text
stringlengths
1
148k
label
int64
0
2
__index_level_0__
int64
0
113k
Cầy cáo sọc rộng là một loài động vật có vú trong họ Eupleridae, bộ Ăn thịt. Loài này được Gmelin mô tả năm 1788. Đây là loài động vật ăn thịt đặc hữu của Madagaxca. Mô tả. "Cầy mangut sọc rộng" là loài động vật nhanh nhẹn, có kích thước từ nhỏ đến trung bình. Chúng có đôi chân ngắn và cái đuôi dài rậm rạp, cái đầu dài...
1
null
Cầy cáo sọc lớn là một loài động vật có vú trong họ Eupleridae, bộ Ăn thịt. Loài này được Wozencraft mô tả năm 1986. Đây là một loài động vật có vú nhỏ chỉ sinh sống trong một khu vực rất nhỏ của Tây Nam Madagascar, trong các đồng có thảm thực vật rừng gai. Đó là một loài cầy mangut màu kem hoặc xám nhạt, với tám sọc đ...
1
null
Cầy cáo sọc hẹp (tên khoa học: Mungotictis decemlineata) là một loài động vật có vú trong họ Eupleridae, bộ Ăn thịt. Loài này được Grandidier mô tả năm 1867. Loài này sinh sống ở rừng cây rụng lá Tây và Tây Nam Madagascar. Mô tả. "Cầy mangut sọc hẹp" là một động vật ăn thịt nhỏ với bộ lông dày màu nâu xám, hoa râm, và ...
1
null
Cầy mangut đuôi nâu là một loài động vật có vú trong họ Eupleridae, bộ Ăn thịt. Loài này được I. Geoffroy Saint-Hilaire mô tả năm 1837. Mô tả. "Cầy mangut đuôi nâu" thường có màu nâu với những đốm màu tối hoặc màu nhạt. Đuôi cùng màu với cơ thể. Các móng vuốt không phải là rất cong. Chúng có tai ngắn, rộng và mõm nhọn....
1
null
Cầy mangut lùn Alexander ("Crossarchus alexandri") là một loài họ Cầy lỏn có nguồn gốc từ rừng nhiệt đới Trung Phi lên đến độ cao 2.900 m. Nó có chiều dài cơ thể từ 30 đến 45 cm và nặng từ 0,45 đến 1,4 kg. Đuôi của nó dài 15–25 cm. Nó ăn sâu bọ, động vật gặm nhấm nhỏ, bò sát nhỏ, cua và một số loại trái cây. Nó có thể ...
1
null
Cầy mangut lùn Angola ("Crossarchus ansorgei"), còn được gọi là cầy mangut lùn Ansorge, là một loài họ Cầy lỏn nhỏ. Có hai phân loài được công nhận: "C. a. ansorgei", được tìm thấy ở Angola; và "C. a. nigricolor", được tìm thấy ở Cộng hòa Dân chủ Congo, không có phạm vi trùng lặp. Nó thích môi trường sống kiểu rừng nhi...
1
null
Crossarchus obscurus hay cầy mõm dài là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được Georges Cuvier mô tả đầu tiên năm 1825. Đây là loài thú nhỏ, con trưởng thành dài khoảng 20 đến 30 cm (13 in), cân nặng khoảng 1 kg (2,2 lb). Sinh sản. Cá thể đạt đến thời kì trưởng thành sinh dục trong chín t...
1
null
Cầy mangut vàng (tên khoa học: "Cynictis penicillata"), là một loài động vật có vú trong họ cầy mangut, bộ ăn thịt. Loài này cân nặng 1/2 kg và dài 500 mm. Chúng sinh sống trên các vùng hoang dã, từ bán sa mạc đến đồng cỏ có bụi rậm ở Angola, Botswana, Nam Phi, Namibia, và Zimbabwe. Cầy mangut vàng là loài ăn thịt, ăn ...
1
null
Dologale dybowskii là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được Pousargues mô tả năm 1893. Đây là loài bản địa các khu vực thảo nguyên mở của Cộng hòa Dân chủ Congo bắc, tây Uganda, Nam Sudan, và Cộng hòa Trung Phi.
1
null
Galerella flavescens là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được Bocage mô tả năm 1889. Loài này sinh sống ở miền nam châu Phi, đặc biệt là Angola và Namibia. Chúng sinh sống ở các thảo nguyên và tránh sa mạc và rừng rậm.
1
null
Galerella ochracea là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được J. E. Gray mô tả năm 1848. Là loài đặc hữu của Somalia. Đây là một loài ăn thịt có kích thước nhỏ đến trung bình, cân nặng trung bình khoảng 0,6 kg.
1
null
Galerella pulverulenta là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được Wagner mô tả năm 1839. Đây là loài bản địa na châu Phi. Chúng là một loài nhỏ (dài 55–69 cm, trọng lượng khoảng 0,5-1,0 kg). Chúng có màu xám tối với chóp đuôi là tối hơn. Hai chân màu xám tối hơn so với phần còn lại của cơ...
