text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Ông cha ta có câu: “Đói cho sạch, rách cho thơm”. Bằng hiểu biết của mình em hãy làm sáng tỏ câu tục ngữ đó. Bài làm Trong cuộc sống hiện tại cũng như thời xưa, vẻ đẹp bên ngoài là vốn quý, là niềm tự hào của mỗi con người. Song phẩm chất bên trong còn quý giá hơn nhiều. Trong kho tàng tục ngữ, cao dao Việt Nam có rất nhiều câu tục ngữ thể hiện điều đó. Và một tiêu biểu, điển hình, phổ biến nhất đó chính là câu tục ngữ: “Đói cho sạch, rách cho thơm”. Câu tục ngữ có hai vế, đối rất chỉnh. tác giả dân gian đã mượn những thứ gần gũi, thiết thực với đời thường để biểu lộ những tư tưởng, quan điểm của những người dân lao động. Câu tục ngữ này mượn hình ảnh “đói” và “rét” để nói lên hoàn cảnh nghèo khổ, thiếu thốn của cuộc sống bấy giờ. “Sạch” và “thơm” là cách sống trung thực, không tham lam, biết giữ gìn phẩm chất trong sạch, không sa vào tội lỗi. Hai chữ “cho” có nghĩa là giữ lấy. Hai động từ đó là hai động từ quan trọng nhất trong bài, thể hiện hành động, thói quen, những biểu lộ của người dân lao động. Phải biết giữ gìn phẩm giá, nhân cách đó chính là bài học của câu tục ngữ trên. Đó cũng chính là quan điểm sống của người dân lao động hoàn toàn trái nghịch với cách sống của giai cấp thống trị. Thời phong kiến xưa, xã hội đầy rẫy những bất công, rối ren, giai cấp thống trị nghiệt ngã, bóc lột nhân dân ta dưới nhiều hình thức, coi thường, khinh rẻ những người dân lao động. Theo bản năng của con người, “con giun xéo lắm cũng quằn”, đến mức đường cùng thì tự nhiên phải biết chống lại bằng bất cứ hành động nào, có mấy ai nghĩ đến việc giữ gìn phẩm chất, thanh danh. Ấy vậy mà những người dân lao động, đối với họ điều đó là quan trọng nhất, là mục tiêu để hướng tới, là động lực thúc đẩy để sống. Dù có bần cùng, đói khổ đến đâu thì ý chí kiên cường của họ vẫn luôn chiến thắng, niềm tin của họ vẫn không bao giờ tàn lui. Từ xa xưa, nước ta vốn dĩ là một nước gắn liền với đồng ruộng, nhân dân ta lam lũ cùng nắng mưa, giai cấp thống thị vẫn vắt kiệt sức của họ bởi những sưu thuế nặng nề, chính sách áp bức đến tận xương tuỷ. Trong hoàn cảnh như vậy, con người mà không có lập trường thì rất dễ bị nhơ bẩn về đạo đức. Những người dân lao động chỉ biết dựa vào nhau, thốt nên lời những kinh nghiệm của cuộc sống để khuyên nhủ nhau sống sao cho khỏi hổ thẹn với trời đất, sao cho khỏi cắn rứt lương tâm, danh dự, ám ảnh bới những tội lỗi xấu xa mà mình đã gây ra.
Ông cha ta có câu_ “Đói cho sạch, rách cho thơm”. Bằng hiểu biết của mình em hãy làm sáng tỏ câu tục ngữ đó.
518
Ông Gióng vươn vai, sức mạnh dân tộc trỗi dậy- truyền thuyết Thánh Gióng Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Ông Gióng vươn vai, sức mạnh dân tộc trỗi dậy Nhà văn lớn nước Nga – Mác-xim Goóc-ki từng viết: “Người xưa rút ngay trong sự kiện thực tế phần cốt yếu của những sự kiện ấy rồi thể hiện nó ra bằng một hình tượng. Và như thế chính là hiện thực. Ngoài phần cốt yếu rút ra ngay trong thực tế, lấy trí tưởng tượng thêm vào những phần “nên có” và “có thể có” để hình tượng kia được trọn vẹn hơn, thì đó sẽ là lãng mạn”. Truyền thuyết Thánh Gióng (còn được gọi là Truyện Ông Gióng, Phù Đổng Thiên Vương) của nước ta chắc chắn bắt nguồn từ những sự kiện thực tế trong buổi sơ sinh dân tộc ta dựng nước và giữ nước sáng ngời chủ nghĩa anh hùng. Có thể nói, Thánh Gióng là một hình tượng thẩm mĩ vừa đẫm chất hiện thực vừa lung linh những ánh hào quang lãng mạn tuyệt vời. Trong đó, tuyệt vời nhất có lẽ là giây phút xuất thần kì diệu: Gióng vươn vai. 1.Chuyện xưa kể rằng: “Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt,… Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa”. “Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội… phun lửa… rồi phi thẳng đến nơi có giặc…”. Có được cái vươn vai ấy, chú bé làng Gióng đã trải qua bao điều kì diệu khác thường trước đó: nằm trong bụng mẹ mười hai tháng (hơn những đứa trẻ khác gần ba tháng), ba năm không nói, không cười (những đứa trẻ khác chỉ một, hai năm đã bập bẹ nói). Tiếng nói đầu tiên của Gióng là xung phong đi đánh giặc… Rồi ăn không biết no, áo quần mặc hôm trước, hôm sau đã chật,… Cả làng góp gạo nuôi Gióng, cả nước góp sắt đúc vũ khí cho Gióng,… Và sau đó, tráng sĩ làng Gióng nhanh chóng đánh tan lũ giặc xâm lược. Thắng lợi rồi, chàng cởi giáp sắt để lại trên đỉnh núi quê hương và… người, ngựa cùng bay lên trời… Rõ ràng, có được cái cử chỉ “vươn vai” thần kì, người anh hùng trẻ tuổi Việt Nam đã tích luỹ những phẩm chất tốt đẹp – yêu nước, căm thù giặc, tự nguyện tòng quân – đã nhận được sự nuôi dưỡng, hỗ trợ về vật chất, sự dạy bảo, động viên, khích lệ về tinh thần của cả quê hương, Tổ quốc. Cái cử chỉ “vươn vai” ấy là biểu tượng cho sức mạnh của dân tộc trỗi dậy. Nó hội tụ tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm chiến đấu chống giặc ngoại xâm, khát vọng khẳng định sức mạnh vô địch của một dân tộc tuy bé nhỏ nhưng anh hùng, bất khuất. Theo các nhà nghiên cứu văn học dân gian, Thánh Gióng là người anh hùng bộ lạc được người dân nước Văn Lang, thời đại các vua Hùng sáng tạo nên bằng sự nhào nặn từ hiện thực và trí tưởng tượng bay bổng để… vừa khẳng định hiện thực vừa ước ao “những phần nên có và có thể có”, như nhận xét của Goóc-ki. Vì thế, từ hình tượng “người anh hùng bộ lạc”, Thánh Gióng đã trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp của người anh hùng dân tộc, mở đầu cho truyền thống anh hùng của lớp lớp tuổi trẻ Việt Nam sau này. Cái “vươn vai” của Gióng ở tuổi lên ba kia phải chăng là sự mong muốn được lớn nhanh, đốt cháy thời gian để trưởng thành, để đủ đầy sức mạnh và tài năng đánh giặc? Vâng, đúng như vậy! Lúc bấy giờ, giặc đã đánh vào chân núi Trâu, thế nước nguy nan, nếu cứ đợi mười năm, mười lăm năm nữa mới lên đường thì than ôi, quê hương, Tổ quốc còn gì nữa! Do đó, phải ăn nhanh, ăn khoẻ để mau lớn và phải “vươn vai” biến hóa tất cả vật lực, tinh thần, ý chí của tuổi trẻ, của toàn dân thành sức mạnh, thành ngọn lửa quyết chiến, quyết thắng. Nói khác đi, cái “vươn vai” của chàng trai làng Phù Đổng mang ý nghĩa khẳng định thái độ tuổi trẻ Việt Nam trước giờ phút đất nước lâm nguy, Tổ quốc kêu gọi. Hình tượng Thánh Gióng là biểu tượng rực rỡ của ý thức và sức mạnh bảo vệ đất nước, đồng thời thể hiện quan niệm và ước mơ của nhân dân ta ngay từ buổi đầu lịch sử về người anh hùng cứu nước chống ngoại xâm. 2.Trong lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta, biết bao tấm gương tuổi trẻ mang khát vọng “vươn vai” của Thánh Gióng đã xuất hiện. Trần Quốc Toản bóp nát quả cam, hận vì mình chưa đến tuổi tòng quân, về nhà tập hợp gia binh, gia tướng, phất cờ đào đánh giặc. Những thanh niên thời kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ đã giấu gạch, giấu sắt trong người để đủ cân, khai tăng thêm tuổi để đủ tuổi ghi tên nhập ngũ. Hai chị em Chiến và Việt (trong truyện Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi) mới chớm tuổi mười tám đã tranh nhau gia nhập quân Giải phóng để trả thù nhà, đền nợ nước. Cái “vươn vai” của em bé làng Gióng là sản phẩm của những khát vọng lãng mạn thuở dân tộc ta mới dựng nước. Những hành động “bóp nát quả cam”, “giấu gạch, giấu sắt trong người” để tăng cân, “kiễng chân”, “khai thêm tuổi” để đủ chiều cao, đủ tuổi lớn của lớp lớp con cháu sau này cũng bắt nguồn từ những khát vọng lãng mạn đó, đồng thời thể hiện những thái độ chân thành của người thật, việc thật, nối tiếp truyền thống cha ông. Ôi Việt Nam! Từ trong biển máu Người vươn lên, như một thiên thần! (Tố Hữu – Việt Nam máu và hoa) Truyền thống của dàn tộc ta là vậy! Tuổi trẻ Việt Nam là vậy! Trước giờ phút Tổ quốc lâm nguy, nghe tiếng gọi cứu nước thì từ em bé ba tuổi đến mỗi người dân dù già, dù trẻ cũng đều “vươn lên”, dồn sức trỗi dậy để đuổi giặc, giữ nước và dựng nước.
Ông Gióng vươn vai, sức mạnh dân tộc trỗi dậy- truyền thuyết Thánh Gióng Ngữ Văn 6
1,121
Ông Trần Thanh Đạm có nhận xét: Thơ ca dân gian bay trên đôi cánh vần điệu, còn truyện dân gian du hành trên cỗ xe tình tiết. Hãy bình luận ý kiến trên Hướng dẫn Bài bình luận ngoài phần mở bài và kết luận, cần phải nêu được những nội dung sau đây: 1.Giải thích và chứng minh Đặc trưng thơ ca dân gian là vần điệu – Thơ ca dân gian gồm: tục ngữ, ca dao, hò, vè, câu đố. – Khi nói “thơ ca dân gian bay trên đôi cánh vần điệu” là nói đến đặc trưng riêng có của thể loại này, khác với thể loại truyện dân gian khác như: truyện cổ tích, thần thoại…, kể cả loại hình sân khấu.. – Vần điệu: vần là phương tiện tổ chức có văn bản thơ dựa trên cơ sở lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hòa và liên kết của dòng thơ và giữa các dòng thơ. + Ngoài các chức năng như tách biệt các dòng thơ, tạo liên kết giữa chúng với nhau, vần còn có tác dụng tạo tâm thế “chờ đợi vần” đối với các tiếng xuất hiện sau đó ở vị trí nhất định nhằm làm nổi bật ý nghĩa của từ hiệp vần, đặc biệt là tạo âm hưởng, tiếng vang trong thơ. Chính vần là yếu tố quan trọng nhất tạo ra âm điệu của thơ, nên vần luôn đi đôi với điệu. Ví dầu cầu ván đóng đinh, Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi. Khó đi mẹ dắt con đi, Con đi trường họe mẹ đi trường đời. Ăn cây nào, rào cây ấy. Nghe vẻ nghe ve, Nghe vè thằng dóc. Một thằng mà nói năm thằng, Một con thằng lằng mà có tám vẩy. 2. Đặc trưng của truyện cổ dân gian là tình tiết – Khi nói “truyện dân gian du hành trên cỗ xe tình tiết” là nhấn mạnh đến đặc trưng của thể loại này. – Tình tiết: Tình tiết là diễn biến cốt truyện, là đơn vị hành động trong các tác phẩm tự sự và kịch, thể hiện một sự việc xảy ra trong một khoảng thời gian, không gian có thể xác định được. – Truyện cổ dân gian là những tác phẩm tự sự, được hư cấu dựa trên một cốt truyện, gồm một chuỗi tình tiết kế tiếp nhau. Vì thế, nếu không có tình tiết thì không có cốt truyện, tức không có cái để người xưa kể cho nhau nghe và lưu truyền từ đời này sang đời khác được. Truyện Chử Đồng Tử bao gồm hàng loạt các tình tiết, được sắp xếp theo thứ tự thời gian: người cha mất, có một chiếc khố duy nhất người con đóng cho cha; hàng ngày đi làm phải ở dưới nước; gặp công chúa Tiên Dung du hành; Chử Đồng Tử học được phép tiên; cả lâu đài biến mất… 3. Bình – Nhận xét của Trần Thanh Đạm xác đáng, giàu hình ảnh, có giá trị về mặt lí luận khi đề cập đến đặc trưng thể loại của văn học dân gian. – Chính vần điệu và tình tiết là hai yếu tố làm nên vẻ đẹp, góp phần tạo ra sức sống cho văn học dân gian. – Vần điệu và tình tiết là những yếu tố đặc trưng nhưng không phải là tất cả của thơ ca dân gian và truyện cổ dân gian.
Ông Trần Thanh Đạm có nhận xét_ Thơ ca dân gian bay trên đôi cánh vần điệu, còn truyện dân gian du hành trên cỗ xe tình tiết. Hãy bình luận ý kiến trên
574
Đề bài: Ý nghĩa cuối cùng của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa Bài làm Tấm ảnh Chiếc thuyền ngoài xa được những người yêu nghệ thuật đánh giá cao. “Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau” nó vẫn còn giữ nguyên giá trị. Có thể nói cách khác, tấm ảnh ấy cũng đựơc treo trong những phòng khách sang trọng của những người sành điệu Sự đánh giá cao ấy xứng đáng với công sức mà Phùng đã bỏ ra để “phục kích” nhiều ngày mới chộp đựơc nó. Đó là vẻ đẹp mà có khi cả đời Phùng chỉ nắm bắt được một lần. Những người yêu nghệ thuật trân trọng tấm ảnh ấy cũng là điều dễ hiểu. Song, có khi họ là những người yêu nghệ thuật thuần túy, cảm nhận cái đẹp trên bình diện của một tấm ảnh toàn bích, đáng thưởng thức, đáng treo ở những nơi sang trọng nhất. Và ai đã sưu tầm được nó, chắc hẳn đã tự hào rất nhiều. Nghệ thuật là vô giá! Ý nghĩa cuối cùng của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa Nhưng đối với Phùng ( hay nói cách khác, đối với Nguyễn Minh Châu ) chưa hẳn là như vậy. Tuy chụp được tấm ảnh toàn mĩ nhưng dường như tâm trạng của Phùng vẫn còn nhiều băn khoăn, ray rứt. Bởi vì Phùng còn nhìn thấy từ tấm ảnh, đằng sau tấm ảnh, những hình ảnh khác. Đó là hình ảnh của những con người khốn khổ. Phùng là tác giả, người sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật nhưng Phùng lại không nhìn lướt, nhìn hời hợt như một số người thưởng thức. Có thể nhiều người chỉ nhìn bề ngoài thấy nó đẹp, thích, trầm trồ khen ngợi một đôi câu… rồi quên lãng! Còn Phùng “mỗi lần ngắm kĩ”, nghĩa là anh đã hơn một lần ngắm kĩ, rồi lại “nhìn lâu hơn”. Điều đó nói lên, đằng sau tấm ảnh, vẫn còn có điều gì khiến anh trăn trở. Bao giờ anh cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh. Người phụ nữ hàng chài nghèo khổ vừa phải lo cái ăn, cái mặc cho một lũ con, vừa bị chồng đánh liên miên “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Cái khổ, cái nghèo của chị hiện ra trong hình dáng “tấm lưng áo bạc phếch, rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ mệt mỏi, đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm”. Hình ảnh nhẫn nhục, cam chịu của chị khi bị chồng đánh, không hề kêu lên một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn. Ngoài ra, còn thằng Phác, chị nó, và cả lão đàn ông cục mịch, vũ phu. Đó là những mảnh đời khốn khổ, mà để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong tâm trí Phùng vẫn là hình ảnh người phụ nữ hàng chài.Chị là đại biểu cho những kiếp người lao động vất vả trăm chiều. Hạnh phúc trong cuộc đời họ là những điều rất đơn sơ, giản dị nhưng không phải bao giờ cũng có được ( lúc gia đình hòa thuận, vui vẻ, / lúc nhìn đàn con được ăn no…). Cuộc đời họ bình thường, thầm lặng, vô danh không ai biết đến nhưng họ là số đông, là thành phần đại đa số của cư dân trên mặt đất nầy “bàn chân chị giậm lên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông”. Họ chính là đám đông đã bám gốc rễ trên trên hành tinh nầy từ thuở có loài người. Nhưng khổ nỗi, đám đông ấy dường như xa lạ với những bức ảnh tuyệt mĩ thể hiện cuộc sống của họ, nói cách khác, tấm ảnh nghệ thuật Chiếc thuyền ngoài xa đẹp như mơ đó chỉ là cái vỏ bề ngoài, đằng sau nó còn có những cuộc sống rách rưới, đói nghèo. Tấm ảnh ấy vẫn cứ nằm bất động ở một nơi sang trọng trong những gia đình sành nghệ thuật! Nghệ thuật xuất phát từ cuộc sống. Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng có vẻ đẹp lí tưởng như nghệ thuật. Điều nầy không mới. Cách ta hơn sáu mươi năm, Nam Cao chẳng đã từng nói “Nghệ thuật không cần phải là…không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…” ( Trăng sáng – 1943 ). Người nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng bị ám ảnh mỗi khi nhìn lại tấm ảnh, vì có thể anh nghĩ rằng tấm ảnh đó sang trọng quá, xa cách quá với cuộc sống của những người lao động nghèo khổ kia. Nó chỉ là cái vỏ bọc của những mảnh đời bất hạnh mà những người không trực tiếp chứng kiến như anh thì sẽ không bao giờ cảm nhận được một cách đầy đủ đằng sau tấm ảnh kia chứa đựng những gì. Giữa nghệ thuật và cuộc sống vẫn cón một khoảng cách. Anh muốn thấu hiểu, chia xẻ, cảm thông nhiều hơn với nỗi đau của người khác bằng tất cả tấm lòng, vì thế mà anh “ngắm kĩ” rồi lại “nhìn lâu hơn”, Phùng muốn đào bới những gì trong một tấm ảnh rất quen thuộc của chính mình? Âu đó cũng là cái tâm của người say mê nghệ thuật. Có lẽ vì vậy mà Phùng dường như còn muốn làm điều gì xa hơn, cụ thể hơn chăng để cho nghệ thuật gắn liền với cuộc đời. Bằng không thì tấm ảnh đẹp như một giấc mơ đó mãi mãi vẫn là Chiếc thuyền ngoài xa! Một điểm nữa, Nguyễn Minh Châu cũng làm cho người đọc không thể bỏ qua trong cách nhìn lại tấm ảnh của Phùng “tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai”. Phải chăng tác giả muốn nói sau khi tước bỏ mọi lớp sơn hào nhoáng bên ngoài, cái chất thật của cuộc đời khi hiện ra chỉ là hai màu đen trắng. Nhưng nó không hoàn toàn xám xịt, hay đen tối làm cho người ta cảm thấy buồn rầu, mà khi để hết tâm trí nhìn ngắm, người ta vẫn có thể phát hiện ra những điểm hồng nào đó. Chẳng qua là màu hồng kia bị che lấp bởi vô vàn cái bùng nhùng, rối rám của cuộc đời – cũng như cuộc đời thầm lặng, vô danh của người phụ nữ hàng chài kia tưởng như không có gì đáng nói mà thật ra, một cách tình cờ, Phùng đã phát hiện ở chị những phẩm chất đáng quý khiến anh phải suy ngẫm rất nhiều và thay đổi quanh niệm về con người và cuộc sống. Tóm lại, qua đoạn kết, phải chăng Nguyễn Minh Châu muốn nói Chiếc thuyền ngoài xa chính là vẻ đẹp của ước mơ, của lí tưởng mà người nghệ sĩ luôn khát khao vươn tới. Nhưng để cho nó có máu thịt của cuộc sống, người nghệ sĩ khi thể hiện nó cần có một tấm lòng trân trọng, cảm thông. Nó là nỗi dằn dặt, đau đáu khi người nghệ sĩ cảm thấy mình chưa thể hiện được hết điều muốn nói. Cái mĩ luôn luôn đi kèm với chân và cái thiện để trở nên hoàn mĩ, hoàn thiện. Bản chất cái đẹp cũng là đạo đức. Đó cũng là điều mà Đốt-xtôi-epxki đã từng nhắn nhủ: ” Cái đẹp sẽ cứu vớt cho nhân loại”.
Ý nghĩa cuối cùng của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
1,280
Ý nghĩa cái chết của hai nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến Hướng dẫn Ý nghĩa cái chết của hai nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến Bài làm Chí Phèo là nhân vật điển hình xuất hiện sắc của nhà văn Nam Cao trong truyện ngắn Chí Phèo ra đời năm 1941. Đây là một người nông dân cùng quẫn vốn lương thiện, hiền lành, tự trọng nhưng đã bị Bá Kiến cho đi tù oan, bị lưu manh hóa, côn đồ hóa. Sau khi gặp Thị Nở, được hưởng tình cảm yêu thương. Chí muốn trở lại lương thiện. Tuyệt vọng vì không thể hoàn lương. Chí cầm dao đến nhà kẻ thù, sau khi đã nốc rất nhiều rượu. Vậy Chí Phèo giết Bá Kiến trong trạng thái say hay tỉnh? Theo tác giả miêu tả thì Chí đã uống đến hai chai rượu. Cũng theo truyện thì Chí rắp tâm đến nhà thị Nở “để đâm chết cả nhà nó. Chí có ý định đó vì Thị Nở nghe lời bà cô của thị, đã cự tuyệt quan hệ với Chí Phèo. Nhưng rồi Chí không đến nhà người tình bội bạc mà lại đến thẳng nhà Bá Kiến. Nhà văn đưa ra lời bình: “Những thằng điên và những thằng say rượu không bao giờ làm những cái mà lúc ra đi chúng định làm”. Căn cứ vào những chi tiết đó, ta có thể kết luận Chí Phèo xông đến và đâm chết Bá Kiến trong trạng thái say. Do đó, người đọc hiểu Chí Phèo đã giết Bá Kiến trong trạng thái vừa tỉnh vừa say, nhưng có lẽ phần tỉnh nhiều hơn. Cái chết của hai nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến có nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, nó tố cáo xã hội thực dân – phong kiến đã tàn nhẫn đẩy người cố nông như Chí Phèo vào bế tắc, cùng đường không lối thoát. Chí Phèo vốn lương thiện, có nhân cách. Chỉ vì sự ghen hão của tên bá hộ cáo già, anh trai làng vô tội đó đã phải vào tù đến bảy, tám năm. Nhà tù của thực dân đã lưu manh hóa con người lương thiện ấy. Rồi Bá Kiến tiếp tục đẩy sâu Chí Phèo vào vũng bùn tội lỗi, biến anh thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Kết cục là Chí Phèo tự sát sau khi đã đâm chết tên thủ phạm Bá Kiến. Anh chưa tìm được lối thoát, một mặt không thể sống hung hãn, ngập trong rượu và máu như trước được nữa, mặt khác cũng không thể trở lại con đường sống lương thiện. Ý nghĩa khách quan của cái chết Chí Phèo là khi chưa được ánh sáng cách mạng soi rọi thì cuộc đời người nông dân nghèo hèn trong xã hội cũ rất dễ rơi và kết thúc bi thảm.
Ý nghĩa cái chết của hai nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến
480
Ý nghĩa câu ca dao: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài … Tràng An” – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Ý nghĩa câu ca dao Đề bài: Thủ đô Hà Nội chúng ta đang xây dựng những nếp sống đẹp. Bởi vậy, mọi người thường hay nhắc đến câu ca dao xưa: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An ”… Theo em, ý nghĩa của câu ca dao như thế nào? Người thủ đô ngày nay nên suy nghĩ gì về ý nghĩa đó? Bài làm Đất nước ta nay đang trong thời kì mở cửa, những đổi mới do sự giao lưu văn hoá rộng rãi đã đem lại bao không khí mới cho cuộc sống. Song mở cửa ắt gió lùa. Không ít những nếp sống vốn là nét đẹp riêng của dân tộc đang lung lay trước cơn gió lùa của thời mở cửa. Không ít người sa vào con đường tội ác, họ quên đi gốc rễ, đánh mất bản thân. Muốn tìm lại được mình thì phải trả bằng không ít đớn đau. Đáng trách hơn có kẻ lại còn cho rằng nền nếp văn hoá lâu đời là cổ hủ, phong kiến. Hà Nội mến yêu của ta, Thủ đô mến yêu của ta cũng không là ngoại lệ. Vậy câu: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An ” có còn chỗ đứng nữa không? Làm sáng tỏ điều đó không chỉ là trách nhiệm của, riêng bạn hay riêng tôi mà là của tất cả chúng ta. Đọc câu ca dao mà không ít người ngơ ngác: Sao bảo đó là câu ca nói về người thủ đô Thăng Long – Hà Nội? Chắc họ ngạc nhiên với cái tên Tràng An? Vâng, Tràng An xưa kia vốn là tên kinh đô của Trung Quốc, là đất đế đô của nhiều thế kỉ của nhiều triều đại phong kiến nên tập trung nhiều nét đặc sắc của văn minh Trung Hoa. Người Tràng An có những nét văn minh, thanh lịch mà nơi khác không có hoặc có mà không đậm nét bằng. Lâu dần, “Tràng An” trở thành tên chung, tượng trưng cho những vùng đất kinh đô và nói “người Tràng An” là chỉ chung những người sống ở kinh kì của một nước, không cứ là kinh kì của Trung Hoa. Bởi thế, ca dao cổ Việt Nam cũng gọi người kinh đô của mình là “người Tràng An”. Có người lại cho rằng, người Hà Nội thường là xinh đẹp, là trai thanh gái tú. Họ không chấp nhận người lao động lam lũ là thanh lịch, và không hề băn khoăn khi vội vàng khẳng định một chàng trai đẹp, mũi dọc dừa, mắt sáng là một con người thanh lịch. Sai hết, sai cơ bản vì thanh lịch là tính cách của con người. Câu ca dao ấy nói rằng người Tràng An là người thanh lịch, vì vậy không thơm nồng nàn đắm đuối như hoa hồng mà nhẹ nhàng ngát hương như hoa nhài, dẫu thế nào cũng được tiếng thơm là người Thăng Long – Hà Nội. Vậy thế nào là người thanh lịch? Người thanh lịch là con người trong sáng (thanh) và lịch sự (lịch). Con người đó không nhỏ nhen tầm thường, biết ứng xử tốt, biết nói hai từ “cảm ơn” và “xin lỗi” đúng nơi, đúng lúc. Thật diễm phúc cho ai được sinh ra và lớn lên trên đất Hà Nội, để trở thành người Hà Nội. Nhưng Hà Nội ngày hôm nay đã khác với Hà Nội ngày xưa. Chưa nói tới Hà Nội của thời câu ca dao ra đời, chỉ xin so với Hà Nội những năm khói lửa chống đế quốc Mĩ thôi, đã thấy Hà Nội nay mất đi không ít những nét đáng quý của con người Hà Nội. Người Hà Nội thuở ấy không sợ đạn bom, sẵn sàng hi sinh vì người khác. Họ đối xử với nhau thật đẹp, mộc mạc nhưng chân tình, ấm áp; chỉ cần gặp nhau một lần thôi, thoáng chốc thôi nhưng dư âm thì mãi mãi. Và giữa một thời bom dội, họ luôn đứng thẳng, từ nơi sâu thẳm trong trái tim tràn ngập một niềm tin: “Chân ta bước lòng ung dung tự hào, kìa nòng pháo vẫn vươn lên trời cao!”. Vì vậy, Hà Nội trở thành “niềm tin yêu hi vọng của núi sông hôm nay và mai sau”. Còn ngày nay? Người Hà Nội ngày nay khá phức tạp. Có những người sống vì bạo lực và cũng vì bạo lực mà bỏ phí mạng sống của mình. Có kẻ suốt ngày thác loạn trong ánh đèn mờ ảo của vũ trường,…Song, cũng còn rất nhiều người giữ và đang phát huy được “nếp xưa”: họ sống chân thành, chăm chỉ làm việc để dựng xây gia đình và xã hội,…Nhờ họ mà nếp sống người Hà Nội, đất Hà Nội vẫn giữ được vẻ đẹp riêng. “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Tô Hữu Đức (Trường THCS Nguyễn Trường Tộ) >> Xem thêm “Nếu muốn thành công thì phải không ngừng học hỏi, nâng cao trí tuệ” tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Ý nghĩa câu ca dao
Ý nghĩa câu ca dao_ “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài … Tràng An” – Bài văn hay lớp 8
886
Đề bài: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Rõ ràng từ xưa ông cha ta đã từng quan niệm nguyên khí của quốc gia vừa là khát vọng, vừa là sức sống của dân tộc Bài làm 1 Ngay từ khi còn nhỏ, mới cấp sách đến trường, tôi đã được các thầy cô dạy về lòng tự hào quê hương. Lịch sử nhân loại, việc dùng người mỗi thời khác nhau tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử, thời thế và vai trò, nhiệm vụ. Người chân chính có thực tài thật là hiếm hoi, cần phải biết tìm, biết trân trọng. Đất nước ta, từ xưa đến nay lúc nào cũng nhiều người hiền tài, tuy nhiên từng thời kỳ, từng lúc mà người hiền tài đó được khơi ra như thế nào. Có nghĩa là khi được quan tâm, trọng dụng thì hiền tài sẽ có nhiều. Người có học vấn thường có khả năng phán đoán và nhận định tình hình sáng suốt hơn người thường. Thời phong kiến, ở nước ta đã có biết bao bài học khi biết trọng dụng trí thức thì công cuộc bảo vệ tổ quốc, chống ngoại xâm và xây dựng đất nước phát triển rất hiệu quả nhờ tầng lớp trí thức khơi dậy, hoà đồng với nhân dân xã thân vì nghiệp lớn. “Hịch tướng sĩ “ của Trần Quốc Tuấn, “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” là một bài thơ bất hủ của Lý Thường Kiệt khẳng định chủ quyền của đất nước, Nguyễn Trãi với bảng hùng văn lịch sử “Bình Ngô đại cáo” là minh chứng cho sự sáng suốt của các bậc tiền nhân biết quý trọng, coi trọng và sử dụng tri thức trong các cuộc chiến tranh trên mật trận trí tuệ. Ý nghĩa câu nói Hiền tài là nguyên khí của quốc gia Thời kỳ cách mạng còn trong “trứng nước” Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh với tư duy, tầm nhìn sáng suốt và uy tín to lớn đã cảm hóa, thuyết phục được nhiều nhân sĩ, trí thức tiêu biểu tham gia khối đại đoàn kết dân tộc bất chấp hiểm nguy đi theo cách mạng, hy sinh cho nghiệp lớn. Cổ nhân đã dạy:”Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” có nghĩa là ngay cả người tầm thường cũng phải chịu trách nhiệm trước sự hưng vong của đất nước. Trí thức lại càng phải có trách nhiệm hơn thế!. Ngày nay, tiếp tục truyền thống của cha ông, trí thức cần được rèn luyện để trở thành hiền tài có vai trò và trách nhiệm cống hiến tài năng vào tiến trình phát triển đất nước. Tri thức thời nay là tầng lớp tinh hoa của xã hội, sáng tạo ra các giá trị tinh thần, tôn trọng chân lý nhưng được nâng lên tầm cao mới theo tư duy của xã hội dân chủ và phù hợp với thời đại toàn cầu hóa của nền kinh tế tri thức. Chúng ta tin vào sức năng động tự thân của dân tộc, sự sáng tạo và bền bỉ của giới trí thức như ngọn lửa bùng lên để những người có trọng trách biết suy nghĩ, trọng dụng, quy tụ, sử dụng đội ngũ trí thức, nhất là các bậc trí thức lão thành, tâm huyết có kinh nghiệm, bản lãnh hiến kế cho tiến trình xây dựng đất nước. Các bậc trí thức hàng đầu của đất nước, theo quy luật của tạo hóa sẽ có lúc phải ngừng nghỉ, đó là khoảng trống mênh mông để lại. Nhìn xa hơn, hiền tài phải được hướng tới lớp người trẻ tuổi bởi vì họ mới là lớp người có khả năng tiếp thu cái mới, sáng tạo, phụng sự đất nước khi còn sung sức. Khơi nguồn hiền tài từ lớp trẻ, đặc biệt là tuổi trẻ trí thức là con đường lâu dài và đúng đắn nhất. Cần tạo môi trường cho trí thức làm việc, phát huy năng lực, đãi ngộ xứng đáng công sức, thành quả họ mang lại. Tuy nhiên, vẫn có luồng ý kiến, trí thức chân chính không cần đãi ngộ, họ sẽ tự biết tìm cách để sáng tạo và tự sử dụng mình vào những công việc hữu ích cho tổ quốc. Nếu chúng ta hiểu một cách sâu sa chân lý “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” không cần phải đốt đuốc lên mới thấy được người có thực tài mà chỉ cần có kế sách cụ thể, thực sự trân trọng tài năng, khiêm nhường mời gọi người tâm huyết để khơi nguồn hiền tài còn rất nhiều tiềm năng của đất nước để làm cho đất nước hưng thịnh và hiền tài ngày một nhiều thêm. Trước kia, bây giờ và mãi mãi sau này “hiền tài” luôn là “nguyên khí” của quốc gia, là nguồn tài nguyên và động lực to lớn để đất nước đi lên. Ngày nay có thể hiểu hiền tài không chỉ là trí thức, mà là tất cả những ai có năng lực, có tâm huyết và khát vọng cống hiến cho đất nước, cho dân tộc. Bài làm 2 “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” và vì sao hiền tài lại là nguyên khí quốc gia, hôm nay chúng ta hãy thử tìm hiểu về chân lý này và mối quan hệ của nó với vận mệnh nước nhà. Trước tiên, ta sẽ tìm hiểu nghĩa của câu “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. “Hiền tài” là người tài cao, học rộng và có đạo đức. “Nguyên khí” là chất làm nên sự sống còn và phát triển của đất nước, xã hội. Vậy “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” có nghĩa là: Hiền tài, chính là phần cốt lõi, chất ban đầu để làm nên sự sống còn và phát triển của đất nước. Quốc gia có nhiều hiền tài và biết sử dụng hiền tài thì sẽ phát triển vững mạnh. Vậy thì tại sao hiền tài lại là nguyên khí của quốc gia? Trong mỗi quốc gia nhất thiết phải có một bộ phận lãnh đạo, điều hành đất nước, nếu như đất nước mà những người điều hành toàn là những kẻ ngu dốt, không học thức, không đạo đức thì có phải chăng là đã huỷ diệt đất nước hay không, dẫn chứng cụ thể cho điều này ta có thể lấy về chính quyền Khơ-me đỏ từ năm 1975 đến năm 1979 chúng lãnh đạo vương quốc Campuchia và đã đưa đất nước đến thảm hoạ diệt chủng, gây nên bao nỗi đau và sự căm hờn cho đất nước ta và người dân Campuchia, từ đấy ta thấy nếu quốc gia mà thiếu một hiền tài mà trụ cột thì chắc chắn đất nước sẽ diệt vong, xã hội ắt sẽ loạn. Vậy trong quốc gia đã có người lãnh đạo thì họ sẽ phải lãnh đạo ai, họ sẽ phải lãnh đạo những hiền tài khác, nếu như người mà họ lãnh đạo là những con người ngu muội, đầu óc không sáng suốt, không biết sáng tạo thì chẳng phải là “ đổ nước vào cái xô thủng “ sao, vậy nên trong mỗi quốc gia cần có những hiền tài để xây dựng và phát triển đất nước theo đúng đường lối của người lãnh đạo, họ phải biết tự sáng tạo ra những ý kiến mới, tạo ra những phát minh mới, ví như những quốc gia như Mỹ, Nga, Anh, Pháp vì sao họ có thể phát triển đi trước các quốc gia khác, chính là nhờ họ có những nhà khoa học, bác học lỗi lạc đã tạo ra những kì tích trong khoa học kĩ thuật, đưa quốc gia phát triển lên một tầm cao mới. Hay ngay ở nước ta, đại tướng Võ Nguyên Giáp theo đường lối chỉ đạo của Bác Hồ vĩ đại đã tạo nên một trận Điện Biên Phủ làm trấn động năm châu, khiến cho người Pháp phải khăn gói về nước. Từ đó mới thấy tầm quan trọng của hiền tài trong công cuộc đổi mới đất nước. Không những thế, chúng ta còn phải làm cho những người nông dân bình thường cũng có thể trở thành hiền tài, quốc gia nào cũng cần có những người dân thông minh và biết sáng tạo, đổi mới để đem lại lợi ích cho chính mình. Nhà nước ta đang chủ trương giáo dục, chính là để nâng cao dân trí, nuôi dưỡng phát triển những hiền tài trong tương lai. Ở các quốc gia phát triển, khi muốn ban hành những điều luật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân thì họ đều phải đưa ra để trưng cầu dân ý để xem xét ý kiến của những người dân. Hay là các nhà khoa học khi đưa ra bất kì phát minh hay sáng kiến nào thì điều phải nghĩ đến có thể ứng dụng được cho người dân của họ hay không. Đất nước có nền dân trí cao, thì sẽ là động lực để thúc đẩy để phát triển các ngành kinh tế, vì công nghệ ngày càng đổi mới mà người dân không đi theo kịp thì sẽ bị tuột hậu và thua thiệt. Có những người nông dân Việt Nam, họ không cần chờ đến người khác mà họ đã tự phát minh những công cụ của riêng mình để phục vụ cho lao động, đó cũng chính là những hiền tài cho đất nước. Hay trong giáo dục, những nhân tài trẻ tuổi đã làm rạng danh Việt Nam trong những cuộc thi lớn, thì đó cũng chính là hiền tài cuộc đất nước. Vận mệnh đất nước sao này sẽ phải giao cho những con người trẻ tuổi và tài năng như thế để đưa dân tộc hồi sinh và phát triển. Qua các ý trên ta có thể thấy, hiền tài chính là nguyên khí của quốc gia, đất nước mà mỗi người dân là một hiền tài thì đất nước sẽ không ngừng phát triển, đất nước mà mỗi nhà lãnh đạo là một hiền tài thì vận mệnh nước nhà sẽ vững trải, xã hội sẽ ổn định. Bởi thế nên chúng ta phải hết sức phát huy khả năng và nuôi dưỡng các hiền tài, phải tạo điều kiện để họ thể hiện chính mình phục vụ cho đất nước. “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” là chân lý khả định vai trò quan trọng của hiền tài đối với vận mệnh dân tộc. Và mỗi chúng ta, những con dân đất việt phải có nhiệm vụ cống hiến sức lực của mình để phục vụ đất nước, dân tộc, nhân dân vì chúng ta chính là nguồn nguyên khí của đất nước.
Ý nghĩa câu nói Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
1,829
Ý nghĩa của chiếc bánh bao trong truyện ngắn “Thuốc” của Lỗ Tấn Hướng dẫn Ý nghĩa của chiếc bánh bao trong truyện ngắn “Thuốc” của Lỗ Tấn “Thuốc” là tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Lỗ Tấn. Hình ảnh “chiếc bánh bao tẩm máu người” có lẽ là hình ảnh ám ảnh người đọc cho đến khi gấp trang truyện lại. Mời các bạn cùng tham khảo bài văn mẫu: Ý nghĩa của chiếc bánh bao trong truyện ngắn “Thuốc” của Lỗ Tấn để hiểu hơn về thông điệp nhân văn mà tác giả gửi gắm qua tác phẩm. Bài làm Lỗ Tấn là nhà văn hiện thực lớn của Trung Hoa với những tác phẩm phán ảnh đúng con đường đi của nhân dân thời bấy giờ. Truyện ngắn “Thuốc” đã nói lên được tư tưởng sai lầm lạc hậu của nhân dân và đảng cộng sản của Trung Hoa trong thời kì khai sang. Hình ảnh “chiếc bánh bao tẩm máu người” có lẽ là hình ảnh ám ảnh người đọc cho đến khi gấp trang truyện lại. Một hình ảnh mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc nhất. Chiếc bánh bao tẩm máu mang nhiều tầng ý nghĩa khác nhau, nhưng nó đều tập trung vào ẩn ý nghệ thuật của Lỗ Tấn. Ông đã mượn hình ảnh này để phản ánh những con người lạc hậu, những tư tưởng ấu trĩ đang ăn mòn tâm hồn của người dân Trung Hoa. Chiếc bánh bao trước hết mang ý nghĩa thực chính là thực phẩm mà người dân trung hoa vẫn ăn hằng ngày. Nhưng trong tác phẩm này, nó trở thành một vị thuốc “thần” để cứu người, một vị thuốc mà khiến người ta chết nhưng con người vẫn tin vào đó để truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Một phương thuốc chữa bệnh mê tín, lạc hậu dẫn đến nhiều cái chết thương tâm. Ý nghĩa thứ hai, “Chiếc bánh bao tẩm máu đỏ tươi, máu còn nhỏ từng giọt, từng giọt” để gợi nhắc về bệnh u mê, lạc hậu của quần chúng và bi kịch của những chiến sĩ cách mạng tiên phong. Một ví dụ điển hình chính là bố mẹ thằng Thuyên vì gia trưởng đã áp đặt cho con mình sử dụng phương thuốc này và dẫn đến cái chết thê thảm của nó. Và tất cả những con người có mặt trong quán trà cũng suy nghĩ ấu trĩ và lầm lối như vậy. Chiếc bánh bao vô tri vô giác kia đã trở thành kẻ giết người. Đây chính là sự ấu trĩ đến điên cuồng, không chịu tìm phương pháp nào, chỉ răm rắp nghe theo phương pháp không lối thoát này. Ý nghĩa thứ ba của hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người còn là tư tưởng và con đường đi sai lầm của những người làm cách mạng. Những người tiên phong đi trước quá xa rời quần chúng, không đi sâu tìm hiểu và nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Máu để tấm chiếc bánh bao chính là máu của chiến sĩ Hạ Du đã hi sinh mình để cống hiến cho đất nước. Nhưng nhân dân Trung Hoa lại cho rằng anh là kẻ phản bội, là giặc nên căm phẫn. Mẹ Hạ Du thì xấu hổ không hiểu con mình, chú của Hạ Du thì thì tố cáo cháu để lấy tiền thưởng. Hạ Du là chiến sĩ cách mạng nhưng lại không gần dân để gây nên kết cục thê thảm như vậy. Hạ DU là tiêu biểu nhưng còn rất nhiều chiến sĩ nữa cũng đang trong tình trạng u mê, xa rời quần chúng như vậy.
Ý nghĩa của chiếc bánh bao trong truyện ngắn “Thuốc” của Lỗ Tấn
619
Đề bài: Ý nghĩa của câu nói "Chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo" trong truyện ngắn Rừng xà nu Dàn ý Lời căn dặn của cụ Mết chỉ được Nguyễn Trung Thành thể hiện trong tác phẩm sau khi ông cụ đã hồi tưởng về cuộc đời Tnú và những mất mát đau thương bất hạnh khi vợ con Tnú bị hành hạ đến chết khi bàn tay cầm giáo mác của anh cũng bị huỷ hoại, nó là lời căn dặn của vị già làng, một người có uy tín và đáng kính nhất trong cộng đồng Xôman. Cụ Mết lại cất lên lời nhắc nhở ấy trong đêm Tnú về thăm làng khi cụ kể toàn bộ câu chuyện về cuộc đời Tnú cho toàn thể cộng đồng Xôman nghe ở nơi nhà Ưng bên đống lửa lớn trong một không khí thành kính, thiêng liêng. Trong hoàn cảnh ấy lời cụ Mết trở thành lời di huấn của thế hệ trước đối với thế hệ sau. Lời dạy ấy có lẽ đã được nhắc tới bao nhiêu lần khi cụ Mệt kể chuyện về cuộc đời Tnú và chắc chắn còn được truyền lại từ đời này qua đời khác. Chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo -Lời căn dặn của cụ Mết được phát biểu một cách ngắn gọn, giản dị qua những hình ảnh có ý nghĩa ẩn dụ và được diễn đạt trong nhiều tương phản ẩn dụ “Chúng nó” là cách gọi mà cụ Mết dùng để chỉ kẻ thù, cả bọn bán nước và cướp nước; còn “mình” là lời tự xưng của cụ Mết có ý nghĩa chỉ chung dân làng Xôman, cộng đồng Tây Nguyên và mọi người yêu nước; “súng và giáo” đều là những hoán dụ chỉ vũ khí và vật chất nhưng nếu “súng” tượng trưng cho vũ khí hiện đại đủ đầy thì “giáo”tượng trưng cho vũ khí thô sơ, tự tạo. Trong hình thức tương phản và cách nói giản dị, mộc mạc, cụ Mết đã thể hiện. Một tư tưởng lớn: phải dùng vũ khí đáp lại vũ khí, phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực hung bạo của kẻ thù. Nó kín đáo khẳng định tầm quan trọng của vũ khí, của vật chất mà CácMac đã khẳng định:”vũ khí phê phán không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí. Chỉ những lực lượng vật chất mới đánh đổ được những lực lượng vật chất”. Lời khẳng định của cụ Mết cũng thể hiện một quy luật của phong trào đấu tranh cách mạng, quy luật có áp bức có đấu tranh. Có thể nói lời căn dặn của cụ Mết là một chân lí thời đại sâu sắc khẳng định vai trò, tầm quan trọng của vũ khí cũng như quy luật của phong trào đấu tranh cách mạng.
Ý nghĩa của câu nói “Chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo” trong truyện ngắn Rừng xà nu
486
Ý nghĩa của câu “Thất bại là mẹ thành công” Hướng dẫn Ý nghĩa của câu “Thất bại là mẹ thành công” Bài làm Ai cũng có những mục tiêu đặt ra cho mình trong cuộc sống. Tuy nhiên để làm được nó thì không phải là chuyện dễ dàng. Đôi khi, bản thân sẽ gặp những khó khăn, trở ngại không thể giải quyết được và gặp thất bại. Và để nhắc nhở con cháu, ông cha ta xưa có câu: “Thất bại là mẹ thành công”. Thành công chính là đạt được điều mà mình mong muốn. Trái lại với thành công là sự thất bại. Vậy tạo sao lại nói “thất bại là mẹ thành công”? Ở mọi cuộc đua, cuộc thi, bên cạnh người chiến thắng là những kẻ thua cuộc. Mọi thành công trong cuộc sống đều phải trải qua những chông gai, thử thách.Thất bại là điều không thể tránh khỏi. “Thất bại là mẹ thành công” – câu nói như một lời động viên nhắc nhở bản thân luôn coi thất bại là động lực để tiến bước. Thất bại dễ nảy sinh sự buông xuôi chán chường. Nhưng nếu bản thân biết nhìn một cách tích cực, thất bại chính là bước đệm để chúng ta tiến tới thành công một cách nhanh chóng hơn. Thất bại là tiền đề giúp chúng ta nhận biết những khuyết điểm, thiếu sót của chính mình, từ đó có sự cải thiện, khắc phục. Thất bại là bài học kinh nghiệm để mai sau khi bắt đầu nhwuxng cuộc hành trình chinh phục mới, chúng ta sẽ không bị mắc phải thêm một lần nữa, mà ngược lại còn vượt qua nó một cách dễ dàng. Thực tế khi còn ngồi trên ghế nhà trường, nhiều bạn học sinh sẽ có lúc gặp phải trường hợp bản thân đã học tập chăm chỉ những kết quả không như mong đợi. Điều nầy dễ làm cho các bạn nảy sinh đến việc chán học, bỏ học và gian lận trong các kì thi. Tuy nhiên, nếu bản thân biết nhìn nhận ra những sai sót trong phương pháp học tập, thì học sinh đó sẽ dễ dàng nắm bắt được vấn đề, giải quyết theo chiều hướng tích cực khác thì sẽ đem lại hiệu quả tốt hơn. Hơn thế nữa, việc đối diện với những thất bại sẽ giúp cho các bạn có thêm bản lĩnh, vững vàng và trưởng thành hơn trong cuộc sống. Thành công sẽ không bao giờ đến với những kẻ chấp nhận thất bại. Biết nhìn nhận thất bại một cách đúng đắn, thành công sẽ đến vượt ngoài mong đợi của bản thân. Câu nói “Thất bại là mẹ thành công” như một chân lý đúng đắn trong mọi hoàn cảnh.
Ý nghĩa của câu “Thất bại là mẹ thành công”
464
Ý nghĩa của lời xin lỗi-nghị luận Hướng dẫn Biết nói lời xin lỗi Mở bài: Người xưa từng nói: “Nhân bất thập toàn”, nghĩa là không ai sinh ra đã trở nên hoàn hảo. Sai lầm là một biểu hiện thường thấy trong cuộc sống con người. Có những sai lầm mới có những thành công. Từ con người bình thường đến các vĩ nhân đều có những sai lầm nhất định trong cuộc đời và sự nghiệp của mình. Lời xin lỗi luôn là một hành động cần thiết trong cuộc sống. Mỗi khi sai lầm xảy ra để hạn chế những hậu quả đáng tiếc và làm cho tâm hồn được bình yên hơn thì lời xin lỗi thực sự cần thiết. Thân bài: Xin lỗi là gì? Xin lỗi là hành động tự nhận khuyết điểm, sai lầm về mình. Xin lỗi còn là sự đồng cảm, sẻ chia đối với người bị ta làm tổn thương, thiệt hại. Biết xin lỗi là mong muốn được đền bù thiệt hại và tha thứ. Văn hóa xin lỗi là vẻ đẹp cao quý trong đời sống giao tiếp của con người. Nhận ra lỗi lầm và chân thành nhận lấy nó để mong được tha thứ sẽ làm dịu bớt cơn giận dữ hoặc nỗi đau của người khác. Bởi vậy lời xin lỗi mang tính nhân văn cao cả trong đời sống. Biểu hiện của người biết nói lời xin lỗi: Người biết nói lời xin lỗi luôn mở lời xin lỗi khi gây ra một lỗi lầm. Hoặc một hành động sai trái gây ra hậu quả nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến người khác và tự nhận khuyết điểm về mình. Đồng thời, tích cực tìm cách khắc phục hậu quả đã gây ra. Họ nhận thấy hành động của mình là không nên có. Họ cũng nhận thấy sai lầm và mong muốn được khắc phục. Người biết nói lời xin lỗi luôn sống hiền hòa, chuẩn mực. Họ luôn là người mẫu mực, quan tâm, kính nhường và tôn trọng người khác. Tại sao sống phải biết nói lời xin lỗi? Biết cảm ơn hay xin lỗi là một trong các biểu hiện của ứng xử có văn hóa của con người. Đó cũng là hành vi văn minh, lịch sự trong quan hệ xã hội. Trong ứng xử giữa cộng đồng thái độ quan tâm và cầu thị hết sức cần thiết. Khi lời xin lỗi được trình bày chân thành nó phản ánh phẩm chất văn hóa của cá nhân. Mặt khác, giúp mọi người dễ cư xử với nhau hơn. Lời xin lỗi chân thành có thể cứu vãn được sự việc đáng tiếc có thể đã xảy ra. Xin lỗi đúng cách, đúng lúc giúp ta tránh được những tổn thất về vật chất và tinh thần. Hành động này giúp cho các bên kiềm chế được cơn giận của bản thân. Từ đó, hướng đến những hành động đúng đắn. Lời xin lỗi đúng lúc, đúng việc giúp người bị thiệt hại cảm thấy được tôn trọng. Dựa trên sự đồng cảm, đồng tình hướng đến giải quyết sự việc theo hướng tích cực. Lời xin lỗi không đơn giản là biết lỗi và nhận lỗi. Lời xin lỗi thể hiện trách nhiệm của con người với cuộc sống. Ai cũng có thể có những sai lầm. Điều này thật không thể tránh khỏi trong cuộc sống vốn rất phức tạp. Biết nói lời xin lỗi là biết nhận trách nhiệm của mình đối với hậu quả do hành mình gây ra. Đó là một nét đẹp trong phong cách ứng xử, thể hiện một nhân cách tốt đẹp, cao thượng. Biết nói lời xin lỗi là tự nhắc nhở mình trước những sai phạm. Đồng thời hứa với người khác hành động này không còn tái diễn nữa. Từ đó nâng cao tinh thần, ý chí, quyết tâm hành động đúng. Biết nói lời xin lỗi để giúp mình quyết tâm sửa chữa và thăng tiến hơn. Biết nói lời xin lỗi còn để thể hiện sự chia sẻ, đồng cảm với mọi người. Vì những lỗi lầm của mình mà làm ảnh hưởng tới người khác. Lời xin lỗi chân thành hàn gắn những chia rẽ và hận thù do những lỗi lầm ấy gây nên. Lời xin lỗi có thể giải quyết xung đột, chữa lành tổn thương, thúc đẩy sự tha thứ, lòng vị tha và cải thiện mối quan hệ trong cả đời sống cá nhân lẫn xã hội. Mặt khác, lời xin lỗi còn tăng lòng trung thành, niềm tin và sự cộng tác của con người với nhau. Biết nói lời xin lỗi giúp cho cuộc sống của chúng ta được an lành, hạnh phúc hơn. Sự tha thứ của người khác giúp gia tăng tình thương giữa con người với nhau. Biết nói cảm ơn khi nhận về mình một cái gì đó từ người khác và nói lời xin lỗi khi mình phạm phải lỗi lầm thể hiện lối sống văn hóa lành mạnh, cao thượng đáng được đề cao trong cuộc sống. Muốn giao tiếp lịch sự, biết nói lời xin lỗi ta phải làm gì? Trước hết phải sống chân thành, biết tôn trọng, quý trọng người khác. Phải thành thật nhận khuyết điểm về mình, không được né tránh trách nhiệm hay ngụy biện về hành động của mình. Chân thành lắng nghe, bình tĩnh ứng xử thật lịch sự, tế nhị. Sự chân thành lúc nào cũng được ghi nhận trong cuộc sống. Xác định rõ mức độ thiệt hại hay tổn của người khác do hành động của mình gây ra từ đó có ý định hay hành động bồi thường cụ thể để nhanh chóng giải quyết mâu thuẫn, tránh những xung đột đáng tiếc xảy ra. Lời xin lỗi đúng lúc có tác dụng ngăn cản những hành vi bạo lực, thái độ thô lỗ trong giao tiếp. Để lời xin lỗi thật sự hữu dụng cách tốt nhất là hãy để lời xin lỗi xuất phát từ đáy lòng. Một lời xin lỗi vụng về vẫn tốt hơn sự im lặng nhưng đó là lời nói hết sức chân thành với thái độ thành tâm nhất có thể. Đôi khi, khi sự việc đáng tiếc xảy ra, ta còn lưỡng lự không biết lỗi lầm do ai, thì trước hết nếu ta không bị thiệt hại gì hãy mở lời động viên, cảm thông, chie sẻ với người thiệt hại nhiều hơn. Điều đó sẽ khiến cho sự việc trở nên nhẹ nhàng và mau chóng được giải quyết ổn thỏa. Lời xin lỗi chân thành có sữ mạnh hơn mọi loại thuốc an thần. Không phải ai cũng dũng cảm khi phải thừa nhận chính lỗi lầm của mình, nhưng vượt qua được điều đó bạn sẽ thấy lòng mình thanh thản, nhẹ nhàng. Tuy nhiên, xin lỗi đôi khi cũng cần có nghệ thuật. Xin lỗi đúng lúc, đúng nơi sẽ làm cho người được xin lỗi thấy dễ tha thứ hơn. Nếu bạn đã nhận ra sai lầm của mình thì đừng để quá lâu rồi mới nói lời xin lỗi. Đừng cố biện minh cho sự chậm trễ bằng việc chờ đợi đến lúc thích hợp, mà hãy nói ngay, càng sớm càng tốt. Kết bài: Biết nói lời xin lỗi khi gây ra lỗi lầm là một hành vi cao thượng cần có ở mỗi chúng ta. Một lời xin lỗi tưởng chừng sẽ đem đến cho bạn gánh nặng nhưng thực sự đó chính là cách để bạn tháo gỡ những vướng mắc, áy náy và giúp bạn trở nên nhẹ nhõm lòng mình hơn, yêu cuộc đời hơn. Nếu biết nói lời cảm ơn làm tăng thêm hạnh phúc trong cuộc sống thì lin lỗi là lối giải thoát đầu tiên và nhanh chóng cho mọi sai lầm và tội lỗi.
