text stringlengths 1 148k | label int64 0 2 | __index_level_0__ int64 0 113k ⌀ |
|---|---|---|
Đức Mẹ Ban Ơn còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như: Đức Mẹ Mề Đay Huyền Nhiệm, Đức Mẹ rảy phép lạ, Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, là hình ảnh Đức Mẹ trên một tấm huy chương (còn gọi là "mề đay", theo từ "Médaille" của Pháp) có nguồn gốc từ việc thánh nữ Catarina Laboure được báo cáo là đã nhìn thấy Maria và được chính Mẹ vẽ mẫu. Tấm huy chương thực sự được chế tác bởi thợ kim hoàn Adrien Vachette.
Giáo hội Công giáo Rôma cho rằng khi mang theo tấm huy chương này với đức tin và lòng sùng kính có thể mang lại những ân sủng đặc biệt thông qua sự chuyển cầu của Mẹ Maria trong giờ lâm tử. Tuy nhiên, lòng sùng mộ không nên được hiểu là "ma thuật" hoặc mê tín dị đoan nhưng là một công cụ để thường xuyên nhắc nhở lòng sùng kính và thương xót của Đức Maria.
Lịch sử.
Vào đêm 18/7/1830, Thánh Catarina Laboure, khi đó đang là nữ tu của Tu hội Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn, đang ngủ thì thức giấc vì nghe có tiếng ai đó gọi tên mình. Một đứa trẻ mặc đồ trắng gọi Catarina tới nhà nguyện (nằm ở Rue du Bac, Paris) vì Đức Mẹ đang chờ ở đó." Trong nhà nguyện tràn ngập ánh sáng. Catarina nghe tiếng Đức Mẹ nói với cô: "Thiên Chúa muốn ban cho con một sứ mệnh, con sẽ bị chống đối, nhưng đừng sợ hãi; con sẽ được ân sủng. Hãy nói cho cha linh hướng của con mọi chuyện xảy ra cho con, về thời buổi quỷ dữ (devil) ở Pháp và trên thế giới."
Ngày 27 tháng 11 năm 1830, Catarina báo cáo rằng đã nhìn thấy Đức Trinh Nữ mặc một chiếc áo choàng sắc hồng của buổi bình minh, cổ cao, tay áo đơn giản. Đầu Mẹ có khăn voan trắng bao phủ, xõa xuống vai và dài tới chân Mẹ. Chân Mẹ đứng trên trái địa cầu. Bàn tay của Mẹ đặt ngang thắt lưng. Xung quanh khung hình xuất hiện dòng chữ: "Ô Marie, conçue sans péché, priez pour nous qui avons recours à vous" (Lạy Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tội, xin cầu cho chúng con là kẻ tội lỗi chạy đến cùng Mẹ). Sau đó, khung hình bầu dục quay ngược lại và Catarina thấy một vòng tròn 12 ngôi sao, bên trong có một chữ "M" lớn, đè lên cây thập tự, với một thanh ngang dưới chân. Chữ "M" được hiểu là chữ viết tắt của danh thánh Maria. Phía dưới có hình Trái Tim Chúa Giêsu bị vòng gai bao quanh và trái tim Mẹ Người bị một thanh gươm đâm thấu.
Khi được hỏi tại sao một số hình ảnh không được giải nghĩa đầy đủ, Catharine giải thích rằng: "Đó là ân sủng nên quên không hỏi". Catarina đến với linh mục linh hướng của mình và kể lại với ông về cuộc hiện ra, nói với ông về việc đúc một mẫu hình và những người đeo nó sẽ nhận được nhiều ân sủng. Lúc đầu, vị linh mục không tin Catharine nhưng sau hai năm khi tiếp xúc với Giám mục Paris và trình bày câu chuyện về các sự kiện đã xảy ra ở Rue du Bac. Vị giám mục tỏ ra có thiện cảm với câu chuyện và mẫu hình Đức Mẹ Ban Ơn được sản xuất hàng loạt bởi thợ kim hoàn Adrien Vachette.
Một trong những phép lạ tiêu biểu liên quan đến mẫu ảnh Đức Mẹ Ban Ơn xảy ra vào năm 1841, đó là sự cải đổi của Alphonse Ratisbonne. Ông là một người lăng mạ và thù ghét đạo Công giáo. Sau khi thuyết phục khá lâu, Ratisbone đã miễn cưỡng đeo ảnh và đọc kinh. Và khi Alphonse đi vào nhà thờ thánh Anrê delle Frate để sắp xếp tang lễ cho một người bạn thân, Alphonse đã thấy thị kiến Đức Maria như trong ảnh đang đeo. Ông ta đã được ơn cải đổi ngay lập tức và xin lãnh bí tích Rửa tội sau đó trở thành một linh mục.
Năm 1876, Catharine qua đời. Năm 1933, xác cô được khai quật để phong chân phước và đặt trong Nhà nguyện Nhà Mẹ của các Nữ Tử Bác Ái ở Rue du Bac Paris,Pháp và trở thành một địa điểm thăm viếng của hàng ngàn người Công giáo mỗi năm.
Biểu tượng này cũng được Giáo hoàng Gioan Phaolô II cách điệu thành huy hiệu Giáo hoàng của ông: một cây thánh giá đơn giản với một M nằm dưới, bên phải, có nghĩa là Maria đứng dưới chân cây thập giá khi Chúa Giêsu bị đóng đinh.
Hình ảnh.
Trong quá trình trình bày với linh mục linh hướng bằng lời nói vào ngày 16 tháng 2 năm 1836 tấm huy chương được mô tả có hình bầu dục. Xung quanh có dòng chữ: "Lạy Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tội, xin cầu cho chúng con là kẻ tội lỗi chạy đến cùng Mẹ" bắt đầu từ tay phải của Đức Maria, tiếp tục trên đầu, và kết thúc vào bàn tay trái.
Theo một tài liệu được viết bởi chính tay của Catarina, Đức Maria mặc một tấm áo choàng trong ánh sáng rực rỡ. Theo ghi chú của Catarina, huy chương cũng nên có một nửa quả địa cầu tượng trưng cho thế giới đặt dưới chân của Đức Maria. Bàn tay của Mẹ giơ cao, ngón tay đeo đầy nhẫn kim cương với các kích cỡ khác nhau phát ra những tia sáng, những viên đá lớn nhất phát ra những tia sáng rực rỡ nhất. Cô nói thêm rằng một số viên kim cương không phát ra hào quang. | 1 | null |
Cù lao Tân Quy là cù lao nhỏ nằm giữa dòng sông Hậu thuộc địa phận xã An Phú Tân, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, Việt Nam.
Cù lao Tân Quy nằm cách thành phố Trà Vinh hơn 50 km về hướng tây bắc. Cù lao này có một vườn cây ăn trái, với nhiều loại trái cây đặc sản nổi tiếng khắp gần xa như chôm chôm, nhãn xuồng cơm vàng, sầu riêng, măng cụt… đặc biệt măng cụt Tân Quy đang được ưa chuộng trên thị trường trong và ngoài nước bởi chất lượng cao và sản lượng ổn định. Nghề truyền thống ở cù lao này là nghề ""săn cá Bông lau"." Cù lao Tân Quy có diện tích 929 ha.
Cù lao Tân Quy được hình từ nửa đầu thế kỷ 19 khi những cư dân đầu tiên vượt sông đến đây để dựng làng, lập ấp. Sau đó, đã đặt tên cho nơi này là làng Tân Vinh. Đến đầu thế kỷ 20, khoảng sau năm 1920 thì nơi đây lại được đổi tên mới là cù lao Tân Quy cho đến tận ngày nay. Hiện cù lao Tân Quy có 2 ấp: Tân Quy 1 – Tân Quy 2 (thuộc xã An Phú Tân – huyện Cầu Kè – tỉnh Trà Vinh) và 1 ấp thuộc xã Tích Thiện – huyện Trà Ôn – tỉnh Vĩnh Long. | 1 | null |
Lý Khác (chữ Hán: 李恪; 619 - 10 tháng 3, 653), thông gọi Ngô vương Khác (吴王恪), biểu tự Khư (厶), là một thân vương và tướng lĩnh thời nhà Đường. Ông là hoàng tử thứ ba của Đường Thái Tông Lý Thế Dân.
Trong các hoàng tử, ông được Đường Thái Tông xem là người con tài năng nhất và từng được Đường Thái Tông khen ngợi là giống mình nhất trong các vị Hoàng tử. Trong vụ án tạo phản của Kinh vương Lý Nguyên Cảnh (李元景) vào thời Đường Cao Tông Lý Trị, ông bị buộc tội thông đồng cấu kết, bị ban chết cùng với Kinh vương Nguyên Cảnh kèm cặp vợ chồng của Ba Lăng công chúa và Cao Dương công chúa.
Tiểu sử.
Ngô vương Lý Khác sinh năm 619 trong thời đại cai trị của ông nội ông là Đường Cao Tổ Lý Uyên. Mẹ ông là Dương phi, vốn là công chúa nhà Tùy, con gái của Tùy Dạng Đế Dương Quảng. Do cha ông lập nhiều công trạng nên chưa đầy năm, vào năm Vũ Đức thứ 3 (620), ông đã được ông nội Đường Cao Tổ phong làm Trường Sa quận vương (長沙郡王), đến năm thứ 9 (626) thì đổi phong Hán Trung quận vương (漢中郡王).
Năm Trinh Quán thứ 2 (628), ông được phong làm Thục vương (蜀王), lĩnh chức Đô đốc của 6 châu: Ích Châu, Giản Châu, Miên Châu, Gia Châu, Cung Châu, Long Châu, còn kiêm Ích Châu Thứ sử. Năm thứ 5 (631), đổi phong Đô đốc 4 châu: Tần Châu, Thành Châu, Vị Châu, Vũ Châu, kiêm Tần Châu Thứ sử. Năm thứ 7 (633), đổi phong Đô đốc 7 châu: Tề Châu, Truy Châu, Thanh Châu, Cử Châu, Lai Châu, Mật Châu kiêm Tề Châu Thứ sử.
Năm Trinh Quán thứ 10 (636), cải phong Ngô vương (吳王) và được quyền thế tập. Cùng năm, phong Đô đốc Đàm Châu, sau cải phong Đô đốc Yên Châu, chính thức trở thành phiên vương. Năm thứ 11 (637), đổi phong Đô đốc 5 châu: An Châu, Tùy Châu, Uẩn Châu, Miện Châu, Phúc Châu kiêm Yên Châu Thứ sử. Tháng 10 năm đó, ông bị quan Ngự sử tố cáo đi săn bắn gây nhũng nhiễu dân chúng và con trai nhũ mẫu cờ bạc, ông bị miễn chức Đô đốc và tước đi 600 hộ.
Năm Trinh Quán thứ 17 (643), Thái tử Lý Thừa Càn âm mưu tạo phản, Đường Thái Tông phế Thừa Càn làm thứ dân, ngôi vị Thái tử bị bỏ trống. Theo lệ nhà Đường, một trong hai người con trai còn lại của Hoàng hậu là Nguỵ vương Lý Thái và Tấn vương Lý Trị được ưu tiên chọn lựa kế vị. Đường Thái Tông ông cho rằng Lý Trị yếu đuối, thiếu quyết đoán, khó trị vì được, do vậy lúc đầu ông định lập Ngụ vương Lý Thái, nhưng lại thấy con người Lý Thái thiếu đức, nhiều triều thần trong đó Trưởng Tôn Vô Kỵ phản đối nên đã lập Tấn vương Lý Trị làm Thái tử. Được một thời gian, không hài lòng với Lý Trị, ông lại muốn truyền cho Ngô vương Lý Khác, việc này vấp phải sự can ngăn của Trưởng Tôn Vô Kỵ cùng hầu hết triều thần, những người cho rằng Lý Khác là cháu ngoại của Tùy Dạng Đế Dương Quảng, nếu lên ngôi họ lo sợ họ Dương sẽ trở lại nắm quyền. Năm Trinh Quán thứ 21 (649), Đường Thái Tông băng hà, Thái tử Lý Trị kế vị tức là Đường Cao Tông.
Năm Vĩnh Huy nguyên niên (650), Lý Khác được phong làm Tư không, một trong Tam Công và kiêm Đô đốc Lương Châu, rồi Đô đốc 5 châu: An Châu, Tùy Châu, Uẩn Châu, Miện Châu, Phúc Châu kiêm An Châu Thứ sử.
Năm Vĩnh Huy thứ 4 (653), xảy ra vụ án Hoàng thân Kinh vương Lý Nguyên Cảnh (李元景), Cao Dương công chúa và chồng là Phòng Di Ái mưu phản. Trưởng Tôn Vô Kỵ nhân cơ hội đã ép cung Phòng Di Ái tố cáo Lý Khác chủ mưu vụ mưu phản này. Lý Khác bị tước bỏ tước vị và bị xử tử, 4 người con trai của ông bị lưu đày đến Lĩnh Nam.
Năm Hiển Khánh thứ 5 (659), Trưởng Tôn Vô Kỵ bị giáng chức và lưu đày, Phế Ngô vương Lý Khác được truy phong Uất Lâm Quận vương (鬱林郡王), cháu nội của Hà Giang quận vương Lý Hiếu Cung là Lý Vinh được chọn thừa tập với tước vị Uất Lâm hầu.
Dưới triều Đường Trung Tông Lý Hiển, ông được phục hồi chức vụ Tư Không và cho chôn cất lại theo lễ nghi.
=Gia đình= | 1 | null |
Marcel Nguyễn Tân Văn (Ngăm Giáo, Bắc Ninh 15 tháng 3 năm 1928 - Yên Bình, Yên Bái 10 tháng 7 năm 1959) là một tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam thuộc Giáo hội Công giáo Rôma. Năm 1955, thầy Marcel Nguyễn Tân Văn bị bắt và bị đưa vào trại tập trung của Việt Minh (ở miền Bắc Việt Nam) và chết trong tù năm 1959.
Tiểu sử của ông và những tác phẩm khác (trong đó có 370 bức thư của ông) đã được xuất bản ở Pháp và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Công giáo ở nước ngoài.
Qua những bức thư còn để lại, có thể nhận thấy lòng yêu quê hương, yêu người và kính Chúa của ông, như ông viết: ""Tôi không biết là tôi có thể nhìn thấy nước Việt Nam có hòa bình khi tôi còn sống hay khi tôi đã chết? Và trong trường hợp thứ hai, có lẽ tốt hơn, bởi vì tôi muốn chịu cực khổ vì Chúa để cầu xin Chúa ban hòa bình cho nước Việt Nam yêu quý của tôi"."... ""Nỗi băn khoăn duy nhất của tôi là yêu Chúa... Dù cuộc đời của con ra như thế nào thì con chỉ muốn yêu thương mà thôi..." ".
Từ năm 1994, Hội Thân hữu Thầy Văn ("Les Amis de Van") tại Belley-Ars, Pháp đảm nhiệm việc mở án phong chân phước và phong thánh cho thầy Marcel Nguyễn Tân Văn và chính thức khai mở án phong này ngày 26 tháng 3 năm 1997. Nếu được công nhận, ông sẽ là vị thánh hiển tu đầu tiên của châu Á. | 1 | null |
Tức Quy (chữ Hán: 息妫), cũng còn gọi là Tức phu nhân (息夫人), hoặc Tức Quân phu nhân (息君夫人), là một mỹ nhân tuyệt thế xuất hiện vào thời kỳ Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.
Sử kể rằng, bà trước là phu nhân của quân chủ nước Tức, về sau do có hiềm khích với vua nước Sái, Tức hầu và Sái hầu đều nhờ đến Sở Văn vương can thiệp. Thế rồi, Sái hầu khiến Sở vương diệt nước Tức, và bà cũng trở thành Vương hậu của Sở Văn vương. Tương truyền, Tức Quy vẻ đẹp diễm lệ, má tựa hoa đào, truyện thuyết còn cho rằng bà cùng chồng tự sát sau khi bị Sở Văn vương đàn áp ngay lúc hoa đào nở, nên nhân gian thường bà gọi là Đào Hoa phu nhân (桃花夫人).
Vì vẻ đẹp hiếm có và câu chuyện bi kịch về nhan sắc, về sau người ta thường liệt Tức Quy vào một trong "Xuân Thu tứ đại mỹ nữ" (春秋四大美女), bên cạnh Hạ Cơ, Văn Khương và Tây Thi.
Câu chuyện.
Tức vong quy Sở.
Sách Tả truyện chép, Tức Quy vốn họ Quy (妫姓), là người nước Trần, sử cũ không cho biết cha mẹ bà là ai, có thuyết là Trần Trang công vì cách gọi quốc tính của một nước chỉ dùng cho con của vị Vua nước đấy, mà ở đây họ Quy là họ Vua nước Trần. Khi trưởng thành, Tức Quy và người chị là Sái Quy (蔡妫) được gả đến hai nước Tức và Sái.
Năm Trần Tuyên công thứ 9 và Sở Văn vương thứ 6 (684 TCN), anh rể của Tức Quy là Sái Ai hầu và vợ chồng bà đều sang nước Trần. Khi trở về, Tức Quy đi qua nước Sái. Sái Ai hầu tiếp đón nhưng tỏ thái độ thất lễ với bà khiến Tức hầu nổi giận. Tuy nhiên, do nước Tức nhỏ bé không thể làm gì nước Sái, nên Tức hầu phái người đến nói với Sở Văn vương hãy đánh nước Tức, nước Tức sẽ cầu cứu Sái, nhân đó quân Sở có thể đánh được nước Sái. Sở Văn vương nghe lời Tức hầu, mang quân đánh nước Tức. Tức hầu cầu cứu Sái Ai hầu. Quả nhiên, Sái Ai hầu mang quân cứu nước Tức, không chống nổi quân Sở, liền bị Sở Văn vương bắt sống và giam cầm ở Sở.
Năm Sở Văn vương thứ 10 (680 TCN), Sái Ai hầu bị cầm tù ở Sở được 4 năm, căm giận Tức hầu, bèn tán tụng sắc đẹp của Tức Quy với Sở Văn vương. Sở Văn vương ham sắc Tức phu nhân, bèn mang quân đánh diệt nước Tức để đoạt lấy Tức Quy, Tức hầu thua trận, bị bắt làm lính canh cổng. Sau đó, Sở Văn vương thả Sái hầu về nước. Sau khi về nước Sở, Tức Quy được Sở vương hết lòng sủng ái yêu quý. Ở trong cung Sở được 3 năm, Tức Quy sinh được hai con là Hùng Gian và Hùng Uẩn. Theo truyền thuyết, Tức Quy từ khi lấy Sở Văn vương thì rất ít nói, Sở Văn vương hỏi nguyên nhân, bà mới trả lời rằng: 「"Thiếp thân là nữ tử, mà bị bách lấy hai đời chồng, đã không biết giữ tiết mà chết, lại còn mặt mũi nào nói chuyện với ai nữa"」. Sở Văn vương muốn lấy lòng Tức Quy, bèn mang quân đánh Sái, thế là Sái Ai hầu một lần nữa bị bắt rồi chết ở nước Sở.
Loạn Tử Nguyên.
Năm Sở Văn vương thứ 15 (675 TCN), sau khi đánh bại nước Hoàng thì Sở Văn vương bị bệnh và mất vào tháng 6 năm đó. Con trưởng của Văn vương với bà là Hùng Gian lên nối ngôi, tức là Sở Đổ Ngao. Tuy nhiên 3 năm sau, Đổ Ngao bị em là Hùng Uẩn giết chết để cướp ngôi, tức Sở Thành vương. Do Sở Thành vương còn nhỏ, nên triều chính do em Văn vương là Lệnh doãn Tử Nguyên quyết định. Thời Tiên Tần, trước khi có sự xuất hiện của Tuyên Thái hậu nhà Tần thì quả phụ của các Vương đều không được tôn làm Thái hậu, mà lấy thụy hiệu của Tiên vương đặt trước tôn hiệu để gọi. Vì thế, Tức Quy được gọi là Văn phu nhân (文夫人).
Năm Sở Thành vương thứ 6 (666 TCN), Tử Nguyên ham mê sắc đẹp của Tức Quy, bèn cho xây một ngôi nhà bên cạnh hồ, ngày đêm vũ nhạc múa hát. Tức Quy thấy thế, không bằng lòng, bảo: 「"Tiên quân ta (ý nói Sở Văn vương) ngày xưa chăm lo luyện tập binh sĩ, làm cho chư hầu đều thần phục. Bây giờ quân Sở ta đã mười năm nay, chưa tiến được Trung Nguyên, thế mà quan Lệnh doãn nay không nghĩ những điều xấu hổ ấy lại bày việc đờn ca, hát xướng bên cung gái góa này, thật lạ lùng làm sao!"」. Tử Nguyên nghe thấy thế thì xấu hổ, nói: 「"Một người đàn bà còn biết đại cuộc, thế mà ta lại quên mất!"」.
Năm thứ 8 (664 TCN), Tử Nguyên bèn đem quân đánh nước Trịnh, nhưng quân nước Tống đến cứu nên phải rút lui. Không bao lâu sau, Tử Nguyên bị đại thần Đấu Ban giết chết, cha ông là Đấu Cốc Ô Thố thay thế địa vị Lệnh doãn. Về sau không rõ Tức Quy mất năm nào.
Truyền thuyết.
Liệt nữ truyện của Lưu Hướng thời Tây Hán chép khác với Tả truyện về số phận của bà. Sau khi diệt nước Tức, Sở Văn vương cưới Tức Quy rồi bắt Tức hầu làm quan giữ thành. Sau đó, nhân vua Sở đi khỏi kinh đô, Tức Quy lén gặp Tức hầu, sau đó cả hai cùng tự sát. Đây là câu chuyện phổ biến hơn về bà, và người đời sau đều cảm khái sự bi kịch của bà nên rất tán thưởng. Nguyên văn từ Liệt nữ truyện:
Dân gian lưu truyền ngay khi bà qua đời là khoảng tháng 3, cũng là lúc hoa đào nở rộ, vì vậy dân gian còn suy tôn bà làm Tam nguyệt Đào Hoa thần (三月桃花神). Tại Hán Dương, tỉnh Hồ Bắc vẫn còn thấy miếu tế của bà, và cũng là một danh lam thắng cảnh đặc sắc của khu vực này. Ngày nay tại Hà Nam, huyện Tức, là địa phận cũ của nước Tức, có một bức tượng để tưởng nhớ đến bà.
Thi ca nghệ thuật.
Về sau, các tao nhân mặc khách đều rất cảm khái về Tức phu nhân, nên không ít người làm nhiều bài thơ về bà. Đại thi nhân nhà Đường là Vương Duy có làm bài "Tức phu nhân", trong đó viết:
Thi nhân Đỗ Mục cũng có bài "Đề Đào Hoa phu nhân miếu" (題桃花夫人廟) để cảm khái về bà. Đỗ Mục so sánh việc bà tuy được Sở vương sủng ái nhưng không hề mở miệng, với hành động nhảy lầu của nàng Lục Châu mà viết nên bài này. | 1 | null |
Huyền Linh là một nhạc sĩ, nghệ sĩ cải lương người Việt Nam, đồng tác giả với Hoài An một số ca khúc trước năm 1975 như "Trăng về thôn dã", "Tình người lữ thứ", "Hương nhạc tình quê".
Thân thế cuộc đời.
Huyền Linh tên thật là Nguyễn Xuân Cần, sinh năm 1927 tại Hải Phòng. Ông là con một gia đình kinh doanh trung lưu, cha ông thường xuất ngoại sang Pháp và các nước khác. Tuy nhiên đến năm 11 tuổi mẹ mất, cha ông tục huyền, ông thường xung khắc với mẹ kế nên vài năm sau đã đưa em gái 2 tuổi bỏ nhà ra đi, nhận làm trợ giáo để nuôi em và học hành.
Năm 16 tuổi, ông được trưởng đoàn cải lương Hiệp Thành cho thổi kèn trumpet trong đoàn và hướng dẫn cho về cách sử dụng guitar, trống, mandolin, ngoài ra còn được học hoà âm, sáng tác với Phạm Ngữ.
Năm 18 tuổi, Huyền Linh thành lập đoàn ca kịch Tự Do ở Đà Nẵng. Ông cùng Châu Kỳ là hai diễn viên sáng chói của đoàn lúc đó. Cũng trong năm này, ông bắt đầu sáng tác nhạc.
Năm 1954, Huyền Linh di cư vào miền Nam, cùng với Phó Quốc Thăng, Phó Quốc Lân, Trịnh Hưng... thành lập ban nhạc Lửa Hồng có giờ biểu diễn hàng tuần trên Đài Phát thanh Sài Gòn. Một số ít ca khúc viết trước đây của ông được phổ biến và quần chúng yêu thích như "Cung đàn lữ thứ", "Mưa đêm"... Tiếp theo, ông cùng nhạc sĩ Hoài An soạn những ca khúc đồng quê, lời ca trữ tình như "Trăng về thôn dã", "Hương nhạc tình quê", "Tình người lữ thứ"... Năm 1957, ông viết nhạc cảnh "Tình người ngư phủ", năm 1962 làm đạo diễn và đóng vai chính với nữ diễn viên Linh Sơn.
Sau năm 1975, ông chỉ viết nhạc Thánh ca và phổ thơ của một số người bạn, ngoài ra ông còn kiếm sống bằng nghề dạy nhạc. Ông qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12 tháng 2 năm 2007. | 1 | null |
Chokri Belaid ( ;(26 tháng 11 năm 1964-6 tháng 2 năm 2013) là một luật sư và chính khách của Tunisia. Ông là lãnh tụ đối lập của nhóm thế tục cánh tả Phong trào những người yêu nước dân chủ. Ngày 6 tháng 2 năm 2013, ông bị ám sát, khiến nhiều người biểu tình phản đối, và đòi bầu cử lại.
Tiểu sử.
Belaid sinh ngày 26 tháng 11 năm 1964 tại một ngôi làng gần thị trấn Djebel Jelloud ở Tunisia. Ông từng là luật sư và cũng là một trong những người thuộc nhóm đứng ra biện hộ cho cựu tổng thống Iraq Saddam Hussein trong phiên tòa xét xử ông vì những tội ác chống lại nhân loại Belaid đã lên tiếng chống lại một chiến dịch đàn áp thợ mỏ năm 2008, và là một nhà phê bình chính trị nổi tiếng của Tunisia. Belaid cũng là một nhà thơ, một bài thơ của ông dành riêng cho Muruwa Hussein, một nhà trí thức nước Liban, người đã bị ám sát bởi những người Hồi giáo quá khích vào cuối thập niên 1990. Belaid đã kết hôn và có hai người con gái , cả gia đình sống trong một căn hộ thuê. | 1 | null |
Giao Linh (tên khai sinh: Đỗ Thị Sinh, sinh ngày 8 tháng 9 năm 1949) là một nữ ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng người Việt Nam, bà thành danh từ những năm thập niên 60 tại Sài Gòn thuộc Việt Nam Cộng hòa. Bà được báo chí Việt Nam Cộng hòa đương thời mệnh danh là "Nữ hoàng sầu muộn" do tiếng ca và phong cách biểu diễn trầm buồn của bà. Vào thập niên 1980, Giao Linh cộng tác với ca sĩ Tuấn Vũ tạo nên một cặp song ca cực kỳ nổi tiếng trong làng băng đĩa.
Tiểu sử.
Bà sinh ra tại Sài Gòn trong một gia đình nghèo gồm bảy anh chị em nhưng không ai tham gia lĩnh vực nghệ thuật. Cha quê ở tỉnh Hà Nam; mẹ quê ở tỉnh Quảng Bình nhưng đã di cư vào miền Nam Việt Nam từ bé. Bà đam mê ca hát từ thuở nhỏ, và mẹ bà vẫn lén cho bà đi học thầy cổ nhạc dù rằng cha cấm đoán. Tuy vậy, Giao Linh tâm sự bà vẫn yêu thích tân nhạc hơn.
Trước 1975.
Trong một chuyến đi chơi Đà Lạt vào năm 1965, khi Đỗ Thị Sinh bày tỏ ước muốn ca hát của mình với người bạn thân và xin tư vấn đặt nghệ danh thì người bạn gợi ý tên "Giao Linh" vì tin rằng "nghệ danh này sẽ gặp nhiều may mắn"; "Giao Linh" có ý nghĩa là "hai tâm hồn giao nhau".
Thấy bà hát hay, người anh kết nghĩa là nhạc sĩ Ngọc An dẫn bà xin vào làm ở hãng hàng không Air Vietnam ở vị trí nhân viên soát vé, khi nào đoàn văn nghệ của hãng thiếu người thì bà thế vào. 3 tháng sau, Giao Linh bắt đầu nghiệp cầm ca kể từ dấu mốc giành huy chương vàng khi đại diện đoàn Air Vietnam tham dự chương trình văn nghệ của đoàn "Kim Hoàng - Như Mai" vào năm 1966. Trong một buổi giao lưu văn nghệ cũng trong năm này, nhạc sĩ Thu Hồ nghe được giọng hát Giao Linh và hẹn bà hôm sau lên hãng đĩa Continental của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông để thử giọng, mở ra cơ hội giúp Giao Linh ký được với hãng Continental hợp đồng thu đĩa độc quyền trong 3 năm. Bà luôn ghi ơn nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vì bản hợp đồng có giá trị lớn lao: 150.000 đồng, so với lương tầm trung là 4.600 đồng/tháng ở Air Vietnam trước đó, xét hoàn cảnh của một cô gái trẻ nhà bình dân lao động nghèo. Giao Linh từng dành 2 năm để học cổ nhạc theo mong muốn của nhạc sĩ, song bà cho rằng mình "không có duyên" với thể loại này. Một ví dụ về dĩa tân cổ có Giao Linh tham gia hồi đầu là EP Continental "Hận tình Tô Ánh Nguyệt" với tân nhạc Ngọc Sơn, vọng cổ Yên Sơn, hát chung với Ngọc Giàu, Hữu Phước, Thành Được và Tuyết Hồng, được phát hành năm 1966.
Chỉ 3 tháng đi hát Giao Linh đã nổi tiếng, được báo chí đánh giá là "ca sĩ có đôi hài 7 dặm". Hãng Continental có chương trình đào tạo riêng cho bà, chọn lựa kĩ bài hát sao cho phù hợp với giọng bà, và thế là sau này phần lớn các bài đó đều gắn với sự nghiệp của Giao Linh như "Thầm kín", "Mùa sao sáng" (Nguyễn Văn Đông), "Một loài chim biển" (Nguyễn Vũ), "Không bao giờ quên anh" (Hoàng Trang), "Màu tím pensée" (Ngọc Sơn & Đài Phương Trang), "Nửa đêm khấn hứa" (Tuấn Hải)... Giao Linh từng kể rằng, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đặt ra yêu cầu rất khắt khe, có lần yêu cầu bà phải thu âm một ca khúc đến 48 lần đến khi thu đạt mới thôi.
Năm 1970, hết hạn hợp đồng, Giao Linh tiếp tục cộng tác thêm với nhiêu hãng đĩa khác. Bà cộng tác với nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ở cả 2 hãng dĩa Continental và hãng dĩa Sơn Ca, được hãng Sơn Ca làm cho băng nhạc "" dành riêng cho bà đơn ca.
Sau 1975.
Năm 1982, Giao Linh rời Việt Nam sang Canada để đoàn tụ với gia đình. Tiệm phở "Linh" ở Toronto là nguồn sống chính của gia đình bà. Bà kết hôn năm 1987 và về sau thì sang định cư ở San Jose, California, Hoa Kỳ. Bà đi hát nhiều nơi và thu âm nhiều băng đĩa cho các trung tâm ca nhạc, ngoài ra có các CD với nhãn hiệu Trung tâm Băng nhạc Giao Linh (Giao Linh Productions) của chính bà tại Westminster, California.
Năm 1988, có người quen đưa một cuốn băng ca sĩ Tuấn Vũ cho bà nghe. Thấy đặc biệt nên bà hẹn gặp ông, để rồi Giao Linh tự gom góp tài chính thu một cuốn băng song ca với Tuấn Vũ tựa là "Đôi mắt người xưa". Băng bán rất chạy, đại lý khắp nơi hỏi làm bà trả lời không xuể. Sau Giao Linh nhượng lại bản quyền cho trung tâm Giáng Ngọc, và băng đĩa "Đôi mắt người xưa" bán được hàng chục ngàn bản ngay lần in đầu.
Năm 2000, Giao Linh trở về Việt Nam biểu diễn. Tương tự hồi ở Canada, bà cũng mở một quán phở ở Quận 10 nhưng quán đã ngưng phục vụ do Giao Linh quá bận rộn với công việc. Ghi chú thêm rằng trước năm 1975, địa chỉ của Giao Linh ở đường Nguyễn Kim, cũng thuộc Quận 10, Sài Gòn. Cho đến nay, giọng ca Giao Linh vẫn tiếp tục phục vụ khán thính giả yêu nhạc khắp mọi nơi, tham gia một số chương trình truyền hình và các hoạt động từ thiện giúp đỡ đồng bào mình.
Trong đời Giao Linh có ba người thầy lớn là nhạc sĩ Thu Hồ, Nguyễn Văn Đông và Ngọc Sơn. Giao Linh quan niệm:
Cuộc sống riêng.
Giao Linh và chồng từng gặp gỡ nhau từ năm bà mới 17 tuổi, nhưng phải đến 20 năm sau thì hai ông bà mới về chung tổ ấm. Tuy không làm văn nghệ nhưng chồng Giao Linh là người sẻ chia, đồng cảm với bà trong bước đường nghệ thuật. Dù Giao Linh không có con ruột nhưng bà và các con riêng của chồng đều dành những tình cảm tốt đẹp cho nhau. Bà có quan hệ rất thân thiết với Phi Nhung.
Danh mục băng, đĩa.
Trước năm 1975.
Dưới đây là danh sách chưa đầy đủ liệt kê tên các băng (tức băng ma-nhê, băng reel, băng cối) và băng cassette, chưa liệt kê các dĩa hát có bài hát do Giao Linh trình bày (liệt kê theo tên băng).
Rất nhiều dĩa hát của các hãng Continental, Sơn Ca, Capitol...
Sau năm 1975.
Dưới đây là danh sách chưa đầy đủ liệt kê tên các băng cassette và CD mà số bài hát do Giao Linh trình bày (đơn ca hay song ca) chiếm từ một nửa trở lên so với tổng số bài (liệt kê theo hãng sản xuất/phát hành).
Hải ngoại.
Trung tâm Trường Hải:
Trung tâm Giáng Ngọc:
Trung tâm khác:
Album tổng hợp: | 1 | null |
Pinocchio ("Pi-nô-ki-ô", , ) là một nhân vật hư cấu và cũng là nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết dành cho thiếu nhi "Những cuộc phiêu lưu của Pinocchio" (1883) của nhà văn người Ý Carlo Collodi của Florence, Tuscany. Một người thợ khắc gỗ tên là Geppetto ở làng Tuscan đã tạc nên Pinocchio. Cậu là một con rối bằng gỗ nhưng có mơ ước trở thành một cậu bé thực sự. Cậu nổi tiếng với chiếc mũi dài, (chỉ một lần trong tiểu thuyết, nhưng thường xuyên hơn trong hầu hết các phim chuyển thể) cái mũi sẽ liên tục phát triển nếu cậu nói dối.
Pinocchio là một biểu tượng văn hóa. Cậu là một trong những nhân vật được tái hiện nhiều nhất trong văn học thiếu nhi. Câu chuyện của cậu đã được chuyển thể trên nhiều phương tiện truyền thông khác nhau, đặc biệt là bộ phim "Pinocchio" của Disney năm 1940.
Collodi thường sử dụng phương ngữ Tuscan của Ý trong các cuốn sách của ông. Cái tên "Pinocchio" là sự kết hợp của các từ tiếng Ý "pino "(cây thông), và "Occhio" (mắt); " Pino" cũng là chữ viết tắt của" Giuseppino "là từ gốc của Giuseppe (hình thức của từ Joseph trong tiếng Ý); một trong những người có ảnh hưởng lớn đến Collodi thời trẻ là Giuseppe Aiazzi, một chuyên gia viết bản thảo nổi tiếng người Ý, ông đã giám sát Collodi tại hiệu sách "Libreria Piatti" ở Florence. Geppetto, tên của người tạo ra Pinocchio và "cha đẻ", là từ gốc của Geppo, cách phát âm tiếng Tuscan của" ceppo", có nghĩa là một khúc gỗ, gốc cây, khối.
Mô tả nhân vật hư cấu.
Đặc điểm của Pinocchio theo các cách diễn giải đều khác nhau, nhưng có một số khía cạnh nhất quán trong tất cả các bản chuyển thể: Pinocchio là một con rối, người tạo ra Pinocchio là Geppetto và mũi của Pinocchio phát triển khi cậu ấy nói dối.
Pinocchio được biết đến là người có chiếc mũi ngắn và dài ra khi cậu bị căng thẳng (chương 3), đặc biệt là khi nói dối. Trong câu chuyện gốc, Collodi mô tả cậu là một kẻ "ngu xuẩn", "kẻ xấu tính" (kẻ ranh mãnh hoặc ương ngạnh), "kẻ ô nhục", "thằng đầu đường xó chợ" và "chắc chắn là kẻ lừa đảo", với ngay cả cha của cậu là thợ mộc Geppetto cũng đề cập đến cậu như một "cậu bé khốn khổ." Khi được sinh ra, Pinocchio ngay lập tức cười nhạo khuôn mặt của người tạo ra mình, sau đó cậu ta còn đánh cắp bộ tóc giả của ông.
Hành vi xấu của Pinocchio, thay vì quyến rũ hay đáng mến, được coi là một lời cảnh báo. Collodi ban đầu dự định câu chuyện sẽ là một bi kịch khi xuất bản lần đầu năm 1881. Nó kết thúc với việc hành quyết con rối. Kẻ địch của Pinocchio, Cáo và Mèo trói tay cậu ta, luồn thòng lọng quanh cổ họng và treo cậu lên cành cây sồi.
Đặc điểm.
Quần áo và nhân vật.
Pinocchio là một con rối làm bằng gỗ (một con rối điều khiển bằng dây) chứ không phải con rối tay (được điều khiển trực tiếp từ bên trong bởi bàn tay của người múa rối). Tuy nhiên, mảnh gỗ tạo nên cậu ta có thể cử động nên Pinocchio cũng di chuyển độc lập. Cậu thường bị người xấu lôi kéo và dễ nói dối. Mũi của cậu sẽ ngày càng dài ra khi bắt đầu nói dối người khác. Vì những đặc điểm này, cậu hay bị gặp rắc rối. Pinocchio trong bản chuyển thể từ tiểu thuyết: cậu hứa với cô tiên có mái tóc màu ngọc lam là sẽ trở thành một cậu bé thực sự, nhưng cậu lại chạy trốn cùng Candlewick đến Vùng đất đồ chơi, trở thành một con lừa, tham gia một xiếc, và lại trở thành một con rối. Trong chương cuối, khi lọt vào miệng của Con cá khủng khiếp với cha Geppetto, Pinocchio cuối cùng đã ngừng làm con rối và trở thành một cậu bé thực sự (nhờ sự can thiệp của Cô tiên trong giấc mơ).
Trong tiểu thuyết, Pinocchio thường được miêu tả với một chiếc mũ chóp nhọn, áo khoác và một chiếc quần dài đến gối màu ghi. Trong phiên bản của Disney, ngoại hình của cậu khác hẳn; nhân vật mặc theo phong cách vùng Tyrolean, với Lederhosen (quần chẽn bằng da dài đến đầu gối) và một chiếc mũ gắn lông vũ.
Mũi.
Mũi của Pinocchio là đặc điểm nổi tiếng nhất, nó sẽ dài ra khi cậu nói dối; điều này xuất hiện trong chương XVI. Tuy nhiên, có một điểm mâu thuẫn là cái mũi của cậu vẫn phát triển khi Geppetto chạm khắc ra lần đầu tiên, lúc đó Pinocchio vẫn chưa nói dối.
Chiếc mũi chỉ xuất hiện một vài lần trong truyện, nhưng nó cho thấy sức mạnh của Cô Tiên Xanh đối với Pinocchio khi cậu ta có hành động không vâng lời. Sau khi cậu vật lộn và khóc lóc vì chiếc mũi bị biến dạng, Cô tiên triệu tập chim gõ kiến để mổ cho nó ngắn trở lại như bình thường.
Mô tả nhân vật trong phương tiện truyền thông.
Điện ảnh.
Phiên bản Disney.
Khi Walt Disney Productions đang trong quá trình phát triển câu chuyện cho phiên bản điện ảnh "Pinocchio" (1940), họ dự định giữ lại những khía cạnh đáng ghét của nhân vật gốc, nhưng bản thân Walt Disney cảm thấy điều này sẽ khiến không ai ưa nhân vật, vì vậy, các thay đổi đã được thực hiện để kết hợp những nét tinh nghịch và ngây thơ để khiến Pinocchio trở nên đáng yêu hơn. Pinocchio do Dickie Jones lồng tiếng. Ngày nay, bộ phim được coi là một trong những bộ phim hoạt hình hay nhất của Disney, và là một trong những bộ phim hoạt hình hay nhất mọi thời đại, hiếm có với 100% đánh giá tốt trên trang web Rotten Tomatoes. Trong chuyển thể trò chơi điện tử của bộ phim, Pinocchio sống (hầu hết) với vai trò giống như trong phim, du hành qua thế giới đầy cám dỗ và chiến đấu với nhiều thế lực khác nhau.
Hóa thân Disney này sau đó đã được sử dụng trong "Who Framed Roger Rabbit", Peter Westy lồng tiếng; và "Disney's House of Mouse", Michael Welch lồng tiếng; cũng như xuất hiện với vai khách mời trong" Aladdin", "Teacher's Pet", "Tangled", loạt phim truyền hình"Mickey Mouse", và "".
Pinocchio là một nhân vật phụ do Seth Adkins lồng tiếng trong loạt trò chơi điện tử "Kingdom Hearts". Cậu đóng một vai chính trong trò chơi đầu tiên cùng tên, ', và ', khi ở trong "Kingdom Hearts II", cậu xuất hiện trong đoạn hồi tưởng ở phân đoạn đầu.
Trong "Kinect Disneyland Adventures", cậu xuất hiện như một nhân vật sẽ gặp và chào hỏi trong Fantasyland, cũng như giao một số nhiệm vụ cho người chơi. Trong "," Pinocchio được giới thiệu là một trong nhiều nhân vật mang tính biểu tượng của Disney, bị mụ phù thủy độc ác Mizrabel bắt cóc để thực hiện âm mưu thống trị thế giới của họ; cậu bị giam cùng với Genie (Thần đèn) trong Cave of Wonders cho đến khi Chuột Mickey đến giải cứu.
Vào đầu thập niên 1990, có tin đồn rằng Elijah Wood đã miêu tả phiên bản cậu bé thật của Pinocchio trong các phân đoạn người thật đóng trong các phần phim về giáo dục của Jiminy Cricket là "I'm No Fool" và "You", cùng với những phân đoạn ngắn mới của "I'm No Fool".
Tháng 3 năm 2021, đã có thông báo Benjamin Evan Ainsworth sẽ vào vai Pinocchio phiên bản live-action/bản làm lại CGI trong bộ phim hoạt hình sắp tới của Disney. | 1 | null |
Ngô Lan Hương (sinh 12 tháng 1 năm 1979) là một vận động viên bộ môn cờ tướng người Việt Nam–Singapore. Cô từng 10 lần đoạt chức quán quân Giải vô địch cờ tướng Việt Nam ở nội dung dành cho nữ, trong đó có 7 lần liên tiếp (2005–2011), hai lần liên tiếp vô địch châu Á lần 15 và 16 (2011 và 2013).
Thân thế sự nghiệp.
Ngô Lan hương sinh ra trong một gia đình người Việt gốc Hoa tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Sớm biểu lộ năng khiếu chơi cờ, cô bắt đầu tập cờ tại đội năng khiếu quận 5 từ năm 1993 cùng lứa các kỳ thủ Trương Lê Hoàng, Vũ Thị Thu, Mai Xuân Cường...
Dấu ấn đỉnh cao đầu tiên của cô vào năm 2001, khi vượt qua mặt đàn chị Lê Thị Hương, nhà vô địch đầu tiên và 7 lần quán quân (trong đó có 6 lần liên tiếp từ 1992–1997), để có lần đầu tiên vô địch quốc gia.
Đời tư.
Ngày 26 tháng 4 năm 2012, chị lập gia đình với kỳ thủ người Singapore Khang Đức Vinh (Kng Ter Yong), Tổng thư ký Liên đoàn Cờ Singapore Không như một số nữ kỳ thủ khác chuyển sang thi đấu cho quốc gia của chồng, cho đến nay chị vẫn thi đấu dưới màu áo Việt Nam. Tuy nhiên đến kỳ SEA Games 31 chị đã chuyển sang thi đấu cho Singapore. | 1 | null |
Asia's Next Top Model, Mùa 1 là mùa giải đầu tiên của chương trình truyền hình thực tế Asia's Next Top Model, chương trình sẽ chọn 1 hoặc 2 đại diện của mỗi nước và họ sẽ cùng nhau tranh tài để giành được danh hiệu "Asia's Next Top Model". Thí sinh tham dự chương trình là những người mẫu của châu Á. Điểm đến quốc tế của mùa này là Batam, Indonesia và Hồng Kông. Ca khúc quảng cáo của mùa này là Fashion Show do Cory Lee thể hiện.
Giải thưởng của mùa này là:
Người chiến thắng của mùa này là Jessica Amornkuldilok, 26 tuổi đến từ Thái Lan.
Thí sinh.
"(Tính theo tuổi khi còn trong cuộc thi)"
Các tập phát sóng.
Tập 1: Which Girl Can Handle the Limelight?
"Ngày phát sóng: 25/11/2012"
14 cô gái đến từ khắp châu Á với thử thách đầu tiên của mùa giải là catwalk trên sàn diễn đặc biệt. Sàn diễn được đặt ngay giữa một con đường tấp nập. Nhiều cô gái đã gặp trở ngại với trang phục của mình. Nhưng Trang đã làm chủ được trang phục lẫn sàn catwalk, gây ấn tượng với BGK và dành chiến thắng. Các cô gái trở nên kì quặc với buổi chụp ảnh đầu tiên. Melissa thiếu kinh nghiệm chụp ảnh và rơi vào top 2 nguy hiểm cùng Kyla. Nhưng vào phút chót, sự nhiệt tình đã giúp cô giành 1 cơ hội khác. Và Kyla là thí sinh phải ra về.
Tập 2: Which Girl Can Stand Out?
"Ngày phát sóng: 2/12/2012"
13 cô gái còn lại đã có 1 buổi học catwalk và phải gây ấn tượng trong buổi biểu diễn thời trang. 1 lần nữa, Trang lại được khen ngợi trong việc catwalk, xử lý trang phục và giành chiến thắng một cách xứng đáng nhưng có một vài người không hề vui cho cô vì ganh tỵ. Trong buổi chụp ảnh nhóm, Filantropi đã bị áp lực nặng nề. Stephanie rớt từ nhì bảng xuống cuối bảng. Tin buồn từ gia đình khiến Monica phải rời cuộc thi với tư cách bỏ cuộc, cứu top 2 nguy hiểm Jee và Stephanie thoát khỏi vòng loại.
Tập 3: Which Girl Can Own a New Look?
"Ngày phát sóng: 9/12/2012"
12 cô gái còn lại được thay đổi diện mạo. Trong buổi chụp ảnh, họ phải thể hiện được vẻ hoang dã như các con vật trong cung hoàng đạo Trung Quốc. Stephanie lấy lại phong độ với bức ảnh về nhì. Trang phục khó khăn của Jee đã làm cô ấy lo lắng nhưng lại giành được 1 kết quả không ngờ là hạng 3 trong buổi đánh giá trong khi tuần trước cô đã rớt vào 2 người cuối bảng. Aastha rớt từ nhất bảng của tuần trước xuống nhóm 2 người cuối bảng của tuần này cùng Bei Si. BGK quyết định thấy Aastha vẫn còn khả năng thể hiện và Bei Si là người phải rời cuộc chơi.
Tập 4: Which Girl Exudes Sexy?
"Ngày phát sóng: 16/12/2012"
11 cô gái đã được học những điều cốt yếu để trở nên quyến rũ từ siêu mẫu Joey Mead King. Được diễn đúng với thế mạnh của mình, Helena giành phần chiến thắng. Một vài thí sinh không hài lòng với kết quả này. Các cô gái được làm nóng mình khi hợp tác với siêu mẫu quốc tế Jason Godfrey trong buổi chụp ảnh. Nhưng không phải tất cả đều vui vẻ, có một sự cố về quần áo khiến Daniel nổi điên. Sofia đã vượt mặt các cô gái khác và giành ngôi đầu bảng, cùng lúc đó là Jee và Filantropi phải xách hành lý về nước trong bất ngờ vì vòng loại kép.
Tập 5: Style & Taste.
"Ngày phát sóng: 23/12/2012"
Phong cách cáu kỉnh của Jessica đã gây ấn tượng với nhà sáng tạo phong cách quốc tế Jeannie Mai và giúp cô giành chiến thắng thử thách đầu tiên của cô. Helena đụng chạm đến các cô gái và càm thấy mình bị tách biệt khỏi nhóm. Tại buổi chụp ảnh của các cô gái trong khu nghỉ dưỡng, trở ngại về ngôn ngữ khiến Trang không thể giao tiếp và hiểu được chủ đề buổi chụp ảnh, điều này khiến cô rơi vào top 2 nguy hiểm và ban giám khảo đã quyết định giữ lại Melissa thay vì Trang.
Tập 6: Good Hair Day.
"Ngày phát sóng: 30/12/2012"
Các cô gái đã có 1 buổi ghi hình với mái tóc. một số diễn hơi nhàm chán, nhưng số khác lại quá nhộn. Cuối cùng thì Aastha đã bộc lộ được tính cách của cô ấy và chiến thắng thử thách. Tại buổi chụp ảnh, các cô gái phải dùng gương mặt của mình để bật mí thông điệp bí mật của nét đẹp. Sự tự tin của Sofia giúp cô tỏa sáng ở ngôi đầu bảng. Kate và Rachel rớt vào nhóm 2 người cuối bảng và Rachel là người bị loại.
Tập 7: Face Value.
"Ngày phát sóng: 6/1/2013"
Với kỹ năng của mình, Sofia đã giành chiến thắng trong thử thách trang điểm và khiến Helena ghen tức. Các cô gái đã trở về với vẻ đẹp thuần khiết trong buổi chụp ảnh tại WWF. Trở về nhà chung, tình hình trở nên căng thẳng hơn khi Helena chơi xấu Sofia. Hành động xấu của Helena khiến cô gặp không ít khó khăn với ban giám khảo và làm cô rơi vào top 2 nguy hiểm nhưng người dừng chân ở top 7 lại là Melissa. Vào phút cuối áp lực từ ban giám khảo khiến Helena rơi vào trạng thái hoảng loạn.
Tập 8: Mannerism & The Big Red Dress.
"Ngày phát sóng: 13/1/2013"
Việc Helena lên cơn hoảng loạn đã khiến các cô gái hơi lo ngại. Mặc dù đang đối mặt với khó khăn nhưng cô đã giành chiến thắng trong thử thách tối hôm đó cùng với Jessica. Trong phần chụp ảnh, Jessica lại tiếp tục khẳng định mình khi giành ngôi đầu bảng 2 lần liên tiếp. Sofia và Stephanie rớt cuối bảng và may mắn là không ai bị loại.
Tập 9: Beyond Comfort.
"Ngày phát sóng: 20/1/2013"
Một buổi chụp ảnh dưới nước gây nguy hiểm cho Stephanie nhưng cô ấy đã không để nỗi sợ lấn át mình. Trong khi đó, mặc dù có lợi thế hơn hẳn vì đã thắng thử thách nên có được thêm 15 phút trong buổi chụp ảnh, Helena lại không gây được ấn tượng và hiểu sai chủ đề buổi chụp hình. Jessica thắng trận liên tiếp khi giành bức ảnh đẹp nhất lần thứ 3 liên tiếp. Cả Stephanie và Helena cuối cùng đều rơi vào top 2 nguy hiểm và trong sự ngạc nhiên của mọi người, Helena đã phải ra về.
Tập 10: Girls on the Move.
"Ngày phát sóng: 27/1/2013"
Các cô gái còn lại trong top 5 tiếp tục cho 1 buổi quay hình và buổi chụp ảnh đầy kịch tính. Một số đã có sự nỗ lực đào sâu hơn và bộc lộ được sự mãnh liệt. Số khác thì lại không thành công trong cách truyền tải. Jessica lại tiếp tục chứng tỏ tố chất người mẫu của mình khi giành chiến thắng thử thách và giành cả ngôi đầu bảng trong buổi đánh giá. Stephanie lại một lần nữa rơi vào top 2 nguy hiểm cùng với Aastha. Do được xem là không còn gì để thể hiện, Aastha là người ra về cứu Stephanie thoát khỏi nhóm nguy hiểm lần thứ 4.
Tập 11: The Story So Far - The Road To Top 4.
"Ngày phát sóng: 3/2/2013"
Tập 12: Hong Kong Extravaganza.
"Ngày phát sóng: 10/2/2013"
Đã có một món quà đặc biệt dành cho 4 cô gái còn lại là chuyến đi Hồng Kông. Kate tiếp thu lời khuyên từ Jessica, người đã có sự bứt phá trong cuộc thi khi giành bức ảnh đẹp nhất 4 lần liên tiếp. Thử thách dành cho top 4 là casting. Jessica tiếp tục nhận được nhiều lời mời công việc nhất và chiến thắng thử thách. Trong khi đó, Sofia lại không nhận được lời mời nào. Trong buổi chụp ảnh, Kate đã có sự tiến bộ khi ảnh của cô được đưa lên ngôi đầu bảng, hạ Jessica xuống nhì bảng và Kate là người đầu tiên bước chân vào vòng cuối cùng của top 3. Stephanie lần thứ 5 rơi vào top nguy hiểm cùng với Sofia, thể hiện mờ nhạt nhưng vừa đủ, điều kỳ diệu đã xảy ra khi Stephanie thoát top 2 nguy hiểm lần thứ 5 và là cô gái cuối cùng có mặt trong vòng cuối. Sofia dừng chân ở top 4 và ra về trước vòng cuối.
Tập 13: Finale.
"Ngày phát sóng: 17/2/2013" | 1 | null |
Vương tôn Edward, Công tước xứ Kent, KG, GCMG, GCVO (Edward George Nicholas Paul Patrick, sinh ngày 09 Tháng 10 năm 1935) là một thành viên của Vương thất Anh, đồng thời là em họ của Nữ vương Elizabeth II (cha ông là em ruột cha Nữ vương). Ông được thừa kế tước vị Công tước xứ Kent từ năm 1942 sau khi thân phụ ông qua đời trong một vụ tai nạn máy bay.
Vào thời điểm chào đời, Vương tôn Edward đứng thứ bảy trong danh sách kế vị ngai vàng Anh Quốc, sau Edward, Thân vương xứ Wales; Albert, Công tước xứ York; 2 chị họ Elizabeth và Margaret; Henry, Công tước xứ Gloucester (chú); và cha ông. Hiện tại, ông đứng thứ 40 trong danh sách.
Tiểu sử.
Thiếu thời.
Vương tôn Edward chào đời ngày 9 tháng 10 năm 1935, tại Quảng trường Belgrave thành phố Luân Đôn, Anh.Ông là con trai cả của Vương tử George, Công tước xứ Kent và mẹ là Vương tôn nữ Marina của Hy Lạp và Đan Mạch. Ông được rửa tội trong Nhà nguyện của Cung điện Buckingham vào ngày 20 tháng 11 năm 1935 bởi Tổng giám mục Canterbury, cha mẹ đỡ đầu của ông trong đó bao gồm Vua George V, Vương hậu Mary, Edward VIII, Mary, Vương nữ Vương thất, Vương tử Arthur, Vương nữ Louise.
Giáo dục.
Edward học tại Cao đẳng Eton sau đó chuyển đến Thụy Sĩ học tại Institut Le Rosey.Ông có thể nói thành thạo cả tiếng Anh và tiếng Pháp, thưở bé ông sống trong một môi trường được bao quanh bởi những người nói tiếng Pháp, điển hình như mẹ ông, Marina, giống với các chị em trước đây, bà hầu như chỉ nói tiếng Pháp.
Ngày 25 tháng 8 năm 1942, cha của Edward, Vương tử George qua đời trong một vụ tai nạn máy bay rơi. Edward khi đó mới 6 tuổi kế vị cha mình trở thành Công tước xứ Kent.Là thành viên của Vương thất Anh ông thay mặt cha mình thực hiện các nghĩa vụ vương thất từ khi còn nhỏ, ở tuổi 16 ông đã có mặt trong lễ tang của vua George VI với tư cách là Công tước xứ Kent và đi theo sau quan tài của Nhà vua khi đưa đến Nhà nguyện St George, Lâu đài Windsor và tham dự lễ đăng quang của Nữ vương Elizabeth II. | 1 | null |
Tượng (chữ Hán: 象, bính âm: Xiàng) là 1 nhân vật truyền thuyết được cho là sống vào thời Đường Nghiêu trong lịch sử Trung Quốc. Theo sách Nhị thập tứ hiếu của Quách Cư Nghiệp đời nhà Nguyên thì Tượng là em cùng cha khác mẹ với đế Thuấn Diêu Trọng Hoa. Sử Ký Tư Mã Thiên - Ngũ Đế bản kỷ cũng có đề cập đến nhân vật này khi nói đến vua Thuấn, truyền thuyết có kể lại rằng sau khi vợ cả Cổ Tẩu là Ác Đăng (握登) qua đời thì ông lấy vợ kế và sinh được một trai là Tượng và 1 gái là Hệ.
Tượng được cha mẹ cưng chiều từ nhỏ nên tính tình ngạo mạn, chỉ biết nằm chơi ăn sẵn chứ chẳng chịu làm gì. Nhiều lần Tượng cùng mẹ còn kích động cha hắt hủi đánh đập anh mình là Trọng Hoa, thậm chí còn xúi giục và bày mưu đặt kế cho cha để hãm hại anh mình. Tuy nhiên tất cả những toan tính của Tượng đều thất bại do ngoài sự cảm động của trời xanh đối với mình thì Ngu Thuấn còn có cả sự mưu trí của ông nữa, sau nhiều lần không thành công cuối cùng Tượng phải bỏ ý định trừ khử anh. Mục đích của Tượng hồi nhỏ là vì ghen tị với anh còn khi lớn lên là bởi tham lam của cải do vua Nghiêu ban phát cho anh, không có thư tịch nào ghi chép lại kết cục của người này ra sao. | 1 | null |
Mật nghị Hồng y 2013 (hoặc Cơ mật viện bầu Giáo hoàng năm 2013) được triệu tập theo sau việc Giáo hoàng Biển Đức XVI thoái vị vào ngày 28 tháng 2 năm 2013. 115 Hồng y cử tri đã bắt đầu Mật nghị bầu cử vào chiều ngày 12 tháng 3. Vào lúc 19h 06' ngày 13 tháng 3 năm 2013 (giờ Roma), khói trắng bốc lên từ ống khói nhà nguyện Sistina, sau đó là những tiếng chuông báo hiệu đã bầu được Giáo hoàng mới. Mật nghị đã bầu Hồng y Jorge Mario Bergoglio - Tổng giám mục của Tổng giáo phận Buenos Aires (Argentina) - làm giáo hoàng. Ông lấy tông hiệu là Phanxicô.
Giáo hoàng Biển Đức XVI thoái vị.
Ngày 11 tháng 2 năm 2013, Giáo hoàng Biển Đức XVI (còn gọi là Bênêđictô XVI) đã công bố ý định của ông là sẽ thoái vị khỏi chức Giám mục Rôma, Giáo hoàng Giáo hội Công giáo vào ngày 28 tháng 2 và định rõ thời gian "trống tòa" là từ 20 giờ 00 của ngày hôm đó. Biển Đức XVI sẽ là Giáo hoàng đầu tiên thoái vị trong gần sáu thế kỷ qua, trước đó, Giáo hoàng Grêgôriô XII cũng thoái vị vào năm 1415. Trong lời tuyên bố thoái vị, ông nói:
Khi Giáo hoàng Biển Đức XVI chính thức rời chức từ lúc 20 giờ ngày 28 tháng 2 năm 2013, tất cả các quan chức cao cấp nhất tại Vatican đều tự động mất chức, nhưng không có nghĩa là họ được hưởng một kỳ nghỉ ngơi.
Dư luận.
Trong thông cáo với 80 triệu giáo dân trong cộng đồng Anh giáo, Tổng Giám mục Justin Welby tòa Canterbury - lãnh đạo Anh giáo nói rằng ông hoàn toàn thông cảm với quyết định rời chức của Giáo hoàng Biển Đức mà theo ông đã được ngài thực thi với một cách "đường hoàng, can đảm và đầy viễn kiến."
Người phát ngôn của thủ tướng Đức cho biết: "'chính phủ Đức dành sự tôn kính cao nhất vì những gì Giáo hoàng đã làm để phụng sự Giáo hội Công giáo". Theo tường thuật của BBC, nhiều du khách tại Vatican đã không tin vào thông tin này và hỏi rằng "Giáo hoàng bị bệnh?"". Linh mục Lombardi - phát ngôn viên Tòa Thánh nhiều lần lặp lại rằng: " "Giáo hoàng Biển Đức XVI không bị bệnh mà chỉ là sức khỏe giảm sút, điều thông thường với một người ở tuổi 85."
Tờ "La Stampa" của Ý dẫn lời thủ tướng Ý: "Tôi thật sự sốc với tin bất ngờ này". Tờ "Der Spiegel" cho biết Đức ông Georg Ratzinger, anh trai Giáo hoàng Biển Đức XVI đã biết kế hoạch từ nhiệm từ nhiều tháng trước.
Yona Metzger, giáo sĩ tối cao của Israel cho biết: "Israel và Vatican đã có mối quan hệ tốt đẹp nhất trong thời gian tại vị của Giáo hoàng Biển Đức XVI."".
Tiến trình.
Hồng y cử tri.
Mặc dù ở thời điểm đó, Giáo hội Công giáo có 209 hồng y còn sống nhưng sẽ chỉ có 117 vị hồng y được quyền tham gia Mật nghị Hồng y 2013 (vì những vị nào từ 80 tuổi trở lên trước ngày trống tòa giáo hoàng sẽ không còn quyền tham gia mật nghị nữa). Đây là quy định do Giáo hoàng Phaolô VI ban hành năm 1970 và được Giáo hoàng Gioan Phaolô II sửa đổi năm 1996.
Ứng viên sáng giá.
Mặc dù trên nguyên tắc, các hồng y có thể chọn bất kỳ người nam nào đã được chịu phép Thanh Tẩy theo nghi thức Công giáo để bầu làm Giáo hoàng, nhưng từ năm 1389, họ đã luôn chọn một hồng y trong đoàn. Đối với cuộc mật nghị 2013, một số cơ quan truyền thông dự đoán những hồng y sau đây là những ứng viên sáng giá cho người kế nhiệm Biển Đức XVI: Christoph Schönborn của Áo, Luis Antonio Tagle của Philippines, Peter Turkson của Ghana, Marc Ouellet của Canada và Angelo Scola của Ý. Ngoài ra còn có một số vị hồng y khác đáng được chú ý là Leonardo Sandri của Argentina và Timothy Michael Dolan của Hoa Kỳ.
Năm 1996, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã sửa luật bầu Giáo hoàng: cân nhắc việc tính số phiếu chiếm đa số đơn sau khi mật viện kéo dài lâu và bế tắc. Trước đây, việc bỏ phiếu sẽ phải tiếp tục cho đến khi một ứng cử viên nhận được đa số phiếu là 2/3 cộng 1. Trong mật nghị gần đây nhất, Hồng y Ratzinger đã đạt được số phiếu đa số đơn rất sớm trong cuộc bỏ phiếu mà cuối cùng ông được chọn làm Giáo hoàng. Nhưng điều này có thể không xảy ra trong mật tuyển viện bầu Giáo hoàng tiếp theo. Vì không lâu sau khi được chọn, Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã thay đổi luật để quay trở về với phương thức truyền thống. Do đó, người kế vị ông sẽ là người phải có được sự ủng hộ của đa số chứ không phải của một người đến từ một phe nhóm nào đó
Thời gian và nguyên tắc.
Theo Tông Hiến Universi Dominici Gregis (hiến pháp Giáo hội) do Giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành năm 1996 thì ít nhất là 15 ngày và không được quá 20 ngày kể từ khi "trống Tông Tòa", các hồng y phải họp bầu giáo hoàng mới. Các giới chức Vatican cũng nói rằng, Giáo hội Công giáo cần có Giáo hoàng mới trước Tuần Thánh (bắt đầu ngày 24 tháng 3 bằng Chúa nhật Lễ Lá) vì đó là cao điểm dịp Lễ Phục Sinh. Để đẩy nhanh tiến trình này, trong những ngày tại vị cuối cùng, Giáo hoàng Biển Đức XVI đã ban hành một tự sắc "Normas nonnullas" mà ông ký ngày 22 tháng 2. Theo đó, nếu các hồng y đã có mặt đông đủ hết tại Rôma thì các vị có thể quyết định ngày bắt đầu Mật nghị sớm hơn. Và ngày 08 tháng 3, Hồng y đoàn đã quyết định bắt đầu Mật nghị bầu Giáo hoàng vào ngày 12 tháng 3 năm 2013.
Vòng bầu cử đầu tiên diễn ra vào ngày 12/03 không đạt được kết quả. Nhưng sang ngày 13/03/2013, sau vòng bỏ phiếu cuối cùng trong ngày, tức là chỉ sau 5 vòng tính từ khi bắt đầu Mật nghị vào hôm trước, các Hồng y đã bầu chọn được Giáo hoàng mới, là Hồng y Jorge Mario Bergoglio, người Argentina, Tổng Giám mục Buenos Aires, ông lấy tông hiệu là Phanxicô.
Hậu cần.
Ngày 8 tháng 3 năm 2013, người phát ngôn của Vatican, linh mục Federico Lombardi cho biết rằng các thiết bị phá sóng đặc biệt sẽ được triển khai xung quanh Nhà nguyện Sistine và nhà khách Santa Marta, nơi các hồng y sẽ bị cô lập trong suốt thời gian diễn ra Mật nghị. Các xe hơi trang bị thiết bị phá sóng cũng sẽ theo đuôi những chiếc xe chuyên chở các hồng y từ nhà khách Santa Marta đến Nhà nguyện Sistine .
Văn phòng truyền thông của Vatican thông báo một buổi lễ sẽ diễn ra vào buổi sáng ngày 12 tháng 3 và vòng bỏ phiếu đầu tiên sẽ diễn ra vào buổi chiều cùng ngày. Có hai bếp lò dùng để đốt các lá phiếu sau khi đã được kiểm phiếu xong, nếu cuộc bầu cử không đạt được kết quả, các hóa chất sẽ được bỏ vào lò để khói thoát ra khỏi ống có màu đen; nhưng khi bầu được Giáo hoàng mới, người ta sẽ cho các loại hóa chất khác vào để khói có màu trắng, báo hiệu cho bên ngoài biết.
Tất cả các Hồng y cử tri cũng như toàn thể các nhân viên hỗ trợ trong Mật nghị, từ các linh mục nghe giải tội cho đến các nữ tu phục vụ các bữa ăn ở nhà khách Santa Marta, sẽ phải tuyên thệ giữ bí mật với thế giới bên ngoài về cuộc bầu cử này, về những gì xảy ra tại nơi bầu, về việc bầu, không vi phạm bí mật này trong và sau cuộc bầu, trừ khi được Giáo hoàng mới cho phép rõ ràng, nếu vi phạm sẽ bị dứt phép thông công. | 1 | null |
Nguyễn Phan (1711-1784) là tướng nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Ông có công đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài giữa thế kỷ 18.
Sự nghiệp.
Nguyễn Phan người làng Hà Dương, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam.
Ông gia nhập quân đội, đến cuối thời Lê Ý Tông vẫn là lính. Khi Trịnh Doanh lên ngôi bèn thăng ông lên làm Trung úy, theo các tướng đi đánh dẹp các cuộc nổi dậy nông dân ở Bắc Hà lúc đó. Do dũng cảm xông pha trận mạc, nhiều lần ra vào nơi nguy hiểm lập công, Nguyễn Phan được thăng lên làm Đốc tướng Sơn Tây, tước Phan Phái hầu.
Năm 1750, Nguyễn Phan theo Trịnh Doanh đi đánh quân khởi nghĩa Nguyễn Danh Phương, tức quận Hẻo, cát cứ ở Tam Đảo gần 10 năm. Ông được giao làm tiền quân, tiến đến đồn Úc Kỳ. Quân khởi nghĩa mang hết lực lượng ra kháng cự, bắn tên đạn như mưa. Nguyễn Phan cởi chiến bào mặc áo lụa, quay lại hô hào các thủ hạ quyết chiến. Quân Trịnh hăng hái xông lên không chịu lui, đánh hạ được đồn Úc Kỳ. Thừa thắng, quân Trịnh đánh hạ luôn đồn Hương Canh. Quân quận Hẻo rút vào núi Ngọc Bội. Quân Trịnh đuổi đánh cuối cùng bắt được quận Hẻo. Nguyễn Phan được lệnh chém thủ hạ của quận Hẻo là Lễ cùng 61 người khác. Ông được luận công đứng thứ 3, thăng làm Thiếu phó, trấn thủ Thanh Hoa.
Năm 1767, Trịnh Sâm bàn đánh Hoàng Công Chất cát cứ ở Hưng Hóa, nhiều người định tiến cử ông, nhưng vì Thanh Hóa ra bắc xa xôi nên chúa Trịnh không triệu ông.
Năm 1769, sau khi diệt con Hoàng Công Chất là Hoàng Công Toản, Trịnh Sâm quyết định đánh dẹp nốt Trấn Ninh do hoàng thân Lê Duy Mật cát cứ từ 30 năm trước. Trịnh Sâm bèn cử ông làm Chánh thống lĩnh đạo quân Thanh Hóa cùng hai đạo quân Nghệ An và Hưng Hóa tiến đánh.