1
null
Cầy mangut thon ("tên khoa học: Galerella sanguinea"), còn được gọi là cầy mangut chóp đen hoặc cầy mangut đuôi đen, là một loài họ cầy magut rất phổ biến ở châu Phi cận Sahara. Phạm vi và môi trường sống. Cầy mangut thon, có tới năm mươi phân loài, được tìm thấy ở khắp châu Phi cận Sahara, với cầy mangut đen ở Angola ...
1
null
Cầy mangut lùn Ethiopia ("Helogale hirtula"), còn được gọi là cầy mangut lùn sa mạc hoặc cầy mangut lùn Somali, là một loài Họ Cầy lỏn có nguồn gốc từ Đông Phi, đặc biệt là Ethiopia, Kenya và Somalia. Cầy mangut lùn Ethiopia sẽ phát ra các tiêng gọi cảnh báo cho gia đình của nó nếu phát hiện có động vật săn mồi. Chúng ...
1
null
Cầy mangut lùn ("Helogale parvula") là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được Sundevall mô tả năm 1846. Mô tả. Cầy mangut lùn là loài một cầy mangut điển hình: chúng có đầu to nhọn, tai nhỏ, đuôi dài, chân ngắn, và móng vuốt dài. Loài này có thể phân biệt từ cầy mangut khác bởi kích thướ...
1
null
Cầy mangut đuôi ngắn ("Herpestes brachyurus") là một loài họ Cầy lỏn có nguồn gốc từ bán đảo Malaysia, Sumatra và Borneo. Nó sinh sống trong rừng thường xanh và các khu vườn nông thôn từ mực nước biển đến độ cao 1.500 m. Nó được liệt kê là loài sắp bị đe dọa trong sách đỏ IUCN từ năm 2008. Nó được John Edward Gray mô t...
1
null
Herpestes edwardsii là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được E. Geoffroy Saint-Hilaire mô tả năm 1818. Loài này chủ yếu được tìm thấy ở miền nam châu Á chủ yếu là Ấn Độ, Pakistan, Nepal, Sri Lanka và một số khu vực khác của châu Á. Chúng được du nhập vào quần đảo Adriatic, Bosnia và Her...
1
null
Cầy mangut Ai Cập (danh pháp khoa học: "Herpestes ichneumon") là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. Cầy mangut Ai Cập có thể được tìm thấy ở Ai Cập, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Israel, và hầu hết các tiểu vùng Sahara châu Phi, trừ Cộng hòa Dân chủ trung tâm của ...
1
null
Herpestes smithii là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được Gray mô tả năm 1837. Loài này sinh sống ở Ấn Độ và Sri Lanka. Loài cầy này cùng loài cầy mangut cổ sọc là hai loài mangut bản địa Ấn Độ và Sri Lanka.
1
null
Cầy mangut đuôi trắng (danh pháp khoa học: "Ichneumia albicauda") là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được G.[Baron] Cuvier mô tả năm 1829. Cầy mangut đuôi trắng sinh sống ở hầu hết châu Phi phía nam sa mạc Sahara, và phần phía nam của bán đảo Ả Rập. Chúng sinh sống trong một loạt các m...
1
null
Mungos gambianus là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được Ogilby mô tả năm 1835. Loài này phân bố rộng rãi ở các thảo nguyên ẩm ở tây bắc châu Phi, từ Gambia đến Nigeria. Loài này là một loài săn mồi cơ hội, ăn nhiều loại thức ăn. Chúng là chủ yếu ăn côn trùng, ăn chủ yếu là bọ cánh cứn...
1
null
Mungos mungo là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được Gmelin mô tả năm 1788. Loài này thường được tìm thấy ở miền Trung và miền đông châu Phi. Chúng sinh sống ở thảo nguyên, rừng và trảng cỏ và ăn chủ yếu là bọ cánh cứng và cuốn chiếu.
1
null
Cầy mangut Selous ("Paracynictis selousi") là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được de Winton mô tả năm 1896. Loài này có các phân loài: Đây là loài đặc hữu phía nam châu Phi. Phạm vi phân bố gồm Angola, Zambia, Malawi, Namibia, Botswana, Zimbabwe, Mozambique, và Nam Phi.
1
null
Rhynchogale melleri là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được Gray mô tả năm 1864. Loài này được tìm thấy ở Cộng hòa Dân chủ Congo, Malawi, Mozambique, Nam Phi, Eswatini, Tanzania, Zambia và Zimbabwe. Nó là thành viên duy nhất của chi Rhynchogale.
1
null
Chó sói đất, tên khoa học Proteles cristata, là một loài động vật có vú nhỏ, ăn côn trùng, có nguồn gốc Đông Phi và Nam Phi. Nó cũng được gọi là "chó rừng maanhaar". Chó sói đất là cùng một họ với linh cẩu. Không giống như đồng minh của mình trong bộ Carnivora, chó sói đất không săn động vật lớn, hoặc thậm chí không ăn...
1
null
Cáo đồng cỏ Nam Mỹ hay Cáo Pampa ("Lycalopex gymnocercus") (tiếng Anh: Pampas Fox) là một loài động vật có vú trong Họ Chó của Bộ Ăn thịt. Loài này được G. Fischer mô tả năm 1814. Loài này có nguồn gốc từ các đầm lầy Nam Mỹ, có thể được tìm thấy ở miền bắc và miền trung Argentina, Uruguay, miền đông Bolivia, Paraguay v...