Ý nghĩa của lời xin lỗi-nghị luận
1,314
Đề bài: Ý nghĩa của nhan đề và hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu Bài làm Tây Nguyên mảnh đất của những cánh rừng đại ngàn, của những con chân chất nhưng mang trong mình sức sống và khát vọng sống mãnh liệt, bắt gặp sức sống và khát vọng sống rất Tây nguyên ấy qua tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. Ra đời vào giữa năm 1965 trong những ngày bắt đầu cuộc chiến tranh cục bộ của Mĩ ở miền Nam nước ta, tác phẩm thấm đượm không khí, tinh thần thời đại. Dường như qua mỗi trang văn ta được chiêm ngưỡng mỗi trang đời; có cái lay động của những tâm hồn, những tấm lòng nhiệt huyết kiên cường có cái chân xác của những suy nghĩ những triết lí chiêm nghiệm thành thực, sâu sắc, có cái linh thiêng của hơi thở dân tộc hào hùng… Ý nghĩa của nhan đề và hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu Với tiêu đề vừa lạ vừa quen, Rừng xà nu dường như đã bao chứa được cả khí vị khó quên của rừng đất Tây Nguyên, cái nồng nàn linh diệu thanh âm cuộc sống. Với một nhà văn nhất lại là nhà văn có tài, việc đặt tên cho tác phẩm – đứa con đẻ tinh thần của mình – là một việc làm hết sức quan trọng ý nghĩa. Bởi ở đó nó dồn chứa tình cảm xúc của nhà văn, ở đó nó ghi dấu linh hồn tác phẩm. như thế để thấy rằng trong ba thanh âm khỏe khoắn rất giản dị rừng xà nu kia hoàn toàn chẳng phải là sự ngẫu nhiên hay vô tình của tác giả. Đi suốt chiều dài tác phẩm, xà nu là hình tượng bao trùm là mạch sống hồn tác phẩm. Trước hết ta bắt gặp đó là vẻ đẹp rất thực, rất động của núi rừng tây Nguyên hiển hiện qua những dáng nét xà nu kiêu dũng, qua những mầm sống căng ngọt nồng nàn, khúc tráng ca về sức sống bất diệt được mở ra trong một âm điệu đều đều, chậm rãi mà không kém phần gay gắt, kiên cường: “làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc” thế đứng kia dường như đã là sự định sẵn, hai hình ảnh đối chiếu cùng như thách thức nói lên cái đau thương các mát mát vẫn xảy ra trên đất này và để bật lên một điều rằng dù sự tàn phá có khốc liệt đến thế nào thì làng vẫn tồn tại, vẫn bất khuất sự sống vẫn nhịp nhàng, đều đặn, không phải vô tình, mà nhà văn điểm qua hầu hết những thời khắc tàn phá của quân địch, chúng liên tiếp bắn phá coi đó như một cái lệ cần làm, phải làm qua từng câu văn hình ảnh sừng sững của làng trong tầm đại bác cứ dần mà đi mà hiển hiện thay thế dần bằng ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn, xà nu đã tiếp thêm sự sống cho dân làng (cùng với con nước lớn) bằng cách hứng mưa đỡ đạn về mình. Một sự vô tình mà hữu ý của tạo hóa chăng? Cây sinh ra là để che chở cho con người. Và một điều không tránh khỏi cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương, nhưng cái làm nên một rừng xà nu không phải là ở đó, ngay trong cái chết cây vẫn kiêu dũng vẻ đẹp của mình không ào ào như một trận bão. Câu văn không hề chìm lặng mà như thăng hoa kếi tụ trong một vẻ đẹp đến sững sờ “ở chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề. thơm ngào ngạt long lanh nắng hè gay gắt”. Sự sống lấn át cái chết và bất lực nhà văn cũng như chạy đua với vẻ đẹp đầy chất thơ của xà nu, một vẻ đẹp hùng tráng man dại đẫm tố chất núi rừng. Đặc biệt gây ấn tượng về sức sống bất diệt của cây khi tác giả nhấn đi nhấn lại trong rừng ít có loại cây sinh sồi nảy nở khỏe như vậy. Bên một cây ngã xuống đã có liền bốn năm cây con vươn dậy lao thẳng lên bầu trời, chúng lao lên để đón nhận ánh sáng và kỳ diệu làm sao thứ ánh nắng ấy như chỉ để dành riêng cho loài cây bất diệt này “từng luồng lớn thẳng lắp, lóng lánh vô số hại bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mơ màng". Câu văn như có cánh đẫm chất thơ tràn đầy chất nhạc và nõn nà tươi mới hình ảnh hương vị, đưa ta đến với vẻ đẹp sống động rất đỗi nên thơ, tráng lệ của cây núi hương rừng. Hiện hữu trong lác phẩm xà nu là hình tượng bất khuất “đạn đại bác không giết nổi chúng, cây vẫn vươn mình lớn ưỡn tấm ngực lớn che chở cho làng… “In đấu trong toàn bộ tác phẩm nét khắc tạc về một đồi xà nu cạnh con nước lớn, như đồn tụ biết bao yêu thương trân trọng nó trở thành điểm nhìn điểm gọi thức dậy nhưng vô hình bao la. Xà nu đẹp ở dáng vẻ kiêu hãnh, ở tố chất núi rừng và hơn cả vẻ đẹp ấy không đơn độc xa lạ mà quấn quyện với cuộc sống con người. Vì thế tìm đến hình tượng xà nu ta tìm đến một con người hiện hữu tìm đến một tâm hồn ấm áp chân thành, cây hay cũng chính là nét ẩn dụ, nét biểu lượng cho vẻ đẹp con người. Trong sự tiếp nối bất diệt, hình tượng dân làng Xô Man đã được hiện lên cây và người chiếu ứng tỏa sáng làm đẹp lẫn nhau. Nếu như cây đã phải chịu bao đau thương thì dân làng Xô Man cũng đã nếm trải biết bao mất mát. Trên mảnh đất này đã có biết bao người ngã xuống máu của đồng bào Xô Man, máu của Đảng của cách mạng đã thấm quyện, lửa đã cháy trên mười ngón tay Tnú, những đau thương mất mát chất chồng đã khiến những vết sẹo trong lòng người không lên da non được… Nhưng trước bao nhiêu thương đau dân làng vẫn không gục ngã. Như cây xà nu không sức mạnh nào có thể tiêu diệt nổi người dân Xô Man là hình ảnh kiên định như thách thức với bão tố cuộc đời dòng chảy thời gian. Cụ Mết là biểu tượng cho sức quật khởi của một truyền thống lịch sử hào hùng đúng như hồi ức của chính tác giả: ông là cội nguồn, là Tây Nguyêng của thời đất nước đứng lên còn trường tồn đến hôm nay, ông như lịch sử bao trùm nhưng không che lấp đi sự nối tiếp và mãnh liệt ngày càng mãnh liệt hơn tự giác hơn của các thế hệ sau. Trong vẻ đẹp quắc thước của cụ ta gặp lại sức mạnh núi rừng âm vang, hào hùng. Đó là nét kiêu dũng của bộ ngực “căng như một cây xà nu lớn, là nét từng trải của đôi bàn tay” sần sùi như vỏ cây xà nu, là “ồ ồ âm thanh quen thuộc dội vang trong lồng ngực…”. Mỗi lời dặn dò chiêm nghiệm của cụ lại là một bài học, một sự khẳng định về sức mạnh, vẻ đẹp con người Xô Man: “không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta, cây mẹ ngã, cây con mọc lên. Và quả thật đi suốt chiều dài tác phẩm ta luôn thây ấm nóng hơi thở truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là sự trưởng thành của Tnú, của Dít, là chú bé liên lạc Heng với vẻ đẹp hồn nhiên, khỏe khoắn… Hình tượng xà nu bao trùm ẩn hiện trong tác phẩm, nó như sự âm ỉ mà bừng sống mãnh liệt của dân làng Xô Man. Xà nu dũng mãnh chở che sự sống dân làng, xà nu quấn quyện nồng nàn với những tâm hồn thơ trẻ mặt mày lem luốc khói xà nu, xà nu dẫn đường chỉ lối đi tìm cách mạng, làm cách mạng… Mỗi con người Xô Man là một mảnh hồn riêng khắc lạc nên vẻ đẹp kiêu dũng xà nu, Con người Xô Man cũng lớn dậy cùng sức sống bất diệt của thiên nhiên hoang dại. Sức sống ấy khi là cụ Mết gân guốc sâu sắc trước cuộc đời khi là anh Tnú, là Mai là biết bao những tấm lòng đã anh dũng hy sinh cho mảnh đất quê hương… và tiêu biểu sống động nhất là Tnú – người con của núi rừng, của bản làng… Sinh ra và lớn lên trong sự chở che đùm bọc của dân làng Tnú mang thân phận mồ côi khổ nghèo cơ cực. Đời anh khổ nhưng bụng anh sạch trong như nước suối làng, tâm hồn anh gắn bó quyện hòa với từng mảnh đất từng con người quê hương. Sớm được giác ngộ cách mạng Tnú đã theo chân buôn làng hòa mình vào con đường của Đảng, tiếp nối những bước chân anh quyết đã đi. Tnú sống chân thành, trung thực, trung thực với chính mình. Có cái gì như ngộ nghĩnh trong chi tiết anh lấy đá đập vào đầu mình để nhét chữ nhưng ở đó là cả vẻ đẹp anh hùng gan góc về sau. Giống như cây xà nu vươn lên trong đau thương mất mát, những ngày đi theo cách mạng chịu biết bao kìm kẹp tù đày tái tê nỗi mất vợ mất con và những di tích dã man trên lưng dọc ngang vết chém của kẻ thù nhưng tất cả không gì có thể quật ngã được anh. Sức sống bất diệt ấy như sự thách thức đầy kiêu ngạo trước kẻ thù, ta nhớ mãi bàn tay Tnú, bàn lay gắn với tính cách, với cuộc đời với chiến công của anh. Đó là bàn tay trung thực cầm phấn tập viêt, cầm đá đập vào đầu mình, bàn tay yêu thương bàn tay nghĩa tình nắm chặt tay Mai, bàn tay ghi dấu những chứng tích về tội ác kẻ thù, bàn tay quật khởi… Mười ngón tay bị đốt đã trở thành mười ngọn đuốc châm bùng lên ngọn lửa nổi dậy căm thù trong đôi mắt mở to trừng trừng quyết liệt, ta thấy ánh lên cái dữ dội cái man dại lửa đuốc xà nu không gì có thể dập tắt được khi mỗi ngón tay chỉ còn hai đốt thì ngọn lửa căm thù càng thôi thúc, nhắc nhở anh những thương đau uất nghẹn để bùng lên sức mạnh trả thù. Và đôi bàn tay Tnú đã trực liếp bóp chết kẻ thù, tiêu diệt những thằng Dục những con người bẩn thỉu tàn ác. Sức mạnh man dại xà nu phải chăng đã dồn chứa trong đôi bàn tay ấy, bàn tay biểu tượng của sự sống của chiến đâu, trở thành niềm tự hào chân chính của dân làng Xô Man. Nhưng cũng trong đôi bàn tay ấy không chỉ là vẻ đẹp, là sức mạnh quật khởi hào hùng mà ở đó còn là quy luật của một chân lý muôn đời muôn thuở: khi kẻ thù đã cầm súng, mình phải cầm giáo. Vâng, lửa xà nu, lửa sẽ là bạn, là tình nếu ta biết thuần thục mà sử dụng. Nhưng cũng ngọn lửa ấy thôi lửa của xà nu thân thiết sẽ trở thành kẻ thù của ta trở thành vật đốt cháy mười ngón tay Tnú. Câu nói trầm hùng vang vọng trong tác phẩm được nhắc đi nhắc lại như một điệp khúc: Nhớ không Tnú, mày cũng không cứu được vợ con mày và dân làng Xô Man cũng không cứu được vợ con Tnú. Bởi vì tất cả chỉ có hai bàn tay không mặc dù trong đầu họ có lý tưởng trong tim họ có dòng máu mạnh mẽ của núi rừng. Nhấn một điều như thế để đi tới môt chân lý hai bàn tay phải biết mài gươm mài giáo, biết cầm mác cầm súng liêu diệt kẻ thù. Và quả thật khi ta đã đứng lên rừng núi đã vươn dậy thì giặc phải bỏ xác trên đất này, quanh đống lửa nhà đã ghi ấn sự nhục nhã của chúng. Rừng xà nu là vẻ đẹp bất diệt của sự sống không bao giờ tàn lụi. Câu chuyện tái hiện một thiên nhiên man dại với những cuộc đời số phận hào hùng, bất khuất cũng chính là tái hiện một hiện thực cách mạng miền Nam từ những ngày đen tối đến những ngày đồng khởi. Hình tượng xà nu nổi bật xuyên suối tác phẩm, câu chuyện mở ra trong vẻ đẹp mãnh liệt của sự sống trước đau thương mất mát để rồi khép lại vẫn là hình ảnh hào hùng sự thách thức như thêm phần kiêu bạc bởi bên bốn năm cây xà nu đã bị đánh ngã đã có vô số những cây con đang mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất nhọn hoắt như những mũi lê. Với hình tượng xà nu Nguyễn Trung Thành đã đem đến một cái nhìn mới mẻ, có chiều sâu mà vẫn hòa hợp đồng điệu trong cái nhìn thời đại. Hình tượng vẫn gần gũi quen thuộc trong cảm quan cách mạng lành mạnh tưới sáng. Qua hình tượng rừng xà nu cũng là biểu tượng cho những con người những cuộc đời dân làng Xô Man anh dũng kiên cường tác phẩm đã tỏa sáng một câu chủ đề tư tưởng rất khỏe khoắn, rất thời đại; ca ngợi sức sống bất diệt của con người đồng thời chỉ ra quy luật phát triển của cách mang Việt Nam khi kẻ thù đã cầm súng mình phải cầm giáo. Câu chuyện về một Tây Nguyên xa xôi trong nỗi ám ảnh của Nguyễn Trung Thành đã dần ta đến một thế giới của một mảnh đất tuy đau thương mà ngát thơm căng trào sự sống. Hình tượng xà nu vừa mang được cái man dại mãnh liệt của vẻ đẹp thiên nhiên vừa mang nét linh diệu, ấm áp hào hùng của hơi thở cuộc đời. Vẻ đẹp tác phẩm được kết tụ trong những ánh sắc núi rừng hấp dẫn và thăng hoa trong ý nghĩa biểu tượng rất chân thực, rất cao đẹp. Xúc cảm thiêng liêng, tình yêu quấn quyện đượm nồng đã dẫn tụ trong một hình ảnh kỳ vĩ, trong một hình tượng ngời ngợi ngọt căng sự sống. Rừng xà nu xứng đáng được coi là biểu tượng cho những gì bất diệt hào hùng của nhân dân của dân tộc, của thời đại, là mạch nguồn truyền ghống Việt Nam.
Ý nghĩa của nhan đề và hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu
2,532
Ý nghĩa của truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm và những đặc sắc về nghệ thuật của truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm Hướng dẫn Đề bài: Em hãy phân tích ý nghĩa của truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm và những đặc sắc về nghệ thuật của truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm I. Dàn ý chi tiết cho đề phân tích ý nghĩa và đặc sắc nghệ thuật của Sự tích Hồ Gươm 1. Mở bài Giới thiệu truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm”: Truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm”, là một truyền thuyết nói về cuộc chiến chống giặc Minh của quân ta lúc bấy giờ 2. Thân bài -Ý nghĩa + Ca ngợi tính chính nghĩa, tính nhân dân của cuộc kháng chiến Lam Sơn + Ca ngợi vai trò của Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh + Giải thích vì sao có tên Hồ Hoàn Kiếm hay Hồ Gươm – Đặc sắc về nghệ thuật + Kết cấu chặt chẽ, các chi tiết thực – ảo xen kẽ + Sử dụng sáng tạo mô-típ trao gươm thần 3. Kết bài Bằng những chi tiết hiện thực kết hợp với tưởng tượng kì ảo, truyện đã đề cập tới những giá trị sâu sắc II. Bài tham khảo Trong kho tàng văn học Việt Nam có không ít những thể loại truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, trong đó có truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm”, là một truyền thuyết nói về cuộc chiến chống giặc Minh của quân ta lúc bấy giờ. Truyền thuyết không chỉ mang những ý nghĩa sâu sắc mà còn có gia trị đặc sắc về nghệ thuật. Bàn về ý nghĩa của truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm” ta cần làm rõ những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyền thuyết này. Trước hết ý nghĩa của truyện là ca ngợi tính chính nghĩa, tính nhân dân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Mặc dù quân địch mạnh hơn quân ta về cả số lượng và chất lượng, quân ta yếu thế hơn, lực chiến kém và lực lượng ít hơn, nhưng bản chất là một cuộc chiến giành lại chính nghĩa (thuận theo ý Trời), giành lại miếng ăn chỗ ở cho nhân dân, đánh đuổi bọn giặc xâm lược cướp nước, đàn áp nhân dân, vì hạnh phúc và sự bình yên của dân tộc vì từng tấc đất của Tổ quốc. Chính vì vậy cuộc khởi nghĩa đã được nhân dân ở khắp mọi miền ủng hộ, cuộc khởi nghĩa toàn thắng. Bên cạnh đó truyện đã nhấn mạnh và suy tôn vai trò của người tướng sĩ anh hùng Lê Lợi – sau này lên ngôi vua. Lê Lợi là người đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa, với mong muốn thái bình cho nhân dân và đất nước, bằng mọi mưu trí của mình đã vạch ra những mưu kế, chiến lược đánh giặc khôn khéo, hơn nữa là người hiền tài nên đã được đức Long Quân phù trợ. Sau khi chiến thắng giặc Minh, đánh đuổi hết quân xâm lược, đất nước sạch bóng quân thù, cuộc sống của nhân dân lại được yên bình, Lê Lợi được nghĩa quân và nhân dân mọi miền tôn vinh là người đã có công đánh giặc cứu nước, đem lại thái bình cho dân tộc. Một ý nghĩa quan trọng khác đó chính là việc giải thích cho cái tên “Hồ Gươm” hay “Hồ Hoàn Kiếm”, tên hồ chính là đánh dấu cho sự chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn, phản ảnh tư tưởng và nguyện vọng sống trong hòa bình của nhân dân, tên hồ còn đó để muốn nhắn nhủ và răn đe tới những kẻ xâm lược rằng gươm vẫn còn đó. Về đặc sắc nghệ thuật, truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm” có kết cấu truyện chặt chẽ, các chi tiết thực – ảo đan xen hợp lí tạo nên sự hấp dẫn, lôi cuốn, tô đậm nên hình ảnh người anh hùng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn. Truyện đã sử dụng sáng tạo mô – típ trao gươm thần nhưng lại làm hư cấu chi tiết trả gươm thần, tạo nên nét rất độc đáo và thú vị, tạo cho cốt truyện thêm li kì và sâu sắc. Cách lí giải tên Hồ Gươm cũng rất nên thơ, có ý nghĩa, trở nên linh thiêng hơn, nhấn mạnh sự gắn bó của hồ với lịch sử dân tộc. Lịch sử dân tộc đã được tô đậm hơn và đẹp đẽ hơn bằng một truyền thuyết thi vị như vậy. Bằng những chi tiết hiện thực kết hợp với tưởng tượng kì ảo, truyện đã đề cập tới những giá trị sâu sắc, ca ngợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, vai trò to lớn của Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh. Đồng thời giải thích tên Hồ Gươm, phản ánh khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam.
Ý nghĩa của truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm và những đặc sắc về nghệ thuật của truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm
821
Ý nghĩa của ước mơ trong cuộc đời mỗi người Hướng dẫn Ý nghĩa của ước mơ trong cuộc đời mỗi người 1. Yêu cầu đề bài: –Suy nghĩ về ước mơ của con người trong cuộc sống. Mọi chuyện đều không có gì khó khăn nếu ước mơ của mình đủ lớn. –Phương pháp lập luận: giải thích, bình luận, chứng minh –Tư liệu: Sách báo, đời sống thực tế 2.Gợi ý dàn bài Mở bài: Cuộc đời thật tẻ nhạt và vô nghĩa khi người ta không có ước mơ và khát vọng. Bởi ước mơ chính là nhựa sống để nuôi dưỡng tâm hồn ta lớn lên, sống có mục đích, có tương lai, hạnh phúc. “Ở trên đời, mọi chuyện đều không có gì khó khăn nếu ước mơ của mình đủ lớn” là một trong những câu nói về ước mơ đáng để cho ta suy ngẫm. Thân bài: Ước mơ là gì? –Ước mơ là gì? Ước mơ là điều tốt đẹp ở phía trước mà con người tha thiết, khao khát hướng tới. Có ai đó đã ví rằng” Ước mơ giống như ngọn hải đăng, chúng ta là những con thuyền giữa biển khơi bao la, ngọn hải đăng thắp sáng giúp cho con thuyền của chúng ta đi tới được bến bờ mà không mất phương hướng”. Sự ví von quả thật chí lí, giúp người ta hiểu rõ hơn, đúng hơn về ước mơ của mình. Phải chăng “Ở trên đời, mọi chuyện đều không có gì khó khăn nếu ước mơ của mình đủ lớn’? Ước mơ đủ lớn nghĩa là nó cũng như cái cây được ươm mầm. Một cây sồi cổ thụ cũng phải bắt đầu từ hạt giống được gieo và nảy mầm rồi lớn dần lên. Ước mơ đủ lớn nghĩa là ước mơ cũng phải bắt đầu từ điều nhỏ bé và được nuôi dưỡng dần lên. Ước mơ lớn lên, trưởng thành không dễ gì mà có, nó phải trải qua bao bước thăng trầm, vinh nhục, thậm chí phải nếm mùi cay đắng, thất bại. Nếu con người vượt qua được và vẫn trung thành với ước mơ, khát vọng, lý tưởng thì chẳng có gì là không đạt được điều mình mong muốn. Như chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, có ước mơ “tột bậc” là giải phóng dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho dân mình. Trải qua bao khó khăn, gian khổ và hy sinh người đã đạt được ước mơ lớn lao đó. Cũng có bao nhà tư tưởng lớn, nhà khoa học cho tới những người bình dân, thậm chí thân thể khuyết tật, họ vẫn vươn tới, đẹp bằng những khó khăn, cản trở của cuộc sống để đạt được những điều mong muốn. Ý nghĩa của ước mơ đối với đời người Ước mơ dù có thể thành, có thể không thì hãy cứ tự tin. Đừng vì sợ ước mơ thất bại mà không dám ước mơ, hay không đủ ý chí, nghị lực mà nuôi dưỡng ước mơ thì thật đáng tiếng. Cuộc đời sẽ chẳng đạt được điều gì mình mong muốn. Sống như vậy thật vô nghĩa. Nếu cuộc đời là chiếc thuyền thì ước mơ là ngọn hải đăng. Thuyền nhiều phong ba, ngọn hải đăng sẽ là niềm tin, ánh sáng hướng thuyền. Mất hải đăng, thuyền sẽ đi đâu về đâu? Vì thế ước mơ thật đẹp và lớn lao biết bao, nếu ai đó sống không có ước mơ, khát vọng thì cuộc đời tẻ nhạt và vô nghĩa biết nhường nào. Kết bài: Liên hệ ước mơ, khát vọng của bản thân. Cần có ý chí, nghị lực để nuôi dưỡng, biến ước mơ thành hiện thực.
Ý nghĩa của ước mơ trong cuộc đời mỗi người
618
Ý nghĩa hình tượng “chiếc bóng” trên tường của Vũ Nươngtrong Chuyện người con gái Nam Xương Hướng dẫn Chiếc bóng trên tường của Vũ Nương, một hình ảnh nghệ thuật độc đáo Chuyện người con gái Nam Xương là thiên truyện thứ 16 trong tổng số 20 truyện của Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Nguồn gốc của truyện bắt nguồn từ một truyện cổ tích dân gian tên là Vợ chàng Trương. Câu chuyện được xây dựng theo lối truyền kì. Tình huống dựa trên truyện cổ dân gian. Thế nên tính hoang đường trở thành yếu tố mang nhiều hàm nghĩa sâu sắc. Hình tượng chiếc bóng trên tường của Vũ Nương là một yếu tố độc đáo. Chi tiết có vai trò thắt nút và mở nút câu chuyện tình đầy trái ngang, oan khuất. Trước hết, chi tiết “cái bóng” có ý nghĩa thắt nút. Nó gây ra mối hoài nghi trong lòng Trương Sinh. Đối với Vũ Nương – một người vợ thủy chung – thì “cái bóng” chỉ là “cái bóng”. Trong những ngày chồng xa nhà, Vũ Nương một mình tảo tần nuôi con, chăm mẹ. Vì thương nhớ chồng và khát khao sum họp, Vũ Nương ngày nào cũng nhớ mong. Lúc vui đùa với con, Vũ Nương thường chỉ vào “bóng” mình trên vách và nói đùa đó là cha Đản. Đứa con hồn nhiên tin đó là sự thật. Mục đích lời nói đó của Vũ Nương là hoàn toàn tốt đẹp. “Chiếc bóng” mang đến cho Đản một niềm tin sâu sắc rằng cha luôn bên cạnh mình. Cha rất hiền lành và thường đến mỗi đêm. Khi Đản cảm thấy sợ hãi thì “cha” là một dựa vững chắc của tinh thần. Cha cũng rất nghiêm khắc chỉ ngồi lặng thình và không bao giờ nói. Đó là tất cả những gì mà một đứa trẻ ngây thơ nghĩ được. Đản hồn nhiên, ngây thơ và thành thực như bản tính vốn có của trẻ thơ. Còn đối với Trương Sinh lại hoàn toàn khác. Một người ít học, đa nghi lại rất hồ đồ khi nghe câu chuyện đã suy diễn đa chiều. Khi nghe bé Đản nói về một người cha của mình (chính là “cái bóng”) đã làm nảy sinh sự nghi ngờ về sự không chung thủy của người vợ. Bởi lòng tự phụ quá cao chàng đã trở nên lỗ mãn, cuồng bạo. Trương Sinh nhẫn tâm buông lời sỉ nhục, mắng nhiếc và đánh đập tàn bạo người vợ vốn hiền thảo, thủy chung, đã tân tình, tận nghĩa một lòng dốc sức vun đắp hạnh phúc gia đình mà không cho nàng biết nguyên cớ. Quá phẫn uất và tuyệt vọng, Vũ Nương đã tìm đến cái chết. Đến đây, tình huống truyện được đẩy lên đến cao trào tột đỉnh. Chỉ bằng một tình tiết hết sức đơn giản, thế mà Nguyễn Dữ đã tạo nên một thiên truyện làm cảm động lòng người. Chính cách thắt nút và mở nút của câu chuyện qua chi tiết “cái bóng” này đã làm cho cái chết của Vũ Nương càng thêm oan khuất, có giá trị tố cáo đối với xã hội phong kiến nam quyền đầy bất công đối với người phụ nữ, đã đẩy họ vào bước đường cùng không lối thoát.
Ý nghĩa hình tượng “chiếc bóng” trên tường của Vũ Nươngtrong Chuyện người con gái Nam Xương
557
Đề bài: Phân tích ý nghĩa nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa Bài làm “Chiếc thuyền ngoài xa” là nhan đề một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu, trước in trong tập Bến quê (1985), sau được dùng đặt tên cho cả tập truyện ngắn gồm 15 truyện do nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn hành năm 1987. Thiên truyện được đưa vào giảng dạy trong chương trình văn học lớp 12 phổ thông, cả ban khoa học xã hội – nhân văn lẫn ban cơ bản. Đặt vấn đề tìm hiểu ý nghĩa nhan đề một truyện ngắn hoàn toàn không phải là một cái gì mới mẻ bởi lẽ sự hoàn chỉnh về nội dung được thể hiện ngay trong ý nghĩa mà đầu đề văn bản chỉ ra, đặc biệt là với các văn bản nghệ thuật vốn thường mang những nhan đề hàm ẩn. Vậy nhan đề ấy – Chiếc thuyền ngoài xa- có ý nghĩa như thế nào? Ý nghĩa nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa Những nhan đề loại này đòi hỏi người tiếp nhận phải suy nghĩ, liên tưởng mới có thể hiểu được ý nghĩa của chúng. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người cho rằng nhan đề là nội dung cô đọng, hàm súc, phản ánh trung thành nội dung văn bản. Có khi nhan đề phản ánh các đối tượng trình bày, có khi phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng, có khi lại là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố nhưng dù trong bất kì trường hợp nào, tất cả các nhan đề đều phải được rút ra, được khái quát từ chính nội dung văn bản. Trong văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Minh Châu có vinh dự là người “ thuộc trong số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất” ( Nguyên Ngọc) cho công cuộc đổi mới văn học sau 1975. Trong nhà trường, hai tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã được đưa bộ sách cải cách trước đây ( Bức tranh ở cấp trung học cơ sở và Mảnh trăng cuối rừng ở cấp trung học phổ thông) và lần thay sách này, giáo viên và học sinh lại được tiếp cận hai tác phẩm khác- Bến quê ở cấp trung học cơ sở và Chiếc thuyền ngoài xa ở trung học phổ thông. Hầu như các truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong chương trình trung học phổ thông đều mang những nhan đề vừa cụ thể lại vừa có ý nghĩa biểu tượng. Nếu như Mảnh trăng cuối rừng vừa là một hình ảnh thực được miêu tả trong truyện và trở đi trở lại nhiều lần, thành hình ảnh nổi bật và bao trùm toàn bộ khung cảnh của câu chuyện, vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho nữ nhân vật chính- Nguyệt thì “ Chiếc thuyền ngoài xa” cũng có phần giống như thế 1- Chiếc thuyền ngoài xa là chiếc thuyền thực hay chiếc thuyền trong bức ảnh nghệ thuật? Truyện gồm 5 phần. Phần đầu nói về chiếc thuyền thực tại một vùng đầm phá ven biển miền Trung và phần cuối hoàn toàn nói về chiếc thuyền trong bức ảnh nghệ thuật, một trong 12 cảnh tĩnh vật thể hiện chủ đề thuyền và biển cho một cuốn lịch năm mới. Phần vào chuyện kể trọn vẹn sự cần thiết phải có bức ảnh. Nguyên là người trưởng phòng của nhân vật “ tôi” ( tên là Phùng – nhân vật người kể chuyện) “là người sâu sắc, lại cũng lắm sáng kiến”, anh ta đã đề xuất yêu cầu “ Phải có một bộ sưu tập chuyên đề. 12 tháng là 12 bức ảnh nghệ thuật về thuyền và biển. Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật”. Suốt năm tháng ròng làm việc khá thông đồng bén giọt, tổ nhiếp ảnh nghệ thuật đã mang về không biết cơ man nào là ảnh nhưng cũng chỉ có 11 bức được lọt vào cặp mắt xanh của viên trưởng phòng “ sâu sắc nước đời”. Một bức ảnh thiếu hụt oái oăm kia được trưởng phòng tin cẩn giao cho “ tôi” phải săn tìm cho được. Mà là tấm ảnh chụp có “ sương biển” giữa mùa tháng bảy – dường như thường “ chỉ có bão táp với biển động”. Thật là một vụ gieo trồng trái thời vụ vì “tôi” quá biết “ Muốn lấy sương thì phải nghĩ đến từ tháng ba cơ!”. Nhưng rồi “ khi nên trời cũng chiều người”, “ tôi” đã trở lại vùng biển chiến trường xưa, cách Hà Nội sáu trăm cây số” và vác máy nằm “phục kích” ở chính cái nơi mà “ dường như trong suốt dải bờ biển khắp cả nước, chỉ ở đây vào giữa tháng bảy là còn sương mù”. Đây cũng còn là quê của một đồng đội cũ của “ tôi”, giờ đang là Chánh án toàn án huyện. Thật là gồm đủ thiên thời, địa lợi, nhân hoà”. Và “ tôi” đã bỏ qua nhiều cảnh có ‘ không khí vui nhộn hơi thô lỗ và thật hùng tráng” để chớp lấy cái khoảnh khắc “ đắt” trời cho”. Đó là cảnh “ trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn và trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ…”. Nhà nghệ sĩ dạt dào một cảm hứng nghệ thuật, trải qua một khoảnh khắc yên-sĩ –phi –lí thuần tuyệt diệu: “ toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và tòan bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào? (…). Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn.”. Và tuyệt tác đã ra đời trong sự hưng phấn nghệ thuật – “ cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại”. Rất cần chú ý thành phần phụ chú “ do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại” trong lời kể chuyện. Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá và sáng tạo, của cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu. Dường như trong hình ảnh chiếc thuyền giữa biển mờ sương, anh đã bắt gặp cái tận Thiện, tận Mĩ, thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp hài hoà, lãng mạn của cuộc đời Như thế, xét riêng về công vụ, nhiệm vụ của “tôi” lúc này đã hoàn thành. “Tôi” đã có cảnh thuyền và biển trong sương đúng như đặt hàng của trưởng phòng, mặc dù giữa mùa tháng bảy! Và ‘ tôi” đã có thể ung dung “ nhảy lên tàu hoả trở về”. Nếu khéo liên hệ một tí, ta dễ thấy nếu như “ tôi” về ngay lúc đó khác nào cô Nguyệt ( trong Mảnh trăng cuối rừng) xuống xe ở cầu Đá Xanh. Phần đầu truyện như thế đủ cho người đọc biết xuất xứ của bức ảnh nghệ thuật đặc sắc trên cuốn lịch năm mới kia ra đời thế nào. Và nếu nghĩ sâu xa hơn thì cũng cần bấy nhiêu ấy cũng đủ cho bộ môn lí luận nghệ thuật khái quát về công phu lao động của nghệ sĩ. Phần kết truyện cho biết người trưởng phòng rất hài lòng với bức ảnh và bức ảnh không chỉ có tuổi thọ ngang với một cuốn lịch năm mà “mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật”. Mở và kết truyện như vậy cho thấy, chiếc thuyền trong “ chiếc thuyền ngoài xa” là chiếc thuyền vừa có thực trong đời, vừa là chiếc thuyền trong bức ảnh nghệ thuật và nó cũng chính là một chi tiết nghệ thuật đắt, không dễ trong đời cầm máy “ tôi” đã có được may mắn thứ hai. 2- Tại sao lại là “chiếc thuyền ngoài xa”? Theo dòng kể của ‘ tôi” rõ ràng chiếc thuyền được chụp trong một cự li tương đối gần – “ một chiếc thuyền lưới vó…đang chèo thẳng vào trước mặt tôi”- nhà nghệ sĩ nhìn rõ cả “những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó”. Người thưởng thức bức ảnh thông thường chắc không ai không cảm nhận chiếc thuyền đang được chụp trong một cự li gần như thế. Thế nhưng vì sao tác giả lại đặt nhan đề truyện là “ chiếc thuyền ngoài xa”? Trở lại luận điểm ban đầu về đầu đề văn bản: Nhan đề là nội dung cô đọng, hàm súc, phản ánh trung thành nội dung văn bản. Có khi nhan đề phản ánh các đối tượng trình bày, có khi phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng, có khi lại là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố nhưng dù trong bất kì trường hợp nào, tất cả các nhan đề đều phải được rút ra, được khái quát từ chính nội dung văn bản. Nếu như nhan đề chỉ đơn thuần phản ánh các đối tượng thì hẳn chiếc thuyền trong ảnh không phải là ngoài xa! Phải chăng nhan đề đó phản ánh cách nhìn của tác giả đối với đối tượng. Thật vậy, theo yêu cầu của trưởng phòng, bức ảnh phải săn tìm lần này “Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật” nhưng bức ảnh chụp được lại có ‘ vài bóng người lớn lẫn trẻ con”. Như không sao, dù có người thì người cũng chỉ “ ngồi im phăng phắc như tượng”! Điều đáng nói là bức ảnh như thế đã ghi nhận được cái gì? Quả là một bức ảnh đẹp được chụp từ một cự li khá gần nhưng cái cách tiếp cận “ thực tế”, tiếp cận “ nguyên mẫu” như thế là cách tiếp cận từ xa vì nhà nghệ sĩ chỉ thu được cái hình hài bên ngoài, cái thơ mộng bên ngoài của cảnh và người. Bởi vì ngay sau khi nhà nghệ sĩ “ săn tìm” được cái đẹp trong cuộc đời để sáng tạo ra cái đẹp nghệ thuật kia, thì anh ta đã phải chứng kiến một cảnh đời cay cực, ngang trái mà không một người bình thường nào có thể ngoảnh mặt làm ngơ, nói chi đến nghệ sĩ vốn được coi là những con người đa cảm, đa mang! Là nghệ sĩ và đã từng là một người lính, chứng kiến cảnh thằng con – Phác- vì thương mẹ mà đánh lại cha, khi thì bằng chính chiếc thắt lưng của lính nguỵ mà người cha của nó dùng để đánh mẹ nó, khi thì định dùng cả “ám khí” là một con dao găm lận ‘ trong cạp quần đùi”, “ tôi” đã không khoanh tay ngồi nhìn vì “ bất luận trong hoàn cảnh nào, tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo chio hắn đánh”. Và hậu quả là ‘ tôi” đã bị thương vì người chồng kia chống trả quyết liệt để tự vệ. Vậy cái cảnh thơ mộng đẹp đẽ mà “ tôi” thu được vào ống kính Pratica và cái cái cảnh đời ngang trái mà trong tư cách cựu chiến binh “ tôi” đã chứng kiến và tham dự cái nào cận nhân tình hơn? Do đó ảnh chụp chiếc thuyền thơ mộng kia chẳng phải là kết quả của lối tiếp cận hiện thực từ xa ư? Chiếc thuyền ngoài xa được chụp trong cự li gần là với ý nghĩa như vậy đó! Chưa hết, do dưỡng thương và nể bạn nên “ tôi” nán lại thêm mấy hôm và chính lần này “ tôi” mới vỡ ra mọi lẽ. Chứng kiến buổi làm việc giữa Đẩu – người đồng đội cũ của “ tôi”, giờ là Chánh án toàn án huyện- và người phụ nữ khốn khổ kia, ‘ tôi mới vỡ ra nhiều lẽ. Thì ra nếu chiếc thuyền chụp được là “ từ xa” thì cái cảnh “ tôi” chứng kiến cũng chỉ là bề nổi của cuộc đời gia đình nhà chài nọ. Vì sao người phụ nữ phải cam chịu một bề, không chống trả những trận “đòn chồng” và cũng không chịu li dị, hiểu theo nghĩa nào đó là không chịu “ giải phóng” mình. Cái lí do chị đưa ra đã đưa hai người cựu chiến binh tốt bụng – một là một nghệ sĩ, một được mệnh danh là một Bao công- đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác: -“ Chị cảm ơn các chú! Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu có hiểu cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc…” – “ Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão ách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu. giá mà lão uống rượu…thì tôi còn đỡ khổ…Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh” – “ Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông …Cũng có khi biển động sóng gió chứ?”. – ‘ Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó- vả lại, ở trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận vui vẻ”. Cái vòng luẩn quẩn của những kiếp người cần lao quả thật đầy bất ngờ đối với “ tôi”, vốn đã trải qua mấy năm chiến đấu tại mảnh đất này, đã giải phóng mảnh đất này và hiện đang là nhà báo từng dong ruổi nhiều nơi! Và “ tôi” cũng nhận ra rằng vì sao ông lão ( cha người phụ nữ) làm nghề sơn tràng “ ở tận trên miền rừng A So” và thằng cháú ngoại lại hay xuất hiện ở miệt biển này và tại sao trong buổi sáng chia tay “ tôi” ông lão luôn “đặt hai con mắt đầy vẻ lo lắng ra ngoài mặt phá, nơi có chiếc thuyền”. Vậy, với tất cả những điều ấy, “chiếc thuyền nghệ thuật” của “tôi” nói được cái gì cận nhân tình chưa hay cũng chỉ là “ chiếc thuyền ngoài xa”? Nhan đề ấy phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng. Tóm lại, qua thiên truyện và cách đặt tên nhan đề, ta thấy nhân vật “ tôi” vẫn chưa hoàn toàn thoả mãn với những gì ống kính của mình đã thu được. Đằng sau bức ảnh chiếc thuyền thơ mộng ấy còn là những cuộc đời, những con người lầm lụi, khốn khổ đến quẫn trí và giải toả cái quẫn trí ấy bằng những giải pháp hết sức kì quặc. Bức ảnh “thuyền và biển” kia đã nói được gì đâu. Và đó là cách để nhà văn Nguyễn Minh Châu bộc lộ thiên hướng muốn nắm bắt hiện thực ở bề sâu ẩn kín chứa đầy những nghịch lí, mâu thuẫn của đời sống hậu chiến tranh và đó cũng là đặc điểm nổi bật mới mẻ của phong cách Nguyễn Minh Châu, người tiên phong tinh tường và tài ba trên hành trình đổi mới văn học nước nhà. Có thể hiểu “ Con thuyền ngoài xa” là những suy nghĩ da diết về chân lí nghệ thuật và đời sống. Chính khát vọng muốn tìm đến cái đẹp, cái hài hoà, muốn làm cho con người hạnh phúc nhiều khi đã đưa người ta đến chỗ giản đơn hoá không nhận ra cái thực tế khắc nghiệt thì suy cho cùng cũng chỉ là một kiểu “ lướt nhẹ trên bề mặt cuộc sống” chứ đâu đã là thứ nghệ thuật “ là tiếng đau khổ…thoát ra từ những kiếp lầm than” ( Nam Cao- Trăng sáng). Từ đó, có thể phát hiện ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa: Khi con thuyền là đối tượng của nghệ thuật thì có thể được chiếm lĩnh từ xa, một khoảng cách đủ để tạo nên vẻ đẹp huyền ảo, nhưng sự thực cuộc đời cần phải được chiếm lĩnh ở cự li gần. Đừng vì nghệ thuật thuần tuý mà bỏ quên cuộc đời, bởi lẽ nghệ thuật chân chính luôn là cuộc đời và vì cuộc đời. Trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãy là một con người biết yêu ghét, vui buồn trước cuộc đời, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người. Với ý nghĩa ấy, phần nào gợi ra những liên tưởng tương đồng với truyện “ Trăng sáng” của nhà văn Nam Cao.
Ý nghĩa nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa
2,965
Ý nghĩa nhan đề của Bài thơ về tiểu đội xe không kính Hướng dẫn Ý nghĩa nhan đề của tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” – Hình ảnh độc đáo, gây ấn tượng mạnh: những chiếc xe không kính – Từ bài thơ có vẻ như hơi thừa, nhưng thực ra từ đó lại nằm trong chủ định của tác giả và tạo nên sự liên kết giữa hai sự vật có vẻ xa lạ nhau: bài thơ và “xe không kính”. Xe không kính thì chẳng có gì làm nên thơ cả, vậy mà nó đã trở thành hình ảnh trung tâm của một bài thơ. Tác giả đã tìm ra chất thơ ở những điều tưởng chừng rất khô khan, trần trụi. Đó chính là chất thơ từ hiện thực gian khổ, ác liệt ở nơi chiến trường. – Chính chất liệu chân thực từ cuộc sống ấy đã làm nên sức sống lâu bền của bài thơ. – Cách đặt nhan đề tự nhiên thể hiện sâu sắc phong cách thơ Phạm Tiến Duật: tinh nghịch, sôi nổi, tràn đầy niềm tin vào cuộc sống và chiến đấu. – Tác giả đã tìm thấy, phát hiện và khẳng định cái chất thơ, cái đẹp nằm ngay trong hiện thực đời sống bình thường nhất. Thậm chí trần trụi, khốc liệt nhất, ngay cả trong sự tàn phá dữ dội, ác liệt của chiến tranh. Đó cũng là bút pháp của nền văn học kháng chiến chiến chống Mĩ cứu nước, vừa tự nhiên, sôi động vừa đậm chất sử thi hào hùng.
Ý nghĩa nhan đề của Bài thơ về tiểu đội xe không kính
263
Đề bài: Ý nghĩa nhan đề Thuốc của Lỗ Tấn Bài làm Thuốc ở đây chính là chiếc bánh bao tẩm máu người mà lão Hoa đã mua về cho thằng Thuyên ăn để chữa bệnh lao.Nhan đề này có nhiều nghĩa. -Tầng nghĩa thứ nhất của Thuốc là nghĩa tường minh, chỉ phương thuốc chữa bệnh lao bằng chiếc bánh bao tẩm máu người. Đây là một phương thuốc mê tín lạc hậu tương tự như hai vị thuốc mà ông thầy lang đã bốc cho cho bố Lỗ Tấn để chữa bệnh phù thủng là rễ cây mía đã kinh sương ba năm và một đôi dế đủ con đực, con cái dẫn đến cái chết của ông cụ. Phân tích tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn -Tầng nghĩa thứ hai của Thuốc là nghĩa hàm ẩn, đó là phương thuốc để chữa bệnh tinh thần: căn bệnh gia trưởng, căn bệnh u mê lạc hậu về mặt khoa học của người dân Trung Quốc. Bố mẹ thằng Thuyên vì lạc hậu và gia trưởng đã áp đặt cho nó một phương thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu người dẫn đến cái chết của nó. Rồi tất cả đám người trong quán trà cũng sai lầm như vậy. Chiếc bánh bao tẩm máu vô hại kia đã trở thành một thứ thuốc độc vì người ta quá tin vào nó mà không lo tìm một thứ thuốc khác.Người dân Trung Quốc phải tỉnh giấc, không được “ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”. -Tầng nghĩa thứ ba của Thuốc, của chiếc bánh bao tẩm máu người là phương thuốc nhằm chữa căn bệnh u mê lạc hậu về mặt chính trị của người dân Trung Quốc và căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng Trung Quốc thời bấy giờ. Máu để tẩm chiếc bánh bao là dòng máu người chiến sĩ cánh mạng Hạ Du đã đổ xuống để giải phóng cho nhân dân. Thế mà nhân dân lại u mê cho anh là làm giặc, là thằng điên và mua máu anh để tẩm bánh bánh bao. Còn Hạ Du làm cách mạng cứu nước,cứu dân mà lại quá xa rời quần chúng để nhân dân không hiểu anh đã đành mà mẹ anh cũng không hiểu (đỏ mặt xấu hổ khi thăm mộ con gặp bà Hoa) còn chú anh thì tố cáo cháu để lấy tiền thưởng. Tóm lại: Nhan đề truyện và hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người đã thể hiện chủ đề tư tưởng tác phẩm: Lỗ Tấn đã đau nỗi đau của dân tộc Trung Hoa thời cận đại: nhân dân thì “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt” còn người cách mạng thì “bôn ba trong chốn quạnh hiu”
Ý nghĩa nhan đề Thuốc của Lỗ Tấn
464
Đề bài: Hãy giải thích Ý Nghĩa Nhan Đề Tức Nước Vỡ Bờ Trích Tắt Đèn Của Ngô Tất Tố Bài làm “ Tức nước vỡ bờ” là một đoạn trích trong cuốn tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố – Ông là một cây bút ký tiêu biểu của nền văn học Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Đoạn trích này khiến người đọc cảm thấy xót xa cho số phận người nông dân khi đang phải “tồn tại” trong một chế độ tranh xã hội phong kiến đương thời vô cùng thối nát, tàn bạo. Nơi mà người nông dân chỉ thấy một màu đen, họ bị áp bức không tìm thấy lối thoát. Bước đường cùng….Họ sẽ làm gì? Ngô Tất Tố đã trả lời câu hỏi này bằng ngòi bút của mình. Và ông dường như muốn mở đầu một trang mới cho giai cấp người nông dân, dự đoán cho cuộc khởi nghĩa 1945 sắp tới nên đã lựa chọn nhan đề là “Tức nước vỡ bờ” – một câu thành ngữ tục ngữ theo đúng nghĩa đen của nó. “Tức nước vỡ bờ” ám chỉ rằng dù sức chịu đựng có lớn đến đâu nó cũng sẽ có giới hạn của nó, khi mà giới hạn đó bị vượt quá ngưỡng cho phép thì sức ép đó sẽ không còn kìm nén lại được và kết quả cuối cùng là bờ sẽ phải vỡ ra. Đây là điều khẳng định cho một quy luật tự nhiên là “ở nơi đâu có áp bức bóc lột tàn khốc thì ở đó có đấu tranh, có phản kháng mạnh mẽ”. Trong đoạn trích này, chúng ta thấy hình ảnh của chị Dậu – một người phụ nữ nông thôn hiền lành, tháo vát, luôn sống nhẫn nhục, nhẫn nhịn. Đứng trước thói hống hách, xách lược, dẫm đạp lên người chồng ốm yếu bệnh tật của bọn quan lại, tay sai, chị quỳ lạy, van xin chúng nhưng lẽ thường khi bị đẩy đến đường cùng thì bản năng trong chị trổi dậy buộc chị phải vùng lên, chống cự, đánh trả lại để đòi lại chân lý lẽ phải cho mình, cho chồng, cho gia đình mình. Tác phẩm “Tắt đèn” cũng như đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” đã mang đến sự thành công trong sự nghiệp văn học cho nhà văn Ngô Tất Tố và nó cũng ảnh hưởng rõ rệt đến tình hình xã hội đương thời. Đồng thời cũng gợi cho người đọc cảm nhận sâu sắc, sự đồng cảm xót thương cho thân phận người nông dân đang sống dưới ách thống trị của chế độ nửa thực dân nửa phong kiến.
Ý Nghĩa Nhan Đề Tức Nước Vỡ Bờ Trích Tắt Đèn Của Ngô Tất Tố
449
Ý nghĩa nhan đề và tình huống truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân Hướng dẫn Ý nghĩa nhan đề và tình huống truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân “Vợ nhặt” – một thứ vợ nhặt được, nhặt một cách ngẫu nhiên, dễ dàng như người ta nhặt đồ vật. Giá trị con người chưa bao giờ bị rẻ rúng đến thế. Vì vậy, ngay từ đầu, nhan đề đã tạo được ấn tượng, kích thích sự chú ý của người đọc về giá trị con người. Chính nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã gây ra điều đó. Nhưng “vợ nhặt” mà không hề rẻ rúng, con người vẫn yêu thương, trân trọng và đùm bọc lẫn nhau và không nguôi khát vọng, niềm tin dù họ ở trong hoàn cảnh khó khăn nhất. Trong truyện, một anh chàng nông dân nghèo, xấu xí, thô kệch, dân ngụ cư bỗng dưng “nhặt” được vợ giữa những ngày đói khát khủng khiếp. Tình huống độc đáo bộc lộ ngay từ nhan đề tác phẩm khiến người đọc phải suy ngẫm về một tình huống vừa kì quặc, vừa oái ăm vừa buồn, vừa vui, vừa bi thảm nhưng cũng đầy cảm động. Trong khi mọi người đang đói quay quắt, chết chóc đầy đường thì Tràng lại đèo bòng một người đàn bà bất chấp cả nghi lễ truyền thống về làm vợ. Chính hoàn cảnh của anh cũng nghèo kiết xác và còn phải nuôi một mẹ già, điều đó khiến của xóm ngụ cư, cả thân mẫu của anh phải ngạc nhiên, lo lắng, liệu có nuôi nổi nhau qua thời kì đói khát này không. Tình huống truyện làm nổi bật một sự thật bi thảm, chưa bao giờ giá trị con người lại rẻ rúng đến thế. Người đàn bà theo Trang về làm vợ vì đói quá mà quên cả giữ gìn nhân cách, vục đầu vào ăn bốn bát bánh đúc chẳng chuyện trò gì, vì đói mà chấp nhận theo không người đàn ông mà chẳng cần lễ nghi cưới hỏi. Tình huống nhặt được vợ của Tràng đặc biệt gây cho bà cụ Tứ mừng ít lo nhiều. Bà thương cho cuộc đời nghèo khổ dằng dặc của bà, bà lo cho con có nuôi nổi nhau qua trận đói này không. Bà mừng cho con vì có vợ, và hiểu rằng người ta gặp bước khó khăn mới lấy đến con mình. Trong bữa ăn sơ sài, đạm bạc, thậm chí thảm hại, bà lại rất vui vẻ hoạch định tương lai cho các con. Đến nhân vật chính – Tràng cũng bàng hoàng, ngạc nhiên không tin được mình đã có vợ sau một đêm hạnh phúc. Nhặt được vợ trong khung cảnh xám xịt của buổi chiều chạng vạng nhưng lại đem đến cho anh tình yêu, hạnh phúc và niềm tin. Tình huống truyện “Vợ nhặt” là lời kết tội đanh thép đối với giặc Pháp, Nhật và tay sai phong kiến đã đẩy người nông dân vào cảnh chết đói và đồng thời mang giá trị nhân bản sâu xa: Dù hoàn cảnh bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết, người ta vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hy vọng vào tương lai, vẫn muốn sống cho ra con người.
Ý nghĩa nhan đề và tình huống truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân
555
Đề bài: Phân tích ý nghĩa tư tưởng và nét đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn Vợ nhặt – Kim Lân Bài làm Từ đầu năm 1940, phái xít Nhật nhảy vào Đông Dương. Nhân dân Việt Nam lâm vào tình thế một cổ hai tròng. Pháp tăng cường vơ vét bóc lột, tích trữ lương thực tiếp tục thực hiện chiến tranh. Nhật bắt nhân dân miền Bắc nhổ lúa trồng đay. Nạn vỡ đê mất mùa liên liếp xảy ra. Đến mùa xuân năm ất Dậu (1945), toàn dân ta lâm vào nạn đói khủng khiếp chưa từng có trong lịch sử, riêng ở đồng bằng Bắc Bộ đã có tới hơn hai triệu người bị chết đói. Họ chết trên đường tha phương cầu thực, chết thê thảm bên gốc cây, hè đường, quán chợ… Trong hoàn cảnh đó, Mặt trận Việt Minh đã kêu gọi phá kho thóc của Nhật cứu đói dân nghèo và phát động họ vùng lên làm cuộc cách mạng tháng Tám 1945. Nỗi đau này làm xúc động giới nghệ sĩ và đã hiện hình trong không ít những tác phẩm của các nghệ sĩ như Nam Cao, Tố Hữu, Tô Hoài, Nguyền Đình Thi… Bằng tài năng đích thực và một trái tim gắn bó xót thương đối với những kiếp người nông dân khốn khổ lam lũ, Kim Lân đã đóng góp một truyện ngắn có chiều sâu tư tưởng và giá trị nghệ thuật đặc sắc: Vợ nhặt. Ý nghĩa tư tưởng và nét đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn Vợ nhặt Nội dung truyện Vợ nhặt hết sức đơn giản. Tác phẩm được xây dựng theo chiều diễn biến tâm lí nhân vật. Đầu tiên Kim Lân miêu tả cành Tràng, một nông dân thô kệch đưa vợ về nhà, tiếp theo, nhà văn để cho Tràng nhớ lại việc mình “nhặt” được vợ, và cuối cùng là tâm trạng của mọi người trong gia đình, đặc biệt là tâm trạng của Tràng và bà cụ Tứ nhân việc gia đinh có thêm một thành viên mới. Cốt truyện đơn giản, nhưng Vợ nhặt có nội dung tư tưởng sâu sắc. Trước hết, qua truyện ngắn Vợ nhặt, nhà văn phản ánh sinh động tình cảnh khốn khổ của nhân dân ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, dưới chế thực dân phong kiến và tình cảm hướng về cách mạng của họ. Ngay từ trang đầu tiên, nhà văn đã dựng lên một bức tranh ảm đạm: Cái làm thay đổi cuộc sống vốn bình lặng của xóm ngụ cư. Cái đói làm cho bọn con ngồi ủ rũ dưới những xó đường không buồn nhúc nhích. Rộng hơn, cái khiến cho nhiều người xanh xám như những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Bao trùm lên cái xóm ngụ cư này là một không khí chết chóc: Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẫn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người. Lại thêm mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoáng vào khét lẹt. Người ta nghe thấy tiếng ai khóc, tỉ tê lúc to lúc nhỏ và tiếng quạ gào lên từng hồi thê thiết… Ngoài ra từ câu chuyện anh Tràng tự nhiên “nhặt” được vợ; (người đàn bà dễ dàng theo anh về làm vợ trước hết vì đói quá; bốn bát bánh đúc thay cả cho cheo cưới), đến chuyện nồi cám bà cụ Tứ nấu đãi nàng dâu…tất cả đều nói sự khủng khiếp của nạn đói này. Mọi người trong cái xóm ngụ cư khốn khó bị nạn đói đe doạ, sống trong không khí thấp thỏm lo âu. Cuộc sống đã bị cái đói đẩy đến đường cùng tưởng chừng như không thể còn lối thoát. Nhưng “cùng tắc biến”. Kết thúc câu chuyện, nhà văn để cho người “vợ nhặt” thông báo với mẹ chồng và một tin quan Irọng: Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa. Người ta còn phá thóc của Nhật, chia cho người đói nữa đấy. Nhân đó Tràng nghĩ đến Việt Minh và trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới… Trong hoàn cảnh đen tối này, Tràng, nói rộng ra là quần chúng khốn khó luôn hướng về cách mạng, vì chỉ có cách mạng (mà biểu tượng là lá cờ đỏ) có thể cứu họ thoát khỏi cái chết. Ở truyện Vợ nhặt, Kim Lân đã thể hiện một quan điểm nhân đạo sâu sắc cảm động, phát hiện phẩm chất của con người lao động: dù rơi vào hoàn cảnh hết sức bi đát vẫn hướng tới cuộc sống gia đình, vẫn muốn cưu mang lẫn nhau và vẫn hi vọng ở tương lai. Tràng lấy vợ khiến bà cụ Tứ lo âu, tự hỏi liệu: “nó có nuôi nổi nhau được cơn đói khát này không”. Nghĩ đến hoàn cảnh cùng quẫn của gia mình, cụ thấy tủi thân, tủi phận. Cụ ý thức rất rõ lấy vợ cho con đáng lẽ phải thế này, thế nọ, nhưng “cái khó bó cái khôn” nên chỉ còn cách nghĩ ngợi mà tủi thân, tủi phận rồi cụ thương con đẻ, cả con dâu. Cụ hiểu rõ nguyên cớ vì sao người ta " phải theo con mình. Bà lão nhìn người đàn bà lòng đầy thương xót, và nói với vợ chồng Tràng: Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá”..rồi nghẹn lời không nói được nữa và nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng. Việc con mình “nhặt” được vợ vừa là nỗi lo, vừa là niềm vui mừng của bà lão, mừng vì con quê kệch đã có vợ. Lo vì cái đói, cái chết đang rình rập. Dẫu sao thì bà vẫn mừng nhiều hơn. Niềm vui khiến cho cái mặt bủng beo u ám của bà lão rạng rỡ hẳn lên… Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau nàv. Cụ cố giấu cái lo để động viên con trai và con dâu: “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn rồi may ra mà ông trời cho khá… biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra rồi thì con cái chúng mày về sau”…Như vậy, tâm trạng (đặc biệt là niềm hi vọng) của bà cụ Tứ đã được diễn tả một cách chân thật, góp phần tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm. Khi Tràng có vợ, các thành viên trong gia đinh thu xếp nhà cửa cho sạch sẽ ngăn nắp hơn và nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn khấm khá hơn. Có vợ, Tràng thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng, thấy một niềm vui sướng, phấn trấn đột ngột tràn ngập trong lòng… còn ngay lúc thấy Tràng dẫn người đàn bà về, những khuôn mặt hốc hác u tối của dân xóm ngụ cư bỗng dưng rạng sáng lên. Có cái gì đó lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối của họ. Rõ ràng dù bị cái đói, cái chết rình rập đe doạ, trong không khí ảm đạm thê lương, từ Tràng đến bà cụ Tứ, đến những người xóm ngụ cư này, vẫn hướng tới tương lai, vẫn khát khao một cuộc sống gia đình. Điều này góp phần quan trọng chiến cho truyện ngắn Vợ nhặt có được giá trị nhân bản sâu sắc. Thành công quan trọng này có thể được giải thích bằng sự hiểu biết kĩ lưỡng của nhà văn đối với nông dân. Nhưng điều cơ bản hơn có lẽ phải kể đến tấm tòng của một cây bút vốn là con đẻ của đồng ruộng. Theo cách diễn đạt của Nguyên Hồng. Kim Lân chính là nhà văn một lần đi về với “đất”, với “người”, với “thuần hậu nguyên thuỷ” của cuộc sống nông dân. Tuy vậy xét cho cùng, những ý tưởng đúng đắn cao đẹp nêu trên sẽ không bao giờ có thể lưu lại bền lâu trong độc giả, nếu như nhà văn không tạo nên được một hình thức diễn đạt sắc nét. Bằng Vợ nhặt, Kim Lân đã thể hiện một nghệ thuật viết truyện ngắn bậc thầy. Trước hết, tác giả đã sáng lạo được một tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn: anh Tràng làm nghề kéo xe, xấu xí, thô kệch chẳng ai thèm lấy, bỗng dưng “nhặt” được vợ một cách thật dễ dàng nhanh chóng, ở ngay giữa đường giữa chợ, nhờ mấy bát bánh đúc riêu cua. Trong bối cảnh đói khát lúc bây giờ, Tràng có vợ quả thật là một tình thế éo le: vui, buồn lẫn lộn. Lúc này, Tràng nuôi thân mình và mẹ già còn rất khó khăn, huống hồ tự nhiên lại thêm một miệng ăn nữa, biết lấy gì nuôi nổi nhau? Nhưng Tràng xấu xí, ế vợ lại lấy được vợ dễ dàng thì không thể không xem như là điều may mắn. Tình huống oái oăm này khiến cho những người trong xóm ngụ cư, thậm chí Tràng và cả mẹ Tràng nữa cũng phải ngạc nhiên. Mọi người lo lắng cho tương lai của vợ chồng Tràng: “ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không? ”. Hạnh phúc của cặp vợ chồng mới lấy nhau, của gia đình bà cụ Tứ cứ phải diễn ra trong âm hưởng thê thảm của sự chết chóc. Sự khốn khó còn được nhà văn đặc tả qua một bữa ăn đầu tiên đón nàng dâu mới thật tội nghiệp: Ba con ăn món cháo cám đắng chát, họ ngồi ăn mà không nỡ nhìn nhau. Tóm lại, Kim Lân đã tạo được một tình huống giàu ý nghĩa có tác dụng làm nổi bật giá trị tư tưởng của tác phẩm. Dường như mọi chi tiết đều xoay quanh tình huống ấy, trong một kết cấu chặt chẽ. Ngoài ra Kim Lân còn chứng tỏ khả năng phát hiện và diễn tả tâm lí nhân vật khá sắc sảo. Điều đó thể hiện quá rõ qua việc nhà văn xây dựng nhân vật bà cụ Tứ và nhân vật Tràng. Kim Lân đã sử dụng, phối hợp nhiều biện pháp: khắc hoạ tâm lí của hai nhân vật này. Lúc thì ông diễn tả tâm lí qua những biểu hiện bề ngoài (qua cử chỉ, lời nói, nét mặt… của nhân vật), lúc thì tác giả mô tả trực tiếp những ý nghĩa sâu kín trong nội tâm nhân vật. Chẳng hạn, nhân vật Tràng ở đoạn đầu tác phẩm, khi anh ta đưa vợ về nhà vào một buổi chiều ảm đạm. Tâm lí ngỡ ngàng, phấn chân của một anh nông dân quê kệch, nay bỗng “nhặt” được vợ được tác giả miêu tả qua cử chỉ và nét mặt: Hắn tủm tỉm một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh, cái mặt cứ vênh vênh tự đắc với mình.Vợ chồng Tràng đi bên nhau ngượng ngùng trước bao cặp mắt tò mò của dân xóa ngụ cư. Tràng muốn nói gì cho có vẻ thân mật tình tứ, nhưng vụng về lúng túng chẳng biết nói như thế nào. Vì e thẹn, ngượng nghịu nên cuộc đối thoại giữa Tràng và cô vợ mới thật rời rạc, toàn nhát gừng cộc lốc, không có chuyện nào đến đầu, đến đũa… Bên cạnh đó, nhà văn trực tiếp lột tả diễn biến nội tâm nhân vật: Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe doạ, quên cả những ngày tháng trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi theo bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơm man khắp da thịt tựa hồ như có bàn tay vuốt ve trên sống lưng. Việc nhà văn phát hiện và miêu tả sắc sảo tâm lí khiến cho một số nhân vật trong chuyện sống động có sự hấp dẫn người đọc. Bên cạnh đó, không thể không nói đến giọng văn mộc mạc, giản dị ngôn ngữ truyện được chọn lọc kĩ lưỡng, nhiều khi rất gần với khẩu ngữ và có giá trị tạo hình. Điều ấy khiến cho thiên truyện có được sức gợi đáng kể (vẻ mặt phớn phở, dãy phố úp súp, bước chân ngật ngưỡng, người cong lớn, chạy ton ton, hềnh hệch…). Hơn nữa, tên truyện là Vợ nhặt cũng bao hàm nhiều ý nghĩa. “Nhặt” được vợ tỏ sự rẻ rúng của thân phận con người. Thì ra nạn đói năm 1945 khủng đã biến con người thành như cái rơm cái rác có thể “nhặt” được ở bên đường. Tựa đề này đã được chọn (Cũng giống như tựa đề Đôi mắt trong truyện ngắn của Nam Cao) phù hợp với chủ đề câu chuyện, người đọc thật khó tìm thấy một tựa đề khác thay thế. Với nội dung tư tưởng sâu sắc có giá trị nhân bản, với nghệ thuật truyện đặc sắc tác phẩm Vợ nhặt xứng đáng được xếp vào hàng truyện ngắn hay nhất viết về đề tài nông thôn. Cùng với một số truyện ngắn sáng tác trước Cách mạng và trong cuộc kháng chiến chống Pháp, truyện ngắn Vợ nhặt góp phần khẳng định vị trí xứng đáng của nhà văn Kim Lân trong sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại.
