text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ TAM THANH
Theo yêu cầu lịch sử đặt ra vào ngày 16 tháng 10 năm 1976 có một sự kiện trọng đại của quê hương đó là chia tách xã Kỳ Phú thành 3 xã: Tam Thăng, Tam Phú và Tam Thanh. Kể từ đó xã Tam Thanh đươc tái lập gồm: Thôn Hạ Thanh, Trung Thanh và Thượng Thanh( thuộc Tam Thanh cũ) và thôn Tỉnh Thủy tách ra từ xã Tam Thăng. Với truyền thống Cách mạng, lòng yêu nước của mình, nhân dân, cán bộ xã Tam Thanh luôn tự hào là chiếc nôi cách mạng của phủ Tam Kỳ, là hậu phương miền biển, chịu nhiều gian khổ hy sinh trong cuộc bố phòng chống giặc, bám biển giữ làng, dấy lên nhiều phong trào thi đua yêu nước, bố phòng chống giặc, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến.
Tự hào với những chiến công nổi bật, mãi mãi ghi lại một thời hào hùng trong ký ức của mỗi người dân Tam Thanh. Đó là những tấm gương kiên trung bất khuất của người con ưu tú của quê hương Tam Thanh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, trong đó có tiêu biểu như Lâm Cao Tuệ, Nguyễn Lương Truyền đã anh dũng hy sinh, vinh dự được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều tấm gương tiêu biểu khác. Rồi những người mẹ, người chị, người anh trên mặt trận đấu tranh chính trị, binh địch vận, những chiến sỹ Vệ quốc quân, giải phóng quân, du kích xã thôn, đội công tác đã anh dũng đánh địch và hy sinh trên khắp mọi miền Tổ quốc. Bên cạnh đó, chúng ta không thể nào quên những chiến công tập thể của du kích, đánh địch trên đồi ông Ổi, đánh bom diệt Mỹ trên đồi Bà Lau. Những trận đánh Mỹ, diệt ngụy, đánh xe tăng, bắn máy bay địch trên đồi bà Lan, đổng Ba Đào khiến cho quân thù khiếp sợ. Ngoài ra, còn nhiều tấm gương dũng cảm có tên và không tên trên mặt trận đấu tranh chính trị, binh địch vận, các chiến sỹ giao liên, những gia đình đã âm thầm nuôi dấu cán bộ, bộ đội trong lòng địch. Với những đóng góp đó xã Tam Thanh rất vinh dự và tự hào khi được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là sự ghi nhận của Đảng và Nhà nước về sự đóng góp cho công cuộc kháng chiến của nhân dân Tam Thanh, là sự kiện trọng đại có ý nghĩa lịch sử sâu sắc về lòng yêu nước, ý chí cách mạng kiên cường của nhân dân xã Tam Thanh.
Hiện nay, tổng diện tích tự nhiên của xã Tam Thanh là: 545,67ha. Phía Đông Giáp biển Đông; Phía Nam Giáp xã Tam Tiến –
Huyện Núi Thành
; Phía Bắc Giáp xã Bình Nam –
Huyện Thăng Bình
; Phía Tây Giáp sông Trường Giang.
Có 7 thôn đó là: Hạ Thanh1, Hạ Thanh 2, Trung Thanh, Thượng Thanh, Thanh Tân, Thanh Đông và Tỉnh Thủy.
Dân số toàn xã đến đầu năm 2017 là 6.075 nhân khẩu, tổng số 1.627 hộ gia đình, bình quân 3-4 người/ hộ. Mật độ dân số bình quân 1.114,7 người/km2.
Phải nói rằng kể từ ngày tái lập xã đến nay cán bộ, nhân dân xã Tam Thanh đã đoàn kết, chung tay xây dựng quê hương và được sự quan tâm giúp đỡ của lãnh đạo, các cấp, các ngành; cộng với tinh thần tự lực, tự cường, vượt khó đi lên của cán bộ và nhân dân xã nhà, cũng như những tấm lòng luôn hướng về quê hương của những người con quê hương, đến nay cơ sở hạ tầng của xã đã được đầu tư như : Kè bảo vệ bờ biển, kè bảo vệ sông, Điện thắp sáng để phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt, điện chiếu sáng công cộng, thảm nhựa đường trục chính của xã, các trường học được đầu tư khang trang, đạt chuẩn quốc gia, công trình nghĩa trang liệt sỹ được nâng cấp, khu trung tâm hành chính xã, Nhà đa năng phòng tránh trú bão, kết hợp Trạm y tế xã, Nhà làm việc Ban chỉ huy quân sự xã, chợ nông thôn mới, nhà văn hóa đa năng… và đã đầu tư xây dựng hơn ……km đường Bê tông nông thôn đã đáp ứng cho nhu cầu đi lại và giao lưu kinh tế của người dân, đồng thời chúng ta đang đẩy mạnh công tác xây dựng Nông thôn mới và phấn đấu đến cuối năm 2017 xã Tam Thanh này sẽ đạt tiêu chí là xã Nông thôn mới .
Nhờ đầu tư cơ sở hạ tầng đồng bộ nên bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, 100% hộ dân dùng điện thắp sáng, hệ thống trường lớp từ mầm non đến Trung học cơ sở được tầng hóa và được Tỉnh công nhận đạt chuẩn Quốc gia
,
có giải thưởng khuyến học mang tên AHLLVTND – liệt sĩ Lâm Cao Tuệ
.
Mạng lưới y tế cơ sở phục vụ kịp thời công tác phòng, khám chữa bệnh cho nhân dân, vệ sinh môi trường từng bước được cải thiện, dự án khu tái định cư khu Nam Tam Thanh, Quảng trường biển, làng Bích Họa… được thành phố đầu tư xây dựng và nhiều dự án khác đã và đang triển khai đã góp phần làm thay đổi bộ mặt của xã nhà. Từ đó, đời sống của nhân dân không ngừng được nâng lên về mọi mặt cả vật chất lẫn tinh thần, hiện nay hộ nghèo chỉ còn 2.28%. Xóa xong nhà dột nát cho hộ nghèo, tiếp tục cải thiện nhà xuống cấp cho các hộ gia đình chính sách, trên 96% hộ dân có phương tiện nghe nhìn và phương tiện đi lại, thu nhập bình quân đầu người đến nay ước đạt trên 32 triệu đồng/người/năm.
Phong trào VHVN – TDTT không ngừng được phát triển, nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao được duy trì, phục vụ nhu cầu hưởng thụ của nhân dân, nhất là những ngày lễ lớn của đất nước và trong dịp tết Nguyên đán.
Cùng với sự phát triển KT – XH , địa phương coi trọng công tác đảm bảo An ninh Chính trị – TTATXH, phối hợp với Đồn Biên phòng Tam Thanh xây dựng tuyến phòng thủ ven biển vững chắc, làm tốt chính sách hậu phương quân đội, xây dựng lực lượng dân quân ở địa phương vững mạnh, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Hệ thống chính trị của địa phương được củng cố và tăng cường, giữ vững vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, công tác quản lý của Chính quyền ngày càng đi vào nề nếp, hiệu quả. Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy và đã dấy lên nhiều phong trào thi đua yêu nước sôi nổi, phản ánh kịp thời những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
Tóm lại, từ khi hình thành và phát triển đến nay xã Tam Thanh đã đạt được những thành tựu trên tất cả các lĩnh vực: tình hình ANCT – TTATXH được đảm bảo; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao; tinh thần đoàn kết, tương thân, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng ngày càng sâu sắc, tạo nên mối quan hệ mật thiết với nhau trong cộng đồng dân cư để tiếp tục xây dựng quê hương Tam Thanh anh hùng ngày càng phát triển, văn hóa – văn minh và giàu đep./. | Giới thiệu khái quát xã Tam Thanh | 1,312 | |
Bình Sơn
là một xã thuộc
huyện Hiệp Đức
,
tỉnh Quảng Nam
Xã Bình Sơn có diện tích tự nhiên là: 22,02 Km
2
gồm 3 thôn đó là: Thôn An Tráng, Thôn An Phú, Thôn Tuy Hòa, tổng Dân số là 2.999 người, mật độ dân số 136 người/Km
2
(Năm 2017). Cơ cấu lao động gồm: Lao động ngành Nông nghiệp chiếm 70%, lao động trong ngành Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp và lao động trong ngành Thương Mại và dịch vụ chiếm 30%. | Giới thiệu khái quát xã Bình Sơn | 80 | |
Thái Lan vừa hoàn tất giai đoạn cuối cùng của dự án mở rộng đường cao tốc số 12 thuộc tuyến Hành lang kinh tế Đông-Tây, kết nối
Myanmar
,
Thái Lan
,
Lào
và
Việt Nam
. Chính phủ Thái Lan kỳ vọng việc hoàn tất tuyến đường này sẽ giúp đẩy mạnh các hoạt động kinh tế xuyên biên giới giữa các nước trong khu vực.
Đoạn đường vừa được nâng cấp trên tuyến cao tốc 12, địa phận tỉnh Kalasin, Thái Lan. (Ảnh: ThaiPost).
Theo người phát ngôn Chính phủ Thái Lan Anucha Burapachaisri, Thủ tướng Thái Lan Prayut Chan-ocha đã bày tỏ hy vọng rằng việc mở rộng tuyến đường cao tốc này sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế, đặc biệt là những người dân sống tại hai tỉnh Kalasin và Mukdahan ở khu vực đông bắc Thái Lan.
Đường cao tốc số 12 của Thái Lan là một phần trong tuyến Hành lang kinh tế Đông-Tây (EWEC), liên kết bốn quốc gia Đông Nam Á lục địa, từ Myanmar ở phía tây, qua Thái Lan, Lào rồi tới Việt Nam ở phía đông.
Trong tổng chiều dài 1.530km của EWEC, có khoảng 793km nằm trên lãnh thổ Thái Lan. Phần cao tốc trên đất Thái Lan bắt đầu từ cây cầu Hữu nghị Thái-Myamar số 2 ở quận Mae Sot, tỉnh Tak, kết nối qua các tỉnh Sukhothai, Phitsanulok, Phetchabun, Chaiyaphum, Khon Kaen, Kalasin rồi tới Mukdahan, nơi kết nối với Lào qua cây cầu Hữu nghị Thái-Lào.
Với khoản đầu tư 5,8 tỷ bạt (166 triệu USD) từ Chính phủ Thái Lan, đoạn đường dài 115,6km nằm giữa hai tỉnh Kalasin và Mukdahan hiện được nâng cấp thành đường cao tốc bốn làn xe.
Ông Anucha khẳng định, việc hoàn thành tuyến cao tốc này sẽ mang lại nhiều lợi ích về hậu cần, thương mại và du lịch, kết nối hiệu quả khu vực bờ biển Andaman với Biển Đông. Tuyến cao tốc số 12 cũng được kỳ vọng sẽ giúp thúc đẩy du lịch khu vực cũng như cải thiện chất lượng sống của người dân ở khu vực dọc biên giới.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính Thái Lan, tuyến Hành lang kinh tế Đông-Tây sẽ giúp tăng thương mại xuyên biên giới lên ít nhất 50%. Một báo cáo của Văn phòng Ủy ban Phát triển kinh tế-xã hội quốc gia Thái Lan cũng nhận định, tuyến cao tốc sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các khu vực kinh tế đặc biệt ở tỉnh Mukdahan.
Ông Anucha cho biết, tại các khu vực kinh tế đặc biệt ở tỉnh này hiện đang có khoảng 868 doanh nghiệp mới với tổng giá trị đầu tư lên tới 1,6 nghìn tỷ bạt (gần 46 tỷ USD). | Thái Lan hoàn tất tuyến đường kết nối 4 nước Đông Nam Á | 452 | |
Sáng 6/6, tại buổi tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, Chủ tịch Thượng viện Gerard Larcher mong muốn
Việt Nam
và
Pháp
tăng cường hợp tác liên nghị viện giữa hai nước, phối hợp chặt chẽ và triển khai hiệu quả các dự án kinh tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực tiềm năng như chuyển đổi xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Chủ tịch Thượng viện Pháp Gerard Larcher tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn. (Ảnh: Khải Hoàn).
Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc tại Cộng hòa Pháp, ngày 6/6, tại Thủ đô Paris, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn đã tiếp kiến Chủ tịch Thượng viện Pháp Gerard Larcher, gặp và làm việc với Phó Chủ tịch Thượng viện, nguyên Bí thư toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp Pierre Laurent.
Trong trao đổi với lãnh đạo Thượng viện Pháp, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn cảm ơn lãnh đạo Thượng viện Pháp đã dành thời gian tiếp đoàn và khẳng định Việt Nam luôn coi trọng phát triển quan hệ toàn diện với Pháp, từ các kênh hợp tác Chính phủ đến hợp tác giữa Quốc hội, hợp tác Đảng.
Lãnh đạo Thượng viện Pháp tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn.
Nhân kỷ niệm 50 năm quan hệ ngoại giao và 10 năm quan hệ Đối tác chiến lược, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn đề nghị hai nước tiếp tục thúc đẩy hơn nữa giao lưu hữu nghị và hợp tác cùng có lợi trên tất cả các lĩnh vực.
Nhân dịp này, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn đã chuyển lời thăm hỏi của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đến Chủ tịch Thượng viện Pháp Gerard Larcher và nhấn mạnh những kết quả tốt đẹp trong chuyến thăm Việt Nam vừa qua của Chủ tịch Thượng viện Pháp.
Lãnh đạo Thượng viện Pháp hoan nghênh hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 10 năm quan hệ Đối tác chiến lược; nhấn mạnh sự gắn bó giữa nhân dân hai nước và tin tưởng chuyến thăm Pháp lần này của Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn sẽ góp phần đưa quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam-Pháp đi vào chiều sâu, thiết thực.
Chủ tịch Thượng viện Gerard Larcher đánh giá cao thành công Hội nghị lần thứ 12 hợp tác giữa các địa phương Việt Nam-Pháp vừa qua tại Việt Nam, là kênh hợp tác quan trọng nhằm tăng cường giao lưu nhân dân, văn hóa giữa hai nước.
Chủ tịch Thượng viện Gerard Larcher mong muốn hai bên phối hợp chặt chẽ, triển khai hiệu quả các dự án kinh tế và mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực tiềm năng như chuyển đổi xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Ông Gerard Larcher cho biết, Pháp ghi nhận đề xuất của Việt Nam về việc tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam làm việc, học tập và sinh sống tại Pháp, góp phần phát huy vai trò cầu nối quan hệ hai nước.
Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác liên nghị viện giữa hai nước, nhất là thông qua việc trao đổi đoàn các cấp, sự phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn liên nghị viện khu vực và quốc tế, thúc đẩy hoạt động của Nhóm nghị sĩ hữu nghị hai nước…
Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác kinh tế Việt Nam-Pháp, trụ cột quan trọng trong quan hệ Đối tác chiến lược và còn nhiều tiềm năng hợp tác; tiếp tục triển khai đầy đủ, hiệu quả Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA).
Lãnh đạo Thượng viện Pháp ghi nhận tích cực đề nghị của Việt Nam về việc sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-EU (EVIPA) nhằm tối đa hóa tiềm năng hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực đầu tư; thúc đẩy Ủy ban châu Âu (EC) sớm gỡ bỏ cảnh cáo thẻ vàng IUU của EC đối với hàng thủy hải sản Việt Nam.
Hai bên nhất trí phối hợp, tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Pháp trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế…
Hai bên cũng nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn đa phương, đặc biệt tại Liên hợp quốc, ASEM, Cộng đồng Pháp ngữ và thúc đẩy hợp tác ASEAN-EU; nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thắt chặt hơn nữa khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam và Pháp ứng phó với các vấn đề khu vực và toàn cầu, đặc biệt trong việc bảo đảm tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không, duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có
Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982
. | Mở rộng hợp tác Việt Nam-Pháp | 831 | |
Thu hoạch lúa xuân tại xã Phú Kim (huyện Thạch Thất). Ảnh: Nguyễn Quang.
Đến thời điểm này, các địa phương trên địa bàn
Hà Nội
đã cơ bản thu hoạch xong lúa vụ xuân 2023. Với năng suất lên tới hơn 62 tạ/ha, có thể khẳng định, vụ xuân 2023, Hà Nội giành thắng lợi lớn. Cùng với đó, khẩu hiệu ‘thu hoạch đến đâu, làm đất, gieo cấy đến đó’ tiếp tục được người dân thực hiện để bảo đảm gieo trồng vụ lúa mùa 2023 theo đúng kế hoạch. Điều này đã và đang hứa hẹn cho một mùa vàng bội thu.
Vụ xuân năm nay được đánh giá là vụ sản xuất thắng lợi toàn diện, được mùa lúa, chi phí đầu tư lại giảm.
Theo ông Nguyễn Văn Sang ở xã Cao Dương (
huyện Thanh Oai
), vụ xuân 2023, lúa ít bị sâu bệnh, nông dân không sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật, giảm chi phí đầu vào, năng suất lại cao, đạt hơn 62 tạ/ha.
Vụ xuân năm 2023, huyện Ba Vì gieo trồng 5.980,8ha, với các giống lúa: TBR225 – 3.775ha; VNR20 – 365ha; Thiên ưu 8 – 504,4ha; JO2, QR5 – 816,8ha, năng suất đạt khá cao (61,8 tạ/ha). Trưởng phòng Kinh tế
huyện Ba Vì
Nguyễn Giáp Đông thông tin, vụ lúa xuân 2023 thành công là do nông dân các địa phương thực hiện nghiêm việc chọn giống lúa ngắn ngày và tuân thủ lịch xuống giống của ngành Nông nghiệp khuyến cáo. Đối với các diện tích lúa nhỏ lẻ, không thực hiện được cơ giới hóa trong gieo trồng và thu hoạch, bà con nông dân chuyển dần sang trồng các cây rau màu khác.
Còn tại
huyện Chương Mỹ
, vụ xuân năm nay huyện đã gieo cấy 8.643,3ha, chủ yếu bằng các giống lúa thuần. Nhìn chung, vụ xuân 2023 nông dân trên địa bàn huyện chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh tốt, thời tiết thuận lợi, nên lúa trổ bông tốt, cho năng suất rất cao, lên tới 65 tạ/ha (tăng 0,5 tạ/ha so năm 2022). Tiêu biểu là các xã: Hoàng Diệu, Đồng Phú, Thủy Xuân Tiên, Quảng Bị, thị trấn Xuân Mai…
Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội Lưu Thị Hằng đánh giá, vụ xuân 2023, toàn thành phố gieo trồng 82.354ha lúa, đạt 101,5% kế hoạch. Cơ cấu giống lúa tiếp tục chuyển dịch theo hướng mở rộng diện tích lúa chất lượng cao, chiếm 68,2%; nhóm giống lúa thuần chiếm 27,4%; giống lúa lai chiếm 4,4%. Đến nay, các địa phương cơ bản đã thu hoạch xong lúa vụ xuân, năng suất ước đạt 62,1 tạ/ha (trong khi năng suất lúa vụ xuân năm 2022 là 61,66 tạ/ha).
“Hà Nội có nhiều hoạt động hỗ trợ cho sản xuất lúa, nên các địa phương đã tích cực mở rộng diện tích sản xuất lúa chất lượng cao, như: Hỗ trợ 50% kinh phí mua giống TBR225, Thiên ưu cho 2.000ha của huyện Ba Vì; hỗ trợ 50% giống, 50% kinh phí mua khay và giá thể làm mạ cho mô hình mạ khay máy cấy tại huyện Ứng Hòa. Ngoài ra, thành phố còn hỗ trợ cho các địa phương công tác diệt chuột của tất cả diện tích gieo trồng…”, bà Lưu Thị Hằng cho biết thêm.
Sau khi thu hoạch lúa xuân, nông dân các địa phương đang tập trung làm đất, gieo mạ, chuẩn bị các điều kiện, sẵn sàng cho một vụ mùa bội thu.
Làm đất chuẩn bị gieo cấy vụ lúa mùa tại xã Đốc Tín (huyện Mỹ Đức). Ảnh: Ánh Ngọc.
Theo Phó Chủ tịch UBND huyện Thạch Thất Nguyễn Kim Loan, vụ mùa 2023,
huyện Thạch Thất
phấn đấu gieo trồng 4.341,7ha, trong đó diện tích lúa là 3.444,3ha. Huyện đã yêu cầu các xã, thị trấn đẩy mạnh tuyên truyền để nông dân thực hiện nghiêm túc kế hoạch sản xuất vụ mùa, vụ đông 2023-2024, nhất là về thời vụ, cơ cấu giống; chủ động áp dụng khoa học, kỹ thuật vào gieo cấy, mở rộng diện tích gieo mạ khay, cấy lúa bằng máy hoặc gieo sạ, bảo đảm thời vụ tốt nhất cho sản xuất. Cùng với đó, thường xuyên kiểm tra, duy tu, khai thác tối đa năng lực của hệ thống công trình thủy lợi hiện có, chỉ đạo nạo vét kênh mương nội đồng, bảo đảm tưới tiêu, phòng, chống ngập úng cho lúa mùa.
Còn theo Trưởng phòng Kinh tế huyện Ứng Hòa Phạm Văn Hoạch, để vụ mùa 2023 giành thắng lợi, huyện yêu cầu các xã bảo đảm cung ứng đủ giống lúa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tập huấn quy trình thâm canh cho nông dân. Các xã cũng cần tăng cường công tác kiểm tra, bám sát đồng ruộng; đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn bà con cách chăm sóc và phòng, chống nóng cho mạ.
Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Nguyễn Mạnh Phương cho biết, vụ mùa năm nay, toàn thành phố phấn đấu gieo trồng khoảng 92.283ha, trong đó diện tích cấy lúa là 72.382ha. Trong số diện tích cấy lúa, thì nhóm giống lúa chất lượng cao chiếm 60%; nhóm giống lúa thuần, có năng suất cao chiếm 35-37%; nhóm giống lúa lai chiếm 3-5%. Theo đó, gieo mạ trà cực sớm và sớm từ ngày 1 đến 10-6, cấy từ ngày 12 đến 20-6; trà chính vụ gieo mạ từ ngày 10 đến 20-6, cấy từ ngày 20-6 đến 5-7; gieo thẳng từ ngày 10 đến 20-6. Các huyện tuyên truyền, vận động nông dân thu hoạch lúa xuân đến đâu, làm đất cấy ngay lúa mùa đến đó, bảo đảm gieo cấy trong khung thời vụ tốt nhất.
Đặc biệt, các địa phương cần theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết để thực hiện phương án điều tiết nước phù hợp, bảo đảm an toàn và vận hành hiệu quả các hồ chứa nước theo quy trình đã được phê duyệt; đồng thời, có phương án tích nước hợp lý, phục vụ cho sản xuất vụ mùa. Các địa phương cần bảo đảm cung cấp đủ nước tưới phục vụ sản xuất, đề phòng hạn hán vụ mùa và chủ động tiêu nước khi có mưa lớn xảy ra. Cùng với đó, làm tốt công tác dự tính, dự báo, thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại để có biện pháp phòng trừ kịp thời, không để lây lan ra diện rộng.
“Hà Nội sẽ tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ giống, kỹ thuật canh tác mới, cơ giới hóa trong nông nghiệp, diệt chuột, chế phẩm xử lý rơm rạ sau thu hoạch cho lúa. Tất cả để hướng đến mùa thu hoạch lúa bội thu tiếp theo”, ông Nguyễn Mạnh Phương cho hay. | Hướng đến vụ mùa bội thu | 1,145 | |
Sau một số điều chỉnh, NASA khẳng định tàu Pysche – với sứ mệnh bay đến tiểu hành tinh được cho là chứa số vàng giá trị gấp 70.000 lần nền kinh tế thế giới – đã sẵn sàng lên đường.
Con tàu đã hoàn thiện sẽ được NASA cho rời
Trái Đất
vào tháng 10 năm nay, trên đỉnh một tên lửa SpaceX Falcon Heavy, tiến tới tiểu hành tinh cùng tên với sứ mệnh là 16 Psyche, thường gọi tắt là Psyche.
Theo tờ
Space,
vụ phóng tàu Psyche đã được thiết lập vào tháng 10-2022, nhưng bị hoãn do sự cố với phần mềm chuyến bay vũ trụ và cả những cản trở trước đó trong việc thiết lập sứ mệnh, bao gồm đại dịch COVID-19.
Tàu Psyche và tiểu hành tinh mục tiêu, cùng tên – Ảnh đồ họa từ NASA.
Sứ mệnh được chủ trì bởi Phòng thí nghiệm Sức đẩy phản lực (JPL) của NASA, đã được điều chỉnh đường đi phù hợp với việc thay đổi thời điểm phóng. Nó dự kiến sẽ mất gần 6 năm đến tiếp cận Psyche – tức tháng 8-2029.
Nếu được phóng vào năm ngoái, nó đã có một vị trí thuận tiện hơn để đến với Psyche chỉ trong hơn 3 năm (đầu năm 2026), nhưng rất tiếc NASA đã bỏ lỡ “thời gian vàng”.
Văn phòng NASA cho biết điều thú vị nhất mà họ kỳ vọng tìm kiếm ở Psyche là các hiểu biết về cách chính Trái Đất của chúng ta hình thành. Bởi lẽ một số nghiên cứu trước đó do cơ quan này dẫn đầu cho thấy nó là một “hành tinh nhỏ” thất bại.
“Hành tinh nhỏ” là những hành tinh sơ khai nhất của một hệ sao bao gồm
hệ Mặt Trời
, nhưng chưa phải dạng hành tinh mà chúng ta thường thấy. Nhiều hành tinh nhỏ sẽ vỡ ra trong “tuổi trẻ” hoang dã của hệ sao, từ đó cung cấp vật liệu để ghép thành các hành tinh thật sự.
Nếu phát triển thành công, Psyche hiện đã là lõi của một hành tinh giống Trái Đất, nhưng rất tiếc nó đã thất bại.
Ngoài ra các nghiên cứu dựa trên dữ liệu quang phổ cũng cho thấy Psyche có thể có thành phần chủ yếu là kim loại quý – nhiều nhất là vàng, bạch kim – và có thể có giá trị gấp 70.000 lần nền kinh tế thế giới. | NASA sẵn sàng bay đến ‘hành tinh bị hỏng’ tràn ngập vàng | 401 | |
Ngày 6/6, tại trụ sở Liên hợp quốc, New York,
Hoa Kỳ
, Hội đồng chấp hành Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã tổ chức đối thoại với các nước thành viên Liên hợp quốc để trao đổi các bài học kinh nghiệm về phát triển vượt qua khủng hoảng, biến khát vọng quốc gia thành kết quả cụ thể.
UNDP tổ chức đối thoại với các nước thành viên Liên hợp quốc để trao đổi các bài học kinh nghiệm về phát triển vượt qua khủng hoảng, biến khát vọng quốc gia thành kết quả cụ thể.
Nhân dịp 45 năm quan hệ Việt Nam-Liên hợp quốc, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc đã được mời làm diễn giả chính tại phiên họp để chia sẻ bài học thành công của Việt Nam.
Đại sứ cho biết, đại dịch Covid-19 đã làm chậm lại quá trình phát triển kinh tế, làm trầm trọng hơn nhiều thách thức khác, khiến nhiệm vụ phục hồi và duy trì ổn định phát triển kinh tế ngày càng nặng nề hơn. Các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, căng thẳng địa chính trị, dịch bệnh, khủng hoảng lương thực và năng lượng đe dọa đến các chiến lược phát triển quốc gia.
Trong bối cảnh đó, Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều biện pháp để đảm bảo sức khỏe người dân, kiểm soát dịch hiệu quả, không đánh đổi sức khỏe của người dân để lấy tăng trưởng kinh tế, đồng thời cung cấp các gói an sinh xã hội để hỗ trợ các doanh nghiệp, công nhân và những nhóm dễ bị tổn thương.
Với chính sách ngoại giao vaccine, Việt Nam tăng cường tiếp cận nhiều nguồn như cơ chế COVAX, cơ quan Liên hợp quốc và các đối tác quốc tế, qua đó triển khai thành công chiến dịch tiêm chủng lớn nhất trong lịch sử, đảm bảo tất cả người dân được tiêm đủ liều vào tháng 3/2022.
Đại sứ Đặng Hoàng Giang được mời làm diễn giả chính tại phiên họp để chia sẻ bài học thành công của Việt Nam.
Về hành động khí hậu, dù bị hạn chế không gian tài khóa, Chính phủ vẫn tập trung vào các ưu tiên phát triển trong dài hạn, thực hiện các cam kết quốc tế trong đó có cam kết tại COP-26 về phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, huy động nguồn lực thông qua thành lập quan hệ đối tác về chuyển đổi năng lượng công bằng vào năm 2022 để huy động 15,5 tỷ USD cho hành động khí hậu.
Nhờ vậy,
Việt Nam
đã phục hồi hiệu quả sau đại dịch, tăng trưởng kinh tế đạt 8,02% năm 2022, cao nhất trong 10 năm trở lại đây, ổn định kinh tế vĩ mô và quản lý nợ hiệu quả. Tỷ lệ nghèo đa chiều giảm 1,2% so với năm 2021 và Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm nước có chỉ số phát triển con người cao.
Kết quả này đến từ các bài học kinh nghiệm quan trọng, đó là sự tự cường của quốc gia, chính phủ có nhiệm vụ chính là bảo vệ và cải thiện sinh kế và môi trường cho người dân thông qua việc bảo đảm, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội để không ai bị bỏ lại phía sau.
Đại sứ Đặng Hoàng Giang phát biểu tại phiên họp.
Ngoài ra, rất cần tăng cường nội lực quốc gia và huy động sự tham gia của tất cả các thành phần xã hội, song song với việc huy động nguồn lực từ bên ngoài thông qua tăng cường hợp tác quốc tế, quan hệ đối tác, đầu tư nước ngoài và các thỏa thuận thương mại tự do. Điều quan trọng không kém là cần tránh dàn trải nguồn lực, mà nên tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích sự tham gia của thành phần tư nhân nhằm tăng quy mô và chất lượng tài chính cho phát triển.
Đại sứ cũng cho rằng tăng cường quan hệ đối tác trên cơ sở tôn trọng, chia sẻ lẫn nhau là yếu tố không thể thiếu để đạt được các kết quả cụ thể trong phát triển bền vững, đồng thời nhấn mạnh, trải qua 45 năm quan hệ, UNDP đã, đang và sẽ tiếp tục là một trong những đối tác quan trọng và tin cậy nhất của Việt Nam trên con đường phát triển và hội nhập.
Đại sứ Đặng Hoàng Giang trao đổi với đại biểu tại phiên họp.
Trao đổi tại phiên họp, đại diện UNDP và các nước đánh giá cao kết quả mà Việt Nam đã đạt được trong phục hồi kinh tế sau đại dịch, đảm bảo an sinh xã hội và ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các chính sách hợp lý và kịp thời, cũng như chia sẻ kinh nghiệm của Việt Nam xây dựng sự tự chủ và độc lập trên con đường phát triển cũng như trong thúc dẩy quan hệ đối tác chặt chẽ và hiệu quả với UNDP trong nhiều khía cạnh khác nhau của phát triển bền vững.
(Theo Phái đoàn Việt Nam tại LHQ) | UNDP – Đối tác quan trọng và tin cậy của Việt Nam trên con đường phát triển và hội nhập | 887 | |
Nhờ sự phát triển của công nghệ in ấn, xuất bản điện tử và phân phối sách trực tuyến, xu hướng tự xuất bản sách đang ngày càng phổ biến hơn ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có
Việt Nam
. Chỉ cần có ý tưởng sáng tạo, có khát khao viết lách, bất kỳ ai cũng có thể xuất bản tác phẩm sách của riêng mình.
Tuy nhiên, quá trình cụ thể để biến những suy nghĩ, kinh nghiệm trong đầu mỗi người trở thành những dòng chữ, chương sách và đưa tới độc giả tác phẩm hoàn chỉnh thì không phải ai cũng thông thạo.
Cuốn sách “The Book You Were Born to Write” (Nhà xuất bản Thế giới và Alpha Books phát hành với tựa tiếng Việt là “Hành trình viết sách: Từ ý tưởng đến hiện thực”) của nữ tác giả người Mỹ Kelly Notaras đã tổng hợp 20 năm kinh nghiệm trong ngành xuất bản, có thể trở thành cẩm nang cần thiết cho những người đã, đang và sẽ cầm bút hoặc gõ phím tạo nên “đứa con tinh thần” của mình.
Bà Kelly Notaras sở hữu KN Literary Arts- một đơn vị xuất bản chuyên về thể loại sách kỹ năng phát triển cá nhân, trong đó có nhiều đầu sách trở thành best-seller tại nhiều quốc gia.
Nhìn chung, dù thể loại và độ dài tác phẩm khác nhau, có 7 bước cơ bản để tạo ra một cuốn sách. Đó là: Ý tưởng – Lên kế hoạch – Viết nháp – Chỉnh sửa – Biên tập – Định dạng và Thiết kế – Xuất bản. Trong “Hành trình viết sách: Từ ý tưởng đến hiện thực”, tác giả Kelly Notaras đưa ra lời khuyên cụ thể cho người mới bắt đầu: “Một trong những điều đầu tiên mà bạn cần làm khi bắt đầu viết sách là xác định thể loại mà bạn theo đuổi”.
Chẳng hạn, trong thế giới tiểu thuyết, các thể loại bao gồm giật gân, lãng mạn, lịch sử, khoa học viễn tưởng và văn học… Trong thế giới sách phi hư cấu, các thể loại bao gồm hướng dẫn, tiểu sử, lịch sử phổ thông, du lịch…
Tác giả Kelly Notaras, cũng như nhiều tác giả Việt Nam, chia hành trình viết sách thành 3 chặng: trước khi bắt đầu viết, viết lách và xuất bản. Cuốn “Hành trình viết sách: Từ ý tưởng đến hiện thực” được trình bày dễ hiểu, độc giả có thể chọn phần mình quan tâm để đọc trước thay vì đọc theo trình tự.
Về đặt tên sách, tác giả đưa ra một công thức thực sự đơn giản mà hiệu quả là “Why-What-Wow” (Tại sao-Cái gì-Ồ). Điều bất ngờ là nhiều cuốn sách thành công không phải vì nội dung độc đáo, chưa từng thấy mà là nhờ phong cách viết lách với lối hành văn đẹp hoặc hài hước hoặc gây cảm động sâu sắc; có được phiên bản tốt nhất của thông điệp…
Trong cuốn sách của mình, tác giả Kelly không chỉ đưa ra hệ thống kiến thức và lời khuyên tỉ mỉ, mà còn nhiều lần tâm tình, truyền cảm hứng cho bạn đọc mạnh dạn dấn thân trên con đường viết lách và xuất bản. “… Công cuộc đưa một cuốn sách ra thế giới hiếm khi nào là một đường thẳng. Nó là cuộc hành trình của anh hùng, đầy rẫy những ngóc ngách, ngõ cụt và cả những cánh cửa không ngờ tới. Hãy giữ tâm trí cởi mở và trang bị tinh thần không ngại thử thách! Vậy là bạn đang ở vạch xuất phát. Bạn đã thực hiện một cú nhảy vọt trong trái tim mình, tưởng tượng bản thân đang chuyển đổi từ ‘một người bình thường’ thành ‘một tác giả sách’”.
Bên cạnh đó, cuốn sách còn cung cấp cho độc giả nhiều công cụ hữu ích để giúp họ tìm ra ý tưởng và viết sách một cách hiệu quả. Nội dung phù hợp nhu cầu, thị hiếu của bạn đọc các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nhiều người muốn xuất bản tác phẩm riêng, không dừng ở dạng tự truyện/hồi ký quen thuộc mà cả dạng sách phi hư cấu truyền cảm hứng, chia sẻ kiến thức. Trong sách còn sở hữu những dòng chia sẻ chân thực về hành trình viết sách của các tác giả Việt Nam.
Ngoài ra, sách còn có một chương hướng dẫn cụ thể cách tạo điểm thu hút độc giả, bao gồm xác định các “móc câu” của cuốn sách (mẩu thông tin nhỏ thu hút sự chú ý); đảm bảo tính độc đáo, lôi cuốn, khả năng bán được… Thậm chí, tác giả Kelly Notaras còn cung cấp gợi ý về một số phần mềm ứng dụng trợ giúp đắc lực cho việc soạn thảo, hệ thống văn bản.
Với những bí quyết hữu ích và lối hành văn duyên dáng, cuốn hút, cuốn sách “Hành trình viết sách: Từ ý tưởng đến hiện thực” nhận được đánh giá của Scott Hoffman, đại diện cho nhiều tác giả có sách bán chạy số 1 của New York Times rằng: “Hai cách tốt nhất để thay đổi thế giới là sinh con và viết sách. Tôi không thể giúp bạn với điều thứ nhất, nhưng nếu bạn muốn thực hiện điều thứ hai, hãy bắt đầu bằng cách đọc tác phẩm tuyệt vời của bậc thầy biên tập Kelly Notaras, cuốn Hành trình viết sách. Cuốn sách là nguồn tài nguyên tối ưu cho tất cả những ai muốn truyền đạt sự hiểu biết của mình với thế giới một cách sâu sắc và lâu dài”. | ‘Hành trình viết sách: Từ ý tưởng đến hiện thực’ | 951 | |
So với các nền văn học lớn có truyền thống lâu đời khác tại châu Á như văn học Trung Quốc hay văn học Ấn Độ, văn học khu vực Đông Nam Á được đánh giá là khá “non trẻ” bởi sự ra đời có phần muộn hơn của văn học thành văn, thậm chí một số quốc gia trong khu vực hiện nay chỉ mới được thành lập. Tuy nhiên, nền văn học thành văn “non trẻ” ấy vẫn có những thành tựu đáng ghi nhận.
1. Từ đặc trưng địa lí, lịch sử đến đặc trưng văn hóa, văn chương cổ – trung đại
Về mặt địa lí, Đông Nam Á là một khu vực tương đối rộng lớn ở châu Á, tiếp giáp với hai quốc gia lớn là
Ấn Độ
và
Trung Quốc
. Vị trí đặc biệt giữa hai nền văn minh phương Đông lớn của nhân loại đã tác động không nhỏ đến văn hóa và văn chương Đông Nam Á thời kì cổ – trung đại. Nhà nghiên cứu Đức Ninh trong công trình
Văn học khu vực Đông Nam Á
còn chỉ ra bên cạnh hai nền văn minh lớn Ấn Độ và Trung Hoa, văn hóa và văn chương Đông Nam Á tiếp nhận thêm ảnh hưởng từ một số nền văn hóa khác như Ả Rập – Ba Tư, Tây Ban Nha (trong trường hợp của Philippines).
Thành quả từ quá trình gặp gỡ văn hóa bên ngoài đó đã được thể hiện qua một số nét đặc trưng của văn học Đông Nam Á. Các nhà nghiên cứu nhận định rằng chữ Pali, Sanskrit, chữ Hán du nhập từ Ấn Độ và Trung Quốc thông qua hoạt động truyền giáo đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành văn học viết tại Đông Nam Á. Những thứ tiếng được vay mượn ấy là ngôn ngữ chủ yếu để sáng tác văn chương thuở đầu giai đoạn văn học thành văn. Thời gian sau đó, các quốc gia Đông Nam Á đã nỗ lực sáng tạo ra chữ viết riêng và những sáng tác văn chương bằng chữ viết dân tộc xuất hiện là minh chứng rõ nét cho tinh thần, tình cảm đặc trưng của dân tộc mình. Các tôn giáo như Phật giáo, Bà la môn, Hồi giáo… được truyền bá trong cộng đồng cư dân Đông Nam Á cũng để lại dấu vết ảnh hưởng ở nội dung cốt truyện, đề tài, nhân vật các tác phẩm, riêng tại Philippines có thêm sự ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo. Rõ rệt hơn, nhiều tác phẩm văn học cổ – trung đại Đông Nam Á đã học tập đề tài, motif, phỏng theo một số tác phẩm, nhân vật kinh điển trong văn học Ấn Độ như
Ramayana, Mahabharata, Jataka…
Với văn học Trung Quốc, sự ảnh hưởng thể hiện qua những điển cố điển tích và các thể thơ Đường luật được viện dẫn, vận dụng trong nhiều sáng tác thời kì này, tiêu biểu là văn học trung đại Việt Nam. Ngoài các đặc trưng trên, đội ngũ sáng tác trong thời kì cổ – trung đại giữa các nước Đông Nam Á cũng có điểm chung. Đối với văn học viết, do đặc thù lịch sử – xã hội đương thời, chữ viết không được phổ biến trong toàn dân vì vậy chỉ có những người thuộc tầng lớp quý tộc, quan lại, tăng lữ, sĩ phu được học chữ đồng thời đóng vai trò sáng tác chủ đạo. Đặc biệt ở Thái Lan còn có lực lượng thi sĩ cung đình nhận được sự bảo trợ của hoàng gia để tích cực sáng tác, làm giàu giá trị văn chương dân tộc. Và một điểm chung hết sức quan trọng của văn học Đông Nam Á trong thời kì này là sự phát triển rực rỡ của thể loại truyện thơ.
2. Truyện thơ – thể loại đặc trưng, nổi bật nhất gắn liền với dân gian
Về mặt hình thức, truyện thơ Đông Nam Á là những sáng tác tự sự được viết theo các thể thơ truyền thống của mỗi quốc gia, chẳng hạn truyện thơ ở Việt Nam thường vận dụng thể thơ lục bát, Indonesia và Malaysia là thể
pantum
… Một đặc điểm khác về hình thức là các truyện thơ đều có dung lượng khá lớn, là những câu chuyện dài hơi, xuất phát từ nhu cầu thưởng thức và phản ánh đời sống của người dân. Mặc dù sự ra đời truyện thơ là thành tựu nổi bật của văn học viết ở Đông Nam Á nhưng nó lại gần gũi, gắn liền với dân gian, phục vụ đời sống tinh thần của người dân và đi sâu vào tiềm thức nhiều thế hệ nơi đây bởi chúng dễ nhớ, dễ thuộc, dễ truyền miệng nhờ chất trữ tình và vần điệu du dương.
Dựa trên nguồn gốc cốt truyện, truyện thơ Đông Nam Á đã được các nhà nghiên cứu phân chia thành ba nhóm: cốt truyện vay mượn từ dân gian, cốt truyện vay mượn từ lịch sử dân tộc và cốt truyện vay mượn từ nước ngoài (chủ yếu là các tác phẩm kinh điển của văn học Ấn Độ và Trung Quốc). Những tác phẩm được mô phỏng, vay mượn chủ yếu là
Ramayana, Mahabharata, Jataka, Tam quốc
… Tuy nhiên, vì tình cảm, thái độ của con người ở mỗi quốc gia đối với các nhân vật, câu chuyện là khác nhau, nên khi cốt truyện gốc đi qua từng quốc gia Đông Nam Á lại trở thành một “phiên bản” mang sắc thái khác, có ít nhiều biến đổi, thể hiện được đặc trưng tính cách và quan niệm truyền thống của mỗi dân tộc. Những truyện thơ vay mượn cốt truyện từ dân gian hoặc lịch sử dân tộc càng truyền tải rõ hơn nét đặc sắc văn hóa bản địa trong đó. Bên cạnh ba nhóm truyện thơ trên, nhà nghiên cứu Nguyễn Phương Liên trong bài
Ý thức dân tộc trong sự hình thành và phát triển truyện thơ ở Đông Nam Á
đã chỉ ra nhóm truyện thơ thứ tư có cốt truyện tự sáng tác. Sự xuất hiện của nhóm này như lời khẳng định mạnh mẽ nhất ý thức dân tộc của các tác giả truyện thơ Đông Nam Á.
Ngoài tính dân tộc nổi bật, các nhà nghiên cứu còn chỉ ra những tính chất đặc trưng khác của truyện thơ Đông Nam Á, đó là tính tự sự, tính trữ tình, tính dân gian và tính bác học. Chúng ta có thể xem xét một vài nét trong tác phẩm nổi tiếng
Xỉn Xay
của văn học Lào để thấy được sự pha trộn, song hành giữa tính dân gian và tính bác học. Cốt truyện truyện thơ
Xỉn Xay
có mô hình quen thuộc trong văn học dân gian, gồm mở đầu (giới thiệu về lai lịch, tính cách, ngoại hình nhân vật) – sự kiện và các biến cố (nhân vật chính Xỉn Xay phải trải qua các thử thách hiểm nguy, những lần bị lừa gạt, hãm hại, chống lại cái ác – những biến cố thường thấy trong truyện kể dân gian) – kết thúc (dân gian thường hướng đến kết thúc có hậu như một sự gửi gắm ước mơ bao đời về tinh thần chính nghĩa sẽ diệt trừ cái ác để có được cuộc sống ấm no vui tươi; chàng Xỉn Xay trong truyện thơ sau những biến cố cũng được đoàn tụ với cha mẹ, được cha truyền ngôi và tạo dựng đất nước yên vui). Nhân vật chính diện trong câu chuyện như Xỉn Xay luôn được miêu tả tốt đẹp; còn anh em của chàng, nhóm nhân vật phản diện, lại được miêu tả là những kẻ nhát gan, sợ chết nhưng gian trá, hãm hại và lừa gạt Xỉn Xay. Song hành với các yếu tố đậm tính dân gian trên, tính bác học trong câu chuyện được thể hiện qua diễn biến tâm lí phức tạp hơn, gần với thực tế cuộc sống hơn của các nhân vật. Tác giả Pang Khăm gửi gắm cảm xúc, sáng tạo riêng qua những đoạn kể ghép nối tạo sự liền mạch cho câu chuyện (so với nguyên bản là sách tụng). Cùng với đó, trong truyện thơ
Xỉn Xay
, người ta có thể bắt gặp những điển tích Phật giáo, những vị thần, quan niệm của Bà la môn…
Ngoài các đặc trưng trên, truyện thơ còn được ghi nhận tính cổ điển và hiện đại khi có những sáng tác trong giai đoạn hiện đại (từ thế kỉ XX) vẫn vận dụng các thể thơ cổ điển, truyền thống. Sau thời kì phát triển rực rỡ, tương đối dài lâu, truyện thơ Đông Nam Á không chỉ đóng góp số lượng lớn tác phẩm mà còn đem đến nhiều tác phẩm có giá trị, thậm chí trở thành đỉnh cao văn học mỗi quốc gia. Một vài truyện thơ nổi tiếng, chất lượng ở mỗi nước có thể kể đến như:
Xỉn Xay, Nàng Tèng On, Kalakẹt
(Lào);
Riêm kê, Tum Tiêu
(Campuchia);
Ramakiên, Phra Aphamani, Khun Chang Khun Phén
(Thái Lan);
Jataka, Li Pong Nha, Rama Yagan
(Myanmar);
Truyện Hang Tuak, Iagan về Rama
(Indonesia và Malaysia);
Alim
(Philippines);
Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Sơ kính tân trang
(Việt Nam)… Tại Việt Nam, còn có một bộ phận sáng tác rất phong phú của các tộc người thiểu số như người Mường, Tày, Chăm, H’Mông, Thái và tác phẩm được biết đến nhiều hơn cả là
Xống chụ xon xao
(Tiễn dặn người yêu).
3. Tiểu thuyết – khi hơi thở hiện đại hòa cùng văn hóa bản địa
Các nhà nghiên cứu nhận định rằng đầu thế kỉ XX là thời điểm văn học Đông Nam Á hiện đại thực sự hình thành. Dấu mốc chuyển giao giữa hai giai đoạn là việc thể loại tiểu thuyết dần tiến vào vị trí trung tâm nền văn học, tương tự điều đã diễn ra trong văn học phương Tây không lâu trước đó. Mặc dù truyện thơ vẫn tiếp tục xuất hiện trong thế kỉ XX nhưng ở giai đoạn hiện đại, tiểu thuyết dần chiếm được ưu thế lớn hơn với số lượng và lực lượng sáng tác đông đảo.
Trong thời kì các quốc gia Đông Nam Á chịu cảnh xâm lược, chiếm đóng của thực dân phương Tây, nhiều tiểu thuyết chú trọng phản ánh những vấn đề thời đại, thực trạng đời sống nhân dân, những người yếu thế trong xã hội đương thời, tố cáo tội trạng do chủ nghĩa thực dân gây ra. Từ đó, các nhà văn khích lệ tinh thần yêu nước, đấu tranh chống quân xâm lược và giành lại độc lập, tự do, được sống trong xã hội công bằng, dân chủ. Đây cũng là nội dung chủ đạo của văn học Đông Nam Á thời kì này, hướng đến phục vụ mục tiêu thực tiễn cấp thiết của dân tộc. Sau khi giành lại độc lập cho đến nay, dù yêu cầu đối với sáng tác tiểu thuyết tại mỗi quốc gia có điểm khác nhau nhưng tựu trung tiểu thuyết vẫn giữ được ưu thế và tiếp tục phản ánh những vấn đề gắn liền với thực tiễn cuộc sống, tình cảm con người, thế giới nghệ thuật đương đại. Chúng là kết tinh hài hòa của văn hóa bản địa, truyền thống với quan điểm đương thời, sáng tạo nghệ thuật mới mẻ hòa nhập với thế giới. Trong tác phẩm văn học Indonesia đương đại nổi tiếng, tiểu thuyết
Chiến binh cầu vồng
của Andrea Hirata, nội dung chính đề cập đến thực trạng giáo dục trong xã hội Indonesia nhưng đồng thời vẫn thể hiện được nhiều yếu tố văn hóa, không gian đặc trưng của quốc đảo này.
Trong
Chiến binh cầu vồng
, một đất nước Indonesia với văn hóa đa dạng, đa tộc người, đa ngôn ngữ, đa tôn giáo đã hiện diện thông qua hình ảnh hòn đảo Belitong – một trong số hàng ngàn hòn đảo nơi đây và là bối cảnh chính diễn ra câu chuyện. Những cư dân của đảo Belitong đến từ nhiều tộc người khác nhau, đó là người Hoa, người Mã Lai, người Java, người Sawang, người Sarong. Andrea Hirata đã miêu tả đặc trưng tính cách của mỗi tộc người qua cách ứng xử trong lễ hội giật đồ Chiong Si Ku. Tương ứng với nhiều tộc người khác nhau, cư dân đảo Belitong sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau, mang đức tin với những tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Những đứa trẻ được học tiếng Ả Rập, chữ thảo (tiếng Hoa), tiếng Mã Lai, đọc những cuốn sách tiếng Anh, tiếng Hà Lan và cả tiếng Khek, vì vậy mà có cảnh ba người đến từ ba tộc người khác nhau giao tiếp bằng ba thứ tiếng. Phần lớn cư dân trên đảo theo đạo Hồi, người Hoa có Nho giáo, ngoài ra còn có những người theo Shaman giáo, hình ảnh ngôi chùa đại diện cho sự xuất hiện của Phật giáo. Và con người nơi đây vẫn mang tín ngưỡng đa thần – đặc trưng văn hóa bản địa của các nền văn minh lúa nước tại Đông Nam Á; tính toán thời gian dựa vào tự nhiên, khi mùa mưa bắt đầu thì lũ trẻ sẽ chơi Tarak – một trò chơi truyền thống cổ xưa… Bên cạnh đó,
Chiến binh cầu vồng
còn phản ánh thực trạng phân biệt tầng lớp xã hội ở Belitong do khoảng cách giàu – nghèo, nguyên nhân kìm kẹp sự phát triển giáo dục của người dân nơi đây. Chỉ trong một cuốn tiểu thuyết, Andrea Hirata đã cho độc giả thấy được đặc trưng văn hóa ở Indonesia là đa văn hóa, tộc người, ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng và thực trạng phân hóa mạnh mẽ về phát triển kinh tế, giáo dục ở những vùng đất khác nhau của đất nước vạn đảo này.
Mặc dù hiện nay sự quan tâm của độc giả đại chúng Việt Nam đối với văn học hiện đại, đương đại Đông Nam Á còn chưa cao nếu đặt trong so sánh với các nền văn học châu Á khác như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, nhưng tiểu thuyết
Chiến binh cầu vồng
lại là trường hợp đặc biệt khi trở thành tiểu thuyết bán chạy, được tái bản nhiều lần tại thị trường nước ta. Điều này cho thấy tác phẩm phù hợp với thị hiếu đại chúng tại Việt Nam, người đọc Việt đã tìm thấy nhiều nét gần gũi, tương đồng dễ dàng đồng cảm. Một số sáng tác khác đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam có thể kể đến:
Chai thời gian
(Prabhassorn Sevikul, văn học Thái Lan),
Khi ta mơ quá lâu
(Goh Poh Seng, văn học Singapore)… Đây đều là những tác phẩm nổi tiếng, bán chạy tại chính thị trường nội địa và phản ánh những vấn đề mang tính thời sự của quốc gia đó.
Bên cạnh hoạt động xuất bản, các tác phẩm văn học Đông Nam Á được giới thiệu trong nhà trường tại Việt Nam và đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu từ văn học dân gian, văn học trung đại cho đến hiện đại, đương đại. Hoạt động nghiên cứu diễn ra tập trung trong Viện Nghiên cứu Đông Nam Á cùng các viện nghiên cứu và trường đại học có chuyên ngành liên quan khác. Ngoài ra, giải thưởng văn học ASEAN do Hoàng gia Thái Lan thành lập và trao giải từ năm 1979 đã vinh danh nhiều tác giả Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam), ghi nhận các sáng tác chất lượng, góp phần vào nỗ lực chung nhằm phát triển văn học toàn khu vực.
Có thể thấy được những biến động lịch sử đã tác động lớn đến văn học khu vực Đông Nam Á, trong đó sự lên ngôi của thể loại tiểu thuyết ghi dấu bước chuyển giao giữa hai thời kì văn học và sự ảnh hưởng của văn hóa, văn học phương Tây tại đây. Dù mang theo những nhiệm vụ mới nhưng văn học Đông Nam Á hiện đại và đương đại vẫn nối tiếp đặc trưng kết hợp hài hòa tinh hoa văn hóa bản địa với văn hóa bên ngoài, khẳng định được nét riêng trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. Từ những điểm chung của nền văn học khu vực cũng như lịch sử, địa lí, văn hóa, việc tiếp cận văn học Đông Nam Á đối với người Việt sẽ dễ dàng, gần gũi hơn và trong tương lai tất yếu có thêm nhiều tác phẩm đặc sắc, chất lượng được giới thiệu đến độc giả Việt Nam. Quan tâm và hiểu về nền văn học khu vực mà chúng ta là một phần trong đó cũng là cách để hiểu rõ hơn nền văn học của chính chúng ta. | Một vài phác họa diện mạo văn học khu vực Đông Nam Á – Tác giả: Chi Anh | 2,831 | |
Trước giờ, tôi khá quen với việc được người khác kể cho nghe những câu chuyện đời tư của họ hoặc những câu chuyện họ chứng kiến bằng cách nhắn tin, gọi điện thoại, gửi email, viết thư tay.
Nhiều người kể dưới dạng tâm sự giãi bày như một nhu cầu giải tỏa cảm xúc. Nhiều người kể để tìm một lối thoát, một hướng đi cho câu chuyện bế tắc của họ, thậm chí xin lời khuyên từ tôi. Nhiều người kể ra câu chuyện riêng tư với mong muốn cung cấp cho tôi một cốt truyện vì họ muốn được chia sẻ rộng rãi, thấy nó là bài học tốt cho ai đó… Tất nhiên, tôi vô cùng trân trọng điều ấy và luôn dành thời gian để tiếp nhận câu chuyện của họ. Có nhiều câu chuyện khiến tôi trăn trở dài lâu. Có những câu chuyện khiến tôi buồn quá, như thể chính tôi đang ở trong bi kịch của họ. Không phải tất cả những câu chuyện đời tư ấy đều được tôi biến thành tác phẩm văn học nhưng tất cả đều góp mặt trong nguồn vốn văn mà tôi hằng tích lũy với ước mơ đi trên con đường văn chương một quãng dài nhất có thể.
Có thể kể ra hàng loạt truyện ngắn có nguyên mẫu mà tôi chỉ nghe kể gián tiếp chứ không hề gặp trực tiếp. Đấy là
Ngõ trăng, Đêm không bóng tối, Nước mắt để dành, Mây không bay về trời, Bức tường rào phía Tây, Chổi lông, Nhà ở phố Ngã Tư
… Có những người kể cho tôi nghe chuyện của họ và tha thiết muốn tôi viết thành truyện ngắn, nhưng tôi không làm được bởi hiện thực trần trụi và nghiệt ngã quá đôi lúc làm tê liệt những động lực sáng tạo. Nhưng cũng có nhiều lần tôi phải xin phép nguyên mẫu để được viết câu chuyện của họ thành truyện ngắn. Những truyện như thế, nguyên mẫu và nhân vật cứ song hành tồn tại cùng nhau bên hành trình văn chương của tôi. Có những nguyên mẫu đã ở thế giới khác trước khi tôi khai sinh tác phẩm, họ không còn có thể biết rằng, nhân vật được tạo ra từ họ đã được người đọc thương xót, cảm thông như thế nào như truyện
Thiếu ơi
. Có những nguyên mẫu mà tôi phải cần thêm hai nguyên mẫu khác nữa để tạo thành nhân vật. Sùng trong truyện ngắn
Hồn xưa lưu lạc
là một ví dụ. Hay truyện ngắn
Góc khuất cuối làng
cũng phải dùng đến hai nguyên mẫu cho một nhân vật “ông nội của Tư”. Trong đó, một nguyên mẫu tôi nghe kể và một nguyên mẫu là người tôi quen. Nhưng cũng có những nguyên mẫu đủ lớn, đủ phức tạp để tạo ra hai nhân vật trong hai tác phẩm văn học khác nhau như hai nhân vật người chồng trong
Vá đồng
và
Máu và tuyết
. Cũng có những nguyên mẫu không phải là con người, mà là một địa danh cụ thể được tôi kể lại bằng những thôi thúc rất lạ, ví dụ như
Vọng Sim
đã đăng trên
Văn nghệ Quân đội
hồi năm ngoái. Hầu như rất ít người biết Vọng Sim là một nghĩa trang có thật ở ngoài đời. Và có lẽ, cũng hiếm nhà văn nào lấy tên một nghĩa trang đặt cho truyện. Vọng Sim là nghĩa trang ở xã tôi, nơi bố tôi, bà nội tôi nằm. Nay thì không còn Vọng Sim nữa. Người ta sơ tán nghĩa trang tới nơi khác để sử dụng nguồn đất ấy cho mục đích khác. Những ngọn đồi như đồi Sặt cũng thấp dần rồi biến mất. Truyện Vọng Sim lên tạp chí được khoảng một tháng thì hàng loạt bài báo về vấn đề khai thác đất đồi vô tội vạ của các doanh nghiệp ở địa phương cũng gióng giả kéo chuông và một số đơn vị đã bị cơ quan chức năng nhắc nhở. Những chuyến xe chở đất rầm rập về xuôi, ơn giời, cũng có vẻ thưa hẳn.
Nói vậy để thấy, nguyên mẫu là nguồn vốn dồi dào quý giá của văn chương. Nó ẩn mình trong mọi miền đề tài. Nó lấp ló sẵn có trong hiện thực. Nó là nền tảng vững chắc cho rất nhiều sự sáng tạo. Nó có thể đến với người viết bất cứ lúc nào, bằng nhiều con đường mà người viết đủ nhạy cảm để nhận thấy và nắm bắt. Còn có thể gọi đó là “duyên gặp gỡ nguyên mẫu”. Nhiều nguyên mẫu đã đưa người viết đến một vị thế mới trong lòng công chúng, góp phần làm hiện thực thay đổi theo hướng tích cực. Có người đi tìm nguyên mẫu nhưng không gặp, rồi nguyên mẫu tự đến, tự gõ cửa. Nhưng hơn cả mọi triết lí, mọi nguyên tắc, người viết luôn phải tỉnh táo, chủ động trước nguyên mẫu, bởi nếu “nệ thực” thì sự sáng tạo của người viết sẽ bị hạn chế. Phụ thuộc vào nguyên mẫu còn dẫn tới tình trạng có nhiều tác phẩm văn học na ná nhau, sớm muộn cũng xảy ra sự tranh chấp. Bởi vì, chuyện xảy ra với chị A cũng có thể xảy ra với chị B, chị C. Trần ai nào có thiếu gì những nỗi bi thương trùng lặp. Chỉ có khả năng sáng tạo mới làm ra sự khác biệt cho những câu chuyện giống nhau ấy. Cùng là gạch, ngói, xi măng, sắt thép, người ta có thể xây được nhiều ngôi nhà khác nhau. Viết truyện từ nguyên mẫu cũng vậy. Nhà văn phải là kiến trúc sư cho chính ngôi nhà của mình.
