương, mất mát khôn cùng. Năm 1994, Chủ tịch nước đã kí quyết định tặng cho mẹ danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Chúng em mới tới đầu ngõ, mẹ đã đon đả chạy ra chào hỏi. Chúng em lễ phép chào mẹ. Khuôn mặt mẹ đang hằn sâu những nếp nhăn bỗng vụt tươi lên nụ cười đôn hậu. Bạn Uyên – Chi đội trưởng thay mặt liên đội kính cẩn đặt lên bàn thờ chồng và con mẹ một bó hoa huệ thơm ngát, chúng em lần lượt đến bàn thờ và thắp hương với tấm lòng thành kính, biết ơn sâu sắc. Rồi chúng em tặng quà cho mẹ, ngồi quây quần bên mẹ, nghe mẹ kể cuộc đời hoạt động cách mạng của gia đình mẹ, của chồng và con mẹ. Kể đến đấy, mẹ rưng rưng nước mắt, mẹ nghẹn ngào xúc động khi lòng mẹ khơi dậy hình ảnh của người thân đã vĩnh viễn ra đi. Chúng em cũng không cầm được nước mắt. Em thầm nghĩ không gì có thể đền đáp xứng đáng công lao của những người mẹ đã cống hiến những đứa con ruột thịt của mình cho Tổ quốc. Rồi mẹ nói tiếp: Ngày nay mẹ không còn chồng con nhưng bù lại tình thương bao la của các cháu, của cán bộ và nhân dân nên mẹ cũng an lòng. Mẹ mong chúng em học giỏi, thành tài, kế tục sự nghiệp của cha ông. Mẹ gởi lời cám ơn đến ngàng giáo dục thành phố Quảng Ngãi, các cơ quan đoàn thể đã phụng dưỡng mẹ, quan tâm chăm sóc mẹ thật chu đáo về vật chất lẫn tinh thần. Mời các bạn xem tiếp tài liệu: Kể về một cuộc thăm hỏi gia đình liệt sĩ neo đơn Đề 3. Dàn bài và bài làm tham khảo “Kể về một cuộc đi thăm di tích lịch sử”: Dàn bài. Mở bài: Đi thăm trong dịp nào, ai tổ chức. Thân bài: + Tâm trạng khi được đi. + Khung cảnh chung của di tích. + Lịch sử của khu di tích. + Cảnh bên trong. + Không khí chung của mọi người. Kết bài: Ấn tượng về buổi đi thăm. * Bài làm tham khảo Đầu tháng vừa qua, trường em tổ chức cho học sinh di thăm khu di tích Tháp Chàm ở Mỹ Sơn. Đó là chuyến đi rất vui và thú vị. Sáu giờ sáng, tất cả các bạn học sinh khối sáu đã có mặt đông đủ tại trường cùng với các thầy cô chủ nhiệm của mỗi lớp. Cùng tham dự chuyến tham quan còn có các thầy cô trong Ban Giám hiệu. Chỉ cần năm phút ra lệnh, sáu chiếc xe ca to đùng đã đầy ắp các bạn học sinh, ai nấy đều hớn hở, vui vẻ, khuôn mặt không dấu được sự háo hức hân hoan. Lúc nãy trên đường vào, đứa nào đứa nấy cười đùa râm ran thế mà giờ đây trở nên im lặng. Giọng cô thuyết minh trầm trầm giới thiệu. Đây là khu đền thờ của người Chăm ngày trước, nó đã có mặt cách đây khoảng 7 thế kỉ. Qua biến động của thời gian, nó đã bị hoang phế và đổ nát đi gần hết, nay chỉ còn lại một số ít, nhưng chúng ta vẫn thấy rằng đây là những công trình kiến trúc vô cùng độc đáo, mà người Chăm đã tạo dựng lên. Những đền thờ ở đây được xây dựng rất lạ, theo hình chóp dưới rộng và trên nhỏ dần, nhỏ dần lại đến lúc kín bưng. Mỗi đền thờ diện tích chỉ khoảng chừng hai mươi mét vuông được xây bằng gạch. Điều độc đáo là không biết người xưa đã dùng chất liệu gì để cho các viên gạch chồng xếp lên nhau, mà ngày nay ta nhìn vào không thể phát hiện ra được, ở những nơi đổ nát người ta đã trùng tu lại, nhưng xem ra kĩ thuật hiện đại của người này không bằng kĩ thuật thô sơ của người xưa. Những lớp gạch trùng tu chỉ sau vài ba tháng đã trở nên hoen ố rêu phong, còn những lớp gạch cách đây cả gần chục thế kỉ thì vẫn cứ đỏ au như mới. Chúng em thơ thẩn đi khắp mọi nơi, những nơi các nhà khảo cổ đang khai quật và trùng tu lại chỉ đang đứng ngoài chiêm ngưỡng. Đến lúc ra về, cả đoàn ghé vào khu hội trường để thưởng thức những điệu múa, bài hát của dân tộc Chăm, thật sinh động và hấp dẫn. Chia tay với Mỹ Sơn, lòng em bồi hồi nhớ về một thời quá khứ, tự hào về những gì mà cha ông đã tạo dựng lên. Khu di tích Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Khi nó được trùng tu xong sẽ là một địa điểm tham quan hấp dẫn của khách tham quan trong nước và nước ngoài. Xe đã chạy xa em còn ngoái đầu nhìn lại những chiếc tháp khuất dần, khuất dần sau những rặng cây. Mời các bạn xem tiếp tài liệu: Kể về một cuộc đi thăm di tích lịch sử Đề 4: Kể về một chuyến ra thành phố. Trong kì nghỉ hè vừa qua, ba cho em đi chơi Đà Lạt một tuần. Đó là phần thưởng ba dành cho em vì em đã cố gắng học tập và đạt được danh hiệu Học sinh xuất sắc. Ba em chuẩn bị rất đầy đủ cho chuyến đi này. Từ mấy hôm trước, ba đã mua vé ở Trung tâm du lịch Lửa Việt. Sáng thứ sáu, mẹ ra tận nơi xe đậu, tiễn hai cha con lên đường. Trên xe đã gần đủ người, anh lái xe nhấn còi báo hiệu cho du khách biết rằng sắp tới giờ xe chạy. Đúng 5 giờ 30 phút, xe rời bến. Thành ghế sát cửa sổ nên tha hồ ngắm phong cảnh hai bên đường. Chẳng mấy chốc, xe đã tới ngã ba đi Đà Lạt. Từ đây, quốc lộ 20 uốn mình chạy giữa một màu xanh bát ngát của những rừng cao su nối tiếp nhau. Phong cảnh mỗi lúc một khác. Chiếc xe lên dốc, xuống đèo liên tục. Có những đèo rất cao và dài hàng chục cây số. Anh lái xe bình tĩnh và khéo léo lái xe qua những chặng đường cheo leo, nguy hiểm, một bên là núi cao, một bên là vực sâu. Hành khách tỏ vẻ rất yên tâm, hoàn toàn trông cậy vào tay lái thành thạo của anh. Một số người ngả đầu vào thành ghế ngủ ngon lành. Ba giờ chiều, xe đã tới địa phận thành phố Đà Lạt, điểm du lịch nổi tiếng trong cả nước. Từ xa, em đã nhìn thấy những đồi thông nối tiếp nhau.Anh lái xe dừng lại cho du khách chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thác Pren. Nước từ trên cao xối xuống như một tấm rèm màu trắng khổng lồ. Tiếng thác đổ đều đều, triệu triệu bụi nước li ti óng ánh. Càng tiến vào gần thành phố, khung cảnh càng hấp dẫn hơn. Ồ! Quả là một cảnh tượng lạ lùng bày ra trước mắt như trong một câu chuyện thần tiên. Giữa rừng thông, thấp thoáng những ngôi nhà mái nhọn, lợp ngói đỏ tươi trông như những lâu đài huyền bí. Nửa giờ sau, xe đỗ trước cửa khách sạn Anh Đào. Khách sạn nhỏ nhưng xinh đẹp và đầy đủ tiện nghi. Bữa ăn đầu tiên, cha con em được thưởng thức những món ăn cao nguyên thật ngon miệng. Đêm hôm ấy, em kéo chiếc chăn bông lên tận cổ và ngủ một giấc say sưa. Suốt mấy ngày ở đây, em được đi thăm rất nhiều cảnh đẹp của Đà Lạt như hồ Xuân Hương, thác Cam Ly, đồi Cù, Đồi thông hai mộ, thung lũng Tình Yêu, hồ Đa Thiện, thiền viện Trúc Lâm… Ba chụp cho em rất nhiều ảnh. Em thích nhất là kiểu cưỡi ngựa trên đỉnh đồi, dưới gốc thông cổ thụ. Mời các bạn xem tiếp tài liệu: Kể về một chuyến ra thành phố Mời các bạn xem tiếp nội dung cùng chủ đề giải bài tập Ngữ văn 6 bài 10: Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10: Danh từ (tiếp theo) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10: Thầy bói xem voi
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10_ Luyện nói, kể chuyện
2,089
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10: Thầy bói xem voi Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 10: Thầy bói xem voi Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10: Thầy bói xem voi. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo I. Kiến thức cơ bản • Từ câu chuyện chế giễu cách xem và phán về voi của năm ông thầy bói, truyện Thầy bói xem voi khuyên người ta: Muốn hiểu biết sự vật, sự việc phải xem xét chúng một cách toàn diện. • Thành ngữ: “Thầy bói xem voi”. II. Hướng dẫn đọc – hiểu bài Câu 1. Hãy nêu cách thầy bói xem voi và phán về voi. Thái độ của các thầy bói khi phán về voi như thế nào? + Cách các thầy bói xem voi: – Vì mù nên họ không thấy được cả con voi mà mỗi người chỉ sờ được một bộ phận của voi nhưng họ đều tưởng đã biết tất cả về voi. – Khi họ phán về những bộ phận của voi mà họ sờ được đều rất đúng, họ đã dùng lối so sánh ví von để diễn tả về bộ phận mà họ đã sờ được. Để tả về voi như cái chổi sể cùn, như con đỉa, như cái cột đình, như cái quạt thóc. – Ai cũng quả quyết ý kiến của mình là đúng, không chấp nhận ý kiến của người khác. – Tranh cãi quyết liệt, cuối cùng dẫn đến xô xát đánh nhau chảy tóe máu đầu. Câu 2. Năm thầy bói đều đã được sờ voi thật, mỗi thầy đã nói được một bộ phận của voi, nhưng không thầy nào nói đúng về con vật này. Sai lầm của họ là ở chỗ nào? + Sai lầm của các thầy bói là chỉ sờ thấy bộ phận mà không nhìn thấy toàn thể. + Chủ quan trong việc nhận thức sự vật hiện tượng, tự cho là mình đúng, như vậy họ không chỉ mù mắt mà còn mù về phương pháp đánh giá, mù về sự nhận thức. Câu 3. Truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi” cho ta bài học gì? + Truyện giúp cho chúng ta bài học về cách nhìn nhận, đánh giá trong cuộc sống: Phải nhìn nhận sự việc ở phương diện tổng thể, chứ không nên lấy cái bộ phận, đơn lẻ thay cho toàn thể. + Phải biết lắng nghe ý kiến của người khác, không nên bảo thủ, cố chấp cho mình là đúng. + Muốn đánh giá một sự việc hiện tượng được chính xác cần phải có sự kết hợp nhiều yếu tố tai nghe, mắt thấy… IV. Tư liệu tham khảo … Từ câu chuyện một chú ếch ngồi đáy giếng, nhân dân ta ngụ ý phê phán những kẻ hiểu biết cạn hẹp mà lại huênh hoang, đồng thời khuyên chúng ta phải cố gắng mở rộng tầm hiểu biết của mình, không được chủ quan kiêu ngạo. Những thành ngữ “Coi trời bằng Uung”, “Ếch ngồi đáy giếng” chúng ta thường được nghe nhiều người nói, phải chăng được bắt nguồn từ truyện ngụ ngôn này, và ngụ ý phê phán răn dạy tương tự. (Theo Vũ Dương Quỹ – Lê Bảo – Bình giảng văn 6) Từ câu chuyện này, trong dân gian xuất hiện thành ngữ “Thầy bói xem voi” để chỉ sự đoán mò phiến diện, chỉ thấy bộ phận mà không thấy toàn cục, sự khái quát “non” không phản ánh đúng bản chất của sự vật, theo kiểu chỉ thấy cây mà không thấy rừng. (Nhiều tác giả – Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ) Mời các bạn tham khảo tài liệu liên quan: Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10: Danh từ (tiếp theo) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10: Luyện nói, kể chuyện
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 10_ Thầy bói xem voi
669
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 11: Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 11: Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 11: Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo I. Kiến thức cơ bản Từ câu chuyện của Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng, truyện nêu ra bài học: Trong một tập thể, mỗi thành viên không thể sống tách biệt mà phải nương tựa vào nhau, gắn bó với nhau để cùng tồn tại, do đó phải biết hợp tác với nhau và tôn trọng công sức của nhau. II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Câu 1. Vì sao cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai, so bì với lão Miệng? + Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai, so bì với lão Miệng là vì họ nghĩ ai cũng phải làm việc nặng nhọc vất vả quanh năm: – Cô Mắt phải luôn nhìn. – Cậu Tay, cậu Chân phải luôn hoạt động. – Bác Tai phải luôn lắng nghe. + Theo họ lão Miệng không làm gì cả chỉ ngồi ăn không. => Vì vậy họ đã kéo nhau đến nhà lão Miệng để so bì, và quyết định không làm gì nữa. + Từ khi cô Mắt, cậu Tai, cậu Tay, bác Tai quyết định không làm gì nữa để mặc cho lão Miệng tự lo lấy mà sống. Hai ngày, ba ngày cả bọn thấy mệt mỏi rã rời không thể cất mình lên được đến ngày thứ bảy cả bọn không thể chịu đựng được nữa đã mệt mỏi họp nhau lại, bác Tai đã chỉ ra sự sai lầm của mọi người, và sự cần thiết của lão Miệng. Lão Miệng cũng có công việc của mình: Nhai thức ăn, và nhờ có lão Miệng có nhai thức ăn thì mọi người mới khoẻ được. + Ý nghĩa: – Truyện mượn các bộ phận cơ thể con người để nói về các tổ chức của con người trong xã hội. – Mỗi tổ chức, mỗi con người có một nhiệm vụ và chức năng riêng, quan hệ với nhau chặt chẽ, không thể có cái này mà thiếu cái kia. – Các tổ chức phải biết tôn trọng và hợp tác với nhau để tồn tại và phát triển, cũng như mỗi thành viên phải biết gắn bó với tập thể của mình. III. Hướng dẫn luyện tập Nhắc lại định nghĩa “Truyện ngụ ngôn” và tên gọi những truyện ngụ ngôn đã học + Về định nghĩa của truyện ngụ ngôn em cần nắm ba đặc điểm sau: – Mượn chuyện về loài vật, đồ vật hoặc về chính con người để nói bóng gió kín đáo chuyện con người. – Truyện nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống. + Tên các truyện ngụ ngôn đã học: Ếch ngồi đáy giếng; Thầy bói xem voi; Đeo nhạc cho mèo; Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng. IV. Tư liệu tham khảo Từ câu chuyện “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miêng” tác giả truyện ngụ ngôn nhắc chúng ta bài học: Trong một tập thể, mỗi thành viên không thể sống tách biệt mà phải nương tựa vào nhau, gắn bó với nhau để cùng tồn tại, do đó phải biết hợp tác với nhau, và tôn trọng công sức của nhau. […]. Theo nghĩa của từ gốc Hán, ngụ hàm chứa kín đáo, ngôn là lời nói. Ngụ ngôn nguyên nghĩa là lời nói có ngụ ý, lời nói ý kín đáo để người nghe, người đọc tự suy nghĩ mà hiểu ý người nói, người viết. (Theo Vũ Dương Quỷ, Lê Bảo – SĐD 6) Về mặt nào đó, truyện “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng”, có ý nghĩa tương tự truyện “Thầy bói xem voi”, “Mua cua”… phê phán thói nhìn phiến diện, coi thường cái toàn diện, chỉ nhìn cái cục bộ mà coi thường cái toàn thể. Không phân biệt đâu là chính, đâu là phụ. Mắt tưởng chỉ có mình làm việc mệt nhọc phân biệt ngày đêm. Tai tưởng chỉ có mình nghe ngóng, chân tay tưởng chỉ có mình vất vả chân lấm tay bùn… Ai cũng chỉ biết có mình, đến khi “cả bọn lừ đừ mệt mỏi” mới vỡ lẽ ra rằng: “Lão Miệng có công việc là nhai. Như vậy cũng là làm việc”. Chỉ có quan điểm toàn diện mới nắm bắt được chân lí”. Mời các bạn tham khảo tài liệu liên quan:Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 11: Cụm danh từ
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 11_ Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng
792
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 11: Cụm danh từ Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 11: Cụm danh từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 11: Cụm danh từ. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo I. Kiến thức cơ bản • Cụm danh từ là loại tổ hợp từ do danh từ với một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành. • Cụm danh từ có ý nghĩa đầy đủ hơn và có cấu tạo phức tạp hơn một mình danh từ, những hoạt động trong câu giống như một danh từ. • Mô hình cụm danh từ Phần trước Phần trung tâm Phầm sau t2 t1 T1 T2 S1 S2 Tất cả những em học sinh chăm ngoan ấy • Trong cụm danh từ: – Các phụ ngữ ở phần trước bổ sung cho danh từ ý nghĩa về số và lượng. – Các phụ ngữ ở phần sau nêu lên đặc điểm của sự vật mà danh từ biểu thị hoặc xác định vị trí của sự vật ấy trong không gian hay thời gian. II. Tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Cụm danh từ là gì? Câu 1. Xác định từ được bổ nghĩa Ngày xưa, có hai vợ chồng ông lão đánh cá ở với nhau trong một túp lều nát trên bờ biển – Từ xưa bổ nghĩa cho từ ngày. – Từ hai và cụm từ ông lão đánh cá bổ nghĩa cho từ vợ chồng. – Cụm từ nát trên bờ biển bổ nghĩa cho từ túp lều. Câu 2. So sánh các cách nói và rút ra nhận xét: – Túp lều /một túp lều; – Một túp lều nát/một túp lều nát; – Một túp lều nát /một túp lều nát trên bờ biển. + So sánh: • Một túp lều cụ thể hơn so với túp lều → vì có số lượng rõ ràng • Một túp lều nát rõ nghĩa hơn so với một túp lều → vì thể hiện được tình trạng của túp lều; • Một túp lều nát trên bờ biển cụ thể hơn so với một túp lều nát -> vì xác định được địa điểm của túp lều. + Nhận xét – Cụm danh từ có ý nghĩa đầy đủ hơn so với danh từ (từ túp lều cụm danh từ phát triển dần làm cho người đọc biết rõ thêm về số lượng – trạng thái – địa điểm của túp lều ấy). – Cụm danh từ có cấu tạo phức tạp hơn danh từ (từ 1 từ → cụm từ → một vế câu → một câu). Câu 3. Tìm một cụm danh từ và đặt câu. Trái xoài chín, người mẹ, con cò • Những trái xoài chín ở trong vườn đung đưa trong nắng nhẹ. • Những con cò trắng muốt tung cánh trên bầu trời xanh. 2. Cấu tạo của cụm danh từ Câu 1. Tìm cụm danh từ trong câu sau: Vua sai ban cho làng ấy ba thúng gạo nếp với ba con trâu đực, ra lệnh phải nuôi làm sao cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con, hẹn năm sau phải đem nộp đủ, nếu không thì cả làng phải tội. (Em bé thông minh) + Các cụm danh từ trong câu trên: Làng ấy, ba thúng gạo nếp, ba con trâu đực, ba con trâu ấy, chín con, năm sau, cả làng Câu 2+3) Liệt kê các từ ngữ phụ thuộc đứng trước và đứng sau, điền vào mô hình Phần trước Phần trung tâm Phầm sau t2 t1 T1 T2 S1 S2 làng ấy ba thúng gạo nếp ba con trâu đực ấy chín con năm sau cả làng III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Tìm các cụm danh từ trong những câu sau: a) Vua cha yêu thương Mị Nương hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng. (Sơn Tĩnh, Thuỷ Tinh) b) […]. Gia tài chỉ có một lưỡi búa cha để lại. (Thạch Sanh) c) Đại bàng nguyên là một con yêu tinh ở trên núi có nhiều phép lạ. (Thạch Sanh) Cụm danh từ trong các câu trên là: a). Một người chồng thật xứng đáng, vua cha b). Một lưỡi búa của cha để lại c) Một con yêu tinh ở trên núi có nhiều phép lạ Câu 2. Chép các cụm danh từ nói trên vào mô hình cụm danh từ. Phần trước Phần trung tâm Phầm sau t2 t1 T1 T2 S1 S2 vua cha một người chồng thật Xứng đáng một lưỡi búa Của cha để lại một con yêu tinh ở trên núi Có nhiều phép lạ Câu 3. Tìm phụ ngữ thích hợp, điền vào chỗ trống trong các phần trích sau: Thanh sắt được nói đến ở đây là thanh sắt đã mắc vào lưới của Lê Thận, ta có thể dùng phụ từ ấy hoặc các phụ ngữ thanh sắt lúc nãy. Thanh sắt vừa rồi, thanh sắt kì lạ ấy để điền vào chỗ trống. Khi kéo lưới lên, thấy nằng nặng, Lê Thận chắc mẩm được mẻ cá to. Nhưng khi thò tay vào bắt cá, chàng chỉ thấy có một thanh sắt. Chàng vứt luôn thanh sắt vừa mắc vào lưới xuống nước, rồi lại thả lưới ở một chỗ khác. Lần thứ hai cất lưới lên cũng thấy nặng tay, Thận không ngờ thanh sắt lúc nãy lại chui vào lưới mình. Chàng lại ném nó xuống sông. Lần thứ ba, vẫn thanh sắt kì lạ ấy mắc vào lưới. (Sự tích Hồ Gươm) Mời các bạn tham khảo tài liệu cùng chủ đề: Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 11: Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 11_ Cụm danh từ
886
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12: Kể chuyện tưởng tượng – Viết bài tập làm văn số 3 Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 12: Kể chuyện tưởng tượng – Viết bài tập làm văn số 3 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12: Kể chuyện tưởng tượng – Viết bài tập làm văn số 3. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Kể chuyện tưởng tượng Viết bài tập làm văn số 3 (làm tại lớp, một số bài văn tham khảo) I. Kiến thức cơ bản Truyện tưởng tượng là chuyện do người kể nghĩ ra bằng trí tưởng tượng của mình, không có sẵn trong sách vở, hay trong thực tế nhưng có một ý nghĩa nào đó. Truyện tưởng tượng được kể ra một phần dựa vào những điều có thật, có ý nghĩa, rồi tướng tượng thêm cho thú vị và làm cho ý nghĩa thêm nổi bật. II. Hướng dẫn câu hỏi phần bài học Câu 1 + Kể tóm tắt truyện ngụ ngôn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng”: Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai bỗng một hôm ghen tị với lão Miệng vì bọn họ cảm thấy ai cũng làm việc mệt nhọc quanh năm chỉ riêng lão Miệng không làm gì cả chỉ ăn không ngồi rồi. Họ quyết định để cho lão Miệng tự đi tìm lấy thức ăn. Một ngày, hai ngày, ba ngày… cả bọn thấy mệt rã rời không ai chịu đựng được nữa. Đến ngày thứ bảy bác Tai là người nhận ra sai lầm, nghe theo lời bác cả bọn kéo nhau đến xin lỗi bác Miệng. Lão Miệng cũng đang ở trong tình trạng nhợt nhạt, cả bọn xúm vào chăm sóc. Chúng hiểu rằng lão Miệng cũng có công việc rất quan trọng, liên quan đến tất cả mọi người. Từ đó cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai, lão Miệng lại sống vui vẻ với nhau không ai ganh tị ai cả. + Yếu tố tưởng tượng của câu chuyện: – Các bộ phận của cơ thể được nhân hoá giống như con người, biết nói năng, hoạt động, biết ghen tị, phân tích, lí giải, biết ăn năn hối lỗi. + Yếu tố sự thật: • Mỗi bộ phận trong cơ thể con người có một chức năng riêng, nhưng lại liên quan rất chặt chẽ với nhau. • Một thực tế khác, Miệng là cơ quan để cơ thể nạp năng lượng, miệng không ăn được thì cơ thể rã rời, mệt mỏi. Câu 2 Qua hai truyện Lục súc tranh công và Giấc mơ trò chuyện với Lang Liêu ta thấy rằng, mặc dù là trong truyện yếu tố tưởng tượng đóng vai trò quan trọng, song cả hai truyện đều dựa trên những điều có thật của đời sống thực tế. Câu 3. Các từ in đậm trong hai dòng thơ sau được dùng với ý nghĩa như thế nào? Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm (Tố Hữu) Các từ trăm, ngàn, muôn trong câu thơ trên là những lượng từ, có ý nghĩa chỉ số lượng rất lớn không thể nào đếm xuể. Câu 4. Qua hai ví dụ sau, em thấy nghĩa của các từ từng và mỗi có gì khác nhau? a) Thần dùng phép lạ bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi […] (Sơn Tinh, Thuỷ Tinh) b). Một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng rút lui mỗi người một ngả. (Sự tích Hồ Gươm) + Giống nhau: Từng và mỗi đều có ý nghĩa chỉ sự vật cá nhân riêng lẻ. + Khác nhau: – Từng là theo thứ tự hết sự vật này đến sự vật khác – Mỗi thể hiện tính riêng lẻ phân tán không theo thứ tự. Viết bài tập làm Văn số 3 (Kể chuyện đời thường) I. Cho các đề bài sau đây: a) Kể về một kỉ niệm đáng nhớ (được khen, bị chê, gặp may, gặp rủi, bị hiểu lầm…). b) Kể một chuyện vui sinh hoạt (như nhận lầm, nhát gan…). c) Kể về người bạn mới quen (do cùng hoạt động văn nghệ, thể thao mà quen, tính tình của bạn…). d). Kể về một cuộc gặp gỡ (đi thăm các chú bộ đội, gặp các thiếu niên vượt khó…) đ) Kể về những đổi mới ở quê em (có điện, có đường, có trường mới, cây trồng…). e). Kể về thầy giáo (cô giáo) của em (người quan tâm lo lắng và động viên em học tập). g). Kể về người thân của em (ông, bà, bố, mẹ, anh chị…). II. Một số bài Văn tham khảo Đề 1: Kể về một chuyện vui sinh hoạt Món quà của người lạ mặt Một hôm lớp học tôi bỗng xôn xao vì một chuyện lạ. Đầu tiên không ai để ý gì cả, nhưng dần dần mọi việc đã quá rõ. Thằng Tí là người luôn đi học sớm. Điều này lạ hoắc vì chưa bao giờ nó siêng năng như vậy. Khi đi học, nó còn không thèm gọi tôi. Nhiều lần lặp lại liên tiếp thế là tôi ráng dậy sớm để đi theo rình nó. Nó giở trò gì đây, tôi chẳng biết. Nó chỉ cắm cúi đi. Khi đến lớp, nó nhảy xổ đến bàn cô giáo nhặt một cái gì đó rồi đi về bàn mình. Cầm cái vật nho nhỏ trong tay, nó cứ cười miết. Hỏi cười cái gì nó cũng không nói. Tôi kể mọi chuyện cho tụi bạn nghe. Thế là cả bọn chúng tôi quyết định sẽ đến sớm hơn. Nhưng thật không may, khi đến lớp đã thấy nó chễm chệ cười cười, không nói. Hôm sau tụi tôi đến sớm hơn, vẫn thấy nó ngồi cười cười. Nó luôn đến trước. Mãi cả tuần sau tôi mới được hân hạnh là người đầu tiên. Trên bàn cô giáo là một gói giấy nhỏ. Khi mở ra bên trong có một viên kẹo, chẳng biết ai đã để ở đây và để khi nào. Tôi vừa lột viên kẹo bỏ vào miệng thì vừa lúc thằng Tí xông vào. Tôi hét to: – Tao biết bí mật của mày rồi. Thằng Tí bĩu môi: – Tao đã ăn được những hai mươi viên. – Nhưng ai để lại vậy? – Tao không biết. Giờ ra chơi tụi bạn bu quanh tôi hỏi: – Cái gì vậy? Tôi nhìn thằng Tí rồi cười cười. Bọn chúng tức điên lên, hỏi mãi tôi cũng chỉ cười cười. Làm sao có thể cho bọn chúng biết được điều bí mật ngọt ngào này được. Cách vài hôm, lại thêm một đứa mới biết điều bí mật. Chúng tôi cứ nhìn nhau cười cười. Rồi dần dần lớp chúng tôi ai cũng biết điều bí mật. Chúng tôi đã phân công nhiều ổ mai phục, nhưng cuối cùng chẳng thu được kết quả gì. Luôn luôn, vào sáng sớm trên bàn cô lại xuất hiện một viên kẹo. Lúc đầu chúng tôi cứ nghĩ là cô giáo Hà. Nhưng không phải. Cô luôn ra khỏi lớp khi trong phòng vẫn còn chúng tôi. Vậy thì ai? Nghĩ mãi vẫn không ra. Một hôm tôi ngồi lì trong lớp, định ngồi đến sáng để chờ người lạ mặt, nhưng vì đói bụng quá đành ôm sách về. Rồi tôi chợt nghĩ lại tại sao mình không gởi lại cho người lạ mặt đó một lá thư. Thế là tôi viết ngay “gởi người lạ mặt, anh là ai vậy, có thể cho tôi biết được không?” Hôm sau tôi vào lớp sớm, trên bàn vẫn như thường lệ có một viên kẹo gói trong tờ giấy nhỏ. Không có lá thư trả lời, còn lá thư của tôi thì biến mất. Chứng tỏ người lạ mặt đã lấy nó đi. Tôi suy nghĩ lung lắm. Tại sao người lạ mặt không trả lời tôi. Một ý định khác chợt đến với tôi, tôi sẽ là người lạ mặt. Tại sao không chứ? Tôi cũng làm được vậy. Hôm đó tôi giấu một quả ổi to tướng trong cặp. Đợi tụi bạn đi học về hết, gói nó lại bằng một tờ báo rồi đề chữ lên: “Tôi – người lạ mặt – có món quà nhỏ tặng người đến sớm.” Hôm sau nghe tụi bạn kháo nhau: – Đến hai người lạ mặt. Một người để trái ổi, một người để viên kẹo. Hôm sau nữa bỗng xuất hiện ba người lạ mặt, rồi bốn, rồi năm, rồi sáu, rồi bảy. Bây giờ chúng tôi vỡ lẽ ra rồi. Người lạ mặt đang ở trong lớp. Những buổi đi học về, đứa này cứ nhìn đứa kia nấn ná không muốn rời lớp. Chúng chính là kẻ lạ mặt. Nhưng người lạ mặt đầu tiên là ai, vẫn không biết. Nhưng buổi sáng đi học sớm, chúng tôi những người lạ mặt – người lạ mặt này ăn món của người lạ mặt kia. Lâu lâu trong món quà kèm theo câu hỏi rất vui. Và chúng tôi ngầm thoả thuận những câu hỏi bằng những món quà. Nhưng chúng tôi vẫn ấm ức một điều, ai là kẻ lạ mặt đầu tiên? Tôi kể chuyện này cho bố nghe. Bố nói: – Đó mới là điều bí mật. Trong mỗi người bạn của con đều có điều bí mật và một món quà, đúng chưa? Khi biết món quà của ai ta sẽ yêu người đó, mà không yêu những người khác. Khi nhận món quà không biết ai gởi, con sẽ yêu tất cả những người con vừa quen. Vì biết đâu, một trong số họ đã gởi món quà đó, chúng ta không nên biết người lạ mặt để làm gì, đó cũng là điều hay. Tôi đi học và tôi biết, mỗi buổi sáng luôn có một người bạn nào đó, tặng tôi một món quà. Bạn có thấy điều đó thú vị không? Bạn hãy tưởng tượng đi. Những người xung quanh ta đều có thể là người lạ mặt. Và tất nhiên trước khi đi học về, bạn hãy nhớ quên một cái gì đó. Và bạn sẽ thấy, người lạ mặt từ từ xuất hiện thật nhiều cho đến lúc tất cả chúng ta đều là người lạ mặt. (Theo Nguyễn Ngọc Thuần – Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ) Đề 2: Kể về người thân của em Bà nội […] Tôi ngẩng cao đầu mới thấy tuổi của bà, chứ cứ nhìn bà chặt củi, nhổ sắn, nhìn bà đứng, bà đi không ai biết bà đã gần bảy mươi. Bà làm nhanh, đi nhanh, lững thững. Bà không hút thuốc lào như u tôi, không ăn giầu. Cả làng đã im ắng. Bà như chiếc bóng trở về. Ít khi tôi thấy bà nói chuyện nói trò với người khác ngoài các cháu ra. Ít khi tôi thấy bà đôi co với ai. Dân làng bảo bà hiền như đất. Nói cho đúng bà hiền như chiếc bóng. Nếu có ai lành chanh lành chói bà rủ rỉ khuyên. Bà nói nhiều bằng ca dao tục ngữ. Những chị mồm năm miệng mười, sau khi bà khuyên chỉ còn mồm một, mồm hai. Người ta bảo “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, bà như thế chúng tôi hư làm sao được. U tôi như thế, chúng tôi không nỡ hư, nỡ hỏng. […]. Một hôm thằng Lĩnh gánh nước, thổi cơm xong, chờ bà đỏ mắt, ông giời sai thần mưa đổ nước xuống sân từ sáng đến giờ. Bà về, bà đi lảo đảo. Áo xống ướt sũng. Cái khăn trên đầu không bao giờ bà vấn thành mỏ quạ mỏ cò gì cả. Nó ướt và giỏ nước ròng ròng, bà vuốt mặt không kịp. Bà thắt lưng con cón, cái giỏ của bên sườn đầy ắp, nhộn nhạo. Con lớn giơ càng cắp con bé. Bà tháo giỏ cua rồi chạy vào giường, hai bàn chân xoa vào nhau rồi bà nằm xuống. Thằng Lĩnh đặt tay lên trán bà. Nó hốt hoảng đi tìm bác Ký gái, u tôi, chị Điệp, cô Toán, cô Nụ. Chỉ một lúc thôi, con cháu đầy nhà. Cô Toán thay áo xống cho bà. Cô Nụ đốt chổi xể gần giường. Cô Điệp hái lá bưởi, lá vối, lá tre, hương nhu, đun nước xông. Bà trùm chăn xông lùng bùng và có tiếng sụt sịt. Thầy tôi đánh gió cho bà bằng gừng nướng với rượu. Sau đó thầy đổ rượu vào chén, lửa cháy xanh lè. Thầy úp chén, bốn cái chén nóng như nồi rang vào lưng bà. Khi lấy chén ra, bốn cái hình tròn tím bầm. Thầy lấy gai bưởi nhổ ra. Những giọt máu đen sì. Thầy đã nhiều lần mười sống một chết, thầy thuốc đã báo cho thầy như thế. Có một sự lạ bà không rên nữa. Thầy gật đầu: “?? Khỏi”. Bác Ký gái thì lắc đầu: “Những người không ốm bao giờ, khi ốm thì khó qua khỏi”. Mọi người buồn ra mặt. Riêng thầy tôi cười nói như không. Lạ thật. […] Sáng sớm ngày thứ ba, mặt trời độ một con sào, nắng đỏ lựng cả sân. Chúng tôi ríu ran chào bà. Bà ngồi giữa sân phơi nắng. Bà chải đầu bằng lược bí để bắt chấy. Tôi đứng nhổ tóc bạc, tóc sâu cho bà. Nhưng tóc bà bạc trắng. Người ta cứ hay nói: Cháu nhổ tóc bạc cho bà. Nói như thế để tỏ lòng thương bà mà thôi. Tôi không nhổ một sợi tóc nào. Hình như mỗi ngày tóc bà bạc đến mười sợi. Tôi ngậm ngùi. Bà tự xâu kim lấy, tôi lại vui: Giàu hai con mắt. Tay bà run run vá áo. Tôi lại buồn: Khó hai bàn tay. Bác Ký thấy bà mặc vá, may cho bà một cái váy, cái áo; cho thằng Lĩnh bộ áo quần. Chưa lần nào bà nhận. Cứ gần tết bà mua mười vuông vải nâu diềm bâu vài thước vải trúc bâu. Bà sai thằng Lĩnh đi hái lá bàng về nấu lên nhuộm sau đó nhuộm bằng nước củ nâu. Nhuộm mãi vài chục nắng. Nó thành màu cánh gián. Riêng mấy thước vải của bà, bà giải ra sân trát kín bằng bùn ao phủ, phơi mấy đêm ngày. Nó đen nhẫy. Đấy là vải váy của bà. Bà mua láng đen về làm khăn. Thế là bà mặc xêng xang ba ngày Tết và cả năm. Khi nó rách thì bà vá lại. Mới mưa. Nước ao chùa lênh láng đục ngầy. Những loài ở nước được ngày mở hội. Chả mấy khi bà được rảnh rang. Chúng tôi tha hồ hỏi bà. Cái Bàng hỏi hay nhất; bà bắt chuyện trẻ con thì thâu đêm suốt sáng nó không chán: – Bà ơi! Sao con ếch ương ngắn cổ mà gào to thế? – Nó phải gào lên để doạ những con còn hại nó. – Bà ơi sao con chẫu chuộc lại kêu “chuộc, chuộc”? […] Cái áo của bà vá đã gần xong. Lĩnh chạy về áo quần lấm bê bết. Nó xách xâu cá đến chục con. – Ba con cá to nhất nó nhảy từ ao lên bờ. Trưa nay bà tha hồ ăn canh cá nấu hẹ! Bà ngẩng phắt lên nhìn Lĩnh: – Chim sa cá nhảy là đừng có bắt, phải tội. Nó gặp nạn phải cứu nó. Cháu thả ngay ba con cá ấy xuống ao chùa! Lĩnh đang vui, bây giờ nó tiu nghỉu lặng lẽ đi thả cá. Bỗng nhiên con quốc ở đâu bay đến, lủi vào bụi ruối, sát mặt nước góp vui vào ngày hội ao chùa “Lưỡi cuốc cuốc – già già già.” Nó kêu đến khản cổ. Thế là dàn bát âm thêm một giọng. Nghe tiếng quốc bà lắc đầu lẩm bẩm: – Rõ khổ. Nó hiền lắm. Nó kêu vì cái nỗi mất nước nhà tan. Nó kêu suốt đêm, suốt ngày, suốt mùa hè nó chỉ còn một nắm xương khô. Trước lúc chết nó tìm chỗ kín để giấu xác. Cho nên ít người tìm thấy xác nó. Bà đã khỏi lại gần như trước. Bà lại lam lũ sớm tối. Hơn một năm sau, vào một buổi trưa mùa đông, bà đi đâu về. Bà bảo Lĩnh mua bốn cái đậu nướng. Ngồi trên giường, bà bẻ hai cái đậu chấm muối ăn. Bà nhìn Lĩnh lúm cúm ra sân, mỗi miếng nhai nước mắt bà ròng ròng. Bà gọi Lĩnh cho nó hai cái. Bà sụt sịt như ăn phải gừng. Bà nằm xuống phủ cái chăn điệp. Như linh tính của trẻ con, Lĩnh ngơ ngác. Sao hôm nay bà ngủ trưa? Sao hôm nay bà ăn đậu? Nó áp mặt vào mũi bà, không thấy bà thở. Nó sờ chân bà, lạnh như đồng ngâm. Nó gào lên. Chỉ một lúc con cháu đến chật nhà, hàng xóm đến đầy sân. Mọi người lay gọi bà. Bà?? ra cổng gào đến mười lần: – Ba hồn chín vía bà ngoại ở đâu thì về với con cháu, với xóm, với làng. – Bà ơi! Bà chết thật rồi! Chúng tôi vừa khóc, vừa gào thét. Trong đám trẻ con thằng Lĩnh gào khản cả cổ. Lĩnh được bác Ký đem về nuôi. Ba gian nhà gianh gió lùa. Mấy cái ống tre ngoài hiên khóc vu vu cả ngày lẫn đêm. Tôi đi qua có lần tưởng bà còn sống vì bà mất vội quá. Bà ơi bà! Bà vẫn hát đây: Trèo lên cây khế nửa ngày. (Theo Duy Khán – Bà Nội) Đề 3: Kể về một kỉ niệm đáng nhớ Tâm sự với bạn bè về điểm thi thử bị thấp Thành phố Hồ Chí Minh ngày 15/5/2004 Luân thân mến! Đã lâu lắm rồi chúng mình không liên lạc với nhau, nay có chút thời gian rảnh rỗi mình liền viết thư cho cậu và báo cho cậu một tin buồn về kì thi thử của mình vừa rồi, bị điểm rất thấp, đồng thời cũng muốn tâm sự với cậu một đôi lời. Cậu vẫn khoẻ chứ? Ba mẹ cậu thế nào? Cho mình gởi lời thăm ba mẹ cậu với nhé, à mà cả cu Tí bé bỏng dễ thương nữa. Còn mình và gia đình vẫn khoẻ, cả con mực vẫn cứ đáng yêu như ngày cậu còn ở bên cạnh nhà tớ vậy. Kì thi thử vừa rồi, cậu thi được bao nhiêu điểm. Tớ chắc là cậu được 9, 10, đó là hai con số vốn dĩ vẫn thường hay yêu mến cậu mà. Còn tớ điểm lại rất thấp, tệ ơi là tệ. Cậu có biết tại sao không? Tớ kể cho cậu biết nguyên nhân tai hại đã khiến cho tớ bị điểm thấp trong kì thi thử vừa rồi nhé! Chả phải gì xa lạ, đó là vì sự cẩu thả thiếu cẩn thận của mình. Hôm đó, khi thi xong mình tí ta tí tửng về lớp và nghĩ rằng mình đã làm đúng một trăm phần trăm, điểm mười là cầm chắc. Về nhà mình khoe ba mẹ tíu tít: “Cả bài cuối khó nhất chỉ có bốn người làm được trong đó có con”. Ba mẹ mình vui lắm; “Con cố gắng đạt điểm mười cả hai môn văn – toán vào kì thi sắp tới nhé”. Ai dè đến khi dò lại bài cô giáo sửa ở lớp, mình mới tá hoả sai quá trời là sai và hết sức ngớ ngẩn. Tìm diện tích hình thang mình lại quên chia cho hai, quên đổi ra a, cộng trừ nhân chia lại sai tùm lum nữa, khi phát bài ra toán chỉ được 5,75 và tiếng Việt 8,25. Nếu mà đây là kì thi thật thì mình đã vào hệ B là cái chắc. Nhưng mình vẫn cứ nhơn nhơn không lo lắng gì cả, đã thế lúc về nhà lại giấu điểm đi không cho ba mẹ biết. Sáng hôm sau bất ngờ ba mình hỏi điểm. Sợ quá mình đành nói dối là một môn 9,5 và một môn 8,25. Nhưng điểm vậy mà ba vẫn la quá chừng. Buổi tối trước khi đi làm mẹ dặn mình làm bốn bài toán trong sách, để rèn luyện thêm cho tốt. Nhưng vì lười mình không làm bài mà lại ngồi chơi đánh bài với anh. Đến lúc mẹ gần về mình mới cuống quýt làm bài nhưng chỉ làm kịp có hai bài. Mẹ mắng cho một trận và bảo đưa bài thi thử vừa rồi cho mẹ xem. Mình đưa hai bài ra, thấy điểm toán chỉ 5,75, mẹ giận tái mặt ngồi lặng đi, bắt phạt một trận nên thân. Đến lúc ba về thấy thế lại la thêm cho một trận nữa. Sau khi cơn giận đã nguôi, ba mẹ ngồi giảng giải cho mình, mình mới nhận ra rằng tính cẩu thả, hấp tấp chủ quan thật tai hại. Thà làm được ba bài mà cẩn thận chắc chắn còn hơn làm hết cả bốn bài mà sai tòe loe toét loét như mình thì cũng bằng không. Cẩn thận là đức tính cần thiết trong cuộc sống đặc biệt là trong những kì thi quan trọng, Mình rất ăn năn hối hận. May mà mình vẫn còn cơ hội để sửa sai trong những kì thi sắp tới. Thôi thư đã dài mình dừng bút đây. Chúng ta hãy cùng nhau ôn luyện bài thật tốt để cùng thi đậu vào hệ A nhé. Mong cậu được vào trường mà cậu yêu thích. Chúc cậu may mắn. Hẹn gặp lại. Bạn của Luân Lê Hoàng Tâm (Bài làm của Lê Hoàng Tâm học sinh lớp 6B trường Lê Lợi) Đề 4: Kể về cô giáo em Đôi guốc của cô giáo Hà Cô giáo Hà lùn tịt nên cô mang đôi guốc cao gót. Từ dưới bục giảng nhìn vẫn thấy cô lùn. Cô chải tóc tém. Mẹ tôi nói, nhờ vậy nhìn cô trẻ mãi. Có một lần khi gọi tôi lên bảng. Cô nhìn tôi một hồi rồi nói: – Em lớn nhanh thật, chẳng vài năm nữa em sẽ cao bằng cô. Tôi nói: – Đó là nhờ em chơi thể thao. Cô trợn mắt hỏi lại: – Em chơi thể thao? – Dạ đúng vậy, Bố em nói, những người chơi thể thao luôn cao ráo và xinh đẹp. Mẹ em không chịu chơi thể thao nên mặt mụn đấy! Cô cười cười không nói gì. Tôi hỏi: – Cô có chơi thể thao không? Cô nói: – Có. Có. Sau đó thêm chút chút. Tôi quan sát đôi guốc cao gót của cô. Mỗi lần cô bước lên bục giảng tim tôi cứ thót lại vì sợ cô ngã. Nhưng cô không ngã, cô còn đi rất nhanh và bước những bước thật dài. Có lẽ cô phải tập công phu lắm. Tôi hỏi mẹ để bước đi như cô có lâu lắm không? Mẹ tôi lắc đầu mẹ không biết. Mẹ chưa bao giờ đi guốc cao gót vì chân mẹ rất to. Mẹ cũng rất thích nhưng chưa bao giờ có can đảm mua nó. Mẹ đã quen đi những đôi dép mỏng và bền. Vả lại, một đôi guốc cao gót không thể đi ruộng và lội sình. Nó phải đi trên đường nhựa với áo dài. Dáng của mẹ lại xấu, không thể bận áo dài được. Mẹ nói ngày mẹ còn trẻ mẹ có bận áo dài một lần nhưng sau đó thì thôi luôn. Khi bận áo dài, tôi sẽ không nhận ra mẹ. Mẹ thích tôi phải nhận ra mẹ kia. Thế là tôi không hỏi nữa. Cô Hà có hai đôi guốc, một đôi màu xanh một đôi màu đỏ. Cô cứ luân phiên đổi nhau. Hai ngày đôi này, hai ngày đôi kia. Tôi thích đôi màu xanh hơn vì nó cao vừa phải, lại trông xinh xắn, khi đi nhìn cô ít gồng, tự nhiên hơn. Bẵng đi một dạo không thấy cô mang nữa. Cô chỉ mang đôi guốc cao gót màu đỏ. Trên bục giảng cao màu đỏ trông thật nhức mắt. Tôi chờ mãi vẫn không thấy cô mang đôi màu xanh. Thế là một hôm tôi hỏi cô: – Cô ơi! Sao cô không mang đôi guốc màu xanh? Cô xòe to con mắt nhìn tôi: – Em còn nhớ đôi guốc của cô à? Tôi gật đầu: – Em thích cô mang đôi guốc đó lắm. Trên bục giảng trông cô cao vút. Cô gật gù vẻ sung sướng lắm: – Cảm ơn em. Nhưng đôi guốc đó quá cũ. – Không sao cả trông nó vẫn đẹp. Mẹ em luôn mang những đôi dép cũ. Bố em nói: Quăng nó đi. Nhưng mẹ em vẫn không chịu. Mẹ nói đôi dép đó đã quen với mẹ rồi, nó là đôi dép đẹp nhất. – Thế rồi bố em có nói gì không? – Bố em chịu thua mẹ. Bố em nói mẹ cứng đầu lắm. Nhưng em biết bố đùa, bố không bao giờ nói mẹ cứng đầu. Có hôm em còn nghe bố nói mẹ là cục cưng. Em bật cười lắm. Mẹ to như vậy mà bảo là cục cưng. Vậy mà bố em vẫn nói là cục cưng. Hôm sau, cô Hà mang đôi màu xanh. Nhìn thấy tôi cô trợn con mắt như muốn bảo: Bí mật đó nhé! Bí mật này chỉ có cô và em biết thôi. Tôi vui lắm không ngờ cô Hà lại tin tôi như vậy. Tôi có cảm giác cô mang guốc chỉ để cho một mình tôi nhìn. – Cô đẹp quá! Cô cười, mặt đỏ lựng, cô nói: – Cảm ơn! Nhờ em, cô mới biết đôi guốc màu xanh làm cô đẹp ra. Khoảng một tháng sau bỗng tôi thấy cô xuất hiện trên bục giảng với đôi guốc màu đỏ. Cô nhún vai nhìn tôi. Thì ra đôi guốc màu xanh đã gẫy cái gót. Khi mang cô sẽ đi cà thọt. Cô nói: – Nó cũ quá rồi, không thể sửa chữa được nữa. Tôi an ủi cô: – Không sao cả, màu đỏ trông cô cũng vẫn đẹp. Em sẽ không nhìn đôi guốc nữa, em sẽ nhìn khuôn mặt của cô, khuôn mặt sẽ không bao giờ cũ, khuôn mặt sẽ không bao giờ bị gẫy gót. Cô cười trông vui lắm, nói: – Em là người hiểu cô nhiều nhất. Khi em hiểu đôi guốc của một người thì có nghĩa em sẽ hiểu người đó. Em sẽ hiểu tại sao người ta yêu cái màu xanh này mà không yêu cái màu đỏ kia. – A! Em hiểu rồi! Cô yêu đôi guốc màu xanh này là vì cô yêu em. Từ đó tôi không còn thắc mắc đôi guốc cao gót của cô Hà nữa. Cô có đi chân không tôi vẫn yêu cô. Mẹ nói chừng nào đến ngày nhà giáo, sẽ biếu cô một đôi guốc màu xanh. Và tôi chờ đợi, lâu lắm… lâu quá trời lâu. (Theo Nguyễn Ngọc Thuần – Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ) Đề 5: Kể cề một cuộc gặp gỡ Hoa hồng tặng mẹ Anh dừng lại tiệm bán hoa, để gửi hoa tặng mẹ anh qua đường bưu điện. Mẹ anh sống cách chỗ anh khoảng 300 km. Khi bước ra khỏi xe, anh thấy một bé gái đang đứng khóc bên vỉa hè. Anh đến và hỏi nó sao lại khóc. – Cháu muốn mua một bông hoa hồng để tặng mẹ cháu – nó nức nở – nhưng cháu chỉ có 75 xu trong khi giá hoa hồng đến 2 Đô la. Anh mỉm cười và nói với nó: – Đến đây, chú sẽ mua cho cháu. Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hoa hồng để gửi cho mẹ anh. Xong xuôi anh hỏi cô bé có cần đi xe về nhà không? Nó vui mừng trả lời: – Dạ! Chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu. Rồi nó chỉ đường cho anh lái xe đến một nghĩa trang, nơi có phần mộ vừa mới đắp. Nó chỉ ngôi mộ và nói: – Đây là nhà của mẹ cháu. Nói xong nó ân cần đặt nhánh hoa hồng lên mộ. Tức thì anh quay lại tiệm bán hoa, huỷ bỏ dịch vụ gửi hoa vừa rồi và mua một bó hồng thật đẹp. Suốt đêm đó anh đã lái một mạch 300km về nhà mẹ anh để trao tận tay bà bó hoa. (Theo Quà tặng cuộc sống – Báo Tuổi Trẻ, Nhà xuất bản Trẻ) Luyện tập kể chuyện tưởng tượng I. Các đề bài luyện tập Đề 1: Mượn lời một đồ vật, hay con vật gần gũi với em để kể chuyện tình cảm giữa em và đồ vật hay con vật đó. Đề 2: Thay ngôi kể để bộc lộ tâm tình của một nhân vật truyện cổ tích mà em yêu thích. Đề 3: Tưởng tượng một đoạn kết mới cho một truyện cổ tích nào đó (chẳng hạn truyện Sọ Dừa, Cây bút thần). II. BẢI THAM KHẢO Đề 1: Mượn lời đồ vật Nỗi niềm của siêu nhân Hôm chủ nhật, cuối tháng, mẹ bảo cả nhà làm cuộc tổng vệ sinh cho nhà cửa ngăn nắp gọn gàng. Tám giờ ăn sáng xong, cả nhà bắt tay vào việc. Mẹ lau chùi cọ rửa ngăn bếp, hai anh em tôi dọn dẹp phòng khách và phòng ngủ của mỗi người. Công việc khá nhiều, nếu không nhanh tay nếu có khách đến chơi thì thật bất tiện. Phòng khách đã sạch bóng, đến lượt là lô cốt của mỗi người. Tôi nhìn anh Hai nháy mắt – “cùng thi đua nhé”. Anh gật đầu. Tôi làm thoăn thoắt như một con thoi. Những chồng sách vở xiêu vẹo sửa lại ngay ngắn, những vết bẩn trên mặt bàn lau sạch, áo quần từng chồng vuông vức gọn gàng. Tôi thở phào khoan khoái tự khen mình: “Mình cũng khá đấy chứ nhỉ!”. Bỗng tôi nghe một tiếng rên khe khẽ, yếu ớt. Lắng tai và chăm chú quan sát, tôi nghe thấy tiếng rên được phát ra dưới chân góc giường. Bò xuống tận nơi tôi lôi ra con siêu nhân Đại Bàng bị gẫy một chân. Con Đại Bàng thều thào: – Cậu quên tôi rồi ư? Tôi là món đồ chơi trong tủ kính mà cậu đã ao ước cách đây hai năm về trước. Tôi cầm Đại Bàng lòng bồi hồi xúc động. Đại Bàng thì thầm kể: Hôm ấy cậu đi với mẹ vào siêu thị, mua bao nhiêu là đồ nặng trĩu cả hai tay. Lúc đi qua tủ kính, thoáng nhìn thấy tôi cậu reo lên: – Đẹp quá mẹ ơi! Con siêu nhân Đại Bàng này trông thật hùng dũng. – Cậu mặc sức tán dương về tôi nhưng mẹ cậu vẫn không đồng ý, cậu đành im lặng ngoan ngoãn vâng lời, khi hai mẹ con đi ra khỏi siêu thị rồi cậu còn tần ngần đứng lại nhìn tôi với ánh mắt thèm thuồng. Chính bởi ánh mắt đó mà mẹ cậu đã thay đổi quyết định, trở lại quầy hàng và lấy tôi ra khỏi tủ kính. Tôi còn nhớ như in khuôn mặt bừng sáng hạnh phúc của cậu lúc ấy. Cậu hôn lên má mẹ và hôn lên cả má tôi. Tôi cũng hạnh phúc chẳng kém gì cậu đâu. Suốt trên đường từ siêu thị về nhà tôi được cậu ôm vào lòng chứ không phải nằm chung với bao thứ đồ đạc khác trong túi xách to đùng để ở giỏ xe máy. Tôi lấy làm hãnh diện lắm. Về đến nhà ngay lập tức cậu cho tôi làm thủ lĩnh đồ chơi của cậu, được ngồi vào chỗ oai vệ nhất ngay trên bàn học tập phía góc phải – để mỗi khi học xong một môn cậu lại cầm tôi lên ngắm nghía chuyện trò. Những lúc bình thường tôi đứng ngắm cậu ngồi học trông thật dễ thương khuôn mặt trầm tư nghĩ ngợi có vẻ đăm chiêu lắm, sau đó lại viết liên tục… Tôi dang rộng đôi cánh của mình, sẵn sàng tấn công những con muỗi nào vo ve dám bén mảng tới gần cậu. Những ngày tiếp theo sau đó, là những ngày tuyệt vời của tôi. Cậu đã cho tôi tham gia các trận đánh lịch sử với các siêu nhân người dơi, siêu nhân khủng long, siêu nhân rô bốt, siêu nhân hình xâm, siêu nhân mình đen… những đối thủ của cậu trong lớp và ở các nhà hàng xóm. Những trận chiến thường diễn ra trong giờ ra chơi của mỗi buổi học, và cuối buổi chiều ngày chủ nhật. Tôi đã đem đến cả tới gần chục lần. Cậu còn nhớ những trận đánh ấy nữa không? Cho tới một ngày tôi bị thương, không phải là vì đánh nhau trên chiến trường mà lại là… giọng Đại Bàng trầm xuống rưng rưng… Than ôi! Người dũng tướng không chết ở sa trường mà lại chết ở hậu phương với một sự rất ngớ ngẩn vô lí. Cậu mang tôi về lầm lì suốt cả tuần lễ. Tôi bị gẫy một chân không còn đánh trận được nữa, cậu cũng thôi không đi chơi những buổi chiều chủ nhật, những lúc giải lao giữa buổi… Sau một thời gian, cậu thu dọn tất cả đồ chơi bỏ vào trong hộc tủ, tôi cũng ở yên trong đấy. Cho tới ngày họ hàng gậm nhấm kéo tới lôi tôi từ trong hộc tủ xuống gầm giường và mắc kẹt mãi tới bây giờ. Tôi ôm Đại Bàng vào lòng cảm thấy thật ân hận, tự giận mình bởi cái tính vô tâm. Mình Đại Bàng đầy bụi, tôi tắm rửa cho cậu ta thật sạch sẽ, xong xuôi để cậu ta lên bàn phía góc phải như thuở nào. Tôi nói với Đại Bàng: – Từ nay chúng mình lại bên nhau mãi mãi nhé!”. Đại Bàng cười thật tươi. (Lê Hoàng Tâm) Đề 2: Do một lỗi lầm nào đó em bị phạt biến thành một con vịt trong ba ngày. Hãy kể một câu chuyện về những ngày đó. Thần Thời Gian đêm qua báo mộng cho tôi biết rằng, nếu trong tuần này mà tôi đi học muộn đến lần thứ ba thì thần sẽ hoá phép biến tôi thành con rùa trong ba ngày. Tôi vốn chẳng tin chuyện mộng mị, nên cho qua. Buổi sáng mùa đông thường khiến cho người ta lười dậy sớm. Nhà tôi lại ở gần trường, tôi cứ cố nằm ườn trên giường thêm một tí. Chuông reo báo bắt đầu giờ học cũng là lúc tôi hớt hải chạy vào. Thì đã sao? Còn ngày mai, tôi cứ việc ngủ thêm cho khoái. Vì tôi và thằng cò Nhật Linh đã bí mật vặn kim đồng hồ ở phòng bác thường trực chậm đến nửa tiếng. Tôi tỉnh dậy và hơi ngạc nhiên vì không gian yên tĩnh lạ thường. Chắc là trời sáng đã lâu, vì thấy mặt trời lên cao, chói chang ngoài cửa kính. Sao không ai gọi tôi? Tôi định tung chăn ngồi dậy nhưng không thể. Tôi lại cố trở mình để ra khỏi giường mà không được. Tôi làm sao thế này? Tôi cúi nhìn mình thì… Ôi thôi, tôi đã hoá thành rùa tự lúc nào! Tôi vùng vẫy, gào khóc, van vỉ thần tha tội cho tôi. Nhưng thần chẳng thèm đoái hoài. Thôi thế là mình nguy đến nơi rồi. Mình phải tự cứu mình trước khi thần cứu. Cố mãi tôi cũng ra được khỏi giường, chỉ tội bị rơi từ trên giường xuống thềm gạch một cú khá đau. Tiếp đến là phải lách mình qua cửa để đi kiếm cái gì ăn, vì bụng cũng đã đói rồi. Mọi chuyện diễn ra khá suôn sẻ khiến tôi vui lên tí chút. Nhưng khi vào phòng ăn của gia đình thì tôi mới thật sự thấm thía tình cảnh khốn khổ của mình. Bụng đói, nhưng thức ăn của loài người không hợp khẩu vị của tôi lúc này, vả lại, mẹ tôi đã để mọi thứ quá cao. Vì mới làm loài rùa được mấy tiếng đồng hồ, nên tôi không biết khi đói thì mình cần đi tìm những thức gì lót dạ. Tôi cố vắt óc nhớ lại những kiến thức đã được học về môn Sinh vật để tìm lối thoát cho mình. Nhưng vốn là một chú bé nghịch ngợm và không phải là chăm học cho lắm, tôi làm sao nhớ được cơ chứ! Tôi lần ra bãi cỏ bên kia đường, gần đấy là một cái hồ rộng, nước không được sạch lắm, thậm chí, có thể nói là khá bẩn và rất tanh mùi bùn. Nhưng lúc này thì kén chọn làm gì nữa! Số tôi thật không may, khi chỉ còn cách hồ chừng dăm thước thì tôi bị một lũ trẻ đi học về phát hiện. Một đứa kêu: “A ha! Một chú rùa!”. Thế là cả lũ xúm lại, hoan hỉ chộp lấy tôi. Tôi trở thành tù binh của chúng ba ngày. Ba ngày, như người ta thường ví, thật là dài đằng đẳng bằng ba năm. Thôi thì đủ mọi trò nghịch tinh để hành hạ. Cực nhất là lũ trẻ luôn tổ chức trò chạy thi (không phải với thỏ mà với một chú cóc vàng, sau này tôi mới biết, đó chính là Nhật Linh, bạn cùng bị thần trừng phạt như tôi). Lúc đầu, tôi muốn cho lũ trẻ thấy rằng, tôi không dễ để chúng sai khiến, vì chỉ cách đây một ngày thôi, tôi cũng là người như chúng, hơn nữa, còn là một bậc đàn anh của chúng nữa. Nhưng bọn trẻ dường như không thèm biết tới điều đó. Có đứa còn dùng roi quất vào mai tôi, bắt chạy thật nhanh trong lúc những đứa khác hò reo cổ vũ hai “vận động viên” bất đắc dĩ. Nếm đủ mọi điều cay đắng, tôi và cóc vàng đều mệt nhoài. Cả hai ứa nước mắt. Dù không nói ra nhưng trong thâm tâm mỗi đứa đều tự hứa với lòng mình, sau này sẽ không bao giờ dám lề mề, chậm chạp và đặc biệt không dám nghĩ ra những trò nghịch ngợm tinh quái nữa. Giữa lúc tôi và cóc vàng đang nhìn nhau xót xa, ân hận như thế thì bỗng có tiếng mẹ tôi lay gọi: “Nam! Nam ơi! Con mơ thấy gì mà vật vã dữ vậy?”. Tôi tỉnh dậy, bàng hoàng, nước mắt vẫn còn ướt đẫm trên gối. Thì ra, tất cả chỉ là một giấc mơ. (Theo Ôn tập ngữ văn 6 – Nguyễn Văn Long chủ biên) Hãy tưởng tượng ra một cục khác cho truyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng” rồi kể lại bằng lời ông lão. Tôi là ông lão đánh cá, ông lão khốn khổ nhất trên đời đây. Mụ vợ tôi sao mà tham lam quá thể. Mụ ta đã có đủ toà ngang dãy dọc, đã có bao nhiêu là vàng bạc châu báu, đã có bao nhiêu kẻ hầu người hạ, mụ ta đã làm nữ hoàng rồi mà vẫn chưa bằng lòng. Mụ ta lại đòi được làm Long Vương để bắt cá vàng hầu hạ ngày đêm mới thoả. Vì thế, tôi lại phải đi ra biển. Con đường quen thuộc sao trở nên xa lạ thế. Bờ cát vắng vẻ. Biển sôi bọt giận dữ. Sóng bạc đầu đuổi nhau vỗ bờ oàm oạp. Gió réo ù ù. Tôi cất tiếng khẩn thiết gọi cá vàng. Tiếng tôi chìm đi trong sóng biển khơi. Vậy mà cá vàng vẫn nghe thấy, vẫn hiện lên. Sau khi nghe tôi kể lể đầu đuôi, cá vàng liền bảo: “Hỡi ân nhân của tôi! Đừng tự dằn vặt nữa cho khổ thêm ra. Tôi hiểu tình cảnh của ông lão rồi. Ông sống làm sao nổi với mụ vợ tai quái ấy. Trời sẽ trừng phạt thói tham lam và bội bạc của mụ. Ông hãy xuống thuỷ cung vui vầy cùng tôi. Như thế, ông đỡ bị hành hạ mà tôi cũng thoả mong ước được đền ơn cứu mạng”. Lời mời gọi của cá vàng thật chân thành, tin cậy. Nhưng bỏ làng xóm quê hương mà đi sao đành. Còn cả mụ vợ tham lam kia nữa. Dù sao mụ cũng đã cùng tôi chịu đựng đói nghèo suốt bao năm. Vả lại, trần gian với thuỷ cung chắc cũng có nhiều điều khác biệt, chắc gì mình đã được thoải mái, yên vui? Tôi còn đang suy tới nghĩ lui thì bỗng nghe tiếng ngựa hí vang rền, tiếng đao kiếm chan chát cùng tiếng hò hét gọi đích danh tên tôi đòi trị tội. Không thể trở về được nữa rồi, tôi đành cưỡi lên lưng cá vàng xuống thuỷ cung. Biết tôi vẫn chưa hết lưu luyến cõi trần, cá vàng liền cho tôi mượn gương thần để tôi xem lại cảnh trần gian. Trong cung điện nguy nga, mụ vợ tôi đang ngồi chờ phép lạ như những lần trước. Chờ mãi, chờ mãi cũng không thấy quân lính áp giải tôi trở về, mụ sốt ruột nghiến răng nguyền rủa. Lời mụ chưa dứt thì mây đen bỗng đâu kéo đến. Gió nổi ầm ầm. Đã nghe tiếng tường đổ, ngói rơi. Kẻ hầu người hạ xung quanh đã có người hoảng sợ bỏ chạy. Bực tức và tuyệt vọng, mụ quát tháo ầm ĩ rồi cùng đám cận thần lao ra biển. Không tìm thấy tôi, cũng chẳng thấy cá vàng, mụ giậm chân la hét chửi rủa. Một cơn sóng thần xô tới, cuốn phăng mụ già tham lam, độc ác cùng tất cả quân lính, xe ngựa chìm xuống đáy biển sâu. Tôi không biết nói gì hơn được nữa. Từ đó, tôi lặng lẽ sống ở chốn thuỷ cung cùng với cá vàng. (Theo Ôn tập ngữ văn 6 – Nguyễn Văn Long chủ biên) Tài liệu liên quan Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12: Số từ và lượng từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12: Treo biển Lợn cưới áo mới
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12_ Kể chuyện tưởng tượng – Viết bài tập làm văn số 3
7,038
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12: Số từ và lượng từ Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 12: Số từ và lượng từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12: Số từ và lượng từ. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo I. Kiến thức cơ bản • Số từ là những từ chỉ số lượng và thứ tự của sự vật. Khi biểu thị số lượng sự vật, số từ thường đứng trước danh từ. Khi biểu thị thứ tự, số từ đứng sau danh từ. • Cần phân biệt số từ với những danh từ chỉ đơn vị gắn với ý nghĩa số lượng. • Lượng từ là những từ chỉ lượng ít hay nhiều của sự vật. • Dựa vào vị trí trong cụm danh từ, có thể chia lượng từ thành hai nhóm: – Nhóm chỉ ý nghĩa toàn thể; – Nhóm chỉ ý nghĩa tập hợp hay phân phối. II. Hướng dẫn câu hỏi phần bài học 1. Số từ a) Tìm từ được các từ in đậm bổ sung ý nghĩa. Hai chàng tâu hỏi đồ sính lễ cần sắm những gì, vua bảo: “Một trăm ván cơm nếp, một trăm nếp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi” Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức. (Thánh Gióng) Số từ Vị trí Danh từ được số từ bổ sung Ý nghĩa biểu thị của số từ Hai Đứng trước danh từ Chàng Biểu thị số lượng sự vật Một trăm Đứng trước danh từ Ván cơm nếp Biểu thị số lượng sự vật Một trăm Đứng trước danh từ Nếp bánh chưng Biểu thị số lượng sư vật Chín Đứng trước danh từ Ngà, cựa, hồng mao Biểu thị số lượng sư vật Sáu Đứng trước danh từ Hùng Vương Biểu thị thứ tự Một Đứng trước danh từ Đôi Biểu thị số lượng sự vật b) Tìm thêm từ có ý nghĩa khái quát như từ đôi Tá, cặp, vạn, muôn, mươi, chục. 2. Lượng từ a) So sánh nghĩa của các từ in đậm trong câu với nghĩa của số từ. […] Các hoàng tử phải cởi giáp xin hàng. Thạch Sanh sai dọn một bữa cơm thiết đãi những kẻ thua trận. Cả mấy vạn tướng lĩnh, quân sĩ thấy Thạch Sanh chỉ cho dọn vẻn vẹn có một niêu cơm nhỏ xíu, bĩu môi, không muốn cầm đũa. (Thạch Sanh) + Giống nhau: Số từ và lượng từ: Các, cả mấy, những, cùng biểu thị ý nghĩa chỉ lượng. + Khác nhau: Các, cả mấy, những biểu thị số lượng không cụ thể, có tính chất khái quát. + Những từ có ý nghĩa và công dụng tương tự: Tất cả, vô số, hàng vạn, muôn vàn. b) Xếp các từ in đậm vào mô hình cụm danh từ Phần trước Phần trung tâm Phần sau t2 t1 T1 T2 S1 S2 Các Hoàng tử Những kẻ Thua trận Cả Mấy vạn Tướng lĩnh III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Tìm số từ trong bài thơ sau. Xác định ý nghĩa của các số từ ấy. Một canh… hai canh… lại ba canh, Trằn trọc băn khoăn, giấc chẳng thành; Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt, Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh. (Không ngủ được – Hồ Chí Minh) + Số từ trong bài thơ trên là: Một, hai, ba, bốn, năm + Ý nghĩa: – Là số từ biểu thị số lượng sự vật (một, hai, ba) đứng trước danh từ. -Là số từ biểu thị thứ tự (bốn, năm) đứng sau danh từ. Tài liệu liên quan: Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12: Treo biển Lợn cưới áo mới Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12: Kể chuyện tưởng tượng – Viết bài tập làm văn số 3
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12_ Số từ và lượng từ
626
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12: Treo biển Lợn cưới áo mới Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 12: Treo biển Lợn cưới áo mới Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12: Treo biển Lợn cưới áo mới. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Treo biển I. Kiến thức cơ bản • Truyện cười: Loại truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống nhằm tạo ra tiếng cười mua vui hoặc phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội. • Truyện Treo biến: Mượn câu chuyện nhà hàng bán cá nghe ai “góp ý” về cái tên biển cũng làm theo, truyện tạo nên tiếng cười vui vẻ, có ý nghĩa phê phán nhẹ nhàng những người thiếu chủ kiến khi làm việc, không suy xét kĩ khi nghe ý kiến của người khác. II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Câu 1. Nội dung tấm biển đề treo ở cửa hàng (“Ở đây có bán cá tươi”) có mấy yếu tố? Vai trò của từng yếu tố? Nội dung tấm biển đề treo ở cửa hàng: Ở đây có bán cá tươi, có ba yếu tố: + Yếu tố 1: Ở đây — nói về địa điểm. + Yếu tố 2: Có bán -> nói về tính chất công việc giao dịch (bán khác nhau, hay chế biến). + Yếu tố 3: Cá -> nói về chủng loại mặt hàng. + Yếu tố 3: Cá tươi -> nói về chất lượng mặt hàng (tươi khác với ươn). Câu 2. Có mấy người “góp ý” về cái biển đề ở cửa hàng bán cá? Em có nhận xét gì về từng ý kiến? + Có bốn ý kiến: – Ý kiến thứ nhất: Nhà này xưa quen bán cá ươn hay sao mà bây giờ phải để biển bán cá tươi. => Ý kiến này đề nghị bỏ chữ tươi –> tức là bỏ mất thông báo về chất lượng mặt hàng – điều mà khách hàng quan tâm đầu tiên –> tấm biển còn lại: Ở đây có bán cá. – Ý kiến thứ hai: Người ta chẳng lẽ ra hàng hoa mua cá hay sao mà phải đề ở đây. => Ý kiến này đề nghị bỏ thêm từ ở đây tức là bỏ mất thêm một thông tin về địa điểm bán cá, thiếu địa điểm cụ thể, người mua sẽ rất lúng túng. Tấm biển chỉ còn: Có bán cá. – Ý kiến thứ ba: Ở đây chẳng bán cá thì bày cá ra để khoe hay sao mà phải đề là “có bán” – Ý kiến thứ tư: Chưa đi đến đầu phố đã ngửi mùi tanh, đến gần nhà thấy đầy cá, ai chẳng biết là bán cá, mà còn đề biển làm gì nữa. -> Với ý kiến thứ tư, thì tấm biển đã bị “hết đời”. + Cả bốn người góp ý đều vui vẻ chân tình, song các ý kiến của họ, thiên về lối bắt bẻ chữ nghĩa không có cơ sở khoa học – Từ một tấm biển đầy đủ thông tin về các phương diện bị xoá dần – xoá dần và mất hẳn. Câu 3. Đọc truyện này, những chi tiết nào làm em cười? Khi nào cái đáng cười được bộc lộ rõ nhất? Vì sao? + Đọc truyện này chi tiết làm ta buồn cười đó là thái độ của nhà hàng trước sự góp ý của mọi người. Nhà hàng không hề có sự suy nghĩ hay phản bác gì cả mà lại nhanh nhảu làm theo như một cái máy. + Nhưng buồn cười nhất là hành động cất đi cái biển của nhà hàng, vô lí đến thế mà nhà hàng vẫn làm theo. Câu 4. Ý nghĩa của truyện Truyện “Treo biển” đã tạo nên tiếng cười vui vẻ, có ý nghĩa phê phán nhẹ nhàng những người thiếu bản lĩnh, thiếu suy nghĩ độc lập khi làm việc, cũng như khi nghe người khác góp ý, nhận xét. (Theo Vũ Dương Quỹ – Lê Bảo – SĐD 6) III. Hướng dẫn luyện tập Nếu nhà hàng bán cá trong truyện nhờ em làm lại cái biển, em sẽ tiếp thu và phản bác những ý kiến của bốn người như thế nào, hoặc sẽ làm lại cái biển ra sao? + Nếu em là nhà hàng em có thấy rằng ý kiến của người thứ nhất là tạm chấp nhận được. Vì tấm biển dựng lên đã thay cho hai chữ ở đây rồi. Còn các góp ý hai, ba, bốn là không thể chấp nhận được. + Nếu làm lại tấm biển ta có thể đề như sau: Nhà hàng bán cá tươi. + Qua truyện này ta thấy rằng khi dùng từ phải đúng với sự vật, với nội dung cần diễn đạt. Lợn cưới, áo mới I. Kiến thức cơ bản Truyện Lợn cưới, áo mới chế giễu, phê phán những người có tính hay khoe của, một tính xấu khá phổ biến trong xã hội. II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản + Tính khoe của: Là một tính xấu, cố ý và tìm mọi cơ hội để làm cho người ta thấy, làm cho người ta biết mình là người giàu có. + Sự khoe của của anh đi tìm lợn – Đáng lẽ người khoe của trước phải là anh áo mới, nhưng anh ta chưa kịp phản ứng khi có người đi qua thì đã bị anh lợn cưới giành mất. – Anh đi tìm lợn đáng lẽ chỉ cần hỏi người ta: “Anh có thấy con lợn nào chạy qua đây không?”. Thế nhưng anh lại dùng từ lợn cưới là từ không thích hợp để chỉ con lợn bị sổng. Đây là dùng từ dư thừa có dụng ý → nhằm khoe cưới hơn là tìm lợn bị mất. Khoe mình sắp cưới vợ, khoe về cỗ linh đình. – Người thích khoe luôn tìm mọi cơ hội để khoe ngay cả lúc đang gấp rút, vội vã vẫn không quên điều đó. Câu 2. Anh áo mới thích khoe đến mức nào? Điệu bộ của anh ta khi trả lời có phù hợp không? Hãy phân tích yếu tố thừa trong câu trả lời của anh. + Tính thích khoe của anh áo mới hết sức quá đáng: Đứng ngay ở cửa để mọi người dễ nhìn thấy. – Đứng từ sáng đến chiều (Sự kiên trì hiếm có). => Khoe một chút cho vui thì được, còn cách khoe của anh này đến mức bất bình thường -> trở thành như một thứ bệnh: Bệnh khoe. + Điệu bộ khi trả lời: – Giơ ngay vạt áo ra: “Từ lúc tôi mặc cái áo mới này chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả”. – Thừa trong cả lời nói và thừa trong cả hành động → Sự dư thừa ấy có chủ đích tìm cách khoe chiếc áo mới của mình mà anh đã chờ từ sáng đến chiều mới có người để khoe. – Mặc dù bị anh lợn cưới nẫng tay trên trước, nhưng anh áo mới cũng đã tỏ ra là một cao thủ già dặn với hành động giơ áo, và câu trả lời: “Từ lúc mặc cái áo mới này” anh đã lật ngược ván cờ một cách bất ngờ, nhanh chóng gỡ hoà với đối thủ của mình một cách ngoạn mục. Câu 3. Đọc “Lợn cưới, áo mới” vì sao em lại cười? + Đọc “Lợn cưới, áo mới” chúng ta cười vì tính thích khoe của một cách quá đáng của hai nhân vật. + Cười còn bởi vì tình huống truyện hết sức lí thú hấp dẫn, để cho hai đối thủ thích khoe chạm trán nhau trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt. + Câu chuyện đã đưa đến cho người đọc tiếng cười vui vẻ, sảng khoái sau ngày lao động mệt nhọc. + Phê phán những kẻ có tính hay khoe của một cách lố bịch, thái quá, dẫn đến hậu quả chỉ làm trò cười cho thiên hạ. III. Tư liệu tham khảo Ý nghĩa độc đáo của cái cười là ở chỗ, nó nâng con người cao hơn hoàn cảnh. Với thói hư tật xấu, khi ta cười nó, ta đứng ở vị trí bên trên nó. Như vậy cái cười, ở chiều sâu của nó, dường như đang có một cái gốc là những cảm xúc thấm đượm chất nhân văn – đó là sự nhiệt tình bảo vệ thống thiết con người, niềm mong muốn con người sống tốt hơn, đẹp hơn. (Theo Đỗ Bình Trị – Truyện cười và phân tích truyện cười) Nụ cười, tiếng cười là biểu hiện cảm xúc tự nhiên, hồn nhiên của con người trong cuộc sống. Ngoài những trường hợp đặc biệt, cười ra nước mắt, cười cay đắng đau khổ, đa số chúng ta khi vui, hay bắt gặp một việc gì, nhìn thấy điều gì ngược đời, chướng mắt thì cất tiếng cười. Trong kho tàng Văn học dân gian cha ông ta đã sáng tác cả một rừng cười, gọi là truyện tiếu lâm. Truyện cười ấy, rừng cười ấy là muôn vàn hoa lá khác nhau. Có truyện cười vui hóm hỉnh, xuề xoà để xoá đi những mệt nhọc trong lao động. Có truyện sâu cay châm biếm để chế giễu phê phán thói hư tật xấu, hoặc đả kích kẻ thù. (Theo Vũ Dương Quỹ – Lê Bảo – Bình giảng văn 6) Lợn cưới, áo mới là một truyện cười ngắn gọn nhưng hay và thú vị. Tình huống gây cười đặc sắc, kịch tính cao, cách dẫn truyện khéo, kết thúc đột ngột bất ngờ – tất cả đã làm cho tiếng cười bật ra giòn giã, sảng khoái, để phê phán một cách nhẹ nhàng thấm thía cái tính hay khoe của người đời. Nó xứng đáng là một trong những truyện cười vào loại hay nhất trong kho tàng truyện dân gian nước ta. (Theo Nguyễn Xuân Lạc – Hướng dẫn tự học ngữ văn 6) Mời các bạn tham khảo tài liệu liên quan bài Ngữ văn 6 bài 12 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12: Kể chuyện tưởng tượng – Viết bài tập làm văn số 3 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12: Số từ và lượng từ