Ý nghĩa tư tưởng và nét đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn Vợ nhặt – Kim Lân
2,335
Ý nghĩa “Nguyên lý tảng băng trôi” qua đoạn trích” Ông già và biển cả” của Hê-minh-uê Hướng dẫn Ý nghĩa “Nguyên lý tảng băng trôi” qua đoạn trích” Ông già và biển cả” của Hê-minh-uê Đoạn trích “Ông già và biển cả” kể chuyện ông già chinh phục con cá kiếm trên biển cả mênh mông. Câu chuyện thật đơn giản nhưng lại gợi mở nhiều tầng ý nghĩa cho người đọc. Người đọc tự suy ngẫm để rút ra hàm ý sâu sắc sau câu chữ và đồng sáng tạo với nhà văn. Lớp nghĩa thứ nhất là một cuộc tìm kiếm con cá lớn nhất, hẹp nhất trong đời đi câu của ông già và cuộc hành trình nhọc nhằn, dũng cảm của người lao động trong một xã hội vô tình. Đó là một phần nổi của nguyên lí. Ở lớp nghĩa thứ hai, chuyện ông già và con cá kiếm không đơn thuần là mối quan hệ giữa một ông lão đi câu với một con mồi mà qua lối độc thoại có tính đối thoại giữa ông già và con cá kiếm, người đọc có thể nhận thấy mối quan hệ lớn hơn: Mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên luôn là đối thủ xứng đáng, đó là cuộc chiến không cân sức. Nhưng dù thiên nhiên có hung dữ tới đâu thì con người nhỏ bé, giày ý chí kia vẫn có thể giành để chiến thắng. Hình tượng ông già chinh phục con cá là biểu tượng của người anh hùng trên biển cả thôi không khát vọng, ngược lại hình tượng con cá kiếm cũng là biểu tượng kì vĩ cho cái đẹp, cho sức mạnh man dại của tự nhiên. Chiếm lĩnh được nó, con người không chỉ có sức mạnh mà còn có trí khôn, lòng quả cảm mới có thể giành chiến thắng. Với lớp nghĩa thứ hai và thứ ba này chính là bảy phần chìm trong nguyên lí tảng băng trôi mà nhà văn gửi gắm đến tác phẩm. Người phương Đông gọi đó là tính hàm súc, hàm ẩn, ý tại ngôn ngoại trong văn chương.
Ý nghĩa “Nguyên lý tảng băng trôi” qua đoạn trích” Ông già và biển cả” của Hê-minh-uê
356
Ý thức tự lập của học sinh-nghị luận Hướng dẫn Rèn luyện ý thức tự lập Mở bài: Tự lập không những là bản năng sống của mọi động vật mà còn là một phẩm chất cần có ở mỗi con người. Đây là một lối sống tốt, giúp con người trở nên tự tin, bản lĩnh hơn. Tự lập còn giúp con người làm chủ được cuộc sống của mình và gặt hái được thành công tốt hơn. Bởi thế, ai biết rèn luyện tính tự lập và tự lập sớm sẽ dễ thành công trong cuộc sống. Thân bài: Tự lập là gì? Ý thức tự lập là biết tự mình làm những việc vừa sức và có thể làm được. Tự lập là biết tự giải quyết công việc, tự lo liệu cho bản thần và tự mình xây dựng cuộc sống tốt đẹp. Sống không ỷ lại hay dựa dẫm vào người khác. Thế nào là người biết tự lập? Người có tính tự lập luôn tự làm lấy công việc của mình. Họ luôn hoạch định kế hoạch cụ thể và kiên trì thực hiện kế hoạch ấy cho đến khi đạt được kết quả. Người có tính tự lập không ỷ lại hay dựa dẫm vào người khác. Dù công việc có khó khăn thế nào họ cũng luôn phấn đấu hoàn thành. Họ vận dụng tất cả những kĩ năng của mình để làm việc. Họ cũng biết chấp nhận những kết quả nhất định. Người tự lập thường đặt mục tiêu vừa sức mình, ít khi đạt mục tiêu quá lớn, quá sức. Người có tính tự lập luôn thích tạo dựng cuộc sống và sự nghiệp riêng. Họ có tinh thần hợp tác, đoàn kết nhưng không dựa vào tập thể để tư lợi riêng mình. Tại sao cần phải rèn luyện tính tự lập? Tự lập là kĩ năng cần có ở mỗi con người. Bởi vì khi lớn lên chúng ta phải rời khỏi gia đình, tự lo liệu cho cuộc sống của mình. Cuộc sống tự lập lúc ban đầu sẽ rất khó khăn. Vì vậy, để không thất bại trong cuộc sống, con người buộc phải tự rèn luyện tính tự lập cho mình. Rèn luyện tính tự lập là chuẩn bị sức mạnh để đương đầu với những khó khăn trong công việc và trong cuộc sống. Rèn luyện tính tự lập giúp chúng ta phát triển toàn diện hơn về kỹ năng sống và học vấn. Nhờ biết tự mình giải quyết công việc, con người được học tập và trải nghiệm thực tiễn hữu ích. Nhưng kinh nghiệm thu được trở thành tri thức, giúp ta hiểu rõ hơn công việc. Sống tự lập giúp tăng cường sự tự tin trong việc. Tự lên kế hoạch và quyết định nhiều vấn đề cho bản thân mà không cần phụ thuộc vào người khác. Không có gì giáo dục con người hiệu quả bằng công việc trong thực tiễn. Lý thuyết có thể sai lầm nhưng những bài học từ trong cuộc sống luôn luôn đúng đắn. Chính bàn tay sẽ làm giàu cho khối óc. Chính sự thành thạo công việc giúp chúng ta tự tin tiến hành công việc và đạt đến thành công. Tính tự lập khẳng đinh ý thức làm chủ năng lực, làm chủ bản thân, làm chủ sự nghiệp của con người. Người có tính tự lập luôn được người khác kính trọng, yêu mến và giúp đỡ. Rèn luyện tính tự lập như thế nào? Muốn rèn được tính tự lập đòi hỏi con người phải kiên trì, tự tin và sáng suốt trong lập kế hoạch và hành động. Bởi khi tự mình làm việc đòi hỏi con người phải làm đúng, hạn chế sai lầm để tin tưởng vào hành động, hạn chế được lời chỉ trích từ người khác. Trước hết, hãy tự chủ động làm những việc mình cần làm mà không cần người khác nhắc nhở. Tự giác làm những việc cần làm. Tự giác hoàn thành tốt công việc. Lấy kết quả lao động làm động lực phấn đấu. Là học sinh cần phải có tính tự lập từ sớm. Phải biết tự mình đi học. Nếu nhà gần trường thì đi bộ. Nếu nhà xa trường thì đi xe đạp hoặc đi xe buýt. Phải tự biết thực hiện công việc học tập, không phụ thuộc vào sự đưa đón của cha mẹ. Tự mình làm bài tập về nhà. Tự mình làm bài kiểm tra trên lớp. Tuyệt đối không trao đổi, không quay cóp, không sử dụng tài liệu. Tự mình chuẩn bị đồ dùng học tập, sách vở trước khi đến lớp, không để cha mẹ nhắc nhở hoặc chuẩn bị giúp cho. trong công việc nhà, phải biết tự giác làm việc giúp đỡ ba mẹ. Biết giúp mẹ quét, lau nhà. Cùng mẹ nấu cơm và chuẩn bị bữa cơm gia đình. Giúp mẹ phươi quần áo và những công việc khác trong nhà. Trong học tập, hãy chủ động trao dồi kiến thức của mình. Chủ động tìm đến thư viện để đọc thêm tài liệu. Chủ động học nhóm, trao đổi với bạn bè cùng lớp hoặc tự rèn luyện tại nhà. Luôn luôn đặt câu hỏi cho những kiến thức mới học để có thể hiểu một cách sâu sắc và vận dụng nó vào thực tiễn chứ không chỉ học thuộc bài để đối phó. Tập cách tự suy nghĩ và quyết định cho bản thân từ việc học tập cho đến thi cử. Tìm hiểu bản thân mình để có phương pháp học tập đúng đắn và hiệu quả. Không ai hiểu rõ mình hơn chính bản thân mình. Tìm hiểu những điểm mạnh yếu của bản thân để phát huy tối đa sở trường và hoàn thiện chính mình. Phê phán: Trong cuộc sống vẫn còn nhiều người không có tính tự lập, hoặc không muốn tự lập. Họ thường ỷ ại, dữa dẫm vào người khác. Họ thường ngồi chờ đợi hơn là tạo ra các giá trị hữu ích. Họ lười biếng lao động, học tập. Những người như thế thường bị mọi người khinh ghét, khó thành công trong cuộc sống. Kết bài: Tự lập là mạnh mẽ khẳng định bản thân. Sống tự lập mang lại cho ta cuộc sống tự chủ, sớm tìm thấy thành công trong cuộc sống này.
Ý thức tự lập của học sinh-nghị luận
1,058
Ăn ở với người đời đời kiếp kiếp – Tùy bút Cây tre Việt Nam Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Tùy bút Cây tre Việt Nam Ngữ Văn 6 Cây tre là người bạn thân thiết lâu đời của người nông dân và nhân dân Việt Nam. Với nhiều phẩm chất quý báu, nó đã trở thành biểu tượng về đất nước Việt Nam, về dân tộc Việt Nam. Toàn bộ nội dung ấy được diễn đạt trong một bài văn thể kí nghiêng về phía tuỳ bút chính luận. Cho dù là lời thuyết minh cho một cuốn phim với tất cả sự phụ thuộc vào kịch bản, người viết vẫn phát huy được bản sắc của mình bằng lối văn giàu hình ảnh và nhạc điệu. Tất cả thống nhất trong một bố cục chặt chẽ của tư duy. Đây là một trong những bài văn xuôi hiếm có của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám. 1.Văn bản thuyết minh bắt đầu bằng một nhận xét bao trùm, có sức khái quát cho toàn bài: “Cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam, bạn thân của nhân dân Việt Nam”, rồi ngay sau đó để chứng minh, người viết đi vào luận điểm đầu tiên: cây tre Việt Nam là loài cây độc đáo nhất trong các loài cây. Ý thức khẳng định bằng phép so sánh này đã có một cách làm trực tiếp: đặt cây tre vào vùng thiên nhiên nhiệt đới của “muôn ngàn cây lá khác nhau”. Chỉ với ba câu văn, tác giả đã thuyết phục được chúng ta ở sự trân trọng, nâng niu (cây nào cũng đẹp, cây nào cũng quý) nhưng là nhằm nhấn mạnh về quan hệ “thân thuộc nhất” với con người thì không gì bằng nứa bằng tre. Để tránh sự ngộ nhận, chủ quan, với cách viết dụng công và tâm huyết, ông trưng bày một hệ thống hình ảnh trùng điệp, liên hoàn có ấn tượng thị giác rất cao: “Tre Đồng Nai, nứa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, luỹ tre thân mật làng tôi…”. Nếu hình dung cách viết này như một thứ ống kính quay phim, ta có một cái nhìn ở hai cấp độ: viễn cảnh và cận cảnh, từ xa đến gần. Riêng hình ảnhcận cảnh (luỹ tre thân mật làng tôi) làm chúng ta không khỏi bồi hồi. Ấy là chưa nói sự cất cánh của lời văn bằng nhạc, một giai điệu say sưa ở sự cân đối, hài hoà. Nếu tách nhịp, chúng ta có kết cấu 3-3, 6-6. Ngôn ngữ ấy, nhạc điệu ấy – từ cảm xúc vang lên như những bài thơ. Mạch cảm hứng dồi dào còn vắt xuống ý tiếp theo để đi vào phẩm chất. Vẫn với phương pháp so sánh, vẫn với lối văn trùng điệp, vẫn những nhịp điệu hài hoà, ta thấy hình tượng cây tre độc đáo hiện ra với lòng ham sống và sức sống dồi dào: “Vào đâu tre cũng sống, ở đâu tre cũng xanh tốt”, và từ cái gốc ấy, nó tự vun trồng những nét đặc trưng: mộc mạc, nhũn nhặn, cứng cáp, dẻo dai, thanh cao, chí khí. Quen thuộc với con người, lại “chí khí” như người, cây tre còn độc đáo ở sự hoá thân. Nó là cốt cách người và chỉ con người Việt Nam mới có. Đọc câu văn ấy ta bỗng giật mình: đường biên phân định giữa cây tre với con người không còn chia tách rạch ròi được nữa. Riêng về yếu tố văn hoá, nếu nghĩ cho sâu, nó không chỉ thể hiện bằng chất liệu vật thể mà còn có cả nền văn hoá phi vật thể. Đó là những câu hát, những tâm sự, cách so sánh ví von. Đoạn hai của bài có ba câu thơ thì bắt đầu bằng câu thơ của thời đại mới (“Bóng tre trùm mát rượi”). Sau đó, hình như để xâu chuỗi với tâm hồn dân tộc thì một câu thơ là tâm sự mùa màng, còn một câu nữa là khúc hát giao duyên. Câu thứ nhất, tâm sự cùng tre làm ta nhớ đến nỗi niềm của người nông dân với con trâu quen thuộc: “Trâu ơi ta bảo trâu này”. Còn chất nhạc nếu là ưu điểm nổi bật của bài văn, thì ở đoạn này hiện ra rất rõ. Đó là cách nói có vần và nhịp điệu, nhất là nhịp điệu, chẳng hạn câu: “Giang chẻ lạt, buộc mềm, khít chặt như những mối tình quê cái thuở ban đầu thường nỉ non dưới bóng tre, bóng nứa”. Nhất là câu: “Cối xay tre nặng nề quay, từ nghìn đời nay, xay nắm thóc”. Có thể nói: ít có đoạn nào mà bao nhiêu tâm sự, nỗi niềm của người viết đã gửi gắm tài hoa và chắt lọc vào từng câu, từng chữ như ở đoạn này. 3.Nếu đoạn hai, nói vai trò của cây tre trong sự nghiệp dựng nước thì đoạn ba lại khẳng định vị trí của cây tre trong công cuộc giữ nước. Vì sự bất khuất, can trường vốn cũng là một thuộc tính của tre. Tác giả có nhắc tới ý của người xưa: “Trúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng”. Đúng, ngay thẳng vốn là khí tiết, là cách ứng xử của trúc, của tre: “Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người”. Tư thế của tre là lăn xả vào cái ác dù cái ác mạnh đến chừng nào để giữ gìn non sông, đạo lí và cũng là để chung thuỷ với phẩm chất của tre. Yếu tố trữ tình một lần nữa lại được phát huy. Nhưng ở đoạn này nó còn gắn liền với tính chính luận. Để liên kết với đoạn trên cũng là để làm hiện lên một chân dung nguyên khối của cây tre, người viết luôn luôn lưu ý: “Ta kháng chiến, tre lại là đồng chí chiến đấu của ta. Tre vốn cùng ta làm ăn, lại vì ta mà cùng ta đánh giặc”. Và kì lạ thay, nếu ở đoạn trên, chiếc cối xay tre là biểu tượng về cuộc đời lam lũ, sự chịu đựng đến mức bền bỉ, dẻo dai thì đến đây, vẫn là cây tre nhũn nhặn ấy, nó nhọn hoắt mũi tầm vông với sức mạnh của Thánh Gióng năm nào đuổi giặc Ân cứu nước. Diều bay, diều lá tre bay lưng trời… Sáo tre, sáo trúc vang lưng trời… Đó là lời của tre, trúc hay là lời của một thời đại đang bay mà phơi phới, rộn ràng, khấp khởi? Hồi kết của đoạn văn vừa là khúc tâm tình vừa khơi gợi lời nhắn nhủ: “Các em, các em rồi đây lớn lên…”. Cây tre vật chất Việt Nam dĩ nhiên không thay thế được xi măng, sắt thép, nhưng người bạn son sắt thuỷ chung ấy ít nhất cũng là một nhân chứng chia vui. Còn “cây tre tinh thần” vẫn là bóng mát, là khúc nhạc tâm tình, là cổng chào thắng lợi. Nó vẫn bền chặt với con người, còn tri kỉ, tri âm mãi mãi. Câu văn chính luận cuối cùng như một cách đóng đinh vào ý tưởng: “Cây tre mang những đức tính của người hiền là tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam”. Cùng với nội dung, giá trị nghệ thuật chủ yếu của bài vẫn là chất thơ văn xuôi của nó. Chất thơ ấy thể hiện trên hai mặt, một là những hình ảnh táo bạo, phong phú và hai là nhạc điệu đặc biệt của câu. Về hình ảnh độc đáo, người viết tạo ra bằng biện pháp nhân hoá trong nhiều trường hợp. Thực ra cái cách này không mới. Ca dao từng đã có câu: “Giã ơn cái cối cái chày”, “Giã ơn cái cọc bờ ao”. Nhưng sáng tạo của Thép Mới là sử dụng biện pháp ấy một cách tối đa, có hệ thống và đầy hiệu quả: “Tre với người như thế đã mấy nghìn năm…”. Sự xuyên suốt theo kiểu tính đếm ấy sâu nặng nhân tình như một thứ lạt mềm buộc chặt để ai đó trong chúng ta chỉ cần thao thức một chút là không khỏi rưng rưng về cái nơi sinh thành gốc đa, giếng nước. Còn về nhạc điệu của lời văn, có gì xao xuyến hơn những câu văn đầy tính hoà thanh của bằng trắc, của cách ngắt nhịp khi dồn dập trào dâng, lúc lắng sâu, nỉ non, thủ thỉ. Câu văn có lúc căm giận đến nghẹn ngào: “Một thế kỉ “văn minh”, “khai hoá” của thực dân cũng không làm ra được một tấc sắt. Tre vẫn phải còn vất vả mãi với người”, lúc trầm tư như chiêm ngưỡng một bức tranh thuốc nước: “Dưới bóng tre của ngàn xưa, thấp thoáng mái đình mái chùa cổ kính”. Với thành công về nhiều mặt như đã phân tích trên đây, Cây tre Việt Nam là một áng văn xuôi đặc sắc.
Ăn ở với người đời đời kiếp kiếp – Tùy bút Cây tre Việt Nam Ngữ Văn 6
1,546
Đam mê học hỏi là niềm đam mê không bao giờ phản bội con người Hướng dẫn Lập dàn ý “Đam mê học hỏi là niềm đam mê không bao giờ phản bội con người” mời các bạn tham khảo bài văn mẫu về đam mê học hỏi là niềm đam mê không bao giờ phản bội con người trong bài viết này. Đây là đề văn thuộc chương trình Ngữ văn lớp 11. Nghị luận xã hội về vấn đề ô nhiễm môi trường Bình luận câu nói: Làm việc tránh cho ta ba cái hại to: sự buồn, sự mắc vào các tật xấu, sự túng bấn Dàn ý: MB: Giới thiệu chung về việc học,về đam mê TB: -Giải thích +Học hỏi là lĩnh hội kiến thức ở bên ngoài để làm giàu cho mình,hình thành kĩ năng +Đam mê là sự yêu thích,hăng say theo đuổi 1 sở thích nào đó. -Phản bội: phụ lại niềm tin,tấm lòng của ta,khiến ta đau khổ,muộn phiền mang lại những hậu quả xấu +Câu nói: đam mê hịc hỏi sẽ không bao giờ mang lại những hậu quả xấu Lập luận,C/m: khẳng định niềm đam mê học hỏi là 1 đam mê tốt đẹp,chính đáng,bổ ích luôn dc tôn trọng,đề cao.đam mê học hỏi sẽ khiến cta học tập trong trạng thái vui vẻ phấn khích,từ đó học tập có hiệu quả hơn.là động lực để ta học ở mọi lúc mọi nơi tiếp xúc với mọi nguồn kiến thức,từ đó mở rộng vốn hiểu biết của mình. Qt học luôn là qt lâu dài,vất vả nh đối vs ng có niềm đam mê mãnh liệt thì học sẽ dễ dàng vượt qua,xem khó khăn là cơ hội -Có nhiều ng học trong trạng thái ép buộc,dễ cảm thấy nhàm chán,bực tức,dẫn đến mệt mỏi,hiệu quả k cao -> cần tìm nguồn vui khi học, tìm ra cách học thấy hứng thú -Đối với người đã thích học thì cần học hỏi có chọn lọc,nếu k sẽ mang đến tác hại khôn lường,vì sách vở kiến thức lúc nào cũng có chỗ tốt và xấu -Liên hệ bản thân KB: Khái quát chung Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng một trang) trình bày ý kiến về chủ đề: “Đam mê học hỏi là niềm đam mê không bao giờ phản bội con người”: Trong cuộc sống, đam mê học hỏi là điều vô cùng quan trọng và cần thiết. Nó được hiểu là sự say mê tìm hiểu học tập tri thức vô tận của nhân loại. Người đam mê học hỏi là người nắm được tri thức, cũng từ đó trưởng thành hơn. Nói như Lê nin, việc học tập là quá trình “học, học nữa, học mãi”. Khi ta chiếm lĩnh được một nấc thang tri thức thì một nấc thang nữa cao hơn lại mở ra trước mắt. Có đam mê học hỏi, ta mới hoàn thiện được nhân cách sống, góp phần tạo nên xã hội văn minh, tiến bộ. Ngược lại, với những người không có đam mê học hỏi, kiến thức và kĩ năng sống trở nên hạn chế và trì trệ. Chúng ta tự ru mình chạy theo những đam mê phù phiếm khác. Và khi không nhận ra điểm dừng, con người dễ dàng bị phản bội lại bằng thời gian, tiền bạc và sức khỏe vào nó. Chính vì vậy, chúng ta nên tiếp tục nuôi dưỡng niềm đam mê chính là tìm tòi, học hỏi cùng với các đam mê khác. Trong quá trình học hỏi, cũng phải biết chọn lọc kiến thức, kĩ năng phù hợp và thực sự có ích cho xã hội. Đam mê học hỏi chính là chìa khóa giúp chúng ta bước vào cánh cửa thành công trong cuộc sống.
Đam mê học hỏi là niềm đam mê không bao giờ phản bội con người
617
Đi tìm vẻ đẹp của một dòng sông (Tiếp cận văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông) Hướng dẫn Đi tìm vẻ đẹp của một dòng sông (Tiếp cận văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông) Bài làm Nếu con sông Đà phải cảm ơn Nguyễn Tuân vì nhờ nhà văn mà nó mới được ghi tên trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại như một đối tượng thẩm mĩ, thì giống vậy, dòng sông Hương cũng phải cảm ơn nhà viết ký Hoàng Phủ Ngọc Tường. Có thể nói hai con sông ấy chảy trong lịch sử hai vùng đất nước đã được hai nhà văn bắt mạch khơi dòng cho chúng chảy tiếp, uốn lượn bồng bềnh trôi trong miền đất văn chương đầy chất thơ, chất họa, chất nhạc… để rồi mãi tha thiết chảy trong tâm thức bạn đọc. Đúng là chúng ta sẽ thiếu sót với xứ Huế, với học sinh nếu không đưa Ai đã đặt tên cho dòng sông? vào chương trình giảng dạy ở nhà trường phổ thông. Bởi đây là một bút ký đặc sắc mà qua đó học sinh sẽ vừa được làm quen với một thể loại văn học, vừa được biết đến một phong cách bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường tinh tế tài hoa kết hợp nhuần nhuyễn chất trí tuệ và tính trữ tình, chất nghị luận sắc sảo và sự hiểu biết uyên bác được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hoá, địa lý, lịch sử, hội hoạ, âm nhạc, thơ ca… Đoạn trích trong sách Ngữ văn 12 là đoạn miêu tả từ bắt đầu nơi rừng già, dòng sông xuôi về miền đất Châu Hoá, uốn mình qua kinh thành Huế rồi đi về với biển cả. Thế cho nên có một cách tiếp cận tác phẩm là căn cứ vào hình tượng dòng sông để phân tích với các luận điểm: sông Hương – mãnh liệt nơi rừng già vùng thượng nguồn; sông Hương – êm đềm nơi đồng bằng và ngoại vi thành Huế; sông Hương – thơ mộng soi bóng kinh thành Huế; sông Hương – day dứt chia tay Huế để về với biển cả. Tôi xin giới thiệu một cách khác căn cứ vào chính cách tiếp cận từ nhiều góc độ của tác giả. 1. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã vẽ lại địa đồ của dòng sông Hương mà đặc điểm địa lý đầu tiên là nó thuộc về một thành phố duy nhất – thành phố Huế. Khởi nguồn từ rừng già, cường tráng và mãnh liệt vượt qua những cánh rừng Trường Sơn, uốn lượn quanh co qua miền Châu Hoá, theo hướng Nam Bắc qua điện Hòn Chén vòng qua đất bãi Nguyệt Biều ôm lấy chân đồi Thiên Mụ rồi xuôi về Huế, gặp thành phố ở cồn Giã Viên rồi uốn sang Cồn Hến, ra khỏi kinh thành dòng sông liền chếch về phía Bắc trôi đi trong sắc màu vùng ngoại ô Vĩ Giạ, như lưu luyến với kinh thành mà nó lại rẽ theo hướng đông tây để gặp thành Huế lần nữa ở thị trấn Bao Vinh rồi mới trôi ra biển. Sự xuất hiện một loạt các địa danh văn hoá vốn gắn liền với xứ Huế thực không vô tình, như muốn nói với bạn đọc: sông Hương chính là hiện thân, là bộ mặt, là linh hồn của xứ Huế. Sông Hương là lịch sử của đất cố đô. Từ thuở xa xưa nó là dòng sông biên thuỳ của nước Đại Việt, trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi nó là dòng sông thiêng với tên Linh Giang cổ kính. Đến thế kỷ XVIII nó ưỡn ngực đưa những đoàn quân Tây Sơn hùng dũng tiến ra Bắc đuổi quân Thanh xâm lược. Từ thế kỷ XIX dòng sông lại in bóng những lăng tẩm đồ sộ chôn vùi giấc ngủ nghìn năm của vua chúa nhà Nguyễn. Xuân Mậu Thân 1968 dòng sông lại mở lòng đón nhận những dòng máu anh hùng của những người con xứ Huế, yêu xứ Huế đã ngã xuống bảo vệ mảnh đất anh hùng. Phác thảo lại lịch sử cũng là một cách để nhà văn làm sống dậy dòng sông Hương trong lịch sử, nó như được chảy ra từ lịch sử, mang ý thức của lịch sử. Con sông Hương đã trở thành huyền thoại, thành dấu ấn của lịch sử. 2. Từ cổ chí kim, cái đẹp luôn là đối tượng thẩm mỹ, luôn là chuẩn mực thẩm mỹ để các nhà văn nhà thơ hướng tới khám phá, sáng tạo, so sánh, đối chiếu. Nhưng nếu không khéo sẽ rất dễ rơi vào sự khuôn sáo nhàm chán. Khi miêu tả vẻ đẹp của dòng sông Hương nhà văn Hoàng Phủ đã tránh được điều ấy nhờ ông luôn nhìn nó như nhìn một con người mà cụ thể là một cô gái đẹp trong mối liên hệ tự nhiên và có cơ sở. Nơi thượng nguồn, sông Hương như “một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. Di-gan còn có tên gọi khác là Bô-hê-miêng chỉ một tộc người thích sống tự do, lang thang mưu sinh bằng múa hát. Đặc tính của cô gái Di-gan cũng là đặc tính của dòng sông Hương nơi rừng già, lang thang, tự do và luôn ồn ào hát múa. Chảy giữa cánh đồng Châu Hoá, dòng sông “như người gái đẹp nằm ngủ mơ màng”. Không chỉ ngủ say mà chỉ “mơ màng”, có lẽ giống như người con gái trong thơ Xuân Quỳnh “Cả trong mơ còn thức”, nghĩa là vẫn thao thức chảy, thao thức bên trong cái êm đềm nhẹ nhàng. Về đến kinh thành “sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya” đầy tâm trạng. Những uốn lượn mềm mại của dòng chảy được nhà văn nhìn đó như là hành động yêu của nàng Kiều tài sắc trong đêm tình tự. Ở thời hoà bình sông Hương lại “làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Tôi lại liên tưởng về dòng sông Đuống của Hoàng Cầm, thời đánh giặc Pháp cũng được nhà thơ thổi vào một linh hồn con người mà tôi cứ tưởng tượng đó là người gái đẹp, xứ Kinh Bắc “đa tình”: “Sông Đuống trôi đi / Một dòng lấp lánh / Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”. 3. Sông Hương như trầm mặc và cổ kính hơn khi mặt nước phẳng lặng loang ngân tiếng chuông chùa Thiên Mụ và như dân giã bình yên hơn khi mặt nước vốn êm đềm lại xao động mỗi khi tiếng gà gáy cất lên ở hai triền sông thanh bình nơi vùng trung du Huế. Chảy tới Huế thì mặt nước sông Hương đã trở thành không gian nhã nhạc cung đình. Trong công tác bảo tồn nghệ thuật âm nhạc cổ truyền, có lẽ là ở bất kỳ quốc gia nào thì việc làm sống lại từng điệu nhạc và phục dựng lại không gian diễn xướng đều quan trọng như nhau. Chả thế mà trong hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Nhã nhạc cung đình Huế và Cồng chiêng Tây Nguyên là Di sản văn hoá thế giới chúng ta đã rất chú ý tới không gian nhã nhạc cung đình Huế- chính là mặt nước dòng Hương giang thân yêu và không gian Cồng chiêng Tây Nguyên đầy quyến rũ. Đấy có lẽ là một nguyên lý trong tiếp nhận âm nhạc cổ truyền. Và Hoàng Phủ Ngọc Tường, chắc là người rất hiểu âm nhạc xứ Huế, trong thiên bút ký này đã gợi ý cho chúng ta làm tốt việc đưa nhã nhạc xứ Huế lên hàng kiệt tác văn hoá nhân loại. Nhà văn cũng “vẽ” sông Hương bằng ngôn ngữ của nghệ thuật tạo hình với những động từ chỉ hoạt động: “vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một đường cung thật tròn…”; “vòng nhiều khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm…”. Rất nhiều những từ láy tạo hình dồn dập xuất hiện: lặng lờ, lững lờ, bồng bềnh, ngập ngừng, lô xô, sừng sững, xúm xít, lập loè… và những so sánh tạo hình: “dòng sông như thành quách”, “mềm như tấm lụa”, “những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi”, “nhỏ nhắn như những vành trăng non”…. có cả những so sánh với cái trừu tượng để khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc về dòng sông Hương cổ kính: “như triết lý, như cổ thi”… Rồi là những ẩn dụ tạo hình: “sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ”, “kéo một nét thẳng thực yên tâm”… Nhờ sự hoà sắc của ngôn ngữ mà dòng sông như sống động hẳn lên, tươi vui, ấm áp; “những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”, “sắc nước trở nênxanh thẳm”, “phản quang nhiều màu sắc “sớmxanh, trưa vàng, chiều tím”, “những biền bãi xanh biếc”, “chiếc cầu trắng”, “màu xanh biếc của tre trúc”… Sông Hương còn là đối tượng thẩm mỹ, là nguồn cảm hứng của các thi nhân, do vậy mà còn có cả một dòng thi ca về sông Hương. Trong cái nhìn tinh tế của Tản Đà, là “dòng sông trắng – lá cây xanh”, trong cái “hùng tâm tráng chí” của Cao Bá Quát, dòng sông “như kiếm dựng trời xanh”; trong nỗi “quan hoài vạn cổ” của Bà Huyện Thanh Quan, Hương giang luôn in “trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn”; trong cái nhìn lạc quan, cái nhìn “phục sinh” của Tố Hữu, “sông Hương quả thực là Kiều, rất Kiều”… 4. Bút ký là tiếng nói của “cái tôi” chủ thể nên “cái tôi” càng thể hiện đậm nét bao nhiêu bài viết càng dễ đi vào lòng người bấy nhiêu. Chắc rằng nhà văn đã rất ý thức điều ấy nên “cái tôi” Hoàng Phủ luôn xuất hiện: “tôi thường nghe nói đến…”, “tôi nghĩ rằng…”, “… đánh thức trong tâm hồn tôi…”, “tôi thất vọng…”, “tôi hi vọng…”, như để trò chuyện, tâm sự và nhiều khi thuyết minh lý giải cho bạn đọc hiểu rõ hơn về dòng sông. Giá trị hàng đầu của bút ký là giá trị nhận thức. Một bài bút ký hay sẽ nâng nhận thức của bạn đọc lên một tầm cao mới. Ai đã đặt tên cho dòng sông? xứng đáng là một tác phẩm như vậy. Người đọc được hiểu thêm về dòng sông Hương, hiểu thêm về kinh đô Huế, về xứ Huế, qua đó mà thêm yêu quê hương đất nước mình và người đọc còn được hiểu sâu hơn sức mạnh và giá trị của ngôn từ nghệ thuật. Ngôn ngữ trong Ai đã đặt tên cho dòng sông?là ngôn ngữ cảm xúc, tuân theo quy luật cảm xúc. Dưới góc độ lời văn, nét độc đáo của thiên bút ký này là sự liên tưởng, một sự liên tưởng hợp lý mà lại phóng túng, tinh tế, tài hoa. Miêu tả những khúc quanh bất ngờ đầy cảm xúc của dòng sông, nhà văn gọi đó là “nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”, miêu tả những ngả rẽ đột ngột, nhà văn nghĩ về mối tình Kim Kiều để liên tưởng và gọi đó là hành động của nàng Kiều đã “chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề…”. Đấy là những phát hiện nghệ thuật chỉ có ở những người biết nhiều, hiểu rộng và có khả năng quan sát mạnh cùng trí liên tưởng phong phú, bén nhạy. Liên tưởng của nhà văn còn đưa bạn đọc tới cả dòng sông Nêva bên nước Nga xa xôi để cùng chiêm ngưỡng những con hải âu xứ lạnh mà ông muốn “nhập thân” vào chúng để mà “đứng co một chân trên con tàu thủy tinh” là phiến băng nhấp nháy ánh sáng để mà đi ra biển. Nhưng dòng Nêva nước chảy nhanh quá nên chúng ta lại cùng nhau trở về với dòng Hương giang “đi chậm, thực chậm” với “điệu slow tình cảm” để cùng ngắm “trăm nghìn ánh hoa đăng đang bồng bềnh trôi…”. Nguồn: Tài liệu trực tuyến
Đi tìm vẻ đẹp của một dòng sông (Tiếp cận văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông)
2,085
Điền các nội dung vào chỗ trống để xin cấp thẻ đọc sách Gợi ý Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2009 ĐƠN XIN CẤP THỂ ĐỌC SÁCH Kính gửi: Thư viện Trường Tiểu học Thành Công B Em tên là: Nguyễn Mai Anh Sinh ngày: 15 tháng 5 năm 2000; Nam (nữ): Nữ Nơi ở: 41/82 phố Nguyễn Phúc Lai, quận Đông Đa, Hà Nội Học sinh lớp 3C, Trường Tiểu học Thành Công B Em làm đơn này xin đề nghị Thư viện cấp cho em thẻ đọc sách năm học 2009 – 2010. Được cấp thẻ đọc sách, em xin hứa sẽ thực hiện đúng mọi qui định của thư viện. Em xin trân trọng cám ơn. Người làm đơn Mai Anh Nguyễn Mai Anh
Điền các nội dung vào chỗ trống để xin cấp thẻ đọc sách
129
Điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam Hướng dẫn Điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới Mở bài: Đầu năm 2001, trước thềm thế kỉ mới, nguyên phó Thủ tướng chính phủ Vũ Khoan đã có bài viết nổi bậc Chuẩn bị hành trang in trên tạp chí Tia sáng nhằm nhắc nhở thanh niên Việt Nam trước khi bước ra hội nhập với thế giới. Trong đó, đáng chú ý nhất, tác giả chỉ rõ những điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam, từ đó xác định mục tiêu, nhiệm vụ cần phải cấp bách thực hiện. Điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam dưới góc nhìn của Vũ Khoan thực sự hết sức rõ ràng, chân thực, đánh thức nhận thức của con người về bản thân mình. Thân bài: Không hề dài dòng, sau khi nêu rõ tình hình thế giới, cơ hội và thách thức đối với đất nước, tác giải Vũ Khoan đề cập ngya đến điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam. Cái mạnh của con người Việt Nam không chỉ chúng ta nhận biết mà cả thế giới thừa nhận là thông minh, nhạy bén với cái mới. Bản chất trời phú ấy rất có ích trong xã hội ngày mai mà sự sáng tạo là yêu cầu hàng đầu. Sự thông minh và nhạy bén của con người Việt Nam đặc biệt chú ý. Lý Quang Diệu, nhà lãnh đạo kiệt xuất Singgapoer đã ngợi khen khi nói về con người Việt Nam: “Việt Nam là một tộc người Do Thái thứ hai của châu Á”. “Họ là một dân tộc thông minh và đầy nghị lực”. “Tài năng của người Việt Nam trong việc sử dụng và cải tiến các khí tài của Liên Xô thời kỳ chiến tranh nhắc nhở chúng ta về những phẩm chất tuyệt vời của dân tộc này”. Sự thông minh của con người Việt Nam được chứng thực trong các cuộc thi quốc tế. Việt nam luôn nằm trong tóp dẫn đầu về thành tích các cuộc thi toán học, vật lý và robocon thế giới. Năng lực tư duy và chỉ số IQ của người Việt cũng rất cao, được thế giới ngưỡng mộ. Thế nhưng, vì thông minh và nhạy bén với cái mới nên người Việt Nam thường hay vội vã, hấp tấp và nông cạn. Cái thông minh của người Việt Nam chúng ta nó không hoàn chỉnh và chưa bao giờ được khuyến khích đúng mức. Trong lịch sử, chúng ta ngại dùng từ thiên tài, nhà thông thái, triết gia, nhà tư tưởng,… Vì sao? Vì cái thông minh của người Việt Nam chỉ là cái thông minh nhất thời. Người ta gọi là khôn lỏi. Giỏi ứng biến nhưng không khoa học. Cho nên dân tộc ta coi trọng cái khôn và cái khéo, khôn một cách khéo léo. Khéo này là khéo làm hài lòng người khác chứ không phải hướng đến tính khoa học chắc chắn. Cái khôn, cái khóe ấy thể hiện rất rõ qua Trạng Quỳnh, Trạng lợn. Họ thông minh nhưng chỉ là khôn lỏi, giỏi ứng biến nhất thời chứ không phát huy đến đỉnh cao. Họ chỉ khéo chứ chưa hẳn đã khôn. Người Việt ta có nhạy bén với cái mới thật. Nhưng cũng có rất nhiều trường hợp vì tính tò mò. Nó cũng mang tính nhất thời chứ không chắc chắn. Từ đó, tác giả Vũ Khoan cũng chỉ ra là nó tạo ra lỗ hổng về kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành. Vì sao? Vì ta có thiên hướng chạy theo những môn học thời thượng, nhất là kĩ năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay, học vẹt nặng nề. Đối với người Việt Nam thì cái gì cũng biết. Nhưng lại không nắm vững một cái gì cả. tác giả cũng nhấn mạnh: “không nhanh chóng lấp đầy những lỗ hổng này thì thật khó bề phát huy trí thông minh vốn có và không thể thích ứng với nền kinh tế mới chứa đựng đày tri thức căn bản và biến đổi không ngừng. Điều đó thật hữu ích trong một nền kinh tế đòi hỏi tinh thần kỉ luật cao và thái độ nghiêm túc đối với công cụ và quy trình lao động với những máy móc và thiết bị rất tinh vi. Siêng năng, cần cù vốn là một phẩm chất của con người Việt Nam từ bao đời nay vốn gắn chặt với các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nước ta nằm trong vùng khí hậu khắc nghiệt, nhiều thiên tai, địch họa, việc sản xuất gặp nhiều khó khăn. Để phát triển đời sống, con người Việt Nam đã khong ngừng nỗ lực. Bởi vậy, siêng năng, cần cù trở thành bản tính của con người. Đối diện với những khó khăn trong đời sống lao động sản xuất và chống xâm lăng, họ không ngừng sáng tạo. Sức sáng tạo của họ thể hiện ngay trong công cuộc chinh phục thiên nhiên và khuất phục kẻ thù xâm lược. Những trang sử vẻ vang là minh chứng thuyết phục cho sức mạnh ấy. Trong thời đại mới, con người Việt Nam không ngừng khẳng định cái mạnh ấy. Sự sáng tạo của người Việt Nam không thua kém bất kì một dân tộc nào trên thế giới. Ông Đỗ Đức Cường phát minh ra máy ATM làm nên cuộc cách mạng trong hệ thống ngân hàng thế giới. Anh Đặng Hoàng Sơn, một thợ máy đã sáng chế ra bộ tiết kiệm xăng cho xe máy. Ông Nguyễn Quốc Hào cần mẫn tự nghiên cứu chế tạo thành công tàu ngầm mini. Ông Trần Quốc Hải kiên trì chế tạo máy bay. Dù có những công trình chưa đạt đến hoàn hảo nhưng nó là minh chứng cho tinh thần sáng tạo mãnh liệt của người Việt Nam. Họ là niềm tự hào Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh điều đó. Việc cải tiến vũ khí trong thời kì chiến tranh đã khẳng định điều đó rất rõ ràng. Tiếc rằng ngay trong mặt mạnh này của chúng ta cũng lại ẩn chứa những khuyết tật không tương tác chút nào với một nền kinh tế công nghiệp hóa chứ chưa nói tới nền kinh tế tri thức. Người Việt Nam ta cần cù thì đúng thật nhưng lại thiếu đức tính tỉ mỉ. Người Nhật họ thông minh không kém gì ta, nhưng họ làm tỉ mỉ lắm. Khi muốn xây chiếc cầu, họ tính tỉ mỉ đến từng dây thép buộc, từng cái đinh, cái vít. Sẵn sàng rồi họ làm. Còn người Việt làm đến đâu mua đến đó. Ngay trong việc học sẽ thấy rõ. Nếu một học sinh Nhật nhận bài tập về Nhật, thì học sinh Nhật sẽ hoạch định kế hoạch và luôn hoàn thành kế hoạch trước thời hạn. Còn học sinh Việt Nam thì ngược lại, Họ ỷ lại tính tháo vát cảu mình đợi “nước đến chân mới nhảy”, “liệu cơm gắp mắm”. Do xuất phát từ nền sản xuất nông nghiệp và cách sống chậm rãi nơi thôn dã vốn rất thoải mái và thanh thản nên người Việt nam ta chưa có được những thói quen tôn trọng những quy định nghiêm ngặt của công việc là cường độ khẩn trương. Lại thêm nền văn hóa lắm lễ hội, trọng tình nghĩa, thói lề mề trở thành một bản chất khó bỏ. Ngay bản tính sáng tạo một phần nào đó cũng có mặt trái ở chỗ hay loay hoay cải tiến, làm tắt, làm ẩu, chủ quan nóng vội, duy ý chí, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ. Khát khao khám phá, say mê nghiên cứu là một việc tốt. Nhưng sao lại đi sáng tạo ra cái máy bay trong khi máy bay trên thế giới đã hoàn thiện. Tàu ngầm mini thì các nước cũng có rồi, cần gì mất công nghiên cứu nữa. Bộ tiết kiệm xăng thì tiết kiệm thật đấy nhưng có tốt cho tuổi thọ của máy không. Còn với trường hợp ông Đỗ Đức Cường, ông ấy học ở Nhật rồi làm việc ở Mỹ. Về căn bản, ông ấy sớm được giáo dục trong một môi trường tiên tiến rồi. Không nên phủ nhận niềm say mê của họ, nhưng sản phẩm của họ tạo ra không thể đáp ứng được yêu cầu thực tế. Đó là một sự sáng tạo ngược, không hữu ích. tác giả cũng khẳng định, trong xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp, những khuyết tật ấy quả là sự cản trở ghê gớm. Chúng ta tự hào nhân dân ta có truyền thống lâu đời biết đùm bọc, đoàn kết với nhau cùng một lòng nồng nàn yêu nước. Lúc đất nước hòa bình, nó là sức mạnh hăng say lao động, dựng xây đất nước. Lúc đất nước có chiến tranh, nó biến thành nguồn sức mạnh to lớn, quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi. Không có gì mạnh hơn tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Nhưng đáng tiếc rằng, phẩm chất cao quý ấy lại không thể hiện được sức mạnh trong công việc làm ăn với quy luật cạnh tranh trong cơ chế thị trường hiện nay. Xã hội Việt Nam vốn bị ảnh hưởng năng nề lễ giáo phong kiến, tính cấp bậc xã hội, tính gia trưởng, cửa quyền vốn còn rất sâu đạm trong tâm lí và cung cách ứng xử. Người Việt thiếu tính cộng đồng trong làm ăn. Cái thói “trâu buộc ghét trâu ăn”, đố kỵ lẫn nhau khiến cho tinh thần đoàn kết bị triệt tiêu trong cộng đồng. Lúc khó khăn còn tìm đến nhau, lúc giàu có thì ganh tỵ, so đo tính toán thiệt hơn. Con người Việt ta thích ứng nhanh với những yêu cầu mới của công việc. Bản tính thích ứng nhanh sẽ giúp ta tận dụng được những cơ hội, ứng phó với những thách thức do tiến trình hội nhập đem lại. Tính ứng biến là một trong những nhân tố sống còn trong sự vận động mãnh liệt của nền kinh tế ngày nay. Chẳng hạn như khi làm bài kiểm tra môn văn, mình mà không làm được là mình chế à. Chế bài viết khi làm bài là giải pháp luôn được nhiều học sinh ưu thích và lựa chọn. Mình chế mà trúng ý thầy thì may quá. Mình chế mà không đúng thì hậu quả thật khó lường. Lại thêm tâm lí người Việt thích bài ngoại hoặc sùng ngoại quá mức. Không thích thì họ kiên quyết từ bỏ dù nó tốt hay không tốt. Nguwowicj lại, khi đã thích rồi thì nó thế nào họ cũng vui vẻ chấp nhận, chào đón. Người Việt ta lại không coi trọng chữ tín. Điều này sẽ gây ra hậu quả lớn trong kinh doanh và hội nhập. Bởi làm cái gì cũng phải biết giữ chữ tín, phải có đạo đức. Nhất là khi hội nhập kinh tế thế giới với quy mô và mức độ hợp tác sâu rộng. Người Việt nam có tinh thần tự chủ, tự cường dân tộc mạnh mẽ. trong khó khăn, họ không ngừng tự lực vươn lên. Người Việt dựa vào sức mình là chính, kiên trì trong hành động. Thế nhưng, họ lại thường sống ích kỉ, cá nhân vì tự tin vào bản thân. Quan trọng hơn hết là do cái tính tự ái, tự trọng quá cao. Nếu làm việc cá nhân, người Việt Nam làm việc rất xuất sắc. Nhưng trong nhóm, họ tỏ ra rất vụng về. Bởi thế, trong nền sản xuất hiện đại, người Việt Nam yếu kém về tinh thần hợp tác nhóm, cùng giải quyết chung một nhiệm vụ. Đó là một trở ngại rất lớn khi mức độ công việc đòi hỏi phải hợp tác cao độ như hiện nay. Kết luận: Dù điểm mạnh hay điểm yếu nó đều thuộc về con người Việt Nam ta.Chúng ta không thể nào phủ nhận hay chối bở những điểm yếu của mình dù mình không thích nó. Bước vào thế kỉ mới, con người Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định sức mạnh truyền thống của mình. Bổn phận của chúng ta là phải nhận thấy được những điểm mạnh, điểm yếu của người Việt Nam, hình thành những đức tính và thói quen tốt khi đất nước đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thế kỉ mới như lời tác giả đã nói ở đầu bài. Góp sức mình xây dựng đất nước, làm cho đất nước ta ngày càng giàu đẹp hơn, Tôi và các bạn lúc nào cũng phải sẵn sàng cho điều đó. Và tuổi trẻ ngày nay cần rèn luyện mình như thế nà để sẵn sàng bước vào thế kỉ mới, các bạn hãy tự tìm câu trả lời ở chính mình nhé. Chúc các bạn có một giờ học thật vui vẻ và ý nghĩa
Điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam
2,193
Đoạn Lao xao trích Tuổi thơ im lặng của Duy Khán Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Xã hội loài chim – Về đoạn Lao xao trích Tuổi thơ im lặng của Duy Khán Lao xao trích Tuổi thơ im lặng Ngữ Văn 6 Đánh giá một bài văn “miêu tả nói riêng, một tác phẩm văn học nói chung, có hai quan niệm khác nhau. Quan niệm thứ nhất từ cái nhìn thấy. Còn quan niệm thứ hai: từ cái cảm thấy. Đọc đoạn trích Lao xao, nhiều người cho rằng ý nghĩa của nó là miêu tả loài vật, còn chúng tôi nghĩ: đằng sau thế giới loài vật là một cái gì khác. Cái khác ấy phải chăng là không khí yên ả, thanh bình cố hữu của làng quê người Việt và những triết lí dân gian, quan điểm thẩm mĩ dân gian? 1. Một bức tranh về không khí yên ả thanh bình của làng quê người Việt Làng quê người Việt vốn có một không khí yên ả thanh bình cố hữu sau luỹ tre xanh. Ở đó tồn tại một nền văn minh nông nghiệp ngàn đời. Rất ít biến động, rất ít đổi thay đến mức người ta tưởng như sinh ra đất trời vốn thế. Trình độ sản xuất đã không cao, quan hệ giữa con người với nhau lại là quan hệ truyền thống (trong họ, ngoài làng). Đời sống vật chất và tinh thần ấy đã tạo nên một không khí làng quê thuần khiết. Không khí ấy đã biến đổi dần đi trong quá trình đô thị hoá. Và chính từ quá trình ấy, những gì một đi không trở lại mới được nhớ về như một hoài niệm xa xôi. Những ngày ấy, mùa hè là ngày hội của hoa thơm, bướm lượn. Hoa thì đủ các loài: hoa lan, hoa móng rồng, hoa dẻ. Mỗi thứ hoa mỗi sắc, mỗi hương: hoa lan nở trắng, hoa dẻ từng chùm, còn hoa móng rồng thì bụ bẫm và thơm mùi mít chín. Những loài hoa hào phóng ấy đem đến cho làng quê một không gian đặc quánh mùi thơm. Nó có sức hấp dẫn với cả muôn loài, nhưng trước hết là với ong, với bướm. Cuộc giành giật để phân chia lãnh địa giữa chúng hết sức tự nhiên và chiến thắng bao giờ cũng thuộc về kẻ mạnh. Tính cách giống loài của chúng được nhìn bằng đôi mắt trẻ thơ: ong vàng, ong vò vẽ, ong mật, chẳng cần biết phải trái ra sao, tất cả đều xông vào đấu lực, còn các cô bướm hiền lành thấm nhuần phương châm xử thế “tránh voi chẳng xấu mặt nào” lặng lẽ bay đi. Nhưng, dù sao đó chỉ là một khúc dạo đầu. Thế giới của loài chim xuất hiện trên bầu trời bằng tiếng kêu dõng dạc của con bồ các. Mỗi loài có một tập tính riêng, cả chim hiền và chim ác. Chim hiền thì thân thiết với nhà nông, gần gũi với con người: sáo sậu, sáo đen đậu trên lưng trâu, riêng con sáo đen nhà bác Vui tọ toẹ học tiếng nói con người, biết tự bay đi kiếm ăn nhưng chiều chiều lại trở về với chủ. Con tu hú là bạn của mùa vải như vị thiên sứ báo tin vui, nó đến và đi bất chợt. Còn chim ác như những nhân vật phản diện trong truyện cổ tích. Chúng không những có hình dáng khó coi mà còn vô cùng hiểm độc. Như con diều mũi khoằm giả vờ bay liệng trên cao như một kẻ vô tâm nhưng khi đánh hơi được con mồi, nó lao như mũi tên xuống đất. Không cao đạo kiểu cách như diều hâu, quạ, dù là quạ đen hay quạ khoang đều là những kẻ phàm ăn, tục uống. Không bắt được gà con, không ăn trộm được trứng, chẳng một chút nề hà, nó sà ngay vào chuồng lợn, không cần kén cá chọn canh. Nhưng quạ, diều hâu không đáng sợ bằng chim cắt. Thân nhỏ nhưng bay nhanh, trở thành một thứ hung thần, một loại quỷ đen khủng khiếp, cắt là một nỗi kinh hoàng với một thứ vũ khí lợi hại vô song: cánh nhọn như dao bầu chọc tiết lợn. Ám ảnh đối với trẻ thơ đã đành (bao nhiêu con bồ câu của nhà chú Chàng đã bị chim cắt xỉa chết), mà tất cả loài chim đều chưa ai địch nổi. Như thế là xã hội loài chim dưới con mắt tò mò, ưa khám phá, tìm tòi luôn có vấn đề đặt ra với nó. Phải có một Thạch Sanh, phải có một chàng hiệp sĩ. Nhưng bất ngờ thay, chàng hiệp sĩ ấy vóc dáng mới nhỏ bé làm sao, lại bị nghi oan là kẻ cắp. Tên tội đồ chịu tiếng xấu, nhưng trước bất công đã không thể làm ngơ. Chính nó đã lao vào đánh con diều hâu túi bụi. Chính nó đã tổ chức bủa vây làm cho quạ đen không còn đường thoát phải “đến chết rũ xương”. Và lần này nữa, trước loài cắt dữ gian manh, những chú chèo bẻo đã dũng cảm lao vào thử sức. Việc mạo hiểm ấy vốn đã ấp ủ từ lâu nhưng chưa có cơ hội ra tay, lần này thì cơ hội kia đã đến, hơn thế lại có sự cổ vũ nhiệt tình của đám khán giả vô tư. Cắt đã bị thua, có lẽ lần đầu tiên chịu thua, như những chiếc máy bay B52 “quay tròn xuống đồng Xóc” mà không biết vì sao. Còn đối với bọn trẻ trong xóm, chiến thắng của chèo bẻo hiển hách như một kì công. Tính chất vô tư của bức tranh tả cảnh giúp ta hình dung: xã hội làng quê người Việt là một xã hội bằng phẳng, yên ả, thanh bình, cố hữu. Đã bao nhiêu đời như thế, tưởng không thể đổi thay. Không gian mà con người ưu ái dành cho các loài hoa bướm, loài chim là sự tĩnh mịch, êm đềm. Đó là nnững cảnh tượng quen thuộc đến mức cứ tưởng nhắm mắt lại là nó lập tức hiện ra: Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào tầng không… (Tố Hữu – Khi con tu hú) 2. Những quan điểm thẩm mĩ dân gian và triết lí dân gian Quan điểm thẩm mĩ dân gian trước hết là cái nhìn xã hội loài vật như xã hội loài người, con vật như con người. Khác với loại truyện ngụ ngôn, các con vật ở đây hiện ra như những nhân vật cụ thể và sinh động hết sức khách quan, chứ không để minh hoạ cho một bài học luân lí hay triết lí. Mõi loài vật có một tính cách riêng. Vì vậy, có những con vật đáng ghét, con vật đáng thương. Nhưng sự đáng ghét hay đáng thương cũng ở nhiều cấp độ. Như ở loài chim ác, loài quạ đen, quạ khoang chẳng hạn: bắt gà con, trộm trứng gà là việc bất lương, nhưng không săn bắt được lại rơi vào thế đường cùng thì cũng có một cái gì thật tội. Còn nhũng con chim hiền lành, nhất là dũng cảm như chèo bẻo mà mang tiếng xấu suốt đời thì ai là kẻ minh oan? Riêng cuộc kịch chiến của gà mẹ với diều hâu, người đọc không khỏi nghĩ đến một tình cảm sâu nặng của con người: tình mẫu tử. Còn triết lí dân gian: đó là bài học về sức mạnh của sự đoàn kết “Một cây làm chẳng nên non – Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Một con chèo bẻo đơn phương độc mã làm sao trị nổi diều hâu, quạ, cắt? Ba lần lập công là ba lần chứng thực sức mạnh của bầy đàn (mà con người gọi là đoàn kết). Đối lập với sự đoàn kết là cái cô độc của sự lẻ loi: “Nghèo ăn bắp, họp đông vui – Còn hơn giàu có mồ côi một mình” (Tục ngữ). Con bìm bịp là tượng trưng cho sự cô đơn, sự lảng tránh xã hội. Suốt ngày, suốt đêm phải chui rúc trong bụi cây, có lẽ đó là sự trừng phạt tinh thần thích đáng nhất, dành cho nó và đối với nó cũng là sự ân hận, giày vò nhất của lương tâm. Bài học “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo” cũng thể hiện sinh động ở đây. Người “ở hiền” là đám gà con, chú bồ câu và cả chim chèo bẻo nữa. Còn cái ác, chính nó lại tự đào hố chôn mình, kẻ “gieo gió phải gặt bão”. Ngoài quan điểm thẩm mĩ dân gian, triết lí dân gian, còn có các yếu tố của nền văn hoá dân gian. Đó là những bài hát đồng dao (Bồ các là bác chim ri,…), các thành ngữ được sử dụng đúng lúc, đúng nơi (Dây mơ rễ má, kẻ cắp gặp bà già,…), các câu chuyện cổ tích (Sự tích chim bìm bịp, sự tích chim chèo bẻo,…), v.v. Những yếu tố văn hoá dân gian nàỵ làm cho bài văn có một không khí nửa hư nửa thực, vừa mới vừa cũ rất hay và đáng được nhớ, được sẻ chia, được đồng tình và trân trọng.
Đoạn Lao xao trích Tuổi thơ im lặng của Duy Khán Ngữ Văn 6
1,603
Đoạn văn cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước Gợi ý Hồ Xuân Hương được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm, nữ sĩ tài danh đã để lại cho đời nhiều tác phẩm độc đáo viết về người phụ nữ trong xã hội xưa nhưng ấn tượng sâu sắc có lẽ là bài “Bánh trôi nước”. Bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, lời thơ giản dị thiết tha, Hồ Xuân Hương đã miêu tả rất chân thực hình ảnh chiếc bánh trôi nước. Ai câu thơ đầu thật tài tình, gợi lên hình ảnh chiếc bánh rất đẹp, vừa trắng lại vừa tròn. Và sự độc đáo khéo léo của HXH chính là mượn hình ảnh chiếc bánh để nói về người phụ nữ. Người phụ nữ trong thơ bà đẹp quá, vẻ đẹp dịu dàng đôn hậu cùng với những phẩm chất tốt đẹp đáng quý, trân trọng. Nhưng thương sao, thành ngữ “Bảy nổi ba chìm” giúp người đọc thấm thía nỗi đau về những con người không có quyền tự định đoạt cuộc đời của mình. Chính cái xã hội phong kiến đã tạo nên nỗi đau ấy cho người phụ nữ, đó cũng còn là nỗi đau trong lòng tác giả và độc giả bao thế hệ qua. Bài thơ ngắn nhưng chứa đựng nhiều cảm xúc, giúp ta cảm nhận được sự cảm thông sâu sắc của nhà thơ đối với người phụ nữ cũng như đối với chình mình.