Tháng 9 năm 1769, Nguyễn Phan vượt sông Lương đến Yên Định gặp quân Lê Duy Mật. Nguyễn Phan chia quân làm 3 cánh đánh gấp, bắt và giết được khá nhiều quân nổi dậy. Sau đó ông thúc quân đánh Mông Sơn, quân Trấn Ninh thua chạy. Nguyễn Phan đốt phá 4 đồn nhỏ rồi tiến lên núi đánh được 2 đồn lớn là Nhân Hựu, Khang Chính. Quân nổi dậy bỏ chạy. Tháng 10 năm đó quân Trịnh tiến vào Trấn Ninh. Lê Duy Mật cố thủ không ra.
Tháng giêng năm 1770, Nguyễn Phan hội quân với cánh quân Nghệ An của Bùi Thế Đạt, trèo núi tiến vào căn cứ Trình Quang. Quân nổi dậy nhiều người ra hàng. Lê Duy Mật biết thất bại bèn tự thiêu mà chết.
Bàn công trận Trấn Ninh, Nguyễn Phan được thăng 18 lần công một lúc lên chức Thái tể, tước quận công.
Năm 1774, ông xin nghỉ hưu. Năm 1775 ông lại được gọi ra làm Đốc lĩnh hai đạo Hưng Hóa, Thanh Hoa, đánh đuổi quân Lào lấn ở động Mãnh Thiên. Khi Nguyễn Phan đến nơi thì quân Lào trốn đi, ông bèn thu quân về.
Năm 1782, Trịnh Sâm chết, Trịnh Tông lên thay. Kiêu binh ở kinh thành cậy có công lập Trịnh Tông nên ngang ngược làm càn. Trịnh Tông lại gọi ông là người có vũ dũng uy vọng ra làm Chánh đề lĩnh ở kinh thành.
Tháng 7 năm 1784, ông mất, thọ 74 tuổi, được phong làm phúc thần.
Nhận định.
Sử gia Phan Huy Chú nhận định về ông như sau: | 1 | null |
Mikoyan-Gurevich I-3 là chương trình đầu tiên trong ba chương trình mẫu thử tiêm kích có quan hệ mật thiết với nhau, được phát triển bởi viện thiết kế Mikoyan-Gurevich tại Liên Xô vào thập niên 1950 – bắt đầu với I-3, tiếp tục với I-7 và kết thúc là I-75. | 1 | null |
Mỹ nhân kế (chữ Hán: 美人計) là một trong 36 sách lược dùng trong quân sự điển hình của Trung Quốc cổ đại, nổi tiếng với tên gọi "Tam thập lục kế", xuất hiện từ thời Nam Bắc triều và tới thời nhà Minh thì được tập hợp thành sách. Nội dung sách lược này chủ yếu là dùng người đẹp để làm mê hoặc chủ tướng của đối phương dẫn đến sự trễ nải hoặc quyết sách sai lầm, từ đó nắm ưu thế để giành thắng lợi.
Nội dung.
Thời Xuân Thu, Câu Tiễn nước Việt bị Ngô vương Phù Sai đánh cho suýt mất nước. Phạm Lãi và Văn Chủng bèn hiến kế cho Câu Tiễn dâng mỹ nhân nổi tiếng của nước Việt là Tây Thi cho Phù Sai khiến Ngô vương vì đam mê tửu sắc mà bỏ bê việc chính sự, tạo thời cơ cho Câu Tiễn trả thù Ngô Phù Sai. | 1 | null |
Đền Đoan hay còn gọi là Đền Cổ Ven Sông nằm ở thị trấn Ninh Giang, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, ngay sát ngã ba sông Tranh giao với sông Luộc, đền thờ Quan đệ Ngũ Tuần Tranh
Từ những năm đầu thế kỷ thứ 19, tại vị trí giáp bờ sông Luộc trước cửa huyện ủy huyện Ninh Thanh cũ, nay là phòng giáo dục huyện Ninh Giang, có một ngôi đền (tức đền Đoan) tương truyền thờ 2 vị quan (Đệ Ngũ Tuần Tranh- Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn) cai quản một vùng Đông Bắc- Bắc Việt, tại nơi đây quan Đệ Ngũ Tuần Tranh đã họa xuống ngã ba sông Tranh:
Ngôi đền có từ lâu từ những năm 1930, nhưng do sự tác động của thủy triều và dòng nước xoáy, bờ sông bị xói lở nên đến năm 1935 đền được di dời về xã Đồng Tâm gọi là đền Tranh bây giờ với quy mô khá là lớn.
Và hiện nay ngồi đền cổ này đã được trùng tu và tôn taọ do một gia đình ở thị trấn Ninh Giang trông nom, những năm tôn tạo lại là năm 1953 và lần cuối vào cuối năm 2010.
Ảnh bên trong đền khác.
Tham khảo tại: | 1 | null |
Hàn Sơn Đồng (, 1310– 1351), người Loan Thành, Triệu Châu, thủ lĩnh đầu tiên phong trào khởi nghĩa Khăn Đỏ cuối đời Nguyên.
Sự nghiệp.
Ông nội của Sơn Đồng truyền bá Bạch Liên giáo, nên bị đày đến Vĩnh Niên. Gia đình ông một mặt làm nông, một mặt truyền giáo, tuyên truyền ""Di Lặc giáng sinh, Minh Vương ra đời", chủ trương lật đổ nhà Nguyên.
Năm Chí Chánh thứ 11 (1351), triều đình cưỡng ép 15 vạn dân phu xây sửa đê Hoàng Hà, oán thán ngút trời. Sơn Đồng và tín đồ là bọn Lưu Phúc Thông cho rằng cơ hội đã đến, đặt ra mấy câu ca dao "người đá có một mắt, khiêu động Hoàng Hà thiên hạ phản"", đồng thời chôn tượng người đá có khắc câu ca dao trên ở bờ sông. Đợi khi dân phu đào lên, lòng người rúng động, họ ở thượng du sông Toánh thuộc Toánh Châu kêu gọi khởi nghĩa.
Sơn Đồng tự xưng là cháu 8 đời của Tống Huy Tông, cùng bọn Lưu Phúc Thông, Thịnh Văn Úc, La Văn Tố,… mưu tính khởi sự. Sự việc bại lộ, quan quân địa phương đến tiễu, ông chẳng may bị bắt, lập tức bị hại.
Bọn Phúc Thông tiếp tục khởi nghĩa. Đến năm thứ 15 (1355), đưa con trai Sơn Đồng là Hàn Lâm Nhi lên làm chủ. | 1 | null |
Lưu Phúc Thông (, 1320-1367), người Tây Lưu Doanh, Dĩnh châu, phủ Nhữ Ninh, thủ lĩnh trên thực tế của phong trào khởi nghĩa Khăn Đỏ ở miền bắc Trung Quốc vào cuối đời Nguyên. Ông tuyên bố mình là hậu duệ của danh tướng Lưu Quang Thế thời Bắc Tống. Còn trong Anh liệt truyện (英烈传) nói rằng ông là cháu nhiều đời của Hán Cao Tổ Lưu Bang.
Buổi đầu khởi nghĩa.
Ông sinh ra trong một gia đình giàu có, từ nhỏ đã đi theo Bạch Liên giáo, trở thành Giáo thủ ở Dĩnh châu, từng nhiệm chức Tuần kiểm của trấn Chu Cao. Năm Chí Chính thứ 11 (1351), ông liên kết Giáo thủ ở Vĩnh Niên là Hàn Sơn Đồng mưu tính khởi nghĩa. Sơn Đồng tự xưng là cháu 8 đời của Tống Huy Tông, Phúc Thông tự xưng là hậu duệ danh tướng Lưu Quang Thế nhà Nam Tống, tuyên bố khởi nghĩa đánh đuổi giặc Mông Nguyên, khôi phục lại nhà Tống.
Sự việc bại lộ, quan quân bắt giết Sơn Đồng. Phúc Thông soái nghĩa quân xông ra khỏi vòng vây, vào ngày 3 tháng 5 (tức 28 tháng 5) đánh chiếm Dĩnh châu, cuộc khởi nghĩa Khăn Đỏ chính thức bùng nổ.
Phát triển lực lượng.
Không đầy 1 tuần, người hưởng ứng đã lên đến mấy vạn . Triều đình lập tức mệnh cho những quan viên coi sóc dân công trị sông là Đồng Tri Xu mật viện sự Hách Tư, Ngốc Xích lãnh 6000 quân A Tốc (còn gọi là A Tốc Đặc, phiên âm La Tinh tiếng Mông Cổ là Asud) cùng các cánh quân người Hán của Hà Nam hành tỉnh Từ Tả Thừa đi dẹp nghĩa quân. Hách Tư lâm trận bỏ trốn, lại thêm người A Tốc không quen thủy thổ, bệnh chết quá nửa. Quan quân không đánh tự tan. Triều đình trị tội mà giết chết Từ Tả Thừa, còn Hách Tư tử trận ở Thượng Thái.
Tháng 6, Phúc Thông thừa thắng chiếm cứ Chu Cao , đánh phá La Sơn, Chân Dương, Xác Sơn, tấn công các nơi Vũ Xương, huyện Diệp,… Tháng 9, ông đánh hạ phủ Nhữ Ninh, Tức Châu, Quang Châu , lực lượng phát triển lên đến 10 vạn. Nguyên Thuận đế lấy em trai của Hữu thừa tướng Thoát Thoát là Ngự sử đại phu Dã Tiên Thiếp Mộc Nhi làm Tri xu mật viện sự, cùng Vệ vương Khoan Triệt Ca soái hơn 10 vạn quân đi trấn áp. Tháng 10, phái thêm Tri xu mật viện sự Lão Chương tăng viện. Tháng 12, quan quân hạ được Thượng Thái, bắt được tướng lãnh nghĩa quân là Hàn Giảo Nhi, giải về kinh xử tử. Giang Chiết bình chương Giáo Hóa, Tế Ninh lộ tổng quản Đổng Đoàn Tiêu Chi cũng hạ được An Phong .
Tháng giêng năm thứ 12 (1352), bộ tướng của Phúc Thông là Hàn Ngột Nô Hãn đột vây tiến đến Hà Bắc, tấn công Đông Minh. Tháng 2, ông ta hạ được 2 châu Hoạt, Tuấn, tiến hạ Khai Châu , xuất hiện quang cảnh "áo đỏ khắp nơi, tiếng hô vang dội" . Chưa được bao lâu, nghĩa quân thất bại, Hàn Ngột Nô Hãn bị bắt. Tháng 3, Hà Nam hành tỉnh bình chương Thái Bất Hoa hạ được Nhữ Ninh, Tri hành xu mật viện sự Củng Bặc Ban soái mấy vạn thị vệ người Hán, người Thát Đát đồn trú bên bờ sông Sa thuộc Nhữ Ninh, bọn họ ngày đêm say sưa tửu sắc, Phúc Thông thừa cơ tập kích, Củng Bặc Ban tử trận, quan quân lui về Hạng Thành. Triều đình mệnh Dã Tiên Thiếp Mộc Nhi làm Tổng binh, soái 30 vạn tinh binh, mang theo "vàng bạc gấm vóc mấy ngàn cỗ xe" . Dã Tiên Thiếp Mộc Nhi đóng quân ở sông Sa. Trong đêm quan quân vô cớ hoảng hốt, Dã Tiên bỏ hết khí giới, quân tư, lương thảo, xe cộ, thu nhặt mấy vạn tàn binh chạy đến Khai Phong, sau đó đóng ở trấn Chu Tiên.
Kiến lập chính quyền.
Tháng 3 nhuận năm thứ 12 (1352) đến đầu năm thứ 15 (1355), quan quân kết hợp địa chủ vũ trang gây ra cho phong trào khởi nghĩa vô vàn khó khăn. Nhưng sau cái chết oan ức của Thoát Thoát, tình thế thay đổi theo hướng có lợi, vào tháng 2 năm thứ 15 (1355), Phúc Thông tìm được con trai Hàn Sơn Đồng là Hàn Lâm Nhi ở trại Giáp Hà, núi Nãng, đón về Bạc Châu; kiến lập chính quyền, đặt quốc hiệu là Tống, đổi niên hiệu là Loan Phượng, đưa Lâm Nhi lên ngôi, xưng là "Tiểu Minh vương". Đỗ Tuân Đạo, Thịnh Văn Úc làm Thừa tướng, La Văn Tố, Lưu Phúc Thông nhiệm Bình chương, em trai ông là Lưu Lục nhiệm Tri xu mật viện sự, tôn vợ của Sơn Đồng là Dương thị làm Thái hậu.
Chưa được bao lâu, Phúc Thông đố kỵ Tuân Đạo được sủng tín, tìm cớ giết chết ông ta, tự nhiệm Thừa tướng, được gia phong Thái bảo, trở thành người lãnh đạo trên thực tế của chính quyền nông dân Tống, cũng là tổng chỉ huy của quân Khăn Đỏ phương bắc.
Cao trào khởi nghĩa.
Tháng 6, triều đình lấy Hà Nam hành tỉnh bình chương Đáp Thất Bát Đô Lỗ làm tổng chỉ huy quân đội, bị Phúc Thông trước sau đánh bại ở Trường Cát , Trung Mưu. Quân Khăn Đỏ vượt Hoàng Hà, miền bắc chấn động. Tháng 12, quan quân đánh bại Phúc Thông ở Thái Khang, tiến vây Bạc Châu. Ông dời Tiểu Minh vương đến An Phong.
Tháng 3 năm thứ 16 (1356), Phúc Thông đẩy lui quan quân, Bạc Châu được yên.
Tháng 6, Phúc Thông soái quân tấn công Biện Lương, nhằm phân tán binh lực của quan quân, từ tháng 9 năm thứ 16 đến mùa hạ năm thứ 17 (1357), Phúc Thông tổ chức 3 lộ quân bắc phạt: quân Đông lộ do Mao Quý soái lãnh, từng đến Táo Lâm, Liễu Lâm , khiến cho Đại Đô kinh động; quân Tây lộ do Bạch Bất Tín, "Đại đao ngao", Lý Hỷ Hỷ đi Quan Trung; quân Trung lộ do "Quan tiên sanh" Quan Đạc, "Phá đầu phan" Phan Thành, Phùng Trường Cữu, Sa Lưu Nhị, Vương Sĩ Thành đi Hà Bắc, Sơn Tây.
Tháng 5 năm thứ 18 (1358), Phúc Thông hạ được Biện Lương, dời Tống đô về đấy.
Biện Lương thất thủ.
Năm thứ 18 (1358), quan quân phá Tào Châu, cắt đứt liên hệ giữa chính quyền Tống với quân Khăn Đỏ ở Sơn Đông. Đầu năm thứ 19 (1359), Bột La Thiếp Mộc Nhi trú thủ Đại Đồng, cắt đứt liên hệ giữa chính quyền Tống với quân Khăn Đỏ Trung lộ. Quân Tây lộ bị bọn Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi đánh bại, tan chạy vào Thục, lại thêm Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi đưa trọng binh trú thủ Mẫn Trì, Lạc Dương, chuẩn bị tấn công Biện Lương. Chính quyền Tống rơi vào thế bị cô lập.
Tháng 5 năm thứ 19 (1359), Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi chia quân mấy lộ cùng tiến, bao vây Biện Lương. Tháng 8, thành vỡ, Phúc Thông đưa Tiểu Minh vương đột vây chạy đến An Phong. Quan quân bắt được vợ của Lâm Nhi cùng quan viên, gia thuộc của quân Khăn Đỏ đến mấy vạn người.
Kết cục tranh cãi.
Tháng 2 năm thứ 23 (1363), Trương Sĩ Thành sai bộ tướng Lữ Trân tập kích An Phong. Tiểu Minh vương, Phúc Thông cầu cứu Chu Nguyên Chương, Nguyên Chương đích thân soái đại quân đi cứu, nhưng chưa đến thì thành đã vỡ.
Kết cục của Lưu Phúc Thông có 2 thuyết:
Cao Đại - Hồng du lục, quyển 2, "Tống sự thủy mạt" chép: "Trương Sĩ Thành sai tướng là Lữ Trân soái binh đánh An Phong, Phúc Thông sai sứ đến Kiến Khang cầu cứu, Thượng (tức Chu Nguyên Chương) tự soái chư tướng đi cứu. Chưa đến, Lữ Trân phá được An Phong, giết Phúc Thông, chiếm cứ thành trì. Tháng 3, Thượng đến An Phong đánh Lữ Trân, đại phá được, Trân bỏ thành chạy. Thượng đưa Tống chủ Hàn Lâm Nhi về Kim Lăng."
Quan điểm này được Cốc Ứng Thái - Minh sử kỷ sự bản mạt, quyển 4, "Thái tổ bình Ngô", Thiệu Nguyên Bình - Nguyên sử loại biên, Hạ Tiếp - Minh thông giám, Tất Nguyên - Tục Tư trị thông giám, Tiền Bá Tán - Trung Quốc sử cương yếu, Khâu Thụ Sâm - Nguyên triều sử thoại tán đồng.
Quyền Hành - Canh Thân ngoại sử chép Lưu Phúc Thông cùng Hàn Lâm Nhi chết đuối khi chìm thuyền trên đường về Ứng Thiên vào năm thứ 26 (1366): ""Tiểu Minh vương cùng Lưu thái bảo đến bến đò Qua Châu" ", gặp sóng gió lật thuyền, Lưu thái bảo, Tiểu Minh vương cùng mất."
Kỷ Quân (tổng biên) - Tứ khố toàn thư tổng mục nhận xét "lời của Canh Thân ngoại sử hợp với Nguyên sử". Ngô Hàm khi viết Chu Nguyên Chương truyện cũng dùng thuyết này.
Đánh giá.
Minh sử đánh giá về Hàn Lâm Nhi: "Lâm Nhi chẹn ngang Trung Nguyên, thả quân giày xéo, chận lấp Giang, Hoài hơn 10 năm… Đế vương (chỉ Minh Thái Tổ) lập nghiệp, ắt có vốn liếng của người đi trước. Ôi, là ngẫu nhiên vậy!"". Lời này thực ra là dành cho Lưu Phúc Thông. | 1 | null |
Tra (chữ Hán: 查, bính âm: Zhā) là một họ của người Trung Quốc. Họ Tra xếp thứ 181 trong danh sách Bách gia tính. Họ Tra xuất hiện từ thời nhà Đường, Tống cho đến nay.
Họ Tra là một danh gia vọng tộc nổi tiếng ở vùng Giang Nam.
Trong phủ họ Tra, hoàng đế Khang Hy từng ngự bút các tấm biển "Đạm Viễn Đường", "Kính Nghiệp Đường", "Hạ Thụy Đường" và câu liễn "Đường Tống dĩ lai cự tộc, Giang Nam hữu số nhân gia" (Tộc lớn từ đời Đường Tống đến nay, Đất Giang Nam có được mấy nhà). | 1 | null |
Hàn Lâm Nhi (, 1340-1366), người Loan Thành, Triệu Châu , thủ lĩnh trên danh nghĩa của chính quyền nông dân Tống và phong trào khởi nghĩa Khăn Đỏ ở miền Bắc Trung Quốc vào cuối đời Nguyên.
Cuộc đời.
Cha ông là Hàn Sơn Đồng, Giáo thủ của Bạch Liên giáo ở Vĩnh Niên. Năm Chí Chính thứ 11 (1351), Sơn Đồng mưu tính khởi nghĩa, sự việc bại lộ, bị quân Nguyên bắt giết. Lâm Nhi theo mẹ trốn đến Vũ An.
Năm thứ 15 (1355), Lâm Nhi được Lưu Phúc Thông đón về Bạc Châu, đưa lên ngôi, kiến lập chính quyền, đặt quốc hiệu là Tống, đổi niên hiệu là Long Phụng, xưng là "Tiểu Minh vương"; tôn vợ của Sơn Đồng là Dương thị làm Thái hậu.
Chính quyền Tống mô phỏng chế độ của nhà Nguyên, đặt ra Trung thư tỉnh, Khu mật viện, Ngự sử đài và Lục bộ. Vì muốn tiết chế các cánh quân Khăn Đỏ khác ở miền Bắc, tại mỗi vùng đất mà các cánh quân này chiếm được, chính quyền Tống đặt ra cơ cấu Hành tỉnh, có thể khảo cứu được các Trung thư tỉnh ở Giang Nam (Chu Nguyên Chương làm Bình chương từ tháng 7 năm Loan Phượng thứ 2 (1356)), Ích Đô (Mao Quý làm Bình chương từ năm thứ 3 (1357)), Hoài An (Triệu Quân Dụng làm Bình chương từ tháng 10 cùng năm thứ 2 (1356)), Liêu Dương (thiết lập vào đầu năm thứ 5 (1359), bọn Mao Cư Kính, Phan Thành, Sa Lưu Nhị, Quan Đạc lần lượt làm Bình chương), Tào Châu (Vũ Mỗ làm Hành tỉnh thừa tướng từ năm thứ 3 (1357)),… Cơ cấu hành chính cũng tương đồng với nhà Nguyên, chỉ bỏ qua cấp Lộ, dưới Hành tỉnh là phủ, châu, huyện. Cơ cấu quản quân cũng được hệ thống thành các Thống quân Nguyên soái phủ, Quản quân Tổng quản phủ, Quản quân Vạn hộ phủ,…; các Hành tỉnh đặt riêng Hành xu mật viện, các quân chức là Bách hộ, Thiên hộ, Vạn hộ, Tổng quản, Thống quân,…
Tuy làm Tống đế, nhưng Lâm Nhi chỉ có hư danh, Lưu Phúc Thông mới là lãnh đạo trên thực tế. Năm thứ 8 (1362), Phúc Thông đưa Lâm Nhi chạy về An Phong , chính quyền Tống chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa.
Năm thứ 9 (1363), bộ tướng của Trương Sĩ Thành là Lữ Trân vây An Phong, nhóm Phúc Thông cầu cứu Chu Nguyên Chương. Nguyên Chương đích thân đem đại quân đến, đánh bại liên quân Lữ Trân – Tả Quân Bật, sau đó an trí Lâm Nhi ở Trừ Châu.
Cái chết.
"Minh sử - Hàn Lâm Nhi truyện" chép:
"Minh sử - Liêu Vĩnh Trung truyện" chép:
Đồ Ký (1856 – 1921) trong "Mông Ngột Nhi sử ký" viết: | 1 | null |
Quân Khăn Đỏ () là các lực lượng khởi nghĩa nông dân cuối đời Nguyên, ban đầu là do các tông giáo dân gian như Minh giáo, Di Lặc giáo, Bạch Liên giáo kết hợp phát động. Vì họ dựng cờ đỏ, đầu đội khăn đỏ, nên được gọi là quân Khăn Đỏ hay Hồng quân. Phần lớn các tông giáo này đều thờ Phật, trong quân thường thắp nhang làm lễ, nên còn được gọi là Hương quân. Cuộc khởi nghĩa đã dẫn tới sự sụp đổ của nhà Nguyên của người Mông Cổ và sự thành lập của nhà Minh do người Hán lãnh đạo.
Bối cảnh ra đời.
Cuối đời Nguyên, gian thần chuyên quyền, quan lại tham ô, mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc. Giáo thủ Hàn Sơn Đồng ở Vĩnh Niên tích cực truyền giáo, bọn Lưu Phúc Thông trở thành những tín đồ đầu tiên của ông ta. Bọn họ tuyên truyền "Di Lặc giáng sinh, Minh Vương xuất thế", hiệu triệu tín đồ, chờ thời cơ lật đổ nhà Nguyên.
Tháng 5 năm Chí Chính thứ 4 (1344), mưa lớn hơn 20 ngày, Hoàng Hà gây lụt, quận huyện ven sông đều chịu thủy tai, nhân dân vô cùng khốn khổ. Do nước lũ tràn vào Vận Hà, uy hiếp Diêm Trường của Lưỡng Tào, ảnh hưởng đến thu nhập của Quốc khố, vào tháng 4 năm thứ 11 (1351), Nguyên Thuận đế nhiệm mệnh Giả Lỗ làm Công bộ thượng thư, Tổng trị Hà phòng sứ, phát 15 vạn dân phu ở 13 lộ Biện Lương , Đại Danh ,… cùng 2 vạn quân đội ở 18 địa phương như Lư Châu …, tháo nước trị sông.
Bọn Hàn Sơn Đồng, Lưu Phúc Thông cho rằng đấy là thời cơ, đầu tháng 5, tụ tập 3.000 người ở thượng du thuộc Dĩnh châu, giết "ngựa trắng – trâu đen", thề nguyền trời đất, chuẩn bị khởi nghĩa. Tuyên xưng "Hàn Sơn Đồng là cháu 8 đời của Tống Huy Tông, nên làm chủ Trung Quốc; Lưu Phúc Thông là hậu duệ của tướng nhà Nam Tống là Lưu Quang Thế, nên giúp rập".
Quá trình hoạt động.
Giai đoạn cao trào.
Khắp nơi hưởng ứng.
Khởi nghĩa còn chưa bắt đầu thì huyện lệnh phái binh đến tiễu trừ, Sơn Đồng bị bắt giết, vợ con trốn đến Vũ An. Lưu Phúc Thông soái nghĩa quân đột vây, vào ngày 3 tháng 5 (tức 28 tháng 5) đánh chiếm Dĩnh châu, cuộc khởi nghĩa Khăn Đỏ chính thức bùng nổ. Lưu Phúc Thông đánh bại quan quân đến trấn áp, nhanh chóng chiếm cứ nhiều thành, trấn nay thuộc An Huy, Hà Nam.
Tháng 8, "Chi ma lý" Lý Nhị khởi nghĩa ở Từ Châu; Từ Thọ Huy, Bành Oánh Ngọc khởi nghĩa ở Kỳ Châu . Tháng 12, bọn "Bố vương tam" Vương Quyền khởi nghĩa ở Đặng Châu , xưng là Bắc Tỏa Hồng quân. Tháng giêng năm thứ 12 (1352), Mạnh Hải Mã chiếm lĩnh Tương Dương, xưng là Nam Tỏa Hồng quân. Tháng 2, bọn Quách Tử Hưng khởi nghĩa ở Hào Châu .
Thoát Thoát bị hại.
Tháng 3 nhuận, triều đình trước sau phái bọn Tứ Xuyên hành tỉnh bình chương Giảo Trụ, Tứ Xuyên hành tỉnh tham chính Đáp Thất Bát Đô Lỗ, các vương Diệc Liên Chân Ban, Ái Nhân Ban; tham tri chính sự Dã Tiên Thiếp Mộc Nhi, Thiểm Tây hành tỉnh bình chương Nguyệt Lỗ Thiếp Mộc Nhi, Dự vương A Lạt Thắc Nạp Thất Lý, Tri xu mật viện sự Lão Chương chia đường vây tiễu hai cánh Nam - Bắc Tỏa Hồng quân, ý đồ cô lập Lưu Phúc Thông. Tháng 5, Đáp Thất Bát Đô Lỗ hạ được Tương Dương, "Bố vương tam" Vương Quyền bị bắt, Bắc Tỏa Hồng quân bị trấn áp. Trong lúc này, các cánh quân của bọn địa chủ vũ trang Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi và Lý Tư Tề phá được La Sơn, lực lượng phát triển lên đến hàng vạn người, đồn trú Trầm Khâu , liên tiếp đánh bại nghĩa quân Khăn Đỏ, gây ra vô vàn khó khăn cho bọn Lưu Phúc Thông.
Tháng giêng năm thứ 14 (1354), Đáp Thất Bát Đô Lỗ hạ được Thiểm Châu , Mạnh Hải Mã tử trận, Nam Tỏa Hồng quân bị trấn áp. Sau 3 tháng vây khốn Trương Sĩ Thành ở Cao Bưu, đầu năm thứ 15 (1355), Thoát Thoát bị bãi binh quyền rồi bị hại, quân đội nhà Nguyên rệu rã, chỉ trông vào lực lượng của địa chủ vũ trang. Phúc Thông lợi dụng tình thế thay đổi theo hướng có lợi, vào tháng 2, đón con trai Hàn Sơn Đồng là Hàn Lâm Nhi ở trại Giáp Hà, núi Nãng; kiến lập chính quyền, đặt quốc hiệu là Tống, đổi niên hiệu là Loan Phượng, đưa Lâm Nhi lên ngôi, xưng là "Tiểu Minh vương".
Tháng 6, Phúc Thông soái quân tấn công Biện Lương, nhằm phân tán binh lực của quan quân, từ tháng 9 năm thứ 16 đến mùa hạ năm thứ 17 (1357), Phúc Thông tổ chức 3 lộ quân bắc phạt: quân Đông lộ do Mao Quý soái lãnh, từng đến Táo Lâm, Liễu Lâm , khiến cho Đại Đô kinh động; quân Tây lộ do Bạch Bất Tín, "Đại đao ngao", Lý Hỷ Hỷ đi Quan Trung; quân Trung lộ do "Quan tiên sanh" Quan Đạc, "Phá đầu phan" Phan Thành, Phùng Trường Cữu, Sa Lưu Nhị, Vương Sĩ Thành đi Hà Bắc, Sơn Tây.
Tháng 5 năm thứ 18 (1358), Phúc Thông hạ được Biện Lương, dời Tống đô về đấy.
Giai đoạn thoái trào.
Phía bắc Trường Giang.
Cùng năm (1358), quan quân phá Tào Châu, cắt đứt liên hệ giữa chính quyền Tống với quân Khăn Đỏ ở Sơn Đông. Đầu năm thứ 19 (1359), Bột La Thiếp Mộc Nhi trú thủ Đại Đồng, cắt đứt liên hệ giữa chính quyền Tống với quân Khăn Đỏ Trung lộ. Quân Tây lộ bị bọn Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi đánh bại, tan chạy vào Thục, lại thêm Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi đưa trọng binh trú thủ Thằng Trì, Lạc Dương, chuẩn bị tấn công Biện Lương. Chính quyền Tống trở nên bị cô lập, không có viện quân.
Tình hình ở Sơn Đông liên tục thay đổi. Mao Quý bắc phạt thất bại nên quay về Ích Đô. Sau khi Triệu Quân Dụng thất thủ Hoài An, đến nương nhờ Mao Quý, rồi lại lừa giết Mao Quý. Bộ tướng của Mao Quý là Tục Kế Tổ từ Liêu Dương về Ích Đô, giết Quân Dụng. Một loạt biến cố khiến quân Khăn Đỏ ở Sơn Đông chỉ còn lực lượng của Điền Phong ở Đông Bình là nguyên vẹn, nhưng cũng không chống nổi.
Tháng 5 năm thứ 19 (1359), Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi chia quân mấy lộ cùng tiến, bao vây Biện Lương. Tháng 8, thành vỡ, Lưu Phúc Thông đưa Tiểu Minh vương đột vây chạy đến An Phong.
Mùa hạ năm thứ 21 (1361), Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi phát động tấn công quân Khăn Đỏ ở Sơn Đông. Điền Phong, Vương Sĩ Thành (bỏ quân Trung lộ quay về từ năm thứ 20) đầu hàng. Tháng 10, Sát Hãn vây Ích Đô, bộ tướng của Mao Quý là bọn Trần Nhu Đầu kiên trì chống lại.
Tháng 6 năm thứ 22 (1362), Điền Phong, Vương Sĩ Thành giết Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi, tham gia chiến đấu bảo vệ Ích Đô. Con nuôi của Sát Hãn là Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi kế tự, tiếp tục vây thành. Tháng 11, Ích Đô vỡ, Điền Phong, Vương Sĩ Thành, Trần Nhu Đầu bị giết. Từ đây, nghĩa quân Khăn Đỏ ở Sơn Đông đã hoàn toàn bị trấn áp.
Phía nam Trường giang.
Các lực lượng vũ trang nông dân ở phía nam Trường Giang phát triển ngày càng mạnh mẽ, bởi không còn phải chịu áp lực của quan quân, thế lực của bọn địa chủ vũ trang cũng không thể vươn đến, nên họ quay sang thôn tính lẫn nhau.
Chu Nguyên Chương thay Quách Tử Hưng bệnh mất từ năm thứ 15 (1355), là thế lực duy nhất ở phía nam Trường Giang, dù là trên danh nghĩa, phục tùng chính quyền Tống. Từ Thọ Huy đã xưng đế, đặt quốc hiệu là Thiên Hoàn từ năm thứ 11 (1351); Trần Hữu Lượng soán ngôi Thọ Huy, đổi quốc hiệu là Hán từ năm thứ 20 (1360).
Sau khi chạy về An Phong, chính quyền Tống chỉ còn tồn tại lay lắt bên cạnh Giang Nam hành tỉnh của Chu Nguyên Chương. Tuy nhiên, Nguyên Chương vẫn dùng niên hiệu Loan Phượng cho đến khi Tiểu Minh vương Hàn Lâm Nhi chết đuối ở Qua Bộ (1366).
Kể từ khi các tướng Nguyên do Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi đứng đầu trấn áp thành công nghĩa quân Khăn Đỏ ở phía bắc Trường Giang, thực tế không còn lực lượng vũ trang nông dân nào nữa, cuộc chiến tranh nhân dân phản kháng phong kiến đã trở thành cuộc chiến tranh quân phiệt.
Năm 1368, Chu Nguyên Chương lên ngôi hoàng đế ở Kim Lăng, đặt niên hiệu là Hồng Vũ, đặt quốc hiệu là Minh, sau đấy phái Từ Đạt mang quân Bắc tiến rồi hạ được Đại Đô, nhà Nguyên mất, dù tàn dư nhà Nguyên lúc đấy vẫn còn tồn tại nhưng cuộc khởi nghĩa coi như đã thành công hoàn toàn. | 1 | null |
Cấu trúc phân chia công việc hay cơ cấu phân chia công việc (tiếng Anh: "Work breakdown structure", ("WBS")) trong quản lý dự án và trong kỹ thuật hệ thống, là một công cụ xác định một dự án và hợp nhóm các yếu tố công việc rời rạc của dự án theo cách giúp cho việc tổ chức và xác định tổng quát phạm vi công việc của dự án.
Thành phần của cấu trúc phân chia công việc có thể là sản phẩm, gói dữ liệu, gói dịch vụ, gói công việc, hay một tổ hợp bất kỳ nào đó. Cơ cấu phân chia công việc cũng cung cấp khuôn khổ cần thiết cho việc lập dự toán chi tiết và kiểm soát chi phí, cùng với việc cung cấp hướng dẫn cho việc phát triển và kiểm soát tiến độ.
Cấu trúc phân chia công việc chính là một bản phân cấp dự án thành các phân đoạn, hạng mục, gói dịch vụ, gói công việc. Nó là một cấu trúc dạng cây, mà mỗi nhánh của nó thể hiện những nỗ lực cần thiết để đạt được từng mục tiêu cụ thể (như một chương trình, một dự án, hay hợp đồng).
Mỗi cấp độ thấp dần của cơ cấu phân chia công việc đại diện cho một mức độ gia tăng tính xác định chi tiết của công việc dự án. Cấu trúc phân chia công việc giống như là một bản Mục lục của một cuốn sách, nhằm tạo điều kiện quản lý dự án dễ dàng như việc tra cứu tìm đọc các chương mục bài vở của mỗi cuốn sách. | 1 | null |
"Anh cho em mùa xuân" là một bài hát nhạc vàng chủ đề mùa xuân nổi tiếng từ thập niên 1960, do nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ thơ Kim Tuấn.
Xuất xứ.
Mùng 5 tết năm 1962, nhạc sĩ Nguyễn Hiền (lúc đó làm việc trong Bộ Thông tin) được gửi tặng một tập thơ 40 bài của các tác giả Vương Đức Lệ, Định Giang, Kim Tuấn. Trong đó có bài thơ năm chữ Nụ hoa vàng ngày xuân của Kim Tuấn, ông lập tức phổ nhạc trong vòng 1 tiếng. Sáng hôm sau, Kim Tuấn đến gặp, tình cờ chủ hãng đĩa Asia cũng có mặt nên Nguyễn Hiền và Kim Tuấn liền thỏa thuận cho hãng đĩa Asia cho ca sĩ Lệ Thanh hát và thâu đĩa đầu tiên. Sau đó thì nhà xuất bản Tinh Hoa của Lê Mộng Bảo được xuất bản tờ nhạc. Bài hát từ đó được quần chúng yêu thích và nhiều ca sĩ trình bày. Cho đến nay bài hát vẫn còn được yêu thích mỗi độ xuân về, kể cả giới trẻ hiện đại.
Nội dung.
Bài hát viết theo điệu Tango vui tươi, rộn rã, lời nhạc trong sáng, yêu đời.
Bài thơ.
Sau đây là trích 1 đoạn:
Ca sĩ thể hiện.
Ca khúc được thể hiện đầu tiên bởi Lệ Thanh, sau đó được nhiều ca sĩ khác nhau thể hiện. Gần đây là Thủy Tiên của Trung tâm Thúy Nga và Hồ Hoàng Yến của Trung tâm Asia thể hiện. | 1 | null |
"Thành phố buồn" là một bài hát nhạc vàng gắn liền với tên tuổi nhạc sĩ Lam Phương. Nội dung bài hát miêu tả về mối tình giữa đôi nam nữ trong bối cảnh thành phố Đà Lạt với rừng thông bao phủ sương khói tạo nên cảm giác buồn.
Hoàn cảnh sáng tác.
Vào năm 1970, nhạc sĩ Lam Phương cùng ban văn nghệ Hoa Tình Thương của quân đội lên Đà Lạt biểu diễn. Khi ông đang ở nơi nghỉ ngơi, nhạc sĩ nhìn xuống dưới đồi núi sương khói che phủ bao quanh rừng thông nên đã có cảm xúc viết nên bài hát này. Sau khi về Sài Gòn, Lam Phương đem xuất bản tờ nhạc và lập tức bán rất chạy, thu lời tiền bản quyền gần 12 triệu đồng tiền Việt Nam Cộng hòa. Bài hát được xem là một kỷ lục xuất bản nhạc lúc đó. Sau đó ông có viết tiếp bài "Tình bơ vơ" nhưng không bán chạy bằng.
Thông tin khác.
Sau năm sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, bài hát bị liệt vào danh sách bài hát cấm lưu hành của chính quyền mới do có nội dung "ủy mị". Năm 2009, bài hát chính thức được lưu hành trở lại tại Việt Nam.
Bài Tân cổ giao duyên của Thành phố buồn là do ca sĩ Mạnh Quỳnh viết lời, song ca với Phi Nhung trong cuốn Paris By Night 69: Nợ Tình.
Người thể hiện đầu tiên và thành công nhất Thành phố buồn là ca sĩ Chế Linh. Năm 2002, ông viết phần tiếp theo "Thành phố buồn hơn (Cho anh và em)".
Sai lời.
Bài hát có một ca từ gây nhầm lẫn dẫn đến việc một số ca sĩ hát sai lời không đúng ý nghĩa của bài hát.
Trong tờ nhạc xuất bản năm 1970, Lam Phương viết có câu: "Trốn phong ba, em làm dâu nhà người". Tuy nhiên, hầu hết các ca sĩ đều hát nhầm thành "chốn phong ba". Nhạc sĩ Lam Phương cũng đã lên tiếng khẳng định là "trốn phong ba" mới là chính xác, chứ không phải "chốn phong ba".
Nội dung.
Bài hát viết theo điệu Slow rock. Nội dung kể về mối tình tan vỡ của một đôi nam nữ với những kỷ niệm thơ mộng ở Đà Lạt. Trích đoạn như sau: | 1 | null |
"Chuyến đò vĩ tuyến" là bài hát nhạc vàng của nhạc sĩ Lam Phương, nội dung liên quan tới cuộc di cư năm 1954.
Xuất xứ.
Năm 1956, nhạc sĩ Lam Phương bắt đầu sáng tác một loạt ca khúc về đề tài dòng người di cư từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954. Trong đó có: "Nắng đẹp miền Nam" (lời Hồ Đình Phương), "Kiếp nghèo", "Đoàn người lữ thứ"... và tiêu biểu nhất là bài "Chuyến đò vĩ tuyến" với giai điệu Rumba Lente. Bài hát được quần chúng yêu thích, đặc biệt là những người di cư từ Bắc vào.
Nội dung.
Bài hát là lời tự sự của một cô gái trên con đò chở người yêu vượt sông Bến Hải vào miền Nam trong đêm. Lời nhạc bắt đầu bằng những hình ảnh xúc động ""sương khuya rơi thắm ướt đôi mi", "vượt rừng vượt núi đến đầu làng, đò em trong đêm thâu sẽ đưa chàng sang vĩ tuyến"... Cuối cùng chỉ còn những tiếng hò nhỏ dần trong đêm "hò ơi, ơi hò..." và ước muốn "hồn đắm say chờ đón ngày anh về sưởi lòng nhau"".
Ca sĩ thể hiện.
Nữ ca sĩ thể hiện thành công nhất là Hoàng Oanh. Tên bài hát được chọn làm nhan đề cho nhiều CD, ví dụ như trong "Hoàng Oanh - The best of". của trung tâm Asia, CD "40 năm âm nhạc Lam Phương 2" của trung tâm Thúy Nga, hay bộ 4 đĩa tiếng hát Giao Linh của trung tâm Làng Văn. Đồng thời, trong chương trình "Paris By Night 88: Đường Về Quê Hương" với chủ đề "nhạc Lam Phương 3", nhạc phẩm này được ca sĩ Tâm Đoan trình bày lại, cũng như được Hoàng Oanh hát để mở màn cho chương trình "Asia 65 - 55 Năm Nhìn Lại" Ngoài ra, "Chuyến đò vĩ tuyến" còn được nhiều ca sĩ nổi tiếng khác thu âm, điển hình như Thanh Tuyền, Hương Lan, Phi Nhung, Như Quỳnh... | 1 | null |
Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc (tiếng Anh: Australian Recording Industry Association, viết tắt ARIA) là một tổ chức đại diện cho ngành công nghiệp ghi âm Úc được thành lập bởi sáu công ty ghi âm lớn khác là EMI, Festival Records, CBS, RCA Records, WEA và Universal Music. Hiệp hội này cung cấp chứng nhận doanh số đĩa thu âm và quản lý bảng xếp hạng ARIA Charts. | 1 | null |
Lòng dạ đàn bà là một bộ phim truyền hình được thực hiện bởi Hãng phim Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh cùng Hãng phim Tâm Điểm do NSƯT Hồ Ngọc Xum làm đạo diễn. Phim được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên và các tiểu thuyết "Dây quan", "Chị Đào chị Lý" của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Phim phát sóng vào lúc 18h00 từ thứ 5, 6, 7 hàng tuần bắt đầu từ ngày 1 tháng 12 năm 2011 và kết thúc vào ngày 4 tháng 2 năm 2012 trên kênh HTV9.
Nội dung.
Lấy bối cảnh Việt Nam vào những năm đầu thập niên 1920, Lòng dạ đàn bà là câu chuyện hồi tưởng về quá khứ của ông Hội đồng Thành khi còn là một thanh niên vừa giàu có vừa bảnh trai, lúc đó ông đã tiếp xúc với 3 người phụ nữ có nhan sắc mặn mà, thế nhưng mỗi người phụ nữ lại có một lối sống khác nhau: Kim Diệp - vợ của Hội đồng Thành, có tính ghen ghét đố kỵ, mưu mô, xảo quyệt; Ba Huyền - một đào hát dịu dàng, lịch sự, bị gã chồng giang hồ tên Bảy Thẹo bắt đi moi tiền đàn ông giàu có về cho gã và Thanh Thủy - người làm buôn bán hột xoàn xuyên các tỉnh miền Đông và Tây Nam Bộ, với tư cách là bạn thân của Kim Diệp cô đã giúp đỡ Hội đồng Thành tránh xa cạm bẫy tình của Ba Huyền.
Diễn viên.
Cùng một số diễn viên khác...
Ca khúc trong phim.
Sáng tác: Ngọc Sơn
Thể hiện: Lam Tuyền
Sáng tác: Ngọc Sơn
Thể hiện: Hạnh Nguyên | 1 | null |
Liên đoàn Khmers Kampuchea-Krom (tiếng Khmer: សហព័ន្ធខ្មែរកម្ពុជាក្រោម, tiếng Anh: Khmers Kampuchea-Krom Federation, KKF) là một tổ chức hoạt động trên phạm vi quốc tế có tính cách đại diện cho cộng đồng Khmer sinh sống ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong các vấn đề nhân quyền, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự quyết. Gần đây, tổ chức có xu hướng bài Việt Nam và tham gia chống chính quyền Việt Nam.
Biểu trưng.
Lá cờ gồm 3 sọc ngang (lam, vàng, đỏ) với tỉ lệ 2: 3:
Lịch sử.
Tổ chức này thường xuyên đưa ra các vấn đề đất đai và cáo buộc Việt Nam chiếm đất của Campuchia. Gần đây đã được một số đảng phái ở Campuchia thường xuyên sử dụng để chống quan hệ của Việt Nam với Đảng Nhân dân Campuchia của Thủ tướng Campuchia Hun Sen.
Ngày 23/7/2012, tại Trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York, Hoa Kỳ, Liên đoàn Khmer Kampuchea Krom (KKF) xin hưởng quy chế tư vấn với ECOSOC nhưng đề nghị này bị phía Việt Nam bác bỏ. | 1 | null |
Hữu Nhưng (chữ Hán: 有仍) hay Hữu Nhung (有戎) là tên 1 quốc gia bộ lạc từng tồn tại ở vùng Đông Nam Tế Ninh, tỉnh Sơn Đông ngày nay, không rõ nước này hình thành từ bao giờ và diệt vong lúc nào nhưng có một điều chắc chắn rằng nước ấy hiện diện trong lịch sử ít nhất cũng phải trên dưới 600 năm từ khi đế Cốc Cao Tân thị lên ngôi đến giai đoạn cuối cùng của nhà Hạ thời vua Kiệt.
Tổ ngoại tộc Thương.
Theo Sử Ký Tư Mã Thiên - Ân bản kỷ thì bà Giản Địch là con gái Hữu Nhưng thị chính là thứ phi của đế Cốc, một lần bà ra bờ suối tắm thì thấy quả trứng huyền điểu rất to liền đập vỏ rồi ăn sống. Chẳng bao lâu sau bà có mang rồi sinh con là Tử Tiết chính là thủy tổ nhà Thương sau này, Kinh Thi có câu: "thiên mệnh huyền điểu, giáng sinh nhi Thương", nghĩa là: mệnh trời giáng hạ chim đen mà sinh ra nhà Thương vậy.
Quê ngoại vua Thiếu Khang.
Trải qua mấy trăm năm đến thời kỳ vô vương chi thế có đế Tướng nhà Hạ lấy con gái Hữu Nhưng thị là Hậu Mân, lúc ấy nhà Hạ gặp phải Hậu Nghệ rồi Hàn Trác làm loạn đánh đuổi khiến đế Tướng phải tự vẫn mà chết. Hậu Mân đang có mang liền trốn về quê ngoại rồi sinh con là Thiếu Khang, Thiếu Khang lớn lên được cử giữ chức mục chính chịu trách nhiệm về chăn nuôi gia súc gia cầm. Người nước Hữu Nhưng luôn luôn nhắc nhở ông phải khôi phục lại cơ nghiệp tổ tiên nên ông rất chịu khó thu phục lòng người, hơn nữa ông từ bé được họ hàng bên ngoại dạy dỗ rất tốt nên cũng có chí tiến thủ rất cao. Hàn Trác sau khi biết tin Thiếu Khang còn ở quê mẹ nên cử binh tiến đánh Hữu Nhưng để truy sát ông, ông bèn chạy sang nước Hữu Ngu ẩn thân ở đó làm bào chính để làm nơi tập kết khởi nghĩa phục quốc. Ít lâu sau Hàn Trác càng ngày càng tàn ác mất lòng dân, Thiếu Khang được sự giúp đỡ của vua nước Hữu Ngu và các công thần còn nhớ tới nhà Hạ mà tổ chức tổng tấn công tiêu diệt được Hàn Trác mà khôi phục lại vương triều.
Thời kỳ Kiệt Vương.
Lại trải qua mấy trăm năm đến đời Kiệt Vương, khi vua Thành Thang nước Thương nghe lời của Y Doãn không tiến cống nhà Hạ nữa thì nước Hữu Nhưng cũng theo lệnh vua Kiệt hội quân phạt Thương. Sau khi nhà Hạ mất chẳng rõ nước Hữu Nhưng còn tiếp tục tồn tại hay cũng mất theo, chỉ biết rằng trong sử sách đời sau không còn thấy người ta nhắc đến nước này nữa. | 1 | null |
Jeon Boram (; ; ; sinh ngày 22 tháng 3 năm 1986) thường được biết đến với nghệ danh Boram, là một nữ ca sĩ, diễn viên điện ảnh, diễn viên nhạc kịch, người mẫu chụp ảnh quảng cáo người Hàn Quốc. Cô là thành viên của nhóm nhạc nữ nổi tiếng Hàn Quốc T-ara và nhóm nhỏ QBS.
Tiểu sử.
Boram sinh ra tại Seoul, Hàn Quốc trong gia đình có truyền thống nghệ thuật. Cha cô là Jeon Young Rok, một ca sĩ nổi tiếng ở Hàn Quốc trong những năm 70 và 80. Còn mẹ là nữ diễn viên gạo cội Lee Mi Young. Boram là nghệ sĩ thế hệ thứ 3 trong gia đình tại Hàn Quốc như ông nội Hwang Hae và bà ngoại Baek Sul Hee của cô, cả hai đều là ca sĩ nổi tiếng trước kia. Boram có một em gái là Wooram, hiện là thành viên của nhóm nhạc D-Unit.
Boram tốt nghiệp Đại học Myungji, ngành Nghiên cứu Nghệ thuật cùng với thành viên Qri.
Sự nghiệp.
2002ㅡ2009: Bắt đầu sự nghiệp.
Boram ra mắt lần đầu trong bộ phim "Người tình tổng thống" với vai trò diễn viên khách mời vào năm 2002.
Boram phát hành một album với hai đĩa đơn đầu tay của cô trước khi vào T-ara. "From Memory" được phát hành vào tháng 11 năm 2008 và "Lucifer Project Vol 1 爱" được phát hành vào tháng 4 năm 2008.
2009ㅡ2017: Ra mắt với T-ara.
Boram là thành viên đầu tiên được thêm vào sau khi hai cựu thành viên T-ara Jiae và Jiwon rời nhóm vào giữa năm 2009. T-ara là nhóm nhạc có nhiều vũ đạo sáng tạo, độc đáo và được biết đến qua các hit như "Bo Peep Bo Peep", "Roly Poly", "Cry Cry", "Lovey Dovey", "Day By Day", "Sexy Love", "Number 9", "Sugar Free", "Little Apple". T-ara được xem là nhóm nhạc nữ K-pop nổi tiếng nhất tại Trung Quốc. Giám đốc điều hành của Core Contents Media đã liên lạc với Boram sau khi xem một video clip cô nhảy My Name.
Vào ngày 15 tháng 7 năm 2010, Core Contents Media thông báo Boram đảm nhận vị trí là trưởng nhóm thứ hai thay cho Eunjung trong lần ra mắt đĩa mở rộng "Temptastic", sau việc bổ sung thành viên mới Hwayoung. Boram thông qua để thành viên Hyomin đảm nhiệm vị trí trưởng nhóm trong tháng 7 năm 2011.
Tháng 12 năm 2010, cô đã tham gia vào một vở nhạc kịch mang tên "I Really Really Like You" với cha cô, trong đó thành viên Hyomin giữ vai trò sản xuất âm nhạc.
Năm 2012, Boram cùng Qri đảm nhiệm vai trò MC khách mời cho chương trình truyền hình âm nhạc Hàn Quốc do Mnet phát sóng trực tiếp vào lúc 18:00 KST mỗi Thứ Năm hàng tuần đó là M Countdown.
Năm 2013, Boram và em gái cô là Wooram tham gia chương trình truyền hình một tập "Wooram's family camp" nói về cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của hai chị em được chiếu trên kênh MBC.
Năm 2014, Boram được chọn là nữ diễn viên chính trong "The Lost Garden" cùng với nam chính Kim Tae Woo. Vở nhạc kịch sẽ được công chiếu vào ngày 17 tháng 1, Boram cũng được góp giọng vào hai ca khúc là "Wondrous Dream" và "The Lost Garden".
Boram đảm nhiệm vai trò hát dẫn và rap phụ trong nhóm nhạc nữ T-ara.
Ngoài ra, Boram cũng là nghệ sĩ tham gia khá nhiều các chương trình truyền hình tại Hàn Quốc.
2013ㅡ2017: QBS.
Tháng 3 năm 2013, Boram thể hiện ca khúc solo tiếng Nhật "Maybe Maybe" và "Soap Bubbles" (song ca cùng Qri) - hai phiên bản của "Bunny Style!".
Tháng 6 năm 2013, Boram cùng Qri và So-yeon cho ra mắt nhóm nhỏ QBS với đĩa đơn đầu tay "Like The Wind".
2009ㅡnay: Diễn xuất.
Năm 2002, Boram lần đầu đến với diễn xuất thông qua bộ phim "Người tình tổng thống" với vai trò diễn viên khách mời vào năm 2002.
Năm 2007, Boram tham gia diễn xuất trong MV ca nhạc "Feeling You" của Kebee.
Năm 2009, Boram vào vai Shin So Yi trong bộ phim "Sould" của kênh MBC.
Năm 2007, Boram tham gia bộ phim điện ảnh "Cass Beer Music Drama" cùng với các thành viên 2PM lấy cảm hứng từ ca khúc Tik Tok (2PM) qua đó diễn xuất của Boram dần được hoàn thiện và đánh giá cao.
Năm 2010, Boram được chọn vào vai một thiếu nữ đáng yêu ở tuổi 19 cùng nữ diễn viên Jeon Hye-bin và nam diễn viên Jung Sung Hwa trong bộ phim một tập của KBS là "Purple Heeled Grim Reaper is Coming". Sau đó, cô xuất hiện với vai trò khách mời cùng với các thành viên khác của T-ara trên bộ phim truyền hình "Cao thủ học đường" năm 2010 do Jiyeon thủ vai chính.
Tháng 12 năm 2010, cô đã tham gia vào một vở nhạc kịch mang tên "I Really Really Like You" với cha cô, trong đó thành viên Hyomin giữ vai trò sản xuất âm nhạc.
Năm 2012, Boram cùng Soyeon tham gia bộ phim một tập có tên "Crown Princess Project" của đài KBS.
Năm 2014, Boram được chọn là nữ diễn viên chính trong "The Lost Garden" cùng với nam chính Kim Tae Woo. Vở nhạc kịch sẽ được công chiếu vào ngày 17 tháng 1, Boram cũng được góp giọng vào hai ca khúc là "Wondrous Dream" và "The Lost Garden".
Năm 2015, Boram trở lại màn ảnh diễn xuất qua "Sweet Temptation Episode 5: Recipe Of Love" trong vai Youn Hee. Nhạc phim cho web-drama này là ca khúc "Moment" của Davichi.
Năm 2020, Boram sau thời gian dài rời T-ara thì Boram đã tái xuất với vai trò diễn viên thông qua dự án phim web drama Shall we death trong vai Kim Si-Hyun. Giọng ca sinh năm 1986 đảm nhận vai một nữ giáo viên bên cạnh đám học trò nghịch ngợm.
2017ㅡnay: Hết hợp đồng và rời MBK Entertainment. Comeback với vai trò diễn viên.
Ngày 15/5/2017, Boram và Soyeon sẽ chính thức hết hợp đồng với MBK Entertainment vì cả hai không tiếp tục gia hạn hợp đồng nhưng không đồng nghĩa với việc cả hai thành viên sẽ rời khỏi T-ara, 4 thành viên còn lại là Qri, Jiyeon, Eunjung và Hyomin sẽ gia hạn hợp đồng với MBK đến cuối năm 2017, trong thời gian đó họ sẽ quảng bá album mới và hoạt động các dự cá nhân của từng thành viên. Đêm concert cuối cùng của nhóm diễn ra tại Đài Loan vào ngày 13/5.
Năm 2020, Boram sau thời gian dài rời T-ara thì Boram đã tái xuất với vai trò diễn viên thông qua dự án phim web drama Shall we death trong vai Kim Si-Hyun. Giọng ca sinh năm 1986 đảm nhận vai một nữ giáo viên bên cạnh đám học trò nghịch ngợm.
Boram tái xuất với vai trò diễn viên ở một số bộ phim vừa ra mắt và tham gia các show truyền hình, talkshow với vai trò khách mời. Được biết, ngoài hoạt động nghệ thuật, Boram còn hoạt động kinh doanh với quán bar riêng của mình. | 1 | null |
Chiến dịch tấn công Bratislava-Brno (25 tháng 3 - 5 tháng 5 năm 1945) là một chiến dịch quân sự do Hồng quân Liên Xô tổ chức nhằm tấn công vào quân đội Đức Quốc xã, diễn ra tại mặt trận Xô-Đức thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Lực lượng tham gia chiến dịch là Phương diện quân Ukraina 2 do Nguyên soái R. Ya. Malinovsky chỉ huy cùng với các đơn vị đồng minh Romania thuộc biên chế của phương diện quân này. Kết thúc chiến dịch, quân đội Liên Xô đã giải phóng một phần lớn lãnh thổ phía Tây Slovakia, trong đó có thủ đô Bratislava; một phàn lãnh thổ phía Đông Séc, trong đó có thành phố Brno cùng nhiều vùng công nghiệp quan trọng của quốc gia này.
Phương diện quân Ukraina 2 khởi động tấn công trong chiến dịch Bratislava-Brno muộn hơn hai phương diện quân láng giềng từ 10 đến 15 ngày do Bộ chỉ huy của nó phải phân bố lại binh lực sau khi tiêu diệt cụm quân Đức-Hungary tại Budapest và chống trả các đòn phản công ác liệt của các quân đoàn xe tăng Đức tại khu vực Komárno - Esztergom. Cho đến cuối tháng 3 năm 1945, khi cuộc phản công của các quân đoàn xe tăng 3 và 4 (Đức) cơ bản bị đẩy lùi, Tập đoàn quân cận vệ 7 và Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 (Liên Xô) đã được bổ sung đủ quân số và trang bị để bù đắp cho những thiệt hại đáng kể trong các trận đánh phòng ngự dọc sông Hron. Cụm kỵ binh cơ giới của tướng I. A. Pliyev dự kiến tham gia tấn công trên cánh phải của phương diện quân trên hướng Zvolen cũng được rút ra và đổi hướng tấn công đến Bratislava để bảo đảm cho thắng lợi của chiến dịch.
Chiến dịch được tổ chức thành hai giai đoạn nối tiếp nhau mà không có thời gian tạm dừng để chuyển tiếp. Trong giai đoạn cuối của chiến dịch, do có sự tham gia trên hướng Dresden - Praha của Phương diện quân Ukraina 1, Phương diện quân Ukraina 2 phải bố trí lại lực lượng một lần nữa để bảo đảm cho các hoạt động tại phía Nam vùng Bohemia và tiến ra tuyến phân giới với quân đội Hoa Kỳ, phối hợp với các phương diện quân Ukraina 1 và 4 vây chặt gần 1 triệu quân Đức tại phía Đông Praha.
Bối cảnh.
Vào tháng 3 năm 1945, sau một thời gian củng cố và chuẩn bị lực lượng, các Phương diện quân Ukraina 2, 3, 4 tại khu vực Tiệp Khắc và Hungary đã liên tiếp tung ra 3 chiến dịch lớn nhằm vào các khối quân Đức Quốc xã tại cạnh sườn phía Nam của Mặt trận Xô-Đức. Tại khu vực phía Nam của mặt trận, Phương diện quân Ukraina 3 và cánh trái của Phương diện quân Ukraina 2 đã mở chiến dịch Viên sau khi chặn đứng đòn tấn công của quân Đức tại hồ Balaton. Trước đó ít ngày, Phương diện quân Ukraina 4 đã mở Chiến dịch tấn công Moravská-Ostrava nhằm vào cụm quân Heinrici tại Tiệp Khắc. Ở giữa hai khu vực này, cánh phải của Phương diện quân Ukraina 2 cũng bắt tay vào tổ chức một đợt tấn công quy mô lớn vào Cụm Tập đoàn quân Nam đóng ở vùng biên giới Hungary - Slovakia.
Chiến dịch diễn ra vào giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai tại châu Âu nhưng quân đội Đức Quốc xã vẫn tiếp tục kháng cự kịch liệt với mục tiêu không cho quân đội Liên Xô tiến xa hơn về phía Tây. Cũng như ở hướng Berlin, những lực lượng dự trữ cuối cùng của quân đội Đức Quốc xã được tung vào chiến dịch để giữ quyền kiểm soát cụm công nghiệp Bratislava, một trong ba cụm công nghiệp quan trọng mà nước Đức Quốc xã đang chiếm giữ trên vùng Bohemia - Morava của Tiệp Khắc. Chiến dịch diễn ra trên địa bàn trung du và đồi núi phía Nam Bohemia - Morava. Trên đường tấn công của các tập đoàn quân Liên Xô có các dãy núi Tiểu Carpath, Đại Carpath và Považský Inovec cản đường. Ngoài sông Hron nằm trên chiến tuyến đến ngày 25 tháng 3, quân đội Liên Xô còn phải vượt qua các con sông Nitra, Váh, Žitava và Morava, trong đó có sông Váh sâu và rộng hơn cả.
Trên địa bàn tác chiến có các thành phố, thị trấn quen thuộc với quân đội Nga từ năm 1805 trong Chiến dịch Austerlitz nổi tiếng như Brno, Slavkov, Olomouc và cao nguyên Pratzen, nơi diễn ra trận đánh Austerlitz quyết định kết cục của chiến dịch này, mà phần thắng khi đó thuộc về quân đội Pháp của Napoléon Bonaparte.
Binh lực và kế hoạch.
Quân đội Liên Xô.
Phương diện quân Ukraina 2 (thiếu Tập đoàn quân 46):
Binh lực bao gồm:
Binh lực từ ngày 25 tháng 3 đến ngày 15 tháng 4.
Binh lực ban đầu: 272.200 quân nhân Liên Xô, 67.800 quân nhân Romania, 240 xe tăng và pháo tự hành, 6.120 đại bác và súng cối cỡ nòng 75 ly trở lên, 645 máy bay.
Kế hoạch.
Theo kế hoạch ban đầu, ba mũi tấn công chính của quân đội Liên Xô sẽ tiến công theo các hướng song song. Tập đoàn quân cận vệ 7 tấn công vào Bratislava, Tập đoàn quân 53 và Tập đoàn quân Romania 1 sẽ kéo quân qua Nitra tiến lên đánh chiếm Brno. Cụm kỵ binh cơ giới cận vệ 1 sẽ tấn công Malacky, chêm vào giữa Tập đoàn quân cận vệ 7 và Tập đoàn quân 53. Giang đoàn Danub sẽ hỗ trợ Tập đoàn quân cận vệ 7 tiến đánh Bratislava. Quân đoàn cơ giới cận vệ 4 sẽ được tung vào cửa đột phá để khai thác chiến quả sau khi các lực lượng trên đục thủng chiều sâu chiến thuật của phòng tuyến quân Đức. Ở cánh phải, Tập đoàn quân 40 và Tập đoàn quân Romania 4 sẽ đảm nhiệm hướng Banská Bystrica - Trenčín và phát triển lên hướng Olomouc. Các Tập đoàn quân Romania 1 và 4 thì được bố trí ở thê đội hai của đội hình tấn công. Tập đoàn quân không quân 5 phân phối lực lượng cường kích và ném bom yểm hộ cho tất cả các hướng tấn công.
Trong quá trình chiến dịch, Phương diện quân Ukraina 3 đã hoàn thành Chiến dịch Viên trước thời hạn vào ngày 15 tháng 4 và tiến đến tuyến phân giới giữa quân đội Liên Xô và quân đội Hoa Kỳ theo thỏa thuận tại Hội nghị Yalta. Do đó, ngày 16 tháng 4, Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 được trả về cho Phương diện quân Ukraina 2. Ngoài ra, STAVKA còn điều động các tập đoàn quân 46 và cận vệ 9 tăng viện cho Phương diện quân Ukraina 2 để tăng dày mật độ binh lực tấn công trên hướng chủ yếu đến phía Nam Praha và miền Tây Bohemia. Việc tăng thêm binh lực có tác dụng làm tăng tốc độ tấn công của Phương diện quân trong 20 ngày cuối cùng của chiến dịch để hợp vây cánh quân chủ lực của Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) và chia cắt cánh quân này với Cụm tập đoàn quân Áo (nguyên là Cụm tập đoàn quân Nam) đang vội vã rút lui tới tuyến kiểm soát của quân đội Hoa Kỳ.
Quân đội Đức Quốc xã.
Một phần của Cụm Tập đoàn quân Nam do Thượng tướng Bộ binh Otto Wöhler (đến ngày 5 tháng 4) và Thượng tướng Bộ binh Lothar Rendulic (từ ngày 6 tháng 4) lần lượt chỉ huy, từ ngày 30 tháng 4 đổi tên thành Cụm tập đoàn quân Áo:
Từ ngày 12 tháng 4, Tập đoàn quân 8 (Đức) được bổ sung:
Các lực lượng rút chạy từ các hướng nhập vào Tập đoàn quân 8 từ ngày 1 tháng 5 năm 1945:
Binh lực ngày 1 tháng 4 năm 1945 bao gồm 200.000 người, 120 xe tăng và pháo tự hành, 1.800 đại bác và súng cối, 150 máy bay.
Diễn biến.
Giải phóng Bratislava.
Hai ngày trước khi chiến dịch mở màn, để gây nhầm lẫn cho quân Đức về hướng tấn công chính của chiến dịch, Quân đoàn bộ binh cận vệ 25 bắt đầu vượt sông Hron tiến về phía Komárno. Tướng Hans Kreyzing lập tức điều Quân đoàn bộ binh 72 phối hợp với Sư đoàn xe tăng 8 (Quân đoàn xe tăng 57) và Sư đoàn bộ binh 1 SS (Tập đoàn quân 6) từ Komárno tiến ra phản kích. Hành động này vô tình đã làm cho phòng tuyến của quân Đức phía trước các tập đoàn quân 53 và cận vệ 7 bị mỏng đi về binh lực.
Cuộc tấn công chính thức bắt đầu vào đêm 24 rạng ngày 25 tháng 3 khi chủ lực của Phương diện quân Ukraina 2 bắt đầu khởi binh. Dưới sự che chở của màn đêm, Tập đoàn quân 53 và Tập đoàn quân cận vệ 7 bất ngờ tiếp cận phòng tuyến sông Hron, tiêu diệt các đồn tiền tiêu của quân Đức và tiến hành đánh chiếm một số đầu cầu vượt sông trên một chính diện 17 cây số ở phía Nam Levice. Lực lượng công binh cũng được nhanh chóng đưa vào trận địa để xây dựng các cầu phao bắc ngang sông Hron. Vào 6 giờ sáng ngày 25 tháng 3, được sự yểm hộ mạnh mẽ của hỏa lực pháo binh, quân đội Liên Xô bắt đầu tổ chức vượt sông với quy mô lớn và trong ngày hôm đó đã mở rộng đầu cầu ra 20 cây số chiều rộng và 10 cây số chiều sâu. Ngày 26 tháng 3, Cụm kỵ binh cơ giới cận vệ của tướng I. A. Pliyev được đưa vào cửa đột phá với nhiệm vụ thọc sâu vào hậu cứ quân Đức và ngăn không cho phía Đức thiết lập một phòng tuyến vững chắc trên các tuyến sông Nitra, sông Váh và sông Morava. Trên cánh phải của Phương diện quân, cũng trong ngày thứ hai của cuộc tấn công, Tập đoàn quân 40 và Tập đoàn quân Romania 4 đã giải phóng thành phố Banská Bystrica sau một trận công kích ngắn.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Cụm kỵ binh cơ giới cận vệ 1 phối hợp với Tập đoàn quân 53 và Tập đoàn quân cận vệ 7 tiếp tục phát triển tấn công dọc theo tả ngạn sông Donau theo hướng Bratislava. Mũi tấn công được yểm hộ mạnh bởi Tập đoàn quân không quân số 5 và Giang đoàn Danub. Đặc biệt, Giang đoàn Danub đã đóng góp tích cực trong việc giúp đỡ Tập đoàn quân cận vệ 7 tiến dọc theo sông Donau khi lực lượng hải quân đánh bộ của giang đoàn đã tổ chức các đợt tấn công đổ bộ thọc vào sau lưng quân Đức, đồng thời các hải pháo của giang đoàn cũng dập tắt các hỏa điểm cứng đầu của quân Đức dọc theo dải tấn công.
Trong những ngày tiếp theo, quân đội Liên Xô tiếp tục tiến rất nhanh bất chấp bùn lầy mùa xuân và lũ gây ra nhiều khó khăn cho việc di chuyển. Cho đến ngày 28 tháng 3, mũi chủ công của Phương diện quân Ukraina 2 gồm các tập đoàn quân 53, cận vệ 7 và Cụm kỵ binh cơ giới cận vệ 1 đã tiến sâu 40 cây số trên một chính diện 135 cây số. Sau khi vượt qua sông Žitava, cụm kỵ binh cơ giới hóa Pliyev tiếp cận sông Nitra và bắt đầu cuộc chiến giành giật các điểm dân cư Nové Zámky, Šurany, Nitra. Quân Đức tại các cứ điểm phòng thủ trong khu vực này đã kháng cự kịch liệt và tổ chức nhiều đợt phản kích dữ dội. Giao tranh kéo dài và ác liệt suốt nhiều ngày trong từng dãy nhà, từng con phố, từng ngọn đồi. Cuối cùng, sau hai ngày kịch chiến, quân đội Liên Xô đã giải phóng Nové Zámky, Šurany và ngày 30 tháng 3 đã tiếp cận sông Váh. Riêng Tập đoàn quân 40 và Tập đoàn quân Romania 4 vẫn chưa vượt qua được sông Nitra.
