text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Đề bài: Viết đoạn văn ngắn miêu tả căn nhà hoặc căn phòng em đang ở Bài làm Khi xây nhà, ba dành cho em một căn phòng nhỏ xinh trên tầng hai. Phòng chỉ rộng khoảng 15m2 nhưng cũng đủ để trở thành thế giới riêng của em. Bước qua cánh cửa gỗ được đánh véc ni nâu bóng là một căn phòng được sắp xếp gọn gàng, sạch sẽ. Phía bên trái là một chiếc gường đơn trải ga màu hồng rất dễ thương. Nằm trên đó em thấy rất thoải mái và thích thú vì có thể nhìn ngắm bức tranh thiên nhiên được vẽ trên tường. Bên cạnh giường là một cái giá gỗ to có rất nhiều ngăn nhỏ. Ở những ngăn trên cùng em đặt nào sách, nào vở, cả hộp màu nước và bộ bút chì bố mới mua cho nhân dịp sinh nhật. Còn ngăn dưới là ngôi nhà của những anh chàng truyện tranh. Trong cùng là truyện Đô-rê-mon, ở giữa là truyện nhóc Ma-rư-cô phía ngoài là truyện cổ tích An-đéc-xen. Tất cả đều được sắp xếp ngăn nắp. Phía bên phải của gian phòng, ba kê cho em một chiếc tủ ngang sơn màu xanh nhạt vơi các đường viền màu vàng trông rất bắt mắt. Hai bên tủ là các ngăn rộng đủ cho em đựng những bộ quần áo mặc đi học và mặc ở nhà. Ngăn giữa có một lớp cửa kính trong suốt. Trong đó là bộ sưu tập gấu nhồi bông, búp bê và rất nhiều chiếc tẩy xinh xắn đủ mọi hình dáng, kích cỡ. Chúng là niềm tự hào của em với bạn bè đến thăm. Gần cửa sổ, ba kê cho em một bộ bàn ghế bằng nhựa tổng hợp màu xanh lục. Bên trên mặt bàn là một cây đèn nê – ông nhỏ, bệ đèn có chiếc giá cắm bút bằng nhựa màu hồng nhạt. Còn chiếc ghế thì có lưng rựa nên em ngồi thật thoải mái. Buổi sáng, nắng sớm luồn qua khe cửa, rọi lên bàn những vệt sáng lung linh. Cùng với những chị gió tinh nghịch, chúng như nhảy múa theo nhịp bút viết lên những trang vở còn thơm mùi giấy mới. Căn phòng là thế giới đầy thú vị của em.
Viết đoạn văn ngắn miêu tả căn nhà hoặc căn phòng em đang ở
385
Viết đoạn văn ngắn miêu tả căn nhà hoặc căn phòng nơi em đang ở Gợi ý Khi xây nhà, ba dành cho em một căn phòng nhỏ xinh trên tầng hai. Phòng chỉ rộng khoảng 15m2 nhưng cũng đủ để trở thành thế giới riêng của em. Bước qua cánh cửa gỗ được đánh vécni nâu bóng là một căn phòng được sắp xếp gọn gàng, sạch sẽ. Phía bên trái là một chiếc giường đơn trải ga màu hồng rất dễ thương. Nằm trên đó em thấy rất thoải mái và thích thú vì có thể nhìn ngắm bức tranh thiên nhiên được vẽ trên tường. Bên cạnh giường là một cái giá gỗ to có rất nhiều ngăn nhỏ. Ở những ngăn trên cùng em đặt nào sách, nào vở, cả hộp màu nước và bộ bút chì bố mới mua cho nhân dịp sinh nhật. Còn ngăn dưới là ngôi nhà của những anh chàng truyện tranh. Trong cùng là truyện Đô-rê-mon, ở giữa là truyện nhóc Ma-rư-cô phía ngoài là truyện cổ tích An-đéc-xen. Tất cả đều được sắp xếp ngăn nắp. Phía bên phải của gian phòng, ba kê cho em một chiếc tủ ngang sơn màu xanh nhạt với các đường viền màu vàng trông rất bắt mắt. Hai bên tủ là các ngăn rộng đủ cho em đựng những bộ quần áo mặc đi học và mặc ở nhà. Ngăn giữa có một lớp cửa kính trong suốt. Trong đó là bộ sưu tập gấu nhồi bông, búp bê và rất nhiều chiếc tẩy xinh xắn đủ mọi hình dáng, kích cỡ. Chúng là niềm tự hào của em với bạn bè đến thăm. Gần cửa sổ, ba kê cho em một bộ bàn ghế bằng nhựa tổng hợp màu xanh lục. Bên trên mặt bàn là một cây đèn nê-ông nhỏ, bệ đèn có chiếc giá cắm bút bằng nhựa màu hồng nhạt. Còn chiếc ghế thì có lưng tựa nên em ngồi thật thoải mái. Buổi sáng, nắng sớm luồn qua khe cửa, rọi lên bàn những vệt sáng lung linh. Căn phòng là thế giới đầy thú vị của em.
Viết đoạn văn ngắn miêu tả căn nhà hoặc căn phòng nơi em đang ở
357
Viết đoạn văn ngắn miêu tả hình ảnh Cô giáo trong giờ dạy Văn Gợi ý Cô giáo dạy Văn của tôi giảng bài rất hay và hấp dẫn. Hôm nay, cô mặc chiếc áo dài màu tím Huế rất đẹp. Cô bước vào lớp như mang theo vào cả sắc trời thiên nhiên. Bắt đầu buổi học, cô nhẹ nhàng viết lên bảng những dòng chữ mềm mại, thẳng hàng. Chỉ một thoáng, hàng chữ đẹp đẽ hiện ra. Bài giảng bao giờ cũng lôi cuốn bởi giọng nói ấm áp và truyền cảm của cô. Giọng nói ấy dưòng như xuất phát từ sâu thẳm tâm hồn, đế từ đó chúng tôi cảm nhận được cái hay, cái đẹp của mỗi bài văn, bài thơ. Những lời cô giảng chúng tôi muốn khắc thật sâu không bao giờ quên. Khuôn mặt cô luôn tươi cười khi giảng giải. Đôi mắt cô nhìn thẳng về phía học trò, ân cần, dịu dàng và âu yếm. Đôi mắt ấy luôn cổ vũ tinh thần học sinh. Bàn tay cô nhẹ nhàng đưa theo nhịp điệu câu nói. Cô giảng bài rất say sưa đến khi trên khuôn mặt đã thấm những giọt mồ hôi mà cô không hề hay biết. Cô vẫn tập trung vào bài giảng, vào những đứa học trò yêu của mình. Thỉnh thoảng, cô đi xuống phía cuối lớp, xem học trò ghi bài, xem chúng tôi thảo luận nhóm. Có khó khăn gì cô sẵn sàng gợi ý, giúp đỡ. Cô lúc nào cũng gần gũi với học sinh, tôn trọng ý kiến học sinh, lắng nghe chúng tôi nói và cho chúng tôi trao đổi, thảo luận công bằng. Những lúc nào cô cũng là người chỉ huy tài ba khiến học trò khâm phục. Có lúc, trong bài giảng, cô tạo ra tình huống vô cùng lí thú giúp học trò phát huy sự chủ động, sáng tạo. Xen giữa nhũng giờ học căng thẳng, cô kể cho học trò những mẩu chuyện ngắn rất hay. Cô kể chuyện thật có duyên. Có đứa mải nghe cô kể cứ há miệng ra mà không biết. Thế là cả lớp có một trận cười vỡ bụng… Giờ học của cô bao giờ cũng nhẹ nhàng, dễ chịu.
Viết đoạn văn ngắn miêu tả hình ảnh Cô giáo trong giờ dạy Văn
379
Đề bài: Viết đoạn văn ngắn tả cảnh nơi em sống Bài làm Một ngày mới lại bắt đầu. Mặt trời dẩn dần hiện lên sau mấy dãy nhà cao tầng và bắt đầu chiếu ánh nắng dịu nhẹ của buổi sớm mai. Cả một khoảng không rộng lớn đang từ từ chuyển sắc. Thay thế cho màn đêm mờ ảo là ánh sáng hồng tươi đang lan tràn khắp không gian, cùng với ánh sáng, không khí cũng đang vận động. Nó trở nên nhẹ và trong, mát rượi, kích thích vào từng thớ thịt, khiến con người ta cảm thấy khoan khọái lạ thường. Viết đoạn văn ngắn tả cảnh nơi em sống Bên dưới kia, hàng cây xanh cũng vừa tỉnh giấc, đang khẽ rùng mình. Trên những chiếc lá ướt đẫm hơi sương là những chú sâu còn ngái ngủ, khẽ cuộn tròn người trong lá chưa chịu chào đón bình minh. Những chú chim chăm chỉ hơn đã dậy từ rất lâu và đang cất lên những khúc ca chào đón ngày mới. Theo tiếng chim ca, những tia nắng vàng tươi cũng bắt đầu nhảy múa hát ca trên nhũng con đường. Không gian không còn yên tĩnh mà chuyển dần sang huyên náo rộn ràng. Đó là tiếng nói cười rộn rã của những cô cậu học trò đang rảo bước tới trường, là tiếng động cơ xe máy và tiếng còi tàu buổi sớm. Tất cả dường như đã bừng tỉnh để bắt đầu một ngày lao động mới…
Viết đoạn văn ngắn tả cảnh nơi em sống
251
Viết đoạn văn ngắn tả mặt trời mọc trên Quê hương em Gợi ý Phải đứng trên cầu Thăng Long mới chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp của buổi sớm bình minh trên quê hương em. Quay mặt về hướng Đông, phía trước là dòng sông Hồng từ nguồn chảy xuôi ra biển; bờ nam của sông là bến Chèm với những ngôi nhà cao tầng mọc san sát đã bắt kịp nhịp độ đô thị hoá của Hà Nội; bên bờ bắc, xã Võng La với những mái nhà ngói rêu phong nằm lặng lẽ dưới những vòm cây. Khi trời mới tờ mờ sáng, dòng sông như một dòng sương mông lung và mờ ảo. Nhà cửa, làng xóm hai bên bờ vẫn như mơ màng nằm ngủ yên trong sương. Mặt Trời lên đỏ rực và tròn trịa như nhô lên từ thượng nguồn sông Hồng. Trong khoảnh khắc, dòng sông như đỏ rực lên vì phản chiếu sắc màu rực rỡ của Mặt Trời. Những tia nắng ban mai làm sương sớm dần tan biến để lộ ra sắc nước đỏ au lấp lánh và những con thuyền chài, thuyền chở than đang chạy phành phành trên sông. Những xoáy nước và cái mênh mông của sông Hồng dễ khiến ta choáng ngợp nếu không có những nhà cửa, cây cối hai bên bờ. Sương dần tan, làng xóm hiện ra khiến ta lầm tưởng những toà lâu đài bừng tỉnh sau giấc ngủ ngàn năm. Những mái nhà đỏ, những lùm cây xanh đan xen nhau kiêu hãnh khoe dáng vẻ đẹp đẽ của mình dưới ánh ban mai.
Viết đoạn văn ngắn tả mặt trời mọc trên Quê hương em
269
Viết đoạn văn ngắn từ 6 -8 câu nêu cảm nghĩ về bài Qua đèo ngang Bài làm Bà Huyện Thanh Quan là một trong số nữ sĩ tài danh hiếm có trong thời đại xưa. Bài thơ Qua đèo Ngang của bà đã để lại trong em ấn tượng sâu sắc. Bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật rất chặt chẽ về vần,luật nhưng bài thơ đã gợi tả rất tinh tế cảnh đèo Ngang và tâm trạng buồn man mác của tác giả ẩn trong từng câu,chữ bài thơ. Cảnh đèo Ngang hiện lên thật hoang sơ, chỉ có cỏ cây hoa lá chen chúc nhau um tùm,rậm rạp. Sự sống của con người có xuất hiện nhưng quá thưa thớt,ít ỏi “tiều vài chú”,”chợ mấy nhà” làm cho cảnh vật hoang sơ,vắng lặng hơn. Đứng trước cảnh như thế trong không gian buổi chiều tà và âm thanh tiếng chim quốc quốc,đa đa kêu khắc khoải càng làm cho tâm trạng buồn,cô đơn vì phải xa gia đình,quê hương của bà càng sâu đậm. Bài thơ cho em cảm nhận nỗi buồn thầm lặng không có người chia sẻ của tác giả.
Viết đoạn văn ngắn từ 6-8 câu nêu cảm nghĩ về bài Qua đèo ngang
192
Viết đoạn văn ngắn từ 6 -8 câu nêu cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước Bài làm Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ nữ xuất sắc của dân tộc ta, được mệnh danh là Bà Chúa Thơ Nôm. Bài thơ Bánh trôi nước của bà đã để lại trong em niềm xúc động sâu sắc.Với ngôn ngữ bình dị,gần gũi và thể thơ thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn,hàm súc,giàu hình tượng, bài thơ đã mượn hình ảnh chiếc bánh trôi nước-một món ăn bình dị,quen thuộc của dân tộc để nói lên thân phận,cuộc đời của người phụ nữ trong xã hội cũ. Họ thật đẹp”vừa trắng lại vừa tròn” nhưng số phận lại hẩm hiu,lận đận“bảy nổi ba chìm” và phải sống cuộc đời phụ thuộc,không có quyền tự quyết số phận của mình thật đáng thương. Nhưng vượt lên trên số phận hẩm hiu,người phụ nữ luôn giữ vững phẩm hạnh sắt son,chung thủy của mình”Mà em vẫn giữ tấm lòng son”. Họ như những đóa hoa sen thơm ngát vươn lên tỏa hương giữa chốn bùn lầy.Bài thơ cho em cảm nhận sự thương cảm,trân trọng sâu sắc của Hồ Xuân Hươngg đối với người phụ nữ thời bấy giờ. Đồng thời giúp em hiểu hơn về số phận,cuộc đời người phụ nữ trong xã hội cũ. Em thật hạnh phúc được sống trong xã hội bình đẳng,công bằng,văn minh.
Viết đoạn văn ngắn từ 6-8 câu nêu cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước
235
Viết đoạn văn ngắn từ 6-8 câu nêu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya Bài làm Bác Hồ được nhân dân trên toàn thế giới biết đến không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam mà còn là một nhà thơ lớn. Trong những bài thơ Bác viết ở chiến khu Việt Bắc,em rất thích bài thơ Cảnh khuya. Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn,hàm súc nhưng bài thơ đã chứa đựng tình yêu thiên nhiên,tình yêu nước sâu đậm của Bác. Hai câu thơ đầu gợi ra trước mắt em bức tranh thiên nhiên thật đẹp và gần gũi. Có âm thanh tiếng suối chảy như tiếng ai đang hát ngọt ngào,sâu lắng,có ánh trăng sáng lung linh trên bầu trời soi sáng mọi vật,làm cho cây cỏ,hoa lá như đang lồng vào nhau tạo nên bức tranh tuyệt đẹp. Em nghĩ với tâm hồn nghệ sĩ, yêu thiên nhiên đặc biệt là trăng nên Bác mới viết những câu thơ hay đến thế. Đọc hai câu cuối khiến em cảm động vô cùng! Bác thức khuya,chưa ngủ không phải vì ngắm cảnh đẹp mà Bác chưa ngủ vì Bác lo nỗi nước nhà, làm sao cho dân ta được tự do,độc lập. Bài thơ giúp em hiểu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của Bác.
Viết đoạn văn ngắn từ 6-8 câu nêu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya
223
Viết đoạn văn ngắn từ 6 -8 câu nêu cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng Giêng Bài làm Trăng là nguồn cảm hứng vô tận của biết bao thi sĩ trong đó có Bác. Em rất xúc động khi đọc bài thơ Rằm tháng giêng được Bác viết năm 1948. Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn, hàm súc nhưng bài thơ đã chứa đựng tình yêu nước,tình yêu thiên nhiên và phong thái ung dung,lạc quan của Người. Hai câu thơ đầu với điệp từ “xuân” và từ láy”lồng lộng ” đã gợi ra trước mắt em bức tranh thiên nhiên trong một đêm trăng thật rộng lớn,bát ngát và tràn đầy sức xuân. Em nghĩ chỉ có tâm hồn nghệ sĩ, yêu thiên nhiên như Bác mới có thể cảm nhận thiên nhiên đẹp đến thế. Đọc hai câu thơ cuối khiến em cảm động và ngưỡng mộ vô cùng. Bác ngắm cảnh làm thơ sau khi bàn bạc việc quân cùng các đồng chí trở về. Công việc chắc chắn rất gay go,căng thẳng nhưng không vì thế mà Bác hững hờ trước đêm trăng đẹp.Bài thơ là một minh chứng cho thấy Bác là vị lành tụ cách mạng tài ba vừa là người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm.
Viết đoạn văn ngắn từ 6-8 câu nêu cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng Giêng
213
Đề bài: Viết đoạn văn ngắn tự giới thiệu về bản thân Bài làm “Sinh em ra trên đời, bố mẹ đặt tên: Hồng Giang Một dòng sông màu hồng mơ mộng Giữa vạn vật và muôn sắc màu cùa trời đất cao rộng Mong cho emmột hạnh phúc tươi hồng’’ Đỗ Hồng Giang là tên mà ba mẹ đặt cho lúc em mới ra đời. Nhưng mọi người trong nhà vẫn quen gọi em là Bé Còi. Cái tên đó xem ra rất hợp với thân hình nhỏ nhắn và nói đúng hơn là còi cọc của em. Ăn rất khoẻ nhưng em nghịch cũng dữ nên mẹ bảo em không thể lớn được. Tuy là con gái nhưng em nghịch như tụi con trai. Mỗi buổi chiều đi học về em thường cùng tụi thằng Sơn, thằng Phúc xách chai đi đổ dế. Hôm nào chán tụi em lại rủ nhau đi đánh đáo, đánh khẳng. Viết đoạn văn ngắn tự giới thiệu về bản thân Trong nhà em toàn bi, ảnh, quay, không thể kiếm đâu ra một con búp bê hay một bộ đồ hàng cả. Ba thường vừa cười vừa trêu em “đáng lẽ Bé Còi nhà ta phải là con trai mới đúng”. Những lúc như thế em thường đỏ mặt bỏ chạy. Nghịch ngợm là vậy nhưng em cũng chăm học lắm nhé! Ở lớp Bé Còi toàn đứng đầu thôi. Năm ngoái em còn được nhà trường cử đi thi học sinh giỏi môn Toán nữa đấy. Mơ ước lớn nhất của em là được trở thành phi công, lái những chiếc máy bay thật lớn, thật to bay lên bầu trời cao vàtrong xanh trên kia. Em tin chắc rằng mình sẽ thực hiện được ước mơ đó.
Viết đoạn văn ngắn tự giới thiệu về bản thân
288
Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về hình ảnh dượng Hương Thư giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh, hùng vĩ (văn bản Vượt Thác, Võ Quảng) Gợi ý Trong văn bản “Vượt thác” của Võ Quảng, hình ảnh dượng Hương Thư “giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ” là một hình ảnh so sánh đầy sức gợi. Hình ảnh ấy khiến ta liên tưởng tới những hình ảnh huyền thoại anh hùng xưa với tầm vóc và sức mạnh phi thường của những Đam San, Xinh Nhã bằng xương, bằng thịt đang hiển hiện trước mắt. So sánh như vậy, tác giả nhằm khắc hoạ nổi bật và tôn vinh sức mạnh của con người trong công cuộc chế ngự thiên nhiên. Lớp lớp những thế hệ trên mảnh đất này đã lao công khổ tứ với sự nghiệp chinh phục thiên nhiên hoang dã để giành phần sống cho mình. Và hôm nay, không phải chỉ một mình dượng Hương Thư, không phải một mình người dân chài nào trên mảnh đất này đang đơn độc chống chọi với thác dữ mà là oai linh của hàng trăm người anh hùng đang tụ hội cùng hậu thế vượt qua thử thách. Không chỉ vậy, cách so sánh này còn đối lập mạnh mẽ vói một hình ảnh “dượng Hương Thư ở nhà, nói năng nhỏ nhẹ, tính nết nhu mì, ai gọi cũng vâng vâng dạ dạ”. Qua đó, tác giả khẳng định một phẩm chất đáng quí của người lao động: khiêm tốn, nhu mì đến nhút nhát trong cuộc đời thường, nhưng lại dũng mãnh, nhanh nhẹn, quyết liệt trong công việc, trong khó khăn, thử thách.
Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về hình ảnh dượng Hương Thư giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh, hùng vĩ (văn bản Vượt Thác, Võ Quảng)
289
Viết đoạn văn nêu tác dụng của phép tu từ nhân hóa trong bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa Gợi ý Trong bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa, phép nhân hóa được sử dụng rất rộng rãi. Ông trời mặc áo, mía múa gươm, kiến hành quân, cỏ gà rung tai nghe, bụi tre tần ngần gỡ tóc, hàng bưởi bế lũ con đầu tròn trọc lóc, sấm ghé xuống sân khanh khách cười, cây dừa sử dụng tay bơi, ngọn mùng tơi nhảy múa… Phép nhân hóa này làm cho cả thế giới cây cỏ, thiên nhiên hoạt động sinh động, đa dạng như thế giới con người. Thiên nhiên như đang vào trận chiến: ông trời mặc áo gióng đen, mía múa gươm, kiến hành quân nhưng lại vẫn có những hoạt động bình dị khác như gỡ tóc, bơi, nhảy múa, bế con… Phép nhân hóa được sử dụng thành công là nhờ sự quan sát tinh tế của tác giả, kết hợp với sự liên tưởng độc đáo. Phép nhân hóa được sử dụng nhiều lần nhưng không có sự trùng lặp.
Viết đoạn văn nêu tác dụng của phép tu từ nhân hóa trong bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa
186
Viết đoạn văn nêu ý nghĩa của hình tượng Thánh Gióng trong truyền thuyết cùng tên của người Việt Nam đồng thời cho biết sự thật lịch sử được phản ánh trong tác phẩm là gì? Gợi ý Trong truyền thuyết Thánh Gióng, Thánh Gióng là hình tượng tiêu biểu của người anh hùng chống giặc ngoại xâm. Chàng được sinh ra từ một người mẹ nông dân nghèo, điều này chứng tỏ Gióng sinh ra từ nhân dân, do nhân dân nuôi dưỡng. Gióng đã chiến đấu bằng tất cả tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc của nhân dân. Sức mạnh của Gióng không chỉ tượng trưng cho sức mạnh của tinh thần đoàn kết toàn dân, đó còn là sức mạnh của sự kết hợp giữa con người và thiên nhiên, bằng cả vũ khí thô sơ (tre) và hiện đại (roi sắt). Từ truyền thống đánh giặc cứu nước, nhân dân ta đã thần thánh hoá những vị anh hùng trở thành những nhân vật huyền thoại, tượng trưng cho lòng yêu nước, sức mạnh quật khỏi. Bên cạnh giá trị biểu tượng, tác phẩm cũng có một số sự thật lịch sử. Thời kì lịch sử được phản ánh trong tác phẩm là thời đại Hùng Vương. Trên cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước đã khá phát triển, người dân Văn Lang đã tạo nên cả một nền văn minh rực rỡ, đồng thời cũng luôn luôn phải chống giặc ngoại xâm phương Bắc để bảo vệ đất nước. Bên cạnh việc cấy trồng lúa nước, nhân dân thời bấy giờ đã có ý thức chế tạo vũ khí chống giặc từ chất liệu kim loại (bằng sắt). Truyền thuyết cũng phản ánh: trong công cuộc chống ngoại xâm, từ xa xưa, chúng ta đã có truyền thống huy động sức mạnh của cả cộng đồng, dùng tất cả các phương tiện để đánh giặc.
Viết đoạn văn nêu ý nghĩa của hình tượng Thánh Gióng trong truyền thuyết cùng tên của người Việt Nam đồng thời cho biết sự thật lịch sử được phản ánh trong tác phẩm là gì_
323
Đề bài: Viết đoạn văn phân tích cái hay của hình ảnh thơ: "Lá vàng rơi trên giấy. Ngoài giời mưa bụi bay" Bài làm “Lá vàng rơi trên giấy Ngoài giời mưa bụi bay” Hình ảnh “lá vàng” gợi đến sự tàn phai, rơi rụng. Nhưng đầu xuân sao lại có “lá vàng”? "Lá vàng rơi trên giấy”, giấy ấy chính là “Giấy đỏ buồn không thắm”. Hình ảnh “lá vàng” gợi đến thân phận ông đồ trong bài thơ. Ông đã bị xã hội bỏ rơi, ông đã gắng níu kéo cuộc đời thầm lặng bẽ bàng ngồi bên lề phố “đông người qua” nhưng so với thời đại mới đang sục sôi, bon chen thì ông chỉ là chiếc lá úa tàn đang rụng rơi cay đắng. Nỗi buồn ấy âm thầm và tê tái, nó khiến cơn mưa xuân vốn chứa đựng sức sống bền bỉ, dai dẳng cũng trở thành đìu hiu, xót xa: “Ngoài giời mưa bụi bay”. “Giời” chứ không phải là “trời”. Đó là cách gọi của dân gian, của những “người muôn năm cũ", trong đó có ông đồ. Câu thơ gợi cái ngước nhìn buồn thẳm của ông trước làn mưa bụi nhạt nhòa. Dẫu chỉ là mưa bụi, mưa bay nhưng nó cũng đủ sức xóa mờ đi dấu vết của cả một lớp người. Âu cũng bởi lớp người ấy quá mong manh, bé nhỏ!
Viết đoạn văn phân tích cái hay của hình ảnh thơ_ “Lá vàng rơi trên giấy. Ngoài giời mưa bụi bay”
232
Viết đoạn văn phân tích ý nghĩa những vật dụng mà Mã Lương (truyện Cây bút thẩn) đã vẽ cho mọi người Gợi ý Mã Lương vẽ giỏi vì em không những có tài năng mà còn rất ham mê học vẽ. Vì có tài lại ham mê học tập như vậy nên Mã Lương đã được tiên ông tặng cho cây bút thần có thể giúp em vẽ được những mọi vật sống động như ý muốn. Tuy nhiên, chỉ Mã Lương mới sử dụng được cây bút đó, điều đó cho thấy nghệ thuật chân chính chỉ có được trong tay những người tài năng, đức độ. Với những người nghèo, Mã Lương không vẽ những của cải sẵn có để hưởng thụ. Em vẽ cho họ cái cày, cái cuốc, cái thùng – những vật dụng sinh hoạt và phương tiện lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Việc làm của Mã Lương rất có ý nghĩa vì nó giúp cho con người đỡ vất vả nhưng không vì thế mà coi thường giá trị lao động. Với những kẻ tham lam, độc ác, hoặc là Mã Lương kiên quyết cự tuyệt (như đối với tên địa chủ) hoặc là em chế giễu (vẽ con cóc, con gà trụi lông cho vua). Cuối cùng em dùng cây bút thần để kết liễu bọn chúng. Mã Lương được các vị thần linh tặng cây bút thần cũng có nghĩa là được trao sứ mệnh giúp đỡ dân nghèo, trừ diệt những kẻ tàn ác, tham lam.
Viết đoạn văn phân tích ý nghĩa những vật dụng mà Mã Lương (truyện Cây bút thẩn) đã vẽ cho mọi người
258
Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về vùng Cà Mau qua bài Sông nước Cà Mau đã học Gợi ý Trong văn bản Sông nước Cà Mau, dưới ngòi bút tài tình của nhà văn Đoàn Giỏi, cả vùng sông nước Cà Mau hiện lên thật sinh động, cảnh vật biên hoá, màu sắc biến hoá: màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ,… Những dòng sông, kênh, rạch, rừng đước và cả khu chợ Năm Căn nữa hiện lên vừa hùng vĩ, hoang sơ, vừa dạt dào sức sống, cảnh xa lạ mà vẫn gợi bao yêu mến, nhớ thương. Thiên nhiên Cà Mau bao la, hào phóng; con người Cà Mau mộc mạc, hồn hậu, dễ thương. Đọc những trang văn của Đoàn Giỏi, ta có cảm giác như đang đi giữa sông nước Cà Mau, tận hưởng hương rừng Cà Mau, đến chơi chợ Năm Căn, dừng lại, bước lên những ngôi nhà bè xem và mua một vài món quà lưu niệm, cảm giác được chu du giữa cả một miền sông nước như thế mới thú vị biết bao!
Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về vùng Cà Mau qua bài Sông nước Cà Mau đã học
187
Đề bài: Em có suy nghĩ gì về việc chấp hành luật đội mũ bảo hiểm trong đời sống thực tế? Viết đoạn văn bày tó ý kiến của bản thân về vấn đề này Bài làm Tác dụng bảo vệ của mũ bảo hiểm là không có gì để bàn cãi. Với lớp vỏ chắc chắn, nó bảo vệ đầu của người đeo tránh bị va đập trực tiếp một khi tai nạn chẳng may xảy ra. Và với chiếc mũ bảo hiểm trên đầu chúng ta có thể yên tâm khi đi lại trong tình trạng đường phố còn nhiều hạn chế ở Việt Nam. Con số những vụ tai nạn giao thông hay số người chết sẽ giảm đi rất nhiều nếu mỗi người khi ra đường đều đội mũ bảo hiểm. Thế nhưng, trong khi Nhà nước yêu cầu đội mũ bảo hiểm trên toàn bộ đường phố thì vẫn còn một bộ phận nhỏ người dân vẫn chưa ý thức rõ tầm quan trọng của việc này. Vì vậy mới sinh ra tình trạng cố tình không đội, hay chỉ đội ở nơi nào có cảnh sát giao thông, thậm chí, có một số người đội mũ mà không cài quai, rõ ràng, việc đội mũ chỉ là chống đối. Những người đó có hiểu nhưng họ đã đùa giỡn với tính mạng của mình, để cái đầu của họ thách đấu với mặt đường hay không?
Viết đoạn văn trình bày ý kiến về việc chấp hành luật đội mũ bảo hiểm trong đời sống thực tế
239
Đề bài: Viết đoạn văn tả hình một con vật – tả con bò Bài làm Con bò mẹ có bộ lông vàng nâu mượt mà. Cái đuôi dài, có chùm lông nâu đen, lúc nào cũng phe phẩy đuổi ruồi muỗi. Bốn chân có móng guốc màu xám đen, cổ chân có vòng lông trắng rất xinh. Hai cái sừng nhọn, to như cái măng tre vừa mọc nhô khỏi mặt đất, dài khoảng 20 cm. Bài văn mẫu tả con bò Mắt bò mẹ đen màu hạt nhãn, mở to, lúc nào cũng đăm chiêu mơ màng. Đôi tai như lá bạch đàn, ngoài vàng trong trắng. Bò mẹ gặm cỏ non, chốc chốc lại ngoảnh cổ dõi nhìn chú bê vàng óng, đứa con yêu đang cong đuôi chạy nhảy, nô đùa ở cuối bãi cỏ.
Viết đoạn văn tả hình một con vật
135
Viết đoạn văn tả một buổi trưa mùa hè Hướng dẫn Viết một đoạn văn ngắn tả không khí oi bức của một buổi trưa hè Viết đoạn văn tả một buổi trưa mùa hè là đề bài trong chương trình ngữ văn cấp THCS, mời các bạn tham khảo một số bài văn mẫu viết một đoạn văn miêu tả không khí oi bức của một buổi trưa hè trong đó có sử dụng từ láy tượng hình, tượng thanh, gạch chân hình ảnh so sánh nhân hóa trong bài viết này. Hãy tả cảnh mùa hè và nói lên cảm tưởng khi hè đến Tả cơn mưa rào mùa hạ Đề bài: “Cảnh vật trưa hè ở đây yên tĩnh, cây cối đứng im lìm, không gian vắng lặng, không một tiếng động nhỏ. Chỉ một màu nắng chói chang.” Dựa vào nội dung đoạn văn trên, kết hợp với sự tưởng tưởng của mình, em hãy tả lại cảnh vật quê em vào một buổi trưa hè. Bài 1: Tôi thích buổi sáng, yêu thích buổi chiều, nhưng tôi lại cũng rất thích buổi trưa hè trên quê hương có gió nồm nam mát mẻ. Trong ánh nắng mặt trời oi ả, làng quê hiện lên với tất cả vẻ giản dị, thân thương. Những cây tràm cao vút chẳng khác gì những cây nến khổng lồ. Đầu lá ủ rũ như đầu lá liễu ở rừng dương ven biển. Mùi hương tràm ngát dậy bởi nó đang hong nóng dưới ánh mặt trời. Không chỉ có hương tràm mà có cả mùi khô của rơm rạ, mùi thơm của hương lúa được hong khô, mùi nồng ngai ngái của phù sa đất mới. Những mùi hương quen thuộc ấy đã làm tôi cảm thấy ấm áp lạ lùng. Mặc dù nắng hè như đổ lửa nhưng quê hương tôi vẫn hiện lên một vẻ đẹp hiền hòa. Trên những sân phơi, từng sợi rơm vàng óng, từng hạt thóc vàng giòn ánh lên dưới nắng. Ánh nắng ban trưa giúp con người có củi, có rơm, có thóc khô giòn. Nắng trưa tuy gay gắt nhưng giúp mọi người no ấm. Tuy nắng chói chang nhưng gió nồm thổi đến cũng đủ làm cho con người dễ chịu. Những tàu dừa như chiếc lược chải vào không gian lộng gió. Văng vẳng đâu đó tiếng kĩu kịt của lũy tre làng, ngọn tre cong cong vẫn vô tư cho gió đưa đẩy. Dưới bóng râm của tre những bác trâu ung dung nằm nhai cỏ. Trâu nhai cả bóng râm của lũy tre xanh đang ta: trùm một khoảng trời nho nhỏ. Trên mấy cây cao, những chú chào mào, sáo sậu, sáo đen đua nhau chuyền cành, ca hát. Dường như chúng cũng thích thú một buổi trưa hè đầy nắng, gió. Làng quê yên ả. Làng quê yêu thương. Nơi ấy, tôi được sinh ra và lớn lên, nơi có tiếng hát ngọt ngào của bà ru tôi yên giấc ban trưa. Tôi yêu biết bao buổi trưa hè thân thương ấy trên quê hương. Bài 2: Quê hương mỗi người chỉ một như là chỉ một mẹ thôi quê hương nếu ai không nhớ sẽ không lớn nổi thành người”, những lời hát da diết và căng tràn cảm xúc đã thể hiện được những nỗi nhớ mong da diết trong tâm hồn của mỗi người giá trị đó đã để lại cho mỗi người những cảm xúc rất đặc biệt vả nó da diết đến vô cùng. Quê hương là nơi chôn nhau cắt rốn của mỗi người chính vì vậy những hình ảnh đậm nét của quê hương chắc hẳn ai ai cũng luôn luôn nhớ.Đặc biệt hình ảnh những buổi trưa hè để lại cho em nhiều ấn tượng nhất. Những nỗi nhớ da diết đan xen vào đó là những cảm xúc rất đặc biệt đối với quê hương, hình ảnh những buổi trưa hè nắng chói chang đan xen vào đó là những tiếng ve kêu dâm dan bên những vòm cây làm cho tâm hồn của chúng ta có những cảm xúc lạ và đôi khi con người lắng nghe và cảm nhận được cuộc sống đang diễn ra xung quanh chúng ta thật nồng hậu và da diết đến vô ngần, những tình cảm đó để lại rất nhiều những nỗi nhớ, những cảnh vật xung quanh chúng ta rất gần gũi và nó đáng trân trọng đến biết bao khi những cảnh vật đó làm cho cuộc sống của chúng ta thêm phong phú và có ý nghĩa hơn, những hình ảnh mang đậm giá trị của quê hương, trong buổi trưa hè đó đôi khi chúng ta bị những cơn nắng đó là cho cảm thấy rất khó chịu nhưng rồi những hình ảnh của những chú chim đang hót líu lo gọi hè và những tiếng ve kêu dâm dan. ​Những buổi trưa hè là hình ảnh mà những lũ bạn quay quần bên nhau, chơi những trò chơi dân gian, những hình ảnh gần gũi đó chúng ta thấy nó hiện rõ trên quê hương ở vùng nông thôn, những hình ảnh những cái nắng đến cháy da cháy thịt, và những hình ảnh làm cho thiên nhiên và cuộc sống của con người thêm những phần giá trị nhất. Thiên nhiên xung quanh mỗi chúng ta vô cùng phong phú nhưng để làm được những điều đó mỗi chúng ta đều thấu hiểu và có niềm tin về thi vị mà quê hương của mỗi người đem lại, trong cái trưa nắng oi ả của mùa hè em cũng nghe thấy những tiếng ru của bà của mẹ cho những em bé ngủ, những tiếng à ơi và những tiếng nói cười của những gia đình bên xóm. Tất cả đều ẩn hiện một cách có giá trị, trong buổi trưa hè những cành phượng đỏ au, đang phấp phới và đan xen vào những vầng sáng trong tâm hồn của con người, nó đang sống cùng với thiên nhiên, cùng với đất trời để làm nên những điều có ý nghĩa và giá trị nhất, những cành phượng vĩ nó cũng báo hiệu cho một mùa hè đã đến, trên những cành cây cao sum xê, dưới gốc là những đám bạn đang vui chơi và nói chuyện, mùa hè với cái nắng choi chang nhưng nó cũng có cái mới mẻ và để lại cho mỗi người những cảm giác rất lạ và thấy ấm áp. Hình ảnh những buổi trưa hè để lại cho em rất nhiều những cảm nhận mới mẻ và đặc biệt làm cho em có cảm giác yêu quê hương đất nước của mình nhiều hơn. Bài 3: Mỗi buổi trưa hè, nó yêu lắm cái yên ả tuyệt đối của đất trời. Cũng như đêm, khi người người đều vùi say trong sự nghỉ ngơi, thì nó lại muốn thức, thức để mà ru lòng mình với khoảng trời bình yên và dịu ngọt. Bỗng thấy cuộc sống đẹp một cách lạ kỳ. Nắng lên tỏa sáng từng góc không gian, tỏa rạng qua từng ô cửa. Nắng tưới lên vạn vật sức sống kỳ ảo lung linh. Trời trong xanh hơn. Gió khẽ hát khúc du dương dịu dàng. Nắng và gió như đôi bạn thân song hành, hễ vắng nhau là thấy thiếu, thấy nhớ. Ngày nào gió lỡ làng đi vắng, bỏ quên nắng một mình trong nhân gian, nắng buồn và gắt gỏng khiến bao người khốn khổ, nhăn nhó bởi cái oi bức khó chịu. Nhưng khi gió về quyện hòa cùng nắng, gió giúp nắng xua đi cái không khí nồng oi. Gió thổi mát những gương mặt người lấm tấm mồ hôi. Gió tưới tắm những con đường bỏng rát như rang. Và gió khẽ trêu đùa những làn tóc thiếu nữ mỏng bay. Gió và nắng nhí nhảnh dạo chơi, khi lại chờn vờn cùng làn mây trắng bay. Và cứ mỗi trưa hè, nắng nhẹ nhàng ru cho gió ngủ. Để chiều về, gió sẽ khiến nắng dịu dàng và trong veo du đãng. Khi đó nắng sẽ chỉ còn là những tia nắng nhảy nhót chan hòa dạo chơi cùng gió, đi qua những khoảng trời rộng và xanh ngút ngàn màu xanh của mây, của cỏ cây hoa lá. Rồi khi đêm về sẽ chỉ còn gió lang thang trên khắp mọi nẻo đường. Vì nắng phải đi ngủ do mặt trời bắt thế. Còn mình gió, và gió sẽ làm mát lại những gì bị làm khô héo đi bởi nắng. Thi thoảng gió gọi mưa về để vạn vật sinh sôi đâm chồi khoe sắc. Có mưa thì nắng phải trốn đi. Sau mưa rồi nắng lại về. Bởi thế, Nắng, gió và Mưa cứ lần lượt làm những nhiệm vụ của mình. Dẫu chẳng chẳng thể mãi gần bên những họ luôn cần thiết cho nhau. Như một mối tình tay ba ngọt ngào, như nắng cần gió, gió cần mưa, và mưa lại cần nắng. Ngày ấy nhóc nghịch nhất làng, bốn mặt làng chẳng ai không biết tên. Nổi tiếng cả những lần đuổi đánh nhau cùng chúng bạn. Hễ ai chọc giận là nhóc chẳng tha, người bé tí như cái kéo nhưng đành hanh phải biết. Bị bố mẹ đánh thì không bao giờ biết khóc, càng lầm lì thách thức. Hình như vậy mà giờ nhóc vẫn ngang bướng, chẳng chịu thua ai bao giờ. Học kém bạn một chút thôi cũng thấy khó chịu mất ăn mất ngủ. Ngày bé nhóc thích mặc áo màu vàng, bởi đó là màu của nắng. Và tận cho đến bây giờ, nhóc vẫn yêu màu vàng như thế. Chợt nhớ những câu thơ của Trịnh Công Sơn: Nắng vàng em đi đâu mà vội Mà vội nắng vàng nắng vàng ơi Hẳn là Trịnh cũng yêu nắng lắm, nên mới gọi nắng thiết tha và trừu mến đến thế. Chợt nhận ra, chỉ mới là đầu hè thôi nhỉ. Đầu hè mà nắng vàng rực rỡ quá. Nó nghe người ta kêu than về sự oi bức của đất trời. Những gương mặt nhăn nhó mệt mỏi. Nó lại chỉ thấy yêu thêm mùa hè chói chang rực nắng. Chẳng bao giờ là cần dùng đến điều hòa, thậm chí sợ điều hòa, nó vẫn là cô nhóc của ngày xưa, có thể đi bộ hàng giờ dưới nắng giữa trưa hè mà không bao giờ cần phải đội mũ hay mặc áo che nắng. Và nó thích cảm giác này, một trưa hè oi ả, ngồi trong phòng ngắm nắng cùng mây ngừng bay. Thi thoảng làn gió nhẹ khẽ làm đung đưa những chậu cảnh ngoài hiên. Những bông nhài trắng tỏa hương thơm len lỏi vào phòng. Trên chiếc giường trải nệm vàng ấm áp của nó nằm ngổn ngang những gấu bố, gấu mẹ, gấu con thật đáng yêu. Đó là thế giới riêng rất đỗi bình yên của nó. Nơi giúp nó cân bằng sau biết bao những bộn bề lo toan cuộc sống. Nó sẽ mong chờ một sắc gạo đỏ và những cơn mưa hè tháng sáu. Trong sắc đỏ sẽ bập bùng cháy lên cả một trời yêu. Và những cơn mưa mùa hạ sẽ làm trời trong hơn, xanh hơn, và nắng sẽ mềm hơn cùng gió thênh thang…
Viết đoạn văn tả một buổi trưa mùa hè
1,891
Viết đoạn văn tả một loài cây mà em yêu thích Hướng dẫn Viết đoạn văn tả một loài cây mà em yêu thích Bài làm 1 (Tả cây me tây) Gốc cây ước chừng hai vòng tay người lớn ôm không xuể. Những cái rễ to, nhỏ đủ cỡ bò lan trên mặt đất, dùng làm ghế tạm cho khách đi đường nay đã nhẵn bóng nằm phơi mình như những con trăn khống lồ trong bóng râm. Thân cây thẳng đứng từ mặt đất lên chừng ba, bốn mét chĩa thành ba nhánh lớn tạo nên cái vòm tròn như một cái dù phi công màu xanh lục. Vỏ cây xù xì màu nâu xám. Một vài vị khách muốn lưu lại đây một vài kỷ niệm nào đấy đã dùng dao khắc lên vỏ cây ngày tháng năm và chữ ký loằng ngoằng cùng họ tên của mình. Tít trên cao, tán lá xum xuê toá rộng là nơi những chu chich bông, chào mào, sáo sậu… thỉnh thoảng tụ hội về đây dự “hội diễn ca nhạc”. Đến mùa ra hoa, cái vòm xanh lục khổng lồ này điểm sáng vô vàn những chấm nhỏ li ti màu hồng tím, trông mới đẹp làm sao! Bài làm 2 (Tả cây đa) Em ngồi xuống trên một cái rễ đa to như bắp chân người lớn nghỉ xả hơi cho đỡ mệt. Nhìn quanh gốc cây, những chiếc rễ đa chằng chịt đan quyện vào nhau, nổi lên trên mặt đất như những con trăn hoa nằm hóng gió. Cái gốc của nó năm sáu đứa chúng em nối tay nhau mới ôm xuể được. Thân cây cao độ bốn mét với vô vàn nhánh. Các nhánh lớn lại đẻ ra nhiều cành nên tán lá đa xoè ra phủ kín một khoảng đất rộng, ước chừng đến cả trăm người ngồi dưới vẫn con thấy thoáng mát. Những chiếc lá xanh thẫm hình bầu dục to như bàn tay người lớn khép kín. Lá to, lá nhỏ, tầng tầng, lớp lớp tạo ra một vóm lá dày đặc xanh um, nắng mưa khó lòng lọt qua được. Trên tán lá xanh cao vời vợi ấy lũ chim sáo, chào mào, chìa vôi … kéo về hàng đàn, tha hồ thi nhau ca hát”. (Tả cây vú sữa ở vườn nhà em) Gốc cây to như bắp vế người lớn với những chiếc rễ ăn sâu xuống đất, tạo cho cây vú sữa một dáng đứng vững chãi. Từ mặt đất lên chừng một mét, thân cây chia thành hai nhánh lớn, vươn thẳng lên ; cao, ước chừng gần bằng nóc nhà em. Vòm lá xum xuê tỏa bóng mát cả một góc sân rộng, tạo thành một chỗ vui chơi thoáng mát cho hai chị em em và lũ bạn cùng xóm. Mùa thứ ba này, nhìn cây vú sữa, em cảm tưởng như cây thấp xuống và xòe rộng ra hơn mọi năm. Các cành lớn, cành nhỏ lủng lẳng những trái là trái. Trái nào trái nảy căng tròn như những trái cam đường bóng láng. Có những cành chỉ nhỉnh hơn ngón chân cái của bố em chút xíu mà có đến bảy, tám trái thì chín mọng treo lủng lẳng từ trong ra ngoài, làm cho cành cây cong vòng hơn cả gọng vó. Nhiều lúc gặp gió chướng thổi qua tưởng như chúng sẽ bị gãy gập xuống cả nhưng cây vú sữa vẫn đứng đó dẻo dai, bền vững. Bài làm 4 (Tả cây mít ở vườn nhà em) Thân cây lớn bằng cả một vòng tay người lớn, màu nâu sẫm. Cành lá xum xuê. Lá mít xanh mướt dày hình bầu dục to như những bàn tay. Lúc già, lá chuyển màu vàng rồi vàng sậm. Từ thân và cành nảy ra những chùm trái non như những bóng đèn ngủ, rồi lớn dần, lớn dần. Chúng được bao bọc trong một lớp phấn trắng. Từ từ, gai mít hình thành lấm chấm như những mụn trứng cá. Trái mít lớn khá nhanh, khi đã bằng trái dưa hấu thì gai mít cũng thành hình rõ nét, lởm chởm như da cóc. Hình thức bề ngoài thì vậy đó nhưng khi trái chín, mùi thơm của nó mới hấp dẫn làm sao! Bởi vậy mà dân gian có câu: Da cóc mà bọc trứng gà Bổ ra thơm phức Cả nhà muốn ăn Múi mít vàng như màu nghệ, mật chứa trong múi ngọt đậm và sánh như mật ong. Còn hạt của nó to bằng ngón chân cái, luộc lên, thơm bùi như đậu phộng. (Tả cây dừa) Thoạt nhìn, cây dừa như một cái ô khổng lồ vươn thẳng lên trời, phủ bóng râm mát rượi xuống lối ra vào nhà. Gốc dừa lớn như cột đình, rễ tua tủa ăn sâu bám chắc vào lòng đất. Thân dừa thẳng đuột, màu nâu xám. Trên ngọn, lá mọc thành vòng tròn xòe đều ra xung quanh. Có những tàu dài đến hai, ba mét. Lá dừa xanh bóng, mọc xuôi theo cuống. Nhìn từ xa, chúng giống như những chiếc lược khổng lồ chải mái tóc mây thêm suôn mượt. Từ các nách bẹ, từng chùm quả nhỏ mập mạp trắng sữa chĩa ra, dần dần thành quả lớn. Khi lớn bằng trái bưởi, mỗi cuống quả dừa có một cái dải dài buông thỏng, trông giống như cái dải lụa của một cái nơ. Quả dừa tròn, phía đuôi hơi thon lại. Nước dừa ngọt mát, trong lành. Giữa trưa hè mà có một quả dừa để uống thì thật là tuyệt!
Viết đoạn văn tả một loài cây mà em yêu thích
933
Viết đoạn văn tả về người anh trai thân yêu của em Gợi ý Anh trai tôi có dáng người tọ cao nhưng hơi béo, tuy vậy anh rất nhanh nhẹn. Anh tôi hoàn toàn trái ngược với tôi, nếu như tôi có một làn da bánh mật (vì hay đi phơi nắng mà!) thì anh tôi trắng trẻo, hồng hào, y như mẹ tôi vậy. Đôi mắt đen lay láy lại đang trang bị thêm cặp kính dày cộp làm anh trông rất trí thức. Anh tôi để cái đầu húi cua trông rất nghịch ngợm. Khuôn mặt của anh luôn niềm nở, rạng rỡ, nhất là đối với tôi. Anh tôi đi tập võ nên khỏe mạnh, cường tráng lắm. Mỗi lần tôi cãi anh, muốn doạ đùa tôi, anh lại bắt đầu vén tay áo lên khoe bắp tay rắn chắc của mình. Anh tôi thích mặc quần áo màu sẫm như thế muốn tôn làn da hồng hào của anh. Anh thường nghiêm khắc những lúc ra uy, dịu dàng những lúc khuyên nhủ và chân thành khi muốn tôi giúp một việc gì đó.
Viết đoạn văn tả về người anh trai thân yêu của em
186
Viết đoạn văn từ 4 tới 6 câu trong đó có sử dụng 1 số từ chỉ từ, giải thích vì sao truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng thuộc thể loại truyện ngụ ngôn Gợi ý Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng là một truyện ngụ ngôn. Mượn, chuyện về năm bố phận trên cơ thể con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện con người, câu chuyện này nhằm khuyên nhủ, răn dạy con người một bài học trong cuộc sống. Chân, Tay, Tai, Mắt cho rằng lão Miệng chỉ là kẻ ăn bám còn mình là người phải chịu vất vả cực nhọc làm việc. Nhưng cuối cùng họ đã hiểu ra rằng mỗi bộ phận có một chức năng riêng, cần biết phối hợp đoàn kết với nhau để giúp nhau khỏe mạnh. Truyện nhắc nhở con người rằng trong cuộc sống mỗi người có một vị trí, nhiệm vụ khác nhau không nên ganh tị nhau; mỗi người cần làm tốt công việc của mình để tạo nên sự giàu mạnh cho xã hội.
Viết đoạn văn từ 4 tới 6 câu trong đó có sử dụng 1 số từ chỉ từ, giải thích vì sao truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng thuộc thể loại truyện ngụ ngôn
176
Viết đoạn văn từ 4 đến 6 câu sử dụng phép tu từ nhân hóa Gợi ý Ngay từ đầu năm học, mẹ đã mua cho em đầy đủ các đồ dùng học tập: sách, vở, bút, thước, com-pa,… Mẹ cũng căn dặn em phải biết sắp xếp, lau chùi chúng cho gọn gàng, sạch sẽ. Nghe lời mẹ, sau khi dùng xong món đồ nào em lại đặt chúng ngay ngắn vào vị trí: sách vở để lên giá; bút, thước,… để vào hộp. Em cũng không hề viết, vẽ linh tinh lên bìa sách vở hay bàn ghế. Những đồ dùng học tập của em lúc nào sạch sẽ, gọn gàng; chúng nằm ngay ngắn trong vị trí của mình như thìthầm khẽ nói với em: “Cảm ơn cậu chủ nhỏ!”. * Đoạn văn trên sử dụng phép tu từ nhân hóa.
Viết đoạn văn từ 4 đến 6 câu sử dụng phép tu từ nhân hóa
141
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về câu tục ngữ Thương người như thể thương thân Gợi ý – Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam có rất nhiều câu mang ý nghĩa sâu sắc, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu, bao lời khuyên dạy chân tình nhưng không hiểu sao em lại thích câu: “Thương người như thể thương thân”. – Câu tục ngữ giản dị, chỉ có sáu từ ngắn gọn cùng với phép so sánh nhẹ nhàng nhưng lại giàu hình ảnh chân thật. – Đó là lời của ông cha khuyên chúng ta phải biết yêu thương người khác như chính bản thân mình. – Hai tiếng “thương người” đặt trước thương thân thật “khéo léo” mang đầy ẩn ý nhằm nhấn mạnh đối tượng cần đồng cảm thương yêu. – Chúng ta cần lấy bản thân mình soi vào người khác, coi người khác như bản thân mình để từ đó quý trọng mà yêu thương, mà quý mến nhau. – Lời khuyên và triết lý sống đầy giá trị nhân văn ấy vẫn còn mãi mãi với thời gian. – Thử hình dung nếu thiếu lòng nhân ái thì cuộc sống này sẽ ra sao với những con người mang trái tim sỏi đá. – Câu tục ngữ tuy ngắn gọn nhưng thật sâu sắc, chúng ta hãy sống như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng viết: “Sống trên đời sống, cần có một tấm lòng,.. để gió cuốn đi..”.
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về câu tục ngữ Thương người như thể thương thân
247
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về cô lao công Gợi ý Không biết tự bao giờ hình ảnh cô lao công quét đường quen thuộc đã để lại trong tôi nhiều cảm xúc khó tả. Trong đêm, đôi khi trời lạnh buốt, tôi vẫn thấy cô âm thầm làm việc. Với cây chổi trong tay, cô cặm cụi quét từng cọng rác trên đường phố. Cô có ngại gì đâu vất vả khó khăn. Để rồi, buổi sáng hôm sau, chúng ta bước đi trên những con phố sạch sẽ thoáng mát. Không biết trong mỗi người có ai nghĩ tới giọt mồ hôi của cô ướt đẫm đêm qua. Em vô cùng cảm phục và yêu quý cô lao công đã đem đến cho cuộc đời những điều tốt đẹp một cách giản dị, âm thầm. Ước mong sao, mọi người cùng ý thức, đừng xả rác bừa bãi để tiếng chổi cô lao công bớt mệt nhọc hơn.
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về cô lao công
159
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về loài cây em yêu quý Gợi ý Em yêu thích nhất là cây hoa hồng. Thú vị làm sao khi nhìn những chiếc gai bé, liên tưởng đến các chàng vệ sĩ bảo vệ công chúa hoa hồng. Ôi cánh hoa hồng tươi thắm, mịn màng như nhung gợi lên biết bao điều muốn nói. Ấn tượng nhất là hương hoa. Dẫu không thơm ngào ngạt như huệ, lan, hương hoa hồng chỉ thoang thoảng nhè nhẹ mà quyến rũ ong bướm đến lạ kì. Hoa hồng luôn đem đến cho mọi sự vui mừng, hạnh phúc, dạt dào tình yêu thương. Hoa hồng thật xứng đáng với biệt danh “Nữ hoàng của các loài hoa”. Em ước mong sao có một khu vườn trồng toàn hoa hồng, để mỗi buổi sáng em ra vườn ngắm hoa thỏa thích.
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về loài cây em yêu quý
144
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về loài vật nuôi thân thiết của em Gợi ý Em rất yêu quý chú mèo với tên gọi MiMi ở nhà. Đó là một món quà đặc biệt của bà ngoại tặng cho đứa cháu cưng nhân dịp sinh nhật. Chú mèo nhỏ nhắn có bộ lông trắng tinh, mịn màng. Đáng yêu làm sao đôi mắt tròn xoe, đôi tai nhỏ xíu và cái mũi dường như lúc nào cũng ươn ướt… Ấn tượng nhất về MiMi là cái nết nhõng nhẽo, nũng nịu ý như là cô chủ của nó vậy. Ngoài ra, chú hiền lành thế nhưng bắt chuột lại rất tài tình khiến các anh tí chạy dài mất biệt. Từ khi có MiMi, hình như em cảm thấy có nhiều niềm vui và sự thoải mái sau những phút giây học tập căng thẳng, mệt mỏi bằng cách chơi đùa với chú. Em quý chú mèo nhỏ này lắm và xem chú như một người bạn thân.
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về loài vật nuôi thân thiết của em
167
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về lời cảm ơn Gợi ý Trong cuộc sống hàng ngày, ngoài lời xin lỗi, chúng ta cần phải biết nói cảm ơn. “Lời nói không mất tiền mua” và lời cảm ơn đúng lúc sẽ đem đến cho chúng ta biết bao điều tốt đẹp. Lời cảm ơn là bày tỏ tình cảm, thể hiện lòng biết ơn của mình đối với người đã giúp đỡ hoặc đem đến cho ta điều gì đó. Cho dù là điều nhỏ nhất như bạn giúp ta nhặt hộ cây bút, ta vẫn cần nói lời cảm ơn. Chỉ hai tiếng tưởng chừng như đơn giản ấy lại có một ý nghĩa vô cùng to lớn gắn kết con người thân thiết với nhau hơn. Người nói và người nghe đều hài lòng vui vẻ. Và, thật buồn biết mấy, khi biết rằng vẫn còn đó, một số người không khéo léo trong giao tiếp, quên mất đi hai tiếng quen thuộc thể hiện phép lịch sự ấy. Có gì khó khăn đâu, hãy tập cho mình biết nói những câu cảm ơn cũng như xin lỗi.
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về lời cảm ơn
189
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về môn học em yêu thích Gợi ý Từ khi bước chân vào “thế giới diệu kì”, tôi bắt đầu say sưa, thích thú với biết bao môn học hay, lạ. Nhưng tôi yêu thích nhất môn văn với những giờ học tạo cho tôi nhiều cung bậc cảm xúc khó tả. Trong những tiết văn, tôi dường như cảm thấy lòng mình mở rộng hơn bao giờ hết. Chợt yêu sao những vùng, miền, làng quê, nơi mà tôi chưa hề đặt chân đến bao giờ. Đôi khi, số phận của các nhân vật trong văn bản lại khiến tôi không cầm được nước mắt như khi tìm hiểu tác phẩm “Cuộc chia tay của những con búp bê”. Môn văn còn dạy tôi biết trân trọng tình cảm gia đình, bạn bè, thầy cô…và tất cả những gì tôi đang có. Chẳng những thế, môn học ấy còn gợi trong tôi tình cảm yêu thương, chia sẻ, biết “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. Bổ ích làm sao qua những câu tục ngữ, tôi có được kinh nghiệm quý báu, lời dạy bảo chân tình sâu sắc của ông ta từ ngày trước để lại cho con cháu đời sau. Cảm ơn môn văn đã đem đến cho tôi và mọi người bao điều thú vị, để từ đó biết sống có ý nghĩa hơn với cuộc đời này.
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về môn học em yêu thích
236
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về mùa yêu thích trong năm Gợi ý Không biết tự bao giờ tôi lại yêu mùa thu. Bốn mùa trong năm, có lẽ mùa thu là khoảng thời gian mà gợi cho con người nhiều cảm xúc khó tả. Đấy là mùa của lá vàng rơi và những đám mây trắng trôi lững lờ trên nền trời trong xanh. Mùa của tuổi thơ với tiếng cười vui nhộn bên chiếc lồng đèn ông sao, cá chép đỏ hồng. Làm sao quên, buổi tựu trường bắt đầu năm học mới, chúng ta đi trong ánh nắng mùa thu. Mẹ dẫn con bước qua cánh cổng trường để bước vào “Thế giới diệu kì”. Không như mùa xuân tươi thắm, mùa hạ rộn ràng, tưng bừng, mùa thu mang vẻ đẹp dịu dàng, êm đềm thơ mộng. Ôi, cảm ơn mùa thu mát mẻ gợi trong lòng người cảm giác bình yên giữa nhịp sống ồn ào hối hả.
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về mùa yêu thích trong năm
162
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về một cảnh đẹp thiên nhiên Gợi ý Thiên nhiên vốn có nhiều cảnh đẹp, nhưng có lẽ hình ảnh mặt trời mọc trên biển Nha Trang để lại trong em những ấn tượng sâu sắc khó quên. Xa xa, phía chân trời ngấn bể xanh thẳm, pha sắc hồng tươi, vài tia nắng ló dạng đón chào ngày mới. Mặt trời thức giấc sau một đêm dài, dần dần nhô lên. Ôi, đẹp làm sao, mặt trời như “lòng đỏ quả trứng thiên nhiên đầy đặn”. Giữa nền trời trong xanh, gió hiu hiu nhẹ, nước biển ửng hồng, hình ảnh mặt trời góp phần tạo nên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, tráng lệ. Từng tia nắng của buổi bình minh soi xuống trần gian trông thật thú vị. Vài cánh chim trời chao qua, chao lại như một nét chấm phá cho bức tranh về vẻ nên thơ. Thật hạnh phúc biết bao khi tận mắt chiêm ngưỡng cảnh mặt trời mọc trên biển. Em dường như cảm thấy lòng mình thư thái, sảng khoái hơn khi được hòa mình với thiên nhiên.
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về một cảnh đẹp thiên nhiên
189
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về một món quà Gợi ý Giản dị, đơn sơ nhưng chiếc đồng hồ báo thức đặt trên bàn học lại là một đồ vật mà em vô cùng yêu quý. Đó chính là món quà mà bố đã tặng cho em nhân ngày sinh nhật. Với hình dáng tròn tròn nho nhỏ và vỏ màu xanh biêng biếc, chiếc đồng hồ trong rất đáng yêu. Từng cây kim nhỏ chỉ giờ chỉ phút cũng gợi lên cho em nhiều suy nghĩ về câu “Thời gian là vàng”. Ấn tượng nhất đối với em là tiếng chuông báo, âm thanh ấy đã giúp em mỗi sáng thức dậy để chào đón một ngày mới đẹp tươi. Từ khi có chiếc đồng hồ em bắt đầu biết quý trọng thời gian và sắp xếp công việc một cách vô cùng hợp lí. Em rất nâng niu “món quà thời gian” và thầm cảm ơn bố đã dạy cho em một bài học sâu sắc. Em thầm tự nhủ với lòng mình là sẽ giữ gìn cẩn thận “món quà” cũng như tự nhắc nhở mình đừng để thời gian trôi qua lãng phí.
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về một món quà
196
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về thầy cô giáo Gợi ý Trong cuộc đời của mỗi con người, đặc biệt là tuổi học trò, hình ảnh người thầy người cô hết sức gần gũi yêu thương. Thật vậy, ngay từ ngày đầu đến lớp, chúng em đã cảm nhận được điều ấy qua ánh mắt nụ cười và hành động, cử chỉ sâu sắc, chân tình của những “kĩ sư tâm hồn”. Thầy cô luôn dìu dắt, chỉ bảo những điều hay lẽ phải, dạy ta cách sống nhân hậu, đừng để trái tim mình vô cảm. Người ta thường nói thầy cô như người lái đò đưa chúng em sang những bến bờ tương lai, trong số “hành khách” ấy có bao nhiêu người nhớ, người quên…? Thầy cô còn là người “ươm mầm” trong khu vườn tri thức, giúp cho chúng em thực hiện những hoài bão, ước mơ. Ôi đẹp biết bao tấm lòng thầy cô giáo với mực đỏ chấm bài là máu chảy về tim. Chính vì thế, chúng ta cần biết phải làm gì để nụ cười cô luôn nở trên môi, ánh mắt thầy rạng ngời hạnh phúc. “Nhất tự vi sư”, “Tôn sư trọng đạo” là những câu mà học sinh chúng ta cần phải luôn ghi khắc trong lòng.
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về thầy cô giáo
217
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về tình mẹ Gợi ý Mỗi khi nghe bài hát “Nhật kí của mẹ” qua giọng ca ngọt ngào của ca sĩ Hiền Thục, lòng em bỗng bồi hồi xúc động nghĩ về tình mẹ. Tình mẹ là tình cảm yêu thương sâu nặng, sự khoan dung che chở và còn là đức hi sinh của người mẹ dành cho đứa con của mình. Mẹ không bao giờ quản ngại mang nặng đẻ đau, vất vả cưu mang nuôi con khôn lớn từng ngày. Những lúc con ốm, con đau, mẹ thức cả đêm thổn thức âu lo và cứ thế tóc mẹ bạc dần thêm. Mẹ sẵn sàng hy sinh những niềm vui hạnh phúc của riêng mình miễn sao con bình yên vui vẻ. Ôi, tình mẹ thật to lớn biết bao như có người nói “Kì quan vĩ đại nhất chính là trái tim người mẹ” Chính vì thế, bổn phận làm con, chúng ta phải ngoan ngoãn, nghe lời dạy bảo, hiếu thảo với mẹ. Không được làm mẹ buồn như “Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc; Đừng để buồn trên mắt mẹ nghe không?”
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về tình mẹ
195
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về tính trung thực Gợi ý Dân tộc Việt Nam vốn có nhiều phẩm chất tốt đẹp nhưng trong đó em quý trọng nhất là lòng trung thực. Trung thực là ngay thẳng thật thà không gian dối. Trong cuộc sống hàng ngày, lòng trung thực đem đến cho chúng ta biết bao điều tốt đẹp. Đó là sự thương yêu tin tưởng của những người xung quanh đối với mình. Trung thực giúp con người đúng đắn chuẩn mực, quan trọng là sẽ không bao giờ cảm thấy xấu hổ với chính bản thân. Làm sao ta có thể quên những câu chuyện thời tiểu học như “Ba lưỡi rìu”, “Những hạt thóc giống” dạy con người về lòng trung thực để sau này có cuộc sống hạnh phúc. Thế nhưng, đáng buồn biết mấy khi biết rằng, trong xã hội còn đó những con người thiếu trung thực, gian dối. Lòng trung thực quả thật là một đức tính tốt, một phẩm chất đẹp và cao quý của con người.
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về tính trung thực
176
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về âm thanh quen thuộc trong cuộc sống (tiếng còi xe, rao đêm, trống trường…). Gợi ý Không biết tự bao giờ tôi lại cảm thấy yêu tiếng trống trường. Âm thanh quen thuộc ấy đã gắn bó với tôi trong năm tháng học trò. Chỉ vang lên ba tiếng và đôi khi kết hợp một hồi dài, tiếng trống trường đã đem đến cho học sinh chúng tôi bao cảm xúc khó tả. Tiếng trống vào học, mỗi người đều hăm hở vào lớp chuẩn bị đón nhận những điều thú vị, kiến thức bổ ích. Giờ ra chơi, tiếng trống lại vang lên, những phút giây thư giản thoải mái bắt đầu. Và như thế, âm thanh ấy cứ vang lên trong suốt tuổi học trò hồn nhiên thơ mộng. Những ngày hè, thiếu tiếng trống trường, không hiểu sao trong lòng tôi lại có cảm giác buồn buồn, nhớ nhớ. Mai này xa rời trường lớp, làm sao tôi có thể quên âm thanh quen thuộc ấy trong suốt cuộc đời mình.