Đoạn văn cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước
239
Đoạn văn cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà Gợi ý Trong kho tàng văn học Việt Nam có rất nhiều bài thơ hay nói về tình bạn nhưng có lẽ bài “Bài bạn đến chơi nhà” của cụ Tam nguyên Yên Đỗ – Nguyễn Khuyến để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc nhất. Thể thơ thất ngôn bát cú, giọng thơ giản dị nhẹ nhàng, tác giả đã xây dựng một tình huống khó xử khi người bạn lâu ngày đến thăm. Vô cùng mừng rỡ háo hức, nhà thơ muốn tiếp đãi bạn thật thịnh soạn nhưng trớ trêu thay trẻ thời đi vắng còn ao sâu, vườn rộng rất khó bắt được cá, gà. Rau cải thì chỉ mới tượng hình nên không thể đãi bạn và thậm chí đến cả miếng trầu mở đầu câu chuyện như phong tục truyền thống của người Việt cũng không có. Ở đây ta cảm nhận được cuộc sống cơ hàn của cụ Tam nguyên nhưng nhà thơ không hề có một chút than vãn hay kể khổ mà chỉ là lời nói vui thể hiện tinh thần lạc quan của mình. Và cũng từ tình huống “khó xử” ấy, tác giả đã thết đãi bạn một món ăn ngon vô giá vượt lên trên những vật chất tầm thường khác – đó chính là món “Tình bạn”. Cụm từ “ta với ta” thể hiện tâm hồn hòa hợp giữa nhà thơ và bạn, chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ rồi phiền hà chi món ngon vật lạ.
Đoạn văn cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà
254
Đoạn văn cảm nghĩ về bài thơ Nam quốc sơn hà Gợi ý Trong chương trình Ngữ văn 7 có rất nhiều bài thơ hay và giàu cảm xúc nhưng có lẽ để lại trong lòng em ấn tượng sâu sắc nhất chính là bài thơ thần “Nam quốc sơn hà”. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt với lời lẽ dõng dạc đanh thép trên được ra đời trong cuộc chiến đấu chống quân Tống của Lí Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt. Dòng sông ấy đã chứng kiến trận thắng hào hùng, vẻ vang của dân tộc ta trước kẻ thù xâm lược. “Nam quốc sơn hà” được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta được viết bằng thơ. Đó là lời khẳng định hùng hồn về chủ quyền của dân tộc vốn đã được “sách trời” ghi nhận. Đồng thời còn tỏ rõ thái độ cương quyết, quyết tâm đánh tan mọi kẻ thù bạo ngược dám xâm phạm bờ cõi. Tự hào biết bao khi thời điểm này nước ta có thể xưng “Đế”, sánh ngang với nước lớn trong thời phong kiến như hoàng đế Trung Hoa. Bài thơ ngắn gọn nhưng đong đầy cảm xúc và thái độ ẩn bên trong ý tưởng đã nói rõ tầm vóc và khí phách lớn lao của dân tộc ta trong thời đại nhà Lý.
Đoạn văn cảm nghĩ về bài thơ Nam quốc sơn hà
223
Đoạn văn cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo Ngang Gợi ý Bà Huyện Thanh Quan – một nữ sĩ tài danh hiếm có, tác phẩm của bà hiện còn lại sáu bài thơ Đường luật, trong đó bài “Qua Đèo Ngang” nổi tiếng và rất quen thuộc với bạn đọc. Thể thơ thất ngôn bát cú Đương luật, ngôn ngữ điêu luyện sâu sắc và trang trọng đã khắc họa nên một bức tranh Đèo Ngang trong buổi chiều tà. Mở đầu bài thơ là thiên nhiên vào thời điểm xế chiều: nắng nhạt và sắp tắt. Đây cũng là thời điểm mà con người dễ bộc lộ cảm xúc nhất. Những từ láy “lom khom”, “lác đác” giàu sức gợi hình, kết hợp với phép đối giữa hai câu càng làm tăng thêm sức gợi tả giúp cho người đọc cảm nhận cảnh Đèo Ngang thật hoang vắng, hiu quạnh. Bằng lối chơi chữ trữ tình “quốc – quốc”, “gia – gia” kết hợp với nghệ thuật nhân hoá, tác giả thể hiện nỗi lòng, tâm sự của chính mình: nhớ nước, thương nhà. Phải chăng nỗi buồn sâu sắc nhẹ nhàng ở đầu bài thơ đã trở nên mênh mông, nặng trĩu vì nhớ thương quá khứ, vì phải xa gia đình, quê quán; một thân một mình ở nơi xa lạ hoang vu. Đối mặt với trời, non, nước bao la hùng vĩ, nhà thơ lại càng thấy mình nhỏ bé hơn bao giờ hết, cảnh càng rộng lớn bao nhiêu thì “mảnh tình riêng” càng nặng nề khép kín bấy nhiêu. Bài thơ đẹp, phảng phất buồn làm người đọc thấu hiểu và cảm thông tấm lòng đau đáu, tha thiết của nữ sĩ đối với quê hương, đất nước.
Đoạn văn cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo Ngang
286
Đoạn văn cảm nghĩ về câu tục ngữ: Một mặt người bằng mười mặt của Gợi ý (1)Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam có rất nhiều câu mang ý nghĩa sâu sắc, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu, bao lời khuyên dạy chân tình nhưng không hiểu vì sao em lại thích câu: “Một mặt người bằng mười mặt của”. (2)Câu tục ngữ giản dị, chỉ có bảy từ ngắn gọn cùng phép so sánh nhẹ nhàng và nghệ thuật nhân hóa độc đáo, giàu hình ảnh. (3)Đó là lời ông cha khuyên chúng ta cần phải biết quý trọng sinh mạng con người hơn của cải vật chất. 4)Hai từ “mặt người” đặt trước “mặt của” cùng với so sánh “bằng mười” thật khéo léo, đầy ẩn ý nhằm nhấn mạnh tiền bạc, của cải vật chất tuy rất quý nhưng là thứ ta làm ra còn sinh mệnh con người là thứ không gì có thể đánh đổi. (5)Tục ngữ được cha ông ta dùng để khuyên răn con người phải cẩn trọng trong cuộc sống, không để những điều đáng tiếc xảy ra đối với sinh mạng của mình và mọi người. (6)Đồng thời, còn dùng để động viên người ta đừng buồn phiền khi xảy ra mất mát tài sản, thật thú vị khi cùng một câu lại mang nhiều hàm ý. (7)Câu tục ngữ trên quả là lời khuyên và triết lí sống đúng đắn. (8)Chúng ta phải biết trân trọng giá trị con người, đặt con người lên trên mọi thứ của cải vật chất.
Đoạn văn cảm nghĩ về câu tục ngữ_ Một mặt người bằng mười mặt của
254
Đoạn văn cảm nghĩ về câu tục ngữ: Thương người như thể thương thân. Gợi ý (1)Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam có rất nhiều câu mang ý nghĩa sâu sắc, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu, bao lời khuyên dạy chân tình nhưng không hiểu sao em lại thích câu: “Thương người như thể thương thân”. (2) Câu tục ngữ giản dị, chỉ có sáu từ ngắn gọn cùng với nghệ thuật so sánh nhẹ nhàng nhưng lại giàu hình ảnh chân thật. (3) Đó là lời của ông cha khuyên chúng ta phải biết yêu thương người khác như chính bản thân mình. (4) Hai tiếng “thương người” đặt trước thương thân thật “khéo léo” mang đầy ẩn ý nhằm nhấn mạnh đối tượng cần đồng cảm thương yêu. (5)Chúng ta cần lấy bản thân mình soi vào người khác, coi người khác như bản thân mình để từ đó quý trọng mà yêu thương, mà quý mến nhau. (6)Lời khuyên và triết lý sống đầy giá trị nhân văn ấy vẫn còn mãi mãi với thời gian. (7)Thử hình dung nếu thiếu lòng nhân ái thì cuộc sống này sẽ ra sao với những con người mang trái tim sỏi đá. (8) Câu tục ngữ tuy ngắn gọn nhưng thật sâu sắc, chúng ta hãy sống như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng viết: “Sống trên đời sống, cần có một tấm lòng,.. để gió cuốn đi..”.
Đoạn văn cảm nghĩ về câu tục ngữ_ Thương người như thể thương thân.
235
Đoạn văn cảm nghĩ về người thân Gợi ý Hạnh phúc biết bao khi ai đó người thân bên cạnh để chia sẻ, để yêu thương… Đối với tôi, ngoại là người gần gũi, cảm thông và chăm sóc lo lắng cho đứa cháu nhỏ này từ thưở bé đến ngày hôm nay. Dẫu rằng tôi thiếu sự quan tâm của mẹ cha, nhưng với tôi, ngoại như một bà tiên giữa đời thường đã bù đắp cho tôi tất cả, giúp tôi có một cuộc sống bình yên và ngọt ngào trong năm tháng tuổi thơ. Trên khuôn mặt nhân hậu của ngoại có một ánh mắt hiền từ, một nụ cười trìu mến, cùng với giọng nói trầm ấm là tất cả sự tự hào của tôi về hình dáng “bà tiên” của riêng mình. Làm sao quên được những lời ru êm ái của ngoại đưa tôi vào giấc ngủ dịu êm. Mỗi khi nhìn mái tóc bạc phơ, tôi rưng rưng xúc động – ngoại đã già! Những lúc đi xa về, tôi đều sà vào lòng ngoại để cảm nhận ngọn lửa yêu thương sưởi ấm lòng mình. Nếu như có được phép màu, tôi ước ngoại sống mãi suốt đời bên tôi.
Đoạn văn cảm nghĩ về người thân
206
Đoạn văn cảm nghĩ về đức tính giản dị của Bác Hồ Gợi ý Sau khi học văn bản “Đức tính giản dị của Bác Hồ” qua ngòi bút của nhà cách mạng nổi tiếng – Phạm Văn Đồng, hình ảnh “Vị cha già dân tộc” đã gây cho em nhiều cảm xúc khó tả. Vốn đã từng rưng rưng xúc động về tấm lòng thương yêu các anh đội viên như con của Bác từ những vần thơ năm chữ trong bài “Đêm nay Bác không ngủ”, thì giờ đây, hình ảnh “Người cha” ấy càng đẹp rạng ngời với đức tính giản dị nổi bật. Trong bữa cơm của Người chỉ có vài ba món giản đơn, nơi ở chỉ là cái nhà sàn luôn luôn lộng gió và vẻn vẹn vài ba căn phòng nhỏ. Ôi, đời sống của Bác thật thanh bạch và tao nhã biết bao! Không chỉ giản dị trong đời sống mà quan hệ với mọi người Bác Hồ lại càng giản dị. Từng lời nói, bài viết của Người đều muốn cho quần chúng nhân dân hiểu được, nhớ được và làm được như chân lí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Tuyệt diệu quá, sự giản dị hòa hợp với đời sống tâm hồn phong phú, Bác kính yêu của chúng ta đã nêu lên một tấm gương sáng ngời cho bao thế hệ noi theo. Cao đẹp làm sao hình ảnh Bác Hồ “chiếc áo nâu giản dị” mang “đôi dép đơn sơ” và từ đó ta càng thấm thía hơn những vần thơ Tố Hữu viết về Người: “Bác để tình thương cho chúng con, Một đời thanh bạch chẳng vàng son”.
Đoạn văn cảm nghĩ về đức tính giản dị của Bác Hồ
277
Đoạn văn cảm nhận về ngày khai trường Gợi ý “Vui đến trường lòng rộn ràng như hoa nở. Hương thơm ngọt ngào từng góc phố thân quen”. Không hiểu sao cứ mỗi khi nghe lời bài hát ngọt ngào và sâu lắng ấy, lòng tôi lại bồi hồi xao xuyến cảm nhận về không khí của ngày khai trường… Dù nhiều năm trôi qua nhưng cái cảm giác đến trường đón chào năm học mới luôn để lại biết bao cảm xúc bâng khuâng khó tả… Tạm biệt những ngày nắng hạ, chia tay những thú vui mùa hè, tôi chuẩn bị bài vở trong tâm trạng nôn nao háo hức… Thế là mình sắp gặp lại thầy cô, gặp lại bạn bè sau bao ngày xa cách, ôi sung sướng biết bao! Gió nhè nhẹ khẽ lay chiếc lá vàng, trên trời cao bồng bềnh chùm mây trắng, dưới ánh nắng mùa thu, tôi bước chân sáo đến với “Thế giới diệu kì”. Mẹ không còn dẫn tôi đến trường như ngày nào nữa, nhưng bước chân tôi đi, mẹ luôn dõi ánh nhìn. Tôi yêu tuổi học trò hồn nhiên trong sáng của mình có lẽ bắt đầu từ những ngày khai trường cùng tiếng trống rộn vang.
Đoạn văn cảm nhận về ngày khai trường
202
Đoạn văn nêu cảm nhận về nhân vật Bơ men Gợi ý Học xong văn bản “Chiếc là cuối cùng” qua ngòi bút của nhà văn người Mĩ – O. Hen – ri, hình ảnh cụ Bơ – men với “kiệt tác đời mình” cứ đọng mãi trong lòng người đọc về những giá trị nhân văn hết sức cao đẹp. Là một họa sĩ nghèo, tuổi đã già, sống một mình ở tầng dưới chung căn hộ với hai cô họa sĩ trẻ: Xiu và Giôn – xi. Cả một đời làm nghệ thuật, cụ khát khao hoàn thành một kiệt tác. Nhưng cái nghèo cứ đến, thời gian thì nhanh chóng trôi qua, hoài bão của cụ vẫn chưa thực hiện được. Vốn đầy lòng trắc ẩn, thương người nên cụ Bơ – men vô cùng lo lắng khi biết tình trạng của Giôn – xi. Cụ lo sợ cái suy nghĩ vẩn vơ, tuyệt vọng của cô họa sĩ trẻ sẽ khiến cô phải lìa xa cõi đời này khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống. Nhìn từng chiếc lá cứ rụng dần theo mùa đông và chỉ còn một chiếc trơ trọi trên cành, cụ lặng lẽ âm thầm thực hiện một công việc. Tối hôm ấy, thời tiết thật khắc nghiệt, gió mưa dữ dội, bằng tình thương, bằng tài năng, cụ đã vượt qua tất cả để hoàn thành tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng”. Bức tranh ấy đã giúp cho Giôn – xi hồi sinh trở lại, giúp cô thoát khỏi suy nghĩ muốn tìm cái chết và cô đã lạc quan yêu đời, khao khát sống. Nhân vật cụ Bơ – men thật đẹp, thật cao cả, là một nghệ sĩ chân chính, tài năng. “Kiệt tác” của cụ giúp cho người đọc cảm thấy mùa đông ấm áp tình người – một thông điệp tuyệt vời mà nhà văn muốn gởi đến chúng ta: Hãy sống và yêu thương!
Đoạn văn nêu cảm nhận về nhân vật Bơ men
317
Đoạn văn tả bức tranh Vịnh Hạ Long lớp 3 Hướng dẫn Tuần trước, tại một triển lãm tranh ảnh, em đã được nhìn thấy một bức tranh vẽ cảnh Vịnh Hạ Long. Vịnh Hạ Long là một thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng của Việt Nam, vùng lõi vịnh được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Nổi bật ở bức tranh là những hòn núi đá với các kích cỡ to nhỏ khác nhau nổi lên trên mặt biển xanh màu ngọc bích. Ở góc phải của bức tranh là một chiếc thuyền buồm du lịch màu trắng đang rẽ sóng qua những hòn núi đá. Ngay phía trên là những chú chim hải âu trắng chao lượn cùng với những đám mây bồng bềnh trên bâu trời xanh biếc. Theo em, đây là một bức tranh phong cảnh rất đẹp. Em rất thích bức tranh này. Nguồn:
Đoạn văn tả bức tranh Vịnh Hạ Long lớp 3
150
Đoạn văn tả chim anh vũ lớp 4 Hướng dẫn Đoạn văn tả chim anh vũ lớp 4 … Trên một cây nhỏ có nhiều cành xòe ngang, ta nghe tiếng chim ríu rít trên ngọn cây. Ngước lên, ta thấy hai hoặc ba chú Anh Vũ đang thi nhau cong mình uốn qua các cành cáy như uốn qua các nấc thang. Khi con trước tiến đến nấc thang trên cùng, nó cong mình dừng lại đợi các con sau lên hết mới lại cong mình uốn ngược xuống cho đến nấc thang cuối cùng. Có lúc cả ba con cùng uốn, nom như những đợt sống vờn lên vờn xuống thành một hình rất đẹp. Có thể nói Anh Vũ là những nhà nhào lộn có tài, khó loài nào theo kịp cường độ nhào lộn đến say sưa quên mệt mỏi như Anh Vũ. Một cái lồng nhỏ, nhốt vài ba con Anh Vũ bên trong, lúc nào cũng thấy lồng chim xao động. Chúng không hể đứng yên, đôi khi chúng nó dừng lại để nhấm nháp ngụm nước, hoặc nhặt tằm ăn, sau đó chúng lại tiếp tục nhào lộn. Chim Anh Vũ thuộc loại chim năng nổ, ưa hoạt động và sống có bầu bạn. Trong một lồng chim ít nhất phải có từ ba con, chim mới đua nhau nhào lộn. Càng đông người xem, chúng càng tích cực biểu diễn và hót lên những tiếng hót nhỏ… Thiên Hương (Trích Chim Tây nguyên)
Đoạn văn tả chim anh vũ lớp 4
246
Đoạn văn tả mẹ con cá chuối lớp 4 Hướng dẫn Đoạn văn tả mẹ con cá chuối lớp 4 Bơi càng lên mặt ao, thấy càng nóng, cá Chuối mẹ bơi mãi, cố tìm hướng vào bờ. Mặt ao sủi bọt, nổi lên từng đám rêu. Rất khó nhận ra phương hướng. Chuối mẹ phải vừa bơi vừa nghếch lên mặt nước để tìm hướng khóm tre, trời bức bối ngột ngạt. Lắm lúc Chuối mẹ muốn lặn ngay xuống đáy cho mát, nhưng nghĩ đến đàn con đang đói, chờ ở vùng nước đằng kia, Chuối mẹ lại cố bơi. Khóm tre bên bờ đã gần đây rồi. Khi tới thật gần, Chuối mẹ chỉ còn trông thấy gốc tre, không thấy ngọn tre đâu. Chuối mẹ bơi sát mép nước rồi rạch lên chân khóm tre. Tìm một chỗ mà Chuối mẹ đoán chắc:là có tổ kiến gần đó. Chuối mẹ giả vờ chết, nằm im không động đậy. Trời nóng hầm hầm. Hơi nước lá ải cùng với mùi tanh trên mình Chuối mẹ bốc ra làm bọn kiến lửa gần đó thèm thuồng. Bọn chúng rủ nhau đi kiếm mồi. Vừa bò loằng ngoằng vừa dò dẫm về phía có mùi tanh cá. Đầu tiên Chuối mẹ cảm thấy buồn buồn ở khắp mình, sau đó đau nhói trên da thịt. Biết kiến kéo đến đã đông, Chuối mẹ liền lấy đà quẩy mạnh, rồi nhảy tũm xuống nước. Bọn kiến không kịp chạy, nổi lềnh bềnh trên mặt ao. Đàn Chuối con ùa lại tranh nhau đớp tới tấp. Thế là đàn Chuối con được mẻ no nê. Chuối mẹ bơi quanh nhìn đàn con đớp mồi, vui quá nên quên cả những chỗ đau bị kiến đốt.
Đoạn văn tả mẹ con cá chuối lớp 4
289
Đoạn văn tả đôi chim sơn ca Hướng dẫn Đoạn văn tả đôi chim sơn ca Một cây cẩm lai cành lá xòe ra ngay trên chỗ Diên nằm, nhưng vì cao quá mà lá lại thưa, nên Diên tưởng như bóng cây không chiếu được tới đất. Lá nhỏ lăn tăn và xếp in lên nền trời trông tựa như một bức thêu hoa trên nền lụa xanh màu lam nhạt. Một con bướm trắng bay loăng quăng trong cành cây rồi bỗng như chiếc lá rụng là đà rơi xuống chỗ Diên nằm. Lúc bấy giờ đá quá trưa. Trời im gió, ánh nắng lấp lánh như những ngôi sao trôi sau cỏ thưa trên dòng suối. Hiệp và Diên lắng nghe: Trong bãi cỏ trước mặt có tiếng chim hót ríu rít. Đưa mắt nhìn mãi, Diên thấy lộ ra trên bãi cỏ cái đầu một con chim sơn ca rung động thật nhanh, lông bườm và lông cổ xù ra. Con chim đột nhiên bay vụt lên cao vừa bay vừa hót. Hai người đưa mát nhìn theo, con chim mỗi lúc một nhỏ, nhỏ dần chi còn lại một chấm đen lên trời song tiếng hót ríu rít trên cao nghe vẫn rõ. Một con chim nữa ở trong đám cỏ vụt bay lên, trong khi khắp các đám tiếng hót những con chim khác cùng nổi ran một loạt những khúc hòa tấu để tiễn đưa. Đồng, chim ở trên không rơi thẳng xuống như một hòn đất ném từ trên cao, khi gặp em bay sau hai con díu cành vào nhau rồi là là xuống cạnh suối. Chim đã khuất trong cỏ nhưng tiếng hót vẫn còn ríu rít mái chưa thôi.
Đoạn văn tả đôi chim sơn ca
286
Đề bài: Đáng tự hào cho những tấm lòng nhân đạo bao la giữa người với người Bài làm Ở nước ta hiện nay có thể nói, số lượng các trẻ em cơ nhở đã có phần giảm thiểu là nhờ vào các chính sách, lòng nhân đạo, thương người giữa con người với con người đã thu nhận, nuôi dưỡng giáo dục những đứa trẻ mà tương lai gần như là một màu đen u ám. Nhưng bên cạnh đó một bộ phận không ít những đứa trẻ ấy vẫn còn hiện hữu đâu đó nơi đầu đường cuối hẻm đang hằng ngày mong chờ được sự giúp đỡ, từ những tấm lòng cao cả… Đáng tự hào cho những tấm lòng nhân đạo bao la giữa người với người Trước hết ta hãy hiểu như thế nào là “trẻ lang thang cơ nhở”. “Trẻ lang thang cơ nhở” là một nhóm các đứa trẻ chọn lối sống ngoài vỉa hè, các thành phố lớn, tự tìm cho mình một sinh kế để nuôi sống bản thân. Những đứa trẻ ấy không có một nơi ở nhất định và cũng không nghề nghiệp ổn định và quan trọng hơn là trẻ phải hay tự xa lánh gia đình vì những tổn thương về mặt tâm lý. Đa phần những nguyên nhân dẫn đến việc trẻ trở thành trẻ lang thang đường phố là do gia đình đổ vỡ, trẻ bị bỏ bê hay bị người thân ngược đãi, gia đình nghèo không đủ ăn phải kiếm sống. Nhưng đa phần những nguyên nhân làm trẻ trở thành trẻ lang thang là do cách cư xử và thái độ của người thân đối với trẻ. Hiện nay ở nước ta xuất hiện khá nhiều các mái ấm tình thương ở những tình thành, quận huyện trong nước thu nhận nuôi dưỡng, giáo dục những đứa trẻ lang thang cơ nhở sống ngoài đường phố. Điển hình như cô nhi viện Thánh An, Giáo phận Bùi Chu (Xuân Trường, Nam Định) hiện đang nuôi dưỡng hàng trăm trẻ bị bỏ rơi, mồ côi, khuyết tật, không phân biệt lương, giáo. Ban giám đốc Cô nhi viện, đội ngũ thiện nguyện nơi ấy và bao tấm lòng từ thiện đang gắng hết sức mình để chăm sóc, dưỡng dục các cô nhi… Làng trẻ em SOS Đồng Hới (Quảng Bình) là nơi chăm sóc, nuôi dưỡng 94 mảnh đời mồ côi. 14 mẹ, dì ở đây cũng là những phụ nữ có nỗi buồn trong cuộc sống. Và họ tìm niềm vui sống bằng sự tận hiến cho tình yêu… Không chỉ ở các mái ấm tình thương mà đối với những con người, những cá nhân,những gia đình bình thường họ củng biểu hiện lòng nhân đạo, tình thương của mình qua việc thu nhận những đứa trẻ ấy về nuôi dưỡng giáo dục chúng nên người như hai mươi bà mẹ của làng trẻ SOS Gò Vấp, hai mươi hoàn cảnh và nguyên nhân đến với trẻ khác nhau, có người nói do thích trẻ con, có người nói do duyên số nhưng họ đều có điểm chung là tấm lòng nhân ái, bao la như “biển Thái Bình”. Bởi lẽ, để làm mẹ của Làng trẻ SOS Gò Vấp, những người phụ nữ này phải chấp nhận một điều kiện khắc nghiệt: Không lập gia đình, tức là chấp nhận hy sinh hạnh phúc cả đời người để dành trọn tâm huyết bù đắp cho những trẻ không may… Và những mảnh đới bất hạnh ấy sẽ không còn phải sống trong chốn tăm tối của xã hội, sẽ không còn phải chiệu cóng chiệu rét những khi đêm xuống, sẽ không còn lo âu dể tìm kiếm cái ăn, cái mặc mà giờ đậy chúng đã trở lại là những đứa trẻ được sống trong sự bao bọc chỡ che và tình yêu thương như bao đứa trẻ bình thường khác. Thế mới thấy tuy rằng mỗi người 1 nghề, mỗi nguời một hoàn cảnh, họ có thể khác nhau về quốc tịch, khác nhau về hoàn cảnh sống, địa vị xã hội nhưng họ gặp nhau ở tấm lòng yêu thương con người. Cho ta thấy tình cảm giữ con người với con ng là vô bờ bến, không có biên giới nào có thể ngăn cản.Bởi truyền thống tốt đẹp của người VN “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”. Nhưng rồi số phận của những đứa trẻ không may mắn gặp được sự cưu mang cứu giúp từ những tấm lòng nhân ái thì chúng sẽ ra sao. Dẫu biết lòng nhân đạo giữa con người với con người là bao la to lớn nhưng không thể nào cùng một lúc trong một xã hội không còn hiện hữu hình bóng cũa những đứa trẻ lang thang đường phố. Chúng sẽ ra sao khi bao quanh chúng là những căn bệnh hiểm nghèo, những cạm bẫy đang rình rập và những vũng mực đen sâu thẳm của xã hội. Chúng ta hãy làm những gì có thể để cứu vớt những mảnh đời ấy và cầu mong sao cho chúng sẽ không bị cám dỗ, sẽ không bị vấy bẩn bởi những mực trong xã hội và rằng ngày nào đó chúng củng sẻ được cứu giúp như những đứa trẻ lang thang khác. Thật cảm động và đáng tự hào cho những tấm lòng nhân đạo bao la giữa con người với con người. Những cá nhân dám xả thân hi sinh cuộc đời mình”đổi tuổi xuân cho tuổi thơ” để cứu vớt cho những mảnh đời bất hạnh thế mới thấy tình cảm ấy không gì có thể ngăn cản được. Nhưng trong xã hội ngày nay luôn hiện hữu hai mặt trái ngược nhau đó là tốt và xấu. Bên cạnh những con người có tấm lòng nhân hậu là những con người cá nhân chỉ biết trục lợi bản thân, họ nhẫn tâm hành hạ đánh đập để ép bắt buộc các đứa trẻ làm những công việc trái với lương tâm đạo đức. Thật không may cho những đứa trẻ ấy, thật bất hạnh tại sao chúng lại rơi vào tay những con người mất đi tình người như vậy. Thật cảm thông và xót thương sao cho những mảnh đời bất hạnh ấy. Mong rằng xã hội của chúng ta trong nay mai và trong tương lai sẽ không còn những mãnh đời bất hạnh như vậy. Vì thế để có thể làm được vậy chúng ta những người thân, những bậc cha me hãy luôn y’ thức xem xét, cân nhắc các hành động và thái độ đối với trẻ. Vì một thế hệ trẻ và vì sự phát triển của đất nước trong tương lai ngay từ bây giờ các bậc cha mẹ hãy luôn xem xét cân nhắc thái độ và cách giáo dục đối với trẻ em, hãy cho trẻ những gì trẻ đáng được thừa hưởng và nhận lấy. Chúng ta hãy vì một tương tươi sáng, một tương lai sẽ không còn hiện hữu bóng dáng những đứa trẻ lang thang trên đường phố
Đáng tự hào cho những tấm lòng nhân đạo bao la giữa người với người
1,188
Đáp án đề 1 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 Hướng dẫn Đáp án đề 1 học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. – Đây là những từ đồng nghĩa không hoàn toàn (SGK gọi là “từ đồng nghĩa có nghĩa gần giống nhau”). Bài tập yêu cầu chỉ ra những chỗ khác nhau về nghĩa giữa các từ in đậm; nói cách khác, chỉ ra các sắc thái nghĩa khác nhau của những từ này. – Cụ thể như sau: a) trắng bệch: trắng nhợt nhạt (thường nói về khuôn mặt). b) trắng muốt: trắng mịn màng, trông rất đẹp. c) trắng ngần: trắng và bóng, vẻ tinh khiết, sạch sẽ. d) trắng phau: trắng đẹp và tự nhiên, không có vết bẩn. e) trắng xoá: trắng đều trên diện rộng. 2. Trước hết, em cần nắm được nghĩa của từ in đậm trong câu (VD, nghĩa của từ làng: khối dân cư ở nông thôn làm thành một đơn vị hành chính có đời sống riêng về nhiều mặt). Sau đó, em tìm các từ đồng nghĩa với từ in đậm ấy. Cụ thể: a) làng: làng mạc, làng xóm, xã, thôn, ấp, buôn, bản,… b) chăm nom: chăm sóc, coi sóc, trông nom, chăm chút, chăm lo, săn sóc,… c) nhỏ: nhỏ bé, bé bỏng, bé con, bé dại, bé xíu, nhỏ con, nhỏ nhắn, nhỏ xíu, tí xíu,… 3. Gợi ý: Khổ thơ bộc lộ cảm xúc của tác giả trước những vẻ đẹp của đất nước: – Vẻ đẹp của những “dòng sông bát ngát” đang chảy giữa đôi bờ “dào dạt lúa ngô non”. Đó cũng chính là vẻ đẹp hứa hẹn một cuộc sống ấm no cho những người dân trên đất nước ta. 4. 1. Xác định yêu cầu: Tả một cảnh vật thiên nhiên mà em yêu thích. Chú ý: Cảnh vật thiên nhiên là cảnh vật không do con người tạo ra. Vì vậy, em cần xác định đúng đối tượng miêu tả theo gợi ý của đề bài, VD: ngọn núi, cánh rừng, dòng sông, bãi biển, hồ nước, dòng thác,… Em có thể chọn tả một cảnh thiên nhiên nơi em ở hoặc nơi em từng đến mà mình cảm thấy yêu thích. 2. Tìm ý, lập dàn bài: a) Mở bài (giới thiệu bao quát về cảnh sẽ tả) – Đó là cảnh gì, ở đâu (vị trí cụ thể)? Cảnh hiện ra trước mắt em vào lúc nào (thời điểm miêu tả)? – Hoặc: Lí do yêu thích và chọn tả cảnh vật đó là gì? (VD: vì cảnh đó gắn với kỉ niệm thòi thơ ấu ; vì đó là cảnh thiên nhiên có vẻ đẹp độc đáo ; vì cảnh vật đó mang những nét đặc trưng của quê em, là niềm tự hào của người dân quê hương,…) b) Thân bài (tả từng phần của cảnh hoặc sự thay đổi của cảnh theo thời gian) Căn cứ vào cảnh vật em miêu tả để lựa chọn trình tự cụ thể. VD: tả dòng sông, em cần làm rõ các ý chính dưới đây. – Đặc điểm nổi bật của dòng sông: Sông chảy thẳng hay quanh co, uốn lượn? Lòng sông rộng hay hẹp? Nước sông nhiều hay ít? Màu sắc của nước sông thế nào? Sông chảy chậm (lững lờ) hay nhanh (băng băng)?… – Em thích ngắm dòng sông vào thời điểm nào (hoặc: dòng sông gắn với kỉ niệm gì làm em thích thú và có ấn tượng sâu sắc)? c) Kết bài (nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ) Cảnh vật thiên nhiên gợi cho em những suy nghĩ và cảm xúc gì (hoặc để lại trong em ấn tượng gì khó phai, làm em thích thú)? 3. Tham khảo (một số đoạn văn tả cảnh thiên nhiên): * Rừng miền Đông Đang vào mùa rừng dầu trút lá. Tàu lá dầu liệng xuống như cánh diều, phủ vàng mặt đất. Mỗi khi có con hoẵng chạy qua, thảm lá khô vang động như có ai đang bẻ chiếc bánh đa. Những cây dầu con mới lớn, phiến lá đã to gần bằng lá già rụng xuống. Lá như cái quạt nan che lấp cả thân cây. Đang giữa trưa nắng, gặp rừng dầu non, mắt bỗng dịu lại như đang lạc vào một vùng rau xanh mát. Hết rừng dầu lại đến rừng cao su. Màu xanh lá dầu chỉ có thê so sánh với màu cao su vừa thay lá. Những cánh rừng cao su thăm thẳm, như cái hang động màu ngọc bích, sắc lá càng xanh biếc trong màu đất đỏ tươi. (Theo Chu Lai) Hồ Tơ-nưng ở phía bắc thị xã Plây-cu. Hồ rộng mênh mông, nước trong như lọc. Trên bờ, cây ê-ban màu lục điểm hoa trắng mọc um tùm. Mặt hồ phẳng lặng phản chiếu cảnh trời mây, rừng núi. Hồ xanh thẳm khi trời quang mây tạnh. Hồ như khoác tấm áo choàng đỏ tía lúc trời chiều ngả bóng. Hồ long lanh dưới ánh nắng chói chang của những buổi trưa hè. Hàng trăm thứ cá sinh sôi nảy nở ở đây. Cá đi từng đàn, khi thì tung tăng bơi lội, khi thì lao vun vút như những con thoi. Cá nhảy cả lên thuyền, lướt trên mặt sóng. Cá tràn cả lên bờ lúc mưa to, gió lớn. Chim chóc cũng đua nhau đến bên hồ làm tổ. Những con sít lông tím, mỏ hồng kêu vang như tiếng kèn đồng. Những con bói cá mỏ dài, lông sặc sỡ. Những con cuốc đen trùi trũi len lỏi giữa các bụi ven bờ,… (Tiếng Việt 3, tập một, 2000) * Thác Y-a-li Cách xa nửa ngày đường, đã nghe tiếng nước réo, tưởng như có trăm vạn tiếng quân reo giữa núi rừng trùng điệp. Đó là nguồn nước sông Bô-cô thúc mạnh vào sườn núi Chư-pa bắt núi phải cắt đôi. Nước ào ạt phóng qua núi rồi đổ xuống, tạo nên thác Y-a-li. Thác nước thẳng đứng, chảy mòn đá, thành mười hai bậc từ trên đỉnh núi xuống mặt nước. Nước trút từ trên trời xuống, trông như một biển mù sương, đẹp tuyệt vời. Nhất là lúc sắp hoàng hôn, mặt trời xói thẳng vào dòng nước lấp lánh như người ta dát một mẻ vàng vừa luyện xong. (Theo Thiên Lương)
Đáp án đề 1 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5
1,030
Đáp án đề 10 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Tiếng Việt từ nghĩa của từ tả cảnh mùa xuân 1. Đối với mỗi từ in đậm, em lần lượt đối chiếu với từng lời giải nghĩa. Nếu có sự phù hợp, tương ứng giữa từ và nghĩa của từ thì được. Cụ thể, có thể nối như sau: (1) – b (2) – a (3) – d (4) – c 2. Dựa vào câu mẫu đã cho, em đặt câu để phân biệt các từ đồng âm. VD: a) Nghé – Nghé con luôn quấn quýt bên trâu mẹ, không rời mẹ nửa bước. – Đứa bé nghé mắt rihìn qua khe cửa. b) Sáo – Con sáo lông đen, mỏ vàng bay loạn xạ trong lồng tre. – Đinh Thìn là một nghệ sĩ sáo tài ba. – Câu văn này viết sáo quá. 3.Tham khảo: Khi con thuyền lướt nhẹ trên Ba Bể, nhìn thấy cả mây trời, núi xanh in bóng trên mặt nước, tác giả cảm thấy mình được đi trên con thuyền đang trôi trên bầu trời và ngọn núi cao, mái chèo khua nước làm cho bóng núi rung rinh, cảnh vật thêm kì ảo, nên thơ. Đó là những cảm xúc trước cảnh hồ Ba Bể đẹp đẽ và thơ mộng, thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của tác giả đối với thiên nhiên đất nước tươi đẹp. 4. 1. Xác định yêu cầu: Tả cảnh vật nơi em ở (hoặc nơi em đã đến) trong hoặc sau cơn mưa xuân (hoặc mưa rào mùa hạ). Chú ý: Cần tả rõ những nét nổi bật của cảnh vật trong (hoặc sau) cơn mưa gắn với đặc điểm mùa xuân (mùa hạ) ở địa phương em hoặc nơi em đã đến. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tương tự cách làm đã gợi ý ở Đề 1.) 3. Tham khảo (một số đoạn văn tả cảnh vật trong và sau cơn mưa) ; * Mưa xuân Mưa mùa xuân xôn xao phơi phới… Những hạt mưa bé nhỏ, mềm mại, rơi mà như nhảy nhót. Hạt nọ tiếp hạt kia đậu xuống lá cây ôi còng mọc lả xuống mặt ao. Mùa đông xám xỉn và khô héo đã qua. Mặt đât đã kiệt sức bừng thức dậy, âu yếm đón lấy những giọt mưa âm áp, trong lành. Đất trở lại dịu mềm, lại cần mẫn tiếp nhựa cho cây cỏ… (Nguyễn Thị Như Trang) * Núi rừng Trường Sơn sau cơn mưa Mưa ngớt hạt rồi dần dần tạnh hẳn. Màn mây xám đục trên cao đã rách mướp, trôi dạt cả về một phương, để lộ dần một vài mảng trời thấp thoáng xanh. Một vài tia nắng hiếm hoi bắt đầu mừng rỡ rọi xuống. Dưới mặt đất, nước mưa vẫn còn róc rách, lăn. tăn, luồn lỏi chảy thành hàng ngàn vạn dòng mỏng manh, buốt lạnh. Từ trong các bụi rậm xa gần, những chú chồn, những con dũi với bộ lông ướt mềm, vừa mừng rỡ, vừa lo lắng, nồi tiếp nhau nhảy ra rồi biến mất. Trên các vòm lá dày ướt đẫm, những con chim Klang mạnh mẽ, dữ tợn, bắt đầu dang những đôi cánh lớn giũ nước phành phạch… Xa xa, những chỏm núi màu tím biếc cắt chéo nền trời. Một dải mây mỏng, mềm mại như một dải lụa trắng dài vô tận ôm ấp, quấn ngang các chỏm núi như quyến luyến, bịn rịn…
Đáp án đề 10 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
567
Đáp án đề 11 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Từ đồng âm Tiếng Vọng Tả cảnh nơi ở 1. Dựa vào nghĩa của các từ ngữ cho sẵn trong câu, em tìm chữ (tiếng) có nghĩa phù hợp để điền vào chỗ trống. Cụ thể như sau: a) tr / ch – Mẹ trả tiền mua cân chả cá. – Bà thường kể chuyện đời xưa, nhất là truyện cổ tích. – Gần trưa rồi mà anh ấy vẫn chưa ngủ dậy. b) d / gi – Nó giấu rất kĩ, không để lại dấu vết gì. – Đồng hồ đã được lên dây mà kim giây vẫn không hoạt động. – Ông tớ mua một đôi giày da và một ít đồ gia dụng. 2. a) Từng câu này có thể được viết lại cho rõ như sau: – Vôi của tôi thì tôi tự tôi lấy. – Trứng của bác thì bác tự bác (chế biến) lấy. b) Tương ứng với mỗi từ trong các từ đồng âm ta có thể có một cách hiểu. Cụ thể: – Câu 1: Có 2 cách hiểu: + Mời các anh chị ngồi vào bàn để ăn cơm. + Mời các anh chị ngồi vào để bàn tiếp việc ấy. – Câu 2: Có 2 cách hiểu: + Đem cá về cất trong nhà kho. + Đem cá về kho lên làm thức ăn. 3. Tham khảo: Đoạn thơ cho thấy những hình ảnh đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí tác giả: tiếng đập cánh của con chim sẻ nhỏ như cầu mong sự giúp đỡ trong đêm cơn bão về gần sáng ; những quả trứng trong tổ không có chim mẹ ấp ủ sẽ mãi mãi không nở thành chim non được. Những hình ảnh đó đã làm nên tiếng vọng “khủng khiếp” trong giấc ngủ và trở thành nỗi băn khoăn, day dứt khôn nguôi trong tâm hồn tác giả. 1. Xác định yêu cầu: Tả cảnh nơi em ở (hoặc nơi em đã đến) gắn với một mùa trong năm (xuân, hạ, thu, đông, hoặc mùa khô, mùa mưa). 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tương tự cách làm đã gợi ý ở Đề 1.) 3. Tham khảo (một số đoạn văn tả cảnh gắn với một mùa nhất định) ; * Mùa thu ở đóng quê Trời như một chiếc dù xanh bay mãi lên cao. Các hồ nước quanh làng như mỗi lúc một sâu hơn. Nó không còn là hồ nước nữa, nó là cái giếng không đáy, ta có thể nhìn thấy bầu trời bên kia trái đất. Cò trắng đứng co chân trên bờ ruộng, đầu ngẩng lên nhìn chốn xa xăm, mơ màng nỗi nhớ cố hương. Còn những con nhạn bay thành đàn trên trời cao, như một đám mây trắng mỏng lướt qua thôn làng, gieo xuống những tiếng kêu mát lành, trong veo sương sớm, khiến tim tôi vang lên dịu dàng những câu thơ không nhớ thuộc tự bao giờ: Trước sân ai tha thẩn Đăm đăm trông nhạn về Mây trời còn phiêu dạt Lang thang trên đồi quê… Trẻ con lùa bò ra bãi đê. Con đê vàng rực lên màu vàng tươi của đàn bò đủng đỉnh bước. Ngỡ đấy là một con đê vàng đang uốn lượn. Cánh đồng lúa xanh mướt, dập dờn trong gió nhẹ, chúng đuổi nhau mãi, đuổi nhau mãi từ ven làng đến tít tắp chân đê. Trong làng, mùi ổi chín quyến rủ. Những buồng chuối trứng cuốc vàng lốm đốm. Và đâu đó thoảng hương cốm mới. Hương cốm nhắc người ta nhớ những mùa thu đã qua… (Nguyễn Trọng Tạo) * Mùa mưa ở miền Nam Đang mùa mưa. Mưa rả rích suốt ngày. Trời lúc nào củng mọng nước. Lúa chín rủ xuống. Bông lúa ướt nhép vàng sậm. Cứ đà này, mấy ngày nữa không gặt kịp, lúa gục xuống nước hết. Trời xám. Đường xám màu bùn, nhầy nhụa. Dấu chân người bước nhoè nhoẹt. Vũng nước đọng màu xám ngắt. Vài hạt lúa rơi trên đường chưa kịp lẫn vào sình, vàng chói. Trên thân cây dừa đầu ngã ba bóng nhẫy vì nước mưa, tấm khẩu hiệu bằng giấy sủng nước. Những dòng chữ kẻ bằng mực xanh vẫn rõ ràng từng nét, tựa như nó được khắc hẳn vào thân cây. Tiếng vịt ăn ở mảnh ruộng mới gặt xong nghe rào rào, làm ta ngỡ như trời mưa lớn hơn… (Hào Vũ)
Đáp án đề 11 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
724
Đáp án đề 12 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Tả cụ già từ thơm trong mùa thảo quả 1.Nghĩa gốc là nghĩa đầu tiên của từ. Nghĩa chuyển được hình thành từ nghĩa gốc. Muôn tìm được nghĩa gốc và nghĩa chuyển, em đọc kĩ từng câu, chú ý nghĩa của từ in đậm. Cụ thể như sau: a) Sườn: Trong câu: “Nó hích vào sườn tôi”, từ sườn mang nghĩa gốc. Trong các câu còn lại, từ này mang nghĩa chuyển. b) Tai:Trong câu: “Đó là điều tôi mắt thấy tai nghe”, từ tai mang nghĩa gốc. Trong các câu còn lại, từ này mang nghĩa chuyển. 2. Dựa vào câu mẫu cho sẵn, em đặt tiếp các câu còn lại, ứng với từng nghĩa của từ chạy. VD: – Gia đình bác ấy chạy ăn từng bữa. (Nghĩa b: Tìm kiếm) – Hôm bọn giặc ở trên đồn đánh xuống, cả làng tôi dáo dát chạy. (Nghĩa c: Trốn tránh) – Đồng hồ này chạy chậm 2 phút. (Nghĩa d: Vận hành, hoạt động) – Mưa ào xuống, không kịp chạy các thứ phơi ở sân. (Nghĩa e: Vận chuyển) 3. Tham khảo: Tác giả đã lặp lại liên tiếp 3 lần từ thơm (điệp từ), dùng các từ thơm nồng, thơm đậm để nhấn mạnh hương thơm của thảo quả chín. Câu đầu đoạn văn tuy dài nhưng được ngắt thành nhiều cụm từ diên tả cơn gió mang hương thơm của thảo quả chín trong rừng bay đi xa rộng. Ba câu ngắn tiếp theo càng khẳng định hương thơm của thảo quả chín như lan toả, thấm đượm vào khắp cả thiên nhiên đất tròi. Hương thảo quả chín còn ủ ấp trong từng nếp áo, nếp khăn của người đi từ rừng về, thơm mãi với thòi gian. 1. Xác định yêu cầu: Tả một cụ già mà em yêu quý và kính trọng. Chú ý: Có thể chọn tả ông – bà (nội, ngoại) trong gia đình hoặc một cụ già em từng quen biết, yêu quý và kính trọng, cần nêu được những nét nổi bật về cả ngoại hình, tính tình và hoạt động của người được tả. 2. Tìm ý, lập dàn bài: a) Mở bài (giới thiệu người định tả) – Cụ già đó là ai? Quan hệ vổi em thế nào?… – Hoặc: Hoàn cảnh, lí do em gặp và quen biết cụ già đáng kính mà em sẽ tả,… b) Thân bài (tả từng phần hoặc kết hợp) – Ngoại hình: Tầm vóc, cách ăn mặc, khuôn mặt, mái tóc, cặp mắt, hàm răng, nụ cười,… có đặc điểm gì nổi bật? – Tính tình, hoạt động: Lòi nói, cử chỉ, thói quen hằng ngày (VD: ăn, ngủ, nghỉ ngơi, làm việc,…), cách cư xử với người khác,… có đặc điểm gì làm em yêu quý, kính trọng? c) Kết bài (nêu cảm nghĩ về người được tả) – Vì sao em yêu quý và kính trọng cụ già? – Hoặc: Cụ đã đem đến cho em những tình cảm gì đẹp đẽ, đáng quý trọng? Em biểu lộ tình cảm của mình với cụ ra sao?… 3. Tham khảo (bài văn kết hợp tả ngoại hình với tính nết và sự hoạt động) ; – Bà ơi! Bà để cháu làm cho, bà vào nhà nghỉ đi kẻo mệt! Nghe tiếng gọi quen thuộc của tôi, bà ngẩng đầu lên, thong thả bảo: “ừ, cháu giúp bà một tay, bà cháu ta cùng làm cho gọn”. Bà nhìn tôi, đôi mắt nheo nheo vì chói nắng, cặp lông mày rậm, lốm đốm bạc của bà nhíu lại. Vừa nói bà vừa cười vui, để lộ hàm răng đen khấp khểnh. Dáng người nhỏ nhắn của bà đang lom khom tưới rau, bắt sâu. Bà tôi ngoài bảy mươi tuổi rồi. Tóc trên đầu đã bạc phơ. Bà trùm một chiếc khăn vuông bạc màu che kín đầu, chỉ còn chìa ra đôi tai to và dày như tai Phật. Bà mặc bộ quần áo vải thô, rộng thùng thình so với thân hình gầy guộc của bà. Hai má bà đã hóp, thái dương hơi nhô, tay chân có chỗ bắt đầu xương xẩu, nổi gân xanh. Bà đi đôi dép cao su đen đã mòn. Tuy lưng hơi còng, chân di chậm hơn trước nhưng bà vẫn ham việc, chẳng mấy lúc ngồi không. Từ sáng sớm, bà tôi đã dậy cho lợn gà ăn và thổi cơm, đun nước. Nhìn dáng nhỏ bé của bà làm lụng vất vả sớm hôm, tôi thương bà vô cùng. Bố mẹ tôi bận việc suốt ngày ngoài đồng và ở trụ sở, trừ những công việc nặng như bổ củi, gánh nước,… bao nhiêu việc nhà, việc vườn, bà tôi đều cáng đáng. Cho nên, ngoài giờ học, tôi tranh thủ làm bất cứ việc gì để bà đỡ mệt. Bà thường khuyên tôi nhiều điều hay lẽ phải, nhắc nhở tôi học chăm, học giỏi. Mỗi lúc hình dung ra dáng người thân thương của bà, đôi mắt hiền từ, nước da màu hạt dẻ nhăn nheo,… tôi tự nhủ thầm: “Hãy làm những điều tốt để bà vui lòng! (Theo Đặng Phương Anh)
Đáp án đề 12 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
855
Đáp án đề 13 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Tả cô giáo Hình ảnh Mặt trời xanh của tôi 1. Trước hết, em xác định nghĩa của từ in đậm trong từng câu. Sau đó, phân các nghĩa tìm được thành hai loại nghĩa gốc và nghĩa chuyển. Cụ thể như sau: a) – Trong hai câu: Lá bàng đang đỏ ngọn cây và Lá khoai anh ngỡ lá sen, từ lá chỉ: “Bộ phận của cây, mọc ở cành, thân ; có hình dẹt, màu lục”. Nghĩa này là nghĩa gốc. – Trong hai câu còn lại: Lá cờ căng lên vì ngược gió và cầm lá thư này…, từ lá chỉ: “Những vật có hình tấm, mảnh, nhẹ như hình cái lá”. Nghĩa này là nghĩa chuyển. b) – Trong hai câu: Quả dừa… và Quả cau nho nhỏ…, từ quả chỉ: “Bộ phận của câu do bầu nhuỵ hoa phát triển mà thành, bên trong chứa hạt”. Đây là nghĩa gốc. – Các câu còn lại: … quả bóng; Quả đất… ; … quả tim…, từ quả chỉ: “Những vật có hình giống như quả cây”. Đây là nghĩa chuyển. (Lưu ý: Riêng ở trường hợp Quả hồng…,,từ. quả mang nghĩa gốc.) 2. Từ có thể thay thế từ mũị: – Mũi thuyền: đầu thuyền – Mũi súng: đầu súng – Mũi đất: mỏm đất – Mũi quân bên trái…: đơn vị quân đội bên trái… – Tiêm ba mũi: tiêm ba lượt. 3. Tham khảo: Khổ thơ bộc lộ tình cảm thiết tha yêu quý của tác giả đối với rừng cọ của quê hương. Tác giả trò chuyện với rừng cọ như trò chuyện với người thân (“Rừng cọ ơi! Rừng cọ!”), tả những chiếc lá cọ vừa đẹp vừa ngời ngời sức sống. Hình ảnh “Mặt trời xanh của tôi” ở dòng thơ cuối không chỉ nói lên sự liên tưởng, so sánh chính xác của tác giả (lá cọ xoè những cánh nhỏ dài trông xa như “mặt trồi” đang toả chiếu những “tia nắng xanh”) mà còn bộc lộ rõ tình cảm yêu mến và tự hào của tác giả về rừng cọ của quê hương. 4. 1. Xác định yêu cầu: Tả cô giáo(thầy giáo) đã dạy em trong những năm học trước (lớp 1, 2, 3, 4). 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tương tự cách làm đã gợi ý ở Đề 12 – Chú ý những đặc điểm về tuổi tác của cô giáo/thầy giáo.) 3. Tham khảo: * Tả ngoại hình của cô giáo Cô có vóc người mảnh mai, nhỏ nhắn. Không biết cô bao nhiêu tuổi nhưng em đoán cô cũng cùng độ tuổi má em. Mái tóc cô dài, buông xoã sau lưng. Màu da cô ngầm ngầm, khoẻ mạnh. Mỗi ngày đến trường, cô thường ăn mặc giản dị với màu áo trắng, quần đen. Dáng cô di nhẹ nhàng, mềm mại. Khuôn mặt cô trông lúc nào củng tươi tắn, rất dễ mến. Đôi mắt to, đen láy và cái miệng nhỏ nhưng hay cười. Giọng nói lúc cô giảng bài nghe ấm áp, thu hút học sinh. * Tả tính tình và hoạt động của cô giáo Những ngày đầu đến lớp, em là học sinh lớp một bé nhất. Cô dắt em vào chỗ ngồi và mỉm cười động viên em. Giờ tập viết, cô thường đến cầm tay giúp em viết từng nét chữ trên trang giấy mới. Bạn nào đọc còn ngọng, cô đọc đi đọc lại để các bạn bắt chước đọc cho đúng. Chẳng bao giờ cô gắt gỏng với chúng em. Hết giờ học, cô thường đưa chúng em qua hẳn bên kia đường rồi mới quay về nhà. Em nhớ một lần trời mưa to, tan học đã lâu mà mẹ em chưa đến đón, cô Loan đội áo mưa, xắn quần quá đầu gối, cõng em về tận nhà… (Thực hành Tập làm văn 5, 2003)
Đáp án đề 13 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
644
Đáp án đề 14 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Chức năng ngữ pháp Tả người bạn thân của em 1. Muốn xác định được chức năng ngữ pháp của từ tôi, em phân tích cấu tạo ngữ pháp của từng câu. Trên cơ sở đó, xác định chức năng ngữ pháp của đại từ tôi trong từng câu. Cụ thể: a) – Trong câu: “Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại”, từ tôi làm chủ ngữ. – Trong câu: “Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi”, tôi làm định ngữ. b) Trong câu: “Đây là quyển sách của tôi “, tôi làm định ngữ. c) Trong câu: “Cả nhà rất yêu quý tôi “, tôi làm bổ ngữ. d) Trong câu: “Người về đích sớm nhất… là tôi “, tôi là vị ngữ. 2. Các đại từ trong câu này: – Đại từ xưng hô: tôi. – Đại từ phiếm chỉ: gì (chỉ sự việc), đâu (chỉ không gian), bao giờ (chỉ thời gian). 3. Tham khảo: Qua hai dòng thơ, ta thấy công việc của bầy ong có ý nghĩa thật đẹp đẽ: Bầy ong rong ruổi khắp nơi để tìm hoa, hút nhuỵ, mang về làm thành những giọt mật thơm ngon. Những giọt mật ong được làm nên bỏi sự kết tinh từ hương thơm, vị ngọt của những bông hoa. Do vậy, khi thưởng thức mật ong, dù hoa đã tàn phai theo thời gian nhưng con người vẫn cảm thấy những mùa hoa được “giữ lại” trong hương thơm vị ngọt của mật ong. Có thể nói: bầy ong đã giữ gìn được vẻ đẹp của thiên nhiên để ban tặng cho con ngưòi, làm cho cuộc sống của con người thêm hạnh phúc. 4. 1. Xác định yêu cầu: Tả một người bạn mà em thấy gần gũi, thân thiết và quý mến. (Cần miêu tả đầy đủ cả ngoại hình, tình tình và hoạt động của ngưòi bạn em đã chọn.) 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tương tự cách làm đã gợi ý ở Đề 12 – Chú ý những đặc điểm về lứa tuổi của người bạn.) 3. Tham khảo: * Tả ngoại hình của người bạn Phương Bình năm nay vừa tròn 10 tuổi. Vóc người cân đối, khoẻ mạnh. Dáng đi nhanh nhẹn. Mái tóc cắt ngắn gọn gàng. Bạn có khuôn mặt chữ điền, sống mũi thẳng và cao. Đôi mắt đen, sáng, lộ rõ vẻ thông minh. Bạn hay mặc áo sơ mi trắng, quần xanh, tuy đã củ nhưng rất sạch sẽ. Chiếc khăn quàng đỏ xinh xinh nổi bật trên nền áo. Nhìn dáng đi nhanh nhẹn, hoạt bát và nụ cười tươi của bạn, em luôn cảm thấy gần gũi và yêu mến. (Theo Võ Anh Khoa) * Tả tính tình và hoạt động của người bạn Sinh luôn cởi mở, chan hoà, gần gũi với mọi người. Bạn hát chưa hay, múa chưa đẹp nhưng không ngần ngại tham gia múa hát cùng chúng em. Trong lớp, Sinh thường hay giúp đỡ bạn bè. Có lần em bị ốm phải nghỉ học, Sinh rủ bạn đến thăm, chép hộ bài và trò chuyện để em vui. Bạn Hường, bạn Hoa một dạo hay cãi nhau, Sinh khéo léo dàn hoà đê hai bạn lại đoàn kết vui vẻ. Đám bạn trai tinh nghịch, bướng bỉnh là thế mà củng phải nể tính nghiêm khắc nhưng hết lòng vì bạn bè của Sinh. Chăm làm, chăm học, Sinh luôn là con ngoan, trò giỏi. Bạn thường được cô giáo khen ngợi, nêu gương tốt để cả lớp học tập và noi theo. (Theo Mai Trung)
Đáp án đề 14 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
597
Đáp án đề 15 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án Tả một em bé đang tuổi mần non 1. Em đọc kĩ đoạn trích, chú ý tìm đại từ trong các câu đốì thoại. Cụ thể, đó là các đại từ: cậu (danh từ được dùng như đại từ, thay thế cho “người bạn bị nạn”) ; nó (đại từ, thay thế “con gấu”) ; tớ (đại từ, chỉ “người bạn bị nạn”). 2. Em đọc kĩ các câu cho sẵn, tìm đại từ thích hợp thay thế cho từng từ in đậm. VD: – Câu “Là một con chuột tham lam nên chuột ăn nhiều…”, có thể thay từ chuột thứ hai bằng đại từ nó. – “… bụng chuột phình lên”: chuột thay bằng nó. – “… đến mức chuột không sao lách qua…”: chuột thay bằng nó (hoặc hắn) 3. Tham khảo: Đoạn thơ cho thấy những điều đẹp đẽ ở cô bé đáng yêu: âm thầm, lặng lẽ làm nhiều công việc đỡ đần cho cha mẹ, học hành giỏi giang, cư xử tốt với mọi người (tính nết tốt). Cô bé xứng đáng là cô Tấm trong gia đình, là con ngoan của cha mẹ, luôn đem đến niềm vui, hạnh phúc cho mọi người. 4. 1. Xác định yêu cầu: Tả một em bé đang tuổi tập đi, tập nói (khoảng 9 tháng đến 2 tuổi) hoặc em bé ở lứa tuổi mầm non (từ 3 đến 5 tuổi). Chú ý: Cần nêu được những nét nổi bật về cả ngoại hình, tính tình và hoạt động của em bé (gắn với đặc điểm lứa tuổi cụ thể). a) Mở bài (giới thiệu em bé định tả) – Em bé đó tên gì, ở đâu? Quạn hệ với em thế nào?… – Hoặc: Hoàn cảnh, lí do em gặp và quen biết em bé,… b) Thân bài (tả từng phần hoặc kết hợp) – Ngoại hình (Tả những nét nổi bật mà em quan sát được): Tầm vóc (mập mạp hay thon nhỏ, mảnh mai, nhỏ nhắn,…). Da dẻ (trắng trẻo hay hồng hào, nâu nhạt,… mịn màng hay hơi thô ráp,…). Khuôn mặt (bầu bĩnh, tròn trịa hay trái xoan,…). Cặp mắt (long lanh, mở to hay nhìn chăm chăm không chớp;…). Đôi má (phúng phính hay bầu bĩnh, bụ bẫm, như căng sữa,…). Cặp môi (đỏ mọng hoặc tươi hồng, chúm chím,…). Cách ăn mặc, hàm răng, mái tóc,… có đặc điểm gì nổi bật? – Tính tình, hoạt động: Khi em bé tập đi, dáng điệu, cử chỉ, động tác có gì đáng yêu? Khi em bé tập nói, có những biểu hiện gì tỏ ra hồn nhiên, ngộ nghĩnh? (Em nói gì, nói thế nào, giọng điệu ra sao?…) Khi ‘tiếp xúc với em hoặc người lớn hơn (anh, chị, bô”, mẹ, ông, bà, ngươi quen, người lạ,.:.) embé có biểu hiện gì về nét mặt, cử chỉ, thái độ, hành động? Ở một vài hoạt động khác (VD: đòi ăn, đòi chơi, chào hỏi, múa hát,…), em bé có những nét gì nổi bật?… Chú ý: Nếu em bé ở lứa tuổi mầm non, cần nêu những đặc điểm về ngoại hình, tính tình và hoạt động nêu trên gắn với kết quả quan sát cụ thể (VD: Em bé thường thích nói nhiều hay ít nói, nói về những điều gì ; thích chơi những trò chơi nào, chơi một mình hay chơi với ai, chơi như thế nào?…) 3. Tham khảo: * Tả ngoại hình của em bé Bé Cúc Phương có thân hình nhỏ nhắrt, bụ bẫm rất dễ thương. Bé thích mặc áo đầm. Làn da bé trắng hồng, nõn nà, để lộ những mạch máu nhỏ li ti trên khuôn mặt. Nhìn bé, ai cũng muốn ôm bé vào lòng mà hôn lên đôi má phúng phình như còn thơm mùi sữa mẹ. Đầu bé Cúc Phương hơi thon nhỏ như trái dừa xiêm, tóc đen và xoắn tròn. Đôi mắt to đen, tròn như hai hột nhãn. Mũi bé hơi cao, cái miệng chúm chím sao mà dễ thương. Đôi môi lúc nào cũng đỏ như thoa son. Bàn tay, bàn chân của bé mũm mĩm với những ngón nhỏ xinh. Lúc bế bé Phương, em rất thích nắm bàn tay của bé rồi vỗ vỗ vào má của mình. (Theo Nguyễn Văn Nhân) * Tả ngoại hình, tính tình và hoạt động của em bé Trông cháu thật là xinh. Tóc tơ đen nhánh, khuôn mặt tròn và hồng hào. Đôi mắt đen láy. Cái mũi xinh và cái miệng nho nhỏ có đôi môi đỏ chót. Mỗi khi cười, cháu lại phô ra sáu chiếc răng trắng nõn trông thật ngộ. Đôi chân bụ bẫm đang lon xon tập đi nhanh. Có lúc, vội lao về phía trước, cháu bước loạng choạng, hai tay chới với. Khi mẹ đưa tay ra đón, cháu sà vào lòng mẹ, cười khanh khách. Thanh Trà lúc nào củng vui và bi bô luôn miệng nhưng chỉ mới bập bẹ được mấy tiếng “ông, bà, bố, mẹ, mầm…”. Cháu thường làm theo lời người lớn dạy. Ai bảo cháu chào, cháu chìa bàn tay đưa lên ngang tai. Bảo cháu hoan hô, cháu vỗ tay đen đét. Bảo cháu vẫy vẫy thì cháu giơ cánh tay, dùng bàn tay nhỏ xíu vẫy theo. Khi muốn đi chơi, cháu chỉ vào chiếc mủ của cháu treo trên tường và hét ”i…i…i…”. Được bế đi chơi, cháu thích lắm, nhảy cẫng lên sung sướng, mắt sáng lên và vỗ tay rối rít… (Theo Vũ Thanh Quang)