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 12_ Treo biển Lợn cưới áo mới
1,732
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 13: Ôn tập truyện dân gian – Chỉ từ Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 13: Ôn tập truyện dân gian – Chỉ từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 13: Ôn tập truyện dân gian – Chỉ từ. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Bài 13 Ôn tập truyện dân gian Chỉ từ Ôn tập truyện dân gian Thể loại Định nghĩa Đặc điểm nội dung Đặc điểm nghệ thuật Các truyện đã đọc Truyền thuyết Loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo. Truyền thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện lịch sử và nhân vật được kể lại Đề cập đến hai nội dung lớn: – Cuộc đấu tranh chống tự nhiên để lao động sản xuất bảo vệ cộng đồng – Cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. – Yếu tố kì ảo hoang đường đan xen với yếu tố lịch sử. – Con Rồng, cháu tiên – Thánh Gióng – Sơn Tinh, Thủy Tinh – Sự tích Hồ Gươm Cổ tích Loại truyện dân gian kể về cuộc đời của một số kiểu nhân vật quen thuộc; nhân vật bất hạnh, nhân vật dũng sĩ và nhân vật có tài năng kì lạ; nhân vật thông minh và nhân vật ngốc nghếch; nhân vật là động vật. Truyện cổ tích thường có yếu tố hoang đường, thể hiện ước mơ, niềm tin của nhân dân về chiến thắng cuối cùng của cái thiện đối với cái ác, cái tốt đối với cái xấu, sự công bằng đối với sự bất công. Phản ánh nhiều vấn đề trong cuộc sống, nhưng chủ yếu là vấn đề quan hệ xã hội, đấu tranh giai cấp; thiện – ác, tốt – xấu, giai cấp thống trị – và nhân dân lao động Sử dụng nhiều yếu tố kì ảo, hoang đường làm cho truyện thêm li kì, hấp dẫn, và để cho câu chuyện kết thúc như mơ ước của mọi người. (Nhân vật kì ảo, đồ vật kì ảo, con vật kì ảo) – Sọ Dừa – Thạch Sanh – Em bé thông minh – Cây bút thần – Ông lão đánh cá và con cá vàng Ngụ Ngôn Lọa truyện kể bằng văn xuôi hoặc văn vần, mượn chuyện về loài vật, đồ vật hoặc về chính con người để nói bóng gió kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống. Qua câu chuyện người xưa muốn răn dạy về một bài học trong cuộc sống. – Thường dùng yếu tố ẩn dụ, nhân hóa – Dùng phương pháp tưởng tượng – Truyện thường ngắn, kết thúc bất ngờ. – Ếch ngồi đáy giếng – Thầy bói xem voi – Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng – Đeo nhạc cho mèo Truyện cười Loại truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống nhằm tạo ra tiếng cười mua vui hoặc phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội – Phê phán những điều trái với tự nhiên, những thói hư tật xấu của người đời. – Thể hiện nhân đức và thái độ của người nghe. – Có kết cấu ngắn ngọn, bất ngờ – Sử dụng yếu tố phóng đại để gây cười mua vui – Lợn cưới, áo mới – Treo biển I. Kiến thức cơ bản Chỉ từ là những từ dùng để trỏ vào sự vật, nhằm để xác định vị trí sự vật trong không gian hoặc thời gian. Chỉ từ thường làm phụ ngữ trong cụm danh từ. Ngoài ra chỉ từ còn có thể làm chủ ngữ hoặc trạng ngữ trong câu. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Chỉ từ là gì? a) Các từ in đậm trong câu sau bổ sung ý nghĩa cho từ nào? Ngày xưa có ông vua nọ sai một viên quan đi dò la khắp nước tìm người tài giỏi. Viên quan ấy đã đi nhiều nơi, đến đâu quan cũng ra những câu đố oái oăm để hỏi mọi người. Đã mất nhiều công tìm kiếm nhưng viên quan vẫn chưa thấy có người nào thật lỗi lạc. Một hôm, viên quan đi qua một cánh đồng làng kia, chợt thấy bên vệ đường có hai cha con nhà nọ đang làm ruộng […] (Em bé thông minh) + Từ ấy bổ nghĩa cho từ viên quan. + Từ kia bổ sung cho từ làng. + Từ nọ bổ nghĩa cho từ nhà. b) So sánh cụm từ + ông vua/ông vua nọ Từ nọ bổ nghĩa cho từ ông vua – giúp xác định vị trí của ông vua được cụ thể hơn. + viên quan/viên quan ấy Từ “ấy” là phụ ngữ trong cụm danh từ nhằm xác định vị trí của viên quan, giúp phân biệt viên quan này và những viên quan khác. Từ “kia” làm phụ ngữ cho danh từ làng – nhằm xác định vị trí của ngôi làng trong không gian. + nhà/nhà nọ Từ “nọ” làm phụ ngữ cho danh từ nhà nhằm xác định vị trí của ngôi nhà trong không gian, phân biệt ngôi nhà nọ với những ngôi nhà khác. c) Nghĩa của các từ ấy, nọ trong những câu đã phân tích so với nghĩa của từ ấy, nọ trong câu sau: Hồi ấy, ở Thanh Hoá có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ. + Từ ấy, nọ trong câu này nhằm xác định vị trí của sự vật trong thời gian, còn những câu trên xác định vị trí của vật trong không gian. + Xét về hoạt động trong câu, từ ấy, nọ → làm trạng ngữ trong câu, còn ở những câu trên từ ấy, nọ làm phụ nữ trong cụm danh từ. 2. Hoạt động của chỉ từ trong câu a) Trong các câu đã dẫn ở phần 1 chỉ từ đảm nhận chức vụ là: + Phụ ngữ danh từ (câu a, b). + Trạng ngữ trong câu (câu c). b) Tìm chỉ từ trong câu, và xác định chức vụ của chúng trong câu + Cuộc chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta dù phải gian khổ hi sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn. (Hồ Chí Minh) – Chỉ từ trong câu trên: Đó – Chức vụ trong câu: Chủ ngữ. + Từ đấy, chăm nghề trồng trọt chăn nuôi và có tục ngày tết làm bánh chưng, bánh giầy. (Bánh chưng, bánh giầy) – Chỉ từ trong câu trên: Đấy – Chức vụ trong câu: Trạng ngữ chỉ thời gian III. Hướng dẫn lập nghiệp Câu 1. Tìm chỉ từ trong những câu sau đây. Xác định ý nghĩa và chức vụ của các chỉ từ ấy. a) Vua cha xem qua một lượt rồi dừng lại trước chồng bánh chưng của Lang Liêu, rất vừa ý, bèn gọi lên hỏi. Lang Liêu đem giấc mơ gặp thần ra kể lại. Vua cha ngẫm nghĩ rất lâu rồi chọn hai thứ bánh ấy đem tế Trời, Đất cùng Tiên Vương. (Bánh chưng, bánh giầy) + Chỉ từ trong câu trên là: Ấy + Ý nghĩa: Xác định sự vật trong không gian phân biệt bánh của Lang Liêu với những thứ khác. + Chức vụ: Làm phụ ngữ cho cụm danh từ: Hai thứ bánh. Đấy hoa thiên lí, đây sen Tây Hồ. (Ca dao) + Chỉ từ trong câu thơ: Đấy – đây + Ý nghĩa: Xác định vị trí của người được nói tới trong không gian. + Chức năng: Làm chủ ngữ trong câu. c). Nay ta đưa năm mươi người con xuống biển, nàng đưa năm mươi người con lên núi, chia nhau cai quản các phương. (Con Rồng, cháu Tiên) + Chỉ từ trong câu là: Nay + Ý nghĩa: Xác định sự vật trong thời gian. + Chức năng: Trạng ngữ chỉ thời gian. d) Từ đó nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng. (Sự tích Hồ Gươm) + Chỉ từ trong câu là: Đó + Ý nghĩa: Xác định vị trí của vật trong thời gian. + Chức năng: Trạng ngữ chỉ thời gian. Câu 2. Thay các cụm từ in đậm dưới đây bằng những chỉ từ thích hợp và giải thích vì sao cần thay như vậy. a) Giặc tan vỡ. Đám tàn quân giẫm đạp lên nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc. Đến chân núi Sóc, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa bây lên trời. (Thánh Gióng) + Ta thay thế cụm từ: Chân núi Sóc – bằng từ đó + Lí do: Thay thế như vậy câu văn sẽ gọn hơn, tránh lặp lại không cần thiết. b). Người ta còn nói khi ngựa thét ra lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng bị lửa thiêu cháy về sau gọi là làng Cháy. (Thánh Gióng) + Ta thay thế cụm từ: Bị lửa thiêu cháy bằng từ ấy. + Lí do: Tránh câu văn dài dòng, ý gọn hơn. Câu 3. Có thể thay thế các chỉ từ trong đoạn dưới đây bằng những từ hoặc cụm từ nào không? Rút ra nhận xét về tác dụng của chỉ từ Năm ấy, đến lượt Lý Thông nộp mình. Mẹ con hắn nghĩ kế lừa Thạc Sanh chết thay. Chiều hôm đó, chờ Thạch Sanh kiếm củi về, Lý Thông dọn một mâm rượu thịt ê hề mời ăn, rồi bảo: – Đêm nay, đến phiên anh canh miếu thờ, ngặt vì dở cất mẻ rượu, em chịu khó thay anh, đến sáng thì về. (Thạch Sanh) + Chỉ từ trong đoạn văn trên là: Ấy, nay + Các chỉ từ này ta không thể tìm được cụm từ thay thế. Có những chỉ từ ta có thể dùng cụm từ thay thế, có những chỉ từ không thể tìm được cụm từ thay thế
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 13_ Ôn tập truyện dân gian – Chỉ từ
1,655
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 14: Con Hổ có nghĩa Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 14: Con Hổ có nghĩa Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 14: Con Hổ có nghĩa. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Bài 14 Con hổ có nghĩa Động từ Cụm động từ Trả bài tập làm văn số 3 Con Hổ có nghĩa I. Kiến thức cơ bản Xuất xứ: Con hổ có nghĩa và thầy thuốc giỏi cốt ở tấm lòng là truyện trung đại được tính từ thế kỉ thứ X đế cuối thế kỉ XIX. Thể loại truyện văn xuôi chữ Hán đã ra đời có nội dung phong phú và thường mang tính chất giáo huấn, có cách viết không giống hẳn với truyện hiện đại. Ở đây vừa có loại truyện hư cấu (tưởng tượng nghệ thuật) vừa có loại truyện gần với kí (ghi chép sự việc) với sử (ghi chép chuyện thật) cốt truyện hầu hết còn đơn giản. Nhân vật thường được miêu tả qua ngôn ngữ trực tiếp của người kể chuyện, qua hành động và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật. Truyện Con hổ có nghĩa thuộc loại truyện hư cấu, trong đó dùng biện pháp nghệ thuật quen thuộc là mượn chuyện loài vật để nói chuyện con người nhằm đề cao ân nghĩa trong đạo làm người Câu 1. Văn bản này thuộc thể văn gì? Có mấy đoạn? Mỗi đoạn nói gì? + Văn bản này thuộc loại văn tự sự – truyện kể thời trung đại + Truyện có hai đoạn: – Đoạn 1 – Kể chuyện giữa một con hổ và một bà đỡ – Đoạn 2 – Kể chuyện giữa một con hổ và bác tiều phu – Hỗ đã trả ơn cứu mạng cho bác tiều phu bằng 1 con nai – So với chuyện con hổ và bà đỡ Trần ở đoạn một, ta thấy ở đây có thêm ý nghĩa mới. Con hổ trán trắng rất tình nghĩa và có tình cảm ân nghĩa thủy chung sâu sắc giống như con người. Khi bác tiều phu mất nó tới dụi đầu vào quan tài, gầm lên, chạy chung quanh như để nói lời tiễn biệt. Rồi hàng năm hổ còn mang dê hoặc mang lợn đến để giỗ bác.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 14_ Con Hổ có nghĩa
416
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18: Bài học đường đời đầu tiên Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 18: Bài học đường đời đầu tiên Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18: Bài học đường đời đầu tiên. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Bài học đường đời đầu tiên Tô Hoài I. Kiến thức cơ bản • Tác giả: Nhà văn Tô Hoài tên khai sinh là Nguyễn Sen, sinh năm 1920, lớn lên ở quê ngoại Hà Đông – Hà Nội. Ông viết văn từ trước Cách mạng tháng Tám 1945. Số lượng sáng tác của ông rất phong phú và đa dạng, gồm nhiều thể loại. • Tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí” được in đầu năm 1941 là tác phẩm đặc sắc và nổi tiếng nhất của Tô Hoài viết về loài vật dành cho lứa tuổi thiếu nhi. Truyện gồm mười chương kể về những cuộc phiêu lưu của Dế Mèn qua thế giới những loài vật nhỏ bé. Vốn quen sống độc lập từ thuở bé, khi trưởng thành, chán cảnh sống quẩn quanh bên bờ ruộng, Dế Mèn lên đường phiêu lưu để mở rộng hiểu biết và tìm ý nghĩa cuộc sống cho mình. Dế Mèn đã đi qua nhiều nơi, gặp gỡ nhiều loài, thấy nhiều cảnh sống và cũng nhiều phen gặp gian nan nguy hiểm, nhưng Dế Mèn không nản chí lùi bước. Dế Mèn là hình ảnh đẹp của tuổi trẻ, ham hiểu biết, trọng lẽ phải, khát khao lí tưởng và quyết tâm hành động cho những mục đích cao đẹp. Bài văn miêu tả Dế Mèn có vẻ đẹp cường tráng của tuổi trẻ, nhưng tính nết còn kiêu căng xốc nổi. Do bày trò trêu chọc Cốc nên đã gây ra cái chết thảm thương cho Dế Choắt, Dế Mèn hối hận và rút ra được bài học đường đời cho mình. Nghệ thuật miêu tả loài vật của Tô Hoài rất sinh động, cách kể chuyện theo ngôi thứ nhất tự nhiên, hấp dẫn, ngôn ngữ chính xác, giàu tính tạo hình. II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Câu 1. Kể tóm tắt đoạn trích và cho biết truyện được kể bằng lời của nhân vật nào? Bài văn có thể chia làm mấy đoạn? Nội dung chính của mỗi đoạn? a) Tóm tắt đoạn trích Dế Mèn cậy mình có sức khoẻ, đẹp mã hơn người, nên hay khoe mẽ, gây gổ, cà khịa với tất cả bà con trong xóm: Quát chị Cào Cào, ghẹo anh Gọng Vó… hung hăng, hống hách. Nhưng mọi người vị nể và không cố chấp. Dế Mèn lại càng tưởng mình ghê gớm đứng đầu thiên hạ. Cho đến lần Dế Mèn nảy ra ý định trêu chọc chị Cốc. Dế Mèn rủ Dế Choắt cùng tham gia, nhưng Choắt từ chối và hết sức can ngăn nhưng Dế Mèn không chịu nghe theo. Chị Cốc hiểu lầm Dế Choắt là người trêu chọc chị nên đã mổ những vố như dùi sắt vào Dế Choắt. Dế Choắt bị chết oan. Dế Mèn vô cùng ân hận, đứng bên mộ Dế Choắt suy nghĩ về bài học đường đời đầu tiên của mình. Trong đoạn văn này, lời kể của nhân vật chính – Dế Mèn – kể ở ngôi thứ nhất (nhân vật xưng tôi). Lời kể chân thành, thể hiện trung thực sự ăn năn, hối lỗi của Dế Mèn. Tạo sự gần gũi giữa người kể và người đọc. c) Bố cục: gồm có 2 đoạn – Đoạn 1: Từ đầu đến “… không thể làm lại được”: Một chú dế cường tráng và kiêu ngạo. – Đoạn 2: Phần còn lại: Bài học đầu tiên về đường đời. Câu 2. Đọc kĩ lại đoạn văn từ đầu đến sắp đứng đầu thiên hạ rồi và ghi lại các chi tiết miêu tả Dế Mèn. Tìm một số tính từ miêu tả thay thế, rút ra nhận xét về cách dùng từ của tác giả; nhận xét về tính cách của Dế Mèn trong đoạn văn. a) Các chi tiết miêu tả ngoại hình và hành động của Dế Mèn * Ngoại hình: – Đôi càng ngẫm bóng. – Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt. – Cái áo dài kín xuống tới tận chấm đuôi. – Cả người một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn. – Đầu to và nổi từng tảng rất bướng. – Hai cái răng đen nhánh và lúc nào cũng nhai ngoằm ngoặp. – Sợi râu dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng. => Ngoại hình của Dế Mèn được khắc hoạ rất sinh động. Đây là một chú dế rất đẹp và có sức vóc hơn người bởi: Sự sang trọng của bộ cánh, sự oai vệ của bộ râu, sự lợi hại của đôi càng, sự cường tráng của cơ thể giống như một võ sĩ oai phong. – Co cẳng đạp phanh phách vào các ngọn cỏ, làm cho những ngọn cỏ gãy rạp như có dao cắt. – Mỗi khi tôi vũ lên nghe tiếng phành phạch giòn giã. – Đi đứng oai vệ dún dẩy các khoeo, chân rung lên rung xuống hai chiếc râu, chốc chốc lại trịnh trọng khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu. – Cà khịa với tất cả mọi người trong xóm. – Quát mấy chị Cào Cào. – Ngứa chân đá một cái ghẹo anh Gọng Vó đang ngơ ngác từ dưới đầm lên. => Những hành động của Dế Mèn vừa thể hiện sự dũng mãnh, vừa thể hiện sự kiêu căng tự phụ của một kẻ tưởng mình đứng đầu thiên hạ, cái tính xốc nổi của tuổi trẻ hay ảo tưởng về bản thân. * Trình tự miêu tả của đoạn văn Miêu tả từ bên ngoài đến bản chất bên trong, từ ngoại hình đến tính cách. b) Tìm tính từ thay thế – mẫm bóng = to mập, nhẵn bóng nhọn hoắt = nhọn như mũi giáo ngắn hẳn hoẳn = ngắn tun ngủn, ngắn cũn đen nhánh = rất đen, đen muột uốn cong = cong lên hùng dũng = oai vệ, hùng hổ bóng mỡ = bóng nhẫy Bướng = cứng đầu – Nhận xét: cách dùng từ của tác giả rất chính xác, sinh động, giàu sức gợi cảm, những từ đồng nghĩa mà ta tìm để thay thế không thể nào bằng được, làm dở câu văn đi. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18: Phó từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18: Tìm hiểu chung về văn miêu tả
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18_ Bài học đường đời đầu tiên
1,124
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18: Phó từ Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 18: Phó từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18: Phó từ. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Phó từ I. Kiến thức cơ bản • Phó từ là những từ chuyên đi kèm động từ, tính từ để bổ sung ý nghĩa cho động từ, tính từ. Phó từ gồm hai loại lớn: • Phó từ đứng trước động từ, tính từ. Những phó từ này thường bổ sung một số ý nghĩa liên quan đến hành động, trạng thái, đặc điểm, tính chất nêu ở động từ hoặc tính từ như: Quan hệ thời gian; mức độ, sự tiếp diễn tương tự; sự phủ định; sự cầu khiến. • Phó từ đứng sau động từ, tính từ. Những phó từ này thường bổ sung một số ý nghĩa như: Mức độ; khả năng; kết quả và hướng. II. Tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Phó từ là gì? Câu 1. Tìm ý nghĩa bổ sung cho các từ in đậm. a) Viên quan ấy đã đi rất nhiều nơi, đến đâu quan cũng ra những câu đố oái ăm để hỏi mọi người, tuy mất nhiều công mà vẫn chưa thấy có người nào thật lỗi lạc. (Em bé thông minh) b) Lúc tôi đi bách bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn. Đầu tôi to ra nổi từng tảng rất bướng. (Tô Hoài – Dế Mèn phiêu lưu kí) – Từ “đã” bổ sung cho động từ “đi” – Phó từ chỉ quan hệ thời gian. – Từ cũng bổ sung cho các từ những câu đố – phó từ chỉ sự tiếp diễn. – Từ vẫn chưa bổ sung cho động từ thấy – phó từ chỉ tương tự phủ định. – Từ thật bổ sung cho tính từ lỗi lạc – phó từ chỉ mức độ. Câu b) – Từ được bổ sung cho từ soi gương – phó từ chỉ khả năng. – Từ rất bổ sung cho từ ưa nhìn – phó từ chỉ mức độ. – Từ ra bổ sung cho từ to – phó từ chỉ kết quả. – Từ rất bổ sung cho từ bướng – phó từ chỉ mức độ. Câu 2. Về mặt vị trí, chúng đứng trước hoặc sau động từ hoặc tính từ. – Đứng trước động từ, tính từ: Đã, cũng, vẫn chưa, thật, rất. – Đứng sau động từ, tính từ: Được, ra. 2. Các loại phó từ Câu 1: Tìm các phó từ bổ sung ý nghĩa cho những động từ, tính từ in đậm. a) Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. (Tô Hoài) – Từ lắm là phó từ bổ sung cho tính từ chóng. b) Em xin vái anh cả sáu tay. Anh đừng trêu vào… Anh phải sợ… (Tô Hoài) – Từ đừng là phó từ bổ sung cho động từ trêu. c) […] không trông thấy tôi, nhưng chị Cốc đã trông thấy Dế Choắt đang loay hoay trong cửa hang. – Từ không là phó từ bổ sung ý nghĩa cho động từ trông thấy. – Từ đã là phó từ từ bổ sung ý nghĩa cho từ trông thấy. Câu 2 + 3: Điền các phó từ đã tìm thấy ở phần 1 và phần 2 theo bảng mẫu (Từ in nghiêng phần tìm bổ sung). Phó từ đứng trước Phó từ đứng sau Chỉ quan hệ thời gian Đã, đang, mới, vừa, sắp Chỉ mức độ Thật, rất, quá Quá, lắm Chỉ sự tiếp diễn tương tự Cũng, còn, đều, cứ Chỉ sự phủ định Vẫn, không, chưa, chẳng Chỉ sự cầu khiến Đừng, phải, hãy, chớ Chỉ kết quả và hướng Ra, rồi, xong, lên, xuống Chỉ khả năng Được III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP Câu 1. Tìm phó từ trong những câu sau đây và cho biết mỗi phó từ bổ sung cho động từ, tính từ ý nghĩa gì? a) Thế là mùa xuân mong ước đã đến. Đầu tiên, từ trong vườn, mùi hoa hồng, hoa huệ sực nức. Trong không khí không còn ngửi thấy hơi nước lạnh lẽo mà bây giờ đây hương thơm và ánh sáng mặt trời. Cây hồng bì đã cởi bỏ hết những cái áo lá già đen thủi. Các cành cây đều lấm tấm màu xanh. Những cành xoạn khẳng khiu đương trổ lá lại sắp buông toả ra những tàn hoa sang sáng, tim tím. Ngoài kia, rặng dâm bụt cũng sắp có nụ. Mùa xuân xinh đẹp đã về! Thế là các bạn chim đi tránh rét cũng sắp về! (Tô Hoài) b) Quả nhiên con kiến càng đã xâu được sợi chỉ xuyên qua đường ruột ốc hộ cho nhà vua trước con mắt thán phục của sứ giả nước láng giềng. (Em bé thông minh) * Đoạn a: – Phó từ đã bổ sung ý nghĩa thời gian cho động từ đến. – Phó từ không có ý nghĩa phủ định bổ sung cho động từ ngửi. – Phó từ đã bổ sung ý nghĩa thời gian cho động từ cởi bỏ. – Phó từ hết bổ sung ý nghĩa kết quả cho động từ cởi bỏ. – Phó từ đều bổ sung ý nghĩa kết quả cho động từ lấm tấm. Phó từ đương bổ sung ý nghĩa thời gian cho động từ trổ la. Phó từ sắp bổ sung ý nghĩa khả năng cho động từ buông toả. – Phó từ sắp bổ sung ý nghĩa khả năng cho động từ có. – Phó từ đã bổ sung ý nghĩa thời gian cho động từ về. – Phó từ cũng bổ sung ý nghĩa tiếp diễn cho động từ về. * Đoạn b: – Phó từ đã bổ sung ý nghĩa thời gian cho động từ xâu. – Phó từ được bổ sung ý nghĩa khả năng cho động từ xâu. Câu 2. Thuật lại việc Dế Mèn trêu chị Cốc dẫn đến cái chết thảm thương của Dế Choắt bằng một đoạn văn ngắn (từ ba đến năm câu). Chỉ ra một phó từ trong đoạn văn ấy và cho biết em dùng phó từ để làm gì? Một hôm vừa trông thấy chị Cốc đứng rỉa lông, chùi mép ở gần hang. Dế Mèn rủ Dế Choắt trêu chị Cốc, nhưng Dế Choắt sợ hãi từ chối. Dế Mèn trêu chị Cốc xong chui tọt xuống hang nằm trốn. Chị Cốc tưởng nhầm là Dế Choắt nên đã mổ Dế Choắt bị trọng thương. Dế Choắt sức yếu chịu không nổi nên đã chết. Dế Mèn vô cùng ân hận vì hành động ngông cuồng và quá dại dột của mình. Trong đoạn văn trên những từ in đậm là phó từ. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18: Bài học đường đời đầu tiên Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18: Tìm hiểu chung về văn miêu tả
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18_ Phó từ
1,149
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18: Tìm hiểu chung về văn miêu tả Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 18: Tìm hiểu chung về văn miêu tả Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18: Tìm hiểu chung về văn miêu tả. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Tìm hiểu chung về văn miêu tả I. Kiến thức cơ bản • Văn miêu tả là loại căn nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung được những đặc điểm, tính chất nổi bật, đặc sắc của một sự vật, sự việc, con người, phong cảnh… làm cho những cái đó như hiện lên trước mắt người đọc, người nghe. • Trong văn miêu tả năng lực quan sát của người viết, người nói thường bộc lộ rõ nhất. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Thế nào là văn miêu tả? Câu 1. Đọc và suy nghĩ về các tình huống. – Tình huống 1: Tả con đường và ngôi nhà của em. Tả con đường cần chú ý: Quãng đường dài bao nhiêu? Qua mấy ngã tư, ngã ba, kẹo trái hay kẹo phải? Đường rộng hay hẹp, bao nhiêu mét? Đường nhựa, đường bê tông hay đường đất? Hai bên đường có gì đặc biệt? Tả ngôi nhà cần có: Nhà nằm ở phía bên tay trái hay tay phải? Nhà trệt hay nhà lầu? Lợp ngói hay lợp tôn? Cổng vào nhà màu gì? Có trồng cây gì trước nhà không? Nếu nhà phố thì số nhà bao nhiêu? – Tình huống 2: Tả chiếc áo mà em cần mua. + Vị trí: Chiếc áo nằm ở đâu? Trên cao, dưới thấp, ở giữa hay bên góc. + Màu sắc: Đỏ, trắng, xanh, vàng… hay là phối hợp nhiều màu. + Loại áo, kiểu áo: Sơ mi, hay áo phông, có cổ hay không cổ, dài tay hay ngắn tay… + Độ tuổi? Cao hay thấp? + Các cơ bắp trên cơ thể? + Sức lực như thế nào? Mang nặng được bao nhiêu? – Các tình huống khác: + Tả lại con mèo nhà em cho người bạn thích nuôi mèo. + Mẹ em vừa mua một cây mai để chưng tết. Tả lại cây mai đó cho bà nội em biết. + Tả lại không khí và quang cảnh trường em ngày khai giảng năm học mới cho một bạn ở xa biết. + Tả lại cánh đồng lúa vào mùa gặt.. Câu 2. Hai đoạn văn miêu tả Dế Mèn và Dế Choắt trong văn bản “Bài học đường đời đầu tiên” là”: – Đoạn miêu tả Dế Mèn: Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. Chẳng bao lâu, tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Đôi càng tôi mẫm bóng. Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt. Thỉnh thoảng, muốn thử sự lợi hại của những chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ. Những ngọn cỏ gẫy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua. Đôi cánh tôi, trước kia ngắn hủn hoẳn, bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi. Mỗi khi tôi vũ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã. Lúc tôi đi bách bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được là rất ưa nhìn. Đầu tôi to ra và nổi từng tảng, rất bướng. Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc. Sợi râu tôi dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng. Tôi lấy làm hãnh diện với bà con về cặp râu ấy lắm. Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu. – Đoạn miêu tả Dế Choắt Cái chàng Dế Choắt người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc phiện. Đã thanh niên rồi mà cánh chỉ ngắn củn đến giữa lưng, hở cả mạng sườn như người cởi trần mặc áo gi lê. Đôi càng bè bè nặng nề, trông đến xấu. Râu ria gì mà cụt có một mẩu và mặt mũi lúc nào cũng ngẩn ngẩn ngơ ngơ. Đã vậy tính rất lại ăn xổi ở thì (thật chỉ vì đau ốm luôn, không làm được) có một cái hang ở cũng chỉ bới nông sát mặt đất, không biết đào sâu rồi khoét ra nhiều ngách như hang tôi. + Dế Mèn khoẻ mạnh, cường tráng. + Dế Choắt nhỏ bé, gầy còm, ốm yếu. – Những phương diện miêu tả giúp ta nhận rõ điều đó về hai chú dế: Hình dáng, đôi cánh, đội càng, bộ râu, tính tình. III. Hướng dẫn luyện tập. Câu 1. Đọc kĩ các đoạn văn sau và trả lời câu hỏi. Mỗi đoạn văn trên tái hiện điều gì? Chỉ ra những đặc điểm nổi bật về sự vật, con người, quang cảnh đã định miêu tả trong ba đoạn trên. Đoạn 1: Tả về con vật + Tái hiện lại hình dáng Dế Mèn. + Đặc điểm nổi bật: Sự cường tráng của một chú dế thanh niên, sự cường tráng đó được tập trung thể hiện ở đôi càng và cái vuốt ở chân. Đoạn 2: Tả về con người + Tái hiện hình ảnh chú bé Lượm (Em bé làm liên lạc). + Đặc điểm nổi bật: Sự hồn nhiên trong sáng trong tuổi đời và sự nhanh nhẹn tháo vát trong công việc. Đoạn 3: Tả quang cảnh + Tái hiện cảnh sinh hoạt của loại chim sống ở ao hồ sau cơn mưa. + Đặc điểm nổi bật: Sự sôi động, ồn ào của không khí kiếm ăn của các loài chim. Câu 2. Đặc điểm nổi bật của đoạn văn miêu tả cảnh mùa đông và tả khuôn mặt của người mẹ. a) Tả mùa đông * Những đặc điểm cần chú ý: – Bầu trời nhiều mây. – Khí hậu lạnh lẽo, ẩm ướt. – Cây cối già cỗi, trơ trụi lá. – Sinh hoạt của con người.. * Đoạn văn tham khảo: […] Bố tôi bảo chưa có mùa đông nào lạnh ghê gớm như năm nay. Quả thật mấy ngày nay không gian chỉ toàn màu xám xịt. Gió cuộn thành từng luống bàng bạc, cuốn theo bao nhiêu là đất bụi và lá rụng đã queo quắt màu nâu xỉn. Con đường làng phía xa lấp ló trong sương mù. Thỉnh thoảng lại nghe có tiếng cành cây gãy răng rắc. Một cơn gió lùa qua khe cửa mang thêm cái lạnh giá khiến tôi rùng mình dù đã mặc áo ấm và đang đứng trong nhà. (Lê Huyền Trang – Trường THCS Hải Dương) b) Tả người mẹ * Những đặc điểm cần chú ý – Khuôn mặt – Dáng người, độ tuổi – Nụ cười, ánh mắt – Việc làm của mẹ, cử chỉ, tính tình. * Đoạn văn tham khảo: Là một kiến trúc sư mới ngoài bốn mươi tuổi, nhưng mẹ được coi là người có năng lực trong một công ty xây dựng của thủ đô. Khuôn mặt của mẹ khắc khổ, người thấp đậm vững chắc. Mẹ nói những cô gái vùng chiêm trũng như mẹ đều phải gánh và đội nặng từ rất sớm. Cuộc sống của họ là sự vật lộn với đất đai và mưa nắng của quê hương. Có lẽ vì vậy mà mẹ sớm rèn được sự rắn rỏi và tự chủ cao. Bù lại đó, mẹ em có cái miệng nhỏ và tươi tắn, đôi mắt đen chan chứa tình cảm. Ở mẹ toát ra sự gần gũi và tin yêu. Nơi nhà em ở ai cũng quý mẹ em vì mẹ rất sẵn lòng giúp đỡ và chia sẻ với mọi người sự thiếu thốn về vật chất hay nỗi buồn khổ về tinh thần. (Đỗ Hạnh Nguyên – Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Hà Nội) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18: Phó từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18: Bài học đường đời đầu tiên
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 18_ Tìm hiểu chung về văn miêu tả
1,364
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19: Quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả Hướng dẫn Bài 19: Quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19: Quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, giúp các bạn thuận tiện hơn trong quá trình học bài và chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo. Quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả I. Kiến thức cơ bản Muốn miêu tả được, trước hết ta phải biết quan sát, rồi từ đó nhận xét, liên tưởng, tưởng tượng, ví von, so sánh… để làm nổi bật lên những đặc điểm tiêu biểu của sự vật. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phân bài học 1. Đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi. Đoạn 1: “Cái chàng Dế Choắt, người gầy gò… mặt mũi lúc nào cũng ngẩn ngẩn ngơ ngơ”. (Tô Hoài) – Đoạn văn giúp ta hình dung được dáng hình nhỏ bé, gầy yếu, xấu xí của chú Dế Choắt. – Những từ ngữ nổi bật: Gầy gò, lêu nghêu, ngắn cũn, cụt có một mẩu, ngẩn ngẩn ngơ ngơ » từ ngữ gợi hình sinh động. – Nhà văn đã miêu tả, quan sát Dế Choắt từ dáng người đến khuôn mặt, từ đôi cánh đến đội càng quan sát một cách toàn diện, kĩ lưỡng. Người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc phiện > so sánh chú Dế Choắt có dáng hình như một gã thanh niên xấu xí. So sánh vật giống như người. Đoạn 2: “Càng đổ dần về hướng mũi Cà Mau… như hai dãy trường thành vô tận”. (Đoàn Giỏi) – Đoạn văn miêu tả quang cảnh bao la của dòng sông Năm Căn. – Những từ ngữ, hình ảnh tiêu biểu: Bủa giăng chi chít, trời xanh, nước xanh, sắc xanh, rì rào bất tận, mênh mông, nước ầm đổ, rộng hơn ngàn thước, dựng lên cao ngất… – Câu văn có phép liên tưởng so sánh: (câu 1) (câu 4) (câu 5). – Năng lực nhà văn: + Quan sát tinh tế: Thị giác, thính giác. + Từ dùng chính xác, sinh động, giàu giá trị tạo hình, biểu cảm. – Liên tưởng độc đáo, sâu sắc. Đoạn 3: “Mùa xuân, cây gạo gọi đến… Ngày hội mùa xuân đấy”. (Vũ Tú Nam) – Đoạn văn miêu tả khung cảnh tươi đẹp rộn rã của mùa xuân. – Những từ ngữ, hình ảnh tiêu biểu: Chim ríu rít, hàng ngàn bông, búp nõn nà, chim đàn đàn lũ lũ, ngày hội mùa xuân – điệp từ hàng ngàn, câu nhiều vị ngữ. – Câu văn có sự liên tưởng so sánh: Từ xa cây gạo sừng sững như một tháp đèn khổng lồ (so sánh vật với vật). + Chọn hình ảnh tiêu biểu: Cây gạo và đàn chim. + Miêu tả sinh động. + Từ ngữ hình ảnh phong phú. + Liên tưởng độc đáo giàu sức sáng tạo. 2. So sánh hai đoạn văn: Đoạn 1: Đã bị lược đi một số chữ Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước (…) đổ ra biển ngày đêm (…), cá nước bơi hàng đàn đen trũi (…) giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất (…). Đoạn 2: Đã khôi phục đầy đủ Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận. + Những từ ngữ bị lược bỏ là những từ ngữ có tính chất gợi hình, gợi thanh và sự liên tưởng so sánh. Những từ ngữ hình ảnh này có tác dụng làm cho nổi bật đặc điểm tiêu biểu của dòng sông Năm Căn. + Nếu lược bỏ những từ ngữ đó đoạn văn sẽ không tạo được ấn tượng với bạn đọc, và không miêu tả được đặc điểm nổi bật của dòng sông nữa. III. Hướng dẫn luyện tập. Câu 1. Nhà tôi cách Hồ Gươm không xa, từ trên gác cao nhìn xuống, hồ như một chiếc gương bầu dục lớn, sáng long lanh. Cầu Thê Húc màu son cong cong như con tôm dẫn vào đền Ngọc Sơn. Mái đền xám xịt lấp ló bên gốc đa già, rễ lá xum xuê. Xa một chút là Tháp Rùa, tường rêu cổ kính, xây trên gò đất giữa hồ, cỏ mọc xanh um. b) Những từ ngữ, hình ảnh đặc sắc của đoạn văn trên: Như một chiếc gương bầu dục lớn sáng long lanh, cong cong như con tôm, cổ kính, xum xuê, xanh biếc, xanh um.. Hình ảnh chọn miêu tả: Hồ Gươm, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19: Sông nước Cà Mau Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19: So sánh
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19_ Quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả
854
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19: So sánh Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 19: So sánh Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19: So sánh là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, giúp các bạn thuận tiện hơn trong quá trình học bài và làm bài Ngữ văn lớp 6 và chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo. So sánh I. Kiến thức cơ bản • So sánh là đối chiếu sự vật này, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. • Mô hình cấu tạo đầy đủ của một phép so sánh gồm: – Vế A (nêu tên sự vật, sự việc được so sánh); – Vế B (nêu tên sự vật, sự việc dùng để so sánh với sự vật, sự việc nói ở vế A); – Từ ngữ chỉ phương diện so sánh; – Từ ngữ chỉ ý so sánh (gọi tắt là từ so sánh). • Trong thực tế, mô hình cấu tạo nói trên có thể biến đổi ít nhiều: – Các từ ngữ chỉ phương diện so sánh và chỉ ý so sánh có thể được lược bớt. – Vế B có thể được đảo lên trước vế A cùng với từ so sánh. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. So sánh là gì? – Tập hợp từ chứa hình ảnh so sánh + như búp trên cành + như hai dãy trường thành vô tận (câu a) – Cơ sở của sự so sánh, tác dụng + Tác dụng: So sánh giúp cho người đọc cảm nhận sự vật một cách sâu sắc, cụ thể hơn. c) Con mèo oằn vào tranh, to hơn cả con hổ, nhưng nét mặt lại vô cùng dễ mến. (Tạ Duy Anh) – So sánh ở trong câu (c) khác với câu (a) và (b): + Câu a, b chú ý sự tương đồng + Câu (c) không nhằm mục đích thể hiện sự tương đồng mà thể hiện kích thước (to, nhỏ). 2. Cấu tạo của phép so sánh. a) Điền những tập hợp từ có chứa phép so sánh vào mô hình. Vế A (sự vật được so sánh) Phương diệnso sánh Từ so sánh Vế B (sự vật dùng để so sánh) Trẻ em Nét tương đồng (sự tươi non, đầy sức sống) Như Búp trên cành Rừng đước Nét tương đồng (dựng lên cao ngất) Như Dãy trường thành Con mèo Kích thước Hơn Con hổ b) Các từ so sánh thường dùng: Như, như là, giống như, tựa như, y như, là, hơn, bằng. c) Nhận xét về cấu tạo của phép so sánh: Trường Sơn: Chí lớn ông cha Cửu Long: Lòng mẹ bao la sóng trào. (Lê Anh Xuân) + Ở đây tác giả đã lược bỏ từ ngữ nêu phương diện so sánh và từ dùng để so sánh. Như tre mọc thẳng, con người không chịu khuất. (Thép Mới) + Ở câu này về B đảo lên trước về A Từ so sánh Như đảo lên đứng đầu câu. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Với mỗi mẫu so sánh gợi ý dưới đây, em hãy tìm thêm một ví dụ. a) So sánh đồng loại – So sánh người với người: Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo Khi tới trường, cô giáo như mẹ hiền. (Lời bài hát) Ví dụ tìm thêm: Bác Hồ là bị cha chung Là sao Bắc Đẩu, là vầng Thái Dương. (Ca dao) Người là Cha, là Bác, là Anh Quả tim lớn, lọc trăm dòng máu nhỏ. (Tố Hữu) So sánh trong văn xuôi: Đẹp như Thuý Kiều. Xấu như Thị Nở. Nóng như Trương Phi. – So sánh vật với vật: Từ xa nhìn lại, cây gạo sừng sững như một tháp đèn khổng lồ […] (Vũ Tú Nam) Ví dụ tìm thêm: Biển xanh veo màu mảnh chai. (Vũ Tú Nam) Khi chiều xuống, nhìn về phía Hà Nội, thấy những ánh đèn mọc lên như sao sa, gợi lên bao quyến rũ và khát khao. (Thuý Lan) Cầu cong như chiếc lược ngà Sông dài mái tóc cung nga buông hờ. (Huy Cận) b) So sánh khác loại – So sánh vật với người và người với vật: Ngôi nhà như trẻ nhỏ Lớn lên với trời xanh. (Đồng Xuân Lan) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19: Sông nước Cà Mau Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19: Quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19_ So sánh
712
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19: Sông nước Cà Mau Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 19: Sông nước Cà Mau Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19: Sông nước Cà Mau. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Sông nước Cà Mau Đoàn Giỏi I. Kiến thức cơ bản • Tác giả Đoàn Giỏi (1925 – 1989) quê ở tỉnh Tiền Giang, biết oăn từ thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954). Tác phẩm của Đoàn Giỏi thường viết về cuộc sống, thiên nhiên và con người ở Nam Bộ. • Tác phẩm “Đất rừng phương Nam” (1957) là truyện dài nổi tiếng nhất của Đoàn Giỏi. Truyện kể về quãng đời lưu lạc của bé An – nhân vật chính – tại vùng đất rừng U Minh, miền Tây Nam Bộ trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Qua câu chuyện về cuộc lưu lạc của An, tác giả đưa người đọc đến với cảnh thiên nhiên hoang dã mà rất phong phú, độc đáo và cuộc sống của con người ở vùng đất cực nam của Tổ quốc. “Đất rừng phương Nam” đem đến cho bạn đọc những hiểu biết phong phú và lòng yêu mến đối với thiên nhiên, con người ở vùng đất ấy. • Nội dung đoạn trích Bài văn “Sông nước Cà Mau” trích từ chương XVIII truyện “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi. Tên bài do người biên soạn đặt. Đoạn trích đã tái hiện lại một cách chân thực sinh động cảnh sông nước Cà Mau hoang dã, rộng lớn rất đáng yêu và nhịp sống trù phú trên sông nước của con người vùng cực nam của Tổ quốc. II, Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Câu 1. Bài văn miêu tả cảnh gì? Theo trình tự như thế nào? Dựa vào trình tự miêu tả, em hãy tìm bố cục của bài văn. Hãy hình dung vị trí của người miêu tả, vị trí ấy có thuận lợi gì? – Nội dung miêu tả Bài văn miêu tả cảnh sông nước Cà Mau, theo trình tự từ bao quát đến cụ thể, với những nét rất độc đáo, sinh động. – Bố cục: Gồm ba đoạn + Đoạn 1 (từ đầu đến màu xanh đơn điệu): Ấn tượng ban đầu về phong cảnh thiên nhiên Cà Mau. + Đoạn 2 (tiếp theo đến khói sóng ban mai): Cảnh sông nước Cà Mau: Các địa danh và dòng sông Năm Căn hùng vĩ. + Đoạn 3 (phần còn lại): Cảnh Chợ Năm Căn. – Vị trí người miêu tả: + Vị trí của người miêu tả là người ở trên thuyền, dọc theo dòng sông, là người đang tận mắt chứng kiến những cảnh vật đang hiện lên trên dòng sông, và hai bờ sông (người trong cuộc). + Cảnh miêu tả vì vậy trở nên rất sinh động, cụ thể như thước phim quay chậm diễn ra trước mắt người đọc. Câu 2. Trong đoạn văn (từ đầu đến lặng lẽ một màu xanh đơn điệu) tác giả đã diễn tả ấn tượng ban đầu bao trùm lên sông nước vùng Cà Mau. Ấn tượng này như thế nào? Và được cảm nhận qua giác quan nào? * Ấn tượng ban đầu của tác giả: Đó là sông ngòi kênh rạch chằng chịt bủa giăng chi chít như mạng nhện. Làm cho tác giả bị choáng ngợp bởi những dòng chảy liên thông, giao vào nhau không biết đâu là điểm khởi đầu, và không biết nơi nào là kết thúc như “thiên la địa võng” bủa vây lấy con người. * Cách cảm nhận: Ấn tượng về vùng sông nước Cà Mau được cảm nhận vừa bằng thị giác (nhìn) và vừa bằng thính giác (nghe). – Hình ảnh được cảm nhận bằng thị giác: + Hệ thống sông rạch chi chít. + Những sắc xanh diệu vợi: Trời xanh, nước xanh, cây xanh – Hình ảnh được cảm nhận bằng thính giác: + Tiếng rì rầm bất tận của rừng. + Tiếng sóng rì rào của biển. Câu 4. Em hãy đọc/ kể lại đoạn văn từ “Thuyền chúng tôi chèo thoát qua” đến “Sương mù và khói sáng ban mai” và trả lời các câu hỏi. a) Sự hùng vĩ của dòng sông và rừng đước * Sự hùng vĩ của dòng sông Năm Căn: – Dòng sông mênh mông, rộng hơn ngàn thước. – Nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác. – Cá bơi hàng đàn đen trũi nhô lên, hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. * Sự hùng vĩ của rừng đước: – Dựng lên cao ngất như dãy trường thành vô tận. – Mọc dài theo bãi tăm tắp lớp này chồng lên lớp kia ôm lấy dòng sông – Màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ, loà nhoà ẩn hiện trong sương mù và khói sáng ban mai. * Nhận xét: Rừng đước và dòng sông Năm Căn cả hai rất tương xứng với nhau về tầm vóc, về sự hùng vĩ, to lớn và bất tận. “Rừng đước như một bản tình ca mượt mà sóng đôi với cái âm hưởng sục sôi đổ ra biển của sông Năm Căn ngày đêm như thác”. b) Trong câu: “Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông Cửa Lớn, xuôi về Năm Căn”. – Những động từ chỉ hoạt động của con thuyền: Thoát, đổ, xuôi. – Nếu ta thay đổi trình tự những động từ ấy trong câu tất yếu sẽ ảnh hưởng đến nội dung diễn đạt, câu văn sẽ mất đi sự hợp lí và sự miêu tả theo trình tự từ trước đến sau. – Nhận xét về sự chính xác: + Từ thoát diễn tả con thuyền đi từ chỗ hẹp ra chỗ rộng. + Từ để miêu tả dòng sông đổ dốc xuống, dòng chảy nhanh và mạnh, sau khi thoát khỏi sự chật hẹp giờ đây được vẫy vùng ào ạt. + Từ xuôi thể hiện sự thoải mái êm ả của dòng chảy sau khi đã được (định hình qua chặng đường thoát và đổ) quãng đường hẹp và dốc. = Như vậy, thứ tự các động từ này là không thể thay đổi, cách dùng từ của nhà văn rất chính xác, tinh tế. c) Những từ ngữ miêu tả màu sắc của rừng đước. – Màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ. – Đó là tầng bậc những màu sắc khác nhau của rừng đước – Rừng đước đang vào thời kì thay áo mới với những lá già qua màu xanh chai lọ đang được thay thế bằng những chiếc lá mới màu xanh rêu – và cả những chồi non đang trỗi dậy dần dần màu xanh lá mạ. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19: So sánh Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19: Quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 19_ Sông nước Cà Mau
1,184
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1: Con Rồng, Cháu Tiên (Đọc thêm) Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 1: Con Rồng, Cháu Tiên (Đọc thêm) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1: Con Rồng, Cháu Tiên (Đọc thêm). Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm. Hướng dẫn giải bài tập Ngữ văn 6 này sẽ giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Con Rồng, Cháu Tiên (Đọc thêm) I. Kiến thức cơ bản • Truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo. Truyền thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử được kể lại. • So với truyền thuyết thời kì đầu dựng nước, những truyền thuyết về sau ít yếu tố hoang đường hơn và theo sát lịch sử hơn. • Truyền thuyết có mối quan hệ chặt chẽ với thần thoại. Nhiều truyền thuyết, đặc biệt là truyền thuyết về các thời vua Hùng là những thần thoại đã được lịch sử hoá. • Truyện Con Rồng, cháu Tiên có nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo (như hình tượng các nhân vật thần có nhiều phép lạ và hình tượng bọc trăm trứng v. v.) nhằm giải thích, suy tôn nguồn gốc giống nòi và thể hiện ý nguyện đoàn kết, thống nhất cộng đồng của người Việt. II. Hướng dẫn đọc hiểu văn bản + Lạc Long Quân: – Vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ. – Thần mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên cạn. – Có sức khoẻ vô địch, có nhiều phép lạ. + Âu Cơ – Thuộc dòng họ Thần Nông. – Là dòng tiên ở trên núi cao phương Bắc. – Xinh đẹp tuyệt trần. => Như vậy cả hai đều có nguồn gốc là thần, tiên kì lạ phi thường. Câu 2. Việc kết duyên của Lạc Long Quân với Âu Cơ và chuyện Âu Cơ sinh nở có gì kì lạ? Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con như thế nào và để làm gì? Theo truyện này thì người Việt là con cháu của ai? + Cuộc kết duyên của Lạc Long Quân và Âu Cơ – Đây là cuộc hôn nhân giữa hai bậc thần kì, trai tài, gái sắc, một mối duyên tình đẹp đẽ ở chốn có nhiều hoa thơm cỏ lạ và cung điện Long Trang lộng lẫy. + Chuyện sinh đẻ kì lạ – Sinh ra một cái bọc trăm trứng, trăm trứng nở ra một trăm người con. – Tất cả đều hồng hào đẹp đẽ, mặt mũi khôi ngô. – Đàn con không cần bú mớm, tự lớn lên như thổi, khoẻ mạnh như thần. + Việc chia con – 50 người con theo cha xuống biển. – 50 người con theo mẹ lên núi. – Để các con ở đều các phương, để kẻ miền núi, người miền biển khi có việc gì thì giúp nhau, đều là anh em một nhà. + Nguồn gốc của người Việt – Theo truyện này thì người Việt chúng ta bắt nguồn từ nòi giống thần tiên, linh thiêng, tài giỏi, cao quý rất đáng tự hào. Đề cao ý thức dân tộc, ngợi ca cội nguồn tổ tiên => cách giải thích đẫm chất thơ và huyền thoại. Câu 3. Em hiểu thế nào là chi tiết tưởng tượng kì ảo? Hãy nói rõ vai trò của các chi tiết này trong truyện. + Chi tiết tưởng tượng kì ảo là những chi tiết không có thật, có tính chất hoang đường, kì lạ do hư cấu tưởng tượng. + Vai trò của các chi tiết tưởng tượng kì ảo: – Làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, huyền ảo, lung linh – Thần thánh hoá các nhân vật mà nhân dân ngưỡng mộ – Giải thích các sự kiện theo cách riêng => Trình độ của mỗi thời đại Câu 4. Ý nghĩa của truyện “Con Rồng, cháu Tiên.” + Tôn vinh nguồn gốc đẹp đẽ của dân tộc, nguồn gốc cao quý thiêng liêng con Rồng, cháu Tiên. + Thể hiện nguyện ước đoàn kết anh em giữa các dân tộc trên dải đất Việt Nam: – Mọi người đều có chung một tổ tiên, có chung cha mẹ, đều là anh em ruột thịt một nhà – 50 người lên núi, 50 người xuống biển => Miền núi hay miền biển cũng đều là anh em, phải giúp đỡ nhau, thương yêu đoàn kết “cùng chung lưng đấu cật”. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Em biết những truyện nào của các dân tộc khác ở Việt Nam, cũng giải thích nguồn gốc dân tộc tương tự như truyện “Con Rồng, cháu Tiên”? Sự giống nhau ấy khẳng định điều gì? – Truyện Quả trứng to mở ra con người của dân tộc Mường. – Truyện Quả bầu mẹ của dân tộc Khơ Mú. + Ý nghĩa của sự giống nhau – Sự tương đồng về cách giải thích nguồn gốc của các dân tộc – Khẳng định về tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em – Sự gặp gỡ, giao thoa về nền văn hoá giữa các dân tộc. IV. Tư liệu tham khảo Người Việt Nam rất còn nhớ “Con Rồng, cháu Tiên” vì điều đó thể hiện lòng tự hào về nòi giống cao quý, thiêng liêng của mình, đồng thời thể hiện tình cảm ruột thịt của mọi người dân, thể hiện tinh thần và ước nguyện đoàn kết giữa các dân tộc từ miền ngược đến miền xuôi, từ vùng núi đến vùng biển. Nó góp phần xây dựng và củng cố tinh thần dân tộc của mỗi người dân Việt Nam. (Ôn tập ngữ văn 6 – Nguyễn Văn Long chủ biên) Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1: Giao tiếp Văn bản và phương thức biểu đạt Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1: Từ và cấu tạo từ tiếng Việt Tài liệu khác liên quan tới tác phẩm Con rồng cháu tiên: Soạn bài: Con rồng cháu tiên Bài tập tự luyện văn bản “Con rồng cháu tiên”
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1_ Con Rồng, Cháu Tiên (Đọc thêm)
1,057
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1: Giao tiếp Văn bản và phương thức biểu đạt Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 1: Giao tiếp Văn bản và phương thức biểu đạt Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1: Giao tiếp Văn bản và phương thức biểu đạt. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Giao tiếp Văn bản và phương thức biểu đạt I. Kiến thức cơ bản • Giao tiếp là hoạt động truyền đạt, tiếp nhận tư tưởng, tình cảm bằng phương tiện ngôn từ. • Văn bản là chuỗi lời nói miệng hay bài viết có chủ đề thống nhất, có liên kết, mạch lạc, vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp để thực hiện mục đích giao tiếp. • Có sáu kiểu văn bản thường gặp với các phương thức biểu đạt tương ứng: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính công vụ. Mỗi kiểu văn bản có mục đích giao tiếp riêng. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Văn bản và mục đích giao tiếp a) Câu ca dao: Ai ơi giữ chí cho bền Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai. + Câu ca dao này khuyên nhủ mọi người hãy biết giữ vững ý chí, lập trường của mình trong cuộc sống. + Hai câu 6 và 8 hiệp vần với nhau nền – bền. b) Lời phát biểu của thầy (cô) hiệu trưởng trong ngày lễ khai giảng năm học là một văn bản – Văn bản nói – vì đã hoàn chỉnh về mặt hình thức và trọn vẹn về mặt nội dung. c) Bức thư viết cho bạn bè, người thân cũng là một văn bản. đ) Đơn xin đi học, bài thơ, truyện cổ tích, câu đối, thiếp mời dự đám cưới… đều là văn bản. Ngoài ra trong cuộc sống ta có thể gặp rất nhiều loại văn bản khác như: Thông báo, giấy mời họp, tờ rơi quảng cáo, bài làm học sinh. 2. Kiểu văn bản và phương thức biểu đạt của văn bản Lựa chọn kiểu văn bản và phương thức biểu đạt phù hợp cho các tình huống Tình huống giao tiếp Kiểu văn bản và phương thức biểu đạt Hai đội bóng đá muốn xin phép sử dụng sân vận động thành phố Hành chính công vụ (Đơn xin phép) Tường thuật diễn biến trận bóng đá Tự sự Tả lại những pha bóng đẹp trong trận đấu Miêu tả Giới thiệu quá trình thành lập và thành tích thi đấu của hai đội Thuyết minh Bày tỏ lòng yêu mến đội bóng đá Biểu cảm Bác bỏ ý kiến cho rằng bóng đá là môn thể thao tốn kém, làm ảnh hưởng không tốt đến việc học tập và công tác của nhiều người Nghị luận II. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Các đoạn văn, thơ dưới đây thuộc phương thức biểu đạt nào? a) Một hôm mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ, sai đi bắt tôm, bắt tép và hứa, đứa nào bắt được đầy giỏ sẽ thưởng một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ, lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi bắt đầy một giỏ cả tôm lẫn tép. Còn Cám quen được nuông chiều, chỉ ham chơi nên mãi đến chiều tối chẳng bắt được gì. Thấy Tấm bắt được đầy giỏ, Cám bảo chị: Chị Tấm ơi chị Tấm! Đầu chị lấm Chị hụp cho sâu Kéo về dì mắng. Tấm tưởng thật hụp xuống thì Cám trút hết giỏ tôm tép của Tấm vào giỏ mình, rồi chạy về nhà trước. (Tấm Cám) Đoạn văn trên trình bày diễn biến sự việc về việc Tấm và Cám đi bắt tép, và mưu mô của Cảm cướp đoạt giỏ tép của Tấm => Phương thức tự sự. b) Trăng đang lên. Mặt sông lấp lánh ánh vàng. Núi Trùm Cát đứng sừng sững bên bờ sông thành một khối thẫm uy nghi, trầm mặc. Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát. (Khuất Quang Thuỵ, Trong cơn gió lốc) Đoạn văn trên của nhà văn Khuất Quang Thuỵ miêu tả về đêm trăng trên dòng sông => Phương thức miêu tả. e) Muốn xây dựng một đất nước giàu mạnh, thì phải có nhiều người tài giỏi. Muốn có nhiều người tài giỏi thì học sinh phải ra sức học tập văn hoá và rèn luyện thân thể, bởi vì chỉ có học tập và rèn luyện thì các em mới có thể trở thành những người tài giỏi trong tương lai. (Trích: Tài liệu hướng dẫn đội Viên) Đoạn văn trên khuyên răn các em đội viên phải chăm lo học tập và rèn luyện thân thể => Phương thức nghị luận. d) Trúc xinh trúc mọc đầu đình Em xinh em đứng một mình cũng xinh (Ca dao) Câu ca dao trên ngợi ca sự xinh đẹp của người con gái, và bày tỏ niềm yêu mến => Phương thức biểu cảm. đ) Nếu ta đấy quả địa cầu quay quanh trục theo hướng từ tay trái sang tay phải mà chúng ta thường gọi từ tây sang đông thì hầu hết các điểm trên bề mặt quả địa cầu đều chuyển động, đều thay đổi vị trí và vẽ thành những đường tròn. (Theo Địa lí 6) Mục đích giao tiếp của đoạn văn trên là giới thiệu đặc điểm, tính chất của quả địa cầu => Phương thức thuyết minh. Câu 2. Truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên thuộc kiểu văn bản nào? Và sao em biết như vậy? + Truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên thuộc văn bản tự sự. + Vì: Mục đích giao tiếp của truyện là trình bày diễn biến sự việc. Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1: Con Rồng, Cháu Tiên (Đọc thêm) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1: Từ và cấu tạo từ tiếng Việt
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1_ Giao tiếp Văn bản và phương thức biểu đạt
1,020
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1: Từ và cấu tạo từ tiếng Việt Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 1: Từ và cấu tạo từ tiếng Việt Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1: Từ và cấu tạo từ tiếng Việt. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Từ và cấu tạo từ tiếng Việt I. Kiến thức cơ bản • Từ là đơn vị nhỏ nhất dùng để đặt câu. • Tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ. • Từ đơn là từ chỉ gồm một tiếng. • Từ phức là từ gồm hai tiếng trở lên. • Những từ phức được tạo bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa được gọi là từ ghép. Còn những từ phức có quan hệ láy âm giữa các tiếng được gọi là từ láy. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Từ là gì? a) Lập danh sách các từ và các tiếng trong câu + Danh sách các tiếng: – Thần, dạy, dân, cách, trồng, trọt, chăn, nuôi, và, cách, ăn, ở (có 12 tiếng). + Danh sách các từ: – Thần, dạy, dân, cách, trồng trọt, chăn nuôi, và, cách, ăn ở (có 9 từ). b) Sự khác nhau giữa các đơn vị được gọi là tiếng và từ – Từ có thể do một tiếng hay nhiều tiếng tạo thành. 2. Từ đơn và từ phức a) Điền các từ trong câu vào bảng phân loại + Câu: Từ đấy nước ta chăm nghề trồng trọt chăn nuôi và có tục ngày Tết làm bánh chưng, bánh giầy (Bánh chưng, bánh giầy) Bảng phân loại Kiểu cấu tạo từ Ví dụ Từ đơn Từ, đấy, nước, ta, chăm, nghề, và, có, tục, Tết, làm, ngày Từ phức Từ ghép Chăn nuôi, bánh chưng, bánh giầy Từ láy Trồng trọt b) Sự giống nhau giữa từ láy và từ ghép + Giống nhau: Đều được cấu tạo từ hai hay nhiều tiếng trở lên – đều gọi chung là từ phức. + Khác nhau: Từ ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa. Từ láy các tiếng có quan hệ với nhau về âm. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Đọc các câu sau và thực hiện nhiệm vụ nêu bên dưới: […]. Người Việt Nam ta – con cháu vua Hùng – khi nhắc đến nguồn gốc của mình, thường xưng là con Rồng, cháu Tiên. (Con Rồng, cháu Tiên) a) Các từ nguồn gốc, con cháu thuộc kiểu cấu tạo từ phức. b) Những từ đồng nghĩa với từ nguồn gốc trong câu trên là: Cội nguồn, tổ tiên, dòng giống. c) Các từ ghép chỉ quan hệ thân thuộc theo kiểu: Con cháu, anh chị, ông bà… đó là: Anh em, nội ngoại, cô dì, chú bác, cậu dì, cha con, vợ chồng. + Theo giới tính: Anh chị, ông bà, vợ chồng, cha mẹ + Theo thứ bậc trên dưới: Anh em, chú bác, chị em + Theo quan hệ nội ngoại: Chú bác, dì dượng, cậu mợ, o chú Câu 3. Tên các loại bánh đều được cấu tạo theo công thức “bánh + – ”: a) Bánh rán, bánh nếp, bánh dẻo, bánh nướng, bánh gối, bánh tôm, bánh tẻ, bánh gai, bánh xốp, bánh khúc, bánh khoai. b) Các tiếng đứng sau trong những từ ghép trên nêu đặc điểm về: Cách chế biến, tên chất liệu, tính chất, hình dáng để phân biệt các thứ bánh với nhau. c) Điền các tiếng thích hợp vào bảng: Nêu cách chế biến Bánh rán, bánh nướng, bánh hấp Nêu tên chất liệu của bánh Bánh nếp, bánh đậu xanh, bánh khoai, bánh tôm Nêu tính chất của bánh Bánh dẻo, bánh tẻ, bánh xốp Nêu hình dáng của bánh Bánh khúc, bánh gối, bánh tai voi Câu 4. Từ láy được in đậm trong các câu sau miêu tả cái gì? Nghĩ tủi thân, công chúa Út ngồi khóc thút thít. + Từ láy thút thít trong câu văn trên miêu tả tiếng khóc của nàng công chúa Út. Đó là tiếng khóc nhỏ, chứa đựng sự tủi hờn, âm thanh không liên tục mà đứt quãng rời rạc. Câu 5. Thi tìm nhanh từ láy a) Tả tiếng cười: Khanh khách, ha hả, hô hố, hả hê, hỉ hả, tủm tỉm, hềnh hệch. + Tả tiếng nói: Ồm ồm, the thé, oang oang, sang sảng. + Tả dáng điệu: Lom khom, lúi húi, lui cui, lòng khòng, lọng khọng, tất tả, tất bật. Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1: Con Rồng, Cháu Tiên (Đọc thêm) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1: Giao tiếp Văn bản và phương thức biểu đạt
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 1_ Từ và cấu tạo từ tiếng Việt
791
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 20: Bức tranh của em gái tôi Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 20: Bức tranh của em gái tôi Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 20: Bức tranh của em gái tôi là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, giúp các bạn thuận tiện hơn trong quá trình học bài và chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo. Bức tranh của em gái tôi I. Kiến thức cơ bản – Tác giả: Tạ Duy Anh sinh năm 1959, quê ở huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. “Bức tranh của em gái tôi” là truyện ngắn đoạt giải nhì trong cuộc thi viết “Tương lai vẫy gọi” của báo Thiếu niên Tiền phong. B – Tác phẩm: Qua câu chuyện về người anh và cô em gái có tài hội hoạ, truyện “Bức tranh của em gái tôi” cho thấy: Tình cảm trong sáng hồn nhiên và lòng nhân hậu của người em gái đã giúp cho người anh nhận ra phần hạn chế ở chính mình. Truyện đã miêu tả tinh tế tâm lí nhân vật qua cách kể theo ngôi thứ nhất. II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Câu 1. Kể tóm tắt truyện “Bức tranh của em gái tôi”. Người anh thường rất hay khó chịu vì tính trục lợi các đồ vật, hay bôi bẩn lên mặt mình và bí mật làm một việc gì đó với các lọ xanh, đỏ, vàng… của cô em gái Kiều Phương mà anh trai thường gọi là Mèo. Bí mật về những việc làm của Mèo bị phát hiện khi chú Tiến Lê đến chơi. Những bức tranh của Mèo khiến chú Tiến và ba mẹ sửng sốt, sung sướng. Nhưng người anh lại thấy mình bị đẩy ra ngoài – trở nên xét nét, cau có với người em. Câu 2. Nhân vật chính trong truyện là ai? Vì sao em lại cho đó là nhân vật chính? Truyện được kể theo lời kể của nhân vật nào? Việc lựa chọn vai kể như vậy có tác dụng gì? a) Nhân vật chính của truyện – Cả hai anh em Kiều Phương đều là nhân vật chính của câu chuyện. – Xét về phương diện thể hiện tâm trạng, suy nghĩ, thì câu chuyện chủ yếu bộc lộ tâm trạng của người anh. Nhân vật anh là nhân vật trung tâm của câu chuyện. b) Ngôi kể của nhân vật – Truyện được kể theo lời lẽ của nhân vật anh, ngôi thứ nhất. – Tác dụng: + Tạo nên sự gần gũi giữa nhân vật và người đọc. + Tăng tính thuyết phục, sự chân thật của câu chuyện về sự hối lỗi của người anh. Câu 3. Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật anh. Trong truyện diễn biến tâm trạng người anh luôn thay đổi qua những thời điểm, hoàn cảnh khác nhau: * Khi thấy em gái chế thuốc sẽ – Cảm giác ban đầu của người anh là rất khó chịu khi thấy người em hay lục lọi các đồ vật một cách thích thú. – Sau đó là sự coi thường khi tình cờ thấy em gái chế thuốc vẽ “Trời ạ! Thì ra nó chế thuốc vẽ”; Tôi bắt gặp nó, thì ra…”, tôi bí mật… cái giọng điệu kẻ cả của một ông anh nghĩ cô em mình chỉ làm những trò trẻ con nghịch ngợm. – Tâm lí người anh hoàn toàn thay đổi, cảm thấy mình bị đẩy ra ngoài, mình bất tài – chỉ muốn gục khóc. – Thay đổi thái độ đối với em: Không chơi thân như trước nữa, hay cáu gắt một cách vô lí. – Lén xem trộm những bức tranh của em, nhưng không biết cách đánh giá thế nào, trút ra một tiếng thở dài. * Người anh có tâm trạng và thái độ không thể chơi thân với “em gái như trước kia nữa là vì người anh đang bị “con rắn ghen tị luồn vào tim”, ghen tị vì thấy em giỏi hơn mình, ghen tị vì em định trở thành trung tâm chú ý của mọi người: “Được chú Tiến Lê tặng cho một hộp màu ngoại xịn”; “được bố mẹ hào hứng mua sắm”. Còn mình thì bị bỏ rơi. Điều đó đã làm tâm hồn người anh trở nên nhỏ nhen, đố kị, sẵn sàng bực dọc, tức tối với em mọi lúc. * Khi đứng trước bức tranh em gáic vẽ về mình: – Tâm trạng của người anh liên tục có sự thay đổi: Thoạt tiên là ngỡ ngàng rồi đến hãnh diện sau đó là xấu hổ. Đó là sự diễn biến rất chân thực sinh động. – Ngỡ ngàng: Vì không ngờ lại có bức tranh ấy, không ngờ em gái lại vẽ về mình. – Hãnh diện: “vì mình được hoá thân vào tác phẩm nghệ thuật rất đẹp, rất hoàn hảo: “Không chỉ suy tư mà còn rất mơ mộng nữa” mà mình thì không xứng đáng – “Bức chân dung mà bé Phương vẽ giống như một chiếc gương trong mà người anh soi vào để tìm ra vết nhọ nhưng không phải vết nhọ trên mặt mà đó là sự đố kị, ghen ghét, nhỏ nhen và chính nó làm cho cậu ta đau khổ?”. Câu 4. Em hiểu thế nào về đoạn kết của truyện (Tôi không trả lời mẹ… lòng nhân hậu của em con đấy)? Qua đó, em nghĩ gì về nhân vật người anh?. – Cùng đọc lại đoạn văn: Tôi không trả lời mẹ vì tôi muốn khóc quá. Bởi vì nếu nói được với mẹ, tôi sẽ nói rằng: “Không phải con đâu. Đấy là tâm hồn và lòng nhân hậu của em con đấy”. – Người anh đã đuổi được con rắn ghen tị trong trái tim mình. Đấy là sự hối lỗi rất chân thành, sâu sắc, nhân vật người anh vì vậy mà trở nên dễ mến, tạo được mối thiện cảm trong lòng bạn đọc. – Đoạn kết có ý nghĩa giáo dục sâu sắc: Nghệ thuật có sức lay động sâu xa đến tâm hồn con người, tâm hồn có thể cải tạo tâm hồn. Câu 5. Em có cảm nhận gì về thái độ của cô em gái trong truyện? Điều gì khiến em cảm mến nhất ở nhân vật này? Điều làm em cảm mến nhất ở cô em gái không phải tài năng hội hoạ mà ở tấm lòng nhân hậu vị tha. – Trước thái độ cáu gắt, khinh khỉnh của người anh, Mèo ta vẫn cứ hồn nhiên như không. – Bí mật vẽ bức tranh về chân dung của anh, quả là một quà tặng bất ngờ. Tuy anh đối xử với mình chưa tốt, nhưng bức chân dung về anh lại vô cùng hoàn hảo. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 20: Luyện nói về quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 20_ Bức tranh của em gái tôi