Viết đoạn văn từ 6 – 8 câu, nêu cảm nghĩ của em về âm thanh quen thuộc trong cuộc sống (tiếng còi xe, rao đêm, trống trường…).
179
Viết đoạn văn từ 8 -10 câu, nêu cảm nghĩ của em về bạn bè Gợi ý Trong cuộc đời của mỗi con người, ngoài người thân, thầy cô thì bạn bè cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nghĩ về bạn bè, tôi bỗng đến nhớ đến câu ca dao quen thuộc từ lâu “Bạn bè là nghĩa tương thân. Khó khăn hoạn nạn ân cần có nhau”. Thật vậy, dưới mái trường cũng như ngoài cuộc sống, ta nhận được sự quan tâm, lo lắng và chia sẻgiúp đỡ của bạn bè. Bạn luôn đến bên ta dù lúc ta khổ đau hay hạnh phúc, đấy chính là những người bạn chân thành nhất. Có bạn, ta cảm thấy an tâm, vui hơn và đôi khi còn dịu bớt nỗi buồn. Trong học tập làm sao ta có thể quên mà không nhớ câu “Học thầy không tày học bạn”. Tuy nhiên chúng ta cũng cần phải biết “lựa bạn mà chơi”, tránh xa những người bạn xấu, lôi kéo dụ dỗ ta làm điều sai trái. Bạn bè rất quan trọng, đặc biệt là người bạn chân tình, thân thiết, chúng ta cần phải hết sức nâng niu gìn giữ cẩn thận. Hãy nhớ rằng không vì bất kì lý do gì mà làm tổn hại đến bạn bè các bạn nhé. Từ đồng nghĩa: quan tâm –lo lắng; chia sẻ – giúp đỡ Từ trái nghĩa: vui – buồn; quên – nhớ; khổ đau – hạnh phúc Từ Hán – Việt: tương thân, chân tình
Viết đoạn văn từ 8 -10 câu, nêu cảm nghĩ của em về bạn bè
247
Viết đoạn văn từ 8 -10 câu, nêu cảm nghĩ của em về món quà thời thơ ấu. Gợi ý Trong cuộc đời của mỗi con người, ai cũng từng đôi lần nhận được món quà nhưng “chiếc nhẫn” ông tặng từ thời thơ ấu chính là món quà “quý” nhất đối với tôi. Thuở ấy, tôi là một đứa ngỗ nghịch, đặc biệt là không làm việc gì đến nơi đến chốn lại còn hay đánh nhau. Bố mẹ thường nhắc nhở nhưng tôi vẫn tính nào tật nấy cho đến hôm sinh nhật lần thứ 8 của mình, tôi nhận một món quà “hoàn toàn bất ngờ”. Đó là chiếc nhẫn bằng bạc, sáng lấp lánh. Tuy là món quà nhỏ xíu nhưng ông lại bảo có “giá trị” vô cùng to lớn về mặt “ý nghĩa”. Bằng giọng nhẹ nhàng, trìu mến ông giảng giải về chữ nhẫn là con người phải biết nhẫn để có được kiên trì, nhẫn nại, biết nhẫn để nhẫn nhịn, nhún nhường… Nhìn chiếc nhẫn, nghĩ về bài học ông dạy, tôi dường như nhận ra những lỗi lầm của mình từ bấy lâu nay, tôi âm thầm hối hận. Nhiều năm trôi qua, mặc dù ông đã đi xa nhưng tôi vẫn luôn giữ bên mình món quà ông tặng giống như là một “vật bất li thân”. Tôi thầm cảm ơn món quà “nhỏ xíu” ấy, để từ đó tôi đã thay đổi cuộc đời mình bắt đầu từ chữ “Nhẫn” với những ý nghĩa tốt đẹp vô cùng. Từ đồng nghĩa: kiên trì – nhẫn nại; nhẫn nhịn – nhún nhường Từ trái nghĩa: nhỏ xíu –to lớn Từ Hán – Việt: sinh nhật, kiên trì
Viết đoạn văn từ 8 -10 câu, nêu cảm nghĩ của em về món quà thời thơ ấu.
275
Viết đoạn văn từ 8 -10 câu, nêu cảm nghĩ của em về thầy cô Gợi ý Trong cuộc đời của mỗi con người, đặc biệt là tuổi học trò, hình ảnh người thầy người cô hết sức gần gũi yêu thương. Thật vậy, ngay từ ngày đầu đến lớp, chúng em đã cảm nhận được điều ấy qua ánh mắt nụ cười và hành động, cử chỉ sâu sắc, chân tình của những “kĩ sư tâm hồn”. Thầy cô luôn dìu dắt, chỉ bảo những điều hay lẽ phải, dạy ta cách sống nhân hậu, đừng để trái tim mình vô cảm. Người ta thường nói thầy cô như người lái đò đưa chúng em sang những bến bờ tương lai, trong số “hành khách” ấy có bao nhiêu người nhớ, người quên…? Thầy cô còn là người “ươm mầm” trong khu vườn tri thức, giúp cho chúng em thực hiện những hoài bão, ước mơ. Ôi đẹp biết bao tấm lòng thầy cô giáo với mực đỏ chấm bài là máu chảy về tim. Chính vì thế, chúng ta cần biết phải làm gì để nụ cười cô luôn nở trên môi, ánh mắt thầy rạng ngời hạnh phúc. “Nhất tự vi sư”, “Tôn sư trọng đạo” là những câu mà học sinh chúng ta cần phải luôn ghi khắc trong lòng. Từ đồng nghĩa: hoài bão – ước mơ Từ trái nghĩa: nhớ – quên Từ Hán Việt: tri thức, vô cảm, nhân hậu, hành khách
Viết đoạn văn từ 8 -10 câu, nêu cảm nghĩ của em về thầy cô
237
Viết đoạn văn từ 8 -10 câu, qua bài thơ “Bạn đến chơi nhà” em hãy nêu suy nghĩ của mình về tình bạn. Gợi ý – Trong kho tàng văn học Việt Nam có biết bao bài thơ nói về tình bạn nhưng tiêu biểu và chân thành sâu sắc nhất có lẽ chính là “Bạn đến chơi nhà” của Tam Nguyên Yên Đổ – Nguyễn Khuyến. Người ta thường nói “Yêu nhất là tình cảm của mẹ, mạnh mẽ là tình cảm của cha, thân thiết là tình cảm anh em và thiêng liêng, bền chặt, lâu dài nhất vẫn là tình bạn”. Là một nhà thơ chân chất nghĩa tình sống giàu tình cảm, Nguyễn Khuyến thật sự đã để lại cho đời những minh chứng hùng hồn về tình bạn đẹp bất hủ. Bài thơ kể một tình huống trớ trêu không có gì đãi bạn pha lẫn nét hóm hỉnh, tác giả bày tỏ về cảm xúc của mình với một người bạn quen nhau chốn quan trường, nay tình cờ gặp lại nơi thôn quê thanh bình – nơi chôn rau cắt rốn của ông. Từng câu từ trong bài giản dị mà thanh cao, thể hiện tình cảm thắm thiết, gắn bó, mặn mà, đầy chất nhân văn và kết thúc bằng cụm từ “ta với ta”, nói lên sự hòa hợp giữa hai tâm hồn tri âm tri kỉ, tình bạn đẹp vượt lên trên tất cả những của cải vật chất tầm thường. Vẫn biết tình bạn đã giúp ta vượt qua những khó khăn, chia sẽ bao buồn vui, hạnh phúc, bạn là người đến bên ta lúc ta cần nhất. Thế nhưng, đã mấy ai đôi lần tự hỏi: “Ta có trân trọng cái “tình” cao đẹp ấy chưa?” Bạn hãy nhớ “Tình bạn giống như cát nằm trong lòng bàn tay, nếu ta buông lơi hay siết chặt quá thì cát sẽ rơi ra ngoài”. Vì thế, chúng ta hãy hết sức nâng niu gìn giữ để không đánh mất món quà mà cuộc sống đã ban tặng cho mình – Tình bạn!
Viết đoạn văn từ 8 -10 câu, qua bài thơ “Bạn đến chơi nhà” em hãy nêu suy nghĩ của mình về tình bạn.
345
Đề bài: Viết đoạn văn về gia đình em Bài làm Gia đình em gồm bố mẹ em và em. Bố em năm nay 32 tuổi. Bố làm nghề thợ mộc. Bố làm mộc rất khéo và giỏi. Mẹ em gần ba mươi tuổi. Mẹ bán hàng tại nhà. Mẹ nấu thức ăn rất ngon. Em là học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Kiền Bái. Em thấy gia đình em thật hạnh phúc và tràn ngập tiếng cười. Em rất yêu gia đình em. Viết đoạn văn về gia đình em
Viết đoạn văn về gia đình em
89
Đề bài: Viết đoạn văn về một trận thi đấu thể thao Bài làm Sau một tuần học tập vất vả, ngày chủ nhật, bố đưa em đi xem bóng đá tại sân vận động Mỹ Đình. Hôm nay đội tuyển Việt Nam gặp đội tuyển Thái Lan. Đội tuyển Việt Nam mặc áo màu đỏ, còn đội tuyển Thái Lan mặc áo màu xanh. Đội Việt Nam được quyền giao bóng trước. Trọng tài vừa thổi còi báo hiệu trận đấu bắt đầu. Trận đấu sôi động ngay từ những phút đầu tiên. Hiệp thứ nhất đội tuyển ta chưa ghi được bàn thắng nào. Sang hiệp hai, chỉ sau 10 phút Công Vinh chuyền bóng cho Quốc Anh, anh từ từ lừa bóng qua hậu vệ đội Thái Lan và sút bóng vào lưới ghi bàn thắng đầu tiên cho đội Việt Nam. Cả sân vận động ầm vang những tiếng reo hò cổ vũ. Không khí trong sân thật náo nhiệt. Trận đấu lại bắt đầu. Đội tuyển Thái Lan đã ghi bàn thắng gỡ hoà 1-1. Nhưng chỉ ít phút sau, Văn Quyến đã ghi cho đội ta thêm một bàn thắng nữa. Hiệp hai diễn ra thật gay go, quyết liệt. Nhưng đến cuối trận đấu vẫn không có thêm bàn thắng nào được ghi. Trọng tài nổi hồi còi kết thúc trận đấu. Đội tuyển Việt Nam giành chiến thắng 2-1. Trận bóng đá này thật sôi nổi. Em mong lần sau lại được bố đưa đi xem một trận bóng đá nữa. Bài làm 2 Thứ bảy vừa rồi, em được bố mẹ cho đi xem trận đấu giữa Than Cửa Ông và Hà Tây ở sân vận động Hàng Đẫy, Hà Nôi. Nhưng khi bố mẹ và em đến sân vận động, nhìn lên khán đài em thấy động nghịt người, chỗ chật kín. Sau đó mấy phút, hai đội bước ra. Nhạc nổi lên, khiến cho không khí trong sân càng thêm náo nhiệt. Khi trận đấu bắt đầu, các cầu thủ tiến lên, quyết giành bằng được trái bóng. Bỗng trọng tài thổi còi và thật không may cho các cầu thủ Than Cửa Ông. Cầu thủ số một đã phạm lỗi. Ngay sau đó là một thẻ vàng dành cho anh. Còn về phía đội Hà Tây thì vẻ mặt vui mừng. Nhưng đến phút thứ năm mươi thì cầu thủ số 15 ở đội Than Cửa Ông đã ghi bàn cho đội mình. Giờ thì sắc mặt của các cầu thủ Hà Tây đã hơi tái đi. Không lâu sau, trọng tài thổi còi báo hết giờ. Tỉ số chung cuộc là là 1-0 nghiêng về phía các cầu thủ Thanh Cửa Ông. Em thấy trận đấu này rất hay và mong sẽ được xem những trận đấu hay hơn nữa. Bài làm 3 Một lần, em được bố dẫn đến sân Mỹ Đình để xem trận bóng đá giữa đội tuyển Việt Nam và đội tuyển Cam-pu-chia. Lúc em đến, thấy sân rất vắng vẻ, gần đến giờ đá bóng thì mọi người ùn ùn kéo đến đông nghịt. Đến giờ, hai đội bắt tay nhau và trọng tài tung động xu để xem đội nào ra bóng trước. Đội Việt Nam có quyền ra bóng trước. Lúc đầu đội tuyển Việt Nam đã ghi bàn nhờ công của Văn Trải. Nhưng gần hết hiệp 1, một cầu thủ đội tuyển Cam-pu-chia đã giành bóng và sút vào gôn đội tuyển Viết Nam. Hiệp hai, cầu thủ Tài Em đã chuyền bóng cho Công Vinh, và Công Vinh sút bóng vào gôn đối phương lúc thủ môn có sơ hở. Mọi người reo hò ầm ĩ, có người thì reo to Việt Nam vô địch, còn người thì bắn pháo giấy, làm cho không khí trong sân rất náo nhiệt. Và tỉ số cuối cùng là hai một nghiêng về phía đội tuyển Việt Nam. Em rất thích trận đấu này và mong được xem được một trận bóng nữa.
Viết đoạn văn về một trận thi đấu thể thao
661
Đề bài: Do hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn, em viết đơn gửi Ban Giám hiệu nhà trường xin được miễn giảm học phí. Bài làm Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày…tháng…năm… ĐƠN XIN MIỄN GIẢM HỌC PHÍ Kính gửi: Thầy Hiệu trưởng Trường THCS Tô Hiệu, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Đồng kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 6B Em tên là: Nguyễn Thị An Học sinh lớp 6 B Trường THCS Tô Hiệu, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Em viết đơn này xin trình bày một việc như sau: Gia đình em hiện nay gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế. Bố em là thương binh hạng 2/ 4, vết thương thường xuyên bị tái phát; mẹ em đang ốm nặng phải nằm bệnh viện; em còn hai em nhỏ đang đi học. Vì vậy, em viết đơn xin nhà trường cho em được miễn học phí trong nămhọc này. Em cam đoan những điều trên là đúng sự thật, nếu có gì sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Em xin chân thành cảm ơn thầy cô. Học sinh An Nguyễn Thị An
Viết đơn gửi Ban Giám hiệu nhà trường xin được miễn giảm học phí
187
Đề bài: Em bị ốm nên không đến lớp được. Em viết đơn gửi cô giáo chủ nhiệm xin phép được nghỉ học. Bài làm Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Ngày..tháng… năm…. ĐƠN XIN PHÉP NGHỈ HỌC Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp…, Trường THCS… Em tên là: Nguyễn Ngọc Thiện Học sinh lớp: 6C Hôm qua, trên đường đi học về, em bị ngã xe đạp và bị thương ở chân, bố mẹ đã đưa em vào bệnh viện. Hiện tại em chưa thể đi lại được. Vì vậy, hôm nay, em không thể đến trường. Em viết đơn này xin cô cho phép em nghỉ học, khi nào khỏi em sẽ tiếp tục đi học. Em hứa sẽ chép bài và học bài đầy đủ. Em xin chân thành cảm ơn cô! Học sinh Kí tên Nguyễn Ngọc Thiện
Viết đơn gửi cô giáo chủ nhiệm xin phép được nghỉ học
139
Đền bài: Em có nguyện vọng gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, hãy viết đơn gửi Ban Chấp hành Đoàn trường. Bài làm Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày…tháng…năm… ĐƠN XIN GIA NHẬP ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH Kính gửi: Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Trường THCS Thị Trấn Văn Điển, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Em tên là: Nguyễn Thu Hoa Sinh ngày: 17 – 5 – 1996 Học sinh lớp: 8A – Trường THCS Thị trấn Văn Điển. Em đã được kết nạp vào Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh từ năm lớp 4. Trong những năm qua, em đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu để hoàn thành tốt những nhiệm vụ mà Đội giao cho, để xứng đảng Đội viên gương mẫu, là con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ. Sau khi nghiên cứu kĩ điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, em thấy Đoàn là một tổ chức tốt, có những hoạt động phong phú và thiết thực, phù hợp với nguyện vọng của bản thân. Xét thấy mình đã có đủ tiêu chuẩn và năng lực trở thành Đoàn viên nên em viết đơn này tha thiết mong đươc gia nhập vào hàng ngũ vinh quang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Kính mong Ban Chấp hành Đoàn trường xem xét và chấp nhận nguyện vọng của em. Em xin hứa sẽ thực hiên đầy đủ nhiệm vụ của người Đoàn viên. Em xin chân thành cảm ơn! Học sinh (Kí tên) Nguyễn Thu Hoa
Viết đơn gửi xin gia nhập Đoàn Thanh niên Công sản Hồ Chí Minh
265
Đề bài: Bà Mai hàng xóm của em bị ốm phải nằm viện mà không có bảo hiểm y tế, bà lại già yếu, không nơi nương tựa. Hãy viết giúp bà lá đơn xin miễn giảm viện phí. Bài làm Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội,ngày…tháng…năm… ĐƠN XIN MIỄN GIẢM VIỆN PHÍ Kính gửi: Bạn Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội. Tôi tên là: Nguyễn Thị Mai Sinh ngày 27 tháng 8 năm 1930. Hiện cư trú tại thôn Bảo Lâm, xã Bảo Sơn, huyện Yên Sơn, tỉnh Yên Bái. Tôi viết đơn này xin trình bày một việc như sau: Tôi mắc bệnh hẹp van tim, được Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái giới thiệu về điều trị tại Khoa Tim mạch Bệnh viện Bạch Mai từ ngày 03 tháng 6 năm 2009. Hiện nay tôi gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế vì tôi không có con cái, lại không có lương hưu. Nhà nước tạo điều kiện cho tôi mua bảo hiểm y tế dành cho người nghèo song hiện tôi chưa có thẻ vì chưa làm xong thủ tục, mà việc điều trị bệnh hiện nay lại cần chi phí quá lớn đối với tôi. Vì vậy, tôi viết đơn xin Bạn Giám đốc Bệnh viện cho tôi được giảm một phần viện phí trong đợt điều trị này. Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật, nếu có gì sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Tôi xin chân thành cảm ơn! Người làm đơn Mai Nguyễn Thị Mai
Viết đơn xin miễn giảm viện phí
258
Đề bài: Vào dịp hè, em có nguyện vọng được học lớp Võ thuật của Cung thiếu nhi quận huyện. Hãy viết đơn xin nhập học lớp học ấy. Bài làm Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN XIN HỌC LỚP VÕ THUẬT Kính gửi: Ban Giám đốc Nhà văn hoá huyện Bảo Yên Tên em là Nguyễn Minh Đức, học sinh lớp 6A Trường THCS Bảo Yên Em được biết, trong dịp hè này, Nhà văn hoá có mở lớp học Võ thuật. Với mong muốn được rèn luyện sức khỏe và tính nhẫn nại, kiên trì, em làm đơn này xin Ban Giám đốc cho phép em được tham gia lớp học Võ thuật. Nếu được nhận, em xin hứa sẽ chấp hành nội quy của lớp học và nỗ lực rèn luyện. Em xin chân thành cảm ơn! Lào Cai, ngày… tháng… năm… Người viết đơn (kí tên) Nguyễn Minh Đức
Viết đơn xin nhập học lớp học hè
152
Đề bài: Viết đơn xin tham gia đội văn nghệ của Liên đội trường Bài làm Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập-Tự do – Hạnh phúc ĐƠN XIN THAM GIA ĐỘI VĂN NGHỆ Kính gửi: Ban Chấp hành Liên đội Trường THCS Phan Đình Giót Tên tôi là: Nguyễn Thu Trang, đội viên chi đội 6C Qua thông báo của Ban Chấp hành Liên đội, tôi được biết, đội văn nghệ của Liên đội đang tuyển thành viên. Tôi xét thấy bản thân có năng khiếu về âm nhạc và múa. Tôi đã tham gia nhiều chương trình văn nghệ tại Trường Tiểu học Đống Đa. Bên cạnh đó, tôi cũng rất mong muốn được đóng góp công sức cùa mình vào sự phát triển của các hoạt động Đội trong nhà trường. Bởi vậy, tôi làm đơn này, mong Ban chấp hành Liên đội xét duyệt cho tôi tham gia đội văn nghệ của Liên đội. Nếu được tham gia đội văn nghệ của Liên đội, tôi xin hứa sẽ chấp hành tốt nội quy của tập thể. Tôi xin chân thành cảm ơn! Lào Cai, ngày… tháng… năm… Người viết đơn (Kí tên) Nguyễn Thu Trang
Viết đơn xin tham gia đội văn nghệ của Liên đội trường
189
Đề bài: Em hãy viết đơn xin được cấp thẻ đọc sách trong thư viện của trường hoặc xã phường. Bài làm Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày …tháng…năm… ĐƠN XIN CẤP THẺ ĐỌC SÁCH Kính gửi: Ban Quản lí Thư viện, Trường Trung học cơ sở Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội Em tên là: Nguyễn Văn Tùng Học sinh lớp: 7B – Trường THCS Tam Hiệp Hôm nay em viết đơn này xin trình bày một việc như sau: Để phuc vụ cho việc học tập trên lớp cũng như nâng cao trình độ học vấn của mình, ngoài việc đọc sách giáo khoa em muốn tìm đọc thêm một số sách tham khảo khác. Vì vậy, em viết đơn này kính mong Ban Quản lí Thư viện Trường THCS Tam Hiệp cấp cho em thẻ đọc sách tại thư viện của nhà trường. Kính mong Ban Quản lí Thư viện chấp nhận nguyện vọng của em. Em hứa sẽ thực hiện đúng nội quy của thư viện. Em xin chân thảnh cảm ơn! Học sinh Tùng Nguyễn Văn Tùng
Viết đơn xin được cấp thẻ đọc sách trong thư viện của trường hoặc xã
179
Đề bài: Em có nhu cầu được bồi dưỡng thêm môn Văn và Anh. Hãy viết đơn xin được học hai lớp học bồi dưỡng ấy. Bài làm Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN XIN HỌC LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC Kính gửi: Ban Giám hiệu Trường Trung học cơ sở Vĩnh Ngọc Tên em là Hoàng Thu Thảo, học sinh lớp 6C Trường THCS Vĩnh Ngọc Em được biết, hiện tại, nhà trường đang mở lớp học bồi dưỡng một số môn học trong đó có hai môn Ngữ văn và Anh văn cho học sinh khối 6. Em tự thấy bản thân có nhu cầu học bồi dưỡng hai môn này để củng cố và nâng cao kiến thức. Vì vậy, em làm đơn này, xin Ban giám hiệu nhà trường cho em theo học hai lớp bồi dưỡng môn Ngữ văn và Anh văn. Em xin hứa sẽ chấp hành nội quy của lớp học và nỗ lực học tập. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày… tháng… năm… Người viết đơn (kí tên) Hoàng Thu Thảo
Viết đơn xin được học lớp học bồi dưỡng
179
Đề bài: Gần nhà em có một hồ nước, gần đây một số người hay đổ phế thải xây dựng xuống hồ. Hãy giúp bác tổ trưởng tổ dân phố viết đơn đề nghị ủy ban Nhân dân phường ngăn chăn việc làm thiếu ý thức này Bài làm Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hải Dương, ngày…thág…năm… ĐƠN ĐỀ NGHỊ Kính gửi: Ủy ban Nhân dân phường Lê Đại Hành, thị xã Hải Dương. Tôi tên là: Nguyễn Văn Thiện, tổ trưởng tổ dân cư số 4, phường Lê Đại Hành, thị xã Hải Dương. Hiện cư trú tại số nhà 28, tổ 4 phường Lê Đại Hành. Thay mặt bà con trong tổ dân cư số 4, tôi viết đơn này, trình bày sự việc như sau: Hồ Ngân Sơn thuộc địa phận tổ dân cư chúng tôi là một hồ nước sạch đẹp của thị xã. Song gần đây, vào khoảng 22 – 23 giờ đêm, lại có mấy người thường xuyên chở phế thải xây dựng bằng xe thồ lén đổ xuống hồ. Đây là việc làm thiếu ý thức, gây bất bình trong bà con. Chúng tôi đề nghị Ủy ban Nhân dân phường có biện pháp ngăn chặn việc làm này. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn! Người làm đơn Thiện Nguyễn Văn Thiện
Viết đơn đề nghị ủy ban Nhân dân phường ngăn chăn việc làm thiếu ý thức
217
Viết đơn – lớp 6 Hướng dẫn I. Khi nào cần viết đơn? Xét ví dụ SGK/ 131: – Các trường hợp đều cần phải viết vì: + Trình bày lí do của bản thân + Thể hiện nguyện vọng + Có căn cứ xác đáng sau này. – Khi muốn đề đạt một nguyện vọng với 1 người hay một cơ quan hay một tổ chức có quyền hạn giải quyết nguyện vọng (ghi nhớ SGK) + Mất xe đạp: phải viết đơn trình báo và nhờ công an giúp đỡ. + Muốn xin học lớp nhạc, hoạ: phải viết đơn xin nhập học + Gây mất trật tự trong giờ học: không viết đơn mà phải viết bản tường trình hay bản kiểm điểm về khuyết điểm của mình. + Học lớp 6 nơi mới đến: phải viết đơn xin chuyển trường, đơn xin nhập học. Bài học: – Trong cuộc sống có rất nhiều tình huống phải viết đơn; không có đơn nhất định nguyện vọng, công việc không được giải quyết. – Các trường hợp viết đơn a. Bị mất chiếc xe đạt khi đến thăm bạn → Viết đơn trình báo cơ quan công an nhờ giúp đỡ tìm lại chiếc xe đạt. b. Muốn theo học lớp nhạc hoạ → Viết đơn xin nhập học. c. Cãi nhau → Viết bản tường trình hay kiểm điểm. d. Muốn học ở nơi mới → Đơn xin chuyển trường, đơn xin nhập học. * Kết luận: Ghi nhớ II. Các loại đơn và những nội dung không thể thiếu trong đơn 1. Các loại đơn + Loại theo mẫu: chỉ cần điền những từ hoặc câu phù hợp với bản thân vào chỗ … (chừa trống), cần đọc kĩ để viết cho đúng. + Loại không theo mẫu: người viết tự nghĩ ra nội dung và cách trình bày. – Loại đơn nào cũng phải được trình bày trang trọng, ngắn gọn và theo một số mục nhất định Bài học: a. Đơn viết theo mẫu in sẵn: Người viết đơn chỉ cần điền những từ, câu thích hợp vào những chỗ có dấu … b. Viết đơn không theo mẫu: Người viết phải tự nghĩ nội dung và trình bày. 2. Nội dung không thể thiếu được trong đơn. Xét các ví dụ SGK: Một lá đơn thường gồm các phần sau: + Quốc hiệu: ở đầu trang, để tỏ ý trang trọng + Tên đơn: để người đọc biết được khái quát mục đích của đơn (xin, kiện, đề nghị …) + Tên người hoặc tổ chức nhận đơn: để biết nơi nhận và nơi giải quyết đơn. + Tên người viết đơn (có thể ghi địa chỉ, tuổi, nghề nghiệp …) + Lí do viết đơn và những yêu cầu đề nghị của người viết đơn: để tạo nên nội dung lá đơn. + Lời cam đoan và lời cảm ơn + Nơi viết đơn, ngày viết đơn + Chữ kí của người viết đơn (bên góc phải). Lưu ý: – Nếu đơn viết theo mẫu: chỉ cần điền vào chỗ trống – Nếu là đơn không theo mẫu: dựa vào mẫu có sắn để viết cho đúng nguyên tắc đơn từ. Các phần cần có của một lá đơn: – Quốc hiệu, tiêu ngữ – Tên của đơn: để người đọc biết được mục đích của người viết đơn. – Tên người viết đơn. – Nơi (tên người) nhận đơn. – Lí do viết đơn và những yêu cầu, đề nghị của người viết đơn. – Ngày tháng năm và nơi viết đơn. – Chữ kí của người viết đơn. Chú ý: Đơn có thể viết tay hoặc đánh máy nhưng chữ kí thì nhất thiết phải tự kí. III. Cách thức viết đơn 1. Đơn theo mẫu: Điều vào chỗ trống những nội dung cần thiết. 2. Đơn không theo mẫu: (SGK) *Lưu ý về cách trình bày: – Tên đơn phải viết chữ to, chữ hoa hoặc chữ in. – Phần quốc hiệu, tên đơn phải viết giữa trang giấy. – Lời văn: gọn gàng, sáng sủa, dễ đọc, nhất là phần yêu cầu, dề nghị phải viết thành thực, chính đáng. Không viết dài dòng. * Ghi nhớ: SGK/134
Viết đơn – lớp 6
650
Viếtmột đoạn văn miêu tả mùa đông Gợi ý Mùa đông, gió mùa đông bắc tràn về cùng với cái lạnh khắc nghiệt và đường phố cũng vắng vẻ hơn thường lệ. Buổi sáng, Mặt Trời lười biếng vẫn còn đang ngủ, không chịu dậy để ban phát những tia nắng ấm áp cho cỏ cây hoa lá. Ra đường, cụ già, trẻ em và cả các thanh niên sung sức… tất cả đều mặc những chiếc áo len, áo khoác dày, quàng khăn, đội mũ sùm sụp để có thể làm giảm đi cái rét cắt da cắt thịt. Hai hàng bàng ven đường đã trút bỏ bộ cánh già cỗi từ lâu, chỉ còn trơ lại những chiếc cành khẳng khiu nhẫn nại chịu đựng giá rét. Bên đường, hàng phở tấp nập người ra vào, cô bán hàng làm luôn tay, nào lấy bánh, nào chan nước… trông có vẻ rất vui vì bán hàng chạy, cái bát phở nóng hổi bốc hơi nghi ngút chờ đợi mọi người thưởng thức. Ai ra về cũng đều rất hài lồng vì được phục vụ chu đáo. Dường như họ đã tạm quên đi cái lạnh giá của mùa đông.
Viếtmột đoạn văn miêu tả mùa đông
198
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân (Về đoạn trích Nước Đại Việt ta – trích Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi) – Bình giảng Ngữ Văn 8 Hướng dẫn Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Như ta biết, cáo cùng với hịch, chiếu là những văn bản có tính chất công vụ hành chính từ trên ban truyền hoặc trình bày, giải thích một chủ trương hoặc công bố một sự kiện. Ở đây, Nguyễn Trãi dùng từ đại cáo vì sự kiện mà bài văn nói đến là một sự kiện lớn: công cuộc bình Ngô. Đòi hỏi ở một bài cáo nói riêng, một bài vãn nghị luận nói chung phải là sự chặt chẽ đã đành, trong trường hợp này, tác giả vừa lược thuật chiến tranh vừa bàn luận về chiến tranh. Nó vừa là lịch sử vừa là tư tưởng. Làm thế nào phối hợp được cái bề nổi và chiều sâu hàm ẩn ấy, điều này quả không đơn giản chút nào. Hiện diện bằng câu chữ thì bài văn gồm có bốn phần: chân dung quốc gia Đại Việt ; tội ác của quân thù ; cuộc dấy binh thắng lợi ; một trang sử mới mở ra, ấy là theo trình tự của loại văn miêu tả, tự sự thông thường. Dựa vào đó mà phân tích không phải là không có lí. Nhưng bài văn còn một tầng nghĩa thứ hai là chuyên chở tư tưởng của người viết. Chính tư tưởng (mạch chìm) của người viết mới tạo ra cho bài văn cái ý nghĩa kép làm cho câu, chữ toả sáng, lung linh, rung động lòng người từ đó đến nay, xứng đáng là một “thiên cổ hùng văn” mà người xưa ca ngợi. Đặt đoạn một của bài văn trong kết cấu chung, vấn đề cần phân tích để rút ra: sự tồn tại của quốc gia Đại Việt là một chân lí vĩnh hằng. Quốc gia ấy có tư tưởng riêng, có sức mạnh riêng, nghĩa là những yếu tố tinh thần nằm trong một hệ thống song hành cùng với các yếu tố vật chất như địa lí, đất đai. Vậy, tư tưởng riêng ấy là gì? Đừng vội trả lời rằng đó là đạo lí nhân nghĩa, dù câu văn trong bài cáo là “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Bởi nhân nghĩa vốn là học thuyết của Nho gia nói về quan hệ đối xử giữa con người với con người. Nhưng đến Nguyễn Trãi, nó được nâng lên, được mở rộng ra trong một quan hệ khác: giữa các quốc gia, dân tộc với nhau. Cũng như sau này, cách Nguyễn Trãi năm thế kỉ, Hồ Chí Minh, trong Tuyên ngôn Độc lập đã “suy rộng ra” (“Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là…”). Từ quyền sống của con người cá thể, từ đạo lí mà con người cá thể ấy nên theo mà “suy rộng ra” như vậy là hợp lí với lô gích của tư duy, nhất là nó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của dân tộc ta, một dân tộc vốn là đối tượng nhòm ngó của bao nhiêu thế lực bên ngoài, từ đông sang tây, từ nam đến bắc. Nhân nghĩa là trái với bạo ngược. Nhân nghĩa là tình thương và lẽ phải hướng về phía nhân dân. “Trừ bạo” vì “yên dân” là nhân nghĩa, đó là nói chung. Còn nói riêng, khi đất nước bị xâm lãng, vì thương dân (nhân), vì việc phải, nên làm (nghĩa), quân đội ấy trở thành “quân điếu phạt”. Nhân nghĩa không còn là một khái niệm khoan dung mà là trừ ác, có trừ ác mới đạt được cái đích yên dân. Tính chặt chẽ trong lập luận nổi bật hẳn lên giữa hai khía cạnh tưởng như đối lập mà thống nhất. Hai câu văn như hàm súc một chân lí thiêng liêng, là người nói mà như là tròi nói, nghĩa là cùng một thứ “sách trời” (hai chữ thiên thư trong Nam quốc sơn hà). Chính sự mở rộng về khái niệm nhân nghĩa này, Nguyễn Trãi đã đưa được nó vào một khái niệm rộng hơn: ncn văn hiến. Đất nước có chủ quyền không chỉ dựa vào yếu tố lịch sử, đất đai, mà chủ yếu là đất nước ấy thực sự có một nền văn hiến. Đó là dấu hiệu của một nền văn minh. Nền văn hoá phi vật thể này chính là sự bổ sung quan trọng cho tinh thần dân tộc. Quốc gia Đại Việt không chỉ có “Núi sông bờ cõi đã chia” (dùng lại ý trong bài Nam quốc sơn hà) mà còn có “Phong tục Bắc Nam cũng khác”. Cái khác ấy phải chăng là ở chỗ chúng ta, dân tộc ta đã nâng khái niệm nhân nghĩa thành lẽ sống, thành đạo lí, thành bản linh, cốt cách riêng của mình. Bức chân dung tinh thần của quốc gia Đại Việt có phần chìm chính là ờ chỗ đó. Và cũng chính là vì lẽ đó mà Nguyễn Trãi có thể tự hào: một nước nhỏ mà có thể sánh vai, ngang hàng với một nước lớn: Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên xưng đế một phương. So với câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” đời Lí, niềm tự hào, tự tôn đã nâng Ịên một bậc, nâng lên bằng một ý thức văn hoá hẳn hoi. Cái linh, cái hồn vía của “địa linh” đã tạo ra “nhân kiệt” là lẽ đương nhiên như thế. Cách nhìn vào lịch sử dân tộc bằng cái nhìn như thế là có chiều sầu, đảm bảo được sức sống trường tồn không gì khuất phục được. Đoạn văn trần thuật, đúng hơn là tự thuật ấy nếu hiểu sâu xa thì có đến hai lớp nghĩa: giữa các triều đại phương Nam và phương Bắc không chỉ có sự tồn tại ngang hàng mà còn có lí do để có sự tồn tại ngang hàng. Muốn tồn tại ngang hàng, quốc gia Đại Việt đã trả bằng máu của mình, nhưng dù có thế, chúng ta đã “thà hi sinh tất cả” (chữ của Hồ Chí Minh) để đánh đổi lấy chủ quyền, độc lập, tự do. Còn một điều nữa: nếu tính toán, cân đong một cách máy móc, bình quân thì lịch sử của mảnh đất phương Nam làm sao có độ dài tương đương lịch sử vùng đất phương Bắc? Điều mà Nguyễn Trãi nói là “bao đời xây nền độc lập”, hay “Như nước Đại Việt ta từ trước”, hoặc “Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” thực thì chỉ mấy trăm năm làm sao có thể sánh vai với lịch sử mấy ngàn năm tính từ thời Xuân thu – Chiến quốc? Sự thiếu hụt về độ dài vật lí ấy đã có niềm kiêu hãnh về tâm lí bù vào để cán cân không còn nghiêng lệch. Nó có đủ độ cân bằng. Đoạn văn không hề có ý định chứng minh (vì chỉ có mục đích trần thuật) mà có tác dụng như một sự tự phản biện (hỏi và đáp) một cách hùng hồn, ấy là do âm vang của lòng yêu nước tự thân lên tiếng. Ấy là tiếng nói tự bên trong, cái ý ở ngoài lời, lặn sâu dưới mặt bằng câu chữ. Vậy nên: Lưu Cung tham công nên thất bại, Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong… Nhưng nó chứng minh cho cái gì? Có lẽ cả hai, cả tư tưởng nhân nghĩa, một đạo lí làm người, ngọn cờ của đội quân “điếu phạt”, cả chủ quyền dân tộc dựa trên tư tưởng ấy, nghĩa là dựa trên nền tảng của một “nền văn hiến đã lâu”. Cuộc đụng đầu lịch sử giữa kẻ phi nghĩa, bất nhân với quốc gia Đại Việt là trên tinh thần ấy. Kẻ thù “thất bại”, “tiêu vong” vì động cơ ích kỉ, vì “thích lớn”, “tham công”. Dựa vào tướng giỏi, quán đông, không “lấy nhân nghĩa làm gốc”, mà chỉ lấy “trí dũng làm cành”, hậu quả ấy không thể nào tránh khỏi, ở đây vừa có cái nguyên cớ của sự bại vong, có cả chứng tích của sự bại vong như những hiện vật trong viện bảo tàng, với kẻ địch là một sự nhục nhã muôn đời khôn rửa, tiếng xấu còn ghi, còn với ta, đó là minh chứng cho một lẽ phải hùng hồn mà dân tộc Đại Việt đã gửi trọn niềm tin vào đó (tất nhiên còn là tinh thần xả thân, ý thức và hành động xả thân – như cách nói của Trần Quốc Tuấn (“Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa”). Bạch Đằng, Hàm Tử với lịch sử dân tộc như những dấu son chói lọi làm phấn chấn lòng người bao nhiêu thì cũng những địa danh đó, với kẻ địch, bao nhiêu tham vọng, danh dự bị vĩnh viễn chôn vùi. Nhưng còn đáng nói thêm: lời tiên tri (hai câu đầu bài cáo) đã có ứng nghiệm theo luật quả báo (nhân nào quả ấy) tức thời. Cái chết của Ô Mã, của Toa Đô với chúng là đột ngột, bất ngờ, không sao hiểu nổi. Ngược lại cái chết “bất đắc kì tử” ấy, chỉ chúng ta hiểu: điều gì xảy ra tất phải xảy ra theo luật định, mệnh trời.
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân (Về đoạn trích Nước Đại Việt ta – trích Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi) – Bình giảng Ngữ Văn 8
1,590
Vài nét về con người Việt Nam trong quan hệ với thế giới tự nhiên qua văn học Hướng dẫn Vài nét về con người Việt Nam trong quan hệ với thế giới tự nhiên qua văn học Bài làm Buổi sơ khai văn học, bằng tư duy thần thoại, văn học nhìn tự nhiên như các vị thần linh, nhằm nhận thức, cải tạo, chinh phục cái tự nhiên này. Tiếp đến, tự nhiên chính là thiên nhiên quê hương, đất nước: núi sông, đổng ruộng, bến nước, dòng sông, con trâu, cánh cò tươi đẹp, thân thương. Thiên nhiên này chủ yếu được thể hiện trong các thể loại trữ tình dân gian. Văn học trung đại cũng có một thiên nhiên hiện thực: Mục đồng, sáo vẳng, trâu về hết Cò trắng từng đôi, liệng xuống đồng (Trần Nhân Tông) Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan (Nguyễn Trãi) Dâu già lá rụng tằm vừa chín Lúa sớm bông thơm cua béo ghê (Nguyễn Trung Ngạn) Và một thiên nhiên tượng trưng cho lí tưởng đạo đức, thẩm mĩ của con người. Tùng, cúc, trúc mai là biểu thị hình ảnh con người thanh cao, cứng cỏi ; lâm tuyền (rừng, suối) là thú ẩn đật, tránh xa thế sự nhiều tục lụy, nhiễu nhương. Nhưng điểm chung lại là, dù thiên nhiên nào thì đó cũng là tình yêu đất nước hoặc thể hiện sự tương thông giữa người và cảnh – về với tự nhiên để giữ khí tiết phẩm giá con người. Cho nên Nguyễn Trãi mới ví mình như cây tùng, cây bách sương giá đã quen. Còn Nguyễn Trung Ngạn nơi đất khách, mường tượng cảnh dân dã quê nhà, đã khẳng định: “ Nghe nối ở nhà nghèo vẫn tốt; Dẫu vui đất khách chẳng bằng về”. Thiên nhiên trong văn học hiện đại tiếp tục là sự thể hiện tình yêu thiên nhiên, đất nước, quê hương. Biểu thị tình yêu cuộc sống, con người, đôi lứa. Giảm thiểu tính trực tả tách biệt, ước lệ thường thấy ở văn học dân gian, văn học trung đại để đóng vai như một nhân vật đời thường của văn học. Sự hoà điệu con người và thiên nhiên được tăng cường, chứ không chỉ là bối cảnh theo kiểu “người buồn, cảnh có vui đâu bao gìđ Ta có thể dẫn ra những hình ảnh thiên nhiên thực, rất người của văn học hiện đại. Thời trước, Nguyễn Du tả đôi mắt người con gái đẹp như nước mùa thu, núi mùa xuân (Làn thu thuỷ nét xuân sơn). Ông dùng thiên nhiên diễm lệ để so sánh, không cần biết đôi mắt ấy có thực hay không. Nhưng thơ hiện đại thì khác, cũng dùng hình ảnh thiên nhiên, nhưng phải rất thực và nhất là, rất nhiều rung động của thi nhân trong đó. Xuân Diệu viết: Lá liễu dài như một nét mi. Với Tế Hanh “ Ai bảo mắt em như lá liễu ; Đã cắt lòng anh một nét dao”. Ngay như tả riêng thiên nhiên, thiên nhiên ấy cũng không mang giọt máu của nó mà mang giọt máu người: Một tối bầu trời đắm sắc mây, Cây tìm nghiêng xuống đoá hoa gầy, Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ Rồi như rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng”. Ngay cái tàu lá chuối của Nam Cao cũng dãy lên đành đạch như là hứng tình, cũng như trăng nằm sóng xoãi trên cành liễu ; Đợi gió đông về để lả lơi của Hàn Mặc Tử chứ không như cái tàu chuối “tình thư một bức phong còn kín” của Ngyễn Trãi hay “Vừng trăng vằng vặc giữa trời; Đinh ninh hai miệng một lời song song’’ của Nguyễn Du. Và tình yêu đối với cái thiên nhiên này, cũng là những tình yêu rất cá tính. Nồng thắm nhưng chân chất như Đoàn Văn Cừ, tiểu thư một chút như Anh Thơ, vương vui, buồn thế sự, nhân sinh như Huy Cận, đắm say, mạnh mẽ, vồ vập trong lành như Xuân Diệu. Dẫu ông có nói “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”.
Vài nét về con người Việt Nam trong quan hệ với thế giới tự nhiên qua văn học
701
Vào dịp nghỉ hè em muốn được học lớp võ thuật của Cung thiếu nhi Quận (huyện). Em hãy viết đơn xin nhập vào lớp học ấy Gợi ý Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN XIN HỌC LỚP VÕ THUẬT Kính gửi: Ban Giám đốc Nhà văn hoá huyện Bảo Yên Tên em là Nguyễn Minh Đức, học sinh lớp 6A Trường THCS Bảo Yên Em được biết, trong dịp hè này, Nhà văn hoá có mở lớp học Võ thuật. Với mong muốn được rèn luyện sức khỏe và tính nhẫn nại, kiên trì, em làm đơn này xin Ban Giám đốc cho phép em được tham gia lớp học Võ thuật. Nếu được nhận, em xin hứa sẽ chấp hành nội quy của lớp học và nỗ lực rèn luyện. Em xin chân thành cảm ơn! Lào Cai, ngày… tháng… năm… Người viết đơn (kí tên) Nguyễn Minh Đức
Vào dịp nghỉ hè em muốn được học lớp võ thuật của Cung thiếu nhi Quận (huyện). Em hãy viết đơn xin nhập vào lớp học ấy
150
Đề bài: Vào dịp sinh nhật của một người thân ở xa viết thư để thăm hỏi và chúc mừng người thân đó Bài làm Chị Yến thân yêu! Hôm qua mẹ có nhắc đến anh chị và cháu Thảo. Đặc biệt mẹ có nhắc đến ngày sinh nhật của chị, mẹ nói năm nay bận lắm không lên Đà Lạt để tổ chức sinh nhật cho chị được. Vì vậy, em viết thơ này thăm sức khỏe anh chị, cháu Thảo ngoan. Riêng chị, em xin chúc chị một sinh nhật đẩy niềm vui và mạnh khỏe. Em rất mừng có một người chị hiếu thảo vớỉ cha mẹ, thương yêu chồng con, học hành có kết quả, sống tốt với bè bạn như chị. Vào dịp sinh nhật của một người thân ở xa viết thư để thăm hỏi Sinh nhật năm nay, chị có mấy nguồn vui lớn: vừa bảo vệ thành công luận án tốt nghiệp Thạc sĩ, cháu Thảo ngày càng xinh xắn, mạnh khoẻ… Như vậy em phải chúc chị thêm một tuổi xuân có thêm nhiều thành tích trong công tác và học tập. Em phải học tập ở chị rất nhiều. Một lần nữa em xin chúc chị có mội sinh nhật vui vẻ, khoẻ mạnh và hạnh phúc. Em của chị Vân Bài làm 2 Anh Hồng Anh thân mến của em! Thế là năm nay anh lại kỷ niệm sinh nhật 24 tuổi của mình ở Sing-ga-po. Hôm qua bố mẹ có nhắc em hỏi xem năm nay em tổ chức sinh nhật của mình có vui không? Các bạn có đến dự đông đủ không? Thay mặt anh em nói chuyện với bố mẹ rằng anh và các bạn đi “cáp treo" ra bờ biển để vửa thư giãn vừa tổ chức sinh nhật ở một quán nào đó có bán các món ăn Việt Nam. Bố mẹ phì cười cho rằng em “phịa” như thật! Có đúng như thế không anh. Hãy viết tỉ mỉ cho em để em còn học tập khi tổ chức sinh nhật cho mình. Xa nhà vắng bố mẹ và thiếu em nhưng; có nhiều bạn bè tới dự chắc cũng vui lắm anh nhỉ? Nay mai khi về nước anh em mình sẽ tổ chức sinh nhật thật rôm rả để bố mẹ vui. Tuy em đã tưởng tượng ra vài nét sinh nhật của anh, nhưng khi nhận được lá thơ này anh vẫn viết thật kĩ về cái ngày đó của anh cho em nhé, viết càng nhiều, càng kể tỉ mỉ càng tốt. Bây giờ anh cho phép em dừng bút và chúc anh vui, khoẻ, học tập tiến bộ. Đó là những món quà quý đối với bố mẹ và em. Em của anh Anh Tú
Vào dịp sinh nhật của một người thân ở xa viết thư để thăm hỏi và chúc mừng người thân đó
448
Vào vai Lí Thông kể lại truyện cổ tích ‘Thạch Sanh” từ đoạn Lí Thông gặp Thạch Sanh Gợi ý DÀN BÀI Mở bài: + Lí Thông tự giới thiệu về mình (trước đây là người nhưng hiện giờ đang là một con bọ hung xấu xí). + Gợi ra nguyên nhân dẫn đến bi kịch của mình. Thân bài: + Lí Thông gặp Thạch Sanh, những toan tính của Lí Thông và việc hai người kết nghĩa, lời thề của Lí Thông. + Chuyện Thạch Sanh ở nhà Lí Thông: dốc sức làm việc cho mẹ con Lí Thông. + Chuyện con chăn tinh trong vùng và những mưu toan của Lí Thông dẫn đến hành động lừa Thạch Sanh đi canh miếu. + Chuyện Lí Thông và mẹ đang ngủ thì Thạch Sanh về gọi cửa – tâm trạng sợ sệt hốt hoảng tưởng hồn Thạch Sanh về đòi mạng chuyển sang những toan tính rất nhanh khi biết Thạch Sanh đã giết chết chằn tinh dẫn đến hành động lừa Thạch Sanh bỏ đi. + Chuyện Lí Thông đem đầu mãng xà đi lãnh thưởng, được hưởng vinh hoa phú quý; những suy nghĩ của Lí Thông về Thạch Sanh (ngu ngốc). + Chuyện công chúa bị đại bàng bắt đi, Lí Thông phải tìm công chúa, tâm trạng và suy nghĩ của Lí Thông dẫn đến kế tìm Thạch Sanh. + Chuyện Thạch Sanh tìm và cứu được công chúa; Lí Thông lấp cửa hang hãm hại Thạch Sanh cướp công cứu công chúa rồi được lãnh thưởng; công chúa bị câm. + Nhận được tin Thạch Sanh bị bắt giam vì tội ăn trộm vàng bạc, Lí Thông vừa kinh ngạc (vì Thạch Sanh còn sống) vừa vui mừng (vì Thạch Sanh bị khép vào trọng tội). + Chuyện Thạch Sanh được tiếng đàn minh oan, công chúa nói được; Lí Thông bị trừng phạt đúng như lời thề năm xưa. + Thạch Sanh lấy công chúa, được làm vua và hưởng hạnh phúc lâu bền. Kết bài: Những suy nghĩ về tình cảm anh em, về triết lí “ác giả ác báo” của nhân dân ta.
Vào vai Lí Thông kể lại truyện cổ tích ‘Thạch Sanh” từ đoạn Lí Thông gặp Thạch Sanh
344
Vào vai nhân vật người anh trong truyện ngắn “Bức tranh của em gái tôi” (Tạ Duy Anh) để miêu tả hình ảnh phòng tranh mà em gái nhân vật tham gia triển lãm dự thưởng Gợi ý DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG Mở bài: Giới thiệu việc được tham gia cuộc triển lãm có tranh của em gái, chủ đề cuộc triển lãm. Thân bài: + Không gian phòng tranh: hình dáng, rộng, đông người thưởng thức. + Cách bố trí các bức tranh, màu sắc – nội dung chung của các bức tranh. + Thái độ, cảm xúc của những người xem tranh. + Miêu tả một vài bức tranh tiêu biểu. + Miêu tả bức tranh của em gái. Kết bài: + Những suy nghĩ, cảm xúc chung về các bức tranh. + Những suy nghĩ về tình cảm gia đình.
Vào vai nhân vật người anh trong truyện ngắn “Bức tranh của em gái tôi” (Tạ Duy Anh) để miêu tả hình ảnh phòng tranh mà em gái nhân vật tham gia triển lãm dự thưởng
130
Vì sao khi nhắc đến hình ảnh bếp lửa là người cháu lại nhớ đến hình ảnh người bà và ngược lại? Hướng dẫn Vì sao khi nhắc đến hình ảnh bếp lửa là người cháu lại nhớ đến hình ảnh người bà Trong bài thơ, tác giả đã có đến bảy lần nhắc đến từ bếp lửa, một lần nhắc đến từ khói bếp và hai lần nhắc đến ngọn lửa. Mỗi khi nhắc đến hình ảnh bếp lửa, người cháu lại nhớ đến hình ảnh người bà hiền hậu vì bà luôn là người nhóm bếp lửa mỗi sáng sớm, mỗi chiều và suốt cả cuộc đời bà, trong mọi cảnh ngộ, từ những ngày gian khó trong chiến tranh đến lúc được yên vui. Bếp lửa là biểu hiện cụ thể và đầy gợi cảm về sự tảo tần, chăm sóc và tình yêu thương của bà cho cháu và người thân. Bếp lửa là tình bà ấm nồng, bếp lửa là tay bà chăm chút. Bếp lửa còn gắn với những khó khăn, gian khó đời bà. Ngày ngày, bà nhóm bếp lửa cũng là nhóm lên niềm vui, sự sống, niềm yêu thương, sự chăm chút dành cho con cháu và mọi người. Từ bếp lửa của bà, tình thương vô bờ của bà, nhà thơ lớn lên về hình hài và tâm cách. Từ đụn rơm và khói bếp nhà bà, tác giả đã trưởng thành và đi xa, để được thấy “khói trăm tàu, lửa trăm nhà” ở xứ người xa lạ. Vậy nên, nhớ bà là nhớ về bếp lửa, nghĩ về bếp lửa là nghĩ về tình bà nồng ấm, thiêng liêng cao đẹp. Đó là tình cảm tất yếu của những ngời con luôn nhớ về cội nguồn của mình.
Vì sao khi nhắc đến hình ảnh bếp lửa là người cháu lại nhớ đến hình ảnh người bà và ngược lại_
295
Vì sao nói Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng mười chưa cười đã tối Hướng dẫn Tháng năm ngày dài, tháng mười đêm ngắn Ca dao tục ngữ là kho tàng trí tuệ của con người được tích lũy qua nhiều thế hệ. Người xưa thường tổng kết kinh nghiệm của mình bằng những câu nói ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ. Một trong những câu tục ngữ như thế đó là: Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng Ngày tháng mười chưa cười đã tối. Trước hết, hãy hiểu hơn về thể loại văn học dân dan này. Ca dao, tục ngữ là những câu nói nhân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về tự nhiên, lao động, sản xuất, xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng nói hằng ngày. Kết tinh từ cuộc sống, tục ngữ trở lại bồi đắp thêm cho tâm hồn con người nhiều kinh nghiệm quý báu, làm cho đời sống tinh thần thêm phong phú. Câu tục ngữ trên nghe có vẻ nghịch lí. Bởi vì thời gian của ngày và đêm làm sao có thể dài và ngắn khác nhau được. Nhưng nó lại hết sức đúng đắn theo sự quan sát của con người. Vào tháng năm, mùa hạ, ngày dài hơn đêm. Vào tháng mười, mùa đông, đêm dài hơn ngày. Thứ nhất về kiến thức địa lí: Trái đất thì chuyển động quanh Mặt trời. Trục Trái đất luôn nghiêng về một phía không đổi nên lần lượt từng nửa cầu ngả về phía mặt trời còn nửa kia thì chếch xa. Bởi thế, khí hậu trên trái đất chia làm 4 mùa khác nhau. Hiện tượng tháng năm ngày dài đêm ngắn hay tháng mười ngày ngắn đêm dài cũng được lí giải dựa trên quy luật đó. Nước ta nàm ở Bắc bán cầu. Từ tháng 3 đến tháng 9, Bắc bán cầu ngả về phía mặt trời. Nghĩa là, Bắc bán cầu nhận nhiều ánh sáng hơn Nam bán cầu. Do vật mùa xuân và mùa hạ ở Bắc bán cầu ngày dài hơn đêm, Nam bán cầu mùa thu đông đêm dài hơn ngày. Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, Nam bán cầu ngả về phía mặt trời. Nghĩa là Nam bán cầu nhận được nhiều ánh sáng hơn Bắc bán cầu.Do vậy, mùa xuân hạ ở nam bán cầu ngày dài hơn đêm, bắc bán cầu mùa thu đông đêm dài hơn ngày. Ở xích đạo quanh năm ngày đêm dài bằng nhau, càng xa xích đạo độ dài ngày đêm càng lệch. Đó là những kiến thức khoa học về những quy luật chuyển biến của thiên nhiên. Còn đối với những người làm nông dân chất phác thì họ chỉ dựa vào những kinh nghiệm đúc kết từ bao nhiêu năm để họ hình dung về những ảnh hưởng của thiên nhiên khí hậu đến với họ như thế nào. Vào khoảng tháng 5 âm lịch, đó là những ngày hè oi bức thì đây cũng là mùa vụ của người nông dân. Người nông dân thường làm việc rất vất vả vào thời điểm này. Sau một ngày dài làm việc vất vả họ chỉ mong mau đến tối để được nghỉ ngơi, thư giãn nhưng chưa nghỉ được bao lâu thì trời lại sáng ( chưa nằm đã sáng ). Vậy là họ phải tiếp tục thức dậy để bắt đầu một ngày làm việc vất vả mới. Sự chuyển động của thiên nhiên luôn thay đổi thất thường nhưng bên cạnh đó cũng có những quy luật nhất định. Và người nông dân chất phác của chúng ta không cần những kiến thức khoa học cao xa mà chỉ cần nhờ sự nhanh nhẹn, tinh tế, chăm chỉ và giàu kinh nghiệm đã tìm ra những quy luật đó. Nhờ đó mà mùa vụ được diễn ra thuận lợi bên cạnh đó câu tục ngữ còn có ý nghĩa giúp chúng ta quý trọng thời gian.
Vì sao nói Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng mười chưa cười đã tối
679
Vùng quê Đất Mũi – Đoạn trích Sông nước Cà Mau ( Đất rừng phương Nam) Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Vùng quê Đất Mũi, Về đoạn Sông nước Cà Mau trích Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi Sông nước Cà Mau trích Đất rừng Phương Nam Đất rừng phương Nam là một truyện dài viết cho trẻ em của Đoàn Giỏi. Dựa vào bối cảnh thời gian là những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp và cốt truyện là chú bé An lưu lạc đi tìm gia đình, nhà văn đem đến cho người đọc bao nhiêu cảm nhận phong phú, bất ngờ, sâu lắng đầy thi vị về cảnh và người, về vùng đất cực nam của Tổ quốc thân yêu. Đến với vùng đất ấy, như về với quê hương, một quê hương đôi phần bỡ ngỡ khi nhìn thấy nó đầu tiên, nhưng ngay sau đó là say mê khi được đắm mình vào cái thế giới kì lạ, hấp dẫn lạ lùng. Người, cảnh của một vùng quê như ẩn giấu bao trầm tích đáng yêu, đáng quý cứ mở ra trước mắt chúng ta trong chuyến đi dài ngày của nhân vật. Trích đoạn Sông nước Cà Mau không hề ngắt ngừng dòng chảy của những con sông như sông Bảy Háp, sông Cửa Lớn, sông Năm Căn,… mà nơi nào cũng neo đậu hồn ta như những cái bến hẹn hò với một vùng Đất Mũi. 1. Cửa ngõ của vùng sông nước Cà Mau xác định điểm bắt đầu của nó là khi con thuyền “thám hiểm” (đối với chú bé An nó có ý nghĩa như thế) vượt qua hai địa danh có cái tên lạ hoắc: Chà Là, Cái Keo, những cái tên bí mật như rừng, không thể phỏng đoán mà chỉ gợi liên tưởng tới những gì ẩn sâu trong lòng nó có lẽ còn rất hoang sơ. Quả thật, cái gì ở nơi này cũng không giống bất kì đâu, từ kênh, rạch, sông ngòi, vẫn biết đó là đặc trưng của vùng đất phương nam, nhưng độ đậm đặc của nó thì phải đến nơi này mới rõ. Đây là một hệ thống “mạng nhện” bủa giăng chi chít những dòng chảy nhằng nhịt, liên thông không có điểm khởi đầu và không biết nơi nào là kết thúc. Nhìn vào cái sa bàn sông nước ấy, ta không khỏi chóng mặt trước một thiên la địa võng. Đúng là một thứ lưới trời. Từ “bủa giăng” gợi sự chủ động của người đánh cá, nhưng chủ thể ấy ở đây lại vô ảnh, vô hình, đồng thời gợi sự bị động của người mắc lưới như con cá cắn câu. Cảm giác này là có thật vì chú bé An trong truyện chưa từng chứng kiến một cảnh quan sông nước nào như thế. Sức hút của sông nước Cà Mau có lực dẫn dây chuyền. Ám ảnh này còn chưa yên thì cái lạ tiếp theo lại ập đến. Ây là cái không gian xanh bao bọc, cả trên dưới, cả xung quanh. Đúng là cái điệu xanh điệp trùng đang lặng lẽ cất lên một bản hoà âm về màu sắc. Đôi mắt của người kể mở ra rất rộng như sự ngạc nhiên: “Trên thì trời xanh, dưới thì nước xanh, chung quanh mình cũng chỉ toàn một sắc xanh cây lá”. Câu văn giàu nhạc điệu này đưa con thuyền vào cõi mộng, cõi tiên cảnh Bồng Lai. Cùng với cảm nhận thị giác, một cảm nhận chưa quen như thế, thì cảm nhận thính giác vỗ về như bát ngát một lời ru êm đềm không dứt. Lời ru ngọt ngào và ấm áp bao dung ấy là từ đâu? Từ “Tiếng rì rào bất tận của những khu rừng xanh bốn mùa, cùng tiếng sóng rì rào từ biển Đông và vịnh Thái Lan ngày đêm không ngớt vọng về…”. Nghĩa là từ lâu lắm, từ xa xôi. Âm thanh ấy lại là một thứ âm thanh ẩm ướt rất đặc biệt chỉ nơi này mới có, nó mằn mặn (cũng có thể tanh nồng) thổi về “trong hơi gió muối”. “Cái tôi” bị choáng ngợp của người kể chuyện khó khăn lắm mới tách được ra khỏi cái khí quyển dày đặc những cuốn hút lạ lùng. Bằng mọi cách chống lại, hay là để cưỡng lại sự đơn điệu, tẻ nhạt của âm thanh, màu sắc nơi đây (thứ âm thanh đơn điệu triền miên cùng với cái quang cảnh chỉ lặng lẽ một màu xanh đơn điệu), và riêng với âm thanh, nó có gì như khó chịu, như thấp thỏm vì nó “làm mòn mỏi và đuối dần đi tác dụng phân biệt của thị giác con người”. Những cảm giác đa chiều đó (có khen, có chê) có tác dụng tôn vinh một vùng sông nước, để rồi khi rời xa nó sẽ “hoá tâm hồn” như cách nói của Chế Lan Viên thi sĩ. Sức hấp dẫn của đoạn văn nguyên khối này còn ở chỗ, người viết cứ cho nó hồn nhiên đi vào ý thức, tâm thức rồi đến một lúc nào đó, lắng lại khi sự tích tụ đã trào dâng, câu văn mới cất lên như một lời tự thú: “Từ khi qua Chà Là, Cái Keo,… rồi bỏ con sông Bảy Háp xuôi thuyền trôi theo dòng, thì tôi bắt đầu có cái cảm giác trên đây…”. 2. Sự sống động của vùng sông nước Cà Mau chỉ thực sự bắt đầu từ câu: “Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông Cửa Lớn…”. Sự sống động này đối lập với cảnh “tĩnh” ở trên. “Sống động” là phải, bởi cuộc hành trình đang bơi nước rút đến cái dấu chấm xuống dòng là ngôi chợ Năm Căn. Cho nên cũng vẫn là một vùng sông nước, nhưng sông khác, nước khác và cậy rừng cũng khác. Nói cho thật đúng, con sông đến đây mới thực sự định hình. Con sông Bảy Háp ở đoạn trên có lẽ chỉ là một con sông nhỏ, trong cảm giác của người lữ hành, nó rất dễ bị bỏ quên. Tới con sông Năm Căn này thì khác hẳn. Khác hẳn ở độ rộng “mênh mông”, vì mênh mông mà “nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác”, không giống như con sông Bảy Háp lặng lẽ trôi xuôi, có chăng tiếng rì rào thì đó là âm thanh từ biển Đông và vịnh Thái Lan vọng tới. Đây là một con sông hùng vĩ, trung tâm của sông nước, nơi này. Tư thế đầy chất tráng ca của nó được khẳng định trong những mối tương quan hoặc đối xứng hoặc đối lập rất nên thơ. về tương quan đối xứng, giống như một bức tranh sơn thủy hữu tình trong thơ cổ (ở đây thay cho núi là rừng cây), cảnh ở đây là một bên sông, một bên rừng “ôm lấy dòng sông” như một đôi tri kỉ. Cả hai rất tương xứng về tầm vóc. Nếu con sông Năm Căn “rộng hơn ngàn thước” thì rừng đước “dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận”. Hơn thế nữa, hình như để cho con sông đường bệ kia vừa ý, rừng đước còn bồi đắp cho vẻ đẹp của mình sự chung thuỷ và non tơ. Vì sao ở đoạn trước cũng có màu xanh, nhưng màu xanh không rõ nét, còn bây giờ sự mơn mởn đã hồi sinh, vẫn là những cây đước nhưng bền bỉ “mọc dài theo bãi, theo từng lứa trái rụng, ngọn bằng tăm tắp, lớp này chồng lên lớp kia ôm lấy dòng sông, đắp từng bậc màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ”. Rừng đước ở đây như một bản tình ca mượt mà sóng đôi với cái âm hưởng sục sôi của tiếng sóng đổ ra biển của sông Năm Căn “ngày đêm như thác”, về tương quan đối lập giữa cái lớn với cái nhỏ, có thể kể ra mối liên hệ giữa dòng sông mênh mông với hàng đàn cá nước đen trũi “nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng”. Sóng trắng là sóng lớn, gió to, còn đàn cá như bầy trẻ đang nô đùa thoả thích trong ngày hội lớn của bản năng loài cá hoang sơ. Bức tranh vừa rất hiện thực vừa mơ màng như một tứ thơ của Thôi Hiệu thời xưa với sự ẩn hiện của đường nét loà nhoà “trong sương mù và khói sóng ban mai”.