Đáp án đề 15 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
917
Đáp án đề 16 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án Tả một người công nhân đang làm việc 1. Đọc đoạn thơ, tìm đại từ xưng hô trong lời nói của bà má. Đó là các đại từ: tụi bay, tao, tao, tao, bay, tao. Các đại từ này góp phần biểu thị sự phẫn nộ căm hòn, sự khinh bỉ của bà má yêu nước đốĩ với kẻ thù. 2. Trước hết, em đọc đoạn trích, chú ý tìm đại từ trong lời nói của các nhân vật (lòi đối thoại). Sau đó, đốì với từng đại từ tìm được, em xác định ngôi, sô’của đại từ ấy. Cụ thể, trong đoạn trích có các đại từ sau: – tôi (Thượng đế gửi lộc cho tôi đây): ngôi thứ nhất, số ít. – chúng ta (Chúng ta cùng hưởng chứ?): ngôi thứ nhất, sô” nhiều. – chúng ta, tôi (Chúng ta đâu có cùng thấy, một mình tôi nhặt lên thôi). – bác, chúng ta (Bác ơi,… chúng ta khốn mất): bác là danh từ được sử dụng như đại từ, ngôi thứ hai, số ít. – anh, chúng ta (Của bắt được là của anh, chứ đâu phải của chúng ta…): anh là danh từ được sử dụng như đại từ, ngôi thứ hai,số ít. 3. Tham khảo: Đoạn thơ cho thấy những nét đẹp trong cuộc sống của Bác Hồ kính yêu. Đó là cuộc sông gần gũi với tất cả mọi người như trời đất của ta, cuộc sông tràn đầy tình yêu thương đến từng ngọn lúa, mỗi cành hoa. Cảm động nhất là cuộc sống của Bác luôn vì hạnh phúc của con người. Bác hi sinh cả đời mình vì cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho mỗi đời nô lệ, vì niềm vui và hạnh phúc cho tất cả mọi người (“Sữa để em thơ, lụa tặng già”). 1. Xác định yêu cầu: Tả một người công nhân (hoặc nông dân, thợ thủ công, bác sĩ, y tá,..) đang làm việc. Chú ý: Tả rõ những hoạt động của người đang làm việc (thể hiện sự say sưa và tinh thần trách nhiệm) nhưng cũng cần nêu được vài nét nổi bật về ngoại hình và tình tình của người đó. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tương tự cách làm đã gợi ý ở Đề 12, Đề 15 – Chú ý những đặc điểm về hoạt động của người đang làm một công việc cụ thể mà em chọn tả.) 3. Tham khảo: * Tả người công nhân đang xây nhà Đầu tiên, anh dùng dao xây xúc một ít vữa phủ đều lên hàng gạch trên cùng của bức tường. Sau đó, anh lấy tay trái nhặt một viên gạch đặt ngay ngắn lên chỗ vừa mới rải. Rồi một tay anh giữ viên gạch, tay kia dùng dao xây gõ nhẹ vào nó. Cuối cùng, anh đưa dao gạt những chỗ vữa thừa nhô ra ở các viên gạch. Ngoảnh đi ngoảnh lại, anh đã xây hết một hàng gạch. Chuyển sang hàng khác, anh đặt viên gạch đầu tiên so le với viên ở hàng dưới. Anh chém ngang một viên gạch thành hai mảnh để chêm vừa kín chỗ so le ở hàng đầu. Đôi tay anh liên tục hoạt động một cách nhịp nhàng, thoải mái. Thỉnh thoảng, anh rút trong túi ra chiếc dây dọi để kiểm tra độ thẳng của bức tường đang xây. Tay cầm đầu dây ngang tầm mắt, anh nheo mắt nhìn và mỉm cười, hài lòng với kết quả việc mình làm,… (Theo Vũ Đại Hải) * Tả cô y tá đang tiêm thuốc Trên bàn tiêm thuốc của cô đã có sẵn chiếc xoong con luộc xơ-ranh và kim tiêm đặt trên bếp điện. Cô mở xoong, hơi nước bốc lên nghi ngút. Mấy ngón tay mảnh mai của cô kẹp chiếc “panh” sáng loáng, thận trọng gắp xơ-ranh rồi lắp kim tiêm, bơm cho thoát hết nước bên trong. Sau đó, cô lấy thuốc vào xơ-ranh, tay trái cầm cái “panh” cặp bông tẩm cồn xoa nhẹ lên đoạn bắp tay gần vai bà. Cô tiêm rất chậm để bà em đỡ đau. Một lát sau, khi hết thuốc, cô lại đặt mảnh bông cồn lên chỗ vừa tiêm rồi rút nhanh kim tiêm. Cô còn day nhẹ mảnh bông cồn trên vết mũi kim tiêm và hỏi ân cần: “Bà có đau lắm không ạ?” Bà em cười móm mém, nói: “Chỉ như con kiến nó đốt thôi cháu ạ! Cháu tiêm cho bà khéo lắm!” Hai lúm đồng tiền lại hiện lên trên đôi má ửng hồng của cô y tá, trông rất xinh. (Theo Thu Thủy) * Tả người thợ chạm khắc tượng gỗ Dưới mái che bằng bạt, chú út đang say mê chạm khắc bức tượng em bé cưỡi trâu thổi sáo. Ba em kể rằng ngay từ nhỏ, chú đã tỏ ra rất có năng khiếu nên ông nội đã truyền nghề cho chú. Hai cha con em thực sự bị cuốn hút vào công việc tỉ mỉ, khó khăn nhưng đầy thú vị. Bức tượng đang được tạc dở dang. Chú út một tay cầm đục, một tay cầm chiếc dùi đục bằng gỗ, thận trọng gõ từng nhát một. Những miếng dăm gỗ nhỏ rơi lả tả xuống đất. Chỉ một lát sau, hình thù cậu bé và con trâu đã hiện ra nhưng còn xù xì, đơn giản. Chú út lấy một con dao nhỏ thật sắc, gọt tỉa từng đường cong mềm mại. Mỗi động tác của chú đều toát lên sự cần mẫn, tài hoa lạ lùng. (Thực hành Tập làm văn 5, 2003)
Đáp án đề 16 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
942
Đáp án đề 17 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án đề 17 học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. Đọc kĩ các câu cho sẵn, chú ý các từ biểu thị các mối quan hệ giữa các từ, cụm từ trong câu. Đó là các quan hệ từ. – Ở câu thứ nhất, có các quan hệ từ sau: bằng (biểu thị ý nghĩa phương thức, phương tiện), và (biểu thị quan hệ ngang hàng, bình đẳng), hay (biểu thị quan hệ lựa chọn). – Ở câu thứ hai, có cặp quan hệ từ: nếu… thì…: biểu thị quan hệ giả thiết – kết quả. 2. Ở từng chỗ trông, em lần lượt thử điền từng quan hệ từ cho sẵn. Nếu tạo ra câu có nội dung thích hợp thì điền được. Các quan hệ từ cần điền như sau: a) của / của b) hoặc c) mà d) với 3. Tham khảo: Hai câu ca dao đã giúp ta hiểu được ý nghĩa đẹp đẽ của lao động trong cuộc sống của con người. Câu ca dao thứ nhất khuyên người nông dân hãy chăm chỉ cày cấy, trồng trọt, đừng bỏ ruộng hoang. Bởi vì, mỗi tấc đất có giá trị cao quý như tấc vàng (“Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu“). Câu ca dao thứ hai cũng là lời nhắn gửi người nông dân hãy cần cù lao động. Bởi vì, công việc đi cấy đi cày hôm nay tuy vất vả, khó nhọc nhưng sẽ đem lại cuộc sống no đủ, sung túc cho ngày mai (“Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu“). 1. Xác định yêu cầu: Tả một người trong gia đình (bố, mẹ, anh, chị,…) vừa trở về nhà sau chuyến đi xa. Chú ý: Tả rõ những nét nổi bật về ngoại hình và hoạt động của người thân (vừa trở về sau chuyến đi xa) đồng thời bộc lộ được tính tình của ngưòi đó qua thái độ và cách cư xử với mọi người lúc gặp gỡ. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tương tự oách làm đã gợi ý ở Đề 12, Đề 15 – Chú ý thái độ và cách cư xử của ngưòi thân lúc trở về gia đình.) 3. Tham khảo: * Tả người mẹ đi xa mới về nhà Bé Hương sà tới, ôm chân mẹ, tíu tít hỏi: “Mẹ có mua qua cho con không? Mẹ có nhớ con không?” Mẹ buông mấy giỏ đồ xuống đất, bế bé lên, hôn khắp mặt, khắp đầu bé rồi âu yếm bảo: “Ôi! Mẹ nhớ các con lắm! Các con ở nhà có ngoan không? Mẹ mua quà cho các con đây!” Em mừng quá, cứ đứng ngây ra nhìn gương mặt rám hồng tràn đầy niềm vui của mẹ. Mấy sợi tóc rủ xuống vầng trán lấm tâm mồ hôi. Bộ quần áo phủ đầy bụi đỏ cao nguyên sau cuộc hành trình mấy trăm cây số. (Thực hành Tập làm văn 5, 2003) * Tả người anh đi bộ đội về thăm nhà Anh hiện ra trước mắt em trong bộ quân phục màu xanh rêu. Hai bên ve cổ áo nổi bật quân hàm nền đỏ thắm có hai ngôi sao nhỏ và hình hai khẩu pháo đan chéo nhau. Anh đội chiếc mũ cối đính quân hiệu tròn đỏ, ờ giữa có ngôi sao vàng trông thật oai. So với khi còn ở nhà, anh khoẻ ra nhiều. Dáng người vạm vỡ, bộ ngực nở nang cân đối, tay chân rắn chắc. Anh đi đôi giày vải bạt màu cỏ úa có dây buộc chặt. Đặt chiếc ba lô to bè trên lưng xuống tấm phản, anh ngồi trò chuyện với bố mẹ và em. Nhìn gần, em thấy nước da anh màu bánh mật như đượm cả nắng gió thao trường vùng ven biển, nơi anh đóng quân. Bàn tay anh có phần thô ráp và chai cứng nhưng đôi mắt thì sáng long lanh hơn xưa. Giọng nói trầm ấm của anh đưa cả nhà đến với bao chuyện vui và mới lạ trong giờ gặp mặt,… (Theo Vũ Đình Vinh)
Đáp án đề 17 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
679
Đáp án đề 18 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án đề Tả một người bạn đang kể chuyện 1. Muốn tìm được cặp quan hệ từ thích hợp, em tìm hiểu kĩ nội dung các từ ngữ cho sẵn trong từng câu, nhất là tìm hiểu mối quan hệ về nội dung, ý nghĩa giữa hai vế trong từng câu ghép. Trên cơ sở đó, em suy nghĩ để tìm cặp quan hệ từ. Cụ thể, các cặp quan hệ từ cần tìm là: a) nếu… thì… b).. nên… c).. nhưng… d) không những… mà… 3. Em đọc kĩ từng câu cho sẵn, chú ý mốĩ quan hệ về nội dung giữa hai vế câu. Từ đó, em sẽ nhận ra quan hệ từ dùng sai trong câu, rồi tìm quan hệ từ thay thế để có câu đúng. Cụ thể: a) Từ nếu thay bằng từ vì. b) Từ nên thay bằng từ nhưng. c) Từ nhưng thay bằng từ nên. d) Từ nên thay bằng từ mà. 3. Tham khảo: Qua hình ảnh chiếc xe lu, tác giả muốn ca ngợi người công nhân làm đường cho mọi người đi lại. Những phẩm chất tốt đẹp của xe lu cũng chính là những phẩm chất đáng kính trọng ỏ người công nhân làm đưòng. Họ đã lao động với tinh thần nhiệt tình và trách nhiệm cao: san bằng con đường mới đắp, là phẳng con đường rải nhựa, mặc cho “Trời nóng như lửa thiêu” hay “Trời lạnh như ướp đá” vẫn làm việc miệt mài. Chiếc xe lu hay chính là người công nhân đã làm nên những con đường, đem niềm vui đến cho mọi ngưòi đi trên con đường đó. 1. Xác định yêu cầu: Tả một người bạn đang kể chuyện (hoặc đang hát, chơi nhạc cụ, biểu diễn trò vui, đóng vai diễn kịch,…). Chú ý: Tả rõ những nét nổi bật về hoạt động (đang kể chuyện hoặc hát, chơi nhạc cụ, biểu diễn trò vui, đóng vai diễn kịch,..) nhưng cũng cần xen kẽ vài nét tiêu biểu về ngoại hình, tính cách của người bạn khi biểu diễn ; kết hợp bộc lộ cảm xúc của bản thân trong quá trình miêu tả. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tương tự cách làm đã gợi ý ở Đề 12, Đề 15 – Chú ý về thái độ, cử chỉ, nét mặt, giọng nói, hành động của người được tả.) 3. Tham khảo: * Tả người bạn đang hát Sao Mai bước ra sân khấu với bài hát “Bụi phấn”. Chà! Trông bạn hôm nay đúng là một cô “ca sĩ nhí”. Bạn cao hẳn lên khi mặc chiếc váy hồng đài gần chấm gót. Mái tóc buông xoã làm cho bạn chững chạc hơn ngày thường. Tay bạn cầm mi-cơ-rô, chân nhún nhảy theo nhịp đàn, nhịp trống. Rồi tiếng hát trong trẻo của bạn cất lên: “Khi thầy viết bảng, bụi phấn rơi rơi,…” Giọng hát thánh thót, ngân nga làm rung động lòng người. Một không khí sôi nổi, vui tươi bao trùm khắp hội trường. Sao Mai vẫn hát say sưa, nhạc đệm lúc bổng, lúc trầm hoà theo lời hát và sự biểu lộ tình cảm của bạn. Khi bạn hát, chiếc răng khểnh lộ ra, trông thật có duyên, giống như ca sĩ Hồng Nhung. Lần hát thứ hai, bạn vừa hát vừa cầm mấy bông hoa cúi xuôhg tặng các thầy giáo, cô giáo đang ngồi dự. Cả hội trường bỗng rào lên tiếng vỗ tay hoan hô người bạn vừa hát hay vừa có cử chỉ thật là đẹp đẽ… * Tả người bạn đang kê chuyện Thảo có dáng người thon thả, mái tóc mượt mà buông chấm vai. Nước da Thảo trắng mịn, cổ mang khăn quàng đỏ nổi bật trên nền áo. Chân bạn đi tất trắng dài tới đầu gối, đôi giày vải cùng một màu trắng tinh. Bạn bước lên sân khấu với tiết mục kể chuyện “Thạch Sanh”, câu chuyện quen thuộc mà nhiều người biết đến. Ấy vậy mà khi giọng kể của Thảo cất lên, cả hội trường đều chăm chú lắng nghe và dần bị cuốn hút vào câu chuyện. Bạn kể rất truyền cảm làm cho mọi người thấy thương anh Thạch Sanh nghèo khổ, thật thà và căm ghét tên Lí Thông gian trá. Đến đoạn chàng dũng sĩ Thạch Sanh đánh Trăn Tinh, giọng bạn trở nên thật hùng hồn, sôi nổi. Cứ thế, nội dung câu chuyện được bạn diễn tả bằng cả giọng điệu lẫn nét mặt, ánh mắt và điệu bộ thật hấp dẫn… (Thực hành Tập làm văn 5, 2003)
Đáp án đề 18 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
768
Đáp án đề 19 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án đề Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 1. – Dựa vào số lượng cụm chủ – vị có quan hệ bình đẳng trong câu để chia thành câu đơn và câu ghép. Cụ thể, câu đờn có một cụm C — V ; câu ghép có từ hai cụm C – V trở lên ghép lại. – Trong các câu đã cho, câu a và câu d là câu đơn ; câu b và câu c là câu ghép. 2. – Hai câu ghép ở bài tập 1 đều là câu ghép mà trong đó, hai vế câu nối với nhau trực tiếp (không dùng từ nối), giữa hai vế câu có dấu chấm phẩy (câu b) và dấu phẩy (câu c). – Trên cơ sở đó, em tự xác định chủ ngữ, vị ngữ trong từng vế câu của mỗi câu ghép. 3. Tham khảo: Lời dạy của Bác Hồ đã giúp em hiểu được trách nhiệm của người học sinh đối với việc học tập là vô cùng to lớn. Ngay từ khi còn học tập dưới mái trường thân yêu, người học sinh cần phải cô” gắng, quyết tâm, chăm chỉ học tập và rèn luyện để trở thành người “trò giỏi, con ngoan”. Có như vậy, khi lớn lên, ta mới có thể góp phần tích cực để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, làm cho non sông Việt Nam trở nên tươi đẹp hơn, dân tộc Việt Nam được sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới. 1. Xác định yêu cầu: Tả một người bạn (hoặc người thân trong gia đình như: anh, chị, em ruột, bô”, mẹ,…) đang ngồi học (hoặc đọc báo, đọc truyện, xem tranh ảnh,…). Chú ý: Tả rõ được những nét nổi bật về ngoại hình, thái độ, cử chỉ và hoạt động của người đang ngồi học (hoặc đọc báo, đọc truyện, xem tranh ảnh,…) ; kết hợp bộc lộ cảm xúc của bản thân trong quá trình quan sát, miêu tả. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tương tự cách làm đã gợi ý ở Đề 12 và Đề 15 – Chú ý về thái độ, cử chỉ, nét mặt, giọng nói, hành động của người được tả.) 3. Tham khảo (đoạn văn tả người bạn đang ngồi học) ; Nhìn Dương ngồi học, em thấy dáng người thanh thanh của bạn hơi cúi về phía trước. Trước mặt Dương là một quyển vở mở rộng có những hàng chữ ngay ngắn. Trên đầu trang vở, nổi bật hai chữ Địa lí viết khá to, có gạch chân cẩn thận. Đôi mắt đen láy của Dương dõi theo từng chữ, từng dòng trên trang giấy. Dương không đọc to, miệng chỉ khẽ lâm nhẩm những tiếng gì nghe không rõ. Song cứ nhìn đôi mắt không chớp, em đoán chắc Dương đang tập trung suy nghĩ, khắc sâu kiến thức. Khuôn mặt trái xoan với nước da ngẫm đen của Dương được soi rõ dưới ánh đèn. Thỉnh thoảng, vầng trán ấy hơi nhăn, lộ rõ vẻ suy nghĩ. Trời nóng bức nên mấy sợi tóc loà xoà trên trán cũng đẫm mồ hôi. Chỉ đến khi học xong bài Địa lí, em mới thấy Dương đưa tay vuôí lại tóc rồi mở sách Toán ra để làm bài,… (Theo Trần Sô Bi)
Đáp án đề 19 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
564
Đáp án đề 2 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Xem thêm Đề 2 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 tại đây Đáp án đề 2 Học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. Dựa vào nội dung của câu có chỗ trống ; cụ thể, dựa vào nghĩa của từ ngữ đứng trước và sau chỗ trống, em lựa chọn từ thích hợp trong các từ cho sẵn để điền vào. Cụ thể: a) Chọn từ tặng ; b) truy tặng ; c) cho ; d) biếu ; e) ban ; g) cấp ; h) phát ; i) dâng ; k) hiến. 2. Đối với từng trường hợp, trước hết em tìm thêm các từ đồng nghĩa (dựa vào các từ mẫu cho sẵn) ; sau đó, chỉ ra nghĩa chung, nghĩa khái quát của từng nhóm. Cụ thể: a) – chọn, lựa, lựa chọn, chọn lọc, kén, kén chọn, tuyển, tuyển chọn, lọc, sàng lọc,… – Nghĩa chung: Tìm lấy cái đúng tiêu chuẩn nhất trong nhiều vật cùng loại. b) – diễn đạt, biểu đạt, biểu thị, diễn tả, bày tỏ, trình bày, giãi bày,… – Nghĩa chung: Nói rõ ý kiến của mình bằng lời hoặc bằng chữ viết. c) – đông đúc, tấp nập, nhộn nhịp, sầm uất,… – Nghĩa chung: Nhiều người hay vật ở một chỗ. 3. Gợi ý: Cần nêu rõ cảm nhận về những hình ảnh đẹp trong đoạn thơ (mênh mông biển lúa, cánh cò bay lả dập dờn, mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều), qua đó thấy được tình cảm thiết tha yêu quý và tự hào về đất nước của tác giả. Đoạn thơ bộc lộ cảm xúc dạt dào của tác giả trước những vẻ đẹp bình dị trên đất nước Việt Nam thân yêu. Hình ảnh “biển lúa” rộng mênh mông gợi cho ta niềm tự hào về sự giàu đẹp, trù phú của quê hương. Hình ảnh “Cánh cò bay lả dập dòn” gợi vẻ nên thơ, xao xuyến mọi tấm lòng. Đất nước còn mang niềm tự hào với vẻ đẹp hùng vĩ của “đỉnh Trường Sơn” cao vời vợi sớm chiều mây phủ. Đoạn thơ đã giúp ta cảm nhận được tình cảm thiết tha yêu quý và tự hào về đất nước của tác giả Nguyễn Đình Thi. 4. 1. Xác định yêu cầu: Tả một cảnh đẹp trên quê hương em hoặc nơi em đã từng đến. Chú ý: Cần chọn đúng cảnh đẹp do con ngưòi tạo ra. VD: ngôi chùa, ngọn tháp, khu đền Găng, tượng đài) tưởng niệm, cây cầu, công trình văn hoá hoặc thể thao,… cảnh đẹp đó có thể ở ngay nơi em ở hoặc nơi em đã từng đến và quan sát được. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tương tự cách làm đã gợi ý ở Đề 1.) 3. Tham khảo (một số đoạn văn tả cảnh đẹp do con người tạo nên): * Chùa Một Cột (Hà Nội) Chùa nằm trong một khu vườn rộng rãi, tốt tươi, chan hoà ánh nắng và ríu rít tiếng chim. Khu đó ở sát công viên Bách Thảo thân thuộc và quảng trường Ba Đình lịch sử. Giữa vườn là một hồ sen vuông vắn, bốn bề có hành lang và tường thấp bao quanh. Màu sen trắng, sen hồng nổi bật trên nền xanh đậm của lá xoè rộng. Lá nào lá ấy tròn vành vạnh như mặt trăng rằm. Mùa hoa nở, hương bay ngào ngạt thơm nức cả một vùng trời đất cỏ cây. Nước hồ trong veo mát rượi, sóng gợn lăn tăn, mỗi khi gió lướt qua như muốn mời em vốc nước lên tay. Giữa hồ là một trụ đá tròn với những cánh tay đòn bằng gỗ giơ chéo lên, đỡ lấy nếp chùa xinh gọn như một bông hoa. Chùa làm bằng gỗ quý màu nâu đậm, bốn mặt đều có các cửa nhỏ chạm trổ công phu. Mái chùa lượn cong như đuôi rồng uốn khúc in trên nền trời những đường cong mềm mại. Lối lên chùa xây gạch nhiều bậc, dẫn đến cửa chính ở giữa. Bên trong, trên bệ thờ, tượng Phật Bà ngồi lặng lẽ trước lư hương, màn khói hương trầm phảng phất như hư, như thực. Cả ngôi chùa với cột đá gợi dáng một đài sen soi mình trên gương nước hoặc như một cây đèn lồng lung linh rọi sáng cho một khoảng trời tĩnh mịch… * Công viên Đồng Nai Công viên thành phố em giống như một tấm thảm nhiều màu. Nổi bật trên đó là hàng dừa cao vút soi mình bên dòng nước trong xanh. Bước chân vào vườn hoa, ta thấy những lối đi trải đá nhỏ toả ra bốn phía. Dọc lối đi là những bồn hoa đủ loại: hoa cúc vàng tươi, hoa hồng đỏ thắm, hoa hướng dương vàng rực rd trong nắng. Trước mặt, những cụm cây lá đỏ được trồng thành hàng chữ: “Công viên Đồng Nai”. Gần đó, những cây kiểng được cắt xén thành hình muông thú trông thật đẹp mắt. Đây là chú nai tơ đang tròn xoe mắt nhìn khách. Kia là chị công xoè chiếc đuôi rực rd như chào khán giả trước khi biểu diễn. Giữa công viên, sừng sững hòn non bộ như thách thức gió mưa. Rải rác khắp công viên là những băng ghế đá nhiều màu, nấp dưới tán cây mát rượi, làm chỗ nghỉ chân cho những người khách dạo chơi. Nhô ra phía bờ sông là nhà thuỷ tạ, đứng trên đó có thể nhìn thấy hai chiếc cầu nhỏ ở phía xa: cầu Mới, cầu Ghềnh. Những ngày chủ nhật, du khách đến chơi công viên chụp hình kỉ niệm, các em nhỏ tung tăng đùa vui bên ba mẹ, các anh chị lớn tuổi ngồi trên ghế đá đọc sách hay trò chuyện, ngắm cảnh đẹp công viên… (Thực hành Tập làm văn 4, 2002)
Đáp án đề 2 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
991
Đáp án đề 20 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Tả một ca sĩ yêu thích từ nối dấu câu 1. Đối với từng câu ghép cho sẵn, em đọc kĩ, vạch ranh giới giữa các vế câu. Sau đó, em xem giữa các vế câu có từnối hay dấu câu. Nói cách khác, xem các vế trong từng câu ghép được nối với nhau bằng cách nào (dùng từ nối hay dấu câu). Cụ thể như sau: – Câu a: nổi trực tiếp, dùng dấu phẩy. – Câu b: dùng từ có tác dụng nối nhưng. – Câu c: dùng từ có tác dụng nối và. – Câu d: nối trực tiếp, dùng dấu chấm phẩy. 2. Em đọc từng câu, chú ý mối quan hệ về nội dung giữa hai vế câu ; rồi xác định giữa hai vế câu đó, dùng từ có tác dụng nối háy dùng dấu câu thì hợp lí. Cụ thể như sau: a) Điền dấu phẩy. b) Điền quan hệ từ nên. c) Điền quan hệ từ nhưng. d) Điền dấu phẩy. 3. Tham khảo: Niềm vui đi học của cả nhà được diễn tả qua khổ thơ thứ hai thật hồn nhiên và đáng yêu. Khi cả nhà đều đi học, đều là học trò của các thầy giáo, cô giáo thì ai cũng được chia sẻ niềm vui, nỗi buồn trong học tập. Khi có “điểm xấu” thì “buồn lây cả nhà“. Khi được “điểm mười” thì niềm vui cũng được nhân lên. Kết quả học tập tốt đã thật sự làm cho cả nhà sung sướng và hạnh phúc. 1. Xác định yêu cầu: Tả một ca sĩ (hoặc diễn viên múa, kịch, xiếc, diện ảnh,…) mà em yêu thích. Chú ý: Tả được những nét nổi bật về ngoại hình, thái độ, cử chỉ và hoạt động của ngưòi ca sĩ (diễn viên) đang biểu diễn (đóng phim) trên sân khấu (hoặc màn ảnh) ; kết hợp bộc lộ cảm xúc của bản thân trong quá trình quan sát, miêu tả. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tương tự cách làm đã gợi ý ở Đề 12, Đề 15 – Chú ý về thái độ, cử chỉ, nét mặt, giọng nói, hành động của người được tả). 3. Tham khảo: * Tả ca sĩ đang biểu diễn trên sân khấu Ca sĩ Ngọc Ánh bước lên sân khấu. Cô gọn gàng trong tà áo dài màu trắng thêu hoa mai nổi bật. Khuôn mặt trái xoan rực rõ trong ánh đèn đủ màu sắc. Nét mặt cô tươi tắn, tiếng hát cô cất lên trong vắt như dòng suối cuốn hút sự ham mê của khán giả. Nụ cười duyên dáng luôn nở trên đôi môi thắm hồng. Hàm răng trắng muốt, đều đặn như những viên ngọc xinh. Dưới hàng mi dài, đôi mắt long lanh như giọt sương mai và chứa đựng niềm hân hoan của người ca sĩ. Lúc cô hát, đôi tay và thân hình đung đưa thật nhẹ nhàng, uyển chuyển. Cô hát về biển cả, về những con tàu đang lướt sóng ra khơi. Giọng hát êm đềm của cô như dưa em bay bổng trên một vùng biển rộng bao la cùng những cánh chim hải âu chập chờn trên sóng nước,… (Theo Nguyễn Thuỳ Linh) * Tả ca sĩ đang biểu diễn trên màn ảnh nhỏ (ti vi) Em chăm chú nhìn lên màn ảnh nhỏ. Chú Trần Tiến ôm cây đàn ghi ta nhanh nhẹn bước ra sân khấu. Chú gảy đàn. Điệu nhạc quen thuộc ngân vang cùng giọng hát trầm ấm: “Ngoài kia có cô bé,…” Hay quá! Chú Trần Tiến giả bộ nhòm ngó rồi lấy ngón tay làm con mắt tròn y như trong lời hát, trông ngộ nghĩnh làm sao. Em vừa nghe vừa rung đùi, hát thầm. Giọng chú trầm hẳn xuống, hai tay đặt lên ngực, cái đầu lắc lắc vẻ hóm hỉnh: “Hạnh phúc quá đơn sơ mà tôi đâu có ngờ,…” Bỗng chú hát cao lên, mắt nheo nheo: “Trời mưa quá em ơi,…”. Rồi giọng hát lại trầm xụống, buồn bã: “Bài ca ướt mất rồi, còn đâu Chú vừa hát vừa đi lại, nhún nhảy, đôi lúc còn cầm vạt áo com lê đưa đi đưa lại rất tự nhiên. Hát đến đoạn cuối, đôi mắt chú mở to, giọng nhanh mà vui nhộn: “Là la lá, lá la la là la, la là la,…”. Bàn táy chú vuốt lên mái tóc điểm bạc và nụ cười hồn nhiên lại nở trên môi người ca sĩ tài hoa,… (Theo Nguyễn Thị Loan)
Đáp án đề 20 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
754
Đáp án đề 21 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Tả người đang bán hàng hình ảnh mẹ chiến sĩ 1. Đọc kĩ từng câu, xác định ranh giới giữa các vế câu và phương tiện nối các vế câu. Cụ thể như sau: – Câu a dùng cặp quan hệ từ: chẳng những… mà… còn… – Câu b dùng quan hệ từ nhưng để nối hai vế câu (Chú ý: Từ thì ở vế câu thứ nhất nối trạng ngữ với chủ ngữ). – Câu c dùng quan hệ từ song để nối hai vế câu (Chú ý: Cụm C – V “vua chúa vời vào cung…” chỉ là bổ ngữ trong câu). – Câu d dùng cặp quan hệ từ: vì… nên… 2. Dựa vào ra mối quan hệ về nội dung giữa hai vế trong từng câu, em có thể điền như sau: – Câu a điền từ vì. – Câu b điền từ vì. – Câu c điền cặp quan hệ từ nếu… thì… – Câu d điền cặp quan hệ từ vì… nên… 3. Tham khảo: Hình ảnh người mẹ chiến sĩ được gợi tả qua hai khổ thơ của nhà thơ Bằng Việt thật cảm động. Mẹ thương anh chiến sĩ thương binh như thương đứa con ruột thịt, chăm sóc anh một cách ân cần mà lặng lẽ. Căn nhà yên ắng vì chỉ có tiếng chân đi rất nhẹ của mẹ như giữ gìn, nâng niu giấc ngủ cho “con”. Mẹ đem đến cho “con” trái bưởi đào, canh tôm nấu khế để “con” đỡ “xót lòng, nhạt miệng“. Mẹ làm cho “con” ngọt lòng bởi hương vị của khoai nướng, ngô bung đậm đà tình quê hương, khiến cho mỗi sớm mai trong nhà vấn vương làn khói ấm. Có thể nói: hình ảnh người mẹ chiến sĩ trong bài Mẹ của nhà thơ Bằng Việt chính là hình ảnh đẹp đẽ của quê hương thân yêu. 1. Xác định yêu cầu: Tả một người đang bán hàng. Chú ý: Chọn tả một người bán hàng mà em có dịp quan sát ở địa phương hay nơi khác (bán hàng trong chợ hoặc bán hàng rong, bán hàng trong cửa hiệu, trong siêu thị,…), cần làm rõ những nét nổi bật về ngoại hình, thái độ, cử chỉ và hoạt động, qua đó cho thấy tính tình của ngưòi bán hàng ; có thể kết hợp bộc lộ cảm nghĩ của bản thân trong quá trình miêu tả. 2. Tìm ý, lập dàn bài: a) Mở bài (giới thiệu người định tả) – Em gặp ngươi bán hàng đó ở đâu? Vào lúc nào? Người đó đang bán hàng gì?… – Hoặc: Hoàn cảnh, lí do em gặp và quen biết người bán hàng mà em sẽ tả,… b) Thân bài (tả từng phần hoặc kết hợp) – Ngoại hình: Tầm vóc, cách ăn mặc, khuôn mặt, mái tóc, cặp mắt, hàm răng,… có đặc điểm gì nổi bật? – Tính tình, hoạt động: Lời nói, cử chỉ, thái độ, hành động (VD: mòi mua hàng, trả lòi khách, trò chuyện – giới thiệu mặt hàng, trao hàng cho khách, …), cách cư xử khi có tình huống xảy ra (VD: khách chê hàng, trả lại hàng, trả thừa tiền,…) có điểm gì bộc lộ tính tình của ngưòi bán hàng? c) Kết bài (nêu cảm nghĩ về người được tả) – Hình ảnh người bán hàng để lại cho em ấn tượng gì đáng nói? 3. Tham khảo: * Tả ngoại hình của người bán hàng Chị bán hàng trạc độ hai mươi tuổi. Dáng người chị khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, nước da trắng hồng, mịn màng trông rất dễ thương. Mái tóc chị uốn ngắn nom rất gọn, càng làm cho gương mặt chị tăng thêm vẻ đẹp tự nhiên. Chị mặc chiếc áo sơ mi ngắn tay màu xanh lơ giản dị, trên ngực nổi bật tấm thẻ mang dòng tên chữ đỏ: Trần Thị Hà. Chị đang bị sức nóng của khối người đông đảo làm cho khuôn mặt trở nên đỏ hồng, nhễ nhại mồ hôi. Đôi mắt đẹn tròn nấp dưới hàng lông mày đậm không ngừng hoạt động theo tay chỉ của khách hàng. Mặc dù đã mệt, chị Hà vẫn luôn tươi cười, để lộ hàm răng trắng đều như hạt bắp. Chị vui vẻ, cởi mở, liên tục trả lời khách hàng, đúng như dòng chữ treo trên cao: “Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”… (Theo Lê Hoài Thu) * Tả hoạt động của người bán hàng Chị bán hàng bận tíu tít. Người hỏi mua thứ này, người hỏi mua thứ khác. Có người chỉ hỏi giá cái cặp sách, thếp giấy. Có người chỉ xem qua cuốn vở, chiếc bảng đen rồi trả lại chứ không mua. Cùng một lúc, em thấy chị phải làm nhiều việc: miệng trả lời khách, tay lấy hàng rồi tính tiền, nhận tiền,… Có người đã trả tiền xong lại đòi đổi lấy cái khác. Chị vẫn vui vẻ chiều khách. Em nhìn thấy trán chị lấm tấm mồ hôi, lưng áo lúc chị quay vào đã ươn ướt, vậy mà chị vẫn nở nụ cười tươi trước mọi khách hàng. Đến lượt em, chị hỏi: “Em cần mua gì? Chắc đang chuẩn bị cho năm học mới phải không?” Em nhờ chị chọn cho cái cặp sách bền đẹp, ưng ý để mua. Khi em trao tiền, chị đưa cả hai tay để nhận về và còn tươi cười với em, nói vui vẻ: “Cảm ơn em nhé!” (Thực hành Tập làm văn 5, 2003)
Đáp án đề 21 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
917
Đáp án đề 22 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Kể lại kỉ niệm gắn với đồ vật yêu thích 1. Các quan hệ từ, cặp quan hệ từ được sử dụng trong từng câu là: – Câu a: Dùng cặp quan hệ từ vì… nên… – Câu b: Dùng quan hệ từ vì để nối hai vế câu. – Câu c: Dùng cặp quan hệ từ nếu… thì… – Câu d: Dùng cặp quan hệ từ không những… mà… Trên cơ sở đó, em xác định các vế câu trong từng câu ghép. 2. – Nghĩa a thích hợp với quan hệ từ nhờ. – Nghĩa b thích hợp với quan hệ từ – Nghĩa c thích hợp với quan hệ từ tại. 3. Gợi ý: – Những hình ảnh thể hiện niềm vui của xóm nhỏ khi bộ đội về: mái ấm nhà vui, tiếng hát câu cười rộn ràng xóm nhỏ, lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau, mẹ già bịn rịn áo nâu. (Niềm vui của mẹ già khi đón bộ đội về thật khó nói nên lòi, chỉ dồn nén trong lòng mà không biểu lộ ra bên ngoài.) – Các anh bộ đội được mọi người mừng rỡ đón chào như vậy vì: các anh đi chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước, sẵn sàng hi sinh thân mình để đem lại cuộc sông tự do hạnh phúc cho mọi ngưòi ; các anh là con em của nhân dân, luôn gần gũi giúp đỡ mọi người với tình cảm yêu thương đẹp đẽ,… 1. Xác định yêu cầu: Kể lại một kỉ niệm gắn với đồ vật (hoặc con vật, cây cối) mà em rất gần gũi, yêu thích. Chú ý: Viết đúng loại bài văn kê chuyện đã học ở lớp 4. Nội dung cần nêu bật một kỉ niệm của em gắn với đồ vật (VD: chiếc áo, cái cặp sách, cái bàn học, căn nhà,…) hoặc con vật (VD: chó, mèo, trâu, bò, ngựa, chim, cá,…), cây cối (VD: cây đa, cây bàng, cây mít, cây sầu riêng, cây hoa hồng,…) ; bộc lộ được tình cảm, cảm xúc của bản thân đôi với sự vật, con người liên quan đến kỉ niệm. 2. Tìm ý, lập dàn bài: a) Mở bài (Mở đầu – giới thiệu hoàn cảnh, nhân vật, sự việc trước khi xảy ra câu chuyện – theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp) – Câu chuyện xảy ra ở đâu? Vào lúc nào? Liên quan đến ngươi, sự vật nào?… – Hoặc: Câu chuyện xảy ra trong hoàn cảnh nào? Sự việc chuẩn bị cho câu chuyện bắt đầu là gì?… b)Thân bài (Diễn biến – kể lại diễn biến của câu chuyện từ lúc mở đầu đến khi kết thúc). – Sự việc mở đầu câu chuyện là gì? – Những sự việc tiếp theo diễn ra lần lượt ra sao? (Kể rõ quá trình diễn ra kỉ niệm gắn với đồ vật hay con vật, cây cối cụ thể – chú ý những nét tiêu biểu.) c) Kết bài (Kết thúc -nêu cảm nghĩ về câu chuyện đã kể – theo cách mở rộng hoặc không mở rộng) – Kỉ niệm đó làm thay đổi điều gì trong cuộc sống của em – Hoặc: Kỉ niệm diễn ra đã để lại cho em ấn tượng gì sâu sắc? 3. Tham khảo: * Kỉ niệm vê người bô (gắn với chiếc áo) Năm ấy, tôi sáu tuổi. Đất nước cần người đi chiến đấu, bố tôi xung phong lên đường nhập ngũ. Trước khi đi, bố mua cho tôi một chiếc áo hoa. Chiếc áo hoa này màu đỏ, lại vừa dài vừa rộng. Tôi mặc không vừa. Bô bảo: “Cứ để đó cho con, rồi lớn lên sẽ vừa thôi!” Thế là bô tôi ra đi. Tôi ở nhà và đi học. Cái áo tuy rộng nhưng tôi cứ mặc. Người tôi lùng thùng trong chiếc áo làm ai cũng cười. Rồi một hôm có tin sét đánh: Bố tôi hi sinh. Cả nhà lặng người, rồi ai cũng khóc. Còn tôi, tôi chẳng hiểu gì cả. Tôi chỉ biết rằng từ đây, tôi không còn bố nữa, tôi đã mất bố mãi mãi. Bô sẽ không bế tôi, không cười với tôi, không đưa tôi đi chơi phô vào những buổi chiều,… Thế đó! Từ đấy, tôi càng yêu quý chiếc áo hơn xưa. Đi đâu, tôi cũng mặc nó, cả đến khi ngủ tôi cũng ôm lấy nó như muốn tìm lấy chút hơi ấm của người bố thân yêu,… (Theo Nguyễn Thị Bích Ngà) * Kỉ niệm vê bà ngoại (gắn với chiếc áo) Hồi đó, tôi mới học lớp 3, ngây thơ và dại dột lắm. Năm ấy làng tôi bị mất mùa. Lúa ngô được hạt nào thì nộp khoán sản lượng cho xã sạch sành sanh. Dạo đó lại đúng vào dịp Tết. Nhà tôi đã túng lại càng túng hơn. Mẹ tôi không may sắm cho ai cả, phải mặc đồ cũ. Bỗng một niềm vui sướng đến với tôi. Mẹ nhận được bức thư của bà ngoại gửi ra, kèm theo tấm áo mà bà đã dành dụm tiền để may tặng tôi. Tôi vui mừng khôn xiết, ngày nào cũng tung tăng chạy đi khoe với họ hàng. Thật thà mà nói, không đứa bạn nào có chiếc áo đẹp như tôi. Ai sang lắm cũng chỉ được một bộ đồ vải đen. Bọn trẻ trong xóm nhìn tôi với vẻ thèm thuồng. Đùng cái, một tin dữ ập đến với tôi: bà ngoại mất. Tôi khóc đến mấy ngày, ai dỗ củng không chịu nín. Mỗi khi nhớ đến bà, tôi lại đem áo ra mặc, coi đó là một kỉ vật thiêng liêng nhất của bà để lại,… (Theo Lê Thị Thuỳ Nhung)
Đáp án đề 22 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
955
Đáp án đề 23 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Kể lại câu chuyện về một chiến sĩ cách mạng 1. – Em đọc kĩ từng câu ghép cho sẵn, chú ý câu ghép sử dụng cặp quan hệ từ chuyên dùng để biểu thị quan hệ điều kiện (giả thiết) – kết quả. – Câu ghép c biểu thị quan hệ điều kiện (giả thiết) – kết quả. 2. – Đọc kĩ từng câu cho sẵn, chú ý mối quan hệ về nội dung giữa hai vế câu, để tìm quan hệ từ hoặc cặp quan hệ từ thích hợp điền vào chỗ trổng. Ở đây, nội dung của bài tập đọc “Thầy cúng đi bệnh viện” (Tiếng Việt 5, tập một, trang 158) sẽ có tác dụng giúp em làm bài tập này. – Có thể điền quan hệ từ, cặp quan hệ từ như sau: + Câu a: nếu… thì… + Câu b: nếu… thì… + Câu c: hễ…là… + Câu d: giá mà… thì… 3. Tham khảo: Đoạn thơ nói về người chiến sĩ đi tuần trong hoàn cảnh có những khó khăn và thử thách: đêm khuya vắng vẻ (khi mọi người đã yên giấc ngủ say), gió mùa đông ngoài trời làm lạnh buốt đôi tay. Hai dòng thơ cuối cho ta thấy ý nghĩa thật sâu sắc và đẹp đẽ: ngưòi chiến sĩ rất quan tâm vă yêu thương các cháu thiếu nhi, sẵn sàng chịu đựng gian khổ khó khăn của giá rét đêm khuya (“Rét thỉ mặc rét cháu ơi!“) để giữ mãi cho các cháu giấc ngủ ấm áp, bình yên (“Chú đi giữ mãi ấm nơi cháu nằm“). Đó cũng chính là vẻ đẹp của tinh thần trách nhiệm với cuộc sông và tình yêu thương sâu nặng của người chiến sĩ đốĩ với con người. 1. Xác định yêu cầu: Kể lại câu chuyện về một chiến sĩ cách mạng đã hi sinh anh dũng cho Tổ quốc. Chú ý: Có thể chọn truyện trong cuốn sách hay tò báo đã đọc, bộ phim đã xem, hoặc câu chuyện do người khác kể lại. Câu chuyện kể lại cần rõ ràng, mạch lạc, đúng và đủ ý chính ; lời kể bộc lộ được thái độ, tình cảm của em đối với nhân vật chính. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tương tự cách làm đã gợi ý ở Đề 22.) 3. Tham khảo (câu chuyện về chị Võ Thị Sáu): Vào một mùa hoa lê-ki-ma nở, ở vùng đất đỏ thuộc tỉnh Đồng Nai, một cô bé đã ra đời. Vì là người thứ sáu sinh ra trong gia đình nên ba má đặt tên cho cô là Võ Thị Sáu. Sáu lớn lên trong tình yêu thương đùm bọc của ba má và bà con xóm làng. Lên tám tuổi, Sáu đã phải đi phụ giúp má bán bánh bèo ngoài chợ và cắt cỏ giúp ba. Bữa nọ, có một đơn vị bộ đội ghé qua làng ở nhờ trong nhà Sáu. Sáu thích lắm, cứ quấn quýt bên các anh. Có anh nào bệnh, Sáu đi hái lá xông cho anh và ngồi bên anh chăm sóc. Bởi thế, ai cũng khen Sáu ngoan ngoãn, giỏi giang và nhanh nhẹn. Tối tối,Sáu ngồi bên các anh nghe kể chuyện Bác Hồ, chuyện đánh Tây. Sáu cứ nằng nặc đòi theo các anh đi làm cách mạng. Rồi một đêm, chị Sáu trốn nhà theo các anh vào căn cứ. Ở đó, chị được học văn hoá, học võ thuật đánh địch. Mỗi lần được giao nhiệm vụ gì, chị củng hoàn thành tốt. Một lần đi làm nhiệm vụ, chị bị địch bắt. Bọn địch đưa chị vào nhà giam, tra tấn rất dã man. Nhưng chị Sáu không hề hé răng khai nửa lời. Ít lâu sau, bọn giặc chuyển chị Sáu ra nhà lao ở Côn Đảo. Trong tù, chị Sáu nêu cao tấm gương kiên cường, dũng cảm của người chiến sĩ cách mạng. Không khuất phục được chị, giặc đưa chị ra pháp trường xử bắn giữa lúc chị mới vừa tròn mười sáu tuổi. Trên đường ra pháp trường, đang bước đi, chị bỗng dừng lại, ngắt một bông hoa còn ướt đẫm sương đêm, cài lên mái tóc. Bị trói vào cột, trước hai hàng lính lầm lầm tay súng, chị Sáu vẫn ngẩng nhìn bầu trời xanh bao la và hô lớn: “Hồ Chủ tịch muôn năm! Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm! Đả đảo thực dân Pháp!”. Rồi chị cất cao giọng hát: “Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc…” Một tràng súng nổ. Chị Sáu ngã xuống. Máu chị thấm ướt bãi cát. Chị không còn nữa, nhưng trong tiếng gió và tiếng sóng biển, người ta vẫn như nghe tiếp được bài Quốc ca. Gió lao xao vuốt ve thân hình chị. Trời thêm xanh ngắt. Gió nâng cánh chim hải âu bay lên cao mãi… (Theo Bùi Thị Phương Hằng)
Đáp án đề 23 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
823
Đáp án đề 24 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án tả đồ vật trong nhà gần gũi 1. – Đọc kĩ từng câu ghép cho sẵn, chú ý câu ghép sử dụng cặp quan hệ từ chuyên dùng để biểu thị quan hệ tương phản, đối lập. – Câu b là câu ghép biểu thị quan hệ tương phản. 2. Có thể điền quan hệ từ, cặp quan hệ từ như sau: – Câu a: Điền quan hệ từ dù. – Câu b: Điền cặp quan hệ từ mặc dù… nhưng… – Câu c: Điền cặp quan hệ từ mặc dù… nhưng… 3.Gợi ý: – Lời hát ru của ngưòi mẹ bộc lộ tình cảm yêu thương sâu nặng đối với đứa con còn nhỏ, đối với anh bộ đội đang chiến đấu bảo vệ quê hương: “Mẹ thương a-kay, mẹ thương bộ đội“. – Lời hát ru còn bộc lộ niềm hi vọng lớn lao và đẹp đẽ của mẹ: “Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần” để nuôi anh bộ đội, để nuôi con khôn lớn, giỏi giang (“Mai sau con lớn vung chày lún sân“). Đó là những điều đẹp đẽ và sâu sắc bộc lộ qua lời hát ru từ trái tim yêu thương của người mẹ. 4. 1. Xác định yêu cầu: Tả một đồ vật trong nhà (hoặc trên lớp học) gần gũi và thân thiết đốì với em. Chú ý: Có thể chọn tả một đồ vật trongnhà (VD: giường, tủ cá nhân, bàn học tập, giá sách,…) hoặc trên lớp học (VD: bàn ghê, bảng lớp,…), nhưng phải là đồ vật gần gũi và thân thiếtđối với em. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tham khảo thêm về dàn bài tả đồ vật đã học ở lớp 4, hoặc nội dung gợi ý trong SGK Tiếng Việt 5, tập hai, trang 66). * Tả cái bàn học ở nhà Hình dạng chiếc bàn này giống hệt những chiếc bàn ở lớp, chỉ khác là kích thước của nó nhỏ bằng một nửa. Bàn được đóng bằng gỗ tốt bào nhăn, đánh uéc-ni màu nâu bóng. Các đường vân gỗ nổi lên trông rất đẹp. Mặt bàn dài chừng một sải tay, rộng khoảng bốn gang, có độ dốc nên em ngồi viết thoải mái. Dưới mặt bàn là hai ngăn rộng rãi, đủ đựng sách vở. Một ngăn em để sách giáo khoa, một ngăn để vở của các môn học. Ba mua cho em cây đèn nê-ông nhỏ, bệ đèn có chiếc giá cắm bút bằng nhựa màu hồng. Đèn được ba gắn vào mặt bàn để em tiện dùng khi học bài vào buổi tối. Bốn chân bàn được gắn với hai thanh gỗ đóng liền với ghế. Ghế có lưng tựa nên em ngồi thật thoải mái. Buổi sáng, em ngồi học bài, nắng sớm chiếu qua song cửa, rọi lên bàn những vệt sáng lung linh. Làn gió tinh nghịch lật từng trang sách thơm mùi giấy mới. (Thực hành Tập làm văn 4, 2002) * Tả chiếc cặp sách Nhân ngày khai trường, ông em sửa cái túi xách của mẹ em thành cái cặp hai ngăn có quai đeo cho em đi học. Ông em bảo chiếc cặp này vừa gọn, vừa bền, không như chiếc cặp củ khi mới mua về trông bóng bẩy, đẹp đẽ, nhưng chỉ vài tháng sau đã rách, rơi cả bút ra ngoài. Chiếc cặp của em bằng vải giả da màu tím, nắp màu đen. Ông em đã đo cắt để đựng vừa chiếc bảng con, sách vở, thước bút cần mang đến lớp hằng ngày. Ngoài ra, ông em còn làm một ngần phụ dùng để đựng những tờ giấy rời làm bài tập, giấy màu và kéo làm thủ công. Để cho chắc và đẹp, xung quanh các mép cặp, ông em viền thêm nẹp bằng vải nhựa màu đen. Chỗ gần sát cái khoá có thêm nẹp bằng vải nhựa màu xanh da trời. Góc phải phía dưới được may dính vào da cặp một chiếc thuyền buồm màu đỏ trông rất xinh. Chiếc cặp của em có,nhiều điểm khác so với những chiếc cặp bán ở các cửa hàng nhưng rất tiện cho em đi học. Vì vậy, cặp tuy đã hơi củ nhưng em vẫn yêu thích. Em giữ gìn cặp thật tốt và học tập chăm ngoan như lời ông dặn. (Theo Minh Trang)
Đáp án đề 24 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
725
Đáp án đề 25 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Tả đồ chơi của em Tả búp bê 1. – Đọc các câu ghép cho sẵn, chú ý câu ghép sử dụng cặp quan hệ từ chuyên dùng để biểu thị quan hệ tăng tiến giữa các vế câu. – Câu a là câu ghép biểu thị quan hệ tăng tiến. 2. Có thể điền các cặp quan hệ từ như sau: – Câu a: Điền cặp quan hệ từ không chỉ… mà… – Câu b: Điền cặp quan hệ từ không những… mà… – Câu c: Điền cặp quan hệ từ không chỉ… mà… Chú ý: Khi làm bài tập trên, em có thể tham khảo nội dung bài tập đọc “Trí dũng song toàn” (Tiếng Việt 5, tập hai, trang 25). 3. Gợi ý: – Những hình ảnh nhân hoá: Cửa sông dù giáp mặt cùng biển rộng nhưng chẳng dứt được cội nguồn ; lá xanh trôi xuống đến cửa sông bỗng nhớ một vùng núi non. (Chú ý các từ ngữ in đậm thường được dùng để chỉ về con người.) – Ý nghĩa: Qua những hình ảnh trên, tác giả muốn ca ngợi tình cảm (tấm lòng) luôn gắn bó, thuỷ chung, không quên cội nguồn (nơi đã sinh ra) của mỗi con người. 4. 1. Xác định yêu cầu: Tả một thứ đồ chơi của em (hoặc đồ vật dùng để vui chơi nơi công cộng mà em biết). Chú ý: Có thể chọn tả đồ chơi tĩnh (VD: con gấu bông, búp bê,…) hoặc đồ chơi động (VD: đoàn tàu hoả, ô tô, máy bay,… tự chạy bằng pin hay điều khiển từ xa), hoặc đồ vật để vui chơi ở nơi công cộng như: công viên, câu lạc bộ, khu giải trí,… (VD: cầu bập bênh, cầu trượt, xe đạp mi-ni, ô tô điện, tàu điện,…). 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tham khảo thêm về dàn bài tả đồ vật đã học ở lớp 4, hoặc nội dung gợi ý trong SGK Tiếng Việt 5, tập hai, trang 66) 3. Tham khảo: * Tả búp bê Búp bê Linh Chi thật là xinh xắn, tôi thích nó lắm. Cô bé này được đặt trên chiếc tủ con đựng sách vở của tôi. Dáng người cô bé nhỏ xỉnh với bộ cánh thơ mộng, trông thật tuyệt vời. Chiếc váy màu hồng nhạt có dải ren kim tuyến óng ánh. Chiếc nơ màu tím nôi bật giữa ngực. Đi đôi vói bộ y phục rực rõ ấy là đôi giày đỏ chói, bóng nhoáng. Chăn bé đi tất trắng, hai tay gắn với thân mình có thê đưa lên, đưa xuống. Lúc nào bàn tay ấy cũng xoè đủ năm ngón như muốn vây chào. Khuôn mặt Linh Chi hình trái xoan, da hồng hào, lông mày có màu nâu, cong như hình cánh cung. Mắt bé tròn xoe, ánh lẽn xanh biếc. Đôi mắt mở to khi đứng và nhắm nghiền lại khi nằm xuống như đang ngủ. Cặp môi bé đỏ tươi, đang chúm chím hé cười. Mái tóc của bé vàng óng được tết đuôi sam bằng hai chiếc nơ be bé màu trắng. Hằng ngày, học bài và làm bài xong là tôi có thời gian rảnh rỗi để chơi búp bẽ với trẻ con hàng xóm. Mỗi khi có gì vui, tôi lại kê cho bé Linh Chi nghe. Lúc đó, nét mặt búp bê dường như rạng rỡ, vui mừng lắm. (Thực hành Tập làm văn 4, 2002)
Đáp án đề 25 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
575
Đáp án đề 26 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án Nhớ Việt Bắc Tả cây hoa giấy 1. Cặp từ hô ứng được sử dụng trong từng câu ghép như sau: – Câu a: vừa… đã… – Câu b: chưa… đã… – Câu c: đâu… đấy. – Câu d: sao.. vậy. Trên cơ sở đó, em xác định các vế câu trong từng câu ghép (Các câu a, b, c: giữa hai vế câu có dấu phẩy ; câu d: giữa hai vế câu có từ thì). 2. Dựa vào mối quan hệ về nội dung giữa hai vế trong từng câu để tìm cặp từ hô ứng thích hợp. Cụ thể, ở từng câu, có thể điền như sau: – Câu a: càng… càng… – Câu b: đâu… đấy. – Câu c: chưa …đã… – Câu d: vừa… đã… 3. Gợi ý: – Người cán bộ về xuôi nhớ “những hoa cùng người” (cảnh và người) ở chiến khu Việt Bắc: + Cảnh: Hoa chuôi rừng đỏ tươi nổi bật trên nền lá xanh (Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi), hoa mơ nỏ trắng khắp cánh rừng khi mùa xuân về (Ngày xuân mơ nở trắng rừng). + Người: Người đi rừng lên nương (Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng), người đan nón cần cù, chăm chỉ chuốt từng sợi giang. – Nỗi nhớ ấy bộc lộ tình cảm yêu thương, gắn bó sâu nặng của người cán bộ với mảnh đất và con người Việt Bắc – “cái nôi” của cách mạng Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Pháp. 1. Xác định yêu cầu: Tả cây hoa có những vẻ đẹp mà em ưa thích. Chú ý: Có thể chọn tả cây hoa mọc trên cạn (VD: hoa đào, h.oa mai, hoa cúc, hoa hồng, hoa hướng dương, hoa phong lan,…) hoặc cây hoa mọc dưới nước (VD: hoa sen, hoa súng,…), miễn sao nêu rõ được những vẻ đẹp mà em ưa thích về loài hoa đó. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tham khảo thêm về dàn bài tả cây cối đã học ở lớp 4, hoặc nội dung gợi ý trong SGK Tiếng Việt 5, tập hai, trang 99) 3.Tham khảo: * Tả hoa giấy Trước nhà, mấy cây bông giấy nở hoa tưng bừng. Trời càng nắng gắt, hoa giấy càng bồng lên rực rỡ. Màu đỏ thắm, màu tím nhạt, màu ãa cam, màu trắng muốt tinh khiết,… Hoa giấy đẹp một cách giản dị. Mỗi cánh hoa giống hệt một chiếc lá, chỉ có điều mỏng mảnh hơn và. có màu sắc rực rỡ. Lớp lớp hoa giấy rải kín mặt sân, nhưng chỉ cần một làn gió thoảng, chúng tản mát bay đi mất. Tôi rất yêu những bông hoa giấy. Chúng có một đặc điểm khác nhiều loài hoa khác: Hoa giấy rời cành khi vẫn còn đẹp nguyên vẹn, hoa rụng mà vẫn còn tươi nguyên. Đặt trên lòng bàn tay, những cánh hoa mỏng tang rung rinh, phập phồng run rẩy như đang thở, không có một mảy may biểu hiện của sự tàn úa. Dường như chúng không muốn mọi người phải buồn rầu vì chứng kiến cảnh héo tàn. Chúng muốn mọi người lưu giữ mãi những ấn tượng đẹp đẽ mà chúng đã đem lại trong suốt cả một mùa hè: những vồng hoa giấy bồng bềnh đủ màu sắc giống hệt những áng mây ngũ sắc chỉ đôi lần xuất hiện trong những giấc mơ thuở nhỏ… (Trần Hoài Dương) * Tả hoa sen Hoa sen có hai thứ: một thứ trắng, một thứ đỏ, nhưng trắng có phần thanh tân khả ái hơn nhiều. Hoa nở về mùa hạ, sắc hoa không sặc sỡ, chỉ một màu thanh bạch mà đủ làm tôn cái vẻ đẹp của hoa lên khác thường. Lúc hoa còn búp thì hình tròn mà nhọn, trông như ngòi bút lông viết đại tự của nhà nho ta. Kịp đến lúc nở thì hoa mới thật đẹp làm sao! Cánh hoa trăng trắng nằm trên tâm lá xanh xanh, trên một cái cọng mảnh mai trong làn nước biêng biếc, ánh phản chiếu tận đáy hồ, he hé nở vừa thấy một cái nhụy vàng lấm tấm. Thật là: Trong đầm gì đẹp bằng sen Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. (Theo Văn miêu tả tuyển chọn, 1997)
