text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Đề bài: Giới thiệu về một loài cây quen thuộc của quê em
Bài làm
Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!
Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng chói sông Lô, hò ơ tiếng hát Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca
(Tố Hữu)
Quê tôi, vùng quê trung du Bắc Bộ có "rừng cọ đồi chè" nhưng với tôi hình ảnh về quê hương và loài cây gắn bó quen thuộc nhất vẫn là cây na.
Không rậm rạp xanh tốt như cây roi, không tạo thế, đua chen và khoe dáng như lá cọ, na cứng cáp, khẳng khiu đứng riêng rẽ một mình trong khu vườn đồi trọc. Mỗi năm khi bà già mùa đông mang cái lạnh về, na trút lá khẳng khiu gầy guộc nhưng kiên cường chịu rét giơ những cành những nhánh khô mà chống chọi với những trận gió bấc, mưa phùn, để rồi khi sơn ca báo hiệu xuân về cùng những đợt mưa xuân xôn xao phơi phới thì từ trong những cành khẳng khiu kia, na ươm trồi nảy lộc với những búp lá non xanh đẹp lạ kì. Lá na không to, hình bầu dục, mỗi nhánh nhiều lá giống kiểu xếp của lá phượng, lá me nhưng thưa hơn và thoáng hơn, to hơn, là loài cây ăn quả nên thân na phát triển không to. Trồng được 2 năm là na đã cho quả.
Quả na xanh tròn khía theo múi giông hình mắt. Kinh nghiệm của bà về na chín đã được nhà thơ Trần Đăng Khoa đưa vào thơ thật ngộ nghĩnh:
"Tiếng gà Giục quả na Mở mắt Tròn xoe…”
Na mở mắt, nghĩa là những múi na (mắt na) căng phồng hết cỡ mang màu vàng hồng báo hiệu quả sắp chín. Có thể để na chín cây hoặc ngắt xuống độ một ngày sau na chín là ăn được. Bà tôi bảo: "Na sống ở khắp các tỉnh trong cả nước, nhưng ngon và bổ thì chỉ có na ở quê mình vì chất đất ở đây thích hợp nhất cho loại cây này". Quả đúng vậy na chín, vỏ mỏng, bóc trên tay đã thơm phức mùi hương, quyến rũ lạ thường. Vị ngọt sắc của na như nhắc người ta nhớ đến tháng ngày cây cần mẫn chắt chiu nhựa đất trên dải đất sỏi khô cằn.
Hoa na giống hoa lan nhưng dầy cánh và mùi hăng hắc. Hoa không nhiều nhưng có hoa là đậu quả. Mỗi cây trung bình hàng năm cho khoảng vài chục cân. Đến vụ, cả đồi na, bà thu hoạch được gần tấn, cũng được 6-7 triệu đồng.
Cứ như thế, mùa tiếp mùa, năm tiếp năm, na trở thành loại quả xuất khẩu và món ăn tráng miệng thường nhật cung cấp vitamin rất tốt. Mỗi cây na như nhắn nhủ với mọi người về sức sống bền bỉ và một cuộc đời cần mẫn chắt chiu như chính người trồng na vậy. | Giới thiệu về một loài cây quen thuộc của quê em | 495 | |
Đề bài: Giới thiệu về một món ăn dân gian
Bài làm
Vào tháng Hai, tháng Ba âm lịch, khi mưa xuân giăng một màn bụi mỏng trắng mờ che phủ xóm làng, tiết trời đã ấm áp là lúc lá khúc bát đầu lên mơn mờn các bãi đất ven đê dọc các triền sông. Chẳng ai trồng rau khúc. Nó tự nhiên âm thầm mọc lên, như có phần bẽn lẽn vì sự giản dị của mình, lặng lẽ mang đến cho con người những ngọn lá xanh mướt, mang vị thơm, vị bùi rất đặc biệt trong một thứ quà quê được gọi tên bằng chính loại lá độc đáo làm ra nó: bánh khúc. Chẳng biết bánh khúc có từ bao giờ, ai là người đầu tiên làm được món bánh này nhưng bánh khúc đã quen thuộc từ lâu với rất nhiều người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, từ nông thôn đến thành thị.
Làm bánh khúc không khó, nhưng đòi hỏi sự cần cù, tỉ mỉ và cả kinh nghiệm người xưa truyền dạy. Nguyên liệu chủ đạo làm nên hương vị độc đáo của món bánh này là lá khúc. Lá khúc hái từ buổi sớm, chọn những lá đang độ tươi non mơn mởn hái đem về giã cho nhuyễn rồi trộn với bột gạo làm vỏ bánh. Nhân bánh được làm từ đậu xanh đồ chín tới giã thật mịn, viên lại nhỏ bằng quả trứng gà ri cùng với thịt ba chỉ thái hạt lựu rắc thêm chút hạt tiêu cho dậy mùi. Dàn mỏng lớp vỏ thật khéo bao kín nhân bánh, xếp từng lượt bánh vào nồi hấp như đồ xôi, mỗi lớp bánh lại rắc một lượt gạo nếp ngon đã ngâm kỹ làm áo. Từ lúc nước sôi đến lúc bánh chín chừng tàn một que hương.
Bánh khúc là một thứ quà, trong những thứ quà bánh. Nó cũng có thể giúp người ta đỡ đói lòng khi nhớ bữa vì thành phần dinh dưỡng khá cao. Thưởng thức bánh khúc khi còn nóng mới thấy hết được hương vị của bánh khúc, một thứ hương vị tổng hợp, kết hợp nhiều mùi vị tự nhiên của ruộng đồng một cách khéo léo tài tình gói gọn trong tấm bánh bé nhỏ, không cần tới sự trợ giúp của các loại hoá chất hay bất cứ thứ công nghệ thực phẩm nào. Bánh khúc là một món quà quê nhưng được người thành thị ưa thích. Người ta thích bánh khúc chính bởi cái tính "lành" của nó. Món bánh cổ truyền này vẫn sống trong xã hội hiện đại bên cạnh những loại bánh khúc được đóng gói trên dây chuyền công nghiệp.
Người ta có thể thưởng thức bánh khúc bất cứ khi nào thích nhưng bánh khúc thường được rao bán cùng với vài loại quà bánh khác vào buổi tối. Những tiếng rao "Ai khúc đê…" mang món quà quê bình dị này tới tận nơi len lỏi tới từng ngõ phố nhỏ. Chẳng biết khi nâng chiếc bánh khúc nóng hổi, hốc khói nghi ngút, thơm mùi gạo nếp, mùi lá khúc, quyện lẫn vị bùi, vị béo của thịt và đỗ có ai biết đến ngọn lá giản dị kia, và những người đang một nắng hai sương làm bánh khúc. | Giới thiệu về một món ăn dân gian | 558 | |
Đề bài: Giới thiệu về một món ăn tiêu biểu của quê hương em
Bài làm
Nam Bộ có nhiều món ăn độc đáo, nhưng phổ biến vẫn là món bún. Bún được chế biến nhiều món ăn đa dạng về hình thức, phong phú về chất lượng như: bún thịt xào, bún nem bì, bún cà ri, bún riêu cua, bún nước lèo, bún mắm… được mọi người ưa thích, từ giới bình dân cho đến kẻ giàu sang phú quý, nhưng hấp dẫn chắc vẫn là món bún mắm.
Ở Trà Ổn, người bán bún mắm không nhiều như ở miệt Trà Vinh, Sóc Trăng, bù lại có tiếng là ngon. Ngon từ sợi bún nhỏ nhắn, tròn trịa, dài mềm mại đến nước lèo, chất mắm. Cách nấu bún mắm ở đây được thêm thắt đôi chút cho hợp khẩu vị của người ăn. Từ đó bún mắm tự dưng được mọi người xem như món ăn "đặc trưng" nơi đây và cả đồng bằng Tây Nam Bộ.
Nước lèo theo cách gọi chung được nấu chuyên nghiệp cho là đúng “gu” là không xài bột ngọt và đường, chỉ cốt lấy chất ngọt từ con cá lóc, xương heo cùng chất "tinh túy" ở loại mắm sắc đồng, miệt Cà Mau, thường gọi là "mắm trô" có mùi nặng đặc biệt. Mắm nấu sôi cho cá rả ra, lọc mắm qua rây lấy nước, bỏ xương. Cá lóc làm sạch cắt thành khúc, cùng xương heo thả trong nước lèo. Cá chín vớt ra, xắt thành từng miếng nhỏ dài lối ngón tay. Còn đầu cá no tròn, đùm ruột gan mỡ béo ngậy được xếp chồng lên trong đĩa bàn lớn, chưng cho "bắt mắt". Cặp trứng cá vàng ruộm bỏ trố lại nồi, dùng “dá” khoả đều cho trứng nổi lên trên mặt, cùng sả băm nhuyễn, nấm rơm búp, tép mỡ óng ánh lềnh bềnh càng tăng thêm chất lượng nồi nước lèo.
Khi ăn nồi nước lèo sôi ngùn ngụt được chan vào tô bún cho ngập nước, dùng "dá" chặn bún lại cho nước đổ trở lại nồi, đó là cách làm cho cọng bún mềm và nóng. Sau đó xếp từng miếng cá, lát thịt ba đọi, vài con tép bạc bên trên, kèm theo rau thơm, giá sống, bắp chuối, rau muống chẻ nhỏ, nước mắm ớt nguyên chất, nếu thích vắt thêm tí chanh. Công đoạn cuối cùng là chan nước lèo lại lần thứ hai. Tô bún mắm đã đầy đủ sẵn sàng mời khách. Cũng chưa hết, khách yêu cầu thêm cục xương heo hay cái đầu cá, đùm ruột béo ngậy, người bán cũng không từ chối, chỉ cần tính thêm tiền. | Giới thiệu về một món ăn tiêu biểu của quê hương em | 452 | |
Đề bài: Giới thiệu về một món ăn Việt Nam dân dã
Bài làm
Muốn ăn bún riêu cua, bạn không thể tìm thấy trong thực đơn của nhà hàng hay khách sạn, nó chỉ có ở chợ và quán vỉa hè của Hà Nội. Khác với phở có vị béo ngậy, cháo có vị thanh thanh, man mát, bún riêu có vị ngọt đậm, nước dùng hơi chua, phảng phất mùi cua đồng.
Bún riêu cua làm không khó nhưng tỉ mẩn và công phu. Cua mua về phải ngâm, dùng đũa khoắng xả nước bẩn, lột mai để riêng, bỏ vỏ yếm và miệng cua. Những bà bán bún riêu cua thường nói, gạch ở mai cua mới tạo nên mùi vị rất riêng của bún riêu. Gạch cua khều ra phải phi hành mỡ cho thật thơm, vàng đều, đảo gạch cua nhanh tay sao cho không nát, tạo màu vàng sẫm mới đạt yêu cầu. Phần thân cua trước khi cho vào cối giã nhuyễn, phải xóc qua muối, dội nước lã cho sạch và để ráo nước, giã nhuyễn sau đó mới đổ nước lã vào lọc kỹ, gạn lấy nước trong, bỏ bã. Cua được giã càng nhuyễn thì nước dùng càng có nhiều váng thịt cua.
Quả dọc đem nướng thật kỹ, bóc bỏ vỏ, cà chua rửa sạch, bỏ hạt và thái miếng như miếng cau ăn trầu, mẻ nghiền nát lọc lấy nước, hành rửa sạch, thái thật nhỏ là những gia vị không thể thiếu cho nồi riêu cua. Nồi nước cua đun lửa sao cho váng thịt cua nổi dần trên mặt nước, nêm vừa mắm muối, quả dọc, cà chua vào đun sôi lăn tăn. Rắc hành hoa và rưới gach cua trưng lên trên là bạn đã có nồi nước dùng thật ngon.
Để làm bún riêu cua ngon, cua phải được giã bằng tay, váng thịt cua mới mềm, mịn và giữ được mùi vị đặc trưng. Nếu đem xay cua bằng máy xay, coi như nồi nước dùng bị giảm đến 50% vị ngon, váng thịt cua thường xốp, sạn. Bún rối được trần bằng nước sôi lăn tăn, chan riêu cua ngập bún, còn nóng át bột chưng mỡ và rau diếp.
Yêu cầu đặc trưng nhất của bún riêu cua là váng thịt cua phải đông đặc, nổi màu vàng sẫm của gạch cua, nước dùng mang vị ngọt đậm, hơi chua, hơi cay.
Mặc dù là món quà sáng bình dân, nhưng bún riêu cua cũng được xếp vào thú "ẩm thực" của người dân Hà Nội. | Giới thiệu về một món ăn Việt Nam dân dã | 428 | |
Đề bài: Giới thiệu về một món ăn độc đáo của địa phương
Bài làm
Nam Bộ có nhiều món ăn độc đáo, nhưng phổ biến vẫn là món bún. Bún được chế biến nhiều món ăn đa dạng về hình thức, phong phú về chất lượng như: bún thịt xào, bún nem bì, bún cà ri, bún riêu cua, bún nước lèo, bún mắm… được mọi người ưa thích, từ giới bình dân cho đến kẻ giàu sang phú quý, nhưng hấp dẫn vẫn là món bún mắm.
Ở Trà Vinh, Sóc Trăng, bún mắm có tiếng là ngon. Ngon từ sợi bún nhỏ nhắn, tròn trịa, dài mềm mại đến nước lèo, chất mắm. Cách nấu bún mắm ở đây được thêm thắt đôi chút cho hợp khẩu vị của người ăn. Từ đó bún mắm tự dưng được mọi người xem như món ăn "đặc trưng" của đồng bằng Tây Nam Bộ.
Nước lèo theo cách gọi chung được nấu chuyên nghiệp cho là đúng "gu" là không dùng bột ngọt và đường, chỉ cốt lấy chất ngọt từ con cá lóc, xương heo cùng chất "tinh tuý" ở loại mắm sặc đồng, miệt Cà Mau, thường gọi là mắm trở có mùi nặng đặc biệt. Mắm nâu sôi cho cá rã ra, lọc mắm qua rây lấy nước, bỏ xương. Cá lóc làm sạch cắt thành khúc, cùng xương heo thá rong nước lèo. Cá chín vớt ra, xắt thành từng miếng nhỏ đài chừng ngón tay. Còn đầu cá no tròn, đùm ruột gan mỡ béo ngậy được xếp chồng lên trong đĩa bàn lớn, chưng cho "bắt mắt". Cặp trứng cá vàng ruộm bỏ trở lại nồi, dùng "dá" khoả đều cho trứng nổi lên trên mặt, cùng sả băm nhuyễn, nấm rơm búp, tép mỡ óng ánh lềnh bềnh càng tăng thêm chất lượng nồi nước lèo.
Khi ăn nồi nước lèo sôi ngùn ngụt được chan vào tô bún cho ngập nước, ‘dùng "dá" chặn bún lại cho nước đổ trở lại nồi, đó là cách làm cho cọng bún mềm và nóng. Sau đó xếp từng miếng cá, lát thịt ba dọi, vài con tép bạc bên trên, kèm theo rau thơm, giá sống, bắp chuối, rau muống chẻ nhỏ, nước mắm ớt nguyên chất, nếu thích vắt thêm tí chanh. Công đoạn cuối cùng là han nước lèo lại lần thứ hai. Tô bún mắm đã đầy đủ sẵn sàng mời khách. Chưa hết, khách yêu cầu thêm cục xương heo hay cái đầu cá, đùm ruột béo ngậy, người bán cũng không từ chối, chỉ cần tính thêm tiền! | Giới thiệu về một món ăn độc đáo của địa phương | 435 | |
Đề bài: Giới thiệu về một nét văn hoá truyền thống: Dân ca quan họ
Bài làm
Dân ca quan họ quả là một tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, nó cần được tiếp tục nuôi dưỡng, trân trọng gìn giữ và lưu truyền lại cho các thế hệ mai sau, ở trong nước và cho cả cộng đồng Việt Nam hải ngoại.
Trong dòng văn hoá và nghệ thuật âm nhạc dân gian chảy từ ngàn xưa, giữa sự đa dạng và đa diện của các dòng dân ca: chèo của Thái Bình, Nam Định, chèo tàu của Hà Tây, hát dặm Nghệ An, Hà Tĩnh, ca trù, ca Huế, dân ca Nam Bộ… vẫn lấp lánh một dòng dân ca riêng biệt, đặc sắc và độc đáo, tựa như:
Cây trúc xinh tang tình là cây trúc mọc…
Chị Hai xinh, tang tình là chị Hai đứng…
Đó là dân ca quan họ vùng Kinh Bắc – Bắc Ninh.
Quan họ vừa như một làn điệu hội tụ "khí chất" của rất nhiều làn điệu dân ca: cái trong sáng, rộn ràng của chèo; cái thổn thức, mặn mà của hát dặm; cái khoan nhịp sâu lắng của ca trù; cái khoẻ khoắn, hồn nhiên của dân ca Nam Bộ. Nhưng trên hết, quan họ mang "khí chất" của chính quan họ, là hồn của xứ sở quan họ, là "đặc sản" tinh thần của Kinh Bắc – Bắc Ninh.
Nằm kề cận với thủ đô, có diện tích nhỏ nhất nước, với sáu huyện, thị, nhưng khát vọng trí tuệ, khát vọng sống, khát vọng khẳng định mình của Kinh Bắc chẳng nhỏ tí nào. Sách cổ của người xưa từng ngưỡng mộ: "Kinh Bắc nổi tiếng văn nhã". Đất Kinh Bắc là nơi kết tụ của tài hoa các làng nghề: làng tranh Đông Hồ, làng giấy Đống Cao, làng chạm khắc Phù Khê, làng đồng Đại Bái, làng buôn Phù Lưu… là đất của hàng nghìn di tích lịch sử, danh thắng của các đình, đền, chùa nổi tiếng. Người Kinh Bắc thông minh, tinh tế, ở bất cứ thời đại lịch sử nào Kinh Bắc cũng hiến cho đời không ít những danh nhân, nhân tài, kẻ sĩ, các bậc hiền tài… Các cộng đồng làng Kinh Bắc từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, gắn kết với nhau trong tình làng nghĩa xóm, trong lao động cần cù, trong khát vọng yêu thương, vượt lên thiên tai, địch hoạ, vượt lên gian khó, "thương người như thể thương thân", "tứ hải giao tình" (bốn biển một nhà) như lời dân ca quan họ. Chính cái khát vọng sống của người Kinh Bắc, đất Kinh Bắc đã hoá thân thành những làn điệu quan họ kỳ diệu: "lời thì giao duyên, tình thì anh em", vừa thực, vừa mơ, vừa giãi bày, vừa khúc chiết, vừa tình tự, vừa sâu sắc… Các làng quan họ hầu hết ở Bắc Ninh, mà theo các nghệ nhân, từng có tới 49 làng quan họ. Và như sông Cầu không bao giờ cạn, mạch sống của khúc nhạc, lời ca quan họ cũng không khi nào nhạt phai dù đã trải qua bao đời người và bao nhiêu biến động thời thế. Đến bây giờ Hội làng quan họ vẫn là nguồn cảm hứng mùa xuân bất tận của xứ Kinh Bắc. Các Hội làng gắn bó đặc biệt với hát quan họ, không thể nào có hội làng trên mảnh đất Bắc Ninh mà thiếu vắng sắc màu và âm thanh quan họ. Những hội hè này trải dài từ mồng 4 Tết âm lịch đến 28 tháng 3 âm lịch. Đặc sắc nhất vẫn là Hội Lim ở huyện Tiên Sơn. Vào những ngày hội, nam thanh nữ tú các nơi đổ về, trẩy hội tưng bừng, để được nghe các liền anh, liền chị xiêm y mớ bảy mớ ba, hát đối đáp, hát canh, hát hội, hát mừng…
Dân ca quan họ quả là một tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, nó cần được tiếp tục nuôi dưỡng, trân trọng gìn giữ và lưu truyền lại cho các thế hệ mai sau, ở trong nước và cho cả cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Trong suy nghĩ đó, CLB Văn hoá xin trân trọng giới thiệu những nét đặc sắc nhất của dân ca quan họ, từ khái quát về quê hương quan họ với những truyền thống xứ Kinh Bắc, về các làng quan họ, các lề lối ca hát và phong tục giao du; đến lời ca quan họ với sự phân tích về nội dung lời ca và nghệ thuật thơ ca. Âm nhạc trong dân ca quan họ cũng được điểm với những thể dạng, hình thức cấu trúc điển hình, mối quan hệ giữa âm nhạc với hình thức lời ca… Và không thể thiếu được là một số làn điệu quan họ, vừa có kinh điển, vừa có cả cải biên, được trình bày bởi tiếng hát dung dị, trữ tình của chính những liền anh, liền chị trên quê hương quan họ Kinh Bắc. | Giới thiệu về một nét văn hoá truyền thống_ Dân ca quan họ | 862 | |
Đề bài: Trên quê hương em có rất nhiều lễ hội. Em hãy viết bài văn giới thiệu về một số lễ hội ở quê hương em cho mọi người cùng nghe.
Bài làm
Có thể nói Việt Nam là đất nước của nhiều lễ hội. Trong dịp Tết Nguyên Đán, hầu như ở khắp các địa phương đều tổ chức lễ hội mùa xuân với những trò chơi dân gian vui tươi, bổ ích và giàu ý nghĩa. Đây cũng là phong tục tập quán tốt đẹp đã có từ lâu đời của nhân dân ta. Tỉnh Hà Tây quê em (nay thuộc Hà Nội) có những lễ hội nổi tiếng được nhiều người biết đến.
Trước hết phải kể tới lễ hội chùa Hương. Chùa Hương là một quần thể danh lam thắng cảnh thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức. Tạo hóa đã hào phóng ban phát cho nơi đây một vẻ đẹp thần tiên hiếm có. Những dãy núi đá vôi tím biếc, trập trùng, quanh năm mây phủ, nổi bật trên đồng ruộng xanh ngắt, bao la, đúng là sơn thủy hữu tình. Động Hương Tích và hàng chục ngôi chùa cổ cheo leo trên sườn núi đá, ẩn mình giữa không gian tĩnh lặng, thanh khiết vô cùng! Sau Tết, chùa Hương mở hội. Lễ hội kéo dài suốt từ mùng 6 tháng Giêng đến tận 15 tháng Ba Âm lịch. Hàng chục vạn du khách từ muôn phương đổ về đây lễ Phật cầu may và ngắm cảnh thiên nhiên tuyệt mĩ, để cho tâm hồn lâng lâng thanh thoát, trút sạch những vướng bận đời thường, thêm yêu cuộc sống.
Cùng dịp này còn có lễ hội chùa Tây Phương. Tây Phương là ngôi chùa nổi tiếng bởi nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc tượng tinh xảo, được xây dựng cách đây đã mấy trăm năm trên ngọn đồi Câu Lậu, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất. Mùng 6 tháng Ba Âm lịch, chùa Tây Phương mở hội đón khách hành hương viếng chùa, thăm tượng, lễ Phật và cầu mong mọi sự tốt lành cho năm mới.
Từ thị xã Sơn Tây đi vào thôn Vân Gia khoảng hai cây số, đền Và thờ Sơn Tinh uy nghi tọa lạc trên gò đất cao hình con rùa quay đầu về hướng Đông xung quanh là rừng lim cổ thụ. Lễ hội đền Và hằng năm được tổ chức làm hai đợt (xuân thu nhị kì). Hội xuân ngày 15 tháng Giêng có tục rước kiệu Đức Thánh Tản từ đền Và sang đền Dội bên kia sông Hồng. Kiệu do các thanh niên trai tráng khiêng đi giữa đám rước hàng ngàn người kéo dài qua các ngả đường, hội thu tổ chức vào 15 tháng Chín có tục đánh cá thờ, chọn những con cá lớn và đẹp dể dâng cúng, cầu phúc thần ban cho mưa thuận gió hòa, mọi điều tốt lành.
Lễ hội Giã La cũng rất nổi tiếng. Quy mô của nó đã được khẳng định qua câu ca dao:
Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy Vui thì vui vậy, chẳng tày Giã La.
Giã La có nghĩa là ngày tan hội của hai làng La Nội và Ỷ La, thuộc xã Dương Nội, huyện Hoài Đức. Lễ hội này được tiến hành vào mùng 6 tháng Giêng hằng năm để dân chúng bày tỏ lòng thành kính với vị Thành Hoàng chung là Dương Cành, ngày xưa đã có công giúp vua Hùng dựng nước. Sau phần nghi lễ long trọng là các trò diễn dân gian tái hiện hành động anh hùng của Dương Cảnh diệt hổ ác trừ họa lớn. Cỗ kiệu sơn son thiếp vàng lộng lẫy lót da hổ được trân trọng diễu hành trong không khí nô nức, hào hứng của nhân dân trong vùng và đông đảo du khách đến tham gia. Các trò chơi đề cao tinh thần đoàn kết và thượng võ như kéo co, đấu vật, cờ người… diễn ra sôi nổi, tưng bừng suốt mấy ngày liền. Đúng là vui như hội! | Giới thiệu về một số lễ hội ở quê hương em | 680 | |
Giới thiệu về một vật dụng, một phong tục, một danh lam thắng cảnh, một thể loại văn học…
Hướng dẫn
Thuở còn thơ, ta hay được nghe bà đọc những câu ca dao ngợi ca tình nghĩa, lớn lên ta lại được cô dạy Truyện Kiều, được học thơ Tố Hữu, thơ của Nguyễn Du… Những vần thơ ấy cứ thế theo năm tháng đi vào tâm hồn mỗi chúng ta nhưng tôi chắc sẽ rất ít bạn băn khoăn tự hỏi tại sao những vần thơ kia lại dễ đi vào lòng người đến vậy.
Thực ra câu trả lời đơn giản vô cùng. Những tác giả hay tác phẩm ta vừa nói đến ở trên đều rất giỏi về thể thơ lục bát – một thế thơ quen thuộc của dân tộc chúng ta.
1. Đặc điểm của thể thơ lục bát:
Thơ lục bát là một thế thư có từ rất lâu đời và được coi là vốn quý của văn hóa nước ta. Thơ lục bát là loại thơ có kết cấu vô cùng đơn giản gồm một câu sáu tiếng và một câu tám tiếng. Chính đặc điềm linh hoạt này đã sinh ra những bài thơ có khi vô cùng hấp dẫn nhưng… chỉ có hai dòng:
Hỡi cô tát nước bển dàng
Sao cô múc ánh trăng vàng dồ di.
Sự linh hoạt trong kết cấu cũng là một điểm mạnh giúp nhà thơ có thể phát triển tác phẩm của mình về số lượng mà không hề có một sự hạn chế nào. Ở nước ta, Truyện Kiều là một minh chứng tiêu biểu cho kiểu một “bài thơ lục bát dài” (dài tới 3254 câu lục bát).
Ta đi ta nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương.
Từ “nhà” trong câu lục mang vần bằng. Trong thơ lục bát, tiếng cuối của câu lục gieo vần với tiếng thứ sáu của câu bát và gọi là cước vận (vần chân). Tiếng cuối của câu bát lại gieo vần trở lại với tiếng cuối của câu lục tạo thành một vòng quay chặt chẽ về vần:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau dớn lòng.
Thơ lục bát sở dĩ mềm mại, uyển chuyến, dễ nhớ và dễ thuộc không chỉ bởi nó thường chọn vần bằng mà còn ở chỗ nó thường có nhịp ngắt chần (2 hoặc 4).
Mình về/ mình có nhớ ta
Ta về/ ta nhớ/ những hoa cùng người
Thơ lục bát ít phá cách trong vần và nhịp nhưng cũng có trường hợp nhịp ngắt trong thơ lục bát là “nhịp lẻ”.
Người lên ngựa/ kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san.
2. Thơ lục bát biến thể:
Lục bát trong quá trình phát triển sinh ra nhiều biến thể khác nhau. Nghĩa là câu thơ, vần nhịp… không còn tuân theo quy luật như đã được nêu ra trong mục 1.
Yêu nhau tam tứ núi cũng leo
Thất bát sông cũng lội, cửu thập lục đeo cũng qua.
Thất bát sông cũng lội, cửu, thập lục đèo cũng qua vừa biến từ ngữ, vừa gieo vần trắc:
Trèo lèn cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay.
Sự biến đổi trong thế thơ lục bát thường nhằm vào những mục đích khác nhau nhưng chủ yếu nhằm thể hiện những cung bậc tình cảm phức tạp, sinh động hay trắc trở…
Thơ lục bát góp phần quan trọng vào tiến trình phát triển ngôn ngữ và văn học nước ta. Nó gần gũi và thân thuộc. Nó năng động bởi thơ lục bát dễ làm, dễ thích ứng với các loại đề tài lớn nhỏ khác nhau. | Giới thiệu về một vật dụng, một phong tục, một danh lam thắng cảnh, một thể loại văn học… | 627 | |
Đề bài: Giới thiệu về một đồ dùng trong học tập hoặc trong sinh hoạt
Bài làm
Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ như ngày nay, đối với người học sinh, ngoài những người bạn thân quen như sách vờ, bút thước… chúng em còn có thêm một người bạn đặc biệt khác: máy vi tính.
Chiếc máy vi tính đầu tiên ra đời năm 1956. Ban đầu, chiếc máy vi tính có kích thước rất lớn, nó to bằng cả một căn phòng và chỉ thực hiện được một số phép tính đơn giản.
Theo thời gian, bằng sự nỗ lực của các nhà khoa học, kích thước chiếc máy tính đã được thu gọn lại như ngày nay.
Máy vi tính để bàn gồm hai bộ phận lớn tách rời nhau là CPU và màn hình. CPU là bộ phận quan trọng nhất của máy vi tính, đó là nơi xử lí các thông tin dữ liệu rất tinh vi. CPU có hình hộp chữ nhật, kích thước thường là 50 cm * 10 cm * 40 cm. vỏ ngoài được làm bằng kim loại có phủ sơn cách điện. Bên trong là ổ cứng, bộ vi xử lí, các mạch điện, dây dẫn… Mặt trước của máy vi tính là hình chữ nhật kích thước 10 cm * 40 cm. Tại đây có các bộ phận nhỏ để nhận đĩa mềm, kết nối USB và máy, hệ thống nút điều khiển máy… Mặt sau của CPU là ổ cắm dây nối CPU với nguồn điện, màn hình, bàn phím và con trỏ chuột.
Màn hình máy vi tính thường có kích thước và hình dáng tương đương một chiếc ti vi 21 inch. Nhưng ngày nay do sự phát triển của công nghệ, màn hình máy vi tính chỉ mỏng chừng 2 cm đến 3 cm và được làm bằng tinh thể lỏng.
Ngoài hai bộ phận trên còn cần có bàn phím và con trỏ chuột mới có thể hoàn chỉnh một chiếc máy vi tính. Bàn phím có hình chữ nhật, kích thước vào khoảng 16 cm * 25 cm, có các phím chữ nổi lên giúp nhập thông tin vào máy. Con trỏ chuột thon nhỏ, vừa tay nắm, có ba nút để điều khiển các lệnh trên màn hình.
Việc sử dụng máy tính khá đơn giản. Với người học sinh, công dụng chủ yếu là tạo lập văn bản, sử dụng các phần mềm ứng dụng, khai thác Internet và… chơi game!
Để sử dụng máy, trước tiên, ta phải cắm phích vào ổ điện, bật máy CPU và bật máy màn hình. Tiếp đó, nếu tạo lập văn bản, ta nhấn hai lần chuột trái vào biểu tượng “W” (microsolf word) trên màn hình rồi sử dụng các phím chữ, đấu… nhập thông tin vào trang trắng trên màn hình. Để sử dụng các chương trình khác, ta cũng mở máy rồi sử dụng bàn phím và con chuột để nhập thông tin và tạo các lệnh.
Nhờ chiếc máy vi tính, người học sinh có thể trao đổi thông tin học tập, tâm tư tình cảm nhanh chóng, tiện dụng, có thể xem và thực hiện các thí nghiệm vật lí, hóa học, có thể tìm kiếm các thông tin cần thiết cho việc học tập… Ngoài ra, ta có thể giải trí bằng cách chơi trò chơi trên máy tính…
Chiếc máy vi tính là người bạn vô cùng hữu ích đối với người học sinh. Để bảo vệ người bạn đặc biệt này, chúng ta cần thường xuyên vệ sinh bàn phím, phủi bụi cho các bộ phận cùa máy. Ngoài ra, ta cần để máy nơi khô ráo, tránh ẩm ướt. Đặc biệt, nên cài một chương trình diệt “virus” – tác nhân có thể phá hoại dữ liệu trong máy. | Giới thiệu về một đồ dùng trong học tập hoặc trong sinh hoạt | 638 | |
Giới thiệu về Nguyễn Bỉnh Khiêm – Tác giả của bài thơ Nhàn
Hướng dẫn
Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ, nhà văn hóa, nhà sấm truyền nổi tiếng của Việt Nam. Bài giơi thiệu về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêmsẽ cung cấp thêm những thông tin thú vị về cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ này, các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
1. Tiểu sử Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), là một nhà triết học vĩ đại, một nhà thơ lớn của Đại Việt trong thế kỉ XVI. Xuất thân trong một gia đình danh gia vọng tộc ở làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương (nay thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng).
– Nguyễn Bỉnh Khiêm là người tài cao, học rộng
Nguyễn Bỉnh Khiêm có tài cao, học rộng nhưng sống giữa thời loạn lạc nên phải nuôi chí chờ thời, tới năm 43 tuổi ông mới đi thi, năm 1535 ông đỗ Trạng Nguyên, làm đại quan dưới triều nhà Mạc. Sau khi làm quan được tám năm thì ông dâng sớ xin vua Mạc Phúc Hải chém mười tám kẻ lộng thần nhưng không được chấp nhận. Sau đó ông đã xin về trí sĩ ở quê nhà, tự đặt cho mình tên hiệu là Bạch Vân cư sĩ, dựng một chiếc am Bạch Vân, lập quán Trung Tân mà mở trường dạy học.
– Ông là thầy của nhiều học trò lỗi lạc
Ông là bậc thầy của nhiều học trò lỗi lạc như: Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ,…. Các tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm gồm có các tập thơ tiêu biểu như: tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập (trên dưới 1000 bài), tập thơ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi (khoảng 200 bài), tập sấm kí Trình Quốc Công sấm kí,…
2. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm giàu suy tư, triết lí và thể hiện một quan niệm nhân sinh coi trọng nhàn tâm, xa lánh chốn bon chen công danh lợi lộc, đặc biệt là giàu tình ưu ái. Những bài thơ chứ Hán của ông mang tính hàm súc, từ ngữ rất điêu luyện và cao khiết, còn các bài thơ bằng chữ Nôm lại bình dị, hồn nhiên và đậm đà phong vị dân gian quen thuộc. Một số những bài thơ, bài văn tiêu biểu của ông còn được người đời truyền tụng như: “Hữu cảm”, “Trung Tân ngụ hứng”, “Tăng thử”, “Nhàn”,…Trong đó bài thơ “Nhàn” là bài thơ tiêu biểu nhất cho triết lí nhân sinh nhàn tâm của ông.
Nguyễn Bỉnh Khiêm được người đời ngưỡi mộ và xướng danh là “Tuyết Giang phu tử”, xứng đáng là “Như nhật trung thiên” (Mặt trời giữa bầu trời).
Theo | Giới thiệu về Nguyễn Bỉnh Khiêm – Tác giả của bài thơ Nhàn | 461 | |
Giới thiệu về Nguyễn Trãi – Tác giả của bài thơ Bình Ngô đại cáo
Hướng dẫn
Giới thiệu về tác giả Nguyễn Trãi nhằm mang đến cho người học những thông tin chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi. Để có thêm những đơn vị kiến thức hữu ích nhất cho quá trình tìm hiểu bài thơ Bình ngô đại cáo, các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
1. Tiểu sử tác giả
Tác giả Nguyễn Trãi tên thật là Ức Trai, quê gốc ông ở xã Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Sau này ông chuyển về làng Ngọc Hồi (nay là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội). Ông là một vị anh hùng dân tộc, một nhà văn hóa kiệt xuất, nhân tài số một của lịch sử Việt Nam thời phong kiến. Ngày nay ông được coi là một danh nhân văn hóa thế giới.
Nguyễn Trãi là con trai của Nguyễn Ứng Long (sau này là Nguyễn Phi Khanh) và là cháu ngoại của quan tư đồ Trần Nguyên Đán – một nhà thơ xuất sắc cuối triều Trần. Trong kháng chiến chống giặc Minh, ông là một quân sư đắc lực cho Lê Lợi, cuộc kháng chiến thắng lợi.
2. Sự nghiệp sáng tác
Mùa xuân năm 1428 Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo – một áng thiên cổ hùng văn và là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc. Nguyễn Trãi là một người thanh khiết bậc nhất trong những người thanh khiết, cuộc đời và sự nghiệp của ông là một bài ca yêu nước và tự hào dân tộc. Bên cạnh đó, ông con là một người có tài năng lỗi lạc, văn võ song toàn, để lại cho nhân loại một di sản to lớn về quân sự (Quân trung từ mệnh tập), văn hóa, lịch sử (Lam Sơn thực lực), địa lí (Dư địa chí), ngoại gia và đặc biệt là sự nghiệp văn học.
Bình Ngô đại cáo là một áng thiên cổ hùng văn, tuyên ngôn độc lập của dân tộc; Quốc âm thi tập lại được coi là tập thơ Nôm tiêu biểu nhất của văn chương Việt Nam suốt hơn 500 năm. Tư tưởng bao trùm trong thơ văn của ông là tư tưởng yêu nước, thương dân, bên cạnh đó ông gửi gắm những tư tưởng triết lí sâu sắc và giản dị – kết quả của một đời trải nghiệm, nhân cách cứng cỏi, thanh cao. Nghệ thuật trong thơ văn của Nguyễn Trãi đạt đến trình độ tinh luyện. Văn chính luận thì giàu nhân nghĩa, sắc bén và lập luận chặt chẽ, thơ thì ẩn chứa cả một thế gới thẩm mĩ phong phú và đa dạng. Thể lục ngôn xen vào bài thất ngôn là sáng tạo độc đáo của riêng ngòi bút Nguyễn Trãi.
Như vậy, Nguyễn Trãi là một nhà văn hóa, nhà tư tưởng và là một nhà thơ văn kiệt xuất của nhân loại.
Theo | Giới thiệu về Nguyễn Trãi – Tác giả của bài thơ Bình Ngô đại cáo | 506 | |
Giới thiệu về Nguyễn Trãi – Tác giả của bài thơ Cảnh ngày hè
Hướng dẫn
Để có thêm những thông tin hữu ích về tiểu sử cũng như sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi, các bạn hãy cùng tham khảo bài Giới thiệu về tác giả Nguyễn Trãi mà giới thiệu dưới đây nhé!
1. Tiểu sử Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi (1380 – 1442), có hiệu là Ức Trai, quê ở làng Nhị Khê, Thường Phúc, Hà Tây (nay là huyện Thường Tín, Hà Nội). Ông là một nhà chính trị, nhà thơ dưới thời nhà Hồ và nhà Lê Sơ Việt Nam.
Từ thuở nhỏ, Nguyễn Trãi đã rất thông minh và hiếu học, sớm được giáo dục và rèn luyện toàn diện, cùng cha ra làm quan nhà Hồ. Khi giặc Minh xâm lược, ông khước từ mọi mua chuộc của giặc minh không ra làm quan và nuôi chí tìm đường cứu nước. Năm 1417 ông tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và dâng “Bình Ngô Sách” là những kế sách lớn tiêu diệt giặc mà ông đã ngâm cứu và ấp ủ từ nhiều năm.Năm 1428 đất nước hoàn toàn giải phóng ông là khai quốc công thần, tiếp tục giúp vua, một lòng xây đắp vương triều Lê.
2. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi là tác giả của nhiều tác phẩm mang giá trị vô giá về mọi mặt văn học, quân sự, lịch sử, địa lí và tư tưởng như: Quân Trung từ mệnh tập, Ức Trai thi tập, Quốc Âm thi tập, Dư địa chí, Bình Ngô Đại Cáo,… Đánh giá về những cống hiến nhiều mặt của Nguyễn Trãi đối với lịch sử dân tộc Việt Nam cũng như đối với sự phát triển của các giá trị nhân loại, năm 1980 Tổ chức Văn hóa Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi nhận Nguyễn Trãi là một Danh nhân văn hóa thế giới. Được kỉ niệm trên toàn thế giới.
Đối với riêng Việt Nam, Nguyễn Trãi là một nhà văn, nhà thơ lỗi lạc, nhà chính trị và quân sự đại tài, một nhà địa lý sử học am hiểu sâu rộng, một nhà tư tưởng lớn dành cả cuộc đời tận tụy lo cho nhân dân và đất nước. Có đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn học và tư tưởng của Việt Nam. Nguyễn Trãi nằm trong danh sách 14 vị anh hùng dân tộc Việt Nam.
Theo | Giới thiệu về Nguyễn Trãi – Tác giả của bài thơ Cảnh ngày hè | 415 | |
Giới thiệu về Nguyễn Trãi – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8
Hướng dẫn
Giới thiệu về Nguyễn Trãi
Bài làm
“Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu
Tiếng gươm khua, tiếng thơ kêu xé lòng”.
Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc, nhà thơ, nhà tư tưởng chính trị lớn của dân tộc. Người như một ngôi sao Khuê sáng rọi trong tâm hồn cũng như trái tim mỗi người dân Việt Nam.
Nguyễn Trãi, hiệu là Ức Trai. Ông sinh năm 1380 và mất ngày 19 tháng 9 năm 1442. Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước nồng nàn. Lên năm tuổi, mẹ mất, Nguyễn Trãi sống trong tình yêu thương của ông ngoại và cha. Nhưng khi vừa tròn mười tuổi, ông ngoại cũng đột ngột qua đời, Nguyễn Trãi cùng cha về ở tại làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội. Tuy tuổi thơ của Người là chuỗi những nỗi đau, những vết thương hằn sâu mãi nhưng Nguyễn Trãi vẫn vươn lên học hành chăm chỉ. Năm 1400, Nguyễn Trãi đỗ Thái học sinh và cùng cha làm quan dưới triều nhà Hồ. Sau khi đất nước bị quân Minh xâm lược, Nguyễn Trãi tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Năm 1407, cha ông bị giặc Minh bắt sang Trung Quốc. Trong cuộc khởi nghĩa, ông trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn trong việc bày mưu tính kế cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao với quân Minh. Ông là khai quốc công thần và là văn thần có uy tín ở thời đầu nhà Hậu Lê. Sự thật luôn phũ phàng, số phận không như mong muốn! Năm 1442, khi Nguyễn Trãi trở về giúp vua Lê Thái Tông việc nước thì gia đình ông bị tru di tam tộc trong vụ án oan Lệ Chi Viên. Ngày 19 tháng 9 năm 1442, Nguyễn Trãi đã vĩnh viễn đi xa. Cuộc đời đã đóng sập trước mắt con người tài hoa nhưng bạc mệnh. Sự ra đi của Người là nỗi xót thương của bao người dân Việt Nam thời ấy. Đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi.
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là một triết lí sâu sắc. Nhân nghĩa là thương dân, vì dân, đồng thời cũng thể hiện sự khoan dung độ lượng, là lí tưởng xây dựng đất nước thái bình. Tư tưởng nhan nghĩa của ông kế thừa quan điểm nhân nghĩa Nho giáo nhưng đã phát triển hơn, tạo nên dấu ấn trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
“Nhắc đến ông là thấy thơ
Như một nguồn thiêng chẳng bến bờ”.
Thơ của ông gửi gắm niềm mơ ước mà ở đó tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân thấm nhuần, hoà quyện trong từng tác phẩm. Những tiếng thơ bất hủ, vang dội mà cũng không kém phần lắng đọng, tinh tế, bình dị như chính sự cảm nhận nhẹ nhàng của Nguyễn Trãi. Bao trùm thơ của ông là nguồn cảm hứng bắt nguồn từ tình yêu nước và lòng nhân đạo sâu sắc. Ông đã làm cho tiếng Việt trở thành ngôn ngữ văn học giàu và đẹp. Con người ông, thơ văn của ông là sự hội tụ vẻ đẹp của tinh hoa đất Việt.
Nguyễn Trãi, tên của Người đã gắn liền với từng con đường, góc phố, những trường học như sự tưởng nhớ, sự trân trọng công ơn cao quý của Người đồng thời thể hiện niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam khi được sinh sống, làm việc và học tập ở nơi được đặt tên Người arứi hùng dân tộc, văn võ song toàn!
Thời gian thấm thoắt trôi, dòng chảy của cuộc đời vẫn thế nhưng hình ảnh của Nguyễn Trãi và những gì Người để lại sẽ mãi sống trong lòng dân tộc. Tự hào biết mấy khi dân tộc Việt Nam ta có một người tài như Nguyễn Trãi. Cuộc đời, sự nghiệp của Người mãi mãi là tấm gương soi đường, chỉ lối để xây dựng non sông ngày một lớn mạnh, ngày một phát triển, sánh ngang với các cường quốc năm châu. Thời gian sẽ không bao giờ có thể làm phai mờ chân dung của Nguyễn Trãi trong tâm hồn và trái tim con người Việt Nam.
(Trường THCS Lê Lợi)
>> Xem thêm Thuyết minh về một món ăn mà em yêu thích tại đây.
Tags:Bài văn hay lớp 8 · Giới thiệu về Nguyễn Trãi | Giới thiệu về Nguyễn Trãi – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8 | 766 | |
Đề bài: Giới thiệu về ngôi nhà thân yêu của em
Bài làm
Nếu có nơi nào để em dẫu đi xa đến mấy cũng nhớ về với biết bao yêu thương, mong nhớ thì đó chính là ngôi nhà thân yêu của em. Nơi đó có cha, có mẹ, có người anh trai yêu quý và có cả những cảnh trí vô cùng thân quen. Hình ảnh ngôi nhà đã in sâu vào tâm trí của em.
Ngôi nhà được ba mẹ xây dựng vào năm 1994, khi em chưa ra đời, và được hoàn thiện sau ba năm…Mẹ nói, ngôi nhà là kết quả của một quá trình lâu dài bố mẹ lao động, cố gắng. Bố mẹ đã từng đào đất làm gạch rồi xây lò nung gạch lấy nguyên liệu xây nhà. Mỗi lần nghe mẹ kể, em lại xúc động vô cùng.
Nhà em được bao quanh bởi một hàng rào cây găng. Bố em xén tìa bờ tường tự nhiên ấy rất gọn gàng, đẹp mắt. Cổng nhà cao chừng hai mét, rộng một mét rưỡi được làm bằng sắt dựng trên hai trụ xây bằng gạch. Nhà có hai tầng, mặt tiền rộng bốn mét, cao bảy mét và chiều dài của ngôi nhà là mười hai mét. Mặt tiền quay về hướng nam được sơn màu xanh da trời, trước cửa nhà có trồng một giàn hoa ti-gôn. Trên đường đi học về, từ xa nhìn lại, ngôi nhà của em rất dễ nhận biết bởi giàn ti-gôn xanh tươi và những chùm hoa màu hồng duyên dáng gần như phủ kín phía trước.
Tầng một có bốn phòng. Bước qua cánh cửa gỗ màu nâu gụ là phòng khách rộng rãi, thoải mái. Phòng có chu vi 3m*4m và cao 4mét, ngoài cửa chính còn có hai cửa sổ mở ra hướng đông đón ánh mật trời. Bộ ghế salon màu tráng sữa được đặt áp tường phía tây. Ở phía Bắc, ngăn cách phòng khách với nhà bếp là một chiếc tủ thấp chừng một mét. Trên tủ đặt ti vi và những đồ trang trí như búp bê Ma-tri-ô-ska, con lật đật,… Giữa chiếc tủ và tường phía đông có một lối đi rộng chừng mét rưỡi. Lối nhỏ ấy dẫn vào phòng bếp. Gọi là phòng bếp nhưng nơi đó kiêm luôn nhà bếp và nhà ăn. Phòng có chu vi 2,5m*4m, ở giữa đặt một chiếc bàn ăn hình tròn. Áp sát phía tày là kệ bếp ga, phía trên kệ bếp là giàn bát bằng gỗ. Liền ngay nhà ăn là cầu thang đi lên tầng hai. Kề tiếp cầu thang là nhà vệ sinh và nhà tắm. Phòng của bố mẹ em nằm sâu trong cùng. Căn phòng khá rộng và được trang trí chủ đạo bằng màu tím – màu mẹ em rất thích – trông vô cùng dịu mát.
Cầu thang dẫn lên tầng hai rộng chừng nửa mét được lát đá ga-ni-to. Đi hết các bậc cầu thang, lên đến tầng hai, nhìn sang bên phải là phòng của anh trai em và bên trái là căn phòng đáng yêu của em. Phòng anh trai em khá gọn gàng thể hiện rất rõ tính cách của anh. Áp sát tường phía tây là bàn thờ gia tiên. Phía đông là hai cửa sổ rất rộng. Tường phía nam được trổ một cửa phụ dẫn ra ban-công đón gió nam mát mẻ mỗi khi hè đến. Căn phòng của em sặc sỡ nhất trong căn nhà yêu dấu. Nó cao tới ba mét và có chu vi là 3m*4m được trang trí bằng một màu hồng rực rỡ. Chiếc giường nhỏ sát tường phía tây được trải ga hổng. Bàn học sát tường phía nam trải khăn hồng; phía trên đó, giá sách của em cũng được bọc dán bàng giấy hồng. Những bức tranh các nhân vật hoạt hình Sakura, Tiểu Anh Đào, Đô- rê-mi,… phần lớn cũng màu hồng. Và đậc biệt, các đồ trang trí "handmade" của em như những chú hạc, những chiếc lọ hoa, những chiếc xúc xích cũng được làm bằng giấy hồng rất đáng yêu! Tường phía đông cũng có một cửa sổ rộng mở và tường phía bắc thì có một cửa trổ ra sân phơi. Khoảng sân khá rộng thường là nơi phơi quần áo hoặc những đồ lặt vặt trong nhà.
Ngoài ngôi nhà xinh xắn, nhà em còn có một khoảng sân vườn khá rộng. Trong đó, bố em trồng rất nhiều loại cây: cây xoài, cây bưởi, cây trứng gà… Những trưa hè nóng nực, được dạo dưới bóng mát khu vườn thì vô cùng thích thú!
Ngôi nhà thân yêu của em đã bao năm rồi không hề thay đổi, nó gắn bó với em như một người bạn lớn luôn bao dung và sẻ chia những niềm vui, nỗi buồn tuổi thơ. Nhớ về căn nhà ấm áp, những kỉ niệm xúc động lại ùa về khiến em thêm yêu ngôi nhà hơn nữa. | Giới thiệu về ngôi nhà thân yêu của em | 837 | |
Đề bài: Giới thiệu về nhà rông
Bài làm
Vùng Bắc Tây Nguyên là thủ phủ của các dân tộc: Zarai; Bahnar; Xê Đăng, zẻ Triêng, Brâu,… Nơi đây là một vùng đất đậm đặc truyền thống sử thi và là nơi cội nguồn của ngôi nhà rông truyền thống. Toàn tỉnh Kon Tum hiện nay đã xây dựng được 381 nhà rông chiếm tỉ lệ trên 50% số thôn, buôn, làng mà tỉnh Kon Tum phấn đấu sẽ xây dựng 100% nhà rông vào năm 2005.
Hội thảo khoa học về Nhà rông – Nhà rông văn hoá được tổ chức đầu tiên tại thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum, đã quy tụ nhiều giới nghiên cứu khoa học xã hội ở Hà Nội. Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Tây Nguyên – Trường Sơn, duyên hải miền Trung với 52 bản tham luận khoa học, trong đó 2/3 số tham luận là của các nhà nghiên cứu ở các cục, vụ, trực thuộc Ủy ban Khoa học xã hội – Nhân văn và Bộ Vãn hoá – Thông tin (Viện Nghiên cứu văn hoá nghệ thuật, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật và Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Ban Tôn giáo Chính phủ, Cục Bảo tồn bảo tàng,…).
