text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Giới thiệu kể về một lễ hội ở địa phương quê hương em
Hướng dẫn
Hội dược tổ chức trong hai ngày, người ỗ các nơi đổ về rất đông, người kinh có, người dân tộc có, họ đến đây không hề có sự phân biệt dân tộc hay kẻ giàu người nghèo. Họ đến để vui chơi, để thưởng thức tài nghệ của các chàng “man gát” điều khiển voi trong cuộc chạy đua.
Trường đua là một khoảng đất rộng, bằng phẳng dài khoảng năm, sáu cây số’. Mới sáng sớm, dân làng đã tập trung đông đủ, chiêng trông nổi lên phá tan sự im lặng vốn có của đời sống buôn làng Tây Nguyên.
Từng tốp voi được đưa ra, con nào cũng được trang điểm rất đẹp và rất lộng lẫy: Con thì quàng khăn đỏ, con thì quàng khăn xanh, có con đội trên đầu những chiếc mũ nhiều màu sắc. Các chàng “man gát” cũng ăn mặc rất chỉnh tề, nai nịt gọn gàng. Họ thường là những người phi ngựa giỏi nhất làng.
Đến giờ xuất phát, chiêng trông, tù và nổi lên, các con voi dàn thành hàng ngang lao đầu chạy, chúng chạy như bay, bụi cuốn mù mịt, người xem hội cũng la hét om sòm cổ vũ cho các con voi và các hiệp sĩ. Không khí giờ đây thật náo nhiệt.
Em thật không ngờ, ngày thường các chú voi với cái dáng lầm lì, chậm chạp thế mà giờ đây, các chú hăng máu phóng hết tốc lực dể về trúng đích.
Nhìn các chú voi lao đầu chạy, em mới thấy tài nghệ của các hiệp sĩ “man gát”, họ phải dũng cảm lắm mới cho voi chạy nhanh và về trúng đích như vậy. Các chú voi này cũng rất ngộ nghĩnh, dễ thương, khi chạy đến đích, các chú đều ghìm đà, huơ vòi chào khán giả, dường như chúng cũng hiểu các khán giả này đang cuồng nhiệt cổ vũ cho chúng, chúng huơ vòi là để cảm ơn khán giả.
Em thích ngày Hội đua voi ở Tây Nguyên, đây cũng là bản sắc văn hóa của dân tộc em. Em tự hào về truyền thống văn hóa của dân tộc. Em ước muôn sau này sẽ được ngồi lên lưng voi trong các ngày hội của buôn làng để giống như các hiệp sĩ “man gát”.
BÀI LÀM 2
Kéo co là một trò chơi dân gian của dân tộc Việt Nam ta diễn ra vào những ngày Tết hoặc các lễ hội. Trò chơi này rất vui vì có nhiều người tham gia và nhiều người đến xem để cổ vũ, mặt khác nó cũng thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc.
Tục kéo co diễn ra ở nhiều nơi, mỗi nơi có một kiểu chơi khác nhau, ở làng Hữu Trấp, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh thường tổ chức kéo co giữa phái nam và phái nữ. Có lúc phái nam thắng cũng có lúc phái nữ thắng. Dù thắng hay thua cả hai phái dều thấy rất vui. Nhưng trò kéo co ở làng Tích Sơn thuộc thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thì lại khác, đối tượng chơi lại là trai tráng giữa hai giáp trong làng nhưng số lượng người chơi hoàn toàn không đều nhau, không hạn chế số người. Sau cuộc thi dân làng nổi trống ăn mừng và các cô gái không ngớt lời ngợi khen các trai tráng đã thắng cuộc. | Giới thiệu kể về một lễ hội ở địa phương quê hương em | 583 | |
Đề bài: Giới thiệu Lũng Cú – vẻ đẹp cực bắc Tổ quốc
Bài làm
Lũng Cú, mảnh đất địa đầu cực bắc Tổ quốc, là vùng đất của chè Shan, rượu mật ong và thắng cố, của những nét văn hoá truyền thống đặc sắc các dân tộc Mông, Lô Lô, Giáy. Từ trung tâm thị xã Hà Giang vượt qua gần 200 km, du khách sẽ tới Lũng Cú thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, vùng đất địa đầu cực bắc của Tổ quốc.
Tên gọi Lũng Cú có nhiều giả thiết: Long Cư (rồng ở, động rồng), Lũng Ngô (bởi cánh đồng Thèn Pả trồng nhiều ngô), lại có giả thiết: Lũng Cú là tên người đứng đầu một dòng họ dân tộc Lô Lô, có công khẩn hoang, gìn giữ và phảt triển vùng đất. Nhưng nhiều người cho rằng: Lũng Cú có lẽ bắt đầu từ chữ Long cổ (Long-, rồng; cổ: trống) nghĩa là trống rồng. Thời phong kiến rồng tượng trưng cho vua, trống rồng là trống của nhà vua. Theo lời kể của các cụ cao tuổi ở Lũng Cú, trước đây đồng bào Là Lô có phong tục may sắm quần áo đúng kiểu của dân tộc Lô Lô ở Lũng Cú để mặc cho người qua đời, như thế tổ tiên mới nhận.
Hiện nay đồng bào Lô Lô ở Lũng Cú cũng như ở Mèo Vạc (Hà Giang) đều sử dụng thành thạo trống đồng trong việc tang. Trống đồng của đồng bào Lô Lô có nguồn gốc từ trống đồng Đông Sơn, như vậy Lũng Cú còn bảo lưu được những hiện vật lịch sử, văn hoá quý giá tiêu biểu rực rở của thời Hùng Vương. Theo sử sách vào thời Tây Sơn, Hoàng đế Quang Trung đã cho đặt ở nơi biên ải hiểm trở này một chiếc trống lớn, thời đó tiếng trống là phương tiện thông tin nhanh nhất, vị trí đặt trống của nhà vua, có lẽ là trạm biên phòng tiền tiêu Lũng Cú bây giờ…
Xã Lũng Cú bao gồm chín thôn, bản: Lô Lô Chải, Séo Lủng, Tả Giá Khâu, cẳn Tằng, Thèn Ván. Thèn Pả, Sì Mần Khan, Sán Chồ, Sán Sà Phin, tất cả ở độ cao trung bình từ 1.600 – 1.800 mét so với mặt nước biển, ở những địa danh này vào mùa đông, gẳn đây nhất vào đầu tháng 1 – 2003 thời tiết rất lạnh và có cả tuyết rơi. Trong số chín thôn, bản của Lũng Cú thì Séo Lủng thuộc phần đất thượng cùng cực bắc nhưng phải đi bộ mất 15 phút mới tới cột mốc 17 đoạn 3 (Hà Giang – Vân Nam phân chia từ đời Mãn Thanh năm 1887), đây mới chính là mỏm đất tột bắc. Phía trái thung lủng Thèn Ván thăm thẳm, rộng khoảng 50ha, bên phải là đầu nguồn sông Nho Quế, bắt nguồn từ Mù Cảng – Vân Nam – Trung Quốc đổ về Đồng Văn, Mèo Vạc, núi non trùng điệp hùng vĩ vào bậc nhất đất nước… Khi nói về nước Việt Nam liền một dải, người ta hay nêu từ Trà cổ (Quầng Ninh) đến Cà Mau (nếu tính theo bờ biển), hoặc từ Mục Nam Quan (Lạng Sơn) đến Cà Mau (nếu tính theo trục đường quốc lộ), hoặc từ Lũng Cú đến Cà Mau (nếu tính theo giới hạn của vĩ độ). Nếu kể đến địa danh hẹp, chi li hơn phải nói từ xóm Séo Lủng đến xóm mũi Rạch Tàu…
Là vùng quê lâu đời của đồng bào dân tộc Mông và Lô Lô, Lũng Cú có diện tích tự nhiên: 3.460 ha có 503 hộ với 3.051 nhân khẩu, Lũng Cú có đường biển giáp với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hơn 16km. Bà con dân tộc ở Lũng Cú canh tác chủ yếu là nương rẫy và làm ruộng bậc thang, nổi bật là đồng bào dân tộc Mông, Lô Lô vẫn bảo tồn nghề dệt truyền thống, với các công đoạn làm sợi lanh, dệt vải. Những năm trước dày, mỗi khi nhắc tới Lũng Cú – Đồng Vàn, hình,ảnh mà du khách nhớ nhiều nhất là đường giao thông xuyên qua những dãy núi cheo leo, phương tiện đi lại khó khăn, mùa đông trời lạnh buốt và cuộc sống còn khó khăn của bà con dân tộc. Ngày nay, dưới ánh sáng đường lối đổi mới, với những chính sách, sự đầu tư kịp thời của Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc ít người vùng cao nói chung và bà con dân tộc ít người ỡ Lũng Cú nói riêng thì Lũng Cú đã có nhiều đổi thay. Từ năm 2001, con đường từ Đồng Văn lên Lũng Cú đã dược nâng cấp, trải nhựa phẳng phiu, dòng diện quốc gia đã thắp sáng mảnh đất địa đầu Lũng Cú và cột cờ Tổ quốc được dựng lên trên đỉnh núi Rồng, trông xa như một ngọn tháp, có hình dáng cột cờ Hà Nội, cao gần 209 mét. Chân bệ có sáu mặt phù diêu mang nét hoa văn cửa trống đồng Đông Sơn, lá cờ Tổ quốc tung bay, kiêu hãnh giữ bầu trời biên cương, như ngọn lửa bất diệt, in bóng xuống mặt hồ Lô Lô xanh biếc. Lưng chừng núi Rồng có hang Sì Mần Khan rộng đẹp, hấp dẫn, hàng triệu năm tạo sơn, hay chính bàn tay nghệ nhân thời tiền sử tạo nên những đường nét mê hồn nhưng chính Lũng Cú thu nhỏ vào từng vân đá…
Mùa xuân đến, mời du khách lên Hà Giang, tới thăm Lũng Cú, vượt qua 500km từ Hà Nội theo quôc lộ số 2 và quốc lộ 4C, qua cao nguyên đá Đồng Văn với thời gian hai ngày là du khách có thể đến với Lũng Cú, mảnh đất địa đầu cực bắc của Tổ quốc, nơi vẫn bảo tồn những nét văn hoá truyền thống, vùng đất có chè Shan, rượu mật ong và thắng cố, xứ sở của đào phai, hoa lê, tuyết trắng và náo nhiệt trong buổi chợ phiên. Du khách sẽ được tận hưởng không khí trong lành, lắng nghe tiếng đàn môi tâm tình gọi bạn, tiếng khèn Mông say quyến rũ tình người, tiếng trống đồng âm vang bên bếp lửa nồng (lượm men say của rượu ngô… du khách dễ gì quên, dẫu chỉ một lần đến. | Giới thiệu Lũng Cú – vẻ đẹp cực bắc Tổ quốc | 1,081 | |
Đề bài: Giới thiệu món ăn cơm hến Huế.
Bài làm
Huế không chỉ đước biết đến với sự mộng mơ, sông Hương, núi Ngự mà còn bởi những món ăn dân dã nhưng không kém phần đậm đà. Ai đã từng đến Huế mà chưa được nếm thử món cơm hến thì đã thiếu mất một phần của Huế, nhưng nếu đã ăn rồi thì sẽ mãi không quên được hương vị đậm đà của bát cơm hến.
Cơm hến xuất phát từ tầng lớp bình dân vùng cồn Hến ven sông Hương, có thời từng được tiến vua, trở thành món ăn cung đình. Đây là món ăn dễ tìm kiếm khi du khách đến thăm Huế.
Cơm hến là một đặc sản ẩm thực Huế. Đó là món ăn gồm có nước canh hến chan với cơm nguội, thêm một chút rau và gia vị. Cơm hến được trình bày dưới hình thức là cơm nguội trộn với hến xào qua dầu và gia vị. Thịt hến và nước hến là hai vị chính của cơm hến, ngoài ra thì cũng không thể thiếu các loại gia vị đi kèm. Các thành phần khác để làm nên cơm hến gồm có ruốc, tương ớt, tiêu, nước mắm, tỏi, gừng, da heo chiên giòn, đậu phụng rang, muối, mè, rau sống, cơm nguội. Cơm hến ăn hoài không chán bởi sự lạ đời của nó. Theo nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, “người Việt mình ăn cơm kiểu nào cũng phải nóng, duy chỉ cơm hến nhất thiết phải là cơm nguội”. Người dân lao động Huế xưa và cả bậc vua chúa đều tìm thấy trong món cơm hến sự hài hòa để cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể một cách chừng mực. Sự hấp dẫn của món cơm hến còn thể hiện ở khay gia vị. Ai thích ăn cay đã có ớt tương, ớt màu, ớt dầm nước mắm. Ai thích ăn mặn đã có ruốc và muối. Ai lạt miệng đã có vị tinh (bột ngọt). | Giới thiệu món ăn cơm hến Huế | 339 | |
Giới thiệu một cách khái quát về văn học Việt Nam lớp 10
Hướng dẫn
Hãy giới thiệu một cách khái quát về văn học Việt Nam:
1. Các bộ phận hợp thành.
2. Tiến trình lịch sử văn học.
3. Một số nội dung chủ yếu.
4. Một số thành tựu nghệ thuật.
Dàn ý
1. Văn học Viêt Nam gồm có 2 bờ phận lớn hợp thành: văn học dân gian,và văn học viết.
– Văn học dân gian gồm có truyện dân gian (thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười), thơ ca dân gian (tục ngữ, câu đố, vè, ca dao, truyện thơ), sân khấu dân gian (chèo, tuồng đồ).
– Văn học viết gồm có văn học viết bằng chữ Hán, văn học viết bằng chữ Nôm, văn học viết bằng chữ Quốc Ngữ.
2. Văn học viết Việt Nam đã vận động và phát triển qua hai thời kì lớn:
– Văn học trung đại từ thế kỉ thứ X đến hết thế kỉ XIX, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.
– Văn học hiện đại từ đầu thế kỉ XX đến nay, viết bằng chữ Quốc ngữ.
3. Nội dung chủ yếu của văn học Việt Nam đã kết tinh và phản ánh tư tưởng, tình cảm, quan niệm chính trị, văn hoá, đạo đức của con người Việt Nam trong nhiều mối quan hệ đa dạng.
– Phản ánh quan hệ với thế giới tự nhiên.
– Phản ánh quan hệ xã hội.
– Phản ánh ý thức về bản thân.
4. Văn học Việt Nam đã thu được một số thành tựu nghệ thuật đặc sắc.
– Xây dựng hệ thống thể loại văn học dân tộc.
– Xây dựng và phát triển tiếng Việt thành một ngồn ngữ văn học ngày một giàu đẹp.
– Tiếp thu có sáng tạọ kinh nghiệm và tinh hoa nghệ thuật của văn học thế giới. | Giới thiệu một cách khái quát về văn học Việt Nam lớp 10 | 308 | |
Giới thiệu một danh lam thắng cảnh Sông Hương
Bài làm
Có lẽ mỗi người đều có một quê hương riêng, nơi in dấu trong ta bao kỉ niệm đẹp đẽ, êm đềm của tuổi thơ, và hẳn là ai cũng cần có cho mình một lưu giữ đẹp về một danh lam thắng cảnh của quê hương, để tự hào để giới thiệu với bạn bè đó đây. Hôm nay mình sẽ giới thiệu cho các bạn một danh lam thắng cảnh ở quê hương mình, đó là sông Hương.
Có lẽ, từ lâu sông Hương đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thi ca nghệ thuật, nso dường như không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ. Từ màu sắc bình thương hiền dịu hàng ngày, nó bỗng đột khỏi thành “dòng nước trắng-Lá cây xanh”. Rồi từ cái vẻ tha thướt mơ màng, nó bỗng nhiên trở nên khí phách như kiếm dựng trời xnah trong câu thơ của Cao Bá Quát, để rồi cuối cùng nó đột khỏi trở thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn trong tác giả Từ Ấy. nhưng dù muôn dáng, nghìn màu đến đâu đi chăng nữa thì sông Hương, bao giờ cũng thế. Nó luôn là người tình, người con gái đẹp mơ màng của đất nước đã đổ bóng xuống trang thơ, trang văn của biết bao cây bút tài hoa. Có khi nó rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, cuộn xoáy những ghềnh thác, nhưng bao giờ cũng vậy, dường như đã trở thành một nét bản sắc của sông Hương hay của con người xứ Huế quê tôi. Nó lại trở nên dịu dàng giữa những dặm dài chói lọi của hoa đỗ quyên rừng, không những thế nó còn được ví như người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở. Sông Hương như người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại. rồi nó như người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya, sông Hương quả thực là Kiều, rất Kiều.
Sông Hương cao quý và thiêng liêng hơn bỏi nso đã cho tôi, cho những người dân xứ Huế cơ hội được sống chậm để cảm nhận, đẻ lắng nghe chứ không ồn ào, nhộn nhịp xô bồ như nhịp sống hiện đại. nhờ điệu chạy slow tình cảm ấy đó thôi. Và cũng chính tại mặt nước sông Hương là nơi đã sinh thành ra toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế. Vậy đó, sông Hương là chiếc nôi của văn hóa, của nghệ thuật dân tộc. Thật bởi vậy, àm bao lâu nay nó chưa bao giờ thôi hấp dẫn những người tình xứ sở và muôn nơi.
Sông Hương là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc, ở đây vẫn cho ta thấy một linh hồn mô tê xưa cũ. Đó là một nét bản sắc mà không một nơi nào trên dải đất hình chữ S tôi còn tháy khá rõ. Sông Hương là một báu vật, là một gì đó thật yêu mến và nhớ thương trong lòng tôi, trong lòng người dân quê hương. Bỗng dưng tôi nhớ tới câu thơ của Nguyễn Trọng Tạo:
Thèm đọc một đoạn văn Hoàng Phủ Ngọc Tường
Có ai đó rót chiều vào chén ngọc
Huế dịu dàng xây bằng khói và sương”.
Chao ôi, con sông quê hương bao năm vẫn lặng tờ náu mình dưới trầm tích thời gian, mà nay bỗng sống dậy một tâm tình, một nét đẹp xôn xao. Sông Hương quý, sông Hương thơ nhưng hơn tất cả đó còn là một sông hương mang vẻ đẹp như triết lí, như cổ thi, vẻ đẹp của trầm tích văn hóa.
Đã có lần tự hỏi, ai đã đặt tên cho dòng sông, và xin giới thiệu với các bạn một huyền thoại kể rằng: người dân quanh vùng này vì yêu quý con sông xinh đẹp nên đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống, để dòng sông được thơm tho mãi mãi. Đó phải chăng là cách lí giải hợp tình nhất chăng, cho sông Hương, cho tâm hồn con người xứ sở. | Giới thiệu một danh lam thắng cảnh Sông Hương | 709 | |
Đề bài: Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê em
Bài làm
"Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời, càng toả mát hương hoa thơm Thủ đô…". Nhắc đến Hà Nội là nhắc đến hình ảnh Hồ Gươm trong xanh và bóng Tháp Rùa nghiêng nghiêng soi dáng. Hồ Gươm cùng quần thể kiến trúc của nó đã trở thành một biểu tượng đẹp đẽ và thiêng liêng về Hà Nội – trái tim hồng của cả nước.
Hồ Gươm đã tồn tại từ trước nay rất lâu. Cách đây khoảng 6 thế kỷ, theo những địa danh hiện nay, hồ gồm hai phần chạy dài từ phố Hàng Đào, qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt tới phố Hàng Chuối, thông với sông Hồng. Nước hồ quanh năm xanh biếc nên hồ Gươm cũng được gọi là hồ Lục Thuỷ.
Vào thế kỷ XV, hồ được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm. Sự kiện ấy gắn liền với truyền thuyết trả gươm thần cho Rùa Vàng của vị vua khai triều nhà Hậu Lê – người anh hùng của khởi nghĩa Lam Sơn chống lại giặc Minh (1417-1427), Lê Lợi. Truyền thuyết kể rằng khi Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, có người dân mò được một lưỡi gươm, sau đó chính ông nhặt được một cái chuôi ở trong rừng. Khi lưỡi gắn vào chuôi gươm thì thân gươm ánh lên hai chữ "Thuận Thiên" – "Thuận theo ý trời". Gươm báu này đã theo Lê Lợi trong suốt thời gian kháng chiến chống giặc Minh. Khi lên ngôi về đóng đô ở Thăng Long, trong một lần nhà vua đi chơi thuyền trên hồ Lục Thuỷ, bỗng một con rùa xuất hiện. Rùa vươn đầu cất tiếng nói: "Xin bệ hạ hãy hoàn lại gươm cho Long Quân”. Lê Thái Tổ hiểu ra sự việc bèn rút gươm khỏi vỏ, giơ gươm ra thì gươm bay về phía con rùa. Rùa ngậm gươm lặn xuống đáy hồ, và từ đó hồ Lục Thuỷ có tên gọi mới là hồ Hoàn Kiếm (trả gươm) hay hồ Gươm. Chính truyền thuyết đặc sắc này đã khẳng định tấm lòng yêu chuộng hoà bình, ghét chiến tranh của người dân Thăng Long – Hà Nội nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung. Câu chuyện này đã được nhấn mạnh trong ngày lễ Hà Nội đón nhận danh hiệu "Thành phố Vì hoà bình”
Sau đó, cũng vào thời Lê, hồ còn được dùng làm nơi tập luyện của thuỷ quân nên có lúc được gọi là hổ Thuỷ Quân.
Hồ Hoàn Kiếm là một thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội. Quanh hồ trồng nhiều loại hoa và cây cảnh. Đó là những hàng liễu rủ thướt tha, những nhành lộc vừng nghiêng nghiêng đổ hoa soi bóng dưới lòng hồ. Giữa hồ có tháp Rùa, cạnh hồ có đền Ngọc Sơn có "Đài Nghiên Tháp Bút chưa sờn"… Hình ảnh hồ Gươm lung linh giống như một tấm gương xinh đẹp giữa lòng thành phố đã đi vào lòng nhiều người dân Hà Nội. Người dân Hà Nội sống ở khu vực quanh hồ có thói quen ra đây tập thể dục vào sáng sớm, đặc biệt là vào mùa hè. Họ gọi các khu phố nằm quanh hồ là Bờ Hồ.
Không phải là hồ nước lớn nhất trong Thủ đô, song với nguồn gốc đặc biệt, hồ Hoàn Kiếm từ đã gắn liền với cuộc sống và tâm tư của nhiều người. Hồ nằm ở trung tâm một quận với những khu phố cổ chật hẹp, đã mở ra một khoảng không đủ rộng cho những sinh hoạt văn hóa bản địa. Hồ có nhiều cảnh đẹp. Và hơn thế, hồ gắn với huyền sử, là biểu tượng khát khao hòa bình (trả gươm cầm bút), đức văn tài võ trị của dân tộc (thanh kiếm thiêng nơi đáy hồ và tháp bút viết lên trời xanh). Do vậy, nhiều văn nghệ sĩ đã lấy hình ảnh Hồ Gươm làm nền tảng cho các tác phẩm của mình. Nhà thơ Trần Đăng Khoa từng viết:
Hà Nội có Hồ Gươm Nước xanh như pha mực Bên hồ ngọn Tháp Bút Viết thơ lên trời cao.
Và như thế, Hồ Gươm sẽ mãi sống trong tiềm thức mỗi người dân Thủ đô nói riêng và người dân cả nước nói chung như một biểu tượng thiêng liêng về lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc. | Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê em | 746 | |
Giới thiệu một di tích danh lam thắng cảnh ở địa phương em
Hướng dẫn
Giới thiệu một di tích danh lam thắng cảnh ở địa phương em
Thành phố Đà lạt nằm trên cao nguyên Langbiang, cách mặt biển khoảng 1.500m. Hơn một trăm năm về trước, (1893) thành phố Đà lạt là nơi cư trú của các tộc người thượng…. một dân tộc ít người ở Việt Nam. Phía bắc giáp với huyện Lạc Dương, đông và đông nam với huyện Đơn Dương, tây và tây nam giáp với huyện Lâm Hà và Đức Trọng. Du khách Việt Nam và thế giới luôn tìm đến những danh lam thắng cảnh mà nói đến danh lam thắng cảnh Việt Nam thì không thể quên nói đến Đà Lạt.
Đà Lạt là thành phố cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 350km về phía Tây Bắc. Nhờ ở độ cao đó nên khí hậu Đà Lạt rất mát lành. 1893, Bác sĩ Alexandre Yersin đã làm một công trình khảo sát tỉ mỉ về phong thể Đà lạt và đề nghị toàn quyền Doumer chọn nơi này làm trạm điều dưỡng cho những người đau bệnh. 1916, Đà lạt vẫn còn là khu thị tứ nhỏ với gần mười căn nhà gỗ đơn sơ bên thác Cam Ly, phục vụ khách du lịch. Từ 1920 đến 1936, thành phố này được thành lập kèm theo việc bầu ra một hội đồng thành phố. Trải qua nhiều năm tháng lịch sử, Đà Lạt dần dần được phát triển, tôn tạo những vẻ đặc sắc, khí hậu Đà Lạt tương tự như vùng ôn đới: nhiệt độ từ 16 – 24°c. Rừng Đà Lạt có nhiều cây quý. Núi không cao nhưng tập trung khắp nơi với nhiều hẻm vực, hoa trái. Đà Lạt là xứ sở của những kì hoa, dự thảo từ những loài hồng, loài lan quý hiếm xa xưa mang tên người nữ vương, danh tiếng bên Âu Châu. Cho đến những giống hoa mới mang về từ Ba Lan như ly, hoa hồng, phong lan, địa lan. Và nhiều loài hoa khác rực rỡ khắp nơi bao phủ mọi nẻo đường Đà Lạt. Hoa hồng Đà Lạt thân to, hoa lớn với những màu được ưa chuộng là hồng nhung, hồng bê bê, hồng bạch, hồng vàng nó được trồng bằng cách ghép cành, cắt cành vặt công phu những bông hoa tốt nhất được đưa đi xuất khẩu. Phong lan Đà Lạt có nhiều giống quý hiếm như lan hài, lan vũ nữ, lan Cát-ley-a, Ngọc điểm… đó là những giống hoa vừa cho sắc vừa cho hương, vừa đẹp, vừa bền. Lan được đặt cho một cái tên là “vương giả chi hoa”. Hoa ly là loài hoa có nhiều cánh, có màu trắng tinh, hương thơm nhẹ thường được thờ trong thánh đường. Hoa màu vàng tươi thắm nhưng không hương. Hoa màu hồng gấm có hương nồng nàn nhất, có những đốm nâu lấm tấm, thường được dùng trong lễ cưới, tiệc tùng và các loại hoa được trồng ở công viên Đà Lạt, những tên đặc sắc hình dáng thì đặc biệt như cẩm tú cầu, ly, pense, forget me not… Vì Đà Lạt là xứ lạnh nên rau trái cũng rất tươi tốt, phong phú, từ xưa Đà Lạt đã trồng được các loại rau ôn đới như su hào, bắp cải, bông cải, cà rốt. Gần đây Đà Lạt lại nhập về giống loại trái như đào, mận, nho, bông cải tím, bắp cải tím.
Nhưng nói đến Đà Lạt không thể quên những cảnh thiên nhiên. Nó là niềm vui vô tận với khách phương xa, phải thăm thác Camly, hồ Than Thở, thác Đa-Tăng-La… lại còn thác Fren cách Đà Lạt 15km, thấp hơn mặt đường chừng 20m. Đứng dưới nhìn lên, thác đổ từ trên cao, bắn ra những tia nước nhỏ li ti hợp thành một lăng kính hiện ra đủ màu sắc của cầu vồng trước ánh mặt trời. Đó là chưa kể những mái chùa thu hút khách trong và ngoài nứớc, do các cao tăng trụ trì như Trúc Lâm thiền viện do thầy Thanh Từ xây dựng, những dinh thự và biệt thự đẹp mang dấu tích lịch sử của vị vua cuối cùng của nước ta như Dinh I, Dinh II, Dinh III và biệt thự Hằng Nga.
Đà Lạt còn nhiều danh lam thắng cảnh có tên tuổi như đồi Mộng Mơ, thung lũng Tình Yêu …. hoặc những kì hoa dị thảo nơi nơi không tên tuổi. Một người nước ngoài đã nói: “Không thể nói rằng đã thăm Việt Nam nếu không tới thăm Đà Lạt”. Đà Lạt là nơi nghỉ dưỡng, là chốn thơ mộng mà ai trong chúng ta đều không thể nào quên nếu muốn bỏ chốn thị thành náo nhiệt để tìm đến thiên nhiên tươi xanh. | Giới thiệu một di tích danh lam thắng cảnh ở địa phương em | 817 | |
Đề bài: Giới thiệu một di tích lịch sử văn hoá của thủ đô Hà Nội
Bài làm
Thủ đô Hà Nội có rất nhiều di tích lịch sử. Trong đó Văn Miếu Quốc Tử Giám là một trong những di tích tiêu biểu, ghi nhận những thành tựu văn hoá của Đại Việt đã ngót nghìn năm của Thăng Long cố đô.
Văn Miếu được xây dựng tháng 10 năm 1070 để làm nơi thờ các thánh hiền đạo Nho như: Khổng Tử, Mạnh Tử… những vị danh nho đáng kính được người đời vị nể tôn sùng. Sáu năm sau, năm 1076, nhà Quốc Tử Giám được xây dựng liền kề sau Văn Miếu. Ban đầu nơi đây dùng cho các hoàng tử đến học, sau mở rộng thu nhận thêm các học trò giỏi trong toàn quốc.
Đứng từ đường Quán Thánh bạn sẽ nhìn thấy Văn Miếu cổ xưa với lớp tường bao quanh bằng gạch, cổng chính được xây dựng theo điện hoàng môn với dòng chữ nho được khắc tạc đã phai màu theo thời gian: Văn Miếu Môn. Hai bên cổng là đôi rồng đá mang phong cách thời Lê sơ.
Từ phố xá tấp nập ồn ào, bước vào phía trong cổng Văn Miếu bạn sẽ cảm nhận được một không gian thoáng mát yên lành như bước vào cõi phật cõi tiên. Một khoảng sân rộng với nhiều tượng đá tạc chân dung các mãnh tướng sư tử, hổ… như gợi lại không khí linh thiêng oai hùng của lịch sử ngàn năm xưa bên những gốc si xanh già cổ thụ mấy trăm tuổi. Lối đi giữa dẫn đến cổng Đại Trung Môn, mở đầu cho khu thứ hai, hai bên còn có hai cổng nhỏ. Bạn đến đây muốn thắp nén nhang lạy tạ các thánh thần cầu ban phước lành trí tuệ anh minh thì hãy dừng chân tại Đại Trung Môn bên bát hương lớn đặt giữa cửa vào.
Tiếp sau Đại Trung Môn là Khuê Văn Các được xây dựng từ năm 1805, có kiến trúc đẹp, mang nhiều ý nghĩa và đã được chọn là biểu tượng chính thức cho thủ đô Hà Nội. Khu thứ ba là Khuê Văn Các tới Đại Thành Môn có tường bao quanh. Hai bên hồ là hai khu vườn bia, nơi dựng các tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ, những trạng nguyên khoa bảng ngày xưa. Hiện trong Văn Miếu còn lại 82 tấm bia tiến sĩ của 82 khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779. Đây là những di vật quý nhất của Văn Miếu.
Bước qua cửa Đại Thành là tới khu thứ tư. Ở đây có sân rộng, hai bên là hai dãy Tả Vu và Hữu Vu, vốn dựng làm nơi thờ các danh nho. Cuối sân là nhà Đại Bái và Hậu Cung, kiến trúc đẹp và hoành tráng. Tại đây còn một số hiện vật quý: bên trái có chuông đúc năm 1786, bên phải có một tấm khánh đá, trên mặt khắc bài văn nói về công dụng của các loại nhạc khí này.
Sau khu Đại Bái là trường Quốc Tử Giám đời Lê, một loại trường Đại học đương thời. Khi nhà Nguyễn rời trường này vào Huế thì nơi đây chuyển làm đồn Khải Thánh thờ song thân Khổng Tử, nhưng đền này đã bị hư hỏng trong chiến tranh. Nhà Thái Học đã được xây dựng lại vào dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội.
Người Việt Nam và du khách nước ngoài nhớ về Hà Nội tìm về Văn Miếu như tìm về chốn văn hiến ngàn năm của nước Việt. Chính vì vậy từ rất lâu Văn Miếu trở thành điểm du lịch phổ biến đối với du khách trong và ngoài nước.
Văn Miếu mang một nét đẹp văn hoá trong lịch sử của dân tộc ta, mang ý nghĩa biểu trưng cho tiến trình văn hoá của Việt Nam, là một bằng chứng về sự đóng góp của Việt Nam vào nền văn minh Nho giáo của khu vực và nền văn hoá mang ý nghĩa nhân văn toàn thế giới. Mỗi năm vào dịp đầu năm học những "trạng nguyên" thời nay được tụ hội về đây dâng nén hương thơm tưởng nhớ và biết ơn tới các danh Nho xưa, đồng thời như một sự báo công cùng ý nguyện kế tục phát huy truyền thống văn hiến của dân tộc. | Giới thiệu một di tích lịch sử văn hoá của thủ đô Hà Nội | 747 | |
Đề bài: Giới thiệu một loại cây ở địa phương
Bài làm
Ai đã từng đến vùng sông nước phía Nam hẳn không thể nào quên những dãy cây dừa nước xanh mướt dọc theo những con kênh rạch hay cảm giác đi thuyền chui giữa bóng mát của rặng cây. Thật là thú vị. Trước hết, đừng lẫn cây dừa nước này với cây rau dừa nước là một loai cây thân cỏ mọc bờ ven bờ nước hoặc nổi trên các ao hồ. Dừa nước là một loại cây cùng họ với cây dừa, mọc phổ biến ở các bãi lầy vùng cửa sông, ven kênh rạch các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long. Rặng dừa nước chạy men theo các con kênh, con rạch tạo nên một quang cảnh độc đáo và nên thơ cho vùng sông nước phía Nam. Khi bơi thuyền trên dòng kênh xanh giữa hai hàng dừa nước, ta cảm thấy khoan khoái mát mè. dễ chịu biết nhường nào!
Dừa nước là loài cây cỏ dáng khá đẹp với những chiếc lá lớn giống lá dừa dài tới vài mét, mọc thẳng lên từ trên mặt nước. Dừa nước không có thân mọc thẳng như dừa cạn. Thân dừa nước mọc ngang mặt đất bùn mang nhiều sẹo lá (do các lá rụng để lại sẹo). Các sẹo này to bằng chiếc thớt và xếp đè lên nhau thanh dây nằm dài trên đất. Dừa nước cũng cho trái. Trái dừa nước nhỏ hơn dừa cạn, có cạnh. Các trái dừa mọc thành cụm (buồng) lớn khoảng đôi chục trái. Mỗi trái dừa to bằng quả bóng đá hay hơn thế.
Cây dừa nước là cây có giá trị về nhiều mặt. Có thể lấy lá dừa làm tấm lợp, tấm phên che nắng mưa hoặc làm củi hoặc đan lát đồ dùng hàng ngày… Thân cây có thể dùng để chế than hoạt tính. Có thể khai thác chất dịch ngọt của dừa để sản xuất đường, làm rượu, nước giải khát. Nhưng chất dịch này không phải lấy từ trái dừa mà lấy từ cuống cụm quả. Một cây dừa nước có thể khai thác dịch ngọt này trong khoảng từ 50 tới 60 ngày liên tiếp, về sau lượng dịch giảm dần. Mỗi cây chờ lượng dịch khoảng hơn 40 lít, trong khi đó, chỉ cần 32-34 lít dịch để lên men cất thành 1 lít cồn nguyên chất.
Ngoài ra, dừa nước trồng ven kênh, rạch nhờ có thân nằm ngang nên có tác dụng giữ đất rất tốt, chống xói lở ven bờ. | Giới thiệu một loại cây ở địa phương | 433 | |
Đề bài: Giới thiệu một loại hoa ở địa phương
Bài làm
Mỗi độ xuân về, Tết đến, bên cánh hoa đào, cây quất được nhà nhà trang trọng để giữa phòng đón khách, có một loài hoa được nhiều người ưa chuộng, đó là hoa lan. Nhừng cây hoa lan thuộc về họ lan, một họ thực vật lớn nhất trong lớp cây một lá mầm, gồm nhiều loài nhất. Cho đến đầu thập kỉ vừa qua, toàn thế giới có khoảng 100.000 loài lan, xốp trong 800 chi. Trong số 100.000 loài lan ấy, có khoảng 25.000 loài lan rừng và 75.000 loài lan lai.
Nước ta có rất nhiều loại lan mọc hoang dại. Ai lên Lai Châu vào những ngày giáp tết hay sang xuân, khi vượt đèo Pha Đin cũng đều thấy vô vàn đóa hoa xinh đẹp, sắc cứ thắm hồng đung đưa trước gió như một đàn bướm chập chờn trong nắng xuân. Đó là các cây lan trên vách núi nở hoa.
Trong các hốc núi đá vôi ở Nho Quan hay ở Cúc Phương lại có nhiều lan hài vệ nữ mọc; hoa lan này có hai cánh dang rộng như cánh chim bay, sải cánh hoa dài tới 15cm, còn cánh môi thì uốn ong như mũi chiếc hài. Vì vậy, trong thơ ca gọi là “Chiếc hài của Thần Vệ nữ”. Vệ nữ là thần của sắc đẹp, mà thần thoại Hi Lạp thường nhắc tới.
Còn ở trong rừng thứ sinh, dọc dải Trường Sơn, lan phủ trên cây, lan trải trên cành ven suối. Đó là hồng gấm, một loại phong lan quý nhất. Hoa nở thành chùm, liền màu hồng đính sắc tím và trắng, tuyết hoa óng ánh như nhung tỏa hương thơm dịu mát kín đáo. Thiên nhiên nâng niu và chăm chút những chùm phong lan nở giữa rừng, làm đẹp, làm tươi vườn hoa lan đất nước mỗi độ xuân về.
Lan không chỉ đẹp về hoa mà còn đẹp về lá. Lan cành giao có lá hình trụ giống cây cành giao. Lan chân rốt có lá ngắn, nhọn, dẹt, xếp thành hai dãy đều đặn như chân rết. Có thứ gốc lá phồng lên thành củ gọi là lan quả táo. Lan gấm thì mặt lá mượt như nhung, lại điểm thêm những vân vàng óng như kim tuyến…
Ngày xưa, ông, bà, çha, mẹ ta giàu lòng ca ngợi cái đẹp của nhiều loài lan đất. Mỗi lần tết đến, các cụ thường tô điểm trong nhà, ngoài ngõ bằng những chậu lan bạch ngọc mang hoa trắng rất đẹp và thơm, lan hạc đính hoa màu hồng hay màu đỏ, lan chu đinh có hoa màu tím,…
Ngày nay, từ những thành phố sầm uất đến các làng mạc vùng xuôi, vùng ngược, mỗi độ xuân về, nhà nhà chúng ta ưa thích tô điểm bằng phong lan mang từ những vùng núi cao về có chùm hoa rủ xuống như đuôi con cáo, mang những cánh hoa màu trắng có đốm tím ở đầu. Quế lan hương là thứ em có hương thơm ngát và rất bền, chùm hoa màu trắng lục rủ xuống như lá liễu bên hồ. Lan vảy rắn có chùm hoa màu hoàng yến. Phi điệp có thân chia đốt và khía dọc, sắc hoa trắng hồng mọc từng đôi một, cánh môi có đốm vàng. Phi công thiên có hoa màu vàng đỏ… | Giới thiệu một loại hoa ở địa phương | 573 | |
Đề bài: Giới thiệu một loại quả ở địa phương
Bài làm
Quê em ở vùng Tân Triều, một miệt vườn trù phú ở tỉnh Đồng Nai. Điều đáng nói là ở miệt vườn quê em có một loại bưởi ngon và rất nổi tiếng, thường gọi là bưởi Tân Triều.
Người dân quê em kể rằng Tân Triều thuở xưa là một vùng hoang vu, một nơi “khỉ ho cò gáy” nằm phía tả ngạn sông Đồng Nai, cách tinh lị Biên Iloà (cũ) khoảng 10 ki-lô-mét. Dân cư Tân Triều lúc đó còn thưa thớt. Năm 1868, nhà thờ Tân Triều được xây dựng. Một vị cha xứ trụ trì nhà thờ đã xin hai cây bưởi đem về trồng trước sân nhà thờ. Cây hợp đất, lớn nhanh, vài năm sau liên tục cho trái sum suê. Điều đáng quý là trái bưởi nào cũng lớn, da láng bóng… múi to, rất ngọt và nhiều nước. Thấy vậy, người dân ở đây xin chiết về trồng. Và cứ thế nhân rộng ra cùng với một số giống bưởi khác… Không ngờ, hơn một thế kỉ sau, Tân Triều trở thành một làng bưởi nổi tiếng.
Với hương vị ngọt ngào, nhiều nước và “tốt mã”, bưởi Tân Triều nổi tiếng và đem lại tiếng thơm lây cho đất Biên Hòa mệnh danh là xứ bưởi.
Hàng năm có nhiều khách mua bưởi là người lạ ở vùng khác đến. Khách vãng lai qua thường mua bưởi về nhà làm quà… Hiện nay trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và một số nơi ngoài tỉnh khác đã xuất hiện nhiều sạp bán bưởi dọc theo các tuyến đường có khách du lịch đi qua như chợ Long Thành, ngã ba Tân Vạn, ngã ba Vũng Tàu… Ngoài ra còn nhiều người bán bưởi dạo nữa. Bưởi có nhiều loại, nhưng được bán nhiều là bưởi đường lá cam, bưởi đường cao núm, bưởi thanh da láng…, nhưng khách chỉ ưa chuộng hai loại bưởi là bưởi đường lá cam, và bưởi đường cao núm. Bưởi đường lá cam lá nhỏ nhưng rất ngọt và nhiều nước. Còn bưởi đường cao núm tuy chất lượng không bằng bưởi đường lá cam nhưng mà đẹp, trái to cân đối, để chưng, cúng kiếng rất đẹp.
Hằng năm cứ vào độ tháng tư, tháng năm âm lịch, bưởi bắt đầu ra hoa. Vào thời gian này, nếu có dịp đến Tân Triều bạn sẽ thấy hoa bưởi nở trắng vườn, tỏa ngát hương thơm. Làng bưởi Tân Triều chỉ cách trung tâm thành phố Biên Hòa và khu du lịch Bửu Long không xa, du khách có thể đến tham quan bằng hai tuyến: đường bộ hoặc đường sông. Loại hình “du lịch vườn” hiện nay đang có sức hấp dẫn du khách và mang lại hiệu quả cao. Có rất nhiều tua-du lịch miệt vườn như du lịch vườn trái cây Long Thành, vườn trái cây Lái Thiêu. Từ tháng 10 đến tháng 12 là vào mùa bưởi. Thời gian này không khí ở Tân Triều rộn ràng hẳn lên. Có nhiều mối lái từ miền Tây, miền Đông, miền Trung, Sài Gòn,… đổ về, đi “ruồng” trong các vườn bưởi để mua rồi đem bưởi đi bán ở các vùng xa.
Nếu có dịp qua tỉnh Đồng Nai, mời du khách hãy qua Tân Triều quê em để được chiêm ngưỡng những vườn bưởi và thưởng thức vị ngọt không thể nào quên của trái bưởi Tân Triều quê em. | Giới thiệu một loại quả ở địa phương | 584 | |
Đề bài: Giới thiệu một miền đất, một miền quê đáng nhớ: Làng chài Cửa Vạn
Bài làm
Ngày 20 – 11 năm nay, tôi được đến thăm làng chài Cửa Vạn. Một chuyến đi vô cùng thú vị. Làng chài Cửa Vạn nằm trong vùng Tùng Sâu thuộc vùng lõi của khu vực di sản văn hóa thế giới Hạ Long, chếch về hướng Đông Nam, cách bến tàu khách Bãi Cháy chừng 20km.
Làng chài Cửa Vạn thuộc phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Cho đến thời điểm này, (2008), Cửa Vạn có 176 hộ, gồm 733 nhân khẩu. Tất cả đều sống bằng nghề chài lưới và nuôi trồng hải sản. Bà con sinh sống trên những nhà bè, to nhỏ khác nhau, hoặc lợp ngói, hoặc lợp tôn, toạ lạc trên những chiếc phao nổi có diện tích ba bốn chục mét vuông. Nhà cửa của hộ nào cũng khang trang sạch sẽ. Nước thải, rác thải được bà con xử lí một cách khoa học, văn minh và vệ sinh, thể hiện một nếp sống văn hoá tuyệt đẹp.
Nhiều gia đình có máy phát điện, có tiện nghi như bàn, ghế, tủ, ti vi…. sang trọng. Những đêm trăng, làng chài Cửa Vạn hiện lên trên mặt nước Hạ Long xanh biếc tựa như một thị trấn nơi Thuỷ cung.
Đánh bắt thuỷ hải sản thì bà con Cửa Vạn dùng thuyền lớn. Đi lại thì dùng thuyền nan nhỏ. Nghề nuôi cá lồng ngày một phát triển. Người sống ở trên, cá nuôi ở dưới. Mỗi lồng cá có hàng trăm, hàng nghìn con cá song, con nào cũng to, nặng hai, ba kí. Một tấn cá song có thể bán được trên, dưới 200 triệu đồng. Nhiều gia đình trở nên giàu có.