1
null
Cáo xám ("Urocyon cinereoargenteus") là một loài động vật có vú trong họ Chó, bộ Ăn thịt. Loài này được Schreber mô tả năm 1775. Chúng phân bố rộng khắp nửa nam của Bắc Mỹ từ nam Canada đến phía bắc của Nam Mỹ (Venezuela và Colombia). Loài này và họ hàng gần của nó "Urocyon littoralis" (cáo đảo) là những thành viên còn...
1
null
Cáo đảo (Danh pháp hai phần: "Urocyon littoralis") là một loài cáo nhỏ có mặt tại 6 trong 8 hòn đảo của quần đảo Channel và các vùng bờ biển lân cận California. Có 6 phân loài của cáo đảo, và mỗi phân loài sống trên một hòn đảo, phản ánh lịch sử tiến hóa của nó tại đây. Cáo đảo còn được biết đến với tên gọi khác như cá...
1
null
Hải cẩu lông mao Nam Mỹ ("Arctocephalus australis") là một loài động vật có vú trong họ Otariidae, bộ Ăn thịt. Loài này được Zimmermann mô tả năm 1783. Hải cẩu lông thú Nam Mỹ sinh sản ở bờ biển Peru, Chile, Argentina. Loài này có hai phân loài. Tổng số cá thể năm 1999 khoảng 390.000, giảm từ ước tính 500.000 cá thể từ...
1
null
Arctocephalus forsteri là một loài hải cẩu lông sống chủ yếu ở vùng duyên hải Tây và Nam Úc, New Zealand, và các đảo lân cận. Trong tiếng Māori, chúng mang tên kekeno. Đây là loài bản địa đảo Macquarie, Nam Úc, Tây Úc, đảo Bắc và đảo Nam của New Zealand. Dù quần thể ở Úc và New Zealand cho thấy những sự khác biệt duy t...
1
null
Hải cẩu lông mao Galápagos ("Arctocephalus galapagoensis") là một loài động vật có vú trong họ Otariidae, bộ Ăn thịt. Loài này được Heller mô tả năm 1904. Loài này sinh sống và sinh sản trên quần đảo Galápagos. Chúng là loài nhỏ nhất trong họ. Chúng có bộ lông màu nâu hơi xám. Con đực trưởng thành dài trung bình 1,5 m ...
1
null
Hải cẩu lông mao Nam Cực ("Arctocephalus gazella") là một loài động vật có vú trong họ Otariidae, bộ Ăn thịt. Loài này được Peters mô tả năm 1875. Loài hải cẩu này phân bố ở vùng biển Nam Cực. Khoảng 95% số lượng loài này trên thế giới sinh sản tại đảo Nam Georgia. Danh pháp khoa học được đặt theo tàu hải quân Đức, tàu...
1
null
Hải cẩu lông mao Juan Fernández (danh pháp khoa học: "Arctocephalus philippii") là một loài động vật có vú trong họ Otariidae, bộ Ăn thịt. Loài này được Peters mô tả năm 1866. Chúng chỉ được tìm thấy trên bờ biển Thái Bình Dương của Nam Mỹ, cụ thể hơn về quần đảo Juan Fernández và quần đảo San Félix. Hiện người ta vẫn ...
1
null
Hải cẩu lông nâu (danh pháp hai phần: "Arctocephalus pusillus") là một loài động vật có vú trong họ Otariidae, bộ Ăn thịt. Loài này được Schreber mô tả năm 1775. Loài hải cẩu này sinh sống ở bờ biển nam - tây nam châu Phi và ven biển phía nam Australia. Có hai phân loài. Mô tả. Hải cẩu lông nâu là hải cẩu có lông lớn n...
1
null
Hải cẩu lông mao Guadalupe ("Arctocephalus townsendi") là một loài động vật có vú trong họ Otariidae, bộ Ăn thịt. Loài này được Merriam mô tả năm 1897. Loài hải cẩu này suy giảm số lượng chỉ còn vài chục cá thể vào cuối thế kỷ thứ 19, nhưng đã gia tăng 10.000 cá thể trong số những năm cuối thập niên 1990. Nhiều cá thể ...
1
null
Hải cẩu lông mao bắc Thái Bình Dương (danh pháp hai phần: "Callorhinus ursinus") là một loài động vật có vú trong họ Otariidae, bộ Ăn thịt. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. Loài này được tìm thấy ở bắc Thái Bình Dương, biển Bering và biển Okhotsk. Đây là loài lớn nhất trong phân họ hải cẩu ("Arctocephalinae") ở b...
1
null
Sư tử biển Stellar (danh pháp khoa học: Eumetopias jubatus) là một loài sư tử biển trong họ Otariidae, bộ Ăn thịt. Loài này được Schreber mô tả năm 1776. Loài này sinh sống ở phía bắc Thái Bình Dương. Đây là một loài bị đe dọa và cũng là loài duy nhất của chi sư tử biển ở phía bắc Thái Bình Dương ("Eumetopias"). Loài n...