Lúc này tất cả các cây cầu bắc ngang sông Váh ở Šaľa, Piešťany, Nové Mesto và Komárno đều bị quân Đức phá sập và dòng sông rộng 250 mét chảy xiết này trở thành một chướng ngại nghiêm trọng án ngữ trên đường tiến quân của Cụm kỵ binh cơ giới hóa Plyev. Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn, các lực lượng công binh dưới sự chỉ đạo của thượng tướng A. D. Tsirlin đã bắc ngang sông một cây cầu vững chắc cùng một hệ thống vận chuyển hạng nặng đủ sức duy trì tốc độ tiến quân nhanh chóng cho Cụm kỵ binh cơ giới cận vệ 1.
Tại dải tấn công của Tập đoàn quân cận vệ 7, ngày 1 tháng 4 tập đoàn quân này đã tiếp cận cửa ngõ phía Đông thành phố Bratislava, thủ đô của Slovakia. Quân Đức đồn trú trong thành phố gồm Sư đoàn xe tăng "Führer-Begleit", Sư đoàn bộ binh xung kích 46, Sư đoàn bộ binh dự bị 408 và Lữ đoàn xe tăng 103 đã biến thủ đô xinh đẹp của Slovakia thành một pháo đài khổng lồ với vô số boong-ke, công sự bê tông ngầm, vật cản chống tăng cùng những bãi mìn dày đặc. Trên các đường phố la liệt các vật cản chống tăng, hàng rào chống bộ binh và nhiều chướng ngại vật khác. Khu vực ngoại vi phía Đông Bratislava đặc biệt được bố phòng các cứ điểm phòng ngự mạnh. Nhằm tránh cho thủ đô của Slovakia bị tàn phá không cần thiết, Nguyên soái R. Ya. Malinovsky, tư lệnh Phương diện quân Ukraina 2, đã quyết định tổ chức tấn công thành phố bằng một mũi tập hậu từ phía Tây Bắc. Đáng tiếc, ý định tránh các trận kịch chiến trong nội đô Bratislava đã không thực hiện được. Trong suốt hai ngày, các quân đoàn bộ binh cận vệ 23 và 25 cùng với Giang đoàn Danub và Lữ đoàn hải quân đánh bộ 83 đã có một trận chiến dữ dội với quân Đức trấn thủ Bratislava. Kết cục, vào cuối ngày 4 tháng 4, thủ đô Slovakia đã sạch bóng quân Đức.
Trong vòng 10 ngày kể từ đầu chiến dịch, Phương diện quân Ukraina 2 đã giải phóng hàng trăm làng và điểm dân cư. Quân đội Liên Xô tiến vào Slovakia đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt của cư dân địa phương. Trên các đường phố người dân đổ ra đường đón mừng các đoàn quân Xô Viết chiến thắng, đông vui như lễ hội. Đại úy Ivan Mitrofanovich Novokhaskiy, chỉ huy một khẩu đội pháo binh thuộc Tập đoàn quân số 53 đã ghi nhận:
Tiến quân về nơi đã diễn ra trận Austerlitz.
Sau khi Bratislava thất thủ, quân Đức lui về tuyến sông Morava, dự tính sử dụng phòng tuyến tự nhiên này chặn bước quân đội Liên Xô. Tất cả các cây cầu trên sông đã được gài mìn để phá sập, và một lượng lớn viện binh đã được điều đến khu vực này. Tuy nhiên đà tiến quân quá nhanh của Phương diện quân Ukraina 2 đã không cho quân Đức kịp thực hiện ý định đó. Ngày 5 tháng 4, sư đoàn bộ binh cận vệ số 25 (thuộc Tập đoàn quân cận vệ số 7) vượt sông Morava và đánh chiếm một đầu cầu bên bờ Tây. Hai ngày sau, Tập đoàn quân cận vệ số 7 cùng Cụm kỵ binh cơ giới hóa cận vệ Pliyev đánh chiếm một đầu cầu khác ở làng Brodské. Ngày 12 tháng 4, Tập đoàn quân số 53 vượt qua dãy Tiểu Carpath, tấn công khu vực Myjava - Jablonka và trong ngày hôm đó tiếp tục tiến sâu vào lãnh thổ Séc. Quân Đức liên tục tổ chức các đợt phản kích mạnh nhằm trục quân đội Liên Xô khỏi các đầu cầu, nhưng không thành công. Đến giữa tháng 4, Phương diện quân Ukraina 2 đã chọc thủng các phòng tuyến của quân Đức tại khu vực sông Morava.
Để tiếp cận gần hơn với mặt trận và nắm chắc sự chỉ đạo quân đội, ngày 14 tháng 4 năm 1945, nguyên soái R. Ya. Malinovsky ra lệnh chuyển trụ sở Bộ tư lệnh Phương diện quân Ukraina 2 đến làng Modra, cách Bratislava 20 km về phía Bắc. Cũng trong ngày này, Tập đoàn quân đã vượt sông Morava tại 14 cầu tạm, cầu phao 60 tấn và 5 bến phà tại khu vực phía Tây Malacky. Cụm kỵ binh cơ giới cận vệ 1 cũng vượt sông Morava, hai quân đoàn kỵ binh cơ giới cùng tấn công dọc theo hai bờ sông Morava lên phía Bắc. Ngày 15 tháng 4, Cụm kỵ binh cơ giới cận vệ 1 đánh chiếm thành phố Břeclav. Cùng ngày, Tập đoàn quân 53 cũng tổ chức vượt sông Morava đánh chiếm Hodonín thuộc Morava, một trung tâm giao thông thủy - bộ quan trọng trong vùng. Tập đoàn quân 40 và Tập đoàn quân Romania 4 sau khi vượt qua dãy Tiểu Carpath đã tăng tốc độ tấn công lên đến 30 km/ngày và đến chiều 15 tháng 4 đánh chiếm Uherský Brod và đầu mối đường sắt Uherské Hradiště.
Ngày 16 tháng 4, sau khi chiến dịch Viên kết thúc, Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 được trả về cho Phương diện quân Ukraina 2. Lực lượng này cùng với Cụm kỵ binh cơ giới hóa cận vệ 1 và Tập đoàn quân 53 tiếp tục hành tiến lên Brno, chuẩn bị một cuộc tấn công vào thành phố này. Brno là một trung tâm công nghiệp lớn gồm các tổ hợp công nghiệp chế tạo máy đồng thời là một đầu mối giao thông quan trọng trong vùng. Đây là nơi có hai nhà máy sản xuất xe tăng, xe bọc thép, xe cơ giới "Skoda" và "Zbroevka", các nhà máy sản xuất đạn dược cùng rất nhiều kho quân trang, quân dụng. Nhận thức được tầm quan trọng của Brno, quân Đức đã bố trí tại đây một lực lượng phòng ngự rất lớn bao gồm các sư đoàn xe tăng 8 và "Führer-Begleit", Sư đoàn bộ binh cơ giới xung kích 101, Sư đoàn kỵ binh an ninh SS 201 và các sư đoàn bộ binh 46, 711 và 601 mới được tăng cường. Ngày 16 tháng 4, khi Cụm kỵ binh cơ giới cận vệ 1 (Liên Xô) tiếp cận Brno từ phía Đông Nam qua ngả Moravský Krumlov, các lực lượng này đã chống giữ dữ dội trên các cửa ngõ dẫn vào thành phố và liên tục tổ chức phản kích. Để nhanh chóng thanh toán các lực lượng Đức tại Brno, nguyên soái R. Ya. Malinovski điều Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 vừa trở lại đội hình phương diện quân tiến lên phía Đông Brno, đánh chiếm thị trấn công nghiệp Bučovice và dùng nó làm bàn đạp công kích vào Brno từ hướng Đông.
Mũi tấn công của Cụm kỵ binh cơ giới 1 cũng được điều chỉnh lại. Tướng I. A. Pliyev được lệnh không đánh vỗ mặt vào hướng Đông Nam thành phố mà chuyển sang hướng Tây thành phố. Quân đoàn kỵ binh cận vệ 4 tiến ra Těšany. Quân đoàn kỵ binh cận vệ 6 tiến đến Rouchovany. Quân đoàn cơ giới cận vệ 7 phải đánh chiếm được Medlov. Hướng tấn công từ Moravský Krumlov sẽ do Tập đoàn quân 53 đảm nhận. Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 phải tiến lên phía Bắc thành phố, cắt đứt liên lạc giữa Cụm quân Đức tại Brno với Tập đoàn quân xe tăng 1 đang đóng tại khu tam giác Prostějov - Olomouc - Přerov. Ngày 18 tháng 4, cả ba tập đoàn quân Liên Xô triển khai tấn công. Ngày 19 tháng 6, Quân đoàn kỵ binh cận vệ 6 tấn công vào khu vực Jihlava Svratka, giải phóng hơn 10 điểm dân cư. Sư đoàn kỵ binh cận vệ 13 đánh chiếm thành phố Ivančice. Cuối ngày 19 tháng 4, toàn bộ Cụm kỵ binh cơ giới cận vệ 1 đã tiến ra tuyến Rosice - Oslavany, vây bọc phía Tây Brno. Cùng ngày 20 tháng 4, Tập đoàn quân 53 đã áp sát ngoại ô phía Nam Brno. Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 đánh chiếm Křetín.
Ngày 21 tháng 4, tướng Hans Kreyzing tung ra một đòn phản kích lớn tại khu vực Šitbořice và Nový Dvůr. Tham gia cuộc phản công có các cụm tác chiến chiến đấu trận chiến "Johans", "Gordol" và Cụm tác chiến SS "Frundeberg". Ngày 22 tháng 4 một trung đoàn tăng và một trung đoàn pháo tự hành từ hướng Moravská-Ostrava đến khu vực phản kích. Các cụm tác chiến "Otto" và "Šlotau" cũng được huy động vào trận đánh. Quân đoàn bộ binh 49 (Tập đoàn quân 53) bị hơn 50 xe tăng và 35 pháo tự hành Đức cùng Cụm tác chiến sư đoàn cơ giới SS "Frundeberg" đẩy lùi về vị trí xuất phát ngày 19 tháng 4. 8 giờ sáng ngày 23 tháng 4, Phương diện quân Ukraina 3 bẻ gãy cuộc phản kích của quân Đức bằng cuộc đột kích nhanh của Quân đoàn xe tăng cận vệ 5 phối hợp với Quân đoàn cơ giới cận vệ 4 vừa được gửi từ Bratislava lên. Đến chiều cùng ngày, xe tăng Liên Xô đã đột nhập vào nội đô Brno. Chiến sự tiếp tục bùng nổ trên các đường phố Brno với cường độ vô cùng dữ dội với những trận đánh khốc liệt nhất diễn ra ở vùng đất cao Pratzen, chiến trường chính của trận Austerlitz lừng tiếng 140 năm trước đó. Ngày 26 tháng 4, Quân đội kỵ binh cận vệ 6 và Quân đoàn cơ giới cận vệ 7 bắt đầu tấn công vào trung tâm thành phố. Sau một ngày kịch chiến trên từng dãy phố và từng tòa nhà, chiều tối ngày 26 tháng 4 thành phố Brno đã sạch bóng quân Đức.
Sau khi giải phóng Brno, Tập đoàn quân 53 tiếp tục hành tiến tới Olomouc để hội quân với Phương diện quân Ukraina 4 nhằm bao vây chủ lực của Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức). Tại khu vực này, chiến sự kéo dài tới ngày 10 tháng 5 mới kết thúc. Tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 được điều trở lại khu vực Drigoles để từ đây, phối hợp với Tập đoàn quân cận vệ 7 mở một mũi đột kích nhanh theo con đường ngắn nhất về phía Nam Praha.
Kết quả và ảnh hưởng.
Kết quả.
Trong chiến dịch Bratislava-Brno, Phương diện quân Ukraina 2 đã tiến sâu hơn 200 km về phía Tây, tiêu diệt 9 sư đoàn Đức, giải phóng thủ đô của Slovakia và chuẩn bị cho đòn tổng tấn công vào Praha từ hướng Nam.
Thương vong của quân đội Liên Xô là 16.933 người chết và 62.663 người bị thương, bị ốm. Trong danh sách binh sĩ hy sinh có thiếu tướng Ye. S. Alyokhin, chỉ huy Quân đoàn bộ binh cận vệ số 27. Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Hiện chưa có số liệu rõ ràng về thương vong của quân đội Đức Quốc xã và Romania.
Ảnh hưởng.
Ở phía Tây Tiệp Khắc, Tập đoàn quân Mỹ số 3 do tướng George Smith Patton. Jr chỉ huy đã tiến đến tuyến České Budějovice - Plzeň - Karlovy Vary. Đây là tuyến giới hạn tấn công được I. V. Stalin, Franklin D. Roosevelt và Winston Churchill thỏa thuận tại Hội nghị Yalta từ ngày 4 đến 11 tháng 2 năm 1945. Trên lãnh thổ Tiệp Khắc, quân Đức chỉ còn kiểm soát được một phần vùng Bohemia, trong đó có thủ đô Praha và hầu như bị cô lập với các cánh quân Đức tại Berlin cũng như tại các vùng lãnh thổ khác của nước Đức.
Việc quân đội Liên Xô tiến ra tuyến có thể trực tiếp tấn công vào thủ đô của Tiệp Khắc cùng với sự kiện Tập đoàn quân 3 (Hoa Kỳ) tiếp cận biên giới Đức - Tiệp Khắc đã cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân Tiệp Khắc. Ngày 5 tháng 5, nhân dân Praha đứng lên khởi nghĩa chống lại ách chiếm đóng của Đức Quốc xã. Ngày hôm sau, các phương diện quân Ukraina 1, 2 và 4 mở chiến dịch Praha, chiến dịch lớn cuối cùng của quân đội Liên Xô tại châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Ghi công và tưởng niệm.
Một lần nữa, Moskva bắn pháo hoa cấp I chào mừng Phương diện quân Ukraina 2, hơn 60 đơn vị và cá nhân được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Chỉ riêng Quân đoàn cơ giới cận vệ 7 đã có 7 đơn vị và cá nhân được phong danh hiệu này. Hơn 30 đơn vị từ sư đoàn trở lên được mang tên các thành phố mà họ đã giải phóng, hơn 50.000 sĩ quan và binh sĩ Xô Viết được tặng thưởng huân huy chương các loại.
Cũng như ở các vùng đất khác của Séc và Slovakia, nhiều công trình văn hóa được dựng lên để tưởng niệm các sĩ quan và binh sĩ Xô Viết đã hy sinh để giải phóng Tiệp Khắc. Mặc dù sau khi khối Xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, nhiều công trình đã bị dỡ bỏ nhưng đến nay, vẫn còn một số công trình được giữ lại và tôn tạo. Ở trung tâm thành phố Bratislava có tượng đài "Chiến thắng" do Jozef Kostka thiết kế và được xây dựng năm 1946. Tại bờ Bắc sông Danube chảy qua Bratislava còn có một tấm bia tưởng niệm những người lính Xô Viết đã ngã xuống tại đây. Tại nhiều thị trấn và ngôi làng nằm trên vùng biên giới quốc gia giữa Séc với Slovakia, Áo và Hungary cũng có nhiều tượng đài kỷ niệm các chiến sĩ Hồng quân Xô Viết như Čebín, Nádražní Předměstí (quận Český Krumlov), Teplica... Tại quảng trường Moravská ở trung tâm Brno có một tượng đài kỷ niệm quân đội Xô Viết bằng đồng.
Từ năm 2005 đến nay, nhiều cuộc mít tinh kỷ niệm ngày chiến thắng phát xít Đức đồng thời cũng là ngày giải phóng Thủ đô Tiệp Khắc được khôi phục và diễn ra xung quanh các công trình kỷ niệm này. | 1 | null |
Môn chơi gồm cây gậy (cơ) đẩy những trái bi trên một mặt bàn, đang là môn thể thao thịnh hành ở nhiều nơi. Ở châu Âu, người ta bắt đầu chơi bida từ thế kỉ 13, trên những chiếc bàn bằng đất nện, xung quanh có bờ cỏ. Có tài liệu chép vào năm 1469, tức là 16 năm sau khi bị quân Thổ xâm chiếm, đã có bàn bida. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa thống nhất được là bida ở nước nào đầu tiên. Riêng ở Pháp, sử sách ghi rõ: chiếc bàn bida bằng gỗ đầu tiên có từ thời vua Louis 11; tác giả là ông Henri de Vigue đã đóng cho vua chơi. (Viện bảo tàng Pháp còn lưu giữ hình ảnh chiếc bàn này)
Vào năm 1643, người Hà Lan đổ bộ lên New York (lúc đầu đặt tên là Tân Hà Lan) và du nhập bida vào đây. Chẳng bao lâu, các hội bida mọc lên khắp 2 miền Nam – Bắc Mỹ. Ở châu Âu, từ thế kỉ 17, ở Đức – Áo đã bắt đầu chơi bida; ở Bắc Âu thì bida vào Đan Mạch năm 1766, rồi qua Thuỵ Điển, Na Uy, Phần Lan.
Về phía Đông, cũng chính người Hà Lan đã chiếm Indonesia năm 1636 và đưa bida tới đây. Đến năm 1560 thì Nhật Bản được biết môn bida do các thủy thủ Hà Lan mang tới. Ngày nay, Nhật Bản là nước có nhiều CLB bida nhất và cũng đã sản sinh ra nhiều tay vô địch bida. Đứng đầu hiệp hội bida Nhật là ông Tsuneyoshi Takeda, một thành viên trong Ủy ban Olympic quốc tế.
Lịch sử.
Bida là một trò chơi ngoài trời trên nền đất có dùng bi và gậy từ thế kỷ 14. Sau đó người ta chuyển trò chơi này vào trong nhà. Có bằng chứng cho thấy bàn bida xuất hiện vào năm 1470, Vua Louis XI của Pháp đã mua một chiếc bàn như thế. Trò chơi này trở nên phổ biến trong các giới hoàng gia, Mary một Nữ hoàng của Scots trong thời gian chờ đợi hành hình vào năm 1586 còn phàn nàn rằng bà đã bị tịch thu cả bàn bida. Trò chơi này phổ biến ở những nơi công cộng và trong các nhà trọ. Năm 1591, nhà thơ người Anh Edmund Spenser đã lên án "balyards" như một thú tiêu khiển xa hoa.
Những quyển sách đầu tiên chỉ dẫn về trò chơi này được viết vào thế kỷ 17 tại nước Anh và Pháp. Vào thời gian đó người ta dùng một dụng cụ bằng gỗ để đẩy bóng cơ gọi là gậy chơi bida (mace), có đầu tù tựa vào bàn. Một hình cung nhỏ trên mặt bàn là bia. Trong thế kỷ 18, hình cung nhường chỗ cho túi lưới đựng bida, gậy (mace) được thay bằng cơ và chỉ được chống một tay. Người Anh đã hình thành nên một lối chơi mà sau đó gọi là bida Anh, kết hợp cả túi lưới và cú đánh liên tiếp nhiều bi (carom), lối chơi vẫn phổ biến đến tận những năm 1930. Người Pháp lại chỉ chú trọng vào kiểu đánh carom và đến giữa thế kỷ 19 họ mới chơi bàn không có lỗ.
Bida được xem là một trò chơi yêu cầu độ chính xác và nghệ thuật cao trong suốt giai đoạn đầu thế kỷ 19 sau khi xuất hiện một loạt những tiến bộ kỹ thuật như: sáng tạo ra loại đầu bịt bằng da, sử dụng phấn để tăng độ ma sát giữa đầu cơ và bóng cơ và dùng đá phiến để làm mặt bàn và băng bằng chất liệu cao su.
Các loại hình Billiards & Snooker.
Snooker.
Môn snooker được đại tá Sir Neville Chamberlain phát minh ra ở Ấn Độ năm 1845 là một trò chơi tâm lý với những quy luật khá đơn giản. Các tay cơ phải đánh 15 quả đỏ lần lượt với 1 quả trong 6 quả màu khác vào lỗ. Mỗi quả đỏ được tính 1 điểm, những quả màu khác từ 2 đến 7 điểm.
- Snooker là trò chơi cơ phổ biến nhất ở nước Anh và các nước trước đây là một phần của Đế chế Anh. Bàn snooker điển hình có kích thước là 2x4 m (6x12 ft) gồm 6 lỗ.
- Bộ bi Snooker gồm 1 bi cái, 15 bóng mục tiêu đỏ không đánh số (gọi là bóng đỏ), 6 bóng mục tiêu màu không đánh số (gọi là bóng màu). Bóng đỏ: 1 điểm, vàng: 2 điểm, xanh lá cây: 3 điểm, nâu: 4 điểm, xanh da trời: 5 điểm, hồng: 6 điểm, đen: 7 điểm. Nội dung chơi là ai ghi được nhiều điểm hơn thì người đó thắng.
- Điểm có thể được ghi bằng 2 cách: từ lỗi của đối thủ hoặc ghi điểm trực tiếp. Muốn ăn một bi màu thì phải ăn một bi đỏ rồi mới được ăn một bi màu trong một lượt đánh. Nếu bi màu đã được đánh vào lỗ rồi thì lại được nhặt lên đặt vào vị trí ban đầu. Cứ ăn 1 đỏ rồi 1 màu, cứ như vậy cho đến khi nào không còn bi đỏ trên bàn thì người chơi bắt đầu đánh 6 bi màu nhưng phải theo thứ tự bi 2 điểm (vàng) đến bi 7 điểm (đen) và kết thúc ván.
Những quả đỏ vào lỗ sẽ được ở lại đó, còn các bi màu sẽ được để lại chỗ cũ khi vẫn còn bi đỏ trên bàn. Khi không còn bi đỏ, các viên bi màu sẽ được đánh vào lỗ theo trật tự điểm. Một ván được xem là kết thúc khi một bên giành số điểm áp đảo mà đối phương không thể đuổi kịp hoặc bi được đánh hết trên bàn.
Mỗi trận có 17 ván và có thể kéo dài 8 giờ. Các tay cơ sẽ di chuyển khoảng 5 km, và giảm chừng 4 kg.
Snooker là một phương trình với rất nhiều ẩn số trong đó tâm lý đóng một vai trò rất quan trọng. Các điều kiện ngoại cảnh khác như bụi, độ ẩm mặt nỉ cũng có thể thay đổi đường chạy của bi.
Nếu mặt trời chiếu vào bàn thì bi sẽ chạy nhanh hơn, nếu lạnh nó sẽ chuyển động chậm lại. Bởi vậy, các tay cơ chuyên nghiệp thường chơi trong phòng có rèm và ở nhiệt độ chuẩn 18'C. Mặt bàn được sưởi.
Trước mỗi trận đấu, người ta căng lại tấm nỉ. Hút sạch những hạt bụi nhỏ nhất. Các tay cơ chuyên nghiệp chơi với cơ gồm hai phần bằng gỗ sồi. Trong khi bi-a thông thường được chơi trong các CLB sặc khói thuốc lá, bia và rượu nặng thì snooker luôn có vị trí trang trọng trong các CLB Snooker.
Người chơi mặc smoking hoặc sơ mi, đeo nơ rất lịch sự. Ở Vương quốc Anh, Trung Quốc và Thái Lan, snooker được xem là môn thể thao quần chúng rất được ưa chuộng. Chỉ tính ở Anh có 350 giờ snooker được truyền hình/năm và xếp vị trí thứ 2 sau bóng đá.
Billiards.
Billiards bao gồm một nhóm các trò chơi trên bàn hình chữ nhật, bàn có chiều dài gấp đôi chiều rộng. Bi được đẩy bởi một cây gậy vót thon, đầu bịt da gọi là gậy bida (cơ). Đường viền xung quanh bàn là đường biên (băng), mà bi bật trở lại, làm bằng chất liệu cao su. Kích thước của bàn có chiều rộng từ 0.9 đến 1.8 m (3 đến 6 ft), chiều dài từ 1.8 đến 3.6 m (6 đến 12 ft). Bề mặt của bàn bằng phẳng, gọi là "đệm", thông thường làm bằng đá phiến được bao phủ bằng lớp vải mịn êm, thường người ta bọc vải màu xanh. Một cơ điển hình dài 145 cm (57 in), nặng 538 g (19 oz) và kích thước của đường kính đầu bịt là 1.2 cm (0.5 in). Chất liệu của bi trước đây bằng ngà voi nhưng bây giờ làm từ tổng hợp các hợp chất cứng, kích cỡ từ 5 cm (2 in) đến 6 cm (2.4 in). Bi trắng mà người chơi đánh bằng đầu gậy cơ được gọi là bi cơ. Những viên bi còn lại có màu sắc được gọi là bi mục tiêu.
Pool.
Pool, đôi khi gọi là bida túi lưới được chơi phổ biến nhất ở Mỹ và nhiều nước khác. Bàn pool nhỏ hơn bàn bida carom hoặc snooker và có 6 túi lưới. Kiểu chơi phổ biến nhất bao gồm 8 bóng, 9 bóng, chơi luân phiên và pun đơn giản. Hai cơ thủ người Mỹ nổi tiếng là những cơ thủ chơi pun tự do là Ralph Greenleaf và Willie Mosconi, họ chơi thành công nhất ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20.
Lối chơi 9 bóng đòi hỏi thủ thuật khôn khéo và cách đánh tinh xảo đã hấp dẫn khán giả hơn lối chơi pool tự do. Từ những năm 1970, lối chơi này dường như chỉ dành riêng cho những giải thi đấu chuyên nghiệp. Người ta sử dụng bi đánh số. Đầu tiên bóng cơ phải chạm vào bi đánh số thấp nhất, sau đó nếu có bi nào lọt xuống lỗ thì cơ thủ tiếp tục đánh những bi khác. Cơ thủ nào ăn được bi số 9 thì sẽ thắng.
Các cơ thủ nghiệp dư chơi ở những quán công cộng, các CLB tư nhân, tại nhà và trên các bàn nhỏ ở quán rượu tiêu tiền xu đã trở nên phổ biến rộng rãi vào những năm 1970, tại đây lối chơi 8 bóng được chơi phổ biến hơn cả. Lối chơi này sử dụng 15 bi đánh số liên tiếp. Một cơ thủ đánh bi mà được đánh số cao hơn số 8 còn đối thủ của anh ta đánh bi còn lại (có số nhỏ hơn số 8), người thắng cuộc là người phải thọc được tất cả số bóng của mình vào lưới rồi cuối cùng là bi số 8.
Bida 8 bóng được chơi trên bàn bida có 6 lỗ và với 15 bi (đánh số thứ tự từ 1 đến 15) được chia làm 2 nhóm. Nhóm màu là nhóm có số từ 1-7, nhóm khoang có số từ 9-15, còn bi số 8 là bi màu đen. Ngoài 15 bi mục tiêu còn có 1 bi cái màu trắng. Khi chơi, 2 người chọn 2 nhóm bi. Ví dụ, chọn nhóm khoang thì phải đánh hết các bi ở nhóm khoang (9-15) rồi sau đó mới được phép đánh bi số 8. Nếu ai ăn được bi số 8 thì người đó thắng. Định ăn bi số 8 lỗ nào thì phải chỉ lỗ ấy. Khi bắt đầu trò chơi, bi số 8 được xếp ở giữa, bi khoang và màu ở 2 đỉnh tam giác.
Bida 9 bóng được chơi trên bàn có 6 lỗ, gồm có 1 bi cái và 9 bi mục tiêu được đánh số từ 1-9. Ở mỗi lần đánh bi đầu tiên mà bi cái chạm vào phải là bi có số thấp nhất ở trên bàn và phải ăn lần lượt từ bi số 1 đến bi số 9. Nếu một người ăn được một bi thì lại được đánh tiếp và đối thủ nào ăn được bi số 9 thì người đó thắng. Bida 9 bóng lúc bắt đầu trò chơi, bóng được xếp như hình quả trám, bi số 9 ở giữa, bi số 1 ở điểm cuối (foot spot).
Billiard Carom.
Là cách chơi billiards theo đó người chơi đánh bi của mình (bi chủ) chạm liên tiếp bi đỏ và bi của đối phương. Khi đánh cú khai cuộc, bi đỏ được đặt ở điểm cuối bàn (điểm giữa theo chiều dài bàn và cách băng cuối 71 cm), bi đối phương được đặt ở điểm đầu bàn (tương tự điểm cuối) và bi của đấu thủ khai cuộc được đặt cách ngang bi đối phương 18 cm (trái hoặc phải). Người đánh cú khai cuộc phải đánh bi chủ chạm vào bi đỏ trước tiên. Ở lần đánh tiếp theo có thể chạm bất cứ bi nào trước cũng được.
Bida carom thường được chơi trên bàn không túi lưới, kích thước là 1.5 x 3 m (5 x 10 ft), dùng hai bi cơ (mỗi bi cho một người chơi) và một hoặc hai bi mục tiêu. Đây được gọi là lối chơi bida tự do, hoặc đơn giản, lối chơi này được chơi rộng rãi nhất, một điểm được ghi bằng cách đánh bi cơ chạm vào bóng mục tiêu này đến bóng mục tiêu khác. Lối chơi khó hơn là carom băng, trước khi chạm một hoặc hai bi mục tiêu thì bóng cơ phải chạm nhiều hơn một lần vào thành bàn (băng). Lối chơi balkline là kiểu chơi trong đó người ta vẽ các vạch trên mặt bàn mà người chơi chỉ được phép chơi trong các giới hạn đó. Lối chơi khó nhất là bida 3 băng, trước khi chạm 1 hoặc 2 bi cơ phải chạm vào 3 băng trở lên. Bida tự do (đơn giản), mà vẫn rất phổ biến ở châu Âu, Mỹ La Tinh và châu Á, đã dần mất tính phổ biến ở Mỹ trong thời kỳ nước Mỹ bị chia cắt trước chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945). Nó được thay thế bởi lối chơi bida 3 băng. Ba người Mỹ là Jake Schaefer, Jr., Welker Cochran và Willie Hoppe đã thống trị lối chơi Balkline và 3 băng từ năm 1910 đến 1952. Sau đó Allen Gilbert trở thành cơ thủ hàng đầu. Trên trường quốc tế, Raymond Ceulemans người Bỉ là cơ thủ thống trị lối chơi 3 băng, anh giành được danh hiệu vô địch thế giới nhiều lần và được coi là một cơ thủ huyền thoại. Torbjorn Blomdahl người Thụy Điển trở thành cơ thủ chơi 3 băng xuất sắc nhất những năm 1990.
Billiard (Carom 3 băng)(3 cushion carom) - Trước khi chạm 1 hoặc 2 bi, bi chủ phải chạm ba lần vào băng - Khi 3 bi bị dính, bi được đặt lại thẳng hàng như sau: bi chủ đặt tại điểm đầu bàn, bi đỏ đặt điểm cuối bàn, bi đối phương đặt điểm giữa bàn (cách đều 2 bi kia)
Billiard (Carom 1 băng) (1 cushion carom)
- Trước khi chạm 1 hoặc 2 bi, bi chủ phải chạm một lần vào băng (chạm vào thành bàn)
- Người đánh bị mất lượt trong các trường hợp sau:
Bi rơi ra khỏi bàn
Bi văng lên rồi đứng yên trên thành bàn
Chân người đánh không chạm sàn
Quần áo hoặc bộ phận nào đó của cơ thể chạm vào bi
Chạm bi chủ 2 lần
- Nếu bi chủ dính bi mục tiêu thì bi chủ được đặt lại vào vị trí quy định và bi mục tiêu ở nguyên vị trí. Trong trường hợp điểm quy định đã bị mục tiêu khác choán chỗ thì bi choán chỗ phải được dời về vị trí quy định.Billiard (Libre) (Tự do) - Một bi chạm 2 bi còn lai dưới bất kỳ hình thức nào - Khi bi chủ bị dính vào một trong hai bi còn lại, đấu thủ sẽ tiếp cú đánh ở vị trí khai cuộc
Kích thước bàn Billiard.
Theo tiêu chuẩn thi đấu, mặt bàn billiards phải được làm bằng những phiến đá tự nhiên có bề dày tối thiểu 2,54 cm, không biến dạng trước sự thay đổi của nhiệt độ hay môi trường. Mặt bàn thường làm bằng 3 phiến đá ghép lại để dễ di chuyển cũng như điều chỉnh độ phẳng. Điểm bắt buộc là điểm nối giữa những phiến đá phải thật phẳng, sai số cho phép không quá 0,04mm. Để đảm bảo độ phẳng, mặt bàn chỉ được phép sai số giữa 2 đầu chiều dài là 0,4mm và 0,2mm theo chiều ngang. Ngoài ra, mặt bàn không được võng xuống quá 0,7mm khi có vật nặng 90 kg đặt lên trên. Mặt bàn được phủ 1 lớp vải với thành phần chính làm từ len và được căng đúng mức để không ảnh hưởng đến đường lăn của bi. Băng (mặt trong của bàn billiards) phải được làm bằng cao su đặc và chìm sâu khi thả xuống nước. Khi đánh mạnh, bi chạm băng bật ra phải không bị nhảy. Lớp vài bọc căng được kéo căng ở mức nhất định và lớp vải này phải nổi khi thả trên nước. Vải có chất lượng tốt phải có thành phần gồm 75% len và 25% nylon. Ngoài ra, bàn billiards còn phải đáp ứng một số tiêu chuẩn khác như bàn phải cao 75/80 cm, băng cao 3,6/3,7 cm, kích thước bàn lọt lòng 142x284cm, kích thước phủ bì 168x310cm.
Các loại bàn.
Có hai loại bàn sau đây được chơi thịnh hành hơn cả:
Các tay cơ nổi tiếng.
Quốc tế.
Cơ thủ snooker huyền thoại là Joe Davis người Anh, ông nghỉ hưu vào năm 1946 sau 20 năm bất bại. Ông ghi được 100 điểm hoặc 687 lần thọc bi vào lưới. Sau đó, Horace Lindrum người Úc đã phá vỡ kỷ lục của ông. Sang thập niên thứ nhất của thế kỷ 21, cơ thủ O'Sullivan là số 1 vương quốc Anh và thế giới ở thể loại này. O'Sullivan đã vô địch toàn Anh và thế giới nhiều lần từ năm 2000 đến nay, ông cũng đã đi tour đấu khắp nơi trên thế giới. Người ta gọi ông là Pele của snooker, ông đã 5 lần vô địch thế giới snooker và kiếm được hơn 10 triệu bảng Anh tiền thưởng. Đáng chú ý là ông có tour giao hữu với nữ cơ thủ xinh đẹp số 1 Đài Loan - Pan Xiaoting ở thể loại billiard 9 pool cũng như snooker sở trường.
Việt Nam.
Trò chơi billiard đã xuất hiện trên thế giới hơn một nửa thế kỷ nay. Tại Việt Nam thời Pháp thuộc đã xuất hiện các bàn billiard Pháp (3 bi) trong các Câu lạc bộ sĩ quan để tầng lớp thượng lưu và các sĩ quan giải trí.
Trước thời kỳ 86-87 ở Việt Nam phong trào billiard tồn tại mang tính tự phát chủ yếu nhằm phục vụ mục đích giải trí, ở phía bắc phổ biến chơi billiard lỗ (pool). Ở phía nam thì phổ biến loại hình Bi-da (caroom).
Cuối năm 1996, ông Hoàng Vĩnh Giang, giám đốc sở thể dục thể thao đi công tác ở nước ngoài mang tài liệu về Việt Nam với ý tưởng đưa trò chơi này phát triển thành một môn thể thao cho người Việt
Người được giao trọng trách này là ông Đoàn Đức Đính, một người lúc đó là chủ một Câu lạc bộ tập hợp rất nhiều cơ thủ giỏi của Hà Nội.
Ngay khi bộ môn Billiard-Snooker được thành lập, giải Seagame 19 tại Indonesia Billiard-Snooker Việt Nam ra quân thành công rực rỡ với 1HCV của Lý Thế Vinh, 1HCB của Dương Hoàng Anh và 2HCĐ của Đặng Đình Tiến và Lê Phúc Lợi. Sau những thành công ngoài mong đợi của lần đầu tiên ra quân Billiard-Snooker Việt Nam đã được nhà nước mạnh dạn đầu tư và gạt hái được rất nhiều thành tích tại các giải quốc tế: | 1 | null |
Chất kháng nọc độc (tên chung quốc tế: Snake antivenom serum (WHO) hoặc Snake venom antiserum) là một sản phẩm sinh học được dùng để trị vết cắn hoặc chích có nọc độc .
Dược lý và cơ chế tác dụng.
Chất kháng nọc độc được tạo ra từ nọc độc lấy từ rắn, nhện hoặc côn trùng tương ứng. Độc được làm loãng và tiêm vào ngựa, cừu hoặc dê. Vật chủ sẽ trải qua quá trình phản ứng miễn dịch với độc, sinh ra kháng thể chống lại chất độc. Những kháng thể này có thể được lấy từ máu của vật chủ và dùng để trị thương do nọc độc.
Phương pháp sử dụng huyết thanh để điều trị nạn nhân bị rắn độc cắn đã có từ cuối thế kỷ 19. Đây được xem là phương pháp điều trị có hiệu quả và phổ biến nhất, tính đặc hiệu trong kháng nọc của nó giúp giảm tỷ lệ tử vong khoảng bảy - mười lần.
Có nhiều loại nọc rắn tuỳ theo loài rắn và vùng địa lý mà chúng cư trú. Do đó cần phải dùng một huyết thanh đặc hiệu đối với một hoặc nhiều loại nọc độc. Như nọc độc của rắn hổ mang (Cobra) thường có độc tố thần kinh gây ức chế các trung tâm thần kinh; nọc độc của rắn hổ lục thường tác động qua độc tố hemotoxin gây rối loạn đông máu...
Chỉ định.
Rắn độc cắn khi có biểu hiện rõ nhiễm độc toàn thân hoặc có biểu hiện tại chỗ . Rắn độc được xếp loại tùy theo ảnh hưởng vượt trội của nọc độc. Những loại rắn thuộc họ rắn hổ thường có nọc độc gây ảnh hưởng đến thần kinh và tim, gây ra các triệu chứng tê liệt cơ bắp và tắc nghẽn đường hô hấp. Nếu vết cắn đủ sâu thì triệu chứng đối với tim và hệ thần kinh sẽ xảy ra ngay.
Mức độ tác động của nọc độc phụ thuộc ở đường vào của vết cắn. Nếu vết cắn đưa nọc vào dưới da hay bắp thịt thì tác động nọc sẽ chậm, do phải mất thời gian hấp thu độc chất vào máu. Song nếu vết cắn vào ngay mạch máu, người bị rắn cắn sẽ tử vong nhanh chóng hơn..
Sau khi bị rắn cắn, phải bất động ngay chi bị cắn và tốt hơn nữa là cả người bị rắn cắn nếu có thể được, để hạn chế sự lan rộng nọc độc. Người bị rắn cắn phải được giữ ấm, chuyển đến bệnh viện gần nhất và sớm nhất, cởi bỏ các vòng hoặc các vật thắt chặt khác. Nếu con rắn cắn đã bị giết, phải đem nó đến bệnh viện để nhận dạng. Bất kể bệnh sử lâm sàng của người bị rắn cắn, phải thử nghiệm trong da về tính mẫn cảm trước khi tiêm huyết thanh kháng nọc rắn . | 1 | null |
Vả, tên khoa học Ficus auriculata, là một loài cây thuộc chi "Ficus", nó có quả giống như sung nhưng lớn hơn và có lá to hơn. Đây là loài có nguồn gốc Hymalaya, miền nam Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Là loài cây thường xanh, nhưng trong một số vùng khí hậu, nó có thể rụng lá trong mùa đông..
Trong văn hóa đại chúng.
Trong dân gian có câu "Lòng vả cũng như lòng sung" để ám chỉ một điều lòng ta thế nào thì lòng người cũng thế. Ta sao người vậy, chớ vội chê người mà không xét mình. Câu thành ngữ "ăn quả vả trả quả sung": Quả vả và quả sung cùng thuộc một loài, nhưng quả vả to gấp mười quả sung, và ngon hơn quả sung. Ăn quả vả trả quả sung là ăn của người ta nhiều mà trả người ta thì ít, nợ ơn thì to mà trả ơn thì nhỏ.
Ẩm thực.
Quả vả có thể dùng để chế biến một vài món ăn giống như rau. | 1 | null |
Du Ma Địa, còn gọi là "Waterloo" (xem phần Tên gọi), là một khu vực của quận Du Tiêm Vượng ở phía nam bán đảo Cửu Long, Hồng Kông.
Tên gọi.
"Du Ma Địa" (Phồn thể:油麻地, Bính âm"Yaumatei", Tiếng Anh: "Yau Ma Tei") trong bính âm còn có thể đọc là "Yau Ma Ti", "Yaumati" hoặc "Yau-ma-Tee". Du Ma Địa cùng với Tiêm Sa Chủy và Vượng Giác được gộp lại từ những chữ cái đầu tiên để đặt tên cho quận Du Tiêm Vượng, Hồng Kông.
Chữ "Du" (油) có nghĩa là "dầu", "Ma" (麻) có thể là "vừng" hoặc "cây đay", còn "Địa" (地) có nghĩa là "đồng ruộng" hoặc "vùng đất". Do vậy, "Du Ma Địa" có thể giải thích nghĩa là "cánh đồng dầu mè" hoặc "vùng đất dầu và cây đay". Hai cách giải thích này có lẽ là nguyên nhân vì sao có đến hai cách giải thích về nguồn gốc của tên gọi địa danh Du Ma Địa.
Khu vực này còn có tên tiếng Anh là Waterloo, dựa theo tên của đường Waterloo nằm trong khu vực này. Tên này từng được sử dụng cho ga tàu điện MTR khi nó được mở vào năm 1979.
Địa lý.
Du Ma Địa giáp với Vượng Giác về phía bắc bởi Đường Dundas và tiếp giáp với Tiêm Sa Chủy ở phía nam bởi Đường Austin (柯士甸道). Phía tây là cảng Victoria còn phía đông là vùng đồi Hà Văn Điền.
Phía nam của Du Ma Địa ban đầu được gọi là Quan Dũng (Kwun Chung), nhưng sau này được gọi là Jordan sau khi Ga tàu điện Jordan được khánh thành tại trung tâm khu vực.
Lịch sử.
Du Ma Địa là một ngôi làng ở Cửu Long. Tên ngôi làng còn đề cập đến việc khi nghĩa địa của người Trung Quốc bị sang nhượng ở phía đông bắc vào ngày 2 tháng 9 năm 1871.
Cái tên Du Ma Địa không có ý muốn nhắc đến sự thống trị của người Anh trước kia. Tuy nhiên, Quan Dũng đã được đề cập đến trong một số tư liệu lịch sử. Quan Dũng là một khu vực đồng bằng châu thổ với nhiều ngôi làng sản xuất nông nghiệp. Trên ngọn đồi phía nam gần bờ biển là Pháo đài Quan Dũng được xây bởi một viên quan Trung Quốc (Nhà Thanh) là Lâm Tắc Từ để phòng thủ chống lại thực dân Anh. Trong trận Quan Dũng năm 1839, pháo đài này cùng với Pháo đài Tiêm Sa Chủy đã ngăn chặn không cho thực dân Anh chiếm được Cửu Long. Pháo đài này cùng với ngọn đồi bị phá sập trong giai đoạn đầu lúc thực dân Anh chiếm được Cửu Long.
Trước khi Cửu Long được nhượng lại cho thực dân Anh vào năm 1860, Du Ma Địa từng là vịnh và bãi biển tụ tập rất nhiều ngư phủ người Tanka. Cho đến khi chính phủ Hồng Kông khai khẩn đất đai ở đây thì họ vẫn còn sinh sống. Khu trúc bão Du Ma Địa trở thành khu vực thu hút của khách ngoại quốc nơi đây có các nhà hàng trên mặt nước chuyên cung cấp các loại thủy sản địa phương. "Thực phẩm của khu trú bão" vẫn còn nổi tiếng cho đến ngày nay thậm chí là còn được vận chuyển vào trong đất liền. khu trú bão không chỉ là nơi duy nhất mà các ngư dân sinh sống, ngoài ra còn các cảng ở Hong Kong. Có rất nhiều bến tàu (ụ tàu) được xây dọc các cảng.
Bến phà ở phía nam Du Ma Địa là trục giao thông huyết mạch nơi mà hành khách có thể đến và trở về từ Đảo Hồng Kông. Dịch vụ được cung cấp bởi Phà Hồng Kông và Du Ma Địa.
Trong đất liền, khai hoang nhằm để biến Hồng Kông thành nơi định cư lâu dài, các đại lý bán lẻ cũng ra đời. Đường Thượng Hải là con đường trung tâm lúc trước nay đã bị đường Nathan (彌敦道) giành mất vị trí.
Dọc theo đường Waterloo là chợ trái cây có niên đại khoảng một thể kỷ và ngày bên cạnh là rạp chiếu phim Du Ma Địa, rap chiếu phim lớn nhất ở Cửu Long. Bệnh viện Quảng Hoa là bệnh viện đầu tiên ở bán đảo Cửu Long được khánh thành năm 1911. Trụ sở YMCA và nhà trọ của nó ở Hồng Kông cũng nằm trên con đường này.
Y tế.
Bệnh viện Quảng Hoa, điều hành bởi sự từ thiện của tập đoàn bệnh viện Đông Hoa, là bệnh viện lớn đầu tiên của khu vực. Về mặt lịch sử, có một bệnh viện khác được xây ở ngọn đồi phía đông bắc bệnh viện Kwong Wah chuyên trị bệnh đậu mùa (油蔴地痘局). Ngoài ra còn có bệnh viện Nữ hoàng Elizabeth được sáng lập bởi chính phủ Hồng Kông cũng là một bệnh viện lớn trong khu vực.
Thắng cảnh.
Khu vực này phần lớn là nhà ở và các cửa hàng bán lẻ. Hằng đêm các tiểu thương còn buôn các loại mặt hàng khác như quần áo, vật trang trí, sách đĩa ở đường Temple. Gần đó có một di tích nổi tiếng là Thiên Hậu Miếu được xây dựng vào năm 1876. Ngôi đền năm trên đường Public Square. Quảng trường được gọi là Dung Thụ Đầu, đã từng là một khu chợ đêm.
Bảo tàng.
Bảo tàng sở thích và trò chơi quốc tế Hồng Kông (香港國際玩具博物館), tọa lạc ở số 330 đường Thượng Hải, trưng bày mô hình, đồ chơi và lưu giữ các loại hình văn hóa dân gian hiện đại trên toàn thế giới. Vật trưng bày bao gồm xe đồ chơi, búp bê, mô hình cử động, nhân vật hoạt hình, bộ sưu tầm về khoa học viễn tưởng, mô hình rocket, hoạt hình Nhật Bản, đồ chơi cổ điển.
Bảo tàng bệnh viện tập đoàn Đông Hoa bên trong Bệnh viện Quảng Hoa trưng bày lịch sử Bệnh viện của tập đoàn Đông Hoa và sự liên kết chúng với người dân Hồng Kông, nó cũng nằm tại khu vực Du Ma Địa.
Công trình công cộng.
Công viên Thịnh Vượng.
Trong những năm 1980, chính quyền giao dự án quy hoạch lại đường Lợi Đạt () và đường Tường Thụy () ở Du Ma Địa (hai còn đường này sau đó bị xóa sổ trong dự án quy hoạch lại) cho Tập đoàn nhà đất Hồng Kông. Cuối cùng nó trở thành Công viên Thịnh Vượng (), "Kế hoạch cải thiện đô thị" về bất động sản ở đường Public Square trong giai đoạn 1, bao gồm lô số 1, 2 và 5, đã hoàn thành vào năm 1991. Lô 1 và 2 đều được bán trong khi lô 5 thì được cho thuê. Giai đoạn 2, gồm lô số 3 và 4, được hoàn thành vào năm 1995 được bán đi.
Hải Phú Uyển.
Hải Phú Uyển () là sự kết hợp giữa kế hoặc sở hữu nhà và bất động sản công cộng được xây trên đất khai hoang của Khu trú bão Du Ma Địa khi trước. Đây là dự án bất động sản công cộng duy nhất được thực hiện bởi Sở nhà đất Hồng Kông tại quận Du Tiêm Vượng. Nó bao gồm 6 lô được hoàn thành vào năm 1999 và 2004.
Giáo dục.
Cao đẳng Hoa Nhân, Cửu Long tọa lạc tại Du Ma Địa. Đây là trường dành cho nam sinh.
Trường cao đẳng Hội giám lý Du Ma Địa. Là một trường EMI dành cho cả nam sinh lẫn nữ sinh.
Giao thông.
Đường Nathan đi từ bắc tới nam qua trung tâm của Du Ma Địa. Phần lớn các tuyến xe buýt đều theo đường Nathan để đến khu vực phía bắc Cửu Long và Tân Giới. Tàu điện ngầm MTR qua lại phía bên dưới lòng đất. Du Ma Địa là khu vực của hai tuyến tàu điện ngầm là Thiên Loan và Quan Đường. | 1 | null |
George Washington Gale Ferris, Jr. (14 tháng 2 năm 1859–22 tháng 11 năm 1896) là một kỹ sư người Mỹ nổi tiếng bởi tạo ra Vòng quay khổng lồ Ferris Wheel tại Hội chợ Triển lãm Thế giới Columbia tổ chức tại Chicago năm 1893.
Thời niên thiếu.
Ferris sinh ngày 14 tháng hai, 1859 tại Galesburg, Illinois, thị trấn mang tên dòng họ George Washington Gale. Đấng sinh thành là ông George Washington Gale Ferris Sr. và bà Martha Edgerton Hyde. Ông còn có một anh trai tên là Frederick Hyde sinh năm 1843. Năm 1864, năm năm sau khi Ferris ra đời, gia đình ông bán trang trại bò sữa và chuyển tới vùng Nevada. Trong hai năm đầu gia đình ông sống tại Carson Valley.
Từ 1868 tới 1890, bố ông George Washington Gale Ferris Sr., sở hữu Sears-Ferris House, tại 311 W. Third, Carson City, Nevada. Ban đầu được xây bởi Gregory A. Sears năm 1863, vốn là một doanh nhân tiên phong của Carson City, tòa nhà hiện đã được đưa vào danh sách các di tích quốc gia của Thành phố Carson City vào 9 tháng 2 năm 1979.
Ferris cha vốn là một nhà nông nghiệp, đóng góp đáng kể cho sự phát triển của Carson City, đặc biệt vào thập kỷ 1870s, và cũng là người đã nhập về một lượng lớn các loại cây từ vùng phía đông mang về trồng khắp thành phố, tạo nên cảnh quan hiện tại.
Ferris con rời Nevada năm 1875, học tại California Military Academy tại Oakland, tốt nghiệp năm 1876. He graduated from Rensselaer Polytechnic Institute in Troy, NY, where he was a Charter Member of the local chapter of the Chi Phi Fraternity and a member of the Rensselaer Society of Engineers, in the class of 1881 with a degree in Civil Engineering. He was made a member of the Rensselaer Polytechnic Institute Alumni Hall of Fame in 1998.
Ferris bắt đầu sự nghiệp của mình trong ngành đường sắt, và rất hứng thú xây dựng cầu. He founded a company, G.W.G. Ferris & Co. in Pittsburgh, Pennsylvania, kiểm tra và giám định vật liệu đường sắt và cầu.
Nhà ông tại 1318 Arch Street, Central Northside, đã được đưa vào danh sách điểm đến lịch sử của Thành phố Pittsburgh vào năm 2001.
Bánh xe Ferris.
Tin về hội chợ World's Columbian Exposition sẽ được tổ chức vào 1893, tại Chicago, Illinois, đã thu hút Ferris tới thành phố này. Vào 1891, giám đốc hội chợ World's Columbian Exposition thông báo một cuộc thi cho các kỹ sư Mỹ đưa ra thiết kế một tượng đài/hình ảnh cho hội chợ, mà phải lấn át được Tháp Eiffel, biểu tượng của Hội chợ Quốc tế Paris năm 1889 tổ chức 4 năm trước đó. Những nhà tổ chức muốn một cái gì đó "nguyên gốc, mạnh bạo và duy nhất". Ferris đã tham gia với mô hình bánh xe vòng quay để từ đó khách tham quan có thể quan sát được toàn cảnh hội chợ, một bánh xe sẽ vượt qua hình ảnh tháp Eiffel. Những nhà tổ chức lại sợ rằng thiết kế của Ferris có thể không an toàn.
Bánh xe Ferris có 36 buồng, mỗi buồng có 40 ghế, có thể chứa tới 60 người, tổng cộng có thể chứa tối đa tới 2160 người. Khi hội chợ mở, nó đã mở cửa thu hút 38,000 lượt người một ngày, mất 20 phút để quay 2 vòng, vòng đầu dừng 6 lần để cho phép khách vào và ra, vòng 2 không dừng quay liên tục 9 phút, vé bán 50 cent. Vòng quay chuyên chở 2.5 triệu lượt người trước khi nó bị phá bỏ năm 1906.
Cái chết.
George Ferris mất ngày 22 tháng 11 năm 1896 tại Mercy Hospital Pittsburgh, Pennsylvania vì bệnh thương hàn (typhoid fever). Tro tàn của ông được lưu trữ ở nhà hỏa táng Pittsburgh hơn một năm, chờ đợi người nhà đến sở hữu. | 1 | null |
Giải thưởng Âm nhạc MTV Châu Âu ("MTV Europe Music Awards" hay "MTV EMAs" hay đơn giản "EMAs") là một giải thưởng thành lập năm 1994 bởi kênh truyền hình MTV châu Âu. Giải thưởng Âm nhạc Châu Âu được tổ chức hàng năm tại một quốc gia khác nhau; nó đã được tổ chức hầu hết ở Vương quốc Anh. Lễ trao giải hàng năm có các màn trình diễn của các nghệ sĩ nổi bật và việc trao các giải thưởng được nhiều người quan tâm hơn. Katy Perry là người duy nhất được làm dẫn chương trình hai lần liên tiếp là vào năm 2008 và 2009.
Các giải thưởng là sự phản ánh của nền âm nhạc quốc tế và châu lục. Họ đại diện cho quê hương và thành tích trong các thể loại và lĩnh vực âm nhạc đa dạng, cho thấy sự đa dạng và phạm vi của buổi biểu diễn. Kể từ lễ trao giải năm 2007, người xem có thể bình chọn cho nghệ sĩ yêu thích của họ ở tất cả các hạng mục chung bằng cách truy cập trang web của MTV.
Giải thưởng Âm nhạc MTV Châu Âu lần thứ nhất được tổ chức vào năm 1994 tại Cổng Brandenburg ở Berlin, Đức, 5 năm sau khi Bức tường Berlin sụp đổ . Buổi lễ thường niên được truyền hình trực tiếp trên kênh MTV Global, Channel 5 và hầu hết các kênh MTV quốc tế cũng như trực tuyến.
Sự kiện nổi bật.
2020s.
2020–2024.
2020: Buổi lễ được đăng cai vào ngày 8 tháng 11. Do đại dịch COVID-19 đang diễn ra , chương trình lần đầu tiên được tổ chức ảo và các buổi biểu diễn được quay ở nhiều địa điểm khác nhau trên thế giới. Buổi lễ được tổ chức bởi Little Mix , nhưng chỉ có ba thành viên của nhóm, Perrie Edwards, Leigh-Anne Pinnock và Jade Thirlwall, xuất hiện; Jesy Nelson không tham gia vì lý do sức khỏe. Sự kiện có màn trình diễn của Little Mix, Doja Cat (người đã trình diễn phiên bản Rock của đĩa đơn ăn khách ("Say So"), David Guetta, yungblud, Sam Smith và DaBaby. Những người chiến thắng khác trong đêm bao gồm Coldplay (cho Best Rock), Hayley Williams của Paramore (cho Best Alternative), Karol G (cho Hợp tác xuất sắc nhất và Bản Latin hay nhất), DJ Khaled (cho Video hay nhất) và Doja Cat (cho Nghệ sĩ Mới hay nhất), những người cũng đã gửi tin nhắn video được quay trước để cảm ơn người hâm mộ của họ.
2021: Buổi lễ được tổ chức tại Budapest , Hungary , bất chấp những tranh cãi nổ ra bởi luật chống LGBT do chính phủ Hungary thúc đẩy. Chris McCarthy, Giám đốc điều hành của MTV Entertainment Group Worldwide, giải thích rằng bất chấp luật pháp, MTV quyết định không chuyển chương trình để quảng bá thông qua việc ủng hộ cộng đồng LGBT của đất nước
2022: Buổi lễ được tổ chức tại PSD Bank Dome ở Dusseldorf , Đức vào ngày 13 tháng 11, do Rita Ora và Taika Waititi chủ trì . Ngoài ra Taylor Swift cũng tham dự EMAs lần đầu tiên sau 10 năm và giành được 4 giải thưởng bao gồm Video hay nhất và Nghệ sĩ xuất sắc nhất. Chương trình còn có các màn trình diễn của Ava Max, Bebe Rexha và GAYLE .
Hạng mục giải thưởng.
Có 16 hạng mục chính ("Hạng mục Chính") và 31 hạng mục địa phương được mở để bỏ phiếu. Các giải thưởng cho Video hay nhất và Đạo diễn toàn cầu được chọn bởi Nhóm biên tập âm nhạc của MTV và không đủ điều kiện để bình chọn. Tại thời điểm bỏ phiếu, người bỏ phiếu phải từ 13 tuổi trở lên và không được là nhân viên, đại lý hoặc đại diện của Viacom International Media Networks, một bộ phận của Viacom International, Inc. ("VIMN") hoặc bất kỳ công ty mẹ nào của Viacom International Media Network. công ty, chi nhánh hoặc các công ty liên quan.
Châu Âu
Các quốc gia còn lại
Kỷ lục.
Tính đến năm 2022, kỷ lục giành được nhiều giải thưởng Âm nhạc Châu Âu nhất thuộc về Justin Bieber, người đã tích lũy được 22 giải thưởng. Đối với một nghệ sĩ nữ, kỷ lục giành được nhiều giải nhất Europe Music Awards thuộc về Lady Gaga và Taylor Swift, những người đã thu về 12 giải thưởng. Kỷ lục giành được nhiều giải thưởng âm nhạc châu Âu nhất do một nhóm nhạc nam và nhóm nhạc nam giành được thuộc về BTS với 14 giải thưởng. Kỷ lục giành được nhiều giải thưởng nhất của một nhóm nhạc nữ thuộc về Little Mix, với 7 lần đoạt giải.
Được đề cử nhiều nhất (tính đến năm 2022)
Đề cử 52 lần
Đề cử 44 lần
Đề cử 41 lần
Đề cử 34 lần
Đề cử 33 lần
Đề cử 32 lần
Đề cử 30 lần
Đề cử 28 lần
Đề cử 24 lần
Đề cử 23 lần
Đề cử 22 lần
Đề cử 21 lần
Đề cử 20 lần | 1 | null |
Cầu Gián Khẩu là cây cầu nằm trên Quốc lộ 1 xuyên Việt. Là cây cầu nằm ở cửa sông Hoàng Long, nơi con sông này đổ vào sông Đáy. Cầu nằm giữa địa bàn 2 huyện Gia Viễn và Hoa Lư của tỉnh Ninh Bình.Ngày 30/1/2012, Cầu Gián Khẩu mới được xây dựng tại km 255+185 trên tuyến Quốc lộ 1 vượt qua sông Hoàng Long. Đây là một trong 11 công trình trọng điểm của Bộ Giao thông Vận tải được phát động thi công đầu năm. Cầu có tổng chiều dài 522,82m; bề rộng 12m do Tổng Công ty Xây dựng công trình giao thông 4; Công ty TNHH một thành viên xây dựng cầu 75; Doanh nghiệp Xây dựng Xuân Trường và Công ty Cổ phần Xây dựng 16 Thăng Long thi công trong thời gian 10 tháng.
Kiến trúc.
Cầu có 11 nhịp dẫn bằng dầm I bê tông cốt thép dài 33 mét, mố chữ U, trụ thân đặc, đặt trên nền móng cọc khoan nhồi có đường kính từ 1,2 đến 1,5 mét. Kinh phí xây dựng 270 tỷ đồng bằng nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ. Cầu Gián Khẩu nằm trên trục đường huyết mạch giao thông Quốc lộ 1 với trung bình có hơn 50.000 lượt xe qua lại/ngày – đêm. Sau hơn một năm triển khai xây dựng, công trình đã hoàn thành các hạng mục. Công trình đã được thử tải, kiểm tra chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực, đảm bảo chất lượng kỹ thuật tuyệt đối an toàn, đủ điều kiện để đưa vào khai thác.
Quá trình triển khai thực hiện dự án, với nhiệm vụ được Bộ giao, Sở Giao thông Vận tải Ninh Bình đã thực hiện trách nhiệm và quyết tâm cao, chủ động, tích cực bám sát sự chỉ đạo của Bộ và tỉnh, phối hợp chặt chẽ với các địa phương và đơn vị thi công tập trung nguồn lực, khắc phục khó khăn và hoàn thành công trình theo tiến độ được giao và đến nay công trình đã hoàn tất, đủ điều kiện đưa vào khai thác với việc đảm bảo an toàn về chất lượng, kỹ, mỹ thuật.
Công trình này góp phần cải thiện tích cực hoạt động vận tải, đảm bảo giao thông thông suốt, khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông, đảm bảo an toàn giao thông, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Ninh Bình nói riêng và cả nước nói chung. | 1 | null |
Miles Christopher Dempsey (sinh ngày 15 tháng 12 năm 1896 mất ngày 05 tháng 6 năm 1969) là tư lệnh Tập đoàn quân 2 Anh trong cuộc đổ bộ D-Day trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Ông là một quân nhân chuyên nghiệp và có danh tiếng trong suốt khoảng đời binh nghiệp. | 1 | null |
Ngu Tư (chữ Hán: 虞思) là hậu duệ của đế Thuấn Diêu Trọng Hoa thời đại thiện nhượng, ông là thủ lĩnh bộ lạc Hữu Ngu trong giai đoạn vô vương chi thế và Thiếu Khang trung hưng. Sau khi Diêu Trọng Hoa được thụ phong nước Hữu Ngu thì con cháu đời sau đều lấy tên đất làm họ, từ Thương Quân đến đời Ngu Tư kể cũng đã trên 100 năm. Khi Ngu Tư tại vị cũng là lúc nước Hữu Ngu phát triển cường thịnh nhất, sách 100 sự kiện Trung Quốc phần viết về nhà Hạ có ghi chép nước này đã có "điền nhất thành, chúng nhất lữ" nghĩa là thành vuông 10 dặm và nô lệ lên đến 500 người tương đương với 1 lữ đoàn ngày nay.
Khi nhà Hạ bị Hậu Nghệ, Hàn Trác lần lượt cướp chính quyền, đế Tướng bị đánh bại và truy sát gắt gao phải bỏ chạy rồi tự sát. Vợ của đế Tướng là Hậu Mân đang có mang trốn về quê ngoại là nước Hữu Nhưng rồi sinh con ở đó đặt tên là Thiếu Khang, Thiếu Khang lớn lên nuôi ý chí phục quốc nên rất tích cực thu phục lòng người. Sau khi phát hiện dong dõi nhà Hạ vẫn còn sống, Hàn Trác lập tức phát binh tiến đánh nước Hữu Nhưng. Thiếu Khang bèn chuyển sang nhờ nước Hữu Ngu, Ngu Tư không nỡ nhìn thấy cảnh nhà Hạ diệt vong bèn tạm thời giao cho Thiếu Khang giữ chức bào chính trông coi việc quản lý lương thực. Tiếp đó ông lại gả con gái cho Thiếu Khang, lại cấp cho ông 500 nô lệ và 1 vùng đất để ông toan tính việc trung hưng. Chẳng bao lâu Hàn Trác càng lúc càng tàn ác khiến lòng người đều xa lìa lại quay về phía nhà Hạ, Thiếu Khang cùng cha vợ đưa quân từ nước Hữu Ngu tấn công tiêu diệt Hàn Trác và nhà Hạ được khôi phục. | 1 | null |
Vương tôn Richard, Công tước xứ Gloucester (Richard Alexander Walter George, sinh ngày 26 tháng 8 năm 1944) là cháu của Vua George V và Mary xứ Teck và là con trai của Vương tử Henry, Công tước xứ Gloucester và Vương tức Alice, Công tước phu nhân xứ Gloucester. Ông thừa kế tước vị Công tước xứ Gloucester sau khi thân phụ ông qua đời năm 1974. Ông hiện xếp thứ 27 trong dòng kế vị ngai vàng của Hoàng gia Anh. Công tước xứ Gloucester thực hiện nghĩa vụ vương thất thay mặt cho người chị họ của mình, Nữ vương Elizabeth II.
Tiểu sử.
Richard sinh ngày 26 tháng 8 năm 1944 lúc 12:15 chiều tại Viện dưỡng lão St Matthew ở Northampton, nước Anh là người con thứ 2 của Vương tử Henry, Công tước xứ Gloucester và vợ ông Công nữ Alice và là cháu nội trai thứ 4 của Vua George V. Là cháu của Quốc vương Anh ông xuất hiện trước công chúng với tư cách là một Vương tử của nước Anh từ khi chào đời. Vào thời điểm sinh ra ông đứng thứ 5 trong dòng kế vị ngai vàng Anh. Ông đã được rửa tội tại Nhà nguyện Hoàng Gia Royal Chapel of All Saints bởi Tổng giám mục Cosmo Gordon Lang.
Giáo dục.
Như một thông lệ của tầng lớp thượng lưu vào thời điểm đó, Richard được dạy học ở nhà bởi một gia sư cho đến khi ông học trung học tại Trường Wellesley House và nối gót theo cha và anh trai là Vương tôn William học tại Eton College.
Ở tuổi 19 ông học kiến trúc tại Cao đẳng Magdalene, Cambridge và tốt nghiệp năm 1966. Năm 1967, tại Cambridge ông hoàn thành bằng thạc sĩ kiến trúc vào tháng 6 năm 1969. | 1 | null |
Biểu tượng sex thường là danh hiệu gắn cho một nhân vật, có thể trong điện ảnh, âm nhạc, thể thao, hội họa... xuất hiện mang tính khêu gợi trước công chúng. Biệt ngữ được dùng từ thập niên 1950 và dành cho những diễn viên điện ảnh đóng phim có những "cảnh nóng" như Marilyn Monroe. Tới thập niên 1980, khi ngành âm nhạc phát triển, các "biểu tượng sex" như Madonna, Cher, Michael Jackson lần lượt xuất hiện. Trong xã hội đại chúng hiện nay, các biểu tượng sex mà ta thường gặp là Britney Spears, Rihanna, David Beckham, Adam Levine, Lady Gaga... | 1 | null |
"Government Hooker" là một bài hát của nữ ca sĩ người Mỹ Lady Gaga, trích từ album phòng thu thứ hai của cô mang tên "Born This Way" (2011). Để phục vụ việc sáng tác và sản xuất bài hát, Gaga đã hợp tác với các nhà sản xuất thu âm gồm Fernando Garibay, DJ White Shadow và DJ Snake. Bài hát này từng là một bản nhạc demo mà Shadow và DJ Snake cùng sản xuất. Quá trình thu âm bài hát bắt đầu từ năm 2010 tại phòng thu âm Studio at the Palms tọa lạc tại thành phố Las Vegas.
"Government Hooker" là một bài hát thuộc thể loại synth-pop và mang những âm hưởng từ các dòng nhạc techno, trance và industrial. Bài hát xoay quanh chủ đề nữ quyền, nói bóng gió đến mối tình được cho là của cố tổng thống Mỹ John F. Kennedy với nữ diễn viên người Mỹ Marilyn Monroe. Các nhà phê bình đã dành nhiều lời khen đến bài hát kể từ khi nó ra mắt vì phần âm nhạc cùng với chủ đề đen tối và tế nhị mà nó đề cập. Mặc dù không được phát hành dưới dạng đĩa đơn nhưng "Government Hooker" vẫn được xếp hạng tại Hàn Quốc và từng giành được vị trí thứ 16 trên bảng xếp hạng Hot Dance/Electronic Digital Songs của Hoa Kỳ. Gaga từng thể hiện bài hát trong chuyến lưu diễn Born This Way Ball (2012–2013) và tại chương trình hòa nhạc thường trú ở thành phố Las Vegas mang tên Lady Gaga Enigma (2018–2020) của nữ ca sĩ.
Bối cảnh và phát hành.
Tháng 3 năm 2010, trong một cuộc phỏng vấn với kênh MTV UK, Gaga tuyên bố rằng cô đã bắt tay vào việc thực hiện album phòng thu thứ hai của mình và nghĩ ra chủ đề "cốt lõi" cho nó. Tháng 6 năm đó, trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí "Rolling Stone", Gaga xác nhận với công chúng rằng album đã hoàn tất, nhưng cô sẽ cho ra mắt album vào năm sau. Ban đầu, nữ ca sĩ dự định sẽ tiết lộ tiêu đề album cho mọi người vào cuối năm 2010, tuy nhiên vào lễ trao giải Video âm nhạc của MTV năm 2010 diễn ra vào ngày 12 tháng 9 năm 2010, sau khi đoạt giải Video của năm với video âm nhạc của ca khúc "Bad Romance" (2010), Gaga công bố rằng album tiếp theo của mình sẽ có tên là "Born This Way".
"Government Hooker" là một nhạc phẩm hợp tác giữa Lady Gaga, Fernando Garibay và DJ White Shadow. Quá trình thu âm diễn ra tại phòng thu Studio at the Palms tọa lạc tại thành phố Las Vegas, Nevada vào năm 2010, trong khi Gaga đang thực hiện chuyến lưu diễn The Monster Ball Tour (2009–2011). "Government Hooker" trước đây từng là một bản thu âm demo do DJ White Shadow và DJ Snake sản xuất. Sau khi chỉnh sửa nhịp độ của bài hát, Shadow liền cho Vince Herbert (chủ tịch hãng thu âm đã ký kết hợp đồng với Lady Gaga) nghe thử. Helbert cảm thấy thích bản thu âm, thích hơn cả các bài hát còn lại trong album. Gaga viết lời cho bài hát ngay sau khi nhận được bản thu âm qua chỉnh sửa. Trong quá trình viết lời, nhóm thực hiện bài hát định sẽ lựa chọn vệ sĩ Peter van der Veen trình bày một phần lời trong bài hát chứ không muốn sử dụng đến giọng hát đã qua chỉnh sửa. Shadow đã để ý đến chất giọng Hà Lan dày và rất riêng của van der Veen khi nghe người này cất giọng hát.