Vùng quê Đất Mũi – Đoạn trích Sông nước Cà Mau ( Đất rừng phương Nam) Ngữ Văn 6
1,455
Đề bài: Biểu cảm về loài cây em yêu: cây bàng. Bài làm Trước sân nhà em có một cây bàng. Truờng em cũng rất nhiều bàng. Hai bên hè phố nơi em ở lại là những dãy bàng xanh ngút ngái. Những cây bàng đứng đó, nhìn em lớn lên và lưu giữ bao kỷ niệm ấu thơ. Em yêu cây bàng như yêu một người bạn gần gũi nhất, thân thương nhất và không bao giờ vắng mặt trong cuộc sống của em. Vào mùa nào, cây bàng cũng có một vẻ đẹp riêng, khi trẻ trung xanh mướt khi già cỗi, sắt siu. Cây bàng lúc tươi tắn, lúc trầm ngâm, lúc vui, lúc buồn như con người vậy. Em thích nhất là ngắm nhìn cây bàng vào xuân. Đó là mùa hồi sinh của vạn vật. Trong làn mưa bụi, hơi lạnh se se, những chồi non chúm chím hé nở trên những nhành cây gầy mảnh vươn dài, xoè rộng. Màu xanh non nớt, mượt mà ấy làm dãy phố sáng bừng lên sau một mùa đông dài xanh xám. Có lúc em thấy cây bàng đang cháy lên những ngọn nến xanh. Có lúc em lại thấy dường như bàng là một cô gái đang múa đèn duyên dáng. Cây bàng biến hoá với bao hình dáng kỳ diệu. Những chồi bàng lớn rất nhanh. Khi trong những vòm lá bắt đầu lấp ló nhánh hoa li ti ấy là lúc mùa xuân sắp tàn nhường quyền tạo hoá cho mùa hè rực rỡ. Mùa hè sang mang đến cho cây bàng một sức sống mạnh mẽ. Cả phố phường ngợp bóng mát xanh um của những tán bàng toả rợp. Em lại được nô đùa chơi đồ hàng, chơi nhảy dây với lũ bạn dưới gốc bàng. Cây bàng đu đưa, rì rào hiền như một người bạn lớn tốt bụng xoè rộng cánh tay cầm ô che nắng cho chúng em vui chơi. Và mỗi buổi trưa hè, em lại mở cửa sổ ngủ dưới tiếng ve bàng râm ran êm ả, dưới vòm hương lá bàng nồng dịu và những chùm quả xanh non chao chao trong nắng. Lũ trẻ trong xóm em bao giờ cũng háo hức đón cây bàng vào thu. Bởi khi ấy những chùm quả bàng bắt đầu chín toả hương thơm nồng nàn ngai ngái phảng phất quyến rũ khắp phố phường. Em còn nhớ một buổi chiều đi lao động ở trường, cả cô trò tụ tập dưới gốc bàng to nhất sân trường đẩy bàng chín ăn. Cô cứ đẩy được chùm nào cả bọn lại xúm xút tranh nhau. Em cắn ngập răng vào quả chín cảm nhận cái vị ngọt rất riêng, bùi ngùi như vị của nắng thu mà thêm yêu da diết cây bàng thân quen ấy. Cây bàng sần sùi, nâu xám. Mỗi vết nám là một kỷ niệm học trò được lưu giữ. Một ngày nào đó, khi em xa rời mái trường yêu dấu, em sẽ về đây đặt tay lên những vết chai sần này để tìm lại bao ký ức đẹp tuổi thơ. Thương nhất là khi cây bàng vào đông. Dãy bàng ngoài phố thỉnh thoảng lại rùng mình khi cơn gió lạnh lướt qua. Trong nắng đông hao hao, những chiếc lá bàng đỏ sạm buồn buồn. Bà bán xôi đầu ngõ gói xôi bằng chiếc lá đỏ ấy cầm gói xôi vừa thổi vừa ăn, em mới thấy cây bàng dù khi tươi tốt hay khi tàn úa vẫn luôn luôn có ích cho đời. Dưới gốc bàng đơn côi, trơ trọi khẳng khiu ngoài phố, quán cóc mọc lên nhiều hơn, lũ trẻ xóm em ít ngồi chơi hơn. Còn ở sân trường thì thật vắng vẻ. Chúng em chẳng muốn ra ngoài vì lạnh. Lúc ấy trông cây bàng thật tội. Cái dáng gầy guộc, khô se thỉnh thoảng lại lay lay như muốn gọi chúng em “Lại đây chơi với tôi đi, tôi buồn lắm”! Nhưng chắc chắn bàng sẽ vượt qua mùa đông buốt giá một cách dễ dàng thôi. Trong cái giá rét ấy, những nhánh cây ngày nào cũng giơ ngón tay gầy gom nắng đông lại chăm chút, ấp ủ một cái gì đó để khi mùa xuân về thì tách lên những búp nõn xanh tươi. Cây bàng lại hồi sinh, lại bắt đầu một vòng sống mới đẹp đẽ hơn, rực rỡ hơn. Em rất khâm phục sức sống bất diệt của cây bàng. Em yêu cây bàng như yêu một người bạn lặng thầm bình dị và gần gũi. Người bạn ấy lúc nào cũng ở bên cạnh em, có mặt trong cuộc sống của em. Một ngày nào đó, em không còn được ăn trái bàng chín thơm nồng, không được cầm gói xôi bọc lá bàng đỏ đầu đông nóng hổi, không được nghe tiếng ve bàng rộn rã thì cuộc sống khi ấy sẽ tẻ nhạt biết bao. Cây bàng là nhà ở, là phố phường, là trường học, là kỷ niệm…là tất cả những gì mà em gắn bó và yêu quý. Đề bài: bài văn biểu cảm về loài cây em yêu: cây phượng. Thời thơ ấu khi còn đi học ở tiểu học đây chính là quãng thời gian hạnh phúc nhất của mỗi con nguời. Khi nhớ đến kỉ niệm ấy, trong em lại hiện lên Những hình ảnh về bạn bè, thầy cô, mái trường tha thiết với loài cây mà em yêu quí, loài cây mà đã gắn bó với những ngày cắp sách đến trường của mỗi người, loài cây mà một nhà văn đã gọi nó với cái tên thân thương cây ” Hoa học trò.” Nhìn từ xa cây phượng toả ra những tán lá xum xuê xanh ngắt giống như một cái dù khổng lồ che mưa che nắng. Thân cây to và sần sùi. Những chiếc rễ ngoằn ngoèo trồi lên mặt đất. Những chiếc lá bé tí kết thành những tán lá rộng. Hoa phượng màu đỏ thắm vừa đẹp, vừa dẻo dai, vừa bền bỉ. Cây phượng đã cho em bóng mát. Vào giờ ra chơi cúng em thường chơi đùa dưới gốc cây phượng. Các bạn nam thì chơi đá cầu hay chơi bắn bi còn các bạn nữ thì chơi nhảy dây hay chơi banh đũa. Phượng là người bạn cùng đi với em trong suốt thời học trò. Cây phượng là nơi cất giữ những niềm vui nỗi buồn của tuổi học trò. Những lúc em buồn vì bị điểm kém hay vì cãi nhau với bạn bè phượng là người bạn đã lắng nghe những tâm sự của em. Những lúc em vui vì được điểm cao hay vì em lại có thêm những người bạn mới phượng là người bạn đã cùng chia sẽ với em. Lúc những búp phượng gần nở là lúc báo hiệu cho chúng em biết mùa thi sắp đến. Những đứa học trò chăm chỉ học tập phượng như rất vui. Lúc hoa phượng nở một màu đỏ thắm và tiếng ve kêu lúc báo hiệu mùa hè đã đến. Những tiếng ve kêu hoà thành một bản nhạc nghe rất vui tươi. Âm thanh của tiếng ve làm cho đời sống của chúng em trở nên rộn ràng, vui tươi. Nhưng lúc đó cũng là lúc chúng em phải chia tay mái trường tầy cô và bạn bè để bước vào kì nghỉ hè. Lúc chia tay tiếng ve kêu mà lòng em xao xuyến không nỡ rời xa. Nhưng rôi cũng đến lúc chia tay với bạn mái trường, thầy cô, bạn bè. Vào những ngày cuối năm học chúng em thường xuống sân nhặt những đóa phượng để ép vào tập để làm kỉ niệm khó phai mờ. Những dòng lưu bút còn in trên giấy của những đứa bạn thân đã cùng em học tập, vui chơi trong suốt năm năm học vừa qua. Thế đó, cây phượng còn là người bạn thân của chúng em suốt một thời học trò nói riêng. Cây phượng còn góp phần tạo nên vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng, kỳ ảo nói chung. Có khi nào bạn nghĩ cây phượng sẽ rời xa mình không? Nhưng còn đối với mình cây phượng luôn đồng hành với mình suốt con đường học vấn. Đề bài: Biểu cảm về loài cây em yêu cây tre. Từ bao đời nay cây tre đã có mặt hầu hết các nẻo đường đất nước việt và gắn bó chung thủy với cộng đồng dân việt nam.đặc biệt trong tâm trí của người việt,cây tre chiếm một vị trí quan trọng,sâu sắc hơn cả- được xem là biểu tượng của người việt đất việt.từ hồi còn bé tôi còn nhớ bài thơ về cây tre việt nam.nước việt nam xanh muôn vàng cây lá khác nhau,cây nào cũng đẹp,cây nào cũng quí nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre, nứa,trúc Tre xanh xanh tự bao giờ Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh… Cây tre,nứa,trúc…và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ lúa.tre có thân rễ ngâm,sống lâu hiện ra các chồi gọi là măng.thân ra hóa mộc có thể cao đến 10-18m, ít phân nhánh mỗi cây có khoảng 30 đốt…cả đời tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre bật ra hoa Cùng với cây đa bến nước sân đình – một hình ảnh quen thuộc thân thương của làng việt cổ truyền thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh,cộng cảm với người việt.tre hiến bóng mát cho đời và sẵn sàng hi sinh tất cả từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón,từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống Cây tre gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà.đất nước lớn lên khi dân ta biết trồng tre đánh giặc không phải ngẫu nhiên sự tích cây tre thân vàng được người việt gắn với truyền thuyết thanh gióng- hình ảnh gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh đuổi giặc ân đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh chiến thắng thần kì đột biến của dân tộc ta đối với những kẻ thù xâm lược lớn mạnh.mặc khác hình tượng cậu bé gióng vươn vai hóa thân thành người khổng lồ rất có thể liên quan tới sự phát triển của cây tre.trải qua nhiều thời ki lịch sử các lũy tre đã trở thành pháo đài xanh vững chắc chống quân xâm lược,chống thiên tai.tre thật sự trở thành chiến lũy và là nguồn vật liệu vô tận để chế tạo vũ khí tấn công trong các cuộc chiến.chính những cọc tre trên sông bạch đằng,ngô quyền đã đánh tan quân nam hán.chính ngọn tầm vong góp phần rất lớn đánh đuổi quân xâm lươc để giành lại hòa bình cho dân tộc;tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà,giữ đồng lúa chín Đã không ít tác phẩm viết về cây tre như cây tre việt nam của tháp mới và bài thơ của thi sĩ nguyễn duy…tre còn góp mặt trong làn điêu dân ca,điệu múa hầu hết trên đất nước và là chất liệu cần thiết để làm các nhạc khí dân tộc như sáo kèn.tre đi vào cuộc sống của mỗi người và đi sâu vào tâm hồn việt.mỗi khi xa quê lữ khách khó mà quên lũy tre làng thân thương,những nhịp cầu tre êm đềm…hình ảnh của tre gợi nhớ về làng quê mộc mạc,con người viêt nam thanh tao, giản dị mà chí khí Có thể thấy rằng bản chất,bản lĩnh của người việt và văn hóa việt có nét tương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre.tre không mọc riêng rẽ mà tạo thành lũy tre,rặng tre.đặc điểm cố kết này tượng trưng cho tính cộng ở người viêt.kết bài;tre gắn bó với người việt như thế đấy trong đời sống cần quí trọng cây tre hơn.hà nội tre không còn nhiều.giờ mở rộng hà nội lại bát ngát các vùng quê,chiều về khóm rơm không còn quấn quýt bên tre nhưng tôi lại thấy cây tre luôn vương thẳng gắn bó với người dân Đề bài: Biểu cảm về loài cây em yêu: cây mai. Nhà em có một cây Mai. Ngày thường, Mai đứng một mình trong góc vườn, lặng lẽ giữa bao nhiêu là Quỳnh Anh, Lan, Cúc, Vũ Nữ… Ấy vậy mà Mai vẫn ung dung, thản nhiên lớn lên với dáng vẻ đơn sơ và giản dị. Cây Mai cao hơn em đến hai cái đầu. Nó khoác trên mình một chiếc áo xanh đậm điểm vài bông hoa vàng hoe. Đến rằm tháng Chạp, Mai được đem ra giữa sân nhà. Nó bắt đầu được chú ý đến. Mai được mọi người chăm sóc, bón phân, tỉa cành và đặc biệt lặt lá – một công việc mà em rất thích. Vào sáng Chủ Nhật, cả nhà em vui vẻ quây quần bên cây Mai để lặt lá. Em làm theo lời mẹ dạy, chú ý lặt đúng cách từng chiếc lá, tưởng tượng như đang mở từng chiếc cửa sổ tí ti trên thân cây cho những nụ hoa mở mắt hé nhìn trời đất. Không phụ lòng người chăm sóc, không để cành phải đợi lâu, những nụ hoa li ti đã bắt đầu xuất hiện. Thân cây trơ trụi được tô điểm bằng những chấm xanh non của mầm hoa, mầm lá. Gần đến Tết, những nụ hoa lớn lên, phình tròn, nhõ bằng chiếc móng tay út. Nhìn cây Mai như có hàng trăm con bọ xanh âu yếm bám chặt vào cành, cố gắng làm đẹp cho cây và hứa hẹn một sự đơm hoa rực rỡ ngày Tết Tết tới, Mai được đặt chễm chệ ở một vị trí trang trọng trong nhà. Mọi người lo đi sắm đồ Tết, chẳng để ý đến Mai nhiều. Hôm mồng Một Tết, mọi người vui vẻ trong những bộ đồ mới. Đến lúc này, nhìn qua cây Mai, ai cũng ngạc nhiên khi thấy nó cũng đã sẵn sàng trong bộ trang phục truyền thống của mình. Mai phủ hắp người một chiếc áo vàng rực rỡ của hoa, điểm thêm vài màu xanh non của lá. Chúng em trang trọng treo những lời chúc “ An khang thịnh vượng”, “ Vạn sự như ý”, … và những bao lì xì lên cây, chia sẻ lời chúc năm mới với loài hoa tuyệt đẹp này. Vậy là chiếc áo vàng của Mai còn được điểm những món đồ trang sức màu đỏ, thể hiện may mắn và tình thương yêu Hoa Mai vàng tươi, rất đẹp. Cánh hoa mềm, mịn như nhung. Nhưng chỉ sau một vài ngày, những cành hoa ấy héo dần và từ từ rời cành xuống điểm tô cho đất. Đất trong chậu đầy một màu vàng của cánh Mai. Hoa Mai rụng đi nhường chỗ cho những nụ hoa con con bung mình hé nở. Những cái nụ xanh be bé, điểm vài màu vàng ở đỉnh. Chúng em thay nhau đoán xem đâu là nụ hoa, đâu là nụ lá, nụ nào nở trước, nụ nào nở sau. Những chiếc nụ lá không được quan tâm nhiều nhưng vẫn hồn nhiên nở cánh trước cả nụ hoa Sau tết, Mai vẫn cố gắng thể hiện hết vẻ đẹp còn lại của mình, hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng được giao. Dưói đất, hoa vàng rụng nhiều. Trên cây, lá xanh lớn lên. Hết Tết, hết mùa hoa Mai, đến lượt lá đua nhau trang trí cho cành. Mai lại khoác lên mình chiếc áo màu xanh thẫm. Mai cũng “ điệu” như con người, cứ đến Tết là xúng xính trong bộ quần áo đẹp. Mai như một người bạn quen thuộc, chia sẻ ngày Tết với mọi người. Mai gắng sức mình tô đẹp cho ngày Tết. Mọi người quan tâm, làm đẹp cho Mai. Em yêu Mai, gia đình em yêu Mai, miền Nam này yêu Mai, cả đất nước Việt Nam cũng yêu Mai. Cây Mai- biểu tượng của may mắn, vui vẻ và hạnh phúc. Văn biểu cảm về loài cây em yêu Đề bài: Biểu cảm về loài cây em yêu: cây lúa. Cảnh tượng về một cánh đồng nhỏ hẹp, nằm xen giữa những ngôi nhà thấp lè tè, có những hàng cau bao bọc xung quanh cứ ám ảnh tôi mãi.Bởi mùa đã hết, lúa vẫn đang còn xanh-đợi đến giáp hạt còn lâu-vậy mà Tết lại sắp đến cận bên. Ở quê tôi, cái miền quê nghèo xơ xác của dải đất miền Trung này có bao người nông dân thiếu gạo vào dịp Tết. Thế mà với họ, kể cả với tôi nữa vẫn coi cây lúa như người bạn của mình. Đã bao người bỏ làng đi làm ăn, mong đổi đời. Chỉ có ba tôi vẫn ở lại vì cây lúa, vì mảnh vườn, vì ở quê tôi vẫn còn nội. Cây lúa gắn với bờ vai ba, gắn với đôi chân trần của mẹ, gắn với những ngày nắng hạn, khô mưa gió Lào táp vào mặt như cố lột đi đi từng lớp da bong trên trán của bà. Vậy mà… cả gia đình tôi ai cũng một lòng vì cây lúa.Ba tôi thường bảo: ” Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ” Tôi không hiểu ba tôi muốn nói gì, nhưng nghe mãi thành thuộc làu làu rồi cũng đem lòng si mê cây lúa từ bao giờ không biết. Mà làm sao không yêu lúa. Khi mới những ngày đầu tập cầm chiếc bút lá tre tôi đã mê cái màu lá mạ.Cả ruộng mạ non mơn mởn dập dờn trước gió, lấp lánh giọt sương đêm còn sót lại trông như dát bạc.Yêu nhất vẫn là lúc cây lúa đang thời con gái. Thân lúa nõn nà, bụng lúa no căng. Chiều.Theo mẹ ra đồng. Ngắt trộm một bông, mở bụng lúa ra… xòa một cành non trắng nõn nà như hoa cau mới nở bung vào sáng sớm. Cho bông lúa vào miệng khẽ nhai nhè nhẹ để nghe cái vị ngòn ngọt, lờ lợ ấy tan ra nơi đầu lưỡi. Ngọt ngào như dòng sữa mẹ ngày nào ta vẫn chưa quên được. Có lẽ không đứa trẻ nào ở quê tôi không thích ăn lúa làm đòng như gặm bắp non khi bắp vừa tượng sữa. Mẹ tôi vẫn thường bảo: – Ngày xưa bà nuôi mẹ bằng chính những quả bắp non ấy. (Bởi bà không có sữa) Những bông lúa non hứa hẹn một mùa vàng trĩu hạt. Và khi cánh đồng chỉ còn trơ rạ, cánh đồng trở thành giang sơn của tụi trẻ con chúng tôi. Tôi không thể nào quê được những mớ rạ được phơi phóng thẳng hàng dưới trời nắng gắt. Mùi thơm của rơm rạ thật ngọt ngào. Ai đã từng đi chăn trâu trên cánh đồng chiều sau vụ gặt, mới cảm hết được cái mùi khô rơm rạ ấy.Chúng tôi thả trâu thung thăng gặm cỏ trên bờ ruộng còn chúng tôi, những chiến binh dũng cảm thì tha hồ đánh trận. Những ụ rơm trở thành pháo đài, những bờ ruộng trở thành chiến lũy. Và trò chơi con trẻ cứ diễn ra trong tiếng cười giòn giã.Tháng ba hoa gạo nở, tháng ba đồng chiều trơ rạ. Tháng ba là tháng ấn tượng nhất trong kí ức tuổi thơ chúng tôi. Mùa về, được bao nhiêu lúa, mẹ lại bán đi một ít để lo phân bả, để trả tiền học phí cho con. Còn bao nhiêu lúa để quay vòng? Mẹ nhẩm tính còn bao tháng ăn nữa thì giáp hạt. Còn ba thì lo chuyện khác. Những bó rơm cao quá đầu người được ba gánh gồng về. Rồi những đêm sáng trăng, ba và mẹ cùng chất.Vui nhất vẫn là lúc này.Chúng tôi được ba mẹ bế lên cây rơm, nhảy nhún trên những đụn rơm cao chất ngất ấy. Để rồi sau vụ gặt, lại hì hụi rút rơm để lót ổ gà, rút rợm đẻ ủ cho con lợn nái, và đặt biệt là chú trâu Bỉnh, mùa về không thể thiếu những bó rơm khô. Còn nội thì lại khác. Lúc nào mùa về nội cũng vui cả. Bà nhẩn nha hát, rồi tuốt rạ, rồi bện chổi. Bà bảo chổi lớn để nhà dưới, chổi bé để quét bếp tro. Vừa bền, vừa sạch. Xem ra cây lúa đúng là hạt ngọc Trời. Bởi không chỉ cho ta hạt gạo mà lúa còn cho ta cả cuộc đời mình.Nhiều lúc rỗi, tôi đâm ra nghĩ ngợi. Chắc có lẽ vì quá hiểu nghề nông, quá yêu cây lúa mà Vua Hùng đã truyền ngôi lại cho Lang Liêu. Bởi vua cũng rất quý trọng hạt ngọc của trời, quý trọng sức lao động của người và yêu quý sự sáng tạo của người nông dân chân lấm tay bùn. Ba thường bảo tôi: – Con gắng học để sau này đừng làm nông như ba. Khổ lắm! Vâng! Ba ơi con sẽ gắng học. Con sẽ gắng làm một điều gì đó. Bởi sau này, dù con có đi đâu, dù con có làm gì, thì trong mỗi bát cơm con ăn con vẫn thấy được vị mặn của giọt mồ hôi ba, vị ngọt của ngào của tình cảm ba mẹ dành cho con. Con vẫn không bao giờ quên được hương vị cánh đồng lúa quê mình. Mùi lúa non ấy, rùi rơm rạ ấy sẽ hằn in mãi trong kí ức con. Con sẽ nhớ mãi tiếng thở dài của mẹ nhẩm tính ngày giáp hạt mùa sau. Đề bài: Biểu cảm về loài cây em yêu: hoa hồng. Trong cuộc sống chúng ta được gặp rất nhều loài cây, loài hoa. Mỗi loài cây, loài hoa lại có một nguồn gốc, đặc điểm, ý nghĩa riêng biệt. có thể nó biểu trưng điều thiêng liêng cao cả, nhưng có thể nó lại biểu trưng cho một điều giản dị mộc mạc Và cây hoa hồng cũng không nằm ngoài quy luật đó, một loại cây, loài hoa mà ai cũng đã từng có dịp chiêm ngưỡng, ngắm nhìn. Hoa hồng xuất hiện cách đây khoang 100 triệu năm vào cuối kỷ nguyên phấn trắng. Đây là một loài cây thường mọc thành bụi, rễ chùm có gai. Nhưng hiên nay đã có loài hoa hồng không có gai. Hoa hồng được mệnh danh là nữ hoàng của các loài hoa. thưc vậy, hoa hồng có nhiều màu: đỏ, trắng, vàng, hồng… và cả hoa xếp xen kẻ lẫn nhau tạo nên một vẻ rất riêng mà không thể nhầm lẫn được. Phải chăng vì vẻ đẹp như vậy mà ngay từ thời xa xưa, các đây hàng ngàn năm mà con người đã trồng và thưỡng thức nó? Các giống hoa hồng vườn mà ngày nay ta thường thấy phát triển hơn lớn hơn nhiều so với những bà con hoang dã của chúng. cũng có lẽ bởi vì hoa hồng mọc hoang chỉ có năm cánh mà chỉ có thể ra hoa ít tuần chứ không thể không thể liên tục hàng mấy tháng như cay hoa hồng vườn. tôi có thể chắc chắn rằng không phải ai trong chúng ta cũng có dịp nhìn thấy quả của cây hoa hồng. Quả của cây này nhỏ, hơi dẹt, có màu đỏ. Nó chứa một lượng vitamin c nhiều gấp 10 đến 100 lần so với các thức ăn khác. Đồng thời, đây cũng là một loại quả thuốc. Chúng ta có thể ngâm quả này trong nước sôi để uống, rất tốt cho bàng quang và thân, lại giúp đề phòng cảm lạnh. Hay như quả của một vài loại cây hoa hồng hoang dại cũng có thể được dùng để làm mứt. Chính vì hoa hồng xuất hiện bên cạnh con người lâu như vậy nên ý nghĩa của nó cũng dần được khẳng định. Nhận thấy được vẻ đẹp của hoa hồng mà con người dùng nó để trang trí, làm đẹp cho ngôi nhà như ở trong phòng. trên bàn, …, giúp ngôi nhà trở nên sinh động, gần gũi với thiên nhiên. Ngoài ra, mỗi màu hoa lại có một ý nghĩa riêng. Ví như hoa hồng đỏ- hay gọi là hoa hồngnhưng biểu trưng cho tình yêu, hoa hồng trắng lại thể hiện cho sự trong trắng, tinh khiết và cả niềm tiếc thương vô hạn…Trong những lúc căng thẵng, nhìn thấy hoa ta như được giải tỏa phần nào. Và chắc rằng, cây hoa hồng còn có ý nghĩa hơn nữa, to lớn hơn nữa. Bởi tôi được biết rằng ở nước anh, cách đây 500 năm, đã xảy ra một cuộc chiến tranh hoa hồng. Giới quý tộc chia làm hai phe, đều lấy hoa hồng làm huy hiệu cho mình: một phe lấy hoa hồng nhung, còn phe kia lấy hoa hồng bạch. Có thể thấy được hoa hồng có tầm quan trọng như thế nào trong cuộc sống. Đẹp và đầy ý nghĩa, nữ hoàng của các loài hoa là những gì ngắn gọn nhất để nói về hoa hồng. Cây hoa hồng gắn bó với con người tư thuở xa xưa đến tận bây giờ. Và chắc chắn rằng vẫn sẽ như vậy đến cả sau này nữa.
Văn biểu cảm về loài cây em yêu
4,259
Văn bản hành chính – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn I – ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU CỦA VĂN BẢN HÀNH CHÍNH Văn bản hành chính là loại văn bản thường dùng để truyền đạt những nội dung và yêu cầu nào đó từ cấp trên xuống hoặc bày tỏ ý kiến, nguyện vọng của cá nhân hay tập thể tới các cơ quan và người có thẩm quyền để giải quyết. Cũng xếp vào loại này những văn bản tường trình, thông báo, biên bản, hợp đồng và cả thư (điện) chúc mừng và thăm hỏi. Ví dụ: Cần bày tỏ nguyện vọng, hay báo cáo với cấp trên, người ta viết đề nghị, báo cáo (Ngữ văn 7). cần trình bày diễn biến sự việc, hậu quả và trách nhiệm của người tham gia (người liên quan) với cá nhân hay tổ chức có thẩm quyền xem xét, giải quyết, người ta viết văn bản tường trình. Cần thông báo rõ chủ trương của tập thể, cấp trên, người ta ra văn bản thông báo (Ngữ văn 8). Cần ghi chép lại một sự việc quan trọng đối với cá nhân hay tổ chức người ta lập biên bản. Cần ghi lại sự thoả thuận về trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của các bên tham gia giao dịch thì phải làm hợp đồng, cần thăm hỏi, chúc mừng thì dùng thư hoặc điện. Trừ loại thư (điện) chúc mừng và thăm hỏi có mẫu riêng, văn bản biên bản và hợp đồng thường được trình bày theo một quy ước nhất định, trong đó phải ghi rõ: – Tên văn bản. – Ngày tháng năm, địa điểm làm văn bản. – Họ tên của những người tham gia và chức trách của họ. – Nội dung chính của văn bản: diễn biến sự việc, các thoả thuận. – Kết thúc văn bản: họ tên, chữ kí của người có trách nhiệm. II – CÁC KIỂU VĂN BẢN HÀNH CHÍNH Ở LỚP 9 1. Biên bản Biên bản là văn bản ghi chép một cách trung thực, chính xác, đầy đủ một sự việc đang xảy ra hoặc vừa mới xảy ra. Người ghi biên bản chịu trách nhiệm về tính xác thực của biên bản. Biên bản được trình bày theo thể thức quy định. Điều quan trọng không thể thiếu là quốc hiệu và tiêu ngữ, thời gian, địa đĩểm, sự việc, họ tên những người liên quan, mức độ trách nhiệm đối với sự việc. 2. Hợp đồng Hợp đồng là văn bản có tính chất pháp lí ghi lại nội dung thoả thuận về trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của hai bên tham gia giao dịch nhằm đảm bảo thực hiện đúng thoả thuận đã cam kết. Văn bản hợp đồng được trình bày theo một số mục quy định. Điều không thể thiếu là các mục: quốc hiệu và tiêu ngữ, tên hợp đồng, thời gian, địa điểm và tên người (đại diện cho cá nhân hoặc tổ chức), nội dung thoả thuận theo từng điều khoản, chữ kí của hai người đại diện (nếu là cơ quan, cần có dấu của cơ quan xác nhận). Thư (điện) chúc mừng và thăm hỏi là văn bản bày tỏ tình cảm của cá nhân (hoặc tổ chức) gửi đến cá nhân (hoặc tổ chức) khác. Nội dung thư (điện) thường nêu rõ lí do của việc gửi thư, hay điện, bày tỏ tình cảm của cá nhân (hoặc tổ chức) gửi và lời động viên đối với cá nhân (tổ chức) nhận. Thư (điện) thường ngắn gọn, theo một công thức chung. III. CÁCH LÀM VĂN BẢN HÀNH CHÍNH 1. Biên bản Biên bản yêu cầu người viết phải nắm vững thể thức, nội dung biên bản, loại biên bản (biên bản hội nghị, biên bản sự vụ). Phải ghi rõ: sự việc xảy ra ở đâu, thời gian nào, kết quả (hậu quả) ra sao, những người liên quan có trách nhiệm kí tên. Các mục của một biên bản hội nghị: Các mục của một biên bản sự vụ: 2. Hợp đồng Văn bản hợp đồng yêu cầu người viết phải nắm vững thể thức, nội dung hợp đồng: tên hợp đồng, thời gian, địa điểm và tên người (đại diện cho cá nhân hoặc tổ chức), nội dung thoả thuận theo từng điều khoản, chữ kí của hai người đại diện. Các mục của một hợp đồng: 3. Thư (điện) chúc mừng và thăm hỏi Văn bản thư (điện) yêu cầu người viết phải nắm vững thể thức, nội dung thư (điện): thư (điện) thăm hỏi haỵ chúc mừng, gửi tổ chức hay cá nhân, nhân sự kiện gì, nội dung bày tỏ là gì. b) Các mục của một văn bản điện chúc mừng và thăm hỏi: Nắm vững các nội dung trên, chúng ta sẽ viết được các văn bản hành chính đúng yêu cầu. Văn bản hành chính chủ yếu là viết theo các mục quy định, càng ngắn gọn, rõ ràng càng tốt. Nó không đòi hỏi sáng tạo hay viết văn có hình ảnh, nhịp điệu, dùng các biện pháp tu từ,… Với lí do trên, chúng tôi không đưa mẫu bài viết các loại văn bản này.
Văn bản hành chính – Ngữ Văn 9
852
Đề bài: Văn bản thông báo: Ban chỉ huy liên đội thông báo kế hoạch cắm trại nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 Bài làm Trường THCS Võng La Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Liên đội trường THCS Võng La Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Cần Thơ, ngày 05 tháng 11 năm 2009 THÔNG BÁO Về kế hoạch cắm trại nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11 Nhân kỉ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chỉ huy Liên đội Trường THCS Võng La tổ chức cắm trại chào mừng. Kế hoạch cụ thể như sau: – Thời lượng: 01 ngày – Thời gian: ngày 19 tháng 11 năm 2009 – Địa điểm: Sân trường THCS Võng La – Hình thức: Mỗi chi đội làm 01 trại theo phạm vi không gian đã được phân Thi cắm trại giữa các chi đội, có trao thưởng theo phạm vi khối lớp Trại được chấm hai lần vào 09h và 15h ngày 19/11/2008; Trong thời gian diễn ra buổi cắm trại, Liên đội sẽ tổ chức các trò chơi như nhảy dây, kéo co, … Chi đội nào có số lượng đội viên tham gia đông đảo, nhiệt tình và nghiêm túc sẽ được cộng điểm vào điểm trại (tối đa cộng 02/20 điểm). BCH Liên đội yêu cầu: – Các chi đội chuẩn bị những vật dụng cần thiết để đảm bảo cho hoạt động diễn ra đúng kế hoạch; – Các đồng chí đội viên nhiệt tình, hăng hái chuẩn bị cho hội trại của Liên đội để hoạt động diễn ra sôi nổi, bổ ích. Nơi gửi: T/M BCH Liên đội – Các chi đội trường THCS Võng La; Liên đội trưởng – BGH nhà trưởng ; Nguyễn Văn Quyền – Lưu. (Đã kí)
Văn bản thông báo_ Ban chỉ huy liên đội thông báo kế hoạch cắm trại nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11
297
Đề bài: Văn bản thông báo: Tổ trưởng dân phố thông báo họp tổ dân phố Bài làm Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc An Sơn, ngày 14 tháng 03 năm 2009 THÔNG BÁO Về việc họp tổ dân phố Trong những ngày đầu năm, do việc tổ chức lễ hội nên tình hình tổ dân phố có một số hiện tượng gây rối làm mất trật tự an toàn xã hội. Vậy kính mời đại diện các hộ gia đình tổ dân phố đến họp để bàn về một số biện pháp đảm bảo an ninh trật tự khu dân cư. Thời gian: 20h 00’ ngày 18/03/2009 Địa điểm: nhà ông tổ trưởng tổ dân phố số 206, phố Thanh Sơn. Kính mong các ông (bà) đến đầy đủ và đúng giờ. Thông báo này thay cho giấy mời. T/M Ban quản lí tổ dân phố Tổ trưởng Nam Vũ Văn Nam
Văn bản thông báo_ Tổ trưởng dân phố thông báo họp tổ dân phố
148
Văn bản Truyện Kiều – Giá trị nội dung và nghệ thuật Hướng dẫn VĂN BẢN: TRUYỆN KIỀU – Nguyễn Du Câu 1: Nguyễn Du (1765 – 1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiền, quê tỉnh Hà Tĩnh, sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống văn học. Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sau sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – nữa đầu thế kỉ XIX. Nguyễn Du đã sống phiêu bạt nhiều năm ở đất Bắc ( 1786 – 1796) rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh ( 1796 – 1802). Ông ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn. Năm 1813 – 1814, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc. Năm 1820, dưới triều Minh Mạng, Nguyễn Du lại được lệnh làm chánh sứ sang Trung Quốc lần thứ hai, chưa kịp đi thì bị bệnh mất tại Huế. Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hóa dân tộc và văn chương Trung Quốc cuộc đời từng trải đi nhiều tiếp xúc nhiều đã tạo cho Nguyễn Du một vốn sống phong phú và niềm thông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Ông là một thiên tài văn học, đồng thời là con người có trái tim giàu lòng yêu thương. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm văn học có giá tị lớn, cả bằng chữ Hán và chữ Nôm. Thơ chữ Hán có ba tập: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, gồm 243 bài.Thơ chữ Nôm xuất sắc là cuốn truyện Đoạn trường tân thanh, tục gọi là Truyện Kiều, Văn chiêu hồn (Văn tế thập loại chúng sinh). Câu 3: Nếu giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của Truyện Kiều Giá trị nội dung: Giá trị hiện thực: Phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội đương thời bất công tàn bạo Phản ánh số phận con người bị áp bức đau khổ, đặc biệt là số phận bi kịch của người phụ nữ. Giá trị nhân đạo Lên án tố cáo thế lục tàn bạo xấu xa Thương cảm sâu sắc nỗi khổ của con người Trân trọng đề cao con người từ vẻ đẹp hình thức, phẩm chất tài năng. Thể hiện được niềm khát khao trong tình yêu, trong hạnh phúc của môi trẻ. Ước mơ tự do công bằng lẽ phải. Giá trị nghệ thuật: Sự kết tinh tựa nghệ thuật văn học dân tộc trên tất cả phương diện, ngôn ngữ thể loại. Ngôn ngữ văn học dân tộc đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ. Nghệ thuật tự sự có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, tâm trạng con người, Câu 4: Tóm tắt “Truyện kiều” Nguyễn Du Thúy kiều con gái đầu lòng của Vương Viên Ngoại – là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn. Trong tiết Thanh minh, nàng cùng hai em là Thúy Vân và Vương Quan đi Tảo mộ, gặp Kim Trọng bạn Vương Quan. Mối tình 2 người chớm nở, Kim Trọng và Thúy Kiều chủ động đính ước với nhau. Trong thời gian Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình kiều mắc oan, nàng phải bán mình chuộc cha và nhớ Thúy Vân kết duyên với Kim Trọng, Không ngờ Kiều bị bọn buôn người là Mã Giám Sinh và Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầu xanh, Kiều được Thúc Sinh chuộc ra nhưng bị vợ cả là Hoạn Thư ghen tuông, đày đọa kiến nàng phải trốn nơi cửa Phật. Sư Giác duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Hà cũng là phương buôn nguwoif như Tú Bà và kiều bị bán vào lầu xanh lần hai. Lần này gặp từ Hải – người anh hung “đầu đội trời chân đạp đất” cưới về làm vợ, giúp nàng báo ân oán, người mắc lừa tên tổng đốc Hồ Tôn Thiết, Thúy Kiều bị lăn nhục đã trầm mình ở sông Tiền Đường, nàng đã được sư Giác Duyên cứu và nương tựa cửa phận. Sau khi hộ tang chú Kim Trọng vẫn nhớ và quyết tâm đi tìm Kiều. Tình cờ gặp sư Giác Duyên, Kiều và Kim trọng tái hợp, Kiều và Kim trọng đoàn tụ sau 15 năm xa cách. Kiều cùng Kim Trọng đổi tình vợ chồng thành bạn bè.
Văn bản Truyện Kiều – Giá trị nội dung và nghệ thuật
741
Văn bản Tuyên ngôn độc lập-Hồ Chí Minh Hướng dẫn Hoàn cảnh ra đời: Mùa thu năm 1945, theo lời kêu gọi của Hồ chủ tịch, toàn thể dân tộc Việt Nam, suốt từ Bắc đến Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, triệu người như một, nhất tế vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 19/8/1945, chính quyền ở Thủ đô Hà Nội đã về tay nhân dân Cách Mạng. Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước hàng chục vạn đồng bào tuyên bố khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn độc lập ra đời ngay sau khi đất nước toàn thắng, chính quyền về tay nhân dân. Trong ngày 2/9, ban lãnh đạo của chính phủ lâm thời cũng đã ra mắt nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh giữ vai trò lãnh đạo đất nước. Chính phủ mới ra đời bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng và tái thiết đất nước, chống thù trong giặc ngoài, bảo vệ thành quả cách mạng mà nhân dân ta mới giành lấy được. Mục đích: Thông báo trước toàn thể nhân dân ta và nhân dân thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam mới độc lập tự do. Tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với dân tộc ta trong suốt mấy chục năm qua; phủ định quyền thực dân đối với đất nước ta; đồng thời ngăn chặn âm mưu của Pháp muốn lăm le trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Qua bản Tuyên ngôn, Bác khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập tự do, bảo về chủ quyền dân tộc của nhân dân ta. Tuyên ngôn độc lập đánh dấu một trong những trang vẻ vang nhất trong lịch sử đấu tranh kiên cường bất khuất của dân tộc Việt Nam ta từ trước đến nay. Cùng với thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và có tính chất thời đại của Cách Mạng tháng 8. Tuyên ngôn độc lập đã mở ra một kỉ nguyên mới trong dân tộc lịch sử Việt Nam – kỉ nguyên nhân dân ta giành được chính quyền; tự mình nắm lấy vận mệnh của mình để thực hiện độc lập tự do và hạnh phúc; Cùng với Cách Mạng tháng tám khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, Tuyên ngôn độc lập không những là kết quả của cuộc vận động giải phóng dân tộc trong những năm 1939 – 1945 mà còn là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài và anh dũng của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ Tịch. Giá trị: Tuyên ngôn độc lập xứng đáng là một bản “thiên cổ hùng văn”, tiếp nối truyền thống anh hùng vẻ vang, kiên cường, bất khuất từ thời đại hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung,.. Tuyên ngôn độc lập đánh dấu một móc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, mở ra một kỉ nguyên mới: kỉ nguyên độc lập, tự chủ, tự cường dân tộc và góp phần làm phong phú thêm về quyền tự quyết của các dân tộc trên thế giới, cổ vũ tinh thần cho phong trào đấu tranh đòi quyền tự chủ và độc lập dân tộc cả các các nước trên thế giới. Bản tuyên ngôn độc lập thể hiện tầm nhìn xa trong rộng, thấu suốt tiến trình lịch sử của chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã có những dự báo chính xác về tương lai của đất nước và của cách mạng Việt Nam. Tuyên ngôn độc lập kết tinh trí tuệ dân tộc, chứa đựng những tư tưởng cao đẹp, giàu chất nhân văn của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Bản Tuyên ngôn độc lập đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á, trở thành cơ sở pháp lí vững chắc khẳng định độc lập chủ quyền dân tộc của nhân dân ta trước thế giới. Chiến tháng vang dội của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và ý nghĩa to lớn của bản Tuyên ngôn độc lập đã làm lung lay tận gốc rễ hệ thống thuộc địa của thực dân Pháp trên toàn thế giới, có sức mạnh cỗ vũ phong trào đấu tranh dân chủ ở các nước thuộc địa. Tuyên ngôn độc lập còn có giá trị văn chương đặc sắc hiếm có. Một lần nữa trong lịch sử, thể văn chính luận lại phát huy sức mạnh lập luận và tính thuyết phục cao độ. Với lí lẽ đanh thép, lập luận sắc bén, lời lẽ thống thiết làm lay động lòng người. Tuyên ngôn độc lập xứng đáng là một bản thiên cổ hùng văn còn lưu mãi đến muôn đời. Chứng minh: Thơ Bác thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết, tinh thần lạc quan và phong thái ung dung, tự tại
Văn bản Tuyên ngôn độc lập-Hồ Chí Minh
868
Đề bài: Văn bản tường trình: Em bị mất xe đạp khi vào hiệu sách. Hãy viết bản tường trình về việc đó gửi các chú công an Bài làm Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hải Dương, ngày 7 tháng 06 năm 2009 BẢN TƯỜNG TRÌNH Về việc mất xe đạp Kính gửi: Ban công an phường Lê Thanh Nghị Tên tôi là Nguyễn Thúy Hiền, hiện là học sinh lớp 8B trường THCS Bình Hàn, trú tại số nhà 12/7, phố Tuệ Tĩnh, phường Bình Hàn. Tôi xin tường trình sự việc như sau: Vào khoảng 16h 30' ngày 7 tháng 06 năm 2009, tôi khóa xe ở vỉa hè bên ngoài để vào hiệu sách Thế Kỉ Mới, số 22 đường Lê Thanh Nghị mua sách. Khoảng 15 phút sau trở ra, tôi không thấy xe của mình. Tôi đã hỏi người xung quanh nhưng không ai để ý cả. Tôi làm bản tường trình này kính mong Ban Công an phường tìm giúp tôi chiếc xe. Đó là một chiếc mini Nhật cũ, màu trắng, chuông có một vệt lõm sâu. Tôi xin cam đoan những điều tôi tường trình trên đây là sự thật. Tôi xin trân trọng cảm ơn. Người viết tường trình Hiền Nguyễn Thúy Hiền
Văn bản tường trình_ Em bị mất xe đạp khi vào hiệu sách. Hãy viết bản tường trình về việc đó gửi các chú công an
209
Đề bài: Văn bản tường trình: Một bạn trong lớp bị mất cặp sách khi cả lớp ra sân tập thể dục. Bạn đó viết bản tường trình để nộp cho cô giáo chủ nhiệm Bài làm Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2009 BẢN TƯỜNG TRÌNH Về việc mất cặp sách Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 8B trường THCS Phan Đình Giót Tên em là: Trần Thu Minh, học sinh lớp 8B trường THCS Phan Đình Giót. Thứ 2 ngày 14 tháng 12 năm 2009 vừa qua, em bị mất chiếc cặp sách tại lớp. Sự việc cụ thể như sau: 7h 30', sau giờ truy bài, khi nghe tiếng trống chào cờ, em cất cặp sách vào ngăn bàn của mình (bàn thứ 4 của tổ 3) rồi xuống sân trường tập trung. Em là một trong những học sinh đầu tiên của lớp ra khỏi phòng học, bởi vậy, khi em rời lớp, trong phòng vẫn còn rất nhiều bạn. 8h 20', khi em lên lớp, cả lớp đã gần như đông đủ. Em lấy cặp sách chuẩn bị tiết học Ngữ văn thì đã không thấy cặp sách đâu. Em có hỏi các bạn xung quanh nhưng không ai nhìn thấy, cũng không ai giấu đùa. Trong chiếc cặp sách có 10 cuốn sách giáo khoa và vở môn Ngữ văn, Lịch sử, Vật lí, Địa lí, 01 hộp bút, 50.000 đồng cùng thẻ học sinh, vé và khoá xe đạp. Em xin cam đoan những điều em tường trình trên là sự thật. Nếu sai em xin chịu mọi hình thức kỉ luật của cô giáo và tập thể lớp. Người viết tường trình Học sinh Minh Trần Thu Minh
Văn bản tường trình_ Một bạn trong lớp bị mất cặp sách khi cả lớp ra sân tập thể dục. Bạn đó viết bản tường trình để nộp cho cô giáo chủ nhiệm
289
Văn bản: “Chuyện người con gái Nam Xương” – Nguyễn Dữ Hướng dẫn Văn bản: “Chuyện người con gái Nam Xương” – Nguyễn Dữ * Giới thiệu bàihọc: “Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. Đó không chỉ là hai câu thơ quen thuộc trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du mà hơn như thế, nó còn là một lời tổng kết vô cùng xác đáng cho cuộc đời, thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy bất công, oan trái. Cũng bởi vì người phụ nữ chịu nhiều bất công như thế hay chăng, mà đề tài viết về họ đã trở nên quen thuộc trong văn chương trung đại. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng trở lại với đề tài này trong tác phẩm nổi tiếng của văn xuôi trung đại Việt Nam giai đoạn thế kỉ XVI – XVII – “Chuyện người con gái Nam Xương” của tác giả Nguyễn Dữ. I. Tìm hiểu chung: 1. Tác giả: – Nguyễn Dữ người huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. – Ông là học trò giỏi của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. – Sống trong cảnh chế độ phong kiến mục nát, “dông bão nổ trăm miền”, xã hội là cái “vực thẳm đời nhân loại” chỉ thấy “bóng tối đùn ra trận gió đen”, nên sau khi đỗ hương cống, Nguyễn Dữ chỉ làm quan một năm rồi lui về ở ẩn. Đó là hình thức bày tỏ thái độ chán nản trước thời cuộc của một trí thức tâm huyết nhưng sinh ra không gặp thời. 2. Tác phẩm: a. “Truyền kì mạn lục”: – Là ghi chép tản mạn về những điều kì lạ vẫn được lưu truyền. – Viết bằng chữ Hán, được xem là “Thiên cổ kì bút” ( áng văn hay ngàn đời ). – Gồm 20 truyện, đề tài phong phú. – Nhân vật: + Nhân vật chính thường là những người phụ nữ đức hạnh, khao khát sống cuộc sống yên bình, hạnh phúc, nhưng lại bị những thế lực tàn bạo và lễ giáo phong kiến nghiệt ngã đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, bi thương, bất hạnh vì oan khuất. + Hoặc một kiểu nhân vật khác, những trí thức tâm huyết với cuộc đời nhưng bất mãn với thời cuộc, không chịu trói mình trong vòng danh lợi,sống ẩn dật để giữ được cốt cách thanh cao. b. Văn bản: – “Chuyện người con gái Nam Xương” là truyền thứ 16, có nguồn gốc từ một truyện cổ tích Việt Nam có tên là “Vợ chàng Trương”. – So với truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, “Chuyện người con gái Nam Xương” phức tạp hơn về tình tiết và sâu sắc hơn về cảm hứng nhân văn. 3. Tóm tắt văn bản: “Chuyện người con gái Nam Xương” viết về một cuộc đời, một số phận đầy oan khuất của một thiếu phụ tên là Vũ Thị Thiết. Đó là người con gái thùy mị, nết na, đức hạnh và xinh đẹp. Lấy chồng là Trương Sinh chưa được bao lâu thì chàng phải đi lính, nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ già và nuôi con nhỏ.Để dỗ con, tối tối, nàng thường chỉ bóng mình trên tường mà bảo đó là cha nó.Khi Trương Sinh về, lúc đó mẹ già đã mất, đứa con bấy giờ đang tập nói, ngây thơ kể với chàng về người đêm đêm vẫn đến nhà chàng. Sẵn có tính hay ghen, nay thêm hiểu lầm, Trương Sinh mắng nhiếc đuổi vợ đi. Phẫn uất, Vũ Nương chạy ra bến Hoàng Giang tự vẫn. Khi Trương Sinh hiểu ra nỗi oan của vợ thì đã muộn,chàng lập đàn giải oan cho nàng. 4. Bố cục: 3 phần: – Phần 1: Từ đầu đến…”lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình”:Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, những phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nương. – Phần 2: Tiếp đến …”nhưng việc trót đã qua rồi!”: Nỗi oan của Vũ Nương. – Phần 3: Còn lại: Vũ Nương được giải oan. II. Đọc – hiểu văn bản: 1. Nhân vật Vũ Nương: a. Vẻ đẹp phẩm chất: – Mở đầu tác phẩm, tác giả đã có lời giới thiệu bao quát về Vũ Nương “Tính đã thuỳ mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp” tạo ấn tượng về một chân dung phụ nữ hoàn hảo. – Sau đó ông đi sâu miêu tả vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của nhân vật trong các mối quan hệ khác nhau, trong các tình huống khác nhau. * Trước hết Vũ Nương là người phụ nữ thuỷ chung, son sắc trong tình nghĩa vợ chồng: – Trong cuộc sống vợ chồng, biết Trương Sinh vốn có tính đa nghi, nên nàng luôn “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa”. Nàng luôn giữ cho tình cảm gia đình đầm ấm, yên vui.Nàng là một người vợ hiền thục, khôn khéo, nết na đúng mực! – Khi xa chồng, VũNương ngày ngày đợi chờ, ngóng trông đến thổn thức “Giữ trọn tấm lòng thủychung, son sắt”, “tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liêu tường hoa chưahề bén gót”. Nỗi nhớ thương dài theo năm tháng “Mỗi khi thấy bướm lượn đầyvườn,mây che kín núi,thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”.Nàng vừa thương chồng, vừa nhớ chồng, vừa thương xót cho chính mình đêm ngàyphải đối mặt với nỗi cô đơn vò võ. Tâm trạng nhớ thương đau buồn ấy của VũNương cũng là tâm trạng chung của những người chinh phụ trong mọi thời loạn lạcxưa nay: “… Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằngtrời Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu Nỗi nhớ chàng đau đáu nàoxong…” (Chinh phụ ngâm) -> Thể hiện tâmtrạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổ của Vũ Nương, vừa ca ngợi tấmlòng thủy chung, thương nhớ đợi chờ chồng của nàng. – Khi hạnh phúc giađình có nguy cơ tan vỡ: Vũ Nương ra sức cứu vãn, hàn gắn. Khi người chồng trútcơn ghen bóng gió lên đầu, Vũ Nương đã ra sức thanh minh, phân trần. Nàng đãviện đến cả thân phận và tấm lòng củamình để thuyết phục chồng “Thiếp vốn conkẻ khó được nương tựa nhà giàu…..cáchbiệt ba năm giữ gìn một tiết…..” Những lời nói nhún nhường tha thiết đó chothấy thái độ trân trọng chồng, trântrọng gia đình nhà chồng, niềm tha thiết gìn giữ gia đình nhất mực của VũNương. – Rồi những năm tháng sống ở chốn làng mây cung nước sungsướng nàng vẫn không nguôi nỗi thương nhớ chồng con. Vừa gặp lại Phan lang, nghe Lang kể về tình cảnh gia đình nàng đã ứa nước mắt xót thương. Mặc dù đã nặnglời thề sống chết với Linh Phi nhưng nàng vẫn tìm cách trở về với chồng controng giây lát để nói lời đa tạ tấm lòng chồng. Rõ ràng trong trái tim ngườiphụ nữ ấy, không bợn chút thù hận, chỉ có sự yêu thương và lòng vị tha. * Vũ Nương còn là người con dâu hiếu thảo vớimẹ chồng, một người mẹ hiền đầy tình yêu thương con. – Trong ba nămchồng đi chiến trận, một mình nàng vừa làm con vừa làm cha vừa làm mẹ để chăm sóc phụng dưỡng mẹ chồng, nuôi dạy con thơ. – Với mẹ chồng, nàng là một cô con dâu hiếu thảo.Chồng xa nhà, nàng đã thay chồng phụng dưỡng mẹ chu đáo. Khi bà ốm nàng đã thuốc thang lễ bái thần phật và lấy những lời khôn khéođể khuyên răn để bà vơi bớt nỗi nhớthương con. Đến khi bà mất, nàng đã hết lời thương xót, ma chay tế lễ cẩn trọnghệt như với cha mẹ đẻ của mình. Cái tình ấy quả có thể cảm thấu cả trời đất chonên trước lúc chết người mẹ già ấy đã trăng trối những lời yêu thương, độngviên, trân trọng con dâu “Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức giốngdòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ lòng con như con đãchẳng phụ mẹ”. – Với con thơ nànghết sức yêu thương, chăm chút. Sau khi xa chồng đầy tuần, nàng sinh bé Đản, mộtmình gánh vác cả giang sơn nhà chồng nhưng chưa khi nào nàng chểnh mảng việccon cái. Chi tiết nàng chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là cha Đản cũng xuấtphát từ tấm lòng của người mẹ: để con trai mình bớt đi cảm giác thiếu vắng tìnhcảm của người cha. => Nguyễn Dữ đãdành cho nhân vật một thái độ yêu mến, trân trọng qua từng trang truyện, từ đókhắc họa thành công hình tượng người phụ nữ với đầy đủ phẩm chất tốt đẹp. b. Số phận oannghiệt, bất hạnh: * Là nạn nhân củachế độ nam quyền, một xã hội mà hôn nhân không có tình yêu và tự do. – Cái thua thiệt đầu tiên làm nên bất hạnh của Vũ Nương làthua thiệt về vị thế. Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có phần khôngbình đẳng. Vũ Nương “vốn con kẻ khó” còn Trương Sinh lại là “nhà giàu” đến độkhi muốn Sinh có thể xin mẹ trăm lạng vàng để cưới Vũ Nương về. Sự cách bứcgiàu nghèo ấy khiến Vũ Nương sinh mặc cảm và cũng là cái thế khiến Trương Sinhcó thể đối xử thô bạo, gia trưởng với nàng. * Là nạn nhân củachiến tranh phi nghĩa: – Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm không chỉ là nạn nhân củachế độ phụ quyền phong kiến mà còn là nạn nhân của chiến tranh phong kiến, củacuộc nội chiến huynh đệ tương tàn. Nàng lấy Trương Sinh, cuộc sống hạnh phúc,cuộc sống vợ chồng kéo dài chưa được bao lâu thì chàng phải đi lính để lại mìnhVũ Nương với mẹ già và đứa con còn chưa ra đời. Suốt ba năm, nàng phải gánh váctrọng trách gia đình, thay chồng phụng dưỡng mẹ già, chăm sóc con thơ, phảisống trong nỗi nhớ chồng triền miên theo năm tháng. – Chiến tranh đã làm xa cách, tạo điều kiện cho sự hiểu lầmtrở thành nguyên nhân gây bất hạnh. Đó cũng là ngòi nổ cho thói hay ghen, đanghi của Trương Sinh nảy nở, phát triển, dẫn đến cái chết oan uổng của VũNương. * Đỉnh điểm của bikịch là khi gia đình tan vỡ, bản thân phải tìm đến cái chết. – Là người vợ thuỷ chung nhưng nàng lại bị chồng nghi oan vàđối xử bất công, tàn nhẫn. – Nghe lời ngây thơ của con trẻ Trương sinhđã nghi oan chovợ, mắng nhiếc, đánh đuổi nàng đi bất chấp lời van xin khóc lóc của nàng và lời biện bạch của hàng xóm. – Vũ Nương đau đớn vô cùng vì tiết giá của mình bị nghi kị,bôi bẩn bởi chính người chồng mà mình yêu thương. – Bế tắc, Vũ Nương đã phải tìm đến cái chết để giải nỗi oanức, thoát khỏi cuộc đời đầy đau khổ, oan nghiệt. * Cái kết thúctưởng là có hậu hoá ra cũng chỉ đậm tô thêm tính chất bi kịch trong thân phậnVũ Nương. – Lược thuật lại kết thúc tác phẩm. – Phân tích: + Có thể coi đây là một kết thúc có hậu, thể hiện niềm mơước của tác giả về một kết thúc tốt lành cho người lương thiện, niềm khát khaomột cuộc sống công bằng nới cái thiện cái đẹp sẽ chiến thắng cái xấu, cái ác. + Nhưng sâu xa, cái kết thúc ấy không hề làm giảm đi tínhchất bi kịch của tác phẩm. Vũ Nương hiện về uy nghi, rực rỡ nhưng đó chỉ là sựhiển linh trong thoáng chốc, là ảo ảnh ngắn ngủi và xa xôi. Sau giây phút đónàng vẫn phải về chốn làng mây cung nước, vợ chồng con cái vẫn âm dương đôingả. Hạnh phúc lớn nhất đời người đàn bà ấy là được sum họp bên chồng bên concuối cùng vẫn không đạt được. Sự trở về trong thoáng chốc và lời từ biệt củanàng đã hé ra cái sự thực cay đắng là cái nhân gian đầy oan nghiệt, khổ đau nàykhông có chốn dung thân cho người phụ nữ vì thế mà “Thiếp chẳng thể trở lạichốn nhân gian được nữa” => Tuy có nhữngphẩm chất tâm hồn đáng quý nhưng Vũ Nương đã phải chịu một số phận cay đắng,oan nghiệt. Nghịch lí ấy tự nó đã là tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến bấtcông phi lí đương thời chà đạp lên hạnh phúc của con người. => Xây dựng hìnhtượng Vũ Nương, một mặt nhà văn ngợi ca những phẩm chất tâm hồn đáng quý củangười phụ nữ, mặt khác thể hiện thái độ cảm thông thương xót cho số phận bấthạnh của họvà cực lực lên án xã hội phong kiến đương thời bất công, phi lí chàđạp, rẻ rúng con người đặc biệt là người phụ nữ. Có lẽ chưa cần nhiều, chỉ cầnkhai thác chân dung Vũ Nương đã đủ thấy chiều sâu hiện thực và nhân đạo củangòi bút Nguyễn Dữ. => Gợi ý: – Gây nên nỗi oan nghiệt trong cuộc đời Vũ Nương trước hếtlà lời nói ngây thơ của con trẻ nhưng sau đó là là tính ghen tuông của ngườichồng đa nghi vũ phu. Lời con trẻ thì ngây thơ vô tội nhưng lòng ghen tuông của người lớn thì cố vin theo đểhăt hủi, ruồng rẫy cho hả dạ. ( Trực tiếp ) – Nhưng nói cho cùng Trương Sinh phũ phàng với vợ là do bảntính anh ta vốn vậy và còn vì đằng sau anh ta có sự hậu thuẫn của cả mọt chế độnam quyền trọng nam khinh nữ. Lễ giáo phong kiến hà khắc cho người đàn ôngquyền hành vô độ với gia đình mình đặc biệt là với người phụ nữ cho nên không phảingẫu nhiên Hồ Xuân Hương đã so sánh phụ nữ với chiếc bánh trôi nước “rắn nátmặc dầu tay kẻ nặn” bởi lẽ trong xã hội nam quyền ấy thì đàn ông quả thực làthượng đế có thể “nặn” ra hình dáng cuộc đời của người phụ nữ. TrươngSinh đã là một tội nhân bức tử Vũ Nương nhưng cuối cùng y vẫn vô can ngay cảkhi nỗi oan khiên cuả Vũ Nương đã được làm sáng tỏ. ( Gián tiếp ) – Ngoài ra cũng còn phải tính đến nhân tố khác cấu thành bikịch Vũ Nương đó là chiến tranh phong kiến, chính chiến tranh phong kiến đã gâynên cảnh sinh li và sau đó góp phần tạo nên cảnh tử biệt. Nếu không có cảnhchiến tranh loạn li thì sẽ không xảy ra tình huống chia cách để rồi dẫn đến bikịch oan khuất trên.(Gián tiếp ) – Liên hệ với thời điểm ra đời của tác phẩm là thế kỉ XVIkhi chiến tranh phi nghĩa giữa các tập đoàn phong kiến Trịnh – Mạc, Lê – Trịnhkéo dài liên miên gây nên bao thảm cảnh sẽ thấy ý nghĩa hiện thực và hàm ý tốcáo của tác phẩm rất sâu sắc. 2. Các chi tiết kì ảo: a. Những chi tiết kì ảo: – Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa. – Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi yến vàgặp, trò chuyện với Vũ Nương; được trở về dương thế. – Vũ Nương hiện về sau khi Trương Sinh lập đàn giải oan chonàng ở bến Hoàng Giang. b. Ý nghĩa: – Tăng sức hấp dẫn bằng sự li kì và trí tượng tượng phongphú. – Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương, mộtngười dù đã ở thế giới khác, vẫn quan tâm đến chồng con, nhà cửa, phần mộ tổtiên, khao khát được phục hồi danh dự. – Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu, thể hiện ước mơ ngànđời của nhân dân ta về sự công bằng: người tốt dù có phải trải qua bao oankhuất, cuối cùng sẽ được minh oan. – Khẳng định niềm cảm thương của tác giả đối với sự bi thảmcủa người phụ nữ trong xã hội phong kiến. 3. Ý nghĩa chi tiếtcái bóng: a. Cách kể chuyện: – Cái bóng là một chi tiết đặc sắc, là một sáng tạo nghệthuật độc đáo làm cho câu chuyện hấp dẫn hơn so với truyện cổ tích. – Cái bóng là đầu mối, điểm nút của câu chuyện. Thắt nút lànó, mà mở nút cũng là nó. b. Góp phần thểhiện tính cách nhân vật: – Bé Đản ngây thơ – Trương Sinh hồ đồ, đa nghi. – Vũ Nương yêu thương chồng con. c. Cái bóng góp phầntố cáo xã hội phong kiến xung tàn, khiến hạnh phúc của người phụ nữ hết sứcmong manh. III. Tổng kết: 1. Nội dung: Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của VũNương, “Chuyện người con gái Nam Xương” thể hiện niềm cảm thương đốivới số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, đồngthời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ. 2. Nghệ thuật: Tác phẩm là một áng văn hay, thành công về nghệ thuật xâydựng truyện, miêu tả nhân vật, kết hợp tự sự với trữ tình. IV. Luyện tập: Sau khi đọc xong tác phẩm, em có suy nghĩ gì về số phận của người phụnữ trong xã hội phong kiến xưa?