1
null
Sư tử biển Úc (danh pháp khoa học: "Neophoca cinerea") là một loài động vật có vú trong họ Otariidae, bộ Ăn thịt. Loài này được Péron mô tả năm 1816, và là loài duy nhất trong chi "Neophoca". Loài này chỉ đặc hữu Australia. Đây là đơn loài trong chi "Neophoca". Loài sư tử biển này phân bố rải rác khắp quần đảo Houtman ...
1
null
Sư tử biển Nam Mỹ ("Otaria flavescens") là một loài động vật có vú trong họ Otariidae, bộ Ăn thịt. Loài này được Shaw mô tả năm 1800. Loài sư tử biển này được tìm thấy trên các bờ biển Chile, Ecuador, Peru, Uruguay, Argentina và bờ biển miền Nam Brazil. Nó là thành viên duy nhất của chi "Otaria". Tên khoa học của loài ...
1
null
Sư tử biển California (danh pháp khoa học: "Zalophus californianus") là một loài động vật có vú trong họ Otariidae, bộ Ăn thịt. Loài này được Lesson mô tả năm 1828. Con đực có thân dài tới 2,5-2,7 m và cân nặng lên đến 523 kg, còn con cái thường có chiều dài khoảng 2,1 và cân nặng lên đến 100 kg. Đây là loài bản địa mi...
1
null
là một loài động vật có vú trong họ Otariidae, bộ Ăn thịt. Loài này được Peters mô tả năm 1866. Đây là loài thú dưới nước đã tuyệt chủng trong thập niên 1970. Loài này sống ở biển Nhật Bản, đặc biệt xung quanh các vùng bờ biển thuộc quần đảo Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên. Chúng thường sinh sống trên các bãi biển đá m...
1
null
Sư tử biển Galápagos (danh pháp khoa học: Zalophus wollebaeki) là một loài động vật có vú trong họ Otariidae, bộ Ăn thịt. Loài này được Sivertsen mô tả năm 1953. Loài này chỉ sinh sống sinh sản trên quần đảo Galápagos và số lượng nhỏ hơn trên Isla de la Plata (Ecuador). Chúng hầu như chỉ ăn cá mòi, sư tử biển Galápagos...
1
null
Hải cẩu mào ("Cystophora cristata") là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được Erxleben mô tả năm 1777. Loài này chỉ sinh sống ở vùng trung và tây biển Bắc Đại Tây Dương, từ Svalbard ở phía đông đến vịnh St. Lawrence ở phía tây. Chúng thường có màu xám bạc hoặc trắng, với những đốm đ...
1
null
Hải cẩu râu ("Erignathus barbatus") là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được Erxleben mô tả năm 1777. Hải cẩu có râu sinh sống ở và gần Bắc Băng Dương. Hải cẩu có râu đạt chiều dài khoảng 2,1 đến 2,7 m từ mũi đến đuôi và nặng từ 200 đến 430 kg. Hải cẩu cái lớn hơn con đực, nghĩa là...
1
null
Hải cẩu xám (danh pháp khoa học: Halichoerus grypus) là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài hải cẩu này được Fabricius mô tả năm 1791. Đây là loài duy nhất trong chi. Con đực dài và cân nặng ; con cái nhỏ hơn nhiều, thường dài và nặng . Các cá thể ở tây Đại Tây Dương thường lớn hơn nhiều,...
1
null
Hải cẩu báo hay còn gọi là báo biển (danh pháp hai phần: "Hydrurga leptonyx") là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được de Blainville mô tả năm 1820. Đây là loài hải cẩu lớn thứ nhì ở Nam Cực (sau hải tượng phương nam). Nó có thể sống đến 26 năm, có thể lâu hơn. Cá hổ kình và cá mập...
1
null
Hải cẩu ăn cua ("Lobodon carcinophagus") là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được Hombron & Jacquinot mô tả năm 1842. Loài hải cẩu này phân bố xung quanh vùng cực Nam Cực. Chúng có kích thước vừa đến dài (dài hơn 2m), thân tương đối mảnh mai và nhạt màu, được tìm thấy chủ yếu t...
1
null
Hải tượng phương bắc hay voi biển phương bắc (tên khoa học: Mirounga angustirostris) là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được Gill mô tả năm 1866. Những con đực có thể dài trên 4 m và nặng chừng 2.300 kg, trong khi những con cái phát triển đến 3 m và cân nặng 640 kg. Một số con đực...
1
null
Hải tượng phương nam (danh pháp khoa học: "Mirounga leonina") là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. Hải cẩu voi phương Nam là loài có chân màng lớn nhất và thành viên lớn nhất của bộ Carnivora còn tồn tại, cũng như là loài hải cẩu lớn nhất Nam Cực. Chúng...
1
null
Hải cẩu thầy tu Địa Trung Hải (danh pháp hai phần: "Monachus monachus") là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được Hermann mô tả năm 1779. Trên thế giới còn lại 450–510 cá thể (ít hơn 600) cá thể còn lại, nó được coi là loài động vật chân vây hiếm thứ nhì thế giới (chỉ sau hải cầu đe...
1
null
Hải cẩu thầy tu Hawaii ("Monachus schauinslandi") là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được Matschie mô tả năm 1905. Đây là loài đặc hữu quần đảo Hawaii. Chúng là loài sống đơn độc. Hải cẩu thầy tu Hawaii là một trong hai loài hải cẩu thầy tu còn lại; loài kia là hải cẩu thầy tu Địa...