Trong một cuộc phỏng vấn với đài BBC, nữ ca sĩ xác nhận rằng đĩa đơn đầu tiên trích từ album phòng thu thứ hai của cô sẽ ra mắt vào tháng 2 năm 2011 và album sẽ được phát hành "sớm thôi". Vào ngày 1 tháng 3 năm 2011, đài MTV thông báo với khán giả rằng sẽ có một số nghệ sĩ ra mắt bài hát nằm trong album của họ trong buổi trình diễn thời trang của nhà thiết kế thời trang người Pháp Thierry Mugler, trong đó có Gaga, đánh dấu lần đầu tiên cô tham gia và đảm nhậm điều hành âm nhạc cho sự kiện này. Trong buổi biểu diễn thời trang kể trên diễn ra vào ngày hôm sau, "Government Hooker" được chính thức ra mắt công chúng cùng với một đoạn nhỏ trích từ ca khúc "Scheiße" và một bản remix của ca khúc "Born This Way". Lúc bấy giờ, DJ White Shadow gọi "Government Hooker" là "một con dã thú" và miêu tả album "Born This Way" là "một kiệt tác nhạc pop của âm nhạc chứ không phải là một album nhạc pop [thông thường]."
"Government Hooker" là bài hát thứ ba trong danh sách ca khúc của album "Born This Way", theo trước bởi bài "Born This Way" và theo sau bởi "Judas".
Sáng tác.
"Government Hooker" là một bài hát thuộc thể loại synth-pop có nhịp độ nhanh hòa quyện với những âm hưởng từ các dòng nhạc trance, techno, post-disco và industrial. Đại điện cho tờ "Los Angeles Times", nhà phê bình Randall Roberts cho rằng bài hát giúp gợi lại cho người nghe nhớ về ban nhạc điện tử Đức Kraftwerk và những đoạn nhạc ra đời dựa trên kỹ thuật circuit bending với các loại thiết bị âm nhạc do hãng Casio sản xuất. Theo nhà phê bình âm nhạc Evan Sawdey đến từ tạp chí PopMatters, "Government Hooker" chứa đựng những yếu tố âm nhạc hòa hợp giữa ca khúc "Gimme More" (2007) của nữ ca sĩ Britney Spears với "Blue Monday" của ban nhạc người Anh New Order. Theo như bản nhạc phát hành trên website Musicnotes.com bởi công ty Sony/ATV Music Publishing, "Government Hooker" được sáng tác ở nhịp và có nhịp độ trung bình là 120 nhịp trên phút. Bài hát được xây dựng trên giọng Fa thăng thứ và giọng hát của nữ ca sĩ kéo dài theo quãng từ nốt F3 (Fa thăng) đến nốt C5 (Đô thăng). Ca khúc sử dụng một dãy hợp âm B–D–A–E (Si–Rê–La–Mi) ở phần giang tấu, Bm–Fm–Bm–Fm (Si thứ–Fa thăng thứ–Si thứ– Fa thăng thứ) ở phần điệp khúc và D–Fm–D–Fm (Rê–Fa thăng thứ–Rê–Fa thăng thứ) ở các đoạn lời còn lại đóng vai trò là chùm hợp âm. Chủ đề chính của bài hát là nữ quyền mang hơi hướng tình dục. Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí trực tuyến PopJustice, Gaga từng khẳng định rằng cô sáng tác "Government Hooker" dựa trên cảm hứng từ nữ diễn viên người Mỹ Marilyn Monroe và những người tình của giới chính khách Mỹ, ngoài ra nó cũng thể hiện một chút "cái cách mà chính phủ liên tục "trêu đùa" chúng tôi và nó đem các ngôi sao nhạc pop giả tạo ra làm trò cười," những người có thể làm bất cứ điều gì miễn là có người khác "quan hệ" và trả tiền cho họ.
Gaga bắt đầu hát ca khúc bằng một chất giọng đầy kịch tính và đậm chất opera – được đệm bởi những tiếng nhạc industrial – trước khi chuyển sang phần bình ca Gregoriano. Kế đến là phần điệp khúc: "I can be good / I can be sex / I can be anything / I can be everything / I can be mom". Một chất giọng trầm như của nam vang lên trong phần điệp khúc như đáp lại lời Gaga: "Unless you want to be man / Unless you want to hold hands / Unless you want to be dad". Sau khi trình bày hoàn tất phần bridge mang âm hưởng từ dòng nhạc techno gồm các câu như "I'm gonna drink my tears and cry / 'cos I know you love me baby" và phần điệp khúc, Gaga nói bóng gió đến mối quan hệ giữa nữ minh tinh Marilyn Monroe và John F. Kennedy qua các câu: "Put your hands on me / John F. Kennedy / I'll make you squeal baby" với một chất giọng đều đều nhưng lại rất gợi tình.
Tiếp nhận.
"Government Hooker" đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ giới phê bình. Randall Roberts từ tờ "Los Angeles Times" cho rằng sự ấn tượng mà bài hát mang lại là một ngoại lệ so với bản chất thật của album "Born This Way". Nhà phê bình Chris Richards từ nhật báo "The Washington Post" đã gọi bài hát là bài hát hay nhất album. Người này viết thêm: "'The Edge of Glory' có thể làm cho một bài hát như 'Government Hooker' trở nên thêm táo bạo hơn những gì nó thể hiện". Caryn Ganz đến từ tạp chí "Spin" nhận xét rằng cá tính lập dị, lạ lùng của Lady Gaga – thứ được gọi là "nét quyến rũ điên dại" – được thể hiện rất rõ thông qua bài hát đậm chất "disco ảm đạm" "Government Hooker". Christian Blauvelt từ tạp chí "Entertainment Weekly" từng mô tả phần điệp khúc của bài hát là "sống động, dễ lan truyền và đi kèm với một phần hook không thể thiếu được."
Đại diện cho tạp chí âm nhạc "Slant Magazine", nhà đánh giá âm nhạc Sal Cinquemani mô tả bài hát là "tuyệt vời tuy nhơ nhuốc". Nhà phê bình Jocelyn Vena từ MTV thì lại gọi "Government Hooker" là "một ca khúc hộp đêm thô kệch". Đến từ "Rolling Stone", nhà báo Jody Rosen đã sử dụng tính từ "quyến rũ" để miêu tả phần nhạc nền của "ca khúc lập dị" này. Để làm rõ hơn lời nhận xét này, nhà phê bình nói thêm rằng nó bao gồm "những tiếng è è, tiếng bíp và những đoạn nhạc lách cách hòa quyện vào với nhau". Nhà phê bình Dan Martin từ tạp chí "NME" nhận xét rằng "Government Hooker" là một thứ trái nghịch với bản tính lố lăng của album và mỗi khi bài hát bắt đầu phát, Gaga biến tấu "Born This Way" sang thể loại techno. "Bài hát này mang phong cách tự do phóng khoáng, đậm chất nhạc industrial và nghe khá điên rồ", Martin nhấn mạnh. Kerri Mason, một nhà báo đến từ tạp chí "Billboard" lại cho rằng bài hát sở hữu "một loại giọng hát opera, những tiếng bíp techno tối giản, một sự ám chỉ đến JFK và bao hàm những định nghĩa về bản thân khi ví mình như một món hàng gợi dục". Theo như Ian Wade, nhà phê bình cho rằng đoạn nhạc dạo kỳ quái của "Government Hooker" được bắt nguồn từ "những đoạn nhịp mạnh do các nhạc cụ của hãng Casio tạo thành". Nhà phê bình Evan Sawdey từ tạp chí trực tuyến PopMatters tỏ vẻ tán dương phần điệp khúc "bẻ cong giới tính" (gender-bending) xuất sắc nhất của bài hát sau bài "Somebody Told Me" của ban nhạc The Killers. Trong các bài đánh giá của mình về album "Born This Way" và các bài hát của nó, Arwa Haider – nhà phê bình đến từ tờ "Metro" của Anh Quốc – ngoài việc ca ngợi album là "vượt xa sức tưởng tượng" thì cô cũng dành lời khen và những lời miêu tả tích cực cho các ca khúc "Americano", "Government Hooker" và "Heavy Metal Lover".
Dù không được phát hành dưới định dạng đĩa đơn, nhưng "Government Hooker" vẫn đạt được những thành công nhất định khi lọt vào bảng xếp hạng hai quốc gia gồm Hàn Quốc và Hoa Kỳ. Tại Hàn Quốc, bài hát ra mắt trên Gaon Digital Chart tại hạng 15 với doanh số bán ra ở nước này là 13.976 bản. Ở Hoa Kỳ, "Government Hooker" ra mắt trên bảng xếp hạng Dance/Electronic Digital Songs của tạp chí "Billboard" ở vị trí thứ 16.
Biểu diễn trực tiếp.
Tháng 10 năm 2011, Gaga biểu diễn trực tiếp "Government Hooker" tại sự kiện "Decade to Difference" của tổ chức Clinton Foundation diễn ra tại phòng hòa nhạc Hollywood Bowl ở Los Angeles, California. Bài hát còn xuất hiện trong một video quảng bá của nữ ca sĩ cho lễ trao giải Video âm nhạc của MTV năm 2011. Video ra mắt vào ngày 18 tháng 1 năm 2011, trước 10 ngày so với buổi lễ.
Ngoài ra, "Government Hooker" cũng góp mặt trong danh sách tiết mục của chuyến lưu diễn Born This Way Ball (2012–2013), chuyến lưu diễn hát chính thứ ba của nữ ca sĩ. Gaga trình bày "Government Hooker" sau khi biểu diễn "Highway Unicorn (Road to Love)", là ca khúc mở màn cho các buổi diễn. Sau một đoạn độc thoại ngắn dạo đầu, Gaga bước ra từ một cái cửa nằm ở bên hông lâu đài trên sân khấu và bước từng bậc thang xuống sàn diễn. Cô và một nam vũ công phụ họa bắt đầu làm những hành động tình dục với nhau. Đến phần cuối của bài hát, nam vũ công rút ra một khẩu súng và nã vào người Gaga. Cô liền giật lại cây súng và bắn vào người anh ta một phát đạn. Cô hát lại phần điệp khúc một lần nữa rồi nói với khán giả: "Chào mừng các bạn đến với Born This Way Ball". Gaga bắn một phát súng vào cánh cửa lớn ở giữa lâu đài. Cửa mở, cô bước vào, kết thúc màn trình diễn của mình.
Năm năm sau, trong chương trình hòa nhạc thường trú Lady Gaga Enigma (2018–2020) tổ chức tại Las Vegas, Gaga một lần nữa cho người hâm mộ chiêm ngưỡng lại ca khúc sau một thời gian dài không biểu diễn nó trước công chúng. Cô lúc này diện lên người một bộ trang phục tựa một bộ giáp sắt. Lời ca khúc lúc bấy giờ có sự thay đổi ở đoạn cuối – ngoài việc nói đến John F. Kennedy như bản gốc thì Gaga cũng nhắc đến người đứng đầu nước Mỹ lúc bấy giờ: "I'll make you squeal baby / Donald Trump, if you pay me."
Đội ngũ thực hiện.
Đội ngũ thực hiện được điều chỉnh trên ghi chú trên bìa album "Born This Way". | 1 | null |
MP-153 là loại súng shotgun bán tự động được thiết kế và chế tạo bởi nhà máy cơ khí Izhevsk. Nó có hình dáng giống với loại shogun nạp đạn kiểu bơm MP-133 và nhiều chi tiết có thể dùng để thay đổi qua lại giữa hai loại súng này. MP-153 là một trong các loại shotgun bán tự động phổ biến nhất và được dùng trong nhiều sự kiện tại Nga như thể thao và săn bắn. Súng cũng được dùng để xuất khẩu đến các nước khác nhau với tên thương hiệu Baikal. MP-153 được biết đến với cấu trúc chắc chắn, độ tin cậy tốt và bền chỉ có điều hơi nặng.
Thiết kế.
MP-153 sử dụng cơ chế nạp đạn bằng khí nén với một pít ton hình khuyên bao quanh ống đạn bên dưới. Khi bắn một lượng khí nén sẽ được trích xuống để pít ton hoạt động. Lượng khí trích có thể được điều chỉnh bằng van để thích hợp trong việc sử dụng nhiều loại đạn shotgun khác nhau. Hệ thống trích khí bao quanh ống đạn thay vì chỉ là một bộ phận nhỏ ở đầu ống cho phép kéo dài ống đạn để mang được nhiều đạn hơn tiêu chuẩn. Cơ chế khóa cố định của thoi nạp đạn là chèn nghiêng chống vào rãnh trong nòng súng.
Ống đạn nằm bên dưới nòng súng tiêu chuẩn có thể chứa được 4 viên, khi nối dài ra có thể chứa 9 viên nhưng còn tùy vào chiều dài của loại đạn sử dụng cũng như nòng súng luôn có thể chứa sẵn thêm một viên. Thân súng được làm bằng nhôm, báng súng được làm bằng gỗ hay nhựa tổng hợp. Nòng súng có nhiều chiều dài khác nhau và có thể tháo ráp một cách dễ dàng. Cấu trúc của súng chắc chắn đủ để có thể bắn cả loại đạn dài 89 mm. | 1 | null |
Giuseppe Domenico Scarlatti (sinh năm 1685 tại Naples, mất năm 1757 tại Madrid) là nhà soạn nhạc người Ý đã dành phần lớn cuộc đời của mình trong việc phục vụ các gia đình hoàng gia Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Ông là một trong những nhà soạn nhạc xuất sắc nhất thời kỳ Baroque và có ảnh hưởng trong sự phát triển của phong cách cổ điển. Ngoài ra ông còn là nghệ sĩ đàn clavecin, đàn organ và là nhạc trưởng.
Thân thế sự nghiệp.
Domenico Scarlatti sinh ra ở Naples, ông là con thứ 6 trong 10 người con của Alessandro Scarlatti, nhà soạn nhạc cũng của thời kỳ Baroque. Cậu bé Domenico đã học nhạc với người thầy đầu tiên chính là người cha Alessandro. Tiếp theo là học với Gaetano Greco, Bernardo Pasquini, Francesco Gasparini và Antonio Alfredo de Fernandos ở thành phố trên nước Venice còn Fernandos là khi ông đến Barcelona. Năm 1701, ông được bổ nhiệm làm nhà soạn nhạc và nghệ sĩ đàn đại phong cầm tại nhà nguyện hoàng gia ở Naples. Từ năm 1709 đến năm 1720, Domenico Scarlatti sống ở thành Roma. Năm 1709, Hồng y giáo chủ Ottoboni, chủ nhân của George Frideric Handel, tổ chức một cuộc thi đấu hữu nghị về đàn organ và đàn clavecin cho Scarlatti và Handel. Cuối cùng, kết quả là hòa: Handel thắng ở phần đàn organ, Scarlatti thắng ở phần đàn clavecin. Năm 1720, Scarlatti chuyển đến Lisbon, một thành phố của Bồ Đào Nha. Năm 1729 ông chuyển đến Sevilla, ở trong bốn năm và đã học được một số kiến thức về flamenco. Năm 1733 ông định cư ở Madrid, thủ đô của Tây Ban Nha cho đến cuối đời.
Scarlatti mất ở Madrid ngày 23 tháng 7 năm 1757.
Phong cách sáng tác.
Ông sáng tác chủ yếu cho đàn clavecin. Âm nhạc của Domenico Scarlatti nổi lên vẻ đẹp và sự phong phú về giai điệu, sự tinh tế, hóm hỉnh, sử dụng nhiều chất liệu âm nhạc dân gian, sinh hoạt đương thời, nhất là âm nhạc nhảy múa lúc đó. Những tác phẩm của ông đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của hình thức sonata cúng như của kỹ thuật chơi đàn phím. Đến nay nhiều tác phẩm của ông được giảng dạy và biểu diễn nhiều.
Một số tác phẩm.
Năm 1738 ông xuất bản 30 Essercizi, là bộ sưu tập nổi tiếng nhất của ông. Domenico Scarlatti sáng tác trên 10 vở opera, các bản oratorio, bốn bản mixa, những bản cantata và các tác phẩm âm nhạc tôn giáo khác, 545 bản fuga và sonata cho đàn clavecin (có 496 bản được xuất bản và được chính tác giả gọi là "Những bài tập"), những bản serenade và nhiều tác phẩm thanh nhạc khác ông có thể đã học từ nhạc sĩ Antonio Alfredo de Fernandos. | 1 | null |
Thực vật trên cạn là thực vật mọc trên, trong hoặc từ đất. Các dạng thực vật khác là thực vật thủy sinh (sống dưới nước), thực vật trên cây (epiphytic), thực vật trên đá (lithophytes) Thực vật trên cạn trong hệ sinh thái rừng có thể các loài cây, cây bụi và cây thân cỏ. | 1 | null |
Goniobranchus reticulatus là một loài ốc biển trong họ Chromodorididae. sinh sống ngoài khơi Philippines. Loài này có thân dài 100 mm. Chúng là loài lưỡng tính vừa có cơ quan sinh dục đực và cái đồng thời hoạt động. Dương vật của nó rụng sau 1 ngày sử dụng và chúng có khả năng mọc dương vật mới trong vòng 24 tiếng và có thể giao phối ngay. | 1 | null |
Birgitte, Công tước phu nhân xứ Gloucester GCVO (sinh 1946) là một thành viên của Vương thất Anh. Bà là vợ của Vương tử Richard, Công tước Gloucester, cháu của vua George V. Cùng với chồng, bà thực hiện nhiệm vụ hoàng gia đại diện cho người chị họ của chồng bà, Nữ hoàng Elizabeth II và tiếp là Charles III.
Thời thơ ấu.
Tên khai sinh của bà là Birgitte Eva Henriksen, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1946 tại Odense, Đan Mạch. Cha mẹ bà là ông Asger Henriksen, một luật sư và vợ ông, bà Vivian van Deurs. Khi cha mẹ bà ly dị, bà chuyển sang họ mẹ nên còn có tên là Birgitte Eva van Duers.
Gia đình.
Sau khi lập gia đình với Hoàng tử Richard, Công tước Gloucester KG GCVO, bà được phong tước hiệu nữ Công tước xứ Gloucester. | 1 | null |
Gabriel Urbain Fauré (, sinh năm 1845 tại Pamiers, mất năm 1924 tại Paris) là nhà soạn nhạc, nghệ sĩ đàn organ người Pháp. Ông là một trong những nhà soạn nhạc xuất sắc của Pháp thế kỷ XIX và phong cách sáng tác của ông gây ảnh hưởng lớn đối với các nhà soạn nhạc thế kỷ 20.
Các tác phẩm nổi tiếng của ông phần lớn được sáng tác trong giai đoạn đầu đời, chẳng hạn Pavane, Requiem, Sicilienne, các bản nocturne chi piano and các ca khúc "Après un rêve" and "Clair de lune". Giai đoạn sáng tác về sau tuy không được phổ biến bằng nhưng được đánh giá cao về sự phức tạp trong phong cách hòa âm và giai điệu. Âm nhạc của Fauré được xem như cầu nối giữa Âm nhạc thời kỳ Lãng mạn và âm nhạc hiện đại của thế kỉ 20.
Trong 20 năm cuối cuộc đời Fauré bị ảnh hưởng của bệnh điếc tiến triển ngày càng trầm trọng, âm nhạc của ông thời kỳ này đôi khi mang tính chất khép kín khó nắm bắt, trái với tính chất quyến rũ của các sáng tác giai đoạn đầu.
Cuộc đời và sự nghiệp.
Gabriel Fauré sinh ra ở Pamiers, Ariège, miền nam nước Pháp là con út và con trai thứ 5 trong một gia đình nhà giáo có 6 con. Gia đình ông vốn hiện diện ở vùng này từ thế kỷ 13, vốn sở hữu nhiều điền sản tuy nhiên đến đầu thế kỷ 19 đã sa sút nhiều.
Tuy cha mẹ Gabriel không thích âm nhạc nhưng đứa con thứ sáu của họ có năng khiếu âm nhạc từ rất sớm. Ông Saubiac, một nghị sĩ trong vùng, sau khi nghe Gabriel Fauré mới có 9 tuổi chơi đàn, đã đề nghị cha Fauré gửi ông theo học nhạc tại Trường Niedermeyer ở Paris. Sau một năm suy nghĩ cha ông, với sự hỗ trợ của giám mục vùng đã cho ông vào trường và tại trường này Fauré đã được tiếp cận một nền giáo dục âm nhạc tuyệt vời. Từ năm 1861, sau khi Niedermeyer qua đời, Camille Saint-Saëns đảm nhiệm vị trí giảng dạy piano, mở đầu cho mối quan hệ khăng khít 60 năm sau này giữa hai nhà soạn nhạc.
Sau tốt nghiệp năm 1866, Fauré được nhận việc chơi đàn organ tại Nhà thờ Saint Sauveur, Rennes, đồng thời nhận dạy thêm học trò. Tuy nhiên ông không thích cuộc sống tại Rennes và quan hệ giữa ông và linh mục vùng không được tốt. Đến năm 1870 ông bị đề nghị từ chức. Với sự giúp đỡ của Camille Saint-Saëns ông liền được nhận vào chơi đàn ở nhà thờ Notre-Dame de Clignancourt, phía bắc Paris. Được vài tháng thì chiến tranh Pháp Phổ] nổ ra, Fauré tình nguyện gia nhập quân đội. Sau thất bại của Pháp và xảy ra sự kiện Công xã Paris, Fauré rời Paris sang Thụy Sĩ nhận vị trí giảng dạy ở trường Niedermeyer lúc này tạm dời sang đây.
Tháng 10 năm 1871, Fauré trở về Paris nhận vị trí chỉ huy hợp xướng ở nhà thờ Saint-Sulpice.
Năm 1871, Fauré tham gia thành lập hội Société nationale de musique nhằm mục đích xiển dương âm nhạc nước Pháp và trở thành thư kí hội từ năm 1874.
Năm 1874, Fauré chuyển sang làm trợ lí cho Saint-Saëns chơi organ ở nhà thờ Église de la Madeleine.
Năm 1883, ông cưới Marie Fremiet, con gái nhà điêu khắc Emmanuel Fremiet và đôi vợ chồng sinh 2 người con vào năm 1883 và 1889. Ngoài ra ông còn nhiều mối quan hệ lãng mạn ngoài hôn nhân với Emma Bardac vào khoảng 1892, sau đó là Adela Maddison, và từ 1900 cho đến cuối đời với Marguerite Hasselmans.
Năm 1892, Fauré đảm nhiệm vị trí thanh tra của Nhạc viện Paris. Từ năm 1896, ông là giáo sư sáng tác của Nhạc viện Paris thay cho Jules Massenet từ chức, và tiếp đến là hiệu trưởng trong những năm 1905-1920.
Ông có những học trò xuất sắc như Ravel, Boulanger, Enescu, Schmitt, Koechlin, Roger-Ducasse.
Fauré qua đời tại thủ đô Paris năm 1924.
Phong cách sáng tác.
Âm nhạc của Gabriel Fauré chậm được công nhận ngoài nước Pháp, nhưng giờ đây ông được coi là một trong những nhà soạn nhạc lớn nhất của Pháp, là bậc thầy về liên ca khúc, nhà thơ của đàn phím, người viết nhạc thính phòng sâu sắc.
Một số tác phẩm.
Fauré để lại các vở opera "Prométhée" (1900), "Pénélope" (1913), bản "Requiem" (1887), nhạc cho vở kịch của Alexandre Dumas (1888), "Shylok" của Hauraucourt (vở kịch dựa trên tác phẩm của William Shakespeare) (1889), những tác phẩm cho dàn nhạc, đáng chú ý có "Pavane" (1887), tổ khúc "Pelléas và Mélisande" trích từ âm nhạc của kịch nói của Maerterlinck (1898), bản "Những mặt nạ và những điệu nhảy vùng Bergamo" (1919), những tác phẩm cho dàn đồng diễn khí nhạc thính phòng gồm có tam tấu, tứ tấu, ngũ tấu, hai bản sonata cho violin và piano (1876, 1921), 13 bản norturne, 13 bản bacarolle, những liên khúc romance, những hợp xướng. | 1 | null |
Đỗ Hồi (chữ Hán: 杜回) là dũng sĩ nước Tần thời Xuân Thu. Ông được xem là một nhân vật trong điển tích "kết cỏ ngậm vành" trong điển cố dân gian Trung Quốc.
Nguyên Đỗ Hồi vốn là người Bạch Địch vùng Thanh Mi sơn. Đỗ Hồi chỉ cậy có sức khỏe tuyệt luân nhưng lại không có mưu mẹo, vì thế trong 1 trận chiến giữa quân Bạch Địch với quân Tần đã bị gài bẫy bắt sống nên về hàng nước Tần. Ông chuyên sử dụng 1 cây "khai sơn đại phủ" nặng 120 cân làm vũ khí, mỗi lần ra trận tả xung hữu đột chém giết không ghê tay khiến quân các nước chư hầu nghe danh đều khiếp đảm kinh hồn. Năm 594TCN, Tấn Cảnh Công sai Ngụy Khỏa đánh thành nước Lỗ, Tần Hoàn Công phái Đỗ Hồi đưa binh cứu viện. Hai bên giao chiến tại Phụ Thị (nay thuộc huyện Đại Lệ, Thiểm Tây). Ngụy Khỏa không địch nổi Đỗ Hồi phải rút lui vào thành cố thủ, sau đó Ngụy Khỏa nghĩ ra cách lừa Đỗ Hồi đến vùng thảo nguyên cỏ mọc um tùm khiến ngựa của viên tướng này vướng chân mà ngã lăn quay. Quân lính nước Tấn ùa đến bắt sống được Đỗ Hồi, để trừ hậu họa Ngụy Khỏa đã hạ lệnh xử trảm ông. | 1 | null |
Chiến dịch Sa mạc Tây hay Chiến tranh Sa mạc diễn ra tại Sa mạc Tây thuộc Ai Cập và Libya là giai đoạn đầu của Mặt trận Bắc Phi thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Chiến dịch bắt đầu vào tháng 9 năm 1940, khi quân đội phát xít Ý đóng tại Libya tiến hành xâm chiếm Ai Cập, nhằm vào các lực lượng Anh và Khối Thịnh vượng chung tại đây. Cuộc tấn công này đã bị chặn đứng, và đến tháng 12 năm đó, người Anh phản công. Đòn phản công ban đầu chỉ là cuộc đột kích trong 5 ngày đã phát triển thành một chiến dịch lớn mang tên Chiến dịch Compass, hủy diệt hoàn toàn Tập đoàn quân số 10 Ý. Benito Mussolini phải tìm kiếm sự giúp đỡ của Adolf Hitler và một lực lượng nhỏ quân Đức đã được phái tới Tripoli theo Chỉ thị số 22 ngày 11 tháng 1, đây là những đơn vị đầu tiên của Quân đoàn châu Phi do tướng Erwin Rommel chỉ huy. Trên danh nghĩa là quân Đức nằm dưới quyền chỉ huy của người Ý, nhưng thực ra quân Ý lại bị phụ thuộc, và quân Đức Quốc xã trở thành cấp trên của Ý.
Kết quả thắng bại trong quá trình diễn biến chiến dịch này chủ yếu được định đoạt từ khả năng tiếp tế và vận chuyển của các bên tham chiến. Việc quân Đồng Minh sở hữu căn cứ trên đảo Malta nên có khả năng chặn đánh các đoàn tàu hàng của phe Trục trên Địa Trung Hải đã đóng vai trò quan trọng đến diễn biến chiến sự, giúp ngăn cản nguồn nhiên liệu và tiếp viện mà tư lệnh Đức Erwin Rommel rất cần đến trong những thời điểm hệ trọng. Đến đầu năm 1942, Không lực Lục quân Hoa Kỳ bắt đầu cho xây dựng một lực lượng máy bay ném bom (cuối năm đó bổ sung thêm thành phần tiêm kích) để hỗ trợ cho chiến dịch, gọi là Chiến dịch Ai Cập-Libya.
Ngay từ đầu, Chiến dịch Sa mạc Tây đã là một cuộc chiến bao gồm những hoạt động tiến và lùi diễn ra liên tục. Trong vòng 2 năm, các lực lượng phe Trục đã ba lần đẩy lui quân Đồng Minh về Ai Cập, nhưng không giành được thắng lợi mang tính quyết định và cuối cùng Đồng Minh vẫn giành lại được những lãnh thổ bị mất. Trong cuộc tấn công cuối cùng của phe Trục, quân Đồng Minh đã giành chiến thắng quyết định trong Trận El Alamein thứ hai. Từ đó về sau quân Trục không bao giờ có thể hồi phục lại được và bị đánh bật về phía tây, ra khỏi Libya đến tận Tunisia. Đến lúc đó thì "Chiến dịch Sa mạc Tây" cũng hoàn toàn kết thúc. Tập đoàn quân số 8 Anh và quân của Rommel tiếp tục tham gia "Chiến dịch Tunisia" vốn đã bắt đầu từ trước đó vào tháng 11 năm 1942, tại đây phe Trục lại bại trận một lần cuối cùng nữa tại châu Phi.
Kể từ sau thất bại của Anh trong Chiến dịch Balkan, chiến dịch Sa mạc Tây trở nên quan trọng trong chiến lược của người Anh. Còn đối với Adolf Hitler, Mặt trận Xô-Đức lấn át hoàn toàn cuộc chiến tại sa mạc, nên nó chỉ giữ một vài trò thứ yếu. Quân đội phe Trục không bao giờ được cung cấp đủ nguồn lực cũng như phương tiện để đánh bại người Anh, khi mà đối thủ của họ bỏ lỡ nhiều cơ hội để dứt điểm chiến dịch khi chuyển bớt lực lượng đến Hy Lạp và Levant năm 1941, hay đến Viễn Đông năm 1942.
Bối cảnh năm 1940.
Libya.
Cyrenaica (Libya) đã trở thành thuộc địa của Ý kể từ khi Quân đội Hoàng gia Ý ("Regio Esercito") đánh bại quân đội của Đế quốc Ottoman trong Chiến tranh Ý-Thổ Nhĩ Kỳ (1911–1912). Vùng đất này tây giáp Tunisia thuộc Pháp, đông giáp Ai Cập, nên người Ý đã chuẩn bị phòng ngự cả hai mặt trận, thông qua Tổng hành dinh Tối cao Bắc Phi dưới quyền Toàn quyền Libya, Thống chế không quân Ý Italo Balbo. Tổng hành dinh Tối cao có trong tay Tập đoàn quân số 5 của tướng Italo Gariboldi đóng ở phía tây và Tập đoàn quân số 10 của tướng Mario Berti đóng ở phía đông. Đến giữa năm 1940, mỗi tập đoàn quân có 9 sư đoàn chính quốc với khoảng 13.000 người, 3 sư đoàn Dân quân Tự nguyện cho An ninh Quốc gia (Áo đen) và 2 Sư đoàn Thuộc địa Libya, mỗi sư đoàn có 8.000 quân. Vào cuối những năm 1930, các sư đoàn lục quân Ý đã được tái tổ chức từ 3 trung đoàn giảm xuống còn 2, và lính dự bị được gọi tái ngũ trong năm 1939 cùng với những đợt tuyển lính nghĩa vụ thường lệ.
Tinh thần chiến đấu của binh sĩ được coi là cao, và lục quân đã có nhiều kinh nghiệm hoạt động quân sự trong thời gian gần đó. Hải quân Ý phát triển mạnh dưới chế độ Phát xít, họ đã trả tiền mua những con tàu tốc độ nhanh, cấu trúc tốt và được trang bị mạnh, cùng với một hạm đội tàu ngầm lớn, nhưng hải quân lại thiếu kinh nghiệm và ít được huấn luyện. Không quân đã tiến hành chuẩn bị cho chiến tranh từ năm 1936 nhưng bị ngưng trệ và bị người Anh coi là không có khả năng duy trì tỷ lệ hoạt động cao. Tập đoàn quân số 5 có 8 sư đoàn đóng tại Tripolitania, nửa phía tây của Libya đối diện với Tunisia còn Tập đoàn quân số 10 với 6 sư đoàn bộ binh đóng giữ Cyrenaica ở phía đông. Khi chiến tranh bùng nổ, Tập đoàn quân số 10 triển khai Sư đoàn Libya số 1 "Sibelle" tại biên giới từ Giarabub đến Sidi Omar; Quân đoàn XXI từ Sidi Omar tới bờ biển, Bardia và Tobruk. Quân đoàn XXII di chuyển đến tây nam Tobruk để làm lực lượng phản công.
Ai Cập.
Người Anh đã có quân đóng tại Ai Cập kể từ năm 1882, nhưng từ sau khi hiệp ước Anh-Ai Cập được ký kết năm 1936 thì số quân này đã bị giảm đi rất nhiều. Lực lượng tương đối khiêm tốn của Anh và Khối Thịnh vượng chung hiện có ở Ai Cập chủ yếu là ở ven Biển Đỏ và bảo vệ kênh đào Suez, con kênh có vai trò vô cùng quan trọng đối với mối liên lạc giữa nước Anh và các thuộc địa của nó ở Viễn Đông và Ấn Độ Dương. Tháng 6 năm 1939, trung tướng Henry Maitland "Jumbo" Wilson đã đến Cairo để làm Tổng chỉ huy (" General Officer Commanding-in-Chief" - GOC-in-C) các đội quân Anh tại Ai Cập ("British Troops in Egypt") và được giao chỉ huy các lực lượng Anh cùng Khối Thịnh vượng chung phòng thủ tại quốc gia này.
Đến cuối tháng 7, trung tướng Archibald Wavell được bổ nhiệm chức Tổng chỉ huy (GOC-in-C) của Bộ tư lệnh Trung Đông ("Middle East Command") mới thành lập, đóng tại Cairo, chịu trách nhiệm toàn bộ vùng Chiến trường Địa Trung Hải và Trung Đông. Bộ tư lệnh này có quyền kiểm soát hoạt động của toàn bộ lực lượng trên bộ ở Ai Cập, Sudan, Palestine, Transjordan và Síp. Khi chiến tranh leo thang, quyền hạn của nó lan rộng ra cả các lực lượng trên bộ do Anh chỉ huy tại đông và bắc châu Phi, Aden, Iraq và bờ biển vịnh Ba Tư và Hy Lạp. Cho đến khi Hiệp định đình chiến ngày 22 tháng năm 1940 giữa Pháp và phe Trục được ký, các sư đoàn Pháp tại Tunisia vẫn đối diện với Tập đoàn quân số 5 Ý ở biên giới tây Libya.
Các lực lượng Anh bao gồm Sư đoàn Lưu động (Ai Cập) (thiếu tướng Percy Hobart), một trong hai đội hình thiết giáp huấn luyện của Anh mà vào giữa năm 1939 được đặt tên lại là Sư đoàn Thiết giáp (Ai Cập) (ngày 16 tháng 2 năm 1940, nó trở thành Sư đoàn Thiết giáp số 7). Biên giới Ai Cập–Libya được phòng ngự bởi Lực lượng Tiên phong Ai Cập và đến tháng 6 năm 1940, tổng hành dinh của Sư đoàn Bộ binh số 6 (thiếu tướng Richard O'Connor) đã tiếp quyền chỉ huy tại Sa Mạc Tây, với chỉ thị là đẩy lui quân Ý ra khỏi các đồn bốt tại biên giới và chiếm lĩnh vùng nội địa khi cuộc chiến bắt đầu. Sư đoàn Thiết giáp số 7 (thiếu Lữ đoàn Thiết giáp số 7) tập trung tại Mersa Matruh và điều Cụm Yểm trợ số 7 tiến về phía biên giới để làm lực lượng đảm bảo. Không quân Hoàng gia Anh cũng điều phần lớn máy bay ném bom đến gần biên giới hơn, và đảo Malta được tăng cường để uy hiếp con đường tiếp tế của Ý cho Libya.
Tổng hành dinh Sư đoàn Bộ binh số 6, thiếu các đơn vị đầy đủ và được huấn luyện bài bản, đã được đổi tên thành Lực lượng Sa Mạc Tây ngày 17 tháng 6, khi đã tiến sát Libya. O'Connor cũng được thăng cấp trung tướng vào tháng 10 khi bộ chỉ huy của ông được tăng cường và mở rộng. Ở Tunisia, Pháp có 8 sư đoàn, chỉ có khả năng hoạt động hạn chế còn ở Syria có 3 sư đoàn được trang bị nghèo nàn và đào tạo kém, với khoảng 40.000 quân và lính biên phòng làm nhiệm vụ chiếm đóng đối phó thường dân. Các lực lượng Ý trên bộ và không quân tại Libya áp đảo mạnh quân Anh về số lượng tại Ai Cập nhưng tinh thần chiến đấu thấp và gặp bất lợi do trang bị kém hơn. Tại Đông Phi thuộc Ý, có thêm 130.000 lính Ý và lính châu Phi với 400 khẩu pháo, 200 xe tăng hạng nhẹ và 20.000 xe tải. Ý tuyên chiến với Đồng Minh vào ngày 11 tháng 6 năm 1940.
Theo Thủ tướng Anh Winston Churchill, Lục quân Hoàng gia Ý có khoảng 215.000 quân tại Libya đối mặt với xấp xỉ 36.000 quân Anh tại Ai Cập, cùng với thêm 27.500 người đang huấn luyện tại Palestine. Người Anh ước tính về bộ binh, phía Ý có 6 sư đoàn "chính quốc" và 2 sư đoàn "dân quân" ở Tripolitania, 2 sư đoàn "chính quốc" và 2 sư đoàn "dân quân" tại Cyrenaica, và còn có 3 sư đoàn "biên giới". Để đối phó với lực lượng này, phía Anh có Sư đoàn Thiết giáp số 7, 2/3 Sư đoàn Bộ binh Ấn Độ số 4, 1/3 Sư đoàn New Zealand (sau trở thành sư đoàn New Zealand số 2), 14 tiểu đoàn Anh, và 2 trung đoàn Pháo binh Hoàng gia.
Điều kiện chiến trường.
Địa hình.
Chiến sự diễn ra chủ yếu trên Sa mạc Tây, chiều rộng khoảng 390 km bờ biển từ Mersa Matruh (Ai Cập) đến Gazala (Libya), dọc theo Litoranea Balbo, con đường nhựa duy nhất. Địa mạo Biến Cát nằm sâu 240 km trong nội địa đánh dấu giới hạn phía nam của sa mạc tại nơi rộng nhất của nó là ở Giarabub và Siwa; theo cách nói của người Anh thì Sa mạc Tây trải rộng bao gồm cả miền đông Cyrenaica của Libya. Từ bờ biển mở rộng vào trong nội địa là một vùng đá sa mạc bằng phẳng cao khoảng 150 m trên mực nước biển, chạy sâu 200–300 km đến vùng Biển Cát. Khu vực này có bò cạp, rắn và ruồi, và là nơi sinh sống của một số nhỏ dân du mục Bedouin. Người Bedouin đoàn kết tốt và có khả năng dễ dàng đi theo địa hình; chuyển hướng đi lại qua mặt trời, những ngôi sao, la bàn và "cảm giác sa mạc", họ nhận thức tốt về môi trường dựa vào kinh nghiệm. Khi quân Ý tiến vào Ai Cập trong tháng 9 năm 1940, Cụm Maletti đã bị lạc khi rời Sidi Omar, mất tích và phải dùng máy bay mới tìm ra được họ.
Vào mùa xuân và mùa hè, ngày rất nóng còn đêm rất lạnh. Gió Sirocco ("Gibleh" hay "Ghibli") là một loại gió sa mạc nóng bỏng, thổi theo đám cát mịn làm giảm tầm nhìn đi còn vài dặm và phủ lên mắt, phổi, máy móc, thực phẩm và trang bị; những xe có động cơ và máy bay cần bộ lọc dầu đặc biệt mới chạy được, và đất đai khô cằn đồng nghĩa với việc đồ tiếp tế thức ăn phải được vận chuyển từ bên ngoài đến. Các động cơ máy móc của Đức thường bị quá tải nhiệt và tuổi thọ động cơ xe tăng giảm từ 2.300–2.600 km xuống còn 480–1.450 km, và còn tệ hơn nữa do tình trạng thiếu những bộ phận tiêu chuẩn các loại của Đức và Ý.
Tiếp tế.
Phe Trục.
Tuyến đường mà hàng tiếp tế của Ý thường đi để tới Tripoli là vòng qua phía tây Sicily rồi tiếp cận bờ biển và cập cảng, kéo dài khoảng 970 km để tránh máy bay, tàu chiến và tàu ngầm của Anh đóng tại Malta tiến công. Trên bộ, hàng tiếp tế được vận chuyển qua một quãng đường rất dài trên đường cái hoặc do tàu chở theo những lượng nhỏ. Khoảng cách từ Tripoli đến Benghazi là khoảng 1.050 km còn đến El Alamein là 2.300 km. 1/3 tàu buôn của Ý đã bị giam giữ sau khi Ý tuyên chiến và đến tháng 9 năm 1942, một nửa số còn lại bị đánh chìm, mặc dù đã được thay thế nhiều bằng cách đóng mới, chuộc tàu và các tàu chuyển giao của Đức. Từ tháng 6 năm 1940 đến tháng 5 năm 1943, 16% số hàng chở trên các tàu đã bị đánh chìm.
Tobruk được sử dụng hết công suất vào tháng 6 năm 1942, nhưng tuyến đường tiếp cận dài và sự oanh tạc của quân Đồng Minh đã khiến cho cố gắng này bị từ bỏ trong tháng 8. Quân Đức cho rằng khoảng cách tối đa mà một đội quân cơ giới có thể hoạt động từ căn cứ của nó là 320 km, nhưng trung bình 1/3 các xe tải của phe Trục không thể hoạt động và 35–50% số nhiên liệu được cấp đã bị tiêu thụ khi chuyên chở số còn lại. Tình trạng thiếu dầu nhiên liệu ở Ý, quy mô nhỏ của các hải cảng tại Libya và vấn đề đáp ứng nhu cầu dân sự, tất cả dẫn đến việc huy động không hiệu quả một số lượng lớn các tàu hàng cỡ nhỏ và khiến cho Bộ tư lệnh Tối cao Lục quân Đức (OKH) kết luận rằng các lực lượng Đức ở Libya không thể được tiếp tế một cách hiệu quả để đánh một đòn quyết định trừ phi các đạo quân Ý trở về nước, mà về mặt chính trị thì điều đó là không thể.
Đồng Minh.
Vị trí địa lý của nước Ý có thể phong tỏa Địa Trung Hải nếu chiến tranh nổ ra và khiến cho Hạm đội Địa Trung Hải đóng tại Ai Cập phải phụ thuộc vào kênh đào Suez. Năm 1939, Wavell đã bắt đầu lên kế hoạch cho một căn cứ ở Trung Đông để hỗ trợ khoảng 15 sư đoàn (300.000 người), 6 ở Ai Cập, 3 ở Palestine và số còn lại ở xa ngoài mặt trận. Phần lớn các nguyên vật liệu được nhập từ các thuộc địa và phần còn lại thu được ở địa phương bằng cách khuyến khích sản xuất hàng thay thế nhập khẩu. Kế hoạch cho một lực lượng đồn trú 9 sư đoàn ở Ai Cập và Palestine đã được tăng lên thành 14 vào tháng 6 năm 1941 và đến tháng 3 năm 1942 đã thành 23 sư đoàn. Từ khi Ý tuyên chiến cho đến năm 1943, các tàu buôn từ Anh đi về phía đông vòng qua Mũi Hảo Vọng, nên khiến cho khoảng cách tới Ai Cập ngang bằng với đi tới Úc và New Zealand. Trung tâm Tiếp tế Trung Đông (MESC) được thành lập ở Ai Cập, Palestine và Syria để phối hợp các hàng nhập khẩu và các hàng thay thế địa phương, thực hiện chế độ phân phối dân sự và thúc đẩy cải thiện nông nghiệp. Đến tháng 3 năm 1943, MESC đã thay thế khoảng 100 tàu Liberty phân phối có giá trị nhập khẩu, tăng cường khả năng sản xuất khoai tây, dầu ăn, các sản phẩm từ sữa và cá. Gia súc lưu động từ Sudan không cần phải vận chuyển hàng lạnh nữa.
Năm 1940, các lực lượng quân sự Anh đã có ga cuối của tuyến đường sắt quốc gia Ai Cập, đường bộ và cảng Mersa Matruh (Matruh) cách Alexandria 320 km về phía tây làm căn cứ. Một đường ống dẫn nước bắt đầu dọc đường xe lửa này và các nguồn nước đã được khảo sát. Nhiều giếng được đào nhưng phần lớn đều đầy nước muối, và năm 1939 nguồn nước sạch chính là các cống nước La Mã tại Mersa Matruh và Maaten Baggush. Các thuyền chở nước từ Alexandria và một nhà máy chưng cất tại Matruh đã nâng cao khả năng tiếp tế nhưng một cơ cấu kinh tế nghiêm ngặt buộc phải được tiến hành và rất nhiều nước đã phải vận chuyển theo đường bộ đến các khu vực xa xôi hẻo lánh. Số xe cộ hiện có trong năm 1939 là không đủ và các xe tải được chuyển cho Sư đoàn Thiết giáp với liên kết hậu phương tốt hơn; chỉ có các xe phù hợp với sa mạc là có thể mạo hiểm cho những con đường phức tạp, khiến cho xe tăng không thể di chuyển quá Matruh. Matruh cách biên giới Libya 190 km về phía đông. Từ biên giới, không có nước tại Sollum, 80 km từ Sollum đến Sidi Barrani chỉ có một con đường chất lượng kém, có nghĩa là quân xâm lược phải tiến qua một vùng sa mạc không có nước và không có đường đi để tiếp cận quân chủ lực Anh. Tháng 9 năm 1940, Tiểu đoàn Đường sắt New Zealand và công nhân Ấn Độ đã bắt đầu làm việc trên tuyến đường sắt ven biển, tới Sidi Barrani vào tháng 10 năm 1941 và Tobruk vào tháng 12 năm 1942, cách El Alamein 640 km về phía tây, chuyên chở 4.300 tấn mỗi ngày.
Diễn biến.
Năm 1940.
Những xung đột ban đầu.
Những "lực lượng yểm hộ" ban đầu mà người Anh triển khai dọc biên giới Ai Cập, tuy nhỏ nhưng có khả năng chiến đấu hiệu quả. Nó bao gồm xe tăng hạng nhẹ thuộc Trung đoàn Hussar số 7, xe thiết giáp của Trung đoàn Hussar số 11, 2 tiểu đoàn mô tô thuộc Trung đoàn Bộ binh Súng trường số 60 và Lữ đoàn Súng trường, cùng 2 trung đoàn Kỵ Pháo binh Hoàng gia Anh được cơ giới hóa.
Ngày 11 tháng 6 năm 1940, một ngày sau khi Ý tuyên chiến với phe Đồng Minh, tình trạng đối địch bắt đầu và các lực lượng Ý tại Libya là lực lượng Anh cùng Khối Thịnh vượng chung ở Ai Cập đã mở một loạt những cuộc đột kích vào nhau. Đáng chú ý có cuộc tấn công của Trung đoàn Hussar số 11, khi được lệnh chiếm cứ biên giới và cô lập Giarabub, họ vượt qua biên giới tiến vào Libya trong đêm đó, đọ súng với quân Ý tại Sidi Omar, bắt giữ nhiều người Ý và phát hiện ra rằng nhiều lính Ý còn chưa biết là chiến tranh đã bắt đầu. Ngày 12 tháng 6, thêm 63 người Ý bị bắt làm tù binh trong một cuộc đột kích khác. Ngày 14 tháng 6, các trung đoàn Hussar số 11 và số 7 cùng với một đại đội thuộc Trung đoàn Bộ binh Súng trường số 60 đánh chiếm đồn Capuzzo và đồn Maddalena đồng thời bắt thêm 220 tù binh Ý. Hai ngày sau, 16 tháng 6, một cuộc đột kích chiều sâu vào trong lãnh thổ Libya đã phá hủy 12 xe tăng Ý, ngoài ra quân Anh còn chặn đánh một đoàn xe hộ tống trên con đường quốc lộ nối giữa Tobruk-Bardia, một phần của tuyến đường Quốc lộ Duyên hải Libya ("Via Balbia"), tiêu diệt 21 lính Ý và bắt được 88 tù binh, trong đó có tướng Romolo Lastrucci, Kỹ sư trưởng của Tập đoàn quân số 10 Ý. Trong một cuộc đụng độ gần tuyến biến giới tại Nezuet Ghirba, một lực lượng 17 xe tăng hạng nhẹ, 4 khẩu pháo và 400 bộ binh Ý đã bị một lực lượng hỗn hợp gồm xe tăng, pháo binh và bộ binh cơ giới Anh đánh bại.
Đến ngày 25 tháng 6, Pháp ký hiệp định đình chiến với Ý, chính thức đầu hàng phe Trục. Nhờ đó, binh lính và trang bị của Tập đoàn quân số 5 Ý (đóng tại Tripolitania đối diện quân Pháp ở Tunisia) được điều bớt sang tăng cường cho Tập đoàn quân 10. Tập đoàn quân 5 chỉ còn lại 4 sư đoàn, trong khi Tập đoàn quân 10 được phát triển lên đến 10 sư đoàn. Đến giữa tháng 7, quân Ý đã phát triển lực lượng tại biên giới Ai Cập trở thành một đội quân gồm 2 sư đoàn bộ binh đầy đủ và các thành phần của hai sư đoàn khác nữa.
Ngày 28 tháng 6, Thống chế Balbo bị giết chết trong một tai nạn nhầm lẫn khi đang đổ bộ tại Tobruk. Máy bay của ông đã bị hỏa lực phòng không của quân Ý bắn nhầm do hạ cánh ngay sau một cuộc không kích của Anh. Thay thế chức vụ tổng tư lệnh và toàn quyền của Balbo là thống chế Rodolfo Graziani.
Người Anh tiến hành tuần tra khu vực biên giới về phía tây đến Tobruk, thiết lập ưu thế so với Tập đoàn quân số 10 Ý. Ngày 5 tháng 8, chiến sự nổ ra tại khu vực nằm giữa sân bay Sidi Azeiz và đồn Capuzzo, tuy lớn nhưng bất phân thắng bại. 30 xe tăng hạng trung M11/39 Ý đã chạm trán với Trung đoàn Hussar số 8 khi họ cố gắng thiết lập lại quyền kiểm soát của Ý khu vực này. Tướng Wavell kết luận rằng việc tiếp tục các chiến dịch là không thực tế khi mà cuộc tấn công của quân Ý đang manh nha. Tình trạng hao mòn và hỏng hóc của các xe cộ thiết giáp thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 7 Anh lúc này đang gia tăng đến mức khủng hoảng, đòi hỏi cần phải có những phân xưởng sửa chữa. Cát làm các thiết bị hao mòn nhanh chóng, rút ngắn tuổi thọ bánh xích xe tăng, làm cạn kiệt phụ tùng thay thế và chỉ có một nửa lực lượng tăng có thể tiếp tục hoạt động. Đứng trước tình hình này và nhận ra rằng một lực lượng hữu hiệu của mình đã kiệt sức mà chẳng có mục đích chiến lược nào, Wavell liền hạn chế mở rộng chiến sự và bàn giao việc phòng thủ biên giới cho Cụm Yểm trợ số 7 của lữ đoàn trưởng William Gott và Trung đoàn Hussar số 11 của trung tá John Combe. Các đơn vị này sẽ trở thành một tấm bình phong làm từ nhiều tiền đồn nhằm cảnh báo bất cứ nỗ lực tiếp cận nào của Ý.
Tính đến ngày 13 tháng 8, theo những diễn biến trong giai đoạn chiến sự ban đầu, bảng thống kê tương quan nghiêng về phía có lợi cho phía Anh. Họ kiểm soát sa mạc và áp đảo được quân Ý. Những thất bại ban đầu đã khiến cho người Ý mất tinh thần, và họ cảm thấy như không có chỗ nào là an toàn, thậm chí là cả ở những tuyến phòng thủ nằm tĩnh sâu bên trong lãnh thổ của Ý kiểm soát. Có thể trừ ra một số ít các đơn vị như Đại đội Ô tô Sahara ("Compagnie Auto-Avio-Sahariane"), thì quân Ý không hề được an toàn trên sa mạc trống trải, nơi mà nói chung họ bị tách rời ra khỏi đơn vị của mình.
Trong suốt thời gian còn lại của tháng 8 và những ngày đầu tháng 9, sa mạc trở nên yên tĩnh một cách không hề thoái mái. Sự yên tĩnh này chỉ bị phá vỡ bởi những cuộc chạm trán bất ngờ của quân tuần tra và những trận không chiến lẻ tẻ khi cả hai bên thăm dò ý định của bên kia. Người Anh tuyên bố trong vòng 2 tháng chiến đấu trên sa mạc (11 tháng 6 – 9 tháng 9), họ đã gây cho quân Ý thiệt hại mất khoảng 3.500 người trong khi chịu tổn thất là 150.
Xa hơn nữa, cả hai bên đều thiết lập những nhóm quân lùng tìm: Đại đội Ô tô Sahara của Ý và Đại đội Ô tô Sahara (LRDG) của Anh, họ lùng khắp sa mạc và quan sát bố trí quân đối phương mà tiến hành đột kích. Trong khi một mạng lưới gián điệp ghê gớm tại Ai Cập ("Servizio Informazioni Militare") bảo vệ bí mật của phe Ý, thì người Anh chọn những cách khác để có được thông tin. Đơn vị lùng Cụm Sa mạc Tầm xa dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Ralph A. Bagnold cũng đóng vai trò một lực lượng tình báo và báo cáo những cuộc chuyển quân của Ý ở xa phía sau phòng tuyến về cho phía Anh qua đường radio Skywave.
Người Ý tấn công.
Benito Mussolini vốn không có kế hoạch xâm chiếm Ai Cập và chỉ dự định duy trì phòng ngự tại Libya nếu chiến tranh nổ ra. Sau khi nước Pháp bại trận năm 1940, Tập đoàn quân số 5 Ý đã có thể điều lực lượng sang tăng viện cho phía đông và vào ngày 7 tháng 8, Mussolini liền ra lệnh tấn công nhằm chiếm đóng Ai Cập và thiết lập một vùng đất nối liền khu vực Bắc Phi thuộc Ý ("Africa Settentrionale Italiana") với Đông Phi thuộc Ý ("Africa Orientale Italiana") và hy vọng có thể chiếm được kênh đào Suez cũng như những mỏ dầu Ả Rập. Trong tháng 8, biên giới trải qua một thời kỳ yên tĩnh, phần lớn các đơn vị thiết giáp Anh đã rút khỏi biên giới về Mersa Matruh để duy trì khả năng phòng giữ cảng này và Cụm Yểm trợ số 7 đến tiếp quản, tiến hành giám sát các đồn trại từ Sollum đến Đồn Maddalena nhằm sẵn sàng ngăn cản cuộc tấn công của Ý; lực lượng Hussar thì do thám sâu hơn vào trong lãnh thổ Libya. Các sư đoàn Libya thiếu phương tiện vận tải cần thiết để cùng hoạt động với Cụm Maletti có 1 tiểu đoàn xe tăng hạng trung, 2 tiểu đoàn xe tăng hỗn hợp và 4 tiểu đoàn xe tăng hạng nhẹ trên đoạn công sự dốc đứng, nên được bố trí lại ra con đường ven bờ biển. Ngày 9 tháng 9, Cụm Maletti bị lạc trên đường tới Sidi Omar và Graziani hủy bỏ cuộc hành quân bọc sườn để tập trung vào con đường ven biển với 5 sư đoàn và Cụm Maletti; Sư đoàn Áo đen số 4 và Sư đoàn Catanzaro số 64 ở lại làm dự bị tại Tobruk. Phi đội số 5 (5° "Squadra"), 1 đơn vị không quân hỗn hợp với khoảng 300 máy bay, các trang bị sân bay và vận tải, đóng vai trò yểm trợ cho cuộc tiến quân và chiếm giữ các sân bay.
Ngày 9 tháng 9, các lực lượng Ý dưới quyền tổng chỉ huy của thống chế Rodolfo Graziani đã xuất phát từ căn cứ tại Cyrenaica tấn công Ai Cập. Cuộc xâm chiếm này khởi đầu như một hoạt động chiến thuật giới hạn tiến về Mersa Matruh hơn là nhằm các mục tiêu chiến lược được phác họa tại Roma, do tình trạng thiếu hụt thường xuyên xe vận tải, nhiên liệu và trang thiết bị không dây, ngay cả với các đơn vị chuyển giao từ Tập đoàn quân số 5. Ngày 13 tháng 9, Musaid phải hứng chịu một trận pháo kích "ngoạn mục" lúc hoàng hôn và bị chiếm đóng. Sollum và sân bay của nó bị Sư đoàn Libya số 1 đánh chiếm và đến tối ngày hôm đó Sư đoàn Libya số 2, Sư đoàn số 63 (Cyrene) và Cụm Maletti từ Musaid cùng Sư đoàn số 62 (Marmarica) từ Sidi Omar đã vượt qua các nhóm quấy phá của Anh và tập hợp tại đèo Halfaya. Quân Anh rút lui qua Buq Buq trong ngày 14 tháng 9 và vừa tiếp tục quấy rối đà tiến của Ý vừa lùi về Alam Hamid trong ngày hôm sau và đến Alam el Dab ngày 16 tháng 9. Cùng ngày 16 tháng 9, một lực lượng Ý với 50 xe tăng đã cố gắng bọc sườn đội hậu quân Anh đang nghỉ ở phía đông Sidi Barrani, thị trấn này bị Sư đoàn Áo đen số 1 chiếm đóng trong ngày hôm ấy và sau đó Graziani đã cho ngừng tiến quân với lý do đưa ra là gặp vấn đề về tiếp tế. Người Anh lại tiếp tục theo dõi và Sư đoàn Thiết giáp số 7 liền chuẩn bị sẵn sàng đối phó với một cuộc tấn công vào Mersa Matruh.
Mặc dù Mussolini hối thúc Graziani tiếp tục tấn công, quân Ý vẫn đào hào lập trại quanh Sidi Barrani và Sofafi, cách các vị trí phòng thủ của Anh tại Mersa Matruh 130 km về phía tây. Các đoạn đường bị quân Anh phá hoại được sửa lại, các giếng nước được làm sạch và một đường ống dẫn nước từ biên giới được bắt đầu xây dựng, nhằm tích lũy đồ tiếp tế phục vụ cho việc tiếp tục tiến quân dự kiến sẽ bắt đầu vào giữa tháng 12. Trước tình hình này, Ai Cập chấm dứt quan hệ với Đức và Ý sau khi máy bay Ý ném bom xuống Ma'adi, một khu ngoại ô của Cairo, nơi có nhiều người châu Âu sinh sống vào ngày 19 tháng 10. Hải quân và không quân Anh tiếp tục quấy phá quân đội Ý và gây ra những thiệt hại mà theo tù nhân khai lại là đã khiến tinh thần chiến đấu sa sút. Các đội tuần tra thiết giáp chế ngự những vùng đất không có người ở nhưng việc để mất các điểm hạ cánh cao cấp đã làm giảm hiệu quả của không quân Anh còn Malta thì nằm ngoài tầm bay. Chiến dịch Compass, một cuộc phản công để phá hỏng cuộc tiến quân của Ý vào Matruh đã được người Anh lên kế hoạch nhằm hủy diệt lực lượng Ý và phần lớn Lực lượng Sa mạc Tây đã được điều đến cảng này. Một đại đội xe thiết giáp phụ tham gia vào các hoạt động trinh sát ở xa phía sau trận tuyến. Lực lượng Sa mạc Tây được tăng viện bằng một trung đoàn xe tăng mới trang bị loại tăng Matilda II và một tháng sau, quân Anh đã bắt đầu chuẩn bị đột kích vào cụm trại quân trung tâm của Ý và sau đó là vào Sofafi trong thời gian 4–5 ngày chứ không đợi người Ý tấn công trước nữa.
Người Anh phản công.
Tháng 12 năm 1940, Tập đoàn quân số 10 Ý tại Ai Cập được tăng viện các sư đoàn Libya số 1, số 2 và Sư đoàn Áo đen số 4, đóng tại các trại công sự từ Sidi Barrani đến Tummars và Maktila. Cụm Maletti đóng quân ở Nibeiwa, Sư đoàn số 63 (Cyrene) đóng tại Rabia và Sofafi, Sư đoàn số 62 (Marmarica) đóng trên đoạn công sự dốc đứng từ Sofafi đến Đèo Halfaya còn Sư đoàn số 64 (Catanzaro) đóng ở phía đông Buq Buq, sau khe hở Nibeiwa–Rabia, được yểm trợ bởi khoảng 500 máy bay thuộc Phi đội số 5 của tướng Felip Porro. Ngày 7 tháng 12, Không quân Hoàng gia Anh đã tấn công các sân bay và phá hủy 39 máy bay trên mặt đất. Và đến sáng ngày 9 tháng 12, một cuộc đột kích của Anh mà người Ý hoàn toàn không phòng bị, Chiến dịch Compass (Trận Marmarica/Trận chiến Doanh trại) đã bắt đầu khi Lực lượng Selby tiến từ Matruh tới nhằm cô lập Maktila. Sư đoàn Bộ binh số 4 Ấn Độ và Trung đoàn Xe tăng Hoàng gia số 7 (7th RTR) đã tiến đánh Nibeiwa lúc bình minh và tràn ngập trại này, sau đó tiến vào Tummar West, vị trí này thất thủ vào buổi chiều. Một cuộc phản công của Ý từ Tummar East đã bị đẩy lui và hôm sau đến lượt chính trại này cũng bị chiếm.
Trận Sidi Barrani.
Sư đoàn Thiết giáp số 7 Anh phòng thủ ở phía tây, ngăn không cho quân tiếp viện Ý tới Sidi Barrani và đến ngày 10 tháng 12, quân Anh đã cắt đứt con đường ven biển rồi Sư đoàn Thiết giáp số 7 tiến hành càn quét quanh khu vực Buq Buq, bắt sống nhiều tù binh. Ngày 11 tháng 12, quân Ý bị đánh bại tại Sidi Barrani; phải bỏ Rabia và Sofafi, Sư đoàn Thiết giáp số 7 liền truy kích dọc bờ biển và đoạn công sự dốc đứng. Tối ngày 14 tháng 12, Trung đoàn Hussar số 11 cắt đứt đường Via Balbia nối giữa Tobruk và Bardia, chiếm Sidi Omar trong ngày 16 và đánh bật quân Ý ra khỏi Sollum và Đồn Capuzzo rút về Bardia, bỏ rơi lực lượng đồn trú tại ốc đảo Siwa và Giarabub ở phía nam. Từ ngày 9 đến 11 tháng 12, quân Anh đã bắt được 38.300 tù bình, 237 pháo, 73 xe tăng và khoảng 1.000 xe cộ đổi lấy 624 thương vong.
Trận Bardia.
Wavell đã khiến O'Connor phải bất ngờ khi chuyển Sư đoàn Bộ binh số 4 nhiều kinh nghiệm trận mạc của Ấn Độ sang Mặt trận Trung Đông và thay thế nó bằng Sư đoàn số 6 Úc mới đến. Quân Úc sau đó dồn dập tấn công Bardia và Tobruk.
Bardia thất thủ trong khoảng thời gian từ 14 tháng 12 đến 5 tháng 1; quân Anh tổn thất 456 bộ binh Úc và 17 trong số 23 xe tăng, đổi lại là 40.000 quân Ý bị thương vong và bị bắt, hơn 400 khẩu pháo, 130 xe tăng và hàng trăm xe tải. Rạng sáng ngày 21 tháng 1, bộ binh Úc đột phá vào Tobruk và thiết lập một đường tiến cho 18 xe tăng Anh. Quân Úc xông đến và đến xẩm tối đã bắt sống nửa số quân phòng thủ Tobruk. Đồng Minh bắt được 25.000 tù bình, 208 khẩu pháo và 87 xe tăng mà chỉ mất 355 quân Úc và 45 quân Anh. Sư đoàn Thiết giáp số 7 tiến 160 km về phía Derna và tấn công Lữ đoàn Thiết giáp Đặc biệt Ý (BCS - "Brigata Corazzata Speciale") do tướng Valentino Babini với khoảng 300 xe tăng ở Mechili. Lữ đoàn này của Ý bỏ chạy và ngày 26–28 tháng 1 xe tăng Anh sa lầy trong mưa lớn; hôm sau đến lượt Derna bị rút bỏ. Sư đoàn Thiết giáp số 7 Anh phái Lực lượng Combe tới Beda Fomm để cắt đường Tập đoàn quân số 10 Ý.
Trận Beda Fomm.
Cuối tháng 1 năm 1941, người Anh biết rằng quân Ý đang sơ tán khỏi Cyrenaica dọc theo đường Via Balbia từ Benghazi. Sư đoàn Thiết giáp số 7 của thiết tướng Sir Michael O'Moore Creagh được cử đi chặn đánh tàn quân Tập đoàn quân số 10 Ý bằng cách tiến qua sa mạc ở phía nam Jebel Akhdar qua Msus và Antelat trong khi Sư đoàn số 6 Úc truy kích quân địch dọc theo con đường ven biển ở phía bắc Jebel Akhdar. Địa hình khu vực này khó đi đối với xe tăng Anh, nên Lực lượng Combe của trung tướng J. F. B. Combe đã được phái đi để phối hợp.
Cuối ngày 5 tháng 2, Lực lượng Combe đã tới Via Balbia ở phía nam Benghazi và thiết lập chặn đường gần Sidi Saleh, các Ajedabia 32 km về phía bắc và Antelat 48 km về phía tây nam. Nửa tiếng sau, các đơn vị tiên phong của Tập đoàn quân số 10 Ý tới nơi và phát hiện đường Via Balbia đã bị chặn. Hôm sau, quân Ý tấn công để phá đoạn đường bị chặn và tiếp tục tiến đánh vào ngày 7 tháng 2. Khi quân tiếp viện Anh tới nơi và quân Úc tràn xuống con đường này từ phía Benghazi, Tập đoàn quân số 10 phải đầu hàng. Tại Benghazi–Agedabia, quân Anh bắt sống 25.000 tù binh, chiếm 107 xe tăng và 93 khẩu pháo trong tổng số 133.298 người, 420 xe tăng và 845 khẩu pháo bắt được trong toàn Chiến dịch Compass.
Trong chiến dịch mau lẹ này, phía Anh bắt được 130.000 quân Ý mà chỉ chịu thương vong có 2.000 người. Suốt giai đoạn đó, người Ý tưởng rằng mình bị áp đảo mạnh về quân số, trong khi thực tế là ngược lại. Bộ trưởng ngoại giao Anh Anthony Eden đã nói đùa rằng "Chưa bao giờ có rất nhiều người đầu hàng rất nhiều trước rất ít người như thế" ("Never has so much been surrendered by so many to so few", nhại theo câu nói nổi tiếng "so much owed by so many to so few" của Winston Churchill). Các lực lượng Ý còn lại rút chạy về El Agheila vào ngày 9 tháng 2 năm 1941. Trong giai đoạn này của cuộc chiến, Lực lượng Sa mạc Tây đã được đổi tên thành Quân đoàn XIII của Anh.
Ngày 9 tháng 2, Churchill ra lệnh ngừng tiến quân và điều quân tới Hy Lạp để tham gia vào cuộc Chiến tranh Hy Lạp-Ý; cũng như cuộc tấn công qua Macedonia của Đức (Chiến dịch Marita) được cho là sắp xảy ra. Dù sao thì quân Anh cũng không thể nào tiến quá El Agheila, vì tình trạng xe cộ hỏng hóc, quân lính mệt mỏi và ảnh hưởng của việc tuyến đường vận tải tiếp tế từ căn cứ ở Ai Cập bị kéo ra quá dài. Chỉ vài ngàn người thuộc Tập đoàn quân số 10 Ý đã thoát khỏi thảm họa tại Cyrenaica nhưng Tập đoàn quân số 5 tại Tripolitania vẫn còn có 4 sư đoàn. Các đồn lũy tại Sirte, Tmed Hassan và Buerat đã được tăng viện từ Ý, nâng tổng số quân của 2 tập đoàn quân Ý lên khoảng 150.000 người. Quân tiếp viện Đức cũng được phái đến Libya để lập một "phân đội chặn" ("Sperrverband") theo Chỉ thị 22 của Hitler ngày 11 tháng 1, đây là những đơn vị đầu tiên của "Quân đoàn châu Phi" do tướng Erwin Rommel chỉ huy.
Năm 1941.
Sau thắng lợi quyết định của Anh và Khối Thịnh vượng chung tại Cyrenaica, hệ thống bố trí quân sự của họ đã sớm bị đảo lộn. Một tuần sau khi quân Ý ở Beda Fomm đầu hàng, Ủy ban Quốc phòng ở London đã ra mệnh lệnh tới Cyrenaica là chỉ giữ lại lực lượng tối thiểu và chuyển số quân còn lại đến Hy Lạp trong Chiến dịch Lustre. Lực lượng Sa mạc Tây (giờ là Quân đoàn XIII), Sư đoàn Úc số 6 được trang bị đầy đủ và không có nhiều tổn thất đến thay thế. Sư đoàn Thiết giáp số 7 đã hoạt động được 8 tháng, các trang thiết bị máy móc đã bị hao mòn và được rút về để sửa chữa trang bị lại. 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 2 cùng với Lực lượng Sa mạc Tây cũng bị hao mòn, sư đoàn này chỉ còn lại 4 trung đoàn xe tăng. Sư đoàn Úc số 6 tới Hy Lạp trong tháng 3 với một cụm lữ đoàn thiết giáp của Sư đoàn Thiết giáp số 2; phần còn lại của sư đoàn này và Sư đoàn Úc số 9 mới đến (trừ 2 lữ đoàn và hầu hết lực lượng vận tải đã phái đến Hy Lạp) được thay thế bởi 2 lữ đoàn trang bị kém thuộc Sư đoàn Úc số 7. Sư đoàn này tiếp quản Cyrenaica, với giả định rằng quân Ý sẽ không thể bắt đầu phản công cho đến tháng 5, cho dù có được Đức tiếp viện đi nữa.