Trở lại với nguyên mẫu gần đây nhất mà tôi định kể. Đó là nguyên mẫu trong truyện ngắn
Tiếng khèn mưa
, từng đăng trên
Văn nghệ Quân đội
số 937. Trước thời điểm Nguyễn Quốc Kiên kể cho tôi nghe về anh chàng câm thổi khèn rất hay ở Hang Kia thì tôi đã từng đến Hang Kia trong một chuyến đi tiền trạm của nhóm bạn làm du lịch. Hang Kia là một địa danh khá nổi tiếng ở Mai Châu, Hòa Bình, là địa bàn cư trú tập trung lâu đời của đồng bào Mông. Tôi chỉ đến Hang Kia một hai ngày, còn Kiên sống ở Hang Kia cả năm trời. Trong câu chuyện Kiên kể, không phải là một Hang Kia tươi sáng, khởi phục, thay da đổi thịt, mà là một Hang Kia với những con người sống lầm lũi sau sự càn quét của cơn bão ma túy đang cố gắng cất giấu những nỗi niềm riêng tư trong tiếng khèn da diết khắc khoải và làm bình thường trở lại nhịp sống vốn có. Đàn ông trong thung lũng không còn nhiều vì bị bắt giam hoặc bắt đi cai nghiện. Anh chàng câm như người sót lại mà Kiên bảo “anh này nếu không câm thì chắc gì còn ở nhà”. Sau khi gửi tôi hàng loạt bức ảnh, hàng loạt clip về chàng câm, Kiên còn kể cho tôi nghe thêm về cô em dâu ở cùng nhà và ông thợ rèn tài hoa sống trong thung lũng mà Kiên thường xuyên lui tới vì mê mẩn tiếng búa và ánh lửa lò rèn. Tôi đã quyết định viết thành truyện từ tất cả những thứ Kiên gửi gắm. Cả ba nguyên mẫu đều được sử dụng làm thành nhân vật. Anh chàng câm cô độc tuổi ngót bốn mươi biến thành Chiếu, cô em dâu trẻ trung có chồng đi tù mấy chục năm vì buôn ma túy biến thành Xía và ông thợ rèn trở thành bố đẻ chàng câm và bố chồng của Xía. Truyện viết xong tôi đưa cho Kiên xem. Đây là ngoại lệ đầu tiên. Vì tất cả những truyện có nguyên mẫu trước đó, nguyên mẫu không được can thiệp vào truyện trong quá trình tôi viết, trừ khi tôi hỏi ý kiến về một tình huống nào đó. Tôi chủ động hoàn toàn trong việc tạo ra những nhân vật độc lập so với nguyên mẫu, giữa nguyên mẫu và nhân vật là một khoảng cách ảo mà chỉ có nguyên mẫu mới nhận ra, còn người đọc khó biết. Kiên đọc xong, im lặng không nói gì, không chê, không khen. Có lẽ Kiên thấy lạ với những gì tôi thi triển. Câu chuyện Kiên kể không hề phức tạp, thậm chí là rất đơn giản nhưng khi vào tác phẩm văn học, nó là một cốt truyện khó giải quyết thỏa đáng, khó đoán định. Nếu không có một người thứ ba trong gia đình, giống như một bức tường ngăn cách giữa Xía và Chiếu, thì lấy gì ngăn cản họ đến với nhau? Một gã trai câm không có vợ, đang tuổi sung mãn, một cô em dâu trẻ trung hừng hực xuân sắc, có chồng đi tù vì buôn ma túy mờ mịt ngày về, ăn cùng mâm, ngủ cùng nhà, bên nhau sớm tối, dù Kiên không kể cụ thể thì tôi cũng biết Kiên nhận định thế nào về mối quan hệ đó. Vì thế, tôi đã đưa ông thợ rèn vợ chết vào truyện, phong cho ông ấy chức bố chồng cô Xía. Tôi đã đem đến cho nhân vật này một gia đình ấm cúng với những mâm cơm, có con, có cháu đủ đầy, cho ông mọi quyền hành dạy bảo anh Chiếu, quán xuyến cô Xía. Nhưng đổi lại, ông ấy bị tôi buộc vào những tơ vương với cô Xía trẻ đẹp phơi phới. Ông Cháng có tơ vương thì mới quyết liệt ngăn cản hai cái người trẻ ấy. Ngăn cản họ không phải để giành về mình, vì ông biết, đạo lí cha chồng nàng dâu không cho phép. Ngăn cản để thằng con trai ông không được làm liều, vì nó vốn rất liều. Người đàn ông góa vợ từ rất lâu rồi, con cái thì chả ra làm sao, đứa tù tội, đứa tha hương, đứa thì đơn độc một mình suốt ngày kè kè cây khèn bên nách. Ông Cháng và Chiếu trở thành máu mủ của nhau trong truyện, nhưng cũng lại là đối thủ của nhau trong cuộc cạnh tranh luyến ái âm thầm nhưng không kém phần dữ dội. Họ ra sức đẩy nhau ra khỏi Xía, họ canh chừng nhau vì ghen tuông. Cuộc sống đang yên đang lành, bỗng một ngày trời đổ mưa, Chiếu đi thu quần áo và phát hiện ra bộ đồ lót rất đẹp màu hồng như những cánh hoa đào của em dâu. Vì bị nhiễm mưa nên Chiếu vắt bộ đồ lên miệng gùi để ngay trong nhà, ông Cháng chắc cũng nhìn thấy. Sự vô tình hay là tín hiệu gì đây? Nếu là tín hiệu thì tín hiệu này Xía gửi cho ai? Ông Cháng hay là Chiếu? Cơ hội dành cho cả hai, nhất là đêm ấy, con bé Linh, con gái Xía, lần đầu ngủ bên nhà cô ruột, Xía không đón về… Có lẽ, thấy tôi “đày ải” hai gã đàn ông ấy quá, “mỡ để miệng mèo” mà hai mèo cùng đói nên một nhà văn khi đọc đã ướm hỏi “Hay là cứ để cho lão Cháng…” Tôi thì không thể thỏa hiệp với nguyên mẫu và quyết dùng quyền của người kể chuyện để tách Xía ra khỏi Chiếu trong một cái kết ngậm ngùi chua xót mà bản thân tôi cũng day dứt khôn nguôi… Sau khi truyện đăng thì Kiên bắt đầu hồ hởi kể cho tôi về những hành trình khác và những nguyên mẫu khác. Phần lớn là những tình huống hết sức tế nhị, oái oăm liên quan đến đời sống luyến ái của những con người vùng cao nơi Kiên đến đó làm việc và chứng kiến. Anh tin là chúng có ích đối với sự viết lách của tôi hoặc anh nghĩ có thể tôi sẽ tạo ra một cái gì đó hay hơn, ấn tượng hơn và được đông đảo người đọc biết đến chăng? Hóa ra, truyện viết xong nhưng chưa thể xong, nếu như nó không được một tạp chí, một tờ báo hay một nhà xuất bản công nhận. Và trong lúc chờ để công nhận thì Kiên hoàn toàn im lặng với tôi. Khi viết
Con trai người Xá Phó
, tôi bỏ ra một ngày đi Nậm Sài, tình cờ gặp gỡ, nói chuyện với nguyên mẫu rồi về viết. Câu chuyện diễn ra hết sức thuận lợi trôi chảy và đương nhiên cái cô nguyên mẫu của nhân vật Hờ không hề biết rằng gia đình cô ấy đã vào truyện. Và nếu có tình cờ nghe đài đọc truyện ấy, cô ấy sẽ xuýt xoa, sao mà giống mình thế… nhưng mà không phải mình đâu… chỉ giống thôi. Còn đây, gián tiếp nghe kể về nguyên mẫu thì khoảng cách ấy khiến nhân vật mờ đi, không thật sự rõ ràng. Điều này rất tốt cho hư cấu. Nhưng Kiên đã muốn tôi để chàng câm thổi khèn rất hay ở Hang Kia còn mãi thì tôi phải cố gắng giữ lấy những phẩm chất, tính cách của nguyên mẫu. Vì thế, cảm giác tôi vẫn chưa làm tốt nhất có thể khiến tôi thấp thỏm và luôn muốn dõi theo hiện thực để biết câu chuyện tôi viết và hiện thực có bị xung đột không. Thi thoảng lại có người nhắn tin: “Hân ơi, chị tin là Chiếu và Xía sẽ đến với nhau, sẽ cùng nhau trốn khỏi Hang Kia, ông Cháng không cản được”, “Hân ơi, viết tiếp chuyện của Xía đi”. Giống như trước đó, một chị độc giả của tiểu thuyết
Huyết ngọc
cứ nhắn tin đòi tôi kết nối với cô Thoan để tâm sự. Tôi bảo Thoan là nhân vật hư cấu một trăm phần trăm chị mới thôi. Tôi không thể đoán định cái mối quan hệ giữa chàng câm và cô em dâu kéo dài bao lâu và sẽ chuyển tới hình thái nào nên tôi trả lời các chị là “em cũng nghĩ như chị” để các chị vui. Nhưng lương tâm của người cầm bút không cho phép tôi cổ xúy cho những mối quan hệ sai trái như thế, dù nó có thật ở đời, có thật ở nguyên mẫu. Nhất là trong lĩnh vực tình cảm con người, cái sự phân định sai trái cũng chỉ là tương đối, nhà văn không thể áp đặt. Gần tết, có em gái đi Hang Kia về kể, tình hình buôn bán ma túy kinh khủng lắm chị ơi, cánh hình sự và tội phạm rượt nhau, súng nổ như trong phim, chứ không yên ả đâu.
Ngay từ thuở đặt chân đến Hang Kia, tôi đã biết một điều, vùng đất ấy và những con người sống trong thung lũng ấy xứng đáng được kể lại bằng một cuốn tiểu thuyết, để người đọc có thể thấy hết mọi góc cạnh của đời sống, được thấy Hang Kia từ nhiều phía. Truyện ngắn chỉ là một lát cắt, là cái nhìn một chiều về con người trong một giai đoạn cụ thể, rất nhiều hạn chế so với sự hiện diện dài lâu của nguyên mẫu và bối cảnh xung quanh nguyên mẫu. Nhưng tôi không có nhiều thời gian để viết riêng một cuốn tiểu thuyết cho Hang Kia. Ước muốn làm dịu đi những đau thương mất mát, ước muốn tô điểm thêm những mảng màu sáng vào bức tranh Hang Kia trong cuộc hồi sinh đã khiến tôi viết truyện ngắn
Tiếng khèn mưa
sau khi nghe Kiên kể. Một truyện ngắn mà rất đông độc giả khen hay nhưng tôi luôn có cảm giác câu chuyện chưa kết thúc, đang âm thầm tiếp diễn theo lối đi của riêng nó, bất tuân mọi định hướng của nhà văn. Cũng từ cảm giác ấy, tôi nhận thức sâu sắc một điều, nguyên mẫu chỉ giúp cho nhà văn dựng nên những câu chuyện để truyền tải những thông điệp có giá trị cho xã hội chứ không chịu trách nhiệm cho sự thất bại của tác phẩm hay nhà văn. Và vĩnh viễn, nguyên mẫu có đời sống riêng, khổ đau hay hạnh phúc đều đáng được trân trọng. Phía người viết hoặc có thể tác động đến đời sống nguyên mẫu theo hướng tích cực hoặc lặng yên dõi theo, chứ tuyệt đối không thể đẩy nguyên mẫu lún sâu vào những khó khăn rắc rối.
Tóm lại, là người viết văn, nếu đã sử dụng nguyên mẫu cho tác phẩm thì luôn xác định là sẽ có những buồn vui bất ngờ chờ đón bản thân. Vì giữa nguyên mẫu và nhân vật là một khoảng cách kì ảo do chính nhà văn tạo ra. | Khoảng cách giữa nguyên mẫu và nhân vật – Tác giả: Tống Ngọc Hân | 2,841 | |
Trái đất được cấu tạo chính từ 3 lớp thành phần: lớp vỏ, lớp phủ manti và lõi Trái đất. Ảnh: Argonne National Laboratory.
Một nhóm các nhà khoa học trên một tàu khoan ngoài khơi Azores (
Bồ Đào Nha
) đã thu thập các mẫu phẩm đầu tiên được lấy từ lớp bao phủ quanh lõi Trái đất.
Họ hy vọng những mẫu phẩm này sẽ làm sáng tỏ các phản ứng hóa học sinh ra sự sống trên hành tinh xanh của chúng ta.
Theo đài Sputnik, các nhà khoa học đã đạt được thành tựu này nhờ vào một vị trí hiếm hoi dưới đáy biển Đại Tây Dương. Thông thường lớp phủ manti nằm sâu hàng kilomet so với lớp vỏ Trái Đất. Tuy nhiên, tại vị trí đặc biệt dưới đáy Đại Tây Dương – ngọn núi dưới nước Massif, con người có thể chọc thủng lớp vỏ dưới đáy biển chỉ ở độ sâu 1,2 km và lấy mẫu trong lớp phủ manti. Trong những nỗ lực thu thập mẫu trước đây, các nhà khoa học đều phải tính toán đến việc khoan thủng lớp vỏ Trái đất dày 32 km mới chạm được đến lớp phủ manti.
Theo các nhà khoa học, thành công của tàu khoan JOIDES vượt xa những gì được dự đoán, và thay vì một mẫu nhỏ, các nhà khoa học đã thu được khối lượng lớn mẫu đất trong lớp phủ manti.
“Chúng ta chưa từng có một hố đào sâu đến thế này vào lớp vỏ Trái đất kể từ năm 1960. Chúng tôi đã đạt được thành tựu có thể giải đáp thắc mắc của cộng đồng khoa học trong nhiều thập kỷ qua”, Andrew McCaig, nhà khoa học kiêm trưởng của đoàn thám hiểm, nói với các hãng truyền thông Mỹ.
Mặc dù chiếc tàu khoan JOIDES của nhóm khoa học mới chỉ chạm đến vùng ranh giới giữa lớp vỏ và lớp phủ của Trái đất, được gọi là Moho theo tên nhà địa chấn học người Croatia Andrija Mohorovičić phiện ra nó vào năm 1909, song những mẫu đá thu thập được là những mẫu đá lớp phủ, gọi là peridotit ở dạng tương đối không bị xỉn màu. Thông thường, đá lớp phủ có thể được tìm thấy trên mặt đất sau khi một vụ phun trào núi lửa, song lúc đó nó đã bị hư hại do quá trình dung nham nóng chảy.
Trước đây, các nhà khoa học cũng đều từng triển khai những dự án để tiếp cận lớp phủ của Trái đất song thất bại. Đầu tiên là một dự án của Mỹ vào đầu những năm 1960 ngoài khơi bờ biển Mexico có tên là Dự án Mohole, chỉ khoan được đến độ sâu 108 m dưới đáy biển. Thứ hai là một dự án khác của Đức ở Bavaria từ năm 1987 đến năm 1995, với lỗ khoan siêu sâu KTB đạt đến độ sâu 9,1 km song đã phải dừng lại khi tiếp xúc với lớp đá ở nhiệt độ 260 độ C.
Tuy nhiên, điểm sâu nhất mà con người từng đạt tới là lỗ khoan siêu sâu Kola của Liên Xô, được khoan ở vùng cực Tây Bắc của đất nước từ năm 1970 đến 1995, đạt đến độ sâu đáng kinh ngạc là 12,2 km. Tuy nhiên, những người thợ trong dự án này không thể khoan sâu hơn vì đá nóng chảy liên tục nung chảy các mũi khoan.
(Theo Sputnik) | Các nhà khoa học thu thập các mẫu đầu tiên từ lớp phủ lõi Trái đất | 580 | |
Hội thảo là dịp để các tướng lĩnh, sĩ quan cấp cao, nhà khoa học, nhà nghiên cứu trao đổi, thảo luận, thống nhất nhận thức về tính cấp bách trong việc tham mưu với Đảng đề ra và xác định chính xác tầm nhìn mới, tư duy mới, nhận thức mới về bảo vệ Tổ quốc trong nghị quyết mới trình Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII.
Các đồng chí chủ trì hội thảo.
Sáng 7/6, tại
Hà Nội
, Bộ Công an, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia: “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy; nhìn lại 10 năm qua và dự báo bối cảnh tình hình đến năm 2030, tầm nhìn 2045”.
Hội thảo nhằm làm rõ, phân tích sâu sắc hơn những vấn đề lý luận và tổng kết thực tiễn vận dụng quan điểm hết sức quan trọng này trong giai đoạn vừa qua; kiến nghị, đề xuất những nhận thức mới phục vụ công tác tổng kết, đánh giá 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; góp phần đẩy mạnh triển khai thực hiện thắng lợi toàn diện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII theo tinh thần của Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ.
GS, TS Nguyễn Xuân Thắng phát biểu khai mạc hội thảo.
Chủ trì và điều hành hội thảo có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Đại tướng GS, TS Tô Lâm, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Công an; Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Tham dự hội thảo còn có các đồng chí lãnh đạo Bộ Công an, lãnh đạo Hội đồng Lý luận Trung ương; đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương cùng nhiều nhà khoa học, tướng lĩnh, sĩ quan cấp cao trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, GS, TS Nguyễn Xuân Thắng, khẳng định: Hội thảo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với lực lượng Công an nhân dân trong việc tiếp tục cụ thể hóa, thực tiễn hóa và triển khai quan điểm chiến lược: “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong tình hình mới. Hội thảo cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn nhằm tham mưu với Đảng bổ sung, phát triển nhận thức về sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh tình hình mới.
Các ý kiến tham luận tại hội thảo đã làm sâu sắc hơn nhận thức, quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy. Vai trò của của kinh tế, văn hóa… trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, nhấn mạnh việc chăm lo, xây dựng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc góp phần tạo nên nền tảng, sức mạnh nội sinh của đất nước để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nêu bật vai trò nòng cốt và những đóng góp quan trọng của lực lượng Công an nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự thống nhất quản lý của Nhà nước và sự giúp đỡ của Nhân dân. Nhất là kết quả 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI.
Các ý kiến tham luận tham gia tại hội thảo cũng tập trung đánh giá, dự báo tình hình thế giới và trong nước từ nay đến năm 2030, tầm nhìn 2045; đồng thời kiến nghị, đề xuất nhiều cách làm hay, giải pháp hữu ích, có tính khả thi cao phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Đại tướng Tô Lâm phát biểu bế mạc hội thảo.
Kết luận hội thảo, Đại tướng Tô Lâm khẳng định: Bảo vệ Tổ quốc trong thời bình không chỉ là đối phó với hành động vũ trang xâm lược của kẻ địch từ bên ngoài, mà còn phải đặc biệt chăm lo xây dựng và giữ vững bên trong, đối phó với những thủ đoạn hoạt động phi vũ trang của địch.
Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không chỉ là sức mạnh của lực lượng vũ trang mà là sức mạnh tổng hợp của quốc gia và chế độ. Lấy sức mạnh kinh tế, chính trị làm cơ sở; là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, sức mạnh lòng dân, niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Bộ trưởng Tô Lâm nhấn mạnh: Kết quả hội thảo đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang, trong đó có lực lượng Công an nhân dân Việt Nam anh hùng.
Hội thảo đã làm sáng rõ những thành tựu nổi bật của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhất là 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI. Đồng thời, chỉ ra những bài học kinh nghiệm quý báu, cần tiếp tục thấu triệt như: Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước.
Không ngừng phát huy sức mạnh của toàn hệ thống chính trị, sự phối hợp, hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng vũ trang nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc. Toàn hệ thống chính trị phải gắn kết máu thịt, chặt chẽ với quần chúng nhân dân, chăm lo xây dựng phong trào quần chúng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận của lòng dân; xây dựng nền, thế trận an ninh nhân dân vững chắc, gắn kết chặt chẽ với nền, thế trận quốc phòng toàn dân; xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh gắn kết chặt chẽ với thế trận lòng dân vững chắc, tạo thế trận tổng hợp bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ Tổ quốc để đất nước không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống…
Bộ trưởng Tô Lâm đề nghị sau hội thảo, các đơn vị trong Công an nhân dân tiếp tục tham gia và có những đóng góp tích cực trong quá trình tổng kết nghị quyết. Cục Khoa học, Chiến lược và lịch sử Công an, Văn phòng Bộ Công an nghiên cứu tiếp thu ý kiến của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học tại hội thảo, tiếp tục tham mưu, đề xuất trong quá trình tổng kết của Ban Chỉ đạo Trung ương. | Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy | 1,200 | |
Quế Lâm là xã miền núi, nằm cách trung tâm
huyện Nông Sơn
khoản 15 km về phía Tây, địa hình cách trở bị chia cắt bởi sông, suối, núi, đồi điều kiện giao thông đi lại gặp rất nhiều khó khăn,dân cư sống theo từng cụm, từng vùng và được chia làm 6 thôn.
+ Về địa giới hành chính
.
– Phía Đông giáp với xã Quế Ninh, huyện Nông Sơn.
– Phía Bắc giáp với xã Quế Phước, huyện Nông Sơn.
– Phía Tây giáp với xã Cà Duy,
huyện Nam Giang
.
– Phía Nam giáp với
xã Hiệp Hòa
,
huyện Hiệp Đức
.
Diện tích tự nhiên 15540,94 ha: Trong đó đất nông nghiệp chiếm 15146,13 ha, đất phi nông nghiệp 157,51 ha, đất chưa sử dụng 237,13 ha. Hiện nay có 4493 nhân khẩu trên tổng số hộ là 936 hộ được phân bố trên địa bàn của 6 thôn. Đa số nhân dân sống bằng nghề nông chủ yếu chiếm 89%. Thu nhập bình quân đầu người trên năm: 4,5 triệu đồng. Trung tâm Ủy ban nhân dân xã đóng trên địa bàn thôn Tứ Trung 1.
Về chính trị
Hệ thống chính trị cơ bản được xây dựng ổn định gồm 10 chi bộ với 89 Đảng viên. Trong đó 6 chi bộ thôn, 2 chi bộ nhà trường và 1 chi bộ quân sự, 01 chi bộ y tế. Đảng bộ xã Quế Lâm nhiều năm liền đạt trong sạch vững mạnh. Chính quyền, Mặt trận, các tổ chức chính trị được cũng cố và hoạt động tốt. | Giới thiệu khái quát xã Quế Lâm | 251 | |
Phường 4 nằm phía Tây Nam thành phố Đông Hà, được thành lập vào tháng 6 năm 1976, với tổng diện tích 516,16 ha, chủ yếu là đồi núi; phía Đông giáp
Phường 3
,
thành phố Đông Hà
, phía Tây giáp Cam Hiếu,
huyện Cam Lộ
, phía Nam giáp Phường 3 và xã Cam Hiếu, phía Bắc giáp sông Hiếu và phường Đông Thanh.
Địa bàn phường được chia thành 04 khu phố với 1214 hộ và 5137 nhân khẩu. Phường 4 được phân loại đơn vị hành chính phường loại II theo Quyết định số 2306/QĐ-UBND ngày 18/8/2020 của UBND
tỉnh Quảng Trị
. | Giới thiệu khái quát phường 4 | 99 | |
Trong chuyện tình cảm, danh họa
Picasso
luôn là người nói lời chia tay và khiến các người tình của ông đau khổ. Khi bị tình trẻ kém 40 tuổi rời bỏ, Picasso lần đầu biết thế nào là điêu đứng.
Bà Françoise Gilot, nàng thơ một thuở của danh họa Picasso, vừa qua đời ở tuổi 101. Trong cuộc đời mình, bà Gilot được biết tới nhiều nhất vì cuộc tình từng có với danh họa người Tây Ban Nha – Pablo Picasso (1881 – 1973).
Trong sự nghiệp riêng, bà Gilot cũng là một họa sĩ, nhưng những tác phẩm của bà không được biết tới nhiều như chuyện tình của bà với danh họa Picasso. Bà Gilot đã qua đời hôm thứ 3 tuần này ở tuổi 101, tại một bệnh viện ở Manhattan, New York, Mỹ. Con gái của bà – Aurelia Engel – cho biết trước khi qua đời, bà đã phải vật lộn với những vấn đề ở tim và phổi.
Françoise Gilot, nàng thơ một thuở của danh họa Picasso (Ảnh: The Guardian).
Sinh ra trong một gia đình khá giả ở Paris (Pháp), bà Gilot vốn đã theo đuổi sự nghiệp hội họa từ trước khi gặp danh họa Picasso – người đàn ông hơn bà 40 tuổi. Lần đầu tiên hai người gặp nhau là tại một nhà hàng, khi ấy, Gilot đang ở tuổi 21.
Trong số rất nhiều nàng thơ kiêm người tình từng đi qua cuộc đời danh họa Picasso, Gilot là người duy nhất chủ động rời xa vị danh họa. Điều này từng khiến Picasso bàng hoàng chấn động, bởi vốn dĩ cả cuộc đời mình, Picasso chưa từng bị người tình bỏ rơi. Ngược lại, ông đã luôn là người rời đi trước bằng cách sớm bước vào những mối quan hệ mới.
Picasso đã quen với việc thấy những người tình của mình phải đau khổ vật vã vì mình. Nhưng vào năm 1953, sau 10 năm gắn bó và có 2 người con chung với vị danh họa, bà Gilot quyết định nói lời chia tay.
Picasso đã có những lời lẽ cay đắng với bà Gilot khi ấy: “Em tưởng mọi người sẽ hứng thú với em thật à? Họ sẽ không bao giờ hứng thú với em đâu. Em cứ tưởng mọi người thích mình, nhưng kỳ thực, đó chỉ là sự tò mò dành cho em, vì em là một người đã chạm được tới cuộc sống của tôi mà thôi”.
Khi bị tình trẻ kém 40 tuổi rời bỏ, Picasso lần đầu biết thế nào là điêu đứng (Ảnh: The Guardian).
Bất chấp mọi lời cảnh báo, bà Gilot vẫn quyết định bước ra khỏi mối quan hệ với Picasso. Bà cần mẫn với sự nghiệp hội họa của riêng mình, tiếp tục mở rộng các mối quan hệ xã hội. Khi ấy, Picasso đã sử dụng tầm ảnh hưởng của mình để yêu cầu các triển lãm tranh không trưng bày giới thiệu tác phẩm của bà Gilot.
Sau cùng, bà Gilot cũng có những bước tiến trong sự nghiệp hội họa của mình. Tác phẩm của bà được biết tới nhiều hơn, bà trở thành nhân vật được săn đón trong giới mỹ thuật. Tác phẩm của bà được nhiều bảo tàng và triển lãm nghệ thuật danh tiếng trưng bày giới thiệu tới công chúng. Bà bán được nhiều tranh hơn và có được cuộc sống thoải mái với sự nghiệp hội họa của mình.
Năm 1964, bà Gilot cho ra mắt cuốn tự truyện
Life with Picasso
(Sống với Picasso), trong đó, bà kể lại cuộc tình kéo dài một thập kỷ với vị danh họa. Ban đầu, Picasso đã tìm mọi cách để cuốn tự truyện này không thể ra mắt, nhưng ông đã không thành công. Cuốn tự truyện sau khi ra mắt đã được dịch sang nhiều thứ tiếng và bán chạy tại nhiều quốc gia.
Sau cuộc tình với Picasso, bà Gilot đi qua hai cuộc hôn nhân (Ảnh: The Guardian).
Việc bà Gilot công khai kể lại những chi tiết riêng tư trong đời sống cá nhân khi còn gắn bó với Picasso khiến vị danh họa rất tức giận, ông quyết định vĩnh viễn cắt đứt liên lạc với bà. Cuốn tự truyện
Life with Picasso
đã truyền cảm hứng cho bộ phim điện ảnh
Surviving Picasso
(Sống sót với Picasso – 1996).
Sau cuộc tình với Picasso, bà Gilot đi qua hai cuộc hôn nhân. Trong cuộc hôn nhân kéo dài 7 năm với người chồng chính thức đầu tiên – họa sĩ Luc Simon, bà có thêm một người con gái. Trong cuộc hôn nhân thứ hai với một nhà nghiên cứu y học, bà gắn bó với ông trong 25 năm cho tới khi ông qua đời.
Những tác phẩm hội họa được Picasso thực hiện với nguồn cảm hứng đến từ nàng thơ Françoise Gilot:
Bức “The Flower Woman” (tạm dịch: Hoa nữ) được Picasso thực hiện năm 1946 (Ảnh: Sotheby).
Bức “Woman in a Chair” (tạm dịch: Người phụ nữ ngồi trên ghế) được Picasso thực hiện năm 1948 (Ảnh: Sotheby).
Bức “Woman with a Bun in an Armchair” (tạm dịch: Người phụ nữ búi tóc ngồi trên ghế) được Picasso thực hiện năm 1948 (Ảnh: Sotheby).
Bức “Seated Woman in Green Costume” (tạm dịch: Người phụ nữ mặc đồ xanh ngồi trên ghế) được Picasso thực hiện năm 1953 (Ảnh: Sotheby).
Theo The Guardian/New York Times | Người tình duy nhất chủ động chia tay Picasso vừa qua đời ở tuổi 101 | 895 | |
Phường 3 là một phường thuộc
thành phố Đông Hà
,
tỉnh Quảng Trị
Phường 3 nằm theo hướng đông bắc-tây nam thành phố Đông Hà.
Vị trí địa lý:
– Phía đông giáp các
Phường 1
, Đông Giang, Đông Thanh
– Phía tây giáp huyện Triệu Phong
– Phía nam giáp các phường 5, Đông Lễ, Đông Lương và
huyện Triệu Phong
– Phía bắc giáp các phường 4, Đông Giang, Đông Thanh và
huyện Gio Linh
.
– Phường 3 có diện tích 19,19 km², dân số năm 2010 là 6.807 người, mật độ dân số đạt 355 người/km².
– Phường 3 được chia thành 5 khu phố: 1, 2, 5, 6, 7. | Giới thiệu khái quát phường 3 | 100 | |
Chiếc lư hương gốm hoa lam thời Lê sơ cho thấy thời kỳ xuất khẩu gốm sứ của nước ta ra nhiều nước Đông Nam Á, Nhật Bản và Tây Á.
Bảo vật quốc gia Lư hương gốm hoa lam còn có tên khác là Lư hương gốm men trắng vẽ lam thế kỷ 15. Hiện bảo vật thuộc sở hữu của nhà sưu tập Trần Đình Thăng,
TP.Hải Phòng
. Chiếc lư hương cao 42,5 cm này bị vỡ miệng, đã được gắn lại. Hội đồng Di sản quốc gia đánh giá đây là chiếc lư hương gốm hoa lam có kích thước lớn nhất, kiểu dáng và hoa văn trang trí đẹp hoàn hảo duy nhất hiện được biết đến ở nước ta.
Theo hồ sơ bảo vật, chiếc lư hương thuộc loại có kích thước lớn, trang trí kết hợp chạm đắp nổi và dùng bút lông vẽ men xanh cobalt chi tiết theo lối công bút rất tỉ mỉ. Trong quá trình tạo hình và vẽ trang trí, người thợ gốm phải chia lư làm 2 phần rời nhau. Sau khi nung xong phần trên và phần dưới mới lắp khớp lại.
Các mặt của lư hương gốm hoa lam thời Lê sơ.
Phần trên của lư có miệng loe, cổ hình trụ, vai phình, thân hình tròn dẹt. Giữa băng cánh sen ở vai và hình rồng ở thân lư trang trí nổi 2 đầu sư tử ngậm vòng tròn đối xứng, xen giữa 2 đường gờ nổi. Trang trí vẽ men xanh cobalt gồm 4 băng hoa văn. Theo trình tự từ trên xuống có: các khóm hoa lan xung quanh cổ lư; băng cánh sen nhọn theo hiện thực, cánh to xen nhỏ trên vai lư; 2 hình rồng “yên ngựa”, đầu ngẩng cao, chân có 4 móng, trong tư thế vờn đuổi nhau theo chiều kim đồng hồ, xung quanh vẽ các dải mây lửa và mây hình khánh; băng văn sóng nước diễn tả các lớp sóng bạc đầu dưới bụng lư.
Theo PGS-TS Nguyễn Đình Chiến, Phó giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia, hai hình rồng “yên ngựa”, chân có 4 móng xen giữa các dải mây lửa và mây hình khánh trên thân lư tương đồng hình rồng 5 móng vẽ trên loại bát, đĩa gốm hoa lam phát hiện trong Hoàng thành Thăng Long.
Phần dưới là đế lư hương hình con tiện, tạo hình như một chiếc ang ghép với một đế trụ tròn. Trang trí vẽ men xanh cobalt gồm 3 băng hoa văn xen giữa 2 đường gờ nổi tô men nâu. Thứ tự các băng hoa như sau: băng dây hoa lá cúc, bông hoa thể hiện theo chiều nhìn ngang với nhiều lớp cánh; băng cánh hoa đặc trưng, cách đều nhau; băng lá đề liên hoàn xen cài những hình búp hoa sen.
Chiếc lư này có nhiều nét tương đồng với các hiện vật gốm hoa lam có niên đại cùng thời đã được khai quật trong Khu di tích
Hoàng thành Thăng Long
và những đồ gốm hoa lam phát hiện trong tàu cổ Cù Lao Chàm. Tại Hoàng thành năm 2002 – 2004 đã phát hiện nhiều đồ gốm phế thải như các loại đồ gốm sống men, các chồng bát, đĩa dính nhau do quá lửa và các dụng cụ để chế tác đồ gốm. PGS-TS Bùi Minh Trí, công tác tại Viện Khảo cổ lúc đó, cho rằng có sự tồn tại của các lò quan ở Thăng Long, nơi chế tác đồ gốm cho hoàng cung thời Lê sơ. Chiếc lư hương bảo vật này cũng chính là lư hương có kích thước lớn nhất so với các lư hương thời Lê sơ hiện biết.
Theo hồ sơ, chiếc lư hương gốm hoa lam có trang trí hình rồng 4 móng, với kích thước lớn, kỹ thuật hoàn hảo. Đây là loại lư hương dùng để thực hiện các nghi thức, nghi lễ (cắm hương) trong không gian tâm linh tín ngưỡng của người Việt theo phong tục truyền thống thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các vị thần thánh, thờ Phật, thờ mẫu.
Theo hồ sơ bảo vật, dưới triều Lê sơ (1428 – 1527), nhiều dòng gốm ra đời và phát triển như gốm men trắng, gốm hoa lam, gốm men lam xám, gốm hoa lam kết hợp vẽ nhiều màu và vàng kim… Trình độ cao của nghệ nhân, quy mô sản xuất lớn cho phép đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu. Chiếc lư hương này vì thế giúp cho thấy thời kỳ xuất khẩu đồ gốm sứ của nước ta ra nhiều nước Đông Nam Á,
Nhật Bản
và Tây Á.
Rồng “yên ngựa”. TL CỤC DI SẢN VĂN HÓA.
Về kỹ thuật, việc lắp khớp hai phần lư hương sau khi nung cho thấy kỹ thuật tinh xảo. Khi hai phần khớp lại, lư trở thành một thể khối bề thế, tôn nghiêm. Nghệ thuật trang trí vẽ men xanh cobalt bằng bút lông theo thể công bút chi tiết, tỉ mỉ thể hiện các đề tài: khóm hoa lan, băng cánh sen, rồng “yên ngựa”, băng hoa cúc, lá đề hình khánh liên hoàn cùng hổ phù đắp nổi, phủ kín các tầng lư hương càng tôn thêm vẻ cao sang, quyền quý.
Theo PGS-TS Tống Trung Tín, Chủ tịch Hội Khảo cổ học VN, so sánh với các loại hình đồ gốm có niên đại thế kỷ 15 được khai quật tại Khu di tích Khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long, có thể thấy lư hương này thuộc dòng gốm cao cấp. Điều đó thể hiện qua các khâu kỹ thuật, từ tạo hình, chạm đắp nổi, vẽ trang trí cho đến kỹ thuật nung đốt sản phẩm. Thêm vào đó, các băng hoa văn hình rồng kiểu “yên ngựa” chỉ phổ biến trên các loại hình như các loại bát, đĩa gốm men trắng mỏng in nổi rồng mây và bát, đĩa gốm hoa lam vẽ rồng “yên ngựa” 5 móng, 4 móng đã phát hiện tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long.
Hội đồng Di sản quốc gia cũng cho rằng chiếc lư hương này là sản phẩm gốm lò quan, đáp ứng yêu cầu sử dụng trong các cung điện, thái miếu hay các di tích có sự bảo trợ của hoàng gia hoặc quan lại cao cấp trong triều đình phong kiến VN. | Bảo vật quốc gia: Lư hương gốm hoa lam đánh dấu thời kỳ xuất khẩu gốm sứ | 1,067 | |
Phường Đông Lương nằm ở phía nam
thành phố Đông Hà
,
tỉnh Quảng Trị
, có vị trí địa lý:
– Phía đông và phía nam giáp
huyện Triệu Phong
.
– Phía tây giáp
phường 3
.
– Phía bắc giáp Phường 3 và phường Đông Lễ.
– Phường Đông Lương có diện tích là 19,93 km²,dân số năm 2010 là 9.156 người, mật độ dân số đạt 459 người/km².
– Phường Đông Lương được chia thành 8 khu phố: 1, 2, 3, Đại Áng, Lai Phước, Tân Vĩnh, Trung Chỉ, Vĩnh Phước. | Giới thiệu khái quát phường Đông Lương | 82 | |
Theo NASA, Messier 85 chứa tới 400 tỷ ngôi sao, hầu hết là những ngôi sao rất ‘già’, tuy nhiên, tại vùng trung tâm của thiên hà này lại là quần thể các ngôi sao ‘trẻ,’ mới khoảng một vài tỷ năm tuổi.
Thiên hà thấu kính Messier 85. (Nguồn: NASA).
Kính viễn vọng không gian Hubble của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) đã phát hiện nhiều đặc điểm bất ngờ của thiên hà thấu kính Messier 85, ở cách
Trái Đất
khoảng 50 triệu năm ánh sáng.
Theo NASA, Messier 85 chứa tới 400 tỷ ngôi sao, hầu hết là những ngôi sao rất “già” trong vũ trụ. Tuy nhiên, tại vùng trung tâm của thiên hà này lại là một quần thể các ngôi sao “trẻ,” mới chỉ khoảng một vài tỷ năm tuổi.
Giới chuyên gia cho rằng những ngôi sao “trẻ” này có thể được sản sinh từ một đợt hình thành sao muộn, khi Messier 85 hợp nhất với một thiên hà khác cách đây hơn 4 tỷ năm.
Ngoài ra, Messier 85 còn tiềm ẩn một đặc điểm độc đáo khác. Hiện hầu hết mọi thiên hà trong vũ trụ đều sở hữu ít nhất một lỗ đen ở trung tâm.
Tuy nhiên, dựa trên các phép đo vận tốc ngôi sao trong thiên hà, giới khoa học chưa thể khẳng định về sự tồn tại của bất kỳ hố đen nào ở trung tâm của Messier 85.
Kính viễn vọng Hubble
được NASA triển khai lên vũ trụ từ tháng 4/1990, với sứ mệnh quan sát những gì đang diễn ra ở thế giới bên ngoài. Tháng 5 vừa qua, Hubble đã ghi lại hình ảnh mới của một thiên hà tương tác cực sáng mang tên AM 1214-255./. | NASA: Phát hiện đặc điểm bất ngờ của thiên hà thấu kính Messier 85 | 290 | |
Những hành tinh quay xung quang sao lùn đỏ có thể tồn tại sự sống. Ảnh: Pixabay.
Theo nghiên cứu mới, có 1/3 số hành tinh nằm trong khu vực được gọi là Goldilocks, nơi về mặt lý thuyết có thể tồn tại nước ở dạng lỏng, cùng với tiềm năng cho sự sống.
Theo nghiên cứu mới của các nhà thiên văn học tại Đại học Florida, hầu hết ngôi sao trong thiên hà của chúng ta là “Sao lùn đỏ” (Red dwarf) và nhiều hành tinh quay xung quanh chúng có thể có sự sống.
“Sao lùn đỏ” là một loại sao khá nhỏ và có nhiệt độ thấp. Chúng chiếm đa số sao trong Dải Ngân Hà, có khối lượng chưa tới một nửa khối lượng Mặt Trời và nhiệt độ bề mặt chưa tới 3.500 K.
Để phân tích, các nhà thiên văn học tại Đại học Florida đã kết hợp thông tin mới từ vệ tinh Gaia của Cơ quan Vũ trụ Châu Âu để tinh chỉnh các phép đo quỹ đạo của các hành tinh ngoài
Hệ Mặt Trời
. Gaia là thiết bị có khả năng đo chính xác khoảng cách và chuyển động của các ngôi sao.
Để xác định một hành tinh có sự sống hay không, nhóm nghiên cứu cần xác định “độ lệch tâm” trong quỹ đạo của một hành tinh quay xung quanh sao lùn đỏ.
Các hành tinh xung quanh sao lùn đỏ có độ lệch tâm lớn sẽ bị đốt cháy nếu chúng ở khoảng cách đủ gần với ngôi sao. Quá trình này gọi là “Sấy nóng do thủy triều” (tidal heating).
Hành tinh phải có quỹ đạo ổn định và có khoảng cách vừa phải so với sao lùn đỏ mới có khả năng tồn tại sự sống. Ảnh: NASA.
Quá trình Tidal heating khiến cho hành tinh liên tục bị giãn ra và nén lại do lực hấp dẫn của ngôi sao, giống như khi xoa hai bàn tay vào nhau sẽ phát sinh nhiệt do ma sát. Khi nhiệt độ tăng cao, nước trên hành tinh sẽ bốc hơi và sự sống cũng không thể sinh sôi.
Ngược lại, khi hành tinh cách ngôi sao quá xa sẽ thiếu hơi ấm cần thiết cho sự sống. Do đó, các hành tinh quay xung quanh sao lùn đỏ muốn có sự sống phải đáp ứng được 2 yếu tố: có khoảng cách đủ gần ngôi sao trung tâm để có đủ độ ấm; và quỹ đạo có độ lệch tâm nhỏ và ổn định.
Qua quá trình nghiên cứu, Sagear và Ballard đã phát hiện ra có 1/3 số hành tinh nằm trong khu vực được gọi là Goldilocks, nơi về mặt lý thuyết có thể tồn tại nước ở dạng lỏng, cùng với tiềm năng cho sự sống. Điều này có nghĩa là có hàng trăm triệu hành tinh có thể ở được, chỉ riêng trong
Dải Ngân Hà
.
“Tôi nghĩ rằng kết quả này thực sự quan trọng với ngành thiên văn học trong vòng 1 thập kỷ tới. Đây là tiền đề tuyệt vời để tìm kiếm các hành tinh có thể ở được”, Sagear nói.
Nghiên cứu được công bố vào ngày 30/5 trên tạp chí
PNAS. | Hàng trăm triệu hành tinh có thể tồn tại sự sống trong Dải Ngân Hà | 532 | |
Các tảng băng tại quần đảo Svalbard của Na Uy, nơi có mức tăng nhiệt độ cao gấp 7 lần so với phần còn lại của thế giới. Ảnh: Reuters.
Một nghiên cứu được công bố hôm 6/6 đã cảnh báo Bắc Băng Dương sẽ trở thành một vùng biển không có băng ở thời điểm sớm hơn một thập kỷ so với dự đoán của các chuyên gia.
Nghiên cứu dự đoán khu vực Bắc Băng Dương sẽ không còn tình trạng đóng băng trong các tháng 9 của những năm 2030,
CNN
đưa tin. Ngay cả khi thế giới có các bước cắt giảm mạnh phát thải khí nhà kính, vùng biển xung quanh Bắc Cực vẫn sẽ có mùa hè không có băng kể từ những năm 2050.
Nghiên cứu đăng trên tạp chí
Nature Communications
đã xem xét những thay đổi tại Bắc Băng Dương trong các năm 1979-2019, so sánh dữ liệu và mô hình khí hậu được nhiều vệ tinh thu thập nhằm dự đoán các thay đổi tại khu vực này.
Các nhà khoa học phát hiện tình trạng giảm các tảng băng trôi phần lớn xuất phát từ hoạt động phát thải các khí gây nóng lên toàn cầu. Nghiên cứu cũng chỉ ra các mô hình khí hậu trước đây đã đánh giá thấp tốc độ tan băng tại khu vực Bắc Băng Dương.
“Chúng tôi cảm thấy rất bất ngờ khi mô hình dự đoán tình trạng băng tan hoàn toàn trong các tháng mùa hè sẽ diễn ra bất chấp các nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính”, Seung Ki Min, tác giả chính của nghiên cứu và giáo sư tại Đại học Khoa học và Công nghệ Pohang của
Hàn Quốc
trả lời
CNN
.
Các tảng băng được hình thành tại vùng biển xung quanh Bắc Cực trong các tháng mùa đông và tan chảy vào mùa hè. Mức độ tan chảy đạt đến ngưỡng lớn nhất vào tháng 9, trước khi chu kỳ này bắt đầu lại.
Một khi Bắc Băng Dương xuất hiện tình trạng tan băng hoàn toàn, quá trình hình thành các tảng băng tại khu vực này sẽ mất thời gian hơn. Nhiệt độ càng cao thì thời gian Bắc Băng Dương không có băng tuyết càng lớn.
Theo một nghiên cứu vào năm 2022, trong những thập kỷ qua, nhiệt độ tại Bắc Cực đã tăng nhanh gấp 4 lần so với các khu vực còn lại trên thế giới. Tình trạng băng tan trên biển ngày càng trở nên nghiêm trọng ở khu vực này. Theo Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA), mức tan băng trên biển vào tháng 9 hàng năm đang tăng 12,6% mỗi thập kỷ. | Điều đáng sợ nhất với Bắc Băng Dương sẽ đến sớm hơn cả thập kỷ | 445 | |
Với sự đoàn kết một lòng của cán bộ, đảng viên và nhân dân
quận Hải Châu
trong 20 năm đã làm cho quận đổi thay, mang một màu áo mới, diện mạo của một quận trung tâm trong thành phố hiện đại, đáng sống, với những đổi mới, đáng phấn khởi và đầy tự hào về những thành tựu của sự phát triển của thành phố, quận trong 20 năm qua như: Bước đầu hình thành nét đô thi trung tâm của thành phố với 13 phường, trên diện tích 23,289Km2, dân số 209,641 người; hạ tầng đô thị khang trang, hiện đại; cơ cấu chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ chiếm trên 75%, giảm công nghiệp, xây dựng và nông nghiệp; tăng trưởng kinh tế đạt gần 13% cao hơn mức bình quân chung của thành phố. Các thành phần kinh tế phát triển cả về lượng và chất, số doanh nghiệp tăng nhanh chiếm 1/3 số doanh nghiệp toàn thành phố. Thu ngân sách Nhà nước qua 20 năm tăng 11 lần; hệ thống giáo dục phát triển đa dạng với các loại hình trường lớp được mở rộng từ mầm non đến đại học; công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày một tốt hơn; hệ thống thiết chế văn hoá được đầu tư, nâng cấp; hoạt động chăm lo cho gia đình chính sách được quan tâm thường xuyên; công tác giảm nghèo luôn hoàn thành tiến độ thành phố giao; Quốc phòng, an ninh được giữ vững, bảo vệ tốt các mục tiêu, hoạt động chính trị và trật tự trị an trên địa bàn.
Bản đồ hành chính phường Hải Châu 1
20 năm xây dựng và phát triển quận Hải Châu là sự chung tay, đồng thuận của cán bộ, nhân dân 13 phường. Với vai trò là phường trung tâm của quận Hải Châu, Hải Châu I luôn là hạt nhân tích cực, quan trọng, luôn đi đầu trong các hoạt động và phong trào thi đua do quận và thành phố tổ chức. Với diện tích tự nhiên gần 1km2, 14.112 nhân khẩu với 2223 hộ, 33 tổ dân phố, 31 chi bộ trực thuộc, 20 tuyến đường chính, có nhiều cơ quan quan trọng của Đảng và nhà nước, trên 400 cơ quan, doanh nghiệp, Đình Làng Hải Châu di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia, có 20 trường học từ mẫu giáo đến đại học, 41 khách sạn và 177 nhà hàng cơ sở ăn uống. Trong 20 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ phường, phát huy truyền thống anh hùng, cán bộ và nhân dân không ngừng lao động, sản xuất, sáng tạo, dám nghỉ, dám làm, trên tinh thần đoàn kết, học hỏi đạt được thành tích cao trên tất cả các mặt, kinh tế phát triển ngày càng cao, đời sống nhân dân ổn định, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Với những nỗ lực, cố gắng đó phường Hải Châu I được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, Cờ thi đua của UBND thành phố từ năm 2011 đến 2016, Đảng bộ phường Hải Châu I được thành uỷ Đà Nẵng tặng cờ trong sạch vững mạnh tiêu biểu 5 năm liền, Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ năm 2016.
Phát huy thành tích trong những năm qua, trong thời gian tới phường Hải Châu I phát huy vai trò phường Trung tâm về phát triển các hoạt động kinh tế như chợ Hàn, tuyến phố thời trang Lê Duẩn, phố ẩm thực đêm Phạm Hồng Thái, xây dựng phố chuyên doanh Phan Châu Trinh. Phát huy hiệu quả mô hình “Khu dân cư thân thiện với môi trường”, tiếp tục xây dựng “Khu dân cư văn hoá, văn minh đô thị tiêu biểu”. Triển khai múa rối nước tại hồ Đình làng Hải Châu, phát huy giá trị văn hoá của di tích. Thực hiện tốt công tác cải cách hành chính với mô hình “6 T- 3 tận” “tận tâm – Tận tình – Tận tuỵ”, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trách nhiệm, chuyên nghiệp, trung thực, kỷ cương và gương mẫu; tiếp tục thực hiện khai tử tận nhà khi có người qua đời, triển khai trao Giấy khai sinh, Bảo hiểm Y tế, hộ khẩu tại gia đình Trẻ em trên địa bàn phường và dịch vụ công trực tuyến. Một mùa xuân nữa sắp về. Những tình cảm, nổ lực đã qua sẽ giúp cho đia phương thêm sức mạnh, tự tin, kinh nghiệm để tiếp tục xây dựng Hải Châu I phát triển vững chắc trong thời gian đến. Cán bộ và nhân dân phường Hải Châu I quyết tâm, không ngừng cố gắng, triển khai tốt các nhiệm vụ được giao góp phần thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ và Nghị quyết của Quận uỷ Hải Châu đề ra. | Giới thiệu khái quát phường Hải Châu 1 | 838 | |
Thủ đô Hà Nội.
Mới đây, tờ The Independent của Anh đã ca ngợi Việt Nam là điểm đến được khao khát nhất Đông Nam Á bằng cảnh quan đa dạng, xinh đẹp cùng hàng loạt món ăn thơm ngon, hấp dẫn.
Sau đại dịch, Đông Nam Á đón một lượng lớn du khách Anh quay lại. Khu vực Đông Nam Á có những nền văn hóa khác nhau cùng truyền thống đậm đà bản sắc, cũng là nơi sở hữu nhiều đền đài, cung điện và các thắng cảnh thiên nhiên tuyệt vời.
Tờ The Independent đã lựa chọn những quốc gia tốt nhất khu vực Đông Nam Á để du khách dễ dàng lên kế hoạch cho chuyến đi tiếp theo. Từ Angkor Wat đến vịnh Hạ Long, Đông Nam Á sở hữu nhiều điểm tham quan nổi tiếng cùng với các thành phố rộng lớn với hàng trăm bãi biển đẹp và khí hậu nhiệt đới dễ chịu.
Việt Nam là một trong những điểm đến được du khách thế giới “khao khát nhất” trong khu vực, sở hữu nhiều địa danh với vẻ đẹp tự nhiên khác nhau…
TP.HCM
,
Hà Nội
và
Đà Nẵng
là những điểm đến hấp dẫn nhất cho những ai muốn trải nghiệm các thành phố lớn của Việt Nam.
Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội An
còn được gọi là “Venice của Việt Nam” với những dòng kênh, con sông chảy ra biển lớn. Khu phố cổ Hội An được bảo tồn tốt bao gồm các công trình cổ kính có kiến trúc ấn tượng.
Phố cổ Hội An.
Một danh thắng khác ở Việt Nam hấp dẫn du khách là
vịnh Hạ Long
. Đây là cảnh đẹp tự nhiên nổi tiếng nhất của Việt Nam, được thiên nhiên ban tặng cho vẻ đẹp tuyệt vời.
Vịnh Hạ Long.
Ngoài ra, Việt Nam còn nhiều bãi biển đẹp ở
Phú Quốc
và
Cù Lao Chàm
,… mang vẻ đẹp khác biệt. Các địa điểm tham quan hấp dẫn khác bao gồm động Phong Nha, hang
Sơn Đoòng
,
Ngũ Hành Sơn
và cồn cát ở Mũi Né.
Hang Sơn Đoòng.
Tờ The Independent cũng gợi ý thời gian tốt nhất để thăm Việt Nam là vào tháng 4 và tháng 9, lúc này thời tiết cũng có độ ẩm thấp hơn và nhiệt độ thấp hơn so với cao điểm của mùa hè. Vào thời điểm này, thời tiết ở hầu hết các vùng miền trên Việt Nam đều dễ chịu. | Việt Nam được vinh danh là ‘điểm đến được khao khát nhất’ ở Đông Nam Á | 393 | |
Đảo Fraser của
Australia
, được đặt theo tên của James Fraser – một thuyền trưởng người Anh có con tàu bị đắm tại đây vào năm 1836, được chính thức đổi tên thành Đảo K’gari.
Tại Sydney, ngày 7/6, Australia đã chính thức đổi tên hòn đảo rộng lớn được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là di sản thế giới ở ngoài khơi bờ biển phía Đông nước này.
K’gari có nghĩa là “thiên đường”, một từ trong ngôn ngữ của người thổ dân Butchulla có liên quan đến câu chuyện ra đời của hòn đảo. Bà Annastacia Palaszczuk, Thủ hiến bang Queensland, đã bày tỏ niềm vui mừng và tự hào vì “hôm nay chúng ta có thể chính thức chào đón K’gari về nhà và khôi phục cái tên mà những người chủ truyền thống của hòn đảo này đã sử dụng từ xa xưa.”
Đảo Fraser – hiện được đổi tên thành Đảo K’gari – là một đảo cát nép mình trong làn nước xanh ngọc lam, là một điểm đến nổi tiếng của khách du lịch, với hơn nửa triệu lượt người đến thăm mỗi năm. Hòn đảo này cũng được các nhà khoa học đánh giá cao vì có một số lượng lớn chó dingo (chó hoang bản địa), rừng nhiệt đới phong phú, hồ nước ngọt và hệ thống cồn cát phức tạp. Trong niềm tin của thổ dân, K’gari là một linh hồn da trắng được các vị thần gửi đến để hình thành đất và biển.
Một “lễ hút thuốc” truyền thống đã được tổ chức để đánh dấu việc thay đổi tên gọi này. Thủ hiến Palaszczuk mô tả đây là một bước hướng tới hòa giải và thoát khỏi quá khứ thuộc địa đầy rắc rối của Australia. Theo bà, đây cũng là bước đi đầu tiên trong một chặng đường dài để xây dựng một tương lai mới, nơi tất cả người dân bang Queensland được coi trọng, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau.
Việc người dân Australia gọi các địa điểm bằng tên thổ dân ngày càng trở nên phổ biến. Đá Ayers – một địa danh nổi tiếng ở miền Trung Australia – hiện được biết đến nhiều hơn với tên gọi Uluru, trong khi thành phố Melbourne ngày càng được nhiều người gọi bằng tên Naarm.
Australia sẽ tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý vào cuối năm nay để quyết định có công nhận người bản địa trong Hiến pháp và có thành lập một tổ chức Thổ dân và Dân đảo Torres St Eo – cơ quan sẽ được hỏi ý kiến về luật pháp – hay không./. | Australia đổi tên một hòn đảo được UNESCO công nhận là di sản thế giới | 449 | |
Các nhà nghiên cứu từ Đại học New South Wales của
Australia
dự báo tình trạng Trái đất ấm lên có thể gây bệnh cho 76,8% rạn san hô trên thế giới vào năm 2100.
Rạn san hộ Great Barrier tại khu vực ngoài khơi Australia. Ảnh tư liệu: AFP/TTXVN.
Trong nghiên cứu mới đăng tải trên tạp chí Ecology Letters ngày 7/6, các nhà nghiên cứu đã công bố bộ dữ liệu tập hợp 108 nghiên cứu về bệnh san hô toàn cầu để phục vụ các phân tích tổng hợp tiếp theo. Các nghiên cứu cho thấy tình trạng lây lan bệnh dịch ở san hô có liên quan đến nhiệt độ trung bình mặt biển mùa Hè đang tăng lên (SST) và những bất thường về nhiệt độ mặt biển hàng tuần (WSSTA).
Theo nghiên cứu, mức độ lây lan bệnh ở
san hô
toàn cầu tăng gấp 3 lần từ năm 1992 đến 2018, lên 9,92%. Mô hình này ước tính tỷ lệ lây lan bệnh có thể lên đến 76,8% vào năm 2100 nếu nhiệt độ tiếp tục tăng.
Rạn san hô ở Biển Đỏ, Ai Cập. Ảnh tư liệu: AFP/TTXVN.
Nhà khoa học Samantha Burke, tác giả chính của nghiên cứu cho biết các phát hiện này làm nổi bật các tác động tàn phá của nhiệt độ gia tăng đối với các rạn san hô và đặt ra yêu cầu mạnh mẽ phải có hành động nhanh chóng để ngăn chặn biến đổi khí hậu. Bà Burke nêu rõ :”Bệnh san hô là nguyên nhân quan trọng làm san hô chết và sụt giảm. Mô hình dự báo của chúng tôi cho thấy căn bệnh này sẽ tiếp tục tồi tệ thêm”.
Theo bà Burke, khi đại dương ấm lên, phản ứng miễn dịch của san hô suy yếu do bị căng thẳng. Nhiệt độ gia tăng cũng có thể tạo điều kiện thuận lợi hơn cho tác nhân gây bệnh. | Trái đất ấm lên gây nguy cơ bệnh tật cho 76,8% rạn san hô vào năm 2100 | 318 | |
Thạch Thang là 01 trong 13 phường của
Quân Hải Châu
thuộc
Thành phố Đà Nẵng
. Phía Bắc giáp phường
Thuận Phước
và
Thanh Bình
, Phía Đông giáp Sông Hàn, Phía Nam giáp các phường
Hải Châu 1
,
Hải Châu 2
và phía Tây giáp phường
Tân Chính
. Sau ngày Cách mạng tháng 8 thành công, Thạch Thang là đơn vị cấp xã nằm trong khu trung tâm thành phố Đà Nẵng. Khi bầu cử HĐND thành phố (25/2/1946) xã Thạch Thang nằm trong khu Phan Thanh.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) Miền nam Việt nam dưới ách cai trị của chế độ Ngô Đình Diệm chúng bắt đầu thành lập đơn vị hành chính các cấp trong Thành phố, xã Thạch Thang trở thành khu phố Thạch Thang (dưới khu phố là phường) có 1 thời gian chế độ cũ thay đổi gọi là khóm), lúc này ngụy quyền đặt trụ sở tại đình Thạch Thang nằm tai phường Châu Thành ( Nam Dương).
Sau ngày Miền nam hoàn toàn giải phóng, chính quyền cách mạng thiết lập bộ máy quản lý gọi khối phố Thạch Thang thành phường Thạch Thang và chính thức tên gọi Phường Thạch Thang từ tháng 8/1975.
Qua nhiều lần biến đổi chia cắt, điều chỉnh 4 tổ dân phố về cho phường Thuận Phước (năm 1994). Đến nay, Phường Thạch Thang đã phải thu hẹp diện tích chỉ còn 0.98 km2 được phân chia thành 5 khu vực: Tân Lập 1, Tân lập 2, Thuận Lập B, Tân Hòa A, Tân Hòa.
Thạch Thang, trên địa bàn phường có nhiều cơ quan, công sở, trường học đứng chân như: Trung tâm hành chính, Công an thành phố Đà Nẵng, 10 cơ sở trường học (1 trường Trung học cơ sở, 4 trường tiểu học, 2 cơ sở mầm non công lập, 3 cơ sở mầm non tư thục), 4 nhóm trẻ gia đình, 1 Công ty May mặc Vinatex, 3 bệnh viện là Bệnh viện C, Trung tâm Chỉnh hình và Bệnh viện Đa Khoa Đà Nẵng, cùng nhiều doanh nghiệp đến thuê mặt bằng làm cơ sở hành chính để giao dịch đứng chân trên địa bàn…
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, kể từ sau ngày giải phóngThành phố Đà Nẵng (29/3/1975) Tổ chức Đảng của Phường Thạch Thang mới được Thành lập để lãnh đạo các nhiệm vụ KTXH-QPAN Chi bộ Đảng của phường ban đầu mới chỉ có 05 Đảng viên đến nay Đảng bộ đã phát triển gần 1.000 đảng viên sinh hoạt tại 46 chi bộ trực thuộc. Đến năm 2015, Đại hội Đảng bộ lần thứ XI đã bầu chọn 15 đồng chí tham Ban chấp hành Đảng bộ phường.
Năm 2017 Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân phường Thạch Thang vinh dự đón nhận cờ xuất sắc trong phong trào thi đua do Thành phố Đà Nẵng tặng, cùng nhiều bằng khen, giấy khen của UBND thành phố và quận Hải Châu về việc thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó nhiều phong trào được phát động, xây dựng khu dân cư VHVMĐT, nhiều mô hình xây dựng Tổ dân phố…đã tạo sự bình yên trong cuộc sống của người dân Thạch Thang.
Với sự quyết tâm phấn đấu xây dựng Chính quyền và tham gia các phong trào của cán bộ và nhân dân phường Thạch Thang đến nay đã cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu giao, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, các sinh hoạt văn hóa, tinh thần của nhân dân ngày càng được đáp ứng, đây cũnglà niềm tin và là sự hãnh diện của người dân Thạch Thang./. | Giới thiệu khái quát phường Thạch Thang | 607 | |
Quá trình đi tìm diện mạo thật của Pharaoh Tutankhamun – tức Vua Tut – phần nào lý giải việc ông trở thành người cai trị lừng lẫy nhất Ai Cập cổ đại dù qua đời khi mới 19 tuổi.
Nhóm nghiên cứu dẫn đầu bởi TS Michael Habicht từ Đại học Flinders (
Úc
) đã sử dụng các bản quét CT xác ướp của Pharaoh Tutankhamun, kết quả chiếu tia X, nghiên cứu hộp sọ và nhiều tài liệu cổ khác để tái hiện lại chân dung của vị pharaoh đã qua đời từ năm 1323 trước Công Nguyên.
Mặt nạ vàng của Pharaoh Tutankhamun, người an nghỉ trong mộ phần đầy châu báu – Ảnh: AA.
Pharaoh Tutankhamun luôn là đối tượng nghiên cứu được các nhà Ai Cập học theo đuổi, bởi phần lịch sử cực kỳ quan trọng đối với Tân Vương quốc Ai Cập trong triều đại của ông.
Cha của Tutankhamun là Pharaoh Akhenaten nổi tiếng với hàng loạt thay đổi trong vương triều của mình, bao gồm việc xây dựng đô thành mới Akhetaten và thờ những vị thần hoàn toàn khác biệt với truyền thống. Tuy nhiên có lẽ do sa đà vào cải cách, thời kỳ cai trị của Akhenaten khiến Ai Cập rơi vào tình trạng hỗn loạn và suy yếu kinh tế trầm trọng.
Lên ngôi khi mới 9 tuổi nhưng Pharaoh Tutankhamun đã thực hiện một loạt thay đổi bao gồm dời kinh thành trở về cố đô Thebes, khôi phục các tập tục tôn giáo truyền thống, khôi phục kinh tế và cải thiện quan hệ ngoại giao.
Do bệnh tật, có thể là sốt rét, ông qua đời khi mới 19 tuổi. Tuy vậy, những gì vị pharaoh tài giỏi này làm trong 10 năm cai trị khiến ông được người Ai Cập thần thánh hóa.
Nghiên cứu mới đã tái hiện dung nhan của vị pharaoh trẻ. Dù không thật sự đẹp như “nam thần” – có lẽ do ảnh hưởng bởi bệnh tật – nhưng ông sở hữu gương mặt với nhiều đường nét thanh tú, toát lên vẻ thông minh.
Chân dung Pharaoh Tutankhamun trước khi qua đời – Ảnh: Cícero Moraes và cộng sự.
Theo
Live Science,
điều gây chú ý nhất là hộp sọ của Tutankhamun dài về phía sau hơn người bình thường. Quá trình nghiên cứu để phục dựng đầu ông chỉ rõ đó không phải hộp sọ bị cố ý kéo dài ra vì lý do thẩm mỹ như một số nền văn hóa cổ đại khác mà hoàn toàn tự nhiên.
Điều này cho thấy Tutankhamun có thể tích não cực kỳ lớn – lên tới 1.432 cm3, trong khi một nam giới bình thường thể tích não trung bình chỉ là 1.234 cm3.
Hộp sọ chứa bộ não to bất thường của Vua Tut – Ảnh: Cícero Moraes và các cộng sự.
Bộ não này cũng lớn và dị thường so với những
xác ướp Ai Cập
cùng thời từng được nghiên cứu, theo đồng tác giả Cicero Moraes, chuyên gia đồ họa người Brazil.