1
null
Hải cẩu thầy tu Caribe (Monachus tropicalis) là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được Gray mô tả năm 1850. Loài này đã tuyệt chủng. Con người và cá mập đã là những kẻ săn bắt chính của loài hải cẩu này. Việc săn bắt quá mức để lấy mỡ, việc khai thác quá mức cá là nguồn thức ăn của ...
1
null
Hải cẩu Ross (danh pháp hai phần: "Ommatophoca rossii") là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được Gray mô tả năm 1844. Đây là loài duy nhất của chi "Ommatophoca". Được mô tả lần đầu tiên trong cuộc thám hiểm Ross năm 1841, đây là loài nhỏ nhất, quần thể thấp nhất và ít được biết đến...
1
null
Hải cẩu Greenland, Hải cẩu đàn hạc hay Hải cẩu hạc cầm, Hải cẩu lưng yên ngựa (danh pháp hai phần: "Pagophilus groenlandicus") là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được Erxleben mô tả năm 1777. Loài hải cẩu này là loài bản địa từ phía bắc Đại Tây Dương và các khu vực của Bắc Băng Dư...
1
null
Hải cẩu đốm (danh pháp hai phần: "Phoca largha") là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được Pallas mô tả năm 1811. Phân bố. Hải cẩu đốm sinh sống ở tảng đá băng và vùng biển bắc Thái Bình Dương và vùng biển lân cận. Chúng chủ yếu được tìm thấy dọc theo thềm lục địa của các biển Beauf...
1
null
Hải cẩu cảng biển ("Phoca vitulina") là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài hải cẩu này được tìm thấy dọc theo biển ôn đới và bờ biển Bắc Cực tại Bắc bán cầu. Nó loài động vật chân vây có phạm vi phân bố rộng rãi nhất, chúng được tìm thấy trong các vùng nước ven biển phía Bắc Đại Tây Dươn...
1
null
Hải cẩu Caspi ("Pusa caspica") là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được Gmelin mô tả năm 1788. Hải cẩu Caspi độc đáo ở chỗ chúng chỉ được tìm thấy trong nước lợ biển Caspi. Chúng có thể được tìm thấy không chỉ dọc theo bờ biển, mà còn trên các đảo đá và nhiều khối băng nằm rải rác ...
1
null
Pusa sibirica là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được Gmelin mô tả năm 1788. Là loài đặc hữu của hồ Baikal ở Siberia, Nga. Giống như hải cẩu Caspi, loài này có liên quan đến loài hải cẩu quanh Bắc Cực. Hải cẩu Baikal là một trong những loài hải cẩu nhỏ và loài động vật chân màng c...
1
null
Rái cá không vuốt châu Phi ("Aonyx capensis") là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được Schinz mô tả năm 1821. Loài rái cá này sinh sống ở khắp khu vực châu Phi cận Sahara, trừ lưu vực Congo và các nơi khô cằn. Chân của loài rái cá này có một phần màng và không có móng vuốt. Phân loài. "Mammal...
1
null
Rái cá sông Bắc Mỹ hay rái cá sông phương bắc (danh pháp hai phần: "Lontra canadensis") là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được Schreber mô tả năm 1777. Rái cá sông Bắc Mỹ là loài đặc hữu của khu vực lục địa Bắc Mỹ, thường được tìm thấy dọc theo các con sông và bờ biển của khu vực này. Con t...
1
null
Rái cá Nhật Bản (tiếng Nhật: ニ ホ ン カ ワ ウ ソ (日本 川 獺 ー, Hệ phiên âm La-tinh Hepburn: "Nihon-kawauso") ("Lutra nippon") là một loại rái cá đã tuyệt chủng trước đây phổ biến ở Nhật Bản. Có niên đại từ những năm 1880, nó thậm chí còn được nhìn thấy ở Tokyo. Dân số đột ngột giảm vào những năm 1930 và loài động vật có vú này ...
1
null
Chồn xám nhỏ (danh pháp hai phần: "Galictis cuja") là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được Molina mô tả năm 1782. Tên gọi quốc tế của hai loài cùng thuộc chi này là grison. "Grison" là tên gọi xuất phát từ tiếng Pháp cổ vào thế kỷ 18, danh từ gris, nghĩa là màu xám.
1
null
Chồn xám lớn (danh pháp hai phần: "Galictis vittata") là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được Schreber mô tả năm 1776. Tên gọi quốc tế chung của hai loài cùng thuộc chi này là grison. Grison là tên gọi xuất phát từ tiếng Pháp cổ vào thế kỷ 18, danh từ gris, nghĩa là màu xám.
1
null
Triết Patagonia (danh pháp hai phần: "Lyncodon patagonicus") là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được de Blainville mô tả năm 1842. Phạm vi địa lý của loài này là Pampas của miền tây Argentina và các phần của Chile. Người ta đã sớm đề cập đến loài động vật này trên bài viết của Syms Covington...
1
null
Chồn thông châu Mỹ ("Martes americana") là một loài động vật có vú thuộc họ Chồn ở Bắc Mỹ. Chúng sinh sống trên khắp Canada, Alaska và các vùng phía bắc Hoa Kỳ. Đây là một loài chồn có thân dài, mảnh mai, với bộ lông có màu từ vàng nâu đến gần đen. Chúng có thể bị nhầm lẫn với chồn cá (Pekania pennanti), nhưng chồn thô...