1,150
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Chương trình địa phương – Rèn luyện chính tả Hướng dẫn Bài 21: Chương trình địa phương – Rèn luyện chính tả Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Chương trình địa phương – Rèn luyện chính tả là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, giúp các bạn thuận tiện hơn trong quá trình học bài và chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo. Chương trình địa phương – Rèn luyện chính tả I. Nội dung luyện tập 1. Đối với các tỉnh miền Bắc Viết đúng các phụ âm dễ bị mắc lỗi – tr / ch: trả / chả, tro / cho, trong / chong, tre / che – s / x: sen / xen, so / xo, son / xon, sung / xung – r/d/ gi: ra / da / gia, ran / dan / gian – 1/n: lồi / nồi, lép / nép, la / na, li / ni 2. Đối với các tỉnh miền Trung, miền Nam: a) Viết đúng một số cặp phụ âm cuối dễ mắc lỗi: – c / t: mắc / mắt, cắc / cắt – n/ ng: tàn / tàng, quan / quang b) Viết đúng một số phụ âm đầu dễ mắc lỗi: v/ d: vừa / dừa, vô / dô II. Một số hình thức luyện tập 1. Viết những đoạn, bài chứa các âm, thanh dễ mắc lỗi – Nghe – viết (nhờ bố mẹ, anh chị, bạn bè đọc hộ – hoặc qua cô giáo rèn luyện ở lớp). – Nhớ – viết (Em tự luyện tập – cảm thấy có âm nào khó tự rèn luyện). – Điền vào chỗ trống tr hoặc ch:…ang trại, …ang chang,…i hô, lỗ…ỗ – Điền vào chỗ trống s hoặc x: …uất sắc,…ản xuất, xuất…ứ,…ở xuất – Điền vào chỗ trống r hoặc d/ gi: …a vẻ; da…ẻ;…ảng dạy;…ày da – Điền vào chỗ trống 1 hoặc n: …ăn lộn, nôn…ao,…ung nấy,…âu la – Điền vào chỗ trống c hoặc t: đường ta…, thắc mắ…, xa lá… – Điền vào chỗ trống ngông cuồ…, hiên nga…, mênh ma… Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Vượt thác của Võ Quảng Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: So sánh (tiếp theo) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Chương trình địa phương – Rèn luyện chính tả
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21_ Chương trình địa phương – Rèn luyện chính tả
377
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Phương pháp tả cảnh Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 21: Phương pháp tả cảnh Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Phương pháp tả cảnh là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, giúp các bạn thuận tiện hơn trong quá trình học bài và chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo. Phương pháp tả cảnh I. Kiến thức cơ bản • Muốn tả cảnh cần: – Xác định được đối tượng miêu tả; – Quan sát, lựa chọn được những hình ảnh tiêu biểu; – Trình bày những điều quan sát được theo một thứ tự. • Bố cục bài tả cảnh thường có ba phần: – Mở bài: Giới thiệu cảnh được tả; – Thân bài: Tập trung tả cảnh vật chi tiết theo một thứ tự; – Kết bài: Thường phát biểu cảm tưởng về cảnh vật đó. II. Tìm hiểu câu hỏi phần bài học Phương pháp viết văn tả cảnh 1. Đoạn 1: a) Đọc văn bản Những động tác thả sào, rút sào rộn ràng nhanh như cắt. Thuyền cố lấn lên. Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ. (Võ Quảng) b) Trả lời câu hỏi Qua hình ảnh nhân vật ta có thể hình dung được cảnh sắc của khúc sông vì: – Hành động của nhân vật gấp gáp, khẩn trương. – Sức lực của nhân vật được bộc lộ tối đa. 2. Đoạn 2: a) Đọc văn bản Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông Cửa Lớn, xuôi về Năm Căn. Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận. Cây được mọc dài theo bãi, theo từng lứa trái rụng, ngọn bằng tăm tắp, lớp này chồng lên lớp kia ôm lấy dòng sông, đắp từng bậc màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ,… loà nhoà ẩn hiện trong sương mù và khói sóng ban mai. (Đoàn Giỏi) b) Trả lời câu hỏi + Đoạn văn miêu tả sự hùng vĩ của dòng sông Năm Căn và rừng đước vô tận bạt ngàn. + Thứ tự miêu tả – Từ hẹp ra rộng (Thoát khỏi kênh Bọ Mắt ra Cửa Lớn) – Từ lòng sông lên bờ sông (cá bơi hàng đàn cây đước mọc dài theo bãi). 3. Đoạn 3: Văn bản “Lũy làng” của Ngô Văn Phú * Bố cục của văn bản: Gồm 3 phần – Phần một (Từ đầu đến màu của lũy): Giới thiệu về lũy làng. – Phần hai (tiếp đến lúc nào không rõ): Miêu tả các lớp của lũy làng và vẻ đẹp của nó. – Phần ba (còn lại): Cảm nghĩ của tác giả về loài tre. – Mở bài: Tác dụng, kết cấu, màu sắc của lũy làng. – Thân bài: + Miêu tả về lũy ngoài cùng: Loại tre to, ngoằn ngoèo, cành rậm truyền từ đời này qua đời kia, khép kín, thành bức tường bằng tre. + Miêu tả lũy giữa: Lũy giữa cũng toàn tre nhưng là loại tre thẳng. + Miêu tả lũy trong cùng: Dáng cây thẳng tắp. Khi đến mùa đổ lá rất đẹp, đặc biệt là sau những trận mưa rào. – Kết bài: Miêu tả những mầm măng, ngợi ca tình mẫu tử của loài tre. * Nhận xét về thứ tự miêu tả: Miêu tả theo thứ tự: Từ ngoài vào trong, từ khái quát đến cụ thể. III. Hướng dẫn luyện tập. Câu 1. Tả quang cảnh lớp học trong giờ viết bài tập làm văn. Tả quang cảnh lớp học trong giờ viết bài tập làm văn có thể theo thứ tự thời gian: Đầu giờ – giữa giờ – cuối giờ Hoặc chia ra làm hai mảng: Hành động, thái độ của thầy giáo – Hành động, thái độ của học sinh. Câu 2: Tả quang cảnh sân trường trong giờ ra chơi. Nên theo thứ tự thời gian Trước giờ ra chơi → – Cảnh lớp học Trong giờ ra chơi → – Cảnh sân trường Sau giờ ra chơi → – Các trò chơi của các bạn học sinh. * Đoạn văn tham khảo: Trước giờ ra chơi sân trường im lìm, vắng ngắt chỉ có tiếng lá khô cựa mình khe khẽ. Thỉnh thoảng có vài bóng người lạc qua rồi mất hút. Ba hồi trống náo nức vang lên “Tùng… tùng… tùng” sân trường như oà vỡ, từ các cánh cửa từng đám học sinh tuôn ào, tiếng nói, tiếng cười, tiếng gọi nhau í ới náo động khắp không gian. Đám thì nhảy dây, đám thì đá cầu, đám thì ú tim đuổi bắt, bịt mắt bắt dê. Một số bạn nữ nhu mì hơn ngồi đọc truyện hay tán gẫu say sưa. Câu 3: Nêu dàn ý bài “Biển đẹp”.. – Mở bài: Chính là tiêu đề của tác phẩm “Biển đẹp”. – Thân bài (Từ đầu đến lúc đăm chiêu gắt gỏng): + Vẻ đẹp của biển lúc buổi sáng. + Biển vào lúc buổi chiều. + Vẻ đẹp của biển vào ngày mưa rào. + Vẻ đẹp của biển vào buổi nắng sớm mờ. + Vẻ đẹp của biển vào buổi chiều lạnh nắng tắt sớm. + Vẻ đẹp của biển vào chiều tàn. + Vẻ đẹp của biển vào xế trưa. + Sự đổi thay màu sắc của biển theo thời tiết và thời gian. – Kết bài (phần còn lại). Cảm nghĩ của nhà văn và nêu lên cội nguồn làm nên vẻ đẹp của biển. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Chương trình địa phương – Rèn luyện chính tả Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: So sánh (tiếp theo) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Vượt thác của Võ Quảng
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21_ Phương pháp tả cảnh
1,003
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: So sánh (tiếp theo) Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 21: So sánh (tiếp theo) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: So sánh (tiếp theo) là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, giúp các bạn thuận tiện hơn trong quá trình học bài và chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo. So sánh (tiếp theo) I. Kiến thức cơ bản – Có hai kiểu so sánh + So sánh ngang bằng + So sánh không ngang bằng – Tác dụng: So sánh vừa có tác dụng gợi hình, giúp cho việc miêu tả sự vật được cụ thể sinh động, vừa có tác dụng biểu hiện tư tưởng tình cảm sâu sắc. II. Hướng dẫn câu hỏi phần bài học 1. Các kiểu so sánh Tìm phép so sánh trong khổ thơ: Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con Đêm nay con ngủ giấc tròn Mẹ là ngọn gió của con suốt đời. (Trần Quốc Minh) – Khổ thơ trên sử dụng hai phép so sánh. – Chẳng bằng (mẹ thức) so sánh không ngang bằng Mẹ là (ngọn gió) so sánh ngang bằng. – Ví dụ tìm thêm: + So sánh ngang bằng: Quê hương là chùm khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày Quê hương là đường đi học Con về rợp bướm vàng bay. (Đỗ Trung Quân) Qua cầu ngả nón trông cầu Cầu bao nhiêu nhịp dạ em sầu bấy nhiêu. (Ca dao) Mỗi người tốt là một bông hoa đẹp Cả dân tộc là một rừng hoa đẹp. (Hồ Chí Minh) Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn. (Nguyễn Đình Thi) Đất nước! Của những người con gái con trai Đẹp như hoa hồng, cứng hơn sắt thép. (Nam Hà) 2. Tác dụng của so sánh Mỗi chiếc lá rụng có một linh hồn riêng… cỏ xanh mềm mại. (Khái Hưng) – Những câu văn có sử dụng phép so sánh trong đoạn văn trên là: + Có chiếc tựa mũi tên nhọn, tựa cành cây rơi cắm phập xuống đất… + Có chiếc lá như con chim bị lảo đảo mấy vòng trên không… + Cả một thời dài dằng dặc của chiếc lá trên cành không bằng mặt vài giây bay lượn… + Có chiếc lá như sợ hãi ngần ngại rụt rè. – Tác dụng của phép so sánh: + Đối với miêu tả sự vật: Làm cho hình ảnh những chiếc lá rơi trở nên sinh động, gợi cảm có hồn, có tâm trạng, có cá tính giống như con người. + Đối với sự thể hiện tư tưởng tình cảm của người viết: Qua việc diễn tả những chiếc lá rơi người viết đã thể hiện tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết, sự quan sát tinh tế, nhạy cảm, cách so sánh độc đáo. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Chỉ ra các phép so sánh trong những khổ thơ dưới đây, cho biết chúng thuộc kiểu so sánh nào. Phân tích tác dụng gợi hình, gợi cảm của một phép so sánh mà em thích. – Phép so sánh sử dụng trong đoạn thơ của Tế Hanh: Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè thuộc loại so sánh ngang bằng Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm…, chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi thuộc loại so sánh không ngang bằng. – Phép so sánh trong đoạn thơ của Minh Huệ: Như nằm trong giấc mộng, Ấm hơn ngọn lửa hồng. thuộc loại so sánh ngang bằng, và so sánh không ngang bằng. * Phân tích tác dụng gợi hình, gợi cảm của phép so sánh: Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi. – Người con phải đi qua “trăm núi ngàn khe”, có nghĩa là phải trải qua muôn nỗi vất vả gian lao, cực nhọc của núi cao, vực sâu đầy nguy hiểm. – Nhưng nỗi vất vả đó của người con vẫn không thể bằng nỗi sầu tê tái vì nhớ con, lo cho con và bao nỗi lo toan khác của người mẹ. Câu 2. Hãy nêu những câu văn có sử dụng phép so sánh trong bài “Vượt thác”. Em thích hình ảnh so sánh nào? Vì sao? – Những câu văn có sử dụng phép so sánh trong bài Vượt thác: + Thuyền rẽ sóng lướt bon bon như đang nhớ núi rừng. + Những động tác thả sào, rút sào rập ràng nhanh như cắt. + Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc. + Giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh. + Những cây to mọc giữa những bụi cây lúp xúp nom xa như những mụ già vung tay hô đám con cháu tiến về phía trước. – Em có thể lựa chọn một trong những so sánh trên mà mình thích nhất, rồi phân tích tác dụng của nó. – Đây là loại so sánh ngang bằng. – Tác dụng của nó làm nổi bật sự rắn chắc, gân guốc, mạnh mẽ của thân hình dượng Hương Thư. Câu 3. Dựa theo bài “Vượt thác” hãy viết một đoạn văn từ ba đến năm câu tả dượng Hương Thư đưa thuyền vượt qua thác dữ. Trong đoạn văn có sử dụng cả hai kiểu so sánh đã giới thiệu. – Yêu cầu đoạn văn: + Độ dài: 3 – 5 câu (khoảng 6 – 8 dòng). + Sử dụng: Hai loại so sánh ngang bằng và không ngang bằng. + Nội dung: Tả cảnh dượng Hương Thư đưa thuyền vượt thác. – Đoạn văn tham khảo: Phía trước mặt dòng thác hung dữ như một con beo đang hồng hộc tế. Dượng Hương Thư gồng mình lên phía trước quặt con thuyền sang phía tay trái. Nước tung ào lên cả mạn thuyền. Một tảng đá nhọn hoắt mặt mày hung dữ đang chực sẵn ở phía trước để bóp nát con thuyền. “Soạc”, “Soạc” hai chiếc sào cùng cắm xuống một lúc đẩy con thuyền ra xa lách vào đúng kẽ hở giữa hai tảng đá xuôi thẳng. Lũ đá tức tối hậm hực. Thật đúng là mười năm chèo thuyền vùng xuôi không bằng một giờ vượt thác. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Vượt thác của Võ Quảng Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Chương trình địa phương – Rèn luyện chính tả Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Viết bài tập làm văn số 5 – Văn tả cảnh
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21_ So sánh (tiếp theo)
1,041
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Viết bài tập làm văn số 5 – Văn tả cảnh Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 21: Viết bài tập làm văn số 5 – Văn tả cảnh Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Viết bài tập làm văn số 5 – Văn tả cảnh là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, giúp các bạn thuận tiện hơn trong quá trình học bài và chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo. Viết bài tập làm văn số 5 – Văn tả cảnh (làm ở nhà) I. Đề Văn Đề 1: Hãy tả lại hình ảnh cây đào hoặc cây mai vàng vào dịp tết đến, xuân về.. Đề 2: Hãy tả lại cây phượng mà em từng thấy. Đề 3: Em đã từng chứng kiến cảnh bão lụt ở quê mình hoặc xem cảnh đó trên truyền hình, hãy viết bài văn miêu tả trận bão lụt khủng khiếp đó. Đề 4: Em hãy tả lại khu phố hay thôn xóm, bản làng nơi mình ở vào một ngày mùa đông giá lạnh. Đề 5: Em hãy tả lại quang cảnh đổi mới ở quê em. II. Một số bài tham khảo Đề 1: Hãy tả lại hình ảnh cây đào hoặc cây mai vàng vào dịp Tết đến, xuân về. Trong các loài hoa, em thích nhất là Mai Vàng. Vì sao ư? Có quá nhiều lí do để Mai Vàng chiếm vị trí độc tôn trong lòng em, vì Mai nở là mùa xuân đã về, vì sắc màu của hoa quý phái thanh tao, vì hoa không chỉ đẹp mà còn có hương thơm, và cả vì mẹ rất yêu Mai mà em lại rất yêu mẹ. Nhà em không có sân, trước cổng nhà có một ô trống nhỏ, vừa đủ chỗ cho một cây Mai nằm gác cửa. Gọi là nằm vì dáng cây bè bè và nghiêng sát mặt đất, cây được uốn theo hình ngoạ long (Rồng nằm). Bởi vậy dù bằng tuổi em nhưng Mai thấp hơn em rất nhiều. Ngày em chào đời ở bệnh viện thì ở nhà bố em cũng bắt đầu trồng cây Mai này. Mẹ đã dặn bố như vậy trước khi vào bệnh viện. Đúng vào ngày rằm tháng chạp em bắc ghế trảy hết lá cho Mai. Theo kinh nghiệm dân gian làm như vậy thì Mai mới nở nhiều bông vào dịp Tết. Lần đầu tiên thấy mẹ làm như vậy em cứ sợ cây chết vì trảy lá hết cây chỉ còn trơ lại những cành khẳng khiu gầy guộc run run trong gió. Thế nhưng kì diệu thay chỉ độ một vài hôm cây đã khác hẳn, chồi non, búp non bắt đầu nhú lên. Mai rất khó phân biệt nụ và chồi khi mới nhú, phải là người giàu kinh nghiệm và có sự quan sát tinh tế mới phân biệt được, vì chúng cùng một màu xanh biếc, giống nhau về hình dạng như những tháp bút nho nhỏ, xinh xinh. Và chỉ trong mấy ngày nó lớn dần, lớn dần và nở thành những chùm nụ chi chít, màu xanh non hình bầu dục. Mỗi chùm như vậy có tới gần chục nụ và đủ mọi cỡ: To, nhỏ, bé xíu, lứa này nở xong sẽ có lứa khác kế tiếp. Bởi vậy Mai nở bông mãi gần hai tháng mới hết nụ. Hương Mai rất thơm, mùi thơm dịu nhẹ thanh khiết, thoảng trong không gian nhưng ai thật tinh ý mới biết. Lúc Mai nở rộ thường vào độ mồng hai, mồng ba Tết, cả cây vàng rực lộng lẫy cao sang. Những ngày Tết, bên cạnh Mai Vàng là chồng bánh chưng xanh còn gì đẹp hơn thế nữa. Thường khoảng hai tám Tết là em đã bưng chậu Mai vào nhà. Em lau chùi, kì rửa xung quanh chậu cho hết bụi, đất, cho thật sạch sẽ. Ba em được chọn khai bút đầu xuân vì chữ của ba rất đẹp. Trên nền giấy màu đỏ, ba nắn nót đậm tô dòng chữ: “Nhất sinh đệ thủ bái Mai hoa” (Một đời chỉ biết cúi đầu trước hoa Mai) câu nói nổi tiếng của chí sĩ Cao Bá Quát. Sau đó, chọn cành Mai cao nhất ba treo lên. Mẹ giảng giải cho em rằng: “Làm người chỉ cúi đầu trước cái đẹp, cái thiên lương cao cả, Mai là một trong những cái đẹp mà con người nên cúi đầu”. Mỗi lần Tết đến em lại nhớ chậu Mai Vàng. Đề 2: Hãy tả lại cây phượng mà em đã từng thấy. Hoa Phượng trường Chuyên Sân trường tôi có một cây phượng, và chỉ một cây độc nhất mà thôi. Bạn đã bao giờ để ý đến vị trí đặc biệt của cây phượng trường mình chưa? Nó nằm ngay chính giữa ở góc cuối và bốn bên có bốn chàng lim sét lực lưỡng bảo vệ. Dáng cây giống như một tiểu thư thanh mảnh yếu đuối. So với các bậc đàn anh đàn chị xung quanh nó có vẻ thấp bé rụt rè hơn nhiều. Tôi lặng lẽ ngắm nhìn, chỉ có một vài chùm nhưng sắc màu hoa vẫn thắm tươi như vốn có của nó, không bị nhạt phai. Giữa những cành cây trơ trụi, giữa những tán lá cằn cỗi vàng úa thì màu đỏ tươi của những chùm hoa kia thật là kiêu hãnh, thật bất chấp, ngạo nghễ biết bao. Tôi cảm phục và yêu quý sự kiêu hãnh, bất chấp, ngạo nghễ ấy… Rồi từng ngày đông đi, ngày nào chúng tôi cũng nhìn lên cây phượng đón đợi… Không phụ lòng người, ngày nào phượng cũng có những chùm hoa mới, không nhiều, nhưng trải dài hết mùa đông. Sang xuân hoa vẫn có, cho đến thu về phượng vẫn cứ đơm bông, dẫu không nhiều như mùa xuân. Vậy là phượng có hoa suốt bốn mùa, có lẽ chỉ có cây phượng trường tôi mới có sự kì diệu ấy. Ngày hè đến, tôi nghĩ “có thể phương kiệt sức mà cho hoa ít đi chăng?”. Nhưng không, phượng vẫn cứ trĩu bông chi chít, hàng vạn đoá tầng tầng lớp lớp chồng xếp lên nhau. Những cành phượng chao mình cười trong nắng gió. Phượng hào phóng ban tặng cho các cô cậu học trò những cánh hoa còn tươi nguyên để ép vào trong vở làm kỉ niệm. Tôi đem điều kì diệu phượng nở hoa trong bốn mùa của trường tôi kể với một người bạn. Người ấy bảo tôi rằng: “Hoa phượng trường chuyên nên vậy đấy”! Hoa phượng trường chuyên! Thật hay! Học trò trường chuyên! Cũng vậy nhé! Hãy nở hoa suốt bốn mùa! Đề 3: Em đã từng chứng kiến cảnh bão lụt ở quê mình hoặc xem cảnh đó trên truyền hình, hãy viết bài văn miêu tả trận bão lụt khủng khiếp đó. Ở Huế năm nào cũng có lụt, không chỉ một lần mà tới hai ba lần trong năm, cứ mỗi trận lụt là cướp đi biết bao nhiêu tài sản, công sức mồ hôi nước mắt của con người. Đáng sợ nhất là cơn lũ khủng khiếp năm 2000, đó là cơn lũ lịch sử mà mãi tận bây giờ mỗi khi nhắc lại người dân Huế vẫn còn thấy kinh hoàng. Ra vùng ngoại thành, xuôi về vùng An Cựu cầu Ngói Thanh Toàn càng thê thảm hơn. Không thấy ruộng, thấy nhà cửa cây cối đâu hết tất cả chìm trong biển nước. Thế mà trời mưa không ngớt, ào ào hết trận này đến trận khác, bầu trời xám xịt nặng trĩu như sắp rơi xuống đất. Tiếng người xao xác hốt hoảng: “Lại một xác người nữa!” “Có xác người ở đập đá…” “Xác người ở Vĩ Dạ”. Cả đến tuần lễ nước mới bắt đầu rút. Thành phố đầy bùn đất nhão nhoét, bẩn thỉu. Những khuôn mặt phờ phạc. Đường phố hoang tàn, cây cối đổ nát, nhà cửa xiêu vẹo. Dòng sông lừ đừ mệt mỏi, đau đớn, cảnh tượng thật não lòng thê lương.. Sự cuồng nộ của thiên nhiên, muôn đời vẫn là sự huyền bí – ám ảnh kinh sợ của con người. Em ước mong làm sao con người có đủ trình độ, có đủ sức mạnh để có thể chế ngự được thiên nhiên, để cuộc sống được yên bình no ấm hạnh phúc. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Phương pháp tả cảnh Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21: Chương trình địa phương – Rèn luyện chính tả
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 21_ Viết bài tập làm văn số 5 – Văn tả cảnh
1,435
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22: Buổi học cuối cùng Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 22: Buổi học cuối cùng Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22: Buổi học cuối cùng là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, giúp các bạn thuận tiện hơn trong quá trình học bài và chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo. Buổi học cuối cùng (Chuyện của một em bé người An-Dát) An-phông-xơ Đô-đê I. Kiến thức cơ bản • Về tác giả. An-phông-xơ Đô-đê (1840-1897) nhà văn Pháp – nhà văn hiện thực, nhân đạo, tác giả của nhiều tập truyện ngắn nổi tiếng. Truyện “Buổi học cuối cùng” lấy bối cảnh từ một biến cố lịch sử: Sau cuộc chiến tranh Pháp – Phổ năm 1870 – 1871, nước Pháp thua trận, hai vùng An-dát và Lo-ren giáp biên giới với Phổ bị nhập vào nước Phổ. Phổ là tên của một nước chuyên chế trong lãnh thổ Đức trước đây. Cho nên các trường học ở hai vùng này bị buộc học bằng tiếng Đức. Truyện viết về buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp ở một trường làng thuộc vùng An-dát. • Về tác phẩm. Qua câu chuyện buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp ở vùng An-dát bị quân Phổ chiếm đóng và hình ảnh cảm động của thầy Ha-men, truyện đã thể hiện lòng yêu nước trong một biểu hiện cụ thể là tình yêu tiếng nói của dân tộc và nêu chân lí: “Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khoá chốn lao tù…”. Truyện đã xây dựng thành công nhân vật thầy giáo Ha-men và chú bé Phrăng qua miêu tả ngoại hình, cử chỉ, lời nói và tâm trạng của họ. II. Hướng dẫn đọc văn bản Câu 1. Câu chuyện được kể ra trong hoàn cảnh nào, thời gian, địa điểm nào? Em hiểu như thế nào về tên truyện “Buổi học cuối cùng”? * Hoàn cảnh kể chuyện: – Hoàn cảnh rộng: Truyện lấy bối cảnh từ một biến cố lịch sử: Sau cuộc chiến tranh Pháp – Phổ (1870 – 1874) nước Pháp thua trận phải cắt hai vùng An-dát và Lo-ren cho nước Phổ. (Phổ là một nước chuyên chế trong lãnh thổ của nước Đức trước đây), các trường học ở đây bị buộc học bằng tiếng Đức. * Địa điểm: Câu chuyện xảy ra tại một ngôi trường làng thuộc vùng An-dát nước Pháp. * Ý nghĩa của tên truyện Buổi học cuối cùng – Gợi lên sự nuối tiếc xót xa. – Buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp cũng là buổi học của một dân tộc mất nước, mất quyền được học tiếng nói của dân tộc mình. Câu 2. Truyện được kể theo lời của nhân vật nào, thuộc ngôi thứ mấy? Truyện còn có những nhân vật nào nữa, trong số đó ai gây cho em ấn tượng nổi bật nhất? + Ngôi kể câu chuyện – Truyện được kể theo lời của cậu bé Phrăng – (ngôi thứ nhất). – Cách kể theo ngôi thứ nhất làm tăng tính chân thực của câu chuyện. Vì nhân vật kể chuyện là người trong cuộc, trực tiếp chứng kiến từ đầu đến cuối. Tâm trạng của nhân vật Phrăng qua đó cũng được thể hiện một cách chân thành, sâu sắc. Từ đó câu chuyện càng thêm ý nghĩa. + Các nhân vật trong truyện – Ngoài cậu bé Phrăng trong truyện còn có nhiều nhân vật khác như thầy Ha-men, bác phó rèn Oát-sơ, cụ Hô-de, bác phát thư, các bạn học sinh trong lớp và nhiều dân làng khác nữa. – Trong số tất cả nhân vật kể trên, ấn tượng nhất, nổi bật và xúc động nhất đối với người đọc là nhân vật thầy giáo Ha-men. Câu 3. Vào sáng sớm hôm diễn ra buổi học cuối cùng, chú bé Phrăng đã thấy có gì khác lạ trên đường đến trường, quang cảnh ở trường và không khí trong lớp học? Những điều đó báo hiệu việc gì đã xảy ra? Vào sáng sớm hôm diễn ra buổi học cuối cùng, chú bé Phrăng thấy có rất nhiều sự khác lạ, từ con đường đến quang cảnh sân trường nó giống như sự im lặng trước dông bão. * Sự khác lạ trên đường tới trường – Nhiều người đứng trước bảng dán cáo thị có lưới che. – Mặc dù đã muộn giờ học nhưng bác phó rèn Oát-sơ lại bảo với cậu: “Đừng vội vã thế cháu ơi, đến trường lúc nào cũng vẫn còn sớm”. – Lính Phổ đang tập trận sau xưởng cưa. * Sự khác lạ quang cảnh ở trường – Không còn tiếng “ồn ào như vỡ chợ vang tận ngoài phố”. – Mọi việc đều hết sức bình lặng giống y như một buổi sáng chủ nhật. – Phrăng đi trễ nhưng thầy giáo lại bảo với giọng rất nhẹ nhàng: “Phrăng vào chỗ nhanh lên con, lớp sắp bắt đầu học mà vắng mặt con”. – Thầy giáo mặc áo quần rất trang trọng khác bình thường: Áo rơ-đanh-gốt… đội mũ bằng lụa đen thêu. – Thành phần tham dự lớp học cũng khác: Có cả những người dân làng, ai nấy đều có vẻ buồn rầu. – Giọng nói của thầy Ha-men vô cùng xúc động trang nghiêm. Tất cả những điều đó báo hiệu đây là một buổi học không bình thường, một biến cố trọng đại sắp sửa xảy ra. Câu 4. Ý nghĩa, tâm trạng (đặc biệt là thái độ đối với việc học tiếng Pháp), của chú bé Phrăng diễn biến như thế nào trong buổi học cuối cùng. Những thay đổi về ý nghĩ và tâm trạng của cậu bé Phrăng trong buổi học bằng tiếng Pháp cuối cùng: – Ngạc nhiên: Vì sự im lặng của lớp học, vì thành phần tham dự có cả các cụ già trong làng và ai nấy đều rất buồn; vì trang phục của thầy giáo và thái độ khác lạ của thầy. – Choáng váng: Không ngờ đây là buổi học bằng tiếng Pháp cuối cùng. – Tiếc nuối ân hận: Vậy là chẳng bao giờ được học nữa. Thấy tiếc những thời gian ham chơi trước đây của mình, trào dâng tình cảm quyến luyến với những quyển sách tiếng Pháp. – Xấu hổ, tự giận mình: Vì không đọc thuộc bài trong giây phút thiêng liêng ấy. “Lòng rầu rĩ, không dám ngẩng đầu lên”. – Kinh ngạc: Vì thấy sao mình hiểu bài đến thế, những qui tắc về phân tử trước đây đối với cậu thật khó khăn, thế mà giờ đây đối với cậu “thật dễ dàng, dễ dàng”. – Tự hào khâm phục về thầy giáo: “Chưa bao giờ tôi thấy thầy lớn lao đến như thế”. Điều làm nên sự thay đổi đó ở cậu bé Phrăng chính là tình yêu Tổ quốc mà cậu hiểu được sự thiêng liêng của việc học tiếng nói dân tộc. Thầy giáo Ha-men là nhân vật chính của câu chuyện. Nhân vật này đã để lại cho độc giả ấn tượng sâu sắc, và được tác giả miêu tả ở rất nhiều phương diện khác nhau. * Trang phục: Thầy đã từng hơn 40 năm gắn bó với nghề. Mặc chiếc áo rơđanh-gốt, đội mũ trán trắng bằng lụa đen – trang phục rất trang trọng mà thầy chỉ mặc vào những ngày đại lễ thể hiện ý nghĩa vô cùng quan trọng của buổi học cuối cùng. * Thái độ đối với học sinh: – Rất mực ân cần, dịu dàng tha thiết, không quở trách như mọi ngày khi Phrăng đến muộn: “Phrăng vào chỗ nhanh lên con, lớp bắt đầu học mà lại vắng mất con.” “Các con ơi đây là lần cuối cùng thầy dạy các con” – Nhiệt tình truyền giảng bài học bằng cả tâm huyết của mình: “Thầy chuẩn bị cho ngày hôm đó những tờ mẫu mới tinh, trên có viết những “Chữ Rông” thật đẹp. – Thầy giảng bài say sưa mọi người im phăng phắc còn cậu bé thì chưa bao giờ chăm chú đến thế. – Thầy muốn truyền thụ toàn bộ tri thức của mình, muốn đưa ngay toàn bộ tri thức vào học sinh trước khi ra đi. * Những lời nói về việc học tiếng Pháp: “Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khoá ở chốn lao tù” giữ được tiếng nói tức là giữ được linh hồn của dân tộc, không để kẻ địch đồng hoá, đó là vũ khí tốt nhất khi chưa thể đánh đuổi quân thù. * Hành động, cử chỉ lúc buổi học kết thúc Cảnh kết thúc buổi học được miêu tả rất ấn tượng, hình ảnh thầy Ha-men đọng lại trong tâm hồn cậu bé Phrăng và mọi người thật đẹp, thật cao cả, lớn lao: Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22: Nhân hóa Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22: Phương pháp tìm người
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22_ Buổi học cuối cùng
1,509
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22: Nhân hóa Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 22: Nhân hóa Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22: Nhân hóa là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, giúp các bạn thuận tiện hơn trong quá trình học bài và chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tải và tham khảo. Nhân hóa I. Kiến thức cơ bản • Nhân hoá là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật,… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật,… trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người. • Có ba biểu nhân hoá thường gặp là: 1. Dùng những từ vốn gọi người để gọi vật. 2. Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động, tính chất của vật. 3. Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài tập 1. Nhân hoá là gì? a) Ông trời Mặc áo giáp đen. Ra trận Muôn nghìn cây mía Múa gươm Kiến Hành quân Đây đường (Trần Đăng Khoa) Đoạn thơ trên có tới ba lần sử dụng phép nhân hoá. Ông trời → trở thành người dũng sĩ ra trận Cây mía → trở thành người hiệp sĩ múa gươm b) So sánh đoạn thơ trên với cách diễn đạt – Bầu trời đầy mây đen – Muôn nghìn cây mía ngả nghiêng, lá bay phấp phới – Kiến bò đầy đường Thì cách diễn đoạn ở đoạn thơ hay hơn, sinh động hơn, nó làm cho những sự vật vô tư: Mặt trời, cây mía, con kiến, trở nên có linh hồn, có hành động như con người, gần gũi với con người. 2. Các kiểu nhân hoá a) Từ đó, lão Miệng, bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay lại thân mật sống với nhau, mỗi người một việc, không ai tị ai cả. (Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng) Đoạn văn sử dụng phép nhân hoá, dùng những từ vốn để gọi người: Lão, bác, cô, cậu để gọi vật (các bộ phận của cơ thể). b) Gậy tre, chông tre, chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. (Thép Mới) Đoạn văn trên có tới sáu lần sử dụng phép nhân hoá dùng những từ vốn để chỉ tính chất hoạt động của người: Xung phong, chống lại, giữ để chỉ tính chất hoạt động của cây tre. Trâu ơi, ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày xới ta. (Ca dao) – Câu ca dao có sử dụng phép nhân hoá. – Người nông dân trong bài ca dao, trò chuyện, xưng hô với con trâu giống như trò chuyện, xưng hô với người bạn của mình. Câu 1. Hãy chỉ ra và nêu tác dụng của phép nhân hoá trong đoạn văn sau: Bến cảng lúc nào cũng đông vui. Tàu mẹ, tàu con đậu đầy mặt nước. Xe anh, xe em tíu tít nhận làng và chở hàng ra. Tất cả đều bận rộn. (Phong Thu) – Đoạn văn có hai lần sử dụng phép nhân hoá. – Dùng từ gọi người mẹ, con, anh, em để gọi tàu và những chiếc xe; dùng từ tíu tít chỉ hoạt động của người để chỉ hoạt động của những chiếc xe: tíu tít bận rộn. – Tác dụng: Làm cho cảnh bến cảng trở nên sinh động, những chiếc tàu, chiếc xe cũng có tâm trạng, cảm xúc giống như con người. Câu 2. Hãy so sánh cách diễn đạt trong đoạn văn trên với đoạn văn dưới đây. Bến cảng lúc nào cũng rất nhiều tàu xe. Tàu lớn, tàu bé đậu đầy mặt nước. Xe to, xe nhỏ nhận hàng về và chở hàng ra. Tất cả đều hoạt động liên tục. Đoạn văn trên chỉ giúp chúng ta thấy được sự tất bật, bận rộn của công việc ở bến cảng, chứ không thấy được tình cảm gắn bó, tâm trạng hồ hởi của người làm việc, cũng như của người miêu tả. Câu 3. Hai cách viết dưới đây có gì khác nhau? Nên chọn cách viết nào cho văn bản biểu cảm, và chọn cách viết nào cho văn bản thuyết minh? Trong họ hàng nhà chổi thì cô bé Chổi Rơm vào loại xinh xắn nhất. Cô có chiếc váy vàng óng, không ai đẹp bằng. Áo của cô cũng bằng rơm thóc nếp vàng tươi, được tết săn lại, cuốn từng vòng quanh người, trông cứ như áo len cậy. (Vũ Duy Thông) – Cách 2:. Trong các loại chổi, chổi rơm vào loại đẹp nhất. Chổi được tết bằng rơm nếp vàng. Tay chổi được tết săn lại thành sợi và quấn quanh thành cuộn. + Sự khác nhau – Cách 1: Sử dụng phép nhân hoá làm cho hình ảnh cái chổi rơm trở nên sinh động, gắn bó gần gũi giống như con người. – Cách 2: Chỉ đơn thuần giải thích, về cách thức làm cái chổi rơm + Sự lựa chọn: – Nên chọn cách 1 để viết văn bản biểu cảm, và cách 2 viết văn bản thuyết minh. Câu 4. Hãy cho biết phép nhân hoá trong mỗi đoạn trích dưới đây được tạo ra bằng cách nào và tác dụng của nó như thế nào? Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22: Buổi học cuối cùng Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22: Phương pháp tìm người
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22_ Nhân hóa
912
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22: Phương pháp tìm người Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 22: Phương pháp tìm người Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22: Phương pháp tìm người là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, giúp các bạn thuận tiện hơn trong quá trình học bài và chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo. Phương pháp tìm người I. Kiến thức cơ bản • Muốn tả người cần: – Xác định được đối tượng cần tả (tả chân dung hay tả người trong tư thế làm việc); – Quan sát, lựa chọn các chi tiết tiêu biểu; – Trình bày kết quả quan sát theo một thứ tự. • Bố cục bài văn tả người thường có ba phần: – Mở bài: Giới thiệu người được tả; – Thân bài: Miêu tả chi tiết (ngoại hình, cử chỉ, hành động, lời nói,…); – Kết bài: Thường nhận xét hoặc nêu cảm nghĩ của người viết về người được tả. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học Đoạn 1: – Đoạn văn miêu tả dượng Hương Thư đang đưa thuyền vượt thác. – Đặc điểm nổi bật: Khoẻ mạnh, rắn chắc, tập trung cao độ vào công việc. – Các chi tiết, các hình ảnh, từ ngữ thể hiện thiên về trạng thái động. Chủ yếu là các động từ: Cuồn cuộn, cắn chặt, bạnh ra, nảy lửa. Đoạn 2: – Đặc điểm nổi bật của khuôn mặt: Sự gian xảo, với những đường nét vừa dữ tợn và gớm ghiếc, bẩn thỉu. – Chi tiết hình ảnh: Hai má hóp, đôi mắt gian hùng, mũi gồ sống, mồm toe toét tối om, mấy chiếc răng vàng hợm. Đoạn 3: – Đoạn văn miêu tả hình ảnh ông Cản Ngũ và Quắm Đen trong keo vật (tả người với công việc). – Đặc điểm: Ông Cản Ngũ đô vật già điềm tĩnh khôn khéo còn Quắm Đen đô vật trẻ nhanh nhẹn, cậy sức trẻ muốn vật ngã nhanh đối thủ. – Các phần của đoạn văn + Phần 1 (từ đầu đến nổi lên ầm ầm): Không khí trước trận đấu. + Phần 2 (tiếp đến ngay bụng vậy): Diễn biến keo vật giữa ông Cản Ngũ và Quắm Đen. + Phần 3 (còn lại): Sự chiến thắng của ông Cản Ngũ. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Hãy nêu các chi tiết tiêu biểu mà em sẽ lựa chọn khi miêu tả các đối tượng sau: * Một em bé chừng 4 – 5 tuổi – Hình dáng, khuôn mặt – Đôi mắt, nụ cười, giọng nói – Trang phục (áo quần, giày dép, đầu tóc) – Sở thích đặc biệt (hát, kể chuyện, xem phim hoạt hình) * Một cụ già cao tuổi – Khuôn mặt, ánh mắt, dáng đi, mái tóc, chòm râu – Sở thích (chơi cờ, đọc sách, trồng cây). – Giọng nói (truyền cảm, nhẹ nhàng) – Đôi mắt (hiền từ, âu yếm) – Hành động (vừa nói vừa viết, sự tập trung vào bài giảng, đi tới từng bàn để kiểm tra việc học tập của học sinh). Câu 2. Lập dàn ý (cơ bản) có bài văn miêu tả một trong ba đối tượng trên. Miêu tả một cụ già cao tuổi * Mở bài: Giới thiệu về cụ già: – Là người thân của em, hay tình cờ gặp gỡ. – Ở đâu? Độ bao nhiêu tuổi. – Ấn tượng ban đầu của em. * Thân bài: Miêu tả chi tiết – Tả ngoại hình: Gầy (mập) cao (thấp) đôi mắt, khuôn mặt, những nếp nhăn, chòm râu, mái tóc, nụ cười. – Hành động: Hay kể chuyện cho trẻ em, (chơi cờ, trồng hoa, đi bộ, tập thể dục…) * Kết bài: Cảm nghĩ của em về cụ già. Câu 3. Điền vào chỗ trống trong ngoặc, thử đoán tư thế của ông Cản Ngũ được miêu tả chuẩn bị làm gì? Trên thềm cao, ông Cản Ngũ chuẩn bị làm gì? Trên thềm cao, ông Cản Ngũ ngồi xếp bằng trên chiếu đậu trắng, cạp điều. Ông ngồi một mình một chiếu; người ông đỏ như gấc, to lớn, lẫm liệt, nhác trông không khác gì vị tướng ở trong đền. Đầu ông buộc một vuông khăn màu xanh lục giữ tóc, mình trần, đóng khố bao khăn vát. Miêu tả như vậy ta có thể hình dung được tư thế của ông Cản Ngũ chuẩn bị thi đấu rất dũng mãnh. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22: Buổi học cuối cùng Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22: Nhân hóa
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 22_ Phương pháp tìm người
734
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23: Luyện nói về văn miêu tả Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 23: Luyện nói về văn miêu tả Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23: Luyện nói về văn miêu tả dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Luyện nói về văn miêu tả 1. Đọc đoạn văn sau đây: Xong bài giảng, chuyển sang viết tập. Thầy Ha-men đã chuẩn bị cho ngày hôm đó những tờ mẫu mới tinh, trên có viết bằng “chữ rông” thật đẹp: Pháp, An-dát, Pháp, An-dát. Những tờ mẫu treo trước bàn học trông như những lá cờ nhỏ bay phấp phới khắp xung quanh lớp. Ai nấy đều chăm chú hết sức, và cứ im phăng phắc! Chỉ nghe thấy tiếng ngòi bút sột soạt trên giấy. Có lúc những con bọ dừa bay vào nhưng chẳng ai để ý, ngay cả những trò nhỏ nhất cũng vậy, chúng đang cặm cụi vạch những nét sổ với một tấm lòng, một ý thức, như thể cái đó cũng là tiếng Pháp… Trên mái nhà trường, chim bồ câu gù thật khẽ […] (A.Đô-đê) Miêu tả lại quang cảnh lớp học có những điều sau đây: – Những động tác, hành động của thầy giáo. – Các sự vật xung quanh. 2. Miêu tả lại hình ảnh của thầy giáo Ha-men trong buổi học cuối cùng. Thầy Ha-men trong buổi học cuối cùng hoàn toàn khác với thầy Ha-men trong những ngày bình thường: – Trang phục: Mặc áo rơ-đanh-gốt, đội cái mũ tròn bằng lụa đen. – Giọng nói, cử chỉ: Đối với Phrăng rất dịu dàng khi đi muộn, đối với cả lớp dịu dàng, trang trọng rất thân thiết: “Các con ơi!”. Khi Phrăng không đọc được bài không la mắng mà ôn tồn chỉ dẫn. – Nét mặt, hành động: + Nói về vẻ đẹp của tiếng Pháp, giá trị của tiếng nói dân tộc. + Kiên nhẫn giảng giải bài học cho mọi người. + Chuẩn bị những mẫu chữ rông thật đẹp. + Chốc chốc đứng lặng im trên bục đăm đắm nhìn những đồ vật xung quanh. + Mặt tái nhợt, giọng nghẹn ngào khi nói những lời cuối cùng và viết dòng chữ Nước Pháp muôn năm lên bảng. 3. Lập dàn ý.. Đề bài: Em hãy tả lại hình ảnh người thầy giáo trong phút giây xúc động gặp lại người học trò của mình sau nhiều năm xa cách (thầy giáo của mẹ nay đã nghỉ hưu). * Mở bài: – Lí do em được gặp thầy giáo cũ của mẹ. – Địa điểm, thời gian, tên của thầy giáo, môn dạy. * Thân bài: – Thái độ của thầy khi đón tiếp hai mẹ con – Những cử chỉ, lời nói của thầy đối với mọi người, đặc biệt đối với mẹ và em. – Những kỉ niệm của mẹ em và mọi người về thầy. * Kết bài: Suy nghĩ và tình cảm của em về buổi gặp gỡ. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23: Ẩn dụ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23: Đêm nay Bác không ngủ
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23_ Luyện nói về văn miêu tả
543
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23: Đêm nay Bác không ngủ Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 23: Đêm nay Bác không ngủ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23: Đêm nay Bác không ngủ là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, giúp các bạn thuận tiện hơn trong quá trình học bài và chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo. Đêm nay Bác không ngủ I. Kiến thức cơ bản • Tác giả. Minh Huệ tên khai sinh là Nguyễn Thái, sinh năm 1927, quê ở tỉnh Nghệ An, làm thơ từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp. • Xuất xứ. “Đêm nay Bác không ngủ” là bài thơ nổi tiếng nhất của ông. Bài thơ dựa trên sự kiện có thực: Trong chiến dịch Biên giới cuối năm 1950, Bác Hồ trực tiếp ra mặt trận theo dõi và chỉ huy cuộc chiến đấu của bộ đội và nhân dân ta. • Tác phẩm. Qua câu chuyện về một đêm không ngủ của Bác Hồ trên đường đi chiến dịch, bài thơ đã thể hiện tấm lòng yêu thương sâu sắc, rộng lớn của Bác với bộ đội và nhân dân, đồng thời thể hiện tình cảm yêu kính, cảm phục của người chiến sĩ đối với lãnh tụ. Bài thơ sử dụng thể thơ năm chữ, có nhiều lần liền thích hợp với lối kể chuyện, kết hợp miêu tả, kể với biểu cảm, có nhiều chi tiết giản dị, chân thực và cảm động. II. Hướng dẫn đọc hiểu văn bản Câu 1. Bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” kể về một đêm không ngủ của Bác trên đường đi chiến dịch. Người chiến sĩ trong một lần cùng Bác trên đường đi chiến dịch, trong đêm mưa giá lạnh chợt giật mình tỉnh giấc thấy tất cả mọi người đã ngủ say riêng một mình Bác vẫn ngồi lặng im bên bếp lửa, và đi dém chăn cho từng người. Anh băn khoăn không yên vì lo cho sức khoẻ của Bác, mời Bác đi ngủ nhưng Bác động viên người chiến sĩ cứ yên tâm ngủ ngon để ngày mai đi đánh giặc. Lần thứ hai, rồi lần thứ ba thức dậy anh hốt hoảng thấy Bác vẫn cứ ngồi thức, trầm tư trong im lặng. Gặng hỏi anh mới biết Bác ngồi lo cho đoàn dân công ngủ ngoài rừng trong mưa lạnh không có chăn chiếu, chỉ có lá cây. Cảm động vì tấm lòng và tình yêu thương bao la của Bác, anh đội viên đã cùng Bác thức suốt đêm trong lòng ngập tràn niềm cảm phục, xúc động. + Hình tượng Bác Hồ trong bài thơ được miêu tả qua con mắt và cảm nghĩ của anh đội viên. + Tác dụng (hiệu quả nghệ thuật) – Đối với việc thể hiện tâm hồn cao đẹp của Bác: Anh đội viên là tham gia chiến dịch cùng Bác, là người trực tiếp chứng kiến cảnh Bác không ngủ, chính vì vậy tạo cho lời kể tính chân thực, khách quan, giàu sức thuyết phục. – Đối với việc thể hiện tấm lòng của anh bộ đội đối với lãnh tụ: Đó là sự sâu sắc, chân thành, tự nhân vật trực tiếp biểu lộ tấm lòng, tình cảm của mình. Câu 3. Bài thơ kể lại hai lần anh đội viên thức dậy nhìn thấy Bác không ngủ, hãy so sánh tâm trạng và cảm nghĩ của anh đội viên đối với Bác qua hai lần đó? * Lần thứ nhất Hình ảnh Bác Tâm trạng và cảm nghĩ của anh đội viên – Trời khuya mà Bác vẫn ngồi, Bác không ngủ – Người cha mái tóc bạc, đốt lửa cho anh nằm – Bác đi dép chăn, từng người từng người một, bóng Bác cao lồng lộng ấm hơn ngọn lửa hồng → Hành động dịu dàng mà rất lặng lẽ, Bác giống như một ông Tiên trong truyện cổ tích – Vô cùng ngạc nhiên: Khuya rồi, trời lạnh lẽo, điều gì làm Bác không ngủ – Không ngủ khác với chưa ngủ. – Từ ngạc nhiên, tâm trạng của người lính chuyển sang vô cùng xúc động trước sự chăm sóc ân cần của Bác dành cho mình – Niềm xúc động đã biến thành nỗi thổn thức, khi nhận ra sự vĩ đại của Bác → sự quan tâm của Bác đối với tất cả mọi người – Băn khoăn lo lắng cho sức khỏe của Bác, người chèo lái con thuyền cách mạng * Lần thứ hai Hình ảnh của Bác Hình ảnh của Bác Tâm trạng và cảm nghĩ của anh đội viên – Bác vẫn ngồi đinh, chòm râu im phăng phắc -> dáng ngồi chất chứa cả một khối tâm tư nặng trĩu. – Bác thương đoàn dân công, đêm nay ngủ ngoài rừng. Rải lá cây làm chiếu. Manh áo phủ làm chăn → Một tình thương cao cả, mênh mông, sâu thẳm. – Không còn bồn chồn nữa mà hốt hoảng giật mình – cái lo lắng đã đẩy đến cao trào – Sau đó là sự vội vàng cuống quýt, năn nỉ thiết tha: Bác ơi! mời Bác ngủ Mời Bác ngủ, Bác ơi! Vì lo cho sức khỏe của Bác, Bác không ngủ lấy sức đâu mà đi đánh giặc. – Đây là giây phút bừng sáng tâm tư người chiến sĩ, anh nhận ra được lí do cao cả của việc Bác không ngủ, cảm nhận được hạnh phúc sống bê Bác, và làm theo gương Bác: Anh đã thức luôn cùng Bác. Câu 4. Vì sao trong bài thơ không kể lần thứ hai, qua cảm nghĩ của anh đội viên, hình ảnh Bác, đã được khắc hoạ sâu đậm như thế nào? * Bài thơ không nhắc đến lần thứ hai vì: – Nếu nhắc đủ cả ba lần bài thơ sẽ quá dài, thiếu cô đọng. – Nhắc hai lần dễ làm nổi bật sự khác biệt và sự tiến triển của sự việc. * Hình ảnh của Bác qua bài thơ: – Đó là người có tình yêu thương vô cùng sâu sắc rộng lớn. – Bác vừa rất vĩ đại nhưng cũng rất gần gũi như một người cha trong gia đình. – Những cử chỉ hành động rất giản dị ấm áp, làm rung động lòng người. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Đọc diễn cảm bài thơ. Muốn đọc diễn cảm bài thơ, em cần lưu ý những điều sau đây: – Thể hiện được tính chất tự sự và trữ tình của bài thơ. – Thể hiện đúng cách ngắt nhịp 3/2 hoặc 2/3 Anh đội viên thức dậy (3/2) Thấy trời khuya / lắm rồi (3/2) Mà sao Bác vẫn ngồi (3/2) Đêm nay / Bác không ngủ (2/3) – Giọng của anh đội viên: Bồi hồi xúc động. – Giọng của Bác ôn tồn, từ tốn. Câu 2. Dựa theo bài thơ em hãy viết một bài văn ngắn bằng lời của người chiến sĩ. Tôi là một người lính đã về hưu, trong suốt 40 năm ở quân ngũ có biết bao nhiêu kỉ niệm khó quên. Nhưng kỉ niệm sâu đậm nhất làm tôi nhớ mãi đó là lần tham gia chiến dịch Biên giới, tôi được vinh dự tham gia chiến dịch cùng Bác, vị lãnh tụ vô cùng kính yêu. Đó là một ngày đông giá lạnh, sau một chặng đường hành quân vất vả, toàn đại đội cùng Bác dừng lại ở một ngôi làng hẻo lánh ở bìa rừng. Sau khi đã xong phần sinh hoạt buổi tối thường kì, mọi người lên giường ngủ thiếp ngay vì mệt và vì mưa lạnh. Tôi ngủ được một giấc dài bỗng giật mình tỉnh dậy, bởi vì đang lạnh bỗng dưng thấy ấm đến lạ. Ngay cạnh tôi là một bếp lửa đang cháy bập bùng chả trách mà tôi thấy ấm, nhưng lạ hơn tôi thấy Bác vẫn chưa ngủ, ngồi bên bếp lửa trầm tư nghĩ ngợi. Ánh lửa soi mái tóc bạc của người cha làm lòng tôi nôn nao, thương Bác đến vô cùng. Chưa hết ngạc nhiên tôi thấy Bác đứng dậy đi hết giường này, đến giường khác dém chăn cho từng người, từng người một rất nhẹ và khẽ, sợ mọi người thức giấc y như người mẹ chăm sóc cho những đứa con thân yêu của mình. Lúc đó tôi cảm thấy Bác thiêng liêng cao cả biết nhường nào, bóng Bác cao lồng lộng giữa đất trời, ấm hơn cả ngọn lửa hồng đang rực cháy. Tôi đến bên Bác thì thầm: Bác ơi! Khuya thế này rồi sao Bác lại chưa ngủ? Bác có lạnh lắm không ạ? Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23: Ẩn dụ
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23_ Đêm nay Bác không ngủ
1,434
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23: Ẩn dụ Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 23: Ẩn dụ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23: Ẩn dụ là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, giúp các bạn thuận tiện hơn trong quá trình học bài và chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo. Ẩn dụ I. Kiến thức cơ bản • Ấn dụ là tên gọi sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. • Có bốn kiểu ẩn dụ thường gặp là: – Ấn dụ hình thức. – Ân dụ cách thức. – Ẩn dụ phẩm chất. – Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Ẩn dụ là gì? Trong khổ thơ a) Anh đội viên nhìn Bác Càng nhìn lại càng thương Người cha mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm. (Minh Huệ) – Cụm từ người cha dùng để chỉ Bác Hồ. – Có thể ví như vậy là vì: Sự chăm sóc của Bác đối với anh đội viên và mọi người giống như sự chăm sóc của người cha đối với các con của mình. – Cách nói như vậy rất giống với phép so sánh về sự tương đồng. Nhưng khác với phép so sánh ở chỗ – trong so sánh có dùng từ để so sánh: Như, giống như… còn ở phép ẩn dụ không có từ so sánh và sự vắng mặt của một vế → Phép ẩn dụ còn gọi là so sánh ngầm. 2. Các kiểu ẩn dụ Về thăm nhà Bác làng sen Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng. (Nguyễn Đức Mậu) Thắp, lửa hồng: Dùng để chỉ hoa râm bụt ở nhà Bác có màu hồng giống như ngọn lửa. Nhưng đó còn là ngọn lửa toả sáng từ con người Bác, cuộc đời Bác. Ân dụ phẩm chất (Nguyễn Tuân) + Nắng giòn tan dùng để chỉ niềm vui được gặp lại sông Đà. + Giòn tan thường để chỉ âm thanh – trong ví dụ trên được dùng để diễn tả tâm trạng Ấn dụ chuyển đổi cảm giác c) Một số kiểu tương đồng để tạo phép ẩn dụ: Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. (Tục ngữ) (tương đồng về phẩm chất) Nặng lòng xưa giọt mưa đau Mát lòng nay trận mưa mau quê nhà. (Tố Hữu) (Ẩn dụ về chuyển đổi cảm giác) III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. So sánh đặc điểm và tác dụng của ba cách diễn đạt. Cách 1: Bác Hồ mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm. Cách 2: Bác Hồ như người cha Đốt lửa cho anh nằm. Cách 3: Người Cha mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm. + Cách 1 dùng cách nói bình thường, cách 2 dùng phép so sánh, cách 3 dùng phép ẩn dụ. + Cách 1 gợi được hình ảnh mái tóc bạc, nhưng lại không nêu được hình tượng người cha. Cách 2 tạo được hình tượng người cha nhưng lại rơi mất mái tóc bạc. Cách 3 là hay nhất ý nghĩa biểu tượng cao, vừa tạo dựng được cả hai. Câu 2. Tìm ẩn dụ trong những ví dụ dưới đây. Nêu lên nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh ngầm với nhau. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. (Tục ngữ) Ăn quả tương đồng với sự hưởng thụ thành quả, trồng cây tương đồng với sự tạo ra thành quả Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. (Tục ngữ) Mực tương đồng với sự tối tăm, cái xấu, cái dở. Đèn tương đồng với sự tốt đẹp sáng sủa, cái hay, cái tốt. Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền. (Ca dao) – Thuyền luôn di chuyển đi ngược về xuôi tương đồng với hình ảnh người con trai nay đây mai đó. Bến luôn đứng yên một chỗ, tương đồng với hình ảnh người con gái ở nhà chờ đợi. – Lấy quan hệ giữa thuyền và bến – để nói hộ sự đợi chờ của người con gái đối với người yêu đi xa. e) Ngày ngày Mặt Trời đi qua trên lăng Thấy một Mặt Trời trong lăng rất đỏ. (Viễn Phương) Mặt trời thiên nhiên xua tan đêm tối đem lại ánh sáng, sự sống cho muôn loại tương đồng với hình ảnh Bác Hồ đem lại ánh sáng của độc lập tự do, xua tan bóng đêm nô lệ. Câu 3. Tìm những ẩn dụ chuyển đổi cảm giác trong câu văn, câu thơ và nêu lên tác dụng của những ẩn dụ đó. a) Buổi sáng, mọi người đổ ra đường. Ai cũng muốn ngẩng lên cho thấy mùi hôi chảy qua mặt. (Tô Hoài) – Mùi hồi chín, là cảm nhận bằng khứu giác (hương thơm của trái cây). – Chảy qua mặt, cảm nhận bằng thị giác (có thể nhìn thấy) Ấn dụ chuyển đổi cảm giác. vợ – Tác dụng: Diễn tả mùi thơm lan toả nhiều đến mức có thể nhìn thấy được. Cha lại dắt con đi trên cát mịn Ánh nắng chảy đầy oai. (Hoàng Trung Thông) – Thường thì ánh nắng được cảm nhận bằng thị giác: Vàng óng, vàng tươi, vàng, vàng nhạt. – Ánh nắng trong câu thơ “chảy đầy oai”, ánh nắng chảy thành dòng có thể cảm nhận bằng xúc giác. Câu thơ vì vậy mà gợi hình, gợi cảm hơn. Ngoài thềm rơi chiếc lá đa Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng (Trần Đăng Khoa) – Tiếng rơi là âm thanh thường được cảm nhận bằng thính giác. – Phép ẩn dụ có tác dụng diễn tả âm thanh của chiếc lá rơi rất khẽ, rất nhẹ, qua âm thanh mà biết được cách rơi và độ dày mỏng của lá thì đó là một sáng tạo độc đáo của nhà thơ. d) Em thấy cả trời sao Xuyên qua từng kẽ lá Em thấy cơn mưa rào Ướt tiếng cười của bố. (Phan Thế Cải) – Trời sao trạng thái tĩnh, Xuyên qua từng kẽ lá trạng thái động, sự chuyển động trong cảm nhận của thị giác. – Thấy cơn mưa là cảm nhận bằng thị giác, tiếng cười cảm nhận bằng thính giác, Ướt tiếng cười vừa bằng thị giác, vừa thính giác và xúc giác. – Tác dụng: Thể hiện sự ngộ nghĩnh, hồn nhiên của trẻ thơ. Luyện nói về văn miêu tả 1. Đọc đoạn văn sau đây: Xong bài giảng, chuyển sang viết tập. Thầy Ha-men đã chuẩn bị cho ngày hôm đó những tờ mẫu mới tinh, trên có viết bằng “chữ rông” thật đẹp: Pháp, An-dát, Pháp, An-dát. Những tờ mẫu treo trước bàn học trông như những lá cờ nhỏ bay phấp phới khắp xung quanh lớp. Ai nấy đều chăm chú hết sức, và cứ im phăng phắc! Chỉ nghe thấy tiếng ngòi bút sột soạt trên giấy. Có lúc những con bọ dừa bay vào nhưng chẳng ai để ý, ngay cả những trò nhỏ nhất cũng vậy, chúng đang cặm cụi vạch những nét sổ với một tấm lòng, một ý thức, như thể cái đó cũng là tiếng Pháp… Trên mái nhà trường, chim bồ câu gù thật khẽ […] Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23: Đêm nay Bác không ngủ
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23_ Ẩn dụ
1,177
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 24: Hoán Dụ Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 24: Hoán Dụ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 24: Hoán Dụ dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Hoán Dụ I. Kiến thức cơ bản • Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên của một sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. • Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp là: – Lấy một bộ phận để gọi toàn thể; – Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng; – Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật; – Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng. II. Tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Hoán dụ là gì? * Trong câu thơ: Áo nâu liền với áo xanh Nông thôn cùng với thị thành đứng lên. (Tố Hữu) 2. Các kiểu hoán dụ a) Bàn tay ta làm nên tất cả Có sức người sỏi đá cũng thành cơm. (Hoàng Trung Thông) Bàn tay là bộ phận của cơ thể con người → để chỉ sức lao động, sức sáng tạo. Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. (Ca dao) + Mối quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng. Ngày Huế đổ máu Chú Hà Nội về Tình cờ chú cháu Gặp nhau Hàng Bè. (Tố Hữu) + Đổ máu là hình ảnh nói về sự tàn khốc, dữ dội của chiến tranh. + Lấy dấu hiệu của sự vật (đặc điểm, tính chất) để gọi sự vật. 3. Một số kiểu quan hệ thường được sử dụng để tạo ra phép hoán dụ. + Lấy bộ phận để gọi toàn thể: Một tay gây dựng cơ đồ Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành. (Nguyễn Du) Rất đẹp hình ảnh lúc nắng chiều Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo. (Tố Hữu) + Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật: Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay. (Tố Hữu) Sen tàn cúc lại nở hoa Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân. (Nguyễn Du) III. Hướng dẫn luyện tập. Câu 1. Chỉ ra phép hoán dụ trong những câu thơ, câu văn sau, và cho biết quan hệ giữa các sự vật trong mỗi phép hoán dụ là gì? a) Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh năm mà vẫn đói rách. Làng xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ăn tập thể. (Hồ Chí Minh) – Làng xóm ta dùng để chỉ cuộc sống của người nông dân, kiểu hoán dụ lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng. b) Vì lợi ích mười năm phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm phải trồng người. (Hồ Chí Minh) Lợi ích mười năm, trăm năm dùng theo nghĩa chỉ lượng, kiểu hoán dụ lấy cái cụ thể gọi cái trừu tượng. c) Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay. (Tố Hữu) – Áo chàm dùng để chỉ đồng bào miền núi, kiểu hoán dụ lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật. Vì sao? Trái đất nặng ân tình Nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh. (Tố Hữu) – Trái đất dùng để chỉ nhân loại, kiểu hoán dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng. Câu 2. Hoán dụ có gì giống và khác với ẩn dụ? Cho ví dụ minh hoạ. a) So sánh + Giống nhau Cả hai biện pháp đều lấy tên gọi của sự vật hiện tượng này để gọi tên sự vật hiện tượng khác. + Khác nhau – Ấn dụ dựa mối quan hệ tương đồng. – Hoán dụ trên cơ sở mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng. b) Ví dụ Cầu cong như cái lược ngà Sông dài mái tóc cung nga buông hờ. (Huy Cận) Mái tóc có đặc điểm: Mềm mại, thướt tha, vì vậy có thể dùng làm ẩn dụ để nói về dòng sông. Xuân Lan, thu cúc, mặn mà cả hai. (Nguyễn Du) Câu thơ nói về vẻ đẹp của hai chị em Thuý Kiều. Ngày xưa những phụ nữ khuê các thường hay bận y phục màu hồng. Y phục màu hồng đã trở thành đặc trưng của phụ nữ, tác giả đã dùng bóng hồng để hoán dụ chỉ người con gái. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 24: Lượm
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 24_ Hoán Dụ
741
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 24: Lượm Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 24: Lượm Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 24: Lượm dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Lượm Tố Hữu I. Kiến thức cơ bản • Tác giả Tố Hữu tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920, quê ở tỉnh Thừa Thiên – Huế, là nhà cách mạng và nhà thơ lớn của thơ ca hiện đại Việt Nam. Bài Lượm được ông sáng tác năm 1949, trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. • Bài thơ in trong tập thơ Việt Bắc?. – Bằng cách kết hợp miêu tả với kể chuyện và biểu hiện cảm xúc, bài thơ đã khắc hoạ hình ảnh chú bẻ liên lạc Lượm hồn nhiên, vui tươi, hăng hái, dũng cảm. Lượm đã hi sinh nhưng hình ảnh của em còn đọng mãi với quê hương, đất nước và trong lòng mọi người. – Thể thơ bốn chữ, nhiều từ láy có giá trị gợi hình và giàu âm điệu đã góp phần tạo nên thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật. II. Hướng dẫn đọc hiểu văn bản Câu 1. Bài thơ kể và tả về Lượm qua những sự việc nào, bằng lời của ai? Dựa theo trình tự lối kể ấy, em hãy tìm bố cục bài thơ. + Bài thơ kể lại cuộc đời của chú bé Lượm bằng chính giọng kể của tác giả, với một tấm lòng yêu mến xót thương và cảm phục. + Bố cục bài thơ: Gồm có ba phần – Phần một (từ đầu đến cháu đi xa dần): Lượm chú bé liên lạc hồn nhiên, vui tươi. – Phần hai (tiếp theo đến Lượm ơi còn không): Sự hi sinh anh dũng của Lượm. – Phần ba (còn lại): Sự bất tử của người anh hùng nhỏ tuổi. Câu 2. Hình ảnh của Lượm trong đoạn thơ từ khổ thứ hai đến khổ thứ năm có những nét đáng yêu, đáng mến nào? a) Hình ảnh của Lượm được miêu tả trong đoạn thơ từ khổ thứ hai đến khổ thứ năm về những phương diện: – Trang phục: Cái xắc xinh xinh … Ca lô đội lệch. Trang phục y như của một người lính thật sự. Sự đáng yêu, dễ mến được toát ra từ một người chiến sĩ nhí nhanh nhẹn, nhí nhảnh phù hợp với lứa tuổi. – Hình dáng: Chú bé loắt choắt, Cái chân thoăn thoắt Cái đều nghênh nghênh. Hình dáng bé nhỏ, nhưng rất nhanh nhẹn, hoạt bát và tinh nghịch. – Cử chỉ: Mồm huýt sáo vang Cháu cười híp mí. Rất hồn nhiên, ngây thơ trong sáng, bởi vì không có gì biểu hiện sự trong trẻo của tâm hồn bằng nụ cười và điệu sáo. Cháu đi liên lạc Vui lắm chú à Ở đồn Mang Cá Thích hơn ở nhà Đây là “một trong những câu thơ hay nhất viết về thiếu nhi Việt Nam”(Nguyễn Trọng Hoàn) theo chú được đánh giặc là một niềm yêu thích. Lượm đã gánh vác nhiệm vụ lớn lao một cách rất hồn nhiên. b) Tác dụng của đoạn thơ: – Đoạn thơ đã miêu tả về hình ảnh của chú bé Lượm rất đáng yêu: Nhỏ nhắn, xinh xắn, hồn nhiên yêu đời. – Thể hiện tình cảm quý mến sâu sắc của nhà thơ đối với chú bé liên lạc, bởi lẽ có yêu quý Lượm rất nhiều thì nhà thơ mới miêu tả chân dung về Lượm đẹp đến thế. c) Nghệ thuật: – Từ láy: Đoạn thơ có rất nhiều từ láy gợi hình: Loắt choắt, xinh xinh, thoăn thoắt, nghênh nghênh. – Nhịp thơ: 2/2 đều đặn (Thể thơ bốn chữ đậm chất dân gian). – Phép điệp: Cái xắc, cái chân, cái đầu gợi lên sự sinh động và những nét ngộ nghĩnh đáng yêu của cậu bé. – Phép so sánh: Như con chim chích Nhảy trên đường vàng + Thể hiện hình dáng nhỏ nhắn và tính cách nhí nhảnh, hồn nhiên của chú bé liên lạc, dường như có chú bé Lượm đang chạy nhảy tung tăng trước mắt người đọc. + Con đường vàng: Chú bé đi trên cánh đồng lúa vàng rực của làng quê, đó còn là con đường vàng của tuổi thơ chăn trâu, thả diều, với trò chơi đuổi bắt cùng bè bạn.