Cho đến nay, bà con làng chài Cửa Vạn vẫn còn một số người chưa biết chữ. Trẻ con chưa đi học đã biết bơi, biết chèo thuyền.
Nét mới ở Cửa Vạn là ngồi trường nổi có 4 phòng học với diện tích 150 m2, được neo đậu dưới chân núi Ngọc. Trường hiện có 7 lớp ghép. Các thầy, các cô giáo đều rất trẻ và nhiệt tình; tất cả đều tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm. Cảnh học trò đến lớp mỗi sáng thật đông vui. Tiếng cười nói xôn xao.Tiếng mái chèo ào ạt cắt nước. Những em bé làng chài 7, 8 tuổi,… da ngăm đen, mát sáng khoẻ mạnh, nhanh nhẹn…. từ những chiếc thuyền nan bé tẹo bước vào lớp học, trông thật đáng yêu. Tiếng chào ríu rít cất lên làm nhộn nhịp cả một vùng biển lặng: "Con chào thầy… ", “ Con chào cô ạ…".
Cụ Hưu đã 86 tuổi, một trong những ngư dân đầu tiên lập làng nổi Cửa Vạn nói: "Từ ngày có trường học cho con cháu làng chài, gia đình nào cũng tình cảm thấy hạnh phúc; người già như trẻ lại và khỏe thêm ra…".
Ra về, tôi nói với mẹ: “Nghỉ hè tới, hai mẹ con ta lại đi chơi Hạ Long, đi thăm làng chài Cửa Vạn một lần nữa, mẹ nhé!". | Giới thiệu một miền đất, một miền quê đáng nhớ _ Làng chài Cửa Vạn | 526 | |
Đề bài: Giới thiệu một nét đẹp văn hoá của quê hương em
Bài làm
Là một vùng đất trẻ, Cà Mau quê em mới chỉ được khai phá từ những thập niên cuối thế kỷ XVIII. Miền đất này được thiên nhiên ưu đãi, ban tặng cho những điều kiện mà nhiều nơi khác không có được: ba mặt tiếp giáp biển (tổng cộng là 250km) và một hệ thống sông rạch chằng chịt (chiều dài tổng cộng hơn 7000km). Chợ nổi Cà Mau chính là sự giao hoà của con người và thiên nhiên ở miền sông nước hữu tình này.
Chợ nổi nằm trên sông Gành Hào (thuộc trung tâm thành phố Cà Mau), cách cầu Gành Hào khoảng hơn 200km, thuộc địa bàn phường 8. Ngày trước, chợ ở giữa ngã ba Chùa Bà, cách đó khoảng hơn chục cây số. Xưa kia, đây là nơi tụ tập kiếm sống của người tứ xứ và bán nhiều loại hàng hoá khác nhau. Bây giờ, chợ chỉ còn bán các sản vật của miệt vườn.
Ngay mờ sáng, từ hàng trăm ngàn con sông rạch khác, các ghe xuồng từ các vùng quê của các huyện Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Cái Nước, Năm Căn… đem hàng về chợ nổi trên sông Gành Hào này. Trong làn sương mù lãng đãng trên sông nước, những chiếc ghe to, ghe nhỏ chở nặng hàng đậu sát vào nhau trên mặt nước dập dềnh, chuẩn bị cho một ngày mới.
Chợ nổi Cà Mau hội tụ rất nhiều loại trái cây và sản vật miệt vườn như: đu đủ, xoài, ổi, chôm chôm, khóm thơm (dứa), dừa nước, dưa gang, khế, bí bầu, cà chua, khoai tây… Trong nắng gió phương Nam, chợ bừng lên hương sắc của những miệt vườn ở đâu đó bên sông Tiền, sông Hậu, sông Trẹm,… Đôi khi còn có những ghe bán chiếu rong – những ghe chiếu đã trở thành cảm hứng để soạn giả Viễn Châu thuở nào viết nên bài ca vọng cổ "Tình anh bán chiếu" nổi tiếng đến hôm nay.
Chợ trên sông nên khách mua hàng cũng phải đi xuồng hoặc đò. Khách đi chợ chỉ cần ngồi trên con đò lướt nhẹ qua những ghe hàng, nhìn những thứ được treo lúc lắc trên các nhánh cây dựng trên ghe (gọi là cây "bẹo") là sẽ biết ghe đó bán hàng gì. Đó là những lời chào mời lặng lẽ nhưng thật hấp dẫn. Nếu bạn ghé vào, sẽ được người bán hàng hiếu khách mời nếm thử một thứ trái cây với phong cách bình dị, chân thành và phóng khoáng thật dễ thương của con người đất Mũi.
Chợ nổi Cà Mau nhóm họp trên sông suốt từ khoảng 3-4 giờ sáng đến chiều tối. Ở đây, người ta cũng buôn bán theo phường, hội giống như các chợ khác trên bờ. Những chiếc ghe chở khẳm hàng đi tới và những chiếc ghe mua hàng rong nhẹ nhàng rời chợ, cứ thay nhau lui tới trong tiếng máy nổ âm vang trên mặt sông. Xen kẽ trong đó là những ghe hàng rong phục vụ nhu cầu của người trong chợ. Cũng giống như những chủ ghe hàng ngồi hút thuốc lá lặng lẽ đợi khách, các ghe hàng rong cũng không thấy cất lời rao, chỉ lặng lẽ len lách trong chợ với những khách hàng quen thuộc.
Du khách có thể ghé qua chợ nổi trên sông Gành Hào vào buổi chiều tối, khi chợ nổi đã lắng lại trong một sự im lặng lãng mạn cùng với gió và sóng nước. Những chiếc ghe trở thành những căn nhà nổi bồng bềnh vương vấn khói cơm chiều. Mấy đứa trẻ ngồi vắt vẻo câu cá trên sông; ánh mắt nhìn xa xăm của người thiếu nữ đang chăm sóc mấy chậu đất trồng hoa và rau trên mui ghe; tiếng đàn ghi ta phím lõm trầm buồn loang trên mặt sông trong khúc "Nam ai" hay "Dạ cổ hoài lang" buồn mênh mông; một giọng ai đó cảm khái cất lên câu vọng cổ… Đó là khi chợ nổi trở về với những nỗi niềm của cuộc sống lênh đênh sông nước, vọng nhớ về một dải đất liền ở đâu đó trong tiềm thức. Để rồi, từ 3 giờ sáng hôm sau, cả một khúc sông Gành Hào lại bừng tỉnh với những ghe hàng đầy ắp những trái cây và rau quả, bắt đầu một ngày mới, nhộn nhịp và lãng mạn. Nếu có dịp, xin ai đó đừng bỏ lỡ một lần đến với chợ nổi trên sông Gành Hào. Nắng, gió sông nước và sự bình dị, chân thành của con người, sản vật nơi đây chắc chắn sẽ để lại những dấu ấn thật sâu đậm cho khách phương xa. | Giới thiệu một nét đẹp văn hoá của quê hương em | 806 | |
Giới thiệu một sản phẩm, một trò chơi mang bản sắc Việt Nam
Bài làm
“Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”
Đã từ lâu, hình ảnh về chiếc nón lá đã in đậm trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam. Chiếc nón theo cánh tay của bà của mẹ lúc đưa nôi, là vật cùng ta một nắng hai sương, đi suốt đời người.
Hình ảnh chiếc nón lá đã được tìm thấy trên trống đồng Ngọc Lũ, Đông Sơn, thạp đồng Đào Thịnh từ 2500- 3000 năm TCN. Người Việt cổ khi xưa dùng lá buộc lại để làm vật che mưa, che nắng. Đó có thể coi là hình dạng thô sơ đầu tiên của chiếc nón.
Nón lá đã trở thành một phần bản sắc tâm hồn Việt. Để làm nên chiếc nón đòi hỏi đôi bàn tay khéo léo, tỉ mỉ của người nghệ nhân. Làm nón công phu từ bước chọn lá, lá nón thường là lá cọ. Lá sau khi hái về sẽ được phơi nắng cho khô, phơi sương cho mềm rồi mới đem đi tẩy trắng. Lá càng trắng thì nón càng đẹp và bán được giá thành cao. Tiếp theo là đến công đoạn làm khung. Một chiếc nón gồm có 16 khung, được làm từ những thanh nứa vót tròn và mềm. Những khung này có bán kính to nhỏ khác nhau, càng lên đến đỉnh nón thì càng nhỏ lại, vòng nhỏ nhất chỉ như đồng xu. Muốn chiếc nón được cứng và đẹp thì khi xếp vòng phải đều, không được méo mó, xộc xệch. Làm khung xong, các nghệ nhân sẽ xếp lá nón lên trên, gồm có 2 lớp lá và một lớp mo lang ở giữa. Cuối cùng, để cố định lớp lá lại, người làm nón sẽ khâu bằng cước mỏng như sợi chỉ. Người thợ phải thật tỉ mỉ, khéo léo để khâu nón cho chắc mà không bị kim đâm vào tay. Nón sau khi làm xong sẽ được quét thêm một lớp dầu bóng để thêm bền và đẹp. Quai nón được buộc đối xứng ở hai bên, thường làm từ nhung, lụa với đủ các màu sắc.
Nón lá đã trở thành người bạn gần gũi với bất kì người dân Việt Nam nào. Nón theo người nông dân ra đồng, cùng họ phơi nắng dầm sương để tạo ra hạt gạo trắng ngần. Nón từ bàn tay bà, tay mẹ giúp xua đi cái nắng hè oi bức. Chiếc nón cùng tà áo dài làm nên nét duyên dáng, xinh đẹp của người thiếu nữ, khiến bao ánh mắt phải ngẩn ngơ dõi theo. Nón còn có ý nghĩa đối với chúng ta trong đời sống tinh thần. Những điệu múa nón mềm mại trên sân khấu là bản sắc văn hóa của dân tộc. Trong ngày cưới, nghi thức mẹ chồng trao cho con dâu chiếc nón mang ý nghĩa là trao cả niềm tin, hy vọng về một tương lai êm ấm, hạnh phúc. Nón đi vào ca dao ru ta vào giấc ngủ:
“Nón này che nắng che mưa
Nón này để đội cho vừa đôi ta
Còn duyên nón cụ quai tơ
Hết duyên nón lá quai dừa cũng xong”
Nón trở thành cảm hứng cho thi ca nhạc họa:
““Người xứ Huế yêu thơ và nhạc lễ
Tà áo dài trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ trong tay
Thầm bước lặng những khi trời dịu nắng.”
Nón còn gắn liền với tên tuổi, văn hóa của vùng đất nơi làm ra nó. Chiếc nón Gò Găng hay nón ngựa ở Bình Định, nón quai thao của vùng đất Kinh Bắc- nơi khai sinh những điệu hò mềm mại, mượt mà. Nón Huế hay gọi là nón bài thơ, mỏng, nhẹ và được thêu bài thơ trên nón. Một số nơi làm nón nổi tiếng như làng Chuông(Hà Tây), làng Đồng Di (Phú Vang), đặc biệt là làng nón Phủ Cam (Huế). Ngoài là nơi sản xuất nón, những làng nghề này còn thu hút khách du lịch đến tham quan và trải nghiệm. | Giới thiệu một sản phẩm, một trò chơi mang bản sắc Việt Nam | 685 | |
Đề bài: Giới thiệu một thức quà bánh Việt Nam
Bài làm
Vào tháng Hai, tháng Ba âm lịch, khi mưa xuân giăng một màn bụi mỏng trắng mờ che phủ xóm làng, tiết trời đã ấm áp là lúc lố khúc bắt đầu lên mơn mởn các bãi đất ven đê dọc các triền sông. Chẳng ai trồng rau khúc. Nó tự nhiên âm thầm mọc lên, như có phần bẽn lẽn vì sự giản dị của mình, lặng lẽ mang đến cho con người những ngọn lá xanh mướt, mang vị thơm, vị bùi rất đặc biệt trong một thứ quà quê được gọi tên bằng chính loại lá độc đảo làm ra nó: bánh khúc. Chẳng biết bánh khúc có từ bao giờ, ai là người đầu tiên làm được món bánh này nhưng bánh khúc đã quen thuộc từ lâu với rất nhiều người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, từ nông thôn đến thành thị.
Làm bánh khúc không khó, nhưng đòi hỏi sự cần cù, tỉ mỉ và cả kinh nghiệm người xưa truyền dạy. Nguyên liệu chủ đạo làm nên hương vị độc đáo của món bánh này là lá khúc. Lá khúc hái từ buổi sớm, chọn những lá đang độ tươi non mơn mởn hái đem về giã cho nhuyễn rồi trộn với bột gạo làm vỏ bánh. Nhân bánh được làm từ đậu xanh đồ chín tới giã thật mịn, viên lại nhỏ bằng quả trứng gà ri cùng với thịt ba chỉ thái hạt lựu, rắc thêm chút hạt tiêu cho dậy mùi. Dàn mỏng lớp vỏ thật khéo bao kín nhân bánh, xếp từng lượt bánh vào nồi hấp như đồ xôi, mỗi lớp bánh lại rắc một lượt gạo nếp ngon đã ngâm kỹ làm áo. Từ lúc nước sôi đến lúc bánh chín chừng tàn một quê hương.
Bánh khúc là một thứ quà, trong những thứ quà bánh. Nó cũng có thể giúp người ta đỡ đói lòng khi nhớ bữa vì thành phần dinh dưỡng khá cao. Thưởng thức bánh khúc khi còn nóng mới thấy hết được hương vị của bánh khúc, một thứ hương vị tổng hợp, kết hợp nhiều mùi vị tự nhiên của ruộng đồng một cách khéo léo tài tinh gói gọn trong tấm bánh bé nhỏ, không cần tới sự trợ giúp của các loại hoá chất hay bất cứ thứ công nghệ thực phẩm nào. Bánh khúc là một món quà quê nhưng được người thành thị ưa thích. Người ta thích bánh khúc chính bởi cái tính "lành" của nó. Món bánh cổ truyền này vẫn sống trong xã hội hiện đại bên cạnh những loại bánh khúc được đóng gói trên dây chuyền công nghiệp.
Người ta có thể thưởng thức bánh khúc bất cứ khi nào thích nhưng bánh khúc thường được rao bán cùng với vài loại quà bánh khác vào buổi tối. Những tiếng rao "Ai khúc đê…" mang món quà quê bình dị này tới tận nơi, len lỏi tới từng ngõ phố nhỏ. Chẳng biết khi nâng chiếc bánh khúc nóng hổi, bốc khói nghi ngút, thơm mùi gạo nếp, mùi lá khúc, quyện lẫn vị bùi, vị béo của thịt và đỗ có ai biết đến ngọn lá giản dị kia, và những người đang một nắng hai sương làm bánh khúc. | Giới thiệu một thức quà bánh Việt Nam | 558 | |
Đề bài: Giới thiệu một thức quà của người Việt
Bài làm
Đã là người Hà Nội không ai là không từng thưởng thức món xôi một lần, phải nói rằng, xôi Hà Nội có một phong vị riêng mà không trùng với bất cứ xôi ở nơi nào khác. Buổi sáng sớm, tiết trời còn mát mẻ, sau một giấc ngủ êm đềm, con người tĩnh tại thoải mái, bạn có bao giờ nghĩ rằng thưởng thức một bát xôi vào buổi sáng là cách thư giãn tốt nhất không? Người Hà Nội thì hay có thói quen như thế, giản dị, mộc mạc và thanh bình biết bao nhiêu.
Mỗi loại xôi có một hương vị khác nhau và được ăn kèm với các loại thức ăn khác nhau. Chẳng hạn như xôi trắng ăn kèm với ruốc, thịt kho tàu, giò chả, lạp xường vừa thơm vừa mềm. Xôi gấc có vị ngọt được ăn kèm với chả mỡ. Xôi lạc, xôi đỗ xanh ăn kèm với vừng và ruốc. Còn xôi xéo, chắc chắn phải có thêm đậu xanh xắt lát mỏng và trên bát có hành phi thơm vàng ngậy…
Thật ra, việc nấu xôi cũng chẳng mấy khó khăn và bất kể ai cũng nấu được. Chẳng hạn như muốn nấu xôi đậu xanh, chỉ cần chọn loại gạo nếp hoa vàng, ngâm gạo, đậu xanh từ tối hôm trước, để qua đêm cho mềm. Sau đó, vo gạo, đãi đậu thật kỹ rồi trộn đều. Cho thêm một chút muối, xóc lẫn vào gạo, đậu rồi đổ vào chõ đồ cho đến khi hạt gạo dẻo trong và hạt đậu nở bung là được. Đối với xôi lạc, cách nấu có hơi khác. Người nấu phải luộc chín nhân lạc trước cho mềm, sau đó bóc vỏ lạc rồi trộn với gạo nếp, pha thêm muối rồi đổ vào chõ đồ… Riêng xôi gấc, thay vì cho muối người nấu cần cho thêm đường. Trong các loại xôi, xôi xéo được coi là loại khó nấu nhất. Sau khi xôi chín, người nấu phải xới xôi cho tơi, để nguội rồi trộn với đậu xanh nấu chín. Đến lúc ăn xôi phải xắt mỏng nắm đậu xanh đã được đồ chín, thêm chút mỡ nước, hành phi vàng thơm phủ lên trên. Khi đó, bát xôi xéo sẽ có được vị ngọt của gạo nếp, vị bùi của đậu xanh, vị béo của mỡ nước và vị thơm của hành phi, ăn ngon tuyệt. | Giới thiệu một thức quà của người Việt | 417 | |
Đề bài: Giới thiệu một tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn 9
Bài làm
Trong chương trình Ngữ văn 9, em đã được đọc rất nhiều tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ trưởng thành trong quân đội. Và em đã thực sự ấn tượng bởi tác phẩm Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.
Nguyễn Quang Sáng là một nhà văn chiến sĩ. Ông sinh năm 1932 ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, tham gia kháng chiến chống Pháp và hoạt động tại chiến trường Nam Bộ. Trong đợt tập kết ra Bắc năm 1954, ông bắt đầu viết văn. Nguyễn Quang Sáng viết nhiều thể loại như: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim nhưng tác phẩm nào cũng gây ấn tượng cho người đọc và mang đậm màu sắc cuộc sống của con người Nam Bộ trong chiến tranh. Sau kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục tham gia chống đế quốc Mĩ và sáng tác văn học. Năm 1966, tại chiến trường Nam Bộ, vào thời điểm cuộc kháng chiến chống Mĩ gay go ông đã cho ra đời truyện ngắn Chiếc lược ngà. Một tác phẩm tố cáo tội ác chiến tranh đã làm cha – con, vợ – chồng phải xa nhau để rồi khi trở về đứa con không nhận cha, đến khi nhận ra thì cũng là lúc chia tay. Vẫn thể loại quen thuộc. Thể loại truyện ngắn ít nhân vật, ít tình huống, thời gian, không gian cũng chỉ diễn ra nhất định theo từng hoàn cảnh đã làm nổi lên tình cha con thiêng liêng cao đẹp. Có thể nói câu chuyện mà Chiếc lược ngà đề cập đến đã gây cho người đọc nhiều cảm xúc với nội dung nhẹ nhàng mà thấm đẫm chất nhân văn. Đó là câu chuyện của ông Ba – một trong nhửng cán bộ được cô giao liên trẻ dẫn đường. Tuyến đường mà cô dẫn là tuyến đường đầy nguy hiểm, cạm bẫy bởi bọn giặc thường lùng quét rất gắt gao. Ông Ba với hành lí và tư trang giản dị đó là tài liệu và chiếc lược ngà – người bạn nhờ đem về cho cô con giái. Thấy chiếc lược ông lại nghĩ về câu chuyện xưa. Người bạn của ông – anh Sáu, trong một đợt được về thăm nhà sau tám năm xa cách, rất thương con mà đứa bé lại không nhận ra cha. Đứa bé đó là Thu – một cô bé bướng bỉnh, ương ngạnh, đầy cá tính nhưng cũng rất ngây thơ. Nó không nhận ra cha, lạnh lùng với anh Sáu. Mời vào ăn cơm nó nói trống không, muốn nhờ chắt nước cơm nó cũng nói trống không. Thế rồi khi nó biết lỗi lầm của mình, biết tội ác cũa lũ giặc gây ra vết thẹo cho ba và nhận ra ba thì cũng là lúc anh Sáu phải ra đi. Bé Thu đã biểu hiện tình cảm quá mãnh liệt. Nó không cho ba đi, ghì chặt lấy ba và cất tiếng gọi ba như xé lòng, xé ruột mọi người. Đem theo nỗi nhớ con, tình yêu thương, anh Sáu dồn công làm bằng được chiếc lược ngà tặng con. Nhưng chuyện không may đã xảy ra, khi chưa kịp trao cho con, anh đã hi sinh và trước khi nhắm mắt, chính tình cha con đã giúp anh tìm được chiếc lược gửi bạn đem cho con. Và cuối cùng điều bất ngờ là cô giao liên nhanh nhẹn ấy chính là bé Thu đã lớn.
Chiếc lược ngà đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh, của cha con ông Sáu. Qua đó, truyện ngợi ca và khẳng định tình cảm cha con thiêng liêng như một giá trị văn sâu sắc. Nguyễn Quang Sáng đã thực sự khéo léo khi xây dựng một cốt truyện chặt chẽ và bất ngờ. ông cũng rất khéo khi lựa chọn ngôi kể, người kể – người đã chứng kiến mọi chuyện tạo tính sinh động cao. Và tình cha con ông Sáu thì không thể thiếu chiếc lược ngà – kỉ vật thiêng liêng nối kết các nhân vật trong tác phẩm và biểu hiện tình cảm của cha với con. Nguyễn Quang Sáng cũng thành công khi đã tạo ra các tình huống bất ngờ, hợp lí nhân vật đặc sắc, tinh tế từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về mặt mỗi nhân vật, thấy rõ hơn và cảm thông hơn tình cha con cao quí, không bao giờ phai.
Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng là một tác phẩm văn học hay và đặc sắc. Nó để lại cho ta nhiều suy nghĩ, trăn trở đó là suy nghĩ về tình cha con gắn bó, thiêng liêng. Dù bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, tình cảm ấy vẫn giúp con người ta đứng vững. | Giới thiệu một tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn 9 | 839 | |
Giới thiệu một vài nét về cuộc đời, sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi
Hướng dẫn
Năm 1400, Nguyễn Trãi đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ), cùng cha làm quan dưới triều Hồ Quý Li. Năm 1407, giặc Minh xâm lược nước ta, Nguyễn Phi Khanh bị giặc bắt giải sang Tàu, Nguyễn Trãi bị giặc giam lỏng 10 năm trời ở thành Đông Quan (Thăng Long).
Năm 1418, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa ở núi rừng Lam Sơn. Nguyễn Trãi gia nhập nghĩa quân, dâng ‘Bình Ngô sách’ lên Bình Định Vương Lê Lợi. Ông trở thành cánh tay phải đắc lực của người anh hùng Lam Sơn. Nguyễn Trãi đã thay lời Lê Lợi viết thư cho bọn tướng tá giặc Minh, thực hiện chiến lược ‘tâm công’ đánh vào lòng giặc thu được nhiều chiến công hiển hách. Ông là người ‘viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời’.
Nước nhà được độc lập sau 10 năm kháng chiến, năm 1428, thay lời Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết ‘Bình Ngô đại cáo’ tuyên bố công cuộc ‘Bình Ngô phục quốc’ của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi, nước Đại Việt bước sang một kỉ nguyên mới: độc lập, thái bình bền vững. Ông được phong tước Quan phục hầu, làm Chánh chủ khảo khoa thi Tiến sĩ đầu tiên của triều Lê. Ông hăm hở đem tài kinh bang tế thế mong giúp vua xây dựng đất nước cường thịnh. Cuộc sống của ông thanh bạch liêm khiết, tính ông cương trực nên ông bị bọn quyền thần ghét. Nguyễn Trãi đã lui về Côn Sơn ở ẩn.
Năm 1442 vụ án Lệ Chi Viên xẩy ra, Nguyễn Trãi bị vu oan, bị tru di tam tộc. Mãi 22 năm sau, năn 1464 vua Lê Thánh Tông mới viết chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi và khẳng định:
‘ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo’
(ức Trai lòng sáng tựa sao Khuê)
2.Nguyễn Trãi sáng tác nhiều, nhưng sau vụ án Lệ Chi Viên thơ văn của ông bị thiêu hủy, bị thất tán nhiều. Hiện nay chỉ còn lại:
– Quân trung từ mệnh tập:69 bài.
– Bình Ngô đại cáo.
– Lam Sơn thực lục.
– Bia Vĩnh Lãng.
– Dư địa chí.
– Chí Linh phú.
– ức Trai thi tập:105 bài.
– Quốc âm thi tập:254 bài.
– v.v…
Tóm lại, Nguyễn Trãi là người anh hùng dân tộc, văn võ toàn tài. Sự nghiệp và thơ văn của Nguyễn Trãi là bài ca yêu nước tự hào dân tộc. | Giới thiệu một vài nét về cuộc đời, sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi | 414 | |
Giới thiệu một vài nét về Thạch Lam
Hướng dẫn
…Thạch Lam bắt đầu viết văn từ năm 1936, sớm nổi tiếng trên văn đàn. Ông là thành viên của Tự lực văn đoàn,một tổ chức văn học lớn trước năm 1945.
Thạch Lam thành công ở thể truyện ngắn, có tài miêu tả những tâm trạng, lời văn gợi cảm giàu chất thơ-. Tác phẩm của ông gồm có ba tập truyện ngắn: Gió đầu mùa(1937), Nắng trong vườn(1938), Sợi tóc(1942), cuốn tiểu thuyết Ngày mới(1939), tập kí Hà Nội 36 phố phường(1943), một số truyện viết cho thiếu nhi, và cuốn tiểu luận Theo dòng(1941).
Nhà văn Nguyễn Tuân trong bài ‘Thay lời bạt’ cuốn ‘Tuyển tập Thạch Lam’ đã viết:
‘Trong văn học Việt Nam trước Cách mạng 45, Thạch Lam là một trong số những nhà văn được nhiều cảm tình của người đọc. Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc. Dưới cái hình thức không những thoát ra cái khuôn sáo cũ của cách hành văn đương thời mà lại có rất nhiều đức tính sáng tạo ấy, văn Thạch Lam đọng nhiều suy nghiệm, nó là cái kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm và từng trải sự đời. Thạch Lam có những nhận xét tinh tế về cuộc sống hàng ngày. Xúc cảm của nhà văn Thạch Lam thường bắt nguồn và nảy nỏ lên từ những chân cảm đối với những con người ở tầng lớp dân nghèo thành thị và thôn quê. Thạch Lam là một nhà văn quý mến cuộc sống, trân trọng trước sự sống của mọi người chung quanh. Ngày nay đọc lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học. Mặc dù in ra ít, sách Thạch Lam có đánh dấu lại được cái tâm hồn súc tích, rộng rãi và tiến bộ của một nhà văn xuôi chân chính. | Giới thiệu một vài nét về Thạch Lam | 340 | |
Đề bài: Giới thiệu một vài đồ thủ công làm ruộng mà em biết
Bài làm
Sớm sớm, chiều chiều, bà đi ra vườn rau, bà vẫn cầm theo cái ỉiềm. Bà nói: Cái liềm này, cụ mua từ hồi năm đói Ất Dậu, 1945. Năm đó, bà mới lên 6 tuổi”.
Văn mẫu tả cái liềm của nhà nông
Cái liềm có hai bộ phận là cán liềm và lưỡi liềm. Cán gỗ hình tròn, dài độ nửa gang tay, to bằng cổ chai. Sau gần 70 năm, cái cán liềm đã đen bóng, thấm biết bao mồ hôi. Lưỡi liềm bằng sắt pha thép, hình vành trăng non, vành trăng khuyết. Sống liềm dày, phía lưỡi có nhiều răng cưa nhọn, nhỏ, sắc, gọi là chấu liềm. Nhờ có chấu liềm mà ta có thể cắt cỏ, cắt rạ, cắt lá cây.
Bà em vẫn dùng liềm để tỉa lá cây lưu niên, cắt cỏ, cắt rau, cắt hoa trong vườn. Cái liềm tuy đã lâu năm, nhưng nhờ có nước thép tốt nên chấu liềm vẫn sắc.
Đối với bà, cái liềm là nông cụ thô sơ làm vườn. Nó còn là một vật kỉ niệm đã gắn bó suốt đời bà. Bà em rất yêu quý và giữ gìn cái liềm ấy lắm. | Giới thiệu một vài đồ thủ công làm ruộng mà em biết | 211 | |
Đề bài: Giới thiệu một vùng quê đẹp
Bài làm
Bạc Liêu ở cực Nam đất nước, liền kề với Cà Mau. Từ thành phố Hồ Chí Minh, vượt sông Tiền Giang, qua sông Hậu Giang, du khách đi thẳng tới Bạc Liêu, một hành trình 280 km. Đó là một miền đất thoáng đãng, trù mật, với bao cảnh vật đáng vêu, với những con người tuyệt đẹp, chất phác, siêng năng, thẳng thắn và phóng thoáng, cởi mở.
Bạc Liêu có diện tích tự nhiên 2520,6 km. Dân số khoảng 800.000 người, có 20 dân tộc, đông nhất là người Kinh. Các thế hệ người Kinh, người Hoa, người Khơ me,… đã chung vai sát cánh qua nhiều thế kỉ, lấn biển, đào kênh, khai phá ruộng đồng, đánh giặc giữ làng mới có một Bạc Liêu giàu đẹp như ngày nay.
Ai đã từng thăm thú Bạc Liêu một đôi lần chắc sẽ không bao giờ quên cảnh sắc hương vị nơi đây. Chùa Xiêm Cán ở Vĩnh Trạch Đồng, chùa Cái Giá ở xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi… lộng lẫy, uy nghi, với mái chùa uốn cong, gác chuông cao vút giữa trời xanh, với hàng trăm pho tượng thếp vàng tráng lệ.
Những ruộng muối vùng Kinh Tư bao la, muối trắng lấp lánh trong nắng chiều: những đụn muối trắng chạy dài như muôn ngàn gò đống nhấp nhô. Vườn chim Lập Điền có nhiều loại chim quý, hiếm, được nhắc đến trong sách Đỏ. Khu du lịch Phật Bà Nam Hải nổi tiếng linh thiêng… Nếu như nhãn lồng Hưng Yên là đặc sản của miền Bắc thì ở miền Nam Tổ quốc thân yêu nổi tiếng với vườn nhãn Bạc Liêu, trái tròn to, cùi dày trắng phau, ngọt ngào và thơm ngát. Đến thăm vườn nhãn, du khách còn được thưởng thức bánh xèo A Mật và nghe các tài tủe đổ câu vọng cổ nối tiếng: “ Ê..Ê Từ là từ phu tướng… "của cố nhạc sĩ Văn Cao Lầu. Ta hãy đến Phước Long và Hồng Dân thăm các làng nghề thủ công đan lát, dệt chiếu, làm nón… và đừng quên thường thức món bánh tầm bì hay bún bì ờ Ngạn Dừa, Hồng Dân.
Cảnh sắc và con người Bạc Liêu thật đáng yêu và đáng nhớ. Tiếng hát, tiếng hò của ai đó cất lên trên dòng kênh giữa màu xanh của rừng tràm, rừng đước như giăng mắc hồn du khách, lơ lửng đến mọi chân trời xa:
"Bớ chiếc ghe sau / chèo mau / anh đợi /
Qua khúc sông này / bờ bụi/ tối tăm "… | Giới thiệu một vùng quê đẹp | 437 | |
Đề bài: Giới thiệu một đặc sắc đậm đà hương vị đất nước
Bài làm
Đã bao năm nay như thế. Mỗi lần Hồ Gươm lăn tăn ánh vàng nắng thu, mỗi lần những chòm mây mùa thu dãy Ba Vì và dãy Tam Đảo soi vào lòng sóng Hồ Tây thì (ba mươi sáu) phố phường Hà Nội lại thấy xuất hiện cái bóng dáng êm ả của người gánh cốm Vòng tiến vào theo đường cửa ô cầu Giấy.
Những cây sấu đứng đường của Hà Nội mà bắt đẩu lộp độp rụng xuống những trái sấu chín cây trên vỉa hè Hà Nội cũng bắt đầu hiện ra cái hình ảnh người gánh cốm đi bán rong. Trái với thói thường của hàng rong, gánh côm cứ êm ả mà đi, người bán cốm không cất tiếng rao hàng. Hình thù người gánh cốm cũng phần nào gợi lên cái phẩm chất của thứ quà giản dị thơm thảo hiền hậu, vừa chắc chắn vừa tinh tế. Đứng trên ban công nhìn xuống, đứng trong ngõ hoặc đứng trong quầy hàng nhìn ra, mà nhận được gánh cốm thì khắc gọi lấy mà mua. Cái gánh cốm Vòng cổ truyền đã quá quen đi rồi với con mắt của nhiều người đã chết đi sống lại nhiều lần với Hà Nội. Ai mà lầm được cái gánh cốm Vòng có cái đòn gánh dị thường một đầu thẳng một đầu cong vút lên như cái ngọn chiếc hia tuồng Bình Định. Cái đòn gánh cồ truyền ấy là cả một thân tre đánh cả gốc, đầu cong chính là cái phần gốc cây mà có khi phải chọn hàng chục bụi tre mới tìm đúng được một chiếc đòn gánh cốm vừa ý. Cho nên đã có những cái đòn gánh cong truyền đi vai người này đến vai người khác có hàng mấy đời liền. Trong thúng là cốm, trên mặt thúng là một bó cọng rơm tươi còn xanh màu mạ, và những tập lá sen Hồ Tây.
Đã bao năm nay như thế. Mỗi lần Hồ Gươm lăn tăn ánh vàng nắng thu, mỗi lần những chòm mây mùa thu dãy Ba Vì và dãy Tam Đảo soi vào lòng sóng Hồ Tây thì (ba mươi sáu) phố phường Hà Nội lại thấy xuất hiện cái bóng dáng êm ả của người gánh cốm Vòng tiến vào theo đường cửa ô cầu Giấy. Lúc này cũng là lúc khắp nơi nơi, nắng mùa thu đang vẩv những đốm trứng cuốc vào mọi trái chuối tiêu đang vuốt cong lên cái màu vàng ngọt, và nắng mùa thu cũng đang làm bóng lên cái màu đỏ hổ phách bay phấn của những quả hồng trứng cũng đang vểnh hết cả tai hồng lên. Không hiểu đây là sự dàn xếp của mùa thu Việt Nam hay là sự hẹn hò của thời trân phẩm quả mà chuối tiêu trứng cuốc lại hay gặp mùa cốm và cốm lại gặp hồng trứng… Ai khó tính và cầu kì màu sắc cứ nói gì thì nói nhưng theo tôi cái màu xanh của cốm vòng là thứ màu xanh đẹp hơn cả cái màu xanh của ngọc thạch. Cốm xanh đậm ấy mà lại là lá sen phấn làm đĩa đựng càng thấy mình cùng tạo vật sao mà nó chan hòa cảm thông đến được như thế. Cốm rờn lên một niềm vui bất tận xanh, mà trên mặt đó lại cho chằng lên một múi lạt chừ thập nhuộm đỏ cánh sen đế gửi đến ngõ nhà người yêu, đế đặt trên bàn tiệc cưới, đám hỏi thì quả là màu xanh thật là màu của nguyện vọng hanh phúc. | Giới thiệu một đặc sắc đậm đà hương vị đất nước | 621 | |
Giới thiệu ngắn gọn về tác giả Xéc-van-téc và tác phẩm Đôn Ki-hô-tê – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
1.Tác giả
Xéc-van-téc (1547 – 1616) là nhà văn lỗi lạc của Tây Ban Nha. Cuốn tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê của ông là một trong những tác phẩm vĩ đại nhất của thời đại Phục hưng, nó đã làm cho tên tuổi Xéc-van-téc trở thành bất tử.
2.Tác phẩm
Tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê gồm 2 phần: phần I có 52 chương và phần II có 74 chương.
Phần I: Ki-ha-đa là một quý tộc nghèo, gần 50 tuổi, gầy gò, cao lênh khênh. Say mê các truyện hiệp sĩ phiêu lưu mà đầu óc lão trở nên mụ mẫm. Lão muốn trở thành hiệp sĩ, giang hồ khắp bốn phương trời, diệt trừ lũ khổng lồ yêu quái, thiết lập lại trật tự công lí. Lão tìm sắm binh khí, giáp trụ đã hoen gỉ của tổ tiên, đem sửa chữa, đánh bóng lại để tự vũ trang cho mình. Con ngựa gầy còm được lão phong cho một cái tên rất oai: chiến mã Rô-xi-nan-tê. Còn lão mang cái tên rất oách: Nhà hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê xứ Mantra. Một hiệp sĩ cứu nguy đời phải đúng “mốt” nghĩa là phải có người tình xinh đẹp. Lão nhớ tới một phụ nữ mà lão thầm yêu thời trai trẻ, lão liền ban cho mụ nhà quê này cái tên nghe rất dài: Công nương Đuyn-xi-nê-a đuy Tô-bô-xô. Lão tổ chinh chiến: Quán trọ thành lâu đài, gã chủ quán thành lãnh chúa, cuốn sổ bán hàng thành “Kinh Thánh” hai ả gái điếm thành hai công nương. Lần thứ nhất ra đi, một trận đấu nảy lửa giữa lão và bọn lái buôn, vì họ không nhận ra Đuy-xi-nê-a đuy Tô-bô-xô là đẹp nhất trần gian. Đôn Ki-hô-tê bị một trận đòn nhừ tử, may mà được người quen đưa về làng. Sau đó lão lại ra đi với một nông dân béo lùn, cục mịch được lão phong cho chức giám mã Xan-trô Pan-xa. Hai thầy trò ngược xuôi, ngang dọc khắp đất nước Tây Ban Nha. Thầy thì mang theo bao mộng tưởng hão huyền đến nực cười: đánh nhau với cối xay gió – lũ khổng lồ, chiếc chậu thau của bác thợ cạo, tưởng là lũ sắt của Mam-bri-nô, một phu nhân ngồi trong xe ngựa, tưởng là công chúa bị lão phù thủy bắt cóc, đàn cừu tưởng đoàn diễu hành… Trò lẽo đẽo theo thầy với mộng tưởng thực tế: sẽ được thầy, khi đã công thành danh toại ban cho chức tước cai trị vài hòn đảo. Trong một trận đánh lớn Đôn Ki-hô-tê đã đánh tan một đám lễ tang, đạp què chân một sinh viên, giám mã Đôn Ki-hô-tê bất ngờ bị hai người quen bắt nhốt cũi đưa về cho gia đình; lợi dụng một lúc được tự do, lão lại lao vào đám rước cầu mưa để giải thoát bức ảnh Đức mẹ Đồng trinh mà lão tưởng là một công chúa bị bọn phản nghịch bắt cóc. Lão bị đánh tơi bời và người thân phải khiêng lên xe đưa bò đưa về nhà phục thuốc!
Phần II: Đôn Ki-hô-tê lại lên đường. Lão gặp “Hiệp sĩ Gương soi”, hai bên giao đấu. Đối thủ chẳng may ngã ngựa. Đôn Ki-hô-tê chiến thắng. Hai thầy trò đắc thắng nghênh ngang trên đường và gặp một xe chở đôi sư tử; Đôn Ki-hô-tê ra lệnh cho người hộ tông mở ngay cũi! Lạ thay, sư tử nằm im trong cũi, ngó nhìn ra… Với chiến công này Đôn Ki-hô-tê đổi danh hiệu thành “Hiệp sĩ Sư tử”. Thầy trò Đôn Ki-hô-tê gặp hai vợ chồng bá tước. Họ đón tiếp Đôn Ki-hô-tê với kiểu cách hiệp sĩ và phong cho giám mã Xan-trô Pan-xa chức quan Thông đốc đảo Ban-ta-ri-a. Màn bi hài kịch diễn ra. Một trận tấn công giả được tổ chức. Thông đốc đảo bị một trận đòn nhừ tử. Còn Đôn Ki-hô-tê bị trêu chọc, giễu cợt đủ đường. Trận đánh giữa “Hiệp sĩ vầng trăng bạc” với “Hiệp sĩ Sư tử” xảy ra, Đôn Ki-hô-tê đại bại, lão cam kết trở về nhà. Ốm đau, kiệt sức bây giờ lão ta mới nhận ra cái hại của những cuốn truyện hiệp sĩ. Lão viết di chúc và chết trong thầm lặng!
3. Giá trị
– Đặt trong sự phát triển chung của tiểu thuyết thế giới, Đôn Ki-hô-tê được coi là một kiệt tác. Giọng văn hóm hỉnh, các giả định này kịch tính với bao chiến công và thất bại thảm hại của chàng hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê xứ Man- tra, cho thấy tài kể chuyện, dựng cảnh và chế giễu của ngòi bút nghệ thuật Xéc-van-téc.
– “Đôn Ki-hô-tê” sáng ngời vẻ đẹp của chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng
Tags:Văn 8 | Giới thiệu ngắn gọn về tác giả Xéc-van-téc và tác phẩm Đôn Ki-hô-tê – Đề và văn mẫu 8 | 813 | |
Giới thiệu nhà văn Nguyễn Tuân và tập tùy bút Sông Đà
Hướng dẫn
Tác giả Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân (1910 – 1987), quê ở Hà Nội, là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế kỉ 20. Đến với văn chương từ những năm 20 của thế kỉ, Nguyễn Tuân đã thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút ký, truyện ngắn hiện thực trào phúng và cố gắng tìm kiếm thành công. Nhưng mãi đến đầu năm 1938, ông mới nhận ra sở trường của mình và thành công xuất sắc với các tác phẩm: Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua…
Trước Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Tuân Nổi tiếng với những tác phẩm viết về chủ đề “xê dịch” (Một chuyến đi, Thiếu quê hương,..); cái đẹp trong quá khứ (Vang bóng một thời,..); hoặc cuộc sống trụy lạc (Chiếc lư đồng mắt cua). Dù ở đề tài nào, ông cũng khao khát tìm kiếm, phát hiện và chiêm ngưỡng cái đẹp ẩn khuất trong cuộc sống.
Chủ nghĩa xê dịch vốn là một quan niệm sống của phương Tây, được du nhập vào Việt Nam khoảng đầu thế kỉ 20 và được nhiều người tiếp nhận. Xê dịch có nghĩa là luôn luôn thay đổi, rất phù hợp với lý tưởng sống của tuổi trẻ, hoặc những người có lối sống tự do, thích khám phá. Nguyễn Tuân đã tìm đến lý thuyết “chủ nghĩa xê dịch” này trong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc. Nhưng viết về “chủ nghĩa xê dịch”, Nguyễn Tuân lại có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị của đất nước mà ông đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến, yêu thương và tài hoa (Một chuyến đi).
Không những “xê dịch” trên khoảng không gian địa lí, Nguyễn Tuân còn thực hiện “xê dịch” vượt thời gian lịch sử. Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp của quá khứ còn “vang bóng một thời”. Ông mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã. Tất cả được thể hiện thông qua những con người thuộc lớp người nhà Nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân (như Huấn Cao Chữ người tử tù).
Nguyễn Tuân cũng hay viết về đề tài đời sống trụy lạc. Ở những tác phẩm này, người ta thường thấy có một nhân vật “tôi” hoang mang bế tắc. Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm tục niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao (Chiếc lư đồng mắt cua).
Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nguyễn Tuân sớm hòa nhập với cuộc sống mới. Ông chân thành đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, nhưng Nguyễn Tuân luôn luôn có ý thức phục vụ trên cương vị của một nhà văn, đồng thời vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình. Ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước (Tùy bút Sông Đà), ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất (Tùy bút kháng chiến, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi).
Có thể khẳng định Nguyễn Tuân là một nhà văn độc đáo, tài hoa và uyên bác. Ông luôn trân trọng những truyền thống văn hóa của dân tộc và có tình yêu thiết tha đối với thiên nhiên, đất nước và con người. Trong suốt thời gian hơn nửa thế kỉ cầm bút, Nguyễn Tuân đã xó nhiều thể loại văn học khác nhau. Nhưng sở trường hơn cả vẫn là tùy bút. Với thể văn này, ngòi bút Nguyễn Tuân như được tung hoành, phóng túng, và bộc lộ đầy đủ nhất những nét tài hoa, uyên bác, cũng như cái “ngông” của mình
Thể hiện phong cách này, mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa uyên bác. Và mọi sự vật được miêu tả dù chỉ là cái ăn cái uống, cũng được quan sát chủ yếu ở phương diện văn hoá, mĩ thuật.