Đáp án đề 26 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
709
Đáp án đề 27 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án Tả cây ăn quả ở quê em 1. Đọc kĩ đoạn trích, chú ý từ được lặp lại ở hầu hết các câu trong đoạn (Đó là từ đảo). Sau đó, nêu tác dụng của việc lặp lại từ (Từ đảo được lặp lại tạo ra sự liên kết chặt chẽ về nội dung giữa các câu trong đoạn. Nếu không có sự liên kết giữa các câu văn thì sẽ không tạo thành đoạn văn, bài văn). 2. – Em đọc thầm toàn bộ đoạn trích, để nắm được nội dung chung của đoạn. Sau đó, đọc kĩ từng câu, xem ở từng chỗ trống, chọn từ ngữ cho sẵn nào thì thích hợp với nội dung của câu, của đoạn. Ở từng chỗ trông, em có thể điền lần lượt từng từ ngữ cho sẵn ; nếu tạo ra câu có nội dung thích hợp thì điền được. – Thứ tự các từ ngữ cần điền như sau: cây cọ, chổi cọ, lá cọ, mành cọ, làn cọ, trái cọ. 3. Gợi ý: – Đất nước Việt Nam là đất nước của những người dũng cảm, kiên cường, chưa bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù xâm lược. Đêm đêm, “rì rầm trong tiếng đất” là lời nói của cha ông từ nghìn xưa vọng về nhắn nhủ cháu con. – Hai dòng thơ cuối muốn nhắc nhở ta hãy ghi nhớ và phát huy truyền thông bất khuất của cha ông từ “những buổi ngày xưa” (những ngày tháng đầy vẻ vang và đáng tự hào về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc). 1. Xác định yêu cầu: Tả một cây ăn quả ở quê em (hoặc ở nơi khác). Chú ý: Cần chọn tả cây đã từng được em quan sát kĩ và được thưởng thức loại quả ở cây đó ; nêu được những nét tiêu biểu, độc đáo của cây và quả qua việc quan sát, cảm nhận bằng nhiều giác quan (mắt nhìn, mũi ngửi, tay sò, lưỡi nếm,…). 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tham khảo thêm về dàn bài tả cây cối đã học ở lớp 4, hoặc nội dung gợi ý trong SGK Tiếng Việt 5, tập hai, trang 99.) 3. Tham khảo: * Tả cây mít Cây mít vườn nhà tôi cành nhánh xum xuê, tạo thành một vòm cây hình tháp. Gốc mít lớn, thân to như cột nhà, vỏ nham nhám màu nâu đen điểm thêm nhiều đốm trắng. Lá to và dày, mặt trên màu xanh đậm và bóng, mặt dưới màu xanh nhạt và nổi đầy gân to nhỏ. Trong vòm lá, mấy chú chim khuyên ríu rít bay chuyền. Thỉnh thoảng, đôi chim chích choè lại hót lên từng hồi dài thánh thót. Quanh thân, từ gốc trở lên, rải rác những trái mít to bự. Trái nhỏ nhất cũng bằng một vòng hai bàn tay tôi. vỏ có màu xanh pha vàng, xù xì những chiếc gai dày và nhọn. Lúc sắp chín, trái mít ngả sang màu vàng đậm, gai dẫn thưa ra. Mít chín, bổ ra thơm lựng, cả múi và xơ đều vàng óng, vị ngọt ngào thật dễ chịu trên đầu lưỡi. (Thực hành Tập làm văn 4, 2002) Sầu riêng có họ hàng xa với mít, quả chỉ bằng những quả mít bé và vừa nhưng gai thì to, dài, cứng và sắc đến kinh người, vỏ dày như vỏ quả mít nhưng cứng và rất dai. Khi quả chín muồi, vỏ nó tự tách ra theo những khe nhất định, chia thành bốn hoặc năm mảnh theo chiều dọc, để lộ những múi sầu riêng béo ngậy, nằm gối lên nhau trong các khe hở. Mỗi quả có nhiều nhất khoảng mười múi. Các múi to bé không đều nhau, múi to nhất trông như một quả trứng ngan. Giá trị một quả sầu riêng tính theo số lượng múi nhưng chủ yếu là ở chất lượng của lớp cơm sầu riêng -còn gọi là cùi. Cơm sầu riêng màu ngà hoặc mỡ gà, bọc quanh hạt và bóc ra được giống như cơm mít mật. Cơm càng dày thì càng ngọt, béo và thơm. Chất béo của sầu riêng gợi cái béo ngậy của sữa đặc hoặc bơ. (Phạm Hữu Tùng)
Đáp án đề 27 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
718
Đáp án đề 28 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Tả một cây có bóng mát đem lại lợi ích 1. Từ trùng lặp nhiều, khiến cho câu văn nặng nề, rườm rà, đó là từ Tôn-xtôi. Từ câu thứ hai trong đoạn trích, em có thể dùng các từ ngữ đồng nghĩa sau để thay thế từ Tôn-xtôi: cậu, cậu ta, chú bé, nghịch ngợm, nhà văn tương lai. (Việc thay thế cụ thể như thế nào, em tự làm) 2. – Những từ ngữ được dùng để chỉ anh hùng Núp: anh hùng Núp, Người Anh hùng Tây Nguyên, anh Núp. – Việc dùng nhiều từ ngữ thay thế cho nhau như vậy có tác dụng tránh việc lặp từ, giúp cho việc diễn đạt sinh động hơn, phù hợp với từng ngữ cảnh, từng câu vặn. Cụ thể, anh hùng Núp thích hợp với cách diễn đạt bình thường, trung tính ; Người Anh hùng Tây Nguyên thể hiện tính trang trọng, sự tôn vinh ; anh Núp thể hiện sự thân mật, gần gũi. 3. Gợi ý: – “Cháu còn bé thơ” nhưng biết nghe lời ông dặn, ngoan ngoãn, chịu khó chăm sóc cây nhãn do tay ông trồng (“Vâng lời ông dặn. Cháu tưới cháu che“). – Cháu tuy còn nhỏ nhưng đã có tình cảm đẹp đẽ, biết Uống nước nhớ nguồn (hoặc Ăn quả nhớ người trồng cây): được “ăn nhãn ngọt” nhưng luôn nhớ đến công ơn của ông – người đã vun trồng cây nhãn. 1. Xác định yêu cầu: Tả một cây có bóng mát (hoặc cây lấy gỗ, cây công nghiệp,…) từng đem lại lợi ích cho mọi người. 2. Tìm ý, lập dàn bài: Tham khảo thêm về dàn bài tả cây cối đã học ở lớp 4, hoặc nội dung gợi ý trong SGK Tiếng Việt 5, tập hai, trang 99. 3. Tham khảo: * Tả cây bù quân Sau các bản, các nhà miền núi thường có cây bù quân, có nơi còn gọi là bồ quân. Cây bù quăn được lũ trẻ rất thích, mặc cho thân cây đầy những chùm gai. Gai dày đặc tua tủa, dài bằng gang tay và nhọn hoắt như những mũi kim. Mỗi độ xuân sang, cây bù quân đổ lá non, bừng sắc đỏ, đỏ như một cây lửa giữa rừng xanh. Hai tuần sau đó, lá bù quân chuyển sang màu mận chín. ít hôm sau nữa, lá bù quân xanh mơn mởn như láng mỡ. Từ những nách lá nảy những chùm hoa vàng li ti. Quả bù quân còn nhỏ thì xanh. Lúc sắp chín điểm lâm tâm màu hồng rồi đỏ tươi. Chín nẫu thì màu tím ngắt. Đó là độ những quả bù quân ứ mật. Lũ chim sáo, chim chào mào từng đàn, từng đàn tíu tít, rào rào kéo nhau đến chí choé quanh những quả bù quân ngọt lịm. Dưới gốc, lũ trẻ củng cười rinh rích, xua đuôi lủ chim ầm ĩ. Những cây bù quân đường, quả ngọt lịm, có thể ăn no. Không phải bù quân đường thì chát xít, phải để chín thật nẫu mới ăn được. Thân cây bù quân làm củi cháy rất đượm, than đỏ rực. Cây bù quân dùng làm thân cày, tay bừa cũng rất chắc. Bù quân có nhiều tác dụng như vậy nên được gìn giữ cho đến lớn, đến già. Khi cần dùng lắm, người ta mới đốn, mới ngả cây bù quân. (Vi Hồng – Hồ Thuỷ Giang)
Đáp án đề 28 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
580
Đáp án đề 29 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Tả loài cây có nét đẹp riêng về hoa quả 1. Chép lại câu chuyện và đặt đúng các dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than: Quả lê Bé cầm quả lê to. Bé hỏi: – Lê ơi! Sao lê không chia thành nhiều múi như cam? Có phải lê muốn dành riêng cho tôi không? Quả lê đáp: – Tôi không dành riêng cho bạn đâu. Tôi không chia thành nhiều múi để bạn biếu cả quả cho bà đấy! Bé reo lên: – Đúng rồi! Rồi bé đem quả lê biếu bà. 2. Đặt câu theo yêu cầu đã cho, VD: a) Bạn ước mơ lớn lên được làm nghề gì? (Hoặc: Bạn ước mơ sẽ làm nghề gì khi lớn lên?…) b) Em nên đánh răng cho sạch trước khi đi ngủ, kẻo sâu răng đấy! (Hoặc: Trước khi đi ngủ, em cần đánh răng cho thật sạch đấy nhé /…) c) Anh giúp em đi qua đường với! (Hoặc: Bác ơi, bác giúp cháu qua đường với!…) d) Ôi, tiết mục xiếc “Khỉ đi xe đạp” hay quá! (Hoặc: Tiết mục xiếc “Voi đá bóng” thật ngộ nghĩnh làm sao /…) 3. Gợi ý: Nét bút trên tay người nghệ nhân Bát Tràng thật tài hoa: – Khi “bút nghiêng” (phẩy nhanh nhanh từ trên xuống), những hạt mưa bỗng hiện ra như đang bay lất phất ngoài trời. – Khi “bút chao” (đưa qua đưa lại nhẹ nhàng), những gợn nước (làn sóng nhẹ) Tây Hồ như đang chuyển động lăn tăn trước mắt ta. Những đường nét hoa văn rất hài hoà cũng được tạo nên từ cây bút ấy – cây bút làm cho vẻ đẹp của cuộc sống hiện ra một cách sinh động trên đồ gôm Bát Tràng. 4. 1. Xác định yêu cầu: Tả một loài cây có những nét đẹp riêng về hoa và quả mà em yêu thích. Chú ý: Cần chọn tả loài cây vừa có vẻ đẹp của hoa vừa có sự hấp dẫn của quả ; tả rõ những nét đẹp riêng về cả hoa và quả ; bộc lộ được thái độ yêu thích của em về loài cây đó. 2. Tìm ý, lập dàn bài: Tham khảo thêm về dàn bài tả cây cối đã học ở lớp 4, hoặc nội dung gợi ý trong SGK Tiếng Việt 5, tập hai, trang 99. * Tả cây na Tháng ba, tháng tư, mùa hạ còn mang nhiều hương vị của xuân. Những mảnh vườn dịu mát bóng xanh non. Cây na ra hoa, thứ hoa đặc biệt mang màu xanh của lá non. Hoa lẫn trong lá cành, thả vào vườn hương thơm dịu ngọt, ấm cúng. Cây na mảnh dẻ, phóng khoáng. Lá không lớn, cành chẳng um tùm lắm, nhưng toàn thân nó toát ra không khí mát dịu, êm ả, khiến ta chìm ngợp giữa một điệu ru thấp thoáng, mơ hồ. Và từ màu hoa xanh ẩn náu đó, những quả na nhỏ bé, tròn vo, trong không khí thanh bạch của vườn, cứ mỗi ngày mỗi lớn. Quả na mở bao nhiêu là mắt để ngắm nhìn mảnh đất sinh trưởng, để thấy hết họ hàng, để nhận biết nắng từng chùm lấp lánh treo từ ngọn cây rọi xuống mặt đất. (Phạm Đức)
Đáp án đề 29 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
540
Đáp án đề 3 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Xem thêm Đề 3 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 tại đây Đáp án đề 3 học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. Đối với từng từ ngữ in đậm, dựa vào ý nghĩa của từ ngữ và dựa vào ngữ cảnh mà từ ngữ xuất hiện, em tìm một từ ngữ đồng nghĩa khác (có hình ảnh, gợi tả, gợi cảm) để thay thế. VD: – Hồ rộng lắm —> Thay bằng: Hồ rộng mênh mông. – Hồ sáng đẹp dưới ánh nắng chói của những buổi trưa hè. —> Hồ long lanh dưới ánh nắng chói chang của những buổi trưa hè. – Cá đi từng đàn, khi thì tự do bơi lội, khi thì lao nhanh… —> Cá đi từng đàn, khi thì tung tăng bơi lội, khi thì lao vun vút… – Những con bói cá mỏ dài, lông nhiều màu sắc. —> Những con bói cá mỏ dài, lông sặc sỡ. – Những con cuốc đen trũi, chen lách vào giữa các bụi bồ. —> Những con cuốc đen trùi trũi, len lỏi giữa các bụi bò. 2. – Ở từng vị trí, dựa vào nội dung của câu ; cụ thể, dựa vào nghĩa của các từ ngữ đứng trước và đứng sau, em chọn một từ thích hợp nhất trong các từ đồng nghĩa cho sẵn ở dưới, để điền vào. – Đoạn văn đã được điền hoàn chỉnh như sau: 3.Gợi ý: Đoạn văn dùng các từ ngữ chỉ màu xanh thật đa dạng và rất phù hợp với từng cảnh vật: ruộng mía xanh pha vàng, lúa chiêm đương thòi con gái (giai đoạn phát triển mạnh) có màu xanh rất mượt, rặng tre xanh đậm, phi lao xanh biếc. Cách dùng từ ngữ như vậy góp phần gợi tả vẻ đẹp nên thơ và tràn trề sức sống của cảnh vật trên quê Bác. 4. 1. Xác định yêu cầu: Tả cảnh nơi em ở hoặc nơi em đã từng đến vào một buổi sáng đẹp trời. Chú ý: Nếu cảnh được tả có phạm vi xa rộng, em cần chọn tả một vài bộ phận nổi bật của cảnh đã được em quan sát kĩ và cảm thấy yêu thích hơn cả ; có thể tả vẻ đẹp của cảnh ở từng thời điểm cụ thể vào buổi sáng đẹp trời (VD: lúc mờ sáng, lúc đã sáng rõ, lúc ánh nắng bình minh đang lên,…). 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tương tự cách làm đã gợi ý ở Đề 1). * Buổi sáng ở thành phố Hồ Chí Minh Một ngày mới bắt đầu. Mảng thành phố hiện ra trước mắt tôi đã biến màu trong bước chuyển huyền ảo của rạng đông. Mặt trời chưa xuất hiện nhưng tầng tầng lớp lớp bụi hồng ánh sáng đã tràn lan khắp không gian như thoa phấn trên những toà nhà cao tầng của thành phố, khiến chúng trở nên nguy nga, đậm nét. Màn đêm mờ ảo đang lắng dần rồi chìm vào đất. Thành phố như bồng bềnh nổi giữa một biển hơi sương. Trời sáng có thể nhận rõ từng phút một. Những vùng cây xanh bỗng oà tươi trong nắng sớm. Ánh đèn từ muôn vàn ô vuông cửa sổ loãng đi rất nhanh và thưa thớt tắt. Ba ngọn đèn đỏ trên tháp phát sóng Đài Truyền hình thành phô’ có vẻ như bị hạ thấp và kéo gần lại. Mặt trời dâng chầm chậm, lơ lửng như một quả bóng bay mềm mại… Thành phố mình đẹp quá! Đẹp quá đi! (Theo Nguyễn Mạnh Tuấn) * Buổi sáng mùa hè ở miền núi Tảng sáng, vòm trời cao xanh mênh mông. Gió từ trên đỉnh núi trần xuống thung lủng mát rượi. Khoảng trời sau dãy núi phía đông ửng đỏ. Những tia nắng đầu tiên hắt chéo qua thung lủng, trải trên đỉnh núi phía tây những vệt sáng màu lá mạ tươi tắn… Ven rừng, rải rác những cây lỉm đã trổ hoa vàng, những cây vải thiều đỏ ối những quả… Nắng vàng lan nhanh xuống chân núi rồi rải vội lên đồng lúa. Bà con trong bản đã đổ ra đồng cấy mùa, gặt chiêm. Trên những ruộng lúa chín vàng, bóng áo chàm và nón trắng nhấp nhô, tiếng nói tiếng cười nhộn nhịp vui vẻ. Mặt trời nhô dần lên cao. Ánh nắng mỗi lúc một gay gắt. Dọc theo những con đường mới đắp, vượt qua chiếc cầu gỗ bắc qua con suối, từng tốp nam nữ thanh niên thoăn thoắt gánh lúa về sân phơi. Tiếng cười giòn tan vọng vào vách đá. (Theo Hoàng Hữu Bội)
Đáp án đề 3 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
777
Đáp án đề 30 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Tả con vật nuôi trong nhà gần gũi với em 1. a) Ghép thành 10 từ phức thường dùng: nam sinh, nữ sinh, nam giới, nữ giới, nữ công, nam nhi, nữ nhi, nữ trang, nam tính, nữ tính. b) Giải nghĩa: – Nữ công: Công việc nội trợ nói chung mà phụ nữ thường làm rất giỏi (VD: nấu nướng, may vá, thêu thùa,…). – Nữ trang: Đồ trang sức hói chung của phụ nữ (VD: dây chuyền, hoa tai, nhẫn,…). 2. Đặt dấu phẩy vào mỗi câu và nêu tác dụng của dấu phẩy đó trong câu: a) Trong lớp, tôi thường xung phong phát biểu ý kiến. (Dấu phẩy ngăn cách trạng ngữ với chủ ngữ và vị ngữ) b) Cô giáo khen cả nhóm làm bài tốt, cho mỗi bạn một điểm mười. (Dấu phẩy ngăn cách các bộ phận cùng chức vụ trong câu) c) Các bạn nữ lau bàn ghế, các bạn nam quét lớp.(Dấu phẩy ngăn cách các vế trong câu ghép) 3.Tham khảo: Đoạn thơ bộc lộ những cảm xúc và suy nghĩ của tác giả về người mẹ. Hình ảnh mái tóc mẹ bạc trắng vì thời gian làm cho tác giả thấy xúc động đên nôn nao. Ý đối lập trong hai câu thơ “Lưng mẹ cứ còng dần xuống / Cho con ngày một thêm cao” như muôn bộc lộ suy nghĩ về lòng biết ơn của tác giả đổi với mẹ. Mẹ đem đến cho con cả cuộc đời trong lồi hát, mẹ chắp cho con “đôi cánh” để lớn lên con sẽ bay xa. Những cảm xúc và suy nghĩ của tác giả về người mẹ thật đẹp đẽ biết bao! 1. Xác định yêu cầu: Tả một con vật nuôi trong nhà gần gũi với em (hoặc con vật trong vườn thú mà em yêu thích). Chú ý: Có thể chọn tả một con vật nuôi trong nhà được gọi là “gia súc” (VD: chó, mèo, trâu, bò, ngựa, lợn, gà, thỏ,…), “gia cầm” (VD: gà, vịt, ngỗng, ngan – vịt xiêm,…), hoặc con vật thường sống trong thiên nhiên mà em được thấy trong vườn thú (VD: chim công, chim vẹt, khỉ, vượn, hươu, nai, voi,…), miễn sao bộc lộ rõ được sự gần gũi hoặc yêu thích của em đối với con vật đó. 2. Tìm ý, lập dàn bài: Tham khảo thêm về dàn bài tả con vật đã học ở lớp 4, hoặc nội dung gợi ý trong SGK Tiếng Việt 5, tập hai, trang 125. * Tả con chó … Tô-ni lớn nhanh như thổi. Giờ đây, nó đã là một chú chó trưởng thành với hình dáng cân đối và đẹp đẽ. Toàn thân nó phủ một lớp lông dày màu vàng nâu, điểm những khoang đen, trắng. Đôi tai nhọn luôn dỏng lên nghe ngóng động tĩnh. Đôi mắt to, sáng. Hai lỗ mủi đen ướt, đánh hơi rất thính. Cái lưỡi màu hồng thè dài và hàm răng trắng bóng với bốn cái răng nanh hơi cong và nhọn. Tô-ni có dáng như chó săn. Cái ức nở đầy đặn, bụng thon, bốn chân cao, gân guốc và vững chãi. Cái đuôi xù cuốn tròn thành hình chữ O trên lưng. Nó đi đứng nhẹ nhàng và chạy rất nhanh. Sáng sáng, Tô-ni nô giỡn trên sân với chú mèo tam thể. Chúng đuổi nhau, vờn nhau không biết chán. Thấm mệt, Tô-ni trèo lên thềm, nằm sấp, gác mõm lên hai chân trước, lim dim ngủ. Nhưng chớ lầm là nó ngủ say. Tuy lơ mơ thế nhưng hai cái tai úp xuống không bỏ qua một tiếng động nào. Chỉ cần có tiếng bước chân nhè nhẹ ngoài rào là nó đứng phắt dậy, linh hoạt hẳn lên. Nếu là người lạ, nó lập tức cất tiếng sủa vang. Còn người quen đi đâu về là nó chạy xồ ra, vẫy đuôi mừng tíu tít. Ngày nào em đi học về, Tô-ni cũng ra tận cổng đón. Nó chồm hai chân trước, ôm chầm lấy em và quấn quýt không rời. Đêm đến, khi mọi người đã đi ngủ, một mình Tô-ni vẫn thức trông nhà. Có nó, cả nhà yên tâm ngủ ngon sau một ngày làm việc mệt nhọc. (Thực hành Tập làm văn 4, 2002) … Chú thỏ có bộ lông trắng nõn như bông, toàn thân không có một đốm lông màu nào khác. Cái mõm nhòn nhọn, động đậy luôn. Cái mủi đo đỏ lúc nào củng ươn ướt, luôn hít hít, thở thở. Bộ ria mọc hai bên mép cũng trắng như cước. Đôi mắt đỏ hồng, tròn xoe như hai hòn bi, trông rất hiền. Hai tai nó như hai cái lá đa to, lúc nào củng vểnh lên. Chú thỏ này có vẻ bạo dạn lắm. Tuy mới được mua về nhà những chú đã quen ngay. Vừa thả vào chuồng là nó sà ngay vào đông lá rau, vừa ăn vừa tròn xoe đôi mắt nhìn em. Những sợi ria mép vểnh lên, cụp xuống theo nhịp thỏ ăn, trông rất tinh nghịch. Hai tai động đậy như lắng nghe những tiếng động ở mọi phía. Một mẩu đuôi ngắn tí tẹo ngo ngoe luôn, trông thật ngộ. (Theo Nguyễn Văn Bình)
Đáp án đề 30 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
877
Đáp án đề 31 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Tả con vật rất quen thuộc gắn bó với em 1. Điền từ trai hay nam, gái hay nữ vào chỗ trông: a) Làm trai cho đáng nên trai Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai đã từng. b) Luật pháp đã quy định rõ quyền bình đẳng giữa nam và nữ. c) Trai tài, gái đảm. d) Những bộ đồng phục nam (nữ), đồng phục nữ (nam) của trường em rất đẹp. e) Trai mà chi, gái mà chi Sinh con có nghĩa có nghi là hơn. 2. Viết lại các câu văn: a) Anh Kim Đồng nhanh trí, dũng cảm tuyệt vời. b) Trên đường ra nơi xử bắn, chị Võ Thị Sáu ngắt một bông hoa cài lên mái tóc. c) Chúng em luôn nhổ ơn những anh hùng đã hi sinh vì dân, vì nước. d) Rừng cây im lặng, tiếng chim gù nghe trầm ấm. 3. Gợi ý: – Công việc của người thợ rèn thật nặng nhọc và vất vả, thể hiện qua các chi tiết: làm việc trong mùa hè thì “Quai một trận, nước tu ừng ực” (quai búa nặng nhọc), “Hai vai trần bóng nhẫy mồ hôi“, có lúc mệt đến mức “thở qua tai” (ý nói rất mệt). – Mặc dù công việc nặng nhọc và vất vả nhưng những người thợ rèn vẫn lạc quan, yêu đời vì họ rất yêu công việc của mình. Họ vui như diễn kịch vì thấy mặt mũi ai nom cũng thật ngộ (”Râu bằng than mọc lên bằng thích“), tính tình ai cũng hồn nhiên, vui nhộn (“Nghịch ở đây già trẻ như nhau“). Cho nên, nụ cười luôn nở trên môi những người thợ rèn (“Nên nụ cười nào có tắt đâu“), khiến họ thêm đẹp đẽ, đáng yêu. 1. Xác định yêu cầu: Tả con vật rất quen thuộc và gắn bó với tuổi thơ của em (hoặc với những người dân ở địa phương em). Chú ý: Có thể tả một hay vài con vật quen thuộc và gắn bó nhưng cần nêu được những nét nổi bật về hình dáng, hoạt động của con vật và bộc lộ được tình cảm thân thiết, gắn bó đối với loài vật đó. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tham khảo thêm về dàn bài tả con vật đã học ở lớp 4, hoặc nội dung gợi ý trong SGK Tiếng Việt 5, tập hai, trang 125) 3. Tham khảo: * Tả đàn ngan mới nở Những con ngan nhỏ mới nở được ba hôm chỉ to hơn cái trứng một tí. Chúng có bộ lông vàng óng. Một màu vàng đáng yêu như màu của những con tơ nõn mới guồng. Nhưng đẹp nhất là đôi mắt với cái mỏ. Đôi mắt chỉ bằng hột cườm, đen nhánh hạt huyền, lúc nào cũng long lanh đưa đi đưa lại như có nước, làm hoạt động hai con ngươi bóng mờ. Một cái mỏ màu nhung hươu, vừa bằng ngón tay đứa bé mới đẻ và có lẽ cũng mềm như thế, mọc ngăn ngắn đằng trước. Cái đầu xinh xinh, vàng nuột và ở dưới bụng, lủn chủn hai cái chân bé tí màu đỏ hồng. (Theo Tô Hoài ) * Tả chim thiên nga(ở Gia Lai, Đắk Lắk) Thiên nga thật là một loài chim biết tự khoe mình với vẻ đẹp và các động tác múa tài ba. Nếu như bầy chim công múa rất dẻo, uyển chuyển, nhịp nhàng, xứng đáng là nghệ sĩ của rừng xanh, thì tiếng thiên nga còn được coi là những giọng nữ cao tuyệt diệu, ngoài các động tác múa khoẻ khoắn của nó. Ở khu rừng nào có hồ nước, buổi sáng sớm, tiếng chim thiên nga hót trên mặt hồ, nghe vang xa hàng hai, ba cây số. Các loài thú rừng cũng mon men đến gần tận nơi để được nhìn những bộ lông trắng muốt một cách thèm thuồng. Thiên nga có một cuộc sống rất có tổ chức. Nó ừ bay lẻ, mà từng đôi, từng đôi một dẫn nhau bay trên các triền núi. Khi một cặp vợ chồng sắp sửa có con, cô vợ được chim chồng kiếm cho một hốc cây cao, làm ổ lót hẳn hoi. Xong đâu đấy, chim chồng đặt trứng vào ổ, chim vợ chui vào. Chim chồng liền lấy đất bùn về vít cửa tổ lại, chỉ chừa một lỗ nhỏ để chim chồng mang mồi về tiếp tế cho vợ hằng ngày. Khi chim non đã có thể dùng mỏ mổ đất phá tổ là lúc chim bố vui nhất. Mọi nôi cực nhọc dường như tan biến, nó vừa dùng mỏ cạy đất vừa cất tiếng gọi trong lúc bầy con cũng ríu rít co chân đạp tổ chui ra. Vốn là dòng dõi biết bay nên chỉ sau một tuần lễ luyện tập là thiên nga con đã có thể bay theo bố mẹ đi kiếm ăn được rồi. Những buổi sáng trên mặt hồ đầy nước, bầy thiên nga con hò hát ầm ĩ. Chúng mải chơi hơn là kiếm ăn. Cho đến tận lúc mẹ gọi về tập múa mới hết cãi nhau. (Theo Thiên Lương)
Đáp án đề 31 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
856
Đáp án đề 32 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Tả cảnh đẹp ở quê hương mà em yêu thích 1. Đoạn văn sau khi đặt dấu chấm, dấu phẩy (viết hoa chữ đầu câu, sau dấu chấm): Bé mới mười tuổi. Bữa cơm, Bé nhường hết thức ăn cho em. Hằng ngày, Bé đi câu cá bống về băm sả, hoặc đi lượm vỏ đạn giặc ở ngoài gò về cho mẹ. Thấy cái thau, cái vung nào gỉ người ta vứt, Bé đem về cho ông Mười quân giới. 2. Đặt câu có sử dụng dấu hai chấm cho từng trường hợp, VD: a) Khu vườn nhà em có nhiều loại cây: na, mít, hồng, cam, bưởi,… (Hoặc: Miệt vườn Lái Thiêu thật nhiều cây trái: xoài, chôm chôm, vú sữa, măng cụt, mãng cầu, sầu riêng,…) b) Phụ nữ Việt Nam có những phẩm chất thật tốt đẹp: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang,… (Hoặc: Bác Hồ đã khen tặng phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang.) c) Mẹ khen em: – Con của mẹ dạo này ngoan lắm! (Hoặc: Bố nói với em: – Chiều nay, ba con mình sang thăm bà nội, con nhé!) d) Tôi đã làm đúng như câu nói: “Uống nước nhớ nguồn”. (Hoặc: Bà tôi thường bảo: “Con hơn cha là nhà có phúc“) 3. Tham khảo: Đọc đoạn văn, ta thấy chị Sứ rất yêu quý và gắn bó với quê hương. Bởi vì: quê hương là nơi chị được sinh ra (“nơi chị oa oa cất tiếng khóc chào đời“), được nuôi dưỡng để trưởng thành và có vẻ đẹp quý giá (“nơi quả ngọt, trái sai đã thắm hồng da dẻ chị“). Cũng chính tại mảnh đất của quê hương, chị được ngủ ngon và lớn lên trong tiếng ru của người mẹ thân yêu ; đến khi làm mẹ, “chị lại hát ru con những câu hát ngày xưa“, lại nuôi con lớn khôn bằng cả tình thương yêu sâu nặng của người mẹ. 1. Xác định yêu cầu: Tả một cảnh đẹp ở quê hương mà em yêu thích. Chú ý: Có thể chọn tả một cảnh đẹp thiên nhiên hoặc cảnh do con người tạo ra mà em yêu thích ; miễn sao đó là cảnh ở quê hương em (không phải ở nơi khác), bộc lộ rõ tình cảm của em đối với cảnh được tả. 2. Tìm ý, lập dàn bài: Tham khảo thêm về dàn bài tả cảnh đã luyện tập ở Đề 1, hoặc nội dung gợi ý trong SGK Tiếng Việt 5, tập hai, trang 134. 3. Tham khảo: * Tả cánh đồng Ra khỏi làng, hàng chục mẫu đất trồng khoai. Những vạt khoai lùm lùm dây lá chạy song song từ bờ này sang bờ kia. Ngọn khoai non mỡ bò lan kín cả hai bên luống, tạo thành một vệt dài xanh tham. Hết màu xanh lá khoai là những chân ruộng cấy lúa chiêm, rồi đến một bãi ngô xanh mượt. Lúa đang thì con gái. Lá lúa đã che kín mặt ruộng. Gió xuân nhè nhẹ thổi làm cho tóc lúa lao xao gợn sóng và những giọt sương nhỏ rung rung trên lá lúa mỏng manh. Khi ông mặt trời nhô lên khỏi ngọn núi Go, nắng trải vàng khắp nơi. Cánh đồng quê em trở nên nhộn nhịp. Những giọt sương hứng ánh nắng lung linh. Bướm chao lượn trên bãi ngô. Mỗi lần chúng sà xuống, chạm vào những bông hoa cờ, bụi phấn hung hung vàng lại bay lả tả. Đàn chim cũng nhào xuống những luống khoai. Mấy chú chim sâu khoang đen giật mình co rúm lại. Những cánh cò đang lặn lội kiếm ăn, những chiếc nón nhấp nhô của mấy chị đi làm cỏ như những bông hoa trắng điểm trên nền thảm xanh đậm. * Tả khu vườn(Cây trái trong vườn Bác) Vườn cây ôm tròn gần nửa vòng cung quanh ao cá cứ nở đầy nỗi thương nhớ khôn nguôi. Vị khế ngọt Ba Đình. Hồng xiêm Xuân Đỉnh cát mịn. Bưởi đỏ Mê Linh, ô cái màu bưởi chín kì lạ sao, màu đỏ sẫm từng buông xuống mảnh đất tế cờ của Hai Bà Trưng. Hồng Liên Thôn! Cả một rặng cây hồng! Mùa đông, cây trụi hết lá, chỉ còn hàng trầm quả trĩu trịt trên cành màu hồng chói như hàng trăm chiếc đèn lồng cứ phập phồng thở lửa giữa sương giá, ơi cái màu thắm thiết và vồn vã, sum vầy muôn loài quả khác mang bóng dáng miền quê yêu thương. Bãi bờ Nam Bộ đậm vị phù sa trong múi bưởi Biên Hoà. Lặng lờ Hương Giang phảng phất hương khói trên cành quýt Hương cần nhỏ nhắn và quả thanh trà tròn xinh xứ Huế. ôi Bo treo lủng lăng trĩu nặng thơm hương sa bồi quê hương Thái Bình. Bưởi Đoan Hùng hiền lành khơi gợi hình ảnh bà bủ Việt Bắc đem quà tặng đoàn vệ quốc hành quân ngược bến Bình Ca lên chiến khu. (Theo Võ Văn Trực)
Đáp án đề 32 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
846
Đáp án đề 33 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Tả cảnh đẹp em từng đến cảm thấy thích thú 1. – 5 từ láy thường chỉ giọng nói, cách nói của trẻ em, VD: bập bẹ, thỏ thẻ, nũng nịu, nằng nặc, ngọng líu ngọng lô,… – Đặt câu, VD: + Bé Hà mới bập bẹ được mấy tiếng: “ba… má… bà…”. + Hễ thấy ba tôi dắt xe ra cửa là bé Minh lại nằng nặc đòi đi theo. 2. a) Viết lại 4 câu có sử dụng dấu ngoặc kép: “Rỉ rào, rì rào, con mèo nào mới về thế?” “Rì rào, rì rào, chú bé leo lên đây nào!” “Rì rào, rì rào, ừ chú trèo khá đấy!” “Ấy, ấy! Chú làm xước cả mình tôi rồi, để vuốt sắc mà bắt chuột chứ!” b) Đặt câu có dùng dấu ngoặc kép để đánh dấu lòi nói trực tiếp hoặc ý nghĩ của nhân vật, VD: Mẹ cười và bảo tôi: “Con thích lầm nhiều nghề thì tốt nhưng trước hết phải học cho giỏi đã!”. (Hoặc: Tôi băn khoăn suy nghĩ: “Mình làm như thế này là đúng hay sai?”) Đặt câu có dùng dấu ngoặc kép để đánh dấu những từ ngữ có ý nghĩa đặc biệt, VD: Vì Hùng rất tài bắt dế nên bọn tôi tôn cậu ta làm “tướng dế”. (Hoặc: Cả lớp hay gọi đùa Dung là ”hoa hậu đậu ” vì nó làm gì cũng vụng về, hỏng việc.) 3. Tham khảo: 4. 1. Xác định yêu cầu: Tả cảnh đẹp ở một nơi em đã từng đến thăm và cảm thấy thích thú. Chú ý: Nên chọn tả về cảnh đẹp (danh lam thắng cảnh) ngoài địa phương em, nơi em đã từng đến thăm và cảm thấy thích thú (vì vẻ đẹp mới lạ, vì sự hấp dẫn kì thú,…). 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tham khảo thêni về dàn bài tả cảnh đã luyện tập ở Đề 1, hoặc nội dung gợi ý trong SGK Tiếng Việt 5, tập hai, trang 134) 3. Tham khảo * Tả núi Bà Đen Người ta bảo núi Bà Đen là một thắng cảnh của miền sơn cước Tây Ninh, thật không phải quá đáng! Những buổi bình minh, mặt trời còn bẽn lẽn núp sau sườn núi, phong cảnh nhuộm những màu sắc đẹp lạ lùng. Hòn núi từ màu xám xịt đổi ra màu tím sẫm ; từ màu tím sẫm đổi ra màu hồng ; rồi từ màu hồng lần lần đổi ra màu vàng nhạt. Cho đến lúc mặt trời chễm chệ ngự trị trên chòm mây, ngọn núi mới trở lại màu xanh biếc thường ngày của nó. Ngoài cánh rừng sâu và núi cao, núi Bà Đen còn chứa bao nhiêu là kì quan và di tích: nào gót chân Phật trên thạch bàn ; nào suối vàng, hang gió ; nào điện thờ cổ kính, uy nghi. Đâu đâu củng có thơ đề, phú vịnh của khách thập phương vãng lai… * Tả cảnh ở Đà Lạt Đà Lạt là một trong những nơi nghỉ mát nổi tiếng vào bậc nhất ở nước ta. Đà Lạt phảng phất tiết trời của mùa thu với sắc trời xanh biếc và không gian khoáng đãng, mênh mông, quanh năm không biết đến mặt trời chói chang mùa hè. Đà Lạt giống như một vườn lớn với thông xanh và hoa trái xứ lạnh. Những vườn lê, táo,… trĩu quả, những vườn su hào, xà lách, cải bắp mơn mởn nối liền với thảm cỏ xanh trải nghiêng dưới chân núi đến những rừng thông hoa lá màu xanh mượt mà bất tận… Giữa thành phố có hồ Xuân Hương, mặt nước phẳng như gương phản chiếu sắc trời êm dịu. Hồ Than Thở, nước trong xanh, êm ả, có hàng thông bao quanh reo nhạc sớm chiều. Rừng mát rượi bóng thông, cỏ xanh mềm dưới chân như thảm trải. Ra xa phía nam thành phố thì gặp suối Cam Ly. Thác xối ào ào tung bọt trắng. Bên bờ suối, những thân cây nghiêng mình loà xoà lá biếc soi gương nước. (Tiếng Việt 3, tập một, 2000)
Đáp án đề 33 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
683
Đáp án đề 34 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án tả người mà em hằng yêu thương 1. Chia những dòng từ ngữ đã cho thành hai nhóm: (1) Từ ngữ nói về quyền của trẻ em: dòng a, dòng c, dòng g. (2) Từ ngữ nói về bổn phận của trẻ em: dòng b, dòng d, dòng e. 2. Ví dụ minh hoạ về tác dụng của dấu gạch ngang: a) Đánh dấu chỗ bắt đầu lòi nói của nhân vật trong đôi thoại: VD: Lan thủ thỉ với bà: – Bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe đi! b) Đánh dấu phần chú thích trong câu: VD: Hồ Gươm – một thắng cảnh giữa Thủ đô Hà Nội – là niềm tự hào của đất nước Việt Nam. c) Đánh dấu các ý trong một đoạn liệt kê. VD: Chúng em thực hiện năm điều Bác Hồ dạy: -Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào – Học tập tốt, lao động tốt – Đoàn kết tốt, kỉ luật tốt – Giữ gìn vệ sinh thật tốt – Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm. 3. Gợi ý: – Hình ảnh con cò thân thương luôn gắn với tuổi học trò ngây thơ, trong sáng của con (“Mai khôn lớn con theo cò đi học / Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân“). – Khi con lớn lên trỏ thành thi sĩ, hình ảnh con cò vẫn luôn gần gũi bên con (“Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ“), hiện ra ngay trước hiên nhà và “trong hơi mát câu văn” (ý nói câu văn có chất thơ đẹp đẽ, bay bổng như cánh cò trắng thân thương). 1. Xác định yêu cầu: Tả một người mà em hằng yêu thương, có nhiều ấn tượng sâu sắc đối với em. Chú ý: Người mà em chọn tả có thể là bố, mẹ, ông, bà, cô, chú,… trong gia đình, họ hàng hoặc cô giáo, thầy giáo, bác hàng xóm,… ; quá trình miêu tả, cần bộc lộ được tình cảm yêu thương, nêu được những ấn tượng sâu sắc của ngưòi đó đốĩ với em. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tham khảo thêm vê’ dàn bài tả người đã luyện tập ỏ Đề 12, hoặc nội dung gợi ý trong SGK Tiếng Việt 5, tập hai, trang 150.) 3. Tham khảo: * Tả bà Mái tóc đã điểm hoa râm như muốn nói rằng bà đã già, đã chịu nhiều nắng mưa, vất vả. Đúng thật, cứ tối tối, bà lại ngồi rang lạc để sáng hôm sau mang đi bán. Sáng sớm, em vừa thức dậy đã thấy bóng bà chập chờn ở vách tường. Nồi nước chè tươi đã sôi, bà rót vào âm. Khi em đi học, bà cũng đi bán nước chè tươi cùng lạc rang. Một buổi tối, khi em lên giường đã nằm ấm chỗ, bóng bà vẫn chập chờn cùng chỉếc áo tuột khuy của em. Bà vừa đơm khuy vừa rang lạc. Em vùng dậy, nhẹ nhàng bước đến bên bà. Đôi mắt đầy nếp nhăn của bà âu yếm nhìn em. Cho đến khi bà lên giường nằm, em mới yên trí ngủ được. Hai bà cháu ôm nhau mà ngủ. Sáng ra, khi đưa cho em một nghìn đồng, bà bảo: “Cầm lấy mà ăn sáng rồi đi học, kẻo đói cháu ạ!” cầm tờ giấy bạc trong tay nhưng hình ảnh người bà vất vả cứ ám ảnh em mãi… (Theo Lê Thu Hạnh) * Tả ông Ông em già nhất khu phố này. Râu tóc ông bạc trắng. Cả lông mày cũng bạc. Thỉnh thoảng, em vẫn nghĩ: ông em là một ông tiên. Tuy đã già, tuổi lại cao nhưng không một buổi sinh hoạt nào được khu phố mời mà ông lại không đi. Ai củng khen ông em tốt bụng. Chả là với người ốm, ông em đến tận nhà đề khám bệnh (vì ông em là bác sĩ về hưu). Khám bệnh xong, ông em ghi tên thuốc cần thiết để người nhà đi mua. Ông chỉ khám giúp mọi người mà không lấy tiền… Một hôm, em đi học về, thấy mẹ buồn buồn, em hỏi: “Mẹ có chuyện gì mà buồn thế?” Mẹ trả lời: “Ông đang bị ốm nặng, con ạ.” Em vội đạp xe đến nhà ông. Người đến thăm chật nhà. Ông nằm trên giường, đôi mắt nhắm nghiền. Em lại bên ông, khẽ gọi: “Ông ơi! Cháu đây mà!” Ông từ từ mở mắt, đưa tay sờ lên đầu giường. Ồ, đây là quyển truyện cổ mà em hằng mong ước. Ông khẽ mỉm cười. Em cảm động, ứa nước mắt. Em ở lại với ông khá lâu. Trước khi về, em nói khẽ với ông: “Ông ơi, cháu về đây. Ông uống thuốc cho chóng khoẻ, ông nhé!” Thế rồi ông em đã khỏi bệnh. Mọi người đều vui mừng, nhưng em là người sung sướng nhất. Sau trận ốm, ông em vẫn làm nhiều việc tốt như xưa. Ôi, có lẽ trên đời này, ông em là người mà em yêu quý nhất! (Theo Nguyễn Hương Quỳnh)
Đáp án đề 34 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
837
Đáp án đề 35 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án kể câu chuyện nói về tình bạn 1. a) Điền từ trẻ hoặc từ già vào chỗ trông: (1) Trẻ thì dưỡng cây, già thì cây dương. (2) Già được bát canh, trẻđược manh áo mới. (3) Trẻ trồng na, giàtrồng chuối. (4) Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ. (5) Yêu trẻ, trẻ hay đến nhà, kính già, giàđể tuổi cho. b) Nội dung, ý nghĩa: – Câu (1): Lúc trẻ trồng và chăm sóc cây thì khi già, cây sẽ đem lại lợi ích, nuôi dưỡng mình. – Câu (5): Có lòng thương yêu, kính trọng mọi người thì sẽ được mọi người luôn quý mến và sẽ gặp điều tốt lành. 2. Đặt câu theo yêu cầu của đề bài, VD: a) Câu có trạng ngữ chỉ thòi gian và trạng ngữ chỉ nơi chôn: – Vào giờ ra chơi, giữa sân trường, học sinh nô đùa thật vui vẻ. (Hoặc: – Trong lớp học, lúc cô giáo giảng bài, ai nấy đều chăm chú lắng nghe.) b) Câu có trạng ngữ chỉ nguyên nhân (hoặc trạng ngữ chỉ mục đích): –Nhờ quyết tâm cao, tập thể học sinh lớp 5A đã vươn lên dẫn đầu toàn trường về mọi mặt. (Hoặc: – Vì danh dự nhà trường, chúng em luôn phấn đấu trở thành học sinh giỏi toàn diện.) c) Câu có trạng ngữ chỉ thòi gian và trạng ngữ chỉ phương tiện: – Sáng hôm đó, bằng cây bút “Nét hoa”, tôi đã viết được bài chính tả rất đẹp. (Hoặc: – Ngày nào cũng vậy, với chiếc xe đạp cũ, bố luôn đưa tôi đến lớp đúng giờ.) 3. Gợi ý: Hình ảnh ngưỡng cửa qua mỗi khổ thơ gợi những điều đẹp đẽ và sâu sắc: – Khổ thơ 1: Ngưỡng cửa thân quen với em ngay từ thòi ấu thơ, chập chững bước đi trong tay bà, tay mẹ “dắt vòng đi men“. – Khổ thơ 2: Ngưỡng cửa là nơi chứng kiến sự vất vả, lo toan của bố mẹ nuôi con khôn lớn (“Nơi bố mẹ ngày đêm / Lúc nào qua cũng vội“) ; là nơi em gặp gỡ bạn bè trong niềm vui gặp mặt (“Nơi bạn bè chạy tới / Thường lúc nào cũng vui“). Khi em lớn lên, ngưỡng cửa thân quen cũng sẽ là nơi đưa em đến với “những con đường xa tắp” đầy ước mơ và hi vọng đón chờ. 4. 1. Xác định yêu cầu: Kể một câu chuyện nói về tình bạn (hoặc tình cảm gia đình, tình nghĩa thầy trò) từng để lại ấn tượng sâu sắc đối với em trong những ngày thơ ấu. Chú ý: Câu chuyện được kể lại có thể vui hay buồn, miễn sao được trình bày rõ ràng, mạch lạc (có mở đầu, diễn biến và kết thúc), bộc lộ được ấn tượng sâu sắc của em và nêu được ý nghĩa hay tác dụng của câu chuyện đó đối với em. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tham khảo thêm về dàn bài văn kể chuyện đã luyện tập ỗ Đề 22.) 3. Tham khảo: * Câu chuyện về tình bạn: Cây cúc Cả xóm ai cũng biết tôi và Hạnh chơi thân với nhau, tuy hai đứa không học cùng trường. Hôm nào Hạnh cũng sang nhà tôi chơi. Buổi trưa đi học về, Hạnh bế theo đứa em hai tuổi sang nhà tôi. Thấy Hạnh, tôi khoe ngay: – Nhìn xem, tớ trồng cây cúc này mới có một tháng mà đã nở hoa. Năm bông liền cơ nhé! Hạnh xuýt xoa: – Ôi, đẹp quá nhỉ! Hôm nào cho tớ một cành, được không? Tớ về trồng trong chậu cảnh. Tôi vênh mặt lên: – Ừ! Được rồi, nhưng phải để đến khi nào nó lớn cơ. Bây giờ còn non lắm. – Thế củng được. À! Tớ muốn hỏi một bài toán, cậu bảo giúp mình nhé. Tôi và nó lấy sách ra, chụm đầu vào học, chẳng để ý gì đến dứa bé chơi thơ thẩn ngoài sân. Con bé đang rứt từng bông hoa cúc ra, rồi xé nát. Mãi đến khi bé tè ra quần và khóc ré lên, chúng tôi mới chạy ra. Nhìn cây cúc, Hạnh tái mặt: – Ợ,… Huyền ơi,…tớ,… tớ xin lỗi. Cây,… cây cúc,… Trời đất! Cây hoa của tôi bây giờ chỉ còn trơ lại vài cái lá. Năm bông hoa đã nát vụn hết. – Trông em kiểu gì vậy? Lần sau đừng có mang theo em nữa nhé. – Tôi sừng sộ. – Tớ đâu có muốn thế. Tớ,… sơ ý quá. – Nó thanh minh. Tôi không nói gì thêm nữa. Nó lủi thủi đi về. Nhìn nó, tôi thấy mình quá đáng, định chạy theo, lại thôi. Đã ba tuần nay, tôi không sang nhà Hạnh. Có lẽ, nó cũng ngại nên không dám sang chơi nữa. Hôm nay, tôi sang nhà Hạnh mượn quyển sách. Thấy tôi, mẹ Hạnh bảo: – Cái Hạnh chuyển trường xuống ở cùng với bà nội rồi. À,… nó có gửi thư cho cháu đây. – Vừa nói, mẹ Hạnh vừa đưa cho tôi bức thư. Tôi cầm thư của nó chạy về nhà. Bức thư khá dài, đọc xong, tôi bồi hồi, nghĩ: “Thế là Hạnh đã tha lỗi cho tôi. Nó không giận mình. Thế mà mình đã nghĩ xấu về Hạnh. Nhưng, trong thư, Hạnh có nói sẽ về thăm mình và nhất định nó sẽ về”. Trong chậu, cây cúc mới trồng đang lặng lẽ nhú mầm. (KD – Tuyên Quang) * Câu chuyện vê tình mẹ con: Con xin lỗi mẹ! Mùa hè đã đến! Vài chú ve sầu kêu ra rả, những nụ hoa phượng chớm nở, khoe sắc đỏ dưới bầu trời xanh thẳm. Cái nắng bắt đầu bừng lên dữ dội. Cái nắng chói chang ấy bắt tôi ngồi chết dí ở nhà, thỉnh thoảng đôi chân bồn chồn như muốn chạy ngay đi. Có phải lời dặn dò của mẹ đã giữ chân tôi lại? Bỗng lúc đó có tiếng gọi: – Tí ơi! Tiếng của thằng Tuấn làm tôi giật mình. Tiếp đó là bước chăn nó chạy thình thịch lên cầu thang. Chưa vào đến nhà, nó đã láu táu không ra lời: – Đi tắm, đi tắm đi. – Tắm à? – Tôi thốt lên sung sướng. – Mau lên, bọn thằng Tân đi hết rồi. Nhưng tôi chợt nhớ ra, nói: – Mẹ tớ không cho tớ đi chơi. – Ôi, sao cậu nhát thế. Mẹ cậu có cho cậu “ăn lươn” đâu mà lo. Tuấn nói có vẻ khinh thường tôi lắm. Nhìn vẻ mặt nó, tôi ức quá, đáp lại: – Ừ, mấy khi đã ốm được nhỉ? Tuấn gật đẩu, rồi hai đứa chạy ù ra sông, nhập vào bọn thằng Tân, vui quá. Sau trận tắm đã đời, tôi sướng lắm và không hề nghĩ tới tai hoạ sắp ập đến. Tuấn về rồi, còn lại một mình, tôi bỗng thấy chóng mặt, người nóng ran. Tôi cố lê bước về đến nhà và nằm vội lên giường, ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Khi tỉnh dậy, tôi thấy ai đã đắp chăn cho mình. Chắc thấy thế này, mẹ giận và buồn lắm. Tôi cố ngồi dậy, thấy trên bàn kề bên giường nằm một bát cháo còn nóng. Một mảnh giấy nhỏ ghi vài chữ: “Tí con, khi tỉnh dậy, con nhớ ăn cháo và đừng ra nắng nữa nhé. Con còn sốt cao lắm”. “Ôi, mẹ tốt quá, mẹ không giận mình.” – Tôi thốt lên và nước mắt trào ra. Mẹ tôi phải đến nhà máy cho kịp giờ làm việc. Nếu mẹ có ở đây, chắc tôi đã gục đầu vào lòng mẹ, nức nở: “Mẹ ơi, con sẽ không bao giờ đi nghịch nắng nữa. Con xin lỗi mẹ!” (Lê Thanh Sơn – Thanh Hoá)
Đáp án đề 35 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
1,275
Đáp án đề 4 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án đề 4 học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. – Như đã hướng dẫn ở trên, dựa vào nội dung của câu, nội dung của các từ ngữ đứng trước và đứng sau vị trí trống, em lựa chọn từ thích hợp nhất trong các từ đồng nghĩa cho sẵn (ở trong ngoặc đơn). – Các lựa chọn: a) thành quả b) hậu quả c) nội quy 2. – Loại bài tập này khá thú vị. Các từ đồng nghĩa cùng xuất hiện trong một câu. Điều này đòi hỏi người làm bài phải phân biệt được các sắc thái nghĩa tinh tế của từng từ trong nhóm từ đồng nghĩa, để lựa chọn được từ thích hợp điền vào chỗ trống. – Các câu đã điền từ hoàn chỉnh như sau: a) Loại xe ấy tiêu hao nhiều xăng quá, không hợp ý muốn của người tiêu dùng nên rất khó tiêu thụ. b) Các nhà thơ là những ngưòi có tâm hồn thi sĩ. 3. Tham khảo: Bài thơ cho ta thấy quê hương của nhà thơ Trần Đăng Khoa rất đẹp. Một bên có ngọn núi uy nghiêm như đứng đó từ bao đồi nay. Một bên là cánh đồng rộng mênh mông, trải xa tít tắp như đến tận chân tròi. Ở giữa là xóm làng thân yêu được che chở bởi bóng cây xanh mát. Xa xa, hình ảnh dòng sông hiện trắng những cánh buồm, trông như đàn chim sải cánh bay trên trời cao. vẻ đẹp của quê hương nhà thơ làm ta thêm tự hào về đất nước Việt Nam. 1. Xác định yêu cầu: Tả một cảnh đẹp vào buổi chiều trong ngày. Chú ý: Em có thể chọn tả một cảnh vào buổi chiều trong phạm vi rộng hay hẹp, ỏ quê em hay ở một nơi em đã đến nhưng cần làm nổi bật được những nét đẹp (thể hiện sự quan sát kĩ và tinh tể) đồng thòi bộc lộ được tình cảm, thái độ (thể hiện sự yêu thích) đối với cảnh đẹp đó. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tương tự cách làm đã gợi ý ở Đề 1.) 3. Tham khảo (một sô” đoạn văn tả cảnh vật vào buổi chiều): * Buổi chiểu ở Đà Lạt Một buổi chiều cuối tháng năm, mưa dông vừa tạnh. Mặt trời hé nắng vàng vàng, không khí nhẹ và trong, mát rười rượi, kích thích đến tim óc. Tôi mở cửa ra bao lơn nhìn sang rừng thông. Tôi để ý nhìn những cây thông cao, vỏ nứt nẻ, cành sần sùi, cong queo một cách mĩ thuật không ngờ. Dưới chân cây, cỏ dại mọc dày, cao, lá thon thon vươn dọc ngang, lá đan dày um tùm. Tôi nhìn ra xa hơn. Hồ Đà Lạt nằm im, mặt nước xanh phản chiếu đồi núi và rừng thông xanh. Màu xanh và sự im lặng, cảnh bao la của núi rừng và không khí mát mẻ như kim châm vào da, tất cả đã nhẹ nhàng đưa óc tôi liên tưởng đến phong cảnh xứ Phần Lan tôi đã nhiều lần tưởng tượng thấy qua sách vở. vấn vương trên phong cảnh, tôi còn nghe phảng phất giọng nhạc của Giăng Xi-bề-li-út (Jean Sibélius), người nhạc sĩ đã hô hấp được cái hương vị của rừng thông âm u liên tiếp, của hồ nước lặng màu ngọc bích, của cảnh sắc đặc biệt xứ Phần Lan. (Theo Võ Hồng) * Biển chiểu Lại đến một buổi chiều gió mùa đông bắc vừa dừng. Biển lặng đỏ đục, đầy như mâm bánh đúc, loáng thoáng những con thuyền như những hạt lạc ai đem rắc lên trên… Một buổi chiều lạnh, nắng tắt sớm. Những núi xa lam nhạt pha màu trắng sữa. Không có gió, mà sóng vẫn đổ đều đều, rì rầm. Nước biển dâng đầy, quánh đặc một màu bạc trắng, lăn tăn như bột phấn trên da quả nhót. Chiều nắng tàn, mát dịu. Biển xanh veo màu mảnh chai. Núi xa tím pha hồng. Những con sóng nhè nhẹ liếm lên bãi cát, bọt sóng màu bưởi đào. (Vũ Tú Nam) xem thêm Đề 4 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 tại đây
Đáp án đề 4 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
712
Đáp án đề 5 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án đề 5 học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. Ở từng trường hợp, em đọc kĩ các câu thơ, chú ý những từ có nghĩa trái ngược nhau. Đó là các từ trái nghĩa. Cụ thể: a) trong / đục, khoan / mau (khoan là không dồn dập ; mau là nhịp độ dồn dập) b) vui vẻ / buồn bã (có thể nêu cả cặp: quen / lạ) c) đắng cay / ngọt bùi. 2. – Dựa vào nội dung câu tục ngữ, dựa vào nghĩa của từ ngữ in đậm cho sẵn, em tìm từ ngữ trái nghĩa điền vào chỗ trông, để hoàn chỉnh câu tục ngữ. – Các câu tục ngữ đã điền từ hoàn chỉnh. a) Chết đứng còn hơn sống quỳ. b) Chết trong còn hơn sống đục. c) Chết vinh còn hơn sống nhục. d) Chết một đống còn hơn sống một người. 3. Tham khảo: Hình ảnh đẹp nhất được gợi lên qua câu thơ: Chỉ còn tiếng đàn ngân nga Với một dòng trảng lấp loáng sông Đà. Đó là hình ảnh mang ý nghĩa sâu sắc: giữa con người với thiên nhiên, giữa ánh trăng với dòng sông dường như có sự gắn bó, hơà quyện thật đẹp đẽ. Tiếng đàn ngân nga, lan toả trong đêm trăng như lay động cả mặt nước sông Đà, làm cho dòng sông như dòng trăng ấy trở nên lấp loáng ánh trăng đẹp. 4. Chú ý: Nên tả rõ cả vẻ đẹp của trăng và những nét nổi bật của cảnh vật hiện ra dưới ánh trăng. Cảnh đêm trăng có thể xuất hiện hình ảnh con ngưòi và hoạt động nhưng chỉ là những nét phụ (không tả kĩ) ; trọng tâm miêu tả phải là những nét đẹp của cảnh vật trong đêm trăng đẹp. 2. Tìm ý, lập dàn bài. (Tương tự cách làm đã gợi ý ỏ Đề 1.) 3. Tham khảo (một số’ đoạn văn tả cảnh đêm trăng đẹp): * Trăng lên Ngày chưa tắt hẳn, trăng đã lên rồi. Mặt trăng tròn, to và đỏ, từ từ lên ở chân trời, sau rặng tre đen của làng xa. Mấy sợi mây con vắt ngang qua, mỗi lúc một mảnh dần rồi đứt hẳn. Trên quãng đồng rộng, cơn gió nhẹ hiu hiu đưa lại, thoang thoảng mùi hương thơm mát. Sau tiếng chuông của ngôi chùa cổ một lúc lâu, trăng đã nhô lên khỏi rặng tre. Trời bây giờ trong vắt, thăm thẳm và cao. Mặt trăng đã nhỏ lại, sáng vằng vặc ở trên không và du du như sáo diều. Ánh trăng trong chảy khắp nhành cây kẽ lá, tràn ngập con dường trắng xoá… Bức tường hoa giữa vườn sáng trắng lên, lá lựu dày và nhỏ nhấp nhánh như thuỷ tinh. Một cành cây cong xuống rồi vụt lên, lá rung động lấp lánh ánh trăng như ánh nước. (Thạch Lam) * Trăng trên biển Trăng trên sông, trên đồng, trên làng quê, tôi đã thấy nhiều. Duy trăng trên biển lúc mới mọc thì đây là lần đầu tiên tôi được thấy. Đẹp quá sức tưởng tượng! Màu lòng đỏ trứng mỗi lúc một sáng hồng lên, rất trong. Càng lên cao, trăng càng nhỏ dần, càng vàng dần, càng nhẹ dần. Bầu trời cũng sáng xanh lên. Mặt nước loá sáng. Cả một vùng nước sóng sánh, vàng chói lọi. Càng lên cao, trăng càng trong và nhẹ bỗng. Biển sáng lên lấp loá như đặc sánh, còn trời thì trong như nước. Có trăng, những tiếng động như nhoà đi, nghe không gọn tiếng, không rõ ràng như trước… (Trần Hoài Dương)