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 24_ Lượm
744
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 24: Tập thơ bốn chữ Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 24: Tập thơ bốn chữ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 24: Tập thơ bốn chữ dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Tập thơ bốn chữ I. Chuẩn bị ở nhà Câu 1. Ngoài bài thơ “Lượm”, em có biết bài thơ, đoạn thơ bốn chữ nào khác? Hãy nêu tên và chỉ ra những chữ cùng vẫn trong bài thơ. Một số bài thơ bốn chữ khác: Mười quả trứng Mười quả trứng tròn Me gà ấp ủ Mười chú gà con Hôm nay ra đủ Lòng trắng lòng đỏ Thành mỏ, thành chân Cái mỏ tí hon Cái chân bé xíu Lông màng mát dịu Mắt đen sáng ngời Ôi chú gà ơi! Ta yêu chú lắm! (Phạm Hổ) + Vần chân: Trong bài thơ trên: Tròn – con, ủ – đủ, đỏ – hon, xíu – dịu, ngời – ơi. + Vần lưng: Ủ – chú, đỏ – mỏ. Kể cho bé nghe Hay nói ầm ĩ Là con vịt bầu Hay hỏi đâu đâu Là con chó vện Hay chăng dây điện Là con nhện con Ăn no quay tròn Là cối xay lúa Mồm thở ra gió Là cái quạt hòm Không thèm cỏ non Là con trâu sắt… (Trần Đăng Khoa) Câu 2. Chỉ ra vần chân và vần lưng ở các đoạn thơ: + Căn cứ vào định nghĩa: Vần chân là vần được gieo vào cuối dòng thơ, vần lưng là vần được gieo ở giữa dòng thơ. Mây lưng chừng hàng Về ngang lưng núi Ngàn cây nghiêm trang Mơ màng theo bụi. (Xuân Diệu) + Vần chân: hàng – trang; núi – bụi. + Vần lưng: hàng – lưng; trang – màng. Câu 3. Xác định vần liền và vẫn cách trong hai đoạn thơ sau: + Căn cứ vào định nghĩa: – Vân liền là vẫn được gieo liên tiếp ở các dòng thơ. – Vần cách là vần không gieo liên tiếp mà thường cách ra một dòng. + Trên cơ sở đó ta xác định đoạn thơ được gieo vần chân và vần gián cách: cháu – sáu; ra – nhà. Cháu đi đường cháu Cháu lên đường ra Đến nay tháng sáu Chợt nghe tin nhà. (Tố Hữu) – Đoạn thơ: Nghé hành nghé hẹ Nghé chẳng theo mẹ. Thì nghe theo đàn Nghé chớ đi càn Kẻ gian bắt nó. (Đồng dao) Gieo vần chân, vần liên tiếp: hẹ mẹ, đàn – càn. Câu 4. Đoạn thơ sau trích trong bài “Chị em” của Lưu Trọng Lư, một bạn chép sai hai chữ có vần, em sửa lại cho phù hợp (sông, cạnh). – Đoạn thơ được gieo vần gián cách, vậy từ lạnh phải có vần tương ứng là từ cạnh phải không nào? Còn từ đông phải đi với từ sông như vậy mới hợp về vần và về nghĩa. Em bước vào đây Gió hôm nay lạnh Chị đốt than lên Để em ngồi cạnh Nay chị lấy chồng Ở mãi Giang Đông Dưới chân mây trắng Cách mấy con sông. Câu 5. Tập làm một bài thơ hoặc một đoạn thơ bốn chữ có nội dung kể chuyện hoặc miêu tả về một số sự việc hay một người theo vần tự chọn. Các em kể về các đề tài gần gũi xung quanh mình như chuyện lớp, chuyện trường, giờ ra chơi, giờ học… cũng không nhất thiết phải theo vần gián cách hay vần liền, miễn có nhạc điệu xuôi tai là được. Sau đây là một số bài thơ, đoạn thơ các em tham khảo. Lớp chúng em Lớp em sáu bảy Lớp nhỏ nhất trường Nhưng mà học tập Chẳng hề nhỏ đâu Luôn luôn dẫn đầu Phong trào đoàn đội Thứ hạng hàng tuần Cũng nhất luôn nốt Sáu bảy luôn tốt Hốt tuốt điểm mười Thầy cô mỉm cười Mẹ cha vui sướng. (Hoàng Thu) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 24: Hoán Dụ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 24: Lượm
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 24_ Tập thơ bốn chữ
641
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25: Các thành phần chính của câu Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 25: Các thành phần chính của câu Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25: Các thành phần chính của câu dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Các thành phần chính của câu I. Kiến thức cơ bản • Thành phần chính của câu là những thành phần bắt buộc phải có mặt để câu có cấu tạo hoàn chỉnh và diễn đạt được một ý trọn vẹn. Thành phần không bắt buộc có mặt được gọi là thành phần phụ. • Vị ngữ là thành phần chính của câu có khả năng kết hợp với các phó từ chỉ quan hệ thời gian và trả lời cho các câu hỏi Làm gì?, Làm sao?, Như thế nào? hoặc Là gì? – Vị ngữ thường là động từ hoặc cụm động từ, tính từ hoặc cụm tính từ, danh từ hoặc cụm danh từ. – Câu có thể có một hoặc nhiều vị ngữ. • Chủ ngữ là thành phần chính của câu nêu tên sự vật, hiện tượng có hành động, đặc điểm, trạng thái,… được miêu tả ở vị ngữ. Chủ ngữ thường trả lời cho các câu hỏi Ai?, Con gì? hoặc Cái gì? – Câu có thể có một hoặc nhiều chủ ngữ. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Phân biệt thành phần chính với thành phần phụ của câu a) Tìm các thành phần trong câu: (Tô Hoài) b) Trong câu trên chủ ngữ và vị ngữ là không thể lược bỏ. Ta có thể lược bỏ trạng ngữ, thành phần chính là thành phần không thể lược bỏ trong câu. 2. Vị ngữ a) Vị ngữ trong câu trến: Đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. – Vị ngữ có thể kết hợp với từ đã ở phía trước (phó từ). – Vị ngữ trên trả lời cho câu hỏi Tôi thế nào? b) Phân tích cấu tạo của vị ngữ trong các câu: (Thép mới) – Vị ngữ là động từ: Là, giúp. – Hai câu trên mỗi câu có một vị ngữ. 3. Chủ ngữ – Chủ ngữ trong câu bì là đại từ Tôi trả lời cho câu hỏi Ai ra đứng? – Chủ ngữ trong câu b2 là một cụm danh từ Chợ Năm Căn trả lời cho câu hỏi Cái gì? – Chủ ngữ trong câu b3 là cụm danh từ cây tre, tre, nứa, trúc, mai, cầu tạo nên nhiều chủ ngữ, trả lời cho câu hỏi Cái gì? Câu 1. Xác định chủ ngữ, vị ngữ trong những câu sau. Cho biết mỗi chủ ngữ hoặc vị ngữ có cấu tạo như thế nào? Câu 2. Đặt ba câu theo yêu cầu có vị ngữ trả lời cho câu hỏi làm gì? Như thế nào? Là gì? a) Câu có vị ngữ trả lời cho câu hỏi Làm gì? Kể lại một việc tốt. Bạn Lan là người trực lớp rất sạch sáng hôm nay. Câu 3. Chỉ ra chủ ngữ trong những câu vừa đặt. Chủ ngữ ấy trả lời cho câu hỏi như thế nào? a) Chủ ngữ (câu a) Bạn Lan, trả lời cho câu hỏi Ai là người đã trực lớp? b) Chủ ngữ (câu b) Dáng người của bạn Tuấn, trả lời câu hỏi Dáng người của ai? c) Chủ ngữ (câu c) Bạn Tâm, trả lời câu hỏi Bạn nào là lớp trưởng lớp 73? Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25: Cô Tô Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25: Viết bài tập lăm văn số 6 – Văn tả người
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25_ Các thành phần chính của câu
628
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25: Cô Tô Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 25: Cô Tô Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25: Cô Tô dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Cô Tô Nguyễn Tuân I. Kiến thức cơ bản • Tác giả Nguyễn Tuân (1910 – 1987), quê ở Nhân Mục, Thanh Xuân, Hà Nội, là nhà văn nổi tiếng, sở trường về thể tuỳ bút và kí. Tác phẩm của Nguyễn Tuân luôn thể hiện phong cách độc đáo, tài hoa, sự hiểu biết phong phú nhiều mặt và bốn ngôn ngữ giàu có, điêu luyện. • Tác phẩm “Cô Tô” là phần cuối của bài kí “Cô Tô” – Tác phẩm ghi lại những ấn tượng về thiên nhiên, con người lao động ở vùng đảo Cô Tô mà nhà văn Nguyễn Tuân thu nhận được trong chuyến ra thăm đảo. – Cảnh thiên nhiên và sinh hoạt của con người trên vùng đảo Cô Tô hiện lên thật trong sáng và tươi đẹp qua ngôn ngữ điêu luyện và sự miêu tả tinh tế, chính xác, giàu hình ảnh và cảm xúc của Nguyễn Tuân. Bài văn cho ta hiểu biết và yêu mến một vùng đất của Tổ quốc – quần đảo Cô Tô. I. Hướng dẫn đoc – Hiểu văn bản Câu 1. Bài văn có thể chia làm mấy đoạn? Nội dung chính của mỗi đoạn là gì? + Cô Tô là quần đảo gồm nhiều đảo nhỏ nằm trong vịnh Bái Tử Long, cách bờ biển tỉnh Quảng Ninh 100km. Nổi tiếng đẹp và có nhiều hải sản rất ngon: Hải sâm, bào ngư, cá, mực. Đoạn trích trong sách Ngữ văn 6 là phần cuối của bài kí. + Đoạn trích có thể làm ba phần: – Phần một (từ đầu đến mùa sóng ở đây): Cảnh Cô Tô sau cơn bão. – Phần hai (tiếp đến là là nhịp canh): Sự tráng lệ, hùng vĩ của cảnh mặt trời mọc ở đảo Cô Tô. Câu 2. Vẻ đẹp trong sáng của đảo Cô Tô sau trận bão đi qua được miêu tả như thế nào? – Những chi tiết miêu tả cảnh Cô Tô sau cơn bão: + Bao giờ bầu trời Cô Tô cũng trong sáng như vậy. + Cây trên núi lại thêm xanh mượt + Nước biển lại lam biếc đậm đà hơn. + Cát lại càng giòn hơn nữa. + Lưới càng thêm nặng mẻ cá. + Cảnh Cô Tô sau cơn bão được miêu tả rất đẹp, một vẻ đẹp trong sáng, thoáng đãng, hữu tình của mây núi, nước non. Tất cả dường như đang rửa sạch để tái tạo một Cô Tô mới tinh khôi, thanh khiết đến tuyệt vời. – Đoạn văn có rất nhiều tính từ: Trong trẻo, sáng sủa, trong sáng, xanh mượt, lam biếc, đậm đà, vàng giòn… Những tính từ chỉ màu sắc, ánh sáng góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của Cô Tô. – Vị thế miêu tả: Nhà văn đứng ở trên đỉnh núi (trèo lên nóc đồn) quay gót 180° mà ngắm toàn cảnh đảo Cô Tô, vì vậy mà cảnh Cô Tô được tái hiện lại theo cái nhìn của tác giả: Nhìn lên (bầu trời), nhìn ngang (cây cối), nhìn xuống (nước biển), nhìn quanh (bốn phương, tám hướng). Câu 3. Đoạn tả cảnh mặt trời mọc trên biển là một bức tranh rất đẹp. Hãy tìm những từ ngữ, hình ảnh, và nhận xét về phép so sánh mà tác giả đã sử dụng. Cảnh mặt trời mọc trên đảo Cô Tô được nhà văn miêu tả rất công dụng: – Tâm trạng nhà văn đi đón mặt trời lên: + Dậy từ canh tư + Còn tối đất, cố đi mãi trên đá đầu sư + Ngồi rình mặt trời lên. + Tâm trạng chờ đợi, háo hức, nhà văn đã rất công phu chịu đựng gian khổ săn đón giờ phút được chiêm ngưỡng mặt trời lên. – Cảnh mặt trời sắp mọc: Chân trời, ngấn bể sạch như một tấm kính lau hết mây, hết bụi. Bước một, giống như một sân khấu mở màn, tấm màn nhung vén lên để chuẩn bị long trọng cho những gì diễn ra sau đó (Vũ Dương Quỹ). + Mặt trời nhú lên dần dần rồi lên cho bì hết. + Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng, hồng hào thăm thẳm đường bệ (so sánh). + Mâm bạc đường kính rộng bằng cả một chân trời màu ngọc trai ửng hồng. + Như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh (so sánh). + Cảnh mặt trời lên vô cùng tráng lệ, lộng lẫy rực rỡ, tác giả đã có những so sánh độc đáo mở ra nhiều sự liên tưởng bất ngờ thú vị, cảnh mặt trời mọc vừa rất hùng vĩ, lại vừa rất gần gũi (quả trứng, mâm lễ vật). Câu 4. Cảnh sinh hoạt và lao động của người dân trên đảo được miêu tả qua những hình ảnh, chi tiết nào? Cảm nghĩ của em về cảnh ấy? – Những chi tiết, hình ảnh miêu tả cảnh sinh hoạt và lao động: + Có không biết bao nhiêu là người đến gánh và múc, múc nước giếng vào thùng gỗ,… vào những ang gốm màu da lươn. + Ngoài kia bao nhiêu thuyền của hợp tác xã đang mở nắp sạp đổ nước ngọt vào… mười tám thuyền lớn nhỏ cùng ra khơi đánh cá hồng. + Anh hùng Châu Hoà Mãn quẩy mười lăm gánh nước cho thuyền anh. + Từ đoàn thuyền sắp ra khơi, đến cái giếng nước ngọt, thùng và cong là gánh nối tiếp đi đi về về. – Cảm nghĩ của em Cảnh sinh hoạt của nó vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền. + Không khí lao động và sinh hoạt ấm cúng tấp nập, khẩn trương để chuẩn bị cho chuyến ra khơi. + Cái giếng ở vùng đảo nó quý giá và thiêng liêng với mọi người như nguồn sữa mẹ, cái giếng bé nhỏ, bình dị mà giống như cái niêu cơm của Thạch Sanh, nuôi sống biết bao nhiêu con người. III. Hướng dẫn luyện tập. Câu 1. Em hãy viết một đoạn văn tả cảnh mặt trời mọc (trên biển, trên sông, trên núi hay ở đồng bằng) mà em đã quan sát được. – Em ngắm cảnh mặt trời mọc ở đâu? Trong dịp nào? – Lúc mặt trời sắp lên như thế nào? – Lúc mặt trời lên?. – Mặt trời lúc mọc giống cái gì? – Màu mây, màu nước lúc ấy? Một vài đoạn tham khảo: Mặt trời mọc ở bãi biển Thanh Khê. Đoạn 1: Em còn nhớ lần đó mẹ và em đến bãi biển Thanh Khê ở Đà Nẵng. Mẹ để đồng hồ báo thức bốn giờ, dặn em đi ngủ sớm để sáng mai sẽ thấy một điều kì diệu, em tò mò gặng hỏi nhưng mẹ không giải thích thêm. Chuông đồng hồ reo, hai mẹ con vùng dậy, mẹ hối em làm thật nhanh và cả hai cùng chạy bộ ra biển, biển không đông như buổi chiều nhưng cũng đã có một số người. Hai mẹ con em ngồi xuống, mẹ bảo em: Con hãy ngắm biển đi! Mặt trời sắp thức dậy rồi đấy. Chân trời màu trắng phơn phớt, trong veo, khẽ khàng như hãy còn ngái ngủ. Phút chốc màu phơn phớt ấy đỏ dần, đỏ dần, vàng rực cả chân trời càng gần biển thì lại càng đậm. Mẹ bảo em đó chính là mặt trời đấy. Quả thật mặt trời từ từ, từ từ nhô lên. Ban đầu chỉ hình vòng cung, rồi hình bán nguyệt… rồi tròn dần, tròn dần… tất cả mọi người ồ lên khi mặt trời lừng lững đội biển đứng dậy, quả cầu lửa khổng lồ nổi trên mặt nước, mặt biển cũng đỏ rực, khung cảnh thật hùng vĩ và tráng lệ. Lần ngắm mặt trời mọc lần đầu tiên ấy đã lâu lắm rồi và sau này đã có rất nhiều lần khác, nhưng em vẫn không bao giờ quên được ấn tượng ban đầu ấy. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25: Các thành phần chính của câu Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25: Viết bài tập lăm văn số 6 – Văn tả người
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25_ Cô Tô
1,410
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25: Viết bài tập lăm văn số 6 – Văn tả người Hướng dẫn Bài 25: Viết bài tập lăm văn số 6 – Văn tả người Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25: Viết bài tập lăm văn số 6 – Văn tả người dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Viết bài tập lăm văn số 6 – Văn tả người (làm tại lớp) I. Nội dung bài viết này là tả người, có thể tham khảo Các đề bài sau đây: Đề 1: Em hãy viết bài văn tả người thân yêu và gần gũi nhất với mình (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em,…). Đề 2: Hãy miêu tả hình ảnh mẹ hoặc cha trong những trường hợp sau: – Lúc em ốm.. – Khi em mắc lỗi. – Khi em làm được một việc tốt. Đề 3: Hãy tả lại hình ảnh một cụ già đang ngồi câu cá bên hồ. Đề 4: Em đã có dịp xem vô tuyến, phim ảnh, báo chí, sách vở về hình ảnh một người lực sĩ đang cử tạ. Hãy miêu tả lại hình ảnh ấy. Đề 5: Em hãy tả lại một người nào đó tuỳ theo ý thích của bản thân mình. II. Một số bài làm tham khảo Bài viết tả về người thân yêu, các chi tiết miêu tả có thể lựa chọn và sắp xếp như sau: – Giới thiệu đối tượng cần miêu tả với ấn tượng chung nhất. – Tả chân dung: Tuổi tác, khuôn mặt, dáng người, mái tóc, ánh mắt, nụ cười, làn da. – Tả hoạt động: Các sinh hoạt thường ngày, sở thích: Đọc sách, chơi cờ, đá banh, chăm sóc cây cảnh, đi dạo. – Ý nghĩa tình cảm của em đối với ông bà. Tả ông Trong gia đình, tôi yêu quý tất cả mọi người, nhưng người mà tôi yêu mến nhất, kính trọng nhất vẫn là ông nội. Bất cứ lúc nào, hình ảnh của ông cũng thật ngọt ngào trong trái tim tôi. Ông tôi chưa già lắm đâu, chỉ khoảng bảy mươi thôi. Dáng ông tầm thước như bao cụ già khác. Khuôn mặt sắt lại với nhiều nếp nhăn của những ngày tháng khó khăn, vất vả. Gian khổ nhất là những năm tháng trong chiến trường miền Đông Nam Bộ xưa kia. Khuôn mặt vuông vuông chữ điền, nước da sạm lại với nhiều chấm đồi mồi, đuôi mắt lại đầy những vết chân chim; vậy mà ông tôi trông vẫn đẹp lão lắm. Đặc biệt là với tôi, ông quả thật đẹp. Hạnh phúc nhất là được nằm trong lòng ông, tay vuốt ve chòm râu điểm bạc, ngước nhìn đôi mắt ấm áp, hiện từ của ông. Lúc đó tôi có cảm giác như đang ở trong truyện cổ tích, như có ông bụt ở bên với bao phép màu tốt lành và đẹp đẽ.. Tôi rất thích nắm tay ông, được thấy hơi ấm nóng từ tay ông truyền sang, thật là khoan khoái. Bố mẹ đi làm suốt ngày, ông với tôi sao mà thân thiết thế. Giọng nói của ông trầm trầm và rất truyền cảm, bởi hồi trẻ ông đã là một “cây” kịch nói nghiệp dư nổi tiếng của trung đoàn. Chính vì thế, ông ru hoặc kể chuyện, lũ cháu chúng tôi nghe, chỉ được một lúc là díp cả mắt lại. Ông tôi nhiều con cho nên cũng lắm cháu. Tôi chưa thấy ai yêu và quyến luyến với lũ cháu như ông. Ông thường thẳng thắn bộc bạch: “Khi có cháu, lại thấy yêu cháu hơn con rất nhiều!”. Lũ chúng tôi cũng yêu quý và gắn bó với ông lắm. Nhất là tôi, thằng cháu “đích tôn” như ông vẫn trìu mến gọi vậy. Trong nhà tôi, ông thường coi vườn cây xanh trên tầng thượng là tài sản của mình. Trên đó có bao nhiêu là cây, là hoa. Thứ nào ngoài tên ra cũng đều có lí lịch riêng của nó. Nào là kỉ niệm ngày ở chiến trường về, ngày thăm điện Biên Phủ, ngày sinh đứa cháu đầu,… Công ông tưới bón, chăm chút, bắt sâu, tạo nên vườn cây này. Sinh nhật vừa rồi của tôi, ông tặng một chiếc kèn nhỏ xinh. Tôi tự mày mò và bây giờ đã thổi được bài “Nhạc rừng” mà ông yêu thích. Ông tự hào lắm, cứ khoe khắp khu nhà về tài nghệ của cháu mình. Nhưng tôi hiểu không phải vậy, chẳng qua ông yêu tôi quá thôi! Tôi yêu quý và kính mến ông rất nhiều và cũng biết ông yêu lại tôi như vậy. Ông là người hay là ông bụt, tôi cũng không biết nữa. “Cháu sẽ phải cố gắng nhiều để làm vui lòng ông, ông ơi!”. Tôi vẫn nhủ thầm như vậy. (Trần Vũ Lan Thảo, Trường THCS Trạch Xá, Vân Đình, Hà Tây) (Theo Hướng dẫn Tập làm văn 6 – Vũ Nho chủ biên) Tả bà Em được sống trong một gia đình đầy ắp tình thương và sự hoà thuận. Cả nhà, người được yêu kính nhất là bà. Với em bà là cơn mưa mùa hạ tưới mát cho tuổi thơ của em. Bà đã ngoài bảy mươi tuổi, như cổ nhân thường nói đấy là tuổi “xưa nay hiếm”. Bà đã già nhưng vẫn nhanh nhẹn và dẻo dai lắm. Khuôn mặt thanh tú của bà in đây các vết nhăn của thời gian và sự lo âu, vất vả. Bà trông như cây mai gầy guộc, mảnh mai nhưng rắn rỏi, vững vàng. Mái tóc bà đã sớm bạc trắng, đôi mắt thì nheo nheo nhưng ánh mắt vẫn sáng và nhân từ. Đôi tay của bà gầy guộc, các đường gân và mạch máu nổi rõ lên, nhưng vẫn nhanh nhẹn lo toan được đủ việc trong gia đình. Mẹ vẫn thường nói với em, cả đời bà vất vả quá, khi trẻ lo toan việc nhà để chồng yên tâm đi chiến đấu, nay lại chăm sóc gia đình để các con phấn đấu vươn lên, rồi bà lại chăm chút các cháu để chúng trưởng thành. Vậy là bao nhiêu gánh nặng gia đình một mình bà gánh vác hết. Ở trong nhà, bà luôn là trung tâm hoà giải mọi chuyện, bà thường nói: “Chuyện trong nhà, cứ lớn thì coi là nhỏ, mà nhỏ thì coi như là không có thì mọi chuyện sẽ êm đẹp cả thôi!”. Tôi vừa yêu quý bà lại vừa thương bà. Nhiều lúc tôi chỉ muốn ngã vào lòng bà và nói: “Bà ơi, cháu yêu bà lắm!”. Bà sống giản dị và khiêm nhường. Những bữa cơm của gia đình em dưới tay bà thật ấm cúng. Bà khéo chiều lòng được cả nhà với những món ăn bình dân nhưng ngon lành, sạch sẽ. Nhà có máy giặt nhưng bà vẫn động viên mọi người vò tay rồi hãy cho vào máy. Bà bảo như thế sạch hơn. Kỉ niệm sâu sắc nhất là lần em bị sốt dịch. Trong trạng thái nóng sốt li bì, em phải đi viện một tuần. Bà luôn ở bên em, mỗi lần bừng tỉnh em thấy đôi mắt lo âu của bà, những cử chỉ âu yếm, nhẹ nhàng, những lời động viên, an ủi của bà hình như có sức mạnh hơn thuốc. Em bình phục dần, và lúc đó mới thấy có vài ngày mà đôi má bà hõm sâu, mái tóc bà bạc thêm nhiều. Lòng xúc động sâu sắc, em nắm chặt tay bà nghẹn ngào không nói nên lời. Em có nhiều “mẹ” quá, mẹ ở nhà này, ở trường này và bà luôn bên cạnh em. Em tự nhủ lòng mình phải cố gắng sao cho khỏi phụ lòng những “Người mẹ” của mình, phải học giỏi và ngoan để vui lòng họ. Em vô cùng yêu quý và biết ơn bà. Bà sẽ mãi mãi là người em kính yêu nhất. Em mong bà mạnh khoẻ, sống lâu cùng con cháu. Bà ơi, bà bình thường thôi mà sao thật là vĩ đại! (Trần Thái Hà, Trường THCS Quảng Yên, Quảng Ninh) Theo Hướng dẫn Tập làm văn 6 – Vũ Nho chủ biên) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25: Các thành phần chính của câu Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25: Cô Tô
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 25_ Viết bài tập lăm văn số 6 – Văn tả người
1,423
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 26: Câu trần thuật đơn Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 26: Câu trần thuật đơn Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 26: Câu trần thuật đơn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Câu trần thuật đơn I. Kiến thức cơ bản Câu trần thuật đơn là câu do một cụm C-V tạo thành, dùng để giới thiệu, tả hoặc kể về một sự việc, sự vật hay để nêu một ý kiến. II. Tìm hiểu câu hỏi phần bài học Xác định chủ ngữ, vị ngữ của câu a) Chưa nghe hết câu, tôi đã hếch răng lên, xì một hơi rõ dài. Rồi, với điệu bộ khinh khỉnh. Câu trên là câu trần thuật đơn với mục đích miêu tả – câu có một cụm C-V. b) Hức! Thông ngách sang nhà ta à? Dễ nghe nhỉ! Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sụt sùi ấy đi. Đào tổ nông thì cho chết! Câu trên câu trần thuật đơn có mục đích hỏi, câu có hai cụm C-V. c) Tôi về, không một chút bận tâm. Câu đơn trần thuật nhằm mục đích kể, câu có một cụm C-V. Câu 1. Tìm câu đơn trần thuật trong đoạn trích dưới đây. Cho biết những câu trần thuật đơn ấy được dùng làm gì? C1. Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo, sáng sủa. C2. Từ khi có vịnh Bắc Bộ và từ khi quần đảo Cô Tô mang lấy dấu hiệu của sự sống con người thì, sau mỗi lần dông bão, bao giờ bầu trời Cô Tô cũng trong sáng như vậy. C3. Cây trên núi đảo lại thêm xanh mướt, nước biển lại lam biếc đậm đà hơn hết cả mọi khi, và cát lại vàng giòn hơn nữa. C4. Và nếu cá có vắng tăm biệt tích trong ngày động bão, thì nay lưới càng thêm nặng mẻ cá giã đôi. (Nguyễn Tuân) Câu 2. Dưới đây là một số câu mở đầu các truyện em đã học. Chúng thuộc loại câu nào và có tác dụng gì? a) Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Bắc Bộ nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. (Con Rồng, cháu Tiên) Câu trần thuật đơn có mục đích giới thiệu nhân vật Lạc Long Quân. b) Có một con ếch sống lâu ngày trong một cái giếng nọ. (Ếch ngồi đáy giếng) Câu trần thuật đơn có mục đích giới thiệu nhân vật (con ếch). c) Bà đỡ Trần là người huyện Đông Triều. Câu trần thuật đơn, mục đích giới thiệu nhân vật. Câu 3. Cách giới thiệu nhân vật chính trong những truyện sau có gì khác với cách giới thiệu nêu trong câu hai? Cách giới thiệu nhân vật chính ở ba đoạn văn trên, khác với cách giới thiệu nhân vật chính ở trong câu hai ở chỗ: * Cách giới thiệu nhân vật: – Đoạn a: Giới thiệu hai vợ chồng ông lão trước (nhân vật phụ) sau đó mới giới thiệu cậu bé khôi ngô (Thánh Gióng). – Đoạn b: Giới thiệu Vua Hùng và Mị Nương trước (nhân vật phụ) sau đó mới giới thiệu đến Sơn Tinh, Thuỷ Tinh (nhân vật chính). Một hôm có hai chàng đến cầu hôn. – Đoạn c: Giới thiệu viên quan trước (nhân vật phụ) sau đó mới giới thiệu đến nhân vật chính (cậu bé) hai cha con nọ đang cày ruộng. * Ngoài việc giới thiệu nhân vật, các đoạn văn trên còn làm nhiệm vụ giới thiệu tình huống truyện: – Đoạn a tình huống thụ thai kì lạ – Đoạn b tình huống kén rể – Đoạn c tình huống tìm người lỗi lạc. Câu 4. Ngoài tác dụng giới thiệu nhân vật, những câu mở đầu sau đây còn có tác dụng gì? a) Xưa có một người thợ mộc dốc hết vốn trong nhà ra mua gỗ để làm nghề đẽo cày. (Đẽo cày giữa đường) Câu trên không chỉ giới thiệu nhân vật người thợ mộc, mà còn giới thiệu hành động dốc hết vốn trong nhà ra mua gỗ. (Vũ Trinh) Câu trên vừa giới thiệu nhân vật con hổ trán trắng vừa miêu tả hành động, trạng thái của nhân vật (con hổ). Cúi đầu bới đất, lấy tay móc họng, máu me nhớt dãi trào ra. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 26: Cây tre Việt Nam
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 26_ Câu trần thuật đơn
778
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 26: Cây tre Việt Nam Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 26: Cây tre Việt Nam Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 26: Cây tre Việt Nam dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Cây tre Việt Nam Thép Mới I. Kiến thức cơ bản • Tác giả. Thép Mới (1925 – 1991) tên khai sinh là Hà Văn Lộc, quê ở quận Tây Hồ, Hà Nội, sinh ở Thành phố Nam Định. Ngoài báo chí, Thép Mới còn viết nhiều bút kí, thuyết minh phim. • Tác phẩm – Bài Cây tre Việt Nam là lời bình cho bộ phim cùng tên của các nhà điện ảnh Ba Lan. Thông qua hình ảnh cây tre (tượng trưng cho đất nước và con người Việt Nam), bộ phim ca ngợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta. – Cây tre là người bạn thân thiết lâu đời của người nông dân và nhân dân Việt Nam. Cây tre có vẻ đẹp bình dị và nhiều phẩm chất quý báu. Cây tre đã thành một biểu tượng của đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam. – Bài Cây tre Việt Nam có nhiều chi tiết, hình ảnh chọn lọc mang ý nghĩa biểu tượng, sử dụng rộng rãi và thành công phép nhân hoá, lời văn giàu cảm xúc và nhịp điệu. II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Câu 1. Nêu đại ý của bài, tìm bố cục của bài và nêu ý chính của mỗi đoạn. + Đại ý của bài: Bài Cây tre Việt Nam nói lên sự gắn bó thân thiết lâu đời giữa cây tre và con người Việt Nam trong mọi phương diện của đời sống. Cây tre còn là tượng trưng cho con người Việt Nam: Bất khuất, thuỷ chung, ngay thẳng. – Phần một (từ đầu đến trùm mát rượi): Sự hiện diện của tre và phẩm chất thanh quý của tre. – Phần hai (tiếp đến có nhau chung thuỷ): Sự gắn bó khăng khít giữa tre và con người trong đời sống con người. – Phần ba (tiếp đến anh hùng chiến đấu): Tre chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước. – Phần bốn (còn lại): Tre người bạn muôn đời của dân tộc Việt Nam. Câu 2. Tìm những chi tiết, hình ảnh thể hiện sự gắn bó của tre đối với con người trong lao động và cuộc sống hàng ngày. Giá trị của biện pháp nhân hoá được sử dụng? * Những chi tiết thể hiện sự gắn bó giữa tre và người: – Tre là người bạn thân thiết chở che cho con người: Bóng tre trùm lên âu yếm làng bản, tre ăn ở với người đời đời kiếp kiếp. – Tre là cánh tay của người nông dân: Tre giúp người trăm công nghìn việc, tre vẫn phải vất vả mãi với người. – Tre là nguồn vui duy nhất của tuổi thơ: Que chuyền đánh chắt bằng tre. – Tre là nguồn vui của tuổi già: Chiếc điếu cày tre khoan khoái. – Tre gắn bó với đời người từ khi sinh ra đến khi chết: Thuở lọt lòng nằm trong chiếc nôi tre, khi nhắm mắt nằm trên chiếc giường tre. – Tre cùng con người đánh giặc: Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù, tre giữ làng giữ nước. = Tre gắn bó, khăng khít với con người trên nhiều phương diện từ đời sống vật chất, đến đời sống tinh thần, từ ngàn xưa cho đến muôn đời mai sau, tre là người bạn không thể thiếu được của con người Việt Nam. – Những câu văn có sử dụng phép nhân hoá + Bóng tre trùm lên âu yếm làng bản. + Tre ăn ở với người đời đời kiếp kiếp. Tre là người nhà. + Tre uốn cùng ta làm ăn, lại vì ta mà đánh giặc. + Tre xung phong vào xe tăng đại bác, tre hi sinh để bảo vệ con người. + Tre anh hùng lao động, tre anh hùng chiến đấu. – Tác dụng: Làm cho cây tre bình dị trở nên thân thuộc, thiêng liêng, gắn bó giống như con người, và đưa đến cho người đọc nhiều cảm nhận mới mẻ. Câu 3. Ở đoạn kết tác giả hình dung như thế nào về vị trí của cây tre trong tương lai khi đất nước đã đi vào công nghiệp hoá? – Tác giả khẳng định: Trong tương lai khi đất nước đã công nghiệp hoá thì tre xanh vẫn là bóng mát, vẫn là khúc nhạc tâm tình, càng tươi “Cổng chào thắng lợi”. – Tre gắn bó trường tồn bất diệt với con người Việt Nam, luôn là vị trí số một trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Đất nước càng hiện đại hoá, tiếng sáo diều tre càng bay bổng. Câu 4. Bài văn miêu tả cây tre với vẻ đẹp và những phẩm chất gì? Vì sao có thể nói cây tre là tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam. + Những phẩm chất của cây tre: – Tre vừa giản dị mộc mạc, vừa thanh cao chí khí. – Tre âu yếm chở che cho con người, làng, bản, xóm, thôn. – Tre người bạn chung thuỷ với mọi lứa tuổi. – Tre chia sẻ ngọt bùi cay đắng cùng người. – Tre là vũ khí chiến đấu với kẻ thù. – Tre làm cho đời sống sinh hoạt văn hoá nghệ thuật của con người trở nên phong phú. + Với tất cả những phẩm chất trên của tre ta có thể nói rằng tre là tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam ngay thẳng, thuỷ chung, can đảm bất khuất, là biểu tượng cho văn hoá Việt Nam. Một số câu tục ngữ, ca dao, thơ, truyện cổ tích Việt Nam có nói về cây tre. – Tục ngữ nói về cây tre: Tre già măng mọc, bắn bụi tre, đè bụi hóp – Ca dao nói về tre: Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng Đan sàng, thiếp cũng xin nâng Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng. Gió đập cành tre, gió đánh cành tre Con thuyền anh vẫn le te đợi nàng Gió đập cành bàng, gió đánh cành bàng Dừng chân anh hát cô nàng hãy nghe. – Truyện cổ tích: Cây tre trăm đốt. – Một số bài thơ: Quê hương tôi có con sông xanh biếc Nước gương trong soi tóc những hàng tre. (Tế Hanh) Cỏ gà rung tai Nghe Bụi tre Tần ngần Gỡ tóc. (Trần Đăng Khoa) IV. Tư liệu tham khảo Cùng với nội dung, giá trị nghệ thuật chủ yếu của bài văn là chất thơ văn xuôi của nó. Chất thơ ấy thể hiện ở trên hai mặt, một là những hình ảnh táo bạo phong phú, hai là nhạc điệu đặc biệt của câu. Về hình ảnh độc đáo, người viết tạo ra bằng biện pháp nhân hoá trong nhiều trường hợp… còn về nhạc điệu của lời văn, có gì xao xuyến hơn những câu văn đầy tính hoà thanh của bằng trắc, của cách ngắt nhịp khi dồn dập trào dâng, lúc lắng sâu nỉ non thủ thỉ câu văn có lúc căm giận đến nghẹn ngào… Lúc trầm tư như chiêm ngưỡng một bức tranh thuốc nước. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 26: Câu trần thuật đơn
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 26_ Cây tre Việt Nam
1,244
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 27: Lòng yêu nước Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 27: Lòng yêu nước Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 27: Lòng yêu nước dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Lòng yêu nước I-li-a Ê-ren-bua I. Kiến thức cơ bản • Về tác giả. I-li-a Ê-ren-bua (1891 – 1962) là nhà văn nổi tiếng của Liên Xô (trước đây). Ông còn là một nhà báo lỗi lạc. • Tác phẩm: Bài “Lòng yêu nước” được trích từ bài báo “Thử lửa”, I-li-a Ê-ren-bua viết vào cuối tháng 6 năm 1942, thời kì khó khăn nhất trong cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức xâm lược (1941 – 1945). – Nội dung: Bài văn thể hiện tinh thần yêu nước tha thiết, sâu sắc của tác giả và những người dân Xô viết trong hoàn cảnh thử thách gay gắt của cuộc chiến tranh vệ quốc. Đồng thời bài văn đã nói lên một chân lí: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất (…). Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. II. Hướng dẫn đọc – Hiểu văn bản Câu 1. Nêu đại ý của bài văn Bài văn đã nêu lên một chân lí giản dị: Lòng yêu nước được bắt nguồn từ những gì thân thuộc, gần gũi bé nhỏ nhất, và lòng yêu nước ấy được bộc lộ mạnh mẽ và sâu sắc nhất khi Tổ quốc bị xâm lăng. a) Câu mở đầu và câu kết đoạn. b) Trình tự lập luận của đoạn văn. Gợi ý: a) Câu mở đầu và câu kết thúc của đoạn + Câu mở đầu: Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất. + Câu kết thúc: Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc. b) Trình tự lập luận của đoạn văn + Đoạn văn có trình tự lập luận theo kiểu: Tổng – phân – hợp – Câu mở đầu nêu ý khái quát (tổng). – Các câu tiếp theo có tác dụng giải thích, chứng minh, làm sáng tỏ ý nghĩa cho câu khái quát đó (phân). – Câu kết thúc nâng cao thành một chân lí về lòng yêu nước (hợp). Câu 3. Người dân Xô viết ở mỗi vùng đều nhớ đến vẻ đẹp tiêu biểu của quê hương mình. Đó là những vẻ đẹp nào? Nhận xét về cách chọn lọc và miêu tả vẻ đẹp đó. * Vẻ đẹp tiêu biểu của mỗi vùng quê: – Biểu hiện cụ thể: + Người vùng Bắc: Nghĩ đến cánh rừng bên dòng sông Vi-na, những đêm tháng sáu sáng hồng, và tiếng cô nàng gọi đùa người yêu. + Người xứ U-crai-na: Nhớ tới bóng thuỳ dương tư lự bên đường, cái lặng lẽ của trưa hè vàng ánh. + Người xứ Gru-di-a: Ca tụng khí trời của núi cao, những tảng đá sáng rực và nỗi vui bất chợt của một dòng suối óng ánh bạc, vị mát của dòng suối đóng thành băng, rượu vang cay sè trong bọc đựng rượu bằng da dê. + Người Mát-xcơ-va: Nhớ phố cũ chạy ngoằn ngòeo lan man như một hoài niệm, điện Krem-li, những tháp cổ, những ánh sao đỏ. * Nhận xét về cách chọn lọc và miêu tả vẻ đẹp: – Những vẻ đẹp mà tác giả chọn miêu tả đó là vẻ đẹp của núi rừng của cây, lá, vẻ đẹp của những dòng sông rộng lớn, vẻ đẹp của thời gian, vẻ đẹp của phố phường, tháp cổ, tượng đồng, và cả của vị rượu vang – tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống, của thiên nhiên. – Tác giả chọn lọc những chi tiết đặc sắc riêng của mỗi vùng, gợi những ấn tượng sâu sắc nhất, sự miêu tả đồng thời kết hợp chặt chẽ với biểu hiện tình cảm, tâm hồn của người viết bồi hồi trên từng con chữ. Câu 4. Bài văn nêu lên một chân lí phổ biến và sâu sắc về lòng yêu nước. Em hãy tìm trong bài câu văn thâu tóm chân lý ấy? + Câu nêu lên chân lí của bài văn: Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc. + Ý nghĩa: Đoạn văn vừa nêu lên chân lí của tự nhiên vừa đúc kết chân lí của tình cảm con người. Một chân lí vô cùng vĩ đại nhưng hết sức giản dị. Nếu cần nói đến vẻ đẹp tiêu biểu của quê hương mình, (hoặc địa phương mà em đang ở), thì em sẽ nói những gì?. Bà Em thử tìm hiểu xem mỗi vùng quê có những nét gì đặc trưng – Sau đây là một vài gợi ý nhỏ: – Người dân Quảng Ninh: Tự hào vì được thiên nhiên ban tặng cho kì quan tuyệt vời vịnh Hạ Long nổi tiếng, sắc trời non nước đắm say, cảnh tiên ở cõi trần. – Người Hải Phòng: Yêu sắc đỏ của hoa phượng cháy lòng rợp trời vào những tháng năm của ngày hè nóng bỏng. – Người Bắc Ninh: Nhớ về những câu quan họ của những liền anh, liền chị đắm say trong những ngày hội xuân tưng bừng, dòng sông Đuống nép mình hiền hoà và những làng tranh Đông Hồ xuôi dòng lịch sử. – Người Quảng Nam: Mơ màng bâng khuâng trong những đêm phố cổ Hội An với những mái ngói, tường rêu bao quanh con đường nhỏ. – Người Đồng Tháp: Tự hào với cánh đồng cò bay thẳng cánh, bát ngát tận chân trời, với những chiếc ghe tấp nập xuôi dòng chở đầy lúa chín trong mỗi kì gặt. – Người Cà Mau: Lớn lên cùng với con sông Năm Căn hùng vĩ, mênh mông và rừng đước tầng tầng lớp lớp như một lũy trường thành. Mời mọi người tham khảo tài liệu liên quan Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 27: Câu trần thuật đơn có từ Là
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 27_ Lòng yêu nước
1,049
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Câu trần thuật đơn không có từ Là Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 28: Câu trần thuật đơn không có từ Là Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Câu trần thuật đơn không có từ Là dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Câu trần thuật đơn không có từ Là I. Kiến thức cơ bản • Trong câu trần thuật đơn không có từ là: – Vị ngữ thường do động từ hoặc cụm động từ, tính từ tạo thành. – Khi bị ngữ biểu thị ý phủ định, nó kết hợp với các từ không, chưa. • Những câu dùng để miêu tả hành động, trạng thái, đặc điểm,… của sự vật nêu ở chủ ngữ được gọi là câu miêu tả. Trong câu miêu tả, chủ ngữ đứng trước vị ngữ. • Những câu dùng để thông báo về sự xuất hiện, tồn tại hoặc tiêu biểu của sự vật được gọi là câu tồn tại. Một trong những cách tạo câu tồn tại là đảo chủ ngữ xuống sau vị ngữ. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Đặc điểm của câu trần thuật đơn không có từ là. b) Chọn câu thích hợp để điền vào đoạn văn. (Tô Hoài) Lí do: Để diễn đạt sự xuất hiện đột ngột của hai cậu bé, tạo ấn tượng III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Xác định chủ ngữ và vị ngữ trong câu sau, cho biết câu nào là câu miêu tả, câu nào là câu tồn tại? Câu 2. Viết một đoạn văn từ năm đến bảy câu tả cảnh trường em, trong đó có sử dụng ít nhất là một câu tồn tại. Trường em vinh dự được mang tên đại thi hào dân tộc Nguyễn Du (1). Những dãy phòng học không được khang trang, hiện đại như một số trường khác nhưng sân trường thì đẹp mê li (2). Sân trường rộng tới vài nghìn mét vuông, hai bên là hai dãy bằng lăng tím (3). Giữa sân trường sừng sững một cây điệp vàng dễ tới vài trăm tuổi (4). Gốc cây trở thành nơi tụ họp của các bạn học sinh trong mỗi giờ ra chơi (5). Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Ôn tập truyện và ký Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Ôn tập văn miêu tả Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Viết bài tập làm văn số 7 – Văn miêu tả sáng tạo
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28_ Câu trần thuật đơn không có từ Là
453
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Viết bài tập làm văn số 7 – Văn miêu tả sáng tạo Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 28: Viết bài tập làm văn số 7 – Văn miêu tả sáng tạo Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Viết bài tập làm văn số 7 – Văn miêu tả sáng tạo dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Viết bài tập làm văn số 7 – Văn miêu tả sáng tạo (làm tại lớp) Có thể tham khảo các đề sau đây: Đề 1: Em hãy tả quang cảnh một phiên chợ theo tưởng tượng của em. Đề 2: Em hãy tả khu vườn vào một buổi sáng đẹp trời. Đề 3: Em đã từng gặp ông Tiên trong những truyện cổ dân gian, hãy miêu tả lại hình ảnh ông Tiên theo trí tưởng tượng của mình. Đề 4: Từ bài thơ “Mưa” của Trần Đăng Khoa, em hãy viết bài văn miêu tả lại trận mưa theo quan sát và tưởng tượng của em. Một số bài văn tham khảo Đề 1: Em hãy tả quang cảnh một phiên chợ theo tưởng tượng của em. Quê em ở làng Và nằm ven con sông Cầu thơ mộng. Ở làng em bây giờ ngày nào cũng có chợ, nhưng đó là chợ xép, chợ nhỏm, còn chợ chính chỉ có vào các ngày 5 ngày 9 Âm lịch. Em rất thích được theo bà đi chợ vào những ngày này. Chợ huyện một tháng sáu phiên, Gặp cô hàng xén kết duyên châu trần. Từ mờ sáng, chợ đã đông người. Từ trên để đi xuống, từ bên kia sông đi sang, từ những làng xung quanh đến, mọi người tíu tít đổ về chợ. Làng em tấp nập người qua lại. Tiếng trò chuyện râm ran trên suốt đường làng. Chợ làng em vẫn họp giữa trời. Trên bãi đất trống chỉ lơ thơ vài dãy lều tranh của những bà bán hàng khô, hàng tạp hoá, còn đa số các hàng khác đều bày luôn trên mặt đất. Chẳng ai bảo ai mà người ta cũng ngồi thành từng dãy, từng hàng. Chính giữa chợ là hai dãy lều của những cửa hàng bách hoá thu nhỏ. Nào kim chỉ, gương lược, nào giấy vở, bút chì, phấn bảng, cho đến cả bóng đèn, phích nước, ấm chén,… thứ gì cũng có. Quần áo người lớn, trẻ con đủ màu xanh, đỏ, nâu, đen treo la liệt thành những bức tường nhiều màu đến hoa cả mắt. Chén bát, nồi niêu bày kín mặt đất chẳng còn chỗ đặt chân. Vậy mà bà bán hàng vẫn tươi cười trò chuyện và lấy hết thứ này đến thứ nọ cho khách chọn, bao giờ người mua vừa ý mới thôi! Đằng sau dãy hàng bách hoá là dãy hàng gạo. Người ta gánh về đầy đủ các loại gạo nếp, gạo tẻ, ngô, đỗ, kê, vừng,… Các bà, các cô vẫn quen mua thứ này bằng cách đong từng bơ nên cả dãy hàng cứ như một đội múa đang tập mỗi một động tác quay tay vậy. Chỉ có mấy bà buôn chuyến là tỏ ra nhàn nhã vì đã có cái cân trong tay rồi. Ôn ào nhất chợ là chỗ bày bán các con vật nuôi. Những chú lợn con bị nhốt trong rọ, mở tròn mắt, nghếch mõm nhìn người qua lại. Đàn gà con chiếp chiếp trong lồng, nhớn nhác nhìn cảnh lạ. Lũ vịt bị trói thành từng cặp, lâu lâu lại đập cánh phành phạch rồi cạc cạc ầm 1. Có lẽ chúng đang lo sợ quá.. Em cùng bà thường dừng lại lâu nhất ở hàng bán tranh. Làng Đông Hồ nổi tiếng chỉ cách làng em vài cây số. Bây giờ chưa phải là chợ Tết, nhưng tranh ảnh vẫn được bày bán rất nhiều. Hai bà cháu em cứ nhìn mãi tranh gà, tranh lợn, tranh cá chép trông trăng. Dù ở nhà đã có rồi nhưng nhìn những bức tranh còn tươi màu mực, em vẫn muốn được mua thêm vài bức. Có lẽ, đây là sở thích riêng của người dân vùng Kinh Bắc từ xa xưa truyền lại. Mặt trời lên cao. Chợ đã vãn. Dòng người gồng gánh lại tản về các ngả. Làng em trở lại yên tĩnh, một sự yên tĩnh ấp ủ sức sống dồi dào mà chợ Và đã tiếp sức cho sau mỗi phiên. (Ôn tập Ngữ văn 6 – Nguyễn Văn Long chủ biên) Đề 2: Em hãy tả khu vườn vào buổi sáng đẹp trời. Nhà tôi có một khu vườn. Khác với thành phố đất hẹp người đông, chỉ có những dãy nhà san sát như mấy cái hộp xếp chồng ngột ngạt, nóng bức. Đây là nơi ngoại thành nên gia đình tôi có được một khoảng đất khá rộng. Nơi đây có sẵn mấy cái ao, những hàng dừa, thêm thắt vào đó là vài loại hoa mà cha, mẹ, và tôi đã trồng, làm thành một khu vườn. Nó không chỉ là một khoảng đất có cây, hơn thế nhiều, nó là người bạn là cả thế giới của tôi, một thế giới chứa đựng bao nỗi niềm con trẻ… Không khí sáng hôm nay không nóng nực như mọi ngày mà rất mát. Cái mát mẻ làm lòng người dễ chịu và khoan khoái vô cùng. Tôi thoáng nhìn những tia nắng nhỏ nhảy múa lăn tăn trên lối đi, trượt xuống từ những tàu lá, trải dài trên những cánh hoa. Dường như nắng cũng muốn làm nhẹ lòng con người nên không hề gay gắt, nóng nảy mà ấm áp, nhẹ nhàng như những cô bé mến yêu. Dấu hiệu của một ngày bình yên đẹp đẽ! Cả khu vườn rực lên một màu xanh. Đất vừa mới tiếp thêm cho chúng nguồn nước mới – nguồn nhựa sống nóng hổi tràn trề đã làm cho hoa lá thêm hăng hái, phô bày hết vẻ đẹp của mình. Tôi ngước nhìn lên những tán dừa đong đưa. Xanh. Xanh nõn. Xanh óng ả. Xanh đến kì lạ! Nắng mới trong trẻo càng làm cho màu non tươi thêm rực rỡ. Chợt, tôi nhớ đến mấy câu thơ của người thi sĩ họ Hàn nào đó cha vẫn thường ngâm nga: “… Vườn ai mướt quá xanh như ngọc. Lá trúc che ngang mặt chữ điền…” Tôi bước dần đến, vòng tay ôm những thân dừa nâu sẫm, thấy da mình âm ẩm. Mấy cái ngấn sần sùi xát lên da ram rám, ngưa ngứa nhưng hay hay. Dừa lớn tuổi hơn tôi nhiều lắm. Mẹ kể, trước khi tôi chào đời, lúc cha mẹ mua mảnh đất này thì ở đây đã sẵn có ao và mấy hàng dừa này. Tôi còn nhớ tiếng mẹ cười giòn tan khi thấy sau đó mỗi sáng chạy vào vườn, tôi lại hét toáng lên thật to: “Chào ông dừa ạ!” Bên dưới hàng dừa là hai cái ao. Ao không lớn nhưng đủ chỗ cho một chiếc xuồng nhỏ. Tôi vẫn thường leo lên chiếc xuồng ấy, vớ lấy một khúc sào đủ dài và bắt đầu cuộc thám hiểm quanh… ao của mình, sướng ran lên với niềm vui trẻ thơ, tràn ngập tự hào rằng: Đây là “cuộc phiêu lưu của thuyền trưởng Sinbad” huyền thoại. Mấy cái ao nhà tôi không như hồ nhà bác Tư. Cái hồ nhỏ có hòn non bộ ở nhà bác nước trong lắm, in rõ bóng ngôi chùa nhỏ gắn trên núi với mái ngói cong cong, có cả mấy con cá chép lượn qua lượn lại. Hai cái ao nhà tôi nước không trong mà đục đục màu đất, hắc hắc mùi bùn. Chẳng thấy bóng dừa nào in xuống cả, cũng chẳng thấy được màu xanh ngắt của bầu trời – cái màu mẹ vẫn gọi là màu mắt xa xăm chờ đợi hoàng tử của nàng công chúa trong truyện cổ xưa. Trên cái ao lớn hơn có mấy bông hoa súng, ao nhỏ thì toàn rau muống. Thứ nhất là ngồi trên chiếc cầu gỗ nhỏ bắc ra ao, vừa vọ nước, vừa hái rau cho mẹ, lại vừa ngắm trứng ốc bươu. Cũng lạ, loài ốc nâu xỉn xấu thế mà sao lại có được trứng đẹp thế nhỉ. Cả chùm trứng đỏ hồng rạng rỡ trên thân cây rau muống xanh sẫm. Tuy thích lắm nhưng cha bảo ốc bươu có hại nên tôi phải phá nó đi. Tiêng tiếc… Hôm qua mưa lớn nên mực nước trong ao lên hẳn, trên lối đi quanh ao vẫn còn ẩm ướt, có mấy chú cá rô đang nằm thoi thóp, chắc chúng mới lóc lên từ ao đêm qua. Lúc nào cũng vậy, cứ có mưa là chốc sau lại thấy cá lóc lên bờ, cá lớn có, cá bé cũng có. Nhanh nhảu, tôi chạy vội đi lấy cái rổ, chụp lấy mấy con cá lớn cho vào rổ, lòng đã nghĩ đến món cá kho tộ tuyệt ngon chiều nay. Mấy con cá nhỏ nếu còn sống tôi cẩn thận nhúng ướt tay rồi nhè nhẹ thả nó xuống ao. Từ từ, con cá mất hút, để lại những vòng tròn gợn lăn tăn trên mặt ao, nhìn theo nó là ánh mắt hồ hởi trong veo của một đứa trẻ. … Lòng tràn ngập vui sướng, tôi nhảy chân sáo đến chiếc võng xanh bằng vải dù đã cũ, treo giữa hai thân dừa và đặt mình xuống. Bên cạnh là trái dừa dâu đầy nước ngọt mẹ mới hái và bộ truyện tranh yêu thích. Đung đưa…, đung đưa… tôi đắm mình trong khung cảnh của khu vườn – một góc nhỏ thanh bình của tâm hồn tôi… võng cứ thế đong đưa. Lúc này tôi cảm thấy, mình là đứa trẻ hạnh phúc nhất thế giới! (Trần Ngọc Phương Khanh – Học sinh giỏi văn toàn quốc) Đề 3: Em đã từng gặp ông Tiên trong những truyện cổ dân gian, hãy miêu tả lại hình ảnh ông Tiên theo tưởng tượng của em. Hình ảnh ông Tiên trong truyện cổ tích Tấm Cám gây cho em ấn tượng đặc biệt, em chỉ ước mong ngày nào đó mình cũng sẽ được gặp ông Tiên như thế cho thoả nỗi chờ mong. Rồi một đêm mùa đông gió lạnh, ngoài trời gió thổi gầm rú, cuộn tròn ấm áp trong chiếc chăn len, em đã được gặp ông Tiên trong giấc mơ của mình. Lúc đó em nằm mơ thấy mình bị lạc vào rừng sâu, giữa màn đêm mịt mù không thấy đường mà bước. Xung quanh biết bao âm thanh ghê sợ, em đã lò dò thì bỗng một con trăn ở đâu lao tới nó quấn lấy người em, em cố sức vẫy vùng để chống cự, nhưng con trăn lớn quá nó siết chặt lấy em không thể nào thoát được. Em gào khóc thảm thiết kêu cứu nhưng xung quanh không có một ai, chỉ có tiếng cọp gầm dữ dội và tiếng cú kêu vì có mùi xác chết. Con trăn mỗi lúc một siết chặt xương cốt bị bó lại đau nhức cổ họng nghẹt lại thở không được. Em nghĩ mình sắp chết đến nơi rồi. Con trăn chỉ cần siết một vòng nữa là em bị tắt thở. Em đau đớn tuyệt vọng. Bỗng có một luồng sáng xuất hiện, một ông cụ cao lớn, đầu tóc bạc phơ, chòm râu trắng như cước dài tới chấm ngực, khuôn mặt hồng hào, đôi mắt hiền từ hiện ra. Ông bảo em: – Con đừng sợ! Ta là Bụt xuống cứu giúp con đây. Ông Bụt lấy cây gậy gõ vào đầu con trăn ba cái. Con trăn lập tức thả em ra và chạy vào rừng. Ông Tiên xoa đầu em, bao nhiêu đau đớn trong người lập tức tan biến. Ông bảo em: – Bây giờ ta chưa thể đưa con về nhà được! Vì có một cậu bé đang gặp nguy hiểm ta phải đến cứu ngay. Mà để con lại đây một mình thì không được. Thôi con hãy đi cùng ta. Em mừng quá, vội nói: “Cháu thích đi với ông lắm ạ!” Ông lấy cây gậy gõ xuống đất một cái, lập tức một chú ngựa bạch hiện ra, ông đặt em lên lưng chú ngựa – ngựa lao vun vút, còn ông nâng mình bay trong không gian – đúng là phép Tiên kì diệu.. – Ở đây không còn nguy hiểm nữa, các con có thể tự về nhà được rồi! Ông còn phải đi giúp đỡ những người khác! Em và cậu bé hôn tạm biệt con ngựa bạch, cảm ơn ông Tiên, thoáng một cái ông và con ngựa đã biến mất. Em đang trong tâm trạng tiếc nuối ngẩn ngơ, thì bỗng có bàn tay ai đặt ở vai lay nhẹ. Em mở mắt mẹ đang đánh thức em. – Sắp tới giờ đi học rồi đấy con trai!. Em rất vui vì mình đã có một giấc mơ thật đẹp, em mong ước có thêm những giấc mơ như thế nữa. (Nguyễn Hoài Chương – Trường THCS – Điện Bàn, Quảng Nam) Đề 4. Từ bài thơ “Mưa” của Trần Đăng Khoa, em hãy viết bài văn miêu tả lại trận mưa theo quan sát và tưởng tượng của em. “Trời đang yên ả, bỗng dưng chuyển sang nóng bức đến khó chịu, cây cối đứng im phăng phắc, không một ngọn gió, đó là dấu hiệu của một cơn dông sắp xảy ra. Một lát sau, mây ở đâu ùn ùn kéo đến, bầu trời đen kịt như một đoàn quân mặc áo giáp đen cưỡi ngựa ô đang rầm rập xông trận. Gió nổi lên dữ dội cuốn tung lá khô bay vèo vèo trên đường, bụi tung mù mịt như những vòi rồng. Cây cối nghiêng mình rạp theo chiều gió gần như sát tận mặt đất. Bãi mía bên bờ sông như một rừng gươm giữa chiến trường trong trận đánh giáp lá cà. Những bụi tre vặn mình kêu cót két. Trên đường những người bộ hành vội vã chạy nhanh về nhà. Gió như đẩy lùi họ lại cột chặt quần áo dính vào người. Một số người khác gò lưng trên chiếc xe đạp cùng vật lộn với gió ngược. Những chiếc xe máy mở hết tốc độ lao vun vút. Thỉnh thoảng những cơn chớp lóe lên rạch ngang bầu trời sáng chói, rồi một tiếng sấm dữ dội ầm vang làm mọi người giật bắn. Trời bắt đầu đổ mưa, ban đầu là một vài hạt lác đác rồi bỗng dưng ào ào đổ xuống. Mọi người chạy vội tìm nơi ẩn nấp, một số người dừng xe lại vội vã lấy áo mưa ra mặc nhưng vẫn không kịp. Mưa trắng xoá cả bầu trời, những hạt mưa tung tóe trên mặt đường nhựa. Từ các mái nhà nước mưa chảy xuống thành từng hàng, từng hàng như tơ mành chắn cửa. Ở các chỗ trũng nước mưa chảy thành dòng như những con suối nhỏ. Nước sủi bọt đục ngầu cuồn cuộn hối hả chảy xuống các đường mương, cống, rãnh… Đường vắng ngắt thi thoảng mới có một vài bóng người chạy xe vội vã. Mấy cậu bé con cởi trần trùng trục chạy tắm dưới mưa, cười đùa vui vẻ. Ở trong nhà lớp mái tôn, tiếng mưa rơi ầm ầm, át cả tiếng người, phải hét thật to mới nghe được. Ếch nhái nhảy ra chồm chồm. Mấy mẹ con chị gà mái mơ nấp dưới mái hiên kêu chiếp chiếp. Mưa nhỏ dần… nhỏ dần… rồi tạnh hẳn. Bầu trời trở lại trong veo. Cây cối sạch bóng như vừa được lau xong. Không khí trong lành mát mẻ, mọi người lại bắt đầu đổ ra đường. Em rất thích những cơn mùa hè, nó đến và đi thật nhanh chóng bất ngờ, chứ không dầm dề dai dẳng đến khó chịu như những cơn mưa mùa đông. Cơn mưa mùa hè vừa mang đến cho vạn vật sự tươi tốt, vừa làm cho con người dễ chịu xiết bao. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Ôn tập văn miêu tả Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Ôn tập truyện và ký Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Câu trần thuật đơn không có từ Là
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28_ Viết bài tập làm văn số 7 – Văn miêu tả sáng tạo
2,777
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Ôn tập truyện và ký Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 28: Ôn tập truyện và ký Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Ôn tập truyện và ký dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Ôn tập truyện và ký I. Kiến thức cơ bản • Truyện có nhiều thể như: Truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, tiểu thuyết,… ; kí bao gồm nhiều thể như: Kí sự, bút kí, nhật kí, phóng sự,… Truyện và kí hiện đại thường viết bằng văn xuôi. • Các thể truyện và phần lớn các thể lí (như bút kí, kí sự, phóng sự) thuộc loại hình tự sự. Tự sự là phương thức tái hiện đời sống chủ yếu bằng kể và tả. Tác phẩm tự sự là câu chuyện về người hoặc sự việc nào đó được kể lại, miêu tả lại qua lời của người kể chuyện. Các yếu tố cốt truyện, nhân vật, lời kể thường không thể thiếu được trong tác phẩm truyện. II. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Lập bảng thống kê theo mẫu về truyện và kí từ bài 18 đến bài 27. Hướng dẫn STT Tên tác phẩm Tác giả Thể loại Đại ý 1 Bài học đường đời đầu tiên (trích Dế Mèn phiêu lưu kí) Tô Hoài Truyện dài Đoạn trích nói về chú Dế mèn có vẻ đẹp cường tráng của con nhà võ, nhưng tính tình kiêu căng xốc nổi đã gây ra cái chết oan uổng của Dế Choắt. Dế Mèn vô cùng ân hận và suy nghĩ về bài học đường học đường đời đầu tiên của mình 2 Sông nước Cà Mau (trích Đất rừng phương Nam) Đoàn Giỏi Truyện dài Đoạn trích miêu tả khung cảnh thiên nhiên hoang dã rộng lớn hùng vĩ nhưng trù phú của vùng đất cực nam của Tổ quốc 3 Bức tranh của em gái tôi Tạ Duy Anh Truyện ngắn Câu chuyện ngợi ca tình cảm hồn nhiên trong sáng và tấm lòng nhân hậu của người em gái, chính tấm lòng đó đã giúp cho người anh trai nhận ra lỗi lầm của mình một cách chân thành sâu sắc. 4 Vượt thác (trích Quê Nội) Võ Quảng Truyện dài Đoạn trích miêu tả cảnh dòng sông, hai bên bờ và cảnh vượt thác của con thuyền qua đó khắc hoạ hình ảnh dũng mãnh của con người lao động 5 Buổi học cuối cùng An-phôngxê Đô-đê Truyện ngắn Qua tâm trạng của cậu bé Phrăng và hình ảnh thầy giáo Ha-men tác giả ca ngợi tình yêu đất nước mà biểu hiện cụ thể lòng yêu quý ngôn ngữ dân tộc của những người An-dát. 6 Cô Tô Nguyễn Tuân Kí Bài kí ghi lại ấn tượng về thiên nhiên tráng lệ tươi đẹp và sinh hoạt của lao động trên đảo Cô Tô 7 Cây tre Việt Thép Mới Nam Thép Mới Kí Bài kí nói lên sự gắn bó thân thiết lâu đời giữa tre và con người Việt Nam trong cuộc sống lao động và chiến đấu. Cây tre là biểu tượng cho con người Việt Nam, đất nước Việt Nam. 8 Lòng yêu nước Ê-ren-bua Kí Tác giả đã nói lên lòng yêu mến thiết tha của người dân Xô viết đối với từng vùng quê của mình. Đồng thời khẳng định chân lí giản dị, sâu sắc “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc Câu 2. Chép lại tên tác phẩm và thể loại vào bảng theo mẫu, đánh dấu + vào vị trí tương ứng ở các cột tiếp theo nếu thấy có yếu tố đó. TT Tên tác phẩm Thể loại Cốt truyện Nhân vật Nhân vật kể chuyện Nghệ thuật 1 Bài học đường đời đầu tiên Truyện + + (Dế Mèn) + (Dế Mèn) Nghệ thuật miêu tả loài vật tự nhiên, sống động, ngôn ngữ chính xác, giàu tính tạo hình. 2 Sông nước Cà Mau Truyện + + + (Bé An) Cách tả vừa bao quát vừa cụ thể, chi tiết cụ thể, chi tiết, kết hợp kể tả với liệt kê, cách lựa chọn hình ảnh khắc sâu ấn tượng 3 Bức tranh của em gái tôi Truyện + + + Cách kể chuyện sáng tạo được tình huống làm bộc lộ chiều sâu nội tâm nhân vật và tư tưởng tác phẩm. 4 Vượt thác Truyện + + + Kết hợp nhiều phương diện miêu tả, tả người, tả cảnh, tả hoạt động, sử dụng nhiều phép nhân hóa và so sánh 5 Bài học cuối cùng Truyện + + + Tạo tình huống có ý nghĩa, thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật 6 Cô Tô Kí – – + Cách miêu tả tinh tế chính xác, giàu hình ảnh cảm xúc 7 Cây tre Việt Nam Kí – – – Giàu chất thơ, lời văn giàu cảm xúc nhịp điệu hình ảnh phong phú chọn lọc, mang tính biểu tượng. 8 Lòng yêu nước Kí – – – Kết hợp hài hòa yếu tố chính luận và yếu tố trữ tình, cảm xúc thiết tha, sôi nổi. Nhìn vào bảng thống kê và nêu nhận xét. + Yếu tố chung cho cả truyện và kí là nhân vật kể chuyện, tức là đều giống nhau ở yếu tố tự sự: Tái hiện lại cuộc sống, thể hiện cái nhìn và thái độ của người kể. + Truyện phải có cốt truyện, có nhân vật. + Thể kí chú trọng ghi chép tái hiện các hình ảnh, các sự kiện và các yếu tố cảm xúc, nhịp điệu. Câu 3. Qua những tác phẩm truyện kí đã học đã để lại cho em những cảm nhận gì về đất nước và cuộc sống của con người. Những tác phẩm truyện và kí đã giúp cho chúng ta cảm nhận về vẻ đẹp của đất nước và con người một cách sâu sắc. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Câu trần thuật đơn không có từ Là Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Viết bài tập làm văn số 7 – Văn miêu tả sáng tạo Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Ôn tập văn miêu tả
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28_ Ôn tập truyện và ký
975
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Ôn tập văn miêu tả Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 28: Ôn tập văn miêu tả Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Ôn tập văn miêu tả dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Ôn tập văn miêu tả I. Kiến thức cơ bản Dù tả cảnh hay tả người thì cũng phải lựa chọn được các chi tiết và hình ảnh đặc sắc, tiêu biểu, sau đó trình bày theo một thứ tự nhất định. Muốn tả sinh động cần phải biết liên tưởng, tưởng tượng và ví con, so sánh. II. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Đây là một đoạn văn tả cảnh mặt trời tiêu biểu, rất hay và độc đáo. Theo em điều gì tạo nên cái hay, cái độc đáo cho đoạn văn. Sau trận bão, chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi. Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết. Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Quả trứng hồng hào thăm thẳm và đường bệ đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển ửng hồng. Y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở biển Đông. (Nguyễn Tuân) – Trình tự miêu tả theo thứ tự: Trước khi mặt trời mọc rồi đến khi mặt trời mọc. – Nhiều hình ảnh đặc sắc – Sự liên tưởng so sánh độc đáo của nhà văn: Như một tấm kín… y như mâm lễ phẩm… Quả trứng hồng… – Thể hiện tình cảm, thái độ của người viết đối với sự vật. Câu 2. Nếu tả quang cảnh một đầm sen vào mùa hoa nở, em sẽ lập dàn ý cho bài văn như thế nào? * Mở bài: – Giới thiệu hoàn cảnh được ngắm đầm sen vào mùa hoa nở (Ngày hè tháng sáu đi về quê ngoại). – Nêu quang cảnh chung: Đầm sen rộng mênh mông có tới vài mẫu nằm ngay đầu làng toàn là sen hồng đang vào độ ra bông. * Thân bài: – Tả mặt hồ. – Tả lá sen, bông sen, hương sen. – Mùi hương toả trong không gian. – Hồ sen khi có gió, khi vào lúc chiều tà. * Kết bài: – Cảm xúc của em trước vẻ đẹp của hoa sen, đầm sen. Câu 3. Nếu tả một em bé ngây thơ bụ bẫm đang tập đi thì em sẽ tả theo thứ tự nào?. – Nếu tả em bé, ta tả theo thứ tự từ hình dáng đến hoạt động. – Các chi tiết miêu tả để thể hiện sự bụ bẫm ngây thơ: Cặp mắt đen tròn, hai má hồng phúng phính, tả bàn tay bụ bẫm có những ngấn vòng tròn, đôi môi hồng thơm mùi sữa mẹ. (Chú ý dùng biện pháp so sánh) Câu 4. Đọc lại “Bài học đường đời đầu tiên” của Tô Hoài và “Buổi học cuối cùng” của A. Độ-đê tìm mỗi bài một đoạn văn miêu tả, một đoạn văn tự sự, chỉ ra liên tưởng độc đáo trong mỗi bài. a) Tôi bước qua ghế dài và ngồi ngay xuống trước bàn mình. Chỉ đến lúc ấy, đã hơi hoàn hồn, tôi mới nhận ra thầy giáo chúng tôi mặc chiếc áo rơ-đanh-gốt màu xanh lục, diềm lá sen gấp nếp mịn và đội cái mũ tròn bằng lụa đen thêu mà thầy chỉ dùng vào những hôm có thanh tra hoặc phát phần thưởng. Ngoài ra, lớp học có cái gì đó khác thường và trang trọng. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên hơn cả, là trông thấy ở phía cuối lớp, trên những hàng ghế thường bỏ trống, dân làng ngồi lặng lẽ giống như chúng tôi. (Đoạn văn miêu tả không khí trang nghiêm, long trọng của buổi học cuối cùng) (Buổi học cuối cùng) b) Dế Choắt trả lời tôi bằng một giọng rất buồn rầu: – Thưa anh, em cũng muốn khôn nhưng khôn không được. Đụng đến việc là em thở rồi, không còn hơi sức đâu mà đào bới nữa. Lắm khi em cũng nghĩ nỗi nhà cửa như thế này là nguy hiểm, nhưng em nghèo sức quá, em đã nghĩ ròng rã hàng mấy tháng cũng không biết làm như thế nào. Hay là bây giờ em nghĩ thế này… Song anh có cho phép nói em mới dám nói… (Đoạn văn tự sự Dế Choắt kể về cảnh ngộ của mình) (Bài học đường đời đầu tiên) – Chàng Dế Choắt, người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc phiện. (Bài học đường đời đầu tiên) – Quyển ngữ pháp, quyển thánh sử của tôi giờ đây dường như những người bạn cố tri. (Buổi học cuối cùng) (Em tìm thêm những ví dụ khác nhé) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Ôn tập truyện và ký Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28: Viết bài tập làm văn số 7 – Văn miêu tả sáng tạo