1
null
Chồn vàng Nhật Bản ("Martes melampus") là một loài chồn mactet có quan hệ gần gũi nhất với chồn zibelin. Chiều dài thân mình của nó là 0,5 m (1,5 ft), chưa tính cái đuôi dài 20 cm (7.9 in), và nặng 1-1,5 kg (2,2-3,3 lb). Con đực thường lớn hơn con cái. Màu lông biến thiên từ nâu đậm đến vàng sậm. Cả con đực và cái có l...
1
null
Chồn zibelin (danh pháp khoa học: Martes zibellina) là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. sống ở môi trường rừng, chủ yếu là ở Nga từ dãy núi Ural suốt Siberia, miền đông Kazakhstan, phía bắc Mông Cổ, Trung Quốc, Bắc và Nam Triều Tiên và Hokkaidō tại Nhật Bản. Phạm...
1
null
Lửng mật (danh pháp hai phần: "Mellivora capensis") là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được Gray mô tả năm 1865. Đây là loài bản địa châu Phi, Tây Nam Á, và tiểu lục địa Ấn Độ. Lửng mật không giống các loài lửng khác, thay vào đó, mang nhiều sự tương đồng giải phẫu với loài chồn. Nó được phâ...
1
null
Melogale everetti là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được Thomas mô tả năm 1895. Loài này là loài ăn đêm và chủ yếu ăn thịt nhưng có thể ăn một số thực vật; với chế độ ăn bao gồm cả côn trùng, ốc, giun đất, thằn lằn, chim nhỏ và chuột (bao gồm cả xác chết) và trái cây. Loài này chỉ được biết...
1
null
Chồn bạc má Java ("Melogale orientalis") là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được Horsfield mô tả năm 1821. Đây là loài đặc hữu Java và Bali ở Indonesia. Chúng sống trong rừng rậm và hoạt động về đêm. Con trưởng thành cân nặng 1–2 kg với thân dài 35–40 cm và đuôi dài 14,5–17 cm.
1
null
Triết núi (danh pháp khoa học: "Mustela altaica") là một loài chồn, sống ở những vùng đất cao, cũng như đài nguyên đá hay rừng thưa nền cỏ. Loài triết này thường núp trong ngách đá, thân cây rỗng, và hang trống mà những con vật khác đào sẵn. Phạm vi phân bố của chúng chưa được làm rõ, song chúng có mặt trên một vùng rộ...
1
null
Chồn nâu châu Âu ("Mustela lutreola") là một loài động vật có vú trong Họ Chồn, Bộ Ăn thịt. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1761. Chúng là loài sinh sống nửa nước nửa cạn đặc hữu châu Âu. Màu sắc chúng tương tự như chồn nâu châu Mỹ, nhưng hơi nhỏ hơn và có một hộp sọ ít chuyên dụng hơn. Mặc dù có tên tương tự, hình th...
1
null
Chồn sương chân đen (danh pháp khoa học: Mustela nigripes) là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được Audubon & Bachman mô tả năm 1851. Phân bố. Trong lịch sử, chồn sương chân đen được tìm thấy trên khắp Great Plains, các lưu vực núi và đồng cỏ bán sơn địa ở tây-trung Bắc Mỹ, từ nam Canada ...
1
null
Mustela nudipes là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được Desmarest mô tả năm 1822. Loài này sinh sống ở Brunei, Indonesia, Malaysia, và Thái Lan. Loài này được đánh giá là "loài ít quan tâm" bởi Sách đỏ IUCN. Chồn Mã Lai có chiều dài cơ thể của 12-14 inch (30–36 cm) và đuôi dài của 9,4-10,2 i...
1
null
Chồn hôi châu Âu (danh pháp hai phần: "Mustela putorius"), còn được gọi là mèo sào chung, đen hoặc mèo rừng, chồn châu Âu, hoặc chồn hoang dã, là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758. Đây là loài bản địa Tây Âu Á và Bắc Phi. Nhìn chung chúng có màu nâu sẫm, với dưới b...
1
null
Neovison macrodon là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được Prentis mô tả năm 1903. Loài này có mối quan hệ gần gũi với chồn nâu châu Mỹ ("Neovison vison"), với cuộc tranh luận về việc có hay không loài chồn nâu biển nên được coi là một phân loài của chồn nâu Mỹ (làm cho nó là "Neovison vison ...
1
null
Chồn nâu châu Mỹ (danh pháp khoa học: "Neovison vison") là một loài động vật có vú trong họ Chồn, bộ Ăn thịt. Loài này được Schreber mô tả năm 1777. Đây là loài bản địa Bắc Mỹ, mặc dù sự can thiệp của con người đã mở rộng phạm vi của nó đến nhiều nơi trên châu Âu và Nam Mỹ. Do mở rộng phạm vi, chồn nâu châu Mỹ được IUC...