Bộ não lớn gây sốc này có thể phần nào lý giải việc Pharaoh Tutankhamun nổi tiếng với sự thông tuệ và đã tạo ra một vương triều lừng lẫy đến thế khi chỉ mới là một thiếu niên. | ‘Tái sinh’ pharaoh ‘nam thần’ Ai Cập, lộ chi tiết gây sốc | 540 | |
UBND phường Nam Dương được thành lập ngay từ ngày đầu giải phóng
thành phố Đà Nẵng
cho đến nay.
Nam Dương là phường trung tâm
quận Hải Châu
, là nơi giao lưu nhiều tuyến đường giao thông nối với cảng Hàng không Quốc tế, nhà ga và các trung tâm thương mại của thành phố. Phường có diện tích 0,23km
2
. Dân số trung bình 8.813 người, mật độ dân số 36.874 người /km2, trong đó nữ chiếm 51%, (thống kê năm 2016).
Về vị trí địa lý: Phía Đông giáp
phường Phước Ninh
, phía Tây giáp phường Vĩnh Trung –
quận Thanh Khê
, phía Nam giáp
phường Bình Hiên
, phía Bắc giáp
phường Hải Châu 2
. Có 119 cơ quan, doanh nghiệp, công ty, ngân hàng, trường học, 05 chùa, 01 Thánh thất Cao Đài và 01 cơ sở tôn giáo đạo Ba’Hai (được cho phép hoạt động vào tháng 5/2007) đóng trên địa bàn. Thành phần dân cư: dân tộc Kinh chiếm 99%, còn lại là người Hoa, không có dân tộc thiểu số. Phần lớn nhân dân theo phật giáo, số ít theo thiên chúa giáo và tin lành. Số người trong độ tuổi lao động chiếm 63% (Làm việc cho nhà nước chiếm 13,5%, Thương mại – dịch vụ 66%, Công nghiệp – TTCN 18%), dưới 18 tuổi 26%, trên độ tuổi lao động 11%; thuộc kết cấu dân số trẻ.
Với số lao động trên, Đảng, chính quyền địa phương xác định cơ cấu kinh tế là thương mại, dịch vụ và sản xuất TTCN. Giá trị tổng sản lượng TTCN bình quân hàng năm là 14 tỷ đồng, chủ yếu sản xuất hàng tiêu dùng và các dịch vụ như hàn, gò, tiện, khắc dấu, chế biến lương thực thực phẩm và giải quyết việc làm hơn 200 lao động.
Phường Nam Dương, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng
Địa điểm, trụ sở chính: 199 Hoàng Diệu- quận Hải Châu- thành phố Đà Nẵng.
Điện thoại liên lạc: 0236 3822.328. Fax: 0236 3822.328
Email: namduong@danang.gov.vn | Giới thiệu khái quát phường Nam Dương | 327 | |
Để đội ngũ lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật phát triển một cách toàn diện, khoa học cả về số lượng, chất lượng, có tài năng, bản lĩnh cần nhìn nhận, đánh giá một cách thẳng thắn, khách quan, công tâm về thực trạng của đội ngũ này. PV đã ghi lại ý kiến của những người làm công tác lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật.
Nhìn vào đội ngũ lý luận, phê bình hiện nay dễ dàng nhận ra sự hòa trộn của cả 3 “nhà”: Nhà nghiên cứu, nhà lý luận, nhà phê bình. Điều đó dẫn đến sự “ngộ nhận”, những nhận nhầm, phong nhầm nhà “nọ” thành “nhà” kia. Đó cũng là nguyên nhân khiến đội ngũ lý luận, phê bình của ta trở nên hỗn độn, hầm bà làng, ít mà tưởng nhiều, thiếu mà tưởng là hùng hậu. Đã có lúc cả nền văn học “đốt đuốc đi tìm nhà phê bình” nhưng cũng có lúc tưởng như nhà nhà, người người đều là nhà phê bình.
Thực ra, đội ngũ phê bình thực thụ của chúng ta trong 20-30 năm gần đây đang thưa vắng dần, mai một dần. Ở lĩnh vực văn học vốn được xem là có đội ngũ đông đảo hơn cả cũng chỉ có thể lác đác kể tên vài người, như:
Đỗ Lai Thúy
,
Khuất Bình Nguyên
, Lê Hồng Quang… Trong khi nhà nghiên cứu, nhà lý luận ở nước ta hiện nay có thể kể vô số. Bởi vì những người đó có thể đào tạo theo kiểu trường quy được. Còn nhà phê bình thì khó hơn nhiều.
Tọa đàm “Đội ngũ lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay: Thực trạng, định hướng, giải pháp phát triển” đã nhận được nhiều ý kiến phát biểu tâm huyết của các đại biểu.
Nhiều năm trước đây, ngoài lĩnh vực văn học, mỗi bộ môn nghệ thuật đều đã từng có một đội ngũ phê bình của mình. Sân khấu có Nguyễn Ánh, Lưu Quang Vũ, Hồ Thi, Tất Thắng, Đức Côn, Nguyễn Thị Minh Thái, Phan Trọng Thưởng… Mỹ thuật có Nguyễn Quân, Thái Bá Vân, Phan Cẩm Thượng… Điện ảnh có Trần Luân Kim, Ngô Phương Lan, Nguyễn Thị Nam… Nhiếp ảnh có Vũ Huyến, Vũ Đức Tân… Nói chung, tôi thấy thực trạng đội ngũ phê bình của ta hiện nay quá èo uột, chưa tương xứng với đội ngũ sáng tác, chưa đáp ứng yêu cầu của công chúng thưởng thức nghệ thuật.
Một trong những thực tế nhãn tiền của phê bình văn học nước nhà nhiều năm nay là sự “hụt hơi” về lực lượng. Người tham gia viết phê bình văn học ở ta vốn chẳng được bao năm mà phần lớn trong số đó đều ít nhất đã chạm đến các ngưỡng “tri thiên mệnh”. Những người này – gọi một cách ước định là các “nhà phê bình văn học già” – khi nhìn về thế hệ kế tiếp hẳn sẽ không tránh được những lúc phải giật mình.
Vì cái gọi là các “nhà phê bình văn học trẻ” hiện nay – tạm quy ước họ ở độ tuổi từ 40 trở xuống – về số lượng, tôi có thể mạnh dạn khẳng định là không đếm hết số ngón tay trên hai bàn tay. Chuyện sẽ chẳng là gì cả nếu chúng ta coi phê bình văn học là thứ có cũng được mà không có cũng xong. Nhưng nếu chúng ta chấp nhận với nhau rằng phê bình văn học là sự tự nhận thức của văn học, là mặt thứ hai không thể rách rời của một tiến trình văn chương thì rõ ràng sự “hụt hơi” về lực lượng của phê bình văn học nước nhà hiện nay là điều cần phải được cắt nghĩa.
Tôi cứ giả định rằng những người trẻ tuổi có tiềm năng trở thành nhà phê bình văn học hiện nay ai nấy đều sẵn sàng hy sinh thời gian cho việc viết phê bình. Nhưng lập tức có ngay một câu hỏi to đùng: In ở đâu? Ai đọc? Hiện nay, phương thức tồn tại và lưu truyền chủ yếu nhất của sản phẩm phê bình (bài viết) vẫn là ở trên mặt báo. Có điều, với báo chí đang vận hành trong cơ chế kinh tế thị trường như hiện nay, phê bình văn học không phải “món” có thể giúp báo bán chạy nên cũng chẳng được hoan nghênh cho lắm. Nếu báo có cần, là cần những bài điểm sách thật hấp dẫn chứ không phải cần những bài phê bình văn học giàu hàm lượng học thuật. Nghĩa là, về “đầu ra” của phê bình văn học, chẳng có mấy sự kích thích để những người trẻ muốn viết phê bình chịu lao vào công việc này.
PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ chia sẻ nhiều trăn trở để lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật phát triển.
Nhìn tổng thể, các nhà lý luận, phê bình trẻ hiện nay có trình độ văn hóa và trình độ phê bình khá cao, có đam mê và giàu sáng tạo, có trình độ ngoại ngữ và khả năng tiếp nhận, tiếp biến các tư tưởng mới từ các hệ thống lý thuyết phương Tây và vận dụng vào từng không gian văn học, nghệ thuật tương thích để giải mã tác giả, tác phẩm. Tuy nhiên, sự phân bố lực lượng giữa các loại hình, các cấp, các vùng miền không đồng đều.
Ở góc độ hoạt động, đội ngũ lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật nhìn chung còn thụ động, ngại va chạm, thiếu tính chiến đấu, tính định hướng, thiếu những bài viết kịp thời và sắc sảo trước những vấn đề, hiện tượng mà xã hội và giới chuyên môn quan tâm. Lực lượng làm công tác lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật ở nước ta hiện nay dù có nhiều thế hệ nhưng không tập hợp thành một lực lượng nghề nghiệp mà còn tồn tại khá lẻ tẻ, rời rạc, không có sự gắn kết, hỗ trợ nhau trong hoạt động nghề nghiệp, tính nghiệp dư ở một số người còn khá rõ.
Để hiện thực hóa các định hướng đó, cần thực hiện một số giải pháp cơ bản, như: tạo các sân chơi, cuộc thi, giải thưởng để khuyến khích đội ngũ lý luận, phê bình sáng tạo; tăng cường việc liên kết giữa đội ngũ lý luận, phê bình với các tổ chức văn hóa, nghệ thuật; phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật để có được đội ngũ vừa có lý luận vững chắc, vừa có kỹ năng phê bình bản lĩnh, sáng tạo… Đặc biệt, phải đầu tư đúng mức các nguồn lực, nhất là chế độ, chính sách lương, phụ cấp, nhuận bút, thù lao… cho hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, trong đó có chế độ ưu đãi cho đội ngũ lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật nước nhà.
Đội ngũ phê bình văn học, nghệ thuật nhìn chung vẫn còn khan hiếm, thiếu vắng các tác phẩm phê bình văn học tạo được ấn tượng đậm nét. Từ đầu năm 2023 đến nay, theo quan sát cá nhân, tôi thấy mới có 3 ấn phẩm ít nhiều gây được sự chú ý của bạn đọc, đó là các cuốn “Hiểm địa văn chương” của Phùng Gia Thế (NXB Hội Nhà văn), “Mây trong đáy cốc” của Đỗ Anh Vũ (NXB Đà Nẵng), “Gieo chữ” của Nguyễn Hoài Nam (NXB Hội Nhà văn).
Một trong những bất cập và thiếu hụt then chốt có thể nhận ra, đó là chúng ta chưa có một cơ sở đào tạo chuyên tâm về mảng phê bình. Đội ngũ phê bình văn học hiện nay chủ yếu do tự rèn luyện, tự trải nghiệm mà nên. Cả nước chỉ có một cơ sơ sở đào tạo duy nhất, ít nhiều có gắn với việc hun đúc các cây bút phê bình văn học, đó là Khoa Viết văn Báo chí, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội nhưng Khoa này thực chất quan tâm đào tạo và phát triển cả 3 mảng: Sáng tác thơ, sáng tác văn xuôi và lý luận phê bình chứ không phải chuyên tâm vào một mảng lý luận phê bình.
Để phát triển đội ngũ phê bình văn học của tương lai, chúng ta cần quan tâm đầu tư bồi dưỡng ngay từ khi mỗi học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, chính ở nơi ấy ta đã có thể bắt gặp những mầm mống đầu tiên, những cây bút có năng khiếu thẩm bình vượt trội so với mặt bằng. Sau cấp độ nhà trường phổ thông, lên đến bậc đại học, các thầy cô cần phải quan tâm bồi dưỡng và phát triển với đối tượng là sinh viên thuộc các ngành văn học/ ngôn ngữ học trên cả nước ở tất cả các cơ sở đào tạo. | ‘Gỡ khó’ để lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật phát triển – Tác giả: Ngô Khiêm | 1,524 | |
Hoà Cường Bắc
là một phường thuộc
quận Hải Châu
,
thành phố Đà Nẵng
, Việt Nam.
Phường Hoà Cường Bắc được chia tách từ phường Hoà Cường (cũ) theo Nghị định 24/NĐ-CP ngày 02/3/2005 của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 11/4/2005. Địa bàn Phường nằm về phía Nam quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; có diện tích tự nhiên 3.2 km
2
, phía Bắc giáp
phường Hoà Thuận Đông
, phía Nam giáp
phường Hoà Cường Nam
, phía Tây giáp
phường Hoà Thuận Tây
và sân bay Đà Nẵng, phía Đông giáp sông Hàn. Dân số hơn 27 ngàn nhân khẩu gồm khoảng 7500 hộ thường trú và 998 hộ tạm trú (có hơn 5.000 học sinh-sinh viên trọ học) chia thành 94 Tổ dân phố kể từ tháng 01/10/2017.
Đại bộ phận nhân dân có nhà ở ổn định, kiên cố, đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển, cơ cấu kinh tế chủ yếu tập trung vào các ngành nghề buôn bán, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tỷ trọng sản xuất nông nghiệp hầu như không đáng kể. Tình hình anh ninh chính trị trên địa bàn phường trong những năm qua luôn đảm bảo ổn định. | Giới thiệu khái quát phường Hòa Cường Bắc | 200 | |
1. Điều kiện tự nhiên:
Phường Thanh Bình thuộc
quận Hải Châu
,
thành phố Đà Nẵng
, có diện tích tự nhiên 76,3641 ha (khoảng 0,76 km2), nằm về phía Bắc thành phố, một địa bàn hết sức quan trọng về mặt quân sự để bảo vệ thành phố Đà Nẵng từ biển Đông.
Phía Tây, Tây Bắc phường Thanh Bình có bờ biển Thanh Bình nằm trong vịnh Đà Nẵng, phía Đông Bắc giáp
phường Thuận Phước
, phía Đông Nam giáp
phường Thạch Thang
, phía Tây Nam giáp
phường Tam Thuận
(
quận Thanh Khê
). Phường Thanh Bình nằm trong khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính đặc thù của khí hậu ven biển Trung Trung bộ, nhiệt độ trung bình hàng năm là 25o C, nhiệt độ trung bình mùa hè 28-30oC.
Bãi biển Thanh Bình nằm trong vịnh Đà Nẵng, là địa danh lịch sử, có phong cảnh đẹp, nước biển trong xanh được bao bọc bởi dãy núi Hải Vân, nhân dân địa phương thường gọi là Vũng Thùng, ngoài ra còn có các tên cổ như Trà Úc, Trà Áo, Trà Sơn hay Đồng Long Loan. Trước đây, dọc bờ biển có rừng cây phi lao để chắn cát tạo thêm màu xanh và bóng mát cho bãi biển. Bờ biển Thanh Bình quanh năm sóng vỗ rì rào, tạo nét nên thơ cho thành phố Đà Nẵng.
Năm 1470, vua Lê Thánh Tông thân chinh vào Nam, khi đại quân dừng chân ở Vịnh Đà Nẵng, trước cảnh hữu tình biển trời, mây nước nhà vua có đề thơ rằng:
Tam canh dạ tĩnh Đầm Long nguyệt
Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền
(Canh ba trăng lên tại xứ Đầm Long
Canh năm trống điểm tại thuyền Lộ Hạc
[1]
)
Phường Thanh Bình có địa hình bằng phẳng, phần lớn là đất cát biển. Theo những người sống lâu năm tại địa phương, nguyên vùng này là bãi cát bồi, xen lẫn đầm hồ do biển tạo ra, kéo dài đến tận khu vực đường Thanh Long ngày nay. Lúc đầu là bãi cát hoang sơ, chỉ là nơi phơi ngư lưới cụ và neo đậu thuyền đánh cá của ngư dân trong vịnh Đà Nẵng.
So với các phường trong quận Hải Châu, đơn vị hành chính phường Thanh Bình hình thành muộn hơn. Tháng 7 năm 1954, thực hiện Hiệp định Giơnevơ, quân đội Pháp ở miền Bắc Việt Nam chuyển quân về phía nam vĩ tuyến 17, sông Bến Hải, Quảng Trị. Trong đó, một số binh lính trong quân đội Pháp mang theo cả gia đình vào sinh sống tại khu vực ven biển Thanh Bình, Đà Nẵng. Từ đó, dân cư qui tụ ngày càng đông. Chính quyền Nguỵ thành lập xã Thanh Hà, sau đó tách địa giới hành chính và lập ra khu phố Xương Bình. Khu phố Xương Bình là tiền thân của phường Thanh Bình ngày nay.
Vùng đất Thanh Bình ngày nay được nhập vào đất Đại Việt từ năm 1306, vua Chămpa là Chế Mân dâng 2 châu Ô và Lý để làm sính lễ xin cưới công chúa Huyền Trân, em gái của vua Trần Anh Tông. Vua Trần Anh Tông đổi tên châu Ô, châu Lý thành Thuận Châu (gồm phần đất Quảng Trị) và Hoá Châu (gồm Thừa Thiên và vùng đất từ đèo Hải Vân đến bờ bắc sông Thu Bồn).
Đến thời hậu Lê, vùng đất Thanh Bình thuộc huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong của Thừa Tuyên Thuận Hoá; dưới thời chúa Nguyễn, từ năm 1604 trở đi thuộc về Huyện Hoà Vang, Dinh Quảng Nam. Dưới thời Đồng Khánh (đến năm 1887) đất Thanh Bình thuộc Tổng Bình Thới Hạ, Huyện Hoà Vang. Đến ngày 27- 8 năm Mậu Tý (tức ngày 3-10-1888), triều đình nhà Nguyễn cắt 5 xã Thạch Thang, Hải Châu, Phước Ninh, Nam Dương, Nại Hiên làm nhượng địa cho Pháp, trong đó có vùng đất Thanh Bình. Ngày 3-1-1893, thực dân Pháp thành lập đơn vị hành chính đặt tên là Tourane và tách khỏi tỉnh Quảng Nam. Đất Thanh Bình thuộc thành phố Tourane, là đất nhượng địa của Pháp.
Sau khi xâm lược nước ta, để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa ở Đà Nẵng, thực dân Pháp tiến hành xây dựng cảng Đà Nẵng và làm đập kè Thuận Phước, xây dựng đập đá Nại Hiên Đông, theo luồng dòng nước chảy, đất bồi ngày càng nhiều vào phía Tây cửa sông Hàn, dần dần hình thành dải đất từ Xuân Hà, Thanh Bình đến Thuận Phước. Để giữ đất, nhân dân trồng dương liễu dọc theo ven biển.
Sau cách mạng tháng 8-1945 thành công, vùng đất Thanh Bình ngày nay thuộc về thành phố Thái Phiên. Tháng 3-1946, để chuẩn bị kháng chiến theo chủ trương của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, thành phố Thái Phiên được chia thành 7 khu phố. Đất Thanh Bình thuộc về khu phố Trần Phú. Đến tháng 12-1946, kháng chiến bùng nổ, thành phố Đà Nẵng được chia thành 3 khu, đất Thanh Bình thuộc về khu Trung thành phố Đà Nẵng.
Tháng 7-1954, thi hành Hiệp định Giơnevơ, lực lượng quân đội Pháp chuyển quân về miền Nam Việt Nam. Theo đó, một số gia đình binh lính người Việt di cư vào sống tại khu vực ven biển Thanh Bình. Chính quyền Nguỵ thành lập xã Thanh Hà, trong đó có khu phố Xương Bình. Địch xây dựng Trung tâm huấn luyện Bình trị (ngày nay là khu vực trường Cao đẳng công nghệ), Trung tâm tuyển mộ nhập ngũ số 1 của miền Trung, Trung tâm thẩm vấn Thanh Bình, Khu chung cư 30 gian cấp cho đồng bào di cư năm 1954, trong đó có một số gia đình binh lính địch (nay thuộc tổ dân phố 31), Khu cư xá công chức nguỵ quyền ở kiệt vào kho lương thực (nay là tổ dân phố 37) đường Cao Thắng. Khu phố Xương Bình có các khóm Bình Định, Bình Sơn, Bình Minh, Bình Bắc, Bình Hải, Nam Hà, Bắc Hà, Tân Lập B, Tân Lập A. Thành phố Đà Nẵng lúc này được chia thành 3 quận, khu Trung gọi là quận II (sau gọi là quận I), gồm có 8 khu phố: Thiệu Bình, Xương Bình, Thạch Thang, Hải Châu, Nam Phước, Bình Hiên, Hoà Thuận và Hoà Cường.
Sau ngày 29-3-1975, thành phố Đà Nẵng được giải phóng, chính quyền cách mạng thành lập lại đơn vị hành chính mới. Tháng 7-1975, theo chủ trương chia lại địa giới quản lý hành chính cấp cơ sở, thống nhất tên gọi là phường. Khu phố Xương Bình được đổi thành phường Thanh Bình. Đến tháng 4.1978, Tỉnh uỷ Quảng Nam Đà Nẵng giải thể đơn vị hành chính cấp quận thành lập thành phố Đà Nẵng, phường Thanh Bình trực tiếp dưới sự lãnh đạo của Thành uỷ Đà Nẵng (cũ).
Ngày 31-10-1996, Quốc hội quyết định tách thành phố Đà Nẵng thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương. Ngày 23-1-1997, Thủ tướng ra nghị định 07/CP thành lập bộ máy quản lý hành chính từ thành phố đến cơ sở. Phường Thanh Bình thuộc quận Hải Châu, một thời kỳ mới mở ra tạo điều kiện để thành phố Đà Nẵng và phường Thanh Bình phát triển.
2. Tình hình kinh tế – xã hội:
Dân cư phường Thanh Bình được hình thành muộn hơn so với các phường trong quận Hải Châu. Trước năm 1954, vùng đất Thanh Bình ngày nay, dân cư còn thưa thớt, chủ yếu sống tập trung dọc theo đường Khải Định (nay là đường Ông Ích Khiêm), đường Cường Để (nay là đường Đống Đa), đường Cao Thắng, Đinh Tiên Hoàng. Phần lớn nhân dân sống bằng nghề buôn bán nhỏ, dân lao động nghèo, một bộ phận làm nghề biển. Khu vực Tân Lập A, Tân Lập B, Hải Hà là bãi cát chưa có dân cư sinh sống.
Sau tháng 7-1954, thi hành Hiệp định Giơnevơ, một số gia đình binh lính địch và giáo dân ở miền Bắc vào định cư sinh sống tại khu vực Hải Hà và Bình An. Năm 1962, 1963, một bộ phận dân cư làm nghề cá ở làng chài khu vực Lỗ Sài, Hoá Sơn, Cồn Bồi, Nại Nam thuộc xã Hoà Cường ra cư trú rải rác ở bãi biển Xương Bình, nay là Thanh Bình, nhưng chủ yếu là ở Cồn Aïn (Đa Phước, Thuận Phước ngày nay). Sau đó, một bộ phận nhân dân ở Hoà Cường tiếp tục di chuyển ra ở để thuận tiện cho việc hành nghề đánh bắt hải sản.
Từ sau tháng 3 năm 1965, đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào Đà Nẵng mở rộng chiến tranh, khu vực Thanh Bình có sự thay đổi lớn về mặt xã hội, dân cư ngày càng đông, đường phố được nâng cấp. Chiến tranh ở các huyện thuộc tỉnh Quảng Nam ngày càng ác liệt, một bộ phận nhân dân do bị chiến tranh tàn phá, hoặc bị địch dồn dân, lập ấp chiến lược, nên chạy ra làm nhà ở dọc bờ biển Thanh Bình.
Trong thời gian này, khu vực Hải Sơn dân cư chỉ tập trung ở các đường Thanh Long, Thanh Sơn, Thanh Thuỷ. Đường Hải Hồ lúc ấy chỉ là con đường đất lầy lội, kéo dài đến chùa Thanh Bình. Chính quyền nguỵ đã cho xây dựng khu gia binh cho các gia đình lính ở khu vực Bình An (là khu vực thuộc tổ dân phố 15, 16 hiện nay). Đồng thời một bộ phận nhân dân vẫn tiếp tục lấn biển để làm nhà ở và hình thành khu vực Tân Hải (Thanh Hải).
Đặc biệt, sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, địch bị thất bại nên đã dùng thủ đoạn “đốt sạch, giết sạch, phá sạch”, “tát nước bắt cá” nên một bộ phận dân cư các vùng quê đã bỏ chạy ra sống ở Tân Lập A. Trong đó có đồng bào Hoá Sơn- Hoà Cường. Năm 1972, có một bộ phận nhân dân Quảng Trị, Thừa Thiên Huế cũng chạy lánh nạn chiến tranh, vào lập nghiệp ở khu vực Tân Lập A.
Sau tháng 3-1975, quê hương hoàn toàn được giải phóng, thực hiện chủ trương của Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, những người dân trước đây chạy lánh nạn chiến tranh ở trên địa bàn phường Thanh Bình lần lượt trở về quê cũ làm ăn, sinh sống. Cùng thời gian đó có nhiều gia đình cán bộ đi tập kết Miền Bắc trở về vàì một số cán bộ hưu trí, cán bộ công nhân viên nhà nước ở các nơi khác cũng về cư trú tại phường Thanh Bình, chính vì thế mà dân cư trên địa bàn phường có sự dao động. (Năm 1976 có 16. 982 người, năm 1977: 15.946 người, năm 1978: 15.624 người). Nhìn chung dân số của phường giảm, nguyên nhân là do sau giải phóng một số lớn hộ dân trở về quê cũ sinh sống và một số khác đi tham gia vùng kinh tế mới .
Từ năm 1997, với đường lối đổi mới của Đảng, thành phố Đà Nẵng đã trực thuộc Trung ương, phường Thanh Bình có điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, đã có nhiều người dân đến mua đất làm nhà, mở cơ sở sản xuất ở phường Thanh BÌnh. Dân số ngày càng đông, đến năm 2000 phường Thanh Bình đã có hơn 19.631 người, với 3.415 hộ dân.
Về giao thông: phường Thanh Bình có đường Khải Định (nay là đường Ông Ích Khiêm) chạy ra biển Thanh Bình. Đây là con đường có từ thời Đà Nẵng còn là đất nhượng địa của Pháp. Thực dân Pháp đã mở con đường này để phục vụ việc đi lại, tắm biển, nghỉ mát ở bãi biển Thanh Bình. Đường Khải Định chia phường Thanh Bình ra làm hai: 1/4 diện tích của phường ở phía Tây đường và 3/4 diện tích của phường nằm ở phía Đông đường.
Phía Tây đường Khải Định có các trục đường chính là Đinh Tiên Hoàng, Bắc Đẩu và các con kiệt, đường hẻm. Ở phía Đông đường thì có các trục đường chính chạy theo hướng Tây- Bắc là đường Đống Đa, đường Hải Hồ, Thanh Sơn, Thanh Long, Thanh Thuỷ, Thanh Hải, Thanh Duyên. Những con đường chạy theo hướng Nam- Bắc gồm: đường Cao Thắng, đường Gia Long nối dài (nay là đường Lý Tự Trọng), Hải Sơn và nhiều đường kiệt, hẻm,đường liên phường.
Giữa 2 khu phố Xương Bình và Thiệu Bình trước đây có con lạch ngăn cách giữa 2 phường. Con lạch chảy ra sông Hàn và đổ vào vịnh Đà Nẵng. Ngư dân làm biển theo con lạch để ra biển. Hồ Đầm Rong nằm ở Bình An.
Khi đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào Đà Nẵng, mở rộng chiến tranh, địch đã tiến hành cải tạo và nâng cấp, đặt tên các tuyến đường như Thanh Sơn, Thanh Thuỷ, Thanh Hải, Thanh Long, Thanh Duyên và phường Thanh Bình đã có sự thay đổi về nhà cửa và đường xá.
Sau năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nhà nước và nhân dân đóng góp sức người, sức của từng bước nâng cấp và chỉnh trang các trục đường trên địa bàn phường ngày càng thuận tiện cho việc đi lại của nhân dân, bộ mặt phường ngày càng khang trang, hiện đại hơn.
Trong thời kỳ đất nước đổi mới, cùng với sự phát triển đi lên của thành phố Đà Nẵng, tuyến đường Nguyễn Tất Thành đã được xây dựng chạy dọc theo ven biển đã làm thay đổi hẵn bộ mặt của phường Thanh Bình; hướng ra biển Đông, tạo ra sự chuyển biến mới trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xây dựng quê hương Thanh Bình ngày càng giàu đẹp.
Về tôn giáo: phường Thanh Bình có 3 cơ sở gồm nhà thờ Giáo xứ Thanh Bình (ở số 24 đường Cao Thắng), Nhà thờ Nội Hà ( ở đường Đinh Tiên Hoàng) và Chùa Thanh Bình (ở số 71 đường Hải Hồ). Đó là những nơi sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo của bà con theo đạo.
Hệ thống trường học ở Thanh Bình gồm có: trường Kỹ thuật Đà Nẵng được thành lập năm 1962, đến năm 1976 đổi tên thành trường Công nhân Kỹ thuật Nguyễn Văn Trỗi; năm 1994 thực hiện Nghị định 32/CP của Chính phủ thành lập Đại học Đà Nẵng, trường được đổi tên thành Trường Cao đẳng Công nghệ, đây là một trong 5 trường thành viên của Đại học Đà Nẵng và là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật và công nghệ phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội khu vực miền Trung- Tây Nguyên.
Các trường phổ thông và mẫu giáo: Trường Tiểu học Đinh Bộ Lĩnh – nay là trường Trung học cơ sở Lê Hồng Phong nằm ở đường Hải Sơn; trường Tiểu học Trần Thị Lý nằm ở đường Thanh Sơn; trường tiểu học Ông Ích Khiêm – cơ sở I nằm ở đường Ông Ích Khiêm, cơ sở II nằm ở đường Đinh Tiên Hoàng. Trường Mầm non – Măng non nằm ở đường Thanh Sơn và cơ sở 2 của trường nằm trong kiệt trên đường Ông Ích Khiêm – có tên gọi là trường mầm non Hoa Huệ. Ngoài ra còn có một cơ sở mang tên Lớp mẫu giáo tình thương nằm trên đường Thanh Hải.
Trường Văn hoá – Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng có từ sau năm 1975, chuyên đào tạo về lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, hàng năm trường đã đào tạo và cung cấp cho thành phố nhiều cán bộ về lĩnh vực này. Đến nay trường đã chuyển về quận Ngũ Hành Sơn.
Về bệnh viện: trước năm 1975, Phường Thanh Bình có Dưỡng đường Terésa. Sau năm 1975 đổi tên thành Bệnh viện quận I – ở số 38 đường Cao Thắng. Bệnh viện này có một đội ngũ y, bác sĩ có trình độ chuyên môn vững, giàu kinh nghiệm, có uy tín trong khám và chữa bệnh, phục vụ nhân dân. Bên cạnh đó phường còn có một Trạm xá với đội ngũ cán bộ nhiệt tình, chịu khó; Trạm xá phường là nơi trực tiếp tổ chức triển khai các hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân và các chương trình quốc gia về ytế trên địa bàn: phòng chống dịch bệnh, tiêm phòng vắc-xin và cho trẻ uống vitamin A; phối kết hợp khám bệnh miễn phí cho nhân dân trong phường và tổ chức truyền thông dân số.
Phường Thanh Bình có nhiều cơ quan, xí nghiệp của Trung ương và của địa phương đóng trên địa bàn; có Khách sạn – nhà nghỉ dưỡng Công đoàn.
Trên địa bàn phường có một chợ gọi là Chợ Thanh Bình, nằm ở đường Ông Ích Khiêm.
Về kinh tế, do đặc điểm của dân cư và điều kiện kinh tế nên sau giải phóng năm 1975, Uỷ ban nhân dân phường đề ra nhiều giải pháp phát triển sản xuất, nhanh chóng ổn định cuộc sống, tạo công ăn việc làm cho người dân. Đảng bộ đã chú trọng phát triển các cơ sở Tiểu thủ công nghiệp, mở mang các ngành nghề truyền thống, các dịch vụ để nhân dân tham gia sản xuất. Cuộc sống người dân từ chỗ chủ yếu sống dựa vào guồng máy phục vụ chiến tranh của Mỹ – nguỵ, nay chuyển sang lao động sản xuất, vừa giải quyết nhu cầu cuộc sống gia đình, vừa làm ra sản phẩm tiêu dùng cho xã hội.
Đặc biệt trong thời kỳ đất nước đổi mới, Đảng bộ, chính quyền đã tạo điều kiện để dân mở mang các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán, dịch vụ nhằm tăng thêm thu nhập; nhiều hộ giàu lên nhanh chóng. Đến năm 2000, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ thương nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn phường ngày một gia tăng, đời sống nhân dân phát triển mạnh.
Bia di tích lịch sử được xây tại góc đường Quang Trung – Đống Đa.
3. Truyền thống đấu tranh yêu nước:
Mảnh đất Thanh Bình, tiếp giáp với vịnh Đà Nẵng, nơi đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của dân tộc Việt Nam. Trong đó, đặc biệt là cuộc chiến đấu chống liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công vào Vịnh Đà Nẵng 1858-1860, mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây vào nước ta; và cuộc đổ bộ của quân viễn chinh Mỹ vào vịnh Đà Nẵng tháng 3. 1965, mở đầu cho việc quân viễn chinh Mỹ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam.
Ngày 3-2-1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, ngày 28-3-1930 Đảng bộ thành phố Đà Nẵng được thành lập. Xứ uỷ Trung kỳ chỉ định đồng chí Hồ Sĩ Thiều làm Bí thư Đảng bộ thị xã Tourane, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong phong trào đấu tranh cách mạng của Đà Nẵng. Đây là sự kiện lịch sử hết sức quan trọng đối với nhân dân phường Thanh Bình.
Năm 1930 những hoạt động rải truyền đơn, treo khẩu hiệu, treo cờ đỏ búa liềm và kêu gọi quần chúng đấu tranh chống áp bức bóc lột của đảng viên và một số cơ sở cách mạng trong nội ô Đà Nẵng đã nhanh chóng lan truyền đến những người lao động nghèo ở dọc đường Cường Để (Đống Đa), đường Khải Định (Ông Ích Khiêm)… công nhân, nhân dân lao động nghèo được tuyên truyền các từ mới lạ như “đấu tranh”, “bình đẳng”, “cách mạng”…
Trong những năm 1936-1939, nhân dân tham gia các phong trào đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ. Lực lượng thanh niên, học sinh và công nhân nội ô Đà Nẵng xuống đường lên án sự cai trị hà khắc của chế độ thực dân Pháp, đòi tự do, cơm áo.
Trong cách mạng Tháng Tám năm 1945, hoà với khí thế hừng hực đấu tranh của nhân dân sống trong nội ô thành phố, nhân dân ở các trục đường chính của Thanh Bình tham gia cùng với đoàn người biểu tình kéo về đình làng Hải Châu và toà Đốc lý Đà Nẵng lật đổ ách thống trị thực dân phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng. Cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 diễn ra nhanh chóng, nhân dân lao động đã làm nên điều kỳ tích trong lịch sử dân tộc, đã lật đỗ chính quyền thực dân phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng nhân dân. Nhân dân được đổi đời từ người dân nô lệ thành người làm chủ đất nước, đã tích cực tham gia phong trào chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, tham gia tuần lễ Đồng, tuần lễ Vàng…
Sau cách mạng tháng Tám thành công, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm nước ta lần thứ 2, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ ngày 19-1-1946, nhân dân Thanh Bình đã cùng nhân dân toàn thành phố Đà Nẵng bước vào cuộc chiến đấu mới trực diện với quân xâm lược Pháp.
Một bộ phận nhân dân tham gia thực hiện “vườn không, nhà trống”, đi tản cư vào vùng tự do, thực hiện lệnh hồi cư, xây dựng lực lượng, đưa phong trào du kích chiến tranh vào sào huyệt của kẻ thù. Nhân dân tham gia phục vụ cảnh giới, tiếp tế lương thực thực phẩm cho bộ đội, du kích, chuẩn bị chiến trường, đưa bộ đội tiếp cận các đồn bót địch trong nội ô Đà Nẵng, phục vụ các trận đánh trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Ngày 20-7-1954 Hiệp định Giơnevơ được ký kết, cuộc kháng chiến chống thực dân pháp của nhân dân ta đã giành thắng lợi | Giới thiệu khái quát phường Thanh Bình | 3,695 | |
Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thì đất Hải Châu hiện nay: Đời cổ là đất Việt Thường; đời Tần, Hán là đất Châu Tượng; đời Tấn là đất Lâm Ấp…đến đời Lý là đất Đại Việt. Vào năm 1400, Hồ Hán Thương chia đất này thành 4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và đến thời Hồng Đức 1471, vua Lê Thánh Tông lấy đất này đặt tên Thừa Tuyên Quảng Nam. Đây là đạo thứ 13 của nước Việt Nam thời đó.
Sơ hồ hành chính phường Hải CHâu II, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
– Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thì đất Hải Châu hiện nay: Đời cổ là đất Việt Thường; đời Tần, Hán là đất Châu Tượng; đời Tấn là đất Lâm Ấp…đến đời Lý là đất Đại Việt. Vào năm 1400, Hồ Hán Thương chia đất này thành 4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và đến thời Hồng Đức 1471, vua Lê Thánh Tông lấy đất này đặt tên Thừa Tuyên Quảng Nam. Đây là đạo thứ 13 của nước Việt Nam thời đó.
– Sáu họ tộc được vua Lê Thánh Tôn cắt cử ở lại khai khẩn vùng đất này là: họ Võ, Phạm, Lê, Nguyễn Văn, Trần, Phan. Quê chính của những họ này ở xã Hải Châu, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (địa danh này hiện nay vẫn còn ở Thanh Hóa).
– 87 năm sau, năm 1560 đoàn trai tráng là hậu duệ đời thứ tư của 6 tộc họ vào trước ở Hải Châu đã theo Nguyễn Hoàng vào khai khẩn đất đai gieo trồng lương thực nuôi quân canh giữ đất lành. Sáu họ này do ngài Cổn Quang Nguyễn Văn là hậu duệ đời thứ tư của Ngài thỉ tổ họ Nguyễn Văn vào thời Lê Thánh Tông được suy tôn đứng đầu làng Hải Châu. Và ngài Cổn Quang họ Nguyễn Văn đã trình lên Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng xin xác lập Hải Châu chánh xã. Kể từ đây tên đất này chính thức có tên Hải Châu chánh xã.
Các công trình văn hóa lịch sử trên đất Hải Châu II còn lại đến nay:
– Chợ Cồn;
– Sân vận động Chi Lăng – nơi sinh hoạt văn hóa thể thao của nhân dân TP Đà Nẵng;
– Trường Cự Tùng (Hội đồng Tùng) ở số 54 Trần Bình Trọng. Đây là nơi ra đời chi bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội đầu tiên của thành phố Đà Nẵng.
(Ba công trình: Chợ Cồn, Sân vận động Chi Lăng, Trường Cự Tùng đã được Công nhận di tích lịch sử theo Quyết định số 8847/QĐ-UBND ngày 18/12/2013 của UBND thành phố Đà Nẵng)
– Lịch sử Hải Châu chánh xã được xác lập lại từ năm 1560, dưới thời Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng. Thời mới thành lập Hải Châu là đơn vị hành chính cơ sở thuộc huyện Lệ Dương, phủ Thăng Hoa. Tính đến nay danh xưng Hải Châu chánh xã đã có 547 năm (1471-2018).
– Ngày 01/9/1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha do Ri-gôn đờ Giơ-nuy-dy (Rigauh de Genouilly) chỉ huy đã tấn công Đà Nẵng, mở màn cho cuộc chiến tranh xâm lược đất nước ta của chủ nghĩa thực dân phương Tây.
– Tháng 8.1975 Ủy ban Cách mạng Khu Trung Trung bộ quyết định chia tách khu phố Hải Châu thành hai đơn vị hành chính cơ sở: phường Hải Châu I và Hải Châu II.
– Dân cư Hải Châu II từ lâu đời đã được tổ chức theo phường hội ngành nghề; xưa kia là nấu muối, đánh bắt hải sản, đến cuối thế kỷ 19 – khi Đà Nẵng phát triển, đa số cư dân chuyển sang ngành nghề lao động phổ thông, buôn bán nhỏ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp.
– Từ khi có phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo vào những năm 1930, một số người của Hải Châu II thoát ly gia nhập lực lượng cách mạng, trở thành đảng viên, người lãnh đạo của tỉnh, huyện, phường, xã. Đa số dân chúng Hải Châu II ý thức con đường đấu tranh do Đảng Cộng sản lãnh đạo tham gia, ủng hộ phong trào cách mạng.
– Trải qua chặng đường lịch sử từ khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng 01/9/1858 đến 29/3/1975, trong 117 năm ấy, nhân dân Hải Châu II đã cùng với nhân dân các phường xã của thành phố Đà Nẵng phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc. Từ khi có Đảng lãnh đạo, truyền thống đó đã được nhân lên gấp bội, góp phần đánh thắng kẻ thù xâm lược, giành độc lập thống nhất Tổ quốc.
– Trong công cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm nhân dân Hải Châu II tích cực tham gia đóng góp tài chính cho kháng chiến, cụ thể: 3kg vàng, 10 tấn lương thực, 200m vải; huy động 306 lượt người vận chuyển 200 tấn lương thực, 73 tấn vũ khí.
– Trong thời gian hòa bình xây dựng, phường Hải Châu II đã vươn lên mạnh mẽ; làm tốt công tác hàn gắn vết thương chiến tranh, khai hoang phục hóa, trả lại màu xanh cho đất; trong phong trào thủy lợi hóa, Hải Châu II là một đơn vị có lực lượng đoàn viên thanh niên tham gia trên công trường thủy lợi Phú Ninh.
– Trong thời kỳ đổi mới, Phường cũng là địa phương đi đầu trong lĩnh vực kinh tế, an ninh-quốc phòng, an sinh xã hội…Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân phường Hải Châu II được Đảng và Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; Cán bộ và nhân dân Hải Châu II đã được đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động Hạng ba, Huân chương chiến công Hạng ba; được Chính phủ, Bộ nội vụ tặng nhiều bằng khen, cờ luân lưu.
Cả nước biết đến phường Hải Châu II như một hiện tượng xây dựng cuộc sống mới của nhân dân ở cơ sở./.
UBND phường Hải Châu II, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng
Địa chỉ: 38 Triệu Nữ Vương,
Hải Châu
,
TP. Đà Nẵng
Điện thoại: 0236.3.821.207
Email: haichau2@danang.gov.vn | Giới thiệu khái quát phường Hải Châu 2 | 1,058 | |
So với các phường thuộc
quận Hải Châu
, phường Thuận Phước hình thành muộn hơn. Nơi đây trước kia là những bãi lầy, cồn cát được bồi đắp bởi eo biển Đà Nẵng và cửa sông Hàn. Nhân dân vùng phụ cận trồng phi lao chống xói mòn, cát bay, che chắn gió và khai thác chất đốt; chưa hình thành khu dân cư, không có tên làng, ấp. Từ giữa thế kỷ XX, trên vùng đất ven biển phía Đông Bắc thành phố Đà Nẵng đã dần dần hình thành bãi bồi mang tên bãi Trẹm, lác đác quy tụ một số ít gia đình ngư dân nghèo của địa phương về đây làm ăn sinh sống. Từ năm 1955, một số đồng bào quê Hà Tĩnh, Quảng Bình di cư vào Nam, đến vùng Trẹm Đà Nẵng, lập 2 khối phố Thanh Bồ và Đức Lợi, hình thành khu phố Thiệu Bình, là tiền thân của phường Thuận Phước, trực thuộc quận I, thị xã Đà Nẵng. Diện tích ước khoảng 1km
2
, đông giáp Sông Hàn, tây giáp
phường Thanh Bình
, nam giáp phường Thanh Bình, bắc giắp Vũng Thùng vịnh Đà Nẵng.
Sau trận lụt lớn năm 1964, Cồn Áng tại Đa Phước ngày nay được bồi đắp, một số ngư dân về đây lánh cư, lập nghiệp, hình thành thêm khối phố Đa Phước. Đại bộ phận là ngư dân đánh bắt hải sản bằng các nghề rớ, sáo, chài, mành chà, te ruốc, lưới, cầu,… Đời sống của nhân dân rất khó khăn, thiếu thốn.
Đến tháng 8/1975, tên gọi mới phường
THUẬN PHƯỚC
chính thức ra đời từ
sự thống nhất lấy một “từ” đầu của khối Thuận Lập A (trước đây thuộc phường Thạch Thang) với một “từ” cuối của khối Đa Phước.
Sau đại thắng mùa Xuân 1975, Tổ quốc thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, dân và quân phường Thuận Phước tích cực hàn gắn vết thương chiến tranh, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng – an ninh, phát triển kinh tế – xã hội, chăm lo đời sống của nhân dân về mọi mặt… Đặc biệt, trước hoàn cảnh hàng trăm gia đình ngư dân nghèo phải sống lênh đênh trên ghe thuyền chật chội hoặc chui rúc trong dãy nhà chồ xiêu vẹo, chính quyền phường đã kịp thời chủ trương cho bà con được lên đất liền làm nhà để có chỗ cư trú ổn định yên tâm làm ăn, sinh sống; ra sức vận động nhân dân hăng hái tham gia khai hoang, phục hóa các cùng lân cận, tăng gia sản xuất, công cuộc gầy dựng phong trào bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ được chăm lo. Năm 1983, 1984, phường được Bộ nội vụ quyết định trao tặng cờ luân lưu về phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, lãnh đạo phường quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, mở rộng trạm xá y tế, giáo dục tiếp tục phát triển, nghề đánh bắt và chế biến hải sản vốn là nghề chủ yếu của phường được khôi phục và phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn. Đời sống nhân dân dần dần được cải thiện. Năm 1995, Đảng bộ phường được công nhận là “Đảng bộ trong sạch vững mạnh”.
Trụ sở UBND phường Thuận Phước
Trong những năm 1997 – 2000, sau khi thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương, Đảng bộ và nhân dân Thuận Phước càng cố gắng vươn lên đuổi kịp đà phát triển chung của quận và thành phố, bắt đầu từ lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng của thành phố như nâng cấp và mở rộng tuyến đường Đống Đa, thực hiện vận động giải tỏa di dời trên 400 hộ dân nhằm xây dựng tuyến đường Nguyễn Tất Thành, một con đường huyết mạch của thành phố, tạo điều kiện đổi mới và phát triển địa phương.
Từ năm 2000 đến nay, với sự nỗ lực, quyết tâm bền bỉ của nhân dân và Đảng bộ, chính quyền địa phương, phường Thuận Phước đã từng bước phát triển toàn diện trên mọi mặt đời sống. Hiện nay, với dân số trên 20 ngàn người, toàn phường có 60 tổ dân phố trực thuộc. Trên địa bàn, có 7 trường học (Trung học cơ sở Lê Thánh Tôn, Tiểu học Võ Thị Sáu, các trường Mầm non: Bình Minh, Hồng Ân, Vàng Anh, Bồ Công Anh, Nhật Minh); 02 nhà thờ (Thanh Đức, Ngọc Quang); 01 chùa (Thuận Châu); 02 chợ (Đống Đa, Đa Phước); hàng trăm doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động. Cùng với ý thức của người dân trong việc chấp hành pháp luật được nâng lên, diện mạo đô thị phường không ngừng thay đổi, ngày càng khang trang, hiện đại và văn minh. Các ngành kinh tế phát triển đa dạng, nhất là ngành khai thác đánh bắt hải sản, nhà hàng, dịch vụ du lịch và buôn bán nhỏ…; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân nhìn chung ổn định và có nhiều bước nâng cao. An sinh xã hội được chú trọng chăm lo và bảo đảm. Quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững. Phường là một trong những đơn vị dẫn đầu toàn quận về ứng dụng công nghệ thông tin gắn với cải cách hành chính trong giải quyết công vụ trong những năm gần đây. Năm 2017, Đảng bộ phường vinh dự được công nhận là “Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu” của quận Hải Châu.
Phát huy những thành quả đã đạt được, quyết tâm vượt qua khó khăn, thử thách, tận dụng những thuận lợi cơ bản và cơ hội mới, với sự đoàn kết, thống nhất cao trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, Đảng bộ và nhân dân phường Thuận Phước tiếp tục ra sức phấn đấu xây dựng phường ngày càng giàu đẹp, văn minh, phát triển đi lên cùng quận, thành phố và cả nước./. | Giới thiệu khái quát phường Thuận Phước | 1,018 | |
Phường Hòa Thuận Tây là một đơn vị hành chính trực thuộc
quận Hải Châu
,
thành phố Đà Nẵng
, nằm về phía Đông Bắc của quận Cẩm Lệ, ở 108
0
kinh đông và 16,2
0
vĩ Bắc; phía Đông giáp
phường Hoà Thuận Đông
,
phường Hòa Cường Bắc
(
Quận Hải Châu
), phía Tây giáp Sân bay Quốc tế Đà Nẵng, phường Hòa Khê (quận Cẩm Lệ), phía Nam giáp phường Khuê Trung, (
Quận Cẩm Lệ
), phía Bắc giáp
phường Thạc Gián
, phường Vĩnh Trung (
Quận Thanh Khê
). Có vị trí thuận lợi về giao thông, nhiều cơ quan đơn vị nhà nước, bệnh viện lớn, Sân bay Quốc tế Đà Nẵng đứng chân trên địa bàn. Phường Hòa Thuận Tây có diện tích đất tự nhiên là 848 ha, chiếm 28% diện tích quận Hải Châu. Dân số toàn phường khoảng 16.000 người.
Cơ cấu tổ chức của phường: tổng số CBCC của phường là 47 đồng chí, trong đó số CBCC nằm trong định biên là 25 đồng chí. Ở khu dân cư có 45 chi bộ, 52 tổ dân phố, 45 Ban công tác mặt trận, 46 chi hội Cựu chiến binh, 10 chi Đoàn thanh niên và 52 chi hội Phụ nữ. | Giới thiệu khái quát phường Hòa Thuận Tây | 195 | |
Phường Hòa Thuận Đông là một đơn vị hành chính trực thuộc
quận Hải Châu
,
thành phố Đà Nẵng
, được thành lập năm 2005 trên cơ sở chia tách một phần diện tích và dân số của phường Hòa Thuận. Phường Hoà Thuận Đông có diện tích 1,137 km², dân số trung bình 15.530 người, mật độ dân số đạt 13.659 người/km². Phía Đông giáp Sông Hàn, phường An Hải Tây (
Quận Ngũ Hành Sơn
), phía Tây giáp
phường Hòa Thuận Tây
(quận Hải Châu), phường Vĩnh Trung (
quận Thanh Khê
), phía Nam giáp
phường Hòa Cường Bắc
, phía Bắc giáp
phường Bình Thuận
(quận Hải Châu).
UBND phường Hòa Thuận Đông
Là phường trọng điểm về quốc phòng an ninh của thành phố, có các đơn vị của Bộ Quốc phòng, Tổng công ty Điện lực Miền trung, Chợ Mới, và nhiều cơ quan, đơn vị của Trung ương đứng chân trên địa bàn phường.
Cơ cấu tổ chức của UBNDphường: tổng số CBCC-NLĐ của phường là 54 người, trong đó số CBCC nằm trong biên chế là 22 người, không chuyên trách 26 người, HĐLĐ khác 06 người. Khu dân cư có 27 chi bộ, 48 tổ dân phố, 27 Ban công tác mặt trận, 19 chi hội Cựu chiến binh, 18 chi Đoàn thanh niên và 27 chi hội Phụ nữ. | Giới thiệu khái quát phường Hòa Thuận Đông | 214 | |
1. Vị trí địa lý
Thanh Khê Đông
là một phường thuộc
quận Thanh Khê
,
thành phố Đà Nẵng
,Việt Nam. Phường nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 3 km về phía bắc, cách cửa sông Hàn 4 km kể từ cầu Thuận Phước.
– Phía Đông giáp phường Xuân Hà và phường Chính Gián;
– Phía Tây giáp phường Thanh Khê Tây
– Phía Nam giáp phường An Khê và Hòa Khê;
– Phía Bắc giáp Vịnh Đà Nẵng
2. Diện tích – Dân số
Được thành lập vào ngày 25 tháng 08 năm 2005 theo Nghị định số 102/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2005 về việc thành lập phường, xã thuộc quận Thanh Khê và huyện Hoà Vang thành lập quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng; có diện tích tự nhiên 82,40 ha; dân số của phường hiện nay gần 15.000 người.
3. Lịch sử hình thành
– Từ thời nhà Đường đến Nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê: cả vùng đất rộng lớn bao gồm cả Đà Nẵng ngày nay thuộc đất Chiêm.
– Thời nhà Lý, nhà Trần, vùng này được gọi là xứ Thanh Khê
[1]
thuộc Nam Ô châu, là vùng đất tranh giành ảnh hưởng qua lại giữa Chiêm và Việt trong thời gian nầy. Tuy nhiên, trong hầu hết thời gian, vùng này vẫn thuộc phạm vi kiểm soát của Chiêm Thành.
– Thời nhà Hồ, Đại Việt từng tiến đánh Chiêm 2 lần, buộc Chiêm dâng đất Chiêm động (trong đó có cả vùng Thanh Khê), Tư Nghĩa để cầu hòa. Sau khi nhà Minh Trung Quốc diệt nhà Hồ, đô hộ đất Việt, về danh nghĩa kiểm soát vùng này, nhưng trên thực tế buông lỏng quản lý do quá xa phạm vi thế lực.
– Thời nhà Hậu Lê, vào năm 1471, Đại Việt tấn công và đẩy lùi vương quốc Chiêm Thành qua khỏi khu vực đèo Cù Mông. Xứ Thanh Khê được đặt thuộc huyện Hòa Vang, phủ Điện Bàn, đạo thừa tuyên Quảng Nam, nằm trong bản đồ Đại Việt.
– Thời nhà Nguyễn, năm 1806, Gia Long chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ. Vùng này trở thành xã Thanh Khê thuộc huyện Hòa Vang, phủ Điện Bàn, Quảng Nam doanh. Năm 1831, Minh Mạng đổi Quảng Nam doanh thành tỉnh Quảng Nam.
– Năm 1888, thời Đồng Khánh, Đà Nẵng bị tách khỏi Quảng Nam để trở thành đất nhượng địa của Pháp. Xã Thanh Khê trở thành khu Thanh Khê thuộc Tourane.
– Từ năm 1954 đến ngày 6 tháng 1 năm 1973, được gọi là khu phố Thanh Khê trực thuộc khu Đà Nẵng.
– Từ năm 1973 đến tháng 2 năm 1976, là khu phố Thanh Khê thuộc phường Thanh Lộc Đán, quận II, thành phố Đà Nẵng.
– Từ năm 1976 đến ngày 31 tháng 12 năm 1996, là khu phố Thanh Khê thuộc phường Thanh Lộc Đán, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng.
– Từ năm 1997 đến ngày 26 tháng 8 năm 2005, là khu phố Thanh Khê thuộc phường Thanh Lộc Đán, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
– Từ ngày 26 tháng 08 năm 2005, phường Thanh Khê Đông được thành lập, tách ra từ phường Thanh Lộc Đán, phần còn lại là phường Thanh Khê Tây, trực thuộc Quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng.
4. Truyền thống văn hóa
Cả Thanh Khê Đông và Thanh Khê Tây xưa thuộc làng Thanh Khê, được xem là vùng đất học. Trong thời kì phong kiến, Thanh Khê là làng giàu truyền thống văn hóa. Tại phường Thanh Khê Đông có một tượng đài bằng đồng làm từ vỏ đạn, đứng dang tay về hướng biển.
5.Lễ hội truyền thống
– Lễ hội cầu Ngư tổ chức vào 16 tháng giêng hằng năm.
– Lễ cúng Thành hoàng và cúng Bà cứu giúp dân trong trận dịch tả đầu tiên và các âm cô hồn vào tháng 22-05 hằng năm.
– Lễ cúng cá ông và cô bác chết nước trong các trận bão lớn vào tháng 12.
6.Kinh tế
– Cơ cấu ngành nghề chính là Thương mai – Dịch vụ; khai thác thủy – hải sản.
——————————
Chú thích
(1) Địa danh này có nghĩa là “khe nước xanh”, nay là con sông Phú Lộc chảy ra biển qua địa phận phường Thanh Khê Đông. | Giới thiệu khái quát phường Thanh Khê Đông | 707 | |
Là một trong những phường thuộc
quận Hải Châu
, trung tâm
thành phố Đà Nẵng
, Bình Hiên trở thành một địa danh được nhiều sử sách nhắc đến khi nói đến quá trình hình thành và phát triển của thành phố này.
Phường Bình Hiên hiện nay được giới hạn trên bản đồ Đà Nẵng là: phía Đông giáp Sông Hàn, phía Tây giáp phường Vĩnh Trung, phía Bắc giáp
Nam Dương
và
Phước Ninh
và phía Nam giáp phường
Bình Thuận
. Diện tích toàn phường khoảng hơn nữa cây số vuông. Trước năm 1975, dân cư phường Bình Hiên còn thưa thớt song hơn 25 năm qua, do tốc độ gia tăng dân số tự nhiên và cơ học khá nhanh, nên hiện nay dân số của phường là” 12.926 người.
Do sự biến động của lịch sử thành phố Đà Nẵng nên vị trí, địa lý, tên gọi, giới hạn của Bình Hiên qua các thời kỳ cũng thay đổi ít nhiều. Trước năm 1975, căn cứ vào Nghị định ban hành 5.1.1973, ngụy quyền Sài Gòn lấy Nại Hiên Tây (A và B), Tân Thành (A và B), Vĩnh Ninh, Bình Thuận, Bình Hải, Bình An để lập ra Chi cục Bình Hiên. Sau năm 1975, chính quyền cách mạng tách Tân Thành A, Bình Thuận, Bình Hải, Bình An ra khỏi Bình Hiên.
Năm 1997, UBND thành phố Đà Nẵng chỉnh trang lại ranh giới giữa các phường trong thành phố nên phường Bình Hiên còn có thêm khối V tức là khối An Lạc. Vì thế phường Bình Hiên hiện nay bao gồm các khối như sau: Khối Vĩnh Ninh 1 (thuộc xã Thạc Gián cũ) khối III và IV (là xã Nại Hiên Tây) và khối V (thuộc xã Phước Ninh cũ).
Về khí hậu thủy văn, giống như thành phố Đà Nẵng, Bình Hiên cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới giáo mùa ven biển Miền Trung. Mùa nắng kéo dài từ tháng 2 đến tháng 9 dương lịch, khí hậu thường khô, nóng và ít mưa. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 1 dương lịch năm sau, do mưa nhiều nên không khí thường ẩm ước. Điều kiện khí hậu thủy văn đó ảnh hường rất nhiều đến hoạt động kinh tế của nhân dân.
Cùng với bước đường Nam tiến của cha ông ta, các lớp cư dân từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An đã lần lược vào khai khẩn lập nghiệp ở các tỉnh từ Đà Nẵng, Quảng Nam đến Nam bộ. Con cháu của 12 phái tộc của 7 họ: Bùi, Nguyễn, Trần, Phạm, Võ, Lê và Ngô là người ở
huyện Tĩnh Gia
thuộc
tỉnh Thanh Hóa
đã vào ở dọc hai bên bờ Sông Hàn lập ra xã (làng) Nại Hiên, ít lâu sau hình thành 3 làng Nại Hiên Đông, Nại Hiên Tây, Nại Hiên Nam. Nại Hiên Tây vùng đất dọc bờ Tây sông Hàn từ cầu Nguyễn Văn Trỗi đến Tuyên Sơn. Nại Hiên Nam là phường Hòa Cường ngày nay.
Căn cứ văn bia của ông tổ Bùi Công thời Lê con cháu của 12 chi phái tộc ở Nại Hiên đã 14, 15 đời người thì cha ông ta đã vào ở đây từ giữa thế kỷ XV. Còn tổ tiên của 42 chi phái tộc của 17 hộ: Nguyễn, Lê, Trần, Đỗ, Đặng, Trương, Dương, Phan, Đào, Hồ, Châu, Đình, Mai, Lý, Thái, Lưu, Đồng thì quê cũ ở tỉnh Thanh Hóa, huyện Tỉnh Gia vào lập nên xã Hải Châu (trong đó có Tân Thành) vào thời Lê Thánh Tông lập nên Thừa Tuyên Quảng Nam năm 1471. Đành rằng trong quá trình lập nên xã Nại Hiên trước và phường Bình Hiên sau này, số cư dân đến trước luôn luôn tiếp nhận số cư dân ở mọi miền đất nước, chính xác là từ các huyện, tỉnh Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi…Vì nhiều lý do khác nhau, nên dù đến sớm hay muộn, bà con sống trên địa bàn Bình Hiên vẫn cố kết nhau theo tính cộng đồng xã, cảm thông, yêu thường gắn bó, trọng tình làng nghĩa xóm, khảng khái trong việc chống giặc ngoại xâm. Vì thế nên bất kỳ thời nào Bình Hiên cũng có những người con xả thân vì quê hương đất nước.
UBND phường Bình Hiên
Về kinh tế- văn hóa: cư dân Nại Hiên trước đây vừa làm rộng, vừa làm nghề chài lưới trên sông, biển. Dụng cụ đánh bắt hải sản chủ yếu của họ là rớ đáy, giã cào và lưới. Cùng với chiếc thuyền ghỗ, thuyền nan nhỏ bé, mỗi sớm mai hay chiều tối, ngư dân xưa buôn lưới, thả câu trên Sông Hàn và Vũng Thùng, cuộc sống của họ khá vất vả, gian nan. Một số gia đình khá hơn thì sắm ghe bầu, lập nên những đội thuyền chuyên chở hàng hóa cho con buôn từ Đà Nẵng đến khắp các cửa sông ven biển miền Trung.
Nại Hiên cùng các khối phố thuộc Hải Châu, Thạc Gián, Phước Ninh…ngoài các ngành nghề trên còn có các nghề thủ công truyền thống như: làm muối, nung vôi và đóng thuyền…Nỗi tiếng nhất là nghề làm muối ở Nại Hiên. Ca dao xưa có câu:
“Nại Hiên là làng ý e
Nấu muối bằng nước lấy tre làm nồi”
Ca dao trên không những cho ta biết nguồn gốc Thanh Hóa của những người dân “mang gươm đi giữ nước” ở Nại Hiên xưa mà còn chỉ ra kỷ thuật dùng tre đan thành nồi, trái đất và đổ nước biển vào nấu cho đến khi muối được kết tinh của người dân xứ Thanh thở trước. Trước cách mạng tháng tám, Nại Hiên vẫn còn sản xuất muối song do quá trình đô thị hóa và nhất là độ mặm của nước biển vùng cửa sông ngày càng giảm nên nghề làm muối nổi tiếng một thời bị mai một.