Hội thảo đã đặt ra nhiều vấn đề lí thú, tranh luận sôi nổi giữa các nhà nghiên cứu khoa học và các nhà quản lí văn hoá để tìm ra được tiếng nói chung về việc xác định nhà rông – ngồi nhà chung truyền thống của Tây Nguyên: hình dáng, kiến trúc, vật liệu xây dựng, quy cách, quy trình xây dựng hay phần hồn với những tín ngưỡng, sinh hoạt văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc của nó. Câu trả lời thứ nhất của hội thảo là: nhà rông là một di sản văn hoá độc đáo cần được bảo tồn và phát huy. Hàng trăm ngôi nhà rông của đồng bào Tây Nguyên đã sừng sững tồn. tại với thời gian. Nhà rông – niềm tự hào của đồng bào Tây Nguyên nói riêng và cả cộng dồng dân tộc Tây Nguyên – Trường Sơn và các tỉnh duyên hải miền Trung với nét độc đáo riêng biệt, dáng vươn cao vứt, bề thế, thể hiện tính vươn lên mạnh mẽ, vượt qua gian lao, vất vả đề tự khẳng định mình trong quá khứ và hiện tại. Sự ra đời của ngôi nhà chung (nhà rông) tự bản chất của nó gắn với những hình thái kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên.
Nhà rông Tây Nguyên được xây dựng chủ yếu bằng các vật liệu của núi rừng Tây Nguyên như tranh, tre, gỗ, lồ ô,… và được xây dựng cất trên một khoảng đất rộng. Nằm ngay trong khu vực trung tâm của buôn làng. Chức năng của nhà rông truyền thống là nơi thực thi các luật tục, nơi tiếp khách, nơi diễn ra các sự kiện trọng đại của buôn làng, nơi già làng tập hợp dân làng để bàn việc làng, việc nước, nơi thể hiện các lễ hội – tâm linh cộng đồng và là nơi các thế hệ nghệ nhân già truyền đạt lại cho thế hệ trẻ những giá trị văn hoá truyền thống,… Ngôi nhà chung ấy còn là nơi lưu giữ các hiện vật truyền thống; chiêng, trống, cồng, vũ khí, đầu các con vật hiến sinh trong các ngày lễ. Độ cao của ngôi nhà rông truyền thống có khi cao đến 18m và mái nhọn, cao vút, người thợ thù công tài tình, khéo léo chỉ bằng vật liệu của núi rừng mà tạo nên lối kiến trúc độc đáo, bền vững với nhiều loại hoa văn phong phú mà gam màu chủ đạo là màu đen, trắng và nâu đậm.
Một câu hỏi đặt ra trong hội thảo là ngôi nhà rông văn hoá ra đời có làm mất đi những gì vốn có của nhà rông truyền thống hay không? Có nhà nghiên cứu cho rằng nhà rông có vai trò giống như ngôi đình của người Việt, song cũng có đa số ý kiến cho là khác, bởi lẽ theo Giáo sư – Tiến sĩ Lâm Chí Biền (Viện Nghiên cứu văn hoá nghệ thuật), nhà rông là biểu trưng hướng về cõi dương. Đình làng của người Việt hướng về cõi âm, ở mỗi đình làng người Việt khi xây dựng mái thấp bé, phía trước và sau đình làng dựng theo thuyết phong thuỷ… Điều thống nhất trong hội thảo là đa số các nhà quản lí văn hoá và các nhà khoa học đều cho rằng, nhà rông văn hoá là một thiết chế văn hoá cơ sở hiện nay trong quá trình xây dựng đời sống văn hoá cơ sở. Tiếp thu có chọn lọc nhà rông truyền thống và đưa vào hoạt động như một điểm sinh hoạt văn hoá ở buôn làng, cho dù tên gọi là nhà rông, nhà Gươi, nhà Zơag,… hay có nhà nghiên cứu gọi là ngôi nhà sinh hoạt văn hoá mang hình dáng nhà rông, thì đại đa số vẫn thông nhất chung là chức năng tâm linh và các hoạt dộng việc lùng, việc nước vẫn được tổ chức tại ngôi nhà chung cộng đồng ấy. Nhà rông chỉ có dân tộc Bahna – Zởgao, người zẻ Triêng, Xê Đăng, Zarai ở Bắc Tây Nguyên (tỉnh Gia Lai, tỉnh Kon Tum) mới có, ngoài ra các dân tộc khác như dân tộc Ê Đê thì chỉ có nhà dài.
Nhà rông – nhà rông văn hoá là một biểu tượng văn hoá rất đáng tự hào của đồng bào các tỉnh Tây Nguyên – Trường Sơn và các tỉnh duyên hải miền Trung. Nhà rông là một di sản văn hoá trân trọng, giữ gìn và phát huy giá trị của nó trong việc bảo tồn và giữ gìn văn hoá dân tộc. | Giới thiệu về nhà rông | 997 | |
Giới thiệu về nhà thơ Đặng Dung – Tác giả của bài thơ Thuật Hoài
Hướng dẫn
Bài Giới thiệu về Đặng Dungsẽ cung cấp thêm những thông tin về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả Đặng Dung, qua đó giúp người học hiểu hơn về bối cảnh sáng tác cũng như những tâm sự của nhà thơ thông qua bài thơ Thuật hoài, các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
1. Giới thiệu chung
Tác giả Đặng Dung (1373 – 1414) quê ở Tả Hạ, Thiên Lộc, Nghệ An (nay là huyện Can Lộc, Hà Tĩnh). Ông là một tướng lĩnh của nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam. Đây là một người anh hùng lẫm liệt hi sinh vì nước, một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử văn học Việt Nam.
Đặng Dung là con của Đặng Tất – một tướng tài đã khôi phục lại đất nước tới vùng Ninh Bình. Dưới triều của nhà Hồ, Đặng Dung giúp cha cai quản đất Thuận Hóa, khi giặc Minh sang xâm lược, nhà Hồ sụp đổ, Đặng Dung cùng cha của mình tham gia cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi – Giản Định Đế. Sau này vì nghe lời dèm pha của bọn hoạn quan mà Giản Định Đế đã đem lòng ngờ vực và giết cha Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Chân.
2. Những sự kiện tiêu biểu trong cuộc đời
Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Cảnh Chân) rước Trần Quý Khoáng về Chi La (Hà Tĩnh) tôn lên làm vua hiệu Trùng Quang Đế quyết tâm chống giặc Minh. Vì nhu cầu hợp nhất hai lực lượng, các tướng của Trần Quý Khoáng đem Trần Ngỗi về Chi La tôn làm Thượng Hoàng. Dù phải chiến đấu dưới quyền của kẻ từng giết cha mình nhưng ông đã gạt qua một bên, tất cả vì sự nghiệp chung của đất nước, giữ vững được phẩm cách đường đường của mộ vị tướng. Từ đó ông đã tham gia rất nhiều trận chiến, tiêu biểu là trận đánh tháng 9 năm 1413 khu vực Thái Gia (Quảng Trị).
Trận đánh thất bại, ông cùng vua Trùng Quang Đế bị bắt giải về Trung Quốc, trên đường đi ông đã trầm mình tự tử. Ngoài là một tấm gương anh hùng tiết liệt, Đặng Dung còn được xem là một nhà thơ lớn của dân tộc, tuy chỉ để lại được vài tác phẩm. Với bài thơ “Cảm hoài” Đặng Dung đã ghi tên tuổi của mình vào trang lịch sư văn học Việt Nam va trong lòng người đọc mãi về sau này.
Theo | Giới thiệu về nhà thơ Đặng Dung – Tác giả của bài thơ Thuật Hoài | 435 | |
Đề bài: Giới thiệu về Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh
Bài làm
1. Hoàn cảnh ra đời
Tháng 1- 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Bác về nước, để chỉ đạo cách mạng trong nước. Tháng 5 năm ấy Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Ðảng họp ở hang Pác Bó dưới sự chủ tọa của Người, quyết định thành lập Việt nam độc lập đồng minh tức là mặt trận Việt minh để đoàn kết đông đảo nhân dân đánh Pháp đuổi Nhật, giải phóng dân tộc. Cần tranh thủ thêm sự giúp đở của đồng minh, mà đồng minh gần ta nhất là Trung Quốc. Người hiểu biết trung Quốc hơn ai hết nên Trung ương cử Người đi Trùng Khánh nhằm mục đích tranh thủ sự viện trợ của chính phủ Tưởng Giới Thạch, bên trong thì đặt quan hệ với Ðảng Cộng Sản Trung Quốc. Bấy giờ Người đổi tên là Hồ Chí Minh.
Ði suốt trong 10 ngày 5 đêm, đến một thị trấn Túc Vinh thuộc tỉnh Quảng Tây, bị khám xét, đồng chí người Trung Quốc dẫn đường không có giấy tờ bị bắt theo. Bọn bộ hạ của Tưởng cho là Bác sang phá tổ chức Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội của Trương Công Bội và Nguyễn Hải Thần, do chúng đỡ đầu. Cũng bởi thế cho nên những bức điện của Bác gởi cho bọn cầm quyền trong chính phủ Tưởng đều không được trả lời.
Chúng giải Bác đi khắp nơi, tay bị trói cổ mang vòng xích, dầm mưa dãi nắng, trèo núi, vượt truông. Hơn một năm trong nhà tù Tưởng Giới Thạch Bác đã làm 134 bài thơ in trong cuốn Nhật lý trong tù trong đó có bài Mới ra tù tập leo núi làm sau khi Bác đã ra khỏi tù nhưng nhà xuất bản văn học vẫn in chung trong tập Nhật ký trong tù, xuất bản 1960.
Tháng 5- 1990, kỷ niệm ngày sinh 100 của Bác, người ta đã tìm được 20 bài thơ chữ hán viết trong thời kỳ bác bị giam giữ trong nhà tù Tưởng Giới Thạch. Như vậy, Nhật lý trong tù sẽ có 134 bài thơ bằng chữ Hán.
Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Tây ngày 29-8-1942 được trả tự do ngày 10-9-1943, một năm sau nữa, tháng 9-1944, nhà đương cục Trung Quốc mới để Bác về nước. Bác viết Ngục trung nhật ký trong hoàn cảnh ấy. Ơí đây thơ bật ra ngoài ý muốn của Người.
Nhật ký trong tù là cuốn nhật ký ghi chú sự việc xảy ra trong những ngày Bác bị giam giữ. Nhật ký trong tù viết bằng thơ chữ Hán không phải là một bài thơ trường thiên liền mạch mà là nhiều bài, mỗi bài về một vấn đề, thể điệu có thay đổi nhưng phần lớn là thơ thất ngôn tứ tuyệt.
Thơ văn trong tù xưa nay có nhiều bài nổi tiếng như Thi tù tùng thoại của Huỳnh Thúc Kháng, Xiềng Xích của Tố Hữu. Văn học thế giới có tác phẩm vĩ đại Viết dưới giá treo cổ của Phu Xích và Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh là một điều hiếm có.
2. Nội dung tác phầm Nhật ký trong tù
a. Nhật ký trong tù thực chất là một bức tranh thu nhỏ của xã hội Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch
Xã hội Trung Quốc thời kỳ 1942-43 mục ruỗng từ lâu đời. Nhật ký trong tù đã ghi lại sự việc Bác đã phải sống, đã chứng kiến. Quang cảnh Bác nhìn thấy ở những nơi bị giam hay bị giải đi qua: chuyện bị bắt ở Túc Vinh, sáng trưa, chiều tối. Chuyện cái cùm, dây trói, cảnh người tù cờ bạc bị chết. Ðây là đặc trưng của bút pháp tả thực, đứng ở một góc độ nhất định để diễn tả được một cách rõ ràng, chính xác… Bác đã đứng ở góc độ người tù nhân đã tường tận nếm trải mọi cực hình, chứng kiến mọi sự việc xảy ra trong nhà tù Tưởng Giới Thạch.
b. Nhật ký trong tù thể hiện một tâm hồn cao đẹp của Người
Nói tới tâm hồn có nghĩa là nói tời tình cảm trước hết nói tới tình yêu thương con người của Bác. Trong văn học nhất là văn học cổ điển, có những trường hợp tư tưởng tác phẩm tự đặt ra những vấn đề mà tác giả không hề nghỉ tới như truyện Kiều của Nguyễn Du. Với Nhật ký trong tù thì trái lại, Bác chưa nói được hết những điều muốn nói. Nhưng không phải vì thế mà phẩm chất đạo đức của Bác không ngời sáng trong thơ. Ðồng chí Viên Ưng một nhà thơ Trung Quốc, sau khi đọc Nhật ký trong tù viết: Chúng ta được gặp tâm hồn vĩ đại của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng…tôi cảm thấy trái tim vĩ đại đó tỏa ánh sáng chói ngời trong một hoàn cảnh tối tăm.
Ánh sáng ấy trước hết là ánh sáng của tình thương người. Ðồng chí Phạm Văn Ðồng nói: Tình nhân đạo, tình thương đồng bào đó là điều sâu sắc nhất và tốt đẹp nhất trong con người Hồ Chủ tịch.
c. Nhật ký trong tù đã thể hiện một tinh thần bất khuất kiên cường
Tình thương người lòng yêu đời, yêu nước trong thơ Bác về một mặt là kế tục truyền thống thơ xưa, nhưng mặt khác lại không giống thơ xưa, nó là tâm tình của một người Cộng sản, nó gắn liền với chiến đấu, vững tin ở chiến thắng. Bác từng nói rất rõ:
“Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
(Cảm tưởng đọc Thiên gia thi)
Ý chí sắt đá và tinh thần rèn luyện cao độ, Bác đã giữ vững qua muôn vàn khổ cực và cũng đã từng nói lên được trong những hình ảnh nên thơ:
“Gạo đem vào giã bao đao đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông”
(Nghe tiếng giã gạo)
Cuộc đời hoạt động của Bác là một bài thơ lớn, tràn đầy sức sáng tạo. Nhật ký trong tù không thể nào sánh được với toàn bộ bài thơ lớn ấy. Bác là người làm thơ trong cuộc đời nhiều hơn văn thơ. Trong sự nghiệp chung của Bác văn thơ chỉ là chuyện phụ.
Trong cuộc sống nghèo nàn ấy, Bác đã tìm đủ đề tài cho hơn một trăm bài thơ. Cơ hồ như đối với Bác chuyện gì cũng thành thơ.Chuyện núi non trăng hoa thành thơ mà chuyện dưa cà mắm muối cũng thành thơ. Bác làm thơ vì một cái răng, một cái gậy, kể cả những chuyện rất ít nên thơ cũng thành thơ. Cho nên khi Bác nói trong thơ nên có thép ta cũng cần tìm hiểu thế nào là thép trong thơ. Có lẽ phải hiểu một cách rất linh hoạt mới đúng.”Không phải chỉ nói chuyện thép và giọng thép mới là có tinh thần thép”. Trong thơ văn cũng như trong cuộc đời cái điều quan trọng nhất vẫn là cái thực chất của con người Nhật ký trong tù ít có những lời hô to nói lớn:
“Giọng của người không phải sấm trên cao
Thấm từng tiếng ấm vào lòng mong ước”
(Sáng tháng năm)
Bác cứ nhỏ nhẹ, cứ hồn nhiên mà toàn bộ tập thơ toát lên một tinh thần thép, tinh thần của một anh hùng bất khuất, luôn luôn vững bước tiến lên, bền gan chiến đấu.
Sống trong tù lúc nào Bác cũng thể hiện được phong thái ung dung, bình tĩnh, phảng phất thơ văn của nhà nho xưa đầy khí tiết. Nhưng cái ung dung ngày trước có khi là cái ung dung của người quay lưng lại với cuộc đời: trả áo mũ về sống ẩn dật, hay bất chấp mọi nỗi thăng trầm của thế sự. Bác hoàn toàn không phải như vậy. Ðồng chí Phạm Văn Ðồng nói:”Hồ Chủ tịch là hình ảnh của sức mạnh bình tĩnh không khiếp sợ, không hoảng hốt, đó là sức mạnh của những người sống một nhịp với trào lưu của thế giới, với quy luật tiến hóa của lịch sử. Chính Bác cũng đã nói:
“Sự vật vẫn xoay đà định sẳn
Hết mưa là nắng ửng lên thôi”
(Trời hửng)
Nhật ký trong tù chúng ta tìm thấy một sức chịu đựng vô cùng mãnh liệt ở Bác. Nhà tù đã đày đọa thân thể Bác, chúng giải Bác đi khắp nhà tù này đến nhà tù khác, tối ngủ chân bị cùm, đi thuyền thì bị treo giò
“Bốn tháng cơm không no
Bốn tháng đêm không ngủ
Bốn tháng không giặt giũ
Bốn tháng không thay quần áo”
Bị giam lâu, chân mềm như trùn, thế mà lúc ra tù, Bác tập leo núi ngay để chờ lúc băng núi rừng về nước. Ðó là cái gương cương nghị ở Bác.
Bài thơ “Bốn tháng rồi” đã tổng kết một chặng đường đấu tranh lâu dài, khốc liệt của Bác ơ trong tù. Chứng kiến những nổi đau khổ đè nặng lên con người Bác, huỷ hoại thân thể Bác chúng ta cảm thấy hết sức đau lòng và càng kính yêu Bác. Chúng ta cũng vô cùng sung sướng tự hào trước chiến thắng của tinh thần Bác, tinh thần của một chiến sỹ công sản vĩ đại đã bất chấp cả bạo lực của kẻ thù. Bằng sức mạnh của nghệ thuật, Người đã truyền cho chúng ta một bài học của một tâm hồn sáng chói, bất diệt:
“Vật chất tuy đau khổ
Không nao núng tinh thần “
(Bốn tháng rồi)
Nhờ có tinh thần thép mà mọi gian nguy, hiểm nạn Bác đều vượt qua. Nhờ có tinh thần thép mà mọi thiếu thồn về vật chất Bác đã đẩy lùi. Bác là tinh hoa của lịch sử, khí phách dân tộc, và tâm hồn thời đại.
3. Nghệ thuật tác phẩm Nhật ký trong tù
a. Nhật ký trong tù đẹp một vẻ đẹp giản dị
Theo ý Xuân Diệu: “Thơ Nhật ký trong tù theo ý tôi, rất dễ và rất khó. Dễ là dễ hiểu, giản dị, gần gũi với mọi người, các bài có cơ sở đầu tiên ở thực tế dễ thông cảm. Nhưng nếu chưa nâng tâm trí mình lên đúng mức thì chưa thấy hết các tinh tuý ở bên trong thơ, cho nên nói là rất khó”. Xuân Diệu viết tiếp:”Nếu ai đọc cứ quen theo thị hiếu thông thường, thích lời thơ phải hoa mỹ như cô gái đeo nhiều nữ trang, thích vị thơ phải chua cay, ngọt…thì người ấy sẽ thấy thơ này bình thường quá. Phải ở trong cái không khí cao sáng của trí tuệ này, phải nối liền mạch với trái tim rất nhân đạo này thí mới nhận hết được cái chất thơ cao quý này. Người xưa nói:” Ðối diện đàm tâm” nghĩa là mặt nhìn mặt miệng không nói mà hai tâm hồn trò chuyện, như vậy là tinh vi lắm, là cái thứ im lặng rất cao đàm tâm được với nhau”. Ðọc Nhật ký trong tù cũng phải tế nhị như vậy. Cái hay vô song của tập thơ là chất người cộng sản Hồ Chí Minh, được đào tạo trong lò hun đúc của Lê Nin mà vẫn mang cái tinh anh của Nguyễn Trãi, Văn Thiên Tường…
Nhật ký trong tù ta tìm thấy nghệ thuật trào phúng, nụ cười trào phúng lúc thì đau đớn lúc thì chua xót “cái cùm” và sự đới nhiều khi đến kỳ lạ:
“Ðược cùm chân mới yên bề ngủ
Không được cùm chân biết ngủ đâu”
Có khi nụ cười gắn với lời tố cáo, như bài “cờ bạc” mở đầu trình bày sự việc rất điềm tỉnh
“Ðánh bạc ở ngoài quan bắt tội
Trong tù đánh bạc được công khai”
Ðột nhiên ngòi bút sắc, mạnh đánh kẻ thù bật ngã mà vẫn cứ mát mẻ:
“Bị tù con bạc ăn năn mãi
Sau trước không vô quách chốn này”
c. Nghệ thuật triết lý
Nghệ thuật thơ Bác là nghệ thuật những bài thơ triết lý sâu sắc như bài “Nửa đêm”
Hay bài “Nghe tiếng giã gạo”, bài “Học đánh cờ”. Mỗi bài thơ nêu lên một thái độ sống, hay sự nhìn nhận đúng, hoặc đề ra một cách giải quyết về những định đề đã nêu ra.
Chúng ta quán triệt toàn bộ thơ Bác là tư tưởng của một nhà yêu nước vĩ đại, một nhà Cách mạng vĩ đại. Thơ Bác không phải biểu hiện cuộc sống mà còn cải tạo cuộc sống, chỉ đạo cuộc sống. Ðó là tính Ðảng cộng sản lớn lao, đó chính là chất thép của thời đại.
Nói đến thơ Bác không thể không nói đến nghệ thuật. Vì thơ Bác là thơ của tâm hồn, thơ của tình cảm, thơ của tư tưởng, thơ của hành động, Bác đã sử dụng không biết bao nhiêu phương tiện biểu hiện thật hết sức phong phú đa dạng, nhiều lúc tưởng như trái ngược nhau mà lại có một sự nhất quán lạ lùng đó là sự bình dị tuyệt vời không có ai có thể bắt chước được.
4. Kết luận
Tập thơ Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy viết bằng chữ Hán nhưng về mặt nội dung và cả về mặt phong cách nghệ thuật rõ ràng là một tác phẩm văn học Việt nam đậm đà tính dân tộc. “một tác phẩm văn học lớn có tác dụng giáo dục sâu sắc phầm chất đạo đức Cách mạng cho tất cả chúng ta ngày nay”.(Lời nói đầu khi xuất bản cuốn Nhật ký trong tù của Viện văn học ). Tập thơ đưa ta đi sâu vào những cảm xúc, những suy nghĩ, những băn khoăn của một con người cộng sản vĩ đại trong một hoàn cảnh khó khăn. Chúng ta có cái may mắn được nghe những lời tâm sự của một vị lãnh tụ kính yêu vì thế tấm gương đạo đức cao cả của Người đối với ta vô cùng gần gũi. Tôi muốn nhắc lại ý thơ của Hoàng Trung Thông trong bài “đọc thơ Bác”
Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp
Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh
Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình | Giới Thiệu Về Nhật Kí Trong Tù Của Hồ Chí Minh | 2,406 | |
Giới thiệu về Phạm Ngũ Lão – Tác giả của bài thơ Thuật hoài
Hướng dẫn
Giới thiệu về Phạm Ngũ Lão – Tác giả của bài thơ Thuật hoài sẽ cung cấp cho người học những thông tin thú vị về cuộc đời về sự nghiệp sáng tác của Phạm Ngũ Lão. Để việc học tập được hiệu quả nhất, các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
1. Tiểu sử tác giả Phạm Ngũ Lão
Tác giả Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) quê tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Phủ Thượng Hồng (nay là huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên).
Phạm Ngũ Lão là một danh tướng giỏi của triều Trần, trở thành chỗ dựa tin cậy của ba đời vua nhà Trần. Trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên lần thứ hai (1285-1287) và lần thứ ba (1288) ông đã lập được nhiều chiến công hiển hách tại các trận: Tây Kết, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, Lạng Sơn. Ngoài ra ông đã bốn lần cất quân đi trừng phạt của quân Ai Lao, hai lần Nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành, khi nghịch thần Biếm nổi lên chống lại triều đình cũng đã bị ông đập tan. Khi Phạm Ngũ Lão mất, vua Trần Minh Tông vô cùng thương tiếc nên nghỉ chầu đến năm ngày, đó là một ân điển vô cùng đặc biệt mà ở đương thời các quý tộc nhà Trần cũng không mấy ai có được. Nhân dân xã Phù Ủng đã dựng đền thờ ngay trên nền nhà cũ của ông.
2. Sự nghiệp sáng tác
Trong sách “Đại Việt sư kí toàn thư” có chép rằng: “Ngũ Lão xuấ thân trong hàng quân ngũ nhưng rất thích đọc sách, sống phóng khoáng và có chí lớn thích ngâm thơ, xem qua có vẻ như không để ý đến việc võ bị nhưng quân do ông chỉ huy thc là đội quân trên dưới như cha con, hễ đánh là thắng”. Như vậy có thể thấy, mặc dù chuyên lo việc quân nhưng Phạm Ngũ Lão vẫn thích đọc sách và ngâm thơ. Không chỉ có tài quân sự mà ông còn để lại nhiều bài thơ về chí làm trai, về lòng yêu nước, tự tôn dân tộc. Tiếc rằng hiện nay thơ văn của ông chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán là bài “Thuật Hoài” (thể thơ thất ngôn tứ tuyệt) và bài “Vãn Hưng Đạo Đại vương (thể thơ thất ngôn bát cú). Phạm Ngũ Lão được xem như vị tướng vĩ đại nhất lịch sư quân sự Việt Nam.
Theo | Giới thiệu về Phạm Ngũ Lão – Tác giả của bài thơ Thuật hoài | 433 | |
Đề bài: Giới thiệu về quê hương Bến Tre
Bài làm
Bến Tre là một tỉnh đồng bằng cuối nguồn sông Cửu Long, tiếp giáp với biển Đông, có bờ biển dài 60km. Phía bắc giáp Tiền Giang, phía tây và tây nam giáp Vĩnh Long, phía nam giáp Trà Vinh. Thị xã Bến Tre cách TP Hồ Chí Minh 85km.
Địa hình ở đây bằng phẳng, rải rác có nhiều cồn cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, bốn bề sông nước bao bọc rất thuận tiện cho giao thông vận tải cũng như thủy lợi.
Bến Tre có khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng còn lại là mùa khô. Nhiệt độ trung bình năm từ 26 – 27°c. Lượng mưa trung bình năm từ 1.250 – 1.500mm.
Bến Tre hình thành bởi ba cù lao lớn: cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hoá do bốn con sông lớn là Tiền Giang, Ba Lại, Hàm Luông, cổ Chiên chia cắt. Là tỉnh có nhiều sông, rạch, Bến Tre có điều kiện thuận tiện để phát triển du lịch xanh, bởi ở đó còn giữ được nét nguyên sơ của miệt vườn, giữ được mói trường sinh thái trong lành, trong màu xanh của những vườn dừa, vườn cây trái rộng lớn.
Bến Tre là vựa lứa lớn của đồng bằng sông Cửu Long với nhiều sản vật và hoa quả: lúa, ngô, khoai, dứa, chôm chôm, mãng cầu, vú sữa, sầu riêng. Bến Tre giàu thủy sản với các loại: cá thiểu, cá mối, cá cơm. Cây công nghiệp có dừa, thuốc lá, mía, bông. Đặc biệt Bến Tre là xứ sở của dừa (gần 40.000 ha trồng dừa), nổi tiếng với đặc sản kẹo dừa Bến Tre, bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc. Làng nghề Cái Mơn hàng năm cung ứng cho thị trường hàng triệu giống cây ăn quả và cây cảnh nổi tiếng khắp nơi. | Giới thiệu về quê hương Bến Tre | 333 | |
Giới thiệu về quê hương em
Hướng dẫn
Giới thiệu về quê hương em
Quê hương em – Quảng Ngãi, một vùng đất hẹp miền Trung, mặt hướng ra biển Đông mênh mông, bát ngát; lưng tựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ. Thiên nhiên ở đây đã tạo cho vùng đất miền núi Ấn sông Trà này những cảnh đẹp nổi tiếng như: Thiên Ấn niêm hà, Thiên Bút phê vân, Long đầu hí thủy, Thạch Bích tà dương,…đã từng làm say lòng nhà thơ Chu Mạnh Trinh, khiến ông đã viết nên mười hai bài thơ vịnh cảnh đẹp nơi đây.
Được sinh ra và lớn lên nơi đây, em như cảm nhận được cái chất ngọt ngào của cây mía đã từ bao đời chọn nơi đây làm quê hương. Khí thiêng sông núi đã tạo cho vùng đất này biết bao nhân vật nổi tiếng trong lịch sử như Lê Văn Duyệt, Trương Định, Trương Đăng Quế, Lê Trung Đình, Phạm Văn Đồng…Đây cũng là quê hương của những thi sĩ đã đi vào thơ ca của dân tộc như Tế Hanh, Bích Khê,…
Ai về quê hương em sẽ có dịp đến Thạch Bích để ngắm cảnh chiều về trên sông Trà Khúc thật mơ màng, làm say đắm lòng người. Đến núi Thiên Ấn, một hòn núi vương vức nằm bên sông Trà Khúc trông như một chiếc ấn trời đóng trên sông. Khi đi ta sẽ cảm nhận được cái vẻ đẹp vừa tráng lệ, vừa nên thơ, trữ tình:
Càng lên cao mới thấy càng xinh
Đứng trên đỉnh núi, trông ra bốn hướng ta sẽ nhìn thấy mênh mông đồng ruộng, cỏ cây, sông nước, làng mạc chập chùng ẩn hiện dưới khói sương huyền ảo, trông như một cảnh tiên. Ở đây còn có một ngôi chùa cổ kính, uy nghiêm, có kiến trúc độc đáo. Đặc biệt là cạnh ngôi chùa này có một cái giếng sâu gần 100m, và ta sẽ nghe các vị sư kể về truyền thuyết cái giếng Phật ấy:
Có thầy đào giếng trên non
Đến khi có nước không còn tăm hơi
Từ núi Thiên Ấn, xuôi về Sơn Mĩ, ta sẽ ghé thăm nhà chứng tích Sơn Mĩ để có dịp nhìn rõ tội ác của đế quốc Mĩ đối với nhân dân ta trong cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo của chúng. Nơi đây, chúng ta sẽ tận mắt chứng kiến cái mương nước mà lính Mĩ đã bắn chết 668 người mà hầu hết là người già, đàn bà, trẻ em. Chúng ta sẽ không cầm được nước mắt khi nghe lời thuyết minh đầy xúc cảm của cô hướng dẫn viên khu du tích này trong vụ thảm sát đó. Lắng lại bao nỗi đau, chúng ta tiếp tục cuộc hành trình về bãi biển Mỹ Khê, một bãi biển sạch và đẹp nhất nước, với nước trong xanh và bờ cát trắng thoai thoải chạy đến hút tầm mắt. Bên bờ biển là cả một rừng dương quanh năm hát lời ru với sóng.
Quê em còn có khu di chỉ văn hóa Sa Huỳnh với bãi biển Sa Huỳnh tựa lưng vào vách núi, nước xanh trong, bãi cát vàng óng ả. Sa Huỳnh và Mỹ Khê là hai nơi nghỉ mát lí tưởng của du khách đến quê em. Hình ảnh hai bãi biển này đã ăn sâu vào tâm hồn em ngay những ngày em còn thơ bé. Em không thể quên được những ngày chủ nhật hoặc những ngày hè, em cùng gia đình đi tắm biển.
Ngày nay, do công việc làm ăn của bố mẹ, em phải xa quê hương, sống trên đất khách quê người, nhưng lòng em vẫn luôn nhớ về quê hương với những cảnh đẹp nên thơ ấy. Em luôn mong tới ngày tết hoặc nghỉ hè để được cùng gia đình trở về thăm quê, để em được tắm mát trên dòng sông tuổi thơ. | Giới thiệu về quê hương em | 657 | |
Giới thiệu về thi thánh Đỗ Phủ – Tác giả của bài thơ Cảm xúc mùa thu
Hướng dẫn
Được mệnh danh là thi thánh, Đỗ Phủ đã để lại cho nền văn học Trung Quốc 1400 bài thơ, trong đó nhiều bài có giá trị cao cả về nội dung cũng như nghệ thuật. Để hiểu hơn về cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của Đỗ Phủ, các bạn hãy cùng tham khảo bài Giới thiệu về thi thánh Đỗ Phủ mà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé!
1. Tiểu sử Đỗ Phủ
Đỗ Phủ, sinh năm 712- mất năm 770, tự Tử Mỹ, hiệu là Thiếu Lăng. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho học, suốt mấy đời đều làm quan tại huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc (ông nội ông là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường), tuy nhiên đến đời Đỗ Phủ thì bị sa sút và ông lâm vào tình cảnh phiêu bạt, cơ cực.
Theo | Giới thiệu về thi thánh Đỗ Phủ – Tác giả của bài thơ Cảm xúc mùa thu | 174 | |
Giới thiệu về Thiền sư Mãn Giác – Tác giả của bài thơ Cáo tật thị chúng
Hướng dẫn
Mãn Giác Thiền sư là thiền sư nổi tiếng dưới thời nhà Lí, ông cũng là một trong những đại diện tiêu biểu cho dòng thơ Thiền thời Lí -Trần. Để có thêm những thông tin về tiểu sử cũng như sự nghiệp sáng tác của Mãn Giác thiền sư, các bạn hãy tham khảo bài Giới thiệu về Mãn giác thiền sư dưới đây nhé!
1. Vài nét về tiểu sử
Thiền sư Mãn Giác là một thiền sư của Việt Nam vào đời thứ tám của dòng thiền Vô Ngôn Thông. Thiền sư nối pháp của thiền sư Quảng Trí và đã truyền tâm ấn cho đệ tử Bản Tịnh. Thiền sư nổi tiếng với bài thơ “Cáo tật thị chúng”, được nhiều người coi là một nhà thơ đại biểu cho dòng thơ Lý – Trần.
Thiền sư Mãn Giác tên thật là Nguyễn Tường, sinh năm 1052 mất năm 1096, quê ở Lũng Chiều – An Cách. Cha của thiền sư là Hoài Tố, giữ chức quan Trung thơ Viên ngoại lang. Vua Lý Nhân Tông thuở nhỏ thường mời con em của các gia đình danh giá vào hầu hai bên, Nguyễn Tường nhờ được nghe nhiều lại nhớ kĩ, học thông cả Nho và Thích nên được dự tuyển.
2. Mãn Giác Thiền Sư với văn học thiền
Sư là một người am hiểu và học rộng, thông nhiều đạo Nho, Lão, Phật, sau những lúc việc quan sư thường chú tâm vào học thiền. Đến khi vua Lý Nhân Tông lên ngôi vì rất mến sư nên đã ban cho sư hiệu Hoài Tín. Sau đó Hoài Tín dâng biểu muốn xin xuất gia, học với thiền sư Quảng Trí và bắt đầu vân du khắp nơi. Thiền sư Mãn Giác là bậc lĩnh tụ pháp môn trong một thời, được vua Lý Nhân Tông cùng Hoàng Thái Hậu Cảm Linh Nhâm (Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan) hết sức kính nể, dựng chùa cạnh cung Cảnh Hưng, lấy hiệu là Giáo Nguyên rồi thỉnh sư về trụ trì để tiện việc tới lui học hỏi. Vua Lý Nhân Tông phong hiệu cho sư là Giáo Nguyên Thiền Viện – Hoài Tín đại sư.
Vào cuối tháng 11 năm 1096, đại sư cáo bệnh và để lại một bài kệ dạy chúng gọi là “Cáo tật thị chúng”. Sau khi nói kệ xong thì thiền sư ngồi tư thế kiết già và thị tịch, thọ 45 tuổi, 19 tuổi hạ. Vua ban cho thiền sư thụy hiệu là Mãn Giác.
Theo | Giới thiệu về Thiền sư Mãn Giác – Tác giả của bài thơ Cáo tật thị chúng | 437 | |
Giới thiệu về thể loại thơ đường
Hướng dẫn
Giới thiệu một vài nét về thơ Đường.
1.Thành tựu:
Thơ Đường là một trong những thành tựu rực rỡ về thơ ca của nền văn học Trung Quốc, là một trong những thành tựu chói lọi của nền văn minh nhân loại. Thơ Đường hiện con khoang 48.000 bài của trên 2.300 thi sĩ trong đó Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư bị và hàng trăm tên tuổi khác đã bất tử với thời gian, được người đời ngưỡng mộ.
2.Nguyên nhân phát triển:
– Triều đại nhà Đường kéo dài ngót 300 năm (618 – 907) tuy có lúc thăng trầm, nhưng xã hội Trung Quốc và chế độ phong kiến Trung Hoa thời ấy vẫn phát triển mạnh. Đời sống vật chất và tinh thần thay đổi lớn lao.
– Kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, hàng hải, thương nghiệp mở mang, phát triển. Nghệ thuật như kiến trúc, hội họa, âm nhạc đạt đến trình độ cao, chói sáng.
– Chế độ thi cử chọn người làm quan, kẻ sĩ được đề cao, việc học thịnh đạt. Các tao nhân mặc khách được trọng vọng.
– Đó là những nguyên nhân tạo nên bước phát triển kỳ diệu của thơ Đường.
I. Một số đặc điểm về nội dung và hình thức nghệ thuật thơ Đường:
1.Nội dung:
– Cảm hứng thiên nhiên trữ tình:Ca ngợi phong cảnh hùng vĩ tráng lệ, miêu tả vẻ đẹp bốn mùa, với hoa lá cây cỏ, trăng, tuyết, gió mây… thể hiện tình yêu thiên nhiên, tạo vật, yêu quê hương đất nước (Lư Sơn bộc bố, Tuyệt cú…).
– Cảm hứng nhân đạo: Nói lên nỗi khổ của người dân vì cơ hàn, vì chiến tranh loạn lạc, lòng khao khát hạnh phúc, hòa bình, ca ngợi tình vợ chổng, tình bạn (Thạch Hào lại, Nguyệt dạ, Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng…).
– Có những vần thơ siêu thoátca ngợi cuộc sống ẩn dật ỏ chốn điền viên, lâm tuyền. Có những vần thơ nói vẽ sinh hoạt thôn dã,đồng nội; thú vui cầm kì, thi, tửu của mặc khách tao nhân. Tài tử giai nhânlà một đề tài có nhiều bài tuyệt bút. Nội dung thơ Đường rất phong phú và đa dạng,là một bức tranh hiện thực rộng lớn về xã hội Trung Quốc thời Đường trong 300 năm.
2. Nghệ thuật:
a. Thể thơ:từ, cổ phong, Đường luật,…
b. Luật thơ:
– Vần thơ (vần chân và vần cách, vần trắc và vần bằng).
– Bằng, trắc.
– Niêm (dính).
– Đối.
– Cấu trúc bài thơ rất chặt chẽ, nhất là Đường luật.
+ Thơ tứ tuyệt: khai, thừa, chuyển, hợp.
+ Thơ bát cú: đề, thực, luận, kết.
c. Ngôn ngữ thơ:tinh luyện, hàm súc. Thi trung hữu họa. Thi trung hữu cầm. Coi trọng lời thơ: thanh, nhã (trong sáng, trang nhã),… ước lệ tượng trưng…
b. Tứ thơ:phong phú, đa dạng, biến hóa, khơi gợi…
Tóm lại, làm thơ Đường phải giỏi, phải có tay nghề và tâm hồn thi sĩ. Học và cảm thụ thơ Đường phải hiểu đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ Đường. | Giới thiệu về thể loại thơ đường | 515 | |
Giới thiệu về thể thơ Hai- cư và những bài thơ Hai-cư nổi tiếng của Ba- sô
Hướng dẫn
Thơ Hai-cư là thể thơ truyền thống của Nhật Bản, trong chương trình Ngữ văn lớp 10 học sinh sẽ được học về một số bài thơ hai-cư nổi tiếng của nhà thơ Ba-sô. Để có thêm những hiểu biết về thể thơ Hai-cư các bạn hãy cùng tham khảo bàu Giới thiệu về thể thơ Hai-cưdưới đây nhé!
1. Nguồn gốc và quá trình phát triển
Thơ Hai-cư là một thể thơ độc đáo của Nhật Bản, xuất phát từ ba câu đầu của những bài renga có tính trào phúng, gọi là renga no haikai, về sau gọi là hai kai (bài hài).
Thể thơ Hai-cư được ra đời vào thế kỉ thứ 17, đặc biệt được phát triển mạnh vào thời kì Edo (1603 – 1867), khi đó thơ Hai-cư đã dần mất đi sắc thái trào phúng mà mang âm hưởng sâu sắc của Thiền đạo. Vị thiền sư và thi sĩ lỗi lạc của Nhật Bản là Matsuo Ba-so được công nhận là người khai sinh ra thơ Hai-ku, còn Yosa Buson và Masaoka Shiki là những người đã hoàn thiện nó với diện mạo và tên gọi như ngày nay.
2. Đặc điểm của thơ Hai-cư
Có thể coi đây là một thể thơ ngắn nhất trên thế giới, bởi mỗi bài thơ Hai-cư mặc dù vẫn có những hình thức khác nhau nhưng thường chỉ có 17 âm tiết trong 3 câu. Nội dung cơ bản của thơ Hai-cư là không mô tả cảm xúc, chủ yếu ghi lại sự việc xảy ra trước mắt. Vì số chữ rất giới hạn nên trong 17 âm thơ, thường chỉ diễn tả một sự việc diễn ra ngay lúc đó, ở hiện tại.
Một bài thơ Hai-cư luôn tuân thủ hai nguyên lý cơ bản đó là “mùa” và “tính tương quan hai hình ảnh”. Trong thơ bắt buộc phải có từ miêu tả mùa (không dùng trực tiếp tên gọi của mùa) và từ diễn tả một hình ảnh lớn xứng với một hình ảnh nhỏ. Thơ có xu hướng gợi ý hoặc ám chỉ bóng gió nhẹ nhàng. Người làm thơ phải tự đặt mình như một đứa trẻ lúc nào cũng có cảm giác bỡ ngỡ, lạ lùng khi lần đầu tiên tiếp xúc với sự việc. Một bài thơ Hai-cư hay có thể làm sống lại những kí ức đã chôn sâu và đưa ra những cảm giác sâu sắc, tế nhị, để tự nó khơi gợi lại trí tưởng tượng và mơ ước của người đọc.
Theo | Giới thiệu về thể thơ Hai- cư và những bài thơ Hai-cư nổi tiếng của Ba- sô | 437 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn giới thiệu về thủ đô Hà Nội yêu dấu.
Bài làm
Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây… Đây lắng hồn núi sông ngàn năm… Đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Nội, Hà Nội mến yêu… Đó là những lời hát thiết tha ca ngợi Thủ đô của đất nước Việt Nam yêu dấu.
Thành phố Hà Nội diện tích tự nhiên là 921 km2, dân số khoảng 3 triệu người. Sau khi mở rộng có diện tích là 3.324,92 km2, dân số 6.448.837 người, gồm 10 quận: Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai, Hà Đông; 18 huyện: Đông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm (Hà Nội cũ), Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa (Hà Tây cũ), Mê Linh (từ Vĩnh Phúc) và 1 thị xã: Sơn Tây. Phía Bắc giáp Thái Nguyên, Vĩnh Phúc; phía Tây giáp Hòa Bình, Phú Thọ; phía Nam giáp Hà Nam, Hòa Bình; phía Đông giáp Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên. Cái tên Hà Nội có nghĩa là vùng đất bên trong sông. Hà Nội là vùng đất có được sông Hồng và các phụ lưu bồi đắp qua mấy ngàn năm tạo nên. Đặc điểm địa lí nổi bật của Hà Nội là có rất nhiều hồ (30 hồ lớn nhỏ). Một số hồ nổi tiếng đã đi vào thơ ca, nhạc họa như hồ Gươm, hồ Tây, hồ Trúc Bạch, hồ Thiền Quang, hồ Bảy Mẫu… Một đặc điểm nữa là Hà Nội – thành phố của cây xanh. Hầu hết các con đường của trung tâm Hà Nội đều được bao phủ bởi những hàng cây, cho nên không khí rất trong lành.
Kể từ khi dựng nước đến nay, Hà Nội vẫn là đất thiêng, hội tụ tinh hoa truyền thống của dân tộc Việt. Một cột mốc lịch sử đáng ghi nhớ là năm 1010, Lí Công Uẩn tức vua Lí Thái Tổ, người sáng lập ra triều đình nhà Lí đã có một quyết định vô cùng sáng suốt là dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình ra thành Đại La. Trong một chuyến du hành ra Bắc, lúc thuyền đi đến khúc sông ở sát chân thành, bỗng nhà vua thấy có con rồng bay vụt lên trời, cho là điềm lành nên mới đổi tên là thành Thăng Long. Thăng Long là tên Thủ đô nước ta từ 1010 đến 1804. Đến đời nhà Nguyễn, vua Gia Long đổi tên là Hà Nội. Như vậy là Thăng Long Ị Hà Nội đã có 1000 năm tuổi.
Thủ đô Hà Nội có rất nhiều danh lam thắng cảnh. Văn Miếu – Quốc Tử Giám là khu di tích quý giá thể hiện trình độ văn hóa cao của dân tộc ta và sự quan tâm đào tạo hiền tài cho đất nước của các triều đại phong kiến thời xưa. Văn Miếu có nhà bia, trong đó đặt 82 tấm bia lưu danh các vị đỗ Tiến sĩ từ khoa thi năm 1442 đến năm 1779. Quốc Tử Giám nằm trong khu Văn Miếu được xây dựng từ năm 1076, lúc đầu là nơi dạy dỗ các hoàng tử, sau mở rộng đối tượng, thu nhận cả những học trò giỏi trong thiên hạ. Có thể coi Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của nước ta.
Khu Hoàng Thành Thăng Long được xây dựng và tồn tại suốt 8 thế kỉ trên vị trí của thành Đại La cũ. Kết cấu thành cổ Thăng Long gồm 3 vòng. Vòng ngoài cùng đắp bằng đất, nơi dân cư ở, gọi là Kinh Thành. Vòng giữa là khu triều chính, nơi ở và làm việc của quan lại, gọi là Hoàng Thành. Vòng trong cùng là nơi dành riêng cho vua chúa, hoàng hậu và cung tần mĩ nữ, gọi là Tử cấm Thành. Thời Lê, Kinh Thành Thăng Long có 16 cửa ộ, thời Nguyễn còn 12 cửa và đến đầu thế kỉ XX chỉ còn 5 cửa là: ô Chợ Dừa, ô Đống Mác, ô cầu Dền, ô Cầu Giấy và ô Quan Chưởng. Trong mấy năm trở lại đây, khu Hoàng Thành Thăng Long đã được khai quật và bảo vệ, chuẩn bị đón khách tham quan nhân dịp kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Đến Thủ đô, du khách sẽ thích thú, say mê trước cảnh đẹp hồ Gươm được mệnh danh là chiếc lẵng hoa giữa lòng thành phố. Hồ Gươm với quần thể kiến trúc hài hòa: đài Nghiên, tháp Bút, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, Tháp Rùa, tạo thành một thắng cảnh nổi tiếng. Hồ Gươm (hay còn gọi là hồ Hoàn Kiếm) gắn liền với truyền thuyết Lê Lợi trả lại gươm báu cho Long Quân. Vào thế kỉ XV, quân xâm lược nhà Minh từ phương Bắc tràn sang cướp nước ta.
Lê Lợi đã dấy binh khởi nghĩa ở đất Lam Sơn. Buổi đầu, lực lượng còn yếu, không thể địch nổi thế mạnh của kẻ thù. Long Quân đã ngầm cho Lê Lợi mượn thanh gươm thần để đánh giặc. Nhờ vậy mà sau 10 năm kháng chiến, nghĩa quân Lam Sơn đã quét sạch quân cướp nước ra khỏi bờ cõi, mở ra một trang sử mới cho dân tộc Việt. Lê Lợi lên ngôi vua. Nhân một buổi đẹp trời, nhà vua dạo chơi bằng thuyền trên hồ Tả Vọng, Long Quân đã sai thần Kim Quy (Rùa Vàng) nổi lên đòi lại thanh gươm báu. Từ đó, hồ Tả Vọng được đổi tên là hồ Hoàn Kiếm, thường gọi là hồ Gươm. Hồ Gươm với Tháp Rùa là biểu tượng của Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội có hồ Tây, tên chữ là Dâm Đàm (đầm sương mù) vì lúc sáng sớm và chiều tối, mặt hồ sương giăng mù mịt, khung cảnh huyền ảo như chốn thần tiên. Hồ Tây, hồ Trúc Bạch, chùa Quán Sứ, chùa Trấn Vũ, đường Thanh Niên, làng hoa Nhật Tân, Hữu Tiệp, Ngọc Hà, Nghi Tàm… là những điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách. Chiều thu, heo may se lạnh, ta ngồi trong nhà hàng Thủy Tạ, nhấm nháp món bánh tôm nóng giòn, nhìn ra mặt hồ mênh mông sóng gợn, quả là thú vị vô cùng!
Giữa quảng trường Ba Đình lộng gió, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đá hoa cương xám, mang hình dáng một bông sen cách điệu, in bóng sừng sững lên nền trời mùa thu xanh biếc. Nơi đây, Bác Hồ – vị lãnh tụ cách mạng kiệt xuất, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, anh hùng cứu nước vĩ đại, danh nhân văn hóa thế giới… đời đời yên nghỉ. Hằng ngày, lăng mở cửa đón các đoàn đại biểu và du khách muôn phương về đây viếng Bác – CON NGƯỜI tiêu biểu nhất cho vẻ đẹp truyền thống và sức mạnh bốn ngàn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam. Sau lăng Bác là khu bảo tàng với nhiều kỉ vật, tư liệu quý giá, ghi dấu từng quãng đời hoạt động cách mạng sôi nổi và đầy bão táp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thủ đô Hà Nội còn rất nhiều danh lam thắng cảnh khác như đền thờ Hai Bà Trưng, đền Chèm, cụm di tích đền thờ Phù.Đổng Thiên vương, đền thờ Đức Thánh Trần, đền thờ vua Lê, vườn bách thú Thủ Lệ, công viên Lê-nin, công viên nước Hồ Tây, các phố cổ, phố nghề (36 phố phường), chợ Đồng Xuân, cầu Long Biên, cầu Thăng Long, làng gốm Bát Tràng… tất cả đều nổi tiếng.
Đất nước bước vào thời kì mở cửa, nền kinh tế tăng trưởng rất nhanh, dẫn đến sự đổi thay rõ rệt trong đời sống nhân dân và quy mô phát triển của các thành phố, đô thị. Sau khi Quốc hội thông qua quyết định mở rộng Thủ đô (tháng 7 năm 2008), thì Hà Nội bao gồm toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã của tỉnh Hòa Bình. Diện tích tự nhiên là 3.324,92 krrì2. Dân số là 6.448.837 người. Thủ đô Hà Nội giống như cậu bé làng Gióng vươn vai trở thành tráng sĩ kiêu hùng, xứng đáng là trung tâm kinh tế, chính trị của Việt Nam, một quốc gia đã và đang từng bước khẳng định tên tuổi của mình trước toàn thế giới. | Giới thiệu về thủ đô Hà Nội | 1,447 | |
Đề bài: Giới thiệu về Thừa Thiên – Huế
Bài làm
Thừa Thiên Huế là một tỉnh thuộc miền Trung, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, Tây Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Tây dựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, phía Đông trông ra biển. Thành phố Huế cách Hà Nội 660 km, cách thành phố Hồ,Chí Minh 1.080 km, nổi tiếng bởi phong cảnh tuyệt đẹp và truyền thống văn hóa, lịch sử đặc biệt, có tiềm năng du lịch rất lớn.
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 5.054 km2, dân số 1.091.600 người. Địa hình rừng núi chiếm khoảng 1/4 diện tích, nằm ở giáp biên giới Việt – Lào và kéo dài đến Đà Nẵng. Địa hình trung du chiếm khoảng 1/2 diện tích; phần lớn là những dãy đồi lô xô như bát úp, với chiều rộng vài trăm mét và chiều cao không quá 500 mét. Vùng đồng bằng duyên hải bề ngang hẹp, chạy song song với bờ biển, đồng ruộng xen lẫn với cồn cát, đầm phá…
Hầu hết các sông lớn của Thừa Thiên – Huế như ô Lâu, sông Bồ, sông Hương, sông Truồi… đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy ngang qua đồng bằng rồi đổ ra biển. Sông Hương là con sông lớn nhất, có diện tích lưu vực rộng 300 km2.