Quá trình chuyển đổi phong cách, đề tài sáng tác trước và sau cách mạng diễn ra mạnh mẽ. Ông không đối lập giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Văn Nguyễn Tuân thì bao giờ cũng vậy, vừa đĩnh đạc cổ kính, vừa trẻ trung hiện đại. Ông chủ động tiếp nhận chủ nghĩa xê dịch là để tìm kiếm những cảm xúc mới mẻ cho ngòi bút. Bởi thế, văn của ông lúc nào cũng có những cảnh tượng phi thường, những cảm xúc mãnh liệt, những phong cảnh tuyệt mĩ, của gió bão, núi cao, rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội,…
Dù đã thử bút trên nhiều thể loại nhưng Nguyễn Tuân vẫn có thế mạnh trong tùy bút rất phù hợp với phong cách tự do phóng túng của ông. Thiên nhiên trong tùy bút Nguyễn Tuân được miêu tả bằng một tình yêu trìu mến thiết tha và sự thấu hiểu sâu sắc, biểu lộ tinh tế và đọc đáo vẻ đẹp của sông núi, cỏ cây trên đất nước mình. Văn ông còn có giọng khinh bạc nhưng chủ yếu để ném nỗi giận dữ vào kẻ thù cướp nước với niềm căm hận tột cùng.
Tập tùy bút: Sông Đà gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ phác thảo; trong đó, đặc sắc hơn cả là tùy bút “Người lái đò sông Đà”.
Tập tùy này là kết quả chuyến đi thực tế lên Tây Bắc của Nguyễn Tuân những năm 1958 – 1960. Trở lại vùng đất đã từng gắn bó với ông những năm kháng chiến chống Pháp gian khổ, Nguyễn Tuân như được sống lại với những kỉ niệm thân thuộc và cảm xúc nghệ sĩ lại dâng trào trong tâm hồn ông.
Cảnh vật và con người Tây Bắc đã có một sức hấp dẫn cuốn hút đặc biệt đối với Nguyễn Tuân. Ông say mê trước vẻ đẹp thơ mộng trữ tình và cả cái hoang sơ dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc. Nhưng đề cập đến vẻ đẹp của lòng người, tình người. Trong tùy bút Người lái đò sông Đà. Nguyễn Tuân đã tự nhận mình là người “đi tìm thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc”. Nhất là thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí mỗi con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với Tây Bắc thêm sáng sủa, tươi vui và thêm bền vững.
Hình ảnh con sông Đà:
Sông Đà được miêu tả như một nhân vật có nguồn gốc, lai lịch rõ ràng (khai sinh ở huyện Cảnh Đông, Vân Nam, Trung Quốc và xin nhập tịch vào Việt Nam với tên gọi Bả Biên Giang hoặc Ly Tiên, ngày nay gọi chung là Sông Đà).
Sông Đà cũng được miêu tả có tính cách độc đáo vừa hung bạo, dữ dội, vừa rất thơ mộng, trữ tình.
Tính cách hung bạo: có địa hình hiểm trở ghê gớm (hút nước sâu thẳm, ghềnh thác hiểm trở, vách núi vút cao đầy ghê rợn,.. sóng nước cuồn cuộn ngày đêm gầm thét, Sông Đà ẩn chứa trong mình những nguy hiểm tột cùng của đội quân hùng mạnh nước và đá.)
Tính cách trữ tình, thơ mộng, hiền hòa: Nhìn từ trên cao, hình dáng con sông Đà giống như một dải lụa mềm mại vắt qua núi rừng, như mái tóc của người thiếu nữ mượt mà thả dài. Màu sắc sông Đà thay đổi theo mùa, lúc xanh như ngọc bích, lúc lại đỏ lừ như da mặt người bầm đi vì rượu, lúc trong vắt như nhìn thấy đáy. Cảnh sắc hai bên bờ hiền hòa, hoang sơ và tĩnh lặng như một bờ tiền sử, một nỗi niềm cổ tích xưa.
Nguyễn Tuân đã nhìn nhận sông Đà như một tuyệt tác của tự nhiên, một công trình nghệ thuật của tạo hóa. Ca ngợi vẻ đẹp con sông Đà thể hiện sâu sắc tình yêu mến của nhà văn đối với quê hương đất nước.
Hình ảnh người lái đò trên Sông Đà:
Nếu thiên nhiên sông Đà được tô đậm đến mức phi thường thì hình ảnh người lái đò trên sông Đà cũng được miêu tả trong tư thế kì vĩ nhất.
Ông lái đò người Lai Châu, quê ngã tư sông cát tỉnh, đã xuôi ngược sông Đà suốt mười năm liền. Giữa ông và dòng sông có một mối gắn kết đặc biệt sâu sắc, nó vừa là kẻ thù số một, sẵn sàng quật ngã, nhấn chìm vừa là người bạn hết sức thân thiết đối với ông. Những thương tích sau mỗi cuộc chiến đấu ác liệt còn in đậm trên cơ thể ông như những chứng tích oai hùng vừa đau thương lại vừa rất đáng tự hào.
Ông lái đò là người rất am hiểu về dòng sông. Ông hiểu sông Đà như hiểu chính bản thân mình. Ông nắm chắc từng nguồn mạch, từng ngọn thác, từng khe đá,.. Ông nắm vững quy luật của dòng sông và luôn có phương án tốt nhất trong mỗi cuộc chiến với dòng sông này.
Mỗi cuộc vượt thác đối với ông là một chuyến đi tràn đầy cảm hứng. Sự nguy hiểm đầy chết chóc của dòng sông trở thành niềm đam mê bất tận trong suốt cuộc đời ông. Ông muốn chiến đấu và chiến thắng con quái thú ấy nhiều lần, làm thỏa mãn khát vọng chinh phục. Bởi thế, trên nền sông nước Đà giang hùng vĩ ông lái đò hiên lên với tư thế của một dũng tướng tài năng và phong thái của một nghệ sĩ tài hoa trong cuộc vượt thác. Sau mỗi cuộc vượt thác ngoạn mục, ông lại thơi thả neo thuyền và ung dung đốt lửa trại, bàn tán về cá anh vũ.
Qua nhân vật người lái đò trên sông Đà, Nguyễn Tuân đã khắc họa đậm nét bức chân dung của con người lao động với niềm hiên ngàng, khí phách, oai hùng, kì vĩ, vừa tài hoa vừa hiền lành, dung dị trong cuộc sống nơi miền núi thẳm. | Giới thiệu nhà văn Nguyễn Tuân và tập tùy bút Sông Đà | 1,766 | |
Đề bài: Giới thiệu rừng tràm Gáo Giồng tỉnh Đồng Tháp
Bài làm
Khu du lịch sinh thái này nằm cách trung tâm huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, khoảng 17km đường bộ và 30 phút đường sông. Nơi đây có 36 ha sân chim với 15 loài chim, cùng hàng trăm loài động thực vật và thủy sản.
Gáo Giồng chia thành 4 khu với 70 km kênh phân lô, 20km đê bao khép kín. Hằng năm, khu rừng tràm này thu hoạch 30 tấn cá lóc, cá trê, cá rô, cá sặc rằn, lăng, cá linh, cá trốt, trị giá hàng tỉ đồng.
Nơi đây còn là môi trường lí tưởng cho những đàn chim các loại sinh sống. Mùa nước là thời gian hội tụ của chim cồng cộc, le le, vịt trời, trích, bìm bịp. Mùa khô có điệc mốc, diệc lửa, vạc, nhan điển, cò ngà, cò đỏ, cò trâu. Đặc biệt rừng có loài nhan điển rất quý hiếm.
Các loài rau đồng vượt nước như bông điên điển, bông súng, rau dừa, rau mát tạo khung cảnh hấp dẫn khách thập phương. Vào mùa khô, nơi dđy có thể tổ chức cắm trại dưới những tán tràm 12 năm tuổi, đi xem các sân chirn hoặc câu cá.
Tại khu du lịch Gáo Giồng, du khách sẽ được thưởng thức các món ăn đặc sản truyền thống của vùng Đồng Tháp Mười như cá lóc nước gói với đột sen, lá sao nhái chấm với mắm me, rắn nướng mọi, cá linh nấu canh chua bông điên điển, mắm kho chấm với rau dừa, rau mát, bông súng và nhấm nháp rượu mật ong tràm tinh khiết.
Những năm qua, đã có nhiều đoàn khách trong nước, nước ngoài đến Gáo Giồng tham quan, tận hưởng không khí trong lành, yên tĩnh và thư giãn trên chiếc xuồng ba lá êm nhẹ lướt trên những con kênh dưới tán rừng tràm mát rượi. | Giới thiệu rừng tràm Gáo Giồng tỉnh Đồng Tháp | 323 | |
Đề bài: Em đã từng được chơi trò chơi nhảy dây cùng các bạn. Hãy viết bài văn giới thiệu trò chơi dân gian Nhảy dây cho mọi người cùng hiểu.
Bài làm
Nhảy dây là trò chơi dân gian có từ lâu đời, được các bạn gái ở độ tuổi thiếu niên nhi đồng yêu thích. Tranh thủ lúc rỗi rãi ở nhà hoặc giờ ra chơi ở trường, dăm ba bạn, một sợi dây thừng hoặc dây thun và khoảng đất đủ rộng là trò chơi có thể bắt đầu.
Có nhiều cách nhảy dây nhưng thông thường là nhảy dây một người và nhảy dây nhiều người. Cách nhảy thứ nhất khá đơn giản. Người chơi quấn hai đầu dây vào hai bàn tay để giữ cho chắc. Đặt chân vào giữa sợi dây rồi kéo lên cao cho vừa tầm. Dây dài quá hoặc ngắn quá đều khó nhảy.
Lúc bắt đầu nhảy, hai tay quay dây đều đều về phía trước, chân nhấc lên nhịp nhàng mỗi khi dây chạm đất, vừa nhảy vừa đếm. Nếu để dây vướng vào chân là mắc lỗi, phải ngừng. Người nhảy giỏi có thể nhảy được rất lâu.
Nhảy dây nhiều người thì hai người quay dây đứng cách nhau vài mét, mỗi người nắm một đầu dây, quay cho các bạn khác nhảy. Sau tiếng hô: “Hai, ba, nào!” thì từng người lần lượt nhảy vào. Có khi hai người cùng nhảy vào một lúc. Cái khổ của kiểu này là mọi người phải phối hợp bước nhảy thật đều, thật ăn ý, không thì rất dễ bị lỗi nhịp. Nếu để dây vướng chân thì những người nhảy sỗ ra quay dây thay thế. | Giới thiệu trò chơi dân gian Nhảy dây | 283 | |
Đề bài: Giới thiệu tập tục đi Tết trong dịp Tết cổ truyền của dân tộc
Bài làm
Đi Tết hay lễ Tết, mà ngày nay được gọi nôm na là biếu Tết, vốn dĩ là một trong những phong tục tập quán đã được hình thành ngay từ thuở xa xưa trong nếp sống văn hóa của người Việt Nam. Đây quả là một tập tục mang ý nghĩa nhân văn cao đẹp, nhằm gìn giữ, tôn tạo những môi quan hệ tương giao thâm tình của mỗi cá nhân đổi với gia đình và xã hội, có tính truyền thống đáng tự hào của dân tộc ta từ trước đến nay.
Như chúng ta đã biết, đối với người Việt Nam, Tết Nguyên Đán bao giờ cũng rất được xem trọng. Đó là dịp mỗi gia đình đoàn viên, họp mặt sum vầy đón mừng xuân mới và cũng là dịp mỗi gia đình trong cộng đồng xã hội có điều kiện thực hiện chuyện hiếu nghĩa, thăm viếng chúc tụng xã giao, bày tỏ sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau… sau một năm dài tất bật với công việc làm ăn, sinh sống. Vì vậy, chuyện biếu quà vào dịp Tết đã được người xưa tôn lên thành một thứ lễ nghi không thể thiếu trong đời sống của xã hội, được gọi một cách trân trọng là đi Tết (hoặc lễ Tết). Có thể nói, đây là một kiểu nghi lễ đầy tính “khuôn vàng thước ngọc” mà đạo làm con cần phải tuân thủ để bày tỏ lòng hiếu thảo với tổ tiên và ông bà, cha mẹ, đồng thời cũng là phép tắc để thể hiện nghĩa làm trò đối với các bậc ân sư, vì thế mà trong dân gian đã từng có câu:
Mồng một Tết mẹ, Tết cha.
Mồng hai Tết vợ, mồng ba Tết thầy.
Ngẫm lại, chẳng phải ngẫu nhiên mà có cái tôn ti trật tự ấy. Bởi lẽ, đó chính là một qui tắc mang đậm tính nhân văn trong đời sống xã hội, nhắn nhủ con người nên hành xử cho phải đạo đối với người có công ơn sinh thành và dưỡng dục, thể hiện rõ một nếp sống “giàu tình cảm, nặng nghĩa nhân” của người dân nước Việt.
Thuở xưa, chuyện đi Tết chỉ được thực hiện vào những ngày đầu tiên của nâm mới, đúng theo nghĩa đi viếng thăm trong dịp Tết và kèm theo quà biếu làm lễ đầu năm. Ban đầu, tập tục đi Tết chỉ hạn chế trong phạm vi phép tắc dành riêng cho một số đối tượng như: con, cháu đã lập gia đình riêng đưa nhau trở về thăm viếng, chúc Tết gia đình và họ hàng thân bằng quyến thuộc của đôi bên, có mang theo lễ vật để cúng bái tổ tiên, kính biếu cho ông bà, cha mẹ, cô bác, cậu dì, học trò đến viếng thăm và kính biếu quà Tết cho thầy nhằm bày tỏ lòng tri ân, hai bên sui gia qua lại tặng biếu cho nhau để kết chặt tình thân. Dẩn dà về sau, chuvện đi Tết trở về nên phổ biến, mở rộng ra với các đối tượng như anh chị em, bạn bè biếu tặng quà Tết cho nhau, những người làm ăn có mối quan hệ làm ăn giao hảo với nhau, hàng xóm cho biếu lẫn nhau… Đặc biệt, đã gọi là “lễ” nên bao giờ người ta cũng xem trọng vấn đề “của cho không bằng cách cho”. Thường thì quà -biếu luôn biểu thị cho tấm thân tình của người trao tặng, do vậy giá trị tinh thần bao giờ cũng được chú ý và đánh giá rất cao. Cho nên, dẫu quà biếu có đắt tiền bao nhiêu đi chăng nữa song nếu sơ ý “thất lễ”, thiếu sự trân trọng cách biếu tặng thì cùng kể như là… công cốc!
Ngày nay, tập tục đi Tết vẫn còn được lưu truyền và ngày càng trở nên phố biến, mang tính đại trà tại nước ta với tên gọi biếu Tết. Đặc biệt, nếu như trước kia chuyện biếu quà thường chỉ được thực hiện trong Tết (những ngày đầu năm mới) thì ngày nay người ta lại có thói quen tặng quà trước Tết, rầm rộ nhất là đến ngày ba mươi Tết. Mặt khác, chuyện biếu Tết cũng không còn hạn hẹp trong phạm vi khuôn khổ của gia đình và những mối quan hệ thâm giao nữa, mà còn được lan rộng với nhiều hình thức khác nhau như các doanh nghiệp, công ty, xí nghiệp… tổ chức tặng quà Tết cho cán bộ, công nhân viên chức của mình và các đơn vị đối tác, các tể chức xã hội, đoàn thể quan tâm chăm sóc, biếu quà Tết cho các đối tượng ưu tiên trong xã hội và cho cả những gia đình khó khăn neo đơn trẻ em mái ấm.
Có thể nói, với tinh thần tương quan lễ nghĩa trong niềm tôn trọng và thân ái thì chuyện biếu Tết luôn là một tập tục tốt đẹp rất cần được gìn gìn và phát huy trong nếp sống “trọng đạo” của người dân Việt Nam. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, hiện vẫn có không ít người lạm dụng tập tục này để thực hiện những ý đồ mờ ám sai trái như mượn hình thức biếu quà để “hợp thức hóa” chuyện đưa và nhận hôi lộ, biếu quà có giá trị lớn nhằm nịnh bợ, đút lót mưu đồ vụ lợi cá nhân, sử dụng công quĩ để “bôi trơn” các quan hệ “ngầm”, hoặc có những trường hợp lại xem dịp Tết như một cơ hội để nhũng nhiễu, yêu sách người khác “cúng” tiền hay quà biếu… Các hình thức biếu quà “trên mức tình cảm” này quả là những thói tệ, lệ xấu cần được phê phán, lên án và loại trừ trong xã hội. Bởi lẽ, nó sẽ như một mảng màu đen tối phủ nhòa lên bức tranh đạo lí xán lạn của đất nước và con người Việt Nam. Đi Tết ngày xưa chính là một hành vi chuyển tải và tôn vinh chữ đạo, thể hiện nhân cách sống tốt đẹp của con người, do vậy chớ nên để chuyện biếu Tết ngày nay bị biến chất, trở thành hành vi tiếp tay cho những mưu đồ kém đạo đức. | Giới thiệu tập tục đi Tết trong dịp Tết cổ truyền của dân tộc | 1,079 | |
Giới thiệu và kể về hoạt động của tổ em trong tháng 11 vừa qua với một đoàn khách đến thăm
Gợi ý
Kính thưa các thầy giáo, cô giáo!
Kính thưa các cô, các bác trong đoàn đại biểu!
Thưa các bạn học sinh lớp 3A thân mến!
Em xin được thay mặt tổ 2 giới thiệu về một số hoạt động của tổ em trong tháng qua, tháng 11 năm 2009.
Em xin tự giới thiệu, em là Nguyễn Hà Linh, tổ trưởng. Tổ em có tất cả 11 bạn (1 bạn mới chuyển từ tổ 3 sang).
Hầu hết các bạn trong tổ đều hăng hái hoạt động, tham gia đầy đủ, nhiệt tình mọi phong trào thi đua giành nhiều bông hoa điểm 10 để chào mừng ngày Hiến chương các nhà giáo Việt Nam. Kết quả cụ thể của tổ em như sau:
– Về học tập:
+ Ưu điểm: 8 bạn đạt bông hoa điểm 10, hầu hết các bạn thực hiện tốt nội quy của trường lớp.
+ Nhược điểm: Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng còn một số tồn tại như: 2 bạn đi học muộn hôm trời mưa to, 1 bạn chưa học bài cũ ở nhà.
– Về lao động: Hoàn thành kế hoạch do lớp phân công là tưới cây quanh sân trường.
– Về các hoạt động khác: có tham dự để cổ vũ cho cuộc thi kéo co của các anh chị khối 4, 5. Tham gia tiết mục hát tập thể nhưng chưa đạt được giải thưởng.
Thay mặt nhóm và lớp, em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các cô, các bác trong đoàn đại biểu đã đến thăm và động viên, lớp chúng em. Xin kính chúc các thầy cô giáo và các cô, các bác cùng toàn thể các bạn mạnh, khỏe, hạnh phúc. Hẹn gặp lại! | Giới thiệu và kể về hoạt động của tổ em trong tháng 11 vừa qua với một đoàn khách đến thăm | 307 | |
Giới thiệu và kể về hoạt động của tổ em trong tháng 3 vừa qua với một đoàn khách đến thăm
Gợi ý
Kính thưa các thầy giáo, cô giáo!
Kính thưa các cô, các bác trong đoàn đại biểu!
Thưa toàn thể các bạn học sinh thân mến!
Lời đầu tiên cho em được gửi tới các thầy cô giáo, các cô, các bác, cùng toàn thể các bạn lời chúc sức khoẻ và hạnh phúc.
Em xin phép được thay mặt tổ 1 giới thiệu về các hoạt động của tổ em trong tháng qua.
Em xin tự giới thiệu, em là Nguyễn Trịnh Hà Trang, tổ trưởng. Tổ em gồm 12 bạn, được chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm gồm 4 thành viên. Nhóm 1 do bạn Nguyễn Tuấn Thành là nhóm trưởng. Nhóm 2 do bạn Nguyễn Xuân Nhi làm nhóm trưởng. Nhóm 3 do bạn Nguyễn Hoàng Giang làm nhóm trưởng.
Trong tháng 3 vừa qua cả ba nhóm chúng em đã rất tích cực tham gia các hoạt động để chào mừng ngày thành lập Đoàn. Thành tích cụ thể như sau:
– Về bọc tập: Cả tổ không có học sinh vi phạm các nội quy như không đi học muộn, không bỏ giờ, trôn tiết, không học bài.
– Về lao động: Dưới sự phân công của Liên đội nhà trường, của lớp, tổ em đã tham gia một buổi lao động vệ sinh hè phố. Tổ còn tình nguyện tham gia cuộc phát động “Hãy bảo vệ môi trường”.
Trên đây là kết quả rèn luyện của tổ em. Tổ em rất vui vì được các thầy cô cùng các cô bác đến thăm lớp, thăm tổ.
Em xin thay mặt các bạn trong tổ, thay mặt lớp chân thành cảm ơn sự quan tâm của các thầy cô và toàn thể các cô, các bác. Một lần nữa em xin chúc các thầy cô và các cô, các bác cùng toàn thể các bạn mạnh khỏe. | Giới thiệu và kể về hoạt động của tổ em trong tháng 3 vừa qua với một đoàn khách đến thăm | 324 | |
Giới thiệu và phân tích những nét chính về đoạn trích Đi bộ ngao du của Ru-xô.
Hướng dẫn
Ru-xô là nhà văn, nhà triết học vĩ đại của nước Pháp trong Thế kỉ Ánh sáng. Ông là con của một người thợ đồng hồ khéo tay,Ru-xô mới được đi học, và chỉ được học hai năm. Sau đó ông học nghề phiêu bạt suốt 13 năm để kiếm sống. Cuộc đời Ru-xô “nhiều cay đắng mà vinh quang”. Bài học lớn nhất của ông là bài học về tự học và kiên cường vượt qua mọi thử thách, quyết tâm theo đuổi chí hướng của mình.
“Đi bộ ngược” là đoạn trích trong tác phẩm “Ê-min hay về giáo dục” của ông. Đầy là văn nghị luận chứng minh có phương pháp trình bày diễn tả rất sinh động mang đâm sắc thái cá nhân của ông. Đoạn trích gồm ba đoạn, thể hiện luận điểm chungcủa tác giả:
– Đi bộ ngao du rất thoải mái, vì chủ động và hoạt động theo yêu cầu tự do cá nhân.
– Đi bộ ngao du rất có ích, vì được quan sát, học tập nhiều kiến thức trong thế giới tự nhiên.
– Đi bộ ngao du vô cùng thú vị, vì không bị ràng buộc bởi phương tiện di chuyển và thời gian.
Để giải thích, chứng minh cho các luận điểm trên, tác giả khẳng định: “đi bộ ngao du thú vị hơn đi ngựa”, “đi bộ ngao du rất thoải mái và chủ động’’, có thể đến các nơi tuỳ ý thích của mình. “Đi bộ ngao du” có thể đến các cảnh đẹp, cảnh lạ như dòng sông, khu rừng hoặc một mô đá, một hang động nào đó.
Tiếp đến tác giả còn viện dẫn chứng minh qua các nhà khoa học, hiền triết thuở trước như Ta-lét, Pla-tông hay Pi-ta-go đã suy nghĩ, nghiền ngẫm trong lúc “Đi bộ ngao du”. Các nhân vật này đi ngao du để xem xét tài nguyên, đặc sản và cách thức trồng trọt những đặc sản ấy. Họ xem xét một khoảnh đất, ghè một mẫu đá hay sưutập những gì họ muốn.
Ru-xô đã so sánh một cách hóm hỉnh để làm bật ra lí lẽ, luận chứng phòng sưutập của những “triết gia phòng khách” thì có đủ các thứ linh tinh. Trái lại ở phòng sưutập của Ê-min thì rất phong phú, như có cả trời đất. Ởđây có thểso sánh với công trình của Đô-băng-tông, nhà tự nhiên học lừng danh của nước Pháp.
Điểm cuối cùng tác giả nói đến sức khỏe “được tăng cường” khi đi bộ ngao du. Nó khác hẳn với kẻ xa hoa sống trong tiện nghi sang trọng. Họ ngồi trong các cỗ xe tốt chạy rất êm, nhưng tính khí thì cáu kỉnh, tâm hồn thì “mơ màng buồn bã”.
Trong khi đóÊ-min thì đi bộ nhưng lạc quan yêu đời: “luôn luôn vui vẻ, khoan khoái và hài lòng với tất cả”. Ê-min ăn ngon miệng dù chỉ là “bữa com đạm bạc”, ngủ ngon giấc hơn dù trên cái giường tồi tàn.
Cuối cùng đi bộ ngao du là làm cho con người trở nên giản dị hơn, biết sống – yêu và yêu đời hơn.
Cách trình bày luận điểm và luận cứ mạch lạc, khúc chiết, sáng tỏ và sâu sắc.
Đọc bài “Đi bộ ngao du” ta thấy sáng tỏ một chân lí là trong tự nhiên có cuộc sống muôn màu muôn vẻ. “Đi bộ ngao du’’ là rất bổ ích cho trí tuệ và tình cảm. | Giới thiệu và phân tích những nét chính về đoạn trích Đi bộ ngao du của Ru-xô. | 594 | |
Giới thiệu và phân tích nét chính đoạn Đi bộ ngao du – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Ru-xô là nhà văn, nhà triết học vĩ đại của nước Pháp trong Thế kỉ Ánh sáng (thế kỉ thứ XVIII). Ông là con của một người thợ đồng hồ khéo tay, nhưng mãi đến năm lên 10 tuổi, Ru-xô mới được đi học, và chỉ được học hai năm. Sau đó ông học nghề và phiêu bạt suốt 13 năm để kiếm sống. Cuộc đời Ru-xô “nhiều cay đắng mà vinh quang”. Bài học lớn nhất của ông là bài học về tự học và kiên cường vượt qua mọi thử thách, quyết tâm theo đuổi chí hướng của mình.
“Đi bộ ngao du” là đoạn trích trong tác phẩm “Ê-min hay về giáo dục” của ông. Đây là văn nghị luận chứng minh có phương pháp trình bày diễn tả rất sinh động mang đậm sắc thái cá nhân của ông. Đoạn trích gồm ba đoạn, thể hiện luận điểm chính của tác giả:
-Đi bộ ngao du rất thoải mái, vì chủ động và hoạt động theo yêu cầu tự do cá nhân.
– Đi bộ ngao du rất có ích, vì được quan sát, học tập nhiều kiến thức trong thế giới tự nhiên.
– Đi bộ ngao du vô cùng thú vị, vì không bị ràng buộc bởi phương tiện di chuyển và thời gian.
Để giải thích, chứng minh cho các luận điểm trên, tác giả khẳng định: “đi bộ ngao du thú vị hơn đi ngựa”, “đi bộ ngao du rất thoải mái và chủ động”, có thể đến các nơi tuỳ ý thích của mình. “Đi bộ ngao du” có thể đến các cảnh đẹp, cảnh lạ như dòng sông, khu rừng hoặc một mô đá, một hang động nào đó.
Tiếp đến tác giả còn viện dẫn chứng minh qua các nhà khoa học, hiền triết thuở trước như Ta-lét, Pla-tông hay Pi-ta-go đã suy nghĩ, nghiền ngẫm trong lúc “Đi bộ ngao du”. Các nhân vật này đi ngao du để xem xét tài nguyên, đặc sản và cách thức trồng trọt những đặc sản ấy. Họ xem xét một khoảnh đất, ghè một mẫu đá hay sưu tập những gì họ muốn.
Ru-xô đã so sánh một cách hóm hỉnh để làm bật ra lí lẽ, luận chứng phòng SƯU tập của những “triết gia phòng khách” thì có đủ các thứ linh tinh. Trái lại ở phòng sưu tập của Ê-min thì rất phong phú, như có cả trời đất. Ở đây có thể so sánh với công trình của Đô-băng-tông, nhà tự nhiên học lừng danh của nước Pháp.
Điểm cuối cùng tác giả nói đến sức khỏe “được tăng cường” khi đi bộ ngao du. Nó khác hẳn với kẻ xa hoa sống trong tiện nghi sang trọng. Họ ngồi trong các cỗ xe tốt chạy rất êm, nhưng tính khí thì cáu kỉnh, tâm hồn thì “mơ màng buồn bã”.
Trong khi đó Ê-min thì đi bộ nhưng lạc quan yêu đời: “luôn luôn vui vẻ, khoan khoái và hài lòng với tất cả”. Ê-min ăn ngon miệng dù chỉ là “bữa cơm đạm bạc”, ngủ ngon giấc hơn dù trên cái giường tồi tàn.
Cuối cùng đi bộ ngao du là làm cho con người trở nên giản dị hơn, biết sống – yêu và yêu đời hơn.
Cách trình bày luận điểm và luận cứ mạch lạc, khúc chiết, sáng tỏ và sâu sắc.
Đọc bài “Đi bộ ngao du” ta thấy sáng tỏ một chân lí là trong tự nhiên có cuộc sống muôn màu muôn vẻ. “Đi bộ ngao du” là rất bổ ích cho trí tuệ và tình cảm.
Tags:Văn 8 | Giới thiệu và phân tích nét chính đoạn Đi bộ ngao du – Đề và văn mẫu 8 | 617 | |
Đề bài: Giới thiệu và tả các bạn trong nhóm học tập của em
Bài làm
Lớp 2A của em có 32 học sinh, chia thành bốn tổ học tập. Mỗi tổ học tập có hai nhóm, mỗi nhóm có bốn học sinh. Em ở nhóm một của tổ ba. Bạn Lê Phú Cường, béo ục ịch, giỏi toán làm nhóm trưởng. Bạn Trần Đức Thảo, được gọi là ‘Thỏ con”, thích đá bóng, giỏi Toán, viết rất đẹp, thường được cô giáo khen. Bạn Nguyễn Thị Quỳnh, xinh đẹp, giỏi Tiếng Việt.
Giới thiệu và tả các bạn trong nhóm học tập của em
Em là Hoàng Đức Báu, năm học lớp một là học sinh giỏi. Cô giáo khen em đọc diễn cảm và gương mẫu.
Chúng em đều lên 8 tuổi, đang thi đua trở thành con ngoan, trò giỏi. | Giới thiệu và tả các bạn trong nhóm học tập của em | 138 | |
Đề bài: Giới thiệu và tả quyển sách tiếng việt lớp 2 của em
Bài làm
Cuối năm học lớp Một, trong lễ tổng kết và phát phần thưởng, em được nhận mười quyển vở ô-li, bộ sách giáo khoa lớp Hai. Sướng quá! Chúng em cùng reo rn Sách mới, vờ mới, bút mực mới…, hỏi có niềm vui nào bằng.
Về đến nhà, em khoe với bà, với mẹ về tờ giấy khen, về gói quà cô giáo tặng. Mở cuốn sách Tiếng Việt 2, tập một, em đọc cho bà nghe bài “Có công mài sắt, có ngày nên kim ". Bà khen: "Cháu học giỏi và ngoan lắm!”
Giới thiệu và tả quyển sách tiếng việt lớp 2 của em
Sách Tiếng Việt 2, tập một dày 160 trang cỡ lớn. Bìa màu vàng cam, láng bóng. Có cành phượng xanh vắt ngang. Có hình ảnh sáu cô cậu học trò, ba nam, ba nữ, nét mặt tươi cười hớn hở, vai khoác cặp sách đi tới trường. Ba cô bé cài nơ trên mái tóc, hai chú bé đội mũ vải trắng vểnh lên. Tất cả đều đi giày, cùng sóng bước. Ngắm nghía mãi, em phải thốt lên: “Đẹp quá!”
Khi xem bài Cân voi, bài Thêm sừng cho ngựa, em phải bật cười. Các tranh vẽ minh họa đều rất đẹp. Tranh vẽ các con thú, vẽ con gà trống, con mèo lười trông thật ngộ nghĩnh. Xem mãi, đọc mãi không chán.
Bố nhắc anh Quang bọc sách lại cho em. Em vui mừng quá! Đêm ngủ nằm mơ, em thấy Thỏ chạy thi với Rùa. | Giới thiệu và tả quyển sách tiếng việt lớp 2 của em | 267 | |
Giới thiệu vài nét về bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư
Hướng dẫn
Năm 1285, Thoát Hoan mang 50 vạn quân sang xâm lược nước ta. Thế giặc rất mạnh; kinh thành Thăng Long thất thủ. Vị Tiết chế thống lĩnh đã tổ chức một cuộc rút lui chiến lược tài tình, để bảo toàn binh lực, chờ thời cơ phản công.
Xuân – hè năm Ất Dậu, quân ta phản công như vũ bão. Trận Hàm Tử quan do tướng Trần Nhật Duật chỉ huy, quân ta thắng lớn, tướng Mông cổ là Toa Đô bị chém cụt đầu. Đầu tháng 6, tại Chương Dương độ, Trần Quang Khải đại thắng. Hàng vạn giặc bị tiêu diệt, bị bắt sống. Quân ta thu được nhiều chiến thuyền, vũ khí, lương thảo của giặc Mông cổ. Thừa thắng, quân ta tiến lên giải phóng thành Thăng Long, rồi quét sạch quân giặc ra khỏi bờ cõi. Trần Quang Khải cùng đoàn quàn thắng trận rước xa giá Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông trở về kinh thành Thăng Long.
Trong hoàn cảnh lịch sử hào hùng ấy, Thượng tướng Trần Quang Khải đã viết bài thơ ‘Tụng giá hoàn kinh sư’ bằng chữ Hán, theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật; luật trắc, vần bằng, có hai vần: ‘quan – san’-, hai câu 1, 2 đối nhau:
‘Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu trí lực,
Đây là bản dịch thơ của học giả Trần Trọng Kim:
‘Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu’
Chủ đề:
Bài thơ ‘Tụng giá hoàn kinh sư’thể hiện lòng tự hào về niềm vui thắng trận, đồng thời nói lên nghĩa vụ công dân hãy đem tài trí xây dựng đất nước thái bình bền vững muôn đời. | Giới thiệu vài nét về bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư | 306 | |
Giới thiệu văn bản Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp
Hướng dẫn
“Bàn lụận về phép học” là văn bản trích từ bài tấu của Nguyễn Thiếp gửi cho vua Quang Trung vào tháng 8 năm 1791. Lúc bấy giờ Nguyễn Thiếp đang làm ở Viện Sùng chính, phụ trách việc biên soạn sách và xây dựng Phượng Hoàng Trung đô ở Nghệ An. Bài tấu thể hiện tấm lòng của Nguyễn Thiếp đối với việc chấn hưng nền học thuật nước nhà. Mục đích cao cả của ông là nhằm mở mang dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước.
Các vấn đề như mục đích, nội dung và phương pháp học tập đã được ông trình bày một cách ngắn gọn nhưng cụ thể.
Mở đầu, ông nhắc lại câu cổ ngữ: “Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học không biết rõ đạo”. Mục đích của việc học trước tiên là biết để đối xử giữa mọi người với nhau. Nói cách khác học là để mở mang trí tuệ và bồi bổ đạo đức. Đạo mà ông nói đến là đạo làm người. Ông than phiền rằng nền chính học đã bị thất truyền. Có biết bao tệ lậu đáng bị chê trách như đua nhau lối học hình thức hòng cầu danh lợi, coi thường đạo lí, không còn biết đến tam cương ngũ thường. Nhà dột từ nóc, chúa trọng nịnh thần. Những mặt trái đó đã làm Nguyễn Thiếp hết sức đau buồn: “Nước mất nhà tan đều do những điều tệ hại ấy”. Nguyễn Thiếp đã dùng những lời lẽ hết sức trầm tĩnh, ôn hòa mà sâu sắc.
Phần thứ hai tác giả đề cập đến nội dung và phương pháp học tập. Khi trả lời câu hỏi học ở đâu, ông cho rằng học ở trường của phủ, huyện, các trường tư; con cháu các nhà văn võ, thuộc lại đều tuỳ đâu tiện đấy mà học. Còn khi nói về vạn đề học cái gì, ông cho rằng nhất định phải theo Chu Tử, một học giả thời Nam Tông.Lúc đầu học tiểu học để bồi gốc. Tuần tự tiến đến học tứ thư, ngũ kinh, chư sử. Nội dung học tập mà Nguyễn Thiếp nêu ra không có gì mới so với các thời trước đó. Các nội dung này đã được các triều đại phong kiến Trung Hoa và Việt Nam áp dụng từ hàng nghìn năm trước đó. Cái mới của Nguyễn Thiếp chính là phương pháp học tập. Theo ông, cần học rộng rồi tóm lược cho gọn, học phải đi đôi với hành, theo điều học mà làm. Mong ước của ông rất chân thành: “Họa may kẻ nhân tài mới lập được công, Nhà nước nhờ thế mà vững yên. Đó mới thực là cái đạo ngày nay có quan hệ tới lòng người. Xin chớ bỏ qua”.
Nguyễn Thiếp đã khẳng định tầm quan trọng của đạo học và ý nghĩa lớn lao của nó: “Đạo học thành thì người tốt nhiều, người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị”. Đúng là việc học góp phần đào tạo nhân tài, mở mang dân trí, góp phần xây dựng đất nước thịnh trị. Chiến lược trồng người đã được Nguyễn Thiếp trình bày một cách cụ thể và sáng tỏ.
Phần cuối của văn bản, Nguyễn Thiếp giãi bày lòng mình với hoàng thượng, phép học là những lời chân thành của ông chứ không phải là những lời vu vơ, ông cung kính cúi mong hoàng thượng soi xét. Tất cả tâm huyết của Nguyễn Thiếp được trình bày một cách cụ thể và thiết thực. Những đóng góp của ông cho nền học thuật nước nhà rất đáng trân trọng, chính vì thế nhân dân luôn kính trọng và nhớ ơnông – La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp.
Nguồn: | Giới thiệu văn bản Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp | 650 | |
Giới thiệu văn bản Bàn luận về phép học – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
“Bàn luận về phép học” là văn bản trích từ bài tấu của Nguyễn Thiếp gửi cho vua Quang Trung vào tháng 8 năm 1791. Lúc bấy giờ Nguyễn Thiếp đang làm ở Viện Sùng chính, phụ trách việc biên soạn sách và xây dựng Phượng Hoàng Trung đô ở Nghệ An. Bài tấu thể hiện tấm lòng của Nguyễn Thiếp đối với việc chấn hưng nền học thuật nước nhà. Mục đích cao cả của ông là nhằm mở mang dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước.
Các vấn đề như mục đích, nội dung và phương pháp học tập đã được ông trình bày một cách ngắn gọn nhưng cụ thể.
Mở đầu, ông nhắc lại câu cổ ngữ: “Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học không biết rõ đạo”. Mục đích của việc học trước tiên là biết để đối xử giữa mọi người với nhau. Nói cách khác học là để mở mang trí tuệ và bồi bổ đạo đức. Đạo mà ông nói đến là đạo làm người. Ông than phiền rằng nền chính học đã bị thất truyền. Có biết bao tệ lậu đáng bị chê trách như đua nhau lối học hình thức hòng cầu danh lợi, coi thường đạo lí, không còn biết đến tam cương ngũ thường. Nhà dột từ nóc, chúa trọng nịnh thần. Những mặt trái đó đã làm Nguyễn Thiếp hết sức đau buồn: “Nước mất nhà tan đều do những điều tệ hại ấy”. Nguyễn Thiếp đã dùng những lời lẽ hết sức trầm tĩnh, ôn hòa mà sâu sắc.
Phần thứ hai tác giả đề cập đến nội dung và phương pháp học tập. Khi trả lời câu hỏi học ở đâu, ông cho rằng học ở trường của phủ, huyện, các trường tư; con cháu các nhà văn võ, thuộc lại đều tuỳ đâu tiện đấy mà học. Còn khi nói về vấn đề học cái gì, ông cho rằng nhất định phải theo Chu Tử, một học giả thời Nam Tông. Lúc đầu học tiểu học để bồi gốc. Tuần tự tiến đến học tứ thư, ngũ kinh, chư sử. Nội dung học tập mà Nguyễn Thiếp nêu ra không có gì mới so với các thời trước đó. Các nội dung này đã được các triều đại phong kiến Trung Hoa và Việt Nam áp dụng từ hàng nghìn năm trước đó. Cái mới của Nguyễn Thiếp chính là phương pháp học tập. Theo ông, cần học rộng rồi tóm lược cho gọn, học phải đi đôi với hành, theo điều học mà làm. Mong ước của ông rất chân thành: “Họa may kẻ nhân tài mới lập được công, Nhà nước nhờ thế mà vững yên. Đó mới thực là cái đạo ngày nay có quan hệ tới lòng người. Xin chớ bỏ qua”.
Nguyễn Thiếp đã khẳng định tầm quan trọng của đạo học và ý nghĩa lớn lao của nó: “Đạo học thành thì người tốt nhiều, người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị”. Đúng là việc học góp phần đào tạo nhân tài, mở mang dân trí, góp phần xây dựng đất nước thịnh trị. Chiến lược trồng người đã được Nguyễn Thiếp trình bày một cách cụ thể và sáng tỏ.
Tags:Văn 8 | Giới thiệu văn bản Bàn luận về phép học – Đề và văn mẫu 8 | 567 | |
Giới thiệu văn bản Trong lòng mẹ trích từ Những ngày thơ ấu
Hướng dẫn
1.Văn bản Trong lòng mẹ trích từ Những ngày thơ ấu – tập hồi kí viết về tuổi thơ cay đắng của Nguyên Hồng. Từ cảnh ngộ và tâm sự của chú bé Hồng — nhân vật chính — tác giả còn cho thấy bộ mặt lạnh lùng của một xã hội chỉ trọng đồng tiền, đầy những thành kiến cổ hủ, tình máu mủ ruột thịt cũng thành khô héo bởi thói nhỏ nhen, độc ác.
2.Trong lòng mẹ thể hiện tình yêu thương của chú bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh. Dường như càng trong cảnh ngộ cay đắng, tủi cực, tình yêu thương càng mãnh liệt, cháy bỏng. Điều này được thể hiện ở hai thời điểm chính:
-Phản ứng tâm lí của chú bé khi nghe những lời giả dối, thâm độc của người cô đã xúc phạm đến mẹ của chú.
-Cảm giác sung sướng cực điểm của chú bé khi gặp lại và được nằm trong lòng mẹ.
3.Đoạn trích Trong lòng mẹ tiêu biểu cho những đặc sắc nổi bật của ngòi bút Nguyên Hồng: giàu chất trữ tình, nhiều khi dạt dào những cảm xúc thiết tha, rất mực chân thành. Đó là văn của một trái tim nhạy cảm, dễ bị tổn thương, dễ rung động đến cực điểm với nỗi đau và niềm hạnh phúc bình dị của con người. Đoạn văn diễn tả cảm giác sung sướng khi được nằm trong lòng mẹ thật dạt dào cảm xúc, thắm thiết trữ tình, trở thành một bài ca về tình mẫu tử thiêng liêng, êm dịu. | Giới thiệu văn bản Trong lòng mẹ trích từ Những ngày thơ ấu | 277 | |
Đề bài: Giới thiệu về ATK – An toàn khu kháng chiến
Bài làm
Một trong những khu di tích phải kể đến đó là Trung tâm ATK (an toàn khu) nằm ở xã Phú Đình, huyện Đình Hoá, tỉnh Thái Nguyên, là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã sống và làm việc từ 1947 – 1954 để lãnh đạo cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp.
Chúng ta đã từng biết đến một Thái Nguyên xanh với cái màu xanh thẫm trải dài theo những cánh rừng cọ, đồi chè bát ngát; màu xanh mướt của thảm cỏ, nương ngô; xen lẫn với cái xanh dương sẫm của những luỹ tre ẩn mình trong các thôn xóm, bản làng. Và bây giờ, chúng ta còn biết đến một Thái Nguyên anh hùng với những khu di tích cách mạng nổi tiếng. Một trong những khu di tích phải kể đến đó là Trung tâm ATK (an toàn khu) nằm ở xã Phú Đình, huyện Đình Hoá, tỉnh Thái Nguyên, là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã sống và làm việc từ 1947 – 1954 để lãnh đạo cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp. Điểm di tích lịch sử ATK đã được Nhà nước xếp hạng quốc gia năm 1981.
Hiện nay, ATK còn nhiều di tích về nơi ở và làm việc của Bác như nền nhà, hầm làm việc, cây râm bụt Bác trồng, phiến đá Bác thường nằm nghỉ trưa… ATK là nơi ghi lại nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc. Ngày 6/12/1953, tại đồi Tỉn Keo, Bộ Chính trị BCH TW đã họp thông qua kế hoạch tác chiến – tấn công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954 để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ của dân tộc. Nhiều sắc lệnh quan trọng của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được kí ban hành tại đây, trong đó có luật về nghĩa vụ quân sự, sắc lệnh tổng động viên… về giảm tô và cải cách ruộng đất… Thủ đô ATK cũng là nơi diễn ra các hoạt động ngoại giao của nước ta thời ấy.
Năm 1990 tại đồi Tỉn Keo, tỉnh Thái Nguyên đã xây bia tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, phòng trưng bày di tích lịch sử, nhà khách… với kinh phí đầu tư gần hai tỉ đồng. Tại trung tâm xã Phú Đình cũng đã xây dựng nhà truyền thống, giới thiệu trưng bày nhiều hiện vật quý.