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 28_ Ôn tập văn miêu tả
883
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 29: Viết đơn Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 29: Viết đơn Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 29: Viết đơn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Viết đơn I. Kiến thức cơ bản • Đơn được viết ra giấy (theo mẫu hoặc không theo mẫu) để đề đạt một nguyện vọng với một người hay một cơ quan, tổ chức có quyền hạn giải quyết nguyện vọng đó. • Phải trình bày trang trọng, ngắn gọn và sáng sủa theo một số mục nhất định. Những nội dung bắt buộc trong đơn là: Đơn gửi ai? Ai gửi đơn? Gửi để đề đạt nguyện vọng gì? II. Hướng dẫn tìm hiểu phần bài học 1. Trong các trường hợp sau: – Muốn gia nhập đoàn thanh niên – Bị ốm không đến lớp được – Xin miễn giảm học phí – Xin cấp lại giấy chứng nhận tốt nghiệp Tất cả những trường hợp trên em đều phải viết đơn, vì đây là những việc liên quan đến chính quyền, đoàn thể. 2. Nơi gửi đơn của các trường hợp sau: – Bị kẻ gian lấy mất xe đạp – Viết đơn gửi công an. – Muốn theo lớp học nhạc – Gây mất trật tự trong giờ học toán – Không phải viết đơn mà viết bản tự kiểm điểm. – Muốn học tiếp lớp 6 ở chỗ mới Viết đơn gửi Ban Giám hiệu trường cũ và trường mới. 3. Các loại đơn và nội dung không thể thiếu trong đơn: – Có hai loại đơn, đơn theo mẫu và đơn không theo mẫu. – Giống nhau: Phần đầu, phần cuối và thứ tự sắp xếp các mục. – Khác nhau: + Đơn theo mẫu phần kê khai về bản thân rất đầy đủ, chi tiết. + Đơn theo mẫu phải tuân theo một thứ tự nhất định. + Đơn không theo mẫu có thể tự do hơn về mặt thứ tự. – Những phần quan trọng không thể thiếu ở cả hai loại đơn: + Nơi gửi + Người gửi + Mục đích viết đơn. 4. Cách thức viết đơn: Dù đơn viết theo mẫu, hay không theo mẫu đều phải có những mục bắt buộc sau đây: a) Quốc hiệu, tiêu ngữ. b) Địa điểm làm đơn và ngày… tháng… năm… c) Tên đơn: Đơn xin… d) Nơi gửi: Kính gửi… đ) Họ tên, nơi công tác hoặc nơi ở của người viết đơn. e) Trình bày sự việc, lí do và nguyện vọng (đề nghị). g) Lời cam đoan và cảm ơn. h) Kí tên. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 29: Chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 29_ Viết đơn
456
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Thánh Gióng Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 2: Thánh Gióng Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Thánh Gióng. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Thánh Gióng I. Kiến thức cơ bản Hình tượng Thánh Gióng với nhiều màu sắc thần kì là biểu tượng rực rỡ của ý thức và sức mạnh bảo vệ đất nước, đồng thời là sự thể hiện quan niệm và ước mơ của nhân dân ta ngay từ bước đầu lịch sử về người anh hùng cứu nước và chống ngoại xâm. II. Hướng dẫn đọc hiểu văn bản Câu 1. Trong truyện Thánh Gióng có những nhân vật nào? Ai là nhân vật chính? Nhân vật chính được xây dựng bằng nhiều chi tiết kì ảo, tìm và liệt kê. + Những nhân vật trong truyện Thánh Gióng: Hai vợ chồng ông lão, Thánh Gióng, giặc An, sứ giả, ngựa sắt, bà con làng xóm + Thánh Gióng là nhân vật chính của câu chuyện “là một hình tượng thẩm mĩ, vừa đẫm chất hiện thực, vừa lung linh những ánh hào quang lãng mạn tuyệt vời” (Vũ Dương Quỹ) là một nhân vật tổng hợp cả ba yếu tố: “Thần thoại, truyền thuyết và anh hùng ca”. + Những chi tiết kì lạ liên quan đến nhân vật Thánh Gióng: – Bà ra đồng trông thấy một vết chân to, liền đặt chân mình lên ướm thử. không ngờ về nhà bà thụ thai. – Đứa bé nghe tiếng rao bỗng dưng nói: Mẹ ra mời sứ giả vào đây. – Chú bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no. – Chú bé vùng dậy vươn vai biến thành một tráng sĩ mình cao hon mười trượng. – Cởi bỏ áo giáp cả người lẫn ngựa bay lên trời. Câu 2. Theo em, các chi tiết sau đây có ý nghĩa như thế nào? a) Tiếng nói đầu tiên của chú bé lên ba là tiếng nói đòi đánh giặc + Ba năm không hề nói, thế mà câu nói đầu tiên của đứa trẻ lên ba lại nói về một vấn đề hết sức lớn lao, thiêng liêng, trọng đại mà chỉ dành cho những bậc trượng phu, anh hùng: – Mẹ ra mời sứ giả vào dây. – Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi bằng sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc. + Điều đó chứng tỏ truyền thống yêu nước và quật cường của dân tộc, biết đánh giặc cả khi tuổi còn thơ. b) Bà con làng xóm góp gạo nuôi cậu bé + Thể hiện truyền thống yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau của con người Việt Nam. Bà con làng xóm “tối lửa tắt đèn” có nhau. + Sự động viên khích lệ về tinh thần và vật chất của cả quê hương trước hành động cao đẹp của cậu bé. + Vì ai cũng mong chú bé giết giặc cứu nước. + Khi chưa gặp sứ giả chú bé không biết nói, không biết cười, không biết đi, thế mà từ khi gặp sứ giả có cả một sự thay đổi diệu kì: Cất tiếng nói đòi đi đánh giặc, lớn nhanh như thổi, vươn vai thành tráng sī. + Phải lớn nhanh như thế mới đủ sức đi đánh giặc, ta có cảm tưởng nhiệm vụ càng nặng nề bao nhiêu thì cậu bé càng lớn nhanh bấy nhiêu. + Khi thế nước rất nguy, người người hoảng hốt thì chú bé vươn vai thành một tráng sĩ oai phong lẫm liệt => sức mạnh, ý chí, thái độ của tuổi trẻ Việt Nam trong giờ phút đất nước lâm nguy. + Điều đó còn thể hiện ước mơ và khát vọng lãng mạn của dân tộc ta trong bước đầu dựng nước. d) Gậy sắt gẫy, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc + Vũ khí bằng gậy sắt đánh dấu thời đại phát triển của lịch sử dân tộc. Chúng ta đã vươn tới thời đại đồ sắt. + Gióng nhổ tre đánh giặc: – Hành động đó thể hiện ý nghĩa trong cuộc chiến tranh nhân dân tất cả đều có thể trở thành vũ khí đánh giặc. Cây cỏ, hoa lá đều có thể trở thành vũ khí để đánh thù. – Thiên nhiên, cây cối cùng hiệp sức với con người chiến đấu diệt thù. đ) Gióng đánh giặc xong, cởi áo giáp sắt để lại và bay thẳng về trời + Áo giáp sắt của nhân dân làm cho để đánh giặc, nay đánh giặc xong trả lại cho nhân dân, vô tư không chút bụi trần. + Gióng sinh ra cũng phi thường, khi đi cũng phi thường (bay lên trời), Gióng bất tử cùng sông núi, bất tử trong lòng nhân dân => Hình tượng kì vĩ hoá, đậm chất lãng mạn. Câu 3. Hãy nêu ý nghĩa của hình tượng Thánh Gióng. + Thánh Gióng là biểu tượng rực rỡ của lòng yêu nước, sức mạnh phi thường của dân tộc. Ông Gióng vươn vai sức mạnh dân tộc trỗi dậy. Thánh Gióng tượng trưng cho hùng thế của dân tộc. + Là ước mơ của nhân dân về người anh hùng đánh giặc. III. Tư liệu tham khảo Nói khác đi cái vươn vai của chàng trai Phù Đổng mang ý nghĩa khẳng định thái độ tuổi trẻ Việt Nam trước giờ phút đất nước lâm nguy… cái vươn vai của em bé làng Gióng là sản phẩm của những khát vọng lãng mạn thuở dân tộc ta mới dựng nước. (Theo Vũ Dương Quỹ, Lê Bảo – Bình giảng văn 6) Thánh Gióng là một nhân vật tưởng tượng, được nhân dân sáng tạo ra để tập trung phản ánh một sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc ta trong bước đầu dựng nước. Đó là sự kiện chống giặc ngoại xâm. (Theo Ôn tập ngữ văn 6 – Nguyễn Văn Long chủ biên) Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Tìm hiểu chung về Văn bản tự sự Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Từ mượn
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2_ Thánh Gióng
1,063
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Tìm hiểu chung về Văn bản tự sự Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 2: Tìm hiểu chung về Văn bản tự sự Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Tìm hiểu chung về Văn bản tự sự. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Tìm hiểu chung về Văn bản tự sự I. Kiến thức cơ bản Tự sự là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến sự kết thúc, thể hiện một ý nghĩa. Tự sự giúp người kể giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen chê. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học Câu 1. Trong đời sống hàng ngày ta thường nghe những yêu cầu và câu hỏi như: – Bà ơi! Bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe đi! – Cậu kể cho mình nghe, Lan là người thế nào? – Bạn An gặp chuyện gì mà lại thôi học nhỉ? v.v… + Đó là những điều trong cuộc sống mà người nghe muốn hiểu muốn biết – và người kể phải giải thích sự việc, để đáp ứng yêu cầu của người nghe. + Trong những trường hợp trên nếu người trả lời mà kể một câu chuyện không liên quan đến yêu cầu của người hỏi, thì câu chuyện đó sẽ không có ý nghĩa. Vì chưa đáp ứng được yêu cầu muốn biết của người hỏi. Câu 2. Truyện Thánh Gióng cho ta biết về người anh hùng làng Gióng. Chuyện xảy ra vào đời Hùng Vương thứ 6, người anh hùng đó đã đánh đuổi giặc Ân cứu nước, sau khi đánh giặc xong Gióng đã bay về trời. – Chuyện giúp ta hiểu được chiến công và tài năng của vị anh hùng. – Bày tỏ lòng yêu mến, cảm phục đối với Thánh Gióng. + Các sự kiện theo thứ tự trước sau của câu chuyện: Truyện Thánh Gióng là một chuỗi các sự kiện, sự kiện này dẫn đến sự kiện kia và cuối cùng là một kết thúc đầy ý nghĩa: Sự thụ thai kì lạ -> Biểu hiện kì lạ của đứa bé lên ba → Tiếng nói đầu tiên khác thường đòi đi đánh giặc → Sự lớn lên kì lạ -> Sự vươn vai kì lạ → Hành động đánh giặc kì lạ → Hành động bay lên trời kì lạ -> nhà vua và nhân dân nhớ ơn lập đền thờ. Câu 3. Đặc điểm của phương thức tự sự. (xem phần Ghi nhớ) III. Luyện tập Câu 1. Đọc mẩu chuyện “Ông già và thần chết” trả lời câu hỏi + Trong truyện này phương thức tự sự được thể hiện bằng một số các sự việc, ta có thể sắp xếp như sau: Ông già đốn củi mang về → đi xa kiệt sức than thở muốn thần chết mang đi -> thần chết đến ông lão sợ nói tránh muốn thần nhấc hộ bó củi. + Câu chuyện này thể hiện lòng ham sống của con người khi vất vả mệt nhọc người ta muốn chết, nhưng khi đối diện với nó người ta cảm thấy sợ hãi. Câu 2. Bài thơ sau đây có phải là văn bản tự sự không, vì sao? Hãy kể lại câu chuyện bằng miệng. Sa bẫy Bé Mây rủ mèo con Đánh bẫy bầy chuột nhắt Mồi thơm: Cá nướng ngon Lửng lơ trong cạm sắt. Lũ chuột tham hoá ngốc Chẳng nhịn thêm được đâu! Bé Mây cười tít mắt Mèo gật gù, rung râu. Đêm ấy Mây nằm ngủ Mơ đầy lồng chuột sa Cùng mèo con đem xử Chúng khóc ròng xin tha! Sáng mai vùng xuống bếp: Bẫy sập từ bao giờ Chuột không cá cũng hết Giữa lồng mèo nằm… mơ (Nguyễn Hoàng Sơn, Dắt mùa thu vào phố) + Kể lại chuyện bằng văn xuôi: Bé Mây rủ mèo con đánh bẫy chuột nhắt bằng cá nướng để trong cạm sắt. Vì bé nghĩ lũ chuột tham lam sẽ không nhịn được thèm mà chui vào ăn. Bé cười vui vẻ còn chú mèo gật gù rung râu trước sáng kiến tuyệt vời. Đêm ấy bé Mây nằm ngủ mơ thấy cảnh chuột nhắt chui đầy vào lồng bị sập bẫy, bé cùng mèo đen ra xử, lũ chuột nhắt khóc lóc van xin. Sáng mai lúc tỉnh dậy bé Mây chạy xuống bếp thấy bẫy sập từ lúc nào, hỡi ơi chẳng thấy con chuột nào cả, chỉ thấy chú mèo đang nằm ở trong lồng sắt. Câu 3. Hai văn bản sau đây có nội dung tự sự không? Vì sao? Tự sự ở đây có vai trò gì? + Hai văn bản: – Huế: Khai mạc trại điêu khắc quốc tế lần thứ ba, và Người Âu Lạc đánh tan quân Tần xâm lược. + Cả hai văn bản đều là văn bản tự sự nhưng có sự khác nhau về tính chất. Văn bản thứ nhất là một bản tin, văn bản thứ hai là một Bài lịch sử. + Các sự kiện chính trong hai văn bản: – Huế: Khai mạc trại điêu khắc quốc tế lần thứ ba. Thời gian khai mạc -> địa điểm → thành phần tham gia triển lãm → Diễn biến và kết thúc triển lãm. – Người Âu Lạc đánh tan quân Tần xâm lược. Nhà Tần thành lập năm 221 TCN -> Năm 218 Tần Thuỷ Hoàng sai tướng Đô Thư đem 50 vạn quân xâm lược Bách Việt → Người Âu Lạc tập hợp nhau để tự vệ, kháng cự lâu dài -> Bỏ tất cả kéo nhau lên rừng sâu chỉ mang theo lương thực, vũ khí, gia súc –> Thục Phán một thủ lĩnh của Âu Lạc được cử ra chỉ huy chiến đấu -> cuộc chống Tần diễn ra nhiều ngày tướng Đồ Thư bỏ mạng -> Khi Tần Thuỷ Hoàng chết, khởi nghĩa nổ ra khắp nơi → Nhà Tần rút quân (208 TCN). + Để kể lại câu chuyện này em phải liệt kê chuỗi sự việc diễn ra trong câu chuyện. + Chuỗi sự việc đó có thể sắp xếp như sau: Nguồn gốc xuất thân của Lạc Long Quân -> Nguồn gốc xuất thân của Âu Cơ → Hai người gặp gỡ thành vợ chồng -> Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, nở ra thành trăm người con -> Lạc Long Quân trở về thuỷ cung -> Âu Cơ nhớ thương gọi lên than thở → Hai người chia con 50 lên rừng, 50 xuống biển -> Thành lập nước Văn Lang và thời đại Hùng Vương -> nguồn gốc của người “con Rồng, cháu Tiên”. Câu 5. Trong cuộc họp lớp đầu năm, Giang đề nghị bầu Minh làm lớp trưởng, Giang có nên kể vắn tắt thành tích học tập của Minh không? + Tất nhiên là Giang rất nên kể vắn tắt thành tích học tập của bạn Minh rồi, có như vậy mới thuyết phục được các bạn vì sao Giang lại bầu Minh làm lớp trưởng. + Giang có thể kể thành tích học tập của bạn Minh qua các năm học trước, thái độ học tập, tinh thần giúp đỡ bạn bè v.v. Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Từ mượn Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Thánh Gióng
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2_ Tìm hiểu chung về Văn bản tự sự
1,257
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Từ mượn Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 2: Từ mượn Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Từ mượn. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Từ mượn I. Kiến thức cơ bản • Từ mượn là những từ chúng ta vay mượn của tiếng nước ngoài để biểu thị những sự vật, hiện tượng, đặc điểm mà tiếng Việt chưa có từ thật thích hợp để biểu thị. • Bộ phận từ mượn quan trọng nhất của tiếng Việt là từ mượn tiếng Hán (gồm từ gốc Hán và từ Hán Việt). Bên cạnh đó tiếng Việt cần mượn từ của một số ngôn ngữ khác như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga. • Các từ mượn đã được Việt hoá thì viết như từ thuần Việt. Đối với những từ mượn chưa được Việt hoá hoàn toàn, nhất là những từ gồm trên hai tiếng, ta nên dùng gạch nối để nối các tiếng với nhau. • Mượn từ là một cách làm giàu tiếng Việt. Tuy vậy, để bảo vệ sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc, không nên mượn từ nước ngoài một cách tuỳ tiện. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn mười trượng. (Thánh Gióng) + Trượng: Đơn vị đo bằng 10 thước Trung Quốc cổ (tức là 3,33 mét). + Tráng sĩ: Là người có sức lực cường tráng, chí khí mạnh mẽ hay làm việc lớn được mọi người tôn trọng. (Tráng: Khoẻ mạnh, to lớn; Sĩ: Người trí thức ngày xưa). + Hai từ này có nguồn gốc từ tiếng Hán. Câu 3: Xác định từ vay mượn từ tiếng Hán và ngôn ngữ khác. + Từ vay mượn từ tiếng Hán: Sứ giả, buôn, mít tinh, giang sơn, gan, điện + Từ vay mượn từ ngôn ngữ khác (Anh, Nga, Pháp): Ti-vi, xà phòng, ra-đi-ô, in-tơ-nét, ga, Xô viết Câu 4: Nhận xét về cách viết các từ vay mượn trên. + Từ vay mượn tiếng Hán khi viết không dùng gạch nối để nối. + Từ vay mượn ngôn ngữ khác có hai cách viết: – Dùng dấu gạch nối đối với những từ chưa được Việt hoá. – Từ đã được Việt hoá không dùng dấu gạch nối. 2. Nguyên tắc mượn từ Ý kiến của Bác nêu ra hai vấn đề: + Mượn từ là để làm giàu tiếng Việt. + Không nên mượn tiếng nước ngoài một cách tuỳ tiện. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Ghi lại các từ mượn có trong những câu dưới đây. Cho biết các từ ấy được mượn của tiếng (ngôn ngữ) nào? b) Ngày cưới, trong nhà Sọ Dừa cỗ bàn thật linh đình, gia nhân chạy ra, chạy vào tấp nập. (Sọ Dừa) c) Ông vua nhạc pốp Mai-cơn Giắc-xơn đã quyết định nhảy vào lãnh địa in-tơ-nét với việc mở một trang chủ riêng. + Các từ mượn của các câu trên được mượn từ ngôn ngữ tiếng Hán và ngôn ngữ Anh, Pháp, Nga: • Từ mượn của ngôn ngữ Hán: Sính lễ, cỗ bàn, gia nhân. • Từ mượn của ngôn ngữ khác: pốp, Mai-cơn Giắc-xơn, in-tơ-nét, trang chủ, lãnh địa. Câu 2. Hãy xác định nghĩa của từng tiếng tạo thành các từ Hán – Việt dưới đây. Câu 3. Hãy kể một số từ mượn: a) Từ mượn là đơn vị đo lường: Mét, ki-lô-mét, héc-tô-mét; hải lí, dặm, v.v… b) Từ mượn là tên một số bộ phận của xe đạp: Ốc vít, bu loong, gác-ba-ga, phanh, nan hoa, ghi đông e) Từ mượn là tên một số đồ vật: Ra-đi-ô, ti vi, cát-sét, sơ mi, pi-a-nô, mì chính v.v… Câu 4. Những từ nào trong các cặp từ dưới đây là từ mượn? Có thể dùng chúng trong hoàn cảnh nào, với những đối tượng giao tiếp nào? a) Bạn bè tới tấp phôn/gọi điện đến b) Ngọc Linh là một fan / người say mê bóng đá cuồng nhiệt c) Anh đã hạ nốc ao /đo ván võ sĩ nước chủ nhà + Các từ: Gọi điện, người say mê, nốc ao dùng trong trường hợp giao tiếp có tính chất nghiêm túc, trước đám đông, hay người lớn tuổi. + Các từ: Phôn, fan, đo ván dùng trong những trường hợp bạn bè nói với nhau. Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Thánh Gióng Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Thánh Gióng
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2_ Từ mượn
783
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 30: Bức thư của thủ lĩnh da đỏ Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 30: Bức thư của thủ lĩnh da đỏ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 30: Bức thư của thủ lĩnh da đỏ được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Bức thư của thủ lĩnh da đỏ I. Kiến thức cơ bản • Xuất xứ: Năm 1854, Tổng thống thứ 14 của nước Mỹ là Phrengklin Pi-ơ-xơ tỏ ý muốn mua đất của người da đỏ. Thủ lĩnh Xi-át-tơn đã gửi bức thư này trả lời. Đây là một bức thư rất nổi tiếng, từng được nhiều người xem là một trong những văn bản hay nhất về thiên nhiên và môi trường. Văn bản trên đây có lược bớt một số câu khó hiểu đối với học sinh THCS. • Nội dung Qua bức thư trả lời yêu cầu mua đất của Tổng thống Mi Preng-klin, thủ lĩnh người da đỏ Xi-át-tơn, bằng một giọng đầy sức truyền cảm, bằng lối sử dụng phép so sánh, nhân hoá, điệp ngữ phong phú đa dạng, đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa toàn nhân loại: Con người phải sống hoà hợp với thiên nhiên, phải chăm lo bảo vệ môi trường và thiên nhiên như bảo vệ mạng sống của chính mình. II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Câu 1. Đọc đoạn đầu của bức thư từ “Đối với đồng bào tôi” đến “tiếng nói của cha ông chúng ta” chỉ ra biện pháp so sánh nhân hoá và nêu tác dụng. – Hình ảnh nhân hoá: + Mảnh đất này là bà mẹ của người da đỏ. + Bông hoa ngát hương là người chị, người em của chúng tôi. + Những mỏm đá, những vũng nước trên đồng cỏ… tất cả cùng chung một gia đình. – Hình ảnh so sánh: + Nước óng ánh, êm ả trên dưới những dòng sông, con suối là máu của tổ tiên. + Tiếng thì thầm của dòng nước chính là tiếng nói của cha ông. * Tác dụng – Thể hiện sâu sắc sự gắn bó máu thịt và thiêng liêng giữa thiên nhiên và con người. – Làm cho câu văn trở nên mượt mà sinh động, giàu tính biểu cảm. – Cảnh sắc thiên nhiên trở nên tươi đẹp và ấn tượng biết bao. Câu 2. Đọc đoạn văn từ tôi biết không hiểu cách sống đến có sự ràng buộc tìm sự đối lập giữa người da đỏ và da trắng trong thái độ đối với đất và thiên nhiên, Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng? a. Sự đối lập giữa người da đỏ và người da trắng Các phương diện đối lập Ngươi da trắng Người da đỏ Thái độ khi chết – Dạo chơi giữa các vì sao, quên đi đất nước đã sinh ra họ – Chẳng thể quên được mảnh đất, bà mẹ của người da đỏ Thái độ đối với đất đai – Mảnh đất này không phải là người anh em của họ, họ lấy đi từ lòng đất những gì họ cần, mảnh đất là kẻ thù của họ. – Họ ngấu nghiến đất đai và để lại những hoang mạc – Mảnh đất là thiêng liêng, là kí ức của người da đỏ. Về cách sống – Cảnh đẹp nơi thành phố của người da trắng làm người da đỏ nhức mắt. – Chẳng có nơi nào yên tĩnh, chỉ là những tiếng ồn ào lăng mạ. – Nghe tiếng lay động của lá cây, tiếng vỗ cánh của côn trùng. – Âm thanh lẻ loi của các chú chim đớp mồi, tiếng tranh cãi của những chú ếch ban đêm. – Của những âm thanh êm ái. Thái độ với không khí – Chẳng để ý đến nó – Rất quý giá – Chia sẻ linh hồn với tất cả cuộc sống mà không khí ban cho. Đối với muông thú – Bắn chết một lúc cả hàng ngàn con trâu rừng. – Đối xử với muông thú như đối với người anh em => Người da trắng phá hoại thiên nhiên → tự hủy diệt sự sống của chính mình. – Thiên nhiên đối với họ là sự gắn bó giao hòa tuyệt đẹp, họ giao cảm với thiên nhiên như máu thịt của bản thân. b) Biện pháp nghệ thuật Sử dụng rất nhiều biện pháp, nghệ thuật để nêu lên sự khác biệt: – Đối lập, so sánh tương phản giữa người da trắng và người da đỏ. – Điệp ngữ “… Tôi biết,… Tôi không hiểu… Tôi đã chứng kiến… Ngài phải giữ gìn,… ngài phải dạy… ngài phải nhớ… – Biến đổi linh hoạt nhiều kiểu câu: Câu hỏi, câu cảm, câu cầu khiến, câu tường thuật. Câu 3. Đọc đoạn còn lại của bức thư: Nêu ý chính, hành văn, giọng văn, nên hiểu thế nào về câu: Đất là Mẹ. * Ý chính của đoạn: Phần cuối của bài viết người thủ lĩnh da đỏ Xi-át-tơ đã nêu lên vấn đề: Thái độ cần có của mọi người đối với đất mẹ. * Hành oăn, giọng điệu: – Vừa có tính khẳng định, vừa có tính khuyên bảo, cầu khiến. – Câu văn giàu tính triết lí, lập luận chặt chẽ, sắc bén. * Ý nghĩa: Đất là Mẹ. – Biện pháp nhân hoá – Mối quan hệ thiêng liêng giữa Đất và Người: – Khẳng định sự đùm bọc, che chở, yêu thương của bà mẹ Đất đối với con người. – Khuyên răn con người phải biết quý trọng, nâng niu, yêu thương ấy, không một ai được xúc phạm tới đất đai. Câu 4. Lập bảng thống kê những yếu tố lặp trong văn bản, và nêu tác dụng của chúng. Lặp từ Lặp kiểu câu Lặp đoạn – Tôi biết – Tôi là người da trắng. – Mảnh đất là bà mẹ của người da đỏ. – Đất là mẹ – Tôi là kẻ hoang dã, tôi không hiểu bất cứ một cách sống nào khác. – Tôi là kẻ hoang dã tôi không hiểu nổi tại sao một con ngựa sắt… – Tôi là người da đỏ, tôi thật không hiểu nổi điều đó. – Ngài phải dạy con cháu rằng… – Ngài phải bảo chúng rằng… – Ngài phải nhớ rằng – Ý của đoạn một “Đối với đồng bào tôi…kí ức của người da đỏ”. Ý của đoạn hai: “Khi người da trắng…chung một gia đình” và ý của đoạn ba: “Dòng nước óng ánh… cha ông chúng tôi” → giống nhau (lặp đoạn) Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 30: Chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 30_ Bức thư của thủ lĩnh da đỏ
1,096
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 31: Ôn tập về dấu câu Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 31: Ôn tập về dấu câu Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 31: Ôn tập về dấu câu được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Ôn tập về dấu câu (dấu chấm, dấu hỏi, dấu chấm than) I. Kiến thức cơ bản – Thông thường, dấu chấm được đặt ở cuối câu trần thuật, dấu chấm hỏi đặt cuối câu nghi vấn là dấu chấm than đặt cuối câu cầu khiến, câu cảm thán. – Tuy vậy, cũng có lúc người ta dùng dấu chấm ở cuối câu cầu khiến và đặt các dấu chấm hỏi, dấu chấm than trong ngoặc đơn vào sau một ý hay một từ ngữ nhất định để biểu thị thái độ nghi ngờ hoặc châm biếm đối với ý đó hay nội dung của từ ngữ đó. II. Hướng dẫn đọc và hiểu văn bản 1. Công dụng Câu 1. Đặt dấu (.) (?) (!) vào chỗ thích hợp và giải thích tại sao. a) Ôi thôi, chú mày ơi! Chú mày lớn mà chẳng có khôn. (Tô Hoài) Ta đặt dấu chấm than (!) vì nội dung của câu biểu thị thái độ ngạc nhiên của người nói. b) Có nhận ra con không? (Tạ Duy Anh) Ta đặt dấu chấm hỏi (?) vì nội dung câu biểu thị một điều nghi vấn. c) Cá ơi! Giúp tôi với! Thương tôi với! (Tạ Duy Anh) Ta đặt dấu chấm than (!) vì nội dung câu biểu thị sự cầu khiến. d) Giờ chớm hè. Cây cối um tùm. Cả làng thơm. (Duy Khán) Ta đặt dấu chấm (.) vì nội dung câu biểu thị sự trần thuật. a) Tôi phải bảo: (1) – Được, chú mình cứ nói thẳng thừng ra nào. (2) […] Rồi, với bộ điệu khinh khỉnh, tôi mắng: (3) – […] Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. (4) (Tô Hoài) + Đoạn văn trên có hai câu cầu khiến câu (2) và câu (4) nhưng lại dùng dấu chấm (.) đáng lẽ phải dùng dấu chấm than (!) b) AFP đưa tin theo cách ỡm ờ: “Họ là 80 người sức lực khá tốt nhưng hơi gầy” (!?) (Nguyễn Tuân) Dấu chấm than, chấm hỏi được đặt trong ngoặc kép biểu thị thái độ nghi ngờ về tin đưa của AFP. + Biểu thị thái độ châm biếm của tác giả. 2. Chữa một số lỗi thường gặp Câu 1. So sánh dùng dấu câu trong từng cặp câu. a) – “Đệ nhất kì quan Phong Nha” nằm trong một quần thể hang động thuộc khối núi đá vôi Kẻ Bàng ở miền tây Quảng Bình. Có thể tới Phong Nha rất dễ dàng bằng hai con đường […]. (Trần Hoàng) – “Đệ nhất kì quan Phong Nha” nằm trong một quần thể hang động thuộc khối núi đá vôi Kẻ Bàng ở miền tây Quảng Bình, có thể tới Phong Nha rất dễ dàng bằng hai con đường. + Đoạn thứ nhất tách làm hai câu làm cho nội dung biểu đạt trở nên rõ ràng. Hơn nữa đây là hai khía cạnh khác nhau – tách làm hai câu là hợp lí. + Đoạn hai gộp hai câu làm một làm cho câu quá dài, nội dung biểu đạt thiếu mạch lạc. b) – Nơi đây vừa có nét hoang sơ, bí hiểm. Lại vừa rất thanh thoát và giàu chất thơ. – Nơi đây vừa có nét hoang sơ, bí hiểm; lại vừa rất thanh thoát và giàu chất thơ. Câu thứ nhất không hợp lí vì dùng dấu chấm (.) khi câu trần thuật chưa được trọn vẹn ý nghĩa…, dùng dấu chấm phẩy (;) như câu thứ hai mới hợp lí. Lại vừa rất thanh thoát và giàu chất thơ cùng miêu tả cho sự vật nơi đây. Câu 2. Nhận xét về cách sử dụng dấu chấm hỏi và chấm than trong hai đoạn văn. a) Tôi chẳng tìm thấy ở tôi một năng khiếu gì? (1) Và không hiểu vì sao tôi không thể thân với Mèo như trước kia được nữa? (2) Chỉ cần một lỗi nhỏ ở nó là tôi gắt um lên. (3) b) Tôi chẳng tìm ở tôi một năng khiếu gì. (1) Và không hiểu vì sao tôi không thể thân với Mèo như trước kia được nữa. (2) Chỉ cần một lỗi nhỏ ở nó là tôi gắt um lên! (3) + Dấu chấm hỏi câu (1) và câu (2) ở đoạn a) là không hợp lí vì đây là câu trần thuật chứ không phải câu nghi vấn. + Câu (3) đoạn b dùng dấu chấm than (!) không hợp lí vì đây là câu trần thuật chứ không phải là câu cảm hay câu cầu khiến. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Đặt dấu chấm vào những chỗ thích hợp trong đoạn văn sau đây: Đoạn văn có 5 chỗ có thể dùng dấu chấm. Tuy rét vẫn kéo dài, mùa xuân đã đến bên bờ sông Lương • Mùa xuân đã điểm các chùm hoa gạo đỏ mọng lên những cành cây gạo chót vót giữa trời và trải màu lúa non sáng dịu lên khắp mặt đất mới cách ít ngày còn trần trụi đen xám • Trên những bãi đất phù sa mịn hồng mơn mởn, các vòm cây quanh năm xanh um đã dần dần chuyển màu lốm đốm, như được rắc thêm một lớp bụi phấn hung vàng: Các vườn nhãn, vườn cải đang trổ hoa […] Mùa xuân đã đến • Những ngày mưa phùn, người ta thấy trên mấy bãi soi dài nổi lên đây đó ở giữa sông, những con giang, con sếu cao gần bằng người, không biết từ đâu về, theo nhau lững thững bước thấp thoáng trong bụi mưa trắng xoá • Có những buổi, cả một quãng sông phía gần chân núi bỗng rợp đi vì hàng nghìn đôi cánh của những đàn sâm cầm tới tấp sà xuống, chẳng khác nào từng đám mây bỗng rụng xuống, tan biến trong các đầm bãi rậm rạp lau sậy. (Nguyễn Đình Thi) Câu 2. Đoạn đối thoại dưới đây có dấu chấm hỏi nào dùng chưa đúng không? Vì sao? – Bạn đã đến thăm động Phong Nha chưa? (1) – Chưa? (2) Thế còn bạn đã đến chưa? (3) – Mình đến rồi. (4) Nếu tới đó, bạn mới hiểu vì sao mọi người lại thích đến thăm động như vậy? (5) Đoạn đối thoại trên câu (2) và câu (5) dùng sai dấu. Hai câu này là câu trần thuật nên dùng dấu chấm (.). Câu 3. Hãy đặt dấu chấm than vào cuối câu thích hợp. Đoạn văn có hai câu có thể dùng được dấu chấm than, câu 1 và câu 2. Câu 1 câu cảm thán, câu 2 câu cầu khiến. – Động Phong Nha thật đúng là “Đệ nhất kì quan” của nước ta! (1) – Chúng tôi xin mời các bạn hãy đến thăm động Phong Nha quê tôi! (2) – Động Phong Nha còn cất giữ bao điều huyền bí, thú vị, hấp dẫn mà con người vẫn chưa biết hết. (3)
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 31_ Ôn tập về dấu câu
1,201
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 32: Tổng kết phần tập làm văn Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 32: Tổng kết phần tập làm văn Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 32: Tổng kết phần tập làm văn được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Tổng kết phần tập làm văn I. Các loại văn bản và những phương thức biểu đạt đã học Câu 1. Hãy dẫn ra một số bài văn đã học theo mẫu thống kê. STT Các phương thức biểu đạt Thể hiện qua một số văn bản đã học 1 Tự sự Con Rồng, cháu Tiên; Thạch Sanh; Con hổ có nghĩa; Bức tranh của em gái tôi 2 Miêu tả Bài học đường đời đầu tiên; Sông nước Cà Mau 3 Biểu cảm Lượm; Đêm nay Bác không ngủ; Cây tre Việt Nam 4 Nghị luận Lòng yêu nước; Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử; Cây tre Việt Nam 5 Thuyết minh Động Phong Nha 6 Hành chính – công vụ Đơn từ Câu 2. Hãy xác định và ghi ra vở phương thức biểu đạt chính trong các văn bản sau: Em dựa vào câu (1) để có cách làm hợp lí ở câu (2) STT Tên văn bản Phương thức biểu đạt chính 1 Thạch Sanh Tự sự 2 Lượm Biểu cảm 3 Mưa Biểu cảm 4 Bài học đường đời đầu tiên Miêu tả 5 Cây tre Việt Nam Nghị luận Em nhớ lại những bài làm văn đã được thầy cô giáo cho làm tại lớp từ đầu năm đến cuối năm (các dạng đề đã làm). STT Phương thức biểu đạt Đã tập làm 1 Tự sự – Kể lại một chuyện đã biết (truyền thuyết, cổ tích) bằng lời văn của em (Bài viết số 1). – Kể về một sự việc tốt đã làm, về sự mắc lỗi, kỉ niệm thơ ấu, thầy cô giáo, gương tốt (Bài viết số 2). – Kể về kỉ niệm đáng nhớ, người bạn mới quen, ông bà, cha mẹ..(Bài viết số 3, Bài viết số 4) 2 Miêu tả – Tả lại hình ảnh: Cây đào, cây mai, hàng phương vĩ, cảnh bão lụt, khu phố làng xóm (Bài viết số 5). – Tả người: Tả người thân yêu, gần gũi: Ông bà, cha mẹ, cụ già ngồi câu cá, lực sĩ cử tạ (Bài viết số 6, Bài viết số 7). 3 Biểu cảm – Tập làm thơ năm chữ, bốn chữ 4 Nghị luận Các em chưa làm bài viết loại này, nhưng đang tập làm qua phần Đọc – hiểu văn bản. II. Đặc điểm và cách làm Câu 1, Theo em văn bản miêu tả, tự sự, đơn từ khác nhau ở chỗ nào? So sánh mục đích, nội dung, hình thức trình bày theo bảng sau: Muốn làm tốt câu này các em xem lại kiến thức tr.16 Ngữ văn 6, Tập một, và sau đó ghi vào bảng thống kê. STT Văn bản Mục đích Nội dung Hình thức 1 Tự sự Trình bày diễn biến sự việc Kể lại một chuỗi sự việc có quan hệ với nhau, từ khi bắt đầu đến kết thúc, tạo thành một câu chuyện, thể hiện một ý nghĩa. Gồm có 3 phần – Mở bài – Thân bài – Kết bài 2 Miêu tả Tái hiện trạng thái sự vật, con người – Quan sát, lựa chọn những hình ảnh tiêu biểu, và trình bày theo một thứ tự nhất định. Gồm có 3 phần – Mở bài – Thân bài – Kết bài 3 Đơn từ Trình bày ý muốn, nguyện vọng nào đó – Những vấn đề xảy ra trong đời sống mà nơi giải quyết là đoàn thể, tổ chức, chính quyền Theo thứ tự tám mục Câu 2. Mỗi bài văn tự sự và miêu tả đều có 3 phần. Hãy nêu nội dung và những lưu ý trong cách thể hiện từng phần theo bảng. STT Các phần Tự sự Miêu tả 1 Mở bài Giới thiệu chung về nhân vật và sự việc Giới thiệu cảnh được tả 2 Thân bài Kể diễn biến sự việc Tập trung tả cảnh vật chi tiết theo một thứ tự tả vật: Xa, gần, cao thấp, trê dưới; tả người: Ngoại hình cử chỉ, lời nói, hành động. 3 Kết bài Kể kết cục của sự việc Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của người viết về cảnh vật hoặc người được tả Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 32: Tổng kết phần văn Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 32: Ôn tập về dấu câu dấu phẩy
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 32_ Tổng kết phần tập làm văn
710
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 32: Tổng kết phần văn Hướng dẫn Giải bài tập Ngữ văn bài 32: Tổng kết phần văn Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 32: Tổng kết phần văn được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Tổng kết phần văn Câu 3. Lập bảng thống kê các truyện đã học: Nhân vật chính, tính cách, vị trí, ý nghĩa của các nhân vật TT Tên văn bản Nhân vật chính Tính cách, vị trí, ý nghĩa của nhân vật chính 1 Con Rồng, cháu Tiên Lạc Long Quân và Âu cơ – Cha Rồng Lạc Long Quân, mẹ Tiên Âu Cơ là những người xinh đẹp, tài giỏi linh thiêng, cao quý. – Giải thích nguồn gốc của các dân tộc Việt Nam, đề cao lòng tự hào dân tộc. 2 Bánh chưng, bánh giầy Lang Liêu – Chàng trai hiền lành, chăm chỉ lao động, sáng tạo, có tấm lòng thành kính đối với Trời đất, tổ tiên. – Ca ngợi kì tích văn hóa, đề cao nghề trồng lúa. 3 Thánh Gióng Thánh Gióng – Người anh hùng chống giặc giữ nước của dân tộc, sự ra đời kì lạ, và dáng vóc kì vĩ. – Phản ánh sức mạnh, ước mơ của dân tộc trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm. 4 Sơn Tinh, Thủy Tinh Sơn Tinh, Thủy Tinh – Là những vị thần tài giỏi, một ở núi, một ở biển – Qua cuộc chiến giữa Thủy Tinh và Sơn Tinh người xưa muốn giải thích hiện tượng lũ lụt, và ước mơ chinh phục thiên nhiên 5 Sự tích Hồ Gươm Lê Lợi – Người anh hùng tài giỏi, được Lạc Long Quân cho mượn gươm thần. – Ca ngợi tính chất chính nghĩa, tinh thần yêu nước, yêu chuộng hòa bình của dân tộc, giải thích sự tích tên hồ. 6 Sọ Dừa Sọ Dừa – Kiểu truyện “người mang lốt xấu xí” nhưng tài giỏi. – Thể hiện lòng nhân đạo sâu sắc: Niềm tin tình thương đối với những con người bất hạnh. 7 Thạch Sanh Thạch Sanh – Kiểu truyện “người mồ côi” nhân vật dũng sĩ – Khẳng định giá trị của trí tuệ, và ước mơ có người tài giỏi gánh vác việc nước. 8 Em bé thông minh Em bé – Kiểu truyện “về nhân vật thông minh” – Khẳng định giá trị của trí tuệ, và ước mơ có người tài giỏi gánh vác việc nước. 9 Cây bút thần Mã Lương – Hành động nghĩa hiệp cứu giúp người nghèo, tiêu diệt bọn độc ác. – Quan niệm của nhân dân về công lí, về mục đích, nghệ thuật và khả năng kì diệu của con người. 10 Ông lão đánh cá và con cá vàng Mụ vợ, cá vàng – Mụ vợ độc ác tham lam, cá vàng biết ơn nhân hậu. – Ngợi ca lòng biết ơn, nêu cao bài học đích đáng cho những kẻ tham lam bội bạc 11 Ếch ngồi đáy giếng Ếch Khuyên con người không được chủ quan kiêu ngạo. 12 Thầy bói xem voi Năm ông thầy bói – Giễu cách xem và phán về voi của các ông thầy bói – Khuyên con người muốn hiểu biết sự việc phải xem xét một cách toàn diện 13 Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng – Dùng các bộ phận của con người để ẩn dụ về mối quan hệ tương hỗ trợ giữa các thành viên trong cộng đồng. 14 Treo biển Nhà hàng bán cá – Chuyện về nhà hàng bán cá nghe ai góp ý về tên biển cũng vội vàng làm theo. – Phê phán những người huênh hoang, có tính thích khoe của. 15 Lợn cưới áo mới Hai anh chàng – Người khoe lợn cưới, người khoe áo mới – Phê phán những người huênh hoang, có tính thích khoe của. 16 Con hổ có nghĩa Hai con hổ – Bà Trần giúp hổ sinh đẻ, bác tiều giúp hổ lấy xương. – Đề cao ân nghĩa trong đạo làm người 17 Mẹ hiền dạy con Mẹ, Mạnh Tử – Mẹ của Mạnh Tử ba lần chuyển nhà để dạy con. – Ngợi ca gương dạy con củ bà mẹ Mạnh Tử, vừa yêu thương vừa nghiêm khắc. 18 Thầy thuốc giỏi cốt ở tấm lòng Thái y lệnh – Bản lĩnh của thầy thuốc họ Phạm. – Truyện ca ngợi đức độ của Thái y lệnh đã ra sức giúp đỡ người bệnh bằng cả tài năng, tấm lòng và của cải, đặc biệt đối với người nghèo. 19 Bài học đường đời đầu tiên Dế Mèn – Dế Mèn có vẻ đẹp cường tráng nhưng kiêu căng xốc nổi. – Bài học về đường đời của tuổi trẻ: “Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, sớm muộn rồi cũng mang vạ vào mình” 20 Bức tranh của em gái tôi Người anh – Nỗi bực tức và sự ân hận của người anh – Ngợi ca tình cảm trong sáng, hồn nhiên và lòng vị tha của người em gái đã giúp cho người anh nhận ra sự hạn chế của mình 21 Vượt thác Dượng Hương Thư – Sự dũng mãnh của Dượng Hương Thư trên con thuyền vượt thác – Ngợi ca tư thế hào hùng của con người trước thiên nhiên. 22 Buổi học cuối cùng Thầy Ha-men – Sự tận tâm, tận lực của thầy giáo Ha-men trong buổi dạy cuối cùng, và sự nỗ nực của cậu bé Phrăng. – Ngợi ca lòng yêu nước, yêu tiếng nói dân tộc. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 32: Tổng kết phần tập làm văn Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 32: Ôn tập về dấu câu dấu phẩy
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 32_ Tổng kết phần văn
899
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3: Nghĩa của Từ Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 3: Nghĩa của Từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3: Nghĩa của Từ. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Nghĩa của Từ I. Kiến thức cơ bản • Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ…) mà từ biểu thị. • Có thể giải thích nghĩa của từ bằng hai cách chính như sau: Trình bày khái niệm mà từ biểu thị. Đưa ra những từ đồng nghĩa, hoặc trái nghĩa với từ cần giải thích. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Nghĩa của từ là gì? – Tập quán: Thói quen của một cộng đồng (địa phương, dân tộc v.v.) được hình thành trong đời sống, được mọi người làm theo. – Lẫm liệt: Hùng dũng, oai nghiêm. – Nao núng: Lung lay, không vững lòng tin ở mình nữa. a). Mỗi chú thích ở trên gồm hai bộ phận, phần đầu nêu từ (in đậm) phần sau giải thích nghĩa của từ. b) Nghĩa của từ ứng với phần nội dung trong mô hình. 2. Cách giải thích nghĩa của từ + Từ tập quán được giải thích bằng cách trình bày khái niệm về sự vật mà từ biểu thị. + Từ nao núng được giải thích bằng từ đồng nghĩa và nêu tính chất mà từ biểu thị. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Đọc lại một vài chú thích ở sau các văn bản đã học, cho biết mỗi chú thích giải nghĩa từ bằng cách nào? Ta chỉ nên chọn mỗi bài một vài chú thích, không nên chọn số lượng quá nhiều. Câu 2. Hãy điền các từ học hỏi, học tập, học hành, học lởm vào chỗ trống trong những câu dưới đây sao cho phù hợp. – Học tập: Và rèn luyện để có hiểu biết và có kĩ năng. – Học lởm: Nghe thấy người ta làm rồi làm theo, thứ không ai trực tiếp dạy bảo. – Học hỏi: Tìm tòi, hỏi han để học tập. – Học hành: Học văn hoá có thầy, có chương trình, có hướng dẫn (nói một cách khái quát). Câu 3. Điền các từ trung gian, trung niên, trung bình vào chỗ trống cho phù hợp. – Trung bình: Ở vào khoảng giữa trong bậc thang đánh giá, không khá cũng không kém, không cao cũng không thấp. – Trung gian: Ở vị trí chuyển tiếp hoặc nối liền giữa các bộ phận, hai giai đoạn, hai sự vật. – Trung niên: Đã quá tuổi thanh niên nhưng chưa đến tuổi già. Câu 4. Giải thích các từ sau theo những cách đã biết – Giếng: Hố đào thẳng đứng, sâu vào lòng đất, để lấy nước. – Rung rinh: Chuyển động qua lại nhẹ nhàng liên tiếp. – Hèn nhát: Thiếu can đảm đến mức đáng khinh. Câu 5. Đọc truyện sau đây và cho biết giải nghĩa từ mất như nhân vật Nụ có đứng không? + Muốn biết cách giải thích nghĩa từ mất của bạn Nụ có đúng hay không, ta phải tìm hiểu từ mất có những nét nghĩa nào. + Theo giải thích của “Từ điển tiếng Việt” từ mất có những nghĩa sau: – Mất: Không có, không thấy, không tồn tại (tạm thời hay vĩnh viễn) nữa. – Mất: Không còn thuộc về mình nữa. – Mất: Không có ở mình nữa (mất sức, mất niềm tin). – Mất: Dùng hết bao nhiêu thời gian, công sức hoặc tiền bạc vào việc gì (tiền ăn mỗi ngày mất mấy chục). – Mất: Không còn sống nữa (Bố mẹ mất sớm). + Như vậy cách giải thích từ mất như nhân vật Nụ là không chính xác: “Biết nó ở đâu rồi thì không gọi là mất”. Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3: Sơn Tinh, Thủy Tinh Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3: Sự việc và nhân vật trong Văn tự sự
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3_ Nghĩa của Từ
698
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3: Sơn Tinh, Thủy Tinh Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 3: Sơn Tinh, Thủy Tinh Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3: Sơn Tinh, Thủy Tinh. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Sơn Tinh, Thủy Tinh I. Kiến thức cơ bản Truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh bắt nguồn từ thần thoại cổ về núi Tản Viên nhưng đã được lịch sử hoá thành truyền thuyết. Truyện được gắn vào một thời đại lịch sử, trở thành một truyện quan trọng trong chuỗi truyền thuyết về thời đại các vua Hùng. Sơn Tinh trở thành người hùng văn hoá trong nhận thức dân gian. Sơn Tinh, Thuỷ Tinh là câu chuyện tưởng tượng kì ảo, giải thích các hiện tượng lũ lụt và thể hiện sức mạnh, ước mong của người Việt cổ muốn chế ngự thiên tai, đồng thời suy tôn, ca ngợi công lao dựng nước của các vua Hùng. II. Hướng dẫn đọc hiểu văn bản Câu 1. Truyện “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” gồm mấy đoạn? Mỗi đoạn thể hiện nội dung gì? Truyện được gắn với thời đại nào trong lịch sử Việt Nam? + Truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh có thể chia làm ba đoạn: • Đoạn 1: (Từ đầu cho đến “mỗi thứ một đôi”): Điều kiện kén rể của vua Hùng. • Đoạn 2: (Tiếp theo cho đến “thần nước đành rút quân”): Cuộc giao tranh giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh. • Đoạn 3: (Phần còn lại): Sự thất bại của Thuỷ Tinh và sự báo thù hàng năm. Câu 2. Truyện “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” nhân vật chính là ai? Các nhân vật chính được miêu tả bằng những chi tiết nghệ thuật tưởng tượng kì ảo như thế nào? Ý nghĩa tượng trưng của các nhân vật đó? + Nhân vật chính của truyện là Sơn Tinh, Thuỷ Tinh cả hai nhân vật đều được miêu tả bằng những chi tiết tưởng tượng. Nhân vật Sơn Tinh: • Vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi. • Vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. • Dùng phép lạ bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, dựng thành lũy đất, ngăn chặn dòng lũ. • Nước sông dâng lên bao nhiêu, đồi núi cao lên bấy nhiêu. Nhân vật Thuỷ Tinh: • Gọi gió, gió đến. • Hô mưa, mưa về. • Hô mây gọi gió làm thành dòng bão uy chuyển cả đất trời. + Ý nghĩa tượng trưng – Sơn Tinh: Tài năng của Sơn Tinh đưa lại cho cuộc sống những điều tốt đẹp, xây dựng và làm cho cuộc sống sinh sôi nảy nở – là một phúc thần được mọi người yêu mến. => Sơn Tinh tượng trưng cho khát vọng và khả năng chinh phục thiên tai của nhân dân ta ngày xưa. – Thuỷ Tinh: Tài năng của Thuỷ Tinh thể hiện sự tàn phá, huỷ diệt, mang lại hiểm hoạ cho cuộc sống. Thuỷ Tinh là một hung thần đáng sợ. => Thuỷ Tinh tượng trưng cho lũ lụt đe doạ cuộc sống con người. Câu 3. Hãy nêu ý nghĩa của truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh. + Giải thích hiện tượng lũ lụt hàng năm; + Ước mơ chế ngự và chiến thắng thiên tai của con người; III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Hãy kể diễn cảm truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh Muốn kể chuyện diễn cảm em phải nắm vững các sự việc và xác định giọng điệu thích hợp. • Vua Hùng kén rể → giọng hân hoan • Sơn Tinh, Thuỷ Tinh đến cầu hôn -> giọng điệu ngạc nhiên • Vua Hùng ra điều kiện chọn rể → giọng điệu thể hiện sự băn khoăn • Sơn Tinh, Thuỷ Tinh đánh nhau -> giọng sôi nổi, dồn dập, hào hùng. • Kết quả trận đánh → giọng trầm xuống, lắng đọng. • Đoạn cuối –> giọng chậm rãi. Câu 2. Từ truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh em nghĩ gì về chủ trương củng cố đê điều, trồng rừng và nghiêm cấm nạn phá rừng của Nhà nước ta hiện nay. + Chủ trương củng cố đê điều; nghiêm cấm nạn phá rừng; và trồng thêm hàng triệu héc ta rừng của nước ta hiện nay là hoàn toàn đúng đắn. Nhằm mục đích ngăn chặn lũ lụt, bảo vệ môi trường sống. + Nạn lũ lụt hiện nay vẫn là một tai hoạ hàng đầu đáng sợ nhất trong bốn tai hoạ lớn: Thuỷ, hoả, đạo, tặc. Hàng năm ở nước ta trên cả ba miền Bắc Trung Nam liên tiếp hết cơn lũ này, đến cơn lũ khác, thiệt hại lên tới hàng trăm tỉ đồng. Bao nhiêu nhà cửa, tài sản, bao nhiêu tính mạng của con người bị thiệt hại. Vì vậy hơn lúc nào hết chúng ta phải gấp rút tìm nhiều biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn lũ lụt. Câu 3. Hãy viết tên một số truyện kể dân gian liên quan đến thời đại các vua Hùng mà em biết. – Con Rồng, cháu Tiên – Bánh chưng, bánh giầy – Thánh Gióng – Chử Đồng Tử Chúng ta thấy bóng dáng và tầm vóc của người khổng lồ đào sông xây núi, sừng sững trên đất nước mênh mông, bưng ngay những dòng lũ lớn từ Tây Bắc đổ xuống và dồn tất cả những trái núi to nhất đến các vùng Hà Tây, Thanh Thuỷ ngày nay, để buộc sông Đà và sông Hồng bớt lồng lộn và giận dữ để mà ngoan ngoãn chảy về xuôi. (Cao Huy Đỉnh) Thán phục chàng Sơn Tinh bao nhiêu, chúng ta càng thán phục và nhớ ơn tổ tiên ta, nhân dân ta bấy nhiêu. Bởi vì, chính Sơn Tinh vị thần núi Tản Viên là người đại diện cho cả dân tộc đã bao đời tấu lên bản hùng ca trị thuỷ để bảo vệ non sông đất nước, bảo vệ cuộc sống hạnh phúc, thanh bình cho mỗi chúng ta. (Vũ Dương Quỹ) Truyện còn nói lên ước mơ của người Việt thời cổ “Nước sông dâng cao lên bao nhiêu, đồi núi cao bấy nhiêu” – Phải chăng đây là ước mơ của người xưa, muốn chinh phục tự nhiên, chiến thắng nạn lũ lụt để có cuộc sống bình yên? Một ước mơ đẹp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc lại được thể hiện trong một hình tượng đầy chất thơ. Chúng ta trân trọng ước mơ đó, vì chúng ta, trong ngày hôm nay, đã và đang biến ước mơ của người xưa thành những hiện thực đẹp đẽ. (Nguyễn Xuân Lạc) Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3: Nghĩa của Từ
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3_ Sơn Tinh, Thủy Tinh
1,144
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3: Sự việc và nhân vật trong Văn tự sự Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 3: Sự việc và nhân vật trong Văn tự sự Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3: Sự việc và nhân vật trong Văn tự sự. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Sự việc và nhân vật trong Văn tự sự I. Kiến thức cơ bản • Sự việc trong văn tự sự được trình bày một cách cụ thể: Sự việc xảy ra trong thời gian, địa điểm cụ thể, do nhân vật cụ thể thực hiện, có nguyên nhân, diễn biến, kết quả. Sự việc trong văn tự sự được sắp xếp theo một trật tự, diễn biến sao cho thể hiện được tư tưởng mà người kể muốn biểu đạt. • Nhân vật trong văn tự sự là người thực hiện các sự việc và là người được thể hiện trong văn bản. Nhân vật chính đóng vai trò chủ yếu thể hiện tư tưởng của văn bản. Nhân vật phụ chỉ giúp nhân vật chính hoạt động. Nhân vật được thể hiện qua các mặt: tên gọi, lai lịch, tính nết, hình dáng, việc làm. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Đặc điểm của sự việc trong văn tự sự Câu a Câu b + Sáu yếu tố cơ bản của văn tự sự: • Yếu tố 1: Nhân vật (do ai làm) -> Sơn Tinh, Thuỷ Tinh. • Yếu tố 2: Thời gian (xảy ra lúc nào) — Đời vua Hùng Vương thứ 18. Yếu tố 3: Địa điểm (xảy ra ở đâu) -> Hai bên đánh nhau ở Phong Châu. • Yếu tố 4: Nguyên nhân -> Do Thuỷ Tinh đến sau không lấy được vợ, nổi giận dâng nước đánh Sơn Tinh. • Yếu tố 5: Diễn biến -> Trận giao chiến diễn ra ròng rã mấy tháng trời, lại tiếp tục xảy ra hàng năm. • Yếu tố 6: Kết quả → Thuỷ Tinh thất bại. + Không thể bỏ yếu tố thời gian và địa điểm trong truyện được. Bởi vì: Nếu bỏ đi người đọc sẽ không hiểu được truyện xảy ra vào lúc nào, ở đâu? Không thấy tính hợp lí của câu chuyện với thời đại. + Thuỷ Tinh nổi giận là hoàn toàn có lí -> yếu tố quan trọng để phát triển truyện. • Lí do đó được thể hiện ở sự kiện: Thuỷ Tinh đến sau không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đòi cướp Mị Nương. Câu c. + Sự việc thể hiện mối thiện cảm của vua Hùng đối với Sơn Tinh. • Sơn Tinh ở vùng núi Tản Viên, những đồ sính lễ mà vua Hùng ra điều kiện đều là sản phẩm ở rừng núi: “Cơm nếp, bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”. + Việc Sơn Tinh thắng Thuỷ Tinh (Lần giao chiến đầu tiên và sau đó mỗi năm một lần) điều đó thể hiện ước mơ chế ngự và chiến thắng lũ lụt của cha ông ta ngày xưa. + Không thể để cho Thuỷ Tinh thắng Sơn Tinh vì điều đó không phản ánh được khát vọng và sức mạnh của con người trong công cuộc đấu tranh với thiên nhiên. + Cũng không thể xoá bỏ sự việc hàng năm Thuỷ Tinh lại dâng nước đánh Sơn Tinh –> Vì điều đó nhằm giải thích hiện tượng lũ lụt xảy ra hàng năm. 2. Nhân vật trong văn tự sự Câu a Nhân vật trong văn tự sự vừa là kẻ thực hiện các sự việc, vừa là kẻ được nói tới nhiều nhất (có thể biểu dương hoặc lên án). + Tên các nhân vật tự sự trong truyện “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh”: Vua Hùng, Mị Nương, Sơn Tinh, Thuỷ Tinh. + Nhân vật chính có vai trò quan trọng nhất là Sơn Tinh, Thuỷ Tinh. + Nhân vật phụ là vua Hùng, và Mị Nương, nhân vật phụ cũng cần thiết, ta không thể bỏ được, nhân vật phụ giúp cho nhân vật chính hoạt động. Câu b Tính chất miêu tả cụ thể của nhân vật được thể hiện: + Tên gọi: Vua Hùng, Mị Nương, Sơn Tinh, Thuỷ Tinh. + Lai lịch: Mị Nương con gái vua Hùng thứ 18. Sơn Tinh thần núi Tản, Thuỷ Tinh thần nước thẳm. + Tính tình: Mị Nương nết na hiền dịu. + Tài năng: Sơn Tinh dời núi, nổi cồn, Thuỷ Tinh tài hô mưa gọi gió. + Việc làm, hành động, ý nghĩ, lời nói: • Sơn Tinh: Vẫy tay về phía đông… vẫy tay về phía tây. • Thuỷ Tinh: Gọi gió, hô mưa. – Hành động • Thuỷ Tinh: Đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đòi cướp Mị Nương. Hô mưa, gọi gió làm thành dông bão… • Sơn Tinh: Dùng phép bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi dựng thành lũy đất. – Ý nghĩ Vua Hùng băn khoăn không biết nhận lời ai, từ chối ai. – Lời nói • Sơn Tinh, Thuỷ Tinh: Hai chàng tâu hô đồ sính lễ sắm những gì • Vua Hùng: Vua bảo: “Một trăm ván cơm nếp…” III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1a). Xem phần bài học 1b) Tóm tắt truyện “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” theo sự việc gắn với các nhân vật chính. Hùng Vương thứ mười tám kén rể cho công chúa Mị Nương xinh đẹp. Cùng một lúc có Sơn Tinh, Thuỷ Tinh đến cầu hôn. Cả hai đều tài giỏi, phân vân không biết chọn ai, vua ra điều kiện: Ai đem sính lễ đến trước vào ngày hôm sau sẽ được lấy Mị Nương. Sơn Tinh đến trước được rước Mị Nương về. Thuỷ Tinh đến sau đùng đùng nổi giận dâng nước đánh Sơn Tinh, nhưng thất bại đành rút lui. Từ đấy hàng năm, không quên mối oán hận, Thuỷ Tinh lại dâng nước đánh Sơn Tinh. Ic). Tại sao truyện lại gọi là Sơn Tinh, Thuỷ Tinh? Nếu đổi bằng các tên sau có được không? + Lí do đặt tên chuyện là “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” vì: Đây là hai đối tượng được nói đến nhiều nhất, giữ vai trò hoạt động chủ yếu trong diễn biến của cốt truyện => Nhân vật chính của câu chuyện, chọn tên nhân vật để đặt cho tiêu đề tác phẩm là hợp lí. + Nếu ta thay thế bằng các tựa đề: a) Vua Hùng kén rể b) Truyện vua Hùng, Mị Nương, Sơn Tinh và Thuỷ Tinh c). Bài ca chiến công của Sơn Tinh -> Các tựa trên thiếu tính khái quát toàn diện nội dung tác phẩm (a) và (c) còn tiêu đề (b) dài dòng không cần thiết. Câu 2. Cho nhan đề truyện: Một lần không vâng lời. Em hãy tưởng tượng để kể một câu chuyện theo nhan đề ấy. Bài làm tham khảo Một lần không vần lời Nam là học sinh lớp 6A. Tính Nam rất hiếu động nên hôm qua, trước khi đi chợ xa mẹ dặn Nam: “Ở nhà một mình con chớ nghịch ngợm và đặc biệt không được trèo cây, vì trèo cây là nguy hiểm lắm đó!” Nam trả lời mẹ: “Dạ con nhớ mẹ ạ”. Thế nhưng mẹ vừa ra khỏi nhà Nam đã quên ngay lời mẹ dặn chạy tót ra vườn chơi. Ra đến vườn Nam đi hết gốc cây này sang gốc cây khác, chợt Nam nhìn thấy trên một cành xoài cao có một quả đã ửng vàng. Xoài đầu mùa ngon tuyệt! Nam không nín được cơn thèm! Thế là việc trèo cây bắt đầu. (Theo Trần Công Tùng, Lê Thuý Nga – Học tốt ngữ văn 6) Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3: Nghĩa của Từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 6: Thạch Sanh
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3_ Sự việc và nhân vật trong Văn tự sự
1,331
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 4: Chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự I. Kiến thức cơ bản • Chủ đề là vấn đề chủ yếu mà mọi người muốn đặt ra trong văn bản • Dàn bài bài văn tự sự thường gồm có ba phần: – Phần Mở bài giới thiệu chung về nhân vật và sự việc; – Phần Thân bài kể diễn biến của sự việc; – Phần Kết bài kết cục của sự việc. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học Tìm hiểu chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự, Đọc bài văn về danh y Tuệ Tĩnh. 1) Phẩm chất của Tuệ Tĩnh? Việc Tuệ Tĩnh ưu tiên chữa trị trước cho chú bé con nhà nông bị gẫy đùi đã thể hiện nhân đức của người thầy thuốc khi chữa bệnh: – Coi trọng người bệnh, không phân biệt, sang – hèn – giàu nghèo. – Bệnh nặng chữa trước, bệnh nhẹ chữa sau. => lấy sự an nguy của bệnh nhân làm tiêu chuẩn hàng đầu. – Không tham tiền bạc, không sợ quyền uy. 2) Chủ đề bài văn + Chủ đề của bài văn là ca ngợi lòng thương người của Tuệ Tĩnh. + Chủ đề đó được thể hiện trực tiếp qua những câu văn sau: – Không! Ta phải chữa gấp cho chú bé này, để chậm tất có hại. – Bắt tay ngay vào chữa trị… qua gần trọn buổi chú bé nhà nông đã được bó nẹp. – Con người ta cứu giúp nhau lúc hoạn nạn, sao ông bà lại nói chuyện ơn huệ. – Trời sập tối chợt nhớ tới nhà quý tộc, ông vội vã ra đi không kịp nghỉ ngơi. 3) Nhan đề tác phẩm + Cho ba tựa đề: – Tuệ Tĩnh và hai người bệnh – Tấm lòng thương người của thầy Tuệ Tĩnh – Y đức của Tuệ Tĩnh + Cả ba nhan đề, nhan đề nào cũng thể hiện chủ đề của tác phẩm. Nhưng xét về mặt khái quát, thì có lẽ nhan đề thứ ba là hợp lí nhất: Y đức của Tuệ Tĩnh. + Chúng ta cũng có thể đặt những nhan đề khác cho bài văn như: – Lương tâm của người thầy thuốc – Thầy thuốc giỏi cốt ở tấm lòng 4) Yêu cầu của các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài: + Mở bài: Giới thiệu về danh y Tuệ Tĩnh và sự việc cứu giúp người bệnh của ông. + Thân bài: Kể về việc Tuệ Tĩnh cứu giúp chú bé con nhà nông vì bệnh tình nguy kịch mà từ chối chưa đến thăm bệnh cho nhà quý tộc. + Kết bài: Kết cục sự việc – Tuệ Tĩnh đi thăm bệnh cho nhà quý tộc khi trời đã tối mà không kịp nghỉ ngơi. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Đọc truyện “Phần Thưởng” và trả lời câu hỏi: a) Chủ đề của truyện này nhằm biểu dương và chế giễu điều gì? Sự việc nào tập trung cho chủ đề? + Chế giễu thói tham lam chuyên ăn hối lộ của bọn quan lại. Sự việc tập trung biểu hiện cho chủ đề: Xin bệ hạ hãy thưởng cho hạ thần năm mươi roi, hạ thần không muốn gì hơn cả. Chỉ có điều hạ thần đã đồng ý chia cho viên quan đã đưa hạ thần vào đây một nửa số phần thưởng của bệ hạ. Vậy xin bệ hạ hãy thưởng cho hạ thần mỗi người hai mươi lăm roi. b) Hãy chỉ ra ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài + Phần Mở bài: Câu đầu tiên của truyện “Một người… dâng tiến nhà vua”. + Phần Thân bài: Từ “Ông ta tìm… hai mươi lăm roi”. + Phần Kết bài: “Nhà vua bật cười. một nghìn rúp”. c) Truyện này với truyện về Tuệ Tĩnh có gì giống nhau về bố cục và khác nhau về chủ đề. + Bố cục: Giống nhau về diễn biến của sự việc để đi đến kết cục + Khác nhau: – Truyện Tuệ Tĩnh: Ca ngợi lòng thương người. – Truyện Phần Thưởng nói về sự thưởng phạt công minh. d) Sự việc trong bài thú vị ở chỗ nào? + Sự việc ở trong bài thú vị ở chỗ người nông dân xin nhận phần thưởng của vua ban là năm mươi roi, chia đều cho hai người. + Ý nghĩa: – Làm cho câu chuyện trở nên kịch tính, hấp dẫn. – Thể hiện sự thông minh, tài trí của người nông dân: Vạch mặt sự tham lam của viên cận thần kia một cách rất khéo léo. Câu 2. Đọc các bài “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” và “Sự tích Hồ Gươm” xem cách mở bài đã giới thiệu rõ câu chuyện sắp xảy ra chưa và kết thúc câu chuyện như thế nào? – Truyện “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” Hùng Vương thứ mười tám có người con gái tên là Mị Nương, người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu. Vua cha yêu thương nàng hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng. – Truyện Sự tích Hồ Gươm Vào thời giặc Minh đặt ách đô hộ ở nước Nam, chúng coi dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược, thiên hạ căm giận chúng đến tận xương tủy. Bấy giờ ở vùng Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng. Nhưng trong buổi đầu thế lực còn non yếu nhiều lần nghĩa quân bị thua. Thấy vậy đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để họ giết giặc. => Như vậy cả hai mở bài đều giới thiệu chung về nhân vật và sự việc sắp xảy ra. + Kết bài – Truyện “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” Từ đó oán nặng, thù sâu, hàng năm Thuỷ Tinh làm mưa gió bão lụt dâng nước đánh Sơn Tinh. Nhưng năm nào cũng vậy, Thần nước đánh mỏi mệt, chán chê vẫn không thắng nối Thần núi để cướp Mị Nuong, dành rút quân về. – Truyện “Sự tích Hồ Gươm” Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm. => Kết bài của hai câu chuyện đều kể về kết cục của sự việc: Lí giải về một hiện tượng trong đời sống. Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Sự tích Hồ Gươm Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Tìm hiểu đề và cách làm bài văn tự sự Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Viết bài tập làm văn số 1