Bờ biển dài 120 km, có cảng Thuận An và vịnh Chân Mây với độ sâu 18 – 20 m, có khả năng xây dựng cảng nước sấu. Sân bay Phú Bài nằm cạnh quốc lộ 1A. Đường sắt xuyên Việt chạy dọc qua tỉnh. Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy của Thừa Thiên – Huế đều rất thuận lợi.
Thừa Thiên – Huế nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cho nên thời tiết diễn ra theo chu kì 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Mùa xuân ấm áp; mùa hè nóng bức; mùa thu mát mẻ và mùa đông giá rét. Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 25°c. Mùa du lịch ở đây đẹp nhất là từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau.
Thừa Thiên – Huế có tỉnh lị là thành phố Huế và 8 huyện: Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thuỷ, Phú Lộc, A Lưới, Nam Đông. Các dân tộc: Kinh, Tà-ôi, Bờ-ru, Vân Kiều, Cơ-tu… cùng chung sống đoàn kết trên mảnh đất này. Thừa Thiên – Huế là một vùng đất cổ. Vào thế kỉ XIII, vùng đất này đã được nhập vào quốc gia Đại Việt bởi nó là món sính lễ của vua Chiêm Thành dâng lên vua Trần khi cưới công chúa Huyền Trân. Phong cảnh tươi đẹp, địa hình hiểm trở đã tạo cho Huế một vị trí đặc biệt trong lịch sử nước ta. Nơi đây đã được vua Quang Trung chọn làm kinh đô của triều đại Tây Sơn (1788 – 1802), vua Gia Long chọn làm kinh đô của triều Nguyễn (1802 – 1945). Suốt mấy trăm năm, Huế đã là trung tâm chính trị, văn hoá của cả nước.
Cảnh quan của Thừa Thiên – Huế đa dạng, vẻ đẹp thiên nhiên kết hợp với vẻ đẹp của các công trình kiến trúc do con người tạo nên đã khiến cho Thừa Thiên 1 Huế trở thành một thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam. Sông Hương êm đềm chảy giữa lòng thành phố, in bóng cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp. Những bãi tắm Thuận An, Cảnh Dương, Lăng Cô nước trong, cát mịn, thơ mộng vô cùng! Khu nghỉ mát lí tưởng Bạch Mã đã từng được so sánh với các khu nghỉ mát nổi tiếng khác của Đông Dương.
Tiềm năng du lịch nổi bật của Thừa Thiên – Huế là quần thể các di tích văn hoá với trên 300 công trình kiến trúc cổ bao gồm hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm, các kiến trúc cung đình, kiến trúc dân gian, chùa chiền, miếu mạo, phủ đệ, hệ thống nhà vườn… Vì vậy, ngày 11 tháng 12 năm 1993, Huế đã được công nhận là Di sản văn hóa thế giới.
Thừa Thiên – Huế còn là một địa phương có truyền thống cách mạng oanh liệt, đến nay còn lưu giữ nhiều di tích liên quan đến cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà cách mạng tiền bối khác, liên quan đến hai cuộc chiến tranh giữ nước, giành độc lập dân tộc.
Tất cả các yếu tố trên là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức nhiều loại hình du lịch, phục vụ cho những đối tượng du khách khác nhau. Vì vậy, du lịch Thừa Thiên – Huế có một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và chiến lược phát triển du lịch của cả nước.
Nét văn hóa Huế còn biểu hiện ở việc duy trì các làng nghề truyền thống như nghề kim hoàn, nghề đúc đồng, nghề thêu, nghề làm nón… mà mỗi tác phẩm như gửi gắm cả tài năng và tâm hồn của người dân xứ Huế.
Văn hóa ẩm thực ở Huế cũng rất phong phú. Những món ăn cung đình cầu kì, tinh tế cùng hàng trăm loại bánh chỉ ở Huế mới có, sẵn sàng phục vụ du khách muôn phương.
Là vùng đất có bề dày truyền thống văn hóa nên Thừa Thiên – Huế có rất nhiều lễ hội dân gian. Đặc điểm chung của các lễ hội là đều được tổ chức công phu khiến du khách say mê, thích thú. Tiêu biểu như lễ hội Điện Hòn Chén thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na theo phong tục của người Chăm. Lễ hội cầu ngư ở làng Thái Dương Hạ. Hội chợ xuân ở Gia Lạc. Hội vật võ ở làng Sình. Hội đua thuyền trên sông Hương. Hội thả diều trong các ngày lễ lớn…
Huế là kinh đô cổ còn tồn tại khá nhiều công trình gần như nguyên dạng. Giá trị to lớn của Huế được thế giới biết đến chính là quần thể kiến trúc cung đình, thành quách, đền miếu, lăng tẩm… của các vua chúa triều Nguyễn, được xây dựng công phu trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ dọc hai bên bờ sông Hương. Có thể kể đến Ngọ Môn, điện Thái Hoà, Thế Miếu, Hiển Lâm các, cung Diên Thọ, cung Trường Sinh, lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức, lăng Khải Định, chùa Thiên Mụ, chùa Từ Đàm, chùa Diệu Đế… Nếu vịnh Hạ Long là sự sắp đặt kì diệu của Tạo hóa thì cố đô Huế là sản phẩm được làm nên bởi khối óc và bàn tay tài hoa của con người.
Du khách đến Huế không mấy người bỏ qua chương trình dạo chơi bằng thuyền trên sông Hương. Nói đến Huế là nói đến sông Hương bởi không có sông Hương thì đấu còn là Huế mộng, Huế mơ…
Đi đâu cũng nhớ quê mình,
Nhớ sông Hương gió mát, nhớ Ngự Bình trăng treo.
(Ca dao)
Gọi là sông Hương vì theo truyền thuyết, từ xa xưa, dòng sông này chảy qua những rừng cây có hương thơm nên nước sông cũng đượm mùi thơm. Với độ dài 80 km, đoạn sông chảy qua Huế uốn lượn nhu có sự sắp đặt tài tình làm tôn thêm vẻ kiều diễm cho đất cố đô. Thuyền sẽ đưa du khách dạo bên khu kinh thành, dưới cầu Dã Viên, Phú Xuân, Trường Tiền; đưa du khách lên thăm lăng Minh Mạng, điện Hòn Chén, chùa Thiên Mụ… rồi xuôi về Thuận An tắm biển. Du khách nào thích suy tư, xin mời ngược dòng sông Hương lên với rừng thông lăng Thiên Thọ để lắng nghe vi vút tiếng thông reo…
Dưới ánh trăng khuya, mặt sông lấp lánh như dát bạc. Giọng hò Huế ngọt ngào, tha thiết cất lên, man mác, chơi vơi trên, sóng nước. Du khách đón chén rượu mời từ tay cô gái Huế và thả hồn thưởng thức tiếng đàn, giọng hát như ru người vào cõi mộng.
Nói đến sông Hương là phải nhắc đến Ngự Bình, bởi sông Hương núi Ngự là biểu tượng của kinh đô Huế. Núi còn có tên là Băng Sơn, cách kinh thành Huế khoảng 3 km. Nhìn từ xa, Ngự Bình có dạng hình thang, đỉnh tương đối bằng phẳng, độ cao của núi khoảng 100 m. Xét theo thuật phong thuỷ thì Ngự Bình được coi như tấm bình phong che chở cho kinh thành. Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá của Tạo hóa, làm nên vẻ sơn thuỷ hữu tình rất đặc trưng của xứ Huế.
Từ lâu đời, các thế hệ tao nhân mặc khách từng coi Huế là chốn thưởng ngoạn thiên nhiên kì thú. Vào những ngày đẹp trời, đứng trên đỉnh Ngự Bình, ta có thể thu vào tầm mắt toàn cảnh thành phố Huế với những cung điện nguy nga, mái chùa cổ kính, dòng sông Hương xanh biếc uốn lượn quanh co… Xa xa là những dãy đổi với những rừng thông bạt ngàn nối liền với dải đồng bằng rộng lớn xanh tươi thuộc các huyện Hương Thuỷ, Phú Vang, Hương Trà… Cuối chân trời là dãy Trường Sơn trùng điệp một màu tím thẫm, ẩn hiện sau những vầng mây bạc. Nhìn về phía Đông, dải cát trắng mờ là bãi biển Thuận An ôm lấy biển Đông nước xanh thăm thẳm…
Bắc qua sông Hương có rất nhiều cầu và cầu Trường Tiền đã trở thành một trong những biểu tượng của Huế. cầu Trường Tiền từ ngày xây dựng đến nay đã được tu bổ nhiều lần. Đầu cầu phía Bắc có chợ Đông Ba, trung tâm thương mại của thành phố Huế. Nơi đây hầu như có đủ các mặt hàng, từ hàng tiêu dùng thông thường, các đặc sản của địa phương cho đến hàng hoá công nghiệp hiện đại… Chợ Đông Ba còn là điểm du lịch và mua sắm hấp dẫn đối với du khách.
Trong chợ, các sạp bán nón lá thu hút nhiều du khách hơn cả. Đã từ lâu, nón bài thơ Huế nổi tiếng trong nước và ngoài nước. Nón Huế mỏng, nhẹ, thanh thoát. Mỗi chiếc nón có một nét độc đáo riêng khi ta cầm nón soi lên. Nghệ nhân làm nón đã nói hộ chúng ta tình cảm đối với bè bạn và người thân khi trao chiếc nón bài thơ làm quà…
Đến Huế, du khách sẽ được hướng dẫn tới thăm những khu nhà vườn. Theo quan niệm truyền thống của người dân xứ Huế thì nhà bao giờ cũng đi liền với vườn. Nhà và vườn là hai bộ phận hữu cơ của một không gian sống vừa có tác dụng kinh tế, vừa có giá trị thẩm mĩ.
Người dân xứ Huế thường dành một phần diện tích cho vườn để trồng hoa và cây cảnh… Nơi này là khóm trúc, bụi hồng, nơi kia là gốc mai, chậu cúc… Phần đất còn lại để trồng rau hoặc cây ăn quả. Người làm vườn không chỉ cần cù, chịu khó mà cần phải có đôi bàn tay khéo léo đạt tới trình độ nghệ thuật trong cắt tỉa, lai tạo các giống hoa, giống cây. Qua bao đời nay, Huế đã cống hiến cho đất nước những đặc sản nổi tiếng như thanh trà Nguyệt Biểu, quýt Hương cần, nhãn lồng Kim Long, cam Mĩ Lợi…
Huế đẹp, Huế thơ bởi có dòng Hương Giang êm đềm ru vỗ quanh năm. Vẻ đẹp của sông Hương còn được tôn thêm bởi những vườn cây xum xuê nặng trĩu trái ngọt, ngan ngát hương thơm của làng xóm đôi bờ. Đó là những khu vườn đầy mít, chè… của làng Tuần; những vườn hoa muôn sắc: hoa huệ trắng muốt, hoa đồng tiền đỏ thắm trên bãi bồi Nguyệt Biểu. Chùa Huyền Không với vườn hồng, vườn hoa cây cảnh và những giỏ phong lan quý bốn mùa nở hoa. Làng Kim Long, mảnh đất tụ hợp bao loài hoa thơm trái ngọt từ Bắc vào Nam…
Thấp thoáng giữa khu vườn xanh tươi là những ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi với các vì kèo được chạm trổ công phu, bờ nóc, bờ quyết đắp nổi hình rồng, hình phượng. Một mái nhà ngói cổ kính, một mảng tường rêu phủ dấu thời gian cùng với màu mướt xanh cây lá là bức tranh đặc trưng của nhà vườn xứ Huế, nơi mà con người chung sống và hoà nhập với thiên nhiên.
Nói đến Huế, không thể không nhắc tới Bạch Mã. Rừng quốc gia Bạch Mã cách thành phố Huế khoảng 50 km về phía Nam. Đặc điểm khí hậu ở đây gần giống Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo, nhưng vì Bạch Mã ở gần biển nên nhiệt độ mùa đông không bao giờ dưới 4°c và nhiệt độ cao nhất vào mùa hè không vượt quá 26°c.
Bạch Mã do một kĩ sư người Pháp có tên là Girard phát hiện. Do có nhiều ưu điểm nên ngay từ những năm 30 của thế kỉ XX, chính quyền thực dân đã cho xây dựng ở đây một khu nghỉ mát gồm 139 biệt thự và các công trình phụ trợ như bưu điện, ngân hàng, hồ bơi, sân quần vợt.;. Con đường ô tô lên núi dài 19 km nối quốc lộ 1A với Bạch Mã. Trải qua mấy cuộc chiến tranh cùng với những tác động của thiên nhiên và con người, đến nay, các công trình trên đã bị hư hỏng gần hết.
Địa hình Thừa Thiên – Huế có đủ núi non và biển cả. Bãi biển Thuận An là nơi tắm biển thú vị cho du khách sau một ngày tham quan kinh thành, lăng tẩm, chùa chiền… Đây cũng là nơi người dân thường đến hóng mát và tắm biển vào dịp hè, lúc tiết trời nóng bức. Đến Thuận An, du khách có dịp thăm miếu Thái Dương gắn liền với sự tích nữ thần Thái Dương, thăm miếu thờ thần cá voi, con vật linh thiêng của biển cả được ngư dân hết lòng sùng kính.
Bãi tắm Lăng Cô cũng là một thắng cảnh nổi tiếng của Huế. Bãi tắm này dài 10 km, nằm cạnh quốc lộ 1A, gần đèo Hảỉ Vân và cách khu nghỉ mát Bạch Mã 24 km. Ở đây, bờ biển thoai thoải, cát trắng mịn màng. Vào mùa tắm biển (từ tháng 4 đến cuối tháng 7), nhiệt độ trung bình là 25°c. Biển Lăng Cô có nhiều loại hải sản quý như tôm hùm, tôm sú, tôm bạc, tôm hẹ, tôm vằn, tôm đất, cua, cá thu, cá chim, sò huyết… Gần bãi biển này là mũi Chân Mây và làng cá Lăng Cô…
Bãi biển Cảnh Dương dài 8 km, hình vòng cung, nằm giữa mũi Chân Mây Tây và Chân Mây Đông, phong cảnh rất hấp dẫn. Bờ biển có độ dốc thoai thoải, nước biển trong xanh… thuận lợi cho việc tổ chức các loại hình du lịch sinh thái và thể thao dưới nước.
Khu du lịch Suối Voi cách Huế khoảng 40 km về phía Nam, thuộc huyện Phú Lộc, nằm giữa những địa danh Bạch Mã, Lăng Cô, Chân Mây… tạo thành một tua du lịch vô cùng hấp dẫn.
Giữa lòng suối trong mát là những tảng đá lớn nhỏ giống như một đàn voi nằm phủ phục. Nước được phun ra liên tục khiến cho bất cứ ai tới đây cũng đều cảm thấy thú vị và sàng khoái.
Suối Voi dài khoảng 500 m, gồm có Vũng Voi và Vũng Đu. Đến đây, du khách được đắm mình dưới làn nước suối mát lạnh hay ngồi nghỉ trên những tảng đá bằng phẳng, hít thở bầu không khí thoáng mát, trong lánh hoặc đắm mình giữa tiếng nước đổ ào ào, tiếng lá rừng xào xạc, tiếng gọi bầy ríu rít của các loài chim… tạo thành bản hòa tấu du dương bất tận. Du khách có thể bám vào những rễ cây to và dài rủ từ trên cao xuống để đu người qua suối tìm cảm giác mạnh.
Đường đến Suối Voi tương đối thuận tiện. Khu du lịch này không những đã đáp ứng loại hình du lịch cuối tuần của người dân Huế mà còn rất hấp dẫn đối với du khách mọi miền khi tới thăm đất cố đô.
Một điểm du lịch khá hấp dẫn nữa là khu suối khoáng Mĩ An thuộc xã Phú Dường, huyện Phú Vang, cách thành phố Huế 7 km về phía Đông, trên đường từ Huế ra bãi biển Thuận An.
Tháng 6/1979, đoàn địa chất Thuỷ văn đã phát hiện ra nguồn nước tự nhiên này. Sau nhiều năm nghiên cứu và thử nghiệm, các nhà khoa học đã kết luận: Nước khoáng Mĩ An có nhiều nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể con người. Chất lượng nước khoáng ở đây có thể so sánh với nhiều loại nước khoáng nổi tiếng trên thế giới. Nước khoáng Mĩ An có thể chữa được một số bệnh ngoài da, viêm khớp, tim mạch, tiêu hoá, thần kinh, hô hấp và các bệnh mãn tính khác.
Hiện nay, nhiều du khách trong cả nước và quốc tế đã đến suối khoáng Mĩ An để chữa bệnh. Công ti du lịch Hương Giang và tỉnh Thừa Thiên – Huế đã và đang khai thác nguồn nước khoáng quý giá này. Mĩ An trở thành một khu dịch vụ du lịch kết hợp với chữa bệnh bằng nước khoáng đầu tiên ỏ vùng đất miền Trung.
Với những vẻ đẹp tự nhiên, thơ mộng, phong phú và bề dày văn hoá, lịch sử… chắc chắn trong tương lai không xa, Thừa Thiên – Huế sẽ phát triển nhanh và mạnh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời đại mới. | Giới thiệu về Thừa Thiên – Huế | 3,028 | |
Giới thiệu về truyện cổ tích Tấm Cám bài viết của cô Ngọc Hoa chuyên văn
Hướng dẫn
Giới thiệu về truyện cổ tích Tấm Cámsẽ cung cấp những thông tin khái quát về nội dung cũng như những đặc sắc nổi bật nhất của câu chuyện dân gian Tấm Cám, các bạn hãy cùng tham khảo để có thêm thông tin bài học hữu ích nhé!
1. Đặc trưng của truyện cổ tích
“Tấm Cám” là một câu chuyện cổ tích quen thuộc trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Muốn hiểu hết giá trị đặc sắc cảu câu chuyện này, chúng ta cần hiểu rõ những đặc trưng của truyện cổ tích.
Truyện cổ tích là “những tác phẩm tự sự dân gian mà cốt truyện và hình tượng được hư cấu có chủ định, kể về số phận con người bình thường trong xã hội, thê hiện tinh thần nhân đạo, lạc quan của nhân dân lao động”. Truyện cổ tích được chia làm ba loại: truyện cổ tích sinh hoạt, truyện cổ tích loài vật và truyện cổ tích thần kì.
2. Giới thiệu về truyện cổ tích Tấm Cám
– Tấm Cám thuộc thể loại cổ tích thần kì
Tác phẩm “Tấm Cám” thuộc thể loại truyện cổ tích thần kì. Trong kho tàng truyện cổ tích, truyện cổ tích chiếm số lượng lớn nhất. Đó là loại truyện có sự tham gia của nhiều yếu tố thần kì vào diễn biến cốt truyện, ví dụ như sự xuất hiện của tiên, bụt hay sự biến hóa thần kì, vật báu trả ơn…). Hầu hết các yếu tố thần kì này đều là những tình tiết có vai trò quan trọng đối với sự phát triền của câu chuyện, không chỉ có giá trị về nghệ thuật mà còn có tính nội dung. Truyện cổ tích thần kì có nội dung chính là đề cập tới số phận bất hạnh của người lao động, thể hiện ước mơ về hạnh phúc gia đình, về công bằng xã hội, về phẩm chất và năng lực của con người của nhân dân lao động.
– Truyện “Tấm Cám” đã thể hiện những mâu thuẫn cơ bản trong gia đình cũng như mâu thuẫn xã hội
Truyện “Tấm Cám” đã thể hiện những mâu thuẫn cơ bản trong gia đình cũng như mâu thuẫn xã hội. Đó là mâu thuẫn “mẹ ghẻ- con chồng” xuất phát từ những giá trị vật chất và quyền thừa kế tài sản. Đó còn là mâu thuẫn giữa người bị áp bức bóc lột và kẻ bị áp bức bóc lột, đồng thời cũng là mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác. Từ những mâu thuân đó, “Tấm Cám” đã phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội, nói lên số phận của những con người mồ côi, bất hạnh và thể hiện ước mơ, khát vọng của nhân dân vào công lí, vào sự chiến thắng của cái thiện trước cái xấu, cái ác.
Theo | Giới thiệu về truyện cổ tích Tấm Cám bài viết của cô Ngọc Hoa chuyên văn | 498 | |
Giới thiệu về truyện cổ tích Việt Nam
Hướng dẫn
Giới thiệu về truyện cổ tích Việt Nam
Trong những thể loại văn học dân gian quan trọng và được phổ biến rộng rãi. Khái niệm “truyện cổ tích” có một nội dung khá rộng, thường dùng để chỉ nhiều loại truyện khác nhau về đề tài và cả về phương pháp sáng tác. Khác nhau về đề tài như các truyện về loài vật, truyện về các nhân vật dũng sĩ hoặc các nhân vật có những khả năng phi thường về trí tuệ, về sức khỏe, truyện về số phận các nhân vật có địa vị thấp kém trong gia đình và xã hội… Khác nhau về phương pháp sáng tác nhự các loại truyện thần kì, truyện hiện thực. Vì vậy đã có khó khăn trong việc xác định cho khái niệm “truyện cổ tích” một nội dung thật chặt chẽ. Trong hàng loạt định nghĩa đã có về truyện cổ tích, có thể nêu lên mấy nội dung nói chung ít nhiều đã có sự thống nhất như sau:
1. Truyện cổ tích đã nảy sinh từ trong xã hội nguyên thủy, do đó có những yếu tế phản ánh quan niệm thần thoại cua nhân dân về các hiện tượng tự nhiên và xã hội và có ý nghĩa ma thuật. Song truyện cổ tích phát triển chủ yếu trong xã hội có giai cấp, nên chủ đề chủ yếu của nó là chủ đề xã hội, phản ánh nhận thức của nhân dân về cuộc sống xã hội muôn màu muôn vẻ với những xung đột đặc trưng cho các thời kì lịch sử khi đã cố chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng, cố mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp.
2. Truyện cổ tích biểu hiện cách nhìn hiện thực của nhân dân đối với thực tại, đồng thời nối lên những quan điểm đạo đức, những quan điểm về công lí xã hội và ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn cuộc sống hiện tại.
3. Truyện cổ tích là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú của nhân dân, và ở một bộ phận chủ yếu, yếu tố tưởng tượng thần kì tạo nên một đặc trưng nổi bật trong phương thức phản ánh hiện thực và ước mơ.
Ở loại truyện cổ tích về loài vật, có sự kết hợp những điều quan sát hiện thực về các con vật với trí tưởng tượng nhân cách hóa giới tự nhiên. Loại truyện này thời cổ xưa ở dân tộc nào cũng có. Ở Việt Nam, tính chất cổ xưa của loại truyện về loài vật đã bị pha trộn với khuynh hướng của người đời sau mượn truyện loài vật để nói về xã hội loài người, do đó giữa loại truyện này với truyện ngụ ngôn có những trường hợp không có sự phân biệt thật rạch ròi.
Loại truyện cổ tích thần kì cũng có nhiều yếu tố cổ xưa có liên quan đến những quan niệm thần thoại và tín ngưỡng của con người thời thị tộc, bộ lạc. Ví dụ những mẫu đề “người bỏ lốt vật” (như trong các truyện Sọ Dừa, Lấy chồng Dê, Lấy vợ Cóc…) và “người chết đi sống lại trong kiếp loài vật hoặc cây cỏ” (nhự trong truyện Tấm Cám) có liên quan với quan niệm vạn vật hữu linh và tín ngưỡng vật tổ. Hay như mẫu đề “nộp mạng người định kì cho một con vật đã thành linh” (như trong truyện Thạch Sanh) có liên quan với tín ngưỡng và nghi lễ hiến tế v.v… Những yếu tố của quan niệm thần thoại và tín ngưỡng cọ ấy một mặt đã có sự pha trộn với các quan niệm tôn giáo của xã hội có giai cấp (như Phật giáo, Đạo giáo…), mặt khác lại có ý nghĩa xã hội và thẩm mĩ, phản ánh những nét tiêu biểu trong quan hệ với thực tại của con người thời kì xã hội có giai cấp. Cho nên tuy truyện cổ tích thần kì có những yếu tố liên quan với thần thoại hoặc kế thừa thần thoại, song nội dung chính của truyện cổ tích thần kì là đời sống xã hội của con người và số phận của con người trong xã hội có giai cấp. Nhân vật trung tâm của truyện Cổ tích thần kì là những người mồ côi, người con riêng, người em út, người đi ở, người làm thuê và người lao động nghèo khổ nói chung… Những nhân vật ấy là nạn nhân của chế độ tư hữu tài sản, của chế độ gia đình phụ quyền và của chế độ xã hội có giai cấp.
Trong truyện cổ tích thần kì, loại nhân vật phản diện tiêu biểu cho cái xấu và cái ác trong xã hội. Loại nhân vật này được miêu tả theo cách hoàn toàn tương phản với loại nhân vật chính diện. Nhân vật phản diện cũng thường mang tính cách xã hội – cụ thể như nhân vật chính diện. Đó là nhân vật người dì ghẻ, người anh cả, tên lái buôn, ông chủ, viên quan…, tức những nhân vật giàu có và có quyền thế trong gia đình và xã hội. Đôi khi nhân vật phản diện mang tính cách siêu nhiên như đại bàng, mãng xà, yêu quái…, tượng trứng cho những lực lượng tự nhiên hoặc xã hội thù địch với con người. Nếu như việc miêu tả lí tưởng hóa về nhân vật thiện – nhân vật chính diện – và về số phận của nhân vật thiện là biểu hiện của khuynh hướng dân chủ, thì việc miêu tả nhân vật ác – nhân vật phản diện – và sự trừng phạt đối với nhân vật ác là biểu biện của khuynh hướng phê phán xã hội; hai khuynh hướng ấy đã tạo nên giá trị chủ yếu về nội dung tư tưởng của loại truyện cổ tích thần kì.
Ở Việt Nam, truyện cổ tích đã được ghi chép khá sớm. Từ thế kỉ XV, một số truyện đã được biên soạn và giới thiệu trong quyển Lĩnh nam chích quái. Trước Cách mạng tháng Tám, tập truyện cổ tích có dung lượng phóng phú hơn cả là tập Truyện cổ nước Nam gồm hai tập (xuất bản lần đầu năm 1928) của Nguyễn Văn Ngọc. Sau Cách mạng, việc sưu tầm, giới thiệu và nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam rất được chú ý. Hàng loạt công tình biên soạn, nghiên cứu truyện cổ tích các dân tộc đã được xuất bản, như Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập), Truyện cổ dân tộc Mèo, Truyện cố Vân-Kiều, Truyện cổ Ba-na, Truyện cổ các dân tộc thiểu số miền Nam, Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cố tích Việt Nam qua truyện Tấm Cám… | Giới thiệu về truyện cổ tích Việt Nam | 1,163 | |
Đề bài: Giới thiệu về trò chơi dân gian Chi chi chành chành
Bài làm
Mặt trời đã lặn sau dãy núi Ba Vì phía Tây. Bóng chiều đang sẫm lại quanh những rặng tre ven làng. Gió nam hây hẩy dần dần xua đi không khí nóng bức của một ngày hè. Từ trong các ngõ xóm, trẻ con chạy túa ra sân đình để chơi những trò chơi quen thuộc.
Ba cô bé bắt đầu chơi trò chi chi chành chành. Một bé xòe bàn tay trái ra, hai bé kia cùng nhịp nhịp ngón trỏ vào lòng bàn tay bạn. Cô bé xoè tay cất tiếng đọc bài đồng dao quen thuộc:
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết trương
Ba vương ngũ đế
Lá bông lá cà
Ù à ù ập.
Chi chi chành chành là trò chơi đơn giản, không cần đến đồ chơi và chỗ chơi cố định. Chỉ dăm ba đứa trẻ là có thể bắt đầu chơi ở bất cứ chỗ nào: trong nhà, ngoài ngõ, dưới gốc cau hoặc cây rơm ngày hè, bên bếp lửa hồng trong ngày đông lạnh giá. Trò chơi này luyện cho trẻ phản xạ nhanh, tạo tình cảm yêu mến, gắn bó với bạn bè cùng trang lứa. Cùng với những trò chơi hấp dẫn khác như ú tim, rồng rắn lên mây, chồng nụ chồng hoa… mà đứa trẻ nào cũng biết, chi chi chành chành và bài đồng dao vui tươi, nhí nhảnh đã trở thành kỉ niệm đẹp đẽ, in sâu vào kí ức tuổi thơ của mỗi chúng ta. | Giới thiệu về trò chơi dân gian Chi chi chành chành | 262 | |
Đề bài: Giới thiệu về tác giả Ai-ma-tốp và văn bản Hai cây phong
Bài làm
Ai-ma-tốp là nhà văn nước Cộng hoà Cư-rơ-gư-xtan, một nước cộng hoà ờ vùng Trung Á, thuộc Liên Xô trước đây. Hoạt động văn học của Ai-ma-tốp bắt đầu từ năm 1952, khi ông là sinh viên Trường Đại học Nông nghiệp Cư-rơ-gư- xtan. Từ năm 1956 đến năm 1958 ông học Trường viết văn M. Goóc-ki ở Mát- xcơ-va. Sau khi tốt nghiệp (1959), Ai-ma-tốp làm phóng viên báo Sự thật thường trú tại Cư-rơ-gư-xtan. Tác phẩm đầu tiên khiến Ai-ma-tốp nổi tiếng là tập truyện Núi đồi và thảo nguyên (được tặng giải thưởng Lê-nin về văn học năm 1963). Các tác phẩm chủ yếu tiếp theo là: Cánh đồng mẹ (1963), Vĩnh biệt Gun-xa-rư (1967), Con tàu trắng (1970),… Đề tài chủ yếu trong các truyện ngắn của Ai-ma-tốp là cuộc sống khắc nghiệt nhưng cũng đầy chất lãng mạn của người dân vùng đồi núi Cư-rơ-gư-xtan, tình yêu, tình bạn, tinh thần dũng cảm vượt qua những thử thách hi sinh thời chiến tranh, thái độ tích cực đấu tranh của tầng lớp thanh niên, trước hết là nữ thanh niên để thoát khỏi sự ràng buộc của những tập tục lạc hậu.
Nhiều tác phẩm của ông từ lâu đã rất quen thuộc với bạn đọc Việt Nam như Cây phong non trùm khăn đỏ, Người thầy đầu tiên, Con tàu trắng,…
Phần trích Hai cây phong trong sách giáo khoa do người biên soạn đặt. Bối cảnh của truyện là một vùng quê hẻo lánh thuộc Cư-rơ-gư-xtan giữa những năm 20 của thế kỉ XX khi nơi đây tư tưởng phong kiến và gia trưởng, còn nặng nề, do đó phụ nữ và trẻ mồ côi bị coi thường và rẻ rúng.
Hình ảnh hai cây phong được miêu tả với một tâm trạng đầy xúc động của người kể chuyện. Nó dẫn dắt người đọc trở lại với 40 năm trước để chứng kiến những tình cảm sâu nặng giữa thầy Đuy-sen và cô trò nhỏ An-tư-nai. Người kể chuyện xưng "tôi" (có lúc là "chúng tôi") củng là người gắn bó với làng quê Ku-ku-rêu, nơi có hai cây phong thân thuộc, gắn với bao kỉ niệm tuổi thơ của mình. | Giới thiệu về tác giả Ai-ma-tốp và văn bản Hai cây phong | 380 | |
Giới thiệu về tác giả Ba- sô và một số bài thơ Hai-cư đặc sắc nhất của ông
Hướng dẫn
Ba – sô là nhà thơ lớn của Nhật Bản, tên tuổi của ông gắn liền với thể thơ Hai-cư – thể thơ truyền thống của văn học Nhật Bản. Để có thêm thông tin về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Ba-sô, các bạn hãy tham khảo bài Giới thiệu về tác giả Ba-sôdưới đây nhé.
1. Tiểu sử của Ba-sô
Matsuo Ba-sô (1644 – 1694) là một thiền giả, thi sĩ lỗi lạc danh tiếng nhất của thời Edo, Nhật Bản. Ông được công nhận là người phát triển những câu đầu tiên của thể thơ Hai-cư – một thể thơ độc lập mang âm hưởng sâu sắc của Thiền đạo. Các tác phẩm của ông không chỉ nổi tiếng trong phạm vi đất nước Nhật Bản mà còn ảnh hưởng trên khắp thế giới.
Ba-sô sinh ra trong một gia đình Samurai cấp thấp trong thời Tokugawa. Năm ông 9 tuổi đã vào làm tùy tùng cho một lãnh chúa và trở thành người bạn thân của con trai lãnh chúa, hai người đã cùng nhau học tập và làm thơ. Trong khoảng thời gian ấy, năng khiếu thơ của ông đã được nhà thơ – nhà phê bình văn xuất sắc đương thời Kitamura Kigin phát hiện ra. Từ đó ông bắt đầu được Kitamura Kigin cho rèn luyện và học tập.
2. Sự nghiệp sáng tác
Ông đã có bài thơ đầu tay năm ông mới 18 tuổi được nhiều người biết đến. Năm 1666, ông tới Tokyo và sống ở đó 5 năm, tiếp tục đọc về văn học Nhật Bản cổ đại, nghiên cứu cả văn học Trung Quốc và thư pháp. Ông bắt đầu mở lớp dạy thơ Hai-ku, là những bài thơ dài thiên về trào lộng, nhẹ nhàng và phóng túng, vốn đang rất thịnh hành trong thời Tokugawa. Vào năm 1679 Ba-so đã được phong tước hiệu Sosho – Bậc thầy dạy thơ Hai-ku, sau khi mất ông được đem chôn cất trong một ngôi chùa song vẫn được phong thần trong nhiều ngôi đền thờ Thần đạo, thậm chí người ta còn lấy tên theo một câu thơ của ông.
Thiên tài Ba-sô đã ôm trọn những hiện tượng khác nhau của đời sống, gây nên những ảnh hưởng sâu rộng về sau, tương truyền ông có đến 2000 đệ tử, có 10 người nổi danh nhất được gọi là Ba-sô Jitetsu. Sang thế kỉ XX, Ba-so càng trở thành một hình ảnh vĩ đại được tôn vinh của nền văn hóa Nhật Bản.
Theo | Giới thiệu về tác giả Ba- sô và một số bài thơ Hai-cư đặc sắc nhất của ông | 440 | |
Giới thiệu về tác giả Nguyễn Trung Ngạn – Tác giả bài thơ Hứng trở về
Hướng dẫn
Để có thêm thông tin và cơ sở cho việc phân tích bài thơ Hứng trở về, các bạn hãy cùng tham khảo bài Giới thiệu về tác giả Nguyễn Trung Ngạn mà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé!
1. Tiểu sử tác giả Nguyễn Trung Ngạn
Tác giả Nguyễn Trung Ngạn, tự là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên sinh năm 1289 mất năm 1370, tại làng Thổ Hoàng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Ông là một nhà chính trị, một vị đại thần có tài và được xếp vào hàng “Người phò tá có công lao tài đức đời Trần”.
Ông xuất thân trong một gia đình bình dân nhưng từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng, năm 16 tuổi đã đỗ Hoàng Giáp – khoa Giáp Thìn – niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1307) dưới triều vua Trần Anh Tông. Năm ông 24 tuổi làm Giám quan, khi vua Trần Minh Tông lên ngôi năm 1314, ông được cử đi sứ nhà Nguyên, sau đó năm 1321 ông làm Thị ngự sử ở đài Ngự sử, sau đó ra làm Thông phán ở châu Anh Lãng.
Trong cuộc đời của Nguyễn Trung Ngạn, ông đã trải qua nhiều chức vụ, từ chức Thông giám đến Tể tướng, dù ở cương vị nào ông cũng là một người thanh liêm, hết lòng tận tụy vì công việc, vì dân vì nước. Nguyễn Trung Ngạn là một nhà chính trị gia và nhà ngoại giao có tài, trong hai lần đi sứ nhà Nguyên ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, chuyến đi của ông đã có ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm chủ quyền và độc lập dân tộc của nước nhà trong cuộc bang giao Nam – Bắc.
2. Sự nghiệp sáng tác
Ngoài là một nhà chính trị, nhà ngoại giao, thì Nguyễn Trung Ngạn còn là một nhà văn, nhà thơ có tài. Thơ văn của ông là sự kết hợp giữa yêu nước, thương dân và trung quân hiếu quốc, nghệ thuật thơ giàu âm thanh và nhạc điệu, lời lẽ thanh tao điêu luyện. Với những đóng góp lớn lao cho quê hương đất nước, danh tiếng của ông vẫn còn lưu mãi đến ngày nay, và để tưởng nhớ đến công ơn của ông, không chỉ ở quê hương Hưng Yên của ông mà ở nhiều tỉnh thành của cả nước, tên ông đã được đặt cho tên trường học, đường phố và công trình văn hóa.
Theo | Giới thiệu về tác giả Nguyễn Trung Ngạn – Tác giả bài thơ Hứng trở về | 432 | |
Giới thiệu về tác giả Pushkin – Tác giả của Ông lão đánh cá và con cá vàng
Hướng dẫn
Giới thiệu về tác giả Pushkin sẽ cung cấp thêm những đơn vị kiến thức về cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của Puskin, từ đó hỗ trợ tích cực cho người học trong quá trình tìm hiểu và phân tích tác phẩm Ông lão đánh cá và con cá vàng. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé.
1. Tiểu sử Pushkin
Pushkin tên đầy đủ là Aleksandr Sergeyevich Pushkin, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng người Nga. Ông được tôn vinh là đại thi hào, mặt trời thi ca Nga với những đóng góp to lớn trong việc phát triển ngôn ngữ văn học Nga hiện đại. Ông còn là biểu tượng của dòng văn học lãng mạn Nga thế kỷ XIX bởi nhiều đóng góp trong sự đa dạng hóa ngôn ngữ văn chương.
Pushkin sinh ngày 6 tháng 6 năm 1799 tại thành phố Moskva trong một gia đình quý tộc Nga. Sáu tuổi, Pushkin được tuyển vào trường Lyceum hoàng gia, tại Tsarskoe Selo gần kinh đô Sankt-Peterburg. Năm 16 tuổi ông nổi lên như là nhà thơ lớn của nước Nga với bài thơ “Hồi ức ở Hoàng Thôn”, được coi là một tác phẩm kiệt xuất. Sau khi tốt nghiệp, Pushkin tích cực tham gia vào các hoạt động văn học nghệ thuật của giới quý tộc trí thức trẻ tại Sankt-Peterburg. Mùa xuân năm 1820, Pushkin bị đày tới Sibir nhờ có sự giúp đỡ của người bạn ông chỉ phải chịu mức án nhẹ hơn là trục xuất khỏi thành phố Sankt-Peterburg. Cuối năm 1831, ông kết hôn với người đẹp Natalia Goncharova, người đã đem lại cho ông cảm hứng sáng tác lớn lao. Tuy nhiên, năm 1837, do những tin đồn thất thiệt về quan hệ ngoại tình của vợ với Georges d’Anthers, một sĩ quan kỵ binh trong quân đội Sa hoàng, Pushkin đã thách đấu súng với viên sĩ quan trẻ tuổi này. Sau cuộc đọ súng, Pushkin đã bị trọng thương và qua đời vào ngày 10 tháng 02 năm 1837, chỉ 2 ngày sau đó.
Pushkin yêu thích văn thơ một phần là do thiên tính, một phần là do thừa hưởng từ một số người trong gia đình, đặc biệt là ông chú – nhà thơ Vaxili Liôvits. Hồn thơ Pushkin được nuôi dưỡng từ những buổi bình thơ đọc văn diễn kịch tại nhà cho chú tổ chức. Ngoài ra, Pushkin còn được tiếp xúc, cảm nhận vốn thơ ca dân gian từ bà ngoại, lão bộc Nikita Côdơlôp và nhũ mẫu Rôđiônnôpna. Họ đã gieo vào tâm hồn của Pushkin những giá trị tinh thần quý báu cả con người Nga, đất nước Nga. Vì Pushkin rất thông minh, nói tiếng Pháp như người Pháp cho nên bà ngoại ông đã dạy ông tiếng Nga vì không muốn cháu mình là người Nga mà nói tiếng Nga như người nước ngoài. Pushkin thích nhất là được nghe nhũ mẫu hát những ca khúc dân gian Nga và nghe bà kể chuyện cổ tích. Những bài hát, những câu chuyện có một sức hút kỳ diệu trong tâm hồn ông và trở nên thật gần gũi, tất cả đã in vào trong tâm trí ông suốt cuộc đời.
2. Sự nghiệp sáng tác
Nhà thơ Pushkin viết rất nhiều thể loại từ thơ, truyện, kịch đến trường ca. Ông đã thành công với bản trường ca “Rutxlan và Lutmila”, tác phẩm đã đưa ông lên ngang hàng với nhiều nhà thơ Nga nổi tiếng đương thời. Bản trường ca không hề bắt chước mô phỏng những tác phẩm văn học dân gian mà nó được hoàn thiện như một tác phẩm độc lập, in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo, tự do nồng nhiệt của tác giả. Trong suốt sự nghiệp sáng tác, ông đã cho ra đời rất nhiều những tác phẩm như kịch, sử thi, văn xuôi. Mỗi một thể loại ông đều để lại những dấu ấn riêng và nhiều những tác phẩm nổi tiếng. Chính ông đã tiếp thu những tinh hoa của văn học truyền thống, phát triển và hoàn thiện nó lên một trình độ cao hơn, mở đầu cho một nền văn học tiến triển và hoàn mĩ.
Có thể nói Pushkin là nhà thơ vĩ đại Nga, là niềm tự hào của dân tộc Nga và của cả chung nhân loại. Ông xứng đáng là một đại thi hào, là bầu trời thi ca của nước Nga đến tận bây giờ. | Giới thiệu về tác giả Pushkin – Tác giả của Ông lão đánh cá và con cá vàng | 775 | |
Giới thiệu về tác phẩm An Dương Vương – Mị Châu, Trọng Thủy
Hướng dẫn
Bài giới thiệu về truyền thuyết An Dương Vương- Mị Châu, Trọng Thủymà giới thiệu dưới đây sẽ cung cấp cho người học những thông tin thú vị về nguồn gốc cũng như nội dung chủ đạo của truyện. Các bạn hãy cùng tham khảo để có thêm những thông tin bài học hữu ích nhất nhé!
1. Nguồn gốc ra đời của truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy
Tác phẩm An Dương Vương – Mị Châu, Trọng Thủy là tác phẩm mang nội dung sâu sắc, chứa đựng bài học về sự cảnh giác với kẻ thù xâm lược đồng thời cũng là câu chuyện tình đầy bi thương của Mị Châu và Trọng Thủy. Tác phẩm được xây dựng dựa trên sự kiện lịch sử có thật về vị vua An Dương Vương và quá trình xây dựng phát triển của nước Âu Lạc, việc vua để đất nước rơi vào tay Triệu Đà được nhân gian đưa vào các yếu tố các yếu tố kì ảo, siêu nhiên như rùa thần,….
2. Kết cấu của truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy
Nhằm tăng sự li kì và khắc họa sâu sắc hơn tính bi kịch của câu chuyện. Tác phẩm có thể chia làm hai phần: Vua An Dương Vương xây thành, chế nỏ đánh đuổi giặc ngoại xâm và việc cha con An Dương Vương để đất nước rơi vào tay giặc gắn liền với câu chuyện tình yêu đầy bi kịch của Mị Châu – Trọng Thủy. Cả hai phần có logic chặt chẽ với nhau,khắc họa rõ sự thật lịch sử, thể hiện rõ thái độ, nhân thức của nhân dân ta về vai trò và trách nhiệm của cha con vua An Dương Vương trong việc xây dựng và phát triển đất nước cũng như việc để đất nước rơi vào tay Triệu Đà.
3. Nội dung chủ yếu của truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy
Truyền thuyết cũng đã lí giải sự thất bại của cha con Thục Phán do sự chủ quan, khinh địch, ỷ vào có nỏ thần, không phân biệt rõ bạn – thù mà để ‘nuôi ong tay áo’ dẫn đến bi kịch mất nước. Tác phẩm cũng đã thể hiện được tình cảm, sự mến mộ của nhân dân trước tài năng của vua An Dương Vương thông qua chi tiết cuối bài biển mở lòng đón người anh hùng bất tử trong nhân dân tuy rằng ông đã phạm sai lầm to lớn, tuy nhiên tài năng và ý chí của ông vẫn luôn được nhân dân mến mộ.
Còn nàng công chúa Mị Châu vì cả tin, mù quáng nghe lời chồng, chủ quan không nhận ra đó là một âm mưu thâm độc nên nàng bị thần Kim Quy gọi là giặc quả không oan. Mối tình Mị Châu Trọng Thủy vốn rất đẹp nhưng lại trở thành bi kịch do âm mưu thâm độc của Triệu Đà gây ra,sự bi kịch đó cũng là một phần nhân dân ta muốn tố cáo cuộc chiến tranh phi nghĩa. Nhân dân không ngợi ca câu chuyện tình đẹp mà buồn đó mà chỉ dành cho họ sự xót thương với hình ảnh ngọc trai – giếng nước, một hình ảnh mang ý nghĩa nhân đạo nhằm giảm nhẹ tính bi thương của câu chuyện.
Tác phẩm An Dương Vương – Mị Châu, Trọng Thủy được lưu truyền rộng rãi bởi nội dung sâu sắc và nghệ thuật độc đáo với việc sử dụng nhiều yếu tố sáng tạo, câu chuyện không chỉ cung cấp cho người đọc hiểu biết về lịch sử mà còn cho người đọc thấy được tình cảm cha con sâu sắc, tình nghĩa vợ chồng son sắt mà trở thành bi kịch vì cuộc chiến tranh phi nghĩa.
Theo | Giới thiệu về tác phẩm An Dương Vương – Mị Châu, Trọng Thủy | 654 | |
Giới thiệu về tác phẩm Bình ngô đại cáo của tác giả Nguyễn Trãi
Hướng dẫn
Bài giới thiệu về tác phẩm Bình Ngô đại cáosẽ cung cấp thêm những thông tin thú vị về hoàn cảnh sáng tác cũng như những đặc sắc và nội dung của tác phẩm. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
1. Bình ngô đại cáo là áng “thiên cổ hùng văn” của nền văn học Việt Nam
Trong văn học ca ngợi truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc tới tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” của tác giả Nguyễn Trãi. Bài cáp này xứng đáng là một áng “thiên cổ hùng văn” và là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc ta.
– Hoàn cảnh sáng tác
“Bình ngô đại cáo” được Nguyễn Trãi viết thừa lệnh của Lê Lợi vào năm 1428 nhằm tổng kết cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược và báo cho toàn dân được biết về quá trình chiến đấu gian khổ, những khó khăn và hi sinh của nghĩa quân. Bài cáo đồng thời cũng thể hiện tinh thần nhân nghĩa, tài trí thao lược của quân ta, và ca ngợi lòng yêu nước của dân tộc.
– Tác phẩm được viết dưới thể cáo
Đây là một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại cáo – một thể văn học chính luận chủ yếu của văn học Trung đạ Việt Nam.
2. Những đặc sắc về nội dung
Bài cáo gồm có bốn phần, phần một tác giả nêu lên luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến, bằng những lí lẽ chặt chẽ đã khẳng định nghĩa quân Lam Sơn chống lại giặc minh là việc làm nhân nghĩa. Phần thứ hai của bài cáo, tác giả đã bằng những chính cứ lịch sử cụ thể mà vạch trần âm mưu, tội các của bọn “cuồng Minh”. Tác giả sử dụng biện pháp liệt kê, chỉ ra một loạt những tội ác man rợ của chúng đối với nhân dân ta. Bằng những lời văn đanh thép và hình ảnh khái quát cao, giọng văn linh hoạt, hai phần này như là một bảng cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác của giặc Minh.
Phần thứ ba là lòng tự hào trước quá trình chiến đấu gian khổ và tất thắng của cuộc khởi nghĩa. Qua đoạn này người đọc còn cảm nhận được hình tượng Lê Lợi là một vị chủ tướng hết lòng vì dân vì nước, hơn thế còn thấy được tinh thần nhân đạo của ta đối với kẻ thù. Phần cuối cùng chính là lời tuyên bố và khẳng định sự nghiệp chính nghĩa của quân dân ta đã toàn thắng, tác giả đã tuyên bố nền hòa bình của dân tộc ta được lập lại, niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước.
“Bình ngô đại cáo” là bản anh hùng ca, ca ngợi sức mạnh truyền thống yêu nước, tinh thần độc lập, tự tôn và nhân nghĩa tự cường, nêu bật sức mạnh của dân ta trong cuộc khởi nghĩa.
Theo | Giới thiệu về tác phẩm Bình ngô đại cáo của tác giả Nguyễn Trãi | 515 | |
Giới thiệu về tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc đầy đủ chi tiết nhất
Hướng dẫn
Giới thiệu về tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm dưới đây sẽ cung cấp những thông tin chi tiết về tác giả, đặc sắc nội dung của tác phẩm. Để có thêm những đơn vị kiến thức hữu ích nhất, các bạn hãy cùng tham khảo nhé.
1. Tác giả của Chinh phụ ngâm
– Chinh phụ ngâm là tác phẩm chữ Hán của tác giả Đặng Trần Côn
Chinh phụ ngâm là tác phẩm chữ Hán của tác giả Đặng Trần Côn được sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Ngay khi vừa ra đời tác phẩm đã gây được tiếng vang lớ và nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ. Bởi lẽ đó, nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả, thể hiện thành công lẫn trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác.
– Bản dịch của chữ Nôm của Đoàn Thị Điểm
Được biết, trong khoảng thời gian xa chồng đằng đẵng, nhận được bản Chinh phụ ngâm khúc viết bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn, đồng cảm với tâm trạng của người chinh phụ đó, bà đã viết nên bản dịch này. Đây chính là một trong những điểm mới, điểm thu hút của tác phẩm.
2. Đặc sắc về nội dung
Chinh phụ ngâm là câu chuyện về người phụ nữ tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý. Nhưng rồi ngay sau buổi tiễn đưa, người phụ nữ phải sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng. Sống trong cảnh cô đơn, tuổi xuân cũng ngày một qua đi nàng nhận ra cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng xa vời đã khiến người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đến cùng cực. Có thể thấy qua những tâm tư tình cảm này, tác phẩm đã thể hiện thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người. Hạnh phúc mà tác giả đề cập ở đây không chỉ trên phương diện tinh thần mà ít nhiều mang màu sắc một sự khát khao mãnh liệt được gần gũi, được ân ái trong sự đối lập với lý tưởng công danh của chế độ phong kiếm thậm chí đối lập với cả những quan niệm thông thường về “quả phúc” của nhà, thể hiện một giá trị nhân đạo sâu sắc.
Ở nguyên tác, bút pháp được nâng tầm khi Đặng Trần Côn biết chắt lọc từ kho tàng thơ văn cổ những câu phù hợp nhất với ý tứ của mình và dụng công sắp xếp thành một kết cấu hoàn chỉnh. Ở bản dịch, Đoàn Thị Điểm đã cho thấy khả năng của mình qua việc phát huy những ưu điểm vốn có của nguyên tác và gạn lọc cả những thành tựu của các bản dịch trước đó. Tác phẩm còn hay ở cách sử dụng ưu thế của thể thơ song thất lục bát, ngôn ngữ trong sáng, hiện đại, kết cấu thanh vận khéo léo, sử dụng từ láy, gieo vần tinh tế.
Như vậy, bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, bằng những xúc cảm và trải nghiệm của bản thân tác giả đã diễn tả được những diễn biến phong phú, tinh vi các cung bậc tình cảm của người chinh phụ
Theo | Giới thiệu về tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc đầy đủ chi tiết nhất | 615 | |
Giới thiệu về tác phẩm Chiến thắng Mtao- Mxây đầy đủ chi tiết nhất
Hướng dẫn
Đăm Săn là tác phẩm sử thi nổi tiếng của nền văn học dân gian Việt Nam. Để có cái nhìn chi tiết và cụ thể nhất về áng sử thi hào hùng này, hôm nay sẽ giới thiệu tác phẩm Đăm Săn cũng như đoạn trích Chiến thắng Mtao- M xây. Các bạn hãy cùng tham khảo để có thêm những thông tin thú vị nhất cho mình nhé!