Bên cạnh các di tích chính như đồi Tỉn Keo, Khuôn Tát, Nà Nom… cụm di tích ATK còn nhiều địa đanh di vào lịch sử: đèo De, núi Hồng,… bên cạnh những rừng cọ, đồi chè, chắn nước, dòng suối trong xanh. Theo hành trình du lịch về phía Nam của tỉnh Thái Nguyên, du khách sẽ đến khu ATK, nằm trọn trong xã Kha Sơn, huyện Phú Bình, đi thăm những địa danh và tên tuổi đã được ghi vào lịch sử: nhà ông Cao Nhật, một trong những cơ số cách mạng đầu tiên của Xứ ủy Bắc Kì thời kì 1939t- 1945, rừng Mấn – nơi đặt trạm liên lạc của Xứ ủy Bắc Kì và là nơi mở lớp huấn luyện chính trị, quân sự của Đảng, đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư của Đảng khi đó và đồng chí Hoàng Quốc Việt từng qua lại hoạt động ở đây, chùa Mai Sơn – nơi Xứ ủy Bắc Kì đặt nhà in đặc biệt, in báo Cờ giải phóng và nhiều tài liệu quan trọng, đình Kha Sơn – nơi thành lập chính quyền cách mạng đầu tiên của xã… Tất cả những di tích lịch sử này đều đã được xếp hạng quốc gia. Đến với ATK, bạn có thể trở về với một vùng chiến khu xưa. Để có thể hiểu biết thêm về hoạt động của những người con đất Việt đã hiến dâng cho sự nghiệp bảo vệ đất mẹ yêu quý. Nếu có thể, hãy một lần hành hương về thánh địa cách mạng của quê hương rừng cọ, đồi chè này. | Giới thiệu về ATK – An toàn khu kháng chiến | 718 | |
Đề bài: Giới thiệu về bia Vĩnh Lăng
Bài làm
Bia Vĩnh Lăng dựng năm 1443 trên đỉnh đồi ở phía đông Tây Hồ, tây nam điện Lam Kinh. Khoảng cách giữa lăng và nhà bia chừng 300m.
Mặt bia nhìn về hướng nam, cùng hướng với lăng. Bia làm bằng đá nguyên khối cao 2,79 ra; rộng l,94m; dày 0,27m, đặt trên lưng một con rùa đá dài 3,46m; rộng l,94m và cao 0,90m (kể cả đế). Ngày trước có nhà bia nhưng đã bị cháy còn trơ lại các chân cột bằng đá. Nhà bia hiện tại mới được dựng lại năm 1961, nền hình vuông, mỗi cạnh 8,8m, bốn mái cong, lợp ngói mũi hài, đỡ bằng 16 cột, mỗi góc có 4 cột theo kiểu kiến trúc thời Lê.
Trán bia trang trí hình vuông, trong là hình tròn tượng trưng cho trời và đất. Giữa hình vuông và hình tròn là hình mây cách điệu tinh tế. Chính giữa khắc một đầu rồng nhìn thẳng, thân uốn lượn uyển chuyển quanh mặt trời, biểu trưng là thiên tử (con trời) được sinh ra do trời và đất. Hai bên riềm bia, mỗi bên có 9 hình nửa lá đề, trong mỗi lá đề là rồng uốn lượn, đầu vươn lên trên nối tiếp nhau, phần còn lại chạm hình hoa cúc dây rất tinh xảo.
Văn bia ngắn gọn, cô đọng, mô thuật toàn bộ gia tộc, thân thế, sự nghiệp, công lao của vua Lê Thái Tổ và ca ngợi lòng khoan dung độ lượng đối với kẻ thù. Văn bia do danh nhân văn hoá, anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi soạn. | Giới thiệu về bia Vĩnh Lăng | 274 | |
Giới thiệu về bài thơ Cảm hoài của tác giả Đặng Dung – Chương trình Ngữ văn lớp 10
Hướng dẫn
Cảm hoài là bài thơ thể hiện khát vọng của người anh hùng trong việc cống hiến tài năng cho triều đại, đất nước. Để hiểu hơn về nội dung cũng như nghệ thuật của bài thơ, các bạn hãy tham khảo bài Giới thiệu về bài thơ Cảm hoàimà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé!
1. Giới thiệu khái quát về bài thơ
Tác phẩm “Cảm hoài” là một bài thơ tự sự của tác giả Đặng Dung, đây là bài thơ duy nhất còn lại trong các sáng tác của vị tướng lĩnh này.
Bài thơ được sáng tác vào hoàn cảnh khi ông đem quân giúp cho vua Trùng Quang Đế (nhà Hậu Trần). Do lòng người li tán mà quân binh ít ỏi, lương thực thiếu thốn nên cuối cùng trận đánh đã thất bại. Bài thơ được viết bằng chữ Hán theo thể thơ thất ngôn bát cú, trong bài thơ các luật trắc, vần bằng đúng niêm luật, đối chỉnh và bố cục rất hợp quy cách của thể thơ.
Đây là bài thơ duy nhất còn lại của Đặng Dung, được chép trong “Toàn Việt Thi Lục” của Lê Quý Đôn, tuy chỉ còn một bài nhưng đây chính là một trong những bài thơ hay và tiêu biểu cho phong cách thơ của Đặng Dung. Phong cách ấy là bất kể vui hay buồn thường thể hiện sự khẳng định nhân phẩm và niềm tự hào về bản lĩnh con người. Phảng phất dư âm của hào khí Đông A.
2. Đặc sắc nội dung
Bài thơ mở ra bằng nỗi bi phẫn của một thi nhân – tráng sĩ đang ngao ngán việc đời còn ngổn ngang mà tuổi đã xế chiều.Từ nỗi chán chường thời thế ấy, thi nhân đã tự an ủi mình trong triết lí về thời vận đầy chua cay nhưng không kém phần ngạo nghễ. Bài thơ được người đời ưa thích và mến mộ, truyền lại hậu thế một phần là nhờ nét hùng tráng, ngạo nghễ này. Đối với những anh hùng hào kiệt thất thế, lỡ vận thì đây như một lời an ủi thấm thía, phản ảnh tâm lý sâu sắc nhất.
Bài thơ đã phản ánh hoàn cảnh, tâm sự và những hoài bão của chính tác giả, bài thơ là một trong những bài thơ chữ Hán được nhiều người dịch nhất. Tuy nhiên sự hạn hẹp của ngôn ngữ đã không thể phô diễn hết được sự phong phú của bài thơ.
Theo | Giới thiệu về bài thơ Cảm hoài của tác giả Đặng Dung – Chương trình Ngữ văn lớp 10 | 436 | |
Giới thiệu về bài thơ Cảm xúc mùa thu của tác giả Đỗ Phủ
Hướng dẫn
Cảm xúc bài thơ là kết tinh tiêu biểu nhất của tài năng của thi thánh Đỗ Phủ, bài thơ không chỉ thể hiện bức tranh mùa thu đẹp nhưng đượm buồn của thiên nhiên mà còn thể hiện được những tâm trạng xót xa, ngậm ngùi của người lữ khách tha phương nơi đất khách quê người. Bài giới thiệu về bài thơ Cảm xúc mùa thu dưới đây sẽ cung cấp thêm những tông tin thú vị về bài thơ, các bạn hãy theo dõi nhé!
1. Hoàn cảnh sáng tác
Thu hứng là một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện tài năng của nhà thơ Đỗ Phủ- “Thi thánh” trong nền văn học Trung Hoa. Bài thơ nằm trong chùm thơ bao gồm tám bài thơ thu được tác giả sáng tác vào năm 766, lúc bấy giờ ông đang lưu lạc ở Quý Châu. Tuy nạn An Lộc Sơn đã dẹp xong nhưng đất nước Trung Hoa thời đó vẫn phải gánh chịu sự kiệt quệ do hậu quả mà chiến tranh để lại và nhà thơ vẫn phải sống trong cảnh tha hương cầu thực. Đây là vùng núi non hiểm trở và cách xa quê hương của nhà thơ mấy ngàn dặm, khiến cho nhà thơ luôn khắc khoải nỗi nhớ đối với quê hương.
2. Đặc sắc về nội dung
“Thu hứng” là sự thông nhất giữa “thu cảnh” và “thu tình”: bốn câu thơ đầu miêu tả bức tranh mùa thu với sự hiu hắt thông qua bút pháp chấm phá và những hình ảnh mang đậm tính ước lệ. Trên phông nền của cảnh thu với rừng thu, khí thu, bốn câu thơ sau nhấn mạnh tâm trạng buồn lo của nhà thơ. Đó là nỗi lòng khắc khoải của kẻ xa quê luôn hướng về nơi chôn rau cắt rốn, đồng thời thể hiện ngậm ngùi, xót xa cho thân phận của kẻ tha hương lưu lạc của chính tác giả.
Thông qua tác phẩm này, chúng ta thấy được sự vận động theo mạch từ cảnh đến tình trong thơ ca trung đại và đặc trưng tư duy trong cấu tứ của thơ Đường: “Thơ Đường là thơ của các mối quan hệ”. Bài thơ còn thể hiện tài năng kiệt xuất của tác giả Đỗ Phủ- bậc “Thi thánh trong nền văn học Trung Hoa cũng như tâm trạng đượm buồn, da diết, sầu thương khắc khoải đối với quê hương và niềm cảm thương đối với cuộc sống của nhân dân trong thời cuộc rối ren và loạn lạc.
Theo | Giới thiệu về bài thơ Cảm xúc mùa thu của tác giả Đỗ Phủ | 443 | |
Giới thiệu về bài thơ Cảnh ngày hè của tác giả Nguyễn Trãi – Chương trình Ngữ văn lớp 10
Hướng dẫn
Cảnh ngày hè là bài thơ Nguyễn Trãi viết khi về ở ẩn tai núi Côn Sơn. Bài giới thiệu về bài thơ Cảnh ngày hèsẽ cung cấp thêm những thông tin về hoàn cảnh sáng tác cũng như đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
1. Hoàn cảnh sáng tác
Tác phẩm “Cảnh ngày hè” thuộc chùm thơ “Gương báu răn mình” trong Quốc Âm thi tập – một tập thơ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Trãi. Bài thơ được sáng tác vào thời gian 1438 – 1439 khi ông xin về trông coi chùa Tư Phúc ở Côn Sơn.
2. Đặc sắc về nội dung
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn, về cơ bản vẫn là dạng thất ngôn bát cú nhưng có hai điểm khác: câu 1 và câu 8 chỉ có 6 chữ; câu 3 và câu 4 ngắt nhịp 3-4. Chính hai điểm khác này đã làm cho cấu trúc của bài thơ thay đổi, tiết tấu của thơ cũng đa dạng hơn. Mở đầu bài thơ tác giả đã diễn tả cái thở phào nhẹ nhĩm của một kẻ sĩ đã trút được gánh nặng công danh trên vai để thư tháu, thanh thản trước thiên nhiên. Bức tranh ngày hè của người nghệ sĩ hiện lên với vẻ tràn đầy sức sống, đầy đủ đường nét, màu sắc, hương thơm, âm thanh và ánh sáng, có cả hữu hình và vô hình.
“Cảnh ngày hè” không đơn thuần là một bức tranh phong cảnh. Nguyễn Trãi không hề ngắm cảnh một cách thụ động bởi qua cách dùng từ, đặt câu, cách tạo dựng hình cảnh cho thấy cảnh không miêu tả thuần túy khách quan mà miêu tả theo sức tưởng tượng mạnh mẽ của con người, cảnh và tình được hòa quyện với nhau. Bài thơ “ Cảnh ngày hè” trước hết là một bài thơ tức cảnh về cảnh thiên nhiên đầy sức sống: cây cối sinh sôi, sắc màu tưng bừng sôi dộng, hương thơm tỏa ngát, âm thanh rộn rã…
Sau đó người nghệ sĩ đã cảm nhận bức tranh ấy bằng chính niềm vui sống, và bằng sức sống của tâm hồn tươi trẻ, mang trong mình niềm ao ước không phải cho mình mà là cho dân có một cuộc sống hạnh phúc ấm no. Nhà thơ dã vận dụng sáng tạo và tài hoa thể thơ vốn nghiêm ngặt về cấu trúc hình thức để tạp nên một bài thơ hay và giàu ý nghĩa nhân văn.
Theo | Giới thiệu về bài thơ Cảnh ngày hè của tác giả Nguyễn Trãi – Chương trình Ngữ văn lớp 10 | 453 | |
Giới thiệu về bài thơ Nhàn của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm
Hướng dẫn
Nhàn là bài thơ tiêu biểu trong tập Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm nói về lối sống nhàn tản, tâm hồn tự do của người Nho sĩ ẩn dật. Giới thiệu về bài thơ Nhànsẽ cung cấp thêm những thông tin thú vị về tác phẩm này, các bạn cùng tham khảo nhé!
1. Nhàn là bài thơ đặc sắc trong “Bạch Vân quốc ngữ thi tập”
Tác phẩm “Nhàn” được trích trong tập thơ Nôm “Bạch Vân quốc ngữ thi”, đây là một bài thơ tiêu biểu trong số những bài thơ có trong tập thơ này. “Nhàn” cũng là một chủ đề lớn trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông lấy cảm hứng chủ đạo là cuộc sống tự tại, thanh nhàn, gắn bó với tự nhiên, không tư tưởng bon chen vinh hoa phú quý từ khi ông về trí sĩ ở quê.
2. Nội dung chủ đạo của bài thơ
– Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh người trí sĩ ẩn cư nhàn dật
Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh người trí sĩ ẩn cư nhàn dật, với những chi tiết về cách sống, cách sinh hoạt và quan niệm sống của nhà thơ. Đó là một cuộc sống vắng vẻ, mọi sinh hoạt đều tự nhiên, coi phú quý như giấc mộng. Các từ ngữ nôm na và dân dã, cấu tạo câu thơ như lời ăn tiếng nói hàng ngày đã tạo ra nét độc đáo cho bài thơ.
– “Nhàn” thể hiện triết lí nhân sinh sâu sắc
Bài thơ vừa là khẳng định sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả, vừa là thể hiện sắc thái trào lộng, thái độ coi thường, mỉa mai với cách sống hám cầu danh vọng. Hơn hết, qua bài thơ “Nhàn” tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm còn muốn nêu lên triết lí nhân sinh của mình, lánh đời ẩn dật là cách cư xử có vẻ như tiêu cực nhưng trong hoàn cảnh nào đó, để có thể giữ gìn nhân cách, sự thanh thản và an nhàn cho mình thì việc ẩn dật lại là cách ứng xử rất tích cực. Qua đó ta thấy được vẻ đẹp trong tâm hồn và cách sống của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, một cuộc sống rất giản dị, rất tự nhiên lại vô cùng thanh cao và thú vị.
Với lời thơ tự nhiên, vừa giản dị lại giàu ý vị, bài thơ “Nhàn” đã thể hiện sâu sắc thú vui và ý nghĩa triết lí trong cuộc sống nhàn dật của nhà thơ. Đó là quan niệm sống nhàn, sống hòa hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao và vượt lên trên khỏi những mưu cầu danh lợi tầm thường.
Theo | Giới thiệu về bài thơ Nhàn của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm | 474 | |
Giới thiệu về bài thơ Tỏ lòng của tác giả Phạm Ngũ Lão – Chương trình Ngữ văn lớp 10
Hướng dẫn
Tỏ lòng là bài thơ thể hiện tình yêu nước, khát khao cống hiến tài năng và sức lực cho đất nước, cho triều đại. Bài giới thiệu về bài thơ Tỏ lòng sẽ cung cấp thêm những thông tin hữu ích về tác phẩm, hỗ trợ cho quá trình tìm hiểu và phân tích tác phẩm. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
1. Tỏ lòng là bài thơ vang vọng tiếng nói của những người anh hùng – thi sĩ yêu nước
Bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão là một trong những bài thơ vang vọng tiếng nói của những người anh hùng – thi sĩ yêu nước mãnh liệt. Là một trong những kiệt tác chứa chan tình yêu đất nước và lòng tự hào dân tộc. Thể hiện được khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần.
2. Tỏ lòng đã thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công
Bài thơ Tỏ lòng đã thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc nguy nan. Đây cũng được coi là bức tranh tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão. Bài thơ là biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước qua những vần thơ cổ kính trang nghiêm như: cầm ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc,… Hình ảnh đội quân Sát Thát ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp với sức mạnh phi thường, quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy không có một thế lực hay kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi.
Những biện pháp tu từ thậm xưng được sử dụng trong bài thơ đã sáng tạo nên hình tượng thơ mang tầm vóc vũ trụ. Những hình ảnh so sánh trong bài thơ cũng rất độc đáo, nó không chỉ thể hiện sức mạnh vô địch của đội quân mà còn khơi nguồn cảm hứng cho thơ ca, trở thành một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc. Trong bài thơ nổi bật lên hình ảnh người chiến sĩ “bình Nguyên” với ước mơ cháy bỏng khao khát được lập chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Khát vọng ấy chính là biểu hiện rực rỡ nhất cho tấm lòng trung quân ái quốc của các chiến sĩ. Bài thơ “Tỏ lòng” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, với giọng thơ hùng tráng và mạnh mẽ, ngôn ngữ thơ lại hàm súc. Hình tượng thơ kì vĩ, tráng lệ, mang phong vị của bản anh hùng ca. Bài thơ mãi là một khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần.
Theo | Giới thiệu về bài thơ Tỏ lòng của tác giả Phạm Ngũ Lão – Chương trình Ngữ văn lớp 10 | 481 | |
Giới thiệu về bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của đại thi hào Nguyễn Du
Hướng dẫn
Tiểu Thanh là cô gái xinh đẹp, tài năng nhưng lại có số phận bất hạnh. Đồng cảm với số phận “tài mệnh tương đố” của Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã sáng tác bài thơ Độc Tiểu Thanh kí để thể hiện sự xót thương với con người tài hoa bạc mệnh đó. Giới thiệu về bài thơ Độc Tiểu Thanh kísẽ cung cấp thêm những thông tin bài học thú vị cho quá trình tìm hiểu của các bạn.
1. “Độc Tiểu Thanh kí” là tiếng nói tri âm sâu sắc của tác giả với nàng Tiểu Thanh
Tác giả Nguyễn Du có một loạt những bài thơ chữ Hán viết về các nhân vật lịch sử mà qua đó nhà thơ gửi gắm rất nhiều nỗi niềm tâm sự. “Độc Tiểu Thanh kí” (Đọc Tiểu Thanh kí) là một bài thơ như thế. Bài thơ là tiếng nói tri âm sâu sắc của tác giả với người con gái sống cách mình trước đó 300 năm, Nguyễn Du đã mang những tâm sự về con người và cuộc đời trong bối cảnh vượt thời gian 300 năm để tìm tri âm.
2. Vài nét về cuộc đời và số phận của nàng Tiểu Thanh
Tiểu Thanh là người phụ nữ thông minh, xinh đẹp, tài sắc vẹn toàn nhưng bạc mệnh, cuộc sống của nàng ngắn ngủi và đầy những trái ngang. Di cảo của nàng còn sót lại với những vẫn thơ bị đốt dở là một bằng chứng cho số phận oan nghiệt ấy. Một người đa cảm như Nguyễn Du đã không thể cầm lòng khi đọc nó, nỗi thổn thức ấy đã khiến cho thi nhân viết nên những dòng tuyệt tác trong “Độc Tiểu Thanh kí”. Bài thơ như là tiếng lòng nhân đạo cao cả và sâu sắc của Nguyễn Du, cảm thương cho một cuộc đời qua những vần thơ cháy dang dở.
3. “Độc Tiểu Thanh kí” thể hiện sự xót thương với số phận bất hạnh của Tiểu Thanh
Cũng có thể coi “Độc Tiểu Thanh kí” là một bài thơ viếng Tiểu Thanh, tập giấy thơ cháy dang dở ấy là mảnh hồn Tiểu Thanh còn vương lại. Những câu thơ trong bài thơ rất hàm súc, vượt qua không gian và thời gian, vượt qua sinh tử để tìm tri âm. Khi đó là cuộc gặp gỡ của một người chết cô đơn và một người viếng cô đơn, một lòng đau tìm đến một hồn đau.
Thời gian có thể xóa nhòa và làm biến mất đi nhiều thứ nhưng những bài thơ, vần thơ được chắt ra từ máu và nước mắt như “Độc Tiểu Thanh kí” lại thêm được luyện bởi thiên tài văn học Nguyễn Du thì chắc chắn thời gian cũng không thể làm lung lay vị trí của thi phẩm trong lòng người đọc.
Theo | Giới thiệu về bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của đại thi hào Nguyễn Du | 491 | |
Giới thiệu về bún riêu cua
Hướng dẫn
Giới thiệu về bún riêu cua
Tôi may mắn vì được sinh ra ở một vùng quê thanh bình,yên ả với những kỉ niệm của tuổi thơ cùng lũy tre làng,con trâu,bờ ruộng,cánh diều…Cứ sau những ngày mùa,lũ chúng tôi thường tụm năm,tụm bảy rủ nhau ra ruộng bắt những con cá,con cua,con tôm,con ốc….về làm những món thơm ngon bổ dưỡng như ốc luộc,cháo cá hay món bún riêu cua. Những thức quà chân quê ấy đối với tôi thực sự không có một thứ sơn hào hải vị nào sánh bằng. Và có lẽ,bún riêu cua sẽ mãi là món ăn thơm thảo nhất đối với tôi và mọi người.
Bún riêu cua là món ăn đặc trưng của đồng quê Việt Nam,được làm từ những nguyên liệu dân dã,quen thuộc với các vùng nông thôn. Bạn có thể bắt gặp hương vị của bún riêu cua ở những xóm chợ thôn quê,ở các ngõ,vỉa hè con phố,hay trên những chiếc gánh nhấp nhô dưới nón lá của những người phụ nữ kiếm tiền mưu sinh.
Ừ thì bún riêu cua mang cái bình dân,mang thương hiệu của vùng nông thôn,của những người tảo tần với đồng ruộng nhưng nó lại là món quà ẩm thực tuyệt vời cho tất cả mọi người. Bún riêu cua là một trong hàng trăm món ăn dân dã được người Việt Nam từ nông thôn tới thị thành ưa chuộng bởi nó vừa hội tụ ba yếu tố: Ngon-bổ-rẻ,vừa có hương vị đậm đà và hình thức vô cùng hấp dẫn.
Cua sinh sống ở ruộng lúa được người dân bắt về,rửa sạch,bóc mai,cho thân và chân vào cối giã nhuyễn,lọc lấy nước để nấu thành canh hay riêu. Gạch cua được khêu từ mai,đem chưng với mỡ,hành khô,thêm chút gia vị để đậm đà.
Nước dùng là thứ thiết yếu quyết định sự thành công của món ăn. Người nấu dùng nước cua để làm nước dùng,đôi khi còn có cả nước xương heo. Khi nước sôi,thịt cua màu nâu sẫm bắt đầu nổi lên,đóng váng thành từng lớp mỏng là dùng được.
Ngoài ra bún ăn kèm cũng phải được lựa chọn tỉ mỉ. Đó là loại bún rối hoặc bún lá,sợi to,mềm để khi chan nước dùng ăn dai và không bị nát. Người ta rán thêm vài miếng đậu hũ để ăn kèm với món này. Nhiều người còn cho thêm giấm bỗng,cà chua cắt múi cau cho vào nồi riêu để tăng hương vị. Những miếng cà chua nổi đỏ rực cả mặt nồi trông rất hấp dẫn. Thịt cua ăn ngon và bổ dưỡng,đạm nhiều mà không ngấy. Bún riêu thường thêm chút mắm tôm để tăng thêm vị đậm đà,ăn kèm với rau ghém. Sợi bún óng mướt,chan riêu cua nóng lên trên,gạch cua màu vàng sậm,mỡ màng,sóng sánh trên bát bún. Thêm vào đó vài lát cà chua hồng tái nằm trên,thêm chút ớt tươi,lát chanh ăn với rau thơm các loại. Bún riêu cua phải ăn nóng mới ngon,vừa ăn vừa thổi,xuýt xoa bởi cái vị cay cay nơi đầu lưỡi của ớt,của vị ngọt béo của cua. Nếu phở ngon ở vị béo ngọt và ngậy thì bún riêu cua lại hấp dẫn ở sự tổng hòa đến tuyệt vời giữa vị ngọt đậm của thịt cua đồng,cái dôn dốt chua chua của nước dùng,cái thanh thanh của sợi bún và cái tươi mát của rau sống. Có ai ngờ món ăn thơm ngon đến như vậy lại được làm bằng nguyên liệu dân dã chốn đồng quê. Cũng bởi vậy,mà nhiều người nói rằng,cứ ăn bún riêu cua là lại nghĩ về quê nhà,thật chả sai chút nào! | Giới thiệu về bún riêu cua | 618 | |
Đề bài: Em hãy viết một bài văn giới thiệu về bản thân mình.
Bài làm
Tôi tên là Nguyễn Quốc Trung, năm nay 14 tuổi, học sinh lớp 8A trường Trung học cơ sở Nguyễn Thái Bình, phường 6, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh.
Cách đây gần một tháng, tôi đã chia tay với chiếc khăn quàng đỏ để sung sướng đón nhận chiếc huy hiệu Đoàn viên thanh niên Cộng sản. Sau ngày được kết nạp Đoàn, tôi thấy mình trở thành một người khác hẳn. Không còn cảnh sáng nào mẹ cũng phải gọi tôi dậy đi học như trước nữa. Chiếc đồng hồ báo thức réo đến hồi chuông thứ hai là tôi đã bật dậy, tự tay xếp dọn chăn màn gọn ghẽ rồi ra sân tập thể dục cùng với ba. Tập thể dục xong, hai cha con chạy bộ dọc đường Nguyễn Tất Thành đến bến Nhà Rồng, hít thở không khí sớm mai trong lành, mát mẻ. Nhìn tôi sải những bước dài, ba cười bảo: “Dạo này con “nhổ giò” rồi đấy!”. Quả thật, tôi cao lênh khênh như cái sào. Đã thế chân tay lại vụng về, lóng ngóng, đụng đâu hư đó. Nhiều lúc muốn giúp đỡ mẹ mà lại ngại làm phiền thêm. Thế nhưng những việc trong nhà cần đến “đàn ông” như sửa điện, sửa nước… là thế nào mẹ cũng nhờ tôi. Tôi hãnh diện về điều đó lắm!
Đối với cô em gái 9 tuổi, uy tín của tôi cũng tăng lên rất nhiều. Mỗi tối ngồi vào bàn, tôi không chỉ tự giác học bài, làm bài mà còn thay ba kèm cặp cho em. Bé Mi khéo nịnh, thỉnh thoảng khen anh Hai giỏi, khiến tôi phổng mũi.
Dạo này, ba và mẹ không còn phải chở tôi đi học nữa. Ngày ngày, tôi đến trường bằng chiếc xe đạp ba mới mua cho. Vẫn là con đường quen thuộc nhưng sao mọi thứ dường như khác lạ. Bầu trời bát ngát trên đầu. Gió lồng lộng thổi. Tiếng còi tàu âm vang, thôi thúc tôi nghĩ tới chuyến hải hành vượt đại dương mênh mông sóng gió, đến những bến bờ xa lạ. Dòng người và xe cộ nườm nượp ngược xuôi không còn làm tôi e ngại. Nhìn cái gì tôi cũng thấy đẹp đẽ, vui tươi, sống động. Máu tôi dường như chảy mạnh hơn trong huyết quản. Tim tôi muốn cất lên tiếng hát yêu đời. Tự trong thâm tâm, tôi biết rằng mình đã lớn. | Giới thiệu về bản thân | 425 | |
Đề bài: Chiếc bàn học là vật dụng gắn bó với quãng đời học sinh của em. Em hãy viết bài văn giới thiệu về chiếc bàn học của em cho mọi người cùng nghe.
Bài làm
Đồ dùng trong nhà em có rất nhiều nhưng em thấy cái bàn học, tấm lịch treo tường và chiếc đồng hồ báo thức là ba đồ vật gắn bó thân thiết với em hơn cả.
Chiếc bàn học do ba em tranh thủ đóng trong đợt nghỉ phép vừa qua. Nó được làm từ những tấm ván và thanh gỗ lựa từ đống củi mẹ mới mua. Suốt một ngày chủ nhật cưa, bào, đục, đẽo… không ngơi tay, ba em đã đóng xong chiếc bàn xinh xắn. Ba bảo rằng em đã lên lớp 8, cần phải có chỗ ngồi học riêng cho thuận tiện. Chiếc bàn được kê ngay cửa sổ, hướng đông nên suốt ngày có đủ ánh sáng.
Hình dáng chiếc bàn này giống hệt chiếc bàn ở lớp nhưng kích thước của nó chỉ bằng một nửa. Mặt bàn được bào nhẵn. Ba em đánh véc-ni thật kĩ. Các đường vân nổi lên rất đẹp. Dưới mặt bàn là hai ngăn rộng rãi, đủ để đựng sách vở và đồ dùng học tập. Bàn đóng liền với ghế, có chỗ dựa lưng thoải mái. Ba mua cho em một cây đèn nê-ông nhỏ, bệ đèn là chiếc giá cắm bút bằng nhựa màu hồng. Cây đèn được gắn cố định vào mặt bàn để buổi tối em có đủ ánh sáng học bài. | Giới thiệu về chiếc bàn học của em | 262 | |
Giới thiệu về chiếc bánh chưng ngày tết cổ truyền
Hướng dẫn
Giới thiệu về chiếc bánh chưng ngày tết cổ truyền
Bài làm
Trong những ngày xuân rộn ràng, lòng người náo nức mừng dịp Tết Nguyên Đán, trên khắp nẻo đường đâu đâu chúng ta cũng thấy không khí tấp nập mua sắm bánh kẹo,quần áo mới, đồ dùng để trang trí cho ngôi nhà thêm mới trong ngày Tết.Nhưng không thể thiếu một món ăn đó chính là bánh chưng.
Bánh chưng từ lâu đã là một loại bánh không thể thiếu trong dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Bánh chưng nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời.Tương truyền rằng vào đời vua Hùng thứ 6,sau khi đánh dẹp loạn xong giặc Ân, nhà vua muốn truyền ngôi cho con.Nhân dịp đầu xuân,vua gọi các thái tử lại và yêu cầu các hoàng tử đem dâng lên vua cha thứ mà họ cho là quí nhất để dâng lên bàn thờ tổ tiên nhân ngày đầu xuân.Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ đem lên vua cha,với hi vọng mình sẽ được vua cha truyèn ngôi cho.
Trong khi đó, người con trai thứ mười tàm của hùng vương là lang liêu có tính hiền hậu,sống gần giũ với người nông dân lao động nghèo khổ nên chàng không có thứ gì quí để dâng lên vua cha.Một đêm lang liêu nằm mộng thấy có 1 vị thần đến chỉ cho cách làm một loại bánh từ lúa gạo và những thức có sẵn gần gũi với đời sống hàng ngày. Tỉnh mộng ông vô cùng mừng rỗ làm theo cách chỉ dạy của thần.Đến ngày hẹn các hoàng tử mang thức ăn đến dâng lên mâm cổ biết bao sơn hào hải vị, nem công cả phượng.riêng hoàng tử Lang Liêu thì chỉ có 2 loại bánh được làm theo lời thần dạy. Thấy làm lạ nên vua cha bèn đến bên cạnh chàng và hỏi,thì được lang liêu kể lại câu chuyện được thần báo mộng,và giải thích ý nghĩa của bánh.Vua cha nghe những lời của chàng nói thấy cũng có lý, nên nến thử,thấy bánh ngon,khen có ý nghĩa rồi đặt tên cho bánh là bánh chưng và bánh dày rồi truyền ngôi cho Lang Liêu.
Cách làm bánh cũng rất đơn giản. Những nguyên liệu làm bánh gồm: gạo nếp,đậu xanh(đỗ), thịt lợn ba dọi, lá dong (không biết còn thiếu gì nữa không nếu thiếu thì bổ sung giúp mình nha). Gạo nếp thường là gạo thu hoạch vụ mùa. Gạo vụ này hạt to,tròn,đều và thơm dẻo hơn các vụ khác.Còn có những gia đình phải chọn mua bằng được loại nếp cái hoa vàng hoặc nếp nương.Đỗ xanh thường được lựa chọn công phu.Thịt thì nên chọn thịt ba dọi vừa có mỡ vừa có nạc khiến nhân bánh có vị béo đậm đà,không thô bã. Ngoài ra còn cần các gia vị như hạt tiêu, hành củ dùng để ướp thịt làm nhân, muối dùng để trộn vào gạo,đỗ xanh và ướp thịt (không nên ướp thịt bằng nước mắn mà nên ướp thịt bằng muối vì ướp bằng muối sẽ làm cho bánh nhanh bị ôi thiu.Lá để gói bánh thường là lá dong (nhưng tùy vào địa phương,dân tộc,điều kiện và hoàn cảnh, lá gói bánh có thể là lá chít hoặc là cả 2 loại lá nha). Lạt buộc bánh chưng thường dùng lạt được dùng từ ống cây giang.Lạt có thể được ngâm muối hay hấp cho mềm trước khi gói.
Trước khi khi làm bánh cần có sự chuẩn bị kĩ lưỡng.Lá dong phải rửa sạch từng lá thật sạch hai mặt và lau thật khô.Tiếp đó dùng dao cắt bỏ bớt cuộng dọc sống lưng lá cho bớt cứng.Gạo nếp nhạt bỏ hết những hạt gạo khác lẫn vào,vo sạch,ngâm gạo sạch trong nước cùng 0,3% muối trong khoảng 12 giờ tùy vào loại gạo và thời tiết,sau đó vớt ra để ráo.Có thể xóc với muối sau khi ngâm thay vì ngâm với nước muối.Đỗ xanh làm dập vỡ thành các mảnh nhỏ,ngâm nước ấm 40* trong 2 giờ cho mềm và nở, đãi bỏ hết vỏ, vớt ra để ráo.Thịt lợn đem rửa ráo,cắt thịt thành những miếng mỏng, muối tiêu hoặc bột ngọt để khoảng hai giờ cho thịt ngấm
Bánh thường làm vào dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc Việt,cũng như ngày giỗ tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 âm lịch.Thiếu bánh chưng bánh dày thì cái Tết chắc sẽ không hoàn chỉnh “Thịt mỡ bánh chưng xanh,dưa hành câu đối đỏ” Hơn thế,gói và nấu bánh chưng ngồi canh nồi bánh chưng trên bếp lửa đã trở thành một tập quán,văn hóa sống mãi trong các gia đình người Việt mỗi dịp Tết đến xuân về
Sự ra đời và tục lệ làm bánh chưng ngày tết,ngày giổ tổ muốn nhắc nhở con cháu về truyền thống của dân tộc đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của cây lúa và thiên nhiên trong nền văn hóa lúa nước. Theo thời gian,nền văn minh công nghiệp đang dần được hình thành song ý nghĩa và vai trò của bánh chưng vẫn còn nguyên vẹn. | Giới thiệu về chiếc bánh chưng ngày tết cổ truyền | 887 | |
Đề bài: Em hãy giới thiệu về chiếc bánh chưng ngày tết ở Việt Nam.
Bài làm
Tết Nguyên Đán ở Việt Nam là cái Tết cổ truyền đã có tự ngàn xưa với: Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ. Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh. Trên bàn thờ ngày Tết của mỗi nhà, nhất thiết phải có bánh chưng. Giai thoại kể rằng hoàng tử Lang Liêu con vua Hùng đã được thẩn linh mách bảo, dùng lá dong, gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn… làm ra thứ bánh này để cúng Trời Đất, Tiên Vương và dâng lên vua cha. Nhờ đó mà chàng được vua cha truyền lại cho ngôi báu. Cũng từ đấy, bánh chưng được dùng để cúng vào dịp Tết. Tục lệ tốt đẹp ấy còn tồn tại cho tới ngày nay.
Nhìn chiếc bánh chưng, ta thấy mộc mạc, giản dị vô cùng, nhưng để làm ra nó lại tốn không ít công phu. Cứ đến hàm bảy, hăm tám Tết là các bà phải lo đi chợ mua lá dong cùng với mấy bó lạt giang. Lá dong phải to bản, lành lặn. Tốt nhất là lá dong bánh tẻ, không già, không non thì gói bánh mới đẹp. Lạt giang chẻ sẵn, mỏng và mềm, màu vàng ngà, rất ăn ý với lá dong xanh.
Gạo nếp cái hoa vàng vừa dẻo vừa thơm được ngâm từ đêm trước, đem xả rồi xóc cho ráo nước. Đậu xanh đãi sạch vỏ. Thịt lợn xắt miếng to cỡ nửa bàn tay ướp muối, tiêu, hành chó thấm. Lá dong đã được cắt cuống, rửa sạch, lau khô… Tất cả bày sẵn ra chiếc nong, chờ người gói.
Cái cắnh gói bánh chưng ngày Tết mới vui vẻ và đầm ấm làm sao! Cả nhà quây quần quanh bà. Bà trải lá ra mâm, đong một bát gạo đổ vào, dàn đều rồi đổ nửa bát đỗ, xếp hai miếng thịt, lại thêm nửa bát đỗ, một bát gạo nữa. Tay bà khéo léo đãi gạo che kín đỗ và thịt rồi nhẹ nhàng bẻ bốn góc lá cho vuông vức, sau đó xiết chặt từng chiếc lạt. Chẳng mấy chốc, chiếc bánh chưng đã được gói xong. Suốt một buổi sáng cặm cụi, bận rộn, bà đã gói hết thúng gạo. Bố tôi buộc hai cái thành một cặp rồi xếp vào chiếc nồi thật lớn, chuyên dùng để luộc bánh. Đám trẻ chúng tôi được bà gói cho mỗi đứa một chiếc bánh chưng be bé. Chùm bánh ấy để ở trên cùng và sẽ vớt ra trước nhất.
Phía góc sân, bốp lửa đã cháy đều. Năm nào, ông tôi hoặc bố tôi cũng giữ nhiệm vụ canh lửa, canh nước cho nồi bánh chưng. Những gộc tre, gộc củi khô tích trữ quanh năm giờ được đem ra đun. Ngọn lửa nhảy nhót réo ù ù, tàn than tí tách bắn ra xung quanh những chấm đỏ rực trông thật vui mắt. ông tôi bảo phải đun cho lửa cháy thật đều thì bánh mới rền, không bị hấy. Anh em tôi xúm xít bên ông, vừa hơ tay cho khỏi cóng, vừa nghe ông kể chuyện ngày xửa ngày xưa. Đến những đoạn thú vị, ông cười khà khà, rung cả chòm râu bạc.
Khó có thể tả nổi niềm sung sướng, hân hoan của lũ trẻ chúng tôi khi được nếm chiếc bánh chưng nhỏ xỉnh, nóng hổi. Nếp dẻo, đỗ bùi, thịt béo… ngon quá là ngon! Tưởng chừng như chẳng có thứ bánh nào ngon hơn thế!
Chiều ba mươi Tết, trên bàn thờ đèn nến sáng trưng, hương trầm nghi ngút, những cặp bánh chưng xanh được trân trọng bày bêh cạnh đĩa ngũ quả, hộp trà, hộp mứt, chai rượu… và mâm cỗ tất niên để cúng trời đất, tổ tiên, đón các cụ về ăn Tết cùng con cháu. Nỗi xúc động rưng rưng trong lòng mỗi người. Không khí thiêng liêng của ngày Tết thực sự bắt đầu. | Giới thiệu về chiếc bánh chưng ngày tết | 671 | |
Giới thiệu về chiếc kính đeo mắt – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8
Hướng dẫn
Giới thiệu về chiếc kính đeo mắt
Bài làm
Với bất kì ai, đôi mắt vừa là cửa sổ tâm hồn, vừa giúp chúng ta quan sát, khám phá tri thức. Cuộc sống sẽ thật vô nghĩa nếu cánh cửa ấy khép lại hoặc đôi mắt không còn tinh anh. Chính vì vậy kính đeo mắt đã ra đời, vừa giúp điều trị các tật khúc xạ, vừa đem lại vẻ đẹp cho người đeo, trở thành một vật dụng không thể thiếu trong đời sống hằng ngày,
Kính đeo mắt xuất hiện từ từ kỉ XIII. Năm 1266, ông Rodger Beneon đã dùng kính lúp để nhìn cho rõ các chữ cái trên trang sách. Đến năm 1352, trong một bức chân dung, người ta nhìn thấy Hồng y giáo chủ Jugon đeo kính có hai mắt, buộc vào một cái gọng.. Vào thế kỉ XV, kính được sản xuất ở miền Bắc nước Ý và miền Nam nước Đức. Năm 1629, vua Charler của Anh đã kí sắc lệnh thành lập Hiệp hội các loại kính mắt. Năm 1730, một chuyên gia quang học người Luân Đôn sáng chế ra hai càng để kính có thể gá lên vành tai cho chắc chắn. Sau đó 54 năm, người ta chế tạo ra kính hai tiêu điểm là kính cận và kính viễn. Năm 1827, công nghệ sản xuất kính bắt đầu phát triển, công nghệ làm kính áp tròng cũng manh nha. Khoảng 60 năm sau, một người thợ thuỷ tinh Đức tên là Mile làm ra chiếc kính áp tròng đầu tiên. Ngày nay, phát minh này về cơ bản vẫn còn nguyên giá trị.
Kính đeo mắt có nhiều loại. Đối với người bị cận thị, thấu kính lõm sẽ là lựa chọn thích hợp để giảm lượng hội tụ, đưa hình ảnh về trước võng mạc như mắt người bình thường. Ngược với kính cận chủ yếu dành cho người trẻ, kính viễn thường dành cho người có tuổi, bởi khả năng nhìn xa của họ kém dần theo thời gian. Với những người này, thấu kính lồi lại là sự lựa chọn thích hợp. Một số người vừa bị cận, vừa bị viễn, họ sẽ phải đeo kính hai tròng với mắt kính ghép, nửa lồi nửa lõm.
Ngoài kính thuốc, công nghệ sản xuất kính thời trang cũng phát triển. Các loại kính râm có nhiều kiểu dáng vuông, tròn, ô van, chữ nhật. Có những loại kính có thể thay đổi màu khi tiếp xúc sới ánh nắng mặt trời, làm giảm độ chói và ảnh hưởng của tia cực tím.
Kính đeo mắt đem lại nhiều tác dụng như điều trị tật khúc xạ, tránh bụi, tránh tia cực tím,… Nếu chọn được một chiếc kính phù hợp sẽ tôn thêm vẻ đẹp của khuôn mặt, che lấp các khuyết điểm, tạo sự lịch lãm, thể hiện phần nào tính cách của người đeo.
Trong cuộc sống, đôi mắt là nhân tố không thể thiếu để xây dựng tri thức. Có nhìn thấy thì mới ngẫm nghĩ suy luận được. Kính đeo mắt vẫn mãi là bạn thân của con người trên con đường chinh phục đỉnh cao nhân loại. Hãy cùng biến lăng kính của cửa sổ tâm hồn mỗi người trở nên phong phú, hoàn thiện hơn.
(Trường THCS Lê Quý Đôn)
>> Xem thêm Giới thiệu về chiếc nón Việt Nam tại đây.
Tags:Bài văn hay lớp 8 · Giới thiệu về chiếc kính đeo mắt | Giới thiệu về chiếc kính đeo mắt – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8 | 595 | |
Giới thiệu về chiếc nón Việt Nam – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8
Hướng dẫn
Giới thiệu về chiếc nón Việt Nam
Bài làm
Chúng ta ai cũng biết, cùng với áo dài, váy lĩnh, yếm đào,… chiếc nón lá đã trở thành trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.
Họa sĩ Đặng Mậu Tiêu cho biết, lịch sử nón Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn, có những biến thiên, từ nón hình tròn, nón tròn dẹt (nón quai thao), đến nón hình chóp như hiện nay về mặt tạo hình, hình chóp tạo khối vững vàng trong không gian và tính thẩm mĩ cao. Nón có chiều sâu nên vừa che được nắng vừa tạo sự gọn gàng duyên dáng.
Từ xa xưa, nón lá đã xuất hiện trong đời sống sinh hoạt của người Việt cổ. Chúng ta có thể nhìn thấy hình ảnh chiếc nón đầu tiên trên trống đồng Ngọc Lũ, thạp đồng Đào Thịnh, cách đây khoảng 2500 – 3000 năm.
Nón được làm từ nhiều loại lá khác nhau như lá cọ, lá hồi, lá hồ, lá du quy diệp.
Trước đây có nhiều loại nón, có loại nón làm từ lá dứa, gọi là nón ngựa hay nón Gò Găng, sản xuất tại Bình Định, chuyên dùng đội khi cưỡi ngựa. Người miền Bắc có nón quai thao, dùng khi đi hội. Ở Huế có nón bài thơ. Lính tráng thời xưa hay đội một loại nón gọi là nón dấu. Ngoài ra còn phải kể đến nón rơm, làm từ cọng rơm ép cứng; nón khua, dùng cho người hầu các quan lại…
Cùng với sự phát triển của lịch sử, nhiều loại nón không còn nữa. Hiện nay, chúng ta thường dùng nón đan hình chóp. Loại nón này có ở cả ba miền nhưng nơi sản xuất chính là Huế và làng Chuông (huyện Thanh Oai, Hà Nội). Nón Huế trở thành biểu trưng cho vẻ đẹp dịu dàng, thanh mảnh, duyên dáng của người con gái Huế. Nghề làm nón ở Huế xuất hiện từ bao giờ? Ai là sư tổ nghề này?…
Ở miền Bắc có một làng nghề nổi tiếng làm nón từ xưa đến nay, đó là làng Chuông thuộc Hà Nội. Những chiếc nón được làm ở đây gọi là nón Chuông. Nón làng Chuông bền và đẹp, một vẻ đẹp rất riêng không thể trộn lẫn với bất cứ nón ở nơi nào. Nón Chuông đã từng là vật để cung tiến hoàng hậu, công chúa, và cũng từng là kỉ vật của các cô gái khi lên xe hoa về nhà chồng. Ngày nay, nón làng Chuông có mặt ở khắp mọi nơi. Cũng như nón Huế, nón Chuông hiện cũng thành món quà kỉ niệm của các du khách quốc tế.