Văn bản_ “Chuyện người con gái Nam Xương” – Nguyễn Dữ
2,872
Đề bài: Văn chương không chỉ là ngôn từ mà tác giả gửi gắm vào đó nỗi niềm cũng như hiện thực cuộc sống mà còn ẩn chứa việc xây đắp tâm hồn con người ( Hoài Thanh) Anh (chị) hiểu thế nào về nhận định trên. Bài viết văn của bạn Thu Minh đến từ Hà Nội gửi đến ban biên tập website. Bài làm “Con hay thích làm gì lúc rảnh rỗi? Con thích đọc sách và các cuốn tiểu thuyết Vậy lớn lên con muốn làm gì? Con muốn làm nhà báo… Ôi dời, lớn thế rồi, mơ mộng ít thôi..” Đây có lẽ là một cuộc nói chuyện không còn xa lạ vơi quá nhiều người, và ngay cả chính bản thân tôi cũng đã không ít lần là nhân vật chính trong câu chuyện đó. Đối với nhiều người, văn chương đôi khi là điều gì đó rất ão huyền, ru ngủ, không có giá trị hay nghĩa lí gì với cuộc đời.Những lúc ấy, tôi thấy mình bị tổn thương ghê gớm, hụt hẫng hay thậm chí đôi khi là nghi hoặc về chính thể loiaj mình đang theo đuổi. Bởi nó vô hình, đâu có thể mang lại vật chất hay thứu gì cao sang cho con người. Nhưng đột nhiên tôi lại bắt gặp tới câu nói của Hoài thanh- một câu nói mang đậm chất lí luận, như nói hết tất thảy giá trị cao quý mà văn học muốn gửi tới loài người “.Văn chương không chỉ là ngôn từ mà tác giả gửi gắm vào đó nỗi niềm cũng như hiện thực cuộc sống mà còn ẩn chứa việc xây đắp tâm hồn con người”. Có lẹ nghiên cứu sâu hơn một chút, ngẫm nghĩ bằng cả tấm lòng mình, ta sẽ hiểu hơn phần nào về văn học, về thế giới mà vốn dĩ tôi luôn coi trọng và tự hào biết bao Thời gian vẫn trôi đi, bốn mùa luôn luân chuyển, con người sinh ra, tồn tại rồi lại tan biến vào hư vô. Trong suốt cả hành trình vất vả ấy, ta luôn tìm ra một tâm hồn tri âm, đồng điệu với chính mình nơi trên từng trang giấy trắng thấm nhuần con chữ mà như Tố hữu nói “ Cuộc bể dâu mà con người nhìn thấy trong văn thơ dân tộc là máu chảy từ rong tim người nghệ sĩ”. Qủa thực vậy, văn chương nói riêng và cả nền văn học dân tộc nói chung luôn là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng , nâu đỡ yêu thương từng tấm thân nhỏ bé giữa sa mạc rộng lớn. Ở đây, hoài thanh đã đề cập đến giá trị, bản chất mà văn chương đem đến cho con người, là cả một kho tàng vĩ mô của nhân loại. Văn chương là nghệ thuật ngôn từ, lấy chất liệu để miêu tả đời sống xã hội con người, nó có nghĩa hẹp hơn văn học. Nhưng vốn dĩ với Hoài thanh mà nói, nó không đơn thuần là ngôn từ, là những con chữ khô khan trên mặt giấy hay là những nỗi niềm trắc trở, những mảnh đất hiện thực được tái hiện mà còn là bồi đắp nuôi dưỡng tâm hồn như là” tạo cho con người những tình cảm ta chưa có, bồ đắp thêm cho ta những tình cảm ta sẵn có”. Tâm hồn chính là thứ quan trọng bậc nhất của con người, ảnh hưởng trwujc tiếp tới đời sống của chúng ta, và cũng chính nơi ấy sẽ viết nên những câu chuyện, những ý nghĩ thật đẹp mà được văn học nâng niu, ân ái ban tặng.Âý là giá trị ngàn đời được dựng nên từ những con ong chăm chỉ suốt một đời cống hiên cho nghệ thuật. Cho đến cuối cùng, dẫu cho ngôn từ có được trau chuốt, tỉ mỉ và hiện thực có được phản ảnh chân thật đến mấy thì nó cũng không thể thiếu được tính giáo dục, thẩ mĩ, xây dựng một tâm hồn phong phú cho nhân loại mà như Nguyễn Minh Châu đã nói “ Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm và tâm điểm chính là con người” Một con người như Hoài thanh, trải qua cả một hành trình dài nghiên cứu văn học dân tộc, đưa ra những lời bàn luận về văn chương, ý kiến trên chính là minh chứng rõ nết nhất cho sự thấu hiệu, đạt tình đạt lí của ông, để rồi chính chúng ta được hiểu thêm phần nào về ẩn đằng sau từng nét chữ của mỗi nhà văn là cả một khát khao được thay đôi, hướng con người tới vùng trời nhân tính hơn. Văn chương không chỉ là ngôn từ mà tác giả gửi gắm vào đó nỗi niềm cũng như hiện thực cuộc sống mà còn ẩn chứa việc xây đắp tâm hồn con người Ngôn từ trong văn chương vốn dĩ luôn được sử dụng một cách đầy tinh tế, xứng danh là những người nghệ sĩ tài hoa đang chăm chút cho đứa con của mình và hiện thwujc cuộc sống lại như là một thứ ánh sáng hoàng kim rọi soi con đường cho những nhà văn bước đi, không có nó, mọi thứ sẽ trở nên hoàn toàn vô giá trị nhưng liệu chỉ bấy nhiêu thôi đã đủ lay động trái tim bạn đọc hay chưa? Cái cốt lõi vẫn chính nằm ở việc tâm hồn con người, nơi mà lí trí mà cảm xúc thống trị, nằm ở việc ẩn đằng sau những tâm huyết anh ta giành cho văn chương phải tạo được con sóng ngầm mạnh mẽ, để tâm hồn chúng ta cứ mỗi lúc lại thêm phần phong phú dồi dào và tràn ngập bản tính con người. Trong không gian lặng thing của văn chương, chỉ còn cuộc đôi thoại giữa bạn đọc và trang sách, tòa án lương tâm sẽ phán quyết, quỷ thần hai vai sẽ chứng ngộ, mọi suy nghĩ , liên tưởng của con người sẽ được xem xét, khi ấy, tiếng nói của lương tri sẽ lên ngôi. Ta tìm đến văn chương không pahir đơn thuần để nhìn thấy nhwungx mảng màu đã chiều của cuộ sống xung quay mình, không phải chỉ để hiểu những điều đã làm tác giả nặng lòng, trằn trọc suốt đêm dài mà con là lối thoat cho cảm xúc , tâm hồn, để chính ta sẽ lại đống ống hạnh phúc hơn. Văn học là như thé, một vì sao lấp lánh ánh ngời, một tinh thể thực đáng trân quý. Quy trình sáng tác văn chương đi từ cuộc sống và đích đến cuối cùng của nó cũng chính là cuộc sống, tất thảy mọi ngôn từ từ ngữ sẽ đảm nhận nhiệm vụ trueyenf tải nội dung chũng như ý muốn của tác giả, để rồi anh vật lộn với từng dòng suy nghĩ, chắt chiu nó, đến lúc gấp giấy lại truyền tới tay độc giả. Cả một thế giới được mở ra, dẫu là trong mường tượng thì cũng có thể thay đổi cả một xã hội đi theo chân lí ngàn đời là chân- thiện – mĩ. Những dòng thơ của của Hàn Mặc Tử đã từng làm ta say đắm đến nhường nào, không biết là tình nàng hay tình ta, mê mẫn trong thứ cảm xúc bạt ngàn “ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/Ai biết tình ai có đậm đà”. Hay là như tác phẩm Chí phèo của Nam Cao, nơi đây không chỉ là phản ánh thực tại tàn nhẫn của chế độ phong kiến, những điều đáng sợ của làng vũ đại mà còn cho ta hiểu được khát khao làm người lương thiện của Chí lơn đến nhường nào, một bát cháo hành thôi cũng đủ một con người thức tỉnh. Tâm hồn ta chẳng phải đã bị xao động, đã hiểu thêm bao điều từ những trang văn ấy hay sao. Tự cổ chí kim, văn học đã luôn hướng về con người, về phần sáng của con người , tác giả đâu chỉ viết cho riêng mình mà anh còn viết cho hàng triệu trái tim và tâm hồn khác cần được chữa lành sau những vết nứt, chai sạn của bào táp mưa sa nơi thực tại cuộc sống. Đọc một tác phẩm, ta giường như được áp tai vào chiếc vỏ sò nhỏ bé, lắng nghe thanh âm sâu thẳm nhất từ đại dương, nuôi dưỡng trong mình sức sống , tình cảm, góp phần bồi đắp phù sa tâm hồn chính mình. Đấy cũng chính là điều tôi luôn tin tưởng nhất ở văn chương khi tôi được sống cùng vưới nó suốt năm tháng cuộc đời, như rót từng giọt mật ngọt vào phần đâu đớn nhất, dễ tổn thương nhất, tiếp tục yêu thương và xây đắp chốn bình yên à lắm lúc cũng gào thét dữ dội ấy Đến với tác phẩm Lão hạc- Nam cao, chúng ta không chỉ thấy được ở đó một tấm lòng nhân đạo, hiện thực cuộc sống tối tăm lúc bấy giờ mà chính tâm hồn ta cũng được xây đắp, thấu hiểu hơn về nhân cách con người, về lòng tự trong, sống sao cho phải của nhân vật cùng tên, cảm phục trước cái chết tuy đớn đau nhưng cũng vô cùng cao quý của Lão hạc. Sáng tác vào năm 1943- thời kì mà miền bắc đang trong gia đoạn nạn đói khủng khiếp, triền miên, đâu đâu cũng nhìn thấy người chết vì đói. Và chính Nam cao, từ cái đối, cái nghèo khổ ấy đã dựng nên một nhân vật như Lão hạc, yêu con thương con đến vô bờ bến và lòng tự trọng của một con người hiền lành chất phác. Lão Hạc- một người nông dân nghèo, vợ lão mất sớm, một mình gà trống nuôi con, làm lụng vất vả, cuộc sống túng khó vô cùng. Vì hoàn cảnh, Lão không đồng ý bán mảnh vườn để đứa con trai cưới vợ, anh ta liền bỏ đi đồn điền cao su biền biệt mấy năm mà như người ta nói “ Cao su đi dễ khó về” để lại lão với Cậu Vàng. Với lão đó có lẽ là nỗi đâu lớn nhất, đâu đến xé lòng đứt ruột gan mà có mấy ai hiểu lòng lão vốn yêu con đến mức nào. Nhưng bởi mảnh vườn ấy là do vợ lão để lại, nào dám bán đi. Hồi còn trẻ thì còn được người ta thuê đi làm bốc vác, sau này về già, một thân một mình, hoàn cảnh cảnh lão lại trở nên đáng thương xiết bao. Trải qua môt trận bão lớn, lã cũng chẳng còn gì, ăn củ khoai củ sắn qua ngày. May sao còn có Cậu Vàng bên canh. Với người khác đó có thể là loài vật rất đỗi bình thường, người ta sẵn sàng ra tay, cướp đi mạng sống của nó nhưng với lão nó là gia đình , là người bạn tâm sự, sẻ chia. Cho nó ăn bằng bát sứ, nói chuyện cùng nó, xem trọng vô cùng khi ấy chính là kỉ vật cuối cùng mà con trai để lại. Là gia đình, mà còn gì đâu dớn hơn khi phải chấp nhận bán đi “ gia đình”, nhìn người ta bắt lấy nó đi rồi nghĩ tới cảnh nó bị giết thịt. Nước mắt ròng ròng trên gò má và gương mặt như méo xệch đi của lão đủ hiểu lão đâu đớn như thế nào. Ta đã được chứng kiến một diễn biến tâm lí đầy sâu sắc của nhân vật , chân thật, xót thương và thương cảm vô cùng. Cái nghèo đã đẩy lão vào cái chết thứ nhất đầy đau đớn ấy, đó là chết về măt tâm hồn, về trái tim, tự trách bản thân khi nỡ lừa một con chó đã trung thành suốt mấy năm. Nhưng thương cho cuộc đời lão, lão còn cách gì nữa đâu, để nó sống tiếp mà chết vì đói thì thật đáng thương, mà lão lị càng không thể tiêu lẹm vào đồng tiền giành dụm cho con. Bán nó đi, một nửa tâm hồn của lão đã chết và một nửa tâm hồn của bạn đọc đã bị đánh thức Khác với văn học hiện thực phê phán, văn học hiện đại đặc biệt là thơ ca cũng đã đem đến cho ta những cảm xúc đầy mãnh liệt nuôi dưỡng tâm hồn như bài thơ Sang Thu- Hữu Thỉnh đã viết gửi tới triệu độc giả. Ấy là những chiêm nghiệm về cuộc đời, là lấy hình cảnh thiên nhiên ẩn dụ cho điều mình muốn nói, cho sự xáo trộn bên trong con người, nêu lên cái quy luật ngàn đời trong thế giới nhân sinh” khi trải qua lắm những khó khắn, chắc chắn ta sẽ mỗi ngày càng trưởng thành và mãnh mẽ hơn”. Bài thơ sáng tác vào 1977, khi tác giả có cơ hội tham gia một triển lãm quân đội. Xuyên suốt cả bài thơ có thể thấy hình ảnh thiên nhiên đóng vai trò chủ đạo nhưng đằng sau cái hình ảnh ấy là cả một cuộc đời con người, một cuộc đời đã trải qua lắm gian truân, khổ cực, trao gửi tới ta cả một tâm huyết, một vấn đề nhân sinh lẽ ở đời Bài thơ như một khúc ca nhẹ nhàng, da diết, trầm lắng nhưng cũng đầy triết lí, như một lời căn dặn đầy sâu sắc. Đi sâu vào từng lời thơ, thả hồn mình theo đó như một nghệ sĩ thwucj thụ hay một người khán giả đang thưởng thức bài giao hưởng, tôi chợt nhận ra vẻ đẹp của thơ ca đến lạ. Mùa thu đến với nhà thơ đầy bất chợt, theo một cách rất đỗi tự nhiên. Khác với Nguyễn đình thi “ Gios thổi mùa thu Hương cốm mới” hay như nguyễn bính “ mùi hoa thiên lí thoảng hương đưa” mà ở đây tác giả nhận ra bằng hương ổi, thứ hương đầy dân dã mà quen thuộc vô cùng, rồi nàng thu nhẹ nhàng từng bước bước qua ngõ bằng hình ảnh sương lãng đãng, gió se phất phơ tay áo. Cho đến vạn vật cũng đổi thay, dòng sông chầm chậm lại trên từng vách đá, chim về phương nam tránh rét và cả đám mây cũng nhưu chieecs khăn voan vắt nửa mình sang thu. Thiên nhiên là thế, nó thay đổi theo vòng quay tự nhiên của nó, mùa hè đi, mùa thu đến gây cho ta biết bao nhớ thương, trìu mến. Vfa rồi cho đến cuối cùng, trên hàng cây thụ lớn lao ấy, ta vẫn nhận ra vẻ kiên cường, mạnh mẽ ở đâu đó Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi. Không còn quá gay gắt như mùa hạ, nắng đã vơi bớt dần, cơm mưa cũng chẳng còn nặng hạt nữa. Hàng cây kia chính là con người, nắng hay mưa và sấm chính là những khó khăn mà ta phải trải qua. Giống như khi đến độ chín nào đó trong cuộc đời. Mọi giông bão, phong ba kia sẽ chẳng còn quá đnags sợ và ghê gớm nữa. Con người sẽ trở nên mạnh mẽ, kiên cường hơn, cứng rắn với chính mình, bởi vì một khi đã trải qua đủ nhiều đau thương, ta sẽ học được cách đứng lên, vượt qua tất cả. Âý là quy luật tất yếu của cuộc sống mà thôi. Chính bạn đọc đã học được điều ấy từ trang thơ của hữu thỉnh, tâm hồn ta giường như được mở rộng hơn, thấu tính đạt lí, hiểu được nhân sinh hóa ra là vậy. Khó khắn hôm nay sxe chẳng là gì với ngày mai rồi ai sau nữa, ai rồi cũng sẽ phải bước tiếp, sống cuộc đời tốt hơn bây giờ, hơn cuộc sống ở quá khứ mà thôi. Gía trị của văn chương vốn dĩ nằm ở chỗ đấy, truyền đạt, thẩm thấu vào trí nhớ cũng như tâm thức của con người một cách thật đáng trân trọng Để đạt được thành công chưa có một việc gì là dễ dàng, kể cả viết văn hay sáng tác thi ca. Mỗi tác phẩm đều là tâm huyết, được thai nghén từ khi còn nằm trong ý nghĩ của các thi nhân, bất chợt nó biến thành thứ cảm xúc, cảm hứng mãnh liệt tràn lên trên con chữ. Nghe tưởng chừng đơn giản nhưng đây thực sự là một quá trình vô cùng cực khổ, gian nan, đòi hỏi biết bao tài năng nghệ thuật. Vừa là phản ánh cuộc sống một cách chân thực, vừa chắt lọc ngôn từ cho đến tác động vào tâm hồn độc giả, anh phải như con ong cần mẫn hút nhụy trên những bông hoa tương đẹp, phải có một trái tim đủ nhạy cảm, một tấm lòng đủ bao dung và một suy nghĩ đủ tỉnh táo để sẳn sàng yêu thương, đồng cảm cùng những tấm thân nhỏ bé. Anh phải đánh đổi thời gian, sức lực, chấp nhận hi sinh vì nghẹ thuật mà đặc biệt là hiểu được đứa con của mình sinh ra để làm gì, ốn dĩ ranh giới giữa tồn và vong, tỏa sáng hay bị quên lãng sẽ vô cùng mong manh. Những biến thiên của kiếp nhân sinh cần lắm đến những người nghệ sĩ, những người thực sự thấu hiếu cõi nhân gian này. Bên cạnh đó, bạn đọc cũng cần mở rộng hồn mình, đón nhận những tinh hoa nghệ thuật bằng cả trái tim và tâm trí của mình. Ta hãy qua hết cuộc đơi thường nhật, lắng nghe âm thanh sâu thẳm nhất của văn chương, là kẻ say chẳng màn thế sự, đắm chìm trong vị rượu của thơ ca. Để rồi ta có cái nhìn đúng đắn nhất, sự công nhận của độc giả chính là món quà lớn lao giành tặng cho những người vốn suốt đời đi theo duyên bút mực. Văn học vốn nặng nợ thế gian, chỉ mong suốt một đời, ta có nó bên cạnh đồng hành và yêu thương Tôi yêu văn chương, yêu từng con chữ, từng lời văn đã đến bên cuộc đời tôi, tỏa sáng giữa hàng ngàn vì sao khác nhau. Và tôi cũng tin một ngày nào đó, những con người đang còn có suy nghĩ không đúng về văn chương sẽ phải thực sự có cái nhìn khác, phải yêu lấy văn học như cách tôi đang yêu và trân trọng nó. Thật lòng cảm ơn những người làm văn đi trước, cảm ơn vì đã truyền ngọn lửa nhiệt huyết và đam mê với văn học vào trong trái tim tôi, để rồi lúc nào trái tim tôi cũng bập bùng vì hai tiếng thiêng liêng “văn học” Hoài Thanh đã có cái nhìn thật đúng đắn, sáng suốt vô cùng “Văn chương không chỉ là ngôn từ mà tác giả gửi gắm vào đó nỗi niềm cũng như hiện thực cuộc sống mà còn ẩn chứa việc xây đắp tâm hồn con người”
Văn chương không chỉ là ngôn từ mà tác giả gửi gắm vào đó nỗi niềm cũng như hiện thực cuộc sống mà còn ẩn chứa việc xây đắp tâm hồn con người ( Hoài Thanh)
3,244
Văn hào M.Go-rơ-ki viết: Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới. Hãy bình luận ý kiến trên Hướng dẫn Văn hào M.Go-rơ-ki viết: Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới. Hãy bình luận ý kiến trên Bài làm Trên con đường học tập và tìm kiếm tri thức, những cuốn sách là người bạn, người đồng hành không thể thiếu của con người. Mặc dù xã hội ngày càng phát triển, người ta có thể tìm kiếm thông tin bằng nhiều phương thức khác nhau, nhưng vai trò của những cuốn sách vẫn vô cùng quan trọng. Nhà văn M. Gorki đã từng nói: Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới. Câu nói này của ông mang giá trị rất lớn trong việc khích lệ tinh thần của chúng ta, giúp chúng ta thêm yêu hơn những cuốn sách. Từ xưa đến nay, sách gắn liền với những chặng đường phát triển, sự thay đổi của nhân loại. Sách có thể được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau. Sách thời kỳ trước có thể làm bằng đá với những nét khắc chữ, hoặc ghi trên những mai rùa, những thẻ tre, hoặc những tấm da cừu dày dặn chắc chắn. Theo thời gian, xã hội phát triển, con người phát minh ra giấy, mực, máy in, nên sách được in trên giấy rất đẹp và phong phú. Sách là kho tàng trí tuệ của nhân loại, vô số những kiến thức, những kinh nghiệm cũng như những chia sẻ quý báu được ghi trên sách, để truyền bá những điều bổ ích đến với con người. Từng trang sách như thể hiện tài năng, sự tâm huyết cùng những tâm tư, nguyện vọng của tác giả muốn gửi gắm đến người xem. Sách có thể vượt qua mọi rào cản, giúp mọi người trên trái đất lại gần nhau hơn. Sách là thứ rất quan trọng và cần thiết đối với con người. Sách cho chúng ta thấy những kiến thức mới, những chân trời mời, giúp mọi người phát triển trí tuệ, hiểu thêm những điều mình chưa biết, chưa từng xem qua. Khi còn nhỏ, sách dạy ta biết đọc, biết viết…Lớn hơn chút nữa, sách giúp chúng ta biết đến từng môn học, từng lĩnh vực khác nhau, từ văn học, toán học, ngoại ngữ cho đến lịch sử, khoa học tự nhiên…. Tất cả những điều được tìm hiểu, đúc kết qua bao nhiêu năm tháng đều được gói gọn trong từng trang sách. Sách không chỉ giúp con người tìm hiểu kiến thức, mà còn giúp chúng ta hoàn thiện tâm hồn, hoàn thiện bản thân qua những trang sách về văn học, nghệ thuật. Có thể thấy, sách thật sự rất cần thiết với tất cả chúng ta. Nếu không có sách, không có những trang kiến thức lắng đọng qua từng trang sách, chắc chắn con người sẽ mãi sống trong sự u mê, dốt nát, không có kiến thức, cũng không biết đến những điều mới mẻ, những điều tốt đẹp ở bên ngoài kia. Không ai là không cần đến sách. Dù trẻ hay già, dù người giàu có hay nghèo khổ, nhà khoa học đến người bình thường, tất cả đều cần đến sách. Bởi con người là hữu hạn nhưng tri thức là hữu hạn. Không một ai có thể khẳng định rằng mình tinh thông, tài giỏi tất cả mọi lĩnh vực. Có người tài giỏi về văn học, có người lại giỏi về toán học. Nhưng tri thức không bao giờ là đủ, nếu ta chịu khó tìm tòi, học hỏi, đến một ngày nào đó nhất định ta sẽ cần dùng đến những điều ta được đọc trong sách. Việc học không bao giờ là thừa, và học tập thì không thể thiếu những trang sách. Qua đây có thể thấy rằng, câu nói của tác giả M. Go- rơ- ki: “ Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới” là một lời khuyên vô cùng bổ ích với chúng ta. Ông muốn nhấn mạnh cũng như nêu rõ tầm quan trọng của việc đọc sách đối với con người, giúp chúng ta thêm yêu quý và trân trọng hơn những cuốn sách.
Văn hào M.Go-rơ-ki viết _ Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới. Hãy bình luận ý kiến trên
715
Trong cuộc đời mình, ai chả có những ước mơ và khát vọng. Với tuổi thơ, tâm hồn đã trong trẻo lại giàu cảm xúc và trí tưởng tượng, nên càng nhiều mơ ước. Cái gì đã làm nên những giấc mơ kì diệu của tuổi thơ vậy? Có lẽ cũng như tôi, bạn phải thừa nhận rằng: văn học đã thắp hồng ngọn lửa mơ ước trong tim ta! Chắc bạn cũng đà một lần mơ ước bay lên cung trăng cùng chú Cuội để được đắm mình vào cõi bồng lai tiên cảnh, hay được du ngoạn bốn phương trời cùng tấm thảm bay, ngắm phong cảnh non xanh nước biếc với những dòng sông thơ mộng, những cánh rừng bí ẩn, những ống khói nhà máy cao chọc trời…Phải chăng việc bay lên vũ trụ ngày nay của con người cũng là nhờ những câu chuyện cổ tích xưa đã kích thích sự sáng tạo của nhà khoa học? Các nhà văn quả là “kì tài”, họ đã đi trước nhân loại hàng chục thế kỉ. Truyện cổ tích còn đưa ta tới một thế giới diệu kì hơn nữa. Có lúc, tôi mong mình được như Thạch Sanh, để tới được tận chốn Thuỷ cung xa xôi của vua Thuỷ Tề, xem phong cảnh dưới nước có gì đặc biệt. Có lúc tôi lại mơ mình có phép lạ như bà tiên gõ cây đũa thần làm thay đổi vạn vật. Nếu có được phép mầu ấy, tôi sẽ gõ cây đũa vào các bức tượng vĩ nhân, để họ sống lại và giúp ích cho cuộc đời. Có lúc, tôi lại mong có được liều thuốc tiên để đi khắp nơi chữa bệnh cứu người. Rời mảnh đất “cổ tích”, tôi đi ngược về vùng “thần thoại” xa xưa. Tôi mong mình có sức mạnh và lòng quả cảm, hào hiệp của dũng sĩ HécQuyn trong thần thoại Hi Lạp. Lúc đó tôi sẽ dùng sức mạnh của mình tiêu diệt những tên khủng bố, những trùm buôn lậu ma tuý, quét sạch mọi thứ rác rưởi, cặn bã, bất công, để trái đất này chỉ còn lòng nhân ái và sự bao dung. Những mong ước ấy của tôi thật đẹp, nhưng có phần phù phiếm và viển vông. Tôi lớn dần theo năm tháng, ước mơ của tòi cũng nhiều lên, nhưng giản dị và thiết thực hơn. Đọc những câu ca dao ngợi ca phong cảnh thơ mộng, hữu tình của đất nước như: Đồng Đăng có phố Kì Lừa Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh Ai lên xứ Lạng cùng anh Bõ công bác mẹ sinh thành ra em… Phồn hoa thứ nhất Long Thành Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ bỗng nhiên tôi muốn được làm một chuyến du lịch từ Bắc vào Nam để ngắm xem đất nước, khám phá những vùng đất mới, chiêm ngưỡng những kì quan của tạo hoá và những kiệt tác được tạo nên từ bàn tay tài hoa của con người, để mà biết đất nước mình đẹp như thế nào, để mà thêm tự hào và yêu quý. Không chỉ những câu ca dao mới tạo ra trong tôi ước muốn ấy. Thơ Nguyễn Trãi làm tôi khao khát về Côn Sơn để ngồi trên phiến đá năm nào thi nhân đã ngồi, nằm dưới bóng thông mà mơ màng, đứng dưới bóng trúc xanh mát lắng nghe tiếng suối chảy êm đềm (biết đâu cảm hứng thi ca trong tôi lại dạt dào, và biết đâu, một bài thơ mới viết về Côn Sơn lại chào đời!). Đọc thơ Hồ Chí Minh, tôi muốn tới ngay Việt Bắc để thưởng thức hương vị của ngô nếp nướng và thịt rừng quay, để được hưởng cái thú “Non xanh nước biếc tha hồ dạo – Rượu ngọt chè tươi mặc sức say”. Đọc văn Nguyễn Tuân, tôi muốn tới Cô Tô để ngắm cảnh mặt trời mọc trên biển, ngắm nhìn màu xanh kì lạ của nước biển CôTô, gặp gỡ những con người chất phác và hồn hậu nơi đó. Cùng với ước mơ du ngoạn, tôi mong mình có được tâm hồn và phẩm chất như những con người trong văn chương. Tôi ước sao mình có sức khoẻ và bản lĩnh như dượng Hương Thư (nhân vật trong Quê nội của Võ Quảng), để có thể lao động không biết mệt mỏi. Sức khoẻ ấy, bản lĩnh ấy, cộng thêm với tri thức mà tôi học được trong nhà trường, tôi có thể tạo lập được sự nghiệp cho mình. Không chỉ ước mơ cho riêng mình. Văn học làm tâm hồn tôi trong sáng hơn và tôi mơ ước luôn cả hộ mọi người xung quanh mình. Tôi ước gì không còn những cảnh đổ vỡ chia tay của người lớn để không còn Cuộc chia tay của những con búp bê nữa, không còn nước mắt chảy trên má những người bạn tội nghiệp, đáng thương của tôi, để chỉ có nụ cười trên những đôi môi thơ trẻ. Bao nhiêu trang văn tôi được thưởng thức là bấy nhiêu ước mơ đẹp nảy nở trong tâm hồn tôi. Tâm hồn tôi giống như một mảnh đất còn cằn cỗi mà văn chương như dòng sông vừa mát trong, vừa đầy ắp phù sa cứ bồi đắp mãi cho mảnh đất ấy ngày một màu mỡ lên.
Văn học chắp cánh ước mơ cho em
920
Đề bài: Bằng những hiểu biết về các văn bản truyện đã học ở chương trình Ngữ văn lớp 8, em hãy chứng minh rằng Văn Học Của Dân Tộc Ta Luôn Ngợi Ca Tình Yêu Thương Giữa Con Người Bài làm Văn học là nhân học. Mục đích cao cả của các tác phẩm văn chương là hướng người đọc đến sự hiểu biết và ca ngợi tình yêu thương vô bờ bến giữa con người với con người. Các văn bản truyện trong chương trình Ngữ văn lớp 8 như Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng, Tức nước vỡ bờ của Ngô Tất Tố hay Lão hạc của Nam cao đã thể hiện rõ nền văn học dân tộc ta luôn ngợi ca tình yêu thương đó. Các tác phẩm văn học này nằm trong trào l­ưu văn học hiện thực. Đó là trào lưu văn học gồm các nhà văn hư­ớng ngòi bút vào việc phơi bày thực trạng bất công, thối nát của xã hội và đi sâu phản ánh thực trạng thống khổ của các tầng lớp quần chúng bị áp bức bóc lột đư­ơng thời. Nói chung các sáng tác của trào l­ưu văn học này có tính chân thực cao và thấm đư­ợm tinh thần nhân đạo. Tinh thần nhân đạo hay còn gọi là tình yêu thương giữa người với người thể hiện qua nhiều mối quan hệ xã hội, đó là tình cảm xóm giếng, tình cảm gia đình. Tình cảm xóm giếng được thể hiện đặc sắc trong hai tác phẩm Tức nước vỡ bờ của Ngô Tất Tố và Lão hạc của Nam cao. Đoạn trích Tức nước vỡ bờ thuộc tiểu thuyết Tắt đèn (1939), tác phẩm tiêu biểu nhất của Ngô Tất Tố, « một thiên tiểu thuyết có tính luận đề xã hội hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể là kiệt càng, tùng lai chưa từng thấy » (Vũ Trọng Phụng). Qua câu chuyện về chị Dậu và gia đình chị, Tắt đèn tập trung thể hiện nỗi khốn cùng của ngừoi nông dân dưới ách sưu thuế của chế độ thực dân, sự bóc lột hà hiếp của bọn địa chủ cường hào, quan lại. Bên cạnh ngòi bút hiện thực sắc sắc, sinh động, phản ánh được hiện thực bất nhân của xã hội thực dân phong kiến đương thời thì thiên tiểu thuyết còn thấm đẫm tình người. Một trong những tình cảm cao quý mà chúng ta phải nhắc đến đó là tình cảm của hàng xóm, láng giềng, của bà lão láng giềng với vợ chồng chị Dậu. Ngô Tất Tố viết về tình cảm xóm giềng này trong đoạn đầu của đoạn trích Tức nước vỡ bờ. Đó là lúc anh Dậu được giải từ ngoài đình về: « Đêm hôm ấy, người ta cõng anh Dậu rũ rượi như một xác chết ở ngoài đình về… ». Khi anh Dậu mới ở ngoài đình về, bà lão láng giềng đã « lật đật chạy sang: – Bác trai đã khá rồi chứ? » Ngay cái dáng vẻ « lật đật » của bà lão đã chứng tỏ rằng bà rất lo lắng cho vợ chồng nhà chị Dậu. Không những thế, bà lão còn đưa ra những lời khuyên cho chị Dậu: « Này bảo bác ấy có trốn đi đâu thì trốn. Chứ cứ nằm đấy, chốc nữa họ vào thúc sưu, không có, họ lại đánh trói thì khổ. Người ốm rề rề như thế, nếu lại phải một trận đòn, nuôi mấy tháng cho hoàn hồn » Lời nói của bà lão hàng xóm thể hiện nỗi lo của bà, bà lo cho anh Dậu vừa mới khỏe lại được một tí nếu bọn thúc sưu đến bị đánh trói thì khổ ra, thì « nuôi mấy tháng cho hoàn hồn ». Bà lão còn giục thêm: « giục anh ấy ăn mau lên ». Sau khi khuyên bảo xong, bà lão lại « lật đật trở về với vẻ mặt boăn khoăn ». Chỉ một đoạn văn ngắn thôi, Ngô Tất Tố đã thể hiện được tình cảm hàng xóm, láng giềng sâu sắc giữa gia đình chị Dậu và bà lão. Mặc dù, giữa họ không có quan hệ ruột thịt với nhau, nhưng bà lão với cái dáng vẻ « lật đật » của mình đã thể hiện được sự lo lắng, sự quan tâm chân thành dành cho gia đình chị Dậu. Tình cảm đó thật xúc động biết bao. Nếu như trong tác phẩm Tức nước vỡ bờ tình cảm làng xóm đầy xúc động như vậy, thì trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam cao tình cảm ấy được thể hiện như thế nào. Đó là tình cảm giữa lão Hạc và ông giáo. Lão Hạc là một người nông dân có hoàn cảnh và số phận đáng thương. Nhà nghèo, không có tiền cho con cưới vợ, người con trai duy nhất của lão đã phải bỏ đi làm đồn điền cao su. Vợ lão lại mất sớm, lão chỉ có mỗi con chó vàng làm bầu bạn. Nhưng thật may thay, lão có ông giáo – người hàng xóm tốt bụng ở bên cạnh. Đối với lão Hạc, ông giáo không chỉ là một người bạn thân thiết mà còn là một người thầy đáng kính trọng, có thể tin tưởng và nhờ vả được. Khi muốn bán chó, lão đều hỏi ý kiến của ông giáo như một vị cố vấn của mình: « Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ! ». Sau khi bán chó, đau đớn, xót xa lão cũng sang tâm sự với ông giáo: « Cậu vàng đi đời rồi, ông giáo ạ! » và lão không dấu cảm xúc ăn năn hối hận của mình trước sự việc bán « cậu vàng ». Đặc biệt, sau khi bán chó, tất cả tài sản mà lão dành dụm được bao gồm mảnh vườn và những đồng tiền cuối cùng lão đều nhờ ông giáo giữ hộ để sau này sau anh con trai đi đồn điền cao su về thì đưa cho nó. Phải nói rằng lão Hạc đã đặt tất cả niềm tin của mình vào ông giáo. Mối quan hệ bà con, xóm giềng của lão Hạc và ông giáo quả thật là một mối quan hệ tối đẹp, mặc dù xét về trình độ và tuổi tác họ đều lệch nhau và dường như không có bất kì một điểm chung nào. Mảng tình cảm gia đình là mảng tình cảm đặc sắc được thể hiện trong truyện. Đó là tình mẫu tử trong tác phẩm Trong lòng mẹ của nhà văn Nguyên Hồng, đó là tình cha con trong tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao, đó là tình vợ chồng trong Tức nước vỡ bờ của nhà văn Ngô Tất Tố. Tình mẫu tử trong tác phẩm của Nguyên Hồng được cảm nhận sâu sắc từ phía đứa con. Xã hội phong kiến xưa đã đày đoạ hai mẹ cọn chú bé, đẩy hai người vào tình cảnh trớ trêu: mẹ phải bỏ con mà đi tha phương cầu thực, để rồi chú bẹ trở thành tiêu điểm của những lời dị nghị, chê trách, mỉa mai, đay nghiến của mọi người. Điều khiến chú bé tiếp tục sống và chịu đựng chính là hình ảnh người mẹ hiền từ, cái tình mẫu tử thiêng liêng mà chú khao khát có được. Chú bé Hồng muốn tiếp tục sống để bảo vệ mẹ khỏi những người đố kị và ghen ghét của cái xã hội phong kiến thối nát đầy hủ tục. “Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hoá chơi với mẹ mày không?”. Thoạt nghe ta tưởng như đây là lời hỏi chân tình, thương cảm nhưng đâu phải như thế. Giọng điệu cay độc, mỉa mai, cố tình ngân ra thật dài và nụ cười rất kịch của người cô đủ làm bé Hồng hiểu ra ý nghĩa đằng sau đó. Đây không phải là duy nhất một lần mà ngày này qua ngày khác, người cô giày vò tâm hồn chú bé và không phải ai cũng có thể phân biệt đúng sai mà giữ trọn cho mình hình tượng người mẹ kính yêu như bé Hồng. Không chỉ hiểu được dã tâm độc ác của cô, chú bé còn dũng cảm thể hiện thái độ bênh vực mẹ, dù cho nó là yếu ớt, cô độc nhưng phải yêu mẹ biết nhường nào thì Hồng mới có những cách ứng xử như vậy. Người cô dùng lời lẽ thâm độc như mũi dao chọc vào trái tim bé nhỏ của cậu bé, mặc cho đứa cháu vẫn còn rất nhỏ tuổi và sống thiếu thốn tình cảm từ bé. Liệu có ai bình thường được khi phải nghe người khác nhục mạ mẹ của mình, hơn nữa Hồng vẫn còn là một cậu bé? Lòng của chú thắt lại quặn đau, mắt cay cay rồi chẳng biết khi nào nước mắt đã đầm đìa. Tác giả miêu tả chú bé “cười dài trong nước mắt“, một cảm giác mà dường như chỉ những người từng trải mới có được. Phải chăng “sự từng trải” ở chú bé có được là do quá trình “rèn luyện” của người cô? “Giá những cổ tục đã đày đoạ mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Phản ứng tâm lí này khiến ta thật bất ngờ khi nó tồn tại trong tâm hồn của một đứa trẻ. Bé Hồng mong muốn một cái vô hình chính là những hủ tục kia biến thành vật hữu hình để chú có thể xả cơn căm tức, trút bỏ tất cả sự nhẫn nhục, tủi thân vào. Ai cũng yêu thương những người thân của mình nhưng để có thể bất chấp tất cả, hi sinh chỉ để bênh vực và giữ trọn tình cảm thiêng liêng đó thì quả thực Hồng là một đứa con yêu mẹ vô cùng, dù cho cậu bé vẫn còn rất nhỏ. Ta tưởng rằng ở cái tuổi này thì Hồng phải rất hồn nhiên và trong sáng như bao bạn cùng lứa nhưng hoàn cảnh đã khiến trong đầu chú bé hình thành những suy nghĩ già dặn và chín chắn. Nó giúp chú nhận ra được bộ mặt cay độc của người cô, để đứng về phía tình mẫu tử cao quý, nơi đó có người mẹ mà Hồng vô cùng yêu thương. Nếu không tồn tại những hủ tục kia thi biết đâu người mẹ có thể tìm thấy hạnh phúc đích thực cho mình mà vẫn có thể sống đường hoàng cùng hai anh em chú. Ban đầu là sự tủi nhục, đau đớn rồi đẩy lên căm tức, phẫn nộ xã hội thối nát xưa mà đặc biệt hiện thân là người cô, bé Hồng cho thấy thái độ kiên quyết của mình không để cho “những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến”. Cậu luôn tự nhủ với bản thân và còn khẳng định với người cô: “… Cuối năm thế nào mợ cháu cũng về” để chứng tỏ một niềm tin vào người mẹ yêu quý sẽ không bao giờ quên được anh em chú như người cô đã nói. Bé Hồng thiếu thốn tình mẫu tử từ nhỏ nhưng càng vì thế mà chú càng khao khát nó và quyết gìn giữ khỏi những ý đồ xấu xa, vì cậu tin rằng, sẽ có một ngày, một ngày rất gần thôi: Hồng sẽ được sà vào lòng người mẹ thân yêu. Nhưng trong hoàn cảnh của Hồng và mẹ của chú thì nó lại vô cùng khó khăn và trắc trở. Cả hai đều phải vượt qua những thử thách riêng để cuối cùng họ được đoàn tụ, gặp nhau trong niềm vui khôn xiết. Người mẹ rối rít hỏi con thời gian qua sống ra sao rồi cứ quấn quýt mãi không rời. Bà đã truyền cho đứa con hơi ấm đích thực từ tình yêu thương của mẹ mà bấy lâu nay đã không thể làm, bà đã ở bên Hồng, ôm chú vào lòng mà mong sao xoá đi những kí ức cô đơn, lẻ loi của cậu bé. Thời gian lúc đó cũng như ngừng trôi để khoảnh khắc hai mẹ con được bên nhau cứ dài thêm, dài thêm. Tình mẫu tử trong đoạn trích về câu chuyện của bé Hồng thật thiêng liêng và quý giá biết bao. Chính chú bé đã đứng về phía mẹ mình, bảo vệ mẹ trước cái xã hội phong kiến mà hình ảnh tiêu biểu là người cô. Tác giả đã thể hiện sự khổ sở, đau lòng của người mẹ trong hoàn cảnh trớ trêu mà đặc biệt là khao khát tình yêu thương mãnh liệt của bé Hồng. Vì nó mà chú có thể làm tất cả để đấu tranh với cái hủ tục, lề lối cổ xưa để nhất quyết giữ trọn hình ảnh người mẹ dịu hiền và lương thiện trong mình, cảm xúc này của một đứa trẻ làm ta thực sự phải rung động và bất ngờ. Lão Hạc là người nông dân có hoàn cảnh đáng thương nhưng rất mực yêu thương con. Nhắc đến con trai lão, ta hiểu lão yêu con sâu sắc đến nhường nào! Lão thương con không lấy được vợ, phẫn chí phải ra đi. Trong việc lỡ dở tình duyên này, lão luôn day dứt vì mình không phải. Ai đời làm cha mà không lo nổi hạnh phúc cả đời cho con, để nó phải đi làm đồn điền cao su? Lão thương con đứt ruột nhưng lại bất lực để con ra đi vì những hủ tục của xã hội đương thời. Lão không cho nó bán vườn đâu phải vì không thương nó, đứa con mới lớn sao hiểu được sự lo lắng của người cha đã từng trải, suy nghĩ thấu đáo cho tương lai của con: “ Ai lại bán vườn đi lấy vợ? Vả lại bán vườn đi thì cưới vợ về ở đâu? Với lại, nói cho cũng nữa, nếu đằng gái họ cứ khăng khăng đòi như vậy, thì dẫu có bán vườn đi cũng không đủ cưới”. Con trai lão “thấy bố nói thế thì thôi ngay”, “thôi” nhưng nó có vẻ buồn vì “hai đứa mê nhau lắm”. Trước lúc đi xa, nó không những không giận bố mà còn biếu bố hẳn 3 đồng bạc. Đối với lão, tất cả những chi tiết ấy như một kỉ vật thiêng liêng về lòng hiếu thảo, Bởi vậy khi nhắc đến con trong những cuộc trò chuyện với ông giáo, đôi mắt lão Hạc lại rưng rưng. Lão ngậm ngùi trong tiếng nấc, bất lực, cam chịu thấy con ra đi: “ Thẻ của nó, người ta giữ. Hình của nó, người ta chụp rồi. Nó lại đã lấy tiền của người ta. Nó là người của người ta rồi, chứ đâu có còn là con tôi?”. Con trai đi rồi, lão cô đơn nay lại càng cô đơn hơn. Lí lẽ lão biện hộ để giữ lại mảnh vườn cho con rất lạ: lão đứng về phía con mà chống lại mọi thứ. Viết giấy làm văn tự nhượng lại cho ông giáo là người nhiều chữ nghĩa, lí luận đã đành, lão còn chống lại cả chính mình nữa: “ của mẹ nó tậu thì nó hưởng”. Ông giáo khuyên cứ để tiền đấy mà ăn, lão năn nỉ: “ Đã đành rằng thế. Nhưng tôi bòn vườn của nó bao nhiêu, hết tiền cả. Nó vợ con chưa có, ngộ nó không lấy gì lo được, lại bán vườn thì sao? Tôi cắn rơm cắn cỏ tôi lạy ông giáo! Ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi tác mà thương thì ông giáo cứ cho tôi gửi”. Thì ra tình thương con không chỉ thể hiện qua cách ứng xử, với lão Hạc, nó là một nguyên tắc sống. Chính lão không cho phép mình động chạm vào thứ mực thước tinh thần do chính lão đặt ra. Cuộc đời lão như dòng sông bên lở bên bồi. Lão là bên lở cứ lở mãi để bên bồi của con được bồi đắp thêm phù sa màu mỡ. tươi tốt Lão âm thầm hi sinh chỉ mong con có một tương lai tốt đẹp. Lão còn bán cả cậu vàng – con chó mà lão rất mực thương yêu vì sợ ăn phạm vào những đồng bạc cuối cùng của con trai lão. Và kết cục lão đành chọn cái chết vì muốn giữ lại mảnh vườn và tiền cho con trai. Cái chết tự nguyện của lão xuất phát từ lòng yêu con âm thầm mà lớn lao. Bằng những dẫn chứng trên, chúng ta có thể khẳng định lại rằng: văn học của dân tộc ta luôn ngợi ca tình yêu thương giữa con người với con người.
Văn Học Của Dân Tộc Ta Luôn Ngợi Ca Tình Yêu Thương Giữa Con Người
2,863
Văn học và tình thương – Văn nghị luận – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Văn học và tình thương Bài làm 1 M. Gorki có nói: “Văn học là nhân học”. Như vậy giữa văn học và con người có mối quan hệ sâu sắc với nhau. Bởi lẽ văn học phản ánh cuộc sống. Cũng vì thế mà văn học và tình thương gắn bó không thể tách rời. Tình thương là cội nguồn của văn học, rồi chính văn học lại khơi dậy tình yêu thương. Văn học là một môn nghệ thuật mang ý nghĩa đặc biệt cho cuộc sống. Đó là những tác phẩm phản ánh hiện thực trong cuộc sống. Với trí tưởng tượng phong phú, những nhà văn, nhà thơ đã xây dựng một thế giới riêng trong các tác phẩm của mình. Văn học thể hiện những tư tưởng, tình cảm của người viết qua cách sử dụng nghệ thuật biểu đạt. Còn tình thương là những tình cảm, cảm xúc nảy sinh từ những rung cảm trong cuộc sống. Đó là rung động trước cái đẹp của cuộc sống, trước sự việc, hiện tượng diễn ra xung quanh mình. Những cảm xúc đó được gọi là: tình thương. Văn học và tình thương có quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Tinh thương là nguồn khơi gợi cảm xúc cho văn học. Con người khi sống phải luôn đặt mình vào cuộc sống xung quanh để thấy yêu thương cuộc sống hơn, thấy con người được gần nhau hơn. Và từ đó cảm nhận được cái đẹp của tạo hoá, nảy sinh những tình cảm đặc biệt. Vốn dĩ ánh trăng đâu biết nói, bông hoa chẳng biết cười thế nhưng dưới ánh mắt của nhà thơ thì nó trở thành người bạn tâm tình. Lí Bạch, Đỗ Phủ, Hồ Chí Minh,… đã có nhiều vần thơ viết về thiên nhiên rồi qua đó bộc bạch tấm lòng của mình (“Ngẩng đầu nhìn trăng sáng – Cúi đầu nhớ quê hương” – Lí Bạch; “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ – Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ” – Hồ Chí Minh,…). Cảm hứng thơ nảy nở từ trong sâu thẳm cõi lòng nhà thơ tâm hồn mỗi người. Và tình thương chính là cốt lõi, nguồn gốc của văn học. Văn học luôn tái hiện, phản ánh và ca ngợi tình thương của con người. Hầu hết các tác phẩm văn học đều phản ánh tình cảm của con người, nó chính là nguồn đề tài bất tận để văn học khai thác. Từ tình yêu thương thuần túy nhất đến niềm say mê, tâm trạng vui buồn, hờn, giận,… đều được thể hiện trong văn học. Đặc biệt là tình cảm giữa con người với con người như: tình cảm gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm,… hay tình thương của con người dành cho vạn vật xung quanh. Linh thiêng hơn nữa là tình yêu quê hương đất nước: “Anh đi anh nhớ quê nhà – Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương…”.Tuy mộc mạc, bình dị nhưng điều quan trọng là đều xuất phát từ tình cảm chân thành của một người con nhớ quê nhà. Tình thương thì nhiều mặt khác nhau. Và văn học thì thể hiện tất cả những mặt khác nhau ấy của tình thương, để tạo ra những câu chữ, ngôn từ bộc lộ cảm xúc của con người gửi gắm vào tác phẩm văn học. Tinh thương trong văn học được tái hiện một cách đặc sắc. Trong văn học, tình thương được đặt lên một vị trí quan trọng. Văn học phản ánh và ca ngợi tình thương trên mọi khía cạnh. Trong ca dao Việt Nam, tình cảm giữa con người với con người hay được đề cập đến nhất. Tình cảm gia đình, tình yêu lứa đôi được thể hiện nhiều trong ca dao. Điều này chứng tỏ văn chương đã khơi dậy cho người ta những tình cảm vốn có, tạo ra những tình cảm mới để con người ngày càng gần nhau hơn. “Công cha nặng lắm, ai ơi! Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang… ” Bài ca dao ngoài việc nhắc nhở cho mỗi người biết về công lao sinh thành, giáo dưỡng của mẹ cha mà còn khuyên chúng ta hãy luôn ghi lòng tạc dạ, đền đáp xứng đáng công lao ấy. Trong gia đình không chỉ có tình cảm giữa cha mẹ và con cái mà còn có tình cảm anh em: “Anh em như thể tay chân – Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”. Tất cả đều là những tình cảm đáng giữ gìn, cần được nuôi dưỡng lớn mạnh hơn. Bởi lẽ gia đình lạ cái nôi nuôi ta khôn lớn. Còn văn bản Thuế máu trích Bản án chế độ thực dân Pháp thể hiện tâm trạng của người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc. Đó là sự xót thương cho những người dân vô tội. Đó còn là sự căm phẫn, uất hận của nhà văn đối với bọn thực dân, đế quốc. Bằng nghệ thuật châm biếm đặc sắc, tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, sự phê phán, lên án triệt để cùng với nỗi xót thương trước số phận của người dân thuộc địa, “thuế máu” thực sự là một văn bản thấm đẫm tính nhân đạo. Đỗ Hoàng Phúc (Trường THCS Lê Ngọc Hân) Bài làm 2 Không có gì giáo dục đạo đức con người tốt hơn văn chương, bởi văn chương giúp ta hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn những con người xung quanh, giúp ta phân biệt được cái xấu và cái tốt, cái thiện và cái ác, điều hay và lẽ dở, … Văn học cũng luôn đề cập đến tình yêu nhân loại, giúp ta biết yêu thương hơn Con Người. Văn học luôn ca ngợi những người biết yêu thương, chia sẻ với đồng loại. Đó là tình làng xóm mộc mạc mà chân thành, đáng quý. Ví như tình bạn sâu sắc giữa ông giáo làng và lão Hạc trong tác phẩm Lão Hạc của nhà văn Nam Cao. Hai người là hàng xóm và cũng là bạn thân của nhau. Mỗi khi có chuyện buồn, lão Hạc thường kể với ông giáo, bày tỏ nỗi lòng với ông giáo, và ông giáo cũng đã chia sẻ nỗi buồn, đưa ra những lời khuyên chân thành cho lão. Ông giáo cũng đã nhiều lần ngấm ngầm giúp lão nhưng bị lão từ chối vì lão biết rằng, ở cái xóm này, ai cũng nghèo cả. Khi bị dồn đến bước đường cùng, lão đã để lại toàn bộ gia tài cho con trai và nhờ ông giáo giữ hộ. Điều đó chứng tỏ họ tin tưởng nhau, thân thiết với nhạu như thế nào. Thật đáng quý biết nhường nào! Hay như sự ân cần của bà lão hàng xóm với gia đình chị Dậu trong tác phẩm Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố. Khi biết tin anh Dậu vừa được thả về, bị đánh đập xơ xác, mặc dù cũng rất nghèo nhưng bà cụ vẫn mang sang nắm gạo để chị Dậu nấu cháo cho chồng. Như một người mẹ, cụ còn ân cần thăm hỏi, dặn dò chị Dậu. Tôi đã không Cầm được nước mắt trước tình cảm bà cụ dành cho gia đình anh Dậu. Nhưng tình cảm đáng quý giữa con người với con người không chỉ là tình làng xóm mà quan trọng hơn, đó là tình cảm gia đình. Đó là tình phụ tử mà lão Hạc đã dành cho người con trai của mình. Người vợ của lão đã sớm ra đi khi đứa con còn trứng nước. Lão đã ở vậy “gà trống nuôi con” cho đến khi thằng bé trưởng thành. Lão chỉ có nó là người ruột thịt nên lão thương yêu nó hết lòng. Vậy mà bây giờ nó phải bỏ đi phu đồn điền vì không có tiền lấy vợ. Lão chỉ còn cách thốt lên đầy chua xót: “Ảnh của nó người ta chụp rồi, nó là người của người ta chứ đâu còn là con tôi nữa”. Lão giờ chỉ còn lại một mình với con Vàng và mảnh vườn nhỏ mà lão nói để dành cho con trai. Lão thà chịu chết chứ nhất quyết không chịu bán mảnh vườn. Tình yêu con của lão thật vĩ đại và cảm động. Ngoài ra, thông qua hình ảnh anh chị Dậu trong Tắt đèn, chúng ta còn được thấy tình cảm vợ chồng thuỷ chung son sắt. Ngay khi anh Dậu vừa được thả từ đình về, chị đã vội vàng nấu nồi cháo, rón rén mang đến, dịu dàng động viên chồng cố húp cho đỡ xót ruột. Rồi chị ngồi cạnh xem chồng ăn có ngon không. Khi cai lệ đến bắt trói anh Dậu, chị đã không sợ cường quyền, áp bức, kiên quyết dùng sức mạnh của mình để bảo vệ chồng đến cùng. Thật xúc động trước tình nghĩa cao đẹp của đạo vợ chồng. Nhưng văn học không chỉ ca ngợi những tấm lòng cao đẹp trong xã hội mà còn mạnh mẽ phê phán những kẻ cầm quyền vô lương tâm, vạch trần cho mọi người thấy những tội ác mà bọn thực dân, phong kiến gây ra cho nhân dân. Tác giả Bản án chế độ thực dân Pháp đã thể hiện sự xót thương trước những người vô tội bị bọn thực dân lừa đảo đi làm bia đỡ đạn cho chúng, sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn lên án sự vô lương tâm, coi thường mạng người của bọn quan lại phong kiến,… Còn rất nhiều, rất nhiều tác phẩm văn học mà tôi đã đọc nhưng không có dịp kể ra ở đây. Tôi nghĩ rằng, bất cứ tác phẩm văn học chân chính nào cũng đề cao con người, lấy con người làm trung tâm. Và với con người, hơn tất cả là tình yêu thương đồng loại. Vì vậy, văn học – tình thương mãi song hành cùng con người trong cuộc sống. Hoa Thu Hồng (Trường THCS Tây Sơn) >> Xem thêm Nêu suy nghĩ của mình về câu chuyện” Mình biết cậu sẽ tới” tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Văn học và tình thương
Văn học và tình thương – Văn nghị luận – Bài văn hay lớp 8
1,728
Văn học và tình thương Hướng dẫn Bài tập làm văn nghị luận xã hội văn học và tình thương lớp 8 bao gồm dàn ý văn học và tình thương chi tiết và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh viết bài văn nghị luậ văn học và tình thương hay nhất. Văn học và tình thương Dàn ý Văn học và tình thương 1. Mở bài văn học và tình thương – Mối quan hệ giữa văn học và tình thương trong lịch sử văn học. 2. Thân bài văn học và tình thương – Tại sao văn học luôn gắn bó với tình thương? Vì văn học là tâm hồn dân tộc. Một trong những vẻ đẹp nhất của tâm hồn dân tộc ấy là tình thương yêu nhân loại. – Văn học gắn bó với tình thương như thế nào? Văn học nói lên nỗi đau khổ của mọi kiếp người. Văn học nói lên sự cảm thông đối với nỗi đau của họ và gợi tình thương yêu trong mỗi tâm hồn người đọc. Văn học bồi dưỡng, làm đẹp tâm hồn con người. 3. Kết bài văn học và tình thương – Tình yêu thương đã trở thành một phẩm chất và là thước đo cao quý của văn học. Nó cứu vớt, dìu dắt, nâng niu con người trong hiện tại và trên đường đến tương lai. Bài văn mẫu văn học và tình thương Văn học và tình thương – bài 1 Văn học và tình thương – bài 1 M.Gooc-ki đã nói “Văn học là nhân học”. Đối tượng mà văn học hướng đến là con người với “chữ người được viết hoa”. Có nghĩa là, văn học hướng về, đề cao, ca ngợi và bồi đắp “chữ người viết hoa” ấy mọi thời đại để nó ngày một đẹp hơn, hoàn thiện hơn. Và trong rất nhiều nét đẹp của chữ viết hoa ấy phải kể đến tình thương, lòng nhân ái. Bởi thế ta thấy có sự đồng nhất giữa văn học và tình thương. Tình thương vốn là một trong những đức tính của con người. Nó xuất phát từ tấm lòng, trái tim mỗi con người. Nó mang tính hướng thiện, nhân đạo và nhìn sự việc bằng sự gắn bó với những tư tưởng hay giá trị đạo đức được xã hội công nhận. Là cơ sở gắn kết những mối quan hệ xung quanh, làm cho khoảng cách giữa con người gần hơn. Từ xưa đến nay, dân tộc Việt Nam ta luôn đề cao tư tưởng nhân ái, một đạo lí cao đẹp, truyền thống “lá lành đùm lá rách” cũng được phát huy qua nhiều thế hệ. Những tình cảm cao quý ấy được kết tinh, hội tụ và phản ánh qua những tác phẩm văn học dân tộc. Nói văn học luôn ca ngợi lòng nhân ái và tình yêu thương giữa người và người quả không sai. Từ xưa trong văn học dân gian các cụ đã đề cao tình yêu thương con người. Ai trong chúng ta cũng thuộc lòng những câu ca dao như: “Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Hoặc câu: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Rồi truyền thuyết “con Rồng cháu Tiên” giúp ta hiểu rõ hơn về từ “đồng bào”. Mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân đã sinh ra một trăm trứng và nở ra trăm con, 50 người con xuống biển sau này trở thành người miền xuôi, còn 50 người con khác lên núi sau này trở thành các dân tộc miền núi. Trước khi đi, Lạc Long Quân có dặn Âu Cơ rằng: sau này có gì khó khăn thì giúp đỡ nhau. Điều đó, cho thấy người xưa còn nhắc nhở con cháu phải biết thương yêu, đoàn kết, tương trợ nhau. Ta còn bắt gặp rất nhiều những câu chuyện về lòng yêu thương, tư tưởng nhân đạo của dân tộc trong văn học dân gian qua hình ảnh chàng Thạch Sanh đại diện cho chính nghĩa, hiền hậu, vị tha, dũng cảm, sẵn sàng tha thứ cho mẹ con Lý Thông, người đã bao lần tìm cách hãm hại mình. Rồi khi mười tám nước chư hầu kéo quân sang đánh Thạch Sanh nhằm cướp lại công chúa, chàng đã sử dụng cây đàn thần của mình để thức tỉnh binh lính, làm cho binh lính lần lượt xếp giáp quy hàng mà không cần động đến đao binh. Chàng lại mang cơm thiết đãi họ trước khi rút về nước. Ta còn biết đến một cô út dũng cảm làm vợ chàng Sọ Dừa kì dị. Câu chuyện về bông cúc trắng, bông hoa của tình yêu thương mãnh liệt đã làm nên điều kì diệu trong cuộc sống. Còn biết bao câu ca, câu chuyện thấm đẫm tình thương trong văn học dân gian ta không thể nào kể hết. Đọc văn học trung đại ta lại thấy sự tiếp nối làm đẹp truyền thống đó. Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi với tư tưởng nhân đạo cao cả: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn Lấy chí nhân để thay cường bạo” Chính là tư tưởng xuyên suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Chúng ta cũng từng đọc Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du và hẳn vẫn giữ Truyện Kiều trong đáy sâu thẳm tâm linh, để luôn tự mình được trăn trở, chiêm nghiệm. Truyện Kiều, không chỉ là bản cáo trạng tội ác của bọn quan lại phong kiến, còn là một quyển kinh về tình thương. Tình thương cha, tình thương mẹ, thương chị em ruột thịt, thương người… như thể thương thân của nàng Kiều, đã in dấu ấn rất rõ tình thương mênh mông… của thi hào Nguyễn Du với thân phận những người phụ nữ. Đến văn học hiện đại ta lại bắt gặp tình yêu thương rất con người đó. Hình ảnh cậu bé Hồng trong tác phẩm “Những ngày thơ ấu”, đã cho chúng ta thấy rằng: “tình mẫu tử là nguồn thiêng liêng và kì diệu, là mối dây bền chặt không gì chia cắt được”. Cậu bé Hồng phải sống trong cảnh mồ côi, chịu sự hành hạ của bà cô, cha mất, mẹ phải đi tha hương, ấy vậy mà cậu không hề oán giận mẹ mình, ngược lại vô cùng kính yêu, nhớ thương mẹ. Câu chuyện đã làm rung động biết bao trái tim của độc giả. Không chỉ phản ánh tình mẫu tử, văn học còn cho ta thấy một tình cảm vô cùng đẹp đẽ, sâu sắc không kém, đó là tình cảm vợ chồng. Tiểu thuyết “Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố là minh chứng rõ nét nhất cho điều này. Nhân vật chị Dậu được tác giả khắc họa thành một người phụ nữ điển hình nhất trong văn học hiện thực Việt Nam. Chị là một người vợ thương chồng, yêu con, luôn ân cần, nhẹ nhàng chăm sóc cho chồng dù trong hoàn cảnh khó khăn, nguy khốn. Chị Dậu đã liều mình: đánh trả tên người nhà lí trưởng để bảo vệ cho chồng, một việc mà ngay cả đàn ông trong làng cũng chưa dám làm. Đọc truyện “Cuộc chia tay của những con búp bê” ta rưng rưng cảm động khi chứng kiến cảnh anh em Thành và Thủy chia tay nhau đầy nước mắt. Tác giả muốn gửi đến chúng ta thông điệp về tình cảm và sự gắn bó giữa anh em với nhau trong gia đình mà các cụ xưa đã từng đúc kết: “Anh em như thể tay chân. Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần” Bên cạnh việc ca ngợi những con người “thương người như thể thương thân”, văn học cũng phê phán những kẻ ích kỉ, vô lương tâm. Trong truyện cổ tích “Tấm Cám”, chúng ta sẽ thấy được thái độ căm ghét của mọi người đối với mẹ con Cám. Cái chết ở cuối câu chuyện đã lên án gay gắt: những kẻ ác phải bị trừng phạt. Đáng ghê sợ hơn nữa là những người cạn tình máu mủ. Điển hình là nhân vật bà cô trong truyện “Những ngày thơ ấu”, một người độc ác, nham hiểm “giết người không dao”. Bà ta nói xấu, sỉ nhục mẹ bé Hồng trước mặt bé, đứa cháu ruột của mình, đứa cháu mồ côi tội nghiệp lẽ ra bà phải yêu thương để bù đắp lại những mất mát mà bé phải hứng chịu. Hay trong tiểu thuyết “Tắt đèn”, nhà văn Ngô Tất Tố đã cho chúng ta thấy sự tàn ác, bất nhân của tên cai lệ và người nhà lí trưởng. Chúng thẳng tay đánh đập những người thiếu sưu, đến những người phụ nữ chân yếu tay mềm như chị Dậu mà chúng cũng không tha. Rồi ông quan trong “Sống chết mặc bay” tiêu biểu cho tầng lớp thống trị, quan lại ngày xưa. Trong cảnh nguy cấp, nhân dân đội gió, tắm mưa cứu đê thì quan lại ngồi ung dung đánh tổ tôm. Ngay cả khi có người vào báo đê vỡ hắn vẫn thét lính đuổi ra và khi quan lớn ù ván bài to thì cũng là lúc cả làng ngập nước, nhà cửa lúa má bị cuốn trôi hết, tình cảnh thật thảm sầu. Chính sự việc cao trào đó đã lên án gay gắt tên quan hộ đê, hay chính là đại diện cho tầng lớp thống trị, dửng dưng trước sinh mạng của biết bao người. Văn học không chỉ viết về tình thương, ca ngợi tình thương. Văn học còn khơi dậy tình thương trong lòng chúng ta, muốn chúng ta sẻ chia, cảm thông với những con người bất hạnh. Không ai dửng dưng, cầm lòng khi đọc truyện Cô bé bán diêm tội nghiệp và cảnh cô bé chết trong đêm giao thừa lòng thầm hỏi trong cuộc sống này còn bao người sẽ chết như thế trước sự thờ ơ đến vô cảm của người đời? Cũng bao lần ta nhỏ lệ khi đọc đoạn trích Một cảnh mua bán trong Tắt đèn khi Ngô Tất Tố kể về cái Tí với bát cơm thừa của chó nhà Nghị Quế. Ta cũng chẳng thể dửng dưng trước nỗi truân chuyên của người con gái tài sắc Thuý Kiều mà Nguyễn Du đã bao lần nhỏ lệ khóc thương trong tác phẩm của mình. Rồi cảnh anh em Thành Thuỷ chia tay cùng những con búp bê làm lòng ta nhói đau khi chứng kiến những bất hạnh của tuổi thơ và nỗi bất hạnh mà các em phải gánh chịu quá sớm. Từ việc khơi dậy tình yêu thương ấy, văn học gửi đến chúng ta thông điệp: Hãy dâng tặng tình yêu thương cho mọi người ta lại cũng được đón nhận nó. Văn học và tình thương – bài 2 Văn học và tình thương – bài 2 Từ khi xa xưa con người biết phản ánh tâm tư tình cảm của mình qua văn học truyền miệng hay trên những trang giấy, văn học đã trở thành người bạn thân thiết, gắn bó với con người. Nó là sợi dây liên kết vô hình khiến con người xích lại gần nhau hơn. Văn học giúp cho con người chung sống với nhau bằng tình cảm đẹp đẽ, sự sẻ chia và cảm thông. Vì thế ngay từ khi sinh ra, văn học và tình thương đã có mối quan hệ chặt chẽ: tình thương tạo nên sự hấp dẫn cho văn học và văn học có nhiệm vụ quan trọng là truyền tải tình thương. Văn học vô cùng quan trọng đối với cuộc sống tinh thần của con người. Nó là một bộ môn nghệ thuật có từ rất lâu đời, là công cụ giúp con người bày tỏ cảm xúc hay tình cảm của mình bằng những từ ngữ, kí hiệu và con dấu. Các tác phẩm văn học được làm nên từ các chất liệu có trong cuộc sống chính vì vậy chúng miêu tả được cuộc sống muôn hình vạn trạng một cách chân thực và chính xác hơn bất cứ ai. Văn học cũng chính là chiếc chìa khoá vàng mở rộng lòng nhân ái trong tâm hồn, phát triển nhân cách tốt đẹp. Văn học gồm nhiều thể loại tác phẩm nghệ thuật như truyện ngắn, tự truyện, hồi kí hay tiểu thuyết,… Ta có thể nói văn học là nhân học, tức là nó có tính nhân văn. Văn học chứa đựng trong nó muôn vàn những tình cảm tốt đẹp giữa con người. Đó chính là tình thương. Nhưng cụ thể hơn, tình thương được thể hiện trong văn học khá sâu sắc và đa chiều. Chúng thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau của con người. Đó cũng là khi những nhà văn, thi sĩ bộc lộ sự thương cảm xót xa sâu sắc đối với những mảnh đời, thân phận bất hạnh; phê phán gay gắt những việc làm sai trái và những kẻ chà đạp lên con người; hay là lời ca ngợi vẻ đẹp quê hương, thiên nhiên, đất nước. Văn học và tình thương gần như là hai khái niệm không thể tách rời, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Văn học thể hiện tình thương trong nhiều mối quan hệ khác nhau. Ấm áp và thiết tha như tình cảm gia đình, cái nôi hình thành nhân phẩm đạo đức của mỗi người. Cũng vì vậy mà người xưa cũng rất coi trọng tình cảm thiêng liêng này và trân trọng đặt nó lên hàng đầu qua câu ca dao: “Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông” Công lao cao cả của người bố cùng tình thương vô bờ bến của người mẹ được so sánh với các hình ảnh hùng vĩ của thiên nhiên đã in sâu vào tâm trí những người làm con giúp cho họ làm tròn chữ hiếu, đền đáp lại công ơn trời biển của cha mẹ. Còn trong văn học hiện đại, tác phẩm tiêu biểu mà ta đã được học là “Trong lòng mẹ”. Bài văn thể hiện tình cảm trong sáng, sâu sắc của bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh của mình. Bằng cả tâm hồn và tình yêu thương, em đã cố giữ cho hình ảnh người mẹ nhân hậu, hiền dịu không bị vấy bẩn bởi nhũng hủ tục và thành kiến thâm độc. Vì sao mà một cậu bé còn nhỏ đã có thể có tình thương lớn lao và lòng tin tưởng tuyệt đối về người mẹ đến vậy? Tình cảm gia đình không chỉ có tình mẫu tử mà còn có tình anh em thắm thiết. Sau khi đọc tác phẩm “Bức tranh của em gái tôi” bạn có thể cảm nhận được tấm lòng khoan dung, sẵn sàng tha thứ cho người anh trai để rồi giúp cho người anh thức tỉnh khỏi sự ganh tị và ghen ghét. Cũng là tình cảm anh em nhưng bài “Cuộc chia tay của những con búp bê” lại thấm nặng tình nghĩa và cuộc chia ly đẫm nước mắt, buồn tủi của những đứa trẻ bất hạnh. Yêu thương nhau biết bao thì lúc xa nhau càng đau đớn bấy nhiêu. Nỗi đau đấy đã để lại một ấn tượng sâu nặng trong lòng người đọc, khiến họ càng thêm xót xa và khâm phục tình cảm thiết tha của hai anh em Thành và Thủy. Không chỉ thế, văn học cũng góp phần khắc họa nên sự gần gũi, thân thiết và vui vẻ của tình bạn – một thứ tình cảm đẹp không hề vụ lợi, toan tính. Và đó chính là những gì mà Nguyễn Khuyến đã miêu tả một cách chân thực trong bài thơ “Bạn đến chơi nhà”. Mở đầu bài thơ là một câu chào hỏi vồn vã, thân tình như reo lên khi người bạn tri kỉ đến. Bằng một giọng văn hóm hỉnh, ông đã nêu lên những thiếu thốn về vật chất để khẳng định một tình bạn gắn bó giữa mình và bạn. Phải đó là một tình bạn cao đẹp vượt lên trên tất cả những tầm thường về vật chất và của cải để đến với nhau bằng tấm lòng. Ngoài tình thương đối với những người mà ta thân quen, văn học cũng ca gợi tình cảm giữa những người cùng chung sống trong một xã hội. Vì vây, “thương người như thể thương thân” từ lâu đã trở thành một truyền thống đạo lý của người Việt Nam. Văn học ca ngợi tình cảm đẹp và đồng thời cũng phê phán những việc làm, hành động hay những kẻ chà đạp lên con người. Văn học luôn lên án gay gắt những kẻ chỉ biết nghĩ tới bản thân mà thờ ơ với mạng sống của người khác. Nhân vật điển hình mà học sinh đã được học là viên quan phụ mẫu trong bài “Sống chết mắc bay”. Hắn là một con người tàn nhẫn đến độ có thể bình thản mà ngồi chơi bài trong khi mưa bão đang cướp đi mạng sống của những người dân đen. Tiếng thét kinh hoàng hòa cùng với tiếng gió giật, mưa rít vẫn không làm bậc “quan cha mẹ” bận lòng. Câu chuyện kết thúc cũng là lúc quan thắng ván bài, tất cả mọi thứ đều chìm trong biển nước. Nụ cười hả hê, phi nhân nghĩa của quan vang lên càng xoáy sâu vào lòng người đọc sự thương cảm, xót xa đến tột độ đến những con người bất hạnh. Câu chuyện “Cô bé bán diêm” đã nhẹ nhàng đi vào lòng người đọc bởi hiện lên từng trang sách là hình ảnh của một em bé mồ côi nghèo khổ không được sống trong vòng tay yêu thương của gia đình. Cảnh ngộ đó còn đáng thương hơn khi con người xung quanh cũng lạnh giá như mùa đông khắc nghiệt. Câu chuyện đã tố cáo một cách kín đáo sự thờ ơ và vô tâm của xã hội lúc bấy giờ đã đẩy những con người nghèo khổ vào bước đường cùng. Và ngay với những kẻ gian ác xảo quyệt, dối trá cũng vậy văn học quyết không nương tay với chúng. Như trong chuyện Lí Thông cuối cùng cái thiện cũng thắng cái ác, hai mẹ con Lí Thông bị biến thành những con bọ hung suốt ngày chui rúc ở những chốn bẩn thỉu cho đến cuối đời vì những tội ác chúng đã gây ra. Văn học nước ngoài cũng góp phần làm phong phú thêm kho tàng tình cảm của con người. Đặc biệt nó ca ngợi cả tình cảm đẹp giữa những người không cùng ruột già máu mủ. Và O’henri đã chỉ rõ cho ta thấy điều đó qua tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng”. Khi Giôn-xi bị ốm, Xiu cùng cụ Bơ-men đã hết lòng chăm sóc mong giành lại cô khỏi cái chết đang đến gần. Cụ Bơ-men tuy chỉ xuất hiện rất ít nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc nhất. Cụ yêu thương Giôn-xi như con gái mình và sẵn sàng hi sinh mạng sống của mình để cứu Giôn-xi khỏi những suy nghĩ tuyệt vọng đang kéo cô xa dần cuộc sống thực tại. Văn học trau dồi tình thương, gợi cảm xúc cho con người, làm cho họ gắn bó với nhau. Có người đã từng nói “Tình cảm của con người cũng giống một viên kim cương thô mà nhờ có văn chương “mài nhẵn” mới trở thành viên đá quý đẹp gấp vạn lần”. Đọc các tác phẩm văn học ta thấy gần hơn với những nhân vật trong chuyện và từ đó biết lắng nghe, rung động, cảm thông, chia sẻ. Đó là bước đi đầu để hình nhân phẩm đạo đức và từ đó có những suy nghĩ, hành động đúng. Quả thật không sai, như M.Gorki đã từng nói “xét đến cùng, ý nghĩa thực sự của văn học là nhân đạo hóa con người”. Nhờ thế, văn học không chỉ dừng lại ở giá trị văn chương mà còn được mở rộng thành những viên gạch đầu tiên xây đắp ngôi nhà của tình thương giữa con người với con người trong xã hội. Từ tất cả những dẫn chững trên ta càng thấy văn học và tình thương gắn bó chặt chẽ với nhau đến chừng nào. Bởi lẽ tình thương khởi nguồn cho văn học và làm cơ sở để văn học tiếp tục truyền tải tình thương. Văn học và tình thương hòa quyện vào nhau và tạo nên những điều tốt đẹp nhất cho con người giúp con người phát triển theo một định hướng chung để ngày một hoàn thiện. Có vậy, con người mới có thể cùng nhau chung sống trong tình yêu thương. Văn học và tình thương – bài 3 Văn học và tình thương – bài 3 Chúng ta có thể thấy, trong tất cả các tác phẩm văn học, không có tác phẩm nào là không nhắc tới tình thương. Thật vậy, văn học và tình thương là hai khái niệm đan xen, không thể tách dời. Văn học là một bộ môn nghệ thuật dùng ngôn ngữ để tái hiện đời sống. Các nhà văn, nhà thơ cũng dùng ngôn ngữ để diễn tả tự tưởng, tình cảm của mình với cuộc sống, đặc biệt là tình yêu thương luôn được các nhà văn đề cập đến ở nhiều phương diện. Tóm lại, các cung bậc tình cảm yêu thương đều được phản ánh rất sinh động trong các tác phẩm văn học. Còn tình thương là những biểu hiện tình cảm của người với người, là sự thương mến, xót xa, đồng cảm của những tấm lòng nhân ái, là thứ tình cảm trao đi mà không cần nhận lại, không vụ lợi, toan tính. Trước tiên, văn học thể hiện phong phú các cung bậc tình cảm yêu thương của con người. Khởi nguồn cho mọi tình yêu, đó là tình cảm gia đình – một thứ tình cảm mà chỉ có máu mủ ruột rà mới hiểu được. Trong đó, tình mẫu tử là cao quý hơn cả. Hình ảnh cậu bé Hồng trong tác phẩm “Những ngày ấu thơ”, đã cho ta thấy được lòng hiếu thảo của Hồng và tình yêu thương mẹ tha thiết. Cậu phải sống trong cảnh mồ côi, người cha nghiện ngập rồi chết, người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực, Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. Ấy vậy mà cậu không hề oán trách mẹ, ngược lại, cậu lại càng yêu thương mẹ hơn. Và chính người mẹ, cũng đã vượt qua những dị nghị, những sự mặc cảm để trở về bên đứa con bé bỏng của mình. Không chỉ ở những tác phẩm văn học, mà ca dao tục ngữ cũng nói về tình cảm mẫu tử: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con” Cho dù ta đã lớn khôn, trưởng thành, nhưng mẹ sẽ luôn ở bên cạnh ta, theo ta đến suốt cuộc đời này. Mẹ ở bên ta để chia sẻ với ta những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, và mỗi khi ta vấp ngã, mẹ sẽ là người động viên, cổ vũ để ta có thể tự đứng lên bằng chính đôi chân của mình. Tiếp theo, văn học còn cho ta thấy một thứ tình cảm cũng vô cùng đẹp đẽ, sâu sắc không kém, đó là tình cảm vợ chồng. Ví dụ như chị Dậu trong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô tất Tố, chị là một người phụ nữ đảm đang, yêu thương chồng con hết mực, dám vùng dậy đấu tranh, đánh trả bọn cai lệ và người nhà lí trưởng để bảo vệ chồng mình. Không chỉ vậy, chắc hẳn trong chúng ta không ai có thể quên được câu chuyện cảm động “Cuộc chia tay của những con búp bê” của nhà văn Khánh Hoài. Hai anh em Thành và Thuỷ chia tay nhau đẫm nước mắt. Những con búp bê trong truyện cũng như hai anh em Thành và Thuỷ trong sáng, vô tư, không có tội lỗi gì, thế mà lại phải chia tay nhau. Đọc câu chuyện này, chúng ta thấy rơi nước mắt vì tình cảm yêu thương nhau của hai anh em. Qua đó, nhà văn đã cho chúng ta thấy tình cảm gắn bó giữa anh em với nhau trong gia đình. Không chỉ trong gia đình mà ngay cả giữa những con người không cùng máu mủ, nhưng văn học vẫn đề cập đến, đó tình yêu thương giữa con người với con người trong xã hội. Người xưa luôn nói đến tình cảm yêu thương đồng bào qua câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Bầu và bí là hai loại cây khác nhau nhưng thường được người nông dân trồng chung trên một rẻo đất, thường leo chung một giàn tre. Nó trở nên thân thiết, gần gũi, cùng chung một điều kiện sống, cùng chung một số phận. Chính vì thế, dân gian đã mượn hình ảnh cây bầu, cây bí, qua đó nhắc nhở con người phải biết yêu thương, đùm bọc nhau. Hay như nhân vật ông giáo trong tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao, ông là một người tri thức nghèo nhưng có lòng yêu thương người vô bờ bến. Khi lão Hạc phải xa con, dằn vặt vì không lo nổi đám cưới cho con mình, khi lão Hạc khổ sở vì bán con chó, thì chính ông giáo là người xoa dịu cái nỗi đau của lão Hạc. Ông là chỗ dựa tinh thần, là niềm an ủi, tin cậy của lão Hạc. Không chỉ vậy, ông giáo còn tìm mọi cách để giúp khi biết lão Hạc đã nhiều ngày không ăn gì. Lòng yêu thương đất nước còn được thể hiện sâu sắc trong tác phẩm “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn. Trước tiên, Trần Quốc Tuấn thể hiện lòng yêu nước của mình ở lòng căm thù giặc. Ông vạch trần tội ác của giặc bằng lời lẽ sinh động, coi chúng như loài cầm thú: “cú diều”, “dê chó”, “hổ đói”. Trạng thái căm uất sục sôi, hận thù bỏng rát, chất chứa cảm xúc lớn về vận mệnh đất nước. Không chỉ Trần Quốc Tuấn là một vị chủ tướng yêu nước, mà ngay cả Nguyễn Trãi cũng thể hiện lòng yêu nước của mình qua văn bản “Nước Đại Việt ta”. Nguyễn Trãi đã có tư tưởng tiến bộ, ông đề cao sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của dân tộc. Không những thế, ông còn cho ta thấy tất cả các yếu tố của một quốc gia có độc lập tự chủ: nền văn hoá lâu đời, có lãnh thổ riêng, phong tục riêng. Tình thương trong văn học còn thể hiện ở các nhà văn phê phán thái độ sống ích kỷ, độc ác của con người trong xã hội. Ví dụ như trong truyện cổ tích “Tấm Cám”, chúng ta sẽ thấy được thái độ căm ghét của mọi người đối với mẹ con Cám. Cái chết ở cuối câu chuyện đã lên án gay gắt: những kẻ ác phải bị trừng phạt. Không chỉ trong truyện cổ tích dân gian, mà chính trong những tác phẩm văn học nước ngoài cũng phê phán lối sống vô lương tâm của con người. “Cô bé bán diêm” của Andecxen là một trong những tác phẩm đó. Vào đêm giao thừa, một em bé mồ côi mẹ, đầu trần chân đất, bụng đói người rét, vẫn phải đi bán diêm. Em lang thang trên khắp mọi nẻo đường, nhưng không ai để ý đến em. Và cuối cùng, cô chết trong một xó tường, xung quanh là những que diêm đã đốt hết. Qua câu chuyện này, tác giả đã lên án thái độ sống thờ ơ của những con người trong xã hội. Tình yêu thương gia đình, yêu thương đồng loại, phê phán những tội ác to lớn, tất cả đều được phản ánh trong văn học. Văn học chính là yếu tố quan trọng trong việc lưu giữ lịch sử của thế hệ trước cho đời sau. Văn học và tình thương – bài 4 Văn học và tình thương – bài 4 Nói đến văn là nói đến một phương tiện biểu đạt cảm xúc của con người, nói đến văn học là nói đến một ngành khoa học của văn chương. Nghiên cứu văn học chính là soi chiếu “ba chiều” đời sống lên “hai mặt phẳng” trang văn (Chế Lan Viên) để phân định mọi cung bậc tư tưởng, tình cảm của con người. Đừng hỏi hà cớ gì chỉ có tình thương mà sao không phải là một loại tình cảm khác. Tình thương là cội nguồn của mọi cảm xúc vì nó xuất phát từ tấm lòng chân thành, và cũng là điểm đến cuối cùng mà con người cần đạt đến. Vì thế như một lẽ tất yếu, văn học là tấm gương phản hình đời sống thì phải khơi gợi được sâu xa nhất đời sống là tâm hồn con người, là tình thương. Văn học chuyên chở tình thương là văn học chân chính! Ầu ơ lời ru của mẹ, thoang thoảng giọng hò bên sông, đọc đôi câu đối đình làng… thế thôi là yêu, thế thôi là nhớ. Điều nhân bản nhất văn học mang đến cho con người là cái tình mến thương với cuộc đời bình dị. “Nắng cho đời nên nắng cũng cho thơ” (Huy Cận), để rồi văn thơ đã đi tiếp chặng hành trình của nó mang cái tình nồng đượm của đời đến với lòng người. Tình thương đời có lẽ là mối tình thuỷ chung chân thật nhất… “Làng tôi ở uốn làm nghề chài lưới Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông” Không cầu kì hoa mỹ, “Quê hương” của Tế Hanh hiện lên trong sự vây bọc của nỗi nhớ da diết, có gì đâu chỉ một làng chài ven biển như mọi ngôi làng khác, chỉ là hoạt động lao động rất đỗi bình thường, nhưng lòng mến thương của thi nhân đã là chất xúc tác biến kí ức thành loại men ngọt ngào. Bao quanh cái bình dị quen thuộc chợt trở thành hình ảnh biểu tượng với sức gợi lớn lao: “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió” Cái đẹp đâu chỉ có từ nghệ thuật nhân hoá thế này hay khả năng liên tưởng thế nọ, cái đẹp nằm ở ngay đằng sau câu chữ, là lòng tự hào của nhà thơ về quê hương. Là mảnh đất, là dân chài, là cuộc đời lao động… tất cả đều tồn tại trong cánh buồm ấy, “cánh buồm gương to” biểu tượng cho lòng say mê, niềm khát vọng đối với đời sống bình dị mà đẹp đẽ ở chốn quê hương mình. Để rồi “nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ”, bởi đơn giản thôi, cái tình thương mến đã thấm vào máu thịt nên “khi ta đi đất đã hoá tâm hồn” (Chế Lan Viên). Khơi gợi tình thương từ mặt trái của tình thương là cách tiếp cận với con người chua xót nhất. Không chua xót làm sao được khi hôm nay chỉ là cái bóng thầm lặng còn sót lại của “vàng son” hôm qua. “Ông đồ” của Vũ Đình Liên là tiếng thổn thức nhân bản trước sự tàn lụi của một nền văn hoá, sự tồn tại lay lắt của một nghệ sĩ tài hoa: “Ông đồ vẫn ngồi đấy Qua đường khống ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay” Kết thúc bài thơ là câu hỏi khắc khoải vọng vào không gian, vọng đến lòng người: “Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?” “Cái di tích tiều tụy đáng thương của một thời tàn” (cách nói của Vũ Đình Liên) đã ra đi cùng với thái độ thờ ơ, lãnh đạm của người đời. Bài thơ nhẹ nhàng quá mà sâu nặng những nỗi cảm thương! Thế giới thức tỉnh trong tôi, sự sống rạo rực trăn trở trong tôi và muốn tôi hoà tan vào trong thế giới ấy, muốn ban phát cho tất cả mọi người mà tôi càng thấy thêm gắn bó keo sơn bằng mối tình nhân loại. Tác động của văn học với con người là như thế! Qua “Chiếc lá cuối cùng”, O-Hen-ri không chỉ gửi thông điệp tình thương bạn đọc muôn thế hệ mà còn thể hiện lòng tin yêu mãnh liệt về con người, tin rằng tình người có thể làm thay đổi tất cả, kể cả cái chết. Bằng khao khát “một ngày kia tôi sẽ vẽ một tác phẩm kiệt xuất”, bằng tấm lòng nhân ái bao la, cụ Bơ-men đã “quên mình” để cứu lấy sự sống cho Giôn-xi từ một “bức hoạ” đặc biệt: chiếc lá thường xuân trên bức tường. Bệnh lao phổi từ Giôn-xi, cái chết chực chờ của cô đã chuyển giao sang người hoạ sĩ già. Điều còn lại không phải là cái chết mà là nhân cách sống, nghị lực sống của những con người “biết” cải tạo hoàn cảnh và “dám” cải tạo hoàn cảnh cho mình và cho người. Văn học chuyển tải tình thương và văn học là tình thương! Tình thương trong văn học là tấm lòng của nhà văn đối với nhân vật của mình, là những cảm xúc rung lên từ mỗi dòng văn, kiểu như “Nguyền Du viết Kiều như có máu giỏ trên đầu ngọn bút, nước mắt thấm qua từng trang giấy” vậy! Tình thương ấy tuy theo cách nhìn nhận của nhà văn nhà thơ đối với cuộc đời mà có nhiều sắc thái: một cảnh tình thương trong sáng với quê hương và con người lao động như “Quê hương” của Tế Hanh, một tình người bao la và niềm tin vững chắc vào con người như “Chiếc lá cuối cùng” của O-Hen-ri, hay một trăn trở khắc khoải đến đau lòng vì sự dửng dưng, phũ phàng của người đời như trong “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen hay “Ông đồ” của Vũ Đình Liên. Nhưng cuối cùng vẫn là cái tình nhân loại. Ta đứng giữa cuộc đời rộng lớn của nhân loại, hai chân ta đứng trên mặt đất, lòng ta tỏa rễ vào đời đế một ngày người ta hiểu ra rằng: “Có gì đẹp trên đời hơn thế Người yêu người sống để yêu nhau” (Tố Hữu) Đó là thông điệp mà văn học chân chính gửi đến con người từ muôn thế hệ. Văn học và tình thương – bài 5 Văn học và tình thương – bài 5 Văn học và tình thương có mối liên hệ qua lại rất mật thiết. Văn học bồi đắp tình thương và tình thương trở thành nguồn gốc, động lực của văn học. Nhà phê bình Hoài Thanh trong văn bản “Ý nghĩa văn chương” từng viết: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Nhận định ấy đã nêu lên những tác động cơ bản của văn học đối với tình cảm con người. Không dừng lại ở đó, giữa văn học và tình thương còn có những mối quan hệ sâu sắc. Văn học bao gồm những tác phẩm thơ, truyện, kịch, ca dao, hò vè… vô cùng đa dạng, phong phú. Một nội dung quan trọng của những tác phẩm ấy là phản ánh đời sống xã hội, thể hiện những tâm tư tình cảm của con người. Đó là tình anh em sâu nặng, tình bạn bè, cô trò cảm động trong “Cuộc chia tay của những con búp bê” (tác giả Khánh Hoài), “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến; đó là tình cảm gia đình sâu sắc trong những bài ca dao về tình cảm gia đình; là tình thương đối với những kiếp người bé nhỏ, mong manh trong chùm ca dao than thân, trong bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan, trong vở chèo “Quan Âm Thị Kính”,… Qua những tác phẩm ấy, văn học đã ngợi ca tình yêu thương đẹp đẽ, trong sáng, cao thượng giữa người với người, giữa người với vạn vật xung quanh. Từ đó, văn học xây đắp, bồi dưỡng cho ta tình yêu thương đối với những người thân yêu, với những người hàng xóm, bạn bè, với quê hương đất nước… Đọc bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn…”, người đọc thấm thía hơn công ơn “như núi”, “như nước trong nguồn chảy ra” của cha và mẹ. Bài ca dao khiến ta biết yêu hơn, biết thương hơn những đấng sinh thành. Đọc truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh Hoài, ai cũng rưng rưng cảm động và thấy xót thương cho những số phận bé thơ sớm phải chịu cảnh gia đình chia lìa đôi ngả. “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến lại khiến người đọc thấy trân trọng và tin yêu vào tấm lòng của những người bạn hữu trong cuộc đời,… Có thể nói văn học chính là dòng suối ngọt mát bồi đắp những yêu thương cho tâm hồn con người. Nó khiến mỗi chúng ta biết yêu thương, quan tâm chia sẻ với nhau để sống nhân văn và ý nghĩa hơn giữa cuộc đời này. Đến lượt mình, tình thương trở thành nguồn gốc, động lực cho sự ra đời của văn học. Trong “Ý nghĩa văn chương”, Hoài Thanh đã dùng một câu chuyện – một hình ảnh thật hay để lí giải nguồn gốc của thơ ca hay chính là văn học nghệ thuật nói chung: Một tu sĩ khóc thương một con chim nhỏ bị thương, tiếng khóc – lòng thương của ông đã bật lên thành tiếng thơ ca. Thật vậy, phải có lòng yêu quý, trân trọng tấm lòng của bạn sâu sác, Nguyễn Khuyến mới chắp bút viết nên “Bạn đến chơi nhà” hóm hĩnh. Phải có một tấm lòng dầy ưu tư, đa cảm trước tình đời, tình người Bà Huyện Thanh Quan mới viết nên những câu thơ đầy cảm động: “Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”. Trong nỗi “nhớ nước”, “thương nhà” của tác giả là một khối sầu thương u ẩn về thời thế và cuộc đời… Văn chương, nói như học giả Lê Quý Đôn: “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần”, thực sự được bắt nguồn từ tình yêu thương bao la giữa người với người, giữa con người và vạn vật. Có thể nói, giữa văn học và tình thương có mối liên hệ qua lại rất mật thiết. Văn học bồi đắp tình thương và tình thương trở thành nguồn gốc, động lực của văn học. Điều đó cho ta những bài học quan trọng trong việc học văn và xây dựng tình cảm với người thân, bạn bè, cộng đồng. Học văn là để làm đẹp, làm phong phú cho tâm hồn và ngược lại, khi đọc văn – học văn phải biết “lấy hồn ta để cảm hồn người”, có vậy mới thấm thía hết những giá trị nhân văn sâu sắc của các tác phẩm văn học. Trên đây là bài tập làm văn nghị luận xã hội văn học và tình thương, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Văn học và tình thương
6,676
Văn học và tình thương: “Cái cốt lõi của văn học là lòng nhân ái” (Rasul Gamzatop). Hướng dẫn Văn học là tiếng nói cảm thông và bảo vệ con người Mở bài: Bàn về vai trò và ý nghĩa của văn học, Rasul Gamzatop cho rằng: “Người ta thường nói văn học là nhân học. Tôi công nhận. Nhưng với riêng tôi, văn học không chỉ là môn khoa học về con người. Cái cốt lõi của văn học là lòng nhân ái”. Câu nói trên của Rasul Gamzatop đã khẳng định ý nghĩa văn học là nhân học và lòng nhân ái trong văn học. Thân bài: Văn học là gì? Văn học là khoa học về văn chương. Đây là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người. Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu. Cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ. Sản phẩm của văn học là tác phẩm văn chương. Lòng nhân ái là gì? Lòng nhân ái là tấm lòng yêu thương con người. Người sống có lòng nhân ái luôn tôn trọng, yêu quý, giúp đỡ và bảo vệ con người. Ý nghĩa của câu nói: “Cốt lõi của văn học là lòng nhân ái” Văn học miêu tả, phân tích, khám phá, phát hiện các mặt về đời sống con người từ sinh lí đến tâm linh ở góc độ khách quan một cách chân thực. Văn học không chỉ thực hiện chức năng của một bộ môn nghệ thuật phản ánh cái đẹp mà còn góp phần biểu hiện toàn diện đời sống con người như một bộ môn khoa học về con người. Cốt lõi của văn học chính là lòng thương người (lòng nhân ái). Văn học không những phải lấy con người làm đối tượng phản ánh mà còn hướng đến phục vụ đời sống con người. Ngoài việc miêu tả, phân tích, khám phá về con người,… nhà văn còn phải sử dụng ngòi bút thể hiện lòng thương người; phải biết đau với cái đau của cuộc đời, của nhân loại, của thời đại; biết lên án cái ác, ngợi ca cái thiện; phê phán cái xấu, biểu dương cái đẹp; biết nâng niu bảo vệ sự sống, quý trọng, tôn vinh nhân cách và phẩm giá con người. Văn học xưa và nay luôn chú trọng đến tính nhân văn cao cả trong biểu đạt. Với văn học, chất liệu đầu tiên để cấu thành tác phẩm là ngôn từ. Nhưng yếu tố cuối cùng quyết định sự sống còn của tác phẩm lại không phải là ngôn từ. Đó chính là hình tượng nhân vật. Nhân vật văn học không ai khác chính là những con người trong cuộc sống. Trở thành đối tượng phản ánh của văn học, con người hiện ra sinh động, chân thực trong mỗi tác phẩm. Đọc tác phẩm ta nhận ra mình qua mỗi nhân vật ở từng ngóc ngách nội tâm, từng biểu hiện tình cảm, hiểu đúng hơn và nhiều hơn về cái thế giới tinh thần phong phú và bí ẩn vốn bị cái bề ngoài bao phủ. Và chính cái “thế giới tinh thần phong phú và bí ẩn” ấy thể hiện rõ nhất cái “nhân học” của văn chương. Thông qua “Truyện Kiều” và cuộc đời đầu gian truân, trắc trở, tủi nhục của Thúy Kiều, đại văn hào Nguyễn Du muốn thể hiện sự nhận thức sâu sắc về tình đời, tình người trong xã hội phong kiến đương thời và thái độ trân trọng, bênh vực, đề cao con người của ông. Đó là một tấm lòng đầy tính nhân văn. Đến với “Chí Phèo”, ta nhận ra một con người của thời đại như một cổ máy. Trong khi ấy, một kẻ tha hóa phẩm chất nhưng đồng thời cũng là những tâm trạng, những nghĩ suy số phận của cả một lớp người nông dân nghèo thời Pháp thuộc. Chí Phèo đau khổ, độc ác, nghèo hèn, nhục nhã, hỗn hào chửi cả làng… Và cao hơn hết là nỗi khát vọng được làm người, nỗi ao ước được trở về với cuộc sống đời thường. Hiểu tâm lí của nhân vật, độc giả lại càng hiểu về chính bản thân mình và cái thế giới với biết bao con người khác quanh mình. Từ nhân vật văn học đi vào cái thế giới của chính mình thông qua sự so sánh tương cận, người đọc nhận rõ “có mình” ở trong đó trên khía cạnh tinh thần hoặc đời sống. Từ đó làm nảy sinh sự đồng cảm, thấu hiểu, thúc đẩy hành động. Sản phẩm tạo ra trong quá trình tương tác đó chính là “nhân học” – tình yêu thương con người và cuộc sống. Những tác phẩm có giá trị về nội dung tư tưởng lớn và nghệ thuật cao được công nhận và sống với thời gian. Đọc “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi ta không thể không nghĩ đến một thời đại đau thương mà đầy khí phách, hào hùng của dân tộc ta trong cuộc chiến đấu với kẻ thù xâm lược. Dù đứng ở vị trí một dân tộc nô lệ hay một dân tộc chiến thắng, dân tộc ấy đều thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả, ngay cả đối với kẻ thù của mình. Trên bình diện tâm lí, thật lòng khó có thể tha thứ cho những tội ác khủng khiếp mà kẻ thù đã gây ra cho ta. Thực tế trên thế giới, sau chiến thắng của một đội quân là những cuộc tàn sát đẫm máu khủng khiếp không khác gì kẻ thù đã gây ra cho họ. Và ai cũng cho rằng đó là lẽ phải, là chân chân lí, là tình yêu thương. Nhưng đó lại là một sai lầm, thể hiện bản chất ích kỉ, sự thù ghét của con người. Lần đầu tiên trong lịch sử, dân tộc ta đã minh chứng điều ngược lại mới là lẽ phải, mới là chân lí, tha thứ mới là nhân văn. Tư tưởng ấy còn được tiếp tục duy trì và phát huy đạt đến đỉnh cao trong thời đại Hồ Chí Minh thế kỉ XX. * Phê phán: Cũng có những nhà văn có năng lực, nhưng khám phá, khai thác con người ở góc độ trần tục, thấp hèn, nhầy nhụa. Hoặc thông qua lăng kính chủ quan áp đặt làm cho hình ảnh con người trở nên trần trụi, méo mó,… thiếu tình người, không mang tính nhân văn, tác động xấu đến nhận thức, tâm hồn người đọc.., đều bị phê phán, lên án. Họ thường là những con người lợi dụng văn học để mưu cầu lợi ích, hoặc phục vụ cho những thế lực xấu, đi ngược lại thiên hướng của văn chương. * Bình luận: Câu nói của Rasul Gamzatop đã khẳng định để làm rõ thêm về quan niệm: “Văn học không chỉ là môn khoa học về con người. Cái cốt lõi của nó là lòng nhân ái” là có cơ sở. Từ đó, câu nói làm rõ thêm chức năng, nhiệm vụ của văn học với con người và đời sống. Văn chương có khả năng nhận thức vô cùng to lớn trên nhiều bình diện của hiện thực đời sống về tự nhiên cũng như về xã hội. Nhưng đó là sự nhận thức về phương diện triết học, chính trị, xã hội, tâm lí và thẩm mĩ… Văn học chính là cuốn sách giáo khoa về đời sống. Văn học lấy con người trên bình diện đời sống làm đối tượng phản ánh. Chức năng đó diễn ra trong quá trình nhà văn nhận thức hiện thực bằng tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật, đến lượt mình, trở thành một công cụ thẩm mĩ giúp người đọc nhận thức cuộc sống và hiện thực qua những khám phá và sáng tạo của nhà văn. Kết bài: Cái cốt lõi của văn học là lòng thương người, vì con người mà phục vụ. Một nhà văn chân chính phải lấy con người làm đối tượng phản ánh các giá trị nhân bản trong đời sống xã hội.
Văn học và tình thương_ “Cái cốt lõi của văn học là lòng nhân ái” (Rasul Gamzatop).
1,377
Đề bài: Nghị luận về vấn đề văn học với việc xây đắp tâm hồn Bài làm Ánh sáng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản rực rỡ như ánh mặt trời đã xua đi màn sương mờ mờ ảo ảo của giai cấp tư sản, xua đi nỗi buồn ai oán và bế tắc của văn học cũ, chỉ để lại trong chúng ta những kết tinh cao đẹp nhất của tâm hồn con người trong những áng văn thơ tiến bộ của dân tộc ta, của thế giới và nhất là nền văn học mới của chúng ta ngày nay – nền văn học của giai cấp vô sản. Hương nhụy trong mát và ngọt lành của tâm hồn con người là nghệ thuật. Văn học chính là một trong những hình thái nghệ thuật sinh trưởng từ tâm hồn con người, (là một trong những hương nhụy trong mát và thơm lành nhất của tâm hồn con người). Chắt lọc từ cuộc sống biết bao sự kiện, bao tâm trạng, bao thay đổi để có một cái gì của riêng tâm hồn mình, các nhà thơ, nhà văn đã gửi gắm những nỗi niềm rất riêng tư từ những cái rất chung vào các tác phẩm văn học. Và cũng chính từ tâm hồn con người bước ra, văn học đã trở lại xây đắp cho tâm hồn con người biết bao tình cảm, bao suy nghĩ, mơ ước. Văn học với việc xây đắp tâm hồn Sinh ra và lớn lên trong miền Bắc xã hội chủ nghĩa, trong thời đại Hồ Chí Minh quang vinh, đối với tôi, văn học sản sinh từ hiện thực cuộc sống đó là cả một dòng sông chảy nặng phù sa, chảy qua tâm hồn tôi và bồi đắp cho tâm hồn tôi những tình cảm, mơ ước cao đẹp. Trên lớp phù sa màu mỡ, cây đời mãi mãi xanh tươi. Ánh sáng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản rực rỡ như ánh mặt trời đã xua đi màn sương mờ mờ ảo ảo của giai cấp tư sản, xua đi nỗi buồn ai oán và bế tắc của văn học cũ, chỉ để lại trong chúng ta những kết tinh cao đẹp nhất của tâm hồn con người trong những áng văn thơ tiến bộ của dân tộc ta, của thế giới và nhất là nền văn học mới của chúng ta ngày nay – nền văn học của giai cấp vô sản. Nền văn học tiến bộ ấy đã cho tôi một lí tưởng sống cao đẹp, lí tưởng của người cộng sản với nền móng vững vàng là tình yêu tha thiết. (Quê hương, đất nước và con người). Tôi yêu quê hương, yêu đất nước thân yêu của chúng ta từ những câu ca dao rất xa xưa mà bà, mẹ tôi đã ru tôi. Tôi yêu quê hương từ những câu ca dao có hương bưởi dịu dàng, có bóng dáng con cò lặn lội bờ sông… Quê hương đất nước ta là xứ sở Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc, của nỏ thần An Dương Vương, của những anh hùng Đăm San, Xinh Nhã. Những câu chuyện cổ tích, những anh hùng trong trường ca ấy đã mở ra trước mắt tuổi thơ biết bao nhiêu điều kì diệu, sống động vô cùng: Hai cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi Trong tâm hồn trẻ thơ, câu ca dao ấy đâu chỉ gợi lên hình ảnh một cô thôn nữ tát nước, mà đó là một cô tiên xinh đẹp dịu dàng đang múc lên những gầu ánh trăng vàng sóng sánh. Chao ôi con người quê ta sao đẹp vậy! Cho đến bây giờ, hai câu ca dao vẫn đọng mãi trong tâm hồn tôi hình ảnh tuyệt đẹp của con người và ánh trăng. Quê hương với những kỉ niệm êm đềm của tuổi thơ đi vào bài thơ. Nhớ con sông quê hương của nhà thơ Tế Hanh, có sức rung động kỳ lạ trong tình yêu quê hương của tôi: Quê hương tôi có con sông xanh biếc Nước gương trong soi sáng những hàng tre Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè Tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng Chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng Giữ bao nhiêu kỉ niệm giữa dòng trôi? Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi! Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ Con sông ấy không chỉ là con sông Trà Khúc, nó còn là con sông Thu Bồn, sông Thạch Hãn… nó còn là con sông quê hương của tuổi thơ. “Nước gương trong soi sáng những hàng tre", soi cả những mây trời. Nhìn xuống dòng sông ta thấy quê hương làng xóm của ta, ta thấy bè bạn ta, ta thấy cả ta nữa. Tác giả hỏi sông: Chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng Giữ bao nhiêu kỉ niệm giữa dòng trôi? Có lẽ hỏi để mà hỏi thế thôi, chứ quê hương ta nhân hậu nặng nghĩa nặng tình có bao giờ trôi đi những kỉ niệm của ta. Và ta cũng có bao giờ quên những kỉ niệm ấy đâu: Lòng tôi như mưa nguồn gió biển vẫn trở về lưu luyến bên sông Lòng tôi bỗng dưng lên một nỗi niềm xúc động kì lạ. Quê hương ơi, tôi sẽ nguyện làm "mưa nguồn, gió biển ” ấy. Một tình yêu lớn lên thêm nhờ một tình yêu. Quê hương ta rất đẹp và rất anh hùng. Trong thơ văn, hình ảnh đất nước quê hương hiện lên rất bình dị nhưng lòng ta quá đỗi yêu thương, tự hào. Trong mỗi tin chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi đều nghe âm vang bài Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi ngày xưa. Lịch sử dân tộc đã ghi những trang chiến thắng rực rỡ từ thời Bà Trưng, Bà Triệu, từ những ngày Lê Lợi “núi Lam Sơn dấy nghĩa”. Phải chăng mỗi thắng lợi hôm nay đều mang khí phách hào hùng thuở trước: Gươm mùi đá, đá núi cũng mòn Voi uống nước, nước sông phải cạn Đánh một trận, sạch không kình ngạc Đánh vài trận tan tác chim muông Quá khứ của dân tộc ta là quá khứ anh hùng, là quá khứ vinh quang. Tôi yêu quê hương bởi quê hương là một bản hùng anh như vậy. Bài Cáo Bình Ngô là một tiếng kèn chiến thắng mạnh mẽ sôi nổi vượt qua bao thời gian đến với lòng ta và chúng ta một niềm tự hào về truyền thống dân tộc. Lòng yêu quê hương còn là tình yêu chủ nghĩa xã hội tươi đẹp với những con người mới đang phơi phới đi lên. Trong thơ văn của ta, hình ảnh con người mới ấy thật lớn lao, thật đáng yêu: Yêu biết mấy những con người đi tới Hai cánh tay như hai cánh bay lên Ngực dám đón những phong ba dữ dội Chân đạp bùn không sợ các loài sên (Mùa thu mới – Tố Hữu) Những con người ấy luôn hướng tới tương lai với một niềm tin mãnh liệt và một sức đi lên phơi phới. Hạ đạp bằng mọi khó khăn, tất cả không gì khuất phục được họ. “Hai cánh tay như hai cánh bay lên", câu thơ có một cái gì thần thoại nhưng cũng rất thật, rất sinh động, lạc vào lòng hình ảnh người lao động mới, đep và hùng dũng như một thiên thần, tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của đảng ta. Những con người ấy là Chấm, Trọng, Quyện (Cái sân gạch – Đào Vũ) hăng say, cùng nhau đi lên trên con đưừng hợp tác xã hội chủ nghĩa; là Biền (Tầm nhìn xa – Nguyễn Khải) thẳng thắn, cương trực, dám đấu tranh chống những tư tưởng sai lầm của chế độ cũ còn rơi rớt lại. Những con người ấy tiếp cho tôi một sức sống, một niềm vui lớn lao. Họ rất thấu hiểu đất nước mình còn nghèo nên mỗi người phải xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng cả tấm lòng: Dọn tí phân rơi, nhặt từng ngọn lá Mỗi hòn than, mẩu sắt, cân ngô Ta nâng niu gom góp dựng cơ đồ Ta nâng niu vật nhỏ bé, gom góp chúng để dựng cơ đồ. “Nâng niu” câu thơ còn nhắc chúng ta rằng xây dựng xã hội chủ nghĩa không chỉ bằng bộ óc mà còn bằng cả trái tim. Tôi quí tôi yêu những trái tim của những con người mới ấy. Còn xã hội chủ nghĩa là con người anh hùng, kiên cường bất khuất trước kẻ thù, quyết tiến công triệt để. Chị Út Tịch với ý sắt đá: “còn cái lai quần cũng đánh” từ cuộc đời đi vào tác phẩm Người Mẹ cầm súng của Nguyễn Thi đã trở thành một ánh sáng rực rỡ, cho tôi một niềm kiêu hãnh lớn lao. Người mẹ anh hùng, người vợ anh hùng, người chiến sĩ anh hùng trong chị út hòa làm một, hiện lên rất sinh động trên từng trang sách, hình ảnh ấy như một hướng sống trong mỗi lòng ta. Anh hùng Núp rất dân tộc mà cũng rất hiện đại trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc cũng là một hình ảnh tiêu biểu cho con người mới. Núp đánh giặc bằng truyền thuyết cây gươm ông Tú, bằng lòng căm thù giặc cao ngất – người ấy từ cuộc đời đi vào tác phẩm họ đi vào tâm hồn tôi, chói lọi như một cùng ánh sáng. “Căm với vêu hai đợt sóng ào ào" (Xuận Diệu). Bởi yêu thương nên rất căm thù, đó là truyền thống của dân tộc ta. Tôi không quện được hai câu thơ trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi: Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Câu thơ gợi lên nỗi đau nhức nhối, nỗi căm hờn vô tận. Đâu phải đồng quê ta chảy máu, mà đó là da thịt đồng bào ta đang nát tan, dây thép gai đâu chỉ đâm nát trời quê ta mà đang đâm nát cuộc đời biết bao người thân của ta. Máu trong người ta bỗng dưng sôi lên, câu thơ có sức đẩy kì lạ. Lòng căm thù cháy lên từ câu thơ nghe bỏng rát tâm hồn. Ta căm thù bởi vì ta yêu thương. Ta căm thù kẻ nào phá nát những cái gì mà ta yêu thương. Văn học cho tôi tình yêu mãnh liệt và cũng cho tôi lòng căm thù sâu sắc: … Từng viên đạn MỸ Bắn miền Nam, nát thịt da xương tủy Của mẹ cha, đồng chí, vợ con (Có thể nào yên? – Tố Hữu) Câu thơ như một nỗi day dứt căm hờn có thể nào yên. Tôi cảm thấy cái đau của "từng viên đạn Mỹ bắn vào miền Nam" trong da thịt mình, tôi cảm thấy tiếng gọi trả thù vang lên từ tận đáy lòng. Có biết bao bài thơ văn gợi cho tôi cảm giác ấy. Từ tình yêu cháy bỏng, lòng căm thù cao độ mà văn học đã truyền cho, tâm hồn tôi bỗng sáng ngời một lí tưởns sông chân chính, lí tưởng cống hiến cho cuộc đời cho sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, thống nhất đất nước của Tổ quốc ta. Và cao cả hơn, rộng hơn, tôi mơ ước được sống, chiến đấu và hi sinh cho sự nghiệp cao quí trên đời: “Sự nghiệp giải phóng loài người” như Paven Corsaghin đã nghĩ. Văn học đã chắp cánh cho ước mơ tôi bay cao và cũng cho tôi một đạo làm người chân chính. Bác Hồ, một nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc ta đã viết nên một triết lí sống: Gạo đem vào giã, bao đau đớn Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông Sống ở trên đời người cũng vậy Gian nan rèn luyện mới thành công. (Nghe tiếng giã gạo) Cuộc sống là sự đi lên, vấp ngã cũng để đi lên. Tôi hiểu rằng để thực hiện được lí tưởng sống cao đẹp của mình, cần phải rèn luyện trong gian khổ khó khăn, như hạt gạo kia “đem vào giã, bao đau đớn ” Một con người chân chính không thể cúi đầu khuất phục trước bất cứ khó khăn nào mà phải đi lên bằng trái tim yêu thương và nhiệt tình. Cuộc sống của chúng ta cần những trái tim của Đan Cô rực lửa, Lôicô (trong truyện ngắn của M. Goóc-ki) đã giúp tôi hiểu rằng hãy hiến dâng trọn đời cho lí tưởng cao quí mà mình đã chọn, có một hướng đi đúng đắn, nhất định ta sẽ tới đích, cho dù vượt muôn ngàn khó khăn gian khổ, bởi vì: “Không thể lấy máu mình dìm chân lí” (M. Goóc-ki). Đó là niềm tin mãnh liệt vào lí tưởng của mình. Văn học tiến bộ đã cho tôi lí tưởng cộng sản cao đẹp và cũng cho tôi niềm tin tưởng tuyệt đối vào lí tưởng ấy. Bình minh hiện ra trước mắt Bác Hồ trong một lần "Giải đi sớm ” gian nan, vất vả thật tươi sáng, tuyệt đẹp: Phương đông màu trắng chuyển sang hồng Bóng tôi đêm tàn quét sạch không Đó không chỉ là một qui luật của vũ trụ mà là sự tất thắng của chủ nghĩa cộng sản. Lòng tôi bừng lên niềm tin vào lí tưởng cộng sản chủ nghĩa. Chiến đấu cho lí tưởng là một quá trình rèn luyện mình, rèn luyện ý chí kiên cường bất khuất trước kẻ thù, bên cạnh những người thanh niên cận vệ, hình ảnh Nguyễn Văn Trỗi đã rực lên trong tâm hồn tôi một niềm kiêu hãnh một sự bình thản hiên ngang trước kẻ thù: Anh muốn thiêu, bằng mắt, lũ đê hèn Với cái chết, anh muốn nhìn giáp mặt Như ngọn lửa không bao giờ dập tắt! (Hãy nhớ lấy lời tôi – Tố Hữu) Đôi mắt anh Trỗi cháy lên ngọn lửa căm thù, và bọn giặc bất lực “rùn lên, xông trói chặt anh hơn”, nhưng chúng làm sao có thể trói được ý chí bất khuất của anh. Văn học đã xây đắp tâm hồn tôi, đã xây đắp cho tôi lí tưởng sống và cách sống chân chính. Đó là khả năng kì diệu của văn học, sở dĩ văn học có tác dụng lớn lao như vậy bởi vì các nhà văn, nhà thơ của chúng ta đã có ý thức rất rõ về chức năng giáo dục của văn học. Bằng nghệ thuật ngôn ngữ, văn học thường đi sâu vào lòng người hơn bất cứ hình thái nghệ thuật nào khác. Văn học phản ánh hiện thực bằng ngôn ngữ được chọn lọc, sắp xếp, được cách điệu hóa với âm nhạc điệu của mình nên có tác động rất sâu xa trong lòng người đọc, người đọc thường dễ chấp nhận những mảng hiện thực trong văn học, những chân lí trong văn học. Mà văn học mới – văn học của giai cấp vô sản – thì phản ánh trung thực và hùng hồn cuộc sống mới, con người mới, không thể tô hồng, không thể bôi đen hiện thực, chính vì vậy văn học mới đã cho tôi những tình cầm lành mạnh, những suy nghĩ lớn lao. Cảm ơn những nhà thơ, nhà văn, những con ong cần mẫn hút hương vị trăm hoa để sản sinh ra mật thơm và ngọt cho đời. Những áng thơ văn tuyệt đẹp của dân tộc ta và của thế giới đã cho tôi lí tưởng sống cao quí, cho tôi đạo làm người chân chính, chắp cánh cho ước mơ tôi bay cao. Mãi mãi văn học sẽ là một dòng sông đỏ nặng phù sa bồi đắp cho tâm hồn con người những tư tưởng tình cảm đẹp đẽ, dòng sông ấy bất diệt trong thời gian và trong lòng tôi.
Văn học với việc xây đắp tâm hồn
2,657
Văn miêu tả lớp 3 – Tả một số đồ đạc trên bàn học, nơi góc học tập Hướng dẫn Đề bài Hãy giới thiệu và tả một số đồ đạc trên bàn học, nơi góc học tập của em – Văn miêu tả lớp 3 Bài mẫu 1 Nhà bố mẹ em nằm trong khu tập thể công nhân Sở Điện lực Hải Phòng. Nhà cấp bốn, có hai phòng nhỏ. Bố em là công nhân điện, mẹ em là y tá. Đồ đạc quý nhất của gia đình em là cái ti-vi và chiếc xe máy của bố em đi làm hằng ngày. Nhà tuy nhỏ hẹp nhưng rất sạch sẽ và ngăn nắp. Bố mẹ đã dành cho em một góc học tập cạnh cửa sổ, một nơi sạch sẽ, sáng sủa nhất trong ngôi nhà. Chiếc bàn gỗ dầu có ba ngăn kéo là bàn học của em. Chú Xuân khi chuyển vào Vũng Tàu công tác đã tặng bố mẹ em chiếc bàn này. Bố em mới thuê thợ đánh véc-ni lại, cái bàn bóng lên trông rất đẹp. Trên bàn, bên trái là một chồng sách, bên phải là cái đèn bàn có chao đèn màu đỏ. Ánh sáng dịu của ngọn đèn đêm đêm vẫn chiếu sáng trang sách và toả sáng tâm hồn em. Chiếc đồng hồ bàn bằng nhựa xanh hình vuông, dì em tặng năm em lên 9 tuổi, có chiếc kim giây chuyên cần chuyển động. Chỉ đêm khuya mới nghe nó kêu “tích! tích!”. Nó như thầm nhắc em: “Cố lên! Ngoan lên! Chăm học chăm làm. Thì giờ là vàng ngọc, trôi qua nhanh lắm!”. Phía sát mép bàn cạnh tường, em để lọ hoa nhỏ, cắm ba bông hoa giấy màu sắc rực rỡ do em làm. Em còn có một con lợn bằng gốm Bát Tràng với đôi mắt đen nhánh ngây thơ và cái mõm há ra như đòi ăn. Nó không ăn cám mà chỉ thích ăn một, hai nghìn đồng. Lúc thì nó nằm ngủ trong ngăn kéo, lúc thì nó nằm chơi trên bàn, lặng lẽ ngắm em học bài. Bà, các dì, các cậu, bố mẹ vẫn cho em ít tiền để nuôi lợn đấy! Cái hộp bút đã cũ lúc nào cũng gợi ý em chăm bẵm con lợn cho béo để sang năm lên lớp bốn còn làm thịt… Đồ đạc trên bàn học của em tuy đơn sơ nhưng em rất yêu quý chúng. Cái đèn bàn, sách vở, đồng hồ, lọ hoa, con lợn gốm… là gia tài của em đấy. Cái bàn gỗ ép sơn màu trắng, kê cạnh cửa sổ, nhìn ra mảnh vườn có khóm ngâu xanh biếc, tốt tươi quanh năm là góc học tập của em. Bố mẹ đã dành cho con gái một nơi học tập thoáng mát và yên tĩnh nhất trong ngôi nhà nhỏ bé của gia đình. Cái bàn có chiều dài 1,8 mét, chiều rộng 1,2 mét lúc nào cũng bóng, sạch, không một vết mực, không một mẩu giấy vụn. Cái bàn thân thiết ấy là giang sơn của em từ những ngày học lớp một. Trên mặt bàn, góc trái là tấm ảnh của em năm lên 7 tuổi. Cạnh đấy là một bình hoa nhỏ bằng pha lê, quà tặng của dì em. Thỉnh thoảng em cắm vào đó một bông hồng, loài hoa mà em rất yêu thích. Trên bàn là những cuốn sách: Từ điển Tiếng Việt và Từ điển chính tà; Dể Mèn phiêu lưu kí, Tục ngữ – Ca dao, Những mẩu chuyện lí thú trong giới sinh vật, Đất rừng phương Nam… được xếp ngay ngắn. Một cái ống sứ đựng thước, bút để sát bờ tường. Một con lợn nhựa màu hồng bỏ tiền tiết kiệm. Một con voi bằng sứ để chơi và chặn giấy. Cái cặp sách được đút trong ngăn bàn. Chiếc đèn “Rạng Đông” có chao nhựa xanh được đặt chính giữa bàn, mà tối nào cũng được bật sáng từ 19 giờ đến 21 giờ, giờ học bài, làm bài của em. Cái bàn học nhỏ bé là một phần đời sống tinh thần của em. Nó đã gắn bó với tuổi thơ em, với trang sách, ngọn đèn. Đó cũng là nơi em thấm thìa sự săn sóc yêu thương của bố mẹ đối với em.
Văn miêu tả lớp 3 – Tả một số đồ đạc trên bàn học, nơi góc học tập
724
Văn miêu tả lớp 3- Em hãy miêu tả về quê hương của em Hướng dẫn Đề bài: Em hãy miêu tả về quê hương của em Bài làm 1: Sông nước, miệt vườn Tiền Giang Sông nước, miệt vườn Tiền Giang với một màu xanh bát ngát bao la. Những cù lao cây trái xanh tươi, trĩu quả bốn mùa. Các xóm thôn gần xa, ẩn hiện, nép mình giữa các hệ thống kênh rạch chằng chịt, mênh mông sông nước. Các trò chơi dân gian như chèo thuyền, câu cá, tắm sông, trèo cây hái trái… rất hấp dẫn. Ấn tượng với du khách xa gần là đến thăm các phiên chợ nổi trên sông. Hàng nghìn chiếc xuồng chất đầy rau trái, gia cầm, súc vật từ khắp miền Tây Nam Bộ tấp nập túa đến. Tiếng chào mời, mua bán xởi lởi, ồn ào. Có rất nhiều trẻ con ba, bốn tuổi theo mẹ, theo dì đi chợ nổi, mở cặp mắt tròn xoe ngơ ngác nhìn bốn phía. Chiều tà, chợ nổi vãn dần. Đó là lúc hàng trăm, hàng nghìn cánh cò trắng bay rợp trời xanh. Trăng non vừa xuất hiện, tiếng đàn ca tài tử ở đâu đó vọng đến, nghe đắm say mênh mang. Tiền Giang là quê má thương yêu của tôi. Tôi sinh ra và lớn lên ở Tiền Giang. Cây trái, vườn tược, dòng kinh… đã thành một mảnh tâm hồn tôi. Tôi nhớ thương, yêu quý Tiền Giang nhiều lắm. Bài làm 2: Đảo Cát Bà Huyện đảo Cát Bà thuộc thành phố Hải Phòng có rất nhiều đảo lớn, nhỏ trong đó có đảo Cát Dứa – nơi chôn nhau cắt rốn của em. Gọi là Cát Dứa vì ở đây có bạt ngàn cây dứa dại. Đây cũng là nơi trú ngụ của hàng ngàn con khỉ, con voọc, nên còn được gọi là Đảo Khỉ. Đảo Cát Dứa là điểm du lịch kì thú, cách Bến Bèo khoảng 5 ki-lô-mét, có bãi cát vàng nước trong veo, sơn thuỷ hữu tình, bãi tắm hấp dẫn đối với du khách trong những ngày hè. Bãi tắm Cát Dứa rộng khoảng 10 héc-ta, không có sóng to, mặt biển lúc nào cũng lao xao, rì rầm, nước trong xanh đến nỗi có thể nhìn thấy đá cuội, vỏ ốc, vỏ sò. Bạn có thể thuê xuồng và tự chèo để du ngoạn trên mặt vịnh. Bạn có thể bơi lặn thoả thích rồi nằm tắm nắng trên bãi cát vàng êm đềm, rất sạch. Bạn có thể leo núi hái hoa rừng, nghe chim hót ríu ran, đặc biệt là được vui đùa cùng bầy khỉ vô cùng vui nhộn và tinh nghịch. Đứng trên vách đảo Khỉ, bạn có thể phóng tầm mắt ngắm hòn Nen, hòn Bụt Đầy, hòn Trai Gái, hòn Trinh Nữ, hòn Ba Trái Đào… Xa xa là hang Sửng sốt, hang Đầu Gỗ… trên vịnh Hạ Long. Đảo Khỉ quê em hữu tình và đáng yêu lắm. Bài làm 3 Quê hương em Quê nội em đã được ngói hoá, hầu như không còn nhà tranh vách đất nữa. Đường liên xã, liên thôn đều được xi măng hoá rất sạch sẽ, đi lại thuận tiện. Trạm xá khang trang nằm ở đầu làng. Trường tiểu học hai tầng có 20 phòng học, sân trường rộng rãi, nhiều bóng cây xanh. Các thôn xóm đều đã có điện. Tiếng máy bơm nước rì rầm, phun nước ngọt lên các cánh đồng. Lúa tốt bời bời. Đáng yêu nhất là những con trâu, con nghé hiền lành gặm cỏ hai bên bờ đê. Vườn tược sum sê hoa trái. Chợ búa đầy ắp nông sản, nhiều nhất là rau, cá, gia cầm. Thú vị nhất là được ngắm đàn cò trắng bay lượn trên đồng xanh. Mẹ em nói: “Quê hương mình đã đổi mới, đã giàu lên. Con cố học giỏi, hè này bố mẹ lại cho con về chơi quê nội, thăm ông bà”. Bài đọc tham khảo: Lớp học nơi làng chài “điểm chỉ” Xã Hồng Tiến thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình có xóm Cao Bình- một địa chỉ rất đặc biệt. Đó là một làng chài kéo dài khoảng 40 ki-lô-mét, từ xã Hồng Tiến ra tận đảo cồn Vành ngoài cửa sông Thái Bình. Làng chài này tính đến cuối năm 2007 có 534 nhân khẩu, gồm 40 con thuyền to, nhỏ khác nhau. Hộ đông vui nhất là gia đình ông Tý với 13 đứa con; các hộ khác cũng có ba, bốn đứa trẻ. Các em nhỏ ở làng chài mới 5-7 tuổi đã bơi, lặn nhanh như con rái cá. Đứa nào cũng đen thui, tay chân căng tròn, bơi chèo nhanh thoăn thoắt. Hơn sáu, bảy mươi phần trăm dân số làng chài mù chữ. Người có “học vị” cao nhất là lớp hai, lớp ba. Trẻ em không được cắp sách đi học vì không có trường. Làng chài xóm Cao Bình được mệnh danh là “làng điểm chỉ”. Hầu hết các giấy tờ như đăng kí kết hôn, khai sinh, vay nợ ngân hàng… đều được bà con ở đây “điểm chỉ”. Trẻ em làng chài Cao Bình rất ham học. Những ngày mưa gió chúng vẫn kéo nhau đến lớp thật đông vui. Thầy Thành, thầy Luyện cho biết, mới có thêm 17 học sinh dự bị vào lớp một; sang năm sẽ có trường mới, thầy cô giáo mới. Chắc rằng cái tên làng “điểm chỉ” sẽ không còn nữa.. Bài làm: Đường Lâm quê em Quê em là xã Đường Lâm, còn gọi là Kẻ Mía, xứ Đoài, nay thuộc thành phố Hà Nội. Đường Lâm gốc là “đất hai vua”: Phùng Hưng – Bố Cái Đại Vương và Ngô Quyền. Con trai Đường Lâm tài giỏi, thượng võ. Con gái Đường Lâm đảm đang, đẹp nết, đẹp người. Đường Lâm có nhiều cảnh đẹp nức tiếng gần xa. Có đền thờ Bố Cái Đại Vương, đền thờ Ngô Quyền, có đình làng Mông Phụ, đình làng Cam Thịnh, đình làng Đoài Giác; có chùa Mía, còn gọi là Sùng Nghiêm tự, cây đa cổ thụ rợp bóng sân chùa, hiện có 287 pho tượng Phật bằng gỗ, bằng đồng, bằng đất vô cùng quý giá. Quê em đẹp lắm. Sông xanh uốn quanh. Đồng lúa xanh trải dài, trải rộng. Đường Lâm là làng Việt cổ, nếu có dịp mời bạn đến thăm quê mình nhé! Bài đọc tham khảo Hòn Đất – quê chị Sử “liệt sĩ anh hùng” Hòn Đất nổi lên trên Hòn Me và Hòn Sóc, gối lên trên xóm, về tháng này trông xanh tốt tươi. Bây giờ vừa sang tháng chạp ta, người Hòn Đất đã nghe gió Tết hây hẩy lùa trong nắng. Cây cối trên Hòn và cái xóm nằm liền Hòn vụt rạo rực nhựa sống non, với những vòm lá của đủ các loại cây trái: mít, dừa, cam, mãng cầu, lê-ki-ma, măng cụt sum sê nhẫy nhượt. Những ngôi nhà trong xóm, mái lá và ngói đỏ chen nhau, coi đông đúc như một thị trấn… Nhà còn cất lên trên triền Hòn thoai thoải, ở xa ngó cứ như những chuồng chim sâu, cái thì nhà trệt, cái thì nhà sàn. Xa quá khỏi Hòn một đỗi là bãi tre. Thấp thoáng những cây tre lâu nay vẫn đứng đấy, bình yên và thanh thản, mặc cho nhiều sương gió đã thổi tới. Sau rặng tre ấy, biển cả còn lâu đời hơn, vẫn đang giỡn sóng, mang một màu xanh lục. Những lần đi đâu xa và lâu ngày trở về đây, người dân đất Hòn cũng thấy lòng mình rộn lên một cảm giác khó tả. Nhất là trở về đúng những ngày mùa, khi thoang thoảng đâu đây hương lúa mới, họ càng thấy lòng mình nhẹ lâng lâng. Bài đọc tham khảo Sông Hương giữa lòng cố đô Huế … Sông Hương vui tươi tắn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non. Giáp mặt thành phố ở cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Hến; đường cong ấy làm cho con sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu. Và như vậy, giống như sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét; sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình; Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông. Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương toả đi khắp phố thị, với những cây đa, cây dừa cố thụ toả vầng lá u sầm xuồng những xóm thuyền xúm xít; từ những nơi ấy, vẫn lập loè trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được. Những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi qua thành phố đã trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh… Bài đọc tham khảo Vườn quốc gia núi Chúa Vườn quốc gia núi Chúa nằm ở phía bắc tỉnh Ninh Thuận, cách thị xã Phan Rang – Tháp Chàm chừng 20 ki-lô-mét. Núi Chúa có độ cao 1.040 mét so với mặt nước biển. Vườn quốc gia núi Chúa có diện tích rừng nguyên sinh khoảng 30.000 hée-ta; tài nguyên rừng rất phong phú, đa dạng: 1.265 loài thực vật bậc cao, đặc hữu quý hiếm; 306 loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài được ghi vào sách đỏ thế giới như chà vá chân đen, gấu ngựa, gấu chó, beo lửa… Đến thăm núi Chúa, du khách sẽ được khám phá nhiều điều thú vị của vườn quốc gia đang được bảo tồn. Đi dọc con đường nhựa dài 20 ki-lô-mét bao quanh núi Chúa, khách tham quan sẽ được vui thú thưởng ngoạn bao cảnh non xanh nước biếc kì vĩ, tráng lệ của rừng, của núi, của biển ở vùng cực nam duyên hải miền Trung. Hồ Treo trên vách núi đá như một nghiên mực bằng ngọc lưu li, nước xanh biếc da trời. Mặt hồ rộng có đường kính gần 80 mét. Đá xếp lô xô ven hồ, giữa hồ, như những hình non bộ do thiên nhiên tạo thành. Tiếng nước chảy róc rách, rì rầm của hàng chục con suối. Tiếng sóng vỗ rì rào trên mặt hồ hoà điệu với tiếng lá lao xao của rừng xanh. Tiếng gà rừng, tiếng chim cuốc, tiếng gầm gào của gấu ngựa, của chà vá… náo động khắp nơi. Suối Lồ Ô là thắng cảnh cổ tích nằm giữa vách núi đá với làn nước trong xanh, mát lạnh. Nhiều khối đá hoa cương được nước suối bào mòn phang lì, sạch bong, là nơi lí tưởng cho du khách dừng chân ngắm dấu tích quần tiên từng vũ hội. Tham quan vườn quốc gia núi Chúa, du khách tha hồ đi dọc các bãi tắm trải dài gần 40 ki-lô-mét bờ biển. Bãi cát trắng phau. Nước trong xanh một màu phẳng lặng. Các rặng san hô ngắm mãi không chán. Tàu đáy kính của công ty du lịch sẽ đưa du khách ngắm san hô và động vật biển qua các ô kính. Nhớ đến chơi bãi Hòm, nơi có những con rùa biển rất to, các em nhỏ lần đầu tiên được nhìn thấy cứ ngỡ là thần Kim Quy trong truyền thuyết hiện về. Loài rùa biển ở đây được xếp vào danh sách động vật quý hiếm của vùng biến Đông Nam Á. Quê tôi thuộc vùng trung du. Màu xanh là màu sắc của quê tôi. Cái màu mát dịu, thanh bình ấy đã trở thành tình thương, nỗi nhớ của người làng tôi mỗi khi phải đi xa. Quê tôi là vựa lúa. Đồng Chàm, đồng Thanh, đồng Biếc, đồng Chanh, đồng Thắm – năm cánh đồng tươi tốt bốn mùa. Đồng Chàm cấy lúa nếp cái hoa vàng. Đồng Chanh, đồng Biếc, đồng Thanh cấy lúa tám thơm. Đồng Thắm trồng lúa dự. Toàn là lúa đặc sản nức tiếng gần xa. Màu xanh bát ngát bao la và hương lúa con gái, hoa lúa trắng nõn, lúa chín vàng tươi là vẻ đẹp của đồng quê thương mến. Cánh cò trang phau, tà áo nâu non của cô gái làng tôi nổi bật trên nền xanh của lúa, ai bảo là không đẹp, không đáng yêu? Làng tôi có chùa Đầm với 18 tượng La Hán sơn son thếp vàng, với ba cây gạo nở hoa đỏ chói như thắp lên hàng ngàn hàng vạn ngọn nến giữa trời xanh. Làng tôi có con sông Bường nước trong veo. Ben đá là nơi tắm giặt của bà con cô bác, là nơi bơi lội của trẻ mục đồng, là nơi đầy tiếng reo cười hồn nhiên vang lên trong bóng chiều khi chuông chùa Đầm ngân buông. Tôi yêu bãi cỏ làng tôi, nơi đá bóng vui chơi, nơi thả diều của bầy trẻ nhỏ. Trâu mẹ, nghé con, bò vàng bê mượt hiền lành gặm cỏ. Chú bé đen nhẻm, đầu đội nón mê, vắt vẻo ngồi trên lưng trâu. Có bầy trẻ hồn nhiên nằm ngửa trên bãi cỏ ngắm cánh diều và lắng nghe tiếng sáo diều vi vu. Có đám trẻ con vật nhau và chơi trận giả. Tiếng gọi nhau, tiếng reo… náo động chiều quê. Tôi nhớ và yêu lắm. Ao sen đình Xuân của làng tôi, cuối xuân đầu hè đẹp lắm. Lá sen xanh, búp sen hồng, nhuỵ sen vàng tươi, hương sen ngào ngạt… như vẫy gọi, như níu giữ, như dịu mát hồn người vấn vương. Tóc cô gái làng tôi mượt mà đen bóng, thoang thoảng hương thơm cùng mùa sen, để rồi cặp má ừng hồng lên khi mùa thu tới… Làng tôi còn có biết bao cảnh đẹp. Tôi yêu lắm, yêu nhiều đất tổ, quê cha. Bài đọc tham khảo Buổi sáng trên cánh đồng quê em thật là đẹp. Nhìn từ xa, cả cánh đồng như một tấm thảm khổng lồ vẫn còn chìm trong màn sương đêm yên tĩnh. Đằng đông, ông mặt trời tò từ nhô lên sau luỹ tre làng. Yạn vật đều bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài. Trên ngọn cây cao gần đó, mấy chú chim hoạ mi hót líu lo, đón chào một ngày mới. Từ xa, men theo con đường làng, lác đác một vài bác nông dân vừa đi vừa trò chuyện. Nắng đã lên cao. Sương bắt đầu tan. Bầu trời mùa thu xanh trong và cao vút. Những đám mây trắng xoá tựa như bông, lặng lẽ trôi trên bầu trời rộng mênh mông. Toàn bộ cánh đồng được bao phủ bởi một màu vàng xuộm của lúa chín. Mỗi khi có gió, những sóng lúa lại nhấp nhô, xô đuối nhau chạy mãi vào bờ. Ông mặt trời đã lên cao. Nắng cũng đậm dần. Người trong làng bắt đầu đi chợ nhộn nhịp trên con đường xuyên qua cánh đồng. Các bà, các chị gánh ra chợ những mớ rau thơm, những bẹ cải sớm hay những bó huệ trắng muốt… Một không khí tươi vui hoà quyện lại tạo thành một bức tranh làng quê thanh bình, yên ả, sống động và đầy màu sắc. Ngắm nhìn tất cả cảnh vật trên cánh đồng lúa quê mình, em thấy rất đỗi thân thương. Em sẽ cố gắng học thật giỏi để sau này lớn lên xây dựng quê hương thêm giàu đẹp.