Đáp án đề 5 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
602
Đáp án đề 6 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án đề học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. Ở từng trường hợp, dựa vào nội dung của cụm từ, dựa vào nghĩa của từ in đậm, em tìm từ trái nghĩa thích hợp. Cụ thể: a) cứng: – thép cứng / mềm – học lực loại cứng / yếu kém – động tác còn cứng / mềm mại b) non: – con chim non / già – cân này hơi non / già, đủ – tay nghề non / vững, vững vàng c) nhạt: – muối nhạt / mặn – đường nhạt /ngọt – màu áo nhạt / đậm – tình cảm nhạt / đằm thắm 2. a) Trước hết, đối với mỗi từ cho sẵn, em tìm một từ trái nghĩa. Cụ thể: – thật thà / dối trá – hiền lành / độc ác – siêng năng / lười biếng b) Sau đó, tìm các từ đồng nghĩa cho từng từ trong mỗi cặp từ trái nghĩa nói trên. Cụ thể: – thật thà, chân thật, thành thật, chân thực, thành thực II dôi trá, giả dối, gian dối, gian giảo, xảo trá,… – hiền lành, hiền, hiền hậu, hiền hoà, lành, lành hiền II ác, độc ác, tàn ác, hung ác, ác nghiệt, dữ, hung dữ, hung tợn,… – siêng năng, chăm, chăm chỉ, chịu khó, cần cù, cần mẫn, chuyên cần, siêng II lười, lười biếng, lười nhác, chây lười,… 3.Gợi ý: Cảm nhận về trái đất thân yêu: – Trái đất là tài sản vô giá của tất cả mọi người. – Trái đất được so sánh với hình ảnh quả bóng xanh bay giữa trời xanh cho thấy vẻ đẹp của sự bình yên, của niềm vui trong sáng, hồn nhiên. – Trái đất đẹp và nên thơ với hình ảnh cánh chim hải âu bay chập chờn trên sóng biển. 4. 1. Xác định yêu cầu: Tả ngôi nhà em đang ở cùng với những ngưòi thân. Chú ý: Nêu được tình cảm yêu thích và gắn bó với ngôi nhà của mình. 2. Tìm ý, lập dàn bài: a) Mở bài (giới thiệu bao quát về ngôi nhà) – Ngôi nhà (căn hộ,…) ở địa điểm (vị trí) nào? Nơi đó có đặc điểm gì dễ nhận ra (hoặc có điểm gì thuận lợi đốỉ với em và người thân trong gia đình)? – Hoặc: Hoàn cảnh (lí do) em được ngắm kĩ ngôi nhà (hoặc nhớ lại ngôi nhà). VD: Có dịp đi xa, em nhớ về ngôi nhà thân yêu,… b) Thân bài (tả từng phần) – Hình dáng bên ngoài: Kích thước, kiểu dáng, chất liệu xây dựng,… có điểm gì nổi bật? Nét riêng có thể phân biệt ngôi nhà (căn hộ) em ỏ với những ngôi nhà (căn hộ) khác?… – Đặc điểm bên trong: + Nhà gồm mấy gian (phòng)? Được bố trí thế nào? Lối đi, cửa ra vào, cửa sổ, nền nhà,… có gì đáng nói? + Gian nhà (căn phòng) chính (trung tâm) được bày biện (đồ đạc, vật dụng trang trí) ra sao? cảnh (bộ phận) phụ liên quan đến ngôi nhà (như: bếp, sân chơi, bồn hoa, vưòn rau,…) có những nét gì nổi bật? c) Kết bài (nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ) – Em nghĩ gì về ngôi nhà (căn hộ) của gia đình mình? – Hoặc: Tình cảm, thái độ của em đối với ngôi nhà (căn hộ) đó ra sao? Giá trị, ý nghĩa của ngôi nhà (căn hộ) đó đôi với em và gia đình thế nào? 3. Tham khảo (một số đoạn văn tả ngôi nhà): * Ngôi nhà ở thành phố Ngôi nhà rất rộng, đủ chỗ cho hàng chục người ở. Năm phòng được bô trí thuận tiện. Đầu tiên là phòng khách được trang trí đơn sơ mà trang nhã. Bộ sa lông màu mận chín kê quanh chiếc bàn tròn bằng gỗ cẩm lai, trên mặt kê miếng kính trong suốt. Chiếc tủ buýp-phê đặt ở giữa phòng, bên trong là những bộ đồ trà, chén, đĩa cổ và những bình hoa các kiểu. Chú gấu nhồi bông, cô búp bê tóc vàng của em cũng được mẹ bày trong đó. Trên tường, hai bức tranh phong cảnh quê hương treo đối diện. Chiếc đồng hồ sau mỗi giờ lại điểm những tiếng chuông ngân nga, thánh thót. Tại phòng khách này, gia đình em đã bao lần sum họp, chia sẻ vui buồn, bao lần tiễn đưa năm cũ và đón mừng năm mới… (Thực hành Tập làm văn 4, 2002) * Ngôi nhà ở nông thôn … Đó là căn nhà ba gian lợp lá kè, ẩn dưới những lùm cây xanh um đầu làng. Từ xa chưa nhìn thấy được đâu. Mấy ngọn kè cao vượt lên những rặng tre xanh kia là nhà em đó. Vào nhà phải qua một cái công tre, có thể chống lên sập xuống được. Hai hàng răm bụt được xén ngang bằng vai người, thẳng tắp, men theo hai bên lối đi vào nhà. Cái sân tráng tro lò nhẵn bóng. Mùa hè, phơi lúa, phơi khoai chỉ ba nắng là khô giòn. Chiều chiều, cả nhà thường dọn cơm ăn ở sân cho mát. Thềm nhà được xây bao bằng gạch xỉ. Nhà em chưa xây tường, vách trát bằng vữa vôi cát. Nước vôi quét từ tết năm ngoái vẫn còn trắng. Cánh cửa ra vào bằng gỗ thông ghép lại. Hai cửa sổ hai bên được làm tạm bằng phên nứa. Gian giữa có bộ ghế mộc để tiếp khách. Trên vách cao gần xà nhà, ảnh Bác Hồ lồng trong khung kính. Dưới ảnh Bác có bức tranh ngũ quả. Gian bên phải là nơi nghỉ của bố mẹ em, gian bên trái kê một giường đôi, gần cửa sổ là góc học tập của chị em chúng em. (Theo Hoàng Anh)
Đáp án đề 6 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
955
Đáp án đề 7 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án học sinh giỏi Tiếng Việt Tả con đường 1. a) Tìm từ trái nghĩa. VD: nhỏ bé / to lớn ; sáng sủa Ị tối tăm ; vui vẻ / buồn bã ; cao thượng / thấp hèn ; cẩn thận / cẩu thả ; đoàn kết / chia rẽ. b) Đặt câu. VD: – Đoàn kết là sổhg, chia rẽ là chết. – Cô bé đang vui vẻ bỗng trở nên buồn bã. 2. Các từ trái nghĩa với từ in đậm: – hoa tươi / héo – rau tươi / úa – cá tươi / ươn – trứng tươi / ung – cau tươi / khô – củi tươi / khô – nét mặt tươi / ỉu xìu – màu sắc tươi / xỉn 3.Tham khảo: Hạt gạo của làng quê ta đã từng phải trải qua biết bao khó khăn thử thách to lớn của thiên nhiên: nào là bão tháng bảy (thường là bão to), nào là mưa tháng ba (thường là mưa lớn). Hạt gạo còn được làm ra từ những giọt mồ hôi của ngưòi mẹ hiền trên cánh đồng nắng lửa: “Giọt mồ hôi sa / Những trưa tháng sáu / Nước như ai nấu / Chết cả cá cờ / Cua ngoi lên bờ / Mẹ em xuống cấy…”. Hình ảnh đối lập ở hai dòng thơ cuối (”Cua ngoi lên bờ / Mẹ em xuống cấy”) gợi cho ta nghĩ đến sự vất vả, gian truân của người mẹ khó có gì so sánh nổi. Càng cảm nhận sâu sắc được nỗi vất vả của người mẹ để làm ra hạt gạo, ta càng thêm yêu thương mẹ biết bao nhiêu! 1. Xác định yêu cầu: Tả con đường (hoặc một đoạn đường) quen thuộc nơi em ở (hoặc con đường ở nơi khác mà em yêu thích vì một lí do nào đó, VD: có nhiều cây xanh, hoặc trồng toàn một loài cây em thích, có kỉ niệm đáng nhớ,…) 2. Tìm ý, lập dàn bài: a) Mờ bài (giới thiệu con đưòng sẽ tả) – Con đường (hoặc đoạn đường) ở thành phố hay nông thôn, miền núi,…? Con đường (đoạn đường) ấy quen thuộc với em từ bao giờ? – Hoặc: Lí do vì sao em yêu thích, gắn bó, muốn tả lại con đường đó? b) Thân bài (tả từng phần) – Đặc điểm nổi bật của con dường (đoạn đường): Đường dài hay ngắn, lớn hay nhỏ, thẳng tắp hay quanh co, uốn khúc,…? Đường đất hay đường rải đá, đổ bê tông, lát gạch hay láng nhựa? Mặt đường bằng phẳng hay gập ghềnh, lồi lõm, mấp mô,…? – Cảnh vật hai bên đường (hoặc hai bên vỉa hè đường phố): Nhà cửa (cơ quan, cửa hàng, nhà máy,…), cây cối hay sông máng, kênh rạch, cánh đồng, vườn tược,… có gì nổi bật đáng chú ý (hoặc yêu thích đối với em)? – Cảnh trên đường: Có điểm gì nổi bật (người, xe cộ vắng vẻ hay qua lại tấp nập,…) vào lúc sáng (hoặc trưa, chiều, tối)? Chú ý: Cần tập trung tả cảnh vật, không thiên về tả người và hoạt động. – Em có những suy nghĩ gì về con đường quen thuộc (hoặc đoạn đường em thích)? – Hoặc: Thái độ, tình cảm của em đối với con đường đó ra sao? 3. Tham khảo (một số đoạn văn tả con đường): * Con đường quen thuộc ở làng quê Con đường làng em có cây đa già sừng sững trên bờ đê như một người lính gác. Bắt đầu từ đó, đường đổ dốc xuống, chạy qua giữa làng làm ranh giới cho hai xóm. Mặt đường vào làng không rộng lắm, chỉ vừa một xe trâu đi. Những phiến đá to gần bằng bàn nước xếp hàng tư lát dọc mặt đường cho đến hết làng. Mặt đá trơn mòn dưới nắng mưa, nổi vân màu chì ngang dọc, nhiều chỗ lõm xuống như lòng mâm. Hai bên đường, nhà cửa san sát. Cứ nhìn những phiến đá ven đường là biết ngay cổng từng nhà. Phiến đá to nhất, nhẵn bóng, vẽ đủ bá bốn “bàn cờ tướng” đúng là cổng nhà cậu Toàn. Phiến đá màu trắng ngà, nổi vân như đầu con rồng chính là nhà thầy Hoán dạy em năm ngoái. Còn kia là phiến đá vuông màu xanh ghi quen thuộc, đó chính là lối đi vào nhà em. Vui nhất là những lúc chiều tà, trâu bò thả cỏ ở ven đê đi về làng, những chiếc móng gõ côm cốp trên mặt đường. Xe trâu, xe cải tiến lóc cóc lăn bánh, xe đạp thồ xuống dốc nhảy tưng tưng qua các phiến đá mấp mô trên mặt đường. Những tối sáng trăng, mặt đường như chiếc khăn sọc trắng vắt qua vai làng em. Dưới ánh trăng, chúng em vui đùa, chạy nhảy trên con đường quen thuộc ấy. (Theo Hoàng Lan) * Đoạn đường quen thuộc ở thành phố Ánh nắng xuyên qua các kẽ lá, chiếu xuống mặt đường thành những đốm sáng lung linh. Hai hàng long não xanh um vẫy những chùm lá tươi non như những bàn tay trẻ em chào đón khách qua đường. Trên cành cây, các chú chim say sưa dạo khúc nhạc buổi sáng thật tuyệt vời. Tôi tung tăng cắp sách tới trường, lòng nhẹ nhàng, thanh thản. Đoạn đường đầy ắp tiếng cười nói của các bạn học sinh. Những chiếc khăn quàng đỏ thắm bay bay trong gió tô điểm cho chiếc áo của đường phố thêm màu rực rỡ. Ô tô, xe máy chạy xuôi ngược trên đường cuốn theo những làn bụi trắng. Làn gió nhẹ nhàng đưa hương thơm của hoa lá thoang thoảng bay đâu đây. Những ngôi nhà, cửa hàng, cửa hiệu ven đường đã thức dậy để bắt đầu một ngày lao động mới… (Theo Hoàng Dạ Thi)
Đáp án đề 7 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
976
Đáp án đề 8 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đáp án đề học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. Muốn tìm được các cặp từ trái nghĩa, em đọc kĩ từng thành ngữ, tục ngữ, chú ý các từ có nghĩa trái ngược nhau. Các cặp từ trái nghĩa tìm được là: a) thấp / cao b) nhác / siêng c) khôn / dại d) đi / về, già / trẻ e) đói / no 2. – Em đọc kĩ từng dòng thơ, chú ý các từ có nghĩa trái ngược nhau. Các cặp từ trái nghĩa tìm được là: a) to / nhỏ b) lở / bồi c) buồn / vui, xa / gần d) cũ / mới – Phân tích tác dụng của một cặp từ trái nghĩa. VD: to / nhỏ. Cặp từ trái nghĩa này tạo nên ấn tượng về sự đối lập giữa lưng núi to và lưng mẹ nhỏ. Lưng mẹ nhỏ nhưng vẫn là cái nôi êm đềm cho con ngủ. Lưng mẹ không to như lưng núi, nhưng tình thương yêu mẹ dành cho con thì không gì sánh nổi… Cặp từ trái nghĩa to / nhỏ đã góp phần diễn tả nội dung nói trên. 3. Tham khảo: Đoạn thơ giúp ta cảm nhận được vẻ đẹp hấp dẫn của rừng mơ Hương Sơn. Rừng mơ bao quanh núi, rừng mơ được nhân hoá (“ôm lấy núi“) càng cho ta thấy sự gắn bó với núi một cách gần gũi, thân thiết và yêu thương. Hoa mơ nở trắng như mây trên trời đọng (kết) lại. Gió chiều đông nhẹ nhàng gờn gợn đưa hương hoa mơ lan toả khắp nơi. Có thể nói: đoạn thơ đã vẽ ra bức tranh mang vẻ đẹp của đất tròi thiên nhiên hoà quyện trong rừng mơ Hương Sơn. 1. Xác định yêu cầu: Tả một vườn rau (hoặc vườn hoa) gần nơi em ở (hoặc nơi em có dịp đến thăm). Chú ý: Nên chọn tả cảnh vưòn rau (vườn hoa) ở một thòi điểm cụ thể (sáng, trưa, chiều), vào một mùa xác định (xuân, hạ, thu, đông, hoặc mùa khô, mùa mưa) ; làm nổi bật hình ảnh cây rau (hoặc hoa) nhưng không quá thiên về tả cây cối (chú trọng về cảnh vật nhiều hơn). 2. Tìm ý, lập dàn bài: a) Mở bài (giới thiệu khu vưòn ) – Vườn rau (hoa) của ai? Ở vị trí nào? Tên gọi của vườn (nếu có) là gì?… – Hoặc: Em có dịp nhìn thấy (hoặc quan sát kĩ) vườn rau (hoa) ấy vào dịp nào? Vì sao em muốn tả cảnh đó?… b) Thân bài (tả từng phần) – Đặc điểm bên ngoài: Vưòn rộng hay hẹp? Xung quanh vườn có gì nổi bật? Cổng (lốĩ đi) vào ra sao?… – Cảnh nổi bật trong vườn: + Các cây rau (hoa) được trồng ra sao? Màu sắc, hình dáng, hương vị nổi bật mà em cảm nhận được là gì? Cầy rau (hoa) nào gây chú ý nhiều nhất đốỉ với em? Vì sao?…+ Các luống rau (hoa) được bô” trí ra sao? Lối đi lại thế nào? Có luống rau (hoa) nào làm em chú ý?… Chú ý: Nếu vườn rau (hoa) có cảnh người đi lại, hoạt động, em nên tả sơ qua vài nét (không tả kĩ). 3. Tham khảo (một sô” đoạn văn tả vườn rau, vưòn hoa): * Tả vườn rau xanh Vườn được chia làm nhiều luống, giữa các luống là đường đi nhỏ để hằng ngày bà em tưới rau. Đây rồi, những bé xà lách xanh non khum sát vào nhau, phiến lá có nhiều nếp nhăn như những gợn sóng lăn tăn ở mặt hồ. Những bé xà lách yếu ớt nép cạnh các anh su hào như muốn nhờ che chở những cơn gió bấc. Các chị cải bắp như chiếc rổ con úp ngược. Trời rét, các chị đứng im, cố kéo chiếc “áo lông” ấm áp vào người. Các anh “su hào bánh xe” còn nhỏ, để lộ một lớp phấn trắng mịn. Những chiếc lá màu xanh mỡ màng có đường viền răng cưa xoè ra từ thân củ mới chỉ bằng nắm tay. Mỗi khi có gió thổi, những chiếc lá khẽ đung đưa như những chiếc tai thỏ vẫy vẫy… (Theo Thăng Long) * Tả vườn hoa đẹp Bước qua cổng sắt, em như lạc vào thế giới hoa rực rỡ màu sắc. Nào là dãy hồng nhung phô những đoá hoa còn ướt đẫm sương đêm. Hồng đỏ kiều diễm, kiêu sa. Hồng vàng xinh tươi, lộng lẫy. Hồng trắng thanh lịch, mĩ miều. Nhiều đoá hoa đang hé nở, nhuy hoa còn e lệ núp sau tầng cánh mịn, hương thơm thoang thoảng. Phía bên trái là khu trồng hoa mặt trời (hướng dương), mỗi đoá to bằng cả một cái đĩa lớn. Cánh hoa dài, màu vàng tươi, xoè rộng như những tia nắng trong buổi bình minh… Phía bên phải trồng hoa tú cầu. Hoa mọc thành từng chùm to, màu xanh da trời điểm vài đốm trắng trông thật quý phái. Xa xa, những bông vạn thọ vàng tươi đang toả hương thơm đậm… (Thực hành Tập làm văn 4, 2002)
Đáp án đề 8 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
858
Đáp án đề 9 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. Từ đồng âm là những từ có hình thức âm thanh và chữ viết giống nhau nhưng nghĩa khác nhau. Các từ này vốn không liên quan gì với nhau. Sự giống nhau về hình thức chỉ là ngẫu nhiên. Bài tập này yêu cầu nhận biết từ đồng âm trong các câu cho sẵn và phân biệt nghĩa các từ đồng âm này. Cụ thể như sau: a) – Từ bạc. – Phân biệt nghĩa: (1) Cái nhẫn bằng bạc: Bạc chỉ kim loại có màu trắng. (2) Đồng bạc trắng hoa xoè: Tiền. (3) Cờ bạc là bác thằng bần: Một trò chơi ăn tiền. (4) Ông Ba tóc đã bạc: Màu trắng. (5) … bạc như vôi: Tình nghĩa không trọn vẹn. (6) … phải thay bạc: Một bộ phận trong quạt máy. – Các từ bạc ở 1, 4, 5, 6 là từ đồng âm ; các từ bạc 1, 2, 3 là từ nhiều nghĩa. b) – Từ đàn. – Phân biệt nghĩa: (1) Cây đàn ghi ta: Đàn chỉ một loại nhạc cụ. (2) Vừa đàn vừa hát: Đánh, gảy (đàn). (3) Lập đàn để tế lễ: Nền đất đắp cao hoặc đài dựng cao để tế lễ. (4) Bước lên diễn đàn: Nơi diễn thuyết. (5) Đàn chim…: Tập hợp số đông động vật cùng loài. (6) Đàn thóc ra phơi: San ra cho đều trên bề mặt. 2. Sự tương ứng giữa từ và nghĩa của từ như sau: – Từ sao trong câu a: Chỉ các thiên thể trong vũ trụ. – Câu b: Chép lại hoặc tạo ra bản khác theo đúng bản chính. – Câu c: Tẩm một chất nào đó rồi sấy khô. – Câu d: Nêu thắc mắc… – Câu e: Ngạc nhiên, thán phục. 3. Gợi ý: – Hình ảnh có sức gợi tả sinh động: khói nghi ngút cả một vùng tre trúc (khi xóm cồn Hến nấu cơm chiều) – gợi tả vẻ ấm áp, bình yên của người dân thôn xóm ven sông, giúp người đọc tưởng tượng ra bức tranh thuỷ mặc đơn sơ nhưng có cả một không gian rộng rãi (khói bay lên bầu trời, tre trúc và sông nước trên mặt đất). – Âm thanh có sức gợi tả sinh động: tiếng lanh canh của thuyền chài gỡ những mẻ cá cuối cùng truyền đi trên mặt nước (ở đâu đó sau khúc quanh vắng lặng của dòng sông) dường như có sức âm vang xa rộng trong khung cảnh tĩnh lặng, khiến tác giả có cảm giác mặt sông nghe như rộng hơn, gợi cho người đọc cảm nhận được vẻ thanh bình và nên thơ của một buổi chiều trên sông Hương. 4. 1. Xác định yêu cầu: Tả cảnh ngôi trường (chú ý làm nổi bật những cảnh vật đã từng gắn bó với em trong những ngày thơ ấu cắp sách đến trường). 3. Tham khảo (một số đoạn văn tả cảnh vật trong trường); * Sân trường có hàng cây xà cừ xen lẫn phượng vĩ. Mùa hè, hoa phượng nở đỏ thắm như những chùm lửa lập loè. Mùa xuân, chim về làm tổ trên cành cây, hót líu lo trong ngày xuân se lạnh. Bên trái sân trường là vườn sinh vật. Những bông hoa đẹp, những cây thuốc quý quây quần ở đây. Ngày ngày, chúng tôi vẫn bắt sâu, nhổ cỏ cho cây. Cạnh vườn có một bức tường nền trắng nổi bật lời dạy của Bác Hồ: Vì lợi ích mười năm: trồng cây Vì lợi ích trăm năm: trồng người. (Theo Vũ Hoàng Linh) * Trong trường, lác đác một vài bạn trực nhật đang mở cửa phòng học để quét dọn. Làn gió sớm mát rượi thổi qua làm em khoan khoái, dễ chịu khi bước đi trên hàng hiên rộng của dãy lớp học. Sáu phòng học nối tiếp nhau, cùng một kiểu kiến trúc, một kiểu trang trí. Phòng học nào cũng có một cửa ra vào và hai cửa sổ quay ra hành lang. Cửa sổ có chấn song, hai cánh cửa sơn màu xanh xám, nổi bật trên nền vôi vàng của bức tường mới quét lại trong hè. Nếu không đọc tên bảng lớp gắn ngay trên cửa ra vào thì ngay chúng em cũng vào nhầm lớp. (Thực hành Tập làm văn 4, 2002)
Đáp án đề 9 – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
719
Đáp án Đề kiểm tra cuối kì I – Đề 9 – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn ĐÁP ÁN ĐỀ 9 Bài 1: 3 điểm – Tìm được các từ ghép, từ láy đúng yêu cầu: + 4 từ ghép có tiếng xa, gồm: 2 từ ghép có nghĩa tổng hợp, VD: xa lạ, xa vắng (xa gần, gần xa, xa cách, xa lánh, xa rời, xa xưa,…); 2 từ ghép có nghĩa phân loại, VD: xa tít, xa lắc (xa tắp, xa thẳm, xa vời, xa vời vợi,… ). + 4 từ ghép có tiếng nhỏ, gồm: 2 từ ghép có nghĩa tổng hợp, VD: nhỏ bé, nhỏ dại (nhỏ nhẹ, nhỏ to, nhỏ yếu,…) ; 2 từ ghép có nghĩa phân loại, VD: nhỏ xíu, nhỏ thó (nhỏ con,…). + 2 từ láy có tiếng xa, VD: xa xôi, xa xăm (xa xa, xa xả,…). + 2 từ láy có tiếng nhỏ, VD: nhỏ nhắn, nhỏ nhoi(nhỏ nhặt, nhỏ nhẻ, nhỏ nhen,…). – Đúng mỗi từ được 0,25 điểm. Đúng toàn bộ cả 12 từ: 3 điểm. Bài 2 : 1 điểm – Điền từ thích hợp {đã, đang, sắp) vào chỗ trống như sau: a) Trên bờ sông, Rùa đang cố sức tập chạy. b) Thỏ đãmỉm cười và chế diễu Rùa chậm chạp. c) Bỗng Thỏ nghĩ đến cuộc thi, ngẩng đầu lên thì đãthấy Rùa sắp chạy tới đích. – Điền đúng mỗi từ được 0,25 điểm. Đúng cả 4 từ: 1 điểm Bài 3: 2 điểm – a) Nêu được mục đích của mỗi câu hỏi: (1) Bà ơi, ai cũng bảo anh em cháu giống nhau như những giọt nước cơ mà? (2) Những con bồ câu cũng cần ăn chứ nhỉ? (Dùng để khẳng định) (3) Tớ nhảy qua con cá chuối bao giờ? (Dùng để phủ định) (4) Ông giấu cày mà la to như thế, kẻ gian nó biết chỗ, lấy cày đi thì sao? (Dùng để thể hiện thái độ chê trách) (5) Cháu đã biết nấu ăn ngon như thế này từ bao giờ thế? (Dùng để thể hiện thái độ khen ngợi) (6) Bạn có thể cho mình mượn hộp bút chì màu một lúc được không? (Dùng để thể hiện yêu cầu, mong muốn) b) Viết một câu hỏi không nhằm mục đích để hỏi. VD: Cháu có nước da trắng đẹp giống mẹ như thế này sao? (Dùng để thể hiện thái độ khen ngợi) – Xác định đúng mục đích của mỗi câu hỏi được 0,25 điểm (đúng cả 6 câu: 1,5 điểm); đặt được câu hỏi đúng yêu cầu đã cho được 0,5 điểm. Đúng toàn bộ cả hai phần (a,b): 2 điểm. Bài 4: 2 điểm – Đặt được 4 câu kể Ai làm gì? và thực hiện đúng yêu cầu bài tập. VD: (1) Các bạn nam / chơi bi. (2) Các bạn nữ / nhảy dây nhanh thoăn thoắt. (3) Bạn Hùng và bạn Long / đá cầu rất diệu nghệ. (4) Linh Hương / ngồi đọc sách say sưa dưới gốc phượng. – Mỗi câu đúng yêu cầu được 0,5 điểm. Đúng toàn bộ 4 câu: 2 điểm. * Chú ý: Học sinh đặt câu đúng nhưng không gạch chéo hoặc gạch chéo chưa đúng giữa hai bộ phận CN / VN, không gạch dưới hoặc gạch dưới chưa đúng động từ trong vị ngữ thì bị trừ 0,25 điểm ở mỗi câu. – Hiểu được lí do nhà văn Thép Mới tin tưởng rằng hình ảnh cây tre sẽ còn mãi với các em, với đân tộc Việt Nam chúng ta: + Cây tre có vẻ đẹp giản dị mà đằm thắm, mang nét đặc trưng của đất nước Việt Nam. Hình ảnh cây tre gắn bó với thiên nhiên và con người Việt Nam từ rất lâu đời, đến hôm nay vẫn còn thân thiết và góp phần tô đẹp thêm môi trường sống của chúng ta. + Hình ảnh cây tre gợi lên những phẩm chất tốt đẹp của người Việt Nam: cần cù, đoàn kết, ngay thẳng,… Hình ảnh búp măng non trên huy hiệu Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh tượng trưng cho thế hệ trẻ Việt Nam đang lớn lên, trưởng thành, nối tiếp cha anh xây dựng đất nước hoà bình, hạnh phúc. – Tuỳ mức độ trình bày, diễn đạt được hai ý cơ bản nói trên, có thẹ cho điểm theo các mức đã nêu ở Đề 1 (Bài 5). Hoặc có thể cho điểm theo từng ý trên, mỗi ý 1 điểm. Bài 6: 8 điểm – Dựa vào khổ thơ Bê Vàng đi tìm cỏ… Vẫn gọi hoài: “Bê! Bê!”, tưởng tượng được diễn biến chính của sự việc với những chi tiết cụ thể, sinh động (Bê Vàng đỉ tìm cỏ, quên đường về… ; Dê Trắng thương bạn, đi tìm bạn khắp nơi…). Biết kể lại câu chuyện một cách mạch lạc, theo ba phần của cốt truyện (mở đầu, diễn biến, kết thúc) ; rõ hình dáng và tính cách của hai nhân vật chính Bê Vàng, Dê Trắng ; câu chuyện nói lên được ý nghĩa: tình bạn giữa Bê Vàng và Dê Trắng thật sâu nặng và đẹp đẽ. Bài viết có độ dài tối thiểu khoảng 12 câu, đủ 3 phần theo cấu tạo bài văn đã học {mở bài, thân bài, kết bài). Diễn đạt rành mạch, không mắc lỗi về dùng từ, đặt câu, chính tả. TẢI VỀ TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Đáp án Đề kiểm tra cuối kì I – Đề 9 – Tiếng Việt 4
876
Đáp án Đề ôn tập kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 7 Hướng dẫn Đáp án đề cuối tuần Tiếng Việt 4 Tuần 7 I- 1.c 2.c 3.b (4).b II- 1. Viết đúng a) chăm chỉ, tròn trịa, tràn trề, chậm chạp b) nương rẫy, lương thực, vươn vai, vương vãi 2. Gạch dưới và viết đúng 10 danh từ riêng: Tống, Lê Hoàn, Đỗ Pháp Thuận, Nam, Mông Nguyên, Trần Quang Khải, Chương Dương, Hàm Tử, Nguyễn Trãi, Lê Lợi 3. Điền đúng: a) Lý Thái Tổ ( Lý Công Uẩn ) ; b) Quang Trung c) Bạch Đằng ; d) Bài Thơ e) Nghệ An 4. Tham khảo: Hồi tôi còn bé, nhà tôi nghèo lắm. Cha tôi làm nghề huấn luyện ngựa phải nay đây mai đó rất khổ cực. Còn tôi lại luôn có một ước muốn cháy bỏng được làm chủ một trang trại nuôi ngựa thật lớn. Thế rồi một hôm, thầy giáo giao cho chúng tôi đề bài tập làm văn “Lớn lên, em muốn làm nghề gì?”. Tôi đã viết say sưa về ước mơ của mình. Tôi còn vẽ cả sơ đồ trại nuôi ngựa rộng hàng hai trăm mẫu. Thật bất ngờ, thầy giáo cho tôi điểm 1 vì cho rằng ước mơ của tôi không thực tế. Thầy hứa sẽ sửa điểm nếu tôi làm lại bài văn. Từ bỏ ước mơ ư? Tôi suy nghĩ mãi và cuối cùng quyết định thà bị điểm 1 chứ không bao giờ từ bỏ niềm mơ ước. >> Xem thêm Đề kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 7 tại đây >> Tải file word đầy đủ tại đây Tags:Tiếng Việt 4
Đáp án Đề ôn tập kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 7
267
Đề bài: Đã có lần em mắc lỗi. Em hãy kể lại lỗi lầm đó Bài làm Đọc sách, tôi rất thích một câu nói của nhà văn người Úc: “Không có gì là hoàn hảo, có chăng chỉ là sự đề cao mà thôi”. Đúng, thử hỏi trong chúng ta có ai dám tự nói mình chưa mắc lỗi dù chỉ một lần không? Tôi cũng vậy, có lẽ tôi không thể quên lỗi lầm mình gây ra hôm đó, khiến người tôi yêu quý nhất – mẹ tôi, buồn lòng. Hôm ấy, đất dát vàng ánh nắng, trời mát dịu, gió khẽ hôn lên má những người đi đường. Nhưng nó sẽ là ngày tuyệt đẹp, nếu tôi không có bài kiểm tra khoa học tệ hại đến như vậy, hậu quả của việc không chịu ôn bài. Về nhà, tôi bước nhẹ lên cầu thang mà chân nặng trĩu lại. Tôi buồn và lo vô cùng, nhất là khi gặp mẹ, người tôi nói rất chắc chắn vào tối qua: “Con học bài kỹ lắm rồi”. Mẹ đâu biết khi mẹ lên nhà ông bà, ba đi công tác, tôi chỉ ngồi vào bàn máy tính chứ nào có ngồi vào bàn học, bởi tôi đinh ninh rằng cô sẽ không kiểm tra, vì tôi được mười điểm bài trước, nào ngờ cô cho làm bài kiểm tra mười lăm phút. Chả lẽ bây giờ lại nói với mẹ: “Con chưa học bài hôm qua” sao? Không, nhất định không. Đứng trước cửa, tôi bỗng nảy ra một ý “Mình thử nói dối mẹ xem sao”. Nghĩ như vậy, tôi mở cửa bước vào nhà. Mẹ tôi từ trong bếp chạy ra. Nhìn mẹ, tôi chào lí nhí “Con chào mẹ”. Như đoán biết được phần nào, mẹ tôi hỏi: “Có việc gì thế con”? Tôi đưa mẹ bài kiểm tra, nói ra vẻ ấm ức: Con bị đau tay, không tập trung làm bài được nên viết không kịp”… Mẹ tôi nhìn, tôi cố tránh hướng khác. Bỗng mẹ thở dài! “Con thay quần áo rồi tắm rửa đi!”. Tôi “dạ” khẽ rồi đi nhanh vào phòng tắm và nghĩ thầm: “Ổn rồi, mọi việc thế là xong”. Tôi tưởng chuyện như thế là kết thúc, nhưng tôi đã lầm. Sau ngày hôm đó, mẹ tôi cứ như người mất hồn, có lúc mẹ rửa bát chưa sạch, lại còn quên cắm nồi cơm điện. Thậm chí mẹ còn quên tắt đèn điện, điều mà lúc nào mẹ cũng nhắc tôi. Mẹ tôi ít cười và nói chuyện hơn. Đêm đêm, mẹ cứ trở mình không ngủ được. Bỗng dưng, tôi cảm thấy như mẹ đã biết tôi nói dối. Tôi hối hận khi nói dối mẹ. Nhưng tôi vẫn chưa đủ can đảm để xin lỗi mẹ. Hay nói cách khác, tôi vẫn chưa thừa nhận lỗi lầm của mình. Sáng một hôm, tôi dậy rất sớm, sớm đến nỗi ở ngoài cửa sổ sương đêm vẫn đang chảy “róc rách” trên kẽ lá. Nhìn mẹ, mẹ vẫn đang ngủ say. Nhưng tôi đoán là mẹ mới chỉ ngủ được mà thôi. Tôi nghĩ: Quyển “Truyện về con người” chưa đọc, mình đọc thử xem”. Nghĩ vậy, tôi lấy cuốn sách đó và giở trang đầu ra đọc. Phải chăng ông trời đã giúp tôi lấy cuốn sách đó để đọc câu chuyện “lỗi lầm” chăng! “… Khi Thượng đế tạo ra con người, Ngài đã gắn cho họ hai cái túi vô hình, một túi chứa lỗi lầm của mọi người đeo trước ngực, còn cái túi kia đeo ở sau lưng chứa lỗi lầm của mình, nên con người thường không nhìn thấy lỗi của mình”. Tôi suy ngẫm: “Mình không thấy lỗi lầm của mình sao?”. Tôi nghĩ rất lâu, bất chợt mẹ tôi mở mắt, đi xuống giường. Nhìn mẹ, tự nhiên tôi đi đến một quyết định: Đợi mẹ vào phòng tắm, rồi lấy một mảnh giấy nắn nót đề vài chữ. Mẹ tôi bước ra, tôi để mảnh giấy trên bàn rồi chạy ù vào phòng tắm. Tôi đánh răng rửa mặt xong, đi ra và… chuẩn bị ăn bữa sáng ngon lành do mẹ làm. Và thật lạ, mảnh giấy ghi chữ: “Con xin lỗi mẹ” đã biến đâu mất, thay vào đó là một chiếc khăn thơm tình mẹ và cốc nước cam. Tôi cười, nụ cười mãn nguyện vì mẹ đã chấp nhận lời xin lỗi của tôi. Đến bây giờ đã ba năm trôi qua, mảnh giấy đó vẫn nằm yên trong tủ đồ của mẹ. Tôi yêu mẹ vô cùng, và tự nhủ sẽ không bao giờ để mẹ buồn nữa. Tôi cũng rút ra được bài học quý báu: Khi bạn biết xin lỗi bố mẹ, bạn sẽ có nhiều hơn một thứ bạn vẫn đang có, đó là tình thương. “Từ thuở sinh ra tình mẫu tử trao con ấm áp tựa nắng chiều”.
Đã có lần em mắc lỗi. Em hãy kể lại lỗi lầm đó
824
Đã lâu rồi em không về thăm trường cũ, trường đã thay đổi nhưng vẫn giữ được những hình ảnh gắn bó với tuổi thơ của em. Em hãy tả lại ngôi trường thân thương ấy Gợi ý Từ ngày lên lớp 3, gia đình em chuyển đến một nơi ở mới cách xa ngôi trường tiểu học của em nên khi đó em cũng phải chuyển trường. Từ đó đến nay, đã lâu rồi em không được đến thăm ngôi trường thuở ấu thơ ấy của mình. Hôm nay, nhân dịp về thăm bà nội, em đã trở lại ngôi trường gắn bó với em suốt những năm đầu tiểu học. Khi em chuyển đi thì trường tiểu học bắt đầu sửa chữa và xây mới rất nhiều. Vì vậy, hôm nay em trở lại thấy có nhiều điều đã đổi thay. Tuy thế, trường vần giữ được những hình ảnh gắn bó với tuổi thơ của em. Con đường trước cổng trường được làm rộng hơn, cao hơn, bằng phẳng và thoáng đãng. Hai bên đường còn có vỉa hè sạch đẹp, có những cây phượng được trồng thẳng hàng rất đẹp mắt. Nhìn ra con đường đẹp đẽ ấy là cổng trường uy nghiêm cũng đã được xây mới. Tấm biển Trường ngày nào đã được thay nhưng vẫn được trang trí và sơn màu như cũ – nó giống hệt với hình ảnh tấm biển trường em được nhìn thấy vào ngày đầu tiên em bước vào lớp 1. Em cứ đứng ngắm mãi tấm biển ấy không thôi. Vừa thân quen lại vừa ngỡ ngàng như cận bé lớp 1 ngày đầu nhập học. Bước qua cánh cổng trường rộng mở là một không gian vừa lạ vừa quen. Lạ vì sân trường rộng hơn ngày trước rất nhiều. Trước đấy, sân trường chỉ bằng một nửa thế này và được lát gạch màu đỏ, nửa còn lại là một khu đất trống với cỏ dại và những cây bằng lăng gầy gò. Bây giờ, tất cả được lát gạch, những cây thân gỗ được xây bồn và chăm sóc chu đáo nên tất cả đều tươi xanh, rợp bóng. Dưới mỗi tán cây lớn lại có những chiếc ghế đá dành cho các em nhỏ ngồi nghỉ ngơi sau khi đã chơi đùa thỏa thích. Nhìn thẳng từ cổng trường vào là khu nhà của các thầy cô giáo, khu nhà ấy vẫn như xưa. Em còn nhớ, trước đây mỗi lần có chương trình văn nghệ, các thầy cô thường làm sân khấu trước khu nhà này. Nhìn khu nhà thân quen, em như nhìn thấy chính mình đang đứng hát trước khu nhà đó. Ngược lại, hai dãy phòng học được xây hai bên vuông góc với khu nhà của các thầy cô thì đã được xây mới hoàn toàn. Đó là hai dãy nhà ba tầng khang trang và rất đẹp đẽ với đầy đủ những phương tiện dạy học rất hiện đại. Phòng nào cũng được trang trí bằng những tranh ảnh, dụng cụ rực rỡ và đẹp mắt. Có lẽ những hàng cây là còn thân quen hơn cả: phượng vĩ, xà cừ, bằng lăng. Hơn ba năm đã trôi qua nhưng dường như chúng không thay đổi gì nhiều. Thân vẫn vươn cao, to và chắc. Nhìn chúng, em nhớ những buổi cả lớp cùng lao động vun cây, tưới nước rồi đùa nghịch. Đó còn là những lúc nghịch ngợm bẻ hoa hay vụng về khắc mải vào thân cây tên mình và tên lớp…
Đã lâu rồi em không về thăm trường cũ, trường đã thay đổi nhưng vẫn giữ được những hình ảnh gắn bó với tuổi thơ của em. Em hãy tả lại ngôi trường thân thương ấy
592
Đêm rằm tháng giêng, niềm vui tỏa sáng – Bình giảng văn lớp 7 Hướng dẫn Năm 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta đang trong giai đoạn khó khăn, phức tạp. Chủ tịch Hồ Chí Minh với cương vị người chỉ huy tối cao của cuộc kháng chiến không khỏi âu lo, trằn trọc. Nỗi lòng ấy của Người đã được thể hiện tinh tế trong bài thơ cảnh khuya mà chúng ta từng đọc. Bước sang năm 1948, tình hình đất nước và sự nghiệp kháng chiến có nhiều chuyển biến khả quan. Niềm vui đang trở lại. Do đó vào đêm rằm tháng giêng (âm lịch) năm đó, sau một cuộc họp bàn việc quốc kế quân cơ, Bác đã hứng khởi sáng tác bài thơ: Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng). Phiên âm chữ Hán: Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên, Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên ; Yên ba thâm xứ đùm quân sự, Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền. Xuân Thuỷ dịch: Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân ; Giữa dòng bàn bạc việc quân, Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền. Tác phẩm thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, nguyên văn bằng chữ Hán. Nếu chúng ta dịch nghĩa của bản phiên âm thì bài thơ ấy có thể như sau: Đêm nay, đêm rằm tháng giêng, trăng đúng lúc tròn nhất, Sông xuân, nước xuân tiếp giáp với trời xuân ; Nơi sâu thẳm mịt mù khói sóng bàn việc quân, Nửa đêm quay về trăng đầy thuyền. Nhà thơ Xuân Thuỷ dịch Nguyên tiêu sang thơ tiếng Việt chuyển thành thơ lục bát, thể hiện khá tốt nội dung, ý nghĩa, nhưng đã làm hao hụt phần nào âm điệu và ngôn từ của bài thơ nguyên tác. Do đó, khi đọc bài thơ, ta cần cố gắng kết hợp bản dịch thơ với nguyên tác thì mới cảm nhận chính xác vẻ đẹp của thơ Bác. Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên, Xuân giang, xuân thuỷ, tiếp xuân thiên ; (Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân) Hai câu thơ đầu vẽ ra một bức tranh thiên nhiên đêm rằm tháng giêng sáng quá, đẹp quá. Bầu trời cao rộng, thoáng đãng. Trăng tròn đầy. Cả không gian tràn ngập sức sống, trải mênh mang tưởng như không có giới hạn. Tất cả đều tươi trẻ, dào dạt cảnh xuân. Dòng sông mùa xuân, nước mùa xuân nối liền với bầu trời xuân. Trong nguyên tác chữ Hán, tác giả dùng điệp từ “xuân” ba lần liền mạch, nối nhau, ngân nga như một dòng nhạc xanh êm dịu. Câu thơ có bảy tiếng thì năm tiếng có thanh không: Xuân giang, xuân…, xuân thiên mang âm hưởng bay bổng, gợi cảm giác trong trẻo, rộng lớn, thảnh thơi, thanh bình, thú vị làm,sao. Nhà thơ Hồ Chí Minh vẫn dùng ngòi bút chấm phá chọn nét cảnh tiêu biểu, ấn tượng, hài hoà thống nhất với nhau, đã tạo ra một bức tranh đêm rằm tháng giêng ở chiến khu Việt Bắc năm 1948, vừa mang vẻ đẹp của tạo vật vừa ẩn dụ cho tình hình kháng chiến đầy triển vọng lúc bấy giờ. Đằng sau bức tranh ấy, là một cái nhìn, một cảm hứng, một phong thái bình tĩnh, ung dung, thanh thản của người nghệ sĩ — chiến sĩ. Yên ba thảm xứ đàm quân sự, Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền. (Giữa dòng bàn bạc việc quân, Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền) Một cuộc họp bàn việc quốc kế quân cơ đã diễn ra trong đêm rằm tháng giêng ấy. Vị trí cuộc họp ở đâu? ớ “yên ba thâm xứ” tức là ở “trên khói sóng nơi sâu thẳm”, bí mật và thiêng liêng như trong huyền thoại vậy. Thế giới từng gọi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta là “cuộc kháng chiến thần thánh”, có lẽ cũng căn cứ một phần vào cơ quan đầu não – những người chỉ huy kháng chiến – tài ba, huyền thoại này chăng? Cuộc họp ấy đã bàn bạc, nhận định và quyết định những điều gì, chúng ta không biết. Song điều chắc chắn chúng ta có thể tin được là cuộc họp ấy đã thành công rực rỡ, đem lại niềm vui, niềm tin cho mọi người. Do đó, lúc tan họp, mọi người ra về giữa đêm khuya, thấy trời như sáng ra, trăng như tròn hơn, ánh trăng ăm ắp đầy cả khoang thuyền: “Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền” (Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền). Cả câu thơ nguyên tác lẫn câu thơ dịch đều đẹp. Những chiến sĩ kháng chiến chống ngoại xâm như được ngồi trên ánh sáng, tắm trong ánh trăng. Tất cả, ánh trăng rằm trên bầu trời Tổ quốc, con thuyền trên dòng sông quê hương và những tướng lĩnh của cuộc kháng chiến, tiêu biểu nhất là Hồ Chí Minh đã hoà hợp với nhau, cùng toả sáng cho nhau trong sức sống thanh xuân, trong niềm lạc quan và niềm tin chiến thắng. Xem lại bài bình giảng Rừng khuya Việt Bắc và tấm lòng người nghệ sĩ, chiến sĩ
Đêm rằm tháng giêng, niềm vui tỏa sáng – Bình giảng văn lớp 7
877
Đóng vai Bà lão hàng xóm kể lại đoạn trích Tức Nước Vỡ Bờ Hướng dẫn Đóng vai Bà lão hàng xóm kể lại đoạn trích Tức Nước Vỡ Bờ Bài làm Tôi là một nông dân sống ở làng Đông Xá hàng xóm của gia đình chị Dậu trong xã hội thực dân nửa phong kiến này, thân phận thấp cổ bé họng như chúng tôi thật khốn khổ nhất và vào mùa sưu thuế trao ôi gán vợ đợ con mua rẻ bán đắt vay lãi với giá cắt cổ… Đều có cả! Gia đình chị Dậu là một ví dụ điển hình cho nỗi thấm khổ ấy. Ở gần nhà tôi biết gia đình chị Dậu thuộc hạng cùng đinh trong làng. Vì vừa phải lo hai cái tang anh Dậu lại ốm yếu bán cả con cả chó mới nộp được một suất sưu thuế mà còn phải nộp cả suất sưu cho người đã chết, có ở đâu bất công vô lí như thế này không? Hôm trước anh Dậu chết đi sống lại bị bọn chức sắc vác trả về nhà. Người xanh + Như tàu lá. Cả xóm chúng tôi phải xúm vào cứu anh mới tỉnh lại thương tình cả nhà đói khát tôi đem cho bát gạo người ta đã nói ” Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Mới sáng sớm không khí đã hết sức căng thẳng và tiếng mõ, tù và inh ỏi. Chẳng là hôm nay quan huyện về làng đốc sưu. Anh Dậu chắc chắn sẽ khốn khổ lắm đây, tôi vội chạy sang giục đưa anh đi trốn, chị Dậu đang múc cháo ra la liệt. Chị muốn cho anh ăn một chút cho tỉnh người. Kể cũng phải, người ốm bụng đói thì chịu sao nổi? Chồng tôi đau ốm chị không được phép hành hạ! Chị này cứng cỏi thật đấy! Mà đó là cái lẽ đương nhiên ở đời ai cũng phải biết: Ốm tha già thải. Thế mà tên cai lệ bất nhân kia chẳng thèm biết đến, hắn đánh ” bốp vào mặt chị” rồi nhảy phắt đến bên anh Dậu. Đúng là giọt nước tràn ly! Bằng sức mạnh của tình yêu thương và lòng căm thù ngùn ngụt. Chị Dậu đã quật ngã tên cai lệ. Hắn ta lẹo khẹo nghiện ngập nên chỉ cần chị Dậu xô cho một cái đã ngã nhào ra thềm. Vậy mà hắn ta vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu. Đến chết vẫn giữ nguyên bản chất! Tên người nhà lí trưởng còn có gậy trong tay giơ lên trực vụt chị Dậu nhanh như cắt chị tóm được hai bên dằng co du đẩy rồi áp vào vật nhau. Cuộc chiến này không kết thúc chóng vánh như khi chị đánh tên cai lệ. Nhưng cuối cùng chị Dậu cũng túm tóc lẳng cho anh kia một cái ngã nhào ra thềm. Thật sung sướng quá! Cái ác đã bị chừng trị. Nhưng tôi cũng rất lo cho chị Dậu. Đánh người nhà nước đã bị chúng khép vào tội tù đày thì thật khốn khổ. Anh Dậu can ngăn vợ. Nhưng chị Dậu rất dắn dỏi mạnh mẽ cương quyết. Đúng là tức nước thì phải vỡ bờ có áp bức có đấu tranh! Người nông dân chúng tôi bị dồn vào mức đường cùng chỉ có con người duy nhất là đấu tranh giải phóng của đời mình. Tôi mong xã hội này sớm bị xóa bỏ để xây dựng một xã hội mới công bằng tốt đẹp hơn.
Đóng vai Bà lão hàng xóm kể lại đoạn trích Tức Nước Vỡ Bờ
595
Đóng vai chú bọ hung kể lại chuyện Thạch Sanh Gợi ý Vào một buổi sáng chủ nhật đẹp trời, tôi rong chơi trong khu vườn nọ rồi không may mắc nạn. Đang loay hoay không biết làm sao thì có một cô bé ra vườn tưới cây đã thương tình cứu tôi. Tôi vô cùng cảm kích trước lòng tốt của cô bé bởi tôi mắc nạn đã lâu mà không có ai cứu giúp. Ai trông thấy họ hàng bọ hung chúng tôi cũng ghét bỏ và chỉ muốn đi xa. Nhiều khi chính bản thân tôi cũng thấy tự ghét chính mình, ghét những việc mình đã làm trước đây. Cô bé có lẽ không hiểu nên tôi kể cho cô nghe câu chuyện của tôi. Câu chuyên rất dài… Kiếp trước tôi cũng được làm một con người sống trên trần gian. Tên tôi là Lí Thông, làm nghề bán rượu. Nhưng sau khi mắc sai lầm tôi đã bị trừng phạt biến thành bọ hung, suốt đời chỉ ở những xó xỉnh hôi hám và bị người đời khinh ghét. Tôi bị trừng phạt vì đã đối xử không tốt với Thạch Sanh, cậu em kết nghĩa của tôi. Thạch Sanh là chàng trai mồ côi nhưng tốt bụng,hiền lành và khoẻ mạnh. Khi về ở với mẹ con tôi, cậu ta rất được việc, chịu khó làm ăn mà không đòi hỏi điều gì. Thạch Sanh tốt bụng là thế mà tôi đã bao lần lấy oán trả ơn. Tôi đã lừa cậu ấy đi canh miếu thờ nhưng mục đích thực là để thế mạng tôi cho mãng xà. Nhưng Thạch Sanh không chết mà còn giết được con vật độc ác nữa. Thế là tôi nghĩ cách cướp công và đuổi Thạch Sanh đi. Sau khi đến kinh thành dâng công lên hoàng thượng, tôi được bổ chức quan Quận công danh giá sống trong sung sướng, tôi dần dần quên đi người em kết nghĩa tốt bụng của mình. Tôi khấp khởi vui mừng vì mang được công chúa trở về cho hoàng thượng. Tôi đã nghĩ đến cảnh tượng một hôn lễ hoành tráng và được làm phò mã nhà vua. Nhưng dường như ước muốn ấy không được thực hiện. Công chúa sau khi được cứu ở hang về thì bị câm không nói năng được gì nữa. Nàng lúc nào cũng buồn rười rượi. Việc cưới xin đành phải hoãn lại. Trong lòng tôi lo lắng không yên. Trong ngục tối, bỗng một hôm vang lên tiếng đàn. Tiếng đàn nghe mới não nùng làm sao, nó vang động đến tận hoàng cung, nó làm cho công chúa tự nhiên nói được. Câu đầu tiên nàng nói là muốn cha cho gặp người gảy đàn. Linh tính tôi mách bảo có chuyện không hay nhưng vẫn cố chờ đợi. Không ngờ tôi lại gặp Thạch Sanh. Thật éo le biết bao. Mọi tội lỗi của tôi bị vạch trần trong phút chốc. Bao mơ ước giàu sang, phú quí và lễ cưới với công chúa đã không còn. Có lẽ tôi sẽ bị mất mạng nữa. Nhưng nhờ có Thạch Sanh tốt bụng, tôi được tha tội chết, về quê sinh sống làm ăn. Nhưng lưới trời lồng lộng, không bị chết dưới đao kiếm nhà vua lại bị trừng phạt bởi đao kiếm nhà trời Thần sét được phái xuống trừng phạt tôi. Thế là từ đó, tôi không được đầu thai làm kiếp người nữa mà đời đời làm gã bọ hung hôi hám ở xó xỉnh tối tăm …Tôi hối hận lắm vì những sai trái của mình. Đời đời, kiếp kiếp tôi chỉ là con bọ hung bị ghét bỏ. Tôi chỉ ao ước một lần được hoá kiếp làm người, khi ấy tôi sẽ không làm điều xấu xa nữa. Không biết đến khi nào điều ước xa xôi đó mới thành hiện thực…
Đóng vai chú bọ hung kể lại chuyện Thạch Sanh
654
Đóng vai chú bộ đội kể về chú bé Lượm – Văn 6 Hướng dẫn Bài làm Trên chặng đường chiến đấu của mình, tôi đã được gặp gỡ rất nhiều đồng đội, những con người bình thường nhưng vô cùng dũng cảm. Trong đó, hình ảnh chú bé Lượm tôi gặp trong những ngày Huế đổ máu đã để lại trong tôi những tình cảm sâu đậm. Đó là một cuộc gặp tình cờ giữa hai chú cháu. Khi đơn vị tôi hành quân qua Huế, đang đi trên đường Hàng Bè, lúc này đã trở nên xơ xác trước bom đạn của kẻ thù, tôi đã gặp Lượm. Chú bé đó cũng có vóc dáng bình thường như biết bao cô bé, cậu bé của đất nước Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhưng ở cậu có cái nhanh nhẹn, láu lỉnh, thông minh mà không phải đứa trẻ nào ở độ tuổi ấy cũng có được. Trông chú như một con chim chích xinh xắn, bé bỏng luôn nhảy nhót hát ca vui vẻ trên những con đường làng quen thuộc. Bên hông chú là cái sắc nhỏ xinh xinh để đựng tài liệu. Đôi chân Lượm nhanh nhẹn, thoăn thoắt. Đôi chân ấy có lẽ đã chạy nhảy khắp nơi trên những con đường, những ngõ hẻm, những cánh đồng của thành phố Huế. Dường như chú không thể đứng yên một phút nào. Cái đầu lúc nào cũng lúc lắc, nghiêng bên nọ, nghiêng bên kia, trông thật ngộ nghĩnh. Chiếc mũ ca lô đội lệch trên đầu càng làm chú đáng yêu hơn. Tiếng huýt sáo luôn luôn vang lên trên miệng khiến ta thấy được vẻ yêu đời của chú bé. Sự yêu đời đó như truyền cho tôi sức mạnh và niềm động viên lớn lao trong nhữg ngày hoạt động âm thầm và nguy hiểm. gian khổ và hiểm nguy nhưng cậu bé coi nó như một vinh dự, một niềm vui giản dị mà vô vùng thiêng liêng. Nhìn nụ cười hồn nhiên, đôi má đỏ như trái bồ quân trên rừng, tôi thấy mình như gắn bó với chú bé tự bao giờ. Thế rồi hai chú cháu chia tay nhau. Chú bé cứ đi xa dần, xa dần khiến lòng tôi trào dâng lên một nỗi niềm khôn tả. Thời gian cứ trôi đi, tôi cuốn theo những thăng trầm cuộc kháng chiến, không có thời giờ để nghĩ ngợi về cuộc sống và những con người tôi đã gặp. Thế rồi, một hôm cũng tình cờ như lần gặp Lượm, tôi nghe được thông tin về chú bé liên lạc từ các anh bộ đội dọc đường hành quân kể lại. Tôi sững người và trong phút chốc như chết đứng. Lượm đã hi sinh! Một hôm, cũng giống như biết bao lần đi liên lạc khác, chú đồng chí nhỏ, bỏ thư vào bao, một mình nhanh nhẹn vượt qua mặt trận đầy nguy hiểm. Đó đang là những ngày Huế đỏ máu vì bom đạn kẻ thù. Khắp nơi đều là những hòn tên, mũi đạn vô tình. Nhưng không hề để ý đến những hiểm nguy đang đe doạ, Lượm vẫn chạy thật nhanh như một con chim én đang cố cất cánh bay thoát qua đám mây đen. Bởi chú đang mang theo mình thư thượng khẩn nên sợ chi hiểm nghèo. Công việc liên lạc trong những ngày kháng chiến ác liệt đã tôi luyện tinh thần anh dũng của cậu bé. Nhưng không giống như những lần trước, cánh chim có thể an toàn tiếp tục cất cánh trên bầu trời xanh. Lần này, chú bé liên lạc ấy đã không thể đi tiếp cuộc hành trình của mình. Làn sáng loè chớp đỏ, một viên đạn của kẻ thù đã làm đôi chân nhỏ bé gục ngã. Một dòng máu tươi trào ra trên ngực của cậu bé anh dũng. Lượm nằm trên ruộng lúa đang kì làm đòng. Tay em nắm chặt bông lúa, như cố gắng chút sức lực cuối cùng để đi tiếp, hay là lời chào lưu luyến với quê hương trước khi đi xa. Cả cánh đồng như chết lặng bẽn em. Hương lúa quê thơm nồng, quyện với cái nắng tháng năm, vấn vít linh hồn người thiếu niên nhỏ tuổi trở về với đất mẹ. Hình ảnh Lượm cứ ám ảnh mãi trong tôi như một kỉ niệm không thể phai nhạt: Chú bé loắt choắt Cái xắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh…
Đóng vai chú bộ đội kể về chú bé Lượm – Văn 6
760
Đóng vai chị Dậu kể lại cảnh trong đoạn Tức nước vỡ bờ theo ngôi thứ nhất – Đề và văn mẫu lớp 8 Hướng dẫn Bài làm Tôi đã phải rứt ruột đem bán đứa con gái đầu lòng cùng với một ổ chó mà vẫn không đủ tiền nộp sưu cho chồng và cả chú Hợi đã chết từ năm ngoái! Chồng tôi vẫn bị giam cầm, đánh đập tàn nhẫn ở ngoài đình. Mãi đến hôm qua người ta mới cõng chồng tôi về, trông anh ấy rũ rượi như một xác chết. May sao, nhờ bà con xung quanh đến cứu giúp, anh ấy mới tỉnh lại. Lại được bà con hàng xóm cho bát gạo, tôi mới nấu cháo để anh ấy húp cho lại sức. Chồng tôi ngồi dậy bưng bát cháo, chưa kịp đưa lên miệng thì ông cai lệ và người nhà lí trưởng đã sầm sập tiến vào với những roi song, tay thước, dây thừng. Thật kinh hoàng! Ông cai lệ gõ đầu roi xuống đất, thét bắt chồng tôi phải nộp ngay tiền sưu. Hoảng quá, chồng tôi vội để bát cháo xuống phản và lăn đùng ra đó, không nói được câu gì. Ông người nhà lí trưởng lại còn mỉa mai và mắng vào mặt tôi những lời cay độc. Trong tình cảnh ấy, tôi chỉ còn biết cúi đầu van xin hai ông làm phúc nói với ông lí trưởng cho tôi được khất. Và dù hai ông cai lệ đã quát mắng thậm tệ, tôi vẫn thiết tha xin ông trông lại. Chồng tôi đang đau ốm thế kia, làm sao tôi không thiết tha van xin cho được. Nhưng rồi, đùng đùng, ông cai lệ giật phắt cái thừng trong tay người nhà lí trưởng và chạy sầm sập đến để trói chồng tôi. Tôi xám mặt, hết cả hồn, vội đặt con xuống đất, chạy lại đỡ lấy tay ông ra xin tha cho chồng. “Tha này! Tha này!”, vừa nói ông ta vừa bịch luôn vào ngực tôi mấy bịch rồi lại sấn đến để trói chồng tôi. Lúc đó, tức quá không thể chịu được, tôi liều mạng cự lại: – Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ! Ông ta lại tát vào mặt tôi rồi nhảy vào cạnh chồng tôi. Lúc này không còn là lúc cúi đầu van xin nữa, và một sức mạnh từ đâu đã trào lên khiến tôi nghiến hai hàm răng trước kẻ đại diện cho cường quyền: – Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem! Rồi tôi túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa. Hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng tôi. Thấy vậy, ông người nhà lí trưởng sấn sổ bước đến giơ gậy chực đánh tôi. Tôi liền nắm ngay được gậy của hắn, túm tóc hắn, lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm. Đến bây giờ, tôi vẫn chưa hiểu vì sao lúc ấy tôi lại có đủ sức mạnh để đánh ngã cả hai tên ác ôn tàn nhẫn ấy. Đến mức chồng tôi sợ quá phải ngăn tôi “U nó không được thế!”, nhưng tôi trả lời: “Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được…”.