Cuộc tấn công thứ nhất của Rommel.
Trong khi Wavell giảm bớt lực lượng của mình tại Bắc Phi thì nhà độc tài Đức Adolf Hitler, trước thảm họa của nước Ý đồng minh, đã ra lệnh mở Chiến dịch Sonnenblume ("Hoa hướng dương"), triển khai Quân đoàn châu Phi ("Deutsches Afrikakorps" - DAK) mới thành lập làm lực lượng tăng viện cho quân Ý để cứu họ khỏi sụp đổ hoàn toàn. Quân đoàn này của Đức bao gồm những đội quân đầy sức sống với nhiều xe tăng, trang bị và yểm trợ không quân tốt hơn và một viên tư lệnh đầy uy tín, tướng Erwin Rommel.
Khi Rommel đến Bắc Phi, ông ra lệnh giả vờ giữ thế phòng ngự và giữ vững trận tuyến. Nhận thấy rằng lực lượng phòng thủ của Anh đang mỏng, ông liền tấn công nhanh chóng đánh bại lực lượng Đồng Minh tại El Agheila vào ngày 24 tháng 3 và tại Mersa el Brega ngày 31 tháng 3. Khuếch trương chiến quả, đến 15 tháng 4 Rommel đã đẩy được quân Anh lùi về biên giới tại Sollum, chiếm lại toàn bộ lãnh thổ Libya ngoại trừ Tobruk. Thành phố này, dưới quyền chỉ huy của tướng Úc Leslie Morshead, sau đó đã bị bao vây và phong tỏa. Trong cuộc tiến quân này, lần lượt ba người: trung tướng Philip Neame, tư lệnh chiến trường mới của Tổng hành dinh Bộ chỉ huy Cyrenaica (tên mới đổi của Quân đoàn XIII); Richard O'Connor, mới được triệu về để hỗ trợ; và thiếu tướng Michael Gambier-Parry, tư lệnh Sư đoàn Thiết giáp số 2 Anh đã bị Đức bắt sống. Không có Neame và O'Connor, các lực lượng Anh và Khối Thịnh vượng chung một lần nữa được sắp xếp dưới quyền Tổng hành dinh Lực lượng Sa mạc Tây. Quyền tư lệnh thuộc về trung tướng Noel Beresford-Peirse, người được triệu về Cairo khi đang chỉ huy Sư đoàn Bộ binh số 4 Ấn Độ tại Đông Phi.
Chiến dịch tấn công đầu tiên của Rommel về cơ bản là thành công. Ngoài một cụm lữ đoàn thiết giáp thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 2 Anh bị rút ra để tham gia chiến dịch tại Hy Lạp thì phần còn lại của sư đoàn này đã bị quân Đức tiêu diệt. Tuy nhiên, nhiều nỗ lực của Đức nhằm đánh chiếm vị trí cô lập tại Tobruk đã thất bại và trận tuyến được ổn định lại trên biên giới Ai Cập.
Cuộc vây hãm Tobruk.
Quân Đức và Ý đã vây hãm các lực lượng Anh và Khối Thịnh vượng chung tại Tobruk trong một cuộc đối đầu dai dẳng kéo dài 240 ngày đêm.
Tobruk được bảo vệ bởi một lực lượng khoảng 25.000 quân thuộc Tập đoàn quân số 8 Anh, với nhiều hàng tiếp tế dự trữ và được Hải quân Hoàng gia Anh đảm bảo liên lạc với hậu phương Ai Cập. Quân đồn trú có trang bị xe thiết giáp và xe tăng chiến lợi phẩm của Ý, cho phép họ đột kích vào các đoàn xe tiếp tế của phe Trục đi ngang Tobruk để tiến ra biên giới, khiến cho quân Trục không thể tiến hành xâm chiếm Ai Cập. Rommel lập tức cố gắng đánh chiếm cảng này, nhưng Sư đoàn số 9 Úc của tướng Leslie Morshead đã phòng phủ đến cùng. Quân Ý không kịp cung cấp bản thiết kế các công sự trong cảng và nhiều cuộc tấn công bị đẩy lùi. Sau 3 tuần lễ, Rommel đình chỉ tấn công và tiếp tục bao vây. Các sư đoàn bộ binh Ý chiếm giữ những vị trí gần pháo đài trong khi phần lớn Quân đoàn châu Phi duy trì một vị trí lưu động ở phía nam và phía đông của cảng.
Bộ chỉ huy chiến trường chung của Đồng Minh bây giờ là Tập đoàn quân số 8 Anh, được tạo thành từ những đơn vị của nhiều quốc gia khác nhau, bao gồm Sư đoàn số 9 và Lữ đoàn số 18 của Lục quân Úc và Lục quân Ấn Độ, ngoài ra còn có các sư đoàn của Nam Phi, New Zealand, 1 lữ đoàn Lực lượng Pháp tự do của tướng Marie-Pierre Koenig và Lữ đoàn Súng trường Độc lập Carpath Ba Lan.
Chiến dịch Brevity.
Chiến dịch Brevity (15–16 tháng 5) là một cuộc tấn công hạn chế nhằm làm tiêu hao các lực lượng phe Trục và chiếm giữ các vị trí để phục vụ cho cuộc tổng công kích vào Tobruk. Quân Anh đã tấn công với một lực lượng xe tăng bộ binh nhỏ chia thành 3 đội hình, "Sa Mạc", "Trung tâm" và "Ven Biển". Đội Sa Mạc có trang bị xe tăng hành trình sẽ tiến trong nội địa và tiêu diệt bất cứ xe tăng nào đụng độ trên đường đến Sidi Azeiz. Đội Trung tâm sẽ đánh chiếm đèo Halfaya, Bir Wair và Musaid, rồi tràn tới Đồn Capuzzo. Đội Ven Biển sẽ chiếm Sollum và khu chân đèo Halfaya. Sollum, đèo Halfaya và Đồn Capuzzo đều đã bị chiếm nhưng sau đó đồn này đã bị đối phương phản công lấy lại. Quân Đức phản kích ngày 16 tháng 5, đe dọa lực lượng Anh trên đỉnh đèo và mệnh lệnh rút lui được ban ra với Đội Sa Mạc bọc hậu. Người Đức giành lại Musaid và quân Anh bắt đầu tổng rút lui từ Sidi Omar về Sidi Suleiman và Sollum, chỉ còn lại Đèo Halfaya trong tay người Anh. Chiến dịch Brevity không đạt được hầu hết mục tiêu của nó, chỉ giữ được Đèo Halfaya trong thời gian ngắn. Phía Anh chịu 206 thương vong, 5 xe tăng bị phá hủy và 13 bị hư hỏng. Thiệt hại của Đức là 258 người, 3 xe tăng bị phá hủy và một số chiếc bị hư hỏng. Quân Ý mất 395 người, trong đó có 347 bị bắt. Ngày 12 tháng 5, đoàn tàu vận tải "Tiger" mất một chiếc tàu và tới được Alexandria với 238 xe tăng để tái trang bị cho Sư đoàn Thiết giáp số 7 Anh và 43 máy bay; ngày 28 tháng 5, phía Anh bắt đầu lên kế hoạch cho Chiến dịch Battleaxe.
Chiến dịch Skorpion.
Tối ngày 26 tháng 5, Cụm tác chiến von Herff ("Kampfgruppe von Herff") của đại tá Maximilian von Herff với 3 tiểu đoàn Panzer đã tập hợp trên bờ biển dưới chân đèo Halfaya và đến sáng hôm sau thì tấn công với ý định lừa cho quân Anh phải rút lui. Con đèo này được phòng thủ bởi Trung đoàn Bảo vệ Coldstream số 3 (trung tá Moubray) và các đơn vị hỗ trợ nhưng đòn tấn công giả đã thành thật và chiếm được vị trí chỉ huy, khiến quân Anh đứng trước nguy cơ bị bao vây. Gott cho phép rút lui và Moubray đưa cả tiểu đoàn chạy thoát. Do gần đó không có quân tiếp viện nên Gott ra lệnh rút khỏi con đèo, nơi này sau đó đã bị quân Trục chiếm lại. Các vị trí của Đức-Ý tại biên giới được củng cố bằng dây thép gai và các bãi mìn, với yểm hộ của súng chống tăng 50 ly và 88 ly. Phía sau tuyến phòng thủ mới, phe Trục bắt đầu tích trữ đồ tiếp tế và tiếp nhận Sư đoàn Panzer số 15, bắt đầu đến nơi ngày 20 tháng 5.
Chiến dịch Battleaxe.
Chiến dịch Battleaxe (15–17 tháng 6 năm 1941) được mở với dự định giải vây cho Tobruk và chiếm lại miền đông Cyrenaica. Cuộc tấn công sẽ do Sư đoàn Thiết giáp số 7 Anh và một lực lượng bộ binh hỗn hợp với 2 lữ đoàn đóng tại tổng hành dinh Sư đoàn số 4 Ấn Độ thực hiện. Bộ binh sẽ tiến đánh khu vực Bardia, Sollum, Halfaya và Capuzzo, với xe tăng bảo vệ sườn phía nam. Lần đầu tiên trong cuộc chiến, có một lực lượng lớn quân Đức chiến đấu ở thế phòng ngự. Cuộc tấn công đèo Halfaya thất bại, Điểm 206 bị chiếm và duy có cuộc tiến công vào Hafid Ridge là thu được thành công. Đến cuối ngày 15 tháng 6, chỉ có 48 xe tăng Anh còn hoạt động được. Ngày 16 tháng 6, quân Đức phản công đánh bật đối phương trên cánh phía tây nhưng ở trung tâm thì bị đẩy lùi, đến lúc này lực lượng xe tăng Anh giảm xuống còn 21 xe tăng hành trình và 17 xe tăng bộ binh hoạt động được.
Ngày 17 tháng 6, người Anh suýt soát tránh được bị 2 trung đoàn Panzer Đức bao vây và kết thúc chiến dịch. Mặc dù quân Anh đã dàn quân ra quá rộng nhưng phía Đức vẫn không thể chuyển một thắng lợi phòng ngự thành một chiến thằng có tính hủy diệt. Phía tình báo đã cung cấp chi tiết về di chuyển của quân Anh, nhưng Không quân Hoàng gia Anh đã phát hiện các động thái của Đức và làm chậm bước họ đủ lâu để cho các lực lượng trên bộ trốn thoát. Quân Anh chịu thương vong 969 người, 27 xe tăng hành trình và 64 xe tăng I bị hạ hoặc hỏng hóc không thể phục hồi, còn không quân mất 36 máy bay. Phía Đức mất 678 người (thiệt hại của Ý không được rõ), 12 xe tăng và 10 máy bay. Thất bại này của quân Anh đã dẫn đến việc sa thải Wavell tư lệnh Quân đoàn XIII, trung tướng Noel Beresford-Peirse và thiếu tướng Michael O'Moore Creagh tư lệnh Sư đoàn Thiết giáp số 7; Đại tướng Claude Auchinleck lên nắm quyền tổng tư lệnh Bộ tư lệnh Trung Đông.
Chiến dịch Crusader.
Tập đoàn quân số 8 Anh, dưới quyền chỉ huy của trung tướng Alan Cunningham, đã mở màn Chiến dịch Crusader vào ngày 18 tháng 11 năm 1941, một lần nữa nhằm mục tiêu giải vây Tobruk và chiếm lại miền đông Cyrenaica.
Tập đoàn quân số 8 lên kế hoạch tiêu diệt lực lượng thiết giáp của phe Trục trước khi cho bộ binh vào trận nhưng đã bị đẩy lui nhiều lần, mà đỉnh cao là thất bại của Sư đoàn Thiết giáp sô 7 Anh trước "Quân đoàn châu Phi" tại Sidi Rezegh. Rommel ra lệnh cho các sư đoàn panzer đi cứu các vị trí trên biên giới Ai Cập nhưng không tìm được chủ lực bộ binh Đồng Minh, vốn đã bỏ qua các pháo đài mà tiến thẳng về Tobruk. Rommel rút quân thiết giáp của mình từ biên giới về Tobruk và thu được nhiều thắng lợi chiến thuật, gây nên bất đồng giữa một số tướng lĩnh tư lệnh lục quân Anh và dẫn đến việc Auchinleck thay thế Cunningham bằng thiếu tướng Neil Ritchie. Nhưng cuối cùng các lực lượng Trục vẫn buộc phải rút khỏi tây Tobruk về tuyến Gazala và sau đó lui về El Agheila; quân đồn trú phe Trục ở Bardia và Sollum thì đầu hàng. Một lần nữa, trận tuyến lại được đặt tại El Agheila, toàn bộ lãnh thổ mà Rommel chiếm được trong hai tháng 3 và 4 đã lại bị mất. Phía Anh thiệt hại 17.700 người đổi lấy thương vong 37.400 phía phe Trục, và nhiều người bị bắt tại Halfaya và Bardia. Nhưng quan trọng nhất là vòng vây xung quanh Tobruk của phe Trục đã bị phá vỡ, Cyrenaica đã được lấy lại và các sân bay chiếm được đã có thể giúp yểm trợ những đoàn tàu tiếp tế cho Malta.
Năm 1942.
Cuộc tấn công thứ hai của Rommel.
Khi Tập đoàn quân số 8 tiến 800 km tới El Agheila, gánh nặng về tuyến đường tiếp tế kéo quá dài lại chuyển sang cho phía Anh. Sau sự kiện Hải quân Đế quốc Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, các lực lượng Úc đã rút khỏi Sa mạc Tây để chuyển đến mặt trận Thái Bình Dương, còn Lữ đoàn Thiết giáp số 7 của Anh cũng được chuyển đến Miến Điện. Sư đoàn Thiết giáp số 1 Anh còn tương đối thiếu kinh nghiệm đã trở thành lực lượng phòng thủ chính đóng quanh El Agheila. Lực lượng thiết giáp của nó cũng bị dàn trải giống như các đơn vị nhiều kinh nghiệm khác hoạt động từ đầu chiến dịch.
Đến tháng 1 năm 1942, người Anh đã rút lực lượng khỏi mặt trận để giảm nhẹ gánh nặng tiếp tế, chuẩn bị cho Chiến dịch Acrobat (một kế hoạch từ năm 1941 nhằm tiến về phía tây vào Tripolitania, khi mà chính quyền Vichy bị gây áp lực phải để cho quân Anh, sau đó là liên quân Anh-Mỹ tiến vào Bắc Phi thuộc Pháp sau tháng 12 năm 1941, với khả năng đánh chiếm Sicily). Người Anh đã đánh giá quá cao những thiệt hại mà họ gây ra cho phía Đức trong Chiến dịch Crusader và giả định rằng mình chỉ đối mặt với 35.000 địch quân chứ không phải 80.000 như trong thực tế, và cũng đã đánh giá sai tốc độ tăng viện từ châu Âu của phe Trục. Tập đoàn quân số 8 dự kiến đến tháng 2 sẽ sẵn sàng trước khi đối phương tấn công. Sư đoàn Thiết giáp số 1 mới của Anh đóng tại khu vực quanh El Agheila và từ ngày 28–29 tháng 12 đã giao chiến gần Agedabia, mất từ 61 đến 90 xe tăng mà chỉ hạ được có 8 xe tăng Đức.
Tập đoàn Panzer châu Phi ("Panzerarmee Afrika") bắt đầu Chiến dịch Theseus vào ngày 21 tháng 1, tấn công các đơn vị phân tán thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 1 Anh và đánh bại từng bộ phận Lữ đoàn Thiết giáp số 2. Đến 23 tháng 1, lữ đoàn này chỉ còn 75 trong số 150 xe tăng trong khi phía Đức thiệt hại có 29 trong tổng số 100 chiếc. Benghazi thất thủ ngày 28 tháng 1 và ngày 3 tháng 2 thì đến lượt Timimi. Tới ngày 6 tháng 2, quân Anh bị đẩy lui về tuyến Gazala cách Tobruk vài dặm về phía tây, nơi mà 7 tuần lễ trước đó Tập đoàn Panzer Đức đã rút đi. Phía Anh chịu 1.309 thương vong từ ngày 21 tháng 1, mất 42 xe tăng bị hạ, 30 chiếc khác bị thương hoặc hỏng hóc và thiệt 40 khẩu pháo dã chiến. Trung tướng Alfred Reade Godwin-Austen tư lệnh Quân đoàn XIII Anh do những bất đồng với Ritchie, tư lệnh Tập đoàn quân số 8 nên đã từ chức.
Trận Gazala.
Đến tháng 2, trận tuyến đã nằm ở tuyến Gazala, ngay gần phía tây Tobruk và trong mùa xuân, cả hai bên đều chuẩn bị cho một trận đánh tiếp theo. Người Anh lên kế hoạch bắt đầu Chiến dịch Buckshot vào tháng 6 để tấn công tiêu diệt Tập đoàn Panzer và chiếm lấy Cyrenaica một lần nữa. Đầu tháng 5, các biện pháp phòng thủ tại biên giới Ai Cập được ưu tiên khi một cuộc tiến công của phe Trục đã sắp xảy ra. Chiến dịch Venezia ("Unternehmen Venezia") mở màn trận Gazala bắt đầu khi xe tăng của "Quân đoàn châu Phi" và các xe tăng Ý tràn xuống phía nam vòng qua sườn bên tuyến Gazala và bị cô lập bởi Lực lượng Pháp Tự do cùng các đội quân Đồng Minh khác quanh Bir Hakeim, ngăn chặn đoàn xe tiếp tế của phe Trục.
Rommel rút quân về một vị trí tiếp giáp với bãi mìn của Anh và Ritchie liền ra lệnh phản công với Chiến dịch Aberdeen ngày 5 tháng 6. Ở phía bắc, Lữ đoàn Xe tăng 32 mất 50 trong tổng số 70 xe tăng. Các sư đoàn Thiết giáp số 7 và Ấn Độ số 5 ở cánh phía đông đã tấn công lúc 2h50 sáng và gặp phải thảm họa khi hỏa lực pháo binh Anh ụp xuống phía đông tuyến phòng ngự chống tăng của Đức. Lữ đoàn Thiêt giáp số 22, sau khi mất 60 trên 156 xe tăng, đã quay đầu bỏ mặc Lữ đoàn Ấn Độ số 9 đang bị mắc kẹt. Một cuộc phản kích vào chiều hôm đó do Sư đoàn "Ariete" và Sư đoàn Panzer 21 tiến hành, cùng với cuộc tấn công của Sư đoàn Panzer 15 tại Hộp Knightsbridge, đã tràn ngập tổng hành dinh chiến thuật của 2 sư đoàn quân Anh cùng Lữ đoàn Bộ binh Ấn Độ số 9. Lữ đoàn Bộ binh Ấn Độ số 10 và các đơn vị nhỏ hơn đã bị tan tác và hệ thống chỉ huy bị phá vỡ. Lữ đoàn Bộ binh Ấn Độ số 9, 1 trung đoàn trinh sát và 4 trung đoàn pháo binh bị tiêu diệt và đến ngày 13 tháng 6, quân Anh rút chạy khỏi tuyến Gazala khi chỉ còn lại 70 xe tăng.
Tobruk thất thủ.
Trung tướng William Gott, tư lệnh Quân đoàn XIII Anh đã chỉ định thiếu tướng Hendrik Klopper, tư lệnh Sư đoàn Bộ binh Nam Phi số 2 làm chỉ huy quân đồn trú tại Tobruk. Ngoài 2 lữ đoàn Nam Phi, còn có Lữ đoàn Mô tô Bảo vệ 201, Lữ đoàn Bộ binh Ấn Độ số 11, Lữ đoàn Xe tăng Lục quân 32 và Lữ đoàn Phòng không số 4. Tobruk từng chịu đựng qua cuộc vây hãm 9 tháng trong năm 1941 nhưng lần này thì Hải quân Hoàng gia Anh không thể đảm bảo tiếp tế cho quân đồn trú. Quan điểm của Auchinleck là có thể bỏ Tobruk nhưng hy vọng nó sẽ cầm cự được 2 tháng. Ngày 21 tháng 6, khi tình hình vẫn còn chưa rõ ràng, 35.000 quân thuộc Tập đoàn quân số 8 đã đầu hàng trung tướng Enea Navarrini, tư lệnh Quân đoàn XXI Ý. Auchinleck liền sa thải Ritchie để tự mình cầm quyền chỉ huy Tập đoàn quân số 8 Anh và sau đó chặn được đà tiến của Rommel tại tuyến Alamein, chỉ còn cách Alexandria 110 km trong trận El Alamein thứ nhất, nhưng sau trận này đến lượt chính Auchinleck cũng bị sa thải.
Trong thời gian này, phe Trục có dự định mở một chiến dịch không vận mang tên "Herkules" nhằm đánh chiếm đảo Malta, sau khi bỏ lỡ mất cơ hội giành được đảo này vào năm 1941 do những thiệt hại về lính dù và máy bay vận tải trong Trận Crete cũng như việc các đơn vị không quân Đức ("Luftwaffe") bị điều phục vụ chiến dịch Barbarossa, và đến tháng 6 năm 1941 thì lực lượng phòng không của đảo đã được phục hồi. Mùa xuân năm 1942, các đơn vị Luftwaffe trở lại Địa Trung Hải và vô hiệu hóa khả năng tấn công của quân đồn trú trên đảo. Rommel lúc đó đang rất mong đợi được tấn công, đã chấn chỉnh lại lực lượng tại Libya để đón đầu một cuộc tấn công của Tập đoàn quân số 8 Anh và được Hitler và Mussolini đồng ý với điều kiện là cuộc tiến quân của ông sẽ dừng lại tại Tobruk để sẵn sàng tiến đánh Malta trong tháng 8. Thế nhưng với thắng lợi của "Chiến dịch Venezia" cùng với việc đà tiến của Tập đoàn Panzer vẫn tiếp tục sau khi Tobruk thất thủ, thì việc truy đuổi một đối thủ đã bị đánh bại liền trở nên hấp dẫn hơn là chiến dịch mạo hiểm tại Malta. Chiến dịch Herkules bị hoãn để ưu tiên cho "Chiến dịch Aïda" tấn công Ai Cập nhằm đánh chiếm kênh đào Suez, và sau đó đã bị hủy bỏ vĩnh viễn.
Chiến dịch Aïda.
Sau thắng lợi tại Gazala, Tập đoàn Panzer châu Phi tiến vào Ai Cập trong "Chiến dịch Aïda" nhằm tiêu diêt tàn quân Tập đoàn quân số 8 Anh. Quân Anh đánh cầm chân đối phương trong trận Mersa Matruh và suýt nữa bị đánh tan. Tuy đà tiến của Tập đoàn Panzer bị chậm lại, nhưng do thiếu thông tin, liên lạc kém và tốc độ cơ động của những xe tăng còn lại của Đức nên đường Via Balbia phía sau Quân đoàn X đã bị cắt đứt. Quân đoàn này đột phá trong đêm về phía nam và đi vòng qua các vị trí Đức, nhiều lần đụng độ với các lực lượng phe Trục và để bị bắt hơn 6.000 người, 40 xe tăng và rất nhiều đồ tiếp tế. Auchinleck ra lệnh rút lui 160 về El Alamein, còn cách Alexandria 100 km. Cuộc rút lui này giúp cho Tập đoàn quân số 8 đến gần căn cứ hơn, với đường tiếp tế hiệu quả hơn nhiều, với trở ngại địa lý là vùng Đất trũng Qattara cách đó 64 km về phía nam khiến cho việc bọc đánh trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Đến ngày 25 tháng 6, Quân đoàn châu Phi chỉ còn lại 50 xe tăng, Quân đoàn XX Ý còn 14 chiếc. Tập đoàn Panzer tới El Alamein ngày 30 tháng 6 nhưng chỉ còn có những đồ tiếp tế bắt được tại Tobruk và sau đó trở nên lệ thuộc vào nguồn tiếp tế chuyển từ Tripoli tới, cách xa mặt trận 2.300 km.
Trận El Alamein thứ nhất.
Một nỗ lực nhằm dồn ép Tập đoàn quân số 8 Anh ngoài vị trí Alamein đã được quân Đức tiến hành trong trận El Alamein thứ nhất (1–27 tháng 7). Sau 4 ngày, Rommel hủy bỏ cuộc tấn công do sức phòng ngự của quân Anh, tình trạng cạn kiệt đồ tiếp tế và mỗi sư đoàn Đức chỉ còn lại 1.200–1.500 người. Đến ngày 5 tháng 7, số xe tăng Đức còn hoạt động được tụt xuống chỉ còn khoảng 30 chiếc. Sau một thời gian tạm lắng, Tập đoàn Panzer lên kế hoạch tấn công trở lại với 50 xe tăng và khoảng 2.100 bộ binh Đức, cùng với 54 xe tăng và 1.600 bộ binh Ý. Thế nhưng người Anh đã ra tay trước tại Tel el Eisa (10–14 tháng 7), khiến cả hai bên đều kiệt sức. Quân Anh bắt đầu tiến đánh các đơn vị Ý, được định vị bằng thông tin thu được qua mã Ultra, tại Ruweisat Ridge (14–17 và 21–23 tháng 7), tại Tel El Eisa lần thứ 2 này 22 tháng 7 và tại Miteirya Ridge (22 và 26 tháng 7), sau đó lại là một khoảng thời gian tạm lắng khác. Thiệt hại của Đức vào khoảng 10.000 người, của Ý là không rõ nhưng có 7.000 quân Trục bị bắt làm tù binh, so với tổn thất 13.250 người của Tập đoàn quân số 8 Anh.
Bất chấp hoàn cảnh, Churchill vẫn trở nên thất vọng về Auchinleck. Ông ta liền bị thay thế, đại tướng Harold Alexander lên làm Tổng tư lệnh Bộ tư lệnh Trung Đông còn trung tướng Bernard Montgomery trở thành tư lệnh của Tập đoàn quân số 8. Như vậy, viên tư lệnh tập đoàn quân mới sẽ được miễn trách nhiệm về khu vực kéo dài từ Síp đến Sudan và về phía đông tới Syria. Alexander cũng là một tấm đệm hiệu quả để chống lại những can thiệp chính trị từ London.
Trận Alam el Halfa.
Trận Alam el Halfa (người Đức gọi là Chiến dịch Brandung - "Unternehmen Brandung") diễn ra từ 30 tháng 8 đến 5 tháng 9 ở phía nam El Alamein. Tập đoàn Panzer châu Phi đã cố gắng bao vậy Tập đoàn quân số 8 Anh, lúc này do trung tướng Bernard Montgomery làm tư lệnh, nhằm đánh bại nó và tiến tới Cairo trước khi quân tăng viện của Đồng Minh tới nơi trong tháng 9, khi đó thì thắng lợi của phe Trục tại châu Phi sẽ trở thành điều không tưởng. Tình trạng sức khỏe của nhiều binh lính Đức đã suy sụp, 19.000 quân đã đến châu Phi từ tháng 3 năm 1941 đang không chịu nổi khí hậu và kiệt sức do chiến đấu. Quân tiếp viện đã tăng lực lượng cho 4 sư đoàn Đức lên 90.000 người và 12.600 xe cộ, nhưng trong đó chỉ có 34.000 người là quân chiến đấu. Tập đoàn Panzer tập hợp được khoảng 200 xe tăng Đức và 243 xe tăng Ý chống lại 700 xe tăng Anh.
Người Anh đã được cảnh báo trước nhờ chặn và giải được mật mã Ultra không dây, và đã cố tình để lộ một khoảng trống ở phía nam. Phần lớn các đơn vị xe tăng và pháo binh của Tập đoàn quân số 8 được tập trung quanh Alam el Halfa Ridge, phía sau mặt trận 32 km. Các xe tăng sẽ ở lại trên cao điểm này để làm những súng chống tăng cố định thay vì tham gia một trận chiến cơ động. Ngày 2 tháng 9, Rommel ra lệnh rút lui sau khi cuộc tấn công lên cao điểm thất bại và hàng tiếp tế không đến nơi được (từ 30 tháng 8 đến 4 tháng 9, Tập đoàn Panzer đã bị ném bom liên tục và tuy mất không nhiều xe tăng nhưng bị ghìm lại và không còn lợi thế cơ động nhanh cũng như tập trung nữa). Cuối ngày 3 tháng 9, Chiến dịch Beresford, một đòn phản kích với 1 lữ đoàn New Zealand và 1 lữ đoàn Anh nhằm cắt đứt đường lui của Tập đoàn Panzer bị thất bại với tổn thất nặng nề và đến ngày 5 tháng 9, cuộc rút lui của quân Trục hoàn tất. Tập đoàn quân số 8 tổn thất 1.750 người và 68 xe tăng; phe Trục chịu thương vong 2.900 người, 49 xe tăng, 36 máy bay, 60 pháo và 400 xe tải.
Trận El Alamein thứ hai.
Sau thắng lợi phòng ngự toàn diện trong Trận Alam el Halfa, Montgomery đã cho xây dựng các lực lượng Đồng Minh trước khi tiếp tục chiến dịch tấn công trong Trận El Alamein thứ hai trong tháng 10 và 11. Điều đáng chú ý là ông có những nguồn lực vượt xa về số lượng và chất lượng so với những người tiền nhiệm của mình.
Khi cuộc tấn công của Tập đoàn quân số 8 Anh bắt đầu ngày 23 tháng 11, Tập đoàn Panzer có 104.000 quân, trong đó có 50.000 người Đức mà chỉ 24.173 là lính ngoài mặt trận. Có 496 xe tăng, 290 trong số đó là của Ý, 500 khẩu pháo và 850 súng chống tăng. Tập đoàn quân số 8 có trong tay 195.000 quân, 1.029 xe tăng và 1.000 chiếc khác đang ở trong các xưởng, 908 khẩu pháo và 1.451 súng chống tăng. Quân Đồng Minh được trang bị và chăm sóc rất tốt, trong khi lực lượng phía phe Trục bị suy dinh dưỡng rất nhiều và dễ bị ốm. Tập đoàn Panzer chỉ còn lại lượng nhiên liệu đủ để mỗi xe di chuyển được 290 km. Đến 27 tháng 10, lực lượng thiết giáp của Tập đoàn Panzer giảm xuống còn 114 xe tăng Đức và đến 2 tháng 11 thì hết sạch đạn dược và chỉ còn lại 32 xe tăng Đức cùng 120 xe tăng Ý. Không cho phép rút lui, Hitler lệnh cho Rommel và Tập đoàn Panzer phải chống cự đến cùng và ngày 4 tháng 11, Tập đoàn quân số 8 chọc thủng trận tuyến, Rommel phải ra lệnh bắt đầu rút quân.
Rommel đã hy sinh các đơn vị phi cơ giới, nhất là các đội hình Ý tại mặt trận trung tâm và phía nam. Tập đoàn Panzer châu Phi chịu thương vong 37.000 người, chiến 30% lực lượng, mất 450 xe tăng và 1.000 khẩu pháo. Tập đoàn quân số 8 Anh thiệt hại 13.500 người, với một tỷ lệ nhỏ hơn rất nhiều và 500 xe tăng (chỉ có 150 chiếc là bị phá hủy hẳn) cùng khoảng 110 khẩu pháo (chủ yếu là súng chống tăng). Tập đoàn Panzer chỉ còn lại 5.000 quân, 20 xe tăng, 20 súng chống tăng và 50 khẩu pháo dã chiến. Nỗ lực bao vây các lực lượng phe Trục tại Marsa Matruh đã bị mưa phá hỏng và phần còn lại của "Quân đoàn châu Phi" trốn thoát trong ngày 7 tháng 11. Lực lượng Trục rút dọc theo bờ biển và cắt đứt con đường này, nhưng do thiếu xe tăng và nhiên liệu không thể phòng thủ cơ động sườn phía nam trống trái, nên việc đóng lại tại Đèo Halfaya hay bất cứ vị trí khác đều không thể thực hiện được. Đèo Halfaya dễ dàng bị chiếm và Ai Cập hoàn toàn sạch bóng quân Trục. Tobruk bị tái chiếm ngày 13 tháng 11, quân của Rommel một lần nữa lại chạy thoát, và đến ngày 20 tháng 11 đến lượt Benghazi. Các cảng này đã nhanh chóng được Đồng Minh sửa chữa để tiếp tế cho cuộc tiến quân của người Anh. Cơ hội để đánh bọc sườn Rommel tại Ajdabiya đã được hủy bỏ một cách thận trọng, đề phòng trường hợp bị phản công.
Trận El Alamein thứ hai đã trở thành chiến thắng quyết định. Bất chấp hoạt động chặn hậu xuất sắc của Rommel, quân Đồng Minh vẫn chiếm lại được Ai Cập và sau đó tiến quân qua Cyrenaica và Tripolitania, đánh chiếm Tripoli vào tháng 2 năm 1943 rồi tiến vào Tunisia trong tháng 3.
Trận El Agheila.
Tập đoàn Panzer châu Phi lui về phòng tuyến được chuẩn bị trước tại El Agheila (tuyến Mersa Brega) nhưng lúc này thì hàng tiếp tế và quân tăng viện của phe Trục đã phải ưu tiên cho việc chống lại Tập đoàn quân số 1 Anh ở Tunisia trong Chiến dịch Torch, khiến cho liên quân Đức-Ý không còn khả năng phản công và thiếu nhiên liệu trầm trọng. Hitler đã ra lệnh là tuyến El Agheila phải đứng vững bằng mọi giá, trong khi quan điểm của Rommel là phải vừa đánh vừa rút về Tunisia và thiếp lập hệ thống phòng ngự mạnh tại Khe Gabès, như vậy sẽ làm tăng khoảng cách đường tiếp tế của Tập đoàn quân số 8 Anh thêm 2.400 km. Ngày 24 tháng 11, Ugo Cavallero, tham mưu trưởng quân đội Ý tán thành việc rút lui 320 km về phía tây tới Buerat, cách Sirte 80 km về phía đông nếu như Tập đoàn Panzer bị tấn công bởi một lực lượng áp đảo. Tập đoàn quân số 8 Anh tới El Agheila ngày 15 tháng 12 và Sư đoàn New Zealand được phái đi bọc đánh tuyến Mersa Brega trong các ngày 14–16 tháng 12 trong khi Sư đoàn Highland số 51 tấn công trực diện, còn Sư đoàn Thiết giáp số 7 tiến đánh Bir el Auera trong nội địa. Đòn bọc sườn bị thất bại, Rommel đã dùng thẩm quyền của mình để cho rút lui và tuyến đường rút của ông ta được bảo vệ đấy đủ. Tập đoàn Panzer rút lui sau khi mất 18 xe tăng, để lại phía sau một dải chướng ngại vật với những bãi mìn dày đặc và nhiều bẫy mìn, làm cuộc truy kích bị chậm lại.
Năm 1943.
Buerat.
Áp lực tấn công của Đồng Minh lại tiếp tục khi quân Trục về đến Buerat. Rommel đã lên kế hoạch phòng thủ Khe Gabes tại Tunisia, nắm ở phía đông phòng tuyến Mareth hồi trước chiến tranh của Pháp bằng cách giữ lấy bến cảng trong khi Cụm Tập đoàn quân châu Phi của tướng Hans-Jürgen von Arnim ở Tunisia đối đầu với Tập đoàn quân số 1 của Đồng Minh. Trong giai đoạn này, mặt trận kéo dài 640 km tính từ bến cảng khả dụng gần nhất ở Tobruk và những khó khăn trong tiếp tế cho Tập đoàn quân số 8 đã cản trở không cho Montgomery triển khai toàn bộ lực lượng của mình. Mặc dù Buerat không được bảo vệ mạnh và đã được tình báo cho hay về tình trạng của lực lượng phe Trục, Montgomery vẫn ngừng lại cho đến ngày 16 tháng 1 năm 1943, khi mà Tập đoàn quân số 8 đã có được ưu thế 4:1 về bộ binh và 7,5:1 về xe tăng. Cuộc oanh tạc bắt đầu ngày 12 tháng 1 và Quân đoàn XXX tấn công ngày 15 tháng 1 theo con đường dọc bờ biển, băng qua các bãi mìn và bẫy mìn. Sư đoàn New Zealand số 2 và Sư đoàn Thiết giáp số 7 trong nội địa tràn qua Tarhuna, với việc tiếp tế bị lệ thuộc vào Quân đoàn Phục vụ Lục quân Hoàng gia Anh (RASC) và Quân đoàn Vận tải Hoàng gia New Zealand. Tập đoàn quân số 8 cần phải nhanh chóng chiếm lấy cảng để tránh bị thiếu tiếp tế. Rommel rút khỏi Buerat ngày 15 tháng 1.
Tripoli.
Đòn tấn công chính của Anh được tiến hành dọc theo con đường ven biển do Sư đoàn Highland số 51 và 1 lữ đoàn thiết giáp thực hiện, trong khi Sư đoàn Thiết giáp số 7 tiến tới Tarhuna, Castel Benito và Tripoli. Sư đoàn Khinh binh số 90 Đức đánh cầm chân địch dọc theo con đường này, làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu nhiên liệu của quân tấn công. Từ 20–21 tháng 1, Sư đoàn Khinh binh 90 đóng lại Corradini, tạo nên 109 hố bom trên đường nối giữa Buerat và Khoms. Đội tiên phong của Sư đoàn Thiết giáp số 7 tới lân cận Aziza ngày 21 tháng 1 và hôm sau Sư đoàn Highland 51 đến Castel Verde. Một cuộc đua diễn ra và quân Đức rút khỏi Tripoli trong đêm 22/23 tháng 1 sau khi phá hủy bến cảng và sau đó tiến hành đánh cầm chân địch và rút về Tunisia, bất chấp người Ý không đồng tình. Các đơn vị cuối cùng của Tập đoàn Panzer về đến phòng tuyến Mareth cách đó thêm 320 km về phía tây vào ngày 15 tháng 2, trong khi các đội tuần tra Cụm Sa mạc Tầm xa của Anh nghiên cứu hệ thống phòng thủ tại đây.
Trung đoàn Hussar số 11 thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 7 Anh là đơn vị đầu tiên tiến vào Tripoli sáng 23 tháng 1, cách Benghazi 1.086 km về phía tây. 5 tiếng đồng hồ sau, một Đội Cơ sở Hải quân đã đến và khảo sát đống đổ nát trong cảng. Ngày 26 tháng 1, 5 chiếc tàu đã neo ngoài cảng và bắt đầu tháo dỡ bằng sà lan. Đến 30 tháng 1, 3.000 tấn hàng đã được đổ bộ. Trong tháng 3, Tập đoàn quân số 8 tiến vào tham gia Chiến dịch Tunisia. Khi chiến sự ở Tunisia còn đang tiếp diễn, ngày 9 tháng 3 Rommel quay trở lại Đức để báo cáo cho Hitler thực tế tình hình chiến sự tại Bắc Phi. Rommel đã không thể thuyết phục Hitler cho phép quân Trục rút lui và không được phép trở lại châu Phi, với lấy lý do là tình hình sức khỏe kém.
Kết cục.
Quân đội phe Trục bị đẩy lui ra khỏi Libya về Tunisia, và ngay sau đó họ đã bị đánh kẹp lại từ hai phía: các lực lượng Anh-Mỹ mới đổ bộ lên Bắc Phi trong Chiến dịch Torch tiến đến từ phía tây, và Tập đoàn quân số 8 của Anh đang truy kích từ phía đông.
Đánh giá.
Ảnh hưởng của khả năng tiếp tế.
Năm 1977, nhà sử học Martin van Creveld viết rằng Rommel và nhiều người khác đã than phiền nếu những hàng tiếp tế và trang bị được gửi đến Tunisia vào cuối năm 1942 đầu năm 1943 tới sớm hơn thì phe Trục sẽ giành chiến thắng trong Chiến tranh Sa Mạc. Creveld không đồng ý nhận định này vì trong năm 1941, miền nam nước Pháp chưa bị Đức chiếm đóng nên các tàu buôn Pháp cùng cảng Toulon đều chưa thể sử dụng để gửi hàng, cũng như cảng Bizerta ở Tunisia chưa thể dùng để tiếp nhận hàng hóa. Khoảng cách từ Bizerta đến biên giới Ai Cập cũng phủ định lợi ích của việc sử dụng cảng lớn này. Hàng tiếp tế của phe Trục luôn bị hạn chế vì quy mô nhỏ của các cảng tại Libya, một hạn chế không thể khắc phục và những cuộc tấn công vào tàu vận tải biển phe Trục càng làm gia tăng sự khó khăn kinh niên của việc tiếp tế. Với việc lục quân Đức bị sa lầy tại Liên Xô, Quân đoàn châu Phi và Tập đoàn Panzer không bao giờ có được sự vận tải đường bộ hiệu quả, cho dù mặt trận này có một lực lượng vận tải tương đối rộng rãi so với các nơi khác.
Việc hủy bỏ cuộc tấn công đảo Malta vào mùa hè năm 1942 không gây ảnh hưởng nhiều đến diễn biến chiến sự bằng quy mô nhỏ của cảng Tobruk và sự sơ hở của cảng này trước những đòn không kích của đối phương. Chỉ có cách xây dựng một con đường xe lửa tương tự như người Anh đã làm mới có thể giảm bớt khó khăn trong tiếp tế của phe Trục, nhưng tình trạng thiếu nguồn lực và thời gian đã khiến cho việc xây dựng là bất khả thi. Ảnh hưởng của những tổn thất về tàu bè của phe Trục đối với thất bại của Tập đoàn Panzer cuối năm 1942 đã bị phóng đại, vì tình trạng thiếu nhiên liệu chủ yếu là do những khó khăn liên tục trong việc vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ gây ra, chứ không phải vì thiếu cung cấp từ châu Âu. Trong trận El Alamein thứ hai, 1/3 nhiên liệu của Tập đoàn Panzer đã bị kẹt tại Benghazi. Rommel cũng đã viết rằng tương quan giữa những khó khăn trong tiếp tế của phe Trục so với khó khăn tương tự của người Anh đã định đoạt các giai đoạn của chiến dịch và là một hạn chế không thể giải quyết được.
Tướng lĩnh.
Montgomery đã bị chỉ trích vì không nắm bắt được tình hình để giăng bẫy các đội quân phe Trục, nhằm đánh một trận quyết định và tiêu diệt họ ngay tại Libya. Chiến thuật của ông bị xem là quá thận trọng và chậm trễ, vì ông đã biết sự yếu kém của Tập đoàn "Panzer" cùng ý định của Rommel qua các nguồn tin tình báo và tín hiệu giải mã. Tuy nhiên, những lập luận bênh vực ông đã khẳng định rằng khả năng phòng thủ của Quân đoàn châu Phi và nhất là sự e sợ của người Anh về một thất bại và một cuộc rút khác đã hạn chế sự tự do hành động của bất cứ viên tư lệnh nào, và rằng Montgomery cần phải tránh để không lặp lại một cuộc chiến theo kiểu "bập bênh" giống như trước đó ở mặt trận Bắc Phi nữa. Chiến trường vùng sa mạc được mô tả như một "cơn ác mộng của sĩ quan hậu cần", do điều kiện của chiến tranh trên sa mạc và những khó khăn trong việc tiếp tế. Montgomery nổi danh vì đã tiến hành những "chiến dịch cân nhắc" và tiết kiệm nguồn lực của mình: ông chú trọng đến sự cân bằng và không tấn công chừng nào quân đội còn chưa được chuẩn bị và tiếp tế hợp lý. Dưới sự chỉ huy của ông, sĩ khí của Tập đoàn quân số 8 được cải thiện đáng kể. | 1 | null |
Thành Đắc Thần (chữ Hán: 成得臣, bính âm: Chéng Déchén; ?-632 TCN), tên tự là Tử Ngọc (子玉), là tướng nước Sở thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.
Làm tướng quốc nước Sở.
Năm 639 TCN, Tống Tương công hội chư hầu ở đất Tống, triệu kiến Sở Thành vương. Sở Thành vương nhận lời đến hội, mang Thành Đắc Thần đi theo. Ông hiến kế cho Sở Thành vương bắt vua Tống. Khi ra hội, khi cử người làm chủ, các nước Sái, Trịnh, Tào, Trần, Hứa đều sợ nước Sở mạnh nên ngả theo Sở Thành vương. Thành vương đặt phục binh, chờ Tống Tương công đến liền bắt giữ, sau đó đem quân đánh nước Tống, nước Tống cố sức phòng thủ, Sở Thành vương đánh mãi không được, sau phải thả Tống Tương công.
Năm 638 TCN, thấy nước Trần bỏ Sở theo Tống, Sở Thành vương sai Thành Đắc Thần mang quân đánh Trần. Thành Đắc Thần dẫn quân chiếm ấp Tiêu và ấp Di của nước Trần. Trần Mục công phải thần phục xin giảng hòa. Sau khi chiến thắng trở về, Thành Đắc Thành được Sở Thành vương phong làm Lệnh doãn (tướng quốc).
Cùng năm, Công tử Trùng Nhĩ nước Tấn chạy loạn đến Sở. Sở Thành vương rất trọng thị Trùng Nhĩ, mở yến tiệc thiết đãi, hỏi Trùng Nhĩ rằng sau này sẽ báo đáp nước Sở thế nào, Trùng Nhĩ trả lời rằng:
"Nếu hai nước phát sinh chiến tranh, nước Tấn sẽ lui nhường nước Sở 3 xá".
Thành Đắc Thần nghe thế đoán trước được chí lớn của Trùng Nhĩ và khuyên Sở Thành vương ra tay trước giết Trùng Nhĩ để trừ hậu họa, tuy nhiên vua Sở không nghe. Sau đó Trùng Nhĩ đến nước Tần, được vua Tần đưa về nước lên ngôi tức Tấn Văn công.
Thất bại ở Thành Bộc.
Năm 633 TCN, Sở Thành vương bao vây nước Tống. Tống Thành công cầu viện nước Tấn. Tấn Văn công sai quân đánh Sở để cứu Tống.
Năm 632 TCN, tướng Tấn là Tiên Chẩn hiến kế bắt nước Tào và nước Vệ cắt đất cho nước Tống khiến Sở Thành vương phải rút quân khỏi nước Tống để sang cứu Tào và Vệ.
Tháng 4 năm 632 TCN, Sở Thành vương muốn giảng hòa với Tấn, nhưng Thành Đắc Thần đòi giao tranh với quân Tấn. Sở Thành vương giận Đắc Thần, chỉ cấp cho ít quân.
Thành Đắc Thần sai sứ là Uyển Xuân đến gặp Tấn Văn công đề nghị phục ngôi cho vua Tào Cộng công và Vệ Thành công thì quân Sở sẽ thôi đánh Tống. Tấn Văn công bắt giữ Uyển Xuân, không đàm phán với Đắc Thần rồi ngầm giao hẹn với Vệ Thành công và Tào Cộng công sẽ phục ngôi cho hai người nếu họ tuyệt giao với nước Sở. Vua Tào và vua Vệ chấp nhận làm theo Tấn Văn công.
Thành Đắc Thần thấy hai chư hầu Tào, Vệ tuyệt giao Sở để theo Tấn, nổi giận thúc quân đánh Tấn. Tấn Văn công giữ đúng giao ước với Sở Thành vương, hạ lệnh quân Tấn lui 3 xá để nhường quân Sở, tới Thành Bộc. Tuy nhiên Thành Đắc Thần đang hăng hái không chịu lui binh, tiếp tục thúc quân Sở tiến lên truy kích.
Tấn Văn công đóng quân ở Thành Bộc, có quân các nước Tống, Tề, Trần hội binh hỗ trợ. Phía quân Sở có quân Trịnh theo giúp. Ngày Kỷ Tị, hai bên đánh nhau to ở Thành Bộc. Quân Tấn đại thắng quân Sở. Thành Đắc Thần mang tàn quân tháo chạy.
Tự tử.
Sở Thành vương giận Thành Đắc Thần, muốn bức tử Thành Đắc Thần nói với ông:"Nếu ngươi hồi quốc, phụ lão lưỡng huyện Thân Tức sẽ làm gì ngươi?". Thành Đắc Thần bèn rút gươm tự tử.
Nghe tin Sở Thành vương trách tội khiến Thành Đắc Thần phải tự tử, Tấn Văn công mới hết lo việc chiến tranh với nước Sở và sau đó hội chư hầu, trở thành một trong Xuân Thu Ngũ bá. | 1 | null |
Chùa Phật Lớn, tên chữ là Thiên Trúc tự, là một ngôi chùa cổ Việt Nam. Chùa tọa lạc tại số 197/11 đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Nơi đây còn lưu lại pho tượng Phật lớn theo mẫu tượng Thái Lan thuộc hệ phái Theravada (Phật giáo Nam tông) và một chiếc Đại Hồng Chung thuộc hệ phái Mahayana (Phật giáo Bắc tông).
Lịch sử hình thành.
Thời điểm thành lập chùa chưa được xác định chính xác. Theo truyền khẩu dân gian thì chùa đã có từ rất lâu đời, từ trước khi Mạc Cửu tổ chức khai phá đất Hà Tiên (tức từ trước thế kỷ 16). Bấy giờ, trong cộng đồng dân cư sinh sống, dân tộc Khmer thì chiếm đa số, hầu hết theo tín ngưỡng Phật giáo Nam tông (Theravada). Chùa tọa lạc dưới chân núi Đề Liêm (xưa gọi là núi Bát Giác), được cho là nơi mà chư Tăng Nam tông Khmer cư trú sinh hoạt tu học và tổ chức những ngày lễ hội treo truyền thống Phật giáo Nam tông. Căn cứ theo lời kể của Đại đức Pháp Kiên, người có công trùng tu lại chùa, kể lại, thì vào đầu thập niên 1960, khi trùng tu ngôi Bảo điện, đã tìm được một viên gạch dưới Bồ đoàn nơi tượng Phật lớn tĩnh tọa có khắc chữ số Khmer "1616".
Mặc dù là một ngôi chùa hệ phái Theravada, trong chùa vẫn lưu lại
Cảnh quan - Kiến trúc.
Tuy nhiên, có lẽ nơi đây đã có một thời gian không có chư Tăng hệ phái ở (có lẽ do bị chiến tranh rất ác liệt ở vùng đất này nên các Ngài không thể trú ngụ nơi đây trong một thời gian nào đó), nên mới có xuất hiện Đại Hồng Chung (trên có ghi: Kỷ Tỵ Niên Thiên Trúc Tự) là vật khí của (là loại pháp khí chỉ sử dụng trong sinh hoạt của hệ phái Bắc-tông (Mahayana) tại Thiên Trúc Tự (còn sử dụng cho đến ngày nay). Theo suy đoán: Đại Hồng Chung có thể là vật tích của Ngài Cố Đại Lão Hòa Thượng ẤN ĐÀM hệ phái Mahayana thuộc dòng Lâm-Tế đời thứ 35 Trung Hoa.Bia đá ghi năm 1662 và ngôi Tháp Bảy Tầng hiện còn đang đứng vững,phía sau Thiên Trúc Tự, dưới chân núi Đề-Liêm vị trí thuộc về hướng Nam của núi.
Như vậy, có thể suy đoán thời Ngài ẤN ĐÀM (1662) đến thì chùa Thiên Trúc Tự đã có và Ngài đã có lần dừng chân tịnh tu tại Thiên Trúc Tự này; và Đại Hồng Chung cũng có thể là vật tích của Ngài để lại trong thời gian tu niệm nơi đây.
Từ trung tâm thành phố Hà Tiên, theo Phương Thành đi về hướng Thạch Động, phía trái bên cạnh chân núi Đề-Liêm có cổng chùa: Thiên Trúc Tự .(1)Tức Chùa Phật Lớn (Hà Tiên)Vào cổng chùa có con đường rộng-thẳng, đi sâu vào thêm 84 mét là đến vòng rào bao quanh ngôi chùa: Thiên Trúc Tự". Toàn bộ khung viên của chùa được tọa lạc trong diện tích: 2.869.00m2, giáp với chân núi Đề-Liêm. Mặt tiền Chùa nhìn thẳng đối diện là chánh hướng Đông, hướng Nam của Chùa nhìn thẳng đối diện là ngôi chùa: Phù Dung Tự bên kia núi Bình San.
Ngôi Chánh Điện uy nghi, cao và rộng; thể hiện rõ một dáng đứng của ngôi chùa có bề dày lịch sử và những nét hoa văn truyền thống không mờ nhạt bởi thời gian đã đi qua.Trong sân chùa có nhiều cây kiểng-bông hoa khoe sắc màu rực rỡ. Vượt trội hơn là những hoa Sứ, hoa Trang, hoa Hồng như góp thêm phần nguồn lực cho những cánh Bướm tung bay lượn, mỗi khi ánh bình minh vừa ló dạng, cũng như hoàng hôn sắp buông xuống, tiếng chuông chùa ngân đổ…
Phía sau ngôi Chánh Điện là ngôi Hậu Tổ-Trai-đường cao rộng, có khoảng không gian thoáng mát. Đây là nơi tề tựu tín đồ Phật tử mỗi khi có lễ hội. Phía bên trái ngôi Chánh điện có ngôi Tăng-xá vừa mới xây cất xong vào cuối năm 2004; tiếp nối đó là dãy Nhà Bếp,Nhà Ăn, cả hai ngôi nhà này khá khang trang. Mặt trước dãy Nhà Bếp, Nhà Ăn, trên khoảng không gian tiếp với nhà Hậu Tổ có giàn hoa leo bao phủ, tên gọi là hoa: "Hương Cát Đằng". Hàng trăm dây hoa treo lơ lửng như những cánh hoa Phong Lan đua nở, màu hoa tim tím, tỏa sắc dịu hiền, tươi mát.
Bên trong ngôi Chánh-điện có tượng Phật Thích Ca (tượng Phật Lớn) ngồi trên Bồ-đoàn, ngay giữa Chánh-điện. Pho tượng có gương mặt, dáng ngồi giống như các tượng Phật của Thái Lan được bảo tồn trong viện Bảo tàng tại bangkok-Thái Lan. Căn cứ theo ý kiến nhận định của nhiều Nhà viết sử về Hà Tiên cho biết: "sau thời gian Hai vị hoàng tử Xiêm (Thái Lan) lưu vong tại Việt Nam tại xứ Hà Tiên Này một thời gian.Sau khi đã trở về nước Xiêm phục vị; và đã trở lại Hà Tiên đi cùng các Nghệ nhân người Xiêm sang đây tôn tạo pho tượng Phật ở Chùa Hang (Hải Sơn Tự),xã Bình An,huyện Kiên Lương,tỉnh Kiên Giang trước; tiếp theo là pho tượng Phật Lớn tại Chùa: "Thiên Trúc Tự" hiện đàng còn tôn thờ cho đến ngày nay. Cả Hai pho tượng ở chùa: "Hải Sơn Tự" và chùa: "Thiên Trúc Tự" đều giống nhau về khuôn mặt, dáng ngồi,…Tượng Phật Lớn (Thiên Trúc Tự) cao 2,6m; thân tượng ngồi kiết-già từ gối trái sang gối phải 1.9m. Phía hậu,bên trái của tượng Phật có treo Đại Hồng Chung, cao 1,15m, đường kín 0,6m, có khắc dòng chữ Hán Văn: "Kỷ Tỵ Niên Thiên Trúc Tự". Và con giữ lại được một bia đá Si-Ma với đường nét hoa văn theo Thái Lan (vì các Chùa thuộc Phật giáo Nam Tông Khmer ở vùng Hà Tiên và các vùng lân cận không thấy có loại bia Si-Ma theo mẫu hoa văn này).
Trong ký ức người Hà Tiên, ngay cả những người đã cao tuổi, cũng không hiểu rõ Thiên Trúc Tự được ai sáng lập và xây cất, và ai là vị Sư trụ trì lúc bấy giờ…Có một số người chỉ biết ở giai đoạn vào thời Pháp thuộc khi cha,mẹ của họ đến chùa cúng Phật thì họ được dẫn dắt theo cúng lại; thế họ biết đến chùa: "Thiên Trúc Tự" từ đó.
Như vậy, có thể suy đoán vào thời điểm Ngài Hòa thượng ẤN ĐÀM (1662) đến vùng đất này thì chùa: "Thiên Trúc Tự" đã được thành lập trước đó. Và Ngài ẤN ĐÀM đã có lần hóa bước dừng chân tu niệm tại Thiên Trúc Tự này.
Vào thời gian đầu chùa vẫn còn các Nhà Sư cư trú tu học. Các sư trong chùa thường ngày cúng lễ, đánh trống-khua Chung, tụng kinh ngày 2 thời: sáng-tối. Giặc pháp đóng đồn gần đó, họ tưởng rằng chùa đánh trống báo động làm ám hiệu cho lực lượng cách mạng, và tiếng trống âm vang lên làm cho lính pháp ngủ không được yên giấc, nên chúng tăng cường tuần tra-theo dõi và ra lệnh cấm, không cho các sư đánh trống-khua Chung,tụng kinh.Sau thời gian có lịnh cấm không cho sinh hoạt tu niệm theo truyền thống của Phật giáo hệ phái Theravada các sư lần lượt phải bỏ chốn này ra đi tìm nơi khác để tá túc tu niệm. Nên có một thời gian khá lâu không có các Nhà sư Nam-tông Khmer ở tại Thiên Trúc Tự tu học; ngôi chùa trở nên hoang vắng-điêu tàn theo năm tháng vì không người chăm nom, sửa sang,tu bổ thêm. Mãi đến sau này có Hai vợ chồng ông: Huỳnh Văn Mót và bà: Nguyễn Thị Sảnh là người cư-sĩ ở xứ khác đến thấy chùa không ai quản lý; nên Hai vợ chồng đã tự dừng chân nơi này để có chỗ trú ngụ qua ngày. Hai ông,bà đã ở đây vừa làm ăn kiếm sống qua ngày vừa tu niệm theo pháp môn của người cư-sĩ tại gia một thời gian khá dài; và sau đó Hai người là chủ quản ngôi Tự này cho đến đầu năm 1960.
Vào năm 1960, Đại đức: Pháp Kiên (thế danh: Huỳnh Văn Liêm, quê ở huyện Tam Bình,tỉnh Vĩnh Long) nhân dịp đến Hà Tiên ghé vào Chùa thăm viếng-lạy Phật. Lúc bấy giờ cổng chùa chỉ cậm đỡ tạm hai cây tre, gắn bản hiệu là: "Thiên Trúc Tự". Nhưng thông thường người dân, và phật tử ở bản xứ quen gọi là: "Chùa Phật Lớn"(vì duy nhất chỉ có Chùa: "Thiên Trúc Tự" có một pho tượng Phật lớn nhất ở vùng xứ Hà Tiên này). Bảng tên hiệu của chùa tuy còn đó, nhưng nét chữ đã bị nắng mưa làm phai nhạt. Thời gian không lâu, cũng từ năm 1960, Đại đức: Pháp Kiên được vợ chồng chủ quản tự thỉnh về giao chùa, và Ngài Pháp Kiên nhận lời về trụ trì nơi đây, cùng hiệp lực với Ban Hộ Tự, tín đồ phật tử lo việc tổ chức sinh hoạt lễ hội theo truyền thống hệ phái Theravada (Nam-tông), và từng bước chỉnh trang xây dựng lại ngôi Chánh-điện, xây cất thêm ngôi Giảng-đường, và ngôi Nhà Bếp. Hướng dẫn cho chư phật tử tu niệm theo đúng hệ phái Nam-tông Việt Nam; sau thời gian không lâu có cư-sĩ tại gia đến xin xuất gia vào chùa tu học; đồng thời thâu nhận rất nhiều tín đồ phật tử ở phương xa đến xin quy y-thọ trì giới pháp để trở về nhà hành trì-tu niệm tại gia.
Đặc biệt là có những sự kiện tưởng như huyền thoại, mà Ngài thượng tọa: Thích Nhật Quang (hiện trù trì Chùa Phù Dung trong khu di tích Bình San), và các tín đồ phật tử cùng một số người dân địa phương kể lại rằng: vào khoảng đầu thập niên 50 của thế kỷ 20, có rất nhiều người ngủ ban đêm, cùng nằm mộng nghe thấy có người mách bảo trong mấy ngày liên tiếp như vầy: Hãy ra bãi biển Mũi Nai thỉnh Phật về ngôi Thiên Trúc tự. Những người được báo mộng có duyên sự đến chùa gặp nhau ngồi đàm đạo và kể lại câu chuyện chiêm bao của mình, cùng lúc mọi người cùng xác nhận câu chuyện của mỗi người tuy khác thời gian nhưng cùng là một nội dung không khác. Nhưng rồi mọi người lưỡng lự nữa tin nữa không,vì Phật ở đâu ngoài biển mà thỉnh về; sau mấy ngày liên tiếp báo mộng, họ mới gặp nhau để đi đến quyết định cùng nhau ra bãi biển thắp hương vái lạy và tìm được pho tượng phật bằng gỗ. Tượng chạm khắc theo mẫu tượng Khmer; nhưng vì do thời gian bị vùi lắp trôi vạt, nên có nhiều vết trầy xước. Sau đó đã được phục trang lại, và hiện nay được đặt phía bên trái của pho tượng Phật lớn trong ngôi Chánh-điện. Người dân-tín đồ-phật tử rất tin tưởng, vì sau khi thỉnh pho tượng Phật về Thiên Trúc Tự, thì nơi đây được mưa thuận gió hòa, mùa màn bội thu; bởi trước khi chưa thỉnh tượng Phật về thời tiết không thuận mùa, việc trồng trọt bị nắng hạn nhiều, làm cho đời sống gặp không ít khó khăn trong việc lao động sản xuất.
Một sự kiện hiếm có nữa cũng xảy ra chính tại Thiên Trúc Tự. Đó là vào một buổi trưa nắng của tháng Giêng; nhân dịp lễ Cầu-an đầu năm 1962. Khoảng độ 13 giờ hơn đại đức Pháp Kiên đang thiền định trong tịnh thất riêng được dựng lên bằng gỗ-thiếc đơn sơ, bên phía trái ngôi Chánh-điện. Bỗng nhiên ở chân núi Đề-Liêm xuất hiện một vị Mãng xà mình dài và rất to, bò xuống đáy ao sen uống nước; Mãng xà uống nước xong bò lên ngang qua tịnh thất của đại đức Pháp Kiên. Bất chợt, lúc bấy giờ Đại-đức không còn nghĩ ra cách gì để giải thoát tình thế, bằng cách là ngồi yên nhắm mắt lại tùy Mãng xà định đoạt cho sự sinh tồn của Ngài. Cùng lúc đó có Hai vị nữ cư-sĩ hộ độ cơm nước hằng ngày là: Giác Chánh và Giác Ngạn đem nước rửa mặt và nước giải khát cho Ngài, được chứng kiến sự kiện kỳ lạ chưa từng thấy bao giờ, nên cả Hai người đều hoảng sợ ngã ngang xuống đất, ngất lịm trong giây lát. Sau đó, cả thầy lẫn trò trấn tỉnh lại, thì thấy vị Mãng xà đã bỏ đi về theo hướng núi Thất sơn, dấu cọ xát với đất-cỏ còn để lại dưới ao và trên bờ. Khi mọi người tỉnh lại nhìn lên bầu trời thì có cả đàn Quạ đen, chim Tu hú rất nhiều bay sau theo hướng Mãng xà đi như để yểm trợ cho vị thần Mãng xà.
Sau khi Mãng xà đi, thầy trò ngồi lại ngoài tịnh thất kể lại chuyện bất chợt gặp Mãng xà, câu chuyện vừa kể vừa chỉ theo dấu vết thì bổng bắt gặp một cây muổng gần tịnh thất nơi Mãng xà dừng nghỉ trong giây lát. Cán muổng làm bằng loại gỗ quý, dá muổng làm bằng vỏ con sò được mài nhẳng bóng; trông rất đẹp. Trên cán muổng có đề dòng chữ: "Mạc Thiên Tích"(1). Qua đó, hiểu rằng Mãng xà đã đem đến cúng dường cho sư Pháp Kiên một cây muổng quý. Cũng qua sự kiện này vị Mãng xà đã đến báo điềm tốt lành cho Thiên Trúc Tự sau này…
Nhân dân, tín đồ-phật tử ở Hà Tiên, Rạch Giá và các nơi khác nghe tin về sự kiện Mãng xà đến viếng Chùa, xem dấu vết bò dưới ao còn để lại. Mọi người xem đây là sự kiện lạ, hiếm thấy, nên đến tham quan rất nhiều đoàn người; đồng thời mọi người lần lượt đóng góp tài chánh cúng dường cho Chùa với con số khá nhiều. Nhờ vào số tiền này, trong năm 1962-1963 sư Pháp Kiên cùng Ban hộ tự, tín đồ-phật tử xây dựng nâng cấp lại ngôi Chùa.
Không ngoài bối cảnh chung thời kỳ ấy của đất nước, trong đó có vùng đất Hà Tiên; chùa: "Thiên Trúc Tự" cũng không gặp ít khó khăn về mặt xin phép để sửa chữa. Nhưng với ý thiện hướng theo đường Phật pháp; sư Pháp Kiên cùng Ban hộ tự chùa và tín đồ-phật tử đã kiên nhẫn vượt qua mọi gian khó, trong mồ hôi và nước mắt, để trùng tu ngôi Thiên Trúc; trong đó đã nâng cao thêm ngôi Chánh-điện bằng vật liệu kiên cố và được khang trang như ngày nay. Sửa chữa nâng cấp xong chùa được gắn bảng hiệu là "Thiên Trước Cổ Tự".
Sau khi trùng tu ngôi Thiên Trúc Tự, quang cảnh nơi đây trở nên thoáng rộng, uy nghi, tôn nghiêm và thể hiện đậm nét một ngôi chùa cổ kính, hòa lẫn với vẽ huyền bí-thơ mộng, mang sắc thái của vùng đất Hà Tiên: Một vùng đất hiền lành của xứ Tiên Phật. Cũng từ đó Thiên Trúc Tự có thêm nhiều tín đồ-phật tử, và khách tham quan-du lịch cũng có dịp đến viếng chùa, lạy Phật mỗi lúc càng nhiều hơn.
Vào những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ 20, nơi đây có mở giảng đường thuyết pháp về giáo lý đạo Phật, do đại đức Pháp Chơn trụ trì, mỗi khi có lễ hội trong chùa. Đồng thời có thầy giáo là C.Ru-À-Cha Nho, sau khi học xong lớp 9 ở Cam-pu-chia đến tạm trú tại Thiên Trúc Tự để mở nhiều khóa học về ngôn ngữ Pa-li, Kinh-luận-giới và dạy chữ Khmer cho nhiều người học lúc bấy giờ…
Chùa: "Thiên Trúc Tự" vẫn mang sắc thái khá đặc biệt của cộng đồng dân cư đã được hình thành từ lâu đời của vùng đất Hà Tiên. Hiện nay chùa có trên 1000 tín đồ-phật tử; bao gồm người dân tộc Kinh-Khmer-Hoa; trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số. Họ đến với chùa trong những ngày lễ hội truyền thống, trong tinh thàn đoàn kết, cùng quy tụ trước Bồ-đoàn Đức Phật Thích Ca vang lên lời kinh-tiếng kệ; đồng nguyện cầu cho quốc thới dân an, cuộc sống ấm no, nhà nhà hạnh phúc… Cũng chính vì đặc điểm như vậy, nên chùa Thiên Trúc được hiểu rõ là Chùa thờ cúng thể hiện sự hòa hợp các dân tộc đang sinh sống trong cộng đồng dân cư. Cùng đoàn kết bên nhau, chắc chiu nghĩa tình, như anh em cùng chung một nhà.
Sự đoàn kết gắn bó ấy của các dân tộc đã trải qua nhiều thế hệ. Họ có chung ý niệm là cùng hướng thiện theo con đường làm lành, lánh dữ; yêu quê hương-bảo vệ Tổ quốc; mà từ thuở xa xưa nhiều Sư Tổ Phật giáo Việt Nam đã trọn và truyền lại đến ngày nay.
Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, nhân dân Hà Tiên cùng với cả nước chung sống trong thanh bình. Đạo Phật lại có thêm nhiều thuận lợi trên con đường tiến triển, khi được hợp nhất thành một Tổ chức: "Giáo hội Phật giáo Việt Nam". Từ đây chư Tăng, tín đồ-phật tử trên khắp miền của Tổ quốc Việt Nam; trong đó có Hà Tiên và chùa Thiên Trúc càng thêm vững lòng tin trên con đường Phật pháp. Đi theo Phật pháp là để tu dưỡng tâm tính có đạo đức tốt, có tính nhân ái-vị tha, có tình thương chân chính với mọi người; gắn với lẽ phải của cộng đồng các dân tộc trong xã hội. Tiếp tục thừa kế và nâng cao truyền thống quý báu của nòi giống Rồng Tiên, giữa đạo với đời là một, tô điểm thêm cho cuộc sống trong cộng đồng xã hội luôn luôn tốt đời-đẹp đạo.
Với ý tưởng và hoài niệm ấy của chư Tăng và tín đồ-phật tử là vô cùng cao đẹp. Một lòng giữ vững chân tu theo Phật giáo, gắn với tình thương yêu quê hương, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp. Ấy chính là thể hiện tính nhân văn trong giáo lý, tuân thủ và chấp hành luật pháp của Nhà nước, hòa hợp với nếp sống văn hóa-văn minh trong cộng đồng xã hội đương đại. Qua đó, thiết thực góp phần nâng cao giá trị cuộc sống của mọi người trong xã hội mới hôm nay của chúng ta.
Nhìn chung chùa Thiên Trúc đã có bề dày truyền thống, gắn liền với vùng đất Hà Tiên. Song, nếu kể từ trước năm 1960 đến nay, thì chùa đã có nhiều sư trụ trì, qua từng thời gian như sau:
Trước năm 1960, có hai vợ chồng ông Huỳnh Văn Mót và bà Nguyễn Thị Sảnh là chủ quản Thiên Trúc Tự. Đại đức Pháp Kiên (thế danh: huỳnh Văn Liêm, quê quán huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long) trụ trì từ năm 1960-1968, Đại đức Pháp Chơn (thế danh: Lê Văn Bốn, sinh năm 1905-1989, quê quán huyện Hà Tiên tỉnh Kiên Giang) trụ trì từ năm 1969-1989, Đại đức Pháp Nhẫn (thế danh: Diệp Bình Lợi, sinh năm 1950, quê quán huyện Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang) trụ trì từ năm 1990-1997, Tỳ kheo Pháp Hảo (thế danh: Đàm Hồng Phúc, sinh năm 1975, quê quán huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh) trụ trì từ năm 1999 cho đến nay. | 1 | null |
"Cô bé vô tư" là một bài hát do nhạc sĩ Trần Tiến sáng tác. Bài hát từng được Trần Tiến và một số ca sĩ khác trình bày thành công như NSND Thanh Hoa, Hồng Nhung, Thu Minh.