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4_ Chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự
1,169
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Sự tích Hồ Gươm Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 4: Sự tích Hồ Gươm Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Sự tích Hồ Gươm. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Sự tích Hồ Gươm I. Kiến thức cơ bản • Bằng những chi tiết tưởng tượng kì ảo, giàu ý nghĩa (như Rùa vàng, gươm thần) truyện Sự tích Hồ Gươm ca ngợi tính chất chính nghĩa, tính chất nhân dân và chiến thắng vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược do Lê Lợi lãnh đạo ở đầu thế kỉ XV. • Truyện cũng nhằm giải thích tên gọi hồ Hoàn Kiếm, đồng thời thể hiện khát vọng hoà bình của dân tộc. II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Câu 1. Vì sao đức Long Quân lại cho nghĩa quân Lam Sơn mượn gươm thần. + Lí do đức Long Quân cho nghĩa quân Lam Sơn mượn gươm thần: • Vì giặc Minh quá tàn ác, sát hại dân lành làm bao điều bạo ngược. • Vì lòng dân căm giận bọn giặc đến tận xương tuỷ. • Vì lực lượng nghĩa quân trong những ngày đầu chưa mạnh. + Ý nghĩa • Thể hiện sự đồng tình và phù hộ của thần linh của tổ tiên đối với cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc • Làm tăng thêm sự kì ảo và hấp dẫn của câu chuyện. Câu 2. Lê Lợi đã nhận được gươm thần như thế nào? Cách Long Quân cho nghĩa quân Lam Sơn và Lê Lợi mượn gươm có ý nghĩa gì? + Việc nhận gươm của Lê Lợi Lê Lợi không được Long Quân trực tiếp trao gươm, mỗi bộ phận của thanh gươm ở một nơi. Người đánh cá nhặt được lưỡi gươm khi chài lưới – Lê Lợi nhận được chuôi gươm ở trên rừng, đem khớp lại với nhau. – Sức mạnh của gươm thần thực chất là sức mạnh của tinh thần đoàn kết của nhân dân ở khắp mọi miền Tổ quốc trên dưới một lòng. – Thể hiện nguyện vọng, ý chí chống giặc của dân tộc. – Hai chữ “Thuận Thiên” khắc trên gươm thể hiện tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến hợp trời, hợp lòng người. Câu 3. Hãy chỉ ra sức mạnh của gươm thần đối với nghĩa quân Lam Sơn. + Từ khi có gươm thần nhuệ khí của quân ta ngày càng tăng lên cho quân Minh bạt vía. + Từ chỗ bị động chuyển sang chủ động tấn công quân giặc làm cho quân Minh phải rút quân về nước. Câu 4: Khi nào Long Quân cho đòi gươm? Cảnh đòi gươm và trả gươm đã diễn ra như thế nào? + Long Quân cho đòi gươm khi: Quân ta đã đánh đuổi quân Minh về nước được một năm, đất nước đã thanh bình. Lê Lợi đã lên làm vua. + Cảnh đòi gươm được diễn ra. Khi nhà vua đang đi chơi trên hồ Tả Vọng, có con rùa lớn nhô lên mặt nước, lưỡi gươm thần đeo bên người nhà vua động đậy, Rùa vàng tiến về phía thuyền vua: “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân”. Vua nâng gươm hướng về phía Rùa vàng, Rùa vàng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước. + Ý nghĩa: • Cảnh trao gươm là một sự sang trang mới của lịch sử dân tộc. • Khi hoà bình chúng ta không cần đến gươm giáo, dân tộc ta chỉ cần gươm khi chống lại kẻ xâm lăng. Nhắc nhở Lê Lợi thời bình phải chăn dân trị nước. • Cảnh đòi gươm diễn ra trên hồ làm cho câu chuyện càng trở nên kì ảo lung linh. Câu 5. Ý nghĩa của truyện Sự tích Hồ Gươm Ý nghĩa của truyện được thể hiện qua những ý sau: + Ngợi ca cuộc kháng chiến chồng giặc quân Minh của dân tộc, đó là cuộc kháng chiến chính nghĩa được lòng trời, hợp lòng người. + Đề cao suy tôn vai trò của Lê Lợi. + Giải thích nguồn gốc tên gọi Hồ Gươm (Hồ Hoàn Kiếm). Câu 6. Em biết còn truyền thuyết nào của nước ta cũng có hình ảnh Rùa vàng? Theo em, hình tượng Rùa vàng trong truyền thuyết Việt Nam tượng trưng cho ai? Và cho cái gì? + Truyền thuyết của nước ta có hình ảnh Rùa vàng là: “An Dương Vương” (Mị Châu – Trọng Thuỷ) + Hình ảnh Rùa vàng trong các truyền thuyết của Việt Nam tượng trưng cho các vị thần linh thiêng. Trong truyện này là sứ giả của Long Quân, đồng thời tượng trưng cho khí thiêng của sông núi, cho tình cảm trí tuệ và khát vọng của nhân dân. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Đọc thêm phần “Ấn, kiếm Tây Sơn” + Đọc “Ấn, kiếm Tây Sơn” có chi tiết hai Ông Xà trao thanh bảo kiếm và Ấn ngọc cho Nguyễn Huệ – ở núi Tây Sơn Hạ. + Như vậy đây là mô típ quen thuộc: Mô típ trao gươm thần giúp người anh hùng cứu dân cứu nước. Câu 2. Vì sao tác giả dân gian không để Lê Lợi trực tiếp nhận cả chuôi gươm và lưỡi gươm cùng một lúc? + Sự giúp đỡ không hề dễ dàng, giản đơn, mà phải trải qua nhiều thử thách mới có được. + Đòi hỏi con người phải có đủ thông minh, tài trí, có quyết tâm và nghị lực cao. Câu 3. Lê Lợi nhận gươm ở Thanh Hoá nhưng lại trả gươm ở Hồ Gươm – Thăng Long. Nếu Lê Lợi trả gươm ở Thanh Hoá thì ý nghĩa của truyền thuyết sẽ khác đi như thế nào? + Việc Lê Lợi ở kinh đô Thăng Long là biểu tượng thành công của cuộc khởi nghĩa, đã đuổi xong giặc cướp nước. Thanh gươm công lí đã làm xong nhiệm vụ trừ bạo. + Nếu Lê Lợi trả gươm ở Thanh Hoá thì những ý nghĩa sâu sắc của truyền thuyết sẽ bị mất đi. Câu 4. Hãy nhắc lại định nghĩa truyền thuyết và kể tên những truyền thuyết đã học. + Định nghĩa truyền thuyết Truyền thuyết: Là loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, có yếu tố tưởng tượng kì ảo. Truyền thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử được kể. + Những truyền thuyết đã học – Con Rồng, cháu Tiên; Bánh chưng, bánh giầy; Thánh Gióng, IV. Tư liệu tham khảo Đây là loại truyền thuyết vừa giải thích nguồn gốc một địa danh, vừa tôn vinh những danh nhân, những anh hùng nổi bật trong lịch sử có công với dân với nước. Tuy tác phẩm mang cốt lõi lịch sử nổi bật, nhưng vẫn có những chi tiết kì ảo, tưởng tượng đặc sắc toát ra nhiều ý nghĩa. Truyện giải thích tên hồ Hoàn Kiếm đồng thời thể hiện khát vọng hoà bình của dân tộc ta. (Theo Vũ Dương Quỹ – Lê Bảo – SĐD). Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Tìm hiểu đề và cách làm bài văn tự sự Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Viết bài tập làm văn số 1
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4_ Sự tích Hồ Gươm
1,282
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Viết bài tập làm văn số 1 Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 4: Viết bài tập làm văn số 1 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Viết bài tập làm văn số 1. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Viết bài tập làm văn số 1 Một số bài văn tham khảo Đề 1: Đóng vai Sơn Tinh kể lại câu chuyện “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” Chào các cô cậu học trò lớp 6! Các cô cậu có biết ta là ai không? Ta là Sơn Tinh thần núi Tản Viên đây! Còn bên cạnh ta! Các cô cậu hãy ngắm nhìn nàng thật đẹp phải không? Nàng chính là Mị Nương con gái của vua Hùng thứ 18, nàng không chỉ đẹp người mà còn rất đẹp nết. Để cưới được nàng ta phải trải qua trận giao tranh dữ dội ròng rã mấy tháng trời. Các cô cậu có muốn nghe về cuộc giao tranh ấy không? Hãy lặng im ta kể cho nghe nhé. Lúc bấy giờ ta đang ở núi Tản Viên, nghe tin vua Hùng kén rể, ta lập tức đến ngay. Thế nhưng cùng đến một lúc với ta còn có Thuỷ Tinh người ở miền biển tài năng cũng không kém. Nếu ta có tài vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy đồi thì chàng lại có tài gọi gió, gió đến, hô mưa, mưa về. Vua Hùng ưng ý cả ta và Thuỷ Tinh nhưng con gái yêu của nhà vua thì chỉ có một. Vua không biết gả cho ai bèn mời bộ lạc vào bàn bạc, xong nhà vua phán: – Sáng mai ai đem sính lễ đến trước sẽ được lấy công chúa. Ta và Thuỷ Tinh cùng đồng thanh tâu: – Bẩm đức vua, sính lễ cần sắm những gì? Vua bảo: – Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi. Nghe xong ta mừng quá bởi sính lễ toàn là những sản vật ở núi rừng, ta không đến nỗi khó kiếm. Sáng hôm sau mới tinh mơ ta đã có mặt. Vua Hùng đồng ý cho ta rước nàng Mị Nương xinh đẹp về núi Tản. Kiệu hoa mới được nửa đường, bỗng đâu dông bão, mưa gió ở đâu ầm ầm kéo đến. Quay đầu nhìn lại ta thấy Thuỷ Tinh đang đùng đùng nổi giận đem quân đuổi theo đòi cướp nàng Mị Nương của ta. Khắp nơi rung chuyển, nước dâng lên cuồn cuộn ngập cả ruộng đồng, nhà cửa, cả thành Phong Châu. Ta không hề nao núng, hoá phép bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi ngăn chặn dông lũ. Nước càng dâng cao bao nhiêu, đồi núi lại cao lên bấy nhiêu, cứ thế ta với Thuỷ Tinh đánh nhau ròng rã suốt mấy tháng trời. Cuối cùng Thuỷ Tinh kiệt sức đành phải rút quân về. Ta và Mị Nương được sống hạnh phúc bên nhau cho đến bây giờ. Thế nhưng, vẫn chưa hết đâu nhé. Thuỷ Tinh vẫn không quên nỗi đau, hàng năm lại dâng nước lên để đánh ta, và năm nào Thuỷ Tinh cũng bại trận. Các cô cậu chú ý mỗi lần mưa gió đùng đùng là ta và Thuỷ Tinh lại đang giao chiến với nhau đấy. Các con yêu quý của ta, bấy lâu nay ta bận quá không lên thăm các con được. Các con còn nhớ ta không? Còn nhớ tổ tiên nguồn gốc của mình không đấy? Thôi để ta kể cho các con nghe một lần nữa, và hãy nhớ cho thật kĩ đừng bao giờ quên nữa nhé. Tổ tiên của chúng ta vốn ở miền đất Lạc Việt, thuộc nòi rồng. Ta là con trai của thần Long Nữ vì vậy ta có rất nhiều phép lạ và một sức khoẻ vô địch. Lúc bấy giờ có rất nhiều bọn yêu quái và bọn Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh làm hại dân lành, ta đã tiêu trừ bọn chúng giúp dân lành, và dạy cho họ cách trồng trọt chăn nuôi. Nhưng ta vẫn thích sống ở thuỷ cung hơn là ở trên cạn. Ta gặp Mẹ Âu Cơ của các con trong một trường hợp rất đặc biệt. Lúc mẹ đến thăm vùng đất Lạc vì nghe tiếng vùng này có nhiều hoa thơm cỏ lạ. Mẹ con vốn là người vùng núi cao ở phương Bắc thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Ta đã bị mẹ con chinh phục ngay trong buổi đầu gặp gỡ ấy, rồi thành vợ thành chồng sống ở cung điện Long Trang. Các con được sinh ra không phải như bình thường mà trong một cái bọc gồm có trăm trứng. Rồi trăm trứng nở thành trăm người con, đứa nào cũng hồng hào, khôi ngô, tuấn tú và khoẻ mạnh như ta. Ta vô cùng sung sướng mãn nguyện ngắm nhìn và sống cùng các con và Âu Cơ xinh đẹp của ta. Thế nhưng các con biết rồi đấy, ta vốn quen ở nước không thể sống mãi ở trên cạn, cho nên ta phải đành tạm biệt Âu Cơ và các con trở về thuỷ cung để lại mẹ các con sống trong buồn tủi thương nhớ, chờ mong. Mẹ các con đã gọi ta lên mà than thở trách móc: – Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi các con. Thật ra không phải như vậy. Ta và mẹ các con vốn khác về nòi giống. Kẻ ở núi người ở biển, tính tình tập quán cũng khác nhau cho nên không thể ăn ở cùng nhau lâu dài. Vì vậy ta quyết định đưa năm mươi con xuống biển làm ăn sinh sống, còn mẹ các con đưa năm mươi con lên núi chia nhau cai quản các phương. Khi có việc thì giúp đỡ lẫn nhau, không bao giờ quên lời hẹn. Anh cả của các con theo mẹ được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, có đầy đủ bá quan văn võ hùng mạnh và quy định luật lệ cha chết thì truyền ngôi cho con đến mãi về sau. Các con, nghe rõ lời ta kể chưa. Như vậy tất cả các con đều là anh em một nhà đấy nhé. Đều là dòng dõi Rồng, Tiên cao quý. Các con phải biết sống xứng đáng, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau các con nhé. Ta đi đây. Hẹn năm trăm năm sau ta sẽ trở lại thăm các con. Đề 3. Đóng vai Lang Liêu kể lại truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy Đố các bạn biết ta là ai? Ta là Lang Liêu đây, con trai của Hùng Vương. Hẳn các bạn còn nhớ ta và chiếc bánh chưng, bánh giầy kì diệu phải không nào? Các bạn có biết vì sao ta lại làm ra được hai loại bánh đó không? Đó là cả một câu chuyện dài. Vua cha ta sau khi đã dẹp yên giặc giã, nhân dân đã được ấm no. Thấy mình tuổi cao sức yếu ông muốn truyền ngôi lại cho con, nhưng ông có tới hai mươi người con trai ông không biết nên truyền ngôi cho ai. Và vua cha đã nghĩ ra một phương cách lựa chọn vô cùng sáng suốt. Nhân lễ Tiên Vương ai làm vừa ý vua cha sẽ truyền ngôi cho, mà không phân biệt con trưởng hay con thứ. Ta vừa mừng vừa lo trước sự tuyên bố của vua cha bởi vì các Lang ai cũng muốn ngôi báu về mình họ thi nhau làm cỗ thật hậu, thật ngon để đem lễ Tiên Vương. Còn ta là con thứ mười tám của vua cha, mẹ ta trước đây bị vua cha ghẻ lạnh sinh buồn mất sớm. Từ nhỏ ta đã phải ở riêng không biết gì nhiều sự sang trọng trong cung nội, chỉ chăm lo việc đồng áng, trồng lúa, trồng khoai, biết lấy gì làm cỗ bây giờ. Ta băn khoăn, thao thức mãi không yên. – Trong trời đất không gì quý bằng hạt gạo, chỉ có gạo mới nuôi sống con người và ăn không bao giờ chán. Hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên Vương. Tỉnh dậy! Ta mừng quá, ngồi ngẫm nghĩ lời vị thần mách bảo. Càng nghĩ càng thấy đúng quá, chí lí quá. Ta chọn gạo nếp trắng tinh thơm lừng – lấy đậu xanh thịt lợn làm nhân – dùng lá dong gói lại thành hình vuông nấu nhừ một ngày một đêm – làm thành loại bánh – nhưng ta phân vân chưa biết đặt tên cho loại bánh đó là gì. Để đổi vị đổi kiểu cũng tên nguyên liệu đó ta giã nhuyễn nặn thành hình tròn – Và loại bánh này ta cũng chưa biết đặt tên là gì? Đến ngày lễ Tiên Vương ta mang bánh tới hồi hộp chờ đợi, bởi vì các lang, lang nào cũng mang đến bao nhiêu sơn hào hải vị, nem công chả phượng, còn mâm cỗ của ta thì lại rất giản dị. Thế nhưng các bạn biết không, mâm cỗ của ta lại được vua cha ưng ý nhất. Và được vua chọn đem tế Trời, Đất, cùng Tiên Vương. Tất cả mọi người và các quan cận thần ai cũng tấm tắc khen bánh ngon. Bánh của ta còn được vua cha đặt cho cái tên rất ý nghĩa. Vua cha lý giải: – Bánh hình tròn là tượng Trời đặt tên là bánh giầy. Bánh hình vuông là tượng Đất đặt tên là bánh chưng. Ta được vua cha truyền ngôi với ý nguyện có sự kế thừa xứng đáng. Ghi nhớ lời dạy bảo của vị thần và tâm nguyện của vua cha, ta đã chăm lo phát triển nghề trồng trọt và chăn nuôi dưới triều đại của mình, để cho muôn dân được no ấm. Các bạn nhỏ, và mọi người đừng quên làm bánh chưng, bánh giầy vào mỗi dịp tết đến xuân về đấy nhé. Hãy biết quý trọng và nâng niu hạt gạo làm ra, bởi đây là hạt ngọc của đất trời. Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Tìm hiểu đề và cách làm bài văn tự sự Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4: Sự tích Hồ Gươm
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 4_ Viết bài tập làm văn số 1
1,828
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5: Lời văn, đoạn văn tự sự Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 5: Lời văn, đoạn văn tự sự Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5: Lời văn, đoạn văn tự sự. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Lời văn, đoạn văn tự sự I. Kiến thức cơ bản • Văn tự sự chủ yếu là văn kể người và kể việc. Khi kể người thì có thể giới thiệu tên, họ, lai lịch, quan hệ, tính tình, tài năng, ý nghĩ của nhân vật. Khi kể việc thì kể các hành động, việc làm, kết quả và sự thay đổi do các hành động ấy đem lại. • Mỗi đoạn văn thường có một ý chính, diễn đạt thành một câu gọi là câu chủ đề. Các câu khác diễn đạt những ý phụ dẫn đến ý chính đó, hoặc giải thích cho ý chính, làm cho ý chính nổi lên. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học * Lời văn, đoạn Văn tự sự 1) Lời văn giới thiệu nhân vật Đọc từng câu trong đoạn văn và trả lời câu hỏi: 1. Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương, người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu. Vua cha yêu thương nàng hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng. 2. Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn. Một người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ […]. Người ta gọi chàng là Sơn Tinh. Một người miền biển, tài năng cũng không kém […]. Người ta gọi chàng là Thuỷ Tinh […] Cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng. + Các câu văn giới thiệu: Tên, lai lịch, quan hệ, tính tình, tài năng của các nhân vật. – Giới thiệu tên: Tên là Mị Nương, chàng là Sơn Tinh, chàng là Thuỷ Tinh. – Lai lịch: Con gái vua Hùng thứ mười tám Người ở núi Tản Viên Người ở miền biển – Quan hệ: Được vua cha yêu thương hết mực Cùng đến cầu hôn – Tính tình: Hiền dịu – Tài năng: Cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng. + Câu văn giới thiệu thường dùng những từ, cụm từ: Là, có và kể theo ngôi thứ ba: Chàng trai, người con gái. 2) Lời văn kể sự việc Đọc đoạn văn: a) Thuỷ Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đòi cướp Mị Nương. Thần hô mưa, gọi gió làm thành dông bão rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn đánh Sơn Tinh. Nước ngập ruộng đồng, nước ngập nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước.” (Sơn Tĩnh, Thuỷ Tinh) + Đoạn văn trên dùng rất nhiều động từ chỉ hành động để diễn tả hành động của nhân vật: Nổi giận, đuổi theo, đòi cướp, hô mưa, gọi gió, dâng nước. + Những hành động đó tập trung làm nổi rõ ý: “Thuỷ Tinh đến sau không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận đem quân đánh Sơn Tinh”. + Các hành động đó được kể theo thứ tự trước sau của dòng thời gian + Hành động của Thuỷ Tinh dẫn đến kết quả thành Phong Châu nổi lềnh bềnh trên mặt nước. + Lời kể về nước ngập nhà cửa, nước ngập ruộng đồng, nước dâng lên sườn đồi. Tạo ấn tượng về cảnh một biển nước mênh mông ngập tràn lên tất cả, phá huỷ mọi vật => Cơn ghen ghê gớm của Thuỷ Tinh. b) Đoạn văn + Ý chính của mỗi đoạn văn Đoạn 1: Muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng. Đoạn 2: Cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng. Đoạn 3: Thuỷ Tinh đến sau không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận đem quân đuổi theo đòi cướp Mị Nương. II. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi: Câu 2. Đọc hai câu Văn sau, theo em, câu nào đúng câu nào sai, vì sao? a) Người gác rừng cưỡi ngựa, lao vào bóng chiều, nhảy lên lưng ngựa, đóng chắc chiếc yên ngựa. b) Người gác rừng đóng chắc chiếc yên ngựa, nhảy lên lưng ngựa, rồi lao vào bóng chiều. + Câu đúng là câu b. + Vì: Triển khai theo thứ tự trước sau. Hành động nào làm trước thì kể trước, hành động làm sau kể sau. Câu a, trật tự lộn xộn -> câu văn vô lí về mặt thực tế. Câu 3. Hãy viết câu giới thiệu các nhân vật Thánh Gióng, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Tuệ Tĩnh. + Nhân vật Lạc Long Quân Ngày xưa ở miền đất Lạc Việt có một vị thần thuộc nòi rồng, tên là Lạc Long Quân, là con trai của thần Long Nữ. Vì nòi rồng nên thần thường sống dưới nước. Thần có sức khoẻ rất phi thường và lắm phép lạ. Thần không chỉ giúp dân trừ yêu quái mà còn dạy dân cách chăn nuôi trồng trọt. + Nhân vật Âu Cơ Ở vùng núi phía Bắc có một nàng tên là Âu Cơ, xinh đẹp tuyệt trần, nàng dòng họ Thần Nông. Đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai ông bà sinh được một cậu bé mặt mũi khôi ngô. Nhưng đứa bé cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười. + Nhân vật Tuệ Tĩnh Tuệ Tĩnh Thiền Sư quê ở Cẩm Giàng, Hải Dương, từ nhỏ mồ côi, được nuôi dạy ở chùa, sau tu ở chùa Hộ Xá, Nam Định. Ông là một danh y lỗi lạc đời Trần. Câu 4. Viết đoạn văn kể chuyện Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt xông trận, ngựa phun lửa giết giặc Ân và đoạn kể chuyện Thánh Gióng khi roi sắt gẫy, đã nhổ tre đằng ngà tiếp tục đánh đuổi quân giặc. + Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt xông trận Gióng mặc áo giáp sắt, cầm roi sắt, nhảy lên mình ngựa. Ngựa hí vang, phi như bay xông thẳng đến nơi có giặc Ân. Gióng cầm roi sắt vung lên vút vút, roi sắt vung đến đầu quân giặc chồng xếp đến đấy. Ngựa sắt phun lửa đốt cháy quân thù. Thật là một trận đánh hào hùng. + Đoạn Thánh Gióng khi roi sắt gẫy Thế trận đang bừng bừng, bỗng roi sắt của Gióng bị gẫy, phía trước quân giặc vẫn cứ ào ạt xông lên. Gióng bèn nhổ những bụi tre làm vũ khí thay roi sắt tấn công vào bọn giặc. Những đứa sống sót hốt hoảng bỏ chạy. Tráng sĩ đuổi quân giặc đến tận chân núi Sóc Sơn. Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5: Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5: Sọ Dừa
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5_ Lời văn, đoạn văn tự sự
1,186
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5: Sọ Dừa Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 5: Sọ Dừa Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5: Sọ Dừa. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Sọ Dừa I. Kiến thức cơ bản • Truyện cổ tích: Loại truyện dân gian kể về cuộc đời của một số kiểu nhân vật quen thuộc: – Nhân vật bất hạnh (như: Người mồ côi, người con riêng, người em út, người có hình dạng xấu xí…). – Nhân vật dũng sĩ và nhân vật có tài năng kì lạ. – Nhân vật thông minh và nhân vật ngốc nghếch. – Nhân vật là động vật (con vật biết nói năng, hoạt động, tính cách như con người). Truyện cổ tích thường có yếu tố hoang đường, thể hiện ước mơ niềm tin của nhân dân về chiến thắng cuối cùng của cái thiện đối với cái ác, cái tốt đối với cái xấu, sự công bằng đối với sự bất công. • Sọ Dừa là truyện cổ tích về người mang lốt vật – kiểu nhân vật khá phổ biến trong cổ tích Việt Nam và thế giới. – Nhân vật chính của loại truyện cổ tích này có hình hài dị dạng, thường mang lốt vật, bị mọi người xem thường, coi là vô tích sự. Nhưng đây là nhân vật có phẩm chất tài năng đặc biệt. Cuối cùng, nhân vật trút bỏ lốt vật, kết hôn cùng người đẹp, sống cuộc đời hạnh phúc. Truyện Sọ Dừa đề cao giá trị chân chính của con người và tình thương đối với người bất hạnh. II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Câu 1: Sự ra đời của Sọ Dừa có gì khác thường? Qua đó nhân dân muốn thể hiện điều gì? Và chú ý đến những con người như thế nào trong xã hội xưa. + Sự ra đời khác thường của Sợ Dừa: – Thụ thai khác thường: Mẹ sọ dừa đến bên gốc cây đựng đầy nước mưa, bà uống và có mang. + Ý nghĩa: – Đây là loại truyện người mang lốt vật, có bề ngoài xấu xí, dị dạng. – Nhân vật mồ côi bất hạnh (cha mất sớm, đau khổ, số phận kém may mắn, cần đến sự cảm thông và chia sẻ của mọi người). Câu 2: Sự tài giỏi của Sọ Dừa được thể hiện qua những chi tiết nào? Em có nhận xét gì về quan hệ giữa hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của nhân vật. + Sự tài giỏi của Sọ Dừa: – Là người lao động giỏi: Chàng chăn bò rất giỏi, đàn bò của chàng con nào con nấy cũng no căng. – Là người thổi sáo rất hay: Tiếng sáo véo von khiến cho cô út phải ngạc nhiên tò mò để rình. Hình ảnh chàng ngồi thổi sáo thật đẹp giống như ở chốn bồng lai tiên cảnh. Chàng trai khôi ngô, ngồi trên võng đào, thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ. – Là người có tài biến hoá: Biến hoá về hình hài từ Sọ Dừa –> thành chàng trai, từ chàng trai –> Sợ Dừa.. Biến hoá ra nhiều phẩm vật quý giá để làm sính lễ cưới vợ: Váy gấm, lụa đào, lợn béo, rượu tăm, gia nhân… – Là người rất thông minh: Thi đỗ Trạng nguyên, làm quan to. + Nhận xét về hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong: Hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của Sọ Dừa có sự đối lập đến mức cực đoan. – Bên ngoài hết sức dị dạng xấu xí. – Phẩm chất bên trong thì lại hết sức tuyệt vời. => Ý nghĩa: Phải chăng nhân dân ta muốn nhắn nhủ mọi người đừng nên lấy hình thức bên ngoài mà đánh giá con người. Đánh giá con người phải căn cứ vào nội dung bên trong, đó là tài năng, trí tuệ, tâm hồn của họ. Câu 3. Tại sao cô út lại bằng lòng lấy Sọ Dừa? Em có nhận xét gì về nhân vật cô út? – Là người hiền lành nhân hậu: Cô vốn rất hiền lành, tính hay thương người – đối đãi tử tế với Sọ Dừa – trong khi hai cô chị thì ác nghiệt. – Là người có đôi mắt tinh tường: Bằng tấm lòng nhân hậu cô út đã phát hiện ra vẻ đẹp và tài năng của Sọ Dừa khi đang ở trong hình hài xấu xí. Cô yêu Sọ Dừa chân thành. – Là người giàu bản lĩnh, nghị lực, thông minh: Biết ứng xử tình huống khó khăn. Lấy dao rạch bụng cá để chui ra, lấy đá đánh lửa nướng cá sống trên đảo, trứng nở ra gà để gáy báo cho thuyền quan trạng. + Nhận xét: – Dù là nhân vật phụ, nhưng cô út đã để lại trong lòng người đọc rất nhiều thiện cảm tốt đẹp: Cô là người hiền lành, thông minh, đáng yêu, cô xứng đáng với hạnh phúc mà mình được hưởng. – Qua nhân vật cô út dụng ý của tác giả dân gian nhằm tô đậm hơn ranh giới giữa cái tốt và cái xấu, cái thiện và cái ác, và triết lý ở hiền gặp lành. Câu 4. Trong truyện, Sọ Dừa có hình dạng xấu xí nhưng cuối cùng đã trút bỏ lốt, cùng cô út hưởng hạnh phúc, còn hai cô chị thì phải bỏ nhà trốn đi. Em thấy người lao động ước mơ điều gì? + Ước mơ về sự đổi đời: Từ một Sọ Dừa có hình dạng xấu xí nghèo khổ, sống cảnh mẹ giá con côi phải chăn bò thuê cho phú ông cuối cùng trở thành một chàng trai khôi ngô, tuấn tú, thông minh, giỏi giang, đỗ đạt, làm quan to, lấy được vợ xinh đẹp, hiền thục thuỷ chung => Những người lao động nghèo khổ, bất hạnh ước mơ có cuộc sống giàu sang, hạnh phúc. + Ước mơ về một sự công bằng: Cô út xinh đẹp, hiền lành, thương người thì được sống hạnh phúc. Còn hai cô chị độc ác, gian xảo thì phải gánh chịu hậu quả do mình gây ra => Những người ở hiền được gặp lành, những kẻ gieo gió phải chịu gặt bão. + Đề cao ca ngợi vẻ đẹp bên trong của con người, không nên lấy hình thức bên ngoài để đánh giá giá trị con người. + Đề cao lòng nhân ái, đặc biệt là đối với những số phận kém may mắn. + Ước mơ về sự công bằng, về sự đổi đời của những con người hiền lành, nghèo khổ, bất hạnh. IV. Tư liệu tham khảo Kể về những nhân vật xấu xí mà tài ba này, tác giả dân gian xưa thật sự muốn đem đến cho ta thấy số phận của một loại người vốn bị xã hội xưa hắt hủi, sống cô đơn. Song, với cái nhìn nhân đạo nhân dân đã cho họ đổi đời, đã bộc lộ ở họ những đức tính quý báu cũng như tài năng vô hạn. Rồi cũng chính bằng tấm lòng nhân đạo ấy nhân dân ta đã đưa đến một kết thúc tốt đẹp cho cuộc đời nhân vật: Vĩnh viễn sung sướng, hạnh phúc vợ chồng sum họp. Chất lạc quan tràn đầy ở các hình tượng nhân vật xấu xí mà tài ba trong các cốt truyện về đề tài này. (Nguyễn Thị Huế – Nhân vật xấu xí tài ba trong truyện cổ tích Việt Nam) Sọ Dừa sinh ra là một cục thịt tròn lông lốc, có mặt mũi, miệng, tai nhưng không có mình mấy chân tay. Bản chất tốt đẹp của Sọ Dừa còn phải ẩn kín trong cái lốt “sọ” xấu xí gớm ghiếc. Đó là một thử thách cực kì to lớn, khó khăn mà nhân vật phải trải kinh qua để khẳng định và bộc lộ bản chất tốt đẹp của mình. (Hoàng Tiến Tựu, Bình giảng truyện dân gian) Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5: Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5: Lời văn, đoạn văn tự sự
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5_ Sọ Dừa
1,409
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5: Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 5: Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5: Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ I. Kiến thức cơ bản • Từ có thể có một nghĩa hay nhiều nghĩa. • Chuyển nghĩa là hiện tượng thay đổi nghĩa của từ, tạo ra những từ nhiều nghĩa. • Trong từ nhiều nghĩa có: – Nghĩa gốc là nghĩa xuất hiện từ đầu, làm cơ sở để hình thành các nghĩa khác. – Nghĩa chuyển là nghĩa được hình thành trên cơ sở nghĩa gốc. • Thông thường trong câu, từ chỉ có một nghĩa nhất định. Tuy nhiên trong một số trường hợp, từ có thể được hiểu đồng thời theo cả nghĩa gốc lẫn nghĩa chuyển. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Từ nhiều nghĩa a) Đọc bài thơ Những cái chân Cái gậy có một chân Biết giúp bà khỏi ngã. Chiếc com pa bố vẽ Có chân đứng, chân quay. Cái kiềng đun hàng ngày Ba chân xòe trong lửa Là chiếc bàn bốn chân Riêng cái võng Trường Sơn Không chân đi khắp nước. (Vũ Quần Phương) b) Bài thơ trên có năm từ chân. c) Nghĩa từ chân trong từ điển Tiếng Việt: • Chân một bộ phận của cơ thể người hay động vật, dùng để đi đứng, thường được coi là biểu tượng của hoạt động đi lại của con người (què chân; nước đến chân mới nhảy; nhắm mắt đưa chân). • Chân con người coi là biểu tượng của cương vị, phận sự của một người với tư cách là thành viên của một tổ chức (có chân trong hội đồng; thiếu một chân tổ tôm). • Một phần tử con vật có bốn chân, khi chung nhau sử dụng hoặc chia nhau thịt (Đánh đụng một chân lợn). • Bộ phận dưới cùng của một số đồ dùng tác dụng đỡ cho những bộ phận khác (chân đèn, chân giường). • Phần dưới cùng của một số vật, tiếp giáp và bám chặt vào mặt nền (chân núi, chân tường, chân răng). • Âm tiết trong câu thơ ở ngôn ngữ nhiều nước phương Tây (câu thơ tiếng Pháp mười hai chân). d) Tìm thêm một số từ khác có nhiều nghĩa như từ chân: 2. Hiện tượng chuyển nghĩa của từ a) Mối liên hệ giữa các nghĩa của từ chân -> chỉ phần dưới cùng của bộ phận cơ thể của đồ vật -> mối liên hệ đó chính là nguyên “nhân tạo ra sự chuyển nghĩa”s. b) Trong một câu cụ thể, một từ thường được dùng với nghĩa nhất định. Nghĩa gốc: Riêng cái võng Trường Sơn Không chân đi khắp nước. Nghĩa chuyển: Chân của cái gậy, chân của cái kiềng, chân của cái bàn, chân của chiếc compa. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Hãy tìm ba từ chỉ bộ phận cơ thể người và kể ra một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của chúng. Câu 2. Trong tiếng Việt, có một số từ chỉ bộ phận của cây cối được chuyển nghĩa để cấu tạo từ chỉ bộ phận của cơ thể người. Hãy kể ra những trường hợp chuyển nghĩa đó. Câu 3. Dưới đây là một số hiện tượng chuyển nghĩa của từ tiếng Việt. Hãy tìm thêm cho mỗi hiện tượng chuyển nghĩa đó ba ví dụ minh hoạ. a) Chỉ sự vật chuyển thành chỉ hành động: Cái cưa (danh từ) → cưa gỗ (động từ) Cái bào (danh từ) → bào gỗ (động từ) Cái sàng (danh từ) -> sàng gạo (động từ) Cái quạt (danh từ) → quạt lúa (động từ) b) Chỉ hành động chuyển thành chỉ đơn vị: Gánh củi -> một gánh củi Nắm tay lại -> một nắm tay Gói xôi đi -> một gói xôi Bó gọn lại -> năm bó rau Câu 4. Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời câu hỏi: Nghĩa của từ Thông thường khi nói đến ăn uống hoặc cảm giác về ăn uống, ta nghĩ đến bụng. Ta vẫn thường nói: Đói bụng, no bụng, ăn cho chắc bụng, con mắt to hơn cái bụng. Bụng được dùng với nghĩa “bộ phận cơ thể người hoặc động vật chứa ruột, dạ dày”. (Theo Hoàng Dĩ Đình) a) Trong đoạn văn trên tác giả nêu lên hai nghĩa của từ bụng: + Nghĩa gốc: Bụng được dùng với nghĩa là bộ phận của cơ thể người hoặc động vật chứa ruột, dạ dày. + Nghĩa chuyển: Là biểu tượng của ý nghĩ sâu kín, không bộc lộ ra ngoài, đối với người, với việc nói chung. b) Nghĩa của từ bụng trong các trường hợp: + Ăn cho ấm bụng -> nghĩa gốc từ bụng chỉ một bộ phận trong cơ thể con người. + Anh ấy tốt bụng -> nghĩa chuyển, từ bụng biểu tượng cho tấm lòng của anh ấy. + Chạy nhiều, bụng chân rất săn chắc -> nghĩa gốc, chỉ bộ phận của cơ thể. Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5: Sọ Dừa Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5: Lời văn, đoạn văn tự sự
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 5_ Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ
915
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 6: Chữa lỗi dùng từ Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 6: Chữa lỗi dùng từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 6: Chữa lỗi dùng từ. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo CHỮA LỖI DÙNG TỪ I. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Lặp từ Gạch chân dưới những từ ngữ giống nhau trong các câu dưới đây: a) Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu! (Thép Mới) b) Truyện dân gian thường có nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo nên em rất thích đọc truyện dân gian. + Việc lặp từ ở ví dụ a và b là hoàn toàn khác nhau: – Lặp từ ở ví dụ a có dụng ý nhấn mạnh và làm tăng tính biểu cảm. – Lặp từ ở đoạn b thể hiện sự rườm rà. + Chữa lại câu mắc lỗi: Truyện dân gian thường có nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo nên em rất thích đọc. Trong hai câu sau: a) Ngày mai, chúng em sẽ đi thăm quan viện bảo tàng của tỉnh. b) Ông hoạ sĩ già nhấp nháy bộ ria mép quen thuộc. + Từ dùng không đúng của hai câu trên là: Thăm quan, nhấp nháy + Nguyên nhân: Do lẫn lộn với các từ gần âm: • Tham quan -> thăm quan; • Bộ ria mép thì không thể nhấp nháy mà phải mấp máy. + Sửa lại: a) Ngày mai chúng em sẽ đi tham quan ở Viện bảo tàng của tỉnh. b) Ông hoạ sĩ già mấp máy bộ ria mép quen thuộc. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Hãy lược bỏ những từ ngữ trùng lặp trong các câu sau: Những từ in đậm trong mỗi đoạn làm cho câu văn trở nên rườm rà ta lược bỏ nó. a) Bạn Lan là một lớp trưởng gương mẫu nên cả lớp ai cũng đều rất lấy làm quý mến bạn Lan. b) Sau khi nghe cô giáo kể câu chuyện ấy, chúng tôi ai cũng thích những nhân vật trong câu chuyện này vì những nhân vật ấy đều là những nhân vật có phẩm chất đạo đức tốt đẹp. c) Quá trình vượt núi cao cũng là quá trình con người trưởng thành, lớn lên. Câu 2. Hãy thay từ dùng sai trong các câu dưới đây bằng những từ khác. Theo em, nguyên nhân chủ yếu của việc dùng từ sai đó là gì? Sửa lại: Tiếng Việt có khả năng diễn tả sinh động mọi trạng thái tình cảm của con người. b) Có một số bạn còn bàng quang với lớp. Sửa lại: Có một số bàng quan với lớp. c) Vùng này có khá nhiều thủ tục như: Ma chay, cưới xin đều cỗ bàn linh đình, ốm không đi bệnh viện mà ở nhà cúng bái. Sửa lại: Vùng này có khá nhiều hủ tục như: Ma chay, cưới xin đều cỗ bàn linh đình; ốm không đi bệnh viện mà ở nhà cúng bái. + Nguyên nhân sai: Ở cả ba câu trên, nguyên nhân sai do lẫn lộn từ gần âm. Sinh động -> linh động, bàng quan -> bàng quang, hủ tục → thủ tục. Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 6 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 6: Thạch Sanh
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 6_ Chữa lỗi dùng từ
622
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 6: Thạch Sanh Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 6: Thạch Sanh Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 6: Thạch Sanh. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Thạch Sanh I. Kiến thức cơ bản của Thạch Sanh Thạch Sanh là truyện cổ tích về người dũng sĩ diệt chằn tinh, diệt đại bàng cứu người bị hại, vạch mặt kẻ vong nhân bội nghĩa và chống quân xâm lược. Truyện thể hiện ước mơ, niềm tin về đạo đức, công lí xã hội và lí tưởng nhân đạo, yêu hoà bình của nhân dân ta. • Truyện có nhiều chi tiết tướng tượng thần kì, độc đáo và giàu ý nghĩa (như sự ra đời và lớn lên kì lạ của Thạch Sanh, cung tên vàng, cây đàn thần, miêu cơm đất). II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Câu 1. Sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh có gì khác thường? Kể về sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh như vậy, theo em nhân dân muốn thể hiện điều gì? + Sự ra đời và lớn lên kì lạ của Thạch Sanh – Thạch Sanh có nguồn gốc xuất thân từ thần tiên, là người Trời (thực tế con của Ngọc Hoàng đầu thai). – Người mẹ mang thai đến mấy năm mới sinh ra Thạch Sanh. – Lớn lên Thạch Sanh được các thần tiên dạy đủ các phép thần thông, võ nghệ. + Ý nghĩa – Thạch Sanh ra đời và có nguồn gốc Thần Linh đem đến cho câu chuyện sự hấp dẫn, li kì. – Hé mở nhân vật sẽ lập nên nhiều chiến công phi thường. – Dù thần linh nhưng Thạch Sanh vẫn rất gần gũi với nhân dân ở thân phận mồ côi. Câu 2. Trước khi kết hôn với công chúa, Thạch Sanh đã trải qua những thử thách như thế nào? Thạch Sanh bộc lộ phẩm chất gì qua những lần thử thách ấy? + Những thử thách mà Thạch Sanh trải qua trước khi kết hôn với công chúa: – Bị lừa đi canh miếu và giết chằn tinh. – Bị Lý Thông lừa nhốt trong hang. – Cứu con vua thuỷ tề. – Bị hồn chằn tinh và đại bàng trả thù. – Đánh lui binh mười tám nước (sau khi kết hôn). + Nhận xét: – Những thử thách mà Thạch Sanh trải qua càng ngày càng khó hơn và khó khăn càng nhiều, càng cao thì phẩm chất và tài năng của Thạch Sanh càng rực rỡ. – Những thử thách ở rất nhiều phương diện khác nhau: • Sự hung bạo của thiên nhiên (chằn tinh, đại bàng). • Sự thâm độc của kẻ xấu. • Sự xâm lược của kẻ thù. + Phẩm chất của Thạch Sanh bộc lộ qua thử thách: – Là người vô tư hết lòng giúp đỡ người khác. – Là người dũng mãnh, có sức khoẻ phi thường. – Là người yêu chuộng hoà bình và công lí. Thạch Sanh là nhân vật lí tưởng mà nhân dân ước ao và ngưỡng mộ. Câu 3. Trong truyện hai nhân vật Thạch Sanh và Lý Thông luôn đối lập nhau về tính cách và hành động. Hãy chỉ ra sự đối lập nhau. Thạch Sanh Lý Thông Cả tin thật thà • Tin lời đi canh miếu thay • Tin lời chằn tinh của vua nuôi • Tin lời xuống hang cứu công chúa! cho mình Lừa lọc – xảo quyệt • Lừa Thạch Sanh tới ba lần • Lừa để Thạch Sanh thế mạng cho mình • Lừa để cướp công phong quận công • Lừa để lấy công chúa Tìm cách giết hại Thạch Sanh để cướp công, và lấy công chúa (giết người khác để mình hưởng vinh hoa phú quý) Vị tha nhân hậu Bị Lý Thông hãm hại rất nhiều nhưng vẫn không trả thù, mà tha chết cho về quê làm ăn Tàn nhẫn, vô lương tâm Lợi dụng tình anh em kết nghĩa để bóc lột sức lao động của Thạch Sanh Là người anh hùng, tài giỏi Tìm cách giết hại Thạch Sanh để cướp công, và lấy công chúa (giết người khác để mình hưởng vinh hoa phú quý) Là người cao cả Là kẻ bạc nhược, Kẻ thấp hèn Đại diện cho cái THIỆN Đại diện cho các ÁC. Câu 4. Truyện Thạch Sanh có nhiều chi tiết thần kì, trong đó đặc sắc nhất là chi tiết tiếng đàn và niêu cơm đãi quân sĩ mười tám nước chư hầu. Em hãy nêu ý nghĩa của các chi tiết đó. + Ý nghĩa của tiếng đàn kì diệu: – Tiếng đàn của tâm hồn, của tình yêu (tiếng đàn thể hiện tâm hồn nghệ sĩ yêu đời của Thạch Sanh, và nhờ tiếng đàn ấy Thạch Sanh đã bắt được nhịp cầu đến với công chúa). – Tiếng đàn giải oan, vạch trần tội ác (giải nỗi oan khuất cho Thạch Sanh, và vạch trần tội ác của mẹ con Lý Thông). – Tiếng đàn của hoà bình và công lí (tiếng đàn đã làm mềm lòng, nhụt chí đội quân của mười tám nước chư hầu – bởi đây là tiếng nói của hoà bình chính nghĩa, đó là nghệ thuật mưu phạt công tâm – đánh vào lòng người). + Ý nghĩa của niêu cơm thần kì: – Niêu cơm vô tận (ăn mãi không hết, xới mãi vẫn đầy). – Niêu cơm của hoà bình và nhân đạo (đối xử khoan hồng tử tế với kẻ bại trận). – Là khát vọng muôn đời của nhân dân về cơm no áo ấm. Câu 5. Ý nghĩa của phần kết thúc truyện, nhân dân ta muốn thể hiện điều gì? Kết thúc ấy có phổ biến trong truyện cổ tích không? Hãy nêu một số ví dụ. + Kết thúc truyện: Thạch Sanh kết hôn cùng công chúa Quỳnh Nga và lên nối ngôi vua, còn mẹ con Lý Thông bị sét đánh chết hoá thành kiếp bọ hung. + Ý nghĩa: – Thể hiện khát vọng về cuộc sống công bằng (người hiền lành phải được sống hạnh phúc, kẻ tham lam độc ác phải bị trừng trị). – Ước mơ người có tài năng được sử dụng đúng vị trí, không phân biệt thành phần xuất thân (Thạch Sanh nối ngôi vua). + Đây là kết thúc phổ biến mà ta thường gặp trong truyện cổ tích: – Truyện Tấm Cám – Mẹ con Cám độc ác phải chết, cô Tấm hiền lành xinh đẹp trở thành hoàng hậu sống hạnh phúc. – Truyện Sọ Dừa: Hai cô chị kiêu kì, ác độc phải bỏ đi biệt xứ, còn cô út nhân hậu, tốt bụng làm bà trạng sống hạnh phúc với người chồng tài hoa. => Triết lí mà người dân muốn gởi gắm qua ba câu chuyện: Ở hiền gặp lành. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Nếu vẽ bức tranh minh hoạ cho truyện Thạch Sanh, em chọn chi tiết nào trong truyện để vẽ? Vì sao? Em đặt cho bức tranh minh hoạ ấy tên gọi như thế nào? Trong truyện có rất nhiều chi tiết để chúng ta vẽ thành bức tranh đẹp có ý nghĩa, tuỳ theo sở thích của mỗi người chúng ta có thể lựa chọn chi tiết mà mình yêu thích nhất, và đặt một tên gọi phù hợp cho bức tranh của mình. Câu 2. Hãy kể diễn cảm truyện Thạch Sanh. Muốn kể diễn cảm câu chuyện phải chú ý hai điều sau: + Nắm vững nội dung câu chuyện. + Xác định giọng kể phù hợp cho mỗi đoạn. IV. Hướng dẫn tư liệu tham khảo Thật khó có thể tìm thấy trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam một tác phẩm vừa lớn về đề tài nội dung, vừa phong phú về loại hình nhân vật và chặt chẽ, hoàn chỉnh về kết cấu nghệ thuật như truyện Thạch Sanh. Ở đây vừa có dấu tranh thiên nhiên chống các loại ác thú (ở trên trời là đại bàng, ở mặt đất là chằn tinh, trong hang động là hồ tinh), vừa có đấu tranh giai cấp trong xã hội (giữa Thạch Sanh và Lý Thông). Lại có cả đấu tranh dân tộc chống ngoại xâm (với quân mười tám nước chư hầu, và đấu tranh cho tình yêu đôi lứa (giữa Thạch Sanh và công chúa) […] Có thể nói trong những nhân vật chính diện mà truyện cổ tích Việt Nam đã xây dựng nên, Thạch Sanh là con người đẹp nhất, tiêu biểu nhất và hoàn hảo nhất. […] Việc để Thạch Sanh tha bổng cho mẹ con Lý Thông là ý đồ nghệ thuật rất độc đáo và cao tay của tác giả dân gian, nhằm làm cho tính cách nhân vật Thạch Sanh phát triển nhất quán và hoàn hảo. (Theo Hoàng Tiến Trực – Bình giảng truyện dân gian) Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 6 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 6: Chữa lỗi dùng từ
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 6_ Thạch Sanh
1,504
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7: Em bé thông minh Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 7: Em bé thông minh Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7: Em bé thông minh. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo EM BÉ THÔNG MINH I. Kiến thức cơ bản Đây là truyện cổ tích về nhân vật thông minh – kiểu nhân vật rất phổ biến trong cổ tích Việt Nam và thế giới. Truyện đề cao sự thông minh và trí khôn dân gian (qua hình thức giải những câu đố, vượt những thách đố oái ăm…) từ đó tạo nên tiếng cười vui vẻ, hồn nhiên trong đời sống hàng ngày. II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Câu 1. Dùng hình thức câu đố để thử tài nhân vật có phổ biến trong truyện cổ tích không? Tác dụng của hình thức này? + Dùng câu đối để thử tài nhân vật là hình thức phổ biến trong các truyện cổ tích. + Tác dụng: – Tạo nên sự hấp dẫn, cuốn hút người đọc. – Tạo ra tình huống để phát triển cốt truyện từ đơn giản đến phức tạp. – Bộc lộ phẩm chất, trí tuệ của nhân vật. Câu 2. Sự mưu trí thông minh của em bé được thử thách qua mấy lần? Lần sau có khó khăn hơn lần trước không? – Lần thứ nhất: Khi viên quan hỏi cha cậu cày mỗi ngày được mấy đường. – Lần thứ hai: Nhà vua bắt dân làng cậu bé nuôi trâu đực phải đẻ được bê con. – Lần thứ ba: Một con chim sẻ phải dọn thành ba cỗ bàn thức ăn – Lần thứ tư: Câu đố hóc búa của sứ thần xâu sợi chỉ mềm qua đường ruột ốc xoắn dài. + Những thử thách càng ngày càng khó: – Lần thứ nhất: Là lời đố của viên quan chỉ liên quan đến hai bố con. – Lần thứ hai: Lời đố của nhà vua liên quan đến cả dân làng. – Lần thứ ba: Cũng là của vua, có mục đích khẳng định thực tài của cậu bé. – Lần thứ tư: Là của viên sứ thần, nó không chỉ là thách đố với bản thân mà còn danh dự của cả dân tộc. Câu 3. Trong mỗi lần thử thách, em bé đã dùng những cách gì để giải những câu đố oái ăm? Theo em những cách ấy lí thú ở chỗ nào? Những cách vượt qua thử thách của cậu bé thông minh: + Lần thứ nhất: Cậu đã hoá giải lời đố của viên quan bằng chiêu thức “gậy ông lại đập lưng ông” bằng cách hỏi lại: “Ngựa của ông đi một ngày được mấy bước”, dồn đối phương vào thế bí. Sự đối vô cùng nhanh nhạy tạo nên sự bất ngờ thú vị, khiến viên quan phải há mồm sửng sốt. + Lần thứ hai: Cậu bé đã hoá giải bằng cách “tương kế tựu kế” đưa nhà vua và cận thần vào “bẫy” của mình để cho ra sự vô lí: Giống đực thì không thể đẻ con. + Lần thứ ba: Cậu đã hoá giải lời thách đố của nhà vua bằng cách đưa ra điều kiện phải rèn chiếc kim thành dao xẻ thịt thì mới có thể làm thịt một con chim sẻ thành ba cỗ thức ăn; => dồn nhà vua vào thế bí. A không thực hiện được thì B cũng không thực hiện được. + Lần thứ tư: Trong lúc các đại thần vò đầu suy nghĩ không ra thì cậu bé vừa đùa nghịch, vừa đọc bài đồng dao để chỉ ra cách giải bằng cách dựa vào kinh nghiệm dân gian – “kiến mừng thấy mỡ”. • Đây là lần giải đố thú vị nhất, vì câu đố oái ăm, sự đấu trí không phải ở phương diện cá nhân mà là uy tín danh dự cho cả dân tộc, một lời giải có thể “cứu nguy cho cả hàng ngàn người”. Thế nhưng thái độ của người giải đố lại hết sức nhẹ nhàng tỉnh bơ, mà lời giải rất độc đáo bất ngờ. Câu 4. Hãy nêu ý nghĩa của truyện cổ tích “Em bé thông minh”. + Ngợi ca trí thông minh của em bé bình dân -> ngợi ca tài trí của dân gian, của người lao động. + Câu chuyện đã đem lại cho cuộc sống tiếng cười hồn nhiên vui vẻ. III. Hướng dẫn luyện tập + Giọng kể phải hồn nhiên, trong sáng để thể hiện được tính chất của câu chuyện và tính cách của nhân vật chính chỉ là một cậu bé. + Trong truyện có khá nhiều nhân vật và lời đối thoại, chú ý thể hiện lời thoại cho phù hợp với đặc điểm của từng nhân vật: • Viên quan: Giọng hóm hỉnh. • Cậu bé: Lém lỉnh, hồn nhiên, tinh nghịch. • Ông bố: Sợ hãi lo lắng. • Nhà vua: Oai nghiêm. IV. Tư liệu tham khảo Truyện Em bé thông minh là kiểu truyện về trí khôn trong truyện cổ tích sinh hoạt. Nó ít có hoặc không có yếu tố kì ảo, các tình tiết và cách xử lí rất gần gũi với đời thường nhằm khẳng định trí tuệ, và mơ ước về người tài của nhân dân. (Theo ôn tập ngữ văn 6 – Nguyễn Văn Long chủ biên) Truyện đề cao trí thông minh và trí khôn dân gian, từ đó tạo nên tiếng cười vui vẻ hồn nhiên trong đời sống hàng ngày. Tôn vinh trí khôn là việc nên làm, nhưng việc cần tiếp tục làm là phải biết dùng trí khôn để phục vụ cuộc sống, đem lại niềm vui hạnh phúc cho mọi người. (Theo Vũ Dương Quỹ, Lê Bảo – SĐ D) Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7: Luyện nói, kể chuyện Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7: Chữa lỗi dùng từ
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7_ Em bé thông minh
1,024
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7: Luyện nói, kể chuyện Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 7: Luyện nói, kể chuyện Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7: Luyện nói, kể chuyện. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo LUYỆN NÓI, KỂ CHUYỆN I. Kiến thức cơ bản • Tự giới thiệu về bản thân – Mở bài: Lời chào và lí do tự giới thiệu. – Thân bài: + Tên, tuổi; + Gia đình gồm những ai; + Công việc hàng ngày; + Sở thích và nguyện vọng. – Kết bài: Cảm ơn mọi người chú ý nghe. • Giới thiệu về gia đình – Mở bài: Lời chào và lí do kể. – Thân bài: + Giới thiệu chung về gia đình; + Kể về bố: + Kể về mẹ; + Kể về anh, chị, em. – Kết bài: Tình cảm của mình đối với gia đình. II. Hướng dẫn luyện nói trên lớp Đề bài chuẩn bị 1. Tự giới thiệu về bản thân. Kính chào cô và các bạn! Tôi tên là Nguyễn Hoài Chương, học sinh lớp 6E trường THCS Lê Lợi, quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà tôi ở số 18/24D đường Trần Quang Diệu phường 14, Quận 3. Gia đình tôi có bốn người bà nội, bố, mẹ và tôi. Tôi rất thích đọc sách (vì vậy còn có biệt danh là mọt sách) và chơi bóng đá. Tôi ước mơ sau này trở thành cầu thủ bóng đá xuất sắc. Vua bóng đá Pê lê là thần tượng của tôi, và nếu không đủ năng khiếu thì tôi mong trở thành một luật sư giỏi, để đem đến sự công bằng cho mọi người. Tôi tự đến trường bằng xe đạp, về nhà khi ăn cơm xong tôi giúp mẹ dọn dẹp và lau nhà cửa. Tôi rất thích lớp 6E của chúng mình, vì tất cả mọi người ai cũng rất thân thiện, dễ mến. Cảm ơn các bạn đã lắng nghe! 2. Kể về gia đình mình. Chào các bạn! Tôi tên là Lê Hoàng Tâm học sinh lớp 6B trường THCS Cầu Kiệu, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà tôi ở cách trường chỉ có mười mét – một khoảng cách mà tất cả mọi người đều ao ước. Gia đình tôi gồm có bốn người: Ba, mẹ, em trai và tôi. Ba tôi là một kĩ sư cầu đường, thường đi làm việc xa nhà, bởi vậy ngày chủ nhật là ngày vui nhất của gia đình tôi, vì có mặt đầy đủ các thành viên trong gia đình. Mẹ tôi là cô giáo dạy toán. Mẹ rất thương yêu anh em tôi, nhưng rất nghiêm khắc trong việc học tập của hai anh em. Em trai tôi năm nay mới vào lớp một. Tính em hiếu động nhưng rất dễ thương. Hằng ngày tôi giúp em học bài, sau đó hai anh em cùng xem phim hoạt hình. Tôi mong ước gia đình tôi tất cả mọi người đều mạnh khoẻ tràn ngập tiếng cười hạnh phúc. Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7: Chữa lỗi dùng từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7: Em bé thông minh
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7_ Luyện nói, kể chuyện
571
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8: Cây bút thần Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 8: Cây bút thần Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8: Cây bút thần. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Bài 8: Cây bút thần (đọc thêm) I. Kiến thức cơ bản Cây bút thần là truyện cổ tích về nhân vật có tài năng kì lạ. Cây bút thần với những khả năng, sức mạnh kì diệu của nó là chi tiết tưởng tượng, thần kì đặc sắc. Truyện thể hiện quan niệm của nhân dân về công lí xã hội, về mục đích của tài năng nghệ thuật, đồng thời thể hiện ước mơ về những khả năng kì diệu của con người. II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Câu 1. Mã Lương thuộc một nhóm kiểu nhân vật rất phổ biến trong truyện cổ tích nào? Hãy kể tên một số nhân vật tương tự trong truyện cổ tích mà em biết. + Mã Lương thuộc kiểu nhân vật có tài năng kì lạ, phổ biến trong các truyện cổ tích Việt Nam, và thế giới. + Một số nhân vật tương tự: Thạch Sanh, Em bé thông minh – Thạch Sanh thể hiện tài năng dũng sĩ hùng mạnh. – Em bé thông minh thể hiện trí khôn dân gian… Mã Lương thể hiện tài năng nghệ thuật. Câu 2. Những điều gì đã giúp cho Mã Lương vẽ giỏi như vậy? Những điều đó có quan hệ với nhau ra sao? Những yếu tố giúp cho Mã Lương trở thành một nghệ sĩ tài năng: + Lòng say mê, và sự thông minh bẩm sinh ngay từ nhỏ. + Sự khổ công tập luyện không ngừng nghỉ trong mọi thời gian – Chăm chỉ tập luyện hàng ngày: Khi kiếm củi, khi cắt cỏ, khi ở nhà. – Chăm chỉ tập luyện mọi nơi: Vẽ trên tường, vẽ trên đá, trên mặt đất. + Em còn được thần linh giúp đỡ, tặng cho cây bút thần mầu nhiệm, biến tất cả những điều em vẽ trở thành hiện thực. + Đối với những người nghèo khổ: – Mã Lương giúp đỡ cho tất cả mọi người những thứ cần thiết như cây, cuốc, đèn, thùng múc nước. – Những thứ mà Mã Lương vẽ giúp họ là những dụng cụ lao động, phương tiện để làm ăn sinh sống, chứ không phải là những vật chất có sẵn để hưởng thụ => của cải phải do lao động mà có. – Thể hiện tấm lòng nhân hậu, yêu thương những người nghèo khổ của cậu bé. + Đối với kẻ tham lam (tên địa chủ và nhà vua): – Mã Lương nhất định không vẽ cho bất cứ thứ gì dù họ bắt giam, bỏ đói, bỏ rét. – Cây bút trong tay Mã Lương đã trở thành vũ khí chiến đấu chống kẻ tham tàn bạo ngược: Vẽ thành cung tên để tiêu diệt tên địa chủ tham lam, vẽ thành biển xanh, nổi sóng để tiêu diệt tên vua độc ác tham tàn bạo ngược. – Thể hiện tinh thần dũng cảm, căm ghét cường quyền và bạo lực của Lê Mã Lương. + Đánh giá ngòi bút của Lê Mã Lương: – Người nghệ sĩ chân chính phải luôn đứng về phía nhân dân, không bao giờ dùng ngòi bút của mình để phục vụ cho kẻ ác. – Những thứ mà Mã Lương vẽ là để phục vụ cho sự cần thiết của cuộc sống chứ không phải để thoả mãn lòng tham của con người – Ngòi bút chì mầu nhiệm khi ở trong tay người lương thiện, khi phục vụ cho những ước mơ chính đáng. Câu 4. Truyện kể này được xây dựng theo trí tưởng tượng rất phong phú và độc đáo của nhân dân. Theo em chi tiết nào trong truyện là lí thứ và gợi cảm hơn cả? + Câu chuyện vừa chứa đựng yếu tố hiện thực, vừa chứa đựng những yếu tố tưởng tượng thần kì, trong truyện có rất nhiều chi tiết tưởng tượng lí thú, gợi cảm như: Lê Mã Lương vẽ chim, chim tung cánh bay, vẽ cá, cá vẫy đuôi bơi lượn, vẽ lò sưởi để sưởi, vẽ bánh để ăn, Mã Lương vẽ cò, vô ý đánh rơi giọt mực, khiến cò mở mắt xòe cánh bay đi. Nhưng có lẽ hay nhất chi tiết vẽ biển. – Thể hiện sự đối phó khéo léo của Lê Mã Lương – giả vờ nhận lời vẽ theo yêu cầu của hắn để trừng trị hắn: Ban đầu là vẽ biển khơi trong xanh êm dịu để gợi lên sự thích thú ở hắn –> Sau đó vẽ cá, thuyền -> đến khi tất cả nhà vua, hoàng hậu, hoàng tử các quan đại thần đã lên thuyền -> vẽ sóng –> sóng gió càng lúc càng cuồn cuộn -> như trái núi nhấn chìm chiếc thuyền xuống đáy biển. – Với cây bút thần Mã Lương đã thực hiện niềm ước mơ trừng trị bọn thống trị của nhân dân lao động. Câu 5. Hãy nêu ý nghĩa của truyện Cây bút thần Ý nghĩa của truyện Cây bút thần + Đề cao sức mạnh và tài năng của nghệ thuật chân chính. + Thể hiện ước mơ của nhân dân về những khả năng kì diệu trong cuộc đấu tranh chống lại cái ác. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Hãy kể diễn cảm câu chuyện này. Muốn kể diễn cảm câu chuyện phải chú ý hai vấn đề sau: + Phải nắm được thứ tự các tình tiết của câu chuyện. + Xác định giọng kể phù hợp cho mỗi đoạn và mỗi nhân vật. – Tên địa chủ và nhà vua giọng hống hách, kiêu ngạo. – Giọng của cụ già hiền từ âu yếm. – Đoạn kể về sự kì diệu của cây bút thể hiện sự hào hứng – Lúc tên địa chủ xuống chuồng ngựa để xem Mã Lương đã bị chết chưa, thấy em đang ngồi bên lò lửa, ăn bánh → giọng ngạc nhiên, sửng sốt. – Đoạn Mã Lương trừng trị tên địa chủ và nhà vua giọng hả hê sung sướng. Câu 2. Nhắc lại định nghĩa truyện cổ tích và kể tên những truyện cổ tích mà em đã học. + Định nghĩa truyện cổ tích (xem lại phần kiến thức cơ bản, bài Sọ Dừa). IV. Tư liệu tham khảo Cây bút thần là truyện cổ tích về nhân vật có tài năng kì lạ. Cây bút thần và bàn tay vẽ của Lê Mã Lương có một khả năng và sức mạnh kì diệu, vừa là chi tiết tưởng tượng thần kì, vừa chứa đựng yếu tố hiện thực. Truyện thể hiện quan điểm của nhân dân về công lí xã hội, về mục đích của tài năng nghệ thuật. Hội hoạ nói riêng, các bộ môn khác như Văn thơ âm nhạc. Phải biết hướng về nhân dân giúp người lương thiện chống kẻ tham tàn thì nghệ thuật mới có sức mạnh, có khả năng thần kì. Câu chuyện cũng thể hiện ước mơ của nhân dân về những khả năng kì diệu của con người để giúp cho người lương thiện đối phó với bọn bất lương hàng ngày theo dõi hãm hại con người. Truyện về một cây bút lặng lẽ mà cất lên bao lời nhắn gửi thiết tha, không chỉ tới người nghe, người đọc bình thường mà cả tới nhà văn, nhà thơ, các nhạc sĩ… tài danh nữa!!! (Theo Vũ Dương Quỹ và Lê Bảo – Bình giảng văn 6) Truyện cây bút thần thuộc loại truyện cổ tích thần kì, yếu tố, thần kì ở đây là cây bút thần, tham gia như một phần không thế thiếu được trong sự phát triển cốt truyện. Cây bút thần với sức mạnh toàn năng, vừa để giúp đỡ người nghèo, người yếu vừa để chống đỡ, trừng trị những kẻ tham lam độc ác. Khuynh hướng của truyện cổ tích thần kì không phải nhấn mạnh hiện thực, mà là trình bày ước mơ nguyện vọng và lí tưởng xã hội của nhân dân thông qua sự chiến thắng tất yếu của cái đẹp, cái thiện hoàn hảo. (Theo Trần Lê Bảo, Giảng văn Cây bút thần) Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8 cùng chủ đề: Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8: Danh Từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8: Ngôi kể trong văn tự sự
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8_ Cây bút thần
1,441