Người Việt từ nông thôn đến thành thị đều dùng nón lá nhưng có mấy ai để ý nón có bao nhiêu vành, đường kính bao nhiêu cm? Nón lá tuy giản dị, rẻ tiền nhưng nghệ thuật làm nón rất công phu, cần sự khéo tay, tỉ mỉ. Lá lợp nón được mua từ vùng núi, vùng trung du. Lá tươi phải được vò trong cát, sau đó phơi nắng hay sấy trong lò cho lá khô, chuyển từ màu xanh sang màu trắng rồi hơ qua một lượt diêm sinh cho lá bền, không mốc.
Cuối cùng, công đoạn quan trọng và khó nhất, thường do những người thợ giỏi đảm nhiệm, đó là khâu nón. Nón khâu không khéo, lá sẽ không phẳng, thậm chí còn bị rách hoặc phồng rộp. Khi khâu nón, các cô gái cũng không quên trang trí cho nón, đơn giản chỉ là dán vào mặt trong của nón những hình ảnh đẹp nhiều màu sắc, được in sẵn trên giấy. Tinh tế hơn, các cô dùng chỉ màu khâu giăng mắc ở hai điểm đối diện trong lòng nón để từ đó buộc dải lụa mềm làm quai nón.
Các cô gái xưa chăm chút chiếc nón như một vật trang sức. Thỉnh thoảng, người ta gắn lên đỉnh lòng nón một mảnh gương nho nhỏ, chỉ cần nghiêng vành nón là các cô đã ngắm được dung nhan của mình.
Nón trở thành một trang phục truyền thống trên khắp mọi miền đất nước. Nón cũng là biểu tượng của quê hương đất nước. Nếu ở nơi nào đó trên thế giới, bạn nhìn thấy thấp thoáng chiếc nón trắng thì đó chính là tín hiệu Việt Nam.
Vũ Lê Mai
(Trường THCS Nguyễn Huy Tưởng)
>> Xem thêm Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam tại đây.
Tags:Bài văn hay lớp 8 · Giới thiệu về chiếc nón Việt Nam | Giới thiệu về chiếc nón Việt Nam – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8 | 781 | |
Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8
Hướng dẫn
Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam
Bài làm 1
“Thoáng thấy áo dài bay trên đường phố đã thấy tâm hồn quê hương ở đó”. Áo dài đã trở thành một nét đẹp, một trang phục truyền thông của người Việt Nam. Người phụ nữ Việt Nam đẹp hơn, duyên dáng hơn trong tà áo dài thướt tha, mềm mại.
Chiếc áo dài đã thu hút được sự chú ý của rất nhiều người trên thế giới, ai cũng muốn khám phá, tìm hiểu một nét đẹp truyền thống này. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự hình thành và ra đời của chiếc áo dài.
Áo dài tứ thân miền Bắc là chiếc áo dài đầu tiên của người Việt Nam chỉ mặc vào những dịp lễ tết. Áo nâu với hai vạt trước buộc chéo thả xuống đi với quần lĩnh đen và thắt lưng lụa. Rồi áo tứ thân biến thành áo mớ ba mớ bảy. Cổ áo cao khoảng 2 cm, tay may bó khít cổ tay, chiều rộng ngực eo bằng nhau, điểm khác biệt là ngoài hai vạt áo chính còn có vạt phụ (vạt con) dài sát gấu áo. Khuy áo được tết bằng vải, cài cúc cạnh sườn, cổ áo lật chéo để lộ ba màu áo (hoặc bấy màu áo). Lớp ngoài cùng thường là lụa màu nâu hoặc the màu thâm, kế tiếp là màu mỡ gà, cánh sen, vàng chanh, hồ thuỷ,… nhiều màu, hấp dẫn mà vẫn nền nã, kín đáo, hài hoà. Đến năm 1935, áo dài được vách tân thành áo dài vai bằng, tay măng – sết, cổ tròn khoét sâu đến ngực, viền đặng ten. Gấu áo cắt sóng lượn nối vải khác màu hoặc đính ren diêm dúa. Năm 1995, áo dài được cách tân phù hợp với thời đại và đẹp hơn, tay áo dài ôm vừa sát tay. Áo dài nhung, thêu, vẽ, in bông,… đã tạo nên những vẻ đẹp kiêu sa hơn nữa nâng cánh áo dài Việt Nam như bay lên. Những năm sau đó, áo dài không thay đổi nhiều lắm. Thỉnh thoảng cách mặc đổi mới, ví dụ như quần mặc với áo đồng màu.
Có giả thiết cho rằng áo dài Việt Nam xuất xứ từ phương Bắc do năm 1744 chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong khi xưng vương bắt các quan dân Thuận Quảng phải mặc lễ phục lấy mẫu từ sách Tam Tài Đồ Hội của nhà Minh – Trung Quốc. Nhưng áo dài là loại trang phục riêng của người Việt vì những khi lễ lạt, người xưa phải mặc loại áo này. Như vậy chưa ai khẳng định được áo dài Việt Nam xuất hiện từ khi nào và thế nào. Nhưng trải qua năm tháng, áo dài đã dần dần trở thành một thứ trang phục đặc biệt của riêng người Việt.
Áo dài Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn và đã có nhiều thay đổi nhưng không ai có thể đưa ra một chuẩn mực cụ thể cho chiếc áo dài. Bởi lẽ, các cụ ngày xưa đã phải bỏ ra nhiều công sức để tìm ra sự phối hợp giữa các màu sắc, các giá trị thẩm mĩ với phong tục tập quán của dân gian. Ví dụ như thấy cổ người Việt không cao lắm, người xưa đã may áo cổ thấp và ôm sát, tóc thì vấn cao lên để tôn vẻ đẹp của người phụ nữ. Chiếc áo dài dù biến động qua nhiều thời kì lịch sử, có những cách tân khác nhau nhưng phần nhiều chỉ thay đổi về chất vải, hoa văn. Còn kiểu dáng thì về cơ bản vẫn là ôm sát thân, chít eo nhằm tôn vóc dáng của người phụ nữ. Chiếc áo dài trông mặc lên thì thật đơn giản nhưng để may được, phù hợp với người mặc thì không đơn giản chút nào. Nếu chứng kiến các nhà may thì chúng ta thấy may được một chiếc áo dài mất khá nhiều công.
Nhắc đến Việt Nam, bạn bè năm châu nhớ ngay đến áo dài. Đó là niềm tự hào, là nét đẹp riêng của người Việt. Người phụ nữ nào cũng phải có ít nhất là hai bộ áo dài cho mình trong cả cuộc đời. Người Hà Nội xưa cứ ra khỏi nhà là mặc áo dài thế nên có phụ nữ sở hữu đến gần trăm bộ áo dài. Điều đó để nói lên rằng đây là trang phục thân thiện, hoàn hảo nhất của người Việt. Nó mãi là hình ảnh đẹp, đặc trưng cho người phụ nữ Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và mãi mai về sau.
Hàn Thị Thu Nguyệt
(Trường THCS Khương Đình)
Bài làm 2
Với người phụ nữ Việt Nam, áo dài đã trở thành một trang phục truyền thống. Chiếc áo đã tôn vinh vẻ đẹp cao quý của người phụ nữ Việt. Nó được nâng niu yêu quý như một nét văn hoá đầy bản sắc.
Áo dài được coi là trang phục truyền thống của người dân Việt nhưng chủ yếu dành cho phụ nữ. Áo che kín thân người, từ cổ đến quá đầu gối hoặc sát xuống gần mắt cá chân. Trang phục này thường được mặc trong các dịp nghi lễ hay cưới hỏi.
Không ai biết chiếc áo dài nguyên thuỷ ra đời từ khi nào và hình dáng ra sao. Nhưng y phục xa xưa nhất của người Việt được khắc trên trống đồng Ngọc Lũ cho thấy, tổ tiên ta đã mặc áo dài với hai tà xẻ.
Chiếc áo được coi là sơ khai của áo dài là áo giao lãnh. Áo giao lãnh tương tự như áo tứ thân nhưng hai thân trước giao nhau mà không buộc lại. Áo mặc phủ ngoài yếm lót, thường là yếm đào mặc với váy tơ đen, thắt lưng màu hồng hoặc màu xanh nõn buông thả. Ban đầu thì các bà, các cô búi tóc trên đỉnh đầu hoặc quấn quanh đầu, đội mũ lông chim dài. Nhưng sau này, khi mặc áo giao lãnh thì người phụ nữ vấn tóc để đội khăn hay đội nón lá, nón thúng. Chân có thể đi đất hoặc đi guốc, giày dép.
Vì phải làm việc đồng áng hoặc buôn bán nên chiếc áo giao lãnh được thu gọn lại thành áo tứ thân. Áo có bốn vạt nửa, hai nửa thân trước và hai nửa thân sau, hai vạt trước được buộc lại gọn gàng. Áo dài này thường mặc với áo yếm, với váy xắn quai cồng để tiện cho việc buôn bán, đồng áng nhưng không làm mất đi vẻ đẹp của người phụ nữ.
Áo tứ thân thích hợp cho phụ nữ miền quê quanh năm cần cù bươn chải, gánh gồng từ việc buôn bán đến việc đồng áng. Nhưng sau đó, người phụ nữ tỉnh thành đã cách tân chiếc áo tứ thân thành áo ngũ thân, nhằm làm mất đi vẻ dân dã, quê mùa, tăng thêm vẻ sang trọng, đài các.
Áo ngũ thân được biến cải ở chỗ: vạt thân trước được thu bé lại thành vạt con, thêm một thứ năm be bé ở dưới vạt trước để không hở áo lót. Mỗi vạt có hai thân nối sống thành bốn, tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và vạt con thứ năm tượng trưng cho người mặc áo.
Có nhiều ý kiến cho rằng, việc ra đời chiếc áo dài có vai trò của chúa Nguyễn Phúc Khoát. Nhằm tách Đàng Trong thành một quốc gia riêng, chúa đã chủ trương cho Đàng Trong ăn mặc khác với Đàng Ngoài, sắc dụ chúa ban “Thường phục thì đàn ông, đàn bà mặc áo cổ đứng, ngắn tay, cửa ống rộng hay hẹp tuỳ tiện. Áo thì từ nách trở xuống được khâu kín liền, không xẻ mổ”. Quy định đó đã định hình cho chiếc áo dài Việt Nam. Để chế ra chiếc áo dài Việt Nam, các triều thần đã phối hợp từ mẫu áo của người Chăm với mẫu áo của người phụ nữ Thượng Hải.
Đến đầu thế kỉ XX, chiếc áo ngũ thân đã được sử dụng rất phổ biến. Trải qua chặng đường dài lịch sử, nó đã trở thành chiếc áo truyền thống như ngày nay. Nhìn lại cả chặng đường lịch sử từ đầu thế kỉ XX đến nay, sự thay đổi của chiếc áo dài chính là sa tanh trắng. Nhưng chiếc áo quá lai căng với kiểu cổ tròn, cổ trái tim, tay bằng,… chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, đến năm 1943 thì nó không xuất hiện nữa. Năm 1934, hoạ sĩ Lê Phổ đã bớt đi những nét quá hiện đại, lai căng của chiếc áo này và thêm vào đó những nét dân tộc để tạo ra một kiểu áo mới. Áo có thêm cúc cài cuối thân. Kiểu áo này được các bà, các cô nồng nhiệt tiếp nhận. Từ đây, chiếc áo dài Việt Nam đã tìm được hình hài chuẩn mực của nó.
Chiếc áo dài sau đó cũng có nhiều thay đổi. Những năm 60, Trần Lệ Xuân ở miền Nam Việt Nam cho ra đời kiểu áo dài mi ni với vạt thu nhỏ, tà xẻ cao, cổ thuyền hoặc cổ tròn. Trải qua thời gian, chiếc áo dài có sự thay đổi nhưng nhìn chung nó vẫn giữ nguyên được hình hài ban đầu.
Hiện nay, áo có các phần chính như thân áo, tay áo, cổ áo. Thân áo có hai thân, thân trước và thân sau. Thân trước có hai li ngực và hai li chiết eo để làm tăng thêm vẻ đẹp cho đường cong của người phụ nữ. Tà áo được khâu bằng tay cho mềm mại. Hai thân áo giao nhau với phần tay và phần cổ. Cổ áo nguyên bản là cổ đứng, cao từ 3 đến 7 phân. Tay áo được nối với thân sau và thân trước. Để có được một chiếc áo dài đẹp thì không phải dễ dàng nên các nhà may rất tỉ mỉ, họ chia ra làm nhiều công đoạn. Đầu tiên, rất tỉ mỉ, họ lấy số đo của khách và mạy lược theo các số đo này. Lần thứ hai, khách đến thử áo, nhà may sẽ đánh dấu những chỗ khách chưa vừa ý để chỉnh sửa lại. Đến lần thứ ba khách mới lấy được áo nhưng chiếc áo sẽ như ý của chính mình.
Chiếc áo dài có một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của người dân Việt. Nó được sử dụng trong các cuộc thi sắc đẹp, trong ngày lễ hội,… Nó đã được UNESCO công nhận là “Di sản văn hoá phi vật thể” của thế giới.
Ngày nay, mặc dù có nhiều trang phục hiện đại nhưng chiếc áo dài vẫn luôn gần gũi, quen thuộc với người Việt. Chúng ta phải có trách nhiệm bảo tồn, gìn giữ và phát triển để áo dài mãi mãi là biểu tượng của Việt Nam.
Nguyễn Thị Kim Oanh
(Trường THCS Nguyễn Huy Tưởng)
>> Xem thêm Thuyết minh về một đồ dùng học tập – Sách tại đây.
Tags:Bài văn hay lớp 8 · Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam | Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8 | 1,908 | |
Đề bài: Nhà em có một chiếc đồng hồ báo thức dùng để hẹn giờ. Em hãy viết bài văn giới thiệu về chiếc đồng hồ báo thức của em cho mọi người cùng nghe.
Bài làm
Một người bạn thân thiết của em là chiếc đồng hồ báo thức. Sáng sáng, cứ đúng 5 giờ 30 phút là một hồi chuông lanh lảnh vang lên. Em mở bừng mắt, vươn vai mấy cái cho tỉnh ngủ rồi chạy xuống sân tập thể dục. Sau khi báo thức, chiếc đồng hồ lại cần mẫn làm công việc đếm thời gian của mình: tích tắc, tích tắc, tích tắc…
Chiếc đồng hồ đã có mặt trong gia đình em từ lâu lắm rồi. Ông nội kể lại rằng khi bố em chuẩn bị thi vào đại học, ông đã mua chiếc đồng hồ này để cho bố em chủ động giờ giấc ôn bài. Bao năm tháng đã qua, chiếc đồng hồ vẫn đứng nguyên trên mặt bàn học kê gần cửa sổ.
Đồng hồ này hiệu Jacke của Pháp, hình tròn, lớn bằng chiếc bát ăn cơm. Lớp vỏ bằng sắt tráng bạc. Mặt số gồm mười hai chữ số và ba cây kim. Kim chỉ giờ ngắn và to nhất, kế đến là kim phút dài và mảnh. Kim giây chỉ nhỏ bằng cây tăm, chuyển động nhanh nhất; Phía trên là một mặt số thu nhỏ chỉ có cây kim giờ. Muốn đồng hồ báo thức vào giờ nào, chỉ cần lên giây cót và để kim đúng vào giờ đó.
Các đồ vật trong nhà tuy bình thường, giản dị nhưng đều có ích cho cuộc sống lao động và học tập của mỗi người. Em yêu quý và giữ gìn chúng thật cẩn thận. | Giới thiệu về chiếc đồng hồ báo thức của em | 293 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn giới thiệu về chú chó nhà em nuôi.
Bài làm
Năm ngoái, bác Đạt mang từ quê lên cho em một chú cún hai tháng tuổi. Vừa nhìn nó, em đã thích ngay, ôi, chú cún mới xinh làm sao! Em đặt tên cho nó là Tô-ny và nhận nuôi dưỡng nó.
Tô-ny lớn nhanh như thổi. Giờ đây, nó đã là một chú chó trưởng thành với hình dáng rất cân đối. Toàn thân nó phủ một lớp lông màu vàng nâu. Hai tai nhọn. Đôi mắt to và sáng. Lỗ mũi đen ướt, đánh hơi rất thính. Cái lưỡi màu hồng thè dài và hàm răng trắng bóng với bốn răng nanh cong và nhọn.
Tô-ny có dáng giống như chó săn, ức nở, bụng thon, bốn chân cao, gân guốc và vững chãi. Cái đuôi xù cuốn tròn thành chữ o trên lưng.
Nó đi đứng nhẹ nhàng và chạy rất nhanh. Sáng sáng, Tô-ny nô giỡn với chú mèo tam thể trên sân. Chúng đuổi nhau, vờn nhau không biết chán. Thấm mệt, Tô-ny trèo lên thềm, nằm sấp gác mõm lên hai chân trước, lim dim ngủ.
Chớ vội tưởng lầm là nó ngủ say nhé! Tuy lơ mơ thế nhưng tai nó không bỏ sót một tiếng động nào. Chỉ cần có tiếng bước chân nhè nhẹ ngoài rào là nó đứng phắt dậy, linh hoạt hẳn lên. Nếu là người lạ, lập tức nó cất tiếng sủa vang. Còn người quen đi đâu về là nó chạy ra, vẫy đuôi-mừng tíu tít. | Giới thiệu về chú chó nhà em | 260 | |
Đề bài: Giới thiệu về chợ hoa tết ở Sài Gòn.
Bài làm
Từ 20 tháng Chạp (tháng 12 Âm lịch) trở đi, có thể nói Sài Gòn giống như một vườn hoa khổng lồ. Từ chợ lớn đến chợ nhỏ, chỗ nào cũng có hoa bán. Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long theo đường sông, đường bộ đưa lên. Hoa từ Hà Nội chuyển bằng tàu hoả, máy bay mang vào. Nhiều nhất vẫn là hoa Đà Lạt được chở bằng xe tải về thành phố.
Từ ba, bốn tháng trước Tết, các chủ vườn đã tính toán trồng loại hoa nào, số lượng bao nhiêu để đủ cung cấp cho thị trường. Các loại cúc, lay ơn, huệ và mai được trồng nhiều nhất vì đây là các loại hoa thích hợp để cúng bái, trang trí nhà cửa trong dịp Tết.
Những ngày cuối năm, thời tiết Sài Gòn se se lạnh. Em cùng các bạn dạo chợ hoa tổ chức d công viên 23 tháng 9, xế cửa chợ Bến Thành, cảm giác đầu tiên của em là sung sướng đến choáng ngợp trước một rừng hoa muôn sắc muôn hương. Hàng trăm loài kì hoa dị thảo từ khắp mọi miền đất nước hội tụ về đây, tạo thành một hội hoa xuân tưng bừng, rực rỡ. Phong lan, địa lan với vẻ đẹp kiêu sa, đài các, xứng đáng là “vương giả chi hoa” được nhiều người trầm trồ khen ngợi. Hồng nhung đỏ thắm, hồng vàng lộng lẫy khoe tươi bên lay-ơn, thược dược, cẩm tú cầu, hướng dương, loa kèn, cẩm chướng… Hoa nào cũng đẹp, cũng quyến rũ vô cùng! Quả là tạo hóa đã hào phóng ban tặng cho con người những món quà đa dạng và phong phú từ thiên nhiên kì diệu.
Mấy năm gần đây, người Sài Gòn ngoài thú chơi maỉ còn thích chơi đào. Muốn chọn được cây đào ưng ý, có người phải đi dạo chợ hoa dăm ba lần. Những cây đào thế có hình dáng đặc biệt được đưa ra với giá vài triệu đồng, thậm chí cả chục triệu đồng. Phần lớn loại này được các khách sạn, nhà hàng và công sở mua.
Càng về đêm, chợ hoa càng đông. Người đi chợ hoa say mê thưởng thức hương sắc đặc biệt của mùa xuân, niềm vui rạo rực trong ánh mắt, nụ cười, giọng rióỉ. Mấy ông phó nháy được dịp làm ăn. Gốc mai, gốc đào, chậu cảnh… trở thành phông nền thật lí tưởng cho một bức ảnh kỉ niệm. Không khí náo nức của Tết theo bước hoa đến với từng con đường, từng hẻm nhỏ, từng ngôi nhà trong thành phố thân yêu.
Năm ngoái, ba em lên tận làng hoa Gò vấp mua về một cây mai để trưng trong phòng khách. Sau Tết, ba đem trồng ở trước sân. Khi mọi người đang náo nức chờ Tết đến, cây mai dường như cũng âm thầm chuẩn bị đón xuân – mùa mà nó sẽ phổ bày hết vẻ đẹp rực rỡ mà Tạo hoá ban chọ nó.
Năm nay, gia đình em đón Tốt với cả hoa mai và hoa đào. Cây đào bích Nhật Tân được ông nội nâng niu mang từ Thủ đô vào Sài Gòn làm quà tặng cho con cháu trông đẹp tuyệt vời. Ông em bảo rằng hoa đào là thứ hoa tượng trưng cho mùa xuân phương Bắc, giống như mai vàng, tiêu biểu cho mùa xuân phương Nam. Sau những ngày đông giá lạnh, cây đào rụng hết lá, chỉ còn trợ lại những cành khẳng khiu màu nâu đất, run rẩy trong mưa phùn gió bấc. Ấy vậy mà khi làn gió xuân hây hẩy thổi về, kèm theo những cơn mưa bụi li ti như rắc phấn, các hụ đào rụt rè ẩn trong cành từ từ nhú ra âm thầm, lặng lẽ. Chỉ vài ngày sau, nụ đào nảy chi chít khắp cành lớn, cành nhỏ; cành cao, cành thấp, bên cạnh những túm lá nõn màu xanh như ngọc.
Sáng mùng Một, trong không khí náo nức mừng xuân mới, sắc đỏ thắm của hoa đào sánh cùng sắc vàng rực rỡ của hoa mai như báo trước một năm mới với bao điều may mắn và hạnh phúc sẽ đến với gia đình em. | Giới thiệu về chợ hoa tết Sài Gòn | 725 | |
Đề bài: Giới thiệu về chợ nổi miền Tây Nam Bộ
Bài làm
Gọi là chợ nổi vì chợ họp ở trên sông. Giữa một vùng sông nước bao la là hàng trăm chiếc ghe, xuồng của người quanh vùng về đây tụ tập mua bán.
Chợ họp suốt cả ngày, nhưng nhộn nhịp nhất là vào buổi sáng. Thuyền, ghe tấp nập đi lại, luồn lách trên mặt nước. Tiếng chào mời mua bán, tiếng cười nói gọi nhau, tiếng ồn ã của động cơ… làm vang động cả một vùng, quang cảnh nhộn nhịp và sôi động. Trên thuyền chất đầy hàng hoá, nhiều nhất vẫn là trái cây, mùa nào thức nấy: chôm chôm, xoài, cam, quýt, bươi, măng cụt, sầu riêng… sản vật của vùng sông nước kênh rạch như: cá, rùa, rắn, cua, tôm, chim đồng, bông súng, rau tươi… Chủ nhân vài ghe, thuyền treo lủng lẳng một vài thứ trái cây, hàng hoá hay một bảng hiệu quảng cáo trên chiếc sào nơi thuyền của mình, cái cao cái thấp, cái thẳng cái nghiêng trông thật lạ mắt.
Các loại dịch vụ ăn uống, hớt tóc, may vá… cũng diễn ra ngay trên ghe, xuồng, rất tiện dụng và dường như thỏa mãn mọi nhu cầu mua sắm sinh hoạt đời thường của người dân vùng này.
Các chợ nổi lớn của miền Tây như Phụng Hiệp, Phong Điền, Cái Răng (Cần Thơ), Cái Bè (Tiền Giang)… Phần lớn nông sản hàng hoá ở đây được bán sì cho những thương nhân rồi từ đó được chuyển tới các nhà máy chế biến thực phẩm, hoa trái hay chở ra tận Hà Nội và các địa phương miền Bắc. Chợ nổi là nét sinh hoạt văn hoá độc đáo của người dân vùng châu thổ sông Cửu Long. | Giới thiệu về chợ nổi miền Tây Nam Bộ | 300 | |
Đề bài: Giới thiệu về chợ quê
Bài làm
Ở nông thôn Việt Nam, thường mỗi xã hoặc một vài làng liền kề nhau có một cái chợ. Chợ là nơi trao đổi hàng hoá của cư dân địa phương. Chợ đặt ở làng nào, xã nào thường lấy tên của làng, xã ấy mà gọi. Nói nôm na đó là loại chợ quê. Quang cảnh chợ quê rất đơn giản: vài cái lều lợp gianh, lợp lá trên mấy cái cọc tre nhỏ, đơn giản. Có khi không có lều quán mà chỉ là một bãi đất trống. Người bán bày sản phẩm thành hàng, thành dãy hai bên lối đi. Chủng loại hàng hoá, đa phần là những sản vật địa phương do vậy mà thay đổi theo mùa, vụ.
Chợ quê cũng có sự phân cấp một cách tự nhiên thành chợ làng, chợ xã, chợ huyện, chợ tỉnh… Người ta gọi chợ theo cấp hành chính và quy mô chợ cũng từ đó mà to dần lên. Ngày nay chỉ còn dấu vết chợ quê ở làng, ở xã, còn chợ huyện, chợ tỉnh hầu như đã biến thành những trung tâm buôn bán lớn trong vùng. Do nhu cầu trao đổi, mua bán nên ngày nào cũng họp chợ. Vì vậy mà mất di phiên chợ truyền thống ngày trước.
Chợ quê lại có hai loại, chợ phiên và chợ hôm. Chợ phiên họp vào những ngày theo một chu kì nhất định. Khi nói chợ họp ngày ba và ngày tám, có nghĩa là phiên chợ họp vào những ngày mồng ba, mồng tám, mười ba, mười tám, hai mươi ba, hai mươi tám hàng tháng (theo âm lịch). Gần đây nhiều chợ chọn ngày chủ nhật làm phiên họp chính. Phiên chợ chính bao giờ cũng đông người hơn phiên chợ xép (chợ họp không đúng phiên). Ngoài những sản phẩm địa phương, ở chợ phiên mặt hàng đa dạng hơn bởi sự góp mặt của các hàng công nghiệp đắt tiền.
Chợ hôm ngày nào cũng họp. Người mua người bán chỉ thưa thớt, trao đổi những hàng thiết yếu hàng ngày, hàng tươi sống như rau, hoa quả, dầu, muối, tôm cá, trứng… Chợ thường họp vào buổi sáng sớm hay chiều. Nếu chợ họp vào buổi chiều người ta hay gọi là chợ chiều. | Giới thiệu về chợ quê | 389 | |
Đề bài: Giới thiệu về chợ vùng cao
Bài làm
Vùng cao – là vùng đất có nhiều đồi, núi cao – thường là nơi sinh sống của những dân tộc ít người. Chợ ở những vùng này thường họp theo phiên. Người đi chợ mặc những bộ trang phục đẹp, hăm hở trèo đèo, leo dốc, lội suối, đi cả ngày đường, có khi mấy ngàý. Họ đến chợ bằng ngựa hoặc bằng chính đôi chân của mình. Hiện nay, một số nơi có điều kiện họ có thể đến chợ bằng nhiều phương tiện khác.
Chợ ở những vùng này, ngoài sản vật địa phương còn có nhiều hàng hoá khác như dầu, muối, cá khô, vải, giấy… từ dưới xuôi mang đến, từ các địa phương khác mang về. Chính vì vậy mà phiên chợ ở đây từ lâu đã là nhu cầu giao lưu kinh tế của vùng.
Chợ họp thường chỉ một ngày, nhưng nhiều người đến chợ từ chiều hôm trước để gặp bạn, múa hát, thổi kèn, thổi sáo, vui chơi cùng bạn bè. Họ hát múa từ chiều tới khuya có khi suốt đêm. Vui nhất là những thanh niên nam nữ. Họ đến chợ là đến nơi hò hẹn tìm hiểu, kết bạn… Chính vì vậy mà chợ ở đây không chỉ là nơi mua bán, trao đổi hàng hoá mà còn là nơi giao lưu, sinh hoạt văn hoá của cộng đồng. | Giới thiệu về chợ vùng cao | 238 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn giới thiệu về con chim bồ câu.
Bài làm
Chim bổ câu là giống chim nuôi hiền lành, xinh đẹp, được mọi người ưa thích. Dù ở thành phố hay ở nông thôn, người ta vẫn có thể nuôi được bồ câu.
Tổ tiên bồ câu nhà là bồ câu núi, hiện còn sống hoang dã ở nhiều vùng núi châu Âu, châu Á và Bắc Phi… Chim bồ câu được loài người thuần hóa đầu tiên ở Ai Cập, cách đây khoảng 5000 năm. Cho đến nay, trên thế giới có khoảng 150 giống bồ câu. ở Việt Nam, chim bồ câu hơi nhỏ, trọng lượng chỉ khoảng năm, sáu lạng, có nhiều màu lông khác nhau như trắng, xám, nâu, xanh đen, đốm… Bồ câu nước ngoài như Pháp, Mĩ, Hà Lan có trọng lượng gần 1 kg.
Thân hình của bồ câu gần giống như chim gáy nhưng lớn hơn một chút. Toàn thân chim bồ câu được bao phủ bởi một lớp lông vũ. Mình chim hình thoi, đuôi ngắn xòe rộng khi bay. cổ chim dài khoảng 6 đến 7 phân, mỏ nhỏ và cong. Đôi mắt màu nâu tròn và sáng. Đầu chim quay đi quay lại rất linh hoạt, giúp chim dễ dàng mổ thức ăn, rỉa lông rỉa cánh. Đôi chân thanh mảnh màu hồng sẫm có vảy bao bọc gồm 4 ngón, 3 ngón trước, một ngón sau đều có móng sắc, giúp chim đi lại nhẹ nhàng. Bồ câu tương đối dễ nuôi. Chúng ăn các loại hạt như thóc, lúa mì, ngô, đỗ… và rất ít khi bị bệnh.
Chim bồ câu bay rất giỏi, có thể đạt tới vận tốc 100 km/h và bay lâu hàng trăm kilômet không nghỉ như chim bồ câu đưa thư, song khi chúng đi trên mặt đất thì lại chậm chạp và vụng về.
Hiện nay, người ta nuôi chim bồ câu để ăn thịt và làm cảnh. Thịt bồ câu là món ăn cao cấp ngon và bổ. Món miến xào thịt chim, món chim bồ câu rô ti, món chim bồ câu hầm với hạt sen, thuốc bắc có tác dụng bồi bổ sức khỏe rất tốt.
Chim bồ câu gắn bó với đời sống tinh thần của con người từ lâu đời. Mỗi sớm mai, được nghe tiếng chim gù, được nhìn những cánh chim bay vút lên trời xanh, tâm hồn con người trở nên thư thái, dễ chịu vô cùng!
Bố em rất thích nuôi chim bồ câu. Bố đóng cả dãy chuồng cho chim. Những chiếc chuồng được sơn màu xanh lá cây, cửa tròn viền trắng. Trước chuồng là tấm ván rộng chừng ba tấc để làm chỗ cho chim đậu và tắm nắng. Đấy là tổ ấm của những cặp vợ chồng, con cái bồ câu.
Cảnh tượng trên gợi lên trong lòng em một niềm xúc động về tình mẫu tử thiêng liêng. Tiếng chim trong buổi sáng giữa vườn cây trái sum suê gợi lên cuộc sống êm ả, thanh bình, đáng yêu biết mấy!
Chim bổ câu rất có ích cho con người. Hình ảnh con chim bồ câu trắng là hình ảnh tượng trưng cho hòa bình và thuỷ chung của nhân loại. | Giới thiệu về con chim bồ câu | 540 | |
Đề bài: Nhà em có nuôi rất nhiều con vật trong đó có chú gà trống. Em hãy giới thiệu về con gà trống nhà em.
Bài làm
Ở quê em, hầu như gia đình nào cũng chăn nuôi gà, vịt. Sau đây, em sẽ giới thiệu về từng con vật ấy.
Đàn gà nhà em đông gần hai chục con, nhưng em thích nhất là con gà trống tía. Con gà trống tía giống Đông Tảo, rất quý. Nó to hơn hẳn các loài gà thường và thân hình rất cân đối. Trên đỉnh đầu nó rung rinh chiếc mào đỏ tươi. Lông cổ màu vàng sậm xen với màu đỏ đồng. Lông cánh màu đen pha xanh. Toàn thân nó phủ một lớp lông mềm mại màu xám sẫm. Chiếc đuôi vổng cao, những cái lông đen dài cong cong trông thật đẹp. Đôi chân trống tía vàng óng, các móng cứng và sắc, chiếc cựa nhọn hoắt chĩa ngang.
Trống tía cất tiếng gáy vào lúc tang tảng sáng. Nó nhảy lên gốc cây cụt ở giữa vườn, đập cánh phành phạch rồi vươn cổ gáy ò ó ọ… Tiếng gáy giòn giã của nó báo hiệu một ngày mới bắt đầu.
Nhìn trống tía đi giữa đàn gà con, gà giò và mấy chị gà mái, ta mới thấy hết dáng điệu hùng dũng của nó. Em quý nó lắm. Thỉnh thoảng em lại đào giun hay bắt cào cào, châu chấu cho trống tía ăn. | Giới thiệu về con gà trống nhà em | 245 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn giới thiệu về con mèo nhà em
Bài làm
Trong số những con vật nuôi trong gia đình thì gắn bó với đời sống sinh hoạt và tình cảm của con người hơn cả là con mèo và con chó.
Khi em đi học về, vừa bỏ cặp sách xuống bàn thì chú mèo tam thể đã đến bên nũng nịu kêu meo meo rồi dụi đầu vào chân em đòi bế. Em ôm nó vào lòng, vuốt ve bộ lông mịn như nhung. Nó gừ gừ khe khẽ trong cổ họng, mắt lim dim ra vẻ khoan khoái lắm. Em đặt tên nó là Mi Mi.
Mi Mi đã được hơn một tuổi. Thân hình thon thả phủ một lớp lông mịn mượt gồm ba màu vàng, đen và trắng. Cái đầu tròn, nhỏ; đôi tai mỏng luôn dỏng lên nghe ngóng động tĩnh. Cặp mắt tròn xoe, xanh biếc như thủy tinh, đưa đi đưa lại rất nhanh. Cái mũi hồng hồng trông xinh xắn thế nhưng đánh hơi chuột rất tài. Dáng đi của nó uyển chuyển, nhẹ nhàng vì dưới chân có lớp đệm thịt dày. Bình thường, nó giấu gọn móng vuốt trong các kẽ ngón chân. Lúc nó đi, cái đuôi dài chấm gần sát đất.
Sáng sáng, Mi Mi tung tăng nô giỡn trên sân gạch rồi bám vào thân cau, leo nhanh thoăn thoắt. Có lúc nó quay tròn đùa với cái đuôi hay cái bóng của mình.
Chú mèo ăn ít lắm, mỗi bữa chỉ vài thìa cơm chan tí nước thịt hay dầm chút cá mà nó ăn nhỏ nhẹ mãi mới hết. Ban ngày, nó hay làm biếng nhưng khi màn đêm buông xuống, mèo ta hoạt bát hẳn lên.
Nó thu mình hàng giờ chờ rình chuột trên nóc nhà hay dưới góc bếp. Người nó co tròn, cổ rụt lại, đầu ghếch lên hai chân trước, mấy sợi râu động đậy đánh hơi, hai tai dựng đứng. Chú chuột nhắt tinh ranh thập thò mấy lần vẫn chưa dám lẻn vào. Một lúc sau, chừng như yên tâm vì không thấy gì nguy hiểm, nó mon men bám chân trên bát leo lên. Mới được nửa chừng thì vút một cái, Mi Mi lao ra nhanh như chớp. Gã chuột nhắt chỉ kịp kêu lên mấy tiếng chít chít… hốt hoảng thì đã nằm gọn trong móng sắc của mèo.
Có chú mèo, lũ chuột bớt phá phách hẳn. Cả nhà em ai cũng yêu Mi Mi vì nó rất dễ thương và có ích. | Giới thiệu về con mèo nhà em | 427 | |
Đề bài: Nhà em có nuôi ngan. Em hãy viết bài văn giới thiệu về con ngan nhà em nuôi cho các bạn cùng nghe.
Bài làm
Nhà em có nuôi một con ngan sao. Mẹ em đem nó thả chung với mấy chú vịt Hà Lan nuôi đã hơn hai tháng nay. Bên cạnh màu lông trắng toát của mấy chú vịt, con ngan nổi bật lên nhờ màu lông đen nhánh phủ từ đỉnh đầu tới chót đuôi. Mình nó dài và hơi thuôn. Chân ngắn, dáng đi lạch bạch, nặng nề. Nó thích đứng một mình, chăm chú rỉa lông, rỉa cánh. Nó rất thích ăn rau, ăn cỏ.
Ngan chậm chạp, hiền lành, không quàng quạc lắm điều như mấy chị vịt trắng. Thỉnh thoảng nó lại kêu cáp cáp. Lúc nổi hứng lên, nó bơi vòng một lượt quanh ao rồi lướt là là trên mặt nước, hai cánh dang rộng đập phành phạch. Tắm chán, nó lên bờ, rũ lông cho khô rồi đi đến dưới gốc cây, nằm rúc đầu vào cánh, ngủ ngon lành.
Quê em là vùng thuần nông nên ngoài việc đồng áng, nhà ai cũng chăn nuôi thêm gà, ngan, vịt… Chăn nuôi vừa giải quyết thời gian nhàn rỗi, vừa có phân bón ruộng, vừa là cách tích lũy tiết kiệm tiền. Từ bao đời nay, những con vật nuôi kể trên đã gắn bó thân thiết với cuộc sống của người nông dân nước ta. | Giới thiệu về con ngan nhà em | 244 | |
Giới thiệu về cuộc đời của nhân vật Hồ Xuân Hương
Hướng dẫn
Hồ Xuân Hương là con gái của một ông đồ nho xứ Nghệ. Bà sinh ra và lớn lên ở đất Kinh kì Thăng Long (chưa rõ năm sinh và năm mất) vào khoảng cuối thế ki 18 đến nửa đầu thế kí 19. Là người cùng thời với thi hào Nguyễn Du, bà từng giao thiệp, hoạ thơ với một sô’ tao nhân mặc khách thời bấy giờ.
Cuộc đời bà trải qua nhiều bất hạnh về mặt tình duyên: làm vợ lẽ ông phủ Vĩnh Tường, làm vợ lẽ Tổng Cóc:
‘Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi!
Cái nợ ba sinh đã trả rồi…’
(‘Khóc ông phủ Vĩnh Tường’)
‘Hỡi chàng Cóc ơi, chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi…’
(‘Khóc Tổng Cóc’)
Tài thơ của Hồ Xuân Hương rất độc đáo, đặc sắc. Tác phẩm của nữ sĩ gồm có khoảng 50 bài thơ Nôm thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú Đường luật, tập thơ chữ Hán ‘Lưu Hương kí’.
Hồ Xuân Hương đã chế giễu, phê phán lễ giáo phong kiến, đả kích những thói hư tật xấu, đạo đức giả của tầng lớp thống trị, bọn thầy chùa phá giới, v.v… Bà lên tiếng đề cao hoặc bênh vực người phụ nữ… Nội dung thơ Hố Xuân Hương giàu giá trị nhân bản.
Đề tài thơ Hồ Xuân Hương rất bình dị: quả mít, con ốc nhồi, bánh trôi, cái quạt, đánh đu, tát nước, v.v… Thơ của bà đa nghĩa, hóm hỉnh, sắc sảo. Có bài trào phúng sâu cay. Có bài trữ tình như kết đọng nhiều tiếng thở dài ngao ngán. | Giới thiệu về cuộc đời của nhân vật Hồ Xuân Hương | 277 | |
Đề bài: Giới thiệu về cái mâm cơm.
Bài làm
Cái mâm cơm đã trở thành một vật dụng vô cùng quen thuộc trong các bữa ăn của người Việt từ Bắc vào Nam. Từ xưa đến nay, cái mâm cũng được coi như một nét riêng độc đáo trong bữa cơm người Việt.
Ngày xưa, mâm được làm bằng gỗ tiện, hình tròn, đường kính khoảng sáu đến bảy tấc gồm hai phần: lòng mâm và vành mâm, lòng mâm. Lòng mâm phẳng đều, vành mâm bao quanh và cao hơn lòng mâm một chút. Nhà nghèo thì dùng mâm gỗ mộc, nhà khá giả dùng mâm sơn màu đỏ, gọi là mâm son. Sau này, nhà giàu dùng mâm đúc bằng đồng, trông sang trọng hẳn. Phần lớn các gia đình ngày nay sử dụng mâm nhôm hoặc inoc, vừa rẻ vừa nhẹ nhàng, tiện lợi.
Hàng ngày mâm cơm xuất hiện hai lần, trong bữa cơm trưa và chiều của gia đình. Chiếc mâm có công dụng như một chiếc đĩa lớn để những vật dụng ăn uống và đò ăn cho một bữa ăn. Thay vì khi dọn cơm, dọn ra từng cái bắt, cái đĩa một thì bỏ tất cả vào mâm vừa gọn gang lại tiện lợi. Khi ăn uống, chiếc mâm cơm cũng giúp cho bàn ăn được sạch sẽ vệ sinh hơn, không vất vả khi dọn dẹp.
Trong bữa cơm của người miền Bắc bên đĩa rau muốn luộc, món canh cua, đĩa đậu rắn vàng không thể thiếu được món cà pháo tuy đạm bạc nhưng ấm lòng người việt.
Còn mâm cơm của người miền Nam thường có mấy món được ưa chuộng như: canh chua cá lóc, dưa giá, thịt kho, rau sống….Nhưng cho dù khẩu vị của hai miền có khác nhau nhưng chúng đều được đặt trên chiếc mâm cơm ấm cúng đậm tình người…
Chiếc mâm cơm và những đồ ăn của gia đình còn thể hiện được mức sống của gia đình. Đôi khi còn thể hiện được truyền thống của gia đình đó hay phong tục, tập quán của vùng miền, cũng như khẩu vị sở thích của các tahnfh viên trong gia đình. Một điều quan trọng hơn nữa là thể hiện được sự khéo léo, đảm đang của người phụ nữ trong gia đình.
Chiếc mâm cơm không chỉ tiện lợi dễ dàng khi sử dụng mà dễ dàng khi bảo quản. Những chiếc mâm ngày nay thường bằng nhôm hoặc inoc, dễ rửa, không bám bẩn, chỉ cần thường xuyên lau rửa là sẽ giữ được luôn đẹp như mới. Nên treo mâm lên cao hoặc để ở nơi bằng phẳng, tránh để ngoài nắng hoặc đè vật nặng lên có thể bị cong.
Chiếc mâm cơm giản dị mà quen thuộc đã gắng bó thân thiết với mỗi gia đình chúng ta. Nó là hiện thân của đời sống vật chất và tình thần của người việt, nó vẫn mãi hiện diện dù cuộc sống của chúng ta có hiện đại đến đâu chăng nữa. Hình ảnh chiếc mâm tròn luôn gợi cho ta nhớ đến sự tròn đầy trong tình cảm thương yêu giữa người thân với người thân. | Giới thiệu về cái mâm cơm – văn lớp 8 | 532 | |
Đề bài: Giới thiệu một đồ dùng quen thuộc trong sinh hoạt.
Bài làm
Nếu có dịp đi khắp nơi từ Bắc vào Nam, từ thành thị đến nông thồn, hẳn chúng ta sẽ thấy chiếc mâm là vật dụng vô cùng quen thuộc. Một ngày, chiếc mâm xuất hiện hai lần trong bữa cơm trưa, cơm chiều của mỗi gia đình.
Ngày xưa, mâm được làm bằng gỗ tiện, hình tròn, đường kính khoảng sáu đến bảy tấc, gồm hai phần: lòng mâm và vành mâm. Lòng mâm phẳng đều, vành mâm bao quanh và cao hơn lòng mâm một chút. Nhà nghèo thì dùng mâm gỗ mộc, nhà khá giả dùng mâm sơn màu đỏ, gọi là mâm son. Sau này, nhà giàu dùng mâm đúc bằng đồng, trông sang trọng hẳn. Phần lớn các gia đình ngày nay sử dụng mâm nhôm hoặc inoc, vừa rẻ vừa nhẹ nhàng, tiện lợi.