Năm 1992, ca khúc được Hồng Nhung thể hiện trong "Nỗi nhớ mây xưa", phát hành bởi Nhà xuất bản Âm nhạc (Dihavina), theo định dạng cassette. Album sau này được tái bản bìa trắng với định dạng CD. Ca khúc cũng được biên tập trong album cùng tên do Đài Truyền hình Cần Thơ thực hiện sản xuất năm 1991 dưới định dạng băng VHS. Ngày 23 tháng 3 năm 1996, bản thu nằm trong album phòng thu "Tạm" "biệt chim én" của nhạc sĩ Trần Tiến, phát hành bởi HSD, định dạng cassette. Sau đó, ca khúc đã được Nhung chọn làm nhan đề cho DVD đầu tay phát hành năm 1996. Năm 2010, cô đưa vào trong album "Lời của gió," phát hành bởi Dihavina"."
Ca sĩ Trần Thu Hà đã thu âm "Cô bé vô tư" nhưng không được nhạc sĩ Trần Tiến đánh giá cao về chất giọng của cô khi thể hiện bài hát. Năm 2000, trong DVD "Liveshow Ngẫu hứng Trần Tiến", ca sĩ Thu Minh đã trình diễn ca khúc này khi 23 tuổi trên sân khấu cùng nhạc sĩ Trần Tiến. Với Hồng Nhung, thành công với bài hát "Cô bé vô tư" đã khiến cụm từ này được dùng để chỉ Hồng Nhung mỗi khi nhắc đến cô trong thời gian mới bắt đầu sự nghiệp. Trong liveshow "Ngẫu hứng Trần Tiến", nhạc sĩ cũng tâm sự sáng tác này là nhạc phẩm tiếp nối sau "Mặt Trời bé con" của ông dành tặng vẫn người con gái trong bài cũ "Mặt Trời bé con".
Năm 1990, bài hát ""Cô bé vô tư" cùng với "Sao em nỡ vội lấy chồng" và "Thượng đế buồn"" đã giúp Trần Tiến nhận giải thưởng của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cho loạt ca khúc sáng tác cổ động phong trào Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, loạt ca khúc được đánh giá là khá trần trụi về đề tài này. | 1 | null |
Nguyên tố siêu nặng (tiếng Anh: superheavy element, viết tắt là SHE) là nguyên tố hóa học có số hiệu nguyên tử bằng hoặc lớn hơn 104.
Tuy nhiên định nghĩa về nguyên tố siêu nặng vẫn chưa được thống nhất, tùy thuộc vào cách nhìn nhận dưới góc độ khác nhau của các chuyên gia. Một số người cho rằng nguyên tố siêu nặng có số hiệu nguyên tử bằng và lớn hơn 102. Nguyên tử đầu tiên tìm thấy là nguyên tử 113, được khám phá từ Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Livermore và Viện Nghiên cứu Hạt nhân Tổng hợp ở Nga. | 1 | null |
Đinh Long Nhật (sinh ngày 19 tháng 10 năm 1967 tại Huế, quê ở Quảng Trị), thường được biết đến với nghệ danh Long Nhật, là một nam ca sĩ người Việt Nam chuyên hát dòng nhạc quê hương và nhạc trữ tình.
Tiểu sử.
Long Nhật tên đầy đủ là Đinh Long Nhật, sinh ngày 19 tháng 10 năm 1967. Anh tuy quê ở Quảng Trị nhưng lại sinh ra ở Huế. Cha của Long Nhật là nhà thơ, nhà thi pháp Nguyệt Đình. Khi biết con trai thi tuyển vào đoàn ca nhạc Hải Đăng - Nha Trang, ông đã phản đối. Thế nhưng, vì thương con, mẹ Long Nhật đã giấu chồng cho con trai tiền đi thi.
Hoạt động ca hát.
Vào giai đoạn 1993-1994, Long Nhật phát triển sự nghiệp âm nhạc qua các ca khúc "Mấy nhịp cầu tre", "Tình Huế", "Chung vầng trăng đợi", "Ở hai đầu nỗi nhớ", "Nhớ nhau hoài", "Lời người ra đi", "Hai chuyến tàu đêm", "Em yêu anh như yêu câu ví dặm", "Ai ra xứ Huế", "Gió về miền xuôi". Anh trở thành một trong những ca sĩ chính thức của đoàn Hải Đăng. Anh tiếp tục trau dồi và hoàn thiện chất giọng của mình qua các ca khúc "Nụ hồng"," Tóc đuôi gà", "Lặng thầm" và "Về quê ngoại".
Sau này Long Nhật chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Tại đây, ngoài vai trò ca sĩ, Long Nhật còn là người dẫn chương trình trong các chương trình ca nhạc, trong đó có chương trình ca nhạc thiếu nhi Tuổi Ngọc: Chú Vịt Con (cuốn VHS 1) và Chị Ong Nâu (cuốn 2) do Hồ Gươm Audio - Video sản xuất năm 1997.
Cho đến nay, anh đã có 3 album ra mắt khán giả: "Xin làm người hát rong", "Thu vắng", "Nỗi niềm" và đang cộng tác với trung tâm Vafaco thực hiện album thứ 4.
Đời tư.
Năm 2012, ca sĩ Long Nhật xuất hiện hình ảnh trong tà áo dài đủ màu sắc và tạo dáng phụ nữ trên một số trang mạng tin tức. Ngoài những tấm hình chụp một mình, anh còn lộ những tấm hình tình tứ với nam diễn viên Công Dũng. Trước nghi vấn của khán giả cho rằng mình là người có giới tính thứ ba và tạo scandal, anh đã lên tiếng giải thích đó chỉ là những hình ảnh từ video về nhạc xuân để lưu trữ. Ca sĩ Long Nhật cũng tiết lộ mối quan hệ của mình với người thứ ba có liên quan ít nhiều đến chuyện ly dị của mình với vợ sau 2 năm chung sống. | 1 | null |
Seconds from Disaster (tạm dịch trong tiếng Việt là: Những giây phút trước thảm họa) là tên một series phim tài liệu truyền hình Hoa Kỳ chiếu từ ngày 6 tháng 7 năm 2004 đến ngày 7 tháng 3 năm 2007, và từ ngày 5 tháng 9 năm 2011 đến thời điểm hiện tại trên National Geographic, hay còn gọi tắt là "Nat Geo".
Chương trình điều tra những thảm họa tự nhiên và thảm họa do con người gây nên, như Động đất và sóng thần Ấn Độ Dương 2004, Thảm họa tàu con thoi Columbia, Thảm sát Thế vận hội Mùa hè năm 1972 tại Munich... Mỗi tập chỉ điều tra về duy nhất một thảm họa (ngoại trừ trường hợp tập Tai nạn máy bay Comet, trong đó điều tra về hai thảm họa xảy ra giống hệt nhau của hai chiếc máy bay DH-106 Comet) bằng cách phân tích các nguyên nhân và hoàn cảnh cuối cùng ảnh hưởng đến thảm họa. Series sử dụng đồ họa máy tính cùng các cảnh quay thực sự để phân tích các chuỗi sự kiện theo từng giây phút đến thảm họa, ngoài ra cũng dùng những lời phỏng vấn của những nhân chứng hoặc của thân nhân những người trong các vụ thảm họa...
Seconds from Disaster đã được chiếu trên Kênh Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ từ năm 2004. Ban đầu, series này có trên 45 tập phim trong tổng cộng 3 mùa. Series được chiếu hết ngày 7 tháng 3 năm 2007, sau đó không có tín hiệu gì từ phía Nat Geo, có thể nó đã bị ngừng lại. Sau đó, Nat Geo thay thế series bằng một series khác là Critical Situation. Nhưng đến ngày 5 tháng 9 năm 2011, cuối cùng họ cũng tiếp tục chiếu "Seconds from Disaster", với tập đầu tiên của mùa 4 nói về vụ khủng bố ngày 11 tháng 9. Series vẫn tiếp tục cho đến bây giờ với mùa 6 đã kết thúc.
Dạng cơ bản.
Seconds from Disaster đặc trưng bởi sự nhấn mạnh về trình tự thời gian (như phù hợp với tên của series) và công nghệ máy tính để tái hiện từng khoảnh khắc trước thảm họa. Chương trình có ít hoặc không có lời đối thoại giữa các diễn viên trong khi tái hiện thảm họa, nhưng thay vào đó là gần như hoàn toàn bị chi phối bởi người dẫn chuyện. Mỗi khi phần mở đầu kết thúc, người dẫn chuyện luôn mở đầu phần chính với câu: "Thảm họa không tự nhiên xảy ra, nó là một chuỗi các sự kiện nghiêm trọng. Lần ngược đầu mối và đếm ngược Vài Giây Trước Thảm họa."
Mỗi tập phim bắt đầu với việc tái hiện thảm họa, trong đó luôn luôn chiếu cho người xem những khoảnh khắc quan trọng trong diễn biến của thảm họa với một chiếc đồng hồ xuất hiện vào lúc bắt đầu của mỗi cảnh. Sau chuỗi các sự kiện, chương trình phân tích các nguyên nhân và các sự kiện dẫn đến thảm họa đó. Bộ phim sử dụng đồ họa máy tính một cách chi tiết trong mỗi tập phim để tiết lộ về thảm họa và các sự kiện liên quan, nhưng trong tập 7-19 của mùa 3, các hình ảnh đồ họa máy tính màu xanh giống các bản vẽ không được sử dụng và thay vào đó là một nền trắng. Vào mùa 4,5 và 6, mô phỏng lại được thay thành màu đen và nâu và thỉnh thoảng, nó không được sử dụng.
Chương trình kết thúc với những cảnh thảm họa được tua lại, đồng hồ thông thường được thay thế bởi một đồng hồ đếm ngược và đưa ra kết luận từ phân tích được đặt cùng với trình tự các sự kiện. Thông thường, chương trình kết thúc với một khoảnh khắc ngắn về tình cảm của những nhân chứng còn sống sót hoặc của những thân nhân các nạn nhân trong thảm họa, tiếp theo là các tiến bộ công nghệ được thực hiện để ngăn chặn những thảm họa tương tự có thể xảy ra lần nữa.
Những người dẫn chuyện cho series là Ashton Smith, (người dẫn chuyện cho phiên bản Mĩ từ mùa 1 đến mùa 3), Richard Vaughan, (người dẫn chuyện phiên bản Anh từ mùa 1, 2, "mùa 2,5"; tường thuật series kể từ mùa 4 cho đến nay) và Peter Guinness (mùa 3).
Các tập của series.
Mùa 5 (2012).
Mùa này có một tập gọi là "Fukushima" nói về Thảm họa nhà máy điện hạt nhân Fukushima, được phát sóng đúng vào ngày kỉ niệm 1 năm của thảm họa.
Mùa 6 (2012-2013).
Mùa này có 1 tập gọi là "Thảm sát Na Uy", nói về Vụ tấn công ở Na Uy năm 2011, phát sóng vào đúng ngày kỉ niệm 1 năm ngày xảy ra thảm họa - ngày 22-7. Còn các tập sau thì được phát sóng cách tập đầu 4 tháng sau, với tập 2 tên là "Vụ tự tử giáo phái Jonestown". | 1 | null |
Nakajima Ki-116 là một mẫu máy bay tiêm kích được phát triển vào cuối Chiến tranh thế giới II cho Không quân Lục quân Đế quốc Nhật Bản. Nó cơ bản là một chiếc Ki-84 Hayate với động cơ động cơ Nakajima Ha-45 được thay thế bằng Mitsubishi Ha-112. Thiết kế do hãng Mansyū (満州) ở Mãn Châu Quốc xử lý, và do đó có tên định danh khác là Mansyū Ki-116. | 1 | null |
Hoa Nguyên (; ?-?), nguyên họ Tử (子), là một nhà chính trị và tướng quốc của nước Tống thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.
Thân thế.
Họ Hoa xuất thân là con cháu chi thứ của Tống Đái công, được phong ấp Hoa và trở thành một gia tộc lớn, nhiều đời làm khanh tướng nước Tống. Cụ tổ 4 đời của Hoa Nguyên là Hoa Đốc, từng làm thái tể dưới ba đời vua Tống, đã phát động bạo loạn, giết Tống Thương công để lập Tống Trang công lên làm vua, sau đó họ Hoa tiếp tục nắm trọng quyền nước Tống.
Sau khi phụ thân Hoa Ngữ Sự qua đời, Hoa Nguyên lên thế tập, làm đại phu nước Tống. Năm 611 TCN, Tống Văn công thăng ông lên làm chức Hữu sư nhiếp chính. Hoa Nguyên sinh được hai con trai là Hoa Duyệt và Hoa Thần.
Bị giam ở nước Trịnh.
Năm 607 TCN, Trịnh và Tống nổ ra chiến tranh. Trịnh Mục công cử công tử Quy Sinh đánh Tống. Hoa Nguyên cầm quân ra chống. Hôm ra trận, Hoa Nguyên giết thịt dê đãi tướng sĩ, nhưng lại quên mất phần cho người đánh xe là Dương Châm. Vì vậy Dương Châm thù Hoa Nguyên, khi ra trận, Dương Châm tuyên bố trả thù và đánh xe của Hoa Nguyên thẳng vào chỗ quân Trịnh cho quân Trịnh bắt Hoa Nguyên, còn mình bỏ trốn. Kết quả quân Tống bại trận, Quy Sinh đánh bại, giết hơn 100 quân Tống, ngoài Hoa Nguyên còn bắt sống Nhạc Lữ cùng 460 cỗ chiến xa và 250 quân sĩ, quân Tống tan vỡ.
Tống Văn công sai mang hơn 100 cỗ xe 4 ngựa sang quân Trịnh để chuộc Hoa Nguyên. Khi mới bàn giao sang nửa số xe thì Hoa Nguyên đã trốn thoát về. Đến cổng thành, Hoa Nguyên gặp lại Dương Châm nhưng không đổ lỗi cho Dương Châm mà nói rằng tại ngựa không tốt. Nhưng Dương Châm tự nhận lỗi của mình và bỏ trốn sang nước Lỗ.
Chống Sở.
Năm 595 TCN, Sở Trang vương muốn đánh Tống bèn sai Thân Vô Úy giả danh là Thân Chu đi sứ nước Tề. Khi đi qua nước Tống Thân Chu thì cố ý không xin phép để tỏ ra coi khinh. Hoa Nguyên tức giận việc Thân Vô Úy đi qua không thèm xin phép nước Tống là coi khinh nước Tống không chủ, nên giết Thân Chu.
Sở Trang vương nghe tin Thân Chu bị giết, liền đem quân đánh Tống để trả thù, bao vây Thương Khâu suốt 7 tháng. Tống Văn công cầu cứu Tấn. Tấn Cảnh công muốn cứu Tống nhưng đại phu Bá Tôn can rằng Sở hùng mạnh không thể thắng được. Vì vậy, Tấn Cảnh công sai Giải Dương đi sứ nước Tống, nói dối là viện binh sẽ đến.
Giải Dương đến nước Tống, bị bắt nộp cho Sở Trang vương. Trang vương bắt Giải Dương phải đến trước thành nước Tống nói rằng viện binh Tấn không đến để Tống Văn công đầu hàng. Giải Dương nhận lời, nhưng khi đến trước thành lại khuyên nước Tống cố thủ chờ viện binh Tấn. Sở Trang vương nổi giận định giết Giải Dương, nhưng vì cấp dưới can Giải Dương là tấm gương trung thành, nên vua Sở thả Giải Dương về. Hoa Nguyên tưởng quân Tấn sẽ đến nên cố sức phòng thủ.
Tống Văn công muốn cầu hòa với Sở, phái Hoa Nguyên đi sứ. Hoa Nguyên nhân đêm tối, đích thân giả thị vệ, cầm dao lẻn vào dinh quân Sở, thuật lại tình hình trong thành, và đề nghị quân Sở hãy rút lui 30 dặm để người Tống kiếm lương, nước Tống xin thần phục. Bị Hoa Nguyên uy hiếp, tướng Sở là Tử Phản phải thề với Hoa Nguyên, rồi đề nghị với Sở Trang vương. Sở Trang vương cũng đang thiếu lương, bằng lòng lui binh 30 dặm, nới vòng vây cho nước Tống. Tống Văn công sai người sang nghị hòa, rồi hai nước giảng hòa với nhau. Hai bên thực tình nói cho nhau biết hoàn cảnh trong quân rất khó khăn. Sáng hôm sau, Tử Phản tâu với Sở Trang vương. Sở Trang vương tuy tức giận nhưng cuối cùng cũng chấp nhận giảng hòa, ăn thề với nước Tống.
Đảm đương chính sự nước Tống.
Năm 589 TCN, Tống Văn công qua đời. Cùng năm đó, Hoa Nguyên thấy Tấn và Sở tranh bá mãi không dứt, muốn lập minh ước cho hai nước giảng hòa, bèn dùng quan hệ với các đại phu nước Tấn để triệu tập hội minh ở đất Tống, lập minh ước hai nước Tấn và Sở chia nhau quyền bá chủ ở Trung Nguyên. Từ đó Tấn và Sở giảng hòa.
Tháng 6 năm 576 TCN, Tống Cộng công mất. Cháu 4 đời của công tử Đãng (em Tống Tương công) giết chết thế tử Phì, và lại muốn giết Hoa Nguyên, Hoa Nguyên trốn sang nước Tấn cầu cứu, rồi về nước giết chết quân phản loạn, lập con thứ của Cung công là Tử Thành lên làm vua, tức Tống Bình công.
Sau khi Đường Sơn bị giết, các đại phu Ngư Thạch, Hướng Vi Nhân, Lân Chu, Hướng Đái định trốn ra nước ngoài nhưng Hoa Nguyên phái người ngăn lại mời về. Các đại phu ban đầu không chịu. Tháng 10 năm đó, Hoa Nguyên đích thân đến mời, đại phu họ Hoàn đồng ý còn những người khác bỏ trốn sang nước Sở. Hoa Nguyên phong cho Hướng Tố Tuất làm Tả sư, Lã Tá Tố làm Tư mã, Nhạc Duệ làm tư khấu để yên định trong nước.
Tháng 6 năm 573 TCN, Trịnh Thành công đem quân đánh Tống, đến ngoại thành nước Tống. Trịnh Thành công mời Sở Cung vương cùng đánh Tống. Sở Cung vương và Trịnh Thành công hợp quân chiếm U Khâu của Tống, rồi tiến tới Bành Thành. Vua Sở cho các đại phu Ngư Thạch, Hướng Vi Nhân, Lân Chu, Hướng Đái, Ngư Phủ, Tống Hồi và Lưu Hạ Tam đã bỏ trốn sang Sở trước đó ba trăm chuyến xe phòng thủ và đưa về Bành Thành.
Năm 572 TCN, nước Tấn hội chư hầu đánh Bành Thành, bắt các đại phu đi an trí ở Hạ Khâu và trả Bành Thành cho nước Tống.
Sau không rõ Hoa Nguyên mất năm nào. Ông làm đại phu qua 4 đời vua Tống là Tống Tiền Chiêu công, Tống Văn công, Tống Cộng công và Tống Bình công. Con ông là Hoa Duyệt được nối chức làm đại phu. | 1 | null |
Bay vào cõi mộng là một bộ phim hài - hành động - võ thuật - tâm lý của Việt Nam do Nguyễn Phương Điền làm đạo diễn, được khởi chiếu vào ngày 2 tháng 2 năm 2013. Phim có sự tham gia của những gương mặt nổi tiếng lẫy lừng Việt Nam cùng với một dàn nghệ sĩ hải ngoại đầy tên tuổi, cặp vợ chồng danh hài Kiều Oanh và Lê Huỳnh chính là điểm nổi bật nhất trong phim khiến nhiều khán giả tò mò đến rạp xem.
Nội dung.
Bộ phim kể về một cô gái hiền lành chân chất tên Thiên Kim, cô sinh ra trong một gia đình nghèo khó, mẹ cô phải đi giặt đồ thuê để nuôi hai chị em cô ăn học, còn ba cô suốt ngày say xỉn và cờ bạc chứ chẳng giúp ích gì cho vợ con. Hoàn cảnh gia đình quá khó khăn nên Kim vừa đi học vừa đi phụ việc trong nhà hàng với hi vọng kiếm tiền lo phần nào cho gia đình.
Kim dần dần bị mất ngủ trầm trọng do làm việc quá lao lực và học nhiều, cô hay ngủ gật trong giờ học cũng như khi làm việc nên thường bị giáo viên la rầy, bạn bè cười nhạo và quản lý nhà hàng mắng nhiếc. Nhưng sự mệt mỏi, uể oải và những đêm mất ngủ liên tiếp đã khiến Kim mắc một căn bệnh mộng du lạ thường, chính căn bệnh này đã giúp cô trở thành một cô gái có võ nghệ cao cường, làm được nhiều chuyện phi thường, khác hẳn tính cách lúc cô còn thức. Điều đặc biệt là Kim có thể ngủ với bất kỳ tư thế nào, thậm chí đang ngủ mà vẫn... mở mắt. Gã đại gia Tiến "sộp" trong nhà hàng và tên quái xế Bình "vù" có ý chọc ghẹo Kim nên bị cô dạy một bài học. Tối hôm đó, Tiến thuê giang hồ chặn đường bắt nạt Kim, nhưng anh chàng thanh niên tên Chí lì đã giải cứu cô.
Chí lì làm nghề sửa xe, rất giỏi võ và tốt bụng, từng là đàn em của hai vợ chồng xã hội đen Tony Đô và Linda. Chí sửa xe giúp Kim mà còn cho cô mượn xe về nhà, hai người dần dần có tình cảm với nhau. Khi biết mình đang mắc bệnh mộng du, Kim tìm đến bà giáo sư Thủy Linh để nhờ chữa bệnh, tuy nhiên bà Thủy Linh cũng chịu thua trước căn bệnh của Kim mặc dù đã làm nhiều cách. Tiến đến chỗ vợ chồng Tony Đô và Linda để nhờ hai người này giúp gã trừng trị Chí. Tony Đô liền cho một nhóm đàn em đuổi đánh Chí, may mắn là Kim giúp Chí chạy thoát.
Người bạn thân của Kim là Bích Ngọc cặp kè với Lâm công tử, tay công tử này mượn tiền Linda rồi sau đó không có tiền trả nên bán đứng Ngọc cho Linda. Linda bắt Ngọc làm tiếp viên trong vũ trường, tuy nhiên Chí và Kim đã đưa Ngọc trốn khỏi vũ trường. Tony Đô và Linda dẫn bọn đàn em đuổi theo. Cuối cùng, băng nhóm xã hội đen của Tony Đô và Linda bị Chí và Kim đánh bại. Sau này Kim nghỉ việc ở nhà hàng để đi phụ việc giáo sư Thủy Linh, Tiến bị ông chủ nhà hàng bắt rửa chén, còn Lâm công tử bị Linda đánh tơi tả ngoài đường. Ba Kim hứa rằng sẽ bỏ thói say xỉn, cờ bạc và sẽ sống tốt hơn với gia đình. Vào cảnh cuối phim, Chí và Kim hợp tác với nhau ngăn chặn hai tên cướp giật đồ của một người phụ nữ.
Phê bình.
Báo VTC: "Bay vào cõi mộng chứa đựng nhiều thông điệp cuộc sống. Bộ phim đề cập đến khá nhiều vấn đề thời sự của xã hội như: nạn buôn người, cờ bạc, rượu chè, ăn chơi thác loạn, đua xe trái phép, cho vay nặng lãi, bạo lực học đường… Qua đó phim cũng đề cao những tình cảm trong sáng giữa những bạn trẻ, những ước mơ giản dị về một cuộc sống tích cực và có ích cho xã hội. Với cách thể hiện nhẹ nhàng, hài hước xen kẽ với những cảnh quay hành động hấp dẫn, Bay vào cõi mộng được đánh giá là thích hợp cho nhiều đối tượng khán giả. Dù phim có đôi chỗ mất tự nhiên do khâu lồng tiếng nhưng về tổng thể, đây là bộ phim khá trong số các phim chiếu Tết với kịch bản chặt chẽ, tiết tấu phim nhanh và hấp dẫn". | 1 | null |
Hàn Quyết (, ?-?), tức Hàn Hiến tử (韓獻子), là vị tông chủ thứ năm của họ Hàn, một trong lục khanh nước Tấn thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc. Ông cũng đảm nhận vị trí Chính khanh của nước Tấn từ năm 573 TCN đến năm 566 TCN.
Hàn Quyết là con của Hàn Tử Dư, vị tông chủ thứ tư của họ Hàn. Sau khi Hàn Tử Dư mất, Hàn Quyết vẫn còn nhỏ. Triệu Thuẫn lúc ấy đang làm tướng quốc, đã dung dưỡng và giúp đỡ Hàn Quyết. Khi Hàn Quyết trưởng thành, Triệu Thuẫn tiến cử ông lên chức Tư mã.
Giúp họ Triệu phục hưng.
Theo Sử ký, Triệu thế gia, năm 597 TCN, đại phu Đồ Ngạn Giả (屠岸賈) được Tấn Cảnh công trọng dụng, gièm với Tấn Cảnh công trước đây Triệu Xuyên giết Tấn Linh công nên phải trị tội họ Triệu (bấy giờ Triệu Thuẫn đã qua đời). Tấn Cảnh công nghe theo, bèn phong Đồ Ngạn Giả làm Tư khấu và sai mang quân diệt họ Triệu. Hàn Quyết ra sức phản đối nhưng Đồ Ngạn Giả không chịu nghe, bèn khuyên Triệu Sóc bỏ trốn nhưng Triệu Sóc cũng không chịu, Hàn Quyết bèn xưng bệnh không vào triều. Đồ Ngạn Giả đánh họ Triệu, giết chết cả tộc họ Triệu.
Bấy giờ vợ Triệu Sóc là Trang cơ (cũng là chị của Tấn Cảnh công) đang có mang, trốn trong cung. Môn khách của Triệu Sóc là Công Tôn Xử Cữu (公孫杵臼) cùng với gia nhân Trình Anh, thương lượng việc bảo vệ cho con Triệu Sóc. Trang Cơ sinh ra con trai là Triệu Vũ, Đồ Ngạn Giả biết tin đem quân vây cung điện để vây bắt. Trình Anh bí mật lẻn vào đưa Triệu Vũ ra ngoài, sau dùng kế đổi Triệu Vũ với con mình đến tố giác Đồ Ngạn Giả nên Triệu Vũ thoát nạn, Hàn Quyết muốn đền ơn Triệu Thuẫn nên cố sức dung dưỡng cho Triệu Vũ.
Năm 583 TCN, Triệu Vũ lên 15 tuổi thì Tấn Cảnh công mang bệnh. Hàn Quyết vào gặp, xin Tấn Cảnh công nhớ công lao của họ Triệu với nước Tấn để khôi phục họ Triệu, và cho biết Triệu thị cô nhi vẫn còn sống. Tấn Cảnh công thuận theo, phục chức cho Triệu Vũ và cho Triệu Vũ tự đi báo thù giết Đồ Ngạn Giả.
Tham chiến với Sở và Tề.
Năm 597 TCN, Sở Trang vương đánh nước Trịnh. Trịnh Tương công cầu cứu nước Tấn. Tấn Cảnh công sai Hàn Quyết cùng Tuân Lâm Phủ, Sĩ Hội, Khước Khắc, Loan Thư, Tiên Hộc mang quân cứu Trịnh. Hai bên đánh nhau ở đất Bật, quân Tấn bị Sở đánh bại. Khi chạy về đến sông Hoàng Hà, các binh sĩ tranh nhau qua sông, nhiều người bị giết. Tướng Tuân Oanh bị bắt.
Năm 592 TCN, Tấn Cảnh công cử Khước Khắc làm chánh sứ và Loan Kinh làm phó sứ sang Tề, cùng lúc có sứ Lỗ, Vệ sang, Tề Khoảnh công muốn làm mẹ vui nên bày trò trêu chọc sứ giả. Khước Khắc tức giận, xin Tấn Cảnh công cho mình đánh Tề.
Năm 591 TCN, Tấn Cảnh công mới chấp thuận cho Khước Khắc đem quân hợp với nước Vệ đánh Tề. Liên quân 2 nước đánh tới đất Dương Cốc, buộc vua Tề cầu hòa.
Năm 589 TCN, Tề Khoảnh công mang quân đánh nước Lỗ và nước Vệ. Tấn Cảnh công bèn sai Hàn Quyết cùng Khước Khắc, Sĩ Nhiếp, Loan Thư cứu Lỗ và Vệ. Tháng 6 năm 589 TCN, hai bên giao chiến ở núi Mị Châm. Quân Tấn hăng hái đánh bại quân Tề.
Tề Khoảnh công thua chạy, Hàn Quyết mang quân truy kích. Người đánh xe cho vua Tề là Phùng Sửu Phụ hiến kế đổi chỗ, tự mình vào xe giả làm vua Tề. Hàn Quyết đuổi tới nơi. Sửu Phụ lên giọng ra lệnh cho Tề Khoảnh công đang vào vai người đánh xe đi lấy nước suối Hòa Tuyền cho mình uống. Tề Khoảnh công vội chạy tới suối và trốn thoát. Phùng Sửu Phụ lộ chân tướng là người đóng thế, bị bắt về chỗ Khước Khắc; nhưng Khước Khắc tha chết cho Sửu Phụ.
Quân Tấn đuổi đánh vua Tề, tiến đến Mã Lăng. Tề Khoảnh công sai Tân Mỵ Nhân đi sứ cầu hòa. Khước Khắc chấp thuận cho nước Tề giảng hòa và rút quân về.
Chính khanh nước Tấn.
Năm 573 TCN, Tấn Điệu công lên ngôi, phong cho Hàn Quyết làm Trung quân tướng, tức Chính khanh của nước Tấn.
Năm 566 TCN, Hàn Quyết tuổi đã cao, thấy Tuân Oanh lập được nhiều công trạng, bèn xin Tấn Điệu công cho cáo lão, nhường ngôi Chính khanh cho Tuân Oanh. Điệu công chấp thuận.
Sau không rõ Hàn Quyết mất năm nào. Do con trưởng của ông là Hàn Vô Kị bị bệnh nan y nên sau khi ông mất, con thứ là Hàn Khởi lên thế tập, tức Hàn Tuyên tử. | 1 | null |
North American FJ-2/-3 Fury là một chuỗi các máy bay tiêm kích cánh xuôi sau, có khả năng hoạt động trên tàu sân bay, được thiết kế dành cho Hải quân Hoa Kỳ và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Chúng được thiết kế dựa trên loại F-86 Sabre của Không quân Hoa Kỳ. | 1 | null |
North American YF-93 là một mẫu máy bay tiêm kích của Hoa Kỳ, được phát triển từ loại F-86 Sabre.
Liên kết ngoài.
[[Thể loại:Máy bay North American Aviation|YF-93]]
[[Thể loại:Máy bay quân sự Hoa Kỳ thập niên 1940]]
[[Thể loại:Máy bay tiêm kích Hoa Kỳ]]
[[Thể loại:Máy bay một động cơ]]
[[Thể loại:Máy bay phản lực]]
[[Thể loại:Máy bay cánh dưới]]
[[Thể loại:Dự án máy bay hủy bỏ của Hoa Kỳ]]
[[Thể loại:Máy bay một động cơ phản lực]] | 1 | null |
"Billboard" Hot 100 là một bảng xếp hạng những đĩa đơn thành công nhất tại thị trường âm nhạc Hoa Kỳ. Bảng xếp hạng do tạp chí "Billboard" xuất bản cùng những số liệu được tổng hợp bởi Nielsen SoundScan dựa trên doanh số hàng tuần của từng đĩa thường (CD, vinyl và cassette) và doanh số tải kĩ thuật số, tần suất phát sóng và streaming. Ở thập niên 2000, ngày "kết thúc tuần" trên mỗi bảng xếp hạng là ngày thứ 7 của hai tuần kế tiếp. Chỉ những ca khúc phát hành thành đĩa thường được tính làm chỉ số cho đến năm 1988, khi tạp chí "Billboard" cho các đĩa đơn chỉ phát qua radio được phép xuất hiện trên bảng xếp hạng. Trong khi Nielsen đã bắt đầu thu thập dữ liệu về doanh số kĩ thuật số từ năm 2003 cho một bảng xếp hạng riêng mang tên Digital Songs, thì phải đến bảng xếp hạng ngày 12 tháng 2 năm 2005, doanh số kĩ thuật số mới được chính thức công nhận là một chỉ số tính điểm trên Hot 100, trong bối cảnh doanh thu đĩa thường truyền thống sụt giảm. Ngày 4 tháng 8 năm 2007, "Billboard" bổ sung thêm lượng stream trực tuyến vào phương thức tính điểm.
Trong suốt thập niên 2000, có tổng cộng 129 đĩa đơn từng ngự trị ở ngôi đầu Hot 100. Mặc dù "Smooth" của Santana hợp tác với Rob Thomas đứng đầu bảng xếp hạng trong 2 tuần đầu tiên của năm 2000, bài hát lại không được tính là đĩa đơn quán quân của thập niên 2000 vì nó đã leo lên ngôi đầu Hot 100 vào tháng 10 năm 1999. Do đó, ca khúc chỉ được tính là đĩa đơn quán quân của thập niên 1990. Nhìn chung, thập kỷ chứng kiến sự thống trị của các bản nhạc hip hop và R&B, cùng với sự giao thoa giữa nhạc pop và nhịp điệu dance, thay thế xu hướng ballad truyền cảm của thập niên 1990. Trong khi nửa đầu của thập niên 2000 chứng kiến sự thích ứng của doanh số đĩa thường, thì nửa sau lại chào đón sự thống trị của doanh số streaming và kĩ thuật số. Thay đổi này xảy ra do sự phát triển của internet, dẫn đến việc âm nhạc được phân phối rộng khắp trên các trang bán hàng và nền tảng stream trực tuyến.
Trong suốt thập kỷ, Usher là nghệ sĩ thành công nhất khi tích lũy 7 ca khúc quán quân và có 41 tuần ngự trị ở ngôi đầu, nhiều hơn bất kì đồng nghiệp nào khác. Beyoncé xếp kế tiếp với 5 bài quán quân và 36 tuần xếp đầu, nhiều nhất trong số các nhạc sĩ nữ. Những nghệ sĩ khác có ít nhất 4 ca khúc quán quân là Rihanna (5 bài) và Mariah Carey, Alicia Keys, 50 Cent, Ludacris, Nelly và Justin Timberlake (4 bài); các nghệ sĩ khác trụ ở đầu bảng xếp hạng hơn 20 tuần là The Black Eyed Peas (26), Nelly (23), 50 Cent (23) và Alicia Keys (22). "We Belong Together" của Mariah Carey là đĩa đơn thành công nhất thập niên trên Hot 100, với 14 tuần không liên tục ở ngôi quán quân năm 2005. "Yeah!" của Usher hợp tác với Lil Jon và Ludacris cùng bài "Boom Boom Pow" của The Black Eyed Peas đồng hạng hai cho thành tích nhiều tuần quán quân cao thứ hai (12 tuần/bài).
Thống kê.
Nghệ sĩ có nhiều tuần quán quân nhất.
Các nghệ sĩ liệt kê dưới đây có nhiều tuần quán quân nhất trên bảng xếp hạng. Một số nghệ sĩ đạt thành tích quán quân cả với vai trò nghệ sĩ chính lẫn làm khách mời. Chẳng hạn như bài "Umbrella" của Rihanna hợp tác với Jay-Z được tính cho cả hai nghệ sĩ vì tên của họ của đều được ghi công trên đĩa đơn. Cách tính này cũng áp dụng cho những thống kê kế tiếp.
Nghệ sĩ có nhiều đĩa đơn quán quân nhất.
Trong khi một số nghệ sĩ xuất hiện ở vị trí quán quân trong vai trò nghệ sĩ đơn ca hoặc thành viên của một nhóm nhạc, họ chỉ được tính cho phần nghệ sĩ đơn ca. Chẳng hạn như Justin Timberlake giành vị trí đầu bảng với 4 đĩa đơn ghi công nghệ sĩ đơn ca và 1 đĩa đơn ghi công thành viên của N Sync, thì phần ghi công cho N Sync không được tính. | 1 | null |
Tuân Lâm Phủ (荀林父), tức Trung Hàng Hoàn tử (中行桓子) hay Trung Hàng bá (中行伯), Tuân Bá (荀伯), là vị tông chủ đầu tiên của Trung Hàng thị, một trong lục khanh nước Tấn thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.
Thân thế.
Tổ tiên của Tuân Lâm Phủ là Nguyên Thi Am, vốn mang họ Cơ, là công tộc nước Tấn, làm đại phu thời Tấn Vũ công. Tấn Vũ công sau khi diệt nước Tuân, ban cho Nguyên Thị Ảm, đổi làm họ Tuân.
Ông nội của Tuân Lâm Phủ là Tuân Tức. Tuân Tức sinh Tuân Ngao, Tuân Ngao sinh Tuân Lâm Phủ. Lúc sinh thời, Tuân Tức có công giúp Tấn Hiến công diệt hai nước Ngu, Quắc, sau Tấn Hiến công giết thế tử Cơ Thân Sinh, lập con thứ là Cơ Hề Tề làm thế tử. Tấn Hiến công lúc sắp mất giao phó Hề Tề cho Tuân Tức. Đại phu Lý Khắc không phục, đem quân tấn công vào cung giết Hề Tề. Tuân Tức lập Cơ Trác Tử lên ngôi, nhưng sau Lý Khắc lại đem quân đánh, giết cả Trác Tử và Tuân Tức.
Năm 632 TCN, công tử Trùng Nhĩ (Tấn Văn công) lên ngôi, muốn phục hồi hương hỏa cho họ Tuân, tìm thấy Tuân Lâm Phủ là cháu nội trưởng của Tuân Tức, bèn phong làm Trung Hành tướng, lập ra họ Trung Hành.
Năm 622 TCN, Tấn Tương công tổ chức lại quân đội, phong cho Tuân Lâm Phủ làm Thượng quân tá.
Thời Tấn Linh công.
Năm 621 TCN, Tấn Tương công qua đời, Triệu Thuẫn không muốn lập thế tử Di Cao, ép các triều thần đón công tử Ung đang làm con tin ở nước Tần lên ngôi, còn Hồ Xạ Cô muốn lập công tử Lạc. Cuối cùng, tuy Hồ Xạ Cô bị đuổi nhưng Triệu Thuẫn lại sợ uy tín của Mục Doanh (mẹ Di Cao), nên lập Di Cao lên ngôi, tức Tấn Linh công, cho Tiên Khắc thay vào vị trí Trung quân tá, rồi đặt phục binh cản trở công tử Ung về nước.
Hành động của Triệu Thuẫn làm nảy sinh mâu thuẫn trong nội bộ nước Tấn. Các tướng Tiên Miệt, Sĩ Hội phản đối, chạy sang Tần. Các tướng Cơ Trịnh Phủ, Sĩ Cốc, Lương Ích Nhĩ, Khoái Khắc nổi loạn, giết chết Tiên Khắc, bị Triệu Thuẫn giết chết. Tuân Lâm Phủ vốn thân cận với Triệu Thuẫn nên được bổ nhiệm làm Trung quân tá thay Tiên Khắc.
Năm 615 TCN, Triệu Thuẫn sai Tuân Lâm Phủ sang Tần, khuyên Tiên Miệt và Sĩ Hội về nước, giảng hòa và phong Đại phu.
Chiến tranh với Sở.
Năm 600 TCN, Sở Trang vương đánh Trịnh, Tấn Thành công sai Tuân Lâm Phủ đánh thuộc quốc của Sở là nước Trần để cứu Trịnh, nhân đó đánh luôn cả Sở. Tuân Lâm đánh bại quân Sở.
Năm 597 TCN, Sở Trang vương lại mang quân vây nước Trịnh. Trịnh Tương công cầu cứu nước Tấn. Tấn Cảnh công phong Tuân Lâm Phủ làm Trung Quân tướng (tức Chánh khanh) cùng Sĩ Hội, Khước Khắc, Loan Thư, Tiên Hộc, Hàn Quyết mang quân cứu Trịnh.
Quân Tấn đi chậm, khi đến nơi thì Trịnh Tương công đã phải ra hàng và ăn thề với Sở Trang vương. Tuân Lâm Phủ định quay về, Tiên Hộc đề nghị tiến quân giao chiến. Tuân Lâm Phủ lệnh cho toàn quân qua sông Hoàng Hà.
Trịnh Tương công đã hàng Sở nên phải mang quân phối hợp với Sở cùng đánh Tấn. Hai bên giao chiến ở đất Bật. Các tướng Tấn tranh cãi, Tuân Lâm Phủ muốn rút quân, nhưng Tiên Cốc đòi quyết chiến. Ngụy Kĩ và Triệu Chiên xin đi hòa đàm với Sở, Tuân Lâm Phủ đồng ý nhưng rồi nhận ra 2 người này thuộc phe chủ chiến, vội phái Tuân Oanh đuổi theo gọi bọn họ trở lại.
Ngụy Kĩ và Triệu Chiên chọc giận quân Sở rồi bỏ trốn, lính tuần tiễu Sở trông thấy cánh quân của Tuân Oanh, thì cho là quân Tấn đến đánh, Sở Trang vương bèn đem quân công kích, bắt Tuân Oanh.
Quân Tấn bỏ chạy, sang đến bờ bắc Hoàng Hà. Em ông là Tuân Thủ đưa thân binh xông vào quân Sở, bắn chết tướng Sở là Tương Lão cùng công tử Cốc Thần.
Về đến Giáng đô, Tuân Lâm Phủ xin chịu tội chết vì thua trận. Tấn Cảnh công định chấp nhận thì Sĩ Hội can nên để Tuân Lâm Phủ sống để báo thù nước Sở. Tấn Cảnh công nghe theo.
Năm 594 TCN, Tấn Cảnh công sai Tuân Lâm Phủ cùng Sĩ Hội đem quân đánh tộc Xích Đich, tiêu diệt Xích Địch, sáp nhập vào lãnh thổ nước Tấn.
Qua đời.
Năm 593 TCN, Tuân Lâm Phủ mất. Con ông là Tuân Canh lên kế tập. | 1 | null |
"Drive My Car" được viết chính bởi Paul McCartney, với phần lời của John Lennon, là bài hát nằm trong album "Rubber Soul" năm 1965 của ban nhạc The Beatles. Ở Bắc Mỹ, bài hát này được phát hành trong tuyển tập "Yesterday and Today". Tính sôi động, rộn ràng của "Drive My Car" cũng chính là yếu tố giúp đây trở thành ca khúc mở đầu cho cả hai album trên của ban nhạc.
Thành phần tham gia sản xuất.
Theo Ian MacDonald | 1 | null |
Tàu 176 là một tàu vận tải quân sự thuộc đoàn tàu không số - Đoàn 125, Quân chủng Hải quân, Hải quân Nhân dân Việt Nam.
Xây dựng.
Tàu 176 thuộc lớp tàu vận tải vỏ sắt tải trọng 65 tấn do các kỹ sư quân sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết kế, đóng tại xưởng đóng tàu III, thành phố Hải Phòng.
Hoạt động.
Ngày 28 tháng 5 năm 1970, tàu 176 xuất phát chuyên chở vũ khí vào nam nhưng bị lực lượng tuần tra của Hải quân Hoa Kỳ phát hiện nên buộc phải quay trở lại bến. Lần xuất phát thứ hai vào ngày 25 tháng 7, 1970 cũng gặp phải tình cảnh tương tự.
Ngày 11 tháng 11 năm 1970, tàu 176 dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Lê Xuân Ngọc và chính trị viên Huỳnh Trung cùng 18 thủy thủ, xuất phát lần thứ ba trong năm. Mục tiêu của tàu 176 là chở vũ khí cập bến Cồn Lợi. Hành trình của tàu tương đối trót lọt nhưng trên thực tế Hải quân Hoa Kỳ đã phát hiện và huy động lực lượng giăng bẫy nhằm mục tiêu bắt sống toàn bộ tàu và các thủy thủ.
Ngày 21 tháng 11, 1970, tàu 176 khi đang tiến sát vào bến thì bị bao vây. Sau một thời gian giao chiến, thuyền trưởng Lê Xuân Ngọc chỉ huy các thủy thủ cho tàu đâm thẳng vào cồn cát rồi châm lửa đốt tàu.
Kết cục.
Tàu 176 bị phá hủy hoàn toàn. Cồn cát mà tàu 176 đâm vào được người dân địa phương đặt cho tên gọi là Cồn Tàu. | 1 | null |
Gia Lai – Kon Tum là một tỉnh cũ thuộc vùng Tây Nguyên, Việt Nam.
Địa lý.
Tỉnh Gia Lai – Kon Tum nằm ở phía bắc của vùng Tây Nguyên. Trước khi giải thể, tỉnh có vị trí địa lý:
Lịch sử.
Tỉnh Gia Lai – Kon Tum được hình thành từ ngày 20 tháng 9 năm 1975, theo Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Đến ngày 29 tháng 10 năm 1975, Ủy ban nhân dân cách mạng Khu Trung Trung bộ ra Quyết định sáp nhập hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai thành tỉnh Gia Lai – Kon Tum với tỉnh lị đặt tại thị xã Pleiku. Đến ngày 12 tháng 8 năm 1991, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 9 của Quốc hội Việt Nam khoá VIII, tỉnh Gia Lai – Kon Tum được tách thành hai tỉnh: Gia Lai và Kon Tum.
Khi hợp nhất, tỉnh Gia Lai – Kon Tum bao gồm 2 thị xã: Pleiku (tỉnh lị), thị xã Kon Tum và 8 huyện: An Khê, Ayun Pa, Chư Păh, Chư Prông, Đăk Glei, Đăk Tô, Kon Plông, Mang Yang.
Trong thời gian tồn tại từ năm 1975-1991, tỉnh Gia Lai - Kom Tum đã có những thay đổi về phân cấp hành chính như:
Trước đó, vào ngày 15 tháng 4 năm 1950, Thủ tướng Chính phủ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Nghị định sáp nhập hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai thành một đơn vị kháng chiến hành chính lấy tên là liên tỉnh Gia Lai – Kon Tum (gọi tắt là tỉnh Gia - Kon). Khi mới thành lập, tỉnh Gia-Kon của VNDCCH được chia địa bàn quản lý thành 7 huyện (tương đương 7 khu), đặt dưới quyền điều hành trực tiếp của Uỷ ban Kháng chiến Hành chính liên tỉnh.
Đến năm 1951, tỉnh Gia-Kon của VNDCCH đã thành lập 3 phân khu đặc biệt gồm:
Các địa bàn còn lại được chia thành 5 huyện: Đăk Glei, Kon Plông, Đăk Bớt, An Khê, Plei Kon.
Đến tháng 8 năm 1954, tỉnh Gia-Kon của VNDCCH chính thức chia tách lại thành hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai.
Trong Chiến tranh Việt Nam-Campuchia, hai Sư đoàn 307, 309 và Lữ đoàn đặc công 198 của Quân khu 5 thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiến từ Pleiku theo Quốc lộ 19 về hướng Tây để giao chiến với quân Khmer Đỏ ở Đông Bắc Campuchia.
Đầu năm 1991, tỉnh Gia Lai – Kon Tum có 15 đơn vị hành chính bao gồm: Thị xã Pleiku (tỉnh lị), thị xã Kon Tum và 13 huyện: An Khê, Ayun Pa, Chư Păh, Chư Prông, Chư Sê, Đăk Glei, Đăk Tô, Kbang, Kon Plông, Kông Chro, Krông Pa, Mang Yang, Sa Thầy.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Gia Lai – Kon Tum để tái lập tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum: | 1 | null |
Loan Thư (chữ Hán: 欒書, bính âm: Luán Shū), tức Loan Vũ tử (欒武子), là tông chủ của họ Loan, thế gia nước Tấn thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.
Thân thế.
Tổ tiên của họ Loan là Tân Phụ, vốn mang họ Cơ, thuộc dòng dõi công thất nước Tấn. Tân Phụ có công phò tá Khúc Ốc Hoàn Thúc tranh ngôi với chi trưởng nên được phong ở ấp Loan, từ đó lấy chữ Loan làm họ, truyền dần đến đời Loan Chỉ. Loan Chỉ theo giúp Tấn Văn công xưng bá chư hầu, được phong làm Hạ quân tướng, thống lĩnh Hạ quân, từ đó trở nên một gia tộc lớn. Loan Chỉ sinh Loan Thuẫn, Loan Thuẫn sinh Loan Thư. Sau khi Loan Thuẫn qua đời, Loan Thư lên nối chức cha làm đại phu. Năm 597 TCN, ông được phong làm Hạ quân tá.
Chiến tranh với Sở và Tề.
Cùng năm đó, Sở Trang vương vây nước Trịnh. Trịnh Tương công cầu cứu nước Tấn. Tấn Cảnh công sai Loan Thư cùng các đại phu Tuân Lâm Phủ, Sĩ Hội, Khước Khắc, Tiên Hộc, Hàn Quyết cứu Trịnh.
Quân Tấn đi chậm, khi đến nơi thì Trịnh Tương công đã phải ra hàng và ăn thề với Sở Trang vương. Tuân Lâm Phủ định quay về, Tiên Hộc đề nghị tiến quân giao chiến. Tuân Lâm Phủ lệnh cho toàn quân qua sông Hoàng Hà. Hai bên đánh nhau to, quân Tấn bị đánh bại. Khi chạy về đến sông Hoàng Hà, các binh sĩ tranh nhau qua sông, nhiều người bị giết. Tướng Trí Anh bị bắt.
Năm 592 TCN, Tấn Cảnh công cử Khước Khắc làm chánh sứ và Loan Kinh làm phó sứ sang Tề. Tề Khoảnh công thấy Khước Khắc bị gù, bèn bày trò mua vui cho mẹ bằng cách dùng người gù đánh xe cho mẹ, đồng thời cũng trêu chọc sứ Lỗ và Vệ. Khước Khắc nổi giận bèn bỏ, xin Tấn Cảnh công đem quân đánh Tề.
Năm 591 TCN, Tấn Cảnh công bèn chấp thuận cho Khước Khắc đánh Tề, vua Tề phải gửi con tin cầu hòa.
Năm 589 TCN, Tề Khoảnh công mang quân đánh nước Lỗ và nước Vệ. Tấn Cảnh công bèn sai Loan Thư cùng Khước Khắc, Sĩ Nhiếp, Hàn Quyết mang 800 cỗ xe đi cứu Lỗ và Vệ. Quân Tấn đại thắng, suýt bắt được vua Tề. Tề Khoảnh công phải sai Tân Mỵ Nhân đi sứ giảng hòa.
Năm 587 TCN, Tấn Cảnh công thăng Loan Thư làm Trung quân tướng, tức Chính khanh nước Tấn.
Năm 585 TCN, Sở Cung vương đem quân đánh nước Trịnh, Loan Thư suất quân cứu Trịnh, đánh lui quân Sở, bắt được tướng Sở là Chung Nghi. Sau đó Tấn và Trịnh hội thề ở Mã Lăng.
Theo Tả truyện, sau khi Triệu Sóc (con Triệu Thuẫn) mất, vợ Sóc là Trang cơ tư thông với Triệu Anh Tề, Triệu Quát đang làm đại phu họ Triệu, đuổi Anh Tề. Năm 583 TCN, Trang Cơ thù Triệu Quát, gièm pha với Tấn Cảnh công. Loan Thư và Khước Khắc hùa theo Trang Cơ, vu khống Triệu Quát tạo phản, Tấn Cảnh công bèn giết Triệu Quát.
Năm 583 TCN, Sở Cung vương dùng của cải để lôi kéo nước Trịnh. Trịnh lại theo Sở. Sau đó Trịnh Thành công sang triều kiến nước Tấn để giữ quan hệ, bị Tấn Cảnh công bắt giữ. Nước Trịnh sai Bá Quyên đến xin giảng hòa, Tấn Cảnh công giết Bá Quyên, sai Loan Thư đi đánh Trịnh. Đầu năm 582 TCN, Loan Thư dẫn quân tiến đến nước Trịnh.
Nước Trịnh không đầu hàng, lại mang quân vây nước Hứa. Đến tháng 5, nước Tấn tập hợp thêm các chư hầu Tề, Tống, Tào đi đánh Trịnh.
Người nước Trịnh đã lập con Trịnh Thành công là Trịnh Hi công làm vua mới. Loan Thư thấy Trịnh đã chính thức lập vua mới liền bàn với chư hầu nên trả lại vua Trịnh. Tấn Lệ công thả Trịnh Thành công về nước.
Giết Tấn Lệ công.
Tấn Lệ công có nhiều vợ, muốn bỏ các đại phu mà cho các họ ngoại thích là anh em các bà vợ vào làm quan. Anh vợ của Lệ công là Tư Đồng có hiềm khích với Khước Chí (郤至), Loan Thư cũng giận Khước Chí không cùng ý kiến với mình khi giao tranh với quân Sở, nên xảy ra thù oán.
Cùng lúc, Sở Cung vương cũng cho người đến gièm pha với Lệ công:
"Sở dĩ có trận Yển Lăng vì Khước Chí gọi quân Sở đến vì ý đồ làm loạn nước Tấn để đưa công tử Chu về làm vua. Vì các chư hầu không tham dự đủ để giúp Sở nên việc không thành thôi".
Tấn Lệ công hỏi ý Loan Thư. Loan Thư vốn ghét Khước Chí nên đề nghị cho điều tra. Tấn Lệ công bèn sai Khước Chí đi sứ nhà Chu thăm công tử Chu. Trong khi đó chính Loan Thư lại nói với công tử Chu nên gặp gỡ Khước Chí. Khước Chí không biết là mưu sắp đặt nên gặp gỡ công tử Chu. Tấn Lệ công được tin, cho rằng Khước Chí có ý phản thật, muốn giết Khước Chí.
Khước Kỳ khuyên Khước Chí ra tay trước nhưng Khước Chí không muốn mang tiếng phản vua và gây ra tranh chiến tàn hại dân, chấp nhận cái chết.
Tháng 12 năm đó, Tấn Lệ công bắt giết hết cả họ Khước Chí. Nhân đó Tư Đồng muốn trừ khử cả Loan Thư và Tuân Yển, bèn bắt hai người đến triều đình, khuyên Tấn Lệ công giết luôn. Tấn Lệ công không nỡ ra tay, tạ lỗi với Loan Thư và Tuân Yển và thả hai người về.
Loan Thư cùng Tuân Yển sợ sẽ bị giết, bèn bàn nhau ra tay trước. Tháng chạp nhuận năm 573 TCN, Loan Thư và Tuân Yển nhân lúc Tấn Lệ công ra ngoài chơi bèn mang quân đánh úp, bắt sống Tấn Lệ công giam lại.
Sau 6 ngày, Loan Thư sai người đến giết chết Lệ công và dùng một cỗ xe chôn cất ông, lập công tử Chu lên ngôi, tức Tấn Điệu công
Cùng năm đó, Loan Thư qua đời. Con ông là Loan Yểm lên thế tập. | 1 | null |
là một tổ chức hư cấu xuất hiện trong loạt phim "Tokumei Sentai Go-Busters". của họ là chủ quản của , các nhân vật chính trong loạt phim. Nhiệm vụ của họ là bảo vệ nguồn năng lượng hư cấu được gọi là khỏi tay tổ chức hắc ám tên là Vaglass. Căn cứ của họ được đặt sâu dưới lòng đất 70m, với dạng tổ kiến và có lối thông với bất cứ phần nào của thành phố.
Go-Busters và Buddyroid.
Mười ba năm trước, một virus máy tính tên Messiah đã tấn công vào một viện nghiên cứu của Cục tên là Viện Nghiên cứu Dịch Chuyển, chiếm quyền điều khiển ở đó trước khi bị tống vào . Trong sự kiện đó, ba đứa trẻ đã thoát khỏi Viện với một chương trình diệt virus gọi là Vaccine bằng một cách nào đó được cài đặt trong cơ thể, ban cho họ cùng với các điểm yếu đi kèm được gọi là . Những đứa trẻ đó được huấn luyện cùng với các để trở thành các đặc nhiệm cho Bộ đặc nhiệm thuộc Cục Quản lý Energy, và sau mười ba năm, chiến đấu với tổ chức Vaglass, thuộc hạ của Messiah. Họ hoạt động như một nhóm mang tên Go-Busters.
Sakurada Hiromu.
là một chàng trai 20 tuổi mang danh hiệu . Siêu Power của Hiromu cho phép anh di chuyển siêu tốc. Đổi lại, Weakpoint sẽ làm anh ta đông cứng nếu nhìn thấy gà. Do thời ấu, anh bị nhốt trong chuồng gà, nên anh đã sản sinh ra sự sợ hãi gà, dù thực tế hay tưởng tượng. Khi sử dụng dữ liệu của Nick để tạo ra bộ giáp Protector và biến mình thành , siêu tốc độ của Hiromu được tăng cường và anh có thể thực hiện tuyệt chiêu để kết liễu kẻ thù. Khi kết hợp sức mạnh với các Go-Busters khác, anh có thể thực hiện tuyệt chiêu .
Hiromu được thể hiện bởi . Khi còn nhỏ, anh do thủ vai.
Cheeda Nick.
là Buddyroid của Hiromu có dạng robot hình người kiểu báo Cheetah. Nick có thể biến thành và là phương tiên di chuyển của Hiromu. Dù Nick là một siêu robot, cậu ta không thể tự định hướng và thường đi lạc đường.
Cheeda Nick được lồng tiếng bởi .
Iwasaki Ryuji.
là một chàng trai 28 tuổi mang danh hiệu . Anh ta là một người bình tĩnh và hiếm khi tức giận. Siêu Power của anh cho anh siêu sức mạnh ở hai cánh tay. Weakpoint của anh sẽ khiến anh bị quá nhiệt nếu sử dụng Siêu Power quá nhiều. Khi bị quá nhiệt, anh sẽ tấn công điên cuồng bất phân địch - bạn. Anh cũng sẽ dễ bị quá nhiệt nếu môi trường xung quanh quá nóng. Khi biến thành , mặc áo giáp Protector tạo bởi dữ liệu của Gorisaki, siêu sức mạnh của Ryuji được khuyết đại và anh có thể phân tích và copy ra vật thể xung quanh. Anh cũng có thể phát động tuyệt chiêu attack.
Ryuji được thể hiện bởi Khi còn trẻ, anh được thể hiện bởi .
Gorisaki Banana.
là Buddyroid của Ryuji có hình dạng khỉ đột. Cậu quan tâm Ryuji không khác gì là một bảo mẫu.
Gorisaki Banana được lồng tiếng bởi .
Usami Yoko.
là một thiếu nữ 16 tuổi với danh hiệu . Siêu Power cho phép cô dùng chân để nhảy cao. Weakpoint khiến cô bị vô lực khi thiếu calorie, nên cần phải thường xuyên nạp năng lượng từ kẹo ngọt. Khi biến thân thành , mang giáp Protector tạo ra từ dữ liệu của Usada, khả năng Yoko nhảy được tăng cường. Tuyệt chiêu của cô là .
Yoko được thể hiện bởi . Khi còn nhỏ, cô được thủ vai bởi .
Usada Lettuce.
, mật danh , là Buddyroid của Yoko có hình dạng một con thỏ. Usada được trang bị với chương trình quản lý dữ liệu, hỗ trợ các Go-Busters từ phòng điều khiển. Cậu ta cũng có phần thân rỗng để lưu trữ các vật thể. Câu cửa miệng của Usada là .
Usada Lettuce được lồng tiếng bởi .
Jin Masato.
là một kĩ sư thiên tài 40 tuổi mang hình dáng ở tuổi 27, tiền bối của Ryuji và là . Trong sự kiện 13 năm trước, Jin đang làm việc trong một dãy nhà khác và bị mắc kẹt trong Á Không Gian cùng với Messiah khi Viện Nghiên cứu bị dịch chuyển. Tuy nhiên, quá trình dịch chuyển của anh bị lỗi nên một phần dữ liệu của anh đã bị Messiah hấp thụ. Trong khi bị mắc kẹt, anh đã tạo ra Beet J. Stag để giúp mình đưa cơ thể thực vào giấc ngủ và tạo một avatar của riêng mình. Khi anh ta biết được rằng Messiah đang chế tạo MegaZord dựa trên thiết kế BC-04 của anh, Jin đã đưa J. để hỗ trợ Go-Busters chống lại Messiah. Vì thế, anh đã chế tạo ra Buster Gear đặc biệt cho mình và J., cho phép anh ta biến thân thành Beet Buster màu vàng kim.
Jin Masato được thể hiện bởi .
Beet J. Stag.
, hay đơn giản là "J." (ジェイ - jei), là Buddyroid của Jin Masato có hình dạng bọ vừng. Ký tự ở giữa là viết tắt của , tức "thụ dịch" hay sáp cây. Được Jin tạo ra trong Á Không Gian, J. được đưa đến thế giới thực bằng cách ẩn nấp trong một Vaglass Megazord.
J. được trang bị cho phép tái tạo avatar của Jin và khởi động cặp Buster Machine của họ. Anh ta cũng có thể biến thân thành để chiến đấu cùng với Beet Buster. Quá trình biến thân diễn ra khi các mảnh giáp trên người của anh ta tách ra và chuyển thành áo giáp của Beet Buster. Nếu cạn kiệt Enetron, anh ta sẽ trở nên say xỉn. Vì anh ta không có chương trình vacccine, anh ta có thể bị nhiễm Metavirus và bị điều khiển. Anh hay bị Jin đánh vì thường vô duyên nói trước và chen ngang.
Beet J. Stag được lồng tiếng bởi .
Bộ đặc nhiệm.
Kuroki Takeshi.
là sĩ quan chỉ huy 40 tuổi của Bộ đặc nhiệm, chỉ đạo các Go-Busters và hàng trăm nhân viên khác. Ông vốn là trợ lý phòng thí nghiệm của Sakurada Yousuke - bố Hiromu và là bạn đồng môn của Jin Masato. Jin đặt cho ông biệt danh .
Kuroki Takeshi được thể hiện bởi .
Morishita Toru.
là một điều hành viên có nhiệm vụ kiểm soát hệ thống của Bộ đặc nhiệm.
Morishita Toru được thể hiện bởi .
Nakamura Miho.
là một điều hành viên mới gia nhập Bộ đặc nhiệm. Cô có chuyên môn trong việc theo dõi Á Không Gian.
Nakamura Miho được thể hiện bởi .
Đồng minh.
Saotome Reika.
là thân phận thật của một nữ siêu trộm tự xưng là . Xuất hiện trong tập 41. Do vô tình tạo ra Messiah Metaroid sau một phi vụ của mình, cô đã hợp tác cùng Hiromu đánh bại hắn.
Saotome Reika được thể hiện bởi .
Dōbutsu Sentai Go-Busters.
Trong Kaettekita Tokumei Sentai Go-Busters vs. Dōbutsu Sentai Go-Busters, là một nhóm Sentai tồn tại trong một thế giới song song do Thượng đế tạo ra theo lời ước của Nick. Sau đó, họ được đem đến thế giới thực để hợp tác cùng Tokumei Sentai Go-Busters đánh bại Azazel. Khi thảm hoạ bị đẩy lùi, Dōbutsu Sentai Go-Busters cùng với thế giới của họ chấm dứt tồn tại.
Trang thiết bị.
Buster Gear.
là một bộ thiết bị được Go-Busters sử dụng chiến đấu với Vaglass.
Buster Machine.
, được tạo ra từ loại kim loại hiếm tên là Deltarium 39, được sử dụng bởi Go-Busters để chiến đấu với Vaglass Megazord. Chúng có thể thay đổi từ chế độ sang chế độ .
Megazord.
là các robot hình người được cả Go-Busters và Vaglass sử dụng. Các Megazord do Go-Busters sử dụng được biến thân hoặc lắp ráp từ các Buster Machine. | 1 | null |
Hugo Wallace Weaving (sinh ngày 4 tháng 4 năm 1960) là diễn viên kịch và phim nhựa người Úc, quốc tịch Anh. Ông được biết nhiều qua các vai diễn tên tuổi, có thể kể tới như mật thám Smith trong serie "Ma trận", Elrond trong bộ ba phim "The Lord of the Rings" và "The Hobbit", V trong "V for Vendetta", Sọ Đỏ trong "" và rất nhiều vai trong serie "Cloud Atlas". Ngoài ra, ông còn tham gia những vai diễn đình đám khác, như lồng tiếng cho Tick trong "The Adventures of Priscilla", Rex trong "Babe", Noah trong "Happy Feet" và "Happy Feet Two", Megatron trong loạt phim "Transformers". Weaving cũng đóng rất nhiều phim truyền hình ở Úc. Sự nghiệp của ông được đánh dấu bởi nhiều đề cử cùng giải thưởng, trong đó có Giải Satellite, Giải Điện ảnh của MTV và Giải thưởng của Viện phim Úc. | 1 | null |
Hữu Dịch hay Hữu Dị (有易) hay Hữu Địch (有狄) là tên một quốc gia bộ lạc từng tồn tại ở địa phận huyện Dịch, tỉnh Hà Nam từ khoảng giữa đời nhà Hạ trở về trước, không rõ nước này hình thành từ khi nào chỉ biết rằng bị diệt vong vào đời vua cuối cùng là Miên Thần.
Thủ lĩnh Miên Thần.
Miên Thần theo văn tự Giáp Cốt ghi chép là một vị vua giỏi cả văn lẫn võ, dưới thời trị vì của ông thì nước Hữu Dịch cường thịnh nhất trong tất cả những quốc gia bộ lạc tời bấy giờ. Bên cạnh ông có nước Thương cũng đang phát triển mạnh mẽ khiến ông không thể ngồi yên nhìn đối thủ lấn lướt, ông quyết định đánh úp nước này để ngặn chặn sự bành chướng của nó và giảm bớt mối lo hậu họa về sau. Miên Thần đem quân đánh úp nước Thương khiến thủ lĩnh thủ lĩnh Vương Hợi trở tay không kịp và giết chết ông này, nước Thương lúc ấy suýt bị xóa sổ trên vũ đài lịch sử. Bấy giờ có em Vương Hợi là Vương Hằng dẫn con nhỏ của anh là Thượng Giáp Vi bỏ chạy rút vào rừng tổ chức kháng chiến lâu dài chống cự Miên Thần.
Diệt vong.
Sau khi Thượng Giáp Vi lớn lên đã tìm cách thu phục nhân tâm và xây dựng lại lực lượng, dần dần thế lực lớn mạnh đã tiến hành chiến tranh với Miên Thần. Sau nhiều lần giao phong ác liệt Miên Thần cuối cùng cũng bị đánh bại, Thượng Giáp Vi giết chết Miên Thần để trả thù cho cha. Vương Hằng trao lại ngôi vị thủ lĩnh cho Thượng Giáp Vi, nước Thương từ ấy lại được trung hưng còn nước Hữu Dị đến đây thôi tồn tại. | 1 | null |
FC Anzhi Makhachkala ) (thường được gọi đơn giản là Anzhi)
là một câu lạc bộ bóng đá Nga có trụ sở tại Makhachkala, thủ đô của Cộng hòa Dagestan
Được thành lập vào năm 1991, câu lạc bộ hiện đang thi đấu tại Giải bóng đá Quốc Gia Nga.
Anzhi thi đấu tại giải bóng đá ngoại hạng Nga từ năm 2000 nhưng bị xuống hạng năm 2002. Trong thời gian đó họ đã vào được trận chung kết cúp Nga vào năm 2001 nhưng bị thua. Sau đó họ quay lại giải ngoại hạng Nga năm 2010.
Ngày 18 tháng 1 năm 2011, Anzhi Makhachkala đã được mua bởi tỷ phú Suleyman Kerimov Ông đã đem nhiều cầu thủ chất lượng về sân vận động Dynamo. Đặc biệt là Anzhi đã chiêu mộ được tiền đạo người Cameroon Samuel Eto'o với mức lương kỷ lục và bổ nhiệm Guus Hiddink làm thuyền trưởng vào tháng 2 năm 2012.
Đội hình hiện tại.
Chính.
", according to the RFPL official website
Records.
Top Scorers By Season.
! Season !! Player !! League !! Cup !! Total
Cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia.
Had international caps for their respective countries. Players whose name is listed in bold represented their countries while playing for Anzhi.
Danh hiệu và thành tích thi đấu.
Trong nước.
Russian First Division:
Russian Cup: | 1 | null |
Cuộc vây hãm Toul là một hoạt động bao vây trong Chiến dịch chống Pháp của quân đội Phổ – Đức vào các năm 1870 – 1871, tại Toul – một pháo đài nhỏ của nước Pháp. Sau nhiều tuần lễ kháng cự quyết liệt trước sự vây hãm của một lực lượng thuộc quân đội Phổ dưới quyền chỉ huy của Đại Công tước Friedrich Franz II xứ Mecklenburg-Schwerin, quân đội Pháp trú phòng tại Toul dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Huck – nguyên là người của Trung đoàn Súng hỏa mai số 7 của Đế chế Pháp – đã bị buộc phải đầu hàng trước đợt pháo kích khốc liệt từ phía người Đức. Với chiến thắng tại Toul, đội quân vây hãm của Phổ – Đức đã thu được về tay mình một số lượng tù binh lớn, cùng với nhiều chiến lợi phẩm khác như một cờ hiệu, hàng trăm ngựa chiến và nhiều khí giới của người Pháp. Ngoài ra, sự thất thủ của Toul vào tháng 9 cũng đồng nghĩa với việc lực lượng Phổ bao vây pháo đài này đã xóa sổ được một chướng ngại vật cản trở một trong hai tuyến đường sắt chính nối liền nước Đức với thủ đô Paris của Pháp – vốn đã bị các lực lượng Đức vây hãm kể từ ngày 18 tháng 9 năm 1870. Nhìn chung, pháo đài Toul trong trận bao vây chỉ chịu hư hại nhẹ trước lực lượng pháo binh Đức.