1. Sử thi Đăm Săn là sử thi anh hùng của dân tộc Ê – Đê
Sử thi Đăm săn là một loại thuộc sử thi anh hùng, tác phẩm tuy kể về cuộc sống của người tù trưởng Đăm săn nhưng qua đó lại thấy hiện lên hình ảnh của cả một cộng đồng dân tộc Ê Đê. Đoạn trích “Chiến thắng Mtao – Mxay” thuộc phần giữa của tác phẩm.
2. Giới thiệu về đoạn trích Chiến thắng Mtao- M xây
Đoạn trích là bài miêu tả cuộc đọ sức giữa Đăm sănvà Mtao – Mxay để giành lại vợ, đồng thời cũng thể hiện niềm tự hào của dân làng về người anh hùng Đăm săn. Nội dung chính của đoạn trích gồm hai phần, phần một là cuộc đọ sức với Mtao – Mxay và giành chiến thắng của Đăm săn, phần hai miêu tả khung cảnh lễ ăn mừng chiến thắng. Với nghệ thuật miêu tả bằng cách miêu tả chân thực của người dân Tây Nguyên về người anh hùng Đăm săn, các hành động trong cuộc chiến của Đăm săn được so sánh và phóng đại đầy đặc sắc. Đây cũng là một trong những nét nghệ thuật tiêu biểu, đặc trưng của các tác phẩm sử thi. Cuộc chiến thắng của Đăm săn không chỉ đơn thuần là giành lại được vợ mà còn có ý nghĩa đối với cộng đồng, bởi chính vì cớ ấy mới nảy sinh mâu thuẫn giữa các cộng đồng, sự thắng bại của người tù trưởng sẽ quyết định đến sự mở rộng bờ cõi của ngôi làng. Chính vì vậy trong các tác phẩm sử thi, cụ thể là trong tác phẩm này không đề cập nhiều đến quá trình đấu tranh, cái chết hay thành bại mà lựa chọn trình bày cụ thể những chi tiết ăn mừng của cộng đồng.
Có thể thấy, đoạn trích “Chiến thắng Mtao – Mxay” đã làm sống lại quá khứ hào hùng của cộng đồng người dân Ê Đê Tây Nguyên thời cổ đại. Cổ vũ thêm tinh thần hào hùng, niềm tự hào về tổ tiên của người dân Tây Nguyên ngày nay. Bên cạnh đó đoạn trích cũng đã làm nổi bật lên vai trò quan trọng của những người anh hùng đối với cộng đồng, lịch sử dân tộc.
Theo | Giới thiệu về tác phẩm Chiến thắng Mtao- Mxây đầy đủ chi tiết nhất | 474 | |
Giới thiệu về tác phẩm Cáo bệnh bảo mọi người của Mã Giác Thiền Sư
Hướng dẫn
Cáo tật thị chúng là một trong những bài thơ đặc sắc nhất của Mãn Giác Thiền sư, để hiểu hơn về giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của bài thơ này, các bạn hãy cùng tham khảo bài giới thiệu về tác phẩm Cáo bệnh bảo mọi người.
1. “Cáo bệnh bảo mọi người” là thi kệ nổi tiếng của thời kỳ văn học Lý – Trần
Bài kệ của Thiền Sư Mãn Giác “Cáo tật thị chúng” hay “Cáo bệnh bảo mọi người” là một trong những tác phẩm thi kệ nổi tiếng của thời kỳ văn học Lý – Trần. Đây được coi như một tuyên ngôn triết học ẩn ngữ dưới hình thức nghệ thuật văn chương.
Bài thơ “Cáo tật thị chúng” đã thể hiện những suy ngẫm của thiền sư về cuộc đời. Bài thơ được chia làm hai phần nội dung chính: phần thứ nhất thiền sư nói về quy luật sinh tử của tự nhiên không chừa một ai; phần thứ hai thể hiện tâm sự và tinh thần lạc quan của tác giả.
2. Bài thơ gửi gắm sự ngộ giải chân lí của đạo Phật
Bài thơ được Thiền sư mượn cảnh thị tình, lấy tình để “trực chỉ chân tâm” nhằm khai phóng nhân sinh. Bằng cách dùng tư duy của trực giác để hình thành nên một biểu tượng, bài thơ đã bắt đầu từ chỗ miêu tả một thực tại, một hình ảnh đơn giản nhưng sinh động. Bài thơ mang một vẻ đẹp trong sáng nhưng ẩn sâu trong đó chứa đựng chất triết lí sâu sắc của dòng thơ thiền: vừa thể hiện niềm tin và tình yêu vào cuộc sống, vừa giác ngộ chân lý của Phật giáo trước lúc “nhập diệt”. Thiền sư Mãn Giác viết bài thơ này khi ông sắp qua đời và gửi gắm sự ngộ giải chân lí đạo Phật trong đó. Là một bài kệ thơ được ra đời vào thời kì mà văn học của dân tộc còn sơ khai, chưa có bề dày thành tựu, nhưng bài thơ đã bộ lộ một tầm kết tinh nghệ thuật rất đáng tự hào.
Bài thơ chỉ có sáu câu nhưng đã truyền tải đầy đủ nội dung triết lý sâu sắc, giá trị của thi phẩm được làm nên nhờ tài năng sử dụng ngôn ngữ, lựa chọn ngôn từ và hình ảnh, kết cấu gợi cảm của nhà thơ. “Cáo tật thị chúng” là tác phẩm chứng tỏ một sự khởi đầu đáng tự hào của văn học dân tộc Việt Nam.
Theo | Giới thiệu về tác phẩm Cáo bệnh bảo mọi người của Mã Giác Thiền Sư | 446 | |
Giới thiệu về tác phẩm Hứng trở về của Nguyễn Trung Ngạn
Hướng dẫn
Hứng trở về là một trong những bài thơ đặc sắc nhất của Nguyễn Trung Ngạn, bài thơ được viết trong quá trình ông đi sứ ở Giang Nam. Giới thiệu về tác phẩm Hứng trở về sẽ cung cấp thêm những thông tin thú vị cho bạn học về hoàn cảnh sáng tác cũng như đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
1. Hoàn cảnh sáng tác
Tác phẩm “Hứng trở về” là bài thơ của tác giả Nguyễn Trung Ngạn, bài thơ được ông sáng tác trong thời gian đang đi sứ ở Giang Nam – Trung Quốc, bài thơ đã thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc sâu sắc của ông.
Các nhà thơ trung đại nói chung và nhà thơ Nguyễn Trung Ngạn nói riêng cũng đã viết nhiều về chủ đề tình yêu quê hương, nhưng có điểm đáng lưu ý ở bài thơ này chính là nỗi nhớ quê hương được gợi lên từ chính những hình ảnh quen thuộc: cây dâu già, nong tằm, lúa trổ bông, cua đang lúc béo,…
2. Đặc sắc nội dung, nghệ thuật
Bài thơ được làm theo thể thơ thất ngôn tuyệt cú Đường luật, từng câu chữ và vần thơ đều được thấm đẫm tình yêu quê hương đất nước và niềm tự hào dân tộc. Những hình ảnh trong bài thơ đều giàu sức gợi bởi nó gắn bó máu thịt với chính tác giả – con người sinh ra và lớn lên ở vùng nông thôn.
Bài thơ chính là những câu ca thể hiện tấm lòng, tình yêu tha thiết của tác giả đối với quê hương, đối với cuộc sống hết sức bình dị nơi quê nhà, đó là tình yêu mộc mạc nhưng chân thành, da diết. Đối với bài thơ “Hứng trở về” tình cảm đối với đất nước, non sông đã có thêm một cung bậc khác, đó là nỗi lòng của những kẻ li hương, tình yêu quê hương của Nguyễn Trung Ngạn không chỉ thể hiện qua nỗi nhớ mà còn thể hiện ở khát khao được quay về, dù có sống sung sướng nơi đất khách nhưng lòng vẫn luôn nhớ đến quê hương.
Với bài thơ này, nhà thơ Nguyễn Trung Ngạn đã mang một màu sắc mới mẻ vào trong nền văn học trung đại Việt Nam, đó chính là một hình ảnh thơ rất mới, vừa dung dị lại có sức thẩm thấu sâu trong lòng người đọc. “Hứng trở về” là một bài thơ hay và cảm đọng, sau những vần thơ là cả một tình quê đong đầy, tâm hồn mở rộng thủy chung.
Theo | Giới thiệu về tác phẩm Hứng trở về của Nguyễn Trung Ngạn | 463 | |
Giới thiệu về tác phẩm Nỗi oán của người phòng khuê
Hướng dẫn
Giới thiệu về tác phẩm Nỗi oán của người phòng khuê sẽ cung cấp thêm những thông tin về hoàn cảnh sáng tác cũng như những đặc sắc nội dung và nghệ thuật của bài thơ. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
1. Vài nét về bài thơ
Tác phẩm “Khuê oán” – Nỗi oán của người phòng khuê là một bài thơ hay trong số các bài thơ mà nhà thơ Vương Xương Linh viết về cuộc đời và nỗi oán của người phụ nữ. Cụ thể trong bài thơ này là nỗi oán của người thiếu phụ trẻ khi có chồng đi chiến trận nơi biên ải.
2. Đặc sắc nội dung và nghệ thuật
Bài thơ chỉ có bốn câu và thuộc thể loại thất ngôn tuyệt cú nhưng không rõ năm sáng tác. Khác với những bài thơ nằm trong chủ đề thơ biên tái là miêu tả tâm trạng và tình cảm của người trực tiếp ra chiến trận. Bài “Khuê oán” nằm trong mảng thơ nỗi oán của người phụ nữ nên nó miêu tả tâm trạng, tình cảm của người thiếu phụ có chồng đang tham gia chinh chiến
. Người đàn bà này là một người phụ nữ trẻ, đang ở nơi khuê các, thơ dại không biết gì, chỉ khi thấy cảnh xuân về mới hay rằng mình nhớ chồng, mới hối hận vì để chồng đi tòng quân nơi biên ải xa xôi, không rõ sống chết ra sao. Khi ấy người chinh phụ mới nhận ra ước mơ chức tước công hầu là điều viển vông, phù du, chỉ có hiện thực là thời gian trôi qua, tuổi xuân trôi qua và hạnh phúc lứa đôi còn dang dở.
Chỉ với 28 chữ, bài thơ “Khuê oán” đã trở thành tiêu biểu cho tinh thần lên án chiến tranh phi nghĩa của nhân dân thời Đường nói riêng và của cả nhân loại nói chung. Bởi bài thơ đã đề cập đến vấn đề mang tính quy luật chiến tranh phi nghĩa chỉ đem lại những sự đau thương, mất mát, tan vỡ, sinh li tử biệt, hạnh phúc đôi lứa dở dang. Đó cũng chính là giá trị nhân đạo của bài thơ, nói lên khát vọng hòa bình, ước vọng về hạnh phúc lứa đôi, mái ấm gia đình, đó là khát vọng muôn thuở của con người trong mọi thời đại.
Theo | Giới thiệu về tác phẩm Nỗi oán của người phòng khuê | 411 | |
Giới thiệu về tác phẩm Thăng long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan
Hướng dẫn
Giới thiệu về tác phẩm Thăng long thành hoài cổcủa Bà Huyện Thanh Quan sẽ cung cấp thêm những thông tin về hoàn cảnh ra đời cũng như đặc sắc nội dung của bài thơ. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
1. Hoàn cảnh sáng tác
Tác phẩm “Thăng long thành hoài cổ” là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan – một nữ thi sĩ thời cận đại của lịch sử văn học Việt Nam.
Hoàn cảnh ra đời bài thơ vào năm 1802, khi Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long và đóng đô ở kinh thành Huế, đồng nghĩa với việc kinh đô Thăng Long đã mất địa vị trung tâm của đất nước về cả chính trị và văn hóa, kinh tế. Vốn xuất thân trong một gia đình quý tộc đời Lê, nên Thăng Long mãi mãi để lại trong lòng nữ thi sĩ những tình cảm và kỉ niệm sâu sắc. Khi Phú Xuân trở thành kinh đô của triều Nguyễn, Thăng Long được đổi thành Hà Nội, nỗi niềm tâm sự nhớ xưa kinh thành Thăng Long là nỗi niềm của một người đi xa. Bởi Bà Huyện Thanh Quan đã phải vào Phú Xuân làm nữ quan “Cung trung giáo tập” dạy cho các cung phi, công chúa. Trong một lần trở về kinh thành Thăng Long, kinh đô xưa, trước cảm xúc đau thương, tiếc nuối những kí ức đẹp về mảnh đất này, Bà Huyện Thanh Quan đã sáng tác bài thơ này.
2. Đặc sắc nội dung
Bài thơ “Thăng long thành hoài cổ” mang âm hưởng cổ kính mà thanh thoát, nhẹ nhàng, hình ảnh ước lệ nhưng có hồn có cảm. Sự phối hợp giữa ý tưởng với âm thanh đã tọa nên một thi điệu tự nhiên, uyển chuyển và hấp dẫn. Bài thơ khác xa so với những dòng chữ chắp nối công phu nhưng vẫn lủng củng, không hồn của đa số các bài thơ tiền Nguyễn. Tác phẩm được coi là một trong những bài thơ kiệt tác của nền thi ca trung đại dân tộc. Bài thơ “Thăng long thành hoài cổ” xứng đáng là một viên ngọc quý trong nền thi ca cổ điển Việt Nam.
Theo | Giới thiệu về tác phẩm Thăng long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan | 396 | |
Giới thiệu về tác phẩm Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng của tác giả Hồ Nguyên Trừng
Hướng dẫn
Giới thiệu về tác phẩm Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng của tác giả Hồ Nguyên Trừng sẽ cung cấp thêm những thông tin về tác phẩm. Để có quá trình học tập hiệu quả nhất, các bạn hãy tham khảo nhé!
1. Giới thiệu về tác phẩm Thầy thuốc giỏi cốt ở tấm lòng
Truyện “Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng” nằm trong thiên thứ 8 của tác phẩm “Nam Ông mộng lục” với nhan đề chữ Hán là “Y thiên dụng tâm”, truyện kể về một thầy thuốc giỏi Thái y lệnh Phạm Bân, qua đó ca ngợi y đức đồng thời kín đáo bày tỏ niềm tự hào về ông cha, tổ tiên của tác giả.
2. Giới thiệu về tác phẩm Nam ông mộng lục và Thầy thuốc giỏi cốt ở tấm lòng
“Nam ông mộng lục” là một tác phẩm nói về việc cũ của quê hương đất nước, ký thác nỗi sầu xa xứ qua những hồi ức của người đang sống nơi xa quê đất khách quê người. Tác phẩm gồm có 28 thiên và thiên thứ 8 chính là tác phẩm “Thầy thuốc giỏi cốt ở tấm lòng”, nói về thầy thuốc Phạm Bân. Ông là cụ tổ bên ngoại của tác giả Hồ Nguyên Trừng, một người thầy thuốc giỏi có nghề y gia truyền, dưới thời vua Trần Anh Tông giữ chức Thái y lệnh.
Trong truyện tác giả đã kể lại một tình huống gay cấn đẩy người thầy thuốc vào xung đột giữa tâm đức và danh lợi, giữa cái sống và cái chết, qua đó bộc lộ càng rõ nhân cách và bản lĩnh cũng như lòng nhân đức của Phạm Bân. Qua truyện này, chúng ta đã được chiêm ngưỡng một hình ảnh đẹp về Phạm Bân – một người thầy thuốc giàu y đức, giàu tình thương người, tỏa sáng tâm đức, để lại bao sự mến yêu và ngưỡng mộ trong lòng mọi người. Quả thật ông rất xứng đáng với câu mà các cụ ta từ xa xưa “Lương y như từ mẫu”, “Thầy thuốc như mẹ hiền”. Có thể nói cùng với các bậc danh y nổi tiếng như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông,… Phạm Bân cũng đã sống mãi với thời gian và sống mãi trong lòng người. Đây là một truyện kể về những con người thật, sự việc thật trong quá khứ, truyện giản dị mà hấp dẫn, chứa chan tình người, nêu cao đạo đức của người thầy thuốc chân chính. | Giới thiệu về tác phẩm Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng của tác giả Hồ Nguyên Trừng | 442 | |
Giới thiệu về tác phẩm Uy-lít-xơ trở về của tác giả Hô- me
Hướng dẫn
Giới thiệu về đoạn trích Uy-lít-xơ trở về sẽ cung cấp những thông tin thú vị giá trị đoạn trích cũng như nội dung chính của cuốn sử thi đồ sộ Ô-đi-xê của Hi Lạp cổ đại. Các bạn hãy cùng tham khảo để có thêm những kiến thức bổ ích nhất nhé!
I. Vài nét về tác giả Hô-me-rơ
Hô-me-rơ là cha đẻ của nền thi ca Hy Lạp, người đã đặt những mẫu mực đầu tiên cả về nội dung và hình thức nghệ thuật cho nhiều tác phẩm văn học Hy Lạp. Nhắc đến tên tuổi Hô-me-rơ, không thể không kể đến hai sử thi nổi tiếng Iliad và Ô-đi-xê. Đoạn trích Uy-lít-xơ (trích sử thi Ô-đi-xê) rất tiêu biểu cho nghệ thuật sử thi Hô-me-rơ.
II. Giới thiệu về sử thi Ô-đi-xê và đoạn trích Uy-lít-xơ trở về
1. Ô-đi-xê hướng tới thể hiện sức mạnh và trí tuệ của người Hi Lạp
Sử thi “Ô-đi-xê” ra đời trong bối cảnh người Hy Lạp đang bắt đầu vươn mình ra biển cả rộng lớn để mở rộng địa bàn hoạt động của mình. Trong công cuộc khám phá và chinh phục đại dương bao la ấy, con người gặp không ít những khó khăn, thử thách. Để vượt qua được những thử thách ấy, con người không chỉ cần có lòng dũng cảm và sức mạnh thể chất mà còn cần có trí tuệ, sự khôn ngoan. Hình tượng Uy-lít-xơ trong sử thi Ô-đi-xê chính là biểu tượng cho sức mạnh trí tuệ của người Hy Lạp.
Không chỉ có thế, “Ô-đi-xê” ra đời khi xã hội Hy Lạp đang đứng trước ngưỡng của của chế độ chiếm hữu nô lệ, cùng với đó là sự chấm dứt của chế độ công xã thị tộc. Lối sống theo cộng đồng được thay thế bởi tổ chức gia đình, cùng với đó là sự xuất hiện của hôn nhân một vợ một chồng. Bối cảnh mới của thời đại đòi hỏi con người cần hình thành những phẩm chất đáng quý: sự gắn bó với quê hương, tình yêu thuỷ chung. Và quan niệm về tình yêu thuỷ chung đó cũng được thể hiện rất rõ trong “Uy-lít-xơ trở về”.
>>Cảm nhận của em về đoạn trích Uy- lít-xơ trở về – Văn mẫu lớp 10 tuyển chọn
2. “Uy-lít-xơ trở về” là đoạn trích thuộc khúc ca thứ 23 của sử thi “Ô-đi-xê”
“Uy-lít-xơ trở về” là đoạn trích thuộc khúc ca thứ 23 của sử thi “Ô-đi-xê”. Nội dung chính của đoạn trích là cuộc đoàn tụ của Uy-lít-xơ – người anh hùng của Hy Lạp trong cuộc chiến thành Tơ-roa với người vợ thân yêu của mình – nàng Pê-nê-lốp sau hai mươi năm chàng phiêu bạt khắp nơi kể từ chiến thắng thành Tơ-roa. Lúc này, sau quãng thời gian đợi chờ đằng đẵng, mòn mỏi, Pê-nê-lốp đã hết hy vọng về sự trở về của chồng và tin rằng Uy-lit-xơ đã chết. Không chỉ có vậy, nàng còn phải đối phó với 108 kẻ cầu hôn mà thực chất chỉ muốn chiếm lấy số tài sản của gia đình. Sau khi Uy-lít-xơ trở về quê hương, chàng đã giả dạng thành một người ăn mày đến tham dự cuộc thi bắn để chọn chồng của Pê-nê-lốp (thực chất đây cũng là một cách Pê-nê-lốp đối phó với bọn người cầu hôn). Chàng đã lập mưu để chiến thắng tất cả 108 kẻ cầu hôn Pê-nê-lốp, nhờ đó đoàn tụ với gia đình sau bao năm xa cách.
3. Nội dung chính của đoạn trích Uy-lít-xơ trở về
Đoạn trích “Uy-lít-xơ trở về” khắc hoạ cuộc đấu trí giữa Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp, từ đó ca ngợi phẩm chất trí tuệ và tình yêu chung thuỷ theo quan niệm của người Hy Lạp. Đoạn trích còn hấp dẫn người đọc bởi những biện pháp nghệ thuật đặc sắc: cách miêu tả nhân vật qua hành động, lời nói, cử chỉ song có chiều sâu, mang tính điển hình cho phẩm chất thời đại, cùng với đó là ngôn ngữ trong sáng, giọng kể chuyện chậm rãi, tha thiết và lối so sánh đuôi dài đặc sắc.
Với những giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc đó, đoạn trích “Uy-lít-xơ trở về” nói riêng và “Ô-đi-xê” nói chung xứng đáng là những mẫu mực cho văn chương nhiều thế hệ.
Theo | Giới thiệu về tác phẩm Uy-lít-xơ trở về của tác giả Hô- me | 738 | |
Giới thiệu về tác phẩm Ông lão đánh cá và con cá vàng của tác giả Puskin
Hướng dẫn
Giới thiệu về tác phẩm Ông lão đánh cá và con cá vàng sẽ cung cấp những thông tin bài học về hoàn cảnh sáng tác cũng như những đặc sắc về nội dung của tác phẩm. Để có quá trình học tập hiệu quả nhất, các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
1. Xuất xứ tác phẩm
Truyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng” là một sử thi của Pushkin, được viết vào mùa thu năm 1833 dựa trên một truyện cổ tích Nga quen thuộc kết hợp với sự sáng tạo và tài năng của Pushkin.
2. Đặc sắc nội dung
Truyện kể về một ông lão cao tuổi sống cùng với vợ trong một căn chòi tồi tàn. Hàng ngày ông đi đánh cá ở biển. Bỗng một ngày ông bắt được một con cá vàng – vốn là cá thần, con cá xin ông thả tự do cho nó và đổi lại nó sẽ thực hiện bất kì điều ước nào của ông. Tuy nhiên ông lão là một người thật thà, chân chất nên ông không hề mong muốn cho mình bất cứ điều gì và đã thả cho cá đi.
Tuy nhiên bà vợ của ông thì ngược lại, mụ ta có lòng tham vô đáy, bắt ông lão hết lần này sang lần khác ra biển cầu xin cá vàng cho những ước muốn của bà ta. Đầu tiên chỉ là cái máng lợn vỡ, rồi một căn nhà mới, chưa dừng ở đó, bà xin làm nhất phẩm phu nhân, làm nữ hoàng, cung điện và cao điểm là khi ba ta đòi trở thành vua của biển cả để muốn điều khiển được cá vàng.
Bà là người có lòng tham vô đáy, ngược đãi với chính chồng của mình và tham lam không có điểm dừng, chính vì vậy mà thiên nhiên nổi giận, cá vàng đã thu hồi tất cả những gì đã thực hiện cho bà, lúc đó ông lão và bà vợ lại trở về với hoàn cảnh như trước, vẫn là chiếc máng lợn vỡ. Với nghệ thuật lặp lại tăng tiến tình huống truyện, kết hợp với các tình huống đối lập tương phản, nhân hóa giữa các nhân vật và yếu tố tưởng tượng hoang đường đã tạo nên một câu chuyện cổ tích hấp dẫn và mang ý nghĩa sâu sa. Truyện đã ca ngợi lòng biết ơn đối với những người thật thà, nhân hậu và phê phán, nêu ra bài học thích đáng cho những kẻ nhu nhược, tham lam và bội bạc. | Giới thiệu về tác phẩm Ông lão đánh cá và con cá vàng của tác giả Puskin | 445 | |
Đề bài: Nhà em có treo một tấm lịch để xem ngày tháng. Em hãy viết bài văn giới thiệu về tấm lịch treo tường nhà em cho mọi người cùng biết.
Bài làm:
Nhà em có rất nhiều đồ vật trang trí. Đồ vật thân thiết với em là tấm lịch với những màu sắc, hình ảnh tuyật đẹp treo trên bức tường quét vôi xanh nhạt của phòng khách.
Tờ lịch hình chữ nhật, chiều ngang khoảng bốn mươi phân và chiều dọc khoảng sáu mươi phân, bằng giấy dày trơn láng. Nổi bật trên nền lịch là khung cảnh Hồ Gươm với Tháp Rùa cổ kính soi bóng trên mặt nước lăn tăn sóng gợn. Trên cao là bầu trời trong xanh với những đám mây trắng bồng bềnh. Xa xa là tòa nhà Bưu điện Hà Nội đồ sộ được trang trí cờ hoa rực rỡ.
Phần dưới của tấm lịch chia thành mười hai ô đều nhau, mỗi ô là một tháng với đầy đủ số ngày Dương lịch và Âm lịch..Dưới cùng là hai hàng chữ: Chúc mừng năm mới và Xuân Đinh Hợi bằng nhũ vàng óng ánh.
Ngắm phong cảnh Hồ Gươm trong tờ lịch, em ao ước một ngày nào đó được ra thăm Thủ đô, để tận mắt ngắm nhìn cảnh hồ đã gắn liền với truyền thuyết Rùa Vàng đòi lại gươm báu mà Long Quân đã cho Lê Lợi mượn để đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi nước ta. | Giới thiệu về tấm lịch treo tường nhà em | 248 | |
Giới thiệu về tổ em, tổ 1
Gợi ý
Xin chào các bạn!
Mình là Mai Hương – thành viên của tổ một. Tổ của mình gồm có mười hai bạn, trong đó có sáu bạn nam và sáu bạn nữ. Các bạn đều râ’t vui tính và mỗi người có một nét tính cách riêng. Huân hát rất hay, Lan học giỏi, Huy chơi thể thao rất cừ… Tinh thần đoàn kết của tổ thể hiện rất rõ khi chúng mình giúp nhau cùng học tập và sinh hoạt. Nhất là trong đợt làm báo tường vừa qua, tổ mình có rất nhiều bài hay và đẹp, góp phần không nhỏ vào tờ bích báo của lớp. Mọi người trong tổ đều có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, vứt rác đúng nơi qui định. Các bạn biết không, chính vì thế mà mình rất tự hào là một thành viên của tổ một. | Giới thiệu về tổ em, tổ 1 | 153 | |
Giới thiệu về tổ em, tổ 2
Gợi ý
Xin chào các bạn!
Mình là Xuân Thành, tổ trưởng tổ 2. Xin được giới thiệu về tổ của mình như sau: Chúng mình có tất cả mười thành viên, sáu nam và bôn nữ. Vì các bạn nam đông hơn nên đến phiên tổ mình trực nhật, chúng mình lại phân công mỗi hôm năm bạn, hai bạn nữ giặt giẻ lau bảng, ba bạn nam kê bàn ghế và tưới bồn hoa. Các bạn trong tổ chơi với nhau khá thân và luôn đoàn kết. Niềm tự hào của tổ mình là bạn Như Thành, bạn ấy vừa đoạt giải nhất cuộc thi viết chữ đẹp của thành phố | Giới thiệu về tổ em, tổ 2 | 117 | |
Giới thiệu về tổ em, tổ 3
Gợi ý
Xin chào các bạn!
Tớ là Thanh Thuỷ, tổ trưởng tổ 3. Tớ rất vinh hạnh được giới thiệu với các bạn về tổ của mình. Tổ tớ là toàn bộ dãy bàn thứ 2 từ ngoài cửa chính tính vào. Tố gồm 12 thành viên. Trong đó chủ yếu là nam, chỉ có 3 bạn nữ là bạn Trà My, Hải Hà và tớ – Thanh Thuỷ. Chính vì vậy, những việc nặng nhọc trong tổ đều được các bạn trai xung phong đảm nhiệm. Tổ tở sống với nhau rất đoàn kết. Các bạn luôn yêu thương và giúp đỡ nhau, rất ít khi xảy ra tranh chấp hay cãi vã. Tuy tổ nhiều con trai nhưng các bạn rất ngoan và có ý thức phấn đấu học tập. Bởi vậy nên tháng nào tổ tớ cũng được xếp loại thi đua giỏi, được cô giáo khẹn ngợi. | Giới thiệu về tổ em, tổ 3 | 156 | |
Giới thiệu về tổ em, tổ 4
Gợi ý
Xin chào các bạn!
Mình là Minh Thư tổ trưởng tổ 4. Tổ mình chỉ có 9 thành viên, bao gồm 4 nữ, 5 nam. Khá đồng đều phải không các bạn. Tổ mình rất đặc biệt. Các thành viên trong tổ hầu như ai cũng giữ một chức vụ trong lớp. Bạn Trung Dũng là lớp phó học tập, bạn Ngọc Ly là quản ca, bạn Tùng Chi là sao đỏ, bạn Vũ là chi đội trưởng. Chính vì rất đông cán bộ nên tổ mình rất mạnh trong các phong trào của lớp. Tháng nào tổ mình cũng đứng đầu trong danh sách thi đua. Mình rất tự hào là thành viên của tổ 4. | Giới thiệu về tổ em, tổ 4 | 123 | |
Giới thiệu về tổ em
Hướng dẫn
Giới thiệu về tổ em
I. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Để thực hiện yêu cầu của đề bài, em cần suy nghĩ trả lời trình tự những câu hỏi sau: – Tổ của em là tổ thứ mấy (tổ 1, 2..V 3)? Có bao nhiêu bạn, mấy nam, mấy nữ? – Những nét riêng của từng bạn (gầy, yếu, béo, mập, sôi nổi hay trầm tính hoặc nhí nhảnh hài hước, vui nhộn…)? – Tháng qua có những công việc gì mà tổ đã thực hiện? (giúp đỡ bạn yếu kém, thi đua phát biểu xây dựng bài, kiểm tra việc thực hiện phong trào “vở sạch chữ đẹp v.v….)
II. NHỮNG BÀI VĂN THAM KHẢO
Bài làm 1
Thưa các bác, các cô, các chú! Cháu xin phép đại diện cho tổ, báo cáo với các bác, các cô, các chú về tình hình của tổ cháu và hoạt động của tổ trong tháng qua. Tên cháu là Vũ Hồng Phúc, tổ trưởng tổ ba. Tổ cháu gồm mười bạn: năm trai năm gái, được cô chủ nhiệm xếp ngồi 3 dãy bàn đầu bên trái. Theo thứ tự phải qua trái, bàn thứ nhất là bạn Hồng, bạn Trang, bạn Diễm, bạn Na và bạn Mận. Bàn thứ hai là bạn Khôi, bạn Dũng, bạn Thành, bạn Trang.. Khỏe mạnh nhất trong tổ là bạn “Dũng đen”, hay nhõng nhẽo và khóc nhè là bạn Trang, bạn Diễm nhưng nhờ hai bạn này mà Văn nghệ của tổ, của lớp luôn giành giải nhất. Thưa các bác, các chú, các cô!
Bài làm 2
Thưa các bác, các chú, các cô! Cháu tên là Trần Hồng Diễm Mi, tổ trưởng tổ một lớp 3C, xin phép được báo cáo với các cô, các bác, các chú tình hình của tổ và những hoạt động của tổ cháu trong tháng qua như sau: Tổ cháu gồm có tám bạn: ba trai, năm gái. Tháng này, tổ cháu được phân công ở hai dãy bàn cuối lớp bên trái từ trên bảng nhìn xuống. Dãy bàn các bạn gái gồm có: Thi Vân, Hồng Hạnh, Đan Thanh và Minh Nguyệt. Dãy bàn thứ hai gồm có cháu (vị trí đầu bàn) đến bạn Thắng, bạn Đức và bạn Hòa. Tổ cháu là một tổ rất đoàn kết, luôn được cô giáo biểu dương trước lớp. Học tập thì khá đều, không có bạn nào yếu kém cả. Trội nhất là bạn Minh Nguyệt. Bạn thường giành được nhiều điểm mười nhất tổ. Hay chọc ghẹo các bạn gái trong tổ nhất là bạn Đức, nhưng bạn cũng là người vui nhộn, hài hước nhất trong tổ. Nhiều khi bạn ấy hứng lên trổ tài khiến cho lớp và cả cô chủ nhiệm nữa cười đến chảy cả nước mắt. Còn trong tháng qua, mọi hoạt động học tập sinh hoạt của tổ vẫn bình thường. Chỉ có một việc mà theo cháu nghĩ là rất có ý nghĩa. Đó là: ngày thứ hai tuần vừa rồi, được tin bạn Minh Nguyệt bị ốm, không đi học được, chiều hôm đó, cả tổ cháu tổ chức đi thăm Nguyệt và giúp Nguyệt chép lại bài học. Bố mẹ Nguyệt và cả Nguyệt nữa rất vui khi thấy chúng cháu sống với nhau rất tình cảm. Trên đây là tình hình và hoạt động của tổ chúng cháu, cháu xin báo cáo với các bác, các chú, các cô một vài nét chính như vậy. Cháu xin cảm ơn ạ! | Giới thiệu về tổ em | 586 | |
Giới thiệu về Vương Xương Linh – Tác giả bài thơ Khuê oán
Hướng dẫn
Vương Xương Linh là nhà thơ nổi tiếng dưới thời nhà Đường, Trung Quốc. Để có thêm những thông tin về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông, các bạn hãy cùng tham khảo bài giới thiệu về tác giả Vương Xương Linh mà chúng tôi tuyển chọn dưới đây nhé!
1. Vài nét về tác giả
Tác giả Vương Xương Linh là một nhà thơ thời Thịnh Đường của Trung Quốc, là một nhà thơ nổi tiếng với nhiều thơ hay, ông được người đời gọi là “Thi thiên tử” hay là “Thi gia phu tử Vương Giang Ninh”.
Vương Xương Linh là người gốc ở Kinh Triệu – Trường An, nay thuộc Thiểm Tây – Trung Quốc. Dưới triều vua Đường Huyền Tông (727) ông đã thi đỗ tiến sĩ, sau đó bảy năm ông lạ đỗ khoa Bác học hoành từ, rồi từ đó lần lượt giữ các chức như: Bí thư sảnh, Hiệu thư lang, huyện úy huyện Dĩ Thủy. Tuy nhiên đến năm 740 vì phạm lỗi mà ông bị giáng chức làm Giang Ninh thừa, thêm đó lại vì những lỗi vụn vặt mà ông bị giáng xuống làm Long Tiêu úy. Cuối năm 755, loạn An Lộc Sơn chống lại triều đình, Vương Xương Linh trở về làng thì vị viên Thứ sử ở đại phương giết chết vì thư thù.
2. Sự nghiệp sáng tác
Sở trường của Vương Xương Linh là thơ thất ngôn tuyệt cú, ông được sánh ngang với Lý Bạch về thể thơ thất tuyệt. Trong số những bài thơ còn lại của ông, có hai chủ đề chính: một là nói lên nỗi sầu ly biệt, nỗi nhớ quê hương của những kẻ chiến chinh nơi biên ải; hai là diễn tả cuộc sống của người phụ nữ nhìn từ nhiều góc độ khác nhau.
Số thơ của Vương Xương Linh để lại hiện chỉ còn hơn 180 bài, trong đó một nửa là tuyệt cú, trong mảng thơ biên tái, ông có một số tác phẩm nổi bật như: “Tòng quân hành”, “Xuất tái”, “Tái hạ khúc”; trong mảng thơ tả cuộc đời phụ nữ nổi bật có một số bài: “Thái liên khúc”, “Khuê oán”, “Trường Tín oán”, “Tây cung thu oán”,…. Ngoài ra ông còn có một số bài thơ tiễn biệt, gửi gắm tình cảm với bạn bè rất hay như: “Biệt Đổng Đại”, “Phù Dung lâu tống Tân Tiệm”.
Theo | Giới thiệu về Vương Xương Linh – Tác giả bài thơ Khuê oán | 416 | |
Đề bài: Giới thiệu về vẻ đẹp của Phú Quốc
Bài làm
Phú Quốc là huyện đảo ngoài khơi lớn nhất Việt Nam, nằm trong vịnh Thái Lan, thuộc địa phận tỉnh Kiên Giang. Thị trấn Dương Đông – huyện đảo cách thị xã Rạch Giá 120km và cách Hà Tiên 45km. Đảo chính Phú Quốc rộng 578km, dài 51km và hơn 20 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau tạo thành một quần thể đáo xanh tươi, thơ mộng ngay giữa đại dương. Eo biển xanh Phú Quốc được ví như Vịnh Hawai trữ tình nổi tiếng của Mĩ với những bờ biển đẹp vào bậc nhất Việt Nam. Bãi Trường nằm phía Tây đảo kéo dài từ Dương Đông tới An Thới khoảng 20km là bãi tắm sầm uất nhất và là bải biển duy nhất ở Việt Nam nơi bạn có thể ngắm mặt trời lặn xuống biển. Nhửng bãi tắm khác ở Phú Quốc như bãi Kem, bãi Đầm, bãi Cửu cần, bãi Đại, bãi Sao… nước trong vắt, cát trắng mịn như kem, cũng đầy hấp dẫn; có thể mang lại cho du khách những giây phút vui đùa, thư giản thoải mái nhất giữa cảnh đẹp hoang sơ, khí hậu trong lành, sự bình yên hiếm có.
Phú Quốc nổi tiếng với đặc sản nước mắm, có vị ngon thơm đặc biệt, chế biến từ cá cơm, có độ đạm cao, khác hẳn với nước mắm những vùng biển khác. Mỗi năm, hàng trăm cơ sở sản xuất nước mắm của Phú Quốc cho ra thị trường 8 triệu lít nước mắm với sự hỗ trợ cả 2.200 tàu đánh cá, sản lượng đánh bắt trung bình 40.000 tấn/năm. Nghề làm mắm ở Phú Quốc có lịch sử phát triển trên 200 năm, người dân ở đây tuân thủ nghiêm ngặt các phương pháp thủ công truyền thống dể đảm bảo chất lượng, vệ sinh của đặc sản địa phương mình. Cá cơm còn tươi nguyên được ướp muối (muối vùng Bà Rịa Vũng Tàu hoặc Cà Ná – Phan Thiết) ngay trên thuyền. Nước mắm được lên men trong thùng gỗ, từ 12 đến 15 tháng. Mắm Phú Quốc khi đó có màu cánh gián, nhẹ mùi, không tanh, không gắt, có vị ngọt dịu đặc biệt. Vì thế mắm Phú Quốc không chỉ được ưa chuộng ở thị trường trong nước mà đã chinh phục cả những người nội trợ ở Pháp, Bỉ, Mĩ, Thái Lan…
Người ta ví, Phú Quốc như một cô gái trẻ, căng đầy sức sống, có vẻ đẹp bí ẩn, càng khám phá càng thấy lí thú, hấp dẫn của những vạt rừng nguyên sinh; lại vừa có vẻ đẹp quyến rũ, nồng nàn của đại dương hoang sơ. Cánh rừng nguyên sinh của Phú Quốc nằm ở trung tâm hòn đảo, rộng tới 37.000 ha, là nơi sinh sống của nhiều loài gỗ; chim muông quý.
Tuyến du lịch đang được ưa chuộng nhất trên đảo là Dương Đông – Hàm Ninh. Con đường chính của tuyến du lịch này được làm từ thời Pháp, uốn lượn quanh những ngọn đồi bạt gió. Du khách sẽ được thăm chùa Sư Môn, lội suối Tranh, thăm làng chài cổ Hàm Ninh, leo núi hoặc đến cơ sở nuôi cấy ngọc trai ở Nam Đảo. Tuyến du lịch Dương Đông – An Thới cũng rất hấp dẫn khi dẫn tới một quần đảo gồm 15 hòn lớn nhỏ, nằm rải rác ở phía nam, dài khoảng 40km. Quần đảo An Thới là một địa điểm lí tưởng để tổ chức các loại hình du lịch biển, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái. Các thắng cảnh: Dương Đông – Dinh Cậu, bãi Bàn, bãi Kem, lăng ông Hải, nhà tù Phú Quốc, cảng An Thới đều là những điềm tham quan đầy ấn tượng. Hoặc bạn sẽ đi câu mực thẻ đêm, câu cá rồi nướng ngay trên biển hay tham gia tour lặn biển, thăm vương quốc san hô hùng vĩ, nhiều màu sắc lung linh nhưng thật tinh khôi trong lòng đại dương Phú Quốc. Câu lạc bộ bơi lặn của Công ty du lịch Sài Gòn – Phú Quốc sẽ giúp bạn khám phá thế giới ngầm của hòn đảo đáng yêu này. Bạn sẵn sàng chưa? | Giới thiệu về vẻ đẹp của Phú Quốc | 717 | |
Giới thiệu về Đoàn Thị Điểm – Dịch giả của bài thơ Chinh phụ ngâm khúc
Hướng dẫn
Đoàn Thị Điểm là một trong những gương mặt nhà thơ nữ tài năng bậc nhất của nền văn học Trung đại Việt Nam. Cùng với những sáng tác có giá trị cao về nội dung và nghệ thuật, bà còn là dịch giả của bài thơ Chinh phụ ngâm khúc. Bài giới thiệu về Đoàn Thị Điểm dưới đây sẽ mang đến những thông tin về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của bà.
I. Tiểu sử tác giả
Đoàn Thị Điểm (1705 – 1749) có hiệu là Hồng Hà Nữ Sĩ, là nữ sĩ Việt Nam thời Lê trung hưng. Quê bà ở làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Bà được mệnh danh là một phụ nữ nổi tiếng: “Đẹp người, đẹp nết, giỏi văn chương”.
Đoàn Thị Điểm là con gái ông Đoàn Doãn Nghi, bà gốc họ Lê, đến đời phụ thân mới chuyển sang họ Đoàn. Từ nhỏ, bà đã có tiếng thông minh, đẹp người, đẹp nết, chăm học, có tài văn và giỏi cả việc nữ công. Cho nên năm 16 tuổi, bà được Thượng thư Lê Anh Tuấn nhận làm con nuôi để sau dâng lên chúa Trịnh, nhưng bà không chịu.
Đoàn Thị Điểm sống với cha và anh ở nơi cha dạy học là làng Lạc Viên (huyện An Dương, tỉnh Kiến An, nay thuộc thành phố Hải Phòng) cho đến khi cha mất mới cùng gia đình của anh dời đến ngụ ở làng Vô Ngại, huyện Đường Hào (nay là huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên). Đến khi anh mất (năm 1735), bỏ lại một đàn con nhỏ, một mình Đoàn Thị Điểm phải vừa làm thuốc, vừa dạy học để có tiền nuôi mẹ và giúp đỡ chị dâu nuôi các cháu. Đến năm 33 tuổi bà trở thành vợ ông Nguyễn Kiều – văn hào nổi tiếng ở làng Phú Xá (nay thuộc xã Phú Thượng, Từ Liêm, Hà Nội).
2. Sự nghiệp sáng tác
– Đoàn Thị Điểm – Dịch giả của Chinh phụ ngâm khúc
Dù tình duyên muộn màng, nhưng đã mang lại cho nữ sĩ một gia đình hạnh phúc. Đây cũng là cơ sở cho sự nghiệp sang tác văn thơ của bà. Lấy chồng được một tháng, năm 1743 ông Nguyễn Kiều phải lên đường đi sứ Trung Quốc. Đến năm 1745, trong khoảng thời gian xa chồng đằng đẵng, nhận được bản Chinh phụ ngâm khúc viết bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn, đồng cảm với tâm trạng của người chinh phụ đó, bà đã dịch Chinh phụ ngâm ra thơ Nôm. Đây được xem là tác phẩm ưu tú nhất của nền thi văn trung đại Việt Nam và chính tác phẩm này đã đưa tên tuổi của bà lên đến đỉnh cao trong nền văn học nước nhà.
– Đoàn Thị Điểm là tác gia lớn của văn học Trung đại Việt Nam
Tên tuổi của Đoàn Thị Điểm đã được xếp vào vị trí là một tác gia lớn của nền văn học thời trung đại với bút pháp đa dạng, vừa giỏi văn Hán, lại cũng vừa giỏi thơ Nôm. Ngoài bản dịch Chinh phụ ngâm, bà còn là tác giả tập truyện ký, Truyền Kỳ Tân Phả và một ít thơ văn câu đối chữ Hán, chữ Nôm được lưu giữ trong Hồng Hà phu nhân di văn. Đó đều là những tác phẩm chứa đựng giá trị nhân văn cao cả, tư tưởng lớn lao vì dân vì nước của một người phụ nữ tài hoa.
Có thể nói, Đoàn Thị Điểm là một ngôi sao sáng trong hàng ngũ nữ sĩ tại Việt Nam. Và các tác phẩm của bà đã góp phần không nhỏ cho sự đa dạng của nên văn học nước nhà.
Theo | Giới thiệu về Đoàn Thị Điểm – Dịch giả của bài thơ Chinh phụ ngâm khúc | 644 | |
Đề bài: Giới thiệu về đá ở Hà Giang
Bài làm
Mùi rượu ngô gay gắt của những quán nhỏ ven đường như muốn níu kéo chúng tôi lại và dù đã vượt qua rất xa, vẫn có cảm giác nó ở quanh mình. Phải chăng hơi rượu đã thấm đẫm vào không gian, đánh bạt đi lam sơn, chướng khí của miền đất dữ để tiếp thêm sức mạnh cho người khách bộ hành?
Nếu được đứng trên triền núi ngắm những buổi hoàng hôn mênh mông nắng vồng hay đêm nằm run rẩy trong cái tịch mịch của rừng đá, mới thấy hết được ý nghĩa của cuộc sống nơi hoang vu, khi con người trở nên quá bé nhỏ trước sự hùng vĩ của thiên nhiên, ở nơi thâm sơn cùng cốc này, rượu ngô là thứ đồ uống chính của đồng bào dân tộc. Ăn có thể thiếu, mặc có thể không đủ nhưng rượu ngô luôn phải đầy bình. Rượu ngô uống cùng ớt ngâm, rượu ngô hòa vào bát cơm gạo hẩm, lùa vội hai miếng cho qua bữa… thế nhưng, không phải lúc nào người H'Mông ở Đồng Văn cũng có cơm ăn. Sống trên đá, nguồn nước không có, họ chi có thể trồng ngô thôi chứ lấy đâu ra gạo. Ngô, cũng chỉ chế biến được thành món bánh mèn mén mà thôi. Người dân nơi đây có câu: Sống trên đá, chết vùi trong đá. Thế giới của người H'Mông ở Hà Giang thật đơn sơ, nói chỉ là đá, là rừng và nhiều khi sinh khí nhất là những nương ngô xanh rờn. Một quả núi lớn được chia theo từng hộ dân để canh tác. Đá núi mấp mô, nhọn hoắt, đâm thủng chán người, vậy mà họ được đào được hố, được hốc rồi tra hạt, tỉa bắp. Bò kéo cày, có khi chỉ được vài bước chân đã phải quay đầu, vì nương nhỏ quá, đá xanh rắn quá. Đúng là dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.
Sống trên độ cao 1200m so với mặt nước biển, nguồn nước sinh hoạt của người H'Mông dựa hoàn toàn vào thiện ý của ông trời. Năm nào ông. cho mưa nhiều thì người dân bớt khổ, chứ năm nào nắng to thì dù có sức người, sỏi đá cũng thành ngô. Đồng Văn không hề có suối và nước mạch như các vùng núi khác, đá xanh Hà Giang lại nổi tiếng cứng hơn cả đá trắng Ninh Bình nên cũng không thế nào khoan giếng để trữ nước được. Sau mỗi cơn mưa, nước ở lại trong các hốc đá tai mèo và người dân phải đập đá để tạo ra dòng chảy về một hốc đá lớn với trữ lượng khoảng 100 lít. Những nhà ở xa hốc nước cũng phải mất cả ngày trời mới mang được can nước về, mà cũng vơi đi rất nhiều, vì họ phải uống trên đường đi. Nhà nào khá giả còn có ngựa thồ nước, chứ nhà nghèo chỉ biết dùng chính sức khoẻ của mình mà cõng nước về. Nước chảy đá mòn, thế nhưng những giọt mồ hôi của người H'Mông nhỏ xuống không đủ thấm vào lòng đá, không làm cho đá mòn đi mà trái lại, dường như nó còn mài sắc thêm những cạnh đá để cào nát đôi chân trần của những người quanh năm sống cảnh bán mặt cho đá, bán lưng cho trời.
Vùng đá tai mèo đã tạo cho người dân nơi đây tính cách thật dữ dội, nhưng cũng vô cùng chân thật. Dù khó, dù khổ đến mấy nhưng hiếm khi nụ cười tắt trên đôi môi họ. Một bữa ăn, một đêm ngủ trong căn nhà trống trải tường đá tỏa hơi lạnh buốt, một buổi len lỏi trên những con đường trải đá tới nương ngô nằm ở lưng chừng núi cũng đủ cho bạn quyến luyến vùng đất này. Mọi người dân nơi đây ngay từ lúc sinh ra đã được đá tôi luyện, đá chính là cuộc sống của họ, còn đá thì còn họ, sức sống của họ là sức sống của đá. Những sinh linh tồn tại một cách hoang dã trong thế giới của đá là hình ảnh đẹp nhất của ý chí con người quyết chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt để hướng tới một cuộc sống tươi đẹp hơn. | Giới thiệu về đá ở Hà Giang | 739 | |
Giới thiệu về đôi dép lốp trong kháng chiến – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Người Việt Nam chúng ta, chắc hẳn nhiều người biết về đôi dép lốp hay còn gọi là dép cao su. Đó là sản phẩm của một thời đánh giặc gian khổ nhưng anh hùng của dân tộc, gắn bó với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của nhân dân ta.
Đôi dép được làm bằng lốp ô tô nên được gọi là dép lốp (hoặc dép cao su). Người ta chọn phần bằng phẳng của chiếc lốp cắt ra làm đế dép. Đế dép được đục thành tám khe mỏng để xâu bốn quai dép. Quai dép bằng săm (ruột) ô tô, cắt thành từng sợi dài đủ để ôm bàn chân, bề ngang khoảng 1,5 đến 2cm, giống như những sợi râu, vì vậy có nơi còn gọi là dép râu. Dùng cái xâu dép bằng sắt có hai mảnh dát mỏng xâu từ dưới đế dép lên, cặp chặt đầu quai dép vào giữa rồi rút mạnh. Quai dép được kéo qua khe mỏng của đế, và do tính đàn hồi của cao su nên rất chặt, không tụt ra được.
Đế bằng lốp ô tô vừa chắc vừa bền, đi êm; quai bằng săm cao su ôm chặt vào bàn chân giúp cho việc đi lại được gọn nhẹ, nhanh chóng. Với chất liệu cao su, đôi dép lốp rất thuận lợi cho việc trèo đèo, lội suối, băng rừng để chiến đấu đánh giặc. Không chỉ bộ đội, dân công, mà cả cán bộ và nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ đều đi dép lốp. Và cả Bác Hồ, người Cha già kính yêu của dân tộc, cũng đi dép lốp, đôi dép trở thành huyền thoại của một con người giản dị mà vĩ đại:
Đôi dép lốp đã đi vào lịch sử đánh giặc anh hùng của nhân dân ta. Cùng với xe đạp thồ, tời kéo pháo, bếp Hoàng cầm…, đôi dép lốp đơn sơ, bình dị đó đã góp phần làm nên chiến thắng vang dội trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc.