Bữa cơm trưa, cơm chiều, mọi người trong gia đình quây quần bên mâm cơm với những thức ăn giản dị mà không kém phần ngon lành. Mùa hè, trên mâm cơm của người miền Bắc, bên cạnh đĩa rau muống luộc xanh mềm là đĩa đậu rán vàng tươi, bát nước rau dầm sấu hoặc vắt chanh tỏa mùi thơm chua chua dìu dịu. Giữa mâm là chén nước mắm màu mật ong, nổi bật mấy lát ớt đỏ tươi. Liền kề là bát cà pháo trắng tinh, chỉ mới nhìn cũng đã thấy thèm. Còn mâm cơm của người miền Nam thường có mấy món được ưa chuộng như canh chua cá lóc, dưa giá, thịt kho, rau sống… Mùi vị thức ăn hòa quyện vào nhau, giục giã mọi người cầm đũa.
Quanh mâm cơm gia đình, có khi hiện diện cả mấy thế hệ: ông bà, cha mẹ, con cháu… Mẹ gắp thức ăn cho con, ông bà nhường cho cháu những miếng ngon. Không khí bữa cơm vui vẻ. Rồi chuyện làm ăn, chuyện tâm tình cũng được đem ra chia sẻ, bàn bạc trong bữa cơm. Ngày ngày, tháng tháng, năm năm qua đi, chiếc mâm đã chứng kiến bao nhiêu kỉ niệm vui buồn đáng nhớ của gia đình.
Còn gì cảm động hơn bữa cơm tất niên hay bữa cơm mừng năm mới, người đi xa về đoàn tụ với những người ruột thịt thân yêu quạnh chiếc mâm quen thuộc, cùng thưởng thức các món ăn đậm đà hương vị quê hương để rồi cảm thấy có một điều gì đó xúc động lắm cứ rưng rức trong lòng. Dường như tổ tiên cũng về sum họp với con cháu trong ba ngày Tốt để ngầm khuyến khích, động viên con cháu có thêm ý chí, nghị lực vững bước trên đường đời.
Chiếc mâm giản dị, quen thuộc đã gắn bó thân thiết với đời sống vật chất và tinh thần của người dân đất Việt nên nó sẽ mãi mãi hiện diện, dù cuộc sống có hiện đại đến đâu chăng nữa. Hình ảnh chiếc mâm tròn luôn gợi cho chúng ta nhớ đến tình cảm ruột thịt, đến mái ấm gia đình thiêng liêng không gì thay thế. | Giới thiệu về cái mâm cơm | 527 | |
Đề bài: Cây chuối là loài cây rất quen thuộc với người Việt Nam. Em hãy viết bài văn giới thiệu về cây chuối Việt Nam cho các bạn cùng biết.
Bài làm
Đi khắp đất nước Việt Nam, nơi đâu ta cũng gặp những bụi chuối, vườn chuối xanh um trước ngõ, sau vườn. Chuối là loài cây dễ thích nghi, có thể sống được trên nhiều vùng đất khác nhau, từ miền núi, trung du đến đồng bằng châu thổ. Ở nông thôn, hầu như nhà nào cũng trồng chuối, không nhiều thì ít.
Cây chuối gồm các bộ phận: củ, thân, lá, hoa và quả.
Củ chuối là thân chính, mọc ngầm dưới đất, xung quanh có rễ, làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng và sinh sản ra các cây chuối con. Thân chuối là thân giả, do các bẹ ốp lại mà thành, giữa có lõi dẫn chất dinh dưỡng nuôi cây. Thân chuối nhẵn bóng, hình trụ, cao khoảng vài mét trở lên. Lá chuối mọc ở đầu mỗi bẹ, xung quanh ngọn. Mỗi tàu gồm một cuống lá dài chạy dọc giữa bản lá rộng cỡ bốn đến năm tấc, dài gần hai mét.
Khi cây chuối trưởng thành, hoa chuối trổ từ chính giữa ngọn. Cuống hoa lớn, búp hoa thon dài, có nhiều cánh màu nâu đỏ. Dưới mỗi cánh là một nải non, gồm hai tầng quả, đầu mỗi quả có túi phấn vàng, hơi dính. Một hoa có thể cho một buồng từ năm đến mười nải, mỗi nải khoảng trên chục quả. Quả chuối lúc non màu xanh nhạt, lúc già xanh đậm. Sau vài tháng, cắt xuống ủ chín, quả sẽ có màu vàng.
Chuối cau ít được trồng vì cây nhỏ, trái nhỏ, năng xuất thấp. Tuy thế chuối cau lại quý hiếm vì thường được dùng để cúng trong dịp ngày rằm, mùng một Âm lịch hằng tháng. Ngày xưa, người ta còn gọi chuối cau là chuối tiến vua.Chuối hột cây cao từ bốn đến năm mét, lá dài và rộng, xanh thẫm. Quả ngắn hình lục lăng, chứa nhiều hạt. Lúc non bào mỏng ăn kèm với các loại rau thơm, rau sống trong các món nướng, món gỏi, thịt luộc, tôm chua… làm tăng hương vị. Quả già phơi khô, sao vàng rồi đem ngâm rượu, thành một vị thuốc chữa bệnh nhức mỏi khá công hiệu.
Chuối chín vừa ngon vừa rẻ, ta có thể ăn bất cứ lúc nào trong ngày, còn chuối xanh lại có thể chế biến thành nhiều món ăn độc đáo. Chuối tiêu xanh lột bỏ vỏ, xắt chéo, luộc qua với nước muối cho ra hết nhựa chát, rồi nấu chung với lươn, ếch, thịt ba rọi, đậu phụ, nghệ, mẻ, hành hoa, lá lốt, tía tô… thành món lươn bung, ốc bung… ăn một lần nhớ một đời. Củ chuối tây non gọt sạch, thái nhỏ, luộc bỏ nước chát, nấu giống như chuối xanh, giòn và ngọt bởi thẩm thấu tất cả các vị thơm ngon, bùi béo của món ăn. Giờ đây, những món dân gian ấy đã thành đặc sản trong các nhà hàng cao cấp, gợi cho người xa xứ nhớ tới hương vị đồng quê.
Thân chuối non bào mỏng, trộn chùng với các loại rau thơm, rau diếp xắt chỉ, thành món rau ghém không thể thiếu cho bún riêu cua, bún riêu ốc, canh dấm cá… Thân chuối già xắt mỏng, băm nhỏ trộn cám làm thức ăn cho bò, lợn, vịt, gà… rất tốt. Lá chuối non gói bánh chưng, bánh giò, bánh tét, bánh ít, giò lụa… Lá chuối già gói thực phẩm tươi sống. Lá chuối khô làm nút đậy chai rượu, đậy bình đựng đồ khô rất kín. Rượu làng Vân nút lá chuối khô nổi tiếng cả trong và ngoài nước… Bẹ chuối khô làm nguyên liệu đan đồ mỹ nghệ xuất khẩu… Chuối cũng là hình ảnh thân thuộc trong truyện của Nam Cao, thơ Trần Đăng Khoa… Người nước ngoài đến Việt Nam rất thích ăn chuối. Chuối là loại trái cây xuất khẩu có giá trị cao. | Giới thiệu về cây chuối Việt Nam | 690 | |
Giới thiệu về cây lúa và văn hoá Việt Nam – Văn thuyết minh 9
Hướng dẫn
Thuyết minh về cây lúa
1. Yêu cầu
– Đề bài thuộc dạng thuyết minh.
– Qua bài làm cần cho người đọc hiểu về lịch sử, đặc điểm, quá trình phát triển của cây lúa cũng như vai trò của cây lúạ trong đời sống con người Việt Nam.
– Đây là bài văn thuyết minh đầu tiên ở lớp 9, sau khi học cách thuyết minh theo một số biện pháp nghệ thuật như: nhân hoá, tự sự,… Do đó, bài viết phải có hình thức mới mẻ so với các bài thuyết minh đã làm ở lớp 8.
2. Gợi ý
– Cây lúa rất gần gũi với đời sống con người Việt Nam ta nhưng không phải ai cũng hiểu về cây lúa. Vì vậy, trước khi làm bài, cần đọc kĩ những bài viết về cây lúa. Những tài liệu này có thể tìm trên mạng Vietnamnet hoặc từ điển sinh học.
– Về hình thức, có thể để cây lúa tự kể chuyện về cuộc đời của nó.
– Cũng có thể thuyết minh bình thường, kết hợp với miêu tả, biểu cảm, tự sự khi diễn đạt ý cần thuyết minh.
3. Lâp dàn ý
Tuỳ thuộc việc sử dụng biện pháp nghệ thuật thuyết minh mà lập dàn ý khác nhau do hình thức tự thuật đối thoại, diễn ca,… Dù thế nào, nội dung bài viết cũng cần có những ý sau:
a. Mở bài: Giới thiệu cây lúa trong đời sống con người nói chung, người Việt Nam nói riêng.
b. Thân bài
– Nguồn gốc
Thuộc họ nào.
Nguồn gốc, đặc điểm cây lúa nước Việt Nam.
– Lịch sử
Theo truyền thuyết.
Theo lịch sử, lúa có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, thời Hùng Vương đã có nghề trồng lúa.
– Gieo trồng và chăm sóc
Làm đất.
Gieo mạ.
Cấy và chăm sóc ; các giai đoạn phát triển của câỵ lúa.
Thu hoạch, bảo quản.
Từ hạt lúa đến hạt gạo.
– Cây lúa với đời sống văn hoá Việt Nam
+ Cây lúa nuôi sống con người, giúp xã hội phát triển.
+ Bánh trái thờ cúng tổ tiên làm từ gạo, sản phẩm của cây lúa.
+ Hình ảnh lúa trên trống đồng và các sản phẩm văn hoá từ xuất của nền văn minh lúa nước.
Hình ảnh lúa trên quốc huy Việt Nam.
Hình ảnh cây lúa trong ca dao, âm nhạc,…
+ Cây lúa vá sản phẩm văn hoá ẩm thực.
– Tương lai của cây lúa Việt Nam
+ Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới.
c. Kết bài: Cảm nhận về sự gắn bó của cây lúa với đất nước, con người Việt Nam.
4. Bài làm minh họa
Cây lúa là hình ảnh rất đỗi gần gũi và thân quen đối với người dân Việt Nam ta. Từ ngàn đời nay nghề trồng lúa vẫn được người dân ta coi trọng ; cây lúa vẫn là lẽ sống, là vận mệnh và gắn bó máu thịt với người dân mình.
Cây lúa vỉ thế đã đi sâu vào cách cảm, cách nghĩ của người dân và tạo nên những nét đặc trưng của văn hoá nước ta, một nền văn hoá – văn minh lúa nước.
Nói về lúa thì từ Bắc tới Nam không ai không biết. Có lúa cạn gieo ở trên nương, có lúa nước cấy ở dưới ruộng, có lúa gieo thẳng như ở một số tỉnh miền Trung và miền Nam.
Ở miền Bắc, thóc giống được ngâm cho nảy mầm. Đem hạt nẩy mầm (mộng mạ) gieo xuống đất, mầm lớn lên thành cây mạ. Mạ được nhổ đem ra ruộng cấy và phát triển thành cây lúa.
Cây lúa được chăm nước, bón phân, làm cỏ ; qua thời gian nó chia vè, đứng cái, làm đòng rồi trổ bông, kết hạt. Hạt ngậm sữa, chắc xanh. Bông lúa uốn câu, hoe vàng, chín vàng và chín rộ.
Để biến thành gạo, lúa cũng phải chịu “năm nắng mười mưa”, “xay sẩy giần sàng”. Khi lúa chín người dân ta gặt lúa về, trục lúa, phơi lúa, giã lúa – ngày nay thì xay lúa – xay, xát, quạt, rê, sàng, sẩy.
Việt Nam ta có rất nhiều giống lúa như: thơm, tám xoan, dự, nàng hương, bắc thơm, nếp cái, nếp hoa vàng, ba giăng, mùa, gié, mộc tuyền, di hương, tạp giao, nếp dâu, ải 32, 203, V10,…
Các sản phẩm làm ra từ lúa gạo cũng rất nhiều. Ngoài cơm (tẻ), ta ăn hằng ngày còn có xôi, bún, phở, cháo. Các loại bánh làm từ lúa gạo thì nhiều vô kể (mỗi vùng miền trên đất nước ta đều có những thứ bánh đặc trưng cho vùng miền ấy, rất phong phú, nhiều kiểu loại). Ví dụ như bánh đa, bánh đúe, bánh xèo, bánh bèo, bánh cuốn, bánh chay, bánh trôi, bánh ít, bánh rán, bánh phồng, bánh giày, bánh chưng,… Các loại nước uống từ lúa gạo cũng rất nhiều, về các loại xôi có thể kể như xôi trắng, xôi vò, xôi đỗ, xôi gấc, xôi lúa (xôi ngô), xôi hành mỡ, xôi lạc, xôi cúc, xôi nghệ,…
Từ hoạt động thực tiễn của nghề trồng lúa, từ nhận thức giá trị và lòng yêu cây lúa, gắn sự sống của mình với sự tồn tại cây lúa, dân ta đã nâng cây lúa lên thành một biểu tượng cao đẹp: cây lúa chính là người. Ông cha ta và cả chúng ta thường nói đi thăm đồng, thăm lúa – lúa thật đáng cho sự chăm nom của con người, một việc mà chỉ dành cho người thân. Ông cha ta cũng nói “một nắng hai sương” để nói về mình nhưng cũng để nói về lúa. Vì thế, gặp lũ lụt, hạn hán, ta phải cứu lúa: vận mệnh cây lúa có tầm quan trọng như vận mệnh con người. Trong tục ngữ ca dao, người Việt Nam ta đã gọi “gió đông là chồng lúa chiêm, gió bắc là duyên lúa mùa”, hoặc gọi cây lúa cấy lại lần thứ hai là “tái giá”, thời cây lúa làm đòng gọi là thời con gái,… Chúng ta thật khó lòng phân biệt được như thế là nhân hoá cây lúa hay lúa hoá con người.
Trân trọng giá trị của cây lúa, nâng tầm quan trọng của vận mệnh cây lúa lên ngang tầm quan trọng của vận mệnh con người, đó chính là nét đặc sắc và tiêu biểu của văn hoá Việt Nam, của tâm hồn người Việt Nam ta.
(Trần Văn Nghi, lớp 9A, Trường THCS Chu Văn An, Thái Nguyên)
⇒ Nhận xét
Đây là một bài thuyết minh khá hay về cây lúa. Người viết đã cố gắng tìm hiểu các giống lúa, cách gieo trồng và những sản phẩm từ lúa gạo. Đoạn viết về người Việt Nam coi cây lúa như con người, “nhân hoá cây lúa hay lúa hoá con người” là một đoạn văn viết có xúc cảm, lập luận chặt chẽ, có nhiều điều thú vị. Tuy nhiên cũng có chỗ người viết đã nói quá lên. Mặc dù coi trọng hạt gạo như hạt vàng, nhưng: Khi ăn cơm làm rớt một hạt cơm, theo phản xạ, ta lập tức nhặt và đưa nó vào bát ngaỵ vì không làm như thế sẽ bị xem là một tội – điều nàỵ dường như đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người chúng ta thì có lẽ là không đúng, nếu không nói là mất vệ sinh nữa. Trong bài viết, bạn cũng chưa đề cập đến khả năng xuất khẩu gạo rất lớn của nước ta và công sức của các nhà khoa học làm cho năng suất lúa ngày càng cao. | Giới thiệu về cây lúa và văn hoá Việt Nam – Văn thuyết minh 9 | 1,289 | |
Đề bài: Giới thiệu về cây hoa mai ngày tết.
Bài làm
Trong dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc ta, nếu hoa đào là đặc trưng của mùa xuân phương Bắc thì hoa mai lại là đặc trưng của mùa xuân phương Nam.
Trong khu vườn hay trước sân mỗi nhà, thường không thể thiếu bóng dáng của cây mai. Cây hoa mai có nguồn gốc là một loại,cây hoa dại mọc trong rừng. Cây cao trên hai mét, thân gỗ, chia thành nhiều nhánh, lá nhỏ cỡ hai ngón tay, màu xanh lục. Tán tròn xòe rộng.
Cây hoa mai có nhiều loại, phổ biến nhất là mai vàng (Hoàng Mai), sau đó là mai tứ quý, rồi đến mai trắng (Bạch Mai) và mai chiếu thuỷ.Cây mai vàng dễ sống, ưa đất gò pha cát hoặc đất bãi ven sông. Có thể trồng đại trà thành vườn rộng hàng vài mẫu mà cũng có thể trồng dăm cây trong vườn, hoặc trong chậu sứ. Đất trồng mai có độ ẩm vừa phải và không úng nước. Phân bón cho mai thường là phân bò khô trộn với tro bếp, khô dầu và một ít u-rê, ka-li…
Vào khoảng rằm tháng Chạp (tức 15 tháng 12 Âm lịch) thì người trồng phải tuốt lá cho cây mai. Sau đó giảm tưới nước và bón thúc cho cây nảy nụ. Chỉ sau một tuần là từ các cành, nụ trổ ra chi chít, kết thành từng chùm có cuống rất dài. Bên cạnh mỗi chùm là một túm lá non màu tím nhạt. Trước Tết vài ngày, hoa mai lác đác nồ. Sáng mồng Một Tết, cả cây mai bừng lên một sắc vàng tươỉ, trông đẹp vô cùng Ị
Mai tứ quý nở quanh năm. Cánh hoa vàng thẫm nở giữa năm đài hoa tựa như năm cánh sen nhỏ xíu màu đỏ sậm. Khỉ cánh hoa đã rụng hết, nhuỵ hoa khô đỉ thì giữa mỗi bông xuất hiện mấy hạt nhỏ xỉnh như những hạt cườm, lúc non màu xanh, lúc gỉà chuyển thành màu tím đen lóng lánh.
Đứng ngắm vườn mai, ta thầm cảm phục sự mầu nhiệm và hào phóng của Tạo hoá: đã có mai vàng rực rỡ góp sắc, góp hựơng với muôn hoa ngày Tết, lại có mai tứ quý cần mẫn, thịnh vượng quanh năm.
Mai trắng còn có tên gọi là Bạch Mai. Lúc hoa mới nở có màu hồng phớt, sau chuyển sang trắng, mùi thơm nhẹ nhàng, phảng phất. Mai trắng hơi hiếm bởi khó trồng và được coi là loài hoa quý. Mai chiếu thuỷ cây thấp, lá nhỏ lăn tăn, hoa li tỉ mọc thành chùm màu trắng và thơm ngát, thường được trổng vào chậu hoặc trồng vào hồn non bộ làm cảnh trước sân nhà.
Xuân về trên đất phương Nam với màu nắng vàng rực rỡ hoà quyện với không khí tưng bừng náo nức của ngày Tết cổ truyền dân tộc. Nhà ai cũng muốn có một cây mai, hoặc một bình hoa mai tươi nở đúng sáng mồng Một đầu năm để lấy hên. Trong ba ngày Tốt, hoa mai chưa khoe sắc vàng rực rỡ thì gia chủ khó mà cảm thấy niềm vui trọn vẹn.
Trong những năm gần đây, nhân dân miền Bắc đón xuân bằng cả sắc hồng thắm của hoa đào và sắc vàng rực rỡ của hoa mai. Hoa mai, hoa đào hiện diện bên nhau, tô điểm thêm cho mùa xuân tràn đầy sức sống của non nước Việt Nam yêu dấu. | Giới thiệu về cây mai ngày tết | 592 | |
Đề bài: Hoa phượng luôn gắn liền với đời người học sinh. Em hãy viết bài văn giới thiệu về cây hoa phượng vĩ cho các bạn cùng biết.
Bài làm
Ở góc sân trường em có một cây phượng vĩ già, chắc đã vài chục tuổi. Người ta đặt tên cho nó là phượng vĩ có lẽ dựa vào hình dáng của lá giống như chiếc đuôi của con chim phượng hoàng trong cổ tích.
Em nghe các thầy cô nói tại rằng, cây phượng này do một phụ huynh trồng từ lúc ngôi trường mới xây xong. Cây cao tới lan can lầu một, cành xòe rộng, lá sum suê tỏa bóng mát rượi. Gốc cây to bằng một vòng tay người lớn, màu nâu, xù xì nhiều mấu. Những chiếc rễ nổi ngoằn ngoèo trên mặt đất. Lá phượng là loại lá kép, gồm nhiều lá nhỏ, mỏng, màu xanh sẫm, mọc song song hai bên cuống. Tuốt hết lá đi rồi buộc túm lại với nhau, em đã có trong tay một cây vợt bắt bướm xỉnh xinh. Mỗi sớm mai, trong tán lá xanh, tiếng chim hót ríu rít nghe thật vui tai.
Hằng năm, khi tiếng ve bắt đầu cất lên ra rả cũng là mùa hoa phượng nở. Màu đỏ nồng nàn như lửa bao phủ khắp ngọn cây, nhìn xa giống như một mâm xôi gấc khổng lồ. Lúc ấy, trông cây phượng già trẻ hẳn lại, bừng bừng sức sống. Nhìn hoa phượng nở, những cô cậu học trò náo nức nghĩ tới một mùa hè đầy ắp niềm vui.
Hoa phượng năm cánh, bốn cánh đỏ mỏng như lụa và một cánh dày lốm đốm trắng. Giữa hoa là chùm nhụy dài và cong, đầu nhụy là túi phấn hình bầu dục. Chúng em rất thích chơi trò chọi gà bằng những chiếc nhụy hoa đó.
Hết mùa, hoa phượng tàn dần. Mỗi lần có cơn gió thổi qua, những cánh phượng lả tả bay theo chiều gió. Trái phượng non màu xanh nhạt, mỏng và dài, khe khẽ đung đưa trên cành. Cây phượng già trở lại vẻ đẹp mộc mạc, thân quen của nó.
Chúng em gọi hoa phượng bằng cái tên thân yêu “hoa học trò” và coi cây phượng như người bạn thân thiết. Gốc cây là nơi tụ họp quen thuộc của chúng em để vui chơi và học tập. Hoa phượng nở cùng với tiếng ve ngân ran ran trong vòm lá báo hiệu năm học kết thúc, một mùa hè lại đến. Lòng chúng em rộn lên bao cảm xúc khi nghĩ về những điều thú vị đang chờ phía trước.
Đầu năm học mới, cây phượng lại xòe bóng mát, che chở cho những cô bé, cậu bé học sinh cổ quàng khăn đỏ, vui chơi dưới sân trường. | Giới thiệu về cây phượng vĩ | 469 | |
Đề bài: Giới thiệu về di tích lịch sử của địa phương
Bài làm
Di tích Lam Kinh thuộc huyện Thọ Xuân, cách thành phố Thanh Hoá khoảng 50km về phía tây bắc, năm 1962 được Bộ Văn hoá xếp hạng.
Sau khi Lê Thái Tổ lên ngôi Hoàng đế, đóng đô ở Đông Kinh (Thăng Long), ông đã cho xây dựng ở quê hương đất tổ Lam Sơn một thành lớn thứ hai, thường được gọi là thành Lam Kinh, còn có tên khác là Tây Kinh.
Phía bắc thành Lam Kinh dựa vào núi Dầu (Du Sơn), phía nam nhìn ra sông Chu, qua sông khoảng 900m là núi Chúa (Chủ Sơn) làm tiền án, bên phải là núi Hướng và núi Hàm Rồng chắn phía tây. Các công trình trong điện xây dựng theo trục nam – bắc, trên khu đồi gò có hình chữ “vương” Thành có chiều dài 34 lm, ngang 254m. Mặt thành phía bắc xảy hình cánh cung, tường dày hơn lm.
Mặt trước thành khoảng l00m còn dấu vết của cổng vào và móng tường kéo đến sát bờ sông Ngọc, móng tường dày l,8m. Qua tường khoảng l0m là con sông đào có tên là Sông Ngọc rộng khoảng 20m. Bắc qua sông là cây cầu cong Tiên Loan, trên cầu có lầu (thượng gia hạ kiều), qua cầu khoảng 50m thì đến một giếng cổ hình chữ nhật. Tiếp theo là một sân rộng dẫn đến Ngọ Môn. Giữa sân hai bên lối vào là hai con vật bằng đá tựa hai con nghê, đứng trên bệ hình chữ nhật, trên thân trang trí khá cầu kỳ, đầu vươn về phía trước trong tư thế canh phòng.
Tuy di vật còn lại không nhiều nhưng chúng ta vẫn có thể nhận ra đây là một công trình rất lớn của vua Lê Lợi. | Giới thiệu về di tích lịch sử của địa phương | 307 | |
Giới thiệu về gia đình – Văn miêu tả lớp 3
Hướng dẫn
Đề bài
Viết một bài văn dài từ 8 đến 10 câu giới thiệu về gia đình em.
Gợi ý
Gia đình em là gia đình liệt sĩ, gia đình văn hoá ở xóm Chùa, xã Vinh Quang. Ông nội em là liệt sĩ thời kháng chiền chông Pháp. Bà nội hiện ở với gia đình em. Gia đình em hiện nay gồm ba thế hệ: bà nội, bố mẹ em, chị Hoài và em.
Xem bài mẫu: Hãy giới thiệu và tả một số đồ đạc trên bàn học, nơi góc học tập của em.
Bà nội em năm nay đã 75 tuổi, mái tóc bạc phơ. Bà ăn không nhiều và hay bị khó ngủ, bà thích đi chùa tụng kinh niệm Phật. Bố em tên là Hoàng Văn Châu, kĩ sư nông nghiệp. Mẹ em là công nhân chăn nuôi ở Trại giống gia súc. Bố mẹ rất bận bịu, thường đi vắng nhiều ngày. Chị Hoài học lớp chín, là học sinh giỏi. Chị giỏi nội trợ, là trợ thủ đắc lực của mẹ em. Chị xinh đẹp và giỏi giang. Em tên là Chi, 8 tuổi, học sinh lớp hai. Cô giáo Hồng khen em là chăm ngoan, học giỏi. | Giới thiệu về gia đình – Văn miêu tả lớp 3 | 211 | |
Đề bài: Giới thiệu về hoa cúc
Bài làm
Người xưa coi cúc tà một trong bốn thứ cây hoa quý được ví như bốn người bạn thân (tứ hữu): tùng, cúc, trúc, mai. Cúc tượng trưng cho tâm hồn thanh cao của những người quân tử muốn xa lánh vòng danh lợi vào luồn ra cúi.
Cúc được phân loại theo dạng hoa đơn và hoa kép, ở nước ta, giống cúc vàng, cúc trắng là phổ biến. Mấy năm gần đây, các giống cúc nước ngoài nhập vào khá nhiều với đặc điểm chung là cây cao, cành cứng, bông to, nhiều cánh, nhiều màu rực rỡ: tím, hồng, cam, đỏ sẫm, đỏ đồng, xanh… Những giống này được trồng theo kĩ thuật tiên tiến, cho năng xuất rất cao. Các giống hoa màu vàng, màu trắng, loại hoa to nhiều cánh và mỗi cành cho một bông. Có loại hoa nở thành chùm, bông nhỏ hơn.
Cúc mọc thành bụi, thân mềm, thanh mảnh. Dáng hoa cúc rất đẹp, hương thơm dịu dàng và kín đáo. Lá cúc to gần bằng nửa bàn tay, xẻ thành những thuỳ sâu, mềm mại, mọc so le trên thân. Khóm cúc chỉ cao độ năm sáu tấc, mọc loà xoà tạo nên một vẻ đẹp tự nhiên. Nụ hoa xinh xinh giống như chiếc cúc áo màu xanh. Dăm ba chiếc nụ lớn đã hé nở những cánh vàng. Còn gì đẹp hơn những bông cúc vàng lộng lẫy, trên cánh đọng li ti những hạt sương đêm, đang rung rỉnh trước làn gió sớm!
Hoa cúc đẹp nhất lúc vừa nở. Cánh hoa xoè tròn, xếp thành nhiều lớp bao quanh nhuỵ. Màu hoa vàng rực nổi bật trên nền lá xanh, trông tuyệt đẹp! Nắng càng lên, sắc hoa càng lộng lẫy và hương thơm toả lan theo gió. Mấy chú ong mê mải rúc đầu vào hút mật hoa. Trên cao, cánh bướm dập dờn đùa với những bông hoa tươi xỉnh như những gương mặt ngời sáng niềm vui. Hoa cúc tươi lâu. Cứ đợt hoa này sắp tàn lại có đợt hoa khác thay thế. Vì vậy, lúc nào khóm cúc cũng tràn đầy sức sống.
Người ta trồng cúc quanh năm nhưng cúc nở đẹp nhất là vào mùa thu. Nếu ta trồng cúc để chơi thì có thể trồng trong chậu, trong bồn trước cửa nhà. Nếu trồng để bán, người ta trồng thành luống trong vườn, ngoài bãi. Cúc thích hợp với đất pha cát, xốp, tơi. Bón cúc bằng phân mùn và phân hỗn hợp là tốt nhất. Khỉ trồng, chú ý phun thuốc trừ bệnh rệp lá cho cây.
Hoa cúc không rụng cánh như hoa hồng và nhiều loại hoa khác nên hay được dùng để thờ cúng. Cúc thường được trồng để làm đẹp thêm khu vườn, ngôi nhà xinh xắn. Dùng hoa cúc để trang trí thì căn phòng sẽ sáng ra và đẹp hơn. Ta có thể cắm hoa cúc trong bình, trong giỏ hoặc trổng trong chậu đặt trên đên, trên ghế, trên ban công hay ở ngoài sân, ngoài hiên…
Các loại hoa có nhiều nét đẹp khác nhau nhưng em thích nhất hoa cúc vì dáng vẻ và sắc hương dịu hiền của nó. Hoa cúc làm cho cuộc sống chúng ta càng đẹp hơn. | Giới thiệu về hoa cúc | 554 | |
Đề bài: Giới thiệu về hoa hồng.
Bài làm
Hoa hồng xuất hiện trên trái đất từ lâu đời, có xuất xứ từ các vùng ôn đới và á nhiệt đới phía Bắc bán cầu. ở nước ta, hoa hồng được trồng khắp nơi, từ miền núi, trung du cho đến đồng bằng châu thổ. Là một loài hoa toàn bích vừa có màu sắc rực rỡ, vừa có hương thơm quý phái nên hoa hồng được nhiều người ưa chuộng, nâng niu. Vì thế, nó trở nên quen thuộc trong đời sống hằng ngày.
Nhiều giống hoa hổng có nguồn gốc địa phương, một số có nguồn gốc từ Trung Quốc và các nước châu Âu. Phổ biến là hoa hồng đỏ, cây thấp cành mềm, mọc thành từng bụi. Hoa ít cánh, màu đỏ tươi, nở quanh năm, thường được trồng trong chậu, trong bồn trước cửa nhà.
Hoa hồng quế mọc thành chùm ở đầu cành, bông nhỏ màu đỏ cờ, nhụy vàng tươi, hương thơm ngát. Các bà, các chị hay dùng hoa hồng quế để dâng cúng Phật vào dịp ngày rằm, mùng một Âm lịch.
Hồng bạch tuyền hoa màu trắng, cánh nhiều tầng nhưng mỏng và mềm, hương thơm dịu, dùng để trang trí phòng khách rất sang. Cánh hoa chưng với mật ong và trái quất làm thuốc chữa ho cho trẻ con rất tốt.
Hồng bạch văn khôi bông lớn hơn, cánh trắng phớt hồng, cây cao trung bình, có sức chịu đựng rất dẻo dai.
Các loại hoa hồng kể trên xuất hiện từ nông thôn đến thị thành, được trồng nhiều ở các công viên, thu hút sự say mê của du khách. Tuy vậy, người yêu hoa hồng không thể bỏ qua hoa hồng dại, còn gọi là tầm xuân, cây nhỏ, cành mềm, mọc lan khắp chốn. Bông hồng dại mọc thành chùm chỉ chít, xinh xắn, dễ thương vô cùng! Những bụi hồng dại nở trên tường rào, điểm xuyết nét thơ mộng, thanh bình cho ngôi nhà, góc phố thân yêu.
Trong những năm gần đây, các giống hoa hồng nhập vào nước ta được trồng theo quy trình kĩ thuật hiện đại trong các nhà kính ở Đà Lạt. Hoa hồng Hà Lan màu đỏ sậm, màu vàng cam, hoa hồng Pháp màu vàng tươi, mọc đơn từng bông, cánh dày, tươi lâu, có thể vận chuyển đi xa, rất thích hợp với nhu cầu xuất khẩu và nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều của nhân dân các thành phố lớn.
Cây hoa hồng tương đối dễ trồng, dễ thích nghi với các vùng khí hậu khác nhau. Hoa hồng trồng theo cách chiết và giâm cành. Chọn cành mập mạp, không già không non, bóc một khoanh vỏ rồi đắp bùn trộn lẫn phân mùn xung quanh, bó chặt, tưới nước hằng ngày, đợi đến khi đâm rễ thì cắt đem trồng. Một thời gian sau, khi cành chiết đã đâm nhánh thì bón thúc cho cây phát triển.
Cây hồng đang độ trổ hoa, ở đầu mỗi cành có nhiều nụ lớn bằng đốt ngón tay, được bao bọc trong một lớp đài hoa màu xanh nhạt. Những nụ chị, nụ em chi chít, âm thầm chuẩn bị đến ngày khoe sắc, khoe hương. Nụ hoa uống sương đêm và tắm ánh nắng mai, từ từ hé nở. Những cánh hoa đỏ thắm, trông đáng yêu vô cùng! Khi hoa nở khoe nhuỵ vàng tươi, toả hương thơm ngát, quyến rũ bướm ong. Những cánh hoa xinh xinh đáng yêu như đôi môi em bé.
Cây hoa hồng ra hoa quanh năm nhưng nở rộ nhất là vào mùa xuân. Sáng sớm, đứng ngắm những bông hồng mới nở, cánh đọng sương sớm long lanh, hương bay phảng phất, ta sẽ thấy lòng phơi phới một cảm xúc yêu đời. Tuổi trẻ mượn hoa hồng để bày tỏ tình yêu nồng nàn, tha thiết. Hoa hồng được tôn vinh là nữ hoàng của các loài hoa – mãi mãi làm đẹp cho cuộc sống của con người. | Giới thiệu về hoa hồng | 675 | |
Giới thiệu về hoa mai – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8
Hướng dẫn
Giới thiệu về hoa mai
Bài làm
Mai không biết từ bao giờ đã là vẻ đẹp thanh tao, tinh khiết của mùa xuân. Tôi yêu mai bởi màu sắc khiêm nhường, kín đáo của nó.
Trong thiên nhiên, hoa nào cũng đẹp, cũng đáng yêu nhưng mỗi loại hoa lại có một vẻ đẹp riêng khác nhau. Nhưng trong đó chỉ có mỗi mai vàng là người bạn thân nhất của đào mỗi độ xuân về, Tết đến. Mai rất đa dạng và phong phú, nếu dựa vào màu sắc thì mai sẽ có bốn loại chính: hoàng mai, bạch mai, thanh mai và hồng mai. Nhưng mai vàng lại là loại hoa mà tôi thích nhất. Với sắc vàng thanh tao cùng hương thơm thoang thoảng dịu nhẹ, nó đã gợi lên những cảm xúc của sự yên tĩnh, trầm lắng. Cánh hoa mềm mại, óng mượt và mướt như tơ. Mai đẹp, thuần khiết, trong sáng như một nàng thiếu nữ yêu kiều. Hoa mai thường được trồng ở những khu đất rộng, không trồng xen với các loại cây khác. Hoa mai vàng rực rỡ, nhiều cánh và lâu tàn. Một bông hoa thường có tới bốn đến năm cánh. Người ta coi đó là cành mai ngũ phúc với hi vọng năm mới đại cát, phát tài, phát lộc. Còn mai nhiều cánh hơn thì tượng trưng cho cát tường, vạn hạnh.
mai vàng thì chưa phải là Tết. Với những người xa quê hương mà thấy mai vàng nở rộ thì bâng khuâng khôn nguôi nhớ về quê cha đất tổ, nhớ cái Tết quê nhà với bánh chưng xanh bên mâm ngũ quả và cành mai, cành đào.
Không chỉ thế, mai còn là tượng trưng cho sự son sắt thuỷ chung đối với cách mạng. Bà tôi thường kể những ngày miền Nam còn bị Mĩ – ngụy kìm kẹp, những, người dân yêu nước ai cũng dán một đôi câu đối đỏ và đặt bên cạnh hoa mai vàng để tượng trưng cho lá cờ đỏ sao vàng. Hoa mai xuất hiện nhiều trong thơ ca. Tôi còn nhớ hai câu thơ của Bác viết về sự thanh tao, tinh khiết của hoa mai:
“Ngẩng đầu mặt trời mọc,
Bên suối: một nhành mai”.
Mai rất dễ trồng nhưng cũng rất khó với những người không chuyên. Mai sẽ chết nếu bị ngập úng. Nếu đủ nắng, mai sẽ dày cánh và trông rất đẹp. Đối với những người sành mai, loại mai nở đúng giữa độ xuân về sẽ được giữ lại ở trong nhà mà không chặt cành vì họ coi mai sẽ đem lại may mắn cho cả năm. Đối với tôi, khi nhìn thấy mai nở là biết xuân về và mình đã thêm một tuổi.
Bùi Thuỳ Linh
(Trường THCS Ngô Sĩ Liên)
>> Xem thêm Bài văn Giới thiệu về hoa đào tại đây.
Tags:Bài văn hay lớp 8 · Giới thiệu về hoa mai | Giới thiệu về hoa mai – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8 | 503 | |
Đề bài: Giới thiệu về hoa ngọc lan.
Bài làm
Ở góc vườn nhà em có một cây hoa ngọc lan do ông ngoại em trồng cách đây hơn bốn chục năm. Sự tích cây hoa này là một câu chuyện rất cảm động. Bà ngoại em kể rằng vì bà ao ước có được cô con gái đầu lồng xinh đẹp, dịu hiền nên bà đã chọn sẵn tên một loài hoa mà bà ưa thích để đặt cho con là Ngọc Lan. Để kỉ niệm ngày ra đời của cô con gái yêu quý, ông em đã trồng cây hoa ấy. Từ đó đến nay, cây ngọc lan gắn bó thân thiết với mấy thế hệ trong gia đình em.
Cây ngọc lan thân mộc, gốc lớn, rễ chính cắm sâu vào lòng đất, còn các rễ phụ nổi ngoằn ngoèo xung quanh giữ cho cây thêm vững chắc. Ngọn cây cao, tán xoè rộng, vượt hẳn các cây cối khác trong vườn. Lá ngọc lan to cỡ bàn tay, hơi thuôn, nổi rõ những đường gân. Những chùm lá non xanh màu cốm, nhìn mát mắt vô cùng! Chim vành khuyên khéo léo kết hàng chục chiếc tổ xinh xinh trong vòm lá. Đây quả là nơi trú ngụ tuyệt vời cho chúng quanh năm. Ngày ngày, khi mặt trời lên, tiếng chim hót ríu rít làm rộn rã cả khu vườn.
Mùa hè, cây trổ hoa. Những chùm nụ xinh xinh lớn rất nhanh và khi hoa nở hé phô mấy cánh trắng ngà thì nhuỵ hoa cũng toả hương thdm ngào ngạt, theo gió bay đi rất xa. Đặc biệt, trong không khí yên tĩnh, mát mẻ của ban đêm, hương ngọc lan càng dậy lên, thơm ngát.
Suốt mùa hoa nở, ông em và bố em làm nhiệm vụ hái hoa. ông dùng cây sào nứa thật dài, đẩu sào đan thành chiếc giỏ nhỏ đựng hoa. Đưa chiếc gỉỏ sáỉ chùm hoa và giật khỗ, từng bông hoa rơi gọn vào lòng giỏ, vẹn nguyên. Bà đã chờ sẵn dưới gốc cây vớỉ chiếc rổ lót lá chuối tươi, nhẹ nhàng lấy ra từng bổng một. Mỗi bông ngọc lan như một ngón tay nõn nà, mát rượi sương đêm. Bà không quên cài lên mái tóc em bông hoa xinh xắn. Em ngây ngất bởi làn hương ngọc lan quen thuộc đang thấm đẫm không khí trong lành buổỉ sởm mai.
Cây ngọc lan được cả nhà em yêu quý bởi nó đã chứng kiến và chia sẻ mọi buồn vui của nhiều thế hệ trong gia đình. Những lần xa nhà dăm ba ngày, em nhớ nó như nhớ một người bạn thân thiết và trong những giấc mơ hồng, em luôn cảm thấy hương hoa ngọc lan phảng phất đâu đây. | Giới thiệu về hoa ngọc lan | 465 | |
Đề bài: Giới thiệu về hoa Phong Lan.
Bài làm
Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, người sành chơi hoa đều nhất trí tôn vinh lan là vương giả chi hoa bởi vẻ đẹp lộng lẫy, mê đắm hồn người của nó.
Hoa lan có mặt khắp nơi trên thế giới, có thể sống ở nhiều vùng khí hậu khác nhau. Họ nhà lan vô cùng phong phú, gồm 750 chi và khoảng trên 2500 loài. Lan không sống ký sinh như tơ hồng, tầm gửi mà là loài cây tự dưỡng nhờ ánh sáng, không khí và hơi nước.
Lan có hai loại chính chia theo điều kiện sống. Loại sống bám vào các cây to rồi phát triển gọi là phong lan. Loại bám rễ vào hốc đá chỗ có mùn hoặc được trồng dưới đất gọi là địa lan. ồ nước ta hiện nay đã trồng được các loại lan nổi tiếng như kim đính, hạc đỉnh, mặc lan, tố tâm, hoàng vũ, phi hoàng điệp, hồ điệp, bạch lan, lan hài…
Những giống địa lan có nguồn gốc từ Thái Lan có đặc điểm là thân cứng và khá cao, ra hoa quanh năm, màu sắc rực rỡ, mỗi cành trên hai mươi nụ, nở cả tháng mới tàn, vận chuyển đi xa tương đối thuận tiện. Các giống hoa này thích hợp với vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Có thể trồng với quy mô lớn theo kĩ thuật hiện đại để phục vụ xuất khẩu. Lan hài, lan hồ điệp và các loài địa lan khác của Đà Lạt chỉ thích hợp với vùng ôn đới. Thân cây yốu, chiều cao hạn chế, nhánh nhỏ, mỗi nhánh chừng dăm bảy nụ hoa và thường tàn sau một tuần.
Hoa lan mọc thành nhánh lớn gồm nhiều nhánh nhỏ, mỗi nhánh nhỏ có vài bông, màu sắc rực rỡ, đẹp tuyệt vời! Loài hoa phong lan có hai màu tím và trắng, cánh dày, tươi lâu. Lan hoàng điệp bông nhỏ, vàng tươi, rập rờn như đàn bướm lượn. Lan hồ điệp bông tương đối lớn, màu trắng, nhị vàng cam, giống như đàn bướm đang bay. Lan hài hình dáng lựa chiếc hài gấm mũi cong, xinh xắn vô cùng Lan vũ nữ trông giống như một nghệ sĩ múa tài hoa đang say sưa trong điệu múa thần tiên… Đứng trước một vườn lan muôn hồng ngàn tía, người thưởng thức đều có chung một cảm giác lâng lâng như đang lạc vào chốn thiên đường.
Là loài hoa quý nên lan cần có một chế độ trồng trọt và chăm sóc đặc biệt, theo quy trình công nghệ kĩ thuật cao. Địa lan trồng trên đất mùn tơi xốp, phong lan trồng trong các chậu nhỏ bằng gốm hoặc gỗ, các khúc cây ngắn có chứa xơ dừa, than tàu để cho lan bám rễ. Lan được trồng bằng cách cấy mô và người trổng có thể lai tạo giữa các giống lan để có được giống mới với nhiều ưu điểm.
Xưa kia, hoa lan là loài hoa chỉ xuất hiện trong đời sống của các bậc vua chúa. Vì thế mới có câu: Vua chơi lan, quan chơi cúc. Hiện nay, hoa lan đã trở nên phổ biến, hiện diện rộng rãi trong cuộc sống hằng ngày của người dân. Có thể nói hoa lan là sự kết tụ những gì tinh tế nhất, huyền diệu nhất mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Cùng với bao loài hoa khác, hoa lan đang góp phần tô điểm cuộc sống của chúng ta ngày càng thêm tươi đẹp. | Giới thiệu về hoa Phong Lan | 603 | |
Giới thiệu về hoa đào – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8
Hướng dẫn
Giới thiệu về hoa đào
Bài làm
Mùa xuân về, trăm hoa đua nở, thi nhau khoe sắc. Mỗi loại cây đều có vẻ đẹp riêng, lôi cuốn mọi người. Tuy vậy, đối với người dân Việt Nam, nhất là cư dân đất Bắc, hoa đào đã trở thành một thứ không thể thiếu được mỗi độ Tết đến xuân về.
Cây đào không chỉ có ở Việt Nam mà còn có ở một số nước trên thế giới. Các nhà khoa học đặt tên cho đào là prunus persia, một loài cây thân gỗ nhỏ, có thể cao từ 5 đến 10 m và nổi tiếng là loại cây rụng lá sớm. Nguồn gốc chính thức của hoa đào là ở Trung Quốc. Đào thường được trồng trên các miền núi cao, thời tiết khô lạnh. Sau này, theo con đường tơ lụa nổi tiếng, đào đã theo chân những thương gia Trung Quốc sang tận vùng đất Ba Tư giàu có. Và từ Ba Tư, đào theo Địa Trung Hải sang châu Âu rồi tiếp tục lan toả sang châu Mĩ, châu Phi và cả châu Úc. Ở Việt Nam, đào đã được du nhập từ rất lâu. Cách đây vài nghìn năm, từ thời Bắc thuộc, đào đã được vận chuyển từ đất Bắc sang và từ đó, đào dần dần phát triển và sau này trở thành một loại cây nổi tiếng của miền Bắc.