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8: Danh Từ Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 8: Danh Từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8: Danh Từ. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Danh Từ I. Kiến thức cơ bản • Danh từ là những từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm. • Danh từ có thể kết hợp với từ chỉ số lượng ở phía trước các từ này, ấy, đó. ở phía sau và một số từ ngữ khác để thành cụm danh từ. • Chức vụ điển hình trong câu của danh từ là chủ ngữ. Khi làm vị ngữ danh từ cần có từ là đứng trước. • Danh từ tiếng Việt được chia thành hai loại lớn là danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật. Danh từ chỉ đơn vị nêu tên đơn vị dùng để tính đếm, đo lường sự vật. Danh từ chỉ sự vật nêu tên từng loại hoặc từng cá thể người, vật, hiện tượng, khái niệm. • Danh từ chỉ đơn vị gồm hai nhóm là: + Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên (còn gọi là loại từ). + Danh từ chỉ đơn vị quy ước. Cụ thể là: – Danh từ chỉ đơn vị chính xác. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Đặc điểm danh từ Vua sai ban cho làng ấy ba thúng gạo nếp với ba con trâu đực ra lệnh phải nuôi làm sao cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con […] (Em bé thông minh) a) Trong cụm danh từ: Ba con trâu ấy – thì con trâu là danh từ. b) Xung quanh cụm danh từ có từ ba chỉ số lượng đứng trước và từ ấy ở phía sau. c) Các danh từ có trong câu trên: Vua, làng, thúng, gạo, nếp,… d) Đặt câu với các danh từ đã tìm: + Vua đã ban thánh chỉ mọi người phải chấp hành. + Làng nằm bình yên sau lũy tre xanh. + Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết. e) Danh từ biểu thị người, vật, hiện tượng, khái niệm. 2. Danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật a) Sự khác nhau về nghĩa của các danh từ in đậm và danh từ dúng sau: – ba con trâu – một viên quan – ba thúng gạo – Sáu tạ thóc Các danh từ: Con, viên, thúng, tạ là những danh từ chỉ đơn vị nói chung. Các danh từ: Trâu, quan, gạo, thóc là danh từ chỉ sự vật cụ thể. b) Ta có thể nói Nhà có ba thúng gạorất đầy – vì thúng là danh từ chỉ đơn vị ước chừng. Nhưng không thể nói Nhà có sáu tạ thócrất nặng vì tạ là danh từ chỉ đơn vị chính xác. Câu 1. Liệt kê một số danh từ chỉ sự vật mà em biết. Đặt câu với một trong các danh từ ấy. + Liệt kê một số danh từ chỉ sự vật: Sách, vở, áo quần, bút, mực, bàn, ghế, nhà cửa, cầu cống, phố xá, trường học, giường, lược. + Đặt câu: – Chiếc bút này em mới mua hôm qua. – Bàn ghế thẳng tắp từng hàng ngay ngắn. Câu 2. Liệt kê các từ chuyên đứng trước danh từ chỉ người, chỉ vật. + Từ chuyên đứng trước danh từ chỉ người: Ông, bà, vị, cô, thầy, chú, bác, anh, chị, thằng… + Từ chuyên đứng trước danh từ chỉ đồ vật: Cái, bức, tấm, cục, chiếc, cánh, que. Câu 3. Liệt kê các danh từ chỉ đơn vị quy ước chính xác và từ chỉ đơn vị quy ước ước chừng. + Từ chỉ đơn vị quy ước chính: Mét, lít, ki lô gam, tấn, tạ, yến, mét vuông, mét khối, héc ta. + Từ chỉ đơn vị quy ước ước chừng: Thúng, đấu, nia, loong (đong gạo), bát, nắm, đàn, bầy, bó. Câu 4+5. Viết bài chính tả theo sách giáo khoa (nghe – viết). Lập danh sách các từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật trong bài chính tả trên. + Các từ chỉ đơn vị trong bài chính tả: Que, con, đỉnh, ven, bức + Các danh từ chỉ sự vật: Củi, cỏ, bút, làng, ngày, đất, núi, chim, đầu, nước, tôm, cá, đá, nhà, đồ đạc, tường, hình. Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8: Cây bút thần Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8: Ngôi kể trong văn tự sự
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8_ Danh Từ
763
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8: Ngôi kể trong văn tự sự Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 8: Ngôi kể trong văn tự sự Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8: Ngôi kể trong văn tự sự. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Ngôi kể trong văn tự sự I. Kiến thức cơ bản • Ngôi kể là vị trí giao tiếp mà người kể sử dụng để kể chuyện. • Khi gọi các nhân vật bằng tên gọi của chúng, người kể tự giấu mình đi, tức là kể theo ngôi thứ ba, người kể có thể linh hoạt, tự do những gì diễn ra với nhân vật. • Khi kể tự xưng là “tôi” kể theo ngôi thứ nhất…, người kể có thể trực tiếp kể ra những gì mình nghe, mình thấy, mình trải qua, có thể trực tiếp nói ra cảm tướng, ý nghĩ của mình. • Để kể chuyện cho linh hoạt, thú vị người kể có thể lựa chọn ngôi thích hợp. • Người kể xưng tôi trong tác phẩm không nhất thiết là chính tác giả. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Ngôi kể và vai trò của ngôi kể trong văn tự sự? Đọc các đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: a). Đoạn một kể theo ngôi thứ ba vì các nhân vật được gọi bằng tên và người kể không xuất hiện (giấu mình đi). b) Đoạn hai kể bằng ngôi thứ nhất. Vì người kể xưng là “tôi” trực tiếp kể về mình. c). Người xưng tôi trong đoạn văn hai là chú Dế Mèn, chứ không phải tác giả Tô Hoài. d) Trong hai đoạn văn trên ngôi kể thứ ba ở đoạn một là ngôi kể tự do không hạn chế, ngôi kể thứ nhất ở đoạn một bị hạn chế, chỉ được kể những gì mình đã trải qua. e) Ở đoạn thứ nhất chúng ta vẫn có thể đổi thành ngôi kể thứ nhất xưng tôi, nhưng ở đoạn này có ba nhân vật: Nhà vua, người cha, và em bé, chỉ được phép đổi một nhân vật, nên chọn nhân vật em bé, nhà vua là hợp lí hơn. Trẫm và đình thần chịu thằng bé là thông minh lỗi lạc. Nhưng Trẫm vẫn còn muốn thứ một lần nữa. Qua hôm sau, khi hai cha con đang ăn cơm ở công quán Trẫm sai sứ mang tới một con chim sẻ, với lệnh bắt họ phải dọn thành ba cỗ thức ăn. Em bé nhờ cha lấy cho mình một cái kim may rồi dưa cho sứ giả của Trẫm và bảo:… Ông cầm lấy cái này về tâu đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim. Từ đó Trẫm mới phục hẳn. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Thay đổi ngôi kế trong đoạn văn sau thành ngôi thứ ba và nhận xét ngôi kể đem lại điều gì mới cho đoạn văn? + Thay đổi ngôi Ngày nào cũng vậy, suốt buổi tối chú ta chui vào trong hang, hì hục đào đất, để khoét một cái ổ lớn làm thành một cái giường ngủ sang trọng. Rồi cũng lo xa như các cụ già trong họ hàng dế, chú đào hang sâu sang hai ngả làm những con đường tắt, những cửa sau, những ngách thượng, phòng khi gặp việc nguy hiểm có thể thoát thân ra lối khác được. (Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí) + Nhận xét: Việc thay đổi ngôi từ “tôi”, sang “chú ta” làm cho đoạn văn có màu sắc khách quan hơn, vì người kể tự giấu mình đi. Câu 2. Thay đổi ngôi kể trong đoạn văn sau thành ngôi thứ nhất và nhận xét ngôi kể đem lại điều gì khác cho đoạn văn. + Ta thay đổi tên nhân vật Thanh → chuyển sang nhân vật “tôi”. Một cái bóng lẹ làng từ trong vụt ra, rơi xuống mặt bàn. Tôi định thần nhìn rõ: Con mèo già của bà tôi, con mèo già vẫn chơi đùa với tôi ngày trước. Con vật nép chân vào mình khe khẽ vẫy cái đuôi, rồi hai mắt ngọc thạch xanh giương lên nhìn người. Tôi mỉm cười lại gần vuốt ve con mèo. (Thạch Lam, Dưới bóng hoàng lan) + Nhận xét: – Thay đổi ngôi kể từ Thanh sang tôi có tác dụng tô đậm thêm sắc thái tĩnh lặng của cảnh vật trong đoạn văn. – Làm cho đoạn văn mang tính chất tự thuật. Câu 3. Truyện “Cây bút thần” kể theo ngôi nào? Vì sao vậy? + Truyện “Cây bút thần” được kể theo ngôi thứ ba. + Vì kể theo ngôi thứ ba, người kể có thể kể chuyện một cách linh hoạt tự do, những gì diễn ra với nhân vật, và làm cho câu chuyện có tính khách quan. + Kể theo ngôi thứ ba người kể có thể linh hoạt, tự do kể ra những gì diễn ra với nhân vật. + Những chuyện này đã xảy ra từ rất lâu rồi, người kể không được chứng kiến các sự việc chỉ nghe người khác truyền lại. Câu 5. Khi viết thư em sử dụng ngôi kể nào? Viết thư là để giãi bày tình cảm, để trao đổi những câu chuyện riêng tư của chính bản thân mình. Do vậy ngôi kể đương nhiên phải là ngôi thứ nhất. Câu 6. Dùng ngôi thứ nhất kể về cảm xúc của em khi nhận được quà tặng của người thân. Tôi còn nhớ như in đó là một buổi chiều lần sinh nhật thứ 10 của tôi. Tôi vừa đi học về, mẹ ra cửa đón cười thật tươi và tặng tôi một cái hôn rõ to vào má: “Chúc mừng sinh nhật con trai của mẹ” kèm theo là một gói quà. Tôi hồi hộp mở ra, đó là quyển truyện Hanry Porter đã từ lâu tôi ao ước. Tôi cảm ơn mẹ và từ từ mở quyển sách ra, trang đầu tiên là một dòng chữ viết tay rất đẹp và vô cùng thân quen: “Tặng con trai yêu quý của mẹ, mong con ngoan, học giỏi”. Tối hôm đó và cả tuần tiếp theo, tôi nghiền miết quyển sách; Tôi ước mơ sau này mình cũng sẽ trở thành nhà văn viết được những tác phẩm hay như thế. Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8: Danh Từ Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8: Cây bút thần
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 8_ Ngôi kể trong văn tự sự
1,126
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Thứ tự kể trong văn bản tự sự Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 9: Thứ tự kể trong văn bản tự sự Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Thứ tự kể trong văn bản tự sự. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Thứ tự kể trong văn bản tự sự I. Kiến thức cơ bản • Khi kể chuyện, có thể kể các sự việc liên tiếp nhau theo thứ tự tự nhiên, việc gì xảy ra trước kể trước, việc gì xảy ra sau kể sau cho đến hết. • Nhưng để gây bất ngờ, gây chú ý, hoặc để thể hiện tình cảm nhân vật, người ta có thể đem kết quả hoặc sự việc hiện tại kể ra trước, sau đó mới dùng cách kể bổ sung hoặc để nhân vật nhớ lại mà kể các sự việc đã xảy ra trước đó. II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học Câu 1. Tìm hiểu thứ tự kể trong văn nghị luận a) Tóm tắt các sự việc trong truyện “Ông lão đánh cá và con + Một ông lão nghèo đánh cá ven biển, bắt được một con cá vàng, con cá kêu van, hứa trả ơn, ông lão đã thả con cá xuống biển. – Lần thứ nhất đòi một cái máng mới – Lần thứ hai đòi một toà nhà rộng – Lần thứ ba đòi làm nhất phẩm phu nhân – Lần thứ tư đòi làm nữ hoàng – Lần thứ năm đòi làm Long Vương, để bắt cá vàng hầu hạ. Cá vàng nổi giận lấy lại tất cả các thứ đã cho, ông lão trở về thấy mụ vợ đang ngồi bậc cửa trong túp lều rách nát bên cạnh cái máng lợn sứt mẻ. b) Truyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng” được kể theo thứ tự tự nhiên, việc gì xảy ra trước kể trước, việc gì xảy ra sau kể sau, cho đến hết. Câu 2. Đọc Uăn bản và trả lời câu hỏi. + Thứ tự của bài văn được kể ngược lại với thứ tự tự nhiên đem kết quả của sự việc ra kể trước (thằng Ngỗ bị chó cắn rách cả bắp chân). + Hiện tại kể trước, sau đó mới kể bổ sung về quá khứ của thằng Ngỗ (hoàn cảnh, những trò chơi ngỗ nghịch trước đó). + Kể theo thứ tự này nhằm tạo sự bất ngờ, gây chú ý. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Đọc câu chuyện và trả lời câu hỏi. + Câu chuyện được kể theo thứ tự hiện tại kể trước, “Tôi và Liên là bạn thân cùng lớp”. Sau đó mới hồi tưởng về quá khứ: “Hồi Liên mới từ quê đến khu tập thể.” + Yếu tố hồi tưởng có tác dụng minh chứng cho khởi đầu tình bạn gắn bó giữa Liên và tôi, làm cho câu chuyện trở nên chân thành xúc động. Câu 2. Cho đề văn: Kể câu chuyện lần đầu em được đi chơi xa. Khi kể về chuyến đi, các em phải kèm theo trình tự: – Trường hợp đi chơi; người đưa đi. – Nơi đi, đi tham quan hay thăm người thân. – Cảm nghĩ bản thân. (Tham khảo đề số 4) Mời các bạn tham khảo tài liệu cùng chủ đề bài 9 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Ông lão đánh cá và con cá vàng Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Viết bản tập làm văn số 2
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9_ Thứ tự kể trong văn bản tự sự
620
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Viết bản tập làm văn số 2 Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 9: Viết bản tập làm văn số 2 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Viết bản tập làm văn số 2. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Viết bản tập làm văn số 2 Đề 1: Kể một việc tốt mà em đã làm. Đề 2: Kể về một lần em mắc lỗi. Đề 3: Kể về một thầy giáo hay một cô giáo mà em quý mến. Đề 4: Kể về một kỉ niệm hồi thơ ấu làm em nhớ mãi. Đề 5: Kể về một tấm gương tốt trong học tập hay trong việc giúp đỡ bạn bè mà em biết. Đề 1: Hãy kể lại một việc làm khiến bố mẹ em vui lòng. Bài làm Từng ngày, từng ngày trôi qua, mỗi ngày đều đem đến những điều kì thú. Trong những ngày ấy, có biết bao điều vui buồn, hờn giận. Nhưng có lẽ nếu nói đến điều đặc biệt nhất của một ngày đối với tôi thì đó là niềm vui. Và trong cuộc sống đầy sắc màu này, niềm vui của bố mẹ tôi là tất cả, tất cả đều ý nghĩa đối với tôi. Thế nên, tôi xin kể lại một việc làm khiến bố mẹ tôi vui lòng trong tuần vừa rồi. Ngày hôm ấy, như mọi lần, tôi lại tung tăng chân sáo tới trường. Từng cơn gió nhè nhẹ, mang không khí se lạnh của mùa đông, tạo nên những âm thanh huyền diệu; tiếng lá cây xào xạc, tiếng áo người đi xe bay phần phật. Nghe sao giống tiếng hát mượt mà của chị gió đang dẫn đường cho bác mùa đông già nua, khó tính. Trong cảnh sắc mờ hơi sương, không khí trong lành đến lạ thường, tôi đang nghĩ về những tấm gương tốt mà tôi đã được đọc trên báo thì bỗng có tiếng khóc nhỏ thút thít ở đâu đó lọt vào “giác quan thứ 6” của tôi. Nhìn quanh quẩn, cuối cùng tôi cũng nhìn thấy một em bé khoảng 4 tuổi đang đứng khóc một mình. Tôi nghĩ ngay rằng: “Chắc em bé này bị lạc”. Tôi lại gần em hỏi: – Em bị lạc mẹ à? Em khóc nấc lên nghẹn lời: – Chị ơi… Em muốn. Em muốn mẹ em. Hu… hu… mẹ ơi! Mẹ ơi! Tôi nhẹ nhàng vuốt tóc em bé: – Vậy chị đưa em về nhà nhé! Em bé không nói chỉ gật đầu, tay gạt nước mắt. Tôi mỉm cười thân thiện rồi rút khăn tay ra, lau nước mắt cho em nhỏ. – Nào ngoan nào. Nắm chặt tay chị nhé! Chị em mình đi thôi. Em bé mỉm cười hồn nhiên: – Vâng ạ! Bổng tôi khựng lại: “Chết rồi, chỉ còn 10 phút nữa là vào lớp rồi. Làm sao đây?”. Tôi đắn đo, nếu dắt em bé đi tìm mẹ thì sẽ bị muộn học nhưng chẳng lẽ lại bỏ em ở đây. Suy nghĩ một lát tôi quyết định đưa em đến đồn công an để các chú ấy tìm mẹ cho em. Thế là, tôi dẫn em bé đến đồn công an. Chú công an mỉm cười: – Có chuyện gì vậy cháu bé? – Dạ thưa chú – Tôi đáp – Cháu đi học thì gặp em bé này bị lạc mẹ ạ! Chú công an ngạc nhiên: – Vậy, cháu gặp em bé này ở đâu? – Dạ, cháu gặp em ở đường cái ạ! – Ủa, vậy chắc người phụ nữ vừa đến hỏi con mình là mẹ của đứa bé này rồi. Vì lời báo của chị ta trùng với của cháu mà. Thôi được rồi, cháu để em bé lại đây. Chú sẽ thông báo để ta đón con về. – Dạ vâng, thôi cháu chào chú ạ! Nói rồi tôi chạy vội ra ngoài thật nhanh để còn kịp giờ học. Trên đường về nhà, tôi luôn mừng thầm vì mình đã làm được một việc tốt. Vừa đến cổng, tôi chạy nhanh vào lòng mẹ, tôi thì thào kể lại chuyện sáng nay. Mẹ tôi mừng rỡ hôn vào trán tôi: – Ôi, con mẹ giỏi quá! Từ ngoài cửa, bố tôi bước vào xoa đầu tôi: – Tốt lắm con gái. Bố tự hào về con. Con đã làm được một việc rất tốt, đáng khen ngợi. Hôm đó, nhà tôi tràn ngập tiếng cười vui. Nhìn bố mẹ cười nói vui vẻ, tôi rất vui bằng một việc làm tuy bé nhỏ nhưng đã đem lại nụ cười hạnh phúc cho bố mẹ. Trần Phương Ly (Theo Giang Khắc Bình, Nguyễn Thế Hà. 162 bài văn chọn lọc dành cho học sinh lớp 6) Đề 2: Kể lại một lần em mắc lỗi. Bài làm Trước khi vào câu chuyện tôi xin giới thiệu: Tên tôi là Nguyệt, học sinh lớp 6C. Tôi kể câu chuyện này để cho các bạn nghe mà rút kinh nghiệm nhé và đừng học câu chuyện trên. Đó là chuyện tôi trốn học. Hôm đó, tôi dậy sớm để đánh răng rửa mặt chuẩn bị đi học. Hàng sáng, mẹ tôi thường để chảo cơm trên bếp, sao hôm nay lại chẳng thấy đâu. Tôi lên hỏi mẹ: “Mẹ ơi sao mẹ vẫn chưa rang cơm cho bọn con ăn hả mẹ?”. Mẹ nhẹ nhàng nói: “Hôm nay nhà mình hết tiền mua gạo, phải đợi tiền lương của bố và chị con, hay con chịu khó bỏ ăn sáng một buổi có làm sao đâu?”. Tôi bực mình dậm chân dậm tay tỏ vẻ không bằng lòng. Tôi thoáng nhìn thấy nét mặt mẹ rất buồn. Mẹ bảo: “Thôi đi học đi con, mẹ phải đi làm việc của mẹ”. Tôi tức quá phát khóc lên, bỏ cả cặp sách lên giường ngủ tiếp. Tôi không nhớ là hôm nay có bài để chuẩn bị cho tiết kiểm tra ngày mai, thú thực lúc đấy tôi rất bực nên chỉ vì chuyện nhỏ mà quên hết mọi thứ. Tôi chỉ khóc và lẳng lặng lấy chăn ra đắp. Lúc mẹ tôi đánh răng rửa mặt xong mẹ lên nhà khoá cửa để đi làm, mẹ có biết đâu là tôi ở trong nhà. Thế là tôi nằm trong chăn ấm áp, chiếc chăn ru tôi vào giấc ngủ êm đềm. Đến khi thức dậy thì đã quá muộn. Tôi giật mình, bổ chổng bổ choảng vùng dậy thì chao ôi, cửa nhà đã khoá. Tôi ngồi trong nhà kêu ầm ĩ lên nhưng vô hiệu, mọi người đều đi làm hết. Nhà tôi là nhà tập thể, xung quanh lúc đó chỉ có mấy đứa trẻ con. Tôi gọi chúng và bảo: “Các em giúp chị mở cửa ra với”. Một đứa nhanh nhảu nói: “Thế chìa khoá nhà chị để đâu thì chúng em mới mở được chứ!”. Nguyễn Thị Như Nguyệt (Theo Nguyễn Trọng Hoàn, Hà Thanh Tuyền. 162 Bài văn chọn lọc dành cho học Sinh lớp 6) Đề 3: Hãy kể về một thầy (cô) giáo mà em quý mến. Bài làm Có những lúc tôi chợt nhớ đến quá khứ. Trong đôi mắt thơ dại của tôi, cuộc đời là một khúc hát du dương trầm bổng cứ trôi đi mãi, chỉ để lại trong tôi những kỉ niệm buồn vui. Và tôi nhớ tới các thầy, các cô giáo đã từng dạy dỗ, dìu dắt tôi. Trong số đó có một cô giáo rất dịu dàng và cũng là người mẹ thứ hai của tôi, đó là cô Huế, dạy tôi hồi lớp bốn. Cứ mỗi sớm mai tới trường, tôi đã thấy cô đứng đó với chiếc áo dài màu xanh tự lúc nào. Cô luôn đến sớm để đón chúng tôi với nụ cười trên môi. Cô hai mươi tám tuổi nhưng trông cô còn rất trẻ. Mái tóc dài óng ả được cô khéo léo cặp ra đằng sau, để lộ khuôn mặt trái xoan duyên dáng và phúc hậu. Đôi mắt to, trong sáng, luôn mở to dưới cặp lông mày lá liễu, nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến và độ lượng. Chiếc mũi tuy không cao nhưng rất phù hợp với khuôn mặt của cô. Đôi môi đỏ thắm, mỏng như cánh hoa hồng, luôn nở nụ cười duyên dáng với hàm răng trắng bóng. Cô có dáng người thanh mảnh và những bước đi nhanh nhẹn. Tính cô thẳng thắn, nghiêm nghị nhưng cũng rất vui vẻ. Cô luôn tận tâm, tận lực, luôn dìu dắt, chỉ mong sao mai sau chúng tôi sẽ trở thành những công dân có ích cho xã hội. Trong giờ học, những bạn nào không chú ý lắng nghe, ưa nhìn ra ngoài hay gục mặt xuống bàn là cô nhắc nhở ngay, có khi còn bắt đứng lên nhắc lại lời cô giảng hay ý kiến phát biểu xây dựng bài của bạn. Những lúc rảnh rỗi, cô thường kể chuyện cho chúng tôi nghe. Cả lớp cười vang khi nghe cô kể những mẩu chuyện vui, lý thú. Cô không chỉ chăm sóc chúng tôi mà còn quan tâm tìm hiểu các bạn gặp hoàn cảnh khó khăn, luôn tạo điều kiện về vật chất lẫn tinh thần. Cô luôn giúp đỡ các đồng nghiệp và các thầy cô khác cũng sẵn sàng giúp đỡ cô. Mỗi lần đi họp về, bố mẹ em lại hết lời khen ngợi về thái độ và năng lực giảng dạy của cô. Bố mẹ rất yên tâm khi tôi được cô dìu dắt để tìm con đường học tập tốt nhất. Nghe cô đọc thơ thật là thích: Lúc thì cao vút như tiếng chim hoạ mi buổi sớm mai, lúc thì đầm ấm, thiết tha. Nghe thơ tôi có cảm giác y như nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết: “Nghe thơ em thấy đất trời đẹp ra”. Hàng ngày, cô luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến. Nhưng một lần cô gọi tôi lên bảng kiểm tra, hôm đó tôi quá mải chơi nên chưa làm bài tập. Cô phạt tôi điểm không. Tôi xấu hổ trở về bàn và ngồi phịch xuống. Ngước lên nhìn cô, tôi thấy nét mặt cô rất buồn, nhìn tôi với vẻ trách móc. Ngay chiều hôm đó, cô đến nhà tôi nhắc nhở, hỏi han và tranh thủ giảng cho tôi những bài tôi chưa giải được. Nhờ có sự kèm cặp liên tục của cô nên tôi tiến bộ rõ rệt về môn toán. Tôi nhớ lại những ngày tập viết với cô. Chữ tôi xấu cộng thêm tính cẩu thả nên thường bị điểm kém. Trong những giờ học sau cô quan tâm tới nhiều hơn. Cô dạy tôi nắn nót từng chữ từng nét. Tuy bàn tay cô đã nhiều chỗ bị chan sạn nhưng tôi vẫn thấy ấm áp và chan chứa tình thương. Bàn tay ấy đã chịu khó kiên nhẫn trao cho chúng tôi những kiến thức để làm hành trang bước vào đời. Vắng đâu đây lời của một nhạc phẩm: “Mẹ của em ở trường là cô giáo mến thương…”. Vâng! Đúng vậy. Làm sao tôi quên được người mẹ đã mở cánh cửa tâm hồn mình đón ánh hào quang của cuộc đời: Cô Thanh Huế. Đào Tú Uyên (Theo La Kim Liên, Cái Văn Thái… 162 Bài văn chọn lọc dành cho học sinh lớp 6) Đề 4: Kể lại một lần em mắc lỗi. Bài làm Ngồi trong căn nhà ấm cúng và nhìn những cơn mưa rơi ngoài cửa sổ, tôi bồi hồi xúc động nhớ lại một kỉ niệm buồn của tuổi ấu thơ mà có lẽ suốt cuộc đời này tôi sẽ chẳng bao giờ quên. Đó là một hôm trời oi bức, Lan đứng trước cổng chờ tôi cùng đi học. Lan gọi rối rít: “Trang ơi! Nhanh lên muộn học rồi”. Tôi cuống quýt mặc quần áo và vội vàng chạy ra cửa. Nội gọi tôi lại và bảo: – Cháu đem quần áo mưa đi, hôm nay trời oi dễ mưa lắm đấy! Tôi đang vội nên vừa nghe thấy nội nói, tôi gắt lên: – Nội đem cất quần áo mưa đi! Trời như thế này làm sao mà mưa được? Cháu mang nhiều sách lại cầm thêm áo mưa thì nặng lắm. Nói xong, tôi nắm tay Lan cùng chạy đến trường. May sao cho chúng tôi, khi chúng tôi vừa vào lớp thì bác bảo vệ đánh trống truy bài. Bốn tiết học trôi qua nhanh chóng. Nhưng đến tiết thứ năm, tôi nhìn ra bầu trời: Mây đen ùn ùn kéo đến, mỗi lúc một nhiều, gió bắt đầu thổi, sấm chớp liên hồi, báo hiệu một cơn mưa to sắp đến. Tôi hoảng sợ vì mình không mang áo mưa nên sẽ không về được, đến bây giờ tôi mới hiểu những lời nội nói ban chiều. Tôi thật sự ăn năn khi nghĩ về những lời gắt của tôi với nội. Hết tiết năm, tất cả các bạn học sinh đã về hết, bạn thì mang áo mưa, bạn thì có người đến đón. Thế là trong trường, chỉ còn lại mình tôi đứng lủi thủi dưới mái hiên. Bỗng tôi nhìn ra cổng trường thì thấy bóng ai trông quen quá, và tôi reo lên “Nội! Nội ơi! Cháu ở đây mà!”. Nội trông thấy tôi liền tất tưởi đi vào mặc quần áo mưa cho tôi. Vì nội chỉ mang một bộ áo mưa nên nội nhường cho tôi mặc còn nội thì chỉ đội mỗi chiếc nón cũ. Khi đi đường, lúc nào tôi cũng muốn xin lỗi nội nhưng không hiểu sao, môi tôi cứ mím chặt không nói lên lời. Về đến nhà quần áo nội ướt sũng, sau đó nội bị cảm rất nặng. Một tuần sau, nội mất. Bác sĩ bảo với bố mẹ tôi rằng nội đã già, sức khoẻ yếu mà lại bị cảm nặng nên khó lòng qua khỏi. Tôi khóc nhiều lắm, tôi chỉ buồn khi nội ra đi quá sớm, tôi không có đủ thời gian để xin lỗi nội về những hành động thiếu ý thức của mình. Vì không nghe lời nội nên tôi đã gây ra tai hoạ. Tôi thấy xấu hổ, vừa xót thương cho nội, vừa hối hận vô cùng. Nếu tôi có điều ước nào thì tôi chỉ muốn ước nội sống lại để tôi nói với nội: “Con xin lỗi nội”, sau đó tôi sẽ được nội âu yếm, vuốt ve và kể cho nghe những câu chuyện cổ tích như thuở nào. Vũ Thị Thu Trang (Theo Nguyễn Trọng Hoàn, Hà Thanh Tuyền. 162 Bài văn chọn lọc dành cho học sinh lớp 6) Đề 5: Kể về kỉ niệm thời thơ ấu làm em nhớ mãi Sông La quê ngoại Kì nghỉ hè năm học vừa qua, em được mẹ đưa về thăm quê của bà ngoại em ở Hà Tĩnh đó là lần đầu tiên em được về quê ngoại. Con đường thật dài, phải gần 1000 cây số mất một ngày một đêm ở trên tàu mới tới nơi. Đặt chân xuống quê ngoại em ngỡ ngàng, thanh bình và yên tĩnh quá, mở ra trước mắt em là cánh đồng lúa xanh mơn mởn, bao la típ tắp. Em nhắm mắt hít một hơi thật sâu hương lúa thơm dịu nhẹ, không khí trong lành mát mẻ. Từ ga tàu về nhà non một cây số, cả nhà em quyết định đi bộ để ngắm cảnh quê hương. Những ngôi nhà ở đây không cao như ở thành phố, nằm lẩn khuất dưới những bóng cây. Thỉnh thoảng một vài chú chó con thấy người lạ đi qua ngóc mõm lên: Gâu! Gâu! vài tiếng. Mấy bà cụ già thấy mẹ con em đi qua cất tiếng hỏi: “Mẹ con nhà Thu về ngoại chơi đấy à? Gớm lâu quá rồi, mới thấy mẹ con mày!” Em thầm nghĩ mọi người ở đây thật cởi mở, nồng hậu đáng yêu đến thế. Dẫu bao năm tháng không về lại Vẫn còn thăm thẳm nước sông La. Em ngắm nhìn những con đò nhỏ xuôi trên dòng sông, từ từ chậm rãi, mặt sông gợn sóng lăn tăn, phía bãi xa có một đám trẻ đang đùa giỡn, té nước trắng xoá lên nhau, cười nói ầm ĩ. Cả nhà tiếp tục cuộc hành trình. Dòng sông đã lùi lại phía sau lưng, em bỗng nghe câu hát của người chèo đò từ mặt sông cất lên: Ai có biết nước sông La răng là trong là đục Thì mới biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh. Vâng đúng thế! Em sẽ cố gắng sống thật xứng đáng, ơi dòng sông quê ngoại thân thương. Em sẽ còn trở lại nhiều lần nữa. Đề 6: Kể một tấm gương học tốt hay giúp đỡ bạn bè mà em biết. Bài làm Đến bây giờ, dù hai đứa học hai trường khác nhau nhưng tôi vẫn đến nhà và chơi với Sinh. Tôi rất cảm phục Sinh vì những việc mà Sinh đã làm cho Mai – người hàng xóm và cũng là bạn học của tôi và Sinh hồi tiểu học. Ngày ấy tôi lên lớp Năm. Lớp tôi học có nhiều bạn chuýển đến lắm, nên lớp không được đoàn kết. Giờ ra chơi, ai mới chuyển đến, không quen biết bạn thì phải chơi một mình, còn những người học lớp cũ thì có bạn cũ để chơi. Tôi chơi thân với Mai từ hồi học mẫu giáo. Hai đứa nhà đều gần nhau, bố mẹ lại là bạn thân nên tôi coi Mai như em. Gia đình hai nhà khá giả nên tôi và Mai được đi học thêm ở nhiều nơi và tham gia nhiều câu lạc bộ thể thao, văn hoá. Lúc nào hai đứa cũng liền với nhau. Trong số những bạn mới vào lớp có bạn tên là Sinh, vừa ở quê ra. Chắc vì hay đi chơi nên da bạn đen nhưng khoẻ. Sinh lầm lì, ít giao tiếp nhưng học rất giỏi và có tài. Sinh biết đánh đàn oóc-gan. Cứ đến giờ hát là Sinh lên đánh đàn, lại hát mẫu cho cả lớp. Chúng tôi phục Sinh lắm. Một lần tôi và Mai ra Hồ Tây chơi. Thấy nước mát, Mai đi xuống những bậc thang dưới hồ múc nước rửa tay. Mai cuối xuống bỗng trượt chân ngã. “Mai không biết bơi”. Tôi nhớ ra. Tôi định trèo xuống, bơi cứu Mai thì chân tôi bị chuột rút. Tôi sợ quá, kêu to: “Cứu, cứu với, có người chết đuối”. Chưa kêu hết câu, tôi thấy có bóng đen lao xuống nước. Tôi lết ra, Sinh, đúng cậu ấy. Sinh dìu Mai vào bờ. Mai ngất đi. Tôi phải hô hấp nhân tạo cho Mai và hét to: “Đi gọi bác sĩ”. Sinh vù đi. Năm phút sau, bác sĩ đến. Mai nằm khóc, bố mẹ Mai cũng thế. Tôi ngồi nắm chặt tay Mai. Mẹ Mai dựa đầu vào vai bố Mai nấc lên từng tiếng rõ rệt. Bác sĩ đã cố hết sức, nhưng cánh tay phải của Mai đã vĩnh viễn không cử động được. Từ đó Mai lầm lì, mặc cảm với chính mình. Chỉ có tôi và Sinh – ân nhân của Mai – là có thể lại gần Mai. Làm sao Mai có thể đi học? Tôi hỏi Sinh, Sinh trả lời ngay: Tập viết lại bằng tay trái. Hằng ngày, dưới sự hướng dẫn của Sinh và góp ý của tôi, Mai phải tập viết. Năm tháng trôi mau, Mai phục hồi nhanh chóng và chẳng bao lâu đã thích ứng với hoàn cảnh. Tôi luôn bên Mai an ủi và Sinh luôn có mặt kịp thời, khi có kẻ nào chế giễu Mai hay trêu chọc hai chúng tôi. Mai vui dần lên, cười nhiều hơn và học vẫn giỏi như xưa. Cho đến cuối năm học, tôi và Sinh được nêu gương tốt toàn trường. Tất nhiên cả ba đứa đều là học sinh xuất sắc. Vài hôm sau đó, Sinh hớt hải chạy đến nhà Mai, vui mừng giơ tờ giấy vẫy vẫy, hét to: “Có tin mừng, Mai, Lan ơi!”. Tôi giật giấy, đọc lướt nhanh và hét lên: “Mai ơi, Bác sĩ bảo nếu cố gắng luyện tập, tay phải của cậu sẽ cử động được đấy”. Khỏi nói bạn cũng biết sự vui mừng của tôi và Mai, cả Sinh nữa. Tôi cảm ơn Sinh, cảm ơn bác sĩ là ba Sinh. Mai cố bóp tay, động tác đơn giản nhất. Rồi dần dà, Sinh cho Mai tập gập tay, cử động ngón tay và cuối cùng là cầm bút viết. Mai đã thành công. Qua năm lớp 6, Mai đã hoàn tất bình phục. Bây giờ, tuy không học cùng Mai, Sinh nữa, nhưng tôi sẽ nhớ mãi kỉ niệm đẹp của ba đứa chúng tôi. Cao Bích Xuân Mời các bạn tham khảo thêm tài liệu bài tập 10: Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Thứ tự kể trong văn bản tự sự Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Ông lão đánh cá và con cá vàng
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9_ Viết bản tập làm văn số 2
3,567
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Ông lão đánh cá và con cá vàng Hướng dẫn Ngữ văn lớp 6 bài 9: Ông lão đánh cá và con cá vàng Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Ông lão đánh cá và con cá vàng. Đây là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo Bài 9: Ông lão đánh cá và con cá vàng (Đọc thêm) I. Kiến thức cơ bản Truyện này do A. Puskin (1799 – 1837) – đại thi hào Nga – kể lại bằng 205 câu thơ trên cơ sở truyện dân gian Nga, Đức. Truyện vừa giữ được nét chất phác, dung dị của nghệ thuật dân gian, vừa thể hiện tài năng sáng tạo của Puskin. Truyện ông lão đánh cá và con cá vàng do A. Puskin kể lại sử dụng nhưng biện pháp nghệ thuật rất tiêu biểu của truyện cổ tích như: Sự lặp lại tăng tiến của các tình huống cốt truyện, sự đối lập giữa các nhân vật, sự xuất hiện các yếu tố tưởng tượng hoang đường. Truyện ca ngợi lòng biết ơn đối với những người nhân hậu và nêu ra bài học đính đáng những kẻ tham lam bội bạc. II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Câu 1. Trong truyện có mấy lần ông lão ra biển gọi cá vàng? Biện pháp tu từ ở đây là gì? Nêu tác dụng của nó. + Trong truyện có năm lần ông lão ra biển gọi cá vàng xin giúp để thoả mãn yêu cầu của mụ vợ: • Lần thứ nhất: Mụ vợ đòi cái máng lợn mới. • Lần thứ hai: Mụ vợ đòi toà nhà rộng. • Lần thứ ba: Mụ vợ đòi làm nhất phẩm phu nhân. • Lần thứ tư: Mụ vợ đòi làm nữ hoàng. • Lần thứ năm: Mụ vợ đòi làm Long Vương. + Những lần ông lão ra biển gọi cá vàng, biện pháp tu từ được sử dụng là biện pháp lặp đi lặp lại. Những câu văn có cấu trúc ngữ pháp hoàn toàn giống nhau chỉ có thay đổi một số từ, và có những câu hoàn toàn giống nhau: Ông lão gọi cá vàng. Con cá bơi đến hỏi: – Ông lão có việc gì thế? Ông lão cần gì? Ông lão chào cá và nói:. + Tác dụng:… • Đây là biện pháp lặp lại có chủ đích của truyện cổ tích • Sự lặp lại ở đây có tính chất tăng tiến, nhằm khắc sâu, tô đậm tính cách của nhân vật. Trong truyện có năm lần ông lão ra biển gọi cá vàng nhờ giúp đỡ, mỗi lần như vậy thái độ của cá vàng đối với ông lão đều không thay đổi chỉ có cảnh biển thay đổi. + Thái độ của cá vàng đối với ông lão lúc nào cũng thể hiện sự thân thiện rất đáng yêu. Lần nào nghe ông gọi cá vàng đều lập tức bơi đến ngay và hỏi: “Ông lão ơi! Cần gì thế?” + Sự thay đổi của cảnh biển: – Lần thứ nhất: Biển gợn sóng êm ả. – Lần thứ hai: Biển xanh đã nổi sóng. – Lần thứ ba: Biển xanh nổi sóng dữ dội. – Lần thứ tư: Biển nổi sóng mịt mù. – Lần thứ năm: Biển nổi sóng ầm ầm, cơn dông tố kinh khủng kéo đến. + Biển xanh cũng nổi sóng vì: – Đó là sự giận dữ của cá vàng và thiên nhiên trước lòng tham không đáy và sự hợm hĩnh quá đáng của mụ vợ ông lão. – Đó cũng là phản ứng của nhân dân đối với sự tham lam của mụ vợ. Câu 3. Em có nhận xét gì về lòng tham và sự bội bạc của mụ vợ? Khi nào sự bội bạc của mụ lên đến tột cùng. Lần Lòng tham của mụ Vợ Sự bội bạc của mụ vợ đối với ông lão Đánh giá 1 Đòi một cái máng lợn Mắng ông lão là đồ ngốc sao lại không bắt con cá đền cái gì. Sự đòi hỏi là chính đáng, song thái độ đối xử với ông lão là không đúng 2 Đòi một cái nhà rộng Mắng ông lão là đồ ngu, và quát to hơn, và không để ông lão yên chút nào Sự đòi hỏi bắt đầu quá đáng. Thái độ đối với ông lão là không chấp nhận được 3 Đòi làm nhất phẩm phu nhân Mắng ông lão như tát nước vào mặt: Đồ ngu! Ngốc sao ngốc thế, sau đó bắt xuống quét chuồng ngựa Vừa đòi hỏi của cải, vừa đòi hỏi vật chất, với thái độ hách dịch – đối xử với ông lão như là một kẻ phục dịch – như một người xa lạ 4 Đòi làm nữ hoàng Tát vào mặt ông lão tội nghiệp, và nổi trận lôi đình Lòng tham đến tột đỉnh: Vừa có của cải, vừa có danh vọng và vừa có quyền lực cao nhất trần thế. Đối xử với ông lão giống như kẻ thù tàn nhẫn vô lương tâm: “Tát vào mặt” ông lão → mụ là kẻ bội bạc, bội bạc với chồng, với ân nhân của mình 5 Đòi làm Long Vương Nổi cơn thịnh nộ – Sai người lôi ông lão ra ngoài – rồi lại tìm bắt ông lão đến để thực hiện yêu cầu mới Lòng tham vượt quá giới hạn muốn có quyền lợi của cải siêu nhiên và sự bội bạc cũng đã vượt quá giới hạn cho phép – Lòng tham biến mụ trở thành kẻ xấu xa ích kỉ, độc ác, tàn nhẫn. Không đối với ông lão mà còn đối với cả cá vàng nhờ cá vàng mà mụ mới có tất cả Câu 4. Câu chuyện đã được kết thúc như thế nào? Ý nghĩa của cách kết thúc đó. + Cánh kết thúc: Là hình ảnh mụ già ngồi trên bậc cửa trong túp lều rách nát ngày xưa của mình trước cái máng lợn sứt mẻ → Mụ trở về vạch xuất phát ban đầu của mình với tất cả những thứ xứng đáng dành cho mụ. + Ý nghĩa: Những kẻ tham lam xấu xa, bội bạc, độc ác phải bị trừng trị thích đáng. Câu 5. Cá vàng trừng trị mụ vợ vì tội tham lam hay bội bạc, nêu ý nghĩa tượng trưng của hình tượng con cá vàng. + Sự trừng trị của cá vàng: Ở nhân vật mụ vợ có tội lớn: – Thứ nhất là quá tham lam: Tham của cải, tham danh vọng, tham quyền lực – và tất cả những thứ đó đều ở tột đỉnh, không thể chấp nhận => lòng tham không đáy ấy xứng đáng bị trừng trị – Tội thứ hai là quá bội bạc: Bội bạc với ông lão vừa là người thân, vừa là ân nhân, bội bạc với cá vàng, bắt cá vàng hầu hạ phục dịch mụ, mà cá vàng là người đã đưa đến và đáp ứng mọi yêu cầu của mụ => kẻ cạn tàu ráo máng như vậy phải bị trừng trị. + Ý nghĩa của hình tượng cá vàng: – Cá vàng là biểu tượng của lòng biết ơn của con người đối với những tấm lòng nhân hậu khi mình gặp khó khăn hoạn nạn được người khác cứu giúp. – Ước mơ về công lí và hạnh phúc của con người. III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Có người cho rằng, truyện này nên đặt tên là “Mụ vợ ông lão đánh cá và con cá vàng”. Ý kiến của em như thế nào? + Truyện có ba nhân vật: Mụ vợ, ông lão, và cá vàng, trong ba nhân vật đó thì nhân vật mụ vợ và cá vàng là nhân vật chính, ông lão là nhân vật phụ. Nội dung câu chuyện chủ yếu nói lên sự tham lam bội bạc của mụ vợ. Vì vậy nếu đặt tên truyện là “Mụ vợ ông lão đánh cá và con cá vàng” cũng có cơ sở của nó. + Đặt tên truyện như vốn có của nó “Ông lão đánh cá và con cá vàng”, đây là hai nhân vật rất đáng yêu, để lại nhiều thiện cảm ở người đọc – Phải chăng đó là ý đồ của tác giả Puskin. Với lại đầu đề của câu chuyện sẽ ngắn gọn hơn. Câu 2. Hãy kể diễn cảm truyện cổ tích này. Muốn kể diễn cảm câu chuyện cần chú ý những điều sau đây: + Nắm vững chi tiết của truyện. + Chú ý nhấn giọng và có ngữ điệu riêng ở các chi tiết, các nhân vật sau đây: • Giọng của cá vàng • Giọng ông lão • Giọng quát tháo của mụ vợ • Sự thay đổi của cảnh biển • Sự lặp lại có chú ý: “Ông lão ra biển gọi cá vàng”. IV. TƯ LIÊU THAM KHẢO Những “phản ứng” của biển tăng dần theo những đòi hỏi ngày càng quá quắt của mụ vợ ông lão. “Nhân vật” biển tuy không trực tiếp tham gia vào cốt truyện nhưng đã thể hiện rất rõ thái độ của tác giả (và cũng là của nhân dân) trước thói tham lam vô hạn của con người – cụ thể ở đây là mụ vợ của ông lão. Lòng tham của mụ vợ đi đến tột cùng khi mụ đòi được làm Long Vương, bắt cá vàng hầu hạ bên cạnh. Đó là một đòi hỏi quá đáng, vượt qua mọi giới hạn có thể chấp nhận trong đạo lí làm người. (Nguyễn Trọng Hoàn – Đọc – Hiểu văn bản ngữ văn 6) Trung tâm của truyện là ba nhân vật: Ông lão đánh cá, con cá vàng và mụ vợ. Kể về quan hệ giữa ba nhân vật ấy, tác giả đã dùng biện pháp nghệ thuật lặp tăng tiến. Từ đó tính tình phẩm chất của các nhân vật lộ rõ dần dần. Điều đặc sắc để gắn kết sự tăng tiến trong quan hệ ba nhân vật thi sĩ Puskin dùng hình ảnh “biển xanh – những ngọn sóng”. Qua những lần biển xanh nổi sóng, chủ đề, ý nghĩa tác phẩm mỗi lúc thêm rõ, thêm nổi bật. (Theo Vũ Dương Quỹ – Lê Bảo – SĐD 6) Mời các bạn tham khảo tài liệu cùng chủ đề Bài 10 Ngữ văn lớp 6: Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Viết bản tập làm văn số 2 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Thứ tự kể trong văn bản tự sự
Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9_ Ông lão đánh cá và con cá vàng
1,753
Giải bài tập SGK Tiếng Anh lớp 7 Chương trình mới Unit 12 GETTING STARTED, A CLOSER LOOK 1, A CLOSER LOOK 2 Hướng dẫn Giải bài tập SGK Tiếng Anh lớp 7 Chương trình mới Unit 12 Giải bài tập SGK Tiếng Anh lớp 7 Chương trình mới Unit 12 GETTING STARTED, A CLOSER LOOK 1, A CLOSER LOOK 2 hướng dẫn học tốt Tiếng Anh lớp 7 Unit 12: An overcrowded world (Một thế giới quá đông đúc) các phần: Getting Started (phần 1-5 trang 58-59 SGK Tiếng Anh 7 mới – thí điểm), A Closer Look 1 (phần 1-6 trang 60-61 SGK Tiếng Anh 7 mới – thí điểm), A Closer Look 2 (phần 1-5 trang 61-62 SGK Tiếng Anh 7 mới – thí điểm). Giải bài tập SGK Tiếng Anh lớp 7 Chương trình mới Unit 10 COMMUNICATION, SKILLS 1 Giải bài tập SGK Tiếng Anh lớp 7 Chương trình mới Unit 11 GETTING STARTED, A CLOSER LOOK 1, A CLOSER LOOK 2 Tiếng Anh lớp 7 Chương trình mới Unit 11 TRAVELLING IN THE FUTURE Từ vựng – Ngữ pháp Tiếng Anh lớp 7 Chương trình mới Unit 11 TRAVELLING IN THE FUTURE Unit 12 lớp 7: Getting started (phần 1 → 5 trang 58-59 SGK Tiếng Anh 7 mới – thí điểm) 1. Listen and read (Nghe và đọc) Hướng dẫn dịch MỘT CÂU CHUYỆN TRONG KÌ NGHỈ Nam: Chào mừng trở lại, Phương! Brazil thật tuyệt đúng không? Phuong: Đúng rồi Nam, và rất đa dạng. Nam: Ý bạn là sao? Phuong: Những bãi biển ở phía nam rất thanh bình, trong khi đó những thành phố như Rio lại quá đông đúc. Nam: Thế còn người dân? Phuong: Ở Rio một số người rất giàu và có tiêu chuẩn sống cao. Nhưng cũng có những người nghèo sống trong những khu ổ chuột. Nam: Cuộc sống trong khu ổ chuột chắc là rất khó khăn. Phuong: Ừ, những khu ổ chuột quá đông đúc và tội phạm là một vấn đề lớn ở đó. Nam: Tội phạm ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong thành phố đúng không? Phuong: Đúng rồi, Nam. Nhưng có lẽ có những vấn đề khác ở khu ổ chuột nữa như là bệnh tật, dịch vụ y tế kém,… Nam: Wow, bạn có tự mình thấy điều đó không? Phuong: Không, khách tham quan thường không đến những khu ổ chuột. Nó quá nguy hiểm. Nam: Có lẽ có ít thứ để ngắm và làm ở đó đúng không? Phuong: Ừ. Tuy vậy tớ vẫn thích Brazil và tớ đã rất vui khi ở đó. Phuong: Phải rồi. a. Read the conversation again and tick (✓) true (T) or false (F.) (Đọc bài hội thoại và đánh dấu (✓) đúng (T) hoặc sai (F)) 1. T 2. F 3. F 4. T 5. F Hướng dẫn dịch 1. Phương nghĩ rằng Braxin thật thú vị. 2. Những nơi ở Braxin rất khác biệt. 3. Những vấn đề của Rio chỉ nằm ở khu ổ chuột. 4. Không an toàn cho du khách khi đến thăm những khu ổ chuột. 5. Nam nghĩ rằng chuyến đi của Phương đến Braxin không xứng đáng. b. Read the conversation again. Find a word or phrase to match the following. (Đọc lại bài hội thoại. Tìm một từ hoặc cụm từ để nối.) 1. very different – diverse. 2. rich – wealthy. 3. big or serious – major. 4. small houses in bad condition where poor people live – slums. 5. bad action against the community – crime. 2. Match the words in the box with the pictures. Then listen and repeat the words. (Nối các từ trong khung với hình ảnh. Sau đó nghe và lặp lại các từ.) 1. a 2. c 3. b 4. e 5. d 3. Use some of the words in 2 to describe a person or a place you know. (Sử dụng các từ trong bài 2 đeer miêu tả một người hay một địa điểm bạn biết.) 1. Ha Noi is overcrowded now. 2. There are a lot of wealthy people in the U.S. 3. Our country is beautiful and peaceful. 4. There are a lot of poor people in this slum. 5. Our garden is not so spacious. 4. Work in groups. Make a list of the problems which you think are connected to an overcrowded area. (Làm việc theo nhóm. Lên danh sách các vấn đề bạn nghĩ có liên quan đến một vùng đông dân.) There is not enough space to play in. The atmosphere is polluted. The traffic is bad. There are a lot of thieves and robbers. There is so much noise. Life is too fast and people are usually not friendly. 5. Share your list with the class and see if they agree with you. (Chia sẻ danh sách với cả lớp và xem xem họ có đồng ý với bạn không.) Unit 12 lớp 7: A closer look 1 (phần 1 → 5 trang 60 SGK Tiếng Anh 7 mới – thí điểm) 1. crime 2. malnutrition 3. poverty 4. shortage 5. disease 6. space 7. dense 8. healthcare 2. Complete the sentences with some of the words from 1. (Hoàn thành câu với các từ trong bài 1.) 1. healthcare 2. crime 3. disease 4. malnutrition 5. poverty Hướng dẫn dịch 1. Y tế tốt giúp mọi người khỏe mạnh và sống lâu hơn. 2. Khi mọi người quá cần tiền, họ có thể phạm tội. 3. Bệnh lan truyền nhanh hơn ở khu vực quá đông đúc. 4. Sự suy dinh dưỡng là nguyên nhân chính dẫn tới cái chết của những đứa trẻ sống trong khu ổ chuột. 5. ở những thành phố lớn có nhiều người giàu, nhưng nghèo khổ cũng là một vấn đề. 3. Match a cause with its effect. (Nối nguyên nhân với hệ quả của nó.) 1. b 2. a 3. f 4. d 5. c 6. e 4. Work in groups. Think of some problems for each place below and write them under the place. Share your ideas with the class. (Làm việc theo nhóm. Nghĩ về vấn đề của mỗi nơi và viết chúng bên dưới nơi đó. Chia sẻ ý kiến của bạn với cả lớp.) a. boring, lack of jobs, activities, entertainment and other services. b. poverty, disease, crime, thieves, malnutrition, unemployment, poor healthcare. c. pollution, overpopulation, to much noise, shortage of water, crime, too fast life and people are not friendly, not enough space. 5. Listen and mark (‘) the stress in the words. (Nghe và đánh dấu (‘) vào trọng âm của từ) 6. Listen and repeat each pair. Mark (‘) the stress on the words in the table below. (Nghe vả lặp lại mỗi cặp từ. Đánh dấu (‘) lên trọng âm của từ trong bảng sau.) Unit 12 lớp 7: A closer look 2 (phần 1 → 5 trang 61-62 SGK Tiếng Anh 7 mới – thí điểm) 1. Read the sentences. (Đọc các câu sau.) 1. Children in the slums have more diseases than those in wealthy areas. (Trẻ em ở trong các khu ổ chuột mắc nhiều bệnh hơn những đứa trẻ ở khu nhà giàu.) 2. The countryside has fewer problems than a big city. (Vùng quê có ít vấn đề hơn thành phố lớn.) b. Read the comparisons of the two cities, and decide if they are true. If they are not, correct them. (Đọc các so sánh về 2 thành phố, quyết định xem nó đúng không? Nếu nó không đúng, hãy sửa.) 3. 3. Fill tfhe sentences with more, less or fewer (Hoàn thành các câu với more, less hoặc fewer.) 1. fewer 2. more 3. more 4. fewer 5. less Hướng dẫn dịch 1. Tháng Hai có ít ngày hơn tháng Giêng. 2. Dân số quá đông đang gây ra nhiều vấn đề hơn chúng ta tưởng tượng. 3. Những thành phố lớn chịu ô nhiễm nhiều hơn vùng quê. 4. Một giáo viên cần ít calo hơn một nông dân. 5. Một đứa trẻ khỏe mạnh cần ít sự chăm sóc hơn một đứa trẻ bị bệnh. 4. Check if the tags are correct. If they are not correct them. (Kiểm tra xem phần đuôi có đúng không. Nếu chúng không đúng, hãy sửa chúng.) 1. F 2. F 3. T 4. T 5. F 6. F 1. You live in the countryside, don’t you? 2. Immigration causes overpopulation in big cities, doesn’t it? 3. Lower death rate is one reason for population growth, isn’t it? 4. These narrow streets can’t support more traffic, can they? 5. Complete the interview with the tags in the box. (Hoàn thành bài phỏng vấn với các phần đuôi trong hộp.) 1. don’t they. 2. isn’t it. 3. can’t we. 4. is it. Hướng dẫn dịch Người phỏng vấn: Những nơi quá đông đúc có nhiều vấn đề có phải không? Khách mời: Đúng rồi. Tắc đường, ô nhiễm, ồn ào… Người phỏng vấn: Tắc đường là vấn đề nghiêm trọng nhất đúng không? Khách mời: Không hẳn. Chúng ta có thể thấy nhiều người vô gia cư trong những thành phố lớn đúng không? Thành phố không thể xây đủ nhà cho tất cả dân ở đó. Người phỏng vấn: Vì vậy họ sống ở bất cứ chỗ nào có thể, dưới một cây cầu, trong một ngôi nhà hoang… Khách mời: Vâng, và vài người trong số họ trở thành những tên tội phạm Người phỏng vấn: Vấn đề thiếu chỗ ở không dễ giải quyết, đúng không? Khách mời: Vâng, không dễ chút nào.
Giải bài tập SGK Tiếng Anh lớp 7 Chương trình mới Unit 12 GETTING STARTED, A CLOSER LOOK 1, A CLOSER LOOK 2
1,472
Giải pháp giáo dục đạo đức, tác phong cho học sinh hiện nay Hướng dẫn Giải pháp khắc phục: Nâng cao cơ chế quản lí học sinh và trường học. Tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng đạo đức học sinh. (Giải pháp giáo dục đạo đức học sinh). Xây dựng môi trường họ tập thân thiện và hiệu quả, hướng học sinh vào các hoạt đông học tập và rèn luyện hữu ích. Giúp học sinh xa rời cái xấu, hướng đến nhận thức toàn diện. Có nhận thức tốt mới có hành động đúng. Đó là là cơ sở để hướng đến một kết quả hoàn thiện. Nhà trường, giáo viên, gia đình và xã hội phải gương mẫu thực hiện các chuẩn mực đạo đức tốt đẹp. Liên tục tổ chức các hoạt động học tập, vui chơi có tính giáo giáo dục đạo đức, rèn luyện kĩ năng, bồi dưỡng tâm hồn trong sáng, lành mạnh cho học sinh. Để rèn luyện đạo đức học sinh theo chuẩn mực của thời đại mới, hướng đến một nền giáo dục toàn diện, hiệu quả và tiến bộ, đào tạo những con người có tri thức và đạo đức vững mạnh, nhà trường phải có chiến lược mạnh mẽ. Phải lên kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, giám sát kiểm tra và nghiêm khắc xử lí các trường hợp vi phạm đạt đến kết quả cao. Quán triệt nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh. Phải xem đây là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi trường học. Kết hợp giáo dục, kỉ luật và tình thương một cách chặt chẽ mới nâng cao được hiệu quả giáo dục. Giáo viên phải kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong nhiệm vụ giáo dục, định hướng đạo đức, nhân cách tốt đẹp cho học sinh. Đây là một nhiệm vụ khó khăn, cần phải kiên trì và có tâm huyết với nghề, yêu mến con người, làm việc vì thiên chức mà xã hội đã tin tưởng, giáo phó. Người giáo viên phải tiến hành tìm hiểu hoàn cảnh, tâm tư, nguyện vọng của mỗi học sinh để kịp thời nắm bắt tình hình, xử lí hiệu quả khi sự cố sảy ra. Quá trình sử lí phải nghiêm khắc, công bằng và quyết liệt, kết hợp chặt chẽ giữa lí và tình. Hành động của giáo viên phải có vai trò nâng đỡ, thể hiện lòng yêu thương, vị tha, độ lượng cao cả để giáo hóa, cảm phục học sinh. Giáo viên các bộ môn hết lòng giảng dạy vì sự tiến bộ của học sinh. Biết kết hợp giáo dục tri thức và giáo dục nhân cách, đạo đức, hoàn thiện năng lực cho học sinh. Nói không với hiện tượng tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục trong mỗi nhà trường. Mỗi gia đình phải thực hiện nếp sống lành mạnh. Người lớn gương mẫu, trẻ con lễ phép. Cha mẹ thường xuyên nhắc nhở con cái rèn luyện bản thân, biết tuân thủ quy tắc, biết lễ độ, biết sẻ chia với người khác. Xã hội cần nghiêm khắc với những hành vi vi phạm đạo đức trong cộng đồng. Không ngừng khuyến khích, tuyên dương những tấm gương tốt. Đồng thời xử phạt, kịp thời ngăn chặn những hành vi sai trái. Lấy đó làm gương để giáo dục con người. Cần tạo dư luận đúng đắn trong nhà trường và ngoài xã hội, ủng hộ cái tốt, phê bình cái xấu. Đạo đức chính là giá trị nền tảng quan trọng nhất của con người. Bác Hồ cũng đã từng nhắc nhở rằng thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức thì sẽ gây họa cho xã hội. Bởi thế, giáo dục đạo đức trong sạch, vững mạnh cho học sinh là nhiệm vụ hàng đầu trong nhà trường hiện nay. Nguyên nhân suy thoái đạo đức, tác phong của học sinh hiện nay
Giải pháp giáo dục đạo đức, tác phong cho học sinh hiện nay
668
Giải pháp khắc phục hiện tượng vô cảm Hướng dẫn Làm sao để đẩy lùi căn bệnh vô cảm ra khỏi cuộc sống? Mở Bài: Có thể thấy căn bệnh vô cảm chỉ là một lối sống, lối ứng xử thiếu vắng tình người. Nó không phải là tội ác nhưng lại là một trong những nguyên nhân gây ra tội ác. Nhìn theo gốc độ tâm lí học, vô cảm là một hội chứng thần kinh sảy ra khi con người bất mãn với xã hội. Nhìn về mặt xã hội, vô cảm là sự suy giảm của các chuẩn mực đạo đức và cách ứng xử của con người. Dù nhìn ở bất kì gốc độ nào thì vô cảm đều có thể gây ra cho con người và đời sống xã hội những hậu quả nặng nề. Bởi thế, cần phải có những giải pháp cụ thể và hiệu quả để khắc phục hiện tượng vô cảm ở con người. Từ đó tiến tới khắc phục hiện trạng này trong đời sống xã hội ngày nay. Thân bài: Về phái cá nhân: Mỗi người phải biết sống vì mọi người. Biết yêu thương, chia sẻ, đoàn kết và tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống. Biết cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau thương, mất mát của người khác. Tuổi trẻ phải biết quý trọng những thành quả do cha ông để lại. Biết tự hào về truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc. Biết yêu nước và quyết tâm xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại mới. Tuổi trẻ phải biết tôn trọng và làm theo các chuẩn mực đạo đức tốt đẹp trong xã hội. Biết tôn trọng và bảo vệ pháp luật. Nâng cao tinh thần trách nhiệm trước xã hội và tích cực xây dựng lối sống trong sạch, vững mạnh. Chỉ có một lối sống vững mạnh, nền tảng đạo đức chắc chắn mới giúp con người vượt qua cám dỗ, trở thành người tốt đẹp. Tuổi trẻ nên tham gia học tập, nâng cao tri thức và kĩ năng sống tốt đẹp của bản thân. Tích cực tham gia các chương trình thiện nguyện của xã hội. Bồi dưỡng tình cảm và tình yêu thương con người. Hãy lấy gia đình, dân tộc và đất nước làm điểm tựa để vươn mình ra với thế giới. Hãy sống vì cộng đồng. Bởi vì chính cộng đồng là nguồn sống, nguồn sinh dưỡng giúp ta lớn lên, trưởng thành và thành công. Con cái luôn là một phần hết sức quan trọng. Vì vậy, gia đình phải chú trọng giáo dục con cái về nhân cách, nhân phẩm. Định hướng hành vi, ứng xử của con cái theo những chuẩn mực tốt đẹp của dân tộc. Cha mẹ phải nêu gương sáng để con cái noi theo. Hãy lấy những tấm gương sáng về đạo đức và sự thành công trong xã hội làm bài học giáo dục để con. Lấy cái tốt, cái mẫu mực hình thành và phát triển những đức tính tốt cho con cái. Hạn chế cho con cái tiếp xúc với cái xấu, cái ác, cái phản văn hóa. Đề cao cái tốt đẹp, cái hữu ích trong cuộc sống. Cha mẹ hãy lắng nghe và đáp ứng những nguyện vọng chính đáng của con cái. Đôi khi, sự cấm đoán của cha mẹ chính là nguyên nhân gây nên sự vô cảm của con người. Hãy cho các em cơ hội để thể hiện mình và định hướng các hành động theo hướng đúng đắn, tích cực. Mỗi sự trừng phạt phải có lí do. Hãy dạy cho các em lòng biết ơn, biết kính trọng và quý trọng tình cảm của người khác dành cho mình. Hãy khuyến khích hoặc cùng con cái tham gia các hoạt động cộng đồng để gắn kết tình thân. Hoạt động xã hội giúp các em phát triển khả năng giao tiếp và tình cảm cộng đồng. Hãy giáo dục con cái biết phân biệt điều phải trái, sống công bằng. Quyết liệt chóng lại cái bất công trong xã hội nếu có thể. Văn hóa gia đình chính là cội rễ của nhân cách. Nó là nguồn sống quyết định nhân cách và hành vi của con người sau này. Có làm được như vậy, chúng ta mới hi vọng cái xấu, cái ác, cái vô cảm trong xã hội bị đẩy lùi, không còn trong cuộc sống này nữa. Đối với nhà trường và xã hội: Phải biết tôn trọng khát vọng sống đẹp của con người, nhất là giới trẻ. Một nhà tâm lí học cho rằng giới trẻ ngày nay không những mong muốn sống tốt mà còn muốn sống tốt hơn nữa. Khát vọng sống đẹp là khát vọng chính đáng của con người. Tuy nhiên, sự mất định hướng của nhà trường trong việc giáo dục lối sống cho học sinh hiện nay khiến các bạn trẻ cô đơn, lạc lõng trong hành trình tìm kiếm tương lai. Trách nhiệm của nền giáo dục và toàn xã hội là phải mau chóng xác định những chuẩn mực đạo đức tiến bộ, phù hợp trong thời đại mới, biểu dương các tấm gương tiêu biểu, tạo động lực phát triển chung cho toàn xã hội. Nhà trường đóng vai trò chủ chốt trong việc giáo dục đạo đức, nhân cách, nhân phẩm và hành vi ứng xử của con người. Để làm được điều này, trước hết nhà trường phải xây dựng chiến lược giáo dục và hình thành nhân cách con người trong thời đại mới. Từ đó, làm cơ sở để tiến hành các hoạt động giáo dục có định hướng cụ thể. Trong dạy học, nhà trường phải lấy nhiêm vụ giáo dục đạo đức làm nền tảng. Đồng thời, giáo dục con người toàn diện, đáp ứng các yêu cầu của xã hội làm mục đích cần hướng tới. Trong chương trình giáo dục, phải hạn chế nói nhiều về các hiện tượng tiêu cực để tránh tâm lí bắt chước của học sinh. Hãy đề cao đạo đức, đề cao các tấm gương sáng. Mỗi thầy cô nên là một tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Lấy cái đẹp, cái thiện để lấn át cái xấu, cái ác trong nhận thức mỗi học sinh. Có làm được như vậy, chúng ta tin rằng nhà trường sẽ là môi trường tốt nhất để rèn luyện. Là nơi tốt nhất để hình thành, phát triển và kiện toàn đạo đức của con người. Các cơ quan chức năng phải mạnh tay trấn áp tội ác hoặc nhanh chóng giải quyết vụ việc sớm đem lại công bằng cho xã hội, củng cố niềm tin của con người vào sức mạnh của luật pháp và pháp chế nhà nước. Kết bài: Một trái tim vô cảm chẳng khác nào một trái tim đã chết. Thậm chí còn đáng sợ hơn cái chết. Một xã hội vô cảm sớm muộn gì cũng đi đến sự tự hủy diệt. Hãy sống biết yêu thương, sống chân thành và độ lượng. Hãy mở rộng trái tim đón nhận yêu thương của nhân loại. Hãy cho đi thật nhiều tình yêu thương để tìm kiếm sự bình yên trong chính cuộc sống này. Cuộc sống không phải lúc nào cũng công bằng. Cũng không phải lúc nào lợi ích cũng dành cho riêng mình. Không phải lúc nào lòng tốt cũng được đền đáp. Nhưng có một điều chắc chắn ai biết sống vì người khác, sống bao dung, độ lượng, nhân ái, thân tình thì sẽ luôn được nhận lại những điều tốt đẹp. Cuộc sống thêm ý nghĩa, tâm hồn được bình yên, hạnh phúc nếu biết vì người khác mà hành động. Bài viết liên quan: Nghị luận: Nguyên nhân của hiện tượng vô cảm trong xã hội ngày nay
Giải pháp khắc phục hiện tượng vô cảm
1,303
Giải thích bài ca dao Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn Hướng dẫn Giải thích bài ca dao Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn Người Việt Nam ta có một truyền thống rất quý báu, đó là tinh thần tương thân tương ái “lá lành đùm lá rách”, tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau “thương người như thể thương thân”. Truyền thống ấy đã trở thành đạo lí của dân tộc, được thể hiện trong tục ngữ, ca dao. Câu ca dao giàu hình ảnh dưới đây bắt đầu từ nguồn mạch ấy: Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn, Nói đến lòng yêu thương lẫn nhau, đoàn kết với nhau, câu ca dao trên đã đưa ra hai hình ảnh so sánh giàu sức biểu cảm: “bầu” và “bí”. Bầu và bí tuy là giọng khác nhau nhưng được trồng chung trên một mảnh đất, bắc chung một giàn tre. Chúng thường có chung môi trường, điều kiện sống. Chính vì vậy chúng càng gần gũi, thân thiết với nhau. Bầu thân mềm, bí cũng thân mềm. Bầu phải tựa vào giàn mới phát triển được. Bí cũng như thế. Chung một giàn còn có nghĩa là bầu và bí tựa vào nhau, tựa vào giàn. Giàn đổ thì bầu gặp tai vạ, bí cũng gặp tai vạ. Bầu và bí cùng chung một số phận. Vì thế bầu chớ chê bí xấu, bí cũng không nên chê bầu hoa trắng không được duyên rồi ghét bỏ, xa cách nhau. Vì sao bầu bí khác giống nhau mà vẫn phải thương yêu nhau? Nhân dân đưa ra lý do “chung một giàn”. Chung một giàn là chung nhau địa điểm, chung nhau không gian. Bầu và bí cũng chịu mưa, chịu nắng, cùng sống chung bằng những tấc đất bạc màu hay trù phú, cùng được tưới những dòng nước mát hay cùng chịu những ngày hạn hán. Như vậy cảnh ngộ của chúng không khác gì nhau. Lẽ nào một mình bầu tươi xanh khi bí thì khô héo? Bầu thương bí cũng chính là thương mình, bí có sống thì bầu mới sống. Nếu bí cỗi cằn thì bầu cũng chẳng tươi xanh. Hình ảnh cái giàn của bầu và bí chung nhau gợi cho người ta liên tưởng đến một đất nước, một tỉnh, một huyện, một vùng quê, một xã, một làng. Cùng có thể đó là một trường, một lớp học hay một xưởng máy, một cửa hàng. Bầu hãy thương lấy bí hay là những người gần gũi trong một đơn vị tổ, nhóm hãy đoàn kết gắn bó và yêu thương nhau. Không ai có thể sống đơn lẻ một mình, không có mối liên hệ nào với những người khác. Ai cũng có quê hương nghĩa là có những người đồng hương chung làng, chung xóm. Ai cũng phải làm việc nên cũng có những người đồng nghiệp. Khi còn bé đi học, bạn bè cùng lứa tuổi cùng chung trường lớp, thầy cô. Chính những nét chung nhất ấy của họ đã giúp họ gắn bó với nhau hơn. Nhờ đó họ càng hiểu nhau, cảm thông cho nhau và giúp đỡ nhau, nhường nhịn nhau. Nhất định cuộc sống sẽ đẹp hơn nếu mọi người đều quan tâm, yêu quý nhau. Vì vậy lòng yêu thương, tinh thần đoàn kết, chia sẻ, nhường nhịn nhau là đức tính, phẩm chất quí báu cần có ở mỗi người. – Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng – Khôn ngoan đối đáp người ngoài Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau Thực tế đã chứng minh sự đoàn kết gắn bó của nhân dân ta mồi khi có giặc ngoại xâm. Trong những trận chiến đấu ấy, tình thương yêu, đoàn kết đã làm cho dân tộc ta có sức mạnh chiến thắng. Từ miền ngược tới miền xuôi, từ Bắc chí Nam, từ cụ già đến trẻ em ai ai cũng đồng lòng giết giặc cứu nước. Bởi vì họ đều là dân của đất nước Việt Nam cùng chịu chung nỗi khổ mất nước, chịu chung ách nô lệ. Chính vì vậy mà nhân dân ta đã đoàn kết, yêu thương nhau, cùng nhau chiến thắng kẻ thù. Hiện nay đất nước ta đã thống nhất nhưng không phải mọi miền đều giàu có như nhau. Cuộc sống của mọi người cung khác biệt. Có những người quanh năm làm lụng vất vả nhưng không sao đủ cái ăn, cái mặc. Lại có những người rất giàu sang, đầy đủ. Theo truyền thống yêu thương của dân tộc, cần phải giúp đỡ người nghèo xóa đói giảm nghèo. Những người giàu có giúp người nghèo vay vốn làm ăn, góp tiền ủng hộ quỹ từ thiện chính là thể hiện tinh thần “lá lành đùm lá rách”, truyền thống nhân ái “nhường cơm sẻ áo” của cha ông. Nếu không giúp đỡ, nương tựa vào nhau như vậy làm sao con người có thể đồng đều vươn lên trong cuộc sống?