Tags:Văn 8 | Giới thiệu về đôi dép lốp trong kháng chiến – Đề và văn mẫu 8 | 367 | |
Giới thiệu về đại thi hào Nguyễn Du – Tác giả của bài thơ Độc Tiểu Thanh kí
Hướng dẫn
Đại thi hào Nguyễn Du không chỉ nổi tiếng với đại kiệt tác Truyện Kiều mà ông còn có rất nhiều tác phẩm chữ Hán có giá trị, một trong số đó là Độc Tiểu Thanh kí. Bài giới thiệu về tác giả Nguyễn Du sẽ cung cấp thêm những thông tin thú vị về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Du, các bạn hãy tham khảo để có thêm tư liệu cho quá trình học tập của mình nhé!
1. Tiểu sử của tác giả Nguyễn Du
Nguyễn Du là một nhân vật có ý nghĩa to lớn đối với dân tộc Việt Nam, ông là một đại thi hào của dân tộc, là một danh nhân văn hóa thế giới, và là một nhà nhân đạo lỗi lạc.
Nguyễn Du tên chữ là Tố Như (1765 – 1789), sinh ra ở vùng đất địa linh nhân kiệt Nghi Xuân – Hà Tĩnh, trong gia đình có nhiều đời và nhiều người làm quan to dưới triều Lê, Trịnh. Gia đình và quê hương ông chính là “mảnh đất phì nhiêu” để nuôi dưỡng thiên tài Nguyễn Du.
2. Sự nghiệp sáng tác
Ông có ba tập thơ chữ Hán là: Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục, tổng cộng có 250 bài thơ Nôm. Ngoài ra Nguyễn Du còn có kiệt tác là Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn) và vô số các sáng tác đậm chất dân gian như: Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, vè Thác lèn trai phường nón. Các sáng tác của Nguyễn Du bao trùm tư tưởng nhân đạo, trên hết là niềm cảm thương sâu sắc tới số phận con người, trân trọng và ca ngợi vẻ đẹp, khát vọng sống và khát vọng tình yêu hạnh phúc.
Các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du giản dị mà tinh luyện và tài hoa còn các bài thơ Nôm thực sự là đỉnh cao rực rỡ. Nét đặc biệt là Nguyễn Du đã sử dụng một cách tài tình cả hai thể thơ của dân tộc là lục bát (Truyện Kiều) và song thất lục bát (Văn tế thập loại chúng sinh), hai thể thơ này với Nguyễn Du đã đạt tới trình độ hoàn hảo, mẫu mực, cổ điển.
Nguyễn Du có đóng góp quan trọng về mặt tư tưởng và nghệ thuật trong văn học Việt Nam, hơn nữa còn đóng góp lớn cho sự phát triển giàu đẹp của ngôn ngữ văn học Tiếng Việt. Thơ của Nguyễn Du xứng đáng là đỉnh cao của Tiếng Việt văn học Trung Đại.
Theo | Giới thiệu về đại thi hào Nguyễn Du – Tác giả của bài thơ Độc Tiểu Thanh kí | 461 | |
Đề bài: Giới thiệu về món ăn đặc sản: Cơm hến Huế.
Bài làm
Cách cầu Tràng Tiền vài trăm mét về phía hạ lưu sông Hương, có hai doi đất cây cối xanh tươi do phù sa bồi đắp qua mấy ngàn năm mà thành. Truyền thuyết kể rằng hai doi đất này tượng trưng cho hai con vật oai linh chầu vào kinh thành nơi vua ngự nên người xưa mới đặt tên chữ là Thanh Long và Bạch Hổ. Còn dân gian thì gọi nôm na là cồn Hến, bởi lớp phù sa màu mỡ lắng đọng ở đây là nơi sinh sôi, phát triển rất thuận lợi của loài hến.
Với tài nội trợ khéo léo của người phụ nữ Huế, hến được chế biến thành những món ăn rất ngon mà rẻ: hến xào cuốn bánh tráng, hến trộn, hến nấu canh, cháo hến… Đặc biệt là cơm hến, món ăn độc đáo đã trở thành một đặc sản đậm đà phong vị Huế.
Nguyên liệu chính của cơm hến là cơm trắng và hến, nhưng quyết định thành công của món cơm hến lại là các thứ gia vị đi kèm như ớt tươi, tương ớt, ớt khô xào dầu, hành, tỏi, lạc rang giã nhỏ, bánh tráng mè nướng giòn và các loại rau thơm, hoa chuối, rau muống bào… Đặc biệt có một thứ không thể thiếu là mắm ruốc Huế.
Hến rất rẻ nhưng chế biến lại công phu. Hến mua ở chợ vổ, chà xát kĩ, rửa nhiều lần cho thật sạch rồi luộc chín. Vớt hến ra, đãi lấy thịt, để ráo. Nước hến lọc bỏ cặn, nêm nếm cho vừa, bắc lên bếp đun sôi liu riu. Cơm nấu chín dỡ ra rá để nguội.
Khách gọi một tô cơm hến. Cô bán hàng khéo léo nhúm một nhúm hoa chuối và rau muống bào xắt nhỏ lót xuống đáy tô. Múc một muỗng Cơm trắng, dàn đều ra, xúc vài thìa hến xào bỏ vào và rắc rau thơm, hành lá xắt nhỏ cùng tóp mỡ, lạc rang giã dập lên trên rồi chan nước canh hến xám xấp. Như thế là xong. Khách bóp vụn miếng bánh tráng nướng giòn tan, thơm phức vào tô cơm và bắt đầu thưởng thức. Tùy khẩu vị từng người mà gia giảm thêm mắm ruốc, ớt khô xào dầu hoặc ớt tươi. Người xứ Huế thích ăn thật cay, thật nóng, vừa ăn vừa xuýt xoa chảy cả nước mắt mới là ngon.
Cơm hến là món ăn dân dã được nhiều người ưa chuộng. Khắp nơi, từ nội ô đến ngoại thành, chỗ nào cũng có cơm hến. Người bán gánh quang gánh, một bên là chiếc bếp than hồng trên để nồi canh, bên kia là chiếc thố đựng hến xào, rá cơm cùng các thứ khác xếp ngăn nắp trong một chiếc khay nhôm sạch sẽ. Bên cạnh quang dắt dăm ba chiếc ghế con con… Người ăn cơm hến chẳng cần đến sự sang trọng của chỗ ăn. Ngược lại rất cần khung cảnh quây quần và không khí vui vẻ như một bữa cơm gia đình vậy. Đông khách nhất có lẽ là gánh cơm hến gia truyền đối diện chợ Đông Ba, người bán tíu tít luôn tay vẫn không kịp và người ăn nhẫn nại chờ đợi đến lượt mình. | Giới thiệu về đặc sản cơm hến Huế | 561 | |
Giới thiệu đoạn trích Tức nước vỡ bờ nằm trong chương XVIII của tiểu thuyết Tắt đèn
Hướng dẫn
1.Đoạn trích Tức nước vỡ bờ nằm trong chương XVIII của tiểu thuyết Tắt đèn (gồm 26 chương), ở phần trước là một loạt những biến cố: anh Dậu bị bắt trói ở sân đình vì thiếu tiền SƯU — chị Dậu phải chạy vạy bán con, bán chó — anh Dậu bị ngất, bị khiêng trả về nhà rũ rượi như một xác chết. Sau đoạn trích này, chị Dậu sẽ bị bắt giải huyện, khởi đầu cho những biến cố mới. Đoạn trích là gạch nối giữa hai chuỗi sự kiện này.
2.Thông qua những lời đối thoại và xung đột giữa chị Dậu với cai lệ và nhà lí trưởng, tác giả đã cho thấy bộ mặt tàn ác, bất nhân của lũ người nhân danh “nhà nước”, đại diện cho “phép nước” để hà hiếp, đánh đập những người dân lương thiện. Đoạn trích cũng đồng thời cho người đọc cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ nông dân (giàu tình thương và tiềm tàng sức mạnh phản kháng).
3.Nghệ thuật xây dựng tình huống tạo ra độ căng để bộc lộ bản chất đích thực của mỗi nhân vật, nghệ thuật khắc họa tính cách rất sinh động của Ngô Tất Tô’ (đặc biệt là qua việc miêu tả hành động và lời nói của nhân vật). | Giới thiệu đoạn trích Tức nước vỡ bờ nằm trong chương XVIII của tiểu thuyết Tắt đèn | 241 | |
Đề bài: Giới thiệu đôi dép lốp trong kháng chiến
Bài làm
Hình ảnh đôi dép lốp lại còn mang trong mình một cái tên khác đó chính là đôi dép Bình – Trị – Thiên. Đôi dép lốp luôn là một hình ảnh quen thuộc của người lính trong những năm tháng máu lửa của dân tộc ta.
Đôi dép lốp như một người bạn của người lính, nó là một trong những thứ quân trang quan trọng của anh bộ đội Cụ Hồ trong thời kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Đồng thời cũng chính là vật dụng cần thiết trong cuộc sống của công nông không thể thiếu được.
Dép lốp được ra đời trong thời kì chiến tranh là sự sáng tạo của người lính. Tuy là đôi dép được thiết kế thô sơ nhưng lại mang được một sự tiện dụng đối với người lính. Đôi dép được làm ra bằng cách đó là cắt ra từ chiếc lốp ô tô đã hỏng. Thế rồi chính phần quai dép dược cát ra từ chiếc săm lốp nên rất dẻo dai. Tất cả các bộ phần của dép lốp phần lớn là màu đen. Và cũng tuỳ theo khổ chân to hay nhỏ mà người ta cắt lốp ô tô có chiều dài ngắn khác nhau. Cứ mỗi dây chiếc dép lốp lại có một sự rộng bản độ 1,5cm. Quan sát ta nhận thấy được cứ mỗi chiếc dép có bốn quai rất đều nhau và chắc chắn nữa. Các chiếc quai dép khéo léo được luồn qua đế bằng những lỗ đục từ trước ở đế. Cũng lợi dụng tính đàn hồi của cao su mà các quai dép được cố định cũng như được giữ chặt lại vô cùng chắc chắn. Bên cạnh đó thì người đi dép lốp luôn có một cái dip bằng sắt hoặc bằng tre để luồn quai dép khi bị tuột. Thiết kế dép lốp này cũng chẳng tốn kém gì mà lại được việc, thật tài tình biết bao nhiêu.
Giới thiệu đôi dép lốp trong kháng chiến
Người lính khi xưa khi đi dép lốp có thể băng đèo cũng có thể lội suối, hai ba năm mà đế dép chỉ lì ra, trơ ra mà không hề bị hỏng có thế chỉ phải thay quai dép mà thôi. Đôi dép lốp sau khi thay quai lại bén lắm, đi lại chắc như trước và người đi cũng cứ tha hồ hành quân, tha hồ cuốc bộ mà không lo bị hỏng hay mòn dép.
Thời kháng chiến chống Mĩ gian khổ của dân tộc trong khi những tên giặc được trang bị vũ khí, quân trang quân dụng vô cùng hiện đại, vũ khí thì tối tân. Nhìn sang hình ảnh những anh chiến sĩ giải phóng quân của ta thì trang bị với các quân dụng đơn giản như chiếc mũ tai bèo và không thể thiếu được đôi dép lốp. Đôi dép lốp cũng đã đồng hành cùng với những người lính vượt qua bao nhiêu quãng đường gian khổ và khó khăn.
Không chỉ có những người lính, ngay cả Bác Hồ – Một vị lãnh tụ của dân Việt Nam ta, ngay từ lúc sống và hoạt động ở chiến khu Việt Bắc trong chính thời kháng chiến, Bác cũng đã sống ở ngôi nhà sàn giữa Thủ đô Hà Nội và Bác sống vô cùng giản dị, vẫn đi đôi dép cao su và tấm áo nâu. Hình ảnh của đôi dép lốp như cũng được biết bao nhiêu văn nghệ sĩ đã dày công miêu tả. Ta không thể nào quên được những vần thơ miêu tả đôi dép lốp – Đôi dép Bác Hồ mà Tố Hữu miêu tả:
Bác vần thường đi giữa thế gian
(Theo chân Bác – Tố Hữu)
Hình ảnh đôi dép lốp đã đi vào lịch sử thật tự nhiên. Trong thời đại ngày nay, bộ đội, cán bộ, nhân dân ta cũng không sử dụng đôi dép huyền thoại – dép lốp nữa mà chỉ đi giầy đi dép da, dép nhựa thế nhưng những đôi dép lốp mãi mãi là một kỉ vật luôn luôn nhắc nhở các thế hệ trẻ hôm nay nhớ lại, trân trọng một thời gian khổ mà oanh liệt của ông cha đã trải qua để tự hào và tự nhủ rằng mình cũng phải nên sống một cách xứng đáng nhất.
Minh Nguyệt | Giới thiệu đôi dép lốp trong kháng chiến | 737 | |
Đề bài: Giới thiệu về đặc sản cơm hến (lớp 8).
Bài làm
Ở Huế nổi tiếng với nền ẩm thực phong phú, với rất nhiều món ăn đặc trưng. Và một trong số các món ăn đặc trưng ấy chính là món cơm hến. Cơm hến Huế rất ngon.
Món cơm hến không biết xuất hiện từ bao giờ, nhưng đã đồng hành với lịch sử và cũng nhiều gian nan như những người dân nghèo xứ Huế. Cơm hến không chỉ là món bình dân của người Huế mà nó còn mang một cái giá trị văn hóa của ẩm thực xứ Huế.
Đầu tiên chúng ta sẽ đi tìm hiểu các nguyên liệu để làm nên món cơm hến Huế cần những gì. Nguyên liệu chúng ta cần bao gồm: hến, gạo tẻ dẻo ngon, da heo, lạc, khế (lựa loại khế chua vừa đủ), dọc mùng, rau sống (lõi cây chuối cắt mỏng, hoa chuối, rau muống chẻ, giá đỗ sống, rau xà lách, rau thơm), hành khô, chanh tươi, ớt chưng, mắm ruốc, gia vị, hạt nêm, dầu ăn. Như vậy để có được món cơm hến chúng ta phải chuẩn bị rất nhiều nguyên liệu, nhưng các nguyên liệu này thì khá phổ biến và dễ mua.
Vậy với các nguyên liệu trên, chúng ta sẽ làm như thế nào để có được món cơm hến?
Bước đầu tiên, chúng ta mang gạo tẻ đi vo sạch rồi nấu thành cơm như bình thường. Sau khi cơm chín, ta xới cơm tơi lên và để nguội cơm. Lạc chúng ta sẽ cho vào chảo rang và lưu ý chúng ta nên cho thêm chút dầu ăn thì lạc sẽ vàng và ngon hơn nhé. Bước thứ hai, những quả khế chua sau khi đã rửa sạch chúng ta bỏ các rìa ngoài ở mỗi cạnh quả khế, và sau đó sắt thành từng lát mỏng. Da heo cắt miếng vừa ăn. Cho da heo vào chảo dầu và chiên vàng, giòn sau đó vớt ra để ráo dầu. Bước thứ ba đó là, các loại rau thơm chúng ta đã chuẩn bị, đem đi rửa sạch để cho ráo nước. Hành lá, gừng ta đem bỏ vỏ và sắt thành lát mỏng. Phần dọc mùng ta tước bỏ xơ, thái lát rồi đem trộn với vài hột muối để cho ra bớt nước, nhớ là sau đó phải vắt dọc mùng để cho dọc mùng đỡ bị mặn. Chúng ta đun sôi một nồi nước để trần dọc mùng, khi dọc mùng chín ta vớt ra cho ráo nước. Bước bốn, đây là công đoạn ta làm hến, hến mua về rửa sạch cho vào nồi luộc chín cùng vài hạt muối. Phần nước luộc hến chúng ta không đổ bỏ mà sẽ giữ lại, chắt phần nước luộc hến ra một cái âu to cho lắng lại. Bước tiếp theo, bước thứ năm chúng ta sẽ mang thịt hến trộn với nước nắm vừa đủ để thịt hến được đậm vị hơn. Cho chảo lên bếp, cùng ít dầu ta đem hành khô phi vàng sau đó cho thịt hến vào xào cho săn lại rồi xúc thịt hến ra bát. Bước sáu, phần nước luộc hến lúc trước ta đem đi lọc để loại bỏ cặn, đem đi đun sôi, cho thêm một thìa mắm ruốc, hạt nêm vừa ăn sau đó cho vài lát gừng vào. Như vậy ta đã có một nồi nước dùng rồi. Bước cuối cùng, ta xới cơm ra bát cho tơi, thêm một chút rau sống cho thơm, da heo chiên vàng và hến đã xào lên và chan thêm sâm sấp nước dùng hến vào, chúng ta có thể rắc thêm vài hạt lạc là có thể thưởng thức ngay rồi.
Tôi đã từng đặt chân vào Huế, và việc đầu tiên của tôi là đi nếm thử cơm hến Huế, nó quả thật là một món ăn ngon, bổ và rẻ nữa. Hãy thử một lần các bạn nhé. | Giới thiệu đặc sản cơm hến | 668 | |
Góc nhìn khác-Suy nghĩ khác và bài học từ câu chuyện bán giày
Hướng dẫn
Hãy tìm góc nhìn khác, cách suy nghĩ khác để thành công
Không phải ai cũng có đủ khả năng sáng tạo ra cái mới. Cũng không phải điểm đứng nào cũng mở tầm nhìn xa rộng. Cuộc sống rất cần những phán đoán và lựa chọn chính xác để tiến bộ và thành công. Góc nhìn khác, suy nghĩ khác chính là cơ sở của sáng tạo. Càng cố chấp với những định kiến sẵn có ta sẽ không thể nhìn thấy được những điều mới mẻ.
Bởi thế, Erich Fromm cho rằng: “Sự sáng tạo đòi hỏi phải có can đảm để buông tay khỏi những điều chắc chắn”. Câu chuyện bán giày của hai công ty sản xuất giày để lại cho ta nhiều suy nghĩ về ý nghĩa và giá trị của góc nhìn khác, suy nghĩ khác để thành công trong cuộc sống này.
Chuyện kể rằng, có hai hãng sản xuất giày nọ đang cạnh tranh với nhau. Để tìm kiếm và mở rộng thị trường, tăng cường sản xuất, họ cử các nhân viên của mình đến Châu Phi để khảo sát.
Một nhân viên sau khi xem xét kỹ tình hình và báo lại về công ty mình rằng: “Người dân ở đây chỉ đi chân đất. Họ không có thói quen mang giày và cũng chưa từng mang giày. Chúng ta không thể phát triển thị trường ở đây”. Từ báo cáo trên, công ty này đã không quan tâm đến thị trường Châu Phi nữa.
Quả thực sau đó, công ty đã nhanh chóng triển khai kế hoạch bán giày. Họ lập tức mở các cửa hiệu bán giày. Đồng thời cử người hướng dẫn và thuyết phục người dân mang giày. Chỉ trong một thời gian ngắn, họ đã thu về một món lời rất lớn.
Chúng ta có thể thấy rõ, tuy có cùng một sự kiện xảy ra nhưng chính góc nhìn khác, suy nghĩ khác nhau của hai người mà kết quả có sự khác biệt rõ rệt. Người thứ nhất bảo thủ và cố chấp với những nguyên tắc cũ kĩ và lạc hậu. Anh ta chỉ nhìn thấy biểu hiện người dân không mang giày mà không thấy lí do của biểu hiện ấy. Anh ta cũng không thấy xu thế và nhu cầu mang giày sẽ có của con người. Đó là kiểu tư duy lối mòn, rập khuôn, máy móc và tai hại.
Ngược lại, anh nhân viên của công ty kia đã có một cách nhìn, một suy nghĩ khác biệt. Anh ta khảo sát thị trường với quan điểm tích cực hơn. Anh ta suy luận rằng con người luôn có nhu cầu mang giày. Đó là xu thế tất yếu của thời đại. Anh ta nhận ra lí do khiến người ta chưa mang giày. Bởi ở đó chưa có ai bán giày nên người dân chưa có thói quen mang giày. Đó là một cơ hội để nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường mà không sợ phải cạnh tranh. Chỉ cần mang giày tới và hướng dẫn họ cách mang giày, thuyết phục họ mua giày là xong.
Tuy nhiên, không phải góc nhìn khác, suy nghĩ khác nào cũng tích cực. Điều quan trọng là bạn có hướng đến giải quyết vấn đề và tìm kiếm cơ hội hay không. Đừng vội đầu hàng hay buông bỏ trước khó khăn trở ngại. Mỗi suy nghĩ nên chứa đầy động lực và khát khao chiến thắng. Nhất định, cơ hội sẽ đến sau khi mọi trở ngại đã được giải quyết. | Góc nhìn khác-Suy nghĩ khác và bài học từ câu chuyện bán giày | 608 | |
Gươm thần là một nhân vật vô cùng quan trọng trong truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm. Hãy nêu những cảm nhận của em về nhân vật này
Gợi ý
Truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm đã thể hiện niềm tự hào vô bờ về lòng yêu nước, yêu hoà bình của dân lộc Việt Nam ta. Góp phần khẳng định truyền thống quý báu đó của dân tộc là “nhân vật” gươm thần trong tác phẩm.
Gươm thần nguyên là của Đức Long Quân. Ngài đã cho nghĩa quân mượn vì muốn nghĩa quân đánh thắng giặc. Long Quân là một trong những nhân vật thần kì do nhân dân sáng tạo ra. Bằng chi tiết Long Quân cho nghĩa quân Lê Lợi mượn gươm thần, tác giả dân gian đã chứng tỏ rằng cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn hợp chính nghĩa, lòng người; được nhân dân hết lòng ủng hộ. Khi đó, gươm thần trở thành hiện thân cho sự đồng thuận của thần và người đối với sự nghiệp đánh dẹp giặc Minh của nghĩa quân Lam Sơn (trên thanh gươm còn nêu lên hai chữ “Thuận Thiên”).
Cách thức gươm thần đến với Lê Lợi cũng rất đặc biệt. Vị chủ tướng của nghĩa quân Lam Sơn không trực tiếp nhận gươm. Người đánh cá Lê Thận sau ba lần quăng lưới vất vả mới nhận được lưỡi gươm dưới nước. Có thể nói chi tiết này hàm ý nhắn nhủ: kháng chiến muốn thắng lợi phải biết kiên trì, nhẫn nại. Lê Lợi nhận được chuôi gươm trên rừng, đem khớp với lưỡi gươm nhận được ở vùng biển của Thận thì “vừa như in”. Điều đó chứng tỏ sức mạnh của gươm thần thực chất là sức mạnh đoàn kết, thống nhất nguyện vọng, ý chí chống giặc ngoại xâm của toàn dân tộc, từ miền xuôi cho đến miền ngược, từ đồng bằng cho đến miền rừng núi. Hai chữ “Thuận Thiên” (hợp lòng trời) trên lưỡi gươm thần nhấn mạnh tính chất chính nghĩa, hợp lòng người, lòng trời của nghĩa quân Lam Sơn.
Đến với Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, gươm thần đã phát huy sức mạnh thần kì của mình. Từ khi có gươm thần, nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng cao. Sức mạnh của gươm thần làm cho quân Minh bạt vía. Từ bị động và nhiều lần thua trận, nghĩa quân chủ động đi tìm giặc đánh và đã chiến thắng giòn giã, đuổi hẳn quân Minh về nước.
Đất nước đã thanh bình, Long Quân cho Rùa Vàng lên đòi lại gươm. Khi ấy Lê Lợi đang dạo chơi trên hồ Tả Vọng, Rùa Vàng nhô lên, lưỡi gươm đeo bên mình Lê Lợi động đậy. Rùa Vàng nói: “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân”. Vua rút gươm nâng về phía Rùa Vàng, Rùa Vàng ngậm lấy và lặn xuống nước.
Là một “nhân vật” đặc biệt trong truyền thuyết nổi tiếng của văn học nước nhà song gươm thần thực sự mang những ý nghĩa sâu sắc, thấm thía. | Gươm thần là một nhân vật vô cùng quan trọng trong truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm. Hãy nêu những cảm nhận của em về nhân vật này | 516 | |
Gương mặt mẹ em luôn hiện trong tâm trí em
Với em, gương mặt mẹ là một hình ảnh vô cùng thân thuộc luôn thường trực trong tâm trí.
Mẹ em năm nay đã hơn ba mươi tuổi nhưng gương mặt mẹ trẻ hơn tuổi rất nhiều. Gương mặt mẹ hình trái xoan được ôm lấy bởi mái tóc đã cắt ngắn, đen và thẳng. Cùng những sợi tóc rất đẹp ấy phủ chéo một phần trên trán mẹ. Đôi mắt của mẹ long lanh như lúc nào cũng ánh lên niềm vui. Đuôi mắt dài nhìn thật đáng yêu biết mấy! Mẹ có chiếc mũi dọc dừa và đôi môi nhỏ nhắn, hồng tươi. Mỗi khi mẹ cười, người lại để lộ ra hàm răng trắng và một chiếc răng khểnh thật duyên. Nhưng em thích nhất làn da của mẹ. Da mẹ trắng và mịn, mỗi khi có chuyện gì vui, em chỉ muốn ôm chầm lấy mẹ và thơm nhẹ lên đôi má của mẹ. Gương mặt của mẹ em thật đẹp; em lại thầm hứa sẽ cố gắng học thật giỏi để luôn được thấy những nụ cười nở tươi trên gương mặt mẹ. | Gương mặt mẹ em luôn hiện trong tâm trí em | 196 | |
gười không có chữ tín, chẳng làm chi nên việc
Hướng dẫn
gười không có chữ tín, chẳng làm chi nên việc
Bài làm
Người xưa đã có câu: ” Một lần mất tín vạn lần mất tin”, bởi vậy chữ tín trong cuộc sống lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng và lớn lao. Nó không chỉ đánh giá con người và danh dự nhân phẩm của người ấy mà còn đánh giá được năng suất cũng như chất lượng công việc mà người ấy làm. Chữ tín không phải thể hiện ở lời nói ” một câu hứa” xong rồi bỏ đấy mà là thể hiện ở cả hành động và sự quyết tâm hoàn thành công việc.
Chữ tín không chỉ là lời hứa đầu môi. Trong công việc cũng như cuộc sống hàng ngày chúng ta có biết bao nhiêu điều phải làm bao nhiêu thứ phải trải qua và hơn hết chúng ta hiểu lời hứa là một điều mà chúng ta phải làm trong cuộc sống của mình. Những lời nói tưởng chừng như đơn giản trong cuộc sống hàng ngày kia lại có một ảnh hưởng rất lớn tới tính cách và hành động của chúng ta. Môt lần chúng ta hứa chúng ta không làm được nhưng tới hai lần ba lần, lời hứa đó lại không có giá trị và không ai hiểu được chúng ta đang muốn làm gì. Không ai tin tưởng nghĩa là cô độc.
Chữ tín đi với lòng trách nhiệm. Trách nhiệm và sư quyết tâm hoàn thành công việc và những điều mà mình đã hứa từ trước. Bởi là người có trách nhiệm nên bạn sẽ không bao giờ muốn những người bên cạnh mình phiền lòng và buồn bã hoặc bực tức với những hành động thiếu sự quyết đoán và quyết tâm của mình. Những công việc trở nên nhàm chán những dự định lại trở nên thiếu động lực và người ta sẽ ” thiếu niềm tin vào những hành động và lời nói của chính bản thân chúng ta”
Thiếu chữ tín tức là thờ ơ là bàng quang và không quan tâm tới kết quả công việc ra sao. Những người làm được việc lớn họ bỏ ra thời gian và công sức thì họ nhận lại được những gì xứng đáng với sự nỗ lực đó. đi song song với hành động quyết đoán và mong muốn một kết quả như ý muốn con người phải đặt chữ tín lên hàng đầu.
Ông bà xưa đã dạy quả là không sai, sự cố gắng bên bỉ trong một con người đầy sự quyết tâm sẽ không thiếu những nét đẹp của sự bền bỉ và đạt được những kết quả như ý muốn. nếu cuộc sống này luôn luôn có những người theo đuổi bằng được đam mê và những điều mình đã đặt ra thì cũng có những con người vì quá yêu chiều bản thân mà làm mât đi chính thứ quý giá của mình- chữ tín. Bằng lòng nhiệt huyết và đầy trách nhiệm hãy cho người khác thấy sức mạnh của bạn trỗi dậy như thế nào và hãy thực hiện nó thật tốt. | gười không có chữ tín, chẳng làm chi nên việc | 533 | |
Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng
Hướng dẫn
Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng
Bài làm
Một trong những yếu tố quan trọng để hình thành nhân cách con người là môi trường sống. Bởi thế nhân dân ta đã có câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Nhưng yếu tố con người còn quan trọng hơn cả môi trường sống. Bởi con người tốt hay xấu phụ thuộc rất nhiều vào bản lĩnh của chính con người đó. Vì thế gần mực chưa chắc đã đen, gần đèn chưa chắc đã rạng. “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”.
Quả đúng như vậy, thường xuyên sử dụng bút mực, bị mực dây ra tay là điều khó tránh khỏi. Ngồi gần đèn, được đèn chiếu vào đuơng nhiên sẽ sáng sủa. Cũng như con người, nếu sống trong môi trường tốt sẽ dễ thành người tốt, còn sống trong môi trường xấu sẽ dễ thành kẻ xấu. “Gần mực thì đen ”, Chí Phèo trong truyện của nhà văn Nam Cao, vốn là anh nông dân hiền lành, chất phác bỗng nhiên bị nghi ngờ có tội, phải đi ở tù. Sau bao năm, trở về quê cũ, Chí Phèo thay đổi hẳn. Hắn đã trở thành con quỷ dữ ở làng Vũ Đại. Chính nhà tù của xã hội thực dân phong kiến đen tối, khắc nghiệt đã đày đọa cuộc sống con người, làm thay đổi con người như thế.
Còn sống trong môi trường tốt mà không chịu thường xuyên tu dưỡng thì cũng chỉ như những thanh thép, để lâu ngày không tôi luyện sẽ han gỉ, trở thành vật vô dụng. Trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, có những chiến sĩ tình báo luôn hoạt động thầm lặng. Chiến trường của họ không đẩy bom rơi lửa đạn nhưng cũng thật cam go, khắc nghiệt. Sống giữa sự xa hoa, những lời lẽ dụ dỗ của quân địch, liệu họ có phản bội Tổ quốc? Làm thế nào để bên ngoài vỏ bọc lính ngụy, bên trong họ vẫn giữ vững phẩm chất anh bộ đội cụ Hồ? Sống quanh những lời xì xầm, bàn tán, bị coi là Việt gian, liệu họ có dũng cảm tiếp tục công việc? Trong môi trường ấy, đòi hỏi người chiến sĩ tình báo không chỉ cần bộ óc nhanh nhạy mà còn cần một bản lĩnh vững vàng để tự chiến đấu với bản thân.
Ngược lại, thật đáng buồn khi ngày nay có một số bạn trẻ sống trong những gia đình khá giả, nề nếp, được đi học nhưng lại nhiễm tệ nạn, trở nên hư hỏng. Tóm lại, câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” đã giúp ta thấy rõ rằng môi trường sống có ảnh hưởng không nhỏ đến mỗi con người. Nhưng dù ở môi trường không tốt nếu có bản lĩnh thì ta vẫn như đóa sen thơm ngát: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. | Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng | 502 | |
Gợi ý kể lại câu chuyện Dại gì mà đổi – lớp 3
Hướng dẫn
* Gợi ý kể lại câu chuyện:
a) Vì sao mẹ dọa đổi cậu bé? (vì cậu rất nghịch ngợm).
b) Cậu bé trả lời mẹ thế nào? (mẹ sẽ chẳng đổi được đâu).
c) Vì sao cậu bé lại nghĩ như vậy? (vì cậu bé cho rằng chẳng ai dại gì mà đổi một đứa con ngoan lấy một đứa con nghịch ngợm).
Đây là câu chuyện vui, buồn cười vì cậu bé chỉ có bốn tuổi thôi mà cậu cũng hiểu rằng: chẳng ai đổi một đứa con ngoan lấy một đứa con nghịch ngợm.
Có một cậu bé bốn tuổi rất nghịch ngợm: Một hôm mẹ cậu dọa, sẽ đổi cậu lấy một đứa trẻ ngoan về nuôi. Cậu bé nói:
– Mẹ sẽ chẳng đổi được đâu!
Mẹ ngạc nhiên hỏi:
– Vì sao thế?
Cậu bé trả lời:
– Vì chẳng có ai muốn đổi đứa con ngoan lấy một đứa nghịch ngợm đâu, mẹ ạ.
Nguồn: | Gợi ý kể lại câu chuyện Dại gì mà đổi – lớp 3 | 164 | |
Gợi ý làm văn giải thích và bình luận câu tục ngữ Tấc đất, tấc vàng
Hướng dẫn
I. Mở bài:
… gắn liền với cuộc sống của mỗi người, mỗi nhà. Đã có biết bao câu ca, bài hát nói về giá trị của đất đai, ruộng vườn… nhưng gắn gọn và sâu’sắc nhất là câu tục ngữ:
‘Tắc đất, tấc vàng’.
II. Thân bài:
1. Phần giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng, ý nghĩa.
‘Tấc’là đơn vị đo lường, theo cách nói, cách tính toán, đo đạc của nhân dân ta ngày xưa. Từ ‘tấc đất’ khái niệm về diện tích chuyển sang cách nói ‘tấc vàng’; 194 một diện tích hạn hẹp, so sánh với một khối lượng và giá trị ‘tấc vàng’. Nhân dân ta đã lấy ‘tấc đất’ so sánh với ‘tấc vàng’, lấy cái bình thường để so sánh với cái quý hiếm, nhăm khẳng định một chân lí: đất quý như vàng, đất đai trồng trọt có giá trị đặc biệt. Câu tục ngữ còn mang một hàm nghĩa, khuyên mọi người phải biết quý trọng và bảo vệ đất đai ruộng đồng để sản xuất.
2. Phần bình luận.
a. Bình:
Câu tục ngữ ‘tấc đất, tấc vàng’ hoàn toàn đúng; ngày xưa, đúng; ngày nay vân đúng. Đất rất quý: đất để làm nhà, ruộng đồng, nương rẫy để trồng trọt, gieo cấy cây trái, lúa, hoa màu… Từ cái ăn cái mặc đến hoa thơm quả ngọt bốn mùa đều do đất mà có. Đất để phát triển nghề nông. Đất cho ta bãi lúa nương dâu xanh biếc.
Đất là nguồn sống vô tận của con người, không thể thiếu. Trong lòng đất hàm chứa nguồn nước và bao khoáng sản quý báu.
Tóm lại, đất quý như vàng, đất quý hơn vàng.
b. Luận:
Đất đai, ruộng vườn chỉ quý và vô giá khi có bàn tay, khối óc của con người tác động vào. Con người chăm bón, vun xới, dẫn thủy nhập điền… làm cho đất thêm màu mỡ. Đất trở thành ‘bờ xôi ruộng mật’ thì lúc ấy mới thật sự là ‘tấc đất, tấc vàng’.
Qua câu tục ngữ, nhân dân ta khuyên nhủ mọi người biết quan tâm bảo vệ, giữ gìn đất, không được làm cho ruộng đồng, vườn tược… bị bạc màu, khô xác, cằn cỗi. Không ai được lãng phí hoặc bỏ hoang đất. Ca dao có câu:
‘Ai ơi, chớ bỏ ruộng hoang,
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu!’
Nước ta từ một nền nông nghiệp đi lên, đất là tài sản quốc gia. Chính sách khai hoang, lấn biển giao đất giao rừng, mở mang vùng kinh tế mới của Chính phủ hiện nay đã làm cho nền nông nghiệp nước ta phát triển mạnh, cuộc sống của hàng chục triệu nông dân ngày thêm ấm no, giàu có. Cuộc ‘cách mạng xanh’ với nhiều giống lúa mới cho năng suất cao, chống sâu bệnh… là nhân tố quan trọng làm cho đất thực sự là ‘tấc đất, tấc vàng’. Nông nghiệp đang trở thành nền sản xuất hàng hóa trong sự phát triển kinh tế thị trường. Nước ta đã xuất kháu được hơn nhiều triệu tấn gạo đứng thứ hai các nước xuất khẩu gạo trên thế giới. Vấn đề lương thực nuôi sống hơn 80 triệu người đã được giải quyết. Cho nên, mỗi chúng ta càng thêm thấm thía đất quý hơn vàng.
‘Ruộng rẫy là chiến trường,
Cuốc cày là vũ khí,
Nhà nông là chiến sĩ’
Thời nào cũng vậy, tình yêu đất đai, vườn tược, ruộng đồng của con người Việt Nam gắn liền với tình yêu quê hương đất nước.
III. Kết luận:
Tóm lại, câu tục ngữ ‘Tấc đất, tấc vàng’ đã khẳng định giá trị của đất: đất quý như vàng, đất quý hơn vàng. Nó nhắc nhở mọi người phải biết quý trọng, giữ gìn, bảo vệ đất đai; không ai được phá hoại đất đai, lãng phí đất đai. Nhà nông phải chăm bón, vun xới cho vườn tược, ruộng rẫy được màu mỡ, tươi tốt.
Sau chiến tranh, đất đai bị tàn phá nặng nề, rừng đầu nguồn bị chặt phá bừa bãi, đất bị xói mòn, bị bạc màu nghiêm trọng. Dân số tăng nhanh, bình quân đất canh tác tính theo đầu người giảm đi nhanh chóng. Vì thế, hơn bao giờ hết, mỗi người công dân phải có nghĩa vụ giữ gìn và bảo vệ đất đai, đồng ruộng. Đất nuôi sống người. Đất là Tổ quốc thiêng liêng mà ta yêu quý:
‘Tấc đất, tấc vàng’. | Gợi ý làm văn giải thích và bình luận câu tục ngữ Tấc đất, tấc vàng | 751 | |
Hai bức tranh thiên nhiên – hai hồn thơ thắm thiết tình quê – Bình giảng văn 7
Hướng dẫn
Trong thời kì văn học trung đại Việt Nam (từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX), cùng với những bài thơ biểu ý như Nam quốc sơn hà, Tụng giá hoàn kinh sư, cha ông ta đã sáng tác khá nhiều tác phẩm biểu cảm. “Để biểu cảm, người viết biến đồ vật, cảnh vật, sự việc, con người,… thành hình ảnh bộc lộ tình cảm của mình”. Hai bài thơ Thiên Trường vãn vọng của vua Trần Nhân Tông, Côn Sơn ca của danh nhân văn hoá Nguyễn Trãi chính là hai văn bản như thế. Qua hai bức tranh cảnh vật và con. người, hai tác giả đã bộc lộ những tình cảm thật chân thành của mình. Hai bức tranh thiên nhiên – hai hồn thơ thắm thiết tình yêu quê hương, đất nước, niềm lạc quan, yêu đời, rất đáng trân trọng.
Bài thứ nhất: Thiên Trường vãn vọng (Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra).
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lí ngưu quy tận
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Nhà văn Ngô Tất Tố dịch là:
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều man mác cố dường không
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
Tương truyền: sau khi lãnh đạo quân dân ta chiến đấu chống giặc Mông – Nguyên thắng lợi, đất nước trở lại thanh bình, nhân dịp về thăm quê hương ở Thiên Trường (thuộc tỉnh Nam Định ngày nay), vua Trần Nhân Tông đã ngẫu hứng sáng tác bài thơ này. Bài thơ được viết theo thể Đường luật, thất ngôn tứ tuyệt, âm điệu hài hoà, nhẹ nhàng, thanh thoát.
Đây là bức tranh thôn dã vào lúc chiều tà, đang ngả dần về tối. Hai câu đầu tả cảnh làng xóm mơ màng, yên ả:
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều man mác có đường không
Thôn xóm, nhà tranh mái rạ nối nhau, sum vầy phía trước, phía sau, bốn bề san sát, khói phủ nhạt nhoà, mờ tỏ, bán vô bán hữu nửa như có, nửa như không. Khói toả từ đâu ra thế? Phải chăng, đó là nhũng làn sương chiều lãng đãng hoà quyện với những vầng khói thổi cơm từ nhũng mái nhà lan toả thành một màn sương – khói trắng mờ, êm dịu bay nhẹ nhàng, thanh thản, khiến người ngắm cảnh cảm thấy chỗ tỏ, chỗ mờ, lúc có, lúc không. Cảnh thoáng, nhẹ, khiến tâm hồn con người như cũng lâng lâng. Hay chính lòng người đang lâng lâng, mơ mộng nên nhìn thấy làng xóm, khói sương êm ả, thanh bình như thế? Ngoại cảnh và tâm cảnh hoà hợp rất tự nhiên. Xuống hai câu sau, trong cảnh có chút xao động:
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
Bức tranh thôn dã có thêm âm thanh, màu sắc và vài ba cử động. Nơi gần, có mấy “mục đồng” lùa trâu về xóm, vừa đi vừa thổi sáo, tiếng sáo vi vu, văng vẳng cất lên. Nơi xa, mấy cánh cò trắng, từng đôi, từng đôi sà xuống đồng như muốn tìm mồi, hay định nghỉ ngơi! Người, vật, thiên nhiên, đồng ruộng, âm thanh và màu sắc…, tất cả đã hoà nhập với nhau vẽ nên bức tranh quê hương thanh bình, êm vắng mà thật có hồn. Nhà thơ chỉ chọn vài chi tiết tiêu biểu, rồi chấm phá vài nét như muốn thổi cả tâm hồn mình vào cảnh vật. Cảnh vốn đẹp, qua hồn người càng đẹp thêm. Cả một miền quê rộng lớn được thu lại trong bốn dòng thơ hàm súc và biểu cảm. Rõ ràng cảnh tượng buổi chiều ở phủ Thiên Trường là cảnh tượng vùng quê trầm lặng mà không đìu hiu vì ở đây vẫn có sự sống con người trong mối giao hoà với cảnh vật thiên nhiên rất đỗi nên thơ. Một ông vua mà súng tác những vần thơ gợi hình gợi cảm như thế chứng tỏ đây là con người tuy địa vị tối cao, nhưng tâm hồn vẫn gắn bó máu thịt với quê hương thôn dã. Nói khác đi, qua bài thơ Thiên Trường vãn vọng, vua Trần Nhân Tông bộc lộ một tình yêu quê hương, tình yêu nhân dân, yêu đời trong sáng. Điểu đó cũng chứng tỏ, ở thời đại nhà Trần, dân tộc ta, nhân dân ta sống rất cao đẹp. Bài thơ của Trần Nhân Tông góp thêm một vầng sáng nữa vào “Hào khí Đông A” của thơ văn đời Trần.
Bài thứ hai: Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi. Nguyên tác bài thơ này bằng chữ Hán viết theo thể thơ khác và khá dài. Ở đây, chúng ta được đọc một đoạn dịch theo thể thơ lục bát mang vóc dáng thơ ca dân tộc:
Côn Sơn suối chảy rì rầm…
…
Trong màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
Về Nguyễn Trãi, chúng ta biết rằng: ông là người có công lớn trong việc phụ tá vua Lê Lợi cầm quân đánh thắng giặc Minh xâm lược thế kỉ XV. Nhưng khi hoà bình trở lại, đất nước đi vào công cuộc xây dựng và phát triển thì ông bị ghen ghét, nghi ngờ bởi những kẻ xấu xa. Đang làm quan, Nguyễn Trãi phải cáo quan về ở ẩn. Sau đó, ông lại bị chết thảm thương trong vụ án Lệ Chi Viên năm 1442. Với công lao to lớn và tài năng toàn diện, Nguyễn Trãi đã được nhân dân ta tôn vinh là anh hùng dân tộc và thế giới đã tặng ông danh hiệu Danh nhân văn hoá. Bài thơ Côn Sơn ca có thể được ra đời khi Nguyễn Trãi cáo quan về nghỉ tại Côn Sơn. Với Nguyễn Trãi, Côn Sơn là vùng đất gắn bó bằng nhiều kỉ niệm từ thuở ấu thơ đến lúc tuổi già. Nơi đây có núi non hùng vĩ, cây cối tốt tươi, sơn thuỷ hữu tình. Đây là đất được phong của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, ông ngoại Nguyễn Trãi. Cha Nguyễn Trãi từng đến dạy học nơi đây, rồi kết duyên với tiểu thư con gái quan tư đồ. Bản thân Nguyễn Trãi cũng đã nhiều năm tuổi trẻ sống ở đây. Khi cáo quan, Nguyễn Trãi về với Côn Sơn như về với nơi chôn nhau, cắt rốn, về với bạn bè tri kỉ tri âm. Mỗi hòn đá, gốc cây, ngọn suối, đất nước và mây trời Côn Sơn gắn bó với người anh hùng, vị danh nhân văn hoá bằng tình cảm máu thịt. Vì thế, bài Côn Sơn ca là tiếng nói cất lên từ trái tim sâu nặng, da diết của Nguyễn Trãi.
Sống giữa Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã nhìn ngắm, suy ngẫm và làm những việc gì? Đoạn thơ chia làm hai đoạn nhỏ thể hiện hai khía cạnh nội dung. Ta hãy đọc bốn dòng thơ đầu:
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trẽn đá như ngồi chiếu êm.
Nghe tiếng suối rì rầm, nhà thơ mường tượng ra tiếng đàn khi trầm, khi bổng, réo rắt bên tai. Nhìn thấy mặt đá phẳng có rêu phơi, nhà thơ ngồi trên đá mà ngỡ như đang “ngồi chiếu êm”. Tri tưởng tượng và nghệ thuật so sánh của Nguyễn Trãi thật lãng mạn, thật tài hoa. Tạo vật thiên nhiên bỗng hoá thành những vật dụng của con người, gần gũi, thân thương với con người. Đôi tai nhạy cảm của thi sĩ đã thổi hồn vào tiếng suối, khiến cho nó vốn đơn điệu trở thành cây đàn đa thanh, cuốn hút. Xúc giác tinh tế của nhà thơ đã hoá thân cho mặt đá vốn khô rắn thành mặt chiếu dịu êm. Những biến đổi ấy kì diệu làm sao! Nguyễn Trãi đã thưởng thức những nét đẹp ấy ở Côn Sơn một cách say mê, hào hứng.
Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có bóng trúc râm,
Trong màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
Câu năm và câu sáu tiếp tục nghệ thuật so sánh tài hoa và một cử chỉ thanh thản tuyệt vời. Đọc thơ, ta ngỡ Nguyễn Trãi đang nằm giữa một rừng thông xanh ngắt, mát rợp, thả hồn trong sắc màu của cỏ cây, đắm chìm trong bóng râm, gió thoảng, ngủ một giấc ngon lành, để quên hết sự đời, rũ bỏ mọi vướng bận, để hoá thân vào hư vô, vũ trụ. Nhưng đến hai câu cuối thì bất ngờ thay, Nguyễn Trãi không ngủ, trái lại ông đã cất tiếng ngâm thơ, nhũng bài “thơ nhàn”. Nếu có điều kiện đọc tiếp những dòng thơ sau đoạn này, ta sẽ thấy nhũng bài “thơ nhàn” của Nguyễn Trãi không phải nói về thú vui nhàn tản vô vị như nhiều nhà nho bế tắc thời trung đại mà là những suy nghĩ, nhũng quan niệm sâu sắc mang tính triết lí thời đại, triết lí nhân sinh tiến bộ.
Tóm lại, đoạn thơ tám dòng của Bài ca Côn Sơn cho ta thấy một sự giao hoà tuyệt đối giữa Nguyễn Trãi với cảnh vật Côn Sơn. Sự giao hoà đó vừa nói lên nhân cách thanh cao, vừa nói lên phẩm chất thi sĩ lớn lao của Nguyễn Trãi vì tất cả là dựa trên một triết lí sâu xa: con người và thiên nhiên là một, muốn sống thanh thản, con người hãy đến với thiên nhiên, tìm ở thiên nhiên những vẻ đẹp, những biến đổi kì diệu để có cách ứng xử đúng nhất…
Nhìn tổng hợp lại, hai bài thơ Thiên Trường vãn vọng của ông vua – thi sĩ Trần Nhân Tông và Côn Sơn ca của danh nhân văn hoá Nguyễn Trãi tuy xuất hiện từ xa xưa, lại là tiếng nói và tâm hồn của hai bậc vĩ nhân, nói bằng những từ ngữ cổ xưa, nhưng vẫn rất gần gũi với thế hệ chúng ta ngày nay. Đọc hai bài thơ, chúng ta như được về thăm lại những miền quê thanh bình, những địa danh quen thuộc, được hoà nhập với tâm hồn người xưa trong tình yêu quê hương Tổ quốc thật nhẹ nhàng mà thấm thìa. Đúng là: hai bức tranh thiên nhiên trĩu nặng hai hồn thơ thắm thiết tình quê, tình đời…
Xem lại bình giảng bài Khúc khải hoàn đầu tiên | Hai bức tranh thiên nhiên – hai hồn thơ thắm thiết tình quê – Bình giảng văn 7 | 1,779 | |
Hai bức tranh đời tương phản – Bình giảng văn 7
Hướng dẫn
Bước vào thế kỉ XX, văn học nói chung, truyện (truyện ngắn, truyện dài) Việt Nam nói riêng có nhiều đổi mới, mang tính hiện đại. Truyện ngắn hiện đại thiên về tính chất hư cấu, cốt truyện phức tạp hơn, khắc hoạ được nhiều hình tượng, chi tiết sinh động nhằm phát hiện bản chất trong quan hệ nhân sinh, trong đời sống tấm hồn con người phong phú, tinh tế hơn truyện cổ tích, truyện ngắn, tiểu thuyết thời xưa. Một trong những tác phẩm mở đầu cho truyện ngắn hiện đại là truyện Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn.
Tác phẩm kể chuyện một viên quan phủ đang làm nhiệm vụ cai quản, chỉ đạo nhân dân đắp đê chống bão lụt ở một vùng sông nước Bắc Bộ trong một đêm vào đầu thế kỉ XX. Câu chuyện có thể chia ba đoạn. Đoạn một: từ “Gần một giờ đêm…” đến “… Khúc đê này hỏng mất”: nguy cơ đê vỡ và sự chống đỡ tuyệt vọng của người dân. Đoạn hai: từ “Ây, lũ con dân…” đến “… Điếu mày”: cảnh quan phủ và nha lại đánh tổ tôm trong khi “đi hộ đê”. Đoạn ba: phần còn lại: cảnh đê vỡ, nhân dân lâm vào tình trạng thảm sầu. Với tiêu đề Sống chết mặc bay, dường như tác giả Phạm Duy Tốn muốn tập trung phát hiện và nghiêm khắc phê phán thái độ vô trách nhiệm, bỏ mặc nhân dân trong tình cảnh khốn cùng của một viên quan phủ khi xuống địa phương chỉ đạo việc hộ đê. Đọc tác phẩm, chúng ta nhận rõ nhà văn đã xây dựng các chi tiết, tình huống tương phản, tăng cấp rất đặc sắc. Hai mặt tương phản đó là: trong khi nhân dân phải vật lộn căng thẳng, vất vả đến cực độ trước bão lụt thì viên quan phủ cùng nha lại, chánh tổng – những kẻ chức sắc ở địa phương – say sưa cờ bạc, không mảy may nghĩ tới việc chỉ đạo dân “hộ đê”. Đúng là hai bức tranh đời tương phản, đối lập gay gắt, khiến người đọc phải suy ngẫm và xúc động…
Bức tranh thứ nhất, cảnh nhân dân chống bão lụt. Về thời gian, đây là lúc “gần một giờ đêm” nghĩa là thời điểm khuya khoắt, mà khi bình thường, mọi người đang ngủ say. Xác định thời gian nửa đêm như thế, nhà Văn muốn nói rằng: cuộc hộ đê của nhân dân nơi đây đã kéo dài suốt cả ngày đến tối tới tận đêm khuya mà chưa được ngơi nghỉ. Nặng nề và căng thẳng biết bao! Trong khi đó, mưa, gió mỗi lúc một mạnh. “Mưa tầm tã”, rồi lại “trên trời thời vẫn mưa tầm tã trút xuống”. Phối hợp với mưa, nước sông cũng mỗi lúc một dâng cao. “Nước sông Nhị Hà lên to quá” rồi lại “nước cứ cuồn cuộn bốc lên”. Giữa cảnh trời, nước dữ dằn, bạo liệt như thế, công cuộc hộ đê của nhân dân diễn ra thế nào? Nhốn nháo, căng thẳng, vất vả, cơ cực, khốn khổ, hiểm nguy vô cùng! “Hằng trăm nghìn con người … kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy… người nào người nấy lướt thướt như chuột lột… Trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác gọi nhau…”. Ngôn ngữ miêu tả rất tập trung. Những tính từ, động từ dồn dập, nối nhau: “tầm tã… tầm tã… cuồn cuộn, đội, vác, đắp, cừ,… bì bõm”, kết hợp một hình ảnh so sánh “người nào người nấy lướt thướt như chuột lột” khiến cho người đọc có cảm tưởng được trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy, và đang sống giữa một cuộc đắp đê chống bão lụt có thật. Cùng với những từ ngữ, câu văn tả thực, nhà văn điểm vào vài ba câu cảm thán “xem chừng núng thế lắm… không khéo thì vỡ mất… Tình cảnh trông thật là thảm … Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời. Lo thay! Nguy thay Sự yếu kém của đê điều, sức lực của con người trước thiên tai mỗi lúc một thê thảm, rất đáng lo ngại, rất đáng xót thương! Phạm Duy Tốn đã kết hợp ngòi bút tả thực với biểu cảm, trự tình, dẫn người đọc vào trung tâm cuộc chống đê lay động lòng người, đánh thức những tình cảm đúng đắn trong chúng ta.