Pháo đài Toul nằm cách Paris 164 dặm Anh, tọa lạc ở tả ngạn sông Moselle. Mặc dù đây chỉ là một pháo đài hạng ba của Pháp, Toul là một pháo đài vững chắc, và tầm quan trọng của nó đã cho các lực lượng của Đức thấy rằng việc đánh chiếm Toul là cần thiết. Ngay từ ngày 14 tháng 8 năm 1870, một toán kỵ binh Phổ đã yêu cầu quân trú phòng của Pháp ở Toul phải đầu hàng, nhưng lời đề nghị này bị khước từ. Không lâu sau đó, quân đội Phổ đã tiến hành phong tỏa Toul. Các chi đội nhỏ của họ liên tục quan sát Toul, và trong những ngày cuối của tháng 8, tất cả các lực lượng này đều là dân binh "Landwehr". Trong thời gian này, pháo đài cũng một vài lần bị lực lượng pháo binh của Đức oanh kích, nhưng chỉ bằng các khẩu pháo dã chiến, và sau đó là bằng các khẩu đại bác của quân đồn trú Pháp tại Marsal đã được chuyển đến sau khi quân đội Đức hạ được Marsal. Các cuộc oanh kích này đều không thể mang lại hiệu quả lớn. Và rõ ràng, quân Pháp không hề có ý định từ bỏ Toul. Vào ngày 10 tháng 9, Đại Công tước Friedrich Franz II xứ Mecklenburg – người chỉ huy Quân đoàn XIII vốn đã tham gia phong tỏa Metz kể từ ngày 3 tháng 9 – đã được lệnh đánh chiếm Toul để làm chủ đoạn đường sắt tới Paris.
Ông đã đến Toul vào ngày 12 tháng 9, trong tay ông có một bộ phận của pháo binh trong quân đoàn của ông, cùng với Sư đoàn Bộ binh số 17, Trung đoàn, Trung đoàn Long kỵ binh số 18 và Trung đoàn Thương kỵ binh số 11. Trong pháo đài Toul, Thiếu tá Huck chỉ huy khoảng 2.500 đồn binh Pháp. Qua việc trinh thám, người Đức thấy rằng họ có thể giành thắng lợi nếu tiến hành khai pháo. Song, họ cần phải chờ đợi quân nhu dành cho cuộc vây hãm vốn đang được vận chuyển từ Köln đến Magdeburg. Trong bối cảnh ấy, Mecklenburg đã thắt chặt tuyến phong tỏa hơn trước đồng thời dội pháo dã chiến vào pháo đài. Vào ngày 16 tháng 9, ref name="cuocchienbensongrhein"/> Mecklenburg đã trao quyền chỉ huy cuộc bao vây cho Trung tướng Von Schimmelman và trở về tổng hành dinh theo thượng lệnh của vua Phổ Wilhelm I.
Von Schimmelman lập tức bố trí 3 khẩu đội pháo rãnh xoắn 6 pao trên núi St. Michel (nằm về hướng bắc thị trấn) và trực tiếp chỉ đạo các khẩu đội này. Ông đã xuống lệnh không ngừng oanh kích vào Toul. Lực lượng pháo binh của pháo đài đã bắn trả ác liệt, nhưng không thành công. Trong buổi chiều ngày 18 tháng 9, Toul bị 7 khẩu đội pháo dã chiến của Đức oanh kích trong vòng 2 tiếng đồng hồ. Vào ngày 19 tháng 9, vị tướng Đức nhận lệnh thuyên chuyển Lữ đoàn Bộ binh số 33, Trung đoàn Thương kỵ binh và 3 khẩu đội pháo hạng nhẹ tới Châlons. Đến ngày hôm sau (20 tháng 9), những khẩu công thành pháo mà quân Đức chờ mong đã được đưa đến. Với sự tiếp viện từ các khẩu đội công thành pháo, vào ngày 21 tháng 9, vị trí dành cho các khẩu đội công thành pháo đã được chọn lọc. Trong khoảng thời gian sau đó, quá trình lắp đặt các khẩu đội công thành pháo của người Đức diễn biến với thuận lợi. Trong buổi sáng ngày 23 tháng 9, việc lắp đặt và trang bị cho các khẩu đội đã hoàn thành và Đại Công tước xứ Mecklenburg đã đến tham gia chỉ huy cuộc pháo kích. Đầu ngày hôm đó, một trận oanh kích tổng lực của pháo binh Đức nhằm vào các công trình của quân Pháp đã khởi đầu. Cuộc dội pháo kéo dài suốt cả ngày, và quân trú phòng Phá đánh trả nhưng không thành. Cho đến tối, 23 vị trí đã bị cháy rụi. Quân đồn trú Pháp không còn khả năng kháng cự, và trước áp lực của quần chúng, viên trấn thủ của pháo đài đã vẫy cờ trắng trên nhà thờ chính tòa của Toul. Điều đó chứng tỏ Huck đã chấp nhận đàm phán, và trong ngày hôm đó, việc chuyển giao thị trấn đã diễn ra theo các điều khoản hệt như sau trận Sedan. Trong buổi sáng ngày 24 tháng 9, Đại Công tước xứ Mecklenburg đã tiến vào thị trấn mà ông chinh phạt được. Đến thời điểm này, cuộc vây hãm Strasbourg vẫn còn cản đường tiến của 4 vạn quân Phổ, trước khi pháo đài Strasbourg thất thủ vào ngày 28 tháng 9 năm 1870. | 1 | null |
Chiến dịch Bó đuốc ("Operation Torch", lúc đầu được đặt tên Chiến dịch Gymnast) là cuộc tấn công của liên minh Hoa Kỳ–Anh lên lãnh thổ Bắc Phi thuộc Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Chiến dịch này bắt đầu ngày 8 tháng 11 năm 1942 và là một phần của Mặt trận Bắc Phi.
Phía Liên Xô đã nhiều lần yêu cầu Hoa Kỳ và Anh phải bắt đầu hành động tại châu Âu và tiến hành mở một mặt trận thứ hai nhằm chia sẻ gánh nặng với Hồng quân Liên Xô trong cuộc chiến với quân đội Đức Quốc xã. Trong khi các viên tư lệnh Hoa Kỳ ủng hộ Chiến dịch Sledgehammer nhằm đổ bộ trực tiếp lên lục địa châu Âu đang bị chiếm đóng, thì bộ chỉ huy Anh lại tin rằng cách làm đó sẽ kết thúc trong thảm họa. Thay vào đó, họ đề xuất một cuộc tấn công lên phần lãnh thổ của Pháp tại Bắc Phi, để quét sạch các lực lượng Phe Trục ra khỏi Bắc Phi, tăng cường khả năng kiểm soát trên biển Địa Trung Hải và chuẩn bị cho một cuộc đổ bộ vào miền Nam Pháp trong năm 1943. Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt nghi ngờ rằng những hoạt động tại châu Phi sẽ làm làm ảnh hưởng đến khả năng tiến công châu Âu trong năm 1943 nhưng vẫn nhất trí ủng hộ Thủ tướng Anh Winston Churchill.
Bối cảnh.
Phe Đồng minh đã lên kế hoạch cho một cuộc tiến công của liên quân Anh-Mỹ vào Bắc Phi/Maghreb của Pháp — Maroc, Algeria và Tunisia, lãnh thổ thuộc về chính phủ Vichy Pháp trên danh nghĩa. Với việc quân Anh tiến từ Ai Cập, phe Đồng minh có thể thực hiện một chiến dịch gọng kìm bao vây phe Trục ở Bắc Phi. Quân Pháp Vichy có khoảng 125.000 binh sĩ trong các vùng lãnh thổ cũng như pháo binh ven biển, 210 xe tăng còn hoạt động nhưng đã lỗi thời và khoảng 500 máy bay, một nửa trong số đó là máy bay chiến đấu Dewoitine D.520 với sức mạnh ngang tầm nhiều máy bay chiến đấu của Anh và Mỹ. Các lực lượng này đã được chia ra bao gồm 60.000 quân ở Maroc, 15.000 ở Tunisia, và 50.000 ở nlgeria, với pháo bờ biển, cùng một số lượng nhỏ xe tăng và máy bay. Ngoài ra, có khoảng 10 tàu chiến và 11 tàu ngầm tại Casablanca.
Nguyên nhân chính trị.
Đồng minh tin rằng những người lính Pháp Vichy sẽ không kháng cự, một phần dựa vào thông tin cung cấp bởi lãnh sự Mĩ Robert Daniel Murphy ở Algiers. Những người Pháp là thành viên cũ của phe Đồng minh nên quân đội Mĩ đã ra chỉ thị cấm nổ súng trừ khi họ bị bắn trước. Tuy nhiên, họ vẫn lo sợ về việc quân Pháp sẽ có ác cảm với các hành động của người Anh vào tháng 6 năm 1940 để ngăn Đức chiếm được các tàu chiến của Pháp. Cuộc tấn công vào cảng Mers-el-Kébir đã giết khoảng 1300 thủy thủ Pháp.
Việc đánh giá thiện cảm của quân Pháp là rất quan trọng và các kế hoạch đã được thực hiện để đảm bảo sự hợp tác của họ thay vì kháng cự. Sự hỗ trợ của quân Đức cho Pháp chủ yếu là bằng không quân. Rất nhiều máy bay ném bom của Luftwaffe đã đã thực hiện các cuộc tấn công nhằm chống viện trợ của Đồng minh đến Bắc Phi vào các cảng của Đồng minh ở Algiers và dọc theo bờ biển Bắc Phi.
Chỉ huy chiến dịch.
Trung tướng Dwight D. Eisenhower được giao quyền chỉ huy chiến dịch, đặt trụ sở chính tại Gibraltar. Tư lệnh Hải quân Đồng minh của Lực lượng Viễn chinh là Đô đốc Sir Andrew Cunningham; cùng với Phó đô đốc Sir Bertram Ramsay, người đã lên kế hoạch cho cuộc đổ bộ
Tranh cãi chiến lược.
Những người chỉ huy lâu năm của Mĩ vẫn kịch liệt phản đối, và sau khi Bộ chỉ huy tối cao liên quân Anh-Mĩ họp tại London vào ngày 30 tháng 7 năm 1942, tướng George Marshall và đô đốc Ernest King từ chối thông qua kế hoạch. Marshall và các tướng Mĩ khác ủng hộ cuộc đổ bộ vào phía Bắc Âu cuối năm, nhưng phía Anh đã từ chối. Sau khi thủ tướng Winston Churchill thúc giục về 1 cuộc đổ bộ vào Bắc Phi thuộc Pháp năm 1942, Marshall gợi ý cho tổng thống Franklin D. Roosevelt về việc hủy bỏ chiến lược ưu tiên Đức Quốc Xã và tập trung vào mặt trận Thái Bình Dương. Roosevelt nói rằng nó sẽ không thể giúp được cho Liên Xô. Với việc Marshall thất bại trong việc thuyết phục người Anh thay đổi ý kiến của họ, Roosevelt đưa ra yêu cầu trực tiếp rằng Chiến dịch Bó đuốc phải được ưu tiên hơn các hoạt động khác và cần được thi hành sớm nhất có thể, đây là một trong hai mệnh lệnh trực tiếp từ Roosevelt đến các tướng lĩnh trong cuộc chiến.
Khi tiến hành kế hoạch của mình, các nhà chiến lược quân sự của Đồng minh cần phải xem xét tình hình chính trị trên thực địa ở Bắc Phi, vốn rất phức tạp, cũng như các khía cạnh chính trị ngoại giao bên ngoài. Người Mỹ đã công nhận Pétain và chính phủ Vichy vào năm 1940, trong khi người Anh thì không và thay vào đó đã công nhận chính phủ Pháp lưu vong Tự do của Tướng de Gaulle, và đồng ý tài trợ cho họ. Bắc Phi là một phần của hệ thống thuộc địa của Pháp và trên danh nghĩa là ủng hộ Vichy, nhưng sự ủng hộ đó không phổ biến trong dân chúng.
Các sự kiện chính trị trên thực địa đã góp phần vào, và trong một số trường hợp, thậm chí còn quan trọng hơn mặt quân sự. Dân số Pháp ở Bắc Phi được chia thành ba nhóm:
Chiến lược của Mỹ khi lập kế hoạch tấn công đã phải tính đến những vẫn đề phức tạp trên thực địa. Các nhà hoạch định giả định rằng nếu các nhà lãnh đạo được Đồng minh hỗ trợ quân sự, họ sẽ thực hiện các bước để tự giải phóng, và Hoa Kỳ đã bắt tay vào các cuộc đàm phán chi tiết dưới sự chỉ đạo của Tổng lãnh sự Mỹ Robert Murphy ở Rabat với Phong trào Giải phóng Pháp. Vì Anh đã cam kết về mặt ngoại giao và tài chính với de Gaulle, nên rõ ràng là người Mỹ sẽ phải tiến hành các cuộc đàm phán với Phong trào Giải phóng Pháp và cả cuộc tấn công nữa. Vì sự cạnh tranh giữa các phe ở Bắc Phi, sự ủng hộ của họ là không chắc chắn, và do cần phải giữ bí mật, các kế hoạch chi tiết không thể được chia sẻ với người Pháp.
Kế hoạch của Đồng Minh.
Oran, Algiers và Casablanca đã được xác định là những mục tiêu chính. Lý tưởng nhất là cũng sẽ có một cuộc đổ bộ tại Tunis để đảm bảo an ninh cho Tunisia và tạo điều kiện thuận lợi cho việc ngăn chặn nhanh chóng các nguồn cung cấp đi qua Tripoli cho lực lượng của Rommel ở Libya. Tuy nhiên, Tunis ở quá gần các sân bay của phe Trục ở Sicily và Sardinia nên không có hy vọng thành công. Liên quân sẽ đổ bộ tại Bône ở miền đông Algeria, gần Tunis hơn Alger khoảng 300 dặm (480 km). Nguồn lực hạn chế khiến quân Đồng minh chỉ có thể thực hiện ba cuộc đổ bộ và Eisenhower - người tin rằng bất kỳ kế hoạch nào cũng phải bao gồm các cuộc đổ bộ tại Oran và Algiers - có hai lựa chọn chính: hoặc lựa chọn phía tây, đổ bộ xuống Casablanca, Oran và Algiers và sau đó thực hiện nhanh chóng một cuộc di chuyển tới Tunis cách Algiers khoảng 500 dặm (800 km) về phía đông một khi phe đối lập Vichy bị đàn áp; hoặc phương án phía đông, hạ cánh tại Oran, Algiers và Bône và sau đó tiến qua đường bộ đến Casablanca cách Oran khoảng 500 dặm (800 km) về phía tây. Ông ủng hộ lựa chọn phía đông vì những lợi thế mà nó mang lại cho việc đánh chiếm Tunis sớm và cũng vì một cuộc đổ bộ Casablanca gần Đại Tây Dương sẽ nguy hiểm hơn là Địa Trung Hải.
Tuy nhiên cũng có những lo ngại rằng chiến dịch sẽ khiến Tây Ban Nha từ bỏ trạng thái trung lập của mình. Khi Tây Ban Nha gia nhập phe Trục thì eo biển Gibraltar có thể bị đóng cửa hoàn toàn, cắt đứt con đường liên lạc của Đồng Minh. Do đó, phương án Casablanca đã được chọn để giám thiểu rủi ro vì các lực lượng ở Algeria và Tunisia có thể được tiếp tế trên bộ từ Casablanca (mặc dù có khó khăn đáng kể) trong trường hợp các eo biển bị đóng.
Sự phản đối của Marshall đối với chiến dịch đã trì hoãn cuộc đổ bộ gần một tháng, và sự phản đối của ông đối với cuộc đổ bộ ở Algeria khiến các nhà lãnh đạo quân sự Anh đặt câu hỏi về khả năng chiến lược của ông; Hải quân Hoàng gia kiểm soát eo biển Gibraltar, và Tây Ban Nha không có khả năng can thiệp vì Franco đang cần tự lo thân mình sau cuộc nội chiến hơn là tham chiến. Cuộc đổ bộ vào Maroc đã xoá bỏ sự kiểm soát với Tunisia. Eisenhower nói với Patton rằng sáu tuần qua là thời gian cố gắng nhất trong cuộc đời ông. Khi Eisenhower chấp nhận đổ bộ vào Algeria và Morocco, ông ấy chỉ ra rằng quyết định đó đã tăng thểm khả năng chiếm Tunis sớm do phe Trục sẽ mất nhiều thời gian để đưa quân vào Tunisia. | 1 | null |
Mýa Marie Harrison (sinh ngày 10 tháng 10 năm 1979), được biết đến nhiều hơn với nghệ danh Mýa, là một ca sĩ-nhạc sĩ, nhà sản xuất thu âm, vũ công, diễn viên và người mẫu người Mỹ.
(Vào tuổi 16, Mýa ký kết hợp đồng với hãng thu âm Interscope và phát hành album phòng thu đầu tiên mang chính tên mình, "Mýa" vào năm 1998. Album đã tiêu thụ được 1,4 triệu bản tại Mỹ. Album tiếp theo, "Fear of Flying" lọt vào tốp 20 của bảng xếp hạng "Billboard" 200 và đạt chứng nhận đĩa bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) với doanh số 1,2 triệu bản tại Mỹ. Ngoài ra, album cũng lọt vào bảng xếp hạng của Úc, Canada, Anh...
Năm 2001, danh tiếng của Mýa bỗng vụt sáng lên khi cô cùng với ba ca sĩ khác, Christina Aguilera, Pink và Lil' Kim cùng thu âm ca khúc hit "Lady Marmalade" làm nhạc phim cho bộ phim "Moulin Rouge!". "Lady Marmalade" đã trở nên đình đám thế giới khi đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng của các quốc gia Mỹ, Úc, Anh, Thụy Sĩ, Đức... và trở thành đĩa đơn duy nhất giành được ngôi vị quán quân "Billboard" Hot 100 của Mýa. Cũng nhờ "Lady Marmalade", Mýa có được giải Grammy đầu tiên và cũng là duy nhất ở hạng mục Hợp tác hát pop hay nhất tại Giải Grammy năm 2002. Nhờ đó mà album tiếp theo của Mýa là "Moording" đã trở thành một thành công thương mại và là album duy nhất của Mýa lọt vào tốp ba của "Billboard" 200.
Tuy vậy dần về sau, Mýa càng ngày càng xuống dốc khi các album "Liberation", "Sugar & Spice" và "K.I.S.S" đều thất bại về mặt thương mại.) | 1 | null |
Tàu 43A là một tàu vận tải quân sự thuộc đoàn tàu không số, tức đoàn 125 thuộc Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam.
Hoạt động.
Tháng 7 năm 1963, tàu 43 có sự tham gia của thuyền phó Nguyễn Đức Thắng (hay Nguyễn Đắc Thắng) chuyên chở 50 tấn vũ khí vào bến Rạch Kiến Vàng, Cà Mau.
Tháng 9 năm 1964, tàu 43 do thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng chỉ huy chở vũ khí vào bến Cà Mau, cập bến an toàn.
Ngày 16 tháng 2, 1966, tàu 43 xuất phát. Trên hải trình, tàu bị do thám Hoa Kỳ phát hiện, không cắt đuôi được nên buộc phải quay trở về.
Ngày 8 tháng 3, 1967, tàu 43 xuất phát tiếp với 18 thủy thủ do thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng chỉ huy chở 50 tấn vũ khí tiến vào bến Sa Kỳ. Khi gần cập bờ, tàu bị Hải quân Mỹ bao vây tiến công. Sau một thời gian giao tranh, đến ngày 15 tháng 3, sau 3 tiếng chiến đấu liên tục thì tàu bị hư hại nặng, thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng ra lệnh phá hủy tàu.
Kết cục.
Tàu 43A bị phá hủy hoàn toàn cùng hầu hết toàn bộ số vũ khí chuyên chở. Số hiệu 43 về sau tiếp tục được đặt cho một con tàu khác, cũng do thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng chỉ huy - tàu 43B, một trong bốn con tàu không số làm nhiệm vụ trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. | 1 | null |
là trò chơi video nhập vai do Square Enix phát triển và phát hành trên toàn thế giới cho Xbox 360 vào tháng 11 năm 2008 và cho Microsoft Windows vào tháng 3 năm 2009. Ban đầu hãng công bố sẽ có phiên bản PlayStation 3, nhưng phiên bản này đã bị hủy sau đó. Một phiên bản sửa đổi lại đã được phát hành trên PlayStation 4 vào tháng 12 năm 2018 và cho Nintendo Switch vào tháng 6 năm 2019. Trò chơi lấy bối cảnh tại một thế giới viễn tưởng nơi mà bốn chủng tộc cùng chung sống với nhau và mỗi thành phố đều được xây dựng xung quanh một "Remnants", một loại cổ vật có nhiều hình dạng, kích thước khác nhau và có năng lượng ma thuật rất mạnh.
"The Last Remnant"là trò chơi Square Enix đầu tiên sử dụng Unreal Engine. Chủ tịch Square Enix là Wada Yoichi dự định đây sẽ là "nền tảng cho chiến lược toàn cầu của [họ]". Nhạc nền của trò chơi phát hành dưới dạng album ba đĩa do Sekito Tsuyoshi và Yamanaka Yasuhiro sáng tác. Thiết kế và hội thoại của trò chơi được tạo ra nhằm thu hút người chơi trên toàn thế giới, và dùng phương pháp bắt hình chuyển động cho mọi nhân vật bằng hội thoại lồng tiếng Anh. Trò chơi không nhận được sự đón nhận nồng nhiệt, mặc dù các nhà phê bình Nhật Bản đánh giá nó tích cực hơn những trò chơi khác. Đặc biệt là đối với phiên bản Xbox 360, trò chơi nhận phàn nàn về các vấn đề như đồ họa, tốc độ khung hình thấp và "kết cấu tự nhảy", các kết cấu có độ phân giải cao hơn sẽ đột ngột thay thế các kết cấu thấp hơn vài giây sau khi cảnh bắt đầu. Các vấn đề bị đánh giá thấp khác là cốt truyện và hệ thống chiến đấu. Tuy vậy, trò chơi nhận nhiều lời khen ngợi về chỉ đạo nghệ thuật và âm nhạc.
Lối chơi.
Cách chơi hơi khác với các trò chơi truyền thống của hãng Square, khi chiến đấu người chơi sẽ không điều khiển từng người riêng rẽ chống lại từng kẻ thù mà điều khiển cả một nhóm và mỗi nhóm có nhiều thành viên khác nhau chống lại các nhóm đối phương, mỗi nhóm có thể xếp hình dạng chiến thuật tác chiến khác nhau và ngoài các thông số kinh nghiệm để lên cấp nhân vật cơ bản thì các kỹ năng của nhân vật chỉ tăng lên khi nhân vật sử dụng kỹ năng đó nhiều lần.
Tóm lược.
Bối cảnh và nhân vật.
Trò chơi lấy bối cảnh trong một thế giới hư cấu bao gồm một số chủng tộc riêng biệt có ngoại hình như người: Mitras có bề ngoài như con người, Yamas có bề ngoài mạnh mẽ như loài cá, Qsitis giống loài bò sát nhỏ và Sovanis giống loài mèo có bốn cánh tay. Thế giới tự nó được chia thành nhiều thành phố, mỗi thành phố có nền văn hóa độc đáo riêng. Trò chơi xoay quanh "Remnant", những đồ tạo tác ma thuật cổ đại qua một số cuộc chiến tranh. Mỗi Remnant bị "ràng buộc" với một người đặc biệt có thể sử dụng sức mạnh. Những người mạnh mẽ không bị ràng buộc quá lâu có khả năng gây ra "sự sụp đổ" và sinh ra quái vật. Remnant có nhiều hình thức khác nhau, tất cả các thành phố trên khắp thế giới đều có ít nhất một thành phố mà người cai trị của họ tự đề ra luật lệ để cai trị và mang lại hòa bình cho vương quốc được chỉ định.
Người chơi sẽ vào vai Rush Sykes một thanh niên sống trên một hòn đảo thanh bình cùng với em gái mình trong khi cha mẹ đang đi phiêu lưu để nghiên cứu sức mạnh của các Remnants khác nhau. Khi em gái của Rush bị bắt cóc, anh đã ngay lập tức lên đường đi giải cứu cô và trên chuyến đi anh đã gặp và kết bạn với nhiều người khác nhau và cùng nhau tập hợp thành một đạo quân để bảo vệ các thành phố của bạn mình khỏi sự xâm lăng cũng như cứu gia đình của anh.
Phát triển.
Trò chơi được tạo ra bởi các nhà phát triển trước đây đã từng tham gia vào loạt game "SaGa" và "Final Fantasy". Takai Hiroshi đạo diễn và Ueda Nobuyuki chịu trách nhiệm sản xuất. Yagi Masato và Shoda Miwa viết kịch bản dựa trên ý tưởng của Kawazu Akitoshi. Miyamae Kimihiko là họa sĩ chính, và Naora Yusuke vừa là nhà sản xuất hình ảnh nghệ thuật vừa là nhà thiết kế nhân vật. Đây là trò chơi đầu tiên mà Square Enix sử dụng Unreal Engine 3. Vì hãng đã sử dụng một công cụ được cấp phép chứ không phải là làm của riêng mình nên thời gian phát triển trò chơi được giảm đáng kể cho phép nhóm thực hiện bắt đầu vẽ và thử nghiệm ngay giai đoạn đầu. Việc dùng một chương trình không phải của mình này được thực hiện do lo ngại về chi phí và thời gian phát triển tăng cao. Ngày 17 tháng 2 năm 2010, Giám đốc công nghệ của Square-Enix là Julien Merceron, trả lời phỏng vấn một năm sau khi trò chơi được phát hành, hầu hết các thiếu sót kỹ thuật của trò chơi là do quyết định sử dụng Unreal Engine, không chỉ nhằm để cắt giảm thời gian phát triển mà còn giảm bớt số lượng lập trình viên có tay nghề cao trong dự án.
Nhà phát triển muốn tách biệt "The Last Remnant" ra khỏi dòng Final Fantasy hay các trò chơi nhập vai khác bằng cách phát triển hệ thống chiến đấu riêng. Đạo diễn nghệ thuật của trò chơi đã tập trung vào việc làm cho tất cả các nhân vật nổi bật trên chiến trường và các Remnants đứng trong khung cảnh nổi bật như nhìn vào thế giới. Các thành phố được thiết kế không được kỳ ảo lắm làm cho hình dáng ma thuật của Remnants càng nổi trội hơn làm cho những người dân theo cả nghĩa đạn và bóng trông giống như sống bởi quyền năng khủng khiếp của các Remnants khổng lồ. Trò chơi mang nhiều nhãn "Đầu tiên" cho hãng Square Enix như đây là trò chơi đầu tiên mà hãng phát hành cùng ngày ở Nhật Bản và thế giới cũng là trò chơi đầu tiên có hình ảnh đồ họa mang dáng dấp phương Tây. Kết quả là chuyển động môi của nhân vật khi nói chuyện ứng với tiếng Anh hơn là tiếng Nhật. Trò chơi được thực hiện để nhắm vào thị trường thế giới hơn là tập trung vào thị trường Nhật Bản như thường lệ.
Việc phát triển trò chơi được công bố vào ngày 10 tháng 5 năm 2007 tại Shinjuku, Tokyo. Bản chơi thử được giới thiệu tại Tokyo Game Show vào tháng 9 năm 2008. Phiên bản dành cho Xbox 360 phát hành vào ngày 20 tháng 11 năm 2008 còn phiên bản dành cho hệ máy tính cá nhân phát hành vào khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 2009. Phiên bản trên máy tính có khác biệt so với bản Xbox 360 như về hình ảnh, một số bản tải về, chức năng "Turbo Mode" để tiết kiện thời gian chiến đấu, cũng như thêm phần "New Game Plus" cho phép người chơi chơi lại từ đầu với các vật dụng mạnh thu được từ lần chơi trước. Một phiên bản PlayStation 3 cũng đã được công bố, nhưng chưa bao giờ được phát hành. Square Enix chưa đưa ra bất kỳ lý do chính thức nào, mặc dù Takai nói rằng ông thấy việc phát triển cho 360 "dễ hơn rất nhiều" so với PlayStation 3.
Âm nhạc.
Âm nhạc của trò chơi do Sekito Tsuyoshi biên soạn, với sự hỗ trợ của Yamanaka Yasuhiro, ông đã soạn 10 bản nhạc và hai bản đồng biên soạn trong số 97 bản nhạc dùng cho trò chơi. Sekito trước khi tham gia "The Last Remnant" đã có kinh nghiệm hơn mười năm soạn các bản nhạc cho nhiều tác phẩm làm lại và tái bản của Square Enix như dòng "Final Fantasy" và "Mana". Các bản nhạc chủ yếu do dàn nhạc trình bày, vị trí nhạc trưởng được giao cho Kameoka Natsumi còn Sekito giữ vị trí chơi ghita. Các bản nhạc được thực hiện bởi nhiều dàn nhạc khác nhau chứ không phải một nhóm duy nhất. Các bản nhạc dùng cho cảnh chiến đấu có thể thay đổi tùy ý người chơi. Ngày 10 tháng 12 năm 2008, Sony Music Distribution phát hành album gồm 3 đĩa chứa 97 bản nhạc dùng trong trò chơi.
Đón nhận.
Square Enix báo cáo trò chơi đã bán được 580.000 bản trên tất cả các phiên bản vào ngày 31 tháng 3 năm 2009, chưa đầy hai tuần sau khi trò chơi được phát hành trên PC. Đến tháng 1 năm 2016, phiên bản PC đã có hơn 800.000 bản được liên kết với tài khoản Steam, theo Steam Spy. Có nhiều ý kiến khác nhau về "The Last Remnant." Các đánh giá tại Nhật tốt hơn tại phương Tây cũng như điểm của trò chơi tại Nhật cao hơn, có thể là do khác biệt văn hóa dẫn đến đánh giá thiết kế khác nhau. Tạp chí "Famitsu" cho trò chơi 38/40 điểm và khen ngợi hệ thống chiến đấu là độc đáo, gợi nhớ đến "Romancing SaGa" nhưng rộng lớn hơn với một cấp độ khác. Nhưng cũng nói là hệ thống học tập kỹ năng tốn nhiều thời gian và không thể luyện kỹ năng cho một nhân vật duy nhất. Famitsu cũng đã cho trò chơi danh hiệu "Rookie Title Grand-Prize" năm 2008.
Các phàn nàn chủ yếu xoay quanh phần đồ họa của trò chơi. IGN nói rằng trò chơi gặp rắc rối lớn với các vấn đề về kỹ thuật, GameTrailers thì nói là "Vấn đề đồ họa dai dẳng" là điểm yếu của phiên bản hệ Xbox 360. GameSpot, IGN, và 1UP.com than rằng phiên bản hệ Xbox của họ có tượng giảm khung hình đột ngột và chất lượng hình phủ tự động điều chỉnh từ thấp đến cao. Tuy nhiên cả ba trang web đã cho điểm cao cho phiên bản PC vì hiệu suất hình ảnh cao hơn, dù thời gian nạp hơi chậm khi qua khu vực mới và khi vào hoặc thoát ra khỏi một trận chiến cũng như không thể bỏ qua các cảnh cắt. Các vấn đề khác bọ phàn nàn như "GamePro" thấy "màn hình lộn xộn và các 'nhiệm vụ' gây khó chịu", "Game Informer" đánh giá "hơi lố" và các nhân vật trông y hệt nhau,IGN và 1UP nói cốt truyện nghèo nàn và chung chung, G4, 1UP và Tạp chí "Official Xbox Magazine" chê thời gian tải dài và cắt cảnh lâu lắc..
Một điểm bị phàn nàn khác là hệ thống chiến đấu, "GamePro" mô tả nó bị "lặp đi lặp lại", điều này cũng khiến IGN tỏ ra thất vọng trong bài đánh giá Xbox của họ, và 1UP nói cách chiến đấu "nhàm chán" và là phần tệ nhất của trò chơi. G4 cũng chỉ trích hệ thống chiến đấu, có cảm giác như game tự chơi. Mặc dù vậy lố chơi của game được các nhà phê bình khác đánh giá cao hơn, như GameTrailers trích dẫn "hệ thống chiến đấu độc đáo" của game cung cấp "rất nhiều thứ để thưởng thức", IGN gọi đây là "phần thú vị nhất của "The Last Remnant"" trong bài đánh giá trên PC của họ, và GameSpot nói nó có tính "hấp dẫn" và đặc biệt thú vị trong các trận chiến quy mô lớn hơn. Phong cách hình ảnh của trò chơi nhận nhiều khen ngợi trên nhiều bài đánh giá, chẳng hạn như các bài đánh giá của GameTrailers, 1UP và "GamePro", họ đã mô tả phong cách này sáng tạo theo kiểu "Đông-Tây hội ngộ", trong khi GameSpot gọi nó là một "thế giới kỳ ảo độc đáo" và "được xây dựng tuyệt đẹp". Âm nhạc cũng được ca ngợi trong các bài đánh giá trên IGN và GameSpot, gọi là "nhạc nền giao hưởng xuất sắc" với những giai điệu tuyệt vời. Trong bài đánh giá của GameSot cũng ca ngợi cốt truyện của trò chơi mang tính "sử thi", trái ngược với nhiều đánh giá khác, mặc dù họ lưu ý rằng Rush không phải "người dẫn đầu thú vị nhất" và được ưa thích hơn khi câu chuyện tập trung vào Conqueror.
Bản sửa đổi.
Tháng 9 năm 2018, Square Enix thông báo về việc sản xuất phiên bản làm lại của trò chơi, sẽ được phát hành cho PlayStation 4 vào ngày 6 tháng 12 năm 2018. Phiên bản làm lại có nâng cấp công cụ trò chơi từ Unreal Engine 3 lên Unreal Engine 4, cải thiện đồ họa và tính năng. Bản làm lại được phát hành vào tháng 12 năm 2018 cho PlayStation 4 và cho Nintendo Switch vào tháng 6 năm 2019. | 1 | null |
Ngày 15 tháng 2 năm 2013, một thiên thạch đã bay vào bầu khí quyển Trái Đất trên bầu trời nước Nga và đã trở thành một quả cầu lửa. Nó bay với vận tốc , gấp 44 lần vận tốc âm thanh, bay qua bầu trời khu vực Ural phía Nam và phát nổ ở phía trên tỉnh Chelyabinsk. Vật thể phát nổ ở độ cao khoảng 15 đến 25 km so với mặt đất. Theo ước tính của NASA, thiên thạch có đường kính 17 m, nặng xấp xỉ 7.700 đến 10.000 tấn và giải phóng nguồn năng lượng tương đương 500 kiloton thuốc nổ TNT, mạnh gấp 20-30 lần so với vụ nổ hai quả bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki. Thiên thạch có kích thước nhỏ hơn đáng kể so với các vật thể được theo dõi thông qua các nỗ lực hiện tại của các nhà khoa học theo dõi vật thể không gian, và đã không được người ta phát hiện trước khi nó đi vào khí quyển. Thiên thạch đã vỡ ra làm 7 vẫn thạch chính và một trong số đó đã rơi xuống một cái hồ Chebarkul đang đóng băng, tạo thành một cái lỗ có đường kính 6 m. Sóng xung kích từ thiên thạch trên bầu trời Chelyabinsk, miền trung nước Nga, khiến gần 1200 người bị thương do mảng kính vỡ. Các mảnh thiên thạch bốc cháy gây chấn động ở Chelyabinsk và một số thành phố khác trong vùng. Ít nhất 6 thành phố bị thiệt hại ở miền trung nước Nga. Liên lạc bằng di động đã tạm thời bị gián đoạn. Có tới 3.000 tòa nhà trong sáu thành phố trong khu vực bị hư hại do kết quả của vụ nổ và các ảnh hưởng. Vẫn thạch tạo ra một ánh sáng rực rỡ, đủ sáng để tạo ra bóng trong ánh sáng ban ngày trong Chelyabinsk và được quan sát ở Sverdlovsk, Tyumen, Orenburg (tỉnh), Cộng hòa Bashkortostan, và Kazakhstan.
Thiên thạch Chelyabinsk là vật thể lớn nhất được biết đã chạm vào Trái Đất kể từ khi sự kiện Tunguska năm 1908, và sự kiện như vậy đã được biết đến đã dẫn đến một số lượng lớn người bị thương.
Thiên thạch này đâm xuống Trái Đất chỉ 15 giờ trước khi một tiểu hành tinh với tên gọi 2012 DA14 có đường kính 50 mét dự báo sẽ bay qua với khoảng cách gần với Trái Đất. Tuy nhiên, các nguồn của Nga, Cơ quan Không gian châu Âu và NASA cho rằng vụ thiên thạch rơi ở Nga không có liên hệ gì đến tiểu hành tinh vừa nêu này.
Các báo cáo ban đầu.
Cư dân địa phương đã chứng kiến các vật thể cực kỳ cháy sáng trên bầu trời ở các tỉnh Chelyabinsk, Sverdlovsk, Tyumen và Orenburg (Cộng hòa Bashkortostan) và khu vực lân cận ở Kazakhstan. Các đoạn video nghiệp dư cho thấy một quả cầu lửa chạy thành vệt trên bầu trời và một tiếng nổ bùng phát ngay sau đó. Sự kiện sao băng xảy ra lúc 09:20 giờ Yekaterinburg, vài phút sau khi mặt trời mọc ở Chelyabinsk, và vài phút trước khi mặt trời mọc ở Yekaterinburg. Vào một số thời điểm vật thể này dường như sáng hơn mặt trời mọc, và NASA sau đó xác nhận rằng sao băng này quả thật sáng hơn mặt trời.. Một hình ảnh của vật thể cũng được chụp ảnh ngay sau khi nó vào bầu khí quyển bởi Meteosat 9. Các nhân chứng tại Chelyabinsk báo cáo rằng không khí của thành phố có mùi như thuốc súng. | 1 | null |
Edward Blyth (23 tháng 12 năm 1810 – 27 tháng 12 năm 1873) là một nhà động vật học và dược sĩ người Anh, người đã làm việc trong phần lớn cuộc đời của mình ở Ấn Độ với tư cách là người phụ trách động vật học tại bảo tàng của Hiệp hội Á châu Ấn Độ ở Calcutta.
Blyth được sinh ra ở London vào năm 1810. Năm 1841, ông tới Ấn Độ để trở thành người phụ trách bảo tàng của Hiệp hội Á hoàng Hoàng gia Bengal. Anh ta bắt đầu cập nhật các danh mục của bảo tàng, xuất bản một "Danh mục các loài chim của Hiệp hội Á châu" vào năm 1849. Anh ta đã bị ngăn không làm nhiều công việc thực địa, nhưng đã nhận và mô tả các mẫu vật chim từ AO Hume, Samuel Tickell, Robert Swinhoe và những người khác. Ông vẫn là người quản lý cho đến năm 1862, khi sức khỏe yếu buộc phải trở về Anh. Ông "Lịch sử Tự nhiên của Cần cẩu" được xuất bản sau khi ông mất vào năm 1881.
Loài gia cầm mang tên ông bao gồm Aceros plicatus, chim chích lá Blyth của, Diều Blyth, bulbul ôliu Blyth của, vẹt đuôi dài Blyth của, Cú muỗi mỏ quặp Blyth, acrocephalus dumetorum, Carpodacus grandis, pteruthius aeralatus, Tragopan Blyth của, anthus godlewskii và Bồng chanh rừng. Các loài bò sát và một chi mang tên của mình bao gồm "Blythia reticulata", "Eumeces blythianus" và "Rhinophis blythii" | 1 | null |
Nhật ký Chú bé Nhút nhát (tiếng Anh: Diary of a Wimpy Kid) là tập sách đầu tiên trong bộ sách 15 tập "Nhật ký Chú bé Nhút nhát" của nhà văn Jeff Kinney. Nội dung cuốn sách nói về sự đấu tranh của nhân vật chính Greg Heffley tại trường học.
"Nhật ký Chú bé Nhút nhát" xuất hiện lần đầu năm 2004 trên trang mạng FunBrain.com và đã được đọc hơn 20 triệu lượt. Một bộ phim cùng tên đã được sản xuất vào năm 2010.
Thực hiện.
Năm 2004, trang mạng FunBrain và Jeff Kinney đã phát hành cuốn sách trên mạng, với 217 trang. Cuốn sách đã trở nên nổi tiếng với 20 triệu lượt đọc tới năm 2009. Rất nhiều độc giả trên mạng đã yêu cầu Kinney in cuốn sách, và Jeff đã đồng ý in vào năm 2007. Hiện nay đang có 4 bộ phim được chuyển thể từ bộ sách đình đám với tiêu đề: Diary of wimpy kid: The Movie. | 1 | null |
Andrej Pejić (sinh ngày 28 tháng 08 năm 1991 tại Tuzla, Bosna và Hercegovina) là một người mẫu người Úc gốc Bosna.
Thời thơ ấu và gia đình.
Andrej Pejic sinh ra tại Serbia, có một anh trai tên Igor. Bố mẹ Andrej ly dị không lâu sau khi anh chào đời. Sau đó, anh sống cùng mẹ, bà và anh trai. Năm Andrej 8 tuổi, anh cùng gia đình chuyển tới Melbourne, Úc sinh sống. Khi đang làm việc cho một cửa hàng của McDonald's, Andrej được phát hiện và trở thành người mẫu năm 17 tuổi.
"Chân dài" người Úc tiết lộ, từ nhỏ anh đã có vóc dáng mảnh mai như một cô gái, vì thế thường cố mặc những bộ đồ nam "hầm hố" để trông mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, sau năm 14 tuổi, Andrej quyết định "là chính mình" và để tóc dài, mặc quần bó sát. Anh chàng chơi với những cô gái nổi tiếng nhất trường và không hề bị bạn bè trêu chọc. "Có lẽ mọi người không chọc ghẹo tôi vì chẳng ai thấy một gương mặt xinh đẹp đến vậy", siêu mẫu tóc vàng dí dỏm tâm sự.
Sự nghiệp người mẫu.
Được phát hiện và trở thành người mẫu năm 17 tuổi, Andrej gây chú ý bởi vẻ đẹp lưỡng tính và sở hữu những tố chất hiếm có để trình diễn tốt trang phục của cả hai giới. Với chiều cao 1m88, ba vòng đều nhỏ, anh chàng là người mẫu mơ ước của nhiều nhà thiết kế thời trang và nhiếp ảnh gia nổi tiếng. Andrej cũng nhiều lần trở thành gương mặt trang bìa của các tạp chí thời trang uy tín, bao gồm cả Elle.
Sở hữu gương mặt ấn tượng, pha trộn giữa vẻ mạnh mẽ, góc cạnh và nét quyến rũ, kiêu kỳ cùng mái tóc vàng nổi bật, Andrej được làng mốt đặc biệt yêu thích. Mang hình hài nam nhi nhưng khung xương Andrej lại nhỏ như nữ giới, vì thế anh chàng có thể mặc được bất kỳ trang phục nào của phái yếu. Cộng thêm khả năng trình diễn chuyên nghiệp, đa dạng, nóng bỏng, chàng siêu mẫu trở thành một hiện tượng độc nhất vô nhị, phá vỡ mọi quy tắc về giới tính của làng thời trang thế giới. Năm 20 tuổi, mới chỉ có hơn hai năm kinh nghiệm catwalk, Andrej đã được trang web Models.com xếp thứ 18 trong danh sách "50 người mẫu nam xuất sắc 2011".
Cuộc sống cá nhân.
Ngoài đời, Andrej thường tự tin dạo phố trong trang phục nữ với phong cách sành điệu, thời thượng như quần da bó, áo choàng lông, váy ngắn, quần shorts... hoặc đồ unisex (phi giới tính), đôi khi "đổi gió" với style khỏe khoắn, năng động. Anh thừa nhận có cảm giác thích thú khi thấy những ánh mắt ngưỡng mộ dành cho mình.
Không giống nhiều người lưỡng tính khác, Andrej Pejic không có ý định phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Với siêu mẫu này, việc xác nhận mình là nam hay nữ dường như không quan trọng. Anh chàng từng nói trên tạp chí New York: "Tôi để ngỏ giới tính để tạo ra những bí ẩn của nghệ thuật. Không phải là hôm nay thì trông tôi như một người đàn ông, ngày mai lại như phụ nữ, mà tôi là tôi".
Nhưng mới đây, Andrej phát biểu sẽ chuyển giới nếu được hãng đồ lót nổi tiếng Victoria's Secret mời làm mẫu. "Tôi không bao giờ chuyển giới trừ khi được Victoria’s Secret ký hợp đồng quảng cáo. Tôi có bộ ngực nhỏ và tôi cũng mơ có vòng một như của Lara Stone." | 1 | null |
Khước Khắc hay Khích Khắc (chữ Hán: 郤克, bính âm: Xì Kè; ?-587 TCN), tức Khước Hiến tử (郤献子), là tướng nước Tấn thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.
Thân thế.
Tổ tiên của Khước Khắc vốn gốc họ Cơ, thuộc dòng dõi công thất nước Tấn, đến đời Thúc Hổ có công nên được phong ấp ở đất Khước, lấy họ Khước làm họ. Đến đời Khước Nhuế phò giúp Tấn Huệ công, khi Tấn Văn công về nước, Khước Nhuế cùng Lã Sảnh mưu giết Tấn Văn công nên bị sát hại. Tuy nhiên Văn công vẫn cho con Khước Nhuế là Khước Khuyết lên nối chức đại phu.
Năm 597 TCN, Khước Khuyết qua đời, Khước Khắc lên nối chức đại phu, được phong làm Thượng quân tá.
Chiến tranh với Sở.
Năm 597 TCN, Sở Trang vương đánh nước Trịnh. Trịnh Tương công cầu cứu nước Tấn. Tấn Cảnh công sai Khước Khắc cùng Tuân Lâm Phủ, Sĩ Hội, Loan Thư, Tiên Hộc, Hàn Quyết cứu Trịnh. Hai bên đánh nhau ở đất Bật, quân Tấn bị đánh bại. Khi chạy về đến Hoàng Hà, các binh sĩ tranh nhau qua sông, nhiều người bị giết. Tướng Trí Anh bị bắt.
Năm 593 TCN, Tấn Cảnh công bèn phong phong Khước Khắc làm Trung quân tá, đến 591 TCN, thăng làm Trung quân tướng, tức Chính khanh nước Tấn.
Bị chọc giận ở Tề.
Năm 592 TCN, nước Tấn cử Khước Khắc và Loan Kinh đi sứ sang Tề. Cùng lúc có sứ nước Lỗ và nước Vệ sang. Để làm mẹ vui, nhân Khước Khắc bị gù, sứ nước Lỗ bị thọt chân, sứ nước Vệ bị chột, Tề Khoảnh công bèn chọn ra người bị gù tiếp đón Khước Khắc, người bị thọt tiếp đón sứ nước Lỗ và người bị chột tiếp sứ nước Vệ. Cảnh đó làm cho các phụ nữ trong hậu cung đứng trong màn để nhìn và cười nhạo.
Khước Khắc nổi giận bèn bỏ về trước, để Loan Kinh ở lại và xin Tấn Cảnh công phát binh đánh Tề để trả thù nhưng Tấn Cảnh công không nghe. Khước Khắc xin vua Tấn cho mình mang quân đội riêng đi đánh để báo thù riêng cũng không được chấp thuận. Sau đó, Tấn Cảnh công hội chư hầu ở Đoạn Đạo để trị tội các chư hầu không tuân phục. Mùa hè năm đó, Tề Khoảnh công sai các đại phu Cao Cố, Án Nhược, Sái Chiêu, Nam Quách Yển tới hội.
Sự việc tiếp theo, giữa Sử ký và Tả truyện có khác biệt. Theo Sử ký, Khước Khắc bắt và giết cả bốn sứ giả nước Tề. Theo Tả truyện, khi sứ đoàn tới Liễm Vu, Cao Cố bỏ trốn. Khi sứ đoàn tới hội thề ở đất Quyền Sở thì Tấn Cảnh công có lệnh không cho nước Tề dự. Án Nhược, Sái Chiêu và Nam Quách Yển bị bắt giam riêng biệt ra 3 nơi. Sau đó nhờ Phần Hoàng người nước Miêu can nên vua Tấn thả cho 3 đại phu nước Tề về.
Đánh Tề.
Năm 591 TCN, Tấn Cảnh công chấp thuận cho Khước Khắc đánh Tề. Quân Tấn hợp binh với nước Vệ sang đánh. Liên quân 2 nước đánh tới đất Dương Cốc. Tề Khoảnh công gửi công tử Khương Cường làm con tin, liên quân mới rút lui.
Năm 589 TCN, Tề Khoảnh công mang quân đánh nước Lỗ và nước Vệ. Vợ vua nước Vệ và vợ vua nước Lỗ đều sang nước Tấn, thông qua Khước Khắc báo tình hình lên vua Tấn, xin Tấn ra quân đánh Tề.
Tấn Cảnh công bèn sai Khước Khắc mang 800 cỗ xe, cùng Sĩ Nhiếp, Hàn Quyết và Loan Thư cứu Lỗ và Vệ. Tháng 6 năm 589 TCN, hai bên giao chiến ở núi Mị Châm. Quân Tề bắn Khước Khắc bị thương, nhưng Khước Khắc cố nén đau tự mình thúc trống. Quân Tấn hăng hái đánh bại quân Tề.
Tề Khoảnh công thua chạy, bị Hàn Quyết truy kích. Người đánh xe cho vua Tề là Phùng Sửu Phụ hiến kế tự mình vào xe giả làm vua Tề. Hàn Quyết đuổi tới nơi. Sửu Phụ lên giọng ra lệnh cho Tề Khoảnh công đang vào vai người đánh xe đi lấy nước suối Hòa Tuyền cho mình uống. Tề Khoảnh công vội chạy tới suối, gặp hai tướng Tề là Trịnh Chu Phủ và Uyển Phạt đánh xe khác tới, bèn nhảy lên xe chạy thoát. Phùng Sửu Phụ lộ chân tướng là người đóng thế, bị bắt về chỗ Khước Khắc; nhưng nghe lời phân tích lợi hại của Sửu Phụ đối với việc làm gương cho lòng trung nghĩa của bầy tôi, Khước Khắc tha chết cho Sửu Phụ nhưng vẫn thúc quân đuổi đánh vua Tề, tiến đến Mã Lăng. Tề Khoảnh công sai Tân Mỵ Nhân đi sứ, dâng đồ châu báu để xin quân Tấn rút lui. Khước Khắc không nghe, đòi vua Tề làm đường từ đông sang tây cho quân Tấn dễ dàng sang đánh và nộp mẹ (Tiêu Đồng Thúc Tử) là người đã cười nhạo mình khi đi sứ trước kia mới chấp nhận lui quân. Tân Mỵ Nhân phân tích việc bắt làm đường và nộp mẹ làm con tin là bạo ngược, chèn ép nước Tề quá đáng. Khước Khắc chấp thuận cho nước Tề giảng hòa.
Qua đời.
Năm 587 TCN, Khước Khắc qua đời. Ông làm chính khanh nước Tấn được 4 năm. Loan Thư lên kế tập chức Chính khanh. Sau khi ông mất, Tấn Cảnh công phong cho con ông là Khước Kì, người trong họ là Khước Chí và Khước Thù làm đại phu, gọi là Tam Khước. | 1 | null |
Sĩ Hội (, ?-?), còn gọi là Phạm Hội (范会) hay Tùy Hội (随会), tức Phạm Vũ tử (范武子), là vị tông chủ đầu tiên của Phạm thị, một trong Lục khanh nước Tấn thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.
Thân thế.
Tổ tiên của Sĩ Hội nguyên họ Đỗ, nối đời làm khanh sĩ trong triều đình nhà Chu. Đến đời Đỗ Bá làm quan dưới triều Chu Tuyên vương. Năm 785 TCN, Chu Tuyên vương nghe lời của sủng phi là Khiêu nữ giết Đỗ Bá. Con Đỗ Bá là Thấp Thúc trốn sang nước Tấn, trở thành thủy tổ Phạm Thị. Thấp Thúc được phong làm chức Sĩ sư, đổi sang họ Sĩ, sau được phong làm đại phu ăn lộc ở đất Phạm, từ đó lại lấy họ Phạm.
Năm 632 TCN, Sĩ Hội tham gia cuộc chiến với Sở ở Thành Bộc, quân Tấn giành thắng lợi. Sau khi trở về, Tấn Văn công phong cho Sĩ Hội làm chức Xa hữu.
Bỏ trốn sang nước Tần.
Năm 621 TCN, Tấn Tương công sắp mất, di mệnh cho Triệu Thuẫn phò tá con mình là Thế tử Di Cao lên ngôi. Tuy nhiên, Triệu Thuẫn muốn lập một công tử lớn tuổi. Phe cánh của Hồ Xạ Cô muốn đón em Tương công là công tử Lạc, vốn làm quan ở nước Trần, lên ngôi. Tuy nhiên, Triệu Thuẫn ép các triều thần lập công tử Ung, đang làm con tin ở nước Tần. Cuối cùng phe Triệu Thuẫn thắng, diệt trừ vây cánh của Hồ Xạ Cô, bức Hồ Xạ Cô phải lưu vong ra nước ngoài.
Triệu Thuẫn sai Sĩ Hội cùng Tiên Miệt sang Tần đón công tử Ung, nhưng sau e ngại vợ Tương công là Mục Doanh, đành lập Di Cao lên ngôi, tức Tấn Linh công và cho quân phục kích đánh Tần tại đất Linh Hồ, giết công tử Ung.
Sĩ Hội và Tiên Miệt phản đối Triệu Thuận, chạy sang Tần. Triệu Thuẫn bổ nhiệm các tướng thân cận mình vào các chức vụ chủ chốt.
Năm 615 TCN, Tần Khang công đem quân đánh Tấn, quân Tấn đóng quân ở Hà Khúc. Tần Khang công hỏi Sĩ Hội làm sao để đánh bại quân Tấn. Sĩ Hội khuyên vua Tần tập kích vào thượng quân của Triệu Xuyên, vua Tần nghe theo, tập kích Triệu Xuyên, tuy nhiên rốt cục hai bên chưa giao chiến đã rút lui.
Năm 614 TCN, nghe tin Sĩ Hội được Tần trọng dụng, Khước Khuyết xin Triệu Thuẫn đón Sĩ Hội về, Triệu Thuẫn chấp nhận, sai Ngụy Thọ sang Tần đón Sĩ Hội, giảng hòa với Sĩ Hội và phong Đại phu. Gia quyến của ông cũng được đưa về nước.
Khuyên can Tấn Linh công.
Tấn Linh công lớn lên tính tình trở nên tàn bạo. Năm 607 TCN, Linh công giết một người đầu bếp, Sĩ Hội bèn vào cung căn ngăn, Tấn Linh công hứa sẽ sửa đổi, Sĩ Hội báo lại với Triệu Thuẫn, tuy nhiên Tấn Linh công vẫn không thay đổi, Triệu Thuẫn lại can ngăn, Linh công sai Sừ Nghê ám sát Thuẫn nhưng không thành, sau em Triệu Thuẫn là Triệu Xuyên giết Tấn Linh công ở Đào Viên,
Năm 606 TCN, Tấn Thành công sai Sĩ Hội đem quân đánh nước Trịnh vì Trịnh bỏ theo nước Sở. Sĩ Hội đánh bại quân Trịnh, buộc nước Trịnh phải giảng hòa.
Năm 601 TCN, Sĩ Hội được thăng lên chức Thượng quân tướng.
Chiến tranh với Sở.
Năm 599 TCN, Sở Trang vương đánh Trịnh, Sĩ Hội cầm quân đi cứu, đánh lui quân Sở.
Năm 597 TCN, Sở Trang vương lại mang quân vây nước Trịnh. Trịnh Tương công cầu cứu nước Tấn. Tấn Cảnh công sai các đại phu Sĩ Hội cùng Tuân Lâm Phủ, Khước Khắc, Loan Thư, Tiên Hộc, Hàn Quyết mang quân cứu Trịnh.
Quân Tấn đi chậm, khi đến nơi thì Trịnh Tương công đã phải ra hàng và ăn thề với Sở Trang vương. Tuân Lâm Phủ định quay về, Tiên Hộc đề nghị tiến quân giao chiến. Tuân Lâm Phủ lệnh cho toàn quân qua sông Hoàng Hà.
Trịnh Tương công đã hàng Sở nên phải mang quân phối hợp với Sở cùng đánh Tấn. Hai bên đánh nhau ở đất Bật. Giữa các tướng Tấn nổ ra tranh cãi, Tuân Lâm Phủ muốn rút quân, còn Tiên Hộc đòi quyết chiến. Ngụy Kĩ và Triệu Chiên xin đi hòa đàm với Sở, Tuân Lâm Phủ đồng ý nhưng rồi nhận ra 2 người này thuộc phe chủ chiến, vội phái người đuổi theo gọi bọn họ trở lại.
Ngụy Kĩ và Triệu Chiên chọc giận quân Sở rồi bỏ trốn, lính tuần tiễu Sở trông thấy cánh quân của Tuân Oanh, thì cho là quân Tấn đến đánh, bèn đem quân truy kích, bắt Tuân Oanh, quân Tấn tan vỡ. Khi chạy về đến sông Hoàng Hà, các binh sĩ tranh nhau qua sông, nhiều người bị giết..
Về đến Giáng đô, Tuân Lâm Phủ xin chịu tội chết vì thua trận. Tấn Cảnh công định chấp nhận thì Sĩ Hội can nên để Tuân Lâm Phủ sống để báo thù nước Sở. Tấn Cảnh công nghe theo.
Chính khanh nước Tấn.
Năm 596 TCN, Tiên Hộc vì đề nghị tiến quân nên bị thua lớn, sợ bị tội chết bèn bỏ trốn sang nước Địch, bàn mưu với nước Địch đánh Tấn. Tấn Cảnh công bèn giết cả nhà Tiên Hộc, rồi cho Sĩ Hội lên thay làm Trung quân tá.
Năm 593 TCN, Sĩ Hội cầm quân diệt Xích Địch, hiến tế tù binh cho Chu Định vương. Tấn Cảnh công xét công của Sĩ Hội, phong làm Trung quân tướng, Chính khanh nước Tấn, kiêm chức Thái phó. Mùa đông năm đó, Cảnh công sai Sĩ Hội đi sứ nhà Chu, yết kiến Chu Định vương.
Cáo lão.
Năm 592 TCN, Tấn Cảnh công cử Khước Khắc làm chánh sứ và Loan Kinh làm phó sứ sang Tề. Cùng lúc có sứ nước Lỗ và nước Vệ sang. Để làm mẹ vui, nhân thấy Khước Khắc bị gù, sứ nước Lỗ bị thọt chân, sứ nước Vệ bị chột, Tề Khoảnh công bèn chọn ra người bị gù tiếp đón Khước Khắc, người bị thọt tiếp đón sứ nước Lỗ và người bị chột tiếp sứ nước Vệ. Cảnh đó làm cho các phụ nữ trong hậu cung đứng trong màn để nhìn và cười nhạo.
Khước Khắc nổi giận bèn bỏ về trước, để Loan Kinh ở lại, xin Tấn Cảnh công phát binh đánh Tề để trả thù.
Năm 591 TCN, Tấn Cảnh công chấp thuận cho Khước Khắc đánh Tề. Sĩ Hội thấy vậy, bèn cáo lão, giao quyền Trung quân tướng cho Khước Khắc, năm 589 TCN, Khước Khắc đánh bại quân Tề.
Sau không rõ Sĩ Hội mất năm nào. Sau khi ông mất, con ông là Sĩ Tiếp lên thế tập. | 1 | null |
Babel là album phòng thu thứ hai của ban nhạc indie folk Mumford & Sons. Cũng giống như "Sigh No More", album này được sản xuất bởi nhà sản xuất Markus Dravs. Album được phát hành vào ngày 21 tháng 9 năm 2012 tại Ireland, Đức, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Na Uy, Úc và New Zealand. Sau đó vào ngày 24 tháng 9 năm 2012, album được phát hành tại Anh, Scandinavia, Tây Ban Nha, Ý, Đông Âu và Nam Mỹ. Tại Mỹ và Canada, album được phát hành vào ngày 25 tháng 9 năm 2012.
Sau khi được phát hành, "Babel" ra mắt tại vị trí quán quân trên cả hai bảng xếp hạng UK Albums Chart của Anh và "Billboard" 200 của Mỹ. Nó nhanh chóng trở thành album có doanh số bán chạy nhất trong năm 2012 ở Anh, với 159,000 bản được tiêu thụ ngay trong tuần đầu phát hành, đồng thời "Babel" cũng trở thành album có doanh số ra mắt lớn nhất năm 2012 ở Mỹ vào thời điểm đó với 600,000 bản bán được trong tuần đầu tiên. Album đã nhận được những đánh giá trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc và đã được đề cử cho hạng mục "Album của Năm" ở cả hai giải thưởng lớn là Giải Brit và Giải Grammy, sau đó đã chiến thắng ở Giải Grammy.
Đĩa đơn.
Đĩa đơn chính thức đầu tiên của album là "I Will Wait". Mumford & Sons đã ra mắt bài hát trên chương trình BBC Radio 1 của Zane Lowe vào ngày 7 tháng 8 năm 2012. Ngày 29 tháng 8 năm 2012, ban nhạc đã ghi lại buổi biểu diễn trực tiếp bài hát "I Will Wait" của họ tại khán đài Red Rocks Amphitheatre ở Colorado. Video về buổi biểu diễn được phát hành vào ngày 9 tháng 9 năm 2012, đồng thời cũng là video âm nhạc chính thức của bài hát.
Đĩa đơn thứ hai từ album là "Lover of the Light". Video âm nhạc chính thức của bài hát được phát hành vào ngày 5 tháng 11 năm 2012, trong video có sự xuất hiện của nam diễn viên Idris Elba, người đồng thời cũng là đạo diễn của video này. Bài hát được chính thức phát hành vào ngày 3 tháng 12 năm 2012.
Diễn biến xếp hạng.
"Babel" ra mắt tại vị trí quán quân ở Anh với doanh số 159,000 bản, trở thành album có doanh số bán chạy nhất trong năm 2012 tại quốc gia này. Tính đến hết năm 2012, album đã bán được tổng cộng 573,000 bản tại Anh.
Album cũng ra mắt tại vị trí quán quân trên bảng xếp hạng "Billboard" 200 của Mỹ, với doanh số 600,000 bản bán được trong tuần đầu phát hành, trở thành album có doanh số ra mắt lớn thứ nhì năm 2012 ở Mỹ, chỉ sau album "Red" của Taylor Swift. Tính đến tháng 2 năm 2013, album đã bán được tổng cộng 1,700,000 bản tại Mỹ. "Babel" ngoài ra cũng ra mắt tại vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Canadian Albums Chart với doanh số 75,000 bản trong tuần đầu tiên.
Tham gia thực hiện.
Mumford & Sons
Các nhạc sĩ khác | 1 | null |
Tưởng Cần Cần (sinh 1975) chữ Hán phồn thể: 蔣勤勤, chữ Hán giản thể: 蒋勤勤, bính âm: Jiǎng Qínqín là một diễn viên điện ảnh Trung Quốc.
Nghệ danh.
Nhận xét về cô, Quỳnh Dao hình dung: "Thanh linh như thủy, ưu mỹ như mộng", và bà đã đặt cho cô một nghệ danh mới: Thủy Linh (chữ Hán phồn thể: 水靈, chữ Hán giản thể: 水灵, bính âm: Shuǐling). Ngoài ra, cô còn có tên tiếng Anh là Angel và tên thân mật là 77.
Tiểu sử.
Năm 10 tuổi, Thủy Linh được gia đình cho đi học kinh kịch tại trường nghệ thuật Trùng Khánh. Năm 1994, Thủy Linh quyết định thi vào Học viện Điện ảnh Bắc Kinh và đạt thủ khoa trong đợt tuyển sinh năm đó. Sau 4 năm, cô tốt nghiệp học viện và tham gia Xưởng phim Bắc Kinh.
Bộ phim Kiều gia đại viện chính là bà mối đưa diễn viên Trần Kiến Bân và Tưởng Cần Cần đến bên nhau. Khi bộ phim hoàn tất cũng là lúc hai người đi đến hôn nhân.
Gia đình.
Thủy Linh và Trần Kiến Bân kết hôn vào ngày 22 tháng 2 năm 2006. Tất cả diễn ra nhanh chóng và thuận lợi. Hiện tại, gia đình nhỏ của đôi vợ chồng nghệ sĩ này đang rất hạnh phúc. Đây có thể coi là cặp vợ chồng tiêu chuẩn của làng giải trí Hoa ngữ.
Vào lúc 9 giờ 46 phút ngày 8 tháng 1 năm 2007, Thủy Linh đã sinh một bé trai cân nặng 3.85 kg tại bệnh viện Hiệp Hoà, Bắc Kinh. Vào ngày 2 tháng 7 năm 2018, cô sinh tiếp bé trai thứ hai
Sự nghiệp.
"Nỗi lòng thấu trời xanh" là bộ phim truyền hình đầu tiên của nữ văn sĩ Quỳnh Dao được thực hiện tại Trung Quốc. Và Thủy Linh đã được bà đã mời đảm nhận vai chính. Nhờ vai diễn Tiêu Vũ Phụng này, cô đã trở thành ngôi sao màn ảnh nhỏ được nhiều người biết đến.
Nhiều người cho rằng Thủy Linh chỉ phù hợp với những vai công chúa, tiểu thư xinh đẹp hoặc các nhân vật có số phận bi thương có cuộc tình éo le. Song bản thân Thủy Linh lại không thích những kiểu vai như thế. Cô phát biểu: "tôi muốn được thể hiện nhiều loại vai khác nhau càng đa dạng càng hứng thú". Và cô đã chứng tỏ điều đó qua các nhân vật như: nữ thám tử gan dạ võ nghệ phi phàm trong bộ phim "Thám tử kinh đô", là nữ hiệp Nghê Thường trong bộ phim "Nữ hiệp sĩ tóc trắng" (Bạch phát ma nữ), nàng Ngọc Kiều Long cao ngạo bướng bỉnh trong bộ phim truyền hình "Ngọa hổ tàng long". Hay với vai diễn Mục Niệm Từ trong "Tân anh hùng xạ điêu 2003", cô được yêu thích nhất, thậm chí hơn cả Hoàng Dung (do Châu Tấn thể hiện). Và diễn xuất của cô được giới báo chí đánh giá rất cao trong một vai phản diện phim "Bán sinh duyên", đóng cùng Lâm Tâm Như.
Sau một loạt các sê-ri phim truyền hình khá thành công tại Đài Loan như Bạch Phát Ma Nữ, Ngọa Hổ Tàng Long, Phong Vân… Thủy Linh quyết định trở về đóng phim truyền hình Trung Quốc. Vai diễn Mục Niệm Từ trong sê-ri "Tân anh hùng xạ điêu 2003" đã giúp cô chiếm được nhiều tình cảm của khán giả và đánh dấu sự thành công của Thủy Linh trên màn ảnh nhỏ Trung Quốc.
Các vai diễn của cô phần lớn đều là những phụ nữ có cá tính, mạnh mẽ, tài sắc nhưng bất hạnh. Những bộ phim tiêu biểu trong sự nghiệp của Thủy Linh gồm Bán sinh duyên, Cái tát tai vang dội, Kiều gia đại viện... Các vai diễn về sau của Thủy Linh đã giúp cô dần thoát khỏi cái mác "bình hoa di động" và được đánh giá là diễn viên thực thụ...
Đặc biệt, trong ba năm trở lại đây, tài năng diễn xuất của Thủy Linh đã được giới chuyên môn ghi nhận. Trong năm 2004, cô nhận được đề cử giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Liên hoan phim Kim Kê - Bách Hoa cho vai diễn trong Cái tát tai vang dội dù sau đó không nhận được giải thưởng. Sang năm tiếp theo, Thủy Linh vinh dự nhận được giải thưởng Kim Phượng Hoàng do Hiệp hội nghệ thuật Trung Quốc trao tặng cho những cố gắng nỗ lực của cô suốt 2 năm hoạt động nghệ thuật (năm 2004 và 2005).
Bước ngoặt lớn nhất trong sự nghiệp của Thủy Linh chính là giải Nữ diễn viên truyền hình nổi tiếng nhất tại lễ trao giải LHP truyền hình Kim Ưng - Trung Quốc diễn ra vào tháng 10/2006. Tại lễ trao giải năm 2006, nữ diễn viên Thủy Linh và chồng cô - nam diễn viên Trần Kiến Bân đã trở thành tâm điểm ống kính của giới truyền thông, vì đó là lần đầu tiên kể từ khi kết hôn, hai người cùng sánh vai xuất hiện trước công chúng và cùng bước lên sân khấu nhận giải thưởng | 1 | null |
Nhiên Đăng Cổ Phật (tiếng Phạn là "Dipankara" hay "Dipanikara") là vị Phật thứ tư trong danh sách 28 vị Phật. "Nhiên" - một từ Hán-Việt - nghĩa đốt cháy, "Đăng" là cây đèn. "Nhiên Đăng Cổ Phật" cũng có khi được gọi Nhiên Đăng Phật (燃燈佛), Đính Quang Như Lai (錠光, "Đính" là cái chân đèn).
Trong Đại trí độ luận, đức Nhiên Đăng Cổ Phật khi đản sinh, chung quanh thân sáng như đèn, cho nên gọi là Nhiên Đăng Thái tử. Khi thành Phật cũng gọi là Nhiên Đăng, xưa gọi tên là Đính Quang Phật. Ở các chùa Việt Nam và Trung Quốc, Nhiên Đăng Cổ Phật thường được thờ chung với Phật Thích-ca Mâu-ni và Phật Di-lặc trong bộ tượng "Tam thế Phật", nghĩa là các vị Phật thời quá khứ, hiện tại và vị lai (trong đó Phật Nhiên Đăng đại diện cho chư Phật trong quá khứ, Phật Thích-ca là vị Phật thời hiện tại và Phật Di-lặc tượng trưng cho chư Phật thời vị lai).