Vào thế kỷ XVIII nhiều tàu buôn các nước như:
Trung quốc
,
Singapore
,
Thái Lan
…cập cửa Hàn để trao đổi mua bán. Đà Nẵng lúc bấy giờ không chỉ là một thương cảng mà còn là một quân cảng, nơi đây được các vua chúa nhà Nguyễn dùng để tiếp các phái đoàn ngoại giao phương Tây.
Cảnh mua bán trên bến dưới thuyền ở Đà Nẵng ngày thêm tấp nập đã tạo ra một bộ phận nhân dân chuyên làm nghề buôn bán, chuyên chở, khuân vác. Các phu khuân vác hàng hóa họp nhau thành những tổ nhỏ gọi là “phổ”. Sau này, khi thực dân Pháp bắt dầu khai thác thuộc địa thì số lượng công nhân, công chức, thầu khoán, cai, ký…ngày càng nhiều. Tuy nhiên thân phận dân nghèo thành thị buôn thúng bán bưng, giúp việc nhà, kéo xe tây, làm culi…của nhân dân cũng không thay đổi được mấy. Do vậy, giai cấp công nhân tuy đã tăng lên về số lượng và tay nghề song lại bị bóc lột, đàn áp nặng nề hơn.
Về cơ sở hạ tầng: Sau khi Đà Nẵng trở thành “nhượng địa”, Pháp xây dựng Tòa dốc lý, ga xe lữa, nhà thờ Con Gà…; tại Bình Hiên chúng xây dựng Bảo Tàng Chăm, nhà máy chè…Pháp cũng bắt đầu mở những con đường mới từ cửa Hàn đi Quảng Nam (đi qua địa phận Bình Hiên) tức là đường Trưng Nữ Vương hiện nay, đường Đỗ Hữu Vị (nay là đường Hoàng Diệu) và đường Phan Châu Trinh…tất cả các con đường trên đều dựa trên những con đường đất cũ của Nại Hiên, Hải Châu, Thạc Gán mà thành. Các con đường như: Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Trường Tộ, Chu Văn An hiện nay đều được chính quyền Sài Gòn nâng cấp, xây dựng trong thời kỳ đế quốc Mỹ xâm lược nước ta.
Bình Hiên còn có những di tích lịch sử văn hóa như: Giếng Bộng, đình, chùa, miếu…phản ánh đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân cần được giữ gìn tôn tạo.
Giếng Bộng là cái Bộng nước ngọt có mạch ngầm trong cồn cát thành tên của một xóm nhỏ trong Nại Hiên Tây, gọi là Xứ (xóm) Giếng Bộng. Tương truyền rằng, khi vua Lê Thánh Tông đêm quân đi chinh phục Chiêm Thành, lúc dừng chân tại đây quân lính của ngài đã dùng nước giếng này để uống. từ những năm đầu thế kỷ XX, xóm giếng Bộng là dãy đất từ bảo Tàng Chăm đến quá chợ Nại Hiên, mới có 4 nóc nhà, mà chỉ có nhà ông Phán Thạnh (tức Huỳnh Thạnh) là nhà ngói, đây là điểm hội họp, làm việc của các đồng chí cách mạng ở tỉnh Quảng Nam (và Đà Nẵng) là một di tích lịch sử cách mạng trong 2 thời kỳ chống Pháp và Mỹ của Bình Hiên.
Nói đến Bình Hiên, không thể không nói đến đình Nại Hiên và nói đến chùa Long Thủ (nay là chùa An Long).
Đình Nại Hiên, không ai biết chắc được đình xây từ bao giờ song chắc chắn rằng sau khi đã an cư lập nghiệp. Lúc đầu đình chỉ làm bằng tranh tre, nứa lá, sau đó được xây kiên cố hơn bằng gạch, ngói. Hằng năm, có xuân thu nhị kỳ con cháu 12 phái tộc của làng Nại Hiên (kể cả Nại Hiên Nam thuộc Hòa Cường hiện nay) cũng quy tụ về đây tế lễ. Chùa Long thủ được nhân dân Nại Hiên xây dựng vào năm 1657, trong chùa có một tượng đồng và một đại hồng chung đường kính 0,8m. Năm Minh mạng thứ 6 (1825) khi nhà vua xa giá vào cửa Hàn, thấy chùa bị đổ nát, bèn cho đêm tượng đồng về về thờ trên núi Tam Thai (Ngũ Hành Sơn); riêng tấm bia đá vì quá nặng không thể di chuyển dược nên còn lại cho đến ngày nay. Văn bia có đoạn “Làng Nại Hiên, huyện Tân Phúc, phủ Điện Bàn. Xưa, nơi đây đức Phật từng cảm ứng gia hộ cho những người bất hạnh. Do vậy các tín chủ thường cầu nguyện tại chốn này…Vì thế ông Trần Hữu Lễ, cai hợp Ty Tướng Thần Lại, dân sở tại, phát tâm tín ngưỡng và hoài vọng muôn ơn, cất lên tịnh xá cho các thầy chùa trú ngụ, hết thảy dân làng đồng ý dựng lên ngôi chùa mới. Để chùa Long thủ bề thế hơn, năm 1957 ông Nguyễn Thanh Giá đại diện con cháu 12 tộc phái ở Nại Hiên đã giao gian chính đình Nại Hiên cho sư trụ trì chủa Long Thủ, xây thêm lầu trống và gác chuông, đồng thời tôn tạo “nhà ngang” để thờ cúng tổ tiên như ta thấy ngày nay. Qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình Nại Hiên, chùa Long Thủ là nơi cán bộ và cơ sở cách mạng xã Nại Hiên Tây hội họp, bàn định kế hoạch hoạt động trong lòng thành phố Đà Nẵng. | Giới thiệu khái quát phường Bình Hiên | 1,831 | |
Bản đồ hành chính phường Hòa Cường Nam
Phường Hòa Cường Nam là đơn vị hành chính thuộc
quận Hải Châu
được chia tách từ phường Hoà Cường (cũ) theo Nghị định 24/NĐ-CP ngày 02/3/2005 của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 11/4/2005. Phường nằm về phía Đông Nam quận Hải Châu ở 108
0
kinh Đông, và 16
0
4 độ vĩ Bắc. Phía Đông giáp sông Hàn, phía Tây giáp phường Khuê Trung, phía Nam giáp sông Cẩm Lệ, phía Bắc giáp
phường Hoà Cường Bắc
, với diện tích tự nhiên 2,57km2, chiếm 23,35% diện tích quận Hải Châu. Dân số toàn phường khoảng 19.963người.
Đời sống nhân dân ổn định, nền kinh tế từng bước phát triển. Tình hình anh ninh chính trị trên địa bàn phường trong những năm qua đảm bảo ổn định. | Giới thiệu khái quát phường Hòa Cường Nam | 134 | |
Là một phường trung tâm trong 10 phường của
quận Thanh Khê
,
thành phố Đà Nẵng
. Diện tích 0,775 km
2
. Phía Đông giáp phường Vĩnh Trung, phía Tây giáp phường Chính Gián và Sân bay Đà Nẵng, phía Nam giáp phường Hòa Thuận Đông, Quận Hải Châu, phía Bắc giáp phường Tân Chính. Có 09 khu dân cư với 111 Tổ dân phố. Trước năm 1945 phường Thạc Gián bao gồm các phường Vĩnh Trung, Tân chính, Chính Gián, Tam Thuận ngày nay.
Mãnh đất này có tên trong bản đồ nước Đại Việt từ năm 1306. Tên gọi Thạc Gián có từ năm 1558, lúc các Tộc Huỳnh, Phạm Công, Nguyễn Văn, Nguyễn Ngọc đến lập nghiệp, trong đó tộc Huỳnh là Tiền hiền, tộc Nguyễn Ngọc là Hậu hiền. Đây là những cư dân đầu tiên sống ở lâu đời trên mảnh đất này, có công khai phá, biến mảnh đất hoang vu thành những thửa ruộng màu mỡ phục vụ cho cuộc sống. Những địa danh Ngã ba Cai Lang, Ngã ba Cây Quăn, Đình làng Thạc Gián, Hầm Bứa, Kiệt Tiến Thành, Xóm Giếng đôi, Bàu Lác, Bàu Hạt, Bàu Sen đã đi sâu vào ký ức của mỗi con người Thạc Gián xưa và nay.
Năm 1858 thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, chúng lấy tên Thạc Gián đặt xã hiệu. Cách mạng tháng 8/1945 thành công, Đà Nẵng là đơn vị hành chính thuộc Ủy ban hành chính Trung Bộ, Thạc Gián trở thành Khu Phan Thanh.
Tháng 7/1954 Hiệp định Giơ ne vơ được ký kết, đất nước tạm thời chia làm 2 miền, Đà Nẵng thuộc quyền quản lý của chế độ ngụy quyền Sài gòn, xã Thạc Gián chia thành 02 khu phố là Thạc Gián và Tân chính. Khu phố Thạc Gián có các khóm: Tam Giác, Trung bình, Trung lập, Tân Lập, Vĩnh An, Trung Hòa, Tân An, Tân Ninh.
Sau ngày 29/3/1975 Thành phố Đà Nẵng được giải phóng, Khu phố Thạc gián chia thành 02 phường: Thạc Gián và Vĩnh Trung thuộc Quận II, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Tháng 4/1978 Thạc Gián là một trong 28 phường của Thành phố Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.
Ngày 23/01/1997 Đà Nẵng là đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, Thạc Gián là một trong 08 phường của Quận Thanh Khê (nay 10 phường).
Trên địa bàn Thạc Gián hiện có 04 tôn giáo:
Phật giáo
,
Thiên chúa giáo
,
Tin Lành
, Cao Đài; có 02 Chùa Viên Quang và Tâm Giác, 01 Hội Thánh Trung Lập. Đồng bào các tôn giáo sống “Tốt đời, đẹp đạo”, “Sống phức âm trong lòng đân tộc”.
Với truyền thống giàu lòng lòng yêu nước, anh dũng đấu tranh, thời kỳ chống thực dân Pháp, Thạc Gián là nơi có nhiều cơ sở nuôi giấu cán bộ, chiến sỷ cách mạng hoạt động ngay trong lòng địch; nhiều con em tham gia chống giặc cứu nước. Tháng 3.1940 Chi bộ Đảng được thành lập tại đề-pô xe lửa trên địa bàn Thạc Gián. Đây là 01 trong 04 chi bộ của Quận Thanh Khê được thành lập thời kỳ đó; là nơi Thị ủy đầu tiên đóng cơ quan; nơi có lực lượng tự vệ được xây dựng sớm và hoạt động mạnh. Thạc Gián đã trở thành “căn cứ lỏm” tạo điều kiện cho các hoạt động chính trị, quân sự trong Thành phố Đà Nẵng, góp phần kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.
Trong cuộc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và bọn tay sai bán nước, Thạc Gián cũng là mảnh đất che chở, nuôi giấu cán bộ, làm chổ dựa vững chắc cho các phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định đình chiến; chống chiến dịch “Tố cộng”, “sám hối”, “Luật 10/59” của chế độ Ngô Đình Diệm. Từ các phong trào, nhân dân Thạc Gián đã thêm một lần nữa chứng minh tinh thần đấu tranh anh dũng trong thời kỳ chống Mỹ. Cuối năm 1964 đầu năm 1965, chi bộ “độc đảm” được thành lập tại Thạc Gián để lãnh đạo nhân dân đấu tranh. Năm 1965 chi bộ “độc đảm” phát triển mạnh và đổi tên thành chi bộ Hoàng Văn Thụ.
Với tổ chức Đảng của chi bộ Hoàng Văn Thụ và với gần chục Chi bộ từ nông thôn vào (Điện Thọ, Điện Tiến, Điện Sơn), Thạc Gián là địa bàn hoạt động của cán bộ cách mạng và lực lượng Biệt động của Thành, của Quận tiến hành đấu tranh và tiến công địch nhiều nơi trong Thành phố. Có những trận đánh ngay trên địa bàn Thạc Gián làm lung lay ý chí của quân thù như trận đánh sập trụ sở Thanh niên Quốc Dân Đảng tại Ngã ba Cai Lang. Suốt 76 ngày đêm dưới sự lãnh đạo của chi bộ Hoàng Văn Thụ khu phố Thạc Gián luôn là nơi sôi động của phong trào đấu tranh chống Mỹ ngụy. Năm 1969 và 1972 nhân dân Thạc Gián đã 02 lần cứu thoát đồng chí Nguyễn Thanh Năm (Năm Dừa) – Ủy viên Ban Thường vụ Đặc Khu ủy Quảng Đà.
Giữa một Thành phố lớn thứ 2 ở miền Nam, Mỹ – ngụy luôn luôn siết chặt kìm kẹp, cố tiêu diệt phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta, nhưng Đảng bộ và nhân dân Thạc Gián nêu cao tinh thần bất khuất, anh dũng chiến đấu, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Thà hy sinh tất cã chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” và “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.
Qua hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai bán nước, cán bộ và nhân dân Thạc Gián được tặng danh hiệu “Căn cứ lỏm” kháng chiến và danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. 08 Huân chương giải phóng nhất, nhì, ba và 01 Huy chương giải phóng hạng nhất.
Mảnh đất, con người, truyền thống đấu tranh của nhân dân Thạc Gián sẽ mãi mãi là tài sản vô giá để lại cho hôm nay và mai sau.
Phát huy truyền thống anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân, từ sau ngày 29/3/1975 Thành phố Đà Nẵng được giải phóng, Đảng bộ và nhân dân Thạc Gián cùng chung tay, góp sức xây dựng cuộc sống mới. Với sự giúp đở của Quận và Thành phố, Thạc Gián đã chuyển đổi từ một vùng đất lầy lội sang một khu phố quy hoạch khang trang, nhiều nhà mới, nhà cao tầng được xây dựng. Từ chổ không có Trường học, Trạm Y tế nay có trường Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở, có cả Trường Đại học Duy Tân và Trường Cao đẵng Việt Tin đóng trên địa bàn phường. Trạm Y tế gần 10 năm đạt chuẩn Quốc gia, trong phường còn có Bệnh viện Hoàn Mỹ tạo điều kiện chăn sóc sức khỏe nhân dân. Công viên 29/3, Hồ Thạc là nơi vui chơi, tập thể dục, thể thao, giải trí của nhân dân Thạc Gián và các phường lân cận.
Từ một phường nghèo của Thành phố trước đây nay luôn dẫn đầu về thu ngân sách của Quân Thanh Khê.
Thạc Gián xưa chỉ có 04 con đường chính có tên Ông Ích Khiêm, Hùng Vương, Thống Nhất (Lê Duẩn) và Lý Thái Tổ còn lại là đường đất, kiệt hẻm nay với nhiều con đường mới mở và nâng cấp, có những con đường lớn như Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Tri Phương, Hàm Nghi, Lê Đình Lý. 100% kiệt hẻm được bê tông hóa và có điện chiều sáng
Cùng với quỷ “Vì người nghèo” và nguồn vốn của Nhà nước, của các tổ chức xã hội, từ thiện, Đảng bộ và Chính quyền phường luôn tìm cách hổ trợ, tạo điều kiện cho nhân dân làm ăn thoát nghèo. Là một phường của Quận thoát nghèo về trước 02 năm giai đoạn 2009 – 2013 theo chuẩn 500.000 đồng của Thành phố.
Công tác “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn” là lương tâm và trách nhiệm của Đảng bộ và nhân dân trong phường. Luôn chăm lo cho người có công cách mạng, các gia đình Thương binh, Liệt sỹ, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, người về hưu, chế độ Bão trợ xã hội.
Công tác Quốc phòng, An ninh được Đảng bộ, chính quyền quan tâm lãnh đạo, xây dựng lực lượng công an, dân quân trong sạch vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ an ninh trật tự. Các phong trào“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc” phát triển mạnh và đều khắp ở các khu dân cư. Vệ sinh môi trường được đảm bảo.
Công tác xây dựng Đảng, Chính quyền, Đoàn thể được chú trọng; Đảng bộ nhiều năm liền là “Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu”; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân để xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của phường.
Những thành tựu trong quá trình xây dựng và phát triển của phường Thạc gián đã phát huy giá trị to lớn của một phường anh hùng, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng và phát triển của quận Nhì trước đây và quận Thanh Khê cũng như của thành phố ngày nay; vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.
LÊ VĂN
————————-
* (Bài viết có sử dụng những tư liệu trong cuốn “Lịch sử đấu tranh cách mạng phường Thạc Gián” – Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2005). | Giới thiệu khái quát phường Thạc Gián | 1,663 | |
Tân Chính
là một phường thuộc
quận Thanh Khê
,
thành phố Đà Nẵng
, Việt Nam.
Phường có diện tích 0,37 km², dân số năm 1999 là 13689 người,
[1]
mật độ dân số đạt 36997 người/km².
Là một phường trung tâm trong 10 phường của Quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng. Diện tích 0,37 km
2
. Phía Đông giáp phường Hải CHâu I, phía Tây giáp phường Chính Gián , phía Nam giáp phường Vĩnh Trung, phía Bắc giáp phường Tam Thuận. Có 08 khu dân cư với 36 Tổ dân phố.
Tân Chính là một trong những phường nằm ở trung tâm của quận Thanh Khê và thành phố Đà Nẵng, có diện tích 0,37 km
2
là một trong những phường có mật độ dân số cao nhất của quận và thành phố. Là địa phương có điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người dân từng bước được phát triển. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cán bộ, đảng viên và nhân dân phường Tân Chính đã lập được nhiều thành tích xuất sắc, góp phần cùng với các địa phương giải phóng thành phố Đà Nẵng vào ngày 29 tháng 3 năm 1975. Từ sau khi quê hương được hoàn toàn giải phóng, cùng với nhân dân toàn thành phố Đà Nẵng, Đảng bộ và nhân dân phường bắt tay vào xây dựng quê hương, đối mặt với bao khó khăn, thách thức do hậu quả chiến tranh để lại, thiên tai thường xuyên xảy ra, những diễn biến phức tạp của tình hình trong nước và trên thế giới… Tân Chính hiện nay là một trong những phường trung tâm có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển về mọi mặt của quận Thanh Khê và thành phố Đà Nẵng.
VỊ TRÍ ĐIA LÝ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
Vị trí địa lý
Phường Tân Chính được thành lập từ 10 năm 1975, tách ra từ khu phố Chính Gián, là một trong 10 phường của quận Thanh Khê ngày nay; phía Đông giáp phường Thạch Thang và phường Hải Châu II của quận Hải Châu, phía Tây giáp phường Chính Gián, phía Nam giáp phường Vĩnh Trung và phường Thạc Gián, phía Bắc giáp phường Tam Thuận. Phường Tân Chính cùng với Chính Gián, Vĩnh Trung, Thạc Gián (quận Thanh Khê) và các phường của quận Hải Châu tạo thành khu trung tâm của thành phố Đà Nẵng ngày nay.
Diện tích của phường là 0,37 km
2
, chiều dài theo trục Đông – Tây là 0,92 km, chiều rộng trung bình khoảng 0,60 km theo trục Bắc – Nam. Đường Lê Duẩn, một trong những đường phố chính của Đà Nẵng, chạy suốt trung tâm của phường từ Tây xuống Đông. Ngoài ra trong địa bàn phường còn có đường Hải Phòng, Hoàng Hoa Thám, Ông Ích Khiêm, Đào Duy Từ. Phía Bắc của phường là khu Nhà Ga Đà Nẵng và 5 công ty của Tổng Công ty vận tải đường sắt. Phía Nam phường là Trung tâm thương nghiệp sầm uất (chợ Cồn).
Quá trình phát triển
Là một phần của Đà Nẵng, mảnh đất Tân Chính ngày nay có một quá trình hình thành và phát triển theo Thành phố.
Theo thư tịch cổ, từ xa xưa Đà Nẵng thuộc đất Việt thường thị của vua Hùng. Từ năm 192 đến đầu thế kỷ XIV Đà Nẵng thuộc Vương quốc Chăm pa (thường gọi là Chiêm Thành hay Chàm). Năm 1306 vua Chăm pa là Chế Mân cắt 2 châu: Châu Ô và Châu Rí, dâng cho vua Trần để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân. Từ đó vùng đất này là lãnh thổ của nước Đại Việt và năm 1307 vua Trần Anh Tông đổi thành Thuận Châu và Hóa Châu.
Năm Mậu Ngọ (1558), sau khi Nguyễn Uông bị anh rể là Trịnh Kiểm bức hại, Nguyễn Hoàng lo sợ bèn xin với vua Lê Anh Tông vào trấn thủ đất Thuận – Hóa (Thuận Châu và Hóa Châu) từ đèo Ngang vào đến Quảng Nam ngày nay. Vùng đất hoang vu từ đèo Hải Vân đến bờ sông Hàn được các chúa Nguyễn chiêu dân lập ấp, khai phá, mặc dầu cửa sống Hàn trước đó cùng với Hội An đã trở thành “Đại Chiêm hải khẩu” của Vương quốc Chăm pa. Mảnh đất Tân Chính và các phường lân cận ngày nay dần dần được hình thành dưới cái tên là xã Thạc Gián.
Cuộc sống đang định hình và từng bước phát triển thì ngày 01 tháng 9 năm 1858, tàu chiến Pháp nã súng tấn công vào Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta.
Sau khi vua quan nhà Nguyễn ký Hiệp ước Pa-tờ- nốt (Patenotre) ngày 06 tháng 6 năm 1884 đầu hàng Pháp, chúng chia nước ta thành 3 kỳ với 3 chế độ cai trị khác nhau: Nam Kỳ – thuộc địa, Trung Kỳ – bảo hộ và Bắc Kỳ – tự trị. Đến năm 1888 thực dân Pháp buộc triều đình Huế phải nhượng đứt cho Pháp 3 Thành phố”: Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng làm đất “Nhượng địa”. Theo đạo dụ vua Đồng Khánh ký ngày 27 năm 8 (Mậu Tý – tức ngày 03 tháng 10 năm 1899) thì “Nhượng địa” Đà Nẵng rộng 10 ha gồm khu Ngũ xã: Hải Châu, Phước Ninh, Thạch Thang, Nam Dương và Nại Hiên.
Năm 1901 thực dân Pháp lại ép vua Thành Thái ký “Đạo dụ Canh tý” nhượng tiếp 8 xã của huyện Hòa Vang là Xuân Đán, Thạc Gián, Liên Trì, Bình Thuận, Xuân Hòa, Thanh Khê, Hà Khê, An Khê và 6 xã của huyện Diên Phước gồm Mỹ Khê, An Hải, Tân Thái, Nại Hiên Đông, Mân Quang, Vĩnh Yên sát nhập vào Đà Nẵng. Như vậy “
Nhượng địa”
Đà Nẵng từ đây vươn ra cả phía Tây, phía Đông, ôm trọn sông Hàn và Vũng Thùng. Người dân ở đây không còn là dân của triều đình, nhưng cũng không phải là công dân Pháp (Ciloyen Franscais) như dân ở Nam Kỳ mà chỉ là “Người thuộc về dân Pháp” (Sujet Franscais). Chế độ cai trị của Pháp ở đây cũng khác: Đứng đầu bộ máy cai trị là một viên Đốc lý (Prcésident maire) do toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm theo đề nghị của Khâm sứ Trung Kỳ. Tư vấn cho Đốc lý là một Hội đồng Thành phố (commission municipale) có 6 người. Nhưng dưới Thành phố người Pháp lại giữ nguyên các Tổng (có Chánh tổng, Phó tổng) và các xã (có Lý trưởng, Phó lý, Ngũ hương) như hệ thống chính quyền của Nam triều.
Tuy về mặt địa lý Tân Chính ngày nay thuộc xã Thạc Gián, nhưng thực ra mảnh đất này lúc đó phần lớn là đầm lầy, lau lách và cồn cát, dân cư rất thưa thớt. Mãi đến năm 1905 khi Pháp khánh thành đường tàu lửa Đà Nẵng – Đông Hà và nhà ga Đà Nẵng (trước đây gọi là Xa Luân) thì xung quanh nhà ga và vùng phụ cận mới có nhà cửa và dân ở. Như vậy, những cư dân đầu tiên của Tân Chính là các xóm trại công nhân và gia đình công nhân đường sắt. Sau năm 1905, Pháp tiến hành xây dựng đường sắt Đà Nẵng – Sài Gòn (hoàn thành năm 1936) và sân bay Đà Nẵng (hoàn thành năm 1928) đã thu hút nhiều dân cư nơi khác đến định cư để buôn bán, dịch vụ và sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các khu dân cư dần dần hình thành từ đấy.
Sau cách mạng tháng Tám, Đà Nẵng là đơn vị hành chính thuộc Ủy ban Hành chính Trung Bộ, các xã thuộc Ủy ban hành chính Thành phố. Đến tháng 3 năm 1946 Đà Nẵng được chia thành 7 khu phố: Trần Phú, Phan Đăng Lưu, Phan Thanh, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính. Vùng đất Tân Chính nằm trong xã Thạc Gián thuộc khu Phan Thanh. Mỗi khu phố có Ủy ban hành chính khu phố. Chủ tịch đầu tiên của khu Phan Thanh là ông Nguyễn Ngọc Kỉnh (người xóm Trung Hòa thuộc Vĩnh Trung ngày nay).
Tháng 12 năm 1946, do nhu cầu của cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, Đà Nẵng nhập với tỉnh Quảng Nam, gọi là Liên tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Đà Nẵng được chia lại thành 3 khu: Khu Tây, khu Trung và khu Đông. Khu phố Phan Thanh cùng với khu phố Phan Đăng Lưu và khu phố Trần Phú hình thành khu Trung.
Tháng 9 năm 1949, do vị trí đặc biệt của Đà Nẵng trong kháng chiến, Đà Nẵng được tách khỏi Quảng Nam và trực thuộc Ủy ban Hành chính Kháng chiến Liên khu V, 3 khu phố của khu Trung được tái lập như năm 1946. Năm 1952, Đà Nẵng lại nhập vào Quảng Nam, khu Trung được tái lập và giữ mãi cho đến tháng 7 năm 1954.
Sau Hiệp định Genève, đất nước tạm chia làm 2 miền, Đà Nẵng nằm trong sự quản lý của đối phương. Cũng vào thời điểm này, do một số lượng lớn của đồng bào miền Bắc (chủ yếu là ở huyện Quảng Trạch, huyện Quảng Bình) di cư vào và đồng bào các huyện trong tỉnh vào Đà Nẵng làm ăn, nên dân cư ở khu vực Tân Chính ngày càng tăng lên. Năm 1955, ngụy quyền Sài Gòn đặt Đà Nẵng là một đơn vị hành chính trực thuộc ngụy quyền Trung ương và chúng chia Thành phố thành 3 quận: Quận Nhất, quận Nhì và quận Ba. Dưới quận là xã. Tân Chính nằm trong xã Thạc Gián thuộc quận Nhì. Vào thời điểm này đã hình thành các địa danh: Tân Ninh, Tân An và Chính Trạch. Nhưng chỉ Tân Ninh và Tân An thuộc xã Thạc Gián, còn Chính Trạch (bao gồm khu phố Chính Trạch thuộc Tân Chính và khối phố Tam Giác của Chính Gián ngày nay) là một đặc khu trực thuộc Tòa Giám mục Đà Nẵng cai quản.
Đầu năm 1972, Tòa Thị chính Đà Nẵng quyết định chia xã Thạc Gián thành 4 khu phố, trong đó có khu phố Chính Gián bao gồm phường Chính Gián, phường Tân Chính và một phần phường Tam Thuận ngày nay.
Sau khi giải phóng thành phố Đà Nẵng vào ngày 29 tháng 3 năm 1975, chính quyền cách mạng vẫn giữ địa giới hành chính các quận như cũ, nhưng giai đoạn quân quản dưới quận là khu phố. Khu phố Chính Gián vẫn giữ nguyên địa giới hành chính như cũ. Dưới khu phố còn có khối phố với đầy đủ bộ máy như ở khu phố. Cuối năm 1975, theo chủ trương chung của Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, giải thể đơn vị hành chính khối phố và thành lập các phường trực thuộc quận. Bốn khối phố như Tân Ninh A, Tân Ninh B, Chính Trạch và Tân An B được tách ra khỏi khu phố Chính Gián để thành lập phường Tân Chính
[1]
thuộc quận Nhì, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Tháng 4 năm 1978, thành lập đơn vị hành chính cấp thành phố trực thuộc tỉnh, cấp quận giải thể, phường Tân Chính là một trong 28 phường trực thuộc thành phố Đà Nẵng (cũ).
Tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX vào tháng 11 năm 1996 đã thông qua Nghị quyết “
Về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh
”. Theo đó, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được tách thành hai đơn vị hành chính là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Ngày 23 tháng 01 năm 1997, Chính phủ ra Nghị định số 07/1997/NĐ-CP về việc thành lập đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Đà Nẵng. Thành phố Đà Nẵng có 05 quận là: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu và 02 huyện là: Hòa Vang, Hoàng Sa. Quận Thanh Khê được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích đất của quận Nhì cũ. Phường Tân Chính là một trong 8 phường của quận Thanh Khê[2]. Ngày 05 tháng 8 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 102/2005/NĐ-CP “về việc điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập phường, xã thuộc quận Thanh Khê và huyện Hòa Vang; thành lập quận Cẩm Lệ thuộc thành phố Đà Nẵng” Theo đó, tách phường Thanh Lộc Đán thành hai phường Thanh Khê Đông, Thanh Khê Tây và thành lập phường Hòa Khê. Hiện nay, quận Thanh Khê có 10 phường: Vĩnh Trung, Tam Thuận, Tân Chính, Chính Gián, Thạc Gián, Xuân Hà, An Khê, Hòa Khê, Thanh Khê Đông, Thanh Khê Tây.
DÂN CƯ
Theo số liệu của Tòa đốc lý Đà Nẵng để lại, năm 1906 dân số Đà Nẵng chỉ mới có 9.892 người, gồm 9.000 người Việt, 400 người Âu, 450 người Hoa, 24 người Ấn và 18 người Nhật. Xã Thạc Gián (bao gồm cả vùng đất Tân Chính ngày nay) dân cư rất thưa thớt, từ chợ Cồn đến đường Quốc lộ số 1 chỉ là những nổng cát, đầm lầy và đồng ruộng.
Năm 1945, cuộc điều tra dân số đầu tiên để phục vụ cho cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc Hội khóa I, dân số Đà Nẵng có 32.000 người, cả xã Thạc Gián cũ ước có 1.500 người.
Cuộc di cư của đồng bào miền Bắc vào Nam sau tháng 7 năm 1954, tiếp sau đó là cuộc chiến tranh chống Mỹ vô cùng ác liệt kéo dài 21 năm. Với chính sách hủy diệt, lập vành đai trắng bảo vệ căn cứ Đà Nẵng, địch đẩy một bộ phận khá đông dân cư ở Quảng Nam và một số nơi khác đến Đà Nẵng. Năm 1968, cuộc tập kích chiến lược xuân Mậu Thân vào các thành phố thị xã, ta làm chủ thành phố Huế hơn 1 tháng, địch bắt một số khá đông đồng bào Thừa Thiên – Huế di tản vào Đà Nẵng. Năm 1972, ta mở chiến dịch giải phóng Quảng Trị, địch tiếp tục di tản số đông đồng bào Quảng Trị vào Đà Nẵng. Trong bối cảnh chung đó, cư dân trên đất Tân Chính tăng cơ học một cách nhanh chóng, dân gốc trước tháng 7 năm 1954 chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (ngày 30 tháng 4 năm 1975), số cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang từ chiến khu xuống, cán bộ miền Bắc được tăng cường vào, cán bộ và gia đình cán bộ tập kết ở miền Bắc trở về,… nên dân số không chỉ tăng về số lượng mà cả chất lượng, cơ cấu dân cư cũng có nhiều thay đổi cơ bản.
Dân số của phường gồm 3193 hộ với 15.553 người trong đó nữ chiếm 51%; mật độ dân số là 45.774 người/km
2
là một trong những địa phương có mật độ dân số cao nhất quận và thành phố.
Đại đa số người dân của phường là dân tộc Kinh, còn có các dân tộc Hoa, Mường.
Trên địa bàn phường có 4 tôn giáo: Đạo Phật giáo là tôn giáo có từ lâu đời ở nước ta, gắn với dân tộc qua các thời kỳ dựng nước và giữ nước. trên địa bàn phường có Chùa Tân An của đạo Phật được xây dựng từ năm 1964. Đạo Thiên chúa giáo đến Đà Nẵng từ năm 1915, năm 1923 đã có nhà thờ Chánh Tòa, nhưng hầu như ở xã Thạc Gián nói chung, ở vùng đất Tân Chính nói riêng, trước năm 1954 chưa có người theo đạo Thiên chúa giáo. Từ tháng 7 năm 1954, giáo dân ở miền Bắc (chủ yếu là ở huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình) di cư vào, sinh cơ lập nghiệp ở đây, xây nhà thờ và hình thành Giáo xứ Chính Trạch)[3]. Đạo Tin lành vào Đà Nẵng từ năm 1911, Nhà thờ Tin Lành ở số 190 đường Ông Ích Khiêm ngày nay là cơ sở thờ tự đầu tiên của đạo Tin Lành. Trải qua nhiều lần cải tạo, xây dựng, ngày nay Nhà thờ này là một cơ sở lớn nhất toàn quốc. Đạo Cao đài được gia nhập vào Đà Nẵng từ năm 1938. Hiện nay giáo dân Cao đài (phái Tây Ninh) trong phường giáo dân chủ yếu tu tại gia, không có cơ sở thờ tự.
KINH TẾ – VĂN HÓA – XÃ HỘI
Về kinh tế
Từ xa xưa, nhân dân sống ở vùng đất này chủ yếu làm nghề buôn bán nhỏ và dịch vụ, một số hộ ở Tân An làm nghề thợ rèn, một số sống ven hồ bèo làm nghề trồng rau và chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Từ sau ngày giải phóng đến nay dân cư càng ngày càng đông đúc, kinh tế càng phát triển sầm uất, nhất là khi đường Lê Duẩn, đường Hải Phòng và đường Đào Duy Từ được nâng cấp, mở rộng. Vì vậy, cơ cấu kinh tế của phương hiện nay là thương mại – dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp. Trong đó:
Về giáo dục
Trước giải phóng trên địa bàn phường có 4 cơ sở giáo dục: trường Hòa Bình của Thiên chúa giáo (nay là cơ sở II của trường Tiểu học Trần Cao Vân) và trường Tin lành (nay là cơ sở I trường Tiểu học Trần Cao Vân), trường Ánh Sáng (trường Trung học cơ sở Nguyễn Trãi ngày nay) và trường Bắc Bình Vương (nằm ở khu vực xí nghiệp Toa xe lửa ngày nay).
Hiện nay, trên địa bàn phường có trường Trung học cơ sở Nguyễn Trãi, trường Tiểu học Trần Cao Vân và trường Mầm non Cẩm Nhung và nhiều cơ sở, nhóm trẻ tư thục; trường Tiểu học Trần Cao Vân và trường Mần non Cẩm Nhung là một trong những trường có chất lượng đào tạo tốt của quận.
Đặc biệt, phường đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học năm 1993, Trung học cơ sở năm 1996, xóa mù chữ đến người cuối cùng năm 2002 và tháng 6 năm 2003, Tân Chính là phường đầu tiên của quận Thanh Khê đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục bậc trung học.
Về văn hóa – xã hội
Tân Chính là “đất mới”, hình thành chưa đầy 100 năm, nên các di tích lịch sử, di tích văn hóa chưa có gì. Trong phường có 2 di tích lịch sử đã được gắn bảng. Đó là Nhà số 16 đường Hoàng Hoa Thám; tháng 12 năm 1946 nơi đây là Sở Chỉ huy của Trung đoàn 96 chỉ huy bộ đội phối hợp với dân quân tự vệ địa phương và của Sở hỏa xa chiến đấu chống lại bước tiến của giặc Pháp xâm lược và Ga Đà Nẵng năm 1930 nơi đây đã thành lập Chi bộ Đảng cộng sản Đông Dương Đề pô xe lửa[4], là một trong 3 Chi bộ đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đà Nẵng có khoảng 50 con đường có tên và được trải nhựa, trong đó có 3 đường là đường Ông Ích Khiêm, Lê Duẩn, Hoàng Hoa Thám thuộc phường Tân Chính ngày nay. Hiện nay, cùng với việc nâng cấp, mở rộng các tuyến đường chính trên địa bàn phường của thành phố, quận đầu tư mở rộng, nâng cấp bê tông hóa, cống thoát nước, điện chiếu sáng 100% kiệt hẻm trong khu dân cư; 100% hộ dân có điện sinh hoạt, được dùng nước sạch, có phương tiện nghe hoặc nghe nhìn.
—————-
[1] “Tân Chính” là do từ “Tân” trong Tân Ninh, Tân An và từ “Chính” trong Chính Trạch mà hình thành. Như vậy địa danh “Tân Chính” mới xuất hiện từ cuối năm 1975.
[2] Gồm: Vĩnh Trung, Tam Thuận, Tân Chính, Chính Gián, Thạc Gián, Xuân Hà, An Khê, Thanh Lộc Đán.
[3]
[3] Địa danh “Chính Trạch” có xuất xứ như sau: Năm 1954 phần lớn đồng bào Quảng Binh di cư vào đây là người của xã Trung Chính, huyện Quảng Trạch. Đồng bào lấy tên xã và tên huyện ghép lại thành Chính Trạch.
Nhà thờ Chính Trạch được khởi công xây dựng từ tháng 8 và hoàn thành ngày 01/9/1954.
[4]
Đề pô xe lửa: xưởng sửa chữa đầu máy và toa xe | Giới thiệu khái quát phường Tân Chính | 3,445 | |
Phường Chính Gián nằm ở vị trí trung tâm của quận Nhì (cũ), nay là
quận Thanh Khê
,
thành phố Đà Nẵng
; phía Đông giáp phường Tân Chính và Thạc Gián, phía Tây giáp phường An Khê, phía Bắc giáp phường Tam Thuận và Xuân Hà, phía Nam giáp phường Thạc Gián và sân bay quốc tế Đà Nẵng. Theo chiều dài của phường có trục giao thông chính (đường Điện Biên Phủ) nối trung tâm thành phố ra Quốc lộ 1A. Góc Đông – Nam của phường xưa kia là bàu nước và là nơi đổ rác (nhân dân gọi là hầm Bứa), nay là Công viên 29/3. Đối diện với Công viên 29/3, xưa kia là một nghĩa địa có hành nghìn ngôi mộ, cùng với quá trình xây dựng Công viên, ta đã di dời nghĩa địa, xây dựng một Siêu thị, mở rộng đường phố và nhiều cửa hàng kinh doanh phát triển tại đó. Quá trình hình thành, xây dựng và phát triển, phường Chính Gián ngày nay là một vùng đất thuộc xã Thạc Gián và một phần của xã Xuân Hoà.
Trước năm 1975, khi phường Chính Gián chưa được thành lập, đây là vùng đất khô cằn nhất trong xã Thạc Gián. Từ ngã ba Cai Lang (góc đường Điện Biên Phủ-Lê Duẩn) trở lên hết xóm Núi Cùng là một vùng cồn cát chen lẫn với những vũng ao tù nước đọng. Nhà cửa còn rất thưa thớt của những người nghèo khó. Thời kháng chiến chống thực dân Pháp người ở vẫn chưa nhiều. Trong 21 năm chống Mỹ, cứu nước, một số người tránh địch bắt “tố cộng, diệt công” ở các vùng nông thôn đến ở; từ năm 1965, quân Mỹ xúc tát dân ở nhiều vùng nông thôn vào vùng chúng kiểm soát, số người bị chúng đẩy đuổi vào càng đông; năm 1966, chúng lập “ấp Tân Sinh 6” ở xóm Núi Cùng, “ấp Tân Sinh 7” ở xóm Tân An và một số trại gia binh ngụy quân.
Sau ngày 29/3/1975, cùng với việc thành lập chính quyền Quân quản Quận II, ta thành lập bộ máy chính quyền cơ sở theo đơn vị khu phố, trong đó có 2 khu phố Thạc Gián và Chính Gián. Tháng 9/1975, ta tổ chức lại đơn vị quản lý hành chính ở cở sở, khu phố Chính Gián được chia thành 2 phường là Chính Gián và Tân Chính.
Kết thúc cuộc kháng chiến 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, sau hơn 6 tháng thành phố Đà Nẵng được hoàn toàn giải phóng, Đảng và Nhà nước ta chủ trương chia lại địa giới hành chính cấp cơ sở. Phường Chính gián được thành lập vào ngày 15 tháng 9 năm 1975.
Hiện nay, phường Chính Gián là một trong những địa bàn nằm ở trung tâm của quận Thanh Khê có diện tích 0,74km². Địa hình có các trục đường chính như Lê Độ, Điện Biên Phủ, Nguyễn Tri Phương, Hà Huy Tập, Thái Thị Bôi, Hải Phòng, Võ Văn Tần, Lê Thị Xuyến, Lê Quang Sung và đường Lê Duẩn có chung đường ranh giới với 5 phường thuộc quận Thanh Khê.
+ Hướng Nam: Giáp sân bay quốc tế Đà Nẵng
+ Hướng Tây: Giáp phường Hòa Khê, Thanh Khê Đông
+ Hướng Bắc: Giáp phường Tam Thuận, Xuân Hà.
+ Hướng Đông: Giáp phường Thạc Gián – Tân Chính, Tam Thuận, công viên 29/3.
+ Hướng Tây Nam: Giáp vành đai sân bay quốc tế Đà Nẵng.
Phường Chính Gián có 71 tổ dân phố, dân số có 20.317 nhân khẩu với 4962 hộ, được được chia thành 19 Khu dân cư (ghép thành 09 cụm khu dân cư), mật độ dân số cao, tình hình nhân dân có nhiều thành phần kinh tế như: tiểu thương, dịch vụ, kinh doanh, tiểu thủ công nghiệp, viên chức, doanh nghiệp…Tuy nhiên hình thức kinh tế hộ gia đình vẫn là phổ biến đối với đời sống kinh tế của nhân dân trong phường. | Giới thiệu khái quát phường Chính Gián | 671 | |
Trụ sở cơ quan hành chính xã Hòa Nhơn được xây dựng tháng 8 năm 1975, địa chỉ thôn Phước Thái, đến năm 1989 cơ quan xã được xây dựng mới tại thôn Phú Hòa 1, hiện nay Hòa Nhơn là xã nằm về phía bắc Trung tâm hành chính
huyện Hòa Vang
, là xã vừa đồng bằng, vừa trung du có địa hình bán sơn địa. Vị trí phía Đông giáp phường Hòa Thọ Tây, Quận Cẩm Lệ, phía Tây giáp
xã Hòa Phú
, phía Nam giáp xã Hòa Phong, phía Bắc chạy dọc theo dãy núi Phước Tường giáp với
xã Hòa Sơn
. Xã có 3 HTX nông nghiệp, 01 trường Mầm non, 02 trường tiểu học, 01 trường trung học sơ sở và 01 trạm y tế xã.
Về dân số có 3.566 hộ với 14.623 nhân khẩu được hình thành ở 15 thôn
–
Về tổ chức Đảng và đảng viên: Đảng bộ có 354 đảng viên với 22 chi bộ trực thuộc, trong đó có 15/15 chi bộ thôn, 04 chi bộ trường học, 01 chi bộ trạm y tế xã, 01 chi bộ cơ quan và 01 chi bộ quân sự.
–
Về tình hình đất đai: Tổng diện tích tự nhiên 3.259ha trong đó: đất nông nghiệp: 2.415,2ha; đất phi nông nghiệp: 715,1ha; đất ở nông thôn: 249,9ha. Xuất phát từ điều kiện địa lý tự nhiên hình thành qua các thời kỳ, xã Hòa Nhơn thuộc vùng bán sơn địa núi rừng chiếm 2/3 diện tích, đất đai phần lớn là ruộng bậc thang và chua phèn nên việc sản xuất lương thực và cây công nghiệp năng suất có hạn chế so với các xã trên địa bàn.
Hòa Nhơn là một xã luôn gắn với quá trình hình thành và phát triển của mảnh đất Hòa Vang và cả thành phố Đà Nẵng. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ địa bàn xã Hòa Nhơn đã chia cắt và đặt nhiều tên xã trong nhiều thời kỳ, gồm có xã Thạch Thất, xã Diêu Đài, xã Phú Thọ; Xã Hòa Ninh, xã Hòa Nam, xã Hòa Phú, xã Hòa Thịnh và sau ngày đất nước được hòa bình độc lập mới hợp nhất đặt tên là xã Hòa Nhơn.
Xã Hòa Nhơn là một trong những xã ven đô
thành phố Đà Nẵng
, có ví trí quan trọng đối với cách mạng trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Lịch sử hình thành và phát triển của mảnh đất Hòa Nhơn qua các thời kỳ trong chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là huyện Đảng bộ Hòa Vang đã phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống bất khất của quân và dân Hòa Nhơn nói riêng đã ra sức động viên sức người, sức của để xây dựng và phát triển lực lượng. Đảng bộ và nhân dân xã Hòa Nhơn đã vận dụng sáng tạo các phương thức hoạt động và chịu đựng gian khổ ác liệt, hy sinh, mưu trí, linh hoạt, sáng tạo, dũng cảm trong chiến đấu, làm tốt vai trò nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giác; suốt chặng đường 30 năm quân và dân Hòa Nhơn cùng quân dân cả nước đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, góp phần thắng lợi giải phóng dân tộc. Qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tập thể và cá nhân của cán bộ và nhân dân xã Hòa Nhơn đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng như sau: Phong tặng 26 Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng; 158 Liệt sĩ, thương, bệnh binh 45 người, người có công cách mạng 20, tù đày 22 người, con Liệt sĩ 62 người, 45 Danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ các cấp, tặng thưởng 5 Huân chương độc lập, 95 Huân chương chiến công, 15 cờ thi đua quyết thắng, 20 chiến sĩ thi đua, 246 Huân chương, 56 Huy chương và tặng hàng trăm Bằng khen thành tích có công cách mạng các cấp. Năm 2015 xã Hòa Nhơn được Đảng và Nhà nước phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Sau ngày giải phóng năm 1975 xã Hòa Nhơn tập trung khôi phục lại hậu quả chiến tranh, phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, từ năm 1986 đến nay sau chặng đường 30 năm đổi mới, Đảng bộ và chính quyền xã Hòa Nhơn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc đổi mới, phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế -xã hội, ổn định và đảm bảo quốc phòng an ninh trên địa bàn.
Giai đoạn 5 năm (2011-2015) xã Hòa Nhơn lãnh đạo, triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới, vận động nhân dân chung tay, góp sức xây dựng nông thôn mới thực hiện hoàn thành 19/19 tiêu chí, đến nay xã luôn quan tâm chăm lo xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, nhất là điện, đường, trường, trạm được xây dựng mới khang trang, nâng mức sống cho các gia đình chính sách, xã hội ổn định, giải quyết không còn hộ đói, không còn hộ ở nhà tạm, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 2,5%, 100% hộ có điện thắp sáng, 100% đường giao thông được bê tông hóa, đầu tư xây dựng mới trung tâm văn hóa thể phục vụ các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao cho người dân vui chơi giải trí, xã Hòa Nhơn được Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng Quyết định công nhận 07 di tích lịch sử – văn hóa Đình làng, để lưu truyền giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc, hằng năm tổ chức các lễ hội truyền thống được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng; Trên địa bàn bàn xã có tuyến đường 14B Đà Nẵng đi Quảng Nam, tuyến đường cao tốc Bắc – Nam, đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tiểu thủ công nghiệp, buôn bán thương mại, dịch vụ, năm 2016 mức thu nhập bình quân đầu người 30 triệu/người/năm.
Nhìn lại lịch sử đấu tranh và xây dựng cách mạng của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân xã Hòa Nhơn đã trải qua những khó khăn, gian khổ, thử thách gay go quyết liệt mà chúng ta đã giành được thắng lợi là phát huy sức mạnh truyền thống đoàn kết giữa Đảng với nhân dân, sự đồng thuận cao của các tầng lớp nhân dân “ Đảng nói dân tin, Mặt trận, đoàn thể vận động dân theo, Chính quyền tổ chức thực hiện nhân dân ủng hộ” không phân biệt tôn giáo tạo thành một khối đoàn kết thống nhất ý chí và hành động xây dựng và phát triển quê hương Hòa Nhơn ngày càng nhiều khởi sắc và đổi mới, góp phần thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. | Giới thiệu khái quát xã Hòa Nhơn | 1,204 | |
Là xã có bề dày truyền thống văn hoá: có trường tiểu học An Phước trên 100 năm, hai di tích đình lành Tuý Loan và Bồ Bản được công nhận di tích cấp Quốc gia. Có chợ Tuý Loan hình thành hơn 100 năm là nơi giao lưu, buôn bán sầm uất.
Trong kháng chiến chống pháp và chống Mỹ, Hoà Phong là căn cứ cách mạng bị địch đánh phá ác liệt. Nhưng với tinh thần một tấc không đi, một ly không rời, “mỗi thôn xóm là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ”, cán bộ và nhân dân xã Hoà Phong đã chiến đấu anh dũng, lớp trước ngã xuống, người sâu đứng lên tiếp tục chiến đấu và lập nhiều chiến công oanh liệt với nhiều tấm gương dũng cảm, kiên cường, hy sinh, bất khuất, tận trung với nước, tận hiếu với dân, đáng được nhân dân xã nhà đời đời ghi nhớ và trân trọng. Với những thành tích đó Hoà Phong đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là phần thưởng cao quý là cán bộ, chiến sĩ và nhân dân xã nhà.
Phát huy truyền thống cách mạng các thế hệ đi trước. Từ sau ngày giải phóng đến nay, cán bộ, đảng viên và nhân dân Hoà Phong không ngừng nổ lực hàn gắn những vết thương chiến tranh, đoàn kết một lòng, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, với nhiều mô hình sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh, buôn bán có hiệu quả, đời sống nhân dân càng càng được nâng lên. Tốc độ tăng trưởng hằng năm bình quân 15%, cơ cấu kinh tế chuyển dần sang Thương mại dịch vụ – Nông nghiệp – Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp. Thu nhập bình quân đầu người từ 9,5 triệu năm 2008 đến năm 2013 là 20,5triệu. Từng bước giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, xóa 100% nhà tạm cho hộ nghèo, hộ chính sách, xóa 100% hộ nghèo theo chuẩn củ. Chất lượng giáo dục ngày được nâng lên, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp, học sinh giỏi đạt giải các cấp, đỗ đại học ngày càng tăng (2011, 2012, 2013 là xã dẫn đầu toàn huyện về học sinh đỗ đại học). Thực hiện tốt chương trình quốc gia về y tế. Các hoạt động VHVN-TDTT được đẩy mạnh, cơ sở vật chất nhà văn hóa, các di tích văn hóa lịch sử được quan tâm đầu tư, tôn tạo. Tình hình ANCT, TTATXXH được giữ vững và ổn định. Hệ thống chính trị từ xã đến thôn luôn đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động, giữ vững đơn vị trong sạch vững mạnh.
Thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, đến nay Hoà Phong đã hoàn thành 13/19 tiêu chí và phấn đấu đến cuối năm 2015 xã đạt xã nông thôn mới. | Giới thiệu khái quát xã Hòa Phong | 511 | |
Phường Hòa Hiệp Bắc nằm phía Tây Bắc
quận Liên Chiểu
, cách trung tâm
thành phố Đà Nẵng
khoảng 15 km; phía Đông giáp Vinh Kim Liên; Tây giáp xã Hoà Liên,
huyện Hòa Vang
; phía Nam giáp với phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu; Bắc giáp Thị trấn Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Phường có tổng diện tích tự nhiên 43,58 km
2
, dân số trên 16.000 người, gồm 106 tổ dân phố. Có Quốc lộ 1A, đường tránh Nam Hầm Hải vân; có
tỉnh Thừa Thiên-Huế
. Sông lớn Cu Đê chảy ra biển vịnh Kim Liên, có khu công nghiệp Liên Chiểu.
Là vùng đất có truyền thống lâu đời và bề dày lịch sử, nhân dân sống dựa vào sản xuất nông nghiệp; ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, dịch vụ thương mại, và buôn bán nhỏ lẻ.
Hòa Hiệp Bắc là địa phương có truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động, bền bỉ trong trong phòng, tránh thiên tai; kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
Di tích lịch sử văn hóa Hải vân
Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Hòa Hiệp Bắc đã có biết bao người mẹ, người chị mấy lần âm thầm đưa tiễn chồng, con, em mình đi kháng chiến, sẵn sàng tiếp nhận mất mát hy sinh, sẵn sàng hiến dâng người thân yêu của mình cho độc lập tự do của Tổ quốc. 26 Bà mẹ Việt Nam anh hùng; 146 liệt sĩ; 97 thương binh, bệnh binh; hơn 300 gia đình có công với cách mạng là những đối tượng tiêu biểu cho tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” của nhân dân Hòa Hiệp Bắc và còn biết bao nhiêu người dân bình dị tham gia trong các cuộc đấu tranh, biểu tình, đóng góp lương thực, đào hầm nuôi dấu cán bộ, du kích bị địch bắt, bị cầm tù, bị tra tấn đánh đập dã man . Chính họ là những viên gạch góp phần xây dựng nền độc lập nước nhà. Tên tuổi họ không khắc vào bia đá mà sống mãi giữa lòng dân! Năm 2000 Đảng bộ và nhân dân Phường Hòa Hiệp ( củ ) nay chia tách thành 2 phường Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Nam, được Nhà nước phong tặng danh hiệu: “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”,
Di tích kiến trúc nghệ thuật Lăng Ông Kim Liên
Phường có 2 tôn giáo chính: Đạo Phật và Đạo Thiên Chúa. Toàn phường có 9 di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật và chứng tích cách mạng, trong đó có 1 di tích kiến trúc nghệ thuật được xếp hạng cấp thành phố ( Di tích Lăng Ông Kim Liên )
Đảng bộ phường có 30 chi bộ trực thuộc với hơn 320 đảng viên. Đảng bộ phường không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, trong đó trọng tâm là nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đổi mới công tác cán bộ và giáo dục chính trị, tư tưởng, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết TW 4 (khóa XI).
Các tổ chức chính trị – xã hội, gồm: Mặt trận, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Công đoàn cơ sở và Đoàn Thanh niên CSHCM phường được tổ chức rộng khắp và hoạt động có hiệu quả.
Từ sau ngày quê hương giải phóng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân phường Hòa Hiệp Bắc tiếp tục bước vào công cuộc xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ Tổ quốc và củng cố quốc phòng an ninh vững chắc.
Tuyến đường Nguyễn Văn Cừ “Văn minh, sạch, đẹp”
Trong đó nội dung phát huy nội lực chính là phát huy tiềm năng về vật chất, tinh thần, sức sáng tạo của quần chúng nhân dân Hòa Hiệp Bắc để xây dựng thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đó cũng là ước mơ của bao thế hệ đã chẳng tiếc máu xương, tạo dựng nên một vùng đất Hòa Hiệp Bắc anh hùng, giàu đẹp, rạng rỡ trong tương lai.
BAN BIÊN TẬP | Giới thiệu khái quát phường Hòa Hiệp Bắc | 717 | |
Phường Hòa Khánh Bắc nằm ở Trung tâm của
quận Liên Chiểu
,
thành phố Đà Nẵng
, Diện tích 9,97 km 2, dân số 40,021 người, mật độ dân số 4,000 người/km2. Là một phường công nghiệp trẻ, phân bố dọc theo quốc lộ 1A. Hòa Khánh Bắc có ưu thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thuận lợi phát triển giao thông vận tải, du lịch và là nơi tập trung khu công nghiệp Hòa Khánh. Vị trí địa lý trên là điều kiện đặc biệt thuận lợi cho việc giao lưu với các tỉnh và khu vực xung quanh.
Kết cấu hạ tầng của phường đang ngày càng hoàn thiện, công tác chỉnh trang, đô thị hoá diễn ra nhanh, nhiều dự án lớn của Thành phố đã và đang triển khai trên địa bàn làm cho công tác quy hoạch, chỉnh trang đô thị được thực hiện đều khắp và đồng bộ, tạo ra diện mạo đô thị ngày càng sầm uất, hấp dẫn.
Phường Hòa Khánh Bắc có khu công nghiệp Hòa Khánh. Ngoài ra KCN Hoà Khánh đang được mở rộng. Đây là nơi tập trung trên 200 nhà máy, xí nghiệp công nghiệp lớn của thành phố, trung ương và các nhà đầu tư trong và ngoài nước với lượng công nhân trên 30.000 người.
Trên địa bàn phường có 01 trường đại học, 01 trường cao đẳng, (trường Đại học Bách Khoa, Cao đẳng Kinh tế – kế hoạch Đà Nẵng) đã thu hút trên 32.000 học sinh, sinh viên cả nước lưu trú và học tập, đây cũng là nguồn nhân lực chất xám dồi dào cung cấp đội ngũ kỹ sư, cán bộ, công nhân thạo việc, có tay nghề cao.
Trên địa bàn phường có chợ lớn Hoà Khánh và các chợ khác như chợ Thanh Vinh và nhiều đại lý bán sỉ và lẻ các mặt hàng phong phú đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Nền kinh tế phường phát triển theo cơ cấu: Công nghiệp – Dịch vụ – Nông nghiệp. Trong đó CN – TTCN giữ vai trò chủ đạo, TM – DV giữ vị trí quan trọng, nông nghiệp sẽ giảm dần tỷ trọng đến mức ổn định.
Trụ sở: UBND phường Hòa Khánh Bắc | Giới thiệu khái quát phường Hòa Khánh Bắc | 376 | |
“Hoà Liên Tây Bắc Hoà Vang
Có hồ chứa nước, có đồng lúa xanh”
Hoà Liên là một trong 11 xã của
huyện Hòa Vang
thuộc
thành phố Đà Nẵng
ngày nay. cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 20 km, là một xã nằm vùng cánh Bắc Hoà Vang, lại có địa hình đồi núi chập chùng nên từ xưa đến nay, Hoà Liên được xem như là địa bàn chiến lược trong việc xây dựng và phát triển các căn cứ cách mạng.
Đứng trên đỉnh núi Hòn Cờ nhìn xuống, Hoà Liên giống như hình dáng một con chim bồ câu đang sải cánh soi mình trên dòng sông Cu Đê, Phía Bắc Hoà Liên là thôn Trường Định có núi Hải Vân giáp với vùng núi Nam Đông huyện Phú Lộc,
tỉnh Thừa Thiên Huế
. phía Nam Hoà Liên giáp với 2 xã:
xã Hoà sơn
và xã Hoà Ninh, phía Đông của xã là thôn Trung Sơn giáp phường
Hoà Khánh Bắc
-Hoà Hiệp Nam của
quận Liên Chiểu
; Phía Tây giáp xã Hoà Ninh và xã Hoà Bắc liên hoàn với
dãy Trường Sơn
trùng điệp. Sau năm 1975, diện tích tự nhiên của xã Hoà Liên là hơn 7.2km2 . Đầu năm 1980 theo quyết định của cấp trên, xã Hoà Liên đã bàn giao một phần diện tích rừng phía tây cho xã Hoà Ninh quản lý. Hiện nay Tổng diện tích tự nhiên 39,4954km2 ha, có 3827 hộ dân với 13980 nhân khẩu sinh sống trên 13 thôn : Tân Ninh, Hiền Phước, Hưởng phước, Vân Dương 1, Vân Dương 2, Trung Sơn, Quan Nam 1, Quan Nam 2, Quan Nam 3, Quan Nam 4, Quan Nam 5, Quan Nam 6, Trường Định.
Hoà liên là xã có đặc điểm địa lý, tự nhiên khá đặc biệt. Đất đai cũa xã có thể chia thành ba vùng khác nhau: Vùng cao, vùng trung và vùng đồng bằng.Cũng như nhiều địa phương khác thuộc Đà Nẵng, thời tiết khí hậu Hoà Liên cũng chia thành hai mùa rõ rệt đó là Mùa khô và mùa mưa. Xưa kia, khi chưa có ngành khí tượng thuỷ văn, người dân Hoà Liên xưa đã căn cứ vào quy luật của thời tiết và đúc kết nhiều kinh nghiệm quý báu như:
“Mống đóng Cu Đê trở về dọn gác
Mống đóng Cửa Đại cá mại chết khô.
Mống đá bà dọn nhà mà đi.
Mống Sơn Trà giữ nhà cho kỹ”
Đặc biệt , Hoà Liên có con sông Cu đê chảy qua địa phận xã. Sông Cu Đê bắt nguồn từ sông Nam có tên là Bồ Bản –Khe Sô, nơi có những bản làng của đồng bào Cơ tu sinh sống.
Cầu Trường Định được xây dựng năm 2010
Là vùng đất có truyền thống lâu đời và bề dày lịch sử, nhân dân sống dựa vào sản xuất nông nghiệp; ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, dịch vụ thương mại, và buôn bán nhỏ lẻ.
Hoà Liên là địa phương có truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động, bền bỉ trong trong phòng, tránh thiên tai; kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
Nghĩa trang, Tượng đài và Bia tưởng niệm các anh hùng Liệt sỹ
Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Hoà Liên đã có biết bao người mẹ, người chị mấy lần âm thầm đưa tiễn chồng, con, em mình đi kháng chiến, sẵn sàng tiếp nhận mất mát hy sinh, sẵn sàng hiến dâng người thân yêu của mình cho độc lập tự do của Tổ quốc. Tính đến nay Hoà Liên có188 Bà mẹ Việt Nam anh hùng trong đó có 6 mẹ còn sống ;764 liệt sĩ; 165 thương binh, 43 bệnh binh và 490 gia đình có công với cách mạng là những đối tượng tiêu biểu cho tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” của nhân dân Hoà Liên và còn biết bao nhiêu người dân bình dị tham gia trong các cuộc đấu tranh, biểu tình, đóng góp lương thực, đào hầm nuôi dấu cán bộ, du kích bị địch bắt, bị cầm tù, bị tra tấn đánh đập dã man . Chính họ là những viên gạch góp phần xây dựng nền độc lập nước nhà. Tên tuổi họ không khắc vào bia đá mà sống mãi giữa lòng dân!
Cho đến nay Trên địa bàn xã tập trung nhiều dự án, tính đến năm 2016 đã có đến 35 dự án lớn nhỏ, toàn xã có 04 thôn giải tỏa trắng, 08 thôn giải tỏa một phần, 01 thôn không giải tỏa.
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là chương trình tổng thể phát triển kinh tế – chính trị, văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh ở địa bàn nông thôn. Xây dựng nông thôn mới được xem là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của tất cả các tầng lớp nhân dân. Việc phát động phong trào “xây dựng nông thôn mới”, đã được triển khai một cách toàn diện trong hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân, từ đó giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc những quan điểm, nhiệm vụ và tầm quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Bên cạnh đó, mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và từng người dân nhận thấy được đầy đủ về vị trí, vai trò to lớn của nông nghiệp, nông dân, nông thôn cũng như vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới.