Văn miêu tả lớp 3- Em hãy miêu tả về quê hương của em
2,665
Văn miêu tả lớp 3: Em hãy miêu tả con đường đi học của em Hướng dẫn Đề bài Em hãy miêu tả con đường đi học của em Bài làm 1 Từ nhà đến trường, tôi có thể đi men theo rất nhiều ngả đường. Nhưng con đường tôi yêu thích, thường đi là con đường Nguyễn Thị Lựu. Con đường trải nhựa đen bóng, phẳng lì, rộng đủ cho hai chiếc xe ô tô tải đi ngược chiều tránh nhau. Bên trái là nhà dân, mấy hiệu sách, nhiều cửa hàng hai, ba tầng san sát. Bên phải là một số trường học và cơ quan công sở. Vỉa hè khá rộng. Hàng cây xanh toả bóng mát, phần lớn là cây mới được trồng sáu, bảy năm nay. Hoa bằng lăng nở tím con đường vào dịp cuối xuân đầu hè. Trong ánh nắng ban mai, từng tốp học sinh mặc đồng phục, đeo cặp sách sau lưng, cổ quàng khăn đỏ, tay nắm tay đi học. Các cô cậu học trò vừa đi vừa nói chuyện, bàn tán xôn xao, cất tiếng cười rúc rích. Mỗi lúc, xe cộ phóng qua một nhiều, người đi lại tấp nập, hối hả. Tươi xinh nhất là các nữ sinh trung học: áo dài trắng thướt tha, mái tóc dài bóng mượt, cặp sách xách bên tay, duyên dáng bước đi. Đàn chim sâu trên các tán cây, ngọn cây kêu “lích rích”, hót ríu rít như chào mừng, như giục chúng em rảo bước đến trường. Phía cuối đường Nguyễn Thị Lựu, chúng em đã nhìn thấy ngôi trường mái ngói tường vôi hiện ra. Từ các ngả đường, hàng trăm bạn nhỏ nối đuôi nhau đố về cổng trường, đông vui như trẩy hội. Mái trường tuổi thơ, con đường đi học tuổi thơ sao mà thân thuộc và đáng yêu thế! Nguyễn Thị Lựu, một cái tên đẹp, một con đường đẹp. Chân nhẹ bước trên con đường quen thuộc mà lòng em xôn xao. Bài làm 2 Sáng nào cũng vậy, em đi học từ lúc 7 giờ. Ra khỏi ngõ là em ung dung bước đi trên con đường liên thôn, liên xã tới trường. Điện đã về làng hơn năm, sáu năm về trước. Mọi con đường lầy lội ngày xưa, nay đã được rải đá, rải nhựa, láng xi măng phẳng lì. Con đường quê mềm mại, uốn mình theo hàng cây, qua dòng kênh, đồng lúa. Qua khỏi cổng làng, em đi rẽ ngoặt sang chùa Sơn Đồng, bến đò Hậu, có ba cây gạo nở hoa đỏ rực vào cuối xuân như những tháp đèn sừng sững giữa trời xanh, cỏ hai bên vệ đường đọng sương mai long lanh như hạt ngọc. Đầu cầu Diệc, các bạn nhỏ đứng đợi nhau, cất tiếng gọi nhau í ới! Còn độ 300 mét nữa là chúng em đến trường. Thầy Luận, cô Chi, thầy Giáp… đã đi xe đạp, xe máy lướt qua. Hai bên bờ sông Diệc nước trong xanh là đồng lúa, đồng màu bao la bát ngát. Cảnh quê hương êm đềm, no ấm, thanh bình với màu xanh của bầu trời, màu xanh của đồng lúa và dòng sông. Nhiều hôm đi học, em đã mang theo cánh cò trắng đến lớp. Tiếng trống trường dội lên ngân vang, kéo dài. Con đường đi học của em là con đường xanh, con đường quê, qua cổng chùa, bến đò, cầu Diệc… Con đường ấy bình dị, thân thuộc và đáng yêu lắm. Bài làm 3 Trường em ở cuối dốc Quan, nằm dưới chân đồi Ngọc. Sau đồi Ngọc là rừng thông xanh biếc bao la. Từ nhà đến trường, em chỉ đi qua ba đoạn đường ngắn, non cây số. Có nhiều bạn được bố mẹ đèo xe đạp, chở xe máy đưa đến trường. Em thì lại rất thích đi bộ trên con đường đó. Con đường quê đã được xi măng hoá phẳng lì, không còn cảnh phải lội bùn khi trời mưa như bốn năm về trước. Mỗi đoạn đường có một cảnh đẹp. Qua đình là nhìn thấy hồ sen thơm ngát trong mùa hè, thấy cây gạo nở hoa đỏ rực mỗi dịp tháng ba. Đoạn thứ hai đi qua chùa cầu có dòng kênh xanh xanh, máy bơm nước phun trắng xoá lên cánh đồng màu. Đoạn thứ ba qua cầu Bèo là đã nhìn thấy mái trường ngói son tường vôi hiện ra. Bãi cỏ bên cầu Bèo có nhiều trâu bò gặm cỏ, có đàn sáo đen mỏ vàng đậu trên lưng trâu, là nơi lũ trẻ chúng em vẫn đá bóng, thả diều. Chúng em khoác vai nhau, chuyện trò râm ran, cùng nhau đến trường. Con đường đi học của chúng em có bướm vàng và cò trắng nữa đấy. Đẹp quá con đường đi học của tuổi thơ! Bài làm 4 Mỗi buổi sáng, tôi lại rảo bước trên con đường tới trường. Đã từ lâu, con đường dường như là người bạn đồng hành gần gũi, chia sẻ với tôi niềm vui, nỗi buồn trong cuộc đời học trò. Con đường không đẹp, một vẻ đẹp lộng lẫy huy hoàng nhưng tiềm ẩn vẻ đơn sơ, mộc mạc gắn với cuộc sống yên bình của người dân phố tôi. Con đường phố tôi chạy thẳng băng, không có nét uốn lượn mềm mại, quanh co. Nó nhỏ và hẹp, cũng dễ hiểu bởi phố tôi là một phố nhỏ nên đường sá cũng không được đầu tư khang trang rộng lớn. Hai bên đường, những ngôi nhà thi nhau mọc lên, mọc lên mãi như những mô hình lắp ráp làm cho con đường vốn đã hẹp nay càng hẹp hơn. Đặc biệt, phố tôi rất thơ mộng bởi hai hàng cây ven đường. Mùa hè, những chùm hoa xoan rụt xuống một màu trắng, vương lại và kết những vòng hoa trên mái đầu lũ trẻ chúng tôi. Những ống khói vươn lên cao, chỉ để lại cho chúng tôi một khoảng trời nho nhỏ, con con. Bên cạnh bao ngả đường lớn, con đường phố tôi vẫn yên ả nằm đó với một bề mặt mà chỗ lồi, chỗ lõm. Nhưng tôi thấy điều đó chẳng làm con đường xấu đi mà còn làm cho nó thêm nét đơn sơ, giản dị. Hai bên đường, san sát biết bao cửa hàng, cửa hiệu đủ mọi thể loại khác nhau. Những cô bán hàng luôn tay vẫy nước lên những rổ hoa từ ngoại thành mang vào. Những bà hàng cơm, hàng phở mồ hôi bóng nhẫy, luôn tay đơm đơm, thái thái. Vỉa hè phố tôi gạch sứt sẹo nhumg tôi yêu những vết sứt đó vì nó luôn in trong trí nhớ của tôi, gợi cho tôi về hình ảnh con đường từ nhà tới trường. Ở đây cũng đủ loại nhà. Có nhà to, có nhà nhỏ, có nhà cao, nhà thấp. Đi men theo con đường mà tôi đếm được hơn hai chục cửa hàng, cửa hiệu. Họ lấn, họ chiếm rồi làm bục, bệ khiến con đường phố tôi đã hẹp càng hẹp thêm… Mỗi lần nhắc đến con đường này là bao kỉ niệm lại hiện về trong tôi, mãi mãi không bao giờ phai. Con đường đã là một người bạn tốt của tôi từ khi tôi còn học lớp một cho đến bây giờ, nên mỗi khi đi đâu xa, tôi lại thấy nhớ nhung, quyến luyến nó vô cùng. Sau này, dù có may mắn được bước trên những ngả đường lớn ở mọi phương trời thì kí ức về con đường tới trường sẽ vẫn mãi khắc sâu trong ý nghĩ và trái tim tôi. Và dù mai đây trưởng thành, tôi mơ ước công việc đầu tiên tôi làm là sẽ tu bổ, sửa chữa con đường tới trường này sao cho đẹp và rộng rãi hơn. Bài làm 5 “Quê hương” hai tiếng ấy nghe mà gần gũi thân thương làm sao? Tuổi thơ ai cũng có những kỉ niệm đẹp để mà nhớ, mà yêu ở quê hương. Tuổi thơ của em gắn bó với cánh đồng thẳng cánh cò bay, dòng sông nước chảy hiền hoà, … nhưng gắn bó với em nhất vẫn là con đường từ nhà tới trường. Với em, con đường này có biết bao kỉ niệm. Đó là con đường rải đá răm như bao con đường khác. Tuy không rộng lắm, lại gồ ghề, lồi lõm nhưng đường cũng đủ cho một chiếc xe tải chạy qua. Mỗi khi đặt chân lên con đường lòng em lại cảm thấy bồi hồi. Đầu làng, cây gạo đứng giương dù che nắng. Nơi đây đã chứng kiến những ván bi quyết liệt của bọn trẻ chúng em. Hai bên đường là hàng bạch đàn với những chiếc lá nhỏ như con mắt nhìn xuống đường. Sau hai hàng cây là cánh đồng rộng bát ngát, thẳng cánh cò bay. Tuy vậy, đi trên đường vẫn nhìn thấy những ngôi nhà xinh xắn nằm giữa một màu xanh mượt mà của vườn tược. Ông mặt trời từ từ nhô lên thả ánh nắng ấm áp lọt qua kẽ lá chiếu xuống mặt đường như những hoa nắng đang nhảy nhót. Mọi người đổ ra đường mỗi lúc một nhiều. Trẻ em đến trường cùng bà con đi làm, đi chợ…. ồn ã. Trưa về, người đi lại thưa thớt, con đường như chìm vào trong giấc ngủ. Những chiếc lá khẽ đu đưa trong gió như quạt mát cho con đường. Chiều về con đường như thức giấc. Lại ồn ào náo nhiệt khi các bác nông dân đi làm về. Tiếng nói, tiếng cười gọi nhau í ới, tiếng xe cộ cứ ồn ào suốt cả con đường. Trên cây những chú chim hót véo von tạo ra một bản nhạc giao hưởng.Với em, con đường đã quen thân từ khi cắp sách tới trường. Đi trên con đường mùi ngai ngái của đất, mùi của lúa đồng, cỏ nội phà vào mũi lòng em lại cảm thấy bâng khuâng. Bài làm 6 Những ngày bão nổi đã đi qua. Mùa thu lại trở về với vẻ đẹp nhẹ nhàng, thanh khiết vốn có của nó. Con đường sáng nay thay áo mới, tươi tắn ấm nóng trong sắc nắng xôn xao. Gọi gió về trên những cành cây xào xạc lá, gọi tiếng chim lảnh lót ngân vang và bước chân đến trường rộn ràng lẫn trong tiếng cười khúc khích. Yui quá! Mùa thu ơi! Hơi gió lành lạnh se sẽ lướt qua để lại cảm giác mơn man trên da thịt. Con đường ẩm ướt khép mình co ro trong những ngày mưa bão giờ lộ ra nét e ấp mềm mại khiến ai đó cũng ngỡ ngàng. Có cái gì là lạ, tươi mới, lòng người chợt xốn xang… Đám cỏ bên vệ đường chỉ qua mấy ngày đã mướt xanh mơn mởn. Chú giun đất mải miết với công việc, lẩn mình trong rừng ụ đất mềm tơi xốp. Đàn kiến loay hoay bên con cào cào đuối sức lả cánh trên rìa cỏ. Mấy cành cây cao bị mưa gió quật ngã rũ xuống loà xoà. Bầu trời sáng nay trong vắt không còn màu u ám, mây đen kìn kịt lúc nào cũng chực đố xuống bao tức giận. Con đường mỗi lúc một nhộn nhịp. Người qua lại đông hơn, náo nức trước một ngày mới. Tiếng nói cười và mọi âm thanh khác chen lẫn vào nhau lắng lại trong ta như một khúc nhạc thân quen, rộn ràng mà tha thiết. Yêu quá, mùa thu ơi!
Văn miêu tả lớp 3_ Em hãy miêu tả con đường đi học của em
1,934
Văn miêu tả lớp 3: Em hãy viết một đoạn văn tả về một buổi trong ngày Hướng dẫn Đề bài: Em hãy viết một đoạn văn tả về một buổi trong ngày Bài làm 1: Buổi sớm đầu xuân Sớm xuân này đẹp quá, nắng ửng hồng mang hơi ấm cho người và vạn vật. Những tia nắng xuân như reo cười, nhảy múa cùng những giọt sương long lanh treo đầu ngọn cỏ, lá cây. Bầu trời bao la mỗi lúc một xanh trong, ôm ấp tất cả cảnh vật vào lòng. Từng đàn chim xoè đôi cánh rộng chao lượn, ríu ran hót như hát mừng chúa Xuân. Hoa đua nở tưng bừng, hớn hở chào đón đàn bướm vàng tung tăng bay lượn. Gió xuân thì thào trên các chồi non lá biếc. Bài làm 3 Sáng mai trong vườn trường Sớm nào đi học em cũng ra ngắm vườn trường cùng các bạn Quý, Trọng, Hoà trong tổ. Đi dọc các luống hoa, xem hoa nở, xem chuồn chuồn kim, xem vợ chồng chú nhái bén ngồi dưới gốc cây đại nở hoa trắng xoá. Chúng em dừng lại, ngước nhìn hàng xoan, nhìn cây bàng… có đàn chim sâu hót ríu rít. Nắng lên rồi, nắng mới rực rỡ quá! Cây lá trong vườn trường như reo lên lao xao cùng làn gió nhẹ. Học sinh đến mỗi lúc một đông. Sân trường nhộn nhịp hẳn lên. Hoa trong vườn trường tưng bừng nở như khoe sắc dâng hương, chúc chúng em có một ngày học tập thật tốt. Bài làm 3: Bầu trời buổi sáng sớm Không khí buổi sáng thật mát dịu và trong lành. Bầu trời được tô điểm những sắc màu kỳ diệu của thiên nhiên. Những chị mây khoác những chiếc áo trắng dậy sớm để lên núi dạo chơi. Những giọt sương tinh nghịch đang đùa vui nhảy nhót trên những nụ hoa và trên những chiếc lá non.Ông mặt trời vươn vai sau một giấc ngủ dài đánh thức vạn vật bắt đầu ngày mới. Còn trên những cành cây cao chị gió mải miết rong chơi nô đùa cùng hoa lá. Bầy chim cũng đua nhau ca hát để đón chào một ngày mới. Tất cả đã tạo nên bức tranh thiên nhiên thật đẹp, thật sống động. Bài làm 4 Đi học vào những buổi sáng mùa xuân thật vui biết bao! Nắng xuân hồng tươi như làm sáng bừng đất trời, cảnh vật. Con đường quê mềm mại như dải lụa. Những bước chân nhỏ của từng đàn trẻ thơ nối bước tới trường. Kìa, chim én ở đâu mà bay ra nhiều thế? Cánh én vun vút đưa thoi trên thảm xanh lúa con gái. Hoa dại ven đường nở trắng phau, vàng mượt. Có bao nhiêu là chuồn chuồn, bươm bướm rập rờn bay. Tiếng hát của cô thôn nữ từ đồng xa cất lên. Tiếng còi xe máy, tiếng chuông xe đạp, tiếng nghé ọ, tiếng cười nói rộn ràng khắp các nẻo đường quê… Cặp sách, túi sách khoác trên vai, em cùng các bạn hối hả đến trường. Cảnh đẹp buổi sáng mùa xuân làm cho lòng em phơi phới quá! Kìa, mái ngói trường em đã hiện ra… Bài làm 5 Em sẽ không bao giờ quên được những đêm trăng thu trên sân nhà. Nền sân gạch Bát Tràng đỏ au được quét sạch từ chiều, mẹ đem ba chiếc chiếu ra trải trên sân. Ông bà nội và bố mẹ ngồi uống nước, nói chuyện. Hôm nay còn có cụ Lâm, cụ Chiểu đến chơi. Năm, sáu đứa trẻ chúng em chơi trò bán hàng, phá cỗ… nói cười râm ran. Trăng mỗi lúc một lên cao. Vượt khỏi rặng tre, trăng treo lơ lửng trên cao. Trăng sáng quá, đẹp quá! Em Hưng reo lên, chỉ tay lên sông Ngân Hà, nói: “Em đã nhìn thấy ông Thần Nông rồi các chị ơi!”. Gió mát rượi. Bầu trời đêm đầy sao. Cụ Lâm say sưa kể chuyện đi tham quan Lào về, cụ Chiểu nói chuyện bán bò, mua trâu, mua máy gặt… Khoai luộc, bắp luộc, mẹ bê từ bếp ra. Chúng em reo lên. Mọi người vừa ăn khoai, ăn bắp luộc vừa nói chuyện vui vẻ. Bài làm 6 Mỗi sáng sớm ông bà nội em vẫn thường ra công viên tập thể dục để thư giãn đầu óc cũng như xương cốt. Hôm đó em cũng dậy thật sớm và cùng ông bà ra công viên. Không khí buổi sáng ở công viên thật trong lành và mát dịu. Nó khiến cho tâm trạng của con người trở nên nhẹ nhàng và an lành hơn. Buổi sáng là khoảnh khắc trong lành nhất để bắt đầu một ngày mới. Công viên vào buổi sáng và buổi tối là đông vui nhất. Tuy nhiên không khí hoàn toàn khác nhau. Buổi sáng luôn có cái gì đó trong lành và dịu mát. Công viên buổi sáng sớm có những tia nắng nhẹ nhàng len lỏi qua từng tán lá ở trên cao. Nhưng chưa kịp đậu xuống mặt đất. Từng đợt gió khẽ khàng làm rung chuyển những tán cây và những cây hoa ven đường đi. Mặt hồ buổi sáng tĩnh lặng đến lạ kì, thi thoảng mới có một vài gợn sóng lăn tăn và những đàn cá thung thăng dạo mát buổi sáng mai. Nhìn mặt hồ như vậy, lòng người cũng trở nên nhẹ nhõm và yên ả hơn bao giờ hết.Buổi sáng, có rất nhiều người đi thể dục, đặc biệt là các cụ già thong dong bước đi bên cạnh nhau và nói chuyện rất vui vẻ. Bởi vì người già thường thức dậy sớm hơn đối với những người còn trẻ. Có thể họ bận thời gian đi làm nên buổi sáng không đi thể dục được. Tiếng bước chân nhẹ nhàng đi bộ của nhiều người chen lẫn vào tiếng thình thịch chạy bộ của những người khác tạo nên âm thanh hỗn độn, vui tai. Những hàng cây cổ thụ trong công viên như vươn mình thức dậy đón ánh bình minh. Ở những khu vực trồng hoa, nhưng đóa hoa đang tỏa ngát hương thơm. Trên những cánh hoa còn vương lại giọt sương từ đêm hôm qua, khi nắng chiếu vào khiến nó trở nên lấp lánh và long lanh rất đẹp mắt. Nắng mỗi lúc một lên cao và bầu trời như xanh hơn, công viên cũng trở nên đông đúc hơn. Và em nghe có chen lẫn tiếng còi xe inh ỏi ở ngoài phố. Có lẽ trời đã thực sự nắng thật rồi. Một ngày mới lại bắt đầu. Em rất thích thời tiết mát lành ở công viên mỗi khi trời bừng sáng, vì nó khiến em thích thú và hài lòng.
Văn miêu tả lớp 3_ Em hãy viết một đoạn văn tả về một buổi trong ngày
1,131
Văn miêu tả lớp 3: Kể và tả lại một trận thi đấu thể thao Hướng dẫn Đề bài: Em hãy tả lại một trận thi đấu thể thao Bài làm 1 Chiều thứ sáu vừa qua, đội bóng đá Mèo Hoa và Mèo Vằn vào đấu chung kết. Em cùng các bạn và thầy cô trường Nguyễn Siêu đều có mặt đông đủ tại sân trường. Đội Mèo Hoa mặc áo màu đỏ, đội Mèo Vằn mặc áo màu vàng, cầu thủ đội nào cũng đầy khí thế. Thầy Cường cầm còi điều khiển trận đấu. Khi tiếng còi trọng tài vang lên, các cầu thủ của hai đội xông lên như vũ bão. Những đường chuyền dắt bóng, những cú sút, những cú đánh đầu, vờn bóng của các cầu thủ hai đội trông thật đẹp mắt và giàu kịch tính. Tiếng hoan hô, tiếng la hét cổ vũ của hàng trăm khán giả nhí làm náo nhiệt cả sân trường. Cuộc tranh tài giữa hai đội diễn ra vô cùng quyết liệt. Đội Mèo Vằn công, thủ biến hoá lợi hại. Nhiều pha tranh bóng diễn ra ở khu trung lộ thật căng thẳng. Khi tiếng còi của thầy Cường ngân dài, trận đấu kết thúc. Đội Mèo Vằn chiến thắng với tỉ số 2 – 1. Các khán giả nhí tranh cãi, bàn tán ồn ào. Mệt quá! Vui quá! Chúng em gào nhiều, khản cả tiếng. Thật thích khi được xem những trận đấu bóng như thế này. Bài làm 2 Chiều chủ nhật đầu tháng năm, trận chung kết đá cầu giữa đội lớp 3A và lớp 4C diễn ra sôi nổi. Tất cả học sinh và thầy cô giáo trường em đều đến xem, cổ vũ. Bạn Thành, học sinh lớp 5A cầm còi điều khiển trận đấu. Mỗi đội có bốn người, gồm hai nam và hai nữ. Bạn nào cũng mặc quần soóc trắng, áo sơ mi xanh, chân đi giày vải, trước ngực áo mang phù hiệu tên lớp. Khi tiếng còi trọng tài nổi lên, tiếng vỗ tay, tiếng reo vang dội cả sân trường. Quả cầu vun vút bay qua, bay lại, lúc lên bổng, lúc bay là là trên lưới. Có bạn dùng gót đá thật thiện nghệ. Bạn Quỳnh Anh, bạn Ngọc Hà đá móc tài tình. Cô Hiển và các bạn lớp 3A vỗ tay reo lên khi đội lớp mình liên tiếp thắng điếm. Bạn Trung Chính lóp 4C nhảy lên đá nhưng đá trượt nên bị ngã, cả sân trường reo lên, các em lớp một, lớp hai cười phá lên, vui quá. Hai đội thi đấu quyết liệt. Bạn nào cũng mặt đỏ gay, áo ướt đẫm mồ hôi. Cuộc thi đấu gay go, quyết liệt diễn ra sau hai hiệp thi đấu. Đội đá cầu lớp 3A tuy bé hạt tiêu nhưng đã giành cúp vô địch. Bạn Huy Thắng, bạn thân của em, đá cầu giỏi quá! Đó là một trận thi đấu bóng đá sôi nổi nhất của các cầu thủ “nhí” của hai trường Tiểu học phường 2 và phường 5 trên sân vận động thị xã trong chiều chủ nhật tuần qua mà em được chứng kiến. Các cầu thủ của hai đội đã dàn thế trận trên sân. Sau tiếng còi của thầy tổng phụ trách đội trường phường 5, đội phường 2 giao bóng. Vừa mới diễn ra được chừng 10 phút thì anh Đạt ở trường phường 2 vị trí tiền đạo, nhận bóng từ hậu vệ. Anh lừa qua hai cầu thủ đội bạn rồi bất thần sút mạnh vào góc trái khung thành, buộc thủ môn phường 5 phải vào lưới nhặt bóng. Liên tiếp các phút tiếp theo, phường 2 ghi thêm 4 trái nữa, phường 5 chỉ gỡ được 2. Chung cuộc, phường 2 thắng với tỉ số 10-6. Thật là một trận đấu hấp dẫn và sôi nổi. Bài làm 4 Sau một tuần học tập vất vả, ngày chủ nhật, bố đưa em đi xem bóng đá tại sân vận động Mỹ Đình. Hôm nay đội tuyển Việt Nam gặp đội tuyển Thái Lan. Đội tuyển Việt Nam mặc áo màu đỏ, còn đội tuyển Thái Lan mặc áo màu xanh. Đội Việt Nam được quyền giao bóng trước. Trọng tài vừa thổi còi báo hiệu trận đấu bắt đầu. Trận đấu sôi động ngay từ những phút đầu tiên. Hiệp thứ nhất đội tuyển ta chưa ghi được bànthắng nào.Sang hiệp hai, chỉ sau 10 phút Công Vinh chuyền bóng cho Quốc Anh, anh từ từ lừa bóng qua hậu vệ đội Thái Lan và sút bóng vào lưới ghi bàn thắng đầu tiên cho đội Việt Nam. Cả sân vận động ầm vang những tiếng reo hò cổ vũ. Không khí trong sân thật náo nhiệt. Trận đấu lại bắt đầu. Đội tuyển Thái Lan đã ghi bàn thắng gỡ hoà 1-1. Nhưng chỉ ít phút sau, Văn Quyến đã ghi cho đội ta thêm một bàn thắng nữa. Hiệp hai diễn ra thật gay go, quyết liệt. Nhưng đến cuối trận đấu vẫn không có thêm bàn thắng nào được ghi. Trọng tài nổi hồi còi kết thúc trận đấu. Đội tuyển Việt Nam giành chiến thắng 2-1. Trận bóng đá này thật sôi nổi. Em mong lần sau lại được bố đưa đi xem một trận bóng đá nữa.
Văn miêu tả lớp 3_ Kể và tả lại một trận thi đấu thể thao
892
Văn miêu tả lớp 3: Kể về một buổi biểu diễn nghệ thuật em đuợc xem Hướng dẫn Đề bài:Em hãy kể về một buổi biểu diễn nghệ thuật em đuợc xem trực tiếp hoặc trên TV Bài làm Ngày 20-11 vừa qua, trường em lại tổ chức buổi biểu diễn văn nghệ mừng ngày nhà giáo Việt Nam. Hôm ấy đúng 7h30 phút học sinh toàn trường đã có mặt đông đủ. Các cô giáo thì mặc áo dài truyền thống Việt Nam. Còn các bạn học sinh mặc bộ đồng phục trông thật dễ thương. Đầu tiên thầy Hiệu trưởng lên phát biểu khai mạc. Tiếp theo là những tiết mục văn nghệ đặc sắc: máu, hát, kể chuyện, đọc thơ và đàn vi-ô-lông. Tiết mục đàn vi-ô-lông của bạn Lân lớp em là hay nhất. Bạn chơi bài Mừng Giáng Sinh. Tiếng đàn nổi lên, lúc trầm lúc bổng cả trường em im lặng lắng nghe như bị thôi miên. Tiếng đàn vừa dứt những tràng vỗ tay vang lên. Có những anh lớp năm còn đứng dậy hô to: “Chơi nữa đi! Chơi nữa đi!” Em vui lắm, em mong nhà trường tổ chức nhiều buổi biểu diễn như thế này nữa để chúng em có cơ hội thể hiện tài năng nghệ thuật của mình. Bài làm Thứ bảy vừa rồi, bố mẹ đưa em đến rạp xiếc Trung ương để xem những tiết mục ngộ nghĩnh độc đáo. Buổi biểu diễn thu hút rất nhiều khán giả, các chỗ ngồi đều chật kín người. Mở đầu buổi biểu diễn, người dẫn chương trình xuất hiện gửi lời chào thân ái và lời giới thiệu chương trình tới khán giả. Có rất nhiều những tiết mục hay, hấp dẫn. Nhưng em thích nhất tiết mục ảo thuật cưa đôi người để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất. Một cô gái rất xinh đẹp bước vào trong hòm gỗ, cô gái ấy tên là Thảo Hiền. Nhà ảo thuật tên là Lê Minh, chú ấy đóng hòm vào rồi dùng một chiếc cưa thật sắc cưa hòm thành ba phần, người của cô gái cũng bị cưa ra. Nhưng thật kì lạ, sau khi ghép cái hòm đó lại nhà ảo thuật phù phép làm cho cô gái trở lại bình thường. Cô duyên dáng bước ra ngoài trong tiếng reo hò và tràng pháo tay giòn giã của khán giả. Bài làm Hôm đó là sáng chủ nhật vui tươi, hớn hở ở rạp xiếc Trung Ương, em được đi xem xiếc cùng Cẩm Tú, Khánh Hòa và Lan Phương. Vừa bước vào rạp, cả bốn chúng em đã lóa mắt vì những ánh đèn bảy sắc cầu vồng hắt vào sân khấu và từ hội trường xuất hiện một nghệ sĩ xiếc. Ba, bốn, năm, sáu trái bóng được tung lên từ tay nghệ sĩ và đó chính là màn mở đầu của chương trình ” Ga la xiếc và ảo thuật đầu năm 2012″. Buổi biểu diễn có rất nhiều tiết mục đắc sắc như: xiếc thú, ảo thuật, hề, uốn dẻo, đu dây,…….Tiết mục nào cũng đặc sắc nhưng tiết mục nuốt kiếm đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng em. Vừa nghe tên tiết mục em đã thấy hồi hộp, hấp dẫn rồi. Sau mỗi tiết mục, màn biểu diễn đều có những tiếng nói cười và những tiếng vỗ tay làm bốc cháy cả sân khấu. ” Ga la xiếc và ảo thuật đầu năm 2012″ là buổi biểu diễn hồi hộp và hấp dẫn nhất mà em từng được xem. Em sẽ chăm chỉ học tập và ngoan ngoãn đề được mẹ cho đi xem buổi biểu diễn hồi hộp tiếp theo Bài làm Mỗi năm,sau kì thi giữa học kì 1, trường em đều có tổ chức cho học sinh xem xiếc tại sân trường Nguyễn Du. Chúng em hơn nửa lớp 3H cùng với cácc bạn toàn trường đều tập trung ớa66n trường chờ xem xiếc.Các chú chạy được xe đạp nhỏ xíu,phun lửa, nuốt kiếm và còn đội trên đầu cái chậu sành to đùng,hất lên hất xuống rất tài tình.Em thích nhất là xiếc ảo thuật chim bồ câu.Nhà ảo thuật Minh Quang như có phép lạ vậy.Chú đưa ra cho mọi người xem một chiếc khăn,vậy mà chỉ trong nháy mắt chú đã từ chiếc khăn biến thành một đàn bồ câu trắng xóa tung bay.Cả sân trường tràn ngập tiếng reo hò và vỗ tay khen ngợi. Em nhớ mãi buổi xem xiếc hôm đó và còn khâm phục tài nghệ của các chú ảo thuật hơn. Bài làm Hôm đó là tối thứ bảy, tại khu hội xuân, đoàn ca múa nhạc thành phố Hồ Chí Minh về biểu diễn nhân kỉ niệm ngày Đồng khởi 17 – 1. Tối đó, em được anh Hai dẫn đi xem. Mở đầu chương trình là bài hát “Dáng đứng Bến Tre” do ca sĩ Thùy Trang trình bày. Sau đó là nhiều tiết mục kế tiếp nhau: tấu nhạc, thổi sáo, múa v.v… Em thích nhất là bài “Mặt trời bé con” của nhạc sĩ Trần Tiến, do chính tác giả trình bày. Bài hát thật vui nhộn. Nhìn nét mặt điệu bộ của tác giả, nhất cái miệng rộng của chú và nụ cười pha chút hài hước làm cho khán giả cười ầm lên hòa cùng tràng pháo tay kéo dài như làm vỡ tung cả không gian hội xuân. Một đêm ca nhạc thật là thú vị. Chưa bao giờ em được xem xiếc cả, bởi quê em ở xa vùng thị thành, thỉnh thoảng chỉ được xem những tiết mục xiếc trên tivi mà thôi. Nhưng lần ấy một đoàn xiếc ở thành phố về biểu diễn luu động tại huyện em. Dù cách thị trấn bốn cây số, em cũng đòi bố đi xem cho bằng được. Đây là buổi biêu diễn cuối cùng, ngày mai đoàn sẽ lên đường đi huyện khác. Hai bố con em đến nơi thì chương trình biểu diễn đã được tiến hành khá lâu rồi. Bố dẫn em leo lên cái sân khấu nơi diễn ra tiết mục “Xiếc mô tô”. Nghe mọi người ca ngợi tiết mục này, nên bố mua vé để xem tiết mục này trước. Sân khấu xiếc mô tô chỉ chứa được khoảng trăm người trở lại. Khách đã đứng thành vòng tròn quanh sân khấu. Bỗng nhiên, em thấy sân khấu rung lên, rồi trục xoay chuyển động cả cái khối tròn hình thì như cái giống quay nhanh dần. Và bỗng nhiên ba chiếc mô tô từ đáy giếng rồ ga, bay vọt lên theo thành giếng. Hai nghệ sĩ trẻ nam và một nghệ sĩ nữ, tay cầm lái, tay đưa ra vẫy cháo khán giả, miệng cười tươi như hoa. Họ lượn lên, lượn xuống không khác gì những cánh chim chao liệng trong không trung. Đó là tiết mục xiếc “Mô tô bay” mà lần đầu tiên em mới thấy. Em cảm phục lòng dũng cảm của các nghệ sĩ xiếc. Sau đó, bố còn dẫn đi xem các tiết mục khác cũng nằm trong sân vận động của thị trấn xiếc người đi trên dây thép, khi đi xe đạp, xiếc đu quay v.v… Tiết mục nào cũng thú vị, cùng hấp dần như xiếc của nước ngoài chiếc trên tivi vậy.
Văn miêu tả lớp 3_ Kể về một buổi biểu diễn nghệ thuật em đuợc xem
1,226
Văn miêu tả lớp 3: Miêu tả một loài hoa đẹp. Hướng dẫn Đề bài: Em hãy miêu tả một loài hoa đẹp. Bài làm 1 Hoa cúc Em rất thích hoa cúc. Trong vườn, ông trồng nhiều loại cúc, có loại cúc trồng trong chậu sứ, có loại cúc trồng thành luống. Cúc đại đoá nở xoè to, lá có nhiều khía nhọn. Mỗi khóm có dăm bảy bông to, nở xoè bằng cái bát lớn. Cúc đại đoá có màu trắng, màu đỏ, màu vàng. Mỗi đoá hoa có ba, bốn chục cánh xếp chồng lên nhau, uốn mình mềm mại. Cúc đại đoá màu vàng là đẹp nhất. Sáng sớm, cánh hoa lấp lánh sương mai trong ánh hồng bình minh, sắc vàng tươi khoe sắc, tưởng như hoa cúc đang mỉm cười. Luống cúc cẩm hương vàng óng, có một số bông sắc tím. Hoa cúc cấm hương chỉ to bằng chiếc cúc áo. Mỗi khóm có hàng mấy chục bông, ông hái cúc, đem phơi khô, sấy khô làm dược liệu và để pha trà uống quanh năm. Bà vẫn nấu hoa cúc đế tắm cho các cháu. Mùa thu đã về. Cam đã lốm đốm, cúc trong vườn đã khoe sắc vàng tươi, ông vui lên nhiều lắm. Bài làm 2 Hoa râm bụt Hoa râm bụt được trồng nhiều ở thôn quê. Bố em trồng râm bụt, tạo thành bờ rào, chạy dài theo ngõ. Bố bạn Hà, bạn Chi lại trồng râm bụt trong chậu cảnh rất đẹp. Hàng râm bụt ở bờ rào nhà em tươi tốt, có cây cao đến hai, ba mét. Lá cây râm bụt hình bầu dục, nhọn đầu, tròn ở phần cuống, mặt trên xanh bóng, mép có răng cưa. Râm bụt thích ẩm ướt và nở hoa quanh năm. Hoa nở xoè to, năm, sáu cánh ôm lây nhuỵ hoa, cuống hoa hình trụ, màu xanh lục, rât xinh. Hoa lớn, đường kính thường 8-10 phân, xoè ra như một cái đĩa cổ. Hoa đủ màu sắc rực rỡ: vàng nhạt, vàng tươi, đỏ rực, đỏ sẫm. Bố bạn Hải có chậu hoa râm bụt màu trắng. Bờ rào nhà em, hoa râm bụt nở đỏ bốn mùa, rất đẹp. Bà em nói: “Hoa râm bụt, lá râm bụt nghiền nhuyễn với muối đắp vào chỗ sưng phù rất hiệu quả”. Bài làm 3 Hoa nhài Hoa nhài còn được gọi là hoa lài. Ông em rất thích hoa nhài. Ông trồng cây hoa nhài dọc bờ tường quanh sân và trong chậu cảnh. Nhài trồng theo bờ tường, dây leo có thể dài tới năm, sáu thước. Nhài trồng trong chậu, chỉ có độ cao bốn mươi phân. Nhài xanh tốt quanh năm. Lá cây mọc đối, màu xanh nhạt, mỏng manh, cuống rất ngắn. Lá có đỉnh nhọn hay tù, nhẵn hoặc hơi nhẵn, ông em vẫn lấy bùn ao phơi khô trộn lẫn phân bò để bón cho nhài. Hoa nhài có hoa đơn và hoa kép. Nụ hoa nhài rất xinh, trắng nõn pha xanh lơ, lung linh như những chiếc cúc ngọc. Hoa nở xoè trắng tinh và có ánh tím. Vành hoa chia nhiều thuỳ, hình bánh xe, đường kính bàng đồng xu. Hoa nhài thơm ngát, dâng hương vào bình minh hoặc về khuya. Ngắm hoa nhài dưới ánh trăng đẫm sương đêm mới cảm thấy lung linh huyền diệu. Bài làm 4 Hoa nguyệt quế Hoa nguyệt quế cành lá sum sê. Lá nhỏ bằng móng tay, xanh thẫm, bóng. Sau một trận mưa xuân hay mưa rào, lá lấp lánh. Nếu hoa ngâu nhỏ li ti như hạt kê màu vàng tươi thì hoa nguyệt quế lại trắng phau; mỗi đoá hoa thường có năm cánh thon nhỏ, xinh xinh ôm lấy nhuỵ hoa. Hoa nguyệt quế nở mồi tháng một lần vào tuần trăng; nở rộ vào mùa xuân hè. về khuya, hoa nguyệt quế toả hương ngào ngạt. Hoa nguyệt quế cũng như hoa nhài, là hương liệu thiên nhiên để ướp chè. Một chậu hoa nguyệt quế để trong phòng sẽ làm cho cuộc sống thêm phần thanh cao, sang trọng. Bài làm 4: Hoa hồng Loài hoa các bạn thích là hoa gì? Chắc chắn có nhiều câu trả lời. Chị Huệ trắng muốt duyên dáng hay là chị phong lan tim tím yểu điệu? Còn với em, loài hoa em yêu thích và đẹp nhất là hoa hồng. Trước hiên nhà em có trồng một chậu hồng nho nhỏ. Hoa hồng quả không hổ danh là nữ hoàng các hoa. Đó là cây hồng nhung. Hoa khoác lên mình bộ váy áo màu đỏ thắm, một màu đỏ thật sang. Nhưng bộ dạ hội đó còn lộng lẫy hơn vào buổi sáng, những hạt sương đọng trên cánh hoa như những viên kim cương lấp lánh trong nắng, điểm xuyến cho tà áo thắm đỏ rực rỡ. Cây hoa chỉ ra ba bông nhưng bông nào bông nấy đều đẹp mê hồn. Ba hông hoa như ba nàng công chúa xinh đẹp, kiều diễm. Những cánh hoa chắc là đẹp nhất. Lớp lớp cánh hoa như những bậc thang. Cánh hoa thật mịn màng, mượt mà như tơ lụa đỏ thắm, chúng kết vào nhau tạo nên bông hồng duyên dáng. Đường nét từng cánh hoa thật uyển chuyển, đó là tuyệt tác của bông hồng, là một sự kì ảo vô hình thu hút người ngắm. Nhị hoa màu vàng thật hợp với dáng vẻ sang trọng của hồng nhung. Đầu nhị có đôi chút phấn trắng như hạt cát vàng nhấp nhánh. Thân cây chắc chỉ to và dài bằng cái đũa. Thân hoa có gai, những cái gai bé nhưng nhọn bảo vệ cho ba nàng công chúa Hồng trẻ đẹp. Mỗi chiếc lá nhỏ nhỏ, xanh đậm, sờ cưng cứng, ram ráp. Chà, thế mà nhanh thật! Mới ngày nào, các bông hoa chỉ là nụ hồng e ấp, nhỏ xíu, thế mà bây giờ những cánh hoa đã xòe ra giỡn với gió. Mỗi khi đi học về, em thường ra chỗ cây hồng để thưởng thức hương thơm ngọt ngào đó. Em nhắm mắt lại và thả mình theo những cánh hoa. Nó dắt em đến một thế giới kỳ diệu. Ở đó, có ba nàng tiên đi cùng em vào khu vườn đầy hoa đó. Đó là vương quốc kỳ ảo với muôn vàn điều mới mẻ. Một thảm hoa rực rỡ hiện ra trước mắt em. Trên bầu trời là những đám mây bồng bềnh trôi, trong ánh mặt trời rực rỡ và muôn màu muôn vẻ của bảy sắc cầu vồng. Một làn gió nhẹ thoảng qua làm rung cánh hoa… Tất cả đều hấp dẫn vô cùng. Tiếng xe máy nổ ròn ngoài cổng, làm êm quay lại với hiện tại, xua tan đi nỗi mệt nhọc, lấy lại tinh thần. Đâu chỉ có em thích hồng nhung, còn mấy chú bướm nữa. Chúng suốt ngày đến thăm hoa. Và ba tiểu thư cũng vui với chúng. Có chú bướm vàng điểm đen trên cánh lúc nào cũng bay vòng quanh bông hoa rồi lại đậu xuống. Thật là buồn cười! Bài làm 5 Hoa vông vang Chẳng biết từ khi nào, cây mang cái tên kì lạ ấy, chỉ biết cứ mỗi đợt gió về cùng hơi nóng của nắng, cây lại trổ ra những chùm nụ be bé, xinh xinh. Khác với những loài cây khác, vông vang chỉ xanh khi hoa đã tàn. Suốt những ngày xuân, cây vẫn gai góc, khẳng khiu nhưng ai biết bên trong cái dáng vẻ khắc khổ ấy, nhựa sống đang nô nức, rạo rực chuẩn bị cho ngày lễ khai hoa. Hoa vông vang không đẹp, chỉ rực lên một màu sắc đỏ thắm, hừng hực như thách thức, như gọi mời nắng hạ. Cánh hoa thon nhọn, tua tủa đâm thẳng lên, ngạo nghễ với đời. Dường như bao nhiêu cái chói chang, oi bức, cái lạnh giá đến tê buốt, dáng vẻ an nhàn hay sức xuân mơn mởn đều hội tụ cả trong hoa. Không ong bướm lượn lờ, chang chim chóc vây quanh, hoa vông vang làm bạn cùng nắng, gió. Có lẽ hoa yêu màu trời cao mênh mông mùa hạ, yêu nét chói chang, nóng bỏng của mặt trời lắm nên mới tình nguyện đứng đợi hè về. Đe rồi lúc những chú ve ca vang khúc ca mùa hạ tới, hoa vông vang nhạt dần đi sắc đỏ. Lác đác đã thấy những khóm lá xanh ùa ra nô nức. Một ngày, hai ngày, đám lá non đùn ra xanh mướt mênh mang rợp cả một góc đường. Dáng lá thuôn tròn, xinh xinh như hàng ngàn chiếc ô nhỏ chen chúc hứng đựng đầy ánh sáng. Thấp thoáng trong tán lá là nét hoa cười trẻ trung, mãn nguyện. Hoa vông vang vẫn tồn tại, rừng rực như cái nắng hè… Vườn trường em trồng nhiều loài hoa quý, hoa đẹp nhưng em thích nhất là mấy khóm hồng. Mấy khóm hồng này được lấy giống từ hoa hồng Đà Lạt. Công viên cây xanh thành phố đã bán lại cho trường năm chậu hoa hồng. Thầy Tú đã chuyển hoa hồng từ chậu hoa vào vườn hoa. Năm khóm hồng Đà Lạt được “nhập cư” vào vườn trường em. Hoa nở bốn mùa, nhưng nở nhiều nhất vào các tháng xuân – hè. Hoa hồng bạch, hoa hồng vàng, hoa hồng nhung, hoa hồng tím, hoa hồng đỏ, cây nào cũng đẹp, đẹp kiêu sa, toả hương thơm ngào ngạt. Mỗi bông hoa nở xoè to bằng cái bát sứ Tàu cổ. Nụ hoa to bằng hai ngón tay thiếu nữ chụm vào. Lá hồng có nhiều khía như đuôi con chim trĩ. Gốc và cành hồng có nhiều gai nhọn hoắt màu tim tím. Ngắm hồng vào sáng sớm mới đẹp. Cánh hoa lấp lánh đẫm sương mai. Mấy chục bông hồng tươi thắm, khoe sắc rực rỡ. Chuồn chuồn, bươm bướm, ong vàng cứ quấn lấy các bông hồng, không chịu rời xa. Lớp em được phân công chăm bón luống hồng. Đứng ngắm nhìn năm khóm hồng của vườn trường, em mới hiểu vì sao người ta gọi hoa hồng là nữ hoàng của các loài hoa. Bài làm: Hoa cúc vàng Cái Thơm nói với em: “Diệu ơi! Cậu đã thấy cúc xanh chưa? Cúc xanh đẹp hơn cây cúc vàng nhà cậu.. Cái Thơm về rồi, em cứ nghĩ miên man: “Cúc xanh có lẽ đẹp lắm! Nhưng cúc vàng nhà mình cũng đẹp, cũng đáng yêu chứ?”. Em trồng cây cúc này đã được hai mùa hoa. Một hôm đi học về, em thấy cây cúc bị ai vứt bên vệ đường. Cây cúc đã héo. Em đem về trồng trong vườn, thế mà nó đã hồi sinh… Chú Cường thương binh, thầy Huệ đã chỉ cho em cách chăm sóc cây hoa cúc. Em bón phân, vun xới, tưới tắm cho cây cúc. Cây không phụ lòng người, mỗi ngày một xanh tốt. Hai tháng sau, cúc nở hoa; năm bông hoa thật to và đẹp. Lứa sau, cúc lại nở tiếp bốn bông hoa nữa. Cúc nở đúng vào ngày sinh nhật của em. Mỗi bông cúc nở xoè to bằng cái đĩa co, bát sứ cổ. Những cánh hoa vàng tươi, vàng óng. Nhuỵ hoa lấm tấm như son, toả mùi hương lâng lâng, ngào ngạt. Cây cúc và hoa cúc làm đẹp ngôi nhà của gia đình em. Nó trở thành một mảnh tâm hồn em. Hoa cúc đẹp dịu dàng. Hoa cúc ham sống và yêu đời. Em nghĩ: “Cô nữ sinh cũng phải dịu dàng và yêu đời như cây hoa cúc”.
Văn miêu tả lớp 3_ Miêu tả một loài hoa đẹp.
1,940
Văn miêu tả lớp 3: Miêu tả về một tấm gương chăm ngoan học giỏi Hướng dẫn Đề bài: Em hãy miêu tả về một tấm gương chăm ngoan học giỏi, vuợt lên số phận mà em biết hoặc đuợc nghe kể lại. Bài đoc tham kháo Quà tặng mẹ Cô Nguyễn Thị Hai ở ấp Trung Lân, xã Bà Điểm – 18 thôn vườn trầu. Cô có hai đứa con trai: Phước và Phúc. Trước đây cô Hai là công nhân Nhà máy Dệt Thắng Lợi, nay cô làm lao công cho Trường Phan Công Hớn. Năm 1997, cô Hai li dị người chồng vũ phu, nghiện ngập, một nách nuôi hai con nhỏ và mẹ già gần 100 tuổi. Bốn mẹ con, bà cháu sống trong một túp lều tranh, cơm cháo lần hồi. Năm ấy, Phước mới học lớp một, Phúc chỉ mới lên 3 tuổi. Nhờ trời hai con chẳng đau ốm, càng lớn càng ngoan, càng học giỏi. Sớm sớm, chiều chiều Phước và Phúc giúp mẹ quét sân trường, quét lóp, dọn vệ sinh. Gần đây, cô Hai mới có nụ cười. Phước đã là học sinh lớp chín, Phúc đang học lớp sáu. Cả hai đứa con của cô Hai đều là học sinh giỏi của trường Trung học cơ sở Phan Công Hớn. Cả hai đều nằm trong danh sách đội học sinh giỏi dự thi môn Toán toàn huyện Hóc Môn và đã giành được giải cao. Tuy bận học, bận ôn thi, nhưng hai con vẫn giúp mẹ quét trường, quét lớp. Hôm nào cũng vậy, 5 giờ sáng, 7 giờ tối, Phước và Phúc đã cùng mẹ chổi cầm tay lo quét tước, dọn dẹp lớp học và sân trường. Đạo diễn Minh Phương khi đưa hình ảnh hai anh em Phú và Phước lên chương trình “Vượt lên số phận” đã đặt tựa đề “Quà tặng mẹ”, làm cho khán giả gần xa vô cùng xúc động. Bài tham khảo 2 Về trường Trung học cơ sở Nguyễn Bỉnh Khiêm, thuộc phường Hoà Minh – Quận Liên Chiểu, tôi được nghe những câu chuyện cảm động của các em học sinh nghèo, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn nhưng vẫn vươn lên học giỏi toàn diện. Trong đó một em đã để lại ấn tượng cho tôi nhiều nhất là em Lê Hồng Ân, học lớp 6/3. Mặc dù gia đình em có hoàn cảnh rất khó khăn, một mình mẹ em phải bươn chải kiếm tiền nuôi hai chị em ăn học. Như cô Phan Thị Lệ, mẹ em tâm sự: “Nhà cửa và mọi thứ đồ đạc trong nhà đều do người thân mua cho.Tôi làm công nhân ở khu công nghiệp tiền lương rất ít, phải chi tiêu thật tiết kiệm mới có tiền để hai con ăn học. Nhiều khi em Ân phải nhịn ăn sáng để dành tiền mua dụng cụ học tập. Nhưng tôi hạnh phúc là có được một đứa con học giỏi và ngoan hiền đến như vậy.” Hoàn cảnh gia đình khó khăn là vậy nhưng em Ân trong sáu năm liền là học sinh giỏi toàn diện của trường. Và hằng năm em luôn được thành phố trao học bổng học sinh hiếu học, có tinh thần vượt khó trong học tập. Ngoài ra, em còn được nhận học bổng từ các Hội khuyến học Quận, công ty bia Huế, công ty nhà máy nhựa,… Ân học giỏi toàn diện các môn, trong đó đáng biểu dương là em thi được giải ba học sinh giỏi cấp thành phố năm lớp 5. Ngoài ra, em còn có tố chất năng khiếu rất nhiều lĩnh vực như vẽ, đàn, sáng tạo dụng cụ học tập, các phong trào thể thao,…. Đặc biệt là phong trào thể thao em đã được giải nhì bóng bàn năm lớp 4, đến lớp 6 em được giải ba cấp quận. Em đứng đầu trong việc làm báo tường của lớp với những hình vẽ rất đẹp và có ý nghĩa. Là một học sinh giỏi và có phẩm chất đạo đức tốt nên em rất được các thầy cô giáo và bạn bè trong trường quý mến. Cô Phan Thị Mỹ Vân, chủ nhiệm lớp nhận xét: “Em là một học sinh rất ngoan hiền, học giỏi tất cả các môn. Và là học sinh có kết quả học tập trong học kì I năm học 2008- 2009 cao nhất trường (9,5). Ngoài ra, em còn là một lớp trưởng rất năng động, nhiệt tình vì vậy mà tôi rất yên tâm khi giao cho em công việc điều hành lớp”. Mặt khác, em là một học sinh rất giàu lòng tương thân tương ái, sẵn sàng giúp đỡ những bạn học sinh yếu kém trong lớp vươn lên trong học tập. Như em Nguyễn Quang Đạt, bạn cùng lớp em đã khen ngợi: “Ân là một người bạn rất tốt, nhiệt tình giúp đỡ em trong học tập. Và từ việc học nhóm với Ân mà em đã tiến bộ hơn rất nhiều”. Ân là một học sinh không chỉ giỏi mà còn rất ham học và có tinh thần vượt khó. Ở trường, em là một học sinh giỏi, ngoan hiền được thầy cô bạn bè quý mến. Còn ở nhà em là một đứa con hết mực hiếu thảo, em luôn làm những công việc nhà khi mẹ đi vắng. Dù là còn nhỏ tuổi nhưng em nhận thức được hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn của gia đình vì thế mà em đã ra sức nổ lực học tập. Và em đã bộc lộ ước mơ của mình: “Em sẽ cố gắng học thật giỏi để trở thành một kiến trúc sư, đáp ứng được lòng mong mỏi của gia đình, thầy cô và bạn bè. Và để mẹ em đỡ khổ và vất vả hơn.” Với khả năng học giỏi toàn diện và nổ lực “vượt lên trên hoàn cảnh” cùng với sự dạy bảo của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ của các cơ quan ban ngành, đoàn thể … Tôi tin rằng Ân sẽ thực hiện được ước mơ của mình. Tinh thần hiếu học và nghị lực vươn lên không ngừng của Ân thật đáng khâm phục. Đó là tấm gương sáng để cho các bạn học sinh noi theo… Bài tham khảo 3 Ở năm học lớp 5, em có một người bạn thân. Bạn đó tên Tuấn. Bạn là một học sinh giỏi, là một tấm gương tốt trong học tập và hay giúp đỡ bạn bè. Tuấn là người mà cô và các bạn trông cậy nhất. Trong lớp, môn học nào Tuấn cũng phát biểu và đóng góp ý kiến nhiều nhất. Bài làm của bạn ấy lúc nào cũng 9 với 10 điểm. Bài nào các bạn chưa hiểu rõ, Tuấn giảng giải từng li từng tí cho các bạn hiểu. Giờ ra chơi, Tuấn bỏ ra 10 phút để dò lại các kiến thức của những bạn học yếu. Có một lần, em để quên cả hộp bút ở nhà. Tuấn biết, nhưng bạn ấy không nói cho cô và còn vui vẻ hi sinh cây bút duy nhất của mình để cho em mượn, nên hai đứa đã lén lút thay phiên nhau cầm bút chép bài. Lúc đó, Tuấn làm cho em rất cảm phục và cảm thấy mến bạn hơn. Một lần khác, em bị sốt cao phải nghỉ học hết hai ngày. Em định gọi điện thoại nhờ Tuấn đến giảng bài. Vừa nhấc máy lên, chưa kịp bấm số, thì em nghe Tuấn gọi: “Duy ơi! Bạn có nhà không? Mình đến thăm bạn đây!”. Không ngờ Tuấn đã tranh thủ làm hết bài ở nhà, rồi đem vở đến giảng cho em. Tuấn còn chép phụ bài giúp em nữa. Hôm ấy, em cảm động xuýt rơi nước mắt. Nhờ vậy mà tình bạn giữa em và Tuấn càng thân thiết và gắn bó hơn. Có một hôm, vào giờ ra chơi, em cùng Tuấn đang ngồi đọc truyện trên ghế đá, thì thấy một người bạn khác lớp bị té trước mặt, ngồi ôm chân đau đớn. Tuấn liền chạy tới đỡ bạn dậy, phủi quần áo cho bạn và hỏi: “Bạn có đau lắm không? Để mình giúp bạn”. Thế mà em vẫn ngồi trên ghế đá, cầm cuốn truyện, nhìn Tuấn. Tuấn quay lại chỗ ngồi, vậy mà không hề mở lời trách móc em mà vui vẻ cùng em đọc tiếp cuốn truyện. Có lẽ Tuấn muốn giữ nguyên vẹn tình bạn giữa hai đứa. Trên lớp, bạn ấy còn hay trực nhật phụ các bạn. Vào những cuộc thi đua của khối năm, lớp em luôn đoạt giải nhất nhì là nhờ bạn. Cả lớp, ai cũng tự hào về Tuấn. Em rất tự hào vì có một người bạn thân như Tuấn. Em thấy mình còn phải học hỏi thêm nhiều điều ở Tuấn. Qua những sự việc trên, em sẽ cố gắng phấn đấu để được như Tuấn, luôn có trong mắt của cô và các bạn, để được trở thành con ngoan trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ. Tham khảo: Em hãy miêu tả một điểm du lịch mà em đã đến thăm Bài tham khảo 4 Con người sinh ra không thể chọn hoàn cảnh, hình hài mình sinh ra vì cuộc sống vốn dĩ là không công bằng. Nhưng một danh nhân đã nói “Không có số phận, chỉ có những quyết định của con người làm nên số phận mà thôi”. Và sự thật đã chứng minh rất nhiều tấm gương như thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký anh Hoa Xuân Tứ, anh Đỗ Trọng Khôi… đây là những con người đã chứng minh rằng mình có thể thay đổi số phận, là những tấm gương sáng để mọi người học tập. Trong lịch sử Việt Nam có rất nhiều tấm gương về vượt khó học tập nổi tiếng nhất chính là trạng nguyên Mạc Đinh Chi. Người xưa kể lại rằng Mạc Đĩnh Chi con nhà ngheo người đen đủi, xấu xí. Hàng ngày, để duy trì cuộc sống cậu phải vào rừng kiếm củi giúp cha mẹ. Gần nhà ông có một trường học, vì không có tiền học nên hàng ngày mỗi khi gánh củi qua ông đều ngấp nghé đứng cửa lớp học ké. Nhiều ngày, thấy cậu học trò nghèo lại hiếu học thầy giáo liền cho vào lớp học. Nhưng ban ngày cậu phải kiếm sống, phải học tranh thủ vào buổi tối. Nhà nghèo không có đèn dầu để học cầu liền nghĩ ra cách bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng lấy ánh sáng làm đèn. Không có vở để viết cậu dùng lá để thay giấy và tập viết. Nhiều ngày như vậy, thầy thấy cậu bé nhà nghèo mà hiếu học, thầy cho phép cậu bé vào trường. Nhờ có trí thông minh, Mạc Đĩnh Chi nhanh chóng trở thành học trò giỏi nhất trường. Buổi tối, Mạc Đĩnh Chi mới có thì giờ đọc sách vì ban ngày cậu phải làm việc khác. Nhưng lại không có đèn dầu thắp, cậu bé đã nghĩ ra cách bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng lấy ánh sáng làm đèn. Bằng nghị lực phi thường khoa thi Giáp Thìn (1304), thi hội, Mạc Đĩnh Chi đỗ Hội nguyên, thi Đình, ông đỗ Trạng nguyên. Không chỉ làm trạng nguyên Đại Việt, ông còn được phong làm “Lưỡng quốc Trạng nguyên” (Trung Hoa và Đại Việt) khi sang sứ Trung Hoa thời nhà Nguyên.
Văn miêu tả lớp 3_ Miêu tả về một tấm gương chăm ngoan học giỏi
1,922
Văn miêu tả lớp 3: Tuần 12: Tả lại một bức tranh miêu tả về một cảnh đẹp Hướng dẫn TUÀN 12: Tập làm văn miêu tả Tập làm văn lớp 3: Tập làm văn miêu tả 1. Hãy quan sát bức ảnh hoặc bức tranh về cảnh đẹp mà em sưu tầm được, rồi viết một đoạn văn ngắn (từ 5 đến 7 câu) về bức ảnh hoặc bức tranh đó. (Gợi ý: Đối tượng để quan sát ở đây là một bức tranh hoặc bức ảnh về phong cảnh. Các em cần nêu bức ảnh có những màu sắc gì? Các màu sắc ấy kết hợp hài hoà hoặc tương phản với nhau ra sao? Màu của rừng, núi, đồi hay sông, suối, biển,… kết hợp với màu của những ngôi nhà, mái ngói, con thuyền,…). Những màu sắc đó tạo nên vẻ đẹp như thế nào? Cảnh trong tranh gợi cho em những suy nghĩ, cảm xúc, niềm say mê hay tình cảm gì?) 2. Các đoạn văn tham khảo a) Đèo Hải Vân được coi là con đèo nên thơ, hùng vĩ, tráng lệ bậc nhất Việt Nam với một bên là biển xanh mênh mông, thăm thẳm, một bên là núi non điệp trùng, ở phía nam của đèo, nhìn từ trên xuống, thành phố Đà Nẵng hiện ra hiện đại, tráng lệ với những toà nhà cao tầng, các nhà máy, ống khói vươn cao, nằm nép mình bên bờ biển xanh mềm mại, toả sáng như một viên ngọc trên biển Đông. Ở phía bắc đèo, đầm Lập An và làng chài Lăng Cô lại tạo nên một khung cảnh bình yên khác hẳn. Những ngôi nhà khang trang ngói mới soi mình xuống biển xanh thăm thẳm, những cồn cát trắng tinh khôi trải dài tít tắp, phía xa là dãy núi điệp trùng với mây trắng bao phủ. Vút cao ở lưng chừng trời là cầu lên hẩm Hải Vân chạy thẳng vào lòng núi. Tất cả tạo thành một bức tranh thật nên thơ… b) Buổi sáng khi ông mặt trời nhô lên thì dòng sông mặc chiếc áo lụạ đào tha thướt, trưa về chiếc áo ấy được thay bằng chiếc áo xanh biếc mới may. Chiều đến chiếc áo lại long lanh như được dát bằng vàng. Và đêm đến, sông như mặc chiếc áo đen cài một vầng trăng vào giữa ngực với những ngôi sao được gắn vào dải áo như những dải kim cương. Con sông đã trở thành một phần máu thịt của quê hương em. Con sông đã chứng kiến bao kỉ niệm đẹp của tuổi thơ chúng em. Rổi mai ngày em sẽ lớn khôn, nhưng có đi xa tới đâu em vẫn nhớ về quê em, với những kỉ niệm về dòng sông sẽ vẫn còn mãi trong em. Bài làm 1 Trước mắt em là bức tranh về Hồ Gươm ở thủ đô Hà Nội. Có lẽ bức tranh vẽ buổi bình minh đang lên. Nhìn ra xa, những gợn sóng nhỏ dần, nhỏ dần, rồi cuối cùng là một tấm gương phẳng óng ánh những tia nắng của buổi ban mai. Xa xa, giữa mặt hồ là Tháp Rùa đứng uy nghi với vẻ trầm mặc muôn thuở giữa cồn cỏ xanh mượt. Trên đỉnh tháp là ngọn quốc kì đang phấp phới tung bay. Đằng sau tháp là hàng cây um tùm đang soi bóng xuống mặt hồ trong xanh. Nhìn bức tranh em nhớ lại câu chuyện mà mẹ đã từng kể cho em nghe về “Sự tích Hồ Gươm”. Hồi ấy, có một vị thần Kim Quy ngậm thanh kiếm thần kì trao cho Lê Lợi để tiêu diệt giặc Minh, giữ gìn bờ cõi. Và cũng chính nơi đây, nhà vua đã hoàn lại thanh kiếm cho vị thần. Cái tên Hồ Hoàn Kiếm bắt nguồn từ giai thoại từ ấy. Không biết bây giờ vị thần tốt bụng đó với thanh kiếm nằm ở chỗ nào dưới những lớp sóng lăn tăn kia! Trong những bức ảnh chụp cảnh vật thiên nhiên, em thích nhất bức ảnh về cảnh hồ Xuân Hương – Đà Lạt một thắng cảnh tuyệt vời của cao nguyên miền Trung. Từ nhỏ đến giờ, em chưa có dịp đi tham quan Đà Lạt lần nào, nên càng nhìn bức ảnh, em lại càng ao ước được đến thăm Đà Lạt một lần. Dường như cảnh hồ Xuân Hương được chụp vào một buổi sáng trời trong. Không gian rất yên tĩnh bởi mặt hồ phẳng lặng không một gờn sóng. Mặt hồ trong xanh màu ngọc bích. Những hàng cây hai bên bờ hồ và những biệt thự cao tầng trên những ngọn đồi lộng gió in hình xuống đáy hồ, trông thật nên thơ! Phía xa xa, đồi núi trập trùng, ngọn cao ngọn thấp với những rừng thông bạt ngàn nối đuôi nhau chạy xa tít đến chân trời. Cảnh vật vừa đẹp, vừa nên thơ và đầy quyến rũ. Cám ơn người thợ chụp hình đã đem đến cho em một phong cảnh Đà Lạt nên thơ. Tham khảo: Tập làm văn miêu tả lớp 3: Miêu tả về quê hương của em Bài làm 3 Nhà em có rất nhiều bức tranh vẽ cảnh vật thiên nhiên. Nhưng bức tranh về Hồ Hoàn Kiếm ở thủ đô Hà Nội vẫn là bức tranh mà em thích nhất, ngắm mãi mà không hề thấy chán. Giữa hồ là Tháp Rùa cổ kính soi bóng trên mặt hồ trong xanh. Trên cao là những đám mây trắng bồng bềnh trôi giữa bầu trời cao vời vợi. Nhìn xa hơn, tòa nhà Bưu điện thành phố đồ sộ và lộng lẫy được trang trí cờ hoa rực rỡ. Và kia nữa là cầu Thê Húc màu son, uốn cong như một nét hoa văn, tượng trưng cho bàn tay của một nàng tiên nữ hiếu khách, vẫy chào chúng em đến viếng đền Ngọc Sơn cổ kính. Mái đền ngàn năm tuổi nép mình dưới gốc đa cổ thụ cành lá xum xê. Nhìn bức tranh Hồ Gươm, em tưởng tượng đến sự tích về cái hồ này, mà mới đây không lâu, bố đã kể cho em nghe. “Ngày xửa ngày xưa ấy, có một con rùa lớn ngoi lên mặt nước, đòi vua Lê Lợi trả kiếm cho Long Vương” để rồi hồ mang tên “Hoàn Kiếm” từ đấy cho đến bây giờ. Và có lẽ cái tên ấy, sự tích ấy sẽ truyền lại muôn đời cho các thế hệ mai sau. Ước gì một ngày nào đó, em được đứng trên Bờ Hồ mà chiêm ngưỡng vẻ đẹp nên thơ của một di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng của thủ đô.