Đào gồm ba loại chính: đào phai, đào bích và đào đại phát. Đào phại cành nhỏ, cánh đơn, màu hồng nhạt. Đào bích cánh kép, màu hồng đậm, hoa to và dày hơn đào phai. Tuy vậy, đào bích vẫn chưa phải là loại đào đẹp nhất. Ngôi vị độc tôn trong làng đào chỉ có thể là đào đại phát. Đào này cành lá xum xuê, cánh to và đậm, tán lá dày, nhiều lớp, rễ chùm và to. Đào đại phát có tuổi thọ lâu nhất trong các loại đào, được chăm sóc tỉ mỉ nên giá cả cũng không hề rẻ.
Như đá nói, đào là loại cây dễ trồng và rất thích hợp với khí hậu miền Bắc, tuy nhiên để đào có thể ra hoa vào đúng dịp Tết âm lịch thì không phải là việc dễ. Điều này cần đến bàn tay tỉ mỉ và kinh nghiệm dày dặn của các nghệ nhân trồng đào. Đào là loại cây ưa khô vì vậy, nếu đất trồng quá ẩm và tích nước thì đào sẽ rất dễ bị thối gốc. Nếu ta trồng đào ở nơi râm mát, thiếu ánh nắng, đất ẩm thì đào sẽ ra lá quanh năm, đến mùa xuân lại ra rất ít hoa. Vì vậy mà người nông dân thường trồng đào trên luống cao, ở nơi thoáng đãng, mát mẻ, các luống cách nhau từ 1 đến 1,5 m để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho cây. Ở làng đào Nhật Tân hay Quảng Bá, việc chăm sóc cho đào bắt đầu từ đầu tháng giêng. Trước đó, ở vụ thu hoạch năm trước, người ta đã phải bón lót cho đào bằng phân chuồng và phân NPK. Vì đào là loại cây cần nhiều nitơ nên nếu ta bón đủ đạm, đào sẽ xanh tốt và ra nhiều cành. Đến tháng năm, tháng sáu âm lịch là thời điểm đảo gốc đào. Một năm cần đảo từ hai đến ba lần để cho đào thích nghi với môi trường mới, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho đào. Để đào kịp ra hoa vào dịp tết, từ tháng mười người ta phải bón thúc cho đào. Mỗi nơi bón thúc một cách khác nhau nhưng ở Nhật Tân, người ta bón thúc bằng vỏ ốc. Chưa hết, đến tháng 11 âm lịch, người trồng phải tuốt lá cho đào để đào dồn chất dinh dưỡng cho nụ, cho hoa. Đến trung tuần tháng 11, nếu nắng nóng thì cần làm giàn che, hằng ngày tưới nước lạnh để hãm cho đào không ra hoa. Nếu trời lạnh cũng phải làm giàn che và cũng cần tưới nước ấm để đào ra hoa đúng hạn. Để có được một cành đào đẹp ngày Tết, người trồng đào không chỉ tuân theo những quy trình kĩ thuật mà còn phải dựa nhiều vào kinh nghiệm bản thân.
Nguyễn Hoài Phương
(Trường THCS Ngô Gia Tự)
>> Xem thêm Thuyết minh về cây tre tại đây.
Tags:Bài văn hay lớp 8 · Giới thiệu về hoa đào | Giới thiệu về hoa đào – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8 | 763 | |
Đề bài: Giới thiệu về hoa đào
Bài làm
Cứ vào dịp Tết Nguyên Đán, nhà nhà lại nô nức chuẩn bị bao thức vật thơm ngon, đẹp để cho dịp Tết trọng đại trong năm này. Và giữa bao nhiêu bánh trái, đồ đạc,… mới mẻ, sặc sỡ, một cành đào tươi tắn rực rỡ vẫn được chờ đợi, ngóng trông nhất.
Hoa đào là loài hoa đặc trưng cho cái Tết và mùa xuân miền Bắc Việt Nam. Hoa đào được trồng ở hầu hết các tỉnh miền Bắc: Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Nội,… Nhưng đẹp nhất, được yêu thích nhất vẫn là hoa đào Nhật Tân, Hà Nội. Gọi là hoa đào Nhật Tân vì giống hoa ấy được trồng ở làng Nhật Tân – một vùng đất ven sông Hồng của Hà Nội.
Hoa đào cũng có nhiều loại: đào bích, đào phai, đào bạch,… Trong đó, đào bích phổ biến hơn cả. Đó là loại đào mau cánh, cánh màu đỏ thắm. Đào phai thì nhạt hơn, sắc đã ngả sang hồng. Riêng đào bạch thì đúng như tên gọi, cánh hoa có màu trắng; đây là loại hoa đào rất hiếm và khó trồng.
Hoa đào ưa đất phù sa ven sông và thích hợp với khí hậu ấm áp của mùa xuân. Đó là lí do để cứ mỗi khi Tết đến, xuân về hoa đào lại tưng bừng khoe sắc. Không chỉ vậy, họa còn rất kén chọn cách chăm sóc, tưới bón. Tưới nước cho hoa đào phải tưới bằng nước sạch, nếu sử dụng nước bẩn bị ô nhiễm, đào nở hoa không đều và không đẹp. Hơn nữa, muốn hoa nở đúng dịp Tết phải biết cách tuốt lá đào vào dịp cuối năm.
Tuỳ theo tuổi đời, chủng loại và cách chăm bón của người trồng đào mà một cây đào có thể rất nhỏ hoặc rất rất lớn. Loại nhỏ nhất có thể cao vài chục xen-ti-mét, loại lớn nhất có thể cao đến vài mét. Đào là giống cây rễ cọc nên có một thân chính lớn và rất nhiều cành nhỏ vươn ra từ đây. Thân và cành đào dược bao bọc bởi một lớp vỏ màu nâu xám. Từ hàng chục cành nhỏ lại nhú ra các lá đào xanh non và dưới mỗi lá là một nụ đào nhỏ xíu có một lớp lóng phân trắng phủ ngoài. Đến đúng dịp, từ mỗi nụ nhỏ xinh xắn, một bông hoa đào đỏ thắm ngơ ngác xoè cánh nhìn cuộc sống. Hoa đào có năm cánh thắm, ở giữa là nhị hoa màu vàng tươi trông rất bắt mắt; cả cánh hoa và nhị hoa lại được nâng đỡ bởi sắc xanh non của đài hoa nên một bông hoa đào là một hình ảnh hài hoà về màu sắc.
Hoa đào chỉ nở một lần trong năm vàọ dịp đầu xuân, chính đặc điểm này cùng với màu đỏ thắm của cánh hoa được con người trân trọng. Bởi màu đỏ là màu của điềm lành, của sự may mắn. Và hoa đào nở vào dịp đầu xuân giống như lời chúc cát tường, thịnh vượng cho mọi gia đình. Cùng với màu sắc của hoa, hình dáng cây hoa cũng là một đặc điểm quan trọng. Thông thường, các cành đào vươn lên khiến cây giống như một chùm đèn lồng xoay ngược hay một li rượu vang lớn. Nhưng người trồng đào hoàn toàn có thể tạo "thế" cho cây bằng cách uốn, tỉa thân, cành. Thân chính của cây được tạo dáng sao cho uốn lượn theo hướng vươn lên giống hình ảnh con rồng bay lên trời xanh. Hoặc có thể được uốn tỉa theo hình các con vật; rất phong phú đa dạng. Muốn cây đào có được vẻ xù xì, cổ kính mà không bị cổng kềnh, cao to, người trồng đào thường chọn những cây già rồi cắt gần sát gốc để từ cái gốc cổ thụ ấy lại vươn ra những thân đào khác… Thế mới biết, nghề trồng đào – chơi đào cũng lắm công phu.
Vào ngày Tết, cây đào được đặt ở vị trí trung tâm trong phòng khách, kiêu hãnh khoe cái vẻ tươi tắn rực rỡ của mình. Nhiều gia đình còn treo lên cành cây những phong bao lì xì, những vật trang trí vô cùng bắt mắt. Mỗi lần gió xuân đi qua, những vật nhỏ xinh ấy lại quay tròn ríu rít vỗ tay mừng hoa đào đã nở.
Cây hoa đào với những đặc điểm đáng quý của mình đã được con người Việt Nam trân trọng và nâng niu như thế. Và mỗi dịp Tết đến xuân về, lòng người lại háo hức với niềm vui được chờ đón hoa đào nở, được chờ đón một năm mới an lành, hạnh phúc. | Giới thiệu về hoa đào | 809 | |
Giới thiệu về Hô-me- rơ – Tác giả của đoạn trích Uy-lít-xơ trở về
Hướng dẫn
Hô-me- rơ được coi là cha đẻ của thi ca Hi Lạp, để có thêm những thông tin hữu ích về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ mù Hô- me-rơ, các bạn hãy cùng tham khảo phần giới thiệu về Hô- me-rơ mà chúng tôi giới thiệu về tác giả Hô- me-rơdưới đây nhé!
I. Tiểu sử nhà thơ Hô-me-rơ
1. Hô-me-rơ là cha đẻ của thi ca Hi Lạp cổ đại
Hi Lạp là một trong những cái nôi đầu tiên của văn minh nhân loại và được coi là cội nguồn của châu Âu hiện đại. Văn hoá Hi Lạp phát triển rực rỡ với đặc trưng là tính chất thương nghiệp đã đặt nền móng cho kiểu loại tư duy lí tính, cho xu hướng phát triển thiên về khám phá kĩ thuật và chinh phục tự nhiên của châu Âu sau này. Đặc biệt, trong lĩnh vực văn học của Hy Lạp, không thể không nhắc đến Hô-me-rơ – nhà thơ mù, cha đẻ của thi ca Hi Lạp cổ đại, tác giả của hai bản sử thi anh hùng ca I-li-át và Ô-đi-xê.
2. Cuộc đời của Hô-me-rơ vẫn được bao phủ bởi một tầng hào quang của những huyền thoại
Tên thật của Hô-me-rơ là Mê-lê-xi-gien, ông sống vào khoảng thế kỉ XIX- XVIII TCN. Hiện vẫn chưa xác định được quê hương của ông, song theo nhiều truyền thuyết của Hy Lạp thì ông được sinh ra bên bờ sông Mê-lét.
Cho đến nay, cuộc đời của Hô-me-rơ vẫn được bao phủ bởi một tầng hào quang của những huyền thoại. Có ít nhất là 9 bản tiểu sử khác nhau về cuộc đời ông. Ngay từ cái tên Hô-me-rơ đã thể hiện điều đó. Từ Hô-me-rơ trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là người mù. Nhiều người cho rằng cái tên này xuất phát từ việc Hô-me-rơ là một nghệ sĩ hát rong mù tại Ki-ốt. Về sau đã xuất hiện các Hô-me-ri-đơ (con cháu của Hô-me-rơ) – những ca sĩ hát rong ở thành bang Ki-ốt. Các ca sĩ hát rong Hô-me-ri-đơ trở nên ngày càng đông, học thường đi khắp các thành bang Hy Lạp để hát và kể các sáng tác thần thoại, sử thi, truyền thuyết Hy Lạp.
>>Cảm nhận của em về đoạn trích Uy- lít-xơ trở về – Văn mẫu lớp 10 tuyển chọn
II. Tên tuổi của Hô-me-rơ gắn liền với 2 bộ sử thi Iliad và Ô-đi-xê
Tên tuổi Hô-me-rơ gắn liền với hai bộ sử thi đồ sộ Iliad và Ô-đi-xê. Nếu như Ilad là bản anh hùng ca chiến trận với sự vinh danh tên tuổi những người anh hùng như Asin, Hector thì Ô-đi-xê đánh dấu giai đoạn phát triển mới của Hy Lạp: mở rộng khai thác và chinh phục biển cả; chuyển từ chế độ công xã thị tộc sang chế độ chiếm hữu nô lệ, thoát khỏi tổ chức sinh hoạt cộng đồng để chuyển sang tổ chức gia đình và hôn nhân một vợ một chồng. Trong bối cảnh xã hội mới ấy, những phẩm chất được đề cao là trí tuệ, tình yêu thuỷ chung và sự gắn bó với quê hương xứ xở. Hai phẩm chất trí tuệ và tình yêu thuỷ chung đó được kết tinh trong hình tượng nhân vật Uy-lít-xơ – nhân vật trung tâm của Ô-đi-xê.
Có thể nói, với những giá trị đặc sắc trong các sáng tác văn học của mình, Hô-me-rơ rất xứng đáng là cha đẻ của nền thi ca Hy Lạp.
Theo | Giới thiệu về Hô-me- rơ – Tác giả của đoạn trích Uy-lít-xơ trở về | 603 | |
Giới thiệu về Hồ Nguyên Trừng – Tác giả của tác phẩm Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng
Hướng dẫn
Để có thêm thông tin hữu ích về tác giả Hồ Nguyên Trừng và có thêm cơ sở trong việc tìm hiểu văn bản Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng, các bạn hãy cùng tham khảo bài Giới thiệu về tác giả Hồ Nguyên Trừng mà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé!
1. Tiểu sử Hồ Nguyên Trừng
Tác giả Hồ Nguyên Trừng (1374 – 1446) là một nhà chính trị, nhà quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Ngu, ông là con trưởng của vua Hồ Quý Ly và là anh của vua Hồ Hán Trương. Dưới triều hồ, ông làm đến Tể tướng, mang lại đóng góp to lớn về khoa học quân sự và chỉ huy của quân đội Việt trong kháng chiến chống giặc Minh.
Hồ Nguyên Trừng có quê ở huyện Vĩnh Phúc, thuộc tỉnh Thanh Hóa ngày nay. Ông là một nhà kĩ thuật quân sự tài ba, theo các tài liệu lịch sử khi còn ở trong nước, do nhu cầu quân sự của nước nhà ông đã sáng chế và đứng lên chỉ tạo chế tác súng thần cơ (hỏa pháo cải tiến) và thuyền cổ lâu (loại thuyền chiến lớn có hai tầng).
Chính nhờ tài năng của ông mà sau này ông được vua Minh thu dụng dùng để lo việc chế tạo súng. Ngoài ra, Hồ Nguyên Trừng còn là người có đóng góp to lớn trong việc lo đắp những con đê lớn, đào kênh và vét lại những con sông, phục vụ cho các hoạt động về giao thông, thủy lợi và quân sự. Tiêu biểu là một số công trình kiến trúc cổ của thời Hồ như thành Tây Đô đồ sộ cũng đều do ông chỉ huy xây dựng.
2. Sự nghiệp sáng tác
Ông bắt ông sáng tác khi sống cuộc sống lưu vong ở Trung Quốc, tại đây ông đã sáng tác ra cuốn “Nam Ông mộng lục” – Chép lại những giấc mộng của Nam Ông. Tác phẩm bao gồm 31 thiên, nhưng hiện nay chỉ còn lại 28 thiên. Đây được coi là tập hồi kí chữ Hán đầu tiên và cũng là tác phẩm đầu tiên mở đường cho khuynh hướng viết về những con người thật, những sự việc thật trong văn xuôi tự sự Việt Nam. Hồ Nguyên Trừng thọ 73 tuổi, sau khi thăng chức Công Bộ Thượng thư được một năm thì mất, hiện phần mộ của ông nằm tại thôn Nam An Hà, thuộc thành phố Bắc Kinh – Trung Quốc. Tên của ông đã được đạt cho một con đường ở thị trấn Phong Điền (Thừa Thiên – Huế) và ở hai quận Hải Châu, Cẩm Lệ (Đà Nẵng). | Giới thiệu về Hồ Nguyên Trừng – Tác giả của tác phẩm Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng | 472 | |
Đề bài: Giới thiệu về loài cây gắn bó với tuổi học trò của em
Bài làm
Đối với tuổi học trò, cây phượng và cây bàng là hai loại cây đẹp nhất và có nhiều ký niệm nhất. Nhưng ở đây, em chỉ xin nói đến một loài cây mà gắn bó với em trong suốt quãng đời học sinh, đó là cây phượng.
Cây phượng quả là một loài cây biết tạo cho thế hệ học sinh như chúng em những cảm xúc, niềm say mê trong học tập. Nhìn thấy chúng, em cảm thấy như cuộc đời tươi đẹp hơn vì quãng đời học sinh còn dài, bao nhiêu tình cảm như được cây phượng chia sẻ, cảm thông và mách bảo rằng hãy cố gắng tiến bước không được lùi bước trước khó khăn thử thách.
Mỗi ngày đến trường em đều nhìn thấy cây phượng khoe những cành lá rung rinh như chào em. Những cây phượng cao hơn nóc nhà nhưng cành lá không dược sum suê như cây bàng, không che rợp dược cả một quãng đường. Thân cây xù xì, chỉ cần một vòng tay là ôm đủ. Những chiếc rễ lớn nổi gồ trên mặt đất làm nứt nẻ cả nền xi măng quanh gốc. Mỗi sớm mai tiếng chim hót líu lo trong tán lá xanh nghe thật vui tai. Khi nghe được tiếng chim hót này, một ngày mới đã bắt đầu cuộc sống nhộn nhịp và sôi động. Lá phượng là một loại lá kép, gồm nhiều lá nhỏ, mỏng, màu xanh sẫm không giống như lá cây bàng to có thể che đầu lúc mưa lúc nắng, lá mọc song song hai bên cuống, trông xa như đuôi con chim phượng. Ngày còn bé, bọn trẻ con trong xóm tuốt hết lá đi rồi buộc túm cuống lại với nhau thành một cây vợt bắt bướm, rất thú vị.
Xuân qua, hè tới, cây phượng bắt đầu trổ bông: Hoa phượng nở thành chùm lớn, có năm cánh (bốn cánh màu đỏ tươi và một cánh màu đỏ lốm đốm trắng). Nhuỵ hoa phượng thường được làm để chơi chọi gà, là một túi phấn hình bầu dục, dài và cong.
Khi tiếng ve kêu ra rả cũng là báo hiệu mùa hè đến, mùa thi sắp đến và cùng là mùa của sự chia tay. Và đây cũng là lúc hoa phượng nở nhiều nhất. Cá một màu đỏ nồng nàn như lửa bao phủ khắp ngọn cây, làm rực sáng cả một khoảng trời bừng bừng sức sống, cây phượng già như được trẻ lại.
Hết mùa hè, hoa phượng tàn dần, cánh phượng rơi lả tả bay theo chiều gió. Lúc này, quả phượng non, có màu xanh, mỏng, dài khẽ đung đưa trên cành. Cây phượng trở lại với vẻ đẹp mộc mạc, thân quen của nó.
Nhắc đến phượng thì không thể không nhắc đến những kỷ niệm của tuổi học trò "nhất quỷ, nhì ma" này. Lúc ra chơi, mọi người thường ngồi xuống ngắm cành hoa lá, dựa vào thân cây nho nhỏ và xù xì; cũng có thể ngồi học bài, đọc sách. Lúc đó cảm tưởng mọi việc trở nên yên tĩnh, cuộc sống không còn sự ồn ào náo nhiệt.
Vì cây phượng đẹp như vậy, đáng yêu như vậy nên mọi người thường dành cho cây phượng những tình cảm tốt đẹp nhất và đặt cho nó một tên gọi thân thương: hoa học trò. Sau này khi lớn lên, tuồi học sinh đã qua nhưng mỗi khi nhìn thấy cây phượng chắc chắn những kỷ niệm sẽ hiện lên, trào dâng trong lòng như chính thời điểm đó. | Giới thiệu về loài cây gắn bó với tuổi học trò của em | 614 | |
Đề bài: Giới thiệu về loài hoa của làng quê Việt Nam
Bài làm
Trong bức tranh làng quê Việt Nam, sẽ thật thiếu sót nếu thiếu đi hình ảnh đầm sen bát ngát, mênh mông.
Trong đầm gi đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Bài ca dao về hoa sen gợi biết bao niềm yêu mến và tự hào về loài hoa hương đồng gió nội. Nhắc đến hoa sen là nhắc đến một loài hoa đẹp đẽ, thánh thiện, hoàn toàn thoát tục; một loài hoa trở thành biểu tượng cho tâm hồn và nhân phẩm Việt Nam.
Hoa sen là một trong những loài hoa truyền thống lâu đời nhất ở phương Đông. Đây là loài thực vật sống dưới nước có nguồn gốc Á châu và chiếm giữ một vị trí cổ xưa trong tất cả nền văn hóa, đặc biệt là của Phật giáo. Ta biết rằng nhắc đến Phật giáo là nhắc đến hình ảnh Phật ngồi trên đài sen thơm ngát. Phật giáo đã có hơn hai nghìn năm trăm năm, vậy ắt hẳn tuổi của loài sen còn nhiều hơn thế.
Một bông hoa sen ngắm lần lượt từ ngoài vào trong ta sẽ thấy "bông trắng, nhị vàng". Cánh hoa sen rất giống với hình trái tim, đáy tim hướng lên trên. Một bông sen có nhiều lớp cánh xếp lớp vào nhau; đến khi nở cũng ngần ấy cánh hoa xoè ra khoe sắc. Cánh hoa sen có thể có màu hồng hoặc trắng. Bên trong cánh sen là nhị sen màu vàng tươi rất nổi bật. Khi sen đã già, nhị đã tàn có thể thấy rõ bát sen với những hạt sen lớn bằng đầu ngón tay. Toàn bộ bông sen được đỡ bằng một cuống hoa dài và đưa sen mọc khỏi trên mặt nước. Thân sen được cấu tạo rất đặc biệt. Bẻ đôi thân sen sẽ thấy hai nửa thân còn được nối với nhau bằng những sợi tơ dài. Chính đặc điểm đó của sen đã gợi hứng để đại thi hào Nguyễn Du viết nên câu thơ tuyệt bút: "Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng". Bởi vậy, sen còn là biểu tượng của lòng thuỷ chung son sắt. Lá sen có hình tròn, rất rộng và có màu xanh. Mặt lá có một lớp nhung trắng, khi ánh nắng chiếu vào, lớp nhung trắng ấy óng ánh li ti mờ ảo rất đẹp. Hoa sen, lá sen, thân sen được nuôi sống bởi củ sen nằm sâu dưới lòng bùn. Hoa sen mọc trong bùn, sống trong bùn nhưng vượt lên khỏi nó để hướng đến mặt trời mà không hề bị bùn làm ô nhiễm, vấy bẩn. Thật đúng như lời ca dao: "Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".
Trong bức tranh làng quê Việt Nam, sẽ thật thiếu sót nếu thiếu đi hình ảnh đầm sen bát ngát, mênh mông. Có điều ấy bởi từ Bắc vào Nam, sen có mặt khắp mọi nơi, gắn bó rất mật thiết với đời sống con người Việt Nam như cây tre, cây đa… vậy. Mùa hạ đến giữa cái nóng như thiêu như đốt, đi làm đồng hay đang trên đường đi xa, người ta chỉ ao ước đến gần một đầm sen. Hương sen thơm ngát, mát lành thoảng qua làm dịu đi cái nóng nực, oi nồng. Thêm nữa, nhìn hình ảnh đầm sen rờn sóng, lá sen lấp loáng, hoa sen lung linh, chỉ vậy thôi đã như cảnh tiên khiến người ta quên cả mệt mỏi. Vài cậu bé con tinh nghịch ngắt chiếc lá sen che lên đầu làm nón, ngất ngưởng ngồi lên lưng trâu đi về đường làng, hình ảnh ấy cũng thật nên thơ nên hoạ. Không chỉ vậy, nhắc đến hoa sen còn là nhắc đến một loài hoa quý. Ở Việt Nam, sen được xếp vào bộ tứ quý bốn mùa: lan, sen, cúc, mai và xếp vào hàng tứ quân tử” cùng tùng, trúc, cúc,mai. Hoa sen được dùng để làm đẹp cho những ngôi nhà đơn sơ, giản dị của người nông dân Việt Nam đồng thời làm sang cho những khu vườn kim chi ngọc diệp. Bên cạnh đó, sen còn là một món ăn rất ngon và bổ. Củ và ngó sen sau khi rửa sạch liền trở thành món ăn mát lành, một món đặc sản chốn đồng quê. Hạt sen cũng được dùng làm món ăn, vị thuốc công hiệu. Đặc biệt, nhị sen còn được dùng để ướp trà tạo nên thức trà sen nức tiếng. Sáng sớm, khi trời còn tinh sương, người ướp trà phải chèo thuyền ra hồ thả từng lá trà vào giữa bông sen rồi buộc nhẹ bông sen lại để chè được ngấm cái hương vị thơm lành của sen. Cầu kì hơn, có người còn đi thâu từng hạt sương đọng trên cánh hoa sen, lá sen đề làm nước hãm trà… Vậy mới biết, sen được con người yêu thích đến nhường nào!
Khi mùa hạ qua đi, sen dần tàn lụi. Sen chỉ thích hợp với môi trường có khí hậu ấm nóng bởi vậy khi thu đến đông về, sen tạm thu mình xuống lớp bùn lạnh để chờ xuân sang vươn chồi non biếc và mùa hè đến thì xoè hoa, khoe lá. Nếu ở miền Bắc, hoa. sen chỉ nở vào mùa hè, thì ở hầu khắp miền Nam quanh năm đâu đâu cũng thấy sen khoe sắc thắm. Làng quê nơi Bác sinh ra cũng có tên là Làng Sen, và có lẽ hoa sen đẹp nhất khi được ví với hình tượng Bác Hồ, người cha già dân tộc, vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta: Tháp Mười đẹp nhất bông sen Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
Không chỉ có những giá trị thực dụng, sen còn thể hiện những ý nghĩa sâu sắc giàu tính triết lí. Sen sống trong bùn nhưng vẫn vươn lên trên lầy, toả hương thơm ngát. Sen có một sức sống mạnh mẽ đến kỳ lạ và tự tính của sen là tinh khiết, thanh thoát. Nó tượng trưng cho bản tính thân thiện, phong thái tao nhã, tinh thần “vươn dậy” trong mọi nghịch cảnh của con người Việt Nam. Đặc biệt trong tư tưởng Phật giáo, hoa sen được tôn quý và chiếm vị trí rất quan trọng bởi tôn giáo này quan niệm rằng bản thân bông sen đã thể hiện tinh thần “cư trần bất nhiễm trần” – ý nghĩa ấy biểu trưng cho những giá trị đạọ đức, sự thuần khiết và thánh thiện,… Trong Phật giáo, phật tổ Thích Ca được sinh ra từ đóa sen vàng. Trong các công trình kiến trúc Phật giáo ở Việt Nam, sen luôn trở thành hình tượng nghệ thuật. Một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu lấy cảm hứng từ hoa sen là chùa Một Cột. Theo truyền thuyết, ngôi chùa này được hình thành từ một giấc mộng đài sen của một vị vua triều Lí. Chùa có hình dáng hoa sen, mọc lên từ hồ nước, chỉ với “một cột” như một cọng sen. Tại đất nước Ai Cập, bông sen cũng được tôn thờ vì sự thanh khiết và thánh thiện. Đây là loài hoa duy nhất nở được trên dòng sông Nin huyền thoại bởi dòng chảy ở đây rất mạnh, các loài hoa khác đều bị vùi dập bởi sông nước nhưng riêng hoa sen thì khác, hoa sen có thể đâm chồi, nảy lộc và đem lại vẻ đẹp không gì sánh bằng cho con sông giàu màu sắc thần bí này.
Hãng hàng không quốc gia của Việt Nam, Vietnam-airline, đã chọn hình ảnh bông sen sáu cánh làm biểu tượng của mình sau bao thời gian chắt lọc, suy nghĩ. Đó cũng là biểu tượng mà người Việt Nam muốn cho bạn bè quốc tế trên khắp năm châu được biết đến. Đóa sen hồng giờ đã được nâng lên không trung, bay đến với khắp mọi nơi trên thế giới, mang niềm vui đoàn tụ, hạnh phúc, hòa bình và đã giúp khoảng cách giữa người và người, giữa các cộng đồng trên thế giới đưực xích lại gần nhau. Trong mắt của bạn bè thế giới, hình ảnh của bông sen sẽ in đậm và động lại trong tư tưởng của mọi người về một đất nước anh hùng, bất khuất dù phải trải qua bao cuộc bể dâu, bao trận chiến tang thương, khốc liệt nhưng giờ đây vẫn vững bước đi lên hội nhập với thế giới. | Giới thiệu về loài hoa của làng quê Việt Nam | 1,462 | |
Giới thiệu về Lí Bạch – Tác giả của bài thơ Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng
Hướng dẫn
Lí Bạch là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất thời Đường, từ những đóng góp to lớn của Lí Bạch cho nền văn học Trung Hoa, ông được mệnh danh là “thi tiên”. Để có thêm những thông tin về tiểu sử cũng như sự nghiệp sáng tác của Lí Bạch, các bạn hãy tham khảo bài Giới thiệu về Lí Bạch dưới đây nhé!
1. Tiểu sử Lí Bạch
Lí Bạch là một trong những nhà thơ nổi tiếng trong nền văn học thời Thịnh Đường nói riêng và trong nền văn học Trung Hoa nói chung. Ông sinh năm 701- mất năm 762 tại Lũng Tây, Cam Túc. Ông có tên tự là Thái Bạch, hiệu là Thanh Hiên cư sĩ và một số tên hiệu khác như Tửu trung tiên, Lý Trích tiên.
Lí Bạch được người đời sau gọi với cái tên đầy ngưỡng vọng là “Thi tiên” bởi tài năng thơ ca của mình. Năm 10 tuổi, ông đã sáng tác được những bài thơ rất hay. Vì không thích sống trong cảnh “lầu son gác tía” gò bó, tù túng, chật hẹp nên dù sinh ra trong gia đình khá giả, ông vẫn rời xa gia đình để đi lên núi học đạo và sống cuộc đời ẩn sĩ vào năm 16 tuổi. Hai năm sau, ông hạ sơn và ngao du khắp các thắng cảnh tại Hà Bắc, Giang Tây, Trường An,… Năm 726, ông kết duyên cùng cháu gái Hứa tướng công tại Vân Mộng. Tuy nhiên đến năm 741, ông lại từ bỏ cuộc sống gia đình để đi ngao du tại Hồ Nam rồi Giang Tô, Sơn Đông,… đi đến đâu thì danh tiếng lan ra đến đó.
2. Sự nghiệp sáng tác
Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn, Lí Bạch đã để lại khoảng hơn 20.000 bài thơ, nhưng ông đều không xem là kiệt tác nên phần lớn những sáng tác của ông được nhân dân truyền tụng. Đến năm 872 Đề tài trong thơ ông thường là uống rượu, thưởng trăng, tình bạn, nỗi khổ của nhân dân,… Một số tác phẩm tiêu biểu trong thơ ông là “Nguyệt hạ độc chước”, “Vọng Lư Sơn bộc bố”, “Hành lộ nan”, “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng”,…
Trong thơ Lí Bạch, chúng ta thường bắt gặp giọng điệu thơ phóng khoáng bởi thơ ông không hề vướng bận những vấn đề đời tư thế sự mà thường vương vấn cảm xúc hoài cổ. Bởi vậy mà ông được xem là một trong những nhà thơ tiêu biểu của chủ nghĩa lãng mạn trong nền văn học trung đại.
Theo | Giới thiệu về Lí Bạch – Tác giả của bài thơ Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng | 462 | |
Đề bài: Em đã từng được đi, được nghe hoặc xem qua sách báo về lễ hội Chùa Hương. Hãy viết bài văn giới thiệu về lễ hội Chùa Hương này.
Bài làm
Lễ hội chùa Hương đã có từ lâu đời. Hằng năm, cứ đến mùng sáu tháng Giêng sau Tết Nguyên Đán là lễ hội bắt đầu và kéo dài gần như suốt mùa xuân. Khách hành hương từ khắp mọi miền đất nước, Việt kiều và du khách nước ngoài nườm nượp đổ về đây vừa để cầu mong một năm mới tốt lành, vừa để được đắm mình trong khung cảnh thần tiên của Hương Sơn.
Thắng cảnh Hương Sơn thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 70 km về phía Tây Nam. Đi ô tô qua thị xã Hà Đông, Vân Đình, thẳng đến bến Đục thì dừng. Bắt đầu từ đây đã là địa phận Hương Sơn. Du khách xuống đò dọc, lướt theo dòng suối Yến trong xanh chảy giữa hai bên là cánh đồng lúa mơn mởn. Trước mắt là dãy núi trập trùng tím biếc, ẩn hiện trong mây trắng, đẹp vô cùng!
Có thể nói quần thể Hương Sơn là sự kết hợp tuyệt vời giữa kì công của Tạo hóa với bàn tay khéo léo, tài hoa của con người. Các ngôi chùa được xây dựng rải rác trên núi đá vôi, thấp thoáng dưới rừng cây xanh thẳm. Từ chân núi trèo ngược lên hàng ngàn bậc đá cheo leo, gập ghềnh, khách hành hương sẽ lần lượt thắp nhang ở chùa Ngoài, rồi vào chùa Trong, lên chùa Giải Oan, chùa Thiên Trù với động Hinh Bồng, động Hương Tích… Chùa nào cũng cổ kính, uy nghi, đèn nến chập chờn giữa làn khói hương mờ mờ, ảo ảo, tạo nên không khí huyền bí, linh thiêng. Mỗi người đến chùa Hương với một tâm trạng, một ước nguyện riêng tư, nhưng điều chung nhất là cảm giác trút bỏ được những vướng bận hằng ngày của đời thường, cả thể xác lẫn tâm hồn đều lâng lâng, thoát tục.
Hương Sơn có rất nhiều hang động nhưng lớn nhất, kì thú nhất vẫn là động Hương Tích. Lên đến đây, du khách phóng tầm mắt nhìn bốn phía, mọi mệt nhọc sẽ tan biến hết, trong lòng lâng lâng niềm hứng khởi lạ thường. Trập trùng núi, trập trùng mây. Trên triền núi, dưới thung sâu, hoa mơ nở trắng như tuyết điểm, hương thơm thoang thoảng trong gió xuân. Tiếng chim ríu rít, tiếng suối róc rách văng vẳng lục gần, lúc xa. Quả là một bức tranh thiên nhiên sơn thủy hữu tình. Đứng trên cửa động, du khách khoan khoái hít căng lồng ngực không khí thơm tho, trong lành trước khi bước xuống động.
Động Hương Tích được chúa Trịnh Sâm ca ngợi là “Nam thiên đệ nhất động”. Nhìn từ bên ngoài, cửa động như miệng một con rồng khổng lồ đang há rộng. Động ăn sâu vào lòng núi. Đáy động rộng và phẳng, có thể chứa được mấy trăm người. Ánh đèn, ánh nến lung linh. Những nhũ đá, cột đá muôn hình vạn trạng, lấp lánh bảy sắc cầu vồng. Nào hòn cậu, hòn cô, nào nong tằm, né kén, nào cây bạc, cây vàng, cót thóc… Khách hành hương muốn cầu phúc, cầu lộc, cầu duyên… cứ việc thắp nhang rồi thành tâm khấn vái, biết đâu Trời sẽ thương, Phật sẽ độ cho được như ý.
Tạm biệt chùa Hương, trong tay mỗi du khách đều có vài thứ mang về làm kỉ niệm. Chiếc khánh xà cừ buộc bằng chỉ đỏ đeo vào cổ lấy may, cây gậy trúc đã theo chân suốt cuộc hành trình, chuỗi hạt bồ đề, gói trà lão mai hay bó rau sắng xanh mướt mà nhà thơ Tản Đà đã nhắc đến trong thơ ông từ những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỉ trước: Muốn ăn rau sắng Chùa Hương. Tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa… Du khách lên xe ra về mà lòng bâng khuâng, lưu luyến, mong cho chóng đến mùa lễ hội năm sau. Chẳng ai bảo ai, mọi người cùng ngoái lại nhìn để in đậm thêm trong tâm tưởng bức tranh tuyệt mĩ của phong cảnh Hương Sơn, để càng thêm yêu mến, tự hào về giang sơn gấm vóc. | Giới thiệu về lễ hội Chùa Hương – Hà Tây | 739 | |
Đề bài: Giới thiệu về lễ hội sắc hoa Đà Lạt – Sự tuyệt vời của tạo hóa.
Bài làm
Đà Lạt là lẵng hoa tự nhiên khổng lổ tuyệt đẹp mà Tạo hoá hào phóng ban tặng cho con người. Thành phố đã tổ chức Lễ hội sắc hoa Đà Lạt thật tưng bừng vào lúc 20 giờ ngày 18 – 12 – 2013, tại vườn hoa trung tâm nằm bên bờ hồ Xuân Hương.
Sau chương trình khai mạc bằng một số tiết mục biểu diễn văn nghệ của các em thiếu nhi và Đoàn ca múa nhạc Lâm Đồng, người dân Đà Lạt cùng du khách toả ra khắp các đường phố để dự hội hoa xuân. Trên các ngả đường, đặc biệt là khu trung tâm Hoà Bình, đường Lê Đại Hành, Nguyễn Thị Minh Khai, Trần Quốc Toản, HỒ Tùng Mậu, Yersin, Bà Huyện Thanh Quan, lối qua cầu ông Đạo… ít nhất có tới 15.000 người nhiệt tình hưởng ứng một lễ hội đặc biệt chưa từng có ở Việt Nam: lễ hội hoa. Giữa cái lạnh dìu dịu của đêm trăng cao nguyên, du khách sánh vai nhau trong không khí hân hoan, náo nức. Dưới ánh sáng của những ngọn đèn cao áp, các con đường bóng loáng sang trọng hẳn lên bởi hàng trăm loài hoa tươi giăng giăng khoe sắc, khoe hương.
Hoa Đà Lạt ban đêm lung linh kì ảo, ban ngày rực rỡ kiêu sa. Ở xứ sở kì diệu này, hễ trời dứt tiết khô hanh và chỉ sau vài cơn mưa là đã thấy ngoài đồi thông cây cỏ xôn xao; trong các khu vườn, những nụ hoa căng đầy nhựa sống, chờ dịp trổ bông.
Nhiều du khách thích thú, thán phục trước những dãy nhà kính trồng hoa của công ty DaLat Hastarm, điều khiển sự sinh trưởng, phát triển của hoa bằng hệ thống máy tính điện tử. Không ít người trầm trồ khen ngợi nghệ thuật trưng bày hoa trên đường phố và trong vườn Bích Câu đầu hồ Xuân Hương. Hoa tươi được kết thành hình chim, hình thú, hình những bức tranh phong cảnh, tranh tĩnh vật và những dòng chữ đẹp vô cùng! Một số người lại có cảm tình với những vườn hoa trồng tự nhiên, dân dã của nông dân ấp Thái Phiên, Phước Thành và rung động trước những loài hoa hoang dại góp phần tạo nên vẻ đẹp hiếm có của thành phố Đà Lạt. Hoa dại mọc ở khắp nơi: trong rừng thông, trên triền đồi, triền dốc, hai bên đường, trong thung lũng, lùm cây ven suối, ven thác… Hoa dại in sâu trong kí ức tuổi thơ, gợi nhớ cho những người con cao nguyên đi xa đất mẹ, gây lưu luyến cho lữ khách khi rời Đà Lạt. Từ lâu, hoa dại đã trở thành đề tài cho thơ, ca, nhạc, hoạ…
Đà Lạt là điểm tham quan du lịch đầy thú vị và hấp dẫn đang dang rộng vòng tay chào đón du khách muôn phương. Thật tiếc cho những ai chưa một lần được đặt chân đến xứ sở của hàng ngàn loài hoa và những rừng thông reo vi vút, nơi tập trung vẻ đẹp huyền diệu mà Tạo hoá đã hào phóng ban tặng cho loài người. | Giới thiệu về lễ hội sắc hoa Đà Lạt | 554 | |
Giới thiệu về Lời tiễn dặn trích Tiễn dặn người yêu của đồng bào dân tộc Thái
Hướng dẫn
Tiễn dăn người yêu là truyện thơ nổi tiếng của đồng bào dân tộc Thái. Trong chương trình Ngữ văn lớp 10 các bạn sẽ được học một đoạn trích đặc sắc của tác phẩm này, đó là “Lời tiễn dặn”. Bài học dưới đây, bài giới thiệu về đoạn trích Lời tiễn dặn dưới đây sẽ cung cấp thêm những thông tin bài học thú vị nhằm hỗ trợ tích cực cho quá trình tìm hiểu của người học. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé!
1. Giới thiệu khái quát về đoạn trích Lời tiễn dặn
Tác phẩm “Lời tiễn dặn” được trích trong truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” một truyện thơ nổi tiếng của dân tộc Thái.
Truyện thơ là những tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ, rất giàu chất trữ tình nhằm diễn tả tâm trạng và suy nghĩ của con người khi hạnh phúc lứa đôi và sự công bằng xã hội bị tước đoạt. Tác phẩm “Tiễn dặn người yêu” (Xống chụ xon xao) là câu chuyện kể về sự trắc trở trong tình yêu và hôn nhân của đôi bạn tình người Thái. Hai người tuy làm bạn với nhau từ nhỏ, lớn lên yêu thương và gắn bó với nhau nhưng không lấy được nhau vì gia cảnh bạn trai quá nghèo hèn, chị đã bị cha mẹ ép gả cho một nhà giàu.
2. Đặc sắc nội dung của Lời tiễn dặn
“Lời tiễn dặn” là đoạn trích miêu tả rất rõ cảm xúc và tâm trạng của Anh khi trên đường tiễn chị về nhà chồng, hơn thế còn phải chứng kiến cảnh chị khi ở nhà chồng, chị bị chính người chồng của mình đánh đập. Đoạn trích gồm có ba nội dung chính: phần một là miêu tả diễn biến tâm trạng của Anh khi trên đường tiễn dặn người yêu, phần hai là diễn tả tâm trạng của Chị lúc phải bước chân về nhà chồng, phần cuối thể hiện tâm trạng của Anh khi thấy cảnh sống ở nhà chồng của Chị.
Trong đoạn trích có sử dụng rất nhiều các câu thơ có sự trùng lặp điệp từ như: “vừa đi”, “chết”, “yêu nhau”, “yêu trọn”,… Ngoài ra đoạn trích còn sử dụng nhiều câu thơ với nhiểu hình ảnh so sánh tương đồng, những hình ảnh ẩn dụ liên tiếp, những câu thơ có cú pháp chung chung. Qua nghệ thuật đó tác giả dân gian muốn nhấn mạnh sự thủy chung son sắt trong tình yêu của đôi bạn trẻ. Thể hiện được một ý chí kiên cường, ước mơ đoàn tụ không gì lay chuyển được của Anh và Chị. Cách diễn đạt của tác giả dân gian đã mã hóa ngôn ngữ thành những cảm xúc trào dâng mãnh liệt trong lòng những con người chất phác, mạnh mẽ giữa thiên nhiên, núi rừng.
Theo | Giới thiệu về Lời tiễn dặn trích Tiễn dặn người yêu của đồng bào dân tộc Thái | 497 | |
Đề bài: Giới thiệu về món bánh cuốn – Một món ăn đặc sắc của dân tộc Việt Nam.
Bài làm
Làng Thanh Trì quê em có món đặc sản nổi tiếng là bánh cuốn. Bánh cuốn được làm từ bột của các loại gạo ngon như gié cánh hoặc tám xoan. Gạo vo sạch, ngâm mềm, bỏ vào cối xay, xay thật đều tay và lọc qua rây cho mịn nhuyễn.
Gà gáy canh ba, bà và mẹ em đã thức dậy nhóm lửa tráng bánh. Bột quấy đều, sồn sột như sữa đặc, đựng trong chiếc chậu sành da lươn đặt cạnh bếp lò. Trên bếp, nồi nước sôi sùng sục. Bà đổ muôi bột vào mặt chiếc khung vải hình tròn lắp khít miệng nồi, tráng thật nhanh rồi đậy vung lại. Chỉ hơn phút sau là bánh chín. Bà nhẹ nhàng gỡ bánh ra bằng chiếc que cật tre dài và mỏng. Chiếc bánh tròn xoe được đặt vào lòng mâm nhôm bôi qua chút mỡ cho đỡ dính. Bà thoa hành mỡ phi thơm rồi cuốn lại thành chiếc bánh xinh xinh.
Bánh tráng đến đâu, mẹ em xếp vào thúng đến đấy. Đáy thúng lót một lớp lá chuối tươi lau sạch. Màu trắng nõn nà của bánh nổi bật trên nền xanh của lá nom thật hài hòa, hấp dẫn. Khoảng năm giờ sáng, mọi việc đã xong xuôi. Bà và mẹ đón xe ra Hà Nội để bán bánh, quá trưa mới trở về. | Giới thiệu về món bánh cuốn | 248 | |
Giới thiệu về món bánh cốm
Là một đất nước có truyền thống lâu đời làm nghề trồng lúa nước, Việt Nam có biết bao đặc sản được sáng tạo từ hạt gạo: bánh chưng,bánh giầy, bánh đúc, bánh cuốn, bánh tráng, bánh đa… nhưng thanh tao hơn cả là bánh cốm.