Giải thích bài ca dao Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
860
Đề bài: Em hãy viết bài văn giải thích bài ca dao: Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Bài làm Người Việt Nam ta rất coi trọng tình cảm gia đình. Có nhiều bài ca dao, dân ca nói về tình cảm gia đình thiêng liêng. Tiêu biểu nhất là bài ca dao quen thuộc đã trở thành lời ru của bà, của mẹ tự bao đời: Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Bài ca dao trên đã đưa ra những hình ảnh kì vĩ, vĩnh hằng để so sánh với công lao to lớn của cha mẹ và chỉ có những hình ảnh ấy (núi Thái Sơn, nước trong nguồn) mới diễn tả nổi. Núi Thái Sơn là ngọn núi cao nổi tiếng ở Trung Quốc, tượng trưng cho những điều lớn lao, vĩ đại trong cuộc đời. Khi so sánh Công cha như núi Thái Sơn, nhân dân ta muốn nhấn mạnh công lao của người cha trong việc nuôi dạy con cái. Còn hình ảnh nước trong nguồn chảy ra được dùng để khẳng định tình yêu thương vô hạn của người mẹ. Đi sâu tìm hiểu bài ca dao, chúng ta sẽ ngạc nhiên trước chi tiết tinh tế, sâu sắc này. Nhà thơ dân gian xưa đã nắm vững đặc điểm tâm lí, cách biểu hiện tình cảm của cha mẹ và sự cảm nhận của các con, trên cơ sở đó mà chọn chữ và hình ảnh so sánh cho thích hợp. Vì thế chữ công hướng về phía cha, chữ nghĩa hướng về phía mẹ. Hai hình ảnh tương phản là núi và nước phản ánh đúng vai trò và vị trí của cha và mẹ đối với con cái và đều là những hình ảnh tượng trưng cho sự lớn lao, vô tận. Cha mẹ cũng là người nuôi dưỡng các con từ khi mới chào đời cho đến lúc thành người. Mẹ nuôi con bằng dòng sữa ngọt lành. Cha mẹ thay nhau chăm sóc mỗi khi con trái gió trở trời. Cha mẹ ra sức làm lụng để nuôi các con khôn lớn. Từ lúc con còn là một hình hài nhỏ xíu cho đến khi biết đi, biết nói, biết đi học, biết nấu cơm, quét nhà … cho tới lúc biết làm lụng để tự nuôi thân… thời gian đằng đẵng mười tám, hai chục năm trời, đâu phải là chuyện ngày một ngày hai. Khỉ con cái trưởng thành cũng là lúc cha mẹ già yếu. Cha mẹ đã dành cho đàn con tất cả tâm huyết và sức lực của mình. Công lao ấy kể sao cho xiết! Cha mẹ không chỉ nuôi các con khôn lớn mà còn dạy dỗ các con nên người. Cha mẹ dạy con bằng chính những lời nói, việc làm của mình, bằng hiểu biết về cách cư xử, về đạo làm người… Đến khi đi học, các con sẽ được thầy cô dạy dỗ được người đời khuyên nhủ, nhưng cha mẹ vẫn là người thầy đầu tiên, người thầy gần gũi và yêu thương nhất. Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Đạo con là bổn phận, trách nhiệm, là đạo đức của con cái. Con cái phải bày tỏ lòng biết ơn cha mẹ qua thái độ nâng niu, kính mến, chăm sóc cha mẹ. Chữ hiếu phải được thể hiện cụ thể qua lời nói, hành động xứng với đạo làm con. Trong dân gian lưu truyền nhiều câu chuyện cảm động về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ (Nhị thập tứ hiếu), mà tiêu biểu là nàng Cúc Hoa dắt mẹ đi ăn mày, trong cơn đói khát ngặt nghèo đã cắt thịt ở cánh tay mình để mẹ ăn cho đỡ đói. Đó là cách nói cường điệu để nêu gương hiếu thảo trong những cảnh ngộ đặc biệt, còn trong cuộc sống bình thường, lòng biết ơn cha mẹ được thể hiện qua lời ăn, ý ở. Đó là cốc nước mát mà người con trao tận tay khi cha mẹ vừa đi làm về nắng nôi, mệt nhọc; là viên thuốc, bát cháo nóng săn sóc cha mẹ lúc ốm đau; là sự cảm thông với hoàn cảnh khó khăn của cha mẹ, không đua đòi ăn diện quần nọ, áo kia… Quan trọng nhất là chúng ta phải cố gắng học tập, rèn luyện để trở thành con ngoan, trò giỏi, thành niềm vui, niềm tự hào của cha mẹ. Kính yêu cha mẹ là tình cảm tự nhiên. Bổn phận, trách nhiệm và lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ là thước đo phẩm chất đạo đức của mỗi người. Bài ca dao trên được lưu truyền từ đời này sang đời khác và mãi mãi như một lời khuyên nhủ, nhắc nhở con cái phải hiếu thảo với cha mẹ.
Giải thích bài ca dao Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
848
Giải thích bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” Hướng dẫn Giải thích bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” Bài làm Ca dao tục ngữ là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam. Nó là tấm gương phản chiếu những tâm tư tình cảm đời sống của người dân lao động trong thời kỳ xưa. Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con Bài ca dao này cho chúng ta thấy công lao tựa như trời biển của cha mẹ dành cho mỗi người con của mình. Dạy chúng ta đạo làm con phải giữ tròn bổn phận, hiếu kính với cha mẹ của mình đó mới là việc làm đúng đắn, đúng đạo đức bổn phận làm người trong xã hội. Mỗi chúng ta ai sinh ra cũng đều có cha mẹ của mình. Cha mẹ đã cho chúng ta hình hài, cho chúng ta cơm ăn áo mặc, chăm sóc chúng ta từ chỗ còn nằm nôi. Một đứa trẻ ngây ngô không biết gì trở thành người lớn mạnh tài giỏi trưởng thành. Nuôi dưỡng chúng ta cho chúng ta nên vóc nên hình, khi chúng ta trưởng thành thì phải có trách nhiệm báo đáp công lao sinh thành dưỡng dục của cha mẹ mình đó chính là đạo hiếu làm con.. Bài ca dao được chia làm hai phần rõ ràng. Phần một chính là hai câu đầu thể hiện công lao to lớn của cha mẹ chúng ta Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Núi Thái Sơn là ngọn núi cao nhất nhì nước ta. Một ngọn núi hùng vĩ, lớn mạnh. Người xưa ví công cha cao tựa núi thể hiện những gì mà cha dành cho chúng ta. Người cha là người đàn ông người trụ cột trong gia đình thường phải gánh vác những việc nặng nhọc, làm lụm vất vả để kiếm tiền mưu sinh cho cả gia đình. Chính vì vậy, để chúng ta trưởng thành lớn mạnh như hôm nay thì cha chúng ta đã phải đổ nhiều mồ hôi công sức làm việc vất vả mới có thể cho chúng ta một cuộc sống tốt đẹp Nghĩa mẹ tựa nhưng nước trong nguồn. Một loại nước không bao giờ cạn, không bao giờ hết được. Nước trong nguồn vừa mát vừa ngọt tình mẹ tựa như dòng suối ngọt ngào che chở, nâng niu chúng ta, từ khi chúng ta còn nằm trong bụng mẹ, rồi mẹ phải sinh ra khó nhọc, nuôi nấng chăm lo từ lúc còn bé bỏng đỏ hỏn nằm nôi. Chúng ta không biết gì chỉ biết đói thì khóc, để mẹ cho bú cho ăn, thay tã thay bỉm… Trong hai câu tiếp theo bài ca dao muốn nhắn nhủ tới con cháu hiếu đạo của phận làm con thì cần phải làm gì cho cha mẹ mình khi chúng ta đã trưởng thành: Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Hai câu ca dao này ông bà ta dạy chúng ta phải một lòng hiếu nghĩa thờ kính cha mẹ, giữ tròn phận đạo làm con, Đạo là phải hoàn thành chữ hiếu. Hiếu thuận, biết cư xử với cha mẹ sao cho yêu thương kính trọng, không được quên công lao cho mẹ đã sinh thành dưỡng dục mình. Công lao cha mẹ nuôi lớn chúng ta to lớn như trời biển. Chúng ta được cha mẹ mình sinh ra nuôi dưỡng trưởng thành. Con người ai cũng được học những điều hay lẽ phải nên chúng ta phải hiểu được đạo nghĩa làm con. Không nên cãi lại lời cha mẹ, làm cha mẹ buồn lòng cần phải chăm ngoan học giỏi. Khi chúng ta trưởng thành thì cha mẹ già yếu sức lao động mất dần, mắt mờ chân chậm phận làm con phải hiếu kính, phụng dưỡng cha mẹ chăm sóc cha mẹ như khi chúng ta còn nhỏ cha mẹ đã chăm sóc ta. Biết bao gia đình con cái cho cha mẹ vào viện dưỡng lão hoặc đuổi ra khỏi nhà để chiếm đất đai nhà cửa. Những đứa con nghịch tử này sẽ gặp bất hạnh vì quên đi công lao của cha mẹ khi họ còn nhỏ. Bài ca dao trên muốn gửi gắm tới những con cháu mai sau về việc ghi nhớ báo đáp công lao nuôi dưỡng chăm sóc của cha mẹ khi cha mẹ về già. Với lối viết so sánh ví von vô cùng cân xứng, thể hiện sự truyền cảm gây được sự xúc động với người đọc.
Giải thích bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
800
Giải thích bình luận câu nói Sự làm việc tránh cho ta ba cái tật lớn: Tật xấu, nỗi buồn và nghèo túng Hướng dẫn Giải thích bình luận câu nói Sự làm việc tránh cho ta ba cái tật lớn: Tật xấu, nỗi buồn và nghèo túng Sống ở trên đời, ai công phải làm việc. Đó là một sự thật hiển nhiên. Nhưng hiểu cho hết ý nghĩa của sự làm việc, không phải ai cũng biết. Nhà văn, nhà tư tưởng Von-te người Pháp đã giúp ta có một cái nhìn toàn diện về vấn đề này. Ông nói; “Sự làm việc tránh cho ta ba cái hại lớn: tật xấu, nỗi buồn và cảnh nghèo túng”. Chúng ta hãy cùng làm sáng tỏ ý kiến của Von-te. Làm việc là một hoạt động liên tục, ít nhiều có sự cố gắng, nhằm đạt một kết quả có ích nào đó. Như vậy, sự làm việc đòi hỏi con người tham gia phải có sự nỗ lực nhất định. Có thể đó là sự nỗ lực về mặt vật chất: bỏ công, bỏ sức ra. Có khi đó là sự nỗ lực về mặt tinh thần: bỏ tâm trí, suy nghĩ tính toán. Có khi lại bỏ cả công sức vật chất lẫn tâm trí suy nghĩ mới có thể hoàn thành được công việc. Xã hội càng phát triển càng đòi hỏi sự cố gắng toàn diện, nhiều mặt của con người trong công việc. Làm vườn, làm ruộng đương nhiên là phải bỏ sức làm đất, cày sâu, cuốc bẫm. Nhưng nếu không biết ứng dụng những tiến bộ khoa học để tính toán xem mảnh đất cằn được sử dụng như thế nào cho có hiệu quả cao, năng suất lớn thì làm sao vàng cầm tay ngay trên mảnh đất đầy kẽm gai và mìn trái như anh Cao Trường Sơn ở Bình Chánh. Hay như anh Lê Văn Hai ở phường 4, quận 8 đã làm giàu ngay trên mảnh đất ngập mặn. Hay như anh Nguyễn Văn Được ở ấp Thống Nhất xã Tân Thới Nhì, Hóc Môn đã trở thành triệu phú từ 5 công đất loại xấu, hạng 6. Cha ông chúng ta đã nói thật chí lí “nhàn cư vi bất thiện”. Con người vốn năng động. Con người càng trẻ, sức lực càng dồi dào thì lại càng đòi hỏi hoạt động nhiều hơn. Nếu hướng được hoạt động đó và một mục đích tốt đẹp, cao cả thì con người và xã hội sẽ gặt hái được kết quả mĩ mãn. Còn nếu mất phương hướng bởi không có việc làm có ích, hoặc bởi “nhàn cư”, sống không có việc gì để làm, thì cái sức tràn ứ trong người sẽ thôi thúc người ta phải “bung” nó ra, phải làm một cái gì đó chợt nảy sinh hoặc bắt chước những kẻ “nhàn cư” khác trong các trò vô bổ, có khi lại có hại cho xã hội, cho mọi người – những trò bất thiện. Cứ điểm mặt những thanh niên tham gia vào các nhóm đua xe tụ tập quanh các tụ điểm nhậu nhẹt, quậy phá nơi công cộng có ai là người có công ăn việc làm đàng hoàng? Nếu còn ở tuổi cắp sách đến trường, thì có học sinh nào trong số đó học được chứ đừng nói gì đến học khá, học giỏi? để thỏa mãn cuộc sống trác táng, ăn chơi mà lại ngại làm những công việc lương thiện. Chính vì vậy mà Nhà nước ta đã cải tạo họ bằng cách dạy và đem đến cho họ có một công việc làm lương thiện. Công việc giúp họ xa lánh những thói xấu tật hư. Công việc đã làm cho họ không còn những thời gian nhàn rỗi vô vị đe nỗi buồn phiền có thể phát triển. Thực tế cuộc sống đã chứng minh tính đúng đắn của việc cải tạo con người này. Có không ít những thanh niên đã một thời hư hỏng, nhờ có được một nghề sau thời gian học ở trường cải tạo đã trở về với đời thường, có người còn tích cực tham gia vào công việc cải hóa những người còn lầm lạc như anh Tài, anh Sang ở,phường 14, quận 5. Trường, phục hồi nhân phẩm là một trường cải tạo những chị em làm nghề buôn phấn bán hương, thực chất là trường dạy nghề cho những chị em không có phương tiện kiếm sống một cách chính đáng. Cũng cần nói thêm là đồng tiền mà người ta kiếm được từ công việc chính đáng, từ việc đổ mồ hôi, đổ công sức để có được lại còn một tác dụng giúp người ta biết cách tiêu xài hợp lí.
Giải thích bình luận câu nói Sự làm việc tránh cho ta ba cái tật lớn_ Tật xấu, nỗi buồn và nghèo túng
800
Giải thích bình luận câu tục ngữ Anh em như thể tay chân … Hướng dẫn Giải thích bình luận câu tục ngữ Anh em như thể tay chân … Người Việt Nam đã từ lâu đời rất coi trọng tình gia tộc. Anh em trong nhà phải sống hòa thuận, yêu thương nhau. Đó là đạo đức, là tình cảm mà ai công phải quan tâm. Từ xưa đã có bao lời khuyên dạy, lời ca, điệu ru của người đi trước nhằm xây dựng cuộc sống gia đình đầm ấm, thuận hòa. Một trọng những câu ca dao thể hiện lời răn dạy trên là: Anh em như thể tay chân Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần Câu ca dao đã dùng hình ảnh so sánh để khẳng định tình cảm khăng khít giữa anh và em trong gia đình. Vật được đem ra so sánh là tay và chân trong cơ thể con người. Tay và chân là hai bộ phận của một cơ thể có quan hệ khắng khít với nhau, hỗ trợ cho nhau. Tay và chân giúp con người có khả năng lao động để làm ra của cải vật chất. Nếu mất một trong hai bộ phận trên thì con người khó hoạt động và khả năng hoạt động bị giảm bớt. Điều này rõ ràng cho thấy sự cần thiết của cả tay lẫn chân đối với cơ thể của con người. Anh em trong gia đình cũng vậy, đều sống chung trong một mái nhà, cùng lớn lên trong mối quan hệ tình cảm gắn bó với nhau. Anh có thể giúp em và, ngược lại, em có thể giúp anh. Mối quan hệ đó giống như mối quan hệ giữa tay và chân. “Rách” tượng trưng cho cuộc sống khó khăn, khổ sở. “Lành” tượng trung cho hoàn cảnh sống thuận lợi, sung túc. Ở đây dù trong hoàn cảnh nào “rách” hay “lành” cũng đều phải đùm bọc lấy nhau. Đó là lời khuyên về cách cư xử của anh em trong một gia đình, trong mọi hoàn cảnh khác nhau. Lúc đói, khi no, lúc sung sướng, khi thiếu thốn… hoàn cảnh có thể thay đổi nhưng đã là anh em thì lúc nào cũng phải yêu thương nhau đùm bọc lẫn nhau. Tình cảm thiêng liêng này không có lí do nào, tình huống nào làm thay đổi được. Tình anh em mãi mãi thắm thiết. Câu ca dao nêu lên một vấn đề đạo đức, đồng thời cũng là vấn đề tình cảm – tình anh em. Trong gia đình, anh em đã từng sống chung với nhau từ thuở bé. Đến lúc lớn lên, dù mỗi người có bận bịu vì cuộc sống, vì gia đình riêng thì cũng phải giữ mãi tình cảm cao đẹp đó. Dù hoàn cảnh có khác nhau, người sống sung sướng, hạnh phúc, người sống nghèo khổ đói nghèo thì anh em vẫn phải quan tâm, săn sóc cho nhau. Giữ mãi tình cảm tốt đẹp ấy là bổn phận của mỗi người con trong gia đình. Yêu thương hòa thuận với nhau là đạo đức, là nhân cách của con người. Gia đình nào có được anh em biết yêu thương, đùm bọc cho nhau là gia đình đó có hạnh phúc. Những thiên tai lũ lụt đã gây biết bao tang thương đói khổ cho dân lành, nếu không có tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau, tình anh em một nhà, một nước, thì liệu đất nước ta, dân tộc ta đứng dậy nổi không? Trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, nhân dân ta đã có sự “đùm bọc” đỡ đần để tiếp thêm sức mạnh chiến thắng kẻ thù. Tình anh em là một quan hệ tình cảm mà ai ai cùng cần. Vì thế, câu ca dao trên có ý nghĩa to lớn vô cùng. Nó là bài học đạo đức được diễn đạt bằng hình ảnh thật gần gũi và hàm súc. Ngoài việc giáo dục tình cảm anh em trong gia đình, câu ca dao còn khuyên nhủ mọi người trong xã hội phải biết thương yêu nhau, giúp đỡ nhau. Câu ca dao đã nêu lên một vấn đề có ý nghĩa lớn đối với mỗi người: phải biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay khi ngày càng diễn ra nhiều sự việc đau lòng về mối quan hệ gia đình. Ngày nay, mỗi người đọc câu ca dao trên cần suy ngẫm để hiểu cho hết ý nghĩa của nó, để sống đẹp hơn theo như lời khuyên nhủ của cha ông.
Giải thích bình luận câu tục ngữ Anh em như thể tay chân …
771
Giải thích bình luận câu tục ngữ Không thầy đố mày làm nên Hướng dẫn Giải thích bình luận câu tục ngữ Không thầy đố mày làm nên Số là thứ bảy vừa qua thầy cho chúng tôi một đề lập làm văn với điều kiện là bài này sẽ do tự chúng tôi làm lấy một cách độc lập. Đã một tiếng đồng hồ trôi qua thế mà giấy trắng vẫn hoàn giấy trắng. Không vặn ra được chữ nào cho nó hay ho, tôi cố đọc, đọc từ từ và ngẫm nghĩ thế mà vẫn chưa tìm được cái ý. Bây giờ tôi mới thâm thía câu tục ngữ: “Không thầy đố mày làm nên”. Tôi cảm thấy thinh thích nó ở cái tính ngắn gọn hàm súc ấy, nó còn chinh phục tôi bởi từ “mày” mang đậm tính dân gian làm cho câu tục gần gũi hơn, đọc nghe êm tai hơn, dễ gây ấn tượng cho người đọc. Có một điều mà chúng ta ai cũng thấy là ca dao hay tục ngữ ra đời, bất kì câu nào cũng vậy thường thì nội dung của nó nêu lên một kinh nghiệm và hướng người ta tới một cách sống sao cho đẹp, cho có ý nghĩa. Và ý nghĩa sâu xa của nó thường được hiểu theo nghĩa bóng. Câu tục ngữ này cũng vậy. Nếu chúng ta nhìn nhận nó dưới góc độ của nghĩa đen thì chúng ta chỉ nghĩ rằng nội dung của nó là đề cao việc học tập và vai trò của người thầy. Phải có thầy chỉ bảo người học sinh mới có thể làm nên sự việc. Nhưng ý nghĩa của nó còn được hiểu rộng hơn cơ. “Thầy” ở đây không phải chỉ đơn thuần là người dạy văn hóa ở trường mà là tất cả những dạy bảo ta về nhân cách về cuộc đời, đã có công truyền đạt kinh nghiệm hiểu biết cho chúng ta. “Học” ở đây không phải là học chữ mà là học toàn diện. “Mày” là người được chỉ bảo, được dìu dắt. Đó là ý kiến của câu tục ngữ. Chúng ta hãy xem nó có đúng và phù hợp không? Kiến thức kinh nghiệm dù lớn hay nhỏ, dù thế nào đi chăng nữa thì nó không phải tự nhiên mà có, phải được đúc kết từ nhiều năm. Không có thầy, không có người đi trước chỉ bảo thì không ai có thể trau dồi cho mình một lượng kiến thức để mình phát triển thành một người toàn diện. Như cô học trò trong truyện Người thầy đầu tiên chẳng hạn. Nếu không có thầy Đuy-sen đầy nhiệt tâm và quả cảm đó thì cô đâu trở thành một người toàn diện như thế. Cô đâu hiểu biết thế giới quanh mình, dù cô thông minh thật đấy. Người thầy ấy bằng cả sự hi sinh và máu của mình để chuẩn bị tương lai cho một cô học trò. Dù người ấy có thông minh đến thế nào đi chăng nữa thì họ vẫn không thể phủ nhận rằng thành tựu mà họ đạt được là không có vai trò của người thầy. Và đó dường như là quy luật. Thành tựu càng lớn thì vai trò người thầy càng được thể hiện rõ nét và cao hơn. Chúng ta có thể thấy được điều này qua tiểu sử và những gì mà các nhà bác học đã để lại. Không ai có thể bác bỏ rằng các nhà bác học như Niutơn – người đã tìm ra những phát minh vĩ đại hay Laibơnit – người khởi xướng ra máy tính điện tử hiện đại ấy không phải là thiên tài. Nhưng, họ không thể một mình đi đến thành tựu của mình mà không có sự chỉ dẫn của những người đi trước. Đặc biệt là thầy của họ rất giỏi nữa là khác. Chúng ta không thể tìm thấy một ví dụ nào để có thể phủ nhận vai trò của người thầy. Như Êđixơn, Gorki, Xi-ôn-côp-xki (người sáng lập ra công trình nổi tiếng nhan đề “Khảo sát không gian vũ trụ bằng những khí cụ phản lực”) hay Anderen, người kể chuyện cổ tích nổi tiếng của thế giới…. Tuy lúc nhỏ họ không được đến trường, nhưng nếu những cậu bé ấy không tìm tòi say mê đọc sách thì sự nghiệp ấy bao giờ mới đến với họ. Dù Andecxen học không giỏi lắm nhưng nếu không có sự chỉ dẫn giúp đỡ của một gia đình công chức ở thành phố thì ông cũng khó lòng vượt qua hoàn cảnh. Dù Êđixơn, Gorki là những người tự học nhưng họ vẫn không thoát khỏi nhận định của câu tục ngữ: Vì đọc sách là chịu một sự chỉ dẫn rồi. Và thường những nhân viên vĩ đại ấy lại là những ông thầy của các thế hệ kế tiếp. Như bác sĩ Tôn Thất Tùng ở nước ta chẳng hạn là một người thầy đáng kính. Hay Xi-ôn-côp- xki của Liên Xô cũ sau khi thi đỗ giáo học vào loại xuất sắc đã trở thành một thầy giáo của xứ Ca-lu-ga. Với trình độ ngày càng phát triển của khoa học ngày nay thì việc trang bị kiến thức đầy đủ, đòi hỏi sự hiểu biết cao là điều kiện cơ bản của sự phát triển xã hội. Và cũng là dịp để chúng ta tiếp thu những tinh hoa văn hóa của khoa học hiện đại. Bởi thế, chúng ta cần phải vực dậy những ý thức, những tình cảm tốt đẹp ấy. Đây là một việc làm thiết thực nhất mà chúng ta có thể góp phần bảo vệ truyền thống và phẩm chất tốt đẹp của mình nói riêng và cho cả dân tộc nói chung. Nói chung thì nhận định của câu tục ngữ hoàn toàn đúng tuyệt đối. Dường như không ai có thể thoát khỏi cái nhận định tinh tế và sâu sắc đó. Mặc đù thế, nếu chúng ta hiểu nó trong một nghĩa hạn hẹp thì câu tục ngữ có nguy cơ bị sa lầy, Bởi thế, vấn đề quan trọng là nhận thức của chúng ta. Phải nhận thức đúng để có hành động đúng.
Giải thích bình luận câu tục ngữ Không thầy đố mày làm nên
1,052
Đề bài: Để phê phán lối sống ích kỉ chỉ nghĩ đến mình người xưa đã có câu: Ăn cỗ đi trước lội nước theo sau. Giải thích bình luận câu tục ngữ Ăn cỗ đi trước lội nước theo sau để làm sáng tỏi ý kiến đó. I. DÀN Ý 1. Mở bài: – Trong cuộc sống, bên cạnh nhiều người lấy cống hiến cho dân, cho nước làm niềm vui thì còn có một số kẻ sống thực dụng, ích kỉ chỉ biết thu lợi cho riêng mình. – Phê phán lối sống đó, dân gian có câu: Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau. 2. Thân bài: a. Giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ: * Nghĩa hiển ngôn: – Vế 1: Ăn cỗ đi trước: sẽ được xếp ngồi chỗ tốt, ăn nhiều món ngon. – Vế 2: Lội nước đi sau: để tránh được chỗ nguy hiểm mà người đi trước đã gặp phải. * Nghĩa hàm ngôn: – Khi hưởng thụ thì có mặt trước để giành quyền lợi về mình càng nhiều càng tốt. – Khi cảm thấy có sự bất trắc, không thuận lợi cho bản thân thì né tránh, đùn đẩy phần vất vả, hiểm nguy cho người khác b. Bình luận: * Có thể bình luận câu tục ngữ trên theo hướng như sau: – Là quan điểm sống thực dụng của những kẻ cơ hội, ích kỉ. – Chỉ muốn giành thuận lợi về mình, đẩy khó khăn vất vả, thậm chí hiểm nguy cho người khác, đó là cách sống đi ngược lại đạo lí dân tộc. * Quan điểm sống đúng đắn nhất: – Là quan điểm Bác Hồ đã dạy: Mình vì mọi người, mọi người vì mình. – Coi làm việc, công hiến cho gia đình, xã hội là niềm vui, là hạnh phúc của bản thân. – Biết gắn quyền lợi cá nhân với quyền lợi của cả cộng đồng. – Nếu ai cũng có quan điểm sống đúng đắn như trên thì những thái độ sông ích kỉ, tiêu cực sẽ bị đẩy lùi; xã hội sẽ ngày càng tốt đẹp hơn. 3. Kết bài: – Khẳng định quan điểm Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau là quan điểm sống cá nhân, ích kỉ. – Thái độ của chúng ta là phê phán, lên án. – Mỗi người cần xây dựng cho mình một quan điểm sông đúng đắn để trở thành người hữu ích cho gia đình và xã hội.
Giải thích bình luận câu tục ngữ Ăn cô đi trước lội nước theo sau
397
Giải thích bình luận lời dạy: Có học phải có hạnh Hướng dẫn Giải thích bình luận lời dạy: Có học phải có hạnh Xã hội đang trên đà phát triển, đất nước ta đang thời kì mở cửa. Bởi thế sự hiểu biết, trình độ khả năng chuyên môn rất cần cho mọi người; đồng thời hạnh kiểm, đạo đức cũng là yếu tố rất quan trọng cho việc xây dưng xã hội chủ nghĩa thành công tốt đẹp. Mối quan hệ giữa, học vấn và hạnh kiểm một lần nữa được nhân mạnh qua câu tục ngữ: Có học phải có hạnh. Lời dạy trên dạy ta điều gì? “Học” là sự hiểu biết, là vốn kiến thức của mỗi con người, Con người có học là người biết suy nghĩ, có nhận thức, có hiểu biết. “Hạnh” là hạnh kiểm, là phẩm chất đạo đức. Người có hạnh kiểm là con người có tư cách đúng đắn, đạo đức tốt. Do vậy, người có học thức cao cần phải có đạo đức, có hạnh kiểm tốt mới được. Từ lúc sinh ra tới lúc bập bẹ biết nói rồi đến khi tới trường ta đã được tập tành dạy dỗ nhiều bài học về đạo đức. Lớn lên, song song với việc học văn hóa, mở rộng kiến thức thì bài học làm người càng cao hơn nữa. Một người có văn hóa, có trình độ thì được mọi người kính nể. Nhưng nếu chỉ có kiến thức sâu rộng mà thiếu đạo đức, thiếu tư cách thì không những làm giảm bớt sự kính nể mà còn bị mọi người xa lánh, khinh thường. Làm người ở đời phải có học, cần am tường hiểu biết mọi vấn đề ngoài xã hội, đó là điều cần thiết cho mỗi chúng ta. Nhưng hạnh kiểm đạo đức của con người cũng không kém phần quan trọng. Nó là thước đo giá trị của con người. Chúng ta đồng ý rằng văn hóa là chìa khóa để mở các cửa khoa học kì thuật, là những viên gạch để xây dựng nền văn minh cho đất nước. Còn hạnh kiểm đạo đức cùng là tường thành để giữ vững, để bảo vệ nền độc lập, tồn tại của một thể chế quốc gia. Điều này càng khẳng định một chân lí “có học phải có hạnh” vì “học” và “hạnh”, “tài” và “đức” là hai yếu tố cần thiết cho mỗi con người. Một người vừa có học vừa có tài vừa có đạo đức, có tư cách tốt thì quả là người đáng quí, đáng cho mọi người nể phục mến yêu. Tóm lại, câu tục ngữ trên nêu rõ tầm quan trọng của học vấn và hạnh kiểm. Có được cả hai yếu tố trên ta sẽ trở thành người toàn diện. Đó là ta thực hiện tốt lời nhằc nhở của ông cha, đồng thời ta cũng góp phần tích cực vào việc xây dựng một đất nước phồn vinh tiến bộ.
Giải thích bình luận lời dạy_ Có học phải có hạnh
500
Giải thích bình luận lời dạy: Mùa xuân là Tết trồng cây, Làm cho đất nước càng ngày càng xuân Hướng dẫn Giải thích bình luận lời dạy: Mùa xuân là Tết trồng cây, Làm cho đất nước càng ngày càng xuân Bác nói: “Mùa xuân là Tết trồng cây”, theo em nghĩ không chỉ là trồng cây trong mấy ngày Tết, mà cả mùa xuân là Tết của việc trong cây. Chữ “Tết” cũng gợi lên một không khí sôi động, vui vẻ khi làm công việc này (người ta thường nói “vui như Tết” mà!). Bác Hồ đã biến một công việc vốn đã có ý nghĩa, lại càng co ý nghĩa khi gắn cho nó không khí của một Hội xuân – Hội trồng cây. Và từ những năm sáu mươi của thế kỉ này, Tết trồng cây đã trở thành một phong tục mới của ngày xuân dân tộc. Và Bác Hồ nói rõ mục đích của Tết trồng cây là “Làm cho đất nước càng ngày càng xuân. Từ “xuân” ở câu sau không giống như ở câu đầu, nó không chỉ mang ý nghĩa là một mùa trong năm, mà nó còn có ý nghĩa là tươi trẻ, là sức sống của đất nước; nhắc đến mùa xuân, người ta thường nghĩ tới một màu xanh. Chữ “xuân” trong câu thơ sau tuy không mang nghĩa là mùa xuân, nhưng cái xanh, cái đẹp của mùa xuân đều chứa đựng trong đó. Trồng cây, làm cho cây xanh tươi và nơi nào cũng có cây xanh tươi, thì đất nước sẽ xanh tươi, khắp nơi sẽ tràn đầy sự sống chứ không tàn lụi vì thiếu màu xanh. Chúng ta đã biết thế nào là đất nước xuân. Vậy thì tại sao trồng cây lại làm cho đất nước xuân? Trước hết là vì cây sẽ làm cho môi trường trong sạch. Ngày ngày chúng ta thở ra khí các-bo-nic, hít khí ô-xi còn cây xanh thì lai hút khí các-bon- nic, nhả khí ô-xi nhờ vậy mà con người cùng các loại động vật mới có thể tồn tại và phát triển. Cây còn như những cái máy hút bụi khổng lồ, làm việc âm ỉ, thầm lặng. Hàng ngày các nhà máy, các phương tiện giao thông, thải ra biết bao là bụi bặm. Cây giúp ta lọc phần nào những phế thải đó, lấy lại sự trong lành cho không khí quanh ta. Vào mùa mưa lo, bão dông, nếu không có những cây chắn gió, chắn nước lũ, thì biết bao nhà cửa ruộng vườn sẽ bị cuốn trôi, đánh sập. Những hàng cây như những bức tường vững chắc chắn gió bão, lụt lội, hạn chế những thảm họa khôn lường cho loài người. Chính vì thế, nếu không có cây xanh quanh tạ thì chúng ta khó có thể tồn tại một cách yên ổn và khỏe mạnh được. Chúng ta sẽ thiếu ô-xi để thở, không khí bị ô nhiễm sẽ bao trùm chúng ta, sóng bão sẽ nhân chìm và hủy diệt sự sống. Vì vậy, ngày nay vấn đề bảo vệ môi trường càng ngày trở nên rất cấp thiết đối với toàn nhân loại. Ba bốn chục năm trước Bác Hồ đã chăm lo đến điều này bằng việc hô hào toàn dân thực hiện Tết trồng cây, Bác quả là người có tầm nhìn xa, trông rộng…
Giải thích bình luận lời dạy_ Mùa xuân là Tết trồng cây, Làm cho đất nước càng ngày càng xuân
568
Giải thích bính luận: Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài Cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi Hướng dẫn Giải thích bính luận: Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài Cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi Sống ở trên đời không ai tự nhiên mà có được tài năng, tự nhiên trở thành con người hữu dụng cho xã hội được. Muốn, đạt được thành công đó, ta phải có một thời gian rèn luyện, phấn đấu tu dưỡng bản thân. Nhằm khuyên răn nhắc nhở con cháu phải biết tu dưỡng tính tình, biết khắc phục những thiếu sót để phát huy cái hay cái đẹp sẵn có ngày càng trở nên hoàn thiện, toàn mĩ hơn, ca dao ta có câu: Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài Cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi. Ta hiểu lời trên như thế nào cho chính xác? Lời ca dao đưa ra hình ảnh viên ngọc. Nói đến viên ngọc ta phải hiểu đây là đồ vật trang sức rất quí, có giá trị, đẹp lóng lánh. Nhìn vào ai cũng phải trầm trồ, ước muốn. Nhưng có ai biết đâu rằng trước kia nó chỉ là một viên đá thô sơ, tầm thường được người thợ mang về đục đẽo, mài gọt, giũa từng li từng tí mới được như vậy. Nếu như không có sự mài giũa công phu, không phải do bàn tay khéo léo của người thợ thì liệu viên ngọc đó có sáng chói, rực rỡ và có giá trị như thế không? Từ viên ngọc ta nghĩ đến con người cũng vậy. Ngay từ nhỏ nếu ta được sự giáo dục của cha mẹ, của nhà trường… thì ta đã tiếp thu những đức tính tốt để sau này ra đời ta sẽ là người tốt. Là con người ai cũng có thể là người tốt, “nhân chi sơ tính bản thiện”, nếu ta biết phát huy những cái thiện, khắc phục những cái xấu thì chắc chắn ta sẽ là người có phẩm chất cao đẹp. Phẩm chất, nhân cách nay ta phải tự rèn, sửa chữa một cách thường xuyên, chỉ cần chúng ta dừng lại một thời gian thì nó sẽ bị thói hư tật xấu che lấp đi, lúc đó liệu ta còn giữ được cái tốt đẹp trước nữa không? Tài năng của con người cũng vậy, đều phải do ta tập luyện. Mặc dù “thiên tài bẩm sinh” là do con người tự sẵn có, nhưng nếu ta biết bồi dưỡng, rèn luyện thêm cho tài năng ấy ngày càng tinh vi sắc sảo hơn thì tài năng kia sẽ vượt bậc, đáng trân trọng. Ngược lại, có được tài năng mà ỷ lại, coi thường không quan tâm chăm sóc rèn luyện thì một ngày nào đó tài năng kia cũng bị lụi tàn không ai sử dụng nữa. Người học sinh được trời phú cho tính thông minh, nếu biết phát huy tính thông minh ấy bằng cách chịu khó, siêng năng, học hỏi, nghiên cứu thêm sách vở, bạn bè… thì chắc rằng sẽ vươn cao hơn, như viên ngọc được mài giũa lấp lánh và sẽ được moi người yêu thích. Trái lại, nếu người học sinh thông minh kia lười biếng, coi thường không chịu khó học tập thì tính thông minh ấy sẽ lu mờ dần, thoái hóa, đôi khi còn trở nên ngu ngốc thua kém bạn bè, chẳng khác nào như viên ngọc không được mài giũa.
Giải thích bính luận_ Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài Cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi
580
Giải thích chứng minh câu nói Một quyển sách tốt là một người bạn hiền Hướng dẫn Giải thích chứng minh câu nói Một quyển sách tốt là một người bạn hiền “Sách mở ra trước mắt ta những chân trời mới”. Lời nhận định ấy quả không sai. Nếu thiếu sách báo thì cuộc sống ta sẽ buồn tẻ, hụt hẫng biết bao. Sách giúp ta rất nhiều trong quá trình học tập và rèn luyện, giúp ta giải đáp mọi thắc mắc, ưu phiền… Sách chẳng khác nào là người bạn của chúng ta. Cho nên khi bàn về ích lợi của sách, La Rocheftoucault có nhận định: “Một quyển sách tốt là một người bạn hiền”. Quả thật sách là một người bạn tinh thần rất kì diệu. Trong cuộc sống, bất cứ thời đại nào, bạn thì có bạn tốt, bạn xấu. Sách cũng, vậy, có sách tốt và sách xấu. Nếu ta đã từng được khuyên nên chọn bạn mà chơi thì câu nổi trên cũng có giá trị tương tự như thế: Phải chọn sách tốt mà đọc. Thế nào là sách tốt? Đó là loại sách giúp ta mở mang kiến thức hiểu biết về cuộc sống, về con người, về đất nước, về thế giới… không chỉ hôm nay mà cả quá khứ xa xưa cũng như hướng tương lai sắp tới. Còn bạn hiền là sao? Là người giúp đỡ, xây dựng hướng dẫn cho ta học điều hay lẽ phải. Như vậy một quyển sách tốt và một người bạn hiền có vai trò tương tự nhau. Thật vậy, sách tốt giúp ta học hỏi được nhiều điều hay nhiều điều mới lạ. Đó là kết quả của quá trình nghiên cứu lâu dài tìm tòi suy nghiệm có khi không phải của một người mà là của nhiều người, có khi không phải của một đời mà là của nhiều thế hệ nhất là những quyển sách thuộc lĩnh vực khoa học, y học, thiên văn, xã hội học, kinh tế học… Sách tốt giúp cho ta có một đời sống tâm hồn tốt đẹp, biết yêu ghét rạch ròi, biết phân biệt bạn và thù, biết thông cảm với niềm đau, nỗi bất hạnh của con người. Đọc tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Lão Hạc của Nam Cao, chúng ta hiểu được thân phận của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Số phận của người nông dân, nhất là người bần nông, dần dần hiện rõ trước mắt chúng ta qua từng trang sách. Chị Dậu chỉ vì một suất sưu của chồng mà phải bán đứa con gái thân yêu của mình. Trong cái xã hội phong kiến thời nô lệ ấy, con người bị đánh thuế như thuế con vật, thuế hàng hóa… Còn cảnh đói nghèo của lão Hạc cũng giống như bao nhiêu cảnh đời bi thương của hầu hết những người nông dân khác, để rồi bị bọn thực dân, phong kiến hất ra bên lề cuộc sống. Từng dòng chữ, từng hình ảnh, từng cuộc đời trong trang sách cứ hiện ra làm xốn xang cả lòng cả dạ. Từ đó ta mới hiểu vì sao máu của ông cha ta cứ lần lượt thấm hồng trang sử đấu tranh quyết giành lại từ tay kẻ thù bầu trời tự do, độc lập cho con cháu đời sau. Cổ ta như nghẹn cứng hẳn lại, một nỗi căm hờn đang trào dâng. Sách không chỉ giúp ta biết được cuộc sống, số phận của người Việt Nam mà còn giúp ta thông cảm với những cuộc đời của những con người ở những vùng đất xa xôi trên thế giới. Đọc Cố hương của Lỗ Tấn ta thấy được cái nghèo khó, sự áp bức của xã hội đã biến một cậu bé thông minh hoạt bát trở thanh một Nhuận Tho nhút nhát, sợ sệt chấp nhận cái thân phận thấp hèn đáng thương hại. Cũng như bên trời Tây kia có những định kiến khắc nghiệt đối với những đứa trẻ không cha như Ximông bị người đời khinh khỉ luôn nghĩ đến cái chết. Rồi ở Mĩ, nơi nổi tiếng giàu có văn minh nhất thế giới vậy mà không ít người nghèo khó phải sống trong khu phố nhỏ hẹp bị bạc đãi không còn niềm tin – cô họa sĩ trẻ Jonxi bệnh hoạn luôn bi quan trước cuộc sống để số phận mình lụi tàn theo những chiếc lá rơi. Và cũng từ nơi ấy ta tìm được những tấm lòng nhân ái, biết chia sẻ nỗi bất hạnh với những người cùng khổ như mình. Chẳng hạn tấm chân tình của chú Philip, sự hi sinh của bác Bơmen luôn để lại trong lòng ta niềm xúc động dạt dào về tình yêu thương của con người. Thông qua sách, ta hiểu rõ được những bất công của xã hội và càng thấm thía hơn giá trị của cuộc sống tự do, công bằng, bác ái… Từ đó, giúp ta có ý thức tốt và có hành động đúng. Cũng có những quyển sách, sau khi đọc xong ta vô cùng cảm ơn tác giả vì đã giúp ta nhận ra sai lầm, khuyết điểm của mình. Phải chăng sự ngỗ nghịch của Dế Mèn phần nào phản ánh sự ngỗ nghịch trong tuổi thơ của chúng ta? Và cái hành động vô ý thức khi trêu chọc mụ Cốc đã dẫn đến cái chết thảm thương cho Dế Choắt là nỗi ám ảnh trong tâm trí của Dế Mèn. Ta tưởng chừng Tô Hoài đang khuyên nhủ chúng ta đừng quá hung hăng nghịch ngợm thông qua câu chuyện kì thú hấp dẫn. Đọc những truyện cổ tích thần thoại, truyền thuyết dân gian ta thấy sách càng gần gũi, thân tình hơn. Những ông bụt, cô tiên, phép lạ luôn tạo cho ta niềm vui, sự thích thú. Và hình ảnh của những chàng dũng sĩ, những hoàng tử, công chúa… là dấu ấn tốt đẹp làm rạo rực lòng ta. Truyện xưa cổ giúp ta hiểu rõ một chân lí sống “ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặt bão”. Sách quả đúng là người bạn hiền đáng mến. Trong thời đại ngày nay, sách không phải là phương tiện duy nhất để cho con người giải trí, học hỏi, nhưng có thể nói sách mãi mãi là người bạn cần thiết cho chúng ta. Do đó ta phải yêu sách như yêu bạn, biết giữ gìn sách tốt như giữ gìn tình bạn. Vì thế nhận định của nhà tư tưởng La Rochefoucault là một nhận định có giá trị muôn đời.
Giải thích chứng minh câu nói Một quyển sách tốt là một người bạn hiền
1,117
Giải thích chứng minh câu tục ngữ Gần mực thì đen gần đèn thì rạng Hướng dẫn Giải thích chứng minh câu tục ngữ Gần mực thì đen gần đèn thì rạng Dân gian ta thường nói “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” để nói đến sự tác động của môi trường sống đối với mỗi con người trong quá trình hoàn thiện nhân cách, xong hiện nay có bạn lại cho rằng câu nói này chưa hoàn toàn đúng bởi: Gần mực chưa chắc đã đen, gần đèn chưa chắc đã rạng. Theo em đây là một vấn đề cần phải được làm sáng tỏ để bạn đó hiểu hơn câu nói mà ông cha ta đã răn dạy nhắc nhở chúng ta từ xưa cho đến nay. Trước hết, cần thấy rõ rằng các cụ ta xưa muốn nhấn mạnh đến môi trường sống của những con người có những tính cách khác nhau và sự ảnh hưởng lẫn nhau khi có chung môi trường sống. Gần người tốt ta cũng trở nên tốt và gần người dở ta cũng trở nên dở hơn. Và điều này cũng được thực tế chứng minh. Nếu khi còn nhỏ hay vào cái tuổi bắt đầu mới lớn, chập chững bước vào xã hội đầy rẫy những phức tạp mà ta lại kết bạn với những kẻ chỉ ham chơi, đua đòi theo những bạn xấu chắc chắn ta cũng sẽ bị ảnh hưởng vì khi đó ta còn quá trẻ để có kinh nghiệm phân biệt đâu là tốt, đâu là xấu hay ta lại có tâm lí tò mò không biết các cuộc chơi là như thế nào trong khi đó lại luôn luôn có những lời mời của mấy người bạn đó thì dù có kiên quyết đến đâu cũng có lúc ta sẽ xiêu lòng. Một lần đi chơi thấy cũng rất vui và thích thử lần hai rồi đến lúc không thể dứt ra được nữa. Hơn thế, tâm lí bắt chước nhau cũng là tâm lí chung của con người, ở cùng những người ham chơi chắc chắn ta cũng bắt chước họ. Bạn thử nhớ lại xem chắc bạn đã từng gặp trường hợp một bạn nào đó trước đây từng học giỏi và nổi tiếng là ngoan ngoãn nhưng sau này khi bạn chuyển đến một nơi khác thay đổi trường lớp, môi trường sống, bạn đó hay chơi với những người bạn xấu và bạn sẽ ngạc nhiên khi biết tin bây giờ bạn đó khác ngày xưa rất nhiều. Đó cũng là điều dễ hiểu bởi đến môi trường mới bạn đã a dua theo để rồi trở thành một người khác. Và ngược lại cũng có trường hợp trước đây bạn đó rất mải chơi do chỉ giao du với những bạn xấu nếu bạn bè tốt giúp đỡ động viên bạn có thể bạn sẽ trở thành một người tốt. Tất nhiên rằng những trường hợp trên đây không đúng hoàn toàn nhưng chắc chắn là sẽ xảy khi bạn đó chỉ chơi và tỏ ra thân thiết với những người bạn xấu đó trong một thời gian dài. Và nếu muốn bạn thay đổi chỉ có thể tách bạn ra khỏi nhóm chơi đó. Trong học tập cũng vậy, nếu ta chơi thân cùng một người học giỏi khi thấy bạn hôm nào cũng được điểm cao hơn ta chắc chắn không khỏi những phút tự ái dâng lên và tự nhủ: mình cũng phải cố gắng được như bạn và cùng với sự giúp đỡ của bạn thì chỉ trong một thời gian sức học của mình sẽ thay đổi. Hành động này được gọi là “Cạnh tranh lành mạnh”. Ta không ghen ghét theo kiểu ích kỉ nhỏ nhen mà xem đó là một tấm gương để phấn đấu, học hỏi ví như hỏi bạn phương pháp học, cách giải bài toán sao cho nhanh gọn. Còn ngược lại nếu ta chơi cùng với một người mà chẳng bao giờ chú tâm vào việc học luôn bằng lòng với số điểm trung bình thì chắc chắn ta sẽ có tâm lí: học như ta là tốt rồi. Và cứ như vậy hai người se hợp nhau ở điểm là thích chơi, luôn bằng lòng với lực học trung bình. Và trong cuộc sống cũng vậy nếu ta chơi với một người có tấm lòng nhân hậu bao dung biết yêu thương con người thì ta cũng cảm thấy ngại trước bạn để rồi mình tự phải xem xét lại bản thân và bắt chước hành động tốt của bạn với người khác. Và ngược lại. Do vậy có thể nói, nếu ta ở gần những nơi tốt thì ta sẽ học được nhiều điều hay, điều tốt còn nếu ta ở một nơi xấu thì ít nhiều ta cũng bị ảnh hưởng. Bởi như đã nói ở trên khi chúng ta vẫn còn nhỏ chưa đủ kinh nghiệm để nhận biết đâu là điều hay điều dở, ta sẽ dễ bị tác động, bắt chước những người thường xuyên bên mình. Hơn thế tuổi mới lớn dễ bị kích động hay tự ái thường hiểu lầm chí ganh đua, không phân biệt đâu là lời khuyên chân thành đâu là lời khuyên giả dối. Họ dễ nghe theo những lời dỗ dành ngọt ngào nhưng đầy cạm bẫy. Họ dễ bất cần trước lời mắng mỏ của cha mẹ để rồi nghe theo những kẻ xấu làm điều xấu lúc nào không hay. Và do đó chúng ta có thể khẳng định gần mực có thể đen và gần đèn có thể rạng và điều này thường dễ xảy ra với các bạn học sinh còn cắp sách đến trường vì đó là tuổi mới lớn các bạn vừa bắt đầu bước ra cuộc sống nên khó phân biệt được cái hay cái dở.
Giải thích chứng minh câu tục ngữ Gần mực thì đen gần đèn thì rạng
981
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn giải thích chứng minh câu tục ngữ Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Bài làm: Từ ngàn xưa, con người đã nhận thức được rằng để có thể tồn tại và phát triển cần phải đoàn kết. Có đoàn kết mới vượt qua được những trở lực ghê gớm của thiên nhiên, xã hội… Chính vì thế, ông cha ta đã khuyên con cháu phải đoàn kết bằng câu ca dao giàu hình ảnh: Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Đoàn kết tạo ra sức mạnh, giúp ta làm nên những công việc lớn lao. Thực tế cuộc sống chiến đấu và lao động của dân tộc ta từ xưa đến nay đã chứng minh hùng hồn điều đó. Đất nước Việt Nam có được như ngày hôm nay là do đâu? Non sông Việt Nam ta đẹp đẽ như ngày hôm nay là nhờ đâu? Phải chăng chính là nhờ tinh thần đoàn kết tương trợ, thương yêu đùm bọc lẫn nhau của nhân dân ta từ Nam chí Bắc, mấy chục triệu người chung một lòng, chung một chí hướng đánh giặc. Trải qua mấy chục thế kỉ, đất nước ta nhiều lần bị các triều đại phong kiến phương Bắc như Tống, Nguyên, Minh, Thanh… xâm lược. Chúng muốn cướp đất nước ta, bắt nhân dân ta làm nô lệ. Chúng ỷ quân đông, thế mạnh, mưu đồ thống trị lâu dài nhưng dân tộc ta đã đoàn kết vùng dậy đấu tranh, làm nên chiến thắng. Đế quốc Nguyên – Mông nức tiếng hùng mạnh, đi đến đâu cỏ không mọc được đến đấy, đã từng thu phục bao nhiêu chư hầu, nhưng ba lần xâm lược nước ta là ba lần đại bại. Quân dân nhà Trần đoàn kết nhất trí, đồng tâm giết giặc. Từ các vị bô lão trong hội nghị Diên Hồng đến thiếu niên Trần Quốc Toản, từ lão tướng Trần Hưng Đạo đến chàng trai đan sọt làng Phù ủng… Tất cả đều đồng lòng Sát Thát và đã làm nên chiến thắng oanh liệt muôn đời. Đến thế kỉ XX, dân tộc Việt Nam tuy đất không rộng, người không đông nhưng đã đánh bại hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Nếu chỉ tính sức mạnh quốc gia bằng sự giàu có, bằng trình độ kĩ thuật hiện đại, bằng vũ khí tối tân, bằng số lượng binh lính… thì Việt Nam ta đã tiến hành một cuộc chiến tranh không cân sức. Nhưng nhân dân ta đã đoàn kết thành một khối bền vững, cùng nhau chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc. Hơn nữa, dân tộc ta đã đoàn kết với các dân tộc yêu lẽ phải trên khắp năm châu, trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp và Mỹ… Vì thế, chúng ta đủ sức mạnh để làm nên chiến thắng vĩ đại. Trong cuộc sống lao động, đoàn kết cũng giúp ta có sức mạnh phi thường. Nhìn con đê bên bờ sông Hồng làm nhiệm vụ ngăn lũ lụt cho cả vùng châu thổ Bắc Bộ, bảo vệ vựa lúa nuôi sống bao người, ta càng thấy rõ sức mạnh của tinh thần đoàn kết. Công trình thủy điện sông Đà đưa ánh sáng đến cho mọi nhà không thể náo hoàn thành được nếu thiếu bàn tay, khối óc của hàng vạn kĩ sư, công nhân Việt Nam và chuyên gia các nước bạn. Những giàn khoan trên biển Đông đưa dầu khí lên làm giàu cho đất nước cũng là công trình của sức mạnh đoàn kết. Chúng ta có thể kể thêm rất nhiều ví dụ khác nữa để chứng minh. Nối tiếp truyền thống đoàn kết của cha ông, chúng em đã xây dựng tinh thần đoàn kết trong tổ, trong lớp, trong trường. Tình đoàn kết sẽ tăng thêm sức mạnh cho chúng em, giúp chúng em đạt được những kết quả tốt đẹp trong học tập và rèn luyện. Loading…
Giải thích chứng minh câu tục ngữ một cây làm chẳng nên non ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
679
Giải thích chứng minh lợi ích của việc đọc sách Hướng dẫn Giải thích chứng minh lợi ích của việc đọc sách Sách là một phương tiện quý giá đối với nhân loại. Sách nối liền thế giới hiện tại với thế giới của quá khứ. Bởi sách là kho tàng tri thức mà nhân loại đã gom góp từ xưa đến nay. Bước vào thế giới của sách em như lạc đến một thế giới khác, ở đó em có thể học hỏi được rất nhiều điều. Bởi vậy em thấy đọc sách mang lại rất nhiều lợi ích. Trước hết, đọc sách giúp em có thể khám phá được biết bao điều bí ẩn về thế giới, về vũ trụ của chúng ta. Trước đây em không hiểu vì sao con người ta có thể đứng vững trên mặt đất hay tại sao con người khi bay vào vũ trụ lai không thể đứng như trên mặt đất được, và còn rất nhiều điều kì thú bất ngờ về thế giới đã được các cuốn sách giải thích rất đầy đủ, giúp cho em nhận biết thế giới rõ hơn. Chẳng hạn sau khi đọc xong cuốn sách “Vì sao” em có thể hiểu được rất nhiều điều như con người có thể đứng vững trên trái đất là bởi lực hút của trái đất… Rồi cuốn sách đó còn giải thích được các hiện tượng thiên nhiên như mưa bão, sấm, sét… Ngoài những tri thức khoa học, sách còn mang đến cho chúng ta những tri thức về đời sống xã hội, đó là về đất nước con người của các nước trên thế giới. Qua sách, em có thể biết thêm về đất nước tươi đẹp Hà Lan hay nước Mĩ phồn hoa, Pari hoa lệ… Ở đó có những con người với những nét văn hóa, phong tục khác hẳn với chúng ta. Thế nhưng giữa sự khác nhau đó em còn nhận thấy dù ở đâu công có những con người nhân hậu, giàu lòng yêu thương nhân loại. Ngày xưa khi còn nhỏ biển đối với em là một nơi huyền bí. Em từng tưởng tượng nước biển sâu bằng ngôi nhà em ở, nhưng đến khi lớn lên đọc sách em mới hiểu lòng biển rất sâu và ở dưới đó cũng là một thế giới đầy kì thú của muôn loài. Em còn biết rằng con người có thể đến được với biển sâu và hơn thế con người còn có thể chế ngự được cả thiên nhiên nhờ sự hiểu biết của mình về thế giới. Em được biết có nước còn có dự định xây cả thành phố dưới biển. Quả thật, sách đã mang đến cho em bao điều thú vị mà em sẽ không thể biết được nếu không được đọc sách. Đối với mỗi người thì sách còn là một người thầy mẫu mực về môn tiếng Việt. Sách giúp chúng đọc tốt hơn, viết văn chính xác hơn, nói chuẩn hơn khi muốn diễn đạt một vấn đề gì đó. Tuy nhiên để đọc sách đem lại hiệu quả tốt theo em đối với mọi lứa tuổi thì việc lựa chọn loại sách phù hợp là rất cần thiết. Riêng đối với lứa tuổi thiếu niên như chúng em sách phù hợp là sách viết về lứa tuổi của mình, đặc biệt là những loại sách kể về những tấm gương chăm chỉ học hành thành tài của thời xưa và thời nay. Vì qua đó em có thể liên hệ với bản thân mà có ý chí phấn đấu, đồng thời hiểu được rằng cuộc sống là hiển ca, ai không bơi sẽ chìm. Từ đó ý thức được việc học hành, tu dưỡng đạo đức hơn. Bên cạnh việc chọn sách sao cho hợp lí thì theo em đọc sách đúng công là điều quan trọng. Nó quyết định hiệu quả của việc đọc sách. Đọc sách sẽ đem lại hiệu quả nếu ta đọc có giờ giấc, những lúc rảnh rỗi, ngồi ở một nơi yên tĩnh và nhập tâm thật sự vào cuốn sách. Hiệu quả sẽ thu được là bao nếu ta đọc trong giờ ăn, giờ ngủ hoặc có bạn còn đọc cả trong giờ học. Đọc sách còn là để ta nhìn nhận lại mình, tự trau dồi tri thức và điều chỉnh mình. Cho nên việc đọc sách còn là một khoa học, không phải đơn giản cứ thích là đọc mà quan trọng là phải biết suy nghĩ khi đọc, sao cho hợp lí và có hiệu quả cao. Tóm lại, sách là kho tàng quý giá mà nhân loại đã ban tặng mỗi người, đó là một phát minh kì diệu nhất của nhân loại. Sách giúp con người trưởng thành và hiểu biết hơn.
Giải thích chứng minh lợi ích của việc đọc sách
800
Giải thích chứng minh Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp Hướng dẫn Giải thích chứng minh Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp I. Yêu cầu: – Truyện cổ tích tồn tại qua nhiều thế kỉ. Cho đến ngày nay, truyện cổ tích vẫn là người bạn của mọi người nhất là của tuổi thơ. Vì sao truyện cổ tích có sức sống lâu bền như vậy? Có nhiều lí do nhưng trong đó có lí do: “truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp” của người xưa. – Truyện Chử Đồng Tử đã phản ánh ước mơ về cuộc hôn nhân vượt ngoài khuôn khổ lễ giáo phong kiến, phản ánh truyền thống nhân đạo và khát vọng dân chủ của nhân dân ta. II. Giải quyết vấn đề 1. Giải thích nhận xét: “Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp”. a. Truyện cổ tích là truyện kể về con người trong những mối quan hệ xã hội và sinh hoạt gia đình thời cổ. Không phải lúc nào những mối quan hệ xã hội, những cảnh sống… cũng được như mong muốn của mọi người. Những lúc ấy, người ta thấy cần phải giãi bày, phản ánh những ước mơ đó. Họ tìm đến truyện cổ tích. Do đó có người đã nói: truyện cổ tích là những truyện có hư cấu kì ảo về một hiện tượng trong giấc mơ. b. Người xưa gởi gắm trong truyện cổ tích những ước mơ về một cuộc sống sung túc, đầy đủ no ấm qua những hình tượng niêu cơm Thạch Sanh ăn hết lại đầy, chiếc hài có thể bước một bước bảy dặm, chiếc thảm bay… Họ còn gởi gắm trong truyện cổ tích về một cuộc sống tự do, hạnh phúc, công bằng ở đó thiện luôn thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà, những người tốt, giỏi, hiền đều được sung sướng (giàu có, lên ngôi vua, lấy công chúa, hoàng tử…) như Tấm dù chết đi sống lại vẫn gặp vua và trở thành hoàng hậu. Sọ Dừa sẽ cởi bỏ lốt xấu xí, tìm được vợ và hưởng cuộc sống sung sướng… c. Những ước mơ trên không thể thực hiện được trong đời sống hàng ngày, nó chỉ có thể thực hiện được trong các truyện cổ tích nhờ các lực lượng siêu nhiên, như thẫn, tiền, bụt., điều đó có nghĩa là ở thời trước, thời xưa những điều ấy bao giờ cũng chỉ là một giấc mơ, không bao giờ biến thành sự thật, tuy nhiên, chính nhờ có những giấc mơ đẹp mà chuyện cỗ tích trở thành niềm an ủi, thành nguồn động viên, thành người bạn đường tin cậy của nhân dân, từ thế kỉ này sang thế kỉ khác. Đó là một trong những lí do để nó trường tồn. 2. Giấc mơ đẹp trong truyện “Chử Đồng Tử” a. Truyện Chử Đồng Tử kể lại cuộc hôn nhân giữa công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử, đây là mối tình đẹp. – Đẹp vì nó là mối tình thật sự của hai trái tim bất chấp mọi luật lệ khắc nghiệt của xã hội phong kiến về đẳng cấp, về địa vị xã hội. Tiên Dung khi lấy Chử Đồng Tử không có một băn khoăn nào vì mình là công chúa đã lấy anh chàng thuyền chài nghèo rớt mồng tơi. Nàng bất chấp sự ngăn trở của vua cha, đó là một thiếu nữ có bản lĩnh. – Đẹp vì nó là mối tình phóng khoáng diễn ra trong khung cảnh thiên nhiên rộng rãi, tươi đẹp, tình và cảnh hòa làm một. Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử một cách bất ngờ tại một vùng trời nước bao la. Mối tình của họ đến cũng đột ngột và phóng khoáng như thiên nhiên nơi ấy. b. Mối tình,Tiên Dung và Chử Đồng Tử tuy đẹp nhưng không thể trở thành truyện thật trong xã hội xưa. Nó bị tư tưởng phong kiến môn đăng hộ đối ngăn cản. Trong chuyện vua cha tỏ ra rất giận dữ Tiên Dung. Ông ta lập tức thi hành những biện pháp trừng phạt: gọi binh lính và người hầu về, rồi lại sai quân đến đánh. Đại diện cho quyền lực, sự từ chối của vua cha có nghĩa là sự từ chối của xã hội đối với mối tình Tiên Dung – Chử Đồng Tử. – Mối tình Tiên Dung và Chử Đồng Tử chỉ có thể trở thành hiện thực trong câu chuyện cổ tích trên. Vì thế trải qua nhiều thế kỉ nó vẫn là giấc mơ đẹp. Mối tình ấy là lời phản kháng, lên án gay gắt lễ giáo phong kiến, là tiếng nói khao khát tự do yêu thương, đặt tình yêu lên trên tất cả (lễ giáo, quyền lực, tiền tài, danh vọng…). Nó trở thành tiếng nói của khát vọng nhân đạo, dân chủ của nhân dân ta. III. Kết thúc vấn đề – Truyện cổ tích xuất hiện từ thời xa xưa và tồn tại đến ngày nay vì nhiều lí do, trong đó có lí do truyện đã phản ánh những ước mơ đẹp của nhân dân.
Giải thích chứng minh Truyện cổ tích là những giấc mơ đẹp
859
Giải thích chứng minh Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có Hướng dẫn Giải thích chứng minh Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có Văn chương không chỉ đơn thuần là thứ văn nghệ giải trí. Ngoài những giá trị mang tính nghệ thuật ra, nó còn là tác phẩm có tính giáo dục nhân bản cao và một trong những nét nhân bản đó là “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không cố, luyện cho ta những tình cảm đã sẵn có”. Có thể nói lời nhận xét của Hoài Thanh về văn chương rất chính xác, bởi ông đã nói lên được nét tính chất cơ bản nhất của văn chương và điều này đã được minh chứng trong những tác văn chương mà em đã được học. Trước hết về câu nói “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện cho ta những tình cảm đã sẵn có”, ta có thể hiểu tác giả muốn nói với chúng ta rằng: đọc những tác phẩm văn chương hay, mang tính nhân văn cao sẽ tạo cho bạn đọc cảm xúc, tình cảm như tình yêu thương sự cảm thông vốn là những tình cảm sẵn có trong lòng mỗi con người, đồng thời những tác phẩm đó còn gợi cho người đọc những nét nhân văn còn chưa được bộc lộ trong lòng độc giả như lòng vị tha, sự cao thượng… Chúng ta sẽ thấy rõ điều này thông qua các tác phẩm văn học tiêu biểu. Chẳng hạn, như khi đọc xong văn bản Mẹ tôi của nhà văn Ét-môn-đô đơ A-mi-xi, một nhà văn Ý, dường như chúng ta có thể cảm nhận rõ hơn tình cảm cao đẹp của người mẹ đối với đứa con thân yêu của mình và đặc biệt qua câu chuyện em càng cảm thấy kính yêu người mẹ của mình hơn bởi người mẹ của En-ri-cô cũng như người mẹ thân yêu của em, mẹ em cũng từng lo lắng suốt đêm khi em bị ốm và người mẹ của em cũng có thể hi sinh tất cả để cho em được hạnh phúc. Thế nhưng cũng giống như bạn En-ri-cô, em đã từng có những lần không nghe lời mẹ và chưa ngoan. Vô tình em đã làm cho mẹ buồn mà em không hề hay biết thế nên qua câu chuyện của En-ri-cô, em nghĩ rằng mình cần tự xem lại bản thân mình để không làm mẹ buồn và đó mới chính là cách thể hiện rõ nhất tình cảm của với mẹ. Như vậy có thể thấy tình yêu thương, kính trọng mẹ là những tình cảm vốn có trong em, trong mỗi con người thế nhưng khi đọc xong tác phẩm Mẹ tôi thì tình cảm đó dường như hiện lên sâu đậm hơn trong trái tim em, đồng thời tác phẩm cũng là lời nhắc nhở đối với em trong cách cư xử với mẹ làm sao cho mẹ vui lòng. Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi Những câu ca dao gợi cho em tình cảm biết ơn thành kính đối với mẹ cha, bởi vì cha mẹ là người có công lớn nhất đối với cuộc đời của mỗi con người. Tác giả dân gian xưa đã lấy hình ảnh núi cao đến ngất trời để so với công lao của người cha đối với đứa con của mình và còn hình nước ở biển Đông không bao giờ khô cạn đó chính là nghĩa tình mà mẹ đã dành cho chúng ta. Từ những hình ảnh so sánh đó, bài ca dao đã nhắc cho em thấy rằng công lao của cha mẹ là vô cùng rộng lớn, chính bởi vậy mỗi chúng ta phải hiếu thảo, ngoan ngoãn biết vâng lời cha mẹ để đền đáp phần nào công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Đồng thời câu ca dao Cù lao chín chữ ghi lòng con, ơi giúp cho em hiểu sâu sắc hơn công lao của cha mẹ dành cho mình đó là sinh đẻ, nâng đỡ, vuốt ve, cho bú mớm, nuôi khôn lớn, dạy dỗ, trông nom, theo dõi uốn nắn, giữ gìn. Qua bài ca dao em càng cảm thấy yêu quý cha mẹ mình hơn, đồng thời thấy rằng trách nhiệm của người con đối với cha mẹ cần phải tốt hơn nữa để cho cha mẹ được vui lòng. Hoặc khi học xong bài thơ Bạn đến chơi nhà, ta nhận thấy tình bạn là thứ tình cảm thiêng liêng cao đẹp vốn có trong mỗi con người, thế nhưng qua bài thơ ta còn hiểu rõ hơn về một tình bạn chân thành là không còn vướng chút vật chất nào mà chỉ đơn thuần là tình cảm giữa con người với nhau. Bởi vậy mới có chuyện: chợ xa, không bắt được cá, gà cũng không bắt được tóm lại đã lâu lắm rồi Bác mới đến đây chơi mà ta không có gì để tiếp mà chỉ có Bác đến chơi đây ta với ta, đây mới là vấn đề cốt lõi, ta với ta chính là tấm lòng với tấm lòng, tình cảm với tình cảm. Vậy tình bạn chân thành đâu cần phải có vật chất mà chỉ cần tấm lòng là đủ. Hay như học văn bản Sài Gòn tôi yêu của tác giả Minh Hương, ta như được sống giữa Sài Gòn đô hội mà rất đỗi thân thương. Bài văn gợi cho ta tình yêu quê hương đất nước, tự hào về một vùng đất của Việt Nam, ở đó có những con người thật đôn hậu, có những ngày mưa nắng thất thường. Tất cả đều thể hiện tình yêu, sự gắn bó của tác giả với Sài Gòn đồng thời cũng gợi cho người đọc cảm giác thân thương đối với Sài Gòn nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung. Đó là thứ tình cảm vốn có của mỗi con người, bài văn khiến cho tình cảm được hun đúc mạnh mẽ hơn, tha thiết hơn.
Giải thích chứng minh Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có
1,055