Văn miêu tả lớp 3_ Tuần 12_ Tả lại một bức tranh miêu tả về một cảnh đẹp
1,123
Văn miêu tả lớp 3: Tả cô giáo hay thầy giáo của em. Hướng dẫn Đề bài: Tả cô giáo hay thầy giáo của em. Bài làm 1 Cô giáo của chúng em Cô giáo dạy lớp 3B của chúng em tên là Ngô Thị Mộc Lan. Cô 28 tuổi. Bố mẹ của cô đều là những nhà giáo nổi tiếng ở quê em. Da cô đen giòn. Cô nhanh nhẹn, tươi vui và rất tận tình với học sinh. Cô dạy giỏi và có đôi bàn tay khéo léo, có giọng hát hay, giọng đọc bài, giảng bài ấm áp. Bạn nào được cô khen là vui lắm. Cuối tuần cô cho chúng em làm thống kê điểm 10 để cô khen thưởng. Em đã được cô khen nhiều lần: khen thuộc bài, khen giỏi Toán, khen viết chữ đẹp, khen về chuyện biết giúp đỡ bạn. Bạn nào trong lớp cũng yêu quý cô. Em cũng rất yêu quý cô. Bài làm 2 Thầy Tử lớp 3C Phụ trách lớp 3C là thầy Tứ. Thầy là thương binh. Năm nay thầy 49 tuổi. Trong chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979, thầy bị thương. Một chân thầy để lại chiến trường. Thầy đã được lắp chân giả, hằng ngày thầy vẫn chống gậy đến lớp dạy học. Thầy Tứ đen và gầy. Người cao dong dỏng. Tóc thưa, mắt sâu. Thầy vui tính, hay cười. Các thầy, cô giáo trong trường đều yêu quý và coi thầy Tứ như người anh cả. Thầy vẽ đẹp, viết rất đẹp. Thầy dạy môn gì, dù là Toán, Tập đọc hay Kể chuyện… cũng đều hay và hấp dẫn. Chúng em ai cũng được thầy chăm sóc, yêu thương. — Liễu đọc bài thơ Một mái nhà chung cho các bạn cùng nghe. Em Hậu nghịch chi đó? Em nào chưa hiểu bài thì cứ hỏi thầy… Thầy nói nhẹ nhàng. Ai cũng cảm thấy được thầy khích lệ nên đều cố gắng học hành, phấn đấu. Thầy Tứ thường đến thăm ông nội em. Thầy tặng bạn Vịnh, học sinh nghèo, một bộ quần áo mới. Thầy tặng con gái chú bảo vệ một cái cặp sách mới… Những hôm trời mưa rét kéo dài, thầy Tứ nói: “Cái chân thầy dạo này giở chứng. Đau lắm!”. Nghe thầy nói thế, chúng em rất thương thầy Cô Huệ Chi — người mẹ hiền của chúng em Buổi sáng hôm ấy, một tin dữ làm học sinh toàn trường xôn xao, tất cả học sinh lớp 3E vô cùng lo lắng: “Cô Huệ Chi bị ngã xe”. Thầy Tuấn hiệu phó vào dạy thay một lúc rồi cho chúng em ra về. Buổi chiều, tất cả lớp chúng em đều kéo đến bệnh viện thăm cô. Em và nhiều bạn lớp 3E đã được cô Huệ Chi dạy từ lớp một, lớp hai. Cả lóp chúng em đều rất lo lắng cho cô. Cô Huệ Chi là giáo viên giỏi. Trong cuộc thi giáo viên thanh lịch, cô được giải Nhất toàn tỉnh. Cô xinh đẹp và dịu dàng. Cô xem 33 học sinh lớp 3E như con em của cô. Cô chăm chút cho đàn con thơ từ cách ngồi, cách cầm bút viết, cách đọc bài, cách nói, cách làm tính. Học sinh nào ốm phải nghỉ học, cô đều đến bệnh viện hoặc đến nhà hỏi thăm và cho quà. Em mồ côi mẹ, khi mổ ruột thừa, cô săn sóc em như mẹ ruột. Em mong cô mau chóng bình phục để tiếp tục dìu dắt chúng em. Bài tham khảo Trong tuổi thơ của mỗi người, ai cũng có những kỉ niệm đáng nhớ về thầy, cô giáo cũ của mình, những kỉ niệm đẹp xen lẫn nỗi buồn đều được khắc sâu trong trí nhớ của chúng ta. Riêng tôi có một kỉ niệm mà tôi không bao giờ quên, kỉ niệm sâu sắc về một người thầy đáng kính của tôi. Năm ấy, khi tôi còn học lớp một, tôi có những kỉ niệm đẹp về thầy giáo chủ nhiệm của mình. Tôi đã bước sang lớp một, ngưỡng cửa của bậc tiểu học, có nhiều bạn mới, thầy cô mới. Ngày trọng đại ấy, ngày tôi không bao giờ quên. Sau buổi lễ khai giảng, tất cả các học sinh đều bước vào lớp học của mình để học buổi học đầu tiên và gặp gỡ thầy cô giáo chủ nhiệm của mình và cũng là người sẽ gắn bó với tôi trong suốt thời gian học tiểu học. Khi thầy bước vào, dáng người thầy thật nhanh nhẹn và thầy chào chúng tôi. Tôi trông thầy cũng đã đứng tuổi, tóc thầy cũng đã điểm bạc, khuôn mặt thầy gầy, bàn tay thầy có nhiều vết nhăn, chắc thầy đã có mấy chục năm “lận đận” với học sinh. Thầy bước lên bục giảng, thầy ra hiệu cho chúng tôi im lặng và thầy nói: “Chào các con, thầy tên là Hồ Viết Cảnh, thầy sẽ chủ nhiệm lớp các con trong suốt bậc tiểu học”. Giọng thầy thật ấm áp, nhẹ nhàng, làm cho những suy nghĩ trong đầu tôi về một người thầy giáo chủ nhiệm thật dữ dằn và nghiêm khắc đều tan biến. Sau khi ra mắt chúng tôi, thầy bắt đầu dạy cho chúng tôi những bài học đầu tiên mà cũng là những bài học đầu đời dạy tôi nên người. Thầy viết lên bảng những dòng chữ đầu tiên, tôi trông thấy bàn tay thầy run run khi viết, sau này tôi mới biết, thầy phải chịu đựng những cơn đau do tham gia cuộc chiến tranh kháng chiến chống Mĩ để viết nên dòng chữ đẹp đó. Sau khi viết xong đề bài, thầy hỏi chúng tôi có thấy rõ không, một và bạn ngồi phía dưới do mắt kém nên không thấy liền được thầy chỗ khác cho phù hợp. Trong buổi học thầy đến tận chỗ của từng người để chỉ cho chúng tôi những chỗ không hiểu. Cuối giờ, thầy cho chúng tôi xếp hàng ra về, mọi người đi về rất thẳng hàng, tiếng cười đùa của một vài bạn đã làm xôn xao khắp sân trường. Buổi học đầu tiên đã kết thúc như vậy đó, thầy đã để lại cho tôi những suy nghĩ về một người thầy mẫu mực. Những buổi học sau, thầy nghiêm khắc với những bạn lười học, khen thưởng những bạn ngoan. Giờ ra chơi, thầy đều ra chơi cùng chúng tôi, thầy chơi những trò chơi dân gian cùng với chúng tôi, nhìn khuôn mặt thầy lúc đấy thật đáng yêu, nhìn kĩ thầy, tôi có cảm giác khuôn mặt thầy rất giống khuôn mặt ông nội tôi. Ông tôi đã mất từ khi tôi còn nhỏ, những kỉ niệm đẹp của ông và tôi đều được tôi khắc ghi. Nhìn thầy, tôi cảm thấy nhớ đến ông, nhớ đến cảnh chơi đùa của hai ông cháu, tôi liền chạy vào phòng học, ngồi trong góc khóc. Lúc đó có một bàn tay đặt lên vai tôi khẽ vỗ về, hình ảnh ông nội vỗ về tôi mỗi khi buồn hiện về, tôi bỗng khóc to lên, không sao có thể kiềm chế được. Thì ra đó chính là thầy, thầy khẽ nói với tôi: “Thành, sao con khóc, nói ra để thầy chia sẻ với con”. Rồi thầy ôm tôi vào lòng, nhận được sự an ủi của thầy, tôi càng khóc to hơn. Sau hôm đó tôi cảm thấy được thầy quan tâm nhiều hơn. Vào một hôm, do tôi không học bài nên bị điểm kém, thầy liền mắng tôi, tôi liền chạy về chỗ ngồi, trong lòng tôi cảm thấy rất tức thầy. Vào giờ ra chơi thầy không ra chơi với các bạn như mọi khi, thầy xuống chỗ tôi. Thầy nói: “Thầy xin lỗi em vì đã quá nặng lời, nhưng em là lớp trưởng nên phải gương mẫu cho các bạn noi theo….”. Thầy giảng lại cho tôi bài tôi chưa hiểu. Tôi nhìn thầy lúc đó mà trong lòng cảm thấy hối hận vô cùng, ân hận vì đã làm thầy buồn. Tôi tự hứa sẽ cố gắng phấn đấu tốt hơn. Vậy đấy, thầy đã để lại cho tôi những kỉ niệm không bao giờ phai mờ về một người thầy giản dị mà thân thương. Tôi hứa sẽ cố gắng học tập để trở thành công dân tốt, có ích cho đất nước và xã hội. Công ơn thầy sẽ mãi được khắc ghi như câu danh ngôn: “Ngọc không mài không sáng, người không học không tài.” Bài làm Ngưòi thầy nặn tò he Từ lóp một đển lớp bốn, em đểu học với thầy Biên. Dáng thầy cao và gầy, nước da hơi đen, đi đứng khoan thai. Thấy rât hiền, ăn nói nhẹ nhàng, hểt lòng yêu thương Ỉ1ỌC smh. Năm nay thầy 37 tuổi, vợ thầy ốm nặng, qua đời. Hai đứa con nhỏ ở với thầy. Đen nay, anh Khiêm đã học lớp sáu, em Ly đã lên 4 tuổi. Thầy và hai con được Ban Giám hiệu và Hội phụ huynh dụng cho hai gian lợp mái tôn cuối vườn trường. Thầy vẽ đẹp, dạy môn học nào, dạy lớp nào cũng giỏi. Thầy rất hiếu học. Thầy đang học Đại học Ngoại ngữ tại chức. Năm ngoái có một ông cụ đến nặn tò he tại cống trường bán cho học sinh. Thầy Biên đã học được cách chế bột, cách pha màu, học nghệ thuật nặn con giống tò he. Chỉ sau một thời gian ngắn, thầy biết nặn tò he rất đẹp. Khi giảng tất cả các truyện cổ tích trong sách Tiếng Việt tiểu học thầy đều có con tò he để minh hoạ. Em thích nhất con tò he Vua Mi-đát hám vàng, Lừa và Ngựa, Thỏ và Rùa… Thầy đã trả “học phí” 200.000 đồng cho cụ già nặn tò he, thầy nói mãi cụ mới nhận. Thầy Biên là tấm gương sáng về cần kiệm. Thầy trồng hoa, trồng rau để tự túc, để cảnh nhà thêm đẹp. Thầy ăn mặc giản dị. Thầy dạy hai con lễ phép, chăm ngoan, học giỏi. Năm nào thầy cũng về quê thăm mộ vợ; đưa hai con nhỏ về thăm mộ mẹ. Ba bốn ngày sau, thầy mới trở lại trường. Hôm qua là ngày 20/11, cả lớp em cùng đến phòng thầy Biên, chúc thầy vui, lthoẻ và dạy giỏi. Thầy rất xúc động khi bạn Vĩnh thay mặt cả lóp tặng thầy bó hoa thơm và nói lời chúc mừng thầy. Bài đoc tham khảo Ngưòi thầy và cây phượng Mùa thu – Cây phượng góc sân trường rụng lá chuẩn bị cho một kì nghỉ ngơi dài. Thầy tất bật chuẩn bị cho năm học mới, đón khoá học sinh mới. Mùa đông – Những cành phượng khẳng khiu im lìm trong giá lạnh, ngủ yên trong gió rét. Thầy cặm cụi bên trang giáo án, lo lắng cho bài giảng ngày mai. Mùa xuân – Cây phượng tưng bừng khoe áo mới, đua nhau đâm chồi nẩy lộc trong gió xuân. Thầy vẫn miệt mài bên bài kiểm tra chuẩn bị cho học kỳ hai. Mùa hạ – Cây phượng ngập tràn sắc đỏ của hoa, nổi bật cả một khung trời. Thầy bộn bề những lo lắng cho học trò trong mùa thi cuối cấp. Cả thầy và cây phượng đều gắn bó với học sinh, với một thời cắp sách đến trường. Thế nhưng hoa phượng còn có lúc nghỉ ngơi, khoe sắc, còn thầy – Người lái đò tận tuỵ mãi cống hiến, mãi hi sinh thầm lặng cho bao thế hệ học trò. Để rồi sau mỗi mùa phượng cháy, trán thầy lại đầy những nếp nhăn và tóc thầy lại thêm nhiều sợi bạc. Mùa hè đã đến, thêm những chùm hoa phượng đỏ rực góc sân trường và trong mắt thầy lấp lánh tình yêu thương.
Văn miêu tả lớp 3_ Tả cô giáo hay thầy giáo của em.
1,983
Văn miêu tả lớp 3: Tả cơn mưa rào mùa hè Hướng dẫn Đề bài: Em hãy miêu tả cơn mưa rào mùa hè ở quê em Bài tham khảo 1 Đã mấy ngày rồi, thời tiết vô cùng nóng nực. Bầu trời không một gợn mây, không một làn gió. Cây cỏ héo rũ. Ai cũng mong mưa. Chiều nay, không khí vẫn hầm hập. Bỗng mây đen từ phía đông đùn lên. Chỉ trong khoảnh khắc, mây bao phủ khắp bầu trời. Gió nối lên mỗi lúc một mạnh. Cây cối trong vườn, ngoài ngõ nghiêng ngả. Mưa trút xuống ào ào. sấm nổ ầm ầm. Sét rung chuyển đất trời. Chớp loé sáng, những tia lửa đỏ lằng nhằng chạy dọc ngang trên bầu trời. Màn mưa trắng xoá bao phủ không gian cảnh vật. Mưa mỗi lúc một dữ dội. Gió thối rào rào. Sân nhà, lối ngõ nước lênh láng tuôn xuống cống. Máng nước như thác bạc trút ầm ầm vào bể nước. Hàng xoan, hàng bạch đàn, hàng cau rung lên, reo lên, cành lá ngả nghiêng. Mụ cóc và đàn con từ đâu nhảy ra chồm chồm trên sân đế bắt bầy mối rã cánh. Cậu Mực ngồi chồm hỗm trên thềm, bâng khuâng nhìn ra sân, ra ngõ. Mưa vẫn trút xuống, mỗi lúc một dữ dội. Người và cảnh vật đều hả hê. Mãi đến gần 5 giờ chiều, mưa mới tạnh. Mặt trời hé ra. Trời đất bừng lên một màu hồng. Mát mẻ quá! Từ các ngõ quê, nhiều người vác cuốc thăm đồng. Xe máy, xe đạp, người đi bộ mỗi lúc một đông. Từ sân trường, hàng trăm học sinh túa ra, reo lên. Cò trắng chao liệng trên đồng xanh. Sáo sậu, sáo mỏ vàng, bầy chim sâu hót ríu ran trên ngọn bạch đàn. Đồng quê bát ngát một màu xanh tuyệt đẹp. Bà em đi dọc theo lối ngõ, rồi vòng lại mảnh vườn rau. Bà mỉm cười ngắm nhìn cây chanh, cây cam trĩu quả. Cậu Mực theo chân bà cùng đi ra vườn. Chim chào mào hót ríu rít trên ngọn xoan. Chú gà trống đứng trên bờ tường, vỗ cánh gáy “ò… ó… 0…”. Bài tham khảo 2 Suốt mấy tháng nay, trời nắng như đổ lửa nên cây cối khô héo cả. Thời tiết oi bức, ngột ngạt thật là khó chịu. Mọi người khao khát, chờ đợi một trận mưa rào. Thế rồi, chiều hỏm qua mưa thật. Đang nắng chang chang, bỗng nhiên mây đen ùn ùn kéo đến che lấp cả bầu trời. Tiếng sấm ầm ì đây đó. Những ánh chớp nhoang nhoáng xanh lè, xé rách bầu trời xám xịt. Gió nổi lên xoáy thành những cơn lốc nhỏ cuốn lá khô bay ràn rạt trên mặt đường. Cả đất trời vần vũ mây giông. Khách bộ hành ai nấy rảo chân bước vội. Xe cộ cũng phóng nhanh hơn. Lộp bộp. Lộp bộp. Những hạt mưa đầu tiên rơi xuống mái nhà, mặt đường. Hơi nóng hầm hập bốc lên. Chỉ trong phút chốc, mưa mau hơn, nặng hạt hơn. Bầu trời và mặt đất hầu như nối liền nhau bởi một màn mưa trắng xoá. Mưa to bao nhiêu, gió lớn bấy nhiêu. Những cành cây, ngọn cây nghiêng ngả, vật vã trước cơn gió mạnh. Hai bên hè phố, người trú mưa mỗi lúc một đông. Đám trẻ chừng dăm sáu đứa cởi trần trùng trục lao ra tắm mưa. Chúng nhảy nhót, nô đùa ầm ĩ, nước văng tung tóe dưới chân. Nước tuôn ồ ồ xuống miệng cống hai bên đường. Mặt đường vắng hẳn. Chỉ còn mấy chiếc xe tải bật đèn lùi lũi đi trong màn mưa dày đặc. Mưa đem lại sự sảng khoái cho con người sau bao ngày mệt mỏi vì nóng bức. Trận mưa rào đến đúng lúc đã tiếp thêm sự sống cho muôn loài. Với nhà nông, nó cần thiết biết bao! Tham khảo: Tả về một loài cây Bài tham khảo 3 Mẹ gọi với vào trong nhà: “Hương ơi, cất quần áo đi con! Sắp mưa rồi!” Em vội vàng chạy ra sân khi những đám mây đen đang xô đẩy nhau phủ kín cả nền trời. Và cơn mưa đầu hạ ập đến, bắt đầu từ những tiếng lộp bộp mỗi lúc một dày thêm trên mái hiên trước nhà. Những cơn mưa rào mùa hạ lúc nào cũng vội vàng như thế. Nếu không có những đám mây kia, mặt trời chắc sẽ biến cả mặt đất thành giàn hỏa thiêu bởi cái nắng gay gắt, oi bức của nó. Không một cành lá nào chịu đung đưa mà chỉ nằm ủ rũ, im lìm hứng chịu cái nóng. Mưa mỗi lúc thêm nặng hạt và gió bắt đầu thổi mạnh. Nhìn từ xa mưa như tấm màn trắng đục khổng lồ phủ kín cả đất trời. Trên đường vẫn còn lác đác vài bong người đang gồng mình lên, cố xuyên qua màn nước. Những tia chớp xé ngang bầu trời không quên kéo theo tiếng sấm ầm ầm, rền rĩ. Rặng cây phi lao trước nhà bị vần vũ trong mưa gió. Bộ dạng ủ rũ lúc trước giờ đã biến mất, chúng như đang dang tay ra đón những tia nước mưa xiên chéo, nhờ mưa bóc đi những lớp vỏ cây đã khô cằn. Mưa vẫn xối xả trút xuống mái hiên ầm ầm như trống dội. Nhìn lũ bạn í ới gọi nhau ra tắm mưa thích thú biết mấy nhưng em còn e dè ánh mắt của mẹ. Bất giác giơ tay ra hứng những giọt nước mưa ran rát nhưng mát lạnh có cái gì tươi mới dường như cũng trỗi dậy trong em. Nhưng chỉ vài tiếng sau, mưa bắt đầu ngớt dần rồi tạnh hẳn, nước chưa kịp thoát còn đọng lại trên sân thành một vũng lớn. Thế là những chiếc thuyền giấy trắng, đỏ lại bập bềnh trôi nổi trên cái vũng nước mà chúng em tưởng tượng nó như một cái hồ siêu nhỏ. Những tia nắng đầu tiên đã nhẹ nhàng đáp xuống mặt đất trước khi lướt qua những giọt nước còn đọng lại trên lá làm nó long lanh lên trong giây lát. Những chú chim chuyền cành khiến những giọt nước mưa còn lưu luyến đọng lại trên những mép lá vội vã rớt xuống rồi nhanh chóng thẩm thấu xuống nền đất. Vạn vật như được tái sinh sau cơn mưa đầu hạ. Những cái cây trút bỏ đi được lớp áo bụi bặm, vẫy tay đón gió. Tiếng xe cộ. Tiếng mọi người cười nói. Và cầu vồng sau mưa. Bài tham khảo 4 Mùa hạ là mùa của ánh nắng vàng nhuộm hết cả những con đường với những cơn gió mát lành, giúp cho cái nắng gắt như được giảm xuống, là mùa của những tiếng ve kêu lẫn trong những cành hoa phượng đỏ rực cả một góc trời. Và hơn hết, em yêu nhất chính là những cơn mưa rào chợt đến chợt đi tưới mát tất cả vạn vật. Buổi chiều hôm ấy, trời bỗng nhiên oi ả hơn mọi ngày. Ánh nắng như chói chang hơn, cả một vùng không hề có lấy một chút gió nào. Ai ai cũng cảm thấy mệt mỏi, những chiếc quạt máy như không đủ công suất để phục vụ cho tất cả mọi người nữa. chúng chỉ chạy một cách lờ đờ. Ngay cả với những hàng cây cổ thụ và những bãi cỏ dài nay cũng như không còn sức sống nữa. Chúng như héo rũ, không còn được đung đưa theo những cơn gió như thường ngày. Ai cũng mong có một cơn mưa mát lành tới để làm dịu bớt cái oi nóng của những ngày hè. Và rồi, chỉ khoảng nửa tiếng sau đó, trời đất như thay đổi. Những đám mây đen sì từ chân trời bay về. Trời bỗng nổi lên những trận gió lớn như mang biết bao hơi lạnh từ biển vào trong đất liền. Trẻ con cùng nhau reo vui, chào đón cơn mưa đến với niềm vui hần hoan, hạnh phúc Và rồi “ Ầm!” một tia chớp như xé toạc cả bầu trời cùng với tiếng sầm ì ùng. Ngay lập tức, người lớn vội vàng chạy về nhà đóng cửa, cất đồ phơi ở bên ngoài, còn những lũ trẻ thì cười vui sướng, hẹn cùng nhau đá bóng dưới trời mưa. Hoạt động của con người như nhanh hơn để chạy đua với thời tiết. Những hạt mưa lớn bắt đầu rơi “ lộp bộp” ở trên mái hiên, trên những con đường. Và nhanh chóng sau đó, cơn mưa lớn bắt đầu rơi như trút, những hạt mưa mát lạnh đậu xuống như xua tan hết tất cả cái oi nóng của mùa hè, làm cho lòng người cũng cảm thấy trong lành vui sướng hơn bao giờ hết. Cơn mưa tưới mát vạn vật, mang đến cho con người và thiên nhiên một sức sống mới hơn bao giờ hết. Cây cối như được gội rửa, tẩy đi hết những bụi bẩn của những ngày qua. Cơn mưa mùa hạ tới nhanh mà đi cũng nhanh. Sau cơn mưa, tất cả mọi thứ như được khoác thêm một lớp áo mới- tươi mát và trong xanh hơn bao giờ hết. Mọi vật cùng vui sướng khi được tắm mát sau rất nhiều ngày oi bức. phía xa xa, trên bầu trời trong xanh sau trận mưa, bồng nhiên xuất hiện những tia sáng lung linh, cong cong vươn lên giữa bầu trời- cầu vồng sau mưa. Bài tham khảo 5 Ông mặt trời tỏa nắng chói chang, làm không khí thật oi ả. Bỗng nhiên mây đen kéo đến, trời nổi giông làm cho lá rụng la tả, bụi bay mù mịt. Những đám mây lớn, nặng bao phủ cả bầu trời. Cơn gió lành lạnh thổi qua mang theo vài hạt mưa. Mưa mau dần. lẹt đẹt, xiên xẹo theo gió, hạt mưa rào rào bắn xuống lòng đường trắng xóa. Nước chảy lênh láng, chỉ ít phút đường bây giờ đã toàn là nước. Cành cây nghiêng ngả theo gió, cành to thì sà vào dây điện. Mọi người kéo nhau dạt vào hai bên đường người thì trú lại, người thì mặc áo mưa đi tiếp. Trên vỉa hè mỗi lúc một đông. Mọi người xúm xít vào với nhau để cho người khác trú. Con đường vẫn có những chiếc xe máy đi qua chắc là họ có bận việc gì thế mới không kịp dừng xe để mặc áo mưa. Mưa mỗi lúc một to, những hạt mưa nhảy nhót trên mái nhà lộp độp, lộp độp. Tia chớp lóe sáng loằng ngoằng trên bầu trời xám xịt. Tiếng sấm rèn vang khiến cho những em bé nép mình vào người mẹ. Trong nhà bỗng tối sầm lại, một cái mùi xa lạ đến khó tả. Con mèo nằm co ro trên giường, thỉnh thoảng meo meo nhìn trời mưa như sợ hãi. Mưa đến đột ngột và tạnh cũng bất ngờ. Mưa đang ào ạt, thưa dần rồi tạnh hẳn. Sau cơn mưa trời lại sáng. Mặt trời ló ra những tia nắng ấm áp, nhè nhẹ xiên xuống mặt đường. Cỏ cây được tắm gội sạch sẽ. Những chiếc lá sạch bóng, xanh mát như ai vừa chùi. Chim chóc từ đâu bay ra lại hót líu lo. Mọi người ồ ạt xuống lòng đường. Mưa đem lại nước và cái mát dịu cho cây cối, con vật và mọi người để xua đi cái nắng nóng oi ả.
Văn miêu tả lớp 3_ Tả cơn mưa rào mùa hè
1,942
Văn miêu tả lớp 3: Tả một con vật nuôi trong gia đình Hướng dẫn Đề bài: Em hãy tả một con vật nuôi trong gia đình Bài làm 1 Con ngựa ô Chú Luỹ, hàng xóm nhà em, có nuôi hai con ngựa ô: con ngựa mẹ và con ngựa con. Chú dặn em: “Giống ngựa tinh khôn và tình cảm lắm. Nó rất quý trẻ con. Mỗi lần đến chơi, cháu nhớ đem cho nó một nắm cỏ non, nó quen hơi là thân ngay…”. Ngựa mẹ cao to, ngực nở, chân đeo móng sắt, cái đuôi dài, lông đen mượt. Nó vẫn kéo xe chở rau lên cửa hàng nông sản thị xã. Ngựa con mới được 6 tháng tuổi. Hai tai như lá bạch đàn. Lông phơn phớt đen bóng. Cặp mắt thao láo, tinh anh. Cái đuôi dài phe phẩy. Thấy em đến chơi, nó nghiêng đầu như chào, đôi tai ngoe nguẩy, rồi lim dim cặp mắt khi được em vuốt nhẹ lên bờm, lên lưng. Chân ngựa rất đặc biệt: cao, to, rắn chắc và chỉ có một ngón lớn thích nghi với việc chạy nhanh. Mỗi chiều đi học về, nhìn thấy hai mẹ con ngựa ô đang ăn cỏ tươi, ăn bột ngô, em lại chạy đến vuốt ve. Con ngựa con ngừng nhai, cọ đầu vào người em, thật tình cảm. Bài làm 2 Con gà mái mơ Đàn gà nhà em có chín con. Con gà mái mẹ chăm chỉ. Con gà trống có cái mào đỏ rực, cái đuôi uốn cong sặc sỡ ba, bốn màu. Con gà mái mơ là đẹp nhất, đáng yêu nhất. Mẹ em nói: “Con gà mơ này để làm giống. Nó sẽ mắn đẻ và khéo nuôi con lắm đấy!”. Nghe thấy vậy, nó ngừng mổ hạt ngô, nghiêng đầu như đang lắng nghe mẹ em nói. Bài làm 3 Con gà trống Nhà em nuôi một đàn gà. Trong đàn gà 28 con ấy, chỉ có một chú gà trống, nó như một vị lãnh chúa. Chú gà trống rất to và đẹp mã đó là giống gà mía nổi tiếng. Bộ lông nó bốn màu rực rỡ: trắng, đỏ, vàng, đen. Đôi cánh to như hai cánh áo giáp. Cái đuôi nó cong vút lên như một lá cờ. Hai chân nó to bọc vảy cứng, cặp cựa như mũi giáo nhọn hoắt, màu vàng. Cái mỏ màu nâu thẫm. Mắt nâu vàng óng a óng ánh. Cái mào như một lưỡi rìu đỏ tía. Sáng sớm, trưa, chiều, chú ta leo lên bờ tường góc sân, vỗ cánh phành phạch, cất tiếng gáy vang động xóm thôn. Vợ chồng chim chìa vôi ở bụi chanh bất ngờ nghe tiếng gáy sợ quá bay vọt lên. Chiều chiều, mẹ vãi tấm, vãi thóc ra một góc sân, bồi dưỡng đàn gà. Trong lúc mấy chục con gà lớn, gà bé đang tranh giành nhau, mổ nhau chí choé thì chú ta chỉ ung dung đi lại, thỉnh thoảng lại “cục…cục” gọi mấy ả mái ghẹ chạy đến chia mồi. Sao nó ăn ít thế? Sao nó đạo mạo thế? Em cứ nghĩ vẩn vơ the! Bao lứa gà đã lớn lên. Mẹ quý con gà trống lắm. Mẹ nói: “Công con gà trống rất to. Cái đồng hồ báo thức là nó; lương hưu của mẹ, nó góp thêm, giỗ chạp… cũng nhờ nó mà nên hương khói…
Văn miêu tả lớp 3_ Tả một con vật nuôi trong gia đình
562
Văn miêu tả lớp 3: Tả một loài cây ăn quả nơi vườn quê. Hướng dẫn Đề bài:Tả một loài cây ăn quả nơi vườn quê. Bài làm 1 Cây táo vườn bà Vườn nhà bà nội em có một cây táo. Gốc cây táo to, màu trắng mốc. Cây cao ba, bốn mét, cành lá sum sê, toả bóng xanh một góc vườn. Lá táo hình trứng, to bằng đồng xu, mặt trên xanh bóng, mặt dưới nối gân màu xanh rêu. Thân cây xù xì, cành cong ngoằn ngoèo nhưng ẩn chứa một nguồn sống dồi dào, mãnh liệt. Táo trổ hoa từng chùm trăng trắng. Chỉ năm bữa nửa tháng, trái táo bằng hạt đỗ xanh đã chi chít đầy cành. Chim kéo đến từng đàn bắt sâu cho cây táo. Suốt ngày đàn chim nhỏ bé chuyền cành hót ríu ran. Rồi trái táo đã to bằng quả nhãn, bằng đầu ngón tay cái người lớn, da xanh bóng, hình quả trứng, đầu cuống thon, mình căng tròn. Khi chín, táo có màu vàng nhạt, vị chua giòn ngòn ngọt. Đi học về được ăn vài quả táo thật vô cùng thú vị. Em vẫn mang táo chín đến lớp mời các bạn. Bạn nào ăn cũng khen ngon. Chủ nhật nào bạn Lý, bạn Hường, bạn Hồng… đến chơi, bà cũng hái một rổ đầy táo chín để đãi các cháu. Bà còn gói cho mỗi bạn một túi táo to đem về. Các bạn đều cảm ơn bà rối rít. Bài làm 2 Cây bưởi vườn nhà Vườn nhà em có một cây bưởi thuộc giống bưởi Đoan Hùng, Phú Thọ. Cây bưởi quý này là do bạn học của anh Quang tặng bố mẹ em. Cây bưởi đã được 5 tuổi, và đã có ba mùa ra hoa kết trái. Cây cao khoảng 4 mét, sum sê cành lá. Cây đứng ở một góc vườn, cạnh bờ ao. Lá cây tròn to bằng bàn tay và dày, mặt trên xanh thẫm, bóng, mặt dưới xanh nhạt. Đầu tháng giêng, cây bưởi ra hoa. Đứng xa nhìn, thấy cây bưởi như đội lên đâu một mâm xôi nếp cái đầy ụ. Nụ hoa trắng nõn như chiếc cúc áo bạch ngọc; hoa nở xoè năm cánh trắng phau; nhuỵ hoa hình nậm rượu bé tí, vàng ươm. Hương hoa ngào ngạt. Suốt ngày, đàn ong mật kéo đến bay vù vù, Mùa xuân dần trôi qua, cây bưởi chi chít quả. Lúc đầu, quả bưởi to bằng quả cà chua, bằng trái bóng bàn, rồi lớn dần bằng nắm tay treo lủng lẳng. Đến tháng sáu, tháng bảy, quả bưởi lớn to tròn bằng đầu đứa trẻ lên hai. Trái bưởi da xanh căng lên óng mượt, đeo trĩu cành. Tháng tám, dịp Tết Trung thu, bố mẹ hái bưởi đem ra chợ bán. Tép bưởi căng tròn, vị thơm ngon ngọt, đậm đà, ai cũng tấm tắc khen. Trên mâm ngũ quả bày trên bàn thờ, quả bưởi vườn nhà chiếm một vị trí trang trọng. Trong hương vị Tết dân tộc cổ truyền, anh Quang thường nhắc lại cho chúng em nghe vài kỉ niệm đẹp về người bạn thân thời sinh viên, nay đang công tác ở một tỉnh miền Trung. Bài làm 3 Cây ớt Cây ớt dễ trồng. Hầu như ở vườn quê nào cũng trồng ớt. Cây ớt là loại cây thuộc họ cà, thân mềm, lá nhỏ dài màu xanh nhạt. Cây ớt cao độ hai mươi, ba, bốn mươi xăng-ti-mét. Hoa ớt trắng phau. Vườn nhà em trồng nhiều ót. Mẹ em thường dùng phân gà để bón cho các cây ớt nên cây nào cũng tươi tốt, trái lúc lỉu từng chùm. Khi chưa chín, quả ớt màu xanh; khi chín thì có màu đỏ hoặc vàng chanh. Ớt có nhiều loại. Loại ớt chỉ thiên, mỗi cây có thể có đến hàng trăm quả, màu trắng ngà, như ngọn giáo búp đa nhỏ tí, nhọn hoắt chĩa lên trời. Có loại ớt quả dài, loại quả tròn, giống chiếc đèn lồng. Gió nhè nhẹ thổi hàng cây ớt đung đưa, trái chín lập loè như đốm lửa. Ớt có vị cay nồng, là thứ gia vị được nhiều người ưa thích. Món lẩu cá, canh chua cá không thể thiếu vị ớt. Ngày nay có rất nhiều loại ớt được du nhập vào Việt Nam như ớt ngọt, màu xanh, không có hạt, giàu vi-ta-min, dùng để ăn sống hay xào nấu rất ngon. Quả ớt vừa là một thứ gia vị giúp ngon miệng vừa là một thứ dược liệu giúp trị viêm khớp rất tốt. Câu ca “Ớt nào mà ớt chẳng cay…” càng ngẫm nghĩ càng thấy ý vị đậm đà. Tả cây ăn quả nơi vườn quê. Bài làm Cây bưởi Bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn (miền Bắc), bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), bưởi Năm Roi (miền Nam) ngon nổi tiếng, tất cả đều là thứ quả xuất khẩu có thương hiệu. Bưởi là cây họ vân hương. Giêng, hai, bưởi ra hoa; hoa trắng phau như cúc bạch ngọc, hương thơm ngào ngạt. Tháng tám, tháng chín là mùa thu hoạch bưởi. Mâm cỗ Trung thu của trẻ em không thể không có bưởi. Nhà thơ Nguyễn Duy từng viết: “Bao giờ cho tới mùa thu/ Trái hồng, trái bưởi đánh đu giữa rằm”. Quả bưởi to, dài, hình quả lê hay hình tròn bằng đầu đứa trẻ con lên một tuôi. Có quả bưởi hình tròn nhưng hơi dẹt, vỏ màu vàng nhạt hoặc màu vàng chanh, bóng, dày. Tép bưởi trong, múi màu vàng nhạt hoặc màu đào; mỗi quả có từ 12 – 18 múi, các múi dễ tách rời nhau, trong mỗi múi thường có vài hạt. Bưởi có múi to, tép dày, vị ngọt lẫn vị chua là bưởi ngon. Mâm ngũ quả bày trên bàn thờ gia tiên vào dịp Tết không thể thiếu quả bưởi. Bài làm Cây xoài Ớ miền Nam nước ta trồng rất nhiều xoài. Cây xoài thuộc họ cây sơn. Xoài thuộc thân cây gỗ, lưu niên. Có cây xoài cao to, sum sê như cây đa, cây đề, có những cây xoài chỉ cao hơn đầu người đã cho hàng trăm quả mỗi vụ. Vườn nhà ông ngoại em trồng nhiều xoài cát. Hoa xoài trăng trắng, nở thành từng chùm. Ong rất thích hoa xoài. Mùa hoa, ong kéo đến từng đàn hút mật, lúc nào cũng nghe tiếng vù vù trên các vòm lá, chùm hoa. Quả xoài có nhiều tên: quả vọng, quả mật vọng, quả hương cái. Xoài chín rộ vào mùa hè. Quả xoài tròn dẹt hoặc hình quả thận. Lúc chín, quả có màu vàng bóng; thịt xoài vàng tươi, nhiều nước, hương thơm, vị ngọt. Hạt xoài to dẹt, có xơ trông tựa như cái mõ chùa bé xíu. Xoài được tôn vinh là “vua của các loài quả” trong vườn cây ăn trái. Quả xoài chứa nhiều vi-ta-min c, Bl, B2, ca-rô-ten, đường, prô-tít… rất tốt cho sức khoẻ con người. Xoài tượng, xoài cát, xoài thanh ca, xoài quéo… thứ nào cũng quý và thơm ngon.
Văn miêu tả lớp 3_ Tả một loài cây ăn quả nơi vườn quê.
1,177
Văn miêu tả lớp 3: Tả về một loài chim mà em biết Hướng dẫn Đề bài: Em hãy tả về một loài chim mà em biết hoặc em được thấy qua sách báo hoặc TV Bài làm 1 Chim chích choè Vườn nhà bà nội em trồng nhiều cây ăn quả: chuối, khế, đu đủ, na, cam, chanh, bòng, ổi… Đây cũng là nơi gia đình chích choè gồm 6 con chiếm giữ, coi như giang sơn của mình. Chích choè sống theo đôi. Chúng có cái mỏ nhọn và dài. Lông đen pha xanh biếc bao trùm lưng và đuôi. Đầu và ngực màu ghi. Bụng và đuôi (phía dưới) trắng mịn. Ớ cặp cánh điếm sọc trắng, ta tưởng là chim khoác thêm áo gi-lê. Chân chúng màu hung cao, có bốn móng nhọn, rất sắc. Chích choè là loài chim đẹp, đầu có mào đỏ, đít cũng màu đỏ. Tiếng hát của chúng inh ỏi như tiếng chuông đồng. Chim chích choè lớn gấp đôi chim sẻ, từ đầu mỏ đến mút đuôi chỉ dài độ 60 – 70 xăng-ti-mét. Chim bắt sâu giỏi. Khế chín, chuối chín, ổi chín là thứ hoa trái mà chim rất thích ăn. Mỗi lần nghe nó kêu, nó hót inh ỏi, bà lại bảo các cháu là trong vườn có nhiều trái chín. Yợ chồng con cháu đàn chim chích choè thật dễ thương. Lúc nào em cũng thấy chúng tha than đi dọc các luống rau xanh bắt sâu giúp bà. Bà luôn dặn các cháu không được phá tổ chim chích choè trên ngọn cây khế ở cạnh bờ ao, để vườn ta có nhiều “chiến sĩ bảo vệ cây trồng”, để có nhiều rau xanh và trái chín. Bài làm 2 Chim chìa vôi Bãi sông, bãi cát, bờ suối, ven đồi… là nơi sinh sống của chim chìa vôi. Mỗi đàn chim chìa vôi thường có từ 20 – 30 con, làm tổ và trú đêm ở các ruộng mía, lùm cây. Chim chìa vôi có thể chia đàn từ 2 – 4 con về sống ở ven làng, ở các vườn cây, vườn rau. Mỏ chim thon nhỏ, nhọn và dài. Lông ngực trắng mịn màng. Hai má có vệt lông vàng mơ. Cặp mắt hình trứng, màu đen. Lông đầu, cánh và đuôi màu đen, màu xanh có điểm sọc trắng. Cái đuôi dài độ 15 xăng-ti-mét, trên đen dưới trắng, tựa cái “chìa vôi”. Chân chìa vôi màu cam, cao, móng dài và nhọn, nhất là móng sau. Chìa vôi là chim lành, rất có ích, bắt sâu bọ, bảo vệ vườn rau, vườn cây. Vợ chồng chìa vôi cứ tha thẩn, thỉnh thoảng lại kêu “chẽo choẹt” gọi nhau, chia mồi cho nhau. Cây xoan, cây chanh, ngọn bạch đàn trong vườn nhà em là nơi trú ngụ của cặp vợ chồng chìa vôi. Sáng nào chim chìa vôi cũng cùng với đàn chim sẻ đua nhau gọi ông mặt trời. Lúc chim chìa vôi cong đuôi, xoè cánh kêu “chẽo choẹt” là em khoác ba lô sách đi học. Ngắm nhìn đôi chìa vôi nhỏ bé, em thấy sao mà chúng thân thiết, dễ thương thế. Bài làm 3 Chim chiền chiện Nhà thơ Huy Cận có bài thơ hay viết về con chim chiền chiện. Chúng em đã được học thuộc lòng. Em vẫn thường đọc nghêu ngao: Con chim chiền chiên Bay vút, vút cao Lòng đầy yêu mến Khúc hát ngọt ngào… Trên cánh đồng màu của làng em có rất nhiều chim chiền chiện. vồng khoai, luống lạc, bãi ngô… là giang sơn của chim chiền chiện. Chúng cần mẫn, mải mê kiếm ăn. Vào khoảng 9-10 giờ sáng, hoặc 3-4 giờ chiều mùa hè, mùa thu, từng đôi, từng đàn chim chiền chiện tung cánh hót ríu ran khắp đồng màu. Không thấy chim mà chỉ nghe tiếng hót từ trời xanh vọng xuống. Chú Tới nói: “Cày ruộng, mồ hôi ướt đẫm, ngồi nghỉ đầu bờ, chiêu bát nước vối… lúc ấy nghe tiếng chim chiền chiện hót, thấy sướng cái lỗ tai. Mua vé năm chục nghìn đồng vào rạp xem, nghe ca sĩ vừa nhảy vừa hát, có khoái bằng nghe chim chiền chiện hót không nào?”. Chiền chiện đồng hung và chiền chiện đồng vàng là hai loại có nhiều ở đồng màu quê em. Chim bé nhỏ xinh xinh, chỉ dài độ 10 – 15 xăng-ti-mét. Bộ lông có sọc vằn điểm trắng. Lông ở bụng màu trắng hoặc vàng mơ. Cặp cánh bó sát vào thân mình làm cho dáng chim thon thả. Cặp chân chiền chiện khá dài, móng chân nhọn, màu vàng ngà, rất xinh. Mỏ chim khum khum như ngòi bút máy, màu đen, lúc nào cũng mấp máy. Thức ăn của chiền chiện là các loài sâu mà chúng tìm được ở các vồng khoai, luống ngô, lạc… Chú Tới nói: “Năm nào chim chiền chiện hót vang đồng, vang trời là năm đó được mùa. Không có con chim nào đáng yêu như chim chiền chiện”. Bài làm 4 Chỉm yeng Bác Hoàng Kiều, nhà giáo về hưu, có nuôi nhiều chim đẹp và hót rất hay. Đáng yêu nhất là con chim yểng. Bác cho biết con yểng này là quà tặng của một sĩ quan Công an biên phòng Lai Châu – học trò cũ 20 năm về trước tặng bác nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2009. Bây giờ con yểng đã biết nói. Nó tự học và tự nói, giọng khàn khàn, nghe rất ngộ nghĩnh: “Có khách! Cố khách!”, “Chào khách! Chào lthách!”. Sáng nào cũng vậy, nó nói: “Sáng rồi! Sáng rồi!” để đánh thức mọi người dậy tập thể dục, chuẩn bị đi làm. Con yểng dài độ 30 xăng-ti-mét, khoác bộ lông xanh đen óng ánh. Cặp mỏ nhọn, dài màu vàng tươi. Mắt có viền tròn. Con yểng có hai vệt vàng như hai cánh hoa mai uốn cong lên. Cặp chân màu vàng sẫm, rất xinh. Lúc nào em cũng cảm thấy con yểng dịu dàng, ngẩn ngơ như ngẫm nghĩ, như đang thương nhớ gì xa xôi. Thoáng thấy em đi học về, nó đã vồn vã: “Chào khách! Chào khách”. Con yểng thích ăn trái cây chín. Nó cũng biết ăn khoai và thưởng thức một hai miếng thịt mỡ. Bác Hoàng Kiều quý nó lắm. Bài làm 5 Chim bìm bịp Phía đông làng em là hồ Ngựa rộng và dài, có tre và cây mắm, lau lách um tùm. Hồ là nơi đàn le le bơi lội, đàn cò tha thẩn kiếm mồi. Dọc bờ cây mắm, lau lách là nơi trú ngụ, sinh sống của chim bìm bịp. Chim bìm bịp thường theo đôi. Chim to hơn bồ câu; từ mỏ đến mút đuôi dài độ 30 xăng-ti-mét. Mỏ màu nâu, khum khum. Mắt đen hạt nhãn có vành vàng bao quanh. Chim trống có bộ lông đở sẫm điểm sọc nâu, như khoác áo len. Lông bụng và đuôi màu đen nhạt. Chim mái có bộ lông cánh màu nâu vàng, có con màu tía, rất rực rỡ. Con trống, con mái đều có cặp chân dài và to; bàn chân có bốn ngón, móng chân màu gan gà, cứng, dài, sắc nhọn. Chim bay thấp, bay chậm; chỉ một quãng ngắn độ 5 – 10 mét là sả xuống các ngọn bần, ngọn mắm quanh hồ, rồi lẩn vào lá xanh. Thức ăn của bìm bịp là cóc nhái, tôm tép và các loại hạt cây. Những ngày mưa nhiều, bìm bịp kêu lúc mờ sáng, lúc hoàng hôn, tiếng “ì ùm” kéo dài, nghe thật buồn, thật não nuột. Gần đây, bìm bịp bị săn bắt nhiều. Người ta bắt bìm bịp đem ngâm rượu. Nhìn con chim hiền lành xoã cánh ngâm trong bình rượu thuỷ tinh thật đáng thương. Bài đoc tham khảo Chim đa đa về mùa xuân, mùa hè, hoa sim, hoa mua nở tím biếc các dãy đồi trông thật đẹp. Đồi Bạch Xà có nhiều dược liệu. Đồi Yên Ngựa có nhiều rắn, rùa, bìm bịp. Đồi Mâm Xôi có nhiều gà gô. Gà gô còn gọi là chim đa đa. Con trống to gấp đôi, gấp rưỡi con mái. Lông chim màu đen lam ánh thép, có các vân mảnh màu trắng điểm từ đầu tới đuôi. Lông con trống, ở cánh và đuôi có nhiều vân màu đỏ; con mái có nhiều vân màu nghệ. Lông trắng bao bọc quanh vành mắt và cổ tựa như con chim thắt chiếc khăn tơ. Chim mái nặng độ 3kg, chim trống to, nặng tới 5 – 6 ki-lô-gam. Gà gô có mỏ nhọn, cứng và sắc để kiếm mồi trong các gốc cây, bụi rậm. Gà gô sống chui rúc nơi núi đồĩcó cây lúp xúp và nhiều cỏ rậm. Thức ăn của chúng là những con mối, con kiến, hạt cây, rễ củ. Chim chỉ rúc, lủi, ít bay, chỉ bay được từng đoạn ngắn và bay thấp. Trẻ mục đồng quê tôi thường bắt chước và nhại tiếng gáy của gà gô: “Tiếc con tép cha chà!”. Có truyền thuyết kể rằng cò, vạc, đa đa chơi bạc. Vạc thua, nhưng chỉ bán đồng điền cho cò một nửa ngày, vì thế cò ăn ngày, vạc phải ăn đêm. Đa đa thua trang tay, bán sạch ruộng đồng, phải lên đồi núi kiếm ăn. Vì thế, mới kêu, mới gáy: “Tiếc con tép cha chà!”. Bà Huyện Thanh Quan gọi chim đa đa là “cái gia gia” trong bài thơ Qua Đèo Ngang: Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia. Thuở nhỏ, tôi đã nhiều lần lên đồi Mâm Xôi hái sim và nghe chim đa đa gáy. Chim gáy râm ran các dãy đồi từ non trưa hoặc chiều hè. Chim đa đa gáy nghe rất buồn. Mùa sinh sản của đa đa là từ tháng ba đến tháng bảy. Mỗi đàn chỉ có 6 – 8 con. Thịt chim đa đa rất ngon, là đặc sản. Dọc tuyến đường Trường Sơn, thỉnh thoảng gặp người bán chim đa đa. Chim đa đa đã và đang bị săn bắt dữ dội để phục vụ khách nhậu ở các nhà hàng đặc sản. Loài chim này cần được bảo vệ. Vườn thú Thủ Lệ đã nuôi được chim đa đa và cho sinh sản. Một việc làm thật tốt, đáng được ngợi ca. Miêu tả về một tấm gương chăm ngoan học giỏi Bài đoc tham khảo Con cò ơ vùng đồng bằng Nam Bộ, dọc đôi bờ sông Tiền, sông Hậu có những vườn cò đông tới hàng vạn con, mấy năm gần đây trở thành điểm du lịch hấp dẫn. Ớ quê tôi, dọc bờ sông Kinh Thầy cũng có luỹ cò. Luỹ cò mùa hè thường có vài trăm con, nghìn con. Họ hàng nhà cò thật đông đúc: cò bợ, cò đen, cò lạo, cò lửa, cò nhạn, cò nơm, cò ruồi, cò thìa, cò xanh, cò trắng, cò quăm… Cái anh cò quăm đã đi vào ca dao không biết từ bao giờ? “Cái cò là cái cò quăm/Mày hay đánh vợ đêm nằm với ai?/ Có đánh thì đánh ban mai/ Đừng đánh chiều tối kẻo không ai cho nằm!”. Ở thôn Hạ quê tôi cũng có anh cu Chiến, ngoài 30 tuổi, nhác làm siêng ăn, bê tha rượu chè, cờ bạc, hay mắng chửi vợ con, dân làng rất khinh, gọi là “Chiến cò quăm!”. Luỹ cò làng tôi có nhiều cò lửa, cò xanh, cò trắng. Đẹp nhất, đáng yêu nhất là con cò trắng. Mỗi con nặng ngót một cân. Lông trắng phau. Mỏ dài, cổ cao, chân dài. Cặp mắt màu hạt nhãn. Lúc kiếm mồi cứ lò dò từng bước. Bắt được con tôm, con tép, con nhái, con cua, nghen cổ nuốt một cách ngon lành. Đẹp nhất là lúc bay, đôi cánh vẫy vẫy hoặc xoè rộng như chiếc tàu lượn. Nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa có câu: “Cánh cỏ chớp trắng trên sông Kinh Thầy”… Bài làm Chim thiên đường Anh trai bạn Ngọc là sĩ quan Công an biên phòng công tác ở miền Tây tỉnh Thanh Hoá trên biên giới Việt Lào về phép. Ngọc được anh trai tặng một đôi chim thiên đường rất đẹp. Các bạn trong lớp em đã kéo nhau đến nhà Ngọc xem chim thiên đường. Chúng em bảo đó là một cuộc tham quan “miễn phí” rất thú vị. Hai con chim thiên đường, một trống một mái được “ngự” trong chiếc lồng son. Đúng là sứ giả của nhà Trời, chim thiên đường đẹp quá! Con chim trống to hơn con sáo mỏ vàng, có một cái đuôi đỏ rực dài tới cả gang như hai dải lụa thướt tha. Đầu có mào, lông màu biếc. Mỏ và vành mắt màu xanh da trời. Cánh có ba màu nâu, trắng, đỏ. Lông ngực và bụng trắng phau. Cặp chân màu nâu đen, có bốn móng nhọn. Thiên đường trống không hót nhưng tiếng kêu có nhiều âm điệu, nghe rất vui, rất gợi cảm. Lúc chim trống kêu, con chim mái cứ lim dim đôi mắt. Thiên đường mái bé hơn con trống. Lông đuôi chỉ dài độ một gang, màu xanh biếc. Mỏ dài màu rêu. Đầu không có mào. Lông ngực và bụng cũng trắng phau. Cặp cánh màu hung có điểm màu nâu, màu xanh. Chim mái không rực rỡ bằng chim trống. Em chưa nhìn thấy loài chim nào đẹp như chim thiên đường. Bạn Ngọc nói sẽ học cách nuôi và phối giống. Bạn hứa, nếu chim đẻ sẽ tặng em một đôi chim thiên đường để nuôi làm cảnh… Nghe bạn nói mà khấp khởi mừng vui, hi vọng ngày đó sẽ đến sớm. Bài làm Chim vẹt Vẹt là một loài chim rất đẹp. Vẹt thường bay theo đàn, trên dưói mười con. Một đàn vẹt thường có đủ màu lông sặc sỡ, có con màu hồng, có con màu biếc, có con màu hung hung đỏ, có con màu vàng chanh. Em chưa nhìn thấy con vẹt nào có bộ lông màu đen. Chim vẹt chỉ to bằng con sáo đá, nhưng có cái đuôi dài hơn 10 xăng-ti-mét. Vẹt leo trèo giỏi, móng chân nhọn và sắc. Đầu to, mỏ ngắn và khoẻ, mỏ trên cong trùm lên mỏ dưới. Mỏ vẹt màu đỏ hoặc màu hung, có vệt trắng chạy dọc. Mắt vẹt long lanh. Chân vẹt ngắn và khoẻ, có thể leo trèo, đánh đu và đưa thức ăn lên mỏ. Vẹt sống trên cây, làm tổ trong hốc cây, hốc đất đá. Thức ăn của vẹt là các loại quả và hạt. Tháng sáu, tháng bảy, mùa khế chín, vẹt kéo hàng đàn về vườn bà. Có quả nào chín ngon là chúng ăn hết. Nhà bạn Bình ở lóp em nuôi được hai con vẹt có bộ lông xanh biếc, cái mỏ đỏ rực. Đôi chim đều biết nói. Hễ ai tới nhà là đôi vẹt cùng cất tiếng khàn khàn: “Chào khách! Chào khách!”.