Khu tái định cư Hoà Liên
Đặc biệt về Hoà Liên Chúng ta sẽ được thưởng thức những làng điệu dân ca quen thuộc của bà con nhân dân quê nhà . Cái noi dân ca của Hoà Liên được hình thành vào năm 1977 do đồng chí Nguyễn Hữu Mai sáng lập với tiểu phẩm đầu tiên “ Bà má Quãng Nam” nói về nội dung chống bọn Hàn Quốc đến gây án ở nước ta, Các làn điệu dân ca được người dân Hòa Liên ưa chuộng đưa vào các hội diễn là hò khoan, Lý ngựa ô và các làn điệu dân ca khu V… Dựa trên từng làn điệu cổ đó, những người “văn hay chữ tốt” của làng đã tạo nên lời ca phù hợp với đời sống hiện tại. | Giới thiệu khái quát xã Hòa Liên | 1,090 | |
Theo địa giới hành chính hiên nay thì Hòa Tiến nằm về phía Đông Nam
huyện Hòa Vang
, cách trung tâm
thành phố Đà Nẵng
khoảng 13km và trung tâm hành chính huyện Hòa Vang khoảng 5,6km; phía Đông giáp xã Hòa Châu, phía Tây giáp xã Hòa Phong và
Hòa Khương
, phía Bắc giáp xã Hòa Thọ Tây (Quận Cẩm Lệ), phía Nam giáp xã Điện Tiến (
tỉnh Quảng Nam
). Với tổng diện tích 1.394 ha, trong đó đất nông nghiệp 807 ha. Hòa Tiến bao gồm hầu như tất cả các loại hình: núi, đồi, sông lạch, đồng quê, nỗng cát….Hòa Tiến được bao bọc bởi con sông Yên hợp lưu của sông Vu Gia và sông Túy Loan, chảy qua các thôn An Trạch, Bắc An, Thạch Bồ, Cẩm Nê để theo sông Hàn đổ ra biển, ngoài ra còn có sông Tây Tịnh rẽ nhánh sông yên, từ An Trạch chảy qua Lệ Sơn, La Bông, Yến Nê và quay lại hòa vào sông mẹ tại cửa khẩu Cẩm Nê, trở thành nguồn nước tưới tiêu cho các cánh đồng trù phú đồng thời làm dịu bớt cơn nóng mùa hè của những cồn cát, xóm rừng cằn cỗi. Nhiều cánh đồng màu mỡ, phì nhiêu như: An Trạch, La Bông, Cẩm Nê, Lệ Sơn, Bắc An, Thạch Bồ….không chỉ là những cánh đồng lúa cao sản, mà còn là những cách đồng rau tươi tốt.
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, địa phận Hòa Tiến ngày nay thuộc tổng Thanh An huyện Hòa Vang tỉnh Quảng Nam gồm các xã Lệ Sơn, An Trạch, La Bông, Dương Sơn, Yến Nê, Cẩm Nê, Thạch Bồ, An Thới. Cuối tháng 2 năm 1946, thực hiện chủ trương hợp xã lần thứ nhất của Chính phủ, xã Thanh Sơn được hợp nhất từ các xã Lệ Sơn, An Trạch, La Bông và Dương Sơn; xã Thanh Thái được hợp nhất từ các xã Yến Nê, Cẩm Nê, Thạch Bồ, An Thới, cả hai đều thuộc huyện Hòa Vang. Đầu năm 1948 theo chủ trương hợp xã lần hai của Chính phủ, hai xã Thanh Sơn và Thanh Thái được hợp nhất thành xã Hòa Thanh. Đầu năm 1950, thực hiện chủ trương thực hiện hợp xã lần ba của Chính phủ, Huyện ủy và Ủy ban Kháng chiến hành chính huyện đã tiến hành hợp nhất 17 xã được thành lập từ lần hợp nhất đầu năm 1948 thành 8 xã lớn: Hòa Mỹ, Hòa Ninh, Hòa Quý, Hòa Vân, Hòa Thắng, Hòa Nhơn, Hòa Khương và Hòa Tiến. Xã Hòa Tiến được hợp nhất từ ba xã là Hòa Thanh, Hòa Xuân và Hòa Tân, bao gồm địa phận bốn xã Hòa xuân, Hòa Phước, Hòa Châu và Hòa Tiến ngày nay. Đầu năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm chia nhỏ Hòa Tiến thành 5 xã: Hòa Thái (gồm Yến Nê, Cẩm Nê, Thạch Bồ, An Thới, Dương Sơn); Hòa Lợi (gồm: Lệ Sơn, An Trạch, La Bông); Hòa Châu, Hòa Phước và Hòa Đa (Chính quyền Ngô Đình Diệm đổi tên xã Hòa Xuân thành xã Hòa Đa). Tất cả 5 xã Hòa Thái, Hòa Lợi, Hòa Châu, Hòa Phước và Hòa Đa (Tức toàn bộ địa phận của Thanh An trước năm 1945, của xã Hòa Tiến giai đoạn 1950-1954) đều thuộc khu hành chính Quá Giáng quận Hòa Vang do địch tạm chiếm. Như vậy thời chống Mỹ, trên địa bàn xã Hòa Tiến hiện nay có hai xã Hòa Thái và Hòa Lợi. Sau giải phóng, vào ngày mùng 2 tháng 9 năm 1975, nhân kỷ niệm quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng và nhà nước có chủ trương hợp nhất hai xã Hòa Thái và Hòa Lợi thành xã Hòa Tiến gồm 7 thôn: An Trạch, Lệ Sơn, La Bông, Yến Nê, Cẩm Nê, Thạch Bồ và Dương Sơn (Sau khi tách Tây An và Dương Sơn dưới về trực thuộc xã Hòa Châu; còn thôn Bắc An hiện nay thì đến năm 1977 khi vào HTX NN mới tách ra từ An Trạch)
Theo thống kê dân số đến tháng 12 năm 2012, Hòa Tiến có 4.151 hộ với 16.522 nhân khảo. Về tín ngưỡng tôn giáo, người Hòa Tiến chủ yếu thờ cúng ông bà và các đạo Thiên chúa giáo, Phật giáo, Đạo tin lành. Tuy nhiên dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo, người Hòa Tiến cũng đều xác nhận mình là đồng bào, đồng hương, thậm chí cùng chung huyết thống tộc họ, từ đó luôn sống tương thân tương ái, sẵn sàng cưu mang đùm bọc lẫn nhau trong lúc gian nan khi hạn nạn, cho nên trải qua bao nhiêu trầm luân dâu bể mà trên đất Hòa Tiến vẫn không hề xảy ra chuyện kỳ thị lương – giáo. Hòa Tiến không phải là đất học như Gò Nổi hay Cẩm Toại và một số địa phương khác ở Quảng Nam, nhưng với bản tính thông minh, ham học hỏi lại chịu khó nên đời nào Hòa Tiến cũng có người thành đạt trên con đường học vấn và quan trọng hơn là biết đêm hết sở học của mình để phụng sự dân tộc, phụng sự cộng đồng, không ít người đã trở thành học giả nổi tiếng như nhà nghiên cứu văn học Đặng Tiến nhiều năm giảng dạy đại học ở Pháp, như tiến sĩ Ngô Khóa từng đóng góp nhiều thành tựu khoa học tại Tổng cục Khí tượng thủy văn….
Người Hòa Tiến vốn có truyền thống lao động cần cù và sáng tạo. Thở mới dựng làng lập ấp hầu hết cư dân ở đây đều sống bằng nghề nông. Nông nghiệp ở Hòa Tiến phát triển khá mạnh và sớm có ý thức làm ăn tập thể, trong đều kiện nền kinh tế tự túc tự chỗ, một số một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ cũng bắt đầu xuất hiện. Ẩn mình dưới lũy tre xanh là các làng nghề truyền thống: dệt chiếu Cẩm Nê, đan tre Yến Nê, chằm nón La Bông, nhuộm chàm An Thới…..Hầu hết người Hòa Tiến đều dĩ nông vi bản, lấy nghề nông làm chính và lúc nông nhàn mới làm thêm mới làm thêm một số nghề phụ như đan lát, dệt chiếu, chằm nón rồi trực tiếp mang sản phẩm của mình đi bán khắp nơi.
Để có thể tồn tại và phát triển trước một thiên nhiên đầy khắc nghiệt và một xã hội luôn biến động người Hòa Tiến hết sức coi trọng truyền thống cố kết cộng đồng theo thứ tự tôn ty của tộc họ, theo hương ước của làng xã và tất nhiên theo luật vua phép nước. Ngoài việc thừa hưởng cốt cách đậm đặc từ những tiên dân Thanh-Nghệ đi mở cõi thì hoàn cảnh mới đã tạo thêm cho người Hòa Tiến những tính cách mới: chăm chỉ siêng năng, chịu thương chịu khó trong lao động; rất bao dung phóng khoáng trong giao tiếp nhưng lại thẳng thắng bộc trực đôi khi đến nóng này. Đó là chưa kể xuất phát từ lòng yêu nước thương quê và nổi khát khao được đổi đời, người Hòa Tiến rất quyết liệt trên lĩnh vực chính trị qua cách lựa hoặc là thế này hoặc là thế khác. Cách lựa chọn hoặc là thế này hoặc là thế khác đầy tính chất quyết liệt như vậy đã hình thành trong hầu hết người Hòa Tiến sự kiên định đến cùng với những gì mình vốn tin là đúng. Trong suốt thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ số đông người Hòa Tiến đều đứng về chính nghĩa, đều lựa chọn con đường yêu nước và cách mạng.
Nhìn lại chặng đường lịch sử kể từ sau ngày quê hương giải phóng, trước bao khó khăn thử thách, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện ủy Hòa Vang và sự quan tâm giúp đỡ của các cấp các ngành, Đảng bộ và nhân dân Hòa Tiến không ngừng phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, đoàn kết chặt chẻ, hăng hái thi đua, chung sức chung lòng hàn gắn vết thương chiến tranh để xây dựng và phát triển quê hương. Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Đảng bộ và nhân dân Hòa Tiến có những bước phát triển toàn diện, chính trị ổn định, kinh tế không ngừng được tăng trưởng, nông thôn luôn được đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên, văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ, quốc phòng – an ninh được giữ vững; Đảng bộ, chính quyền, mặt trận và các hội đoàn thể luôn là đơn vị vững mạnh, được Chủ tịch nước tặng thưởng:
– 1 Huân chương Lao động hạng Nhì
– 2 Huân chương Lao động hạng Ba
Đặc biệt để ghi nhận thành tích lớn lao của Đảng bộ và nhân dân Hòa Tiến trong thời kỳ đổi mới, nhân kỷ niệm 55 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2 tháng 9, Chủ tịch nước cùng lúc tặng thưởng cho xã Hòa Tiến dánh hiệu Anh hùng Lao động và cho Công an xã Hòa Tiến danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Có thể nói thành quả mà Đảng bộ và nhân dân Hòa Tiến đạt được trong sáu mươi tám năm đấu tranh cách mạng (1945 – 2013) được kết tinh bởi sức mạnh của truyền thống quê hương, bởi năng lực sáng tạo, tâm huyết cháy bỏng và sức lao động cần cù của cán bộ, đảng viên và nhân dân toàn xã nhà cùng với sự quan tâm lãnh đạo, giúp đỡ tạo điều kiện của các cấp các ngành từ huyện đến thành phố và Trung ương. Thành quả đó cũng là tiền đề hết sức quan trọng để Đảng bộ và nhân dân Hòa Tiến tiếp tục đem hết sức mình phấn đấu xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới trong năm 2013 để xứng đáng là một xã từng được Nhà nước phong tặng 3 danh hiệu anh hùng.
Văn Phòng UBND xã | Giới thiệu khái quát xã Hòa Tiến | 1,735 | |
Đặc điểm tự nhiên,
Vị trí địa lý:
Diện tích: Hòa Ninh là một xã miền núi của
huyện Hòa Vang
có tổng diện tích tự nhiên là 10.519 ha đây là diện tích tương đối lớn.
Địa hình : Hòa Ninh thuộc dạng bán sơn địa, gần một nữa diện tích là đồi núi (nơi cao nhất là Đỉnh Núi Chúa-
Bà Nà
cao 1487m so với mực nước biển). Điạ hình cao ở phía Tây, thấp ở phía Đông nam.
– Xã Hòa Ninh:
Xã Hòa Ninh được thành lập theo Quyết định số 79/QĐ–HĐBT ngày 23 tháng 9 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng Nước CHXHCN Việt Nam.
Bước đầu dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của UBND xã mà trực tiếp là đ/c Hà Thành Thương- Chủ tịch UBND xã đã đưa xã nhà vượt qua muôn vàng khó khăn. Kế thừa những thành quả đã đạt được, sự lãnh đạo của Đảng ủy, HĐND, điều hành của UBND xã mà trực tiếp là Đ/c Huỳnh Tân- Chủ tịch UBND xã đã xây dựng và phát triển quê hương ngày càng giàu đẹp và văn minh.
– Chi bộ Đảng Xã Hòa Ninh
Tháng 11/1981: Chi bộ xã Hòa Ninh(tiền thân của Đảng bộ xã Hòa Ninh hiện nay) trực thuộc đảng bộ huyện Hòa Vang được chia tách từ chi bộ xã Hòa Sơn theo quyết nghị số 67-QN/HU ngày 03/11/1981 của BTV huyện ủy Hòa Vang. Với 15 đảng viên, đ/c Trần Công Danh được chỉ định làm bí thư chi bộ.
Đầu năm 1993 Quá trình xây dựng và phát triển, chi bộ được huyện ủy quyết định thành lập đảng bộ xã trực thuộc. Qua 9 lần đại hội, đến nay số đảng viên là 144 đồng chí, sinh hoạt trên 14 chi bộ, trong đó 8/8 thôn có chi bộ đảng. Nhiệm kỳ đại hội 2010-2015 đã bầu ra BCH gồm 19 đ/c do đồng chí Nguyễn Văn Quý làm bí thư đảng bộ xã. | Giới thiệu khái quát xã Hòa Ninh | 324 | |
Phường Hòa Xuân thuộc
quận Cẩm Lệ
được thành lập theo Nghị định102/NĐ-CP ngày 05/8/2005 của Chính phủ, trên cơ sở xã Hòa Xuân thuộc
huyện Hòa Vang
. Diện tích tự nhiên 1102ha, dân số tính đến ngày 31/12/2018gần 35.000 người, mật độ trung bình 266 người/km2. Toàn phường có 89 tổ dân phố, 28 chi bộ đảng trong đó có 20 chi bộ khu dân cư với gần 700 đảng viên. Hệ thống chính trị từ phường đến khu dân cư được củng cố thường xuyên, hoạt động có hiệu quả.
Qua hơn 13 năm kể từ khi trược thuộc quận Cẩm Lệ, bộ mặt của phường đã thay đổi đáng kể. Trước đây là xã thuần nông, cơ cấu kinh tế nông nghiêp – tiểu thủ công nghiệp, qua 13 năm phát triển, tình hình kinh tế-xã hội của phường. Hiện nay cơ cấu kinh tế theo hướng thương mại-dịchvụ-tiểu thủ công nghiệp, tổng giá trị sản xuất tăng bình quân 25%/năm. Các lĩnh vực quy hoạch đô thị, văn hoá xã hội được tập trung giải quyết tốt, mức sống người dân tăng lên đáng kể, thu nhập bình quân đầu người từ 11 triệu đồng năm 2006 lên gần 40triệu đồngnăm 2018, quốc phòng-an ninh được giữ vững. | Giới thiệu khái quát phường Hòa Xuân | 208 | |
Phường Hòa An,
quận Cẩm Lệ
được ra đời theo Nghị định số 102/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu mốc ngoặc phát triển đô thị hóa của một xã vùng ven thành phố.
Trong những buổi ban đầu, Tổ chức hệ thống chính trị của Đảng bộ, Chính quyền, Mặt trận và các hội đoàn thể: CCB, ND, PN, Đoàn Thanh niên của phường lần lượt được thành lập lâm thời kể từ ngày 01/9/2005 và dần đi vào hoạt động ổn định chính thức từ đầu năm 2006. Là phường được hình thành từ chia tách xã Hòa Phát thuộc
huyện Hòa Vang
với 03 thôn cũ của xã Hòa Phát, gồm: Hòa An 1, Hòa An 2 và Hòa An 3; có diện tích tự nhiên diện tích tự nhiên là 286ha với 3.500 hộ và 14.200 nhân khẩu; trong đó: trên 50% hộ nằm trong khu qui hoạch chỉnh trang với 9 dự án đầu tư xây dựng từ năm 1999 và tất cả các dự án đều chưa hoàn chỉnh. Phường Hòa An là cửa ngỏ ra – vào của tuyến giao thông Bắc – Nam về đường bộ lẫn đường sắt, trên địa bàn có 4 trục giao thông chính: Tôn Đức Thắng, Trường Chinh, Tôn Đản, Nguyễn Công Hoan, có 01 Bến xe trung tâm thành phố và tuyến đường Yên Thế, Bắc Sơn cùng với chợ Hòa An đã tạo được đầu tư hình thành nên ở có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế – xã hội, tạo điều kiện cho phường phát huy các nguồn lực, nắm bắt lợi thế, xây dựng địa phương ngày càng giàu đẹp, văn minh, để xứng tầm là phường đô thị của quận Cẩm Lệ.
Trước khi thực hiện chủ trương sắp xếp lại tổ dân phố của UBND thành phố vào tháng 10/2012, phường chỉ có 53 tổ dân phố, đến nay đã lên 162 tổ dân phố được phân bổ trên 24 Chi bộ khu dân cư; số dân lên đến: 21.727 người/5.252 hộ; qua những lần điều chỉnh địa giới hành chính hiện nay diện tích tự nhiên của Hòa An là: 315,56ha. Trong những năm qua, được thành phố đầu tư xây dựng quy hoạch chỉnh trang đô thị với hơn 25 dự án và xây dựng 03 khu nhà chung cư cao tầng, trong đó có 02 khu chung cư đã đưa vào sử dụng và bố trí dân ở đầy đủ.
Trải qua hơn 9 năm từ khi thành lập đến nay, bước đầu có nhiều khó khăn và thách thức đặt ra cho Đảng bộ và Chính quyền, đội ngũ cán bộ còn mới mẽ, chưa có kinh nghiệm trong quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ, cơ sở vật chất còn tạm bợ, giải tỏa, quy hoạch, bố trí tái định cư của các dự án chưa dứt điểm, tiến độ thi công còn kéo dài nên đã ảnh hưởng đến tình hình sinh hoạt nơi ăn chốn ở của người dân và trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiếp nối và phát huy truyền thống của cha ông xã Hòa Phát trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và cần cù trong lao động kiến thiết quê hương, đến nay Đảng bộ, chính quyền và nhân dân toàn phường đã nổ lực xây dựng được khối đồng thuận trong nhân dân, đoàn kết một lòng, ra sức thi đua, năng động, sáng tạo, đổi mới tư duy lãnh đạo, điều hành, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tranh thủ thời cơ và nguồn lực đẩy mạnh tốc độ đô thị hóa, từng bước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, các công trình dân sinh đảm bảo; tập trung tăng tỷ trọng phát triển Công nghiệp – TTCN, ưu tiên phát triển thương mại – dịch vụ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh hình thành hoạt động ổn định và tranh thủ các yếu tố khác làm đòn bẩy thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng – an ninh, tăng cường phát huy các giá trị văn hóa tinh thần, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Công tác an sinh xã hội cũng được các cấp lãnh đạo Đảng, Chính quyền phường đặc biệt quan tâm, hàng năm phường đã tập trung nhiều nguồn lực huy động hàng tỷ đồng giúp đỡ cho hộ nghèo, phát động tinh thần tương thân tương ái, tổ chức trao phương tiện sinh kế, đối thoại với hộ nghèo, đặc biệt nghèo để định hướng giúp cho hộ nghèo làm ăn thoát nghèo, với mục tiêu “giảm nghèo bền vững”. Thực hiện tốt công tác “đền ơn đáp nghĩa”, đặc biệt chú trọng quan tâm các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng và đối tượng bảo trợ xã hội. Duy trò tốt các hoạt động đời sống văn hóa, tinh thần của người dân, tổ chức tốt các hoạt động dân gian, lễ hội đình làng Hòa An hằng năm nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống thống của nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Chú trọng công tác đào tạo nghề, giới thiệu giải quyết việc làm.
Công tác giáo dục – đào tạo được quan tâm đúng mức. Trên địa bàn phường có 01 trường Tiểu học với 03 trường khu vực, 01 trường THCS, 01 trường Mầm non công lập với 03 trường khu vực, 01 trường Mầm non Tư thục và 22 nhóm trẻ độc lập tư thục.
Phát huy được những thuận lợi trên, Đảng bộ và Chính quyền phường triển khai nhiều phong trào thi đua yêu nước thiết thực trong nhiều năm qua được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ, thực hiện hoàn thành đạt và vượt mức các chỉ tiêu kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh quận giao, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu của Nghị quyết Đảng bộ quận, phường và các chương trình mục tiêu, giải pháp đề ra. Từ kết quả phong trào thi đua của chính quyền và nhân dân các năm qua được các cấp lãnh đạo quận, thành phố ghi nhận và tặng các danh hiệu: Cờ thi đua của Chính phủ tặng đơn vị dẫn đầu phong trào Quần chúng bảo vệ ANTQ, Cờ thi đua của UBND thành phố, quận tặng đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua từ năm 2006 đến năm 2009, và còn nhiều Bằng khen, giấy khen khác của các cấp, các ngành tặng cho phường.
Các phần thưởng được trao tặng nêu trên là một vinh dự rất lớn, là động lực tinh thần đối với phường và cũng là một trách nhiệm lớn lao đối với nhân dân, Đảng bộ, Chính quyền, Mặt trận và các Đoàn thể phường đồng sức, đồng lòng tiếp tục quyết tâm phấn đấu hơn nữa để giành lại lá cờ đầu trong phong trào thi đua các năm tiếp theo, để xứng đáng là phường đô thị của thành phố trực thuộc Trung Ương, góp phần xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một thành phố đáng sống./.
Văn phòng UBND phường Hòa An | Giới thiệu khái quát phường Hòa An | 1,227 | |
Xã Hòa Phú được thành lập ngày 15 tháng 3 năm 1986, gồm có 10 thôn, trong đó có 01 thôn là đồng bào dân tộc Cơtu. Là một xã miền núi phía tây của
huyện Hòa Vang
cách trung tâm
thành phố Đà Nẵng
khoảng 27km, diện tích tự nhiên của toàn xã 9005,1ha dân số toàn xã là: 1156 hộ, 4567 khẩu ( đồng bào cơ tu 102 hộ, 342 khẩu).
1.
Vị trí địa lý:
+
Phía Đông giáp xã Hoà Phong;
+ Phía Tây giáp xã Ba,
huyện Đông Giang
;
+ Phía Nam giáp
xã Hoà Khương
;
+ Phía Bắc giáp xã Hoà Ninh.
2.
Đặc điểm địa hình:
Vùng đồng bằng
: có diện tích chiếm 5,3% tổng diện tích tự nhiên của xã. Hầu hết diện tích đất trồng cây hằng năm và những cánh đồng lúa nhỏ hẹp có độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 10 – 20m nằm xen kẻ giữa các đồi núi thấp.
Vùng đồi núi thấp
: có diện tích chiếm 17,5% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã. Địa hình chủ yếu đồi núi có độ cao trung bình từ 20 – 40m so với mực nước biển.
Vùng núi cao:
có diện tích chiếm 77,2% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã nơi đây tập trung nhiều rừng tự nhiên và rừng đầu nguồn có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ vùng hạ lưu và môi trường sinh thái cho xã Hoà Phú.
Trải qua hơn 27 năm xây dựng và phát triển, đến nay hệ thống hạ tầng kỷ thuật như: đường giao thông được bê tông hóa 100%, trạm y tế đạt chuẩn Quốc gia, 100% hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia, Trường học đạt chuẩn theo quy định của ngành giáo dục thành phố, thu nhạp bình quân đầu người năm 2013 đạt 19,56 triệu đồng/ người/năm. Năm 2012 Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh tiêu biểu, Chính quyền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được UBND TP Đà Nẵng tạng cờ thi đua.
Trong xây dựng nông thon mới: Nhờ tổ chức tốt công tác tuyên truyền năm 2012 vận động nhân dân hiến 275m
2
đất ở để làm đường GTNT, năm 2013 vận động nhân hiến hơn 5000 m
2
đất để mở đường giao thông nội đồng, tình ANTT đảm bảo, đến nay xã đã cơ bản hoàn thành 16/19 tiêu chí nông thôn mới. Năm 2014 UBND xã sẽ cố gắng chỉ đạo hoàn thành công tác xây dựng nông thôn mới đạt 19/19 tiêu chí | Giới thiệu khái quát xã Hòa Phú | 413 | |
Phường Hoà Thọ Tây được tách ra từ xã Hoà Thọ, thành lập phường mới theo Nghị Định 102/2005/NĐ- CP ngày 05/8/2005 của Chính phủ.
Ngay từ đầu, BTV Đảng uỷ phường đã tập trung chỉ đạo, tổ chức thành lập bộ máy cán bộ, xây dựng hệ thống chính trị từ phường đến tổ dân phố, chỉ đạo các chi bộ trực thuộc tổ chức Đại hội chi bộ, tiến tới Đại hội Đảng bộ phường lần thứ IX, X thành công. Đến nay đã có 14 chi bộ trực thuộc, 14 Ban công tác MT, các đoàn thể cũng được thành lập theo đơn vị chi bộ. Nhờ đó đã triển khai thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như tham gia đầy đủ các phong trào của địa phương.
Diện tích đất tự nhiên địa bàn phường là 8,71 Km2, được phân chia thành 37 tổ dân phố, có 5.018 hộ, 16.672,0 khẩu trong đó có gần 4000 nhân khẩu từ các địa phương khác đến tạm trú lao động, làm ăn, sản xuất, kinh doanh buôn bán.
Từ sau khi thành lập phường đến nay tuy gặp không ít khó khăn. Nhưng nhờ sự quan tâm của Quận ủy, UBND, UBMT TQ VN và các ban ngành đoàn thể
quận Cẩm Lệ
. Cùng với sự đoàn kết nhất trí của toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân trên toàn phường khắc phục những khó khăn, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực tập trung xây dựng và phát triển phường Hoà Thọ Tây vững mạnh toàn diện góp phần hoàn thành nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ phường lần thứ X đề ra. | Giới thiệu khái quát phường Hoà Thọ Tây | 286 | |
Xã Hoà Khương là cửa ngõ của thành phố Đà Nẵng về phía Tây Nam, dân số 3.466 hộ với 12.967 nhân khẩu (Theo số liệu thống kê năm 2019), phân bố trên địa bàn 10 thôn (Phú Sơn Nam, Phú Sơn 1, Phú Sơn 2, Phú Sơn 3, Phú Sơn Tây, Thôn 5, Hương Lam, Gò Hà, La Châu và La Châu Bắc); diện tích tự nhiên 5.092,2 ha, có hồ chứa nước Đồng Nghệ với diện tích lưu vực hồ 28,5 km 2, mực nước tối đa là 35,60 m, khu tắm khoáng nóng Phước Nhơn, có làng nuôi cá nước ngọt Phú Sơn 2 – Phú Sơn 1, vùng sản xuất dưa Héc mỹ nhân tại Bara An Trạch…
Nhân dân xã Hòa Khương luôn biết phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái của quê hương anh hùng để cùng nhau xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.
1. Lịch sử hình thành và phát triển xã Hòa Khương
Theo các thư tịch cổ, vào các thế kỷ XIV, XV, theo chân các đoàn quân “Nam tiến”, người Việt đã bắt đầu khai phá vùng đất phía bắc sông Thu Bồn. Cũng bắt đầu từ đó, đặc biệt là khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ phủ Thuận Hóa, trên địa bàn Hòa Khương đã hình thành nên những tên đất, tên làng thuân thuộc, đi vào lòng người như La Châu, Phú Sơn (chợ Ngã Tư), Hương Lam, Diên Sơn, Đồng Nghệ…
Về mặt địa lý lịch sử, từ năm 1938 về trước, Hòa Khương là một phần đất của tổng An Phước, huyện Đại Lộc. Năm 1939 tổng An Phước nhập vào huyện Hòa Vang. Trong Cách mạng tháng Tám, tổng an Phước có mật danh là tổng Bửu.
Đến tháng 3/1946, tổng An Phước được chia thành 02 xã: Phước Hiệp ở phía nắc và Liên An ở phía nam. Xã Phước Hiệp gồm 7 làng cũ (về sau đổi thành thôn) là La Châu, Phú Sơn, Hương Lam, Diên Sơn, Phước Vinh, Phước Nhơn và Thọ Sơn. Đến năm 1948 xã Liên An đổi thành xã Hòa Minh, xã Phước Hiệp đổi thành xã Hòa Châu. Đến khoảng đầu năm 1950, các xã Hòa Minh, Hòa Châu và một phần tây nam xã Hòa Nhơn (hiện nay) hợp nhất thành xã Hòa Khương với 05 thôn. Thôn 1 (gồm có Hương Lam, Diên Sơn, Phước Vinh, Phước Sơn, Thọ Sơn và một phần thôn Cẩm Toại), Thôn 2 (gồm có Phú Sơn, la Châu, Đông Hương Lam), Thôn 3 (gồm có Đông Cẩm Toại, Bồ Bản, Túy Loan), Thôn 4 (gồm có Dương Lam, Khương Mỹ, Hoài Nhơn, Phúc Châu, An Tân) và Thôn 5 (gồm có An Châu, Đông Vinh, Đông Bích, Tùng Sơn, An Ngãi, Diêu Trì, Minh An, Trước Bàu). Tháng 9/1955, chính quyền Ngô ĐÌnh Diệm chia Hòa Khương làm 03 xã: Hòa Hưng, Hòa Thượng, Hòa Lương. Hòa Lương là phần đất thuộc Hòa Khương ngày nay.
Năm 1959, chính quyền Ngô Đình Diệm chia địa bàn Hòa Vang làm 02 quận: Hòa Vang và Hiếu Đức. Về ta (Chính quyền cách mạng), giới hạn của địa phận Hòa Vang vẫn như cũ và Hòa Lương là một xã của Hòa Vang.
Sau ngày nước nhà hoàn toàn thống nhất, xã Hòa Lương được đổi tên thành xã Hòa Khương gồm có 08 thôn: Một, Hai, Ba, Tư, Gò Hà, La Châu và Phước Sơn… Sau nhiều lần, sáp nhập, chia tách, đổi tên, xã Hòa Khương hiện nay gồm có 11 thôn: Phú Sơn Nam, Phú Sơn 1, Phú Sơn 2, Phú Sơn 3, Phú Sơn Tây, Hương Lam, Thôn 5, Phước Sơn, Gò Hà, La Châu, La Châu Bắc.
Trong suốt 2 cuộc chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Hòa Khương đã có 736 liệt sỹ, 912 gia đình thân nhân liệt sỹ, 160 thương bệnh binh, 94 Bà mẹ Việt nam anh hung, 1461 gia đình và cá nhân có công với cách mạng đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị anh hung lực lượng vũ trang nhân dân; 1 Anh hung lao động, 1 Huân chương Thành đồng hạng III, 9 Huân chương Giải phóng hạng I, II, III; 6 Huy chương giải phóng hạng I, II; 112 Huân chương Độc lập hặng I, II, III; 2072 Huân, Huy chương các loại cho cán bộ nhân dân; 311 Bảng vàng Gia đình vẻ vang; 136 Bảng vàng Gia đình danh dự…
Đây là những phần thưởng hết sức cao quý, ghi nhận sự cống hiến, đóng góp to lớn của Đảng bộ và nhân dân xã nhà qua suốt hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược.
Trải qua những chặng đường lịch sử, từ thuở cha ông “mang gương đi mổ cõi” cho đến ngày nay, nhân dân Hòa Khương đã đoàn kết, gắn bó, tương trợ nhau trong tình làng nghĩa xóm, nghĩa đồng bào để xây dựng cuộc sống góp phần vào công cuộc dựng nước và giữ nước.
2. Địa lý
Xã Hòa Khương thuộc
huyện Hòa Vang
,
thành phố Đà Nẵng
, nằm về phía tây của huyện Hòa Vang, bắc giáp xã Hòa Phong, nam giáp xã Đại Hiệp (
Đại Lộc
,
Quảng Nam
), đông giáp xã Hòa Tiến và tây giáp hai xã Hòa Phú và xã Ba (huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam). Hòa Khương có diện tích tự nhiên là 5088,2 ha, bằng khoảng 6,9% diện tích của huyện Hòa Vang; trong đó đất Nông nghiệp là 4.023,8 ha, chiếm 79,08 %, đất phi nông nghiệp 950,5 ha 18,69 %, đất chưa sử dụng 112,9 ha, chiếm 2,21 %.
Là vùng trung du bán sơn địa nên địa hình của Hòa Khương không bằng phẳng, nơi trũng thấp, nơi gò đồi nhưng nhìn chung có hướng nghiêng từ tây sang đông. Phía tây là dãy núi Sơn gà với nhiều đỉnh cao, là nơi đầu nguồn của nhiều con suối. Con đường Quốc lộ 14B chạy từ hướng bắc sang nam chia cắt thành hai vùng; phía tây Quốc lộ là vùng đất cát, đồi núi và rừng, chiếm ¾ diện tích, ít chịu ảnh hưởng của lũ lụt, đây là vùng đất thích hợp để sản xuất hoa màu, cây công nghiệp, lâm nghiệp, hình thành nên các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm; phía đông Quốc lộ là vùng đất thịt, mùa mưa thường bị ngập lụt, nhưng lại được phù sa sông Yên bồi đắp nên đất đai phì nhiêu, màu mỡ, rất thích hợp để trồng cây lúa nước.
Hòa Khương có nhiều ngọn núi cao như Dốc Ông Biện, Sông Tát (Hòn Vú) và có nhiều đồi cao, trong đó có một số đồi bát úp mọc giữa đất bằng như Gò Hà, Gò Cà, Gò Cao, Gò Chùa, Gò Đá, Gò Chắt…
Là một địa bàn giáp với dãy Trường Sơn, có núi Sơn Gà, Hòa Khương có nhiều con suối với nguồn nước dồi dào, trong đó suối lớn Ba Khe là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho công trinh hồ chưa nước Đồng Xanh Đồng Nghệ, tưới cho đồng ruộng các xã Hòa Khương, Hòa Phong và một phần Hòa Phú và Đại Hiệp. Hồ chứa nước Đồng Xanh Đồng Nghệ không chỉ có lợi về mặt kinh tế mà còn có tác dụng cải thiện môi trường tự nhiên, đồng thời là một thắng cảnh có sức hấp dẫn đối với du khách. Về với Đồng Xanh Đồng Nghệ là về với thiên nhiên, về với căn cứ kháng chiến Đồng Xanh Đồng Nghệ nổi tiếng trong nhứng năm gian khổ chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Phía đông của xã có dòng Sông Yên, đoạn chảy qua địa bàn xã dài 4 km, là ranh giới giữa xã Hòa Khương và Hòa Tiến, cung cấp nguồn nước tưới dồi dào cho sản xuất nông nghiệp của hai xã, đồng thời là con đường thủy thuận tiện để giao lưa với các xã vùng hạ lưu nội thành Đà Nẵng. Ven bờ sông từ lâu đã hình thanh một hệ thống làng xóm hoàn chỉnh, mặc dù mùa mưa thường bị lũ lụt và sạt lở.
Hòa Khương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Hằng năm nhận được nguồn năng lượng mặt trời rất lớn. Nhệt độ trung bình, 25 0C, độ ẩm trung bình, 80 %, lượng mưa trung bình trên 2000 mm. Mỗi năm có hai mùa rõ rệt. Mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11, trong đó cực trị mưa lớn diễn ra thường từ tháng 9 đến tháng 10. Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 7. Trong mùa khô vẫn có cực trị mưa nhỏ diễn ra vào tháng 5 và tháng 6. Mùa khô thường diễn ra hạn hán kéo dài. Mùa mưa đi liền với lũ lụt. Thiên tai lũ lụt, hạn hán gây tác hại không nhỏ đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong xã.
Với nhiệt độ, độ ẩm, gió mùa… tương đối thuận lợi, Hòa Khương có thảm thực vật phong phú, đa dạng, bao gồm thảm thực vật tự nhiên và các loại cây trồng thích hợp với từng vùng đất. Rừng già có nhiều loại gỗ quý như chò, gõ, sơn đào. Ở vùng đồi tiếp giáp đồng bằng có loại gỗ tạp, cỏ tranh. Trên các đồi trọc trước đây, nay đã được phủ xanh các loại cây keo lá tràm, bạch đàn.
Hòa Khương có các loại cây lương thực, thực phẩm: lúa, bắp, chuối, dâu tằm, các loại đậu, mè, sắn, khoai lang… trong đó đặc trưng nhất là cây lúa. Trước giải phóng, nhân dân Hòa Khương mỗi năm làm 2 vụ lúa nước, sau giải phóng tăng lên 3 vụ, sản lượng lúa do vậy cũng tăng lên đáng kể.
Hòa Khương có nguồn tài nguyên khoáng sản như đá hoa cương, đá ong, đất sét… dễ khai thác.
Về giao thông, quốc lộ 14B, đường vành đai phía Nam và đường vành đai phía Tây thành phố (đang triển khai thi công) và sông Yên là hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy chính của xã. Ngoài ra còn có đường liên huyện, liên xã như ĐH 409, ĐH 8 và các tuyến đường giao thông liên thôn, giao thông kiệt hẻm hiện nay đã được nâng cấp, mở rộng theo tiêu chí nông thôn mới.
Hòa Khương có địa hình, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên nhiều thuận lợi nhưng không ít khó khăn, có ưu đãi nhưng đồng thời cũng có sự thử thách con người. Sống trong điều kiện tự nhiên đó, các thế hệ nhân dân Hòa Khương đã nổ lực phấn đấu, vừa hòa hợp vừa đấu tranh quyết liệt với thiên nhiênđể khai hoang, vỡ hóa, lập nên làng xóm, thôn ấp. Vì vậy, quá trình xây dựng quê hương là quá trình thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và máu xương của biết bao thế hệ. Cũng từ đó, người dân Hòa Khương có ý thức cố kết cộng đồng cao và rất nặng nghĩa với mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình.
Theo các thư tịch cổ, vào các thế kỷ XIV, XV, người Việt đã bắt đầu khai phá vùng đất phía bắc song Thu Bồn. Cũng bắt đầu từ đó, đặc biệt là từ khi Nguyễn Hoàng xin vua Lê vào trấn đất Thuận Hóa, trên địa bàn xã Hòa Khương đã dần dần hình thành nên những làng xã với những tên gọi đã trở thành thân thuộc, đi vào tình cảm nhân dân trong xã như: La Châu, Phú Sơn (chợ Ngã Tư), Hương Lam, Diên Sơn, Đồng Nghệ…
3. Xã Hòa Khương ngày nay
Xã Hoà Khương là cửa ngõ của thành phố Đà Nẵng về phía Tây Nam, d3.466 hộ với 12.967 nhân khẩu (Theo số liệu thống kê năm 2019), phân bố trên địa bàn 10 thôn (Phú Sơn Nam, Phú Sơn 1, Phú Sơn 2, Phú Sơn 3, Phú Sơn Tây, Thôn 5, Hương Lam, Gò Hà, La Châu và La Châu Bắc); diện tích tự nhiên 5.092,2 ha, có hồ chứa nước Đồng Nghệ với diện tích lưu vực hồ 28,5 km 2, mực nước tối đa là 35,60 m, khu tắm khoáng nóng Phước Nhơn, có làng nuôi cá nước ngọt Phú Sơn 2 – Phú Sơn 1, vùng sản xuất dưa Héc mỹ nhân tại Bara An Trạch…
Nhân dân xã Hòa Khương luôn biết phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái của quê hương anh hùng để cùng nhau xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Ngày 03 tháng 3 năm 2015 xã Hòa Khương được Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng công nhân là xã đạt chuẩn Nông thôn mới theo Quyết định số 1237/QĐ-UBND.
Ngày 24/9/2019 xã Hòa Khương được Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng công nhân là xã đạt chuẩn Nông thôn mới năm 2019 theo Quyết định số 4324/QĐ-UBND | Giới thiệu khái quát xã Hòa Khương | 2,193 | |
Phường Mân Thái nằm về phía đông bắc của
quận Sơn Trà
, với diện tích tự nhiên 106,5 ha, nằm chính giữa 2 trục đường lớn là đường Ngô Quyền và đường Hoàng Sa, phía đông giáp với biển Đông, phía bắc giáp với
phường Thọ Quang
, phía đông nam giáp phường Phước Mỹ, phía tây nam giáp với phường An Hải Bắc, phía tây giáp với
phường Nại Hiên Đông
, là địa bàn khá thuận lợi trong phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội.
Dân số hiện nay của phường Mân Thái là 4.141 hộ với 19.028 nhân khẩu, gồm 15 khu dân cư và 62 tổ dân phố. Thu nhập của người dân trên địa bàn chủ yếu dựa vào ngành nghề thương mại dịch vụ và khai thác hải sản ven bờ và tiểu thủ công nghiệp, trong những năm gần đây, việc giải tỏa và chỉnh trang đô thị diễn ra trên diện rộng, dân số biến động đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc giải quyết công ăn việc làm, chuyển đổi ngành nghề, vệ sinh môi trường; tỷ lệ hộ nghèo từng bước được điều chỉnh giảm nhưng thực tế nhiều hộ chưa có phương pháp và kinh nghiệm làm ăn, từ đó gặp khó khăn trong cuộc sống. Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội đôi lúc còn tiềm ẩn những phức tạp; thời tiết thất thường, giá cả biến động tăng cao, đã ảnh hưởng nhất định đến sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân trong phường.
Ủy ban nhân dân phường Mân Thái hoạt động theo Luật tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015, có cơ cấu tổ chức như sau:
+ Đảng ủy
+ Hội đồng nhân dân
+ Ủy ban nhân dân
+ Ủy ban mặt trận và các Hội đoàn thể
Năm 2018, UBND phường Mân Thái là địa phương dẫn đầu khối thi đua 7 phường, được đề nghị tặng Cờ thi đua của Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng. Ngoài ra, địa phương đã và đang đạt được những thành tích các mặt về Quốc phòng, an ninh, cải cách hành chính,…
Anh Phương | Giới thiệu khái quát phường Mân Thái | 361 | |
Thọ Quang là 01 trong 07 phường của
quận Sơn Trà
, nằm ở phía Đông Bắc
thành phố Đà Nẵng
, hướng Đông giáp biển Đông, hướng Nam giáp phường Mân Thái và
Nại Hiên Đông
, hướng Tây giáp Vịnh Đà Nẵng, hướng Bắc giáp Bán đảo Sơn Trà và án ngữ lối vào hải cảng Đà Nẵng nên từ xưa đến nay được xem là một địa bàn trọng yếu về quân sự và kinh tế, quan hệ mật thiết với Đà Nẵng.
Phường Thọ Quang được hình thành nên bởi 02 làng Nam Thọ và Mân Quang. Với diện tích tự nhiên là 46,6 km
2
, dân số 36.538 nhân khẩu, 8.540 hộ, được phân bổ 27 khu vực chi bộ đường phố với 103 tổ dân phố, hơn 200 cơ quan, doanh nghiệp và đơn vị quân đội đóng trên địa bàn phường. Ngành nghề chủ yếu của địa phương là đánh bắt, chế biến hải sản và phát triển du lịch. Tổng giá trị sản xuất của phường chiếm hơn 80% giá trị sản xuất toàn quận Sơn Trà.
UBND phường Thọ Quang | Giới thiệu khái quát phường Thọ Quang | 180 | |
Hòa Sơn là một xã một xã trung tâm giao lưu của 4 xã cánh bắc
huyện Hòa Vang
, cách trung tâm
thành phố Đà Nẵng
khoảng 15 km; giao thông đi lại thuận lợi; phía Đông giáp
phường Hòa Khánh Bắc
,
quận Liên Chiểu
; phía Tây giáp với xã Hòa Ninh; phía Nam giáp với
xã Hòa Nhơn
và một phần của phường Hòa Khánh Nam,
quận Liên Chiểu
; phía Bắc giáp với xã Hòa Liên.
Xã có diện tích 24,26 km², dân số năm 1999 là 9522 người, mật độ dân số đạt 392 người/km².
Năm 1981, một phần diện tích và dân số của xã Hòa Sơn lúc này thuộc huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được tách ra để thành lập xã Hòa Ninh.
Địa hình xã đan xen giữa đồi núi và đồng bằng; có khoảng 40% diện tích đồi núi, còn lại là vùng đồng bằng.
Phía Nam xã là vùng đồi, núi có các mỏ đá với trữ lượng lớn, phục vụ cho việc sản xuất đá chẻ, giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều người lao động tại địa phương. Bên cạnh đó đất đồi được khai thác để làm vật liệu sang lấp mặt bằng các khu tái định cư. Tuy nhiên việc khai thác và sự quản lý chưa chặt chẽ dẫn đến gây ra ô nhiễm môi trường. | Giới thiệu khái quát xã Hòa Sơn | 220 | |
Phường Khuê Trung nằm ở phía Tây Nam
thành phố Đà Nẵng
, là một trong 6 phường của quận Cẩm Lệ, với diện tích tự nhiên 301,26 ha, địa hình tương đối bằng phẳng.
Trước tháng 9 năm 2005, phường Khuê Trung thuộc
quận Hải Châu
, nền kinh tế chủ yếu là Nông nghiệp và buôn bán nhỏ lẻ. Nhân dân chịu thương chịu, khó sống chất phát, tần tảo bên dòng sông Cẩm Lệ hiền hòa.
Sau khi về với
quận Cẩm Lệ
, cùng với tốc độ phát triển đô thị hóa của thành phố Đà Nẵng, Khuê Trung đã hoàn toàn chuyển mình, thoát xác. Với sự đầu tư đồng bộ và toàn diện, 90% cơ sở hạ tầng được xây mới; Nhiều công trình kiến trúc qui mô được mọc lên, toàn bộ đất nông nghiệp chuyển sang đô thị; Nền kinh tế chuyển hẳn sang thương mại dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp, đời sống của nhân dân đần dần đi vào ổn định và không ngừng được nâng lên.
Như người xưa có câu “Đất lành chim đậu”, địa phương Khuê Trung đã thu hút một số lượng lớn người dân các nơi trong và ngoại thành về đây ổn định cuộc sống. Tình hình dân số tăng lên hằng năm. Hiện nay dân số toàn phường là 6.722 hộ với 26.119 nhân khẩu, được chia làm 9 cụm dân cư với 202 tổ dân phố.
So với trước đây, Khuê Trung có một trục lộ là đường CMT 8, với phương châm “Nhà có số, phố có tên” hiện nay trên toàn phường có 107 con đường đã được đặt tên và gắn biển số nhà. Thực hiện nghị quyết 09 của Đảng ủy phường, nhân dân trên toàn phường tạo cảnh quan “Đường thông, hè thoáng”; “Xanh –sạch – đẹp”. Nhân dân đã thực hiện thành công đề án thu gom rác thải theo giờ. Chương trình thực hiện nếp sống VHVM ĐT được tuyên truyền rộng rãi trong cán bộ, nhân dân. Các thiết chế văn hóa ở tổ dân phố, khu dân cư, tộc họ được xây dựng cụ thể. Từ 2011 đến nay phường Khuê Trung luôn được đánh giá là phường đạt chuẩn về văn hóa văn minh đô thị.
Công tác giáo dục được quan tâm đúng mức. Hiện nay trên địa bàn phường có 1 trường mầm non, 2 trường tiểu học, 2 trường trung học cơ sở đã đạt chuẩn quốc gia và đang phấn đấu đạt chuẩn giai đoạn 2. Công tác chăm lo giáo dục cho thế hệ trẻ được quan tâm thường xuyên. Hằng năm cứ vào ngày 15-16/3 Âl và ngày 27/7, cán bộ và nhân dân lại tề tựu về khu nghĩa trũng Hòa Vang để đặt vòng hoa, thắp nén hương lòng để tri ân những anh hùng nghĩa sỹ đã vị quốc vong thân trong buổi đầu chống liên quân Pháp, Tây Ban Nha tấn công vào Đà Nẵng (1858-1860). Đây cũng là dịp thể hiện truyền thống cao đẹp “Uống nước nhớ nguồn” đối với các vị Tiền Hiền đã lập làng Hóa Quê năm xưa, Khuê Trung ngày nay. Đó cũng chính là nét văn hóa đặc sắc của nhân dân Khuê Trung cần gìn giữ, phát huy, nhằm giáo dục truyền yêu nước cho thế hệ trẻ ngày nay và mai sau. Đến với Khuê Trung làm sao chúng ta quên được món ăn đặc sản “bánh tráng thịt heo quán Mậu”, mang đậm bản sắc xứ Quảng, đã để lại ấn tượng khó quên trong lòng du khách bốn phương, khi một lần ghé qua Cẩm Lệ.
Phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống đó. Trong những năm qua, thực hiện nghị quyết của Quận ủy Cẩm Lệ, nghị quyết của Đảng bộ phường Khuê Trung. Cán bộ và nhân dân Khuê Trung đã đồng sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ KTXH-QPAN của địa phương, hoàn thành các chỉ tiêu đề ra, năm sau cao hơn năm trước. Kết quả đem lại thật bất nghờ khi cuối năm 2011 phường Khuê Trung được nhận là cờ thi đua xuất sắc của UBND thành phố Đà Nẵng trao tặng, đó là phần thưởng lớn nhất của địa phương kể từ ngày giải phóng đến nay. Niềm vui một lần nữa lại đến khi cuối năm 2012, phường Khuê Trung được nhận cờ Xuất sắc của Thủ tướng Chính phủ khen tặng, vinh dự thật là lớn lao, nhưng trách nhiệm cũng hết sức nặng nề, những thành tựu đó chính là động lực để cán bộ và nhân dân phường nhà quyết tâm phát huy và giữ gìn thành quả đạt được. Ra sức xây dựng phường Khuê Trung xứng đáng với danh hiệu “Phường đô thị loại I của thành phố Đà Nẵng”. | Giới thiệu khái quát phường Khuê Trung | 805 | |
Phường An Hải Đông có diện tích 0,81Km2 Đông giáp với phường Phước Mỹ, tây giáp
phường An Hải Tây
, bắc giáp
phường An Hải Bắc
, nam giáp phường Mỹ An với trên 18.000 dân gồm 109 tổ dân phố, nhân dân trong phường phần lớn là cán bộ, công nhân, viên chức, cán bộ hưu trí, mất sức, các gia đình chính sách (chiếm trên 70% dân số). Số còn lại là lao động phổ thông, buôn bán, làm dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp với quy mô nhỏ. Là phường không có sông, biển, đất nông nghiệp, không có ngành nghề kinh tế mũi nhọn, lao động không có việc làm tại chỗ mà chủ yếu đi nơi khác làm ăn, một số bộ phận nhân dân cuộc sống còn khó khăn.
Hướng phát triển kinh tế của phường được xác định theo hướng “Dịch vụ, thương mại- tiểu thủ công nghiệp”. Trong điều kiện địa bàn Phường có nhiều khó khăn về mặt bằng sản xuất – kinh doanh, về vốn và bảo vệ môi trường, song kinh tế cơ bản vẫn giữ được sự tăng trưởng; tổng giá trị sản xuất CN-TTCN tốc độ tăng bình quân hằng năm là 13,49% , dịch vụ thương mại đạt khá do cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện, tốc độ luân chuyển hàng hóa tăng bình quân hằng năm là 17,38%. | Giới thiệu khái quát phường An Hải Đông | 232 | |
Tỉnh Thừa Thiên Huế quy hoạch phân khu xây dựng Khu đô thị du lịch sinh thái biển Cảnh Dương, huyện Phú Lộc. Ảnh minh họa.
Khu đô thị du lịch sinh thái biển Cảnh Dương,
huyện Phú Lộc
được quy hoạch có diện tích khoảng 305,32 ha, với tính chất là khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng biển cao cấp và khu dịch vụ hậu cần phục vụ du thuyền.
UBND
tỉnh Thừa Thiên Huế
vừa ban hành Quyết định số 1258/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phân khu xây dựng Khu đô thị du lịch sinh thái biển Cảnh Dương, huyện Phú Lộc.
Theo đó, Khu đô thị du lịch sinh thái biển Cảnh Dương có diện tích khoảng 305,32ha, với quy mô dân số khoảng 17.400 người và quy mô khách du lịch, nhân viên phục vụ khoảng 50.000 người/ngày.
Khu đô thị du lịch sinh thái biển Cảnh Dương được quy hoạch tại xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, có ranh giới phía Bắc giáp biển Đông; phía Nam giáp đường ven biển Cảnh Dương; phía Đông giáp khu Cảng Chân Mây; phía Tây giáp sông Bù Lu mở rộng.
Đây được quy hoạch với tính chất là khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng biển cao cấp và khu dịch vụ hậu cần phục vụ du thuyền.
Đồng thời là vùng phát triển các khu vực dân cư đồng bộ về hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững.
Đây cũng là vùng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của cư dân vùng ven biển Cảnh Dương và khu vực phát triển du lịch cộng đồng.
Việc lập quy hoạch nhằm mục đích cụ thể hóa định hướng đồ án Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô và Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch Quốc gia Lăng Cô – Cảnh Dương được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang dịch và du lịch – thương mại trên cơ sở phát triển bền vững; đồng thời, góp phần quan trọng trong việc khai thác quỹ đất ven biển phù hợp và hiệu quả.
Quy hoạch còn nhằm hình thành quần thể du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, các khu dịch vụ cao cấp gắn kết với các khu dân cư ven biển với đầy đủ chức năng nhằm đáp ứng tối đa các nhu cầu sử dụng dịch vụ của du khách và người dân trên cơ sở quy hoạch đồng bộ, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, mang tính đặc trưng riêng của vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế.
Theo quy hoạch, Khu đô thị du lịch sinh thái biển Cảnh Dương sẽ có 3 phân khu chính. Trong đó, khu A là khu du lịch nghỉ dưỡng và đô thị biển cao cấp có diện tích 133,23ha. Khu này có vị trí tại phía Tây khu vực quy hoạch, giáp sông Bù Lu, tiếp cận trực tiếp từ trục quảng trường trung tâm và đường phía Tây Nam ra biển.
Các chức năng chính gồm: Khu công trình hỗn hợp thương mại dịch vụ, văn phòng, khách sạn cao tầng,…; khu khách sạn nghỉ dưỡng, biệt thự nghỉ dưỡng thấp tầng; khu ở mới, khu quảng trường, công viên thể dục thể thao biển;…
Khu B là khu du lịch nghỉ dưỡng và đô thị biển trung tâm có diện tích 118ha. Khu có vị trí tại trung tâm của khu quy hoạch, tiếp cận trực tiếp từ trục quảng trường trung tâm, trục tiếp cận không gian ven biển rộng 39,5m và tuyến đường ven biển Cảnh Dương.
Chức năng chính gồm: Khu hỗn hợp thương mại dịch vụ; các khu ở kết hợp thương mại dịch vụ dọc kênh nước cảnh quan; các khu du lịch nghỉ dưỡng thấp tầng có hệ thống giao thông tiếp cận riêng biệt; khu ở cao tầng kết hợp các không gian thương mại dịch vụ;…
Riêng khu C là khu du lịch cộng đồng có diện tích 54,09ha, nằm về phía Đông của khu quy hoạch, tiếp giáp với đường Tây cảng,… có các chức năng chính gồm khu vực nhà ở tái định cư với đầy đủ các thiết chế công cộng; khu dịch vụ cộng đồng tiếp giáp biển. | Thừa Thiên Huế quy hoạch khu đô thị du lịch sinh thái biển rộng hơn 300ha | 747 | |
Phát hiện kỳ đà nặng chừng 5kg, dài hơn 1,2m, lạc vào mương nước khu du lịch ở
Khánh Hòa
, các nhân viên ở đây đã cứu hộ, chăm sóc, rồi thả vào Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà.
Kỳ đà xuất hiện trong khu du lịch ở Khánh Hòa. Ảnh: N.X.
Ngày 8/6, ông Phạm Minh Nhựt, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Du lịch Nha Trang – Khánh Hòa, cho biết kỳ đà quý hiếm vừa được phát hiện trong Khu du lịch sinh thái Đắc Nhân Tâm ở
huyện Diên Khánh
, gần tuần trước.
Con kỳ đà dài hơn 1,2m, nặng khoảng 5 kg đang loay hoay dưới mương nước của khu du lịch. Nhân viên phát hiện liền hô hoán, tổ chức cứu hộ, giữ lại chăm sóc.
Nhân viên khu du lịch cứu hộ kỳ đà. Ảnh: N.X.
Đồng thời, khu du lịch báo Hạt Kiểm lâm Diên Khánh và UBND xã Diên Xuân. Dự kiến, cuối tuần này, các đơn vị liên quan sẽ thả kỳ đà vào Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà.
Kỳ đà quý hiếm, dài hơn 1,2 m, nặng chừng 5kg. Ảnh: N.X.
Kỳ đà vân (tên khoa học: Varanus nebulosus) là loài kỳ đà cỡ lớn (chiều dài có thể lên đến 2m), phân bố rộng rãi ở khu vực Đông Nam Á. Tại Việt Nam, phân loài này phân bố ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Bình Phước, Đồng Nai, Kiên Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu… Hiện nay, kỳ đà vân được xếp vào nhóm IB trong danh mục động vật rừng nguy cấp quý hiếm (theo nghị định 84/2021/NĐ-CP). | Kỳ đà vân quý hiếm dài hơn 1,2m lạc vào khu du lịch ở Khánh Hòa | 273 | |
Ngày 8/6, Viện Núi lửa và Địa chấn học (IVS) của Philippines đã đưa ra cảnh báo rằng
núi lửa Mayon
ở tỉnh Albay, miền Trung nước này, sẽ ‘phun trào nguy hiểm’ trong vài ngày hoặc vài tuần tới, đồng thời kêu gọi người dân khu vực lân cận đi sơ tán.
Tro bụi phun ra từ miệng núi lửa Mayon ở tỉnh Albay, miền Trung Philippines ngày 8/6/2023. Ảnh: AFP/TTXVN.
Sau khi IVS đưa ra cảnh báo trên, hàng trăm gia đình sinh sống xung quanh núi lửa Mayon sẽ được chuyển đến các khu vực an toàn hơn. IVS cho biết cơ quan này đã theo dõi những thay đổi ở khu vực núi lửa Mayon và nâng cảnh báo lên mức 3 trong thang gồm 5 mức. Theo đó, IVS dự báo núi lửa Mayon sẽ phun trào nguy hiểm trong vài tuần hoặc vài ngày tới.
Giới chức tỉnh Albay cho biết mọi công tác ứng phó cần thiết đang được thực hiện. Người dân ở làng Anoling trên sườn núi lửa sẽ được sơ tán.
Núi lửa Mayon nằm cách thủ đô Manila 330 km về phía Đông Nam được coi là một trong 24 núi lửa hoạt động mạnh nhất ở
Philippines
. Cách đây 5 năm, núi lửa Mayon đã phun ra hàng triệu tấn tro bụi, đất đá và dung nham, khiến hàng chục nghìn người phải sơ tán.
Trong khi đó, núi lửa Taal nằm cách thủ đô Manila 50 km về phía Nam đã phun trào trong tuần này, giải phóng khí lưu huỳnh dioxide và tạo ra cột tro bụi cao 2 km bao phủ các khu vực lân cận, khiến nhà chức trách phải cảnh báo người dân ở trong nhà.
Philippines nằm trên “Vành đai Lửa” Thái Bình Dương, thường xuyên xảy ra động đất và núi lửa phun trào. Vụ phun trào mạnh nhất trong những thập niên gần đây là vụ phun trào của núi lửa Pinatubo nằm cách thủ đô Manila 100 km về phía Tây Bắc, khiến trên 800 người thiệt mạng năm 1991. Vụ phun trào này đã khiến tro bụi bay xa hàng nghìn km chỉ trong vài ngày và được cho là nguyên nhân gây hư hại khoảng 20 máy bay. | Philippines kêu gọi người dân sơ tán do nguy cơ núi lửa Mayon phun trào | 372 | |
An Hải Tây là quê hương của hai danh nhân đất nước: Trần Quang Diệu – danh tướng của
vua Quang Trung
và
Thoại Ngọc Hầu
(Nguyễn Văn Thoại) – người có công lớn trong việc khai phá miền đất Hậu Giang; là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa; là trung tâm của làng An Hải xưa kia. Ngày nay, An Hải Tây là một phường thuộc
quận Sơn Trà
,
thành phố Đà Nẵng
.
Lịch sử phường An Hải Tây là những trang vàng về truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn và phát huy nền văn hóa giàu bản sắc của dân tộc. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, truyền thống đó ngày càng được phát huy, trở thành tài sản tinh thần to lớn, tạo động lực cho nhân dân trong phường tham gia vào các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc do Đảng lãnh đạo.
Được giới hạn ở tọa độ địa lý 16002’ vĩ độ bắc và 108011’ kinh độ đông, An Hải Tây là một trong 7 phường thuộc quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng; phía Bắc giáp với
phường An Hải Bắc
, phía Nam giáp với phường Mỹ An, phía Tây là “dải sông Hàn”, phía Đông là phường An Hải Đông. Diện tích đất tự nhiên của phường là 1,52 km2, số dân tính đến năm 2015 là 13.787người, mật độ dân số trên 9.000 người/km2.
Địa hình của phường An Hải Tây tương đối bằng phẳng; phần lớn diện tích là đất cát pha thịt nhẹ. Trước kia, nếu đứng ở đầu cầu Trần Thị Lý và cầu Nguyễn Văn Trỗi nhìn về núi Sơn Trà, trước mắt chúng ta là cánh đồng lúa và rau màu. Từ khi Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương (1997) đến nay, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ đã làm thay đổi hẳn địa hình và cảnh quan thiên nhiên; diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dần rồi mất hẳn; những cánh đồng lúa, rau màu xưa kia không còn nữa, thay vào đó là những khu dân cư đông đúc, nhà cao tầng mọc lên, giao thông thuận lợi,…
Hằng năm An Hải Tây nhận được một nguồn năng lượng mặt trời khá lớn, số giờ chiếu nắng bình quân năm là 2.318 giờ, nhiệt độ trung bình là 2506 và độ ẩm trung bình là 82%, lượng mưa bình quân hàng năm là 2.066mm. Vào các tháng 2,3,4 hằng năm thường có những cơn mưa rào nhỏ, làm dịu đi cái nóng của mùa khô. Ngược lại, vào các tháng 9, 10, 11 và 12, An Hải Tây lại bị ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc và những cơn mưa nặng hạt, kéo dài.