Bức tranh đòi thứ hai, tương phản với cảnh nhãn dân chống lụt cơ cực, vất vả là cảnh viên quan phủ cùng tay chân chơi bời, cờ bạc, hưởng thụ, để dân… Sống chết mặc bay. Ở bức tranh này, nhà văn cũng dùng ngòi bút tả thực, chân thực đến… lạnh lùng, về địa điểm, bọn quan lại ấy đang ngồi ở trong đình vững chãi, đê vỡ cũng không sao. Quang cảnh, không khí tĩnh mịch, trang nghiêm, mọi người nhàn nhã đánh tổ tôm. “Đèn thắp sáng trưng ; nha lệ, lính tráng kẻ hầu người hạ đi lại…”. Đặc biệt là hình ảnh viên quan phủ. Hắn “uy nghi, chễm chệ ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra đệ cho tên người nhà quỳ ở dưới đất mà gãi…”. Bên cạnh, xung quanh hắn là bọn lính lệ chầu chực đợi sai khiến và những vật dụng quý giá, đắt tiền như bát yến hấp đường phèn, khay khảm, tráp đồi mồi đựng trầu vàng, cau đậu,… Lại thêm cả đồng hồ vàng, dao chuôi ngà, ống vôi chạm bạc, ngoáy tai, ví thuốc,… Đúng là hình ảnh của một kẻ giàu sang, phú quý, mang danh đi chỉ đạo dân hộ đê mà như đi chơi, để khoe khoang của cải. Đúng là hắn đi… chơi! Giữa lúc nhân dân đang trăm thảm, nghìn sầu thì tên quan cùng đồng bọn say sưa, đắm mình trên chiếu bạc. Ngồi xung quanh hắn, một lũ tay chân nín thin thít hầu hạ quan, tạo mọi điều kiện để quan được thắng bạc. Đến thời điểm ngoài kia đê sắp vỡ, sự gắng sức của dân lên đến đỉnh điểm, thì viên quan hồi hộp đợi chờ ván bài ù to. Ở phần cuối bức tranh, quan phủ ngồi đợi thắng bạc, tác giả sử dụng nghệ thuật miêu tả tăng cấp rất ấn tượng, rất hồi hộp. Hình ảnh đối lập vì thế càng gay gắt. Nghe ngoài xa vẳng vào tiếng kêu vang trời, có người khẽ nói: “Bẩm, dễ có khi đê vỡ!”. Tên quan gắt: “Mặc kệ!”. Khi một người nhà quê hớt hải chạy vào báo tin “Bẩm quan lớn đê vỡ mất rồi” thì tên quan đỏ mặt tía tai quát mắng: “Đê vỡ rồi!… thời ông cách cổ chúng mày, bỏ tù chúng mày!”. Hắn đã quên hết nhiệm vụ giúp dân chống lụt, để chỉ đợi một quân bài. Sự đối lập giữa tình cảnh khốn khổ của dân chúng, nỗi âu lo của mọi người xung quanh và thái độ vô trách nhiệm của tên quan lên đến đỉnh điểm. Nhưng chưa dừng lại. Sự đối lập vẫn tiếp tục tăng cấp. Trong khi thầy đề “tay run cầm cập thò vào đĩa nọc…” (nghĩa là người nhân viên này cùng mọi người xung quanh rất lo sợ trước cảnh đê vỡ), thì tên quan sung sướng hả hê ngả ra những quân bài, ù một ván to. Không những thế, hắn còn vỗ tay xuống sập kêu to, miệng vừa cười vừa nói: “Ù! Thông tôm, chi chi nảy!… Điếu, mày!”. Nghĩa là kẻ quan liêu, vô trách nhiệm ấy reo vui, sung sướng đến tột đỉnh được hưởng thụ một món tiền lớn, giữa lúc nhân dân đau khổ cũng đến mức độ thẳm sâu, không thể đo được. Tình huống truyện diễn biến đến đây quả là căng thẳng, sự tương phản, đối lập quả là gay gắt, mâu thuẫn không thể dung hoà. Người đọc như bị cuốn vào câu chuyện và cũng cảm thấy căng thẳng, ngột ngạt, bức bối, tràn đầy nỗi tức giận, căm ghét tên quan vô trách nhiệm, tham tiền và tràn đầy tình cảm xót thương những người dân khốn khổ bị lãng quên, bị bỏ mặc… Giận và thương, hai cung bậc cảm xúc ấy dường như thấm đẫm trong từng từ ngữ, câu văn. Kết thúc truyện nhà văn viết: “Ấy, trong khi quan lớn ù ván to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết ; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết!”. Câu văn kéo dài, nhấn mạnh hai bức tranh đời tương phản, vừa kể chuyên vừa miêu tả, vừa biểu ý vừa biểu cảm. Nhịp câu biền ngẫu, đối xứng lâm li, hài hoà tiếng nấc nghẹn, căm phẫn với dòng nước mắt xót đau, thương cảm.
Xem lại bài bình giảng Nguồn gốc, nhiệm vụ công dụng của văn chương | Hai bức tranh đời tương phản – Bình giảng văn 7 | 1,567 | |
Hai quá trình vận động trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận
Hướng dẫn
Hai quá trình vận động: đoàn thuyền đánh cá ra khơi khi màn đêm buông xuống và đoàn thuyện đánh cá trể về trong cảnh bình minh. Chuyển động của vũ trụ trong khoảng không gian từ hoàng hôn đến bình minh, với mặt trời, trăng sao, gió biển đang không ngừng vận động.
Có hai nguồn cảm hứng lớn cùng song hành trong bài thơ: Cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ và cảm hứng về con người lao động trong cuộc sống mới. Sự thống nhất của hai nguồn cảm hứng ấy được thể hiện qua kết cấu và hệ thống thi ảnh trong bài.
Trong cái nhìn của tác giả, hai quá trình vận động của thiên nhiên và con người rất nhịp nhàng, hòa hợp, tác động tương hỗ. Đoàn thuyền xuất phát ra từ lúc mặt trời xuống biển, kéo lười khi sao mờ, trời sáng thì chạy đua cùng mặt trời để trở về khi mặt trời đội biển nhô lên. Con thuyền thì có gió làm lái, trăng làm buồm, câu hát cũng căng buồm cùng với gió.
Thông qua việc miêu tả cảnh lao động đánh cá của người ngư dân vùng biển Hạ Long, bài thơ ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước, sự giàu có của biển khơi; ngợi ca khí thế lao động hăng say, yêu đời của người lao động mới đã được giải phóng, đang làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời và đất nước:
Dám vươn mình cai quản lại thiên nhiên!
Với bài thơ Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận đã thực sự tiềm kiếm được nguồn cảm hứng mới sau một thời gian khép kín tâm hồn mình trong tháp ngà nghệ thuật. Đó là tiếng nói say mê của một tâm hồn đã tìm thấy được lý tưởng, tìm thấy được nguồn sống đích thực. nguồn ấy là nhân dân, là cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Lý tưởng yêu nước và sức mạnh từ cuộc sống mới đã bồi đắp niềm tin của tác giả vào cuộc sống mới và càng tin tưởng hơn ở con người và tương lai đất nước. | Hai quá trình vận động trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận | 373 | |
Hai sản vật tượng trưng trời, đất – Truyền thuyết bánh chưng, bánh giầy Ngữ Văn 6
Hướng dẫn
Hai sản vật tượng trưng Trời, Đất
Hằng năm, mỗi độ xuân về, nhân dân Việt Nam chúng ta lại nô nức, vui vẻ chuẩn bị lá dong, xay đỗ, mua thịt, giã gạo, gói bánh. Nơi này làm bánh giầy, làng nọ gói bánh chưng. Có chỗ làm cả bánh chưng, bánh giầy để cúng tổ tiên, tế lễ trời đất, vừa đón xuân vừa cầu mong sang năm mới nhà nhà được no ấm, người người được khoẻ mạnh,… Quang cảnh ấy thường nhắc nhở mọi người nhớ lại rồi kể cho nhau nghe truyện Bánh chưng, bánh giầy. Đây là một truyền thuyết xuất hiện từ thời Hùng Vương xa xưa. Sáng tạo truyền thuyết này, cha ông ta muốn giải thích phong tục làm bánh chưng, bánh giầy trong ngày Tết – một nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá dân tộc, đồng thời nhắc nhở con cháu hãy luôn thờ kính Trời Đất, tôn quý Tổ Tiên, coi trọng tài năng, phẩm chất người nông dân trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn minh nông nghiệp của Việt Nam.
Nghe kể lại, hoặc đọc trên văn bản về truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy, chúng ta thấy nổi bật lên ba đoạn, mỗi đoạn toát ra một ý nghĩa.
1. Đoạn 1. Từ đầu đến “chứng giám” – Bài toán khó giải: vua Hùng chọn người nối ngôi
Hoàn cảnh diễn ra cuộc lựa chọn ấy là: giặc ngoài đã yên, nhiệm vụ quan trọng bây giờ là “nhân dân no ấm” để đất nước được thanh bình, phát triển. Vua đã già yếu, cần người nối ngôi. Ngai vàng chỉ có một, trong khi vua có những hai mươi người con trai, biết chọn ai bây giờ. Điều đặc biệt là người kế vị vua không nhất thiết phải là con trưởng mà là người tài đức, hơn tất cả mười chín người kia. Thật là một “bài toán” khó giải. Từ bài toán của mình, nhà vua đã đặt ra bài toán, lời đố cho các con.
Người truyền rằng: “… người nối ngôi ta phải nối được chí ta… nhân lễ Tiên vương, ai làm vừa ý ta, ta sẽ truyền ngôi cho, có Tiện vương chứng giám”.
Như vậy, nhà vua đã đặt ra hai yêu cầu để thử thách trí tuệ, tâm hồn, tài năng, hành động của các con. “Ai nối được chí ta… làm vừa ý ta”, nghĩa là phải có chí lớn, phải quyết tâm thực hiện mong muốn dân giàu nước mạnh. “Nhân lễ Tiên vương… có Tiên vương chứng giám”, nghĩa là người được lên làm vua phải biết tôn kính tổ tiên, biết tôn trọng cha mẹ, quý trọng nhân dân, có đạo đức,… Trong truyện cổ dân gian nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới thường có những tình huống mang tính chất những “câu đố”. Điều vua Hùng đòi hỏi các hoàng tử đúng là một “câu đố”, một “bài toán” không dễ gì giải được.
Về cảnh ngộ, Lang Liêu là “người buồn nhất”. Chàng là con thứ mười tám, thuộc hàng em áp chót. Sớm mồ côi mẹ, so với anh em, “chàng thiệt thòi nhất”.
Nhưng Lang Liêu lại là người có phẩm chất tốt. Từ khi lớn lên, ra ở riêng, chàng chăm lo việc đồng áng, trồng lúa trồng khoai. Tuy là con vua, là hoàng tử, nhưng Lang Liêu sống gắn bó với ruộng đồng, gần gũi nhân dân, mang bản chất của người lao động. Sản phẩm, kho báu của chàng chỉ là khoai, lúa đầy nhà. Chính những hạt lúa, củ khoai ấy đã thấm mồ hôi, công sức và cả trí tuệ của chàng, góp phần tạo nên cuộc sống no ấm, hạnh phúc cho bản thân và gia đình chàng. Song, so với những vật quý trên rừng, dưới biển mà những anh em chàng đi tìm để dâng vua cha, thì “khoai, lúa tầm thường quá”. Trước “bài toán” của vua cha, Lang Liêu nhiều đêm thao thức và đầy những âu lo.
Và giữa một đêm thao thức, Lang Liêu đã gặp thần, được thần giúp đỡ. Vì sao Lang Liêu được thần giúp? Phải chăng vì chàng là một người “thiệt thòi nhất” nhưng chăm chỉ, sống gần nhân dân nhất. Thần không hướng dẫn cụ thể, mà chỉ gợi ý bóng bẩy, sâu xa: “Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo. Chỉ có gạo mới nuôi sống con người… Các thứ khác tuy ngon, nhưng hiếm, mà người không làm ra được… Hãy lấy gạo làm bánh…”. Phải chăng, đối với Lang Liêu, đây lại là một câu đố, một “bài toán” thứ hai. Bài toán thứ nhất của vua cha – đã khó. Bài toán này là của thần nêu ra, càng khó hơn. Thần là ai vậy? Đây chính là biểu tượng cho tinh khí của trời đất, là trí tuệ của nhân dân và cũng một phần là những tiềm thức, những nghĩ suy sâu lắng của chính Lang Liêu. Nếu không phải là người từng trải qua biết bao mưa nắng, từng đổ biết bao mồ hôi, công sức trên những ruộng đồng hôm sớm để làm ra hạt lúa, củ khoai thì ai có thể thấm thìa được vẻ đẹp, lợi ích, vai trò cùa lúa gạo đối với con người như lời thần nói với Lang Liêu? Với Lang Liêu, “bài toán” của thần từ bên ngoài dội vào, cũng là tiếng nói từ trong trí tuệ, trái tim, từ máu thịt chàng cất lên. Do đó, chàng đã mau chóng hiểu được ý thần: “Càng ngẫm nghĩ, chàng càng thấy lời thần nói đúng”. Hiểu ý thần, Lang Liêu làm theo, nhưng không máy móc, mà thật thông minh, sáng tạo. Thần chỉ nói “lấy gạo mà làm bánh” ngắn gọn thế thôi. Vậy mà Lang Liêu đã nhanh chóng giải được “bài toán” của thần. “Chàng bèn chọn thứ gạo nếp thơm lừng, trắng tinh, hạt nào hạt nấy tròn mẩy, đem vo thật sạch, lấy đậu xanh, thịt lợn làm nhân, dùng lá dong trong vườn gói thành hình vuông, nấu một ngày một đêm thật nhừ. Để đổi vị, đổi kiểu, cũng thứ gạo nếp ấy, chàng đồ lên, giã nhuyễn, nặn hình tròn”. Từ một dữ kiện “lấy gạo làm bánh”, Lang Liêu đã thực hiện bằng biết bao động tác, kết hợp biết bao nguyên liệu để tạo ra một đáp số tuyệt vời là hai thứ bánh có hình hài khác nhau, màu sắc khác nhau, hương vị khác nhau… Thông minh quá, tài hoa quá!
Trong ngày lễ Tiên vương, sản phẩm của Lang Liêu đã làm đẹp lòng vua cha, vừa ý quần thần. Khi ăn bánh, “ai cũng tấm tắc khen ngon”, ngon và độc đáo hơn tất cả các sơn hào, hải vị, nem công chả phượng của các lang khác. “Bánh hình tròn là tượng Trời ta đặt tên là bánh giầy. Bánh hình vuông là tượng Đất… ta đặt tên là bánh chưng. Lá bọc ngoài, mĩ vị để trong là ngụ ý đùm bọc nhau. Lang Liêu đã dâng lễ vật hợp với ý ta. Lang Liêu sẽ nối ngôi ta…”. Lời nhận xét, cũng là những suy ngẫm của đức vua khi thưởng thức sản vật do Lang Liêu dâng lên thật chí lí, vừa sâu sắc vừa rộng mở đã khẳng định tấm lòng, trí tuệ và bàn tay khéo léo, sáng tạo của người con chăm chỉ, thông minh. Đó cũng là lời tôn vinh vị ngon dẻo, thơm bùi và ý nghĩa lớn lao của bánh chưng, bánh giầy – sản vật đậm hương vị Việt Nam, mang bản sắc của văn hoá nông nghiệp Việt Nam. “Bài toán” của vua Hùng đã được giải một cách trọn vẹn, tuyệt vời. Bánh chưng, bánh giầy đã đoạt giải nhất, chàng Lang Liêu – tác giả của hai thứ bánh – xứng đáng được lên ngôi vua trị vì đất nước, dẫn dắt, dạy bảo muôn dân. Lời phán truyền của đức vua – cũng chính là ý nguyện của nhân dân tôn vinh bánh chưng, bánh giầy đẹp như những bài ca, ca ngợi lao động, ca ngợi nghề nông và giá trị của văn minh nông nghiệp Việt Nam. Khen, rồi ban tặng ngôi báu cho Lang Liêu, vua Hùng đã thay mặt nhân dân để cao một người con con hiếu thảo, biết tôn kính tổ tiên, biết lắng nghe lời thần linh dạy bảo,… Lang Liêu là biểu tượng của người anh hùng văn hoá mở đầu cho những anh hùng Việt Nam trên đồng ruộng, xóm làng Việt Nam! | Hai sản vật tượng trưng trời, đất – Truyền thuyết bánh chưng, bánh giầy Ngữ Văn 6 | 1,473 | |
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia-Thân Nhân Trung
Hướng dẫn
Không tìm kiếm và trọng dụng hiền tài, đất nước không thể hưng thịnh
Mở bài:
Xưa nay, trọng hiền mến sĩ, chiêu mộ nhân tài cho đất nước luôn được các nhà lãnh đạo quan tâm. Đất nước không thể ổn định và phát triển nếu như không thu hút được những người có trí tuệ và tài năng góp sức vào sự nghiệp lớn của quốc gia. Thân nhân Trung, một hiền sĩ đã từng nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Quả thật, sự trường tồn của một quốc gia nằm ở chính tài năng của mỗi người trong quốc gia đó.
Thân bài:
Hiền tài là gì?
Hiền tài là người có kiến thức, có tài năng và phẩm chất tốt đẹp. Họ luôn có tâm huyết và khát vọng cống hiến xây dựng cho đất nước, cho dân tộc. Ở một hiền tài có sự kết hợp chặt chẽ giữa tài năng và đức độ ở mức cao độ. Chính điều đó tạo nên một khí chất cao thượng, đáng kính hiếm có.
Hiểu theo nghĩa tren, hiền tài phải là người có cả tài năng và đức hạnh. Họ hết lòng đem hết tài năng và đức hạnh ấy phục vụ cho Tổ quốc. Hiền tài vừa là bậc hiền đức lại vừa là người có tài năng. Hiền tài không những là người học rộng hiểu nhiều mà còn có đủ tài giúp vua trị nước, đem lại cuộc sống thanh bình cho nhân dân.
Mỗi hiền tài phải là người gương mẫu về đạo đức suốt đời chăm lo tu dưỡng phẩm hạnh cho bản thân. Theo Thân Nhân Trung, đó là người: “Lấy trung nghĩa mà rèn luyện cho danh thực hợp nhau. Thực hành điều sở học, làm nên sự nghiệp vĩ đại sáng ngời, khiến cho mọi người đời sau kính trọng thanh danh, mến mộ khí tiết. May ra trên không phụ lòng nhân dưỡng dục của triều đình, dưới không phụ công phu học tập thường nhật”.
Nguyên khí là gì?
Nguyên khí có nghĩa là khí chất, phẩm chất, năng lực, sức mạnh được khởi sinh từ nguồn cội. Nguyên khí có tính bền vững, bất biến. Theo triết học phương đông “khí” chính là yếu tố quyết định sức mạnh của vạn vật. Không có “khí” vật sẽ sớm suy kiệt mà lụi tàn. Còn “nguyên” có nghĩa là khởi đầu, trường tồn, bất biến.
Nguyên khí chỉ cái khí đầu tiên, khi trời đất hỗn độn chưa phân, vũ trụ chưa hình thành. Nguyên khí cũng chỉ tinh thần, tinh khí của con người. Nguyên khí cũng chỉ cả lực lượng vật chất, tinh thần của quốc gia, xã hội: “Đạo trị nước, trước tiên là bồi dưỡng nguyên khí”(Trị quốc chi đạo, tiên tại dưỡng kỳ nguyên khí).
Trong câu “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, thì nguyên khí chính là tinh thần, tinh khí, hoặc lực lượng tinh thần (và cả lực lượng vật chất) của quốc gia.
Coi “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” là một quan điểm vô cùng đúng đắn:
Thời đại nào có bậc lãnh đạo anh minh, người hiền tài hết lòng phụng sự, đất nước tất hưng thịnh. Ngược lại, lãnh đạo mưu cầu danh lợi, hiền tài, nhân sĩ giấu mình ẩn cư, đất nước tất loạn lạc, suy tàn. Đó cũng là bài học của muôn đời đến nay còn nguyên ý nghĩa.
Hiền tài là người kết tinh tinh hoa của văn hóa của xã hội và dân tộc. Họ là những người định hướng văn hóa cho xã hội, định hướng tư tưởng cho đất nước. Họ dẫn dắt dư luận, xây dựng diện mạo văn hóa của xã hội. Công việc và hành động của họ có đóng góp to lớn trong việc xây dựng nên một xã hội văn minh. Tiến tới xây dựng một xã hội vì con người.
Hiền tài chính là động lực của mọi tiến bộ của xã hội. Họ là những người phát minh ra khoa học và tư tưởng. Họ đưa khoa học phục vụ các chương trình phát triển xã hội. Họ giúp cải thiện điều kiện vật chất, cải thiện thương mại và công nghiệp. Họ vận dụng tri thức vào giáo dục con người. Chính qua giáo dục, họ đào tạo nên những hiền tài mới cho đất nước.
Hiền tài là động lực của tăng trưởng kinh tế. Họ dùng khoa học để chế ngự thiên nhiên, mở rộng và nâng cao sản xuất. Họ là những người đề ra những phương pháp tiên tiến trong sản xuất tạo ra của cải vật chất phục vụ xã hội. Ở đâu có nhiều tri thức, ở đó nền kinh tế phát triển bền vững hơn. Những công ty, đơn vị nào có nhiều tri thức sẽ phát triển mạnh hơn… Trong thời đại kinh tế hiện nay, tri thức được coi là thành phần mang lại giá trị kinh tế lớn nhất.
Hiền tài là lực lượng nồng cốt trong quản lí xã hội. Họ là những người có khả năng phán đoán và nhận định sáng suốt. Họ nhạy bén xử lý các tình huống và đề ra lối sách thích hợp để vận hành tốt công việc. Đặc biệt huy động được nhiều tài năng trong lĩnh vực mình phụ trách. Hiền tài luôn giải quyết được các vấn đề ở tầm cao.
Tóm lại, hiền tài có quan hệ tới sự thịnh suy của đất nước. Họ chính là nguyên khí, là nguồn sức mạnh của quốc gia. Họ phụ trách và gây ảnh hưởng trong mọi lĩnh vực. Nguyên khí thịnh thì đất nước giàu mạnh, nguyên khí suy thì nước yếu và càng ngày càng xuống cấp. Bài học ấy quả thực rất đúng đắn.
Ý kiến của Thân Nhân Trung thể hiện sự quan tâm đến giáo dục và trọng dụng nhân tài của nhà nước phong kiến đương thời:
Rõ ràng hiền tài đóng vai trò rất quan trọng đối với đất nước. Nhưng làm thế nào để có những bậc hiền tài như thế? Làm thế nào để hiền tài cống hiến vì đất nước. Đó là một vấn đề đáng suy nghĩ. Tìm kiếm hiền tài để xây dựng đất nước luôn là nhiệm vụ cấp bách. Bởi thế, mỗi triều đại hình thành đều chăm lo cho đạo học trước tiên. Đạo học phát triển thì hiền tài cũng xuất hiện giúp đời. Phong hóa được chấn chỉnh thì hiền tài cũng nhiều hơn.
Trước hết theo Thân Nhân Trung phải có một hoàn cảnh khách quan thuận lợi. Ông nói: “Nhân tài phồn thịnh vốn có quan hệ đến khí hóa của trời đất và cốt ở cái gốc giáo hóa của thánh nhân”.
Giáo dục là phương thức hiệu quả để tìm kiếm và bồi dưỡng hiền tài. Bởi mục đích lớn nhất của giáo dục đó là rèn luyện con người cả tri thức lẫn nhân cách. Con người có tri thức sâu rộng, có nhân cách cao cả, có lý tưởng lớn lao ắt là hiền tài của đất nước.
Việc dựng bia đá nhằm mục đích vinh danh hiền tài thuở trước. Không những họ được phát hiện, trọng dụng mà còn được tôn vinh. Điều ấy khiến cho họ đem tài năng ra cống hiến và giúp sức cho nước nhà. Việc làm ấy còn khuyến khích mọi người noi gương hiền tài; ngăn ngừa điều ác. Dựng bia đá tôn nghiêm, khắc tên bảng vàng còn là cách tôn vinh và tri ân quá khứ. Những tấm gương sáng ngời về tài năng và đức độ trở thành gương sáng cho thế hệ soi chung, tạo dựng truyền thống hiếu học.
Việc dựng bia đã thể hiện tư tưởng lớn về đào tạo và sử dụng nhân tài đất nước của các bậc minh quân. Lấy truyền thống tốt đẹp, cao cả để giáo dục con người là cách làm hiệu nghiệm nhất xưa nay
Ý kiến của Thân Nhân Trung còn là lời nhắc nhở các nhà lãnh đạo của các thế hệ sau phải biết coi trọng việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ.
Việc sử dụng nhân tài trọng sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam.
Trong thời phong kiến, tầng lớp trí thức rất được coi trọng. Họ đứng đầu trong các tầng lớp xã hội (sĩ, nông, công, thương). Thời Lí, năm 1075, mở trường đại học đầu tiên là Quốc Tử Giám để đào tạo nhân tài. Khoa cử thời Lí, Trần góp phần phát triển văn minh Đại Việt. Đến thời Lê sơ, Năm 1442 mở khoa thi Hội đầu tiên để chọn Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Từ năm 1462, đời vua Lê Thánh Tông, việc thi cử càng được coi trọng. Từ xưa, hiền tài vốn đã được xem là tinh hoa của xã hội.
Trên bia tiến sĩ đã ghi “việc chính trị lớn của đế vương không gì cần bằng nhân tài”. Lời dụ của vua Lê Hiến Tông (1498- 1504) có ghi: “Nhân tài là nguyên khí của nhà nước, nguyên khí mạnh mẽ thì trị đạo mới thịnh”. Nhiều bậc trí thức đã làm vẻ vang cho đất nước. Tên tuổi của họ còn lưu thơm đời đời.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của tri thức. Bác cũng đặc biệt coi trọng sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo. Bác cho rằng: “Kiến thiết phải có nhân tài”. Bác nhận định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Học theo cổ nhân, bác lấy nhân tài làm động lực phát triển đất nước.
Tuy nhiên, do chế độ đãi ngộ và điều kiện làm việc còn thiếu thốn, đời sống còn khó khăn nên lực lượng hiền tài chưa toàn tâm, toàn ý cho công việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kĩ thuật. Đó là một hạn chế lớn cần phải thay đổi.
Bài học về phát hiện và trọng dụng nhân tài
Một đất nước hùng mạnh là đất nước hội tụ được năng lực của toàn dân tộc. Trong đó, hiền tài là lực lượng có vai trò tạo động lực rất lớn. Cần phát huy đến mức cao nhất mọi nguồn lực, tiềm năng trí tuệ của dân tộc. Đặc biệt là năng lực sáng tạo của đội ngũ tri thức. Quyết liệt ngăn ngừa nạn chảy máu chất xám. Cụ thể là cần có chính sách giúp đỡ, phát hiện, đánh giá, bồi dưỡng và trọng dụng hiền tài. Đồng thời cũng cần quan tâm đến sự nghiệp giáo dục con người. Cần trân trọng và tôn vinh những người có công chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục, giúp đỡ hiền tài.
Đối với bản thân, mỗi học sinh phải học tập chăm chỉ, nghiêm túc để nâng cao trình độ tri thức. Không ngừng nâng cao khả năng sáng tạo, năng lực làm việc. Đồng thời rèn luyện nhân cách tốt đẹp để trở thành hiền tài góp phần xây dựng đất nước.
Kết bài:
Ngày nay, dân tộc ta đang cùng cả nhân loại bước vào một thời kỳ phát triển mãnh liệt chưa từng có trong lịch sử. Các quốc gia đang đi vào tiến trình hội nhập kinh tế rộng lớn trong xu hướng toàn cầu hóa. Nền kinh tế tri thức đã ra đời và đang từng bước định hình trật tự thế giới. Sự kỳ diệu của trí tuệ con người đã nhanh chóng mở rộng sự phát triển của mọi ngành khoa học. Đặc biệt là công nghệ thông tin, điện tử, sinh học…
Một cuộc chạy đua gay gắt để sinh tồn và phát triển đang diễn ra trên toàn thế giới. Sự bất bình đẳng và phân hóa giàu nghèo đang diễn ra quyết liệt. Trong tình hình nói trên, Việt Nam đã chủ động hội nhập kinh tế và phát huy cao nhất trí tuệ, tài năng, nhanh chóng nắm được những thành tựu tinh thần của thời đại để có một tầm cao trong suy nghĩ và sáng tạo. Chính vì thế mà chưa lúc nào bằng lúc này rất cần có hiền tài xây dựng đất nước. Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hiền tài trên đất nước ta lại được đặt ra một cách cấp thiết và cực kỳ quan trọng.
Có thể bạn đang tìm kiếm:
Bàn luận về lý tưởng sống của thanh niên ngày nay | Hiền tài là nguyên khí của quốc gia-Thân Nhân Trung | 2,120 | |
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
Hướng dẫn
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
Đất nước là một phạm trù rộng lớn nhưng yếu tố làm nên đất nước lại chính là ở mỗi một con người cụ thể. Vì thế, đất nước có tươi đẹp hay không, có giàu mạnh hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự phát triển của mỗi cá nhân. Vậy nên, tác giả Thân Nhân Trung đã từng nêu lên một ý kiến rất sáng suốt và đúng đắn trong Bài ký đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba – 1442: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Càng ngẫm nghĩ, ta càng thấm thía hơn về ý nghĩa sâu xa mà tác giả Thân Nhân Trung muốn truyền đạt.
“Hiền tài” là cụm từ Hán Việt mà xưa kia các thầy nho giáo vẫn dùng để chỉ những học sinh vừa học giỏi vừa có đạo đức. Còn “nguyên khí” là nội lực làm nên sức khỏe, thể trạng của một con người. Khi nguyên khí tốt nghĩa là người đó đang mạnh khỏe, tâm thế sẵn sàng, vui vẻ. Ngược lại, khi nguyên khí yếu, cơ thể mệt mỏi, sắc khí xấu đi, tâm tư buồn bã, chán nản… Đối với quốc gia, nguyên khí chính là cốt lõi của sự phát triển, sự phồn vinh, tươi đẹp. Cũng giống như con người, khi nguyên khí yếu, nghĩa là cái cốt lõi bị mất đi, đất nước rơi vào tình trạng nghèo nàn, xác xơ… Không phải ngẫu nhiên mà tác giả lấy nguyên khí của một con người cụ thể để nói về nguyên khí của quốc gia – một phạm trù rộng lớn. Bởi chính bản thân mỗi người dù nhỏ bé nhưng vẫn là một phần quan trọng và thiết yếu của đất nước.
Nhưng đáng tiếc rằng, bên cạnh những vị hiền tài ấy vẫn còn rất nhiều kẻ bất tài, vô lương tâm đã tạo nên một luồng nguyên khí xấu làm ảnh hướng tiêu cực đến sự phát triển của đất nước. Những tên tội phạm cướp của giết người, buôn bán ma túy, gái mại dâm…. Tất cả đã làm nên một cục diện đen tối cho xã hội. Nhưng trước tiên, chính bản thân họ là người chịu thiệt thòi đầu tiên. Bởi sẽ không bao giờ có một tương lai tươi sáng, hay một tâm hồn thanh thản cho những kẻ đã gây nên bao tội lỗi. Mà chẳng cần nói đâu xa. Ngay trong hàng ngũ các bạn học sinh, những bạn lười học, dối thầy dối bạn dối mẹ cha chính là những kẻ đang tổn hại đến nguyê khí của quốc gia. Bởi nếu không học hành nghiêm túc, sau này các bạn không thể trở thành người có ích cho xã hội, thậm chí còn lao vào con đường tội lỗi làm nhũng nhiễu xã hội. Khi đó, thế nước suy giảm, yếu dần rồi xuống thấp.
Vậy làm thế nào để trở thành một hiền tài cho đất nước, cho gia đình và cho chính bản thân? Bất kỳ ai cũng có thể trở thành hiền tài nếu quyết tâm tu chí đạo đức và ham học hỏi. Cuộc sống sẽ viên mãn biết bao khi xã hội không còn những kẻ cướp bóc, giết người, hành nghề lừa đảo… Thay vào đó là sự bình yên, sự công bằng và hòa bình thực sự. Các bạn trẻ ngay từ khi còn ngồi ghế nhà trường hãy tập trung học hành, rèn luyện đạo đức để mai này bước ra đời xây dựng tương lại, xây dựng đất nước, làm nguyên khí mạnh mẽ cho đất nước phát triển. Đồng thời các bạn cũng nên mạnh dạn, thẳng thắn và cương quyết nói không với những lời rụ rỗ ngon ngọt của kẻ xấu. | Hiền tài là nguyên khí của quốc gia | 671 | |
Hiểu biết về Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
Đề bài: Qua những điều em biết, hãy viết về Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
I. CÂU HỎI GỢI Ý
1. Đội thành lập ngày nào?
2. Những đội viên đầu tiên của Đội là ai?
3. Hãy cho biết những lần đổi tên của Đội.
4. Hãy nói rõ về huy hiệu Đội, khăn quàng, Đội ca và các phong trào của Đội.
II. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Đọc kĩ đề, nắm nội dung mà đề yêu cầu: “đó là những hiểu biết của em về Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh”. Để làm tốt bài này, em cần có trong tay cuốn “Điều lệ Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh” làm tư liệu tham khảo. Đọc kĩ Điều lệ và ghi lại những nội dung chính cỏ liên quan đến hệ thống câu hỏi gợi ý, trình tự trả lời từng câu hỏi. Cuối cùng, em liên kết nội dung các câu trả lời lại bằng những từ ngữ chuyển tiếp, hình thành một bài văn hoàn chỉnh.
II. BÀI THAM KHẢO
Bài làm
1. Đội thành lập ngày nào?
Tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh được thành lập ngày 15 – 5 – 1941 tại Pác Bó, Cao Bằng. Lúc đầu, Đội mang tên: “Đội Nhi đồng cứu quốc”, tập hợp những thiếu niên có độ tuổi từ 9 đến 14, sinh hoạt trong các chi đội Thiếu niên Tiền phong.
2. Những đội viên đầu tiên của Đội là ai?
Khi mới thành lập, Đội chỉ có 5 đội viên. Người Đội trưởng là Nông Văn Dền (bí danh là Kim Đồng). Bốn đội viên khác là: Nông Văn Thàn (bí danh là Cao Sơn), Lí Văn Tịnh (bí danh là Thanh Minh), Lí Thị Mì (bí danh là Thúy Tiên) và Lí Thị Xậu (bí danh là Thanh Thủy).
3. Hãy cho biết những lần đổi tên của Đội.
Ngày thành lập, Đội có tên là “Đội Nhi đồng cứu quốc”. Trong dịp kỉ niệm 10 năm ngày thành lập Đội, “Đội Nhi đồng cứu quốc” được đổi tên là “Đội Thiếu nhi tháng Tám” vào ngày 15-5-1951. Năm năm sau. vào tháng 2 – 1956, Đội lại được đổi thành “Đội Thiếu niên Tiền phong. Và ngày 30-1-1970, thể theo nguyện vọng của thế hệ mầm non trong cả nước, Đội được mang tên “Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh’”.
4. Hãy nói rõ về huy hiệu Đội, khăn quàng, Đội ca và các phong trào của Đội
Dấu hiệu tượng trưng cho tổ chức Đội là Huy hiệu măng non. Huy hiệu vẽ một búp măng màu xanh khỏe mạnh trên nền Tổ quốc mà mỗi đội viên luôn đeo trên ngực mình cùng với chiếc khăn quàng màu đỏ trên vai mỗi khi đến lớp, đến trường hay trong những ngày lễ hội, coi đó là một niềm vinh dự của tuổi thơ. Bài hát do nhạc sĩ Phong Nhã sáng tác được gọi là “Đội ca” thường mở đầu một cách nghiêm trang và hùng tráng trong dịp kỉ niệm sinh nhật Đội hoặc trong những ngày lễ hội thi tài đua sức của tuổi thơ do nhà trường hay Đoàn thanh niên tổ chức. Từ khi Đội được thành lập đến nay có rất nhiều các phong trào thi đua được phát động trong cả nước. Tiêu biểu như phong trào: “Công tác Trần Quốc Toản” phát động năm 1947, phong trào ‘Thiếu nhi làm nghìn việc tốt” phát động năm 1981. | Hiểu biết về Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh | 589 | |
Hoàn cảnh sáng tác và nội dung tập thơ Nhật kí trong tù (Ngục trung nhật kí) của Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
Nhật kí trong tù là một viên ngọc quý của nền thi ca cách mạng Việt Nam. Về mặt giá trị nghệ thuật, Nhật kí trong tù được đánh giá rất cao. Có nhiều bài thơ phản phất phong vị Đường thi. Không những nó được thế giới công nhận mà ngay cả các nhà thơ Trung Quốc cũng đánh giá cao giá trị này.
Hoàn cảnh sáng tác tập thơ Nhật kí trong tù:
Tháng 8/1942 với danh nghĩa là đại biểu của Việt Nam Độc lập Đồng minh và phân bộ quốc tế phản xâm lược của Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự tiếp trợ của thế giới. Lúc đi đến thị trấn Túc Vinh – Quảng Tây, Người bị chính quyền Tưởng GIới Thạch bắt giam vô cớ. Trong suốt 13 tháng ở tù (mùa thu 1942 – mùa thu 1943), tuy bị đầy ải vô cùng cực khổ, Hồ Chí Minh vẫn giữ phong thái hết sức ung dung tự tại và vẫn làm thơ. Những bài thơ ấy sau này Người tập hợp lại thành tập Nhật kí trong tù.
Tập thơ khép lại bằng bài thơ Mới ra tù tập leo núi viết vào tháng 9 năm 1943. Nhưng đến năm 1960, tập thơ này mới được xuất bản. Đến nay, tập thơ đã được xuất bản nhiều lần với nhiều hình thức khác nhau và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Năm 2012, tập Nhật kí trong tù chính thức được công nhận là một bảo vật quốc gia, có giá trị về văn học, lịch sử sâu sắc.
Nội dung tập thơ Nhật kí trong tù:
Tập thơ đã phản ánh khá chân thực bộ mặt xấu xa, đen tối của chế độ nhà tù cũng như của xã hội Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch. Mặt khác, qua tập thơ, người đọc cũng thấy được vất vả, gian lao của Bác trong chốn ngục tù. Từ cảnh ăn đói, mặc rét, bệnh tật cho đến những cuộc chuyển lao đầy gian khổ. Tuy nhiên, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Bác Hồ cũng vượt lên với một ý chí nghị lực kiên cường để chiến thắng hoàn cảnh.
Đây là một tập nhật kí bằng thơ mà trong đó Bác đã ghi chép khá tỉ mỉ, chân thực những gì Bác đã chững khiến, đã trải qua trong thời gian 13 tháng ở tù. Cũng chính vì vậy mà tập thơ có một giá trị hiện thực rất cao.
Tập thơ thể hiện tâm hồn phong phú cao đẹp của người tử tù vĩ đại. Về phương diện này, có thể xem Nhật kí trong tù như một bức chân dung tự họa con người tinh thần của chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chân dung Bác Hồ trong tập thơ là hình ảnh nhà ái quốc vĩ đại lúc nào cũng nóng lòng sốt ruột hướng về tổ quốc, khao khát tự do và là chiến sĩ cộng sản kiên cường bất khuất. Dù bị đầy đọa trong lao tù Người vẫn ung dung tự tại, tràn trề tinh thần lạc quan, hướng đến tương lai.
Tâm hồn Bác cũng rất nhạy cảm với mọi biến đổi của thiên nhiên cho nên điều dễ hiểu là trong tập thơ Nhật kí trong tù có khá nhiều bài thơ hay của Bác viết về thiên nhiên. Có thể nói, tập thơ Nhật kí trong tù đã bộc lộ cốt cách của một người chiến sĩ kiên cường, bất khuất, của một thi nhân có tâm hồn rộng mở, một nghệ sĩ lớn. | Hoàn cảnh sáng tác và nội dung tập thơ Nhật kí trong tù (Ngục trung nhật kí) của Hồ Chí Minh | 629 | |
Hàng năm, mỗi khi mùa xuân đến, nhân dân ta thường tổ chức Tết trồng cây. Em hãy giải thích ý nghĩa của hoạt động đó và phát biểu cảm nghĩ của em.
Bài làm
Mùa xuân, khi chim chóc bay về làm tổ; khi màu xanh, lộc biếc mượt mà trải dài trên đường phố, làng quê; khi hoa đào, hoa mai rực rỡ sắc hương trong nắng xuân, nhân dân ta lại vui vẻ tổ chức nhiều lễ hội truyền thống. Một trong những hoạt động đón xuân vui vẻ ấy là Tết trồng cây. Và, trong những ngày ấy, ai ai cũng nhắc lại lời. Bác:
Mùa xuân là Tết trồng cây,
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân.
Đã từ lâu, con người sớm có ý thức được sự gắn bó mật thiết giữa mình và thiên nhiên; trong đó cây xanh là yếu tố vô cùng quan trọng. Cây xanh góp phần điều tiết không khí trong lành để con người sống khỏe mạnh, cầy xanh đem đến bóng mát cho con người mỗi khi trời nắng, cây xanh đem đến cho con người quả ngọt, trái sai, cây xanh gọi chim về làm tổ véo von tiếng hót mồi buổi sớm mai… Trên thế giới, nhiều nước sớm ý thức được tầm quan trọng của việc trồng cây, một trong những nước phong trào rộng khắp là Ấn Độ.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân dân ta bắt tay vào xây dựng xã hội mới. Bác Hồ đã đề xướng ngày Tết trồng cây. Khi còn sống, nãm nào mùa xuân đến, Bác cũng đi trồng cây. Noi gương Bác và hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, nhán dân ta đều hăng hái trồng cây vào dịp Tết. Tết trồng cây trở thành một thói quen, một phong trào không thể thiếu được trong dịp đầu xuân. Tết trồng cây trở thành ngày hội của nhân dân ta.
Mỗi dịp Tết trồng cây, chúng ta thêm gắn bó với thiên nhiên, đất nước, làm đẹp thêm cho klnmg cảnh xung quanh nơi cnvíng ta sống, bẳo vệ môi trường tành mạnh nơi chúng ta ở, làm giàu thêậrt cho cuộc sống chúng ta.
Tết trồng cây cùng gây cho con người tinh thần gắn bổ, cảm hòa với nhau hơn vì một mục đích tốt đẹp vì lợi ích chung của xã hội, của con người.
Trồng thêm cây xanh, chúng ta góp phần khôi phục lại sự tàn phá, khai thác bừa bãi rừng, chông xói mòn, tăng thêm sự màu mỡ cho đất, 2000 điều hòa mực nước cho sông ngòi, hạn chế lũ lụt, ngăn gió biển, nước biển tràn vào phá hoại mùa màng. Trồng thêm cây xanh chúng ta còn tạo ra một tiềm năng củẩ cải vật chất lớn lao cho đời sống mồi gia đình và xã hội. Hàng triệu cây chúng ta trồng mồĩ năm, trong một thời gian sẽ có một lực lượng gỗ lớn đé xây dựng nhà cửa, đóng thuyền bè, vật dụng cần thiết cho cuộc sống, cho việc học tập của con em và còn cung cấp cho công nghiệp chế biến lâm sản, công nghiệp nhẹ và xuất khẩu nữa. Đối với những thành phố công nghiệp, việc trồng cây xạnh còn giữ được bầu trời trong lành, ngăn chặn được những độc hại do khí đốt ở các nhà máy thải ra, do ô nhiễm của xe cộ đi lại.
Em đang sống và học tập trong một thành phố lớn, thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu. Ngày ngày đi học giữa làn xe cộ tấp nập, khói thải từ nhà máy và xe cộ làm không khí xú uế, đấy là chựa kể đến lượng phế thải của rác, của những dòng sông đen ngòm nước thải. Khắp nơi trên thành phố, những khẩu hiệu Hãy cứu lấy bầu trời thành phố như thúc giục, nhắc nhở mọi người phải có trách nhiệm giữ gìn cho thành phố sạch đẹp, tạo cho thành phố không khí trong lành. Việc Tổ chức trồng cây trên đường phố, công viên, trường học vào những dịp Tết trồng cây theo lời dạy của Bác càng có một ý nghĩa lớn lao.
Nghĩ đến Bác Hồ và lời dạy bảo của Bác, chúng ta càng thấm thía về công lao to lớn của Bác đôi vói dân tộc và với mỗi chúng ta. Trồng cây lại nhớ đến người lời hát ngợi ca công ơn của Bác như nhắc nhở chúng ta ngày ngày làm theo lời Bác, chẳng những chúng ta phải lao động học tập để xây dựng đất nước ngậy một to đẹp hơn, đàng hoàng hơn, mà còn phải thể hiện những ước mong bình thường mà Bác trước lúc đi xa dặn lại. Trồng cây chẳng phải chỉ vì lợi ích mười năm mà còn vì lợi ích muôn đời cũng như trồng người vậy. | Hàng năm, mỗi khi mùa xuân đến, nhân dân ta thường tổ chức Tết trồng cây. Em hãy giải thích ý nghĩa của hoạt động đó và phát biểu cảm nghĩ của em. | 825 | |
hân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hòai) của Phạm Ngũ Lão
Hướng dẫn
hân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hòai) của Phạm Ngũ Lão
Bài làm
Phạm Ngũ Lão là một trong những võ tướng tài giỏi của thời Trần. Ông có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên. Là võ tướng, nhưng ông thích đọc sách, ngâm thơ và từng được ngợi ca là người văn võ toàn tài. Sử sách không ghi nhiều về ông, nhưng qua những tác phẩm của ông, thế hệ sau có thể thấu hiểu được tâm tư và tấm lòng của một người anh hùng mang tên Phạm Ngũ Lão. Trong đó, không thể không kể đến tác phẩm “Tỏ lòng” (Thuật hoài) viết về vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng vệ quốc hiên ngang, lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách lớn lao; về vẻ đẹp cảu thời đại với sức mạnh và khí thế hào hùng.
Bởi thế, ngay trong hai câu thơ mở đầu, ta đã bắt gặp một hình tượng rất đẹp và hùng dũng:
“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”
Dịch thơ:
“Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”
Trong phần dịch thơ, từ “hoành sóc” nghĩa là “múa giáo”, ý chỉ tư thế của người anh hùng đang cầm giáo gìn giữ và bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, chỉ có từ “hoành sóc” mới có thể biểu lộ một cách rõ ràng nhất về tư thế hiên ngang, lẫm liệt – biểu hiện cho tinh thần sắt đá, anh dũng của vị anh hùng đang tràn đầy khí thế, luôn sẵn sàng xả thân vì dân vì nước. Tác giả không đề chủ ngữ là ai, nhưng người đọc vẫn hiểu những từ ngữ ấy chỉ dành cho anh hùng, cho những người đang tràn đầy khí thế chiến đấu chống lại kẻ thù. Họ không cần biết về không gian hay thời gian, bất kỳ nơi đâu trên “non sông” này đều là đất nước mình, và dù có “trải mấy thu” hay cả nghìn thu thì họ vẫn vậy, vẫn luôn một lòng một dạ chung thủy với nước nhà, luôn sẵn sàng hi sinh bất cứ khi nào để cứu lấy dân tộc mình. Và từ những người như vậy, đã tạo nên một đội quân vô cùng mạnh mẽ:
(“Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”).
Câu thơ trên có thể hiểu theo hai cách: cách hiểu như lời dịch và một cách khác là khí thế át sao Ngưu, nghĩa là khí thế át cả sao trời. Có lẽ, không có một từ ngữ nào có thể nói hết về chí khí hùng mạnh của quân đội nhà Trần, đến mức Phạm Ngũ Lão phải lấy cả sao Ngưu để thể hiện sức mạnh hùng dũng ấy.
Tuy nhiên, quân đội mạnh mẽ là vậy, nhưng trong lòng võ tướng vẫn luôn canh cánh một nỗi niềm:
“Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”.
Dịch thơ:
“Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”.
Đối với Phạm Ngũ Lão, một người xứng đáng là đấng nam nhi đích thực khi lập được công danh với đất nước. Lý tưởng và nhân cách cao cả của ông được tóm gọn trong câu thơ “Nam nhi vị liệu công danh trái”. Ông không cho phép bản thân mình được thấp kém hay tầm thường. Ngược lại, ông hướng mình đến với những điều lớn lao hơn, mạnh mẽ hơn. Đó là công, là danh với đất nước. Ông muốn sống cống hiến hết mình cho nhân dân. Bởi vậy, khi nhìn lại bản thân mình, và nghĩ đến Vũ hầu, Phạm Ngũ Lão đã khiêm tốn sử dụng hai từ “luống thẹn”. Vũ hầu tức Gia Cát Lượng, người thời Tam quốc, có nhiều công lao giúp Lưu Bị khôi phục nhà Hán, được phong tước Vũ Lượng hầu (thường gọi tắt là Vũ hầu). Không phải tự nhiên mà Phạm Ngũ Lão nhắc tới vị anh hùng vang danh trong lịch sử này, mà đó là lý tưởng cao đẹp, là động lực để võ tướng cố gắng vươn lên, cố gắng cống hiến nhiều hơn nữa.
Qua đó, ông cũng đã để lại cho thế hệ sau một bài học sâu sắc về lý tưởng sống, sống luôn phấn đấu vươn lên, luôn hướng tới những điều tốt đẹp, luôn cố gắng hết sức mình để xây dựng và bảo vệ đất nước ngày một vững mạnh hơn. Đặc biệt, hình ảnh lẫm liệt, oai hùng của quân đội nhà Trần chính là tấm gương cho lớp lớp thanh niên noi theo. Làm một đấng nam nhi, hãy luôn kiên cường, thẳng thắn, luôn sẵn sàng hi sinh bản thân mình cho đất nước bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu. Một số bạn trẻ còn đang chơi bời, chưa chú trọng đến việc học hành, việc xây dựng tương lai, hãy ngẫm nghĩ lại, hãy bắt tay làm lại ngay từ hôm nay để không phụ công những vị tướng đã hết lòng hết sức vì dân như Phạm Ngũ Lão. Đồng thời hãy cùng nhau loại bỏ những thói hư tật xấu, những tệ nạn xã hội để làm cho đất nước ngày một văn minh hơn, êm ấm hơn.