Nguyên liệu làm bánh cốm là gạo nếp và đậu xanh. Loại gạo nếp làm bánh cốm là gạo nếp ngon được chế biến ra cốm, dùng làm vỏ bánh. Nhân bánh làm từ đậu xanh và dừa. Cả nhân và vỏ bánh đều được xào lẫn với đường, tạo cho bánh vị ngọt thơm ngon.
Bánh cốm có ngon hay không phụ thuộc rất nhiều vào khâu chọn nguyên liệu, cốm làm bánh phải là cốm già. Nếu non quá khi xào với đường sẽ bị nhão, không dùng làm vỏ bánh được. Nếu bánh được làm đúng vào mùa cốm người ta thường, pha thêm cốm tươi để bánh dẻo và thơm mùi cốm hơn. Trước khi xào đường cốm được ủ khoảng một giờ đồng hồ, tiếp đến là làm nhân bánh đậu xanh thường dùng là loại đậu của vùng Thái Bình, Sơn La, Bắc Ninh, vì loại đậu này, khi ngâm nước có độ nở vừa phải. Còn đậu xanh của vùng khác đặc biệt là đậu trồng ở khu vực phía Nam, khi ngâm nước nở nhiều dễ bị thiêu không thể dùng làm nhân bánh được.
Những người chuyên làm bánh cho rằng có một công thức cụ thể để để làm bánh cốm. Bí quyết để có bánh ngon, hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm và thói quen của mọi người làm bánh. Ví dụ ở khâu ủ cốm nhiều người cho rằng khi đặt tay lên bề mặt có cảm giác độ dính thì mới đem xào đường. Do vậy tùy thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu, tùy loại cốm thời gian ủ có xê dịch đôi chút. Khi xào cốm phải xác định thời gian vừa phải, không kỹ quá làm vỏ bánh bị cứng, hoặc không quá nhanh cốm chưa kịp ngắm đường, không để được lâu… khi xào nhân đậu xanh cũng vậy phải xào cho đến khi nước bắt hơi hết, chỉ còn lại đường và đậu chín quyện vào nhau mới ngoan. Bánh cốm làm xong được ướp thêm hương bưởi và một số vị thuốc bắc, vừa nhanh, vừa tiện.
Cốm trở thành một nét văn hóa của Việt Nam, cốm đã đi vào thi ca nhạc họa. Trở thành tiềm thức của những người Việt Nam. Mỗi khi nhớ về quê hương, cốm một thứ quả của lúa non, cốm thơm nòng, thơm bàn tay nhỏ. | Giới thiệu về món bánh cốm | 451 | |
Đề bài: Giới thiệu về món ăn bánh xèo miền Nam (lớp 8).
Bài làm
Mỗi vùng miền lại có một loại bánh đặc trưng cho từng vùng miền ấy. Nhắc đến miền nam là người ta nhắc đến nhiều loại bánh như là bánh tét, bánh pía Sóc Trăng, bánh bò Sài Gòn,… và đặc biệt không thể thiếu chính là bánh xèo. Và hôm nay, tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một loại bánh rất đặc biệt này: Bánh xèo.
Bánh xèo là một loại bánh rất đặc trưng của miền nam. Nó không chỉ được người dân miền nam biết đến, mà ngày nay thì nó đã được rất nhiều người dân trong nước cũng như là nước ngoài biết đến. Bánh xèo gồm có hai lớp: một lớp là lớp bột bên ngoài, một lớp là nhân bên trong. Nhân bên trong thì bao gồm rất nhiều thứ: tôm, giá đỗ, thịt, được rán vàng. Bánh xèo có thể có hai hình dạng hoặc là tròn, hoặc là bán nguyệt. Cụ thể như thế nào thì sau đây tôi sẽ giới thiệu cho các bạn rõ hơn.
Thứ nhất là cách làm bánh xèo. Bước thứ nhất, chúng ta đem đậu xanh đi ngâm vào nước nóng khoảng một tiếng, lúc đó phần vỏ xanh bên ngoài đã bong ra chúng ta đem đi đãi sạch với nước lã, để loại bỏ vỏ xanh. Sau đó, chúng ta đem đi hấp hoặc luộc đậu xanh cũng được. Nhưng lưu ý, chúng ta làm sao để khi đậu xanh chín mà vẫn giữ được nguyên hạt, không bị nát.Bước thứ hai, trong thời gian đợi đậu xanh chín, chúng ta mang giá đỗ ra rửa sạch, phần hành lá chúng ta cũng rửa sạch và cắt nhỏ. Bước thứ ba, chúng ta xử lí tôm. Phần tôm chúng ta sẽ lột vỏ, làm sạch đường chỉ. Ướp tôm với các gia vị bao gồm: muối, tiêu, tỏi băm. Chúng ta ước lượng gia vị sao cho vừa đủ, ướp tôm trong thời gian khoảng 30 phút để cho các gia vị ngấm đều vào trong tôm. Bước thứ tư, chúng ta sẽ đi chuẩn bị nguyên liệu làm vỏ bánh. Cho bột gạo, bột bắp, muối, bột nghệ và nước soda vào trộn đều. Phần hành lá chúng ta cắt nhỏ ở bước hai, chúng ta bỏ vào hỗn hợp bột này. Chúng ta bỏ hỗn hợp này vào tủ lạnh khoảng 30 phút trước khi làm. Bước thứ năm, chính là chiên bánh. Người chiên bánh xèo giống như một nghệ sĩ vậy. Bánh xèo miền nam chiên bánh bằng những chiếc chảo lớn, nên kích thước của bánh xèo sẽ lớn hơn là so với bánh xèo miền trung. Chúng ta bắt đầu cho chảo lên bếp, khi chảo nóng đều thì chúng ta cho dầu vào. Dầu nóng, bắt đầu chúng ta bỏ vài lát thịt heo, vài con tôm vào xào chín tái và thơm. Dùng vá múc canh, múc hỗn hợp bột làm ở bước bốn đổ vào chảo. Vừa đổ chúng ta vừa phải xoay đều chiếc chảo, đề cho lớp bột được tráng đều chảo và tạo thành một lớp vỏ bánh mỏng. Vỏ bánh càng mỏng thì càng giòn và ngon hơn. Chúng ta rắc một ít đậu xanh lên trên và bỏ thêm chút giá đỗ lên trên mặt bánh, sau đó đậy vung lại khoảng 2 đến 3 phút cho bánh chín. Sau đó, chúng ta dùng chiếc vá bẹp gập bánh lại làm đôi. Và lấy bánh ra. Vẫn cách chiên bánh tương tự chúng ta sẽ làm cho đến khi hết số nguyên liệu đã chuẩn bị.
Bánh xèo là một loại bánh ưa thích của người dân miền nam. Hiện nay, niềm bắc cũng đã có sự du nhập của bánh xèo và được người dân rất thích thú. Tôi cũng đã từng nếm thử bánh xèo miền nam, cái mùi vị của nó rất đậm đà. Nếu bạn đến miền nam mà không nếm thử món bánh xèo do chính người miền nam làm thì thật là đáng tiếc. Ngày nay, bánh xèo đã được các nước bạn biết đến, đặc biệt du khách nước ngoài rất thích bánh xèo Việt Nam. | Giới thiệu về món bánh xèo miền Nam | 715 | |
Đề bài: Giới thiệu về món ăn dân tộc: Phở Hà Nội.
Bài làm
Trong hàng trăm món ăn quen thuộc của Hà Nội, có lẽ phở được nhiều người ưa thích nhất. Từ phố lớn đến ngõ nhỏ, đâu đâu cũng có quán phở. Ở các quán nổi tiếng khách khá đông, đủ mọi lứa tuổi. Nhiều lúc hết chỗ, chủ quán phải kê thêm bàn ra tận vỉa hè. Quán chẳng sang trọng gì nhưng khách không nề hà điều đó, miễn là được ăn bát phở ngon.
Cách bài trí trong quán đơn giản mà hợp lí. Trên quầy, bó hành hương xanh mướt treo cạnh mấy chùm ớt đỏ tươi. Những tảng thịt bò chín đủ loại xếp liền nhau. Nào nạm, nào gầu, nào vè, nào gân… Người thái thịt thái nhanh thoăn thoắt rồi bốc vào chiếc khay nhôm lớn, mỗi thứ để riêng một chỗ cho tiện lấy. Giữa khay là chiếc đĩa thủy tinh to đựng đẩy tú hụ thịt bò tươi thái mỏng. Bánh phở tráng bằng gạo tẻ, xắt thành sợi nhỏ và dài để trong chiếc vỉ buồm, ngay tầm tay với. Sát tường, nồi nước dùng sôi lăn tăn, lớp váng mỡ vàng óng ánh, toả mùi thơm ngào ngạt, hấp dẫn vô cùng! Để nấu được một nồi nước dùng ngon, công phu lắm! Người ta phải ninh xương bò thật kĩ từ đêm hôm trước, bỏ thêm hoa hồi, gừng nướng cho thơm, nếu có sá sùng khô bỏ vào thì nước dùng càng ngọt hơn (mỗi quán phở có một bí quyết riêng).
Khách muốn ăn gì, tùy ý. Tiếng gọi, tiếng giục giã, tiếng sai bảo… ồn ào nhưng vẫn rõ ràng: “Cho bát tái đi ông chủ!”. “Nạm gầu, nước trong nhé!”. “Sao lâu thế?”. “Có ngay! Có ngay!”. Chủ quán miệng nói, tay làm, không lúc nào ngơi. Bánh phở nhúng qua nước sôi, xóc cho ráo rồi đổ vào bát, xếp thịt lên trên, chan nước dùng rồi rắc hành hoa, rau mùi thái nhỏ. Nhìn bát phở vừa làm xong thật thích mắt! Bánh trắng, thịt bò nâu, váng mỡ vàng, hành xanh, ớt đỏ, hạt tiêu đen… đủ màu, cùng toả mùi thơm ngào ngạt. Nào, chúng ta bắt đầu thưởng thức!
Trước hết, xin bạn hãy lấy thìa múc một tí nước dùng nếm thử. Nóng bỏng lưỡi, trong, ngọt đậm đà và thơm nức mũi, thế là “đạt yêu cầu” đấy! Rồi cứ thong thả vừa ăn vừa ngẫm nghĩ để tận hưởng hương vị thơm ngon, bổ dưỡng của phở. Đúng là ăn đến, đâu, ấm bụng đến đấy, mồ hôi toát ra, tâm trí lâng lâng, khoan khoái vô cùng!
Chúng ta phải cảm ơn người đã nghĩ ra, chế biến ra món ăn đặc biệt ấy! Còn gì thú bằng vào một sáng mùa thu, tiết trời lành lạnh, xao xác heo may, ta được cùng bạn bè hoặc người thân ghé vào một quán phở quen, ăn bát phở thơm ngon, nóng hổi ngay bên cạnh lò than hồng ấm sực, vừa ăn vừa trông ra Hồ Gươm mờ mờ sương khói. | Giới thiệu về món phở Hà Nội | 523 | |
Giới thiệu về món quà thời thơ ấu
Gợi ý
Mở bài: giới thiệu về món quà thời thơ ấu
Đó là món quà gì?
Ai tặng cho em?
Tặng trong dịp nào?
Tình cảm của em dành cho món quà ấy?
Thân bài:
Tả biểu cảm về món quà: hình dáng, công dụng…
Tặng quà với tình cảm như thế nào? Mong muốn điều gì qua món quà tặng.
Khi nhận quà cảm xúc của em như thế nào? Em có những thay đổi gì sau khi nhận quà…
(Người tặng quà bây giờ ở đâu? Đang làm gì?)
Em gìn giữ món quà ấy như thế nào?
Kết bài:
Nêu suy nghĩ tình cảm của em dành cho món quà cũng như người tặng.
Lời hứa của bản thân. | Giới thiệu về món quà thời thơ ấu | 116 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn giới thiệu về món ăn bánh Xèo miền nam.
Bài làm
Bánh xèo là một trong những món ăn đậm đà hương vị miền Nam. Đây là loại bánh vừa rẻ vừa ngon, được người bình dân ưa chuộng. Có thể nói bánh xèo hiện diện khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn. Giờ đây, nó đã thành món ăn quen thuộc đối với người dân thành phố và bước đầu chiếm được cảm tình của du khách nước ngoài.
Nguyên liệu chính để làm bánh xèo là bột gạo xay nhuyễn pha với nước cốt dừa và bột nghệ. Ngoài ra còn có thịt heo, tôm tươi, giá đỗ, đậu xanh hấp chín…
Các loại rau ăn kèm gồm có xà lách, cải bẹ xanh, rau thơm các loại. Nước chấm được pha bằng nước mắm ngon, ớt tỏi giã nhuyễn, chanh, đường cát trắng, bột ngọt cùng với đồ chua là củ cải, cà rốt xắt nhỏ ngâm dấm.
Bánh được tráng trong chiếc chảo sâu lòng đặt trên bếp than hồng. Người tráng múc bột đổ vào chảo nóng đã thoa dầu (hoặc mỡ), nhanh tay láng bột rộng ra sao cho ngoài mỏng, trong dày. Xếp thịt heo luộc xắt mỏng, tôm hay tép bạc, đậu xanh đãi sạch vò hấp chín và giá sống lên trên. Khi bánh chín giòn thì gập chiếc bánh làm đôi, xúc ra đĩa. Mỗi đĩa để ba, bốn cái xếp liền nhau. Đĩa bánh xèo vàng tươi, thơm phức đặt lên bàn cùng với đĩa rau sống xành mướt và chén nước chấm màu ớt đỏ tươi trông vô cùng hấp dẫn.
Giờ đây, bánh xèo gốc gác miền Tây đã có mặt ở Sài Gòn, Hà Nội. Tối tối, các quán bánh xèo đông nghịt khách. Vợ chồng, con cái, anh em, bè bạn mời nhau, đãi nhau một bữa bánh xèo. Trong không khí vui vẻ, nhộn nhịp, hương vị đặc biệt của món ăn dân dã này tưởng chừng như tăng lên gấp bội. | Giới thiệu về món ăn bánh Xèo miền nam | 341 | |
Giới thiệu về món ăn bún chả cá
“Ai về Bình Định mà xem, con gái Bình Định cầm roi đi quyền”. Bình định không chỉ nổi tiếng là cái nôi của võ cổ truyền dân tộc Việt Nam. Mà còn những món ăn đậm đà hương vị của biển cả thiên nhiên ban tặng cho con người nơi đây. Một lần đến với Quy nhơn Bình định bạn không bỏ qua món” Bún chả cá Quy nhơn” được.
Đến với vùng đất võ Bình định, thưởng thức các món ăn đặc sản như: ném chua phố huyện, bánh xèo tôm nhảy… Mà không nhắc bún chả cá Quy nhơn là một sự thiếu xót của ẩm thực nơi đây. Bún chả cá quy nhơn là món ăn phổ biển xứ biển nơi đây. Từ các quán ăn bình dân đến các nhà hàng khách sạn nổi tiếng. Bún chả cá có gì đặc biệt của xứ biển nơi đây, chỉ có bạn thưởng thức một lần thì mới biết được.
Để có được món bún chả cá ngon, thì phải bắt đầu từ khâu chế biến, lựa chọn nguyên liệu cho sao cho phù hợp và tươi ngon nhất. Chả cá được lựa chọn từ những con cá tươi ngon nhất với các loại cá đặc sản như: cá thu, cá thửng, cá mồi, cá chuồn… Nạo cá lấy thịt và ướp với các loại gia vị như: tiêu, hành, tỏi… say nhuyễn. Để cho cá thấm gia vị rồi đem đi chiên hoặc hấp theo từng khẩu vị của khách hành.
Bún chả cá Quy nhơn trở thành đặc trưng của ẩm thực Quy Nhơn, Bình Định. Bún chả cá ẩn chứa trong đó sự khéo léo, tình tế, tỉ mỉ của những nghệ nhân ẩm thực đất võ Bình Định. Và vì thế bún chả cá Quy nhơn đã để lại trong lòng du khách một hương vị quê hương không thể nào quên, khi nhắc đến mãnh đất này. | Giới thiệu về món ăn bún chả cá | 329 | |
Đề bài: Giới thiệu về món ăn bún riêu cua. Một món ăn dân dã của người Việt Nam.
Bài làm
Bún riêu cua là một trong hàng trăm món ăn dân dã được người Việt Nam từ nông thôn đến thành thị ưa chuộng bởi nó vừa hội tụ đủ ba yếu tố: ngon – bổ – rẻ, vừa có hương vị đậm đà và hình thức vô cùng hấp dẫn.
Nguyên liệu chính của món riêu cua là cua đồng. Để chuẩn bị một bữa bún riêu cua cho 5 người ăn, cần 1 kg cua đồng tươi sống, chọn cua cái thịt chắc và ngọt hơn cua đực. Cua mua về đổ vào thùng ngâm nước rồi xóc cho hết bùn. Xé cua ra, bỏ mai, yếm và nắp miệng. Rửa nhiều lần cho sạch, để thật ráo nước rồi mới cho vào cối giã nhuyễn.
Lấy khoảng hai lít nước, cho vào chỗ cua vừa giã nhuyễn, dùng tay bóp cho thịt cua rã ra hết, vớt bỏ bã, gạn lấy nước đổ vào nồi. Nêm một chút mắm muối, dùng đũa khuấy đều theo vòng tròn, sau đó để lắng chừng năm, mười phút mới bắc lên bếp, đun nhỏ lửa.
Gạch cua khêu từ mai cua để trong chén nhỏ, rửa sạch rồi cho vào một thìa nước mắm ngon. Bắc chảo lên bếp, chảo nóng cho mỡ nước vào, đợi mỡ nóng già bỏ hành khô phi cho vàng rồi đổ dầu hạt điều và gạch cua vào quấy nhẹ, tạo thành một chất sền sệt màu vàng đỏ, óng ánh và thơm phức, múc ra bát để riêng. Đổ cà chua xắt dọc vào chảo vừa chưng màu, xào cho mềm.
Các gia vị dùng để nấu riêu cua là cà chua chín, quả dọc tươi hoặc me xanh, me chín, quả tai chua… Nếu dùng quả dọc thì phải nướng cháy sém cho ra hết nhựa, ngâm vào nước lạnh để bóc vỏ và đợi khi nồi canh bắt đầu sôi, thịt cua đóng thành tảng mới bỏ quả dọc vào. Khi trái dọc chín thì vớt ra, dầm nát phần cùi, bỏ hột rồi trút cả dọc và cà chua vào nồi canh cua đang sôi lăn tăn. Đợi khi thịt cua đã đóng thành từng mảng thì lấy thìa múc gạch, rưới nhẹ lên trên và rắc hành hoa thái nhỏ. Có thể nêm chút bột ngọt cho nước canh thêm ngon.
Như thế là chúng ta đã nấu xong nồi riêu cua. Nhưng thế nào là nổi riêu cua đạt tiêu chuẩn chất lượng? Trước hết, thịt cua phải kết thành mảng trên mặt nổi chứ không rời rã. Sau đó là nước canh phải trong, có vị chua chua ngọt ngọt đậm đà tự nhiên và hương vị thì thơm phưng phức, chỉ thoáng ngửi đã thấy thèm.
Những thứ ăn kèm với riêu cua là bún tươi, nước mắm hoặc mắm tôm, chanh, ớt. Rau sống gồm rau muống chẻ, hoa chuối hoặc nõn cây chuối non thái mỏng, rau diếp thái chỉ, tía tô, kinh giới và rau húng. Cho bún vào bát to, múc thịt cua để lên trên, rắc hành hoa thái nhỏ rồi chan cho ngập nước. Tất cả đã đẩy đủ, sẵn sàng. Nào, xin mời các bạn thưởng thức! Bún riêu cua ăn nóng mới ngon và người ăn càng đông càng vui, vị ngon của bát bún riêu cũng tăng lên gấp bội. Dường như tất cả hương vị mộc mạc mà đằm thắm, ngọt ngào của đồng ruộng quê hương đang thấm vào lòng, vào dạ. | Giới thiệu về món ăn bún riêu cua | 600 | |
Đề bài: Giới thiệu về món ăn dân tộc
Bài làm
Trong những ngày xuân đến rộn ràng, lòng người náo nức mừng dịp Tết Nguyên Đán, chúng ta lại nghĩ đến những món ăn đậm đà bản sắc dân tộc. Và bánh chưng là một món ăn không thể thiếu trong số đó.
Bánh chưng từ lâu đã là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Tương truyền rằng vào đời vua Hùng Vương thứ sáu, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, nhà vua có ý định truyền ngôi cho con. Nhân dịp đầu xuân, vua Hùng họp các hoàng tử lại và yêu cầu các hoàng tử đêm dâng lên vua cha thứ mà họ cho là quí nhất để cúng lên bàn thờ tổ tiên nhân ngày đầu xuân. Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hi vọng mình được vua cha truyền ngôi. Trong khi đó, người con trai thứ mười tám của Hùng Vương là Lang Liêu có tính tình hiền hậu, sống gần gũi với người nông dân lao động nghèo khổ nên ông lo lắng không có gì quí giá để dâng lên vua cha. Một hôm, Lang Liêu nằm mộng thấy có vị thần đến chì bảo cho cách làm một loại bánh từ lúa gạo và những thức có sẵn gần gũi với đời sống hàng ngày. Tỉnh dậy, ông vô cùng mừng rỡ làm theo cách chỉ dạy của thần. Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ, đủ cả sơn hào hải vị, nem công chả phượng. Hoàng tử Lang Liêu thì chỉ có hai loại bánh được làm theo lời mộng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ bèn hỏi, thì được Lang Liêu đem chuyện thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của bánh. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn đạt tên cho bánh là bánh chưng và bánh dày rồi truyền ngôi vua lại cho Lang Liêu.
Cách thức làm bánh rất đơn giản. Cũng theo truyền thuyết kể lại thì cách làm bánh ngày nay không khác so với lời báo mộng của thần cho Lang Liêu cũng như cách làm bánh của vị lang nặng tình với nhân dân là mấy. Nguyên liệu làm bánh bao gồm gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, lá dong. Những nguyên liệu ấy vừa dễ kiếm lại vừa giàu ý nghĩa: vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Gạo nếp thường dùng là gạo thu hoạch vụ mùa. Gạo vụ này có hạt to, tròn, đều và thơm dẻo hơn các vụ khác. Cầu kì hơn còn có gia đình phải chọn bằng được nếp cái hoa vàng hay nếp nương. Đỗ xanh thường được lựa chọn công phu. Sau thu hoạch đỗ cần phơi nắng đều thật khô, sàng sẩy hết rác, bụi, hạt lép, phân loại hạt rồi đóng vào hũ, lọ bằng sành là tốt nhất. Thịt lợn nên chọn lợn ỉn được nuôi hoàn toàn bằng phương pháp thủ công (nuôi chuồng hoặc nuôi thả, thức ăn bằng cám rau tự nhiên không dùng thuốc tăng trọng hoặc thức ăn gia súc). Khi chọn thịt thì lấy thịt ba chỉ (ba dọi) vừa có mỡ vừa có nạc khiến nhân bánh có vị béo đậm đà, không khô bã. Ngoài ra còn cần các gia vị như hạt tiêu, hành củ dùng để ướp thịt làm nhân; muối dùng để trộn vào gạo, đỗ xanh và ướp thịt. Đặc biệt thịt ướp không nên dùng nước mắm vì bánh sẽ chóng bị ôi, thiu. Lá để gói bánh thường là lá cây dong tươi. Lá dong chọn lá dong rừng bánh tẻ, to bản, đều nhau, không bị rách, màu xanh mướt. Tuy nhiên, tùy theo địa phương, dân tộc, điều kiện và hoàn cảnh, lá gói bánh có thể là lá chít hoặc vừa là lá dong vừa là lá chít. Lạt buộc bánh chưng thường dùng lạt giang được làm từ ống cây giang. Lạt có thể được ngâm nước muối hay hâp cho mềm trước khi gói.
Trước khi làm bánh cần có sự chuẩn bị sơ chế nguyên liệu kĩ lưỡng. Lá dong phải rửa từng lá thật sạch hai mặt và lau thật khô. Tiếp đó dùng dao bài cắt lột bỏ bớt cuộng dọc sống lưng lá để lá bớt cứng. Gạo nếp nhặt loại bỏ hết những hạt gạo khác lẫn vào, vo sạch, ngâm gạo ngập trong nước cùng 0,3% muối trong thời gian khoảng 12-14 giờ tùy loại gạo và tùy thời tiết, sau đó vớt ra để ráo. Có thể xóc với muối sau khi ngâm gạo thay vì ngâm nước muối. Đỗ xanh làm dập vỡ thành các mảnh nhỏ, ngâm nước ấm 40° trong 2 giờ cho mềm và nở, đãi bỏ hết vỏ, vớt ra để ráo. Thịt lợn đem rủa để ráo, cắt thịt thành từng miếng cỡ từ 2.5 cm đến 3 cm sau đó ướp với hành tím xắt mỏng, muối tiêu hoặc bột ngọt để khoảng hai giờ cho thịt ngấm.
Khi làm bánh, trước hết phải xếp lạt giang một cách hợp lí rồi trải lá dong, lá chít trước. Sau đó mới trải một lớp gạo rồi đến một lớp đỗ, đặt thịt vào giữa làm nhân rồi lại trải tiếp một lớp đỗ, một lớp gạo. Sau khi quấn lá chặt lại thì dùng lạt giang buộc chắc chắn.
Theo quan niệm phổ biến hiện nay, cùng với bánh giầy, bánh chưng tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa: bánh chưng màu xanh lá cây, hình vuông tượng trưng cho Đất, bánh dầy tượng trưng cho trời. Tuy nhiên, theo một số học giả nổi tiếng, bánh chưng nguyên thủy có hình tròn và dài, giống như bánh tét, đồng thời bánh chưng và bánh giầy tương trưng cho dương vật và âm hộ trong tín ngưỡng phồn thực Việt Nam. Bánh tét, thay thế vị trí của bánh chưng vào các dịp Tết trong cộng đồng người Việt ở miền nam Việt Nam, cũng theo những học giả trên là dạng nguyên thủy của bánh chưng.
Bánh thường được làm vào các dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc Việt, cũng như ngày giổ tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 Âm lịch. Thiếu bánh chưng, bánh dầy ắt không thành cái Tết hoàn chỉnh: "Thịt mỡ bánh chưng xanh, dưa hành câu đối đỏ". Hơn thế, gói và nấu bánh chưng, ngồi canh nồi bánh chưng trên bếp lửa đã trở thành một tập quán, văn hóa sống trong các gia đình người Việt mỗi dịp tết đến xuân về.
Là loại bánh có lịch sử lâu đời nhất trong ẩm thực truyền thống Việt Nam còn được sử sách nhắc lại bánh chưng có vị trí đặc biệt trong tâm thức của cộng đồng người Việt. Sự ra đời và tục lệ làm bánh chưng ngày Tết, ngày giỗ Tổ muốn nhắc nhở con cháu về truyền thông của dân tộc đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của cây lúa và thiên nhiên trong nền văn hoá lúa nước. Theo thời gian, nền văn minh công nghiệp đang dần được hình thành song ý nghĩa và vai trò của bánh chưng thì vẫn còn nguyên vẹn. | Giới thiệu về món ăn dân tộc | 1,270 | |
Đề bài: Giới thiệu về một di sản văn hoá dân tộc có ở địa phương mình
Bài làm
Vùng Bắc Tây Nguyên là thủ phủ của các dân tộc: Gia-rai, Ba-na, Xê-đăng, Dê-triêng, Brâu, v.v. Nơi đây là một vùng đất đậm đặc truyền thống sử thi và là nơi cội nguồn của ngôi nhà rông truyền thống. Toàn tỉnh Kon Tum hiện nay đã xây dựng được 381 nhà rông chiếm tỷ lệ trên 50% số thôn, buôn, làng mà tỉnh Kon Tum phấn đấu sẽ xây dựng 100% nhà rông vào năm 2005.
Hội thảo khoa học về "Nhà rông – nhà rông văn hoá" được tổ chức đầu tiên tại thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum, đã quy tụ nhiều giới nghiên cứu khoa học xã hội ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Tây Nguyên – Trường Sơn, duyên hải miền Trung. 52 bản tham luận khoa học, trong đó 2/3 số tham luận là của các nhà nghiên cứu ở các cục, vụ, viện trực thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội và Nhân văn và Bộ Văn hoá – Thông tin (Viện Nghiên cứu vãn hoá nghệ thuật, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật và Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Ban Tôn giáo Chính phủ, Cục Bảo tồn bảo tàng, v.v…).
Hội thảo đã đặt ra nhiều vân đề lý thú, tranh luận sôi nổi giữa các nhà nghiên cứu khoa học và các nhà quản lý văn hoá để tìm ra được tiếng nói chung về việc xác định nhà rông – ngôi nhà chung truyền thông của Tây Nguyên: hình dáng, kiến trúc vật liệu xây dựng, quy cách, quy trình xây dựng hay phần hồn với những tín ngưỡng, sinh hoạt văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc của nó. Câu trả lời thứ nhất của hội thảo là: Nhà rông là một di sản văn hoá độc đáo cần được bảo tồn và phát huy. Hàng trăm ngôi nhà rông của đồng bào Tây Nguyên đã sừng sững tồn tại với thời gian.
Nhà rông – niềm tự hào của đồng bào Tây Nguyên nói riêng và cả cộng đồng dân tộc Tây Nguyên – Trường Sơn và các tỉnh duyên hải miền Trung với nét độc đáo riêng biệt, dáng vươn cao vút, bề thế, thể hiện tính vươn lên mạnh mẽ, vượt qua gian lao, vất vả để tự khẳng định mình trong quá khứ và hiện tại. Sự ra đời của ngôi nhà chung (nhà rông) từ bản chất nó gắn với những hình thái kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên.
Nhà rông Tây Nguyên được xây dựng chủ yếu băng các vật liệu của núi rừng Tây Nguyên, tranh, tre, gỗ, lồ ô, v.v. và được xây cất trên một khoảng đất rộng. Nằm ngay trong khu vực trung tâm của buôn làng, chức năng của nhà rông truyền thống là nơi thực thi các luật tục, nơi tiếp đón khách, nơi diễn ra các sự kiện trọng đại của buôn làng, nơi già làng tập hợp dân làng để bàn "việc làng, việc nước", nơi thể hiện các lễ hội – tâm linh cộng đồng và là nơi các thế hệ nghệ nhân già truyền đạt lại cho thế hệ trẻ những giá trị văn hoá truyền thông, v.v. Ngôi nhà chung ấy còn là nơi lưu giữ các hiện vật truyền thống: chiêng, trống, cồng, vũ khí, đầu các con vật hiến sinh trong các ngày lễ. Độ cao của ngôi nhà rông truyền thống có khi cao đến 18m và mái nhọn, cao vút, người thợ thủ công tài tình, khéo léo chỉ bằng vật liệu của núi rừng mà tạo nên lối kiến trúc độc đáo, bền vững với nhiều loại hoa văn phong phú mà gam màu chủ đạo là màu đen, trắng và nâu đậm.
Một câu hỏi đặt ra trong hội thảo là ngôi nhà rông văn hoá ra đời có làm mất đi những gì vốn có của nhà rông truyền thống hay không? Có nhà nghiên cứu cho rằng nhà rông có vai trò giống như ngôi đình của người Việt, song cũng có đa số ý kiến cho là khác, bởi lẽ nhà rông biểu trưng hướng về cõi dương. Đình làng của người Việt hướng về cõi âm, ở mỗi đình làng người Việt khi xây dựng mái thấp bé, phía trước và sau đình làng dựng theo thuyết phong thuỷ… Điều thống nhất trong hội thảo là đa số các nhà quản lý văn hoá và các nhà khoa học đều cho rằng, nhà rông văn hoá là một thiết chế văn hoá cơ sở hiện nay trong quá trình xây dựng đời sống văn hoá cơ sở. Tiếp thu có chọn lọc nhà rông truyền thống và đưa vào hoạt động như một điểm sinh hoạt văn hoá ở buôn làng, cho dù tên gọi là nhà rông, nhà Gươi, nhà Zơng, v.v. hay có nhà nghiên cứu gọi là "ngôi nhà sinh hoạt văn hoá mang hình dáng nhà rông", v.v. thì đại đa số vẫn thống nhất chung là chức năng tâm linh và các hoạt động "việc làng, việc nước" vẫn được tổ chức tại ngôi nhà chung cộng đồng ấy. Nhà rông chỉ có dân tộc Ba- na – Dơ-gao, người Giẻ-triêng, Xê-đăng, Gia-rai ở Bắc Tây Nguyên (tỉnh Gia Lai, tỉnh Kon Tum) mới có, ngoài ra các dân tộc khác như Ê Đê thì chỉ có nhà dài.
Nhà rông – nhà rông văn hoá là một biểu tượng văn hoá rất đáng tự hào cùa đồng bào các tỉnh Tây Nguyên – Trường Sơn và các tỉnh duyên hải miền Trung. Nhà rông là một di sản văn hoá đáng trân trọng, giữ gìn và phát huy giá trị của nó trong việc bảo tồn và giữ gìn văn hoá dân tộc. | Giới thiệu về một di sản văn hoá dân tộc có ở địa phương mình | 988 | |
Giới thiệu về một di tích cổ
Hướng dẫn
Văn miêu Xích Đằng nằm trên địa bàn xã Lam Sơn, thị xã Hưng Yên. Nơi đây có 8 tấm bia lớn, ghi tên những chiến sĩ thuộc đất Hưng Yên đỗ đạt từ thời Lê. Đến thăm Văn miếu, khách thập phương còn được thấy chuông đồng, khánh đá. Chuông đúc từ thời Gia Long. Khánh đá nặng đến gần 2 tạ, dày gần 20 centimet, tiếng kêu rất thanh.
Cứ nghĩ rằng nơi đây đã có 1 thời các thầy khóa ngồi 2 bên tả vu, hữu vu cúi rạp xuống chiếu làm văn, hay 1 buối bình văn tiếng ngâm trầm bỗng dưới sự chủ tọa cua quan đốc học, cụ cơ, cụ nghè… ta lại cảm nhận được sĩ khí, nho phong của 1 thời xa vắng giừa tiếng chuông, tiếng khánh ngân vang. Và những âm thanh ấy khi ngân lên qua lũy tre làng, hẳn đã làm rộn ràng biết bao cô khóa dệt vải trong buồng the khi mơ tưởng “võng anh đi trước, vỏng nàng theo sau”.
Cuộc hành hương về đây đã đem lại cho chúng tôi nỗi buồn man mác. Người ta đã làm nhà, làm vườn lấn chiếm cả cảnh quan, nên đến gần cổng tam quan mới nhận ra nơi thờ cụ Khổng. Hai cây gạo, đầu đường vẫn còn, nhưng hai con chó đá đã đem về nhà bảo tàng thị xã làm vật trang trí. Quả thật, Văn Miếu đã bị tận dụng hết mức. Cổng Văn Miếu lấp đầy cây ngô, cây đa, rơm rác. Sân Văn Miếu là chỗ làm gạch mộc cho các gia đình xung quanh. Gian thờ chính giữa mất hẳn mái ngoài, trơ mấy cái cột vôi. Trong nhà thì mạng nhện chăng đầy. Ba lớp học cấp I đang ê a học bài cả ở tả vu và hữu vu, mà vu nào cũng lại diễn ra cái cảnh rơm rác, cây ngô, cây đay để chất đống.
Thế Hưng (Báo Tuổi trẻ, số 7-97) | Giới thiệu về một di tích cổ | 340 | |
Đề bài: Giới thiệu về một dòng sông Việt Nam
Bài làm
Dài hơn 980 km bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) chảy qua các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình và đổ ra sông Hồng, đến sông Đà, du khách sẽ đến với các công trình thế kỷ, khám phá thời kỳ tiền sử cùa con người qua các di chỉ khảo cổ, chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ.
Từ ngàn xưa, sông Đà là con đường huyết mạch cho việc giao lưu văn hoá, buôn bán của người dân các đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc nói chung với miền xuôi. Từ Ta Bơ (chợ Bờ – Hoà Bình) đến Bến Vạn, Tạ Khoa, Tạ Bú, Tạ Hè (Sơn La) đến Mường Lay (Điện Biên) là các bến đậu của các đoàn thuyền buôn từ kinh thành Thăng Long lên xứ Ta Lếnh (vùng Tây Bắc ngày nay) vào khoảng thế kỷ XII – XVI. Ngày nay, sông Đà được biết đến với tiềm năng lớn về thuỷ điện, trên sông đã có nhà máy thuỷ điện Hoà Bình (cung cấp điện năng lớn nhất nước ta hiện nay) và trong tương lai gần trên sông Đà có nhà máy thuỷ điện mới – thuỷ điện Sơn La lớn nhất khu vực Đông Nam Á.
Đến với sông Đà du khách sẽ đến với các công trình thế kỷ, khám phá thời kỳ tiền sử của con người qua các di chỉ khảo cổ, chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ: rừng xanh, núi cao, sông rộng, thác, ghềnh; khám phá những nét văn hoá đậm đà bản sắc các dân tộc: Thái, Mường, Tày, Mông, Dao… Ngược dòng sông Đà, theo con đường của các đoàn thuyền buôn xưa: từ chợ Bờ (Hoà Bình) – bến Vạn Yên – bến Tà Hộc – bến Tạ Bú (Sơn La) – điểm khởi công công trình thuỷ điện Sơn La. Từ chợ Bờ đến Tạ Bú là vùng hồ thủy điện Hoà Bình, nơi đây có nhiều hang động đẹp có giá trị khảo cổ học: rìu đá, tước đá, hòn kê, hòn mài được phát hiện tại hang Tẳng, bản Bông Lau, xã Đá Đỏ, huyện Phù Yên; phát hiện trong một số hang tại xã Suối Bàng, huyện Mộc Châu với những cỗ quan tài bằng gỗ, hình thuyền. Theo đánh giá của các nhà khảo cổ học thì những ngôi mộ táng này có niên đại trên dưới 200 năm. Tại khu vực này không chỉ có dấu tích của thời kỳ đá đá mà còn có các hiện vật thời kỳ kim khí: rìu đồng, trống đồng Heger.
Ngược Tạ Bú khoảng 3 km, du khách sẽ đến Pá Vinh (huyện Mường La). Đây là nơi xây dựng đập thuỷ điện Sơn La để tận mắt chứng kiến sức vóc và trí lực to lớn của con người: xẻ núi, đắp đập, ngăn sông, chinh phục dòng nước lớn. Đây sẽ là công trình thuỷ điện lớn nhất khu vực Đông Nam Á, góp phần điều khiển nguồn nước cho đồng bằng Bắc Bộ, phát triển kinh tế xã hội cho vùng Tây Bắc và đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Tiếp tục ngược dòng sông Đà du khách sẽ đến với Mường Lay, đến với Điện Biên Phủ đánh dấu một mốc son chói lọi bằng vàng của lịch sử, với nhiều lễ hội độc đáo, các hoạt động văn hoá đặc sắc…
Dọc bờ sông Đà, du khách sẽ có cơ hội tìm hiểu, khám phá đời sống văn hoá của các dân tộc: Thái, Mường, Khơ Mú, Xinh Mun, Dao… Đặc biệt du khách dễ dàng bắt gặp những phiên chợ nổi trên sông. Chợ được hình thành bởi nhiều chiếc thuyền hàng ghép lại, địa điểm họp chợ nổi có thể thay đổi từ bến Khủa lên Vạn Yên đến Mường Sại, Tạ Khoa, Song Pe, Chim Vàn, Đá Đỏ, Pắc Ngà, Tà Hộc. Người dân đến chợ bằng nhiều phương tiện: ngựa thồ, xe máy và những thuyền chất đầy hàng hoá, nông sản, thổ cẩm, đồ đan lát… để trao đổi buôn bán với những người miền xuôi. Vào những phiên chợ, các chàng trai, cô gái các dân tộc vùng Tây Bắc trong những trang phục truyền thông đẹp nhất, nườm nượp trên bến, dưới thuyền, họ đến đây không chỉ mua bán mà còn muốn tìm cho mình một người bạn đời lý tưởng.
Nếu lưu lại qua đêm ở các bản làng dưới mái nhà sàn ấm cúng, du khách sẽ được sống trong những giờ phút đáng nhớ, cùng thưởng thức những đặc sản của núi rừng, ngây ngất trong men say rượu cần, hoà chung điệu xoè và nghe người già kể những huyền thoại, truyền thuyết về sông Đà. | Giới thiệu về một dòng sông Việt Nam | 813 | |
Đề bài: Giới thiệu về một hòn đảo của đất nước
Bài làm
Phú Quốc là huyện đảo ngoài khơi lớn nhất Việt Nam, nằm trong vịnh Thái Lan, thuộc địa phận tỉnh Kiên Giang. Thị trấn Dương Đông – thủ phủ huyện đảo cách thị xã Rạch Giá 120km và cách Hà Tiên 45km. Đảo chính Phú Quốc rộng 578m2, dài 51km và hơn 20 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau tạo thành một quần thể đảo xanh tươi, thơ mộng ngay giữa đại dương. Eo biển xanh Phú Quốc được ví như vịnh Hawai trữ tình nổi tiếng của Mỹ với những bờ biển đẹp vào bậc nhất Việt Nam. Bãi Trường nằm phía tây đảo kéo dài từ Dương Đông tới An Thới khoảng 20km là bãi tắm sầm uất và là bãi biển duy nhất ở Việt Nam nơi bạn có thể ngắm mặt trời lặn xuống biển. Những bãi tắm khác ở Phú Quốc như bãi Kem, bãi Đầm, bãi Cửu Cần, bãi Đại, bãi Sao… nước trong vắt, cát trắng mịn như kem, cũng đầy hấp dẫn, có thể mang lại cho du khách những giây phút vui đùa, thư giãn thoả mái nhất giữa cảnh đẹp hoang sơ, khí hậu trong lành, sự bình yên hiếm có.
Phú Quốc nổi tiếng với đặc sản nước mắm, có vị ngon thơm đặc biệt, chế biến từ cá cơm, có độ đạm cao, khác hẳn với nước mắm những vùng biển khác. Mỗi năm, hàng trăm cơ sở sản xuất nước mắm của Phú Quốc cho ra thị trường 8 triệu lít nước mắm với sự hỗ trợ cuả 2.200 tàu đánh cá, sản lượng đánh bắt trung bình 40.000 tấn/năm. Nghề làm mắm ở Phú Quốc có lịch sử phát triển trên 200 năm, người dân ở đây tuân thủ nghiêm ngặt các phương pháp thủ công truyền thông để đảm bảo chất lượng, vệ sinh của đặc sản địa phương mình. Cá cơm còn tươi nguyên được ướp muối (muối vùng Bà Rịa – Vũng Tàu hoặc Cà Ná – Phan Thiết) ngay trên thuyền. Nước mắm được lên men trong thùng gỗ, từ 12 đến 15 tháng. Mắm Phú Quốc khi đó có màu cánh gián, nhẹ mùi, không tanh, không gắt, có vị ngọt đặc biệt. Vì thế mắm Phú Quốc không chỉ được ưa chuộng ở thị trường trong nước mà đã chinh phục cả những người nội trợ ở Pháp, Bỉ, Mỹ, Thái Lan…
Người ta ví, Phú Quốc như một cô gái trẻ, căng đầy sức sống, có vẻ đẹp bí ẩn, càng khám phá càng thấy lý thú, hấp dẫn của những vạt rừng nguyên sinh, lại vừa có vẻ đẹp quyến rũ, nồng nàn của đại dương hoang sơ. Cánh rừng nguyên sinh của Phú Quốc nằm ở trung tâm hòn đào, rộng tới 37.000 ha, là nơi sinh sống của nhiều loài gỗ, chim muông quý.
Tuyến du lịch đang được ưa chuộng nhất trên đảo là Dương Đông – Hàm Ninh. Con đường chính của tuyến du lịch này được làm từ thời Pháp, uốn lượn quanh những ngọn đồi bạt gió. Du khách sẽ được thăm chùa Sư Môn, lội suối Tranh, thăm làng chài cổ Hàm Ninh, leo núi hoặc đến cơ sở nuôi cấy ngọc trai ở Nam đảo. Tuyến dụ lịch Đông Phương – An Thới cũng rất hấp dẫn khi dẫn tới một quần đảo gồm 15 hòn lớn nhỏ, năm rải rác ở phía Nam, dài khoảng 40km. Quần đảo An Thới là một địa điểm lý tưởng để tổ chức các loại hình du lịch biển, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái. Các thắng cảnh: Dương Đông — Dinh Cậu, bãi Bàn, bãi Kem, lăng Ông Hải, nhà tù Phú Quốc, cảng An Thới đều là những điểm tham quan đầy ấn tượng. Hoặc bạn sẽ đi câu mực thẻ đêm, câu cá rồi nướng ngay trên biển hay tham gia tour lặn biển, thăm vương quốc san hô hùng vĩ, nhiều màu sắc lung linh nhưng thật tinh khôi trong lòng đại dương Phú Quốc. Câu lạc bộ bơi lặn của công ty du lịch Sài Gòn – Phú Quốc sẽ giúp bạn khám phá thế giới ngầm của hòn đảo đáng yêu này. Bạn sẵn sàng chưa? | Giới thiệu về một hòn đảo của đất nước | 719 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.