Truyền thuyết.
Nhiên Đăng Cổ Phật từng sống cách thời đại chúng ta 4 a tăng kì kiếp trái đất (A tăng kỳ nghĩa là nhiều đến mức "bất khả tư nghị", không thể tưởng tượng hoặc đếm được). Đức Phật này là vị đầu tiên trong số 24 vị Phật đã thọ ký cho các tiền thân của đức Phật Thích-ca Mâu-ni.
Kinh Phật ghi rằng dưới thời Nhiên Đăng Cổ Phật thì lúc đó đức Thích-ca là một vị Bà-la-môn vô cùng giàu có đã phân phát hết tài sản của mình và quy ẩn, có tên là Thiện Huệ (s: Sumedha). Với túc mạng thông, Nhiên Đăng Cổ Phật nhận ra Thiện Huệ sau vô số kiếp luân hồi sẽ trở thành Phật dưới tên Cồ-đàm (Gautama) và thọ ký cho Thiện Huệ. Phật Nhiên Đăng được xem là vị Phật quan trọng nhất trong các vị trước Thích-ca. Ngài là vị đại diện cho Phật quá khứ tương tự như trường hợp Di-lặc được xem là đại diện cho Phật vị lai.
Theo truyền thuyết, thân Phật Nhiên Đăng cao "80 trượng", giáo hóa 84.000 vị A-la-hán, Ngài sống 100.000 năm. Tháp đựng xá-lị Phật Nhiên Đăng cao 36 do-tuần (15–20 km).
Tượng Phật Nhiên Đăng.
Theo Từ điển Phật Học Việt Nam: Đức Phật Thích Ca có một tiền kiếp là tu sĩ Sumedha (Thiện Tuệ, hoặc Thiện Huệ). Thiện Tuệ từng gặp và cúng hoa cho Đức Phật Nhiên Đăng. Thiện Tuệ mua hoa ấy từ một cô gái bán hoa với giá rất đắt. Cô gái hỏi vì sao Thiện Tuệ lại chịu mua với giá đắt như vậy? Thiện Tuệ trả lời là mua hoa để cúng Phật Nhiên Đăng. Cô gái liền tặng không bó hoa với lời nguyện là cô với Thiện Tuệ sẽ kết duyên vợ chồng trong các kiếp sau, còn Thiện Tuệ nguyện rằng sẽ tu thành Phật trong tương lai. Phật Nhiên Đăng thọ ký cho cả hai người. Sa môn Thiện Tuệ là tiền thân của Phật Thích Ca, cô gái bán hoa là tiền thân của Công chúa Gia Du Đà La (người vợ của Phật Thích Ca trước khi ngài xuất gia đi tu).
Theo Phật học Từ điển của Đoàn Trung Còn: Trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, phẩm Tự có tích này: Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh khi còn ở Hoàng Cung, có sanh ra 8 vị Vương tử: Hữu Ý, Thiện Ý, Vô Lượng Ý, Bảo Ý, Tăng Ý, Trừ Nghi Ý, Hưởng Ý, Pháp Ý. Khi Ngài xuất gia tu hành thành Phật thì 8 vị Vương tử ấy đều theo cha mà tu trì Phạm hạnh. Tám vị ấy đều lần lượt thành Phật, và vị sau rốt thành Phật hiệu là Nhiên Đăng.
Phật Nhiên Đăng có thọ ký cho Thiện Huệ Bồ Tát, phán rằng, về sau Thiện Huệ sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni.
Trong Vô Lượng Thọ Kinh, Phật phán với tôn giả A Nan rằng: Về đời quá khứ, thuở xưa cách nay lâu xa vô lượng, chẳng có thể suy nghĩ bàn bạc được là bao nhiêu kiếp, Đức Đính Quang Như Lai (Phật Nhiên Đăng) xuất hiện ở thế, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh đều cho đắc đạo, rồi Ngài mới vào Niết Bàn.
Ngày tưởng nhớ.
Đức Nhiên Đăng Cổ Phật có 3 ngày vía (không rõ ý nghĩa của 2 ngày vía 6.1 và 15.3 âm lịch) | 1 | null |
Đơn mặt trời, đơn tía, đơn đỏ, đơn tướng quân, liễu đỏ, hồng bối quế hoa hay cây mặt quỷ (danh pháp khoa học: Excoecaria cochinchinensis hay Excoecaria cochinchinensis Lour. var. cochinchinensis) là loài thực vật thuộc họ Đại kích. Đây là loài bản địa Đông Nam Á và Trung Quốc. Đơn mặt trời là cây bụi thường xanh cận nhiệt đới, cao đến 1–2 mét. Mặt trên của lá có màu xanh đậm, mặt dưới màu nâu đỏ. Kích thước lá 6–14 cm x 2–4 cm.
Thành phần hóa học.
Lá đơn mặt trời chứa các hoạt chất: flavonoid (1,5%), saponin, coumarin, anthranoid, tanin, đường khử. | 1 | null |
Trận Villepion là một hoạt động quân sự trong Chiến dịch tấn công Pháp của quân đội Phổ – Đức vào các năm 1870 – 1871, đã diễn ra vào ngày 1 tháng 12 năm 1870, giữa Orgeres và Patay (nước Pháp). Trong trận giao chiến lâu dài này, Quân đoàn XVI trong quân đội Cộng hòa Pháp, dưới quyền chỉ huy của tướng Antoine Chanzy, đã tấn công và giành chiến thắng trước Quân đoàn Bayern I của quân đội Phổ dưới quyền chỉ huy của "Thượng tướng Bộ binh" Ludwig von der Tann. Trận chiến Villepion đã trở thành chiến thắng thứ hai và cũng là chiến thắng cuối cùng của "Binh đoàn Loire" của Pháp, sau trận Coulmiers hồi tháng 11 năm 1870. Thành công của các đội quân tuyển mộ thiếu kinh nghiệm của Pháp được xem là đã thể hiện tài năng và sự năng động của các tướng lĩnh Pháp, cũng như là cuộc tấn công của những người lính kỳ cựu đã giành nhiều thắng lợi trong quá khứ. Thất bại này đã buộc các lữ đoàn Bayern phải triệt thoái về Loigny và Orgeres. Tuy rằng đây không phải là một thắng lợi toàn diện, trận đánh tại Villepion đã củng cố niềm tin về chiến thắng của người Pháp – và điều này đã không trở thành hiện thực.
Vào ngày 26 tháng 11 năm 1870, các lực lượng của Đức chiếm được Châteaudun, đẩy Quân đoàn XVI của Pháp do Chanzy chỉ huy vào nguy cơ bị tấn công từ phía tây. Tuy nhiên, cuộc phòng ngự của du kích quân Pháp ("franc-tireur") dưới sự chỉ đạo của Đại tá Joseph de Lipowski trên sông Conie đã tạo điều kiện cho Chanzy chỉnh đốn quân ngũ chống lại "Phân bộ quân" (thuộc Binh đoàn thứ hai) của Đức dưới quyền Friedrich Franz II, Đại Công tước xứ Mecklenburg. Tình hình cho thấy là Chanzy sẽ phải thực hiện một vận động về hướng đông, nhưng điều đó cũng khiến ông phải tổ chức một cuộc hành quân bên sườn ngang qua mặt của đoàn quân dưới quyền Mecklenburg. Trước khi Chanzy có thể tiến về hướng đông, ông ta cần phải tiến công về hướng bắc để xóa sổ mối đe dọa trực tiếp đến sườn của quân ông. Và, vào ngày 1 tháng 12, ông ta tiến quân theo hướng Orgères. Trong khi đó, tướng Von der Tann phát động một cuộc hành binh từ Orgères xuống Loigny theo đường Orléans. Nhờ sự quan tâm của Chanzy đối với binh lính của mình, phía Pháp đã hăng hái tiến quân, và lực lượng tiền vệ của họ đụng chạm với lực lượng tiền vệ của Bayern. Đang phân bố lỏng lẻo ở các ngôi làng rải rác trên bình nguyên phía tây Artenay, quân đội Bayern không thể tiến hành kháng cự ngay lập tức. Trong khi lực lượng pháo binh Pháp bắn chính xác, lính bộ binh Pháp xung phong như vũ bão.
Bị quân số áp đảo của Pháp uy hiếp từ phía trước và Sư đoàn Kỵ binh Michel đe dọa ở bên sườn, Lữ đoàn Bayern số 1 bị buộc phải rút lui tới Villepion. Lữ đoàn số 2 đang tiến quân từ Orgères đã dừng lại về hướng tây Nonneville, và Lữ đoàn Bayern số 4 tiến tới giữa Villepion và Faverolles. Tại vị trí này, mặc dù bị đánh thiệt hại nặng, phía Bayern vẫn cầm cự trong một thời gian dài. Ở cánh phải của họ, Vương tử Leopold của Bayern, chỉ huy một khẩu đội pháo mà chỉ có 4 khẩu đại bác vẫn còn hoạt động, đã cản bước tiến quân Pháp đến Nonneville, khiến cho quân Pháp không thể thực hiện một cuộc đột phá. Thành tích này đã khiến cho Vương tử Leopold được vua Ludwig II của Bayern tặng thưởng huân chương quân sự cao quý nhất của vương quốc. Tuy nhiên, sĩ khí của quân Pháp lên cao, trong khi quân Bayern bị suy nhược. Khi trời chạng vạng tối, một chỉ huy sư đoàn quan trọng nhất của Chanzy là Đô đốc Bernard Jauréguiberry đã mở một đợt tấn công dữ dội quanh nông trang có tường bao bọc của Villepion, xuyên thủng các bức tường và đè bẹp quân phòng thủ. Quân Bayern chịu thiệt hại khoảng 900 người, trong khi phía Pháp thương vong hơn 1.000 quân. Đêm đã gần đến, và do thiếu thốn đạn dược, Lữ đoàn Bayern số 1 rút về Loigny, nhưng phải đến 17 giờ thì Lữ đoàn Bayern số 2 mới rút về Orgères. Buổi tối, Lữ đoàn số 3 đến Loigny trong khi Lữ đoàn số 4 đến Orgères. Trong một bản báo cáo của ông đến chính quyền Pháp, Chanzy đã không ngại tán dương thắng lợi của mình. Hôm sau (2 tháng 12), được các trận thắng ở Coulmiers và Villepion khuyến khích, Chanzy tiếp tục bước tiến của mình và ồ ạt tấn công vào đội quân của Mecklenburg trong trận Loigny-Poupry: quân đội Đức đã đập tan các đợt công kích của Pháp và buộc Chanzy phải rút quân. | 1 | null |
Thượng Giáp Vi (chữ Hán: 上甲微), họ Tử, tên Vi (微), tên tự Thượng Giáp (上甲) là thủ lĩnh đời thứ 9 của nước Thương thời nhà Hạ, ông cũng là tổ 7 đời của vua Thành Thang. Cha ông là Vương Hợi bị thủ lĩnh Miên Thần của nước Hữu Dịch giết chết trong một trận chiến, lúc ấy ông còn nhỏ phải chạy trốn theo chú là Vương Hằng vào rừng sâu để tổ chức chiến tranh du kích nhằm kháng cự lâu dài chống lại quân xâm lược. Từ nhỏ ông đã nuôi ý chí phục quốc và báo thù cha, khi lớn lên ông tìm cách thu phục lòng người kết hợp chiêu nạp nhân tài vật lực chờ thời cơ hành động. Lúc cảm thấy lực lượng đủ mạnh để đánh Miên Thần ông liền phát binh đánh thẳng vào sào huyệt giặc, quân nước Hữu Dịch lâu ngày không đánh trận nên thua to nhanh chóng tan rã. Thượng Giáp Vi giết chết được Miên Thần từ ấy xóa sổ luôn nước Hữu Dị, sau khi diệt Hữu Dịch ông được chú là Vương Hằng trao trả quyền lãnh đạo tộc Thương.
Thượng Giáp Vi là người đầu tiên đặt ra thụy hiệu cho thủ lĩnh bộ tộc bằng các chữ Thiên Can, từ đó trở đi các thủ lĩnh họ Tử và các đế vương nhà Thương sau này mãi cho tới khi bị Chu Vũ Vương lật đổ đều lấy Thiên Can để làm tên.
Sau khi ông chết, con là Báo Ất thế tập trở thành thủ lĩnh thứ 10 của nước Thương. | 1 | null |
Quan sát cho rằng việc mở rộng của vũ trụ sẽ tiếp tục mãi mãi. Nếu vậy, vũ trụ sẽ lạnh khi nó mở rộng, cuối cùng trở nên quá lạnh để duy trì sự sống. Vì lý
do này, kịch bản này trong tương lai là phổ biến được gọi là Vụ đóng băng lớn hay Big Freeze.
Nếu năng lượng tối đại diện bởi hằng số vũ trụ, một mật độ năng lượng không đổi làm đầy không gian đồng nhất, hoặc các lĩnh vực vô hướng, chẳng hạn như Quintessence hoặc Moduli, năng động, số lượng có mật độ năng lượng có thể khác nhau trong thời gian và không gian tăng tốc độ mở rộng của vũ trụ, không gian giữa các cụm thiên hà sẽ giãn nở với một tốc độ ngày càng tăng. Dịch chuyển đỏ sẽ kéo dài, photon đến (ngay cả tia gamma) lặng bước sóng dài và năng lượng thấp. Sao được dự kiến sẽ hình thành bình thường cho 1012 năm (100 tỉ năm) đến 1014 năm (100 nghìn tỷ năm), nhưng cuối cùng việc cung cấp khí cần thiết cho sự hình thành sao sẽ bị cạn kiệt. Và như những ngôi sao hiện có hết nhiên liệu và ngừng tỏa sáng, vũ trụ từ từ và không thể lay chuyển sẽ tăng tối hơn, một ngôi sao tại một thời điểm. § IID, Theo lý thuyết dự đoán phân rã proton, tàn dư sao bỏ lại phía sau sẽ biến mất, để lại đằng sau là lỗ đen và chính các lỗ đen đó cũng sẽ dần dần biến mất qua bức xạ Hawking. Cuối cùng, vũ trụ đạt đến một trạng thái trong đó nhiệt độ tiếp cận một giá trị chung, không có thêm hoạt động xảy ra, kết quả cuối cùng là cái chết nhiệt của vũ trụ.
Vũ trụ học.
Mở rộng vô hạn không xác định không gian độ cong của vũ trụ. Nó có thể được mở (với độ cong không gian âm), phẳng, hoặc đóng (tích cực không gian cong), mặc dù nếu nó đóng, phải có mặt năng lượng tối để chống lại lực hấp dẫn của vật chất. Vũ trụ mở và phẳng sẽ mở rộng mãi mãi ngay cả khi không có mặt năng lượng tối.
Quan sát của bức xạ nền vũ trụ WMAP cho rằng vũ trụ là không gian phẳng và có một số lượng đáng kể năng lượng tối. Trong trường hợp này, vũ trụ sẽ tiếp tục mở rộng với một tốc độ tăng. Sự tăng tốc của việc mở rộng của vũ trụ đã cũng được xác nhận bởi quan sát xa về siêu tân tinh. Nếu, như trong các mô hình mục lục của vật lý vũ trụ học (vấn đề Lambda-lạnh tối hoặc ΛCDM), năng lượng tối là dưới hình thức của một hằng số vũ trụ, mở rộng vũ trụ sẽ làm kích thước tăng gấp đôi vũ trụ với một tốc độ không đổi.
Nếu lý thuyết về lạm phát là đúng, vũ trụ đã trải qua một giai đoạn thống trị bởi một hình thức khác nhau của năng lượng tối trong những khoảnh khắc đầu tiên của Big Bang, nhưng lạm phát kết thúc, cho thấy một phương trình trạng thái phức tạp hơn nhiều so với những giả định cho đến nay cho hiện tại ngày năng lượng tối. Có thể là phương trình năng lượng tối có thể thay đổi một lần nữa kết quả trong một sự kiện rằng sẽ có hậu quả đó là cực kỳ khó khăn để dựa trên các tham số hoặc dự đoán.
Tương lai lịch sử.
Trong những năm 1970, tương lai của một vũ trụ mở rộng đã được nghiên cứu bởi các nhà vật lý học thiên thể Jamal Islam và nhà vật lý Freeman Dyson Gần đây, các nhà vật lý học thiên thể Fred Adams và Gregory Laughlin đã chia lịch sử quá khứ và tương lai của một vũ trụ mở rộng vào năm thời kỳ. Đầu tiên, Kỷ nguyên Primordial, là thời gian trong quá khứ ngay sau khi Vụ Nổ Lớn khi sao vẫn chưa hình thành. Thứ hai, "Kỷ nguyên Sao", bao gồm ngày nay và tất cả các ngôi sao và thiên hà chúng ta thấy. Đây là thời gian trong đó các ngôi sao hình thành từ sự sụp đổ các đám mây khí. Sau đó là Kỷ nguyên suy biến, các ngôi sao sẽ cháy hết năng lượng, để lại tất cả các ngôi sao có khối lượng là tàn dư sao - sao lùn trắng, sao neutron và lỗ đen. Trong "Kỷ nguyên Lỗ đen", sao lùn trắng, sao neutron, nhỏ hơn và các vật thể thiên văn khác sẽ bị phá hủy bởi sự phân rã proton, chỉ để lại các lỗ đen. Cuối cùng, trong "Kỷ nguyên bóng tối", lỗ đen cũng sẽ biến mất thông qua bức xạ Hawking, chỉ để lại khí loãng của photon và lepton. .
Lịch sử này trong tương lai và mốc thời gian dưới đây giả định tiếp tục mở rộng của vũ trụ. Nếu vũ trụ bắt đầu recontract, các sự kiện tiếp theo trong thời gian này không thể xảy ra bởi vì Vụ Co Lớn, thì vũ trụ vào trạng thái đặc nóng, tương tự như sau Big Bang, sẽ xảy đến., ;, pp. 190–192;
Thời gian biểu.
Kỷ nguyên Sao.
"Từ 106 (1 triệu) năm 1014 (100 nghìn tỷ) năm sau Vụ Nổ Lớn"
Xem thêm: Thời gian đồ họa của kỷ nguyên Sao
Tuổi của vũ trụ là 1,37 × 1010 năm tuổi (13,7 tỷ). Đây là thời gian của Kỷ nguyên Sao. Khoảng 155 triệu năm sau Vụ nổ lớn, ngôi sao đầu tiên được hình thành. Kể từ đó, các ngôi sao đã được hình thành bởi sự sụp đổ của nhỏ, khu vực lõi lớn, đám mây phân tử hydro khí lạnh dày đặc. Lúc đầu, điều này tạo ra một tiền sao, nó nóng và sáng vì năng lượng được tạo ra bởi co hấp dẫn. Sau khi hợp đồng tiền sao cho trong một thời gian, trung tâm của nó sẽ trở nên đủ nóng để hợp hydro và cuộc đời của mình như một ngôi sao đúng cách sẽ bắt đầu., .
Ngôi sao có khối lượng rất thấp cuối cùng sẽ xả tất cả hydro dễ nóng chảy của họ và sau đó trở thành Heli sao lùn trắng. Sao thấp với khối lượng trung bình sẽ trục xuất một số khối lượng của chúng như là một tinh vân hành tinh và cuối cùng trở thành sao lùn trắng, ngôi sao có khối lượng lớn hơn sẽ nổ trong một siêu tân tinh lõi sụp đổ, để lại đằng sau sao neutron hoặc lỗ đen. Trong bất kỳ trường hợp nào, mặc dù một số vấn đề của ngôi sao có thể được trả lại môi trường giữa các sao, thoái hóa còn lại sẽ được bỏ lại phía sau có khối lượng không được trả lại môi trường bình thường. Vì vậy, việc cung cấp khí có sẵn để hình thành sao đang dần bị cạn kiệt.
Ngân Hà và thiên hà Tiên Nữ hợp nhất thành một.
"4 - 8 tỉ năm nữa (17,8 - 21,8 tỷ năm sau Vụ Nổ Lớn)"
Thiên hà Tiên Nữ hiện đang cách Ngân Hà của chúng ta khoảng 2,5 triệu năm ánh sáng. Cả hai đang di chuyển về phía nhau với tốc độ khoảng 300 km (186 dặm) mỗi giây.Khoảng 5 tỷ năm kể từ bây giờ, hoặc 19 tỷ năm sau Vụ nổ lớn, Dải Ngân hà và Thiên hà Tiên nữ sẽ va chạm với nhau và hợp nhất thành một thiên hà lớn dựa trên các bằng chứng hiện tại. Cho đến năm 2012, không có cách nào để xác nhận liệu vụ va chạm có thể sẽ xảy ra hay không. Vào năm 2012, các nhà nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng vụ va chạm là xác định sau khi sử dụng Kính viễn vọng Không gian Hubble quan sát từ năm 2002 đến năm 2010 để theo dõi chuyển động của Tiên nữ. Điều này dẫn đến sự hình thành của siêu thiên hà Ngân Hà - Tiên Nữ (Tiếng Anh: "Milkdromeda" hay "Milkomeda").
22 tỷ năm trong tương lai là thời điểm kết thúc sớm nhất có thể có của Vũ trụ trong kịch bản Vụ rách lớn, với mô hình năng lượng tối có giá trị giả sử là w = −1,5.
Sự phân rã chân không giả có thể xảy ra trong 20 đến 30 tỷ năm nếu trường boson Higgs có thể không bền vững.
Sự hợp nhất của Nhóm địa phương.
"1011 (100 tỷ) đến 1012 (1 nghìn tỷ) năm"
Các thiên hà trong Nhóm Địa phương, cụm thiên hà bao gồm dải Ngân hà và Thiên hà Tiên nữ, liên kết hấp dẫn với nhau. Dự kiến trong khoảng từ 1011 (100 tỷ) đến 1012 (1 nghìn tỷ) năm kể từ bây giờ, quỹ đạo của chúng sẽ phân rã và toàn bộ Nhóm Địa phương sẽ hợp nhất thành một thiên hà lớn.
Giả sử rằng năng lượng tối tiếp tục làm cho vũ trụ giãn nở với tốc độ nhanh hơn, trong khoảng 150 tỷ năm nữa, tất cả các thiên hà bên ngoài Siêu đám địa phương sẽ vượt qua phía sau chân trời vũ trụ. Sau đó, các sự kiện trong Siêu đám địa phương sẽ không thể ảnh hưởng đến các thiên hà khác. Tương tự, các sự kiện sau 150 tỷ năm, như những người quan sát thấy ở các thiên hà xa xôi, sẽ không thể ảnh hưởng đến các sự kiện trong Siêu đám địa phương. Tuy nhiên, một người quan sát trong Siêu đám địa phương sẽ tiếp tục nhìn thấy các thiên hà xa xôi, nhưng các sự kiện họ quan sát được sẽ trở nên dịch chuyển đỏ nhiều hơn theo cấp số nhân khi thiên hà tiếp cận đường chân trời cho đến khi thời gian ở thiên hà xa xôi dường như dừng lại. Người quan sát trong Siêu đám địa phương không bao giờ quan sát các sự kiện sau 150 tỷ năm theo giờ địa phương của họ, và cuối cùng tất cả ánh sáng và bức xạ nền nằm bên ngoài Siêu đám địa phương sẽ xuất hiện chớp tắt khi ánh sáng bị dịch chuyển đỏ đến mức bước sóng của nó trở nên dài hơn đường kính vật lý của đường chân trời.
Một cách nghiêm túc, sẽ mất một thời gian dài vô hạn để tất cả các tương tác nhân quả giữa Siêu lớp cục bộ và ánh sáng này chấm dứt. Tuy nhiên, do sự dịch chuyển đỏ được giải thích ở trên, ánh sáng sẽ không nhất thiết được quan sát trong một khoảng thời gian vô hạn, và sau 150 tỷ năm, sẽ không có tương tác nhân quả mới nào được quan sát thấy.
Do đó, sau 150 tỷ năm, việc vận chuyển và liên lạc giữa các thiên hà bên ngoài Siêu đám địa phương trở nên bất khả thi về mặt nhân quả.
Độ sáng của các thiên hà bắt đầu giảm đi.
"8 × 1011 (800 tỷ) năm"
8 "×" 1011 (800 tỷ) năm kể từ bây giờ, độ sáng của các thiên hà khác nhau, gần giống các thiên hà hiện tại nhờ độ sáng ngày càng tăng của các ngôi sao còn lại khi chúng già đi, sẽ bắt đầu giảm, vì sao lùn đỏ ít nhỏ hơn bắt đầu chết tạo thành sao lùn trắng.
Các thiên hà bên ngoài Siêu đám Địa phương sẽ không thể phát hiện.
"2 × 1012 (2 nghìn tỷ) năm"
Giả sử rằng năng lượng tối tiếp tục làm cho vũ trụ mở rộng với tốc độ gia tốc, 2 × 1012 (2 nghìn tỷ) năm kể từ bây giờ, tất cả các thiên hà bên ngoài Siêu đám Địa phương sẽ có dịch chuyển đỏ đến một mức độ mà ngay cả tia gamma chúng phát ra sẽ có bước sóng dài hơn so với kích thước của vũ trụ quan sát được. Do đó, những thiên hà này sẽ không còn được phát hiện trong bất kỳ cách nào.
Kỷ nguyên Thoái hóa.
"Từ 1014 (100 nghìn tỷ) 1040 năm"
1014 (100 nghìn tỷ) năm kể từ bây giờ, sự hình thành sao sẽ kết thúc, để lại tất cả các đối tượng sao trong các hình thức thoái hóa còn sót lại. Giai đoạn này, được gọi là kỷ nguyên suy thoái, sẽ kéo dài đến thoái hóa còn sót lại cuối cùng là phân rã.
Sao không còn hình thành.
"1014 (100 nghìn tỷ) năm"
Người ta ước tính rằng trong 1014 (100 nghìn tỷ) năm hoặc ít hơn, sự hình thành sao sẽ kết thúc., § IID. ít nhất là ngôi sao tuổi thọ dài nhất để xả nhiên liệu hydro (xem sự tiến hóa sao). Vì vậy, các ngôi sao sống lâu nhất trong vũ trụ là sao lùn đỏ có khối lượng thấp nhất, một khối lượng của bằng khoảng 0,08 lần khối lượng mặt trời, do đó cuộc đời trung bình của nó là 1013 (10 nghìn tỷ) năm. Thật trùng hợp, điều này có thể so sánh với chiều dài thời gian hình thành sao diễn ra. § IID. Một khi đầu hình thành sao và ít nhất sao lùn đỏ khổng lồ cạn kiệt nhiên liệu, nhiệt hạch hạt nhân sẽ chấm dứt. Các sao lùn đỏ có khối lượng thấp sẽ làm mát và trở thành sao lùn trắng. Các đối tượng duy nhất còn lại với hơn khối lượng hành tinh sẽ là sao lùn nâu có khối lượng ít hơn 0,08 lần khối lượng mặt trời, và thoái hóa còn sót lại, sao lùn trắng, được sản xuất bởi các ngôi sao với ban đầu quần chúng giữa khoảng 0,08 và 8 lần khối lượng mặt trời và sao neutron và lỗ đen, được sản xuất bởi các ngôi sao với khối lượng ban đầu hơn 8 lần khối lượng mặt trời. Hầu hết khối lượng của sao, khoảng 90%, sẽ có hình thức kết thúc cuộc đời là sao lùn trắng. Trong sự vắng mặt của bất kỳ nguồn năng lượng của các sao này trước đây là sáng mát và trở nên mờ nhạt.
Vũ trụ sẽ trở nên cực kỳ tối sau khi ngôi sao cuối cùng cháy. Mặc dù vậy, vẫn có thể thỉnh thoảng ánh sáng trong vũ trụ. Một trong những cách vũ trụ có thể được chiếu sáng là nếu hai cacbon - oxy sao lùn trắng với một khối lượng kết hợp của hơn giới hạn Chandrasekhar khoảng 1,4 lần khối lượng mặt trời xảy ra để hợp nhất. Các đối tượng kết quả sau đó sẽ trải qua phản ứng nhiệt hạch, sản xuất một siêu tân tinh loại IA và xua tan bóng tối của Kỷ nguyên suy thoái trong một vài tuần. Nếu khối lượng kết hợp không vượt quá giới hạn Chandrasekhar nhưng lớn hơn mức tối thiểu đại chúng để hợp carbon (khoảng 0,9 khối lượng mặt trời), một ngôi sao carbon có thể được sản xuất, với cuộc đời của khoảng 106 (1 triệu) năm., p. 91 Ngoài ra, nếu hai helium sao lùn trắng với một khối lượng kết hợp của ít nhất 0,3 lần khối lượng mặt trời va chạm, một ngôi sao helium có thể được sản xuất, với một đời của một vài trăm triệu năm., p. 91 Cuối cùng, nếu sao lùn nâu va chạm với nhau, một ngôi sao lùn đỏ có thể được sản xuất mà có thể tồn tại 1013 (10 nghìn tỷ) năm.
Hành tinh bị văng khỏi quỹ đạo bởi một ngôi sao khác.
"1015 năm"
Theo thời gian, quỹ đạo của các hành tinh sẽ phân hủy do bức xạ hấp dẫn, hoặc các hành tinh sẽ bị đẩy ra từ hệ thống địa phương của họ bằng cách nhiễu loạn hấp dẫn gây ra bởi các cuộc gặp gỡ với một tàn dư sao.
Sao trong các Thiên hà bị văng ra ngoài hoặc rơi vào lỗ đen.
"1019 đến 1020 năm"
Theo thời gian, các đối tượng trong một thiên hà trao đổi năng lượng động học trong một quá trình gọi là thư giãn động, làm cho cách tiếp cận phân phối tốc độ của họ phân bố Maxwell-Boltzmann. Dynamical thư giãn có thể tiến hành bằng cuộc gặp gỡ gần gũi của hai ngôi sao hoặc ít bạo lực nhưng thường xuyên hơn xa cuộc gặp gỡ. Trong trường hợp của một cuộc gặp gỡ gần gũi, hai sao lùn nâu hoặc tàn dư sao sẽ vượt qua gần với nhau. Khi điều này xảy ra, quỹ đạo của các đối tượng tham gia trong cuộc gặp gỡ gần thay đổi một chút. Sau khi một số lượng lớn các cuộc gặp gỡ, đối tượng nhẹ hơn có xu hướng để đạt được năng lượng động lực trong khi các đối tượng nặng hơn mất nó.,
Bởi vì thư giãn động, một số đối tượng sẽ đạt được đủ năng lượng để đạt được vận tốc vũ trụ thiên hà và khởi hành thiên hà, để lại đằng sau một thiên hà nhỏ hơn dày đặc hơn. Kể từ cuộc gặp gỡ thường xuyên hơn trong thiên hà dày đặc hơn, quá trình này sau đó tăng tốc. Kết quả cuối cùng là hầu hết các đối tượng được lấy ra từ thiên hà, để lại một phần nhỏ (có lẽ 1% đến 10%) mà rơi vào trung tâm lỗ đen siêu lớn., § IIIAD;,
Các hạt nhân bắt đầu bị phân rã.
"> 1034 năm"
Xem thêm: Phân rã Proton
Sự phát triển tiếp theo của vũ trụ phụ thuộc vào sự tồn tại và tỷ lệ phân rã proton. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy nếu các proton không ổn định, sự phân rã của proton ít nhất là 1034 năm. Nếu lý thuyết thống nhất là chính xác, do đó có những lý do để tin rằng sự phân rã của proton có thời gian là 1041 năm. Neutron bị ràng buộc vào hạt nhân cũng được dự kiến sẽ phân rã với một cuộc sống nửa so sánh của proton.
Phần còn lại của thời hạn này giả định rằng các proton nửa cuộc sống là khoảng 1037 năm. Ngắn hơn hoặc dài hơn proton nửa cuộc sống sẽ tăng tốc hoặc giảm tốc quá trình. Điều này có nghĩa rằng sau 1037 năm, một nửa vật chất baryon sẽ được chuyển đổi thành các photon dưới dạng tia gamma và lepton thông qua sự phân rã proton.
Trong trường hợp rằng các proton không phân hủy, các ngôi sao có khối lượng vẫn sẽ biến mất, nhưng lâu hơn. Xem trong tương lai mà không cần phân rã proton bên dưới.
Tất cả hạt nhân phân rã.
"1040 năm"
Với giả định về sự bán rã của proton, hạt nhân (proton và neutron bị ràng buộc) đã trải qua khoảng 1.000 chu kỳ bán rã theo thời gian vũ trụ là 1040 năm tuổi. Để đưa điều này vào quan điểm, proton ước tính trong vũ trụ khoảng 1080. Điều này có nghĩa rằng số lượng của hạt nhân sẽ được cắt giảm một nửa 1.000 lần do thời gian vũ trụ là 1040 tuổi. Do đó, sẽ có khoảng ½1000 (khoảng 10−301) là hạt nhân còn lại là có được ngày hôm nay, đó là, hạt nhân còn lại trong vũ trụ vào cuối của Kỷ nguyên suy thoái. Kết quả, tất cả vật chất baryon sẽ được thay đổi thành photon và lepton. Một số mô hình dự đoán sự hình thành của positronium ổn định nguyên tử với đường kính lớn hơn đường kính hiện tại của vũ trụ quan sát được trong 1085 năm, và chúng lần lượt phân hủy thành bức xạ gamma trong 10141 năm. §IID,
Kỷ nguyên Lỗ đen.
"1040 năm đến 10100 năm"
Sau 1040 năm, lỗ đen sẽ thống trị vũ trụ. Chúng sẽ từ từ bốc hơi thông qua bức xạ Hawking. Một lỗ đen với khối lượng của mặt trời sẽ biến mất trong khoảng 2 x 1066 năm. Tuy nhiên, nhiều lỗ đen trong số này là có khả năng kết hợp với các lỗ đen siêu lớn ở trung tâm của các thiên hà của chúng thông qua quá trình mô tả ở trên trước khi điều này xảy ra. Khi thời gian tồn tại của một lỗ đen là tỷ lệ với lập phương của khối lượng của nó, lỗ đen có khối lượng lớn hơn sẽ mất nhiều thời gian hơn để phân rã. Một lỗ đen siêu lớn với một khối lượng 1011 (100 tỷ) khối lượng mặt trời sẽ bay hơi tong khoảng 2 × 1099 năm.
Bức xạ Hawking có một quang phổ nhiệt. Trong hầu hết cuộc đời của một lỗ đen, bức xạ có nhiệt độ thấp và chủ yếu là trong các hình thức của các hạt không có khối lượng như photon và hạt giả thuyết graviton. Khi giảm khối lượng của lỗ đen, sẽ làm tăng nhiệt độ của nó, trở thành so sánh với Mặt Trời bởi thời gian khối lượng lỗ đen đã giảm xuống còn 1019 kg. Lỗ sau đó cung cấp một nguồn tạm thời của ánh sáng trong bóng tối chung của kỷ nguyên Lỗ đen. Trong giai đoạn cuối cùng của sự bốc hơi của nó, một lỗ đen sẽ phát ra không chỉ các hạt không có khối lượng, nhưng cũng nặng hạt như electron, positron, proton và phản proton., pp. 148–150., .
Nếu proton không phân rã như mô tả ở trên.
Trong trường hợp các proton không phân rã như mô tả ở trên, Kỷ nguyên suy biến sẽ kéo dài lâu hơn, và sẽ chồng chéo lên nhau Kỷ nguyên Lỗ đen. Trong một khoảng thời gian khoảng 1065 năm, đối tượng dường như cứng nhắc như đá sẽ có thể để sắp xếp lại các nguyên tử và phân tử của họ thông qua đường hầm lượng tử, hành xử như là một chất lỏng, nhưng chậm hơn. Tuy nhiên, proton vẫn dự kiến sẽ bị phân rã, ví dụ như thông qua các quá trình liên quan đến hố đen, hoặc các quá trình khác cao hơn, với một cuộc sống nửa dưới 10200 năm. § IVF. Ví dụ, theo Mô hình Chuẩn, nhóm 2 hoặc nhiều hơn nucleon về lý thuyết không ổn định vì bất thường chiral cho phép quá trình thay đổi số baryon bằng một bội số của 3.
Kỷ nguyên Tối và Thời đại Photon.
"Từ 10100 năm và sau đó"
Photon bây giờ là vua của vũ trụ vì lỗ đen siêu lớn cuối cùng bốc hơi.
Sau khi tất cả các lỗ đen đã bay hơi (và sau khi tất cả các vấn đề thông thường của các proton đã tan rã, nếu proton là không ổn định), vũ trụ gần như trống rỗng. Photon, neutrino, các electron và positron sẽ bay từ nơi này đến nơi khác, hầu như không bao giờ gặp nhau. Hấp dẫn vũ trụ sẽ bị chi phối bởi vật chất tối, các electron và positron (photon).
Thời kỳ này, với chỉ rất khuếch tán vấn đề còn lại, hoạt động trong vũ trụ sẽ có đuôi đi đáng kể (so với thời kỳ trước), với mức năng lượng rất thấp và quy mô thời gian rất lớn. Electron và positron trôi qua không gian sẽ gặp nhau và đôi khi tạo thành cấu trúc nguyên tử positronium. Những cấu trúc này không ổn định, tuy nhiên, các hạt cấu thành của họ cuối cùng cũng bị tiêu diệt. các hạt sơ cấp khác cũng sẽ phân hủy, mặc dù rất chậm.
Vũ trụ đã đạt đến một trạng thái năng lượng cực kỳ thấp. Điều gì sẽ xảy ra sau này đều mang tính giả thuyết. Có thể là một sự kiện Vụ Rách Lớn có thể xảy ra trong tương lai. Ngoài ra, vũ trụ có thể sẽ lại rơi vào kỷ nguyên lạm phát lần thứ hai hoặc giả định rằng hiện nay chân không là một chân không sai, chân không có thể phân hủy thành một trạng thái năng lượng thấp hơn. Cuối cùng, vũ trụ rơi vào trạng thái này mãi mãi, đạt đúng cái chết nhiệt. Có lẽ, các trạng thái năng lượng cực thấp ngụ ý rằng các sự kiện địa phương lượng tử hóa trở thành hiện tượng vĩ mô lớn hơn là sự kiện vi không đáng kể bởi vì các nhiễu loạn nhỏ nhất sẽ tạo ra những sự thay đổi lớn nhất trong Kỷ nguyên này, do đó không thể dự đoán điều gì có thể sẽ xảy ra với không gian hoặc thời gian. Người ta ngầm nhận thức rằng, các định luật của vật lý vĩ mô "sẽ bị phá vỡ, các định luật của vật lý lượng tử" sẽ chiếm ưu thế.
Tương lai mà không phân rã proton.
Nếu các proton không phân rã, các vật thể có khối lượng sao vẫn sẽ trở thành lỗ đen, nhưng chậm hơn. Dòng thời gian sau đây giả định rằng sự phân rã proton không diễn ra.
"10139 năm kể từ bây giờ"
Ước tính năm 2018 về tuổi thọ của Mô hình Chuẩn trước khi sụp đổ chân không giả; Khoảng tin cậy 95% là 1058 đến 10241 năm do một phần do sự không chắc chắn về khối lượng quark đỉnh.
Kỷ nguyên thoái hóa.
Phân rã vật chất thành sắt.
"101100 đến 1032000 năm kể từ bây giờ"
101500 năm, nhiệt hạch lạnh xảy ra thông qua đường hầm lượng tử nên làm cho ánh sáng hạt nhân trong cầu chì vật chất thông thường thành sắt-56 hạt nhân (xem các đồng vị sắt). Quá trình phân hạch và phát xạ hạt alpha sẽ làm cho những hạt nhân nặng cũng phân rã thành sắt, để lại các vật thể có khối lượng sao dưới dạng các quả cầu lạnh của sắt, được gọi là sao sắt. Trước khi điều này xảy ra, ở một số sao lùn đen, quá trình này dự kiến sẽ hạ thấp giới hạn Chandrasekhar của nó thành một siêu tân tinh trong 101100 năm. Silic không thoái hóa đã được tính toán để đào hầm thành sắt trong khoảng 1032000 năm.
Kỷ nguyên lỗ đen.
Sự sụp đổ của ngôi sao sắt lỗ đen.
"formula_1 đến formula_2năm kể từ bây giờ"
Đường hầm lượng tử cũng nên biến các vật thể lớn thành các lỗ đen, (trong các khoảng thời gian này) sẽ bay hơi ngay lập tức thành các hạt hạ nguyên tử. Tùy thuộc vào các giả định được đưa ra, thời gian điều này xảy ra có thể được tính từ formula_3 năm đến formula_4 năm. Đường hầm lượng tử cũng có thể làm cho các ngôi sao sắt sụp đổ thành các ngôi sao neutron trong khoảng formula_4 năm.
Kỷ nguyên bóng tối (không có sự phân rã proton).
Với các lỗ đen đã bay hơi, tất cả các vật chất baryonic giờ đây sẽ phân rã thành các hạt hạ nguyên tử (electron, neutron, proton và quark). Vũ trụ bây giờ là một chân không gần như tinh khiết (có thể đi kèm với sự hiện diện của chân không giả). Sự giãn nở của vũ trụ từ từ khiến nó nguội đi đến độ không tuyệt đối.
Cuối cùng.
Ngoài 102500 năm nếu xảy ra phân rã proton, hoặc năm mà không phân rã proton
Có thể một sự kiện Vụ rách lớn có thể xảy ra trong tương lai. Điểm kỳ dị này sẽ diễn ra ở một hệ số quy mô hữu hạn.
Nếu trạng thái chân không hiện tại là chân không giả, chân không có thể phân rã thành trạng thái năng lượng thấp hơn.
Có lẽ, các trạng thái năng lượng cực thấp ngụ ý rằng các sự kiện lượng tử cục bộ trở thành hiện tượng vĩ mô chính chứ không phải là các sự kiện vi mô không đáng kể bởi vì những nhiễu loạn nhỏ nhất tạo ra sự khác biệt lớn nhất trong thời đại này, vì vậy không thể dự đoán điều có thể xảy ra với không gian hoặc thời gian. Người ta nhận thấy rằng các định luật "vật lý vĩ mô" sẽ bị phá vỡ và các định luật vật lý lượng tử sẽ chiếm ưu thế.
Vũ trụ có thể tránh được cái chết nhiệt vĩnh cửu thông qua đường hầm lượng tử ngẫu nhiên và dao động lượng tử, với xác suất không bằng không tạo ra một Vụ nổ lớn mới trong khoảng năm.
Trong một khoảng thời gian vô hạn, có thể có một sự giảm entropy tự phát, bởi sự tái phát Poincaré hoặc thông qua các dao động nhiệt ("xem thêm định lý dao động").
Các sao lùn đen khổng lồ cũng có khả năng phát nổ thành siêu tân tinh sau tới 1032000 năm, giả sử các proton không phân rã.
Các khả năng trên dựa trên một dạng năng lượng tối đơn giản. Tuy nhiên, vật lý của năng lượng tối vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu rất tích cực và dạng năng lượng tối thực tế có thể phức tạp hơn nhiều. Ví dụ, trong quá trình lạm phát, năng lượng tối ảnh hưởng đến vũ trụ rất khác so với cách nó hoạt động ngày nay, vì vậy có thể năng lượng tối có thể kích hoạt một giai đoạn lạm phát khác trong tương lai. Cho đến khi năng lượng tối được hiểu rõ hơn, các tác động có thể có của nó là vô cùng khó dự đoán hoặc mang tính giả thuyết. | 1 | null |
Loan Doanh (, bính âm: Luán Yíng, ?-550 TCN), còn có tên là Loan Sính (栾逞) tức Loan Hoài tử (栾怀子), là đại phu nước Tấn thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.
Thân thế.
Tổ tiên của họ Loan là Tân Phụ, vốn mang họ Cơ, thuộc dòng dõi tông thất nước Tấn. Tân Phụ có công phò tá Khúc Ốc Hoàn Thúc tranh ngôi với chi trưởng nên được phong ở ấp Loan, từ đó lấy chữ Loan làm họ, truyền dần đến đời Loan Chỉ. Loan Chỉ theo giúp Tấn Văn công xưng bá chư hầu, được phong làm Hạ quân tướng, thống lĩnh Hạ quân, từ đó trở nên một gia tộc lớn. Loan Chỉ sinh Loan Thuẫn, Loan Thuẫn sinh Loan Thư. Loan Thư làm chính khanh nước Tấn suốt 14 năm từ 587 TCN đến 573 TCN, tham gia vào cuộc lật đổ và giết chết Tấn Lệ công. Loan Thư sinh Loan Yểm, Loan Yểm sinh Loan Doanh.
Sau khi Tấn Bình công lên nối ngôi, phong cho Loan Doanh làm Hạ quân tá, đến năm 556 TCN, Loan Yểm mất, Loan Doanh được thăng làm Hạ quân tướng.
Trốn sang nước Tề.
Nguyên mẹ của Loan Doanh là Phạm Kì, con gái của Sĩ Mang (hay Phạm Mang), tông chủ của họ Phạm. Tuy nhiên họ Loan và con Phạm Mang là Phạm Ưởng (tức cậu ruột của Loan Doanh) lại có hiềm khích, Phạm Kì đứng về phe Sĩ Ưởng. Năm 552 TCN, Phạm Ưởng và Phạm Kì gièm pha với Tấn Bình công là Loan Doanh muốn tạo phản. Bình công nghe theo, bắt tội Loan Doanh. Loan Doanh phải chạy sang nước Tề. Tề Trang công thu nhận và đối đãi rất hậu để dùng làm con bài chống Tấn. Đại phu Án Anh và Điền Tu Vô can nhưng vua Tề không nghe.
Theo Tề phản Tấn.
Dưới quyền Loan Doanh có các lực sĩ Đốc Nhung, Châu Xước, Hình Khoái, Trung Hàng Hỉ, Trí Khởi. Năm 550 TCN, Tề Trang công giúp quân cho Loan Doanh lẻn về thành Khúc Ốc nước Tấn, chiếm được Khúc Ốc; còn vua Tề mang quân theo sau, tiến tới núi Thái Hàng, vào Mãnh Môn.
Loan Doanh muốn lật đổ quyền hành của các đại phu nước Tấn, bèn tập hợp lực lượng ở thành Khúc Ốc. Nhiều người trong thành Khúc Ốc ủng hộ Loan Doanh. Tuy nhiên trong số lục khanh, chỉ có họ Ngụy có quan hệ tốt với họ Loan, nên ông ngầm sai người về Giáng đô nhờ Ngụy Thư giúp làm nội ứng.
Tháng 4 năm 550 TCN, Loan Doanh mang quân đánh úp Giáng đô. Giáng đô không kịp phòng bị nên thất thủ. Tấn Bình công sợ hãi toan tự sát. Phạm Mang (ông ngoại Loan Doanh) ngăn lại, đưa Tấn Bình công chạy sang Cố cung. Sĩ Ưởng dò biết Ngụy Thư định giúp cho Loan Doanh, tìm cách ngăn trở khiến Ngụy Thư bị giữ chân trong triều, không thể ra mặt điều quân giúp họ Loan. Sau Ngụy Thư bỏ họ Loan theo quân Tấn.
Diệt tộc ở Khúc Ốc.
Dưới trướng Loan Doanh có võ sĩ Đốc Nhung rất khỏe, quân Tấn không ai địch nổi. Đầy tớ của Phạm Mang là Phi Báo đang bị tù tội, xin được xóa án để ra đánh Đốc Nhung. Phạm Mang nhận lời. Phi Báo ra đánh với Đốc Nhung một lúc rồi vờ thua chạy, nhằm bức tường nhảy qua núp chờ. Đốc Nhung hăng hái nhảy qua tường tìm Phi Báo, bị Phi Báo đâm từ phía sau chết tại trận.
Tin Đốc Nhung bị khiến quân Loan Doanh nhụt chí. Phạm Mang điều quân ra đánh. Các tướng họ Loan là Loan Nhạc bị giết, Loan Phường bị thương. Loan Doanh bại trận, phải bỏ chạy về Khúc Ốc cố thủ. Tấn Bình công sai cha con Phạm Mang và Ngụy Thư dẫn quân đuổi theo vây đánh.
Chỉ một tháng sau, quân Tấn hạ được thành Khúc Ốc. Loan Doanh bị bắt và bị giết. Tấn Bình công ra lệnh giết sạch toàn bộ gia tộc họ Loan, chỉ còn Loan Phường trốn thoát sang nước Tống. Tề Trang công đóng quân ở ngoài, nghe tin Loan Doanh thua trận phải lui về.
Không rõ Loan Doanh sinh năm nào nên không biết lúc mất ông được bao nhiêu tuổi. Sau thất bại của Loan Doanh, họ Loan cũng bị diệt tộc. | 1 | null |
Bên thắng cuộc là cuốn sách tiếng Việt của nhà báo Huy Đức.
Nội dung chính.
Sách gồm hai tập: Tập 1 "Giải Phóng" và Tập 2 "Quyền Bính", được chào bán online lần lượt vào 12 tháng 12 năm 2012 và 13 tháng 1 năm 2013 trên Amazon. Cuốn sách tường thuật lại những sự kiện tại Việt Nam theo góc nhìn của tác giả, đặc biệt là về mặt chính trị và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ yếu từ thời điểm 30/4/1975 cho tới cuối thập niên 1990.
Trong lời giới thiệu, tác giả viết: ""Cuốn sách bắt đầu từ ngày 30-4-1975, ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc. Hãy để cho các nhà kinh tế chính trị học và các nhà xã hội học nghiên cứu kỹ hơn hiện tượng lịch sử này. Cuốn sách của tôi đơn giản chỉ bắt đầu kể những gì đã xảy ra ở Sài Gòn,Việt Nam sau ngày 30-4: cải tạo; đánh tư sản; đổi tiền… Cuốn sách của tôi cũng nói về hai cuộc chiến tranh cuối thập niên 1970, một với Khmer Đỏ và một với người Trung Quốc. Cuốn sách của tôi cũng nói về làn sóng vượt biên sau năm 1975, nói về sự "đồng khởi" của nông dân, của các tiểu chủ, tiểu thương để giành lấy cái quyền được tự lo lấy cơm ăn áo mặc.".
Đánh giá.
Cuốn sách nhận được nhiều tranh cãi cả khen ngợi và phê bình trên báo trong và ngoài nước. Cuốn sách là cuốn sách bán chạy nhất trong mục về Lịch sử Đông Nam Á trên trang Amazon trong tháng 12/2012. Sách in cũng được nhật báo Người Việt tại Mỹ phát hành.
Cuốn sách này được Nakano Ari, nhà nghiên cứu chính trị tại Đại học Đại Đông Văn Hóa, Nhật Bản, dịch sang tiếng Nhật. Nakano Ari, nhà nghiên cứu chính trị tại Đại học Daito Bunka, Nhật Bản, người từng dịch sách này sang tiếng Nhật, cho rằng: "Cuốn Bên Thắng Cuộc sẽ giúp cho người Nhật hiểu thêm về Việt Nam sau năm 1975."" Nhà xuất bản Mekong chịu trách nhiệm in ấn bản tiếng Nhật của sách. Theo Facebook của tác giả Huy Đức thì bản in tiếng Nhật của phần I – "Giải Phóng" đã chính thức phát hành từ tháng 12 năm 2015.
Khen ngợi.
Cuốn sách nhận được một số khen ngợi từ các nhân vật bất đồng chính kiến chống nhà nước Việt Nam
Phê phán.
Cuốn sách bị một số tờ báo trong nước (Pháp luật TP Hồ Chí Minh, Sài gòn Giải phóng) phê phán về một số chi tiết được cho là hư cấu, không chính xác trong nội dung:
Mục đích viết cuốn sách của Huy Đức bị nghi ngờ, rằng ông đã "nhào nặn, cắt khúc" lịch sử theo ý chủ quan của mình để phục vụ cho mục đích chính trị cá nhân. Bản thân Huy Đức từng bị cho thôi việc ở báo Sài Gòn Tiếp thị vì bài viết trên blog "Bức tường Berlin" của ông bị Tổng thư ký Trần Công Khanh cho là có "quan điểm đi ngược lại đường lối chính trị của Nhà nước., thẻ ký giả của Huy Đức cũng bị thu hồi.
Về nội dung, cuốn sách được viết chỉ bằng việc tập hợp lời kể của một số người (nhiều người trong số đó không phải nhân vật quan trọng hoặc chứng kiến sự kiện) thay vì phân tích từ những nguồn sử liệu khả tín, điều này khiến nó bị hoài nghi về tính xác thực của thông tin và tính khách quan, cũng như khiến người đọc dễ sa vào lối tư duy "dùng trường hợp cá biệt để đánh giá toàn cục lịch sử". Những lời khen ngợi cuốn sách chủ yếu đến từ những người không chuyên (nhà văn, nhà kinh tế học...) chứ không phải từ những nhà sử học có uy tín. Việc viết sách dựa trên việc trích dẫn các lời phỏng vấn, một mặt nó có thể "gây hiệu ứng" cao với độc giả không chuyên, nhưng mặt khác nó lại thiếu sự thẩm định của giới chuyên môn và không thể xác thực (vì tác giả không ghi hình hoặc ghi âm), người ta sẽ đặt ra một loạt câu hỏi như: liệu cuộc phỏng vấn có thật hay không, việc trích dẫn có bị cắt xén không, có bị hiểu sai ngữ cảnh không...
Nhà sử học Dương Trung Quốc thì cho rằng "không nên tuyệt đối hóa sự thật" trong sách và cho rằng thông tin trong tác phẩm có thể ‘mới với số đông’ nhưng không mới với giới sử học trong nước. Ông cho rằng cuốn sách tuy có nhiều tư liệu, nhưng vẫn thiên về "báo chí" nhiều hơn là "sử học", và ông "không nghĩ rằng cuốn sách này nói sự thật":
Thông tin sai sự thật.
Nhà báo Lưu Đình Triều, công tác tại báo Tuổi Trẻ TP.HCM đã phản ứng gay gắt những chi tiết có liên quan đến mình trong cuốn "Bên thắng cuộc". Theo ông Lưu Đình Triều, Huy Đức đã cắt xén và trích dẫn không đầy đủ những lời tâm sự về cuộc đời ông.. Ông nói: "Từng là đồng nghiệp với nhau lúc ở báo Tuổi Trẻ, Huy Đức hẳn đã nghe, đã hiểu rõ trường hợp của tôi, kể cả mối quan hệ của cha con tôi. Thật đáng tiếc, Huy Đức đã sử dụng một số thông tin từ những gì anh nghe, từ những gì tôi viết, nhưng anh lại không trích dẫn đầy đủ. Vì thế đã làm cho người đọc ngộ nhận và làm tổn thương tôi cùng gia đình... Khi nhắc lại chi tiết này một cách lấp lửng, rõ ràng để nhằm mục đích gì thì chính Huy Đức rõ hơn ai hết".
Trong cuốn Bên thắng cuộc, Huy Đức dẫn lời kể của Lê Đăng Doanh rằng trong cuộc gặp tại Berlin vào tháng 10/1989, Tổng thống Liên Xô Gorbachev đã tỏ ý xem thường phía Việt Nam vì tiếp khách trong phòng ăn, rồi khi TBT Nguyễn Văn Linh xin viện trợ thì Gorbachev xua tay từ chối. Năm 2020, nhà báo Phan Việt Hùng đã tìm kiếm các tư liệu về cuộc gặp được lưu trữ tại Bộ Ngoại giao Liên bang Nga, qua đối chiếu thì thấy những nội dung viết trong cuốn sách của Huy Đức hoàn toàn là bịa đặt: cuộc đón tiếp diễn ra trong phòng lễ tân đúng quy cách, và ông Nguyễn Văn Linh cũng không hề xin viện trợ trong cuộc gặp mặt này | 1 | null |
Hồ Xạ Cô (chữ Hán: 狐射姑), còn gọi là Hồ Dạ Cô (狐夜姑) hay Giả Quý (贾季), là tướng nước Tấn thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc. Ông từng đảm nhận vị trí Chính khanh của nước Tấn năm 622 TCN.
Thân thế.
Họ Hồ nguyên thuộc dòng dõi công tộc nước Tấn, đời ông của Hồ Xạ Cô là Hồ Đột gả con gái là Hồ Cơ cho Tấn Hiến công nên được phong làm đại phu. Hồ Cơ sinh ra công tử Trùng Nhĩ, tức Tấn Văn công sau này. Con Hồ Đột là Hồ Yển có công phò giúp Tấn Văn công lúc lưu lạc và tranh bá, nên được phong đất Giả. Hồ Yển sinh Hồ Xạ Cô. Sau khi phụ thân mất, Hồ Xạ Cô lên nối chức Đại phu.
Xung đột với Triệu Thuẫn.
Năm 622 TCN, Tấn Tương công tổ chức lại quân đội, Hồ Xạ Cô được phong làm Trung quân Nguyên soái, Chính khanh nước Tấn, còn lại Triệu Thuẫn làm Trung quân tá, Cơ Trịnh Phủ làm Thượng quân tướng, Tuân Lâm Phủ làm Thượng quân tá, Tiên Miệt làm Hạ quân tướng, Tiên Đô làm Hạ quân tá.
Tuy nhiên không bao lâu sau, đại phu Dương Xử Phụ cho rằng Hồ Xạ Cô tàn bạo, nên tâu xin Tấn Tương công nên dùng Triệu Thuẫn làm Trung quân Nguyên soái, Tương công nghe theo, đổi Triệu Thuẫn lên làm Trung quân Nguyên soái, Hồ Xạ Cô bị giáng xuống làm Trung quân tá. Hồ Xạ Cô từ đó đem lòng oán hận Dương Xử Phụ và Triệu Thuẫn.
Năm 621 TCN, Tấn Tương công mất, thế tử Di Cao còn nhỏ. Tương công ủy thác Di Cao cho Triệu Thuẫn. Tuy nhiên do nước Tấn từng nghiêng ngả do loạn lạc sau thời Tấn Hiến công nên Triệu Thuẫn muốn chọn lập người lớn tuổi để ổn định tình hình, bàn định lập em Tương công là công tử Ung lên làm vua, trong khi đó Hồ Xạ Cô lại muốn lập em công tử Ung là công tử Nhạc.
Hai bên tranh luận không ai chịu ai. Triệu Thuẫn sai Sĩ Hội sang nước Tần đón công tử Ung, còn Hồ Xạ Cô cũng sai người sang nước Trần đón công tử Nhạc. Triệu Thuẫn cho người giết chết công tử Nhạc.
Hồ Xạ Cô tức giận, sai người trong họ là Hồ Cúc Cư giết chết Dương Xử Phụ. Triệu Thuẫn đem quân đánh, giết Hồ Cúc Cư, Hồ Xạ Cô bỏ chạy sang nước Địch. Sau đó Triệu Thuẫn đổi ý và lập Di Cao, tức Tấn Linh công.
Sau không rõ năm nào, Hồ Xạ Cô mất tại nước Địch. | 1 | null |
Carlos Henrique Raposo (sinh ngày 2 tháng 4 năm 1963 tại Rio de Janeiro), còn được biết đến rộng rãi với tên gọi Carlos Kaiser là một cựu cầu thủ bóng đá Brasil. Ông từng đầu quân cho nhiều đội bóng lớn tại Brasil và cũng từng tham gia vào các đội bóng lớn ngoại quốc như ở Pháp và Argentina và từng là bạn thân của danh thủ Romário. Tuy nhiên, trong sự nghiệp cầu thủ kéo dài gần 20 năm của mình, ông chỉ tham gia 30 trận đấu nhưng không có bàn thắng hoặc là theo một thông tin khác, chưa từng thi đấu chính thức trận nào cho các đội bóng của mình.
Sự nghiệp.
Bóng đá.
Carlos Henrique Raposo sinh vào ngày 2 tháng 4 năm 1963 trong một gia đình lao động nghèo ở ngoại ô thành phố Rio de Janeiro, Brasil. Cha của ông là công nhân còn mẹ ông là đầu bếp. Lớn lên ở khu ổ chuột Porto Alegre, tại đây, Carlos đã tiếp xúc với trái bóng tròn. Cũng giống như những đứa trẻ cùng cảnh ngộ khác, ông đã chơi bóng bằng chân đất trên những con phố bụi bặm. Năm 1973, cha ông đã cho ông tham gia vào lò đào tạo trẻ của câu lạc bộ Botafogo. Mồ côi cha năm 13 tuổi, đến năm 16 tuổi, ông đi sang México và được đội bóng Puebla ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên. Tuy nhiên, ông không hề tham gia một trận đấu nào khi luôn bịa đặt ra lý do chấn thương để trì hoãn ra sân. Sau đó, ông chuyển sang Hoa Kỳ và ký hợp đồng với một câu lạc bộ ở Texas là El Paso trong ba tháng, nhưng cũng không hề tham gia thi đấu. Sau khi quay trở về Brazil, ông ký hợp đồng với câu lạc bộ Bangu tại thành phố Rio de Janeiro. Trong thời gian này ông đã từng gây hiềm khích với khán giả đội nhà trong một trận đấu mà họ bị dẫn trước 2 bàn khi thời gian mới chỉ có 8 phút.
Sau đó, ông chuyển sang Pháp và được câu lạc bộ Gazélec Ajaccio ký hợp đồng, ông ở lại đây trong 8 năm nhưng cũng không hề thi đấu cho họ một trận nào. Ông tiếp tục lừa dối người khác nhưng cũng có câu lạc bộ mặc dù đã biết nhưng vẫn bỏ qua. Alexandre Torres, đồng đội cũ của ông ở Flamengo từng nhận xét rằng:
Khoảng đầu thập niên 1990, Kaiser trở lại Botafogo. Ông tiếp tục lừa dối đồng đội bằng cách dùng điện thoại di động giả để đàm thoại với các huấn luyện viên nổi tiếng ở châu Âu. Đầu năm 2011, trên đài truyền hình Globo, Kaiser tự nhận mình là thành viên của câu lạc bộ Independiente (Argentina), từng đăng quang Copa Libertadores 1984 và phóng đại về sự tỏa sáng của mình ở giải đấu này.
Sau khi giải nghệ.
Sau khi từ giã nghề bóng đá, Kaiser làm huấn luyên viên thể dục thể hình ở Rio de Janeiro. Ông cũng đã từng xin lỗi vì các trò lừa đảo của mình trong quá khứ. | 1 | null |
Lục Chung () là nhân vật huyền thoại, được cho là sống vào khoảng đời đế Cốc, đế Chí và đế Nghiêu trong lịch sử Trung Quốc. Theo Sử Ký Tư Mã Thiên - Sở thế gia thì Lục Chung là chút của đế Chuyên Húc, là chắt của Xứng (稱), là cháu nội của Quyển Chương (老童) và là con trai của Ngô Hồi (吳回). Cha của Lục Chung cùng với bác của ông là Trọng Lê lần lượt thay nhau giữ chức hỏa chính thời đế Cốc Cao Tân thị với danh hiệu Chúc Dung (祝融), sử sách không ghi rõ về những hành trạng đặc biệt và những công tích gì của ông nhưng lại đề cập rằng ông sinh hạ được 6 người con trai. | 1 | null |
Sĩ Cái (chữ Hán: 士匄), hay Phạm Cái (范匄), hay Sĩ Mang, là vị tông chủ thứ ba của Phạm thị, một trong lục khanh nước Tấn thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.
Ông là con trai của Sĩ Tiếp, vị tông chủ thứ hai của họ Phạm. Năm 574 TCN, Sĩ Tiếp mất, Sĩ Mang lên kế tập, được phong làm Trung quân tá.
Quan hệ với chư hầu.
Năm 570 TCN, Tấn Điệu công sai Sĩ Mang đi sứ nước Tề, Sĩ Mang khuyên Tề Linh công nên giao hảo với nước Tấn. Tề Linh công nghe theo, gửi con là thế tử Quang sang hội minh với Tấn ở đất Kê Trạch.
Năm 560 TCN, Trung quân Nguyên soái nước Tấn là Tuân Oanh mất, đáng lẽ Sĩ Mang, đang làm Trung quân tá được nối chức, nhưng Sĩ Mang nhường cho Tuân Yển làm Trung quân nguyên soái.
Năm 559 TCN, Tấn Điệu công hội 13 nước chư hầu là Tề, Tống, Lỗ, Vệ, Trịnh, Tào, Cử, Chu, Đằng, Tiết, Kỉ, Tiểu Chu (小邾) đánh nước Tần, Sĩ Mang làm Trung quân tá, cũng tham gia vào trận chiến. Con ông là Sĩ Ưởng cùng Loan Châm]] mang quân tấn công vào đại doanh của quân Tần, tuy nhiên sau đó Loan Châm tử trận. Loan Yểm (anh Loan Châm) lúc đó làm Hạ quân tướng, đã lấy con gái Sĩ Mang là Phạm Kì, giận Sĩ Ưởng, bắt Sĩ Mang giết Sĩ Ưởng, Sĩ Ưởng trốn ở nước Tần, tuy nhiên sau được về nước. Từ đó Sĩ Ưởng oán họ Loan.
Năm 554 TCN, Tuân Yển mất, Tấn Bình công phong cho Sĩ Mang làm Trung quân Nguyên soái, chính khanh nước Tấn.
Diệt họ Loan.
Năm 552 TCN, Loan Yểm mất, con là Loan Doanh (tức cháu ngoại của Sĩ Mang) lên kế tập, Sĩ Ưởng gièm pha với Tấn Bình công rằng Loan Doanh có ý làm phản, Loan Doanh sợ tội bèn chạy sang nước Tề, nương nhờ Tề Trang công.
Năm 550 TCN, Tề Trang công giúp quân cho Loan Doanh lẻn về thành Khúc Ốc; vua Tề mang quân theo sau, tiến tới núi Thái Hàng, vào Mãnh Môn.
Loan Doanh tập hợp lực lượng ở thành Khúc Ốc. Nhiều người trong thành Khúc Ốc ủng hộ Loan Doanh. Loan Doanh ngầm sai người về Giáng đô nhờ Ngụy Thư giúp làm nội ứng.
Tháng 4 năm 550 TCN, Loan Doanh mang quân đánh úp Giáng đô. Giáng đô không kịp phòng bị nên thất thủ. Tấn Bình công sợ hãi toan tự sát. Sĩ Mang ngăn lại, đưa vua Tấn chạy sang Cố cung. Sĩ Ưởng dò biết Ngụy Thư định giúp cho Loan Doanh, tìm cách ngăn trở khiến Ngụy Thư bị giữ chân trong triều, không thể ra mặt điều quân giúp họ Loan.
Dưới trướng Loan Doanh có vũ sĩ Đốc Nhung rất khỏe, quân Tấn không ai địch nổi. Đầy tớ của Sĩ Mang là Phi Báo đang bị tù tội, xin được xóa án để ra đánh Đốc Nhung. Sĩ Mang nhận lời. Phi Báo ra đánh với Đốc Nhung một lúc rồi vờ thua chạy, nhằm bức tường nhảy qua núp chờ. Đốc Nhung hăng hái nhảy qua tường tìm Phi Báo, bị Phi Báo đâm từ phía sau chết tại trận.
Nhân lúc quân Loan Doanh nhụt chí, Sĩ Mang điều quân ra đánh. Loan Doanh bại trận, bỏ chạy về Khúc Ốc cố thủ. Cha con Sĩ Mang và Ngụy Thư mang quân đánh Khúc Ốc.
Được hơn 1 tháng, quân Tấn hạ được thành Khúc Ốc, diệt tộc họ Loan.
Qua đời.
Năm 548 TCN, Sĩ Mang qua đời, không rõ năm đó ông bao nhiêu tuổi, con ông là Sĩ Ưởng lên kế tập. | 1 | null |
Chùa Thiên Bửu (hạ) còn gọi là tổ đình Sắc tứ Thiên Bửu hay chùa Tổ, chùa Kỳ là một ngôi chùa cổ, tọa lạc tại thôn Bình Thành, xã Ninh Bình, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, bên hữu ngạn sông Dinh như 2 câu thơ:
Tạm dịch
Chùa Thiên Bửu (hạ) thuộc vào hàng những ngôi chùa cổ nhất ở Ninh Hòa.
Lịch sử.
Năm 1653, Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần chiếm vùng đất của Chiêm Thành từ Đèo Cả đến sông Phan Rang, đặt dinh Thái Khang tức Khánh Hòa ngày nay, gồm 2 phủ Thái Khang (Ninh Hòa), Diên Ninh (Diên Khánh) và đưa dân vào định cư. Để đáp ứng nguyện vọng tâm linh của lưu dân thiền sư Tế Hiển, pháp hiệu Bửu Dương, là truyền thừa Lâm Tế Tông đời thứ 36, chi phái Thiền Liễu Quán, rời chùa Thiên Mụ (Huế) vào đất này (Khánh Hòa) khai sơn lập chùa Thiên Bửu (thượng) tại hữu ngạn sông Lốt và chùa Thiên Bửu (hạ) tại hữu ngạn sông Dinh vào khoảng những năm trước 1763.
Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), ngài Liễu Bửu Huệ Thân trụ trì đời thứ tư của chùa được mời ra kinh đô dự "Thủy lục Đạo tràng" siêu độ trận vong quan binh vào tiết Trung nguyên, tháng Bảy và trúng tuyển kỳ khảo hạch của Bộ Lễ được sắc tứ giới đao và độ điệp. Hiện nay giới đao độ điệp còn lưu giữ tại chùa.
Kiến trúc.
Gian giữa Ngôi Chánh Điện đặt pho tượng Phật Thích Ca ngồi cao lớn sơn son thếp vàng, cùng nhiều tượng Phật khác như Phật A Di Đà, Phật Di Lặc v.v... Gian bên trái thờ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, gian bên phải thờ Ông, tức Quan Công. Nhà Tây thờ Vị Sơ Tổ Thiền Tông Bồ Đề Đạt Ma, cùng long vị của Tổ Tế Hiển-Bửu Dương và các vị Trụ trì tiền bối.
Chùa được trùng tu vào những năm 1950 – 1962 và năm 2001 – 2002. Chùa Thiên Bửu (hạ) được đánh giá là chùa đẹp nhất Ninh Hòa hiện nay. Đây cũng là tổ đình của hầu hết các chùa ở Ninh Hòa | 1 | null |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.