1
null
Chồn hôi mũi heo Humboldt, còn được gọi là Chồn hôi mũi heo Patagonia (Conepatus humboldtii) là một loài Chồn hôi mũi heo bản địa của các khu vực cây cỏ mở trong vùng Patagonia của Argentina và Chile. Thực phẩm. Chồn hôi mũi heo Humboldt chủ yếu ăn côn trùng, nhưng cũng ăn động vật có xương, chẳng hạn như động vật gặm ...
1
null
Chồn hôi sọc mũi lợn ("Conepatus semistriatus") là một loài động vật có vú trong họ Chồn hôi, bộ Ăn thịt. Loài này được Boddaert mô tả năm 1785. Loài này phân bố từ Trung và Nam Mỹ (từ phía nam México tới miền bắc Peru, và trong cùng phía đông của Brazil). Chúng sinh sống trong một loạt các môi trường sống bao gồm cây ...
1
null
Chồn hôi đội mũ ("Mephitis macroura") là một loài động vật có vú trong họ Chồn hôi, bộ Ăn thịt. Loài này được Lichtenstein mô tả năm 1832. Loài này phân bố từ Tây Nam Hoa Kỳ đến Nam Mexico, nhưng có nhiều nhất ở México. Nhóm ở Nam Mexio chỉ 50% hoặc nhỏ hơn nhóm ở Tây Nam Hoa Kỳ.<ref name="Janzen 1982 19/20:549–552"...
1
null
Chồn hôi sọc hay chồn khoang, tên khoa học Mephitis mephitis, là một loài động vật có vú trong họ Chồn hôi, bộ Ăn thịt. Loài này được Schreber mô tả năm 1776. Tìm thấy trên hầu hết lục địa Bắc Mỹ phía bắc của México, nó là một trong những loài động vật có vú nổi tiếng nhất tại Canada và Hoa Kỳ. Nó có thân màu đen với m...
1
null
Lửng hôi Sunda (danh pháp khoa học: "Mydaus javanensis") là một loài động vật có vú trong họ Chồn hôi, bộ Ăn thịt. Loài này được Desmarest mô tả năm 1820. Đây là loài bản địa Indonesia và Malaysia. Chúng có thân dài 37–52 cm, nặng từ 1,3-3,6 kg. Chúng là loài ăn tạp và hoạt động về đêm. Phần động vật trong chế độ ăn c...
1
null
Lửng hôi đảo Palawan (danh pháp khoa học: "Mydaus marchei") là một loài động vật có vú trong họ Chồn hôi, bộ Ăn thịt. Loài này được Huet mô tả năm 1887. Loài này phân bố ở phía tây Philippines. Loài này tiết ra hóa chất độc mạnh phun ra từ tuyến hậu môn khi bị kẻ thù săn đuổi. Chúng hoạt động về đêm và ăn chủ yếu là độ...
1
null
Chồn hôi đốm Trung Mỹ (danh pháp khoa học: Spilogale angustifrons) là một loài động vật có vú trong họ Chồn hôi, bộ Ăn thịt. Loài này được Howell mô tả năm 1902. Loài này phân bố từ Costa Rica đến miền nam México. Trong quá khứ loài chồn hôi này đã được coi là một phân loài của Chồn hôi đốm miền đông ("Spilogale putori...
1
null
Chồn hôi đốm miền tây (danh pháp khoa học: "Spilogale gracilis") là một loài động vật có vú trong họ Chồn hôi, bộ Ăn thịt. Loài này được Merriam mô tả năm 1890. Loài này được tìm thấy ở miền Tây Hoa Kỳ, miền bắc Mexico, và tây nam British Columbia. Môi trường sống của chúng là rừng hỗn hợp, các khu vực mở, và đất nông ...
1
null
Chồn hôi đốm lùn ("Spilogale pygmaea") là một loài động vật có vú trong họ Chồn hôi, bộ Ăn thịt. Loài này được Thomas mô tả năm 1897. Đây là loài đặc hữu México. Loài này sinh sống dọc theo bờ biển Thái Bình Dương của México. Chúng được tìm thấy trong rừng và bụi trên đất đá. Chúng tránh các khu rừng rậm và đầm lầy. Ch...
1
null
Mèo đuôi vòng (danh pháp hai phần: "Bassariscus astutus") là một loài động vật có vú trong họ Gấu mèo, bộ Ăn thịt. Loài này được Lichtenstein mô tả năm 1827. Tuy rằng loài này có tên gọi là "mèo" nhưng chúng không thuộc họ mèo mà thuộc họ gấu mèo phân bố tại châu Mỹ.
1
null
Nasua narica là một loài động vật có vú trong họ Gấu mèo Bắc Mỹ, bộ Ăn thịt. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1766. Tên gọi địa phương gồm Pizote, Antoon và Tejón. Loài này có trọng lượng khoảng 4–6 kg (8.8–13.2 lb). Tuy nhiên con đực lớn hơn nhiều so với con cái, con cái nhỏ cân nặng 2,5 kg (5,5 lbs) còn con cái lớn c...
1
null
Gấu mèo mõm lợn Nam Mỹ (Nasua nasua) là một loài động vật có vú trong họ Gấu mèo Bắc Mỹ, bộ Ăn thịt. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1766. Nó được tìm thấy từ khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới Nam Mỹ. Trong tiếng Bồ Đào Nha Brasil nó được gọi là quati. Trọng lượng ở loài này là và tổng chiều dài là , một nửa trong số...