Đóng vai chị Dậu kể lại cảnh trong đoạn Tức nước vỡ bờ theo ngôi thứ nhất – Đề và văn mẫu lớp 8
550
Đóng vai cá vàng trong truyện cổ tích Ông lão đánh cá và con cá vàng kể lại câu chuyện ấy Gợi ý Tôi vô cùng tức giận trước lòng tham của mụ vợ ông lão đánh cá khi mụ ta muốn làm Long Vương ngự trị trên biển và bắt tôi hầu hạ. Không thể tha thứ cho kẻ vô ơn này, tôi đã để mụ ta trở về với chiếc máng lợn cũ sứt mẻ.. Sinh ra và lớn lên trên vùng biển rộng lớn mênh mông, tôi là chú cá vàng thần kì tự do và hạnh phúc. Tôi không nghĩ sẽ có một lúc nào đó mình bị mất tự do nên ngày nào cũng tung tăng bơi lội. Tôi thoả thích vừa bơi vừa ngắm đất trời và khám phá các ngõ ngách của vùng biển. Bỗng một hôm, mải rong chơi, tôi mắc vào lưới của một ông lão đánh cá hiền lành. Tôi van xin và được ông lão thả ra. Vô cùng cảm kích, tôi muốn trả ơn ông lão. Nhưng ông lão chẳng muốn gì, còn cầu mong trời phù hộ cho tôi mặc dù cả ngày nay ông chưa bắt được gì ngoài bùn và rong biển. Tôi tự nhủ, nếu ông lão có bất cứ điều ước nào tôi sẽ sẵn lòng giúp đỡ. Gặp được người nhân hậu như ông lão thật may mắn cho tôi. Nhưng không may cho ông lão, khi về nhà kể lại cho vợ nghe, ông đã bị mụ ta mắng ngay là đồ ngốc. Rồi bắt ông ra biển gặp tôi đòi một cái máng lợn mới. Thương ông lão hiền lành, tôi đáp ứng ngay yêu cầu của mụ vợ. Nhưng cứ mỗi lần như thế, mụ ta lại đòi hỏi những thử lớn hơn. Lần thứ hai, mụ ta đòi một cái nhà rộng. Ngay lập tức, túp lều của ông lão biến thành ngôi nhà đẹp, có cổng lớn bằng gỗ lim, trong ngoài sáng sủa, có lò sưởi, quét vôi trắng xoá… Khi điều mong muốn này được đáp ứng, vợ ông lão nghĩ ngay đến việc đòi một thứ khác. Đến lần thứ ba, mụ muốn thay đổi thân phận mình từ một nông dân quèn thành bà nhất phẩm phu nhân. Cũng như hai lần trước, tôi đồng ý. Vợ lão đã biến thành một người khác, đứng trên thềm cao, mình khoác áo lông, đầu đội mũ nhiễu hoa, cổ quấn ngọc trai, tay đeo nhẫn vàng, chân đi giày đỏ. Ông lão tưởng như thế đã làm thoả mãn yêu cầu của vợ minh. Còn tôi, tôi vẫn chờ đợi ông lão đến để xem yêu cầu thứ tư của mụ là gì, bởi một người có lòng tham không đáy sẽ không dừng lại khi chưa đạt đến đích cao nhất. Quả như thế. Lần thứ tư, mụ ta muốn mình làm nữ hoàng. Tôi vẫn chấp nhận. Thế là mụ ta biến thành một nữ hoàng thực sự ngồi bên bàn tiệc sang trọng. Lần này mụ ta đã quên hẳn người chồng tốt bụng của mình, ra lệnh đuổi ông đi. Bình yên được mấy tuần, ông lão lại lóc cóc đến tìm tôi. Tôi không ngạc nhiên mà thấy thương thay cho ông lão. Lần này yêu cầu của mụ vợ làm ông đau khổ và sợ hãi. Mụ ta muốn làm Long Vương ngự trên mặt biển và bắt tôi phải hầu hạ. Có lẽ mụ ta đã đi quá giới hạn mà không biết. Tôi là một chú cá vàng thần kì tự do của biển cả, tôi mang niềm vui đến cho người khác nhưng lòng tốt của tôi đã không được trân trọng. Danh dự của tôi bị xúc phạm nặng nề. Vì vậy, dù ông lão là ân nhân nhưng tôi cũng không thể thoả mãn yêu cầu của mụ ta như những lần trước nữa. Tôi lặng im không nói gì, quẫy đuôi lặn sâu dưới đáy biển. Tôi quyết định lần này sẽ dành cho mụ vợ một sự bất ngờ. Và khi ông lão trở về nhà, hết cả cái máng lợn mới, mất cả ngôi nhà rộng, lâu đài và cung điện nguy nga, hết cả ngôi vị nhất phẩm phu nhân, nữ hoàng cao quí. Trước mặt ông lão chỉ còn túp lều nát ngày xưa và trên bậc cửa, mụ vợ đang ngồi bên cái máng lợn sứt mẻ…
Đóng vai cá vàng trong truyện cổ tích Ông lão đánh cá và con cá vàng kể lại câu chuyện ấy
745
Đóng vai cụ Bơ-men kể lại câu chuyện Chiếc lá cuối cùng Hướng dẫn Đóng vai cụ Bơ-men kể lại câu chuyện Chiếc lá cuối cùng Bài làm Nước Mỹ là một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất Thế giới nhưng sự phân biệt giàu nghèo cũng vô cùng sâu sắc. Những người nghèo thuộc tầng đáy của xã hội thật khốn khổ, tôi – Bơ men cùng với các họa sĩ trẻ Xiu và Giôn xi thuê cùng một khu nhà trọ gần công viên Oa Sinh tơn là những người khốn khổ, căn bệnh sưng phổi hoành hành đang có nguy cơ cướp đi cô bé Giôn xi đáng thương tội nghiệp. Tôi là một người nghèo khổ, cô đơn và cả cuộc đời chỉ ước mơ vẽ được một bức tranh kiệt tác. Tôi là một họa sĩ đã cầm bút vẽ được bốn mươi năm nhưng đều gặp phải thất bại. Tôi phải kiếm sống bằng cách làm người mẫu cho nhiều họa sĩ. Nhưng tôi vẫn luôn nung nấu một ước mơ cao đẹp đó là vẽ ” một bức tranh kiệt tác”, nhưng lại chưa bao giờ bắt đầu cả, ước mơ vẫn chỉ là ước mơ và nó vẫn còn nằm trên giá vẽ!. Tôi, Xiu, Giôn xi đã ở cùng nhau thuê một căn phòng ở làng Grinnic, tôi ở tầng dưới còn Xiu và Giôn xi ở tầng trên. Khi tôi lên trên gác cùng với Xiu sang buồng bên sợ sệt nhìn cây thường xuân leo trên bức tường gạch nhà bên đối diện với cửa sổ phòng Giôn xi lá ào ào rụng như trút. Cái giống cây này trút lá về mùa đông thường thì nó đã rụng hết lại thêm thời tiết khắc nghiệt thế này làm gì còn chiếc nào trụ nổi qua đêm nay? Tôi giúp gì được cô bé đây? À! Đúng rồi! Tôi sẽ bí mật vẽ chiếc lá vào đêm nay. Có lẽ chỉ như vậy mới cứu sống được Giôn xi yếu đuối ngớ ngẩn này chăng? Đợi màn đêm buông xuống, tấm mành ở phòng Giôn xi đã kéo xuống tôi bắt đầu kế hoạch của mình. Một hộp màu cùng vài chiếc bút lông ngọn đèn bảo và một chiếc thang tất cả được đem ra sẵn sàng. Mưa gió chỉ đợi tôi xuất hiện là áo tới. Ôi lạnh quá! Gió bứt mảnh áo mưa cũ nát phần phật xé toạc nó, nước nén vào quần áo buốt lạnh tôi dựng chiếc thang vào tường trèo lên ngọn đèn bão vẫn to đến mấy giường như cũng thấy không đủ sáng. Tôi đưa bàn tay run rẩy của mình về từng từng nét cuống lá màu xanh sẫm, dìa lá hình răng cưa, pha chút vàng, làm sao qua mắt được hai con bé. Trời ơi quần áo của tôi đã ướt sũng, mắt hoa nên hơi thở hổn hển… Hãy cố lên, chỉ một chút nữa thôi…Cuối cùng bức vẽ cũng hoàn thành. Tôi cố gắng tụt xuống khỏi thang. Cái thang rơi xuống đất, bảng màu tung tóe, đèn bảo ngổn ngang, tôi chẳng kịp thu dọn, chẳng nhẽ chết ỏ đây ư? Tôi dùng hết sức tàn bò lết vào trong phòng rồi ngất đi chẳng hay biết. Khi tỉnh dậy thì tôi không biết mình mình đang nằm ở đâu toàn một màu trắng toát bác sĩ bước vào thì ra đây là bệnh viện. Sức lực tôi đang cạn dần nhưng thật hạnh phúc khi Xiu đến thăm tôi, cô ấy kể cho tôi nghe về sự hồi sinh của Giôn xi thế là mọi cố gắng của tôi đã được đền trả. Giôn xi đã sống, còn tôi, tôi biết mình không qua khỏi, nhưng giờ có thể nhắm mắt xuôi tay được rồi. Xiu cứ một mực bảo bức vẽ của tôi là kiệt tác. Nào là nó giống thật, nào là nó được vẽ trong hoàn cảnh đặc biệt bằng cả tính mạng của tôi, đem lại sự sống cho giôn vi, nó là nghệ thuật chân chính… Tôi đã sẵn sàng cho chuyến đi xa xôi bí ẩn của mình. Chúc cho hai cô bé ở lại sống khỏe, trẻ trung có ích thực hiện được hoài bão vẽ kiệt tác của mình và hơn thế hãy đem nghệ thuật chân chính phục vụ tốt hơn cho cuộc sống con người.
Đóng vai cụ Bơ-men kể lại câu chuyện Chiếc lá cuối cùng
738
Đóng vai Kiều kể lại đoạn trích kiều ở lầu ngưng bích Hướng dẫn Đóng vai Kiều kể lại đoạn trích kiều ở lầu ngưng bích Bài làm ” Thân em như trái bần trơi Gió dập sóng dồn biết tấp vào đâu” Ca dao là tiếng hát tâm tình của người dân lao động là tiếng hát từ trái tim đến miệng mang theo cả nhịp thổn thức của nỗi lòng người phụ nữ lời ca ấy sao mà đúng với hoàn cảnh của Vương Thúy Kiều tôi đến vậy, trải qua hết nạn nọ đến nạn kia giờ đây tôi đang bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích tâm cảnh như hòa vào ngoại cảnh. Tôi vốn là con gái đầu lòng của gia đình họ Vương. Nhân buổi tết thanh minh tôi cùng hai em Thúy Vân, Vương quan đi chảy hội mùa xuân không ngờ tôi đã gặp chàng Kim Trọng tài mạo tốt vời giữa chúng tôi nảy nở mối tình đẹp khi chàng về Liêu Dương chịu tang chú thì gia đình tôi mắc can, tôi phải bán mình cứu cha và em không ngờ tên Mã Giám Sinh lại lừa gạt đưa tôi vào lầu xanh mà hắn và Tú Bà đã chung lưng đấu cật uất ức tôi đã tự tử mà không thành, sợ vốn liếng đi đời nhà ma mụ đã đưa tôi ra ở lầu Ngưng Bích hứa gả chồng tử tế cho tôi, ở nơi đây tôi đã trải lòng cùng cảnh vật. Ở Lầu Ngưng Bích buồn tủi cô đơn tôi càng nhớ người yêu cha mẹ da diết ôi Kim Lang của tôi! Người tôi buồn khổ lo lắng nhất là chàng vầng trăng kia gợi nhắc kỉ niệm hôm nào cùng uống chén rượu thề nguyền dưới trăng mà nay mỗi người mỗi ngả ở Liêu Dương xa xôi cõ lẽ chàng không hay biết tai họa của gia đình, tôi vẫn ngóng chông uổng công vô ích càng nhớ chàng tôi càng ý thức phận bơ vơ đất khách quê người chân trời góc bể của mình có lẽ tấm lòng thủy chung dành cho chàng chẳng có thể bao giờ phai nhạt. Còn cha mẹ tôi ở quê nhà giờ này ra sao? Phải chăng cha mẹ đang tựa cửa ngóng chông tin tức của tôi? Như cây thị trồng trước sân nhà mỗi ngày mỗi lớn cha mẹ tôi tuổi ngày càng cao vậy mà tôi không được tự tay phục dưỡng chăm sóc cha mẹ già lòng tôi buồn khổ biết bao. Từ lầu cao nhìn xa tôi trải lòng cùng cảnh vật thời điểm chiều ta luôn gợi nhớ gợi buồn lại thêm bao buồn lo trĩu nặng trong lòng vì thế cảnh vật như nhuốm màu tâm trạng của tôi trăng? Xa xa trên mặt bể một cánh buồm lẻ loi đơn chiếc dập dềnh sóng nước con thuyền kia ngày nào mới cập bến? Nó gợi cho trong tôi nỗi buồn của kẻ tha hương ngày nào tôi mới được sum họp với gia đình? Một cánh hoa dập dềnh trên sóng nước nhìn hoa mà không thấy đẹp bởi nó đã bị bất khỏi gốc rễ thành phận hoa trôi nổi lại khiến tôi liên tưởng tới hoàn cảnh của mình nổi nênh phiêu dạt. Về phía đất liền, nội cỏ rầu rầu trải dài tới tận chân mây mặt đất sao nó giàu dĩ và tàn héo mòn sự sống? Nó chẳng giống ngọn cỏ xanh non tơ mỡ màng trong ngày xuân hôm nào không một màu sắc khác đan xen nó khiến tôi tự cảm cho thân phận mình một tương lai mờ mịt một cuộc sống tẻ nhạt vô vị không một tia hi vọng léo lên. Chiều đã muộn sắc màu như tối lại chỉ có tiếng sóng ầm ầm đập vào chân lầu đó không phải là âm thanh của sự sống mà là giông tố cuộc đời đang dữ dội nổi lên truy sát cuộc đời tôi mỗi lúc một gần hơn. Ôi! Sóng gió đang muốn nhấn chìm phận gái mỏng manh giữa cuộc đời rộng lớn chăng? Không chỉ còn là buồn thương lo lắng lòng tôi trào dâng sự sợ hãi khôn cùng lúc nào cũng thấp thỏm lo âu buồn khổ. ” Một mình đối diện với mình Mênh mông trăng gió vô tình thoáng quá Mong manh như một nhành hoa Ầm ầm tiếng sóng biết là về đâu Chưa đi đến ngõ bạc đầu Mà sao như đã nhuốm màu hư vô?”.
Đóng vai Kiều kể lại đoạn trích kiều ở lầu ngưng bích
752
Đề bài: Đóng vai Lê Thận kể lại chuyện sự tích Hồ Gươm Bài làm Ta vốn sinh ra và lớn lên ở làng Chài ven biển Thanh Hoá. Công việc chính của ta là ngày ngày đi thả lưới kiếm cá để sinh sống. Vào một đêm như thường lệ ta thả lưới trên một bến vắng khi kéo lên thấy nằng nặng trong lòng ta chắc mẩm được mẻ cá to. Ta thò tay vào bắt cá nhưng chỉ thấy có một thanh sắt. Ta quăng lại xuống nước rồi lại thả lưới ở một chỗ khác. Lần thứ hai khi kéo lưới lên vẫn thấy nặng, ta khòng ngờ thanh sắt ấy lại mắc vào lưới của mình Ta lại cầm lấy và quẳng thanh sắt ra thật xa. Lần thứ ba, khi kéo lên thanh sắt ấy lại mắc vào lưới. Ta thấy lạ quá. Cứ như có phép lạ, thanh sắt cứ tìm lưới của ta mà chui vào nên bèn nhận thanh sắt lên đem lại gần mồi lửa để nhìn xem. Ta sung sướng reo to: Ha ha. Một lưỡi gươm! Cầm lưỡi gươm lên suy nghĩ một lúc lâu rồi ta chợt hiểu đây là ý trời đã ban tặng cho ta. Lúc đó, trên đất nước ta, bọn giặc Minh vô cùng tàn ác, chúng coi dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược, thiên hạ căm giận chúng đến tận xương tuỷ. Nghĩa quân Lam Sơn do chủ tướng Lê Lợi chỉ huy đã nhiều lần đánh lại, nhưng có lẽ vì thế lực còn non yếu nên đã thua. Ta nghe nói có lần Lê Lợi cùng – nghĩa quân bị giặc bao vây hàng tháng trời ở vùng núi Chí Linh cuối cùng phải thịt cả ngựa để lấy lương thực nuôi quân. Nghĩ đến đây, trong ta bỗng sôi sục lên lòng căm thù giặc. Ta quyết đinh ra nhập đoàn quân Lam Sơn giúp Lê Lợi đánh giặc cứu nước. Tài võ nghệ của ta sau một thời gian ngắn luyện tập thôi đã được Lê Lợi và mọi người rất phục. Rồi một lần, ta dem chuyện lưỡi gươm ra kể với chủ tướng Lê Lợi. Một hôm, chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tuỳ tùng về thăm nhà ta. Trong túp lều tối om, thanh sắt hôm đó tự nhiên sáng rực lênằ Lấy làm lạ Lê Lợi cầm lên xem và thấy có hai chữ “Thuận Thiên” khắc sâu vào lưỡi gươm. Song tất cả mọi người vẫn không biết đó là báu vật. Một hôm, bị giặc đuổi Lê Lợi và các tướng rút lui mỗi người một ngả. Ta nghe Lê Lợi kế rằng lúc đi qua một khu rừng, ông bỗng thấy có ánh sáng lạ trên ngọn cây. Ông trèo lên mới biết đó là một chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ tới lưỡi gươm ở nhà ta, chủ tướng đã lấy chuôi dắt vào thắt lưng đem về. Khi đem tra gươm và chuôi thì lạ thay vừa như in, ta nâng gươm lên ngang đầu nói với Lê Lợi: – Đây là trời phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công cùng với thanh gươm thần này để báo đền Tổ Quốc! Từ đó, nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng. Trong tay Lê Lợi, thanh gươm thần tung hoành khắp các trận địa, làm cho quân Minh bạt vía. Uy thế của nghĩa quân vang khắp mọi nơi. Họ không phải trốn tránh như trước nữa, đã có những kho lương thực mới chiếm được của giặc tiếp tế cho họ. Gươm thần đã mở đường cho họ đánh tràn mãi ra, cho đến lúc không còn một tên giặc nào trên đất nước. Đất nước thanh bình, nhân dân nô nức, vui mừng tôn Lê Lợi lên ngôi vua. Sau khi làm vua, Lê Lợi đă cho ta làm quan trong triều, chuyên quản lí quân đội. Một-năm sau, Lê Lợi rủ ta đi dạo quanh hồ Tả Vọng. Khi thuyền rồng tiến ra gần giữa hồ, tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi mặt nước. Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Đứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm thần mang trên người động đậy. Con Rùa Vàng không sợ người, nhô đầu lên cao nữa và tiến về phía thuyền vua. Nó đứng nổi trên mặt nước và nói: “Xin bệ hạ hoàn gươm cho Long Quân”. Bấy giờ ta mới hiểu Long Quân đã cho mượn gươm thần để nghĩa quân diệt giặc. Sau khi nghe Rùa Vàng nói, vua nâng gươm hướng về phía rùa. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước. Gươm và Rùa đã chìm đáy nước mà ta vẫn còn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh. Từ đó hồ Tả Vọng được vua và nhân dân gọi là Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.
Đóng vai Lê Thận kể lại chuyện sự tích Hồ Gươm
835
Đóng vai một chú Chuột Chù, em hãy kể lại truyện “Đeo nhạc cho mèo” Hướng dẫn Kể lại truyện “Đeo nhạc cho mèo” Câu chuyện ngụ ngôn Đeo nhạc cho mèo vốn đã rất quen thuộc với chúng ta. Nhưng hãy cùng khám phá câu chuyện này từ một cái nhìn khác. Mời các bạn cùng tham khảo bài văn mẫu lớp 6: Đóng vai một chú Chuột Chù, em hãy kể lại truyện “Đeo nhạc cho mèo”. Loài người vẫn hay thắc mắc tại sao mèo thích ăn thịt chuột nhưng hẳng bao giờ động đến họ chuột chù nhà chúng tôi. Có người ác khẩu lí giải rằng vì chuột chù hôi: “Hôi như chuột chù”. Chà, hôi thì giống chuột nào chẳng hôi! Chúng tôi suốt ngày sống trong hang hốc tối tăm, ẩm thấp chứ đâu được tắm dưới ánh nắng ấm áp và thơm tho như các bạn! Thực ra, câu chuyện về việc mèo không ăn thịt chuột chù là thế này: Ngày xưa, bởi mèo cứ ăn thịt họ chuột nhà tôi mãi nên chúng tôi phải tìm cách tự bảo vệ giống nòi. Cả làng chuột họp nhau lại. Đến dự có tất cả từ các chức sắc trong làng từ ông chuột Cống đến những bậc cùng đinh như nhà chú Nhắt. Buổi họp bắt đầu, mỗi người một ý ầm ĩ cả lên. Ông Cống thấy vậy bèn đập bàn đưa ra sáng kiến của mình: – Ta cứ đeo vào cổ mèo một cái lục lạc. Hắn đi đến đâu, lục lạc kêu đến đấy. Anh em ta nghe thấy mà biết đường chạy! Nhưng đến khi bàn chuyện đeo lục lạc cho mèo thì cả họ nhà ta ngơ ngác: Ai sẽ đeo nhạc cho mèo? Có người bảo ông Cống nghĩ ra thì không gì tốt bằng để ông Cống đi. Nhưng ông Cống nói giọng giận dỗi rằng ông là người quyền cao chức trọng, lao động trí óc đã mệt rồi, ai lại bắt ông hạ mình làm những việc nhỏ nhặt như thế! Thực ra ông nói vậy không phải là không có lí con ạ. Nhưng ai đi bây giờ? Ông Cống bèn đề cử bác Nhắt. Nhưng nói thì nói vậy, bác Nhắt cũng chẳng bằng lòng. Bác ấy bảo dù gì cũng là chức sắc trong làng, vác lục lạc đi đeo cho gã mèo hung ác ấy thì xấu mặt họ chuột nhà ta. Vậy là bác ấy đề cử ông tôi. Ông tôi vốn tính nhu mì, ít khi phản đối ai điều gì. Nghe đến tên mình, ông cũng gật đầu. Cầm lục lạc đi, ông tôi cũng rất lo. Nhưng nhiệm vụ làng giao biết làm sao được! Vừa mới thấy ông rón rén đi đến, lão mèo xấu xí đã nhe nanh, giơ vuốt. Ông hoảng hốt vội vứt lục lạc chạy về báo làng. Cái lục lạc bị rơi mạnh cũng kêu ầm ĩ khiến chính lão mèo cũng sợ. Bởi thể cứ nhìn thấy chuột Chù nhà ta là lão lại nghĩ đến tiếng kêu của chiếc lục lạc tai quái, lão chẳng dám động đến chúng ta mà chỉ rình bắt họ nhà ông Cống, bác Nhắt. Về phía làng chuột chúng ta, từ đó, không ai dám bàn đến cái lục lạc nữa. Bởi thế nên đến tận bây giờ, mèo vẫn cứ ăn thịt chuột.
Đóng vai một chú Chuột Chù, em hãy kể lại truyện “Đeo nhạc cho mèo”
566
Đóng vai một chú ếch con, em hãy kể lại truyện ngụ ngôn “Ếch ngồi đáy giếng” Hướng dẫn Kể lại truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng Đóng vai một chú ếch con, em hãy kể lại truyện ngụ ngôn “Ếch ngồi đáy giếng” là tài liệu văn mẫu THCS hay được sưu tầm và đăng tải, hi vọng sẽ giúp các em học tốt môn Ngữ văn 6. Mời quý thầy cô và các em cùng tham khảo! Tôi là một chú ếch nhỏ sống ở ven đầm. Họ hàng ếch nhà chúng tôi cũng phải đi học như con người. Bài học đầu tiên của chúng tôi là câu chuyện được truyền từ đời này sang đời khác liên quan đến một kẻ trong họ ếch. Ngày xưa, rất xưa rồi, có lẽ từ hồi cụ, kị của tôi còn sống, loài ếch thường sống trong những cái giếng khơi cùng các loài động vật bé nhỏ khác chứ chưa ở ao hồ như ngày nay. Có một lão ếch vì sống ở đó lâu ngày trong giếng nên nó không biết thế giới ở ngoài kia ra sao. Xung quanh lão chỉ có vài con cua, ốc, nhái bé nhỏ… nên lão tưởng rằng mình là to, là mạnh nhất. Ếch ta tự hào lắm về tiếng kêu ồm ộp của mình. Mỗi khi lão kêu làm vang động cả cái giếng nhỏ, khiến những con vật kia rất hoảng sợ. Ếch cứ ngỡ mình rất oai. Ngẩng mặt lên nhìn trời, lão thấy bầu trời chỉ bằng chiếc vung chứ không cao và rộng lớn như người ta thường đồn đại. Ếch ta kiêu hãnh lắm và cho rằng trời quá bé nhỏ còn nó mới xứng là một vị chúa tể. Suy nghĩ ấy đã làm cho ếch ta coi thường mọi vật. Trong cái nhìn của ếch thì chẳng có ai bằng lão cả. Thế nên, một năm trời mưa to, nước trong giếng dâng cao, đưa ếch ta ra ngoài. Quen cái nhìn cũ, quen cách nghĩ cũ, ếch huênh hoang đi lại trên đường, đi khắp nơi như chốn không người. Theo thói quen, lão cất tiếng kêu ồm ộp và tưởng rằng ai cũng sợ như dưới đáy giếng kia. Lão đưa cặp mắt lên nhìn và vẫn cho rằng bầu trời bé tẹo như cái vung nên chẳng để ý gì đến xung quanh. Bỗng ếch thấy tối sầm lại, không nhìn rõ gì nữa. Một vật gì rất lớn che mất tầm nhìn của lão. Ếch đâu biết rằng đó là chân của một con trâu nên đà bị giẫm bẹp. Thế là hết đời một con ếch ngông nghênh.
Đóng vai một chú ếch con, em hãy kể lại truyện ngụ ngôn “Ếch ngồi đáy giếng”
447
Đóng vai ngư dân kể lại hành trình ra khơi đánh cá Hướng dẫn Đóng vai ngư dân kể lại hành trình ra khơi đánh cá Bài làm Tập làm chủ, tập làm người xây dựng Dám vươn mình cai quản cả thiên nhiên Lời thơ của Tố Hữu đã khái quát thời kì con người làm chủ đất nước trong thời kì đổi mới kiến thiết xây dựng chủ nghĩa xã hội khi miền Bắc tạm thời có hòa bình. Chúng tôi – Những ngư dân miền biển cùng đoàn thuyền đánh cá ra khơi say sưa hào hứng phấn khởi chinh phục tài nguyên biển làm giàu cho quê hương đất nước. Thật tự hào biết bao! Hoàng hôn buông xuống mặt trời kì vĩ như một ngọn lửa khổng lồ đang chìm dần xuống biển khơi. Những lượn sóng là then cửa màn đêm là tấm cửa khổng lồ. Vũ trụ mênh mông rộng lớn trở lên gần gũi với cuộc sống của con người. Khi vũ trụ vào trạng thái nghỉ ngơi một ngày đang dần khép lại thì cũng là lúc đoàn thuyền chúng tôi bắt đầu một công cuộc chinh phục đánh bắt mới. Cả đoàn thuyền dũng mãnh tiến ra biển chứ không phải một con thuyền riêng lẻ. Công việc làm ăn đã đi vào nề nếp. Đánh cá đêm là đặc thù của nghề bởi cá ăn đêm, đánh vào ban đêm sẽ gặt hái được thành quả to lớn nhưng đánh cá đêm cũng phản ánh hình ảnh không khí lao động say sưa không quản ngày đêm của những người chài nói riêng và nhân dân ta nói chung khi xây dựng cuộc đời mới khi ra khơi chúng tôi cất cao tiếng hát, câu hát góp gió làm cánh buồm căng phồng, bằng mình là buồm khơi kì vĩ chúng tôi mượn tiếng hát, ” hát rằng cá bạc biển đông lặng” gọi cá biển giàu đẹp, những luồng cá đặc biệt là cá thu đang dệt biển tạo ra muôn luồng sáng. Cầu mong chúng dệt lưới ta để chuyến ra khơi thật viên mãn. Tục ngữ có câu ” Chim thu nhụ đé”. Biển quê ta hội tụ đủ các loại cá ngon nhất này: Cá nhụ, cá chim, cá đé, cá song đều có cả. Biển không chỉ giàu mà còn đẹp. Cá quẫy nước, nước đẫm ánh trăng sao có cảm giác cá quẫy trăng vàng chóe. Trên mình con cá song có nhiều sọc vạch dài và những chấm tròn đen hồng càng lấp lánh hơn dưới ánh trăng sao như những bó đuốc tuyệt đẹp. Sao in xuống mặt nước, sóng xô nước vào mạn thuyền có cảm giác sao đang lùa nước Hạ Long vậy. Tất cả đã tạo lên hơi thở của biển đêm. Biển lung linh kì ảo như một sinh vật sống gần gũi với con người. Không chỉ ra khơi mang theo câu hát mà khi đánh cá trên biển chúng tôi cũng vừa làm vừa hát. Tiếng hát vang lên trên mặt biển đêm biến công việc nặng nhọc thành bài ca đầy niềm vui. Bài hát gọi cá vào lưới được sự hỗ trợ của trăng trời trăng cũng góp nhịp đuổi cá để con người gặt hái được nhiều thành quả hơn. Và bài hát ấy còn cất lên từ sâu thẳm trái tim chúng tôi cảm tạ mẹ biển ân tình cho những đứa con miền biển bao tài nguyên quí giá cuộc sống lo đủ nuôi sống đời ta tự bao buổi nay. Và khi trở về chúng tôi cũng cất cao tiếng hát nếu khi ra khơi tiếng hát cầu mong đánh bắt được nhiều cá thì giờ đây trở về tiếng hát lại mang âm hưởng ngợi ca thành quả đã đạt được. Cả đoàn thuyền hào hứng chạy đua với thời gian trở về bến kịp chuyến chợ buổi sáng. Mặt trời bình minh rạng ngời đang nhô lên giữa biển khơi bao la vô cùng tận một ngày mới bắt đầu. Phải chăng cuộc sống mới đổi thay đang chờ đợi chúng tôi ở phía trước tươi đẹp rạng rỡ. Cá xếp dầy khít vào nhau đầy ắp trên các khoang thuyền ánh mặt trời rọi vào mắt cá như những lăng kính nhỏ phản chiếu ánh mặt trời tạo ra muôn mặt trời li ti huy hoàng. Phải chăng đó cũng là ánh mắt lấp lánh niềm vui trước thành quả đạt được của tất cả ngư dân miền biển chúng tôi.
Đóng vai ngư dân kể lại hành trình ra khơi đánh cá
755
Đóng vai người cháu kể lại câu chuyện Bếp Lửa Hướng dẫn Kể lại câu chuyện Bếp Lửa của Bằng Việt bằng vai người cháu Nhận được thư nhà tôi vui sướng vô cùng. Ngồi bên lò sưởi, giở đọc bức thư, lòng tôi lại nhớ đến quê hương tha thiết. Mùa đông châu Âu giá rét căm căm. Căn lò sưởi lửa cháy bừng bừng nhưng vẫn không đủ ấm. Ánh sáng chói gắt và hơi ấm phả vào mặt khiến tôi chợt nhớ về bếp lửa hắt hui và hình bóng bà tôi năm xưa. Nỗi nhớ ngập tràn chiếm lĩnh hồn tôi, bâng khuân đến lạ. Hình ảnh bếp lửa hiu hắt, chờn vờn trong sương sớm và người bà hiền hậu, tảo tần sớm hôm hiện về trong trí nhớ xa mờ. (Đóng vai người cháu) Tôi sinh ra giữa thời đói khổ cùng cực. Chính sách bóc lột tàn tệ của thực dân Pháp khiến cho đất nước kiệt quệ, người nông dân khốn khổ không sao kể xiết. Đất nước rơi vào bóng tối của cuộc khủng hoảng. Cuộc sống trở nên bế tắc. Một cảnh sống bức bối, ngột ngạt phủ khắp mặt đất. Tôi không còn nhớ rõ tôi đã lớn lên như thế nào. Kí ức xa xăm và rõ ràng nhất là năm tôi lên bốn tuổi. Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi. Hết thiện tai, hạn hán lại đến đại dịch, sản xuất liên tục bị mất mùa, thất thu. Cái đói như bóng ma, lạnh lùng len lỏi trong mọi gia đình. Đâu đó xung quanh, thỉnh thoảng vẳng nghe tiếng khóc tiễn người đi. khói rấm um lên khắp cả làng, phủ trùm một không khí thương tang. Bố đi đánh xe khô rạc cả ngựa gầy. Có khi bố đi nhiều ngày mới về. Còn mẹ tảo tần trên đồng dưới ruộng, sớm đi tối về để lo cuộc sống mưu sinh. Bà tôi tuổi già sức yếu ở nhà chăm nom tôi. Quẩn quanh chỉ có tôi và bà. bà đi đâu tôi thoe đấy. bà làm gì, tôi cũng đứng cạnh. Tôi sợ hãi với những thứ có ở xung quanh. Bởi nó điêu tàn và im lặng đáng sợ. Nhớ nhất là những lần cùng bà nhóm lửa, những làn cùng bà ngồi bên bếp lửa ấm. Khói bếp cuộn cay xè cả hai con mắt, cứ chớp lia lịa, rồi thở, nước mắt, nước mũi ròng ròng chảy. Cho đến bây giờ, mỗi khi nghĩ lại, tôi vẫn còn thấy cay cay trên sống mũi. Không chịu được kiếp đời nô lệ lầm than, sớm giác ngộ lí tưởng Cách mạng, bố mẹ tôi thoát li đi kháng chiến, quyết chiến đấu tiêu diệt kẻ thù giành lại đất nước. Ở nhà vẫn chỉ còn lại tôi và bà tôi. Bao nhiêu năm thức dậy cùng bà là bấy nhiêu yêu thương, thấu hiểu. Hết mùa hạ, đến mùa thu, rồi đông tới, xuân sang. Thời gian cứ lặng lẽ trôi đi. Đằng đẵng bao năm bố mẹ không ở nhà. Tôi cũng dần lớn lên trong vòng tay yêu thương, che chở của bà. Ôi! Có giúp bà nhóm bếp mới thương bà cam chịu khổ, nhọc đắng cay. Mùa khô nhóm lửa không khó. Nhưng vào mùa mưa và mùa đông lạnh thì đó là một việc làm kì công. Cái cúi rơm ẩm ướt thổi mãi mà không chịu cháy, cứ khói um lên mịt mù. Càng thổi mạnh, càng khói dữ hơn. Cái cúi rơm cứ lầm lì, bướng bỉnh và đáng ghét ấy. Nhiều lúc bực quá, tôi dập cho nó tắt rồi mồi lửa lại. Bà nhìn và cười bảo để bà nhóm cho. Bố mẹ công tác không về được. Thỉnh thoảng, tôi thấy có người đến nhắn gửi cái gì đó. Biết là bố mẹ nhắn lời hỏi thăm. Bà tôi cũng dặn gửi mấy lời. Thương bà, tôi cũng ngoan lắm, luôn nghe lời bà và không nghịch ngợm bao giờ. Bà thường dạy tôi làm mọi việc, bảo rằng sau này lớn len còn biết mà làm. Bà tuổi già sức yếu, không biết sống được bao lâu, bố mẹ lại ở xa, cuộc chiến chưa biết khi nào kết thúc. Mỗi khi nhắc đến điều đó, khóe mắt bà rưng rưng muốn khóc. Bà còn dạy tôi học. Bà nào biết chữ nên cũng không thể dạy tôi viết chữ. Bà dạy tôi đạo lí ở đời qua những câu chuyện kể. Có lẽ, cố tôi ngày xưa đã dạy bà những điều đó. Bà thuộc trong lòng và dạy lại cho cháu con. Mãi sau này, các anh chị quân giải phóng về làng và dạy tôi viết chữ, tôi mới biết viết, biết đọc. Đêm đêm, bà ôm tôi vào lòng, kể chuyện cho tôi nghe. Bà hay kẻ chuyện những ngày ở Huế. Rồi những chuyện ngày xửa, ngày xưa… Những câu chuyện cổ tích kì diệu đưa tôi vào thế giới thần tiên, cái thiện và cái ác. những câu chuyện ngụ ngôn nhắc nhở tôi phải biết sống tốt đẹp, thảo hiền. Ôi, những năm tháng thần tiên có bà là những tháng năm đầy mơ mộng và niềm vui. Tôi ước có một thần tiên nào đó đến đây ban cho bà thật nhiều điều ước. và tôi chỉ ước là làm sao đất nước thái bình, để cho đời bà bớt khổ là tôi an lòng rồi. Thế nhưng, đó chỉ là mơ ước. Cuộc sống vẫn còn nhiều kham khổ. Mỗi buổi trưa hè, cái nắng hừng hực đốt lửa trên những cánh đồng khô khốc, trơ trọi, tiếng tu hú kêu khan khiến tôi không khỏi nao lòng. Tiếng tu hú khắc khoải u buồn vang lên từng nhịp. Mùa này tu hú kêu có cái gì đó khác lạ. Có phải vì đói quá mà lang thang tìm đến chốn này chăng? Thắm thoắt thời gian trôi đi. Cuộc chiến ngày càng ác liệt. Bố mẹ không về được. Kẻ thù tràn đến làng. Đi đến đâu chúng cướp sạch, đốt sạch đến đó. Không những cướp của con người nguồn sống, chúng còn muốn hủy diệt luôn nguồn sống của con người. Chúng là ác quỷ. Chúng không có trái tim. Bởi thế, chúng cũng không có lòng thương xót. Chúng hung hăng và cuồng bạo tràn đến gieo rắc tai họa. Năm ấy, cả ngôi làng yên bình bỗng rực sáng. Mọi nóc nhà bao năm kiên cường trước mưa bão đều hóa thành tro. Công sức mấy mươi năm gây dựng của con người phút chốc trở thành cát bụi. Sau cuộc khủng bố ấy, mọi người trở về làng. Không đầu hàng, họ lại quyết tâm làm lại, quyết tâm gây dựng cuộc sống mới. Kẻ thù có tàn bạo, có hủy diệt bao lần đi chăng nữa cũng không thể khuất phục được họ. Bếp lửa tắt rồi lại cháy lên tin tưởng và mạnh mẽ. Bà con xung quanh lại giúp bà tôi dựng lại túp lều tranh trên nền đất cũ. Lúc chạy giặc chẳng mang theo được thứ gì. Bà lại tay đan thúng, tay dựng lều, sửa lại cái kiềng cho thẳng, kê lại mấy cái kệ ngồi. Một không gian ấp lại hiện lên. Bếp lửa đêm ấy lại sáng. Hai bà cháu trông chờ nồi cháo chín. Một nỗi lo âu đeo đẳng trong lòng, không biết ròi mai nay sẽ ra sao? Tuy khổ nhọc đến thế nhưng bà vẫn vững lòng, đinh ninh dặn dò tôi tha thiết rằng có viết thư cho bố thì chớ có kể chuyện nhà. Cứ bảo là nhà mình vẫn bình an, bà vẫn mạnh khỏe. Ôi, đến lúc này mà bà vẫn nghĩ cho đất nước. Dù có đâu khổ đến thế nào bà vẫn một lòng nghĩ về cuộc chiến đấu. Kẻ thù càng hung bạo thì lòng căm thù và quyết tâm đánh thắng kẻ thù trong bà càng lớn. Tôi thấu hiểu lòng bà nên “dạ” một tiếng thật rõ to. Chiến tranh đi qua. Hòa bình lại đến. Niềm tin tưởng của bà đã được đền đáp. Bố mẹ tôi trở về quê hương. Ngày đoàn tụ xúc động vô cùng. Dù đã cố giấu đi giọt nước mắt hạnh phúc nhưng khóe mắt bà cứ rưng rưng. Bà lại đi nhóm lửa, nấu một cái gì đó để đãi cả nhà, ăn mừng ngày vui. Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa, kham khổ đã nhiều, đau thương cũng không ít. Vậy mà mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ, bà vẫn giữ thói quen dậy sớm nhóm lên bếp lửa nồng ấm yêu thương. Đâu phải tuổi già mất ngủ. Ấy là do bà muốn giữ ấm quá khứ đau thương mà nghĩa tình đấy thôi. Bà muốn được tận tay bà nhóm lên những niềm vui, làm nên những bữa khoai sắn ngọt bùi, cùng xóm láng giềng gần chung vui lúa mới để nhắc nhở về những tháng ngày lầm lụi xưa kia mà thêm trân trọng và mến yêu. Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa! Nó kì lạ bởi không bao giờ tắt. Có tắt đi rồi lại mạnh mẽ cháy lên. Nó cháy lên trong cả những thanhgs ngày mưa bão hay giá rét. Nó lại cháy sau mỗi lần kẻ thù đến và cố hủy dệt nó. Từ đôi bàn tay cằn cõi của bà lại làm cháy lên ngọn lửa ấm diệu kì. Thiêng liêng là bởi nó gắn chặt với hình bóng và tình cảm nồng ấm của bà tôi đã dành cho tôi tất cả. Giờ tôi đã đi xa, cách tổ quốc trăm núi nghìn sông. Cuộc sống lầm than, đói khổ đã qua rồi, cuộc sống mới hân hoan khắp mọi nơi. Nhưng chẳng bao giờ tôi thôi nhớ về bếp lửa quê hương và người bà hiền hậu. Nhưng chẳng bao giờ tôi quên nhắc nhở về bổn phận và trách nhiệm của tôi đối với bà tôi, đối với quê hương, đất nước tôi. Dân tộc ta đã sống kiên cường bất khuất, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ mảnh đất thiêng liêng, trách nhiệm của thế hệ chúng tôi hôm nay là bảo vệ thành quả lớn lao ấy và làm cho đất nước ngày càng giàu mạnh. Tôi dặn lòng mình nhớ lấy điều ấy. Và tiếp tục truyền ngọn lửa kì lạ và thiêng liêng này đến với mọi thế hệ mai sau.
Đóng vai người cháu kể lại câu chuyện Bếp Lửa
1,759
Đóng vai người cháu kể lại kỉ niệm tình bà cháu trong bài thơ Bếp Lửa Hướng dẫn Đóng vai người cháu kể lại kỉ niệm tình bà cháu trong bài thơ Bếp Lửa Bài làm ” Đôi mắt càng già càng thấm thía yêu thương Da dẻ dù khô đi tấm lòng không hẹp lại. Giàu kiên nhẫn bà còn hi vọng mãi Chỉ mỗi ngày rắn lại ít lời thêm” Đó là những vần thơ của tôi – Người cháu dành cho bà nội nội kính yêu của mình giờ đây đang du học ở ucraina xa xôi tôi vẫn không thể nguôi quên bếp lửa ấm áp tình bà. Là người Việt Nam không ai không biết đến bếp lửa được nhen lên bằng những nhiên liệu bình thường củi, rơm, rạ,… Bếp lửa tỏa sáng chờn vờn bốc cao bập bùng mỗi sớm mai gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam tảo tần giàu tình yêu thương giàu đức hi sinh. Bà tôi cũng vậy bà khéo léo chi chút kiên nhẫn nhóm lửa gửi vào đó bao tình yêu thương cháu con. Nhớ về bếp lửa tôi lại bồi hồi nhớ bà thương bà trải bao mưa nắng của bà. Bếp lửa không chỉ gợi nhắc tình bà mà còn gợi bao kỉ niệm tuổi thơ đó là kỉ niệm nạn đói 1945 ám ảnh day dứt cái đói hoành hành khủng khiếp gia đình tôi cũng như bao gia đình Việt Nam khác long đong mỏi mệt vì miếng ăn. Bố đi đánh xe ngựa gầy gò khô rạc mà cái đói vẫn bám riếc không tha nếu không có bếp lửa ấm áp của bà có lẽ tôi không qua được nạn đói thật khủng khiếp biết bao giờ đây nghĩ lại sống mũi vẫn cay khé quá khứ như đồng hiện ở hiện tại xóa nhòa hoàn cảnh mấy chục năm. Kỉ niệm thứ ba cũng có sức ám ảnh lớn trong tâm hồn tôi là nạn giặc càn tàn phá xóm làng ngọn lửa hung tàn bốc lên ngùn ngụt thiêu rụi nhà cửa tài sản trong mất mát đau thương bà cùng tôi và xóm làng lầm lụi trở về. Tôi cũng sớm trưởng thành lớn khôn biết đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh cảm động nhất là lời dặn của bà: ” Mày có viết thư cho bố kể này kể nọ cứ bảo nhà vẫn được bình yên để bố yên tâm công tác”. Bà tôi là thế đấy bà không chỉ lam lũ tảo tần giàu tình yêu thương mà còn giàu đức hi sinh bà gánh vác mọi lo toan gian khó về mình để con yên tâm công tác. Phải chăng bà tôi là hậu phương vững chắc giúp cho tiền tuyến đánh giặc. Đẩy nhanh cuộc kháng chiến đến ngày thắng lợi. Bà xứng đáng với tám chữ vàng bác Hồ trao tặng ” Anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang” Bà vừa mang nét đẹp truyền thống vừa mang nét đẹp hiện đại của người phụ nữ thời kì mới. Giờ đây tôi đã lớn khôn trưởng thành đến với những chân trời rộng mở nơi đây có bếp điện, bếp gas… Có ngọn khói trăm tàu, lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả nhưng trong tiềm thức câu hỏi luôn hiện hữu trong tôi sớm mai này bà nhóm lửa lên chưa. Có lẽ bếp lửa – Tình bà sẽ luôn tỏa sáng nâng đỡ nhiều con người xa xứ như tôi suốt hành trình dài rộng của cuộc đời phả chăng yêu bếp lửa yêu bà là tình cảm cội nguồn tình gia đình và rộng ra là tình yêu quê hương đất nước?
Đóng vai người cháu kể lại kỉ niệm tình bà cháu trong bài thơ Bếp Lửa
616
Đóng vai người hàng xóm chứng kiến kể lại cảnh lão Hạc sang nhà ông giáo kể việc bán chó – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Chứng kiến cảnh lão Hạc kể việc bán chó Bài làm Tôi và ông giáo là hai người hàng xóm thân thiết. Mỗi khi chiều xuống, tôi lại sang bên nhà ông giáo cùng uống nước chè. Hôm nay cũng vậy, thật tình cờ, tôi đã chứng kiến trọn vẹn câu chuyện bán chó của lão Hạc. Tôi không khỏi xúc động trước tấm lòng nhân hậu của lão – người đã gần đất xa trời. Ông giáo làm nghề dạy học đã lâu nhưng cuộc sống cũng chẳng khá giả gì. Ổng cùng vợ con sống trong một căn nhà đơn sơ nhỏ bé. Trong nhà chỉ giản dị một cái chõng tre, một cái giường cũ, mấy bộ quần áo, một tủ sách nhỏ và mấy bộ bàn ghế cũ để dạy học cho lũ trẻ trong làng. Ông giáo là người nhiều chữ nghĩa lại rất nhân hậu nên thường dạy học trò không lấy tiền. Vì vậy, cuộc sống của ông cũng chả khá hơn những người nông dân chúng tôi là mấy. Như thường lệ, thấy tôi sang, ông rót nước mời tôi. Đặt bát chè tươi xuống bàn, ông giáo lại nói về chuyện lão Hạc. Lão Hạc là hàng xóm liền kề với hai gia đình chúng tôi. Lão thân và kính trọng ông giáo lắm. Có chuyện gì lão cũng kể cho ông giáo nghe, xin ý kiến của ông. Tuy cũng là nông dân nhưng lão khổ hơn chúng tôi gấp bội phần. Nhà lão nghèo lắm, vợ lão mất sớm, được thằng con trai khỏe mạnh thì lại phẫn chí bỏ đi phu đồn điền vì không có tiền cưới vợ. Cả gia đình chỉ còn mỗi lão Hạc thui thủi sống một mình cùng con chó vàng trong túp lều mục nát. Ngày nào lão cũng phải đi làm thuê kiếm miếng ăn khiến tôi không tránh khỏi thương cảm. Lão vừa ốm hơn hai tháng trời, có bao nhiêu tiền dành dụm đều tiêu hết cả. Nhiều lúc, tôi cũng muốn giúp lão nhưng nhà nghèo, cố gắng lắm, thi thoảng tôi cũng chỉ giúp lão được củ khoai, bát gạo,. Buổi chiều hôm ấy, tôi và ông giáo đang ngồi nói chuyện thì lão Hạc sang. Dạo này chắc không có gì ăn nên lão gầy quá. Hôm nay trông lão có vẻ buồn. Tôi phân vân không biết có chuyện gì xảy ra thì lão báo tin đã bán con Vàng rồi. Cả tôi lẫn ông giáo đều sửng sốt vì ai cũng biết lão quý con Vàng như thế nào. Nó chẳng những là kỉ vật con trai lão để lại mà còn là người bạn tâm giao của lão những khi vui buồn, đời nào lão nỡ bán nó đi. Tất cả lặng thinh, bùi ngùi, chợt, ông giáo quay sang hỏi: “Thế nó cho bắt à?”. Tôi cũng thêm vào: “Con Vàng dữ lắm, bắt nó cũng chẳng dễ gì”. Lão cố làm ra bộ vui vẻ, nhưng hình như xót con Vàng quá, lão cười mà như mếu, rồi lão bắt đầu khóc. Giọng run run, vừa nói vừa khóc, lão bảo con Vàng thấy lão gọi về ăn thì sung sướng lắm, đang ăn thì thằng Xiên, thằng Mục lao ra, tóm gọn bốn chân nó. Nói xong, lão càng khóc nhiều hơn, lão mếu máo: “Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi như muốn bảo tôi rằng: “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”. Thì ra, tôi già ngần này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó!”. Nghe lão kể mà tôi thấy đau lòng quá. Nghĩ lại thì cũng phải, lão còn chẳng nuôi nổi lão, thêm con chó nữa thì lấy tiền đâu ra mà ăn. Biết lão Hạc buồn, tôi và ông giáo đều cố gắng an ủi lão. Ông giáo nhẹ nhàng: “Cụ cứ tưởng thế đấy chứ nó chả hiểu gì đâu! Vả lại ai nuôi chó mà chả bán hay giết thịt! Ta giết nó chính là hoá kiếp cho nó đấy, hoá kiếp để cho nó làm kiếp khác”. Tôi cũng hùa theo ông giáo: “Đúng đấy cụ ạ, nó cũng chỉ là con chó, nó chẳng biết gì đâu, với lại từ trước cụ cũng đối xử với nó tốt lắm rồi còn gì”. Lão có vẻ đồng ý với chúng tôi và hơi nguôi đi một chút. Một lúc sau lão nói, giọng cay đắng: “Ông giáo nói phải! Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn”. Ông giáo nhìn lão, bảo: “Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng?”. Lão buồn rầu: “Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng?”. Câu nói của lão Hạc ngẫm ra thì đúng thật. Nông dân chúng tôi làm gì có ai sướng cơ chứ. Ngồi thêm một lúc, tôi xin phép ra về. Tôi cứ nghĩ mãi về câu chuyện của lão Hạc, một nông dân nghèo khổ, ít học nhưng rất nhân hậu. Tôi cũng ngạc nhiên khi có người nghèo khổ đến cùng đường, phải bán đi con chó mà lại day dứt, ân hận như vậy. Quả là một phẩm chất đáng quý. Tôi thương lão lắm, chỉ muốn làm gì đó cho lão bớt khổ. Nhưng biết làm gì, cùng là nông dân, tôi chẳng biết làm gì ngoài cách an ủi lão và mong muốn sao cho lão bớt khổ. Đỗ Mai Anh (Trường THCS Lê Quý Đôn) Tags:Bài văn hay lớp 8 · Lão hạc
Đóng vai người hàng xóm chứng kiến kể lại cảnh lão Hạc sang nhà ông giáo kể việc bán chó – Bài văn hay lớp 8
1,016
Đóng vai người hàng xóm của anh chàng Lợn cưới áo mới để kể lại câu chuyện thú vị này. Em rút ra được bài học gì cho bản thân Gợi ý Hàng xóm nhà tôi là một anh chàng kì quặc! Tính anh ta chẳng khác trẻ con là mấy, đặc biệt cái tính hay khoe của. Hôm ấy, tôi đi vớt bèo dưới ao làng. Trời vừa sáng, tôi cắp thúng ra ao, vừa đến nơi đã thấy anh hàng xóm đứng ngó nghiêng ở ngã ba cạnh bờ ao. Anh ta mặc một chiếc áo mới màu nâu sậm. Chà! Lại sắp khoe rồi đây! Để tránh rắc rối, tôi phải đi đường vòng để tránh gặp. Vớt bèo dưới ao, thỉnh thoảng ngẩng lên, tôi vẫn thấy anh ta đứng đó ngó nghiêng. “Đen cho anh ta rồi – Tôi thầm nghĩ – Có lẽ sáng này không ai đi đâu ra khỏi làng”. Mãi đến chiều mới thấy một người hớt hải chạy đến. Anh kia hỏi anh hàng xóm của tôi: – Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua không? Tôi suýt bật cười! Trời ơi, lại thêm một anh khoe của nữa! May sao tôi nén được để chờ nghe câu trả lời của người hàng xóm. Anh hàng xóm của tôi trả lời rành rọt từng tiếng một: – Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả! Tính khoe của có thể biến con người thành những kẻ lố bịch, hợm hĩnh, trở thành đối tượng cho mọi người cười chê như vậy. Bởi thế, sống ở đời phải biết khiêm nhường.’”Huống chi, của cải chưa phải là điều quan trọng thể hiện giá trị con người. Từ câu chuyện về những anh chàng hay khoe của, tôi luôn tự nhủ mình như thế.
Đóng vai người hàng xóm của anh chàng Lợn cưới áo mới để kể lại câu chuyện thú vị này. Em rút ra được bài học gì cho bản thân
308
Đóng vai người hàng xóm của anh có “áo mới” em hãy kể lại truyện ngụ ngôn “Lợn cưới, áo mới” và rút ra bài học cho mình Gợi ý Các cụ ta có câu: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Nhưng tôi xin thề là có tặng thêm vàng bạc, châu báu thế nào tôi cũng không thể bầu bạn chứ đừng nói đến chuyện “mua” anh hàng xóm nhà tôi! Anh ta chẳng những là một anh chàng kì quặc mà còn trẻ con đến lố bịch, nhất là cái tính hay khoe của. Hôm ấy, tôi đi chặt tre để làm đôi quang gánh. Trời vừa sáng, tôi mang dao ra rặng tre đầu làng. Vừa đến nơi đã thấy anh hàng xóm đứng ngó nghiêng ở ngã ba cạnh bờ ao. Anh ta mặc một chiếc áo mới màu nâu sậm. Chà! Lại sắp khoe rồi đây! Để tránh rắc rối, tôi phải đi đường vòng để tránh gặp. Hì hụi chặt tre rồi pha, vót…, trời đã đứng bóng mà thỉnh thoảng ngó sang, tôi vẫn thấy anh ta đứng đó ngó nghiêng. “Đen cho anh ta rồi – Tôi thầm nghĩ – Có lẽ sáng này không ai đi đâu ra khỏi làng”. Mãi đến chiều mới thấy một người hớt hải chạy đến. Anh ta hỏi anh hàng xóm của tôi: Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua không? Tôi suýt bật cười! Trời ơi, lại thêm một anh khoe của nữa! May sao tôi nén được để chờ nghe câu trả lời của người háng xóm. Anh hàng xóm của tôi trả lời rành rọt từng tiếng một: Đến đây, tôi bật cười thành tiếng. Hai anh chàng hợm của quay ra nhìn tôi đỏ mặt. Tính khoe của có thể biến con người thành những kẻ lố bịch, hợm hĩnh, trở thành đối tượng cho mọi người cười chê như vậy. Bởi thế, sống ở đời phải biết khiêm nhường. Huống chi, của cải chưa phải là điều quan trọng thể hiện giá trị con người. Từ câu chuyện về những anh chàng hay khoe của, tôi luôn tự nhủ mình như thế.
Đóng vai người hàng xóm của anh có “áo mới” em hãy kể lại truyện ngụ ngôn “Lợn cưới, áo mới” và rút ra bài học cho mình
360