Văn miêu tả lớp 3_ Tả về một loài chim mà em biết
2,490
Văn miêu tả lớp 3: Tả về một loài cây Hướng dẫn Đề bài: Em hãy miêu tả về một loài cây mà em yêu thích nhất Bài làm Vườn nhà em có ba gốc bưởi, giống bưởi Diễn do ông nội trồng hơn mười năm về trước. Ba cây bưởi đứng cạnh bờ ao, cành lá sum sê, xanh mượt, che rợp một góc vườn. Tháng giêng, bưởi đơm hoa. Nụ hoa như chiếc cúc bạch ngọc bằng đầu ngón tay út xinh xinh. Hoa bưởi nở xoè năm cánh trắng phau, nhị vàng, toả hương thơm ngào ngạt. Mùa hoa bưởi, ong bướm dập dìu kéo đến hút mật đông vui như hội. Trong làn mưa xuân, hoa bưởi rụng trắng vườn. Bà vẫn nhặt hoa bưởi rụng, hái lá bưởi già nấu nước tắm, nước gội đầu cho các cháu. Luộc ốc, bà lót vào đáy nồi ba, bốn chiếc lá bưởi, ốc có mùi thơm, ăn rất ngon. Tháng bảy, tháng tám, bưởi chín. Trái bưởi nào cũng căng tròn, vỏ màu vàng chanh. Cây nào cũng lúc lỉu hàng trăm quả tròn to. Mỗi quả bưởi nặng trên dưới một cân, múi có tép mọng, vị ngọt thanh. Năm nào cũng vậy, các cháu nội, ngoại đều được bà cho mỗi đứa hai quả làm quà đón Tet Trung thu. Mẹ em và thím Hoà vẫn gánh bưởi ra chợ bán. Có năm bà thu được 5-6 triệu đồng tiền bán bưởi. Cháu nào đạt danh hiệu học sinh giỏi, bà lại thưởng cho 100.000 đồng. Bà rất vui, nheo mắt cười và nói: “Đây là quà của ông, là tiền thưởng của cây bưởi đấy nhé!”. Mùa xuân này, bưởi lại ra hoa. Trong hương bưởi nồng nàn, em lại nhớ đến bài ca dao: “Trèo lên cây bưởi hái hoa. Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…” mà anh Hậu, con bác Luận thường h Bài làm Tả quả bòng, trái bưởi. Bưởi là một thứ trái thường được trồng trong vườn quê. Hầu như khu vườn nào trên đất nước ta cũng trồng được bưởi. Bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn, bưởi Phúc Trạch, bưởi Năm Roi – là bưởi ngon nổi tiếng, thuộc loại hoa trái xuất khẩu đã có thương hiệu. Có năm bưởi Phúc Trạch ở Hà Tĩnh xuất khẩu được mấy chục tỉ đồng; nhiều gia đình nông dân nhờ trồng bưởi mà trở nên giàu có. Quả bưởi thật quý. Mỗi quả bưởi có từ 12 – 18 múi; các múi dễ tách rời nhau. Múi bưởi nào cũng có vài hạt và nhiều tép mọng vừa ngọt vừa chua, đậm đặc vi-ta-min c. Trưa hè, được thưởng thức vài múi bưởi thật là thú vị. Mâm cỗ tết Trung thu của trẻ em không thể thiếu quả bưởi, quả bòng. Nhà thơ Nguyễn Duy đã viết: Bao giờ cho tới mùa thu, Trái hồng, trái bưởi đánh đu giữa rằm. Cô giáo lớp em nói: “Bưởi là loại cây trái rất quý. Lá bưởi nấu nước tắm, nước xông. Múi bưởi thơm ngon chua ngọt có kém gì cam. vỏ bưởi, hạt bưởi là vị thuốc. Trái bưởi để xuất khẩu, thu về nhiều ngoại tệ. Bài làm Cây chuối rất thân thuộc với mọi miền quê. Từ Bắc vào Nam, từ rừng núi tới vùng duyên hải, đi tới đâu ta cũng bắt gặp cây chuối, vườn chuối. Vườn nhà em, vườn chú Tư, vườn cô Hảo… đều trồng nhiều chuối. Họ hàng chuối thật đông đúc. Nào là chuối ngự, chuối ba hương, chuối tiêu. Nào là chuối mật, chuối hột (chuối chát), chuối ta, chuối tây, chuối lá, chuối lùn… Khóm chuối, bụi chuối là hình ảnh tuyệt đẹp về sự sum vầy đông vui của một gia đình. Cây chuối mẹ còng lưng cõng buồng chuối trĩu quả. Cây chuối tơ trổ hoa màu tím thẫm. Ba bốn cây chuối con cao hơn nửa mét, lá xanh màu cấm thạch như xoè bàn tay đón nắng gió. Chuối mẹ che chở cho đàn con. Chuối tơ, chuối con như ôm lấy, quây quần lấy chuối mẹ. Cây chuối có rất nhiều giá trị. Lá chuối tươi để gói bánh chưng, bánh tét. Lá chuối khô để gói bánh gai. Hoa chuối, cây chuối non đem thái mỏng đế làm nộm ăn với bún riêu, bún cua. Trái chuối xanh thái mỏng cùng với khế chua để ăn với tôm chua thì thật ngon miệng, cốm Vòng ăn với chuối trứng cuốc ngọt lừ. Đó là hương vị đậm đà, thơm thảo của quê hương. Buổi chiều đi học về, được ông bà cho một trái chuối chín thì vô cùng sung sướng. Trái chuối vàng ươm, cầm trên tay, chưa bóc vỏ ăn đã cảm thấy ngọt ngào. Bạn nhỏ tuổi thơ nào đã được thưởng thức món mứt chuối? Mẹ già như chuối ba hương, Như xôi nếp mật, như đường mía lau Bài làm Giàn bầu ở phía cuối vườn rau, bên bờ ao. Chẳng có gì là “hoành tráng” mà chỉ lơ phơ mấy cành tre, cành rào ghép vào nhau, chồng lên nhau. Bầu là loại cây leo. Ba, bốn gốc bầu chung giàn, dây quấn vào nhau. Sau những ngày mưa xuân, cây bầu đua nhau vươn lên. Lá bầu xanh rêu, xoè ra như cánh quạt giấy, như cánh chim câu, che rợp một góc ao bèo. Dây bầu bằng ngón tay cái, ngọn bầu xanh ngọc bằng ngón tay út, chạy dài, bò trên giàn tre. Đầu tháng ba, bầu trổ hoa, màu trắng nhạt. Hoa bầu nở xoè như cái bát cổ. Ong, bướm, chuồn chuồn cũng kéo đến khi giàn bầu trổ hoa. Hoa bầu không có hương thơm. Hoa rụng xuống ao, đàn cá rô phi tranh nhau ăn lấy ăn để. Cuối tháng ba, trong làn nắng mới, bầu kết trái. Giàn bầu lúc lỉu quả.to, quả nhỏ, quả ngắn, quả dài. Quả bầu hình nậm rượu rất xinh. Giữa quả bầu thắt nhỏ phần dưới và phần trên phình to ra, phần dưới to hơn phần trên. Quả bầu dài khoảng 10-20 xăng-ti-mét, màu xanh nhạt. Chỉ độ một tháng sau, quả bầu đã nặng đến hơn một cân. Quả bầu lứa đầu to nhất, mẹ để làm giống. Bầu non, bầu bánh tẻ được mẹ hái đem ra chợ bán. Từ quả bầu, mẹ chế biến được nhiều món ăn ngon: canh bầu với tôm rảo, bầu riêu cua, lòng gà xào với bầu… Món canh bầu ngọt ngon, đậm đà ăn với cà muối xối có kém gì cao lương mĩ vị. Có hôm bố vừa ăn món bầu xào lòng gà, vừa rung đùi đọc câu thơ cổ: Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa. Bố hỏi các con, đó là thơ của ai? Chị Hoa và em đang học tiểu học nên lắc đầu xin “chịu”. Bố và mẹ cùng cười vui vẻ. Bài sô 73 Tả cây mơ hay cây mận trong vườn quê. Chú Hợi, phó tiến sĩ, giảng viên Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã cho bố em một cây mận quý, giống mận Lạng Sơn. Sau hai năm, cây mận đã bói quả. Bố em trồng cây mận ở góc vườn, cạnh sân gần phía ngõ. Bố chăm sóc cây mận rất cấn thận. Cây mận bằng cổ chân người lớn, màu nâu. Cành mận bằng ngón tay, bằng chiếc đũa. Lá mận gần giống lá chanh, xanh thẫm. Tháng giêng, cây mận ra hoa, hoa nhỏ, màu trắng, gần giống hoa mơ. Cây mận tươi tốt, cành lá sum sê, rất đẹp. Cây mận bói quả vụ đầu, chỉ được đúng 12 trái. Sang tháng mười, mận chín, vỏ màu tím sẫm, to bằng quả trứng gà, lớn hơn quả bóng bàn, phía ngoài phủ một lớp phấn sáp mỏng màu trắng. Quả mận mọng, có vị ngọt hơi chua, thơm mùi mật ong. Bố hái mận, bày lên bàn thờ ông bà 5 quả to nhất; 3 quả đem biếu chú Hợi; còn 4 quả chia đều mỗi người một quả. Ăn hết quả mận, em Thuận nói với bố: “Con có thể ăn hết chục trái mận, bố ạ!”. Mẹ em nhìn cậu quý tử rồi cười. Vườn của gia đình em có giàn gấc xanh tốt bốn mùa. Gấc là giống cây leo như bầu, như bí. Gấc cũng được leo giàn thép. Lá gấc to bằng bàn tay người lớn xoè ra, màu xanh thẫm. Gấc có thể trồng lưu niên. Gấc lưu niên mới cho nhiều quả, quả to, quả mọng. Hoa gấc hình phễu, màu trắng nhạt, trổ hoa vào cuối xuân đầu hè. Trái gấc hình bầu dục to, vỏ có nhiều gai nhọn. Lúc chín, trái gấc có màu đỏ thắm. Giàn gấc vào độ tháng chín, tháng mười, treo lúc lỉu hàng chục trái như những ngọn đèn lồng, đứng xa nhìn rất đẹp. Mỗi quả độ 1- 2 ki-lô-gam. Gấc là thứ trái quý của vườn quê. Ruột gấc để đồ xôi, vừa dẻo thơm, béo ngậy, vừa đẹp. Hạt gấc màu đen, đem giã nhỏ, ngâm với rượu đế làm thuốc, chữa trị được nhiều chứng bệnh, ông nội em có một bình rượu gấc, màu nâu thẫm, sóng sánh như mật ong. Lúc nào ngắm giàn gấc em cũng cảm thấy yêu thêm ngôi nhà của gia đình mình, yêu thêm những quả gấc chín khẽ đung đưa trước làn gió. Bài làm Tả cây cà chua. Đến chơi làng Tây Tựu, ngoại thành Hà Nội, thú nhất là được đi dạo quanh các vườn rau. Vào đầu xuân hoặc vào độ tháng mười, tháng mười một, vườn rau nào cũng xanh biếc, tươi thắm một màu, đẹp như tranh, thậm chí đẹp hơn tranh. Rau cải thìa, cải bắp, súp lơ, su hào, hành, tỏi, đậu cô ve, xà lách… mơn mởn, ngắm nhìn đã thích, nhưng đến với các luống cà chua, càng nhìn càng thích hơn. Cà chua được trồng theo luống, được bắc giàn với nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều ô. Lá cà chua màu xanh nhạt. Gốc cây cà chua bằng ngón chân cái, cành cà chua bằng ngón tay, lá sum sê, phủ ldn mặt giàn. Dường như là cà chua lúc nào cũng xoè ra đón lấy mưa nắng và khí trời. Cà chua được các bác, các cô làm vườn chăm bón, tưới tắm nên xanh tốt, trĩu quả. Hoa cà chua màu vàng chanh, kết thành từng chùm. Trái cà chua xanh màu ngọc thạch. Trái chín màu vàng tươi, màu đỏ rực, căng tròn. Có trái cà chua to bằng quả cam, quả hồng. Trái cà chua có nhiều múi, chứa nhiều chất vi-ta-min… vừa là loại quả, vừa là loại rau, có thể ăn sống, có thể xào, nấu với thịt, cá, chế biến được hàng chục món ăn ngon lành. Mùa thu hoạch, ruộng cà chua đỏ rực một màu. Các sọt quả chín mọng, để đầu bờ, để dọc các luống rau. Xe ô tô chất đầy cà chua chín, chở đi các thị tứ gần xa. Chợ làng Tây Tựu ngày nào cũng đỏ rực một màu cà chua chín; kẻ mua người bán ồn ào suốt sáng, suốt chiều. Ngày Tết, bạn nhỏ nào đã được thưởng thức món mứt cà chua? Cây cà chua, trái cà chua thật quý. Bài làm Tả cây quýt, trái quýt. Quýt cùng họ với cam, chanh, bòng, những loại cây thân thuộc trong mọi vườn quê. Vườn gia đình em có hai cây quýt. Cây quýt thân gỗ, có thể cao 2 -3 mét. Lá quýt hình trứng, xanh mượt, chứa tinh dầu thơm. Một cây quýt có thể có tới hàng trăm, hàng nghìn trái. Trái quýt hình tròn dẹt, vỏ mỏng, dễ bóc. Trái quýt có vỏ màu xanh hoặc màu vàng chanh. Tháng hai, tháng ba, quýt trổ hoa màu tím trắng, rất thơm. Tháng chín, tháng mười, quýt chín, vàng rực vườn. Mùa quýt chín cũng là mùa rươi “Tháng chín đôi mươi, tháng mười mùng năm”, vỏ quýt thái nhỏ để làm chả rươi thì rất thơm, rất ngon. Yỏ quýt khô gọi là trần bì, một dược liệu rất quý. Quýt đế ăn tươi rất thơm ngon. Quýt còn dùng để dầm đường, uống giải nhiệt. Còn có mứt quýt vừa thơm vừa ngon. Tết năm nào, bố em cũng hái khoảng chục trái quýt bày lên mâm ngũ quả đặt trên bàn thờ gia tiên. “Bao giờ quýt đã đỏ trôn Vợ chồng cày trại bế con trở về.” Bài làm Tả cây sấu, quả sấu. Nhiều đường phố Hà Nội có cây sấu. Những hàng sấu cổ thụ, gốc đen xù xì, cao 30-40 mét, lá biếc xanh, che rợp từng dãy phố dài. Lá sấu mọc so le kép lông chim lẻ, có khoảng từ 15 – 10 lá chét. Lá bóng và dày; trời nắng hay mưa, là sấu óng ánh ngời lên rất đẹp. Hoa sấu nhỏ, màu vàng chanh lúc mới trổ, hơi trắng nhạt sau bốn, năm ngày. Hoa sấu mọc thành chùm chi chít ở ngọn cành, ngọn cây. Quả sấu hình cầu, khi chín có màu vàng nhạt, màu cỏ úa. Ruột sấu trắng trong, thơm dịu, bao bọc hạt màu nâu nhạt. Chỉ cần lấy dao con gọt mỏng lớp vỏ là có một quả sấu ngon lành, ngòn ngọt chua chua. Quả sấu chấm muối ớt, nhai giòn, thơm đậm. Quả sấu dầm đường là một thứ quà được học trò yêu thích. Nồi canh sấu cá chuối, canh sấu thịt lợn của mẹ nấu, con đi học về, bữa cơm trưa, cơm chiều, ăn mãi không chán. Câu “Mái buồn nghe sấu rụng” không biết của thi sĩ nào mà có lần cô giáo Phương đã nhắc đến? Tham khảo Tả về một loài chim mà em biết Bài làm Tả hàng tre xanh nhà em. Nhà em ở xóm Bầu. Bao bọc ngôi nhà nhỏ, mảnh sân và mảnh vườn là hàng tre. Hàng tre đã rất lâu đời. Tre xanh ken dày, hầu như quanh năm xanh ngắt. Gai tre chằng chịt. Lá tre um tùm. Sau những đạt mưa xuân, lớp lớp măng tre bụ bẫm, nhọn hoắt như mũi chông chĩa thẳng lên cao. Tre đực bằng cổ tay, cổ chân, rất dẻo và cứng. Tre hoá to hơn bắp chân, vàng óng, cao đến 20 – 30 mét. Năm ngoái, nhờ bán tre cho công trường, bố mẹ em đã có tiền mua xe máy cho anh Quang đang học đại học ở Đà Nằng. Tre là nơi trú ngụ của ếch nhái. Ngọn tre là mái nhà, là sân chơi của cò, vạc, chèo bẻo, chích choè, chim sâu. Đây cũng là nơi cò đậu, cò làm tổ, đẻ trứng và nuôi bầy con thơ. Sáng sớm, chiều tà, lũ chim trời nói chuyện huyên thuyên, cãi nhau ỏm tỏi, ca hát ríu rít như liên hoan, mở hội. Trưa hè, gió thổi, ngọn tre rung lên, reo lên, khí nóng trên sân, trong nhà bị xua tan. Tre kẽo kẹt như đưa võng. Những đêm thu, nằm chơi trên sân nhà, ngắm vầng trăng lấp ló sau ngọn tre, mới thấy nhà em là một góc thần tiên. Luỹ tre nhà em đẹp lắm, đáng yêu lắm! Bài làm Tả cây bàng có bóng mát. Ở trên bến đò Hạ có cây bàng được trồng từ năm 1970, thời kháng chiến chống Mĩ. Cây bàng do các chiến sĩ pháo binh trồng. Trải qua bom đạn, mưa nắng… cây bàng cứ phơi phới vươn lên, to đẹp như ngày nay. Cây bàng đã hơn 40 tuổi. Gốc to bằng cột đình làng Thượng, có nhiều bướu trông rất ngộ nghĩnh, vỏ gốc cây màu nâu đen, sần sùi. Xuân hè, lá bàng xanh thẫm, to và dày hơn bàn tay người lớn. Tán bàng sum sê che rợp một góc bến đò. Gốc bàng trở thành nơi khách bộ hành ngồi nghỉ mát, nghỉ chân lúc đợi đò. Lần nào theo ông sang đồng Mực tảo mộ cho bà, hai ông cháu cũng thường ngồi nghỉ chân đợi đò dưới gốc cây bàng. Ngấm cây bàng, ông nhẹ nhàng nói với cháu: “Người lính trồng cây bàng này không biết bây giờ ở đâu? Còn hay mất? Cây bàng trên bến đò là tình ân nghĩa sâu nặng. Dân làng ta không bao giờ quên tình quân dân thời khói lửa đã qua…
Văn miêu tả lớp 3_ Tả về một loài cây
2,713
Văn miêu tả lớp 3: Tả về nguời thân trong gia đình em Hướng dẫn Đề bài: Em hãy miêu tả về một nguời thân trong gia đình em Bài làm 1 Em yêu quý nhất là mẹ trong lòng em,mẹ luôn là người mẹ hiền và là hình ảnh cao đẹp nhất. Mẹ một tiếng nghe giản dị mà lại chứa chan tình cảm vô bờ bến như lời bài hát: “Lòng mẹ bao la như biển thái bình dạt dào Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào”. Năm nay mẹ em 42 tuổi.Mẹ em là người tuyệt vời nhất. Mẹ đẹp như cô tiên trong truỵên cổ tích. Mái tóc mẹ dài óng ả buông xõa ngang lưng. Đôi bàn tay mẹ không đẹp, nó đã bị chai như ghi lại những nổi vất vả của mẹ trong bao năm nay đã nuôi em khôn lớn nên người. Mẹ gội đầu bằng trái bồ kết nên tóc mẹ vừa mượt vừa suôn. Mẹ có khuôn mặt đẹp như trăng rằm. Mỗi khi mẹ cười hai hàm răng mẹ trắng ngần trông đẹp lắm! Mẹ vừa dịu dàng lại vừa đảm đang. Đi làm về, mẹ vừa vào bếp nấu cơm cho cả gia đình. Tối mẹ lại dạy em học bài, dọn dẹp nhà cửa rồi mới đi ngủ. Những đêm đông trời trở rét, nửa đêm mẹ lại thức giấc đắp lại tấm chăn cho em… Trong trái tim em, mẹ là tất cả, mẹ là cô tiên tuỵêt vời nhất trong cuộc đời em …… Có lần tôi bị bệnh mẹ chở em lên bệnh viện Trảng Bàng. Mẹ em nghỉ dạy để chăm sóc tôi vì ba tôi bận công tác xa, cơm nước quần áo, tắm rửa mẹ em phải làm cả. Về nhà em cảm thấy khỏe, nên mẹ đi dạy một buổi, trưa về mẹ chăm sóc cho em, hai bàn tay mẹ gượng nhẹ thận trọng âu yếm biết bao, lúc đó ánh mắt mẹ tràn ngập thương xót, nhưng miệng mẹ vẫn tươi cười kể chuyện này chuyện nọ cho em nghe để em chóng mau hết bệnh. Mỗi khi đau ốm mẹ em túc trực bên em sáng đêm, tận tụy lo lắng,cử động chậm rãi, gượng nhẹ xếp đặt mọi công việc trong ngoài không rảnh tay dù bận mấy đi nữa mẹ cũng không quên nấu những bữa ăn ngon. Mẹ khuyên bảo em đủ điều, giọng lúc nào cũng êm đềm thấm thía. Mẹ luôn công tư rạch ròi, về nhà mẹ là mẹ, nhưng trên bục giảng mẹ là người thầy, nếu em vi phạm thì phạt ngay, mẹ không hề châm chước hay thiên vị. Cảnh đêm khuya mẹ ngồi soạn từng trang giáo án, để chuẩn cho tiết dạy ngày mai. Có hôm thấy mẹ thả dài người trên ghế có vẻ nghĩ ngợi xa xôi. Mẹ ôm tôi, nâng niu những vòng tay âu yếm. Mẹ đứng ngồi không yên, khi em đi học về muộn. Bài làm 2 Chú Quản rất hiền lành. Nước da ngăm đen, chú nghiện chè vối. Vợ chồng chú Quản – thím Mai có ba người con, hai gái, một trai: Mùi, Hoa và Dũng. Ba chị em đều là học sinh giỏi. Gia đình chú Quản là gia đình văn hoá, sản xuất giỏi. Bài làm 3 Ngoài chị Phương bác sĩ, em còn có một anh trai. Các bạn học của em đều nói: “Vinh ơi, anh trai bạn vừa học giỏi, vừa đẹp trai”. Nghe các bạn nói, em tự hào lắm. Anh trai của em là Nguyễn Thế Hội, sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Da anh hơi đen, mắt sáng, trán cao, bạn bè gọi anh là “Hội hom”, nhưng anh học giỏi. Anh là một trong mười sinh viên được điểm cao nhất trong kì thi tuyển sinh đại học năm 2008 của trường Đại học Bách Khoa. Tính anh điềm đạm, ít nói, học hành chăm chỉ, rất khéo tay, giúp đỡ được nhiều công việc cho bố mẹ. ông bà và bố mẹ em rất yêu quý anh. Anh biết tiết kiệm tiền để mua sách để đọc và tự học. Áo quần mộc mạc giản dị nhưng tủ sách của anh có trên trăm quyển; quyển nào anh cũng kí tên và ghi rõ ngày, tháng mua và đã đọc. Anh rất hiếu thảo, anh thường xuyên quan tâm, săn sóc ông bà. Mỗi lần mẹ bị cảm ốm, anh thao thức, lo lắng, nấu nước hương nhu, bạch đàn cho mẹ xông, mua thuốc cho mẹ uống. Anh kính trọng chị Phương và săn sóc em lắm. Anh mua tặng em cái cặp sách rất đẹp và cuốn sách Những tam lòng cao cả. Em rất yêu quý anh Hội, người anh trai thân thương của em. Bài làm 4 Nếu ai hỏi em trên đời này em yêu ai nhất thì em sẽ trả lời rằng em yêu mẹ nhất. Như mọi người khác, mẹ em luôn vất vả là việc nuôi gia đình. Năm nay mẹ em đã ngoài ba mươi tuổi. Mẹ có một thân hình cân đối, không mập cũng không gầy. Thân hình của mẹ y như các cô người mẫu trong ti vi. Mẹ em cao trên 1m50. Khuôn mặt trái xoan của mẹ không cò đẹp như lúc ở tuổi 20 nữa vì mẹ phải làm lụng vất vả. Mái tóc của mẹ đen óng, suôn mượt và xõa xuống quá eo. Đôi mắt long lanh, sang như ánh sao làm cho gương mặt mẹ trở nên đẹp hơn. Đôi môi của mẹ đã bị khô vì lâu rồi mẹ chưa chăm sóc môi. Mẹ vui vẻ và hay cười, khi cười mẹ để lộ hàm răng trắng tinh. Nụ cười của mẹ luôn rạng rở và duyên dáng. Các cô bạn thời sinh viên của mẹ nói với em: “ Hồi còn là sinh viên mẹ là một trong những hoa khôi của trường ”. Mẹ sỡ hữu một giọng nói nhẹ nhàng và truyền cảm. Những luc bé Mai làm nũng không chịu ngủ thì bé cứ đòi mẹ hát ru. Nhưng mới hát được một nưa thì bé đã ngủ xay. Mẹ đi đứng nhẹ nhàng và cẩm thận. Mỗi lần em bị ốm, mẹ luôn quan tâm, chăm sóc và ngồi bên giường với em. Mẹ là một người mẹ tuyệt vời nhất thế gian. Các bạn ở lớp ai cũng nói em thật hạnh phúc khi có một người mẹ như vậy. Em rất vui và sẽ cố gắng học tập tốt để mẹ vui lòng.. Năm mẹ em 28 tuổi, bố em 32 tuổi thì mẹ em sinh ra em. Năm đó chị Hoa, chị gái của em đã lên 4 tuổi, đang học mẫu giáo. Mẹ em có khuôn mặt trái xoan, nước da trắng giống bà ngoại. Hàm răng mẹ trắng đều, mái tóc dày và dài óng mượt. Đôi chân mẹ thon thả, bàn tay thon búp măng. Mẹ làm gì cũng khéo léo. Các món ăn Huế, các loại bánh, chè đậu, chè sen… do mẹ chế biến, ăn rất ngon, các vị khách là bạn bè của bố, ai cũng khen. Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, mẹ về công tác ở Tổng cục Du lịch Việt Nam. Mẹ thường xuyên phải đi công tác, có lần xa nhà đến hai tuần, một tháng. Có bà ngoại ở nhà trông coi dạy bảo các cháu, nhưng mỗi lần trước khi đi công tác xa, mẹ cứ bồn chồn, không yên tâm. Mẹ ôm hôn hai chị em, nhắc nhở đủ điều. Mẹ rất dịu dàng, cử chỉ và tiếng nói của mẹ nhỏ nhẹ. Mẹ rất yêu thương các con. Cho đến nay, mẹ vẫn chải tóc, tết tóc cho chị Hoa, cắt móng tay cho em, đứa con trai cưng chiều của bố mẹ. Tối nào, mẹ cũng ngồi học với hai con. Mẹ dạy chị Hoa thêm Tiếng Anh, mẹ dạy em tập viết, làm Toán và Tiếng Việt. Mẹ luôn nhắc hai chị em: “Phải ngoan ngoãn, chăm học và học giỏi mới nên người”. Năm ngoái chị Hoa bị ốm một tuần làm mẹ phờ phạc lo âu, mặt buồn rười rượi. Mỗi lần em có lỗi, mẹ nhẹ nhàng nhắc rồi bắt em ghi vào cuốn sổ tay để nhớ mà sửa chữa. Ngày mai, 15 tháng 10, là ngày sinh nhật lần thứ 36 của mẹ, em sẽ tặng mẹ hai bông hoa: một bông hoa hồng thật to, thật đẹp và một bông hoa điểm mười Toán, với lời chúc: “Con chúc mẹ khoẻ, vui để yêu thương, dạy bảo hai chị em con…”. Em còn hỏi mẹ chuyện đi thăm Huế hè này nữa. Bài làm 6 Mẹ em tên là Nguyễn Thị Hoài, 32 tuổi. Mẹ là con gái út của ông bà ngoại. Năm em lên 2 tuổi thì ông ngoại qua đời. Bác Quang sống ở Vũng Tàu làm công tác dầu khí. Bác Loan sống ở vùng mỏ, làm bác sĩ bệnh viện Cửa Ông. Bố mẹ em ở với bà ngoại, bà đã già yếu nên mẹ đón về nhà chăm sóc. Mẹ em giống bà ngoại như đúc. Gương mặt mẹ thanh tú, thoáng một nét buồn. Dáng đi của mẹ nhẹ nhàng, khoan thai. Tay bà và tay mẹ đều thon búp măng, viết chữ đẹp, làm việc gì cũng khéo. Bà và mẹ rất hiền hậu, đức độ nên được bà con, anh em, láng giềng quý mến. Mẹ dạy học ở trường trung học cơ sở, được đồng nghiệp quý trọng, được học sinh yêu thương. Học sinh cũ của mẹ vẫn đến thăm và chúc mừng mẹ trong dịp Tet, trong ngày 20/11 hằng năm. Bố công tác xa, mọi việc trong nhà đều do mẹ lo toan, gánh vác: chăm sóc bà, dạy dỗ hai con, việc trường, việc nhà bận rộn suốt tuần, suốt tháng. Ngày nào mẹ cũng hỏi bà ăn có ngon miệng không, ngủ có ngon giấc không. Cứ đến sáng chủ nhật hằng tuần, mẹ nấu nước hương nhu gội đầu cho bà và con gái. Tối nào mẹ cũng kèm chúng em học bài và làm bài. Mẹ luôn luôn nhắc nhở chúng em: “Phải kính yêu thầy cô giáo, phải hoà đồng với bạn bè và phải chăm chỉ, siêng năng, học giỏi”. Lúc nào, em cũng nghĩ đến bà, nghĩ đến mẹ. Em thầm hứa sẽ cố gắng học giỏi đế bà và bố mẹ vui lòng. Bài làm 7 Bố em tên là Nguyễn Văn Vĩnh, 36 tuổi, kĩ sư nông nghiệp, hiện công tác ở Công ty Cây giống của huyện. Thân hình bố vạm vỡ, to cao, rất khoẻ. Bố em có khuôn mặt vuông chữ điền, hàm răng trắng và đều. Bố là con một của ông bà nội. Bố hiền lành, vui vẻ nên được mọi người quý mến. Mảnh vườn nhà em chỉ rộng hơn 40 mét vuông, nhưng bố trồng nhiều hoa, nhiều rau xanh tốt quanh năm. Hoa để bày lên bàn thờ tổ tiên, hoa cắm lọ đặt trên bàn. Rau xanh để dùng trong gia đình, để mẹ gánh đi chợ bán. Bác Tứ, chú Hậu, ông Toàn… đều được bố giúp đỡ kĩ thuật và cây giống mà có rau bán quanh năm. Bố em là chiến sĩ thi đua của tỉnh. Bố luôn luôn nhắc chúng em rằng: “Phải chăm học và siêng năng thì mai sau mới thành công”. Chị Hoa học lớp mười, tối nào bố cũng kèm chị học đến 11 giờ. Em yêu bố mẹ em nhiều lắm.
Văn miêu tả lớp 3_ Tả về nguời thân trong gia đình em
1,940
Văn miêu tả lớp 3: Tả về đồ dùng học tập thân thiết của em Hướng dẫn Đề bài: Em hãy miêu tả về đồ dùng học tập thân thiết của em Bài mẫu 1: Chiếc cặp sách của em Em có một chiếc cặp sách rất đẹp. Đó là món quà mà bố tặng nhân ngày sinh nhật lần thứ 9 của đứa con trai thương yêu. Chiếc cặp đẹp lắm! Nó khoác lên mình một chiếc áo bằng da láng bóng và được lót một lóp vải màu xanh nõn chuối khá bắt mắt. Quai cặp như hai cánh tay thon thả, mềm mại, gắn chặt vào một cái vòng đồng đỏ và hai chiếc kẹp xinh xinh. Mặt cặp là một bộ phận mà em rất thích, càng ngắm càng mê. Trên đó là hình ảnh một cánh đồng bát ngát bao la với nhiều hoa thơm cỏ lạ, bầy bướm trắng bay lượn, đàn chim nhạn bay ngang trời, dải mây hồng lơ lửng giữa trời xanh. Trên bãi cỏ xanh rờn, hai cô bé đang dạo chơi. Những đường viền màu vàng và màu hồng như một dải ruy băng được may rất khéo, làm cho chiếc cặp sách tăng thêm phần sang trọng. Khoá cặp bằng kim loại mạ bóng loáng. Cặp có hai ngăn: ngăn thứ nhất, em để sách, vở; ngăn thứ hai, em để hộp bút và những đồ dùng học tập khác. Hai bên cặp có hai chiếc túi nhỏ, đó là hai kho báu có hộp kẹo, gói bim bim, hoặc cái dây tập nhảy trong giờ học thể dục của em. Chiếc cặp đã trở thành người bạn nhỏ thân thiết của em trong học tập. Em thầm cảm ơn bố yêu quý đã tặng em chiếc cặp sách tuyệt vời này. Trên đường đi tới trường hay tan học ra về, lúc nào em cũng nghe chiếc cặp thủ thỉ, động viên: “Hãy cố gắng chăm chỉ và học giỏi, bạn nhé!”. Lên học lớp ba, dì Huệ mua tặng em một cái túi đựng sách rất đẹp. Đó là chiếc túi giả da, có hai màu xanh, đỏ rất tươi và hài hoà. Túi có cả quai ngắn và quai dài nên có thể xách túi bằng tay, cũng có thể khoác túi lên vai, rất thuận tiện. Túi có hai ngăn, một ngăn em để sách vở học tập hằng ngày; một ngăn em để hộp bút và các thứ lặt vặt khác. Ngày nắng cũng như ngày mưa, cái túi sách vẫn theo em đến trường. Nó là người bạn luôn nhắc em học hành cố gắng và chăm chỉ, cẩn thận và chu đáo, không được luộm thuộm như hồi học lớp hai nữa. Bài làm 3 Cái cặp sách – người bạn thân thiết của em Em có cái cặp sách rất xinh xắn. Em rất tự hào vì đó là phần thưởng “Vở sạch chữ đẹp” mà thầy Hiệu trưởng đã tặng cho em. Chiếc cặp sách bằng da, màu hồng, có hai ngăn vuông vắn, một ngăn to và một ngăn nhỏ. Ngăn to, em để sách giáo khoa. Ngăn nhỏ, em để vở và tập giấy làm bài kiểm tra. Ngoài ra, chiếc cặp còn có một ngăn phụ, em để hộp bút và các thứ lặt vặt khác. Hai mặt trước và sau chiếc cặp được trang trí đẹp. Mặt sau là hình ảnh một bầy chim đậu trên cành hoa rực rỡ, có con rỉa lông, có con hót. Mặt trước là hình ảnh ba cô bé mắt đen láy, môi hồng, tóc cài nơ, mặc váy xanh, đang sóng bước đi học. Cô bé nào cũng khoác ba lô sau vai. Cái cặp sách là gia tài của em. Nó đã mang nhiều điểm 10 về giúp em, để em khoe với ông bà và bố mẹ. Nó là người bạn thân thiết của em. Bài làm 4 Cây bút chì Trong hộp bút của em có cây bút chì. Cây bút chì dài khoảng 15 xăng-ti-mét, hơi giống chiếc đũa, có sáu cạnh đều nhau. Nó bé xinh và nhẹ nhàng, khoác bộ áo màu vàng nhạt, bóng mượt, mùi gỗ thơm lúc nào cũng toả ra thoang thoảng. Đuôi bút chì là một cục tẩy trắng ngà được gắn với thân bút bằng một vòng thiếc mỏng có nhiều ngấn tròn óng a óng ánh. Em vẫn thường dùng dao nhỏ hoặc cái gọt bút chì để gọt, tạo thành hình búp. Đầu bút chì nhọn hoắt và đen bóng. Cô cậu học trò nhỏ có thể dùng bút chì để kể, để vẽ, để tẩy, tập viết, tập tô, tạo nên những nét đen mờ trên trang giấy trắng. Lâu lâu em lại đem bút chì ra gọt và ngắm nghía, lòng thấy vui vui. Bút chì là một đồ dùng học tập rất quan trọng đối với mỗi học sinh. Chiếc bút chì được em giữ gìn nâng niu. Nó là bạn thân của em. Nó luôn luôn nhắc nhở em rèn luyện đức tính cẩn thận, chu đáo trong học tập Bài làm 5 Cây bút máy Lên lớp ba, em được dùng bút máy. Đó là chiếc bút nhãn hiệu “Hoa sim”. Bút bằng nhựa màu. Thân bút màu đỏ mận. Nắp bút màu xanh da trời, có cái cặp cài bằng kim loại óng ánh, rất xinh. Ngòi bút như lưỡi giáo sáng loáng có thể viết nét to, nét nhỏ, nét đậm, nét nhạt. Ruột bút là một ống nhựa nhỏ, dài, màu đen để đựng mực. Cô giáo Huệ hướng dẫn chúng em cách cầm bút, cách sử dụng bút máy, cách viết nét to, nét nhỏ. Sau mỗi tiết học, em lại “rửa mặt” cho bút máy. Em lấy giẻ mềm, lau nhẹ ngòi bút, rồi đóng nắp bút lại, cất vào cặp. Bài làm 6: Chiếc bút chì của em Bước vào năm học mới, mẹ mua cho em một cây bút chì,trông nó thật xinh xắn dễ thương.Cây bút chì còn thơm mùi gỗ và nước sơn. Nó dài hơn một gang tay, thân bút tròn và to hơn chiếc đũa. Bút chì được sơn màuvàng óng, trên đó nổi bật hàng chữ màu đen: Bút chì Hồng Hà.Đầu bút có cái đai mạ kền sáng bóng bọc lấy một miếng tẩy nhỏ màu xanh nõn chuối. Em quay đầu bên kia lên xem ruột chì thìthấy nó nhỏ, đen, tròn nằm chính giữa bút chì và chạy dọc theo chiều gỗ.Em lấy cái gọt bút chì gọt nhẹ và xoay tròn cây bút, lưỡi dao sắc, những mảnh gỗ mỏng, nhỏ, dài chạy ra để lộ ruột chì đen nhánh. Em cầm bút vẽ thử chú chuột Mickey trên trang giấy trắng.Nét bút đen, đậm nhạt theo nét vẽ hiện dần trông thật đẹp mắt.Không biết từ lúc nào, chiếc bút chì đã trở thành người bạnthân thiết của em. Khi dùng để chữa bài hoặc vẽ. Mỗi khi làm xong, em đều cẩn thận cho bút vào hộp để khỏi bị gãy
Văn miêu tả lớp 3_ Tả về đồ dùng học tập thân thiết của em
1,161
Văn mẫu hãy kể về một con vật nuôi mà em yêu thích: Hoàng Đế của tôi Hướng dẫn Hoàng đế của tôi – chúa tể bóng đêm Thuần hóa một hung thần sẽ thú vị hơn là nuôi những con vật tầm thường, bé bỏng, dễ thương. Không biết từ khi nào, tôi lại có những ấn tượng mạnh mẽ về loài bò cạp, sớm bi thuyết phục bởi sự mạnh mẽ và bí ẩn của chúng giống như trong các câu chuyện Ai Cập cổ đại hay truyền thuyết vua bò cạp. Đó là một chú bò cạp hoàng đế Pandinus, một loài bò cạp bản địa châu Phi. Bò cạp hoàng đế là một trong những loài bò cạp lớn nhất trên thế giới. Với con trưởng thành có chiều dài trung bình khoảng 20 cm. Kích thước to lớn của nó cộng thêm yếu tố nó ít độc và tuổi thọ dài khiến nó là loài bò cạp được nuôi làm vật cưng phổ biến trên khắp thế giới. Điều đó dẫn đến việc chúng bị săn bắt tràn lan làm đe dọa khả năng tuyệt chủng của nó. Dường như ẩn sâu trong nó là tâm hồn của quỷ dữ. Cũng có thể đó chỉ là phỏng đoán của con người mỗi khi trông thấy hình dáng dữ tợn và kì bí của nó. Khi tôi mua con Hoàng Đế từ bác bán hàng rong trước cổng trường, nó đang nằm trong một chiếc lồng sắt chắc chắn. Lúc về tới nhà, tôi mới phát hiện chiếc đuôi có kim độc huyền thoại của Hoàng Đế bị tổn thương nặng. Gần nửa đuôi bị rách làm cái đuôi lệch một bên. Tôi nghĩ chắc là do bị kẹt vào khe sắt. Tôi rất lo lắng. Nếu chiếc đuôi không thể tự lành lại được chắc chú sẽ buồn lắm. Bởi loài bò cạp luôn tự hào có chiếc đuôi có nộc độc với những cú chích chết người, thách thức mọi kẻ thù của nó. Vội vàng, tôi lấy lọ thuốc tím (một loại thuốc sát khuẩn) và băng dán băng bó vết thương cẩn thận. Tôi cố làm cho thật nhẹ nhành để Hoàng Đé không bị đau. Vốn vụng về nên tôi băng bó không được đẹp lắm. Nhìn cái đuôi bị băng chặt cứ khuây khuây trong thật ngộ nghĩnh. Thân bọ cạp chia làm hai phần: phần đầu ngực (đốt thân trước) và phần bụng (vùng thân sau). Phần bụng bao gồm phần bụng dưới và đuôi. Phần đầu ngực bao gồm lớp giáp, mắt, chân kìm (một phần của miệng), chân kìm sờ và 8 chân. Thân ngực vạm vỡ, kết hợp với màu đen tuyền khiến bọ cạp mạnh mẽ như một chiến binh thời tiền sử. Phần bụng dưới chia làm 8 đoạn. Phần bụng dưới được bọc giáp bằng chất sừng. Còn phần đuôi gồm 6 đốt (đốt đầu tiên như đốt bụng cuối cùng). Đốt cuối lần lượt gồm một túi chứa, một cặp tuyến độc và một mũi tiêm nọc độc. Phần cuối của chiếc đuôi có một đoạn chứa nọc độc. Phần cong này lên đến phần lưng của nó, dùng để cảnh báo những loài động vật kiếm ăn hoặc những kẻ địch đang định xâm phạm nó không được tiến lại gần. Đây là cơ quan tự vệ của bò cạp. Đồng thời nó đóng vai trò giữ thăng bằng mỗi khi nó di chuyển. Nếu mất phần đuôi, bò cạp không thể sinh tồn. Phần giáp bao quanh cơ thể, một số chỗ có lông làm cơ quan cân bằng. Một lớp phủ ngoài giáp vốn trong suốt sẽ biến thành màu xanh lục huỳnh quang dưới tia tử ngoại. Những con bọ cạp mới lột xác sẽ không phát sáng cho tới khi lớp giáp nó cứng cáp. Lớp phủ đó có thể không bị sứt mẻ trong hóa thạch suốt hàng trăm triệu năm. Tôi thường bỏ Hoàng Đế trên tay, để chú bò từ đầu này đến đầu kia. Dù cái đuôi bị thương không thể chích được nhưng tôi vẫn bao tay cho chắc ăn. Thỉnh thoảng Hoàng Đế tập cử động cái đuôi như thể kiểm tra xem có lành hẳn chưa. Bò cạp là một loài bướng bỉnh. Ngay cả khi nó tự giết chết bản thân mình, cũng không chịu thừa nhận mình đã bị đánh bại. Tôi chợt nghĩ đến một cuộc chiến quyết liệt và gây cấn giữa tôi – một chiến binh Orion vĩ đại và Hoàng Đế – vua của loài bò cạp như trong truyền thuyết. Ngay sáng hôm sau, khi đã chuẩn bị tất cả, tôi gọi bọn trẻ trong xóm đến xem cuộc tử chiến giữa chàng thợ săn Orion và vua bò cạp. Tôi bảo vệ kĩ càng ngón tay rồi hóa trang nó thành chàng thợ săn. Còn Hoàng Đế, tôi may cho nó một bộ giáp thật đẹp, có trang hoàng màu sắc sực sỡ. Cuộc chiến bắt đầu trong tiếng tung hô vang trời của đám trẻ. Những đôi mắt ngưỡng mộ, hau háu nhìn vào hai dũng sĩ. Tôi ngoe nguẩy ngón tay thách thức. Hoàng Đế lượn vòng dò xét đối phương rồi lao vào chiến đấu. Thật lợi hai, nó lao vào dùng càng ôm chặt lấy ngón tay tôi rồi dùng đuôi chích liên tục. Những cú đòn dũng mãnh mà có lẽ nếu đối phương dù có gan lì trúng phải lùi bước bỏ chạy. Sau nó thả ra và quan sát đối thủ. Tôi tiếp tục cử động thách thức. Phát hiện kẻ thù vẫn chưa bị hạ gục nó lại lao vào tấn công. Lần này, nó không ôm chặt nữa mà cứ cứ chạy vòng và chích chích thẳng liên tiếp. Mỗi cú ra đòn thật mạnh mẽ và chính xác có kèm theo nộc độc. May mà ngón tay tôi đã được bọc kĩ nếu không thì đã sưng vù trong đau đớn rồi. Cứ mỗi lần đi học về, tôi đều dành một ít thời gian chơi đùa cùng chú. Tôi thích cái đuôi lúc nào cũng cảnh giác cao độ của Hoàng Đế, sẵn sàng chích vào người ta nếu bị giật mình hay phát hiện nguy hiểm. Đó có thể chỉ là bản năng xong tôi nghĩ đề phòng, cảnh giác là một kĩ năng cần thiết để sinh tồn trong tự nhiên, một phẩm chất cần có. Dần dần, Hoàng Đế quen với tôi hơn. Nó không còn dựng càng đề phòng mỗi khi tôi bắt chú ra khỏi hộp. Nó thích bò khắp nơi, thích được tự do. Đôi khi nó đứng lặng im, hoặc ẩn mình ở một góc tối nào đó. Loài bò cạp không thích không gian ồn ào hoặc sáng gắt. Nó thích bóng tối, thích yên lặng như các vị thần luôn ẩn mình nơi vắng vẻ. Những phản ứng của nó tuy đơn điệu, không tình cảm như loài chó, loài mèo nhưng tôi yêu nó bởi cái khí phách hùng dũng và vẻ lạnh lùng, bí hiểm mê hoặc gợi cho ta nhiều suy nghĩ. Thế đấy các bạn ạ!. Dù là loài vật đầy nguy hiểm nhưng có thể đem đến cho chúng ta những cảm giác thú vị khi ta nuôi chúng. Con Hoàng Đế với khí phách của nó luôn nhắc nhở tôi biết vươn lên, biết đấu tranh, biết tự lập trong cuộc sống và không bao giờ chịu lùi bước trước khó khăn thử thách. Nhưng tôi khuyên các bạn không nên nuôi chúng nếu các bạn là người vụng về hay chưa hiểu biết gì về loài vật này. Bởi chúng rất nguy hiểm, có thể làm ta tổn thương. Thậm chí là cướp đi tính mạng nếu một khi ta thiếu cẩn thận và đề phòng.
Văn mẫu hãy kể về một con vật nuôi mà em yêu thích_ Hoàng Đế của tôi
1,301
Văn mẫu lớp 10: Trong vai Tê-lê-mác kể lại buổi Uy-Iit-xơ trở về Hướng dẫn Trong vai Tê-lê-mác kể lại buổi Uy-Iit-xơ trở về Văn mẫu lớp 10: Trong vai Tê-lê-mác kể lại buổi Uy-Iit-xơ trở về là tài liệu học tốt môn Ngữ văn 10 hay dành cho các bạn tham khảo, nhằm hoàn thành tốt bài viết văn về đoạn trích Uy-Iit-xơ trở về trong chương trình. Chúc các bạn đạt kết quả cao trong học tập! Trong vai Tê-lê-mác kể lại buổi Uy-Iit-xơ trở về – Bài làm 1: Tôi là Tê-lê-mác, con trai của vị anh hùng Uy-lít-xơ. Sau khi hạ được thành Tơ-roa, người cha vĩ đại của tôi đã phải trải qua hai mươi năm lênh đênh trên biển cả, đương đầu với rất nhiều thử thách trước khi về được quê hương I-tác. Thuyền của nhà vua xứ Phê-a-ki đưa cha tôi về I-tác, cập bến vào đúng thời điểm mẫu thân tôi đang gặp rắc rối vì bọn cầu hôn thúc ép. Bà tìm cách chối từ, bèn lấy chiếc cung của cha tôi ra, giao hẹn: hễ kẻ nào gương được cung, bắn xuyên qua mười hai cái vòng rìu thì bà sẽ lấy kẻ đó. Tất cả bọn cầu hôn đều thất bại, trừ một người. Ấy chính là cha tôi. Tôi nhận ra ông ngay lập tức bởi thần hình vạm vờ, lực lưỡng cánh tay giương cung nỗi cơ bắp cuồn cuộn, rắn chắc, ánh mắt cháy rừng rực như ngọn lửa mặt trời. Tôi kể nhanh sự tình và cùng cha trừng trị bọn cầu hôn cũng như những gia nhăn phản bội. Lúc rửa chán cho cha, nhũ mẫu ơ-ri-clê đã nhận ra người qua vết sẹo ở chân và mặc dù bị cha ngăn lại, nhũ mẫu vẫn đem chuyện kể cho mẫu thân. Thật trái với những gi tôi tưởng tượng, mẫu thân tôi không tin. Sau bao năm xa cách, lẽ ra giây phút gặp lại, cha mẹ phải ôm hôn nhau thắm thiết, nhưng thật không thể thiếu nổi: cha ngồi dựa vào một cây cột cao, mắt nhìn xuống đất trong khi mẹ bước qua ngưỡng cửa bằng đá đến ngồi trước mặt dựa vào một bức tường dối diện. Giữa hai người là bếp hồng cháy rừng rực. Im lặng. Một sự im lặng khó hiểu đến nghẹt thở khiến tôi không thể chịu nổi. Tôi thấy mẹ tôi thật bất công với cha bèn buông lời trách bà gay gắt, rằng: người thật độc ác, thật nhẫn tâm, trái tim người là bằng sắt đá… Mặc dù bị tôi, đứa con yêu trách cứ nặng nề, nhưng Pê-nê-lốp, mẹ tôi, vẫn nói những lời thận trọng. Người nói với tôi để bóng gió với cha rằng họ có những dấu hiệu riêng để nhận ra nhau. Cha tôi nhẫn nại mỉm cười và nói với tôi những lời có cánh. Tôi chỉ biết đáp lại: “Cha thân yêu, việc này xin để tùy cha định liệu, vì xưa nay cha vẫn là người nổi tiếng khôn ngoan, không một kẻ phàm trần nào sánh kịp”. Nói rồi, theo lời cha, mọi người tắm rửa, ca hát nhảy múa như trong nhi; đang làm lễ cưới. Cha cũng đi tắm và khi từ phòng tắm bước ra, trông người đẹp như một vị thần. Người trở về chỗ cũ, đối diện với mẹ và nói: Khốn khổ! Hẳn là các thần tiên núi Ô-lem-pơ đã ban cho nàng một trái tim sắt đá hơn ai hết… vì một người khác chắc không có gan ngồi xa chồng như thế, khi chồng đi biền biệt hai mươi năm trời, trải qua bao nỗi gian truân, nay mới trở về xứ sở”. Người quay sang nói với nhũ mẫu Ơ-ric-lê: “Già hãy kê cho tôi một chiếc giường để tôi ngủ một mình”. Mẹ tôi vẫn rất thận trọng đáp lời cha tôi và nói với nhũ mẫu: “Ơ-ric-lê! Già hãy khiêng chiếc giường chắc chắn ra khỏi gian phòng vách tường kiên cố do chính tay Uy-lít-xơ xây nên, rồi lấy da cừu, chăn và vải đẹp trải lên giường”. Nhìn cảnh tượng cha mẹ hạnh phúc, tôi cảm động và sung sướng vô cùng. Tôi thầm cảm ơn thần Dớt, vị thần tối cao, cảm ơn các vị thần trên đỉnh Ô-lem-pơ! Trong vai Tê-lê-mác kể lại buổi Uy-Iit-xơ trở về – Bài làm 2: Sau hơn hai mươi năm trời ròng rã xa quê hương, phải chịu bao nhiêu gian nan, thử thách, giờ thì cha tôi đã trở về nhà. Chỉ có điều là cha giấu mình trong bộ dạng của một kẻ ăn mày rách rưới. Cha làm như vậy để thử xem người vợ hiền yêu dấu của mình có nhận ra mình hay không. Trong thời gian dài, cha tôi vắng nhà, mẹ tôi phải thường xuyên đối phó với 108 gã đàn ông quyền quý trong vùng tranh nhau đến cầu hôn. Chúng xảo quyệt, hung hãn, quấy rối suốt ngày này qua tháng khác để rắp tâm ép buộc mẹ tôi và chiếm đoạt tài sản của gia đình tôi. Pê-nê-lốp – Người đàn bà thông minh xinh đẹp là mẹ của tôi, luôn phải nghĩ ra trăm phương ngàn kế để kéo dài thời gian, hy vọng cha tôi sẽ trở về. Vì nói là có biết một số điều về Uy-lít-xơ nên gã hành khất – tức là cha tôi đã lọt vào trong ngôi nhà của mình. Ông được mẹ tôi cho phép ở lại để kể cho mẹ tôi nghe những điều về người chồng yêu quý mà mẹ đang mong mỏi đợi chờ. Hôm sau, mẹ tôi tổ chức một cuộc thi bắn cung và ra điều kiện nếu ai giương được cây cung của Uy-lít-xơ thì sẽ lấy làm chồng. Hàng trăm kẻ quý tộc không kẻ nào nâng nổi. Gã hành khuất xin tham dự và đã thắng. Tôi nhận ra cha. Với cây cung trong tay, cha tôi đã đánh đuổi tiêu diệt những kẻ cầu hôn quấy nhiễu và lũ đầy tớ phản chủ. Bà nhũ mẫu Ơ-ri-lê lên gác báo tin là Uy-lít-xư đã trở về nhưng mẹ tôi không tin và bảo rằng bà chớ vội vui mừng vì có lẽ người đánh tan lũ cầu hôn láo xược là một vị thần nào đó. Còn Uy-lít-xơ thì không còn hy vọng trở về vì chàng đã chết. Nhũ mẫu vẫn một mực khẳng định là cha tôi đang ở dưới nhà và giục mẹ tôi hãy mau xuống đón mừng. Bà còn nói rõ dấu hiệu khó quên là cái sẹo ở chân cha tôi, dấu vết của một lần ông đi săn bị nanh trắng của con lợn nòi húc vào. Mẹ tôi vẫn chưa tin, quay sang bảo nhủ mẫu hãy cùng xuống nhà để xem xác chết của bọn cầu hôn và kẻ giết chúng. Xuống đến nơi, mẹ tôi bước qua ngưỡng cửa bằng đá rồi đến ngồi trước mặt cha tôi, trong khi ông tựa lưng vào cái cột, mắt nhìn xuống đất, hồi hộp xem người vợ cao quý sẽ nói gì khi nhận ra mình. Mẹ tôi vẫn ngồi lặng thinh, vẻ mặt sửng sốt, lúc thì đăm đăm nhìn chồng, lúc lại như là không nhận ra người chồng yêu quý trong bộ quần áo rách mướp của kẻ ăn mày. Không nén nổi tức giận, tôi buột miệng trách sao mẹ lại tàn nhẫn như thế. Mẹ không hỏi han, cũng chẳng đến bên cha vồn vã trò chuyện. Tôi thầm nghĩ chắc trên thế gian chẳng có người vợ nào sắt đá đến nỗi chồng đi xa biền biệt hai mươi năm, trải qua biết bao gian lao, bây giờ mới trở về xứ sở, mà lại có thể ngồi cách xa chồng đến vậy. Mẹ tôi không giận mà dịu dàng đáp: Tê-lê-mác con ơi, lòng mẹ kinh ngạc quá chừng! Mẹ không sao nói được một lời, mẹ không thể hỏi han, không thể nhìn thẳng mặt người. Nếu quả thực đây chính là Uy-lít-xơ, bây giờ cũng đã trở về, thì con có thể tin chắc rằng thế nào cha con và mẹ củng sẽ nhận được ra nhau một cách dễ dàng, vì cha mẹ có những dấu hiệu riêng, chỉ hai người biết với nhau, còn người ngoài không ai biết hết. Nghe mẹ tôi nói vậy, cha tôi nhẫn nại mỉm cười và nói với tôi: Tê-lê-mác con! Đừng la rầy mẹ, mẹ còn muốn thử thách cha ở tại nhà này. Thể nào rồi mẹ con cũng sẽ nhận ra, chắc chắn như vậy. Hiện giờ cha còn bẩn thỉu, áo quần rách rưới nên mẹ con khinh cha chưa nói: “Đích thị là chàng rồi. Nhưng về phần cha con ta, ta hãy bàn xem nên xử trí tình huống thế nào cho ổn thỏa nhất. Nếu có ai giết chết một người trong xứ sở, chỉ một người thôi và dù kẻ bị giết chẳng có ai báo thù cho nữa, thì người ấy củng phải rời bỏ cha mẹ, đất nước, trốn đi. Huống hồ chúng ta đây, chúng ta đã hạ cả thành lũy bảo vệ đô thị này, giết các chàng trai của những gia đinh quyền quý nhất. Tình huống ấy cha khuyên con nên suy nghĩ. Tôi kính cẩn thưa rằng mọi việc xin cha cứ định liệu, vì xưa nay, cha vốn là người sáng suốt. Tôi cũng hứa sẽ hết lòng phù tá cha tôi. Sau đó, cha bảo mọi người đi tắm rồi mặc quần áo đẹp, nhảy múa ca hát để mọi người lầm tưởng rằng nhà có đám cưới và dặn tất cả hãy giữ kín mọi chuyện cho đến khi hai cha con tôi về đến trang trại của ông nội, sắp đặt xong cha cũng đi tắm. Lát sau, từ trong phòng tắm bước ra, trông cha uy nghi, đẹp đẽ như một vị thần. Trở về chỗ cũ, cha nói với mẹ rằng: Khốn khổ! Hẳn là các thần trên núi Ô-lem-pơ đã ban cho nàng một trái tim sất đá hơn ai hết trong đám đàn bà yếu đuối, vì một người khác chắc không bao giờ có gan ngồi cách xa chồng như thế, khi chồng đi biền biệt hai mươi năm trời trải qua bao nỗi gian truân, nay mới trở về xứ sở! Rồi cha tôi bảo nhũ mẫu hãy kê cho ông một chiếc giường để ông ngủ một mình như bấy lâu nay vì trái tim trong ngực vợ ông được làm bằng sắt. Mẹ tôi nói vậy là để thử cha tôi. Quả nhiên cha tôi bỗng giật mình hỏi ngay, nàng ơi. Nàng vừa nói một điều làm cho tôi chột dạ, ai đã xê dịch giường tôi đi chỗ khác vậy? Nếu không có thần linh giúp đỡ thì dù là người tài giỏi nhất cũng khó lòng làm được việc này. Rồi cha tôi kể chi tiết, tỉ mỉ về đặc điểm của chiếc giường. Bí mật này ngoài cha mẹ của tôi ra chỉ có một thị tì của mẹ tôi biết được. Nghe vậy, mẹ tôi bủn rủn cả chân tay vì cha tôi đã tả đúng mười mươi sự thật. Mẹ liền chạy ngay lại, nước mắt chan hòa, ôm lấy cổ và hôn trán người chồng yêu quý mà nói rằng: Uy-lit-xơ xin chàng chớ giận thiếp, vì xưa nay chàng vẫn là người nổi tiếng khôn ngoan. Ôi! Thần linh đã dành cho hai ta một số phận xiết bao cay đắng vì người ghen ghét ta, không muốn cho ta dược sống vui vẻ bên nhau, cùng nhau hưởng hạnh phúc của tuổi thanh xuân và cùng nhau đi đến tuổi già đầu bạc. Vậy giờ đây, xin chàng chớ giận thiếp, cũng đừng trách thiếp về nỗi gặp chàng mà thiếp không âu yếm chàng ngay. Thiếp luôn luôn lo sợ có người đến đây, dùng lời đường mật đánh lừa, vì đời chẳng thiếu người xảo quyệt, chỉ làm điều tai ác… Giờ đây chàng đã đưa ra những chứng cớ rành rành, tả lại cái giường không ai biết rõ, ngoài chàng với thiếp và Ác-tô-rít, một người thị tì của cha thiếp cho khi thiếp về đây và sau đó giữ cửa gian phòng vách tường kiên cổ của chúng ta. Vì vậy, chàng đã thuyết phục được thiếp và thiếp phải tin chàng, tuy lòng thiếp rất đa nghi. Giọng nói chân thành của mẹ tôi khiến cha tôi rất cảm động. Cha ôm lấy người vợ xiết bao yêu thương, người bạn đời chung thủy của mình mà khóc. Gặp lại chồng mình sau hơn hai mươi năm mòn mỏi chờ đợi, mẹ tôi sung sướng vô cùng! Mẹ nhìn ngắm cha không chán mắt và hai cánh tay trắng muốt của mẹ cứ ôm cổ cha không muốn rời. Cảnh tượng ấy khiến trái tim tôi – đứa con trai duy nhất của hai người, cứ thổn thức mãi không nguôi vì xúc động vì hạnh phúc. Từ đây tôi sẽ luôn được sống trong sự thương yêu che chở của mẹ, của cha.
Văn mẫu lớp 10_ Trong vai Tê-lê-mác kể lại buổi Uy-Iit-xơ trở về
2,201
Văn mẫu lớp 3: Em hãy miêu tả một vườn rau. Hướng dẫn Đề bài: Em hãy miêu tả một vườn rau mà em thích nhất Bài làm 1 Vườn rau nhà bác Tuệ Vườn rau nhà bác Tuệ xanh tốt nhất vùng ngoại ô này. Vườn rộng độ hai sào, được chia thành nhiều khoảnh, nhiêu luống đều tăm tap. Những luống rau xanh chạy dài. Đất tơi xốp, màu mỡ. Hầu như không thấy một cây có dại nào. Khoảng trồng rau cải bắp là rộng và dài nhất. Hàng nghìn cái bắp cải tròn vo, màu ngà, được cụm lá xanh sẫm xoè ra như hai bàn tay to bao bọc lấy. Những luống rau cải thìa, lá xanh nhạt, mỡ màng, cuộng rau dài, to uốn vồng lên màu trắng nõn. Những luống xà lách xanh rờn, tươi non. Chỉ ngắm nhìn cũng đã thấy vị ngọt mát nơi đầu lưỡi. Luống cải bẹ xanh non, cây nào cũng có những bẹ rau to uốn vồng lên như tay vũ nữ đang múa lượn. Vườn rau đẹp quá! Đẹp như một bức tranh màu của nhà danh hoạ. Nguyễn Vũ Tuấn, 3C Trường Tiểu học Tây Tựu – Hà Nội Bài làm 2 Vườn rau nơi làng quê Gia đình bác Ngọc ở cuối làng. Bác là triệu phú làm vườn ở làng em. Vườn rau của gia đình bác rộng hơn ba sào, quanh năm xanh tốt. Khu vườn được chia thành những khoảng trồng hành, tỏi, đậu cô ve, cà tím… Đến vườn nhà bác chơi, em thích nhất là ngắm hàng trăm, hàng nghìn cây cà tím. Cây nào cũng cỏ hàng chục quả cà to bằng cổ tay đứa trẻ lên hai, dài độ gang tay người lớn, màu tím thẫm, tím nhạt, tím nâu, tim tím, đủ màu sắc, đủ dáng hình, căng đầy nhựa sống và chứa đầy vị ngon, vị ngọt. Những luống rau thơm như rau diếp, kinh giới, húng láng, mùi tàu… phô lên một màu xanh tươi non. Luống ót ngọt quả to và dài, thu hút từng đàn chuồn chuồn, bươm bướm bay lượn rộn ràng. Sáng sớm, trưa, chiều, tối, hầu như lúc nào trên vườn rau của bác cũng có 5, 6 chị. Người thì thu hái, cắt tỉa. Người thì gánh rau chất đầy lên xe ô tô. Người thì tưới nước. Người thì cuốc xới. Đèn điện thắp sáng vườn rau thâu đêm khi vào vụ rau đông xuân. Những luống rau vừa thu hoạch xong đã được cuốc xới, bón phân, tạo thành rãnh, chuẩn bị gieo trồng tiếp. Có đến đây mới thấy rõ: tấc đất tấc vàng và bàn tay cần cù, khéo léo của những nhà làm vườn, thợ trồng rau. Có đến đây mới hiểu: Rau xanh, rau thơm, rau tươi, rau sạch… là một phần quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Lần nào tôi đến chơi, Thuý cũng dẫn tôi vào vườn dạo mát, bắt chuồn chuồn, bươm bướm, tìm mấy chú nhái xanh ẩn mình trong những khóm rau. Vườn rau nhà Thuý có mấy chục luống rau xanh chạy dài từ đầu vườn đến cuối vườn. Tôi cứ đứng ngây ngất ngắm nhìn luống cải thìa xanh nõn, luống su hào củ to, luống xà lách cuộn tròn, tươi xanh. Tôi say mê theo Thuý đi dọc luống rau thơm tươi tốt, luống cà tím sai trĩu, luống ớt ta chín đỏ rực. Dưới ánh nắng nhạt mùa đông, chuồn chuồn, bươm bướm, ong mật… kéo đến vườn rau đàn đàn lũ lũ. Ngắm nhìn màu xanh non ngọt ngào của vườn rau, tôi cảm thấy tâm hồn lâng lâng. Tôi yêu màu xanh vườn rau của gia đình bạn Thuý nhiều lắm! Bài lảm 4 Vườn rau của mẹ tôi Mẹ tôi là nhân viên Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quận. Học bác Huệ láng giềng, mẹ tôi thu hẹp cái sân lại để lấy đất trồng rau, trồng hoa. Bố và anh Thuận đã giúp mẹ cuốc đất, đập đất, vun thành luống. Đi làm ở cơ quan về, hầu như chiều nào mẹ cũng ra vườn trồng rau, bón phân, tưới nước, nhổ cỏ… Mẹ trồng rau muống, rau cải, trồng su hào. Luống rau muống xanh rờn. Rau cải thìa, rau cải bẹ non mơn mởn. Luống su hào có 120 cây, củ thật to, thật non. Đây là luống rau đẹp nhất, tươi tốt nhất trong vườn rail của mẹ. Mẹ còn trồng ba khóm ớt, trồng cây rau quế, tía tô… Sáng chủ nhật nào, tôi cũng theo mẹ ra vườn giúp mẹ tưới rau, nhổ cỏ. Chuồn chuồn, bươm bướm, ong mật… bay đến dạo chơi trên các luống rau trông thật đẹp. Tham khảo: Tả cảnh sân trường vào giờ ra chơi Bài làm 5 Đằng sau nhà em có một khoảng đất rộng, nhà em thường dùng chỗ đất đó để trồng rau. Cứ một thời gian ngắn thôi là nhà em đã có một vườn rau xanh tốt. Chỗ đất đó trước đây nhà em có trồng một số cây ăn quả, nhưng vì một hôm trời mưa bão rất lớn cây bị đổ nên từ đó trở thành khoảng đất trống. Nó cũng được để trống khá lâu cho đến khi mẹ em là người nảy ra ý định sẽ trồng một bãi rau ở đó để việc lấy rau ở gần nhà sẽ tiện hơn, vừa tiết kiệm được một khoản tiêng mua rau vừa có rau sạch do chính mình trồng để ăn. Tất cả mọi thành viên trong nhà đêu tán thành. Một vườn rau-Ảnh minh họa Vào một buổi chủ nhật bố em ở nhà đào hết mấy cái gốc cây còn sót lại, vì đất đó cũng khá cứng nên bố phải chở thêm một ít đất mềm xốp về. Mẹ và em thì quốc đất, nhặt cỏ. chẳng mấy chốc từ một khoảng đất trống đã trở thành những luống rau ngay ngắn, hạt rau và cây giống đã được mẹ chuẩn bị sẵn. Trong lúc mẹ và em gieo cấy rau thì bố có nhiệm vụ rào bãi rau lại bằng những miếng lưới để tránh gà vào bới những luống rau mới gieo. Mẹ chuẩn bị rất nhiều loại rau, nào là rau cải, bắp cải, một ít hành, một luống rau thơm gồm xà lách, rau mùi và thì là… Mãi đến chiều vườn rau mới hoàn thành, mẹ gánh nước tưới rất cẩn thận. Vì trời khô nên hôm nào cũng phải tưới nước rất đều đặn. Chỉ vài hôm sau thôi, những mầm rau xanh đã nhú lên, cỏ cũng chen lấn mọc lên khá nhiều. Tranh thủ những lúc đi học về sớm em ra vườn rau nhổ cỏ và bắt sâu. Khi rau đã khá tốt mẹ bắt đầu tưới đạm và bón phân để rau xanh và nhanh tốt. Em rất vui vì nhà mình có một vườn rau như thế, em và mẹ sẽ chăm sóc thật cẩn thận để vườn rau luôn xanh tốt. Bài làm 6 Chẳng biết từ bao giờ, bãi đất bồi dọc bờ sông ngang qua trước nhà em luôn được phủ xanh bởi màu lá tươi non của đủ loại rau màu. Ơû đó, mẹ em cũng có trồng và chăm sóc một luống rau cải. Những cây cải non mới được mẹ cấy từ tháng trước nay đã tươi tốt với màu xanh mơn mởn. Đó là một luống rau hình chữ nhật, chiều dài chừng mười lăm mét, chạy hết khổ đất của bãi sông, có chiều rộng bằng một sải tay em. Luống rau được phân thành nhiều vồng nhỏ song song với chiều rộng của luống. Cứ năm vồng lại cách một rảnh nhỏ rộng chừng một gang tay em, dùng làm lối đi lại trong luống để chăm sóc hoặc thu hoạch rau. Trong từng vồng, cải đã lên cao chừng hai mươi xen-ti-mét. Những cây cải xanh non, tươi roi rói dưới lớp sương mỏng ban sáng. Những ngọn lá phía dưới cùng to bản, hình bầu dục như những chiếc dép xanh xếp xòe tròn quanh gốc, là là trên mặt đất. Lớp lá phía trên là lá non, ngắn và nhỏ hơn, úp vào nhau như còn ngại ngùng nắng gió.
Văn mẫu lớp 3_ Em hãy miêu tả một vườn rau.
1,372
Văn mẫu lớp 3: Em hãy miêu tả một món ăn dân dã, đậm đà. Hướng dẫn Đề bài: Em hãy miêu tả về một món ăn dân dã. Bài đọc tham khảo Bánh xèo bông điên điển Bánh xèo ở các chợ quê, các nhà hàng, đâu mà chả có. Nhưng chỉ bánh xèo bông điên điển mới thật ngon, thật đậm đà. Cây điên điển có nhiều ở vùng Đồng Tháp Mười. Hằng năm, cứ đến mùa nước lền, cây điên điển trổ bông vàng mượt khắp các cánh đồng nước nổi. Chiếc ghe lướt qua, bông điên điển toả hương quyện lấy nắng mai, gió chiều, sương khuya cứ thấm vào hồn người lâng lâng. Giữa những ngày mưa gió mịt mù, sổng trong cảnh trời nước mênh mông, được ăn một bữa bánh xèo bông điên điển, bạn sẽ không bao giờ quên cái hương vị dân dã đậm đà ấy của Đồng Tháp Mười. Bột gạo xay, giã nhuyễn pha với nước cốt dừa cho loãng, thêm chút bột nghệ… làm cho bánh vàng và thơm. Bông điên điển hái về, rửa sạch, để ráo nước. Bông, nụ, nhánh non được thái nhỏ. Thịt lợn xắt miếng mỏng, tạo thành thỏi dài, đem ướp muối tiêu, tỏi, đường, bột ngọt… để độ nửa giờ cho thịt ngấm gia vị. số thịt này đem xào, đến lúc gần chín cho điên điển vào xào chung, đến một độ vừa phải thì xúc ra tô to, đĩa lớn. Để có được chiếc bánh giòn, vàng ươm và thơm, các bà, các chị sẽ trổ tài lúc chiên bánh. Bắc cái chảo gang lên bếp, chỉ cho lửa liu riu. Dùng cọng lá chuối vát một đầu, chấm mỡ hay dầu ăn thoa đều lên mặt chảo đã nóng già. Lấy muôi múc bột đố vào chảo, tráng cho tròn và mỏng, rắc thêm vài con tép (đã được chế biến) lên mặt bánh. Khi bánh vừa chín thì cho nhân vào, để chừng hai phút cho bánh thật chín và vàng, dùng đũa gập đôi chiếc bánh lại như hình bán nguyệt, có thể lật qua rồi xúc ra đĩa, bày lên mâm. Bánh xèo bông điên điển có hương vị thơm lừng của bột, nghệ, nước cốt dừa, thịt, tép, gia vị, bông điên điển. Bánh được ăn nóng với các loại rau nơi vườn quê nhà như: đọt bằng lăng, đọt xoài, đọt điều, lá mơ… Miếng bánh cuốn với các loại rau, chấm nước mắm đã pha sẵn. Nhâm nhi với hai, ba chung rượu đế. Thực khách sẽ được thưởng thức một bữa ăn khoái khẩu, ngon tuyệt, nhớ hoài. Trong bài thơ Đất nước, Nguyễn Đình Thi mở đầu bằng hai câu: Sáng mắt trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới. Mùa thu Hà Nội cũng là mùa cốm. Những hạt cốm xanh non ngọt thơm được coi là đặc trưng của đất Hà Thành, cốm ngon nhất là vào độ giữa thu, khi gió heo may nhẹ đưa, sữa hạt lúa nếp như tích tụ cả tinh hoa của trời và đất để làm nên sự ngọt bùi, chỉ ăn một lần sẽ nhớ mãi. Với người Hà Nội, cốm là món quà tao nhã, gợi nhớ. Hạt cốm xanh, mềm, thơm nồng mùi nắng thu, gói trong lá sen, buộc bằng sợi rơm tươi vàng nhạt, trên quang gánh của các bà, các cô bán rong len lỏi vào từng ngõ nhỏ với tiếng rao tha thiết. Vào những ngày giữa thu, khi nắng đã nhạt và thoảng trong gió heo may, cùng trái bưởi vàng, quả hồng mọng đỏ, nải chuối tiêu trứng cuốc, đĩa cốm xanh tạo thêm màu sắc cho mâm cỗ Trung thu, một món lộc trời thu. Vì là món quà tao nhã, cốm ăn không cốt no mà là nhâm nhi, thưởng thức. Còn gì là thú hon trong cái gió heo may lành lạnh, ngồi sà xuống vỉa hè, mua một gói cốm đùm trong lá sen, rồi bốc từng dúm bỏ vào miệng, thong thả nhai để vị ngọt tan ra. Nói đến cốm Hà Nội là phải nói đến thứ cốm dẹt, màu xanh non làm từ thứ nếp cái vừa qua kì đố sữa. Lúa nếp nào cũng làm nên cốm, nhưng muốn cho cốm dẻo, ngậy thơm thì phải là nếp cái hoa vàng, một loại nếp đặc sản của riêng vùng quê cốm. Ngoại thành Hà Nội có nhiều làng quê làm cốm, nhimg nổi tiếng nhất vẫn là cốm làng Vòng, thuộc xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, vốn là vùng trù phú, đất còn thấm đẫm phù sa sông Hồng. Người dân nơi đây gắn bó với ruộng đồng và nghề làm cốm cha truyền con nối tự bao đời. Nghề làm cốm cũng lắm công phu. Khi cây lúa hoe hoe vàng, chỉ độ mươi ngày nữa gặt rộ, đó là lúc người làng cốm đi chọn ngắt từng bông dài, hạt mẩy về chế biến. Muốn cốm ngon thì phải tính toán cắt lúa đúng lúc. Lúa già hạt cốm không còn xanh, cứng và gãy nát. Lúa non quá, hạt cốm bết vào vỏ trấu, nhão mất ngon. Thường lúc gặt hôm nào đem rang và giã cốm hôm đó. Nghề làm cốm vất vả nhất là công đoạn rang lúa. Rang lúa sao cho vừa lửa, hạt cốm chín tới, không giòn mà tróc trấu. Giã cốm bằng loại cối riêng, nhịp nhàng, nhẹ và đều, sao cho cốm mịn và dẻo. Vào những ngày mùa thu, chiều chiều vào làng cốm, ta sẽ được thưởng thức cái hương thơm ngọt ngào lan toả, cùng tiếng chày giã cốm thậm thịch thâu đêm… Mùa thu Hà Nội, mùi hương hoa sữa, mùa hương cốm mới hoà quyện, ấm áp mọi nẻo đường. Người Hà Thành đi xa sẽ không thể quên vị ngọt ngào dẻo thơm của cốm sữa gói lá sen. Bài đọc tham khảo: Cơm hến Cơm hến là món ăn dân dã, nghèo mà vẫn sang, đậm đà hương vị. Cơm cồn hến người ta còn cho nó cái tên sang trọng: “Cao lâu cồn” để tôn vinh cái giản dị, mộc mạc, thanh đạm mang đầy chất Huế. Cơm hến là món ăn cay, cay chảy nước mắt, cay toát mồ hôi. Cơm của cơm hến là cơm nguội, mùi ruốc mặn nồng thơm nức mũi, vị chua thanh của khế, mùi thơm ngây ngất của rau thơm, chuối bắp, bạc hà, vị ngọt đằm thắm của nước hến, béo ngậy của tóp mỡ, vị cay đến xé lưỡi, đến phỏng miệng của ớt tương… Người ăn cơm hến đôi lúc vẫn chưa vừa lòng với món ớt tương cay nồng sẵn có, còn cắn thêm trái ớt tươi, kêu cái “bụp!” rồi xì xụp, xuýt xoa hít hà cho nước mắt nhỏ giọt, mới thấm thía được cái ngon cơm hến. Thế nên, có người còn gọi là “món ngon trời hành”. Các thôn nữ đội nón lá mỗi sáng gánh cơm hến đi khắp các ngả đường cất tiếng rao lanh lảnh ngọt ngào “hến khô… ông” là hình ảnh và âm điệu không thể nào quên của những người xa Huế. Bài đọc tham khảo: Không biết có từ bao giờ, nhưng bánh bèo đã là một đặc sản, một món ăn không thể thiếu của người dân xứ Huế. Bánh bèo có mặt từ mâm cơm dân dã ở mỗi gia đình cho đến các bữa tiệc, ngày lễ, ngày Tết và các dịp đãi khách trọng thể. Có dịp đến Huế, mới thấy bánh bèo gắn bó với đời sống sinh hoạt của người dân cố đô như thế nào. Khoảng từ 3 đến 5 giờ chiều, đâu đó trên các ngõ phố những phụ nữ gọn gàng trong bộ áo dài thong thả bách bộ với quanh gánh nhẹ trên vai hoặc chiếc thúng nhỏ cắp ngang hông, đi bán bánh bèo, bánh lọc đến từng nhà. Người Huế rất thích và đã thành thói quen dùng loại bánh đầy hương vị quê nhà này vào các bữa ăn phụ, chỉ cần 1.000 đồng là đã có một đĩa bánh bèo lót dạ thơm ngon. Bánh bèo cũng không thiếu trong các bữa “cơm vua” phục vụ khách du lịch và trong các bữa tiệc “cơm cung đình” chiêu đãi các khách quý. Bài đọc tham khảo Bánh khoái đổ bằng bột gạo xay đánh sệt với nước và lòng đỏ trứng, sau đó thêm tiêu, hành, mắm, muối, tôm bóc vỏ, thịt bò (hoặc chim) nướng thái lát, mỡ thái lát nhỏ, giá sống. Khuôn bánh khoái làm bằng gang hình tròn, to bằng hai bàn tay trẻ con có cán cầm. Khi nào có khách ăn, nhà hàng mới bắc khuôn lên lò đổ bánh. Múc một muôi bột trứng đổ vào khuôn nóng đã tráng mỡ. Tiếng bột bén mỡ xèo xèo bốc lên quyến rũ, bột chín vàng rơm thì gắp một miếng thịt bò nướng, lát mỡ nhỏ, một vài con tôm, ít giá bỏ vào một nửa phần bánh, dùng đũa lật phần bánh còn lại úp lên thành hình bán nguyệt lật bánh cho vàng đều hai bên, xong bày ra đĩa. Bánh ngon một phần nhờ nước lèo, thứ nước chấm chỉ các đầu bếp giỏi mới chế được. Ðây là bí quyết gia truyền, quyết định chất lượng, tạo nên hương vị thượng hạng của bánh khoái. Nước lèo Huế được chế biến rất cầu kỳ với hàng chục nguyên liệu như bột báng, gan lợn, mè (vừng), lạc rang… Quán bánh khoái Thượng Tứ tồn tại gần ba bốn chục năm nay, đã trở thành văn hoá ẩm thực Huế, làm say lòng du khách, thân thuộc với người Cố Ðô chẳng khác gì cơm hến, tiếng chuông chùa Thiên Mụ, con đò sông Hương. Vâng, đó chính là một phần văn hóa Huế.
Văn mẫu lớp 3_ Em hãy miêu tả một món ăn dân dã, đậm đà.
1,649