1
null
Kinkajou (danh pháp hai phần: "Potos flavus") là một loài động vật hữu nhũ thuộc họ họ Gấu mèo, bộ Ăn thịt. Loài này được Schreber mô tả năm 1774. Loài thú này sinh sống trong rừng mưa, là loài duy nhất thuộc chi "Potos". Chúng trông giống chồn sương hoặc khỉ nhưng không liên quan đến hai loài này. Là loài bản địa Trun...
1
null
Gấu mèo ăn cua ("Procyon cancrivorus") là một loài động vật có vú trong họ Gấu mèo Bắc Mỹ, bộ Ăn thịt. Loài này được Georges Cuvier mô tả năm 1798. Đây là loài bản địa khu vực đầm lầy và rừng rậm nhiệt đới ở Trung và Nam Mỹ (bao gồm Trinidad và Tobago). Loài này được tìm thấy từ Costa Rica về phía nam qua hầu hết các k...
1
null
Ngựa vằn Burchell ("Equus quagga burchellii") là một loài động vật có vú trong họ Equidae, bộ Perissodactyla. Loài này được Gray mô tả năm 1824. Giống ngựa này là giống ngựa vằn duy nhất được nuôi để tiêu thụ hợp pháp ở Anh. Đặc điểm. Giống như đa số các loài ngựa vằn đồng bằng, con đực và con cái có cùng kích thước. Q...
1
null
Lợn hươu Bắc Sulawesi ("Babyrousa celebensis") là một loài động vật giống lợn nguồn gốc từ miền bắc Sulawesi và gần quần đảo Lembeh tại Indonesia. Nó có hai cặp ngà lớn gồm những răng nanh lớn mở rộng. Răng nanh trên xuyên qua đầu mõm, uốn cong về phía trán. Lợn hươu Bắc Sulawesi bị đe dọa bởi nạn săn bắn và phá rừng. ...
1
null
Lợn rừng lớn (danh pháp hai phần: Hylochoerus meinertzhageni) là một loài lợn thuộc họ Suidae, bộ Artiodactyla. Loài này được Thomas mô tả năm 1904. Danh pháp cụ thể đặt tên theo Richard Meinertzhagen, đã bắn mẫu vật điển hình ở Kenya và đã vận chuyển nó đến Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ở Anh. Miêu tả. Lợn rừng lớn, tính ...
1
null
Lợn bướu sa mạc ("Phacochoerus aethiopicus") là một loài động vật có vú trong họ Suidae, bộ Artiodactyla. Loài này được Pallas mô tả năm 1766. Nó được tìm thấy ở bắc Kenya, Somalia, và có lẽ có ở Djibouti, Eritrea và Ethiopia. Đây là phạm vi sinh sống của phân loài Phacochoerus aethiopicus delamerei (tên tiếng Anh: "lợ...
1
null
Lợn lông rậm (danh pháp khoa học: "Potamochoerus larvatus") là một loài động vật có vú trong họ Lợn, bộ Artiodactyla. Loài này được F. Cuvier mô tả năm 1822. Lợn lông đỏ sinh sống trong rừng, thực vật rừng, ven sông và vùng cây lau lách ở Đông và Nam châu Phi. Có thể có quần thể nhập nội ở Madagascar và Comoros quần đả...
1
null
Lợn lông đỏ ("Potamochoerus porcus") là một thành viên trong họ Lợn, sống ở châu Phi, cư ngụ chủ yếu trong rừng mưa Guinea và Congo. Loài này hiếm khi bước chân khỏi rừng mưa, và ưa sống nơi gần sông hay đầm. Mô tả. Lợn lông đỏ có bộ lông màu cam hay nâu hung đỏ nổi bật, cẳng chân đen và sọc trắng chạy dọc sống lưng. C...
1
null
Lợn hoang đảo Visayas "(Sus cebifrons)" là một loài động vật có vú trong họ Suidae, bộ Artiodactyla. Loài này được Heude mô tả năm 1888. Đây là loài đặc hữu của hai quần đảo Visayan ở miền Trung Philippines, và do bị đe dọa mất môi trường sống, tình trạng thiếu thức ăn, và nạn săn bắn - đó là những nguyên nhân hàng đầu...
1
null
Lợn hoang đảo Celebes "(Sus celebensis)" là một loài động vật có vú trong họ Suidae, bộ Artiodactyla. Loài này được Müller & Schlegel mô tả năm 1843. Loài lợn này sinh sống ở Sulawesi ở Indonesia. Chúng sinh sống trong hầu hết các môi trường sống và có thể sống ở độ cao tới 2.500 m (8.000 ft). Nó đã được thuần hóa ...
1
null
Lợn hoang đảo Java "(Sus verrucosus)" là một loài động vật có vú trong họ Suidae, bộ Artiodactyla. Loài này được Boie mô tả năm 1832. Sus verrucosus (Sus blouchi) còn gọi là lợn bướu sinh sống duy nhất trên hòn đảo Bawean rộng 192 km² thuộc vùng biển Java. Được biết đây là giống lợn xấu và hiếm nhất hành tinh. Quần thể...
1
null