Nguồn: Tài liệu trực tuyến | hân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hòai) của Phạm Ngũ Lão | 904 | |
Hãy bình luận câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Hướng dẫn
Hãy bình luận câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Việt Nam có kho tàng ca dao, tục ngữ vô cùng đồ sộ, thông qua những câu ca dao, tục ngữ, ông cha ta đã thể hiện được những tư tưởng, quan điểm, những lời khuyên bảo đối với những thế hệ sau về đạo đức, về cách sống ở đời.Một trong số đó có câu tục ngữ: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
Câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây là lời nhắc nhở đối với mỗi con người cần biết ơn đối với quá khứ, cội nguồn, đồng thời đây cũng là lời răn dạy của cha ông về thái độ trân trọng và biết ơn đối với những người đã vun đắp cuộc sống cho mỗi chúng ta
Câu ca dao sử dụng những từ ngữ giản dị, gần gũi với cuộc sống sinh hoạt của con người, trước hết, câu ca dao gợi ra những hình ảnh thật sinh động. Những trái chín không tự nhiên mà có, nó được sinh trưởng và kết quả là nhờ công lao của người trồng cây. Từ ý nghĩa tả thực ấy, câu ca dao đã mang ý nghĩa biểu tượng đậm tính nhân văn, mở rộng phạm vi ý nghĩa của câu nói ra thái độ và cách ứng xử của con người với cội nguồn, tổ tiên của mình.
Trong ý nghĩa rộng lớn của nó, “quả” ở đây ý chỉ những thành quả, thành tựu mà chúng ta được thừa hưởng ngày hôm nay. Câu tục ngữ chính là lời khuyên nhủ đầy tế nhị mà sâu sắc, đó là phải biết ơn đối với những con người đã có công gây dựng, đắp bồi để chúng ta có cuộc sống như ngày hôm nay.
Không chỉ sự sống, ngay cả những nhận thức từ đơn giản đến phức tạp cũng không tự nhiên mà có, đó chính là thành quả giáo dục của cha mẹ, thầy cô. Hay đơn giản nhất, những vật chất mà chúng ta đang hưởng thụ ngày nay như hạt cơm, bát gạo cũng không phải có sẵn trong tự nhiên, đó chính là thành quả của một quá trình lao động mệt nhọc của những người nông dân…
Không chỉ vật chất, ngay cả những giá trị về tinh thần, chẳng hạn như một bộ phim hay, một cuốn truyện hay là sản phẩm tin thần của những người đạo diễn, diễn viên và những người nghệ sĩ. Qua đó ta có thể hiểu được bất kì thành quả nào mà chúng ta được thụ hưởng ngày nay đều nhờ vào công sức của rất nhiều người, do vậy hãy biết trân trọng từng giá trị và có thái độ trân trọng đối với những người đã có công lao làm ra nó.
“Trồng cây” trong câu ca dao trước hết là những thế hệ cha anh đi trước đã phải đổ máu, hi sinh để gây dựng và bảo vệ. Trong suốt một nghìn năm dựng nước và giữ nước, có biết bao kẻ thù nhòm ngó, xâm lược nhưng với ý thức tự lực, tự cường thì ông cha ta đã đứng lên đấu tranh, giành lại độc lập cho dân tộc. Vì vậy mà có thể nói, cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc của chúng ta ngày nay được gây dựng trên chính công sức, xương máu của thế hệ đi trước. Là một người dân Việt Nam, chúng ta không chỉ tự hào mà cần ghi nhớ và trân trọng những giá trị mà ông cha ta đã bỏ biết bao công lao, xương máu mới có thể gây dựng được.
Lòng biết ơn cũng chính là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, thể hiện được con người tình nghĩa trong dân tộc giàu yêu thương, trọng đạo lí ấy. Nguyễn Trãi, một nhà chính trị, quân sự, một nhà văn, nhà thơ lớn khi đi ngang qua sông Bạch Đằng- con sông đã đi vào lịch sử với bao chiến công hiển hách đã vì xúc động mà thốt lên rằng:
“Việc cũ, ngoảnh đầu ôi đã vắng
Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.”
Đó là những cảm xúc dâng trào của lòng biết ơn trước những chiến công đã đi vào lịch sử và những con người đã làm nên chiến công ấy.
Frank A.Clark từng nói “Nếu một người không biết ơn những gì anh ta đang có, thì anh ta cũng sẽ không có cơ hội để được biết ơn những gì sẽ nhận được”. Chúng ta cần biết ơn đối với những giá trị mà chúng ta đang được thụ hưởng, đó không chỉ là tấm lòng chân thành, biết ơn mà cần được biểu hiện bằng những hành động cụ thể.
Câu ca dao “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là lời răn dạy về thái độ của mỗi người đối với quá khứ, cội nguồn. Đó là những người đã mang đến cho chúng ta sự sống, hòa bình ấm no, bởi vậy cần có thái độ trân trọng và biết ơn đối với những người gây dựng nên thành quả ấy. | Hãy bình luận câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây | 871 | |
Đề bài: Hãy bình luận ý kiến sau đây của Các Mác: "Tình bạn chân chính là viên ngọc quý".
Bài làm
Cùng với tình yêu, nhiều người trong cuộc đời còn có tình bạn, sống trong tình bạn. Đã có nhiều ý kiến, nhiều câu ca, câu thơ nói về tình bạn. Nhà triết học vĩ đại Các Mác từng nói: “Tình bạn chân chính là viên ngọc quý”.
1. Ngọc là một loại đá – kim loại rất cứng, màu sắc óng ánh tuyệt đẹp, rất quý hiếm; quý hiếm hơn cả vàng, thường được chế tác thành đồ nữ trang, pho tượng. Ngọc có nhiều loại, đủ màu sắc như hồng ngọc, bạch ngọc, ngọc lam, ngọc phỉ thúy, bích ngọc, ngọc trai. Các vua chúa ngày xưa hay dùng ngọc để làm quốc ấn, quốc bảo – biểu tượng cho vương triều.
Tình bạn chân chính là viên ngọc quý
Tinh bạn chân chính là tình bạn trong sáng, tâm đầu ý hợp, thủy chung, hết lòng yêu thương nhau, tôn quý nhau; không vụ lợi, không dung tục tầm thường.
Các Mác dùng lời nói so sánh “tình bạn chân chính là viên ngọc quý" nhằm hình tượng hóa, cụ thể hóa tình bạn chân chính là tình bạn đẹp, tình bạn quý, rất đáng trân trọng, ngợi ca.
2. Nếu ngọc có nhiều loại thì tình bạn cũng có nhiều thứ: bạn học thời ấu thơ, bạn cùng trang lứa (đồng tuế), bạn cùng quê (đồng hương), bạn đồng khoa, bạn buôn bán làm ăn, bạn đồng đội, bạn chiến đấu…
3. Tại sao “tình bạn chân chính là viên ngọc quý?".
Bạn chân chính yêu thương nhau, quý trọng nhau như anh em ruột thịt, cùng chung chí hướng, giúp đỡ nhau học hành, làm ăn. Bạn chân chính sẽ cùng nhau chia ngọt sẽ bùi với nhau, nghèo khổ, hoạn nạn có nhau, hết lòng giúp đỡ lẫn nhau vượt qua vận hạn. Bạn chân chính vào sinh ra tử có nhau, nghèo khổ, vinh hiển đều gắn bó với nhau, trọn đời sắt son chung thủy. Tình bạn tri âm, tri kỉ, tình bạn chiến đấu, tình đồng chí… là viên ngọc quý, sáng trong mãi trong cõi đời.
Sống trong tình bạn chân chính, ai cũng tự hào cảm thấy mình vô cùng hạnh phúc, “lớn lên” trong cuộc đời, tự tin trước mọi gian nan thử thách.
Bá Nha – Tứ Kì, Lưu Bình – Dương Lễ, Mác – Ăng-ghen… là những gương sáng tuyệt đẹp về tình bạn chân chính thủy chung.
Có những câu ca nói về niềm hạnh phúc được sống trong tình bạn chân chính, được gặp gỡ bạn hiền:
Ra đi gặp được bạn hiền,
Sướng bằng ăn quả đào tiên trên trời.
(Ca dao)
Cụ Tam nguyên Yên Đổ có bài thơ kiệt tác Khóc Dương Khuê nói lên một tình bạn thủy chung của hai nhà nho ngày xưa. Một tình bạn chân chính tuyệt đẹp. Lời thơ thấm đầy lệ:
Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn,
Phận đấu thăng chẳng dám than trời.
Bác già tôi cũng già rồi.
Biết thôi thôi thế thi thôi mới là (…)
Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương.
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan.
Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu ca ngợi tình bạn chiến đấu của hai người lính cụ Hồ trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954), nhiều người trong chúng ta đã được học và nhớ:
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí!
4. Trên đời, có bạn chân chính sắt son thủy chung, lại có thứ bạn sớm nắng chiều mưa của bọn lừa thầy phản bạn. “Tin bạn mất vợ, tin bợm mất bò” là câu tục ngữ chê trách “tình bạn” của kẻ bất lượng. Có trải qua hoạn nạn, khó khăn mới đo được tình bạn; tình bạn chân chính hay cách sống của kẻ vụ lợi, cơ hội:
Khi vui thì vỗ tay vào,
Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai!
(Ca dao)
5. Sống ở đời có mấy người không có bạn? Bạn thân hay bạn sơ. Có một tình bạn chân chính, bạn tri âm tri kỉ đâu phải dễ. Nguyễn Sưởng, một danh sĩ đời Lê từng nói: “Hồ hải thập niên tri kỉ thiểu”.
Nghĩ về những gương sáng về tình bạn trong cuộc đời xưa nay, gần xa nhắc lại câu nói của Các Mác về tình bạn, tuổi trẻ mỗi chúng ta đang sống trong thời hội nhập của nền kinh tế thị trường, chắc đã nhìn thấy bao kẻ ăn chơi đua đòi mà sa ngã. Câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” là bài học sâu sắc mà mỗi chúng ta cần nhớ khi chọn bạn và kết bạn. | Hãy bình luận ý kiến “Tình bạn chân chính là viên ngọc quý” | 803 | |
Đề bài: Hãy chia bố cục và tóm tắt truyện ngắn “Lão Hạc” của nhà văn Nam Cao
Bài làm
Truyện ngắn “Lão Hạc” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất về người nông dân của nhà văn Nam Cao, được đăng báo lần đầu tiên vào năm 1943. Đây là một tác phẩm được đánh giá mang giá trị hiện thực cho nên văn học hiện thực bấy giờ. “Lão Hạc” đã vẽ ra một bức tranh thu nhỏ của đời sống nhân dân phong kiến giai đoạn trước cách mạng tháng tám. Truyện xoay quanh nhân vật Lão Hạc, một lão nông trồng trọt, mất vợ, con li tán, đang sống một cuộc sống cùng cực đen tối nhất nhưng lão vẫn giữ được tấm lòng lương thiện nhân từ và vị tha của mình.
Bố cục của truyện ngắn “Lão Hạc” được chia thành 3 phần:
– Phần 1: “Từ đầu câu chuyện – ông giáo ạ”: Giới thiệu về sự việc và cuộc sống của Lão Hạc
– Phần 2: “Tiếp theo – Binh tư hiểu”: Diễn biến sự việc bán chó và nói về tình cảm, sự day dứt của Lão Hạc dành cho “Cậu Vàng”
– Phần 3: “Còn lại”: Cái chết đầy bi thương của Lão Hạc
Tóm tắt truyện ngắn “Lão Hạc”
Lão Hạc sinh sống ở xóm Giữa làng Đại Hoàng, lão là một người nông dân hiền lành, chất phác. Lão Hạc đã goá vợ và có một người con trai nhưng vì cuộc sống quá nghèo khổ nên lão không thể giúp con được một cuộc sống tốt hơn. Vì quẫn trí, con của Lão đã đăng kí đi làm đồn điền cao su ở tít miền Nam, để lại lão một mình. Lão buồn và trăn trở về tương lai của đứa con mình.
Lão Hạc sống bằng nghề làm vườn, mảnh vườn mà vợ chồng lão đã mất bao nhiêu công sức để mua về, cày bừa nhằm giữ lại vốn cho con trai lão. Đợt bão lớn vừa rồi đã làm cho cả một sào hoa màu nhà lão mất trắng. Rồi trận ốm đau cũng khiến tiền bạc lão dành dùm phải chi gần hết. Mà sức lão cũng đã “tàn” không thể tranh việc với người ta nữa.
Lão Hạc sống cùng với một con chó tên Vàng, lão rất yêu quý vàng vì nó là kỉ vật con của lão để lại. Lão vừa coi Vàng như con vừa coi nó như người bạn tri kỉ, trung thành. Nhưng vì cần tiền để giữ lại cho con trai của mình nên lão đành bán con chó đi. Sau khi bán Vàng, lão Hạc đã rất dằn vặt bản thân mình, lão kể với ông Giáo với lời kể ddầy chua sót, ân hận giống như mình mang một tội lớn, nỡ tâm “lừa một con chó”.
Và rồi lão đã tự dành dụm tiền để lo cho đám ma của chính mình, không muốn làm phiền đến những người hàng xóm láng giềng của mình. Không muốn nhận bất kỳ sự giúp đỡ của ai kể cả ông Giáo. Cuối cùng, lão chết, một cái chết dữ dội và đau đớn, lão đã chọn bả chó để tử tự. Lão làm thế để trừng phạt chính bản thân mình vì đã gây ra tội lỗi ấy và lão Hạc đã được giải thoát sau bao ngày tháng dằn vặt, cùng cực, đau khổ vừa qua. | Hãy chia bố cục và tóm tắt truyện ngắn “Lão Hạc” của nhà văn Nam Cao | 573 | |
Đề bài: Hãy chuyển thể bài thơ Lượm thành một câu chuyện
Bài làm
Chuyện về cậu bé thiếu niên Lượm dũng cảm đã hi sinh vì đất nước mãi là kỉ niệm không phai trong lòng người dân Việt Nam. Lần đó tôi có dịp vào Huế và vô cùng may mắn, tôi được nói chuyện với một người đồng đội của Lượm. Lúc đó Lượm làm liên lạc cho đơn vị Mang Cá của bác.
Nhắc đến Lượm, đôi mắt bác ánh lên niềm tự hào pha lẫn niềm tiếc thương một cậu bé vô cùng can đảm, anh hùng. Bác nhớ lại, ngày đó khi được phân công về công tác ở đồn Mang Cá, bác đã nghe mọi người hay nhắc đến cậu bé làm liên lạc rất gan dạ và anh dũng. Những lời nói đó đã khiến bác rất lưu tâm và muốn được gặp cậu bé. Hôm ấy, gặp một chú bé dáng nhỏ bé, nhanh nhẹn bác liền gọi lại và hỏi:
– Cháu bé, cháu được phân công làm nhiệm vụ gì?
– Cháu làm liên lạc viên chú à.
– Thế có phải tên cháu là Lượm không?
– Dạ thưa chú cháu tên là Lượm. Sao chú biết ạ?
– À ra vậy! Thế cháu có sợ nguy hiểm không?
Chú bé nhún vai lém lỉnh trả lời:
– Cháu không sợ chú ạ, cháu luôn nghĩ là làm thế nào để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
– Cháu có thích công việc này không?
– Cháu thích hơn ở nhà ạ.
– Chú chúc cháu luôn hoàn thành nhiệm vụ.
Chú bé bước đi thoăn thoắt, đầu nghênh nghênh, trông rất đáng yêu, và trông chú càng đáng yêu hơn, ngộ nghĩnh hơn khi trên đầu đội chiếc mũ canô với chiếc sắc đeo bên hông. Chú bé chào tôi rất nhanh và khuất dần chỉ còn tiếng huýt sáo rộn vang. Sau lần gặp gỡ đó, do bận nhiều công việc tôi quên cũng không có dịp gặp lại cậu bé. Cho đến một hôm, trở về đơn vị tôi, nhìn mặt ai tôi thấy cũng có vẻ buồn buồn, một đồng chí hỏi tôi:
– Đồng chí có nhớ cháu Lượm không, cậu bé liên lạc đó?
– Có! Tôi nhớ. Xảy ra chuyện gì hả đồng chí?
– Cậu bé hi sinh rồi, hôm đó, Lượm nhận nhiệm vụ đem công văn đi, mọi người đều cảnh báo với chú rằng đó là quãng đường rất nguy hiểm, có thể gặp địch phục kích, nhưng chú không hề tỏ ra sợ hãi, còn nói: Em không sợ đâu. Chúng nó mà xôngra em sẽ đánh cho tơi bời. Nói xong chú thản nhiên đút công văn vào sắc thoăn thoắt bước đi, mồm lại huýt sáo vang rộn. Không ngờ hôm đó quân địch lại đánh hơi thấy chú nhỏ, chúng bí mật nằm phục kích ở giữa cánh đồng lúa, nên nhìn bề ngoài rất khó phát hiện. Lượm cũng đã rất tinh khi đi qua đi qua cánh đồng, linh cảm đến điều gì đó bất trắc nên chú nhanh tay xé vụn tài liệu và vứt vội ra xa. Có lẽ bọn địch đã trông thấy hành động đó, chúng liền xả đạn vào nó. Lượm đã anh dũng hi sinh, giữa cánh đồng, tay vẫn còn nắm chặt bông lúa, miệng còn nở một nụ cười.
Đồng chí nọ kể xong bỗng oà khóc. Tôi ngỡ ngàng, đau đớn và cũng không thể cầm được nước mắt, vừa cảm phục vừa thương tiếc. Trong tôi bỗng lại hiện lên hình ảnh chú bé nhỏ nhắn, gương mặt nhanh nhẹn, thông minh, nụ cười luôn nở trên môi.
Câu chuyện về sự hi sinh anh dũng của chú bé Lượm được mọi người ở khắp nơi kể cho nhau nghe. Chú còn trở thành tấm gương sáng để các cháu bé noi theo, và cho đến tận ngày hôm nay tấm gương ấy vẫn còn toả sáng. | Hãy chuyển thể bài thơ Lượm thành một câu chuyện | 656 | |
Đề bài: Hãy chỉ ra những chi tiết đặc biệt trong truyền thuyết Thánh Gióng
Bài làm
Các chi tiết đặc biệt trong truyền thuyết Thánh Gióng thể hiện rất nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, tiếng nói đầu tiên của Gióng là tiếng nói đòi đi đánh giặc. Chi tiết này chứng tỏ nhân dân ta luôn có ý thức chống giăc ngoại xâm. Khi có giặc, từ người già đến trẻ con đều sẵn sàng đánh giặc cứu nước. Đây là một chi tiết thần kì: chưa hề biết nói, biết cười, ngay lần nói đầu tiên, chú đã nói rất rõ ràng về một việc hệ trọng của đất nước. Tiếp đến, Gióng đòi ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt để đánh giặc. Gióng không đòi đồ chơi như những đứa trẻ khác mà đòi vũ khí, những vật dụng để đánh giặc. Đây cũng là mội chi tiết thần kì. Gióng sinh ra đã là một anh hùng và điều quan tâm duy nhất của vị anh hùng đó là đánh giặc. Chi tiết bà con làng xóm vui lòng góp gạo nuôi cậu bé cũng là một chi tiết đặc biệt. Gióng là đứa con của nhân dân, được nhân dân nuôi nấng. Sức mạnh của Gióng là sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của tinh thần đồng sức, đồng lòng. Bên cạnh đó, Gióng lớn nhanh như thổi, vươn vai thành tráng sĩ. Đây cũng là chi tiết thể hiện sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của dân tộc. Khi hoà bình là những người lao đông rất bình thường, nhưng khi chiến tranh xảy ra, sự đoàn kết đã hoá thành sức mạnh phi thường, vùi chôn quân giặc. Lúc xung trận, khi roi sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc. Chi tiết này khẳng định rằng: gậy sắt là vũ khí của người anh hùng nhưng khi cần thì cả cỏ cây cũng biến thành vũ khí. Điều đó thể hiện sự linh hoạt, sáng tạo trong chiến đấu của nhân dân ta. Trong nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, cha ông ta đã dùng đến cả gậy tầm vông, giáo mác, cày, cuốc,… để đối chọi với súng ống, xe tăng của giặc. Và cuối cùng Gióng đánh giặc xong, cởi áo giáp sắt để lại và bay thẳng lên trời. | Hãy chỉ ra những chi tiết đặc biệt trong truyền thuyết Thánh Gióng | 393 | |
Hãy chứng minh nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay luôn sống theo đạo lý “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “uống nước nhớ nguồn”
Hướng dẫn
Đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” trong truyền thống ứng xử của dân tộc
Mở bài:
Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây là biểu hiện của đạo lí ghi nhớ và đền đáp công ơn của người khác. Đó là đạo lí tốt đẹp của dân tộc, được gìn giữ và kế thừa qua mấy nghìn năm, trở thành lối ứng xử văn hóa của dân tộc từ xưa đến nay.
Thân bài:
Ý nghĩa của câu tục ngữ: Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng
Uống và ăn có nghĩa là nhận lấy, là hưởng thụ vật chất của con người. Nguồn và kẻ trồng cây là nhân tố tạo ra vaath chất. Nhớ là ghi khắc vào trong lòng để sau đó là biến thành hành động có ý nghĩa.
Bằng hình ảnh ẩn dụ hết sức gần gũi, bình dị, qua câu tcuj ngữ, người xưa muốn khuyên nhủ rằng khi thụ hưởng một giá trị, một thành quả lao động nào đó ta phải biết ghi nhớ và đền đáp công ơn người đã tạo ra và để lại cho ta thành quả lao động ấy.
Đạo lí về lòng biết ơn được nhân dân ta thể hiện rõ trong đời sống hàng ngày.
Trong gia đình: nhân dân ta phải piết ơn, kính trọng ông bà, cha mẹ, biết đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục bằng. Truyền thống tốt đẹp ấy còn được thể hiện qua nhiều câu ca dao tục ngữ, trở thành bài học trong hệ thống các luân lí xã hội.
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Ngó lên nuộc lạt mái nhà
Bao nhiêu nuột lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.
Tri ân công ơn dạy dỗ của thầy cô là đạo lí cao quý của dân tộc từ nghìn đời nay:
Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy
Gắng công mà học có ngày thành danh
Con ơi ghi nhớ lời này
Công cha, nghĩa mẹ, công thầy chớ quên
Gươm vàng rớt xuống hồ Tây
Công cha cũng trọng, nghĩa thầy cũng sâu
Dân tộc ta còn có tập tục thờ cúng ông bà, tổ tiên và những người đã khuất. Tục tồn thờ thần phật, cung kính đối với các vị thần bảo trợ, che chở con người trong cuộc sống. Dù đó chỉ có ý nghĩa tâm linh nhưng lại là biểu tượng của lòng biết ơn.
Ngoài xã hội: Nhân dân ta luôn nhớ ơn người lao động đã tạo ra của cải vật chất nuôi sống con người để xã hội tồn tại, phát triển. Dân tộc ta thường tổ chức ngày lễ Hùng Vương để nhớ ơn người có công dựng nước.
Nhân dân ta đã cụ thể đạo lí ấy bằng những hành động ý nghĩa. Xây dựng tượng đài, lập đền thờ các anh hùng kiệt sĩ. Tổ chức kỉ niệm trọng thể ngày sinh, ngày mất của các bật anh hùng. Kỉ niệm các ngày chiến thắng, ngày lễ. Tôn vinh những người có đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tất cả đều là biểu hiện cho lòng biết ơn của nhân dân ta
Kết bài:
Lòng biết ơn là truyền thống, là đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta. Câu tục ngữ: uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ tròng cây là bài học đạo đức, là một lời khuyên đối đầy ý nghĩa đối với mọi người, mọi thế hệ. Chúng ta cần giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu đó trong thời đại mới để làm cho cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc hơn nữa, đất nước bền vững, thịnh vượng hơn nữa. | Hãy chứng minh nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay luôn sống theo đạo lý “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “uống nước nhớ nguồn” | 640 | |
Đề bài: Hãy chứng minh rằng đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu con người không có ý thức bảo vệ môi sống.
Bài làm
Môi trường sống là nơi con người sinh sống và làm việc nên nó mang một ý nghĩa vô cùng to lớn, mỗi chúng ta không ai có thể sống mà không cần môi trường sống, chính vì vậy nó là một thành phần dễ bị tổn thương và dễ bị ảnh hưởng nhất đối với nhân tạo. Giống như trong cuộc sống con người có câu: đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu con người không có ý thức bảo vệ nó.
Câu trên đã mang một ý nghĩa giáo dục sâu sắc về trách nhiệm và ý nghĩa của con người đối với cuộc sống của chúng ta. Môi trường là nơi chúng ta tồn tại và nó bao gồm tất cả các yêu tố tự nhiên như không khí, đất đai, nước, và thiên nhiên tất cả các yêu tố này đều tác động mạnh mẽ đến đời sống của chúng ta, đời sống đó là tất cả các yêu tố gắn liền với cuộc sống của mỗi người. Như chúng ta đều biết con người không thể sống nếu không có nước, nước cung cấp sự sống cho mỗi người, và cả oxi ngoài không khí nữa, chính những điều đó đã tác động rất lớn đến cuộc sống của chúng ta, môi trường tạo ra sự sống và là nguồn cung cấp chủ yếu cho con người về sự tồn tại.
Mỗi người có một ý thức thì làm cho cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa hơn, nó không chỉ đem lại sự sống, sự trong lành, một môi trường sống lành mạnh, mà nó luôn bảo vệ được sức khỏe của họ.Mỗi người đều có ý thức thì làm cho cuộc sống của chúng ta có phần được cải thiện và nó tươi đẹp hơn. Mỗi người chúng ta nếu không biết bảo vệ nó, thì môi trường sống sẽ bị hủy hoại và ngày càng bị tàn phá rất nghiêm trọng và có ảnh hưởng mạnh mẽ to lớn đến toàn bộ con người, mỗi chúng ta đều biết và nắm được vai trò của môi trường đối với con người. Và vai trò của nó vô cùng to lớn thì chúng ta cần phải có những hiểu biết một cách sắc bén và nhạy bén về vấn đề này, môi trường là một thành phần dễ bị tổn thương và bị nguy hại nhiều nhất. Bởi trong toàn cầu nó chịu sự tác động mạnh mẽ của con người. Dân tộc Việt Nam có số lượng dân số vô cùng lớn chính vì vậy con người nếu như không có ý thức với nó, thì nó trở nên bị nguy hại cho sức khỏe của con người, mỗi chúng ta đều biết được điều đó qua ngày nay, khi trái đất ngày càng nóng lên, thời tiết xung quanh chúng ta vô cùng khắc nghiệt.
Cuộc sống của chúng ta đã vô vàn những thách thức được đặt ra và nó cũng luôn luôn đòi hỏi con người cần phải có ý thức trách nhiệm và giải quyết những vấn đề mà họ đã làm ra, những yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đó là kêu gọi nhân dân có ý thức bảo vệ môi trường. Như trong cuộc sống chúng ta đều thấy có rất nhiều tấm gương tốt và những tập thể luôn tích cực gia tăng bảo vệ môi trường sống, họ phát động những việc làm từ thiện, những việc làm như nhặt giác ở nơi công cộng góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm và tác động của nó đến sức khỏe con người ngày càng tốt hơn.
Chúng ta nên bảo vệ môi trường sống bởi đó là thành phần vô cùng nhạy cảm và chúng ta cần phải có ý thức bảo vệ nó tốt hơn, như vậy là đang chính bảo vệ cuộc sống của chính mình. | Hãy chứng minh rằng đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu con người không có ý thức bảo vệ môi sống | 685 | |
Hãy chứng minh rằng đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu mỗi người không có ý thức bảo vệ môi trường
Hướng dẫn
Môi trường giữ vai trò quan trọng đối với đời sống của chúng ta. Một môi trường tốt sẽ tạo nên một cuộc sống tốt, con người có thể thỏa sức làm việc, nghỉ ngơi, vui chơi, phát triển. Còn ngược lại, một môi trường xấu, môi trường bị ô nhiễm, sẽ tạo nên một cuộc sống đầy rẫy bệnh tật và khó khăn, trở ngại.
Vậy môi trường sống là gì? Môi trường sống chính là những gì bao quanh chúng ta, đó là không khí, là đất, nước, là cả những sinh vật nhỏ bé như những loài côn trùng, bò sát… tất cả đều gọi là môi trường sống. Ở những môi trường sống ấy, con người có không khí để hít thở, có nước sạch để sử dụng, có cây xanh tỏa bóng mát, có đất đai để trồng trọt và chăn nuôi. Một môi trường trong lành sẽ ngăn ngừa sự phát triển của các loài vi khuẩn có hại, không khí sạch sẽ không để vi khuẩn, virus sinh sôi, nước sạch sẽ không có chỗ cho muỗi đẻ trứng, đất đai sạch sẽ không thể có các mầm mống gây bệnh. Đó chính là những ích lợi mà môi trường sống trong lành mang lại cho chúng ta. Được sống trong môi trường ấy, con người sẽ khỏe mạnh, sống vui, sống khỏe và làm được nhiều điều có ích.
Thế nhưng, đời sống ngày càng phát triển, con người ngày càng được hỗ trợ bởi những thiết bị tiện nghi, hiện đại nên quên mất đi nhiệm vụ quan trọng nhất đó chính là bảo vệ môi trường. Cách sống ích kỷ trong xã hội hiện đại đã khiến chúng ta vô tình làm tổn hại đến môi trường sống. Tất cả mọi người, ngay cả những người lớn tuổi, vẫn hồn nhiên xả rác bừa bãi ra môi trường, rác thải theo mưa đi đến cống rãnh, làm tắt cống rãnh, đi đến sông suối làm ô nhiễm nguồn nước. Không khó để chúng ta bắt gặp trên mạng xã hội hình ảnh những loài động vật phải ngập ngụa trong rác thải của con người. Chưa kể là những rác thải hữu cơ rất có ích nếu dùng để ủ thành phân, bón cho cây trồng thế nhưng chúng ta không làm vậy, chúng ta thải ra môi trường, gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường sinh sống của chính chúng ta. Đó là chưa nói đến các nhà máy công nghiệp, lúc nào cũng ngùn ngụt khói trắng, khói đen tỏa ra trên bầu trời. Những thứ đó sẽ làm thủng tầng ozon, tạo mưa gió, lũ lụt, làm đời sống con người vô cùng cực khổ. Thêm nữa, chúng ta chặt phá rừng, gây đòi trọc, đất trống, mỗi khi mừa về sức nước lớn mà không có cây xanh giữ lại sẽ gây ra sạc lỡ, xói mòn.
Trước những vấn đề cấp thiết như thế, giữ gìn môi trường sống đang bị ô nhiễm chính là nhiệm vụ không chỉ của các nhà lãnh đạo mà còn là vai trò, trách nhiệm của mỗi người. Chúng ta cần góp sức lực vào việc bảo vệ môi trường, dù chỉ là những hành động đơn giản, nhỏ bé như nhặt rác, dọn vệ sinh trường, lớp, giữ vệ sinh đường phố sạch đẹp v.v…
Tóm lại, môi trường chính là nơi chúng ta được sinh ra, lớn lên và trường thành. Một môi trường trong lành sẽ là điều kiện thuận lợi để giúp chúng ta có thể học tập và phát triển. Còn ngược lại, nếu môi trường bị ô nhiễm thì cuộc sống chắc chắn sẽ bị tổn hại rất to lớn. | Hãy chứng minh rằng đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu mỗi người không có ý thức bảo vệ môi trường | 655 | |
Hãy chứng mình rằng: “Có công mài sắc có ngày nên kim”
Hướng dẫn
Có công mài sắc có ngày nên kim
Mở bài:
Muốn thành công trong cuộc sống, mỗi con người cần phải rèn luyện cho mình nhiều phẩm chất tốt đẹp. Những thành tựu vĩ đại không phải gặt hái bằng sức mạnh mà bằng sự kiên trì. Chính vì thế, người xưa có câu: Có công mài sắc có ngày nên kim
Thân bài:
Ý nghĩa câu tục ngữ:
Nếu ta đem một thanh sắt mài mãi, đến lúc đó sẽ thành kim nhỏ. Việc mài thanh kim là biểu tượng của lòng kiên trì nhẫn nại sẽ thành công mà nhân dân ta gửi gắm qua câu tục ngữ.
Tinh thần kiên trì đạt đến kết quả được biểu hiện qua cuộc sống:
Trong lao động sản xuất: nhân dân ta trải qua hàng ngàn năm lao động bền bỉ đến tạo dựng đất nước trở nên giàu đẹp như ngày nay. Nhiều nhà khoa học kiên trì nghiên cứu mang lại lợi ích cho cuộc sống như: Trần Đại Nghĩa nhà chế tạo vũ khí phục vụ kháng chiến, Lương Định Của nhà bác học nông nghiệp lại tạo được nhiều giống cây trồng cho năng xuất cao, Tôn Thất Tùng giáo sư y học nổi tiếng về bệnh nhồi máu cơ tim…
Trong học tập: có nhiều gương kiên trì học tập đạt kết quả cao như Mạc Đinh Chi, nhà nghèo, hàng ngày phải đi kiếm củi, chỉ học lén qua của lớp hc và tự học dưới ánh đèn đom đóm vạy à đã thành đạt cao. Trương Hán Siêu học giỏi nhưng chữ viết quá xáu làm ảnh hưởng đến kết quả học tập. Ông đã kiên trì tập viết sau trở thành người viết chữ đẹp nổi tiếng. Nuyễn Ngọc Ký đã bị liệt hai tay từ nhỏ nhưng vẫn khao khác đến trường nhờ có sự động viết giúp đở của cha mẹ, thày cô giáo, bạn bè Ký cắng răng tập viết bằng chân, sự kiên trì nhẫn nại đã giúp ông là người có ích cho xã hội
Kết bài:
Câu tục ngữ là bài học kinh nghiệm quý báu được nhân dan ta đúc kết qua quá trình bền bỉ lao động học tập và chiến đấu để dựng nước. Qua bao thế hệ vẫn là bài học có giá trị thiết thực với mọi người. Bản thân phải kiên trì nhãn nại trong học tập rèn luyện để trở thành người có ích cho đất nước. | Hãy chứng mình rằng_ “Có công mài sắc có ngày nên kim” | 420 | |
Hãy giải thích câu nói: Thất bại là mẹ thành công.
Hướng dẫn
Trong cuộc sống, để đạt được những thành công không phải là một điều dễ dàng bởi bất kì công việc nào cũng đầy những khó khăn, thử thách. Để đạt được thành công nhất định thì một điều quan trọng là phải biết vượt qua khó khăn, thử thách và một trong những khó khăn thử thách đó chính là sự thất bại trong công việc. Trải qua bao thực tế, người xưa đã rút ra câu nói “Thất bại là mẹ thành công”.
Có thểnói thất bại và thành công là kết quả trái ngược nhau khi thực hiện một công việc nào đó. Thất bại chỉ một kết quả xấu khi thực hiện công việc còn thành công là chỉ một kết quả tốt đẹp khi thực hiện một công việc nào đó.
Trong quá trình làm việc, ta có thể gặp thất bại bởi bất cứ một công việc nào, nếu người thực hiện nó không thật sự cốgắng, thiếu kinh nghiệm hoặc có thể do một yếu tốkhách quan nào đó. Những khó khăn, thử thách là yếu tốtất yếu đối với bất cứ công việc nào. Chẳng hạn có những bạn học rất chăm chỉ học và mong muốn rằng cuối năm sẽ đạt được danh hiệu học sinh giỏi, song điểm cuối năm lại không cao. Vậy đó chính là sự thất bại. Tuy nhiên, như ta đã biết không có một thành công nào lại không trải qua những thất bại dù nhỏ hay lớn, song trước thất bại đó con người không được nản lòng mà cần coi đó là bài học để mình rút kinh nghiệm trong những lần sau. Đối với người học sinh, khi mình thật sự học tập chăm chỉ mà không đạt được kết quả thì không nên nản lòng, không nên cho rằng mình dốt có cốgắng mấy cũng không đạt được kết quả tốt. Nếu mặc kệ và buông xuôi, bạn đó sẽ học ngày càng dốt hơn. Do đó để khắc phục tình trạng trên, người học cần xem lại phương pháp học tập, tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa như học chưa đều các môn, chưa biết cách vận dụng lí thuyết và thực hành trong quá trình làm bài, hoặc không thận trọng khi làm bài… tìm ra những hạn chế, nhược điểm của mình, từ đó khắc phục những hạn chế. Với lòng kiên trì, coi sự thất bại đã qua như một bài học rút ra cho bản thân Mình để đem đến những thành công, thành quả tốt đẹp. Như vậy câu nói này muốn nhắc nhở chúng ta phải biết đúc rút kinh nghiệm từ những sai lầm đã qua. Thông qua những vấp ngã ban đầu, ta cần phải biết rút ra cho mình những bài học cần thiết để tránh những sai lầm có thể lặp lại. Từ đó, chúng ta sẽ có những thành công và đạt được những kết quả tốt đẹp.
Vì sao lại nói “Thất bại là mẹ thành công”? Bất cứ một kết quả nào cũng có những nguyên nhân và lí do riêng, do đó thất bại cũng có lí do riêng. Muốn thành công thì phải lấy sự thất bại làm bài học cho mình, rút kinh nghiệm cho mình. Tuy nhiên để làm được điều đó người ta phải thật sự nỗ lực và cố gắng học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm cho bản thân. Có như vậy chúng ta mới không vấp ngã trong những lần tiếp theo và thành công sẽ đến. Cùng từ thực tế đó mà người xưa mới cho rằng “Thất bại là mẹ thành công”.
Vậy vì sao ta phải kiên trì bền bỉ trong quá trình làm việc. Trong cuộc đời mỗi con người ai cũng mong muốn có được cuộc sống sung sướng, hạnh phúc, tuy nhiên để làm được điều đó không phải dễ dàng, bởi như ta từng nói bất cứ công việc gì cũng đầy khó khăn, thử thách, muốn đạt được những mục đích cao đẹp trong cuộc sống thì con đường duy nhất giúp ta thành công đó là sự kiên trì quyết tâm theo đuổi mục đích của riêng mình. Trong cuộc sống, ta cũng bắt gặp rất nhiều những con người có ý chí và nghị lực biết vươn lên vượt qua nhiều thử thách đểtrở thành con người có ích cho xã hội.
Có những người trên con đường đi đến thành công gặp những trở ngại rất lớn, có lúc tưởng chừng như không thể vượt qua, nhưng nếu biết rút ra cho mình những bài học cần thiết để tránh lặp lại những sai lầm biết kiên kì, nhẫn nại sẽ đạt được kết quả tốt dẹp. | Hãy giải thích câu nói_ Thất bại là mẹ thành công. | 805 | |
Hãy giải thích câu tục ngữ Tiên học lễ hậu học văn
Hướng dẫn
Hãy giải thích câu tục ngữ Tiên học lễ hậu học văn
Từ xưa đến nay ông cha ta đều nêu cao và giữ gìn truyền thống đạo đức của dân tộc, mọi người xử sự với nhau bằng lễ nghĩa, xem nghĩa là một bài học lên hàng đầu của con người.
Từ khi chúng ta còn bé chúng ta vẫn luôn được cha mẹ dạy dỗ và nhắc nhở phải thuộc câu tục ngữ Tiên học lễ hậu học văn này. Thời gian ngày càng trôi đi và đã trải qua nghìn năm văn hiến thì câu tục ngữ đó vẫn có giá trị và luôn đi cùng cuộc sống chúng ta.
Học lễ nghĩa đầu tiên là điều rất quan trọng. Cũng chính vì vậy mà ngay từ khi còn bé chúng ta đã được biết đến lễ nghĩa qua từng lời ru của bà và của mẹ từ câu ca dao cho đến câu hát dân gian đã tạo nên một truyền thống tốt đẹp. Khi lớn lên cha mẹ dạy chúng ta phải biết cảm ơn hay xin lỗi, dạ thưa với những người lớn tuổi… chính lễ nghĩa đó đã thấm nhuần vào trong nhận thức của mối chúng ta trước khi chúng ta được đến trường. Điều này có nghĩa là ta được học lễ trước khi học văn, đến lúc đi học song song với công việc tiếp thu kiến thức thì ta cũng vẫn được các thầy cô giáo dạy lễ nghĩa và đạo đức như biết kính yêu người thân và quý mếm bạn bè, giúp đỡ tất cả mọi người xung quanh. Tại hầu hết mọi ngôi trường chúng ta đều được học đạo lý đóng vai trò quan trọng và có mối quan hệ chặt chẽ cùng với nhau.
Nếu như không biết nghe lời cha mẹ và bất hiếu thì khi vào trường cũng không thể trở thành một học sinh ngoan và chắc chắn sau này khi trưởng thành ra đời cũng không trở thành người công dân tốt và khó có thể thành công được. Chúng ta nên biết rằng gia đình là một tế bào của xã hội và nếu như gia đình không có kỷ cương và có nề nếp nghiêm thì dẫn đến xã hội bị loạn và không văn minh. Vì vậy nên đạo lý làm người không bao giờ là muộn, chúng có giá trị mãi mãi trường tồn cùng với thời gian, chúng ta có thể mất 10 năm để học kiến thức văn hóa còn học làm người thì phải học suốt đời. Cũng vì vậy mà câu tục ngữ Tiên học lễ hậu học văn là lời răn dạy và cũng là lời cảnh tỉnh cho những ai đang xem nhẹ đạo đức và việc rèn luyện nhân cách làm người.
Nói chung đạo đức là cái đáng quý nhất và cần phải trân trọng vì nó thể hiện được phẩm giá của con người. Cho nên bài học làm người và bài học lễ nghĩa này bao giờ cũng chính là bài học đầu tiên mà con người chúng ta cần học và học cho suốt cuộc đời. Nếu như muốn mình là người công dân tốt thì chúng ta cần thấm nhuầ câu Tiên học lễ và hậu học văn. | Hãy giải thích câu tục ngữ Tiên học lễ hậu học văn | 562 | |
Đề bài: Hãy Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
Bài Làm
Uống nước nhớ nguồn là một câu tục ngữ đã trở nên quen thuộc đối với rất nhiều người Việt Nam từ xưa cho đến nay. Dưới hình thức một câu tục ngữ, câu nói đã đi sâu vào trong tâm trí của người Việt Nam bởi những triết lý sâu xa được ẩn chứa trong nội dung của câu nói về cách sống, cách làm người, cũng như đã thể hiện được truyền thông đạo lí sâu sắc của người Việt Nam: luôn luôn trân trọng và biết ơn những người đi trước, những người đã hy sinh xương máu để cho chúng ta có thể có một cuộc sống tốt đẹp như ngày hôm nay.
Câu tục ngữ nếu được hiểu theo nghĩa đen thì “nguồn” là nơi bắt đầu của một dòng sông, là nơi đem lại cho chúng ta dòng nước mát. Vậy khi chúng ta lấy được dòng nước mát đó thì chúng ta nên “nhớ nguồn” chứ không phải coi đó là điều hiển nhiên. Đó là hiểu theo nghĩa bóng, còn đối với nghĩ đen thì mỗi con người ta khi phải biết ơn những con người, những thế hệ cha anh ta đã ngã xuống để có đem lại những thành quả cho thế hệ sau. Không phải tự nhiên mà chúng ta có được một cuộc sống hòa bình, không chiến tranh, bom đạn, không phải tự nhiên mà chúng ta được đi học, được sống trong một đất nước phát triển. Để có được tất cả những điều đó, thì đã có biết bao nhiêu người ngã xuống nơi đất khách, đã bao nhiêu gia đình phải hứng chịu nỗi mất con, mất chồng. Và chúng ta cũng phải nhớ rằng, nếu không có nguồn, có cội, có những thế hệ ông, cha ta đi trước thì sẽ chẳng bao giờ có chúng ta. Vì vậy mà câu tục ngữ đã mượn mối quan hệ khăng khít giữa “nguồn và nước” trong tự nhiên để nhắc nhở chúng ta một cách thấm thía về triết lí sống: Khi chúng ta tiếp nhận hay hưởng thụ một thành quả nào đó thì chúng ta phải nhớ đến công ơn và biết đền ơn xứng đáng những người đã đem lại thành quả cho mình được hưởng như ngày hôm nay.
Không chỉ biết ơn những thế hệ đi trước mà chúng ta còn phải biết ơn công lao dưỡng dục của ông bà cha mẹ – những người đã sinh ra mình và cả thầy cô – những người đã dạy cho ta tri thức. Vậy nên, không một thành quả nào mà chúng ta làm đều có công lao của một ai đó tạo nên. Nếu không có ông cha ta thì chúng ta đã không có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nếu không có bố mẹ thì đã không có chúng ta và nếu không có thầy cô thì đã không có những con người thành đạt như ngày hôm nay. Vì thế, trong kho tàng tục ngữ Việt Nam luôn có những lời thấm thía nhắc nhở ta về lòng biết ơn với người nghệ sĩ và công lao của những người đi trước:
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Hay:
Không thầy đố mày làm nên.
Triết lí sống “uống nước nhớ nguồn” đã hóa thân thành những lập tục đẹp đẽ của người Việt Nam. Biết ơn các vua Hùng dựng nước, dân ta có ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Biết ơn các thương binh, liệt sĩ đã đổ xương máu để giữ hòa bình, chúng ta có ngày 27-7, biết ơn các thầy cô, chúng ta cũng có ngày 20-11,…
Câu tục ngữ uống nước nhớ nguồn đã dạy cho chúng ta biết bao nhiêu bài học quý báu. Phải có lòng biết ơn, phải dạy cho con người ta biết sống thủy chung, ân nghĩa. Khi đã nhận thức sâu sắc được vấn đề đó thì mỗi chúng ta sẽ biến lời nói thành hành động để cho cuộc sống này ngày càng phát triển hơn. Để cho ta phải biết gìn giữ bảo bảo vệ những thành quả mà những người đi trước đã tạo nên, lấy đó làm nền tảng của sự phát triển để giúp nó trở nên phong phú và đẹp đẽ hơn. Có như vậy thì chúng ta mới có thể đền đáp được công ơn dưỡng dục của cha mẹ, thầy cô. “Uống nước phải nhớ nguồn” – Có như vậy, chúng ta chẳng những tỏ lòng biết ơn mà còn xứng đáng với nhân cách, tấm lòng của thế hệ đi trước. Một điều rất quan trọng nữa là phải biết tự tạo lập cho mình những thành quả cho thế hệ sau. | Hãy Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn | 805 | |
Hãy giới thiệu một vài nét về nhà văn Et-môn-đô Đơ A-mi-xi
Hướng dẫn
Năm 1866, chưa đầy 20 tuổi, Đơ A-mi-xi đã là sĩ quan quân đội chiến đấu cho nền độc lập, thống nhất của đất nước. Hai năm sau chiến tranh kết thúc, ông rời quân ngũ đi du lịch tới nhiều nước như Hà Lan, Tây Ban Nha, Ma-rốc, Pháp, v.v…
Năm 1891 Đơ A-mi-xi gia nhập đảng Xã hội Ý chiến đấu cho công bằng xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân lao động.
Cuộc đời hoạt động xã hội và con đường văn chương đối với Đơ A-mi-xi chỉ là một. Độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tình thương và hạnh phúc của con người là lí tưởng và cảm hứng văn chương của ông, kết tinh thành một chủ nghĩa nhân văn lấp lánh.
Đơ A-mi-xi để lại một sự nghiệp văn chương rất đáng tự hào, trên nhiều thể
loại.
– Về truyện có: “Cuộc đời của các chiến binh”(1868), “Những tấm lòng cao cả”(1886), “Trên đại dương”(1889), “Cuốn truyện của một người thầy”(1890), v.v…
– vềdu kí có: “Tây Ban Nha” (1873), “Hà Lan” (1874), “Ma Rốc” (1875), “Côn-ktan-ti-nô-pô-li” (1881), v.v…
– Phê bình văn học: “Chân dung văn hào” (1881).
– Luận văn chính trị – xã hội: “vấn đề xã hội”, “Nội chiến”.
Tên tuổi của Đơ A-mi-xi trở thành bất tử qua tác phẩm “Những tấm lòng cao cả”. Hơn một thế kỉ qua, trẻ em trên hành tinh đều được đọc và học “Những tấm lòng cao cả” của ông. | Hãy giới thiệu một vài nét về nhà văn Et-môn-đô Đơ A-mi-xi | 254 | |
Đề bài: Hãy giới thiệu một vài nét đáng yêu của quê hương em
Bài làm
Cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 10km là làng quê thân yêu của em. Tên làng là Đông Ngạc, thuộc huyện Từ Liêm.
Làng em có 6 xóm với hơn 100 ngôi nhà cổ, được xây dựng gần hai thế kỉ về trước. Đình làng Đông Ngạc hơn 500 năm tuổi, cổ kính và hoành tráng, tọa lạc trên một khu đất cao ráo ở phía Bắc làng, sát với đê sông Hồng, mái ngói rêu phong. Cột đình, văng, xà… bằng gỗ lim đồ sộ, nâu bóng, chạm trổ đủ hoa văn và linh vật, gợi lên không khí vô cùng tôn nghiêm và thiêng liêng. Bộ tranh sơn mài lấp lánh, nhang án gỗ thếp vàng… là bảo vật được lưu giữ từ thời Lê.
Giới thiệu một vài nét đáng yêu của quê hương em
Giữa làng em có chùa Tư Khánh (còn gọi là Chùa Vẽ). Tam quan, gác chuông, phương đình, tiền đườmg, hậu cung, nhà Tổ đều cổ kính, uy nghiêm với hàng trăm pho tượng Phật sơn son thếp vàng. Quả chuông đồng được đúc từ năm 1315, mỗi lần rung lên như tiếng ngọc, tiếng vàng từ chín tầng mây vọng xuống.
Một nét đẹp nữa của làng em là ngôi nhà thờ Đỗ Thế Giai – vị đại quan thời vua Lê – chúa Trịnh. Hoành phi, câu đối, đồ thờ tự, các pho tượng,… cổ kính, rực rỡ vàng son. Tuy trải qua nhiều thế kỉ mà đến nay con cháu vẫn cảm thấy tâm đức, tài đức của tổ tiên còn hiển hiện trong khói trầm nghi ngút.
Đông Ngạc là một làng cổ, một làng khoa bảng nổi tiếng xứ Đoài và Kinh kì xưa nay. Dân làng em vẫn tự hào nhắc lại câu ngạn ngữ: “Đất Kẻ Giàu, quan Kẻ Vẽ” Đông Ngạc – Kẻ Vẽ đã có 25 vị Tiến sĩ và cả ngàn Hương cống, Cử nhân, Sinh đồ, Tú tài. Vì thế trên hoa văn được khắc vẽ trong đình, chùa, nhà cổ, đâu đâu cũng nhìn thấy hình tượng chiếc bút lông lấp lánh.
Đông Ngạc – một địa chỉ văn hóa, đã và đang đổi mới trong thế đi lên của Thăng Long – Hà Nội, đất vạn vật nghìn năm. Em vô cùng sung sướng, tự hào mỗi khi nhắc đến Đông Ngạc, nơi chôn nhau cắt rốn muôn quý nghìn yêu. | Hãy giới thiệu một vài nét đáng yêu của quê hương em | 412 | |
Đề bài: Hãy giới thiệu và miêu tả một số nhạc cụ dân tộc mà em biết
Bài làm
Nếu một dàn nhạc giao hưởng có đến 120 cây đàn với những bộ gõ, bộ hơi, bộ dây, có những chiếc kèn mà miệng to như chiếc nia, thì bộ nhạc cụ dân tộc ta thật khiêm tốn. Nhạc cung đình Huế, em chưa được nghe và thưởng thức. Em mới chỉ được nghe nhạc trong tang lễ, trong lễ hội dân gian.
Hãy giới thiệu và miêu tả một số nhạc cụ dân tộc mà em biết
Nhạc cụ dân tộc ta tuy chưa được phong phú, nhưng cũng có vẻ đẹp độc đáo riêng. Cây sáo, ống tiêu được làm bằng ống trúc, ống nửa có âm thanh kì diệu véo von. Sinh tiền, que gõ của các ca nữ hát nói nghe êm ru, nhịp nhàng. Đàn bầu chỉ có một dây mà âm thanh nỉ non mê đắm. Đàn bằng dây tơ có đàn tam thập lục (36 dây), đàn thập lục còn gọi là đàn tranh (16 dây), đàn nguyệt hình mặt trãng (4 dây), đàn tứ (4 dây), đàn nhị (2 dây), đàn tam (3 dây), đàn đáy, đàn tính,… Đàn nhị ngày nay đã được hiện đại hóa, to đẹp hơn, âm thanh êm ái, dịu dàng, réo rắt hơn.