An Hải Tây là trung tâm của làng An Hải xưa kia. Theo bút tích còn lưu lại tại Nhà thờ tiền hiền và lời kể của các bô lão trong vùng thì người có công đầu lập ra làng An Hải có tên gọi là Bà Thân, là một lưu dân từ các tỉnh phía Bắc vào đây lập làng vào thời vua Lê Thánh Tông lập đạo thừa tuyên Quảng Nam (1471). | Giới thiệu khái quát phường An Hải Tây | 553 | |
Nại Hiên Đông là 01 trong 07 phường của
quận Sơn Trà
,
thành phố Đà Nẵng
. Về đặc điểm địa hình, phiá đông phường giáp với phường Thọ Quang, phía tây giáp sông Hàn, phía nam giáp phường An Hải Bắc, phía bắc giáp vịnh Đà Nẵng, vũng Thùng, cảng Tiên Sa. Nại Hiên Đông có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng, là cửa ngõ ra vào sông Hàn, từ cảng Đà Nẵng qua cảng Tiên Sa. Các tàu thuyền ra vào cảng đều qua nơi đây. Tổng diện tích phường Nại Hiên Đông gồm 4,2 km
2
. Dân số hơn 30.000 người.
Đất đai chủ yếu là đất cát bồi. Đất ruộng ít. Trong những năm gân đây, khi thành phố Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc trung ương, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, làm thay đổi hẳn địa hình và cảnh quan thiên nhiên. Diện tích đất nông nghiệp hầu như biến mất. Những ngôi nhà tranh đầu thế kỷ XX, những ngôi nhà chồ dọc bờ đông sông Hàn hay những ngôi nhà tôn, vách ván thời Mỹ nguỵ còn sót lại, những con đường nhỏ hẹp, những con đường đất đỏ đầy bụi… đã dần dần biến mất. Thay vào đó là những ngôi nhà mới xây, khang trang và sạch đẹp, những đường phố dọc ngang hình bàn cờ được tráng nhựa phẳng lì. Cuộc sống của người dân Nại Hiên Đông cũng theo đó mà nâng lên, khác xa so với hàng chục năm trở về trước. | Giới thiệu khái quát phường Nại Hiên Đông | 257 | |
Tuần lễ NASA Việt Nam – Bình Định năm 2023 là một sự kiện hàng năm nhằm nêu bật những thành tựu, đóng góp của NASA trong việc khám phá không gian, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với các hoạt động do NASA cùng đối tác tổ chức.
Ngày 8-6, tại
TP Quy Nhơn
, UBND
tỉnh Bình Định
phối hợp với Hội Tin học TP HCM, Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) tổ chức khai mạc Tuần lễ NASA Việt Nam (Vietnam Space Week) – Bình Định 2023.
Hơn 1.100 HSSV trong và ngoài tỉnh Bình Định dự lễ khai mạc Tuần lễ NASA Việt Nam – Bình Định năm 2023 và giao lưu với các phi hành gia NASA.
Tham dự chương trình có các chuyên gia, phi hành gia của NASA cùng hơn 1.100 học sinh, sinh viên (HSSV) trong và ngoài tỉnh Bình Định.
Ông Lâm Hải Giang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, cho biết thực hiện chiến lược phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ vũ trụ đến năm 2030 do Thủ tướng Chính phủ ban hành, một trong những nhiệm vụ đặt ra đối với tỉnh là kết nối, hợp tác, tranh thủ hỗ trợ của các tổ chức nghiên cứu quốc tế uy tín như NASA; các Cơ quan Nghiên cứu Hàng không và Vũ trụ Pháp, Nhật Bản để tổ chức triển lãm, hội thảo khoa học thuộc lĩnh vực vũ trụ học, khoa học không gian. Qua đó truyền bá kiến thức khoa học và tình yêu khoa học đến công chúng và trẻ em.
Tuần lễ NASA là sự kiện được tổ chức hàng năm nhằm nêu bật những thành tựu, đóng góp của NASA trong việc khám phá không gian, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với các hoạt động do NASA cùng đối tác tổ chức.
Đây cũng là lần đầu tiên chương trình được tổ chức tại một nước Đông Nam Á và Bình Định vinh dự là một trong 3 tỉnh, thành phố được chọn làm nơi diễn ra một số sự kiện.
Ông Michael A. Baker và TS Josef Schmid tại Tuần lễ NASA Việt Nam – Bình Định năm 2023.
Sau phần lễ khai mạc, các HSSV giao lưu cùng ông Michael A. Baker – cựu Phi hành gia NASA, cựu Thuyền trưởng Hải quân Hoa Kỳ và TS Josef Schmid – phẫu thuật gia và bác sĩ gia đình của NASA, với những câu chuyện của phi hành gia trong môi trường làm việc và sinh hoạt của họ trên không gian, vũ trụ, những nghiên cứu khoa học nhằm bảo vệ trái đất.
Bên cạnh đó, HSSV còn được các phi hành gia chia sẻ về giáo dục hướng nghiệp và định hướng nghề nghiệp, như để trở thành phi hành gia hay làm những công việc trên NASA, các em nên theo chọn những môn học, ngành nghề nào; phát triển những kỹ năng nào, phát triển thể chất như thế nào… Từ đó, tạo cảm hứng cho thế hệ trẻ hoạt động học tập, nghiên cứu trong lĩnh vực không gian, vũ trụ.
Theo kế hoạch, tại Bình Định, chương trình Tuần lễ NASA sẽ được diễn ra trong hai ngày 8 và 9-6 với các hoạt động chính, gồm: trò chuyện với phi hành gia; NASA STEM DAY và khám phá bầu trời đầy sao Starry Night. | Cựu phi hành gia NASA giao lưu với hơn 1.100 học sinh, sinh viên | 569 | |
Nguyễn Huy Thiệp
được xem như một hiện tượng của đổi mới văn học từ những năm cuối thập kỷ 80. Sự ra đi mới đây của nhà văn là dịp để đánh giá toàn diện, tổng hợp và định vị nhà văn trong sự nghiệp chung của văn học đổi mới.
1. Vốn học thức uyên bác
Trong lý lịch, Nguyễn Huy Thiệp đã ghi rõ: tốt nghiệp Khoa Sử Đại học Sư phạm Hà Nội tức trình độ cử nhân về khoa học lịch sử với nghiệp vụ Sư phạm.
Sử là một khoa học ghi chép về các sự kiện theo dòng thời gian. Sử vì vậy cũng gần với Văn – cùng có nghệ thuật diễn ngôn.
Khi dạy học ở Tây Bắc, nhà thơ trẻ tự học thêm Văn, góp phần xây dựng thư viện của trường, thầy giáo trẻ là độc giả chính của thư viện này đã đọc gần như hết sách trong vòng hơn 7 năm trời. Và, thầy là diễn giả biết giảng giải, kể lại tác phẩm văn chương kim cổ đông tây cho các học viên . Rồi đọc hết sách thư viện huyện và tỉnh nữa . Đây là thời đang tuổi thanh xuân sung sức, ham học là thời “Úp mặt vào núi mà đọc” như có lần nhà văn đã bộc bạch sau này.
Học văn thơ mà trong đó đã có cả họa “thi trung hữu họa” (trong thơ có họa) nhưng còn với thích thú riêng, Nguyễn Huy Thiệp còn học vẽ. Anh theo chân các họa sĩ tên tuổi ở địa phương như họa sĩ Lò Văn quang để trau dồi tay vẽ. Sau đó là cùng họa sĩ Cà Kha Sam, tốt nghiệp trường Mỹ thuật ở Thủ Đô, mở hẳn một triển lãm tranh tuyên truyền. Và có lẽ khiếu vẽ và tài năng hội họa sau này còn được tương tác, bồi bổ với giới bạn là họa sĩ danh tiếng ở Hà Nội cho đến cuối đời như Lê Thiết Cương, Đào Hải Phong, Nguyễn Thanh Bình… Và với chính con trai ông trong nhà, Nguyễn Huy Bách, họa sĩ.
Nguyễn Huy Thiệp còn bén duyên với sân khấu điện ảnh qua nhiều kịch bản chuyển thể từ văn học. Cũng là do quan hệ và tương tác với giới nghệ sĩ bè bạn.
Từ vốn văn học và lịch sử, nhà giáo trẻ khai thác vào văn hóa truyền thống dân tộc. Đó là lý do vì sao nhà văn tương lai có thể sáng tác kịch bản hiện đại và cả tác phẩm kịch bản chèo – biểu hiện của văn hóa dân gian.
Ở mức độ nhất định nhà văn tài hoa cũng đã mang cốt cách một nghệ sĩ và khái quát hơn tầm vóc một nhà văn hóa. Qua đó là tri thức về lịch sử, về dân tộc học, về tri thức sinh thái môi trường sống, về xã hội học…
2. Vốn trải nghiệm cuộc sống phong phú, sâu sắc
Mười năm hơn và sau này còn có dịp trở lại thăm Tây Bắc không chỉ là thời gian “úp mặt vào núi mà đọc”. Tất nhiên đọc “sách” và đọc cả “núi”. Nói cách khác, Nguyễn Huy Thiệp còn dẻo chân vào rừng mà đi. Đi nơi danh lam thắng cảnh và cả nơi đèo mây hút gió. Tất nhiên đây là tranh thủ đi khi làm việc, dạy học nhưng cũng là đi để tìm “Muối của rừng”, tìm và chắt lọc ra cái tinh túy đậm đà của đời như tìm “muối của biển” vậy.
Tuy nhiên ngoài khoảng thời gian “núi rừng” đầu đời Nguyễn Huy Thiệp còn quãng đời nông thôn và đô thị sau này cũng tràn đầy trải nghiệm và đầy thăng trầm.
Tiếp tục đọc sách và làm sách, cả ở trong nước và ngoài nước theo nghĩa bóng và cả nghĩa đen của công việc. Như trang trí, thiết kế, vẽ đồ họa sách cho nhà xuất bản Giáo dục, hoặc liên hệ làm sách, ký hợp đồng với các nhà xuất bản ở cả nước ngoài kết hợp một vài chuyến “xuất ngoại”.
Tuy nhiên, một đời từ thuở nhỏ cậu bé Thiệp đã cùng gia đình lưu lạc khắp vùng nông thôn đồng bằng Bắc bộ từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc, khi trưởng thành, nhà giáo rồi nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đọc “người” , con người với tất cả số phận khổ đau và hạnh phúc, trong đó con người miền núi, người phụ nữ được đặc biệt lưu ý và khai thác, con người hiện tại và cả con người lịch sử. Đúng hơn là con người lịch sử với cái nhìn của con người hiện nay. Đọc Quang Trung, đọc Nguyễn Du là biết như vậy mới tạo nên những trang viết mới.
3. Ý thức đổi mới sáng tác bắt gặp chuyển động khí thế đổi mới bước đầu của văn học.
Phát biểu có ý nghĩa tuyên ngôn đổi mới văn học của Nguyễn Minh Châu như đột phá khẩn cho sự công phá cái cũ mở đường cho đổi mới văn học. Lãnh đạo đồng thời kêu gọi văn nghệ sĩ phát huy tự do sáng tạo trên mặt trận văn nghệ. Một loạt nhà văn với tác phẩm mang màu sắc mới đã tạo được dấu ấn ban đầu cho chuyển biến. Nguyễn Minh Châu với
Chiếc thuyền ngoài xa
, Nguyễn Mạnh Tuấn với
Đứng trước biển và Cù Lao Tràm
, Lê Lựu với
Thời xa vắng
, Ma Văn Kháng với
Mùa lá rụng trong vườn
, Dương Thu
Hương với Bên kia bờ ảo vọng…
Với ý thức tìm tòi sáng tạo một nẻo đi độc đáo, nhà văn trẻ đã dấn bước vào đại lộ đổi mới ấy như sự bắt gặp của sự nghiệp riêng chung.
1. Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện như một hiện tượng mới lạ
Năm 1980, từ Tây Bắc chuyển về
Hà Nội
, công tác tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, sau đó làm việc tại công ty kỹ thuật trắc địa bản đồ cục bản đồ, Nguyễn Huy Thiệp bắt đầu cầm bút sáng tác.
Ông xuất hiện trên văn đàn khá muộn so với tuổi đời. Năm 1986, có 3 truyện ngắn được in trên Văn nghệ là
Muối của rừng
,
Nàng Sinh, Cô Mỵ
… Đến tháng 9.1986 là
Vết trượt
cũng trên Văn nghệ. Từ 1987
Tướng về hưu
xuất hiện, tiếp đó truyện ngắn
Không có vua
và
Những người thợ xẻ
(1988),
Những ngọn gió Hua Tát
(1989)…
Đặc biệt là toàn bộ 3 truyện về đề tài lịch sử
Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết
thì sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đã gây nên một náo động trên văn đàn thời đổi mới văn học.
Dư luận xác nhận Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tượng thậm chí hiện tượng lạ ngay khi xuất hiện để định vị được trên dòng chảy của lịch sử văn học.
Nhìn đại thể có thể thấy khối lượng sáng tác khá phong phú và đa dạng. Nguyễn Huy Thiệp là người đa tài, sáng tác nhiều thể loại văn học và còn có thêm khả năng hội họa.
Nhà văn yêu thích vẽ chỉ tự học và học trực tiếp qua bạn bè họa sĩ . Họa cũng là một sân chơi tay ngang như một số nhà văn, nhà thơ khác như Nguyễn Trọng Tạo, Hữu Ước hoặc nổi lên gần đây như Nguyễn Quang Thiều. Tuy nhiên đây cũng là một “ nghề phụ” như thời gian tham gia chuyên môn thiết kế, đồ hoa sách tại Bộ Giáo dục, Công ty kỹ thuật trắc địa bản đồ, Cục bản đồ.
Nguyễn Huy Thiệp có hứng thú vẽ trên gốm, đã từng tặng bạn bè nhiều tác phẩm như tranh chân dung trên đĩa gốm sứ.
Riêng về văn học, nhà văn thử bút và thành công trên nhiều thể loại văn xuôi như tiểu luận, sáng tác truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết và cả kịch, kịch phim Có làm thơ nhưng chỉ là thơ xen kẽ trong tác phẩm văn xuôi, chưa có tập thơ xuất bản.
Thành tựu đặc sắc nhất là truyện ngắn
Truyện ngắn đã đưa Nguyễn Huy Thiệp lên hàng đầu bảng được tôn là “vua truyện ngắn”…..
…Trong hoàn cảnh mở cửa về quan hệ ngoại giao với chiến lược “Việt Nam muốn làm bạn với các nước”, nhất là thời hội nhập thế giới, văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam có điều kiện được giới thiệu rộng rãi ở nước ngoài. Mặt khác, do tìm hiểu Việt Nam trong “Thế giới phẳng” nước ngoài cũng chủ động khai thác, tiếp nhận tinh hoa văn hóa Việt Nam.
Đó là điều kiện thuận lợi để các nhà văn và tác phẩm Việt Nam được chủ động giới thiệu từ các nhà xuất bản, các nhà nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật ngoại quốc, nhất là từ thời đổi mới văn học, Nguyễn Huy Thiệp chính là một trong những trường hợp được nước ngoài chú ý dịch sách.
Nhiều tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp đã được dịch và xuất bản ở nước ngoài, chủ yếu là Âu, Mỹ và gần đây là Hàn Quốc.
***
Về mặt giải thưởng, Nguyễn Huy Thiệp cũng là một trường hợp đặc biệt.
Trong nước, nhà văn được Giải thưởng của Hội Nhà văn cho tập tiểu luận
Giăng lưới bắt chim
(2006)
Ở nước ngoài, nhà văn nhận được 2 giải thưởng danh giá
– Huân chương Văn học nghệ thuật Pháp (2007)
– Giải Nonino Risit d’Âur – giải thưởng Premio Nonino Italia (2008).
Trường hợp nhà văn Bảo Ninh cũng có nét tương tự. Năm 1991 tiểu thuyết
Nỗi buồn chiến tranh
xuất bản được tặng giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam truyện được dịch ở Mỹ sang tiếng Anh bởi Frenk Palmos rồi Phan Thanh Hải năm 1994 với nhan đề
The Sorrow of War
được ca tụng rộng rãi ở phương Tây. Bảo Ninh vinh dự được nhận giải thưởng Châu Á ( Nikkei Asia Prizes) được tổ chức tại Tokyo Nhật Bản vào tháng 5.2011 và tác phẩm này Gunter Giesenfeld dịch sang tiếng Đức là
Die Leilen des Krieges
phát hành ở Đức 6.2016.
Nguyễn Ngọc Tư tới hội sách Frankfur , Đức để nhận giải Liberaturpreis 2018 do Litpress hiệp hội quảng bá văn học Châu Á, Châu Phi và Mỹ La tinh thực hiện.
Nói tiếp về Nguyễn Huy Thiệp: ở Italia, Tran Tu Quan và cộng sự còn dịch
Muối của rừng
( Il sale della foresta, 2004) cùng với
Sang sông
( A traversando il flume,2011) và
Tâm hồn Việt Nam
(Vietnam soul, 2013) đều cùng do nhà xuất bản O barra O ấn hành.
Tại Đức, giáo sư Gunter Giesenfeld và Marrianne Ngo đã dịch và giới thiệu
Tướng về hưu
( Der pensioniente General ), với 11 truyện, 2009.
Gần đây năm 2019, nữ dịch giả Hàn Quốc Kim Jo Young cho bạn văn Việt Nam biết chị đang hoàn thành bản dịch 15 truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng Hàn với sự tài trợ của Quỹ văn hóa Dae – san Hàn Quốc.
Như vậy đường biên văn chương Nguyễn Huy Thiệp đang mở rộng ở nước ngoài khắp Âu, Mỹ, Á với các quốc gia Pháp, Anh, Đức, Italia, Thụy Điển, Hà Lan và Hàn Quốc.
Nổi bật trong giai đoạn văn học đổi mới, có lẽ Nguyễn Huy Thiệp là tác giả được biết đến ở phạm vi quốc tế rộng rãi nhất.
2. Nguyễn Huy Thiệp – Nhà văn tiêu biểu của sự nghiệp đổi mới văn học
Trước hết, Nguyễn Huy Thiệp là người viết có tư tưởng nghệ thuật và quan niệm sáng tác văn học chính xác.
Trong một dịp trả lời phỏng vấn, nhà văn đã có dịp nhấn mạnh sự chọn đường – đại lộ của văn học với lý tưởng mới, cách mạng nhân đạo chủ nghĩa.
“Trong thâm tâm tôi rất mừng rỡ và cảm thấy mình đã chọn con đường đi đúng đắn, không có gì phải lo ngại nếu như cứ tiếp tục con đường văn học nhân đạo hay với những tư tưởng mà mình đã xác định ngay từ đầu”
Là người đã trải qua những năm tháng đau thương và anh dũng trong kháng chiến chống Mỹ, nhà văn nay dấn thân vào cuộc đời thế sự, cảm nhận thấm thía những vấn đề phức tạp xã hội và thân phận con người trong mọi va đập xô đẩy của dòng đời: “Văn học là một sự chiêm nghiệm nỗi đau khổ của con người và nó đi tìm những tư tưởng nhân đạo, những tinh thần nhân đạo”.
Nhưng tự bạch, nhà văn ngày càng cảm thức sâu sắc lý tưởng chân thiện mỹ, viết bằng cả ba yếu tố tích hợp, vốn văn hóa, vốn trải nghiệm và giáo lý đạo Phật.
Văn hóa thì đã rõ, người từng “úp mặt vào núi”, “vào rừng” và sau này vào thơ , văn mà đọc đến mức tích lũy được rất nhiều tri thức xã hội, lịch sử văn hóa đông tây, kim cổ. Đọc và trích dẫn chính xác, phù hợp từ Nietzsche, Goethe, Leonard de Vinci , Victor Hugo cũng như các nhà văn cổ điển và đương đại Trung Quốc. Rồi dẫn cả Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu…
Trải nghiệm với tuổi đời xưa nay hiếm, từ cuộc sống con người miền núi, đồng bằng , trung du, người nông dân, người thành thị….qua từ thời bao cấp đến thời kinh tế thị trường.
Nhà văn mới tìm đến đạo Phật nhưng đã rút ra được cái tinh túy của giáo lý hướng thiện, trừ ác và tu thân để có được tính Phật.
Bản thân nhà văn cũng là một tài hoa mà lắm nỗi truân chuyên trong cuộc đời và trên văn đàn. Sống thanh bần, giản dị và có phần nghèo túng nhưng có một văn nghiệp sáng giá đó là văn chương nhân bản vì con người, nhân đạo chỉ ra con đường làm người tử tế, chân chính và nhân văn, đề cao cái đẹp, cái tinh hoa, tinh chất con người. Lòng nhân của Nguyễn Huy Thiệp thể hiện minh triết trên trang viết , nhiều bạn văn đã nhận ra cái cốt cách thương yêu và tin tưởng con người ở tác giả; nhà văn miêu tả và phê phán cái xấu, cái ác, cái đáng ghét của con người để người ta hiểu và yêu đời hơn và có thể làm người tốt hơn đó là lòng nhân hậu lặn sâu bên trong.
Tuổi hai mươi yêu dấu
là tiểu thuyết có tính chất tự truyện, là chuyện buồn đau chính trong gia đình mình. Nguyễn Huy Thiệp viết như một sự trang trải nỗi lòng sẻ chia những cuộc đời bất hạnh, những số phận khổ đau còn tồn tại trong xã hội ngày nay: con người là nạn nhân của những tệ nạn xã hội không dễ gì nhanh chóng chấm dứt. Hệ lụy của sự tha hóa, xuống cấp nhân phẩm và đạo đức như một thách thức lớn và lâu dài trong mặt trái của cơ chế thị trường.
Trong tự bạch Tôi viết
Tướng về hưu
(tuoitre.vn 5.6.2005) Nguyễn Huy Thiệp viện dẫn lời Lê Quý Đôn : “Văn chương có đạo thì thịnh” và giải thích “Dấu hiệu nhận biết đầu tiên của đạo là nụ cười sau đó là những biểu hiện của tình yêu thương với lòng chẳng nỡ, tính nhân văn” Có nhận xét khái quát của GS Đỗ Đức Hiểu “tình con người, tình yêu loài người là tình thần bao trùm các tác phẩm của anh”( Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Sông Hương, 36, 2010).
Thực ra Nguyễn Huy Thiệp chỉ diễn tả sinh động và nhất là thể hiện qua thực tiễn sáng tác những quan niệm mới của lý luận văn học. Nhưng những ý tưởng về đổi mới thì có những suy tư cụ thể và sâu sắc như những tình huống cho sáng tạo nghệ thuật không chỉ cho riêng bản thân. Theo tự bạch thì
Tướng về hưu
chỉ là đột phá khẩu. Đổi mới dứt khoát, mạnh mẽ và táo bạo phải kể là
Không có vua, Con gái thủy thần, Những người thợ xẻ
và bộ ba truyện giả lịch sử là
Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết
.
Tác giả “Thêm một vài ý nghĩa về quan điểm “đổi mới””.
“Đổi mới là thay cái cũ bằng cái mới phù hợp với hoàn cảnh mới (…) Điều quan trọng là hòa nhập, đồng thuận với hoàn cảnh..
Đổi mới có nhiều cách, nhiều cảnh giới. Đầu tiên phải là phá vỡ cái cũ…
Đổi mới với ý thức xây dựng một cơ sở mỹ học mới từ ngay trong thực tế mỗi văn học ở trong nước…Đó là điều mà các thế hệ nhà văn đổi mới trong 30 năm qua đã làm được…”
Kết luận có tính chất nguyên lý:
“Văn học thật sự làm hướng về chân thiện mỹ luôn giữ gìn được bản sắc dân tộc và tìm đến sự hòa hợp trong thế giới văn minh”.
Những lý luận hàn lâm nêu trên thực ra không ngoài những nguyên lý kinh điển và đường lối chính thống về văn hóa, văn nghệ mới. Tuy nhiên chúng đã được diễn giải sinh động, cụ thể và lý giải minh triết. Điều quan trọng nhất là đã được thuyết phục bằng minh chứng hùng hồn của sáng tác phẩm chính- nhà văn người tuyên ngôn.
Nói hay và làm được, làm tốt chính là thước đo chân chính giá trị nhất cho một sự nghiệp.
Tác phẩm các loại của Nguyễn Huy Thiệp đã có được sự cọ sát nảy lửa của dư luận văn đàn qua mấy chặng đường: chặng khởi đầu của những năm 80 của thế kỷ XX, chặng tiếp theo Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp (Văn hóa -Thông tin, 2001) ,chặng “sự cố” với tiểu luận
Trò chuyện với thủy tiên
và sự nhầm lẩn của nhà văn (Tạp chí Ngày nay, 2009) và chặng cuối, khi nhà văn ra đi (3.2021).
Về cơ bản, đã có sự đồng thuận trong đánh giá nhà văn qua Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp. Tập sách tập hợp 54 bài tranh luận với những lời khen, chê về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Qua những cách đọc, cách hiểu về nhiều phía, người đọc sẽ có được cái nhìn khách quan, đa chiều về tác phẩm và tác giả.
Hội thảo sách đã có được sự đánh giá thống nhất và tôn vinh Nguyễn Huy Thiệp như nhà văn đổi mới có thành tựu đáng khích lệ sau 15 năm.
Từ bài tiểu luận 2004, lại dấy lên dư luận trái chiều, nhưng sự hiểu lầm qua nhanh vì uy tín cao của Nguyễn Huy Thiệp ở trong nước và sau đó là trên dư luận văn đàn thế giới, nhất là qua dịp nhận hai giải thưởng của Pháp (2007) và Italia (2008)
Những ngày tháng 3 và 4 năm nay, lại rộ lên đợt bình luận, tôn vinh của cơ quan chức năng Hội Nhà văn và rộng rãi bạn đọc trong cả nước khi Nguyễn Huy Thiệp ra đi vĩnh viễn.
Thực ra, những đánh giá tôn vinh từ lâu (2001) đã định vị nhà văn như ngôi sao sáng của văn học đổi mới.
Giáo sư Đỗ Đức Hiển viết trên tạp chí Sông Hương (số 136, tháng 6. 2000) đăng lại vào 19.4.2010.
“Trong hành trình “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” tôi thấy một giọt vàng rơi vào lòng mình, giọt vàng ròng tươi sáng. Đó là truyện ngắn của anh Anh tái tạo truyện ngắn ở Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XX này và nâng nó lên một tầm cao mới; thơ ca và triết lý nối truyền thống và hiện đại, phương đông và toàn nhân loại” Nhiều nhà văn nhà nghiên cứu tên tuổi, có uy tín đã đánh giá và tôn vinh Nguyễn Huy Thiệp từ cách đây nhiều năm.
Những ngày gần đây có sự đánh giá tôn vinh nhà văn không chỉ cho hôm nay mà còn cho mai sau.
Nguyễn Bình Phương nhận định: “ Một trong những nhà văn nhưng quan trọng số 1 từ sau đổi mới người đã gửi lại dũng khí cho tất cả các nhà văn, cho ta thấy thế nào là quyền năng một người viết, quyền thay đổi, quyền khám phá, quyền phản biện xã hội, khiến ta nhìn thẳng lại giá trị của nhà văn”…
“Chắc chắn anh Thiệp sẽ ở lại với lịch sử văn học , thật sự là một nhà văn lớn”.
Nhà văn Nguyễn Văn Thọ, bạn chí cốt thân thiết ghi lại cảm tưởng “Thể xác tan rồi. Như sương khói trong đôi mắt ông kia, nhưng văn chương của ông, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp tạo ra vẫn đổ bóng dài, thử thách mãi các nhà văn đương đại”. Đó là bóng của một cây đại thụ văn chương như lời nhà thơ Trần Đăng Khoa đánh giá.
Tuy nhiên, điếu văn của Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều là lời tiễn biệt mang tính cách quan phương đại diện đầy xúc động và cảm thức sâu sắc nhất để đánh giá tôn vinh một danh tài văn chương cùng ảnh hưởng lớn lao trên văn đàn kể từ hôm nay.
Xin được trích dẫn như sau:
“
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
đến với văn chương khá muộn nhưng khi “những cơn gió Hua Tát”và những truyện ngắn khác của ông xuất hiện là lúc cơn bão mang tên Nguyễn Huy Thiệp trỗi dậy thổi qua cánh rừng đời sống văn chương Việt và nó làm tất cả rung lên. Kể từ năm 1975 cho tới lúc này, chưa có nhà văn nào có khả năng làm thay đổi một cách sâu sắc thi pháp và tinh thần văn xuôi Việt Nam như ông. Và cho tới lúc này, ông vẫn là người trị vì ngai vàng trong thế giới truyện ngắn Việt Nam đương đại.
Chúng ta có thể nói văn của ông là sự trần trụi đến nghiệt ngã nhưng đó là sự trần trụi của một người dám nhìn thẳng sự thật và gọi đúng tên sự thật.
Chúng ta có thể nói văn của ông là sự nổi giận tựa cơn hỏa hoạn nhưng đó là sự nổi giận của lương tâm trước sự suy đồi và giả dối của con người.
Chúng ta có thể nói văn của ông là sự đau đớn đến kinh hoàng, nhưng đó là sự đau đớn của tình yêu thương con người.
Những tác phẩm của ông mang vẻ đẹp của một lưỡi dao mổ chói sáng, chính xác và đau đớn. Con dao ấy đã phẫu thuật những khối u ẩn giấu trong tâm hồn con người nó làm con người đau đến mức tưởng không chịu nổi để rồi được bình phục và lớn lên.
Chỉ khí mang nỗi đau đớn tận cùng về con người, ông mới có thể viết những thiên truyện buốt lạnh đến rùng mình. Sự buốt lạnh đến rùng mình ấy chính là lời cảnh báo cao nhất về lương tri . Có lẽ lúc đó, đối với ông mở mắt than khóc hay những lời an ủi hão huyền chỉ là sự phù phiếm đối với một nhà văn khi nghe và khi nói về đồng loại của mình
Những thiên truyện của ông người đọc mang cảm giác kinh hãi, kinh hãi bởi họ nhận ra những vùng tăm tối đầy man dại còn đâu đó trong chính con người họ. Để từ đó họ được thức tỉnh và biết hành động để phục sinh nhân tính của mình. Chính thế mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nói: “khó nhất không phải là tiền bạc, khó nhất không phải là tri thức mà khó nhất là đạo đức, nhà văn chỉ là người đi tìm đạo cho dân chúng ”
Đây là bản tuyên ngôn của ông về sứ mệnh của người cầm bút (…) ông khắc nghiệt với con người bởi ông yêu con người. Ông chống lại sự đồi bại của con người để bảo vệ chính con người nhưng trong các truyện ngắn của ông, có một dòng chảy lớn mang tinh thần thi ca với những vẻ đẹp huy hoàng trùm lên những số phận thấp hèn, bất trắc (…) Dòng chảy kỳ vĩ đó làm cho con người thấy ấm áp, yêu thương và thấy được những giấc mơ làm người đẹp đẽ của mình trong mọi hoàn cảnh”.
Có thể đây là lời đánh giá tôn vinh cho mãi mãi một sự nghiệp văn tài như ngôi sao tỏa sáng tương lai. | Nguyễn Huy Thiệp – Ngôi sao sáng của văn học đổi mới – Tác giả: PGS-TS Đoàn Trọng Huy | 4,076 | |
Hòa Phát là một phường thuộc
quận Cẩm Lệ
,
thành phố Đà Nẵng
, Việt Nam.
Phường Hoà Phát có diện tích 5,38 km², dân số năm 2005 là 9261 người, mật độ dân số đạt 1.721 người/km².
Phường Hòa Phát được thành lập năm 2005 trên cơ sở phần còn lại của xã Hòa Phát (cũ) sau khi tách một phần diện tích và dân số của xã Hòa Phát, huyện Hòa Vang để thành lập phường Hòa An. | Giới thiệu khái quát phường Hòa Phát | 75 | |
Hòa Minh là một phường thuộc
quận Liên Chiểu
,
thành phố Đà Nẵng
, Việt Nam.
Phường Hòa Minh có diện tích 7,17 km², dân số năm 1999 là 13.686 người, mật độ dân số đạt 1.909 người/km².
Phường được thành lập năm 1997 trên cơ sở xã Hòa Minh và được chuyển từ huyện Hòa Vang về quận Liên Chiểu mới thành lập. Tại thời điểm này, phường Hòa Minh có 9.870 người. | Giới thiệu khái quát phường Hòa Minh | 69 | |
Hòa Hiệp Nam là một phường thuộc
quận Liên Chiểu
,
thành phố Đà Nẵng
, Việt Nam
.
Phường có diện tích 7,49 km², dân số năm 2005 là 13.555 người, mật độ dân số đạt 1.810 người/km².
Phường Hòa Hiệp Nam được thành lập năm 2005 trên cơ sở một phần diện tích và dân số của phường Hòa Hiệp. | Giới thiệu khái quát phường Hòa Hiệp Nam | 55 | |
Hòa Khánh Nam là một phường thuộc
quận Liên Chiểu
,
thành phố Đà Nẵng
, Việt Nam.
Phường Hòa Khánh Nam có diện tích 8,7 km², dân số năm 2005 là 11.375 người, mật độ dân số đạt 1.307 người/km².
Phường được thành lập năm 2005 trên cơ sở một phần diện tích và dân số của phường Hòa Khánh. | Giới thiệu khái quát phường Hòa Khánh Nam | 55 | |
Hòa Thọ Đông là một phường thuộc
quận Cẩm Lệ
,
thành phố Đà Nẵng
, Việt Nam.
Phường Hoà Thọ Đông có diện tích 2,35 km², dân số năm 2005 là 11.151 người, mật độ dân số đạt 4.745 người/km².
Phường Hòa Thọ Đông được thành lập năm 2005 trên cơ sở một phần diện tích và dân số của xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang. Phần còn lại của xã Hòa Thọ được chuyển thành phường Hòa Thọ Tây, quận Cẩm Lệ. | Giới thiệu khái quát phường Hòa Thọ Đông | 78 | |
Vị trí địa lý:
Hòa Phước là một xã thuộc
huyện Hòa Vang
,
thành phố Đà Nẵng
. Xã Hòa Phước có diện tích 7,65 km², dân số năm 2018 là 13.722 người[3], mật độ dân số đạt 2.310 người/km², cao nhất huyện.
Hòa Phước là một xã nằm ở cửa ngõ phía nam của thành phố Đà Nẵng, giáp ranh với phường Điện Ngọc, xã Điện Thắng Bắc, xã Điện Hòa (thị xã Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam
) và
xã Hòa Châu
(
huyện Hòa Vang
),
phường Hòa Xuân
(
quận Cẩm Lệ
), phường Hòa Quý (
quận Ngũ Hành Sơn
).
Kinh tế:
Hòa Phước là một trong các xã đồng bằng của huyện Hòa Vang, nằm cách trung tâm thành phố khoảng 12 km, chạy dọc theo trung tâm xã có tuyến Quốc lộ 1, tuyến đường Phạm Hùng, đường vành đai phía Nam thành phố nối liền Hòa Phước với quận Ngũ Hành Sơn, trên địa bàn xã có nhiều tuyến giao thông thuận lợi để đi vào trung tâm thành phố, tạo điều kiện kết nối, phát triển kinh tế xã hội.
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 686,22ha, trong đó đất nông nghiệp là 271,5ha (đất lúa 147 ha), đất phi nông nghiệp là 422,35ha. Dân số toàn xã có 12.652 người, với 2.881 hộ dân. Được chia thành 10 thôn, với 57 khu dân cư. Tổng số lao động trong độ tuổi làm việc là 6.518 người, chiếm 51,52% dân số xã, trong đó lao động đã qua đào tạo nghề là 4.110 người, chiếm 63% tổng số lao động. Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên trên 95%.
Trong những năm qua, Hòa Phước là một trong các xã chịu tác động lớn của quá trình đô thị hóa, do đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong những năm qua thu hẹp dần, để xây dựng các công trình, dự án, quy hoạch, chỉnh trang của thành phố. Từ đó, một số người dân đã chuyển đổi ngành nghề từ nông nghiệp qua các lĩnh vực khác, tập trung vào thương mại, buôn bán, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp … | Giới thiệu khái quát xã Hòa Phước | 347 | |
Hòa Quý là một phường thuộc
quận Ngũ Hành Sơn
,
thành phố Đà Nẵng
.
Phường Hòa Quý có diện tích 13,51 km², dân số năm 1999 là 8.950 người,[2] mật độ dân số đạt 662 người/km².
Phường Hòa Quý được thành lập năm 1997 trên cơ sở xã Hòa Quý và được chuyển từ huyện Hòa Vang về quận Ngũ Hành Sơn mới thành lập. Tại thời điểm này, phường Hòa Quý có 8.793 người. | Giới thiệu khái quát phường Hòa Quý | 71 | |
Hòa Hải là một phường thuộc
quận Ngũ Hành Sơn
,
thành phố Đà Nẵng
.
Phường Hòa Hải được thành lập năm 1997 trên cơ sở xã Hòa Hải và được chuyển từ huyện Hòa Vang về quận Ngũ Hành Sơn mới thành lập.
Phường Hòa Hải có diện tích 14,12 km², dân số (năm 2015) là 5.637 hộ với 20.123 nhân khẩu, được chia thành 138 tổ dân phố bao gồm các khu dân cư: Sơn Thủy, Đông Hải, Đông Trà, Tân Trà và An Nông.
Di tích – Thắng cảnh:
– Danh thắng núi Ngũ Hành Sơn.
– Bãi biển Non Nước.
– Làng nghề Đá Mỹ nghệ Non Nước.
– Khu Di tích Lịch sử Khu 3 – Hòa Vang và di tích Đội Quyết tử Bám trụ phường Hòa Hải. | Giới thiệu khái quát phường Hòa Hải | 124 | |
Khuê Mỹ là một phường thuộc
quận Ngũ Hành Sơn
,
thành phố Đà Nẵng
.
Phường Khuê Mỹ có diện tích 5,49 km², dân số năm 2005 là 10.824 người, mật độ dân số đạt 1.972 người/km².
Phường Khuê Mỹ được thành lập năm 2005 trên cơ sở một phần diện tích và dân số của phường Bắc Mỹ An. | Giới thiệu khái quát phường Khuê Mỹ | 55 | |
Mỹ An là một phường thuộc
quận Ngũ Hành Sơn
,
thành phố Đà Nẵng
.
Phường Mỹ An có diện tích 3,4 km², dân số năm 2005 là 1.318 người, mật độ dân số đạt 388 người/km².
Phường Mỹ An được thành lập năm 2005 trên cơ sở một phần diện tích và dân số của phường Bắc Mỹ An. | Giới thiệu khái quát phường Mỹ An | 55 | |
Tiết mục văn nghệ tại lễ khai mạc Lễ hội cấp quốc gia Vía Bà Chúa Xứ núi Sam năm 2023.
Tối 8/6, tại Trung tâm thương mại Vĩnh Đông, phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, UBND tỉnh An Giang tổ chức khai mạc Lễ hội cấp quốc gia Vía Bà Chúa Xứ núi Sam năm 2023 với chủ đề ‘Đất thiêng vạn lộc’.
Ông Lê Văn Phước, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang cho biết, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam ở Châu Đốc (An Giang) là lễ hội truyền thống được giữ gìn và thực hành qua nhiều thế hệ người dân Châu Đốc, An Giang.
Lễ hội được gắn với chuỗi các sự kiện lớn của thành phố Châu Đốc từ ngày 8 – 14/6 (nhằm ngày 21/4 đến 27/4 âm lịch), như: Lễ kỷ niệm 323 năm ngày mất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh (1700 – 2023), 194 năm ngày mất danh thần
Thoại Ngọc Hầu
(1829 – 2023) và Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập thành phố Châu Đốc (2013 – 2023).
Sau Lễ khai hội, thành phố Châu Đốc tổ chức lễ phục hiện rước tượng Bà, Lễ rước được thực hiện theo đúng nghi lễ cổ truyền thông qua hình thức sân khấu hóa đặc sắc đã tái hiện lại nguồn gốc, lịch sử bà Chúa Xứ.
Trong các ngày diễn ra Lễ hội Vía bà Chúa Xứ Núi Sam, cùng với phần nghi lễ trang trọng, để thu hút khách du lịch và nhân dân, UBND
thành phố Châu Đốc
còn tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật sôi nổi phục vụ nhân dân và du khách như: Biểu diễn múa lân sư rồng; chương trình văn nghệ mang sắc thái văn hóa 4 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa, Chăm…
Cùng với đó là hội thi thả đèn hoa đăng, triển lãm ảnh nghệ thuật, các hoạt động thể thao (quần vợt, cờ tướng, thể dục dưỡng sinh, hội thi leo núi), các trò chơi dân gian (giật cờ, tung cầu, nhảy bao bố, trò chơi vận động liên hoàn), bóng chuyền hơi…
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Lê Văn Phước, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Châu Đốc, An Giang; chứa đựng những giá trị lịch sử – văn hóa đặc trưng trong dòng chảy văn hóa Nam Bộ. Bản sắc văn hóa trong Lễ hội được cộng đồng duy trì, thực hành, trao truyền, từ thế hệ này sang thế hệ khác, có tính lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống văn hóa tâm linh.
Đến với Lễ hội, nhân dân và du khách sẽ được thưởng thức và hòa mình vào không gian văn hóa tâm linh độc đáo của các nghi lễ truyền thống, thể hiện sự tôn kính với Bà Chúa Xứ và các bậc tiền nhân có công khai mở vùng đất nơi biên giới Tây Nam của Tổ quốc, cầu mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt…
“Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam là dịp để giới thiệu, quảng bá tới đồng đảo nhân dân và du khách trong, ngoài nước về tiềm năng và thế mạnh, vẻ đẹp và sức hấp dẫn của du lịch Châu Đốc nói riêng, An Giang nói chung. Đồng thời, qua đó giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, xây dựng thành phố Châu Đốc văn minh hiện đại, hấp dẫn thân thiện, giàu bản sắc”- Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Lê Văn Phước nhấn mạnh.
Là lễ hội truyền thống của người dân Châu Đốc hàng trăm năm nay, Lễ hội mang đậm văn hóa của cư dân vùng Tây Nam Bộ, thể hiện bản sắc và sự kế tục của cộng đồng người Kinh trong tiến trình giao lưu tiếp biến văn hóa với người Hoa, Khmer, Chăm.
Năm 2014, Lễ hội đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Lễ hội được thực hiện theo nghi thức truyền thống, gồm: Lễ khai hội, lễ phục hiện rước tượng Bà từ đỉnh núi Sam xuống miếu thờ, lễ Tắm Bà, lễ Thỉnh sắc thần ông Thoại Ngọc Hầu và 2 vị phu nhân, lễ Túc yết, lễ Xây chầu, lễ Chánh tế và lễ Hồi sắc… Mỗi năm có hàng triệu lượt du khách đến Châu Đốc hành hương, dâng lễ và chiêm ngưỡng cảnh sắc thiên nhiên của vùng đất nơi biên giới Tây Nam của Tổ quốc.
Năm nay, UBND
tỉnh An Giang
quyết định không thu phí tham quan Khu du lịch quốc gia Núi Sam đối với du khách trong dịp Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam từ ngày 8 – 14/6.
Tin, ảnh: Công Mạo | Khai mạc Lễ hội cấp quốc gia Vía Bà Chúa Xứ núi Sam năm 2023 | 814 | |
Bị say nắng, say nóng không chỉ khiến chúng ta mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, nhức đầu… mà say nắng say nóng còn có khả năng dẫn đến đột quỵ.
(Nhấp chuột để xem kích thước chuẩn.)
Say nắng, say nóng thường hay xảy ra vào mùa hè, đặc biệt trong những ngày nắng nóng cao điểm, nhiệt độ tăng cao đột ngột. Khoảng thời gian 1 giờ sau khi bị say nắng, say nóng ở mức độ nặng được gọi là “thời điểm vàng” để cấp cứu. Do đó, khi cấp cứu say nắng, say nóng phải hết sức chú ý đến việc cấp cứu ban đầu tại hiện trường.
Vì vậy khi gặp người bị say nắng, say nóng, chúng ta phải thực hiện ngay các bước như sau:
– Đưa bệnh nhân vào chỗ mát, thoáng khí (chỗ bóng râm, lên xe mát hay nhà mát, …) đồng thời gọi hỗ trợ, đặc biệt gọi cấp cứu hỗ trợ.
– Áp dụng ngay lập tức các biện pháp làm mát để hạ nhiệt độ của cơ thể. Cởi bỏ quần áo và áp nước ấm lên người bệnh nhân sau đó dùng quạt để tăng quá trình bốc hơi (bệnh nhân nên nằm nghiêng để bề mặt da có thể hứng được nhiều gió càng tốt).
– Đắp khăn lạnh, hoặc áp gói nước đá vào nách, bẹn, cổ
– Cho uống nhiều nước hoặc dung dịch điện giải nếu bệnh nhân tỉnh táo, có thể uống được.
– Chuyển bệnh nhân bằng xe điều hòa hoặc phải mở cửa sổ, quá trình vận chuyển tiếp tục làm mát nhiệt độ bệnh nhân./. | [Infographics] Cách xử lý khi bị say nắng, say nóng trong ngày hè | 269 | |
Các nhà khoa học đã xác định được nguyên nhân của dòng tia gamma sáng và nhiều năng lượng nhất từng thấy.
Dòng tia gamma giải phóng khi một lỗ đen ra đời. Ảnh: NASA/Dana Berry/Skyworks Digital.
Dòng tia gamma GRB 221009A, được phát hiện vào tháng 10/2022, sáng đến mức các thiết bị trên Trái Đất khó đo được và được đặt biệt danh là BOAT, viết tắt của “Brightest of All Time”, có nghĩa là “Sáng nhất mọi thời đại”. Bây giờ, các nhà khoa học đã tìm ra lý do dòng tia này trở nên sáng bất thường so với các dòng tia gamma khác.
Dòng tia gamma là dạng giải phóng năng lượng mạnh nhất trong vũ trụ và thường xảy ra theo một số cách. Các dòng tia gamma kéo dài, như GRB 221009A, bắt nguồn từ cái chết của các ngôi sao lớn, quay nhanh.
Khi một ngôi sao đi đến cuối vòng đời, lõi của nó không còn được hỗ trợ cấu trúc bởi áp suất nhiệt hạch bên ngoài và sụp đổ dưới tác động của lực hấp dẫn, tạo thành một vật thể siêu đặc như lỗ đen. Đồng thời, các vật chất bên ngoài của ngôi sao bị đẩy ra ngoài, tạo thành một vụ nổ siêu tân tinh. Vụ nổ có thể giải phóng dòng tia gamma.
Vì GRB 221009A kéo dài, các nhà khoa học ban đầu dự đoán rằng nó xuất phát từ một vụ nổ siêu tân tinh. Các dữ liệu cho thấy dòng tia thực sự đã bắt nguồn từ cái chết của một ngôi sao lớn cách Trái Đất 2,4 tỷ năm ánh sáng. Nhưng sức mạnh kỷ lục dòng tia, lên tới 18 teraelectronvolts, vẫn là khó hiểu và lớn hơn hẳn các dòng tia gamma từng được ghi nhận.
Các nhà nghiên cứu cho rằng nguyên nhân là dòng tia này đã kéo theo một lượng lớn vật chất của ngôi sao khi nó thoát ra. “Các dòng tia gamma cần phải đi qua ngôi sao đang sụp đổ mà chúng được hình thành”, Hendrik Van Eerten, nhà vật lý thiên văn tại Đại học Bath (Anh), giải thích. Những phát hiện này có thể giúp giải thích các vụ nổ tia gamma đặc biệt sáng trước đây.
“Khám phá ra GRB 221009A là một bước tiến lớn trong hiểu biết của chúng ta về dòng tia gamma, cho thấy những tia cực đoan nhất không đi theo tiêu chuẩn của các tia thông thường”, Brendan O’Connor, nhà thiên văn học tại Đại học George Washington, tác giả nghiên cứu phát hiện nguyên nhân GRB 221009A đăng trên
Science Advances
, cho biết. | Khoảnh khắc lỗ đen ra đời gây ra vụ nổ vũ trụ sáng nhất từng thấy | 442 | |
Khu vực thị trấn Megalopolis của
Hy Lạp
không chỉ chứa đựng một thành cổ hơn 1.600 tuổi mà còn che giấu lãnh địa của ít nhất một loài người ma tồn tại trước Homo sapiens chúng ta 400.000 năm.
Cuộc khai quật kéo dài 5 năm dẫn đầu bởi Bộ Văn hóa và thể thao Hy Lạp và Trường Nghiên cứu cổ điển Mỹ tại Athens (Hy Lạp) đã tiết lộ nhiều kho báu lớn là dụng cụ sinh hoạt bằng đá của 3 nhóm người có niên đại 280.000 năm, 400.000 băm, 450.000 năm và 700.000 năm.
Nhóm khảo cổ đang làm việc tại các di chỉ quanh Megalopolis – Ảnh: BỘ VĂN HÓA VÀ THỂ THAO HY LẠP.
Tất cả được tìm thấy quanh khu vực thị trấn Megalopolis ở tỉnh Arcadia của Hy Lạp, nơi từng tọa lạc một thành phố cổ phồn thịnh cùng tên, được xây dựng từ thế kỷ thứ IV sau Công Nguyên.
Ngoài tàn tích thành cổ, từ lâu, các nhà khảo cổ đã phát hiện dấu vết của con người cổ xưa hơn, được cho là những Homo sapiens ban đầu, tức Người Tinh Khôn – chính là loài của chúng ta.
Thế nhưng các cuộc khai quật mới đã thay đổi tất cả. Homo sapiens đầu tiên xuất hiện trên Trái Đất chỉ hơn 300.000 năm trước, vì vậy các di chỉ lâu đời hơn không thể do tổ tiên chúng ta tạo nên, mà thuộc về một “loài người ma” khác biệt, chưa xác định được.
Địa điểm Choremi 7 có niên đại khoảng 280.000 năm, nơi duy nhất có thể thuộc về Homo sapiens, chứa các công cụ đá và xương hươu có dấu hiệu của các vết cắt.
Tripotamos 4, 400.000 năm tuổi, có nhiều công cụ đá với phương pháp chế tác được cải tiến rõ ràng so với các di chỉ cũ hơn. Marathousa 2, 450.000 tuổi, cho thấy dấu hiệu về một “loài người ma” đang giết và có thể ăn thịt hà mã. Trong khi đó, Marathousa 1 cùng niên đại cho thấy bằng chứng về việc giết thịt voi.
Đáng chú ý nhất, di chỉ Kyparissia 4, 700.000 tuổi, chứa kho công cụ đá lớn nhất và hài cốt các họ hàng đã tuyệt chủng của hươu, hà mã, tê giác, voi và khỉ ngày nay, hầu hết điều khổng lồ so với người bà con hiện đại.
Đây là khu vực duy trì được độ ấm áp hiếm hoi ở châu Âu trong “thời kỳ băng hà lớn” sau đó, diễn ra từ 500.000 đến 300.000 năm trước.
Các công cụ đào được ở Choremi 7 – Ảnh: BỘ VĂN HÓA VÀ THỂ THAO HY LẠP.
Nghiên cứu không chỉ chứng minh khu vực này như nơi ẩn náu của muôn loài trong thời kỳ khắc nghiệt của châu Âu, mà còn lưu giữ chúng với điều kiện bảo quản vượt trội – nhà cổ sinh vật học Katerina Harvati từ Đại học Tubingen (Đức), người đứng đầu phần nghiên cứu của dự án nói với
Live Science.
Tìm hiểu sâu hơn về các di chỉ này có thể giúp tái hiện một trang lịch sử đầy bí ẩn của nhân loại và những loài tiền thân có thể đã sống cùng – và có khi giao phối dị chủng – với Homo sapiens ở châu Âu. | ‘Loài người ma’ 700.000 tuổi hiện diện giữa thành cổ Hy Lạp | 552 | |
Ảnh minh họa. Nguồn: NDTV.
Lực lượng Không gian Mỹ chuẩn bị phóng một chùm vệ tinh vào mùa Hè này.
Hãng tin Bloomberg đưa tin theo Lực lượng Không gian Mỹ và các nhà phân tích, mạng lưới vệ tinh mới được mệnh danh là “Barker im lặng” sẽ hỗ trợ cho các cảm biến trên mặt đất và các vệ tinh quỹ đạo thấp.
Các vệ tinh này sẽ được đặt cách Trái Đất khoảng 35.400 km và ở quỹ đạo địa tĩnh. Vệ tinh trên quỹ đạo địa tĩnh đồng nghĩa với việc đối với các nhà quan sát trên Trái Đất, thiết bị này dường như ở một vị trí cố định trên bầu trời.
Lực lượng Không gian Mỹ nhận định: “Khả năng này tạo điều kiện chỉ dẫn và cảnh báo về các mối đe dọa” đối với những hệ thống có giá trị cao của Mỹ và sẽ “cung cấp khả năng tìm kiếm, phát hiện và theo dõi các vật thể trong không gian để phát hiện mối đe dọa kịp thời”.
Văn phòng Trinh sát quốc gia (NRO) là đơn vị phối hợp với Lực lượng Không gian Mỹ phát triển mạng lưới vệ tinh “Barker im lặng” này. Theo lịch trình, chúng sẽ được lên kế hoạch phóng sau tháng 7 trên tên lửa đẩy Atlas V.
Theo NRO, ngày phóng chính thức sẽ được công bố trước 1 tháng trên mạng xã hội Facebook và Twitter. Lực lượng Không gian Mỹ và NRO không nêu chi tiết có bao nhiêu vệ tinh trong “Barker im lặng” nhưng cho biết sẽ có “nhiều phương tiện không gian” tham gia.
Bà Sarah Mineiro, cựu thành viên Ủy ban Dịch vụ vũ trang Hạ viện Mỹ – tiểu ban giám sát các chương trình không gian nhận định “Barker im lặng” giải quyết những hạn chế của hệ thống giám sát mặt đất hoặc quỹ đạo thấp hơn đồng thời tạo điều kiện để Mỹ “thực sự tìm ra điều gì đang diễn ra trong vũ trụ”.
Bloomberg đánh giá “Barker im lặng” được cho là phản ứng của
Mỹ
trước việc
Trung Quốc
và
Nga
nhằm phát triển các hệ thống có khả năng phóng lên quỹ đạo và tiêu diệt các vệ tinh khác. Theo báo cáo của Cơ quan Tình báo Quốc phòng Mỹ năm 2022, một vệ tinh của Trung Quốc là Sijian-17 được trang bị cánh tay robot “có thể bám vào các vệ tinh khác”.
(Theo Bloomberg) | Mỹ sẽ phóng chùm vệ tinh ‘Barker im lặng’ để phát hiện rủi ro trên vũ trụ | 406 | |
Bia chùa Giàu. Tư liệu Cục Di sản văn hóa.
Bia chùa Giàu được cho là tấm bia thời Trần duy nhất có chạm khắc nổi chân dung một vị hoàng đế thời Trần.
Bảo vật quốc gia Bia chùa Giàu còn có tên khác là Ngô gia thị bi (Văn bia họ Ngô). Tấm bia bằng đá xanh nguyên khối này đang ở chùa Giàu, tên chữ là chùa Khánh Long, tại TP.Phủ Lý, Hà Nam. Tương truyền, chùa được mở mang xây dựng với quy mô rộng lớn vào thời Trần. Bia đá chùa Giàu được dựng vào năm Bính Ngọ, niên hiệu Đại Trị năm thứ 9 (1366) đời vua Trần Dụ Tông. Bia bị vỡ thành 3 mảnh và đã được gắn lại, một vài vị trí mặt bia có vết trầy xước. Một số đoạn chữ khắc bị mòn, mờ, song vẫn xác định được nội dung ghi chép.
Ở mặt trước, trán bia vòng cung được chia thành 3 ô. Ô chính giữa tạo thành hình vuông, chạm nổi 4 chữ Hán ý nói đến Ngọc hoàng thượng đế. Theo các nhà nghiên cứu, kiểu bố cục này phổ biến trên nhiều bia thời Lý và thời Trần. Hai ô bên chạm khắc 2 hình rồng đối xứng, trong tư thế đầu rồng ngẩng cao, chầu vào ô chính giữa. Hình rồng ở tư thế uốn 11 khúc mềm mại, thân tròn lẳn, mập mạp, thu nhỏ dần về phía đuôi; đầu rồng có bờm mào dài, mũi cao, sừng chạc, miệng há ngậm ngọc, răng nanh sắc nhọn, mang đặc trưng phong cách rồng thời Trần. Chân rồng chạm khắc 5 móng sắc nhọn, chân trước đỡ lấy cằm nâng viên ngọc báu.
Theo hồ sơ bảo vật, thân bia chạm khắc nổi theo dạng bức phù điêu chân dung một vị hoàng đế, đang ngồi trên ngai rồng, tư thế ngồi chính diện, có vòng hào quang trên đầu, tay ngai chạm đầu rồng. Ngai rồng đặt trên tòa đài sen, các cánh sen uốn cong đối xứng.
Chân dung hoàng đế được chạm khắc trên mặt bia thể hiện địa vị quyền quý rất cao của ngài trong xã hội. Trên đầu ngài đội mũ bình thiên, chính giữa mũ nổi hình tròn biểu trưng cho mặt trời. Khuôn mặt của ngài chạm khắc theo các nét quý tướng: mắt xếch, lông mày rậm, mũi thẳng nhô cao, có ria mép, dáng vẻ quắc thước, hai tai to chảy dài xuống. Chính giữa lớp áo ngoài có ba dải chạy thẳng xuống tới chân, trong đó dải ở giữa có chữ “vương” trong khung hình tròn. Hai tay hoàng đế cầm “hốt” chắp trước ngực.
Mặt sau khắc chữ Hán thể hiện nội dung bia. Theo đó, có một nhà sư hiệu “Viên tích đại sa môn” đã mất tại đó vào năm Hưng Long thứ 13 (năm 1305) đời
vua Trần Nhân Tông
. Nhà sư họ Ngô, hiệu “Ngộ Không cư sĩ” đã quyết định an táng nhà sư “Viên tích đại sa môn” và dựng nhà tại đây. Phần còn lại ghi chép họ và tên người cúng tiến ruộng ao cho chùa.
Mặt trước bia chùa Giàu. Tư liệu bản dập của Bảo tàng tỉnh Hà Nam.
Hội đồng Di sản quốc gia đánh giá đây là tấm bia thời Trần duy nhất có chạm khắc nổi chân dung một vị hoàng đế thời Trần, là một tác phẩm mỹ thuật độc đáo quý hiếm thời Trần ở Hà Nam nói riêng cũng như cả nước nói chung. Một số nhà nghiên cứu khảo cổ, mỹ thuật, căn cứ trên hình tượng điêu khắc trên bia như: ngai, mũ, trang phục, có đưa ra nhiều giả thuyết còn chưa ngã ngũ về người được khắc chân dung. Đó có thể là Ngọc hoàng, là Ngộ Không cư sĩ (người được nhắc tới trong nội dung bia ở mặt sau), và có thể là chân dung của Hoàng đế Trần Nhân Tông. Hoàng đế Trần Nhân Tông là tổ của Thiền phái Trúc Lâm, tức vua đã hóa Phật, hay là Phật tái thế. Do đó, bức chân dung chùa Giàu có tư thế và trang phục vua, có đài sen và hào quang của Phật là phù hợp với chân dung vua Trần Nhân Tông. Nếu đúng chân dung vua Trần Nhân Tông thì đây chính là hình ảnh vua VN sớm nhất hiện nay được biết, là mẫu cho các tượng vua và Ngọc hoàng được tạo dựng vào cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17.
Theo hồ sơ bảo vật, tấm bia chùa Giàu này cung cấp thông tin về địa danh hành chính. Đây là tấm bia đầu tiên nhắc đến đơn vị hành chính “Lợi Nhân lộ” mà các tư liệu hiện biết đến nay không nhắc tới trong hệ thống tổ chức hành chính nhà Trần. Lộ là đơn vị hành chính có từ thời Lý; sau khi giành được chính quyền, nhà Trần đã phân chia lại Đại Việt thành 12 lộ thay vì 24 lộ như ở thời Lý.
Chi tiết chạm khắc trang trí trên trán bia. Tư liệu bản dập của Bảo tàng tỉnh Hà Nam.
Ngoài ra, nội dung văn bia còn cho biết, chế độ sở hữu ruộng đất, đơn vị đo đường, vai trò của Đạo giáo và Phật giáo thời Trần, nguồn gốc các dòng họ, chức vụ quản lý cấp cơ sở (xã), phân bố dân cư giữa người Kinh và người thiểu số vào thời Trần ở nơi đây…
Đề tài trang trí bia chùa Giàu thể hiện sự dung hòa, hòa hợp tôn giáo thời Trần, là minh chứng rõ nhất cho tư tưởng “
Tam giáo đồng nguyên
“.
Toàn bộ nội dung văn bia nói đến việc xây dựng chùa, tuy nhiên, phần mỹ thuật được chạm khắc ở chân bia thể hiện tư tưởng của Đạo giáo, đó là hình ảnh các lá đề được chạm khắc trong đó có lồng vật biểu trưng của đạo giáo, đó là hình tượng các cặp sừng tê. | Bảo vật quốc gia: Bia chùa Giàu khắc nổi chân dung hoàng đế thời Trần | 1,012 | |
Một ngôi làng ở Kherson bị ngập lụt do vỡ đập Nova Kakhovka. Ảnh: Yonhap.
Ngày 9/6, một bài báo của hãng Thông tấn Trung ương Triều Tiên (KCNA) cho rằng vụ vỡ đập ở Ukraine là kế hoạch do Mỹ và Ukraine dàn dựng để đẩy trách nhiệm về thảm họa nhân đạo sang cho Nga.
Theo hãng thông tấn Hàn Quốc Yonhap, bài viết của KCNA cáo buộc rằng về cơ bản, Mỹ, Ukraine và các nước phương Tây khác đổ mọi trách nhiệm về việc phá hủy đập Nova Kakhovka cho Nga vào thời điểm thế giới lo ngại về thiệt hại vật chất, nhân đạo do vụ việc gây ra.
Trong bài viết, ông O Song-jin, một nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Quốc tế của Triều Tiên, đã mô tả vụ vỡ đập ở Ukraine là vụ nổ đường ống Nord Stream thứ hai.
Vụ nổ nói trên xảy ra vào tháng 9/2022, làm vỡ đường ống dẫn khí đốt tự nhiên Nord Stream ở biển Baltic nối Nga và Đức, nhưng thủ phạm đứng sau vụ nổ vẫn chưa được xác định.
Theo ông O Song-jin, vụ phá đập Nova Kakhovka nhằm tạo ra điều kiện chính trị và quân sự thuận lợi cho chiến dịch phản công của Ukraine. Trong bài viết, ông cũng cho rằng Ukraine hoàn toàn có động cơ để thực hiện hành vi này với sự đồng ý của Mỹ, nhất là khi vụ vỡ đập đã gây ra thiệt hại to lớn các khu vực ở Ukraine mới được sáp nhập vào Nga.