Nhạc cụ dân tộc mang vẻ đẹp thuần hậu, yêu sống, yêu đời của con người Việt Nam, phản ánh tâm hồn tha thiết yêu quê của một dân tộc có nền sản xuât nông nghiệp lâu đời. | Hãy giới thiệu và miêu tả một số nhạc cụ dân tộc mà em biết | 260 | |
Hãy hoá thân vào que diêm để kể lại câu chuyện Cô bé bán diêm
Hướng dẫn
Đề bài: Hãy hóa thân vào que diêm để kể lại câu chuyện Cô bé bán diêm của An-đéc-xen theo diễn biến và kết thúc truyện ngắn.
BÀI LÀM
Đêm giao thừa, mọi người sum họp dưới mái ấm gia đình để cùng nhau tiễn đưa năm cũ, đón chào năm mới trong không khí thiêng liêng, ngập tràn hạnh phúc. Riêng cô bé mổ côi mẹ, đầu trẩn, chân đất, váy áo phong phanh, bụng đói meo đang dò dẫm trong bóng tối. Suốt ngày hòm nay, cô bé chẳng bán được bao diêm nào cả. Cô sợ về nhà, người cha tàn nhẫn sẽ đánh đòn.
Lúc này, quang cảnh xung quanh đẹp đẽ, ấm áp lạ thưởng. Cửa sổ mọi nhà đểu sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay. Những hình ảnh ấy gợi cho cô bé nhớ lại năm xưa được đón giao thừa cùng bà nội trong căn nhà xinh xắn có đầy dây thường xuân bao quanh. Nhưng rổi những tai họa liên tiếp xảy ra khiến gia đình cô tan nát.
Cô bé đói và rét lắm! Giờ đây, cô ngồi nép trong một góc tường, giữa hai ngôi nhà để tránh những cơn gió rét như roi quất vào da thịt. Cô không muốn về nhà, vì ở nhà thì cũng vẫn đói rét như ở ngoài đường. Hai cha con cô bé sống trên căn gác sát mái và mặc dầu đã nhét gỉẻ rách vào các khe hở lớn trên vách, gió vẫn thổi rít vào trong nhà.
Giữa đêm cuối năm buốt giá, cô bé lủi thủi một mình với chiếc giỏ đựng diêm vẫn còn nguyên. Đôi bàn tay nhỏ xíu cứng đờ vì lạnh. Cô ao ước được sưởi ấm, dù một chút thôi, bằng những que diêm. Cô rút một que diêm, tôi rơi ra theo, nằm ngay trên mặt giỏ. Cô bé quẹt que diêm vào tường, que diêm bén lửa thật là nhạy. Ngọn lửa lúc đầu xanh lam, dần dần trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt.
Ngọn lửa soi tỏ niềm vui sáng ngời trong đôi mắt xanh tuyệt đẹp của cô bé tội nghiệp. Hơ bàn tay trên que diêm cháy sáng rực như than hồng, cô bé tưởng như đang được ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đổng bóng nhoáng, Trong lò, lửa cháy nom đến vui mắt và tỏa ra hơi nóng dịu dàng. Cô bé nghĩ: “Chà! Khỉ tuyết rơi phủ kín mặt đất, gió bấc thổi hun hút, trong đêm đông rét buốt mà được ngồi hàng giờ như thế trước một lò sưởi thì khoái biết bao!”.
Nhưng cô bé vừa duỗi chân ra thì ngọn lửa vụt tắt. Que diêm đã tàn hẳn. Hình ảnh lò sưởi cũng biến mất. Cô bé bần thần nhớ ra rằng cha bắt mình đi bán diêm. Vậy mà! Một thoáng sợ hãi vụt qua trong óc cô bé.
kể lại câu chuyện Cô bé bán diêm
Những hình ảnh đẹp đẽ do cô tưởng tượng ra khi ngắm nhìn ngọn lửa ở đầu que diêm thứ nhất cháy sáng rực đã lôi cuốn, thúc giục cô bé đốt que diêm thứ hai. Cô muốn được tiếp tục sống trong thế giới kì diệu ấy. Trước ánh lửa bập bùng, bức tường như biến thành một tấm rèm bằng vải màu. Cô bé nhìn thấu vào tận trong nhà. Bàn ăn đã dọn, Khăn trải bàn trắng tỉnh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá và có cả một con ngỗng quay. Nhưng điểu kì diệu nhất là ngỗng ta nhảy ra khỏi đĩa và mang cả dao ăn, nĩa cắm trên lưng, tiến về phía cô.
Một ngọn gió ào qua, que diêm phụt tắt. Trước mặt cô bé vẫn là bức tường xám xịt và lạnh lẽo. Những ảo ảnh tươi đẹp chỉ hiện ra trong giây lát, còn cái đói, cái rét và bóng tối vẫn vây bủa, hành hạ cô bé đáng thương.
Tuy vậy, cô bé vẫn không ngừng ao ước. Cô muốn đêm Giáng Sinh mình cũng có một cây thông Nô-en thật lớn, trang trí lộng lẫy. Cô quạt que diêm thứ ba. Bỗng nhiên, một cây thông giống y như thế hiện ra trước mắt cô. Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi. Rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức tranh bày trong các tủ kính cũng hiện ra, đẹp tuyệt vời! Que diêm vụt tắt. Xung quanh cô bé vẫn là những bức tường lạnh lẽo và đêm tối. Cô chợt nghĩ đến người bà hiền hậu rất yêu thương cô. Nhưng? bà dã mất rồi! Cô muốn được gặp bà biết bao!
Que diêm cháy đến tận đầu ngón tay cô bé, nóng bỏng. Ngọn lửa đã tắt và ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt cò bé cũng biến mất.
Lần thứ năm, cô bé quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao. Cô muốn níu kéo bà để được bà cho.đi theo đến một thế giới không còn đói rét và đau khổ. Các que diêm nối nhau cháy sáng như ban ngày. Chưa bao giờ cô bé lại thấy bà mình to lớn và đẹp lão như lúc này. Bà nhẹ nhàng cầm lấy tay cô bé rồi hai bà cháu cùng bay vút lên cao, cao mãi. Chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa. Họ đã về chầu Thượng đế. | Hãy hoá thân vào que diêm để kể lại câu chuyện Cô bé bán diêm | 943 | |
Hãy hóa thân vào những que diêm để kể lại câu chuyện theo diễn biến và kết thúc truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen
Hướng dẫn
Hãy hóa thân vào những que diêm để kể lại câu chuyện theo diễn biến và kết thúc truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen
Trời lạnh quá. Tuyết phủ dày đặc khiến cái rét càng đậm hơn, mạnh hơn. Tôi nằm gọn trong chiếc vỏ bao diêm cùng với những que diêm khác. Dù được bao bọc kín mít nhưng vẫn còn lạnh thấu xương thấu thịt. Vậy mà cô chủ nhỏ của tôi lại ăn mặc phong phanh, chân trần tím bầm lại vì rét mướt. Cả ngày hôm nay cô chẳng bán được bao nào. Cũng chẳng có ai bố thí cho cô chút gì. Thương lắm, nhưng tôi chỉ là một que diêm nhỏ bé, làm sao có thể giúp gì được cho cô đây.
Nếu giờ quay về nhà, thế nào cha cô cũng mắng và đánh cho một trận. Trời rét căm căm thế này mà bị những chiếc roi vút vào thịt thì buốt lắm. Càng nghĩ tôi lại càng thương cô. Người qua đường ai cũng rảo chân đi cho thật nhanh để trở về nhà kẻo lạnh. Chỉ có một mình cô bé tội nghiệp cứ đứng đấy bên lề đường để mời chào khách nhưng chẳng ai để ý. Từng cơn gió lạnh lẽo lướt qua làm môi cô thâm lại, da thịt tái ngắt vì rét. Chiếc áo mỏng manh làm sao có thể che chắn được với cái thời tiết khắc nghiệt này. Người ta mặc áo ấm chùm kín người còn đang lạnh xuýt xoa huống chi cô bé yếu đuối chỉ có một manh áo rách không lành che thân. Tuyết rơi mỗi lúc một dày hơn. Từng đám tuyết cũng vô tình, lạnh lẽo đọng lại trên tóc, trên vai, trên lưng cô. Giá có ai đó đến cứu giúp rủ lòng thương xót cho cô một ân huệ dù là nhỏ bé thôi cũng được thì tốt biết bao. Nhưng đáp lại chỉ là sự thờ ơ, vô tình, lạnh ngắt như trời đêm giá rét vậy.
Cô quẹt tiếp que thứ hai. Ánh lửa vừa bừng cháy thì một cảnh tượng huy hoàng hiện lên trước mắt cô. Một bàn ăn với các đĩa thức ăn đầy ắp, còn đang ngun ngút hơi nóng. Trông thật ngon và thích làm sao. Cạnh bàn có cây thông Noel rực rỡ đèn. Trước đây cô cũng từng có một ngôi nhà ấm cúng như thế, có một gia đình hạnh phúc và được đón những đêm giao thừa vui vẻ ở nhà. Nhưng tai họa ập đến, gia đình tan nát, người bà hiền hậu qua đời, cô bé phải đi bán diêm kiếm sống qua ngày. Lại thêm người cha tàn nhẫn, lười biếng bắt cô phải đi kiếm tiền mang về tiêu sài, nếu không kiếm được sẽ đánh đập chửi rủa cô bé thậm tệ. Cô vừa định với lấy chiếc dĩa để xẻ thịt ngỗng quay thì que diêm vụt tắt. Mọi thứ lại biến mất, chỉ còn trơ bức tường lạnh lẽo, vô tri vô giác trước mắt cô.
Người người vẫn qua lại bên đường, không ai để ý đến những gì đang diễn ra xung quanh cô bé. Cái rét mướt thúc giục cô quẹt tiếp que diêm thứ ba. Lần này, một cây thông lộng lẫy hiện ra. Có đèn nhấp nháy, có những món quà nhỏ nhắn xinh xinh treo quanh cây. Cô bé vội đứng dậy nhảy múa và hát vang bài Chúc mừng năm mới. Cô nhắm mắt lại và ước. Nhưng vừa mở mắt ra cây thông lại biến mất như bàn ăn thịnh soạn ban nãy. Cô ngồi thụp xuống thất vọng. Có lẽ cô chủ của tôi đang khóc thút thít. Thật khổ cho cô. Đêm tối, giá rét, một thân một mình không ai xót thương.
Cô với lấy bao diêm. Lần này cô quẹt thật mạnh mong ngọn lửa sáng lớn hơn, lâu hơn. Cô vội lau nước mắt khi hình ảnh người bà hiền hậu đang hiện ra trước mắt mình. Bà mỉm cười với ánh mắt rất hiền từ. Cô reo lên sung sướng. Cô quỳ xuống ôm lấy chân bà, van xin bà hãy cho cô được đi theo cùng. Nước mắt của tuổi thơ khiến người bà cũng khóc theo. Hai bà cháu ôm nhau khóc. Bà vỗ về cô bé. Cô ôm chặt lấy bà.
– Bà ơi, bà cho con theo với. Bà hãy cầu xin Thượng đế chí nhân cho con đi với. Con muốn được ở với bà như trước đây. Con xin bà.
Bà ôm cô bé vào lòng và thủ thỉ:
– Được rồi. Có bà ở đây rồi. Con nín đi. Đêm nay là đêm giao thừa. Bà về đây để đón giao thừa cùng với con.
– Rồi bà cho con đi cùng chứ – Cô bé reo lên.
– Ta không mang con theo được. Con còn nhỏ. Con còn cả tương lai ở phía trước. Nhưng ta sẽ cho con có một cuộc sống mới. Con có nhớ mẹ không?
– Mẹ con có về cùng con không bà? Con nhớ mẹ lắm.
– Được rồi. Con ngoan. Mẹ con sẽ về với con mà.
Vừa dứt lời, mẹ cô bé cũng xuất hiện. Mẹ ôm cô vào lòng. Những dòng nước mắt tuôn rơi. Trong đêm tối, ba con người ôm chặt nhau khóc.
Que diêm bắt đầu cháy yếu dần, tôi vội vàng nhảy vào để tiếp lửa. Ngọn lửa lại tiếp tục bùng lên. Thật may vì diêm không bị tắt như những lần trước. Cô bé vội vàng dốc hết tất cả những bao diêm mình có ra. Cô xếp thành hình trái tim, từng que diêm nối đuôi nhau cháy sáng rực rỡ làm hồng cả một góc phố. Đồng hồ sắp điểm mười hai giờ. Giây phút giao thừa sắp đến. Bà nắm tay cô nói:
– Hãy ước đi con. Thượng đế đã cho con một điều ước. Vì con là một cô bé rất ngoan ngoãn.
Cô bé nắm chặt tay mẹ và bà. Cô nhắm mắt lại ước. Vừa ước xong, đúng lúc đồng hồ điểm mười hai giờ. Tiếng pháo hoa nổ tung làm rực rỡ cả bầu trời. Cô mở mắt ra và điều kỳ diệu đã đến. Đúng như lời ước. Cô bé đang ngồi trước bàn ăn thịnh soạn với bà và mẹ, bên cạnh là cây thông Noel đang nhấp nháy sáng. Ngoài cửa sổ, pháo hoa đang bắn lên trên bầu trời. Cô kéo tay mẹ và bà chạy ra xem.
Ước mơ của cô bé đã trở thành hiện thực. Cô ước được sống cùng bà và mẹ trong một ngôi nhà nhỏ ấm áp, có bàn ăn thịnh soạn để đón giao thừa.
Từ đó, gia đình cô sống hạnh phúc bên nhau, cô bé không phải đi bán diêm nữa.
Còn tôi cũng thật hạnh phúc vì đã kịp truyền lửa sáng cho ước mơ của cô bé được trở thành hiện thực. | Hãy hóa thân vào những que diêm để kể lại câu chuyện theo diễn biến và kết thúc truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen | 1,194 | |
Hãy hóa thân vào que diêm để kể lại câu chuyện “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen theo diễn biễn và kết thúc truyện ngắn
Hướng dẫn
Hãy hóa thân vào que diêm để kể lại câu chuyện “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen theo diễn biễn và kết thúc truyện ngắn
Tôi còn nhớ đêm giáng sinh hôm ấy, ngoiaf trời tuyết rơi triền miên mãi mà không ngớt, chúng tôi cảm thấy cô chủ đang lạnh lắm vì tay cô cứ run lên bần bật, cái lạnh đó cũng tô điểm thêm cho một ngày giáng sinh thật đặc biệt, ngày mà chúa ra đời. Cô chủ tay ôm lấy chúng tôi – những hộp diêm. Vừa đi cô chủ vừa cất cao giọng để mời rao.
Lúc ấy mọi người đang quây quần bên chiếc lò sưởi, những đứa trẻ như cô chủ tôi thì đang ngồi chờ ông già noel tới phát quà làm gì có ai để ý đến tiếng giao của cô chủ tôi chứ. Thật tôi nghiệp cho cô chủ, cô phải lê đôi chân trần nhỏ bé qua từng ngõ phố nhỏ để giao bán chúng tôi – những hộp diên nhỏ nhỏ. Nhìn đôi chân trần của cô chủ mà tôi nghĩ tôi nghiệp, sáng nay cô c chủ bị bọn trẻ nghịch ngợm vứt đi mất đôi dép cũ nát. Trời càng về khuya dường như càng trở nên lạnh hơn, tôi mở hộp nhìn ra thấy đôi chân trần của cô chủ dường như tím ngắt, tôi không biết làm gì để giúp cô chủ. Tôi ngoái đầu nhìn ra phố một số người vẫn hối hả trở về nhà, dường như không ai để ý đến cô chủ tội nghiệp của tôi. Tôi không hiểu vì sao, cô chủ vì sao cô chủ vẫn bán chúng tôi với giá một xu, như hàng ngày mà không ai hỏi đến, phải chăng họ vô tâm hay vì họ quá vội vã?
Đi được một lát, cô chủ lại đứng lại nhìn ngắm sự ấm cúng của những ngôi nhà hai bên đường, họ đang hạnh phúc đông đủ. Tôi nghe tiếng cô chủ nuốt nước miễng ừng ực, tay chân run lên bần bật. Cô nhớ đến người bà yêu quý của mình khi còn sống, cô cùng bà đón giáng sinh vui vẻ. Nhưng thần chết đã cướp đi người bà yêu quý của cô và ngày nào, cô cũng chịu những đòn roi của người cha và những lời chửi rủa mắng nhiếc tới thậm tệ.
Cô chủ ngồi nép mình vào một góc tường giữa hai ngôi nhà, thu đôi chân lại, hai bàn tay ôm chặt lấy cho đỡ rét nhưng mỗi lúc tôi cảm thấy cô càng thấy rét hơn. Rồi tôi thấy cô ngồi im suy ngẫm điều gì đó. Rồi cô rút một người bạn của tôi ra và quẹt sáng. Anh bạn của tôi, được phơi khô nên bén lửa rất nhanh loáng qua thôi đã vụt tắt mất rời. Tôi không biết cô nghĩ gì nhưng ánh mắt cô rất vui và hình như miệng cô còn ánh lên cả một nụ cười thì phải. Tôi chợt thấy lòng mình cũng vui hẳn lên. Thế rồi, mạnh mẽ hơn, cô lại quẹt lửa anh bạn thứ hai, thứ ba, thứ tư. Lửa lại cháy và sáng rực. Ánh mắt cô bé lại vui lên. Bất chợt tôi thấy cô cười hạnh phúc và nói:
Anh bạn thứ tư của chúng tôi vụt tắt. Hình ảnh khuôn mặt cô chủ nhỏ cũng biến mất luôn. Nhưng cô bắt đầu lôi ra tất cả chúng tôi và quẹt sáng. Dường như cô chủ của chúng tôi đang muốn níu kéo một điều gì. Chúng tôi nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Tôi nhìn thấy trên khuôn mặt kia đang nở ra một nụ cười mãn nguyện. Một xó tường bỗng vụt sáng lên nhưng cũng chỉ một phút sau nó lại trở về với cái tối tăm lạnh lẽo. Chúng tôi đã thắp lên những tia sáng cuối cùng còn cô chủ của chúng tôi thì bỗng nhiên gục xuống. Có lẽ cô mệt quá. Cô đã không ăn và không nghỉ suốt những ngày qua nên chắc bây giờ đang đói lả. Chúng tôi thương cô chủ qúa mong sao cho cô chủ có thể vượt qua | Hãy hóa thân vào que diêm để kể lại câu chuyện “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen theo diễn biễn và kết thúc truyện ngắn | 731 | |
Hãy kể diễn cảm một chuyện cổ tích theo lời của em?
Hướng dẫn
Hãy kể diễn cảm một chuyện cổ tích theo lời của em?
Ngày xửa, ngừa xưa, vào một năm đã lâu rất lâu rồi, năm nào người ta cũng không nhớ rõ nữa, năm ấy đất trời hạn hán nặng lắm. Đến nỗi trên cả một cánh đồng không có lấy một cây cỏ, chỉ có những vết nẻ dài thật dài. Trời thì không một gioijt mưa, sông ngòi khô cạn, mùa màng thì mất vì không có nước tưới tiêu, những con cá cũng không có nước mà soonsng. Chim muông thú cũng không có nước uống, chúng chỉ biết nằm một chỗ cố hắt ra những hơi thở yếu ớt. Các con vật to lớn hùng mạnh xưa nay tác oai tác quái trong rừng như: sư tử, hổ, chó sói… đều nằm lè lưỡi mà thở để đợi chết, không ai đứng dậy đi nổi, cũng không ai nghĩ được kế gì để cứu mình, cứu muôn loài. Những lúc khỏe mạnh chúng bắt nạt nhau ghê lắm,vậy mà giờ này chúng chịu thua ông trời, chỉ biết nằm đấy chờ chết. Ấy vậy mà có anh chàng Cóc tía nằm sâu dưới bùn lầy, nhỏ nhở, xấu xấu, da thì xù xì, lại có gan to, tính tìm đường đi kiện Trời, cứu đỗi sự sống của chúng sinh.
Dù cũng đã gần cạn hết sức lực, nhưng Cóc tía vẫn không nản lòng, quyết lên đường đi tìm công lí một mình. Đi qua một bờ ruộng khô, Cóc tía gặp anh Cua càng đang nằm thoi thóp trong hang. Cua nhìn thây Cóc liền hỏi Cóc đi đâu. Cóc bèn kể rõ sự tình và rủ Cua cùng đi kiện Trời. Ban đầu Cua định bàn ngang, vì sức lực đã yếu lại không biết đường lên trời nên thà chết ở đây còn hơn chứ Trời xa, lại không biết đường, sức đâu tới mà kiện với tụng. Nhưng chị Dế mèn, anh Châu chấu đang nằm ở gần đó nghe Cóc nói lại tranh nhau mà bàn ngang bàn lùi, làm cho Cua nổi giận. Nói ngang bàn ngang là chuyện ngang của Cua thế mà họ lại dám tranh mất cái quyền ấy, Cua hãnh diện vì chỉ có mình bò ngang nên mới được cái quyền ấy vậy mà họ lại ngang hơn cua. Cáu quá Cua làm ngược lại, Cua quyết định lên đường cùng đi với Cóc.
– Anh Cóc nói có lý, chẳng có lẽ chúng mình cứ nằm ở đây đợi chết khát cả ư?… Ta theo anh Cóc thôi. Anh Cua ngang như vậy mà vẫn còn theo anh Cóc được thì tại sao chúng mình không theo?
Gấu, Cọp cùng Cua và Cómaathungf hổ đi kiện trời. Đi thêm một chặng nữa thì gặp mẹ con nhà chị Ong đang khô mật và con Cáo bị lửa nướng cháy xém lông. Thấy cả đoàn cùng nhau đi kiện trời thì cả hai con thấy vậy cũng xin nhập đoàn để theo cùng. Và đoàn loài vật ngày một đông thêm cùng nhau đi kiện Trời do Cóc dẫn đầu.
Cóc dẫn các bạn đi mãi, đi mãi vừa đi vừa hỏi đường và cuối cũng đã đến tận cửa thiên đình. Khi đi trên đường cả bọn đều hăng hái, hùng hổ nhưng đến trước cửa Trời oai nghiêm, bọn Cọp, Gấu, Cáo, Ong, Cua đều sợ, duy chỉ có Cóc là gan liền dõng dạc ra lệnh:
– Bây giờ các anh phải nghe lời tôi. Kia là chum nước của Trời, anh Cua vào nấp trong ấy. Anh Cáo nấp ở phía bên trái tôi, anh Gấu nằm ở phía bên phải tôi, còn anh Cọp chịu khó nằm đằng sau tôi. Các anh có nghe lệnh của tôi thì mới thắng được Trời.
Tất cả đều nghe lệnh của Cóc. Sắp đặt xong đâu đấy Cóc mới nhảy lên mặt trống đánh ba hồi ầm vang như sấm động.
Đang giờ nghỉ trưa nên Ngọc Hoàng đang nằm nghỉ ngơi, bỗng nhiên bị tiếng trống lôi đình đánh thức dậy nên bực bội lắm, liền sai Thiên Lôi ra xem có chuyện gì. Thiên Lôi lười biếng vội phủi bụi và mạng nhện giăng đầy trên lưỡi búa tầm sét cắm cổ chạy ra. Thiên Lôi mở của ra ngó trước ngó sau không thấy có ai, đang định hùng hổ đóng của đi vào thì thấy một con Cóc xù xì xấu xí đang ngồi chễm trệ trên mặt trống của nhà Trời, Thiên Lôi hết sức ngjac nhiên. Thiên Lôi cứ hết nhìn con Cóc lại nhìn lưỡi búa tầm sét khổng lồ của mình và thở dài vì cái búa to quá mà Cóc bé quá, đánh chưa chắc đã trúng được, mà nghĩ lại mình to thế này mà đi giết con cóc bé tí kia, người ta lại cười cậy to bắt nạt bé. Không biết xử lí ra sao Thiên Lôi bèn chạy vào tâu Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng nghe xong bực lắm bèn sai con gà trời bay ra mổ chết chú Cóc hỗn xược kia.
Gà trời thấy vậy cười khẩy vừa hung hăng bay ra, Cóc thấy vậy liền ra ám hiệu cho Cáo từ phía bên trái, lập tức anh Cáo liền nhảy ra cắn cổ Gà và tha đi mất. Cóc lại tiếp tục đánh trống lôi đình. Ngọc Hoàng càng thêm giận giữ sai Chó nhà trời xổ ra cắn Cáo. Chó vừa xồng xộc chạy ra thì Cóc lại nghiến răng ra hiệu. Từ phía bên trái, anh Gấu bất ngờ xuất hiện khiến Chó không kịp trở tay, nhận ngay một đòn đánh trời giáng từ Gấu. Chó ngã lăn ra đất, không động đậy.
Sau đó, Cóc lại thúc trống lôi đình thêm lần nữa để đánh thức Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng không con cách nào bèn sai Thiên Lôi ra trị tội Gấu. Thiên Lôi là vị thần trời có lưỡi tầm sét mỗi lần vung lên thì thành sét đánh ngang trời, thành sấm động bốn cõi. Sức mạnh của Thiên Lôi không có ai bì được. Ngọc Hoàng yên trí, nên ũng dung nghĩ lần này cử đến ông Thiên Lôi ra quân thì cái đám Cóc, Cáo ắt hẳn là tan xác. Vì thế khi ông Thiên Lôi vác lưỡi tầm sét đi là Ngọc Hoàng lại lười biếng co chân nằm trên ngai vàng mà ngủ tiếp. Lần này, Cọp xông ra định quật chết thiên lôi thì Cóc ngăn lại. Thiên lôi bèn chạy vào kể với Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng không ngờ Cóc tuy bé nhỏ mà lại khó trị như vậy, Ngọc Hoàng đổi giận thành làm lành sai thiên thần ra mời Cóc vào. Ngọc Hoàng hỏi Cóc:
Cóc bèn thưa:
– Muôn tâu Ngọc Hoàng, đã bao năm nay chúng tôi không được một giọt mưa nào. Loài vật cử tôi lên đây để kiện trời, vì sao không làm mưa?
Ngọc Hoàng cho gọi thần mưa đến. Té ra thần ban ngày thì mải rong chơi tối về đắp chiếu nằm ngủ, quên không làm mưa. Ngọc Hoàng trách mắng, và phạt thần Mưa, thần Mưa vội phun nước ào ào xuống đất. Ngọc Hoàng đưa tiễn Cóc ra về và dặn:
– Từ nay về sau, nếu cần mưa thì Cóc nghiến răng ken két báo cho Ngọc Hoàng biết. Ta sẽ sai thần làm mưa ngay. Cóc không phải lên kiện trời nữa.
Cóc, Cáo, Gấu, Cọp từ biệt Ngọc Hoàng trở về dưới đất. Khi bốn con vật đến nơi thì thấy nước đã tràn đầy hồ, ao, sông, suối, cây cỏ, muôn loài uống nước thỏa thuê. Tất cả đều phục Cóc bé tí mà kiện được trời nên đặt ra câu hát:
“Con cóc là cậu ông trời
Nguồn: Bài văn hay | Hãy kể diễn cảm một chuyện cổ tích theo lời của em _ | 1,318 | |
Hãy kể lai một buổi biểu diễn nghệ thuật mà em được xem.
BÀI LÀM 1
(Buổi biểu diễn xiếc ảo thuật)
Chủ nhật vừa qua em được đi xem xiếc ảo thuật cùng với mẹ ở Nhà hát Lớn thành phố.
Sân khấu rực rỡ đèn màu. Dưới hàng ghế khán giả, người xem đông nghịt. Đến giờ biểu diễn, hai cánh màn nhung từ từ được kéo ra. Nhiều tiết mục lần lượt được trình diễn như phóng lao, thổi phi tiêu, xiếc thú, phun lửa nhưng ấn tượng nhất là màn ảo thuật “Người trong hộp”. Ảo thuật gia nhốt người phụ diễn ở trong hộp, khoá lại, sau đó gõ đũa lên thành hộp và mở hộp ra: người phụ diễn đã biến mất. Trong khi đó, ở hộp thứ hai, đột nhiên, người phụ diễn mở hộp đứng lên chào khán giả. Xung quanh hai hộp đều trông khiến em thắc mắc không biết người phụ diễn làm thế nào để di chuyển sang hộp thứ hai. Em chưa kịp hỏi bố thì sân khấu đã đổi đèn màu và đến màn biểu diễn của những chú chó tinh khôn biết làm tính. Khán giả trầm trồ khen ngợi những chú cẩu sủa từng tiếng một trước bảng số người biểu diễn đưa ra. Buổi biểu diễn càng lúc càng thú vị với màn đua xe đạp của khỉ, vẹt biết nói tiếng người… Buổi biểu diễn kết thúc bằng màn đu dây rất nghệ thuật của hai diễn viên xiếc. Khán giả vỗ tay nhiệt liệt và ra về trong bầu không khí thoải mái, vui vẻ.
Em rất thích được xem biểu diễn xiếc ảo thuật. Em rất cảm ơn bố mẹ đã đưa em đi xem để em hiểu biết thêm về sân khấu ảo thuật.
BÀI LÀM 2
(Buổi biểu diễn ca nhạc nhẹ)
Tối qua, cả nhà em đi xem buổi biểu diễn ca nhạc nhẹ của Đoàn ca nhạc Trung ương.
Buổi trình diễn ca nhạc nhẹ diễn ra tại Nhà hát Lớn. Mở đầu là vũ khúc Thiên Nha, do nghệ sĩ nhân dân Lê Vân trình diễn. Tiếp nối chương trình, những giọng ca mượt mà, lão luyện của các nghệ sĩ Trung Đức, Mĩ Linh… đem đến cho khán giả những phút thư thái dịu ngọt và đầy rung cảm. Hoạt cảnh “Chúng tôi là Giải phóng quân” đưa khán giả đến chiến trường miền Nam ác liệt khi xưa. Từng giai điệu nhạc hùng hồn, trữ tình đem đến cho khán giả phút giây rung động, giàu chất anh hùng cách mạng. Tiếp theo, màn độc tấu ghi-ta ấn tượng làm em rất thích. Buổi biểu diễn chấm dứt bằng hợp ca của cả ban nhạc. Khán giả vỗ tay nhiệt liệt hoan hô.
Ca nhạc là loại hình nghệ thuật được hầu hết quần chúng nhân dân yêu thích. Em rất yêu ca nhạc. Được xem biểu diễn ca nhạc, tâm hồn em thật sự thoải mái, vui thích.
Share
Facebook
Twitter
Pinterest
Hãy kể lại một buổi biểu diễn nghệ thuật mà em được xem
Hướng dẫn
Hãy kể lại một buổi biểu diễn nghệ thuật mà em được xem
I. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Đề bài yêu cầu em kể lại một buổi biểu diễn nghệ thuật mà em được xem. Để làm tốt bài kể chuyện này, em cần hồi tưởng lại một buổi biểu diễn nghệ thuật theo trình tự gợi ý sau: 1. Đó là buổi biểu diễn nghệ thuật gì? Ở đâu? Khi nào? Đoàn nào biểu diễn? 2. Em đi xem với ai? Chương trình gồm những tiết mục gì, em thích tiết mục nào nhất? 3. Cảm nhận của em ra sao sau buổi biểu diễn?
II. NHỮNG BÀI THAM KHẢO
Bài làm 1
Hôm đó là tối thứ bảy, tại khu hội xuân, đoàn ca múa nhạc thành phố Hồ Chí Minh về biểu diễn nhân kỉ niệm ngày Đồng khởi 17 – 1. Tối đó, em được anh Hai dẫn đi xem. Mở đầu chương trình là bài hát “Dáng đứng Bến Tre” do ca sĩ Thùy Trang trình bày. Sau đó là nhiều tiết mục kế tiếp nhau: tấu nhạc, thổi sáo, múa v.v… Em thích nhất là bài “Mặt trời bé con” của nhạc sĩ Trần Tiến, do chính tác giả trình bày. Bài hát thật vui nhộn. Nhìn nét mặt điệu bộ của tác giả, nhất cái miệng rộng của chú và nụ cười pha chút hài hước làm cho khán giả cười ầm lên hòa cùng tràng pháo tay kéo dài như làm vỡ tung cả không gian hội xuân. Một đêm ca nhạc thật là thú vị.
Chưa bao giờ em được xem xiếc cả, bởi quê em ở xa vùng thị thành, thỉnh thoảng chỉ được xem những tiết mục xiếc trên tivi mà thôi. Nhưng lần ấy một đoàn xiếc ở thành phố về biểu diễn lưu động tại huyện em. Dù cách thị trấn bốn cây số, em cũng đòi bố đi xem cho bằng được.
Đây là buổi biểu diễn cuối cùng, ngày mai đoàn sẽ lên đường đi huyện khác. Hai bố con em đến nơi thì chương trình biểu diễn đã được tiến hành khá lâu rồi. Bố dẫn em leo lên cái sân khấu nơi diễn ra tiết mục “Xiếc mô tô”. Nghe mọi người ca ngợi tiết mục này, nên bố mua vé để xem tiết mục này trước. Sân khấu xiếc mô tô chỉ chứa được khoảng trăm người trở lại. Khách đã đứng thành vòng tròn quanh sân khấu. Bỗng nhiên, em thấy sân khấu rung lên, rồi trục xoay chuyển động cả cái khối tròn hình thì như cái giống quay nhanh dần. Và bỗng nhiên ba chiếc mô tô từ đáy giếng rồ ga, bay vọt lên theo thành giếng. Hai nghệ sĩ trẻ nam và một nghệ sĩ nữ, tay cầm lái, tay đưa ra vẫy chào khán giả, miệng cười tươi như hoa. Họ lượn lên, lượn xuống không khác gì những cánh chim chao liệng trong không trung. Đó là tiết mục xiếc “Mô tô bay” mà lần đầu tiên em mới thấy. Em cảm phục lòng dũng cảm của các nghệ sĩ xiếc. Sau đó, bố còn dẫn đi xem các tiết mục khác cũng nằm trong sân vận động của thị trấn xiếc người đi trên dây thép, khi đi xe đạp, xiếc đu quay v.v… Tiết mục nào cũng thú vị, cùng hấp dẫn như xiếc của nước ngoài chiếu trên tivi vậy.
Đêm ấy là đêm 20-11 trường em tổ chức buổi văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam tại cung văn hóa thiếu nhi của tỉnh. Đó là một đêm thật vui, thật đáng nhớ. Buổi biểu diễn văn nghệ với sự góp mặt hầu các lớp trong toàn trường. Có lẽ gần hai mươi tiết mục gồm đơn ca, song ca, múa, tấu hài, hoạt cảnh… Em thích nhất là tiết mục múa “Bông hồng tặng thầy cô” của lớp 5A với sự góp mặt của cô giáo chủ nhiệm lớp em. Phải thừa nhận là các anh các chị lớp 5A múa rất dẻo, rất đẹp và đều nữa. Chị Hải Như múa đẹp nhất. Bộ áo quần đồng phục mặc thường ngày đến trường, hôm nay lên sân khấu sao mà dễ thương đến thế, đẹp đến thế! Cô giáo em vốn trẻ đẹp, nay lại lên sân khấu lộng lẫy trong bộ áo dài màu mây, em lại càng thấy cô duyên dáng hơn ngày thường. Đêm văn nghệ kết thúc trong một tràng pháo tay kéo dài không dứt. | Hãy kể lai một buổi biểu diễn nghệ thuật mà em được xem. | 1,262 | |
Hãy kể lại buổi thu hoạch tôm ở nông trường
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI
Buổi thu hoạch tôm đã để lại trong tôi những ấn tượng khó quên.
B. THÂN BÀI
+ Hoạt động của chiếc máy bơm nước.
+ Mưc nước bắt đầu cạn dần, cạn dần.
+ Tiếng máy im, nước đã cạn dần. Một số người lội xuống mương để bắt tôm.
C. KẾT BÀI
Một mùa thu hoạch đã mang lại niềm vui, một sức sống mới của ấm no và hạnh phúc.
BÀI LÀM
Quên sao được, hình ảnh những con tôm càng xanh, tôm hùm, tôm thẻ… ấn tượng để lại trong tôi thật khó phai vào một buổi thu hoạch tôm ở nông trường hôm đó.
Tiếng máy bơm nổ xinh xịch vang lên như cố xua đuổi không khí lành mạnh lúc sáng sớm. Thì ra là một chiếc máy bơm nước, đang cố hút từng đợt nước trong mương thả ra ngoài ruộng. Thân nó dài đễnh ra, miệng há tròn hút nước mạnh mẽ tạo thành những vực xoáy tròn quanh miệng. Một ống khóe bên dưới phun nước ra ào ào trắng xóa.
Mực nước trong mương bắt đầu cạn dần, cạn dần…
Kìa! Thấp thoáng ở những lùm cây, ô nước, ở những bụi rậm và hai bên mương… vài con tôm đó đây nổi lên búng lách tách.
Nước đã rút gần cạn, tiếng máy bơm đã im bặt. Nó há cái miệng to tròn như đòi tiền thưởng công làm việc. Nước đã cạn, những người lội xuống mương bắt đầu “bắt” tôm.
Cả nhà tôm đều lo sợ. Chị tôm càng xanh búng lách tách rồi chui vào lùm ôrô, ông tôm hùm to tướng đang luông cuống với “thân hình đồ sộ” của mình, biết trốn vào đâu? Anh tôm thẻ nhảy cẳng lên rồi lặn mất. Lũ tép mòng hoảng hốt, quăng mình lên mép mương…
Người ta bắt từng con tôm, bỏ nhẹ nhàng vào thùng. Nhưng cô cậu chưa hết hoảng sợ. Sau khi “triệu hồi tất cả” vào, chúng vẫn còn run rẩy lẩn trốn. Nhưng vài cô cậu bướng bỉnh giơ cặp càng chắc búng mạnh và nhảy rộ lên.
Tất cả số tôm dưới mương được chuyển lên bờ và đưa vào nhà ướp lạnh. Nụ cười sung sướng tràn ngập trên từng khuôn mặt rạng rỡ, mọi người mừng thu hoạch thắng lợi. Mặt trời đã đứng trên đỉnh đầu…
Quang cảnh ấy cứ in đậm trong tôi, thật khó quên. Quên sao được, những tôm là tôm như còn nhảy, còn búng trước mặt tôi. Một mùa thua hoạch thắng lợi đã mang lại niềm vui, một sức sống mới cho nông trường. | Hãy kể lại buổi thu hoạch tôm ở nông trường | 442 | |
Hãy kể lại cuộc gặp gỡ của em với một vài nhân vật trong truyện cổ tích
Gợi ý
DÀN BÀI ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI
Chọn nhân vật để gặp gỡ và chọn hoàn cảnh để gặp.
B. THÂN BÀI
– Câu chuyện giữa em và các nhân vật trong cuộc gặp gỡ ấy.
– Tưởng tượng tự do nhưng vẫn lấy cơ sở từ đặc điểm của tính cách nhân vật, đảm bảo sự hợp lí nhất quán về chủ đề và cốt truyện.
– Tạo ra được không khí cổ tích.
C. KẾT BÀI
– Em suy nghĩ khái quát về vấn đề đưa ra.
– Em mong muốn gì sau cuộc gặp gỡ.
BÀI LÀM
“Ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi…”
Em thường được bước vào trong giấc mơ trong lời kể dịu dàng của bà, của mẹ. Rồi chẳng biết tự bao giờ em đã yêu cô Tấm, anh Khoai…
Trăng đêm nay sáng quá, gió nhè nhẹ thổi, nằm bên cạnh bà, em thiu thiu ngủ… Nàng Tấm hiện về xinh đẹp hiền từ. Em như không tin vào mắt mình. Nàng Tấm mà em mơ ước được gặp bấy lâu nay đang ngồi nhặt thóc ngoài hiên. “Từng ấy thóc thế kia thì nhặt đến bao giờ mới xong!” Em thầm nghĩ. Bước lại gần, em khẽ chào chị, trong lòng vẫn còn thắc mắc:
– Em chào chị, chị Tấm ơi, chị đang nhặt thóc phải không?
Nước mắt tràn trề, chị quay lại:
– Chào em, em đến tự bao giờ thế? Chị buồn lắm vì không được đi xem hội. Từ bé đến giờ chị chưa lần nào được đi cả!
– Hai chị em cùng nhặt thóc với nhau, cùng vui đấy chứ phải không chị?
Chị Tấm vẫn khóc, hình như tất cả sự uất ức đang trào dâng trong chị. Vừa lúc đó, một đám mây hồng xuất hiện, ông Bụt bước xuống trong ánh hào quang. Em vừa vui, vừa cảm thấy ngỡ ngàng. Chị Tấm cũng vậy, chị lau nước mắt ngạc nhiên. “Con chào cụ!”, em cũng lí nhí: “Con chào cụ ạ!”. Ông Bụt mỉm cười hiền từ. Ông gọi một đàn chim sẻ xuống nhặt thóc giúp chị Tấm, chỉ trong chốc lát thóc được nhặt xong, chị Tấm được đi xem hội. Em cảm thấy vui lây, thầm nhủ: “Chị Tấm ơi! Em cầu mong cho chị luôn gặp những điều tốt lành nhất”. Chị Tấm bỗng quay lại:
– Em bé ơi, chị đi đây, tạm biệt nhé! Đến một lúc nào đó chị lại về thăm em, cám ơn em đã đến thăm chị!
Em nghĩ miên man, đến lúc ngẩng lên không thấy ai nữa, chỉ có lũ chim non đang ríu rít. Em tạm biệt ngôi nhà, ra giếng thăm cá bống rồi lại tiếp tục đi. Không xa lắm, một khu rừng rậm rạp đã hiện ra trước mắt em. Kì lạ quá! Không biết là nơi nào! Em nhìn chung quanh chỉ thấy tre nứa chen chúc nhau. Bỗng nhiên “Hu! Hu!… Trời ơi là trời”, tiếng khóc của ai đó nghe tội nghiệp quá!… biết đâu, biết đâu… lại là của anh Khoai? “Mấy cây tre đang ở đây cơ mà…” Em thốt lên:
– Anh mến cô út từ lâu lắm rồi, cô ấy thật hiền lành dễ thương. Cô ấy hay giúp đỡ mọi người lắm. Nếu gặp em chắc chắn em sẽ yêu quí cô ấy ngay thôi.
– Em tin là thế, nhưng anh đừng khóc nữa, rồi anh sẽ tìm thấy cây tre thôi.
Anh Khoai vẫn buồn và cố mỉm cười với em: “Cảm ơn em, bây giờ anh phải đi thôi”. Anh lầm lũi bước đi, gánh một gánh đốt tre. Bất giác nước mắt em trào ra, thương anh Khoai quá. Nhưng em cũng biết rằng chắc chắn anh sẽ được giúp đỡ, những người hiền lành luôn gặp điều kì diệu mà! Gió mát ùa đến, thổi tóc em bay bay… lau nước mắt, em đi theo con đường mòn trong rừng. Xung quanh em, chim chóc hót ríu rít, hoa thơm ngát, nhắm mắt lại, em mơ ước: “Giờ mình chỉ muốn gặp vợ chồng anh Sọ Dừa thôi! Không biết bây giờ anh ấy đang làm gì?” Mở mắt ra chợt “bịch”, em vấp phải cái cột tre đau điếng. Đúng như ước mơ, vợ chồng anh Sọ Dừa kia rồi, đang mải mê cuốc vườn. Anh chị ngẩng lên:
– Cơn gió nào đưa em đến đây vậy cô bé?
Chị Ba ngưng tay khẽ hỏi: “Em ăn bánh nhé? Sau đó ở đây chơi cho vui được không?” Em trả lời:
– Ước gì em cứ được ở đây mãi, nhưng chắc chắn là không được đâu.
Miếng bánh thơm ngọt như tan ra trong miệng em, vợ chồng anh Sọ Dừa hạnh phúc quá. Đúng là phải tìm hiểu thì mới biết được con người họ, không nên “nhìn mặt mà bắt hình dong”. Anh Sọ Dừa hiền lành thì dĩ nhiên được hóa thành anh thanh niên vạm vỡ, khỏe mạnh như ngày hôm nay thôi, chẳng có gì lạ cả.
Lúc này mặt trời đã gần đi về phía dãy núi rồi, em tạm biệt anh chị Sọ Dừa để ra về. Thật tuyệt diệu, một ngày đáng yêu quá! Em tung tăng bước trên đường. Không hiểu sao, em cứ chắc chắn rằng con đường đầy hoa thơm sẽ dẫn em về tới nhà! Và những người hiền lành cho dù có ở đâu cũng sẽ gặp may mắn. Còn cái ác, tất nhiên sẽ bị trừng trị như mẹ con Cám, phú ông… Em tự hứa sẽ không bao giờ quên được điều đó, không bao giờ quên ngày hôm nay và nhẩm đọc: “Tôi yêu truyện cổ nước tôi”.
Bỗng tiếng bà tôi vang lên: “Này cháu, dậy đi thôi”. Tôi mở mắt choàng tỉnh, nhất định tôi sẽ kể giấc mơ cho bà tôi nghe. | Hãy kể lại cuộc gặp gỡ của em với một vài nhân vật trong truyện cổ tích | 982 | |
Hãy kể lại câu chuyện Bánh Chưng, bánh Giầy qua trí tưởng tượng của em
Gợi ý
Vua Hùng Vương thứ sáu mở cuộc thi chọn người nối ngôi. Vua ra điều kiện: trong lễ tế Tiên vương, ai làm vua hài lòng, người đó sẽ được truyền ngôi. Các lang liền toả đi khắp nơi tìm bạc vàng châu báu, của ngon vật lạ để dâng lên. Thấy thế, Lang Liêu rất bối rối. Là con trai nhà vua nhưng chàng rất nghèo, không thể tìm được những đồ quý hiếm. Chàng băn khoăn, trằn trọc suy nghĩ…
Thế là sắp đến ngày lễ Tiên vương rồi. Ngày kia trong triều sẽ mở đại tiệc. Hẳn các lang anh đã chuẩn bị được nhiều của ngon vật lạ lắm. Nào là nem công chả phượng, nào là yến huyết, vi cá… Vua cha rồi sẽ khen nức nở, chỉ việc chọn món nào ngon nhất mà thôi. Mình không ham gì ngôi cao, chỉ mong ước được sống bình yên như thế này. Nhưng, dẫu sao cũng là tấm lòng, giá như mình có một món gì đó thật ý nghĩa dâng lên Tiên vương và cũng là để thể hiện lòng thành kính đối với vua cha thì tốt quá.
Lang Liêu ngủ thiếp đi, trong mơ chàng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ chống gậy đến nói:.
– Lang Liêu ạ, ta biết con tuy nghèo nhưng rất có hiếu. Con chỉ muốn có một món quà gì đó để dâng lên Tiên vương và cũng để tỏ lòng hiếu thảo đối với vua cha phải không? Vậy ta hỏi con: Con làm nghề nông, trên đời cái gì cao nhất?
– Thế cái gì gần gũi và quý nhất?
– Dạ, đất ạ!.
– Vậy con hãy lấy những sản vật do chính tay con trồng cấy và nuôi nấng để làm ra món ăn gì đó vừa tượng hình được cho trời vừa tượng hình cho đất. Đó chính là món quà quý nhất con có thể dâng lên Tiên vương.
Cụ già nói xong liền hoá thành một làn khói mỏng bay đi. Lang Liêu giật mình tỉnh dậy. Nhớ lại giấc mơ vừa qua, chàng vô cùng mừng rỡ.
Sáng hôm sau, Lang Liêu nhờ mẹ lấy cho ít lá vẫn dùng làm bánh. Chàng chọn thứ gạo ngon nhất, trắng nhất, mổ một con lợn béo lấy những miếng thịt ngon nhất. Sau đó chàng lấy lá gói thành thứ bánh vuông vức như mặt đất bao la.
Xong xuôi chàng cho vào nồi luộc. Qua mấy canh giờ, mùi bánh chín bốc lên thơm nức cả làng xóm. Ai đi qua cũng ghé vào xem, khen rằng chưa từng có ai gói được thứ bánh thơm như thế. Cũng thứ cơm nếp thơm ngon ấy, chàng giã mịn, nặn thành thứ bánh tròn vành vạnh như bầu trời buổi sớm.
Sáng hôm sau, mẹ Lang Liêu đội mâm bánh tròn đi trước, Lang Liêu đội mâm bánh vuông theo sau. Hai mẹ con vào đến trong cung thì mọi người đã tề tựu đông đủ.
Lễ Tiên vương xong, vua cùng các quan đại thần, đi một vòng qua các mâm cỗ nếm thử. Đến mâm nào Người cũng chỉ nếm qua một miếng lấy lệ, tỏ vẻ không vui. Những gan hùm, tay gấu, lim voi, đến cả vi cá mập, lòng cá Ông…, Người cũng vẫn thường ăn hàng ngày, có gì lạ đâu? Người buồn vì thấy trước một thử thách như thế, các lang không nghĩ được cái gì có ý nghĩa, chỉ biết có mỗi cách là đi các nơi tìm của ngon vật lạ.
Người sai lấy dao cắt bánh rồi chia cho mỗi người một miếng. Ai ăn cũng tấm tắc khen ngon. Nhà vua hỏi Lang Liêu:
– Ai bày cho con làm hai thứ bánh này? Chúng có ý nghĩa như thế nào?
Lang Liêu vội quỳ xuống thưa:
– Muôn tâu vua cha, thứ bánh hình tròn này chính là tượng cho bầu trời cao xa, nơi có đức Ngọc Hoàng cùng Tiên vương ngự trị, còn thứ bánh hình vuông này là tượng cho mặt đất rộng lớn, nơi có vua cha đang cai quản muôn dân, gìn giữ nên thái bình muôn thuở. Bánh được làm từ gạo nếp, đỗ xanh, thịt ngon do chính bàn tay con làm ra. Chính tấm lòng kính yêu của con đối với vua cha đã mách bảo cho con đấy ạ!
Vua đỡ Lạng Liêu đứng dậy. Nhìn thẳng vào mắt chàng, Người nói:
– Con không những là một đứa con có hiếu mà còn là một ngườị rất yêu lao động, biết quý trọng những gì do bàn tay lao động làm ra.
– Như ta đã nói từ trước, người nối ngôi ta phải nối được chí ta. Chí ta là muốn lo cho muôn dân được hưởng thái bình muôn thuở, ngày càng no đủ, sung túc. Muốn làm được điều đó, người đứng đầu thiên hạ phải hiểu được nghĩa lí của trời đất, phải biết yêu lao động, trân trọng từng hạt gạo do người nông dân đã phải một nắng hai sương, lam lũ vất vả làm ra. Lang Liêu tuy không phải là con trưởng, xưa nay cũng không mấy khi được ta quan tâm săn sóc nhưng nó lại là người gần ta và hiểu được ta hơn ai hết. Từ hôm nay, ta tuyên bố, Lang Liêu chính là người sẽ thay ta trị vì thiên hạ.
Mọi người nhất loạt quỳ xuống, hô vang:
– Đức vua vạn tuế! Vạn vạn tuế!
Nhà vua nói tiếp:
– Ta cũng tuyên bố, từ nay trở đi sẽ lấy hai thứ bánh này để cúng tổ tiên. Thứ bánh vuông này gọi là bánh chưng, bánh tròn gọi là bánh giầy…
Triều vua Hùng Vương thứ bảy đã được lập ra như thế đó. Và hai thứ bánh chưng, bánh giầy ngày ấy cùng với phong tục cúng lễ tổ tiên ngày tết, vẫn còn được lưu truyền cho mãi đến bây giờ. | Hãy kể lại câu chuyện Bánh Chưng, bánh Giầy qua trí tưởng tượng của em | 1,007 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.