Đập Nova Kakhovka ở miền Nam Ukraine, nằm trên sông Dnipro trong khu vực do Nga kiểm soát, bị vỡ hôm 6/6, gây ra lũ lụt lớn và buộc người dân phải sơ tán. Ukraine và Nga đã đổ lỗi cho nhau về thảm họa.
Hình ảnh nước tràn qua đập bị vỡ (Nguồn: The Guardian).
Trước đó, theo hãng tin Reuters, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã nhóm họp theo yêu cầu của cả Nga và Ukraine sau vụ vỡ đập.
Khi được hỏi liệu Mỹ có biết ai chịu trách nhiệm về vụ phá đập Nova Kakhovka hay không, Phó Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc, ông Robert Wood, nói với các phóng viên: “Không, chúng tôi không chắc chắn chút nào”. Tuy nhiên, theo ông Robert Wood, thật vô nghĩa khi Ukraine lại làm điều này với lãnh thổ và người dân của chính họ, bởi phá đập Nova Kakhovka sẽ gây ra lũ lụt, buộc hàng chục nghìn người phải rời bỏ nhà cửa.
Về phần mình, Đại sứ Nga tại Liên hợp quốc Vassily Nebenzia nhắc lại việc vào cuối tháng 10/2022, phía Nga đã đưa ra một lưu ý về kế hoạch phá hủy nhà máy thủy điện Kakhovka của Kiev. Đại sứ Nga bày tỏ sự tiếc nuối rằng lời kêu gọi của Moskva về việc cần phải làm mọi thứ có thể để ngăn chặn kế hoạch này đã không được chú ý đúng mức và đổ lỗi cho Ukraine thực hiện kế hoạch phá đập Nova Kakhovka, nhưng ông không đưa ra bằng chứng.
Trong khi đó, Đại sứ Ukraine tại Liên hợp quốc Sergiy Kyslytsya cho rằng Nga đã kiểm soát con đập và toàn bộ nhà máy thủy điện Kakhovka trong hơn một năm qua và nhấn mạnh thực tế là không thể làm nổ tung con đập bằng cách nào đó từ bên ngoài như pháo kích. Theo Đại sứ Ukraine, phía Nga đã cho nổ tung đập Nova Kakhovka bằng mìn, nhưng cũng không cung cấp bằng chứng.
Đập Nova Kakhovka trên sông Dnipro nằm cách thành phố Kherson khoảng 30 km về phía Đông, cao 30 mét và rộng hàng trăm mét, được xây dựng vào năm 1956, là một phần của nhà máy thủy điện Kakhovka.
Hồ chứa của đập này chứa khoảng 18 tỷ mét khối nước, khi bị vỡ giải phóng một lượng nước khổng lồ, gây ngập lụt các khu dân cư bên dưới, trong đó có cả Kherson, nơi đang nằm trong quyền kiểm soát của lực lượng Ukraine từ cuối năm 2022.
Hồ chứa trên đập Nova Kakhovka cung cấp nước cho bán đảo Crimea ở phía Nam đã sáp nhập Nga vào năm 2014, đồng thời là nguồn nước làm mát của nhà máy hạt nhân lớn nhất châu Âu Zaporizhzhia ở phía Bắc.
Hồ chứa cũng giúp cung cấp năng lượng cho nhà máy thủy điện Kakhovka. Việc phá hủy con đập sẽ làm tăng thêm các vấn đề năng lượng cho Ukraine, nhất là sau khi nhiều cơ sở hạ tầng năng lượng đã bị hư hỏng trong xung đột. | Video: Truyền thông Triều Tiên lên tiếng về vụ vỡ đập ở Ukraine | 777 | |
Đài quan sát tia X Chandra của
NASA
đã bắt được một chiếc đuôi rực rỡ dài 1,5 triệu năm ánh sáng, tiết lộ cú ợ hơi của thứ được mô tả là cụm thiên hà lớn khủng khiếp.
Theo tờ Space, các quan sát mới nhất của Chandra và một số kính viễn vọng khác không những chứng minh “chiếc đuôi” 1,5 triệu năm ánh sáng nói trên phá mọi kỷ lục, mà còn tiết lộ cách một tập hợp thiên hà “quái vật” có thể phát triển – bằng sự phàm ăn đến kinh ngạc.
Hình ảnh rực rỡ về “quái vật” Coma được quan sát bởi Kính viễn vọng XMM-Newton của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) và Chandra của NASA – Ảnh: ESA/NASA.
“Quái vật” mà NASA mô tả là to khủng khiếp được gọi là Cụm Coma, nằm cách Trái Đất khoảng 340 triệu năm ánh sáng và là một trong những cụm thiên hà lớn nhất mà nhân loại từng khám phá.
Nó chứa ít nhất 1.000 thiên hà riêng lẻ, phát triển đều đặn khi một nhóm
thiên hà
khác, được gọi là NGC 4839, đang rơi vào nó với tốc độ khoảng 4,8 triệu km/giờ, tức gấp 4.000 lần tốc độ âm thanh.
NGC 4839 không phải thứ bé nhỏ, nó chứa khoảng 50 thiên hà riêng lẻ. Tuy vậy nó vẫn không cách nào cưỡng lại lực hấp dẫn từ Cụm Coma quá lớn bên cạnh.
Cụm Coma đang bắt đầu bữa ăn bằng cách tước bỏ lớp vỏ khí của NGC 4839 bằng chính khí nóng dồi dào hơn của nó, tạo ra dòng phản lực khổng lồ là chiếc đuôi nóng bỏng mà Chandra đã của NASA đã nắm bắt được.
Trong tương lai, ngọn lửa hình chiếc đuôi dài này cũng sẽ bị trộn lẫn vào bể chứa khí khổng lồ của Coma và nguội đi đến mức không nhìn thấy được. | NASA chụp được ‘quái vật’ khủng khiếp nhất vũ trụ, nuốt cả cụm thiên hà | 314 | |
Vào những ngày tháng 6, mùa hè rực lửa như thiêu đốt. Tưởng nhớ 20 năm ngày mất của
nhà thơ Thu Bồn
(17/6/2003-17/6/2023) – thi sĩ tráng ca đã đi qua ba cuộc kháng chiến Chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc; nhóm bạn bè của ông đã ngồi lại với nhau trong một lễ tượng niệm nhỏ nhớ về ông.
Vào những ngày tháng 6, mùa hè rực lửa như thiêu đốt. Tưởng nhớ 20 năm ngày mất của nhà thơ Thu Bồn (17/6/2003-17/6/2023) – thi sĩ tráng ca đã đi qua ba cuộc kháng chiến Chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc; nhóm bạn bè của ông đã ngồi lại với nhau trong một lễ tượng niệm nhỏ nhớ về ông. Đặc biệt dịp này, nhà văn Ngô Thảo đã cho ra mắt 4 cuốn sách về sự nghiệp và cuộc đời nhà thơ Thu Bồn theo đơn đặt hàng của nhà nước. Bốn cuốn sách một lần nữa đã làm sống dậy cuộc đời thi ca của nhà thơ “chim chơ rao”.
Suốt cuộc đời nhiều thăng trầm nhưng cũng đầy lộng lẫy của mình, nhà thơ Thu Bồn đã để lại cho đời những tác phẩm sống mãi với thời gian. Trong tác phẩm của Thu Bồn có khói lửa của chiến tranh, vị mặn của nước mắt và mùi nồng của máu. Nhưng có lẽ vì đi qua những tận cùng đau đớn của số phận nghiệt ngã, lại được nuôi dưỡng, trưởng thành trong màu áo lính mà ông giữ nguyên vẹn cho mình, một trái tim rộng mở yêu thương, một tâm hồn chứa đầy những giông gió “giời đày” của một thi sĩ. Người ta gọi ông là tráng sĩ, có lẽ tại dáng người cao lớn lừng lững, hay tại những tác phẩm thi ca của ông có sức vóc, nặng như lốc xoáy, nóng như núi lửa nham thạch trào dâng, hay cũng bởi sự quyến rũ, mê đắm “chết người” của người đàn ông từng trải đi qua đời của bao nhiêu “người đàn bà áo đen” như định mệnh.
Thu Bồn giờ đã tan vào với gió mây và ở nơi nào xa lắm, nhưng những người bạn văn của ông vẫn thường tưởng nhớ đến ông với một sự trìu mến, thân thương đặc biệt. Thế là hiếm lắm! Bởi vì không dễ gì người ta trọng nhau, vậy mà ông được nhiều bạn văn yêu quý. Ông như một thỏi nam châm có sức hút đặc biệt.
Mùa hè năm nay, nhà văn Ngô Thảo, một người bạn thân thiết đã dầy công sưu tầm, nghiên cứu chọn lọc cho ra đời 4 cuốn sách dày dặn, đẹp đẽ, sang trọng của nhà thơ Thu Bồn (sách do nhà nước đặt hàng). Đó là những bản trường ca, thơ, truyện ngắn, kí, và tiểu thuyết.
Ông Thu Bồn tên thật là Hà Đức Trọng quê ở
Quảng Nam
, sau này dính vào nghiệp văn chương ông lấy tên của dòng sông quê nhà cho bút danh của mình. Có lẽ, tên dòng sông đã vận vào cuộc đời ông. Ở đó có vô số sự êm đềm, dịu nhẹ của những mối tình ướt át, bay bổng đã đi qua. Có cả sự đau đớn, đòn oan trái của số phận nghiệt ngã khi những cuộc hôn nhân tan rã và số phận bi thương của con cái ông. Và những cơn lốc xoáy của dòng sông khi cuộc lên thác xuống ghềnh trong hoạt động nghệ thuật…
Ông sinh ra ở vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Bố ông và chị gái bị giặc Pháp tra tấn và giết hại cho đến chết. 13 tuổi trở thành chú bé giao liên. Bước chân vào quân ngũ, mặc quần áo lính từ thuở tò te, sự cộng hưởng những gì đã chứng kiến buổi chiến trận, cùng tình yêu con người, đất nước cứ lớn dần lên trong tâm hồn ông cộng với khả năng thi phú nghệ thuật trời cho. Người con xứ Quảng, dòng máu nóng Lạc Hồng chảy tràn trong huyết mạch, đã hun đúc làm nên một trong những nhân vật hàng đầu của nền văn học cách mạng Việt Nam thế kỷ 20 – nhà thơ Thu Bồn.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhà thơ Thu Bồn có “Trường ca chim chơ rao” (1965). Tiếp tục tiếp nối bản tráng ca của nhà thơ Nguyên Ngọc “Đất nước đứng lên”. “Trường ca chim chơ rao” như bó đuốc chạy từ Nam ra Bắc đăng trên Báo Văn nghệ – văn học miền Nam mở đầu cho dòng trường ca mới. Ngày tổng tấn công Mậu Thân – Đà Nẵng, ông viết bài thơ “Đà Nẵng gọi ta” (1968): “
Đà Nẵng gọi ta như người mẹ gọi con/ Như người yêu gọi người yêu xa cách/ Ta muốn nói với từng viên gạch
…”. Tất cả những nhà chính trị của Đà Nẵng thời ấy đều coi bài thơ như bài hịch kêu gọi và có tác dụng mạnh mẽ như một sư đoàn, khích lệ, động viên rất nhiều người lính hăng hái lên đường ra trận.
Năm 1969, ngay khi hay tin Chủ tịch Hồ Chí Minh mất, nhà thơ Thu Bồn đang ở chiến trường miền Đông Nam bộ theo dòng cảm xúc tuôn trào đã có bài: “Gửi lòng con đến cùng cha”: “
Tiếc rằng trước lúc chia ly/ Con chưa thấy được dáng đi của Người/ Hẳn trong đôi mắt sáng ngời/ Vẫn vẹn nguyên một khoảng trời phương Nam/ Con qua Cẩm Lệ sông Hàn/ Ngũ Hành Sơn đứng mơ màng bóng Cha
…”, bài thơ nhanh chóng bay lan ra khắp cả nước. Ngay lúc đó, phía học sinh, sinh viên trong đô thị Sài Gòn đã xúc động đọc bài thơ rất nhiều lần và đã biến câu thơ đó làm băng rôn, khẩu hiệu.
Chiến tranh tàn khốc dữ dội đã cho ông những câu thơ để đời và cũng lấy đi của ông những nỗi đau khủng khiếp. Người con trai xứ Quảng đa tài, đa tình trải qua vài ba mối tình rồi dừng lại với người con gái tên Thu. Tình yêu say đắm này đã khiến cho nhà thơ Thu Bồn quyết tâm gắn bó đời mình với nữ y tá Đỗ Thị Thanh Thu. Năm 1965, ngay trong chiến trận, giữa cánh rừng Trường Sơn bạt ngàn nắng gió, hôm đám cưới diễn ra, một trận bom B52 dọn đường cho biệt kích đổ bộ, bom đạn đầy trời, rừng cây trụi lá xơ xác vì chất độc da cam trải xuống. Năm 1966, đứa con gái đầu lòng chào đời mang tên Thảo Nguyên. Do cuộc sống khốn khó trong chiến tranh, người mẹ mang bầu thiếu dinh dưỡng, đứa trẻ sinh ra ốm yếu còi cọc, hai chân bị cong quèo.
4 cuốn sách về cuộc đời và sự nghiệp nhà thơ Thu Bồn được ra mắt nhân kỉ niệm 20 năm ngày mất của ông.
Hai năm sau 1968, trong lúc mang bầu người con thứ hai, hai vợ chồng nhà thơ Thu Bồn được điều động ra Bắc. Người đàn bà ôm bụng bầu vượt qua suối, băng qua núi rừng Trường Sơn đề về miền Bắc. Đến ngày vượt cạn, cậu bé chào đời mang tên Băng Ngàn (cái tên như nhắc về một thời kì gian khó vượt suối băng ngàn). Khổ thay Băng Ngàn sinh ra đến mấy tuổi vẫn chẳng nói cười, chất độc hóa học màu da cam ở núi rừng Trường Sơn đã khiến cho hai người con của nhà thơ bị di chứng nặng nề. Cuộc hôn nhân đầu tan vỡ sau nhiều năm chung sống, âu cũng là số phận.
Năm 16 tuổi, Thảo Nguyên con gái đầu lòng của nhà thơ mất do bệnh máu trắng, bác sĩ kết luận do ảnh hưởng của chất độc diôxin. Nỗi buồn thương tang tóc đổ ập lên đôi vai nhà thơ, khiến ông càng trở nên sầu héo và co lại. Nỗi mất mát khổ đau như vết dao cứa, đâm chém hằn nét ngang dọc vào trái tim tứa máu, chịu nhiều tổn thương của nhà thơ.
Trong hồi ức, ông viết: “Nhiều năm, hai cha con tôi ở trong một căn nhà nhỏ (trong ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế) cạnh phòng Nguyễn Đức Mậu, Lê Lựu. Cháu bị nhiễm chất độc da cam nên phải đi bệnh viện. Một đêm tháng 12 lạnh như dao cắt, cháu đã trút hơi thở cuối cùng tại giường bệnh 108… Tôi vuốt mắt con, ôm cái thân xác lạnh ngắt đau đớn đi từng bước một xuống cầu thang nhà xác. Tôi mượn cái lồng bàn úp lên thi thể của con. Sáng hôm sau tôi và Ngô Thảo đi Quan Thánh mua quan tài và cắt hộ khẩu cho con (cắt hộ khẩu báo tử mới mua được quan tài). Duy Khán đi tìm hai khúc chuối để thắp nhang, chị Định cho những đồng tiền để bỏ vào miệng cháu…”.
Nỗi đau mất con và ám ảnh chất độc hóa học màu da cam khiến trong cơ thể tưởng chừng tráng kiện của nhà thơ lại yếu mềm đến run rẩy vì sự ám ảnh sinh con, liệu rằng đứa trẻ có cơ thể lành lặn?! Chính thế nên những cuộc tình và hai cuộc hôn nhân sau này của ông đều không để lại mầm hạt.
Thu Bồn là người đa tình và cũng thực đào hoa. Nhà thơ Thu Bồn có người vợ thứ hai là nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát (nữ thi sĩ lúc này cũng đã qua 1 đời chồng và đã có con). Nhưng cuộc hôn nhân này cũng chẳng hề viên mãn. Hai người lại rẽ sóng ra đi mỗi người một hướng. Những năm cuối đời ông có người vợ thứ ba, nhưng ngay sau khi Thu Bồn mất, người vợ thứ ba đã bán hết mấy ngàn mét đất của Thu Bồn để lại, đi biệt tích. Con trai duy nhất còn lại của ông là Băng Ngàn ở với mẹ ruột (người vợ đầu của nhà thơ) không hưởng một chút quyền thừa kế.
Những người bạn văn và gia đình họ hàng của ông không ai còn biết tung tích của người vợ thứ ba này. Tấm ảnh thi sĩ Thu Bồn gửi trong ngôi chùa Tam Bảo bao năm vẫn hiu quạnh, người xưa không trở lại hương khói. Bao nhiêu năm nay vào ngày giỗ của nhà thơ, bạn bè, người thân tới thăm mộ ông ở nghĩa trang Sài Gòn, trên tấm bia mộ có hai câu thơ của ông dự cảm trước khi chết được khắc lên: “
Rồi mai mưa gió qua đây/ Anh còn ở với cỏ cây, em về
…”.
Ngôi trường cấp 2 ở quê hương ông mang tên
nhà thơ Thu Bồn
ngay sau khi ông được giải thưởng danh giá cao quý nhất về văn học nghệ thuật – Giải thưởng Hồ Chí Minh, năm 2017. Và sắp tới đây, sẽ có Trung tâm không gian văn hóa Thu Bồn ở trên quê hương của người con tài hoa xứ Quảng. | Nhà thơ Thu Bồn: Tráng sĩ buồn gửi hồn vào cỏ cây, hoa lá – Tác giả: Trần Mỹ Hiền | 1,889 | |
Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Bác đã mở đầu cho các phong trào
thi đua yêu nước
sôi nổi, lan rộng khắp cả nước, góp phần đắc lực vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam; là nguồn cảm hứng bất tận, có giá trị không chỉ trong quá khứ mà ngay cả với hiện tại và tương lai, là di sản vô giá mãi trường tồn với dân tộc Việt Nam!
Một tác phẩm tranh cổ động đề tài “Thi đua là yêu nước. (Ảnh: Cục Văn hóa cơ sở).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng di sản Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta là cả kho tàng di sản vô giá. Cả một đời vì nước, vì dân, lời Bác cũng là lời của non nước, luôn thôi thúc, khơi dậy ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. 75 năm đã trôi qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra
Lời kêu gọi thi đua ái quốc
(ngày 11/6/1948) chính thức phát động phong trào thi đua ái quốc. Trong những thời khắc cam go, ác liệt của dân tộc,
Lời kêu gọi thi đua ái quốc
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tác động đến mọi tầng lớp Nhân dân, có giá trị hiệu triệu, lôi cuốn, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi hy sinh gian khổ, nhất là trong bối cảnh cần giải quyết đồng thời những nhiệm vụ cấp bách của dân tộc nhằm chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.
Bác kêu gọi toàn thể đồng bào, dù ở cương vị nào, làm công việc gì, đều phải tích cực thi đua yêu nước: “Bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh, bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau: Làm cho mau/ Làm cho tốt/ Làm cho nhiều. Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ đều cần trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa. Thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân kháng chiến/ Toàn diện kháng chiến. Cách làm là: dựa vào Lực lượng của dân/ Tinh thần của dân, để gây: Hạnh phúc cho dân”[1].
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các phong trào thi đua yêu nước đã phát triển khắp cả nước, có sức lan tỏa rộng rãi, nhiều sáng tạo mang lại khí thế sôi nổi trong các hoạt động thi đua:“Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm,” “Hũ gạo kháng chiến,” “Sóng Duyên Hải” “Gió Đại phong,” “Cờ Ba nhất”… đến các phong trào “Thanh niên ba sẵn sàng,” “Phụ nữ ba đảm đang,” “Tuổi nhỏ chí lớn,” “Dạy tốt, học tốt”… thu hút đồng bào và chiến sĩ cả nước tích cực lao động sản xuất, học tập, kiên cường, dũng cảm chiến đấu diệt giặc ngoại xâm, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng với 5 đơn vị (Đại Phong, Ba Nhất, Duyên Hải, Bắc Lý, Thành Công) đạt danh hiệu Lá cờ đầu trong phong trào thi đua tại Đại hội thi đua lần thứ III (1962).
Trong thời kỳ đất nước đổi mới, nhiều phong trào thi đua yêu nước vẫn tiếp tục tạo được sức lan tỏa rộng khắp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thu hút mọi tầng lớp Nhân dân tích cực tham gia hưởng ứng. Nhất là các hoạt động thi đua yêu nước gắn với học tập và làm theo Bác ngày càng nở rộ, xuất hiện ngày càng nhiều mô hình, cách làm hay, sáng tạo trong các hoạt động thi đua yêu nước, mang lại nhiều hiệu quả thiết thực như: Phong trào:”Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Ðền ơn đáp nghĩa”, “Vì Trường Sa thân yêu”, “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi”, “Thanh niên lập nghiệp”, “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”… đã góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng.
Các phong trào thi đua yêu nước đã hun đúc tinh thần Đại đoàn kết toàn dân tộc, kết thành sức mạnh vô địch, đưa dân tộc Việt Nam vượt lên mọi khó khăn, thử thách, lập nên những kỳ tích vẻ vang trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Không chỉ được kiểm nghiệm từ thực tiễn của hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, một lần nữa, phong trào thi đua yêu nước được hưởng ứng của đông đảo quần chúng Nhân dân, tạo ra động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ vượt qua những thời điểm khó khăn của đất nước, vượt qua cuộc chiến giữa thời bình – cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, cuộc chiến không tiếng súng nhưng cũng đầy cam go và thách thức, hiểm nguy. Chưa bao giờ con người lại có cảm giác giữa sự sống và cái chết mong manh đến thế. Có đi qua những khó khăn, hiểm nguy mới thấu hiểu những giá trị của sự bình yên, giá trị của đoàn kết, tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách… Tất cả được khơi dậy từ lòng yêu nước, thương nòi!
Chúng ta đã gặt hái được nhiều thành tựu to lớn từ những phong trào thi đua yêu nước, song giờ đây, trong bối cảnh thời đại mới, rất cần những phong trào thi đua yêu nước có sự sáng tạo đột phá để thực sự tạo ra động lực mới, tư duy mới, khơi dậy sự vươn lên mạnh mẽ, xây dựng đất nước giàu mạnh, hiện thực hóa khát vọng dân tộc hùng cường; xây dựng xã hội tích cực học tập, hăng say lao động, sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra nhiều của cải, vật chất, mang lại sự giàu có cho người dân và đất nước.
Muốn vậy, các hoạt động thi đua yêu nước phải thiết thực, gắn với công việc hàng ngày của mỗi người, nhất là cán bộ, đảng viên trong thực thi chức trách không được hời hợt, thờ ơ vô cảm trước các nhu cầu của doanh nghiệp và người dân, không được đùn đẩy trách nhiệm, hoặc “mắc bệnh sợ trách nhiệm”… Đây chính là nguyên nhân gây ra nhiều hệ lụy xấu, làm chậm sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Vì vậy, những người làm việc trong bộ máy công quyền Nhà nước luôn phải ý thức được bổn phận trách nhiệm của mình là phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, mang lại lợi ích cho xã hội, cho Nhân dân và cho đất nước; cần phải làm tốt nhiệm vụ được giao, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc hàng ngày cũng chính là thi đua yêu nước.
Nhất định phải phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là vai trò của Nhà nước đối với các phong trào thi đua yêu nước. Phải gắn các phong trào thi đua với các mục tiêu phát triển đất nước phù hợp với bối cảnh của thời đại. Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh hoàn thiện, cải cách và nâng cao chất lượng thể chế cũng như thực thi pháp luật hiệu lực, hiệu quả là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển đất nước. Đổi mới thể chế, trong đó, đổi mới tư duy về thể chế, tư duy quản lý nhà nước phải đi đầu… tức là phải đổi mới tư duy lãnh đạo và tầm nhìn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là căn cốt có tính nền tảng cho các phong trào thi đua yêu nước. Và mọi đổi mới, cải cách cũng phải được bắt đầu từ đội ngũ lãnh đạo có khát vọng, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm, quan trọng hơn là dám thay đổi và từ bỏ những thứ đã cũ và lạc hậu, xóa bỏ tư tưởng giáo điều, bảo thủ, trì trệ trong cả tư duy và hành động.
Theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tưởng lầm rằng thi đua là một việc khác với những công việc làm hàng ngày. Thật ra, công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua. Thí dụ: Từ trước đến giờ ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ăn, mặc, ở cho sạch sẽ, cho hợp vệ sinh, cho khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng. Nay ta thi đua làm cho đất ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn. Mọi việc đều thi đua như vậy”[2]. Người khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”, như vậy, muốn phong trào thi đua yêu nước có hiệu quả thiết thực thì cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải làm gương sáng cho mọi người, tập thể noi theo, “Nói thì phải làm”, “Nói đi đôi với làm”. Theo Người: “Yêu nước thì việc gì có lợi cho Nhân dân, dù khó khăn đến mấy cũng phải ra sức làm cho kỳ được. Điều gì có hại cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức trừ cho kỳ hết”[3]. Người nhấn mạnh: “Cán bộ phải thi đua với quần chúng, xung phong làm gương mẫu cho quần chúng để kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc chóng thành công”; “Một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[4].
Suy cho cùng, phong trào thi đua yêu nước phải được bắt đầu từ những cán bộ, đảng viên… “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Cho dù ở góc độ vĩ mô, vi mô hay trong phạm vi quản trị nào đó, kể cả các hoạt động phong trào thi đua thì tư duy và tầm nhìn của đội ngũ lãnh đạo, quản lý Nhà nước luôn là một trong những nhân tố quyết định hàng đầu. Một dân tộc có trở nên thịnh vượng, hùng cường hay không, phần lớn ảnh hưởng bởi khát vọng, tư duy quản lý Nhà nước và tầm nhìn của các nhà lãnh đạo. Quốc gia nào cũng cần đội ngũ cán bộ, lãnh đạo có năng lực tư duy
: “
Lo cho dân, nghĩ cho dân, làm lợi cho dân và làm việc vì dân…” .
Theo đó, cán bộ, đảng viên phải tiên phong, đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước, cũng như khả năng truyền cảm hứng tới người dân cùng nhau đoàn kết, chung tay xây dựng đất nước giàu mạnh, hướng về mục tiêu khát vọng hùng cường của dân tộc Việt Nam.
Thắng lợi vẻ vang của dân tộc Việt Nam cũng chính là thắng lợi của các hoạt động thi đua yêu nước – thắng lợi của những gian khổ, hy sinh. Chúng ta càng thấm thía ý nghĩa sâu sắc từng câu, từng chữ trong
Lời kêu gọi thi đua ái quốc
của Bác, với những ngôn từ hết sức dung dị, gần gũi nhưng vô cùng sâu sắc và thiết thực, thể hiện rõ biện chứng nhân – quả, không chỉ phù hợp với bối cảnh của lịch sử lúc bấy giờ. Đến nay,
Lời kêu gọi thi đua ái quốc
của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên ý nghĩa lịch sử, giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, là kim chỉ nam, nền tảng quan trọng cho toàn Đảng, toàn dân ta nỗ lực phấn đấu, thực hiện có hiệu quả công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế.
Lời kêu gọi thi đua ái quốc
của Bác đã mở đầu cho các phong trào thi đua yêu nước sôi nổi, lan rộng khắp cả nước, góp phần đắc lực vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Lịch sử dần lùi xa, song lời Bác vẫn vang vọng mãi với non sông, đất nước Việt Nam. Mọi thành quả của cách mạng Việt Nam gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn liền với muôn vàn lời dạy của Người. Cả một đời vì nước, vì dân, lời Bác cũng là lời của non nước, luôn thôi thúc, khơi dậy ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng di sản Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta là cả kho tàng di sản vô giá. Trong đó,
Lời kêu gọi thi đua ái quốc
của Người vẫn là nguồn cảm hứng bất tận, có giá trị không chỉ trong quá khứ mà ngay cả với hiện tại và tương lai, là di sản vô giá mãi trường tồn với dân tộc Việt Nam!
————
[1] Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 556.
[2] Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 169.
[3] Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập11, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 487.
[4] Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 284 | Vang vọng lời Bác: Thi đua ái quốc! | 2,269 | |
Kênh đào đắt nhất Việt Nam hiện đang được xây dựng tại khu vực phía Bắc.
Cụ thể, theo Sở thông tin và Truyền thông Nam Định, kênh đào nối sông Đáy với sông Ninh Cơ tại Nam Định với mức đầu tư hơn 100 triệu USD (khoảng 2.300 tỷ đồng) dự kiến đi vào hoạt động tháng 6/2023.
Bên cạnh đó, Chủ tịch Hội vận tải thủy nội địa Việt Nam từng cho biết, ông chưa chứng kiến dự án đường thủy nào tại Việt Nam có mức đầu tư lên tới 100 triệu USD và kênh Đáy – Ninh Cơ là hạng mục đường thủy lớn thứ 2 được Chính phủ Việt Nam đầu tư. Hạng mục lớn nhất là công trình kênh thủy lợi Bắc – Hưng – Hải.
Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải là một hệ thống kênh, đập, trạm bơm, đê điều nhằm phục vụ việc tưới tiêu và thoát úng. Còn kênh đào nối sông Đáy với sông Ninh Cơ được xây dựng nhằm giảm chi phí vận tải và tăng tốc độ lưu thông hàng hóa trên mạng lưới đường thủy miền Bắc. Kênh đào nối sông Đáy với sông Ninh Cơ hiện là kênh đào đắt nhất Việt Nam.
Theo Bộ Giao thông Vận tải, công trình thuộc Dự án “Phát triển giao thông khu vực đồng bằng Bắc Bộ” (WB6) là dự án lớn nhất từ trước đến nay được đầu tư vào hạ tầng đường thủy nội địa ở khu vực phía Bắc với tổng mức đầu tư khoảng 107 triệu USD với các hạng mục chính gồm: Kênh nối sông Đáy – sông Ninh Cơ và âu tàu; kênh dẫn vào âu tàu; bờ kè, đê phóng lũ.
Công trình kênh đào nối sông Đáy với sông Ninh Cơ tại Nam Định góp phần tạo ra sự đột phá trong cải tạo hệ thống hạ tầng đường thủy nội địa khu vực đồng bằng Bắc Bộ, kết nối vận tải thủy nội địa khu vực với vận tải ven biển phục vụ phát triển kinh tế xã hội, giảm gánh nặng cho đường bộ vốn đang quá tải, ô nhiễm, ùn tắc.
Khi công trình hoàn thành sẽ giúp giảm 20% thời gian di chuyển của phương tiện thủy từ Quảng Ninh đến cảng thủy Ninh Phúc (
tỉnh Ninh Bình
), giảm chi phí vận tải thủy, tạo động lực cho phát triển vận tải thủy và kinh tế – xã hội tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ.
Sau khi việc cải tạo kênh hoàn thành sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tàu có trọng tải đến 2.000 tấn đầy tải, tàu 3.000 tấn giảm tải có thể lưu thông qua sông Ninh Cơ thuận lợi không phụ thuộc vào dòng nước, từ đó có thể đi sâu vào đất liền đến cụm cảng Ninh Phúc.
Theo Báo cáo logistics VN và thế giới, khi công trình hoàn thành sẽ tạo điều kiện cho nhiều tàu chở hàng container đi qua, thay vì phải tới cảng Hải Phòng và di chuyển bằng đường bộ như hiện nay.
Cửa đóng xả phía sông Đáy nặng gần 80 tấn, được làm bằng thép theo tiêu chuẩn Nhật. Khi có tàu, cửa lớn vẫn đóng và chỉ mở hai cửa xả nhỏ phía dưới. Khi nước phía trong và ngoài sông cân bằng, cửa mới mở để cho tàu qua. Ngoài ra, cửa này còn có nhiệm vụ ngăn nước mặn từ sông Đáy.
Công trình chiếm một phần đê phía sông Ninh Cơ. Giao thông đường bộ trên mặt đê được thay thế bằng một cây cầu kết cấu bê tông cốt thép, dài hơn 2,2 km, chiều cao tĩnh không 15 m.
Hơn nữa, công trình được kỳ vọng sẽ làm giảm chi phí vận tải và tăng tốc độ lưu thông hàng hóa trên mạng lưới đường thủy của miền Bắc. Trong đó, hàng hóa đường thủy chủ yếu là nguyên liệu than, xi măng, gỗ, cát, đá… những mặt hàng rất quan trọng trong việc phát triển công nghiệp và xây dựng hạ tầng.
Kênh đào sẽ đi vào hoạt động sẽ mở thêm triển vọng cho vận tải đường thủy nội địa. Từ đó, công trình góp phần phát triển vận tải đa phương thức, tăng cường kết nối vùng, tối ưu hóa sử dụng và chia sẻ nguồn lực giữa các địa phương.
Trên thực tế,
Nam Định
nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, cách
Thủ đô Hà Nội
90km về phía Tây, có nhiều tiềm năng phát triển vận tải đường thủy. Cụ thể, Nam Định có bờ biển dài 72km đi qua 3 huyện, hệ thống sông phong phú tổng chiều dài 536km, gồm 4 tuyến sông Trung ương (Hồng, Đáy, Ninh Cơ, Đào); 15 tuyến sông địa phương (có 2 tuyến là sông Vọp dài 15km; sông Múc dài 26,5km đã được UBND tỉnh công bố luồng tuyến, đưa vào khai thác). | Địa phương đang xây dựng kênh đào đắt nhất Việt Nam hứa hẹn tạo đột phá cho hạ tầng đường thủy | 816 | |
Từ ngày 6-8/6, tại trụ sở UNESCO (thủ đô Paris), Kỳ họp lần thứ 9 Đại hội đồng Công ước về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa,
Việt Nam
khẳng định cam kết chung tay với các quốc gia thành viên và các đối tác nhằm phát huy sức mạnh văn hóa và sáng tạo vì sự tự cường và phát triển bền vững.
Đoàn Việt Nam tham dự Kỳ họp lần thứ 9 Đại hội đồng Công ước về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa, diễn ra từ ngày 6-8/6 tại trụ sở UNESCO (Paris). (Ảnh: KHẢI HOÀN).
Kỳ họp diễn ra dưới sự chủ trì và điều hành của Đại sứ, Trưởng Đại diện Phái đoàn Thường trực Panama bên cạnh UNESCO Elia Del Carmen Guerra Jurado. Việt Nam, Bỉ, Rumani và Nigeria đảm nhiệm vai trò Phó Chủ tịch Đại hội đồng. Tham dự có đại diện các quốc gia thành viên, quan sát viên, tổ chức quốc tế, tổ chức xã hội-nghề nghiệp.
Đoàn Việt Nam tham dự kỳ họp có Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO Lê Thị Hồng Vân, Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Trần Hải Vân và Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa đối ngoại và UNESCO (Bộ Ngoại giao) Đào Quyền Trưởng.
Phát biểu khai mạc Kỳ họp, ông Ernesto Ottone, Trợ lý Tổng Giám đốc UNESCO nhắc lại tuyên bố chung của các quốc gia thành viên tại Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa và phát triển bền vững (MONDIACULT) năm 2022, công nhận văn hóa là một loại hàng hóa công toàn cầu. Văn hóa và sáng tạo có nhiều đóng góp đáng ghi nhận đối với nền kinh tế toàn cầu.
Theo Báo cáo toàn cầu năm 2022 của Công ước, các ngành công nghiệp chiếm hơn 3,1% GDP toàn cầu và 6,2% tổng số việc làm. Đây là nền tảng để văn hóa được công nhận là động lực mạnh mẽ đối với phát triển bền vững và là mục tiêu cụ thể của Chương trình nghị sự năm 2030 về Phát triển bền vững.
Trợ lý Tổng Giám đốc UNESCO cũng nêu ra những thách thức mà ngành văn hóa và sáng tạo phải đối mặt, trong đó có sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và việc giải quyết những vấn đề liên quan sở hữu trí tuệ; kêu gọi các bên tham gia triển khai hành động cụ thể để phát triển hệ sinh thái văn hóa bao trùm và bền vững, tích cực thảo luận để đưa ra tầm nhìn chiến lược cho tương lai của Công ước.
Lễ kỷ niệm và chương trình nghệ thuật đặc biệt kỷ niệm 80 năm ra đời Đề cương về Văn hóa Việt Nam (1943-2023) với chủ đề “Đề cương về Văn hóa Việt Nam – Những dấu ấn lịch sử”. (Ảnh: Báo Nhân Dân).
Đại sứ, Trưởng Đại diện Phái đoàn Thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO Lê Thị Hồng Vân cho biết, các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương đánh giá cao sự tín nhiệm của cộng đồng quốc tế dành cho Việt Nam. Việc trúng cử Phó Chủ tịch Đại hội đồng Công ước về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa thể hiện uy tín, vị thế và trách nhiệm của Việt Nam trong việc tham gia, đóng góp tích cực vào các hoạt động của Công ước.
Đại sứ Lê Thị Hồng Vân cũng nhấn mạnh, văn hóa và sáng tạo là “nhịp tim” của xã hội, là động lực để phát triển bền vững, phục hồi và gắn kết xã hội. Việt Nam hiện đang triển khai các mục C4, C5 và Tuyên bố chung MONDIACULT và tiến tới lễ kỷ niệm 20 năm Công ước.
Theo đó, Việt Nam chú trọng bảo đảm quản lý Công ước, triển khai hiệu quả các ưu tiên chiến lược, trong đó có môi trường số, địa vị của nghệ sĩ, cũng như các ưu tiên toàn cầu mà cơ quan Liên hợp quốc này đang hướng tới, như bình đẳng giới và các quốc đảo nhỏ đang phát triển. Cùng với đó, Việt Nam cam kết chung tay với các quốc gia thành viên và các đối tác nhằm phát huy sức mạnh của văn hóa và sáng tạo vì sự tự cường và phát triển bền vững.
Phát hiện, sưu tầm, nghiên cứu, tổng kết tinh hoa văn hóa ở các dân tộc chính là khích lệ nhân dân các dân tộc vững tin vào sự đóng góp cho kho tàng chung của văn hóa Việt Nam. (Ảnh: Báo Nhân Dân).
Phát biểu tại kỳ họp, bà Trần Hải Vân, Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, đánh giá cao nỗ lực của Ban Thư ký trong việc triển khai các hoạt động của Công ước. Trước đó, ngày 15/5/2023, nhằm hưởng ứng các hoạt động thực thi Công ước, Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành Chương trình tổng thể về phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2023-2025 và đang trong quá trình dự thảo trình Quốc hội Việt Nam thông qua ngân sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về chấn hưng, phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam cho giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Các chương trình được xây dựng với mục tiêu ưu tiên đầu tư nguồn lực để phát triển văn hóa nghệ thuật thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Hát xoan Phú Thọ được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại năm 2011. (Ảnh: Báo Nhân Dân).
Là quốc gia thụ hưởng từ Quỹ quốc tế vì Đa dạng văn hóa IFCD của Công ước, Việt Nam cũng đã hoàn thành Dự án triển khai thí điểm bộ Chỉ số Văn hóa 2030 của UNESCO và đang lên kế hoạch xây dựng bộ chỉ số văn hóa quốc gia của Việt Nam để đưa vào hệ thống thống kê quốc gia, làm cơ sở cho việc thực thi và đề xuất các chính sách, biện pháp phát triển ngành văn hóa nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng.
Bên cạnh đó, các sáng kiến, hội nghị về bảo vệ quyền tự do sáng tạo của nghệ sĩ ghi nhận sự tham gia tích cực từ phía Việt Nam, trong đó phải kể tới Hội nghị cấp cao thế giới về văn hóa và nghệ thuật lần thứ 9 do Liên đoàn các hội đồng nghệ thuật và cơ quan văn hóa (IFACCA) phối hợp Hội đồng Nghệ thuật Thụy Điển tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) vào tháng 5 vừa qua.
Tại phiên làm việc về thực hiện Công ước trong môi trường số, Đoàn Việt Nam đã cung cấp thông tin về nỗ lực quốc gia về việc sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ, với một số điểm mới về quyền tự bảo vệ, trách nhiệm pháp lý về quyền tác giả, quyền liên quan đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, biện pháp công nghệ bảo vệ quyền, thúc đẩy hoạt động thực thi quyền trên môi trường số. Đây là một trong những quy định cần thiết nhằm bảo đảm quyền, sinh kế của những nhà sáng tạo và việc khai thác các sản phẩm văn hóa và sáng tạo một cách hợp pháp trên môi trường số.
Cũng trong chương trình làm việc, Việt Nam giới thiệu cuốn sách “Công ước UNESCO 2005 về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa và con đường phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam” của tác giả Nguyễn Phương Hòa được xuất bản tháng 5/2023. Ngoài thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển văn hóa số, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm tạo nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa sáng tạo. Trên tinh thần đó, Việt Nam kêu gọi thúc đẩy hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên, các đối tác liên quan trong thực hiện Công ước trong môi trường số.
Trình diễn Mẫu Thượng Ngàn trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ, được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại năm 2016. (Ảnh: Báo Nhân Dân).
Nhân dịp này, Ban Thư ký chúc mừng Công ước có thêm 3 quốc gia thành viên mới là Cabo Verde, Pakistan và Turkmenistan, nâng tổng số thành viên lên 152, chiếm 80% tổng số quốc gia thành viên UNESCO.
Ngoài ra, Kỳ họp lần thứ 9 Đại hội đồng Công ước 2005 cũng tập trung thảo luận một số nội dung khác, bao gồm thống nhất chu trình nộp báo cáo quốc gia định kỳ, sửa đổi quy chế làm việc, hướng dẫn sử dụng nguồn quỹ IFCD, khuyến khích các tổ chức và thiết chế văn hóa thúc đẩy khả năng tiếp cận sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa, hoạt động của Ủy ban liên chính phủ giai đoạn 2024-2025 và bầu cử 12 thành viên mới của Ủy ban liên chính phủ. | Cam kết quốc tế của Việt Nam hướng tới phát triển hệ sinh thái văn hóa bao trùm và bền vững | 1,586 | |
Tại Jakarta, ngày 9/6, Trung tâm Giảm thiểu Thảm họa Địa chất và Núi lửa Indonesia (PVMBG) cho biết núi lửa Anak Krakatau nằm ở eo biển Sunda, tỉnh Lampung, đã phun tro bụi cao 3.000m.
Cột khói bốc lên từ miệng núi lửa Anak Krakatau, nhìn từ đảo Rakata ở Nam Lampung, Indonesia. Ảnh tư liệu: AFP/TTXVN.
Người đứng đầu PVMBG, ông Hendra Gunawan cho hay núi lửa phun trào vào lúc 8h46 (giờ địa phương) song không gây tiếng động lớn. Cột tro bụi bốc lên cao tới 3.000m. Hoạt động phun trào được ghi lại trên địa chấn kế với biên độ tối đa là 50 mm và kéo dài 13 phút 22 giây. Tới 10h, núi lửa vẫn bốc khói dày đặc cao 50 – 300m.
Mức độ cảnh báo núi lửa Anak Krakatau đã được nâng lên cấp 3 trong thang cảnh báo 4 cấp độ của Indonesia, trong khi người dân được khuyến cáo tránh các hoạt động trong bán kính 5 km quanh miệng núi lửa.
Núi lửa Anak Krakatau từng gây ra một số cơn sóng thần trong lịch sử. Vào ngày 22/12/2018, núi lửa này đã phun trào mạnh, gây ra một vụ lở đất dưới nước, kéo theo sóng thần tấn công một số khu vực ven biển ở các tỉnh Banten và Lampung khiến 437 người thiệt mạng và hàng nghìn người bị thương. Ngày 26/4/2022, giới chức
Indonesia
cảnh báo khả năng hoạt động của ngọn núi lửa này gây ra sóng thần. Ngày 28/3 vừa qua, Anak Krakatoa cũng phun trào nhiều lần với cột tro bụi cao tới 2.500m. | Núi lửa Anak Krakatau ở Indonesia phun tro bụi cao 3.000m | 267 | |
Hệ thống hạ tầng đang được hoàn thiện với nhiều dự án giao thông trọng điểm đem lại cơ hội tăng trưởng bất động sản khu vực miền Tây. Ảnh minh họa.
6 tháng 2023, Hải Phòng là thành phố trực thuộc trung ương duy nhất lọt top 10 địa phương có dự báo tăng trưởng cao. 4 thành phố trực thuộc Trung ương còn lại dự báo có mức tăng trưởng khá khiêm tốn.
Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2023, cả nước có 59 tỉnh, thành phố ước đạt tăng trưởng dương và 4 tỉnh tăng trưởng âm; trong đó, với tốc độ tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm 2023 dự báo ước đạt 14,21%, tỉnh Hậu Giang tiếp tục khẳng định vị trí dẫn đầu khu vực vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vươn lên đứng đầu cả nước. Hai vị trí tiếp theo thuộc về Bắc Giang và thành phố Hải Phòng với mức tăng trưởng dự báo ước đạt lần lượt là 10,94% và 9,94%.
Nằm trong top 10 tỉnh, thành phố có mức dự báo tăng trưởng cao nhất 6 tháng đầu năm 2023 còn có Quảng Ninh, Cà Mau, Nam Định, Hưng Yên, Ninh Thuận, Khánh Hòa và Thái Bình.
Như vậy,
Hải Phòng
là thành phố trực thuộc trung ương duy nhất lọt top 10 địa phương có dự báo tăng trưởng cao trong 6 tháng đầu năm. 4 thành phố trực thuộc Trung ương còn lại dự báo có mức tăng trưởng khá khiêm tốn và chỉ xếp hạng mức trung bình cả nước.
Cụ thể, Hà Nội được dự báo tăng 5,97%, chỉ xếp thứ hạng 30/63 tỉnh, thành phố; Đà Nẵng 3,74%, xếp thứ 46; Cần Thơ 3,71%, xếp thứ 47 và thấp nhất là thành phố Hồ Chí Minh 3,55%, xếp thứ 48.
Ngược lại, 10 địa phương có dự báo tăng trưởng thấp nhất là Bắc Ninh giảm 12,59%; Quảng Nam giảm 9,16%; Lai Châu giảm 6,32%; Bà Rịa – Vũng Tàu giảm 3,47%; Vĩnh Long chỉ đạt 0,44%; Hòa Bình đạt 0,73%; Hà Giang đạt 1,18%; Vĩnh Phúc đạt 1,69%; Sóc Trăng đạt 1,83% và Sơn La đạt 2,1%.
Tổng cục Thống kê cho biết, với mức tăng trưởng của Hậu Giang là do kết thúc năm 2022, Hậu Giang đạt mức tăng trưởng ngoạn mục 13,94%, đứng đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và vươn lên thứ 4 của nước (tăng 35 bậc so với năm 2021), với quan điểm tập trung phát triển 4 trụ cột quan trọng là công nghiệp – nông nghiệp – du lịch và đô thị, kinh tế Hậu Giang những tháng đầu năm 2023 tiếp tục khởi sắc, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế của tỉnh Hậu Giang đều có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ.
Trong quý I/2023, mặc dù, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh không đạt được mức tăng như cùng kỳ năm trước, song vẫn đạt con số khá chú ý với mức tăng 13,05%.
Dự án sau khi đưa vào khai thác sẽ giúp kết nối các đoạn Quốc lộ 1A đã hoàn thành nâng cấp từ Sóc Trăng đến Cần Thơ được liền mạch và giảm tải trên con đường độc đạo này. Ảnh: Quang Toàn/BNEWS/TTXVN.
Cùng với sự hồi phục của thị trường tiêu thụ trong nước, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tỉnh Hậu Giang tiếp tục tăng trong hai tháng 4 và 5 lần lượt là 14,47% và 13,91% so cùng kỳ; góp phần đưa chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm tăng 13,92% so với cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn ngành công nghiệp, tăng 8,34% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 270,92%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,92%.
Cũng trong 5 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện trên địa bàn tỉnh Hậu Giang ước đạt 8,81 nghìn tỷ đồng, tăng 9,03% so cùng kỳ năm trước. Đóng góp trong sự tăng trưởng mạnh mẽ của Hậu Giang trong những tháng đầu năm còn có đà tăng trưởng ổn định của tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành, nhờ sự phát triển nhanh của thị trường các nhóm hàng bán buôn, bán lẻ cùng nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Tính chung 5 tháng đầu năm, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tỉnh Hậu Giang ước thực hiện được 23,32 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3%.
Tuy nhiên, theo Tổng cục Thống kê, bên cạnh những địa phương có mức tăng trưởng cao, Bắc Ninh lại là địa phương có mức tăng trưởng âm do sự sụt giảm sâu của khu vực công nghiệp.
Kinh tế của Bắc Ninh được dự báo tăng trưởng giảm mạnh nhất cả nước trong 6 tháng đầu năm 2023 là do sự sụt giảm sâu của khu vực công nghiệp, đặc biệt ở một số ngành chủ lực trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo.
Nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu tiêu dùng quốc tế suy yếu bởi một số quốc gia rơi vào tình trạng suy thoái, lạm phát, từ đó ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp, nhất là xuất khẩu sản phẩm.
Không những thế, nhiều doanh nghiệp của Bắc Ninh bị cắt giảm đơn hàng hoặc đơn hàng lẻ tẻ nên buộc phải thu hẹp quy mô sản xuất, buộc người lao động phải nghỉ việc hoặc giảm giờ làm, thậm chí là giải thể. Cùng với đó, khu vực FDI vốn là động lực kinh tế của Bắc Ninh cũng đang gặp phải nhiều vấn đề cần tháo gỡ.
Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, tính chung 5 tháng đầu năm 2023, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp giảm tới 19,02% so với cùng kỳ năm trước và đây cũng là mức giảm nhiều nhất trong 5 năm trở lại đây.
Bên cạnh đó, mặc dù, trong những tháng đầu năm tỉnh Bắc Ninh đã có nhiều nỗ lực trong việc giải ngân vốn đầu tư công, tuy nhiên vẫn chưa đạt được những kết quả như mong muốn. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước lũy kế 5 tháng đầu năm 2023 giảm 10,2% so với cùng kỳ năm trước./. | Có 59 tỉnh, thành phố ước đạt tăng trưởng dương trong 6 tháng đầu năm | 1,114 | |
Sáng 9/6, tại Phủ Chủ tịch,
Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng
tiếp bà Marinela Petkova, Đại sứ Bulgaria, đến chào từ biệt kết thúc nhiệm kỳ tại Việt Nam.
Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tiếp Đại sứ Cộng hòa Bulgaria tại Việt Nam Marinela Petkova đến chào từ biệt, kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN.
Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng chúc mừng Đại sứ Bulgaria hoàn thành xuất sắc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam với nhiều đóng góp quan trọng trong phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống và tăng cường hợp tác nhiều mặt giữa hai nước.
Đại sứ Marinela Petkova trân trọng cảm ơn Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dành thời gian tiếp; cảm ơn các cơ quan chức năng của Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi để Đại sứ hoàn thành tốt nhiệm vụ trong nhiệm kỳ vừa qua; khẳng định, Bulgaria luôn coi trọng mối quan hệ hữu nghị truyền thống với Việt Nam và mong muốn thúc đẩy hợp tác nhiều mặt với Việt Nam. Đại sứ cho biết, trong nhiệm kỳ công tác đã dành thời gian tìm hiểu và cảm nhận được nhiều điều tốt đẹp về đất nước, con người Việt Nam, qua đó mở ra các cơ hội hợp tác hai nước.
Nhắc lại chuyến thăm Bulgaria của Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân năm 2021, Đại sứ cho rằng, chuyến thăm thể hiện lãnh đạo cấp cao hai nước luôn mong muốn thắt chặt và thúc đẩy quan hệ song phương. Kể từ khi dịch COVID-19 dần được kiểm soát, hoạt động thương mại hai nước phục hồi mạnh mẽ. Nhân dịp này, Đại sứ gửi tới Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng lời mời thăm Bulgaria của Tổng thống Bulgaria. Đại sứ bày tỏ, sắp tới dù trên cương vị nào cũng sẽ luôn vun đắp, thúc đẩy mối quan hệ hai nước.
Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tiếp Đại sứ Cộng hòa Bulgaria tại Việt Nam Marinela Petkova đến chào từ biệt, kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN.
Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cảm ơn Tổng thống Bulgaria gửi lời mời; đồng thời qua Đại sứ, Chủ tịch nước gửi lời mời Tổng thống Bulgaria sớm thăm Việt Nam. Với nền tảng quan hệ truyền thống hữu nghị, gắn bó lâu đời, Chủ tịch nước bày tỏ tin tưởng mối quan hệ Việt Nam – Bulgaria sẽ phát triển tốt đẹp hơn nữa trong tương lai. Chủ tịch nước đề nghị, thời gian tới, hai nước tăng cường các hoạt động tiếp xúc cấp cao và các cấp, làm cơ sở thúc đẩy hợp tác trong mọi lĩnh vực.
Đánh giá, quan hệ thương mại song phương thời gian qua tăng trưởng mạnh mẽ, tuy nhiên Chủ tịch nước cho rằng, kết quả chưa tương xứng với tiềm năng và mong muốn của hai nước. Chủ tịch nước đề nghị hai bên sớm tiến hành Khóa họp lần thứ 24 của Ủy ban liên Chính phủ
Việt Nam
–
Bulgaria
về hợp tác kinh tế, thương mại và khoa học trong năm 2023; đề nghị Bulgaria sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA), tạo điều kiện cho cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư EU, Bulgaria và Việt Nam tham gia tích cực hơn vào thị trường của nhau. Hai bên cần tiếp tục hợp tác, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế.
Đánh giá cao Bulgaria tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam sinh sống, học tập, làm việc tại Bulgaria, Chủ tịch nước đề nghị hai bên đẩy mạnh giao lưu nhân dân; đặc biệt là xúc tiến mạnh mẽ hơn nữa các hoạt động hợp tác về du lịch để ngày càng có thêm nhiều du khách Bulgaria tới thăm đất nước Việt Nam tươi đẹp. Nhân dịp này, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cảm ơn Bulgaria trong nhiều năm qua đã giúp Việt Nam đào tạo nhiều cán bộ có trình độ cao, qua đó góp phần tích cực thắt chặt quan hệ hai nước. | Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tiếp Đại sứ Bulgaria | 697 | |
M
ột cuốn sách là một khẩu súng đã nạp đạn trong căn nhà bên cạnh. Đốt nó đi. Tước phát đạn khỏi khẩu súng kia đi. Xé toạc tâm trí con người đi. Ai biết được kẻ nào có thể là đích ngắm của người đọc rộng? Tôi ư? Tôi không nuốt nổi bọn đó dù chỉ một phút
”. Nhân vật Beatty, đội trưởng đội lính phóng hỏa trong tiểu thuyết
451 độ F
của nhà văn Mỹ Ray Bradbury (Dick Trương dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 2022) đã tuyên bố hùng hồn như thế. Tuyên bố ấy cũng chính là sự cắt nghĩa cho án tử bằng lửa mà những cuốn sách đã, đang, và sẽ còn phải hứng chịu trong cái thế giới giả tưởng do Ray Bradbury dựng lên từ năm 1953. Không chỉ những cuốn sách, mà cả những kẻ đọc sách, những kẻ chứa chấp sách, những kẻ cố tình giấu sách trong nhà, đều đáng phải bị đốt cháy thành tro.
Thời gian để các sự kiện trong
451 độ F
xảy ra là quãng sau năm 2035, và là lúc đang có chiến tranh: “
Lạy Chúa lòng lành”, Montag nói.
“Cứ mỗi giờ lại có hàng bao nhiêu thứ khốn nạn giữa trời. Làm thế nào mà mấy cái máy bay (ném bom) đó cứ bay lên trên kia hàng giây trong cuộc đời chúng ta vậy? Sao không ai muốn nói về chuyện đó vậy? Chúng ta đã khởi chiến và đã thắng hai cuộc chiến tranh nguyên tử từ năm 2035 kia mà
”. Tuy nhiên chiến tranh lại là thứ chỉ được nhắc đến chứ không hiện diện trong tiểu thuyết. Cái hiện diện thực sự, hiện diện bề bộn và gây choáng ngợp choáng váng, khiến căng tai nhức mắt, chính là một đời sống dân sự rất giống, giống phát rùng mình, với đời sống dân sự mà chúng ta đang sống, bởi sự lệ thuộc của con người vào các loại hình giải trí, quảng cáo, truyền thông và công nghệ. Một gia đình bình thường, mang tính phổ biến trong đời sống dân sự ấy, như gia đình của nhân vật anh lính phóng hỏa Guy Montag chẳng hạn, không phải là một căn nhà, nơi các thành viên trong gia đình có thể chung sống, sinh hoạt với nhau, nói năng với nhau, thể hiện tình cảm với nhau theo cách họ muốn. Mà trong những căn nhà ấy, ngoài gia đình chủ nhân, luôn có sự hiện diện của những người khác, rất nhiều người khác: họ ở trên những màn hình tivi mang chức năng là những bức tường kiến tạo không gian cho phòng khách. Họ là những diễn viên, những biên tập viên, những nhà sản xuất chương trình truyền hình. Họ ca hát, diễn kịch, kể chuyện, hỏi và trả lời và tranh luận suốt ngày, không chỉ với nhau, mà cả với chính những khán giả/ chủ nhà, qua một cơ chế tương tác trực tiếp. Một thứ tình cảm thân ái và gắn bó đã được thiết lập giữa những khán giả/ chủ nhà với những người trên tivi. Thân ái và gắn bó như giữa những “người nhà”, thậm chí còn hơn cả với những người nhà thực sự. Thân ái và gắn bó đến mức người ta – như Mildred, vợ của Montag và các bà hàng xóm của cô – cả ngày chỉ sống với các bức tường tivi, vui buồn cùng với câu chuyện của những “người nhà” trên tivi và không quan tâm đến đời sống ngoài tivi đang thực sự xảy ra những gì.
Đó là ở trong nhà, không gian riêng tư. Còn ở ngoài nhà, trong các không gian công cộng, tình hình cũng không khác là mấy nếu xét ở phương diện con người bị truyền thông và quảng cáo vây bủa, lan thấm, ăn mòn, đến mức trở thành máy móc hóa và ngu muội hóa. Đoạn văn mang phong cách cực kỳ lộn xộn và đầy những lặp lại, kể chuyện Montag đi xe điện ngầm tìm đến nhà ông giáo sư văn chương Faber, là một cực tả về cái hiện thực này: Montag đang đọc cuốn Kinh Thánh trên tay, với tâm trạng “
nếu mình đọc nhanh và đọc tất cả thì rồi một ít cát sẽ còn lại trên sàng
”, nhưng lại bị tiếng loa quảng cáo kem đánh răng Denham liên tục quấy nhiễu. Anh bị kích động và trở nên điên khùng, khiến cho các hành khách trong cái toa tàu om xòm nọ phải kinh hoàng. Hành khách: “
Những người mới một giây trước hãy còn ngồi, nhịp nhịp ngón chân theo nhịp Kem đánh răng Denham tuyệt hảo, Thuốc tẩy răng Denham tuyệt hảo, Kem đánh răng Denham tuyệt hảo tuyệt hảo tuyệt hảo tuyệt hảo, một hai, một hai ba, một hai, một hai ba. Những người mà cái miệng đang khẽ uốn theo các từ Denham tuyệt hảo Denham tuyệt hảo Denham tuyệt hảo
”. Còn Montag: “
Đài phát thanh của con tàu mửa vào Montag, để trả đũa, hàng tấn nhạc làm bằng thiếc, đồng đỏ, bạc, crôm, đồng thau. Người ta bị đập cho tơi bời buộc phải đầu hàng; họ không chạy, không có chỗ nào để chạy; con tàu chân không vĩ đại rơi thông thốc xuống đường hầm dành cho nó trong lòng đất
”.
Tất cả những việc này và các việc tương tự đã xảy ra trong
451 độ F
, xét cho cùng, là xảy ra trong một cái thế giới mà người ta không muốn phải nghĩ, người ta ghét phải nghĩ, và người ta tìm mọi cách để mọi người có được sự tiện lợi tối đa mà hưởng thụ cuộc sống hạnh phúc do không-nghĩ. Cái sự không-nghĩ này vừa góp phần vun đắp lại vừa là một trong những trái quả ngọt của một guồng máy sản xuất và tiêu thụ vĩ đại nhưng điên cuồng. Mọi thứ đều sản xuất hàng loạt. Mọi quy trình đều dồn dập dồn dập, không thừa ra dù chỉ một kẽ trống. Mọi nhu cầu về thông tin và sự hưởng thụ văn hóa của con người đều được đáp ứng, nhanh và liên tục đến mức đủ để người ta chỉ tiếp nhận mà chẳng kịp nghĩ gì. Beatty, đội trưởng đội lính phóng hỏa, trong khi theo dõi và truy xét Montag, chính là người đã khai mở cho anh về cách mà thế giới này vận hành: “
Cho tâm trí con người ta xoay tít mù dưới đôi tay bơm của các nhà xuất bản, hãng khai thác chương trình, các hãng tin, xoay nhanh đến nỗi lực ly tâm làm cho mọi thứ tư duy không cần thiết, phí thì giờ đều bắn ra ngoài
”, “
Đời là thứ ngay trước mắt, việc làm là quan trọng, sau giờ làm thì thú vui đâu cũng có. Sao còn phải học cái gì khác ngoại trừ bấm nút, vặn công tắc, xiết ốc với bù loong?
”, “
Trường học càng cho ra nhiều người chỉ biết chạy, chỉ biết nhảy, chỉ biết giằng, chỉ biết giật, chỉ biết lượn, chỉ biết bơi thay vì người biết tra xét, người phê phán, người hiểu biết, người tưởng tượng sáng tạo, thì dĩ nhiên từ “trí thức” càng trở thành tiếng chửi thề vì nó đáng như vậy
”… Và đây nữa, Beatty nói, như một chỉ dẫn tuyệt vời về phép thao túng và quản trị tinh thần xã hội: “
Hãy nhồi đầy đầu họ những dữ liệu không bắt cháy, hãy tọng cho họ đầy ứ “sự kiện” đến nỗi họ thấy tức thở nhưng tuyệt đối “sáng láng” nhờ có thông tin. Rồi thì họ sẽ cảm thấy mình đang suy nghĩ, họ sẽ có cảm giác mình đang chuyển động trong khi không chuyển động. Và họ sẽ vui vẻ hạnh phúc, bởi vì những sự kiện thuộc loại đó không thay đổi. Đừng cho họ bất cứ thứ gì khó nắm bắt như triết học hay xã hội học để cho họ cột các thứ vào nhau. Làm vậy thì chỉ có phiền não thôi
”.
Trong một thế giới mà người ta tìm kiếm hạnh phúc bằng việc không-nghĩ như vậy, sách (và những kẻ chứa chấp sách) đương nhiên phải là đối tượng của sự truy lùng để tận diệt. Bởi sách là thứ quá nguy hiểm, nhất là những cuốn sách tốt: chúng kích thích, vẫy gọi người đọc nghĩ, thậm chí chúng tra vấn và bắt người đọc phải nghĩ. Và như thế, nói theo lời rao giảng của Beatty với Montag, “
chúng làm cho mọi người đâm ra bất hạnh với những lý thuyết và tư duy mâu thuẫn
”. Trên cơ sở ấy, ở cái thế giới giả tưởng kỳ quặc của “
451 độ F
”, lính cứu hỏa đã bị lính phóng hỏa thay thế, nước để dập lửa đã bị biến thành dầu để lửa bốc cháy dữ dội hơn. Ngoài ra, lính phóng hỏa còn có trợ thủ đắc lực là những con Chó Máy dữ tợn chuyên đánh hơi ra nơi chứa sách, và thêm nữa, một cơ chế theo dõi, tố giác lẫn nhau rất chặt chẽ được hình thành trong chính cộng đồng cư dân. Đốt sách, khai tử những cuốn sách bằng lửa, điều đó đã từng xảy ra nhiều lần trong thực tế lịch sử, dưới thời của những độc tài, bạo chúa như Tần Thủy Hoàng đế hay Adolf Hitler. Trong những trường hợp ấy, như triết gia Umberto Eco từng nhận định: ra lệnh đốt sách – đốt những cuốn sách mang nội dung tư tưởng chống đối hoặc có thể gây nguy hại cho quyền lực thống trị – là một hành vi mang tính tượng trưng, là cách để kẻ độc tài được thỏa mãn cái cảm giác mình là đấng Tạo hóa. Còn trong trường hợp này, đốt sách và đốt người lưu giữ sách nhân danh hạnh phúc của một nhân loại không-nghĩ, không gì khác, đó chính là cách ngu muội hóa con người để thứ quyền lực phổ quát của chủ nghĩa tiêu thụ và văn hóa giải trí bề mặt vươn lên, ngự ngôi thượng đẳng. Đồng thời, đó cũng là hành vi đánh dấu ngày tàn của nền văn minh, một ngày tàn đã bắt rễ từ trong lịch sử hình thành và phát triển lâu dài của chính nền văn minh.
Trong bầu khí quyển ngột ngạt căng thẳng bởi sự trấn áp khắc nghiệt như vậy, anh lính phóng hỏa Guy Montag đã xuất hiện, có thể nói, như một kẻ nổi loạn, một kẻ đấu tranh chống lại thứ trật tự đã được thiết lập vững chắc. Không ai nói cho chúng ta biết bằng cách nào Montag lại trở thành lính phóng hỏa, và bằng cách nào một lính phóng hỏa như anh, thay vì đốt tất tần tật những cuốn sách truy tìm được, lại giữ cho mình một ít, giấu đi và đọc trộm. Nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng Montag đã được sách khai minh. Thoạt tiên là sự hoài nghi của Montag trước cái hạnh phúc được sống trong một thế giới không-nghĩ. Anh thổ lộ với ông giáo sư văn chương Faber: “
Chúng ta có tất cả những gì chúng ta cần để hạnh phúc, nhưng chúng ta không hạnh phúc. Có cái gì đó thiếu. Tôi nhìn quanh. Thứ duy nhất tôi biết chắc rằng đã mất đi là những cuốn sách tôi đốt trong mười, mười hai năm qua. Nên tôi nghĩ là sách giúp được tôi
”. Rồi, với sự trợ giúp của ông giáo sư văn chương Faber – kẻ đã bị gạt ra bên lề thế giới từ bốn mươi năm trước, chỉ vì sách – Montag đã thực sự dấn thân vào cuộc chiến tranh của mình, theo cấp độ tăng dần, mà đỉnh điểm là việc anh quay vòi lửa đốt chết Beatty, lý thuyết gia của việc nhất thiết phải phóng hỏa đốt sách để bảo vệ cho sự an toàn của những con người không-sách và niềm hạnh phúc của một thế giới không-nghĩ. Ở đây, người đọc hoàn toàn có thể tự cho phép mình hình dung, ước lượng sức mạnh khai minh của sách, của tri thức và của sự nghĩ/ tư duy nói chung. Nó lật nhào thành trì của những định kiến ngu muội. Nó rọi ánh sáng vào bóng tối dày đặc. Nó khiến người ta thấy rằng nhất thiết phải hành động để mọi sự trở nên khác đi, cho dẫu cái khác ấy nhiều khi đòi hỏi trả giá bằng cả tính mạng. Ray Bradbury đã viết
451 độ F
theo tinh thần như thế. Về sau này, khi Bernhard Schlink viết
Người đọc
, Đới Tư Kiệt viết
Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa
– những cuốn sách tuyệt vời về những cuốn sách – cũng đều viết theo tinh thần như thế. Các tiểu thuyết của Bernhard Schlink và Đới Tư Kiệt, giống như
451 độ F
, đều đã được dựng thành phim điện ảnh, với vai nữ chính là những diễn viên thượng thặng: Kate Winslet trong
Người đọc
và Châu Tấn trong
Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa
.
Trở lại với tiểu thuyết
451 độ F
của Ray Bradbury. Sau khi đốt chết đội trưởng Beatty, lính phóng hỏa Guy Montag trốn chạy vào những vùng đất đã bị thế giới này bỏ quên. Nơi ấy không có giải trí, không có quảng cáo, không có truyền thông và công nghệ. Nơi ấy chỉ có những con người như anh, kẻ nằm ngoài vòng pháp luật. Những người mà anh gặp, họ không có sách trong hành lý, nhưng họ có sách trong bộ nhớ của mình, và họ chính là những cuốn sách, là những người viết sách mà thân xác đã tan vào cát bụi: Plato, Marcus Aurelius, Jonathan Swift, Charles Darwin, Schopenhauer, Einstein. Albert Schweitzer, Aristophanes và Mahatma Gandhi và Thomas Love Peacock và Thomas Jefferson và Lincoln… Ở những vùng đất bị thế giới này bỏ quên ấy, họ sống chui lủi nhưng vẫn cố gắng kết nối với nhau để trao truyền những trang sách nằm trong bộ nhớ, với hy vọng mong manh rằng đến một lúc nào đó chúng sẽ được in ra, như một điều quan trọng đáng làm. Cái nỗ lực kiên định ấy buộc chúng ta phải nhớ đến một câu tuyệt vời của văn hào Ernest Hemingway, rằng con người có thể bị tiêu diệt nhưng không thể bị khuất phục. Trong trường hợp này, cái nỗ lực kiên định ấy chính là nỗ lực chống đỡ sự lụi tàn của nền văn minh nhân loại, nỗ lực bảo vệ phẩm tính người trước sức mạnh đàn áp của nền đại sản xuất và công nghệ phi nhân tính.
451 độ Fahrenheit là nhiệt độ để giấy bắt lửa, nhiệt độ để những cuốn sách bốc cháy. Những cuốn sách bốc cháy, đó rất có thể là một trong những biểu tượng đầy ám ảnh trong lịch sử văn hóa thế giới. Nó là một gợi ý để Ray Bradbury làm thành kiệt tác của mình, liên tục trong vòng chín ngày, dưới tầng hầm của một thư viện ở Los Angeles, bằng một cái máy đánh chữ mà ông thuê với cả thảy 9,8 đô la. Ray Bradbury từng viết trong lời dẫn nhập cho lần tái bản năm 2003 của tác phẩm: “
Điều kỳ tuyệt là hãy cứ dấn tới, để rồi xem nỗi đam mê của ta làm phát lộ được cái gì
”. Trên thực tế, cuốn tiểu thuyết của Ray Bradbury đã phát lộ được một điều vĩ đại: rằng tương lai của văn minh nhân loại đầy bất định và vô cùng mong manh; đánh mất sự tự ý thức và khả năng tự kiểm soát, nền văn minh có thể sẽ bước vào những ngày tàn bởi chính những thành tựu do nó tạo ra. Câu chuyện những cuốn sách bị phóng hỏa chỉ là một trong muôn khả thể. | Tiên tri về ngày tàn của nền văn minh – Tác giả: Hoài Nam | 2,698 | |
Kỷ niệm 75 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, ngày 9/6, tại
Hà Nội
, Bảo tàng Lịch sử quốc gia khai mạc trưng bày chuyên đề ‘Thi đua ái quốc – Ươm những mầm xanh’ .
Bảo tàng Lịch sử quốc gia trao giấy chứng nhận cho Anh hùng lao động, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đức Thìn.
Với hơn 200 tài liệu, hiện vật được trưng bày giới thiệu gồm 3 phần: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào Thi đua ái quốc”; “Thi đua là yêu nước – Yêu nước thì phải thi đua”; “Khát vọng tuổi trẻ – Ươm những mầm xanh”.
“Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào Thi đua ái quốc” giới thiệu một số hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự các đại hội thi đua yêu nước; đại hội các cấp, ngành; sự quan tâm, động viên, khích lệ của Bác đối với các tập thể, cá nhân có thành tích trong phong trào thi đua ái quốc; sưu tập các văn bản, thư, bút tích… của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân phong trào thi đua ái quốc; hình ảnh, nội dung 10 đại hội thi đua yêu nước.
“Thi đua là yêu nước – Yêu nước thì phải thi đua” trưng bày giới thiệu nhóm hình ảnh, tài liệu về các phong trào thi đua yêu nước nổi bật ở 3 miền Bắc – Trung – Nam; sưu tập hiện vật của các đơn vị anh hùng, cá nhân anh hùng, chiến sĩ thi đua qua hai cuộc kháng chiến và thời kỳ đổi mới; một số hình ảnh nổi bật của các địa phương thực hiện tốt các phong trào thi đua yêu nước.
Không gian triển lãm.
“Khát vọng tuổi trẻ – Ươm những mầm xanh” giới thiệu nhóm hình ảnh về các thanh, thiếu niên trên cả nước, từ biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa, đến thành phố có những đóng góp tích cực trong phong trào thi đua yêu nước; một số hình ảnh, hiện vật của nhóm Sài Gòn Xanh (TP. Hồ Chí Minh) với phong trào bảo vệ môi trường; nhóm hình ảnh, hiện vật – đồ dùng, giáo cụ trực quan sinh động trong dạy và học, sản phẩm sáng tạo của học sinh, giáo viên (Trường THCS Trưng Vương, Hà Nội) được làm từ những vật dụng tái chế; phim về Bác Hồ với phong trào thi đua yêu nước; hình ảnh, clip ghi hình hoạt động các phong trào thi đua yêu nước của tuổi trẻ.
Đặc biệt ở phần 3, Bảo tàng Lịch sử quốc gia dành một không gian trải nghiệm “Ươm những mầm xanh” cho khách tham quan trải nghiệm làm các vật dụng, đồ dùng bằng sản phẩm tái chế và trồng cây.
Triển lãm góp phần khẳng định vị trí, vai trò và tác dụng của phong trào thi đua yêu nước trong các giai đoạn cách mạng Việt Nam. Đồng thời, là minh chứng những tấm gương sống động, thể hiện tinh thần, mỗi công việc hằng ngày chính là nền tảng của thi đua, đúng như tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ đó, khơi dậy tinh thần thi đua trong mỗi con người Việt Nam, góp phần dựng xây Tổ quốc, ươm những mầm xanh vì sự nghiệp phát triển đất nước ngày càng văn minh, giàu mạnh.
Dịp này, Bảo tàng Lịch sử quốc gia tiếp nhận một số hiện vật đặc biệt, như “Máy ảnh và bản thảo sách viết về phong trào thi đua nghìn việc tốt” của Anh hùng lao động, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đức Thìn; hay “Bộ đồ tập thể thao” gắn với thành tích ở SEA Games 32 của VĐV điền kinh Nguyễn Thị Oanh. Những hiện vật này được trưng bày trong phần 3 “Khát vọng tuổi trẻ – Ươm những mầm xanh” là nét mới so với trưng bày về chủ đề “Thi đua ái quốc” của các năm trước.
Trưng bày kéo dài đến hết ngày 9/8/2023.
Tin, ảnh; HP | ‘Thi đua ái quốc – Ươm những mầm xanh’ | 692 | |
Ngày càng có nhiều người leo núi phải bỏ mạng hoặc mất tích ở độ cao băng giá. Số khác bị tê cóng hoặc nhiễm trùng do phù phổi, tình trạng suy hô hấp khi ứ quá nhiều dịch trong phổi.
Các nhà leo núi trên đường chinh phục đỉnh Everest. (Ảnh: iStock).
Chinh phục đỉnh Everest ở
Nepal
luôn là một thách thức nguy hiểm. Tuy nhiên, các yếu tố thời tiết cực đoan, vấn đề mất an toàn, sự thiếu kinh nghiệm và “nóng vội” của những người leo núi khiến năm 2023 trở thành một trong những mùa leo núi nguy hiểm nhất.
Mặc dù mới qua nửa năm 2023, nhưng những tuyến đường chinh phục đỉnh Everest đã chứng kiến 12 nhà leo núi tử vong và 5 người bị thương. Trong số này có 10 người nước ngoài-con số cao nhất ghi nhận trong lịch sử, cùng 7 người bản địa Nepal dẫn đường, làm việc trên núi.
Mingma Gyalje Sherpa, một thành viên của Imagine Nepal Trek and Expedition, công ty chuyên tổ chức các tour leo núi Everest, cho biết tình hình mùa leo núi năm nay khá tồi tệ. Nguyên nhân chính do thời tiết lạnh quá khắc nghiệt, cũng như sự bất cẩn của những người leo núi.
Mingma cho biết năm nay là mùa lạnh nhất anh từng trải nghiệm khi nhiệt độ có thời điểm hạ xuống âm 40 độ C, thấp hơn nhiều so với mức trung bình âm 28 độ C. Một số người cho rằng biến đổi khí hậu đã kéo theo nhiều kiểu thời tiết và nhiệt độ cực đoan.
Ngày càng có nhiều người leo núi phải bỏ mạng hoặc mất tích ở độ cao băng giá. Số khác bị tê cóng hoặc nhiễm trùng do phù phổi, tình trạng suy hô hấp khi ứ quá nhiều dịch trong phổi.
Nhiều ý kiến nhận định nhiều nhà leo núi nước ngoài thiếu sự chuẩn bị cả về thể chất và tinh thần trước khi tham gia hành trình khắc nghiệt này.
Mingma cho biết thời tiết băng giá cùng gió lạnh ảnh hưởng đến việc chuyển hàng tiếp tế đến các điểm dừng chân khá cao trên núi, song nhiều du khách mất kiên nhẫn và kiên quyết tiếp tục hành trình.
Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch leo núi đã tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty, gây lo ngại về tình trạng cắt giảm các tiêu chí an toàn.
Ông Lukas Furtenbach, lãnh đạo công ty Furtenbach Adventures có trụ sở tại Áo, cho rằng hầu hết các trường hợp tử vong có thể tránh được nếu du khách tuân thủ tiêu chuẩn an toàn bắt buộc, đặc biệt là tiêu chuẩn an toàn và vận chuyển oxy.
Ngoài ra, vấn đề người dẫn đường địa phương cũng là một yếu tố đáng kể. Lực lượng này được coi là trụ cột của hoạt động leo núi và luôn thường trực hiểm nguy trong quá trình vận chuyển thiết bị, đồ ăn, sửa dây leo và sửa thang leo núi.
Nhu cầu cứu hộ trên
đỉnh Everest
tăng cao đồng nghĩa cần thêm nhiều nhân viên hơn. Song người Sherpa bản địa dường như đã kiệt quệ cả về thể chất và tinh thần, một số người bỏ việc và điều này càng tạo áp lực đối với những người còn lại.
Nhìn lại lịch sử, 16 người dẫn đường Nepal đã thiệt mạng trong một trận lở tuyết năm 2014, buộc các nhà chức trách ban hành lệnh cấm leo núi sau đó.
Năm 2015, một trận động đất kinh hoàng đã cướp đi sinh mạng của 18 người leo núi cùng gần 9.000 người tại Nepal. Ước tính khoảng 5 nhà leo núi thiệt mạng mỗi năm do thiếu ôxy trên hành trình chạm tới
đỉnh Everest
./. | Cảnh báo mùa nguy hiểm khi chinh phục đỉnh núi Everest | 638 | |
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: Khen thưởng chính xác, kịp thời có tác dụng động viên, giáo dục và nêu gương, đồng thời cổ vũ thi đua phát triển lên tầm cao mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại biểu dự Đại hội Chiến sỹ thi đua và Cán bộ gương mẫu toàn quốc tại Việt Bắc (1-6/5/1952). (Ảnh: TTXVN).
Ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc nhân kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến toàn quốc và cũng nhằm hiệu triệu nhân dân hưởng ứng phong trào thi đua ái quốc do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương phát động ngày 27/3/1948.
Lời kêu gọi Thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành động lực để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nỗ lực tham gia sự nghiệp cách mạng của dân tộc trước đây, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.
Để tiếp tục phát huy ý nghĩa, giá trị lịch sử của Lời kêu gọi Thi đua ái quốc và sức mạnh của các phong trào Thi đua ái quốc, ngày 4/3/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định lấy ngày 11/6 hằng năm là Ngày truyền thống Thi đua yêu nước.
Lời kêu gọi Thi đua ái quốc của Bác Hồ đã cổ vũ, động viên đồng bào và chiến sỹ cả nước hăng say lao động, sản xuất để “chống giặc đói,” xóa nạn mù chữ để “chống giặc dốt,” dũng cảm chiến đấu để “diệt giặc ngoại xâm.” Nhiều phong trào thi đua đã phát triển rộng khắp, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp như “Tuần lễ vàng;” “Bình dân học vụ”….
Sau khi miền Bắc được giải phóng vào năm 1954, các phong trào thi đua tập trung thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Ở miền Nam là các phong trào “Một tấc không đi, một ly không rời,” “Dũng sỹ diệt Mỹ.” Ở miền Bắc là các phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai người vì miền Nam ruột thịt,” “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược,” “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người,” “Gió Đại Phong,” “Sóng Duyên Hải,” “Thanh niên ba sẵn sàng,” “Phụ nữ ba đảm đang”… Các phong trào thi đua đã góp phần to lớn vào thành công của công cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Từ tháng 4/1975, đất nước hòa bình, thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã có các phong trào thi đua “Tất cả vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân,” “Tất cả vì hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,” “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa,” “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới,” “Đền ơn đáp nghĩa,” “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc,” phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau.” Các phong trào thi đua yêu nước đã góp phần đáng ghi nhận vào việc thực hiện thành công những mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Thi đua và khen thưởng có mối quan hệ khăng khít với nhau. Thi đua là cơ sở của việc khen thưởng, khen thưởng là kết quả của công tác thi đua. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch. Khen thưởng chính xác, kịp thời có tác dụng động viên, giáo dục và nêu gương, đồng thời cổ vũ thi đua phát triển lên tầm cao mới. Một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền.
Chỉ thị 34/CT-TW ngày 7/4/2014 của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng” đã chỉ rõ: “Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa tiêu cực trong công tác thi đua, khen thưởng, tránh tình trạng khen thưởng tràn lan, không thực chất.”
Ngày 10/12/2020, phát biểu tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Phải quan tâm và cụ thể bằng các quy định về khen thưởng qua việc phát hiện các điển hình, nhân tố mới, khen thưởng những người trực tiếp lao động, sản xuất, khen thưởng theo chuyên đề. Tăng cường phát hiện các điển hình tiên tiến, động viên, khen thưởng kịp thời.
Cũng tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X, Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương, nêu rõ: Trong giai đoạn 2016-2020 phong trào Thi đua yêu nước và công tác khen thưởng đã có nhiều đổi mới, sáng tạo và hiệu quả, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ các phong trào thi đua yêu nước đã xuất hiện ngày càng nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu xuất sắc, điển hình tiến tiến. Công tác khen thưởng bảo đảm chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch, hướng về cơ sở; quan tâm khen thưởng đối với tập thể nhỏ, tập thể, cá nhân ở vùng sâu, vùng xa, người trực tiếp lao động sản xuất, công tác, chiến đấu…
Trong số 2.020 đại biểu chính thức dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X có 118 đại biểu là cá nhân và đại diện tập thể Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, Anh hùng Lao động qua các thời kỳ, có 1.212 đại biểu là những người trực tiếp lao động trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng-an ninh, chiếm 60%.
Trong phiên họp Hội đồng Chính phủ vào tháng 10/1948, tức hơn 4 tháng sau Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trong cuộc vận động thi đua phải tránh xu hướng “bàn giấy,” “công chức hóa.”
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X, tổ chức 10/12/2020. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN).
Bác Hồ cũng chỉ rõ tác hại của việc khen thưởng không đúng, không kịp thời, đó là sự triệt tiêu động lực, gây hậu quả xấu đối với công tác thi đua. Vì vậy, việc đánh giá, bình chọn danh hiệu thi đua và xét khen thưởng phải đúng người, đúng việc, phải căn cứ vào tiêu chuẩn cụ thể, dựa trên nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch. Người yêu cầu: “Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công.”
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng từng nhắc nhở: Khen thưởng phải phù hợp với thành tích và kết quả đạt được. Thi đua là để đào tạo, rèn luyện và xây dựng con người mới, tránh hình thức.
Khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét dự án Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi), Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ lưu ý: “Sửa đổi lần này phải làm sao hướng nhiều hơn đến cơ sở, chú trọng khen thưởng công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp sản xuất, kinh doanh; quan tâm khen thưởng ở cơ sở, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo và vùng dân tộc thiểu số. Mặt khác phải tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đơn giản hóa thủ tục hành chính, bảo đảm kịp thời, minh bạch, công khai, khả thi và hiệu quả trong việc thực hiện.”
Nguyên tắc nền tảng của khen thưởng là khen đúng người, thưởng đúng việc. Tuy nhiên, thực tế những năm gần đây cho thấy nhiều mô hình, gương điển hình tiên tiến ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa được phát hiện, bồi dưỡng kịp thời và nhân rộng có hiệu quả. Việc tuyên truyền, tổ chức, học tập và áp dụng mô hình mới còn ít được quan tâm. Ở nhiều cơ quan, địa phương, phong trào thi đua mang tính hình thức, thiếu hiệu quả đích thực. Công tác khen thưởng chưa bám sát kết quả thi đua, vẫn còn tình trạng khen thưởng tràn lan.
Để khắc phục những tồn tại này, tiếp tục phát huy hiệu quả công tác thi đua khen thưởng, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về khen thưởng, hướng tới ưu tiên khen thưởng nhiều hơn đối với người lao động trực tiếp. Quy định chặt chẽ hơn về trách nhiệm của người đứng đầu đối với việc thi đua, khen thưởng, đảm bảo công tác khen thưởng được chính xác, công khai, minh bạch. Việc thi đua khen thưởng cần công khai minh bạch, kịp thời trên các phương tiện thông tin đại chúng để có thêm nhiều thông tin, nhất là khi xem xét phong tặng các danh hiệu lớn.
Cần khắc phục tình trạng cấp cơ sở trình lên cấp trên những hồ sơ tập thể, cá nhân được tô hồng để nhận khen thưởng, danh hiệu. Cấp trên để lọt những hồ sơ này khiến những “điển hình ảo” không có giá trị nêu gương, tác dụng nhân rộng phong trào thi đua, không lan tỏa năng lượng tích cực trong cơ quan, đơn vị.
Cơ quan chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng các cấp cần tăng cường tính chuyên nghiệp, cần được chuyên môn hóa, phải tham mưu khách quan, chính xác với các cấp ủy, chính quyền về những điển hình tiên tiến./. | 75 năm Thi đua ái quốc: Khen đúng người, thưởng công minh | 1,711 | |
Biết rằng ký ức về ngày thơ bé sẽ luôn hiện hữu trong suốt quá trình trưởng thành, người mẹ đã dành tất cả tình yêu để mang đến tuổi thơ tuyệt vời nhất cho con gái.
Người mẹ giàu có cùng con bay vào tuổi thơ yêu thương
là tác phẩm mới của tác giả Xuân Bình do Chibooks xuất bản. Cuốn sách kể câu chuyện về người mẹ một mình nuôi con gái bé bỏng. Với tất cả vai trò, trách nhiệm, tình yêu vô bờ bến,
mẹ
đã và đang đồng hành với con lớn lên từng ngày.
Đó là những mẩu chuyện xảy ra ở nhà, trường, sân chơi… những nơi hai người đặt chân đến. Mỗi câu chuyện là cách người mẹ dạy con bằng tình yêu sẵn có.
Mẹ dạy con cách cư xử, bày tỏ tình yêu thương, cách tự lo cho mình từ mặc quần áo, nấu ăn, làm việc nhà, chủ động trong việc học đến tự tin đi xa bằng các loại phương tiện giao thông hay sống xa mẹ nhiều ngày.
Họ cùng ăn, chơi, trò chuyện, xem phim, cùng ngủ… Giữa mẹ và con không khoảng cách, không có sự sợ hãi mà chỉ tồn tại tình yêu thương ngọt ngào. Cả hai gắn bó với nhau trong tuổi thơ êm đềm, ấm áp.
“Mẹ là người con yêu nhất, vì mẹ luôn chơi cùng con và luôn làm cho con cười” – người mẹ đã rất cảm động khi đọc dòng chữ đó vào năm con gái học lớp 2.
Người mẹ đã hạnh phúc hơn, ngọt ngào hơn, trái tim luôn tràn đầy cảm xúc từ khi sống cùng cô gái nhỏ và nhận ra mình trở nên “giàu có” hơn mỗi ngày.
Tác giả Xuân Bình.
Trích đoạn trong cuốn sách Người mẹ giàu có cùng con bay vào tuổi thơ yêu thương.
“Con yêu mẹ!”
Đó là câu nói của con khi vừa thức dậy.
– Chúc mừng sinh nhật con! Hôm nay, Chip được ba tuổi rồi.
– Con yêu mẹ!
Cô nàng ôm cổ mẹ, nũng nịu rất dễ thương.
Ba tuổi, con luôn nói mình đã lớn, cao gần bằng mẹ rồi.
Ba tuổi, con biết cùng mẹ làm việc nhà, làm bánh mời mẹ ăn.
Ba tuổi, con thích làm điều mình muốn, diễn đạt suy nghĩ rất dài, trình bày rất ngắn sự việc mới xảy ra.
Ba tuổi, con nhớ rất lâu lời mẹ hứa, con cũng hay làm nũng, hay khóc nhè.
Ba tuổi, con luôn líu lo về mọi thứ xung quanh vào mỗi sáng tới trường. Nào là bạn gà trống hát “ò ó o” đánh thức con dậy, rồi nước cứ đi chơi mãi không chịu về với mẹ để đường đi phải ngập, con không thích chiếc ô tô chạy ngang có kính màu đen vì nó tối thui…
Ba tuổi, con thích hôn tạm biệt mẹ khi vào lớp, thích kéo mẹ ngồi xuống để hôn thật kêu, thường để dành cái bánh bữa xế ở trường mang về cho mẹ, thích kể chuyện bạn, chuyện cô trong lớp.
Ba tuổi, con thích đọc sách trước khi ngủ. Con chọn những quyển sách nhiều hình, nhất là sách có bạn thỏ. Từng củ cà rốt, giọt mồ hôi, đôi tai ngắn dài của thỏ con tìm thấy trên hình phải theo đúng câu chuyện và nhất định không bỏ qua chi tiết nhỏ nào. Lần nào con cũng hỏi:
– Thỏ con thương mẹ thỏ lắm, phải không mẹ?
– Đúng rồi con.
– Con thương mẹ lắm!
– Mẹ yêu con lắm luôn!
Có một dạo, con gái thường hay nói:
– Mẹ ơi, con yêu mẹ. Mẹ yêu ai?
– Mẹ yêu Chip!
Con cười hì hì thích thú. Không lâu sau, con lại kêu: “Mẹ ơi, con yêu mẹ!” Hôn mẹ chụt chụt, rồi ôm, vỗ nhẹ nhẹ vào lưng tôi. Tiếng hôn ngọt ngào, ấm áp làm tôi sung sướng vô cùng. Buổi tối, lên giường ngủ, con ôm tôi và nói:
– Con yêu mẹ!
– Mẹ yêu con!
Con thể hiện tình cảm của mình rất tự nhiên, thoải mái. Tình yêu con dành cho tôi giống như dữ liệu có sẵn, chỉ cần bấm phím “enter” là chạy ra. Tôi đã phát triển cảm xúc yêu thương cho con ngay từ khi mới chào đời và duy trì cho đến lớn. Ôm và hôn là hai cử chỉ yêu thương tôi thể hiện với con bất cứ lúc nào với thái độ yêu thương, trìu mến. Trước khi con ngủ và sau khi thức dậy, tôi đều hôn rồi nói “Mẹ yêu con!”, hôn khi con ra khỏi nhà, hôn khi có niềm vui đến với con hay với mẹ. Khi con có chuyện không vui, tôi cũng lại ôm con. Vào trường mầm non, các cô giáo thường thể hiện tình cảm yêu thương với các bạn nhỏ qua những hành động như ôm trìu mến, nói lời yêu thương, nghe các con tâm sự. Có lẽ thói quen của mẹ và sự ngọt ngào của cô giáo đã giúp con thể hiện cảm xúc của mình rất chân thật mà không thấy ngượng ngùng.
Chính cảm xúc luôn được bộc lộ đó đã làm cho cuộc sống của chúng tôi ngọt ngào hơn, ấm áp hơn và hiểu nhau hơn. Tôi cứ nghĩ, con lớn thêm chút nữa chắc sẽ không còn hôn, không còn ôm mẹ nữa; nhưng rất vui là đến 8 tuổi, con gái vẫn hôn mẹ vào mỗi tối, rồi ôm mẹ thật chặt, thật yêu thương. Khi thấy tôi không vui, cô nàng ôm tay mẹ hoặc im lặng ngồi bên cạnh. Với tôi, hình như không có liều thuốc nào làm giảm nỗi buồn nhanh đến vậy.
Không chỉ con gái mới thoải mái bộc lộ cảm xúc, mà các bạn trai cũng thường xuyên thể hiện tình cảm với mẹ mình. Con trai bốn tuổi của bạn tôi hay nói “Con yêu mẹ!” và thích được nghe mẹ nói “Mẹ yêu con!” Mỗi sáng thức giấc, hai mẹ con họ trao nhau thông điệp như vậy, giống như điều ấy đã truyền năng lượng cho cả ngày của họ. Không phải thịt, cá hay rau, mà món ăn tinh thần ấy đã mang đến nguồn sức mạnh mãnh liệt cho cả mẹ và con. Trẻ thơ thật đáng yêu, chúng luôn đem lại sự ngọt ngào, ấm áp cho mẹ, cho người mà con yêu thương, gần gũi.
Khi con gái biết viết chữ, trong những dòng nhật ký yêu thương luôn có hình bóng mẹ: “Con yêu mẹ”, “Con yêu mẹ rất nhiều”, “Con ước mẹ có nhiều sức khỏe để nuôi con”, “Hôm nay, mẹ làm mì ống rất ngon, con cảm ơn mẹ rất nhiều”. Tình yêu của con luôn ngọt ngào, ấm áp như vậy, con luôn khen món ăn mẹ nấu với thái độ rất yêu thương, rất trân trọng. Với con, có lẽ món ăn ngon nhất là món mẹ nấu, vì trong đó, gia vị được nêm bằng tất cả tình yêu bao la của mẹ và chứa đựng sự cố gắng để tạo ra món ăn ngon phù hợp với tuổi của con. Con cảm nhận tình yêu, con cảm nhận sự ngọt ngào, con đón nhận tất cả những gì mẹ mang đến, và con cũng trao lại cho mẹ những gì yêu thương nhất theo cách sâu sắc nhất từ một cô bé có trái tim ấm áp, nồng nàn.
Tối nay, con gái ngủ thật ngon. Giấc ngủ của con rất sâu và thật yên bình, tôi cứ nhìn mãi, nhìn mãi. Tôi cực kỳ thích cảm giác này, một cảm giác thật hạnh phúc. Khi đó, mọi khổ đau, buồn tủi hay sự vất vả, cực nhọc trong cuộc đời đều dừng lại để tôi được trôi theo dòng chảy tình yêu với con. Sáng mai thức dậy, thế nào con cũng sẽ nói: “Con ngủ say sưa luôn!” Ba tuổi của con, tuổi thần tiên của cuộc đời con. | Câu chuyện cảm động của người mẹ nuôi con một mình | 1,328 | |
Hãng thông tấn Fars cho biết tuyến đường sắt quá cảnh này của Iran sẽ lần đầu tiên được kết nối với châu Âu thông qua dự án đường sắt Miyaneh-Bostanabad-Tabriz, góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế.
(Nguồn: tehrantimes).
Theo Sputniknews, ngày 9/6, truyền thông Iran đưa tin tuyến đường sắt thuộc Hành lang Giao thông châu Âu-Caucasus-châu Á (TRACECA), được thiết kế để kết nối Iran với châu Âu và thúc đẩy thương mại quốc tế, đã được đưa vào hoạt động.
Hãng thông tấn Fars cho biết tuyến đường sắt quá cảnh này của
Iran
sẽ lần đầu tiên được kết nối với châu Âu thông qua dự án đường sắt Miyaneh-Bostanabad-Tabriz.
Thông tin cho biết việc kết nối với các tuyến đường sắt của Cộng hòa tự trị Nakhchivan, Yerevan và Tbilisi, qua thị trấn Julfa của Azerbaijan và các biên giới trên bộ và trên biển khác sẽ tăng cường trao đổi quốc tế và xuất khẩu hàng hóa sang Azerbaijan, Armenia và Thổ Nhĩ Kỳ.
Cũng theo Fars, tuyến đường sắt từ Tehran đến Tabriz sẽ được rút ngắn còn 114 km, trong khi công suất sẽ tăng thêm 7 triệu tấn hàng hóa và 2 triệu hành khách mỗi năm.
Lễ khai trương tuyến đường sắt này được cho là do Tổng thống Iran Ebrahim Raisi chủ trì. Việc xây dựng tuyến đường sắt đã được hoàn thành với những nỗ lực của Chính phủ Iran sau 22 năm gián đoạn.
Hành lang giao thông quốc tế TRACECA bao gồm hệ thống giao thông của 13 quốc gia tham gia hiệp định đa phương về vận tải quốc tế vì sự phát triển của hành lang châu Âu-Caucasus-châu Á.
Thỏa thuận có sự tham gia của Azerbaijan, Armenia, Bulgaria, Gruzia, Iran, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Romania, Tajikistan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraine và Uzbekistan./. | Chính thức đưa vào hoạt động tuyến đường sắt nối Iran và châu Âu | 300 | |
Cơ quan Cổ vật Israel (IAA) ngày 9/6 cho biết một nghiên cứu mới đã phát hiện ra rằng tổ tiên của loài người sống ở Thung lũng Hula (miền Bắc Israel ngày nay), có thể đã thổi sáo làm từ xương chim để thu hút con mồi khi đi săn.
Sếu xám di cư tại Hồ Agmon Hula, Thung lũng Hula, phía bắc Israel. Ảnh minh họa: AFP.
Theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature Scientific Report, trong quá trình phân tích một số hóa thạch xương cánh của loài thủy cầm được phát hiện tại Thung lũng Hula, nhóm nhà khoa học từ
Israel
,
Áo
,
Mỹ
và
Pháp
đã nhận thấy rằng những mẫu vật này thực chất là những cây sáo được làm từ xương. Những cây sáo này có niên đại khoảng 12.000 năm và có thể tạo ra âm thanh bắt chước tiếng kêu của các loài chim săn mồi.
Các chuyên gia cho biết những mẫu vật trên được tìm thấy tại khu định cư thời tiền sử Natufian Ain Mallaha, còn được biết đến với tên gọi Eynan – nơi nhiều dấu tích về những ngôi nhà của người săn bắn hái lượm được thiết kế với cấu trúc hình tròn, và xương của nhiều loài động vật khác nhau đã được phát lộ trong các cuộc khai quật tiến hành từ năm 1996 đến 2005.
Sau khi phân tích những mẫu hóa thạch xương thủy cầm nói trên, nhóm nghiên cứu kết luận các dấu vết trên bảy hóa thạch xương cánh của chim cu gáy Á-Âu và mòng biển Á-Âu là những lỗ nhỏ được khoan vào ống xương rỗng. Các hiện vật này có thể được sử dụng trong biểu diễn âm nhạc hoặc để thu hút sự chú ý của các loài thủy cầm. Họ cũng cho rằng điều này góp phần mở ra manh mối về bằng chứng của thời điểm người tiền sử sử dụng âm thanh trong săn bắn.
Nhóm nghiên cứu cũng đã tạo ra các bản sao của các mẫu vật và phát hiện ra rằng mỗi hiện vật lại tạo ra những âm thanh khác nhau và kết luận rằng chúng là sáo. Ngoài ra, âm thanh phát ra từ các bản sao mẫu vật này giống với âm thanh của chim sẻ Á-Âu và chim cắt – cả hai đều là chim săn mồi.
Theo các chuyên gia, người tiền sử có thể dễ dàng săn bắt thủy cầm bằng cách sử dụng những chiếc sáo này. Thanh âm của sáo sẽ thu hút những con chim săn mồi, khiến chúng tiếp cận và khuấy động đàn thủy cầm, qua đó con người sẽ dễ dàng bắt được thủy cầm hơn.
Bằng cách này, người tiền sử cũng có thể bắt được cả những con chim săn mồi khi chúng bối rối trước tiếng sáo, đồng thời sử dụng móng của chúng để làm đồ trang trí và tạo ra những tiếng sáo mới.
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng cho rằng sáo còn được sử dụng để thực hiện các chức năng văn hóa – xã hội khác nhau trong xã hội của người tiền sử. | Phát hiện manh mối về cách thức người tiền sử dụ chim | 525 | |
Vật thể 1994 XD, có đường kính khoảng 370-830 m và thuộc nhóm có khả năng gây nguy hiểm.
Đó là một tiểu hành tinh đôi, bao gồm tảng đá không gian khổng lồ nói trên và một vật thể nhỏ gọn chuyển động quanh nó.
Theo
Live Science,
nó đang trên đường tiến tới một cú áp sát Trái đất, nhưng may mắn là chỉ lướt qua một cách an toàn với khoảng cách 3,1 triệu km.
Dù vậy, đây vẫn là một tiểu hành tinh được xếp vào nhóm vật thể có khả năng gây nguy hiểm.
1994 XD xuất hiện trong dữ liệu quan sát hồi cuối tháng 5 – Ảnh: DỰ ÁN KÍNH VIỄN VỌNG ẢO.
Bất kỳ vật thể nào có đường kính 140 m và bay quanh địa cầu trong phạm vi 4,65 triệu km đều được xếp vào “nhóm nguy hiểm” này, cho dù chúng tạm có quỹ đạo an toàn. Bởi lẽ bất kỳ tác động bất ngờ nào cũng có thể thay đổi quỹ đạo của vật thể và đưa đến khả năng va chạm.
Các cơ quan vũ trụ hàng đầu thế giới luôn quan sát cẩn thận các vật thể này, thậm chí chuẩn bị các sứ mệnh phòng thủ hành tinh, mà nổi bật nhất là tàu cảm tử DART của NASA trong thí nghiệm đâm vào một tiểu hành tinh năm 2022 nhằm thay đổi quỹ đạo của nó.
Trở lại với 1994 XD, chưa có nghiên cứu nào chỉ ra khả năng va chạm trong tương lai gần của nó, tuy nhiên các nhà khoa học vẫn không ngừng theo dõi nó trong những lần bay gần Trái đất. Cú tiếp cận đầu tiên của nó mà chúng ta biết được là năm 1994.
Cú tiếp cận an toàn lần này đem thêm cơ hội vàng cho các nhà khoa học tìm hiểu thêm về nó. Bạn có thể chứng kiến lần tiếp cận này thông qua Dự án Kính viễn vọng ảo, một chương trình hợp tác quốc tế giúp mọi người có thể xem trực tuyến dữ liệu quan sát bằng kính thiên văn.
Xem phát sóng tại đây, bắt đầu vào lúc 20 giờ 50 phút tối 11-6 theo giờ miền Đông nước
Mỹ
, tương đương 8 giờ 50 phút sáng 12-6 giờ
Việt Nam
. | Cách xem vật thể ‘có thể tấn công Trái đất’ lướt ngang trời sáng 12-6 | 379 | |
Cấu trúc của khoa học văn học gồm 3 bộ phận: Lịch sử văn học, Lí luận văn học và Phê bình văn học. Vì những tập quán trong diễn ngôn, với một truyền thống không có lí thuyết, không triệt để, khúc chiết về tư duy, người ta thường nhập Lí luận và Phê bình vào với nhau, để chỉ các hoạt động diễn giải (về) văn học ở nước ta. Trong khi đó, lẽ ra Lí luận văn học cần phải được hiểu một cách rành mạch hơn về một phân ngành có tính lí thuyết, Phê bình là một phân ngành thiên về phía thực hành.
Trong cấu trúc khoa nghiên cứu văn học, nếu nhìn một cách cụ thể, kĩ lưỡng, hóa ra, phê bình lại đang làm nên khu vực sôi động cho văn chương. Vốn không có truyền thống lí luận, trong khi, lịch sử văn học đang còn nhiều vấn đề phải bàn, phê bình văn học Việt Nam đã có một lực lượng khá đông đảo, đặc biệt là thế hệ 8x, 9x. Thế hệ phê bình này được đào tạo bài bản, có xu hướng dần trở thành công dân toàn cầu, đã tạo nên được những dấu ấn riêng của thế hệ.
Những cái tên như Cao Việt Dũng, Trần Ngọc Hiếu, Hoàng Phong Tuấn, Mai Anh Tuấn, Đoàn Ánh Dương, Lê Nguyên Long, Phạm Phương Chi, Lê Thị Dương, Phan Tuấn Anh, Hoàng Cẩm Giang, Đoàn Minh Tâm, Đỗ Thị Hường, Nguyễn Thúy Hạnh, Đặng Thái Hà… và một số bạn trẻ hơn như Hiền Trang, Nguyễn Đình Minh Khuê, Phạm Minh Quân, Vũ Kiều Chinh, Lê Hồ Nam… khiến chúng ta có cơ sở để phản biện quan điểm phê bình Việt Nam đang thiếu và yếu.
Sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước là nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy hoạt động phê bình văn học nghệ thuật phát triển.
Xem xét trong cấu trúc Nhà văn – Tác phẩm – Người đọc/ Sản xuất – Phân phối – Tiêu thụ, phê bình văn học cũng cho thấy những nỗ lực để theo kịp đời sống sáng tác đương đại. Dù là phê bình hàn lâm hay báo chí, đời sống phê bình vẫn đang tác động lên tâm lí, thị hiếu và sự lựa chọn của công chúng văn học. Thậm chí, phê bình đã tác động trở lại chính nhà văn và hoạt động sáng tác, hoạt động xuất bản, phát hành ấn phẩm văn học. Các nhà văn và độc giả vẫn được tiếp cận các bài phê bình trên các diễn đàn từ Nghiên cứu Văn học đến Nhà văn và cuộc sống, Lí luận Phê bình Văn học Nghệ thuật, Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, Văn hóa nghệ thuật, Văn nghệ Quân đội, Quân đội nhân dân, Văn nghệ, Nhân dân, Văn nghệ Công an… các website văn chương, diễn đàn mạng xã hội, các cơ quan báo chí trung ương và địa phương khác. Từ những diễn đàn này, các quan điểm định giá hay phân loại, xếp loại,… được triển khai và ít nhiều đã cất tiếng về thực trạng văn chương Việt Nam đương đại.
Dù xét trong cấu trúc khoa học văn học hay cấu trúc đời sống văn chương, phê bình vẫn là một phân ngành chuyên môn quan trọng, có nhiệm vụ thẩm định, bình giá hay định hướng giá trị nhân văn, thẩm mĩ cho cộng đồng. Vị trí đó của phê bình văn học là điều không thể không thừa nhận. Tuy nhiên, trong thực tế, do sự phát triển mạnh mẽ của các hình thái, thể loại văn học, phê bình nhiều lúc cũng chưa thể bao quát được một cách đầy đủ. Đó là lí do khiến nhiều người “ưu thời mẫn thế” vẫn lên tiếng về tình trạng “thiếu và yếu”, “nghiệp dư”, “nói theo”, “chưa bao quát”, “chưa đồng hành”… của hoạt động phê bình.
Một nhà phê bình chuyên nghiệp cần phải được đào tạo, bồi dưỡng, có trình độ, tri thức, kiến văn và một quan niệm giá trị vững vàng. Các trường đại học, viện nghiên cứu vừa là nơi đào tạo, cung cấp và cũng là nơi sử dụng lực lượng phê bình chính hiện nay. Một lực lượng khác, sau khi được đào tạo đã làm việc trong các tòa báo, các hội văn học nghệ thuật, các diễn đàn văn chương,… cũng phát huy được vốn liếng kiến thức, kĩ năng đã tiếp cận, thực hành tại cơ sở đào tạo. Vấn đề đào tạo chính quy được xem là nền tảng để hình thành tư cách nhà nghiên cứu, phê bình, cùng với đó là quá trình tự học, tự bồi dưỡng, tự trưởng thành qua thực tiễn văn chương của mỗi người. Cùng với chương trình đào tạo chính quy, các lớp tập huấn, bồi dưỡng của các Hội, Liên hiệp Hội, các trại sáng tác, các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm phê bình văn học cũng đang mang lại hiệu quả.
Không có nhà phê bình bẩm sinh. Người làm phê bình cần phải được đào tạo một cách bài bản và kĩ lưỡng. Bằng cấp, học vị, học hàm có thể không thực sự quan trọng, nhưng học vấn, tri thức, vốn sống, vốn văn hóa cần phải được xem là cơ sở để “hành nghề” phê bình. Do hiện diện trong những không gian khác nhau: Viện – Trường – Cơ quan báo chí – Hội Văn học nghệ thuật,… nên sự phân lập đặc tính của phê bình cũng khá rõ, trên cơ sở của những khác biệt về môi trường làm việc. Ở viện và trường đại học, phê bình chủ yếu vận động theo hướng hàn lâm, bài bản, lớp lang, sử dụng nhiều công cụ lí thuyết, phương pháp, trường phái,… Ưu điểm của phê bình hàn lâm cũng xuất phát từ đặc tính này. Nhờ có công cụ, phương tiện, phương pháp, phê bình hàn lâm thường xem xét vấn đề trên bình diện rộng, sâu, đặt ra và nỗ lực giải quyết triệt để vấn đề văn học.
Tuy nhiên, phê bình hàn lâm trong bối cảnh văn học của thời đại truyền thông đã tự đưa mình vào tình thế khó khăn trong khả năng hiện diện. Có một thực tế là các diễn đàn văn học, báo chí rất khó sử dụng các bài phê bình hàn lâm. Sự trưng dụng quá nhiều khái niệm, thuật ngữ, lí thuyết khiến cho bài phê bình trở nên cồng kềnh, nặng nề, ôm đồm lắm khi rơi vào trạng thái vòng vo, rối rắm.
Đây là một vấn đề khá lớn, tạo nên mối nguy của văn chương mà T. Todorov đã nêu lên: Sự lộng hành của lí thuyết, sự đánh tráo đối tượng từ diễn giải tác phẩm sang diễn giải về lí thuyết và công cụ đã đẩy văn chương lâm vào tình thế không được tiếp cận với đúng bản chất của nó. Những bài viết này chỉ phù hợp với các tạp chí chuyên ngành và dành cho một bộ phận rất nhỏ những người trong giới nghiên cứu – phê bình hàn lâm đọc, tra cứu, tham khảo. Các nhật báo, tuần báo, thậm chí một số tạp chí văn nghệ có thái độ khá dè dặt nếu không muốn nói là “kính nhi viễn chi” trước các phê bình hàn lâm.
Đặc tính này còn dẫn đến một hệ lụy khác đó là phê bình hàn lâm thường có nhịp điệu chậm hơn các sinh hoạt văn chương đương đại. Thêm nữa, các diễn đàn dành cho phê bình hàn lâm trong thực tế là khá hẹp. Do vậy, việc công bố những công trình phê bình bài bản, lớp lang, dài hơi của các nhà phê bình hàn lâm tỏ ra khá khó khăn.
Phê bình văn học nghệ thuật trong dòng chảy của lịch sử.
Trái với không khí phê bình hàn lâm, những hoạt động phê bình trên báo chí, diễn đàn của các Hội Văn học nghệ thuật,… lại nhanh chóng, kịp thời, ngắn gọn, dễ tiếp cận và phù hợp với đại bộ phận công chúng. Phê bình báo chí chủ yếu diễn ra dưới dạng điểm tin, đọc sách, giới thiệu tác giả, tác phẩm, phê bình ấn tượng chủ quan,…
Ưu điểm của phê bình dạng này xuất phát từ việc không chú trọng vào lí thuyết, phương pháp, nên những thực hành phê bình này đi ngay vào vấn đề, trình bày, diễn giải các thông tin cơ bản, liên quan trực tiếp đến hiện tượng văn học. Nhược điểm của phê bình báo chí là cảm tính, không có lí thuyết, phương pháp cụ thể, dễ rơi vào tình trạng suy diễn, trình bày ấn tượng chủ quan, thậm chí không hiếm khi ta thấy những phê bình này còn hời hợt. Phê bình báo chí cũng là nơi những hình thức phê bình thù tạc, những viết lách có tính “biếu tặng” xuất hiện.
Một vấn đề khá quan trọng nảy sinh từ việc đào tạo và sử dụng lực lượng phê bình, liên quan trực tiếp đến không khí sinh hoạt của phân ngành này trong đời sống văn chương đó là: 1. Sự suy giảm lực lượng người học – nguồn bổ sung cho Lí luận – Phê bình; 2. Sự lôi cuốn của truyền thông, báo chí khiến cho phê bình hàn lâm ngày càng mất đi vị trí trong đời sống văn học; 3. Sự e ngại, thậm chí không tin tưởng vào phê bình của giới sáng tác; 4. Sự bảo thủ hay cục bộ của một số diễn đàn khiến cho phê bình trên các diễn đàn đó trở nên đơn điệu; 5. Thù lao của người làm phê bình quá ít ỏi không duy trì được một tinh thần làm việc cật lực hay tận tụy, một thái độ tập trung, một phong cách chuyên nghiệp; 6. Một số cơ chế chính sách trong quản lí văn hóa văn nghệ chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho phê bình,… Chính trong những hoàn cảnh như thế, phê bình buộc phải vận hành theo những mô hình không hẳn đúng với vai trò, chức năng, nhiệm vụ của nó.
Những ưu điểm, nhược điểm của phê bình thực sự cũng là những hiện diện tất yếu. Nói phê bình thiếu và yếu hay phê phán sự nhợt nhạt, nửa vời của nó thực chất là cách nói rất chung chung, thậm chí còn thể hiện sự hời hợt, phiến diện trong quan sát và nhận định về thực trạng phê bình văn học hiện nay. Không thể có ngay một sự hài lòng, nhưng, các nhà phê bình văn học, đặc biệt là thế hệ trẻ đang cố gắng để làm tốt hơn công việc của mình trong điều kiện còn nhiều khó khăn. Điều cần thiết, ngoài niềm tin, cũng cần có thêm các cơ chế khác tạo ra hành lang cho phê bình tiến tới một không gian rộng lớn hơn và thực chất hơn nữa. Xem ra, đó cũng không phải chỉ là câu chuyện của phê bình văn học. | Một số suy nghĩ về đời sống phê bình văn học hiện nay – Tác giả: Nguyễn Thanh Tâm | 1,889 | |
Ngày cụ Nguyễn Đình Chiểu mất, học trò đến đưa tang, khăn tang trắng cả một cánh đồng. Họ đã nhờ thầy mà xứng đáng với các chữ “Trung dũng – Khí phách – Trọng nghĩa – Khinh tài” của người Nam Kỳ.
Danh hiệu “Cây bút chở Đạo và trừ gian” của cụ
Nguyễn Đình Chiểu
có căn cứ từ 2 câu thơ nổi tiếng của chính cụ, rất được người Nam Kỳ tán thưởng:
“Chở bao nhiêu Đạo, thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian, bút chẳng tà”!
Tên của danh nhân Nguyễn Đình Chiểu đã được sử dụng để đặt tên cho một con đường rất đẹp ở TP HCM. (Ảnh: TẤN THẠNH).
Đấy cũng là tinh thần, ý chí, thậm chí là lẽ sống của cụ “Đồ Chiểu” – Tú tài (sinh đồ) Nguyễn Đình Chiểu – tên gọi thân thương, từ nhân dân Nam Kỳ qua các đời, đối với một người Nam Bộ tiêu biểu, điển hình, có đến 3 chức phận trong một nhân cách, là: Nhà giáo, thầy thuốc và nhà thơ.
Nguyễn Đình Chiểu
thi đỗ tú tài năm 1843 ở trường thi Gia Định, lúc 21 tuổi. Sau đó có 2 năm “chuyên tu” ở Huế để chuẩn bị dự khoa thi Hội vào năm 1849 (do được đặc cách ưu tiên sĩ phu Nam Kỳ: Chưa phải là cử nhân nhưng vẫn được phép dự tuyển tiến sĩ).
“Trình độ văn hóa” chỉ đến mức ấy, lại thêm việc bị mù từ năm 26 tuổi, nhưng thầy Đồ Chiểu vẫn là một bậc trí giả Nho học lớn, khi trước sau ba lần mở trường dạy học ở ba nơi: Bình Dương – quê mẹ, Cần Giuộc – quê vợ và đặc biệt là Ba Tri (Bến Tre) – nơi định cư ở thời gian cuối đời.
Từ tấm bé ông được cha hết lòng giáo dưỡng, 11 tuổi đã được cha ký gửi cho theo học một vị thầy vốn là quan thái phó của triều đình Huế. Đặc biệt là, tuy không được trực tiếp thụ huấn danh sư Võ Trường Toản ở trường Hòa Hưng, nhưng thầy học của Nguyễn Đình Chiểu là học trò của ông Nghè Chiêu, mà Nghè Chiêu lại là môn sinh của thầy Võ Trường Toản. Cho nên, phương châm giáo dục của thầy Đồ Chiểu vẫn là của/và từ “Lò đào tạo Hòa Hưng”: “Dưỡng khí – Tập nghĩa”, “Trung dũng, Khí phách, Trọng nghĩa, Khinh tài” – vốn chính là phẩm chất đặc trưng của người Nam Kỳ.
Nữ sĩ Mai Huỳnh Hoa (1910 – 1987) – chắt ngoại của cụ Nguyễn Đình Chiểu – vào năm 1935, trên báo “Tân Văn” đã mô tả cách thức thầy Đồ Chiểu “ngồi” dạy học, như sau: “Học trò ước có hai trăm người, ngồi ra hai hàng tả hữu nghe giảng. Tiên sinh mắt đã mù, không còn xem sách được. Nhưng mỗi bữa hỏi học trò tới đoạn nào thì tiên sinh giảng đoạn ấy, như (vẫn) ngó thấy sách, vì tiên sinh thuộc lòng các sách”.
Các lớp môn sinh từ nhiều nơi đã đến trường thầy Đồ Chiểu, để được thụ giáo theo cách ấy. Ngày thầy về cõi vĩnh hằng, họ đến đưa tang, khăn tang trắng xóa cả một cánh đồng. Họ đều đã nhờ thầy mà trở thành “Người Nam Kỳ” xứng đáng với các chữ “Trung dũng – Khí phách – Trọng nghĩa – Khinh tài”.
Trong số đó có cả hai người con của cụ Nguyễn Đình Chiểu là Nguyễn Thị Ngọc Khuê (tức nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, 1864 – 1922) – Nữ chủ bút tờ báo đầu tiên của phụ nữ Việt Nam: “Nữ Giới Chung” (Tiếng chuông nữ giới); và Nguyễn Đình Chiêm (1869 – 1935) – tác giả của các vở hát bội “Phấn Trang Lâu”, “Nam Tống tình trung”… nổi tiếng. Ngoài ra, còn có hai hòa thượng: Lê Khánh Hòa (1877 – 1947) và Thích Khánh Thông (1871 – 1953) – đều là những người có công lớn trong phong trào “Chấn hưng Phật giáo”, đầu thế kỷ XX.
Tên của danh nhân Nguyễn Đình Chiểu đã được sử dụng để đặt tên cho một trường học đặc biệt dành cho trẻ khiếm thị ở TP HCM. (Ảnh: TẤN THẠNH).
Năm 1848, trên đường từ Huế về Gia Định chịu tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu lâm bệnh nặng, phải nằm lại ở Quảng Nam chữa bệnh, kết quả: Sức khỏe được khôi phục nhưng mắt thì bị mù. Một điều đi kèm là: Chính trong thời gian này, nhờ được thầy thuốc vừa chữa bệnh cho, vừa tận tâm dạy cho các cách thức chữa bệnh, nên Nguyễn Đình Chiểu đã “làm quen”, rồi “đi sâu” vào nghề y.
Từ đó cho đến cuối đời,
Nguyễn Đình Chiểu
mù mắt nhưng có gần 40 năm vừa mở trường dạy học, vừa kiêm luôn việc làm thầy thuốc chữa bệnh cho mọi người.
Lịch sử sẽ còn phải tìm hiểu nhiều điều, xem làm sao mà một người mù như Nguyễn Đình Chiểu lại có thể trở thành một thầy thuốc giỏi như thế. Nhưng thầy thuốc giỏi, rất được trọng vọng – Nguyễn Đình Chiểu, thì đó là một hiện thực lịch sử chắc chắn.
Những bệnh nhân được thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu cứu chữa và cứu giúp, ở khắp nơi, nhiều đến cả ngàn.
Không chỉ thực hành y khoa và y tế, Nguyễn Đình Chiểu còn viết sách y học và y đức. Đó là tác phẩm “Ngư tiều y thuật vấn đáp”, gồm 3.642 câu lục bát và 21 bài thơ.
Ở công trình này, Nguyễn Đình Chiểu đã khái quát đầy đủ, trình bày những điều thiết yếu nhất về phương pháp đường hướng trị bệnh theo quan điểm của đông y; nói rõ về mạch, dược, vận khí, thương hàn, sản phụ, nhi khoa…, phân tích về tâm, can, tỳ, phế, thận… trong cơ thể con người; chỉ ra nhiều bài thuốc cụ thể, đặc biệt là đề cao tinh thần trách nhiệm của người thầy thuốc: “Thấy người đau giống mình đau/ Phương nào cứu đặng mau mau trị lành”; chỉ trích những thầy thuốc mà thiếu y đức: “Vốn là theo thói tham nhăng/ Nhân khi bệnh ngặt đòi ăn của nhiều”; khuyến khích việc chữa bệnh cho người nghèo: “Đứa ăn mày cũng trời sinh/ Bệnh còn cứu đặng thuốc đành cho không”!
Người Nam Kỳ coi lương y Nguyễn Đình Chiểu là danh y trong lịch sử, chỉ đứng sau Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông, là vì lẽ đó.
Nếu dạy học và chữa bệnh là hai nghề và nghiệp cao quý của một Nguyễn Đình Chiểu mù lòa, thì sáng tác thơ văn để cổ vũ tinh thần các tấm gương yêu nước, chống xâm lược, đồng thời để “chở Đạo, trừ gian”, đã đưa họ Nguyễn lên tới hàng Danh nhân lịch sử của đất nước và Danh nhân văn hóa của thế giới.
Ngày 23-11-2021, tại Paris (Pháp), Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) lần thứ 41 đã quyết định vinh danh Nguyễn Đình Chiểu và khuyến nghị toàn nhân loại tổ chức kỷ niệm 200 năm ngày sinh (1822 – 2022) của cụ.
Sự nghiệp sáng tác thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu thật đồ sộ, càng đồ sộ hơn khi đây là sự nghiệp của một nhà thơ mù, sống giữa thời loạn lạc cực kỳ giữa thế kỷ XIX của đất nước – gồm hai giai đoạn:
Những năm 50 của thế kỷ XIX, với “Lục Vân Tiên”, “Dương Từ – Hà Mậu”… là thời gian khẳng định tư tưởng Nhân nghĩa và Yêu nước thương dân của nhà thơ.
Từ năm 1859 (khi Pháp xâm lược Nam Kỳ) đến năm 1888 (khi Nguyễn Đình Chiểu qua đời), với 37 bài thơ và văn tế nổi tiếng (chẳng hạn: “Chạy giặc”, “Từ biệt cố nhân”, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, thơ (12 bài), điếu và Văn tế Tướng quân Trương Định, thơ (10 bài) điếu Đốc binh Phan Tòng, Văn tế Nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh…) là thời gian phát triển rực rỡ của sự nghiệp văn chương Nguyễn Đình Chiểu.
Ở cả hai giai đoạn sáng tác văn chương này, nổi bật lên ba đặc điểm:
Dùng chữ Nôm, với một ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, đậm đà chất Nam Bộ, khiến tác phẩm có sức thu hút mạnh mẽ người đọc.
Thành công lớn – trong việc xây dựng hình tượng người nông dân trong văn chương truyền thống và người anh hùng Nam Bộ trong sự nghiệp yêu nước – chống xâm lược.
Nhiệt thành đề cao đạo nghĩa nhân dân, ý thức trách nhiệm đối với vận mệnh đất nước, thông qua các khái niệm và thuật ngữ “Trung Hiếu Tiết Hạnh”… của Nho gia.
Thân phận đặc biệt trong cuộc đời đặc biệt
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 1-7-1822 ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay là phường Cầu Kho,
quận 1
,
TP HCM
); mất ngày 3-7-1888 ở làng An Bình Đông, trong một ngôi nhà nhỏ, gần chợ Ba Tri,
tỉnh Bến Tre
.
Là nhà thơ yêu nước kiệt xuất hàng đầu của đất Nam Kỳ, Danh nhân Lịch sử nước Việt, Danh nhân Văn hóa thế giới, ngôi đền thờ Nguyễn Đình Chiểu – tọa lạc tại Khu lưu niệm và Di tích Quốc gia đặc biệt: ấp 3, xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre – xây dựng hồi đầu thế kỷ XXI, có chiều cao 21 m với 3 tầng mái ngói âm dương, tượng trưng cho 3 thân phận đặc biệt trong cuộc đời đặc biệt là: Nhà giáo, Thầy thuốc và Nhà thơ – có 4 liễn gỗ áp cột với hoa văn tinh xảo, đề hai câu thơ trích từ tác phẩm “Dương Từ – Hà Mậu” của họ Nguyễn: “Chở bao nhiêu Đạo, thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian, bút chẳng tà” và đôi câu đối ngợi ca: “Nhân Nghĩa sáng ngời vầng nhật nguyệt/ Văn chương tỏ rạng ánh sao Khuê”. | Nguyễn Đình Chiểu: Cây bút chở Đạo và trừ gian – Tác giả: Nhà sử học Lê Văn Lan | 1,676 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.